Thanh chocolate cho ba

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 14 Feb 2024

Thưa, hồi xưa, bà con mình chắc ai cũng biết (em) Mai Lệ Huyền hay hát bản: ‘Thiên duyên Tiền định’: Nhờ anh tiên đoán năm nay duyên nợ thế nào?… Người ấy quê quán nơi nào giàu nghèo? Tuổi tác bao lớn sang hèn thế nào?
…Quen lắm nhìn xem em biết ngay/ chẳng ai xa lạ chàng ấy chính là anh, là anh đây!
Chẳng qua (em) Mai Lệ Huyền, vốn mê tín dị đoan, đầu năm đi coi bói chuyện tình duyên, ”cầu gia đạo” coi có gặp thằng chồng cà chớn nào, nó ”cạo da đầu” mình hay không?
Xui cho em là gặp tay thầy bói dê, là (anh) Hùng Cường, phán thiên duyên tiền định: Trời định trước rồi lấy ai cũng vậy lấy anh cho rồi…
Thưa cái vụ thiên duyên tiền định nầy vốn do chú Ba, hoặc Thiếm Ba Tàu ở không, đặt chuyện cả thôi.

Hồi xưa bên Tàu, đời nhà Đường, Chú Ba Vi Cố cũng tin dị đoan hết biết!
Một hôm thấy ông già ngồi dưới trăng, gọi là Nguyệt lão, có mang theo cái túi đựng dây xích thằng, tức là những sợi chỉ hồng, để cột hai người trai và gái phải lấy nhau; không sao gỡ ra được.
Vi Cố xáp lại gần, hỏi Nguyệt lão coi vợ tương lai của tui ra làm sao? Người ấy quê quán nơi nào giàu nghèo? Tuổi tác bao lớn sang hèn thế nào?
Nguyệt Lão lôi cái túi ra: thấy Vi Cố cột với một đứa.
”À vợ của chú em là con bà ăn mày ở ngoài chợ Đông Đô!”
Dĩ nhiên Vi Cố đời nào chịu kêu bà lão ăn mày ngoài chợ Đông Đô là Má bao giờ… nên khẩn khoản xin Nguyệt lão cởi sợi chỉ ra! Hãy cột mình vô với con gái ‘Tể tướng nước Vệ’ cũng được… Muốn hậu tạ bi nhiêu thì bi!
Nguyệt lão trả lời: “Con gái Tể tướng nước Vệ đã có chồng rồi! Muộn rồi các hạ! Không gỡ sợi chỉ nầy ra được đâu… Chỉ trừ trường hợp là có cây kéo cắt.
Nhưng xui thay, ta lại bỏ quên cây kéo ở nhà. Chạy về lấy chạy ra thì đã hết giờ linh, cây kéo lụt nhách, có cắt cũng không đứt. Đành vậy! I’m sorry!”
Nhưng Vi Cố tin rằng xưa nay ‘nhân định thắng thiên’ cũng nhiều… bèn bỏ một đống tiền đô la, mướn một tay đầu gấu, sát thủ giết mướn, ra chợ Đông Đô tìm con gái bà ăn mày chọi đá cho nó lỗ đầu! Chết đâu; chết phức cho rồi!
15 năm sau, Vi Cố đi hỏi vợ, con của đại gia nhà giàu.
Đêm động phòng hoa chúc, em sexy, trần truồng như nhộng, Vi Cố thấy có cái sẹo to tổ bố trên đầu mà nhờ em đội tóc giả nên bấy lâu không thấy!
Hỏi nguyên cớ ra làm sao mà thân ngà ngọc của em lại có sẹo? Thì ra hồi nhỏ ở chợ Đông Đô, em bị một thằng mất dạy nào đó, tự nhiên không thù vơ oán chạ gì hết ráo mà nó vác cục đá chọi em lỗ đầu vậy hè!
Nghe vậy! Vi Cố nín khe! Bởi kể ra sợ em kêu lính bắt về tội mưu sát; vì bỏ tiền ra mướn sát thủ để giết em yêu mới vừa lên 3 tuổi.
Vả lại, bây giờ, lớn lên trổ mã, chân dài tới nách, 3 vòng hịt như của hoa hậu phu nhân; nhờ lọt vào nhà đại gia, làm con nuôi nhưng được ăn uống tẩm bổ tôm hùm, bào ngư, đông trùng hạ thảo như con ruột… nên em trắng da dày tóc, che mất vết sẹo trên đầu… thì đã quá rồi…
Vi Cố móc tiền trong túi ra một nắm, sai vợ đi chợ, mua con gà trống thiến về, cúng Nguyệt lão để ‘thank you!.
Rượu vô lời ra, Vi Cố khai hết ráo… nên mới có chuyện thiên duyên tiền định nầy truyền tới đời sau! Tới đời Hùng Cường và Mai Lệ Huyền đó bà con ơi!
Thưa rồi sau nầy thời cuộc đổi thay, làm thân ly khách, lưu lạc quê người, tui nghe mấy thằng Úc ở đây vốn tự do luyến ái, yêu ai là lấy chớ hỏng có ông tơ bà nguyệt se mối chỉ hồng gì hết ráo!
Rồi cũng nghe mấy chị em mình khen mấy thằng Úc ở đây có cái truyền thống nịnh đầm! Ôi thương, nâng niu con vợ nó thôi hết biết!
Như thằng Úc hàng xóm của tui, trước khi vác hộp mì Spaghetti đi làm là hun con vợ nó một cái rồi mới ‘bái bai’.
Tui cũng muốn bắt chước làm như vậy nhưng tiếc một cái là tui với con vợ nó có quen biết gì đâu!
Nhưng mấy em ơi! Thấy vậy mà không phải vậy! Kết luận quá sớm là lầm! Lầm to đó! Có đắp chăn mới biết chăn Úc nó cũng có rận đầy như cái mền của mình thôi!
Thì ra tình em cũng như món hàng chưng trong siêu thị! Thấy hào nhoáng. Mua về mới biết là đồ dỏm. Đồ dỏm còn giữ biên lai, chịu khó đi trả lại. Còn tình em quàng vô cổ mình rồi muốn trả lại cũng khổ trần thân đi!
Có thằng Úc, ngồi buồn tình lấy tờ giấy hôn thú của vợ chồng nó ra xăm soi suốt buổi! Hỏi kiếm cái gì vậy chú em?
Nó nói: Kiếm cái ngày hết hạn ghi trên tờ hôn thú mà sao tìm hoài hỏng có thấy vậy ta?
Ở Hà Nội mới đây thôi cũng vây! Có cụ ông năm nay đã 60 tuổi rồi mà cứ khăng khăng nhứt định đưa em yêu ra Tòa để ly hôn năm lần bảy lượt.
Tòa hỏi: “Con cá làm ra con mắm! Vợ chồng già thương lắm mình ơi!
Mà sao hai ông bà đã gần đất xa trời, con cháu đầy đàn lũ khủ mà cứ đòi: Em đường em; tui đường tui hoài… Hỏng sợ thiên hạ họ cười sao?”
Thì ông chồng khốn khổ trả lời rằng: “Xưa đi làm, em yêu có tò tí với cái thằng chung Chi bộ đảng. Tui khuyên bảo để em rút kinh nghiệm mà em không chịu rút… Rút cái gì thì rút, rút kinh nghiệm nhứt định không! Thế nên tui ly thân em tới nay cũng đã 10 năm rồi đó nhe ông Tòa!”
Nói xong, ông lấy một bịch kẹo dừa “Bến Tre, quê hương Đồng khởi”, quăng cái độp lên bàn ông Chánh án:
Hỏi: “Tòa nghĩ coi! Tui bị bịnh tiểu đường loại 2, mà em yêu gởi tặng cho tui bịch kẹo. Chơi nhau như thế bằng mười phụ nhau!”
Lần nầy ông Tòa vẫn không cho ly dị… Mà em yêu lại muốn chọc quê cái bịnh tình tiểu đường loại 2 của tui bằng cách gởi tặng thêm vài bịch kẹo dừa Bến Tre quê hương Đồng khởi nữa thì tui phải làm sao cho bớt được cơn tức bây giờ?
Thưa! Ông cứ bắt chước chú Ba Tàu tên He nầy bên thành phố Phật Sơn là xong ngay.
Chú He và thiếm He cãi nhau một trận tơi bời! Giận quá, chú He lấy chiếc xe đạp, đạp một hơi đi Bắc Kinh, chỉ cách đó chỉ có 2200 cây số thôi!
Hết giận, chú He đạp trở về, rồi tuyên bố rằng: “Nếu nị còn làm cho ngộ bốc hỏa nữa… Thì lần nầy, ngộ sẽ đạp xe qua tới… Châu Phi!”
Thưa giải quyết như vậy cũng được quá đi chớ! Vừa hết giận vợ! Vừa thể dục thể thao! Xin đừng xuống tay tàn độc như một thằng Canada ở thành phố Wilno, tỉnh bang Ontario nhe!
Mới đây nó không những giận một con vợ, mà đời nó có tới ba con, đứa nào cũng làm cho nó giận hết ráo! Một bữa nó vác súng “xử” hết ba em.
Thiệt là cái thằng chồng Kha Trấn Ác! Hết yêu thì thôi! Làm lại cuộc đời chớ ăn thua đủ chi vậy cha nội!
Thưa trở về nước Úc nầy, cái vụ bạo hành gia đình, chồng đánh đập, giết vợ, giết con… Chu choa coi bộ hỏng có thua gì bên Canada và bên Mỹ đâu.
Chỉ trong vòng 9 tháng năm nay thôi… mà 62 người phụ nữ Úc đã bị chồng mình giết chết rồi đó! Thiệt là kinh hoàng!

Nên quý bà Bộ trưởng mới của chánh phủ Malcolm Turnbull tung ra một chiến dịch toàn quốc, chống lại vụ bạo hành nầy! Một là cấp cho mấy cái dịch vụ chống bạo hành gia đình 100 triệu đô xài chơi! Hai là đòi ông Bộ trưởng Giáo dục phải đưa vô chương trình cái môn ‘Tôn trọng người phụ nữ’ cho sắp nhỏ nó học… Để tương lai nó biết cách cư xử phải đạo với vợ con mình.
Và việc cần làm ngay là cấm chú em ca sĩ Mỹ, Chris Brown, tháng Chạp qua đây hát kiếm tiền! Cấm cửa… vì nó đã đánh con bạn tình của nó là ca sĩ Rihanna năm 2009 một cách dã man. Đánh hai con mắt em bầm tím, dập đôi môi, đỏ lòm đầy những máu! Em yêu phải lết, đi nằm nhà thương hết mấy bữa!
Ông Tòa Mỹ phạt chú Brown nầy hơi nhẹ… Chỉ có 5 năm tù treo, 180 ngày lao động công ích và xách tập đi học về bạo lực trong gia đình.
Thưa Canada cũng cấm cửa chú Chris Brown nầy vào tháng Hai; thì Úc mình cấm cửa vào tháng Chạp! Cho nó thất nghiệp chơi! Để nó bỏ cái thói du côn với ghệ. Thiệt là cái thằng quá tệ!
Chê thằng Canada, thằng Mỹ, thằng Úc giỏi cái đánh vợ hè! Thì tự hỏi Việt Nam mình có cái vụ bạo hành bậy bạ đó hay không?
Phải đành thú thiệt là có! Bằng cớ nằm chình ình trong ca dao, thì làm sao tui dám binh quý ông anh cho được chớ!
“Không đánh thì bậu luông tuồng/ Giơ tay đánh bậu để buồn lòng qua”
Như vậy là giơ tay là chuyện cực chẳng đã! Tại nó luông tuồng quá mà… (Giận quá chỉ giơ tay; chớ hỏng phải cung tay, thọi vô mặt em yêu một cái nháng lửa đâu nha) Giơ tay như phủi bụi thôi… mà lòng ‘qua’ cũng đau hết biết.
Thấy thì có vẻ bạo hành thiệt… nhưng suy đi nghĩ kỹ… lại là tình yêu! Bậu dẫu luông tuồng… Qua vẫn còn tha thiết đến hết biết… yêu em đó nha! Chừng nào mọc trên đầu cái sừng… Chừng ấy hẵng hay!
Thưa còn tui, nếu có độc giả nào cắc cớ hỏi: “Ê còn ông! Có đánh vợ hông?”
”Sao khỏi! Dà! Tui đánh bằng hai cái lỗ mũi! He he!”
Chẳng qua, tui không có tin thiên duyên tiền định như Hùng Cường Mai Lê Huyền hay Vi Cố, Nguyệt lão se duyên gì hết ráo mà tui theo cái thuyết tự do luyến ái: Yêu là cưới! Cưới về là tự nhiên sợ vậy thôi!
Nhớ có lần, Má tui mang một thanh chocolate đến nhà, thăm hai đứa cháu nội.
Má nói: “Thanh chocolate nầy, Nội sẽ cho đứa nào ngoan! Biết nghe lời Mẹ! Không bao giờ dám cãi lại Mẹ! Và luôn luôn biết nhận lỗi với Mẹ!”
Hai đứa nhỏ nhìn nhau, rồi nói: “Thôi! Nội cho Ba con đi!”
Thưa! Dẫu không sanh đẻ ra ta! Nhưng công nuôi dưỡng thiệt là lớn lao! Thì làm sao tui dám hỗn hào với em yêu cho được chớ!
Phần hồi xưa mới yêu em, tui vốn đã là thằng dại gái rồi mấy anh ơi!
Hồi mới bén duyên, chưa cháy lắm, có lần em hẹn tui ra bờ biển để tâm sự loài chim biển nhưng bữa đó em cho tui leo cây.
Vậy mà ngơ ngẩn về nhà, cơm nuốt có trôi khỏi cần cổ đâu. Chu choa! Nhớ ơi là nhớ…“”Anh ăn cơm cũng thấy nghẹn/ Uống nước cũng thấy nghẹn/ Nghe lời em, bậu hẹn/ Ra bãi đứng trông/ Biển xanh bát ngát, mà không thấy người… Hu hu!”
Rồi khi rước em yêu về… em nắm được trái tim tui, em nắm được túi tiền của tui, em nắm hết đời tui. Đời tui coi như đã hết, đã chết.
Tui tính: “Bắc thang lên hỏi ông trời/ Vợ con dữ quá, con xin bỏ nàng/
Ông Trời ngó xuống trả lời/ Mày bỏ được nó thì tao con mày!”
Thôi làm tới ông Trời mà còn đành vậy! Thì phần tui ra cái ‘thá’ gì đâu! Nên xin mấy em đừng thương tiếc tui nữa mà chi! Kiếp nầy thôi đã lỡ! Xin hẹn lại kiếp lai sinh!

đoàn xuân thu.
melbourne




Rau răm ở lại!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 14 Feb 2024

Bà con mình nếu ở gần chùa Tịnh Độ chắc biết rau răm là một vị thuốc Nam. Rau răm cay nồng, tính ấm nên ăn với các món có tính hàn như: vịt, hến xào rau răm; sách bò xào dứa rau răm; gà hấp, kho rau răm. Và có 3 món dứt khoát không thể thiếu rau răm cho được là cá kèo kho lạt; gà xé phay và hột vịt lộn.

Nhớ cách đây 50 năm, ngày 27, tháng Giêng, năm 1973, trung đội 242 khóa 4/72/SQTBTĐ đi chiến dịch Hiệp định Paris. Tui về xã Tân Phú Trung, quận Bình Đại của Trung tá Nguyễn Văn Bạc, tỉnh Kiến Hoà của Đại tá Phạm Chí Kim. Tư Bốn, xã trưởng, điều một tay nghĩa quân qua làm ‘tà lọt’. Nhưng sự thực là để theo dõi, kềm kẹp, báo cáo 3 thằng tui. Xã Bốn sợ tụi tui trẻ người non dạ hứng ẩu tối ra khỏi đồn đi bậy bạ, VC bắt được nó cắt lưỡi thì ông Quận quạu lên cho Xã Bốn bà nội cũng đội chuối khô.

Bình Đại gần biển, nước lợ; trồng lúa Thần nông không được. Năm chỉ một vụ lúa mùa, không trúng lắm, chừng chục giạ một công. Bù lại lúa một bụi ngon cơm. Được thêm cái vụ cá kèo lội đặc đồng.

Một hôm, tay nghĩa quân kho cá kèo với rau răm bằng nồi đất thơm phức. Tui hỏi sao cá không cắt đầu? Nó nói: “Cá kèo mà cắt đầu bỏ mật ăn đâu có ngon? Để mật ăn nhân nhẩn mới đã.” “Bỏ rau răm vô chi vậy?” “Cho cá bớt tanh, ớt sừng trâu không đủ.”

Tui quanh quẩn coi nó có mời tui ăn cơm hay không? Nhưng nó ba xạo, nói xỏ tui: “Cá kèo kho rau răm, món quê nghèo, chắc Thiếu úy chê”. Tui chỉ là SVSQ đeo con cá mà nó kêu tưng tui lên Thiếu uý? Chắc trong bụng nó muốn tui được truy thăng lên bàn thờ ngồi ngắm gà khỏa thân. Nó trù tui chết vì mấy em mơn mởn đào tơ ở chợ xã chỉ đá lông nheo với tui mà phớt lờ nó.

Nhưng người hại không chết. Trời hại mới chết. Không lẽ đứng đó dòm miệng nó ăn cơm? Tui bỏ ra trước sân thơ thẩn đăm đăm trông nhạn về. Thì em Quế Thanh, nhà bán bánh thuẫn đám cưới sát bên đồn ngoắc tui. “Lợi nói cho nghe nè! Qua ăn cháo gà!” Ngu sao mà từ chối? Giữa cái bàn tròn có hai cái ghế đẩu, là một dĩa thịt gà xé phay rau răm đầy ú với hai tô cháo gà có rắc tiêu còn bốc khói. Còn má em đã ăn rồi đang lui cui dưới bếp. Má em điệu đời ghê đi.

Bà con mình ai cũng biết phay là xé nhỏ thịt con gà luộc, hoặc con gà nấu cháo ra từng miếng. Xong trộn bắp chuối hột, bắp cải làm gỏi. Cho một nửa rau răm vào dĩa gỏi, trộn đều lên. Phần rau răm còn lại rắc trên mặt dĩa. Chua ngọt nước giấm; cay đắng rau răm. Gắp một đũa nhai rau ráu. Nhấp một chung rượu nếp. Nó ngon bá chấy, bù chét … Bữa cháo gà đó nửa thế kỷ, tui vẫn còn nhớ tới bây giờ.

Bà con mình ai cũng biết ăn gì bổ nấy. Hột vịt lộn chấm muối tiêu, cường dương nên phải ăn với rau răm để giảm bớt ham muốn tình dục. Hồi xưa, thất tình Điệp, Lan đi tu. Lan hay ăn hột vịt lộn với rau răm để diệt lục dục thất tình. Sao đi tu mà Lan còn ăn hột vịt lộn? Thưa Lan và Điệp là một tiểu thuyết tào lao báng bổ Phật giáo của Nguyễn Công Hoan. Lan đi tu là vì thất tình chớ không phải vì hiểu được triết lý thâm sâu của Phật giáo. Phật giáo là dấn thân chớ không phải là một phương tiện để trốn nợ tình? Nên tui cho Lan ăn hột vịt lộn với rau răm. Ý tui muốn nói lòng trần còn nặng; còn yêu đương nhăng nhít, yêu đương ra rít, thì đi tu cái con khỉ mốc gì?! Viết Tắt lửa lòng như vậy chứng tỏ Nguyễn Công Hoan không hiểu gì về Phật giáo. Giống như Cù Huy Cận đặt câu hỏi tào lao: “Há chẳng phải đây là xứ Phật? Mà sao ai nấy mặt đau thương?” trong “Các vị La Hán chùa Tây Phương”

Rau răm hột vịt lộn

(Là CS nòi, Nguyễn Công Hoan có em ruột là Lê Văn Lương (tên thật là Nguyễn Công Miều), ủy viên bộ chính trị, bí thư thành uỷ Hà Nội. Con của Nguyễn Công Hoan xâm nhập vào Nam về Bến Tre làm điệp báo. Giờ Hà Nội theo Bắc Kinh. Sài Gòn theo giờ GMT. CS vặn trước giờ Sài Gòn một tiếng. Nên đồng hồ của y chỉ 5 giờ mà giờ Sài Gòn mới 4 giờ. Vi phạm giờ giới nghiêm, y bị bắt. Tiểu khu Kiến Hoà biết con của Nguyễn Công Hoan là một ‘con cá lớn’ nên giải về Cục An Ninh Quân đội ở Sài Gòn khai thác. Thả về ‘bu’ mầy nhìn cũng không ra?!)

Chưa có loại rau nào mọc được từ đất ca dao nhiều như rau răm. Nghe nói ông cố nội tui hồi năm nẳm chấm bà hàng xóm vì: “Những người con mắt lá răm. Lông mày lá liễu đáng trăm quan tiền.” Nên “Rau răm ngắt ngọn còn tươi. Rượu ngon chuốc chén đợi người tri âm”.  Nhưng bà hàng xóm lại khoái nghe tiếng kèn ‘tò loe tí loe’ của thằng cha thiến heo. Cùng lúc, bà cố tui lại thầm yêu trộm nhớ ông cố tui. Mối tình tam giác; mối tình 2 trái bầu, 1 con cua mỗi độ Xuân về.

“Rau răm ngắt ngọn héo rầu. Những lời anh nói mà đau đớn lòng. Bấy lâu xe sợi chỉ hồng. Nghĩ em lấy được con tông nhà nòi. Bây giờ em đã hai mươi. Sao anh không nhớ những lời ngày xưa?”

Nghe đờn kêu tích tịch tình tang ai đem công chúa lên thang mà về, ông cố tui tiễn mối tình thơ dại nhà em cách giậu mồng tơi xanh dờn bằng cách chơi chữ “cải trời” “Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.” Hôm nay ngày cưới anh, ông cố tui mời bà hàng xóm đến chung vui cho bỏ ghét. Hôm rước dâu, bà hàng xóm thấy ông cố tui đóng bộ «ăn-ta-ni” (en tenue), đầu một khúc cá kho. Trông ông cố tui cũng bảnh tỏn, đẹp trai ra phết. Bà hàng xóm tặc lưỡi như thằn lằn đứt đuôi; tiếc hùi hụi 2 ‘củ khoai từ’. Nhưng trễ rồi bậu ơi! “Rau răm đất cứng, dễ bứng khó trồng. Dù thương cho lắm, cũng chồng người ta”

Nhờ vậy mới có tui ‘xạo xạo’ đó chớ!

ĐXT

Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 14 Feb 2024

Hình minh họa

Bài 7.

Không rủ cũng tới

Chiến tranh xảy ra ở Việt Nam nhưng khi nói chuyện hòa đàm lại kéo nhau qua Paris. Lúc hiệp định ngưng chiến được ký kết, cũng là lúc Mỹ bắt đầu giảm quân viện cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với lý do rất là rõ ràng: hết đánh nhau rồi, vũ khí đạn dược hư hao, thất thoát, một đổi một. Tôi không biết những đơn vị tác chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị ảnh hưởng như thế nào, nhưng riêng Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt khó khăn thấy rõ, khi thiếu tá trưởng phòng nói với tôi:

-Kể từ tuần tới, chuyện đi họp an ninh, lấy mật khẩu bên Quân Trấn, trung úy dùng xe hai bánh của mình mà đi.

Tôi hỏi ông:

-Thưa thiếu tá, xe jeep của Phòng hành quân bị hư hay sao?

-Xe vẫn còn tốt nhưng cấp số xăng cho xe bị cắt giảm, chỉ còn lại một phần tư so với trước đây.

Vừa dứt lời, Thiếu tá trưởng Phòng hành quân dẫn tôi tới góc phòng, chỉ vào cái thùng sắt đựng đạn.

Tôi không hiểu ý của ông nên nói:

-Thưa thiếu tá, mấy năm rồi tôi chưa một lần chạm tay đến cây súng M16 treo ở góc phòng, cấp số đạn mà tôi lãnh bốn năm trước vẫn còn nguyên, không hao hụt. Tôi không cần đạn, chỉ cần xăng.

Thiếu tá trưởng phòng nhìn tôi cười vui vẻ:

-Trong thùng đạn đó có ba lít xăng. Từ nay về sau đó là số xăng mà trung úy sẽ được lãnh hàng tuần, đổ vào xe Honda hai bánh dùng để đi họp bên Quân Trấn.

Tôi nói:

-Thiếu tá, mình ở quân trường thiếu xăng tôi đi họp bằng xe Honda, chuyện không có gì phải nói nhưng ở đơn vị tác chiến mà thiếu đạn coi bộ không ổn. Khi đụng trận tụi Việt Cộng cứ AK rồi B40 bắn thoải mái, hết đạn Tàu cộng với Liên Xô lại tiếp viện, còn lính mình gắn lưỡi lê vô súng M16 mà đâm Việt Cộng, tôi sợ mình đánh không lại họ.

Tôi tưởng rằng thiếu tá trưởng phòng cũng đồng ý với tôi, nào ngờ ông nói:

-Đương nhiên là thua nhưng còn được như vậy là quý rồi. Miền Nam mình giống như người bịnh ung thư, mang căn bịnh trầm kha không có thuốc chữa, kéo dài cuộc sống được ngày nào hay ngày nấy.Tao sợ mai mốt Mỹ cúp hẳn viện trợ, mình làm gì được họ. Viện trợ hay không là quyền của họ mà.

