This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thưa chẳng qua Tía Má tui vốn đã nhỏ con nên sanh tui ra đẹt ngắt hè. Con gà nòi nó đẻ ra con gà nòi. Con gà tre nó đẻ ra con gà tre. Đành chịu vậy!
Trong khi thiên hạ nhổ giò, cao như cây tre miễu (Ai biểu cây tre tàng. Bao nhiêu lá rụng thương chàng bấy nhiêu!), chàng cao có thước mốt thôi.
Hồi xưa đi lính, sắp trong hàng quân, tui chuyên đứng bét. Mỗi lần điểm danh, Thiếu úy ‘Tân chà và’ cán bộ quân trường, cứ gãi đầu, gãi tai: “Sao tiểu đội nầy lại thiếu một thằng. Hỏng biết nó có nhân cơ hội đi tiền đồn Mã Đá, từ Chợ Nhỏ Thủ Đức nó dám vù về Sài Gòn thăm con ghệ nó lắm đa?!”
Từ cuối hàng quân, tui lên tiếng: “Trình Thiếu Úy: Tiểu đội đủ mà! Mười hai đứa cả thảy. Tại tui hơi thiếu thước tấc, đứng cuối hàng quân. Thiếu úy đứng đầu hàng đếm… nên không thấy tui đó thôi!”
Thưa, thiếu thước tấc, nhỏ con cũng có cái lợi là: Đụng trận, xác suất trúng đạn của quân thù cũng ít hơn mấy đứa bự con nhe!
Rồi sau nầy lưu lạc tới đây, thấy mấy thằng Úc bạo hành gia đình do ghen tuông, ‘quánh’ con vợ nó bầm giập hết trơn… toàn là mấy đứa bự con, vai u, thịt bắp, mồ hôi dầu.
Còn nhỏ nhỏ như tui (cũng đâm trái bầu thui như thường)… là không bao giờ bị nghi khi nhậu xỉn thường hay quánh vợ lắm. Sao dám! Ngược lại là có!
Nên mới có chuyện như vầy: Hồi mới qua, tui xin được cái ‘job’ bán quần áo đàn ông. Có một bà đầm, bự như cái hột mít biết lăn, đến mua cho ông chồng Úc của mình một cái áo sơ mi trắng để làm quà sinh nhựt.
“Thưa bà! Ông nhà mặc áo ‘size’ số mấy?” Thì em ỏn ẻn trả lời rằng: “Dà! Em không biết!” Sau đó, em ra dấu: đấu đầu hai ngón trỏ với nhau, đầu hai ngón tay cái đấu với nhau thành một cái vòng tròn! “Cần cổ của ổng vừa khít với cái vòng tròn nầy nè!”
Chu choa nghe em Úc nầy ra dấu trả lời làm tui run đổ mồ hôi hột hết trơn!
Lấy hết can đảm, tui hỏi: “Cái cần cổ của ổng có bằng cái cần cổ của tui không?” “Ờ cỡ đó đa!” Tui vội lấy cái áo sơ mi cỡ tui mặc đưa cho em, còn thòng thêm một câu:
“Về nhà… Rộng chật gì xin bà cứ tự nhiên đem ra đây tui đổi cho nhe… Đừng có ngại! Tui bớt thêm 10% nữa đó, thay vì 33 đô tui tính 30 đô thôi!”
Trong bụng, mong em đi đâu đi khuất mắt cho rồi. Lạng quạng, nó giận ‘sảng’; nó bóp cổ tui chắc chết!
Rồi cũng có thằng bạn Úc làm chung, nó chỉ cho tui cái bí quyết sống một cuộc đời hôn nhân hạnh phúc, mà không bị con vợ ỷ lớn con, lúc giận là đè ra bóp cổ cho thè cái lưỡi dài ngoằng thì phải: “Luôn luôn khen là em yêu rất đẹp! Cho dù em xồ xề như một chiếc xe tải! Nhớ nhe!”
Lời dạy đó tui khắc cốt ghi tâm tới giờ. Vì nó đã giúp tui vượt qua biết bao nỗi hiểm nguy khi tranh luận với vợ về bất cứ vấn đề gì !
Thưa, người viết có anh bạn văn rất đáng nể. Nể là vì cuộc đời tình ái của anh là một trường thiên tiểu thuyết “Chiến tranh và Hòa Bình”. Chiến tranh không phải đánh với ai… và hòa bình cũng không phải với ai xa lạ… mà với người ảnh ‘dấu’ yêu và thường hay đem ‘dấu’…vì sợ bị mất!
Muốn ảnh tiết lộ câu chuyện tình của ảnh cho tôi nghe chơi… là phải chịu khó tốn một thùng beer tới 40 đô Úc. Thôi tốn thì tốn… Mình gỡ vốn bằng nhuận bút mỗi bài một trăm đô thì mình vừa có beer uống; vừa bỏ túi được 60 đồng.
***
Chuyện vầy, theo lời anh kể: “Cách đây 50 năm, lần đầu tiên hẹn hò với em yêu! Thôi nó gian nan, trần ai khoai củ… lắm ông ơi!
Ba em (tức ông già vợ tương lai sau nầy) thuở ấy còn thủ cựu lắm. Có búi tóc như cái củ hành, lủng lẳng trên đầu; chớ chưa chịu nghe lời ông Phan Chu Trinh khuyên cắt tóc ngắn để giữ cái vệ sinh!
Lần đầu tiên đến nhà em xin phép chở em đi ăn đậu đỏ bánh lọt ở đường Ngô Quyền, gần trường nữ Trung học Đoàn Thị Điểm, Cần Thơ.
Trước khi đi, ba em dặn dò em rất kỹ lưỡng là: “Đừng để thằng đó làm ‘nhục’ gia đình mình nhe!” “Tía nói sao… con không hiểu?” “À! Nghĩa là đừng để nó hun hít, rờ rẫm, sờ sẫm gì hết ráo trọi nhe con!”
Đi chơi về, trời cũng khá khuya, trăng thượng tuần đã lên khỏi ngọn dừa mà Tía em còn chưa chịu đi ngủ. Thấy còn gái mình về còn nguyên vẹn hình hài, Tía mừng hết lớn, hỏi: “Đi chơi với nó vui hông con?”
Thì em trả lời liền: “Vui lắm Tía ơi! Con nghe lời Tía, nhứt định không cho nó làm ‘nhục’ gia đình mình… Con đã làm ‘nhục’ gia đình nó trước!”
Thưa, sau khi bị em làm ‘nhục’ gia đình tui, tui cưới em. Rồi con đàn, cháu đống giờ cũng 50 năm rồi đó, em cứ tiếp tục làm ‘nhục’ tui, tui không cho… em không chịu… Thế nên mà nỗi ‘nhục’ gia đình tui cứ bị hoài hè không hề gột rửa được mới chết chớ!
“Nói thiệt với anh! Ai mà làm ‘nhục’ tui như kiểu của anh bị làm ‘nhục’ là tui cũng chịu ‘nhục’ luôn… Chớ ngu sao mà lắc đầu để thiên hạ chê mặt mày sáng láng vậy mà khờ thôi hết biết. Mỡ trước miệng mèo mà không táp! Bộ sợ ‘cholesterol’ hay sao?
Thưa! Cái tình thuở… tàn phai của tui thì đơn giản hơn nhiều. Chuyện tình của tui nói thiệt cũng xuôi chèo mát mái lắm; hỏng thác cùng gềnh gì đâu. Nhưng cũng có chút chút rắc rối.
Chẳng qua em yêu của tui người Bắc, bây giờ gọi là người dân tộc; mà hồi xưa bà con mình kêu là người thiểu số, Thái trắng, tuốt trên núi Đồng Đăng, tỉnh Lạng Sơn đó. Thái trắng nên em trắng như bột năng! Trắng dĩ nhiên là đẹp rồi! Đỡ tốn tiền mua son phấn. Nghèo mà mua son phấn hoài chắc tui mạt quá!
Dẫu vậy mỗi lần đi đám tiệc tùng gì là em kẻ mắt, thoa son môi, tỉa chưn mày, sơn móng tay, đánh cái đầu tóc xùm lên như lông nhiếm… mất cả buổi Trời. Xong, quay lại hỏi tui rằng: “Anh xem: Em trang điểm như vậy có ‘tự nhiên’ không?” Tui bèn trả lời là: “Em trùng tu ‘di tích’ như vậy coi bộ hơi lâu đó nha!”
Sau đó, em giận tui ba tháng Trời không nói tiếng nào. Tui tính ra Tòa thôi cho rồi… thì mấy chiến hữu, bạn tui, nhào vô can gián: “Ê! Người vợ như vậy khó kiếm lắm nhe! Bỏ uổng.”
Anh bạn mở miệng ra can gián còn nói: “Coi hoàn cảnh của tui nè! Hơn một năm nay, tui không nói với con vợ tui được một tiếng nào; vì tui có cái thói quen là không bao giờ ngắt lời người khác!”
Thưa! Ba tháng em yêu không hề mở miệng ra một tiếng! Cần gì là em viết chớ nhứt định không hội nghị Paris, đánh đánh đàm đàm gì ráo trọi.
Em viết qua thì tui cũng viết lại thôi… Chớ không hề mở miệng ra trước. Làm vậy thua ‘nhục’ lắm! Mình xuống nước nhỏ, con vợ nó sẽ lừng. Một chiến hữu của tui đã từng khuyên bảo rằng: “Con chí ở trên đầu mình còn bắt xuống được. Còn con vợ ở trên đầu là vô phương… Nhớ nhe bạn hiền!”
Chính vì vậy tuần rồi, công ty kêu đi Sydney công tác. Tui bèn viết thơ cho em yêu rằng: “5 giờ sáng đánh thức anh vậy; để anh bay đi Sydney!” Tối đó, ngủ nằm mơ toàn là ác mộng, thấy quỷ không hè; nên khi bừng tỉnh giấc đã trưa trời trưa trật, tui tìm thấy trên chiếc gối của em yêu một tờ giấy: “5 giờ rồi… Dậy đi cha nội!”
Đi công tác gần cả tháng về, anh bạn văn ghé tệ xá thăm hiền hữu! Xa vắng bây lâu cũng nhớ. Nhậu cửng cửng, rượu vô lời ra, có gì khai hết ráo, ảnh tâm sự là chắc vợ ảnh không còn yêu ảnh như xưa nữa… Vì ảnh lỡ miệng, bắt chước tui, gọi em yêu của ảnh là “cổ vật”.
Từ hôm được gọi là ‘phế tích, cổ vật’ tới nay, em yêu của ảnh không thèm hé miệng nói tiếng nào mà chỉ hát “Mùa thu lá bay” để tưởng nhớ tới ‘tay’ nào đó!
“Một ngày sống bên anh sẽ muôn đời
Dẫu cho mưa rơi đá mòn tháng năm
Lạy trời được yêu mãi nhau người ơi
Đừng mang trái ngang chia lìa lứa đôi
Thế gian ơi sao nhiều cay đắng
Tình vẫn đắm say, người đã xa ta rồi
Ngồi ôm vết thương lòng đớn đau
Nghe tình rên xiết trong tim sầu
Mùa thu lá bay anh đã đi rồi!
Vỡ tan ôi bao giấc mộng lứa đôi
Giờ đành lìa xa thế nhân sầu đau!
Hẹn anh kiếp sau ta nhìn thấy nhau!”
Thấy bạn hiền đau khổ quá… làm tui cũng đau khổ lây. Vì chữ có câu rằng: “Niềm vui đem ra chia sẻ thì nó lại lớn gấp đôi. Còn nỗi buồn đem ra sẻ chia thì nó còn một nửa!” Nửa kia tui gánh bớt cho ảnh… nên rầu muốn chết theo ảnh luôn đó bà con ơi!
Nên tui an ủi ảnh rằng: “Ối! Cái chuyện đó là thường. Ai hỏng vậy?! Nè hồi xưa, trước khi anh lấy chị nhà, anh có người yêu không?”
Anh phải thành thật thú nhận là: “Có, mà không phải một, thôi vô thiên lủng đi! Vì vốn tui đẹp trai, cao ráo, dài đòn… chớ đâu có lùn tịt như anh! Rồi người yêu tui cũng lần lượt đi lấy chồng. Thảng có gặp lại, tôi âu yếm gọi em là ‘ex’, tức người yêu cũ!”
Tui nói: “Đó đa! Cũng có thể con vợ mình xưa cũng có một người yêu… mà thằng mắc dịch đó gọi con vợ mình là người yêu cũ!”
“Mà anh ơi đời mà! Ai không có lúc yếu lòng?! Nhứt là lúc chồng giận vợ thì hay nhớ tới người yêu cũ!”
(Cái nầy là mình phải ngoặc một chút để cảnh cáo mấy bà! Muốn chồng mình không nhớ con bồ cũ thì làm vợ, mình đừng làm cho chồng nổi giận nhe không?).
Còn vợ mình cũng vậy thôi, lúc nó thấy mình nghèo, mình mạt, mình không thể nào cho nó quần là áo lụa, hột xoàn đeo xệ hai cái dái tai, nhẫn kim cương làm trặc luôn ngón tay đeo nhẫn cưới!
Ra đường không lo cho em được lên Mercedes xuống Ferrari… thì em so sánh mình với người yêu cũ, người từng đeo đuổi em thời con gái, giờ đi bán Phở tái nạm gầu thêm chút hành trần và nước béo… giàu hết biết luôn… thì cũng có cái lý của nó. Buồn chi cho nó mệt!
Con cá sổng là con cá lớn! Bao giờ cũng vậy! Nhưng cứ bắt đi, bắt đi… nhứt là gặp nhằm con cá ngát; nó đâm cho sưng tay! Nhức! Khóc mếu máo thì lúc đó tui chắc em lại nhớ cá lòng tong!
***
Thưa! Tình yêu là một sinh vật. Đã là sinh vật thì lúc mạnh, lúc yếu, nó sống hoặc nó chết cũng là chuyện rất bình thường.
Nói thiệt với anh nhe! Nếu em yêu của tui có bỏ tui mà ra đi với ai kia… Thiệt tui cũng buồn, cũng thở… nhưng thở ra những tàn phai.
Nhưng chỉ vài bữa thôi! Tui đi kiếm em khác. “Life’s ‘short’!” Đời nó ngắn như cái quần ‘short’ vậy!
Ngu sao mà cứ tình thở tàn phai (‘thở’ chớ không phải ‘thuở’ nhe bạn hiền! Thở tàn phai… là thở dài đó ạ!) hoài cho nó phí của Trời chớ?!
Năm 1948 Kim Dung tốt nghiệp Cử nhân Luật quốc tế tại Đại học Tô Châu, Thượng Hải. Làm phóng viên chuyên dịch tin, rồi viết chính luận cho báo. Một hôm có tác giả truyện kiếm hiệp đăng nhiều kỳ trên báo vì bất đồng về nhuận bút nên bỏ ngang. Chủ bút nhờ Kim Dung nhảy vô điền khuyết. Không ngờ nhờ vậy mà nổi tiếng.
Danh vọng và giàu có của nhà văn Kim Dung chỉ là bề phải của tấm huy chương, còn bề trái cũng nhiều cay đắng. Nhứt là con đường tình ta đi của Kim Dung cũng gập ghềnh gãy khúc. Ông có tới ba đời vợ. (Mà thằng bạn nhậu của tui, cũng vốn có công phu thượng thừa nhờ luyện chưởng, cười khè khè phán rằng: đại hiệp Kim Dung ‘xài’ vợ hơi bị hao.)
Người vợ đầu, Ðỗ Dã Phân, một tiểu thơ khuê các. Cưới nhau năm 1948, Kim Dung chỉ chuyên tâm vào sự nghiệp viết lách, xao nhãng vợ trẻ. Hậu quả là ly hôn. Người vợ thứ hai, Chu Mai đã cùng Kim Dung đồng cam cộng khổ gầy dựng nên tờ Minh Báo, có ngày in tới 200 ngàn số. Họ có hai trai hai gái. Nhưng lần nầy do Kim Dung có thói trăng hoa, hậu quả là ly hôn. Chu Mai vẫn ở một mình và cuối đời ra đi trong cô độc. Kim Dung nói, “Tôi có lỗi với bà ấy! Tôi là một người chồng thất bại. Bà ấy qua đời, tôi rất đau lòng.” Người vợ thứ ba là Lâm Lạc Di, sanh năm 1953, năm ấy mới 16 tuổi nhỏ hơn Kim Dung 29 tuổi, là người rất hâm mộ tiểu thuyết võ hiệp của ông nên theo đại hiệp tới cuối đời.
Có lần trả lời phỏng vấn của báo chí tại sao lại chọn nghiệp viết văn, thì Sơn Nam cười hè hè nói: “Tôi không đẹp trai như Chánh Tín để đi đóng phim, hay khỏe như Huỳnh Ðức để đi đá banh, nên đành đi viết văn vậy!”
Giống như nhà văn Sơn Nam, Kim Dung có một ‘nhan sắc’ của một người đàn ông không được đẹp trai nhưng hay khoái gái đẹp, minh tinh điện ảnh, trở lên không hè. Lúc say mê nữ diễn viên Hạ Mộng, Kim Dung cũng chưa có tiếng tăm gì nhiều, tất nhiên là nghèo. Nghèo thì ‘xơ’ còn không có huống hồ chi tới ‘múi’. Nghĩa là không ‘xơ múi’ được gì hết ráo. Hạ Mộng sanh ngày 16, Tháng Hai, năm 1933, nhỏ hơn Kim Dung gần 10 tuổi.“Tây Thi đẹp như thế nào, chẳng ai từng trông thấy,” Kim Dung nói. “Tôi nghĩ Tây Thi phải giống Hạ Mộng thì mới gọi là danh bất hư truyền.”
Kim Dung bỏ việc ở một tòa soạn báo để chuyển sang biên kịch, rồi làm đạo diễn, mời Hạ Mộng vào vai chánh phim mình làm để hy vọng còn vớt vát được chút gì chăng với người trong mộng. Nhưng tất cả những cố gắng đó chỉ là dã tràng xe cát biển đông–nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.
