Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 15 Feb 2024

Phần 1

Về tuyển tập thơ văn H.O.Viết Thư Miền Đất Hồi Sinh
Kiêm Thêm

Trong những năm gần lại đây, bất luận những nơi nào có người Việt định cư hay có sinh họat báo chí Việt Nam hải ngoại, thì những sáng tác phẩm của các cựu tù nhân chính trị đều xuất hiện. Xuất hiện với những giá trị độc đáo; xuất hiện gây tác động lớn cho người đọc, và cũng là khí giới sắc bén nhất để chống lại những tuyên truyền xuyên tạc của kẻ thù.

Với tính chất nầy, chúng ta thấy rõ trong những hoạt động văn học nghệ thuật Việt Nam hải ngoại, thơ văn của những cựu tù nhân chính trị Việt Nam đã đóng góp một phần vững chắc, giá trị nổi bật, nội dung phong phú, ảnh hưởng sâu rộng và có giá trị vĩnh cửu, miên trường.

Như một biến chuyển đặc thù, khuynh hướng văn học nầy tại hải ngoại đã gây được một sức mạnh tinh thần vững chắc, để động viên cho những người mang hoài bão xây dựng lại thể chế mới cho đất nước trong tương lai càng thêm hăng hái, tin tưởng, say sưa trong sự nghiệp tranh đấu chính trị của mình, xây dựng một Việt Nam tự do, dân chủ, không bóng dáng những kẻ tham vọng chuyên quyền điên rồ của nền chuyên chính vô sản.

Nói như một nhà bình luận Pháp, ông André Keith, “Những giá trị nầy quả là những thứ vũ khí lợi hại, để chống lại những lối tuyên truyền độc hại của Cộng Sản với những kẻ nhẹ dạ” (Critiques Littéraires). Trên một khía cạnh nào đó, nhận xét nầy đã thích hợp với tinh thần tranh đấu của người Việt hải ngoại trong bối cảnh hiện nay của thế giới và của đất nước.

Trong những năm tháng dài của những nhà tù cải tạo Cộng sản Việt Nam, những chiến sĩ từng chiến đấu cho nền tự do của miền Nam, những người con yêu của tổ quốc, đã chịu đựng, can trường và nhẫn nại, chờ đợi thời cơ và hoàn cảnh, để tiếp tục công trình tranh đấu của mình, trên bình diện mới và hoàn cảnh mới.

Nội dung chứng liệu trong những tác phẩm của cựu tù nhân chính trị VN trở thành những bản cáo trạng bản chất và hiện tượng của chế độ một cách trung thực nhất, sâu sắc nhất và ảnh hưởng đậm đà nhất..

Chỉ trong một khoảng thời gian năm sáu năm lại đây, nhiều tác phẩm trong khuynh hướng nầy, với những góc độ khác nhau, hoàn cảnh khác nhau cũng như thân phận khác nhau đã lần lượt xuất hiện: Đáy Đia Ngục của Tạ Tỵ, Vùng Đất Ngục Tù của Nguyễn Vạn Hùng, Trại Đầm Đùn của Trần Văn Thái, Đại Học Máu của Hà Thúc Sinh, Tù Binh và Hòa Bình của Phan Nhật Nam, Vượt Thoát của Phạm Quang Giai, Sau Ngày Giặc Đến của Nguyễn Mậu Qúy, Bản Chúc Thư của một người Việt Nam của Nguyễn Chí Thiện, Chín Năm Tù Ngục của Nguyễn Đình Trị, Tổ Ấm Cuối Cùng của Đào văn Bình, Phía bên kia Thiên Đường của Phạm Trọng Phúc. Hàng trăm bài báo, hồi ký, thi ca, tùy bút thuộc khuynh hướng văn chương nầy được đăng khắp báo chí Việt Nam hải ngoại; dĩ nhiên còn rất nhiều tài liệu giá trị khác được sáng tác của những chứng nhân nầy, nhưng chưa hội đủ những điều kiện cần thiết để ra mắt. Tất cả những chứng liệu trên là những bản cáo trạng hào hùng, những tài liệu vô cùng phong phú, những niềm đau nỗi xót của những người cựu tù nhân. Với thời gian, những tác phẩm cùng loại sẽ dồi dào hơn về nội dung và phong phú hơn về hình thức.

Ảnh hưởng lâu dài của những tác phẩm nầy khiến cho những người Mỹ phản chiến, thân Cộng cũng như những kẻ nào còn có lương tâm nhân bản trên thế giới sẽ phản tỉnh trước những xuyên tạc tuyên truyền của chế độ.

Hình ảnh sống động của những trại tù được thể hiện khá đầy đủ, duới nhận thức và nhãn quan khác nhau, nhưng nội dung thì vẫn là một: một phần tố cáo những chính sách, chế độ, đường lối tàn bạo nhất của Cộng sản; nhưng phần khác, sinh động hơn và quan trọng hơn thì thể hiện tinh thần bất khuất, chí dũng cảm, tình nghĩa đồng bào, đồng đội của những người cùng chung cảnh ngộ, qua những năm tháng dài hoạn nạn.