Tôi bắt đầu đi làm bằng xe Honda hai bánh. Buổi sáng Đà Lạt sương mù dày đặc, tôi mặc bộ đồ lính đeo găng tay, thêm chiếc áo Jacket dày cộm mà vẫn không cảm thấy đủ ấm. Ngồi trên chiếc Honda chạy băng băng trong gió lạnh mà tôi cứ tiếc mãi chuyện ngày xưa, tiếc hoài thời tôi đi làm bằng xe bus của trường. Tôi tiếc bầu không khí ấm áp trong xe, tiếc luôn chuyện được ngắm miễn phí các cô thư ký dân sự làm việc trong trường, cô nào cô nấy áo măng tô khăn quàng cổ, đẹp như mơ, đẹp hết biết mà dạn dĩ cũng khỏi chê. Tôi còn nhớ, hồi tôi mới lên thiếu úy, có cô hỏi tôi:

-Thiếu úy khóa mấy của Trường Võ Bị?

Hầu hết mọi người đều lầm lẫn giữa một thiếu úy tốt nghiệp Trường Võ Bị Đà Lạt, và một thiếu úy đang phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi tốt nghiệp Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, mấy năm rồi phục vụ tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Nếu ai đó tưởng lầm tôi tốt nghiệp Võ Bị, tôi cũng nhận luôn, cải chính làm chi cho mệt. Tôi trả lời mấy cô bằng câu đố.

-Đố mấy cô, tôi khóa mấy, ai nói đúng sẽ được một chầu cà phê Thủy Tạ.

-Thiếu úy khôn thấy mồ, ông có mời đi cà phê chưa chắc tụi này đã chịu.

Hình minh họa

Tuy vậy, cũng có vài tiếng trả lời:

-Khóa 24.

Tôi nói:

-Trật lất.

-Khóa 23.

Tôi cười đắc chí.

-Cũng trật luôn, không có cô nào được mời đi uống cà phê Thủy Tạ. Tôi tốt nghiệp Sĩ quan trừ bị Thủ Đức.

Một ông thiếu tá ngồi cuối xe, nghe vậy bèn lên tiếng:

-Các cô cứ lo chuyện không đâu, hỏi thử xem ông ấy có vợ hay chưa rồi hẳn chuyện trò tiếp.

Đang nói chuyện bình thường, đột nhiên ông thiếu tá đổi giọng cằn nhằn, trách móc:

-Các cô có thân phải liệu mà giữ gìn, lúc nào cũng lờ mờ nhân ảnh như người đi đêm, lờ quờ, lạng quạng trao duyên lầm tướng cướp như không.

Tôi muốn tạo không khí ấm cúng trong xe nên tiếp lời ông thiếu tá:

-Quý vị có thấy tôi giống tướng cướp không?

Nhiều tiếng cười khúc khích vang lên xen lẫn một giọng nói nhỏ.

-Cũng khá giống.

Thời vàng son một thủa của tôi, mới đó đã chìm vào quá khứ.

Ngày xưa, ông Thế Lữ tiếc cái thời xa xưa cũ đã làm bài thơ Nhớ Rừng kể lại chuyện chúa sơn lâm nhớ thời oanh liệt, nghe ra còn có lý. Đằng này, tôi có gì mà phải tiếc với nuối. Có chứ, tôi giống như anh nông dân đứng giữa cánh đồng khô hạn mà tiếc vụ lúa được mùa năm trước, như ông ngư phủ nhìn mấy con cá trong ghe mà tiếc mẻ lưới đầy cá. Tôi tiếc cái không khí ấm cúng trong xe bus của trường, tiếc cái thủa lái chiếc xe jeep thắng cái két trước quán cà phê Hạnh Tâm, liếc nhìn cái lon trung úy trên cầu vai áo rồi khuỳnh tay, dạng chân khệnh khạng đi vào quán trước cặp mắt hình như là đầy khâm phục của cô thu ngân. Đó là thời vinh quang tột đỉnh của tôi, không tiếc sao được, đâu cần phải là chúa sơn lâm mới có quyền nhớ rừng.

Đến trường, khi ký sổ bàn giao phiên trực hai tay của tôi vẫn còn run lẩy bẩy vì lạnh. Trung úy Hàn sĩ quan hạ phiên, đưa cho tôi tờ giấy có mấy chữ: Trung úy Nguyễn Trọng Quân trình diện Đại tá Tham mưu trưởng lúc mười giờ sáng.

Tôi cầm tờ giấy, phần run vì lạnh phần run vì sợ, trình diện sếp lớn, chuyện rủi nhiều hơn may. Tôi nghĩ trong đầu, không biết mình bị lỗi lầm gì, có khi nào sếp tống cổ mình ra tác chiến hay không? Hỏi xong, tôi tự trả lời: Chắc không đến nổi nào đâu, dù gì Đại tá Tham mưu trưởng cũng là chỗ quen biết với bác Bảy. Tôi dặn người hạ sĩ quan trực chung ca với tôi:

-Có việc gì cần, trung sĩ gọi điện thoại qua Câu lạc bộ sĩ quan, tôi ngồi bên đó.

Tôi trình diện Đại tá Tham mưu trưởng, sau khi uống cạn hai ly cà phê phin đặc quánh ở câu lạc bộ, cà phê ngon thiệt, nhung có điều nó làm cho tim tôi đập nhanh hơn bình thường gấp mấy lần.

Đại tá Tham mưu trưởng ngồi sau bàn làm việc, ông chỉ vào chiếc ghế trước bàn làm việc của ông

-Mời trung úy ngồi.

Tôi rón rén ngồi xuống, lưng thẳng như thời còn là sinh viên ngồi ăn ở nhà bàn, không dám dựa lưng vào ghế. Đại tá Tham mưu trưởng hỏi tôi:

-Trung úy làm việc ở Phòng hành quân, thấy thế nào?

-Trình đại tá, mọi chuyện đều tốt đẹp.

-Tốt, nếu muốn thuyên chuyển đi phòng khác, trung úy cứ nói với tôi.

Tôi trả lời:

-Thưa đại tá, tôi rất thích làm việc tại Trung tâm hành quân.

-Tốt.

Nhìn tôi với cặp mắt thân thiện, Đại tá Tham mưu trưởng hỏi:

-Đám cưới của trung úy sẽ được tổ chức vào ngày nào?

Tuy Đại tá Tham mưu trưởng nói tiếng Việt, rõ ràng từng chữ nhưng tôi không hiểu ông ta nói gì.

Hình minh họa

-Thưa, đại tá tôi…tôi…

-Làm rể anh Bảy Ân khác nào chuột sa hũ nếp. Từ nay, ở cái trường này có ai giàu bằng trung úy!

Tôi nghĩ, Đại tá Tham mưu trưởng lầm lẫn giữa tôi với ai đó trong trường nên lẹ lẹ đính chính:

-Thưa đại tá, tôi đâu có biết ông Bảy Ân là ai.

Đại tá Tham mưu trưởng mỉm cười:

-Cha vợ của mình mà trung úy cũng không biết. Anh Bảy có cô vợ lai Ấn Độ, chủ nhân của mấy chục cái building ở Sài Gòn, ảnh có cái biệt thự to như cái dinh Tỉnh trưởng ở đường Công Lý, Sài Gòn.

Chuyện tới đây, tôi biết là Đại tá Tham mưu trưởng không lầm. Tôi mới là người không biết gì.

-Thưa, đại tá muốn nói tới bác Bảy, có cô con gái tên Cúc?

-Chứ còn ai vào đây nữa!

Tôi biết bác Bảy đã chọn tôi làm rể, nhưng tại sao ông không nói chuyện đám cưới với tôi, mà lại nói với sếp lớn của tôi. Đúng là chuyện trong nhà chưa rõ, ngoài ngõ đã thông.

Tôi nói với Đại tá Tham mưu trưởng:

-Thưa đại tá, chuyện đám cưới tôi không dám có ý kiến, mọi chuyện đều do bác Bảy và ba tôi quyết định.

-Vậy hả? Anh Bảy Ân với tôi vốn là bạn thâm giao, tôi coi trung úy như con cháu trong nhà. Hình như trung úy đang theo học ở Viện đại học Đà Lạt, phải không?

-Dạ phải.

-Tháng tới khi nghỉ hè ở Viện đại học, tôi sẽ gởi trung úy về Sài Gòn học khóa đại đội trưởng, trung úy có biết tại sao không?

-Thưa đại tá, tôi không biết.

-Có cái bằng đại đội trưởng sẽ được thêm điểm khi chạy cấp bậc đại úy. Trung úy cần hỏi thêm gì nữa không?

-Thưa không.

-Trung úy có thể trở về làm việc.

Tôi đứng nghiêm, hai gót giày chạm vào nhau kêu cái cốp, đưa tay chào Đại tá Tham mưu trưởng đúng như lễ nghi quân cách mà tôi đã học ở quân trường, rồi quay người bước đi.

Lời của sếp lớn nói, chắc như đinh đóng cột. Vừa nghỉ hè ở Viện đại học, tôi nhận được sự vụ lệnh về Sài Gòn để theo học khóa Đại đội trưởng. Tôi trở lại Trường Bộ Binh Thủ Đức, đường xưa cảnh cũ hiện ra trước mắt tôi, cái cổng trường vốn đã xấu nay trông lại càng xấu hơn sau bao mùa mưa nắng dãi dầu. Vũ Đình Trường với Trung Nghĩa Đài im lìm trong nắng sớm, những viên đá vụn trải trên sân lấp lánh dưới ánh mặt trời tuy có đẹp đó, nhưng khi quỳ xuống để gắn lon chắc chắn là không đẹp chút nào, chỉ tội cho cái đầu gối. Căn nhà tiền chế khổng lồ có cái tên là Đại Giảng Đường, bị tụi tôi gọi để chế giễu là “Đại Hỏa Lò” vẫn nóng như lò nướng bánh mì. Ngày xưa khi cả khóa phải vào đây để học, chúng tôi thường nói đùa với nhau rằng: Hôm nay nguyên khóa được đi tắm hơi miễn phí.

Cho đến khi tôi nhìn thấy những căn nhà gạch của đại đội tôi ngày xưa, lòng bỗng nhiên bồi hồi xúc động, nào là Biên, nào là Long công tử rồi bạn bè cùng khóa, tất cả lần lượt hiện ra trước mắt tôi như một cuốn phim chiếu chậm. Tôi nhớ nhiều đến Biên rồi tự nhủ lòng cuối tuần này sẽ đến thăm ba má Biên, nhân tiện hỏi thăm địa chỉ của Biên. Tôi muốn viết cho hắn một lá thư. Nghĩ lại, tôi vẫn thấy mình quá hời hợt với bạn bè, mang nặng mặc cảm bao năm trường xa cách mà không viết được một lá thư để thăm hỏi bạn, tôi cho đó là một thiếu sót không thể tha thứ. Riêng về Dung, người con gái mà tôi yêu không biết giờ này ra sao. Tôi vẫn nghĩ ràng nàng đã là vợ của Long công tử, có thế là họ đã có với nhau một hay hai đứa con rồi cũng nên. Cho dù Dung đã có chồng hay không, tình yêu của tôi dành cho Dung, dành cho người yêu đầu đời của tôi muôn đời vẫn còn đó không phai.

Hình minh họa

Tôi đứng ngẩn ngơ trước cổng nhà Biên, mà cứ tưởng như mình lạc đường vào quá khứ, năm năm trường, khoảng thời gian xa cách đủ dài khiến cho lòng người chùng xuống. Nhìn chiếc bàn đá dưới tàn cây vú sữa, nơi mà ngày xưa tôi ngồi ăn sáng bên Dung, giọng nói của nàng vẫn còn vang vọng bên tai: “Để em thêm cho anh chút tiêu”. Tôi liếc nhìn chiếc ghế xích đu mà Dung vẫn thường ngồi, rồi nhắm mắt lại mà cứ nghĩ như mình đang đong đưa trong gió.

Đã hai, ba lần tôi đưa tay lên toan bấm chuông nhưng rồi ngừng lại, linh tính như báo cho tôi biết có một chuyện gì đó không ổn đã xảy ra ở đây. Căn nhà hình như mang nặng nét u buồn, mất đi sinh khí và không được tươm tất như ngày xưa. Màu sơn trắng của cửa nhiều chỗ đã đổi sang màu vàng úa, vài mảnh tường loang lổ, có nơi tróc hẳn lớp xi măng bên ngoài để lộ ra những viên gạch màu nâu đỏ. Nơi góc vườn, ngày xưa khóm hoa cúc vàng xinh tươi đẹp đẽ biết bao, nay đã bị cỏ dại phủ kín, đầy sân lá vàng ngập cả lối đi. Cảnh hoang phế, tàn tạ, tiêu điều của căn nhà chúng tỏ chủ nhân không thường xuyên chăm sóc. Tôi chợt nghĩ, hay là ba má Biên đã dọn nhà đi nơi khác rồi?

Tôi quay người toan trở về, nhưng nghĩ lại đã cất công lặn lội đến đây rồi, ít ra cũng nên dò hỏi cho tường tận nguồn cơn, để sau này khỏi phải băn khoăn thắc mắc, biết đâu người chủ mới lại cho mình vài tin tức quý giá về gia đình Biên. Sau một lúc đắn đo suy nghĩ, tôi mạnh dạn đưa tay bấm chuông.

Thoạt thấy dáng người ra mở cổng, tôi giật mình, tim đập mạnh. Dung chứ còn ai nữa, nàng ốm hơn xưa nhiều với nét buồn hiện rõ trên gương mặt. Thấy tôi, Dung chạy nhanh ra mở cổng rồi ôm chặt lấy tôi khóc nức nở:

-Anh Quân phải không?

Tôi còn biết nói gì hơn là im lặng gật đầu. Dung ngẩng mặt lên nhìn tôi với đôi mắt đẫm lệ, nàng thổn thức:

-Anh Biên… anh Biên…

Linh cảm có chuyện không hay, tôi nắm chặt hai vai của Dung lắc mạnh:

-Anh Biên sao? Anh Biên sao rồi?

-Ảnh chết rồi.

Hai bàn tay tôi từ từ lơi ra

-Chết rồi? Chết ở đâu? Chết như thế nào?

Đột nhiên tôi cảm thấy như nghẹt thở, khi hai cánh tay Dung ôm chặt lấy tôi từ từ siết mạnh hơn, nàng nói qua làn nước mắt:

-Anh Quân, em yêu anh.

Tôi nghe rất rõ ràng, nhưng phải mất mấy giây sau tôi mới hiểu Dung muốn nói gì với tôi, câu nói hoàn toàn không liên quan gì đến chuyện mà Dung đang nói về cái chết của Biên. Tôi nghĩ, khi mà xúc động lên đến tột đỉnh, lúc đó tâm trí con người có thể rơi vào trạng thái hỗn loạn, lời nói của họ không còn đúng với những gì họ muốn nói. Tôi ôm lấy Dung, vỗ nhẹ vào lưng nàng an ủi:

-Anh biết, em rất thương anh Biên.

-Không. Anh Quân, em yêu anh.

Tôi chưa kịp có phản ứng gì, đôi môi của nàng đã gắn chặt môi tôi. Dung hôn tôi say sưa đắm đuối, cái hôn tràn đầy nước mắt của mấy năm xa cách, có phải như vậy hay không? Hai mươi bốn tuổi, cái hôn đầu tiên trong đời bất ngờ đến với một thằng con trai, nhất là đến từ người mình thương nhớ, đôi chân của tôi hình như run lẩy bẩy trong khi toàn thân tôi như tê dại. Tôi để mặc cho cảm giác ngất ngây, sung sướng, đê mê, trôi nổi bềnh bồng đưa đẩy.

Hai chuyện trọng đại xảy ra cùng một lúc. Biên người bạn cùng khóa với tôi đã chết. Dung người tôi yêu tha thiết bấy lâu nay, mối tình đầu của tôi cũng là mối tình tuyệt vọng đang hôn tôi và nói yêu tôi. Tôi đứng yên như một pho tượng, một thế kỷ vừa mới trôi qua trong yên lặng. Hai tay tôi hãy còn ôm lấy Dung, môi của tôi vẫn chưa rời khỏi đôi môi của nàng. Tôi uống nước mắt của Dung, mằn mặn xen lẫn chút ngọt ngào như nuốt trọn lấy tình yêu mà nàng đã dành cho tôi. Mãi cho đến khi trái đất bắt đầu quay trở lại, chầm chậm rồi bình thường cũng là lúc trái tim của tôi từ từ đập trở lại. Lúc bấy giờ tôi mới bình tĩnh, nhẹ nhàng nâng gương mặt của Dung. Tuy vậy, tôi phải cố gắng hết sức mới nói được câu.

Hình minh họa

-Nín đi em, mình vô nhà được không?

Dung khẽ gật đầu, nắm chặt lấy tay của tôi như sợ tôi biến mất. Nàng kéo tôi vào nhà.

Tôi nâng ly cà phê, nhấp một hơi.

-Em biết không, năm năm xa cách, mùi cà phê vẫn còn thơm như ngày nào khi anh ngồi uống với em dưới tàn cây vú sữa. Năm năm thương nhớ có biết bao nhiêu là chuyện anh cần phải hỏi em, nhưng thôi bây giờ anh muốn thắp cho Biên một nén nhang, mọi chuyện hãy tính sau.

Qua làn khói hương nghi ngút quyện trong không khí, trên bàn thờ, Biên nhìn tôi như mỉm cười. Tôi khấn thầm:

-Hôm nay, tao trở về lại chốn cũ, những tưởng sẽ biết được tin tức của mày, nào ngờ âm dương cách trở, mỗi thằng một thế giới. Tha lỗi cho tao đã không về lại đây sớm hơn.

Tôi đi đến ngồi bên Dung.

-Bây giờ, anh có chuyện quan trọng muốn hỏi em.

-Chuyện gì vậy anh?

-Anh muốn biết Long công tử đâu rồi.

Dung ngơ ngác nhìn tôi.

-Anh nói cái gì? Tại sao lại hỏi em? Em làm sao biết được anh Long ở đâu.

Tôi ngạc nhiên đến sửng người khiến cho giọng nói của mình hơi ngập ngừng, ngượng ngập.

-Không phải em và Long đã lấy nhau rồi hay sao?

Đôi mắt của Dung tròn xoe nhìn tôi đầy vẻ sửng sốt, nàng nói mà như muốn khóc.

-Từ cái ngày anh đưa gói quà của anh Long cho em, sau đó anh và anh Long biến mất khiến em không hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.

-Như vậy, em không có thương gì anh Long?

-Ai nói với anh là em thương anh Long?

-Anh nhớ khi đưa quà của anh Long cho em, em vui mừng nhận quà nhưng sau đó giận anh, không nói với anh một lời rồi đuổi anh về, khiến anh nghĩ là mình là kẻ thứ ba trong cuộc nên rút lui là hơn.

Dung nắm lấy tay tôi siết mạnh.

-Anh hiểu lầm rồi, ngày ấy em chỉ giả bộ giận anh thôi. Anh có biết, con gái làm nũng là gì không?

-Làm sao anh biết được.

-Sinh nhật của em, anh Long tặng quà cho em, còn quà của anh đâu? Em đợi hoài chẳng thấy anh nói năng gì khiến em giận anh quá chừng. Em chỉ cần quà của anh chứ không cần quà của anh Long.

Tôi vội vã giải thích.

-Tuần lễ trước khi anh đi phép, Long xuống khu sinh hoạt mua cho em cuốn album rồi nhờ anh đem đến cho em. Em biết cuốn album đó giá bao nhiêu không?

Dung lắc đầu.

-Em không biết.

-Gần hai ngàn. Suốt thời gian thụ huấn ở Quân trường Thủ Đức, chưa bao giờ trong túi của anh có được ngàn bạc. Anh đâu có nhiều tiền như Long công tử để mua quà cho em.

Hình minh họa

-Em hiểu rồi, anh muốn mua cho em món quà đáng giá hơn quà của anh Long phải không? Em không đòi hỏi gì nơi anh hết. Em chỉ cần một món quà nho nhỏ. Anh có thể mua cho em cái lược để khi chải đầu em nhớ tới anh. Anh cũng có thể tặng em cây viết để khi viết thư cho anh, em cảm thấy gần anh hơn. Anh không có được năm, mười đồng hay sao?

Tôi lặng câm thương nàng vô hạn. Tôi phải trả một giá quá đắt, bằng mấy năm cách xa thương nhớ, chỉ vì cái tội ngu ngốc của mình.

-Tha lỗi cho anh, ngày ấy, anh cứ nghĩ rằng trong một cuộc tranh đua, mình phải hơn đối thủ của mình mới mong thắng cuộc.

Dung nhìn tôi với đôi mắt đầy thương yêu.

-Có hai lý do khiến em có thể nói anh Long không phải là địch thủ của anh. Lý do thứ nhất là anh Long không hề có tình ý gì với em hết, con gái rất nhạy cảm về vấn đề này. Hơn nữa, anh Long có nói với em là ảnh có vợ rồi, vợ anh ấy và đứa con trai một tuổi kháu khỉnh đang sống ở Ban Mê Thuột trông coi cái đồn điền của ba anh ấy. Ảnh còn hứa với em khi nào có dịp ảnh sẽ dẫn em lên Ban Mê Thuột chơi, thăm đồn điền, thăm vợ con ảnh luôn. Còn chuyện hộp quà mà anh Long nhờ anh mang đến cho em, anh có biết trong đó có những gì hay không?

Tôi chắc giọng quả quyết:

-Anh biết chứ.

-Có những gì?

-Một cuốn album.

Dung cười, nụ cười tươi như đóa hoa phù dung.

-Chỉ đúng có một nửa, trong đó còn có thêm mấy xấp lụa để may áo dài và một bức thư.

Dung chồm người về phía tôi, nàng nũng nịu nói mà như muốn hôn tôi.

-Bức thư em vẫn còn giữ, thư anh Long viết còn hay hơn những bức thư tình hay nhất thế giới. Để em lấy cho anh coi.

Tôi ngả người ra ghế sofa.

-Thư tình của Long viết cho em, tại sao em lại đưa cho anh đọc, em không sợ anh ghen hay sao?

-Không, nhờ bức thư này mà mấy năm nay em vẫn còn đủ can đảm để nhớ anh. Anh đợi đó một chút.

Tôi cầm bức thư, giấy đã bắt đầu đổi sang màu vàng úa, nhàu nhò chứng tỏ Dung đã đọc nó nhiều lần.

Nét chữ của Long hiện ra trước mắt tôi.

Dung,

Anh gởi mừng sinh nhật của em cuốn album để em gắn mấy tấm hình bốn đứa chụp chung trước vòi phun nước. Nhớ để tấm hình của em và thằng bắp cải ở trang đầu, vì anh biết thằng Quân nó thương em với tất cả tấm lòng chân thật của nó. Còn mấy xấp lụa để em may áo dài, mặc khi đi chơi với Quân. Con gái mà mặc jean với áo thun coi ngố ngáo lắm, em phải mặc áo dài mới thấy ngoan hiền. Em có biết câu thơ “Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu ” nghĩa là gì không? Chữ quân trong câu thơ này phải viết hoa. Nghĩa là người con gái phải yểu điệu, dịu dàng thì thằng Quân nó mới thương..

Đùa với em chút xíu cho vui, anh và Biên đều lớn hơn thẳng Quân bốn năm tuổi, thằng nào cũng có dăm ba mối tình dang dở vắt vai, trong khi em là mối tình đầu của Quân bắp cải, cả hai đứa đều ngây thơ, trong sáng dễ thương. Em phải luôn nhớ rằng, thẳng Quân nó thương em nhất trên đời.

Thư đã dài, anh ngừng bút, chúc em và Quân bắp cải luôn luôn vui vẻ bên nhau.

Anh.
Long.

Hình minh họa

Đọc xong bức thư, tôi thầm nghĩ, trên đời này không có ai hào hoa, lịch sự bằng Long công tử mà cũng không có ai nói láo hay hơn nó. Tôi nhớ mãi, trong một lần khi gặp má của Long công tử tại khu tiếp tân của trường, bà nói riêng với tôi:

-Vợ chồng tôi chỉ có một mình thằng Long, cháu có biết cô nào ngoan hiền giới thiệu cho nó với. Ai đời đã hai mươi bốn tuổi rồi mà cứ long nhong, rong chơi suốt ngày không chịu lấy vợ khiến tôi và ông nhà tôi cứ lo là lo. Chỉ mong mau có cháu nội để bồng bế mà không có.

Tôi nói với bà:

-Bác đừng lo, Long có nhiều bạn gái quá nên chưa biết chọn cô nào.

Tôi định nói cho Dung biết là Long công tử nói láo, nhưng chưa kịp mở miệng thì Dung đã hỏi tôi:

-Anh làm gì mà ngồi thừ người ra đó.

Tôi nâng ly cà phê, nhấp một ngụm rồi nói:

-Cái thằng dễ thương quá sức, vậy mà hồi đó lúc nào anh cũng lo ngay ngáy, lúc nào cũng sợ.

-Anh sợ gì?

-Sợ em thương Long công tử chớ còn sợ gì nữa. Đẹp trai, hào hoa, lịch lãm như nó mà em không thương cũng uổng.

-Anh nói như vậy mà nghe cho được. Anh có muốn nghe lý do thứ hai hay không?

-Tại sao không?

Dung nhích sát người tôi, hôn lên má tôi rồi khẽ nói:

-Đây là lý do chính cũng là lý do quan trọng nhất, em yêu anh, yêu từ cái buổi đầu gặp gỡ, anh đừng hỏi em tại sao? Em không trả lời được đâu. Trái tim của em nói là yêu anh, em biết là em yêu anh, đơn giản như vậy thôi. Còn như anh muốn biết nhiều hơn nữa, chuyện như thế này. Anh còn nhớ ngày đi phép đầu tiên của mấy anh, khi mình đi taxi từ nhà đến rạp Rex, anh Biên hích anh một cái cùi chỏ, cố ý xếp anh ngồi bên em, hành động này khiến em suy nghĩ và đoán rằng anh Biên cũng đồng ý nếu hai đứa mình yêu nhau, có phải như vậy không anh?

