Tật dóc

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 7 Feb 2024

Người bị bịnh vẫn còn cơ may chữa khỏi. Nhưng bị nhiễm quá lâu, quá nhiều lần; bịnh chuyển sang tật là vô phương. CSVN mới đầu bị nhiễm vi khuẩn nói dóc của Stalin, Mao Trạch Ðông, nhiễm riết rồi thành tật dóc kinh niên.

Chúng ta thử chẩn đoán những nhà văn CS nổi tiếng như: Nguyên Ngọc, Dương Thu Hương xem sao?

Nguyên Ngọc, quê Ðà Nẵng, sanh năm 1932, tuổi Thân. “Tuổi Thân con khỉ lao chao. Nhảy qua nhảy lại té ào xuống mương”. “Tuổi Thân con khỉ ở lùm. Chuyền qua chuyền lại rớt ùm xuống sông”. Nhưng Nguyên Ngọc không rớt ùm xuống sông Hàn đâu vì Nguyên Ngọc thoát ly theo CS lên rừng làm con khỉ Trường Sơn. Thưởng công làm khỉ, Nguyên Ngọc được đảng ta phong hàm Ðại tá. Nguyên Ngọc còn được đảng tổ chức cho con vợ là văn công nữa chớ! Ngoài ra, đảng ta còn phun nước miếng, chùi xi-ra vô mặt cho bóng: Nguyên Ngọc là một nhà văn, nhà báo, biên tập, dịch giả, nhà nghiên cứu văn hóa. Nghĩa là nhà nào đi vô đi ra cũng có thằng cha hồi nãy.

Năm 1991, Liên Xô rả bành tô sập tiệm, đang làm Tổng biên tập báo Văn nghệ, Nguyên Ngọc theo bè với Trần Ðộ, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội.

Nguyễn Văn Linh, Ðỗ Mười rét quá bèn chạy qua Thành Ðô, Tứ Xuyên đầu hàng Giang Trạch Dân và Lý Bằng. Ðám chóp bu nầy quay về siết lại bù lon (boulon). Trần Ðộ bị đuổi ra khỏi đảng. Bùi Tín, Dương Thu Hương vọt được qua Tây. Nguyên Ngọc bị hạ tầng công tác. Bị đảng ta cho ra rìa nhưng tật nói dóc của Nguyên Ngọc cũng không bỏ được.

Thường thường CS áo thụng vái nhau; nhưng trường hợp nầy, Nguyên Ngọc vái vợ. Vợ của Nguyên Ngọc là Hồ Thanh Tâm, vốn là văn công. Nguyên Ngọc báo công cách mạng: vợ mình từng bị bắt trên núi Tây Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, từng ở tù Mỹ từ 1967 đến 1973. Bị đám cai tù tra tấn đánh gãy dập xương cả hai cổ tay mà không biết. Mãi sau ra tù rồi, đi chữa bệnh ở Ðức các bác sĩ mới phát hiện ra và công phu nối ráp lại.

(Dấu hỏi to tổ bố đặt ra là: “Gãy xương, đau té đái trong quần, xỉu lên xỉu xuống còn chưa thấy! Ðau chết cha như vậy mà văn công CS nầy lại không biết ư? Chẳng qua Nguyên Ngọc muốn khoe vợ mình trung kiên nhứt định không khai báo nên được đảng ta cho leo máy bay đi Ðức đấy thôi!)

Lời nói dóc thứ hai: “Một tay đại úy quân cảnh (?!) thẩm vấn tra tấn Tâm khốc liệt bao nhiêu ngày vẫn không moi được chút gì ở Tâm, ngoài sự kinh ngạc trước khí tiết của người nữ cách mạng (?)”

(Bà con mình ai cũng biết nhiệm vụ chánh của quân cảnh (cảnh sát của quân đội) là thực thi quân luật, duy trì quân phong, quân kỷ trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài ra Quân Cảnh còn coi các trại tù binh CS ở ngoài đảo Côn Sơn hay Phú Quốc. Còn việc thẩm vấn tù binh ngay tại chiến trường là nhiệm vụ của Ban Hai Tiểu đoàn. Sau đó giải giao đương sự về An Ninh Quân Ðội để khai thác thêm.

Khi Khrushchev đã đến Des Moines, Iowa xem hoạt động của Trang trại Garst. Một người đàn ông trên đường phố cầm tấm biển ghi: “The Only Good communist is a Dead One” Courtesy of Library of Congress, O’Halloran, Thomas J., 23 September 1959

Năm 1967, một Ðại úy có thể làm Tiểu đoàn trưởng, chỉ huy hơn 300 lính thì huỡn đâu mà đi thẩm vấn một nữ văn công CS vốn chỉ biết hát hò?)

Lời nói dóc thứ ba: “Mấy năm sau, khi Tâm được trao trả qua sông Thạch Hãn và cầu Hiền Lương, tình cờ gặp lại chính viên đại úy ấy trong đoàn đại diện chính quyền Miền Nam, anh ta trân trọng cúi đầu nói: “Hôm nay chị là người chiến thắng.” (?) Tâm trả lời: “Ước mong mai này đất nước thống nhất, xin được mời anh ra thăm miền Bắc” (Điếu văn của nhà văn Nguyên Ngọc tiễn đưa vợ ‘2g chiều, ngày 5/5/2022’ -Văn Việt)

(Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải không phải sông Thạch Hãn. Từ năm 1967 tới 1973 ròng rã 7 năm mà cứ giam lon đại úy của người ta hoài vậy cha nội? Năm 1975, nếu nhân vật Ðại uý Quân Cảnh nầy có thật thì chắc ông bị mời ra Bắc ở trong các trại cải tạo khắc nghiệt và cũng có thể đã bỏ thây ở trại tù Hoàng Liên Sơn cũng hổng chừng).

Rồi mấy bữa nay, một anh bạn văn phe ta bỗng lên cơn kinh giựt ‘hồ hởi phấn khởi’: Loa đây! Loa đây: “Tác giả của Thiên Ðường Mù; Bên Kia Bờ Ảo Vọng – nhà văn Dương Thu Hương, trúng giải thưởng văn học lớn của Pháp, giải Cino Del Duca, với tiền giải thưởng 200 ngàn Âu kim (khoảng 220 ngàn đô Mỹ).

Tui vốn khoái tiền, tui cho rằng bà Dương Thu Hương cựu cán binh CS nầy vô mánh khẳm; vì có chổng khu viết đi nữa, nhuận bút cả đời chưa chắc được?”

Nhưng một anh bạn văn khác tỉnh táo hơn, không có lên cơn động kinh sảng, ổng nói: “Dương Thu Hương cũng viết dóc thầy chạy như Nguyên Ngọc. Xong ảnh trích một đoạn vầy nè: “Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh.

Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đấy là những người con gái miền Bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị thanh niên xung phong cơ động nào đó bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo”

(Dương Thu Hương viết về người lính VNCH trong tiểu thuyết ‘Vô đề’ nó giống hệt luận điệu của Bảo Ninh viết “Nỗi buồn chiến tranh!”

Ðặt dóc, viết dóc để tuyên truyền kích động lòng thù hận là thuộc tính của nhà văn cán binh CS Miền Bắc.)

Vấn đề đặt ra là trong thời đại ‘internet’ bùng nổ thông tin đa chiều thì đặt dóc, nói dóc kiểu loa phường như vậy chúng chửi chết? Biết dóc không ai tin sao không đính chính? Lòng tự trọng của người cầm bút ở đâu?

Chớ ngày 23 tháng 9 năm 1959, ở Des Moines, Iowa, Mỹ, một chú Sam cầm một biển có chữ  “The Only Good Communist is a Dead One” (“Chỉ có cộng sản chết mới là cộng sản tốt.”) sùy vô mặt cho Tổng bí thư Ðảng CS Liên Xô Nikita Khrushchev coi. Tui thì nghĩ khi nào những nhà thơ, nhà văn CS như Chế Lan Viên, Nguyễn Khải ngáp ngáp thì mới thôi nói dóc, mới tốt.

ĐXT

Hình trên mạng, ám đời thường

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 17/07/2019 

Post by Sơn râu 7 Feb 2024

1.
Em bơi như thể kình ngư
lên bờ nghe lạnh mỏi nhừ suối khe
mặt nghiêm hàng lộ không che
ma-dzê-in nọ ai dè china

bá tánh không ngớt kêu la
đặc khu bành trướng mả cha sự đời
một bức ảnh nói ngàn lời
tội danh phảm cảm nắm nhời ninh tinh

Việt Nam làm được cây đinh?
môi hở răng lạnh làm thinh cho lành?
ai sang triều cống Tàu. dành
trôn đây lễ vật tập tành chuộc cha

ngục trung nhật ký chửa tha
định ra vai vế rõ ta sếp sòng

buồn dâng lệ thuỷ xót lòng
ngất ngư cá lội ngược dòng hoá long?
hồ chứa mưa con nước ròng
thả câu nước đục a tòng đám lu.

2.
Cho anh cầm cái lon, cô
ca hồi mô khát tình bồ lê rô

3.
Năm đô la lớn bao dường?
Sao anh còn ngại giữa đường chết trân
Phí chia tay đóng một lần
Xót tiền thì hãy bần thần lộn lui.

4.
Chồng vô nằm viện lặt lìa
Chuyển sang khu khác sẵn thìa muỗng hơn
Đau thấu trời chẳng ba lơn
Khai gãy tay trái chân hờn mũi khoan
Ba ngày tính kế bồi hoàn
Tứ chi thương tật cường toan lệ trào
Vợ vào thăm chỉ thì thào
Toàn tập sứt mẻ chó nào mà ưa!

5.
Trời đổ mưa sai quy trình
Hành cơn lũ lụt một mình lu ngăn.

6.
Ông Võ văn Thưởng nói rằng:
“Với internet cầm bằng lộ xa
Cho phép là quyền của ta
Mấy làn xe chạy phân ra rõ ràng”.
Tuyên giáo trung ương đã bàn
Đưa lời khẳng định đỏ vàng trắng đen.

7.
Tôi nay chót dại một lời
Bày trò thi phú giả nhời dở hơi
Không dè bằng hữu ở đời:
Rượu bia thì được đừng mời thơ đau
Chuồn chuồn cắn rốn lặn sâu?
Hay trơ trán bóng cầm câu đợi thời?

Hồ Đình Nghiêm

Hết, chết trước Tết | Quan họ Bắc Linh

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 16/01/2020

Post by Sơn râu 7 Feb 2024

Hết, chết trước Tết

quê mình có hồ tĩnh tâm
bữa về ai ngờ chết câm
bên ao nước bùn lâm râm
đạn trổ buồng tim máu đào
viên chì cố tình nước lã
thiếu uý đặc công tác xạ
hình như nghiệp vụ quen tay?
vãi vu vơ cắm hồng tâm
ngọt không lời trăn trối

biết văn chương rẻ bèo bọt
ai mà dè tới mạng này
sợi chỉ treo nặng ngàn cân
xuân này con không về ba
có buồn ra cửa ngóng đợi
đùng đoằng tợ tiếng pháo nổ
ách giữa đàng tròng vào cổ?
thấy mi tới, cái đi đong
dịp tết nhất hoá tang gia
bại sản ba đời vết đổ
đất mất rồi can cớ chi
ai đấu tranh quyết đòi lại?

cụ ông ơi nhầm thôi mà
tớ nom hắn tợ kẻ xấu
thà giết lầm hơn bỏ sót
gà hoá cuốc nghĩa như nhau
năm triệu bồi thường cầm đỡ
khối kẻ không chiếu đắp thây
năm triệu là mấy đô la?
mả cha thấy nực quá ta
trong hòm ma vọng lời ra
bằng tiền nhuận bút đó ba!

