Ăn đêm ở Little Saigon

baotreonline.com

Huy Phương

Post on 19th Oct 2019

Post by Sơn râu 12 Feb 2024

Cách đây chừng 20 năm, buổi tối ở Little Saigon đi kiếm một chỗ ăn thật khó khăn, vì theo thói quen, sinh hoạt phố xá, hàng quán thường đóng cửa vào khoảng 8 giờ tối. Theo đà phát triển của các lớp người Việt đến đây càng ngày càng đông, Orange County (NamCalifornia) hiện có 183,766 người Việt cư ngụ, so với Santa Clara (Bắc Cali) chỉ có 125,695 người (kiểm kê dân số 2011).

Ngoài số người đến Nam Cali theo diện di dân, người Việt ở các tiểu bang Hoa Kỳ và ở khắp nơi trên thế giới, dân du lịch và du học từ Việt Nam, không ai không mong đến Little Saigon một lần cho biết cái gọi là “thủ đô” tị nạn, với nếp sống gần gũi quen thuộc, một Sài Gòn nhỏ ở ngoài quê hương. Do đó, lượng xe lưu thông tại vùng Little Saigon càng ngày càng đông, những ngày lễ cuối tuần, Giáng Sinh hay Tết Âm lịch, khách lạ mới đến, không rõ những ngóc ngách của vùng đất này, rất khó kiếm được một chỗ đậu xe để đi dạo phố, mua sắm hay ăn uống tại Bolsa.

Chợ mở trễ, quán ăn mở khuya

Nhằm đáp ứng nhu cầu mua sắm của cư dân, mấy năm gần đây, phần lớn những ngôi chợ thực phẩm trong vùng Bolsa đã mở cửa cho đến 11 giờ đêm, dành cho những bà nội trợ bận bịu công việc, hay săn sóc con cháu, tránh đi lại đông đúc hay kiếm chỗ đậu xe khó khăn lúc ban ngày, có thể dành thời gian buổi tối cho việc chợ búa.

Những quán ăn bắt đầu mở cửa khuya hơn, tạo cho Little Saigon có những buổi tối nhộn nhịp, và số thương vụ tăng gấp bội so với hoạt động bình thường ban ngày. Khách phương xa đến đây, vào những buổi tối cuối tuần phải xếp hàng để chờ một chỗ ngồi trong hàng quán không lấy gì làm rộng rãi. Mặt khác, không ai đi ăn khuya một mình mà không kéo theo bạn bè, có khi con số lên đến hàng chục người.

Khu ăn khuya ở Little Saigon bao gồm các hàng quán trên đường Bolsa giới hạn từ đường Bushard đến Brookhurst, đồng loạt mỗi đêm đều mở cửa đến 12:00AM, riêng hai đêm Thứ Sáu và Thứ Bảy đến 2:00AM, gồm có Corner View, Phở Thăng Long, Noodle & Grill, Lộc Ðỉnh Ký, Phở Thanh, Thành Mỹ. Riêng Phở Thanh cho biết, nửa khuya về sáng, còn khách là quán còn mở cửa. Mùa Hè, từ tháng 6 đến tháng 9 lại còn có Chợ Ðêm Phước Lộc Thọ, điểm hẹn của các bạn trẻ và khách phương xa về Little Saigon.

Món ăn khuya

Lẽ cố nhiên vào lúc một hai giờ khuya, khách vào quán ăn không ai ăn cơm hay những món “nặng bụng” mà chỉ dùng các thức ăn nhẹ, để sau đó còn về ngủ ngon giấc. Ngoài các tiệm phở quen thuộc khách vào ăn một tô phở khuya, còn lại các tiệm ăn khác nhằm đáp ứng nhu cầu ăn nhẹ vào ban khuya để chiêu khách. Corner View cho biết họ “sở trường” món cháo: Cháo gạo đỏ, cháo trắng, cháo giải cảm, cháo cá, cháo gà, cháo nghêu và “mì gõ”. Quán Noodle & Grill có cháo gỏi vịt, cháo gỏi gà, bún vịt xáo măng, bún mắm. Thành Mỹ thì hủ tiếu khô, nước, hay các thứ cháo. Lộc Ðỉnh Ký cũng với các món cháo, mì trong khi khách thèm phở thì đến Thăng Long hoặc Thanh. Nói chung là khách ăn khuya thường thích các món nước.

Đi ăn khuya ở quán Ốc và Lẩu (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

Ông Trần Minh, một người khá đứng tuổi đang ăn phở khuya trong quán Thanh, đã nói với chúng tôi: “Cũng mừng là bọn trẻ ở hải ngoại rất thích ăn phở! Còn thích phở là chưa quên Việt Nam, ở vùng này thiếu gì quán ‘fast food’ nhưng bọn trẻ lại cứ bu vào các quán phở!”

Khách ăn khuya

Cô Quỳnh Nguyễn, chủ quán Kasey’s, cho biết 90%, đôi khi 100%, khách ăn khuya là các em trẻ, đi với nhau từ năm ba người đến cả toán hơn mười người, rất ồn ào và vui nhộn; thỉnh thoảng đem theo các bạn trẻ người Mỹ hay người Mễ để hãnh diện giới thiệu các món ăn Việt Nam.

Tại Phở Thăng Long, chúng tôi đã gặp một nhóm trẻ hơn 15 người, trong này có em là du học sinh, đang chờ nhà hàng sắp xếp chỗ ngồi. Một em cho biết họ vừa ở một party gia đình cuối tuần ra, “Vui nhưng đói bụng, bây giờ có một tô phở nóng là hấp dẫn nhất”. Hoàng Trần, manager của nhà hàng nói thêm: “Nhà hàng tuy rộng, nhưng những ngày lễ lớn, khách ăn khuya lại đông hơn khách ngày. Những người trẻ thường vui nhộn, ‘tip’ rộng rãi!”

Cũng có vài người, đàn bà áo dài, đàn ông còn áo vest cà vạt, họ vừa ở chỗ ca nhạc hay gặp gỡ hội đoàn ra, muốn ăn chút gì thêm, trước khi về ngủ.

Cũng không thiếu những người không nhà, lang thang lợi dụng không khí nhộn nhịp của những quán ăn Bolsa về đêm, chặn đường những người đi ăn khuya để xin tiền!

HP

Orange County, CA.


‘Ai mang bụi đỏ đi rồi!’

hung-viet.org

Post 25 Mar 2020

Huy Phương

Post by Sơn râu 12 Feb 2024

“Đời như sóng nổi- Xóa bỏ vết người…”

“Ai mang bụi đỏ đi rồi!” (Phạm Duy)

Khi hiệp định Geneve chia cắt đất nước 1954, chúng tôi là những đứa trẻ miền Nam vừa đến tuổi thiếu niên mười lăm, mười bảy, tuổi bắt đầu biết yêu đương và yêu thương những gì là nghệ thật tinh túy cả văn học, mà phần lớn từ mảnh đất miền Bắc, đã theo phong trào di cư vào Nam. Trong đó những tác phẩm của các văn nghệ sĩ tên tuổi đã vào Nam, cũng như ngậm ngùi còn ở lại bên kia bờ vĩ tuyến, đã cho chúng tôi một đời sống tinh thần giàu có.

Những nhà sách có mặt khắp nơi, tình trạng xuất bản sách và nhạc phong phú, đài phát thanh và truyền hình hiện diện cho đến cấp tỉnh, tuy cần thiết cho một nền chính trị đang non yếu, nhưng văn nghệ đã có mặt khắp nơi. Nhiều ban thoại kịch, gánh cải lương, hát bội ra đời, không những trình diễn tại các thành phố lớn mà còn lưu diễn đến những vùng quận lỵ xa xôi. Dân chúng đã làm quen với những buổi triễn lãm hội họa, nhiếp ảnh. Âm nhạc đến với quần chúng từ những phòng trà sang trọng cho đến hang cùng ngõ hẽm, bình dân. Phong trào xuất bản những nhạc khúc có lời, trình bày mỹ thuật trang nhã đã làm giàu cho những nhạc sĩ và cũng là thú vui sưu tập bình dân của tuổi trẻ thời ấy! Thái Thanh là một điều gì đó tiêu biểu cho người nghệ sĩ Hà Nội sang cả của một thời. Tên tuổi của cô cùng với Ban Hợp Ca Thăng Long, kết hợp với những giọng hát, tiếng đàn, anh chị em ruột thịt trong gia đình là một ban hợp ca quý hiếm của miền Nam ngày ấy.

Nữ danh ca Thái Thanh. (Hình: rfa.org)

Nổi lên trên tất cả, giọng hát Thái Thanh kết tinh của nghệ thuật đương đại, với giọng “light lirico soprano,” đồng thời là căn bản âm nhạc dân tộc cội nguồn từ những cung bậc, luyến láy của nhạc chèo, quan họ, chầu văn…Ngoài ra, con người Thái Thanh còn một hình tượng tiêu biểu cho một hình ảnh của Hà Nội thanh lịch ngày trước, quê hương Tràng An quý phái, thanh lịch trong phong cách, giọng nói, lối sống khác xa với những gì chúng ta thấy và nghe về Hà Nội của hôm nay. Tiếng hát được xem là “réo rắt” của Thái Thanh được nhiều người thưởng ngoạn, từ giới bình dân, lao động cho đến giới trí thức hay sinh viên học sinh.

Những nhà phê bình âm nhạc đã dùng nhiều mỹ từ để phong tặng cho tài năng của Thái Thanh, như “Tiếng hát vượt thời gian,” “ Cây đại thụ trong làng văn nghệ sĩ Việt,” “Tiếng hát không có tuổi” hay “Đệ Nhất Danh Ca!” nhưng trên tất cả, tiếng hát Thái thanh đã trở thành một huyền thoại trong làng âm nhạc Việt Nam, không là bản sao của ai và cũng không có ai có thể thay thế!

Thái Thanh là người ca sĩ đã chuyên chở đến tâm hồn người nghe những bản nhạc bất hủ của Phạm Duy cũng như Khánh Ly với những ca khúc của Trịnh Công Sơn. Đều là những ca sĩ huyền thoại nổi danh, nhưng lối sống và xử thế của hai ca sĩ này, trước sau, hoàn toàn khác nhau.

Sau 1975 các giới chức văn hóa CSVN mời Thái Thanh cộng tác nhưng cô đã khước từ, dù sau biến cố này, đời sống của giới văn nghệ có tên tuổi ở miền Nam lúc bấy giờ vô cùng khó khăn. Từ đó cho đến ngày sang định cư ở Mỹ năm 1985 Thái Thanh đã không có dịp trở lại sân khấu, dù khán giả vẫn mong đợi được gặp cô, trong Nam lẫn ngoài Bắc vì chính sách phân biệt của đảng cầm quyền. Thái Thanh là một ca sĩ thanh sắc vẹn toàn, và trên hết, là một nhân cách đáng cho người đời kính trọng.

Bà từng bị tai biến mạch máu não năm 2000, mất trí nhớ, không còn nhận ra người thân. Nhưng nhờ nỗ lực tuyệt vời, bà dần khôi phục trí nhớ. Năm 2004, trong ngày lễ “Mother’s Day,” Thái Thanh đã lên sân khấu trình diễn “Ngày xưa Hoàng Thị” cùng với Ý Lan, với một phong cách rất trẻ trung.

Đã nhiều lần, danh ca Ý Lan, ái nữ nối nghiệp của Thái Thanh, cho biết trên báo chí trong và ngoài nước là: “Mẹ tôi rất muốn về quê hương hát cùng nhưng tiếc là sức khỏe bà không cho phép. Vì vậy, trong mỗi đêm nhạc ở Việt Nam tôi đều thể hiện lại một số ca khúc gắn liền với tên tuổi của mẹ như một cách thay mặt bà!”

Với tôi và nhiều thính giả đã yêu mến tiếng hát và nhân cách của Thái Thanh, không tin rằng, trong thâm tâm, người ca sĩ này muốn có một ngày trở về Hà Nội hay Sài Gòn, nơi bà đã sống và bỏ ra đi, để hát cho “đồng bào tôi” nghe!

Báo chí trong nước cũng đưa tin, nhiều lần về hát ở Việt Nam, Ý Lan tiếc nuối vì Thái Thanh không thể về theo để hát cùng! Nhưng ca sĩ Thái Thanh có một đời sống thanh cao riêng, đẹp đẽ từ nhân dáng, giọng hát và nhân cách. Xin cứ để yên tĩnh cho đời sống riêng của người ca sĩ này, Thái Thanh không nhất thiết phải sống giống ai, ứng xử rập khuôn theo một “phong trào,” và cư xử hành động y như những người khác.

Trích Lưu Trọng Văn: “Có lần gã hỏi nhạc sĩ Phạm Duy tại sao không rủ Thái Thanh về, Phạm Duy bảo: tôi có rủ nhưng cô ấy lắc đầu. Gã hỏi: tại sao? Phạm Duy im lặng một lúc rồi khẽ nhún vai nói: cô ấy không hết giận. Gã hỏi tiếp sao giận dai vậy? Phạm Duy bảo: vì quá yêu. Cô ấy quá yêu…Vâng! Quá yêu! Nước ơi!”

Vậy thì làm sao có chuyện Thái Thanh muốn về!

Thái Thanh đã từ giã chúng ta vào ngày Thứ Ba, 17 Tháng Ba, 2020, giữa lòng thủ đô tỵ nạn, hưởng thọ 87 tuổi. Tin ca sĩ Thái Thanh qua đời đã là một tin buồn, nhưng ở trong mùa đại dịch này, đó là một tin buồn gấp bội. Không lẽ trong ngày cuối cùng của cô, chúng ta không đưa được người ca sĩ hương sắc này đi được một đoạn đường như chúng ta đã có lần đưa tiễn những người yêu mến của chúng ta ra đi. Sao mỹ nhân và danh tướng cuối đời, hôm nay, lại phải chịu cảnh trái ngang như thế! Nhớ đến Thái Thanh, chúng ta không thể quên giọng hát của cô, chỉ xin nêu ra đây, một vài ca khúc tiêu biểu: Dòng Sông Xanh, Nửa Hồn Thương Đau, Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, Ngàn Thu Áo Tím, Paris có Gì Lạ Không Em, và Ngày Xưa Hoàng Thị.…Nói như Phạm Duy: “cuộc đời sóng nổi, xóa bỏ vết người!” Nhớ Thái Thanh là nhớ đến một quãng đời trong quá khứ, với nỗi niềm thương tiếc, mà ngày nay, dường như “Ai mang bụi đỏ đi rồi!”

“Ai mang bụi đỏ đi rồi!” Một dấu than đúng hơn là một dấu hỏi.

Huy Phương



Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 12 Feb 2024

Hình minh họa

Bài 4

Dưới chân đỉnh Lâm Viên

Tốt nghiệp sĩ quan trừ bị Thủ Đức, tôi nhận đơn vị mới, Trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi có cái may mắn được ở hai quân trường lớn đào tạo nhiều sĩ quan tài giỏi cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi quân trường là một thế giới hoàn toàn khác biệt nhau, từ hình thức đến nội dung. Trường Võ Bị Đà Lạt lấy Học viện West Point của Hoa Kỳ làm khuôn mẫu, trong khi Trường Bộ Binh Thủ Đức đào tạo sĩ quan dựa theo mẫu mực của Trường Fort Benning Hoa Kỳ.

Nếu muốn tìm hiểu tỉ mỉ, tường tận về sự khác biệt của hai quân trường này, tôi e rằng mình không đủ kiến thức cũng như khả năng phân tích, tổng hợp rồi đưa đến kết luận chính xác đầy đủ. Tôi chỉ muốn nói đến một vài khía cạnh dị biệt nho nhỏ có liên quan đến mình.

Với Trường Bộ Binh Thủ Đức, thời gian đào tạo sĩ quan tùy theo tình hình chiến sự ở bên ngoài sôi động hay lắng dịu. Vào những năm cuối thập niên sáu mươi vì nhu cầu khẩn cấp của chiến trường, thời gian thụ huấn của Sinh viên sĩ quan Thủ Đức bị rút ngắn lại, chỉ còn hai tháng học làm lính ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, bốn tháng học cách chỉ huy một trung đội ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, tổng cộng thời gian ở quân trường chỉ vỏn vẹn có sáu tháng. So với bốn năm huấn luyện của Trường Võ Bị Đà Lạt, thời gian ở quân trường của chúng tôi chỉ bằng một phần tám thời gian của Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt. Hậu quả của việc đốt giai đoạn, tháng 3 năm 1969, khóa của tôi có khoảng hai ngàn sĩ quan tốt nghiệp với cấp bậc chuẩn úy, ba năm rưỡi sau, nghị định thăng cấp trung úy chỉ còn lại khoảng một ngàn rưỡi, năm trăm chuẩn úy và thiếu úy đã đền nợ nước.

Trường Võ Bị Đà Lạt là quân trường đào tạo sĩ quan hiện dịch cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, kể từ khóa 22B chương trình đào tạo sĩ quan kéo dài bốn năm. Vì quan niệm rằng, sĩ quan tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt sẽ là thành phần nòng cốt, rường cột của quốc gia sau này nên Tổng Thống Đệ nhất Cộng Hòa đã dành nhiều ưu tiên cho trường, chẳng hạn về phần cơ sở vật chất, công trình xây cất Trường Võ Bị Đà Lạt mới được hoàn tất vào năm 1961, kiến trúc theo kiểu Mỹ với những tòa nhà cao bốn tầng, rộng rãi, khang trang bề thế, đầy đủ tiện nghi cho hơn một ngàn sinh viên sĩ quan sinh sống và học tập. Thêm một điểm nhỏ nhưng cũng được lưu ý kỹ càng là cách ăn mặc. Sinh viên sĩ quan Đà Lạt có tất cả hơn chục bộ quần áo đủ loại, đó là:

Một bộ đồ đại lễ màu trắng, mũ kết màu trắng, dây biểu chương màu vàng, gù vai Alpha màu đỏ hình con rồng.
Mùa hè gồm có một bộ làm việc, một bộ dạo phố một bộ tiểu lễ, một bộ đại lễ.
Mùa đông có một bộ làm việc, một bộ dạo phố, một bộ tiểu lễ, một bộ đại lễ.
Một bộ vest dân sự, sinh viên năm thứ tư mặc lúc đi phép.

Chi tiết về hàng chục bộ quần áo, lễ phục của sinh viên, không biết tôi nhớ như vậy có đúng hay không?

Về phần huấn luyện, Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt trong một năm có ba tháng học về quân sự, chín tháng học văn hóa, chương trình học kéo dài bốn năm, sinh viên sĩ quan tốt nghiệp được cấp văn bằng Cử Nhân Khoa Học ứng Dụng. Để rèn luyện thể chất, Sinh viên sĩ quan Võ Bị còn học thêm về Taekwondo và Aikido. Riêng về Aikido được đặc biệt chú trọng, vì Thiếu tướng Chỉ huy trưởng mang huyền đai đệ nhị đẳng Aikido. Mồi kỳ thi lên đai đều do ông chấm điểm. Khi tốt nghiệp 4 năm, Sinh viên sĩ quan Võ BỊ thường đã có đai nâu hoặc huyền đai đệ nhất đẳng Taekwondo.

Hình minh họa

Văn võ toàn tài, đó là lý do khiến cho sĩ quan tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt, lúc nào cũng hãnh diện về ngôi trường của mình.

Để điều hành, Trường Võ Bị Đà Lạt được chia ra làm ba khối: Văn hóa, Quân sự và Tham mưu.

Khối Quân sự, đa số sĩ quan thuộc khối này là những sĩ quan đã tốt nghiệp Trường Võ Bị Đà Lạt.

Khối Văn hóa, ngoại trừ những sĩ quan có bằng Cao học, Tiến sĩ, tốt nghiệp ở ngoại quốc, số còn lại là sĩ quan tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức để Sinh viên sĩ quan Thủ Đức sau khi tốt nghiệp, muốn về Trường Võ Bị Đà Lạt, một trong nhiều điều kiện là phải có văn bằng Cử nhân hoặc cao hơn.

Tôi, tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức, chỉ có cái Tú tài II. Khi về Trường Võ Bị Đà Lạt, chốn dung thân duy nhất cho tôi là Khối Tham mưu.

Ngày xưa khi đậu Tú tài II, tôi tự đánh giá là mình ngu cho nên không chịu tiếp tục việc học. Quan niệm đó xem ra đã lỗi thời, vì sau một thời gian làm việc ở Trường Võ Bị Đà Lạt, sống trong một môi trường mà sĩ quan Văn hóa vụ hay Quân sự vụ đều lấy văn bằng Cử nhân làm căn bản. Nhìn quanh mình, ông sĩ quan nào cũng gắn cái bằng Cử nhân trước ngực khiến tôi tự cảm thấy xấu hổ, mang nặng mặc cảm. Chuyện đời, gần mực thì đen gần đèn thì sáng, sau vài năm lông bông, thấy không được cái tích sự gì, tôi ghi danh học ở Viện đại học Đà Lạt với quyết tâm phải lấy cho được cái bằng Cử nhân.

Tôi làm việc ở Trung tâm hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt. Ở đây, sĩ quan trực hai mươi bốn giờ sau đó nghỉ hai mươi bốn giờ, có nghĩa là làm việc một ngày rồi nghỉ một ngày, nếu làm một phép tính đơn giản một năm chỉ làm việc có 182 ngày rưỡi, 182 ngày rưỡi còn lại, tôi được tự do hoàn toàn, đi học hay đi chơi tùy mình quyết định. Tôi ghi danh vào Đại học Văn khoa, bởi vì trong tất cả các phân khoa ở Viện đại học Đà Lạt, Văn khoa là nơi dễ dàng nhất trong việc điểm danh.

Tình Già Zui

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 11 Feb 2024

Thưa! Tây nó thường thề ‘xạo’ rằng: “I love you, and I will love you until I die, and if there is life after that, I love you then.”

Nghĩa là: “Anh yêu em, và sẽ yêu em mãi tới khi anh ‘xí lắc léo’, và nếu có một cuộc đời ở thế giới bên kia thì anh vẫn tiếp tục yêu em.” He he!