-Đúng vậy.

Trời ạ, nếu trong một ngày mà trái đất ngừng quay hai lần làm sao người ta sống cho nổi. Trái tim tôi đã bị sốc hai lần trong một ngày vì những chuyện xảy ra trước mắt tôi. Nguyên ngày hôm đó, tôi say sưa kể cho Dung nghe chuyện tôi cũng bị tiếng sét ái tình đánh trúng khi gặp Dung lần đầu, rồi đến thảm cảnh khi bị Dung đuổi về ngồi một mình trong rạp ciné không máy lạnh, cũng như mối tình tuyệt vọng của tôi dành cho nàng suốt mấy năm qua. Mãi mê giãi bày tâm sự, tôi quên bẳng chuyện tại sao căn nhà hoang vắng như vậy. Khi nhớ ra, tôi hỏi Dung:

-Em à, hai bác đâu rồi? Sao anh không thấy.

Dung mỉm cười, nụ cười như ngầm nói bây giờ anh mới nhớ tới ba má.

-Từ ngày anh Biên mất, má buồn quá nên dọn về Bạc Liêu sống, rất ít khi lên đây. Hiện tại, trong nhà chỉ còn em và chị Lành. Ba thường ngày đi làm, nhiều khi ở lại luôn trong sở, cuối tuần lại về Bạc Liêu với má.

Tôi buột miệng:

-Hai bác là người Tiều Châu phải không?

-Ba em người Việt, má người Tiều, sao anh biết?

-Người ta thường nói ở xứ Bạc Liêu “Dưới sông cá Chốt, trên bờ Tiều Châu” anh đoán đại như vậy không ngờ lại đúng.

-Má nghe được anh nói như dzậy, bà không gả con gái cho anh đâu.

-Nếu vậy, anh sẽ sửa lại là “Dưới sông cá Chốt, trên bờ Dạ cổ Hoài Lang”được chưa?

Dung nhăn mặt:

-Được gì mà được, nghe lấn cấn, lọng cọng cứ như “Lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”.

Hai tháng học đại đội trưởng ở Thủ Đức, đây là một khóa học nhàn nhã nhất trong quân đội, hai tháng thần tiên trong đời của tôi. Đi học mà tôi cứ tưởng mình đang sống ở thiên đường hạ giới. Ngày chủ nhật, tôi về nhà Dung cùng nàng lang thang khắp đó đây, trên chiếc Honda dame của nàng.

Ngày đầu đi chơi, Dung mặc chiếc áo dài màu vàng mỡ gà may bằng lụa của Long công tử tặng. Tôi đứng ngẩn ngơ như kẻ mất hồn, nhìn hai tà áo như hai dải lụa nhè nhẹ tung bay phất phơ trong gió, khiến tôi cảm được cái mịn màng của lụa quấn quýt lấy cái mát dịu của làn da, khi âu yếm, lúc lả lơi. Phải mất năm năm, tôi mới thấm được ý câu thơ “Nắng Sài Gòn …” của nhà thơ Nguyên Sa. Tôi nói với Dung.

Hình minh họa

-Sài Gòn hôm nay mát quá.

Vì không hiểu ý của tôi, Dung nói:

-Em cứ tưởng không bao giờ có dịp mặc cái áo dài này.

Tôi hỏi:

-Tại sao vậy? Nếu thích, em cứ mặc đâu có ai cấm.

Dung nói mà như nhắc tôi:

-Anh không nhớ sao? Trong bức thư anh Long dặn em, chỉ bận áo này khi đi chơi với anh. Không có anh, em bận để đi với ai? Anh có biết không, khi may xong mấy cái áo dài mà không được bận em khóc quá chừng. Em đợi hoài đợi mãi, đợi cho đến ngày hôm nay.

Tôi nói:

-Anh không nghĩ rằng mình là người có diễm phúc đến như vậy. Nếu anh không trở lại đây, chẳng lẽ em đợi anh suốt đời hay sao?

Gương mặt Dung thoáng đượm nét buồn:

-Có chuyện này, em phải nói với anh. Anh nói đúng, mấy tháng đầu xa cách, em nhớ anh nhiều lắm, nhớ da diếc, nhớ điên cuồng. Mùa hè năm sáu mươi chín, em lên Đà Lạt nghỉ mát với ba má. Suốt ngày, em chỉ lang thang ở khu phố Hòa Bình, mỗi khi đi ngang qua một căn nhà, em lại nhìn vào với chút hy vọng nho nhỏ là anh đang ở bên trong. Em cứ tiếc hoài, tại sao ngày xưa em không lấy địa chỉ của anh để giờ đây phải lặn lội khắp thành phố này tìm anh. Chuyện tìm anh mà không biết địa chỉ, khác nào như thể tìm chim, chim bay biển Bắc, em tìm biển Đông. Mùa hè năm ấy trôi qua trong lặng lẽ, u buồn. Cho đến khi em bước chân vào đại học, bỡ ngỡ trước nếp sống mới, lu bu với bài vở, bạn bè, em quên anh được phần nào. Cũng vào lúc ấy ba má muốn em lấy chồng. Anh ấy là thiếu úy Nhảy Dù, con người bạn thân của ba em.

Dung ngưng nói, nhìn tôi với đôi mắt như hờn trách.

-Em đúng phân vân giữa ngã ba đường, phải chi ngày xưa anh hứa với em một tiếng là anh sẽ trở lại chắc em sẽ chờ anh, đằng này anh bỏ đi biệt tăm biệt tích. Em chần chừ, lần lựa thêm được hơn một năm nữa, cuối cùng em bằng lòng lấy chồng theo ý của ba má em.

Tôi giật mình, không hiểu chuyện gì đã xảy ra nên lật đật hỏi Dung:

-Em đã có chồng, sao còn…còn nói yêu anh? Chồng em đâu rồi?

Dung nắm tay tôi bóp mạnh.

-Anh làm gì mà hoảng hốt lên vậy, chuyện đâu còn có đó, từ từ em kể cho anh nghe. Tụi em làm đám hỏi được ba tháng, đang chuẩn bị đám cưới, em nhận được tin anh ấy mất ở Hạ Lào trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Em khóc hết nước mắt suốt mấy ngày liền, rồi quyết định sẽ không bao giờ lấy chồng. Tháng kế đó lại được tin anh Biên tử trận tại chiến trường Quảng Trị, từ đó về sau em sống như là chết rồi. Em, ngày ngày đi học như là một người máy, thỉnh thoảng nhớ anh Biên em lại lấy bức thư của anh Long ra đọc, càng đọc càng nhớ anh, nhớ cho đến khi gặp lại anh.

Tôi đưa tay bịt miệng của Dung, rồi nổ máy chiếc xe Honda.

-Mình đi đâu đây em?

-Tùy anh.

Chúng tôi đến Thanh Bạch ăn điểm tâm với bò kho bánh mì, tôi mở nắp chai sữa tươi, bóc giấy dán miệng chai, rót vào ly rồi trịnh trọng đưa cho nàng sành điệu y hệt như Long công tử. Tôi hỏi Dung:

-Em nhớ gì không?

-Nhớ chớ, chỉ thiếu càng cua ram muối.

Tôi cười.

-Anh chịu thua, nếu bây giờ anh gọi món cua ram muối cho em, có thể chú Sáu nói anh là thằng khùng bởi vì anh không phải là Long công tử.

Hình minh họa

Ăn sáng xong, chúng tôi thả bộ quanh Sài Gòn, nhìn mấy ông Sinh viên sĩ quan Thủ Đức đi phép, đang dạo phố với bồ. Tôi nói với Dung:

-Em nhớ hồi xưa mình đi chợ Bến Thành không?

-Làm sao em quên được. Anh có nhớ mấy bà bán hàng nói gì với tụi mình không?

-Có, mấy bà ấy nói, em chỉ giỏi ăn hiếp anh.

Dung nhéo tôi một cái đau điếng.

Buổi trưa, chúng tôi chạy vô Chợ lớn ăn mì vịt tiềm rồi chui vô rạp ciné máy lạnh, coi Lý Tiểu Long múa võ hành hiệp giang hồ, thêm vào đó là mối tình đầy thơ mộng với giai nhân Miêu Khả Tú. Hết ciné, Dung dẫn tôi vô quán Cái Chùa, uống cà phê đen nhìn thiên hạ dẫn nhau dạo phố.

Dung nói với tôi:

-Anh đừng có lo, gọi là quán Cái Chùa nhưng nó chắng dính dáng gì đến Tăng ni hay Phật tử, mà đó là nơi tụ họp của mấy ông nhà văn, nhà báo của Sài Gòn.

Tôi hỏi Dung:

-Tại sao em biết, ở đây chỉ dành riêng cho mấy ông nhà văn và báo chí.

-Anh Biên nói với em như vậy.

Tôi nói:

-Đúng, anh Biên nói không bao giờ sai.

Khi chiều đến, hai đứa kéo nhau qua Thủ Đức mỗi đứa một chai bia 33 nhậu với nem chua, nem nướng. Nem Thủ Đức vốn nổi tiếng khắp miền Nam, có điều lá dùng để gói nem hơi nhiều. Một xâu nem độ chừng chục cái đựng trong một cái rổ nhỏ, hai đứa ăn cho đến khi đống lá gói nem cao hơn chai bia mới ngừng. Sờ lại bụng vẫn còn thấy đói.

Hai tháng học đại đội trưởng trôi qua cái vù, nhanh như chớp mắt. Ngày mãn khóa học, trước khi trở về Đà Lạt tôi nắm chặt tay của Dung.

-Anh sẽ nói với ba má anh xuống đây gặp ba má em. Mình phải tính chuyện làm đám cưới.

Nói xong tôi mới giật mình tỉnh mộng, tôi nói cho có chuyện để mà nói. Tôi biết mình đang ở trong thế kẹt, ba má tôi và bác Bảy đã định liệu hôn nhân của tôi và Cúc, người lớn nói chuyện với nhau rồi tuy tôi không có ý kiến nhưng cũng đã ngầm đồng ý. Giờ đây một bên là mối tình đầu đầy thơ mộng, một bên là tiền tài và danh vọng, tôi phải chọn bên nào?

Quý hơn cục vàng!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu.

Post by Sơn râu 13 Feb 2024

Mỏ khoáng sản Beta Hunt của Công ty RNC Minerals, Canada, nằm ở thị trấn Kambalda. thuộc Goldfield, Tây Úc. Tại mỏ vàng nầy, trung bình đào mỗi tấn đất đá lên, sàng lọc chỉ được 1gram vàng. Xưa giờ công ty nói trên đã đào được tổng cộng 680kg vàng. Nhưng mới đây xúc chỉ có một gàu, cách mặt đất 500 mét, công ty vô mánh được hai khối vàng nặng 95kg và 63kg trị giá khoảng11.5 triệu đô Mỹ. Sau khi tinh luyện còn lại vàng ròng, khối đầu khoảng 2,300 lượng Tây (ounce), giá khoảng 3.8 triệu đô.  Khối thứ hai khoảng 1,600 lượng, giá khoảng 2.6 triệu đô la. Quá đã!

RNC la rùm lên tin đào được vàng khủng, thế là giá cổ phiếu của công ty tăng gấp đôi. Ai nắm cổ phiếu nầy hổng cần phải trần ai lai khổ như những người thợ mỏ, chỉ ngủ một đêm sáng dậy là tài sản của mình tăng gấp đôi, một lời một. Nghe ham quá hè. Chánh phủ Úc đang nợ ngập đầu, nợ như chúa Chổm, cũng bớt rầu chút chút vì được chia 2.5% bất cứ khoáng sản nào mà RNC Minerals đào lên được.

Rồi cũng vài bữa gần đây nhựt trình lại chạy một cái tin rất giựt gân giựt thịt là: một ông già Úc, đã về hưu, bỏ 8,000 đô mua cái máy dò kim loại hiệu Minelab GPZ 7000, ở độ sâu chỉ 80cm, nghĩa là chưa tới một thước, đào được cục vàng hình na ná như cái bàn chân vịt, nặng 3.23kg, lẫn trong đất sét. Ðem về tinh luyện lại thành vàng ròng được 2.11 kg, giá lên tới 110,000 đô Mỹ.

Nước Úc cũng dễ kiếm tiền quá chớ! Nghe phát ham hè. Tui tính hỏi thằng chả đào ở đâu để tui đi đào vàng với. Biết đâu đất cũ đãi người mới, cho tui kiếm được một cục vàng. Xin ông Trời đừng cho tui quá nhiều, chừng một tấn là tui vui, tui khoái rồi hè, không dám đòi hỏi gì hơn. Nhưng thằng cha nội nầy làm hiểm, giấu biệt chỗ nầy. ‘Giả’ nói: “Ðó là bí mật kinh tế! Ngu sao chỉ?”

Tuy nhiên, theo thiển ý thì vàng mình còn có thể hên mà đào được, chớ cái tình bạn với Úc ít có lắm, còn quý hiếm hơn nhiều. Kiếm được một thằng bạn Úc chơi được cũng khó như là đào đất trúng được cục vàng sa khoáng vậy! May mắn sao tui đã tìm được một đứa tri kỷ tri âm, tánh giống hịt tui hè, dẫu khác màu da và tiếng nói.

Xưa bên Tàu, Tử Kỳ lúc đàn mà nghĩ đến sông thì Bá Nha nghe tiếng nước chảy. Tử Kỳ đàn nghĩ đến núi cao thì Bá Nha nghe có tiếng cây rừng xào xạc gió. Còn bây giờ thì tui tri âm tri kỷ với thằng Jack Daniel nầy (cái tên dễ nhớ vì cùng tên với rượu whiskey) vì khi nó nói ra là tui biết ngay là nó nói dóc. Ngược lại, khi tui nói ra là nó cũng biết ngay là tui xạo. Nhưng Jack Daniel là một người bạn rất thành thật. Thành thật ở chỗ luôn thú nhận là mình đang nói dóc đó nhe bồ!

Tình bạn cao quý đó là ân sủng của ông Trời ban tặng suốt hơn ba mươi mấy năm kể từ ngày tui lon ton có cái quần xà lỏn đặt chưn lên cái đất Melbourne nầy đây.

Tình láng giềng bên Úc nầy nó nhạt như nước ốc, nhưng cái tình chòm xóm của tui với Jack Daniel là ngoại lệ, vì nó đậm đà như hương cà phê Cappuccino pha theo kiểu Ý vậy.

Ngày mới dọn tới, em yêu của tui bồng thằng cu mới đẻ được vài tháng trên tay, đêm lạ nhà, nó khóc quá chừng. Cá tánh dân Úc là rất khoái càm ràm, than phiền thiên hạ lắm. Vợ thằng Jack Daniel cũng không là ngoại lệ, hổng dám cằn nhằn ngay trước mặt tui mà kêu thằng chồng nó ‘còm len’ (complain) mới được. Bị vợ kêu nên cực chẳng đã nó phải làm. Sáng ra nó hỏi: “Vợ chồng bồ có ngắt véo gì thằng nhỏ không mà sao nó khóc suốt cả đêm thế?”

Tui cũng thông cảm, chắc tối qua thằng nhỏ tui khóc quá nên vợ chồng nó không ngủ được, lục đục suốt đêm, mệt chết, nên tôi giả lả: “Bồ làm ơn thông cảm giùm cho nó. Hãy thử đặt vào hoàn cảnh bi thảm của nó thì bồ cũng cư xử giống hệt vậy thôi hè! Mồm không có một cái răng, đầu không có một sợi tóc, chân yếu đến đứng không vững thì làm sao mà không khóc cho được chớ?”

Rồi một hôm, vợ tui sai đi siêu thị mua đồ. Về, tui kéo hai túi nặng chình chịch nào tã, nào sữa cho con. Jack Daniel ló đầu qua hàng rào hỏi: “Chào bồ tèo! Làm gì mà vác hai cái túi bự xộn vậy?” (Cái thằng Úc nầy tò mò dữ nhe!)

Tui bèn ‘nhát’ nó: “Ờ tớ mới đi gặp chủ gánh xiếc xin phỏng vấn để tìm việc làm. Trong cái túi nầy chứa toàn là đá. Khi biểu diễn, tớ ném cục đá lên trời; khi cục đá rơi xuống, thay vì bắt bằng tay tớ đưa cái đầu ra hứng!”

“Hay quá! Chắc bồ có nội công thâm hậu cỡ Bruce Lee?” “Lý Tiểu Long so với tớ chẳng ra cái thớ gì hết!”

“À còn cái túi thứ hai?” “Ờ! Cái túi nầy, tớ dùng để đựng thuốc giảm đau đó chú em!”

o O o

Nói nào ngay, xa hàng xóm người Việt trên St Albans cũng tiếc. Dọn xuống đây lối xóm đa phần là Úc nên em yêu của tui cũng hài lòng và hy vọng là tui sẽ ít tụ bè tụ đảng để nhậu (vì nhớ quê hương). Ai dè tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa– thằng Jack Daniel nầy nó nhậu còn quá cha tui nữa đó.

Hồi tối qua nghe vợ chồng nhà nó dằn mâm xáng chén dữ lắm, thiếu điều quánh lộn nữa đó. Hỏi chuyện gì? “À con vợ nó đang ngủ nằm mơ cái gì đó buồn lắm cứ khóc rấm rứt hoài hè! Em ác mộng nằm mơ thấy một tay tỉ phú giàu nứt đố đổ vách, đi xe Ferrari, Made in Italy, đến bắt cóc, giựt em ra khỏi vòng tay của anh yêu.” Nghe rất cảm động… đậy, Jack bảo: “Honey đừng buồn nữa! Ðó chỉ là giấc mơ thôi mà!” “Ðúng vậy! Vì đó chỉ là giấc mơ nên em mới buồn, mới khóc!”

Nghe câu nói thiệt phũ phàng duyên kiếp ba sinh từ miệng của con vợ mình, Jack sầu đời, tự ái vặt, nên bỏ đi nhậu suốt cả đêm. Tới gần sáng mới ló đầu về thì gặp tui đang bắt chước Tây, dắt chó đi tập thể dục.

“Ê Jack! Bỏ nhà đi nhậu suốt đêm không sợ con vợ mầy nó ‘bụp’ hay sao?” “Làm gì nó dám! Cạn một chai Jack Daniel thì tớ là ông Trời! Bồ hổng tin hả dám cá thêm một chai Jack Daniel nữa hay không? Tui sẽ chứng minh cho bồ thấy!”

Jack bèn dẫn tui quay lại quán rượu. Em phục vụ quầy rượu mới thấy mặt nó là kêu lên: “Ối Trời ơi! Ông lại đến nữa hả?”

Sau nầy tui mới phát hiện Jack Daniel rượu chè be bét vì giận vợ nó thì ít mà vì sợ chết là nhiều. Vì thằng Bill là bạn thân của nó hồi tóc còn để chỏm, cùng chơi banh cà na luật Úc, vừa mới lên cơn nhồi máu cơ tim ngỏm củ từ khi tuổi chưa quá 70.

Hình ảnh bạn hiền từ tấm bé bây giờ đột ngột bỏ ra đi làm Jack sa vào trầm cảm nặng. Ðêm ngủ ác mộng cứ lũ lượt kéo nhau về làm nó xanh xao hẳn.

Jack tâm sự: “Tối qua tao lại thấy thằng Bill hiện về. Tao hỏi nó trên thiên đàng có vui hông, nó nói: ‘Thiên đàng thì cũng vui như nước Úc mình thôi. Muốn beer có beer; muốn whiskey cũng có whiskey. Muốn gì có nấy’” “Rồi trên thiên đường có bóng cà na luật Úc hay không?” “Sao không? Mà nè Jack ơi! Trong danh sách cầu thủ được ra sân ngày mai, từ đầu trận có tên bồ nữa đó.”

Thôi xin ông Trời đừng cho tui đào trúng cục vàng nào hết, chỉ xin đừng bắt thằng Jack Daniel đi mất thì tui biết nhậu với ai đây?!

Đoàn Xuân Thu.

Melbourne.

Quốc khánh Úc! Cãi hoài tới Tết Congo!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 13 Feb 2024

Quốc khánh là một ngày đặc biệt! Người lớn khỏi phải đi làm; con nít khỏi phải đi học! Cả nhà sẽ rảnh rang mà ăn mừng đất nước mình hằng năm vào đúng ngày nầy.

Nhiều xứ là thuộc địa của thực dân, đế quốc giành được độc lập từ tay ngoại bang, vui mừng vui quá vui nên tuyên bố cái ngày đất nước được tự do, thoát khỏi gông cùm nô lệ là ngày Quốc khánh.

Nhưng nước Úc là khác nhe! Ngày Quốc khánh của Úc, 26 tháng Giêng đánh dấu ngày Hạm đội thứ nhứt, chở đầy nhóc tội phạm vào Vịnh Sydney vào năm 1788.

Chỉ có Úc là hỏng giống ai, chọn ngày dân da trắng Âu Châu đặt chân lên hòn đảo khổng lồ nầy làm ngày Quốc khánh.

Hoa Kỳ nào có chọn ngày Christopher Columbus đến để làm ngày Quốc khánh đâu nè?!

Người Úc thường khoe khoang lòng ái quốc bằng cách: già xệ tới rún, không có gì để khoe thì quấn cờ Úc, gái đang xuân thì mặc áo ‘sú’ hay quần ‘xì’ cũng bằng cờ Úc, trai đang sung thì xăm trên cần cổ đầy lông ben chùm sao Nam Tào! (Ở các nước độc tài CS chơi vậy là nó nhốt đầu hết ráo!)

Đi coi đại giải quần vợt có đấu thủ Úc tranh tài là trên khán đài la rùm beng “Aussie Aussie Aussie, Oi Oi Oi”, giơ cao mấy con kangaroo màu vàng gục gặc tới lui như vừa nốc cạn hết cả một thùng beer VB của Úc.

Chính vì ái quốc như vậy nên Úc ăn mừng ngày Quốc khánh rất lớn.

Nhà thì trang hoàng trước cửa cờ Úc với hai con kangaroo! Mở nhạc đồng quê Úc um sùm lên! (Vì nghe nhạc hay hơn là nghe con vợ biểu làm cái nầy cái nọ!)

Nếu đang ở hải ngoại, bên Hoa Kỳ hay Canada gì đó, thì rống bản “I Still Call Australia Home” (Anh vẫn gọi nước Úc là quê nhà).

Hát xong, nhỏ vài giọt nước mắt cá sấu để làm ‘gia vị’ cho ngày Quốc khánh Úc.

Gọi là ăn mừng Quốc khánh thì ăn là điều trước tiên. Nướng xúc xích, nướng thịt trừu, thịt kangaroo, ăn với món rau trộn ớt, xoài trộn với bột cà ri.

Đó cũng là dịp mấy em Úc ú nu trổ tài nội trợ; mỗi người mang đến tiệc vui một món ăn chánh hay món tráng miệng.

Ăn xong, bỏ phiếu coi em nào nấu ăn bá chấy? Với điều kiện là ông chồng không được quyền bỏ phiếu cho con vợ mình nhe… cho nó công bằng!

Em thắng giải ‘Chef cook’ “Bếp trưởng”, thì anh chồng cực kỳ may mắn cưới được con vợ Úc biết nấu ăn  nầy sẽ được thưởng một thùng beer Úc; còn con vợ sẽ được một cái ‘tạp dề’ có in cờ Úc để em yêu đeo vào lúc xuống bếp.

Tui thấy cuộc thi nầy quá xá là hay để mấy em Úc vì miếng đỉnh chung mà học nấu ăn với người ta; chớ bấy lâu tui nghe mấy tay ‘Mít’ xấu miệng, xầm xì là:

Vợ Úc chỉ biết ăn chớ không biết nấu!” “Thua vợ Việt mình xa lắc nên tui bỏ nó rồi!” “Thiệt vậy không huynh?”

Ăn đã rồi nhậu! Uống beer Coopers, Boag’s, VB hoặc Little Creatures Pale Ale, tới 76 đô Úc một thùng.

Nếu nhiều khách thì gia chủ (kiêm khổ chủ) phải mua tới vài thùng (đủ mạt) và chừng 20 kí nước đá ở cây xăng đem về đổ vô bồn tắm rồi bỏ beer vào ướp lạnh, uống mới đã khát.

Úc đang mùa hè mà. Có bữa nhiệt độ trên 40 độ C, nóng rát trong gió sa mạc thổi về làm chảy mở luôn. Khui một lon beer, quất nghe ót ót! Ối giời đất ơi nó đã làm sao đâu!

Tuy nhiên mấy hãng beer Úc chơi đểu, lợi dụng lòng ái quốc một cách ngây thơ của tui, dụ khị: ‘người Úc uống beer Úc’ để bán mắc hơn thiên hạ không hè! Chơi vậy là chơi không có đẹp với đồng hương đó nhe ‘mate’ (bồ)!

Tuy nhiên có đứa không khoái ở nhà mà thích ra ngoài bãi biển vì sóng biến sẽ làm dịu đi cái nắng nung người của mùa hè xứ Úc.

Mang theo vài món ăn vặt, vài chai beer trong thùng lạnh, chở vợ và con, vẫn không quên con chó, trên xe gắn cái cờ Úc bên hông, chạy khí thế, bóp kèn tin tin mà hỏng sợ bị thiên hạ nói mình khùng!

