Quê nhà tôi vẫn còn là Việt Nam!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu
Post by Sơn râu 12 Feb 2024

Tranh Bảo Huân

Tranh Bảo Huân

Hạ Tri Chương (659 – 744) người Quảng Ðông, đời Ðường bên Tàu, giống như các nhà thơ khác, ông thích uống rượu. (Ông giống tui! Dà xin lỗi, tui giống ông!)

(Tôi e rằng Hạ Tri Chương là người văn nghệ, tất khoái nhậu, tánh tình hào phóng rộng rãi, chắc ghé vào kỹ viện chơi ‘hoa’ vẫn thường ‘boa’ đẹp mấy em kỹ nữ! (Giống như Thúc Sinh ‘boa” Thúy Kiều đấy thôi!)

Vì nhà thơ ắt trọng chữ nghĩa, coi tiền bạc là đồ bỏ, hết tiền xài thì ‘chà đồ nhôm’ tức ‘chôm đồ nhà’ riết hết… thì đi mượn thiên hạ để xài cho đã chừng nào mạt hẳn hay!) Giống như Ðỗ Phủ: “Áo bông gán nợ qua ngày. Quán ven sông, rượu khướt say mới rời. Vẫn thường uống chịu đấy thôi. Xưa nay bảy chục tuổi đời hiếm hoi!”

Hạ Tri Chương mất năm 86 tuổi để lại một số bài thơ hay phải kể đến là bài ‘Hồi Hương Ngẫu Thư’, viết khi từ quan về quê thăm nhà sau hơn năm mươi năm xa cách. “Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi, Hương âm vô cải, mấn mao tồi. Nhi đồng tương kiến, bất tương thức/ Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai?”

(Khi đi trẻ, lúc về già/ Giọng quê vẫn thế, tóc đà khác sao. Trẻ con nhìn lạ không chào/ Hỏi rằng: Khách ở chốn nào lại chơi?)

Hạ Tri Chương xa quê tới 50 năm mới về thăm; bùi ngùi trước cảnh cũ người xưa đà chết ráo là chuyện có thể hiểu được. Còn nhà thơ Jingak Hyesim trong bài ‘Quá cố hương’ chỉ mới 15 năm, (thua tui xa) nhưng cũng bùi ngùi không kém. “Nhất biệt gia hương thập ngũ niên/ Thử lai hoài cổ nhất san nhiên. Phùng nhân bán thị bất tương thức/ Mặc tứ du du thán thệ xuyên.” (Quê nhà cách biệt mười lăm năm. Về lại thương hoài lệ đẫm khăn. Gặp gỡ nửa phần không biết mặt. Ngậm ngùi xa xót nỗi thời gian.)

Người Việt mình cũng đau đớn lúc lìa bỏ quê nhà. Ði xứ lạ mà tình cờ may mắn gặp được người cùng quê, cùng xóm, cùng làng là mừng hết biết! Phải dắt về nhà kêu em yêu làm một món nhắm để hai người đồng hương bù khú, nhắc chuyện khi xưa ta bé ta ngu…

Bây giờ gần 50 năm, tức nửa thế kỷ, người chưa đi vẫn tiếp tục đi; người đã đi lại lần mò tìm về quê cũ nhưng hỡi ơi “Quê hương khuất bóng hoàng hôn, trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?”

Cái tình hoài hương nó sâu đậm biết chừng nào. Ta yêu thương quê hương như ta yêu thương cha mẹ, anh em và yêu luôn con nhỏ bên hàng xóm. Tuy nhiên xin nhắc nhẹ bà con coi chừng tụi nó lạm dụng chữ quê hương, chữ đồng hương mà mài cái dao cho thật bén chờ mình ló đầu tới là nó cạo lông sạch bóc, kể cả lông mày! Nghe ai đàn địch ca sang là: “Xin phục vụ đồng hương hết lòng. Mình phải cẩn tắc vô áy náy, nhớ khảo giá trước cho chắc ăn nhe bà con!

***

Úc đây nó gọi quê hương là ‘fatherland’ quê cha đất tổ, chỗ mình được sinh ra.

Nhưng Peter Allen có sáng tác bài hát. ‘I Still Call Australia home” Thì chữ ‘home’ nầy không đơn giản là nhà, mà là Tía, là Má, là em yêu cùng bầu bạn. Nói rộng ra hơn nữa chữ ‘home’ nầy là quê hương tui nữa đó! Peter Allen hát rằng: “I’ve been to cities that never close down. From New York to Rio and old London town. But no matter how far or how wide I roam /I still call Australia home.

I’m always travelling, I love being free. And so I keep leaving the sun and the sea. But my heart lies waiting over the foam. I still call Australia home.

All the sons and daughters spinning ‘round the world. Away from their family and friends. But as the world gets older and colder. It’s good to know where your journey ends.

But someday we’ll all be together once more. When all of the ships come back to the shore. Then I realise something I’ve always known I still call Australia home. But no matter how far or wide I roam I still call Australia home!”

“Tôi đã đến những thành phố không bao giờ chịu ngủ. Từ New York tới Rio và Phố cổ London. Dù đã lang thang cuối đất cùng trời như thế/ Tôi vẫn gọi Australia là quê nhà.

Tôi vẫn đi vì tôi thích tự do Thế là tôi bỏ lại ánh mặt trời và sóng biển, Nhưng tim tôi vẫn còn nằm chờ trên ngọn sóng. Tôi vẫn gọi Australia là quê nhà.

Những chàng trai và những cô con gái. Đi khắp tận cùng thế giới. Xa gia đình, xa bè bạn thân yêu. Nhưng khi thế giới đã già đi; tình nguội lạnh. Thì mình biết rằng chuyến đi đã đến lúc vãn tuồng rồi.

Rồi ngày nào đó chúng ta, một lần nữa, đoàn viên. Tất cả những con tàu trở về bến cũ. Tôi vẫn nhận ra điều mình từng đã biết. Tôi vẫn gọi Australia là quê nhà.

Dẫu đi cuối đất cùng trời. Úc Châu vẫn suốt một đời quê hương.”

Bài hát cảm động tình quê hương tha thiết nầy đã được hãng hàng không Qantas của Úc, làm một cái ‘video clip’ quảng cáo với các thiếu niên, (nam và nữ hòa ca trên nền là hình ảnh nước Úc bạt ngàn rừng biển, với ‘logo’ là con Kangaroo vươn mình phóng tới để cho mấy chàng trai, mấy cô gái Úc vốn sinh ra đời có hai cái cẳng hơi bị ngứa, ‘itchy feet’, (Dịch cẳng bị ngứa là dịch rất sát; nên tui e bà con mình cho rằng Úc chưn có ghẻ nên ngứa; nên tui xin dịch đại là chưn ngọ nguậy, ngồi yên không được, cứ bắt đi hoài). Mục đích cuối cùng của Qantas nhắn gởi khéo là: “Bay ra hải ngoại hay bay về nhà làm ơn nhớ mua vé của hãng hàng không Qantas nhe mấy đứa ‘Aussie’! Gút lại Qantas lợi dụng cái tình yêu quê hương của mình để mà cái túi của nó được đầy hơn. Lợi dụng như thế là khéo, nghệ thuật quảng cáo đã đến trình độ cực kỳ xảo diệu.

Ðể kết bài quê hương nầy, tui xin nhắc cái cuốn sách giáo khoa (thời Tía tui đi học) “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” của 3 lớp Sơ Ðẳng, Ðồng Ấu và Dự Bị do quý thầy Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc và Ðỗ Thận cùng biên soạn.

Chẳng hạn như bài: “Chỗ quê hương đẹp hơn cả!” Câu văn ngắn, chữ gợi hình, dễ hiểu, gần với tuổi thơ nên học trò thích học. Tới bây giờ khó có cuốn sách nào soạn hay hơn thế. “Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, làng xóm láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi: “Ông đi du sơn du thuỷ, thế tất đã trông thấy nhiều cảnh đẹp. Vậy ông cho ở đâu là thú hơn cả?” Người du lịch đáp rằng: “Cảnh đẹp mắt tôi trông thấy đã nhiều, nhưng không đâu làm cho tôi cảm động, vui thú bằng lúc trở về chốn quê hương, trông thấy cái hàng rào, cái tường đất cũ kỹ của nhà cha mẹ tôi. Từ cái bụi tre ở xó vườn, cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi ra cho tôi những mối cảm tình chứa chan, kể không sao xiết được.”

Quê hương mỗi người chỉ một… Sau 75, chuyện đó không còn đúng nữa rồi vì bây giờ bà con hải ngoại mình còn có quê hương thứ hai. Một hay hai cũng đều là quê hương hết ráo. Mình đều yêu hết!  Đối với tui nước Úc nầy chẳng qua là một người vợ bé, do phần số đưa đẩy bèo giạt hoa trôi mới gặp được em. Nói nào ngay em cũng tốt.

Mấy ông anh mình thường hay nói: “Trong trầu thì phải khai mương. Làm trai hai vợ tui thương con vợ nhì. Tui thì khác bà con ơi! Vì tui học sách của Thúc Sinh. Giữa Kiều và Hoạn Thư tui chọn Hoạn Thư, kêu Kiều trốn đi vì hai lẽ: Một là Hoạn Thư nó dữ quá. Nhưng quan trọng hơn là nó giàu quá, bỏ uống. Hổng có tiền làm áo vũ cơ hàn, đêm lạnh chùa hoang thì trước sau Kiều cũng bỏ. Nên yêu bằng trái tim nhe mấy anh mình; còn cưới là bằng cái đầu, kẻo một túp liều tranh hai quả tim vàng thì trước sau em cũng đem đi cầm, đi bán mình sẽ thành ‘homeless’; là em cũng bỏ mình thôi.

Riêng với nước Úc, tui cật lực làm ‘trâu mọi’ cho em ban ngày, đóng thuế không thiếu một xu, để đền cái ơn phiếu mẫu; chớ lòng tui, đêm đêm tui leo lên giường, trùm chăn ngáy ò ó ò là trở lại chốn xưa!.

Xin em ‘Kangaroo’ đừng trách tui là người một mặt hai lòng, tui ở với em vì tiền (quả có vậy); còn tim tui lỡ đã gởi lại quê nhà rồi. Quê nhà tui vẫn còn là Việt Nam!

đoàn xuân thu.

melbourne

Quê người bạn cũ!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 12 Feb 2024

Theo dõi chính trường Úc, tui tội nghiệp cho quý ‘đầy tớ nhân dân’ nầy quá xá! Mới hôm qua, còn cười cười nói nói với nhau, tay bắt mặt mừng mà bữa nay đã lật nhau rồi!

Chính trường, bạn thực ra không phải là bạn! Họ cư xử như những người tốt, lịch sự nhưng sau lưng sẵn sàng rút dao ra, đâm sau lưng nhau, nhẫn tâm, tàn bạo, đầy thú tính là ‘chó ăn thịt chó’ (Dog- eat- dog)!

So với cái ông bà tai to mặt bự nầy thiệt tui may mắn hơn nhiều lắm nhe vì tui còn có bạn! Lỡ hôm nào em yêu nổi cơn tam bành lục tặc đuổi ta ra khỏi nhà. Tay cầm bịch đựng rác, có vài bộ đồ cũ rách, thất thểu lang thang, xiêu vẹo như Vua hề Sạc Lô trên con đường vô định, biết đêm nay sẽ ngã lưng chốn nào đây nữa?

Đừng lo! Nếu anh có một người bạn thiết! Hãy gọi ngay cho nó, tui tin rằng dù đang ngủ say, mơ toàn mộng đẹp, ke ướt cả mồm, nghe tin sét đánh nầy nó sẽ vùng dậy ngay lập tức, vội vàng phóng xe đến rước để tránh cơn thịnh nộ của bà La Sát. “Chờ bể yên sóng lặng rồi mình sẽ tính sau! Tạm thời mầy cứ ở nhà tao!” Vì vậy nên em yêu ‘bá quyền’ thường chụp mũ: “Bạn rồi bè của anh, một lũ, cùng băng đảng hư đốn, bao che lẫn nhau đó mà thôi!”

Tình bạn sản sinh ra khi đứa nầy nói với đứa kia: “Sao? Cái gì? Mầy cũng bị vợ mầy rầy hoài hả? Vậy mà tao tưởng chỉ có mình tao thôi chớ!”

Mỗi khi tui cãi lộn với em yêu, buồn bực, trốn đi nhậu, càm ràm con vợ mình cho thằng bạn thân nghe! Bao giờ nó cũng phán như đinh đóng cột là: “Mầy đúng trăm phần trăm! Con vợ mầy trật lất!”

Nên muốn chữa cái bịnh thờ bà tức là sợ vợ là nên có ngay một thằng bạn biết hết tất cả thói hư tật xấu của mình nhưng vẫn thích ‘bù khú’ với mình.

Nó binh tui vô điều kiện, cóc cần biết tui đúng hay sai; giống hịt như Má tui binh tui hồi tui còn nhỏ dại, quánh lộn không lại con hàng xóm vậy.

Khờ hết biết, hãy kết bạn với một đứa còn khờ hơn mình nữa để tự an ủi, huyển hoặc mình là một thiên tài, anh hùng cái thế! Nhưng đừng theo đuôi tao. Tao không có khiếu làm lãnh đạo. Đừng đi trước, vì có thể tao có thể sẽ không chịu đi theo. Hãy thư thả sánh nhau đi; vì mình là bạn ní!”

Tui không cần bạn chỉ là cái bóng của chính tui. Tui gật nó gật, tui lắc nó lắc! Tui cần một người bạn dám nói như tát nước vào mặt tui mà không sợ tui ‘vả’ rớt hết hàm răng ăn cháo trắng! Chỉ cần thằng bạn khi mình được thời cỡi ngựa bắn cung, nó lượm tên cho mình bắn tiếp. Hết thời nó lượm thun cho mình bắn ruồi!

Một người bạn thiết sẵn sàng một ổ bánh mì chia hai, nó phần lớn; mình gặm phần nhỏ chăng đi nữa nó cũng chia vì sợ mình đói. Thì vợ mình dẫu có ghen bóng ghen gió, giận dỗi không chịu lo cơm nước gì ráo thì mình vẫn phẻ ra như con bò kéo xe.

Bạn thân là người không hề chê bai lẫn nhau mà xúm lại cùng nhau chê bai người khác.Bạn thân không cần nói. Chỉ cần nhìn mặt nó đói bụng mình biết, nó thèm rượu; mình cũng biết. Nó bị vợ chữi, cái mặt như cái bánh bao chiều, không cần nói ra… mình cũng biết!

Đừng để bạn mình cảm thấy cô đơn. Hãy chọc cho nó tức điên lên, gọi cho nó bên Mỹ, lúc nó đang ngủ say sưa cùng con vợ bé chỉ để thổ lộ chuyện quan trọng nhứt trong đời mà ngay cả con vợ bạn cũng mù tịt luôn.

Tháng rồi thằng bạn học cũ từ Cali bay qua chơi một tháng. Tui bèn dắt ra nó ra mấy cái nhà hàng ở Footscray mà ‘dàn chào’ người bạn cố tri, phải bay suốt gần cả ngày, ngồi ê luôn cái ‘mông đít’để gặp lại cố nhân.

Năm 1963, vào Petrus Ký, lớp Đệ thất tới nay đã là 56 năm! Một quảng thời gian quá dài trong cuộc đời con người vốn ngắn ngủi thì chuyện gặp lại bạn học ngày ta bé ta ngu lại là chuyện lớn. Bởi thơ có câu rằng: “Cửu hạn phùng cam vũ. Tha hương ngộ cố tri!” (Đất hạn hán khô queo mà gặp trận mưa rào. Tha hương cả ngần ấy năm lại may mắn gặp được người quen biết cũ).

Rồi mười năm nữa nếu may còn sống trên cuộc đời ô trọc (lóc) nầy, nếu còn gặp lại nhau e chỉ khóc; vì bịnh già lú lẫn, chẳng còn nhận được ra nhau?

Nhà thơ Hạ Tri Chương, bên Tàu, “Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi. Hương âm vô cải tấn mao thôi! Bé đi, già mới về nhà, Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa!”

Thằng bạn tui gốc Huế (nhằm nhò gì ngay cả gốc cây tui cũng chơi luôn nếu chơi được), năm 1970, đậu Tú tài hai là du học Mỹ. Nó cười hí hí, nhắc lại thời đi học Petrus Ký! Những đứa nói giọng Nam hay ngạo nó: “Nói răng, nói rứa gì hả ‘Cu’?”

Cạn ly nghe cái chóc, nói hỏi: bên Úc mầy làm gì sống? “Tao làm báo (đời) và báo con vợ tao!”

Nó móc I phone ra ‘search’, đọc xong một bài của tui rồi rơm rớm nước mắt làm tui tưởng tui là một nhà văn tài ba xứ Thượng, tức ở cõi trên không hè!

Đời mà! Không gì làm mình vui hơn khi thấy bạn đồng song của mình thất bại. Nhưng mấy thằng bạn tui đa số lại thành công. Mừng cho tụi nó và cũng mừng cho tui! Vì lâu lâu kẹt tiền mượn nó vài trăm đô xài đở qua cơn túng ngặt để chờ kỳ lương tới!

***

Dà! Tui sợ sống cô đơn; sợ không đứa nào chịu chơi với tui hết ráo vì cái tánh ‘cà chớn’ của mình. Nên tui cũng có vài người bạn thân đếm trên đầu ngón tay. Mà cái gì ít là quý hè, là quà tặng của ông Trời vì thằng bạn sẽ làm cuộc đời mình nhiều màu sắc như kính vạn hoa tuyệt đẹp.

Tình bạn như tiền bạc. Kiếm thì dễ nhưng giữ rất khó! Tình bạn như rượu quý. Càng lâu càng ngon!

“Rượu ngon, không có bạn hiền! Không mua, không phải không tiền không mua!” “Ê! Cạn ly đi mậy!”

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.

Quê Ngoại

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 12 Feb 2024

Năm 1862, từ Sài Gòn, thủy quân viễn chinh Pháp tràn xuống chiếm đóng rồi thiết lập đồn lũy tại Mỹ Tho. Để phòng chống nghĩa quân từ bưng biền Đồng Tháp tấn công về hướng Tây, thực dân Pháp làm hai con đường vành đai chiến thuật.

Tính từ trong ra ngoài là Lộ Vòng Nhỏ.

Ngoài xa hơn là Lộ Vòng Lớn, còn gọi là Lộ Dừa, cách Chợ Mỹ chỉ hơn 5 cây số.

Lộ Dừa là con đường dắt về quê Ngoại, nơi má đã sanh ra tuổi thơ tôi!

Melbourne trời đã cuối Xuân. Năm tận tháng cùng ngày sắp hết! Tui nhớ quê mình gió mùa Ðông Bắc, gió chướng, trời se se lạnh. Mấy ông già, bà lão ơn ớn xương sống, nhức mình nhức mẩy. Còn em yêu, trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân, Mỹ Tho điệu đà khoác lên mình hạc xương mai một chiếc áo ấm màu sặc sỡ là biết chỉ còn vài bữa nữa là tới Tết.