Chu choa! Thề non hẹn biển cho em an tâm vậy thôi… Chớ đời mà! Ai “biết ra sao ngày sau” chớ! Nhưng thề mà hỏng tốn cắc bạc nào; lại làm em tưởng bở, em tin, em vui thì hà tiện làm gì vài lời hứa viễn vông phải không bạn hiền?

Thề “Tình đầu là tình cuối người ơi /Suốt đời mình nguyện câu lứa đôi!” mà sao ly dị hà rầm? Cầm bất cứ tờ báo nào lên đọc, cũng có thấy mục bố cáo ly hôn hết ráo?!

Tây là vậy; Việt Nam mình cũng thế, cũng thề, thề tá lả luôn. Thề từ trong ca dao cho đến viết lời, viết nhạc. Ca dao thề: ‘Tóc mai sợi vắn sợi dài. Lấy nhau chẳng đặng thương hoài ngàn năm’. Từ câu thề đó, Nhạc sĩ Phạm Mạnh Cương sáng tác bài: Thương hoài ngàn năm như vầy: “Ngàn năm thương hoài một bóng người thôi! Tình đã khơi rồi mộng khó nhạt phai…”

Thưa em yêu cũng bắt tui thề: ‘thương hoài ngàn năm’ đó chớ nhưng tui nhứt định không chịu… thề… với lập luận rất chặt chẽ rằng: “Con người, giờ dẫu y học tối tân, ráng kéo… thì giỏi lắm sống một trăm năm là cùng. Cho hai mươi tuổi mới yêu em, mới cưới em, sống cùng em 80 năm là ‘oải’ lắm rồi… Thề tới ngàn năm là thề hơi “nổ”.  Trái lòng mình lắm đó nha!”

Khôn là không hứa, không thề, khỏi mắc công giữ, khỏi kẹt thế làm quân tử nhứt ngôn mà chi. Vì lời nói như mũi tên thoát khỏi cây cung, bay ra; đâu có lấy lại được. Thề… mắc công giữ… mệt lắm! Nên không thề cho nó ‘phẻ’! Cuộc đời mình, không ai muốn bị mất tự do, bị nô lệ bởi lời thề. Mà đời “‘không có gì’: ‘quý hơn độc lập tự do’!”. Đừng hy sinh chữ tự do bay nhảy bông nầy, hoa nọ quý nhứt của đời mình cho bất cứ cái gì hết ráo nhe anh!

Vì thực tế cho thấy rằng dù mình lỡ chết đi thì mình cũng chết một mình. Có em nào dám vì yêu mà bịt lỗ mũi, ngưng thở để chết theo đâu mà mong!

Nên có chuyện vầy: Một ông đi nghỉ hè ở Jamaica. Vợ thì bận công việc sở sùng nên hẹn đôi ta sẽ gặp nhau tuần tới. Đến khách sạn, nhận phòng xong, ông vội vã dùng ‘laptop’ gởi một cái điện thư (email) để em yêu mau mau tới gấp vì anh nóng ran rồi nè! Già rồi hơi lẩm cẩm, đụng đâu bể đó, làm gì trật nấy, ông gởi nhằm vào cái địa chỉ điện thư bà bạn của con vợ, mà em ấy lại có ông chồng vừa mới chết. Em ấy lên máy tính, mở điện thư ra xem, hét lên một tiếng, rồi bị nhồi máu cơ tim, ngã lăn ra mà chết ngắt!

Thì ra bức điện thư nói rằng: “Em yêu! Anh vừa mới tới. Tất cả đều đã chuẩn bị xong, chờ mai em tới. Chồng yêu của em!
Tái bút: Ở đây, em biết, nó nóng như hỏa ngục vậy!”

Thưa tuy vậy có người không thề thốt gì hết ráo mà cũng yêu tới bạc đầu đó chớ. Do đó yêu em dài lâu là do tiếng nói của đôi tim cùng nhảy một điệu Rumba tới già… khú đế; chớ không nhất thiết phải thề thốt gì cho mệt. Cái đó mình gọi là “Tình già”. Tình già có hai nghĩa; nghĩa thứ nhứt là yêu tới già; nghĩa thứ hai là già vẫn còn yêu. Mà nhắc tới tình già thì người viết lại nhớ tới học giả Phan Khôi.

Ông Phan Khôi, nhà tư tưởng, nhà văn, chuyên viết nghị luận, ông chỉ làm một bài thơ duy nhứt, tựa là “Tình Già”, hồi tết Nhâm Thân 1932, đăng trên báo Đông Tây Hà Nội và tuần báo Phụ nữ Tân Văn ở Sài Gòn.

Bài nầy nổi tiếng không phải vì nó hay… mà vì nó là một lối thơ mới, khởi đầu phong trào “thơ mới” thế kỷ XX của nước mình. Sau đó là biết bao nhiêu bài thơ ‘ảo diệu’ của nhiều cây đa, cây đề khác lần lượt ra đời để ca tụng tình ta!

“…Hai mươi bốn năm sau/ tình cờ đất khách gặp nhau/ đôi mái đầu đều bạc, nếu chẳng quen lung/ đố có nhìn ra được/ ôn chuyện cũ mà thôi, liếc đưa nhau đi rồi/ con mắt còn có đuôi/”

Thưa tui thấy bài thơ tiên phong trong văn học sử nầy là một lời ‘tiên tri’ cho những mối tình dở dang hồi trẻ kéo dài dài ra tận đất khách, quê người. Đất khách, quê người gặp lại người xưa chỉ dám (con mắt còn có đuôi) trộm nhìn nhau xem dung nhan đó bây giờ ra sao? Em có còn đôi má đào như ngày nào? Chớ hỏng dám nhìn thẳng (‘địa’ em mà chi?!) Vì sợ thằng chồng em, nó ghen nó quánh gãy luôn hai cái hàm răng giả mới làm; thì lại phải tốn tiền đi nha sĩ cho nó hàn lại để có cái mà nhai.

Thưa Việt mình có tình già, có thề thốt. Tây cũng có tình già, cũng răng long đầu bạc, cũng sống đồng tịch đồng sàng; chết đồng quan đồng quách như Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài bên Nam Sơn tiểu lộ đó thôi.

Chuyện rằng: Một ông Tây 90 tuổi cưới một bà Đầm 89 tuổi vào tháng Tám năm 1947. Nghĩa là tới nay đã được 68 năm dài mà đôi lứa chẳng rời nhau.

Già… phải bịnh, hỏng bịnh nầy thì bịnh nọ để chết chớ. Con người chớ đâu phải là con rắn để lột da sống đời hoài… cho chật đất!

Năm rồi, ông Tây bị bệnh ung thư trực tràng và di căn tới bàng quang. Còn bà Đầm bị lẫn và vài lần tai biến mạch máu não.

Những ngày cuối, nằm bịnh viện, ông Tây chỉ lo lắng cho vợ mình: “Xin bác sĩ hãy hết lòng cứu chữa và chăm sóc cho bà ấy. Còn tui sao cũng được.”

Cuối cùng ông Tây hấp hối! Nghe hung tin, sức khỏe của bà Đầm cũng suy sụp nhanh chóng. Theo ước nguyện, bác sĩ cho hai người nằm nắm tay nhau. Ông đi trước và bà đi sau chỉ cách nhau có năm tiếng đồng hồ.

Thiệt là một thiên tình sử thủy chung làm ai biết cũng phải đẫm lệ vì ngưỡng mộ.

Thưa trên là mình bàn về tình già mà trước khi già phải qua tuổi sồn sồn. Mà tuổi nào tình nấy hà. Có tình già thì cũng có tình sồn sồn.

Nửa chừng xuân không muốn gãy tình ta vì em đã mặt nám da nhăn nên em đi ‘tút’ lại.

Nên có chuyện rằng: “Một em đã qua trung niên, chừng năm mấy hà, có lần đau gần chết, nằm trên bàn mổ, em nghe ông Trời phán rằng: “Con nữ kia! Đừng có lo lắng gì hết nha! Ta sẽ cho em thêm 30 năm nữa để vui hưởng cuộc sống trên cõi đời ô trọc nầy!”

Khi hoàn toàn bình phục, em mới tìm cách tận hưởng 30 năm mà ông Trời đã hào phóng hứa cho mình. Em đi Hàn quốc nâng ngực, độn mông, cắt cằm, chẻ môi trái tim. Xong về, năng tập thể dục, đi ‘gym’ mỗi ngày nên thân hình thon gọn, không sồ sề như trước nữa. Nhìn xa tưởng Madonna. Lại gần mới biết em (hơi) ‘già’…chút thôi!

Bỗng một hôm, đang chơi quần vợt ngoài trời để giữ eo cho đẹp thì trời nổi cơn giông gió, mưa và sét đánh cái rầm làm em chết ngắt. Lên trình diện ông Trời, em than phiền:

“Thưa Ngọc hoàng đã hứa cho em thêm tới 30 năm nữa lận mà?”

Ông Trời nghe vậy bèn đeo kiếng lão lên để nhìn cho rõ. Nhìn xong, ông Trời phán rằng: “I’m very sorry!” “Thôi cho ta xin lỗi! Lỡ rồi! Chẳng qua lúc đó ta không nhận được ra ‘em’.”

Còn em yêu của anh bạn văn tui thì cũng đã đi đại tu nhan sắc lại để đua với mấy em chân dài trong nước mà ảnh lại không dòm ngó gì hết… để phòng không ‘mông’ quạnh và bị lạnh! Chờ anh cho mãn kiếp chờ; chờ cho rau muống lên bờ trổ bông, da mặt em cũng đang trổ bông đồi mồi, cuộc tình ‘tù ti’ của đôi ta chẳng còn được mấy niên mà thằng chả lại cứ ngồi thiền hoài mới khổ thân em!

Mới xáp lại gần, anh ơi anh hỡi anh ời, là ‘giả’ cứ giảng đạo: “Em và tôi… thôi đã hết duyên, con cái chúng ta chỉ là một đống nợ, (con là nợ, vợ là oan gia mà) nên tui muốn giải thoát, muốn được siêu thăng tịnh độ, thoát mùi tục lụy…”

Thiệt là kỳ quặc! Cơm no bò cưỡi không muốn, muốn ăn chay, diệt dục, ngơ ngơ ngẩn ngẩn, toàn là chuyện tầm phào?!

Thưa em rầy anh cũng tội nghiệp. Đời ai mà hỏng ham mấy cái vụ đó chớ?! Nhưng tiếc thay! Năm dài chày tháng, hóc môn (hormone) trong máu, gọi là cái ‘tét tốt tơ rôn’ (Testosterone) gì gì đó, nó cạn queo rồi nên “trên bảo dưới hỏng nghe”… thì anh phải biết là sao cho em vui với điệu Tango đây! Thông cảm chút đi!

Bởi: “Ngày xưa súng ngắn ngang hông/ Ngày nay súng ngắn để không trong quần/ Ngày xưa sức mạnh như trâu/ Ngày nay uể oải ngồi đâu ngáp ruồi/ Ngày xưa uống cả chục lon/ Ngày nay ngủ gục; nửa lon vẫn còn!”

Người ta nói tửu sắc. Nhậu còn nổi thì cái vụ kia mới nổi. Còn có nửa lon không hết thì còn làm ăn gì nữa mà mong. Đành phải chịu vậy thôi.

Tánh khí cũng đã trầm đi rất nhiều. Tự nhiên thành nhà hiền triết, tịnh khẩu. Tối ngày chỉ suy nghĩ và nghĩ suy… chớ không làm gì hết ráo. Ai cười, ai chửi mặc ai vì đời chỉ là cõi tạm mà thôi. “Ngày xưa tánh nóng hung hăng/ Ngày nay ai chửi cũng nhăn răng cười”

Cười để gượng sống chờ đi… nhị tì!

Tình già chỉ biết nhìn nhau cười móm mém. Nhưng tình dục không đục nó cũng chết, không còn làm ăn gì được nữa… nhưng tình ghen thì mãi vẫn còn!

“Nếu em chết trước, anh có dắt ai về nhà nầy không?”

“Ôi rảnh đâu mà em lo cái chuyện tầm ruồng như vậy chớ!”

“Con nhỏ đó có vô nằm trên cái giường nầy không?”

“Chắc là không rồi!” “Giường rệp không ai mà nằm!”

“Có mặc quần áo của em bỏ lại không?”

“Chắc là không rồi” “Quần áo bây giờ ‘Made in China’ rẻ rề; đâu ai thèm mặc quần áo cũ đâu em. Phần cái ‘size’ của em bự quá, anh không nghĩ là có em nào thèm mặc… Mà em lo chi chuyện con bò trắng răng chớ?!”

“Con nhỏ đó có xài mấy cây gậy đánh ‘golf’ của em không?”

“À cái nầy anh chắc chắn trăm phần trăm là không rồi!”

“Tại sao vậy?”

“Vì cô ấy thuận tay trái.”

He he! Em chưa chết mà anh đã đi ăn ‘chè’ rồi hè! Nghe vậy, em gầm lên như sư tử hống: “Nếu tui chết trước, anh mà cho con nào bước vào phòng nầy tui sẽ hiện hồn về bóp cổ chết hết hai đứa bây đó nha!”

Đó là chuyện của vợ chồng anh bạn văn của tui! Thưa còn bà vợ Úc của tui thì lại ước nguyện bằng tiếng Anh rằng:

“If I die, I will lay by your side!” “Nếu em chết, em sẽ nằm chết cạnh bên anh”

“Cha! Tui sợ ma lắm bà ơi!”

Nhưng tui không dám mở miệng nói ra. Sợ nói nó biết được; trước khi chết, nó ‘thuốc’ tui chết theo luôn thì uổng lắm.

Lấy vợ Úc bấy nay, mùi bơ sữa, phô mai… ớn quá xá rồi mà vì sợ vợ, tui nào có dám léng phéng gì với ai đâu… Chứ thực trong thâm tâm, tui nhớ vô cùng mùi nước mắm ‘Một Con Cua’ của Phan Thiết quê mình lắm đó bà con ơi!

Đoàn Xuân Thu

Ôn hoàng dịch lệ!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu.

Post by Sơn râu 11 feb 2024

Nhắc tới Vũ Hán tỉnh Hồ Bắc thì bà con mình lại nhớ tới bài thơ ‘Hoàng Hạc Lâu’ của Thôi Hiệu, đời nhà Ðường:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

Từ bài thơ Ðường Luật thất ngôn bát cú, nhà thơ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu của chúng ta dịch qua thể thơ lục bát với bản dịch tuyệt vời với 2 câu kết là:

“Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”

Ðời nhà Ðường, Thôi Hiệu, Lý Bạch, Mạnh Hạo Nhiên, Ðỗ Phủ… cũng đã dừng gót giang hồ tại Hoàng Hạc Lâu, nhậu cho đã rồi làm thơ Lý Bạch về Hoàng Hạc Lâu; nhưng thấy đã có bài thơ Thôi Hiệu treo ở đấy.

“Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc.
Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu”
(Trước mắt có cảnh mà đành chịu!
Vì thơ Thôi Hiệu viết trên đầu).
(Thằng cha Thôi Hiệu nầy viết hay quá! Làm mình cụt hứng. He he!)

Hoàng Hạc Lâu tan nát vì do mấy Chú Ba thời phong kiến đánh nhau cho đã; rồi đốt nhà, nên Hoàng Hạc Lâu cháy tới 12 lần.

Thời CS, Hoàng Hạc Lâu bây giờ cao hơn 50 mét, có năm tầng lầu Trên tầng cao nhất người ta có thể ngắm cảnh trời sông bao la bát ngát, của hai sông Trường Giang và Hán Thủy.

Mấy cái chuyện nầy đều liên quan tới cái tỉnh Hồ Bắc, nơi có thủ phủ Vũ Hán, tâm điểm của dịch bệnh “coronavirus’ đang phát tán ra khắp Năm Châu!

Vụ dịch Coronavirus tới giờ nầy đã giết chết ít nhất tới nay là 1.383 người và lây nhiễm hơn 64.000 người (đa số ở Trung Quốc), cái đáng sợ là nó sẽ tiếp tục lan rộng ra ngoài Trung Quốc. Tại Phillipines, tại Nhựt Bản mỗi nước cũng đã có một người chết rồi!

Bị con ‘Coronavirus’ gí tới đường cùn(g), bè lũ ăn hại ở Trung Nam Hải hết dám xưng hùng xưng bá như bữa duyệt binh vào ngày Mùng 1, tháng Mười, năm 2019, (chỉ cách nay có 4 tháng thôi) tại Quảng trường Thiên An Môn để Tập Cận Bình đánh trống thổi kèn ăn mừng 70 năm CS chiếm được chánh quyền, đè đầu cỡi cổ dân Tàu và hăm he mẻ răng các nước khác là:

“Khó khăn nào cũng vượt qua kẻ thù nào cũng đánh thắng!”
(Nghe quen quen à nha!)

Pháo bông bắn đầy trời thủ đô Bắc Kinh và nở ra những cái hình (hình kèm theo) giống hịt như hình con ‘Coronavirus’ mới vậy!

Và cái con ‘coronavirus’ đang rượt chánh quyền Trung Cộng chạy có cờ, chạy vô chạy tuốt ra ngoài tới nước Nga của Vladimir Putin và ngay cả chủ nghĩa tư bản đang giãy đành đạch để chết là bọn Liên Âu để xin ông đi qua bà đi lại giúp đỡ ‘ngộ’ giùm một cái. Nguy cấp quá xá rồi!

Vào lúc 6 giờ chiều, ngày thứ Ba, 28 tháng Giêng, năm 2020, chiếc máy bay phản lực Boeing 747, cất cánh từ sân bay Barajas ở thủ đô Madrid, Spain quá cảnh 20 tiếng đồng hồ tại Hà Nội rồi cất cánh bay lên, tới Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc Trung Quốc để làm thuyền cứu sinh, rước công dân của Liên Âu ra khỏi vùng đất chết.

Khi vòng quanh bầu trời Vũ Hán, dưới cánh bay của họ là một sa mạc, một thành phố ma, tiêu điều trong hoang vắng như một chiến trường vừa bị trải qua một trận ném bom B52. Ðường phố vắng hẳn tiếng xe; sân bay hoàn toàn trống vắng.

Phi hành đoàn đeo khẩu trang, mang găng tay, ở nguyên trên máy bay và 72 hành khách lên máy bay rồi họ cất cánh bay lên.

“Ðối với người vượt thoát khỏi tâm điểm của dịch bệnh Corona Wuhan, mừng rỡ giống như họ đang được về nhà và bỏ lại tất cả phía sau”.

Hệ thống y tế của Trung Quốc đã ‘sụm bà chè’; vì giường dành cho bệnh nhân và vật tư y tế cần thiết đã hết. Trong khu cách ly của Bệnh viện số 3, Thành phố Thiên Môn, tỉnh Hồ Bắc, giường số 15 trên lầu 2, bệnh nhân Bá Mạn Nhi, 24 tuổi, gởi lên mạng xã hội Weibo của Trung Quốc lời trăng trối, nghe rất đau lòng.

“Tôi không nghĩ rằng tôi có thể vượt qua đêm nay, và đến giờ tôi cuối cùng cũng có thể nhận ra cái chết là gì. Không ai tin cả. Không ai tin rằng tôi đang trên bờ vực của cái chết.
Bệnh viện chỉ phát hai viên ‘Oseltamivir’, cơm một ngày hai bữa, ngoài ra không còn gì khác vì bệnh viện chỉ có một phương án đó mà thôi.”

Ngày 30, tháng Giêng, năm 2020, y tá đến đo thân nhiệt. Bá Mạn Nhi yếu quá, không thể phản ứng gì, y tá phải kéo chăn ra và không ngừng vỗ vào Bá Mạn Nhi, khi thấy cô không có động tĩnh gì như vậy. Chỉ sau khi Bá Mạn Nhi cố gắng phát ra một giọng nói yếu ớt, y tá mới biết là cô còn sống.

“Tôi nằm trên giường, không thể gượng dậy. Tôi biết hôm nay tôi sẽ phải chết, hô hấp suy kiệt, cũng không được truyền dinh dưỡng nữa. Tôi đã chủ động đi cách ly. Tôi không ngờ rằng mình sẽ phải vào địa ngục trần gian!

Tôi đang bị cách ly trong bệnh viện, tất cả những gì tôi nói đều là sự thật. Tuyên truyền trên báo chí của nhà nước toàn bộ đều là láo khoét, bịa đặt.

Những bệnh nhân đang nằm chờ chết tại đây giống như tôi không hề ít, chúng tôi tin vào chính phủ, vậy mà hiện tại nhận được kết cục như thế này đây!”

***

Vậy mà cũng theo mửng cũ, cái tật không bỏ hè, Tể tướng Lý Khắc Cường vẫn còn lên gân, nổ ‘lép bép’ là:

“Chính phủ Trung Quốc luôn đặt sự an toàn và sức khỏe của người dân lên hàng đầu và đang nỗ lực để ngăn chặn và kiểm soát dịch bệnh một cách minh bạch và có trật tự. Công việc hiện tại là kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh và điều trị cho bệnh nhân, cũng như bảo đảm trật tự cuộc sống bình thường của người dân Trung Quốc và người nước ngoài tại Trung Quốc!”

Trong khi đó thì hình ảnh một ông cụ mang khẩu trang nằm chết cô độc trên lề đường của thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc tràn ngập trên Truyền thông Phương Tây làm ai nấy cũng đều thương cảm!

Rồi bà con ở các nước khác cũng đang lo sốt vó vì sợ bị lây lan! Nước Úc tới giờ phút nầy đã có tới 15 ca bị thử nghiệm dương tính rồi đó.

***

Té ra Lý Thừa tướng hô khẩu hiệu trước bàn dân thiên hạ cho đỡ quê thôi; chớ trong hậu trường, Lý tuân lịnh Hoàng đế Tập, nên đã gởi tên du thuyết ‘Vương Nghị’ đi Nga xin ‘hợp tác’.