Tới bãi biển St Kilda rồi, thì trải chăn ra trên cát, ngồi lai rai vài chai beer chờ xem bắn pháo bông xong; dọn dẹp bỏ rác vô thùng, rồi chở bầu đoàn thê tử về nhà ngủ.

Năm nay lễ Quốc Khánh Úc, 26 tháng Giêng rơi vào Thứ sáu, ‘long week’, cuối tuần dài tới 3 ngày mặc sức mà chơi.

Người Việt mình thì gia đình, bạn bè chí cốt là trọng. Có gì vui là cùng vui với nhau trong nhà nhưng người Úc thì khoái đổ ra đường, tham dự các cuộc tranh tài thể thao như đua thuyền ở Sydney; lễ hội hòa nhạc, hay đi cả bầy diễu hành (vừa đi vừa diễu) ở Melbourne chẳng hạn.

Dân vốn là người thọ thuế, (đóng thuế cho tới chết vẫn còn đóng) thì chánh phủ phải có bổn phận bày trò để dân (là chủ) nó chơi!

Tổ chức đua trượt nước trên sóng biễn; trên đó có con chó của mình làm đồng đội. Bắt mấy con gián cho đua như ở Brisbane, tiểu bang Queensland.

Sydney, tiểu bang NSW và Melbourne, tiểu bang Victoria đề xuất trò đua ăn dưa hấu, đua ném dép, đua vừa cõng vợ vừa chạy.

Đua ăn dưa hấu, tham dự viên ít nhứt là 10 tuổi, dưới 18 tuổi phải có cha mẹ đi cùng.  Ăn mắc nghẹn, sặc hột dưa mắt trợn trắng, trợn dọc là rán chịu nhe!

Đấu thủ phải chắp hai tay sau lưng lúc ‘cạp’ dưa. Phun hột về phía trước thì được; phun vô mặt của đối thủ là hỗn, bị loại.

Đua ném dép là dép cầm trên tay, được quyền chờ gió thuận, tối đa tới 30 giây, rồi phải vẫy cho dép bay về phía trước! (Như mình lượm miếng đá mỏng ném lia thia trên mặt nước vậy mà).

Ai vẫy dép bay xa nhứt là thắng. Kỷ lục trên toàn thế giới là 42.8 m của một trự người Queensland.

Riêng cái trò cõng vợ chạy đua nầy đúng ra phải dấu kín nhứt; thì lại đem khoe với bàn dân thiên hạ! Úc đúng là dân ruột để ngoài da.

(Tui nè. cõng em yêu oằn nặng cả hai vai, mà có dám hé môi ra khoe với ai một lời nào đâu chỉ âm thầm vác nặng đời trai!)

Nói cõng không phải như kiểu Việt Nam mình; mà nó giắt hai cái giò của con vợ lên vai rồi chạy.

Chơi kiểu nầy, nếu em vừa thi ăn dưa hấu xong là ộc ra hết ráo báo hại thiên hạ tưởng em giận chồng mèo chó nên hộc cả máu mồm!

Còn chưa vợ thì đi thi được hông? Được chớ! Không có vợ thì cõng ‘con mèo hai chưn’ của mình. Chưa có mèo thì cõng em, chị gái, bà con chú bác cậu dì hay bạn bè cùng lớp cùng trường cùng sở cũng được…

Nếu mấy em gan cùng mình không sợ bất thình lình, nặng quá, mệt quá nó vụt cái thân bồ tượng xuống đất nghe cái đụi!

Dĩ nhiên là có tiêu chuẩn kí lô đàng hoàng. Chớ con vợ mình như cái hột mít mà con vợ nó như cái hột dưa thì chưa đua mình thua là cái chắc.

Tuy nhiên Thổ dân Úc coi ngày Quốc khánh, 26 tháng Giêng là ký ức buồn đau do những người lính Anh, và tù hình sự cũng của Anh, cách hơn 10 ngàn dặm, không mời mà đến, đã gây ra nhiều đau khổ cho dân bản địa đã có mặt trên lục địa nầy ít nhứt là 50,000 tới 65,000 năm.

Thổ dân đã bị người lính Anh hay những tù nhân da trắng tàn sát để chiếm đất canh tác. Nhiều thổ dân khác bị chết bởi bịnh đậu mùa hay những bịnh hoạn khác do người da trắng mang ‘virus’ tới.

Mất nước nên Thổ dân gọi đó là ngày ‘Quốc hận’ để tưởng niệm, phản kháng từ năm 1938 kéo dài cho tới ngày nay; hỏng biết bao giờ mới chấm dứt!

Ngày nầy là ngày đau đớn của thổ dân nhưng lại là ngày vui của những tù nhân bị đi đày biệt xứ. Nó chứng mình là: đất quan trọng hơn hạt giống rất nhiều.

Những người cùng khổ sống bên lề xã hội, một đời tăm tối bên mẫu quốc Anh; nhưng chỉ cần có một chút ánh sáng của buổi bình minh đất Úc là như những cánh hoa xòe ra rực rỡ, hiến dâng cho đời bao nhiêu là hương sắc, đẹp như nước Úc ngày nay!

Trong đó có sự chung tay góp sức của Cộng đồng người Việt tỵ nạn CS mình đó nhe!

Kẻ vui người buồn thì vấn đề đặt ra là: Chúng ta có bị bắt buộc phải chọn ngày 26, tháng Giêng hàng năm, thổ dân gọi là ngày ‘Xâm lược’ để làm ngày Quốc khánh cho toàn dân Úc?

Úc trắng nhậu nhẹt, ăn thịt nướng, uống beer quá đã trong cái nắng mùa Hè xứ Úc lên tới 3,4 chục độ C; xem pháo bông đủ sắc màu rực rỡ nở bung ra trong bầu trời đang sẩm tối; trong khi tay hàng xóm thổ dân, Úc đen lại buồn bã khóc thương khi nhớ lại ông cha mình đã bị người da trắng đến từ nước Anh truy sát?

Dĩ nhiên dân Úc ngày nay đâu có trách nhiệm gì về chuyện diệt chủng tàn sát thổ dân cách đây 230 năm?

Tui là người Việt tỵ nạn CS, tới đây làm người Úc ngang hông. Là người Úc ngang hông nên cũng không biết nhiều về lịch sử Úc. Thấy có dịp ăn nhậu vui là tui tham gia hè.

Tui đâu có biết ngày Quốc Khánh Úc để ghi nhớ cái gì đâu? Mà không phải chỉ mình tui dốt vì trong một cuộc khảo sát cho thấy chỉ có 38% dân Úc chánh tông biết đó là ngày Hạm đội thứ Nhứt của hải quân Hoàng gia Anh đổ bộ ở Vịnh Sydney.

Cũng như hầu hết gia đình người Úc khác, tui chẳng quan tâm đến cái việc chuyển Quốc khánh qua ngày khác; vì tiền điện, tiền ga, tiền chợ cho vợ, tiền trường cho con cái đã chiếm hết cả cái đầu rồi.

Tuy nhiên năm nay tui thấy nhiều ‘cáo sồ’ (council), chánh quyền địa phương, không tổ chức lễ Quốc khánh vào ngày 26 tháng Giêng nữa; vì sợ xúc phạm đến Thổ dân Úc. ( Ngày nầy ông cha mình đã mần thịt ông cha nó hồi xưa!)

Tui bèn sực tỉnh! À! Mình ăn nhậu tưng bừng trong khi đứa hàng xóm là Thổ dân lại khóc! Coi bộ nhẫn tâm quá!

(Như  CS Bắc Việt cưỡng chiếm được miền Nam tự do thì tụi nó mừng; chớ dân VNCH bị hành hạ, bị tù rạc mà kêu tui ăn mừng à? Không bao giờ có cái chuyện đó đâu nhe!)

Năm tới 365 ngày lận mà, ngày đứa nầy vui, cười; đứa kia buồn, khóc… thì thôi mình chọn ngày khác đi!

Chọn ngày nước Úc tách rời khỏi Vương quốc Anh, để thành lập một nước Cộng Hòa (sẽ xảy ra trong tương lai gần), làm ngày Quốc khánh thì sẽ vui vẻ cả làng!

Cầm bằng ‘cao kiến’ của thằng tui mà mấy chánh trị gia tai to mặt lớn xem thường, coi như pha, bỏ qua… thì ngày Quốc khánh Úc, 26 tháng Giêng, sẽ còn cãi như điên, cãi dài dài cho tới Tết Congo!

đoàn xuân thu.

melbourne

Quê nội thời thơ ấu

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 13 Feb 2024

Tranh Bảo Huân

Cách đây hơn 300 năm, người Minh Hương, vốn là bộ tướng của Dương Ngạn Ðịch phản Thanh phục Minh thất bại phải sang xin tá túc ở nước ta thời chúa Nguyễn Phúc Tần hợp lực cùng ông bà mình từ miền Trung vào, đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, kể cả máu mới gầy dựng nên một Mỹ Tho đại phố phồn vinh.

Ðất đai Ðịnh Tường trù phú tất nhiên phải phòng chống Thủy quân Chân Lạp xâm phạm vào vùng biên cảnh nên Chúa Nguyễn cho đắp một chiến lũy dài từ xóm Thị Cai đến Bến Tranh (chỗ bán tranh lợp nhà).

Bên ngoài lũy, một hào sâu rộng nối liền rạch Vũng Gù thuộc Tân An chạy dài tới sông Mỹ Tho. Từ hào sâu nạo vét rộng hơn, sâu hơn nó thành một cái kinh. Sau một thời gian dài, nhiều khúc quanh co nhỏ hẹp, lâu dần bị bùn cỏ, lục bình gây cạn lấp, làm thuyền đến đây phải đợi nước lớn lên đầy mới đi được, nhất là đoạn giáp nước tại chợ Thang Trông (nơi có cái thang cao để trông chừng địch quân).

Nhà Nguyễn lại cho nạo vét con kinh nó thành con sông nhỏ, vừa dẫn nước, vừa tiện việc cho tàu bè qua lại. Vua Gia Long đặt tên là sông Bảo Ðịnh, là một chi lưu của sông Vàm Cỏ Tây thuộc tỉnh Long An. Từ chợ Thang Trông hay Hốc Ðùn đến bến Mỹ Tho, chiều dài của con sông nầy khoảng 14km, bề ngang độ 6m và sâu khoảng 3.50m. Nhờ con sông Bảo Ðịnh nầy từ xóm Thị Cai đến Bến Tranh thuộc thôn Lương Phú, đất đai màu mỡ, ruộng vườn liên tiếp.

Năm 1861, quân Pháp đưa tàu chiến từ Sài Gòn theo sông Soài Rạp đến sông Vàm Cỏ rồi xuôi theo con sông Bảo Ðịnh nầy để đánh chiếm tỉnh Ðịnh Tường.

Ðến năm 1866, thực dân Pháp, lần đầu tiên ở Lục tỉnh Nam Kỳ, đã cho xáng múc để lòng sông được sâu hơn.

o O o

Quê Nội của tui là làng Phú Kiết, nằm dọc sông Bảo Ðịnh thuộc quận Bến Tranh, tỉnh Ðịnh Tường.

Muốn về quê Nội bằng đường bộ thì từ Mỹ Tho theo quốc lộ 4 (tên gọi thời trước 75) lên Sài Gòn tới ngã ba Lương Phú quẹo trái chạy dọc dòng sông Bảo Ðịnh sẽ tới làng Phú Kiết. Còn chạy quá lên, tới ngã ba Hòa Tịnh quẹo phải vô cũng đặng. Xong tới Tịnh Hà (thuộc xã Mỹ Tịnh An) rẽ phải chạy theo đường đất trải đá xanh cặp theo sông Bảo Ðịnh cũng về tới được.

Vật đổi sao dời đá mòn sông cạn nhưng ngã ba Hòa Tịnh nầy vẫn còn đó dãy hàng dương, làm tui hồ dễ gì quên kỷ niệm thuở thiếu thời cho tới tận ngày tui bỏ nước ra đi.

Về quê Nội ăn Tết, đâu có xa xôi gì, chỉ khoảng 25 cây số mà ngày xưa đó đi mất cả buổi trời! Sáng 7 giờ lên xe đò Tân Mỹ ở Mỹ Tho, 9 giờ rưỡi mới tới ngã ba Hòa Tịnh. Ðói bụng rồi nhe; vậy là Ba Má dắt cả nhà tấp vô cái quán của một gia đình người Tàu ăn hủ tiếu, uống xá xị con cọp.

Dưới hàng dương ngã ba nầy, chiếc xe lôi chờ cho đủ 10 người bác tài mới chịu nổ máy kêu bình bịch, lôi cả nhà tui băng qua những cánh đồng đã gặt xong chỉ còn trơ gốc rạ. Nhiêu khê vậy mà vui quá xá! Về quê Nội ăn Tết có hết đâu mà gấp? Muốn tới nhà Nội bên sông là phải qua một chiếc cầu khỉ, tay vịn cheo leo, thằng nhỏ với tay không tới. Má bồng đứa nhỏ nhứt, Ba cõng đứa nầy qua rồi quay trở lại cõng đứa kế.

Nhà của Nội tui cất trên một miếng vườn chừng một chục công. Ðào mương dẫn nước, vét phù sa lên liếp trồng quýt đường, cam, bưởi, mận…trái oằn sai.

Cuộc sống rất đơn giản, chẳng đua tranh gì ráo, chỉ tự cung tự cấp! Làm ruộng để có lúa xay ăn, làm vườn để có tiền đi chợ. Họa hoằn lắm, cả tháng mới đi chợ Phú Kiết một lần để mua giấy quyến, thuốc rê, đường, muối và dầu lửa về để thắp đèn.

Cái nền đất nhà nầy u lên u xuống làm tui đi cứ vấp hoài hè. Ðêm chỉ có một cây đèn cóc khói mù mịt, tối hù nên chừng 7 giờ tối là phải chui vô mùng ngủ vì muỗi nó bay vo ve như trấu ở bên ngoài. Lúc tụi cháu về, ông Nội tui mới chơi sang đốt cái đèn măng xông cho sáng. Sáng đèn, bù mắt, thiêu thân nó bu vào gặp nóng rụng cánh chết queo.

Cái khoảng vườn từ mé sông đâm vô chừng 5 trăm thước là tới ruộng. Hằng năm, cuối tháng Năm âm lịch, nước lũ trên thượng nguồn sông Vàm Cỏ đổ về đến tháng Bảy, nước nhảy tràn bờ sông, bờ rạch, leo lên đồng mang theo tôm cá còn non, nhỏ chút éc! Nào cá lóc, cá trê, cá chạch, cá chèn, cá rô, cá he, cá mè vinh, cá éc, cá mề hôi, cá linh, cua, ốc… đôi khi hên vớ được con tôm càng… bự chỉ bằng một trái me.

Tháng Chạp nước trên đồng rút xuống sông. Ðêm sáng trăng, nửa khuya nước bắt đầu ròng, tui theo ông Nội ra cái chòi nhỏ che tạm dưới hàng dừa nước để xem kéo vó. Vó có cái lưới hình chữ nhựt khá rộng. Cần vó theo nguyên tắc đòn bẩy. Ðẩy nó bung lên cao là mặt vó chìm xuống mặt nước. Non tiếng đồng hồ, lại nắm sợi dây thừng kéo xuống, vó đầu kia chỏng lên khỏi mặt nước.

Cá linh, cá trạch, cá rô, tép nhẩy xoi xói… đôi khi có những con rắn trùn nhỏ bằng cọng đũa uốn éo trông thấy ghê, Chỉ cần lấy cái gàu bằng thau, cán bằng một thanh tre đánh vào mặt lưới là cá tôm nó ‘bờ lông rông’ vô gàu hết ráo, không sót một con. Một đêm kéo vó như vậy cũng chẳng có gì nhiều. Cá tép đựng đầy chắc năm ba cái chén ăn cơm. Tuy vậy cũng đủ kho quẹt để cả nhà ăn với cơm nấu bằng gạo lúa mùa, đổ mồ hôi mẹ, mồ hôi con.

Vào ngày tảo mộ cuối năm, để ăn Tết, ông Nội tui cùng lối xóm vần công dỡ chà, tát mương bắt tôm, cá, tui cũng lội xuống bắt hôi.

o O o

Mấy năm sau, Tết về, lúc 13, 14 tuổi, tui quen với chú Bảy Cu, bà con xa, đại bác bắn nhiều lần mới tới, chừng 16, 17 tuổi. ‘Già’ khoái tui lắm! Chèo xuồng đi chợ là rủ tui theo cho có thằng để nghe ‘già’ tán dóc.

“Khi tao bỏ mái dầm xuống sông, cá giật mình phóng lên trên mặt nước rớt vào xuồng. Xui lắm mầy ơi. Chim sa cá lụy mà. Nên tao bắt nó bỏ xuống nước trở lại!”

“Cá nhảy vô xuồng là nó muốn nhảy vô nồi. Ðem về nấu canh chua với bông súng, ăn hết xẩy mà sao chú Bảy khờ quá lại thả nó đi he?”

Chú Bảy ‘Cu’ (tên xấu háy cho không bị ông bà bắt đi đó mà) dụ khị: “Mai tao dắt mầy ra ruộng để đặt lọp theo đường nước, cá thiếu gì, mặc sức mà ăn cho lòi bản họng? Còn chuột đồng đào bờ mẫu, bắt về lột da nấu canh chua hoặc khìa chấm muối tiêu quá đã. Mầy ghê hả thì để tao ăn!”

Nhỏ lớn ở thành nên nhà quê là một thế giới khác vừa gần gũi thân thương, nhưng vừa xa lạ vì mình cũng hổng biết gì nhiều nên nghe rủ là tui khoái chí tử.

Mùa hè năm 1965, tui rủ thằng anh bạn dì từ Mỹ Tho thay nhau đạp xe về thăm quê Nội. Qua khỏi cầu sắt Lương Hòa Lạc, chạy thêm một đỗi nữa, đụng cái mô, cây lá bùm sùm chặn ngang đường như người ta chất chà dưới sông vậy.

Hai đứa tính vác chiếc xe đạp trèo qua đi tiếp. Bất ngờ trong lùm có một thằng cha mặt nám da nhăn, đầu bù xù, lù lù bước ra hỏi: “Ê hai thằng bây tính về đâu vậy? Ðừng bường ẩu vô mô coi chừng lựu đạn!” “Tụi tui về thăm ông Sáu Hợi là ông Nội của tui. Với chú Bảy Cu…” “À ông Sáu Hợi với thằng Bảy Cu hả?  Ông Nội với chú Bảy Cu của mầy giờ tản cư lên giồng Tân Hiệp rồi… Bữa nào êm êm mới về. Vùng nầy giờ là vùng oanh kích tự do, tui bây còn nhỏ ở xa, không biết coi chừng có ngày mà tán mạng nhe. Thôi về nhà đi chừng nào ‘giải phóng’ rồi về chơi nhe!”

Nghe vậy, hai đứa tui mới lờ mờ hiểu ra là quê nội tui bây giờ là vùng xôi đậu không còn an bình như  ngày cũ nên hai đứa tui ‘buồm’ cho thiệt lẹ. Cái niềm vui tuổi thơ của tui đành chôn theo quê Nội thời thơ ấu, dở dang từ độ ấy!

 Đoàn Xuân Thu

Chim bay biển Bắc  

hoiquantramhuong.com

Huy Phương 

Posted on 21 May 2013

Post by Sơn râu 13 Feb 2024

Từ Tòa Đại Biểu về, ông Tôn Thất Huân quẳng chiếc xe đạp vào góc hè, bước vào nhà với những bước đi giận dữ,và ông đã thoáng thấy con gái ông, Quỳnh Diên đang ngồi trước chiếc bàn học nhỏ ở gian nhà dưới. Ông lên nhà, ngồi vào chiếc ghế tràng kỷ đặt ở gian giữa, trước bàn thờ tổ tiên. Lòng ông đã dịu lại được phần nào trong khung cảnh yên tĩnh, trang nghiêm của  gian nhà dùng làm nơi thờ phượng, tuy vậy ông cũng còn quát:

-Quỳnh Diên đâu, lên cha biểu!

Nghe giọng nói hơi nặng nề của cha, Quỳnh Diên lật đật lên nhà, đến đứng bên cha, và sau khi thấy vẻ mặt nghiêm trọng của ông Huân, nàng thoáng thấy chút lo lắng trong lòng.

-Con có biết thằng Thời làm cho Ba xấu hổ biết bao nhiêu không, mà không phải làm xấu hổ cho ba, mà con làm xấu hổ cho giòng họ này nữa- ông gằn giọng- nếu Ba có một thằng rễ như thằng Thời.

-Anh Thời làm chi rứa Ba? Quỳnh Diên hỏi lại cha với giọng hoảng hốt.

-Làm chi à! Con ra phố mà coi, thằng Thời đã bôi tro trát trấu lên cái mặt của Ba, bây giờ Ba dám ra đường mà nhìn ai nữa. Nếu thằng Thời là con nhà cha căng chú kiết nào thì Ba cũng cóc cần, mà khổ thay nó lại là một thằng rễ tương lai của nhà này – ông bất giác nhìn về phía bàn thờ ông bà – nghĩa là chồng của con.

Quỳnh Diên bắt dần thấy run rẩy toàn thân, mặc dầu cho đến phút này nàng cũng chưa hiểu câu chuyện gì đã xảy ra giữa cha và Thời. Ông đập mạnh bàn tay phải xuống chiếc bàn rồi đi đến kết luận:

-Từ rày về sau tao không muốn thấy mặt thằng Thời lui tới cái nhà này nữa!

Nghe tiếng ồn ào ở nhà trên, bà Huân vội vã từ dưới bếp chạy lên:

-Việc chi mà ông quát tháo ầm ĩ như thế, việc gì thì cũng từ từ nói cho tôi nghe đã.

Trong khi Quỳnh Diên đứng tựa vào thành ghế khóc rấm rứt, thì ông Huân bắt đầu kể lại câu chuyện. Thời, người chồng sắp cưới của Diên là người họa sĩ làm ở Ty Thông Tin thị xã, anh là người rất có hoa tay nên được Ty giao cho nhiệm vụ vẽ các bức chân dung lãnh tụ cùng những bức hí họa qua các chiến dịch do chính phủ đề ra. Thời được xem như con người tài hoa lại là một công chức đứng đắn, hiền lành đã chiếm được trái tim của Quỳnh Diên và đã được gia đình ông Huân chấp nhận một lễ sơ vấn, trên căn bản, đã xem Thời như một người con trong gia đình.

Đột nhiên, chiến dịch truất phế Bảo Đại được tung ra vào thời điểm ấy và Ty Thông Tin huy động nhân lực để vẽ cho kịp những bích chương cổ động, phần lớn là mô tả cảnh ăn chơi trụy lạc của vua Bảo Đại ở Pháp. Thời là họa sĩ chính và tác giả của nhiều tác phẩm dựng ở chân cầu, góc vườn hoa, trước chợ là những nơi có đông người qua lại. Nét vẽ tài hoa của Thời đã làm cho những tranh hí họa trở nên sống động khiến cho đàn bà, con gái đi ngang nhìn những bức tranh “truất phế”đều phải đỏ mặt. Cái tài của Thời không ngờ lại là lưỡi dao cắt đứt mối tình của Thời và Quỳnh Diên.

Ông Huân là một người bảo hoàng hơn hết trong giòng họ Tôn Thất. Tổ tiên nhà ông mấy đời đều hưởng ơn vua lộc nước, đến đời ông nội là ông Tôn Thất Khoan còn giữ tới chức Tổng Đốc Nam Ngãi, cha ông Huân là nhánh sau, tức là con bà thứ, công danh không rạng rỡ bằng các anh của ông nhưng cũng đã từng giữ chức tri huyện Duy Xuyên.

Đến đời ông Huân, ông là con của bà thứ ba, văn dốt vũ dát, công danh thụt lùi, ra đời ông chỉ được lãnh cái ngạch thư ký tòa sứ, rồi cuối cùng là một trưởng phòng của Tòa Đại Biểu Chính Phủ. Tuy không giữ được quyền cao chức trọng gì, nhưng ông cũng đã từng lui tới các gia đình tôn vương quí phái, ông cũng đã có lần tháp tùng với vị tỉnh trưởng sở tại vào Cung An Định hầu tứ sắc với đấng Từ Cung. Thời tản cư về, sau khi toàn bộ cơ ngơi dã bị thiêu rụi vì chiến tranh, cảnh nhà sa sút, gia đình ông đã được về trú ngụ tạm trong Tôn Nhơn Phủ. Ông Huân luôn luôn hãnh diện về gia thế, và trong lòng luôn luôn canh cánh nỗi niềm khi nghĩ đến nhà vua.

Thế mà giờ đây, một thằng bần dân, đã có được cái diễm phúc sắp làm chồng cô gái xinh đẹp, nết na của ông, sắp được gia nhập vào gia đình quí phái của ông, lại giở trò bôi bác, dám động chạm tới nhà Vua. Với ai khác, ông có thể vì thời thế mà tha thứ, chứ với thằng rể đã từng lui tới trong nhà ông, ông không thể nào tha thứ được, nghĩa là cuộc hôn nhân này phải được hủy bỏ.

Sau khi kể tội Thời, ông bình tĩnh, buồn bã đứng lên. Ông cắm nén hương trước bàn thờ tổ tiên, – nơi có để hình ảnh của ông nội ông, ngồi trên chiếc ghế cẩn xa cừ, trong phẩm phục triều đình với mũ cánh chuồn, tay cầm hốt – suýt soa khấn khứa làm như bao nhiêu tội lỗi bây giờ là do đứa con gái bất hiếu của ông gây nên.