Mùa nước nổi tràn đồng đã hết. Nước biển mặn theo thủy triều lên lẻn sâu vào các nhánh sông. Pha cà phê uống là phải xài nước mưa. Nước sông lờ lợ mặn, pha cà phê nó dở òm hè!

Quê Ngoại, ruộng đất ngày càng bị tế phân (chia nhỏ ra cho con cái). Thời đó chưa có lúa Thần nông ngắn ngày, ông bà mình làm lúa mùa, dài tới 6 tháng. Không có phân u-rê, thuốc trừ sâu. Cày bừa phải nhờ sức trâu, sức người vần đổi công. Ðược mùa lắm chỉ lối 8 giạ một công.

Vườn nhà Ngoại trồng tạp: cây mù u, cây trâm, mận, chanh, chuối, xoài… Khế chua với chuối chát khi ăn thịt luộc, khô nướng, mắm chưng. Xoài xanh ăn với nước mắm đường cay ớt sừng trâu. Lá lụa là lá xoài, lá điều non, chấm nước cá kho hoặc cuốn bánh xèo.

Trong xóm, chỉ có vài nhà ngói vách ván; đa phần là nhà lá, vách lá. Cổng bằng tre gai, hàng rào bằng cây keo hay bông bụp. Sân rộng dư chỗ trải đệm phơi lúa. Có bàn thờ ông Thiên, sập tối nào cũng thắp nhang.  Có cây rơm để dành cho trâu ăn.

Nhà nền đất chỗ lồi, chỗ lõm, cột kê tảng đá xanh. Vách bằng những thanh tre, đêm tư bề lộng gió làm chao những cây đèn cóc. Nhà trên, nơi tiếp bà con lối xóm là vài ba cái ghế đẩu vây quanh một chiếc bàn tròn. Trên bàn có một bình trà đặt trong vỏ trái dừa để giữ ấm dành cho mấy ông. Bình vôi, ống ngoáy dành cho mấy bà già trầu. Giữa nhà là một cái tủ thờ với một bộ lư và một bát nhang. Phía sau bàn thờ, cách một bức vách bằng ván bổ kho là một cái buồng. Trong cái buồng đó có một bồ lúa chừng vài chục giạ, xay từ từ ăn chờ cho đến mùa gặt mới. Cái buồng đó cũng được làm phòng hoa chúc cho mấy người cậu của tôi, cưới vợ về hạ màn cửa xuống để chú rể khám điền thổ cô dâu.

Nhà dưới cũng nền đất, cũng chỗ lõm, chỗ lồi. Vốn là dân chợ, lâu lâu theo má về thăm Ngoại, bước không quen, tui bị vấp hoài hè. Giàn bếp có ba cái cà ràng, ông táo cao tới rún. Dưới chân bếp, lá dừa khô cột lại thành bó, dùng để nhúm lửa hoặc làm đuốc quơ quơ trong màn đêm khi đi ăn đám về trời đã nửa khuya. Củi là tàu dừa phơi khô chẻ hai, xếp ngay ngắn dưới chân bếp cho dễ lấy đút vô lò.

Nhà dưới cũng có cối xay lúa, cối giã gạo, cối xay bột và mấy cái lờ, cái nôm dùng để bắt cá. Gần bếp có bộ ván đủ cho đám cháu chắt một bầy ngồi xếp bằng ăn đám giỗ. Chén đá, đũa tre khua lóc cóc (bị quở hoài hè) lúc sắp nhỏ dà (và) cơm. Tiếng chan canh húp nghe rồn rột.

Cách nhà không bao xa, ở ngoài sân là một cái chuồng trâu. Ðêm về Ngoại, lạ nhà khó ngủ, thao thức nghe tiếng trâu nhai rơm sột soạt lúc canh khuya. Lỡ trong chiều mưa rớt, tiếng ếch nhái, ễnh ương cứ ễnh a, cứ quềnh quang kêu bất tận ở ngoài đồng; nghe thật não lòng!

Phía bên kia sân nhà là một cái chuồng heo. Heo và trâu xưa giờ không thể nào là lối xóm biết điều với nhau. Bọn gà vịt cũng vậy. Ngày thì vịt xuống rạch lội vòng vòng, gục đầu xuống nước kiếm cá lòng tong, tép nhỏ mà ăn. Bọn gà mái thì dắt đàn con đi bươi, đi móc mấy con trùn lên mà đánh chén. Bọn gà trống, giống như tui thuở xuân thì, chỉ ở không, theo ve vãn bọn gà mái. Cuồng cẳng, cuồng chân thì rượt mấy con vịt xiêm chạy có cờ. Coi chuyện bức hiếp người khác để làm vui.

Gần bờ rạch là cái sàn nước. Cây cầu dừa có vạch khấc cho khỏi trượt ngã, đâm xuống nước để mình rửa cẳng hoặc tắm sông. Gần sàn nước có một cái lu. Múc nước sông lên lóng phèn để rửa chén bát. Còn nấu ăn, pha trà là phải xài nước mưa, hứng theo máng xối dọc hông nhà.

Tui thương má tôi mười. Thương bà Ngoại năm. Thương ông Ngoại chỉ một. Ông Ngoại tui là người hơi thủ cựu. Con gái không cho đi học vì sợ nó viết thư tình. Má tui sở dĩ biết đọc biết viết là vì phải theo giữ cậu Năm lúc đi học trường làng vì ông Ngoại sợ cậu Năm bị chúng ăn hiếp.

Mãi những năm 60 mà ông Ngoại vẫn còn để đầu tóc, búi thành một cái củ tỏi. Lúc má theo ba về Bưu điện Rạch Giá nhậm chức, má vẫn còn bới tóc. Ba muốn má uốn tóc cho nó văn minh thì má phải viết thơ về xin phép ông Ngoại nữa chớ!

Về quê, tui thấy ông Ngoại tui lăng xăng tối ngày hè. Huỡn thì ông ngồi tréo ngoảy ở nhà trên uống trà. Trà gởi mua tận chợ Cầu Lộ. Ðem về phơi phong thật kỹ rồi cho vào ve chai đậy nút, lâu lâu lại phơi nắng cho trà khỏi mốc. Vừa uống trà, ông phì phèo hút thuốc giồng, vấn giấy quyến để sẵn trong “hồ bao”.

Lâu lâu dẫn tui về thăm, má mang cho nhà Ngoại vài hộp sữa Kim Cương, một ký đường cát trắng với nửa ký cà phê bột. Ông Ngoại quý lắm đem cất vô tủ thờ khóa lại. Má cũng mua chừng hai ký thịt ba rọi từ chợ Mỹ. Bà Ngoại đem kho một mớ. Chừa một miếng đem luộc. Ông Ngoại rót rượu từ trong cái nhạo ra ly hột mít khà một cái nghe chừng khoai khoái lắm. Ðúng là có con mà gả chồng gần; có bát canh cần nó cũng đem cho.

Nghe má tui nói hồi xưa ông Ngoại cũng có nhậu lai rai. Nhưng toàn là uống rượu lậu cất ngoài các đám đế rậm rạp (nên mới gọi là rượu đế). Vì nấu rượu lậu mà bị Tây Tào Cáo hoặc lính thương chính (Douane Régie) bắt được là phải bị ở tù.

Tây nó buộc dân mình phải uống rượu Fontaine (phông-tên) Rượu Ty nấu từ bọt đường, chứa quá nhiều chất độc nên dân nó hổng có ham!

Tranh Bảo Huân

Quê người, dẫu món ngon vật lạ nhưng tui vẫn nhớ về quê Ngoại, quê nghèo; vì tui nhớ má. Má mất rồi! Nhớ mắm sặc mà má thường nấu mắm kho bông súng cho con ăn mỗi khi con đi học ở Sài Gòn về.

Con cá sặc, con cá quê nghèo đã theo con suốt thời thơ ấu. Nhưng quê người, sông dài cá lội bặt tăm / Phải duyên chồng vợ ngàn năm em cũng chờ. Xa con cá sặc, xa luôn người em năm cũ! Chẳng qua vì thời cuộc, đôi ta lỡ làng duyên kiếp ba sinh hết ráo rồi em ôi!

Cá sặc, vào tháng Bảy âm lịch, mới nở, cá sặc non, nổi trên mặt nước từng bầy. Muốn bắt cá sặc bằng cách đặt lờ dọc theo các mương phèn.

Tháng Chạp, tháng Giêng, nước giựt khô đồng, cá sặc xuống đìa hết rồi. Những ngày giáp Tết là mùa tát đìa. “Cạn đìa mới biết lóc, trê, Còn ụp móng biết đâu rô, sặc”. Bắt được cá lóc, cá trê, cá linh, cá chốt, cá trèn và nhiều nhất vẫn là cá rô, cá sặc!

Cá lóc, cá trê rộng trong lu để đó để dành ăn từ từ. Còn cá sặc nhỏ lên khỏi mặt nước là chết hết ráo. Kho khô ăn không hết thì đành làm mắm, làm khô!

“Nước sông trong sao chảy lộn sông ngoài. / Thương người xa xứ lạc loài tới đây”. Sau ngần ấy năm tha hương, đêm nay đốt lò hương cũ, sao nhớ vô cùng cái món gỏi khô cá sặc vốn của nhà nghèo, của vùng quê xa ngai ngái, của ngày xưa ấy! Khô cá sặc rằn nướng chín, thịt xé ra từng miếng nhỏ trộn với xoài thanh ca bằm mỏng thêm tỏi, ớt chan nước mắm đường. Dẫu đốt đuốc mà tìm cũng không thấy trong nhà hàng nào trên toàn nước Úc.

Chiều cuối năm nhớ về quê Ngoại. Nhớ má của con! Vì biến loạn, phải bỏ xứ đi nhưng cũng như bà con mình, trên cái lưỡi vẫn mang theo cái vị quê nhà; và cái tâm cứ vấn vương hoài cái hồn cố thổ.

Đoàn Xuân Thu

N. Nguyen

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 14/12/2018

Post by Sơn râu 12 Feb 2024

Ngày xưa thân ái. Bốn chữ này thường được sử dụng nhiều trong các cuốn lưu bút, bạn cùng lớp bịn rịn trao tay khi hè về chấm hết một niên học. Trong ca từ một bản nhạc cũng có gợi nhắc, hình như là (thể điệu boléro?): “Những ngày xưa thân ái, xin trả lại cho nhau…”

Tôi có nhiều bạn, tên bắt đầu bằng N. Trong cuốn sổ điểm danh kích cỡ to một cách lạ thường nằm trên bàn thầy cô, đứng trên những đường kẽ chữ xanh nhạt đều đặn thẳng tắp, đè đầu cỡi cổ chen chúc vây quanh tôi có lắm đứa thân thích: Nam, Nhã, Như, Nhân, Ngọc, Ngôn, Ngữ, Nghĩa, Nguyện… Và họ Nguyễn bao giờ cũng lấn át những họ khác. Tôi lạc mất tin về Nguyễn Thanh Ngọc từ năm 1968. Nguyễn Văn Ngữ thì mất vào mùa hè 1972. Nguyễn Duy Nguyện thì bị động viên, vào lính năm 1974 chả biết sống chết ra sao. Lớn lên theo thời gian, bạn bè cứ thế mà lần hồi chìm tăm biệt tích. Những ngày xưa thân ái có hiện ra cũng nhạt nhoà dần bao trang vở khắc ghi tới thời vàng son thuở nọ. Một nhà văn thành danh từng nói với tôi: Giai đoạn mà cậu sống với, quả có bất hạnh.
Rồi vượt biển, rồi nghìn trùng xa cách, rồi đất lành (lạnh) chim đậu; quanh tôi đã chẳng còn lấy ai. Tôi không có bạn. Thầy bói cầm tay lên nói: Số anh chẳng có cung bằng hữu. Nếu là bạn, bạn có buồn không? Riêng phận tôi, tôi chẳng lấy đó làm điều. Có buồn, tôi tìm cách quên bằng cách tập viết chữ. Và khi viết văn gửi đăng báo tôi phát hiện ra mình buồn lung tung beng, buồn tứ tung bát giác, buồn ngất ngư con tàu đi… chứ không hẳn buồn nhỏ giọt vì thiếu vắng bạn. Người yếm thế, kẻ làm biếng nghĩ suy vẫn có chung một tiếng thở dài: Số trời đã định! Tôi khác, tôi tin vào câu “lỗi tại ta mọi đàng” và tôi tập “tiên trách kỷ hậu trách nhân”. Tôi chê trách người ta (chẳng đặng đừng) vì họ để lộ ra những lỗi lầm khó dung thứ. Có đọc giả ở xa gửi email: “Sao anh chống Cộng quá xá quà xa vậy?” Dù biết “thoại bất đồng tâm bán cú đa” tôi vẫn có thư hồi âm dài hơn cả nửa chữ: Tôi viết lại những gì mình từng trải, từng chứng kiến, chẳng hư cấu khi sự việc diễn ra tự nó đã vượt lên trên sức tưởng tượng của con người. Nếu bảo rằng tôi chống cộng, thay vì cải chính thì tôi cảm ơn.

Một quán ăn có ông đầu bếp không khéo tay, xào xẹt nấu nướng vụng, quán ăn đó vẫn có thực khách, dù chẳng xảy ra cảnh sắp hàng như cái quán phở mọc ở nơi đã từng cất công tra cứu về mặt phong thuỷ. Làm thơ viết văn cũng nào có khác gì chuyện nêm nếm mặn nhạt tựa kinh doanh hàng quán. Thơ cô ấy hay vì cô ta sở hữu một ngoại hình rất bắt mắt, bá tánh xuýt xoa khen lấy khen để. Văn thằng kia chả có gì mà sao người ta in cho nó những ba cuốn trong một năm? Vậy đó, siết bao tiếng chì tiếng bấc, thì đã đành, bao giờ người khôn cũng tìm tới chốn lao xao, tỉ như “dân ngoại đạo”một mực tìm cách góp mặt vào trong một tuyển tập “hải ngoại”. Chữ hải ngoại nằm trong ngoặc kép là có lý do chính đáng của nó, bị nó thôi được hiểu là biển ngoài nữa rồi. Người ở trong nước in được tác phẩm của mình ngoài khúc ruột ngàn dặm, ở cõi ta bà nào đó chứ không cứ là thủ đô tị nạn, thì cũng nên xem đó là văn học hải ngoại vậy, hơi đâu đi truy nguyên lí lịch tác giả: Bây giờ em ở nơi đâu, cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao (B.G). Cũng ô kê thôi. Cũng mướt rượt thôi. Cũng tóc đen sợi nhỏ thôi. Một sự nhịn chín sự lành, chỉ sợ sau này con cháu lớn lên có muốn học tiếng mẹ đẻ, ông bà cha mẹ khi ấy phải đánh trống lãng nhiều thứ, mệt mày lắm cứ bắt goại giải thích goài, có ưa ún rịu hông con? Tới bến nhen, ún gượu mà không say, nào hay. Ta say là bởi ta say, cầm tay mi hỏi thày lay quá chời!

Tha phương ngộ cố tri. Ngay cả tôi, lắm lúc tôi cũng hiểu sai ý chữ này chuyên chở. Hôm qua tình cờ tôi ngộ cố tri. Một cái nhan truyện lạ có họ tên tôi nằm dưới được hiển thị trên trang Sáng Tạo. Dò tới tận cùng chữ cuối mới hay ra “nguồn: VĂN số 117, tháng 3. 1992. Đọc giả N. Nguyen gửi. Cố tri có thể là “Mùa Hoa Tuyết” mà cố tri dùng cho N. Nguyen thì hẳn không vấp sai lạc, vì hơn một lần người mang tên N. Nguyen đã vị tình gửi tới Sáng Tạo một truyện ngắn khác, của tôi.

Tôi không rõ vị độc giả thầm lặng này là ai. Chỉ biết “anh, chị” ấy trước đây có đặt mua tạp chí VĂN dài hạn, còn giữ lại những số cũ năm nảo năm nao để bỏ công làm một nghĩa cử đẹp: sao chép lại, gửi về, gợi nhắc những bước chân thấp, cao tôi đang dò dẫm lần lượt đi trên những trang báo bổ xuất bản ở biển ngoài buồn nhiều hơn vui này. N. Nguyen là người thông thạo việc sử dụng máy điện toán? Chắc là vậy, bởi thời giờ quý báu ở ngoài biển không cho phép người ta có dũng lược để ngồi đánh máy lại, hàng lại hàng. (Lệ chảy buồn dâng đôi mi).

Ngày xưa thân ái tôi may mắn có lắm bạn mang tên với mẫu tự N. Ra biển, vốc một nắm cát, chẳng cần phải Nha Trang ngày về cũng nhìn nhận cát lần hồi rời khỏi lòng bàn tay. Thầy bói kêu bằng không có cung bằng hữu “tôi về một mình tôi”. Chẳng ai sống được với lẻ loi, ngày nay cũng thân ái trao cho tôi một người mang tên khó đoán N. Nguyen. Một người thích đứng im trong bóng mờ, thích tìm nhặt những trái thông khô rơi lăn lóc trên cánh đồng đầy cỏ dại, nhiều gió chướng. Thích đuổi những con dã tràng chạy trốn trên bãi vắng để cúi nhặt những vỏ sò, ốc bị sóng đánh giạt vào bờ. Hiểu ở một mặt nào đó, tôi là quả thông khô, là vỏ loài ốc mượn hồn và do vậy tôi mang ơn công việc thiện nguyện mà N. Nguyen đã bỏ công ra, lang thang tìm nhặt. Một đứa viết văn đôi khi chỉ nên mong cầu là hắn có riêng một người đọc thôi, là đã mãn nguyện, gây động lực mỗi đêm thắp sáng ngọn đèn ở bàn viết, tỉ tê tâm sự, tượng hình một nhân dáng mơ hồ giữa khoảng không.

Tôi hy vọng những dòng chữ này sẽ lọt được vào mắt N. Nguyen, chỉ để kèm theo lời thưa, tôi thành thật cảm ơn anh, chị. Xin cho tôi chúc (lời sáo mòn, chẳng có chút sáng tạo) N. Nguyen cùng gia đình (yêu văn học biển ngoài) mãi an vui, sức khoẻ. Dịp lễ đang gần kề, tháng ngày cuối năm sẽ mang lại cho N. Nguyen những ấm lòng bên bè bạn chung vui. Những gì bạn bày tỏ trong câm nín, điều đó giúp tôi tự sửa mình, hòng có lúc được hoàn chỉnh hơn trong khi gõ những mẫu tự hiện lên trên màn hình. Tôi yêu cái tên mà Ba Mạ tôi đã lựa đặt và tôi yêu tất cả những tên ai khởi đầu bằng N. Ngày nay thân ái nhé N. Nguyen.

Hồ Đình Nghiêm

Mưa trong lòng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 15/10/2018 

Post by Sơn râu 12 Feb 2024

Tôi phân vân trước khi đặt tựa. Những chữ đồng loạt dồn tới trong một lúc: Đại Gia. Ngũ Ngôn. Ông, Tôi. Nặng Tay Cầm…

Cuối tuần, không dưng ở đây trời làm mưa. Nhà thơ Luân Hoán dừng xe bên lề, chiếc quạt nước không làm rõ nhân diện, chỉ nhìn ra cái nón quen thuộc và cánh tay vừa dong lên vẫy. Phu nhân thi sĩ đã đứng ngay cửa, co ro để trao tặng “Tâm Chân Dung” được bảo bọc trong bao ny-lông khô ráo, ấm áp một lây lan đón nhận.