Chế độ quản tù ghê gớm tại Long Giao, những tấn trò hình phạt tù nhân tại Hóc Môn, những cuộc ruồng bố rợn người tại Trảng Lớn, những tiếng kêu thống thiết tại Phước Long, đời sống dưới đáy địa ngục tại Ka Tum, chế độ quản chế tàn nhẫn tại trại tù Xuyên Mộc, những chiến sị gãy đổ tại trại tù Hàm Tân, những đêm dài rét cóng người tại trại tù Gia Lai, những hình ảnh phẫn nộ tại trại tù Nghi Trưng, những gương chiến đấu anh hùng bất khuất tại trại tù Khâm Đức, những đêm dài khắc khoải nhất và kinh hoàng nhất tại tại trại tù Tiên Lãnh, cảnh ma thiêng, nước độc tại trại tù Ba Lạch, những cảnh tẩy não khủng khiếp tại trại tù Bình Điền, những đau xót, hãi hùng tại trại tù Thanh Hoá, cảnh địa ngục trần gian tại trại tù Hoàng Liên Sơn, quang cảnh “chém tre đẵn gỗ trên ngàn” tại trại tù Hà Sơn Bình, những trò chơi đầy dã thú tại trại tù Hà Tây, những bài thơ hùng tráng viết lên từ tại trại tù Nghệ Tĩnh, những thủ đoạn quản tù dã man của những tên quản tù tại trại tù Vĩnh Phú, những cảnh vượt thoát không thành tại trại tù Phúc Sơn, những bức chúc thư bi đát tại trại tù Yên Báy, những tấm gương chiến đấu kiên cường bất khuất tại trại tù Bắc Thái… Tất cả những hình ảnh đó đã ghi rõ nét trong những công trình sáng tác trên.

Nhờ những tác phẩm nầy, chúng ta biết được một cách tường tận những thủ đoạn của công sản với những tù nhân cải tạo: hình phạt tra tấn, tẩy não dã man, hành hạ thể xác lẫn tinh thần, gây tị hiềm, đố kỵ lẫn nhau, nhất là thái độ hãnh tiến của những tay cuồng sát trên danh phận là kẻ chiến thắng. Chúng ta cũng biết được nhiều tâm sự, tình cảm, hoài bão, nhiều tấm gương anh hùng, những con người chịu đựng không bến bờ, để chống lại với cảnh chết ngày đêm rình rập. Và trong bối cảnh đó, chúng ta cũng thấy được hình ảnh tuyệt vời của những chiến sĩ Việt Nam Cộng hoà, về chính trị cũng như về quân sự, những chuyên gia cũng như những vị lãnh đạo tinh thần, đảng phái, những con người đáng kính, đáng yêu.

Nhà văn hào Nga Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn tác giả The Gulag Archipelago (1918-1956) đã viết: “Những áng văn của những người từng sống trong chế độ lao tù thú vật của Cộng Sản thông thường là những bản cáo trạng, những tiếng thét nhân bản và cũng là những chứng nhân hùng hồn nhất của thời đại chúng ta hiện nay”. Viết lên, một phần để trút được những uất hận của mình, để ghi nhớ lại những ngày đau thương nhất trong đời mình, phần khác, để tưởng nhớ những người cùng chung cảnh ngộ, cũng như hoài niệm những người đã hy sinh trong lao tù. Thành thử, nội dung và ý niệm của người viết không còn là những tác phẩm bình thường, mà với nỗi thiết tha khi cầm bút, thậm chí e ngại chữ nghĩa đã không thể hình dung hết những gì mình đã sống, mình muốn nói và uất ức khó cực tả cho hết được.

Ngục tù đối với những người chiến sĩ can trường, như là trạm dừng chân tạm thời, như lời thơ của nhà chí sĩ Sào Nam Phan Bội Châu,khi ngồi tù ở ngục Quảng Châu: “Cũng là hào kiệt, cũng phong lưu; Chạy mỏi chân thì phải ở tù”, vì cho rằng “Thân nọ hãy còn, còn sự nghiệp; Bao nhiêu nguy hiểm ngại gì đâu”. Hay nhận định của Tây Hồ Phan Châu Trinh trong thời gian ngồi tù tại ngục Côn Lôn: “Những kẻ vá trời khi lỡ bước; Nam nhi hà sá chuyện cỏn con”. Họ đã lưu lại danh thơm cho muôn đời.

Văn chương, trong trường hợp không còn là chuyện khi trà dư tửu hậu, mà trở thành thứ vũ khí sắc bén chống lại những hành động bạo tàn, nung nấu tinh thần bất khuất và rèn luyện tinh thần chiến đấu dày dạn của mình và của đồng đội nữa.

Nhà chính trị phản tỉnh Djilas của Nam Tư trong cuốn The New Class đã có lý khi viết: “Phải là những người từng sống trong những hoàn cảnh hãi hùng do chế độ và chính sách của Cộng Sản gây nên mới thấm thía được những ý nghĩa của nó và khả năng đối kháng của bản thân mình”.

Nhận xét nầy càng làm sáng tỏ những dụng công của người viết và thái độ của người đọc, nâng cao những giá trị sâu sắc của khuynh hướng văn học nầy.

Giá trị của những tác phẩm còn trường tồn với thời gian, tỏa rộng khắp không gian và gây ảnh hưởng lâu dài cho những thế hệ mai sau nữa.