Hạ Mộng năm 22 tuổi đang trên đỉnh cao màn bạc, có chồng giàu, một đại gia. Năm 1967, Hạ Mộng bỏ luôn nghề diễn xuất đang lên, theo chồng sang Canada định cư. Ngày đi ta đưa em qua con đò nầy, em chẳng bao giờ hứa đợi chờ nhau nên nhà văn vĩnh biệt tình mộng bằng một bài xã luận nhưng lại đầy chất thơ, mang tên ‘Giấc mộng Xuân của Hạ Mộng’ đi liền hai ngày trên trang nhứt tờ Minh Báo (Kim Dung làm chủ biên).
Tranh Bảo Huân
***
Trong làng văn nghệ của nước ta cũng biết bao nhà văn, nhà thơ, nhà nhạc muốn người ta mà người ta không muốn; đành vác ‘cù nèo’ đi xuống đi lên. Như Y Vân (nghe vợ ông nói viết giùm cho Nguyễn Long; chớ ông xã nhà tui không có à nhe) vào thập niên 60 thế kỷ trước. “Thúy đã đi rồi. Những ngày băng giá không tiếng cười. Thúy đã đi rồi. Biết làm sao cho nhớ thương nguôi. Ðời em về đâu? Cho gió trăng sầu. Tìm em ở đâu? Ðường mây tìm dấu… Thúy quá vô tình. Ví dù em có hay dỗi hờn. Cũng vẫn hơn là bến tình anh lê gót cô đơn…”.
Hay Bùi Giáng, tình mộng với Kim Cương suốt 40 năm tới chết. Có người nói Bùi Giáng là nhà thơ điên. Ðiên mà biết làm thơ dê gái, mà lại là gái đẹp nữa thì khó thể tin được là Bùi Giáng bị điên thiệt (?!)
Nghe các giai thoại đổ mồ hôi hột nầy tui phải gục gặc cái đầu, ngả nón mà thán phục! Dẫu không có học gồng; chỉ là dân chơi sợ gì mưa rơi, mấy nhà văn nghệ ‘Mít’ nầy uống thuốc liều, si mê em rồi là bất cần thân thể, hổng ngán tay nào đang làm chồng em yêu hết ráo. Dám đem lời tỏ tình ‘trần trắng trợn’ của mình lên đăng chình ình trang báo mà không sợ chồng em ghen quánh cho mà sặc máu!
Kim Dung, (tui e) nhát gan hơn, hổng dám chịu chơi, chơi tới cùng mà chỉ dám bóng gió xa xôi, vẽ nên hình ảnh của người trong mộng qua những nhân vật trong tiểu thuyết của mình. Dẫu bị chê là nhát gan, nhưng lại hay vì hai lẽ. Một là con vợ nhà dẫu là sư tử Hà Ðông, ghen hết biết, cũng hổng biết nhân vật nữ trong truyện là đứa nào ngoài đời để bà đến xé quần, xé áo; cho em một trận tơi bời hoa với lá.
(Yêu người mà làm liên lụy tới người thì mang tiếng nhà văn, vốn đầy trí tuệ, mà chi cho chúng nó khi!) Hai là mấy em ‘đèm đẹp’ đọc xong rồi đi khoe cùng làng khắp xóm là ‘thằng chả’, tay tác giả, lừng danh nức tiếng nầy, nhểu nước miếng là vì tui đó nhe.
Diễn viên Hạ Mộng (1933-2016)
Có độc giả cho rằng những người đẹp như Hoàng Dung trong “Anh Hùng Xạ Ðiêu”, Tiểu Long Nữ trong “Thần Ðiêu Ðại Hiệp” hay Vương Ngọc Yến trong “Thiên Long Bát Bộ” đều phảng phất hình ảnh của Hạ Mộng. Nhưng tui lại cho rằng Nhạc Linh San trong “Tiếu Ngạo Giang Hồ” mới chính là Hạ Mộng, vì “Tiếu Ngạo Giang Hồ” ra đời vào năm 1967 đến năm1969. Khoảng thời gian này Hạ Mộng bỏ Hong Kong giũ áo ra đi… làm trái tim nhà văn rướm máu.
Ðây là một mối tình tay ba, tình tam giác, giữa Lệnh Hồ Xung, Lâm Bình Chi và người đẹp Nhạc Linh San. ‘San’ mới đầu yêu ‘Xung’ nhưng thấy ‘Chi’ đẹp trai, con nhà giàu, đại gia (giống như chồng ngoài đời của Hạ Mộng) nên đá đít ‘Xung” mà quay qua yêu ‘Chi’. Tim và lòng tan nát, Kim Dung bèn trả thù bằng cách cho tình địch Lâm Bình Chi dẫn đao tự cung thành ‘Thái Giếng’ để luyện Tịch Tà Kiếm Phổ, mong làm bá chủ võ lâm. Lệnh Hồ Xung thất tình “Hoa Sơn, tùng vẫn bạc đầu. Lệnh Hồ còn đọc kinh cầu ngày xưa. Nhạc Linh San vẫn ơ thờ. Khúc ca Phúc Kiến ngây thơ giết người. Lệnh Hồ hỡi! Lệnh Hồ ơi! Kinh cầu còn đọc bao giờ mới thôi!”
Tội nghiệp Chú Ba Lệnh Hồ Xung (hình ảnh của Kim Dung), muốn người ta người ta không muốn; mòn chục đôi giày đi xuống đi lên để tìm cách làm ‘bạn đời’ tri âm, tri kỷ với Nhạc Linh San mà em hổng có chịu!
Kim Dung hưởng đại thọ tới 94 tuổi. Mấy năm cuối đời bệnh hoạn rề rề. Văn hữu ghé thăm, đoán chừng nhà văn sẽ sống thêm vài tuần lễ nữa. Ai dè ngày 30 tháng Mười năm 2018 Kim Dung giũ áo ra đi với nụ cười còn nở trên môi. Tui đoán mò (nhưng dám trúng lắm đa) Kim Dung chọn chết vào ngày này vì cách đây hai năm, cũng chính ngày nầy tháng đó, người tình trong mộng của ông là diễn viên Hạ Mộng cũng ra đi.
Năm 2014 đã già hết ráo rồi nhưng Hạ Mộng vẫn khăng khăng mình chỉ là người Kim Dung mộng thế thôi. “Chuyện Kim Dung và tôi chi bằng đừng nhắc lại.”
Ðại hiệp Kim Dung đành “Ðến đại náo chốn giang hồ một lần rồi lẳng lặng ra đi!” Sống đã lỡ không đồng tịch, đồng sàng; chết thì lỡ không đồng quan, đồng quách — như Lương Sơn Bá với Chúc Anh Ðài. Thôi không trúng được độc đắc thì trúng lô an ủi cũng được, bằng cách chờ tới cùng ngày, cùng tháng, dẫu khác tới 2 năm. Ðại hiệp Kim Dung mỉm cười mãn nguyện vĩnh quyết cõi giang hồ gió tanh mưa máu để: “Cho dù người có biến thành tro bụi ta cũng sẽ nhận ra.”
Tôi gửi tới anh bài thơ, anh không hiển thị. Tôi chuyển cho chị một truyện, chị nói lu bu công chuyện… không đăng. Tôi chẳng hiểu vì răng, chắc tại mình là thằng cha căng chú kiết. Nhưng không vì rứa mà tôi bỏ viết. Cứ mải miết gò lưng, riết cũng nguôi ngoai.
Đọc báo ngày xưa nhắc tới thành phần “dân anh chị”. Sợ lắm! Xử chuyện gì sai bầy em út đi dằn mặt, máu me. Đã nhắn nhe sao nói hổng nghe? Đưa đầu trần biết lấy gì che? Khôn hồn thì liệu sức mà xéo, tay làm dấu chéo lập thệ đường xưa em tránh đi. May thay giữa đường đời muôn vạn nẻo có lối châm chước du di, tôi gửi bài vô tựa về một trang mạng vô danh, đọc thấy đôi ba dòng đồng thanh phản hồi. Ôi, một thanh gươm phải cần tới vỏ bọc, thì tâm sự này phải được sẻ chia. Hậu vận tôi bỏ anh, xa chị tìm đến) với EM, tôi rót cảm động vào lòng rộng, thưa rằng chính em là người cứu bồ. Tôi cần học về bao điều khó hiểu để thồ chữ nghĩa, chừng nào em mỏi mệt thì nhớ dong tay giã từ. Vui thôi mà, em nói, thơ văn việc chi phải gồng mình đong đếm cân đo toan tính thiệt hơn! Em mang tôi do dự vào một quán cà phê, dành trả tiền thắp nụ cười lương thiện: Mừng khi sum họp, xem như em trả nhuận bút những bài thơ. Cà phê làm mất ngủ nhưng em bắt tôi mơ. Tôi nói hạnh phúc sẽ khiến người ta chết ngộp, nhưng buồn bã sẽ sanh được ra văn chương. Và đã là văn chương, từ nay tôi cố quên những tị hiềm anh chị. Hãy để chiếc thảm họ trải chuyên chở những thứ đình đám, lên máy bay rồi đừng để họ kéo xuống như một kiện hàng. Ai đó nói “viết cần tri âm, yêu cần tri kỷ” tôi chẳng để tâm dù lời có đảo ngược nói xuôi. Người ta tự làm dáng bắt hình dong gọi là selfie, vậy thì viết ra chữ có nên kêu bằng tự sướng, dù hay hoặc dở. Phải đắp chăn mới biết có rệp hay không, chẳng bị cắn thì hoá ra mình tài hèn sức mọn. Em cầm tấm bảng ghi đủ danh mục thức giải khát hỏi, anh uống chi? Nào lạ gì miệng lưỡi con người vốn khác biệt, ưa thứ này mà chẳng mặn thứ kia. Anh hiểu không? Tôi thích truyện anh và tôi vừa gọi cà phê đen giống anh, đã là sở thích từng cá nhân thì chớ bàn cãi. Có khi người dưng khác họ mà thấu hiểu nhau hơn kẻ cùng ruột rà máu mủ. Tôi ngó sâu vào mắt em, thấy khuôn mặt mất hồn mình đọng chiếu: Chỉ một độc giả trung thành, được chừng ấy tôi nào mong mỏi gì hơn.
Chúng tôi ngày càng thân nhau. Thân vừa đủ để nói về số tuổi mình mang. Tôi làm tính trừ, như vậy em thua tôi hơn một con giáp. Và tôi thua em chừng mười năm về cách ứng xử, sự thông minh lanh lợi. Thua ngoại ngữ, yếu kém việc giao tiếp với xã hội bên ngoài. Em như lớn lên ở đất này trong khi tôi rụt rè kiểu của đứa chân ướt chân ráo vừa sang tới. Em không đồng ý lối so sánh đó bởi người trong nước giờ này khôn vặt vượt quá mức quy định. Càng ở đây lâu con người mình càng thật thà, càng lương thiện và khúc ruột ngàn dặm không cách gì bì kịp với cuống rốn quê nhà. So ra mình hơi bị khờ khạo! Nhà văn Mark Twain từng viết: “The more i learn about people, the more i like my dog”.
Tôi chẳng có bạn bè, em ngạc nhiên khi nghe tôi trần tình chỉ riêng em là bằng hữu vỏn vẹn tôi đang cận kề, chẳng ai khác. Em bảo vậy thì hy vọng nó không sớm tổn thọ. Muốn kéo dài phải tự hiểu lấy những quy ước bất thành văn, như kiểu mình tôn trọng cái hàng rào của nhà hàng xóm dựng trồng. Muốn làm giặc xâm lược tôi chỉ có một phương cách, chăm gửi bài cho em xem. Em đăng lên, không bỏ sót. Em lập một ngăn hộc tủ để chứa nỗi niềm tôi chất đống, ngổn ngang. Tôi vô đạo, chỉ biết thờ cúng ông bà cha mẹ. Cổ em có sợi dây chuyền, khi sơ hở lòi ra cái thánh giá nhỏ nhoi. Chủ nhật em đi nhà thờ, có khi kêu tôi vào giáo đường nhưng tôi ngại những nơi trang nghiêm, tôi mang laptop vô quán cà phê ngồi đợi em xong lễ. Những lúc tinh thần xuống thấp gần như tuyệt vọng, miệng tôi chưa bao giờ biết nói Lạy Chúa hoặc Nam mô A di đà Phật. Tôi không tin vào thần linh, tôi chỉ biết rằng cuộc đời này ma quỷ đi đầy đường và khi bị ma quỷ chận lối thì e là mọi thứ đã được an bài, đã chậm trễ không còn cách cứu chữa; đành xuôi tay về đoàn tụ với ông bà cha mẹ thôi.
Tôi không cắc cớ hỏi hàng tuần chuyên cần vào nhà thờ em cầu khẩn nguyện thầm về điều gì? Cũng như tôi chẳng nêu thắc mắc vì sao khi thành hôn một trong lứa đôi phải cải đạo? Yêu một người để cam tâm từ bỏ thứ tôn giáo mình đang theo. Chúa có tha lỗi? Phật có từ tâm mỉm cười? Thành phố chúng tôi cư ngụ mùa đông hoặc giá rét kéo dài gần nửa năm, tôi dốt tính toán nhưng cũng hay biết là tình bạn hai đứa chừng thọ ngang ngửa với tháng ngày co quắp ấy. Hơn nửa năm thì có đột biến, ban đầu là cái email chụp lại một tấm thiệp hồng, thứ đến là dòng chữ em viết: Quân số đàng gái có hơi neo người so với đàng trai, lại nữa đa số đều là đàn bà con gái, vì vậy chúng em thỉnh cầu sự hiện diện của anh, má em hoan nghênh ý kiến rằng anh sẽ đóng vai “quyền huynh thế phụ”, nói giúp má đôi lời hôm “trọng đại” nhằm xuôi chèo mát mái một thông lệ ắt có và đủ. Chúng em xin thành thật cám ơn sự trợ giúp của anh. Hãy nhớ cho, chúng ta đã hứa là cố giữ gìn tình bạn dài lâu…
Em lên xe hoa. Em cùng một nửa của em vào vườn xanh đầy kỳ hoa dị thảo để chụp hình lưu niệm trước đêm động phòng. Em sẽ bay về vùng nắng ấm hưởng tuần trăng mật và vì lu bu cuộc đời mới, chắc em sẽ đóng trang báo mạng từng đăng ký môn bài “chuyên trị thơ văn”. Tôi bỏ ý định viết tiếp cái truyện ngắn dở dang. Chủ nhật tôi diện bộ đồ ngó tử tế lò dò bước chân mỏi lên 13 bậc cấp của giáo đường em thường đi xem lễ. Tôi ngó tượng chúa bị đóng đinh lên thập tự giá để chợt nghe ra lòng mình như có lưỡi kiếm bén vừa rút khỏi lồng ngực. Tôi không chắc là tôi đã thầm yêu em, chỉ nhận ra sao thấy mình buồn quá đỗi. Một cô gái nhẹ bước đến gần, gật đầu chào, giọng nhỏ nhẹ: Hôm đám cưới Hằng Nga, bài phát biểu của anh rất cảm động, ngắn gọn và súc tích. Tôi nói cám ơn, rồi con chiên lạc loài âm thầm trốn chạy khỏi giáo đường thâm u.
Tôi bước vào quán cà phê, tìm tới chiếc bàn cũ và ngồi trên chiếc ghế em vẫn ngồi. Mùa này gió vẫn luông tuồng xô đuổi nhau dọc con đường một chiều giăng đầy bảng cấm. Chủ nhật nên sinh hoạt bên ngoài chừng uể oải vắng tiếng động. Uống vơi nửa ly cà phê, tôi bưng thứ dung dịch đắng chát ấy ra hàng hiên thắp thuốc hút. Tôi nhớ là chưa hề chúc em được hạnh phúc. Tôi không chúc vì thú thật tôi hoàn toàn chẳng hiểu thế nào là hạnh phúc. Hai chữ đó là một thứ tân hình thức, đóng khung một bức tranh siêu thực, dã thú và trừu tượng. Chuông giáo đường thong thả đổ xuống, ngân vang, trôi ràn rụa và buồn không bút mực nào tả xiết.
Sự bất quá tam? Câu này không phải là định luật đúng đắn. Để đả phá nó, có vẻ khuyến khích cho việc trì chí, người ta lập luận: Thua keo này bày keo khác.
Sau ba lần “có âm mưu trốn ra nước ngoài” thất bại, đổ bể, bị tó, nhập kho. Lần thứ tư, bày keo khác, ơn trời chúng tôi vượt biển thành công. Nếu thất bại, vĩnh viễn chúng tôi không thể làm đứa mang tội danh “phản bội tổ quốc”. Đó là sáu cây vàng cuối cùng nhằm đặt vào canh bạc sau chót, cá cược luôn cả tính mạng bọt bèo vào sự rủi may. Nói theo cách của mấy anh lính “chế độ cũ”: Một xanh cỏ, hai đỏ ngực.