Thời tiết một phần, phần khác do bởi tôi đang cảm động. Tôi nhớ có ai đó nói, ví von: “Mưa ngoài trời và mưa cả trong lòng”. Nghịch lý ở chỗ: Đội mưa mà thân không ướt, thân bị dột đâu đó nên bất ngờ úng thuỷ, giọt ngắn giọt dài nằm đọng vũng, khó bề bốc hơi!

Vì sao Đại Gia? Vì đâu ai giàu có tác phẩm bằng người? Giàu có luôn cả bạn văn chương, không thể đếm được vẹn toàn trong nhất thời.

Vì sao Ngũ Ngôn? Vì Tâm Chân Dung sử dụng thể thơ năm chữ khi khắc hoạ mặt mày bằng hữu. (Chỉ dăm bài cá biệt dùng tới lục bát).

Cớ sao Ông, Tôi? Cớ là dù già trẻ lớn bé, hạng tuổi chênh lệch thấp cao, đã là bạn, là đối tượng được nhắc đến, tôi đều thống nhất gọi bằng ông cả, chẳng phân biệt. (Tôi là tác giả).

Tại làm răng Nặng Tay Cầm? Dạ xin thưa vì Tâm Chân Dung có bề dày tới những 450 trang. Nhẹ răng được? Mỏi tay trước, nặng lòng sau.

“riêng tại Montréal
tuy rằng không lập nhóm
cũng chỉ chơi loanh quanh
sáu, bảy tên liều mạng”.

Chữ liều mạng này rất hay, không cứ phải ở chung phường, khóm với nhà thơ mới ngộ ra. Khác địa phương, bạn có từng liều mạng vọc hoa, liều mạng không đi làm, ở không ngồi rung đùi làm thơ, xăm mình ra mắt sách, uống thuốc liều đủ loại. Khi bạn điếc bạn có sợ súng không?

Vậy thì thoát ra khỏi chốn nọ, đông đúc những ai có chút tên tuổi, nhà thơ Luân Hoán đều quen biết cả. Ấu thời đến hiện tại, trong nước tới biển ngoài, cắc cớ (không làm tính nhẫm được đâu) dùng máy điện toán có thể hiện ra kết quả: 2018. Năm tháng mà nói làm gì, người thân sơ kẻ chung đụng quen hơi, vẫy tay ở góc phố cho tới khề khà an toạ chung một mặt chiếu hoa dễ chừng cũng lên tới con số ngất ngưỡng ấy, chẳng hàm hồ đâu. Thành thử “sáu, bảy tên liều mạng” như thưa thốt khiêm nhượng kia… nói dzậy chớ hổng phải dzậy đâu!

Lương Sơn Bạc: Đất chứa dách lệnh pạt (108) vị anh hùng, theo truyền thuyết giả tưởng.

Tâm Chân Dung: Sách chứa nhiều hơn trăm linh tám, đếm ra sương sương con số 113 đại trượng phu, đã mất hoặc còn tại thế giữa đời thực này.

Nhắc Lương Sơn Bạc, danh xưng làm nghĩ tới một thứ gì rất gió bụi, rất giang hồ, rất san cơm sẻ áo. Trong khi nghe đến Tâm Chân Dung, lại mường tượng ra hình ảnh một am tự, cõi miền mong được trú thân, giũ bỏ đao to búa lớn mà thuần chỉ chân chất xưng tụng đề cao tâm lành.

Để làm rõ nghĩa hơn, xin đọc khổ cuối trong bài thơ mà tác giả tự vẽ lấy mình:

“nhớ, nhắc tôi nên gọi
ơi thằng Châu đủ rồi
hạn chế gọi bút hiệu
cha mẹ tôi nghỉ ngơi”.

Một thứ tự trào vừa dí dỏm, vừa nhạy cảm, vừa ký gửi chút lòng thành. Tác giả tên thật là Lê Ngọc Châu, ông mượn tên Cha, Mẹ dùng làm bút danh. Và so với tên cúng cơm đầy cả châu ngọc giàu có, chữ Luân Hoán đã lỡ đi vào lòng người đọc kèm theo một hương mùi, thơm hơn cả sự trả hiếu. Một nhân vật trong tuyện Tàu (chắc không nằm ở Lương Sơn Bạc) từng lập ngôn: Sinh ra ta là cha mẹ ta mà đứng vững trên giang hồ này cũng do công của song thân ta tác thành vậy! Nhận vật giả tưởng kia so với nhà thơ Luân Hoán cũng bên tám lạng người nửa cân, hồ dễ đã hơn nhau.

Nhưng khổ nỗi, buồn miệng “ơi thằng Châu” thì chốn hồng trần này sẽ có 108 (?) vị cùng ngoái đầu dỏng tai lên: Đứa nào vừa gióng gọi ta thế? Bánh mì Ba Lẹ, phở Hoà, phở Bắc, phở 75 thì vô số tiệm mọc lan tràn trên từng cây số, rất dễ đụng hàng thật giả khó phân minh cãi chày cãi cối ưa làm chủ thương hiệu chính gốc. Dĩ thực vi tiên, ăn no bò cỡi, có thực mới vực được đạo. Đạo ấy cô đọng vào duy bốn chữ “Độc cô cầu bại”. Bạn suy nghiệm xong chưa? Bạn làm ơn chỉ giúp tôi ở cuộc đời ba chìm bảy nổi này có người làm thơ thứ hai nào mang danh Luân Hoán? Không riêng mỹ danh người vừa cho chào đời “Tâm Chân Dung”, cuốn sách này cũng thuộc dạng xưa nay hiếm “cổ lai hy”. Anh Nguyễn Thành, hiện ở Sài Gòn, người được nhà thơ Luân Hoán giao layout cuốn Thơ Việt Đầu Thế Kỷ 21 (đã phát hành hai tuần trước) cũng sẵn trớn lo giúp dàn trang cuốn Tâm Chân Dung đã đưa nhận xét: “Đây là tập thơ độc nhất vô nhị”. Dài dòng thêm đôi chút: “một tâm hồn lớn đối với văn thi hữu và chỉ từ trái tim yêu thương vô bờ bến mới có thể làm được như vậy” (ngưng trích).

Tôi mang đồng cảm với “người tốt bụng” kia. Tâm Chân Dung là một cuốn sưu tập “tiểu sử, cuộc đời và sự nghiệp” lạ thường, dùng thi ca để khắc hoạ, vẽ nên khuôn mặt của các bạn đồng hành chung lối trong cuộc lữ khát khao đi tìm cái đẹp vĩnh hằng núp bóng văn chương, xem thi ca là chiếc chìa khoá duy nhất nhằm vào việc mở, giới thiệu, trình bày, gạn lọc bớt ảo ảnh.

Đặc biệt trong Tâm Chân Dung chỉ vẽ dung mạo có 113 “anh hùng” quy tụ mà không có bóng mỹ nhân chen vào. Xưa nay, mỗi khi luận tới anh hùng người đời ắt không quên bàn tới mỹ nhân. Cớ sự “lôi thôi” xưa ba đời vương nọ còn dây dưa tới “triều đại” hôm nay. Một nhà thơ nữ đưa ra lời bình:

“Phát hờn khi không thấy bất kỳ một bóng hồng nào…”

Một “bóng hồng” khác thỏ thẻ, sau khi uống ly nước chanh:

“một đống mày râu!”.

Một nữ lưu chơi chữ, súc tích, thâm thuý, nhiều ẩn ý:

“Thế giới của đàn ông thật an bình giống như trên một hoang đảo…”

Chữ hoang đảo mà nhà thơ nữ dùng đúng là gợi hình theo kiểu thiên hình vạn trạng, thậm hàm dưỡng.. (3 ý kiến trên, có thể thiếu sót, trích từ nguồn facebook). Muốn đừng giạt vào hoang đảo, nhằm tương quan lực lượng cương nhu thì phải nên có anh có em sánh vai đồng lòng tát biển Đông cũng cạn. Cho tôi mượn thơ của Lê Vĩnh Thọ (cũng 5 chữ cho khớp với thơ Luân Hoán) để thêm mắm dặm muối về bí quyết đừng ra hoang đảo:

“tôi không tin rằng có
cái gọi là tình nhân
nhưng chắc chắn em có
cái gì đó trong quần”.

Một tình tự khác, cũng dễ thương của Lê Vĩnh Thọ:

“vào mật khu là dại
vẫn liều lĩnh dấn thân
tôi sa cơ thảm bại
rút quân và mặc quần”.

Đối cực với hoang đảo chính là mật khu trong khi gò bồng đảo là bạn đồng minh của mật khu vậy! Thơ của Luân Hoán nhiều xiết cơ man nào là (đặc khu) “đắc địa những lời ve gái” tựa hai lá bùa trên. Nhưng trong Tâm Chân Dung, phần Bạt in ở trang 443, nhà thơ thổ lộ về điều thiếu sót không may (và không hay) nọ. Thày lay, ưa ăn chay, chẳng vén tay, xin tình ngay:

“phải chăng là đồng tính
sao đực rựa hết trơn?
đời vốn giàu mỹ nữ
ta thiếu hẳn mỹ nhơn!

chán phèo một cõi sống
an bình bọn đờn ông
sao không thử mơ mộng
vài ngọn lá thơm nồng

đờn bà khó có thể
phác hoạ nét dông dông
nói giỡn hay nói thật
đều có thể phật lòng

vẽ chơi một nhúm bạn
luôn có mình bên trong
ngỡ như thêm nhiều mạng
giàu thêm nhiều tâm hồn.”

Nhà thơ Luân Hoán giàu có hơn kẻ hèn này nhiều mặt. Mặt súng ống, mặt va chạm, mặt lăn lóc, mặt gió sương, mặt vọc chữ, mặt thất tình, mặt nuôi chim, mặt ve gái- nói theo Bùi Giáng là “quen vui với chị thuộc phiền cùng em”. Tôi nhớ lại ngày xưa, anh tôi mang lon Trung tá làm Tiểu đoàn trưởng một tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 2 Bộ binh đóng quân ở Quảng Ngãi có đứa “đệ tử” nói lời chân chất cảm động: Trong gia đình thì có cha mẹ, ngoài mặt trận thì có “ông thầy”, thầy bảo ban thì em xin nghe chớ em biết nghe ai bây chừ? Tôi nào khác gì thằng lính trơn ấy, vậy thì tôi xin học ngay câu chú “nói giỡn hay nói thật, đều có thể phật lòng” cho dù có bị đày ra hoang đảo. Phu nhân nhà thơ, chị Lý hẳn sẽ khen tôi “mi đã tu thân”, thiện tai, lành thay, thậm chí lý thay! Mặt trận miền Montréal do vậy sẽ yên tĩnh suốt.

Rứa thì sinh hoạt của nhúm mày râu “chán phèo một cõi sống, sao đực rựa hết trơn” ấy nó tội nghiệp tới mức nào? Tôi xin kê ra đây đôi ba hoàn cảnh tượng trưng. Bức chân dung dụng công quẹt nhiều nét đường ngang nét dọc, tôi làm trái ý ông thầy tự tiện giản lược chỉ trong bốn câu nhằm “dem thèm” quý mỹ nhơn, đại khái:

“khởi từ một ánh mắt
của cô bé mê thơ
ông thả chữ tán gái
làm báo lớn, bất ngờ”
(Lâm Chương)

“ngay trong khi ông động
vẫn cứ tĩnh như thường
không chi phối, tận hưởng
phút chao đảo chiếu giường”
(Ngu Yên)

“ông vừa cõi tiên về
chúng tôi chờ ông hú
khoe em luôn một thể
chúng tôi vỗ tay mừng”
(Lưu Nguyễn)

“ông cũng rất hào sảng
nghe tôi cần có em
làm đối tượng vớ vẩn
ông làm chim xanh liền”
(Hồ Trường An)

“thằng nào không thế nhỉ
nhưng ông trội rất nhiều
đúng tim đen tất cả
khi mới lạng quạng yêu”
(Đỗ Trung Quân)

“đám hậu sinh khả ái
có mặt khắp năm châu
rủi để ông gặp mặt
nhốt vào thơ làm hầu”
(Hoàng Lộc)

“nhiều người giàu đạo đức
đánh giá: thơ ruồi bu
có thể rất chí lý
cu mu đều ba xu”
(Đỗ Kh.)

“gặp ông là chắc chắn
được đãi bữa tiệc cười
chỉ chuyện đứt dây sướng
rầu thúi ruột cũng vui”.
(Hồ Thành Đức)

Bây chừ thì dài tới 6 câu, hòng gom đủ chút phận đờn ông, một tiểu sử không thể ngắn gọn hơn, nhờ động từ “Đi” dẫn lối:

“đi tu rồi đi học
đến tuổi, ừ đi lính
ông bị bức đi tù
xuất trại liền đi Mỹ
rồi đi làm đến chừ
may chưa mất con cu”
(Nguyễn Ý Thuần)

Để tránh việc trích dẫn dài dòng, lòng thòng, mơ mòng, đừng hòng, rớt tròng. Tôi xin chốt lại ở phần nói về nhân vật Nguyễn Lệ Uyên, chỉ đưa ra bốn câu như chính tâm sự của tác giả. Nhà thơ Luân Hoán trải lòng:

“tôi cũng thường tọc mạch
khen người thật dài hơi
miễn là gắng khen đúng
không làm buồn cuộc chơi”.

Cuộc chơi này chỉ buồn duy một chỗ, xưa nay vẫn thế, ấy là càng ngày chúng sinh càng vơi bớt việc chí thú ham bầu bạn cùng thơ văn (trong học đường thì có thầy cô mà ngoài cuộc sống đời thường nếu không nghe theo sách vở bày lối thì em biết học hỏi ở nơi mô?). Nhà thơ Luân Hoán vốn xem in thơ là một trò chơi lãng mạn tuyệt vời, vui thú nhưng ông cũng chao lòng bày tỏ, là Tâm Chân Dung nằm trong hạng mục thuộc loại khó bán. Và tôi đã từng thưa rằng, những ai còn để tâm muốn tìm hiểu dòm ngó chân dung, lý lịch trích ngang dị thường của các tác giả từng sinh hoạt trong lãnh vực nghệ thuật xứ mình, ắt họ sẽ nóng lòng tìm kiếm, đọc lấy, “ngâm cứu”. Nó chẳng khô khan như nhờ vào Google đưa ra thông tin, nó ướt át hơn, nó sinh động hơn và trên hết, nó trình bày bằng một góc độ đầy thi vị hoá được phân tích qua ngòi bút dí dỏm, tinh tế của tâm vô lượng.

Tôi cũng giống như nhà thơ Luân Hoán, sợ mang “chứng bệnh” áo thụng vái nhau. Thú thật là khi viết văn làm thơ chúng tôi vẫn luôn cởi trần, trong lần trả lời cuộc phỏng vấn nhà thơ Luân Hoán cho hay là thích làm thơ trên giường. (Các bóng hồng có ai mắc cỡ chăng? Đực rựa vẫn có thứ đáng yêu của đực rựa, dễ gì lạc trôi ra ngoài hoang đảo). Trần trùng trục, xẻ ruột moi tim thì có đúng với quy trình vái nhau? Tuy vậy, sách dạy làm người vẫn khuyên “cẩn tắc vô ưu”. Tôi rất ưu tư nếu không biết cách tán tụng người thơ Lê Ngọc Châu (tên như một bóng hồng không có râu ria) nhưng đành để dành vào dịp khác, bởi tôi tin chắc rằng “Ơi thằng Châu” đang rục rịch tuyệt vời lãng mạn để in thêm một Tâm Chân Dung nữa, chỉ gộp toàn các giai nhân tuyệt sắc, hoa nhường nguyệt thẹn, công dung ngôn hạnh, thi phú diễm lệ, điện nước đầy đủ và… ba đảm đang. Anh hùng đã nằm ở cuốn thượng vậy thì mỹ nhân ắt sẽ nằm trong cuốn hạ. Đời luôn bày ra thế, anh trên em dưới. Thượng đã minh thì hạ tất an lòng thôi phụng phịu dỗi hờn trên bảo mà dưới không nghe.

Tâm Chân Dung với bìa của Khánh Trường, bức tranh mang tên Trăng Đỏ. Trình bày: Nguyễn Thành. Đọc bản thảo: Trần Thị Nguyệt Mai. Kỹ thuật: Tạ Quốc Quang. Nhân Ảnh xuất bản 2018. Bìa sau ghi giá US $20. Liên lạc với nhà xuất bản Nhân Ảnh, bạn email cho: han.le3359@gmail.com hoặc (408) 722-5626. Sách cũng có bán trên Amazon. Nhược bằng muốn mua sách có chữ ký của nhà thơ Luân Hoán, xin vui lòng dùng địa chỉ điện thư: lebao_hoang@yahoo.com.

Xin trân trọng cảm ơn quý bạn đọc yêu thơ, yêu công trình biên soạn đặc biệt mà nhà thơ Luân Hoán vừa trang trọng bày ra giữa “đời là bể khổ”. Xin được hẹn gặp lại ở một lần được vái nhau, mai hậu (đời vắng vái nhau, vui với ai?) Thưa thốt thêm: Nếu quý vị có tác phẩm nào ưng ý muốn gửi mùi hương đi xa, tôi xin sẵn lòng được một phen “thắp tạ” (chữ của nhà thơ Tô Thuỳ Yên). Với tôi, văn chương chẳng bao giờ rẻ như bèo cả. Đừng hòng. Nó mắc cho phỏng tay. Tạm biệt bà con cô bác “năm châu bốn bể thảy đều nổi trôi”, chỉ còn chữ viết là chung tình trụ lại. Mong lắm thay!

Hồ Đình Nghiêm

Một tay

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 04/06/2019 

Post by Sơn râu 12 Feb 2024

Tuy đi qua cuộc chiến đã lâu, hơn nửa đời người chú Bê vẫn còn sống với những ám ảnh, với bất mãn, với hằn học khôn nguôi. Cũng dễ hiểu và nên thông cảm cùng chú ấy, ngoại hình chú bị mất một cánh tay còn trong lòng thì thu gom biết bao đổ vỡ chất chồng, khó lành lặn, vô phương cứu chữa.

Tôi đi Việt Nam, xuống tới Sài Gòn, khi hay tin, chú Bê từ Hà Nội lật đật bay từ thủ đô vào thăm tôi. Ông bà nội tôi đẻ ra ba người con: Ba tôi, bà o xong đến chú Bê. Cả ông anh bà chị đều ở trong nam, riêng chú từ hồi bé nhỏ dại khờ đã bốc đồng đi theo cách mạng, có khi nổi trôi ra tận Cao Bằng Lạng Sơn để rồi đụng độ với bọn bành trướng Trung quốc, xém chút là mất mạng, hồn du địa phủ. Trước đây chú từng lên án tôi về việc bỏ trốn quê hương để chạy đi bám đít bọn thực dân xơi bơ thừa sữa cặn. Sau này chú thay đổi tư duy, lập ngôn kiểu phản động tựa như “cột điện mà có chân cũng biết tháo chạy như ai”.