Quan họ Bắc Linh

em nên hết bậc cấp chùa
cỏ lon nhìn xuống xanh vừa ngàn hoa
tưởng chừng nạc nối mù noà
lửa đi lửa ở vỡ oà tiếng chuông
náng giềng thức dáng niễu buông
mềm cho ngọn gió lói buồn phương lam
nẻ noi thí chủ sao cam
anh đâu chẳng nại cửa tam quan chờ
bướm bay nắm khi ơ hờ
nàm thao anh hiểu em sờ ngực vơi
tết lày chết chửa hết nời
ninh thiêng đã mất rối bời bà đanh.

Hồ Đình Nghiêm
15/1/2020

Hậu bẩy nhăm

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 30/04/2019

Post by Sơn râu 7 Feb 2024

Bùi Giáng trên phố Sài Gòn

bát phố

phường nay rất lạ ngợm người
cá mè một lứa vượn đười ươi vui
khỉ ăn ớt con mắt thui
chột lé đánh bạn thân vùi đoàn viên
đảng mình còn hè phố xiêu
tự do cờ xí đỏ chiều lấm lem
kinh tế mới vượt rừng xem
cho tròn sỏi đá dem thèm hột cơm
ta bắt trời hạt mưa đơm
thằng kia đã quyết rác rơm cũng rầu.

 
sóng nước tân kiều

con đò vui mái giữa sông
hương này dâng ngập hoa không cây cành
đèn dầu mờ lu cũng đành
thắp chi một ngọn đã rành miệng trôn
tiền trao cháo múc dại khôn
lại trần như nhộng đợi hồn phiêu diêu
em xin noái thật không điêu
ngoa ngôn chi rứa sắp tiêu đời mình
thôi đi khách chỉ chực rình
đò ra cửa biển thình lình vượt biên
hú hồn ăn mặn chẳng kiêng
dè chi chỉ một Kiều riêng từ đường.

 
ngứa

trên cao vén lá bồ đề
ngồi thiền thấy ngứa bốn bề cỏ gai
gái Nam Phổ. nghe giọng ai
buồng cau rung động thiện tai phút này
tôi lo cho cái vừa bày
và ngộ một khắc lông mày thôi nhăn
ban ngày lại mọc vầng trăng
ngã lưng cỏ rậm chẳng răng rứa gì.

 
biểu (lộ) tình (cảm)

cu đen đi từ sớm
trời vẫn còn chưa tỏ
tới chiều tối mịt. mẹ
trông nào thấy con về

mười giờ đêm không dưng
có tiếng đập cửa. dữ
thần giọng thằng Nhân hối
bác ơi bác. nguy to

Nhân với thằng cu đen
là bạn chung khóm phường
tình cảm tuy gần mà
xa. tuy xa mà gần
giậu mồng tơi ăn riết
giờ chỉ trồng kẽm gai
lỗ chó cũng bưng bít
nhưng tai vách mạch rừng

nguy to. hừ. chuyện nhỏ
chạy tới đồn đả thông
ngủ ngáy chi. thao láo
ra khám lại vào tù

mẹ già cõng hoang mang
bà ba thăm cửa quyền
nhà tranh vào nhà ngói
xốn mắt ngó cu đen

áo rụng ba hột nút
quần rách đầu gối tươm
toe tua tái mặt máu
đầu gấu vây hầm hè

thằng Nhân làm quân sư
muốn về đừng tư lự
thành khẩn viết tự khai
độc lập với tự do
đi liền cùng hạnh phúc
ở đây muỗi nhiều quá
hút cạn giọt máu nghèo
đành khôn nhà dại chợ

tôi hứa với chính chủ
hứa cùng sếp côn an
từ rày cu đen này
không đi biểu tình nữa.

Hồ Đình Nghiêm

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 7 Feb 2024

Hình minh họa

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Bài 7

Vũ Thị Kim Vinh
“Một bức tranh chúng tôi có thể ngắm nhìn và mơ mộng”

Sau ngày 30 tháng Tư, sau khi Saigon sụp đổ, người ta bị bắt buộc phải công khai tự phê, tự kiểm, phải tố giác cha mẹ, con cái, bạn hữu. Người ta đã buộc lòng phải làm như thế, không ai đếm xỉa đến chuyện phải nói cái gì nữa. Ai nấy đều giản dị chỉ lo tạo ấn tượng tốt để sinh tồn. Người ta nói những chuyện như thế để mong chế độ mới đối xử tử tế. Phần tôi cũng phải nói là căm ghét những người như cha mẹ tôi, chỉ vì tôi cần sinh tồn, tôi không đếm xỉa những gì tôi nói nữa.

Mỗi sáng sớm bảnh mắt mới 6 giờ họ đã dùng hai loa phóng thanh to tướng đánh thức chúng tôi dậy. Chúng tôi phải ra cả ngoài đường cho cái mà tôi gọi là “giờ Jane Fonda”. Đứng ngoài đường nghe họ hô tập thể dục. Bất kể tuổi tác già nua, tình trạng nào cũng mặc, ra tập thể dục. Họ cho phát thanh một thứ âm nhạc buồn cười, một giọng la “một, hai, ba” y hệt như người ta mô tả trong cuốn sách “1984″. Thật lố bịch. Nhìn bao nhiêu bà già phải làm trò này, tôi tự nghĩ “Thứ xã hội mới gì đây, thứ chế độ không trọng nể cả những người già cả như thế?”.

Sau đó chúng tôi bắt buộc phải tình nguyện lên đồng rừng dựng nhà cửa, sửa mái nhà ở những vùng kinh tế mới. Họ bảo chúng tôi là những người tình nguyện, thực ra nào có ai tình nguyện. Không chịu đi, họ cắt thức ăn, cắt hộ khẩu. Mẹ tôi vẫn có thể mua hàng chợ đen nếu họ cắt hộ khẩu, nhưng họ cũng không để cho yên. Họ bảo nếu trong nhà không có một đứa con tình nguyện công tác lao động ở khu kinh tế mới thì toàn thể gia đình sẽ phải đi kinh tế mới. Vì thế tôi phải tình nguyện cho xong.

Họ thực đủ mánh khoé gạt gẫm chúng tôi. Lúc đó, chỉ có mẹ tôi ở nhà. Cha đã phải đi tù. Và cả chuyện ấy nữa cũng là mánh khóe gạt gẫm của họ. Đầu tiên họ thông báo các Hạ sĩ quan, các cấp dưới trong quân đội chỉ phải đi học tập hai ngày nên các sĩ quan cấp trên đã chứng kiến, nghĩ rằng Cộng sản giữ đúng lời hứa. Chính vì thế cha tôi và anh rể tôi đã tự ý đến đăng ký để đi “cải tạo với thời hạn 6 tuần”. Cha và anh rể tôi rời Saigon cùng với nhiều người khác. Khi thời hạn đã mãn, chúng tôi đều mong ngóng cha và anh rể trở về, nhưng họ không về. Tôi nhớ thật rõ ngày đáng lẽ cha anh tôi đi cải tạo trở về. Tôi nhớ thật rõ khuôn mặt những người chị, người vợ, người con trông ngóng chồng, cha, anh trở về.

Mặc dầu chính tôi là người có quan điểm tự do và rất trung lập, nhưng tôi cũng không thể nào tha thứ cho Cộng sản được về những gì họ đã làm lúc đó, khi nhìn thấy cặp mắt của những người đợi chờ trông ngóng, những người đã tin lời Cộng sản nói. Ngày hôm ấy vạn vật tưng bừng, mọi người đều mặc những bộ quần áo tươi sáng, họ tin đó là ngày cha anh họ, những người yêu dấu trở về với gia đình. Ai nấy rộn rã kể với nhau những ký ức tốt đẹp. Rồi nấu ăn. Rồi trang hoàng dọn dẹp nhà cửa. Tất cả đều thất vọng buồn bực, cha anh của họ không bao giờ trở về cả.

Hình minh họa

Nhiều người đàn bà kéo nhau lên tận các cơ quan để hỏi các thủ trưởng Cộng sản xem khi nào cha anh họ được về. Tất nhiên lãnh tụ Cộng sản đời nào ló mặt ra tiếp họ. Ngay dưới thời Nguyễn Văn Thiệu, người ta vẫn còn có thể giao tiếp được với các lãnh tụ qua trung gian báo chí, hoặc qua các viên chức chính quyền. Dưới chế độ Cộng sản, đừng hòng. Người ta chẳng có quyền gì làm như thế. Lính bên ngoài không cho phép họ vào.

Các bạn tôi và mẹ tôi hỏi một cán bộ Cộng sản: “Tại sao cán bộ bảo đến hôm nay, tức là sau sáu tuần, chồng chúng tôi về”? Gã Cán bộ đáp: “Sáu tuần đấy là sáu tuần di chuyển, chứ không phải là sáu tuần ở trong trại. Mấy ông có nợ máu với nhân dân, làm sao được về nhà dễ dàng quá thế?” Chúng không hề cho ai biết chúng giữ người ta ở đâu.

Năm 1984, cuối cùng cha tôi được thả ra khỏi trại tập trung. Sáu tuần lễ, trở thành chín năm trường!

Trong suốt những ngày ấy chúng tôi đã sống trong cảm giác khủng khiếp, vì chúng tôi không bao giờ biết được chuyện gì sẽ xảy ra. Vào đêm trước ngày đáng lẽ cha tôi được thả về, tức là khoảng sáu tuần sau khi cha tôi đi, một đám lính đông đảo kéo đến đòi xét nhà. Lúc ấy 2 giờ sáng. Chúng bấm chuông tới tấp. Chúng tôi khiếp đảm vì cha tôi đã đi khỏi. Khi chúng tôi hỏi ai kêu cửa, chúng cao giọng đáp: “Giải phóng! Mặt Trận Giải Phóng!” Chúng trả lời một cách nghiêm trọng. Mở cửa ra thì đây là một thằng trẻ ranh. Nó gọi mẹ tôi bằng “chị” và bảo: “chồng chị đi học tập phải không?” Mẹ tôi đáp: “Dạ, phải,” nhưng chúng vẫn lục soát thẳng tay. Lý do thực sự của việc lục soát chính là tiền, là vàng.

Lúc ấy chúng tôi hãy còn một tấm lịch treo tường, tấm hình cô gái Nhật rất dễ thương, khoẻ mạnh, hấp dẫn. Cô ta mặc cái áo sơ mi, trùm qua quần tắm, nhìn ra biển vói một vẻ mặt hạnh phúc.

Thằng ranh con nói: “Chị phải tháo cái lịch này xuống. Tục tĩu hết sức! Tàn tích chế độ trước! Tệ hại quá! Tháo nó xuống ngay!” Chúng tôi muốn ứa nước mắt. Tấm hình ấy là một chút gì còn lại để chúng tôi nhìn ngắm mơ mộng, để thấy biển trời xanh ngất, để thấy khuôn mặt hạnh phúc của một người đàn bà. Những gì chúng tôi biết chúng tôi sẽ không còn bao giờ được như cô gái trong tấm hình nữa, và bây giờ, hắn muốn chúng tôi xé trước mặt hắn ngay tức khắc.

Về tháng Sáu trời Sài Gòn rất nóng. Anh tôi chỉ mặc trên người một cái quần đùi. Thấy thế thằng lính chỉ bằng tuổi anh tôi bảo: “ăn mặc vô lễ!” Hắn la lối như thế lúc hai giờ sáng. Anh tôi bảo không mặc áo vì trời nóng quá. Thằng lính thét lên: “Đừng cãi. Đừng cãi lại với tôi, nghe chưa! ” Mẹ tôi vội vàng xin lỗi, anh tôi cũng phải xin lỗi. Thế rồi thằng lính nhìn sang mấy đứa em gái, có lẽ hắn muốn ra oai với các em tôi. Lúc ấy vào giờ đi ngủ, mấy đứa em đang ăn mặc quần áo ngủ mỏng. Hắn nhìn mấy đứa em gái tôi bảo: “Nhà này thật thối tha. Lối ăn mặc của các cô và cái thứ lịch treo tường ở đây! Các cô sẽ phải thành khẩn học tập rất nhiều trong đời sống mới. Đời chúng tôi trong sáng, còn các cô dơ dáy quá!” Rồi bọn lính bỏ đi.