☆

Văn chương phản kháng của những cựu tù nhân chính trị mang nhiều màu sắc sinh động, sắc bén, mà nội dung thường lấn át cả hình thức, hay nói một cách khác là cuộc sống của họ quá phong phú, đến nổi bất cứ một tù nhân nào cũng có thể kể được tâm trạng và hoàn cảnh của mình, gây chấn động tình cảm và tinh thần kẻ khác.

– Trước hết là tính chất hiện thực. Đã không biết bao nhiêu nhà văn Tây Phương muốn nghiên cứu đề tài nầy với những kinh nghiệm viết lách của mình; nhưng đây lại không phải là chuyện kinh nghiệm hay khả năng, mà chính là cuộc sống, cuộc sống trong từng giờ từng phút phải thở bầu không khí ngột ngạt, chịu đựng, bất mãn ròng rã trên dưới mười năm trời. Họ từng là nạn nhân cũng là chứng nhân rõ nét nhất của bản thân mình và đồng đội mình, để có thể viết lên những bản cáo trạng một cách hoàn chỉnh, vững chắc và giá trị nội dung cực kỳ phong phú.

– Tinh thần kiên cường bất khuất là một khía cạnh khác của những tác giả từng thể hiện. Mặt đối mặt với kẻ thù, với thân phận là người thua cuộc, nhưng vẫn hiên ngang, can đảm, dũng mãnh chịu đựng và xem chuyện lao tù, dù cơ cực đến đâu, chẳng qua là nạn kiếp trong một thời gian, sau đó, đến ngày được trả tự do, sẽ làm lại cuộc đời với tư tưởng và hoài bão nung nấu trong bao nhiêu ngày tháng qua. Niềm kiêu hãnh của tinh thần nầy chính là ngọn đèn chiếu sáng cho những người sống cơ cực trong lao tù Cộng Sản, để chờ đợi tin tưởng hy vọng vào con đường tương lai của mình.

– Sự đùm bọc, thương yêu, tinh thần đồng đội, huynh đệ chi binh hầu như thể hiện trọn vẹn trong những tác phẩm vừa nói trên, tình cảm xây dựng trong bao nhiêu năm trời qua vẫn còn nguyên vẹn.

– Những uất hận, tủi hờn, bất mãn, chống đối được thể hiện qua những ánh mắt, nụ cười ngạo nghễ, chẳng những tạo nên niềm tin tưởng và tự hào cho bản thân của mình, mà trở thành động lực thúc đẩy mọi người cùng chung cảnh ngộ, tìm lẽ sống tinh thần, để chờ đợi ngày mai, dù ròng rã bao nhiêu chăng đi nữa.

– Trong những tác phẩm nầy, rải rác trong thái độ, tư tưởng, tình cảm đã nói lên niềm hy vọng của những người từng sống trong những chuỗi ngày hoàn toàn như vô vọng. Lời kết luận chung của những tác giả là: Nếu không tự tạo cho mình một niềm tin và một lý tưởng sống, thì sẽ ngã gục trong chế độ lao tù nầy một cách nhanh chóng, dựa lưng nỗi chết trong từng ngày từng đêm.

– Sau cùng là niềm tin son sắt của những người cựu tù bao giờ cũng trở thành giá trị tinh thần bất biến. Niềm tin trở thành động cơ vững chắc nhất để bảo toàn lý tưởng cao đẹp, sống còn của mình; lòng tin có thể động viên được đồng đội cần nhẫn nhục, sắt đá, “trơ gan cùng tuế nguyệt” để có thể hy vọng được một ngày mai reo vui.

Chúng ta không lấy làm lạ khi thấy những cựu tù nhân chính trị Việt Nam khi sang đến bến bờ đất nước tự do đã hăng say tiếp tục lý tưởng tranh đấu của mình, vạch trần tội ác của chế độ, đồng thời tham gia tích cực đóng góp cho nền chính trị của cộng đồng người Việt, mong chờ ngày mai đây lật ngược lại thế cờ, xây dựng lại đất nước tự do, dân chủ.

Văn chương trở thành những tiếng phẫn nộ sôi động dồn nén trong một chục năm qua.

Nhà văn hào Victor Hugo thường bảo: “Trong nhà tù, con tim của mỗi người có thể cứng lại và cũng có thể vỡ ra”. Cứng lại, để rèn luyện cho bản thân mình chống đỡ trước những tai ương, kiềm chế, quản thúc của bạo lực; và vỡ ra, một khi có cơ hội thuận lợi để trút hết mọi nỗi niềm. Đọc những tác phẩm trên, một người dù bình dị đến đâu, khách quan đến đâu, cũng không thể nén được những xúc động sâu sắc như thế.

Với hoàn cảnh khó khăn khi vừa mới định cư tại xứ người, phải đương đầu với trăm ngàn vấn đề trong cuộc hội nhập, nhưng những cựu tù nhân chính trị đã đóng góp phong phú những công trình sáng tác của mình, với tâm nguyện được nung nấu từ lâu, hoài bão sâu xa và niềm thao thức lưu lại những gì cho cuộc sống mới của mình.

