This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Ca dao là câu hát để ru con, ru em. Phải cho thằng nhỏ dễ ngủ, sợ thằng nhỏ khóc lồi rún, nên giai điệu của lời ru phải trầm bổng; phải có vần, phải có điệu theo thể thơ lục bát hoặc song thất lục bát. Hai cái thể thơ nầy, Má hoặc Chị ngân nga và giữ giọng ru theo nhịp võng. Ru liền tù tì ắt phải thuộc hàng trăm câu ca dao chép đầy cả cuốn tập trăm trang. Chỉ ngưng ru khi Má hoặc Chị nghe tiếng thằng nhỏ khò khò. Thấy cái miệng nó mút chụt chụt như đang bú tí. Hai là ý nghĩa phải thâm sâu nhưng lời ru lại ngắn ngủn nên đôi khi làm mình khó hiểu. Một trong những câu lời ít, ý nhiều là: “Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc. Gió nào độc bằng gió Gò Công. Thổi trận gió Đông lạc vợ xa chồng. Nằm đêm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi”
“Đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc? Châu Đốc với Thất Sơn, 7 núi: Núi Cấm, Núi Sam, Núi Ông Két, Núi Ngọa Long, Núi Tượng, Núi Cô Tô, Núi Nước. Châu Đốc thuộc đồng bằng sông Cửu Long nhưng lại có núi. Có núi thì thế đất ắt phải cao. Nên đèn nào cao bằng đèn Châu Đốc thì bà con mình hiểu được rồi.
Nhưng gió nào độc bằng gió Gò Công? Gò Công ở đâu? Và gió Gò Công sao độc dữ vậy? Nằm về phía đông, Gò Công cách Mỹ Tho 35 km. Về phía nam, Gò Công cách Sài Gòn 60 km. Vào năm 2022, dân số Gò Công khoảng 151,937 người. Theo Nghị định ký ngày 20 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh từ ngày mùng 1, tháng Giêng, năm 1900. Hạt tham biện Gò Công thành tỉnh Gò Công. Tỉnh lỵ Gò Công đặt tại làng Thành phố, vốn là hai làng Thuận Tắc và Thuận Ngãi nhập lại.
Còn gió độc Gò Công, ta biết qua một câu ca dao đau đớn khác: “Gặp đây mới biết em còn. Hồi năm bão lụt, anh khóc mòn con ngươi” Năm bão lụt là năm 1904. Bão từ Biển Đông đổ bộ vào Gò Công theo dương lịch là ngày Chủ Nhựt mùng 1 tháng Năm. Theo âm lịch là ngày 16 tháng 3 năm Giáp Thìn. Báo chí thời đó viết rằng: “Rằm tháng 3 đương mùa khô hạn, ruộng đồng nứt nẻ bỗng trời nộ cuồng phong, mây đen bao phủ từ 10 giờ sáng đến chạng vạng. Hơn 5 giờ chiều: bỗng xoay chiều gió từ phương Đông ào ào xô gãy cây và trốc gốc, vách nhà đổ xiêu. Lá cây, lá lợp nhà tốc bay tứ tung, cây cối nằm la liệt. Rương xe, thùng bộng, mái lơn. Thuyền chài, cối giã, chạy bôn trên đồng. Xác người, xác thú chập chồng. Sóng dồi rêu dập, vun giồng lấp khe”
Bão lụt năm Giáp Thìn (1904) tại Gò Công – Ảnh tư liệu
Định Tường và Gò Công thời đó, hơn 60% nhà dân bị sập trong có hơn 80% súc vật chết và trên 5,000 người chết. Đầu xóm nghe tiếng cưa cây đóng quách, giữa xóm cành cạnh tiếng niêm hòm. Chết nhiều đến nỗi thiếu hòm thiếu ván để đóng quách mà chôn, thật rùng rợn kinh hoàng. “Rủ nhau dập xác cho liền. Gặp đâu chôn đó, chớ hề ai khiêng. Thân chết chôn rồi đã yên. Còn người sống sót gạo tiền đâu ăn?”
Bão tàn phá Gò Công rồi tới Tân An. Gió thổi mạnh nhất vào 7 giờ đêm. Lần đầu tiên cục mưa đá to bằng cái hột gà rơi tại Tân An. Nước sông Vàm Cỏ Tây, Bảo Định, kinh Lính Tập dâng lên, nhiều người chạy không kịp, bị nước cuốn trôi. Dân chúng chạy đến trú ở dinh chủ tỉnh và tòa bố. 7 giờ sáng ngày 17 tháng 3 âm lịch, mưa tạnh, nước rút lần lần. Quang cảnh thật điêu tàn, tất cả các nhà lá đều sập, các cây keo, cây me trốc gốc.
Còn Sài Gòn? Theo Nam Kỳ tuần báo, số 85, ra ngày mùng 8 tháng 6 năm 1944, bài “Trận bão năm Thìn”. Hôm ấy cũng đúng vào ngày bầu cử hội đồng thành phố. Chiều hôm trước là ngày khánh thành tuyến xe lửa Sài Gòn – Gò Vấp. Buổi sáng mùng 1 tháng 5 năm 1904, từ 7 giờ 55 cho đến 12 giờ, Sài Gòn mưa lâm râm. Đến 1 giờ, gió thổi mạnh; đến 3 giờ, gió càng dữ dội. Lúc đầu, trời chỉ có giông, lần hồi vừa giông vừa mưa đến mức như trút nước…
Ông Nguyễn Liên Phong làm thơ “Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca”: Năm Thìn rủi mắc cơn giông bão. Dựng lại bằng xưa cũng phước trời. Gò Công xiết mấy hư hao. Trời sanh trời dưỡng biết sao mà phòng?”
Bão lụt năm Giáp Thìn (1904) tại Sài Gòn – Ảnh tư liệu
Trước thiên tai cuồng loạn giết cả hàng ngàn người, ông bà mình đôi phần được an ủi khi chứng kiến tình người trong bão lụt. Nhà cổ Đốc Phủ Hải, thị xã Gò Công nhờ xây cất kiên cố nên trụ vững. Nhà ngói của ông Lộ Công Tập ở làng Long Thuận, 5 căn nền lót gạch tàu mới cất nên rất chắc chắn. Nên gần 400 người bị tai ương, sập nhà cửa đã về 2 nhà nầy xin ở tạm. Ông Lộ Công Tập gom hết quần áo trong nhà đem cho dân mà cũng không đủ. Cơm nấu bằng chảo lá sen hết chảo này tới chảo khác.
Cái đạo đức lá lành đùm lá rách; làm phước đặng phước của ông bà mình tỏ rạng như vầng nhựt nguyệt chớ không tàn ác như Hội đồng Thăng của soạn giả VC Tư Trang quá dóc trong tuồng cải lương Đời Cô Lựu.
Rồi hằng năm, cứ tới ngày 16 tháng 3 âm lịch, dân Mỹ Tho và Gò Công hợp nhau giỗ hội. “Tháng ba mười sáu lai niên. Cũng trùng một bữa, đậu tiền cúng chung”
Thiên tai kinh hoàng đó xảy ra cách nay 120 năm nên khẩu ngữ của bà con mình có nói: “Ối! Chuyện hồi năm Thìn bão lụt tới giờ, ai mà nhớ!” Dù những người sống sót trong thiên tai kinh hoàng đó giờ già cả, chết hết rồi. Nhưng bà con mình, trong đó có tui, vẫn nhớ gió độc Gò Công qua lời ru, bài thơ, bài báo, câu chuyện truyền miệng từ đời nầy sang đời khác.
Theo âm lịch, cứ 60 năm, năm Giáp Thìn đáo lại. Năm Giáp Thìn, 1964, lúc đó đời đã có em, Miền Tây mình bị lụt lớn. Thế nên bà con cho là tại năm Thìn nên con Rồng hút nước Biển Đông phun xuống làm quê mình chìm trong bão lụt.
Những người con của Gò Công bị gió độc CS năm Ất Mão 1975 làm lạc quê người. Năm 2024, năm Giáp Thìn chúng ta cảm xúc nhớ về quê cũ.
Nhà văn Sơn Nam tên thật là Phạm Minh Tài, sinh ngày 11, tháng Chạp, năm 1926, tại làng Đông Thái, quận An Biên, tỉnh Rạch Giá.
Nhưng tay chánh lục bộ ở làng thuở đó, chắc chữ Quốc ngữ chỉ học lem nhem, nên viết chánh tả trật bấy, trật bá hè. Tài hay vì ‘’’ ngắn, Tía chơi vô chữ ‘y’ dài mới chết!
Em tên là Nguyễn thị Lan; (xác thân còn đó hồn tan lâu rồi) thì Tía, chánh lục bộ, tiện tay phang luôn chữ ‘g’ vào. Lan một loài hoa rất đẹp dưới nét chữ như cua bò của ‘Tía’ bỗng ngang xương trở thành Lang, là con chó sói! Thiệt là hết nói.
Đang học trung học tại Collège de Cantho năm 1945 cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, trò Tài chưa kịp thi bằng Diplôme đành dở dang việc học.
(Trường Collège de Cantho, chánh thức lấy tên là Trung học Phan Thanh Giản từ tháng Tám, năm 1945. Học trò thi bằng Diplôme, thi viết tại Cần Thơ nhưng thi vấn đáp vẫn phải khăn gói lên tận Sài Gòn.) Học cùng thời, cùng lớp với Sơn Nam, là nhà văn Lê Xuyên, người Ô Môn, Cần Thơ nhỏ hơn Sơn Nam một tuổi, sanh năm 1927.
Những nhà văn miền Nam như Sơn Nam, Lê Xuyên, Xuân Vũ nhà vốn ở ruộng, có một điểm chung là thôi học năm 1945, vì thời cuộc đều tham gia 9 năm ‘kháng chiến’.
Nhà văn Xuân Vũ, người Mỏ Cày, Bến Tre từng học Collège de Mytho, năm 54 tập kết ra Bắc rồi theo đường mòn Trường Sơn trở lại miền Nam. Mãi tới năm 1968 mới ra ra hồi chánh Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.
Nhưng có người theo ‘kháng chiến’ nhưng nhạy bén ‘khiến chán’ trước… như Lê Xuyên, Sơn Nam bỏ về thành, lên Sài Gòn viết văn, viết báo Nhân loại, Công Lý, Ánh sáng, Tiếng chuông, Lẽ sống…như là một cái nghề để kiếm sống sau hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước qua vĩ tuyến 17.
(Bút hiệu Sơn Nam là để tưởng nhớ người phụ nữ Khmer đã cho ông bú mớm thời thơ ấu. Sơn là một họ lớn của người Khmer, Nam là để nhắc nhớ mình là người phương Nam).
Sơn Nam mất ngày 13, tháng Tám, năm 2008 tại Sài Gòn. Nhà văn Bình Nguyên Lộc nhận xét về bạn văn của mình như vầy: “Sơn Nam là một tâm hồn lạc lõng trong thế giới buyn-đinh và Mercedes, trong thế giới triết hiện sinh, tranh trừu tượng và nhạc twist. Nhưng đó là một tâm hồn đẹp biết bao nhiêu. Cái đẹp của Sơn Nam bất hủ…”
Bạn văn ca tụng nhau như vậy quả cũng là bất hủ! Thực vậy, suốt cả đời người chỉ viết văn, viết báo, biên khảo để kiếm sống một cách vất vả của kiếp nhà văn. Nhưng những trang viết của Sơn Nam không phải để giải trí, đọc qua rồi bỏ, mà là những khám phá cực kỳ thú vị về vùng đất phương Nam.
Là người Nam Bộ rặt ri, nhà văn Sơn Nam, qua lời văn giản dị, mộc mạc nhưng rất thâm trầm, am hiểu quá trình hình thành vùng đất Lục tỉnh Nam Kỳ nên đọc Sơn Nam, mình càng yêu đất nước mình hơn.
***
Năm 56, một truyện ngắn gởi báo Tiếng Dội được ông Trần Tấn Quốc, chủ báo, nồng nhiệt đón nhận. “Xin giới thiệu cùng quý độc giả thân mến: tân truyện Đường về Đồng Tháp của Đoàn Hùng Việt”.
Đoàn Hùng Việt là bút hiệu của ba tôi. Từ đó, ba tôi viết cho nhiều báo khác… kể cả các tuần báo như: Nhân Loại, Bông Lúa.
Lúc ấy, Sơn Nam mỗi tuần một truyện ngắn trên Nhân Loại như: Hương rừng Cà Mau, Tình nghĩa giáo khoa thư, Hát bội giữa rừng, Mùa “len” trâu… mà sau này gom lại thành tuyển tập “Hương rừng Cà Mau’ do nhà Phù Sa của Ngọc Linh cũng là bạn văn, phát hành năm 62.
Sau nầy trong tạp chí Hương quê của Phòng thông tin Hoa Kỳ, chuyên về nông nghiệp, mỗi tháng, còn có đăng truyện ngắn của Sơn Nam hoặc Bình Nguyên Lộc, đọc rất là khoái chí!
Hình ảnh cái tình văn nghệ của phụ thân tôi và Sơn Nam từ độ ấy. Bác Sơn Nam hơn ba tôi hai tuổi nhưng hai người gọi nhau là anh. Ba tôi gọi anh Sơn Nam; còn bác Sơn Nam gọi ba tôi là anh Việt.
Ngoài Sơn Nam ra, ba còn có các bạn văn khác như: Bình Nguyên Lộc, Lê Xuyên, Ngọc Linh, Kiên Giang Hà Huy Hà, An Khê, Dương Hà…
Nhà văn Ngọc Linh chuyên viết truyện dài với tựa rất thơ như: “Buổi chiều lá rụng… Mưa trong bình minh” gởi tặng ba hình một người đẹp với dòng chữ: “Thân tặng anh Đoàn Hùng Việt” và ký tên. Hình người đẹp đó là Kiều Chinh đang là diễn viên điện ảnh.
Nhà văn Ngọc Linh ăn mặc bảnh bao, chải chuốt, quần áo láng cón, đầu bi-ăng- tin bóng lưỡng, chạy Vespa. Còn Sơn Nam tóc chải xước, (kiểu Út Trà Ôn), không có rẽ đường ngôi bảy ba như sau nầy; mặt như lưỡi cày, môi dầy, răng hơi hô, mắt kèm nhèm dưới đôi kính cận. Áo trắng xắn tay, bỏ vô thùng đàng hoàng nhưng mang dép lè phè… đi bộ. Tay trái đeo đồng hồ ‘ô-ma -lắc’…(lắc mới chạy)… Nhưng cả hai đều tài hoa và đào hoa… như nhau. Cho nên Sơn Nam đặt tên con gái là: Đào Thúy Hằng và Đào Thúy Nga thì cũng chẳng làm ai ngạc nhiên…
(Hằng là tên trong giấy tờ, còn tên ở nhà là Mỹ Linh. Nga là Ngọc Ánh. Thúy Hằng là tên Thẩm Thuý Hằng; còn Thúy Nga là tên ca sĩ, vợ Hoàng Thi Thơ. Sau này Sơn Nam có thêm một người con gái nữa là Đào Thúy Liễu, tên ngoài là Trinh.)
“Lúc đó, Sơn Nam có người bạn viết báo tên Đoàn Hùng Việt, làm việc ở Bưu điện Mỹ Tho. Sát vách nhà chú Việt có căn nhà bỏ trống nên chú đề nghị Sơn Nam đưa vợ con về thuê ở.” Lời của Mỹ Linh.
Tôi là láng giềng, sát vách với con nhà văn nổi tiếng nầy được hai năm, thường ra ruộng mò cua, bắt ốc hay chạy qua nhà nghe say mê bác Sơn Nam gái kể chuyện xưa tích cũ.
Năm 59, ba tôi đổi đi Bưu Điện Cái Bè, tôi xa Mỹ Tho, không còn đi bắt ốc, hái rau với Mỹ Linh và Ngọc Ánh ngoài ruộng nữa. Không còn qua nhà nghe bác Sơn Nam gái kể chuyện xưa tích cũ hay ngồi trước cửa nhà nhìn xe lửa Sài Gòn Mỹ Tho, súp lê, chạy xịt khói nữa…
Bưu Điện Cái Bè, làng Đông Hòa Hiệp, là biệt thự kiểu Tây, 13 phòng, rộng minh mông, chánh phủ mướn của ông Hội đồng Đôn. Không điện, không nước. Không điện thì đèn măng sông. Nước thì nước sông, gạo chợ.
Sơn Nam một, hai tháng mới về thăm vợ con một lần ở Mỹ Tho, rồi nhơn tiện ghé Cái Bè ở chơi với ba tôi năm, bảy bữa… Nói là ghé chơi chứ thực là ông về để viết.