Có một lý do làm tôi không bao giờ quên được đêm hôm ấy, vì tôi nhìn vào khuôn mặt anh tôi. Ông cũng biết, sau này anh tôi đã chết. Anh tôi tốt nghiệp trung học xong, thi vào trường Y Khoa và trường Kỹ sư. Anh là một thanh niên thông minh, rất thông minh, hiền lành, tử tế. Anh tôi biết là không vào trường Y khoa được chỉ vì có liên hệ với cha tôi.

Chúng tôi là người Công giáo, không nghèo, cha tôi từng là Đại tá trong Quân đội miền Nam Việt Nam. Anh tôi được điểm thi rất cao. Chúng tôi biết chuyện ấy vì có nhiều họ hàng làm trong các cơ quan. Chú tôi đã một thời coi trường Y khoa, ông là người coi các kỳ thi. Các giáo sư và bác sĩ cho điểm trong các kỳ thi lúc ấy vẫn còn là những người cũ, họ cho anh tôi điểm cao nhất trong kỳ thi vào trường Y Khoa. Nhưng khi nhìn lý lịch anh tôi, họ giản dị ném số điểm ấy vào thùng rác. Chúng tôi đều biết anh tôi làm bài rất khá, điểm rất cao. Anh tôi bị tổn thương sâu đậm vì không được nhận vào trường Y khoa. Anh đã được điểm cao nhất tại Saigon. Sau đó anh phải tìm việc làm, lúc ấy không có việc làm là phải đi kinh tế mới. Mẹ tôi không muốn anh tôi uổng phí cuộc đời ở các khu kinh tế mới, nên đã cố tìm cách cho anh tôi đi khỏi nước. Lúc ấy họ bắt anh tôi gia nhập Thanh niên Xung phong để đi làm đường, đi lao động trong rừng và anh đã phải ký giấy nói rằng anh “tình nguyện”.

Hình minh họa

Cuối cùng chúng tôi cũng có mánh. Sống trong một xã hội mà chính quyền dùng đủ mọi thủ đoạn lường gạt thì chúng tôi cũng phải có những mánh khóe lường gạt. Chúng tôi đã học được luật chơi. Mẹ tôi hối lộ cho một y tá để bà này chứng nhận anh tôi bị tai nạn gẫy tay, do đó phải bó bột vài tháng. Bà y tá ký giấy nói là anh tôi bị gãy tay, đổi lại mẹ tôi phải trả cho bà ấy một cái xe Honda hai bánh. Chúng tôi cũng thuê tiền một người đến nhà tôi la lối ầm ĩ cho cả xóm nghe rằng anh tôi bị xe đụng, cái xe chạy mất. Thế rồi chúng tôi đưa anh tôi về nhà với cái tay bó bột, hàng xóm chạy đến, có cả an ninh khu vực và ông Trưởng Khóm. Trưởng Khóm trước đây vẫn làm cho mẹ tôi. Gia đình ông ta rất nghèo, nguyên là thợ nề, bây giờ là Trưởng Khóm. Mẹ tôi từng luôn luôn đối đãi với ông rất tử tế. Bây giờ ông lại là nhân vật quan trọng. Ông ta hỏi chuyện gì thế. Chúng tôi khóc lóc mếu máo. Mẹ tôi bảo ngày mai là ngày anh tôi sẽ đi lên kinh tế mới, nó muốn góp phần xây dựng đất nước mà trời ơi, bây giờ làm sao đi được nữa, thiệt thất vọng quá chừng đỗi! Ông Trưởng Khóm bảo: được rồi, khi nào tay nó lành thì nó đi! Cứ ba tháng họ lại gửi người đi, nên anh tôi bây giờ có thể tạm yên ba tháng.

Căn phòng khách nhà tôi bây giờ trở thành chỗ người ta làm việc. Mẹ tôi đan áo khéo, lại có sáng kiến, ít ai đan đẹp bằng. Vì thế họ đặt bà làm Giám Đốc cơ sở đan áo ngay nhà chúng tôi. Ngày nào cũng có mấy người đàn bà đến đan. Họ nhận len từ Đông Đức, đan mỗi cái kiếm được 50 xu. Mấy bà có chồng đi học tập thường đến nhà tôi làm việc này. Rồi buổi tối, khi mọi người ra về, chúng tôi đóng kín cửa nẻo lại, anh tôi mới tháo băng bột ra.

Sau sáu tháng, chúng tôi kiếm được đường dây cho anh tôi đi. Anh bảo nếu hên thì được tự do, nếu xui bỏ mạng là cùng, ở lại Việt Nam cũng chết.

Chúng tôi kiếm được tàu đưa anh sang Mã Lai. Trong chuyến đi, anh bị đau bụng. Họ đưa anh đến bệnh viện, tìm ra chứng sưng ruột. Bệnh trạng mỗi ngày một nghiêm trọng. Họ bảo chỉ ở thêm một ngày nữa trên mặt biển là anh tôi chết. Như thế, người ta đã một lần cứu được mạng anh tôi lúc ở Mã Lai.

Chúng tôi nghĩ sang đến Mỹ, anh sẽ học Y khoa, trở thành Bác sĩ. Nhưng cuối cùng sang đến Mỹ anh phải làm việc. Rồi học Anh ngữ, chuẩn bị xin vào trường Y. Nhưng anh tôi đau trở lại, chết trước khi vào được trường Y.

Phần tôi, mẹ tôi mua cho cái tên giả ở Việt Nam, nhờ đó mới được đi học lại ở một lớp thấp hơn một cấp. Tốt nghiệp với lý lịch như tôi, chẳng cách gì kiếm được việc làm hoặc vào Đại học được cả. Vì thế tôi đã ở lại trung học với một mớ giấy tờ hợp thức, tôi ở lại lớp mười một đến hai năm.
Tôi trở thành thuyền nhân, rời khỏi nước năm 1979 trên một con tàu đi Tân Gia Ba. Nhưng tại đây họ không muốn nhận. Họ dùng tàu lớn kéo ra rồi đâm tàu chúng tôi đến gần chìm.

Mọi người trên tàu la khóc, cầu nguyện, van vái. Riêng tôi chỉ cười. Chỉ có các bạn tôi và tôi cười. Chúng tôi bảo “có gì mà phải khóc”. Tôi cũng không rõ tại sao tôi có thái độ như thế. Có lẽ vì tôi hãy còn độc thân, đi một mình, không mục tiêu, không tiền bạc, chẳng có gì trơn trụi, tôi đã phải ngồi bệt dưới hầm tàu sáu ngày ròng rã. Tôi không còn là con người nữa. Dưới ấy người ta đi tiểu ngay trên đầu tôi. Ngồi ẹp bên dưới những người khác cả sáu ngày ròng rã như thế, chân không ruỗi ra được. Cặp chân tôi tê dại. Lúc ấy người chẳng còn ra người, người ta có thể giết nhau thực dễ dàng. Nếu người ta làm tôi nổi điên và nếu tôi khoẻ hơn thì chính tôi cũng đến giết người vì cuộc sống chẳng còn có ý nghiã gì nữa cả. Cuối cùng tôi thực chán nản. Mỗi lần người ta đi tiểu trên đầu, tôi chỉ bảo: “Ôi! Trà nóng! Đến giờ uống trà đây!”

Tôi ốm liệt vì không đủ nước uống. Tôi bị chứng ráo nước nhưng vẫn còn lịch sự như thế. Người ta dùng bọc ny lông đi tiểu, chuyên nhau lên trên mặt khoang rồi đổ xuống biển. Nhưng nếu có ai chuyền không cẩn thận, nước tiểu sẽ văng ra tung toé chảy từ trên khoang, chảy xuống chúng tôi ở dưới tàu.

Tuy nhiên cũng may mắn chúng tôi không gặp hải tặc Thái. Người tài công đã chọn đường đi Tân Gia Ba để tránh hải tặc. ở Tân Gia Ba họ cho chúng tôi nước và những đồ ăn của quân đội Mỹ, khẩu phần “C- Ration” mà chúng tôi cứ gọi ra là “Carnation”, hoa cẩm chướng.

Hình minh họa

Chúng tôi gọi như thế vì khi lính Mỹ đến Việt Nam, lúc còn nhỏ tôi vẫn réo gọi lính Mỹ: “Carnation”, hoa cẩm chướng, thứ hoa Mỹ duy nhất mà chúng tôi có. Thứ hoa này làm cho tôi buồn bã nhớ đến cha tôi, vì khi còn ở với cha, ông cũng ăn cả hoa cẩm chướng Mỹ.

Chúng tôi rời Tân Gia Ba sang Mã Lai. Tôi ở Mã Lai gần một năm. Tôi đã gặp xui khi ở Mã Lai, nhưng đến nay nghĩ lại, tôi vẫn cho mình hãy còn may mắn. Khi đến Mã, dân làng ở gần nơi chúng tôi đổ bộ đã dùng súng M-16 bắn đuổi chúng tôi đi. Họ bắn vào nước, bắn qua đầu chúng tôi.
Nhưng tài công quyết định đánh đắm tàu, phá máy. Vì thế chúng tôi phải đổ bộ, mọi người nhảy ra cố thoát vào bờ. Thôi mạnh người nào nhặt được cái gì nổi lên thì bám vào, bềnh bồng trên biển như thế hai tiếng đồng hồ cho đến khi họ chán trò ấy, họ bèn cho chúng tôi bước lên bờ.

Anh tôi bảo trợ tôi sang San Francisco. Sau một năm sống ở Mã Lai không tiếp xúc với cuộc sống tân tiến, cái gì cũng có vẻ mới lạ nên đã khó cho tôi thích nghi cuộc sống. Tôi bị nhiều xúc động, gần như kiệt quệ khi đến Mỹ. Tôi đã suýt chết nhiều lần quá. Ở Mã Lai, tôi phải sống trong một sân banh, ngủ trên mặt đất. Ba ngàn người ngủ trong một sân banh. Biết bao điều phải chứng kiến trong những ngày ấy, những điều người ta không thể tin được, mà cũng chẳng nên biết đến làm gì.

Khi tới Mỹ, tôi tha thiết hy vọng một ngày nào tôi sẽ phục hồi lại được phẩm giá của mình. Lấy lại được phẩm giá qua thời gian, ấy là những gì tôi hy vọng. Đa số người ta nói rằng họ yêu Tự do, tôi biết. Nhưng đối với tôi, Tự do không đủ. Tôi cần có cả phẩm giá của tôi, giá trị tinh thần của tôi, linh hồn tôi nữa. Tôi không thể thực sự kể cho ông nghe hết cái cảm giác của tôi lúc đang còn là một thuyền nhân lênh đênh trên mặt biển như thế nào, bởi vì tôi đã mất hết tinh thần, tôi không tìm được ra tôi, tôi không còn biết tôi là ai. Tôi chỉ có cảm giác tê liệt. Bây giờ đây, không biết rồi mọi chuyện sẽ ra sao. Tôi đã phải trải qua nhiều chuyện. Tôi không thể dối trá bảo rằng tôi rất hạnh phúc, rằng tôi đã tìm được tự do. Ông thấy chứ, tôi đã cảm thấy tự do khi tôi ở trên mặt biển, khi tôi ở Mã Lai, khi tôi ở Tân Gia Ba! Tự do đấy! Nhưng Tự do của con người còn phải đi với Phẩm giá con người. Tôi đã sống trong cuộc chiến, đã phải rời bỏ đất nước mà đi… Tôi là một nạn nhân chiến tranh. Chúng tôi đã không thực có Tự do. So sánh với những dân tộc khác trên thế giới, thì có. Tuy nhiên cái tự do thực sự của con người thì chúng tôi chưa từng bao giờ có được.