Chức năng của những cựu tù nhân chính trị trong tập thể sinh họat cộng đồng người Việt hải ngoại đã đóng một vai trò quan trọng, không ai có thể chối bỏ được. Sự hiện diện của họ trong những tổ chức chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục, truyền thông, báo chí trong những năm tháng gần đây đã gây nên những sinh khí đồi dào, hăng say, phát triển chiều rộng lẫn chiều sâu, cho những người đến trước thấy được những gì đang xẩy ra trên đất nước Việt nam thân yêu trên mười lăm năm trời nay.

Tập hợp tất cả những chất liệu qua những sáng tác phẩm mang nội dung trên, những nhà phân tách xã hội học và tâm lý học sẽ có đầy đủ những dữ kiện và chứng liệu cần thiết, để nhìn thấu đáo bản chất của chế độ.

Viết để tường thuật lại những cảnh huống hiếm có trên mặt đất nầy, viết cho những người đồng đội, viết gửi gắm cho những người còn ở lại quê nhà, viết cho những linh hồn đã khuất, sự kiện viết lách nầy đã vượt ra khỏi tánh chất thông thường, để trở thành những chứng liệu vô cùng quý báu, một thời đã qua và một thời đã khuất.

Trên một góc độ khác, những nhà văn, nhà thơ, nhà báo Việt Nam hải ngoại cũng đã dựng lên những nội dung cực kỳ phong phú chung quanh đề tài trên, góp phần không nhỏ, với những bút pháp cực kỳ tinh vi, sắc bén và sinh động của họ.

Văn học sử Việt nam trong giai đoạn hiện nay đã tạo dựng được những giá trị lớn lao, trong đó, những công trình văn học nghệ thuật của những cựu tù nhân chính trị chắc chắn giữ một vị thế không nhỏ.

Có nhận thức được những ý nghĩa trên, chúng ta mới cảm thấy những công trình sáng tạo đó mới đúng chân giá trị của nó và mục đích sáng tác mang tính chất cao cả vô cùng.

Những sáng tác phẩm điển hình đã nói lên những khía cạnh sâu sắc, bén nhọn, chứa đựng cả một nhân sinh quan và nhận thức quan phong phú. Bích Huyền với những kỷ niệm ngàn năm không phai; Huy Phương trong những năm tháng tủi hờn nhưng vẫn giữ được những hình ảnh vàng son của vùng trời xứ Huế oanh liệt và đài trang “Với Huế thương yêu dấu muôn đời”, Nguyễn Hữu với lối nhìn lạc quan hơn hướng về tương lai, trong niềm kiêu hãnh hiếm có, Lữ Tuấn với nhận định sắc bén và suy luận toàn diện, viễn kiến, hoài niệm của Chu Tất Tiến nghe như cả một trời thương yêu, hoài cảm xót xa. Những sáng tác của những cây bút H.O, như: Phạm Tất Thắng, Nguyễn Chí Thiệp, Quế Chi, Nguyễn Tiến Đức… đã chứng minh những hình ảnh vô cùng sâu sắc, vô cùng sắc bén của một thời tù ngục.

Những đóng góp của những nhà văn, nhà thơ, nhà bình luận: Nguyên Sa, Du Tử Lê, Thái Tú Hạp, Phạm Trọng Phúc, Võ Văn Hà, Đỗ Quý Sáng, Phùng Ngọc Ấn, Duy Lam, Hồ Đăng Định đã ra sức xiển dương và hình thành cấu trúc của một nền văn học đặc thù trong văn học phản kháng.

Tập hợp và ấn hành một số văn thơ tiêu biểu trong Tuyển tập nầy, không gì khác hơn là chúng tôi muốn trình bày một số góc độ của những giá trị trên. Những người cựu tù nhân chính trị được định cư đông đảo chừng nào, thì những tài liệu và tác phẩm cùng khuynh hướng trên lại càng phong phú bấy nhiêu.

Trong tuyển tập nầy, những tác giả tham dự có thể nhà văn, nhà thơ, là những chiến sĩ can trường, là những chứng nhân của thời đại; nhưng dù trong góc độ nào đi chăng nữa, ý nghĩa vẫn chung nhất: nói lên cho mọi người Việt Nam, bất luận trong địa bàn nào, chiến tuyến nào, đều thấy được những gì đã xẩy ra, những gì nổi bật nhất của chế độ bạo tàn, đồng thời, ca ngợi ý chí bất khuất của người dân tranh đấu sống còn, bảo vệ khí phách và quyết tâm của những người chịu cảnh lao tù.

Trong trường hợp có đủ phương tiện và những sự hợp tác quý báu của những tác giả, chúng tôi sẽ cho ấn hành những tác phẩm cùng loại kế tiếp.

Trung Tâm Sinh hoạt Cựu Tù Nhân Chính Trị VN thuộc Liên Hiệp Cộng Đồng Việt Nam tại Los Angeles khởi đầu những chương trình Tuyển Tập “Viết từ Miền Đất Hôi Sinh” nầy bằng những tác phẩm điển hình cho từng bộ môn và khuynh hướng sáng tác, để từ đó, hoạch định những Tuyển Tập trong những tháng tới. Kế hoạch mang tính chất lâu dài, tuy nhiên, việc tiến hành ra sao, cũng tùy sự hưởng ứng của những cây bút trong tập thể cựu tù nhân chính trị, những nhà văn, nhà báo tâm đắc và cùng hướng vào mục đích chung.