Vàng ở đâu ra mà lắm thế? Ờ, thì của bố mẹ vợ tôi cho. Giây mơ rễ má lòng thòng, có thể tóm gọn là trong người ông bố vợ tôi chứa tới 50% dòng máu Tàu. Từ nhỏ ông theo học trường Quang Hoa, nói tiếng Quảng Đông và đọc truyện kiếm hiệp kỳ tình giả tưởng của Kim Dung nguyên bổn. Sách truyện ông đặt mua trực tiếp từ Hồng Kông, sắp trên kệ cứ y như pho Cửu Âm Chân Kinh bí hiểm nằm trong tàng kinh các. Thời chưa vàng thau lẫn lộn, ông có cửa hiệu bán xe gắn máy Honda Yamaha nằm ngay phố chính, sau cuộc đổi đời liền hối hả đốt hết mấy bộ bí kíp kia, cơm canh khi nấu chín còn vương mùi giấy khét của “văn hoá phẩm đồi truỵ”. Ông gần như bị phế hết võ công, bầm dập tơi tả khi chiến dịch đánh tư sản mại bản diễn ra, ông “cả tin” trao cho tôi giữ một số vàng và đi đâu tôi cũng mặc chiếc áo lót đặc biệt y như thứ áo giáp chống đạn, bên trong. Ông bỏ công dạy tôi những câu đàm thoại phổ thông căn bản hòng dắt lưng, lỡ qua được xứ người mang ra mà sử dụng, “cỏn” với người Hồng Kông. Lí tù xẻn ùm xẻn dành? Ở đây có cần người làm không? Dách dật xám xập mánh dậu phàn. Một ngày ba chục bạc có bao cơm…
Cuộc hải hành kỳ quái “nghĩ không ra” mất năm ngày là tới bến bờ. Ở đó, những vị thuyền trưởng với đủ mọi phương tiện máy móc cọng với kinh nghiệm dày dặn việc đi biển đã há hốc mồm ra khi nhìn xuống chiếc ghe bé tẻo teo sắp sút mộc long ván dập dềnh như đám lục bình chứa đúng một tá con cá lòng tong ốm dơ xương bám víu tới niềm tin mong manh may nhờ rủi chịu. Người ngoại quốc không đủ ngôn từ để cắt nghĩa tình huống nọ, họ chỉ biết nói tới Chúa, bán tín bán nghi rằng đã có sự mầu nhiệm nào vừa hiện ra. Và cũng bởi quen sống trong ân sũng do đấng toàn năng bao bọc, họ biểu lộ ngay lòng thương cảm, gia ân mở rộng vòng tay tiếp đón. Liên hiệp quốc, hội Hồng Thập Tự quốc tế cùng những phái đoàn thiện nguyện liên quan đến vấn đề thuyền nhân đặt trụ sở tại Hương Cảng đã thành lập ra bốn trại tị nạn bên vùng đất Cửu Long (Kowloon) và sắp đặt chỗ tạm trú cho bọn người vừa rời xa quê mẹ vì vấn nạn chính trị. Tôi tới đất tự do vào năm 1980, theo quy định tất cả những thuyền nhân đều phải tá túc trên một chiếc xà-lan lớn neo ngòi vịnh Kowloon, xa là quần tụ nhà chọc trời lung linh ánh điện của Hong Kong (cảng thơm) gần là Cửu Long cũng lắm nhà cao cửa rộng chen chúc mọc. Tả hữu đều bày binh bố trận một thế giới lạ lẫm đầy lôi cuốn, háo hức được nhập vào để khám phá. Trời cao cũng mây trắng nõn nà chậm tan trên nền xanh, nhưng khung trời này, hôm nay dường như đẹp đẽ hơn, ngời sáng hơn vuông trời cũ đầy vân cẩu.
Phút đầu ở trên xà-lan là chịu qua sự khử trùng. Từng toán nhân viên y tế mặc đồ bảo vệ kín bưng, đeo mặt nạ y như lính cứu hoả và họ “chữa cháy” đám tị nạn bằng cách phun vào người từng vòi thuốc trắng. Một thuyền nhân nói: Họ sợ mình mang đội ngũ chấy rận vào đất liền phá rối hay sao? Một thuyền nhân khác góp tiếng: Chấy rận mà nhằm nhò gì, chẳng qua người ta muốn triệt đi vi trùng cộng sản lỡ bám vào thân con dân xứ Việt…Dội nước lạnh sau đó, tắm táp qua loa xong đâu đó thì phát nhận lương thực. Bánh mì, paté, cá hộp, cam, táo, nho, sữa lỏng, nước suối. Hơn bốn năm qua, giờ mới có được một lần ăn giả bữa trong ê hề. Đi biển đã nôn thốc tháo tới mật xanh, bụng mãi réo sôi và khi đền đáp cho bao tử rỗng ruột, thộn vào tới tức cành hông, óc ách. Bảo ngon miệng thì không đúng, nói là ăn để sống cũng sai tuốt. Trong thực phẩm đó chứa một thứ vitamin vô giá: Tình người. Nhai trong hân hoan, nuốt trong cảm động. Gió ngoài biển thổi vào, lồng lộng tự do, thơm ngát, sướng rên mé đìu hiu.
Tuỳ thuộc vào sự lên đường, bay đến đệ tam quốc gia của những người vượt biển tới trước. Trong bốn trại ấy có chỗ nào vắng lạnh thì người đại diện Liên Hiệp Quốc sẽ đi ca-nô ra xà-lan lập danh sách đủ số để điền vào chỗ trống. Chúng tôi nằm đếm sao trên xà-lan đúng hai hôm thì được điểm mặt cho vào đất liền. Đi đâu mà vội, ghé Kho Đen ăn ở năm ba ngày vạch áo xem lưng cho người ta khám sức khoẻ tổng quát. Được phát áo quần đã qua sử dụng “thơm mùi Mỹ”, cũng áo chim cò cũng quần jeans Levi’s này nọ, “diện ngất trời” để giã biệt thứ y phục tả tơi xã hội chủ nghĩa. Không kể trại cấm, ở Kowloon có bốn trại mở: Sham Shui Po, Jubilee, Kai Tak East và Kai Tak Nord. Hai trại này nằm sát phi trường Kai Tak nên tai thường trực nghe tiếng chim sắt gầm rú của xuống, lên, đi, đến. Đặc biệt là hai trại này gần khu Kwun Tong, nơi mọc lắm hãng xưởng sẵn lòng thu nhận nhân công một chữ Quảng Đông cũng không biết bẻ đôi. Thay vì cứ Oui hoặc Yes thì đằng này cũng Hầy a. Gật đầu không quên gửi tới tài-lũ một nụ cười. Xong ngay. Hủ, hủ. Lắm khi nghe tài-lũ nói tiếng Đan Mạch: Tiểu lị lụ mụ a. Một sự nhịn chín sự lành. Ba mươi sáu kế, cười là thượng sách. Chí ùm chí a? Mụ cỏn mại li ti. Hiểu không? Chớ nói linh tinh.
Nhập trại thì đi lãnh ngay một tấm ván về kê vào giường sắt. Mỗi cái giường đặt lưng ngủ ngáy đều có đánh số, bạn phải thuộc nằm lòng dãy số ấy vì nó là căn cước của bạn, là hồ sơ thu nhỏ để người ta tiện liên lạc, địa chỉ để bạn gửi và nhận thư từ thế giới bên ngoài. Trại có bốn vị cảnh sát (A Xề) coi ngó giữ gìn trật tự, có chòi canh ở cổng vào, ra. Bạn được cấp phát đồ dùng vệ sinh cá nhân, mỗi ngày hai buổi được trao tận tay cơm hộp (ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật). Chưa gì, chân ướt chân ráo đã hưởng lấy một trong tam khoái. Đừng hòng ngồi đó mà bày đặc thụ hưởng. Bọn tớ cho đằng ấy ăn chùa trong ba ngày thôi, nhớ. Không lo xấc bấc xang bang chạy đi kiếm việc thì có đói rã họng bọn tớ cũng khoanh tay thấy chết không cứu.
Ra ngoài kiếm việc, trước tiên bạn phải có tấm ảnh nhỏ để dán vào cái thẻ vàng có con mộc đóng lên cùng chữ ký của ông trại trưởng chứng nhận người trong ảnh là dân tị nạn ở trong trại này được phép ra ngoài kiếm cơm. Cổng trại sẽ đóng vào lúc 9 giờ tối, nội bất xuất ngoại bất nhập.
Rất dễ chịu, giấy tờ tuỳ thân của một mạng người chỉ vin vào một vuông giấy bé nhỏ thua tờ giấy bạc, kể cả bạc giả. Cũng không thèm bọc nhựa làm gì cho thêm rắc rối cuộc đời. Dễ chịu chuyện khác là khi người ta ra giới hạn chỉ trong vòng ba ngày thôi, điều đó ngầm cho hay rằng kiếm ra việc làm cũng dễ như ăn ớt. Nào có chi nhiêu khê. Tôi kè được một đứa thanh niên biết nói chút chút “cỏn xỉu xỉu” kết giao làm bạn đồng minh đi tìm một mặt trận để đánh đấm thử xem nội lực sau cuộc hải hành còn được bao phần hoả hầu. Chả cần phỏng vấn lôi thôi, hai đứa lạc hồn đi vào một tiệm làm bánh ngọt mang thương hiệu Maxim’s nằm ở khu Mong Kok và được giao một đống khuôn bánh cao ngập đầu, luôn cong lưng mà kỳ cọ rửa sạch bơ đường bột cháy khét với nước nóng, nóng thua những giọt mồ hôi vừa chảy đẫm mặt mày. Trong hãng xưởng có lắp đặt bốn cái camera, thằng cai hẳn đã quan sát lính mới nên giờ cơm trưa quá bộ tới hỏi thăm sức khoẻ. Andy Chou biết tôi là duỵt nàm dành, người Việt Nam nên đương sự dùng “dính mãnh” để gỡ rối chút ngôn ngữ bất đồng. Tiếng Anh tôi chứa một bồ nhưng bồ ấy bị thủng ruột, nhớ chữ nào ngôn chữ ấy, chắp vá nhưng “no star where”. Chiếc cầu lỏng lẻo cũng thông thương được đôi bờ. Tôi bảo vì tôi là người tị nạn, không thể có được mọi giấy má cần thiết lận lưng để ra nhà băng đổi tấm ngân phiếu, vì vậy xin vui lòng trao cho tôi tiền tươi. Mít-tơ Chou nói ô kê, không thành vấn đề. Du muốn nhận hàng tuần hay đợi tới hai tuần như thiên hạ? Tuỳ vào tấm thạnh tình của ông, nhưng thưa thiệt là tôi muốn có chút đỉnh dính túi để lỡ ra đường đạp bể bánh tráng có tiền đền, len ken ít xu đặng bước lên xe buýt, sáng “dậm” cốc cà phê, mua bao Marlboro “xực dín”. Andy Chou moi túi quần đưa tôi ba chục bạc. Tôi trông lên gương mặt sáng bóng kiểu tài tử màn ảnh Hồng Kông lòng va nỗi cảm động, suýt vọt miệng: Sinh ra ta là cha mẹ ta mà người rộng lòng với ta chính là ngươi vậy!
Tôi viết thư gửi về cố hương tường trình mọi đường đi nước bước cho nhạc phụ hay. Lối tới nhà bưu điện cũng được “tứ hải giai huynh đệ” trong xưởng làm bánh chỉ bày cặn kẽ, họ hiểu thấu tâm trạng của một đứa cực chẳng đã phải rứt ruột bỏ nhà đi xa, ta thà chịu hành xác phương bắc còn hơn bị tra tấn tinh thần ở phương nam. Mật độ dân số Kowloon chen chúc non triệu rưỡi người, một số không ít đi chui từ Đại lục nên họ hiểu thế nào là đắng cay khi sống với chế độ cộng sản. Đã có một hai bà đứng tuổi khi đi làm chịu khó bới theo cho tôi ít thức ăn “cây nhà lá vườn”. Tố chề, tố chề. Cảm ơn, cảm ơn. Ùm cảnh diêu a bành dậu. Không có gì, bằng hữu ạ. Đón nhận, nhai lấy, nuốt xuống với nước mắt chảy ngược vào trong. Tôi tự suy diễn, không hiểu do đâu từ Hong Kong biến ra thành Hương Cảng, mà hương cảng chính là một hải cảng đầy hương thơm. Lòng người ở đây ăm ắp nhân hậu, đầy thơm thảo.
Bên ngoài phơi phới lồng lộng là thế nhưng bên trong trại tị nạn tù túng lại luôn diễn ra cảnh cơm không lành canh không ngọt gà cùng một mẹ mãi hoài đá nhau. Vẫn chưa lấp được lằn ranh Bắc Nam, vẫn định phận hai nhà rõ rệt. Gần nửa số thuyền nhân tới chốn này đều đến từ Hải Phòng hoặc những vùng phụ cận ở “ngoài ta”, chiều chiều thay vì ra đứng ngõ sau họ ngồi phanh ngực áo bên hàng rào lưới sắt ôm chiếc radio cassette mới tậu mở nghe đài phát thanh từ Hà Nội inh ỏi tuyên truyền giọng chua như giấm. Đêm tối thì thanh niên xăm trổ đầy mình tụ tập bày trò cờ bạc ăn tiền, sát phạt vang rân chả ngán mấy ông cảnh sát Hồng Kông chí tình nhắc nhở chớ bày ra tệ nạn ấy. Con sâu làm rầu nồi canh và như vậy người ra đi từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, đa số là Đà Nẵng đã ngứa mắt phản ứng. Bên thua cuộc vẫn lai hoàn là bên thua cuộc. Ban đầu chỉ thi triển quyền cước, về sau mang Đồ Long đao với Ỷ Thiên kiếm ra chém nhau tận tình. Mấy anh Đà Nẵng bào chữa cho sự lép vế: Tâm tính mình hiền lành hơn vì được giáo dục kỹ, trong khi họ là dân giang hồ thứ thiệt giết người không cau mặt, thôi thì đành bó tay, sợ làm lớn chuyện thì sinh ra trở ngại việc đi định cư. Máu người phương nam lại hơn một lần đổ xuống trên đất tạm dung. Chính quyền sở tại can thiệp, họ cô lập băng đảng phương bắc lại. Họ nhìn ra chân tướng ai là kẻ bàng môn tả đạo.
Phái đoàn Mỹ luôn cứng rắn việc thu nhận người đi định cư: Chúng tôi không mặn mà gì các anh xuất xứ từ phía bắc, chỉ ưu tiên giải quyết hồ sơ của “đồng bào” miền nam thôi. Dân Hải Phòng (đại diện đám người phương Bắc) ở trại tị nạn lâu hơn cả. Bị sàng lọc và những nước chứa chấp họ chỉ có Anh quốc là rộng lòng, hoặc mấy quốc gia khỉ ho cò gáy ở Bắc Âu. Bạn có tưởng tượng ra không, ở một vài khách sạn người ta đã cất công đi dán những tấm hình trong nhà vệ sinh bày cách đi đại tiện cho đúng cách, chớ nên leo lên bàn toạ với tư thế quen ngồi ở hố xí tập thể. Bày cách tắm nên kéo tấm màn ny-lông ngăn nước tràn ra thảm. Và in hàng chữ tiếng Việt to đùng: Xin đừng lấy khăn tắm và xà phòng làm của riêng. Nói bỏ lỗi, người Việt phương Nam thấy thế nghe luống những tẽn tò, tủi hổ, quê một cục và rất đau lòng khi sinh hoạt với đám người lạc hậu kia.
Dạo đó chưa đẻ ra đạo luật dẫn độ nhưng có đôi lần bà con Hong Kong đi biểu tình ôn hoà trước cổng trại, chừng hai ba chục người ra yêu sách là Liên Hiệp Quốc phải trích ngân sách ra để nuôi người tị nạn, ngăn họ không được ra ngoài nhanh tay đi cướp mất công ăn việc làm khiến chúng tôi bị thất nghiệp. Hãy cố trút bỏ gánh nặng ấy đi, sớm chừng nào hay chừng đó. Người Việt đừng làm phiền chúng tôi nữa.
Tôi tạm trú ở Cửu Long Hồng Kông đúng 16 tháng, thay đổi việc làm bốn lần: Tiệm bánh ngọt xong đổi qua thợ tiện ngồi khoan bản lề, rồi nhảy vào xưởng sản xuất quần áo jeans chỉ lo việc đứng máy đóng mấy hạt nút đồng vào đúng vị trí và cuối cùng được tờ báo Hope nằm ở trại Sham Shui Po thu nhận, giao việc trình bày dàn trang, minh hoạ phụ bản sao cho mát con mắt. Báo Hy Vọng in ba ngôn ngữ: Anh, Việt, Tàu phát hành để giúp người tị nạn có được món ăn tinh thần do cơ quan Caritas đảm trách. Boss của tôi gồm hai quý bà, một quý ông đều là dân Ăn-lê từ giã gia đình chốn sương mù để sang xứ nhiệt đới vui vẻ đi vác ngà voi. Toà soạn có gắn máy lạnh, công việc nhàn hạ và do vậy thời gian đó tôi viết được năm (5) cái truyện ngắn, thuần chỉ tả nỗi nhớ nhà và ngầm mang ơn tấm lòng khoan dung độ lượng của tha nhân đất mới.
Vượt biển lên bờ Hồng Kông năm 1980, thấm thoát mà đã 39 năm. Già tuổi ngang với một giấc mộng triền miên không thành tựu, chốn chào đời đã từ bỏ vẫn chưa le lói một đổi thay. 39 năm, cũng có nghĩa là người kiệt xuất mang tên Joshua Wong chưa thể chào đời (anh ta mới có 22 tuổi) để làm ngôi sao sáng, thủ lãnh phong trào biểu tình ở Hong Kong, rầm rộ và đồng lòng đi trên những con đường mà năm xưa tôi từng có lần lạc bước. Hai mươi hai tuổi, có tưởng tượng ra không? Là phát ngôn viên thay mặt cho hơn một triệu người Hồng Kông dõng dạc tuyên bố hôm 19/6 là chúng tôi quyết chống luật dẫn độ (Extradition Law) đồng thời cũng yêu cầu bà Carrie Lam, đặc khu trưởng Hong Kong từ chức. Người dân Hong Kong không chấp nhận sống với chế độ độc đoán, chà đạp nhân quyền từ nhà nước Bắc Kinh.
Tôi thích Hong Kong, chí ít thì tôi từng mang ơn họ một lần trong đời, khó phai. Ở đây, nếu tìm về phương Đông, tôi sẽ không đi Việt Nam mà lặn lội tìm về Cảng Thơm. Sẽ ngồi lại chiếc xe buýt màu đỏ hai tầng mang số 1A chạy suốt con đường Argyle lưu nhiều kỷ niệm. Đi từ Kwun Tong sang Ma Tau Wai. Đi từ khu Mong Kok đến tận cùng là Tsim Sha Tsui (Kim sao chổi) hoa lệ. Nếu còn dây dưa những bất ưng khiến người dân Hong Kong hăm hở đi biểu tình để đòi hỏi, xin hãy cho tôi nhập vào dòng chảy chẳng đứt đoạn ấy. Chống bọn lãnh tụ Việt Nam hay chế độ hiện hành của Tập Cận Bình thì cũng một nghĩa như nhau. Ác đức bất nhân thì cũng một lò mà ra.