Sáng hai ông ăn sáng với hột gà ‘ốp-la’, muối tiêu… bánh mì bán dạo, nóng dòn. Uống cà phê phin kiểu Pháp. Bột cà phê bỏ vô phin, rót chút nước lạnh cho cà phê nở ra rồi rót nước thiệt sôi vào. Cà phê đen rất đậm, ít đường. Buổi sáng hương cà phê thơm ngát… Tôi hưởng nước nhì…
Cả hai đều ghiền thuốc lá và ghiền nặng. Ba hút ngày một gói Melia vàng, hai chục điếu, Sơn Nam cũng không chịu thua, một gói Bastos xanh.
Tới giờ ba tôi đi làm việc, chỉ cần mở cửa là tới văn phòng, thì Sơn Nam rút vô phòng, lấy sổ đầy chi chít những chữ ra xem… rồi viết… Trưa ăn cơm chung, chiều uống chút đỉnh rượu, rồi ngủ.
Má tôi một người phụ nữ đảm đang, một người vợ yêu chồng hết mực (má ai hổng vậy?) lo nấu ăn, đãi bạn văn của chồng mà không một tiếng than van.
Tụi nhỏ được ăn ngon hơn một chút… thường là canh chua cá lóc với cá sặc rằn kho tộ.
Sau đó là Rạch Giá và Sài Gòn, những nơi ba tôi đổi đi, ông Sơn Nam đều có đến thăm.
***
Năm bảy lăm, mất nước, ba tôi bị bắt đi cải tạo hết sáu tháng, dù suốt đời chỉ làm Bưu Đìện, liếm tem, cò, phát thơ chứ “làm cái chó gì đâu” mà có nợ máu với nhân dân… vậy mà cũng bị ở tù.
Ba tôi ra tù về lại Sài Gòn, đường Lý Thái Tổ kiếm sống bằng nghề đánh máy mướn. Người ta làm đơn xin thăm nuôi chồng, con ở tù vì đủ mọi lý do… (mà lúc đó ai mà hỏng ở tù… mới là lạ).
Bây giờ, quê người, viết bài nầy bằng computer, khỏ nhẹ nhàng lên “keyboard” là chữ hiện lên, tôi lại nhớ và thương ba tôi nhiều hơn nữa.
Thương vô cùng những ngón tay cong vòng của Ba; vì phải gõ lọc cọc suốt ngày trên cái máy đánh chữ “Olympia” cổ lỗ sỉ để kiếm gạo nuôi một bầy con, thân gà trống… vì má tôi đã mất lâu rồi!
***
Có lần, khoảng năm 80, cả nước đang đói tợn, từ Cần Thơ đi gạo lậu về Sài Gòn, ghé thăm ba, tôi lại được dịp gặp nhà văn Sơn Nam.
Sáu giờ chiều, dẹp bàn máy, hai ông già, bạn văn, dắt nhau ra Ngã bảy Lý Thái Tổ và Petrus Ký, ăn cơm bụi.
Bây giờ không còn canh chua cá lóc, cá sặc rằn kho khô hay cá lóc nướng trui, uống rượu “con cọp” nữa rồi! Mà là một khúc hũ qua hầm trong canh toàn quốc, uống rượu bọt đường…
Tôi cứ tưởng nhà văn Sơn Nam ở tù hơn một năm rưỡi hồi Việt Nam Cộng Hoà giờ còn được tiếp tục cầm bút thì chắc ổng phải làm quan… ngon rồi chớ… dè đâu cũng vậy… thì sao nhờ vả được hỡi trời!
Tôi hỏi ba tôi hay là bác Sơn Nam giấu, vì sợ cha con mình mượn tiền, chứ con đọc báo thấy bài của ổng nghe “mùi cách mạng” lắm mà ba?
“Hỏng có đâu con, bác Sơn Nam nói mấy thằng biên tập nó chen vô, hỏng cho, nó hỏng đăng, đói.”
“Người viết phải giao thiệp với chủ báo để biết họ cần gì, đặng mình viết mà không sợ phải “lạc đề”, nếu bài “lạc đề” thì dù có hay mấy họ cũng ném sọt rác. Khi đưa bài báo đến tòa soạn báo, họ muốn biên tập, xử lý ra sao cũng mặc kệ, miễn là họ… trả tiền sòng phẳng. Những gì họ biên tập, cắt xén thì khi in thành sách, ta cứ việc “phục hồi” lại nếu thích”. (Lời Sơn Nam).
(Sau nầy, trong Hồi ký của Sơn Nam, nếu tinh ý, độc giả cũng thấy, cái mạch văn, cái từ ngữ rặt ri của vùng U Minh, Trèm Trẹm, lại chen vào những phương ngữ gốc Bắc. Như ‘nghĩa quân’ của ông Nguyễn Trung Trực đánh chiếm Tòa Bố Rạch Giá lại thành ‘du kích’ (?!)
Cái tình văn nghệ giữa ba tôi và Sơn Nam dễ chừng hơn mấy chục năm nhưng thời gian có hề gì. Cái tình nghĩa giáo khoa thư giữa thầy phái viên báo ‘Chim Trời’ và độc giả Tư Có của cái xứ Cà Bây Ngọp, chỉ một đêm… Hai ông ăn cá lóc nướng trui, uống rượu “ông cọp”… rồi sau đó cùng chui vô mùng… nói chuyện: “Quốc văn giáo khoa thư”.
Cái tình văn nghệ giữa các ông với nhau là một chút “Hương Rừng Cà Mau” thoang thoảng nhưng lại thơm tới ngàn sau.
Thanh Hóa là tỉnh lớn nằm về cực Bắc miền Trung Việt Nam, rộng hơn 11 ngàn cây số vuông, dân hơn 3.7 triệu, có núi, có rừng, có đồng bằng và có biển nên giàu tài nguyên: lâm sản, khoáng sản, nông sản và thủy sản. Có sông lớn như sông Mã, gầm lên khúc độc hành, qua bài Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng, thời đánh Pháp.
Thanh Hóa còn nổi tiếng hơn nữa vì là quê của nhà thơ Hữu Loan, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Trong khi những nhà thơ nổi tiếng trước ông, thời tiền chiến, như Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Chế Lan Viên ăn theo thuở ở theo thì, cam tâm quỳ… để kiếm chút danh thừa, lợi cặn… thì Hữu Loan lại kiên cường không chịu luồn cúi! Sau 75, ông vào Sài Gòn, tình cờ nghe một thương binh trên sân ga, chơi Bolero, bài: ‘Những đồi hoa Sim’ của Dzũng Chinh. Ông dừng chân, lắng nghe, vẻ xúc động, xong nói: “Tôi là tác giả của bài thơ đó!”
Hữu Loan kể: “Thi đậu Tú tài Tây, ông được mướn về làm gia sư cho một đứa học trò, Lê Ðỗ Thị Ninh, sau nầy là vợ ông. Cưới nhau xong, ông tiếp tục đi kháng chiến. Hôm đó là ngày 25 tháng Năm, âm lịch, năm 1948, em ra ngoài sông Chuồn, (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống) giặt áo. Vì muốn chụp lại tấm áo nên trượt chân, bị nước cuốn trôi đi, chết đuối.
“Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay, nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím.”
Năm 1955-1956, xuất hiện nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, chống lại cái chính sách độc tài, chống bọn bồi bút cam tâm lừa thầy, phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn, Hữu Loan có viết bài thơ: “Những thằng nịnh hót”.
Nhóm Nhân Văn Giai Phẩm bị đàn áp khốc liệt, Hữu Loan bị đi cải tạo.
Cải tạo xong, ông bỏ về quê vì: “Tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông… Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động…
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi.” Người vợ sau của Hữu Loan là bà Phạm Thị Nhu, một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất năm 1954-1955. Song thân của bà Nhu bị đem ra đấu tố, rồi chôn sống xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong bọn chúng cho trâu kéo bừa đi qua đi lại trên 2 cái đầu đó, cho đến chết. Bà Nhu, lúc đó, chỉ là cô con gái 17 tuổi, được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ, rách. Tàn nhẫn hơn nữa, cán bộ còn ra lệnh cấm không cho ai được nuôi nấng hoặc thuê cô ấy làm công, cấm đoán dân chúng lấy con cái địa chủ làm vợ, làm chồng. Nhưng Hữu Loan bất chấp lệnh cấm vô nhân đạo nầy, vẫn cưới cô làm vợ. Hai người có tới 10 đứa con và nhà thơ Hữu Loan vẫn tiếp tục thồ đá đi bán để nuôi vợ, nuôi con. Uy vũ bất năng khuất!
Người thứ hai cũng làm Thanh Hóa trở nên nổi tiếng là nhà báo Phùng Gia Lộc với bút ký: “Cái đêm hôm ấy đêm gì?”
Ðại để câu chuyện, có thật, là: “…Cụ đã bảy mươi lăm tuổi, lại phù nề, mặt mũi vàng ủng như quả thị rụng. Ai cũng bảo khó qua cái đầu mùa Ðông này. Vì vậy gia đình tôi đã lo chuẩn bị ngầm, phòng sau khi cụ về cõi.
… Cau cũng phơi kỹ bỏ be để hôm sau, thậm chí bọt bẹt được đồng rau nào cũng dồn mua ván đóng sẵn áo quan để hôm sau…”
Trong khi vợ ông thì khổ quá, kêu: “Chả nhẽ kiếm liều thuốc chuột, cho vào nồi cháo, ăn hết cả nhà cho sướng cái đời…”
…Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc.
“Mất mùa màng, lợi ích thứ ba của người lao động phải hy sinh cho lợi ích của nhà nước”. Ðồng chí Bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị thế…
… Bọn chúng đạp lật nghiêng một cái. Nắp ván thiên bung ra, lúa chảy rào rào.
“Van các anh! Cắn rơm cắn cỏ tôi lạy các anh! Lúa của tôi. Ðó là tạ lúa hai đứa con gái hắn mua góp lại cho, để hôm sau tôi chết, bà con thương mà chạy đến để ăn lưng cơm sốt!”
“Cháu van các chú! Các chú đừng lấy lúa này đi. Lâu nay các cháu phải nhịn để dành bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà!”
Nói rằng bài ký “Cái đêm hôm ấy đêm gì?” đăng trên tuần báo Văn Nghệ ở Hà Nội năm 1987 của Phùng Gia Lộc đã đốn sụm bà chè tay lãnh chúa Thanh Hóa, Hà Trọng Hòa, hét ra lửa mửa ra khói… là nói quá.
Ðừng ngây thơ, bé cái lầm, tưởng ngòi bút trong tay mình mạnh bằng cả một sư đoàn như từng được xưng tụng mà “Viết lách như thế… bỏ cha có ngày!”
Chẳng qua là nội bộ bọn chúng, trâu cột ghét trâu ăn, tìm mọi cách chơi nhau cho rớt khỏi cái ghế ngồi béo bở để tới phiên tao leo lên ngồi và cũng ăn giống hịt vậy… mà coi chừng còn ăn bạo hơn nữa kìa.
Thân mẫu của nhà báo Phùng Gia Lộc (chắc đã mất, 30 năm rồi còn gì!) đã từng ước vọng: “Tao phải sống để nhìn con cháu được đến lúc sung sướng chứ. Khổ mãi rồi!” vẫn là nỗi tuyệt vọng khôn cùng của người dân Thanh Hóa từ thuở đó cho tới tận bây giờ.
Tiếc thay nhà báo Phùng Gia Lộc, cũng đã không còn, để thấy không phải một Hà Trọng Hòa ăn thôi mà đứa nào leo lên được cái ghế nầy rồi cũng rứa!
Phùng Gia Lộc sẽ ‘ngộ’ ra và kết luận rằng: Guồng máy tỉnh đảng bộ CS Thanh Hóa, giống như một cái máy ‘photocopy’ vậy! Những gì nó in ra, giống hịt nhau không sai chút nào hết ráo. Ðể nhà báo Phùng Gia Lộc đừng bịt mồm Mẹ mình vì ‘ngu trung’ hay vì… sợ hãi?!
“Ối Ðảng ôi là Ðảng ôi! Chính phủ ôi… Trông xuống mà coi…
Tôi xốc mẹ lên giường, bịt mồm cụ lại:- Mẹ! Mẹ không được la như thế! Ðây không phải Ðảng! Ðảng ta không làm thế. Ðảng không chủ trương thế này!”
Mới đây thôi, báo chí lề phải trong nước, được lịnh ngầm ở trên, kẻ tung người hứng, bèn chơi cái tựa “Tiền Ở Ðâu Ðể Cung Phụng ‘Bồ Nhí’?” trong loạt bài về ‘quan’ Thanh Hóa. Rằng ‘quan’ đã bỏ ra hàng chục tỉ đồng chạy chức, để leo lên ngồi trên đầu trên cổ dân ngu khu đen. Như các tỉnh và thành phố khác, ‘quan’ Thanh Hóa hành xử như một lãnh chúa cát cứ, thời Thập nhị Sứ quân.
Mang danh là Tiến sĩ về dâu tằm, nhưng ‘quan’ cũng thừa biết, trồng dâu nuôi tằm là húp nước mắm! Muốn gỡ lại vốn, rồi làm giàu nhanh chóng thì chỉ có đất đai, mỏ… để bán lại cho một số doanh nghiệp thân hữu với giá như bèo rồi được “thối lại” hàng ngàn tỉ đồng.
(Vậy mà có một em người mẫu đồ lót (tức nội y, tức quần ‘sì’) trong nước, tuyên bố rằng: “Lấy chồng nghèo cạp đất mà ăn”! Em đẹp nhưng ‘lờ khờ’ thiệt! Cạp đất mới có ăn chớ!)
Dĩ nhiên, ‘quan’ chối bai bải, ngúng nguẩy như đỉa phải vôi! ‘Quan’ đòi đi thưa mấy anh trên Bộ Công An, để ‘nhát’ lại kẻ đã chơi mình.
Nhưng chạy thuốc thì tốn tiền lắm lắm! Công vơ vét bấy lâu, nay nó hù mình, rồi nó hốt hết ráo công sức của mình bấy lâu. Cốc mò cò xơi! Sao được?
Thôi, tom góp vàng bạc, đô la rồi cuốn nóp dông luôn đi, cha nội!
Lại nhớ bãi biển Sầm Sơn, Thanh Hóa trong cuốn tiểu thuyết ‘Trống Mái’ của Khái Hưng thời tiền chiến. Cũng một mối tình tan vỡ giữa Vọi, chàng thanh niên chài lưới chất phác, cùng Hiền, một thiếu nữ đài các, ở Hà Nội ngàn năm văn vật.
Vọi yêu Hiền đơn phương trong câm lặng. Chỉ biết leo lên Hòn Trống mái, đục vào vách đá hai mẫu tự: VH – tên tắt của mình và người mình thầm yêu trộm nhớ.
Rồi cuối cùng Vọi thả mảng ra khơi. Trời đẹp, biển êm. Sáng tinh sương, mảng đã ra xa. Vọi bỏ neo quăng lưới. Bỗng lưới mắc phải vật gì… Vọi nhảy xuống biển… “Trời ơi! Cá nhà táng!”
Vâng! Thanh Hóa vùng đất dấu yêu của Hữu Loan, của Phùng Gia Lộc và của Vọi bây giờ cá nhà táng không phải chỉ có ngoài biển Thanh Hóa để ăn thịt người. Cá nhà táng nằm ngay trong những căn nhà tráng lệ của quan chức trên bãi biển Ðồ Sơn.
Một chiều hè chẳng oi bức vào năm 2011 xa xưa, tôi đi bộ dọc con phố chính của Montréal, đường Saint Catherine. Đợi đèn chuyển màu ở một ngã tư, tôi ngó thấy bìa một cuốn sách mỏng nằm khiêm nhượng, chẳng bắt mắt dựng đặt đằng sau cửa gương một hiệu sách. Đèn xanh, bộ hành lần lượt đặt chân xuống những vạch sơn trắng ám trên mặt lộ để tiếp tục sải bước nhàn du (không mục đích?). Riêng tôi, nhàn cư vi có việc, không toan tính, tôi đi lại mở cánh cửa để lách thân vào một không gian bao giờ cũng nhốt chật một bầu khí quyển thơm tho luôn thu hút, luôn gợi mời, luôn hấp dẫn. Và tôi đã mó tay tới “RU”.
Chẳng tuân thủ chuyện nhập gia tuỳ tục, tên tác giả in đủ, không đành lòng đánh rơi dấu sắc. Kim Thuý hẳn hoi. Đích thị là người Việt. Mặc dầu trong trí tôi vừa mọc lên sự tiếc uổng về cách trình bày bìa. Quá khiêm nhượng, từ màu sắc cho đến tên tác giả. Chữ Kim Thuý (tên hay mà, hay hơn Thuý Kiều là chị em là Thuý Vân) giá mà nó lấn “đất”, lớn bằng một phần mười cái tựa đề ấy thì đẹp biết bao. Nhà sách vắng người, không có cảnh sắp hàng, tôi đặt cuốn Ru lên quầy và việc mua bán diễn ra chẳng quá ba mươi giây, êm thắm. Bonjour. Merci. Bye.