Như đã nói, chúng tôi tuyển tập trong mục đích trình bày những khía cạnh đặc thù, những giá trị điển hình. Nhưng vì mọi giá trị tác phẩm đều có những sở đắc và sự phong phú của nó, cho nên đây chỉ là bước khởi đầu của những chương trình tập hợp trong hiện tại và tương lai.

Los Angeles, tháng 11 năm 1991
KIÊM THÊM

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 15 Feb 2024

Chiếc Kẹo Nhỏ Trong Bàn Tay Người Chết

Duy Lam

Tặng Nguyễn Khoa Dánh: người bạn chết tại trại Đầm Đùn năm 1981 với lòng tiếc thương vô hạn.

Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Nắm không buông như níu kéo cuộc đời
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Người bạn tôi vừa rời bỏ cuộc đời

Chỉ vừa đây trong tiếng rên hấp hối
Anh đã xin hãy tìm hộ anh
Một chiếc kẹo vì đã thèm của ngọt
Nhiều tháng năm chỉ chờ đợi lúc này.

Ý nguyện ấy anh chỉ còn dám nói
Khi thịt da cái lạnh đã ngập tràn
Khi chúng tôi bạn anh cùng chạy loạn
Trong trại tù miệng rối rít van xin:
Một cái kẹo nhanh nhanh cho người bạn
Sắp ra đi “Mau mau kẻo muộn rồi!”

Trong tuyệt vọng vẫn thoáng niềm hy vọng
Sẽ mang về kịp lúc anh lâm chung
Và hoan hỉ tôi nhìn anh ngắm nghía
Trong bàn tay rộng mở kẹo vô tri
Nụ cười nhẹ trên đôi môi nhợt nhạt
Anh thầm thì: “Ồ thú quá sẽ ăn
Chiếc kẹo này thì khỏe vui chi lạ!”
Sao nỗi vui chỉ nhỏ bé thế thôi.

Rồi anh chết không kịp ăn chiếc kẹo.
Nằm lặng yên trong những ngón tay xanh
Chúng tôi liệm anh trong im lặng nặng nề
Lần vải thô lớp quần áo thuở nào
Khi tôi cạy tay anh bàn tay mở
Chiếc kẹo rơi nằm nhẹ trên ngực anh
Đầy cẩn trọng trong niềm kinh hãi:
Tôi nhặt lên để cạnh bát cơm
Cạnh quả trứng: món quà cho người chết
Chẳng bao giờ anh sẽ nếm vị hương

Rồi tất cả chúng tôi đều nức nở
Nước mắt tuôn cứ mãi mãi chẳng ngừng
Khóc cho anh, cho chúng tôi tất cả
Biết khi nào sẽ đến lượt khi nào?
Chiếc kẹo nhỏ trong bàn tay người chết
Chẳng kịp ăn khi từ giã cuộc đời!

Duy Lam
(Trích từ tập thơ Duy Lam – nhà xuất bản Sông Thu sắp phát hành)

Cô Gái Nhỏ Hấp Hối
Tặng cô gái nhỏ cả làng bỏ rơi
tại Thanh Hóa trong nạn đói 1988

Cô gái nhỏ trơ trọi
Trong căn nhà vắng tanh
Gia đình đã đi hết
Bỏ cô nằm một mình
Trong làng không chó sủa
Chim chóc cũng chẳng về
Dưới ao không tăm cá
Im lặng thật thảm thê
Làng cô đã vắng ngắt
Người người kéo nhau đi
Để tìm ăn tìm sống
Quê hương bỏ sau lưng

Trong cơn mê hoảng loạn
Cô rên rỉ van xin
Ông Táo trong bếp lạnh
Cho cô một bát cơm!
Trời hỡi trời hãy thương
Cô bé đang hấp hối
Hãy cho cô được thấy
Một khuôn mặt dịu dàng
Để cô bé khỏi chết
Làm ma đói lang thang

Lawndale 3/10/1991

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 15 Feb 2024

Có Một Ngày
Chu Tất Tiến

Có một ngày, tôi sẽ về
Thăm lại Cà Tum, Suối Máu
Thăm những con đường chúng tôi đã đắp năm xưa
Tôi muốn nâng niu
Những dấu chân đất sét hoang sơ
Sau cơn mưa rừng, tưởng rút lên không nổi

Tôi muốn xem lại
Những hố bom lầy lội
Nước đục ngầu như sữa, rong rêu
Đã là nơi anh em ngụp lặn mỗi chiều
Lao động vinh quang về, hú nhau xuống tắm .

Và những bụi măng
ta cám ơn ngươi nhiều lắm!
Đã cùng rau dền, quả bứa, trái cơm
Rau tầu bay, hay lá dang thơm
Cưu mang anh em ta, chờ ngày phục hận

Tôi sẽ đi thăm những gốc le đầy rận
Vắt tung bay, tanh tách, bám hơi người
Chỗ năm xưa, trải lá ngồi chơi
Ôm đầu gối tưởng như ôm em quằn quại
Mặc bên tai, bọn chăn trâu lải nhải
Hồn vẫn quay về một chốn xa xôi
Nơi em và con đang đổ mồ hôi
Những cặp mông mũm mĩm
những tiếng cười như ngọc.