Tôi thích Hong Kong. Tôi lục được từ cuốn album cũ một tấm ảnh chụp ở trại tị nạn Jubilee vào năm 1980 để làm bằng chứng. Tôi mong ước cho người Hong Kong đạt được thắng lợi cuối. Tiếng nói của tự do thì mãi còn đó, bất diệt. Người xứ tôi có biết gân cổ lên để hát bè thứ điệp khúc Freedom mà Joshua Wong vừa khởi xướng?
Giáng Sinh còn xa, người ta đã ham vui sớm. Một vài ngả tư, trong thương xá chộn rộn, có kẻ nhập vai ông già Noel, tay thỉnh thoảng rung chuông nhỏ, miệng lâu lâu phát tiếng cười hô hô hô. Con trẻ đa số đều nhìn mê đắm, có bà mẹ bồng con lại gần xin chụp ảnh chung thì đứa mười mấy tháng tuổi nằm trước ngực mẹ an ổn kia liền dong tay phản đối, cựa mình khóc thét lên, ba phần thất kinh bảy phần khiếp vía. Mẹ đành đỏ mặt ẵm tiếng khóc khôn nguôi nọ đi xa khỏi hiện trường. Khóc tới độ ngứa cổ phát ho.
Ho đội mũ thành hô. Hô thêm dấu huyền thành hồ. Hồ tới sông, sông ra biển, cũng là thuỷ nhưng có phận nhỏ, nước vừa rồi nước lớn. Phẳng lặng đến lao xao xong chuyển đổi thành sóng gào bất tận đêm ngày. Hồ cũng là danh xưng của một họ (ho thêm dấu nặng). Họ Hồ chẳng mấy nhiều, không phổ thông như Nguyễn Trần Lê Phan… và bị lắm người “ghét ra mặt”. Mình mang ho tới hô rồi hồ, may kết giao bằng hữu chưa thấy ai chê bai. Bạn bè có khi chỉ đùa nghịch gọi “ê chú Hồ kia”. Chú nhỏ thua bác, chú này như kiểu chú em. Mấy bạn trẻ tuổi dùng chữ chú thì chuẩn mực khi phân định ra vai vế, vậy chứ nhiều lúc mình cũng muốn phân trần “xin đừng gọi anh bằng chú”. Có cô nghe lời, đổi cách xưng hô: Anh Hồ! Cô bạn đẹp gái này mang tên Hồng Minh.
Do bởi nghe anh, em ngọt như mía lùi (lời đường mật?), mình bùi tai một chốc thì sực nhớ tên “em” hơi bị quen, xa xưa hình như đã có nhiều người nhắc tới. Để nhớ lại nha: Hồ Chí Minh, hay Nguyễn Ái Quấc, hay kẻ sở hữu tới 100 bí danh từng khi “tối lửa tắt đèn” thò què thọt quẹt ăn nằm nhiều phen với vợ đồng chí Lê Hồng Phong là bà Nguyễn Thị Minh Khai. Việc kách mệnh căng, tớ phải tìm cách thư giãn tới bến với đằng ấy. “Có thương thì đóng cọc, xin đừng mân mó nhựa ra tay”. Một người nữ họ Hồ khác từng nôm thế. Nhựa mủ không dính tay, nhựa chảy vô. Vô ngập lụt nên Minh Khai đành mang cái trống chầu, giọt máu bất chính tượng hình ra o con gái mang tên ghép Lê Nguyễn Hồng Minh. Sử không chép rõ là Lê Hồng Phong có giận tím tim gan, có tức tới thổ huyết mà căm giận cách hành xử mèo chuột của đứa mất đạo đức ấy? Chơi với bạn mà âm mưu ngủ ngáy chung giường với vợ của bạn, động thái ấy coi sao đặng mấy cha?
Lịch sử có tái diễn trò đùa chơi cha thiên hạ không? Nếu chú Hồ thèm ăn mít em Hồng Minh xinh trẻ hôm nay? Và ắt hẵng là chuyện sẽ bị lộ hàng, đổ bể thì chỉ có nước chú Hồ đành trốn vào nhà chung Facebook mang hai bí danh “Hồ Chít Roài” hoặc “Hồ Kinh Thặc”, khi viết phản hồi thường không quên đệm chữ He he he hoặc hi hi hi (duyên dáng đáo để). Dĩ nhiên chú vén tay áo mần thơ post lên:
Đau khổ chi bằng xôi hỏng bỏng không Trốn chui trốn nhủi cũng không xong Hồng Minh hỡi chớ ngồi trông ngóng Ta chạy làng đây, thường ngày ở huyện mình.
Em chớ có thơ thẩn tức cảnh sinh tình mà làm gì, nhé. Em đừng nói giọng kiểu “ngoài ta”:
Cơn gió lào thổi lóng cực đoan Lói với em tôi đang nẻ noi.
Chính bản thân Hồng Minh cũng chả mấy thương cái tên do chính bố mẹ đặt cho, cô không lấy bí danh, chỉ đảo ngược thành Minh Hồng. Cô có người yêu và anh chàng đẹp trai con nhà giàu học giỏi ấy không thích chú Hồ. Mình hỏi, Minh Hồng thuật lại lời tình nhân: Gần mực thì đen, đi với ma mặc áo giấy. Ghen với người già tuổi ư? Ảnh nói dạo này em toàn làm thơ quan tâm tới cảnh trái ngang của dân tình trong nước mà lơ trau chuốt thơ tình lãng mạn như thuở nào. Chuyện phẫn uất hãy để chú ấy lo, em là con gái nên dịu dàng liễu rũ. Và ảnh kết luận “vắng mợ chợ vẫn đông”. Em thấy đó, trên facebook toàn cả thơ ca cẩm chuyện gái trai mèo mả gà đồng mà có cả vạn cái “like”.
Vì tương lai, Minh Hồng lặng lẽ bỏ đi không nói một lời. Mấy ông bạn già bàn luận: Cháu ấy bỏ chú là phải thôi, chú là cái thá gì, cháu còn lo vun đắp chuyện riêng tư tình cảm thắm thiết với một nửa sắp thành cặp đôi hoàn hảo. Chú nên vắt óc dệt vần thơ chúc mừng ngày thành hôn của cháu nó là vừa. Vớ vẩn thật. Mình tự nhủ với những chữ tại sao? Tại sao mình đọc tin tức tức mình? Tại sao mãi khó chịu với tại sao? Tại sao để Nhật không tuân thủ yêu cầu, tha hồ quậy sông Tô Lịch? Tại sao Trung quốc giúp xây sân bay Long Thành ta lại la ó? Tại sao dân không bỏ vàng ra xây dựng đất nước? Tại sao 4000 năm ngăn được giặc Tàu không cho chúng tràn qua, mà sau 40 năm thống nhất, Tàu nó sang như vào chỗ không người? Tại sao ta vô địch bóng đá thì mọi nhà tràn ra đường mừng vui mà địch vô thì tất cả im re bà rù? Tại sao từ bao thế kỷ trước Hoàng Cảnh Nhân lại ngửa mặt lên trời trong đêm trừ tịch mà than: “Nhữ bối hà tri ngô tự hối, uổng phao tâm sự tác thi nhân”. (Bọn trẻ đâu biết ta hối hận, uổng đem tâm trí để làm thơ)? Do đâu? Vì bọn trẻ không hiểu ra lời tâm huyết? Vì Minh Hồng mãi tự sướng với những vần thơ hờn anh giận em?
Chú chẳng là cái thớ gì đối với cháu cả. Cuối năm thấy lòng cạn niềm vui nên “phát ngôn ninh tinh” vậy thôi. Chú biết đưa lên phây bút chả ai ưa đâu, thôi thì viết ít câu gia cảnh, mượn tấc lòng thế lời giã từ ngày cháu sang sông về nhà chồng.
Ngồi đây ly rượu tàn năm lạnh Nghe già nô en gọi tên mình Hô hô hô thêm sắc thành hố hố Đứa em bên nhà đi bão vào nhà thương Có đứa lột áo em để xem ngực Đứa cởi quần mang di động ra quây Anh vừa gửi về em hai trăm vá víu Máu huyết ruột rà nghe lòng chấn thương Lá rách có khi cũng đùm lá nát Giận vô cùng nát ấy quá hư thân Xe anh cho đầu năm cuối năm thành sắt vụn Em bảo chữ trinh bây giờ chỉ 100 K Anh thắp nhang cha mẹ sinh con trời sanh tính Bao khôn lanh em đoạt hết từ anh Khù khờ anh chưa tới lúc trời độ Thôi có đoái hoài hãy che chở giùm em Tuần sau lễ anh có thêm chút bonus Lại nắn nót tên em trao quà Giáng Sinh Anh xa em đến đây làm kẻ lạ Em nói về sợ đi lạc giữa cố hương Thôi thì lạ vì đành khác chủng tộc Buồn vô biên anh em không nhận ra nhau Năm mới đến chẳng biết chúc em điều gì Em từng bảo sống ngày nào hay ngày đó Ngày nào của anh đã là ngày đó bên em Khi xuất viện nhớ gửi anh xem ảnh mới Tôn trọng anh chớ mặc áo cờ đỏ sao vàng Như có chú Hồ đơn thân ngồi nhậu Hát vang trời có chết thằng tây nào đâu !
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Bài 10
Dương Quang Sơn “Bố tôi”
Một hôm vào năm 1979, tôi ở nhà xem truyền hình. Tôi xem chương trình “Sáu Mươi Phút” vì đang có một phim về các thuyền nhân từ Việt nam đổ đến Mã Lai. Thông tín viên Ed Bradley đang phỏng vấn một vài người. Họ bảo họ đi từ Việt Nam sang bằng tàu, nhưng chính phủ Mã Lai không chịu cho vào bờ. Tàu đắm, rất nhiều người chết đuối. Tất cả những người sống sót đang khóc.
Tôi nhận ra một người lúc Ed Bradley phỏng vấn. Chính là người bạn thân nhất của anh tôi ở Việt Nam, tên Đặng Hồng Phước. Vì thế tức khắc tôi điện thoại cho anh tôi, tôi hỏi: “Anh có xem chương trình Sáu Mươi Phút đấy không?” Anh tôi nói: “Có, có thấy Đặng Hồng Phước không?” Tôi đáp: “Có”. Thế là chúng tôi quyết định tìm mọi cách cố liên lạc với Phước và bảo trợ Phước sang Mỹ. Chúng tôi viết thư cho Hội Hồng Thập Tự để liên lạc.
Sau khi liên lạc được, anh ấy viết thư cho chúng tôi. Anh ấy bảo trong số những người chết đuối có bố tôi. Anh ấy bảo bố tôi đã trả tiền cho chủ tàu để ra khỏi Việt Nam. Nhưng tàu đắm ngoài khơi Mã Lai, cha tôi chết mất tích.
Tự do là tất cả những gì bố tôi luôn luôn mong muốn. Bố tôi chỉ muốn được làm một con người tự do. Thế thôi. Bố tôi đã gửi anh tôi và tôi sang Mỹ để chúng tôi được tự do. Và bố tôi cũng cố chạy thoát Cộng sản. Nhưng đối với bố tôi, đã quá muộn. Quá muộn rồi.
Sau khi đến trại tỵ nạn Pendleton, gia đình tôi được một nhà thờ bảo trợ về San Jose, thuộc tiểu bang California.
Tôi dần dần mất hết niềm tin sau khi đến Mỹ. Tôi bắt đầu nảy sinh nhiều nghi hoặc, tinh thần mỗi lúc một suy nhược, mối ưu uất lớn gần như tràn ngập cả tâm hồn. Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng ấy: Sự va chạm khác biệt văn hóa, ký ức về Việt Nam và sự kiện chúng tôi sẽ không bao giờ trở về Việt Nam nữa. Ngoài ra tôi cũng mang nhiều thù ghét đối với người Mỹ vì tôi không hiểu chính sách đối ngoại và chính trị của người Mỹ ra sao. Cho nên tôi lâm vào tình trạng là cùng một lúc tôi rất sung sướng, mà cùng một lúc tôi cũng đầy mặc cảm phạm tội khi ở đây.
Khi còn ở Việt Nam, mỗi lúc nói về thời hòa bình yên ổn, tôi đều thấy cỏ xanh mơn mởn khắp nơi – cỏ xanh là hình ảnh mà tôi mường tượng ra mỗi khi nghĩ đến hòa bình. Ngày xưa, khi cha con cùng ngồi bên bờ biển, cha tôi đã bảo bên kia bờ đại dương là nước Mỹ. Tôi nghe nói bên ấy có hòa bình, tôi đã mơ đến nước Mỹ, một miền cỏ mọc khắp nơi. Tại tiểu bang Cali này khắp nơi cỏ mọc, do đó tôi cũng đã nghĩ quả đây là lúc hòa bình yên ổn. Nhưng sao trong tôi tất cả đều náo động. Cái hình ảnh mà tôi thấy và những cảm xúc trong nội tâm tôi sao chẳng tương quan đến nhau.
Sự yên bình trong tâm hồn và sự bình yên ngoại giới đã gây cho tôi nhiều vấn đề phải mất hàng chục năm tôi mới giải quyết xong. Tôi đã trải qua một thời kỳ dài, một thời kỳ liên tiếp tôi cứ muốn tự tử, cứ muốn hủy hoại thân mình. Trong thời kỳ này có lúc tôi đã chui vào tủ quần áo, vào buồng tấm, tay cầm con dao, đầu óc chờn vờn ý tưởng đi tìm cái chết. Cũng có lúc tôi nghĩ đến việc đâm đầu vào xe lửa, như thế đỡ cho gia đình tôi khỏi bối rối. Đâm đầu vào xe lửa có lẽ là cách tốt nhất, như một tai nạn xảy ra, còn lưỡi dao, có lẽ chỉ là biện pháp hãn hữu mới phải dùng đến.
Cuối cùng tôi đã cố xoay chuyển để vượt qua ý muốn tự hủy và suy tưởng cho đúng đắn. Đang là một sinh viên được điểm cao, tôi suýt nữa rớt khỏi trường. Những năm ấy, tôi không cho phép mình được vui vẻ. Mỗi khi chợt nhận ra mình vui vẻ, tôi lại có cảm giác phạm tội, áy náy, rồi lại lâm tình trạng tinh thần ưu uất buồn rầu suốt mấy ngày. Tôi lẩn tránh hạnh phúc. Các vấn đề chồng chất lên nhau càng lúc càng tệ hại trong suốt những năm này.
Cuối cùng tôi quyết định phải sống, vì nếu tự tử thì gia đình tôi sẽ lúng túng hổ thẹn, nhất là em gái út tôi. Tôi cũng sợ nếu tôi hủy mình thì không chừng một ngày kia em tôi cũng làm như thế. Tôi không muốn chuyện ấy xảy ra. Vì thế khi nhận thức được rõ là tôi đã cận kề việc tự tử, tôi tìm đến sự giúp đỡ của những người chuyên nghiệp. Đầu tiên, tôi đến một vị linh mục, rồi sau đến một chuyên gia tâm lý trị liệu. Tôi cũng đọc khá nhiều các tôn giáo và triết học Đông phương. Từ điều này dẫn sang điều khác, cuối cùng tôi được thuyết phục rằng không làm gì có Thượng Đế, Thượng đế không có mặt, chính tôi và tự tôi phải quyết định hạnh phúc mình, bất kể cái mặc cảm phạm tội của mình. Bằng ngôn từ, tôi vẫn thường nói tôi không muốn tự tử, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn nghĩ về sự tự tử như một hành vi lãng mạn. Nhưng bây giờ tôi tin sự sống có tính lãng mạn hơn cái chết, nhất là từ khi tôi tin rằng sau cái chết, chẳng làm gì còn đời sống nào khác nữa.
Hình minh họa
Sau khi đến Mỹ, tôi đã nhìn vào trái tim mình để kiếm tìm Thượng đế mà không tìm ra Thượng đế. Bấy giờ tôi ở một giai đoạn đầy xúc cảm. Tôi đã trở lại với Thượng đế một cách nồng nhiệt hơn trước, trong một thời gian. Nhưng tuy vậy đôi lúc tôi vẫn nghĩ đấy chỉ đơn thuần là xúc cảm thôi. Cuối cùng, tôi trở nên hợp lý hơn, tôi tin rằng chẳng Thượng đế nào hiện hữu cả.
Tôi đã từng đi vào một giai đoạn oán ghét Thượng đế vì những gì Thượng đế đã để xảy ra cho quê hương tôi và gia đình tôi. Nhưng bây giờ tôi lãnh đạm với Thượng đế. Tôi không còn hận thù oán ghét gì. Người ta không thể sống với quá nhiều oán ghét, cho nên sau chót, tôi không còn ghét bản thân tôi, tôi không ghét Thượng đế, tôi cũng không ghét người Mỹ nữa.
Tôi rất yêu dân tộc Việt Nam. Tôi yêu họ cả trong hành động lẫn lý tưởng. Tôi đã tham dự những công tác cộng đồng. Nói riêng, tôi yêu rất nhiều người ở Mỹ, nhưng nói chung, tôi không cảm thấy đây là quê hương tôi. Tôi vẫn không cảm thấy đây là đất nước tôi. Bây giờ tôi chẳng còn biết quê hương tôi là đâu, nhưng câu hỏi ấy đối với tôi không còn quan trọng như trước nữa.