Toàn bộ bề dày cuốn sách là 146 trang, được viết bằng Pháp văn, mặc dù vậy tác giả giữ nguyên động từ “Ru”, giữ thứ chữ “độc cô” Việt ngữ nầy làm nhan truyện. Dân nói tiếng Pháp thôi hiếu kỳ, họ sẽ được đả thông ở trang 7: Tiếng Việt nghĩa là “berceuse” hoặc “bercer”. Khi đó, tôi không khỏi nhớ tới cuốn truyện dài thành công của nhà văn Duyên Anh năm xưa: Điệu Ru Nước Mắt. “Ru” tôi đang nắm trong tay có chan nước mắt chăng? Không biết mình tiếp cận nó có dễ dàng? Bởi tác giả là người đồng hương tị nạn giống tôi mà lại viết bằng ngôn ngữ thứ hai, thứ tiếng mà người di dân đang cực lòng thích nghi, học hỏi, trau dồi lời ăn tiếng nói để mưu sinh. Không có một băng giấy nhỏ bao quanh in đôi dòng quảng cáo, chẳng có lời rào đầu của một nhà văn bản xứ giới thiệu như chúng ta thường thấy ở ngoại hình các cuốn sách khác. “Ru” trần trụi. “Ru” có vẻ lẻ loi. Thú thật, tôi mua “Ru” vì hai lẽ: Kim Thuý cũng vượt biển như tôi và Kim Thuý đang sống đâu đó ở Québec hoặc Montréal. Thấy gần gũi, nghe thân cận. Trước tiên là vậy. Và chỉ có bấy nhiêu. Mọi thứ khác hẳn hạ hồi phân giải.
Tác giả sinh ở Sài Gòn vào năm Mậu Thân 1968. Cùng gia đình vượt biển từ Rạch Giá năm 1978, có nghĩa là mang phận thuyền nhân khi lên 10 tuổi. Định cư ở Québec, kiếm sống bằng đủ nghề và tốt nghiệp về ngành Luật. Bản thảo “Ru” do một người bạn mang đi ký gửi ở những nhà xuất bản, để không lâu sau, năm 2009 cơ sở Libre Expression ở Québec chấp thuận và nhận in vào tháng 7 năm 2010.
Có thể xem RU là một tự truyện, liên khởi những hồi ức khi phải sống xa đất mẹ. Những manh động chằng chéo, một sợi chỉ đứt đoạn đang ra công ngồi nối lại độ dài nối kết từ Canada lần tới Việt Nam. Ngay dòng chữ khởi đầu, tác giả viết như một bản tự khai nhằm giới thiệu về mình. Ngày chào đời, bỏ xứ ra đi, nói tới những thành viên thân cận trong gia đình. Những khó khăn phút đầu hội nhập… Tất cả được viết bằng giọng văn trong sáng gần như đơn giản, mạch lạc nhờ vào một nhãn quan mang đầy tính hồn nhiên, cố giữ sự trung thực khi thuật chuyện, không trau chuốt. Không cường điệu, chẳng đẩy tình huống đi vào ngõ bí, không chú tâm làm cho căng thẳng hoặc rắc rối. Và như vậy “Ru” cách xa với thể loại hư cấu, hiện thực huyền ảo, không đào bới tới sự tưởng tượng phi hiện thực. Một người có cách thức kể chuyện hay mà lôi cuốn, người đó chẳng cần phải thêm mắm dặm muối. Kim Thuý chú trọng tới sự đơn sơ và cô thích chứng minh cho người xem: Một vẻ đẹp tự tại chả cần tới phấn son, cầu kỳ. Điều này, vô tình hoặc có chủ ý, trên suốt những trang chữ, thứ bi kịch của cái gọi là thảm trạng thuyền nhân, mặc cảm các thứ vẫn quá nhẹ so với những mưu cầu cốt hoàn thiện về một cuộc sống mới, gặt nhiều cơ hội khi được hoà mình vào trong xứ sở tự do.
Nhà văn Kim Thúy
Là một thuyền nhân vượt biển sau Kim Thuý hai năm, đã chất tuổi đời trên lưng nhiều gấp ba lần Kim Thuý, là một đứa tị nạn cộng sản không giỏi tiếng Pháp bằng cô, tôi đọc “Ru” mà mất đi khá nhiều lòng mong đợi, rằng lý ra tác giả phải làm đầy ắp cái “ba chìm bảy nổi” trong khi kể về cảnh ngộ một kẻ bị (hay được) khoác áo boat people. Và “Ru” trước tiên cũng như sau cùng, viết ra chỉ nhằm cho độc giả phương Tây đón đọc. Tôi tiếc uổng duy chỉ một điều: Kim Thuý là một thuyền nhân quá may mắn. Sau lưng Kim Thuý, cả một rừng người bất hạnh bị vùi thây dưới lòng biển cả, xiết bao đau thương hơn cả một “điệu ru nước mắt”. Được biết thêm, cô có trở về Việt Nam làm việc trong bốn năm, ở Hà Nội.
Mấy hôm gần đây, tên Kim Thuý được cộng đồng người Việt xa xứ nhắc nhở trong hân hoan bởi tên cô lọt vào trong 4 ứng viên trên tổng số 47 người được đề cử cho “Giải Thưởng Mới Trong Văn Chương” (the New Prize In Literature). Giải này tạm thời thay thế cho Nobel văn chương 2018 do bởi đã có những vết nhơ, scandal liên quan tới ban giám khảo- hàn lâm viện Thuỵ Điển vừa cho biết.
RU được dịch sang 27 thứ tiếng khác biệt. 27 quốc gia “cha căng chú kiết” có quyền đọc “Ru” nhưng tiếng Việt, quê hương tác giả, thì hổng có. Giải thích điều này, Kim Thuý nói: “Có lẽ vì tôi viết về đề tài vượt biển? Một chuyện “khó nói” ở trong nước”.
Trả lời báo National Post, tác giả “Ru” tâm sự: “Viết văn chỉ là một sự tình cờ. Tôi không chọn văn chương mà văn chương đã tự tìm đến tôi”. Bà cũng thẳng thắn: “Tôi không hy vọng thắng giải, vì đứng bên tôi có Neil Gaiman người Anh cũng như Haruki Murakami của Nhật, những nhà văn dày dặn kinh nghiệm trong khi tôi chỉ mới khởi đầu cuộc hành trình của mình”.
Kim Thuý có nhắc tới Haruki Murakami (nhà văn tôi yêu thích) làm nhớ lại một tác phẩm mới của ông nhà văn Nhật này. Tác phẩm Kishidancho Goroshi, được chuyển dịch thành Killing Commendatore. Cuốn tiểu thuyết bị xếp vào hạng 18+ khi vào thị trường Hong Kong vì những đoạn văn mô tả về tình dục quá sức bạo liệt, bị xem là ấn phẩm thô tục. Sách được bọc giấy kiếng ở hiệu sách, nếu muốn mượn ở thư viện người xem phải trình thẻ căn cước chứng minh trên 18 tuổi. Tuy nhiên, khi sách sang tới Trung quốc thì tình cảnh lại khác hẳn, chỉ trong những ngày đầu (từ 10/3/2018) cuốn sách “đồi truỵ” ấy được bán đi trên 700.000 cuốn. Ở Thượng Hải, một cửa hiệu sách giới thiệu tác phẩm đó đã có hơn 2.000 người sắp hàng vào mua, sẵn dịp để xin chữ ký của dịch giả. “Văn chương phải mở ra được những chân trời khác với cuộc đời nhàm chán này. Tôi không nghĩ là Haruki Murakami bị sa lầy, người đọc đã vô tình quên đi khía cạnh thơ mộng luôn tải đầy trong văn của ông ta”. Một độc giả đứng sắp hàng đã phát biểu cảm tưởng như trên.
Vậy thì, sự thưởng văn vốn là thứ bất khả tư nghì. Người khen kẻ chê, chuyện ấy xưa nay vẫn diễn ra, như kiểu vào nhà hàng ăn có người xuýt xoa hít hà lại có đứa ơ hờ tuồng không hợp khẩu vị. Mới hôm qua, trời chuyển sang Thu, tôi lại buồn chân “bát phố”. Đi ngang qua cửa hiệu sách ngày nào vớ được cuốn “Ru”, giờ phát hiện một đổi thay: Nhà sách vẫn còn đó nhưng hiện tại nó bị xắn làm đôi, thu bé lại; nửa kia đèn đuốc sáng loà chuyên trị nữ trang, hột xoàn, đồng hồ đắc tiền cỡ Rolex của cựu hoàng Bảo Đại và bút máy bơm mực giá tối thiểu 1.500 gia kim một cây. Đã bị lấn đất dành dân, giang sơn đã cắt làm đôi vậy mà nhìn vào cửa hiệu sách thì chỉ loe ngoe đôi ba mạng chắp tay lỗ đít đi thơ thẩn mặt mày coi bộ không ham đọc sách in trên giấy. Thời buổi lạ kỳ! Sách vở và vòng vàng kim cương, chúng nằm sánh đôi và xem chừng chúng không hề là thứ nằm trong ý nghĩ của nhà văn Trung quốc Mạc Ngôn khi viết nên tác phẩm nổi tiếng: “Báu Vật Của Đời”.
Tôi mang cùng ý nghĩ với Kim Thuý: “Không hy vọng được lãnh giải…”. Một nhà văn chân chính, thường họ chẳng màng tới sự vinh quang kia. Haruki Murakami là một bằng chứng, lần nào người ta cũng xướng tên ông lên, những là ứng cử viên sáng giá, để rồi sau đó chả ai thèm nhắc tới. Ông ấy vẫn chăm viết, vẫn chẳng lấy đó làm điều và đọc giả trung thành của ông thì nhiều biết cơ man nào mà đếm xuể
Là người Việt, tôi xin được chia vui cùng tác giả Kim Thuý. Khi thế giới đề cử bà là một trong 4 thành viên có cơ may đoạt giải, chỉ chừng ấy thôi là đã đủ hãnh diện rồi. Đã mát dạ mát gan rồi, đã đủ sức “ru” cộng đồng người Việt lưu vong đi vào một giấc mộng êm đềm, dù nhỡ hạ hồi câu chuyện không dẫn tới happy ending. “Ru em cho thét cho muồi, để mẹ đi chợ mua vôi ăn trầu…” Tôi ăn không được lá trầu có têm vôi bên trong, nghĩ là nó cay đắng vô cùng. Trầu cau cũng có sự tích chua chát đầy bi kịch của nó, mà tôi, tôi nào được tích sự gì đâu! Hồi nào “Ru” được nhà nước cởi mở thông thoáng cho in ấn bản tiếng Việt, lúc ấy tôi xin được cà kê dê ngỗng dài lời hơn. Trong khi chờ đợi, dù không ai ru, tôi cũng trùm chăn đi thét đây.
Rứa là hết, Mười chết theo chủ tịch như tư sản miền Nam từng chịu chết dưới tay Mười đoạt nhà cướp của công trạng Đỗ chơi bài cào, rõ khổ, bên thua cuộc luôn bị bù Mười (ba lá) xập xám chướng nhà cái mậu binh dân bị phỏng dái phải liều thân đặt cược ra biển dầm mình mua bãi mành treo chuông.
Rứa là hết, đêm đen con đi mãi thuyền nhân xa quê hương quên cả mẹ già hiền mẫu cam chịu chôn đời chốn toàn cả số má anh Ba dượng Tư chị Năm chú Sáu rồi tới phiên Mười làm biến(g) sắp hàng đi gặp Mao
chỗ mạ ở người ta trốn sau bí danh nhân thân mờ ám như lá bài tẩy úp mặt chiếu canh xì phé họ thấu cáy cho tới hồi mình táng gia bại sản để tư bản đỏ an tâm nuôi chính sách lo cho dân mười năm nay không được thì mười năm sau ô hô những con số 10. Mười ơi, rứa là hết!
mạ sống thở vin vào khúc ruột ngàn dặm mở mắt nhìn xem chúng còn thọ tới chừng mô xa quê lâu chắc con quên cổ thư bên Tàu viết: nghe tin một thằng đại gian ác chết há chẳng phải là điều thậm khoái đó ru!
Nhỏ thua anh tới một con giáp, nếu anh là vá là mực là vện thì đích thị Thu là cún là cầy tơ. Và như thế, theo cách luận chuyện của nhà đương cuộc cũng như đương đại Hà Nội, cả anh và Thu đều có cấu trúc tâm thần giống như con người.
Con người mang tên Thu tốt nghiệp đại học, xong cái đầu quân vào làm việc cho tập đoàn CN. Toà nhà cao tầng xám ngoét nọ dựng đặt mẫu tự CN sơn đỏ làm thương hiệu rất bề thế. CN không phải viết tắc từ chữ Con Người, Thu thích anh gọi đùa, rằng Thu là thứ Năm mà luôn bị Chủ Nhật nhốt kín.
Thực ra CN chỉ làm gọn, giản lược, cô lại từ chữ Canadian National Railway. Một thứ tựa như tổng cục đường sắt ở bên nhà. Đi tàu Thống Nhất thì chưa rõ tốn mấy triệu đồng, nhưng ưa nổi máu giang hồ xuyên lãnh thổ Canada, cà khịa cùng Thu thì giá cả rất phải chăng. Thu còn cho hay, nếu tàu khởi hành muộn chỉ năm bảy phút so với giờ giấc dự tính thì bận sau công ty sẽ bồi thường thiệt hại bằng cách giảm bớt 20% tiền vé, nếu quý vị còn ngứa chân ưa phiêu lãng rày đây mai đó. Mười hai năm cách biệt tuổi tác, muốn lấp đầy cái hố sâu ấy rõ là anh không thích Thu dùng tới chữ chú, cháu khi xưng hô. Vậy thì anh, em? Thứ cầu tre lắc lẻo nhằm bắt qua khoảng cách đôi lứa cũng là chữ anh không mặn lắm, dù anh luôn cổ võ thành ngữ “ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói láo”. Để tránh ngượng mồm, anh dùng ngôi thứ nhất “tôi” và rồi cứ gọi tên “em” là Thu.
Sinh hoạt và sống với, ngay từ bậc Trung học, Thu mãi chung đụng với người bản xứ, nên tiếng Pháp tiếng Anh nhuyễn nhừ như cháo, chả hề vấp váp, nói líu lo tợ “con chim đến từ núi lạ” chẳng đợi phải ngứa cổ, cứ thế mà nước cuốn hoa trôi dưới chân cầu mòn khuyết cả mấy chục năm mộng mị. Có thể vì vậy, Thu thích ôn luyện tiếng mẹ đẻ, vui khi vớ được anh, một đứa có vẻ như suốt đời mãi lang bạt nhàn cư vi bất thiện. Luận theo tử vi, anh là con chó cứ phải chạy rông ngoài đường. Nó hiền khô, không có cấu trúc cũng như biểu hiện là thích nhe nanh gầm gừ, sủa, cắn. Và sau rốt, nhờ trời anh có viết lách linh tinh nên con cún thịt thơm kia lấy làm an lòng khi muốn vẫy đuôi thân cận, làm quen, tâm đắc đôi ta cùng chủng loại, lông lá đàng hoàng chẳng biết tới “sự cố” no hair. Muốn viết đơn trương cho chính phủ, kiểu như xin thêm trợ cấp, cuối năm điền đơn khai thuế hoặc gặp bất kỳ vấn nạn nào, qua trung gian “nhà nước Thu” văn hay chữ tốt, ba mươi giây sau nhận ngay kết quả: Xong, họ hứa sẽ giải quyết. Thu quả quyết, rồi chấm câu: Dễ như ăn ớt!
Ba Mạ Thu đẻ ra Thu ở Huế, người mô người nấy ăn cay vô hậu. Lạ, lý ra tính tình phải theo đó mà đâm nóng nảy, bẳn gắt. Không, ngược lại là đằng khác, anh chưa thấy ai dễ thương như Thu, đằm thắm rất mực, dịu dàng vô đối. Anh có cảm tình với o nớ thêm điểm khác khi nghe o nói, gần như than thở: Tại sao cứ mỗi khi nói tới Huế là phải chưng ảnh thiếu nữ mặc áo dài tím, đội nón lá và đứng tạo dáng trên cầu Trường Tiền? Cũ rích và sáo mòn, nhàm chán và không nói rõ một điều gì cả, thú thật nào có gì là đẹp mắt? Bravo, anh khen thầm về sự nhận xét ấy. Để rồi “ăn mặn nói ngay”: Hình ảnh đó xấu thua tô bún bò của “Mạ” nấu thứ bảy vừa rồi. Mặt đỏ ké, mồ hôi tuôn thành dòng, hít hà khi ham hố lùa húp. Cho gộp thêm cả sông Hương núi Ngự vào thiếu nữ đội nón bài thơ áo dài tím phụ kiện linh tinh lục tặc tới mức nào đi chăng nữa cũng thua xa lơ xa lắc mùi sả mùi ruốc màn nước đỏ au nằm trong đọi bún chết người.