Tuy quê quán là miền Trung, nhưng khi phát âm chất giọng chú Bê rất chuẩn mực người-ngoài-ta, thủ đô văn hoá. Chú thường đệm chữ “đéo mẹ” với “tao đếch ngán” trong một câu xét bình thường, chả có gì để phải lên gân ăn thua đủ. Vui cũng đéo mà buồn cũng đếch. “Xem, mầy làm chó gì được với một thằng cụt tay như ông nào?”.

Chú Bê không có thói quen sắp hàng, cả đám đông lố nhố đứng đợi thân nhân bị xô giạt ra khi chú trông thấy tôi đang kéo hành lý, mắt đảo quanh. Chú gọi tên tôi rõ to, có vẻ hãnh diện và khi đến gần, chú biểu lộ nỗi mừng vui bằng cách ôm cứng tôi, dù chỉ một tay. Áo sơ-mi của chú cũng may đủ hai tay đàng hoàng, ống tay áo kia thì bỏ vào trong quần, thắt nịt hẳn hoi cho khỏi phất phơ trong gió. Tôi nghe có gã bặm trợn nào đó lên tiếng: Đù má một tay mà ưa chơi cha thiên hạ. Chú giả tảng, bỏ ngoài tai. Cho hay khi vui, người ta không gây ra chiến tranh, chín bỏ làm mười, niệm tình tha thứ.

Trên đường về khách sạn, ngồi trong xe taxi, chú nhận xét: Lạ thật, ông nội đẻ ra ba đứa con ruột, hai trai một gái chả đứa nào giống đứa nào, trong nhà chỉ còn lại mày với tao là giống y bon, nếu mày cụt tay thì đã là hai giọt nước. Chú cười to rồi chấm câu: Đéo mẹ thế mới gọi là cuộc đời chứ!

Không ngại có đệ tam nhân xa lạ là anh thanh niên lái xe taxi, chú Bê kể chuyện xưa tích cũ, bằng vào thứ giọng ăn to nói lớn cố hữu: Lần đó đụng nặng, cả tiểu đoàn bị tổn thất rất lớn, cánh tay trái tao ăn phải ba viên đạn tiểu liên, triệt thoái vất vả gần hai tuần, đến lúc chuyển về bệnh xá hậu cần thì dòi bọ đã ăn vào xương tuỷ, hai thằng y tá đè tao ra cưa mất mẹ một khúc tay. Có thằng nói, giọng tỵ hiềm: Nhất ông rồi, từ nay được hạnh phúc giã từ vũ khí trở lại đời sống dân dã, hàng tháng lại xơi tiền cấp dưỡng thương phế binh. Mẹ nó chứ, ban đầu chúng cưa ngang khuỷ tay, về thấu Hà Nội xét nghiệm sao đó nó cưa thêm cho lút cán, xem như đi đong, cụt mất toàn tập. Chú quay sang làm khó anh lái xe: Có thu tiền mãi lộ cũng chừng mực nào đấy thôi nhé, đừng chặt chém tớ nghe cậu. Anh tài lè lưỡi: Không dám đâu!

Vì cụt một cánh tay, chú Bê liền bị người vợ son trẻ trở mặt cái xoẹt, ôm đít dông một lèo chả thèm ư hử ra tuyên ngôn, ra cáo trạng, ra thông cáo lời buồn cho chuyện tình không đoạn kết. Bọn con nít trong xóm làm tài lanh kể lại khúc tình sử người bộ đội kém may: Bác Bê buồn bã bởi bị bà Ba bán bánh bò bảo ban, bắt buộc bà binh bài bỏ bác Bê. Bữa bác bực ba, bữa bác bệnh bảy. Buồn bất băng bó. Bảnh bao bỏ bác Bê biền biệt, biết bê bối bày bài bù …

Năm khi mười hoạ, chú Bê gặp được tay bạn đồng đội cũ, dắt cho đi nhậu thịt chó, ực rượu đế sương sương: Bê ạ, mầy buồn làm cái đếch gì cho héo người ra! Thân tao lành lặn cả tay cả chân đếm đủ hai chục ngón, vậy mà con vợ còn bỏ nhà theo trai huống hồ… Cạn cái nầy đi, vô tư đi mầy, có gì tao sai thằng đệ tử sang lại cho mầy đĩa phim Hồng Kông chính hãng “Độc Thủ Đại Hiệp”. Mẹ nó chứ, nắm cây đao gẫy mà cũng khuấy động vũ lâm, hắc bạch giang hồ đều xanh máu mặt, khiếp vía. Ngẫm ra thời xưa có quy luật lớp lang hơn thời nay, bây giờ toàn cả bọn ma giáo ăn trên ngồi trốc ba đầu sáu tay cả!

Về tới khách sạn ba sao tôi hỏi chú Bê: Mướn phòng có hai giường ngủ hay sao? Chú Bê thắp thuốc hút với năm ngón tay thành thục, phun khói: Khéo hỏi, vào đây tao đâu có ai thân thích, mầy làm khúc ruột ngàn dặm thì phải biết thể hiện nếp sống văn minh. Tôi hiểu ý chữ văn minh của chú Bê, chú từng bảo, sống bên đó cho dù mầy lao động đi bê phở trong quán ăn lợi tức thâu vào cũng cao hơn thằng giáo viên có bằng tiến sĩ ở đây. Ở đời người ta quý nhau ở chỗ lá lành đùm lá rách.

Khi làm thủ tục nhận phòng, chú nói với cô tiếp tân: Tớ là thương phế binh trong cuộc chiến tranh thần thánh vừa qua, vậy khách sạn nầy có ưu đãi tớ không? Cô ấy thành khẩn khai báo mà chả thèm nhìn mặt chú: Không dám đâu. Cô chỉ ngó tôi: Chúng em rất hoan nghênh nếu anh thanh toán bằng đô la của Mỹ, khỏi mỏi tay khi đếm. Trước ngày đi tôi có đổi 5 triệu, sau khi cà phê thuốc lá mừng đoàn tụ với chú Bê, trả tiền taxi vừa rồi, còn lại bao nhiêu tôi đút túi quần chú Bê, chú giỏi chi tiêu cân đo đong đếm thứ tiền bạc ấy hơn tôi. Hơn nữa tôi thích làm người văn minh, ghét bị mang tiếng là lạc hậu.

Lên phòng, ngồi thử độ nhún trên giường, lạc hậu tâm sự với văn minh: Theo chỗ tao biết đa phần mấy cha nội Việt kiều về đây cốt để chơi gái, cao lương mỹ vị gì thì rốt cuộc cũng thèm cũng nhớ chén mắm nêm, vừa mặn mà vừa giá bèo vừa cùng ngôn ngữ. Thế mầy có là một dạng y trang thứ Việt kiều đó không? Thú thật là từ khi con vợ nó bỏ đi tao những đâm thiếu vắng mùi vị đàn bà… Tôi nói trước khi vào phòng vệ sinh: Ô kê, khách sạn này chẳng biết có dịch vụ ấy không. Có gì chốc nữa chú cháu mình đi ăn cơm chiều, no say xong tui đi dạo một vòng ngoạn cảnh còn chú tranh thủ mà chơi gái. Đừng chân dài mà làm gì, cỡ 50 đô trở xuống là đủ ngon cơm, đúng không? Chú Bê cười tít mắt: Giá mà nhà nước nầy có mầy làm chủ tịch hội thương phế binh thì những gì chúng nó từng hy sinh nghĩ không uổng phí, nhỉ? Nhất Việt kiều nhì bia ôm ba tiền đô bốn gái làng chơi. Tứ khoái nầy e đã có cải biên, nhuận sắc?

Ở Sài Gòn đúng ba hôm, chúng tôi bay ra Đà Nẵng, thành phố đáng sống nhất nước theo sự bình bầu của tuyệt đại dân chúng. Chú Bê bảo, ờ cũng nên đi thực tế một chuyến xem bọn nhà báo có nói láo ăn tiền không? Rằng ở đấy chả có tệ nạn chặt chém, không thủ đoạn chèo kéo cướp giật, ai cắp bị đi ăn xin sẽ bị phạt tiền và chơi đĩ thì giá mềm đến vô tư. Đéo mẹ, được thế thì không ghé chân thăm thú một lần thì phí cả cuộc đời. Làm đếch gì mà nghe tới chữ đĩ thì mặt mầy nhăn như khỉ ăn ớt vậy? Đã bảo là giòng họ nhà mình còn sót lại hai đứa giống nhau là mầy với tao cơ mà. Cơ khổ! Đời ngắn lắm mầy ạ, có cơ hội thì vội chụp lấy mà thụ hưởng. Tao cực lực lên án thành ngữ “sướng con cu mà mù con mắt”. Mất đi một cánh tay thì việc chó gì mà hãi sợ thiệt thòi thứ khác.

Thời xưa tôi lên ghe vượt biển ở bên quận 3, giờ này tôi thoát xác chơi bảnh ngụ khách sạn đình đám ở ngay quận 2 rậm rật đèn màu. Đà Nẵng đổi thay đến chóng mặt, thuật ngữ ở đây kêu bằng “nâng cấp vượt mức quy định”. Bạch Đằng Hùng Vương Độc Lập và mọi con đường khác đều nhìn không ra dấu vết chôn nhiều kỷ niệm thời học trò, rõ là chẳng ai tắm được hai lần trên cùng một dòng sông (Hàn)!

Sáng đầu tiên khi ăn điểm tâm vớ phải tờ báo, đọc ngay bản tin: Thiếu uý Công an Nguyễn Trương Nam Hải, 24 tuổi, tạt hết bình chứa 750 ml a-xít vào người cô vợ sắp cưới, phá huỷ dung mạo, gây thương tích trầm trọng đến 46%. Công an TP Đà Nẵng đã tước quận tịch, cho ra khỏi ngành, tạm giam Nguyễn Trương Nam Hải chờ ngày ra toà xét xử. Phía dưới cột báo có đăng tin “theo dòng sự kiện” về trường hợp ông Nguyễn Hữu Linh, cựu phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân TP Đà Nẵng vừa bị bắt, có khung hình phạt từ 6 tháng đến 3 năm tù vì đương sự “lỡ dại” ôm ấp sờ mó (ấu dâm) một bé gái trong thang máy. Dẫn nguồn báo Tiền Phong là dư luận rất bức xúc, đơn cử như cử tri TPHCM đề nghị “chặt tay tội phạm xâm hại trẻ em”.

Tôi chuyển tờ báo cho chú Bê xem: Mẹ chúng nó chứ, gây ra tội thì phải vào tù mà ngồi, sao chưa gì đã manh nha ra thứ luật rừng thế kia? Lòng dạ nào mà mang tay người ta ra chặt, hử? Ông trời sinh bọn đàn ông, nếu không có tay, lấy gì cầm chim khi đứng đái? Rõ là đồ bất nhân! Tôi đùa nghịch ông chú cựu bộ đội: Xét cũng hợp lý thôi chú ạ, quýt làm đừng bắt cam chịu, y như bà gì đó ở bên Thanh Khê, người làm cách mạng đầu tiên đã xử thằng chồng ham của lạ bằng cách mài dao thật bén để thiến đi cái vật “cà chớn” kia, vất ra sân cho chó tha đi mất, chấm dứt cảnh giả mù sa mưa.

Chú Bê mặt nặng như đeo chì: Luận việc theo như mầy thì đàn ông con trai xứ Việt thảy đều bị đoạt mất bộ tam sự, hoặc chỉ còn hai hòn mà thiếu một gậy, còn chó gì nữa mà mần ăn. Hay là mầy đương nói bóng nói gió tới thằng Bê nầy? Sợ tốn tiền bao chú đi ngắt hoa bẻ cành, một trong tứ khoái. Chưa gì đã nghe ra sứt mẻ chút tình cảm giữa song phương.

Sau khi “ăn chơi thả giàn” mươi ngày nửa tháng, sắp cạn kho nhiên liệu của thằng cháu tha phương cầu thực, chú Bê đã “nhạy cảm” tình huống và quyết định thôi bòn rút niềm vui nỗi khổ của thằng cháu nữa. Hắn văn minh và hắn từng thực thi chơi đẹp sai quy trình, đành lên đường từ giã trở ra lại thủ đô thôi. Trước ngày thực thụ xa nhau, tôi đi cùng chú Bê ra chợ Hàn mua tặng chú bộ áo quần hàng hiệu may nhãn Burberry (London) sản xuất hàng loạt ở Trung quốc. Nếu chính hãng, bày trong thương xá chốn tôi ở, bộ này chúng hét giá hơn ngàn đô. Ừ, thì áo xống không làm nên thầy tu nhưng khi diện vào thân, chú Bê trông “ngon lành” hẳn, giá mà chú còn đủ cả hai tay thì mấy con bò lạc e phải bu quanh chú bẹo hình bẹo dạng kêu bằng đại gia: Chú chơi con đi.

Chú ra Hà Nội tôi vào Sài Gòn, tình nghĩa đôi ta có thế thôi. Có ai ngờ đâu, một ông cựu bộ đội từng cầm súng vào sanh ra tử đánh đuổi bọn đế quốc như chú tôi lại phát ngôn: Mầy về rồi mầy đi xúi tao đâm nhớ mùi Mỹ bám thân ở người mầy. Cả đời cầm súng oanh liệt đi qua cuộc chiến thật chả có gì ấn tượng cho bằng những giây phút thư giãn bên mầy khi mầy cho phép được voi đòi tiên. Tôi nhìn ông chú, định thốt lời chia tay nhưng kịp ngậm miệng. Dùng chữ chia tay thật không phải phép khi cái tay áo ông cứ đong đưa què quặt khi có gió thổi qua. Thậm chí nói chữ ông chơi gái e cũng vấp sai lạc, gái chơi ông thì có, vì gái chủ động nằm trên, chỉ còn một tay thì nên lễ độ nằm dưới, ta trao thân, muốn chém muốn giết cứ tuỳ nghi sử dụng.

Nhìn bóng chú Bê dần khuất tôi đổ tức cười khi nhớ lời ông nói: Cả giòng họ nhà mình chỉ có mi với tao là giống nhau như hai giọt nước. Thôi đi cha! Đã mất một tay còn thích mù một mắt nữa sao? Về soi gương lại đi nha. Tôi mà giống y như chú thì hoạ có trời sập. Tôi đi học, tôi không vào lính, nếu cầm súng M-16 ra chiến trường, chống trả sự tấn công từ phía chú nắm AK-47, đường 9 nam Lào chẳng hạn. Mặt chú lạ hoắc như thế kia, hô xung phong thì buộc tôi phải lia băng đạn tới thôi. Giống nhau thì sự tình e có khác, lần khân, ngờ ngợ, do dự, ái ngại, truy vấn. Mà thôi, suy diễn chi cho lôi thôi dài dòng, giờ đây cả hai đã quay lưng, đi theo số phận về lại đường xưa lối cũ, mãi hoài lạc mất nhau giữa đường đời muôn vạn nẻo. Nhẹ người khi tôi hết nghe hở tí là đéo, ba chừng bảy đỗi lại đếch. Chú có hiểu văn minh là gì không, chú Bê cụt tay chưa tốt nghiệp trung học phổ thông? Vĩnh biệt nhé, bận sau tôi đếch về thăm chú đâu. Về cái đéo gì nữa khi tối ngày đi bê phở muốn rụng cả đôi tay!

Hồ Đình Nghiêm

Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 12 Feb 2024

Hình minh họa

Bài 5

Hai ngày trong đời của một sĩ quan trực
Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt.

Ngày thứ nhất: Đời sống quân ngũ, “An Lộc trong bão lửa”

Sáu giờ sáng, tôi thức dậy, vệ sinh cá nhân, tắm rửa. Sáu giờ rưỡi, hôm nay thứ Hai đầu tuần, tôi mặc bộ đồ làm việc mùa đông để đi làm, bộ đồ này giống như bộ tiểu lễ mùa đông chỉ khác là không mang dây biểu chương, khi mùa nóng đến, trường sẽ có thông báo thay quân phục mùa hè. Tôi đang ở cư xá sĩ quan độc thân Thủy Tiên II của Trường Võ Bị Đà Lạt. Cư xá nằm trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ ngay trung tâm thành phố, cách khu phố Hòa Bình chừng mười phút đi bộ.

Bảy giờ kém, tôi đi bộ ra trước rạp ciné Hòa Bình, xe bus của trường đã đậu sẵn ở đó để chở nhân viên dân chính và quân nhân đi làm. Sáng mùa đông, trời Đà Lạt lạnh buốt, tôi thường đi làm bằng xe bus của trường vì trên xe bus đông người, cửa đóng kín cho nên bầu không khí trong xe ấm hơn. Nếu không thích đi xe bus, tôi có thể dùng chiếc xe Honda hai bánh cũ rích, tróc sơn, mòn vỏ của mình để đi làm.

Tám giờ kém mười, xe bus đổ tại tòa nhà Bộ chỉ huy.

Tám giờ, tôi vào Trung tâm hành quân, nhận bàn giao phiên trực với trung úy Hàn, sĩ quan hạ phiên. Lệ thường, Trung tâm hành quân của một đơn vị phải được đặt ở nơi an toàn tối đa, chìm sâu dưới mặt đất với nhiều lớp bao cát bao phủ ở bên trên. Chỉ riêng Trung tâm hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt hơi khác thường, đó là một căn phòng rộng khoảng ba chục thước vuông, trang trí gọn gàng sạch sẽ năm ở tầng hai của tòa nhà Bộ chỉ huy, chung quanh là cửa kính sáng loáng bao bọc nhìn ra Vũ Đình Trường Lê Lợi. Ở đây, người ta có thể quan sát rõ ràng, tất cả những diễn tiến của lễ mãn khóa được tổ chức thường xuyên hàng năm. Đó là lý do tại sao Trung tâm hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt được đặt ở một nơi hớ hênh như vậy. Gặp khi chiến trận xảy ra, chỉ cần một trái đạn pháo 82 ly của Việt Cộng rơi vào là Trung tâm hành quân sẽ bị tê liệt, bị phá hủy hoàn toàn. Nơi góc phòng của Trung tâm hành quân có hai giường nệm, một dành cho sĩ quan trực và một dành cho hạ sĩ quan. Trong phòng còn có hai bàn làm việc, với hơn chục cái điện thoại đủ loại, từ điện thoại liên lạc nội bộ, điện thoại liên lạc trong tỉnh cho đến điện thoại viễn liên có thể liên lạc khắp miền nam Việt Nam. Một bản đồ trường Võ Bị và một bản đồ thị xã Đà Lạt gắn trên tường. Tám giờ đến mười một giờ sáng, tất cả giấy tờ liên hệ đến Trung tâm hành quân đã có hạ sĩ quan trực lo liệu. Tôi ngồi vào bàn làm việc của mình, chép lại bài học của ngày hôm trước. Những bài học này, tôi mượn của người bạn gái học chung lớp ở Viện đại học Đà Lạt. Thiếu tá trưởng phòng không thắc mắc gì về chuyện tôi học bài trong giờ làm việc. Ông chỉ cần biết là tôi đã chu toàn bổn phận được giao phó.