Tại nước Mỹ này, có người thương kẻ ghét. Tôi biết là tôi phải biết ơn dân tộc Mỹ và đất nước Mỹ, bởi vì ít ra tôi vẫn còn cơ hội tìm lại tinh thần tôi, giấc mơ của tôi, và được tự do.
Tôi luôn luôn nhớ đến câu này của Martin Luther King Jr.: “Tôi có một giấc mơ”. Giấc mơ của tôi có thể không giống giấc mơ của ông, hoặc của các ông. Giấc mơ của tôi có thể chỉ rất đơn giản. Nhưng tại đất nước này, tôi có thể thực hiện được, nếu tôi cố gắng. Tôi có cơ hội để thực hiện các giấc mơ, mặc dầu có thể tôi chỉ mơ ước hão huyền thôi.

Tôi muốn trở thành một nhà văn, nói như thế một cách lý tưởng. Tôi cũng muốn trở thành một nhà giáo dục, được sử dụng những kiến thức về khoa học, về cuộc sống, hoặc bất cứ về lãnh vực nào để giúp đỡ con người, bởi vì tôi thấy con người là một cứu cánh chứ không phải là một phương tiện. Tôi luôn luôn thấy con người là một cứu cánh, là mục đích cuối cùng. Tất cả những gì tôi làm cho tôi, đó cũng là cho con người vậy. Nếu tôi thương yêu và tôi săn sóc được cho tôi trước thì tôi mới có thể thương yêu những người khác. Khi nói “những người khác”, không có nghiã chỉ là người Việt Nam. Tôi muốn nói tất cả mọi người. Người Việt, tất nhiên là những người đã chịu nhiều đau thương nhất, tôi sẽ phục vụ họ, bởi vì họ là những con người khốn khổ. Tôi chống Cộng sản, nhưng tôi cũng chống tất cả những con người chủ trương kỳ thị chủng tộc, tôi chống mọi chính quyền áp bức và tiêu diệt con người, tiêu diệt tinh thần con người. Những kẻ ấy chỉ xem con người như những sản phẩm, như những phương tiện để sử dụng. Bất hạnh thay, chính những người Cộng sản đã đối xử với con người như thế.

Chúng ta sinh ra trong thế giới để làm cho thế giới trở thành một nơi tốt đẹp hơn, không phải để tàn phá nó. Tôi tin vạn vật cái gì cũng có Trời. Tôi tin Thượng Đế sinh ra con người. Tôi không hề và chưa từng bao giờ tin vào các Chủ nghiã. Tôi tin ở tinh thần nhân bản.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 7 Feb 2024

Hình minh họa

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Bài 6

Nguyễn Sơn “Ra đi và quên lãng”
Tôi nảy ý tưởng đi Mỹ từ năm mới mười hai tuổi. Ngay từ những năm chiến tranh, tôi đã tò mò muốn đi Mỹ. Nhiều người bạn của tôi cũng thế . Nhưng lúc ấy tôi hãy còn ít tuổi quá, làm sao đạt được mục đích. Trong thời chiến, các bạn tôi và tôi cũng đã bàn nhau về chuyện sang Mỹ, mong ngay cả đến chuyện bỏ miền Bắc vào Nam. Ở miền Bắc lúc nào cũng phải lo bom đạn, lúc nào cũng phải lo giữ cho mạng sống an toàn.

Lúc ấy chúng tôi còn trẻ, chẳng có kế hoạch, chẳng có phương hướng, cũng không rõ nếu khi vào Nam thì sẽ bị đối xử ra sao. Chúng tôi không biết nếu vượt tuyến vào Nam có bị kết án hay không. Chúng tôi không muốn bị bỏ tù trong Nam, chỉ vì đã vào từ miền Bắc. Nhưng tất nhiên trong lúc chiến tranh, việc ấy chẳng thể nào thực hiện được.

Tôi bị gọi nhập ngũ đánh Trung Quốc và Campuchia. Sau bảy tháng trong bộ đội, tôi đào ngũ trở về Hà Nội. Lúc ấy mẹ tôi bảo bây giờ tốt nhất tôi nên học lái tàu. Vì thế tôi theo học một khoá điều khiển tàu chạy sông ở miền Bắc. Khi theo học lớp này, các bạn tôi hỏi có phải tôi đang tính đi trốn không? Tôi bảo phải. Sau đấy chúng tôi chung nhau tiền mua một chiếc tàu.

Rồi vào khoảng từ 1979 đến 1980, chính phủ trục xuất người Việt gốc Hoa. Nghe trên đài, chúng tôi hiểu bây giờ Liên Hiệp Quốc đã chú ý đến vấn đề tỵ nạn rồi.

Tôi đi với em trai và em gái tôi. Sau khi bị chặn xét tại Cảng Hải Phòng, tôi lái tàu đi đường sông ra biển, cũng nhiều người khác nữa đi theo. Lúc ấy trên tàu có tất cả năm mươi người.

Như thế chúng tôi đã đưa tàu đi từ Hà Nội đến Hồng Kông. Quyết định của chúng tôi là ra đi và quên lãng, chúng tôi sẽ không bao giờ quay trở về Hà Nội nữa. Bằng hành động ra đi, chúng tôi đã bày tỏ thái độ từ chối cái xã hội mà chúng tôi đã sống, để làm lại cuộc đời của chính chúng tôi, tại một nơi nào khác. Chúng tôi cũng chấp nhận luôn cái sống lẫn cái chết. Nếu sống sót được thì cũng chẳng bao giờ quay về Hà Nội, vì quay về có nghiã là tù đày hoặc chỉ sống một cuộc đời u ám. Người ta sẽ không bao giờ quên, không bao giờ tha thứ việc chúng tôi trốn chạy.

Vì nghĩ chuyện đi biển vẫn chẳng nguy hiểm bằng chuyện xảy ra nếu không thoát, nên chúng tôi đều có tư tưởng hết sức tích cực. Chúng tôi nghĩ chúng tôi sẽ sống. Và rồi sẽ có thể xây dựng được một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân chúng tôi, cho con cái chúng tôi tại một đất nước tự do.

Khi đến Hồng Kông, chúng tôi được đối xử rất tử tế. Chúng tôi được phép lựa chọn quốc gia định cư mà chúng tôi mong muốn.

Nhiều người ở miền Bắc có cùng một cảm giác như tôi, đều muốn làm những chuyện như tôi thực hiện. Trong suốt những năm chiến tranh, chúng tôi đều đã chịu chung những điều kiện của cuộc sống kéo lê. Lúc ấy đi ngược dòng chắc chắn chỉ có chết. Cho nên tôi phải đợi đến khi cuộc chiến đã xong.

Hình minh họa

Nếu tôi ở lại Hà Nội, cuộc đời tôi hẳn sẽ khác cuộc đời bây giờ ở Mỹ. Thứ nhất, có lẽ tôi đã lấy vợ đẻ con. Bây giờ tôi vẫn một thân một mình. Thứ hai, chắc tóc tôi không đến nỗi bạc như bây giờ, vì ở đất Mỹ này tôi phải lo âu nhiều quá. Ở lại Việt Nam có lẽ cuộc đời tôi ổn định hơn.

Hiện nay tôi lo lắng quá. Tôi mất việc, thất nghiệp, phải ở nhờ bạn bè và em gái tôi. Đôi khi, tôi nghĩ có lẽ tôi nên trở về Việt Nam. Nhưng không. Không. Đùa thế thôi. Thỉnh thoảng chúng tôi lại đùa. Đúng ra, đêm hôm nghĩ ngợi, tôi vẫn thường cân nhắc chuyện này. Tôi vẫn luôn luôn có cùng một câu trả lời cho câu hỏi này: Rời khỏi nước ra đi, ấy là một quyết định đúng. Tôi luôn luôn tự nhủ, ngẫm cho cùng, tôi đã hành động đúng. Tôi không có gì phải tiếc cả, thật đấy.

Ở đây đầu óc tôi mở mang, tôi luôn luôn học hỏi. Tôi cảm thấy tôi phát triển về phương diện trí thức, tôi vui thích về điều này. Tôi được gặp gỡ trao đổi với đủ hạng người với những tư tưởng khác nhau. Ở đây không ai sợ hãi ghê gớm gì. Tôi cũng lấy làm vui thích về điều này.

Tôi đã làm một quyết định đúng khi bỏ nước ra đi, những gì tôi đã phải chọn là những gì tôi đã muốn. Đến đây thì sự lựa chọn ấy cũng xứng đáng.

Ngày đi khỏi Việt Nam, tôi đã ra đi với tư tưởng dứt khoát. Tôi muốn đi càng nhanh càng tốt.

Nhưng khi tàu vừa ra hải phận quốc tế, khi những cơn sóng mạnh vỗ mạn tàu thì chúng tôi đã bắt đầu thấy lòng bứt rứt không yên. Chỉ mới đi bảy, tám tiếng đồng hồ, đã thấy thôi thúc, muốn quay tàu về. Chúng tôi nhớ đất nước, nhớ cửa, nhớ nhà. Ý thức được những gì đã làm, chúng tôi bắt đầu bật khóc. Tất cả chúng tôi đều quay nhìn lại Việt Nam mà khóc.

Tôi ra đi chỉ một bộ quần áo trên người. Tôi biết cuộc đời rồi sẽ không dễ dàng, rồi sẽ đầy khó khăn trở ngại, phải đổi máu, mồ hôi, nước mắt lấy sự sống, nhưng chúng tôi vẫn muốn hướng tới mà đi. Và khi đã ra tới hải phận an toàn, lại muốn quay về. Chúng tôi ai cũng khóc.

Giờ đây không ngày nào, đêm nào trôi qua mà tôi không nhớ nghĩ về Việt Nam. Trong trí nhớ, tôi nhìn thấy người trong gia đình, các họ hàng thân thích, hàng xóm láng giềng, cha mẹ đẻ ra tôi. Tôi khắc khoải nhớ đến mọi thứ, từ cái cây đến những góc nhà. Đất nước Việt Nam ở trọn vẹn trong tôi, trong ý nghĩ tôi. Nhưng xin ông phải hiểu cho, tôi đã sống hai mươi lăm năm trong cuộc đời ở đất nước Việt Nam. Đấy là nơi tôi lớn lên, nơi chứa đựng biết bao ngọt bùi thời thơ ấu, đấy là nơi tôi trưởng thành. Tôi đã sống ở nơi ấy một phần tư thế kỷ, đã tràn ngập biết bao ký ức. Tôi không thể ném bỏ tất cả. Những ký ức và dĩ vãng ấy lúc nào cũng ở trong tôi.

Quay về với thực tế đất Mỹ này, tôi quả muốn được học hành. Nhưng trí óc nhớ nhung và đầy hình ảnh Việt Nam, tôi không học nổi, tôi không học thêm được nữa. Những điều thầy giảng chui vào tai này lọt sang tai kia. Tôi chỉ nhớ được đôi điều thông thường người ta cần biết để sinh sống ở đây, còn ngoại giả những điều khác, chẳng có gì lưu lại được vì trí óc tôi đầy ắp Việt Nam.

Ngày đầu tiên đến định cư tại Mỹ tôi đã quyết định phải hội nhập, phải thích nghi, phải chấp nhận cuộc sống này. Nhưng rồi cũng lại lan man nghĩ ngợi về Việt Nam. Mỗi ngày tám giờ làm việc thì chỉ nghĩ đến việc làm, nhưng sau giờ làm, lại nghĩ đến gia đình, đất nước. Xong bữa cơm, bật cái truyền hình lên xem thì không hiểu hết vì tôi không giỏi sinh ngữ lắm. Thế là mỗi đêm trí óc lại trôi giạt về Việt Nam. Cuối tuần, tụ họp với bạn bè, lại nói chuyện quê hương đất nước Việt Nam. Đề tài ấy lúc nào cũng quanh quẩn bên tôi. Nếu không có người Việt mà chỉ giao thiệp với Mỹ thì có lẽ cũng bớt cảm giác Việt Nam. Nhưng ở đây, chung quanh tôi rất đông người Việt. Chúng tôi lại nhớ. Nỗi nhớ nằm trong xương tủy chúng tôi.