Anh được mời tới nhà Thu, chỉ một lần, đó là ngày Thu tổ chức buổi ăn mừng đoàn tụ khi ngon lành bảo lãnh êm thắm Ba Mạ, giã từ xứ Huế khốn khó mưa lụt triền miên vừa đặt chân ướt chân ráo sang tới chốn phồn hoa đô hội căng phồng không khí tự do no cơm ấm áo. Kỳ dư, có hẹn hò, Thu chẳng thích mượn gia cư làm nơi trò chuyện, thấy nó làm sao ấy, bức bối, không được tự nhiên, màn đó chiếu đó chăn đó gối đó, phòng vệ sinh đó, nội y màu mè láng lườm phơi đó, cửa khép cửa mở đó… Những cái đó khiến hơi bị phân tâm. Thu nhắn: Gặp nhau ở Chủ Nhật. Anh vẫn thích nuông chìu, dễ bảo, không giống cấu trúc của loài Bulldog mặt chằm dằm ngó mất thiện cảm. Ô-kê, anh nói, tôi dựa lưng vô chữ CN (Chờ Người) đợi Thu. Gặp anh, đôi khi giúp Thu tạm quên đi những áp lực do công việc mang lại. Thu cho biết và anh luôn đến hẹn lại lên. Buổi trưa Thu có một giờ nghỉ để ăn trưa, Thu chẳng dại gì ngồi ở caféteria nếu anh dẫn xác tới, Thu sẽ khao anh một bữa cơm ngoài khuôn viên tảng bê-tông xám xịt kia. Phố phường nằm lân cận có biết cơ man nào là hàng quán để tha hồ chọn lựa một chỗ đặt đít tạm xem là… tình tứ.
Thường thì Thu thích đón nghe từ anh những chuyện kể dính líu gần xa tới lãnh vực văn học. Thu cho biết nếu anh thích, Thu sẽ giúp anh việc dàn trang, đánh số, trình bày lay out cũng như cho anh “vay chút chút” tài trợ để in sách. Thu không ngại góp công sức, tiêm thuốc giục cho anh vượt cạn đẻ con. Anh cảm động, đến độ anh đã chẳng dằn lòng, với tay qua mặt bàn để nắm lấy, rờ rịt hai bàn tay đầy ngón suông của Thu, trắng muốt. Anh nói: Thế nào tôi cũng cố nghe lời, Thu đặt đâu tôi ngồi đấy, nhưng hãy đợi đến năm Tuất mới có ý nghĩa. Ba tuất Mạ tuất thì quý tử cũng nên làm chó con cho được vuông tròn thuận thảo giống nòi, trên bảo dưới phải nghe. Thu cười: Ô-kê, nào khó gì, chỉ sợ không biết chuyện ngày mai nó sẽ kéo phăng mình giạt tới bến bờ nào! Thu có đôi bàn tay ấm nóng, mềm mại và in tuồng nó thu cất chút hấp lực tựa một thỏi nam châm, khó gỡ ra.
Trong câu chuyện đẩy đưa, có khi Thu vui miệng kể tên một vài tác giả viết nên truyện ngắn mà khi đọc phải Thu thấy dửng dưng vì dài dòng và nhạt nhẽo, vô thưởng vô phạt. Để giúp Thu giàu có tư duy trong khi nhận định, anh nói: Trong cuốn “Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta” do cơ sở Sóng xuất bản ở Sài Gòn vào năm 1974, ban chủ trương có đưa ra câu hỏi cho những văn sĩ góp bài về quan niệm viết truyện ngắn. Thanh Tâm Tuyền trả lời: “Truyện ngắn là truyện không thể nào viết dài”. Thảo Trường phát biểu: “Câu nói hay nhất là câu nói ngắn nhất. Viết truyện ngắn là dùng thứ kích thước nhỏ để dựng một vấn đề có khi… rất lớn”. Võ Phiến thì bảo: “… hồi gần đây tôi thích những truyện ngắn giống như những bài thơ. Dĩ nhiên, thứ thơ bằng tản văn và có ít nhiều chi tiết”. Anh ngó Thu: Tôi chỉ mượn lời của ba người kiệt xuất này vì tôi tán đồng những gì họ chia sẻ. Ngay cả thơ cũng vậy, tôi yêu những bài ngắn, cô đọng… Như bài gì? Anh đọc đi. Ừ, như bài “Trở Về” mới đăng của nhà thơ Huỳnh Minh Lệ:
“con ma đói trở về con bé năm xưa đã trở thành thiếu nữ người vợ quỵ xuống nơi bậu cửa anh ơi!”
Trời ơi! Thu la lên tiếng nhỏ. Trời ơi, anh hiểu đó là biểu tỏ trong nhất thời thế cho ngợi ca chẳng nói nên lời. Khác với anh ơi nằm cuối bài thơ là lời ta thán đớn đau, chất chứa trong câm nín, chịu đựng qua bao năm tháng giờ mới được trút ra, ở phút đoàn viên. Theo anh, bài thơ hoàn chỉnh tới độ không thể thêm, bớt một từ nào cả. Một bức tranh pha nhiều màu tối, sử dụng ít đường nét, giản lược nhưng là một bố cục quá sức hoàn chỉnh. Thu ngồi chống cằm như kiểu đợi dư âm bài thơ rút khỏi tâm trí, lát sau Thu ham hố được nghe anh đọc một bài khác. Bộ nhớ của anh rất tệ, nhưng nhờ bài thơ ngắn, chữ dùng đầy ấn tượng nên khó quên. Và anh đọc bài “Tính Nhẩm” của Hoàng Nhuận Cầm cho Thu nghe, người kém anh một giáp nhưng xem ra gu thẩm mỹ, độ cảm nhận của cô ấy chẳng mấy khác anh:
“21 tuổi hồn nhiên như vậy đó 3 bài thơ nhân với 7 hẹn hò khi rượu cạn, hoa tàn, tim tắt nến thỏi son hồng ra ngõ đứng co ro”.
Khoảng lặng. Không trời ơi, chẳng anh ơi. Chừng hai phút sau Thu nhìn vào mắt anh: Dễ thương quá! Phải sinh nhật của cô gái tròn 21 tuổi? Tôi không biết, tuỳ vào góc độ mà người đọc nhìn vào, tự suy diễn. Anh cũng rõ là tuỳ đối tượng, người như Thu chắc không mấy mặn mà với thơ Nguyễn Đức Sơn, thế nên anh chẳng sẵn dịp để quá tam ba bận, dù bài thơ trào lộng, tuyệt vời. Anh cố nhớ từng mặt chữ, đọc thầm bài mang tên “Nguyễn An Ninh”:
“yêu nước như ông mà không cộng sản quái đản thấy bà phiền hà thấy mẹ chết lẹ là phải”.
Những bữa ăn trưa ngoài phố qua đi rất mau. Một tuần “ngó lơ lơ mà siêng” (le chien), hai đứa cọng lại thành bốn chân chỉ họp sức chạy rong hai lần. Thu luôn bận rộn và tuy thích văn chương Thu chỉ mới “học ăn học nói học gói học mở”. Nguyên văn chữ Thu dùng. Riêng thơ ngoại quốc thì lại khác, có lúc không hiểu do đâu Thu đọc cho anh nghe lời của Delmore Schwartz: All poet’s wives have rotten lives, Their husbands look at them like knives.
Tất cả những vì phu nhân của những đấng thi sĩ thì đều có những cuộc đời tàn mạt. Chồng họ nhìn họ như những con dao.
Anh biết hai câu này, hai câu mà Susan De Sola dùng tới, để mở đầu cho bài thơ của bà (nhà văn Nguyễn Quốc Trụ từng dịch sang tiếng Việt).
The wives of the poets, they never complain. They know they are married to drama and pain.
Những bà vợ của các đấng thi sĩ, họ chẳng bao giờ cằn nhằn. Họ biết họ kết hôn với bi kịch và đớn đau.
Ô hay, vậy thì không riêng gì ở nước mình có người đàn bà chịu làm vợ ông Tú Xương, mà những xứ sở khác cũng hằng hà vô số, thảy cam chịu sự tàn mạt khi “chồng em là thi sĩ”. Giờ mới ngộ ra bản tin “ham làm thơ đến nỗi bị vợ bỏ” là cả một sự thật. Đất nước mình ngộ lắm phải không Thu?
Thu hỏi: Anh thích làm nhà thơ không? Tôi có thích cũng không được, phải có căn cơ và biết thủ phận chứ. Sao tự dưng Thu hỏi tới bi kịch và đớn đau? Thu cười, tuy chẳng có răng khểnh, không luôn má lúm đồng tiền, nhưng điền thế một bóng đèn thắp bên nụ cười: Cũng đúng, anh đang viết văn mờ, đừng tham lam vừa ăn lê đòi luôn cả lựu. Anh rụt cổ: Chắc là khi còn ngồi ghế nhà trường, giờ luận văn thế nào Thu cũng nghe qua tên cổ thụ William Faulkner. Tôi có đọc cuốn Tiểu Luận của nhà văn Võ Phiến, dịch lại câu trả lời của ông William Faulkner khi được hỏi khung cảnh nào là thích hợp nhất đối với một nghệ sĩ: “Được làm chủ một nhà chứa gái điếm. Sẽ tự do mọi thứ, về kinh tế khỏi lo đói lo rét, kiếm tiền dễ dàng. Ban đêm vui nhộn ồn ào, nghệ sĩ lo gì sầu muộn? Buổi sáng thì xung quanh im lặng, tha hồ sáng tác, khỏi bị quấy rầy. Việc tính chia tiền trong nhà đã có vợ lo. Xung quanh mình toàn là phụ nữ kính trọng mình, thưa mình bằng Ông. Thế mà không thích nhất à?” .
Eo ôi? Hơi bị lạ! Anh có đơm mộng ước tựa thế không? Dĩ nhiên, nếu có điều kiện, hoàn cảnh cho phép. Tha hồ vừa ăn lê vừa nhai lựu vừa thắp đèn vừa ngắm trăng, chẳng phụ bạc một ai. Vợ không càm ràm lại còn lo cho việc tính toán tiền bạc, thật là có nằm mộng cũng không tưởng được. Nhưng điều mấu chốt Thu nên nắm bắt, rằng họ là nghệ sĩ thứ thiệt. Nghệ sĩ là chức danh mà tôi nào với tới được, nếu có chỉ là hàng nhái. Anh muốn đề cập tới nền tảng luân thường đạo lý của người mình? Thứ rào cản chuyên làm khó các ông văn nghệ sĩ? Anh câm lặng, việc giản đơn, gần trong tầm tay và xem chừng thiết thực nhất, cần thanh toán nhất là thử hôn Thu một miếng mà cứ lần khân, vụng dại bó tay, thầm thà thậm thụt thì mong chi việc “đại sự” khó nuốt khác. Anh muốn chứng minh rằng anh phải lòng Thu, và đằng khác anh lại sợ vấy bẩn vào sự tin cậy mà Thu mãi trao về anh. Nghệ sĩ kiểu gì kỳ khôi vậy tía?
Thu xin cơ sở CN (Chán Ngắt) nghỉ việc hai tuần, Thu không thích cãi lại cha mẹ trăm đường Thu hư, nên phải lo thu xếp mọi thứ lặt vặt đặng dắt ba mạ đi thăm chú thím cậu mợ đang định cư lai rai trên từng cây số từ miền đông sang tuốt miền tây. Thu hỏi anh có thích đi chung không, dùng xe lửa để ngoạn cảnh luôn, mùa Thu chốn này cảnh sắc đẹp mơ màng suốt bề rộng lãnh thổ. Đi cho biết đó biết đây, ở nhà với con thơ thằng văn thì biết đời nào khôn? Anh cúi đầu trầm ngâm: Giá mà chỉ hai đứa, thôi thì Thu nên rộng cẳng mà dắt ba mạ đi dã ngoại, có mặt tôi thêm phân tâm, thêm lu bu, nâng khăn người này sửa túi người khác, chém người này xức thuốc người kia.
Sớm 14 Thu đi, chiều 13 Thu nhắn anh đến nhà rinh về nồi bún bò Thu gia công củi lửa ninh hầm nêm nếm: Để anh tập ăn cay trong mươi ngày nửa tháng, để nhìn khói bốc che bớt cái giò heo mà tưởng nhớ đến Thu đang xa cách. Có mạ đứng bên hông chỉ bày từng ly từng tý thì không đến nỗi thất bại. Hy vọng thiếu Thu, anh sẽ viết được một cái truyện ngắn thành công. Thu dặn anh không được ra sân ga bịn rịn tiến đưa, may mà Thu không hát “chưa bao giờ buồn thế’. Thu xuống giọng: Thỉnh thoảng anh tạt ngang dòm chừng giúp Thu dù biết khu vực này tuyệt không có phường trộm cắp. Mở hộp thư rồi cất giữ giùm Thu những gì nằm cuộn mình bên trong, hứa là khi về sẽ có quà trả công anh.
Thu nắm tay anh lay lay như kiểu có nói cũng không nên lời cùng lúc với đám lá vàng rơi rụng xuống đầy sân. Thu ôm anh vào lòng, thủ thỉ: Ở nhà bình yên. Anh cất tiếng: Hai bác đi chơi vui vẻ, cũng là cách vận động an hưởng khuây khoả tuổi già. Cảm ơn cậu, trở trời răng lại ăn mặc phong phanh kiểu nớ! Hai đấng phụ huynh này không thích đọc sách, họ ghiền xem dvd phim nhiều tập của Hàn quốc thôi, càng éo le càng bi thương càng oan trái nhiều chừng nào tốt chừng đó, chảy nước mắt cũng là phương thức vật lý trị liệu nhằm đo lường về nhịp đập của tim, nhưng hãy để ý tới vấn nạn cao huyết áp dễ sinh nhồi máu cơ tim. Anh nhớ buổi đầu, khi trông mặt anh, mạ của Thu la lên: Ủa, răng ngó giống y như cái thằng Kim Jong gì đó chuyên đi hãm hại phụ nữ trong phim “Lạc Lối Ở Bình Nhưỡng” rứa? Anh cúi mặt xuống và đã hứa thầm, e mình phải nên thức khuya xem bộ phim ấy để ngồi tủi thân khóc suốt năm canh trường.
Thu lái xe đi. Ngoài ba mạ, Thu như chở theo một bộ phận không nhỏ của mùa thu, như bóp còi gọi đông về, buốt giá từ đâu dâng lên ràng rụa. Ông nhà văn sừng sỏ William Faulkner không cho biết, là nhỡ như vợ vắng nhà trong hai tuần thì ông sẽ làm gì với bầy ma nữ chập chờn như bướm lượn? Ông có tài cán chi để dọn lòng tĩnh tâm ngồi im re mà sáng tác? Anh đọc thầm hai câu thơ của Phạm Công Thiện:
“trong mơ em vẫn còn bên cửa tôi đứng trên đồi mây trổ bông”.
Mười chín tuổi, tôi quyết định đăng lính. Mặc dầu có băng Tú tài II, đủ điều kiện để thi vào Hải Quân hoặc Võ Bị Đà Lạt, nhưng tôi không chọn hai nơi này bởi vì tôi nghe bạn bè kháo nhau rằng, chương trình học toán của sĩ quan Hải Quân tương đương với toán của Đại học Khoa học. Chẳng hạn môn Thiên văn học hay cái môn học gì đó, giữa trùng dương bao la bát ngát, nhìn sao trên trời rồi dùng toán học để tìm ra điểm đứng của con tàu, đối với tôi đây quả là chuyện không tưởng. Thi vô Trường Võ Bị Đà Lạt còn mệt hơn nữa, bốn năm trong trường, ngoài chuyện học về quân sự phải học thêm về văn hóa, mà phần văn hóa xem ra còn nặng hơn quân sự, sau bốn năm khi ra trường phải lấy cho được cái bằng Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng. Đã là lính rồi mà còn phải học thêm về văn hóa quả là phiền phức quá sức, tôi đã ngu lại còn lười biếng, khó khăn là tôi né. Tôi chọn sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Khóa của tôi có khoảng hai ngàn sinh viên sĩ quan, sau hai tháng học giai đoạn một ở Quang Trung, chúng tôi được chia ra làm hai, một nửa chuyển lên Trường Bộ Binh Thủ Đức, còn nửa kia đáp tàu ra Nha Trang, học ở Đồng Đế.