Hình minh họa

Mười một giờ, tôi thả bộ qua Câu lạc bộ sĩ quan cách đó vài trăm thước ăn cơm trưa, đi bộ cho giãn gân giãn cốt sau mấy giờ ngồi một chỗ. Nếu lười biếng tôi có thể nhấc điện thoại lên, bữa cơm trưa từ Câu lạc bộ sẽ được đem tới phòng làm việc của tôi, lẽ dĩ nhiên ăn cơm Câu lạc bộ thì phải trả tiền. Mười hai giờ tới một giờ, tòa nhà chỉ huy ngưng hoạt động, mọi phòng ban đều đóng cửa nghỉ trưa. Tất cả những cú điện thoại từ bên ngoài gọi vào trường đều đi qua Trung tâm hành quân. Tôi là người trả lời điện thoại.

Một giờ chiều, tôi lấy chiếc xe Jeep của phòng đi qua Quân Trấn họp. Trung tâm hành quân lúc ấy chỉ còn người hạ sĩ quan trực. Giải quyết mọi vấn đề trong thời gian này là thiếu tá trưởng phòng, ông ấy có phòng riêng ở bên cạnh Trung tâm hành quân.

Thông thường, khi sử dụng quân xa, tài xế sẽ lái xe còn sĩ quan ngồi ở ghế trưởng xa bên tay phải, đó là luật thế nhưng hầu hết những ông sĩ quan cấp úy tuổi trẻ, háo thắng thường làm ngược lại. Sĩ quan lái xe, tài xế ngồi ghế trưởng xa hóng mát. Tôi còn ngon hơn nhiều, cho tài xế ở nhà ngủ trưa luôn cho khỏe, bởi vì anh tài xế thường hay cằn nhằn, khi tôi sang số xe không được êm cho lắm, và nhất là đã mấy lần suýt lọt xuống hố khi qua một khúc cua gắt. Không có tài xế ngồi một bên, tôi cảm thấy thoải mái hơn. Một mình tôi lái xe, muốn đi đâu cũng được, ghé chỗ nào cũng xong, lỡ có rớt xuống hố cũng chỉ một mình tôi chịu.

Trên đường qua Quân Trấn, lợi dụng thời cơ gọi là đi họp, tôi ghé cà phê Thủy Tạ, uống ly cà phê, hút vài điếu thuốc, ngắm hồ Xuân Hương trong nắng hanh vàng của mùa đông, luôn tiện khoe với mọi người là tôi biết lái xe hơi mặc dầu mình không có bằng lái. Nếu không thích ngắm cảnh, tôi có thể ghé quán Hạnh Tâm gần vòi phun nước ở chợ Đà Lạt, uống ly cà phê nghe vài bản nhạc tình, nhìn cô thu ngân tên Huệ với vẻ đẹp

Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn.
Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa.

Tôi, trung úy Trường Võ Bị Đà Lạt, độc thân, bốn năm qua sống lao đao lận đận với mối tình đầu, một đôi lúc cảm thấy buồn đến não ruột. Có một lần, nhân lúc trả tiền ly cà phê khi đứng gần cô Huệ, tôi buông lời chọc ghẹo để rồi nhận được cái liếc mắt sắc như lưỡi dao. Cô không nói gì, chỉ cố ý đưa bàn tay cho tôi thấy chiếc nhẫn nơi ngón tay áp út. Cô Huệ từ tốn thối lại cho tôi một mớ bạc lẻ, rồi dịu dàng nói:

-Ba đồng một mớ trầu cay.

Tôi giật mình đánh thót, cô nàng này bên ngoài coi bộ yểu điệu, dịu hiền nhưng không ngờ cũng lãng mạn dữ.

Cô Huệ trông chỉ chừng hai mươi tuổi, đã mang nhẫn cưới trên tay. Mối tình đầu của tôi, bốn năm qua rồi giờ đây chắc cũng đã tay bồng tay bế. Từ đó về sau, tôi ghé cà phê Hạnh Tâm chỉ ngồi yên một góc nhâm nhi ly cà phê đen, nghe nhạc, nhìn người đẹp trong tiếc nuối muộn màng.

Có những ngày, mặc dù lệnh cấm trại một trăm phần trăm, trên đường đi qua Quân Trấn tôi cũng ghé cà phê Hạnh Tâm. Đang cấm quân mà có một ông trung úy của Trường Võ Bị Đà Lạt ung dung, thoải mái ngồi uống cà phê quả là chuyện lạ, Quân Cảnh đời nào mà tha cho một con mồi béo bở như vậy. Hai ông Quân Cảnh liền vào tận nơi, lịch sự mời tôi ra ngoài để xét giấy tờ. Khi nhìn thấy sự vụ lệnh đi họp Quân Trấn, vũ khí mang theo là cây súng colt 45 với con dấu nổi của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị ký, mấy ông Quân Cảnh lật đật xin lỗi rồi dông mất.

Ba giờ chiều, tôi tới Quân Trấn, họp với sĩ quan trực, lấy mật khẩu, mật hiệu phòng thủ trong đêm đựng trong một phong bì niêm kín. Sau đó, tôi quành xe ra chợ mua một phần cơm sườn cho buổi ăn tối, cơm ở Câu lạc bộ sĩ quan trong Trường Võ Bị làm sao có thể sánh với cơm sườn nướng ở chợ Đà Lạt. Mọi chuyện coi như đã xong xuôi, tôi lái xe về trường.

Năm giờ chiều, tôi về đến trường. Kể từ giờ phút này mọi hoạt động của tất cả các phòng ban trong trường đều chấm dứt. Thiếu tá trưởng phòng của tôi cũng sửa soạn ra về. Tôi chính thức lo tất cả mọi chuyện phòng thủ ban đêm của trường. Ngoài vòng đai xa của trường đã có binh sĩ của Tiểu khu Tuyên Đức; bên ngoài hàng rào phòng thủ của trường, đã có Tiểu đoàn An Ninh canh giữ cũng như phân bố mấy chục điểm kích; phía Đồi Bắc có Đại đội Thao Diễn trấn giữ. Tất cả tọa độ của những điểm kích này đều được ghi rõ trên phóng đồ hành quân chuyển cho pháo binh và những đơn vị bạn. Mọi cổng ra vào của trường, từ cổng Thái Phiên, cổng Nam Quan cho tới cổng Lý Thường Kiệt đều đã nhận mật khẩu, mật hiệu trong đêm.

Khoảng sáu giờ tới bảy giờ tối, các toán kích canh giữ những điểm trọng yếu trong trường do sinh viên sĩ quan đảm nhận, sinh viên trưởng toán đến Trung tâm hành quân lấy mật khẩu. Đây là mật khẩu nội bộ, khác với mật khẩu bên Quân Trấn.

Bảy giờ tối, công việc phòng thủ trường hoàn tất, tôi nhấc điện thoại báo cáo với đại úy trực Phòng hành quân tại tư dinh của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng. Tuy ở ngoài tư dinh, nhưng Thiếu tướng Chỉ huy trưởng vẫn nắm vững tình hình an ninh trong trường, qua Phòng hành quân bỏ túi tại tư dinh của ông.

Xong xuôi mọi việc, tôi bắt đầu bữa ăn tối, vừa ăn cơm tôi vừa lấy bài vở ở trường ra ôn lại. Nếu cần tham khảo tài liệu, tôi có thể ghé thư viện của trường để mượn.

Mười giờ tối, tôi lên giường.

Chiều nay, lúc vừa từ Quân Trấn về, tôi thấy một bức thư do bưu tín viên đem đến để trên bàn làm việc của tôi. Tên người gửi là Trung úy Nguyễn Đức. Tên người nhận là tôi, Trung úy Nguyễn Trọng Quân, Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, KBC 4027.

Tôi tắt đèn neon trên trần rồi mở ngọn đèn đọc sách ở đầu giường.

Hình minh họa

Tháng 11, 1972.

Quân,

Tao là Trung úy Đức, Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 Bộ binh, bạn học cùng lớp với mày ở trung học Trần Hưng Đạo Đà Lạt, không biết mày còn nhớ tao không? Nếu mày không nhớ để tao nhắc cho. Hồi đó tụi mày đặt cho tao cái biệt danh là Đứt thắng rồi thi nhau chọc ghẹo tao “Ở Đà Lạt, đi xe xuống dốc mà Đứt thắng chỉ có tàn đời thôi em ơi” Mày nhớ tao chưa? Nếu đã nhớ rồi hãy đọc tiếp, tao sẽ kể cho mày nghe về những gì mà tao được biết đã xảy ra ở An Lộc trong mùa hè vừa qua.

Chuyện như thế nàv, nếu tao nhớ không lầm, ngày 11 tháng 4 năm 1972 Trung đoàn 8 của tụi tao được trực thăng vận từ Dầu Tiếng vào An Lộc trấn giữ mặt Bắc của thị trấn. Ba mặt khác do Nhảy Dù, Biệt Động Quản, Trung đoàn 7 và Địa Phương Quân của Tiểu khu Bình Long trấn giữ. Năm ngày sau, Liên đoàn 81 Biệt Kích Dù cũng được trực thăng vận đến phía Đông nam của thị xã, sau đó họ di chuyển lên tuyến đầu ở phía bắc phối hợp với Trung đoàn 8 của tụi tao để tử thủ An Lộc. Nói là phối hợp chứ thật ra mỗi đơn vị chịu trách nhiệm một khu vực. Biệt Kích 81 có lối đánh giặc riêng của họ, lối đánh đặc biệt của từng toán nhỏ, di chuyển trong im lặng, xuất hiện rồi biến mất như những bóng ma, phòng thủ đối với Biệt Kích 81 có nghĩa là tấn công. Từ khi có Biệt Kích 81 phối hợp, tinh thần binh sĩ của tụi tao lên cao thấy rõ. Tao biết địa chỉ của mày là nhờ thẳng Đạt học cùng lớp với tụi mình, nó là trung úy Biệt Kích 81. Tụi tao gặp nhau thật bất ngờ, khi tao đang chạy vắt giò lên cổ trong một trận mưa pháo của địch.

Trung đoàn 8 của tao với quân số khoảng một ngàn rưỡi người, cùng với sáu ngàn quân nhân của các binh chủng khác đã tử thủ trong An Lộc, chống lại hơn bốn chục ngàn quân Cộng Sản. Bốn chục ngàn quân Cộng Sản, với hàng trăm chiếc xe tăng T54 tụi tao không sợ, chỉ ngán cái giàn pháo của tụi nó. Hàng ngày ở đây tụi tao lãnh hơn một ngàn trái đạn pháo đủ loại là chuyện thường tình, từ cái thứ đạn pháo tép riu của súng cối 82 ly, cho đến đại bác hạng nặng 130 ly. Vài trăm trái đạn pháo một ngày, tụi tao gọi là pháo quấy rối. Trên hai ngàn cho đến tám ngàn trái mới coi đó là pháo thật sự, khi pháo kích lơi dần là lúc Việt Cộng bắt đầu tấn công. Trước tiên, bọn chúng dùng xe tăng T54 tràn qua mọi chướng ngại vật đi vào trong thị xã An Lộc. Mấy chục chiếc xe tăng này như là vật tế thần, sau khỉ lãnh đủ hàng trăm trái đạn M72 của Biệt Kích 81, của tụi tao và những đơn vị bạn khác, chiếc cháy đen thui, chiếc đứt xích nằm ngổn ngang trong thị xã. Sau mỗi lần tấn công của Cộng Sản, tao lại dùng lưỡi lê khắc một gạch trên báng súng, cuối tháng Tư, sau gần hai mươi ngày tử thủ, tao đếm được bốn cái gạch trên cây súng M16 của tao. Mỗi một gạch là một trận đánh khốc liệt, tàn bạo, đẫm máu.

Hình minh họa

Ngày 11 tháng 5, tám ngàn trái đạn pháo chụp xuống An Lộc, địch pháo liên tục tưởng như không bao giờ dứt. Suốt đêm cả bầu trời được soi sáng bằng những tia chớp của đạn pháo, khi nhịp pháo thưa dần cũng là lúc Cộng Sản bắt đầu tấn công. Tụi tao ở hố cá nhân với súng M16, đại liên M60, súng phóng lựu M79, cuối cùng là lựu đạn ném tay chống trả hết đợt xung phong này đến đợt xung phong khác. Nhờ những trái lựu đạn này, đã cản được nhiều đợt xung phong của Việt Cộng, cho đến khi trời hừng sáng bọn Cộng Sản mới chịu rút lui, trả lại an lành cho An Lộc. Khi trận đánh kết thúc hàng trăm xác chết của Việt Cộng, của lính mình, của thường dân nằm la liệt, những người còn sống, lợi dụng lúc im tiếng súng vội vàng kéo nhau đi chôn xác chết, bất kể ta hay địch. Xác chết nhiều đến nỗi không có thì giờ đào huyệt, người ta phải dùng xe ủi đất đào một đuờng rãnh dài vài chục mét, sâu độ ba mét, sau đó hàng trăm xác người không phân biệt Việt Cộng hay thường dân, già trẻ lớn bé được xếp chồng lên nhau rồi lấp đất lại. Cảnh chôn người giống hệt như trong ciné thời Đệ nhị thế chiến, khi Đức Quốc Xã chôn dân Do Thái ở những trại tập trung.

Bảy giờ sáng, tao đánh răng bằng một nắp bi đông nước, rồi đổ nước vào bao gạo sấy làm bữa ăn sáng, sau đó là chuyện tu bổ hầm hố, coi lại súng ống, đạn dược chuẩn bị cho trận đánh kế tiếp.

Có một chuyện khá khôi hài, sau nàv mỗi lần nhớ lại tao vẫn không hiểu tại sao hơn sáu mươi ngàv tử thủ trong An Lộc, tao không biết tắm là gì. Hình như, tắm không phải là nhu cầu sống chết như cơm để ăn, nước để uống. Cũng có thể, vì lúc nào cũng tựa lưng vào cái chết nên quên tắm, cuối cùng đành phải vin vào cái cớ nước không đủ uống lấy đâu mà tắm.

Nước uống được lấy từ những cái giếng cạn trong thị trấn. Mày thử nghĩ coi, với hàng ngàn xác chết vừa chôn được vài tuần, nguồn nước giếng ở đây có còn trong sạch hay không? Dù nước giếng có ô nhiễm vẫn phải uống, nếu không muốn chết khát.

Xong phần nước uống, đến phần nhận tiếp tế thực phấm và đạn dược. Chuyện tiếp tế là cả một vấn đề nhiêu khê phức tạp, vì máy bay phải bay thấp để tránh cao xạ cũng như hỏa tiễn phòng không của Việt Cộng. Khi những kiện hàng tiếp tế từ phi cơ C123 thả xuống An Lộc, những gì rớt vào bên trong vòng đai phòng thủ đó là phần của mình, nếu rớt ngoài vòng đai là của Việt Cộng. Thường thì những kiện hàng tiếp tế rớt vào trong vòng đai, ít hơn những kiện hàng rớt ngoài vòng đai, có nghĩa là tiếp tế cho phe mình nhưng Việt Cộng lãnh gần hết. Phần thực phẩm mình nhận được phải chia bớt cho dân để cùng nhau chịu đựng pháo kích, sống tiếp những ngày gian nan, đói khổ, đầy chết chóc. Có một lần, tình cờ tao chứng kiến một chiếc vận tải cơ C123 của Không Quân Việt Nam bay vào An Lộc mà như là thách đố với tử thần. Chiếc phi cơ bay thấp thật thấp, thấp đến độ tao có thể thấy được lá cờ vàng ba sọc đỏ sơn ở nơi đuôi. Khi đã vào đúng vị trí để thả dù, mấy kiện hàng tiếp tế từ đuôi tuôn ra. Chỉ trong vòng vài giây đồng hồ, năm cánh hoa dù tròn xoe bọc gió trôi lững lờ giữa không trung. Thay vì nhìn những kiện hàng có rơi vào trong An Lộc hay không, tao dõi mắt nhìn theo phi cơ đang bay lảo đảo, trồi lên rồi hụp xuống giữa những lằn đạn phòng không dày như đan lưới của Việt Cộng. Chiếc phi cơ bay chậm và thấp, phơi cái bụng phệ dùng để chứa hàng tiếp liệu rõ mồn một. Tao nghĩ thầm, chỉ cần dùng mấy khẩu đại liên M60 của đại đội, tao bắn cũng trúng huống chi cả Trung đoàn súng phòng không của Việt Cộng, thi nhau nhả đạn tới tấp. Tao nín thở nhìn theo chiếc phi cơ, cho đến khi hình dáng của nó nhỏ dần, nhỏ dần rồi mất hút nơi cuối chân trời, lúc bấy giờ tao mới thở phào nhẹ nhõm, mừng cho phi hành đoàn của chiếc C123 ngày hôm đó đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Tao chùi hai bàn tay đẫm mồ hôi của mình vào vạt áo rồi nhìn những giọt mồ hôi chảy dài trên trán của người lính ngồi bên cạnh. Tao hỏi anh ta:

-Sợ hả bạn?

-Dạ, sợ quá đến nỗi toát mồ hôi cục mà không biết đó thiếu úy.

Té ra, đâu có phải chỉ một mình tao lo sợ cho mạng sống phi hành đoàn của chiếc phi cơ C123.

Đưa tay quẹt những giọt mồ hôi trên trán, người lính hỏi tao:

-Thiếu úy nè, mình đánh nhau với Việt Cộng, đem sinh mạng ra đánh cuộc với sống chết mà không biết sợ. Tại sao, khi nhìn chiếc máy bay chao đảo giữa những lằn đạn mình lại thấy sợ?

Hình minh họa

Tao trả lời với người lính, không biết câu trả lời có đúng hay không.

-Bởi vì mình là khán giả, rảnh rỗi ngồi xem mấy ông phi công Việt Nam Cộng Hòa đem mạng sống của họ thách đố với tử thần, với mục đích là thả cho được những kiện hàng tiếp tế vào bên trong An Lộc. Phi cơ có thể nổ tan xác như một quả cầu lửa vì trúng hỏa tiễn phòng không SA 7, cũng có thể đâm chúi đầu xuống đất tan nát thành muôn ngàn mảnh vụn vì trúng cao xạ phòng không của Việt Cộng. Những cái chết khủng khiếp như vậy có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Không sợ sao được.

Người lính nhìn tao gật đầu như đồng ý.

Chuyện rảnh rỗi ngồi khơi khơi trên mặt đất xem phi cơ C123 thả hàng tiếp tế, chỉ là chuyên ngàn năm mới có một lần. Thực ra, ở đây lúc nào bọn tao cũng sống dưới hầm, dưới hố cá nhân có nắp đậy để tránh pháo kích. Một đôi lần, tao ngồi dưới hố cá nhân nghe tiếng nổ của bom B52 cách xa một vài cây số dội lại mà cứ tưởng như sấm động trên đầu. Nhiều khi tao nghĩ dại, nếu vì một lý do nào đó như trục trặc kỹ thuật chẳng hạn, một loạt bom B52 lọt vào bên trong An Lộc, khoảng tám ngàn lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và dân An Lộc sẽ chết không còn một mống.