Lá trên rừng – có đôi lần
Nhìn tôi bật khóc
Nước mắt căm hờn,lã chã
Rơi
Rơi

Tôi sẽ về thăm một chốn – rất vắng người
Chỗ gò mả – những Anh Hùng yên nghỉ
Những miếng ván, những tấm bia kỳ dị
Khắc bằng dao, chỉ mỗi một tên người
Họ nằm đây, thân lổ chổ tơi bời
Đầy vết đạn, vết xương rời gãy .

Tôi sẽ không cắm hoa
Bởi không vinh quang nào, họ thèm lấy
Tôi cũng không thắp nhang
Bởi khí phách đã huy hoàng
Tôi cũng chẳng cầu trời
Bởi họ là Thần lẫm liệt
Đất mẹ đón họ về, ngời ngời khí tiết

Và một điều, cần làm hơn hết
Là thăm quê hương tôi
Dãi chữ S nghèo nàn
Bốn ngàn năm từng vùng vẫy, ngang tàng
Sẽ còn trăm, ngàn, triệu năm
vùng vẫy, ngang tàng…

Chu Tất Tiến

Viết từ miền đất hồi sinh

baovecovang2012.wordpress.com

Posted on October 29, 2022, by Bình Long

Post by Sơn râu 15 Feb 2024

Những Con Mắt Bạc
Thơ Phùng Ngọc Ẩn

Từ xứ mù, người đi tìm lý tưởng
Đến với bạn bè như vọng ngưỡng thiên đường
Thiên đường? Ố! nó đã chết tan xương
Chỉ tồn căn một mùi hôi vất vưởng

Mùi của mười sáu năm đánh mất quê hương
Xú danh nào đó đeo đẳng người
trên nẻo đường lữ thứ
Gặp chiến hữu, nở nụ cười viễn xứ
Đường ai nấy đi, như mấy mụ đứng đường

Phẩy tay vờ như thể hiện tình thương
Đồng đô la là duy nhất thiên đường bất tử
Bạn ơi! “huynh đệ chi binh” thành sáo ngữ?
Học bao năm mà chẳng thử một lần

Cuộc đời này còn lắm bậc “cù lần”
Lật trang sử mới, tưởng mình “thần thời đại”
Làm sao biết ai khôn ai dại?
Lấy gì đo sức mạnh tương lai?

Sau lưng người, chiến hữu bỗng thở dài
Tù ngục vẫn đeo đẳng tháng ngày chưa dứt?
Hỏi bao kẻ tự vấn lương tâm bứt rứt
Không bỏ anh em, lại cắt đứt tình người.

Gẫm sự đời, nghĩ cũng nực cười
Những con mắt bạc, rẻ khinh người tị nạn
Tâm tư này trang trọng gởi về cho bạn
Bằng hữu ơi! đừng vội bỏ anh em!

Florida, tháng 11, 1991
Phùng Ngọc Ẩn

Chiến tranh bên cạnh tình yêu

Huy Văn Trương

Post by Sơn râu 15 Feb 2024

Hình minh họa

Bài 8

Vĩnh biệt đồi 1515

Hôm nay ngày 10 tháng 3 năm 1975, một ngày như mọi ngày, tôi đang ngồi trong Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt ôn bài vở. Chỉ còn ba tháng nữa là tôi xong cái bằng cử nhân, chuyện học bài khiến tôi bù đầu tóc rối. Mười một giờ, tôi xếp sách vở đứng lên định đi qua Câu lạc bộ sĩ quan ăn cơm, bất ngờ Thiếu tướng Chỉ huy trưởng bước vào, tôi chưa kịp đứng lên chào kính đã nghe thiếu tướng nói:

-Trung úy gọi Tiểu khu Darlac cho tôi.

Tôi bốc điện thoại quay số, chuông điện thoại mới reo được một tiếng đã có người trả lời với giọng hốt hoảng.

-Trung úy Hòa, Trung tâm hành quân Tiểu khu Darlac. Nghe.

Tôi nghiêm giọng.

-Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, muốn nói chuyện với Đại tá Tỉnh trưởng.

-Thiếu tướng cần gì? Mà thôi, không kịp nữa đâu, xe tăng của Việt Cộng đã tràn vào tiểu khu rồi, tôi phải chạy.

Tôi nghe tiếng ống liên hợp rớt mạnh trên bàn, có thể Tiểu khu Darlac đã bị Việt Cộng tràn ngập rồi cho nên Trung úy Hòa phải bỏ chạy mà không kịp gác điện thoại.

Tôi cúp máy, quay người đứng nghiêm, giọng nói của tôi như lạc hắn đi.

-Trình thiếu tướng, xe tăng của Việt Cộng đã lọt vào trong Tiểu khu Darlac.

-Ai nói?

-Thưa thiếu tướng, Trung úy Hòa, Trung tâm hành quân Tiểu khu Darlac nói.

-Ông ta đâu rồi?

-Trình thiếu tướng, ông ấy vứt điện thoại chạy mất rồi.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nhìn vào đồng hồ đeo tay, tôi thấy rõ gương mặt của ông bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Ông lẩm bẩm:

-Mười một giờ mười.