Khi đoàn xe GMC chở chúng tôi tới Thủ Đức, tôi nhìn cái cổng trường mà phát chán. Ai đời một quân trường danh tiếng, mấy chục năm rồi đã đào tạo không biết bao nhiêu sĩ quan cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lại có cái cổng cũ kỹ, xấu xí đến mức không tưởng tượng nỗi. Hai cột xi măng vuông vức, mỗi cạnh đâu tám, chín tấc gì đó quét vôi trắng cao nghệu, thêm hai cái cửa tò vò hai bên, trên đó một tấm bảng cong cong gác ngang với mấy chữ Trường Bộ Binh, chỉ có thế thôi. Sao nó lại đơn sơ quá vậy trời.
Xe qua khỏi cổng, chạy thêm một đoạn khá xa rồi ngừng lại bên một cái sân hình chữ nhật rộng mênh mông, sau này tôi mới biết đó là Vũ Đình Trường. Chúng tôi đang ngơ ngác, không biết phải làm gì khi nhìn thấy một nhóm huynh trưởng chia nhau niềm nở chào đón chúng tôi. Các huynh trưởng ân cần, tận tình đứng ngay sau xe nhắc nhở chúng tôi xuống xe sao cho an toàn. Ôi! Cái tình huynh đệ chi binh sao mà nó thắm thiết quá chừng làm tôi cảm động hết sức. Chúng tôi, cứ mấy chục thằng được xếp ngồi chung trên một chiếc GMC mui trần, chạy từ Quang Trung lên đến đây, bộ đồ trận màu cứt ngựa xấu xí, bụi bặm bám đầy người, mặt mũi lem luốt, nhìn lại mấy ông huynh trưởng với bộ đồ vàng mới tinh, mũ nhựa màu nâu đen láng bóng, thêm hai con cá vàng trên nền nhung đen nổi bật nơi cầu vai, đôi giày bốt đờ sô được đánh xi bóng loáng, tưởng chừng soi mặt được. Thoạt nhìn tôi đã mê mẩn, hình ảnh của huynh trưởng trông oai quá chừng. Tôi nghĩ thầm, mai mốt tôi cũng sẽ được như vậy. Cho đến khi đứng sát mặt, nhìn kỹ mấy ông huynh trưởng tôi mới hết hồn, mặt ông nào ông nấy như có cô hồn, đằng đằng sát khí cứ như là sắp xung phong giết giặc không bằng. Có ông huynh trưởng nào biết nói đâu, mở miệng ra chỉ toàn nạt nộ, la hét như điên rồi phạt túi bụi mù trời, không cần nguyên nhân, không cần lý do.
Chúng tôi, hơn một ngàn Tân khóa sinh bị tách ra từng toán nhỏ. Mỗi huynh trưởng chịu trách nhiệm trông coi một toán khoảng hai mươi Tân khóa sinh, họ thay nhau phạt chúng tôi tơi tả như cái mền rách. Hình như, mấy ông huynh trưởng phạt chỉ với mục đích là dằn mặt, áp đảo tinh thần, muốn tất cả Tân khóa sinh phải khiếp sợ, thi hành mọi mệnh lệnh như một cái máy, cấm có suy nghĩ, không được suy luận và chống đối. Tôi biết là mình bị dằn mặt, nhưng sợ vẫn cứ sợ. Trước mặt, bên trái, bên phải luôn cả sau lưng tôi, tất cả mọi người đều đang thi hành lệnh phạt. Bên này mấy chục ông Tân khóa sinh la to thiếu điều đứng xa cả cây số cũng nghe rõ “Nhảy xổm vào thế”. Bên kia lại thêm vài chục ông Tân khóa sinh khác rống lên “Hít đất vào thế”. Tôi cũng đang bận rộn túi bụi khi đang thi hành lệnh phạt hai mươi cái hít đất, vừa xong hít đất lại lãnh thêm hai mươi cái nhảy xổm, rồi hai mươi cái bơm dầu. Sau cùng, khi mà mọi người đều mệt đứ đừ, lúc bấy giờ mới đến cái màn chào mừng quân trường, giọng nói của huynh trưởng vang lên như sấm động:
Hai tháng trường dầm mưa dãi nắng ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, tôi cứ tưởng cơ thể của mình đã quen với nhọc nhằn gian khố, thế nhưng khi nhìn thấy cái sân Vũ Đình Trường Thủ Đức rộng mênh mông, trong lòng bỗng dưng ngao ngán, rồi sợ hãi. Chạy một vòng cũng đủ giập mật, huống chi chạy mười vòng.
Hình minh họa
Khi đám Tân khóa sinh chúng tôi chạy được ba vòng, một người, hai người, rồi cả chục người thi nhau rụng dần dần, nằm bò lê bò lết nơi Vũ Đình Trường. Tôi cũng đã thấm mệt, nắng ở đồi Tăng Nhơn Phú coi bộ không khá chút nào, mồ hôi ướt dầm bộ đồ trận. Tôi chạy chậm lại, đưa mắt liếc nhìn vị huynh trưởng đang kè kè bên tôi. Tôi chờ cho đến khi vị huynh trưởng này nhìn thấy mình rồi giả vờ như bị đuối sức, nhấc chân lên không nổi té lăn quay xuống đất. Tôi nói với mình, phải gồng mình chịu đau, té cho ngon lành mới giống như mình bị xỉu.
Vị huynh trưởng đâu có dễ dàng chịu thua, anh ta kê sát miệng vào tai của tôi, rồi hét thật to:
-Ông giả bộ xỉu phải không? Đừng có qua mặt huynh trưởng, cái trò này huynh trưởng đã làm từ lúc ông còn ở truồng tắm mưa. Ông chạy yếu như vậy, mai mốt ra trường bị Việt Cộng rượt làm sao chạy cho nổi.
Tôi nằm đó, nhắm mắt cười thầm cho cái lý luận lẩm cẩm của huynh trưởng. Huynh trưởng ơi! Ông ăn nói gì kỳ vậy, mình rượt Việt Cộng chứ đâu có để tụi nó rượt mình được (chuyện này, phải đợi cho đến tháng ba năm 1975, tôi mới thấy huynh trưởng của tôi nói đúng).Thấy tôi nằm yên, huynh trưởng tiếp tục hét bên tai:
-Đứng dậy, chạy cho đủ mười vòng đi ông. Huynh trưởng sẽ chờ cho đến khi nào ông tỉnh lại, chờ đến mai cũng chờ.
Tôi nhắm nghiền mắt lại, văng vẳng bên tai tiếng của hàng ngàn bước chân chạy rầm rập, đều đều xen lẫn tiếng gào của mấy chục ông huynh trưởng. Tôi nằm im, đã trót đóng kịch phải làm cho tới nơi tới chốn, đừng có dại nghe lời dụ dỗ ngon ngọt của huynh trưởng mà tỉnh lại. Mấy cục đá ở sân Vũ Đình Trường nhọn hoắc, xóc vô lưng, cắm vô đầu đau muốn gần chết, mặc kệ, tôi nhắm mắt lòng đầy khoan khoái vì thấy mình đã sáng suốt, khôn lanh khi quyết định chọn Trường Bộ Binh Thủ Đức, chỉ phải chịu đụng khổ cực, đày đọa tấm thân vài tháng là tốt nghiệp. Chọn Võ Bị Đà Lạt, bốn năm bị hành hạ thân xác như thế này, khi ra trường có mang lon đại úy tôi cũng không thèm. Cuối cùng, mọi chuyện đều qua đi, chạy ba vòng hay mười vòng cũng như nhau, tất cả được tập họp để phân chia đại đội. Một ngàn Tân khóa sinh được chia ra làm năm đại đội, bắt đầu từ Đại đội 61 cho tới Đại đội 65.
Nguyên tám tuần lễ đầu tiên huấn nhục ở Thủ Đức, Tân khóa sinh ngoài giờ học thì giờ còn lại là thi hành lệnh phạt.
Tôi không biết trong Trường Bộ Binh Thủ Đức chuyện huynh trưởng phạt khóa đàn em, phạt Tân khóa sinh đã có từ bao giờ. Cho đến khi tôi vào Thủ Đức năm 1968, chế độ huynh trưởng đã đến giai đoạn gần như là hoàn hảo. Sĩ quan cán bộ có đó chỉ để làm vì, bao nhiêu chuyện hướng dẫn, huấn luyện Tân khóa sinh đều do huynh trưởng đảm nhận.
Tổ chức sinh hoạt của Sinh viên sĩ quan Thủ Đức lấy đơn vị đại đội làm căn bản. Một đại đội có trên hai trăm Tân khóa sinh được chia làm bốn trung đội, tất cả được đặt dưới sự chỉ dẫn, kiểm soát của một Huynh trưởng Đại đội trưởng và bốn Huynh trưởng Trung đội trưởng. Nhiệm kỳ của huynh trưởng là năm ngày, sau năm ngày sẽ có nhóm huynh trưởng mới đến thay thế. Huynh trưởng nắm toàn quyền sinh sát trong tay, kêu mưa phải có mưa, gọi bão phải có bão, do đó thân phận của Tân khóa sinh giống như con cá nằm trên thớt.
Hình minh họa
Trong giai đoạn huấn nhục, Tân khóa sinh khi di chuyển đến bất cứ nơi nào trong phạm vi của trường, chẳng hạn như đến phòng học hay nhà ăn đều phải di chuyển theo đội hình. Đội hình của trung đội là bốn hàng ngang, Tân khóa sinh cao nhất đứng ở hàng đầu rồi thấp dần cho đến người thấp nhất ở hàng cuối. Tất cả vừa đi vừa đếm nhịp hoặc hát những bài hùng ca, huynh trưởng đi bên hông của trung đội theo dõi và kiểm soát. Chỉ cần một Tân khóa sinh bước trật nhịp hoặc đi không thẳng hàng sẽ lãnh hậu quả không lường, cả trung đội sẽ bị phạt chứ không phải chỉ một mình anh Tân khóa sinh đó.
Tôi nhớ lại, vào một buổi sáng sớm, cả bầu trời mù mờ như có sương, khi trung đội của tôi đi đều bước đến phòng học, còn sớm hơn mười phút. Huynh trưởng đứng trước hàng quân, cất giọng:
-Cái ông đứng ở cuối hàng đó, trình diện huynh trưởng đi ông. Ông chớ còn ai nữa mà nhìn quanh.
Một Tân khóa sinh đứng ở hàng chót, chạy đến trước mặt huynh trưởng, đứng nghiêm đưa tay chào:
-Tân khóa sinh.. .Trình diện huynh trưởng.
Huynh trưởng lên giọng:
-Ông chạy mười vòng, quanh trung đội đi ông.
Khi anh Tân khóa sinh chạy đủ mười vòng, đến trình diện huynh trưởng. Huynh trưởng nói như hét:
-Anh có biết là anh phạm lỗi gì không?
Không đợi Tân khóa sinh trả lời, huynh trưởng nói tiếp:
-Tân khóa sinh mà dám cao hơn huynh trưởng.
Anh Tân khóa sinh đứng ở hàng chót, là người thấp nhất trong trung đội của tôi, vừa nghe như vậy vội vàng rụt cổ, rùn chân cho người thấp xuống. Thấy vậy, tôi suýt cười thành tiếng, đưa tay lên bịt miệng của mình lại.
Đôi mắt của huynh trưởng lẹ như sao xẹt, anh ta chỉ tôi.
-Cái ông cười trong hàng quân đó, trình diện huynh trưởng đi ông.
Tôi biết mình đã phạm lỗi tày trời, nên lẹ làng chạy đến trình diện huynh trưởng.
Giọng nói của huynh trưởng nghe cứ như là mai mỉa.
-Thấy huynh trưởng lùn, cho nên ông cười khi dễ huynh trưởng phải không? Hai chục cái nhảy xổm đi ông. Tối nay, lúc tám giờ ông mặc đồ tiểu lễ trình diện huynh trưởng tại sân đá banh của trường, ông nghe rõ không?
Tôi la to mà trong lòng đầy lo lắng.
-Rõ, huynh trưởng.
Quay nhìn về phía trung đội, huynh trưởng nói:
-Tối nay, đúng tám giờ cả trung đội trình diện tôi tại sân banh, quân phục số bốn, ba lô súng đạn đầy đủ, tất cả nghe rõ không?
Mấy chục Tân khóa sinh đồng thanh la to:
-Rõ.
Hình minh họa
Sau vài giây chần chờ, huynh trưởng nói tiếp:
-Tôi cho các anh một đặc ân, trong trung đội này, ai đứng thấp hơn tôi sẽ được miễn thi hành lệnh phạt.
Dĩ nhiên, không một ai được miễn trừ.
Vừa đúng tám giờ tối, huynh trưởng tập họp trung đội tại sân đá banh, sau khi nghe báo cáo quân số, huynh trưởng chia trung đội gồm có năm mươi sáu Tân khóa sinh ra làm hai đội, mỗi đội có khoảng hai mươi tám người. Hai đội banh sẽ đấu với nhau, đội nào thắng sẽ được ra về nghỉ. Đội thua sẽ chia ra làm hai đội, đá với nhau một lần nữa, đội thắng sẽ được về nghỉ. Cứ như vậy cho đến khi hết người. Quay sang tôi, đang đứng riêng một mình với bộ đồ tiểu lễ, dây biểu chương trên vai nón kết trên đầu, huynh trưởng nói:
-Mọi người đều mặc đồ số bốn, tại sao ông lại mặc tiểu lễ, ông muốn chơi trội phải không?
Bắt tôi mặc đồ tiểu lễ là huynh trưởng, không cho tôi mặc đồ tiểu lễ cũng là huynh trưởng. Trong lòng tôi ấm ức quá sức, nhung mà, quân đội là quân đội. Tôi đứng yên chờ đợi lệnh phạt.
Huynh trưởng rút trong túi cái còi đưa cho tôi.
-Được rồi, ông muốn chơi nổi, tôi cho ông nổi luôn. Ông sẽ làm trọng tài, từ trận đầu tiên cho đến trận cuối cùng. Huynh trưởng sẽ ngồi ở khán đài theo dõi. Ông nghe rõ không?
Tôi nghe huynh trưởng nói mà đứng chết trân, không nói nên lời, coi như tôi phải chạy bao sân tất cả mọi trận đấu. Chuyện làm trọng tài coi bộ khổ hơn là chạy mười vòng Vũ Đình Trường, bởi vì chạy mười vòng Vũ Đình Trường mình còn giả bộ xỉu được.
Khi hai đội banh đã đứng về hai phía của sân vận động, đội bên trái cởi trần, để phân biệt với đội bên phải có quần áo đầy đủ. Huynh trưởng đưa cho tôi cái nón sắt rồi nói:
-Đây là trái banh, ông điều khiển trận đấu cho tôi.
Trận đấu diễn ra thật là sôi nổi, vì mọi người đều hăng say quyết thắng để còn về nghỉ sớm. Chỉ có một cái nón sắt, hàng trăm bàn chân tranh nhau đá túi bụi, phải hơn nửa giờ lăn khắp sân, cái nón sắt mới lọt lưới. Đội cởi trần thong thả ra về, đội áo quần đầy đủ chia làm hai, riêng tôi mệt muốn đứt hơi, lại phải cầm còi thổi cho trận kế tiếp.
Cho đến trận đấu cuối cùng, hình như đã khuya lắm rồi, mỗi bên chỉ còn một người và tôi vẫn là trọng tài. Tôi nhìn lên khán đài, chỉ thấy một cái bóng mờ chìm trong làn sương mỏng, không biết đó có phải là huynh trưởng hay không. Tôi nói với hai thằng bạn của tôi:
-Tụi mày có biết, đá banh mà bán độ là gì không?
Một trong hai thằng nói:
-Biết.
Chưa đầy năm phút sau, cái nón sắt lọt lưới, trận đấu kết thúc, tôi chấm dứt đêm phạt dã chiến của mình bằng cách ôm cái nón sắt méo mó, lết về phòng ngủ sinh viên với bộ đồ tiểu lễ bê bết bụi đất.
Tôi nằm ngủ mà nhớ lại những giờ học Việt văn của mấy năm về trước, thầy giáo giảng bài: Mẹ già một nắng hai sương, thức giấc khi còn sương mai, về nhà khi sương khuya đã xuống, làm việc đồng áng cực nhọc, buôn bán khổ cực nuôi con. Hôm nay, Sinh viên sĩ quan Thủ Đức cũng một nắng hai sương, nhưng từ lúc tờ mờ sáng cho tới tối mịt, chỉ biết học và thi hành lệnh phạt. Phạt liên miên bất kể giờ giấc, sáng phạt, trưa phạt, chiều phạt, tối phạt, lên gường ngủ vẫn bị lôi đầu dậy thi hành lệnh phạt.