Ở Việt Nam, tinh thần ái quốc được đề cao. Trong bất cứ dự định nào về nghề nghiệp, tôi cũng muốn dành cho quê hương tôi. Tôi từng muốn trở thành người dạy học để phục vụ quê hương. Nhưng khi sang đây tôi mất hết nguyện vọng ấy vì lẽ nếu tôi trở nên thành công, thì đấy chỉ là cho bản thân tôi, chứ chẳng còn cho quê hương tôi nữa. Cuộc đời đã mất hẳn những ý nghiã thiêng liêng cao thượng như trước. Tôi trở thành Mỹ hoá, bây giờ tôi đeo đuổi nghề nghiệp chỉ vì sự sung sướng vị kỷ, chứ ở đây, người ta ít nhắm đến mục tiêu gì khác.
Tôi có một ý tưởng mơ mộng sẽ một ngày kia trở lại Việt Nam, thực hiện những điều tốt đẹp cho đất nước – đem lại cho quê hương dân tộc những kiến thức mà tôi học hỏi được về thế giới. Đó chỉ là một ý tưởng mơ mộng, nó không mạnh mẽ như niềm tin mà tôi đã có từ một thời xa xưa, khi hãy còn một viễn tượng khác biệt về tương lai.
Tôi bắt đầu cảm nhận được người Mỹ từ bốn năm nay. Tôi bắt đầu cảm nhận được việc nói chuyện với “ông” đó là nói với một con người.
Tôi bắt đầu cảm nhận được người khác. Trước đây tôi nói chuyện với người Mỹ chỉ là nói với những cái khuôn. Ông thấy, suốt một thời, nhìn người Mỹ tôi không thể cảm nhận được họ. Bây giờ tôi đã trở nên là một con người hem là một người Việt Nam, và các cảm giác của tôi cũng trở nên nhân bản hơn.
Tôi cảm thấy thương xót cho người Việt Nam sống trên đất Mỹ hiện nay. Tôi đã phải cố gắng nhiều để thay đổi, nhưng tôi biết rất nhỉều người Việt hiện vẫn không muốn thay đổi. Họ muốn tự trừng phạt mình. Họ vẫn còn mặc cảm phạm tội về việc lìa bỏ quê hương đất nước mà đi.
Quê hương đất nước vẫn còn đó và chỉ một chính quyền khác cai trị mà thôi. Chúng tôi không mất nước. Việt Nam đâu có xoá tên trên bản đồ. Người ta nên tự hỏi tại sao lại tự xóa đất nước mình trên bản đồ? Trong khi nó nào có bị xoá bỏ đâu? Ấy chỉ là do cái nỗi hổ thẹn vì đã xa rời quê hương đất nước đó thôi.
Người Việt chúng tôi đang cần phải tiến lên để bắt kịp bao nhiêu điều trong những lãnh vực tinh thần, trí thức và văn hoá, nhưng người Việt chúng tôi đã để cho các cảm xúc về Việt Nam dằng kéo trì trệ lại, chúng tôi thường sai hướng. Chúng tôi đã đối đầu biết bao vấn đề và phiền lụy, chỉ vì chúng tôi mải miết nhìn lui dĩ vãng. Cảm xúc đó, tôi tin nó không lành mạnh. Nếu cứ để những cảm xúc ấy kiểm soát cuộc đời thì người ta sẽ chẳng bao giờ giải quyết được gì. Tôi hy vọng sẽ không ai hiểu nhầm những gì tôi nói đây. Tôi rất yêu người Việt. Nhưng rất nhiều người Việt đã không có can đảm để hưởng hạnh phúc. Tôi biết rõ chuyện ấy. Suốt thời gian dài tôi đã tự hành hạ, tự trừng phạt mình mỗi khi cảm thấy mình vui vẻ. Người ta cần phải lấy can đảm để xác định rằng: Ta sẽ cứ vui vẻ. Bất kể ai đang kiểm soát đất nước tôi, tôi vẫn cứ yên vui.
NƯỚC MẮT TRƯỚC CƠN MƯA, nguyên tác Anh Ngữ “Tears Before the Rain” là một tập sử liệu về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam, do Larry Engelmann, Giáo Sư Đại Học San Jose State thực hiện bằng phương pháp phỏng vấn nhiều thành phần: người Mỹ, người Việt, kẻ thắng người bại …Những cuộc phỏng vấn này khởi sự từ 1985, sách xuất bản năm 1990. Bản dịch Việt Ngữ do nhà văn Nguyễn Bá Trạc thực hiện năm 1993, xuất bản năm 1995 tại California.
Ngày 25 tháng Chạp 1979, tôi phải rời Saigon xuống Cần Thơ. Do đó, vào ngày 24, mẹ tôi mua đồ ăn Giáng Sinh, theo thông lệ hàng năm. Người Việt Nam ưa mừng mọi sự. Và gia đình tôi theo đường lối Âu Tây nhiều hơn. Vì thế, vào dịp Giáng Sinh, chúng tôi có cây Noel, dự tiệc tùng, trở về nhà ăn khuya. Chúng tôi không đi dự tiệc sau 1975 nữa vì sống với Cộng Sản. Kỳ đó mẹ tôi làm bữa ăn Giáng sinh sớm, vì tôi phải ra đi ngày 25. Bữa ăn đó có bánh ngọt, thịt nguội, thịt gà đủ thứ. Những loại thức ăn thường có vào dịp lễ.
Tôi không được vui với mẹ tôi. Thật ra việc ra đi là một việc làm tôi đau lòng vô cùng mà không biết cách nào diễn tả tâm trạng mình. Buổi ăn Giáng Sinh to lớn này càng làm tôi buồn hơn. Vì tôi mà mẹ tôi tổ chức buổi này, nhưng tôi không làm sao nuốt trôi một miếng, trong gia đình ai cũng thế. Ai cũng biết một khi tôi đi thì sẽ không trở về, đây có thể là lần cuối cùng tôi thấy họ và họ thấy tôi. Bữa ăn Giáng Sinh đó giống như bữa đưa ma hơn là một tiệc mừng.
Để chuẩn bị cho sự ra đi của tôi, mẹ tôi đưa tôi một tờ giấy một trăm đô và một mớ nữ trang. Chúng tôi biết là ở trại tỵ nạn nữ trang có giá. Trong gia đình tôi, mỗi đứa nhỏ đều có nữ trang riêng, tôi lấy đi theo ba chiếc nhẫn, trong đó có một chiếc nhẫn vàng. Tờ một trăm đô thì để khi cần dùng lúc đến Mỹ.
Mẹ tôi may tiền và nhẫn trong mép áo quần. Sau đó tôi cải trang một chút. Cần Thơ là một tỉnh lỵ, không phải là thành phố. Người dân ở đó khác người dân Saigon. Tôi phải giả dạng làm một người lao động, mặc bộ đồ đen, đội nón lá.
Ngày hôm sau, tôi rán giữ nước mắt, nhưng người ta vẫn có thể biểu lộ sự thương tâm mặc dù nước mắt không rơi. Mẹ tôi khóc. Bà núp sau cánh cửa. Mẹ tôi ôm tôi, chị em tôi ôm tôi, họ phải hành động một cách bình thường vì bọn nằm vùng dòm ngó. Sau đó, tôi bước chân ra cửa, đi không nhìn lại.
Tôi đi xe đò xuống Cần Thơ. Tôi được dặn là phải chờ tại bến xe đò Cần Thơ để có người đến dắt tôi đi. Đêm đến mà vẫn không thấy ai.
Tôi phải ngủ trên giấy báo trải dưới đất tại bến xe. Đêm sao mà dài quá. Cuối cùng, với những người cùng xuống Cần Thơ để ra tàu, người ta dắt chúng tôi đến căn nhà của một người đàn ông có tàu. Họ cho chúng tôi ăn ở đó chờ đến tối. Đêm đó, chúng tôi đến bến tàu, nơi có những chiếc ghe nhỏ. Chúng tôi lên ghe nhỏ. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi đi ghe. Tôi sợ rơi xuống nước. Ở mỗi chiếc ghe nhỏ có mười người. Những chiếc ghe này đưa chúng tôi ra một chiếc ghe lớn hơn trên đó có khoảng hai mươi người. Chúng tôi ngồi chật ních như mắm. Và chúng tôi chờ trong đêm tối. Không biết ông có bao giờ ông ở trên sông ban đêm không? Đây là lần đầu tiên của tôi. Mặt trăng chiếu sáng. Chúng tôi giữ im lặng tối đa. Một em bé trong ghe khóc, tiếng khóc vọng ra cả vùng sông. Ai nấy kinh sợ vô cùng vì họ ngại tiếng khóc sẽ mang bọn Cộng sản tuần canh đến. Bọn này chuyên đi tìm người như chúng tôi, những kẻ muốn bỏ trốn.
Hình minh họa
Do đó, trên ghe có tiếng xì xào: “Làm ơn làm cái gì đó. Cho nó cái gì đi”. Đứa bé thật may mắn là không bị giết chết lúc đó. Cuối cùng, họ cho đứa trẻ uống thuốc ho để say ngủ.
Chiếc ghe này lại đưa chúng tôi đến một chiếc ghe to hơn. Trên chiếc ghe này có khoảng tổng cộng năm mươi người giống như ép cá mòi. Họ chất dừa trái và dưa hấu ở hai đầu cho giống như dân buôn. Chúng tôi kẹt vào chính giữa. Không có nước uống. Chúng tôi chờ cả ngày. Ngày thì nóng. Chúng tôi không có gì ăn và cũng không có cách gì đi vệ sinh.
Cuối cùng, vào đêm 29 thuyền đã sẵn sàng, chúng tôi xuôi dòng. Tôi nói ông nghe nha, thật kinh khủng khi ngồi trong chiếc thuyền đó. Nó vừa nóng, vừa chật chội, tôi lại vừa đói bụng, rất là khó chịu.
Chúng tôi chuyển thuyền, lại sang một chiếc khác. Sự tình càng khó khăn. Con sông chia ra nhiều nhánh. Đêm đó, chúng tôi thật im tiếng vì đã sẵn sàng ra đi. Lúc đó, có một chiếc tuần canh cập đến hỏi “Ai trong thuyền?” Hai người đàn ông giả như ngư dân nói: “Không có ai cả! Chỉ có chúng tôi chờ trời sáng”. Bọn tuần canh lại hỏi: “Có chắc không? Chỉ có hai người thôi sao?” Họ chiếu đèn nhìn. Sau cùng họ bỏ đi. Chiếc thuyền bắt đầu di chuyển dần ra cửa sông cái, hướng về biển.
Lúc đó tim tôi đập nhanh quá. Cuối cùng chúng tôi đến gần cửa sông, qua một chiếc thuyền lớn. Chúng tôi lên thuyền đó mà đi. Người tài công của chiếc thuyền này không biết gì về lái tàu cả. Cả thuyền chỉ có một người hải quân khi xưa từng đi biển. Anh là người duy nhất biết sử dụng hải bàn, người duy nhất biết về biển, thiệt tình! Những người tài công kia thật ra không biết gì. Chúng tôi không hay cho đến khi chúng tôi mắc nạn kinh khủng sau này. Nếu mẹ tôi biết trước như thế thì không bao giờ bà để cho tôi đi cả.
Tiếng máy thuyền nổ lớn quá, trong một đêm sao mà tĩnh mịch quá. Tiếng máy lớn có thể kêu gọi sự chú ý của bọn tuần cảnh. Cuối cùng, chiếc thuyền cũng hướng ra ngoài khơi được an toàn.
Tôi ở dưới khoang thuyền . Có nhiều người trên mui. Tôi bị say sóng quá sức. Những người trên mui nhìn lại phía sau bỗng thấy xuất hiện một chiếc tàu tuần cảnh tiến về phía chúng tôi. Trên thuyền, chúng tôi bàn nhau: “Trời ơi, tụi Công an biên phòng rượt theo kìa. Chắc phải ngừng lại không tụi nó bắn”. Do đó, chúng tôi ngừng lại. Họ qua thuyền chúng tôi nói: “Mấy người vượt biên phải không?” Không còn cách gì chối cãi, chúng tôi đành trả lời: “Phải rồi”. Một tên trong bọn Công an lại nói: “Sao, mấy người có cái gì đem theo?” Tôi hỏi họ: “Mấy ông có muốn lấy tiền không?” Họ nói: “Hên cho mấy người là chỉ có hai chúng tôi trên chiếc tàu này đó”. Chúng tôi gom góp vàng, đưa họ một mớ tiền. Trên thuyền có một cái máy thu thanh họ cũng lấy luôn. Sau đó, họ để chúng tôi đi. Tôi nghĩ đây là lời chào từ biệt Việt Nam của tôi, hối lộ các viên chức Cộng sản một lần cuối cùng.
Bây giờ đã ra đến ngoài khơi, thì nhóm tài công dởm của chúng tôi lại không biết đường hướng gì. Họ không biết hải phận quốc tế bắt đầu ở đâu. Mã Lai hướng nào. Biển cao, sóng động, tôi lại càng say sóng.
Lúc đó lại thấy một chiếc tàu thật to, mấy người tài công nói: “Hải phận quốc tế rồi, bây giờ mình đã an toàn. Có chiếc tàu này đây. Kêu cứu đi”. Họ thảy trái sáng. Lúc ấy tôi đã chuyển sang ngồi đàng mũi thuyền vì mấy chỗ kia làm tôi khó chịu quá. Họ thảy trái sáng để kêu chiếc tàu kia chú ý chuyển hướng lại gần hơn. Cuối cùng hiện hình ra là một chiếc tàu Việt Nam đi về hướng Việt Nam. Tôi thiệt hết tin nổi việc này. Ai nấy đều muốn chết. Đây là một chiếc tàu to vô cùng, với người gác từ đầu tới đuôi, lại có mang súng. Chúng tôi thiệt giận mấy người tài công vì họ đã thảy trái sáng để thu hút sự chú ý của tàu này.
Đây là tàu đánh cá quốc doanh của chính phủ Việt Nam. Họ vừa xong một cuộc hải hành đánh cá, đang trên đường về Việt Nam. Qua chiếc loa phóng thanh, họ biểu chúng tôi tắt máy tàu chờ đó. Họ tới gần hơn, nói: “Rồi, mấy người đi trốn phải không?” Chúng tôi lại nói: “Phải”, chớ còn nói được gì nữa. Tôi nói: “Xin làm ơn cho chúng tôi đi, vì chỉ có năm chục người thôi. Chúng tôi có cả con nít nữa”. Họ nói: “Đưa tiền và vàng thì cho mấy người đi”. Chúng tôi nói với họ: “Nhưng mà vừa rồi, tụi tôi mới bị cướp xong”.
Thế rồi, một người kia thiệt lạ lùng vì ông ta có mang theo một mớ tiền Việt Nam. Không hiểu để làm chi? Chúng tôi bèn đưa hết số tiền Việt Nam của người này cho họ. Tiếp theo là vẫn còn vàng trên thuyền nên chúng tôi lại hùn nhau đưa cho họ. Họ không tin chỉ có thế cho nên họ đưa một đứa con trai nhỏ khoảng mười tuổi qua thuyền chúng tôi kiểm soát coi ai còn giấu vàng không.
Hình minh họa
Tôi mệt và say sóng nên cứ nằm đó. Nhẫn của tôi đã đi hết rồi nên tôi đưa chiếc lắc ra nói: “Nè, đưa cho họ để cho mình đi”. Còn tờ một trăm đô, tôi đưa cho anh ngồi bên cạnh giấu đi.
Tôi lại còn phải đóng kịch. Tôi nghĩ một ngày nào đây tôi sẽ trở thành lão luyện trong việc này, chỉ vì đã phải sống trong một nước Cộng sản. Đứa nhỏ đi sờ mó từng người để tìm vàng. Nó tiến đến gần tôi, nếu nó tìm, nó sẽ thấy sợi dây chuyền vàng mà tôi giấu. Vì thế, tôi giả bộ bịnh. Thiệt tình thì tôi cũng mệt nhưng không đến nỗi như thế nhưng tôi giả bộ thiệt là bịnh rất nặng. Mấy người trên thuyền nói giùm cho tôi là: “Thôi, để cho cổ nằm yên đi, cổ mệt, bịnh quá rồi”. Đứa bé trai đi đến gần tôi -cho đến lúc này thì tôi đã không ăn uống gì, chỉ vài giọt chanh cho đỡ khát, do đó, nhìn tôi cũng eo xèo lắm. Nó ngó tôi. Nó để tôi yên, không đụng đến. Nếu nó lục soát, nó sẽ tìm thấy sợi dây chuyền vàng này chắc mẽm.
Cuối cùng, họ cảm thấy thoả mãn. Họ nói: “Mấy người chỉ gặp có một chiếc tàu của tụi tôi. Vậy là hên lắm đó. Nếu mấy người đi về hướng Nam chút nữa là sẽ đụng mười sáu chiếc tàu trên đường về, mấy người không có đủ tiền hối lộ đâu, họ sẽ giải tất cả về. Chúng tôi chỉ một chiếc thôi nên chúng tôi để cho mấy người đi đó”. Và nhóm tài công dởm của chiếc thuyền chúng tôi thiệt là hết nói nổi, họ lại hỏi: “Mấy ông làm ơn chỉ giùm hướng đi Mã Lai?” Những người kia nói: “Mấy anh không biết đi hướng nào để tới Mã Lai?” Tụi tôi nói: “Dạ không”. Thấy vậy họ chỉ hướng đi bằng cách chỉnh hải bàn và họ cho chúng tôi hai con cá lớn để ăn.
Khi họ tách ra đi, họ kêu chào: “Goodbye” và nói: “Đừng có rầu là bị cướp hai lần. Vậy là hên lắm, chỉ có hai lần thôi đó”.
Bấy giờ, tôi chỉ có một ý nghĩ trong đầu là: Vì sao mà tôi lại kẹt trong tình trạng này? Như chưa đủ là tôi sợ muốn chết. Thêm nữa tôi đã phải trả vàng cho chuyến đi. Và bây giờ lòi ra việc nhóm tài công không biết gì cả. Bây giờ thì thiệt rõ ràng là những người lái thuyền không biết con khỉ gì cả về việc làm sao đi đến nơi.