Tôi nghĩ ngay cả một ngày kia khi các lãnh tụ già ở Việt Nam đã chết, người trẻ có nắm quyền thì họ cũng đã quen đường lối thế hệ già, cũng lại rập cùng một khuôn mẫu. Tôi không thấy tương lai hạnh phúc nào cho đất nước Việt Nam, có lẽ ít nhất cũng phải đến sau năm 2000.

Hình minh họa

Ngày nay người ta vẫn không giác ngộ. Có một số du học sinh sang các nước Đông Âu, nhưng khi trở về họ cũng không làm gì được vì đất nước nghèo đói, ít người học thức, người ta không được phép thực sự chứng kiến những gì xảy ra trên thế giới. Trong chiều hướng này, người ta chẳng có thể mong đợi gì việc cải thiện mức sống cả.

Muốn đất nước tiến bộ, giới lãnh đạo phải thay đổi cách thức làm việc. Họ phải làm theo nhu cầu của dân, làm theo ước nguyện của dân. Nếu dân muốn làm việc 8 giờ một ngày, thì họ phải để cho dân làm việc 8 giờ một ngày. Nếu dân không muốn tệ nạn tham nhũng hối lộ, họ phải giải quyết tệ nạn tham nhũng hối lộ. Muốn cải thiện đất nước, lãnh đạo phải đi sát với nhân dân, tìm hiểu nhân dân. Hiện nay họ không làm như thế. Lãnh đạo ra chỉ thị bắt buộc nhân dân làm những gì họ muốn. Còn nhân dân cứ hành động những gì họ đòi. Dân thì nghèo khó, khổ sở. Con người phải làm việc vất vả, mà càng làm vất vả thì cuộc đời càng thấy khốn khổ thêm.

Nước Mắt Trước Cơn Mưa

Larry Engelmann

Nguyễn Bá Trạc chuyển ngữ

Post by Sơn râu 7 Feb 2024

Hình minh họa

NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.

Bài 5

Nguyễn Thị Kim Anh

“Cố quên những đau thương”

Vào hôm sau ngày Saigon mất, em gái tôi và tôi ra Vũng Tàu cố tìm đường vượt biên. Chúng tôi ăn mặc như nông dân: bà ba đen, đội nón lá, trả mỗi người 15,000 đồng để lên một chiếc tàu nhỏ ra đi. Nhưng chỉ mới chừng một cây số thì tàu tuần bắt được, mang chúng tôi về lại. Họ nhốt chúng tôi vào khu đất trống cạnh một trường học một đêm. Chúng tôi cười cợt vì lẽ chúng tôi nói láo với họ, bảo chúng tôi đi lánh nạn trong lúc đánh nhau, bây giờ đang muốn trở về làng để bắt đầu một cuộc sống mới, vân vân. Lúc ấy mới một hôm sau ngày họ chiếm, do đó họ chưa có chính sách đối xử với những người vượt biên, vì vậy họ chỉ nhốt chúng tôi có một đêm. Suốt đêm ấy, chúng tôi chuyện trò, chẳng sợ hãi gì. Hôm sau họ cho ít bắp rồi thả chúng tôi ra.

Chúng tôi kiếm xe đò về lại Saigon, tiền nong hết sạch, mà vẫn còn kẹt lại Việt Nam. Đó là chuyến đầu. Mãi đến chuyến thứ sáu tôi mới đi nổi. Chuyến ấy tôi phải giả dạng làm người Hoa, đi vào tháng Bẩy năm 1979.

Trở về lại Saigon, mọi người đang chạy nhốn nháo. Đường phố đầy người. Từ hôm ấy, chúng tôi bắt đầu thấy rất nhiều lính Bắc Việt đi trên đường phố.

Các trường học mở lại. Họ yêu cầu tất cả giáo sư đến một trường để học tập chính sách mới, lề lối mới, giáo trình mới. Chúng tôi phải học hết hai mươi ngày. Sau đó họ cho một giấy chứng nhận chúng tôi đã hoàn tất khóa học. Ngày nào cũng phải viết những bài về các đề tài, ví dụ “Tại sao chúng tôi yêu bác Hồ”, toàn những thứ láo toét như vậy. Thuyết trình viên gồm cả người Bắc lẫn người Nam. Họ nói về chủ nghiã Cộng sản, về việc làm thế nào họ đã thắng cuộc chiến. Họ kết án chính quyền Mỹ tàn phá đất nước. Chúng tôi cứ thế chép, trình bày ngay ngắn, đẹp đẽ, rồi nạp bài. Nếu cứ viết y những gì họ nói, đồng ý trăm phần trăm là có điểm tối đa.

Chúng tôi đã tham dự khóa đầu tiên với khoảng năm sáu trăm giáo sư trong vùng. Và khi chỉ có bạn bè với nhau, chúng tôi thường nói chuyện thành thật. Cho nên mỗi khi thấy người ta chuyện trò thành từng nhóm, họ cho người ngồi xen vào, các cuộc bàn bạc lại phải đổi hướng, hoặc ngưng ngay lại. Họ cố kiểm soát tất cả, đặc biệt những cuộc bàn bạc riêng tư. Họ cho như thế là nguy hiểm, bởi vì họ không biết người ta nói gì.

Nhà trường bắt đầu niên học mới vào tháng Bảy 1975. Vì không có người thay thế, họ phải cho lưu dụng các nhân viên hành chánh cũ, nhưng tại mỗi trường, họ đều đưa các đảng viên đến làm trưởng nhóm. Họ chia nhà trường thành các nhóm nghiên cứu xã hội, nhóm sinh ngữ và nhóm khoa học. Trưởng nhóm đều phải là đảng viên. Tại một số trường, có khi họ chọn những người mà họ cho rằng có khả năng làm Thủ trưởng tốt của đảng. Tôi là người được chọn làm trưởng nhóm ngoại ngữ. Vì họ không có ai khác, và vì tôi đã viết những bài học tập đúng ý họ nên họ đã chọn tôi.

Hình minh họa

Nhóm tôi có chín người, ba người dạy Pháp văn, Anh văn, mấy người kia dạy Văn chương và khoa học xã hội. Chúng tôi đã quen nhau từ hai, ba năm. Mỗi tuần chúng tôi họp một lần. Một trưởng nhóm khác cũng tới tham dự thảo luận, nhưng cứ mỗi lần anh ta ra khỏi phòng, tức khắc chúng tôi bàn chuyện vượt biên, tìm cách ra đi.

Chúng tôi còn thuyết phục được cả một đảng viên trẻ tuổi rằng đảng Cộng sản không tốt đẹp gì, cô ta cũng muốn đi. Sau này, khi tôi đã đi khỏi nước, cô ấy vẫn còn viết thư sang cho tôi. Cô ấy đã đến nhà tôi, hỏi em tôi địa chỉ để viết thư cho tôi. Cô cho biết vì cha cô là một đảng viên kỳ cựu nhiều tuổi đảng nên cô đã gia nhập đảng. Nhờ cha mà cô được đãi ngộ tử tế, có mức sống khá ở ngoài Bắc, nhưng khi vào Nam làm việc với chúng tôi, cô rất có cảm tình vói chúng tôi. Cô biết gia đình tôi đã rời Saigon đi năm 1975, cô biết chúng tôi cũng sửa soạn đi, nhưng cô vẫn bảo vệ cho chúng tôi, kể cả phải nói dối để che chở chúng tôi.

Ngày tôi đi không thoát, tôi đã bảo cô ấy là tôi đi thăm cha mẹ tôi. Nếu có ai hỏi thì cô sẽ chống đỡ hộ, bởi vì cô thừa biết cha mẹ tôi đã ra đi rồi. Ông có thấy không, rất nhiều người tưởng tôi sẽ trở thành đảng viên. Tôi đã cố làm bạn với cô ấy, bởi vì cô có thể bao bọc cho tôi nếu có chuyện xảy ra.

Vào tháng mười một 1975, tôi đi lần nữa. Tôi viết cho cô một miếng giấy bảo là tôi đi thăm cha mẹ. Sau mười ngày nghỉ dậy, nếu tôi không trở lại thì nhờ cô tìm cớ nói hộ tôi. Nhờ thế, cô ấy đã bảo là tôi đi thăm cha mẹ. Nhưng sau ba, bốn ngày, đi không được, tôi trở lại, cô chỉ nhoẻn cười. Cô luôn luôn che chở cho tôi, cô ấy tốt hết sức.

Lần nào ra đi, tôi cũng mất hết tiền bạc. Lần thứ hai ra Nha Trang tới một người bạn, người ta bảo năm giờ thì đến một điểm hẹn để ra đi. Chúng tôi tụ tập đến chỗ chờ xe lam. Cứ thế đợi. Năm giờ. Năm giờ rưỡi. Sáu giờ. Sáu giờ rưỡi. Rồi bảy giờ. Bảy giờ rưỡi. Chẳng một bóng ma nào đến đón. Họ ẵm hết tiền nong, bỏ chúng tôi lại.

Cuối năm 1975, cô tôi từ Bắc vào. Bà ở lại ngoài Bắc từ khi chúng tôi di cư vào Nam, lúc ấy tôi hãy còn nhỏ quá nên chẳng nhớ gì về cô tôi cả. Cô tôi lễ mễ mang vào Nam nào là… gạo, vài quả trứng, mấy món lặt vặt, vì cô tôi nghe nói người trong Saigon nghèo lắm, cô muốn giúp đỡ chúng tôi. Chú tôi cũng vào cùng với cô. Chú kể rằng chú nghe nói miền Nam nghèo đói lắm nên miền Bắc cần phải chống Mỹ để cứu miền Nam. Đấy chính vì sao mà người miền Bắc đã có một niềm tin rất mãnh liệt để nỗ lực cứu nguy cho anh chị em miền Nam.

Trong những ngày ấy Cộng sản liên tục đổi tiền, tôi cũng chẳng biết vì sao. Sau hai lần đổi tiền, khối người tự tử vì không đủ tiền mà sống-trong đó có một vài người giàu có, đặc biệt là người Hoa. Lúc ấy nếu có vàng thì còn giấu được, đó là lý do tại sao mọi người đều muốn giữ vàng. Tiền thì tiếp tục trở thành đống giấy lộn.

Đối với người Hoa, Cộng sản cho đi rất dễ, trước hết là vì tiền, thứ hai để tránh các vấn đề với Trung Quốc. Họ không muốn có người Hoa ở Việt Nam.

Vì vậy tôi đi học tiếng Hoa, kiếm vài bộ quần áo Tàu, em gái tôi cũng thế. Sau đó chúng tôi trả tiền kiếm đường xuống dưới miệt đồng bằng tìm tàu đi Mã Lai. Chuyến đi hết ba ngày bốn đêm.

Trên đường sang Mã Lai chúng tôi bị hải tặc Thái Lan chặn cướp tất cả sáu lần. Đến được Mã Lai chúng tôi mất hết, chỉ còn lại mạng sống thôi.

Lần đầu tiên thấy cướp Thái Lan, chúng tôi cứ ngỡ tàu ngoại quốc giải cứu, ai nấy đều nhảy lên la mừng, tưởng bình yên thoát nạn, nhưng đến khi chiếu ống nhòm nhìn thấy cờ, chúng tôi mới biết là có chuyện.

Vài người trên tàu đã có kinh nghiệm với bọn hải tặc vội bảo đàn bà thay quần áo, lấy than bôi nhọ mặt mày, thân hình, làm cho xấu xí đi. Chúng tôi vội làm ngay, lấy quần áo đàn ông mặc vào, bôi nhem nhuốc thân hình. Chúng tôi có đủ thì giờ bởi vì chiếc tàu chúng tôi nhìn thấy hãy còn xa lắm.