Hình minh họa
Suốt thời gian huấn nhục ở Thủ Đức, tôi còn bị phạt dài dài, càng bị phạt tôi càng ghét cay ghét đắng huynh trưởng. Mãi cho đến sau này, khi trải bao dâu bể, đổi thay, tôi mới biết rằng: Quân đội muốn thay đổi con người của chúng tôi trong một khoảng thời gian ngắn thật ngắn. Chỉ với vài tháng thôi, làm sao biến chúng tôi từ một người học trò yếu đuối, ngày ngày chỉ biết cắp sách đến trường sống bám vào cha mẹ, trở thành một người mạnh khỏe về thể chất, cứng rắn về tinh thần để khi ra trường tạm thời có thể chỉ huy ít nhất là một trung đội bộ binh. Phương pháp tốt nhất để đạt được mục đích này là, tám tuần lễ huấn nhục. Huynh trưởng của tôi, chỉ nhập ngũ trước tôi hai tháng mà ông ấy đã dẫn dắt trung đội Tân khóa sinh một cách tài tình. Như vậy, chuyện tôi diện bộ tiểu lễ, tay cầm còi, làm trọng tài cho những trận đá nón sắt đêm ấy, xem ra chẳng có gì oan ức.
Thời còn là Tân khóa sinh, chỉ lo thi hành lệnh phạt nên mọi người lúc nào cũng buồn ngủ, trong giờ học ngủ gục, sau giờ học được nghỉ mười phút là lăn ra ngủ, thậm chí đang di chuyển trong hàng quân cũng ngủ. Ôi giấc ngủ sao mà đã đời đến thế.
Tuần đầu khi đi gác tuyến, chưa tới phiên gác, tôi đã ôm cây súng Garant nằm dưới giao thông hào ngủ ngon lành. Ở quân trường cây súng Garant là vật bất ly thân, là người tình trong mộng của sinh viên, hớ hênh quờ quạng bị sĩ quan cán bộ chôm mất kể như tàn đời, bị phạt dã chiến suốt đêm là cái chắc. Vì lý do đó, khi đi gác tuyến, sinh viên sĩ quan phải ôm cây súng Garant mà ngủ. Tôi đang say sưa trong giấc mộng bình thường, không thấy mình hóa bướm như Trang Chu, chợt có ai đó chạm nhẹ vào vai của tôi.
-Quân, Quân, thức dậy tao có chuyện nói với mày.
Tôi hãy còn nửa mê, nửa tỉnh.
-Tới phiên gác của tao phải không?
-Không, tao là Long, nằm kế giường của mày.
-Tao là Biên, nằm giường trên của mày.
Tôi biết rồi, đây là hai thằng quỷ dân Sài Gòn, chung phòng lẽ dĩ nhiên cùng chung một trung đội với tôi.
-Tụi mày cần gì, nói mau lên để tao còn ngủ.
-Mày có tiền không? Cho tụi tao mượn mấy trăm.
Giọng nói của nó nghe mà phát ghét, mấy trăm đối với tôi là cả một gia tài, trong khi hắn nói mấy trăm cứ nhẹ như mấy đồng bạc lẻ. Nghĩ như vậy nhưng tôi vẫn lục túi.
-Tao chỉ có sáu trăm, đây là tất cả số tiền ông già tao cho, trước khi lên Thủ Đức. Tao cho tụi mày mượn năm trăm, tao phải giữ lại một trăm để phòng thân.
Hai thằng quỷ giựt năm trăm trên tay tôi rồi dọt lẹ. Tôi nói vọng theo:
-Tụi mày đi đâu vậy?
-Trốn vô Khu Thiết Giáp. Nhậu.
Khi tụi nó đi xa rồi, tôi mới giật mình tự trách sao mà mình ngu như vậy, cho tụi nó mượn tiền biết tụi nó có trả hay không? Tôi ôm cây súng Garant chìm vào giấc ngủ. Mơ mơ màng màng, tôi phân vân không biết mình cho hai thằng đó mượn tiền, hay mình mượn tiền của tụi nó.
Hình minh họa
Tụi tôi quen thân với nhau bắt đầu như vậy. Biên và Long đặt cho tôi cái tên là Quân bắp cải khi biết quê hương xứ sở của tôi là Đà Lạt. Lúc đầu, tôi phản đối dữ dội.
-Tao tên Quân, tại sao tụi mày gọi tao là bắp cải.
Long tỉnh queo nói:
-Bắp cải ở Sài Gòn bán có giá lắm đó mày.
Biên góp ý:
– Nhìn mày, giống như hình thằng bé in trên hộp sữa Babylac, hay là tụi tao goi mày là Quân sữa được không?
Cả hai cái biệt danh nghe đều xấu xí, mai mốt bận đồ tiểu lễ đi phép mà bị gọi là Quân sữa làm sao tán gái cho được, tôi đành chọn cái tên ít xấu hơn. Từ đó trở đi cả đại đội đều gọi tôi là Quân bắp cải.
Biên hơn tôi bốn tuổi, học Đại học Khoa Học, đẹp trai, cao ráo. Nhìn bức ảnh ngày xưa nó chụp với áo quần gọn gàng, bảnh bao, tóc dài quá mang tai, ôm cây đàn guitar điện, đứng trước một bộ trống, tôi đoán hắn phải là thành viên của một ban nhạc trẻ nào đó không được nổi tiếng cho lắm ở Sài Gòn. Sở dĩ, tôi dám mạnh miệng nói như vậy, bởi vì tôi không thấy tên của ban nhạc trên mặt trống. Biên thi rớt năm thứ ba nên bị gọi nhập ngũ, nhà hắn ở đường Nguyễn Minh Chiếu Phú Nhuận, gần nhà hàng Bò bảy món Ánh Hồng, có cô em gái tên Dung. Ba hắn là nhân viên cao cấp của cơ quan USAID. Những lúc nhàn rỗi, tôi tò mò hỏi về đời tư của hắn.
-Học đại học có khó không Biên?
Sở dĩ tôi hỏi Biên như vậy, bởi vì đây là chuyện mà tôi muốn biết, nếu tôi không đăng lính và tiếp tục học đại học.
Biên ngẫm nghĩ một chút rồi trả lời tôi:
-Chẳng có mẹ gì khó hết, đến trường đầy đủ, chịu khó ghi cua, học chút đỉnh là đậu.
-Vậy sao mày lại thi rớt?
Biên xổ cái giọng du côn của dân Sài Gòn:
-Đù má, mày nói cái giọng móc họng, tao quýnh thí mẹ mày bây giờ. Tao thi rớt chỉ vì ham chơi, tối ngày cứ lo chuyện đàn địch ở mấy cái phòng trà, có học hành gì đâu mà đậu, rớt là phải. Còn mày, học hành tới đâu? Con nít hỉ mũi chưa sạch như mày, tại sao lại phải vô đây?
-Chuyện dài dòng, khi nào rảnh rỗi tao kể cho mày nghe.
Tôi không muốn nói với nó là mình không được thông minh cho lắm, nên không muốn tiếp tục học.
Long công tử, tên sao người vậy, tuy mặc bộ đồ lính xấu xí, thô kệch, nhưng nhìn hắn người ta vẫn thấy rõ nét hào hoa phong nhã, phảng phất đâu đó. Đang học năm cuối Văn khoa, hắn bỏ học đăng lính. Nhà nó giàu có hạng, nhưng đừng nên so sánh nó với Hắc công tử hay Bạch công tử ở Bạc Liêu thời xưa. Thời Pháp thuộc, tài sản của công tử Bạc Liêu với ruộng lúa hàng chục ngàn mẫu, cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi. Nội tiền thu Tô hàng năm của hàng chục ngàn mẫu ruộng, dư sức cho Hắc, Bạch công tử đốt cháy Sài Gòn. Ba của Long công tử nghèo hơn, ông ấy chỉ có vài căn biệt thự ở Sài Gòn, thêm một cái đồn điền ở Ban Mê Thuột. Thời đệ nhất Cộng Hòa, Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho dân khai thác đồn điền ở cao nguyên nhưng không được quá một trăm mẫu, cho nên cái đồn điền trồng cà phê ở Ban Mê Thuột của gia đình Long công tử chỉ có chín mươi chín mẫu mà thôi. Tới mùa thu hoạch cà phê, ngoài số lượng cà phê của nhà, ba nó còn thu mua tất cả cà phê của Ban Mê Thuột rồi đóng bao xuất khẩu. Với hàng trăm công nhân làm việc tất bật suốt ngày, đến kỳ phát lương, ba của Long công tử phải đem mấy cái bao bố tới nhà băng chở tiền. Sau này, khi đã quen thân với Long, nhân một lúc vui miệng, tôi hỏi hắn với ý thắc mắc nghi ngờ:
-Nhà của mày giàu như vậy, sao hôm trước mày với thằng Biên phải mượn tiền tao đi nhậu.
Hình minh họa
Long nhìn tôi không có gì bối rối:
-Hôm vô Thủ Đức, tao có đem theo hơn chục ngàn, đem nhiều chỉ tổ nặng túi. Tao nghĩ, ở đây có gì đâu mà tiêu với xài. Chiều hôm đó, khi đi tắm ngoài hồ nước của đại đội, tao treo quần áo của tao ngay đó chứ đâu. Tắm xong mát mẻ khỏe khoắn, tao bận cái quần cụt đi về phòng quên mẹ nó bộ đồ. Nửa giờ sau mới nhớ, tao trở lại bộ đồ không cánh đã bay mất tiêu, dĩ nhiên tiền bạc trong đó cũng bay theo luôn. Tao không còn tiền đi nhậu nên mới phải mượn mày.
Mất cả chục ngàn mà hắn coi như không có gì, tôi nghĩ thầm thằng này xứng với tên Long công tử.
Ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, thời gian thoải mái nhất là đi ứng chiến, gác tuyến phòng thủ của trường. Lệ thường, sau khi cơm nước xong xuôi, khoảng sáu giờ chiều cả đại đội súng ống đạn dược đầy đủ kéo nhau ra tuyến gác. Từ sáu giờ chiều đến năm giờ sáng, ngoài việc gác ca của mình một tiếng, thì giờ còn lại tự do, đa số sinh viên đánh một giấc để lấy sức ngày mai còn đi học tiếp. Riêng tôi, tôi thích trốn ra Khu sinh hoạt ngồi nhâm nhi ly cà phê đá ở quán cô Loan, cô bé có gương mặt tươi như hoa, đôi môi mọng đỏ trông phát ghét và nhất là nụ cười hớp hồn của cô. Cả chục anh sinh viên sĩ quan đang ngồi uống cà phê, anh nào cũng nghĩ rằng cô ta đang kín đáo tặng riêng nụ cười cho mình. Tôi thích ngồi uống cà phê ở Khu sinh hoạt, biết đâu có một ngày đẹp trời nào đó cô Loan thực lòng tặng riêng cho tôi một nụ cười? Tình yêu mấy ai biết được, hôm nay mưa ngày mai có thế nắng.
Long công tử khác hẳn, hắn chỉ thích bia 33 nên bò qua Khu Thiết Giáp, ở đây có quyền nhậu chết bỏ miễn là đừng quên đường về. Bị phạt khi còn là sinh viên, rớt ra trung sĩ như không, chả ai dám nhậu quắt cần câu để phải mang cái “cánh gà chiên bơ” khi ra trường.
Tôi không biết uống rượu nhưng lại thích bạn, nên đành lòng quên cô Loan theo bạn bè qua Khu Thiết Giáp. Ba đứa tôi nhậu nhưng luôn luôn đề cao cảnh giác, thực sự chỉ có hai thằng bạn của tôi nhậu thôi. Tôi ngồi đó, uống nước ngọt phá mồi, năm thì mười họa mới hớp một ngụm bia. Một hôm khi cuộc rượu nửa chừng, rượu vô lời ra, đủ chuyện được đem ra bàn tán, Long công tử gắp miếng thịt gà, mở đầu:
-Tụi mày nhớ bài học địa hình hôm qua không?
Tôi đáp:
-Nhớ chớ.
-Bài học đó huynh trưởng gọi là địa hình sương sâm.
Biên hỏi:
-Tại sao gọi là địa hình sương sâm.
Long ôn tồn giải thích:
-Ở trên bục huấn luyện viên nói gì, giảng gì mặc kệ ông ấy, nào là vòng cao độ, núi non, sông ngòi, đường sá rồi cách dùng địa bàn, bản đồ. Mình nghe được bao nhiêu tốt bấy nhiêu, nhưng khi thực hành cầm trên tay cái bản đồ và địa bàn, làm ơn nhớ liếc mắt nhìn mấy cô bán sương sâm để mà điều chỉnh hướng đi của mình. Bởi vì đến trưa, khi các cô đặt gánh sương sâm ở đâu, mục tiêu của mình gần chỗ đó. Các cô gái này là con, cháu của quân nhân trong trại gia binh của trường, họ đi đến các mục tiêu này hàng trăm lần rồi, độ chính xác gần như là tuyệt đối. Hãy tưởng tượng, trời Thủ Đức nóng như thiêu, sinh viên sĩ quan sau khi di hành hàng chục cây số, được ngồi dưới bóng mát của một gốc cây, thưởng thức ly sương sâm mát rượi, ngọt lịm bên cạnh các cô gái duyên dáng, dễ thương, còn chuyện xinh đẹp hay không tùy người đối diện. Lửa gần rơm lâu ngày cũng cháy, gánh rơm sương sâm gặp hàng trăm ngọn lửa Cư An Tư Nguy cháy là cái chắc.
Hình minh họa
Long công tử ngưng nói, quay nhìn tôi:
-Mày có biết bốn chữ Cư An Tư Nguy in trên phù hiệu của Trường Bộ Binh Thủ Đức, có nghĩa là gì không?
Tôi trả lời Long công tử:
-Thật tình, tao không hiểu rõ lắm.
Long công tử giải thích:
-Đại khái, sống yên ổn phải nghĩ đến lúc nguy khốn.
-Vậy thì có gì hay ho đâu mà phải nói, tao chỉ muốn biết lửa gần rơm cháy như thế nào thôi.
-Đám cưới chứ còn như thế nào nữa, con của một binh sĩ trong trại gia binh mà vớ được ông chuẩn úy mới toanh, kể ra cũng tốt lắm rồi.
Đang nói chuyện ngon lành, Long công tử đặt ly bia xuống bàn, hắn mồi một điếu thuốc, nhìn quanh rồi mới nói tiếp:
-Tụi mày có biết cô Giang không? Cô bé đẹp như hoa hậu thế giới ở trại gia binh, nơi cổng số Chín?
Tôi đáp:
-Không biết.
-Mày chỉ biết bắp cải chứ biết cái mẹ gì. Cổ sắp lấy chồng, chôm được ông huynh trưởng của tụi mình, đợi ra trường làm đám cưới.
-Sao mày rành vậy.
-Chuyện cô Giang hoa hậu đã là đóa hoa có chủ, tất cả sinh viên trong trường đều biết, trừ mày.
Tôi hỏi Long:
-Thằng tốt số đó tên gì? Tướng tá ra sao?
-Mày đừng có nằm mơ, thằng huynh trưởng đó ngon hơn mày là cái chắc.
Từ nãy giờ Biên vừa hút thuốc vừa tì tì uống bia, bất chợt hắn lên tiếng:
-Tao có chuyện muốn nói với hai đứa mày. Thằng Long, mày vừa nói trong mấy ngàn sinh viên sĩ quan của Trường Thủ Đức này cô Giang chọn được một?
-Đúng vậy.
-Tao có con em gái tên Dung, đang học đệ nhất Nguyễn Bá Tòng. Tao sẽ tìm cách nói tốt về tụi mày với em gái tao, xúi nó chọn một trong hai đứa mày.
Long công tử nói, câu nói chẳng dính dáng gì đên chuyện em gái của Biên.
-Tao thường ngồi trước nhà thờ Huyện Sĩ hóng gió.
Tôi bực cái thằng Long công tử quá sức vì câu chuyện chưa đi tới đâu. Tôi nói với Long công tử.
-Mày ngồi trước nhà thờ Huyện Sĩ mặc kệ mày, nói ra đây làm gì.
Hình minh họa
Biên lên tiếng.
-Cái thằng bắp cải, mày không biết gì về Sài Gòn làm ơn ngồi yên. Nhà thờ Huyện Sĩ nằm gần Trường Nguyễn Bá Tòng, thằng Long ngồi đó để ngắm nữ sinh Nguyễn Bá Tòng tan học.
Biết mình bị hớ, tôi ngồi yên nghe tụi nó nói chuyện.
Tay chơi Long công tử nói:
-Tao chẳng có dại, trường Nguyễn Bá Tòng có vài ngàn nữ sinh, không lẽ tất cả đều đẹp như tiên nữ hay sao? Phải có người xấu chứ. Biết đâu em mày lại nằm trong thành phần xấu? Chắc em mày có gì trục trặc mày mới đem gán cho tụi tao, chưa kể trường hợp em mày đã có bạn trai rồi?