Chuyện sống chết của phi hành đoàn chiếc phi cơ C123, và những chấn động khủng khiếp khi B52 trải thảm tuy vậy nó không ám ảnh tao bằng chuyện hai anh em thẳng bé bị thất lạc cha mẹ.

Ngay chỗ tụi tao trấn giữ, cứ lúc im tiếng súng, tao lại thấy mấy đứa nhỏ đến gần lính mình xin gạo sấy và thịt hộp. Trong đám trẻ con ấy, tao chú ý đến một đứa bé trai đâu chừng mười tuối, lúc nào nó cũng địu đứa em nhỏ trên lưng, thằng bé mặt mày lem luốc, thân hình ốm đói với bộ quần áo không thể dơ hơn được nữa rụt rè ngửa bàn tay xương xẩu, đen đúa xin nhúm gạo sấy. Thoạt nhìn tao đã mềm lòng, muốn chảy nước mắt, con cái nhà ai chạy loạn để rồi lạc loài tới đây. Tao không dám hỏi ba má nó ở đâu, bởi vì tao sợ câu trả lời của nó. Lính có khẩu phần lương khô của lính, còn dân chúng ai tiếp tế thực phẩm cho họ đây? Dĩ nhiên tao vui vẻ chia làm hai phần gạo mình đang có cho thằng bé, ăn để sống cầm hơi chờ đợi tiếp tế. Cũng có một đôi lần tao nhịn phần trái cây hộp của mình đem cho anh em thằng bé, mặc dầu cơ thể của tao rất cần chút chất ngọt của hộp trái cây. Có một điều khiến tao mềm lòng, là bất cứ khi nào xin được thức ăn, thằng bé cũng đút cho em nó ăn trước. Cho đến khi đứa em của nó lắc đầu, thằng bé mới chịu ăn. Mấy ngày sau đó, khi không thấy thằng bẻ đến xin gạo sấy; tao hỏi lũ nhỏ về anh em thằng bé mới biết rằng cả hai đứa đều bị chết vì đạn pháo của Việt Cộng. Tội nghiệp, một đứa bé mười tuổi làm sao biết cách đào hố cá nhân để ẩn núp khi bị Việt Cộng pháo kích. Mạng sống của tao giống như chỉ mành treo chuông, chuyện không có gì phải nói vì tao là lính, nhưng sinh mạng của hai đứa bé cùng với hàng ngàn người dân An Lộc vừa chết trong mấy ngày qua thì sao? Chẳng lẽ cũng phải chịu chung số phận như lính? Năm 1968 trong chiến dịch Tổng công kích của Việt Cộng, năm, bảy ngàn thường dân bị họ chôn sống trong Tết Mậu Thân ở Huế. Bốn năm sau, thảm họa lại tái diễn tại An Lộc, lần này là cảnh người dân An Lộc bị chôn tập thể, bằng hàng chục ngàn trái đạn pháo đủ loại của Việt Cộng. Có quốc gia nào trên thế giới đứng ra tố cáo, hay phản đối chuyện Việt Cộng pháo kích giết hại dân lành không? Câu trả lời, hoàn toàn không có. Tự dưng tao cảm thấy thương cho cái địa ngục An Lộc này quá chừng.

Hình minh họa

Khi màn đêm buông xuống, An Lộc chìm vào bóng tối mênh mông, một vài trái đạn pháo lẻ loi xé toạc màn đêm, âm thanh vang dội khắp núi rừng như nhắc nhở rằng chiến trường chỉ tạm thời yên tĩnh. Dưới ánh sáng của một trái hỏa châu không biết do đơn vị nào bắn lên, tao thấy vài con chó đói, đang chúi đầu bươi mấy cái xác chết vừa được chôn sơ sài, vội vàng lúc ban ngày. An Lộc đổ nát, hoang tàn như một bãi tha ma. Một ngày tử thủ An Lộc vừa trôi qua.

Đại đội của tao, quân số lúc mới vào An Lộc trên một trăm người, ngày về còn chưa tới bảy chục. Trung úv đại đội trưởng và ba ông chuẩn úy trung đội trưởng của tao lần lượt rủ nhau giã từ vũ khí, tao là thằng thiếu úy duy nhất trong đại đội còn sống sót. Tao lên nắm đại đội trưởng, trông coi mấy chục người lính còn lại của đại đội. Từ khi trở về từ cõi chết, tao nghiệm ra một điều, sống hay chết không phải do mình lựa chọn mà do ở số trời định đoạt. Tao tin như vậy.

Mày có biết tại sao tao viết thư cho mày không? Tao đang nằm tái khám ở Tổng y viện Cộng Hòa. Tao nhớ lại, ngày xưa trước đêm lễ gắn Alpha, truyền thống của Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt là phải chinh phục đỉnh Lâm Viên, vì nó là đỉnh núi cao nhất của cao nguyên Lâm Viên, chinh phục được ngọn núi này, chứng tỏ người Sinh viên sĩ quan đã Tự Thắng được mình. Tao biết, dấu chân của tao hãy còn hằn sâu trên đỉnh núi mờ sương đó. Vậy mà, khi tao vào An Lộc rồi trở ra, không có vết chân của tao để lại trong cái hỏa ngục hừng hực lửa đỏ đó, bởi vì hai chân của tao đã bỏ lại ở An Lộc.Hôm nay chiến trường đã im tiếng súng, An Lộc hiên ngang, oai hùng đi vào lịch sử. Riêng tao, một con chim gãy cánh, lạc bầy, mất bạn, nước mắt rưng rưng khi nhớ về trường mẹ. Tao tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt, mày đang làm việc ở đó.

Lá thư chấm dứt ngang xương, không một lời tạm biệt cũng chẳng có lấy một câu hẹn tái ngộ, tôi nhắm mắt chìm vào giấc ngủ, trái tim của tôi vẫn đập bình thường, trong khi những giọt nước mắt nóng hổi của mình tưởng có thể cuốn trôi cả một thị trấn An Lộc ở tận biên giới Việt Miên xa xôi ngàn dặm. Trường Võ Bị Đà Lạt vẫn an bình, yên ổn không một tiếng súng.

Ngày thứ hai: Đời sống dân sự, “Cổ thành nhuộm máu”.

Sáu giờ sáng, tôi thức dậy. Sau khi làm vệ sinh cá nhân, tôi ngồi vào bàn làm việc, điền vào tờ báo cáo tình hình trong đêm. Cuối tờ trình, bên tay phải, tôi viết thêm hàng chữ:

Sĩ quan trực Trung tâm hành quân.
Trung úy Nguyễn Trọng Quân ký tên.

Tôi đem tờ trình qua phòng làm việc của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng, nằm đối diện với Trung tâm hành quân, đặt tờ tường trình vào chỗ công văn đến.

Tám giờ sáng, tôi bàn giao phiên trực cho Trung úy Hàn, sĩ quan thượng phiên rồi trở về cư xá sĩ quan. Sau khi tắm rửa xong xuôi, tôi thay bộ đồ dân sự lên xe Honda chạy đến nhà Vân, cô bạn gái học cùng lớp với tôi ở Viện đại học Đà Lạt. Vân thua tôi hai tuổi, học giỏi, gia đình Vân có tiệm tạp hóa nho nhỏ ở chợ Đà Lạt. Tôi là tài xế không công của Vân với nhiệm vụ đưa đón nàng đi học, bù lại, Vân cho tôi mượn sách vở để ghi chép bài. Đó là mối giao tình mà đôi bên cùng có lợi, quan hệ giữa chúng tôi chỉ là tình bạn thuần túy, tin hay không còn tùy vào sự suy luận của mỗi người. Bạn bè trong lớp đương nhiên nghi ngờ về cái tình bạn thiêng liêng cao quý ấy, có người hỏi Vân, cô nàng làm ra vẻ bí mật trả lời: “Hỏi anh ấy”. Hỏi tôi, câu trả lời là : “Tôi đã có người yêu và chúng tôi sắp làm đám cưới, Vân chỉ là bạn của tôi”.  Sở dĩ tôi nói như vậy bởi vì từ mấy năm qua khi gặp bất cứ một cô gái nào, điều đầu tiên là tôi so sánh cô gái ấy với Dung. Sau đó trái tim tôi sẽ nói với tôi rằng, cho dù tôi đi tới chân trời góc biển cũng chẳng bao giờ tìm được ai hơn Dung. Trái tim của tôi đã ngủ quên, chỉ biết có một mình Dung kể từ ngày đầu tiên tôi gặp Dung tại nhà nàng, ngôi nhà có hai cây vú sữa.

Hình minh họa

Vừa gặp mặt Vân, tôi chưa kịp chào hỏi Vân đã lẹ miệng nói:

-Anh Quân, tụi mình có nên ăn tô phở trước khi đi học hay không?

Vì muốn tiết kiệm tiền, tôi hơi lưỡng lự một chút không biết nên chọn khúc bánh mì hay tô phở? Cuối cùng tôi trả lời theo ý của Vân:

-Nên lắm chứ.

Chúng tôi ghé tiệm phở Tùng ở đường Hàm Nghi. Tôi vừa ăn phở vừa ngắm Vân, rồi thầm nghĩ phải chi mình thương được cô Vân này thì khỏe biết mấy. Vân đâu có xấu, nhan sắc trên trung bình lại ăn nói có duyên, thiên hạ bu theo Vân cũng lắm nhưng tại sao mình không một mảy may rung động. Hình như Vân cũng có một trái tim bằng sắt, Vân coi tôi như là bạn gái của cô ta, mặc dầu hai đứa thường xuyên gặp gỡ, tiếp xúc. Tôi ngẫm nghĩ hoài vẫn không tìm ra câu trả lời. Hai năm rồi bạn vẫn là bạn, không có gì thay đổi.

Tụi tôi đến giảng đường Minh Thành trễ ba mươi phút, hai đứa lén vào chỗ ngồi. Vân hỏi người bạn:

-Thầy có điểm danh không?

-Không.

Lớp học kéo dài đến mười hai giờ trưa, hết giờ học, tôi chở Vân đến quán cơm sinh viên ở đường Võ Tánh cách Viện đại học khoảng hơn một cây số. Chúng tôi thường ăn cơm trưa tại đây bởi vì thuận đường, rẻ và ngon.

Cơm nước xong xuôi tôi chở Vân trở lại trường, mới hơn một giờ, hãy còn sớm chúng tôi lên Trung tâm sinh viên, mỗi đứa làm một ly cà phê, chuẩn bị bài vở cho lớp học sắp tới. Hôm nay thứ Ba, từ hai giờ đến sáu giờ chiều tụi tôi có lớp ở giảng đường Thượng Chí, bốn tiếng đồng hồ dài đăng đẳng, nghe giảng ghi chép rồi cũng qua đi.

Tan học thay vì chở Vân về nhà, tôi ghé cà phê Hạnh Tâm. Vân hỏi:

-Mình uống cà phê nữa hả anh?

Trong lòng nhẹ nhàng, khoan khoái, tôi trả lời Vân:

-Uống mừng đã học xong một ngày.

Tôi là một thằng ba phải, khi ăn uống, tôi thường so đo, tính toán nhung khi vô quán cà phê, tôi lại dễ dãi với mình, không đắn đo, không suy nghĩ.

Đang chăm chú nhìn những giọt cà phê đen quánh rơi chầm chậm xuống cái ly thủy tinh trong vắt, đột nhiên tôi cảm được bàn chân của Vân đang đạp nhẹ lên chân tôi.

Vân nói nhỏ với tôi:

-Anh Quân, có ông lính ngồi bên kia cứ nhìn anh đăm đăm.

Hình minh họa

Tôi nói:

-Kệ nó, cho nó nhìn. Nó nhìn em chứ không phải nhìn anh đâu. Ai biểu đẹp làm chi, phải ráng mà chịu.

Đâu chừng một phút sau, Vân lại nói:

-Hình như ông ta muốn nói gì đó.

Tôi quay đầu lại, khi nhìn thấy người lính tôi giật mình như chạm phải một luồng điện.

-Mày đó hả?

-Ừ, tao đây. Nhân đầu bạc đây.

Tôi vẫy tay:

-Qua đây ngồi cho vui.

Nhân đầu bạc tay bưng ly cà phê, tay cầm gói thuốc lá đi qua bàn của tôi. Tôi bắt tay Nhân rồi giới thiệu:

-Đây là Vân, bạn học cùng lớp với tao ở Viện đại học Đà Lạt.

Nhân đầu bạc khẽ gật đầu:

-Hân hạnh được biết Vân.

Quay qua Vân, tôi giới thiệu tiếp:

-Còn đây là Nhân, bạn cùng lớp với anh thời trung học.

-Dạ chào anh.

Tôi nhìn bộ quân phục Thủỵ Quân Lục Chiến với cặp lon đeo trên vai của Nhân rồi nói:

-Hơn năm năm rồi bây giờ mới gặp lại nhau, mày là trung úy Thủy Quân Lục Chiến?

Nhân trả lời:

-Đúng.

Hắn hỏi tiếp:

-Mày vẫn đi học sao Quân? Nhìn bộ đồ dân sự mày bận mà tao phát thèm.

Tôi nói:

-Đừng có thèm, tao cũng là lính như mày thôi. Tao hiện là trung úy Trường Võ Bị Đà Lạt.

Nhân đầu bạc trố mắt nhìn tôi:

-Mày đi Võ Bị Đà Lạt? Ngon dữ há!

-Tao tốt nghiệp Thủ Đức, ra trường được chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt, làm việc ở Trung tâm hành quân. Ở đó làm việc một ngày nghỉ một ngày, lợi dụng ngày nghỉ tao đi học thêm ở Viện đại học Đà Lạt.

Nhân đầu bạc nhíu mày, với giọng nói tựa như nghi ngờ.

-Làm một ngày rồi nghỉ một ngày?

Hình minh họa

Tôi đáp:

-Đúng.

Nhân lắc mạnh đầu:

-Mẹ nó, tao đi lính năm năm rồi, dù có nằm mơ tao cũng không tin được chuyện có thứ lính kỳ lạ như mày. Bọn tao bắn nhau với Việt Cộng trong rừng sâu núi thẳm, từ ngày này qua tháng nọ, hết năm này tới năm khác vùi đầu trong chiến trận, hôm nay sống ngày mai có thể chết. Một năm được mươi ngày phép, mừng thấy mẹ, đã vậy khi đưa giấy phép cho mình, tiểu đoàn trưởng còn chần chừ như tiếc rẻ không muốn đưa. Mày biết không, sếp đưa tờ giấy phép cho mình mà tay không muốn rời tờ giấy, cứ như là Thúc Sinh bịn rịn không nỡ chia tay Thúy Kiều. Nhờ biết gia đình mày từ trước, nếu không tao sẽ nghĩ chỗ mày làm việc chỉ dành cho con ông cháu cha.

Tôi nói với Nhân đầu bạc:

-Tao biết, mày cũng tốt nghiệp Thủ Đức như tao nhưng mặc bộ đồ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến như mày, tao làm không được. Thực lòng mà nói, lúc nào tao cũng ngưỡng mộ những thằng như mày.

Nhân đầu bạc chậm rãi mồi thuốc, hắn trả lời tôi với giọng trầm trầm.

-Mày bơm tao cũng vừa thôi.

-Mày muốn nghĩ sao cũng được. Có chuyện này tao muốn hỏi, mày đang đi phép phải không?

Nhân đầu bạc gật đầu, hắn kéo cái ống quần rằn ri lên cao, chỉ vào vết thương trên bắp chân hãy còn quấn băng trắng.

– Cổ thành Quảng Trị.

Vân bất ngờ nói chen vào:

-Có đau không anh?

Nhân bật cười nhìn Vân:

-Lẽ ra thì hết đau rồi, nhưng khi nghe Vân hỏi tôi lại thấy đau đau.

Vân xua tay đính chính:

-Vân không có đụng chạm gì tới vết thương của anh, tại sao anh lại thấy đau?

-Vết thương nơi thằng Quân, cô Vân mới lo phải không?

-Cũng không luôn, em với anh Quân chỉ là bạn.

Tôi xen vô.

-Có nặng không?

-Bác sĩ nói chuyện nhỏ, tuần tới tao có thể trở lại đơn vị.

Hình minh họa

Gương mặt Nhân lộ vẻ đăm chiêu khi nhắc đến hai chữ đơn vị, khiến mái tóc muối tiêu của hắn vốn đã bạc, trông càng bạc hơn, hắn nói:

-Không biết giờ này đại đội của tao còn được bao nhiêu người, có còn đang ở nơi Cổ thành hay đã di chuyển đến một mặt trận mới?

Vân hỏi:

-Cổ thành với đơn vị của anh có gì hấp dẫn, khiến anh đang nghỉ dưỡng thương vẫn nhớ hoài tới nó. Nói cho Vân nghe chút xíu về Cổ thành Quảng Trị, được không?

-Được quá đi chứ, cô Vân hỏi ai mà dám chối từ.

Nhân đầu bạc nhíu mày, vừng trán cao và rộng của hắn hơi nhăn lại.

-Đâu khoảng, à..à…ngày hai mươi bảy tháng bảy, Thủy Quân Lục Chiến của tụi tôi được lệnh thay thế Nhảy Dù, tiếp tục tấn công Việt Cộng đang cố thủ trong thị xã và Cổ thành Đinh Công Tráng.

Vân thắc mắc:

-Tại sao không dùng cả Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến, cùng tấn công vào Cổ thành.

-Cô Vân nè, đừng có hỏi tại sao. Một thằng sĩ quan cấp nhỏ như tôi làm sao biết được, mới gặp thiếu tá tiểu đoàn trưởng tôi đã run huống gì hỏi chuyện này nọ với ông ta. Lính chỉ biết thi hành lệnh của cấp trên giao phó. Hình như trong ngôn ngữ của lính, không có cái chữ “hỏi”. Để trả lời câu hỏi của Vân, theo sự suy nghĩ của tôi, sau một tháng trường đánh nhau, giành giựt từng tấc đất với Việt Cộng quanh Cổ thành, lực lượng Nhảy Dù hao hụt cũng bộn cần phải được thay thế để nghỉ ngơi, bổ sung quân số. Vào lúc đó, Thủy Quân Lục Chiến bọn tôi, quân số, đạn dược vẫn còn đầy đủ.

Nhân đầu bạc ngừng nói, hắn mồi thêm một điếu thuốc nữa, thả khói bay đầy phòng.

-Vân đã thấy Cổ thành Quảng Trị bao giờ chưa?

Vân trả lời:

-Chưa anh ạ.

Quay qua nhìn tôi, Nhân đầu bạc hỏi:

-Còn mày?

-Cũng chưa.

-Đó là một cái thành cổ hình vuông, xây bằng gạch, hình như là được trùng tu lại vào cái thời vua Minh Mạng thì phải. Mỗi cạnh của Cổ thành dài khoảng nửa cây số, tường thành cao khoảng năm mét, bề rộng trên mặt thành dư sức cho xe hơi chạy. Chung quanh thành có hào sâu, nước lên tới cổ, bề rộng của cái hào này rộng chừng mười mét. Bốn góc thành có bốn cái pháo đài.