(Nói ‘hợp tác’ cho đỡ quê vậy mà! Mà nè trước khi vô Moscow, Vương Nghị có được kiểm dịch hông? Nếu có, thì lúc nói chuyện với thằng Nga, hai cha nhớ mang khẩu trang cho đúng cách, kẻo khi bốc phét, văng nước miếng tùm lum rồi ‘hợp tác’ tặng cho Tổng thống Nga Vladimir Putin (cựu trùm mật vụ KGB) vài con ‘coronavirus’ cho biết với người ta thì bỏ cha cả lũ.)

Rồi đích thân Lý Thừa tướng nói chuyện qua điện thoại với Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen hứa trao đổi thêm thông tin (đừng có đưa ‘tin vịt’ nữa được hông nè?) với hy vọng sẽ mua được các dụng cụ y tế cần thiết từ các nước thành viên của Liên Âu.

Liên Âu cho biết sẽ cố gắng hết sức và phối hợp tất cả các phương tiện cần thiết để hỗ trợ cho Trung Quốc.

Tranh Bảo Huân

***

Thôi vì tình nhân loại, người Tàu đang ngụp lặn trong cơn hoạn nạn về dịch bệnh ‘Coronavirus’ thì cộng đồng các nước khác trên thế giới, vì lương tâm, vì tình đồng loại và cũng vì sức khỏe của chính dân mình, nên chung tay góp sức vào việc phòng chống dịch bệnh để cứu dân Tàu trước; sau là để tránh lây lan tới cả dân mình.

Khi cơn dịch bịnh ‘Coronavirus nầy hy vọng sẽ được dập tắt, thì bà con tin tui đi, Trung Cộng sẽ lại đánh trống thổi kèn, vỗ ngực xưng tên nhờ sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của đảng ta cho mà coi!

Còn cầm bằng thất bại, dân Tàu chắc chắn sẽ tính sổ tới nơi tới chốn với cái đảng CS ‘ôn hoàng dịch lệ’ nầy!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Nọc nạng thời cướp cạn!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 11 Feb 2024

“Trời Nam thiên hạ thái bình/ Kẻ lo nông nghiệp người gìn bán buôn.

Ngàn năm gió thuận mưa tuôn/ Lúa thì một giạ, giá thì đồng hai.

Nhân dân ai nấy mừng thay/ Rủ đi làm mướn giá rày đặng cao.

Dưới sông, ca—nốt, đò, tàu/ Lộ thì xe chạy, trước thì khách thương…

… Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên/ Bạc Liêu chữ đặt, bình yên dân rày.

Mậu Thìn vốn thiệt năm nay/ Một ngàn hai tám, tiếng rày nói vang.

Phong Thạnh vốn thiệt tên làng/ Giá Rai là quận, chợ làng kêu chung.

Anh em Mười Chức công khùng/ Bị tranh điền thổ, rùng rùng thác oan.

Hăm lăm tháng chạp rõ ràng/ Lúc bảy giờ sáng xe quan đến liền.

Chợ đông đương nhóm tự nhiên/ Thấy cò lính lại, người liền đến coi.

Thuốc đạn, súng ống hẳn hoi, Hai cò bảo lính: “Đòi làng đến đây/ Có trát biện lý bằng nay/ Sai ta xuống rày, đong lúa đương tranh!

Thị Trân là vợ huyện Lành/ Lãnh án đành rành mướn bọn ta đi.

Biện Toại nhà ở chốn ni?/ Làng phải dẫn lộ ta đi đến liền”.

…. Hai cò bước xuống đò nghiêng/ Bảo làng với lính đi liên một đò.

Phong Thạnh hương quản tên Cho/ Ngồi trước mũi đò, bàn luận gần xa:

“Xuống đây, ắt bọn nó ra/ Dữ lành chưa biết việc mà làm sao?”

Nước ròng đò xuống đi mau/ Tám giờ đã tới lao xao lên liền.

Cò bảo lính đứng liên liên / Còn làng phải đứng ra riêng một hàng.

Trong nhà Mười Chức luận bàn/ Than cùng từ mẫu hai hàng lâm ly: “Dầu con thác xuống âm ti…”

Đó là phần đầu của Vè Nọc Nạng (tác giả khuyết danh) do nhà biên khảo Sơn Nam ghi chép trong cuốn ‘Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam’.

(Có người cho rằng địa danh Nọc nạng có ‘g’ mới đúng vì thuở đó đất nầy là đầm lầy phải chống nạng làm chòi mà ở đỡ)

Toàn bộ cuộc chiến oai hùng của những người nông dân chân đất chống lại bọn cướp đất như vầy: Trước năm 1900, lúc bắt đầu khai phá thì đồng Nọc Nạng là vùng hoang vu, thưa thớt dân cư, chẳng thấy ai đến tranh giành cả. Hương chánh Luông thừa kế phần đất do thân phụ mình để lại.

Năm 1916, một người tên là Tăng văn Được đứng ra đòi chia đất, với lý do có công lao của y một phần nào.

Phần đất 72,95 mẫu, bị cắt cho Đ. bốn mẫu rưỡi; Hương chánh Luông được cấp một tờ bằng khoán tạm, số 303, đề ngày mùng 7, tháng Tám, năm 1916 chỉ còn lại 68,45 mẫu mà thôi.

Hương chánh Luông mất, đất lại cho Biện Toại là trưởng nam và các em.

Tăng Văn Được chết để đất lại cho vợ là Nguyễn Thị Dương.

Năm 1917, Bang Tắc, tên thật là Mã Ngân, mua phần đất của Nguyễn Thị Dương. với giá 1.080 đồng. Mã Ngân cho thêm chút ít tiền để bà Dương ghi rằng: bán phần đất bao trùm luôn đất của anh em Biện Toại.

Anh em Biện Toại phản ứng ngay, gởi đơn khiếu nại bốn lần lên tới quan Toàn quyền Đông Dương. Nhưng với thế lực của Bang Tắc, phần đất của anh em Biện Toại lại bị chính thức xem như là đất của y.

Bang Tắc cho tá điền của mình đốt chòi và giết trâu của anh em Biện Toại để khủng bố hầu buộc anh em nhà Biện Toại phải đong lúa ruộng cho mình. Nhưng anh em nhà Biện Toại kiên cường, không sợ hãi.

Thấy khó ăn, Bang Tắc bán sở đất trên với giá 5000 đồng cho Hà Thị Trân, vợ huyện Lành, là mẹ vợ của người anh ông phủ H.

Ngày mùng 6, tháng Chạp, năm 1927, bà Trân xin được một án lịnh của tòa cho phép tịch thâu tại chỗ tất cả lúa mà anh em Biện Toại gặt được.

Ngày 13 và 14, tháng Hai, năm 1928, lính mã tà hai lần thi hành lịnh tịch thâu lúa của anh em nhà Biện Toại, theo án lịnh của Tòa cấp cho Hà thị Trân. Anh em Biện Toại kháng cự lại; lính mã tà rút lui.

Trước đó, khi được án tòa và thấy thái độ quá cứng rắn của anh em Biện Toại, hương chức làng tự ý bắt giam bà Hương chánh Luông để hăm dọa.

Vì thương mẹ, Biện Toại hứa không chống cự. Nhờ đó, bà hương chánh được về nhà để các con lạy báo hiếu lần chót vì anh em Biện Toại đoán rằng lính mã tà sẽ đến đông đảo và thái độ cứng rắn hơn sau hai lần cảnh cáo.

Anh em bèn trích huyết vào cái tô, thề ăn thua, không sợ chết, để nhờ vong linh ông bà chỉ định ai là người đứng ra hy sinh đầu tiên. Đứa em gái Út tên Trọng rút nhằm thăm: “Ông bà đã dạy, em xin liều chết!”

Khoảng 7 giờ sáng, ngày 16, tháng Hai, năm 2018, hai tên cò Tây là Tournier và Bouzou cùng bốn người lính mã tà từ Bạc Liêu đến Phong Thạnh để tiếp tay với hương chức làng thi hành lịnh án của tòa, đong số lúa hiện ở trên phần đất của anh em Biện Toại.

Đến gần đống lúa, tên cò Tournier yêu cầu hương chức làng phải mời một người trong gia đình Biện Toại đến chứng kiến việc đong lúa. Cô Nguyễn Thị Trọng đến cùng một bé gái tên Tư, 14 tuổi, bị tên cò Tournier đuổi về. Cô Út Trọng trả lời khẳng khái, “Chết sống ở đây!”.

Cô Út Trọng yêu cầu khi đong lúa xong thì hương chức phải giao cho một giấy biên nhận ghi rõ bao nhiêu giạ. Tournier trả lời rằng không có chuyện trao biên nhận và Tournier tát tai cô Trọng.  Cô Trọng rút trong áo ra một cây dao nhỏ. Cò Tournier đập một báng súng khiến cô té xỉu; lính mã tà trói gô cô Trọng lại. Đứa cháu chạy về nhà, báo động.

Mười Chức, em ruột Biện Toại, cầm đầu 4 người đàn ông, vợ là Thị Nghĩa cầm đầu 2 người đàn bà, mang theo dao mác, gậy gộc chạy ra.

Mười Chức chạy đến quá gần, cò Tournier bèn bắn chỉ thiên một phát. Nhưng Mười Chức cứ tiến tới và tên cò nhắm ngay Mười Chức nổ súng.

Bị thương nặng, Mười Chức vẫn cầm mác, gượng nhào tới, đâm trúng bụng làm tên Tournier ngã xuống.

(Mười Chức (1897-1928) là người đầy tiết tháo, chí khí anh hùng. Trúng đạn bị thương nặng vẫn còn đâm kẻ thù cho bằng được, và đâm rất trúng, rồi mới chịu chết!)

Còn tên cò Bouzou rút súng lục, bắn làm bị thương nặng bốn người. Hết đạn, Bouzou bèn giựt khẩu súng lục của Tournier mà bắn tiếp. Bọn lính mã tà, bọn hương chức hội tề làng Phong Thạng đã vội vàng bôn tẩu.

Tàn trận đánh, đại gia đình Biện Toại có 4 người chết: Mười Chức và vợ là Thị Nghĩa đang mang thai. Hai người em của Biện Toại, anh của Mười Chức, là Năm Nhẫn và Sáu Nhịn cũng chết. Liễu (em gái của Mười Chức) bị thương nặng.

Bài vè Nọc Nạng ở đoạn chót kể lại với giọng trầm hùng là “Năm người đổi một thằng Tây” vì kể luôn đứa hài nhi còn trong bụng mẹ.

Về phía đối phương, chỉ có tên cò Tournier đền tội ác vào ngày sau, ở nhà thương Bạc Liêu.

***

Ngày 17, tháng Tám, năm 1928, Tòa Đại hình Cần Thơ do Chánh án Rozario tuyên xử: Biện Toại, Nguyễn Thị Liễu (em của Toại) và Tia (con trai của Toại) được tha bổng. Cô Nguyễn Thị Trọng, 6 tháng tù (nhưng đã bị giam sáu tháng rồi).

Dân chúng cho rằng: “Đáng lý ra Bang Tắc tức Mã Ngân phải chết thay cho viên cò Tournier”.

Sau khi tranh đấu với tử thần, (bịnh rét rừng), đổ mồi hôi sôi nước mắt khai khẩn đất rừng thành đất canh tác… gia đình Biện Toại lại còn phải tranh đấu giữ đất với bọn người chỉ biết có đồng tiền, dùng thủ tục pháp lý làm thủ đoạn để cướp đất của người dân tay lấm chân bùn.

Tên chánh phạm của tấn kịch đẫm máu này chính là phủ H, là bọn thực dân Pháp và tên Bang Tắc, Mã Ngân.

***

Lịch sử chỉ là điều lập lại. Xưa có bài Vè Đồng Nọc Nạng thời Tây; giờ thời CS có bài Bình ‘Vươn’ Đại cáo!

“…Anh em họ Đoàn, ngăn biển lấp đất/ Mồ hôi chan mặt, máu đổ xuống đầm

Trải mười mấy năm đội đá vá trời/ Nơi Cống Rộc mới tạo thành cơ nghiệp

Than ôi! Cũng do thấy tiền tài hoa mắt/ Bởi nghe điều lợi lộc ù tai/ Bọn cường hào ác bá phủ huyện bàn nhau/ Đem điều lợi nhử quan đầu tỉnh

…Tức nước vỡ bờ, già néo đứt dây/ Bom tự tạo nổ tung, khiếp hồn quân hung bạo

Đạn hoa cải bay vèo, bạt vía lũ cường quyền/ Mất hồn hết vía, kéo nhau lui

Động phách kinh tâm, tìm chỗ nấp…

Thấy đã yên yên, tràn quân tới/ Kéo ập vào nhà, chỗ bỏ không/ Giận đã cành hông, mất mày mất mặt/ Bắt chó, đuổi gà, phá nhà thành bình địa mới đã nư/ Vợ dại, con thơ chúng cũng chẳng từ/ Bụng mang dạ chửa, dùi cui thúc vào bụng…

Trong một phút đất bằng dậy sóng/ Cửa nhà cơ nghiệp bỗng tiêu tan/ Gia đình, vợ con xẻ nghé tan đàn/ Nỗi oan ấy vì ai mà nên nỗi?

Thượng bất chánh, hạ tắc loạn mới lắm dân oan/ Chính sách bậy, lãnh đạo sai mới sinh phản kháng…

…Tội âm mưu chống người thi hành công vụ đã quá rõ ràng/ Tội cố ý giết người, đả thương sai nha khó lòng chối cãi.

Khẩn trương xét xử, tức khắc thi hành/ Xử một răn trăm, để dân oan từ nay hết hòng nhúc nhích!”

Đó là chuyện năm 2009, anh em Đoàn Văn Vươn, xã Bắc Hưng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng bị bọn cường hào ác bá cấu kết với tham quan ô lại dồn họ vào đường cùng để cướp đất.

Anh em Vươn quá uất ức đã vác mìn, súng chống lại cả trăm công an, bộ đội.

Sau hơn 4 tiếng đụng độ, kết quả bọn khuyển ưng là 4 thằng Công an và 2 tên bộ đội CS đi nằm nhà thương.

***

Cứ tưởng bắt anh em Đoàn Văn vươn bỏ tù là làm nông dân sợ hãi chùn bước không dám đứng lên để giữ đất. Nhưng chánh quyền CS đã lầm. Tức nước ắt vỡ bờ!

Tại xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông, ngày 23, tháng Mười, năm 2016, khi hơn 30 công nhân công ty Long Sơn vũ trang gậy gộc, khiên chắn, bao đá… đến san ủi, hủy hoại vườn điều, vườn cà phê của người dân.

Đặng Văn Hiến và một số nông dân đã dùng súng tự chế bắn cảnh cáo. Nhưng nhóm công nhân Long Sơn vẫn tiếp tục ném đá, tấn công, khiến các nông dân phải bắn trả. Trong vụ nổ súng có 3 người chết tại chỗ và 13 người khác bị thương.

Đặng Văn Hiến sau đó đã bỏ trốn, nhưng nghe lời dụ dỗ của bọn bồi bút báo chí quốc doanh, ông ra đầu thú để được “hưởng sự khoan hồng của pháp luật”.

Sự khoan hồng của pháp luật đó là án tử hình trong phiên xử sơ thẩm hồi đầu năm và tại phiên phúc thẩm ngày 12, tháng Bảy, năm 2018, Đặng văn Hiến lại bị y án tử hình.

“Con ơi nhớ lấy câu này; Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan!”. Chống lại bọn cướp đất mình mà phải bị tội chết chỉ có trong pháp luật của thời cướp cạn mà thôi.

đoàn xuân thu.

melbourne

Mộng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 16/04/2019 

Post by Sơn râu 11 Feb 2024

Nhà thơ Trần Mộng Tú

Tôi gặp chị lần đầu tiên vào tháng 10 năm 1987, gặp ở “Trăng Đất Khách”. Chị là tác giả bài thơ Trăng Đất Khách, được Làng Văn Magazine chọn làm nhan tuyển tập “Các Cây Bút Nữ Hải Ngoại” bao gồm 18 người với bề dày lên tới 352 trang. Trong tuyển tập ấy, riêng chị đóng góp 7 bài thơ và 1 bài được Phan Ni Tấn phổ thành ca khúc. Từ 1987 cho đến nay tôi vẫn chưa có cơ hội được gặp chị ngoài đời, chỉ nhìn bóng dáng chị ẩn hiện trên các trang giấy, lẩn trốn trong các dòng chữ; theo tôi là quá đỗi mượt mà, quá đỗi trong sáng… những yếu tố tiên khởi làm nên sức quyến rũ đọc giả được hình thành từ một ngòi bút tài hoa. Mới đây, lòng tôi lại thổn thức khi đọc phải bài bút ký của chị thuật lại chuyến đi “hành hương” về Mã Lai, quanh các trại tỵ nạn cũ từng lưu dấu vết của thuyền nhân Việt Nam để thắp hương cho các linh hồn xấu số. Không cầm được lòng, tôi đã viết lá thư ngắn gửi đến chị để bày tỏ lòng biết ơn. Nghĩa cử của chị khiến một đứa vượt biển may mắn như tôi phải xót xa, thầm tri ân.

Tôi yêu câu thơ của Hoàng Trúc Ly (?):

“đời lê thê quá tôi về muộn
em ngủ một mình đêm gió mưa”.

Cuộc sống tôi rất “lê thê”, muốn đi thăm hỏi những người mình mến chuộng thì luôn bị “gió mưa” làm khó. Chị là người tôi mến chuộng. Ở xa, tôi chỉ còn biết duy một cách là thực hiện cuộc trò chuyện này.

Thưa các bạn, chữ “chị” mà tôi dùng ở trên không ai khác là nhà thơ Trần Mộng Tú. Tôi mong chị Trần Mộng Tú thuận lòng khi đột ngột bị quấy rầy. Tôi hy vọng qua tâm sự chị trao đổi, tôi sẽ thấy vơi nhẹ bớt “đời lê thê”.

Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Xin mến chào chị Trần Mộng Tú ở xa. Tôi đọc câu chị từng viết: “thành phố may mắn là thành phố được thi sĩ dung thân”. Tôi thích câu ấy lắm, nhà thơ Trần Mộng Tú hiện đang ở thành phố nào ạ?

Trần Mộng Tú (TMT): Gia đình tôi: Hai vợ chồng, ba con, một dâu, một rể, hai cháu ngoại, một cháu nội (Cậu Út 39 tuổi còn độc thân). Tất cả đều đang sống ở Bellevue (Phía Đông của Seattle, cách Seattle 11 miles) Tiểu Bang Washington. Chúng tôi ở đây từ mùa Hè 1988. Các con trưởng thành, đi học xa xong, lại quay về ở cạnh cha mẹ. (1975-1988 chúng tôi ở California).

Để nói riêng về câu thơ “Thành phố may mắn là thành phố được thi sĩ dung thân” Câu thơ đó trong bài Thơ “Khi Thi Sĩ Chết” Tôi viết khi thi sĩ Phan Lạc Giang Đông, cư ngụ ở Seattle, qua đời.

HĐN: Cảnh sắc, khí hậu, môi trường nơi mình ở có từng ảnh hưởng đến văn thơ mình viết ra không, thưa chị?

TMT: Tôi nghĩ có ảnh hưởng phần nào. Vì đời sống ở vùng Tây Bắc này chậm rãi, êm ả hơn ở miền Nam California, và khí hậu cũng khoan dung hơn, mưa nhiều nhưng không sũng nước. Nắng đủ ấm không làm ngột ngạt và gió cũng dịu dàng. Tất cả những thứ đó là y phục cho một bài thơ, mình chỉ cần hà hơi vào là bài thơ sẽ có linh hồn.

HĐN: Thời gian gần đây tôi đọc nhiều đoản văn hay, các chuyện ngắn thật cảm động của chị. Thưa nhà thơ Trần Mộng Tú, e chị cũng đồng ý với số đông từng quan niệm: Thơ khó làm hơn viết văn. Tôi không làm được thơ nên mạo muội thử hỏi ý chị. Chị biết cách dung hoà, sắp xếp ý tưởng cho từng thể loại? Theo chị, hình thành một bài thơ hay, nó cần vin vào thứ gì, trước tiên?

TMT: Tôi thấy làm Thơ dễ hơn viết văn. Thơ tự nhiên đến giống như gió vậy, chẳng cần báo trước gì cả. Tôi làm Thơ bất cứ lúc nào Thơ tới tìm tôi, gõ gõ vào ngực tôi mấy cái, giống như bạn ghé chơi tình cờ, mình nghe tiếng động của cánh cửa, mình phải ra mở, đón vào. Lái xe ngoài phố, ngồi trong giáo đường, nấu bếp, làm vườn…hay đang ngủ chợt thức dậy. Lúc nào cũng viết xuống được những dòng thơ. Trong khi viết Văn mình cần có sự kiện, rồi lại phải suy nghĩ dẫn giải sự kiện đó. Anh thấy tôi hay viết ngắn và viết như Thơ vì tôi suy nghĩ gì ,quanh quẩn lại đi về chốn Thơ. Thật sự dưới những ngón tay tôi, Thơ lấn chỗ của Văn, thế nên tôi nghĩ làm Thơ dễ hơn.

Anh hỏi: Hình thành một bài thơ hay, cần vin vào thứ gì trước tiên? Theo riêng tôi, bài thơ hay phải có cái hồn trong chữ, nếu không chỉ là một mớ chữ lao xao như những món nữ trang giả. Như anh cầm một mảnh vỏ ốc vỡ ở biển áp vào tai, anh nghe thấy cả một đại dương. Anh cầm một nắm kim loại lấp lánh trong tay anh có cảm nhận được điều gì không? Đó là sự khác biệt giữa thơ hay và thơ dở. Viết xuống tiếng động trong hồn mình, không cần sáo ngữ.

HĐN: Bây giờ đang là tháng Tư. Tôi có cái nhìn hơi chủ quan, có thể lệch lạc là văn chương hải ngoại đa số đều “sống” trong hoài niệm, đều tưởng nhớ quá khứ, đều bị ngày xưa quấy rầy, khó thoát khỏi. Điều đó có trở thành một điểm yếu kém trong lãnh vực sáng tạo không, thưa chị?