Thiệt tình, đằng nào thì chiếc tàu kia đã chỉnh hải bàn cho cho chúng tôi, nên chúng tôi cũng theo hướng đó. Tôi nghĩ là bọn kia cũng được. Chỉ có một điều là họ cướp của chúng tôi, ngoài ra cũng không đến nỗi nào.
Chúng tôi hướng thuyền về lối họ chỉ. Khi ra đến biển sâu thì tôi không còn bị say sóng nữa. Tôi quen đi. Thêm nữa, tôi đã không ăn gì cả. Hiện giờ còn một giỏ xách nhỏ trong đó có một quần Jean, một áo thun, và vài bộ đồ lót. Tôi đã lạc mất cái nón lá và cả đôi giày. Đi chân không, tôi cũng không màng. Tôi chỉ muốn thoát khỏi Việt Nam lúc đó thôi. Cuối cùng cũng ra đến hải phận quốc tế. Như vậy nghiã là không còn phải sợ tàu bè Việt Nam nữa rồi. Chúng tôi tiến trên đường đi, đi về đâu ai biết, và đêm mùng 1 tháng Giêng tây, chúng tôi vào hải phận Mã Lai.
Có nhiều con cá mập chờn vờn xung quanh thuyền. Tôi lại nghĩ miên man: Với nhóm tài công này, mình chắc là chết thiệt. Tôi cảm thấy buồn rầu cho mẹ tôi đã phải tốn hao tiền bạc cho tôi nếu tôi chết. Tôi cũng không màng sự chết vì đã chọn con đường ra đi, nhưng nếu tôi chết ở biển, mẹ tôi sẽ không bao giờ biết. Ý nghĩ này cứ luẩn quẩn mãi trong đầu tôi.
Chúng tôi không thấy đất liền đã lâu rồi. Đã hết nước, hết thực phẩm. Tôi nhấp nước từ quả chanh ra. Tôi cũng không được ăn lâu rồi. Có nhiều chiếc tàu đi ngang chúng tôi, nhưng họ không đến cứu dầu cho chúng tôi đã hết sức cố gắng kêu họ. Chiều đó, khoảng sáu giờ, chúng tôi kêu được sự chú ý của một chiếc tàu. Nó hướng về chúng tôi, ông thử đoán xem là kỳ này ngoắc được tàu gì? Cướp Thái Lan! Ông có thể tưởng tượng nổi không? Nhóm tài công dởm lại thành công lần này trong việc kêu cứu dởm.Lúc ấy tôi không còn say sóng nữa và đang ở trên boong thuyền thở gió biển. Nhìn chiếc tàu tiến về phía chúng tôi, thấy họ đeo dao và súng, tôi nghĩ ngay đây là bọn cướp biển.
Hình minh họa
Chúng ra lệnh chúng tôi phải cập sát thuyền vào tàu chúng, chúng thảy dây thừng qua thuyền chúng tôi để quân bằng nó. Chúng bắt chúng tôi nhảy từ thuyền qua tàu. Đêm đó, biển lại động. Sóng thật cao, hai chiếc tàu và thuyền đánh vào nhau và bị đưa ra. Ba người bên chúng nhảy qua thuyền lùa chúng tôi nhảy qua tàu họ. Một trong ba tên còn trẻ khoảng mười bảy tuổi nhìn tôi cười. Hắn kéo tôi lại. Tôi quá sợ hãi.
Thật ra chúng tôi chưa nghĩ là sẽ bị cướp. Chúng không có hành động gì khả nghi. Chúng tôi nghĩ chắc là chúng sẽ cứu mình. Chúng tôi bèn nhảy qua tàu. Không hiểu vì sao tôi cứ luôn tâm cầu nguyện, do đó tôi thật tình không hiểu là tên này nhìn tôi cười và đang rán trì tôi lại. Tôi quá lo. Lúc đó tôi mười chín tuổi, tôi rất là ngây thơ.
Lúc đó ai cũng nhảy qua tàu nên tôi cũng nhảy. Tôi nhảy trúng một vật gì, ngón chân cái bật máu. Tôi không cảm thấy đau, chỉ thấy vết cắt sâu. Cái giỏ nhỏ đựng quần áo, tôi đã thảy qua tàu họ trước. Một cô gái nhảy qua tàu bị hụt, rơi xuống biển. Hai chiếc tàu và thuyên lại bị sóng tạt gần nhau. Nếu không kéo cô lên kịp thì chắc sẽ bị nghiền nát. Chúng tôi kéo được cô ấy lên, còn tôi không hiểu sao lúc đó có thể nhảy xa đến thế. Không có cách gì tính toán được. Chỉ hên xui may rủi thôi. Tôi thấy cô ấy hụt, rơi xuống nước, tôi la lên “Trời ơi”. Bấy giờ đêm đã xuống, chỉ có ánh sáng duy nhất toả ra từ chiếc tàu lớn. Nhưng chúng tôi kéo cô ta lên kịp, cô ấy ướt như chuột lột.
Không phải ai trong chúng tôi cũng may mắn như thế. Một người đàn ông trong nhóm lại nhảy thì hai chiếc tàu và thuyền tách ra, anh rớt xuống biển. Hai chiếc thuyền và tàu ập vào nhau mau quá, chúng tôi không làm sao vớt anh ấy lên được, anh ấy bị ép mà chết. Chúng tôi buồn bực quá.
Bọn Thái bắt chúng tôi xếp hàng, ngồi xuống vùng mũi tàu. Sau đó bắt đầu cướp bóc. Chúng đi chung quanh rờ mó áo quần, tìm kiếm tiền và vàng. Ba tên trong bọn chúng còn ở trên thuyền chúng tôi. Một cô gái nhỏ còn kẹt ở trên thuyền vì quá mệt. Cô ấy nằm trong khoang thuyền, chúng đã hãm hiếp cô bé ấy. Cả ba tên. Chiếc thuyền bị sóng đưa đẩy khi gần khi xa, chúng tôi vẫn nghe tiếng sóng vỗ, tiếng thuyền rên rỉ, tiếng cô bé khóc, kêu gọi cầu cứu. Chúng tôi không thể làm gì được. Chúng tôi khóc cho cô bé đó và cho cả bản thân mình.
Trên tàu cũng có đàn bà con gái, chúng vẫn có thể hãm hiếp tôi bất cứ lúc nào. Thật kinh khủng. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi chứng kiến những hành động như vậy. Tôi ngồi gần vài người trai trẻ. Họ bàn tán việc phản công. Tôi nói: “Tính vậy không xong. Mình không có súng ống gì cả. Mình sẽ bị giết sạch nếu chống cự lại. Tụi nó có ba người dưới thuyền, năm đứa ở đây nhưng lại không biết còn bao nhiêu đứa dưới khoang tàu. Đừng hành động gì”.
Chúng tôi đưa tất cả cho chúng những gì chúng tôi có. Bọn này là ngư phủ biến thành cướp biển nên chúng cho chúng tôi ăn. Ở trên tàu, chúng cho chúng tôi cơm, cá khô và cả dầu nóng trong khi ba tên đi cưỡng dâm cô gái trên thuyền. Bọn dã man, hành động man ri mọi rợ. Bọn chúng để mình trần, hôi hám, dơ dáy và rất nhẫn tâm.
Tôi tự nghĩ: “Thế là hết. Không hiểu việc gì sẽ xảy ra, nhưng nếu nó mà đụng mình, mình sẽ tự vận cho xong”. Tôi thật sợ nhưng lại bình tĩnh. Nếu bọn chúng tính việc hãm hiếp tôi, tôi sẽ nhảy xuống biển tự tử. Tôi đã quyết định thế.
Bất thình lình nhìn xuống, thấy bên chân phải chảy máu. Tôi không cảm thấy đau. Bình thường thì tôi biết đau. Nhưng khi đó tôi đang trong tình trạng kinh sợ, lo sự sống còn nên không cảm giác được cái đau nữa. Tôi ngó xuống, ngón chân cái đang chảy máu. Có một cái bóp nhỏ tôi vẫn giữ bên mình. Mẹ tôi có để vài viên thuốc trụ sinh cho tôi đem theo phòng xa lúc đến trại tỵ nạn. Tôi đã giữ cái bóp nhỏ này và tôi nghĩ những viên thuốc trụ sinh đó đã giúp cho tôi sống còn.
Hình minh họa
Sau khi đã xong việc cướp bóc chúng tôi và hãm hiếp cô gái ấy, bọn chúng lùa chúng tôi về thuyền trở lại. Chúng lại bắt chúng tôi nhảy tàu nữa. Chúng phá thuyền, đục lỗ, đập đồ, lấy hải bàn, bản đồ, đèn pin, hầu như tất cả. Chúng tôi thì vẫn cảm thấy mừng được trở về thuyền vì có nghĩa là sẽ không bị họ giết ngay lúc đó.
Khi chúng tôi về thuyền thì nước trào vào, thuyền muốn chìm. Đêm tối, trời mưa, biển động. Chúng nó để chúng tôi tự chết đi.
Trên thuyền có nhiều cây tre dài và to. Chúng tôi tìm kiếm người rơi xuống biển lúc đầu. Có lẽ khoảng cả một tiếng đồng hồ, nhưng đối với tôi thì dài như thiên thu. Chúng tôi gọi tên anh ấy và bỏ những cây tre này xuống biển để không chừng anh ấy cần dùng. Trong đáy lòng, chúng tôi đều biết anh đã chết, nhưng chúng tôi vẫn cố gọi tên anh ấy và thả những cây tre này vì nó nổi để lỡ khi anh ấy có trồi lên được thì có phao mà nương tựa.
Thuyền thì cứ tiếp tục vô nước cho nên chúng tôi chia làm hai bên để đứng cho cân bằng thuyền lại. Nghĩ cũng lạ vì lúc đó ai nấy đều kinh hãi mà vẫn có sự sáng suốt để làm như vậy. Đúng là bản năng sinh tồn của con người thật tuyệt diệu. Thuyền nghiêng một bên và nước vô, thì một người nói: “Quân bình lại”, tức thì chúng tôi chia nhau chạy ra hai bên vách thuyên cho đều. Đàn ông thì tát nước. Hên cho chúng tôi, bọn cướp không lấy đồ trám lỗ hổng nên nhóm tài công ít nhất cũng có được một lần làm việc giỏi khi tìm ra những vật liệu này.
Sau khi xong việc tạt nước, lại không có đèn. Một người dùng diêm quẹt soi tìm xem mấy cái lỗ hổng bọn cướp đục ở đâu. Chúng tôi làm thiệt lẹ, phối hợp rất mau mắn. Không tưởng tượng nổi. Cho tới ngày hôm nay, tôi vẫn không thể tin nổi những việc chúng tôi làm đêm hôm đó.
Chúng tôi vẫn còn sống nhưng vẫn chưa thấy đất liền. Chúng tôi cũng không biết mình ở đâu? Hải phận Thái Lan hay Mã Lai? Chúng tôi bảo nhau đến khi trời sáng mà không gặp đất liền thì có lẽ sẽ phải chết vì không nước uống hay thực phẩm. Phần chiếc thuyền đã bắt đầu bục nát lắm. Nó không có chống chỏi được lâu hơn. Chắc sẽ tan rã, tất cả cũng sẽ chết. Trời thì mưa, chúng tôi lạc giữa biển mà lại không có người lèo lái. Người hải quân duy nhất biết đường đi thì đã chết rồi – anh chính là người rớt xuống biển mà chết. Nhóm tài công nói: “Tụi tui cũng không biết đi đâu bây giờ. Làm sao đi?” Trời ơi, tôi nghĩ là tôi đã chết tiếp mười lần hơn nữa rồi.
Cuối cùng, ai nấy đều mệt mỏi và đều nói thôi mặc, thuyền cứ trôi, chúng tôi đành chờ chết. Máy thuyền thì đã hư luôn vì nước vô. Hên là biển không có bão, chỉ mưa lớn.
Chúng tôi cứ để thuyền trôi đi theo các hướng chung chung mà mấy người hải quân đã chỉ. Còn tài công bây giờ chỉ đoán chừng. Thuyền chúng tôi cứ trôi trong đêm, suốt đêm, cái đêm đó dài vô tận trong đời tôi. Tôi không ngủ.
Ông có bao giờ cảm thấy đêm sao mà thật là dài, mình thì quá sợ hãi và quá cô thân, cho đến nỗi cái ước ao duy nhất là chỉ muốn thấy chút ánh sáng hay không? Ánh sáng gì cũng được? Bóng tối bao trùm thật nghẹt thở. Đêm đó tôi thật nóng lòng muốn được nhìn thấy một tia sáng. Tôi nói: “Xin để cho tôi được chết trong ánh sáng mặt trời cũng được!”
Và cuối cùng, buổi sáng cũng đến.
Được nhìn thấy mặt trời mọc quả là một cảm giác ấm cúng vô cùng.
Sau hết, chúng tôi nhìn thấy một cái gì xám xám nơi phía xa – đất. Chỉ là một vùng núi non, nhưng chúng tôi đã ở biển năm ngày rồi. Một hòn đảo? Thì có sao? Nhóm tài công cuối cùng đã sửa cho máy nổ được. Máy chạy như đã chết một nửa, nhưng vẫn chạy được. Có hai tàu Hải quân Mã Lai nơi đó, họ đang nhìn chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy dễ thở vì chúng tôi sẽ được cứu. Đúng lúc quá vì chúng tôi đã hết đồ ăn nước uống. Ai cũng cười. Tôi nói: “Nằm xuống. Mình phải làm ra vẻ bệnh hoạn khốn khổ để họ giúp. Mình không thể có vẻ vui tươi được. Vậy ai mà chịu giúp mình”.
Hình minh họa
Hải quân Mã Lai thấy chúng tôi. Họ bảo là dừng xa tàu của họ, họ sẽ cho người qua. Họ nói là đừng đến gần. Một người của họ qua xem xét chúng tôi. Tôi là người chịu đứng ra nói chuyện. Tôi biết tiếng Anh, tiếp theo đó là một anh cũng biết chút Anh văn. Tôi kể cho họ nghe mọi việc đã xảy ra cho chiếc thuyền của chúng tôi, bị cướp bóc, bây giờ thì hết nước uống, trên thuyền có trẻ nhỏ mà không có thức ăn, thêm nữa máy tàu không chạy được. Chúng tôi yêu cầu họ giúp đỡ. Người đó về tàu nói chuyện với ông chỉ huy. Tôi được mời qua tàu họ và đi cùng với anh biết chút tiếng Anh kia. Tôi đến gặp ông Thuyền trưởng, giải thích cho ông ấy rõ ràng những gì đã xảy ra. Ông này từng đến Saigon. Ông ấy hỏi tôi về những chốn như khách sạn Caravelle, vài chỗ có tiếng tăm. Tôi nói với ông ấy rằng tôi biết vì tôi là người ở Saigon. Họ đang kiểm tra tôi, tôi nghĩ vậy.
Khi tôi ở trên tàu thì Hải quân bắt đầu cho mấy người trên thuyền ăn. Tôi đi chân đất và đã không tắm từ hôm 27, tôi cũng không có dịp để chải tóc. Tôi dòm thiệt bê bối. Tôi cũng có sự tự ái, bởi vì là con gái, do đó sau khi nói chuyện với ông thuyền trưởng xong, tôi xin đến nhà tắm.
Tôi nhìn thấy tôi trong gương, trông mình giống như người ngủ đường. Tôi nói: “Trời ơi! Tôi đây sao?” Hình dáng tôi quả đã biến thành một người đầu đường xó chợ.
Ông thuyền trưởng muốn chúng tôi tiến về hướng Singapore bởi vì Mã Lai đã tuyên bố không nhận thêm người tỵ nạn, như vậy có nghiã là họ sẽ cho thuyền ra khơi, thả chúng tôi trôi nổi, chúng tôi có thể sẽ chết. Họ không thể đem chúng tôi đến trại tỵ nạn. Ông ấy cố gắng giải thích cho tôi nỗi khó khăn của ông vì ông ấy có lệnh phải thi hành. Tôi tiếp tục van cầu ông ấy.
Tôi nhớ rõ những gì tôi đã nói với ông ấy: “Đây là một chiếc thuyền nhỏ. Chúng tôi có tất cả năm mươi người. Một người đã chết, chúng tôi có trẻ nhỏ. Máy tàu đã hư. Chúng tôi không thể đi đến Singapore được. Đi được thì tôi cũng đi. Nhưng mà chúng tôi không thể làm được. Xin hãy giúp chúng tôi.”
Ông ấy nói để ông ấy suy nghĩ lại. Trong lúc này thì, trước khi tôi về thuyền trở lại, vì đây là ngày Tết Tây 1/1, ông ấy cho tôi một phong bánh ngọt, nói phần này là của tôi mà thôi. Rồi ông ấy cho tôi thêm trái cây, các món ăn vặt khác, chỉ cho mình tôi. Mọi người trên thuyền đã được uống đầy đủ, và tôi cũng được ăn khi về thuyền. Những món ông ấy cho là của riêng tôi. Như là một giấc mơ, thật bất ngờ.
Giờ đây là buổi trưa, họ để chúng tôi nghỉ ngơi một chút. Chiều đến, họ đưa dây thừng qua thuyền chúng tôi, kéo chúng tôi ra biển trở lại, bởi vì họ không thể nhận chúng tôi. Ông thuyền trưởng đã quyết như thế và tôi thì không biết nói sao hơn nữa.
Họ kéo chúng tôi đến một hoang đảo. Họ ngừng tàu lại. Đêm đã xuống, biển lại động, chúng tôi ở hoàn cảnh giống như con voi và con chuột, con voi kéo con chuột. Tàu họ thật to, thuyền chúng tôi thì quá mỏng manh. Họ và chúng tôi dừng lại hòn đảo hoang. Họ nói đàn bà con nít được lên trên tàu, còn đàn ông con trai ở lại thuyền. Ông thuyền trưởng xuất hiện, chúng tôi lại nói chuyện chút ít nữa. Họ lại cho đồ ăn, và chúng tôi ngủ trên boong tàu.