Hình minh họa

Nhân đầu bạc nhìn Vân.

-Cô Vân đã hình dung được Cổ thành Quảng Trị như thế nào chưa?

-Dạ được.

-Lực lượng của địch bên trong Cổ thành, được trang bị đầy đủ vũ khí và đạn dược với hệ thống phòng thủ kiên cố, vững chắc, đang cố thủ trong đó.

Nhân hỏi tôi:

-Mày nghĩ gì về trận chiến tử thủ An Lộc của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mấy tháng trước đây.

Tôi ngần ngừ.

-Khoảng bốn chục ngàn quân Cộng Sản, vây tám ngàn quân Việt Nam Cộng Hòa trong An Lộc.

-Mày nói đúng, như vậy quân bao vây phải bằng năm lần quân cố thủ.

Tôi nói:

-Đúng vậy.

Nhân lắc đầu,

– Cổ thành Quảng Trị không phải như An Lộc mà nó ngược lại. Lực lượng của địch gồm có Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 320 của Việt Cộng, một tiểu đoàn của Sư đoàn 325, một tiểu đoàn địa phương, tất cả nằm tử thủ bên trong Cổ thành. Chỉ có một Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến của tụi tao, vừa phải đương đầu với Việt Cộng ở Quảng Trị, vừa phải chia quân với mục đích cuối cùng là phải tái chiếm Cổ thành bằng mọi giá. Để đánh vào đó, chuyện trước tiên là hàng trăm khẩu pháo của mình bắn tập trung vào trong Cổ thành. Khi Pháo binh chấm dứt, Không quân Việt, Mỹ lại tiếp tục dội bom liên tục hai mươi bốn trên hai mươi bốn. Bọn Việt Cộng cũng lì lợm không kém, tụi nó chống trả mãnh liệt, nhờ vào những công sự phòng thủ chắc chắn bên trong thành. Thủy Quân Lục Chiến bao quanh Cổ thành nhưng không làm sao tiến vào được bên trong.

Nhân ngưng nói, hắn nhìn tôi rồi quay sang Vân.

-Quý vị có biết tại sao không?

Tôi nói:

-Vân là học sinh, tao là lính văn phòng, làm sao tụi tao biết được. Có thể lính Việt Cộng thiện chiến, quen với trận mạc, cấp chỉ huy giỏi.

Nhân đầu bạc cười:

Hình minh họa

-Không phải như vậy đâu, lính Cộng Sản giống như là âm binh vì ban ngày họ trốn biệt, đêm đến mới xuất hiện đánh phá, còn cấp chỉ huy, lãnh đạo của họ là phù thủy, bởi vì chỉ có phù thủy mới trị được cái lũ âm binh. Đánh nhau với một đạo quân vô Tổ Quốc, cuồng tín, chỉ biết sống chết cho Bác cho Đảng như vậy, Thủy Quân Lục Chiến bọn tao không què tay cũng gãy gọng, đại đội của tao từ một trăm tám chục tay súng, còn lại khoảng một trăm. Sáu sĩ quan của đại đội chết hết ba, chỉ còn lại tao và hai chuẩn úy. Có đêm dưới nhũng tia chớp của đạn pháo xé trời, tao nhìn dòng nước đen ngòm của cái hào sâu bao quanh Cổ thành, mà cứ tưởng rằng đó là máu của lính Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Mày nói cho tao biết, những kẻ sống sót có phải là hột gạo trên sàng hay không?

Nhớ đến bức thư của Đức mà tôi mới đọc tối hôm qua, thay vì trả lời câu hỏi của Nhân đầu bạc, tôi hỏi lại hắn:

-Mày nhớ thằng Đức, học chung lớp với tụi mình không?

-Đức nào? Lớp mình có tới hai thằng Đức.

-Thằng Đứt thắng.

Nhân đầu bạc cười, nụ cười của thời tụi tôi còn học ở trung học.

-Tao nhớ rồi, xuống dốc mà đứt thắng kể như tàn đời em ơi. Mà tại sao mày lại nhắc đến nó.

-Nó tử thủ An Lộc, đại đội của nó có năm sĩ quan chết hết bốn, nó là thằng sĩ quan duy nhất trong đại đội còn sống sót. Tải thương về Tổng y viện Cộng Hòa, khi vào An Lộc nó là thiếu úy, khi ra khỏi An Lộc nó là trung úy nhưng hai chân của nó đã bỏ lại tại An Lộc.

Nhân đầu bạc nói với tôi:

-Lần này về Sài Gòn, tao sẽ tới Tổng y viện Cộng Hòa thăm nó, sẽ kể cho nó nghe chuyện gặp mày ở đây. Mày có nhắn gì với nó không?

-Nói với nó, khóa 29 Võ Bị Đà Lạt sắp nhập trường.

Nhân đầu bạc nhìn ra ngoài trời, hớp một ngụm cà phê rồi nói:

-Bọn tao sau hơn năm mươi ngày đánh nhau chí chết với Việt Cộng, cho đến khi lá cờ Quốc Gia màu vàng, ba sọc đỏ tung bay phất phới trên Cổ thành Quảng Trị, hơn ba ngàn năm trăm binh sĩ và sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến đã hy sinh, thêm hàng ngàn người bị thương khi tái chiếm Cổ thành. Đó là con số thương vong của Thủy Quân Lục Chiến mà thôi, còn Nhảy Dù và những đơn vị khác tao không biết được.

Tôi hỏi Nhân đầu bạc:

-Còn mày, bị thương vào lúc nào?

-Tao hả? Trong trận đánh dứt điểm vào Cổ thành, tao và Hạ sĩ Trung, người mang máy truyền tin cho tao, mỗi thằng lãnh một viên AK. Tao bị ở chân còn Hạ sĩ Trung ở ngực, đạn AK phá vỡ lồng ngực làm sao mà sống được. Tội nghiệp, trước khi chết Hạ sĩ Trung còn gắng gượng nói với tao : “Nhờ trung úy nhắn giùm vợ em, là em đã mua cho con của em đôi giày, nhưng chưa kịp gởi về”.

Tôi hỏi Nhân đầu bạc:

– Mày đã gặp vợ của người lính truyền tin tử trận chưa? Nhân đầu bạc trả lời với giọng nói buồn buồn.

Hình minh họa

-Nhận lời ủy thác của người sắp chết, làm sao tao quên được, nhất là người đó lại là người lính đã từng vào sinh ra tử với mình suốt mấy năm liền, từng chia xẻ với nhau vài nắm cơm khi đói, dăm vốc nước khi khát. Ngày bước chân ra khỏi quân y viện, tao tìm đến nhà của Hạ sĩ Trung. Sau đó, phải dò hỏi suốt cả buối, tao mới tìm được ngôi trường tiểu học, nơi mà vợ của Hạ sĩ Trung với gánh xôi bắp đang bán cho học trò. Thằng bé con của Hạ sĩ Trung, ngồi trong một cái thúng bên cạnh gánh xôi. Khi thấy tao trong bộ đồ Thủy Quân Lục Chiến, thằng bé hỏi mẹ nó “Khi nào ba về hả má?”. Người đàn bà, với hai bàn tay đang gói xôi nhanh thoăn thoắt bỗng dưng ngừng lại, bà ta đưa cái ống tay áo lên thấm những giọt nước mắt lăn dài trên má rồi nói, giọng nói nghe như cam chịu mọi khổ đau bất hạnh: “ Ba con không về nữa đâu, ba đi theo ông nội rồi”. Tao nhìn cánh tay áo bạc màu với mấy miếng vá nơi cùi chỏ không che được bàn tay gầy ốm, sạm đen của người đàn bà mà lòng xót xa như kim châm, muối xát. Không có thì giờ suy nghĩ, chỉ hành động theo phản xạ tự nhiên, tao lén móc bóp bỏ thêm một ngàn đồng vào cái bị giấy mà tao đang xách trên tay. Tao đưa cái bị cho vợ của Hạ sĩ Trung rồi nói “Của anh Trung gửi về cho cháu”. Nói xong, tao quay người bước đi thật lẹ, không nói cho người đàn bà biết tao là ai. Tao đã làm tròn lời hứa với người đã chết, nhưng trong lòng vẫn còn áy náy, bởi vì tao không dám nói với bà ấy, đôi giày mà tao đưa cho bà là đôi giày tao vừa mới mua ngoài chợ. Còn cái đôi giày của Hạ sĩ Trung gởi cho con mình với tất cả tình thương yêu gói trọn vào trong ấy, tao không biết nó ở đâu.

Phố đã lên đèn từ lâu, tôi bắt tay từ biệt Nhân.

Vân ôm Nhân đầu bạc với đôi mắt đỏ hoe.

-Mau bình phục nghe anh.

Hình minh họa

Quen với Vân hai năm rồi, đây là lần đầu tiên tôi thấy một cô bé nhút nhát như Vân lại có hành động bạo dạn như vậy khi thể hiện tình thương với người bạn trai mới quen. Tôi tin rằng Nhân đầu bạc là mẫu người lý tưởng của Vân, mẫu người trai thời loạn, mẫu người đã từng:

Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.

Cùng là trung úy, nhưng trung úy văn phòng như tôi, nói ra chỉ thêm mắc cỡ. Tôi hiểu, tại sao giữa tôi và Vân chỉ có tình bạn thuần túy suốt mấy năm trời. Tôi đứng bên lề đường, trong sương mù giá buốt lạnh lẽo của trời Đà Lạt, nhìn theo Nhân đầu bạc đưa Vân về nhà. Ánh đèn đêm soi rõ bóng của họ đổ dài trên đường phố, hai người mà chỉ có một cái bóng. Tôi chạy xe men theo con dốc Lê Đại Hành đi về cư xá, ngang qua khu Hòa Bình đèn đuốc sáng rực một góc trời. Đà Lạt vẫn thanh bình, yên ổn nhờ Quảng Trị đổ nát cản đường, cản bước tiến của cộng quân. Khi tôi về đến cư xá sĩ quan, kim đồng hồ trên tường chỉ mười giờ. Mới đầu Đông mà trời đã khá lạnh, tôi kéo mền đắp ngang ngực.

Một ngày của đời sống dân sự đã trôi qua. Ngày mai, tôi trở lại đời sống quân ngũ.

Phượng tím! Phượng hồng!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 12 Feb 2024

Trái đất của chúng ta tròn quay, đầu hơi dẹp, chia làm hai, bằng đường xích đạo (tưởng tượng). Phía trên, Bắc bán cầu, phía dưới Nam bán cầu. Thời tiết đối nghịch nhau! Tháng Sáu, Bảy và Tám ở Bắc bán cầu đang vào mùa Hè rực nắng! Tháng Mười Hai, Một và Hai ở Nam bán cầu, Miệt Dưới (Down Under) là nước Úc, Trời đã sang Đông, lạnh quéo râu hè!
Ôi nhớ xưa quê mình chỉ hai mùa mưa nắng. Hết nắng rồi mưa; hết mưa rồi nắng. Đôi khi chỉ trong một ngày lại nắng sớm mưa chiều. Còn bữa nào, mưa trong bình minh đó là những ngày bão rớt. Nơi mình sanh ra, rồi lớn lên, ở riết quen không còn để ý nữa. Chỉ đến khi xa rồi, mất rồi mới tha thiết nhớ làm sao?
Xin đừng cắm đầu, nhắm mắt, nhắm mũi theo Thanh Tịnh “Hàng năm cứ vào cuối Thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại náo nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường…” chỉ có trong văn thơ của miền Bắc. Dẫu vậy, bất cứ đứa học trò trai hoặc gái của quê mình, của tui một thời thơ dại, ai ai cũng thuộc lòng bài nầy hết ráo!

***

Quê mình khác, quê người khác. Khác từ chuyện ăn đến chuyện học. Ở Úc, niên học bắt đầu từ tháng Giêng và chấm dứt vào tháng Chạp. Học như điên, học suốt 12 tháng hay sao? Đâu có! Học trò Úc cũng có nghỉ, nhưng không nghỉ Hè một lèo, suốt 3 tháng, từ tháng Sáu cho tới tháng Chín như ở quê mình đâu. Một niên học của học trò Úc có 4 học kỳ; có bốn lần nghỉ, mỗi lần hai tuần cho nó phẻ!
So với kỳ nghỉ mùa Xuân, mùa Thu, mùa Đông, nghỉ Hè, cuối niên học, từ 19 tháng Chạp tới 26 tháng Giêng là dài nhứt, là ‘đã’ nhứt vì em yêu lu bu bận giữ cháu Nội, hổng còn thời giờ để mắt canh chừng tui có quậy ‘sảng’ hay không. Lợi dụng thời cơ, một năm xổng chuồng một lần tui bèn dông ra biển.
Dông ra biển hổng phải để tắm đâu nhe vì tui sợ cá Mập lắm. Dông ra biển để ‘địa’ mấy em Úc mơn mởn đào tơ, mặc bikini như hổng có mặc gì! Nó đã làm sao đâu!
Mùa hè năm ngoái nè, lúc lơn tơn ra biển, tui thấy một em hình như trái bưởi Biên Hòa của em đang đòng đưa trước gió. Tui bèn nhắc nhỏ: “Em gì gì đó ơi! Hình như nó ló ra ngoài kìa!” Em nhìn xuống ngực rồi thảng thốt kêu lên: “Giời ơi Giời! em đã bỏ quên con em ở trên xe ‘bus’ rồi!”

Khi vô quốc tịch, trong buổi lễ của Cáo sồ (Council), Hội đồng thành phố thường cho mỗi tân công dân Úc một cây bạch đàn hoặc một cây Phượng tím còn nhỏ, mình đem về nhà trồng, làm kỷ niệm và tạo thêm môi trường xanh bóng cây nơi mình đang sanh sống!
Loài hoa Phượng tím nầy là do người Việt ly hương chúng ta đặt tên; vì nó nở rộ vào cuối năm học như Phượng hồng của quê mình. Cho dù Phượng tím nở vào mùa Xuân; còn Phượng hồng nở vào mùa Hạ!
Phượng tím, Phượng hồng hình dáng rất khác nhau, màu sắc cũng khác nhau nhưng có cái chung là nở đúng mùa thi nên gọi là hoa học trò đấy thôi.
(Ôi tàn mùa thi, em đi lấy chồng; còn tui đi lính. Rồi tàn mùa thi năm sau, người nữ học sanh năm đó vô bảo sanh viện Từ Dũ; còn tui ra biển, dông luôn cho tới tận bây giờ)
Quê người không còn thấy Phượng hồng (vùng nhiệt đới) mà chỉ thấy Phượng tím (vùng ôn đới) không hè. Loài hoa học trò nầy, Úc gọi là Jacaranda, từ các nước Nam Mỹ đến định cư trong các công viên thành phố.
Footscray, từ đường Moore, lái xe chở em yêu đi chợ về tới ngã ba, gặp đường Ballarat, trước khi quẹo phải để về nhà, theo thói quen vào tháng Mười, Mười Một và tháng Chạp, tui thường nhìn thẳng vào rìa công viên Footscray, là thấy ngay cành Phượng tím của mùa Xuân xa xứ quê người!
(Thành phố Maribyrnong, nơi tui lưu lạc rồi tấp đại vào đây, có hơn 100 công viên cho tình nhân đến để hun nhau, vườn cảnh cho ông già bà lão đến ngồi, càm ràm lẫn nhau một lát rồi nghỉ mệt để ngắm hoa Phượng tím! Đôi ta hai đứa hai đầu băng đá, nhớ lại cái thuở học trò êm đềm, lúc chưa biết yêu nhau, thiệt là đẹp biết bao. Còn hơn bây giờ, tối ngày chỉ lo cãi lộn!)

***

Khi chưa trổ hoa, Phượng tím, Jacaranda, lá xanh khá giống cây Phượng hồng, nhưng đến khi hoa nở thì hoa không giống loài hoa Phượng hồng mà ta đã hằng quen.
Hoa Phượng tím, Jacaranda, như những chiếc chuông nhỏ màu tím, dài chừng 4-5 cm rung rinh trong nắng. Sydney và Melbourne trời ấm muộn hơn hơn nên hoa nở muộn hơn, tím cả một khung Trời tím khi mình ngước mắt nhìn lên. Tím một thảm hoa, đầy trên mặt đất, khi mình nhìn xuống.
Mùa thi đang đến! Những em sinh viên trường Đại học Queensland cũng tin dị đoan thấu Trời đi. Các em nghĩ rằng khi cùng anh, đôi ta chậm bước trên đường đầy hoa Phượng tím mà gió làm rơi một cánh hoa trên mớ tóc mây, em gục vào vai anh khóc nức nở vì tin rằng mình sẽ thi rớt.
(Ối đâu cần cánh hoa Phượng tím rơi rơi làm em thi môn nào rớt môn đó. Học không lo, chỉ lo ‘y cà lết’ (yêu) em rớt là cái chắc!)

***

Mùa Hè ngày xưa cũ, trốn cái nóng kinh hoàng không gì bằng thơ thẩn trốn vào công viên Tao Đàn để ngắm Phượng hồng và nghe tiếng kêu râm ram, rền rĩ rmột khúc tình ca, của những chú ve cô đơn đang gọi bạn tình!
Thời thơ dại, chưa biết yêu là phẻ nhứt hè. Lớn lên một chút thì đường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn. Làm một con tính trừ, thì lỗ quá xá là lỗ nên tui chọn mùa Hè khoan yêu, dứt áo xa em để về quê cắm câu, bắt con nhái bầu nhấp nhấp mấy con cá lóc tham ăn phóng tới, táp nghe cái ‘phập’!
Phải công nhận tuổi học trò đúng là thời hoa mộng, là ăn chưa no, lo chưa tới, đi học chỉ mong đến lúc bãi trường để dông về quê mò cua đồng về rang muối hoặc bắt ốc bưu luộc chấm nước mắm gừng! Bữa khác thì xách cái rổ, lội ra đồng năng, lác quê mình mà xây cù. Nghĩa là cắm cái rổ xuống chỗ nước còn đọng vũng, kêu mấy đứa lội vòng vòng cho cá trắng, cá đen nhỏ bằng mút đũa sợ, nó chạy vô cái rổ của mình. Được kha khá, cá đầy vài ba chén ăn cơm thì đem về rửa sơ sơ với nước muối; xong bắt chảo, chờ mỡ nóng lên, chiên xù. Thịt cá nó bong, nó xù ra, xúc, cuốn với bánh tráng, rau sống: dấp cá, đọt xoài, rau răm, chấm nước mắm me.
Mùa hè dạy tui nhiều điều hay lắm. Thà là mang tiếng ngu như bò, thẩn thơ đồng chiều gốc rạ, không làm gì hết ráo; đôi khi sướng hơn đi học nhiều! Khoái bãi trường là vì vậy! Hi hi!”