TMT: Ai cũng sẵn sàng kêu gọi người bạn của mình quên đi cái quá khứ buồn thảm của tháng Tư. Nhưng thực tế bao nhiêu phần trăm quên hẳn được, ngay như cá nhân mình, mình có quên hẳn được đâu. Tôi không nghĩ đó là một điểm kém trong sáng tạo. Cái quan trọng là người ta sáng tạo như thế nào để nói về một cái quá khứ đó. Giống như nhổ cái đinh ra từ miếng gỗ, để lại một vết thương xấu xí trên gỗ. Có người cứ nhìn vết thương đó rồi thất vọng, tiếc miếng gỗ. Có người mua loại keo gỗ về khép vết thương lại, sơn phết lại. vết thương vẫn để lại một vệt mờ mờ trên gỗ. Họ chấp nhận và vẫn giữ miếng gỗ đó, như một nhắc nhở. Đời sống vẫn phải tiếp tục đi về phía trước, kể cả lãnh vực văn chương.

HĐN: Riêng lãnh vực thi ca, nhiều bạn trẻ đang ra sức muốn làm mới. Tôi xem chị như một người đi trước nhiều kinh nghiệm, chị có thể nói lên cảm tưởng của chị về “cũ, mới”?

TMT: Tôi cứ vẫn đang chờ một con sóng thơ mới, thật mới và hay. Nhưng xem chừng chung quanh ta có rất nhiều người đang cố gắng nhưng vẫn chưa “sang trang” được. Chưa thấy có hẳn một phong trào “Đổi Mới Ngôn Ngữ Thơ” như thời kỳ Thanh Tâm Tuyền đổi mới.

Riêng cá nhân tôi, khi làm thơ, tôi tránh những chữ các thi sĩ ngày trước và cả thi sĩ ngày nay hay dùng trong thơ. Tránh lập đi lập lại những chữ đã dùng quá nhiều rồi. Những chữ hay của những người nổi tiếng thì ai cũng biết rồi, mình lập lại chỉ là “sao/chép” những chữ dở thì nhiều lắm…chẳng nên dùng lại, làm phiền người đọc.

HĐN: Chuyển tải thơ văn mình lên những diễn đàn báo điện tử, chuyện ấy có lợi thế hơn khi in ra một cuốn sách? Chị có nghĩ như vậy không? Chị có dự tính in ra (giấy) một tuyển tập?

TMT: Tôi thích in Thơ và Văn ra sách, tôi đã in 4 Tập Thơ, 4 Tập Văn rồi. Bây giờ số Thơ còn lại chưa in, chắc cũng hơn 100 bài, Truyện Ngắn và Tản Văn cũng khá nhiều. Nhưng nghĩ “lười” quá! Vì vẫn cứ viết mỗi ngày, lại thêm bao nhiêu việc: thiện nguyện xã hội, việc gia đình…chẳng có thời giờ mà soạn lại. Anh Trần Doãn Nho sẵn sàng phụ một tay mà vẫn chưa thu xếp được.

HĐN: Có lần chị hồi âm trong một email: “Yêu ngôn ngữ cũng là tình yêu quê hương, yêu đồng bào của mình”. Điều kiện mà mình muốn thể hiện hạn chế quá. (Con tôi không viết được chữ Việt, nói nhát gừng, ấm ớ). Chị có mang chút bi quan về tình trạng phôi pha dần của Việt ngữ ở trong cuộc sống lưu vong (lê thê) này?

TMT: Không sợ đâu anh ạ. Tôi thấy các cộng động Việt ở xa, ở gần hầu hết các tiểu bang trên nước Mỹ, họ hoạt động tích cực để giữ truyền thống Việt Nam lắm. Lễ Hội và các lớp học Việt Ngữ khá nhiều, rất đáng quý.

Các con tôi, lớn lắm rồi, cha là người Mỹ, không đi học trường Việt Ngữ nhưng cũng nói rất giỏi tiếng Việt, vì nhờ tôi nói tiếng Việt với các cháu, lại được sống chung với ông bà ngoại từ nhỏ.

HĐN: Tôi nhớ không lầm là thơ chị sáng tác đã có bài được đưa vào sách giáo khoa ở các trường học ở Mỹ? Chị có từng làm thơ bằng tiếng Anh? In hẳn một tập cho người “ngoại quốc” thưởng thức?

TMT: Tôi có làm dăm ba bài bằng English cho các con thôi. Tôi không đủ khả năng làm Thơ tiếng Anh “giỏi” được như tôi làm bằng tiếng Việt, nghĩa là không truyền được cái cảm nghĩ thâm sâu, cái tiếng khóc không lệ sang tiếng Anh được, nên tôi không cố gắng.

Thí dụ:

Tôi máng nỗi buồn nhẹ
Lên một sợi dây cung
Chữ nhẹ có dấu sắc
Nên sợi dây cung chùng.
(Người Câu Ở Sông Nào-tmt)

(Rất khó dịch cho đúng cả nghĩa đen, nghĩa bóng sang tiếng Việt, phải không? Vì ngôn ngữ nào có đủ sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng như tiếng Việt.

Hay bài thơ ngắn chỉ có 4 dòng này, tôi thấy dịch cũng không dễ, anh thử dịch đi.

Tình Nhân

Gió luồn tay vào bụi cây
xoa trên vai lá những ngày cuối Đông
anh luồn tay vào mùa Xuân
xoa em vết xước tình nhân cuối đời.
(tmt)

HĐN: Một ngày bình thường của nhà thơ nhà văn Trần Mộng Tú? Hình như chị cũng yêu thích hội hoạ? Chị từng vẽ tranh?

TMT: Như tất cả các bà vợ, bà mẹ khác. Một ngày của tôi cũng sáng sáng dậy đi nhà thờ, ra chợ, mua bán lặt vặt, về nhà nấu ăn, giặt giũ, làm vườn… và thêm một việc nữa là đọc các báo Việt-Mỹ trên mạng mỗi ngày và viết giữa những điều mình đọc được. Làm Thơ thì khi nào Thơ tới hỏi han mình, mình phải đáp lễ anh ạ.

Tối vào giường khuya tới đâu cũng phải đọc ít trang sách trước khi ngủ.

Vâng, hồi còn Trung Học ở Việt Nam, tôi cũng có học dự thính một thời gian ngắn ở trường Mỹ Nghệ Thực Hành-Gia Định, sau được nhận vào, nhưng Ba tôi khuyên nên học trường ngoài, vì không muốn con học vẽ nhiều hơn học chữ. Sang đây, lúc còn trẻ, tôi cũng đi vào những lớp hội họa trong trường Cộng Đồng Mỹ (Community College), để giải trí cũng như học nghệ thuật cắm hoa của người Nhật. Cái gì về nghệ thuật cũng thích cũng muốn tham dự cả, nhưng bây giờ thì chỉ còn lại viết và làm thơ thôi.

HĐN: Thưa chị, tôi dùng chữ Mộng để đặt cho cuộc trò chuyện (chẳng dông dài) này vì thấy Mộng có nằm trong tên chị mang. Mặt khác, tôi ngụ ở thành phố Montréal, nơi có người chuyển dịch thành Mộng Lệ An. Và Mộng cũng là thứ mà ai trong chúng ta cũng đều ấp ủ, dẫu có khác biệt. Xin thành thật cảm ơn chị Trần Mộng Tú đã vừa chia sẻ cùng tôi một chút “mộng”. Trước khi tạm biệt, chị còn điều gì để tâm sự nữa không? Cho cá nhân người hỏi cũng như biết bao bạn đọc đang theo dõi? Mến chúc chị mãi tâm thân an lạc.

TMT: Xin cám ơn anh Hồ Đình Nghiêm và cám ơn độc giả đã bỏ thời giờ nghe chúng tôi nói chuyện.
Tuy “Mộng” là một cái gì không thật, một cái gì rất mơ hồ, cũng được xin chúc tất cả mọi chúng ta, một lần nào đó trong đời được một lần “mộng nắm giữa bàn tay”

Hồ Đình Nghiêm thực hiện bằng điện thư.
Cuối tháng Tư năm 2019.



Mặn mà không duyên

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 20/05/2019 

Lễ Phật Đản, theo lời mời của cô Tâm, Đặng đến quán bán bún bò để ăn trưa. Cô Tâm có gọi thêm hai đứa học trò cũ nữa, bốn người ngồi thong dong trong quán bán bún nổi tiếng ngon. Bình thường ở đây luôn đông chật thực khách, hôm nay vắng lặng như chùa Bà Đanh vì nhằm lễ Phật Đản, đa số không ưa ngã mặn. Họ treo lồng đèn, họ mua cá mua chim về phóng sanh và họ quyết tâm ăn chay niệm Phật. Có một vài ông trước đây nhảy núi lên xanh trang bị vũ khí súng dài súng ngắn đến tận răng, tuy vô thần nhưng khi về làm chủ phố phường đã “tâm sự”: Ở Trường Sơn tôi chưa từng bắn đi một viên đạn, đang di chuyển gặp đàn kiến dưới chân phải tránh, đôi dép râu này không nỡ chà đạp chúng. Mọi người đóng vai hàng thần lơ láo ngồi nghe, tịnh khẩu như bình, cố thực thi ép mình theo lá bùa ba không: Không nghe, không thấy, không biết.

Cô Tâm cho hay thời buổi này sao lạ kỳ quá, ngày cũ học trò học bè đông vô số kể vậy mà chúng vượt biển vượt biên trốn biệt những đâu chẳng nghe tăm hơi, chỉ còn gọi tên đúng ba em. Trong ba em, có ai là gia đình Phật tử không? Đặng lắc đầu. Hai đứa kia nói tụi em thì thờ cúng ông bà thôi cô ạ, được cô vị tình kêu đi kéo ghế thì mừng vui vô hạn. Cô Tâm hỏi: Mấy em còn nhớ Tiến, em trai của cô không? Ba năm trước nó chết vào ngày này, khi sống khó khăn đói kém nó luôn thèm khát món bún bò. Cô mời ba trò tới đây là một cách để tưởng nhớ em cô, xem như mỗi trò ăn thế nó một tô vậy. Phật Đản mà không ăn chay, chuyện nhỏ. Ăn mặn xong, có trò nào chẳng bận việc gì thì cô dắt đi thăm mộ Tiến luôn thể.

Tiến chết, dạo đó mấy trang báo mạng có đăng tải, hiển thị tin tức chỉ trong một ngày rồi biến mất, ngôn ngữ đời thường kêu bằng chìm xuồng. Tiến cùng người yêu lên chùa dâng hương bày tỏ lòng thành, đôi lứa khấn nguyện chưa tròn câu thì tai ương ập xuống, nhang vừa thắp đã vội phỏng tay; một bọn người vừa trần vừa tục vây lấy, vu oan giá hoạ đôi uyên ương này khẩu Phật mà tâm xà, chính chúng bấy lâu đã tính toan lên phương án, giở mọi thủ đoạn để ăn cắp tiền cúng dường, moi trộm thùng phước sương. Đôi co lời qua tiếng lại chừng tàn cây nhang thì sinh ra cảnh đánh hội đồng, máu rơi ngay chánh điện và Tiến đành hồn lìa khỏi xác tựa một phân cảnh trong vở kịch Thiếu Lâm trường hận. Người yêu Tiến áo quần tơi tả bị dẫn về đồn công an làm rõ tội trạng, nghe đâu sau ba ngày khóc hết nước mắt, cô đi tìm am khuất xuống tóc quy y, tham sân si ôm ấp riêng trong tâm một linh hồn lạc lối mang tên Tiến. Người ta tiến lên xã hội chủ nghĩa riêng đôi ta tiến xuống địa ngục Tiến ơi! Ngày Phật đản, ngày anh qua đời xúi em đoạn lìa cõi ta bà, đi là đi vậy chớ ni cô này nào mong đạt đạo, thí chủ hẳn đã rành sáu câu!

Cô Tâm duy tâm: Kiếp trước mình làm điều chi không phải mà giờ đây bị quả báo. Mấy trò e không biết, là mỗi khi đi thăm mộ đứa em, cô vẫn dành thì giờ đặng nhổ cỏ hốt rác làm sạch quanh những mộ phận hoang lạnh, còn sống thở thì nên biểu lộ chút tử tế. Mà tử tế thì đó là thứ muôn năm chúng ta cần trang bị.

oOo

Mỗi chủ nhật, bắt đầu từ bảy giờ sáng. Đây là địa chỉ, cứ đến đó sẽ có người chỉ bày công việc.

Khi nói bà Diệu quan sát “chú em”, giọng chất thêm sự ngờ vực: Có hiểu chữ từ thiện là chi không? Là chú bỏ công ra giúp người ta mà chẳng thu vào được thứ gì cả. Chú tên chi?

Thanh niên lên tiếng, vừa đủ nghe: Tui tên Đặng. Tui hiểu được hai chữ từ thiện mới tìm tới cô.

Được rồi, lại đó có ai hỏi cứ nói là dì Diệu giới thiệu. Chủ nhật. bảy giờ sáng. Chỗ ấy cũng dễ kiếm.

Đặng nắm tờ giấy nhỏ có ghi địa chỉ bước ra khỏi chợ. Bà Diệu có gian hàng bán rau xanh và trái cây. Chủ nhật bà sẽ nhờ đứa con gái ra trông coi việc mua bán để bà giỏi chân đi làm từ thiện. Chú Tư chạy xe ôm là người chở bà đi, cũng từ thiện không nhận một đồng trả công. Qua chú Tư, Đặng gặp bà Diệu để hỏi xem liệu có giúp được gì không.

Chú Tư là người bà con với má Đặng, ở dưới quê chú làm nghề nông, một sáng ra đồng cuốc đất trời xui đất khiến đào nhằm quả mìn, may mà “không sao cả”. Chú thuật chuyện, chỉ nằm bệnh xá hai tuần với giấy chứng nhận mất khả năng lao động nặng. Chú bỏ quê lên đây sống, chú kêu má Đặng bằng chị: Chị nghĩ coi, việc chạy xe ôm thì chớ nên xếp vào hạng lao động, nhàn nhã nào khác gì cỡi ngựa xem hoa. Quờ quạng lạc đường thời gian đầu thôi, rồi đâu lại vào đấy, người quê mình quen cực khổ, quen chịu đựng. Ôi, nhằm nhò chi ba cái lẻ tẻ!

Người đàn ông tuổi gần năm mươi từng thoát chết nhờ đụng phải “quả mìn hiền”. Mặt hơi méo mó khi nói: Nếu thằng Tư này là đứa ác đức bất nhơn thì ông Diêm vương đã lôi đầu đi từ bữa nọ. Ổng chỉ cảnh cáo mình, làm một cú tới điếc con ráy nhằm nhắc nhở mình nên ăn lành ở hiền. Thồ người đi tui chưa từng chặt chém hét giá cao, ai lặt lìa nhờ chở vô nhà thương tui cũng chẳng thu tiền mãi lộ. Đời bây giờ sao nhiều người quá cực khổ, tui làm từ thiện được chút gì hay chút đó nào dám kể công.

Đặng im re, Đặng dấu má bởi sợ bả ngầy ngà. Quét nhà ra rác, việc chán khối bầy hầy ra đó không ngó ngàng tới lại ưa đi vác ngà voi. Má luôn càu nhàu: Mày liệu kiếm thêm việc mà làm, ngồi không thì hổng tốt đâu. Đặng hiểu ý má, kiếm thêm việc có nghĩa là kiếm thêm tiền. Làm không công, làm từ thiện thì hẳn bà sẽ phản đối. Với bà, tu tâm dưỡng tánh tuyệt đối chẳng mắc mớ gì tới chuyện làm từ thiện cả, ngồi câm lặng mình ên diện bích so ra hay hơn là lăng xăng hoà nhập trong đám đông, dù đám đông kia bỏ công ra giúp đỡ kẻ lỡ sa cơ.

Chủ nhật, má thường “đi có công chuyện”. Đặng khoá cửa nhà tìm tới địa chỉ kia. Không rõ mặc áo dài tử tế như má khi đến chùa thì bà gặt hái được gì? Chắc chắn là vô bổ, chẳng thiết thực bằng công sức của đứa đi mần từ thiện. Thà làm điều tốt gần nhà, hơn đi xa thắp nhang mà cúng vái, nhìn quanh thập phần oan trái, tay không gõ mõ mắt đái lệ tràn. Qua sông sóng nước tương tàn, chìm xuồng số phận buông màn tử sinh. Mần từ thiện việc linh tinh, chiếc phao trôi nổi tâm mình nhẹ đi.

Đến nơi, sau khi trình bày thiện ý, Đặng được quý bà tuổi tác không đồng đều hỏi han một hồi mới chỉ cách chia thực phẩm họ vừa nấu xong vào mỗi hộp giấy xốp. Một bà xưng tên Lắm nói:

Hôm nay mình mang thức ăn vào trong nhà thương giúp đỡ những nạn nhân có gia cảnh khó khăn, em cứ ưu tiên mần cho chị ba mươi hộp. Nếu còn dư, sẽ có người giúp mang hết ra chỗ quán cơm từ thiện. Nếu không có gì thay đổi, tuần sau mình làm chuyến đi xa về phía ngoại thành lá lành đùm lá rách.

Một chị tên Hường bước tới ngó Đặng hồi lâu:

Có thanh niên trai tráng như em phụ đỡ một tay bọn chị cũng được nhờ, chốc nữa em chở chị Lắm đi giao cơm hay sao? Đi đường khoác tạm chiếc áo gió của chị mà che thân.

Chị Lắm hỏi: Chuyện chi vậy bà?

Chị Hường chỉ tay vào ngực Đặng: Bị chú em này chơi cái áo thun in hàng chữ “Cá cần nước sạch, dân cần minh bạch” e dễ đón đầu tai ương. Đằng nhà thương cũng có lắm đứa sứt đầu bể trán nằm lăn nằm lóc than trời trách đất vô tội vạ vì từng diện chiếc áo “rắn mắt” y trang. Thôi, cẩn tắc vô ưu, chị nói vậy em thông cảm không?

Chị Lắm: Ừ, nghe cũng phải. Mình nên linh động tuỳ lúc tuỳ nơi. Công mình nấu nướng bới xách có đứa ăn không được cũng tìm cách đạp đổ, xôi hỏng bỏng không.

Thời trước, phụ nữ ngồi yên sau đều thu hai chân về một bên. Giờ này chẳng còn ai “khép nép” vậy cả. Đặng chở chị Lắm và chị Lắm dạng chân như thiên hạ, ngồi ôm đống thực phẩm nóng sốt mà miệng bày đường cho Mạnh lòn lách tới bệnh viện. Chị Lắm có lắm kinh nghiệm, nhắm lối vắng xe cộ mà vẽ đường cho huơu chạy. Chị nói, mình đâu phải gặp nạn thập tử nhất sinh hòng hối hả tìm tới nhà thương bằng lối ngắn nhất, do vậy cứ rề rà lựa ngả an toàn tránh dẫm lộ đoạn trường. Cứu người hơn xây am, lẽ nào mình chưa cứu được ai thì mình đã bổ nhào chỏng cọng dơ que, cơm canh máu me cứ thế mà vô tư chảy tràn ra đường cái ruồi bu kiến đậu!

Gửi xe xong, điểm danh thấy đủ mặt cả nhóm, bầu đoàn tay xách nách mang mới khởi sự đi vào khu dưỡng thương được chỉ định. Bệnh viện cho dù được cắm dùi ở thành phố đáng sống nhất hành tinh, giờ đây họ đã làm sạch, sát trùng hàng chữ “lương y như từ mẫu”. Từ mẫu là gì? Hỏi trẻ lên mười, chúng bù trất một đáp án. Nhưng trẻ lên ba thì biết rõ mười mươi câu “tiền bạc là thượng đế” vì ông cha chúng từng mạnh miệng: Có tiền mua tiên cũng được.

Khu vực được chỉ định vào thăm là hạng bệnh nhân suốt cả cuộc đời chưa hề có diễm phúc thấy mặt tiên cô. Nằm mộng cũng hổng thấy. Giấc mơ hỗn độn thường chứa một cục thịt, ba hột cơm trắng. Giấc mơ dày xéo làm thức dậy đầm đìa những giọt mồ hôi và rồi tựu thành một công án: Có chăng trời đã sinh voi thì phải sinh cỏ? Thứ triết thuyết đầy cam chịu, một than van đầy buông xuôi. Ăn cỏ để sống cầm chừng. Bệnh nhân ở đây đều thoi thóp, vật vạ. Quá tải, y tá bảo vậy, nhằm vẽ ra quang cảnh giường hai người nằm ngược đầu nhau, trong khi dưới nền xi-măng có hai kẻ khác trải chiếu nhìn đời hiu quạnh, mặt cắt không ra giọt máu. Một bức tranh tĩnh vật bỗng biến thành tranh trừu tượng, dã thú thuộc trường phái phục hưng. Từ gam màu lạnh chuyển đổi sang màu nóng khi toàn bộ nhân vật trong tranh phát hiện ra một bọn từ vượn đi dần tới người: Mang cơm từ thiện.

Một ông trung niên gầy khô như cây củi cười rộng miệng với chị Lắm, chất giọng ướt đẫm thi phú: Vì tôi đợi nên sau cùng người đã tới. Một thiếu nữ bé như cây kẹo ngó mặt Đặng: Trời không mưa em cũng lậy giời mưa, cơn giải hạn của ơn mưa móc. Họ có thân nhân, nhưng thân nhân vào ngồi ké né mép giường chỉ để quạt ruồi, chỉ vắt khăn lau mặt giúp, xức chút dầu sau lưng và rót hộ cho ly nước. Giữa đôi đàng chẳng biết ai hứng chịu sự đau khổ hơn? Con bệnh nằm dát mỏng người trên manh chiếu và ruột thịt lành lặn chưa suy sụp ngồi còng lưng mãi than vắn thở dài. Đời là bể khổ, đó là câu kinh chẳng nói rõ một điều gì cả, mông lung.

Đặng giúp chị Lắm đi phân phát muỗng nhựa. Ở chiếc giường sắt đã tróc lớp sơn xanh, Đặng nhìn thấy một thiếu phụ xanh xao tóc ngắn như một đứa vừa vào quân trường tập huấn ngồi xếp bằng. Ốm o làm chiếc áo lam thụng thịnh trông như phục sức của bù nhìn cắm giữa cánh đồng hù doạ chim muông. Dẫu sầu muộn phủ đầy, ám chướng trì nặng, Đặng vẫn nhìn nhận dung nhan ấy vốn chẳng xa lạ gì.