Khi Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đã đi ra khỏi phòng, tôi ngồi bệt xuống ghế, suy nghĩ về chuyện Trung úy Hòa bỏ chạy khỏi Trung tâm hành quân Tiểu khu Darlac. Nếu ông ấy chạy ra công sự phòng thủ để chiến đấu có thể Ban Mê Thuột vẫn còn, nhưng nếu ông chạy trốn vì sợ bị bắt làm tù binh, chắc chắn Ban Mê Thuột đã lọt vào tay Cộng Sản mất rồi. Bất chợt một tia sáng lóe lên trong đầu tôi, Sư đoàn 23 Bộ binh, sư đoàn chủ lực của cao nguyên đâu rồi? Tôi bốc điện thoại quay số Bộ tư lịnh Sư đoàn 23 ở Ban Mê Thuột. Đường dây điện thoại chỉ còn nghe tiếng u..u…vọng lại. Sau khi ghi chú cẩn thận vào nhật ký hành quân, tôi trình Thiếu tá trưởng Phòng hành quân diễn tiến tình hình của Ban Mê Thuột. Tôi đảo một vòng qua các phòng ban, mọi sinh hoạt của Trường Võ Bị Đà Lạt vẫn diễn ra bình thường, hình như chưa ai biết gì về tình huống xấu đang xảy ra ở Ban Mê Thuột. Tình huống xấu nhưng mà xấu thế nào? Còn hay mất không ai biết. Người duy nhất biết là Thiếu tướng Chỉ huy trưởng, bởi vì, ông thường xuyên liên lạc với phòng Ba của Bộ Tổng Tham Mưu bằng đường dây nóng.

Tôi quên luôn ăn trưa, vội vã đi họp bên Quân Trấn với cái bụng đói meo. Mấy ông sĩ quan bên Quân Trấn hỏi tôi:

-Ban Mê Thuột ra sao rồi trung úy?

-Tất cả mọi liên lạc với Ban Mê Thuột đều bị cắt đứt, tôi chỉ biết có một điều, lúc mười một giờ mười phút sáng nay, xe tăng của Việt Cộng đã vào bên trong Tiểu khu Darlac.

-Sao trung úy biết? Nguồn tin có đáng tin cậy không?

Hình minh họa

-Một phút trước đó, tôi nói chuyện với Trung úy Hòa ở Trung tâm hành quân Tiểu khu Darlac, chính ông ấy đã xác nhận xe tăng Việt Cộng đang tràn vào tiểu khu, sau đó ông ta quăng điện thoại bỏ chạy.

Một ông trung úy trong bàn họp nói:

-Chắc Ban Mê Thuột mất rồi.

Ông đại úy ngồi cuối bàn lên tiếng:

-Không biết khi nào quân mình mới tái chiếm Ban Mê Thuột.

Dứt lời ông ta thở dài rồi nói tiếp:

-Coi bộ đánh lớn tới nơi rồi.

Tôi lấy bì thơ đựng mật khẩu và mật hiệu trong đêm nhét vào túi áo, rời phòng họp.

Tôi nói, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt biết rõ tình hình Ban Mê Thuột và Quân Đoàn II bởi vì một tuần sau đó, Trung tâm hành quân của trường đang ở lầu hai của tòa nhà chỉ huy, phải dời xuống tầng hầm đối diện với thư viện.

Trung tâm hành quân mới rộng gấp hai lần Trung tâm hành quân cũ, điều quan trọng là nó được thiết kế rất kiên cố, chìm sâu dưới mặt đất chừng bốn mét, trần đúc bê tông dày khoảng một mét. Nhìn Trung tâm hành quân mới tôi nghĩ thầm: “Hy vọng nó sẽ chịu được đạn pháo 130 ly hoặc hỏa tiễn 122 ly của Việt Cộng”. Ngay cửa ra vào Trung tâm hành quân, một binh sĩ Quân Cảnh, quân phục chỉnh tề, nón nhựa, súng colt đeo ngang hông đứng gác. Bên trong, hàng chục cái điện thoại, máy móc truyền tin sẵn sàng hoạt động, một bản đồ một phần năm mươi ngàn của miền trung và cao nguyên trung phần gắn trên tường, một tấm vải xanh với chữ “Mật” được kéo lại phủ kín tấm bản đồ. Giữa phòng có một cái bàn dài hình chữ nhật với hơn chục cái ghế, đây là chỗ dùng để hội họp, thuyết trình.

Tôi đang lu bu cùng với hai người hạ sĩ quan trực máy truyền tin dọn dẹp, sắp đặt bàn ghế sao cho thích hợp để làm việc, bất chợt, người Quân cảnh gác cửa Phòng hành quân đi đến bên tôi:

-Trung úy, có hai sĩ quan bên Tiểu khu muốn gặp ông.

Tôi bước ra khỏi phòng, trước mặt tôi một ông trung úy và một ông đại úy đang đứng trò chuyện với nhau, mỗi ông một điếu thuốc lá phun khói đầy trời. Tôi đưa tay chào kính vị đại úy rồi tự giới thiệu:

-Tôi, Trung úy Nguyễn Trọng Quân, Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, chào đại úy.

Vị đại úy lật đật vất điếu thuốc xuống đất, lấy mũi giày giậm lên, ông ta đưa tay chào lại tôi rồi nói với giọng nói của người miền Trung.