Hình minh họa

Trong chuyến đầu bị chặn, tài công bị hải tặc Thái Lan đánh gần chết. Khi chúng tới hỏi vàng đâu, thay vì cứ nói “chúng tôi không có vàng”, anh ta lại bảo chúng tôi phải dùng vàng để mua xăng, mua dầu. Chúng bèn đổ hết xăng dầu ra cho cạn đáy mà tìm. Không thấy vàng, chúng đánh tài công thậm tệ, chúng định giết anh ta. Chúng đè anh nằm sấp mặt lên sàn tàu, rồi trước mặt chúng tôi, bọn chúng đứng trên người anh, nhảy dọng lên dọng xuống lên lưng, lên chân, lên đầu anh.

Lần thứ sáu bị chận thì không có chuyện gì tệ hại lắm, vì lẽ khi chúng đến thì tất cả chúng tôi đã mất sạch hết rồi, manh áo cũng không còn. Những bọn trước đã lấy hết, rồi để lại cho ít gạo, nước mắm. Bọn cuối cùng đến, thấy chẳng còn gì lấy được, bèn cho chúng tôi ít cá, ít sữa cho trẻ con rồi kéo cả tàu chúng tôi sang Mã Lai. Bọn cướp tử tế, tôi nghĩ thế.

Ngay từ sau khi gặp bọn hải tặc thứ nhất, chúng tôi đã hết xăng nhớt, tài công thì bất tỉnh, tàu chúng tôi cứ thế nổi trôi. Chúng tôi kinh hoàng vì lúc ấy ban đêm, không có chút ánh sáng. Bọn chúng đã vứt cả hải bàn của chúng tôi xuống biển. Ai nấy đều chắc mẩm sẽ không thoát khỏi tử thần.

Một hôm, thấy có mấy chiếc tàu chạy qua, chúng tôi vội giương cờ lên, phất nữa, nhưng không tàu nào dừng. Sáng hôm sau, lại thấy một tàu nữa chạy lại. Tàu hải tặc, chúng lại cướp nữa. Bọn này rất trẻ, tôi đoán chỉ chừng 16, 17 tuổi. Bọn chúng cạo đầu nhẵn thín, mặt bôi trắng. Bọn chúng đều vác một con dao dài, chúng dí dao vào cổ từng người để hỏi tiền. Bọn chúng chỉ biết vài ba chữ Việt như: Tiền, đô la, vàng, đồng hồ. Chừng ấy chữ. Ai nấy sợ thất thần. Không ai có thể biết chúng sẽ làm gì.

Khi tới Mã Lai, chúng tôi thấy một chiếc tàu nhỏ, vài người Việt Nam đang đánh cá. Nhưng họ mặc những chiếc áo sặc sỡ do hội Hồng Thập Tự phát cho, vài người đã ở đây đến hai, ba năm, nên nước da đen thẫm. Khi thấy hai chiếc tàu đánh cá ấy tất cả chúng tôi cứ đinh ninh là người Mã, sợ họ cũng làm như bọn Thái, nên vội bảo tài công ra sức chạy. Mấy người Việt đuổi theo, la lên: “Lại đây nè! Lại đây nè!”. Cuối cùng mới nghe ra người Việt mà ngừng lại.

Họ chỉ cho chúng tôi đi thẳng vào khu tỵ nạn. Nhưng họ dặn khi đến thì phải tự đánh chìm tàu, kẻo người Mã cũng bắt chúng tôi đi nữa.

Chúng tôi làm đúng lời dặn, rồi nhảy cả xuống biển, Vài người nhảy xuống dùng búa phá thủng đáy cho chìm tàu, còn chúng tôi chạy băng qua bãi biển, vào trong trại mà núp.

Một nhóm người Đức tiến tới, hỏi xuất xứ của chúng tôi. Họ yêu cầu chúng tôi leo lên lại cái tàu thủng đáy, rồi nhảy xuống để cho họ quay phim.

Chúng tôi cười. Không tin nổi. Họ muốn chúng tôi lại bơi ra tàu rồi nhảy xuống bơi vào bờ để họ làm phim. Thật lạ quá, nhưng chúng tôi vẫn làm, chúng tôi phải ở lại cho được.

Thế đấy. Giây phút đầu tiên của tự do là làm tài tử đóng phim. Và đúng vào lúc chúng tôi cố quên tất cả những chuyện đau thương đã xảy ra cho chúng tôi, bởi vì chúng tôi biết giờ đây chúng tôi đã được tự do.

Ta Trọn Năm Dài Một Tháng Tư!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 6 Feb 2024

Ngày 20, tháng 12, năm 1960, CS Bắc Việt Nam lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam (tức Việt Cộng). Mục đích của chúng là nhất quyết lật đổ chính quyền Miền Nam Việt Nam để dâng cho Cộng Sản Bắc Việt và quan thầy Nga Hoa.

Rồi cứ bốn năm một lần, CS Bắc Việt và tay sai mở ra những trận đánh lớn vào năm 1964, 1968, 1972. Nhưng suốt 15 năm, chiều dài cuộc chiến khốc liệt, thần chết hiếm khi chạm đến Sài Gòn. Ngoại trừ vài lần pháo kích, một số vụ đặt mìn khủng bố trên đường phố hoặc nhà hàng hay rạp hát…

Tuy nhiên cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân vào cố đô Huế và cuộc xâm nhập vào khuôn viên của Tòa Ðại sứ Mỹ ở Sài Gòn làm phong trào phản chiến ở Hoa Kỳ bùng lên,

Tuy nhiên “Ta hồ! Thời vận bất tề, mệnh đồ đa suyễn” (Than ôi! Thời vận chẳng đều nhau, đường đời nhiều ngang trái).

Năm 1973, về chính trị, Tổng thống Richard Nixon đang càng lúc càng lún sâu vào vụ bê bối ‘Watergate’. Về kinh tế, giá dầu thô tăng lên cộng với chi phí khổng lồ của cuộc chiến tranh làm lạm phát gia tăng. Hậu quả là: Quốc hội Mỹ cắt giảm quân viện mà Sài Gòn đã được hứa hẹn. Số đạn pháo, số phi vụ yễm trợ chiến trường đang sôi động bị giảm dần theo từng tháng. Cùng lúc với sự tận tình chi viện của đàn anh CS Nga Hoa, CS Bắc Việt vét hết tài nguyên, nhân vật lực cho một chiến dịch kéo dài dự trù hai năm, tới năm 1976. Nhưng cuộc chiến tranh đẫm máu đã kết thúc chóng vánh chỉ trong vòng hai tháng.

Quyết định của các cấp chỉ huy, rút quân khỏi Ban Mê Thuột, thủ phủ vùng Cao Nguyên, thuộc Quân Ðoàn 2, như một ván cờ ‘domino’, làm Huế, Ðà Nẵng thuộc Quân đoàn 1, sụp đổ theo sau.

Tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng Henry Kissinger, theo Hiệp định Hòa bình Paris năm 1973, đã đồng ý rút quân đội Hoa Kỳ. Nhưng ai cũng nghĩ nếu vẫn được Hoa Kỳ tận tình giúp đỡ, Miền Nam Việt Nam vẫn có thể sống sót, ngăn chặn được CS Miền Bắc xích hóa Miền Nam tự do.

Hình ảnh một người cha cõng trên vai một đứa con trai, một túi đựng đồ đạc rời bỏ làng quê của mình gần Trảng Bom trên Quốc lộ số 1 về phía tây bắc Sài Gòn, ngày 23 tháng 4 năm 1975 gây xúc động.

Cảnh loạn lạc khủng khiếp khắp nơi theo từng bước chân của đồng bào tị nạn về Nam trốn chạy CS, cho dù những người lính Việt Nam Cộng Hòa anh dũng hy sinh chiến đấu trong vô vọng.

o O o

Vào ngày 28, tháng 4, những tên CS nằm vùng bắt đầu lộ diện: như Phạm Xuân Ẩn, phóng viên báo Time, là điệp viên CS. Phi công phản loạn Nguyễn Thành Trung hướng dẫn Không quân CS Bắc Việt ném bom làm Phi trường Tân Sơn Nhứt bị bốc cháy.

Ngày 28, tháng 4, năm 1975, tại phòng Bầu Dục, Tòa Bạch Ốc, sau cuộc họp với Phó Tổng thống Nelson Rockefeller, Ngoại trưởng Henry Kissinger và Cố vấn An ninh Quốc gia Brent Scowcroft, Tổng thống Gerald Ford ra lịnh bắt đầu Chiến dịch ‘Frequent Wind’ (Gió thường xuyên)

Ðài phát thanh Quân đội Mỹ ở Sài Gòn phát đi mật khẩu: “Nhiệt độ ở Sài Gòn là 105 độ và đang tăng lên” và bài “White Christmas” do Bing Crosby hát. Trong đó có câu: “I’m Dreaming of a White Christmas” (Tôi đang mơ một mùa Giáng Sinh trắng). Ðó là một ám hiệu truyền tin báo cho người Mỹ biết là: ‘Hãy sẳn sàng chờ để được di tản khỏi Sài Gòn trong cơn hấp hối!”

Cùng lúc đó, tại nghĩa trang Quân đội Biên Hòa, hai người con gái, còn rất trẻ, đứng trầm ngâm trước mộ của một người thân, một tử sỉ mới được chôn cất, chìm sâu dưới ba tấc đất gây ra bao dòng nước mắt.

Một người lính VNCH bị thương tập tễnh chiếc nạng, trên tay còn băng bó, rán cầm theo vài hộp thức ăn. Hình ảnh biểu tượng cho môt quân đội đã một thời chiến đấu rất kiêu hùng, giờ tàn tạ trong nỗi tuyệt vọng cô đơn gây ra bao niềm chua xót.

Tại Tòa Ðại sứ Hoa Kỳ trên Ðại lộ Thống Nhứt, đám đông kêu gào xin được vào. Lính Thủy quân lục chiến Mỹ kéo những người có giấy tờ chứng nhận vào; một mặt chặn những người còn lại.

Bức ảnh đen trắng của phóng viên người Hà Lan Hugh Van Es đã trở thành một hình ảnh mang tính biểu tượng, tượng trưng cho việc Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam.

(Vị trí của cuộc di tản này thường được xác định là sân thượng của Tòa Ðại sứ Hoa Kỳ, nhưng thực tế không phải vậy. Những người trong ảnh đang ở trên tầng thượng của một chúng cư dành cho các quan chức CIA và gia đình.)

Ngoài khơi gần bờ biển Việt Nam, các nhân viên Hải quân Hoa Kỳ trên tàu USS Blue Ridge đẩy một chiếc trực thăng xuống biển để dành chỗ cho nhiều chuyến bay khác di tản từ Sài Gòn.

Hình ảnh của các hãng thông tấn quốc tế đầy xúc động ghi lại: Một người mẹ Miền Nam và ba đứa con cúi mình trên trên một boong tàu chiến nhấp nhô ở Biển Ðông.

Tại Sài Gòn, hai chiếc trực thăng Sikorsky CH-53 đang trong một bãi đáp vốn là một bãi đậu xe! Thủy quân lục chiến Mỹ, quân phục ngụy trang chìm trong màu cây xanh vùng nhiệt đới. Chỉ có những nòng súng M 16 là thò ra từ dưới một bụi cây. Hai xạ thủ tay nắm chặt tay cây M16 và chiếc trực thăng chất đầy người Mỹ và người Việt cất cánh bay lên.

Lúc 7 giờ 53 phút, sáng ngày định mệnh 30 tháng 4, chiếc trực thăng cuối cùng cất cánh từ nóc Tòa Ðại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn và hướng ra biển. Trong mười chín tiếng đồng hồ, 81 chiếc máy bay trực thăng chở khoảng 7,000 người ra hàng không mẫu hạm ở ngoài khơi.