Trong buổi cơm tối, bà Huân và Quỳnh Diên chỉ ngồi nhìn nhau thở dài còn ông Huân bỏ ra trước hiên nhà, nơi nhìn ra bờ sông. Sau đó khi trăng bắt đầu lên, ông trầm ngâm ngồi uống rượu một mình, trong khi Quỳnh Diên khóc mùi mẫn trên tay mẹ.

Trong gia đình , ông Huân quyết định mọi chuyện và vợ ông chỉ là cái bóng mờ đi bên cạnh ông. Bà thương con cháy cả ruột gan nhưng  kinh nghiệm trong suốt cả cuộc đời làm vợ, bà biết bà không hy vọng gì xoay chuyển được những quyết định đôi khi quá đáng của ông.

Thời, người họa sĩ kém may mắn ấy là con út của ông nội tôi, chú ra đời muộn khi ông tôi đã hơn sáu mươi. Góa vợ năm ông năm mươi  tuổi, ông già sống đơn độc được gần mười năm, sau đó lại giở chứng kiếm một cô gái già mới bốn mươi, lấy cớ là để trông nom nhà cửa ruộng vườn, đi thâu tiền nợ và lo sổ sách lúa gạo cho ông. Lão bạng sinh châu, ở ngoài tuổi sáu mươi ông còn làm cha được một chú nhóc khôi ngô, láu lỉnh.

Đúng là cảnh cha già con muộn, khi chú Thời lên mười thì ông nội tôi qua đời, và chú cũng đã dến tuổi vào trung học nên bà nội kế tôi phải đem chú lên thành phố ở với cha tôi.

Chú Thời nhỏ hơn tôi vài tháng tuổi, và học chung một lớp với tôi. Về mặt học hành chú không khá lắm, nhưng chú vẽ rất đẹp, làm văn hay và viết thư tình cũng bay bướm. Chú chạy nhảy, leo trèo  nhanh như một con sóc, ăn nói khôn ngoan, lanh lợi lúc nào cũng được lòng thầy, bạn. Chính vì điểm sau này, tôi thấy ngay cha tôi cũng dành nhiều tình cảm cho chú hơn là tôi, khiến cho tôi đôi khi phải đem lòng ganh tị.

Cha tôi là một người gia trưởng nghiêm khắc, lại luôn luôn cho mình là người anh có bổn phận nuôi nấng, dạy dỗ cho đứa em nhỏ khác mẹ sau khi cha đã mất. Tuy vẫn cho mình mang trọng trách như vậy, nhưng mỗi buổi trưa thứ bảy, sau một tuần làm việc cha tôi lại đến nhà bạn bè trong những canh tổ tôm hoặc tài bàn, để mặc hai đứa chúng tôi lang thang rong chơi cho hết hai ngày cuối tuần.

Chưa bao giờ cha tôi cho tôi được xếp ngang hàng với chú Thời. Trong bữa cơm Thời ngồi kế cha tôi, rồi đến  anh tôi, còn tôi ngồi trên một chiếc ghế đẩu thấp hơn chiếc phản ngựa, nghĩa là ở thứ hạng chót. Lúc ấy là thời gian mới hồi cư, vật giá đắt đỏ, gia đình cha tôi là gia đình công chức, đông con, đã bắt đầu khó khăn, nhiều bữa ăn không được no. Chú Thời là người ăn chậm, còn tôi là đứa háu đói; lúc Thời chưa ăn xong chén cơm đầu tiên thì tôi đã xong chén thứ hai…Cha tôi vẫn thường lo cho chú Thời, và khi thấy tôi đưa chén về phía nồi cơm để tiếp tục chén thứ ba thì ông đưa đôi mắt nghiêm nghị nhìn tôi, thế là tôi rụt tay lại. Lúc ấy , chỉ là một đứa trẻ mới lớn, tôi cảm thấy rất buồn lòng, nhưng sau này tôi khi lớn lên tôi thấy thương xót cha tôi biết là chừng nào. Vã lại, hồi ấy tôi không để ý cho lắm, nhưng tháng nào, khoảng ngày rằm, bà nội kế tôi vẫn thường mang gạo, nếp, sắn khoai, đôi khi một cặp gà và dúi vào tay mẹ tôi mấy  chục bạc gọi là tiền ăn cho chú.

Vì là con nhà nghèo, tôi luôn luôn đến trường với cái túi rỗng, nhưng chú Thời luôn luôn có tiền ăn quà vặt ở nhà bác cai trường và chú không quên chia xẻ với tôi. Ngoài tình máu mũ ruột thịt, tôi và chú Thời còn là bạn thân chung lớp. Ở nhà, trước mặt mọi người trong gia đình thì chúng tôi gọi nhau là chú cháu, nhưng khi ra đường thì chúng tôi vẫn gọi nhau là mầy tao như đôi bạn thân tình.

Khi bà nội kế của tôi qua đời, chú không còn thiết tha gì đến việc học, khi tòa hành chánh tuyển người, chú đã thi vào làm thư ký và sau đó nhờ tài vẽ tranh chú được chuyển qua ty thông tin. Trong thời gian này, chú vẫn còn ở với gia đình tôi, còn tôi thì đã xa Huế. Những ngày hè, khi về lại gặp chúù tôi đã gặp luôn Quỳnh Diên, người yêu của chú. Sau khi hai người quen nhau, chú đã không mấy khó khăn để được vào với gia đình Ông Huân, vì ông và cha tôi thỉnh thoảng cũng có gặp nhau tại nhà một người bạn chung trong canh “tài bàn”, “tổ tôm”.

Sau khi câu chuyện ngang trái giữa Thời và Quỳnh Diên xảy ra, ông Huân đã tìm cách lánh mặt  cha tôi và về phần chú Thời và người yêu của chú, cảû hai đều đã thúc thủ không phấn đấu nỗi với quyết định cay nghiệt của ông Huân. Dù yêu Thời đến mức nào, Quỳnh Diên cũng không thể bỏ nhà ra đi và Thời cũng không thể nào chống trả được với định mệnh đã an bài.

Ít lâu sau, tôi được cha tôi báo tin là chú đã bỏ việc đi Saigòn, nhưng tôi đã nghĩ  cha tôi đang che dấu một điều gì, vì nếu vào Saigòn, chú Thời không thể nào không báo tin cho tôi biết. Đúng như điều tôi nghĩ, sau đó, qua một người bạn, tôi được biết chú được người đưa về miệt Vân Dương và sau đó ra Bắc.

Năm sau, tôi không biết thực lòng Quỳnh Diên đã quên được Thời chưa, nhưng tin bà thím hụt của tôi đi lấy chồng cũng đã làm tôi buồn suốt mấy ngày Saigòn bão rớt. Sau đó, chạy theo cuộc sống, tôi gần như quên cả chú Thời và nàng tôn nữ của chú.

Trong những ngày đầu tháng năm, một nghìn chín trăm bảy mươi lăm ở Saigòn, trong lúc tôi đang hoang mang cùng cực vì thời cuộc diễn ra một cách quá mau lẹ, không ngờ, thì một buổi sáng, một người đứng tuổi, áo chàm, dép râu, nón cối, xắc cột bên hông, gõ cửa nhà tôi. Sau một vài giây ngỡ ngàng, và dù đã bao năm xa cách, tôi cũng nhận ra người đó là chú Thời của tôi. Tôi đã vội vã ôm chầm lấy chú, và hỏi đi hỏi lại một câu hỏi:

-Chú Thời phải không? Chú Thời phải không? Vào đây, vào đây!

Thời ngần ngại, rụt rè bước vào nhà và việc đầu tiên của chú là đưa mắt quan sát gian phòng khách  trống trải của tôi, sau đó mới ngồi xuống chiếc ghế gỗ kê sát tường.Tất cả đồ đạc trang bị ở phòng khách của tôi đã được người ta đến dạm mua, dọn đi từ mấy hôm trước. Vợ con tôi, sau khi được tôi giới thiệu về chú Thời đã tự động rút ra nhà sau.

Những năm tháng dài quá nhiều thay đổi có lẽ đã gây ra nhiều khoảng trống cách xa giữa Thời và tôi, nên sau những lời chào hỏi, nhìn lại hiện tại, tôi không biết phải mở lời nói chuyện với Thời như thế nào. Chú Thời của tôi, so với những ngày trước có gầy đi nhiều, khuôn mặt Thời xanh xao và có vẻ trầm ngâm chứ không còn vẻ lanh lợi, tươi tắn như hồi nào.

Sau khi tôi từ chối điếu thuốc từ tay Thời, chú chậm rãi bật lửa, từ từ nhả khói. Gặp tôi, hình như chú muốn nói hết những điều chú ấp ủ bấy lâu nay mà chú không biết nói với ai. Thời cho biết, trên đường vào nam, Thời đã ghé Huế thăm lại bà con và nhất là cha mẹ tôi, và theo chú, mọi sự đều thay đổi, không còn gì như trong trí tưởng tượng mà bao nhiêu năm qua chú vẫn thường nghe qua tin tức.

Bỗng tôi buột miệng hỏi Thời:

-Chú còn nhớ Quỳnh Diên, cố nhân không?

-Quỳnh Diên! Thời lặp lại tên người con gái, có vẻ trầm ngâm một vài giây..Mười bảy năm, từ lúc tôi ra đi, trong lòng tôi vẫn ôm một mối hận, hận người thì ít mà hận đời thì nhiều và trong suốt thời gian ấy tôi chưa lúc nào quên được Diên. Nàng có sung sướng không, cuộc đời trôi giạt về đâu. Những ngày công tác gian khổ, bom đạn, sơ tán…tôi luôn luôn mang hình ảnh Diên theo bên mình và tôi vẫn nghĩ rằng Diên cũng còn yêu tôi như thế. Có lúc tôi nghĩ quẩn việc mình ra đi là một điều thất sách, vì bất mãn chứ không phải vì lý tưởng, do đó với trong những quan hệ và va chạm hàng ngày lòng tôi không bao giờ cảm thấy yên ổn. Trước ngày ra đi, có đêm tôi đã đến đứng thơ thẩn trước ngõ nhà ông Huân,dưới cây đào mà tôi và Diên vẫn thường hay leo lên đó, trước cái hàng rào bông cẩn dài dằng dặc để nhìn vào nhà mong nhìn nàng một lần cuối qua khung cửa sổ có ánh đèn vàng như một thằng con trai lần đầu biết yêu. Nhưng đối với tôi, sau khi mẹ qua đời và sau khi mất Quỳnh Diên, tôi thấy không còn tha thiết gì trên cõi đời này nữa, tôi muốn đi thật xa, muốn chết rấp ở một chốn rừng thiêng nước độc nào cho xong.Thế mà qua bao nhiêu bom đạn, ốm đau tôi vẫn còn sống mà bò về đây, kể cũng lạ.

-Chú đã lập gia đình?

-Một lần. Tôi nghĩ, lấy vợ, có con, sống một cuộc đời tầm thường ở một cái xó xỉnh nào đó, rồi mình cũng sẽ quên tất.Nhưng vợ thì do cơ quan xếp đặët, vì thương hại hơn là yêu, con thì không có. Tôi làm nghề phóng viên chiến trường, đi từ Lào Cai tới Gio Linh, nhưng tuyệt đối không ai cho vào B, vì có lẽ họ cũng phong thanh biết động lực tham gia cách mạng của tôi cũng không có lý do gì xác đáng. Thôi mà như thế cũng xong!

Trở về nam, tôi không ngờ cuộc đời lại có nhiều oái oăm, oan nghiệt như thế.Trong lòng tôi vẫn nghĩ lại chút tình cũ nghĩa xưa và dù thế nào đi nữa, tôi cũng phải ghé lại thăm gia đình Diên, không phải trong tư  cách một người chiến thắng, mà là một kẻ chiến bại – Thời mỉa mai -Bà Huân tiếp tôi lạnh nhạt, một thưa hai bẩm như với một cán bộ cấp cao với giọng đầy oán hận, vì như anh đã biết ông Huân đã chết trong trận tổng công kích Mậu Thân, xác còn chôn trong vườn mà bà không muốn cải táng đi nơi khác, chồng của Quỳnh Diên thì tử trận tại Nam Lào, để lại cho nàng hai đứa con dại.Thơ thẩn trên thềm nhà cũ, tôi vô tình buột miệng hỏi đến cây đào trước ngõ nay chỉ còn lại cái gốc phủ đầy cỏ dại thì bà Huân cay đắng “ người cũng chẳng còn nữa, hỏi chi tới cây!”. Cơ sự như vậy mà tôi lại muốn tìm về cảnh cũ người xưa thì anh nghĩ có điên không ?.

Về Huế, như kẻ hành hương về nguồn cội của mình, tôi  điên cuồng mất trí muốn đi tìm cho được người xưa. Tôi vẫn biết rằng bây giờ mọi sự đã thay đổi nhưng sao trong lòng tôi có một điều gì thôi thúc, tôi hành động như kẻ mù quáng thiếu suy nghĩ. Sau khi gặp lại bà Huân và biết được hoàn cảnh của gia đình Diên, lòng tôi không khỏi ngậm ngùi chua xót, và hơn nữa đây là một sự phũ phàng của định mệnh khiến cái vị thế của tôi lúc bấy giờ trở nên lố bịch.

Vào Saigòn, tôi bươn bả đi tìm Quỳnh Diên theo cái địa chỉ trên mảnh giấy mà em gái Diên đã ái ngại trao cho tôi. Manh giấy ấy tôi đã cất kỹ trong túi áo như một thứ giấy tùy thân. Tôi cũng không biết rằng tôi đi tìm nàng để làm gì, và ví như  gặp Diên thì tôi sẽ nói những gì, than thở khóc lóc như một đứa trẻ thơ cho bõ những ngày nhung nhớ với hình ảnh nàng luôn luôn ở trong tôi, hay  ngậm ngùi  nhìn nhau mà ứa lệ cho một mối tình xa xưa khi hai người qua một thời gian dài mới gặp lạ trong một hoàn cảnh quá éo le.

Tôi đã đứng ở xa xa bên kia đường để ước tính chừng một số nhà và cố hình dung ra những người có mặt trong ngôi nhà đó, nhưng khi tôi bước qua bên kia đường và đi thẳng đến ngôi nhà mang biển số  tôi đã thuộc lòng thì đó lại là một ngôi nhà khác mà cánh cửa ra vào đã được khóa lại bằng một ổ khóa lớn..

Tôi bỗng dưng nhổm người dậy và nói:

– A! Thế là Quỳnh Diên đi Mỹ rồi!

-Phải, tôi đã tìm đến ban quân quản Quận thì họ cho tôi biết chủ ngôi nhà ấy đã bỏ trốn đi nước ngoài, căn nhà đã được tiếp quản, nhưng chủ nhà đi nước nào thì họ không rõ. Để khỏi bị hỏi han lôi thôi, tôi chỉ nói cho họ biết đó là nhà một bà cô họ xa.

Tôi đã đi qua lại ngôi nhà ấy nhiều lần, đôi lúc muốn dừng chân hỏi thăm một người hàng xóm đôi điều về người thiếu phụ chủ căn nhà khóa kín nhưng cuối cùng tôi đành bỏ cuộc.Đôi lúc tôi cũng không hiểu tôi đang làm gì nữa, và tôi hành dộng theo một bản năng rất khó hiểu.

-Không, điều đó cũng dễ hiểu thôi ! Tôi chen vào đểû an ủi Thời.

Hút hết gần năm sáu điếu thuốc và cạn bình trà, tôi chưa kịp mời chú ở lại dùng cơm trưa thì Thời đã đứng dậy cáo từ.

-Thế bây giờ chú đi đâu?

-Họ đã sắp xếp chỗ ăn ở cho tôi ở Hội Nhà Văn ở đường Nguyễn Du. Tuần sau, tôi xuống Cần Thơ, rồi chú cháu mình thế nào cũng gặp nhau lại.

Bắt tay tôi lần cuối khi còn đứng ở ngoài cổng nhà, lần nay Thời thực sự xúc động. Chú nhìn tôi khá lâu và đột nhiên chú nói, giọng có vẻ bùi ngùi:

-Có lẽ phải lâu lắm chú cháu mình mới gặp nhau lại.

Nhìn dáng đi của Thời có vẻ hấp tấp như trốn chạy một điều gì. Chú tránh tôi, một thằng cháu, một đứa bạn thân tình mà bây giờ số phận của kẻ thất trận như cá nằm trên thớt, hay chú tránh một đoạn đời đã để lại nhiều kỷ niệm khó quên.

Sau này khi tôi bị tập trung ra bắc, có lần mẹ tôi ra thăm tôi tận Bắc Thái, bà cho biết tin Thời được điều động đi Kampuchia, bị mất một chân vì mìn cá nhân. Cuối cùng Thời an phận trở lại Thanh Hóa sống với người vợ chú đã kết hôn trong thời gian ở Bắc.Từ đó tôi không còn nghe gì về tin tức của Thời nữa.

 Kể lại chuyện này, tôi chỉ lo ngại có một điều là câu chuyện này có một lúc nào đó sẽ xuất hiện dưới mắt của Quỳnh Diên. Bốn mươi năm rồi, hai người đã có hai cuộc sống riêng quá cách biệt, công bình mà nói, nếu có, nỗi đau của cô Diên ngày xưa chắc đã qua, nhưng vết thương của Thời, tôi nghĩ hãy còn đau đớn lắm mỗi khi trời trở nắng, chuyển mưa…

Huy Phương

Chết dễ hơn là sống?

hung-viet.org

Post 27 Apr 2020

Huy Phương

Post by Sơn râu 13 Feb 2024

Kính gửi Ông Nguyễn,

Xin cám ơn tình cảm của ông muốn đọc một bài của chúng tôi viết về sự ra đi của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo. Mặc dầu có hân hạnh quen biết Thiếu Tướng qua cả hai thời kỳ trước và sau biến cố 1975, tôi cũng chưa dám “cái quan luận định” về nhân vật đáng kính này. Thay vào đó, cũng như nhân ngày 30 Tháng Tư sắp đến, chúng tôi xin gửi đến ông và độc giả bài viết “Chết dễ hơn là sống?” để chúng ta hiểu thêm phần nào cái khó khăn của người trong cuộc khi phải chọn giữa cái chết và cái sống trong bước đường cùng! (HP)

***

Nói một cách đơn giản “chết dễ hơn là sống,” cũng có thể hiểu rằng chọn cái sống muôn vàn khó khăn hơn là chọn cái chết. Cũng xin nói thêm rằng, xưa nay không ai gọi những người sống là anh hùng.

Trần Bình Trọng thách thức kẻ thù trước khi bị giết. Nguyễn Biểu thản nhiên dự bữa tiệc đầu người, bị Trương Phụ cột vào chân cầu, cho nước thủy triều dâng lên mà chết. Rồi Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Phan Thanh Giản cũng chọn cái chết mà trở thành anh hùng. Tháng Tư năm 1975, miền Nam chúng ta cũng có những tướng lãnh anh hùng không chấp nhận sự sống trong nỗi nhục mất nước.

Nói về những anh hùng của nước Nhật, sau khi Okinawa lọt vào tay quân đội Mỹ, Tướng Ushijima và Tướng Cho quỳ gối và tiến hành lễ tự sát. Tướng Cho đưa cổ cho Đại Úy Sakaguchi chém đầu, và Tướng Ushijima lấy gươm tự mổ bụng tự sát cùng với bảy sĩ quan tham mưu trong binh đoàn.

Năm 1945, sau khi Mỹ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima và Nagasaki, đưa đến việc Nhật Hoàng phải đầu hàng, nhiều tướng lĩnh và sĩ quan đã tự sát vì danh dự và không chịu nổi điều ô nhục, trong đó có Bộ Trưởng Lục Quân Anami, Đại Tướng Cựu Tổng Tham Mưu Trưởng Sugiyama, Đại Tướng Tư Lệnh miền Đông Tanaka…

Người đời vẫn xem thường những ai chọn cái sống và không xem họ là những anh hùng. Chúng ta còn nhớ Tổng Thống Donald Trump trong một cuộc vận động tranh cử đã phát biểu Thượng Nghị Sĩ John McCain không phải là một anh hùng trong chiến tranh, vì đã bị cầm tù bởi đối phương.

Hai trong bảy quy tắc đạo đức mà các võ sĩ samurai Nhật Bản phải tuân theo, phản ánh tinh thần võ sĩ đạo rất sắc nét, mạnh mẽ, là can đảm và danh dự. Đối với một quân nhân VNCH là trách nhiệm và danh dự, những điều tâm niệm cho binh nghiệp của mình và đã chọn cái chết vì nhận ra mình không tròn “trách nhiệm,” cũng như “danh dự” bị tổn thương. Trong những phút bức bách cuối cùng này, một người chọn cái chết cho mình, là một điều dễ dàng hay khó khăn?

Tượng chiến sĩ VNCH tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt – Mỹ, thành phố Westminster, California. (Hình: David McNew/Getty Images)

Những vị tướng lãnh tự sát vì quốc nhục giờ đầu hàng, là những vị có bản chất anh hùng, trọng danh dự, khí khái, không biết quỵ lụy, khó có thể sống qua những ngày tù tội, đói khát và nhất là luôn luôn bị lăng nhục bởi những kẻ thắng trận từ các hang động trở về. Ai cũng có một mạng sống đáng quý, một gia đình để yêu thương và một đất nước để phụng sự, trong hoàn cảnh này, điều gì được cho là đáng quý hơn hết? Chọn giữa chết hay sống phải là một điều rất khó khăn?

Liệu trước một tương lai, đau đớn, mù mịt, với mười bảy, mười tám năm tù, gia đình ly tán, tấm thân sẽ phải chịu bao nhiêu nỗi nhọc nhằn đau đớn và tủi nhục, liệu chúng ta có can đảm nhận lấy sự sống hay không? Tôi nghĩ chúng ta có thể quyết định về cái chết của chúng ta trong vài mươi giây hay có thể lâu hơn chút nữa, nhưng chọn cái sống, chúng ta phải dằn vặt bao nhiêu ngày và can đảm sống từng giờ, từng phút, đôi khi chưa biết điều gì có thể xẩy ra cho chúng ta trong những ngày đang tới.

Vì vậy khi đặt câu hỏi với nhiều người về những ngày cuối Tháng Tư, 1975, về cái chết và sự sống, phần lớn câu trả lời là: “Có lẽ chết dễ hơn là sống!”

Phật Giáo quan niệm cái chết chỉ là một sự chuyển tiếp, một hiện tượng hay biến cố trên dòng tiếp nối liên tục của sự sống. Thiên Chúa Giáo, chủ trương rằng, dựa vào niềm tin của một người vào Chúa Giê-su (Jesus) như là Chúa cứu thế của loài người, người ta sẽ được lên thiên đường hay xuống địa ngục.

Mặc dù có những miêu tả về những vấn đề thưởng hay phạt, thiên đường hay địa ngục ở trong nhiều tôn giáo, không ai có thể xác minh một cách rõ ràng sự hiện hữu của chúng. Nhiều người đi tìm cái chết vì chán sự sống hay sợ hãi sự sống. Ở đây chúng ta không đi tìm một chứng minh cho hai cõi chết và sống, cũng không lên án những người đã chọn cái chết cho mình là đúng hay chấp nhận sự sống lúc bấy giờ là đúng. Điều khó khăn của người trong cuộc là khi phải chọn giữa cái chết và sự sống trong bước đường cùng.

Thì những điều cụ thể đã đặt ra trước mắt chúng ta, sống là phải chấp nhận, chịu đựng trong một thời gian dài, và sống không phải là quỳ gối hay bò lết, mà sống được đứng thẳng, có nhân cách.

Chúng ta nghiêng mình trước những tấm gương uy dũng của những người đã không chấp nhận số phận an bài, tự tìm đến cái chết; nhưng chúng ta cũng không khỏi khâm phục, những người đã chọn cái sống, chấp nhận phần khó khăn, chịu trách nhiệm về những hành động của mình.

Chúng ta kính trọng những cái chết nhưng cũng phải cúi đầu trước những cái sống, vì chúng tôi biết rằng, sống cho ra con người, có lẽ cũng phải chịu muôn vàn khó khăn hơn là chọn cái chết. Chết chỉ là khoảnh khắc, nhưng chọn cái sống là chịu đựng triền miên suốt cả một cuộc đời!
Chúng tôi xin trích dẫn một câu nói của nhà giáo Phạm Toàn, ông là người đồng sáng lập trang Bauxite Việt Nam: “Chết đẹp đã là rất khó. Nhưng chết đẹp là quyết định của một khoảnh khắc. Còn để sống đẹp, là cả một đời, là dằng dặc những chuỗi lựa chọn và từ bỏ cám dỗ, thật ít ai làm được.”

Huy Phương



Bước khởi đầu trên đất mới

hung-viet.org

Post 14 May 2018

Huy Phương

Post by Sơn râu 13 Feb 2024

Miền Nam bị Cộng Sản cai trị đã 43 năm. Người cựu tù nhân chính trị được cứu vớt theo diện nhân đạo của chính phủ Hoa Kỳ đến Mỹ, người đến sớm nhất tính cũng đã hai mươi tám năm. Hai mươi tám năm là một đoạn đường dài đủ cho một đứa trẻ sinh ra, lớn lên, học hành thành đạt, lập gia đình và có những đứa con. Hai mươi tám năm để cho những đứa con và cháu có mũ áo xênh xang ngày ra trường, có một gia đình hạnh phúc, có những ngôi nhà khang trang lưng đồi, mé biển, cha mẹ chúng phải trải qua bao nhiêu nỗi khó khăn, nhọc nhằn của một người di dân tị nạn, sau một thời gian trong trại tù tập trung của Cộng Sản đến định cư trên một vùng đất xa lạ.