***

Có người nói yêu thì lỗ mà không yêu thì khổ! Chính vì sợ lỗ và sợ khổ, sợ bị trầm cảm; nên tui trầm đò, khoan yêu em được ngày nào hay nào đó cho nó ‘phẻ phắn’ cái tâm hồn.
Tuy nhiên, trước rạo rực của tuổi dậy thì không phải ai cũng biết ‘né’ được như tui đâu! Bằng cớ là nhà thơ Đỗ Trung Quân thở than: “Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng. Em chở mùa Hè của tôi đi đâu? Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười sáu, Thuở chẳng ai hay thầm lặng mối tình đầu…”
Bài nầy do Duy Quang, bạch diện thơ sinh, mày râu nhẳn nhụi, áo (trắng) quần (xanh) bảnh bao hát là hết ý! Vũ Khanh hát cũng rất hay; chỉ có cái là đóng vai học trò nhưng râu ria hơi ‘bị’ nhiều nhe. He he!
Về ca từ, tui cũng xin có một ý kiến nhỏ như con thỏ là: “Chùm Phượng vĩ em cầm là tuổi tôi mười sáu”; xin đừng sửa lại tuổi tôi mười tám mà chi (đừng sợ bị chúng chửi là con nít quỷ). Ông bà mình từng phán: “Nữ thập tam; nam thập lục” nên tuổi tôi mười sáu thầm lặng mối tình đầu là quá phải rồi.
Mười tám tuổi mới biết yêu lần đầu? Tui e chú em nầy chắc do thiếu ‘hóc môn nam’ (Testosterone) nên dậy thì muộn hay chăng?
Thế đấy, văn thơ không nên thò tay mặt đặt tay trái vô sửa tùm lum tà la nha. Cứ hốp tốp, không cặn kẻ nghĩ suy, sửa chỉ có một con số mà thôi, lại làm bài hát mất biết bao nhiêu là ý nghĩa!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Phương thuốc nhiệm mầu: Ôm!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu.

Post by Sơn râu 12 Feb 2024

Ôm!

Ôm (ai đó) thật chặt trong vòng tay là để bày tỏ tình cảm nồng nàn bước đầu.

Sau ôm, rồi mới hun, rồi âu yếm, bám vào, giữ chặt một ai đó, áp vào ngực, phía trái tim vì sợ mất…

Việc truyền giống để nhân loại khỏi diệt vong là hành động sau cùng.

Cũng như cái ôm của tui với người em rất đẹp, bạn học cách đây gần nửa thế kỷ. Ôm đại vậy mà không thấy em cự nự gì sất, không thấy xô ra, làm tui khoái quá trời! Hi hi!

Tại sao khoái ngang xương vậy cha nội? Vì, theo nghiên cứu y khoa thứ thiệt thì: Ôm, bồng, ẵm… nồng ấm! Là phương thuốc nhiệm mầu, là liều thuốc thần tiên.

Vì nó làm chúng ta sung sướng, do não tiết ra chất oxytocin, còn gọi là “cuddle hormone” (hóc môn được bồng bế, ôm ấp); làm giảm huyết áp, giảm nỗi lo âu; tốt cho tim mạch, vì tim ấm lại khi được em yêu tiếp thêm nhân điện làm anh giựt giựt.

Ôm em lạ, tim đập thêm 10 nhịp một phút. Ôm em quen, tức vợ, tim đập chỉ thêm 5 nhịp một phút. Kết luận là quý ông anh mình, khi có dịp, nên ôm em lạ hơn là ôm em quen nhe! Bác sĩ nói, chớ hổng phải tui xúi dại cho quý ông anh nát cửa tan nhà đâu!

Già chừng nào ôm càng có lợi chừng nấy. Vì già rất cô đơn nên rất cần ôm. Ôm chó mèo gì cũng được. Nhưng ôm mèo (cụt đuôi) càng tốt! Vì có cảm giác gần gũi hơn, giảm cái vụ đời tui cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn, vì tự ti mặc cảm: tui già rồi, là đồ phế thải!

Ôm! Hơi bị thiếu!

Chuyện rằng:  Năm 1974, đang du học tại Pháp, mới 22 tuổi, Phác Cận Huệ được thân phụ Phác Chánh Hi, Tổng thống Hàn quốc triệu hồi về để thay thế thân mẫu trong vai trò Ðệ nhứt Phu nhân, vì Mẹ của Phác Cận Huệ bị một tên theo Cộng sản Bắc Hàn bắn chết.

Năm năm sau, 1979, Phác Chánh Hi bị chỉ huy trưởng tình báo Hàn Quốc bắn chết.

Tự tay Huệ đã lau sạch vết máu trên thân thể của thân mẫu, rồi của thân phụ mình! Rồi em trai lại dính vào xì ke ma túy. Em gái dính vào chuyện lừa đảo. Những bi kịch đó đã làm Phác Cận Huệ rất cô đơn, giờ thành cô độc.

Phác Cận Huệ chiến thắng vào ngày 25, tháng Hai, năm 2013, dọn trở lại Phủ Tổng thống Hàn quốc tức ‘Blue House’ (Phác Cận Huệ), là Tổng thống Hàn Quốc thứ 11.

Kẻ ghét đặt cho Huệ biệt danh ‘Nữ hoàng băng giá’. Vì Huệ vẫn còn thuộc binh chủng phòng không… chiếc bóng.

Nghĩa là ‘Huệ’ chưa có ôm ai và chưa có ai ôm! Lan Huệ sầu ai Lan Huệ héo?! Lan Huệ sầu đời trong héo ngoài tươi!

“Tôi không có gia đình, không có con cái nên không bận tâm chăm sóc và để lại gia tài. Nhân dân là gia đình của tôi và hạnh phúc của nhân dân là động lực thúc đẩy tôi hoạt động chính trị”.

Chưa từng kết hôn. Không ôm ai và không được ai ôm, nên Phác Cận Huệ đã bị tẩy não, sa vào vòng tay của một bà đồng bóng, lang băm, chuyên lừa đảo tên Choi Soon Sil, 60 tuổi!

Choi Soon Sil coi sóc luôn cả tủ quần áo của Huệ, từ những việc nhỏ nhất như nên mặc trang phục màu nào trong những ngày nào, được phép chỉnh sửa một số bài phát biểu quan trọng của Tổng thống Phác Cận Huệ.

Nghĩa là ‘Huệ’ ăn gì, mặc gì, nói gì đều do Choi Soon Sil quyết định hết ráo!

Choi Soon Sil, một người dân bình thường, không nắm bất cứ chức vụ nào trong chính phủ, lại thường xuyên ra lịnh cho thuộc cấp của Tổng thống,  can dự vào việc bổ nhiệm những viên chức hàng đầu của chính phủ?!

Phác Cận Huệ chỉ còn là một con bù nhìn, bị người khác giựt dây, lợi dụng ‘Huệ’ để hối mại quyền thế, tham nhũng, làm đầy túi tham không đáy của mình.

Như vậy ai mới thực sự là Tổng thống Hàn quốc đây? Câu hỏi nầy làm người dân Hàn quốc choáng váng và tức giận.

Biểu tình phản kháng dữ dội đã bùng lên, cả hàng trăm ngàn người trong đêm Seoul giá lạnh đòi Phác Cận Huệ phải ra đi.

Trước sau gì rồi, Huệ cũng phải đi thôi! Xét cho cùng cũng tội nghiệp, là vì ‘Huệ’ cô đơn rồi cô độc. ‘Huệ’ không ôm ai và cũng không được ai ôm.

Ðó đó! Cái ôm nó quan trọng biết dường nào cho vận mạng cả một quốc gia!

Ôm ẩu!

Thủ môn đội tuyển quốc gia Hoa Kỳ, Tim Howard, đã trở thành ngôi sao bóng đá thế giới khi chặn đứng tới 16 cú đá phạt, cú sút, cú đánh đầu của đối phương khi đội tuyển quốc gia Bỉ và Mỹ gặp nhau tại vòng chung kết World Cup ở Brazil.

Hai ngày sau khi đội tuyển Mỹ bị loại, Tim Howard trở về tới Phi trường quốc tế Los Angeles. Thì chú em mình lại chặn được một cú ôm của một nam ủng hộ viên cuồng nhiệt.

Tui cho rằng Tim Howard làm vậy là đúng. Ủng hộ viên cuồng nhiệt nóng bỏng nhưng lại là đực rựa thì ai mà chịu cho ôm hè?

Cầm băng là liễu yếu đào tơ, đẹp như mơ, thì tui tin chắc là thủ môn Tim Howard có ngu đâu mà từ chối.

Rồi  Justin Bieber, ca sĩ người Canada, đi chợ. Có một em ái mộ giọng ca nên xin ôm chàng ca sĩ một cái.

Justin Bieber chỉ trả lời cộc lốc là:”No!” Làm em chết lặng.

Va vào tui, xin cứ vô tư! Trẻ là được, không cần phải đẹp cỡ hoa hậu cấp phường đâu!

Ôm nhiều quá!

Không có cái chuyện ‘ôm miễn phí’! Ðó là cái tin trên báo chí!

Thành phố Montreal, Canada, có anh chàng  thường mặc một chiếc áo T- shirt, có in chữ ‘free hugs’ trước bụng!

Chú em hơi tửng từng tưng nầy hay đến những nhà ga xe điện ngầm trong thành phố Montreal, cho những người qua lại ai muốn ôm… thì được chú ôm miễn phí.

Chu choa cái thằng cha nầy tự tin thấy mà gớm! Làm như mình hấp dẫn lắm vậy?! Hổng biết có chích ngừa chưa nữa?!

Nhưng cáo sồ Montreal không thích được ôm miễn phí mà còn tặng cho anh chàng ở không, làm chuyện ruồi bu bá láp nầy, một cái giấy phạt 101 dollars.

Lý do phạt là: Dịch vụ, ôm người trước công chúng mà không có giấy phép là việc bất hợp pháp.

“Ôi chỉ có ôm, và họ báo tôi có tội? Tội gì? Tội mở rộng vòng tay hay tội đứng quá lâu ở ga xe điện?”

Boucher sẽ kiện cáo sồ Montreal ra Tòa, và sẽ tiếp tục cho người ta ôm miễn phí, nhưng tránh không đến những nhà ga xe điện như trước đây, để chờ ông Tòa phán như thế nào cái đã! Rồi mới tính chuyện cho ôm tiếp hay không.

Lỡ bị thêm vài tấm giấy phạt mà ông Tòa lại xử thua thì còn có nước mạt.

Do đó cho ôm nhiều quá cũng không có tốt.

Dan Peterson and Norah Wood

Ôm đúng!

Như vậy ôm hơi bị thiếu cũng khổ. Ôm ẩu cũng khổ. Ôm nhiều quá thì bị lỗ. Nhưng vẫn còn cái ôm nữa, không lỗ mà lại lời! Ðó là ôm với trái tim rung động thương người, với tấm lòng chân thật, đúng người, đúng lúc và đúng cách.

Chuyện rằng: Nàng, Mary, qua đời. Chàng, Dan Peterson, 82 tuổi, cảm thấy rất cô đơn rồi rơi vào trầm cảm. Tối ngày chỉ thu lu ngồi nhìn những con sóc nhảy nhót ngoài hiên nhà để chờ tới ngày đi.

Nhưng tất cả đã thay đổi khi một hôm Dan Peterson đến một siêu thị để mua thực phẩm. Tại đó ông cụ tình cờ gặp bé Norah, 4 tuổi, cũng đang đi mua sắm với Mẹ mình.

“Chào ông! Bữa nay là sinh nhựt của con nè! Ông ôm, chúc mừng sinh nhựt con đi!”

Ông lão cô đơn cảm động đến muốn khóc. “Lần đầu tiên trong đời, tôi cảm nhận được hạnh phúc do một cháu bé xa lạ lại quan tâm và mang đến cho tôi!”

Mẹ Tara chụp hình hai ông cháu. Tấm hình được lộng khuôn. Norah khi đi ngủ thường mang theo lúc lên giường.

Từ đó tình ông cháu ngày càng bền chặt. Mỗi tuần, cháu Norah kêu mẹ Tara chở mình đến thăm ông Ngoại.

“Norah là một thiên thần! Ðã dạy cho tôi tình yêu thương nhân loại. Trong trái tim già nua tuyệt vọng nầy, tôi sẽ dành một ngăn riêng biệt cho Norah cho tới khi tôi về với mộ.”

Kết luận là thiên hạ, nói chung, ai cũng khoái ôm và được ôm.

Nhưng quý ông anh mình nên cẩn thận vô áy náy! Ôm ẩu! Coi chừng mấy em kêu lính bắt về tội sách nhiễu tình dục nhe mấy ông anh!

Tranh Bảo Huân

đoàn xuân thu.

melbourne.

Bài văn nghị luận điểm không: Đi tìm lòng tự trọng!

hung-viet.org

Post 2 Apr 2018

Huy Phương

Post by Sơn râu 12 Feb 2024

Câu nói “Sự trung thực và lòng tự trọng chính là hai yếu tố tiên quyết để dẫn đến thành công,” đối với xã hội Việt Nam hiện nay rõ ràng là một câu nói lạc hậu đến buồn cười.

Nhưng quan niệm thành công là thế nào? Ngày nay nhà đẹp, xe đời mới, tiền nhiều, quyền chức và quyền lực được đánh giá là thành công, nhưng nếu trở lại vế đầu của câu nói, thì sự thành công này rõ ràng không phải do sự trung thực và lòng tự trọng. Xác định như vậy nên bài viết nghị luận của một học sinh trung học phải nhận điểm “không” từ một cô giáo “xã hội chủ nghĩa!”

Ngày xưa trong một xã hội tử tế, chúng ta vẫn nghe lời khuyên của cha mẹ, thầy giáo là phải biết giữ lòng tự trọng, ra đời làm điều gì cũng phải nghĩ đến danh dự, phẩm cách, đừng để ai khinh miệt, đụng đến gia tộc, ông bà, cha mẹ. Những câu cách ngôn chúng ta vẫn thường thấy viết trên bảng đen trong lớp học hàng xưa như: “Giấy rách phải giữ lấy lề,” “Đói cho sạch, rách cho thơm,” đã hằn sâu vào tâm khảm chúng ta.

Kho ca dao thời thượng đã cho ta những câu nghe xót xa khi xã hội đảo lộn, đạo lý không còn: “Thẳng thắn thật thà thường thua thiệt. Luồn lách lươn lẹo lại lên lương?”

Đã không biết xấu hổ phải che mặt, quan chức ngày nay còn nhơn nhơn ngụy biện, mồm mép, nói đến một đứa trẻ cũng không tin nổi, khi cho rằng nhờ chạy xe ôm tích lũy, bán chổi đót mà làm giàu! Cả một băng đảng che chở cho nhau nên Tổng Thanh Tra Chính Phủ, đã nói một câu rất khó hiểu là: “Rất khó kiểm soát do phụ thuộc nhiều vào tính tự giác, đạo đức của cán bộ, công chức.” Cuối cùng là huề cả làng: “Trong năm 2016, chưa phát hiện trường hợp vi phạm nào.”

Khu “biệt phủ” của ông Phạm Sĩ Quý, cựu giám đốc Sở Tài Nguyên Môi Trường tỉnh Yên Bái. (Hình: Zing)
Chính Trần Văn Truyền, nguyên ủy viên Trung Ương Đảng, Tổng Thanh Tra Chính Phủ, người đánh tham nhũng, đã sở hữu một khối tài sản khổng lồ, cùng rất nhiều biệt thự lộng lẫy thì còn nói đến ai!

Trong xã hội này không có lòng trung thực, cũng như không có lòng tự trọng. Trong một xã hội này, cán bộ xã ăn chặn tiền tuất liệt sĩ, tiền mai táng, tiền cứu trợ bão lụt; cán bộ xã hội ăn chặn tiền của bệnh nhân tâm thần; hiệu trưởng ăn chặn tiền lương của giáo viên và tiền ăn của học sinh; tổng giám đốc và kế toán, thủ quỹ đã tự ý “chi tiêu” với số tiền trên 5.1 tỷ đồng (hơn $223,507); đến chuyện lớn như Đinh La Thăng, Nguyễn Tấn Dũng, cả hai từng là ủy viên Bộ Chính Trị, giữ những chức vụ cao cấp trong chính phủ, đã cấu kết nuốt của công quỹ hàng trăm triệu đô la.

Tiến Sĩ Ngô Huy Cương (Khoa Luật, Đại Học Quốc Gia Hà Nội) tại một cuộc hội thảo của Mặt Trận Tổ Quốc, cho rằng mọi hành vi tham nhũng đều xuất phát từ cán bộ, nhất là cán bộ cao cấp, trong khi để những hành vi tham nhũng xảy ra và kéo dài là do nể nang nhau và không dám nói đúng sự thật! Cựu Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Doan đã từng nói, “bây giờ, người ta ăn của dân không từ một cái gì, từ tiền thương binh, hỗ trợ vùng cao, tiền người nghèo…  cho đến vacxin. Thế nên “càng đi nhiều nơi, tôi càng thấy buồn!” Ngày nay bọn quan chức nhà nước ăn chặn tiền cơm của học sinh, cho gia đình đứng tên lãnh tiền cứu trợ, làm thịt luôn mấy con bò giống mới được cấp, lo tom góp, đục khoét công quỹ để xây tư dinh, biệt phủ, không còn chút lòng tự trọng, không cần gì đến gia phong, để ngoài tai lời nguyền rủa của dân đen.

Ngày xưa Út Tịch tuyên bố: “Đánh Mỹ đến còn cái lai quần cũng đánh!” Rõ ràng là ngày nay, đánh Mỹ rồi, có chức quyền, thì “ăn đến cái lai quần cũng ăn!” Chúng tôi xin mượn lời của học sinh trong bài văn nghị luận “điểm không” để làm lời kết cho bài báo này: “Vẫn nghĩ rằng, chúng ta đang được sống trong một xã hội “công bằng – dân chủ – văn minh” thì chí ít, đó phải là xã hội “quan chức sống có lương tri,” “công an giao thông không nhận mãi lộ,” “bác sĩ không vòi phong bì,” “nhà báo không hoạnh họe doanh nghiệp…” Nói chung, khi mà văn hóa xã hội đã xuống cấp và mục ruỗng, cộng đồng mạng chạy theo thị hiếu rẻ tiền thì hai chữ “nhân phẩm” càng được đặt trong báo động đỏ. Vì thế, chúng ta nói đến sự trung thực và lòng tự trọng để làm gì?”

Đó là chỉ mới nói đến chuyện ăn cắp của chung bộ máy cường quyền. Còn ra những chuyện tự trọng của khuôn mặt Việt Nam, ra nước ngoài, ai cũng dè chừng vì sợ nạn ăn cắp, gái Việt đẹp lắm nên lê la tứ xứ. Đại biểu quốc hội, lãnh tiền lương của dân vào hội trường ngủ gục. Cả một anh thủ tướng, tiền hô hậu ủng, ra nước ngoài dự hội nghị quốc tế, cũng ngoẹo đầu ngủ một giấc ngon lành. Ngày xưa cha mẹ dạy con: “Lòng tự trọng là ra đường làm gì thì làm, đừng để ai chửi đến cha mẹ!”
Cha mẹ không cần biết, tổ quốc quay lưng, đảng thì không có lòng tự trọng nên sản sinh ra một thế hệ rỗng nát, càng ngày càng làm xấu đi khuôn mặt Việt Nam!

Huy Phương