Sài Gòn đã sống trong mộng mị trong suốt nhiều tuần lễ. Hầu như không ai biết mình phải làm gì? Có đi làm hay không? Có mua gì ở chợ hay không? Xăng có hay không?

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, nắng sớm chói chang chiếu trên những con đường vắng vẻ của Sài Gòn. Những con đường thông thường vào giờ đó thường đã bắt đầu ồn ào, náo nhiệt. Nỗi sợ bị Cộng sản tàn sát như Tết Mậu Thân ở Huế vào năm 1968 đã làm cho người dân Sài Gòn bị quẩn trí. Sài Gòn rùng mình! Quân Bắc Việt đã chuẩn bị sẵn sàng để bắn phá thành phố bằng pháo hạng nặng và tiến vào từng dãy nhà, nếu hệ thống phòng thủ mà chúng gặp phải vững chắc hơn.

Tại số 4, Ðại lộ Thống Nhứt, góc đường Mạc Ðĩnh Chi, gần Dinh Ðộc Lập. Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ, 6 tầng lầu trông giống như một pháo đài, không còn người Mỹ nào trong đó. Không có quan chức nào trong Tòa Ðô Chánh, số 86 đường Lê Thánh Tôn. Không có dân biểu nào trong Quốc Hội ở Công trường Lam Sơn. Trong Dinh Ðộc Lập, không có tổng thống; chỉ còn Tổng thống hai ngày Dương Văn Minh.

Nhà văn đoạt giải Nobel về văn chương John Steinbeck (1902-1968), người quyết liệt chống lại việc Hoa Kỳ vội vã rút quân đã chết!

Trong nhạc kịch ‘Miss Sài Gòn’ có lời thoại: “Những chiếc trực thăng đang trên đường bay tới. Ông Ðại sứ sẽ không rời đi. Sẽ đủ chỗ dành cho tất cả các bạn!”

Có một khoảng lặng trong thành phố. Có một nỗi buồn ập xuống với cơn mưa. Hoa Kỳ không còn ở Việt Nam nữa! Sài Gòn đã bị chiếm đóng! Sài Gòn tự do không còn nữa. Giờ nó là của Cộng Sản Viêt Nam!

o O o

Trong “The California’s Tale” (Câu chuyện về người California”), một truyện ngắn bi ai, Mark Twain đã kể rằng: vợ của Henry trên đường trở về thăm mẹ đã bị thổ dân da đỏ bắt cóc. Dẫu 19 năm trôi qua, cứ tới ngày em hẹn sẽ về, Henry vẫn đợi. Henry không chấp nhận sự thật đau lòng là người vợ yêu quý của mình đã chết.

Mới đầu, tôi không tin câu chuyện mà Mark Twain đã viết.  Nhưng sau biến cố mất Miền Nam năm 75, thì tôi tin Mark Twain.  Dẫu cách nay 46 năm ròng rã, niềm đau đớn như mới xảy ra vào tối hôm qua. Tôi cũng tin nhà thơ Thanh Nam (1931 – 1985) nữa!

“Một năm người có mười hai tháng

Ta trọn năm dài một Tháng Tư”

Đoàn Xuân Thu

Ta học tiếng Tây!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 6 Feb 2024

Có cái chuyện như vầy thời thuộc địa: Có anh bồi kia muốn báo động với ông chủ Pháp có một con cọp ngoài vườn, nhưng anh ta không biết con cọp tiếng Pháp là gì!

Không đi đường thẳng được, thì đi đường vòng, cốt cho ông chủ hiểu cái nguy hiểm cận kề, để hai người vọt cho lẹ!

“, lui “tí ti” jaune, lui “tí ti” noir, lui “gầm” lui “gừ”, lui beaucoup méchant, lui mangé monsieur, lui mangé moi!”

“Lúy nông buýp, lúy pa bớp, lúy tí ti dôn, lúy tí ti noa, lúy gầm lúy gừ, lúy bố-cu mê-xăng, luý măng giê mông-xừ, lúy măng giê cả moa!”

(Chẳng phải trâu chẳng phải bò, nó một tí vàng, nó một tí đen, nó gầm nó gừ, nó dữ lắm, nó xực ông, nó xực cả tui luôn).

Thấy chưa bà con? Mình học tiếng Tây cũng có lợi cho Tây lắm nhe. Bằng không, thì con ‘tí ti jaune’, ‘tí ti noir’ nó xơi tái ông chủ Tây của mình mình rồi thì còn thằng Tây nào nữa để mình đi làm mướn cho nó chớ?

***

Vậy mà mấy bữa nay, bên Little Saigon, tức Sài Gòn Nhỏ bên Cali, Huê Kỳ, bà con mình rôm rả bàn về cái vụ nói tiếng Mỹ giả cầy, ba rọi, nửa nạc nửa mỡ mà không chịu giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong Cộng đồng người Việt…ở nước ngoài…Nghe vui quá chừng vui đi!

Đa số ông bà, chắc bằng cấp đầy mình mẩy, xúm lại xài xể, xì nẹt bà con mình nói tiếng Việt mà cứ chêm vô tiếng Mỹ, theo giọng đọc của tự điển Lê Bá Kông, Ziên Hồng, trường dạy Anh văn từ hồi năm nẩm ở Sài Gòn!

Ối tưởng cái gì? Chớ cái vụ sính nói tiếng Tây, tiếng U hòa đồng (tôn giáo) với tiếng Việt của dân mình có gần cả thế kỷ trước lận mà.

Tuồng cải lương Tô Ánh Nguyệt của soạn giả Trần Hữu Trang kể về chuyện tình giữa Nguyệt và Minh trắc trở rồi tan vỡ trong cái biến loạn của xã hội Việt Nam chuyển từ chế độ phong kiến qua chế độ thuộc địa, sự xung đột giữ cũ và mới!

Ông Cả, (ba của Nguyệt) thì thủ cựu bài tân:

“Nhân bất học bất tri lý. Học giả như hòa như đạo. Bất học giả như cảo như thảo.

(Người không học không biết lẽ phải. Học như lúa nếp lúa mùa. Không học như cỏ dại cỏ khô ích gì?)

Còn bên ông chủ tiệm ‘bazar’ Phát Đạt (ba của Minh) thì “đã cựu nghinh tân”: Bonjour, oui, non, pardon, merci! C”est par bien? tá lả.

Xách đít ra về, chủ tiệm ‘bazar’ Phát Đạt còn:

‘Adieu” (A dơ) ((tạm biệt).

Ông Cả đáp lại:

“Ai dơ” thì biết?

He he!

Ông soạn giả Tư Trang đã mượn nhân vật Tân, em của Nguyệt, để phê phán ông chủ hiệu bazar Phát Đạt rằng:

“Tây phải ra Tây! Việt Nam phải ra Việt Nam! Đừng mở miệng lai căng pha trộn nửa nạc nửa mỡ nghe không lọt lỗ tai!”

Chuyện đó xưa rồi! Còn bây giờ là thế kỷ 21, mình ở nước của người ta mà chỉ nên nói toàn bằng tiếng Việt, thì là tui sẽ dốt toàn tập tiếng Anh thì làm sao kiếm ra việc làm? Làm ‘cu li’, chớ đâu phải là diễn giả, giáo sư thỉnh giảng trường đại học đâu mà cần tiếng Anh lưu loát?

Mấy thằng Úc nó thường khuyến khích tui, chớ nó không hề dám chê bai, dạy đời như ông Tư Trang đâu!

Nó nói: “Một người biết hai thứ tiếng là ‘bilingual’; còn người chỉ biết một thứ tiếng là thằng Úc!”

Thì việc gì mà sợ quê chớ? Muốn giỏi tiếng Anh là phải thực hành, không có cách nào khác. Từ dở mới tới giỏi, biết chữ nào chơi chữ đó, từ ít mới có nhiều, dựa vào kinh nghiệm chiến trường chớ không phải trong sách giáo khoa, toàn là phi hiện thực…tế!

***

Đây là bài học thực tế nè:

“Cô ơi, tôi muốn khám bệnh!

Vậy bác “phiu ao” (fill out) cái “phom” (form) này dùm con nha bác!””

“OK Salem!”

***

“Thằng chả nói tui suốt ngày chỉ lo “sốp binh” (shopping), hỏng có “khe” (care) gì cho chồng con, cho nhà cửa!

“Nô mó nì” (no money) mà sốp binh (shopping) cái gì?

Ai đi chợ “khút” (cook) cho cha con ông “ít” (eat)?

Khôn hồn đừng làm tui” “ghét mát” (get mad) là tui “mu” ra (move) thì đừng có mà chạy theo khóc lóc năn nỉ kêu tui “mu” vô…”

Đồ sì tu pit! (stupid)”

(Ôi tui khoái cái chữ mu (move) ra, mu (move) vô nầy quá Trời!

Mà nỡ lòng nào bắt em phải nói thuần tiếng Việt, không cho chen chữ “move “nào vô hết trơn thì làm sao mà đã chớ?)

***

Mạnh vì gạo bạo vì tiền, thương vợ thương con; cái tình thương bao la đó đã làm tui không sợ mất mặt (ủa tui có mặt đâu mà sợ mất?)

Không sợ các bức thức giả chê tui là đồ vọng ngoại cộng với “kém thông minh pẹc- ma- năng (permanent) (thường trực).

Mười năm, hai chục năm nữa cái đám tụi tui sẽ đem cái “xi líp” (slip), “xú chiêng” (soutien-gorge), tiếng Tây ; “no star where” (không sao đâu), no medicine (không thuốc hút), master run (thầy chạy) tiếng Mỹ… đi luôn về bên kia thế giới.

Cái tụi tui để lại là đám con cháu nói tiếng Mỹ như Hoàng gia Anh dù da nó vẫn vàng khè.

Do đó cứ chê tui là tiếng Anh… ăn đong của Phước Lộc Thọ mà hay khoe.

“Ai đông khe!” (I don”t care).

He he!

***

Tóm lại sĩ diện hảo mà làm gì? Ai chê tiếng Anh tui giả cầy, ba rọi thì kệ họ chớ. Tui chỉ cần biết chút đỉnh tiếng Anh đủ xài, không cần trúng giọng gì ráo, sao cho “boss” Úc hiểu, cho tui cái “job” để tui đi làm kiếm tiền về cống nạp cho con vợ, để trả tiền nhà, tiền bill, tiền con cái ăn học nữa là tui… OK rồi!

Chớ chờ tui nói tiếng Anh giỏi cỡ Donald Trump hãy nói (chắc tới Tết Congo)… thì vợ tui ai nuôi, con tui ai lo, tiền nhà tui ai trả?

Thử hỏi chê tui rậm rề thì mấy cái chữ tiếng Mỹ nầy quý ông, quý bà có xài không vậy?

Như đi ăn buffet, ăn hamburger, hot dog, pizza! Rồi OK, Cheers, Website, Cell, Ticket, IPhone, IPad, Computer… xe SUV, xe RV, xe Van…

Kêu tui nói bằng tiếng Việt thì nó ra làm sao hả? Chỉ cho tui nói với nhe bồ!

Chẳng qua, tiện là xài, tiếng Anh, tiếng Việt gì cũng được tất! Hoặc pha với nhau cũng được vì tui là một con người tha hương, đành đa văn hóa một phần mà phần khác tui học theo ông bà mình hồi xưa đấy thôi!

Do đó, tui rất hoan nghinh bà con mình ở bên Mỹ, bên Canada, bên Úc nầy đây nên nói tiếng Anh khi có dịp. Dù nói chỉ để khoe, để nổ thôi… cũng được mà!