Tôi đi giúp việc cho mấy chị kia, một phần cũng nhờ vào chuyện kể của cô Tâm. Ngày ấy tôi học lớp 11 và cô Tâm dạy môn Lý Hoá… Lúc đó người em cô Tâm đã thi đậu tú tài hai… Xin lỗi, chị tên Duyên phải không ạ?

Bệnh nhân chắp tay trước ngực. Ngực nhỏ, không rung động khi phát tiếng:

Duyên đã chết. Tôi tên Diệu Tưởng. Tôi vào đây đã hai ngày và tôi nghĩ chẳng lâu nữa tôi mang tên Hư Không. Cảm ơn từ tâm của quý vị nhưng Diệu Tưởng này không thể ăn mặn. Lại nữa nhìn quý vị, tôi thấy lòng mình đã no nê. Ăn bằng mắt chứ không cần mồm miệng.

Theo chỗ tôi biết, Thượng Toạ Thích Vô Thuật vì mưu cầu chuyện lớn đã bỏ quá tiểu tiết, ông đổ bệnh và ông quyết định ngã mặn, ăn những thực phẩm chứa nhiều chất đạm, lắm kháng sinh hòng mong chóng hồi phục sức khoẻ. Nếu chị một mực kiêng cử… Ngay cả thuốc thang, họ cũng ghi chú: Uống trước hoặc sau bữa ăn…

Tôi không biết Thích Vô Thuật đầy tham sân si nọ là ông nào cả. Với tôi, đi tu là tìm kiếm một lối giải thoát, sao lại tự mình trói buột vào những vướng mắc?

Mạnh nhìn cái “chướng” bao quanh vị ni cô đổ bệnh: Tôi chỉ là người trần mắt thịt, khát thì uống đói thì ăn bệnh thì cậy nhờ vào thuốc. Hay là để tôi chạy ra ngoài mua tạm một tô cháo?

Sao lại nhọc công thế? Tôi nuốt sao xuống? Nếu được, xin cho tôi một chén cơm trắng và tuyệt đối đừng gạn hỏi tôi về cớ sự dẫn tới việc đau ốm khiến phải nhập viện ra nông nổi này.

Khi việc thiện nguyện của nhóm hoàn tất, Mạnh đi lấy xe, lòng nổi sóng muốn biến cái không thành có khi chợt nhìn ra bóng một người mặc áo nâu sòng. Mạnh chắp tay trước ngực:

Thưa chị, tôi là người quen cô Diệu Tưởng, sẵn đây xin hỏi cớ sự gì khiến cô Diệu Tưởng phải vào nằm viện?

Mô Phật. Có những sự việc mà câm lặng thì không giải quyết được gì cả. Đôi lúc hoàn cảnh bức bối buộc mình phải vượt khỏi bao điều răn, mình ý thức đó là chuyện mà lương tâm cho phép. Số phận Diệu Tưởng quá cay nghiệt, bị một quan huyện đảng viên xâm hại làm nhục. Trước đó họ đã từng chiếm đất, buộc am tự phải thu hẹp diện tích. Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, chúng tôi hội ý và đã viết đơn gửi lên tỉnh, lên trung ương trình bày rõ thực trạng có kèm giấy chứng thương của bác sĩ, chứng nhận qua xét nghiệm cửa mình Diệu Tưởng có dính tinh dịch của bạo quyền. Họ bồi thường 20 triệu đồng, tôi vào thăm cốt là để hỏi ý kiến của Diệu Tưởng. Muốn dấu nỗi ô nhục ấy thì có khác gì giúp họ ăn quen bén mùi. Nơi chúng tôi tu tập có cả thảy 7 vị phụ nữ, cứ mang nỗi sợ lần lượt sẽ bị họ mang đi làm nhục. Phía họ thì tiền đâu mà nhiều như rơm như rác, sẵn đó tha hồ mà hiếp đáp dân lành, trẻ không chừa già không tha. Càng kể tôi càng run, càng tức giận. A di đà Phật!

Mạnh chở chị Lắm đi về: Chị ơi, việc mình làm cũng giống như hạt muối ném xuống biển, đúng không chị? Hạt muối thì nhỏ nhoi trong khi biển quá đỗi lớn to mênh mông vô lượng. Mà vị mặn của hạt muối, của đại dương sánh sao được so với nỗi đau rất “mặn” của chúng sinh.

Chị lắm cười bên vành tai Mạnh: Hê hê, mới ngày đầu xuống núi chưa gì đã “đắc đạo” rồi sao cưng? Mẹ nó chứ! Đã xa lánh bụi trần rồi, đã nhắm mắt không muốn dây dưa ô trọc, vậy mà cũng bị chúng thò cánh tay lông lá ra ngắt cành, bẻ hoa, hút nhuỵ. Đích thực chúng mang lòng lang dạ sói uống máu người không tanh! Con Lắm này thua, không tìm ra đủ chữ để chửi băng đảng chúng!

Hồ Đình Nghiêm

In thơ, một trò chơi…

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 02/10/2018 

Post by Sơn râu 11 Feb 2024

Tựa đề bên trên chẳng phải của tôi nghĩ ra. Người đủ tư cách để luận bàn tới việc in thơ, không ai khác hơn: Nhà thơ Luân Hoán. Xin viết lại đủ đầy, nguyên văn: “In thơ, một trò chơi tuyệt vời lãng mạn”.

Chơi ù mọi, chơi tán lon, chơi nhảy dây, chơi bịt mắt bắt dê, chơi thả diều, chơi đá banh… thảy đều hồn nhiên tuyệt vời ở thời tóc xanh. Chừng như ngây thơ và hồn nhiên thì chưa thể nhìn ra lãng mạn. Lãng mạn thường chậm bước, nó đứng đợi anh ngoài cổng trường, trốn trong mưa. Lân la bên thềm một quán cà phê giữa trưa hè có ve kêu vang rân cả góc phố nhằm thông báo sẽ có một tà áo lụa như bướm trắng bay qua. Anh nổi mụn, anh mọc râu, anh buồn nhiều hơn vui, anh lơ là viết dắt túi áo, vở nhét túi quần. Anh hút thuốc, anh ngồi đồng (có thể ghi sổ) ở quán nước quen thuộc. Anh biết tới thuật ngữ “trồng cây si”. Anh mất ngủ, có tới trường thì đầu óc ký gửi vào một cõi miền không thực, mộng ngoài cửa lớp. Và anh rục rịch làm thơ, tự nguyện gia nhập, đầu quân vào “binh chủng” lãng mạn, tràn bờ; giết người không gươm dao, cho người chết lú lấp, dằn vặt trong dịu dàng.
Lãng mạn khác với tuyệt vời. Lãng mạn thường vấp khổ đau trong khi tuyệt vời luôn bắt tay cùng nỗi sướng. Khi anh lãng mạn “tán” được chị tuyệt vời, đường đi mà anh chị cùng chung lối sẽ dẫn về tới đâu? Đường đời muôn vạn nẻo, có nẻo hiện hình ra “Thơ Đầu Thế Kỷ 21”.

Sở dĩ nói tới chữ đường đi vì ba chàng Ngự lâm quân: Luân Hoán, Khánh Trường, Lê Hân đã đặt chân xuống sạn đạo bằng vào đôi hia bảy dặm, tới đích nhanh hơn “vó ngựa trôi ngoài song cửa”. Hãy thử ghi ra một vài con số, nhớ lại từng cột mốc:

Dự tính thực hiện: Ngày 30 tháng 8 năm 2018.
Bắt đầu khởi công: 2/9/2018.
Ngày 20/9/ 2018 tập đoàn Amazon quảng cáo sách.
Và ngày 30/9 cuốn sách “nặng ngàn cân” đã về tới Montréal.

Rất tròn đầy, nói theo thuật ngữ đời thường, từ A tới Z, cái sự “hồn nhiên tuyệt vời” kia, đi và đến chỉ mất vỏn vẹn đúng một tháng trăng tròn nguyệt khuyết. Nhanh quá, nhanh không tưởng được. Hoá ra giờ này thị trường vẫn có bày bán đôi hia bảy dặm, thứ ngỡ chỉ có trong cổ tích hoang đường. Ai muốn mua hia cho bước đi khinh khoái, hãy lân la tìm đến cửa hiệu Nhân Ảnh hẳn sẽ ngộ ra.

Nhân Ảnh là nhà đứng tên xuất bản cuốn “Thơ Đầu Thế Kỷ 21”, tập họp gồm 154 tác giả, dày tới 820 trang. Tranh bìa của Ái Lan, Khánh Trường trình bày. Với sự giúp sức thầm lặng (về mặt kỹ thuật của anh Tạ Quốc Quang, anh Nguyễn Thành và chị Trần Thị Nguyệt Mai). 154 tác giả ở khác địa hình, biên giới và lãnh thổ đã nhờ vào lãng mạn tuyệt vời mới được vai kề vai, chưng ảnh nhìn mặt nhau, dọ hỏi nhau qua vần điệu và rồi thì biết tính tình nhau, quen biết nhau.

Riêng ở Canada, tôi đếm ra 9 tên tuổi quen thuộc (có thể bỏ sót một vài?) hiện diện trên những trang sách xếp theo mẫu tự (lại từ A tới Z):

Bắc Phong, Hoàng Xuân Sơn, Luân Hoán, Lưu Nguyễn, Nguyễn Đức Bạt Ngàn, Nguyễn Vy Khanh, Phan Ni Tấn, Trang Châu và kẻ viết bài giới thiệu này, hưởng ké chút tuyệt vời lãng mạn.

Ngoại hình chẳng giống ai vì thi tập sở hữu một xác thân phì nhiêu mầu mỡ nặng tay cầm tôi chưa từng được nắm bắt. Thơ Đầu Thế Kỷ 21 đẹp từ ngoài vô trong (lá xanh bông trắng lại chen nhuỵ vàng?). Và nó ẩn tàng một vẻ đẹp khác, vẻ đẹp đó phải nhờ tới nhà thơ trẻ định cư ở Vương quốc Bỉ giải mã hộ. Cô Như Quỳnh de Prelle viết trên facebook:

“tôi luôn sống với lòng biết ơn, với thi ca, luôn cho tôi những kết nối, những người bạn, những đồng nghiệp, và cả những tri ân tôi không thể và chưa bao giờ gặp… nhưng là những cuộc gặp gỡ kỳ diệu nhất. Năm 2018 sắp hết dù mới chỉ là mùa thu, đây là 1 trong 3 cuốn sách tôi có dịp in chung với những người tôi trân trọng và yêu mến, từ tác phẩm đến con người. Cuốn thơ thế kỷ 21 do nhóm biên soạn nhà thơ Luân Hoán, Lê Hân và hoạ sĩ Khánh Trường từ Canada và Hoa Kỳ thực hiện cho chúng tôi, những tình yêu thi ca vô điều kiện”.

Được biết người góp mặt trong tập thơ nhiều tác giả này, anh Nguyễn Minh Nữu (Maryland, Hoa Kỳ) hôm 23 tháng 9 vừa qua là người mua sách đầu tiên từ Amazon, trả 40 Mỹ kim tính luôn thuế vận chuyển. Và tính tới thời điểm này, hơn 30 cuốn đã bay tản mác bốn phương “tung cánh chim tìm về tổ ấm”.

In thơ là một trò chơi tuyệt vời lãng mạn? Nhà thơ Luân Hoán nói sao thì phải nghe vậy, thi hành trước khiếu nại sau. Mà cũng không nên khiếu nại khi mình nghe giọng “thẩm quyền” chất đầy lạc quan tựa thế. Thời xa xưa, ở Đà Nẵng, người thơ đã từng lấy phần tiền bán ruộng đất cha mẹ chia cho để nhằm chi trả lệ phí việc in thơ, thì chút khinh mạn nằm ở chữ tuyệt vời lãng mạn ấy “dư sức qua cầu” để thuyết phục người nghe. Nghe và hãy nhận chìm ý nghĩ từ chết tới bị thương đi, nhé.

Quy ra giá tiền mỗi cuốn là 940.000 đồng VN (gần 1 triệu, hơi bị nhiều) và thi nhân văn hữu ở cố quận vẫn hăm hở “đăng ký” muốn thu cất làm kỷ niệm cho riêng mình một “chút gì để nhớ” về sự chung lưng đấu cật giữa trong, ngoài.

154 tác giả, trẻ lên mười cho dù chưa kinh qua công nghệ giáo dục có nhắm mắt cũng nhìn ra sự thiếu. Đội ngũ quen ăn dầm ở dề với tuyệt vời lãng mạn thì quân số hẳn phải nhiều gấp bội. “Xin được lượng thứ”, nhà thơ Luân Hoán cực lòng chia sẻ, và thêm: “Thật khó thực hiện một cuộc chơi hoàn toàn ưng ý”.

Tôi viết bài này, trước là giới thiệu một tác phẩm “nặng ký”, sau chỉ muốn cô lại một dòng chính: Cảm ơn ban thực hiện đã bỏ công hoàn thành cuốn sách trong một thời gian ngắn tới mức trái quy định. Cảm ơn sự cực đoan chơi không khoan nhượng của các anh. Tuy không là nhà thơ, tôi cũng một dạ hoan nghênh tất cả những gì liên hệ tới tuyệt vời, lãng mạn. Đời vắng bốn chữ ấy thì khác gì rừng thu trụi lá? Ai đâu sống được với trơ trọi, trống vắng, lẻ loi?

Hồ Đình Nghiêm

Bạn đọc có thể đặt mua tác phẩm Thơ Việt Đầu Thế Kỷ 21 trên Amazon.

Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 11 Feb 2024

Hình minh họa

Bài 3

Bóng tình yêu

Chiếc xe taxi hiệu Renault nhỏ xíu, sơn hai màu xanh trắng, thả chúng tôi xuống cạnh nhà hàng Bò bảy món Ánh Hồng ở đường Nguyễn Minh Chiếu. Biên đi trước dẫn đường, đi được một đoạn ngắn, hẳn chỉ vào một căn nhà khang trang, bề thế với hai cây vú sữa già mà cái tàn của nó giống như hai cây dù khổng lồ, che kín cả một góc sân.

-Nhà tao đó.

Tôi chẳng cần nghe nó nói gì cả, nó dẫn đâu tôi theo đó, đầu óc tôi mãi nghĩ đến Dung cô em gái nó. Không biết lát nữa gặp Dung tôi sẽ nói gì, làm gì. Điều quan trọng nhất mà tôi thắc mắc là không biết Dung cao hay thấp, đẹp hay xấu, chỉ có vậy thôi.

Biên đưa tay bấm chuông. Một người đàn bà tuổi chừng bốn mươi ra mở cổng, khi thấy Biên bà reo lên:

-Cậu Hai mới về.

Biên hỏi người đàn bà:

-Ba má tôi đâu?

-Thưa cậu, ông bà đi Vũng Tàu mai mới về.

-Còn con Dung đâu?

-Cô Dung ở trên lầu.

-Chị lo cơm trưa cho bốn người.

-Dạ.

Tôi nghĩ thầm, đúng là cái giọng của cậu chủ nhỏ nói với người làm.

Biên ngẩng nhìn lên lầu la to:

-Con Dung đâu?

Giọng của Biên gọi em mà cứ như là huynh trưởng nạt Tân khóa sinh. Thấp thoáng ở cuối phòng, tôi thấy dáng của một người con gái tay vịn lan can cầu thang, vừa chạy vừa reo:

-Anh Hai mới về.

Vừa dứt lời, bất chợt thấy Long công tử và tôi ngồi nơi phòng khách, Dung khựng người lại, nụ cười đang nở trên môi chợt tắt ngấm.

Tôi quay nhìn Long công tử. Không biết gương mặt của tôi có gì thay đổi hay không nhưng khuôn mặt của hắn khờ hẳn ra, Long tròn xoe đôi mắt nhìn Dung rồi sửa lại dáng ngồi cho ngay ngắn, hắn đưa tay nắn lại cái cà vạt nơi cổ áo.

Hình minh họa

Tôi nghĩ, có thể mình cũng bối rối không kém. Không biết tôi có quá lời không nhưng lần đầu vừa gặp Dung, tôi đã như kẻ mất hồn. Dung có gương mặt dễ nhìn, một nét đẹp thanh thoát, dịu dàng của ánh trăng rằm, tóc chấm vai, đôi mắt to tròn với hàng lông mi dài cong vút nhìn xuống chiếc mũi thon gọn, thêm đôi môi không thoa son nhưng tươi thắm, đỏ au.

Thấy hai đứa tôi im lặng, ngồi trơ ra như ông phỗng đá, Biên nói với em gái của nó:

-Đây là Long công tử, đây là Quân bắp cải, hai thằng bạn thân của anh ở quân trường.

Dung nhoẻn miệng cười rồi nhỏ nhẹ:

-Chào hai anh.

Biên quay qua nhìn Dung, rồi nói với hai đứa tôi:

-Còn đây là Dung, em gái tao.

Tôi ngập ngừng nói, giọng hơi rụt rè như đang đứng trả bài trước mặt thầy giáo mà trong bụng trống trơn, không có lấy một chữ.

-Dạ chào cô Dung.

Trong khi đó Long công tử lịch sự, điềm tĩnh đứng lên, hơi nghiêng mình về phía trước rồi nhẹ giọng:

-Chào em.

Gì chớ tán gái thì Long công tử lúc nào cũng từ tốn, lúc nào cũng mang đôi hia bảy dặm, vừa gặp Dung là hắn đã đốt giai đoạn kêu em ngọt xớt.

Xong chuyện giới thiệu, bốn đứa ngồi ở salon trò chuyện, Biên và Long công tử mỗi thằng một chai bia, tôi ly cà phê sữa đá còn Dung ly đá chanh.

Biên nói với em gái của nó:

-Hôm nay Dung có rảnh không? Đi chơi với mấy anh.

-Dạ em bận.

Giọng nói của Biên trầm xuống:

-Mầy bận cái gì? Họp hội với bọn sinh viên phản chiến phải không?

-Dạ đâu có.

-Vậy chớ bận cái gì?

-Dạ, học bài.

-Sao mày học hoài vậy, bữa nay thứ Bảy, nghỉ đi chơi với tụi anh, mai Chủ nhật anh vô trường rồi em ở nhà học bài, được không?

-Dạ được.

Tôi để ý khi Biên nói chuyện với em gái của nó, lúc xưng hô là mày, lúc kêu bằng em, khiến tôi chẳng biết đâu mà rờ.

Nghe Dung nói mà tôi mừng rơn, chỉ sợ Dung từ chối không chịu đi chơi chung với mấy đứa tôi. Ở quân trường, ba thằng đi chơi với nhau riết phát chán, hôm nay đi phép mà cũng ba thằng đực rựa lang thang ở Sài Gòn, còn gì chán hơn nữa.

Hình minh họa

Biên nói với tôi và Long.

-Để tao phác họa chương trình cho hai mươi bốn giờ phép sắp tới, tụi mày nghe thử coi có được hay không? Cơm nước xong bọn mình xuống Sài Gòn, vô Rex coi ciné, sau đó qua Brodard làm một chầu cà phê rồi ăn cơm chiều ở Thanh Bạch, tối đến nghe nhạc ở cà phê Hầm Gió.

Long công tử lên tiếng:

-Đừng có ngồi cà phê Hầm Gió, ở đó khói thuốc lá nhiều lắm, Dung không chịu được đâu. Tao đề nghị nên qua Continental, ngồi phía ngoài hành lang uống cà phê, nhìn thiên hạ đi dạo phố là nhất.

Tôi nghe hai đứa nó nói mà cứ như là vịt nghe sấm. Với tôi, ăn ở đâu, nghe nhạc ở đâu, không thành vấn đề, chỉ cần có Dung để tôi nhìn, cho tôi nói chuyện là vui rồi. Long và Biên mỗi thằng lại cưa thêm một chai bia nữa, tôi nhắc tụi nó:

-Một thằng hai chai thôi, đừng có uống nhiều.

Biên gật đầu:

-Mày nói phải.

Liếc nhìn cái đồng hồ trên tường, Dung nói với anh mình:

-Để em phụ với chị Lành làm cơm trưa.

Nói xong, Dung nhanh nhẹn đi xuống bếp.

Ba thằng đực rựa ngồi nhìn nhau. Biên nói:

-Tụi mày thấy chưa, tao mà làm nội ứng thì khỏi chê, có thứ tự lớp lang đàng hoàng, cứ theo kế hoạch mà thi hành.

Long công tử vịn tay vào thành ghế sofa đứng lên.

-Bây giờ tao phải dọt về nhà, thăm ba má tao chút xíu.

Biên hỏi:

-Mày không đi chơi với tụi tao sao?

-Đi chớ, hai giờ chiều tao sẽ gặp tụi mày ở Rex.

Trước khi đi, hắn nói nhỏ với tôi:

-Tao phải về nhà, trước là thăm ba má tao, sau đó lấy chút tiền dằn túi. Đi với người đẹp mà chi không đẹp, còn đâu là danh tiếng của Long công tử.

Cơm trưa được dọn lên nơi phòng ăn, ba đứa ngồi vào bàn, tôi nhìn thức ăn bày ê hề trên bàn mà thấy ngợp. Nguyên một con cá lóc chiên nằm choán hết cái dĩa hình quả trám, thân con cá được cắt sẵn thành nhiều khía, một tô canh chua cá bông lau, một tô thịt heo kho tàu thêm một dĩa cải xanh xào thịt bò, tất cả đều được đựng trong những tô và dĩa loại to. Tôi ước chừng, phải tám người mới ăn hết những thức ăn dọn trên bàn. Mấy tháng rồi ăn cơm lính, từ quân trường Quang Trung sang Quân trường Thủ Đức, tôi đã bắt đầu quen với cơm lính. Thực lòng mà nói, cơm ở Quân trường Thủ Đức cũng giống như những bữa cơm của gia đình tôi ở Đà Lạt. Cũng một dĩa rau luộc, khúc cá kho, chén nước mắm ớt, năm thì mười họa mới có thêm miếng thịt kho trứng. Hôm nay, bất ngờ nhìn thấy bữa cơm quá sức thịnh soạn ở nhà của Biên, tôi hiểu ra, tại sao Biên và Long luôn luôn phàn nàn, chê ỏng chê eo về chuyện ăn cơm ở nhà bàn. Chị Lành xới cơm vào ba cái chén để trước mặt chúng tôi, đũa và muỗng đã sẵn sàng. Chị nói:

Hình minh họa

-Mời cô và mấy cậu ăn cơm.