Hai gia đình H.O. mới đặt chân đến phi trường John Wayne, California năm 1992. (Hình: Huy Phương trích trong Chân Dung H.O.)

Trừ những gia đình có con vượt biển qua trước đã thành đạt, giàu có trên đất Mỹ, còn thì sau một thời gian nhận trợ cấp xã hội, gia đình nào cũng phải lo kiếm tiền, trả tiền ăn, tiền ở để sống còn. Tuy được tự do, nhưng ngày tháng trước mắt còn dài, tương lai dường như vô định, cứ nhìn khuôn mặt của hai gia đình trong bức hình trong bài này, chẳng thấy ai có được một nụ cười, dù là những đứa trẻ vô tư. Điều ám ảnh của mọi người là làm nghề gì? Sức vóc không đủ làm nghề xây dựng, tiếng Anh cũng quờ quạng chưa đủ đi làm sở Mỹ, tài năng riêng không có để kiếm việc. Sau khi các anh em cựu quân nhân ra tù, bần cùng phải kiếm nghề để đủ rau cháo qua ngày, đặt chân đến Mỹ lại phải một lần nữa đổi đời, cũng cần miếng ăn, cái mặc. Nếu quý bạn sau vài tháng hay một năm kiếm được một chân công nhân làm assembler hay khuân vác trong nhà kho của một công ty có đồng lương cố định, có bảo hiểm sức khỏe, ngày nghỉ bệnh, thì nghề của bạn không được chúng tôi nêu lên trong bài báo này.

Cũng như đối với nhũng người vượt biên, vượt biển hay được bảo lãnh sang đây chúng tôi cũng không đủ dữ kiện để viết một bài phóng sự. Ở chỗ “đồng hội, đồng thuyền,” cùng hoàn cảnh, bài tạp ghi hôm nay chỉ gói gọn trong chỗ anh em, từ những viên chức của chính thể VNCH, bị cộng sản tập trung vào nhà tù không bản án từ năm 1975, cuối cùng được chính phủ Mỹ thương thảo với kẻ thù cũ, cho chúng ta có cơ hội đến đây, đợt đầu tiên là từ Tháng Giêng,1990. Trước hết, phổ thông nhất là nghề may. Gia đình nào cũng có một hai phụ nữ, là may vá là sở trường của đàn bà, và kể cả đàn ông, ai cũng làm được. Nghề này được gọi đùa là nghề “ngồi rung đùi ăn tiền,” tuy vậy cũng không phải dễ dàng kiếm được đô la. Thời đó, đã có những shop may, những nhà thầu may mặc, họ phân phối sản phẩm lại cho người có nhu cầu, có khi qua một hai trung gian. Cô con gái đầu của tôi may suốt một tuần, quên cả bữa ăn, nhưng chỉ kiếm được bốn chục bạc. Nhiều gia đình, vợ chồng, mẹ con phụ nhau cật lực cùng may, bất kể giờ giấc, có khi ngủ gục trên bàn máy may.

Nói đến nghề may, chúng tôi không làm sao quên được chuyện đổi đời của một vị bác sĩ quân y trước kia phục vụ tại TYV Nguyễn Tri Phương, Huế. Thời gian trận Hạ Lào xảy ra năm 1972, ông đứng trong phòng giải phẫu có khi một ngày hơn 15 tiếng để giải phẫu cho thương binh (chắc chắn là có một khâu gọi là may lại vết thương). Sang Mỹ chậm, học lại nghề khó, ông đành vào shop may, giao nghề may lại cho vợ, nguyên là cô giáo, còn ông thì hành nghề “cắt chỉ,” vì thứ chỉ này không phải là loại chỉ “tự tiêu!” Làm ở shop may, mỗi người mỗi việc: may, cắt chỉ, đóng khuy hay ủi. Nhiều anh em khởi nghiệp ở xứ “thiên đàng” này bằng nghề bỏ báo Mỹ, một nghề tuy dễ mà khó ăn. Người vào nghề phải có một cái xe hơi tàng tàng và có bảo hiểm, nói tàng tàng là vì làm nghề giao báo rất dễ hao xe, mà dân mới đến Mỹ cũng không ai có xe mới. Xe chạy tốc độ chậm, chở không dưới 500 pound, “tam bộ nhất bái,” “bước đi một bước, lâu lâu lại dừng,”chạy một đoạn ngắn, lại phải dừng xe. Cửa xe phía phải mở, tay phải mạnh và quẳng báo đi xa, ít nhất là vào trước cửa nhà. Đây là một nghề “đi đêm,” vì làm nghề này phải chịu khó dậy sớm lúc 2, 3 giờ sáng để đến nhà in nhận và cột báo, vì tất cả “round” báo 300 tờ phải “liệng” trước nhà người mua trước 6 giờ sáng. Tay lái phải vững, trời còn tối, có khi sương mù, mà xe thiên hạ phần lớn lại đậu ngoài đường, rất dễ gây tai nạn. Trời có nơi lạnh buốt, nhất là vào lúc đêm khuya nhưng phải xuống kính xe để vứt báo. Có người lại chở con trai hay vợ theo, hai người ăn một đồng lương, ăn ít nhưng chắc, cha lái, con hay vợ ngồi bên liệng báo. Phần đông chỉ làm một thời gian ngắn rồi đổi nghề, vì quá vất vả, nhưng đây cũng là một trong những nghề của những người mới sang, người sau kẻ trước. Mỹ đâu phải là nơi người ta có thể lượm đô la ngoài đường.

Gia đình người bạn tôi văn hay chữ tốt thì làm nghề viết thư. Đây là công việc của các công ty quảng cáo. Mỗi lá thư chỉ viết vài dòng bằng tay. Theo tâm lý người tiêu dùng, nhận được một lá thư quảng cáo bằng mực in hàng loạt không tin cậy bằng vài chữ viết tay. Mỗi lá thư khoảng năm 1995 được trả khoảng 50 cent, không phải lao động vất vả, lại được ngồi nhà lo cơm nước, trông cháu, mỗi tháng hai vợ chồng kiếm được hơn $600, cũng tạm ổn. Ngày nọ, tôi gặp một người bạn đang hành nghề hướng dẫn các em chậm phát triển, để các em có thể đi ra ngoài sinh hoạt như người bình thường. Buổi sáng phải đón các em từ gia đình hay chỗ ở của quận hạt, chở các em vào công viên, vào các siêu thị hay ghé quán ăn trưa. Nghề này không vất vả, nhưng đầu óc căng thẳng vì phải có tinh thần trách nhiệm cao, mắt không bao giờ rời các em. Có lần, một em trong toán đang lúc ăn trưa, không để ý, bị hóc, ngạt thở, phải chở đi cấp cứu, bạn tôi về sợ quá xin nghỉ việc luôn. Ở miền Đông với khí hậu giá buốt, dân H.O. làm những nghề như hái trái cây rất vất vả vì phải còng lưng suốt này, tay chân thì lạnh buốt. Ở những vùng như Philadelphia, thường có những nhà thầu Việt Nam, tuyển người cho các công ty dịch vụ, hái trái cây, hãng giấy, xưởng gỗ, sáng chở nhân công đi, chiều chở về, không bảo hiểm, không có ngày nghỉ ăn lương.

Ở Chợ Cá thủ đô Washington DC, tôi đã có dịp tiếp xúc với hai “chiến hữu” mới sang sau những năm tháng tù đày. Hai anh làm nghề “security” cho Chợ Cá, với đồng lương tối thiểu, không nặng nhọc gì, nhưng suốt ngày phải đứng giữa trời, mùa Hè không nói, nhưng vào mùa Đông, có hôm nhiệt độ xuống mức đông đá hay tuyết rơi dày đặc, áo quần hai ba lớp cũng rét run. Có điều an ủi, các anh cho biết là mấy năm nay, nhà khỏi tốn tiền mua cá. Không biết các anh chịu đựng được bao lâu mới bỏ nghề, nay về già có bị bệnh phong thấp hay không? Có lẽ tôi cũng xin phép kể vài dòng về cái tôi đáng ghét trong những ngày đầu đến Mỹ. Vừa hết trợ cấp, một người bạn giới thiệu cho một chân tài xế riêng cho một ông cụ. Ông này gốc tỷ phú ở Sài Gòn, vẫn thường tổ chức ăn uống, bài bạc với quý vị Tướng Lãnh, nên tài xế riêng là một cựu đại úy thì cũng là điều phải chăng. Tôi chỉ hơi trách một người giàu có như ông, sao không thuê một tài xế kinh nghiệm lâu năm dù đắt giá, lại giao sinh mạng cho một anh H.O. mới có bằng lái xe ở Mỹ ba tháng, để chỉ trả có $6.25 một giờ. Tôi chỉ mới lái xe ra freeway một hai lần, nhưng ngày đầu tiên, ông chủ cần đi khám bệnh ở UCLA, tôi cũng đành tuân chỉ lên đường. Công việc hàng ngày của tôi ngoài việc đưa ông đi bệnh viện, đi thăm ngôi nhà đang xây cất ngoài biển, còn đưa ông đi thuê hay đổi phim “For Adults Only.” Những lúc không đi đâu, nhiệm vụ tôi là lau, rửa xe, xăng nhớt sẵn sàng. Thỉnh thoảng bà chủ nhờ ra chợ mua miếng thịt, mớ rau, hay được tin cậy hơn là đem tiền đi gửi ngân hàng. Những lúc bà chủ cần đi đâu ra phố, bà rất tế nhị xin phép ngồi ở ghế sau kẻo người ta dị nghị, khác với ông chủ rất uy quyền, trịch thượng. Nếu ngày đó anh em thấy tôi đang lái một cái xe Cadillac bóng lộn, chở một mệnh phụ phu nhân ngồi ở ghế sau, thì tất anh em cũng thông cảm, hiểu cho nghề nghiệp của tôi. Một hôm thấy bác tài quá rảnh rỗi, bà chủ gọi tôi: “Chú vào chùi cái ‘sing’ trong bếp giúp tôi!” Thì cũng phải thôi, ăn cơm Chúa thì múa cho hết giờ! Cực nhọc tôi chịu nhưng chớ làm nhục tôi. Một ngày nọ, lái xe đưa ông chủ lên bệnh viện UCLA, ông bảo tôi đỗ xe ở chỗ cấm, trong khu vực nơi có đường đi bộ để nhân viên bệnh viện ra vào. Không nghe lời ông, tôi đỗ xe trước đó vài thước. Trước mặt cô y tá vừa đẩy cái xe lăn ra đón ông, ông hầm hầm vung vẩy cái “can” chỉ vào mặt tôi và chửi: “Stupid!” Trên đường về tôi chẳng nói mà cũng chẳng than phiền. Về đến nhà, tôi giao chìa khóa xe cho bà chủ và nói: “Thưa bà, bắt đầu ngày mai tôi nghỉ làm, để ông chọn một người tài xế khác vừa ý ông hơn!”

Sau đó, nghề nào cũng được ba tháng vì xuất thân là lính văn phòng không có sức khỏe, không kham nỗi cực nhọc. Tôi bắt đầu thực sự trở lại nghiệp báo với chức vụ Phụ Tá Chủ Bút cho một tuần báo ở Little Saigon, nhưng cũng không bền. Năm 1994, nghe lời dụ dỗ của bạn bè tôi mang cả gia đình bay sang Philadelphia vì nghe nói việc nhiều, đi hái trái cây cũng đủ sống. Mặc dầu đã ở bước đường cùng, nhưng không chịu nổi thời tiết giá lạnh, và công việc vất vả, tôi lại chuyển sang Virginia, đi làm nghề chùi rửa, hút bụi cho Hotel Marriott ở DC. Nhiệm vụ của tôi là mang một cái bình hút bụi nặng 15 kg trên lưng, như anh chàng “rocketeer,” bay đi khắp mấy tầng lầu. Sau đó tình cờ gặp một người bạn cũ ở Cục Tâm Lý Chiến đang làm Lab Manager cho công ty One Hour Ritz Camera. Thấy tôi vất vả, anh giới thiệu tôi vào nghề ảnh với anh, nhưng thương bạn, sợ người ta không nhận, anh chỉ xin lương của tôi bắt đầu với $5.00 một giờ. Tuy lương thấp nhưng từ nay tôi an tâm về cái mục bảo hiểm sức khỏe, và những ngày nghỉ phép có lương. Năm 1999, ở miền Đông lạnh và buồn, tôi quyết định trở về Nam Cali, được tiếp tục làm việc ở công ty cũ, có tiệm ảnh ở thành phố Santa Ana. Tiếc là 10 năm sau, đủ 40 quarter, “lên chức” Lab Manager, nhưng đồng lương lúc về hưu chỉ có $9.50 mạt hạng! Cuối cùng cái “nghiệp” truyền thông lại đeo đuổi, ở tuổi xế chiều, tôi viết báo, in sách, làm talk show trên đài phát thanh và truyền hình. Nhớ lại quãng đời 28 năm trên đất Mỹ, vui buồn lẫn lộn, nhưng suốt 28 năm nay, vẫn chịu cảnh nhà thuê. Những em bé trong bức ảnh trên bài này nay đã trưởng thành, có gia đình, địa vị trong xã hội, nhưng không biết các em có còn nhớ những ngày đầu “chân ướt chân ráo” đến Mỹ, được cắp sách dến trường, trong khi cha mẹ các em đã vất vả biết là dường nào để làm lại cuộc đời không?
Cha mẹ các em sang đây, làm lụng vất vả để nuôi con, nhưng cũng có người trở lại trường, tốt nghiệp những văn bằng cao, sinh hoạt trong dòng chính và nhất là hãnh diện có được một thế hệ tiếp nối thành công, không bõ công những năm tháng tù đày và những ngày đầu gian khổ ở Mỹ.

Huy Phương



Chiến Tranh Bên Cạnh Tình Yêu

Huy Văn Trương

Post by6 Sơn râu 13 Feb 2024

Hình minh họa

Bài 6

Cũng toan, tính toán với tình

Tôi đang chăm chú ôn bài cho kỳ thi sắp tới, nên không biết Thiếu tá Hưng trưởng Phòng hành quân bước vào.

-Trung úy làm gì đó?

Khi nghe tiếng nói của ông, tôi mới giật mình.

-Thưa thiếu tá, tôi đang học bài.

Thiếu tá Hưng kéo ghế ngồi đổi diện với tôi, rồi nói:

-Gốc của trung úy cũng bự dữ.

-Thưa thiếu tá, tôi không hiểu ông nói gì.

-Về trường Võ Bị, làm ở khối tham mưu không có gốc, không chạy chọt làm sao về được.

-Thưa thiếu tá, ngày còn học ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung, với bài trắc nghiệm định hướng không biết tôi làm như thế nào mà khi ra trường được đưa về Trường Võ Bị Đà Lạt. Chuyện đó, tôi hoàn toàn không biết được.

-Gia đình trung úy ở đâu.

-Dạ Đà Lạt.

-Ba trung úy ở trong quân đội?

-Thưa không, ba tôi là thợ mộc.

-Chắc trung úy có bà con làm lớn trong quân đội?

-Thưa không.

-Như vậy, gia đình trung úy quen biết thế nào với Đại tá Tham mưu trưởng.

-Ba tôi là thợ mộc, làm sao quen với Đại tá Tham mưu trưởng được.

-Có chuyện hơi lạ, tao không hiểu được.

-Chuyện gì vậy, thiếu tá?

Thiếu tá Hưng lắc đầu, đưa hai tay lên trời rồi ông móc trong túi ra tấm giấy.

-Đây là tờ giấy phép bảy ngày, cấp cho Trung úy Nguyễn Trọng Quân với chữ ký của Đại tá Tham mưu trưởng.

Tôi như từ trên trời rót xuống.

-Thưa thiếu tá, nếu tôi muốn xin nghỉ phép phải làm đơn chuyển theo hệ thống quân giai, đơn của tôi phải qua ý kiến của thiếu tá. Tôi đâu có làm đơn xin nghỉ phép.

-Tao cũng nghĩ như vậy, nhưng tại sao lại có tờ giấy phép này?

Tôi góp ý với ông:

-Hay là phòng nhân viên làm lộn. Thiếu tá trình với Đại tá Tham mưu trưởng coi lại đi, lộn là cái chắc.

Thiếu tá Hưng cười hớn hở.

-Chú mày có lý, để tao đi hỏi lại.

Tôi để ý, hình như ở trong trường chỉ có một mình Thiếu tá Hưng thường xưng hô mày tao với tôi. Tôi vừa tiếp tục ôn bài vừa lẩm bẩm, lâu lâu cũng phải có lầm lẫn, điều chỉnh mấy hồi.

Chừng mười lăm phút sau, Thiếu tá Hưng bước vào phòng với gương mặt không được vui cho lắm.

-Tao vừa gặp Đại tá Tham mưu trưởng, ổng nhìn tờ giấp phép rồi gằn giọng khiến tao muốn chết đứng “Đúng rồi, tôi ký tờ giấy phép đó”.

Thiếu tá Hưng nói mà như là năn nỉ tôi:

-Chú mày làm ơn đi phép giùm tao, đừng có lôi thôi hỏi tới, hỏi lui. Mày càng hỏi nhiều, tao càng dễ có cơ hội ôm ba lô ra Quảng Trị phòng thủ Cổ thành. Quân đội mà mày, thi hành trước, khiếu nại sau.

Tôi cầm tờ giấy phép rồi nói:

-Thưa thiếu tá, đang làm việc mà bỏ ngang, ai trực hành quân thay tôi?

Hình minh họa

-Chuyện đó tao lo, chuyện chú mày bây giờ là đi phép.

Đang làm việc bị đi phép, không biết làm gì tôi bèn về cư xá để thay đồ rồi lên Viện đại học. Gần bảy giờ tối tôi mới trở lại cư xá sĩ quan, ba tôi đã đợi ở đó từ lúc nào, gương mặt ông có vẻ giận dữ.

-Con đi đâu mà bây giờ mới về?

-Con đi học.

Khi nghe tôi nói đến hai chữ đi học gương mặt ông liền đổi sắc.

-Vậy hả, ba đâu có biết.

Tôi vừa mở cửa phòng vừa hỏi ba tôi.

-Ba tìm con làm gì?

-Ba có chuyện quan trọng muốn nói với con.

-Ba ăn cơm chưa?

-Chưa.

-Vậy ba với con ra quán bánh xèo, vừa ăn vừa nói chuyện được không?

Sau khi cất sách vở, tôi cùng ba tôi đi bộ ra khu Hòa Bình, quẹo xuống ngã ba đường Minh Mạng và Tăng Bạt Hổ, nơi có quán bánh xèo bình dân, nằm bên hông của một tiệm bán đồ sắt. Đây là quán bánh xèo ngon nổi tiếng của Đà Lạt.

Ông chủ quán bánh xèo tên Năm, vui vẻ hỏi tôi:

-Trung úy mạnh giỏi.

Tôi trả lời:

-Quá mạnh giỏi, còn chú Năm khỏe không?

-Không khỏe làm sao đổ bánh xèo cho trung úy ăn.

Quay sang nhìn ba tôi, chú Năm hỏi:

-Bác đây là gì của trung úy?

-Ba tôi đó chú Năm.

-Hèn gì trông giống trung úy quá sức. Bác với trung úy ăn bánh lớn hay nhỏ.

Tôi nói:

-Bánh lớn.

Chú Năm nói với ba tôi:

-Ông bác thật là có phúc, trung úy đây trẻ tuổi, lại làm ở Trường Võ Bị. Suốt đời, tôi chỉ ao ước được vô thăm trường một lần cho thỏa chí mà không được.

Tôi vỗ vai chú Năm.

-Hôm nào Võ Bị có lễ mãn khóa, tôi sẽ mời chú vô trường.

Chú Năm cười khoái chí.

-Trung úy nhớ đó nghe.

-Tôi nhớ mà, chú yên chí đi.

Chú Năm, đưa hai dĩa rau sống đầy vun tới trước mặt ba tôi và tôi. Ông nói nhỏ với tôi:

-Mỗi dĩa bánh của trung úy, tôi bỏ vô ba con tôm thứ bự, ngon khỏi chê.

Ba tôi chỉ ăn một cái bánh xèo rồi buông đũa, ông vừa uống nước trà vừa kể:

-Cái năm Nhật đảo chánh, ba với bác Bảy bỏ xứ vô Nam. Con không biết bác Bảy đâu, ổng với ba là bạn từ thủa hai đứa còn mặc quần lủng đáy, đi chăn trâu ở ngoài xứ. Khi xe lửa tới ga Tháp Chàm, thay vì lên Đà Lạt với ba, bác Bảy lại đổi ý đi vô Sài Gòn. Dễ chừng hai mươi bảy hay hai mươi tám năm rồi ba không có tin tức gì của bác ấy. Tuần rồi, ba tình cờ gặp lại bác Bảy ở chợ hoa Đà Lạt. Bác Bảy bây giờ có khác lúc xưa, nhưng ba vẫn nhận ra bác ấy nhờ bước đi hơi khập khểnh vì bị con trâu của ông Hương Bộ Hoạch húc hồi nhỏ. Vợ chồng bác Bảy lên Đà Lạt chơi, nhân tiện thăm cô con gái tên là Cúc đang học ở Viện đại học Đà Lạt. Cô ấy đang ở nội trú trong trường. Con có biết cô Cúc không?

Hình minh họa

-Ba à, trên Viện đại học có cả chục ngàn sinh viên, làm sao con biết ai là ai, cô nào là cô Cúc.

Ba tôi không buồn nghe tôi nói, ông kể tiếp:

-Khi biết con là trung úy trong Trường Võ Bị, lại đang tiếp tục học đại học bác ấy mừng lắm, khen con là người học giỏi, có chí.

Chuyện gì chứ khoe tôi học giỏi, không ai bằng ba tôi.

-Làm sao bác ấy biết con học giỏi.

-Ba nói cho bác ấy biết.

-Bác có tin không?

-Không tin mà ngày hôm sau bác Bảy và vợ xuống Trại Hầm thăm ba, ổng nhờ con đưa giùm cô Cúc, con của bác ấy về Sài Gòn.

Ba tôi lần trong túi quần lấy ra hai tấm giấy.

-Đây là hai cái vé máy bay, ngày mai con đưa cô Cúc về Sài Gòn, ở nhà bác ấy chơi vài ngày. Bác Bảy muốn coi mặt con, hỏi con vài chuyện.

Tôi cứ nghĩ là ba tôi đùa, mặc dầu từ trước đến giờ, tôi chưa bao giờ thấy ông nói đùa. Tôi cằn nhằn:

-Ba à, con còn phải đi học. Hơn nữa con đang ở trong quân đội, làm gì mà có thì giờ để hộ tống cái cô Cúc gì đó về Sài Gòn.

Ba tôi nói tỉnh queo.

-Con vừa có cái phép bảy ngày mà.

Tôi giật thót người, chỉ có thiếu tá trưởng phòng biết tôi đi phép, làm sao mà ba tôi cũng biết được chuyện này.

-Ai nói cho ba biết là con có cái phép bảy ngày?

-Bác Bảy chớ ai, bác nói với ba là đã xin cho con cái phép bảy ngày.

Ngạc nhiên quá sức, tôi vội hỏi ba tôi:

-Bác Bảy ở trong quân đội hả ba? Ổng mang cấp bậc gì?

-Bác Bảy không có dính dáng gì với lính, ổng chỉ lo kinh doanh buôn bán thôi. Nghe đâu ông ấy là ông trùm nhà cửa ở Sài gòn.

Tôi nghĩ, kinh doanh buôn bán gì mà cái phép của một thằng sĩ quan trong quân đội, muốn xin là được ngay, quả thật ông bác Bảy này không đơn giản tí nào. Tôi biết mình đang ở vào thế kẹt, đành phải thi hành lệnh thôi.

-Con chỉ đưa cô Cúc về Sài Gòn thôi, phải không ba?

-Ừ, con sẽ ở nhà bác Bảy vài ngày, bác ấy chỉ muốn chuyện trò với con, sau đó con đưa cô Cúc về lại trường.

-Hiện giờ cổ đang ở đâu?

-Nghe nói, nó ở nội trú trong trường.

-Được rồi, con sẽ làm đúng những gì ba dặn.

Ba tôi cười vui vẻ, ông uống thêm một hớp nước trà rồi nói:

-Ba tin con, bây giờ ba phải đi về.

Thực sự, nếu muốn từ chối không đưa cô Cúc về Sài Gòn cũng được nhưng tôi không nở. Phần vì thương ba tôi, một phần tôi cũng có đôi chút tò mò về cô Cúc. Bấy lâu nay tôi sống với mối tình đầu của mình, lúc nào tôi cũng nhớ Dung. Ba năm, rồi lại bốn năm, thời gian trôi qua vùn vụt, riêng tôi si tình rồi để tang cho mối tình đầu chừng đó năm cũng đủ rồi. Tôi vẫn nghĩ, đến một lúc nào đó tôi phải quên Dung, có lẽ đây là cơ hội giúp tôi xóa bỏ bóng hình Dung trong tim tôi. Chuyện có được hay không? Chưa biết, tôi phải tìm hiểu thêm về Cúc.

Tôi đón Cúc ở ký túc xá của nữ sinh viên Đà Lạt. Nhận xét đầu tiên của tôi về Cúc là nàng không đẹp, bốn điểm trên mười không thể gọi là đẹp được, nhưng nhờ vào cách ăn mặc với bộ quần áo đắt tiền, đôi giày cao gót da cá sấu, sợi dây chuyền bạch kim với trái tim nửa vàng nửa trắng nơi cổ, chiếc vòng ngọc nơi tay, khiến cho sắc đẹp của người con gái tăng thêm vài phần. Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phân. Tôi nhủ thầm, coi cũng tạm được.