Nhìn gương mặt tối sầm của Biên với đôi môi mím chặt, tôi biết hắn giận lắm, được một lát sau hắn mới nói:
-Ê, Long công tử, mày có lý hoàn toàn, nhưng hãy cho tao nói. Tao là người Quốc Gia cực đoan. Tao vốn ghét đám sinh viên ở mấy cái Viện đại học quanh Sài Gòn, thằng nào thằng nấy ốm như con cò ma, đầu tóc bờm xờm, quần áo chim cò sặc sỡ, chưa kể mấy cái thằng phản chiến, ăn cơm Quốc Gia mà mở miệng là chửi Quốc Gia không tiếc lời. Nếu có chút quyền hành, tao sẽ cột đầu mấy thằng phản chiến, thả dù tụi nó xuống miền Bắc, hoặc dẫn đến cầu Hiền Lương đá đít cho bọn nó về bên kia. Cho tụi nó ăn cơm Cộng Sản, sau đó đợi coi thử tụi nó có dám mở miệng chửi Cộng Sản hay không? Đụng đến bác Hồ, Cộng Sản nó cắt lưỡi ngay lập tức, sau đó nhốt vào tù hoặc cho đi mò tôm, làm gì có cơ hội mà chửi. Tao không muốn em gái tao phải chọn chồng trong cái đám đó. Mai mốt hai thằng mày ra trường, gắn cái quai chảo trên vai, nó chọn một trong hai đứa mày có lý hơn.
Biên ngừng nói, nó nhìn hai đứa tôi như dò xét động tĩnh rồi mới nói tiếp:
-Tụi mày đừng có tưởng bở, con em tao nó khó lắm, lại kiêu căng, gò được nó không phải dễ đâu. Tụi mày đã học chiến thuật rồi, đơn thân độc mã chẳng làm nên cái trò trống gì, nhưng nếu áp dụng chiến thuật nội công, ngoại kích sẽ chắc ăn. Tao làm nội tuyến cho.
Long công tử lên tiếng:
-Mày là anh mà nói cái giọng cứ như là ba má không bằng.
Biên nói với Long.
-Mày có biết câu mưa dầm thấm đất hay không? Tao nói hoài, em tao phải xiêu lòng thôi.
Biên nâng chai bia 33, ực một hơi rồi nói tiếp:
-Thằng bắp cải ở trên núi, còn mày ở dưới biển. Thời buổi này, làm gì còn chuyện cổ tích Sơn Tinh với Thủy Tinh tranh giành nhau công chúa Mỵ Nương. Hai thằng mày, thằng nào gọi tao là anh ngay bây giờ, tao sẽ giúp thằng đó.
Biên vừa dứt lời, tôi lên tiếng ngay lập tức:
-Tao xung phong làm em mày.
Biên nhìn Long công tử:
-Còn mày thì sao?
-Tao cần nghĩ lại, chẳng có gì mà phải vội vã, cẩn thận nhìn trước dòm sau, cá tham mồi mắc phải lưỡi câu dễ như chơi.
Tôi tưởng chuyện Dung em gái Biên, chỉ là chuyện trà dư tửu hậu, nói cho vui trong lúc rượu vào lời ra, ngờ đâu tuần lễ đầu tiên sau lễ gắn Alpha, ba thằng tôi dẫn nhau đi phép hai mươi bốn giờ.
Tôi sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt, quê của tôi ở trên cao nguyên với rừng thông bạt ngàn xanh thẫm, quanh năm sương mù lạnh lẽo bao phủ khắp núi đồi. Tuy Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhưng cao nguyên Lâm Viên nơi tôi ở có hơi khác chút xíu, cũng hai mùa mưa nắng nhưng mưa và nắng, là mưa nắng của miền ôn đới. Tôi có thể nói mà không sợ mình nói quá lời “sương mù, với rừng thông là biểu tượng của thành phố nơi tôi sống. Và đó là thành phố ôn đới trong một nước nhiệt đới”.
Thành phố Đà Lạt được hình thành nhờ dân tứ xứ đến đây lập nghiệp. Ba tôi không nằm ngoài thành phần đó, ông từ Quảng Nam, di dân đến đây vào giữa thập niên bốn mươi, thập niên mà người Pháp đang muốn mở rộng thành phố Đà Lạt thành trung tâm nghỉ mát của người Pháp ở Đông Dương. Hơn một ngàn căn biệt thự to lớn nguy nga, bề thế, kiến trúc theo kiểu Pháp được xây dựng trong giai đoạn này.
Ba tôi là thợ mộc, ông đến Đà Lạt đúng vào lúc thành phố đang phát triển, nhu cầu về công nhân xây cất rất cao cho nên ông tìm được việc làm dễ dàng. Được vài năm khi có chút tiền dư, ông mua một miếng đất gần tiệm tạp hóa Đông Á ở đầu dốc Trại Hầm, dựng căn nhà gỗ để có chỗ cư trú. Trại Hầm là một xóm nhỏ, nằm cách Đà Lạt chừng năm cây số, thời niên thiếu tôi sống với cha mẹ trong căn nhà này. Lúc nhỏ khi phải đi học quá xa trường, tôi thường phàn nàn với ba tôi, tại sao không mua nhà ở phố để việc học hành của tôi được thuận tiện hơn. Ba tôi nhìn tôi, thở dài:
-Con à, có cái nhà để ở là may mắn lắm rồi, tiền đâu mà mua nhà ở phố, đừng đòi hỏi nhiều quá. Ở ngoài xứ của mình, cái chòi tranh để che mưa tránh nắng cũng không có, nói gì đến nhà cửa như ở đây.
Tôi lớn lên giữa thành phố thơ mộng, đầy sương mù giá buốt với tình thương bao la vô tận của người cha hiền lành, chất phác. Những ngày cuối tuần khi rảnh rỗi, ba tôi thường dẫn tôi đi chơi đây đó, hai cha con đi bộ cùng khắp mọi nơi. Khi đi ngang qua những căn biệt thự ở đường Trần Hưng Đạo, ông chỉ vào đó rồi vui vẻ nói với tôi rằng, ông làm trần nhà cho căn biệt thự này, còn căn kia chính ông ghép ván lại làm cái sàn nhà, căn bên trái do ông làm mấy cái cửa sổ. Ba tôi có vẻ hãnh diện về những việc làm của ông. Sau mỗi lần đi chơi, cuối cùng ông thường nói với tôi:
-Cố gắng học hành nghe con, đó là con đường tiến thân duy nhất, đừng có để thất học như ba, phải làm việc chân tay nặng nhọc đế kiếm sống lại còn bị người ta coi thường, thời nào cũng vậy, lúc nào cũng vậy, bằng cấp luôn luôn là cái thước đo giá trị con người.
Đà Lạt thành phố sương mù
Ngày ấy, tôi đi học vì nghe lời của ba tôi, chứ thật tâm tôi chẳng biết học để làm gì. Việc tôi đi học cũng giống như cây thông mọc tự nhiên giữa rừng, tự nó lớn lên. Tôi đi học mà không được sự dẫn dắt của người lớn, bài vở thầy cô giảng ở trường hấp thụ được bao nhiêu nhờ bấy nhiêu, do đó tôi học hành không giỏi giang gì cho lắm chỉ làng nhàng, bám theo lũ bạn trong lớp đã mệt đứt hơi nói gì đến chuyện xếp hạng cao trong lớp. Suốt bảy năm trời ở trường trung học Trần Hưng Đạo, năm nào tôi cũng chỉ lù đù, lẹt đẹt hơn được mươi đứa cuối lớp, vậy mà, khi thi cử mọi chuyện đều êm xuôi trót lọt.
Đà Lạt thành phố sương mù
Ngày tôi thi đậu Tú tài I, khi coi bảng thấy tên mình trên bảng vàng, tôi lịm người đi vì sung sướng. Bạn bè trong lớp đều nhìn tôi với con mắt đầy ngạc nhiên, vì có rất nhiều thằng học giỏi hơn tôi lại rớt lộp bộp như sung rụng. Mấy thằng thi rớt giận cá chém thớt, không biết trách cứ ai bèn đem tôi ra làm đề tài tranh luận, chê bai, cuối cùng chúng nó nói với nhau, câu nói xưa như trái đất:
-Mẹ nó, các cụ mình nói cấm có sai bao giờ “Học tài thi phận” chúng mày ạ. Cứ coi cái thằng Quân thì biết, học hành như con củ cải, vậy mà lại thi đậu.
Quân là tên của tôi, nghe có đáng buồn không? Không, tôi không phiền hà vì những lời chê trách của lũ bạn, bởi vì tôi đang bận lo chạy về nhà báo tin mừng cho ba tôi.
Khi biết được tôi đã đậu cái Tú tài I, ba tôi nhìn tôi với khuôn mặt rạng rỡ, thêm nụ cười hớn hở trên môi. Lần đầu tiên trong đời, tôi bắt gặp nụ cười tràn đầy hạnh phúc trên gương mặt già nua, khắc khổ của ông. Một niềm thương cảm vô biên tràn ngập trong lòng, ba tôi là một người thợ mộc, học được dăm ba chữ quốc ngữ ở trường làng, chữ nghĩa chẳng được bao nhiêu, nuôi thằng con học xong cái Tú tài ông vui mừng cũng phải. Bấy lâu nay, ba tôi tự đặt minh vào cái hạng cùng đinh trong xã hội, đem sức lao động ra làm việc đế kiếm tiền nuôi vợ con. Cuộc đời ông kể như bỏ đi, chỉ mong sao cho tôi học nên người để cho ông nở mặt nở mày với bà con làng xóm. Tôi đã làm ông toại nguyện.
Chiều hôm ấy khi ra khỏi nhà, tôi hơi mắc cỡ bởi vì từ đầu làng đến cuối xóm mọi người gặp tôi đều nói “Chào cậu Tú”. Tôi biết ai là người đã loan cái tin tôi thi đậu, ngoài ba tôi ra còn ai vào đây nữa.
Năm sau, tôi lại cõng thêm cái bằng Tú tài II. Ôm hai mảnh bằng trong tay mà tôi ngỡ là mình nằm mơ, không biết mấy người rọc phách có ráp lộn bài của tôi với người khác hay không?
Dưới con mắt của ba tôi, tôi là người thông minh tuyệt đỉnh, đã làm được những chuyện kinh thiên động địa. Ông nói với tôi: “Từ xưa đến giờ họ hàng nhà mình chỉ biết làm ruộng, lao động chân tay, đầu tắt mặt tối cũng chỉ đủ nuôi thân nói gì đến chữ nghĩa với học hành. Nay con là người duy nhất trong dòng họ đậu được hai cái bằng Tú tài, con phải học thêm nữa ở bậc đại học”. Tôi nói với ba tôi rằng, tôi không muốn hàng tháng phải ngửa tay xin tiền ba tôi để mua sắm áo quần, sách vở, giấy viết, bằng những đồng tiền ông kiếm được do lao động, đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được. Tôi muốn ông dùng số tiền đó cho lũ em của tôi. Tôi biết quá rõ về mình, học tiếp đại học để lấy cái bằng Cử nhân, Cao học, làm gì có chuyện may mắn như ở trung học. Chó ngáp phải ruồi cũng một hai lần thôi, may mắn như vậy tạm đủ rồi, người ta học đến mờ mắt còn chưa ra gì huống chi lù đù như tôi. Tôi biết là mình không đủ thông minh để tiếp tục việc học ở bậc đại học, nên tình nguyện đăng lính cho chắc ăn, khỏi phải lo học hành, thi cử, đậu rớt gì tuốt. Hơn nữa, với lệnh tổng động viên, sinh viên mà thi rớt bất cứ năm nào đều phải lên đường tòng quân. Vậy thì, tại sao tôi phải ghi danh vào Đại học để làm cái chuyện đội đá vá trời cho mệt thân.
Mùa cháy rừng hàng năm ở Úc, kéo dài từ tháng Chín đến tháng Ba. Trời khô, hanh nóng và gió nhiều dễ làm ngọn lửa lan nhanh. Năm 2019, Úc trải qua những ngày nóng nhất và mùa Xuân năm này lại ít mưa, khô hạn nhất. Giông gây ra sét. Sét làm bùng lên những đám cháy giữa rừng khô khốc. Hơn 18 triệu ha và hơn 5,900 căn nhà đã cháy rụi tính đến giữa tháng Giêng 2020. Khói từ các đám cháy rừng từ Australia bay qua Thái Bình Dương tới Nam Cực, đến New Zealand, tới tuốt Argentina và Chile bên Nam Mỹ.
Lính cứu hỏa, cảnh sát, quân đội được huy động và hàng ngàn tình nguyện viên giúp ngăn chặn cháy rừng lan rộng. Tàu Hải quân của Úc phải vào sát bờ biển để đón người dân hoảng loạn chạy trốn cháy rừng.
Mùa màng bị đốt rụi, năm 2020 này, Úc thiếu gạo ăn phải nhập từ nước ngoài. Người chết, hàng loạt động vật như kangaroo, koala, dơi và côn trùng bị mất môi trường sống và nguồn thức ăn.
Cháy rừng, khói dữ dội tạo ra ô nhiễm gây xốn mắt và khó thở cho trẻ em cũng như người lớn, người bị bệnh suyễn, bệnh tim hoặc bệnh mãn tính.
Tuy nhiên, Thủ tướng Úc, ông Scott Morrison, lại đánh giá thấp ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với những vụ cháy rừng. Ổng dắt vợ con đi “holiday” cuối năm ở biển Hawaii, Hoa Kỳ. Dân Úc ở nhà chửi bới um sùm nên ông Thủ tướng vội bay trở về, đi thăm những vùng quê bị cháy rụi. Ðón tiếp ông là những khuôn mặt thất thần, ánh mắt đầy phẫn nộ. Bắt tay, lính cứu hỏa làm ngơ! Ði vòng vòng thị sát bị dân kêu là “idiot”(đồ ngu), rồi rượt cả đám tai to mặt bự chạy có cờ: “Nói nhiều quá rồi! Thôi hãy làm cái gì cho dân đi chớ!”.
Tháng Chín, mùa Xuân lại tới. Trong khi nước Úc đang “rộn rịp” chuẩn bị đối phó mùa cháy rừng mới thời ôn dịch COVID-19 thì ở bờ Tây nước Mỹ, cháy rừng lại bùng phát dữ dội. Ở phía Nam tiểu bang Oregon, hai thành phố nhỏ Phoenix và Talent hầu như bị lửa rừng thiêu rụi hoàn toàn.
Rồi ở Marion County, hôm thứ Ba, mùng 8/9, cậu bé Wyatt Tofte, 13 tuổi, đã chết trong một chiếc xe hơi, trong lòng vẫn còn ôm một chú chó cưng. Bi kịch cháy rừng nầy làm xúc động người dân toàn thế giới.
o O o
Những trận cháy rừng dữ dội ở Hoa Kỳ gợi nhớ trận cháy rừng kinh hoàng nhất trong lịch sử Australia xảy ra tại tiểu bang Victoria, vào thứ Bảy, ngày 7/02/2009, làm 173 người chết.
Marysville cách Melbourne một giờ rưỡi lái xe về hướng Tây Bắc, là thị trấn yên bình với những cây cổ thụ ngập tràn màu sắc, vang lừng tiếng chim; những thảm cỏ xanh mướt, vườn hoa rực rỡ trước những ngôi nhà xinh xắn vẫn được ví von là thiên đường nơi hạ giới.
Mùa Ðông, trên đường đi núi tuyết Lake Mountain, tôi đã từng dừng chân ở Marysville vì cảnh nơi đây đẹp như tranh Levitan. Nhưng thiên đường đã biến thành hỏa ngục do trận cháy rừng vào ngày thứ Bảy tang tóc đó. Marysville hoàn toàn bị thiêu hủy. Những lớp khói bụi đen ngòm, che cả mặt trời. Trong khi ngọn lửa vàng rực, nuốt dần những ngôi nhà xinh xắn. Trận bão lửa như từ địa ngục bùng lên, chẳng khác gì thảm họa ở Hiroshima! Xác động vật nằm la liệt. Chúng tôi lái xe giữa cảnh lửa ngùn ngụt cháy trên những ngôi nhà hai bên đường. Toàn bộ thị trấn này bị thiêu rụi và ngôi làng Marysville đẹp như tranh giờ chỉ còn là đống tro tàn.
Cùng lúc đó ở Melbourne, nhiệt độ lên hơn 47 độ C. Lịnh cấm lửa toàn tiểu bang. Tôi ung dung ngồi trong nhà, tận hưởng cái hiu hiu dịu mát của máy điều hòa không khí chạy hết ga thì chuông điện thoại reo. Nhà trường kêu đón cháu về sớm, vì khói cháy rừng đã theo gió tràn về thành phố.