Nói xong, chị trở lui xuống bếp.

Biên nói với tôi:

-Ăn đi mày.

Ngày hôm đó, tôi được ăn một bữa cơm nhà giàu, bên cạnh lại có thêm Dung khiến tôi đâm ra ngượng nghịu, rụt rè.

Tôi bưng chén cơm quay qua Dung nói:

-Mời Dung.

-Dạ, mời anh.

Dung vừa gắp thức ăn cho Biên vừa nói:

-Anh Long đâu rồi, sao ảnh không ở lại ăn cơm?

-Nó phải về nhà thăm ba má nó, xong chuyện nó sẽ đến Rex gặp tụi mình.

Biên nhìn tôi nói tiếp:

-Còn thằng bắp cải này, nhà nó ở Đà Lạt nên nó không về được.

Dung nhìn tôi với gương mặt hớn hở, vui vẻ nói:

-Anh Quân ở Đà Lạt hả? Hè năm nào ba má cũng dẫn em lên nghỉ mát ở Đà Lạt, nhà anh ở đâu? Đường nào? Cho em địa chỉ đi, nếu có dịp lên Đà Lạt em sẽ ghé.

Tôi nghĩ đến căn nhà gỗ lợp tôn bé tí xíu, cũ kỹ của ba tôi ở Trại Hầm, mùa nắng nóng nung người, mùa mưa khi nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn vang dội bên tai mà tưởng chừng như cả Đà Lạt đang chìm trong giông bão phũ phàng. So với căn nhà gạch khang trang rộng rãi của gia đình Dung, đúng là một trời một vực, mặc cảm nghèo hèn khiến tôi nói với Dung:

-Hôm nào rảnh rồi, anh sẽ đưa địa chỉ của anh cho Dung.

Khi nói xong tôi biết mình nói dối, bởi vì tôi không thích Dung thấy căn nhà gỗ tồi tàn của ba má tôi, cũng không muốn Dung biết được tôi là con trong một gia đình lao động nghèo nàn.

Dung nói với tôi mà nhăn mặt như suy nghĩ chuyện gì:

-Mà anh đi lính rồi đâu có ở nhà, em lên đó cũng đâu có gặp được anh.

Tôi nghĩ thầm, người đã đẹp rồi nhăn mặt coi cũng đẹp, không biết có phải tôi quá chủ quan hay không? Chúng tôi vừa ăn cơm vừa chuyện trò, Dung khoan thai chậm rãi ăn uống trong khi tôi và Biên ăn nhanh như chớp, cứ như ăn ở quân trường, ăn chậm sẽ bị huynh trưởng phạt chạy ba vòng nhà bàn chỉ có nước ói hết cơm ra thôi. Thức ăn trên bàn vẫn còn nhiều mà cả ba chúng tôi cùng buông đũa. Dung nói với tôi, giọng nói nghe như rót mật vào tai:

-Sao anh ăn ít quá vậy, chê thức ăn em nấu phải không?

Tôi lắc đầu lia lịa:

-Thức ăn Dung nấu ngon quá sức, chỉ tại hơi nhiều, mười người ăn cũng không hết, nói chi chỉ có ba người.

Hình minh họa

Dung nhìn tôi:

-Thôi được, để em lấy trái cây hai anh ăn tráng miệng.

Dung đi xuống bếp, nàng bưng lên một dĩa dưa hấu và một dĩa xoài được cắt sẵn. Tôi lấy nỉa xắn một miếng xoài đưa lên miệng. Cái mát lạnh của miếng xoài ướp lạnh khiến tôi nhớ đến trái chuối xanh ăn tráng miệng ở quân trường, vị của trái chuối hơi chua chua, âm ấm.

Dung nói:

-Hai anh uống cà phê không?

Biên nói với Dung:

-Nước trà được rồi, mà thôi để chị Lành làm nước trà, em lo sửa soạn tụi mình tới Rex.

Khi Dung đi gần tới cầu thang, như chợt nhớ ra điều gì Biên dặn vói theo:

– Nè Dung, đi chơi với lính em muốn ăn mặc như thế nào cũng được.

Tôi đứng lên chụp cái túi xách tay nhỏ chạy vô phòng tắm, việc trước tiên là đánh răng, đánh đi đánh lại hai ba lần. Tôi muốn cái mùi cá chiên phải được tẩy sạch, sau đó rửa mặt sạch sẽ soi gương nhìn áo quần, khi biết chắc tất cả đã chỉnh tề, hoàn hảo tôi mới bước ra. Một lát sau Dung từ trên lầu đi xuống, thân hình đầy đặn của Dung bó sát trong chiếc quần jean xanh và chiếc áo pull over màu vàng nhạt, chân mang giày cao gót xanh đậm, tôi thấy hình như nàng cao thêm một chút. Tôi đứng ngẩn người ra nhìn, muốn khen Dung một câu nhưng miệng như bị ai bịt lại cứ câm như hến.

Ba đứa đi ra đường, tôi đưa tay sửa lại cái mũ kết trên đầu. Trưa Sài Gòn nóng thật là nóng, chưa tới một giờ, mặt trời vẫn còn chói lòa trên đỉnh đầu. Nhìn chiếc áo vàng Dung đang mặc, tôi chợt nhớ tới nhà thơ Nguyên Sa. Ông ấy bảo:

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát.
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông.

Nguyên Sa là một nhà thơ nổi tiếng, ông ấy muốn nói gì lại không được. Với tôi, áo lụa Hà Đông làm sao mà mát bằng chiếc pull over Dung đang mặc.

Một chiếc taxi chạy trờ tới, tận đáy lòng mình, tôi mơ ước được ngồi đàng sau với Dung, nhưng vì muốn làm ra vẻ đàng hoàng, tôi đi vòng ra phía trước để ngồi cạnh tài xế. Biên bước theo, thúc cho tôi một cái cùi chỏ, hắn nói nhỏ vừa đủ cho tôi nghe:

-Mày không nhớ chiến thuật nội công, ngoại kích hay sao?

Tôi tỉnh cả người, quay đầu mở cửa sau cho Dung, đợi cho nàng ngồi xuống đàng hoàng, tôi mới chui vào xe ngồi bên cạnh nàng.

Biên nói với người tài xế

-Cho bọn này tới rạp Rex bác tài.

Từ nhà Biên tới rạp Rex, hơn ba mươi phút ngồi cạnh Dung đầu óc tôi như mụ đi, không biết hôm nay là cái ngày gì mà ông trời lại chiều theo ý tôi hết mực, muốn gì được mấy. Mùi thơm da thịt của Dung lẫn với mùi nước hoa trong không khí khiến tôi ngầy ngật, ngây ngất. Tôi ngồi yên như một pho tượng, hai tay vòng trước ngực, mắt nhắm lại, tận hưởng chút hạnh phúc tuyệt vời mà trời ban cho tôi, cái hạnh phúc được ngồi bên người đẹp. Thời gian chầm chậm trôi qua cho đến lúc chiếc taxi ngừng lại, tôi mới giật mình tỉnh mộng.

Long công tử đã đứng bên lề đường tự lúc nào, hắn từ tốn mở cửa sau của xe, nắm lấy tay Dung, dìu nàng xuống xe. Mấy chục phút ngồi bên Dung, khoảng cách giữa hai đứa chỉ độ một tấc mà tôi chưa dám chạm vào cái móng tay của Dung, nói chi đến nắm tay nàng. Long công tử quả là sành điệu, hắn đốt giai đoạn nhanh như gió.

Hình minh họa

Long nói cho mọi người nghe:

-Tao đã mua vé rồi, tụi mình vào thôi.

Tôi tính toán trong đầu, nếu không có Long công tử, khi vô rạp Dung sẽ ngồi giữa Biên và tôi. Đang không lòi ra thằng Long công tử làm kỳ đà cản mũi, tại sao nó không ở nhà nó, thăm ba má nó lâu hơn một chút hoặc dẫn ba má nó đi ăn tiệm đâu đó, đến chiều hãy gặp tụi tôi cũng đâu có muộn gì. Bây giờ tôi chẳng biết phải sắp xếp chỗ ngồi như thế nào cho ổn, nên đành phó mặc cho trời định đoạt.

Biên đi vào rạp trước, nó cố tình để Dung ngồi giữa tôi và Long. Được ngồi cạnh Dung nhưng tôi không cảm thấy sung sướng, hạnh phúc như khi ngồi trên taxi bởi vì tôi không an tâm chút nào. Tôi có lối suy luận hơi cù lần chút đỉnh, cái thằng Long công tử giữa chốn thanh thiên bạch nhật nó tỉnh bơ nắm tay Dung dìu nàng xuống xe, bây giờ trong bóng tối mù mờ của rạp ciné, nó sợ ai mà không nắm tay nàng.

Tôi nhớ lời dặn dò của Biên khi còn trên xe từ Thủ Đức về Sài Gòn:

-Hai thằng mày có quyền tán con em gái tao nhưng phải đàng hoàng, lịch sự, thằng nào mà sàm sỡ với nó, tao bẻ cổ không tha, nhớ đó.

Cả hai đứa tôi đều nói:

-Mày yên chí.

Tôi hy vọng, Long công tử giữ lời hứa với Biên. Suốt hai tiếng đồng hồ trong rạp hát, tôi cứ lo ra vô cớ, còn tâm trí đâu mà coi phim. Cho đến khi đèn trong rạp bật sáng, tôi mới thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng ngàn cân trên vai. Tôi nói với Dung, câu nói nghe lảng nhách không đâu vào đâu.

-Phim gì mà dở ẹt, mướn anh cũng không thèm coi.

Ở rạp ciné ra, bốn đứa dẫn nhau tản bộ qua cà phê Brodard nằm trên đường Tự Do. Vừa thấy Long, anh bồi lên tiếng chào hỏi:

-Lâu quá không thấy cậu đến đây, tôi tưởng cậu đã đi du học ở bên Tây, ai ngờ lại đi lính. Cái bàn đặc biệt mà cậu ưa ngồi vẫn còn trống, mời mấy cậu.

Long lấy cái mũ kết trên đầu xuống đưa cho anh bồi, nó kín đáo giúi vào tay anh ta mấy tờ giấy bạc rồi nói, giọng nói nghe thân mật nhưng đầy quyền uy:

-Dung em gái tụi này, anh có món gì đặc biệt cho cô bé không?

-Dạ, cậu khỏi lo.

Tụi tôi ngồi xuống một cái bàn tương đối khá rộng so với không gian tù túng của tiệm. Ba tách cà phê được đem ra, riêng Dung ngoài ly soda chanh, còn có vài cái bánh ngọt đặt trong một cái dĩa xinh xinh.

Bầu không khí êm ả trong tiệm cà phê, khiến cho chúng tôi cảm thấy gần nhau hơn. Long công tử và tôi kể cho Dung nghe những chuyện buồn vui ở quân trường, nào là đi dây tử thần, tuột núi, rồi vượt sông. Dĩ nhiên chúng tôi thêm chút mắm, giặm chút muối cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn. Cái nguy hiểm của dây tử thần hay tuột núi không nhiều lắm đâu, nhưng Long công tử tăng thêm độ nguy hiểm vài phần nữa khiến gương mặt của Dung lộ vẻ lo sợ. Còn bài học vượt sông chúng tôi thực hành tại cầu Rạch Chiếc gần hãng xi măng Hà Tiên, nó chỉ là con suối khá lớn, nước chảy lờ đờ, đứa con nít chỉ cần chừng vài chục sải tay đã qua được bờ bên kia nhưng với cái tài kể chuyện của Long công tử, người nghe có cảm tưởng con sông phải lớn lắm. Long đem mớ kiến thức của mấy năm Văn Khoa ra hù Dung.

Hình minh họa

-Em có biết sông Hoàng Hà hay sông Tiền Đường ở bên Tàu hay không?

Dung dịu dàng trả lời:

-Dạ, em không biết.

Long giảng giải:

-Hoàng Hà là một con sông vĩ đại, đến nỗi Lý Bạch phải mở đầu bài thơ Tương Tiến Tửu của mình bằng mấy câu:

Quân bất kiến, Hoàng Hà chi thủy thiên thượng lai, bôn lưu đảo hải bất phục hồi.

Còn khi nói đến sông Tiền Đường thuộc tỉnh Triết Giang bên Tàu, đại thi hào Nguyễn Du đã phải thốt lên:

Triều đâu nối tiếng đùng đùng.
Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường.

Tiếng sóng trên sông mà đánh đùng đùng, con sông không thể nhỏ được.

Chính bản thân tôi, nghe Long công tử kể chuyện cả đại đội với súng ống đạn dược vượt sông, tôi còn run sợ huống chi là Dung. Chỉ có điều, tôi không thích cái tính vọng ngoại của Long công tử. Tôi nhắc Long:

-Mày ca ngợi Tàu cũng vừa thôi. Bụt chùa nhà không thiêng hay sao? Sông Cửu Long của mình đâu có nhỏ.

Phần Dung khi nói về nếp sống của nữ sinh Sài Gòn, những chuyện nàng kể, chuyện nào cũng nhẹ nhàng, êm đềm như lá thu vàng rơi rụng ngoài hiên vắng.

Dung kể cho tụi tôi nghe về trường Nguyễn Bá Tòng của nàng, về lớp đệ nhất mà nàng đang học, cô nào cô nấy đẹp như tiên giáng trần, nhất là hai cô bạn thân của nàng. Đang kể chuyện, như chợt nhớ ra điều gì Dung hỏi:

-Hai anh thích không, Dung sẽ giới thiệu hai cô bạn của Dung cho hai anh.

Long công tử nói, gương mặt tỉnh như không.

-Giới thiệu Dung cho anh, anh thích hơn. Em có biết không, người ta thường nói, một con chim trong tay bằng mười con chim trên cành.

Gương mặt Dung ửng đỏ trước câu nói hơi bạo của Long công tử, nàng chữa thẹn bằng cách nâng ly soda lên rồi nói:

-Uống soda chanh phải có xí muội mới hết sẩy.

Long công tử rời ghế đi về phía anh bồi, một lát sau nguyên một dĩa xí muội được mang tới. Long công tử dùng cái muỗng bạc xúc hai viên xí muội cho vào ly soda. Đợi cho bọt tăm của viên xí muội trong ly dịu bớt, Long công tử mới nâng ly đưa cho Dung:

-Em có thể uống được rồi.

Cái thằng này lịch sự đến phát ghét, tôi không giận gì nó nhưng mà buồn cho mình nhiều hơn. Tại sao chuyện gì nó cũng hơn mình.

Tôi ngoảnh mặt, nhìn qua khung cửa kính sạch sẽ không một hạt bụi, Sài Gòn lúc nào cũng ồn ào tấp nập, ngựa xe như nước. Nắng đã bắt đầu dịu lại.

Hình minh họa

Biên nhìn ra đường rồi nói bâng quơ:

-Mấy người đói chưa?

Long công tử trả lời:

-Chút đỉnh.

-Vậy mình thả bộ qua Thanh Bạch là vừa, tao muốn lang thang ngoài phố đế tìm lại cảm giác ngày xưa lúc chưa đi lính.

Khi cả bọn đi qua bùng binh với vòi phun nước trước tòa nhà Quốc Hội, một anh thợ chụp hình với chiếc máy ảnh Polaroid trên tay.

-Mấy cậu chụp tấm hình, kỷ niệm ngày đi phép.

Không hẹn mà cả ba thằng vui vẻ, bằng lòng.

Long công tử hỏi anh thợ hình:

-Ông bấm máy nhiều có mỏi tay không?

Người thợ chụp hình lên giọng như muốn khoe về mình.

-Cậu nói chơi, nghề của tôi mà mỏi sao được.

-Như vậy ông cứ bấm máy, khi nào mỏi tay hãy ngừng.

Người thợ giải thích:

-Mồi tấm hình giá một trăm đồng, tui mà bấm mỏi tay, mấy cậu hết tiền đi taxi.

Long trấn an ông thợ chụp hình:

-Yên chí đi.

Bức ảnh đầu tiên là cảnh ba thằng mặc quần áo tiểu lễ, dây biểu chương và cái alpha vàng chói trên vai, mặt mày thằng nào thằng nấy tươi cười, hớn hở. Bức thứ hai là Biên và Dung, rồi Long và Dung. Cuối cùng, tôi cũng được chụp chung với Dung, không những một mà tới hai tấm. Khi ông thợ chụp hình bóc miếng âm bản đàng sau tấm ảnh, hình tôi và Dung từ từ hiện lên, cái cảm giác của tôi lúc bấy giờ thật là khó tả, đê mê, thích thú, người cứ lâng lâng nhẹ nhàng như bay trong không khí, chơi vơi, chới với. Tôi nghĩ thầm, mình sẽ giữ tấm ảnh này cho đến khi chết. Trong ảnh Dung đứng cạnh tôi, giữa hai đứa là một khoảng cách nhỏ, tôi ao ước, phải chi mình được quàng tay qua vai hoặc ôm eo của em, coi sẽ tình tứ hon nhiều. Mơ ước như vậy nhưng sợ thằng Biên nó bẻ cổ mình nên không dám. Lòng tham của con người thật vô đáy, biết bao nhiêu cho vừa. Cuối cùng, tôi phải tự nhủ với lòng đừng có quá tham lam. Hạnh phúc là phải biết bằng lòng với những gì mình có.

Lúc tụi tôi đến Thanh Bạch trời cũng vừa tắt nắng, người bồi bàn tuổi chừng bốn mươi trịnh trọng cúi đầu:

-Chào cậu Long.

Long công tử vui vẻ:

-Lâu quá mới gặp chú Sáu, chú khỏe không?

Tôi lại thấy Long kín đáo giúi vào tay chú Sáu mấy tờ giấy bạc, chúng tôi được đưa đến ngồi ở góc phòng, chỗ ngồi thật là lý tưởng, kín đáo, rộng rãi và thoải mái. Long cất tiếng:

-Hôm nay có gì đặc biệt không chú Sáu?

Hình minh họa

Người bồi bàn ngập ngừng:

-Dạ ạ ạ, hay là vậy đi. Có cơm chiên cá mặn, gà rô ti, thêm tô canh sườn heo hầm khoai tây, cà rốt Đà Lạt, cậu thấy đủ chưa?

-Chưa, nhưng tôi sẽ gọi thêm sau. À, chú cho mấy chai bia, đừng quên một chai sữa tươi loại nhỏ cho cô bé này.

-Dạ.

Tôi nghĩ, hình như tất cả các nơi ăn chơi ở cái Hòn Ngọc Viễn Đông nàỵ thằng Long công tử đều đã biết qua, không những biết mà còn lui tới nhiều lần.

Lịch sự là nghề của Long công tử, hắn mở nắp chai sữa, bóc miếng giấy bạc dán trên miệng chai, rót sữa vào một cái ly rồi đưa cho Dung.

Thật tình mà nói, nếu tôi có muốn đóng vai lịch sự cũng không được. Từ nhỏ đến giờ, chưa bao giờ tôi thấy chai sữa tươi, làm sao biết cách uống. Cái xứ Đà Lạt của tôi quanh năm, suốt tháng chỉ ăn bắp cải, khoai tây, cà rốt và uống nước rau luộc.

Quen với lối sống quân trường, ba thằng tôi thanh toán bữa ăn lẹ như chớp, nhìn lại chén cơm của Dung chỉ mới vơi đi một nửa. Trong khi chờ Dung ăn cơm, Biên nói:

-Giờ này mà có vài con cua ram muối, lai rai với bia 33 là nhút.

Tôi nhìn vào tấm thực đơn:

-Ở đây không có cua ram muối.

Long công tử lên tiếng:

-Để đó tao.

Hắn đưa tay ngoắt chú Sáu:

-Chú Sáu nè, anh bạn tôi khoái nhậu cua ram muối. Chú cho tụi này vài con được không?

Chú Sáu nhìn Long công tử, vừa cười vừa nói:

-Trong thực đơn không có món đó, nhưng với cậu Long sẽ có thôi.

Vừa nói, chú Sáu vừa liếc mắt sang chợ Bến Thành ở bên kia đường.

-Cua bên đó thiếu giống gì, để tôi nói với đầu bếp.

Khoảng nửa giờ sau, một dĩa cua ram muối to chần dần được mang lên.

Tôi không uống bia, ngồi đó rảnh rỗi xới cơm cho Dung, múc canh cho nàng, xé cho nàng miếng thịt gà, lâu lâu chôm cho nàng mấy cái càng cua ram muối. Dung nhìn tôi như biểu đồng tình rồi cầm lấy cái càng cua ăn ngon lành. Tôi tận tình săn sóc Dung và biết rằng mình là người hạnh phúc nhất thế gian. Phần Dung cũng tận tình ăn uống nhưng không biết nàng có hạnh phúc hay không.

Cơm nước xong xuôi, thay vì qua Continental uống cà phê như dự tính tụi tôi lại tạt vô Pôle Nord làm mấy ly kem, cái món này ba thằng đực rựa không thích mấy nhưng vì chiều ý của Dung.

Hình minh họa

Dung thả cái muỗng cà phê vào ly kem rồi nói:

-Kem ở đây ngon hết biết, lẽ ra em phải ăn hai ly mới được nhưng thân hình em hơi tròn, cho nên một ly thôi.

Sài Gòn với hoa đèn rực rỡ, xe cộ ngược xuôi như mắc cửi, thêm chút gió nhẹ từ bờ sông thổi vào, tôi bước đi trên hè phố mà cảm thấy nhẹ nhàng, sảng khoái xen lẫn chút buồn buồn, nuối tiếc. Ngày vui rồi cũng qua mau, đã đến lúc bọn tôi phải về nhà.