Hình minh họa

-Thưa cô, tôi là Quân. Xin hỏi cô có phải là Cúc không?

-Dạ phải.

-Bác Bảy dặn tôi, đến đưa cô về Sài Gòn.

-Dạ, em có nghe ba em nói hồi hôm qua.

Tôi hơi ngạc nhiên:

-Bác Bảy còn ở Đà Lạt à?

-Dạ không, ba em ở Sài Gòn, ổng gọi điện thoại cho em tối hôm qua.

Khi biết chắc, người con gái đứng trước mặt mình là Cúc, tôi đổi cách xưng hô.

-Em đã sẵn sàng chưa?

-Dạ chưa.

-Anh đợi em hai chục phút thôi, lẹ lẹ lên.

Hai chục phút sau, tôi xách va li của Cúc rồi cùng nàng đi bộ ra bến xe lam ở ngã năm Đa Thiện. Vừa đi tôi vừa nói:

-Bốn giờ chiều, phi cơ sẽ cất cánh ở phi trường Liên Khương, mình còn dư nhiều thời giờ. Em đói bụng không?

-Dạ, cũng hơi đói.

Tôi đưa Cúc tới quán cà phê bình dân của chị Huệ ở đường Phan Bội Châu. Cúc nói với tôi:

-Mình lại nhà hàng Shanghai đi anh.

Tôi chợt nhớ ra là mình đang đi với một cô gái con nhà giàu. Tự ái của thằng con trai, mặc cảm con nhà nghèo khiến tôi nói với Cúc, giọng nói cộc cằn, không một chút lịch sự:

-Anh hai mươi bốn tuổi, khi anh mới sanh ra nhà hàng Shanghai đã có ở đó rồi, có từ thời mấy ông Tây thuộc địa cỡi ngựa tới Chic Shanghai ăn uống. Chừng đó năm, anh đã đi qua nhà hàng này cả hàng triệu lần, chỉ một lần duy nhất anh bước chân vào đó, không dám ngồi ở phòng ăn, chỉ ngồi phòng ngoài uống ly cà phê, ăn một dĩa khoai tây chiên. Ăn khoai tây chiên rồi uống cà phê, đúng là nhà quê lên tỉnh nhưng trong thực đơn, đó là hai món rẻ nhất. Hôm nay, anh đưa em vào đó ăn trưa. Nếu em ăn một bữa ăn đúng nghĩa, một phần tư tháng lương của anh sẽ bay cái vèo. Anh sẽ đưa em tới đó, đứng ngoài đợi em ăn, được không?

Cúc lúng túng ra mặt, giọng nói của nàng không được bình tĩnh cho lắm:

-Em đâu có biết, lần nào lên thăm em, ba cũng đưa cả gia đình vào đó ăn tối. Em thấy nơi đó thức ăn ngon, tiếp đãi lịch sự.

Tôi nói với giọng châm biếm:

-Phải rồi, tiền cũng lịch sự không kém, nơi đó là cái máy chém chứ không phải là nhà hàng. Chỉ có những người như ba em mới đủ tư cách vào đó, còn anh phải đợi đến khi nào trúng số anh mới vào. Bây giờ em có muốn vô đây với anh, ăn khúc bánh mì, uống ly cà phê bình dân hay không?

-Dạ muốn.

-Vậy em còn đợi gì mà không vô quán?

Tôi nói với chị Huệ:

-Cho em hai khúc bánh mì chả, hai ly cà phê.

Chị Huệ nhìn tôi cười, nụ cười như ngầm nói, tôi méc cho mà coi:

-Cô Vân đâu rồi.

-Dạ, đi học.

Trường hợp này kêu bằng oan ơi ông Địa, biết vậy lúc nãy vô Shanghai ăn mà hay hơn. Tôi cầm khúc bánh mì chả gặm ngon lành, nhìn sang Cúc, khúc bánh mì vẫn còn nằm nguyên trong dĩa, tôi giục:

-Ăn đi em.

Hình minh họa

-Anh nhìn chăm chăm như vậy, làm sao em ăn được.

-Được rồi, ăn xong anh về cư xá lấy quần áo. Khi anh đi rồi không ai nhìn, lúc đó em tha hồ mà ăn.

-Anh để em ngồi một mình ở đây à?

-Phải rồi.

-Em đi theo anh được không?

-Không.

-Tại sao vậy?

-Nơi anh ở là cư xá sĩ quan độc thân, về phòng anh người ta dị nghị chứ sao. Hỏi hoài.

Tôi trở về cư xá, thay bộ đồ dân sự, mặc bộ đồ tiểu lễ mùa đông. Tôi đứng trước gương ngắm nghía, sửa lại cái mũ nồi đen trên đầu cho chỉnh tề, kiểm soát lại quần áo trong va ly, khi biết chắc là đã có thêm bộ đồ tiểu lễ mùa hè, lúc bấy giờ tôi mới xách va ly quần áo trở lại quán chị Huệ. Thấy tôi với bộ quân phục, Cúc trầm trồ:

-Bộ đồ này đẹp quá trời, giống như mấy ông sinh viên Võ Bị phải không anh?

-Bộ đồ đẹp, còn anh, em thấy thế nào?

-Anh dữ thấy mồ.

Tôi không nói gì thêm, ra dấu cho Cúc cùng đi. Từ đường Phan Bội Châu, hai đứa thả bộ xuống bến xe taxi nằm trước nhà hàng Chic Shanghai.

Có thể, Đà Lạt là một thành phố duy nhất trên thế giới, nếu muốn đi máy bay phải tới ga xe lửa. Đâu khoảng năm 1961 khi mà Cộng Sản Bắc Việt đẻ ra cái Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Dân miền Nam đang sống trong tự do thanh bình, no ấm đâu có cần mấy ông Bắc Việt vào đây để giải phóng. Chỉ có những người ngoại quốc ngây thơ mới tin rằng Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là do dân miền Nam lập ra. Từ khi có Mặt Trận, mấy ông giải phóng đi đến đâu ở đó có chiến tranh, khổ đau chết chóc kéo theo đến đó. Việt Cộng bằng mọi cách khủng bố dân chúng, phá hủy nhũng công trình lợi ích công cộng của Việt Nam Cộng Hòa, hôm nay họ đào đường đắp mô đường bộ, ngày mai đặt mìn giựt sập cầu phá hủy đường xe lửa, tuần tới phục kích bắn phá dân chúng đi trên tàu lửa. Đến năm 1968 đoạn đường xe lửa từ Sông Pha lên Đà Lạt phải ngưng hoạt động. Tôi biết người Pháp đã bỏ ra hàng chục năm, tốn không biết bao nhiêu công sức, tiền của để xây dựng nên đoạn đường xe lửa đặc biệt này. Gọi là đặc biệt, vì ngoài hai đường ray thường, còn có thêm đường ray răng cưa thứ ba ở chính giữa. Khi bắt đầu leo dốc, đầu máy xe lửa đặc biệt sẽ móc vào đường ray răng cưa. Xe lửa leo dốc sẽ không bị tuột. Người ta gọi đường xe lửa này là Cog railroad, do hãng Fuca Thụy Sĩ sản xuất, loại đầu máy xe lửa này trên thế giới chỉ có ở Thụy Sĩ và sau đó là Đà Lạt. Mấy năm rồi, xe lửa không chạy được nhưng nhà ga vẫn còn đó, người ta dùng ga xe lửa làm trạm hàng không.

Ba giờ chiều, tôi và Cúc ngồi trong tòa nhà kính ở phi trường Liên Khương chờ máy bay. Hai tách cà phê còn nóng hổi, tỏa mùi thơm ngào ngạt được mang lên. Qua khung cửa kính, bên ngoài sương mù xuống thật thấp bao phủ cả núi đồi. Trước mắt tôi, phi đạo mù mờ trong sương chiều. Thấy cảnh, chạnh lòng nhớ đến bài thơ cũ, tôi khẽ đọc:

Mù sương phi cảng não nề
Thôi anh ở lại buồn về em mang.
Tiễn anh một chén rượu tàn
Một bàn tay nắm, một hàng lệ mau.

Cúc hỏi tôi:

-Thơ của anh phải không?

Hình minh họa

Tôi đùa với Cúc:

-Anh mà làm thơ hay như vậy đâu có đi lính làm gì cho mệt, ở nhà làm thơ gánh ra bán chợ trời, khỏe ru.

-Bài thơ buồn quá, của ai vậy anh?

-Đó là bài Khúc Ly Đình của Cao Thị Vạn Giả. Không biết anh nhớ có đúng hay không, đừng có tin anh.

o O o

Vẫn là những chiếc taxi nhỏ xíu sơn hai màu xanh trắng của Sài Gòn hơn bốn năm về trước, đưa tôi và Cúc ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhứt. Sài Gòn vẫn vậy, ồn ào náo nhiệt xe cộ dập dìu như mắc cửi, xe chạy trên đường Công Lý, qua chùa Vĩnh Nghiêm, qua ngã tư Yên Đổ được chừng non cây số, Cúc nói với tài xế ngừng lại trước một ngôi nhà kín cổng cao tường.

Mỗi tay một cái va ly, tôi theo Cúc đi vào nhà. Vừa bước chân qua khỏi cánh cửa cổng cao quá tầm mắt, tôi khựng người lại. Trước mắt tôi, một ngôi biệt thự nguy nga, đồ sộ kiến trúc theo kiểu Pháp, giống như những ngôi biệt thự mà tôi thấy ở Đà Lạt, cũng sân cỏ rộng mênh mông, cũng một con đường nhỏ lát đá dăm hình chữ C để xe hơi chạy vào tận hàng hiên của ngôi biệt thự.

Một người đàn ông cao lớn, mặt mũi phương phi trong bộ vest đúng thời trang đang đi tới, đi lui trước thềm nhà, nhìn ông ta tôi có cảm tưởng ông sắp đi họp nội các chính phủ hay họp Quốc Hội. Ông nhìn tôi thật lâu. Tôi không biết ông muốn gì đành đứng yên, lúng ta lúng túng, tay chân hình như thừa thãi. Cuối cùng, ông ta cũng lên tiếng:

-Con là Quân?

-Dạ phải.

Ông ta tự giới thiệu:

-Bác là Bảy, bạn của ba con.

Quay sang Cúc, ông nói:

-Con đi đường có mệt hãy vô phòng mà nghỉ, ba có chuyện riêng muốn nói với Quân.

Tôi hơi ngạc nhiên, tại sao cha con họ gặp nhau mà không một chút gì vui mừng, hớn hở. Đợi cho Cúc khuất hẳn sau cánh cửa cuối phòng, bác Bảy mới nói với tôi:

-Con nói như thế nào mà Cúc chịu theo con về đây.

Không biết bác Bảy có lẩm cẩm hay không? Chính ông là người muốn tôi đưa Cúc về đây, rồi bây giờ lại hỏi. Tôi trả lời:

-Dạ, bác muốn con đưa Cúc về đây, con đã làm đúng lời bác dặn.

-Đúng là bác muốn như vậy, nhưng mà có chuyện này bác chưa nói với con. Từ ngày má của Cúc mất, sau đó bác lấy bà sau, con Cúc đâm ra ghét bác, không bao giờ chịu nghe lời bác. Ngày hôm qua nó còn nói với bác là, cho dù bác có đưa mười người tới cạy chân nó cũng không về Sài Gòn đâu. Bác nhờ con, nhưng không tin là con sẽ đưa Cúc về đây được. Mà thôi, mọi chuyện sẽ tính sau, con nghỉ cho khỏe, ở chơi vài ngày rồi đưa nó về lại Đà Lạt. Phòng riêng của con ở trên lầu, phòng thứ hai bên trái, lát nữa, chị người làm sẽ hướng dẫn con mọi việc trong căn nhà này.

Ách giữa đàng lại mang vào cổ, chuyện xung đột, bất hòa giữa hai cha con họ, đang không tròng vào cổ mình.

Tôi theo chân chị người làm, đi lên căn phòng dành riêng cho mình. Thang lầu làm bằng gồ quý, hai lan can với những hàng cột chạm trổ cầu kỳ, tỉ mỉ được đánh vẹc ni bóng loáng, không một hạt bụi, chứng tỏ nó được lau chùi hàng ngày. Căn phòng tôi ở khá rộng, đầy đủ tiện nghi, điều mà tôi thích nhất là cái cửa sổ nhìn xuống sân sau của căn nhà. Tôi gieo mình xuống giường, đưa mắt nhìn những đường hoa văn chạy quanh trần nhà rồi chìm vào giấc ngủ lúc nào không biết. Đang mơ mơ màng màng, tôi chợt giật mình vì có ai đó lay nhẹ nơi vai. Tôi mở mắt ra nhìn rồi nói, giọng nói đầy bực tức:

Hình minh họa

-Ai cho em vào đây?

Cúc trả lời:

-Em vào để thức anh dậy.

Câu trả lời của Cúc khiến tôi nổi giận đùng đùng. Mặc cảm nghèo hèn, khiến tôi có thành kiến với lũ con gái nhà giàu, họ dựa vào đồng tiền nên muốn làm gì thì làm. Tôi lên giọng cay cú với Cúc:

-Vẫn biết đây là nhà của em, nhưng em phải biết chút lịch sự tối thiểu, ỷ là nhà của mình rồi muốn làm gì cũng được hay sao?

Cúc nhìn tôi đầy vẻ ngạc nhiên, đôi mắt ươn ướt như muốn khóc khiến lòng tôi chùng xuống, bao nhiêu giận dữ vụt tiêu tan, tôi nhẹ giọng:

-Tại sao em vào mà không gõ cửa?

-Em gõ cửa đến mấy lần mà không nghe anh trả lời. Cuối cùng, em đành phải mở cửa đi vào để đánh thức anh dậy. Ba đang đợi anh xuống ăn cơm tối. Anh biết mấy giờ rồi không?

– Không.

– Đã chín giờ tối rồi.

Người quá đáng là tôi chứ không phải là Cúc, tôi nói nhỏ:

-Xin lỗi em.

Tôi theo Cúc đi xuống nhà. Bác Bảy ngồi nơi bàn ăn, trước mặt ông là chai rượu Martell, khi thấy tôi, bác lên tiếng:

-Uống với bác một ly cho ấm bụng, trước khi ăn cơm.

-Thưa bác, con không biết uống rượu.

Bác Bảy lắc đầu, nhìn tôi như tiếc rẻ.

-Con đi lính được bao lâu rồi?

-Dạ, gần năm năm.

-Lính mà không biết uống rượu coi bộ hơi yếu, người ta thường nói nam vô tửu như kỳ vô phong. Ở miền Nam này không biết uống rượu kể như mất vợ. Con có biết không, đâu ba chục năm trước lần đầu tiên bác gặp ông ngoại của con Cúc, bác không biết uống rượu. Dân miền Trung của mình mấy ai biết uống rượu, tiền mua gạo không có lấy tiền đâu mà uống rượu, tuy vậy bác vẫn cố hầu rượu với ông ấy. Một mình bác uống hết một lít rượu đế, sau đó bác bị say lúy túy, nằm bò càng nơi góc nhà đến chiều hôm sau mới tỉnh lại, nhờ vậy mới lấy được má con Cúc.

Bác Bảy chỉ chiếc ghế đối diện.

-Con ngồi đó, không cần uống một lít rượu đế như bác ngày xưa. Mấy chục năm rồi, bây giờ thời thế đã khác, con uống một ly nhỏ Martell là được rồi.

Nghĩ tới Dung giờ này đã yên phận với mối tình của nàng, tôi nhìn Cúc đang ngồi đó, bên cạnh bác Bảy rồi quyết định, phải uống một lít rượu đế thôi. Tôi nâng ly Martell.

-Mời bác.

Suốt bữa ăn, bác Bảy và Cúc không hề nói chuyện với nhau, chỉ có mình tôi tả xung hữu đột khi nói với Cúc, lúc phải trả lời bác Bảy. Bữa ăn tối trôi qua trong không khí tẻ nhạt, Cúc đứng lên:

-Con mệt quá phải về phòng nghỉ, ba và anh Quân ăn cơm vui vẻ.

Khi bóng Cúc đã khuất sau cầu thang, bác Bảy hỏi tôi:

-Con buồn ngủ chưa?

-Dạ chưa.

-Vậy, bác cháu mình ra sân sau chuyện trò.

Hình minh họa

Vừa bước ra khỏi nhà, tôi ngạc nhiên đến sửng người khi nhìn thấy nguyên một tiểu cảnh ở góc vườn. Dưới ánh sáng lung linh mờ ảo của những ngọn đèn đặc biệt, một hòn non bộ với thác nước cao chừng hai mét, nước đổ ào ào, xen vào đó là những cây bonsai với đủ mọi hình dáng, từ rừng thông xanh chen chúc nhau bên bờ đá, cho đến những cây tùng mọc lác đác trên sườn núi, mà thân của nó đổ dài theo khe suối, rễ của nó bám chặt vào vách đá cheo leo. Dưới chân thác nước, tôi đếm được 5 hòn đá có hình dáng giống như những hòn núi đá ở vịnh Hạ Long mà tôi đã từng thấy qua hình ảnh. Tôi buột miệng:

-Đẹp quá chìmg.

Bác Bảy đến bên tôi.

-Con có thấy gì không?

-Dạ năm hòn đá.

-Đúng, bác cho xây hòn non bộ này vì nghĩ đến quê hương xứ sở của mình. Mỗi khi gặp khó khăn, phiền phức, bác thường ra đây ngồi nghe nước chảy rôi thả hồn về quê, bao lo âu phiền muộn sẽ từ từ tan biến. Con có thấy nó giống như Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng của mình không?

-Dạ con chưa được về xứ mình, nên không biết núi Ngũ Hành như thế nào.

Bác Bảy chỉ tôi ngồi xuống một cái ghế đá.

-Bác có chuyện nhờ con, chỉ là chuyện gia đình.

-Dạ, con sẽ cố gắng hết sức.

-Chuyện như vầy, bác là người kinh doanh về nhà cửa ở Sài Gòn. Từ ngôi biệt thự này chạy về phía phi trường Tân Sơn Nhứt, bác có khoảng chục cái building cao tầng cho Mỹ mướn.

Tôi nghe bác Bảy nói mà lạnh cả người, chỉ cần một tòa nhà cho Mỹ mướn, con cháu sống sung sướng suốt một đời, đàng này ông có những chục tòa nhà cao tầng, đó là chuyện tôi không bao giờ ngờ tới. Có điều, tôi không hiểu được tại sao một người như bác Bảy, học hành không được bao nhiêu vào Sài Gòn với hai bàn tay trắng, chưa đầy ba chục năm sau lại xây dựng nên một sản nghiệp khổng lồ như vầy. Ông ta phải là một con người đặc biệt khác thường.

Bác Bảy kéo tôi ra khỏi dòng suy nghĩ.

-Công việc làm ăn của bác mỗi ngày một phát triển tốt đẹp, đạt đến giai đoạn cực thịnh cách đây vài năm, khi mà con số lính Mỹ viễn chinh đổ vào Việt Nam lên đến hơn nửa triệu người. Trong lúc bác đang bận bịu với công việc làm ăn, bất ngờ má con Cúc lại đột ngột qua đời vì bệnh tim bẩm sinh. Phải mất cả mấy tháng trời, nỗi buồn của bác mới nguôi ngoai được phần nào.

Đang nói chuyện, bác Bảy thân mật vỗ vai tôi:

-Có chuyện này bác muốn nói với con, đàn ông bọn mình coi vậy chứ đoản lắm, nói là buồn, nhưng vợ mất chưa được bao lâu bác đã lật đật cưới bà khác. Bà sau này có với bác đứa con trai, vừa thôi nôi cách đây độ nửa năm. Trước đây khi má con Cúc còn sống, nhưng sau khi sanh con Cúc đã không sanh đẻ được nữa, bác nghĩ rằng ông trời cũng lạ, cho mình tiền bạc thừa mứa nhung con cái để nối dòng lại quá khắt khe. Nào ngờ, khi lấy bà sau chưa được bao lâu lại có liền đứa con trai. Ông bà mình có nói “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” được đứa con trai bác mừng muốn chết, cho nên bác lẹ lẹ làm tờ di chúc, tài sản của bác sẽ chia làm hai phần bằng nhau. Con Cúc một phần, thằng con trai của bác với bà sau một phần. Chuyện bất hòa giữa bác và Cúc bắt nguồn từ đó. Con Cúc giận bác cho đến giờ.

Bác Bảy ngưng nói, ông nhìn tôi thật lâu rồi chầm chậm lên tiếng:

-Con và Cúc học chung trường, cùng là người có ăn học, dễ thông cảm nhau. Bác nhờ con giải thích cho Cúc hiểu tâm tình của bác, để cha con không còn giận hờn nhau nữa.

Bây giờ tôi đã hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện, hiểu rõ mục đích chuyến đi phép bảy ngày của mình. Sau một lúc suy nghĩ, tôi mạnh dạn trả lời bác Bảy:

-Con nghĩ rằng bác làm đúng tất cả mọi chuyện, em Cúc hơi quá đáng nếu không muốn nói là quá ích kỷ, chỉ biết lo cho mình thôi. Con sẽ tìm cách nói với Cúc.

Hình minh họa

Một nụ cười thoáng trên môi bác Bảy, ông nói:

-Cảm ơn con nhiều, bác biết con sẽ làm được.

Tôi nhìn đồng hồ đeo tay.

-Bác còn gì sai bảo con nữa không?

-Không.

Tôi nói:

-Xin phép bác cho con về phòng nghỉ.

Khi tôi đi được vài bước, bác Bảy chạy theo đặt vào tay của tôi một cái phong bì dày cộm.

-Con cầm chút tiền này, mai đưa Cúc đi chơi.

-Thưa bác con có tiền.

Bác Bảy nói với tôi, giọng nói đầy uy quyền của một nhà đại tư bản.

-Tiền lương của lính Mỹ tính bằng đô la bác coi còn không ra gì huống chi lương của lính Việt Nam. Tin bác đi, lương tháng của con không đủ cho con Cúc nó sắm một bộ đồ. Cứ cầm lấy, mai mốt không xài trả lại cho bác sau. Nếu con muốn.

Tôi biết có chối từ cũng không được, đành phải cầm lấy cái phong bì. Bác Bảy dặn thêm:

-Nhà có nhiều xe, con muốn đi đâu cứ biểu tài xế chở đi.

Tôi ngủ một giấc cho đến chín giờ sáng mới thức dậy. Hôm nay tôi dự định sẽ tìm cơ hội để nói với Cúc về chuyện phân chia tài sản của bác Bảy. Tôi phải thanh toán chiến trường cho lẹ lẹ, như lính Nhảy Dù tấn công mục tiêu, sau đó còn trở về Đà Lạt.

Khi tôi đi ngang qua nhà bếp, Cúc đang ngồi nơi bàn ăn với tờ báo trên tay. Thấy tôi nàng cất tiếng:

-Anh ngủ ngon không?

Tôi trả lời:

-Lạ nhà, nhưng vẫn ngủ ngon như thường.

-Anh muốn ăn sáng ở nhà, hay muốn xuống Sài Gòn đi dạo một vòng rồi ăn sáng luôn?

Tôi chợt nhớ đến tựa đề của một bài hát khá thịnh hành, bèn đùa với Cúc:

-“Lính mà em” ăn ở đâu cũng được.

Giọng nói của Cúc hơi gắt:

-Anh ăn nói kiểu huề vốn như vậy, làm sao em biết anh muốn gì.

-Xin lỗi em, thực lòng mà nói anh có biết gì về Sài Gòn đâu. Bốn tháng ở Quân trường Thủ Đức, cuối tuần nghỉ phép anh chỉ loanh quanh từ tòa nhà Quốc Hội đến chợ Bến Thành, rồi từ Dinh Độc Lập với con đường Công Lý chạy qua khỏi cầu cho đến đường Nguyễn Minh Chiếu, chỉ chừng đó thôi. Anh về Sài Gòn cũng giống như Mán về thành.

-Em có chuyện này muốn nói với anh, nhưng anh phải hứa là không được tự ái,

-Đồng ý.

-Em muốn mời anh xuống Sài Gòn ăn trưa, em sẽ trả tiền.

-Đi liền, nhung anh phải là người trả tiền.

Tôi kể cho Cúc nghe đầu đuôi câu chuyện giữa tôi và bác Bảy tối hôm qua, kể luôn cả chuyện bác đã đưa tiền cho tôi. Tôi nói với Cúc:

-Anh đoán số tiền ba em đưa cho anh nhiều, nhưng anh không ngờ nó nhiều đến như vậy. Lương trung úy độc thân của anh chỉ có hai mươi lăm ngàn một tháng, số tiền trong bì thơ bằng hai tháng lương của anh. Mà thôi, dẹp chuyện tiền bạc qua một bên, anh chỉ muốn nói với em hãy thương ba em, đừng giận ông ấy nữa. Chuyện ba em chia đôi gia tài cũng phải thôi, con bà trước hay bà sau cũng là con của ông ấy, hơn nữa đứa bé lại là con trai. Nỡ lòng nào em dành hết phần của em mình, cho dù là em cùng cha khác mẹ.

Hình minh họa

Cúc chăm chú nhìn tôi nhăn mặt, tỏ vẻ khó chịu, được một lúc nàng mới nói:

-Câu chuyện hơi dài, mình ra nhà sau ngồi em sẽ kể cho anh nghe. Được không?

-Anh, lúc nào cũng sẵn sàng.

-Để em dặn chị Hai làm thức ăn sáng, anh muốn ăn gì?

-Gì cũng được.