Ðến trường, hai ông cháu ra trước sân. Con bé dừng lại, nhìn về phía xa xa, nói: “Nội à, cháy rừng! Hổng biết mấy bạn con có sao không?”. Tôi nói cho cháu yên lòng: “Chắc hổng sao đâu con”.
Cháy rừng tại tiểu bang Oregon – photo Don Bartletti/Los Angeles Times
o O o
Giờ đây lòng tôi đầy chua xót và đau đớn khi đọc trên báo, nghe trên đài những đám cháy rừng gây chết rất nhiều người đang xảy ra ở vùng bờ biển phía Tây nước Mỹ. Nỗi thống khổ của hàng chục ngàn người, khi nhà chức trách đến đánh thức họ vào nửa đêm trước khi lửa rừng tràn tới. Họ di tản mà không kịp mang vớ, không mang theo được gì cả! “Hơn 30 năm trước, tôi đã bỏ thuốc lá. Nhưng tôi đã bắt đầu hít khói lại trong sáu ngày qua, từ không khí”, một người dân Hoa Kỳ than thở.
Oregon chưa bao giờ chứng kiến cảnh tượng này! Khói dày đến mức khó có thể nhìn thấy gì ngoài khoảng cách 10 feet. Khoảng 500,000 người ở Oregon đang trong tình trạng báo động sơ tán. Thảm trạng cháy rừng sẽ còn gây thiệt hại nghiêm trọng cho đến khi mùa Ðông mang những cơn mưa tới.
Nạn cháy rừng ở California cho đến nay đã thiêu rụi hơn 3.2 triệu mẫu Anh, hơn 4,000 căn nhà bị phá hủy, cao gấp nhiều lần so với cùng thời điểm này năm ngoái.
Tiểu bang Washington đang trải qua mùa cháy rừng tồi tệ thứ hai trong lịch sử tiểu bang. Malden, một thị trấn nhỏ ở phía đông Washington, nơi 80% các tòa nhà của thành phố, bao gồm trạm Cứu hỏa, Bưu điện, tòa Thị chính và Thư viện đã bị phá hủy hoàn toàn. Vùng đất điêu tàn trông giống như vừa trải qua những trận bom rải thảm.
Vào giữa đêm, khi đám cháy rừng lan tới gần, một gia đình đã chạy đến một con sông để trốn ngọn lửa. Hai vợ chồng được cứu thoát khỏi dòng sông nhưng con trai của họ, đau đớn thay, đã không qua khỏi.
John Tripp, người đã sơ tán khỏi nhà ở Butte County, nói rằng mình sẽ không tìm thấy bất cứ gì còn sót lại khi được phép trở về: “Tôi đến từ Miami. Tôi đã trải qua những trận cuồng phong. Tôi đã trải qua những cơn lốc xoáy. Tôi chưa bao giờ thấy điều gì kinh khủng như thế này. Tôi nhìn ra ngoài và chỉ thấy có một màu cam đang tan chảy khắp các ngọn đồi”.
o O o
Những đám cháy đang hoành hành dữ dội ở miền Tây nước Mỹ là chưa từng có. Chúng báo trước những hậu quả tàn khốc của việc khí hậu biến đổi đang diễn ra nhanh hơn những dự đoán.
Ðúng vậy! Nạn cháy rừng ở Úc, ở Mỹ mỗi năm càng dài thêm, càng khốc liệt thêm. Thế hệ chúng ta đã tham lam, tàn phá môi trường, đã sống ích kỷ, đã làm nóng hành tinh xanh nầy, đã gây ra biến đổi khí hậu. Giờ đây, chúng ta phải hứng chịu sự trả thù của thiên nhiên. Và nhất là, chúng ta sẽ phải trả lời như thế nào với thế hệ mai sau?
Yêu nhau ác liệt mà bị mẹ cha bắt buộc đôi ta đời chia biệt thì chàng và nàng thường quyết liệt rủ nhau vĩnh biệt cuộc đời! Để chim liền cánh, cây liền cành ở kiếp lai sinh?
Mà chịu chơi chơi tới cùng là Roméo và Juliet trong vở kịch của William Shakespeare. Roméo và Juliet là một chuyện tình yêu nổi tiếng nhất trong lịch sử nhân loại, được dựng thành phim rất nhiều lần, mà em Olivia Hussey, rất‘sexy’, (thèm nhiễu nước miếng, năm 1968, chiếu ở rạp chớp bóng Rex, Sài Gòn)! Khi tui mới biết yêu lần đầu mà em đã yêu (mấy) lần sau!
Cốt truyện là hai họ nhà Roméo và Juliet thù nhau bất cộng đái thiên. Giết qua giết lại mà khổ nỗi hai trẻ lại tha thiết yêu nhau.
(Dà! Chuyện nầy xảy ra thời Trung Cổ ở Ý nên mới có cái vụ hở ra là đâm như thế; chớ bây giờ ló dao ra là cảnh sát nó còng đầu!)
Cuối cùng Juliet (ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên) bị gia đình buộc phải lấy thằng khác nên uống thuốc độc (giả dược thôi) để chết giả. Roméo xớn xác chạy về tưởng ‘Thúy đã đi rồi’ nên quất cho mầy một vốc thuốc độc chết ngắc. Juliet tỉnh dậy thấy cục cưng của mình nằm sùi bọt mép… đi rồi mà không còn chừa viên nào cho em ‘cắn’ hết; nên nàng lấy dao đâm vô rún chết! Để đôi ta mãi mãi mãi bên nhau!
***
Việt Nam mình thì hay hơn nhiều! Tình duyên ngang trái như Lan và Điệp thì Lan chỉ đi tu thôi! Ngu sao mà tự vận. Điệp ‘kèo nài’ nối lại tình xưa cứ giựt chuông cổng chùa hoài… kêu mở cửa, um sùm quá!
Lan dứt khoát dùng dao, (lại dao nữa), cắt đứt dây chuông để đừng kêu réo mắc công. Xui cái là, dù Lan không có chủ tâm, ‘vì dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng’… Chuông rớt xuống… làm Điệp lỗ đầu!
Từ đó về sau dẫu ai có cho một, hai trăm ‘đô’, Điệp cũng không dám đến giựt chuông làm phiền Lan nữa. Hết chuyện!
Đó là chuyện thất tình đi tu trong cải lương của ta; tự vận vì tình trong kịch của Tây… Chớ ngoài đời, trong nước bây giờ mấy nàng thất tình giải quyết theo cách khác.
Chắc bà con mình đều nhớ cái cầu Bình Lợi bắc qua sông Sài Gòn mà chính giữa có đường xe lửa, chạy từ chợ Bến Thành tới Biên Hòa. Hồi xưa người viết ở Sài Gòn mà nghe em nào mặt dàu dàu nói đi ra cầu Bình Lợi nghĩa là em sẽ nhảy tùm xuống sông vì lỡ bị thằng khốn nạn nào đó ‘thư’ em bụng bự… rồi đi cưới con quan phủ!
Cây cầu nầy hãng Tây nó xây từ năm 1902 tới giờ hỏng biết có mấy tỉ lượt người qua, nối những bờ vui, mà cũng hỏng biết có bao nhiêu người đến đó mà trốn nợ trần.
Ông coi sóc các trái nổi làm phao tiêu chỉ đường cho tàu bè qua lại dưới cầu Bình Lợi cho biết làm ở đây hơn bốn chục năm, ông cứu biết bao người đa số là thất tình đến đây để nhảy cầu tự vận. Có lúc cứu được lúc không? Mà cứu được; sống cũng quặt quẹo khó nuôi! Vì khi rơi từ trên cao xuống, mặt nước sẽ tạo ra phản lực khiến người rơi bị thương rất nặng. Da người va đập mạnh với mặt nước sẽ bị phồng rộp, hay lột hoàn toàn, đau đớn không kém gì bị phỏng lửa.
“Dám nhẩy cầu không phải là can đảm! Can đảm là phải dám sống, dám đương đầu, chứ tự tử như thế là trốn chạy, là hèn nhát chứ can đảm gì. Tui không cho ai chết hèn vậy. Kiểu gì cũng cố cứu bằng được!”
Phần ông là người có đạo nên ngày cũng như đêm, hễ nghe ‘tùm’ là lao ghe máy ra, vớt ngay. Mỗi năm vớt được bao nhiêu người? Không chừng! Năm ít thì vài người, năm nhiều gần cả chục. Người tự tử rất ghét bị can thiệp nên thường chọn đêm, nhất là đêm mưa gió, không trăng sao, để mò ra cầu. Thấy người ta nhẩy cầu sờ sờ trước mắt, không cứu không chịu được, thì cứu thôi.
Có lần tui thấy một đứa con gái đứng buồn ủ rũ ở lan can cầu, mặt nhìn đăm đăm xuống dòng nước bạc, rồi vái tứ phương chắc xin lỗi má đã chín tháng mang nặng đẻ đau, rồi xin lỗi ba một đời lam lũ nuôi con khôn lớn mà giờ con ‘ngu’ hết biết như vậy?! Rồi tui nghe ‘tùm’ một cái; bèn giựt máy Kohler, chạy vội ra, kịp nắm cái đầu tóc kéo lên. Xốc nước, chờ cổ tỉnh lại, tui mới phân giải như vầy: “Đời nhiều thứ phù phiếm, bọt bèo lắm rồi! Nhưng như con kiến nó bò tới bò lui ở mép ghe kia còn ham sống; mà cháu lại bất hiếu! Vì tình, mà toan tìm cái chết thiệt là bậy bạ quá! Chết đâu có hết mà còn tía má, còn em út nữa! Khổ cho người ở lại! Kiều bị Sở Khanh, nếu Kiều tự tử chết… thằng Sở Khanh nó còn cười cho. Nó phụ mình thì mình kiếm thằng khác. Thiếu cha gì! Cổ nghe coi bộ lọt lỗ tai thôi khóc hu hu mà nói: “Ừ hé!”
Ngoài cầu Bình Lợi ra bây giờ rồi tới cầu Cần Thơ nữa chớ. Hoàng hôn loang loáng trên sông Hậu, cầu Cần Thơ – chiếc cầu dây văng dài nhất Đông Nam Á cũng lộng lẫy cong vút trong ráng chiều. Đẹp đẽ và thơ! Vậy mà khánh thành được 4 năm, mà tới 26 vụ tự vận, chỉ có 8 người được cứu thôi. Đa phần chết vì tình!
Người viết nghe anh bạn văn ‘bình loạn’ về chuyện thất tình đi nhẩy cầu tự vận như vậy sợ bữa nhậu cháo vịt cuối tuần u ám quá mất vui nên góp vô câu chuyện tiếu lâm như vầy: “Một người con gái bị tình phụ. Tuyệt vọng em ra một chiếc cầu cao định gieo mình xuống dòng sông đang lạnh lùng chảy xiết mà tự vận. Bỗng em thấy phía dạ cầu có một anh chàng bị cụt hết hai tay mà vẫn vui vẻ nhảy múa. Bỏ ý định tự tử đi! Em đi xuống dạ cầu, nói: “Xin cám ơn anh! Em tính nhẩy cầu tự sát nhưng khi thấy anh vui vẻ khiêu vũ dù đã bị cụt mất hai tay nên em thay đổi quyết định! Anh đã cứu đời em đó!”
“Khiêu vũ, nhảy múa ư? Làm gì có! Ngứa lưng quá trời mà tui không biết làm sao để gãi. Thành thử nhảy qua nhảy lại cho đỡ vậy mà! Thôi có em đây; xin em gãi dùm lưng tôi một chút nha! Cám ơn! Cha! Đã quá! Đã quá!”
Và kết cục có hậu như một truyện thần tiên là em không gãi dùm anh một chút… mà gãi suốt đời! Hai người lấy nhau, rồi con đàn cháu đống đề huề! Sống tới răng long đầu bạc! Hết chuyện!
Anh bạn văn ‘rầy’ người viết rằng: Câu chuyện của anh ‘vô cảm’ quá! Tình duyên của anh suông sẻ bởi tía má đi cưới vợ cho anh; biểu ưng cô nào là anh ưng cô nấy vì như anh nói đứa nào cũng như đứa nấy mà thôi! Đâu có ‘cái gì’ khác nhau đâu? (Hi hi!)
Anh chưa từng bị tình phụ; anh chưa biết được ‘thú đau thương” đến nỗi người ta phải nhẩy cầu Bình Lợi?! Tình yêu nó mãnh liệt lắm à! ‘Thương em không tính bạc tiền! Hun em một cái chết liền cũng vui!’ (Đúng vậy!)
Tui, nói thiệt, đã có lần tính nhẩy cầu Bình Lợi đó nha! Chẳng qua hồi trước 75, tui làm thầy cò cho mấy tờ nhựt báo ở Sài Gòn mà kiếm sống! Tui có máu cờ bạc chút đỉnh nên có chơi số đề. Đánh một đồng trúng ăn bảy chục. Chơi cho đỡ buồn vậy thôi. Nhưng tuần nào không đánh thì lại nhớ con Ba đi ghi số đề trong xóm! Chu choa nó ngộ gái lắm nha anh! Nó kêu tui là thầy Hai và xưng em ngọt sớt. Lòng tui cũng xiêu xiêu rồi. Một bữa trúng được vài ngàn, tui rủ nó qua Gia Định ăn cháo vịt. Em Ba có vẻ cũng chịu đèn tui… nhưng nói: “Thầy Hai ráng chờ em ít năm nữa! Nhà đông em quá mà; chờ cho tụi nó lớn, ăn học thêm chút đỉnh! Chừng hai năm nữa thôi, thầy Hai nói tía má ở quê lên đem trầu cau qua nhà nói với tía má em một tiếng rồi em ưng cái rụp!”
Sau 75, đói! May còn có chiếc Honda cà tàng để chạy xe ôm! Em Ba cũng ngưng ghi số đề vì xổ số là cờ bạc, là văn hóa đồi trụy của bọn tư sản mại bản!
Tui nhớ đêm cuối của tình ta; tui dắt em đi ăn cháo vịt. Tô cháo có màu vàng sánh rất hấp dẫn dù là thịt vịt hãng. Mới đút muỗng cháo vô họng, nghe em Ba nói thiếu điều tui muốn sặc. Chắc em không về nâng khăn sửa túi cho tui như thề hứa được đâu? Tía má em có nghe phong phanh em với thầy Hai nhưng giờ thầy phải chạy xe ôm, nuôi thân còn không nổi, nói chi tới nuôi em! Thôi hi sinh tình ta phứt cho rồi!”
Tui nghe mà buồn biết bao trong tấc dạ! Làm thân nam nhi chi chí mà nuôi thân còn không nỗi còn bày đặt yêu thương nhăng nhít! Tui bị khủng hoảng tinh thần, làm ăn gì nổi nữa; nên bán chiếc Honda đi!
Chiều chiều tui ra quán cháo vịt nơi hẹn hò năm cũ với em Ba số đề, đầy dấu chân kỷ niệm, mà ăn cháo trừ cơm.
Em Tư bán cháo thấy tui tới ăn hoài nên cũng quen ‘hơi’. Em tế nhị, kín đáo cho thêm vài miếng thịt vịt chìm dưới đáy tô cho má em đừng có thấy. (Ngọc trầm thủy thượng anh ơi!)
Thất tình, ngồi không, ăn hoài núi cũng lở. Đêm cuối cùng, trời lắc rắc mưa, tui đến quán, mặt buồn như đưa đám. Kêu tô cháu vịt đặc biệt có xắt thêm một cặp giò chá quẩy và một xị rượu trắng! Tui vừa húp cháo vừa suy ngẫm về cuộc đời khốn nạn nầy.
Em Tư cháo vịt thấy cái mòi hơi lạ hỏi tui sao buồn quá vậy. Tui nói: “Cám ơn em! Ngon quá! Tô cháo cuối cùng của đời tôi! Hết tô cháo vịt; tôi sẽ nhẩy cầu Bình Lợi!” “Bộ tự vận hả? Đừng làm vậy thầy Hai ơi! Đừng có chết! Nó bỏ thầy để đi lấy thằng khác có thế lực, tất giàu hơn thầy! Còn em, em không bỏ thầy đâu! Em yêu tình; còn tiền có cũng được không cũng chẳng sao! Em sẽ đi bán cháo vịt nuôi thầy Hai suốt đời nhen!” “Rồi sao nữa? Thì tui ưng nó! Bữa nhậu nầy là kỷ niệm 35 năm ngày em Tư cháo vịt về nấu cháo cho tui ăn đó!”
Kết luận tự vận vì tình là bậy bạ lắm! Nếu bữa đó anh Hai làm thiệt thì bữa nay làm sao có cháo vịt tui ăn!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.