Long công tử vỗ vai Biên:

-Tao phải về, ba má tao đang chờ.

Nói xong, Long công tử quay sang tôi.

-Bắp cải, mày muốn về nhà tao ngủ không? Sáng mai, mình trở lại nhà Biên rồi đi về trường.

Tôi giận cái thằng công tử này quá chừng, chuyện của mày kéo theo tao làm gì. Đi theo mày bỏ Dung cho ai, mà từ chối thì….

Còn đang phân vân chưa biết trả lời như thế nào, tôi bỗng nghe Biên nói:

-Để thằng Quân bắp cải về với tao.

Tôi mừng hết lớn, vội vã nói với Long công tử:

-Đừng lo gì cho tao, về nhà đi kẻo ba má mày chờ.

Đuổi được Long, tôi nhẹ hẳn người. Chúng tôi về đến nhà đã hơn mười giờ tối. Tôi tưởng Biên sẽ ngồi ở phòng khách trò chuyện nhưng không ngờ hắn nói với Dung:

-Em đi chơi cả ngày, mệt rồi phải không? Về phòng nghỉ đi.

Quay sang tôi, hắn chỉ tay lên lầu:

-Mày ngủ ở phòng của tao. Tao ngủ trên giường, còn cái sàn gạch bông mày toàn quyền sử dụng.

Một ngày thần tiên vừa trôi qua, tôi lăn qua trở lại không tài nào nhắm mắt, chả bù ở quân trường, mới nằm xuống ba mươi giây là đã ngủ ngon lành. Tôi đang cố dỗ giấc ngủ, bỗng tiếng của Biên từ trên giường vọng xuống:

-Ê thằng bắp cải, mày có nghe tao nói không?

Tôi trả lời:

-Nghe.

-Suốt ngày tao quan sát hai thằng mày, thằng nào hành sử cũng khá không có gì đáng phiền trách. Riêng mày, tao muốn nói cho mày biết, cứ cái đà này mày thua cuộc là cái chắc, mày không phải đối thủ của Long công tử. Ngồi sau xe taxi với con Dung, cơ hội bằng vàng để cho mày trổ tài tán tỉnh, lấy cảm tình thì mày lại ngồi yên như tượng đá, đã vậy còn nhắm mắt ngủ ngon lành. Mày phải hoạt bát, năng động lên chứ, nói láo chút xíu cũng không sao, chẳng hạn như anh thề sẽ yêu em suốt đời hay nếu không lấy được em anh nguyện ở giá trọn kiếp. Nghe rất là cải lương nhưng nó ép phê vô cùng, tin tao đi, kinh nghiệm cho tao biết như vậy. Mày nghe rõ không bắp cải?

-Nghe rõ năm trên năm.

Hình minh họa

-Tốt, thôi ngủ đi, mai dậy sớm về trường.

Làm sao mà ngủ cho được, tôi nhớ đến Long công tử rồi nhẩm tính, tất cả số tiền mà hắn tiêu pha cho ngày hôm nay, đủ cho một gia đình lao động tiêu xài vài tháng. Nó ăn tiêu lớn nhưng đúng chỗ và lịch sự, cái lịch sự của những người biết sức mạnh đồng tiền. Biên nói đúng, trẻ tuổi giàu có lại lịch lãm có thừa như Long công tử, tôi thua là cái chắc. Tôi nghĩ đến Dung, không biết giờ này Dung đang làm gì, học bài, ngủ hay cũng đang trăn trở như tôi. Cuối cùng, tôi nhớ đến tấm ảnh chụp hồi chiều với Dung mà lòng lâng lâng khoan khoái, rồi ôm hình ảnh đẹp như mơ của Dung, chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết.

Khi tôi và Biên thức giấc trời đã mờ sáng, hai đứa tôi mau mau làm vệ sinh cá nhân rồi đi xuống nhà dưới. Chị người làm đã chuẩn bị xong bữa ăn sáng, bánh mì nóng, hai dĩa trứng gà ốp la, ly cà phê sữa còn bốc khói thơm lừng. Hai đứa vội vội vàng vàng thanh toán chiến trường cho lẹ vì còn nhiều chuyện phải làm.

Dung từ trên lầu đi xuống:

-Khi nào hai anh phải vô trường?

Biên đáp:

-Đợi thằng Long tới là dọt.

Biên vừa dứt lời, tiếng chuông ngoài cửa cũng reo lên. Tôi biết Long công tử đã tới. Tôi nhìn Dung, nàng lúc nào cũng tươi mát, dễ thương. Từ tối hôm qua đến giờ, tôi chưa nói được với nàng một tiếng.

-Ngủ ngon không Dung? Tôi hỏi.

-Dạ ngon.

Lợi dụng lúc Long công tử và Biên đang bàn với nhau vấn đề gì đó, tôi bước đến gần Dung, lấy hết can đảm, cứ coi như mình đang đi dây tử thần ở Thủ Đức, nhắm mắt lại, nắm chặt hai cái ròng rọc rồi lao mình vào khoảng không gian bao la bát ngát. Nhớ tới lời Biên dặn tối hôm qua “nói láo chút xíu cũng không sao”, tôi nói nhỏ vào tai Dung:

-Vô quân trường rồi, anh nhớ em chết được.

Nói xong, tôi biết mình không nói láo. Tôi nói thật, đồng thời tôi cũng chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để đối phó với tình huống xấu có thể xảy ra nếu câu nói của tôi không vừa ý Dung. Không ngờ, Dung nói với tôi, câu nói nhẹ như một cơn gió thoảng.

-Em không có ép uổng gì anh đâu. Có thì nói, còn không thì thôi.

Xe chạy trên xa lộ, tôi đã nhớ Dung cần gì phải đợi lúc về đến quân trường. Vừa bước vào phòng ngủ sinh viên, tôi lấy tấm ảnh của Dung chụp với tôi ra xem. Tấm ảnh hơi lớn so với cái ví của tôi, chuyện dễ thôi, tôi dùng cái kéo cắt tấm ảnh nhỏ lại cho vừa với khung ảnh trong ví. Cảnh trí chung quanh hai đứa có gì là quan trọng đâu, cho dù có đứng dưới chân tháp Eiffel của Pháp hay chân tượng Nữ Thần Tự Do ở Mỹ tôi cũng chẳng cần, huống chi đứng bên vòi phun nước ở Sài Gòn. Bây giờ tấm hình chỉ còn lại hai đứa đứng cạnh nhau, tôi chỉ cần chừng đó thôi.

-Mày làm cái gì vậy?

Tôi lúng ta lúng túng nhét cái ví vào túi, nhặt mấy mảnh giấy vụn bỏ vào thùng rác rồi mới trả lời Long công tử:

-Có làm gì đâu.

Hình minh họa

Long công tử nhìn tôi rồi than phiền:

-Chủ nhật mà phải ứng chiến, chán cái mớ đời.

-Cũng phải có một nửa quân số để giữ doanh trại chứ, bộ mày muốn giao cái trường này cho Việt Cộng hay sao?

-Không mợ thì chợ cũng đông, mấy ngàn thằng sinh viên canh gác chưa đủ hay sao? Thêm đại đội mình ứng trực cũng vậy thôi.

Có tiếng mở cửa, Biên từ ngoài bước vào, hắn nhìn quanh một vòng rồi nói:

-Hai thằng mày làm gì đó?

-Tán dóc.

Biên nhìn đồng hồ đeo tay rồi nói:

-Bây giờ là mười giờ, bốn giờ chiều mới tập họp điểm danh, làm gì cho hết giờ đây?

Long công tử trả lời:

-Tụi mình đi ăn cơm trưa, sau đó qua Khu Thiết Giáp nhậu.

Tôi nói với Long:

-Mày đâu phải là con của Tổng Thống, phải đợi tới trưa, cả đại đội cùng ăn một lần, nhà bàn đâu có rảnh mà dọn cơm cho ba đứa mình vào giờ này.

Long công tử nói như ra lệnh.

-Hai thằng mày đi với tao.

Ba thằng thả bộ theo con đường tráng nhựa đến nhà ăn. Long băng qua đường đến khu gia binh đối diện với nhà bàn.

-Kể từ hôm nay, ba thằng mình ăn cơm tháng ở đây.

Chuyện hơi bất ngờ với tôi:

-Mày nói giỡn?

Long công tử chân bước vô nhà, miệng nói:

-Mày thấy tao nói giỡn bao giờ chưa? Nếu mày muốn ăn cơm nhà bàn với bắp cải luộc, cà rốt kho cứ thoải mái. Còn nếu không muốn thì qua đây.

Trường Bộ Binh Thủ Đức có rất nhiều chuyện lạ, một trong những chuyện lạ đó là Tân khóa sinh bắt buộc phải ăn cơm nhà bàn. Sau lễ gắn Alpha, sinh viên sĩ quan nếu không muốn ăn cơm nhà bàn họ có quyền ăn cơm tháng, miễn sao đủ tiền trả là được, nên nhớ cơm tháng ở đây không rẻ đâu, gần ba ngàn một tháng. Lương sinh viên sĩ quan, sau khi trừ tiền cơm nhà bàn, tiền công may quần áo tiểu lễ, đại lễ chỉ còn được vài trăm, ai muốn ăn cơm tháng cứ việc ăn.

Đời sống ở quân trường trôi qua trong buồn tẻ, con người như một cái máy chỉ biết có một việc thi hành lịnh trên. Niềm vui duy nhứt của sinh viên sĩ quan là ngày phép cuối tuần, tuy vậy, được đi phép hay không phải tùy thuộc vào tình hình chiến sự bên ngoài. Từ sau lần cả khóa được đi phép sau lễ gắn Alpha, tuần lễ tiếp theo đó là năm mươi phần trăm đi phép, năm mươi phần trăm ở lại ứng chiến, nếu tôi đi phép thì Long với Biên phải ứng chiến ở trường và ngược lại. Biên và Long bực bội thấy rõ. Long phàn nàn:

Hình minh họa

-Như vậy là hai tuần mới được đi phép một lần.

Chỉ có tôi mừng như mở cờ trong bụng. Không có Long công tử, Dung và tôi hai đứa sẽ sánh vai nhau đi bát phố Sài Gòn. Tôi với bộ tiểu lễ màu vàng, đầu đội nón kết đi bên cạnh Dung trong chiếc áo dài trắng thướt tha yểu điệu. Thoáng nghĩ đến, tôi đã sung sướng đến lịm người.

Sài Gòn sáng chủ nhật nắng vừa mới lên, tôi đã đứng trước nhà Dung mạnh dạn bấm chuông. Chị Lành ra mở cửa, đưa tôi vào nhà. Khi tôi đã yên vị nơi salon, trong lòng hớn hở đợi chờ Dung, bất ngờ ba má của Dung từ trên lầu đi xuống. Tôi không ngờ mình ngu đến như vậy. Biên với Dung đâu có phải con mồ côi, tôi quên mất tiêu họ còn có ba má đàng hoàng. Tôi lật đật đứng lên chào hai ông bà. Như thằng ăn vụng bị bắt gặp, tôi lắp ba, lắp bắp:

-Dạ con kính chào hai bác.

Ba của Biên tươi cười nói với tôi:

-Ngồi đi con, bác có nghe con Dung nó nói lại, tuần vừa rồi mấy đứa về phép có dẫn em nó đi chơi rất là vui, à.. mà con tên Long phải không? Dung có nói với bác.

Hình như có ai đó bóp mạnh vào trái tim của tôi, khiến cho trái tim dường như muốn rớt ra khỏi lồng ngực. Tại sao Dung chỉ nhớ tới Long, còn tôi ở đâu sao không nghe Dung nhắc đến. Tôi muốn xin phép ba má Biên cho tôi về trường cho rồi nhưng vẫn cố làm mặt vui trả lời:

-Dạ thưa bác, con tên là Quân.

-Ờ, bác nhớ ra rồi Long và Quân.

Ông nhìn quanh như tìm kiếm:

-Còn thằng Biên và Long đâu rồi?

-Dạ chỉ có một mình con đi phép thôi, Long và Biên phải ở trường ứng chiến, tuần tới mới được đi phép.

-Dzậy nữa, quân trường sao mà khó quá.

Má của Biên tự nãy giờ ngồi im nhìn tôi như dò xét, cuối cùng bà lên tiếng:

-Quê con ở đâu?

-Dạ Đà Lạt.

-Có bà con ở Sài Gòn không?

-Dạ không.

-Nếu vậy, trưa nay con ở đây ăn cơm với hai bác, chiều đến hãy vô trường. Cứ coi như ở nhà, bác coi con cũng như thằng Biên, đừng có khách sáo.

Tôi mừng quá, vậy là mình được coi như là một thành viên trong nhà.

-Dạ, con cảm ơn hai bác.

-Để bác kêu con Dung xuống nói chuyện, hình như nó có cái gì muốn gởi cho thằng Biên.

Rủi cho tôi là ba má Biên ở nhà, may cho tôi là ông bà hiền từ cởi mở, tôi an tâm ngồi tiếp chuyện với ông bà.

Hình minh họa

Khi chị Lành đem mấy ly nước lên, Dung cũng từ trên lầu đi xuông, nàng nhìn tôi:

-Anh Quân mới về, còn anh Biên và anh Long đâu?

Tôi lại phải giải thích với Dung về chuyện năm mươi phần trăm quân số ứng chiến trong trường.

Ba má Dung đứng lên nói với Dung:

-Con ngồi tiếp chuyện anh Quân, ba má có chút việc gấp phải qua nhà bác Năm.

Tôi nhích ghế đứng lên chào ông bà, chỉ sợ mình có hành vi sơ suất sẽ gây nên hậu quả không tốt về sau.

Dung dẫn tôi ra trước sân, nàng ngồi lên chiếc xích đu dưới tàn cây vú sữa rôi chỉ cho tôi cái ghế đá gần đó.

-Mình ngồi đây nói chuyện cho mát nghe anh.

Không có Long công tử làm kỳ đà cản mũi, tôi chuyện trò với Dung thoải mái cứ như cá gặp nước, tha hồ tung tăng bơi lội, vùng vẫy. Tôi kể cho Dung nghe những chuyện tôi đã làm trong tuần lễ vừa qua.

Ngày thứ Hai trong tuần, tất cả đại đội học bài tác chiến trong thành phố. Ngày thứ Ba, nhị thức bộ binh thiết giáp, có nghĩa là lúc lính bộ binh đi hành quân chung với xe thiết giáp, hai bên hỗ trợ cho nhau, khuyết điểm của bên này sẽ được bên kia bổ khuyết. Ngày thứ Tư học về vũ khí của Việt Cộng.

Dung chăm chú lắng nghe tôi nói được một lúc, sau đó nàng lơ đễnh nhìn mây bay ở trên trời, dạ dạ cho có lệ. Tôi nghĩ hình như chuyện mình kể nó nhạt phèo, lạc đề hay sao. Thôi chết rồi, một buổi sáng đẹp trời, ngồi dưới tàn cây bên cạnh người đẹp với chiếc ghế xích đu lẽ ra tôi phải đẩy nhẹ chiếc ghế “Em ơi hãy ngủ, anh hầu quạt đây”. Đằng này, tôi lại kể cho Dung nghe chuyện ba cái thằng lính mới ở trong quân trường với súng đạn xe tăng, nghe có chán mớ đời không. Nhớ lại chuyện vừa kể, tôi còn nản không muốn nghe huống gì là Dung.

Tôi đi vào nhà, xin chị Lành một ly cà phê sữa rồi bưng ra sân, đặt xuống chiếc bàn đá bên cạnh Dung. Không biết có phải tại trời xui đất khiến hay không, tôi buột miệng nói:

-Em uống thử cà phê anh mới pha.

Dung đưa tách cà phê lên môi, nhắp một hớp rồi nhoẻn miệng cười

-Cà phê anh pha ngon thiệt, giống y chang chị Lành vẫn thường làm.

Tôi ngồi thừ người ra đó, nghẹn ngào không nói nên lời.

Thấy tôi yên lặng không nói gì, Dung đặt tách cà phê xuống bàn rồi nói:

-Để em nói chị Lành làm thức ăn sáng, anh ăn gì chưa?

-Chưa.

-Vậy anh muốn ăn gì?

-Cho gì anh ăn nấy, ở quân trường mỗi buối sáng tụi anh được phát cho một khúc bánh mì bơ, đường, thêm một ca nước lạnh. Khúc bánh mì đó mà chọi chó thì chó cũng chết.

-Tại sao vậy anh?

-Khúc bánh mì cũ, cứng như đá chớ sao.

Dung lộ vẻ ngạc nhiên.

-Anh Biên và anh có ăn không?

-Không ăn, đói làm sao mà đi học được. Nhiều bữa gặp bánh mì mốc cũng ăn luôn.

Hình minh họa

Nghe đến đây, gương mặt của Dung lộ vẻ hốt hoảng thật sự. Tôi vẫn thường có mặc cảm với cái đám con gái nhà giàu, họ đứt tay cứ như ăn mày đổ ruột nhưng khi thấy gương mặt của Dung thật sự lo lắng, tôi cảm thấy hối hận vì cái tánh đùa dai của mình. Tôi mau mắn nói:

-Anh chỉ nói giỡn chơi dọa em thôi, thực ra bánh mì trong quân trường cũng không đến nỗi nào. Thường ngày, khoảng chín hay mười giờ đêm bánh mì còn nóng được đem tới, ngoài phần bánh mì còn có một hộp bơ và một bịch đường cát trắng. Bánh mì nóng để qua đêm sẽ nguội rồi mềm đi, nhưng vẫn ăn được. Em cũng đừng quá lo lắng cho anh Biên, sáng nào bọn anh cũng qua Câu lạc bộ của Ban quân nhạc, ăn điểm tâm một tô bún bò hay một dĩa cơm tấm sườn nướng cho chắc bụng, trước khi đi học.

Tôi và Dung ngồi ăn sáng nơi chiếc bàn đá, dưới tàn cây vú sữa, mỗi đứa một tô bánh canh, một ly cà phê nóng. Tôi chậm rãi thưởng thức cái deo dẻo của cọng bột, chút ngòn ngọt của miếng chả cá, hương vị thơm nồng của hành lá và cái cay xé họng của miêng ớt đỏ tươi. Chừng đó thứ, không làm cho tôi ngất ngây bằng chuyện Dung rắc thêm vào cái tô của tôi một chút tiêu xay nhuyễn.

-Để em thêm cho anh chút tiêu.

Tôi biết những cô gái Sài Gòn tánh tình cởi mở, tấm lòng của họ trải dài như sông nước Đồng Nai. Có thể Dung chỉ hành động theo thói quen, nhưng tôi rất sung sướng vì nghĩ rằng mình được ân cần săn sóc.

Dung múc một muỗng bánh canh, thổi nhè nhẹ vào cọng bột rồi hỏi tôi:

-Anh Quân à, tại sao anh Biên và anh Long gọi anh là Quân bắp cải?

Tôi đỏ mặt, không biết trả lời như thế nào nên cứ tình thiệt mà nói

-Biên và Long biết anh là dân Đà Lạt nên gọi anh là Quân bắp cải. Anh không chịu, tụi nó lại kêu anh là Quân sữa. Anh phản đối mạnh hơn nữa, cuối cùng tụi nó cho anh chọn một trong hai cái tên đó. Anh chọn cái tên bắp cải, vì nghĩ rằng nếu mà bị gọi là Quân sữa làm sao kiếm đào cho được.

Tôi biết, mặt của tôi đỏ kè vì mắc cỡ sau khi nói câu trên.

Dung nhìn tôi

-Nếu là anh, em sẽ chọn tên Quân sữa.

-Tại sao vậy.

Dung ngập ngừng lắc đầu.

-Hôm nào em sẽ nói cho anh nghe.

Hình minh họa

Khi hai đứa ăn sáng xong, nắng đã lên cao, vài tia nắng mặt trời xuyên qua kẽ lá của tàn cây vú sữa, tạo thành những vệt sáng song song mà trong đó muôn ngàn hạt bụi nhỏ li ti liên tục di chuyển không ngừng, tôi nhìn khuôn mặt của Dung thấp thoáng sau những tia nắng vàng, lẫn trong mái tóc đen huyền. Một ý nghĩ liều lĩnh thoáng qua trong đầu, tại sao mình không mời Dung xuống Sài Gòn dạo phố như mình hằng mơ ước? Mộng với thực chỉ cách nhau một biên giới mù mờ thôi mà.

Nghĩ là làm, tôi hỏi Dung:

-Anh muốn mời em xuống Sài Gòn uống cà phê, được không?

Dung nhìn tôi với gương mặt lúng túng.

-Không được đâu anh, ba má không cho đâu.

Đã trót phóng lao nên phải theo lao, tôi nói:

-Để anh xin phép ba má em.

-Ba má có cho, em cũng không chịu.

Mặt mày của tôi chắc yểu xìu như cái bánh bao chiều nhúng nước. Hóa ra tuần trước Dung chịu đi chơi chung với tụi tôi là vì Biên, anh của nàng, tôi và Long công tử chỉ là hai đứa ăn theo. Tôi biết mình đã đi quá trớn bèn nói với Dung.

-Xin lỗi em, anh đã không biết vị trí cũng như chỗ đứng của mình.

Dung với giọng buồn buồn:

-Lẽ ra, em không nên nói với anh như vậy.

Bầu không khí giữa hai đứa trở nên ngột ngạt, không được thoải mái như lúc sáng. Tôi đang lúng túng không biết phải làm gì trước tình trạng khó xử, bất chợt thấy ba má Dung xuất hiện nơi cổng trước, tôi lẹ làng đứng lên đi ra mở cổng cho ông bà.

Ba Dung ôm một bịch trái cây, đặt xuống bàn rồi nói:

-Hai đứa ăn cam đi, cam Mỹ cũng khá ngọt.

Lần đầu tiên trong đời tôi thấy quả cam màu vàng đỏ, Việt Nam mình chỉ có cam vỏ xanh hay ửng vàng thôi. Tôi hỏi ba của Dung:

-Thưa bác, con chưa bao giờ thấy trái cam vàng đỏ như vậy, bác mua ở đâu?