Tôi và Cúc ra ngồi ở bãi cỏ bên hòn non bộ. Cúc mở đầu câu chuyện:

-Trước đây, em dặn lòng là sẽ không bao giờ về lại Sài Gòn gặp ba em, nhưng hôm qua lúc gặp anh em lại đổi ý. Em muốn kéo anh về phe em để chống lại ba em. Em nghĩ, tại sao không nương vào sự tin tưởng của ba em đối với anh để thuyết phục ông đừng chia gia tài cho má ghẻ của em. Tất cả những gì ba em nói với anh đều là sự thật, nhưng đó chỉ là một phần của sự thật thôi, mà một phần thì chẳng khác gì chuyện anh mù sờ voi. Ôm cái chân voi, rồi la lên là con voi giống cái cột nhà.

Cúc nhìn tôi như chờ đợi, khi thấy tôi yên lặng, nàng nói tiếp.

-Ông ngoại của em là người Ấn, sang Việt Nam từ thời Pháp thuộc. Thời bấy giờ, đa số người Ấn ở Việt Nam sinh sống bằng nghề cho vay lấy lãi hoặc là mở cửa hàng buôn bán mỹ phẩm, tơ lụa chở từ Bombay sang. Riêng ông ngoại em lại lấy vợ Việt, nuôi một đàn dê bán thịt, lấy sữa. Chuyện cũng dễ hiểu, vì ông không có nhiều vốn như những người Ấn khác. Ngày xưa, từ cầu Mạc Má Hồng chạy dài đến phi trường Tân Sơn Nhứt là một vùng đất hoang, cây cối xanh tươi, cỏ dại mọc đầy đồng, lác đác chỗ này vài chục căn nhà tranh vách đất, chỗ kia dọc theo mặt lộ mươi căn nhà gạch, gom hết lại độ vài trăm căn nhà. Ông ngoại em cho đàn dê ăn cỏ trên vùng đất đó.

Tôi ngắt lời Cúc.

-Khoan đã, em nói cái cầu tên gì?

-Cây cầu tên là Mac Mahon, người Việt mình đọc thành Mạc Má Hồng. Sau này đổi tên là cầu Công Lý.

-Em chỉ thua anh có vài tuổi sao em rành chuyện xưa của Sài Gòn như vậy?

-Ông ngoại em kể lại, vì đây là vùng đất của ông ngoại em mà. Chuyện như thế này, sở thuế của Sài Gòn muốn thâu thuế trên đàn dê của ông ngoại, vì đàn dê ăn cỏ trên đất của thành phố nhưng không thâu thuế được, phần ông ngoại lại cho rằng đất ở đây không phải của ông, đàn dê chỉ ăn cỏ trên đó thôi. Cuối cùng một giải pháp ổn thỏa cho cả hai bên là, sở đất Sài Gòn ký giấy cho ông ngoại phần đất từ cầu Mạc Má Hồng đến Tân Sơn Nhứt để ông chăn dê, với điều kiện phải đóng thuế thổ trạch. Từ một di dân bỗng dưng trở thành địa chủ, ông ngoại phải đi thu thuế của những gia đình có nhà trên vùng đất này, rồi nộp lại cho sở thuế của Pháp ở Sài Gòn. Chuyện được sở hữu miếng đất ông ngoại không phàn nàn, nhưng khi thu thuế đất thường gặp khó khăn, trở ngại, vì người dân ở đây lý luận rằng: họ là dân Việt Nam, sống trên đất Việt Nam tại sao lại phải nộp thuế đất cho một anh Ấn Độ. Chuyện tranh cãi về thuế đất dùng dằng, kéo dài cho đến cái năm Nhật đảo chánh, ba của em từ Quảng Nam lưu lạc đến vùng này. Ông ngoại thuê ba để chăn đàn dê và thu thuế đất cho ông. Ba em lúc bấy giờ là một thanh niên trẻ tuổi lanh lẹ, làm việc giỏi giang, nhất là khi đi thu thuế đất, không biết ba nói những gì mà việc thu thuế êm xuôi, trót lọt.

Ông ngoại thường nói với em “Tao gả má mày cho ba mày, vì tao muốn cột cẳng ba mày ở đây. Thiếu ba mày, một mình tao làm sao lo nổi mọi chuyện”. Em nói với ông “Vậy là ông ngoại lợi dụng ba con”. Ông cười rồi nói “Lúc đầu tao có ý đó thiệt, nhưng sau này tao thương ba mày còn hơn con ruột”

Chị người làm bưng ra hai phần ăn sáng. Không khách sáo, tôi kéo khay thức ăn lại trước mặt mình, vừa ăn vừa hỏi Cúc:

-Ông ngoại em có bao nhiêu người con?

-Chỉ có một mình má em.

Hình minh họa

Tôi đùa với Cúc:

-Ba em cũng sướng thiệt, ông ngoại em tạo dựng nên cơ nghiệp. Ba em vào thừa hưởng.

-Không đúng đâu anh ơi! Nói như vậy tội nghiệp cho ba em. Trước thập niên năm mươi, vùng đất từ Tân Son Nhứt về đến cầu Mạc Má Hồng, ai muốn lấy bao nhiêu đất để xây nhà cũng được, họ chỉ tốn một ít tiền gọi là lệ phí giấy tờ sau đó phải đóng thuế thổ trạch cho ông ngoại của em. Ông ngoại sẽ nộp tiền thuế này lại cho sở thuế ở Sài Gòn. Gần hai chục năm sau, khi lính Mỹ đổ vào Việt Nam, vùng đất này trở thành vùng đất vàng. Lúc bấy giờ ba em bán bớt đất, xây building cho Mỹ mướn rồi giàu lên từ dạo ấy đến giờ.

Tôi chấm dứt bữa ăn sáng bằng một ngụm cà phê, rồi nói với Cúc:

-Tất cả gia tài sản nghiệp do một tay ông tạo dựng nên, đúng không?

-Đúng, em đâu có phủ nhận công của ba em đâu.

Tôi mừng quá sức, vì câu chuyện diễn tiến tốt đẹp theo chiều hướng mà tôi muốn.

-Nếu vậy, ba em có quyền phân chia tài sản của ông theo ý ông muốn, tại sao em lại giận ba em?

Gương mặt của Cúc bỗng nhiên đối sắc. Cúc trả lời tôi, với giọng nói đầy tức giận:

-Cũng tại nơi hòn non bộ này, năm ngoái khi ba em đi Đà Nẵng lo công việc, má ghẻ của em dẫn thằng bồ của nó về đây. Con nhỏ không biết em vừa từ Đà Lạt về lại nhà vào tối hôm trước, đang ở trên lầu. Từ phòng anh ở nhìn xuống đây, anh sẽ không thấy gì, nhưng bên phòng ngủ của em sẽ thấy rất rõ.

-Em ăn nói hơi lỗ mãng, tại sao lại kêu má ghẻ của mình là con nhỏ.

-Nó bằng tuổi em lại lăng loàn, anh muốn em kêu nó bằng gì?

Rõ ràng là tôi đang rơi vào tình huống bất ngờ, nhưng tôi vẫn cố gắng vớt vát.

-Tại sao em biết họ là bồ của nhau?

-Ba em vắng nhà cả tuần, hai đứa mất nết ngồi đây hôn nhau, không phải là bồ thì gọi là gì?

Cúc nhìn tôi với đôi mắt buồn hiu.

-Anh có biết, tại sao em không muốn ba em chia gia tài cho thằng bé không?

-Không, tại sao vậy?

-Bởi vì, thằng bé là con của má ghẻ em với thằng bồ của bả, nó giống thằng bồ của má ghẻ em như hai giọt nước. Nó đâu phải là con của ba em. Ba em là cái mỏ vàng mà người đào mỏ là má ghẻ của em và thằng bồ của bả.

Tôi ngồi thừ người ra đó, tiếng thác nước từ hòn non bộ đổ xuống hồ nghe rào rào như tiếng mưa rơi. Âm thanh của nó khiến tôi chợt nhớ đến một cuốn phim đen trắng của Nhật, mà tôi đã được xem cách đây vài năm. Ba người núp mưa dưới cái cổng tên là Rashomon cổ xưa, dẫn vào miền nam cố đô Kyoto. Một nửa mái cổng đổ nát, tàn tạ tiêu điều chìm trong làn nước mưa xám đục, một ông sư, một bác tiều phu, một gã thường dân…. đâu là sự thật?

Bác Bảy và Cúc, tôi phải tin ai?

Cho dù câu chuyện Cúc kể không có một bằng chứng cụ thể nào về gốc gác của thằng bé, nhưng qua trực giác tôi tin rằng Cúc nói đúng. Còn nếu muốn suy luận lại càng rõ ràng hơn, một cô gái mới hai mươi tuổi chịu lấy bác Bảy, một ông già đáng tuổi cha mình, nếu không vì tình thì chỉ vì tiền mà thôi.

Mục đích của tôi là thuyết phục Cúc, bây giờ tôi lại bị Cúc thuyết phục.

-Anh đang nghĩ gì vậy?

Giọng nói của Cúc kéo tôi trở về với thực tại, mặc dù nghe Cúc nói rõ ràng nhưng tôi vẫn hỏi lại:

-Em nói gì?

-Anh làm gì mà ngồi ngẩn người ra như vậy?

Hình minh họa

Thay vì trả lời câu hỏi của Cúc, tôi hỏi lại nàng:

-Tại sao, em không nói chuyện bê bối của bà má ghẻ và thằng bé cho ba em nghe?

-Liệu ba em có tin lời nói của em hay không? Hay là ông lại cho rằng em đặt chuyện để vu khống cho người ta. Em muốn nhờ anh nói giùm, đó là lý do tại sao em đồng ý theo anh từ Đà Lạt về đây.

Tôi lắc đầu:

-Chuyện quan trọng lại quá sức tế nhị, anh không đủ khả năng. Hơn nữa, nếu ăn nói không khéo léo, bác Bảy có thể nổi giận cho anh vài cái bạt tai rồi tống cổ anh ra khỏi nhà với câu nói “Cái trứng đòi khôn hơn con gà”

Hai đứa im lặng nhìn nhau, cuối cùng tôi nói với Cúc:

-Anh không giúp được gì cho em đâu. Ngày mai anh sẽ về Đà Lạt, em có muốn đi cùng với anh hay không, tùy ý em.

Cũng đúng lúc ấy, tôi nói với Cúc một câu nói mà tôi không hề muốn nói:

-Ba em chia cho em một nửa gia tài như vậy là quá rồi, nếu ổng để hết gia tài lại cho thằng bé, em cũng chẳng làm gì được, luật pháp đâu có cấm cản.

Tôi không ngờ câu nói trong lúc cùng đường lại có kết quả, Cúc ngồi im lặng một lúc rồi nói với tôi:

-Anh nói đúng, em sẽ suy nghĩ lại, cảm ơn anh đã giúp em. Giờ này cũng đã hơn mười một giờ rồi, em mời anh xuống Sài Gòn ăn trưa.

-Chuyện đó không có gì trở ngại, anh cũng muốn dạo một vòng Sài Gòn.

Tôi mặc bộ đồ tiểu lễ mùa hè của Trường Võ Bị Đà Lạt, gắn thêm cặp lon trung úy nơi cầu vai áo rồi thong thả đi xuống nhà. Cúc cũng đã chưng diện xong xuôi, hai đứa lên chiếc Peugeot 404. Anh tài xế với giọng kính cẩn.

-Thưa cô muốn đi đâu?

Cúc trả lời cộc lốc:

-Sài Gòn.

Quay sang tôi, Cúc nói:

-Hình như anh thích mặc đồ lính hơn đồ dân sự.

-Đúng.

-Khi đi phép, anh có quyền mặc thường phục mà.

-Con người anh yếu đuối, thiếu tự tin, lúc nhỏ khi đi học bị bạn bè trong lớp hiếp đáp, đứa bóp mũi, đứa cú đầu, đứa đá đít, có cục kẹo giấu trong túi cũng bị tụi nó lục lấy mất. Bị ăn hiếp riết thành quen, anh coi đó là chuyện bình thường. Lớn lên khi vào trung học, anh học hành không được giỏi giang gì cho lắm, năm nào cũng chỉ hơn được mươi đứa ở cuối lớp. Lúc thi đậu Tú tài, thấy tên mình trên bảng anh vẫn chưa tin. Khi đi lính, anh không dám thi vào Hải Quân hay Võ Bị Đà Lạt vì sợ mình không đủ sức.

Cúc nói:

-Đó là chuyện xưa, còn bây giờ phải khác chớ.

-Không có gì khác, một đôi khi em thấy anh ăn nói cộc cằn, thô lỗ rồi nghĩ rằng anh có cá tính mạnh hoặc dữ nhưng thật ra đó chỉ là phản ứng của một người nhút nhát, mang đầy mặc cảm. Tự tin sao được khi anh mặc đồ dân sự đi ngoài phố, là bị cảnh sát gác đường chận lại xét giấy tờ vì nghi là anh trốn quân dịch. Hơn nữa đen đúa, xấu xí như anh lại mặc bộ đồ dân sự rẻ tiền không hợp thời trang, đi với một cô gái ăn mặc sang trọng lịch sự như em dám bị người ta nói “Tiếc thay cây quế giữa rừng” hoặc tệ hơn nữa có thể bị du đảng Sài Gòn đánh cho gãy tay, què cẳng như không. Thôi thì cẩn tắc vô áy náy, biết phòng xa vẫn tốt, mặc bộ đồ tiểu lễ của Trường Võ Bị Đà Lạt, thêm cặp lon trung úy nơi cầu vai áo, giúp anh tự tin hơn.

Xe chạy vòng theo bùng binh chợ Bến Thành, khi đi ngang qua nhà hàng Thanh Bạch tôi nói với anh tài xế.

-Ngừng xe ở đây.

Hình minh họa

Cúc quay qua nhìn tôi:

-Anh muốn ăn trưa ở Thanh Bạch?

-Không, mấy năm trước lúc còn là Sinh viên sĩ quan Thủ Đức anh cùng hai người bạn có ăn tối ở đây, anh chỉ muốn nhìn lại chốn cũ chút xíu.

Khi nói xong, tôi mới giật minh nghĩ lại, mình chỉ nói có một phần sự thật. Tôi giấu biệt chuyện có Dung trong bữa ăn đó, giấu chuyện tôi yêu Dung say đắm như thế nào.

Tối hôm đó, không biết Cúc nói gì với bác Bảy, ngày hôm sau khi gặp tôi bác Bảy vồn vã, săn đón, niềm nở chuyện trò với tôi như là thượng khách trong nhà. Ông dẫn tôi và Cúc đi ăn uống ở những nhà hàng sang trọng của Sài Gòn và Chợ Lớn, sắm cho tôi những bộ quần áo đắt tiền. Cúc đã hết giận bác Bảy. Nhìn cha con họ vui vẻ bên nhau, cười nói huyên thuyên tôi thấy hết sức áy náy trong lòng. Lạy trời, xin bác Bảy đừng nghe lời nói bậy của tôi trong lúc cùng đường, đem hết gia tài sản nghiệp của bác để lại cho mẹ con thằng bé.

Liên tiếp mấy ngày sau đó, Cúc dẫn tôi rong chơi khắp Sài Gòn trên chiếc xe Peugeot 404. Tôi ăn diện như một tay chơi thứ thiệt của Sài Gòn, áo quần đắt tiền, lịch sự hợp thời trang, thêm đôi giày da của Ý bóng láng, khiến cho tôi quên mất mình là con của một gia đình nghèo, quên luôn mình là lính trong một đất nước mà bom đạn của chiến tranh đã tàn phá, hủy hoại đến tận cùng của khổ đau.

Gần ngày cuối cùng của bảy ngày phép, Cúc cho tài xế lái xe ra Vũng Tàu. Tôi ngồi dựa ngửa trên chiếc ghế dựa nơi bãi biển, bên cạnh là chai bia 33 lạnh ngắt, từng giọt mồ hôi lạnh của chai bia chảy dọc theo thân chai, mới nhìn thấy chưa kịp uống đã phát thèm. Cúc từ dưới biển đi lên, thân hình cân đối đầy đặn với làn da trắng mịn màng, gói gọn trong bộ bikini xanh lợt. Tôi thấy rõ cái hấp lực mãnh liệt trong một tấm thân căng đầy nhựa sống. Những giọt nước biển trong veo chảy dài theo thân thể của nàng, long lanh, lấp lánh dưới ánh mặt trời khiến tôi ngẩn ngơ cả người. Để xóa bỏ ý nghĩ xấu trong đầu, tôi quơ tay nâng chai bia uống một hơi. Cúc lại gần chiếc ghế bên cạnh tôi nhẹ giọng:

-Anh ngồi nhớ ai mà như mất hồn vậy? Xuống tắm biển với em.

Vừa dứt lời, Cúc nắm dây thẻ bài tôi đeo nơi cổ, kéo tôi đứng lên.

-Cho em coi cái thẻ bài của anh được không?

Tôi tháo hai tấm thẻ bài đưa cho Cúc.

-Cho em luôn cũng được huống gì chỉ coi thôi.

-Thiệt không?

-Anh không biết nói láo.

Cúc nói:

-Hình như thẻ bài là vật bất ly thân của lính, phải không anh?

Tôi trả lời Cúc:

-Đúng, nhưng chỉ đúng với người lính tác chiến ở ngoài trận địa, nơi mà bom đạn vô tình, có thể đốt cháy hoặc xé nát thân xác người lính thành nhiều mảnh nhỏ, công dụng của tấm thẻ bài là để xác nhận tính danh của người quá cố. Thêm một công dụng nữa cũng không kém phần quan trọng, là trên tấm thẻ bài còn ghi rõ loại máu của người lính mang nó, phòng khi bị thương cần được tiếp máu. Anh là lính văn phòng, tấm thẻ bài không quan trọng lắm đâu. Mai mốt, anh làm lại tấm thẻ mới.

Hình minh họa

Dưới ánh nắng ấm của bầu trời Vũng Tàu, hai thân thể đứng gần như chạm nhau, tôi quay mặt đi không dám nhìn thân hình quá sức hấp dẫn của Cúc trong bộ áo tắm rồi nói:

-Mấy hôm rày, anh có chuyện muốn hỏi em nhưng thấy không thuận tiện.

-Chuyện gì vậy anh?

Tôi hơi ngập ngừng khi hỏi Cúc

-Em..em có bạn trai chưa?

Cúc cười:

-Em có nhiều bạn trai nhưng chưa có bồ. Anh biết rồi, bạn trai và bồ hoàn toàn khác nhau. Ở vào hoàn cảnh của em, tìm được một người tình quả thực khó hơn chuyện bắt con lạc đà chui qua cái lỗ kim.

-Em giải thích rõ hơn được không? Con nhà giàu, học giỏi như em thiếu gì bồ.

-Câu nói đó, chỉ áp dụng cho con trai chứ không phải cho con gái.

Cúc nói với gương mặt buồn hiu.

-Con gái xấu như em không nên học nhiều, học càng cao càng khó kiếm chồng, hơn nữa nhà em lại quá giàu. Đám bạn trai của em trên Viện đại học, sau một thời gian quen biết, họ từ từ rút lui nhẹ nhàng không kèn không trống.

-Tại em kênh kiệu quá chứ gì?

-Không phải, chỉ tại không ai muốn ra trường với mảnh bằng kỹ sư đào mỏ.

Câu nói vô tình của Cúc như một nhát búa đập lên đầu tôi. Đó là vấn nạn đeo đẳng tôi suốt cả tuần qua.

Ngày xưa, khi thuyên chuyển về Trường Võ Bị Đà Lạt, lương lính chẳng được bao nhiêu, tôi ký cóp dành dụm từng xu, chắt chiu góp nhặt từng đồng hy vọng sau vài năm sẽ có đủ tiền mua chiếc xe Honda hai bánh mới để đi làm, và cũng để gọi là có chút gì với mọi người. Thời tôi mới ra trường, chiếc xe Honda trị giá năm mươi ngàn đồng. Bốn năm sau, khi tôi để dành được năm mươi ngàn đồng giá chiếc xe tăng lên gần gấp đôi. Tôi không biết gì về Kinh tế học nhưng cứ cái đà lạm phát như thế này bốn năm nữa, khi tôi để dành được một trăm ngàn, không chừng giá của chiếc xe Honda sẽ tăng vọt lên khoảng hai trăm ngàn đồng hay có thể hơn nữa. Như vậy, nếu tôi tiếp tục để dành tiền, cuối đời cũng chỉ mua được cái bóng chứ không bao giờ mua được chiếc xe.

Chuyện dành dụm mua chiếc xe Honda hai bánh, bao nhiêu năm rồi tôi làm không được, thử hỏi chuyện lớn hơn như ông bà mình thường nói “Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà”. Làm sao tôi có thể thực hiện được, suốt đời chỉ là mơ thôi mà.

Tuần trước bác Bảy cho tôi năm chục ngàn, tất cả hãy còn nguyên, chưa mẻ lấy một xu. Nguyên một tuần lễ đi chơi với Cúc, bao nhiêu chi phí Cúc lo hết. Với số tiền bác Bảy cho, cọng thêm tiền tôi để dành, giờ đây tôi có thể đi mua một chiếc xe Honda mới tinh. Lẽ ra tôi phải dừng lại là tốt nhứt, thế nhưng tôi lại nghĩ đến chiếc xe hơi hiệu Peugeot sang trọng, êm như nhung mà tôi đang đi, căn biệt thự to lớn đầy đủ tiện nghi trên đường Công Lý tôi đang ở, thêm hàng chục building cao tầng cho Mỹ mướn. Tôi muốn tiến xa hơn một bước nữa. Nếu lấy Cúc tôi sẽ có tất cả, chỉ kẹt có một điều, tôi học Văn khoa nhưng sẽ tốt nghiệp Kỹ sư đào mỏ. Đó là vấn nạn của tôi.

Sau một lúc suy nghĩ, tôi giải quyết vấn nạn của mình bằng câu nói tỏ tình với Cúc.

-Em có nghĩ rằng anh là thằng đào mỏ không?

Gương mặt Cúc thoáng chút ngạc nhiên, sau đó nàng cúi đầu nhìn xuống bộ bikini mà nàng đang mặc rồi nói với giọng chắc nịch

-Không.

Hình minh họa

Ngày hôm sau, tôi hộ tống Cúc về Đà Lạt. Tuần trước, khi đi Sài Gòn với Cúc tôi có năm chục ngàn gởi tiết kiệm ở Nam Đô ngân hàng. Ngày về, tôi đủ tiền mua chiếc xe Honda mới với giá hàng trăm ngàn, không chừng tôi còn có nhiều hơn nữa, chưa biết được.

Trở về Đà Lạt, chuyện đầu tiên tôi làm là đi mua chiếc Honda mới. Ước mơ trở thành sự thật, rút ngắn thời gian ít ra cũng được năm năm, tôi vui vẻ lái xe lang thang cùng khắp Đà Lạt. Tôi nhớ đến câu nói: “Người con trai có ba chuyện khó khăn phải làm, thứ nhất tậu trâu, thứ nhì cưới vợ, thứ ba làm nhà.” Mua được chiếc xe giống như chuyện tôi tậu được con trâu, còn chuyện cưới vợ, làm nhà đã có ba má tôi lo liệu.

Những lúc sau này, bác Bảy thường xuyên lên Đà Lạt thăm ba má tôi. Chuyện người lớn nói với nhau tôi không biết được, chỉ biết là năm sau ba tôi bán căn nhà gỗ ọp ẹp với miếng vườn nhỏ ở Trại Hầm rồi mua một căn nhà ba tầng khá khang trang ở đường Phan Đình Phùng, gần rạp ciné Ngọc Hiệp. Tôi biết rằng, tiền bán căn nhà ở Trại Hầm chỉ đủ để ba tôi mua một căn nhà bếp ở phố. Số tiền khổng lồ cần có để bù vào giá cả chênh lệch giữa hai căn nhà, phải có bàn tay của bác Bảy nhúng vào.

Tôi trả lại căn phòng cư xá độc thân của tôi cho trường rồi dọn về ở chung với ba má của tôi. Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, cuộc sống vật chất của tôi đã thay đổi hoàn toàn. Lương tháng của tôi không cần phải trích ra vài ngàn phụ giúp mấy đứa em, không cần phải để dành tiền mua xe. Tôi tiêu xài rộng rãi, thoải mái hơn xưa. Mỗi thứ Bảy, Chủ Nhật tùy theo có trực hành quân hay không tôi thường chở Cúc dạo phố Đà Lạt, khi thì cà phê Tùng, cà phê Thủy Tạ, lúc ăn sáng ở phở Bắc Huỳnh gần ga xe lửa, ăn trưa ở nhà hàng Mê Kông, thậm chí có nhiều lần chúng tôi vào ăn tối ở nhà hàng Chic Shanghai. Đi chơi với Cúc, năm thì mười họa, tôi mới được trả tiền cà phê một lần, nói gì đến chuyện trả tiền ăn nhà hàng. Đà Lạt là một tỉnh nhỏ, chuyện nhỏ chút xíu như cái móng tay cũng có thể đồn ầm lên. Tình cờ một vài lần, tôi nghe được những lời thiên hạ xì xầm, đàm tiếu về tôi.

-Vợ chưa cưới của ông ấy là con nhà tỉ phú ở Sài Gòn.

-Căn nhà ông ấy ở đường Phan Đình Phùng là do bên vợ mua cho, trước đây nghe nói nghèo kiết xác ở đâu tận Trại Hầm.

Những lời bàn ra tán vào về tôi tuy hoàn toàn đúng, nhưng tôi vẫn cảm thấy khó chịu mặc dầu đã chuẩn bị tinh thần từ trước.