Đêm đó chúng tôi lo lắng không hiểu việc gì sẽ xảy ra. Ông thuyền trưởng thì tốt, nhưng thủy thủ đoàn thì sao? Một người trong thủy thủ đoàn đã say, đòi một người đàn bà đi ngủ với y. Hắn làm ồn lên, cuối cùng những thủy thủ khác đến kéo y đi.
Buổi sáng, ông thuyền trưởng lại ra, nói rằng ông ấy đã nói chuyện với tổng hành dinh, chúng tôi sẽ được họ đưa đến một trại tỵ nạn.
Bây giờ thì đàn ông đàn bà gì cũng đều lên tàu, họ kéo chiếc thuyền đến trại Pulau Bidong. Tôi nói ông nghe, tôi thật mừng rỡ vì đã ở ngoài biển một thời gian khá lâu. Khi chúng tôi đến được đảo với ngôi trại tỵ nạn thì lúc ấy khoảng mười hai giờ trưa, bãi cát mênh mông đầy những người. Đông quá sức cho đến nỗi tôi không tin ở mắt mình. Tôi không hiểu đây sẽ là điều tốt hay không tốt. Tôi chưa từng biết trại tỵ nạn ra sao. Nhưng hiện giờ chúng tôi đã bằng an.
Hình minh họa
Tôi là người nói chuyện tía lia trên tàu, nói nhiều quá, và họ nói với tôi rằng: “Cô sẽ được rời trại tỵ nạn sớm lắm đó vì cô biết tiếng Anh”. Tôi nhớ điều họ nói. Lúc đó thì tôi đâu cần biết là biết tiếng Anh có lợi. Tại sao biết tiếng Anh thì sẽ giúp cho tôi?
Trước khi họ từ biệt chúng tôi, chúng tôi hát cho họ nghe. Chúng tôi đứng trên boong tàu ca một bản nhạc Việt Nam cho họ nghe. Đây là cách báo đáp duy nhất lúc này. Chúng tôi chỉ còn có cách này thôi, một bài ca. Đây là bài ca quen thuộc cho tất cả những người Việt Nam nên ai trong chúng tôi cũng biết. Đó là bài ca của một nước Việt Nam tự do. Một bài ca hào hùng.
Rồi họ chào từ biệt, chúng tôi cũng chào họ và cảm ơn họ giúp đỡ.
Họ cho chúng tôi xuống thuyền nhỏ bởi tàu không thể vào sâu được với san hô đầy rẫy trong đó. Lúc ấy thì tôi dính da chỉ còn có một cái quần đen và một áo sơ mi. Áo quần không còn gì hơn. Túi xách kia đã mất theo bọn cướp biển.
Những người tỵ nạn đến trước có thói quen xuống bãi mỗi khi có người đến để tìm kiếm người thân. Tôi lội nước vào bờ, đụng phải san hô rất bén. Chúng tôi cũng không có giày dép gì cả. Chiếc thuyền chúng tôi được kéo đến gần bờ, đưa lên bãi để đập nát bởi vì họ không muốn chúng tôi có thuyền để đi trong biển Mã Lai. Họ muốn cô lập chúng tôi nơi hòn đảo này.
Tôi lội nước vào bờ. Một biển người chờ đợi. Nom thật là khổ sở. Tôi đứng trên bãi không biết việc gì và đang tìm hiểu việc gì xảy ra nơi đây. Trong biển người này có một em trai kế tôi đã ra đi từ trước. Nó cũng xuống bãi để xem coi có ai quen biết. Nó đứng đó, mặc độc một cái quần xà lỏn. Và tôi cũng không hơn gì.
Nơi hải đảo này có khoảng 46,000 người tỵ nạn. Rất ít nước và đồ ăn. Đời sống rất khó khăn, tôi thì bận rộn đi làm suốt ngày. Tôi không có quần áo khác để thay đổi. Người ta sống như súc vật không có vệ sinh, không có nhà cầu. Phải đào hố để làm cầu. Những chỗ đi cầu kinh tởm hết nói nổi.
Người Mã Lai thì tìm cách ngăn người tỵ nạn cập bến. Họ kéo thuyền tỵ nạn ra khơi. Thuyền tỵ nạn chìm, người ta chết đuối. Buổi sáng đến chúng tôi xuống bãi cát thì thấy thây người, đàn ông, đàn bà, con nít. Toàn là người Việt Nam. Chúng tôi chôn cất họ. Họ là những người bất hạnh.
Tôi vì thiếu dinh dưỡng nên bị bệnh thũng. Mặt tôi bủng ra. Tôi ở trại này 3 tháng rưỡi. Chính nơi đây tôi hiểu về con người và hành động con người trong cảnh tuyệt cùng. Họ có thể giết người vì thức ăn hay chút tiền. Bạn bè trở thành kẻ thù trong phút chốc. Tôi ưa khóc và không ngủ được. Tôi ngủ hai hoặc ba tiếng mỗi đêm. Tôi thường ngồi nhìn trời vào lúc ban khuya. Tôi thấy tội nghiệp cho tôi, cho tất cả, cho mọi người.
Tất cả sức lực tôi dồn vào việc cố sống và cố thoát khỏi nơi này. Tôi không cần biết là sẽ đi đến đâu, tôi chỉ muốn đi khỏi khu trại tỵ nạn này. Tôi cần phải sống.
Đài truyền hình CBS có đến đảo quay cảnh ở đây. Tôi nghĩ Ed Bradley có đến đảo. Và ông có biết việc gì xảy ra sau khi cảnh sống được quay phim? Tôi nghĩ là chính phủ Mã Lai đã bị chỉ trích về những việc diễn ra trên đảo. Nhờ nhóm truyền hình này, phần ăn chúng tôi khá hơn. Họ cho thế giới biết trại tỵ nạn như thế nào, việc gì xảy ra cho người tỵ nạn. Chúng tôi có đủ đồ ăn sau việc này. Đồ ăn đến trong từng bịch: gạo, trà, đồ ăn của Liên Hiệp Quốc. Cầu Trời phù hộ cho Liên Hiệp Quốc. Mỗi người có một bao khẩu phần mỗi ba ngày. Đồ ăn đến nhanh hơn sức chúng tôi có thể tiêu thụ bởi vì chúng tôi đã quen đói khát lâu rồi.
Em trai tôi và tôi có người bảo trợ, được chấp thuận cho đi Mỹ. Chúng tôi được ấn định ra đi ngày 19 tháng Tư. Rốt cuộc thì tôi cũng lên đường ra đi. Tôi không biết mình sẽ đi đâu. Chỉ biết sẽ qua đến Mỹ, nhưng không biết nơi nào ở Mỹ. Khi tôi ở trại chuyển tiếp, tôi được báo cho biết là tôi sẽ đến Iowa. Tôi không biết Iowa ở đâu. Họ lấy bản đồ ra, chỉ cho tôi một chỗ và nói: “Đây là Iowa, miền Trung Tây”. Tôi thực sự không lãnh hội được, nhưng tôi nói: “Được, Iowa cũng tốt lắm”.
Hình minh họa
Tôi được bảo trợ bởi một nhà thờ. Tôi đến Des Moines với khoảng ba trăm người Việt khác. Thống Đốc tiểu bang đến đón mừng chúng tôi. Sau đó họ sắp xếp theo thứ tự, đưa chúng tôi đến những chỗ mà chúng tôi sẽ về. Họ chở chúng tôi đến nhà mới của chúng tôi. Họ chở chúng tôi đi xuyên qua Iowa. Tôi nhớ đi vào một tỉnh nhỏ ngày Chủ Nhật, buổi chiều, không có một bóng người trên đường phố. Thật là đẹp. Nhưng lạnh và xám xịt. Tôi tự hỏi là chúng tôi đi đâu và tại sao ở Iowa không có một bóng người.
Họ đưa tôi vào căn chung cư đêm đó. Tôi không ngủ được. Tôi bị nhiều cơn ác mộng. Mỗi khi có tiếng động bên ngoài là tôi kinh sợ.
Tiếng động làm tôi sợ. Tôi nhớ đến tiếng máy tàu của bọn hải tặc Thái ở biển, lập tức tôi thức giấc, toàn thân bất động, sợ hãi toát mồ hôi. Việc này diễn ra gần ba tháng mới dứt.
Bây giờ đến lúc kết cuộc vui vẻ đây. Cô gái bị hãm hiếp đã định cư ở Canada. Cô ấy đã lập gia đình và có hạnh phúc. Cô ấy là một người rất dễ thương. Tôi rất vui là mọi sự trở nên tốt đẹp.
Em trai tôi tốt nghiệp Đại học, hiện làm kỹ sư. Tôi cũng đã ra Đại học, có bằng Cao học về công tác xã hội ở California. Tôi trở về làm việc tại trại Palau Bidong với người tỵ nạn sau khi ra trường.
Nhìn lại mọi việc như một giấc mơ. Bởi vậy, tôi phải trở về làm việc tại trại tỵ nạn. Đây không những chỉ là giúp đỡ người tỵ nạn mà còn là mang cho họ một niềm hy vọng tương lai khi đi định cư ở một xứ sở tự do. Ngoài ra, tôi cũng phải trở về trại tỵ nạn để tự xoa dịu tâm hồn mình. Tôi đã sống như một người đã chết. Tôi đã sống mà không có cảm giác. Sau khi đã sống còn, tôi cần phải tìm sự bình an tinh thần. Giúp người đi qua đoạn đường mà tôi đã bước qua chính là phương cách đáp ứng nhu cầu bình an tinh thần ấy.
Vì thế, bây giờ tôi không phải chỉ là một con người đã sống sót. Tôi là một con người đang sống.
Đến định cư ở nước Úc nầy đây có cái sướng là ăn cái gì cũng gấp hai lần. Ăn Tết cũng hai; Tết Tây rồi tới Tết ta. Ăn mừng ngày Từ mẫu cũng hai.
Mother’s Day của Úc mới ăn vào ngày Chủ Nhựt, thứ Hai của tháng Năm, tức ngày 13, tháng Năm; giờ là ngày Từ Mẫu của ta, tức lễ Vu Lan, rằm tháng Bảy âm lịch, rơi vào ngày Thứ Bảy, 25, tháng Tám, dương lịch.
Ngày Từ Mẫu ăn mới vừa xong thì lại ăn nữa; ăn mừng ngày Từ Phụ! (Father’s Day), Chủ Nhựt đầu tiên của tháng Chín, rơi vào ngày mùng 2, tháng Chín.
Ăn hoài hè; hèn chi mấy chị em mình phục phịch, ục ịch như cái hột mít; còn mấy anh em phe mình cứ vác cái thùng nước lèo è ạch đi xuống đi lên.
Nhớ coi chừng mỡ máu… Nhờ vậy, bác sĩ sẽ vui hơn vì có thêm nhiều bệnh nhân đến khám. Còn báo, tạp chí, internet, rầm rộ in truyện cảm động về tình mẫu tử, truyền hình chiếu phim, đài phát thanh kể chuyện; đề tài toàn về người Mẹ.
Dẫu không phải là ngày lễ chính thức của Liên Bang Úc; (cu li nghỉ làm được trả lương); nhưng rơi vào ngày Chủ Nhựt, nên sở sùng, trường học đều đóng cửa.
Chỉ có nhà hàng, quán cà phê, siêu thị là tưng bừng mở cửa phục vụ tận tình một năm một ngày, tạ ơn Từ Mẫu!
Tiệm bán hoa cũng làm ăn khấm khá; khách hàng vô ra nườm nượp để mua hoa cẩm chướng (carnation) để dâng tặng Mẹ mình.
Cái truyền thống tặng hoa cẩm chướng nầy là do Anna Jarvis khởi xướng vào ngày 10, tháng Năm, năm 1908, tại West Virginia Hoa Kỳ; vì hồi sanh tiền Mẹ mình rất yêu loài hoa ấy.
Còn người Việt mình lại chọn hoa hồng, cài lên ngực áo, nhân ngày lễ Vu Lan là theo đề xướng của Thiền sư Thích Nhứt Hạnh trong tác phẩm “Bông hồng cài áo” viết năm 1962 ở Sài Gòn do nhà xuất bản Lá Bối ấn hành.
Hoa hồng đỏ là còn mẹ; hoa hồng trắng là mất Mẹ, là mồ côi, mồ cút.
“Thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên… Thương mẹ không phải là một vấn đề luân lý đạo đức… Thương mẹ là một vấn đề hưởng thụ…”
Tương tự “Thương con là một cái gì rất tự nhiên… Thương con không phải là một vấn đề luân lý đạo đức… Thương con là một vấn đề hưởng thụ…” Bởi vì cho đi là nhận lại!
Báo chí Việt ngữ ở hải ngoại mình, năm nào cũng có nhiều tác giả viết rất cảm động về tình mẫu tử khi Mùa Vu Lan tới. (Nhứt là các nhà văn nữ; vì tui cũng làm Mẹ chớ bộ!)
Tình mẫu tử không có phân biệt màu da chủng tộc gì hết ráo, ai cũng như nhau. Da trắng, đen, vàng, đỏ thì Mẹ cũng thương con, con thương Mẹ đó thôi.
Tuy nhiên cách biểu hiện giữa Tây và ta nó có khác…
Dưới mắt những người con Việt, Mẹ mình là một người phụ nữ yêu chồng, thương con, nên dầm mưa dãi nắng sớm hôm tần tảo: “Quanh năm buôn bán ở mom sông; nuôi đủ năm con với một chồng. Lặn lội thân cò khi quãng vắng, Eo sèo mặt nước buổi đò đông” như bà vợ của nhà thơ Tú Xương.
Còn con Tây nhìn mẹ mình hơi khác. Thấy tài năng của Mẹ không thua gì Bố; có khi còn giỏi hơn nữa kìa… Nhưng cái nhận xét về tài năng của con Tây đối người Mẹ biến thiên hoài, lên bổng xuống trầm theo đời người năm tháng.
Lên 8 tuổi. Mẹ cái gì cũng làm được. Mẹ biết đủ thứ, biết thiệt nhiều. Biết ngay cả cái mật khẩu ‘facebook’ của bố. Biết ngay chóc ngày bố lãnh lương, được bao nhiêu tiền?
Lên 12 tuổi. Té ra có vài điều mẹ không có biết. Chẳng hạn như bố hay ngóng qua hàng rào, nhìn cô hàng xóm đang tô hô nằm tắm nắng. Thiên hạ ai cũng biết mà Mẹ lại là người không biết?
Lên 16 tuổi. Mẹ mình xưa quá! Mặc thời trang, quần jean xé rách vài miếng vậy mà Mẹ chê xấu hoắc, Mẹ lạc hậu mất rồi! Cứ bắt con ăn mặc y theo ý Mẹ mới được hè.
Nên mới có chuyện: “Kìa nhìn đứa kia tóc ngắn, quần jean rách hai miếng ở đầu gối, cũng gọi là thời trang, chẳng cách chi phân biệt được là trai hay gái!?” “Nó là con gái của tui đó!”
“Xin lỗi ông! Tui không biết ông chính là cha của cô bé ấy!” “Không phải cha đâu. Tui là Mẹ của nó!”
Lên 25 tuổi. Con gái Tây hỏng biết thằng bạn trai mình có phải dòng giõi Bùi Kiệm làm biếng học, thi rớt hoài hay là Sở Khanh, chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao, trước khi quyết định trao thân ngà ngọc về cho nó vọc… là phải hỏi ý Mẹ mình mới được. Cái nầy chắc Mẹ em cũng biết!
Lên 45 tuổi. Muốn đập bể cây đàn, dứt gánh sang ngang vì thằng chồng tối ngày chỉ lo ăn nhậu… Sao cứ mãi ngần ngừ… Thôi nó rồi; biết có còn kiếm được ai khác hay không? Ruột rối tơ vò phải hỏi ý Mẹ mình mới được.
Lên 65 tuổi. Không còn Mẹ nữa. Tài sản quý nhứt cuộc đời đã lẳng lặng ra đi, coi như con chịu cảnh mồ côi. Vui chẳng dám cười mà buồn chẳng dám than! Hu hu!
Tây hay ta gì cũng vậy, đều đồng ý là: Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào.
Thương con như con gà mái xòe cánh ra che chở đàn con trước con diều hâu vần vũ ở trên đầu. Con mình hư mà Mẹ cứ binh chằm chằm hè.
Chuyện rằng: Thằng nhóc Johnny vừa nghỉ hè xong, trở lại trường đi học. Hai ngày sau, thầy giáo điện thoại mắng vốn rằng: nó rất cứng đầu không chịu nghe lời dạy bảo gì ráo.
Mẹ Johnny trả lời: “Nè nè! Tui với thằng Johnny suốt ba tháng Trời dài đăng đẳng vậy mà lúc nào nó cứng đầu không chịu nghe lời dạy bảo; tui có bao giờ gọi cho Thầy để mắng vốn đâu?”
“Má ơi! Bữa nay ở trường có bị phạt về chuyện con không làm!” “Cái gì? Mẹ phải nói chuyện ra ngô ra khoai với Thầy giáo con mới được. Nhưng mà con không làm chuyện gì mà lại bị phạt.” “Con không làm bài tập cho về nhà đấy ạ.”
Rồi thằng nhóc than phiền về trường lớp; Mẹ nó cũng giơ hai tay lên đồng ý với con mình cái rụp.
Ngày đầu tiên đi học về, Mẹ hỏi: “Bữa nay con học được gì rồi?”
“Chưa xong Mẹ à. Ngày mai con lại phải tới trường. Mà Thầy giáo con không biết gì hết cả? Cái gì cũng phải hỏi tụi con hết ráo hè!”