-Đây là cam Sunkist của Mỹ, bác mua trong sở làm của bác. Trong đó, họ bán rẻ như cho.

Ba Dung đẩy bị cam lại phía tôi:

-Chiều nay con đem vô cho Biên mấy trái cam, tội nghiệp nó ở quân trường ăn uống kham khổ.

Má Dung lên tiếng:

-Mấy đứa coi sửa soạn rồi ăn trưa.

Sau bữa ăn sáng với Dung, bụng tôi còn căng đầy nhưng tôi vẫn sốt sắng trả lời.

-Dạ.

Dung đứng lên:

-Em phải phụ chị Lành nấu cơm, nếu không má sẽ la.

Hình minh họa

Nằm một mình trên chiếc võng, dưới bóng mát của tàn cây vú sữa, bên cạnh chiếc ghế xích đu thêm chút gió hiu hiu thổi, tôi chợp mắt lúc nào không biết, cho đến khi có tiếng gọi tên mình.

-Cậu Quân, cậu Quân dậy ăn cơm, ông bà đang chờ.

Lại một bàn đầy thức ăn, ba má Dung ngồi một bên, tôi và Dung ngồi đối diện. Tôi nghĩ, không biết làm rể phải ăn uống như thế nào nhưng tôi nhất định phải quên đi cái thói ăn uống lẹ như chớp ở nhà bàn Thủ Đức. Tôi ăn cơm chậm rãi, từ tốn như con gái, không chừng còn yếu hơn cả Dung nữa. Từ nãy giờ Dung im lặng ăn cơm bất ngờ nàng lên tiếng:

-Má à, ăn cơm xong con muốn đi Sài Gòn với anh Quân, để mua cho anh Biên mấy món đồ.

-Nó cần gì vậy con?

-À, bàn chải đánh răng, xà bông, vài đôi vớ, dao cạo râu và mấy thứ lặt vặt khác.

Má Dung sốt sắng:

-Phải đó, ăn cơm xong con đi lẹ lẹ lên, mua cho đủ để anh con có mà dùng. Gởi cậu Quân đem vô cho tiện.

Tôi hơi ngạc nhiên, ba cái thứ đó ở Thủ Đức trong Khu sinh hoạt chán vạn gì, đem mười cái xe GMC vô chở cũng không hết, tại sao phải mua ở Sài Gòn.

Tôi lên tiếng:

-Dung khỏi cần tốn công, để về trường anh vô Khu sinh hoạt mua cho.

Dung liếc nhìn tôi với đôi mắt như hờn giận trách móc. Tôi không biết mình đã làm gì khiến Dung giận, nên im lặng tiếp tục ăn cơm mà nuốt không trôi. Má Dung dường như không cần biết tôi nói gì, bà dặn Dung:

-Con nhớ mua đồ cho anh con loại thật tốt nghe, nhờ cậu Quân đi theo xách giùm.

Đang ăn cơm, tôi phải ngừng nhai, nghe má Dung nói mà tôi tưởng mình nằm mơ. Tôi đã từng đậu cái Tú tài I rồi Tú tài II một cách oanh liệt, nhưng xem ra chẳng thấm gì so với cái Tú tài III mà tôi vừa mới đậu hôm nay. Còn gì sung sướng hơn chuyện tôi được danh chánh ngôn thuận, đi Sài Gòn với Dung.

Tôi mở cửa taxi, chờ cho Dung ngồi xuống rồi mới cẩn thận đóng cửa. Xong xuôi tôi đi vòng qua cửa đối diện. Tôi cố gắng đi đứng sao cho đàng hoàng, chững chạc, vì biết rằng ba má Dung đang dõi mắt quan sát tất cả mọi chuyện.

Tôi lập lại như Biên nói hôm nào:

-Cho tụi này xuống Sài Gòn bác tài.

Khi chiếc taxi bắt đầu chạy qua đường Công Lý, tôi mới hỏi Dung:

-Lúc nãy em giận anh chuyện gì vậy?

Gương mặt Dung ửng đỏ.

-Em phải đặt chuyện, đi mua đồ cho anh Biên mới được đi Sài Gòn. Đang không anh xía vô một cách lảng xẹt. Tôi hoàn toàn không hiểu, buổi sáng Dung nói là không muốn đi uống cà phê với tôi, lúc ăn trưa nàng tìm cách xin ba má đi Sài Gòn để được đi chơi với tôi, hai chuyện hoàn toàn mâu thuẫn với nhau. Người ta thường nói, đàn bà là cả một đại dương bí ẩn quả là không sai. Tôi dựa ngửa người ra ghế, khoan khoái hít thở mùi thơm của đóa Phù Dung tỏa ra trong không khí. Dù có làm gì đi nữa, tôi vẫn nhớ lời dặn của Biên, không quên chuyện phải “năng nổ, hoạt động”

Hình minh họa

-Tụi mình đi đâu đây em?

-Xuống Sài Gòn rồi hãy tính.

Nói xong, Dung chồm người về phía trước:

-Bác tài ơi, cho tụi cháu xuống chợ Bến Thành.

Chính tôi là người mong muốn được đi dạo phố Sài Gòn với Dung. Dạo phố chỉ là một cách nói, thật ra trong lòng, tôi chỉ muốn khoe với mọi người là tôi có cô bạn gái đẹp như mơ, xinh như mộng. Đến khi xe taxi ngừng bên hông chợ Bến Thành, tôi lại lúng túng không biết phải làm gì. Một giờ trưa, Sài Gòn nóng như cái chảo dầu của mấy ông ba Tàu chiên giò cháo quảy, giờ này mà đi dạo phố chỉ tổ nắng cháy da, tôi nhìn Dung cầu cứu:

-Anh từ nhỏ tới lớn sống ở Đà Lạt, không biết gì về Sài Gòn. Em dẫn anh đi chơi được không?

Dung nhìn tôi rồi nói:

-Nắng như vầy, không phải lúc để đi chơi nhưng đợi đến khi dịu nắng anh lại phải vô trường, bây giờ mình đi chợ trước mọi chuyện hãy tính sau.

-Đi chợ?

-Anh nhớ không, em xin phép má đi chợ để mua vật dụng cần thiết cho anh Biên. Nếu không mua, lại lòi ra cái tội nói láo với má em.

Bên trong chợ tuy có mát hơn chút xíu, nhưng lại đông người quá khiến cho không khí trong chợ oi nồng, chẳng thoải mái gì hơn, tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, thoát được cái nắng cháy da, lại gặp phải bầu không khí ngột ngạt khó thở.

Dung mua bàn chải và kem đánh răng, xà bông, khăn mặt rồi dao cạo râu lĩnh kĩnh đủ mọi thứ, thứ nào cũng hàng chục.

Tôi hỏi Dung:

-Em mua làm gì mà nhiều vậy?

-Anh Biên, anh Long và anh, em mua cho cả ba người.

-Chừng này cho cả chục người dùng chứ đâu phải ba người.

-Một lần đi là một lần khó, anh làm ơn giúp em đi.

Tôi yên lặng đi theo Dung, nàng mua bao nhiêu tôi ôm bấy nhiêu. Tôi tự hỏi không biết mấy ông chồng đi chợ với vợ như thế nào, im lặng mà ôm đồ hay vừa đi vừa càm ràm? Với tôi hạnh phúc là được đi theo chân Dung. Đi đâu, tôi cũng bắt gặp những cặp mắt đầy thiện cảm nhìn theo chúng tôi.

Một bà bán hàng nói đùa với Dung:

Hình minh họa

-Này cô, cậu ấy đi phép được có mỗi một ngày, cô cho cậu ấy nghỉ ngơi một tí chứ ai lại bắt người ta đi theo ôm đồ như thế bao giờ.

Một bà khác tiếp lời:

-Đợi mai mốt lấy nhau rồi, lúc ấy tha hồ mà sai bảo.

Tôi sung sướng đến đỏ mặt, nhìn qua Dung mặt nàng cũng đỏ như tôi. Dung đưa tay ôm bớt một gói đồ cho tôi.

-Để em giúp anh, nếu không sẽ còn bị la dài dài.

Tôi thầm cảm ơn mấy bà bán hàng, đã nói giùm tôi những gì tôi muốn nói, “Mai mốt lấy nhau” câu nói nghe sao mà êm ái quá chừng, cứ như chuyện thần tiên. Tôi bước đi bên cạnh Dung mà hồn như đang ở đâu tận chốn thiên thai, cho đến khi nghe Dung nói:

-Đủ rồi đó anh.

Lúc bấy giờ tôi mới tỉnh mộng, tôi hỏi lại nàng:

-Em nói gì?

-Em mua hàng xong rồi, mình có thể đi.

-Anh đói bụng, mình đi ăn được không?

-Anh đói bụng?

-Phải.

Hai đứa ra khỏi chợ, thả bộ đến nước mía Viễn Đông. Nắng vẫn còn gay gắt, tôi nhìn lên tấm bảng to choán hết cả mấy căn phòng ở tầng thứ ba của tòa nhà, rồi nói với Dung:

-Dân Sài Gòn dễ tính thiệt.

Dung nói với tôi:

-Tại sao anh nói như vậy?

Tôi chỉ cho Dung tấm bảng hiệu trên tầng ba, rồi nói:

-Em nhìn coi, chữ Viễn Đông mà viết với dấu hỏi. Nó chẳng có nghĩa gì hết, phải là dấu ngã mới đúng.

Dung trả lời tôi, câu trả lời đúng là của người Sài Gòn dễ tính.

-Anh lo làm gi cho mệt thân, dấu hỏi hay dấu ngã người Sài Gòn đều đọc là “Dziển Đông”.

Hình minh họa

Chúng tôi ngồi xuống cạnh xe bò bía. Ông Tàu già đưa cho tôi một dĩa gồm có bốn cuốn bò bía. Dung ngồi nhìn tôi ăn, nàng lấy tương đen trộn với tương đỏ trong một cái dĩa nhỏ, thêm chút ớt sa tế đưa cho tôi. Dưới cái nóng của Sài Gòn thêm vị cay của ớt, mồ hôi trên trán tôi chảy thành dòng. Tôi ăn liền một hơi sạch hết mấy cuốn bò bía. Khi cái bụng đã lung lửng, tôi nhích sang gánh bò viên bên cạnh, kêu thêm một chén bò viên rồi mới cùng Dung thong thả thưởng thức ly nước mía Viễn Đông. Nước mía ở đây ngon khỏi chê, sạch sẽ nổi tiếng ở Sài Gòn nhưng Dung chỉ uống nửa ly rồi đẩy ly nước về phía tôi, nàng nói:

-Anh uống hết giùm em, được không?

-Được chứ, anh còn đói mà, lúc nãy ở nhà em, anh đâu có ăn uống gì.

-Tại sao vậy?

-Em còn hỏi, sợ ba má em quá sức, bụng dạ đâu mà ăn.

Gần bốn giờ chiều chúng tôi về đến nhà, ba má Biên có vẻ bằng lòng khi thấy hai đứa về sớm. Má Biên kêu tôi lại, bà nói:

-Bác có chút việc nhờ con.

-Dạ, con nghe.

-Con đem vô cho thằng Biên hai ngàn, để nó có tiền tiêu vặt trong tuần.

Tôi nghĩ thầm, hai ngàn mà tiêu vặt trong một tuần, một ly sương sâm tụi tôi uống khi đi học ngoài bãi chỉ mười đồng bạc, uống mấy năm mới hết hai ngàn. Nghĩ như vậy, nhưng tôi vẫn đưa tay lấy tiền cất vô túi.

-Bác cần gì nữa không?

-Không, mà con ở lại ăn cơm chiều rồi mới vô trường chớ?

-Dạ không, con phải vô trường liền, đợi ăn cơm chiều xong sẽ trễ chuyến xe của trường. Hơn nữa, tụi con đã đi dạo và ăn ở khu nước mía Viễn Đông rồi.

Dung nhìn tôi, đôi mắt của nàng như ngầm bảo đừng có nói nữa. Lát sau, khi chỉ còn tôi và Dung, hai đứa đang sắp xếp đồ đạc để tôi mang vô trường. Dung nói:

-Anh sao mà khờ quá, nào ai có khảo mà mình lại khai. Má em hỏi một đường anh lại trả lời một nẻo, khác nào lạy ông tôi ở bụi này. Má em chỉ nghĩ rằng tụi mình đi chợ mua đồ cho anh Biên, bà đâu biết chuyện mình đi dạo phố rồi uống nước mía Viễn Đông, anh khai ra làm gì.

Tôi ngượng nghịu trả lời:

-Anh đâu có biết, lần sau đi chơi với em, anh sẽ giấu không nói cho ai hết.

Dung cười với tôi, nụ cười tươi như hoa mới nở.

-Anh có biết là anh khờ…, không phải, hiền lắm không?

Tôi sung sướng ra mặt khi được Dung khen.

Ba của Biên ôm tới một bị cam Sunkist, ông hỏi Dung:

-Có chuyện gì vui mà con cười vậy?

Quay sang tôi, ông nói:

-Con đem bịch cam này vô trường, mấy anh em chia nhau mà ăn.

Tôi nhìn ba bốn cái bịch giấy rồi ao ước, giá mình có cái ba lô tọng hết vào là ổn. Má Biên đến bên tôi, bà nói:

-Bác đã nghĩ rồi, con cầm thêm cho Biên một ngàn nữa, bác sợ hai ngàn không đủ cho nó tiêu xài trong tuần.

Hình minh họa

Tôi lại bỏ túi thêm ngàn nữa.

-Bác cho Biên nhiều quá, trong trường có gì đâu mà tiêu với xài, hơn nữa tuần tới là đến lượt anh ấy về phép rồi.

Tôi ôm bốn cái bịch giấy to, chào ba má Biên để về trường. Dung đưa tôi ra cổng, nàng nói nhỏ với tôi:

-Anh còn nhớ tuần trước, trước khi vô trường anh nói gì với em không?

Tôi giật mình lật đật lên tiếng:

-Nhớ, nhớ chớ, làm sao anh quên được.

Dù có khờ đến đâu, tôi cũng biết Dung muốn tôi lập lại câu nói “vô trường rồi anh nhớ em chết được”. Tôi liếc nhìn ba má Dung rồi lấy hết can đảm, liều mạng nói nhỏ vào tai Dung:

-Anh yêu em.

Tôi bắt gặp đôi mắt tròn xoe, kinh ngạc, đôi môi tươi tắn của nàng mấp máy như muốn nói gì đó. Tôi không cần biết Dung muốn nói gì. Riêng tôi, tôi đã nói được câu mà tôi muốn nói.

Dư vị của ngày phép vẫn còn kéo dài cho đến hôm sau, khiến cho ngày thứ Hai như dài lê thê, lưng mang ba lô, tay ôm cây súng Garant nặng như cái búa tạ, vai đeo một dây đạn thêm cái bi đông nước, tôi đi tới bãi chiến thuật mà như là đi xuống địa ngục. Bữa cơm trưa tại bãi do xe GMC chở tới, một gà mèn cơm, chút canh cải, miếng thịt heo kho trứng. Con nhà nghèo như tôi, từ nhỏ tới lớn tôi chưa bao giờ biết chuyện kén cá chọn canh là gì, kén cá chọn canh theo đúng y bon cái nghĩa đen của nó chứ không phải là chuyện chọn vợ kén chồng. Hôm nay, tôi nhìn bữa cơm mà ngán ngẫm. Nước canh cải sao ngọt bằng chén nước súp của bò viên, thịt heo kho trứng sao bì được mấy cuốn bò bía, và nhất là nước thịt kho không thể nào sánh với dĩa tương đen với chút ớt sa tế do Dung làm cho tôi ở nước mía Viễn Đông. Tôi ăn cơm ở bãi mà cứ tưởng như là đang nhai mớ giẻ rách. Tôi bỏ dở bữa ăn mặc dù hãy còn đói, mở nắp bi đông tu một hơi, một dòng nước âm âm nặng mùi hôi của bình đựng nước làm bằng nhựa chảy qua cổ, khiến tôi lại nhớ đến nửa ly nước mía Viễn Đông mà Dung đẩy qua cho tôi. Tôi lờ mờ nhận ra rằng, tôi thiếu Dung chứ không phải thiếu thức ăn hay nước uống. Mới xa nhau có một ngày, mà tôi đã nhớ Dung da diếc đến như vậy, còn bao nhiêu ngày sắp tới liệu tôi có chịu đựng được hay không?

Nhìn đồng hồ, tôi biết hãy còn lâu mới đến giờ học. Tôi lật nắp ba lô lên, lấy cây viết nguyên tử viết tên Dung lên trên ấy, đồ đi đồ lại nhiều lần, cho đến khi tên Dung nổi bật lên tôi mới ngưng tay. Nhìn tới nhìn lui, sau một hồi suy nghĩ, tôi viết thêm hàng chữ nho nhỏ bên dưới: Anh yêu em.

Một tuần lễ trôi qua trong đơn điệu và buồn chán, tôi nhẩm tính từng ngày. Còn bao nhiêu ngày nữa mới đến ngày tôi được đi phép? Tính toán rồi thở dài ngao ngán, tuần này đến phiên Biên và Long đi phép, tuần tới mới đến phiên tôi.

Hai tuần chờ đợi qua mau, đến ngày tôi được đi phép lại có lệnh cấm trại một trăm phần trăm. Ba, bốn tuần liên tiếp chúng tôi bị nhốt trong trường, thằng nào thằng nấy nhớ Sài Gòn quay quắt. Khi được đi phép trở lại, Biên và Long được đi phép trước, tôi phải đợi tới tuần sau. Cuối cùng ngày tôi đi phép cũng đến. Tôi không biết Biên và Long công tử dẫn Dung đi chơi ở đâu trong ngày phép vừa qua, Long đã nói với Dung những gì, nhưng đến lần tôi đi phép Long lên Khu sinh hoạt mua một cuốn album đắt giá, gáy mạ vàng với vài món đồ nữa. Nó nói:

-Mày đưa gói quà này cho Dung, nói là của tao gửi mừng sinh nhật. Nhớ nói với Dung phải mở quà ngay lập tức, tao hy vọng mày và Dung sẽ có một ngày vui.

Hình minh họa

Tôi nhìn nụ cười bí hiểm trên môi của Long công tử mà giận hắn quá chừng.

Khác với mọi lần, hôm nay khi vừa bấm chuông, tôi đã thấy Dung đích thân ra mở cổng. Chưa bao giờ tôi thấy Dung có một nụ cười hớn hở xinh tươi như ngày hôm ấy. Dung nói với tôi:

-Em biết rõ, hôm nay là ngày anh đi phép nên em chờ anh từ sáng đến giờ.

Nhìn vào hộp quà tôi đang cầm trên tay, Dung lăng xăng hỏi:

-Quà sinh nhật của em phải không?

Tôi không nói gì, im lặng đi theo Dung vào nhà, đến phòng khách tôi trao cho Dung gói quà rồi nói:

-Quà của anh Long gởi cho em, hắn dặn em phải mở ngay lập tức.

Dung xé giấy gói quà, mở nắp hộp lấy ra cuốn album, nhìn vào trong hộp rồi ngẩng nhìn tôi với đôi mắt đầy giận dữ, không bao giờ tôi quên được cái nhìn ngày hôm ấy của Dung. Dung vùng vằng ôm gói quà đi lên lầu, vừa đi nàng vừa nói:

-Anh đi về trường đi.

Tôi đứng im như một pho tượng, không biết có gì trong hộp quà mà Dung lại giận tôi. Thời gian chầm chậm trôi qua, tôi đi tới đi lui trong căn phòng, năm phút rồi mười phút Dung vẫn ở trên lầu. Một mình trong phòng khách, không biết làm gì tôi mở cửa đi ra ngoài sân, rồi vì tự ái của một thằng con trai khi bị một cô gái coi thường khiến tôi đi lần ra cổng. Tôi mở hé cánh cổng, lách mình ra ngoài, đi mà không biết đi đâu cho đến khi một chiếc taxi rề tới bên cạnh.

-Chuẩn úy về đâu?

Đang giận trong lòng, tôi nói với giọng hằn học.

-Tôi là sinh viên sĩ quan, chưa có ra trường.

-Chuẩn úy hay sinh viên cũng như nhau thôi.

Tôi nổi giận thật sự, gằn giọng:

-Như nhau sao được.

Khi nói xong tôi mới giật mình nhớ lại, tuần tới mình ra trường rồi còn gì, chỉ còn vài ngày nữa mình sẽ mang lon chuẩn úy. Tôi nhẹ giọng với anh tài xế:

-Cho tôi xuống Sài Gòn.

Tôi đi lang thang từ tòa nhà Quốc Hội đến chợ Bến Thành, vòng qua nhà hàng Thanh Bạch, nắng mỗi lúc một gắt hơn, mồ hôi thấm ướt chiếc áo may ô, không chừng thấm luôn ra bộ đồ tiểu lễ. Tôi nhìn đồng hồ, giờ này ở trường chắc Biên và Long công tử đang trên đường đến nhà ăn, bao tử của tôi cũng bắt đầu lên tiếng. Tôi mua một ổ bánh mì thịt, xeo xéo trước mặt tôi là rạp ciné Vĩnh Lợi, còn chần chờ gì nữa. Tôi chui vào rạp, vừa coi ciné vừa gặm ổ bánh mì mà không biết tại sao Dung lại giận tôi. Tôi đoán chừng, có thể tại tôi không mua quà cho Dung.

Trong cái nóng chảy mỡ, ngột ngạt, đầy hơi người của rạp ciné không có máy lạnh, tôi ngủ một giấc ngủ đầy mộng ảo, có lúc thấy mình là công nhân của lò gạch đang chất củi đốt lò, ngọn lửa trong lò hừng hực cháy tỏa ra một sức nóng kinh hồn khiến tôi như muốn ngợp thở. Lại có lúc thấy minh là công nhân xe lửa, đang xúc than đá đổ vào lò đốt của đầu máy, hơi nóng của than trong lò làm phỏng da, cháy thịt, trong khi đó Dung lạnh lùng quay lưng đi về cuối đường ray xe lửa mỗi lúc một xa, xa mãi, cho đến khi chỉ còn là một cái bóng mờ ở cuối chân trời.