Vì một con người có đầu óc rộng mở, luôn luôn muốn du nhập cái mới! (Chớ không cực đoan thủ cựu, cứ bám riết vào cái cũ, không thèm học thêm cái mới vì sợ thiên hạ chê là nhà quê, dốt hay nói chữ) là tiến bộ rồi hè!

“Nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân” mà!

Vậy là không cần chờ đến giỏi tiếng Anh mới nói, cứ bửa tới, bửa tưới hột sen đi bà con!

Ngay cả lúc cự nự em yêu, tui chơi tiếng Anh ba rọi không hè. Vì em không hiểu, nên tui an toàn trên xa lộ, còn xả được cơn tức… giận trong tình nghĩa vợ với chồng.

Nhưng đau đớn thay những ngày hoa mộng đó qua mau; khi đám cháu nội của tui lớn lên đi nhà trẻ, mẫu giáo rồi vào lớp “prep”.

Về nhà tụi nó líu lo tiếng Anh và con vợ tui chạy lăng xăng chạy xuống bếp lo cho tụi nhóc từng miếng ăn, thức uống…

Mới đầu thì tụi nó ra dấu, đút ngón tay trỏ vô mồm… là đòi bú tí sữa….Riết rồi em yêu học và hiểu tiếng Anh cũng kha khá!

Vậy mà tui cứ ngây thơ không biết. Cứ theo cái mửng cũ, xài xể em bằng tiếng Anh ba rọi của tui như “you sì -tu- pịt” chẳng hạn!

Ai ngờ em trừng trừng nhìn tui với đôi mắt hình viên đạn.

“What? How dare you?”

“Chết Tía tui rồi bà con ơi!” Vậy mà tui cứ tưởng em yêu ù ù cạc cạc như hồi xưa chớ!

Đoàn Xuân Thu

Melbourne.

Sống thời kỳ thị!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 6 Feb 2024

Hồi mới đặt chân lên nước Úc, sau một thời gian cày sâu cuốc bẫm, tôi có đủ tiền đặt cọc, mua một chiếc xe Honda Civic mới cáu cạnh; về chạy đi làm chơi cho trong đêm đen, đời ‘cu li’ của tôi vẫn còn ‘tí ti’ le lói!

(Dĩ nhiên thằng bán xe trước khi bán trả góp đã ‘check’ hồ sơ về tài chánh của tôi rồi. Có mượn tiền ai rồi giựt chạy bao giờ chưa? Chớ nó đâu có đủ ngu mà giao trứng cho ác?)

Ngày đầu tiên chạy chiếc xe mới thì thằng Afghanistan chung sở hỏi tôi rằng: “Bộ chú mầy mới trúng mối bán ‘sì ke’ hả?”

(Theo cái suy nghĩ ngu như ‘bò tót’ của nó, bất cứ người Việt Nam nào mới đặt chưn lên nước Úc mà giàu, có đủ tiền mua xe mới là do bán ma túy mà ra cả).

Tôi bèn trả đũa: “Nói như chú mầy, hổng lẽ tao thấy mầy là dân Afghanistan thì tao nghĩ ngay bọn mầy đều là quân khủng bố ‘Taliban’ chuyên ôm bom tự sát giết đàn bà và con nít hết hay sao?”

Nó nín nhưng tôi biết cái đầu óc kỳ thị của nó, nó đâu có bỏ? Cái thái độ ganh ghét nhau vì sắc tộc, vì màu da đó, mà ta thường gọi là thói kỳ thị chủng tộc vẫn còn sống một cách nhởn nhơ cho dù luật pháp Úc nó cấm.

Tệ kỳ thị chủng tộc vẫn thường xảy ra trong cuộc sống hàng ngày không những tại nước Úc thôi; mà ngay cả trên đất Mỹ, thế giới tự do, cũng có nó!

o O o

‘Memorial Day’ (Ngày Chiến sĩ Trận Vong) năm nay là Thứ Hai, ngày 25, tháng Năm. Hàng triệu người Mỹ đã tạm quên đi nỗi sợ hãi con Coronavirus Vũ Hán để đổ xô ra những bãi biển tắm mát và nằm tênh hênh phơi nắng cho đã trong mùa Hè nực ơi là nực!

Các nhà bác học trên thế giới trước hay sau, mau hay chậm gì thì cũng chế ra được ‘vaccine’ và thuốc chữa bịnh do con Cúm Tàu Vũ Hán gây ra.

Nhưng có một cơn dịch chúng ta có thể không bao giờ tìm thấy được ‘vaccine’!: đó là nỗi nghi ngờ, e sợ đối với những người da đen trên đường phố!

o O o

Ai cũng biết Trời màu thiên thanh, lá mùa Xuân xanh mướt và lá mùa Thu vàng úa. Nghĩa là thế giới muôn màu. Nhưng tiếc thay có những kẻ mù màu, chỉ nhận ra được hai màu đen trắng như cái máy chụp hình thời Thomas Edison vậy.

Chính vì thế, mới có mấy cái chuyện kỳ thị chủng tộc vừa xảy ra đây:

Vụ thứ nhứt: Một người phụ nữ da trắng dẫn chó đi dạo trong Central Park, Manhattan, thành phố New York. Một người đàn ông da đen đang ngắm chim bay, yêu cầu cô hãy buộc dây cho thú cưng của mình; vì luật lệ của công viên nầy là vậy.

Cuộc tranh cãi giữa hai người nổ ra và cô ta gọi cảnh sát hãy đến ngay vì có một người đàn ông Mỹ gốc Phi Châu đang đe dọa tánh mạng của mình và con chó.”

Vụ thứ hai: Hai người đàn ông da trắng đã bắn chết Ahmaud Arbery, một người đàn ông da đen 25 tuổi, tay không vũ khí, khi ông đang chạy bộ tập thể dục ở Georgia.

Vụ thứ ba: Một cảnh sát viên da trắng đã dùng đầu gối của mình để đè lên cổ một người da đen đang nằm dưới đất thở hổn hển, van xin: “Tôi không thể thở được!” Người đàn ông da đen sau đó đã chết.

Một giáo sư trường Ðại học Mỹ đã từng nói: “Là một người da đen, dềnh dàng, cao tới 6.3 feet (1m 92), trong mười năm qua, lúc tôi đi ra đường, nhất là vào ban đêm, luôn luôn có người nhìn tôi với ánh mắt đầy lo sợ!”

Ngạc nhiên thay nỗi sợ hãi những người đàn ông da đen không chỉ xuất phát từ người da trắng không thôi; mà thậm chí nhiều người Mỹ da đen cũng coi những người cùng màu da với mình là một mối đe dọa đương nhiên.

“Không có gì đau đớn hơn với tôi, một người da đen, ban đêm đi bộ xuống phố một mình và nghe tiếng chân ai bước lại gần là tôi nghĩ ngay đến một vụ cướp. Sau đó nhìn quanh quất, và may quá, đó là một người da trắng!”

o O o

Chắc bà con mình ai cũng biết có một chuyện đùa là: “Một đám người da trắng chạy xuống đồi là gì? Là một trận tuyết lở. Một đám người Mexico chạy xuống đồi là gì? Là một trận đất chuồi. Một đám người da đen chạy xuống đồi là gì? Là một lần vượt ngục!”

Cho dù tỷ lệ phạm tội trong cộng đồng người da đen, theo thống kê, có thể hơi cao hơn một chút so với các sắc dân khác. Nhưng đã sanh ra là người da đen, đâu phải ai ai cũng đều là tội phạm?

Những người da đen lương thiện, chí thú làm ăn, nuôi vợ, nuôi con ăn học. Sống tốt đời đẹp đạo! Ðến nhà thờ xem lễ vào mỗi sáng Chúa Nhật mà vẫn còn phải học cách sống với ánh mắt sợ hãi của sắc dân khác nhứt là của người da trắng đối với mình.

Ngay cả những cảnh sát viên da trắng, được đào tạo bài bản đàng hoàng, đôi khi cũng có thành kiến người da đen là mối đe dọa, phải dè chừng!

Ở thế kỷ 21 rồi, người Mỹ đã từng bầu cho Barack Obama, một người da màu, làm Tổng thống Hợp Chủng Quốc suốt hai nhiệm kỳ, 8 năm, mà sao cho tới năm 2020, người đàn ông da đen vẫn còn là nỗi sợ hãi của nhiều người?

Tranh Bảo Huân

Vấn đề đặt ra là: “Nỗi sợ hãi này từ đâu đến?” “Tại sao nó vẫn còn tồn tại một cách dai dẳng như một căn bệnh trầm kha không thuốc chữa?” “Và chúng ta cần phải làm gì để ngăn nó lại?”

Ðó là một câu hỏi mà những người đàn ông da đen trả lời theo nhiều cách khác nhau.

Có những người da đen nhạy bén, tránh rắc rối trước khi nó xảy ra, bằng cách tự nhủ với lòng mình là: “Không bao giờ đi quá gần phía sau lưng một người da trắng. Tốt hơn là nên băng qua đường, đi một mình, nhứt là vào ban đêm.”

Và nếu làm việc ở công ty, phải nhón chân khi đi qua chỗ đông người. Nói nho nhỏ vừa đủ nghe, đừng bao giờ vì tức giận mà to tiếng. Vì tức giận mà to tiếng nó sẽ gọi cảnh sát đến ngay; vì nó nghĩ bạn sẽ móc ra một con ‘chó lửa’ mà ‘bùm bùm’ cả đám!

Tế nhị như vậy không những để dập tắt nỗi sợ hãi của thiên hạ đối với cá nhân mình mà cũng để dập tắt nỗi sợ hãi của mình đối với thiên hạ.

Cố gắng làm mọi thứ có thể được, để tránh trở thành một người da đen, có hình là nạn nhân, trên trang nhứt của một tờ báo hay trong ‘video clip’ lan truyền trên các trang mạng xã hội!

o O o

Cách trả lời thứ hai, khó làm hơn, cho tệ phân biệt chủng tộc, thành kiến với người da đen là hành động của một nhiếp ảnh gia nổi tiếng cả đất nước Hoa Kỳ là Gordon Parks (1912-2006).

Gordon Parks là con út của một gia đình người Mỹ gốc Phi Châu làm công cho một nông trại ở  Fort Scott, tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ có tới 15 đứa con.

Ông nói: “Tôi sanh ra là một đứa bé da đen và tất nhiên là tôi nghèo. Nhưng Mẹ tôi không bao giờ cho phép tôi phàn nàn về tệ nạn phân biệt chủng tộc mà tôi đang gánh chịu!”

Tôi có thể dễ dàng thủ một con dao hoặc lận lưng một khẩu súng, giống như nhiều người bạn thời thơ ấu của tôi đã làm. Hầu hết trong số họ đã bị giết hoặc bị tống vào tù … Tôi không chọn đi theo cách đó.

Tôi đã chọn một chiếc máy chụp hình mà tôi đã mua nó ở thủ phủ Seattle, tiểu bang Washington với giá bảy đô la và năm mươi xu. Chiếc máy chụp hình đó là vũ khí để tôi chống lại những thứ tôi căm ghét nhất trần đời là: tệ phân biệt chủng tộc, đầu óc hẹp hòi và sự nghèo đói.

Những tấm ảnh của tôi để nói thay cho những người không thể tự cất lên tiếng nói phản kháng bất công còn tồn đọng trong xã hội Hoa Kỳ.

Sanh ra là một người da đen không có nghĩa là đã mang sẵn bản án tử hình! Tôi đã bị kỳ thị bởi màu da đen, nhưng tôi không cho phép tệ phân biệt chủng tộc xấu xa nầy cướp mất sự tự do của tôi.

Tôi vẫn tin rằng còn có một giải pháp nữa là sự giáo dục về nhân quyền, về công bằng và bác ái cho thế hệ mai sau! Rồi các sắc dân sống chung đụng cùng nhau, sẽ hiểu nhau hơn để tệ phân biệt chủng tộc dần nhạt phai đi!

Đoàn Xuân Thu