***
Con ta, Mẹ cho tiền thì lấy chớ ít dám xin; chớ con Tây cứ tưởng Mẹ mình là nhà băng, tiền vô thiên lủng, nên: “Mommy! Bữa nay con đã làm rất nhiều việc có ích và để công bằng với công sức con đã bỏ ra, Mẹ phải trả cho con những khoản tiền như sau: Nhổ cỏ trong vườn: 5 đô, đi chợ đẩy xe cho Mẹ: 10 đô. Trông em trong lúc Mẹ nấu ăn: 10 đô. Kéo thùng rác ra vô: 5 đô. Dọn phòng ngủ của con: 2 đô, Học giỏi: 20 đô. Mẹ nợ con tổng cộng là: 52 đô.”
Mommy Tây cầm bút lên, lật mặt sau của tờ giấy và viết: ‘Chín tháng mười ngày’ con trọ trong bụng Mommy: Miễn phí. Những đêm Mommy phải thức trắng chăm sóc và cầu nguyện khi con ốm đau: Miễn phí. Những giọt nước mắt khi con không vâng lời Mommy: Miễn phí. Những đêm Mommy không ngủ vì lo lắng cho tương lai của con: Miễn phí. Tất cả những đồ chơi, quần áo Mommy dành dụm từng đồng để mua cho con trong suốt mấy năm qua: Miễn phí.
Tình yêu của Mommy dành cho con, tất cả đều ‘Miễn phí’luôn con trai ạ!
Nhưng lớn lên, con Tây cũng hiếu thảo như con Việt mình đấy thôi!
Nên có chuyện rằng: Ba đứa con đã trưởng thành, ra riêng, mần ăn, mánh mung, chụp giựt và trở nên giàu có.
Nhân ngày Từ Mẫu, thằng con cả nói: “Tao sẽ xây cho Mẹ một cái nhà thiệt bự!” Thằng thứ hai: “Em sẽ mua cho Mẹ một chiếc Mercedes, và mướn một viên tài xế!”
Còn thằng Út cười hè hè: “Món quà của thằng em nầy ăn đứt hai anh rồi! Mẹ của chúng ta là người rất thích hát karaoke. Em sẽ cho Mẹ một con vẹt, thuộc tới 100 bản tình ca từ Phạm Duy cho tới Trịnh Công Sơn.
Mẹ chỉ cần yêu cầu bản “Chuyện tình buồn! Năm năm rồi không gặp từ khi em lấy chồng…” thơ Phạm Văn Bình, nhạc Phạm Duy; hay bản “Em còn nhớ hay em đã quên’ của Trịnh Công Sơn do cụ bà Khánh Ly hát cũng được tuốt.
Phải mất tới 10 năm và hơn một trăm ca, nhạc sĩ mới huấn luyện được con vẹt nầy đó nhe. Tốn hết cả thảy là 100 ngàn đô Úc lận đó! Em chắc là Mẹ sẽ rất thích, mê tơi món quà tặng của em.”
Quả nhiên, chẳng bao lâu sau, người mẹ viết thơ cám ơn mấy đứa con mình về quà tặng như vầy: “Thằng cả à! Căn nhà con xây cho Mẹ bự quá quá xá. Mẹ chỉ ở có một phòng mà phải quét dọn, lau chùi hết cả căn nhà.”
“Còn thằng hai! Mẹ già rồi đâu còn muốn đi đâu. Ở nhà suốt hè. Gởi chiếc Mercedes mà chi? Phần thằng tài xế nầy cực kỳ thô lỗ, mở miệng ra là chửi thề bốp trời thiên!”“Còn thằng Út của Má! Con thật là tế nhị, để ý biết mẹ mình thích cái gì! Cám ơn con yêu. Thịt con vẹt nầy lăn bột chiên ngon hết xẩy, ngon hơn cả gà chiên KFC nữa đó!”
Nói nào ngay, chủ nghĩa tư bản làm giàu dựa trên sự tiêu thụ của khách hàng. Càng đông càng tốt, nên nhân ngày Mother’s Day của Tây hay lễ Vu Lan của mình nó định nghĩa Mother, Mẹ, là Mẹ ruột đương nhiên; Mẹ nuôi cũng được; Mẹ kế cũng xong.
(Sở dĩ Tây nhiều mẹ như thế vì Bố Tây có rất nhiều đời vợ. Chính vì vậy mới có ‘stepmother’. Bố cứ đi thêm ‘step’ (bước) nữa là nó có thêm một Mẹ kế.)
Con Việt nó đâu chịu hè. Từ ‘Mẹ’ thiêng liêng lắm đâu ai muốn được là được.
Vợ kế của bố, con Việt gọi là dì ghẻ. Rất dễ hiểu là vì bả có ghẻ. Mấy đời bánh đúc có xương; mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng? Không thương nó, nó ghét lại là phải rồi.
Ngoài ra, có người, theo luật, con Việt dù muốn hay không cũng phải gọi là Mẹ, “Mother- in- law”; (Mẹ vợ hay Mẹ chồng) toàn là người dưng nước lả nên đâu có ‘quởn’ mà thương.
Nên có chuyện rằng: “Anh yêu! Em có cái tin tuyệt vời nầy cho anh. Không bao lâu nữa căn nhà nầy sẽ có ba người chớ không phải là hai.”
Anh chồng Tây thiệt là phấn khích, hỏng ngờ súng mình tốt thiệt, bắn đâu trúng đó; cười toét miệng: “Thiệt vậy hả cưng!”
“Em rất hài lòng khi thấy anh vui! Bắt đầu từ sáng mai, Mẹ em sẽ dọn vô ở với vợ chồng mình!” Thiệt là cái tin sét đánh ngang mày làm xây xẩm cả mặt mày.
Dẫu sao mùa Vu Lan nầy, mấy anh mình, bất luận Tây hay Việt, chỉ cần thương Mẹ ruột của mình thôi là đã đủ. Còn Mẹ vợ mình thì để con vợ mình nó thương nhe!
Dân Nga nói riêng và dân Liên Xô nói chung, ai cũng hãi hùng, kinh sợ nhà độc tài khét tiếng Stalin hết ráo! Cho tới con nít Nga dẫu chưa biết gì nhiều nhưng cũng biết ước ao khi Stalin đến thăm một trường học ở vùng quê, hỏi một đứa học trò.
“Ai là cha của cháu?””Cha cháu là Stalin!” “Ai là Mẹ cháu?” “Mẹ cháu là nước Nga!”
Stalin rất lấy làm hài lòng, bèn hỏi tiếp: “Lớn lên cháu muốn làm gì?” “Dạ cháu muốn mình thành một đứa bé mồ côi!”
The Butcher of Moscow
Ước mong đó mãi tới ngày 5 tháng Ba năm 1953, Đại Nguyên soái Stalin, mới ngủm củ tỏi.
Vậy mà từ trong rừng Việt Bắc, các văn nô nghe tin như “sét đánh ngang tai”… Rồi lễ truy điệu được cử hành trọng thể, để tang như cha chết.
Cả bọn xúm nhau lại đấm ngực, khóc lóc, nước mắt nước mũi choàm ngoàm.
Mà đầu têu là Tố Hữu với bài thơ: ‘Đời đời nhớ ông!’
“…Hôm qua loa gọi ngoài đồng/ Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao/ Làng trên xóm dưới xôn xao/ Làm sao, ông đã… làm sao, mất rồi! Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi!/ Hỡi ơi, ông mất! đất trời có không? “…
Không phải chỉ mình ên Tố Hưu vật vã khóc than mà trong tập Văn Nghệ số 40, còn có Chế Lan Viên, Huy Cận, Bùi Tài Đoàn, Nông Quốc Chấn và cả Xuân Diệu cũng đua nhau mà khóc lu bù, khóc hu hu!
Phải rồi! “Khóc mới có miếng cơm mà mà ăn; khóc mới có chiếc áo mà mặc chớ…” (Câu nầy là của soạn giả Hà Triều Hoa Phượng viết trong vở tuồng Nửa đời hương phấn, khi Tùng (Thành Được) sỉ vả Hương (Út Bạch Lan) là gái bán phấn buôn hương!)
Cả đám bồi bút chịu cái cảnh bán phấn buôn hương như vậy, duy chỉ mình Tố Hữu là bị bà con mình ‘xì nẹt’ tơi bời hình như hơi bị bất công.
Nhưng cũng có thể hiểu được sự nóng giận của bà con mình; là vì sau 75, Tố Hữu làm Phó Thủ tướng, ngăn sông cấm chợ, làm kinh tế, kinh đến thế, khiến bà con mình phải ăn bo bo thay cơm, nên quạu quá, chơi Tố Hữu sát ván tơi bời là: “Thơ như hạch thì làm kinh tế ạch đụi là chuyện tất nhiên thôi!”
“Đời đời nhớ Ông” của Tố Hữu ca ngợi một tên phạm tội ác chống nhân loại, tên ‘butcher’, tên đồ tể, là người chịu trách nhiệm chính cho cái chết tức tưởi của 20 triệu người dân không chỉ riêng Liên Xô mà còn ở các nước khác nữa.
“Yêu biết mấy, nghe con tập nói!/ Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!”
Đứa trẻ nào đầu đời cũng ‘ba, ba, bà bà’… Con của Tố Hữu thì lại nói tiếng Nga quá giỏi mà hỏng ai khen; còn phê một câu rất nặng nề nhưng cực kỳ chính xác là: “Đồ nịnh hót trắng trợn! Nhục!”
Tuy nhiên cũng có người bênh vực: Tố Hữu không việc gì phải xấu hổ cả. Hồi ấy, có biết bao nhiêu người cũng nịnh ‘dơ’ như thế, chứ đâu phải riêng Tố Hữu đâu nè! Nghĩa là nhục là nhục cả đám!
Trước khi mất miền Nam, thú thiệt là tui không biết Tố Hữu là ai và dĩ nhiên càng không biết Stalin là đứa nào hết ráo.
Mãi sau mới biết Joseph Stalin (1878-1953), nhà độc tài CS Liên Xô, từ năm 1929 tới 1953, có cái tên dài thòng là Josef Vissarionovich Djugashvili.
Làm cách mạng vô sản thì phải lựa cái tên cho gọn, cho oai, cho dễ nhớ, để dân Liên Xô dễ gọi, dễ hoan hô. Vậy là Stalin, nghĩa là ‘Người Thép’ được khai sinh.
Stalin hồi nhỏ là con một của một ông đóng giày nghiện rượu. Say xỉn là cứ lôi đầu thằng nhỏ ra mà bộp tai đá đít để mua vui; nên lớn lên, để trả thù, Stalin quyết đi làm cách mạng bằng cách cướp ngân hàng, kinh tài cho Đảng “Bolshevik”.
Stalin có nhiều vợ. Vợ đầu chết vì lao phổi. Vợ thứ hai thì tự vận… chắc có lẽ không chịu được cái ông chồng tàn bạo, vô nhân đạo, nầy chăng?
Sau khi Vladimir Lenin (1870-1924) chết, Stalin trừ khử các đối thủ chánh trị một cách tàn khốc để kiểm soát hoàn toàn đảng CS Liên Xô.
Thi hành những kế hoạch kinh tế ngũ niên, Stalin tịch thu đất đai của dân để thành lập những nông trường tập thể. Nhiều triệu nông dân, không tuân theo lịnh Stalin, đều bị hành quyết hay bị đi đày. Nông trường tập thể thất bại, nạn đói tràn lan khiến hàng triệu người chết.
Nên mới có chuyện vầy: Stalin than phiền là có quá nhiều chuột trong phòng làm việc của mình. Cận thần thân tín của Stalin suy nghĩ một lát rồi: “Sao đồng chí không treo lên cái bản Nông trường tập thể?! Thì phân nửa số chuột sẽ chết đói còn phân nửa số còn lại sẽ bỏ chạy đi nơi khác!”
Chánh sách nông nghiệp tập thể, cha chung không ai khóc, hậu quả là khoai tây không có đủ mà ăn thì nói chi tới thịt trừu, bò, gà.
Nên cuối buổi hội thảo về thành quả chăn nuôi của chế độ CS Liên Xô. Diễn giả chấm dứt xong bản báo cáo. “Các đồng chí! Ai có thắc mắc gì thì tự do chất vấn.”
Đồng chí ‘Dân Ngu’ hỏi: “Sản lượng thịt, theo đồng chí diễn giả báo cáo là đã tăng gấp đôi! Dân Nga chúng ta giảm 3 triệu người vì bị bọn Phát xít Hitler giết hại. Thế thì tại sao dân Nga không có được một miếng thịt cho ra hồn, khi phải sắp hàng dài dằng dặc?”
“Tôi không có số liệu chính xác về sản lượng thịt của chúng ta! Xin khất đồng chí ‘ Dân Ngu’ câu trả lời vào tuần tới!”
Tuần tới, sau khi chấm dứt bài báo cáo, tay tuyên giáo lại hỏi: “Ai còn có ý kiến gì không?” Thì đồng chí ‘Khu Đen’ giơ tay lên: “Có! Cho tui hỏi: đồng chí ‘Dân Ngu’ giờ ở đâu ạ?”
Đó đó! Stalin cai trị bằng khủng bố dựa vào mật vụ, khuyến khích người dân theo dõi, tố cáo lẫn nhau! Hậu quả là hàng triệu người bị giết; hàng triệu người khác bị cưỡng bức lao động cải tạo trong các trại tù Gulag trên khắp nước.
Stalin còn là một con người rất đa nghi và xem thường mạng sống của người khác! Nên một đám đoàn đại biểu từ Georgia, quê của Stalin, đến văn phòng làm việc của Stalin họp rất lâu, rồi lục tục ra về.
Stalin không tìm được cái ống vố của mình để hút thuốc bèn triệu trùm Mật vụ vào điều tra xem ai trong đám đại biểu đó đã ‘thó’ cái ống vố của mình?
Nửa tiếng sau, Stalin tìm được cái ống vố trong ngăn kéo, bèn gọi điện thoại ra lịnh cho đoàn đại biểu đồng hương được tự do.
“Xin lỗi đồng chí Stalin kính mến! Người gọi trễ quá! Phân nửa đoàn đại biểu đã thú nhận rằng mình đã lấy cái ống vố của đồng chí. Phân nửa còn lại đã chết trong qúa trình bị hỏi cung rồi ạ!”
Giết nhiều người dân tất nhiên Stalin cũng rất lấy làm lo lắng sẽ bị dân giết lại, nên Stalin cực kỳ cao độ cảnh giác cách mạng:
Tại buổi họp ban Chấp hành Trung ương đảng, Stalin đang đăng đàn phát biểu thì nhận được một tờ giấy cảnh báo: “Có người âm mưu ám sát đồng chí!”
Stalin vẫn tiếp tục bài nói. Thì nhận được lời cảnh báo thứ hai: “Tên sát thủ là một trong hàng ngũ lãnh đạo của đảng ta!” Stalin cũng không phản ứng gì.
Một đám nhân viên mật vụ KGB từ ngoài tràn vào: “Tên sát thủ có mặt trong phòng nầy!”
Stalin nhướng mắt lên: “Hàng ghế thứ nhứt, ‘tay’ ngồi ghế thứ hai, từ bên trái!”
Đám KGB nhảy đè tên nầy xuống lục soát; quả nhiên tìm thấy một khẩu súng lục, y lận trong lưng quần.
Cả hội trường bình tỉnh giấc, ngạc nhiên: “Sao đồng chí Stalin sáng suốt biết ngay chóc! Thiệt là một lãnh tụ tài ba!”
Stalin xua tay: “Ố có gì đâu mà tài! Chẳng qua đồng chí Lenin kính yêu đã từng căn dặn rằng: “Kẻ thù của Cách mạng không bao giờ ngủ đó thôi!“
Nhắc tới Lenin, một đệ tử trung thành của chủ nghĩa Marx thì không thể quên cái chuyện vui nầy: “Lenin chết, mang theo một khẩu súng lục lên thiên đường. Thánh Peter chận Lenin lại ngoài cổng. “Không được mang súng vào thiên đường!”
Lenin nhìn lên và thấy một ông râu xồm, tóc bùm xùm bạc trắng với một cây súng máy trên tay nên cho rằng mình bị đối xử bất công. “Còn ông kia thì sao?” Lenin hỏi.
Thánh Peter trả lời: “Đó là biệt lệ! Ông ấy là Karl Marx và ông ta đang đợi Stalin!”
Lòng căm phẫn nhà độc tài đỏ nầy sôi sục trong lòng bất cứ ai từ Karl Marx đến dân thường nhưng người dân Liên Xô, dẫu đói rách lầm than, vẫn chưa muốn mình chết mà người phải chết chính là Stalin mới được.
Nên một hôm, sau khi nốc cạn chai một lít vodka, Stalin thơ thẩn đi dạo dọc bờ sông Volga, bị trượt chân ngã tùm xuống nước. May thay có một người Nga nhảy xuống cứu, ì ạch lôi cái thân mập ú lên bờ để mà xốc nước.
Nhà độc tài đỏ, sau khi ọc ra một đống nước lẫn với cả lít rượu vodka uống trước đó, bèn mở mắt ra tự giới thiệu: “Ta là Stalin đây, quyền lực vô song. Hỡi ân nhân, ‘ngươi’ đã cứu ta thoát chết. Ân nhân muốn gì là có nấy. Nào bây giờ ‘ngươi’ muốn điều gì?!”
“Tôi chỉ muốn một điều là xin đồng chí Stalin hãy cực kỳ bí mật, đừng hé môi cho bất cứ một ai biết là tui đã cứu đồng chí thoát chết nhé!”
Tuy thoát chết nhưng cuối cùng rồi Stalin cũng phải chết sau 74 năm đày ải nhân gian.
Những năm cuối đời Stalin bị bệnh bách hại cuồng, một dạng hoang tưởng, trong đầu bao giờ cũng nghĩ có người theo dõi để giết hại mình.
Stalin chỉ chấm dứt sự lo sợ hãi hùng nầy vào ngày 5 tháng Ba, năm 1953, sau một cơn đột quỵ.
“Stalin bèn lò dò lên thiên đường, Thánh Peter chận lại hỏng cho vô vì tội ác chất chồng! Trời không dung đất không tha, nên gởi Stalin xuống Hỏa ngục.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.