-Chúng tôi, Đại úy Luân và Trung úy Trí thuộc Trung tâm hành quân Tiểu khu Tuyên Đức, đến đây tăng phái cho Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt. Chúng tôi đã trình diện Đại tá Tham mưu trưởng của trường, và được hướng dẫn đến đây gặp trung úy.

Tôi đưa hai ông quan vào Trung tâm hành quân. Ngoài hai cái ba lô đeo trên vai, mỗi ông còn xách theo một máy truyền tin PRC 25, tôi biết như vậy họ sẽ làm việc trực tiếp trên máy, không qua âm thoại viên. Tin tức từ chiến trường cao nguyên đưa về mỗi ngày một xấu hơn. Khi Quân Đoàn II rút về Tuy Hòa theo ngã liên tỉnh lộ 7, Pleiku mất, Kontum coi như mất luôn. Theo huấn thị điều hành căn bản của bộ Tổng Tham Mưu, ba tỉnh còn lại của cao nguyên là Quảng Đức, Lâm Đồng và Tuyên Đức sẽ đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, bởi vì ông là người có cấp bậc cao nhất trong ba tỉnh này. Riêng cá nhân tôi, gần bảy năm rồi chỉ biết lo chuyện phòng thủ Trường Võ Bị Đà Lạt, nhiệm vụ của tôi là theo dõi tất cả nhũng đơn vị bảo vệ trường đóng ở đâu, phân bố như thế nào để sẵn sàng yểm trợ hỏa lực khi cần thiết, chỉ chừng đó thôi. Ngoài ra, những đơn vị Địa Phương Quân của Tiểu khu Tuyên Đức, tôi hoàn toàn mù tịt. Ngay cả tên của những tiểu đoàn trực thuộc tiểu khu, tôi cũng chỉ biết một cách mù mờ, nói gì đến chuyện họ đóng ở đâu, di chuyển như thế nào. Đó là lý do khi lãnh nhiệm vụ trông coi ba tỉnh còn lại, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đã điều hai sĩ quan thuộc Trung tâm hành quân của Tiểu khu Tuyên Đức về tăng phái cho Trường Võ Bị Đà Lạt. Thiếu tướng Chỉ huy trưởng muốn nắm chắc trong tay những Tiểu đoàn tác chiến của Tiểu khu Tuyên Đức, khi ông trực tiếp điều động. Tưởng cũng nên biết, trước khi về Trường Võ Bị Đà Lạt, ông đã là Tư lệnh Sư đoàn 18 Bộ Binh ở Long Khánh.

Hình minh họa

Vừa đặt máy truyền tin xuống đất, hai ông sĩ quan hành quân của tiểu khu đã lục ba lô lấy ra nào là đặt lệnh truyền tin, khóa đối chứng, phóng đồ hành quân, nhật ký hành quân rồi mở máy PRC 25. Sau ba giờ lên máy, phối hợp làm việc, cặm cụi khoanh vùng, ghi chú, chúng tôi đã có điểm đóng quân của tất cả những tiểu đoàn Địa Phương Quân thuộc tiểu khu Tuyên Đức cũng như những điểm kích, đóng quân, của Trường Võ Bị Đà Lạt. Nhìn tấm bản đồ gắn trên tường dày đặc chi tiết, tôi biết mọi việc đã tạm xong. Đại úy Luân quay sang hỏi tôi:

-Ở đây, trung úy có nước sôi không?

-Bên Câu lạc bộ thiếu giống gì. Mà đại úy cần nước sôi để làm gì?

-Từ sáng đến giờ, bọn này chưa ăn uống gì hết, đói quá chừng. Tôi cần nước sôi để đổ vô gạo sấy.

-Nè đại úy, tụi mình kéo nhau qua Câu lạc bộ làm một dĩa cơm, sẵn đó thêm ly cà phê cho sáng suốt tinh thần.

Đại úy Luân phân trần:

-Tụi này đi một lần hai đứa không được, phải có một thằng trực máy. Hay là trung úy và Trung úy Trí đi ăn trước đi, khi quý vị về tôi sẽ đi sau.

Tôi dẫn Trung úy Trí qua câu lạc bộ, vừa đi vừa chuyện trò. Không hiểu tại sao, bỗng dưng tôi hỏi Trung úy Trí:

-Trung úy khóa mấy?

-À., khóa 6/68 Thủ Đức.

Tôi cười khoái chí, đổi cách xưng hô:

-Mẹ nó, mày với tao cùng khóa. Tao ở đại đội 62 gần ban quân nhạc, còn mày?

-Tao đại đội 65. Vậy mà từ sáng đến giờ, tao cứ tưởng mày là dân Võ Bị Đà Lạt.

-Hầu hết mọi người đều nhầm lẫn như mày. Gặp trường hợp đó, tao nhận luôn không đính chánh. Trung bình, mỗi năm Trường Võ Bị Đà Lạt có khoảng hai trăm năm chục sĩ quan tốt nghiệp. Năm sáu mươi tám là năm bọn mình đi lính, Trường Bộ binh Thủ Đức có chín khóa, mỗi khóa chẵn có khoảng hai ngàn sĩ quan, khóa lẻ có khoảng một ngàn, tính ra khoảng mười hai ngàn ông quan.

Tôi nhắc lại với Trung úy Trí:

-Đào tạo mười hai ngàn sĩ quan trong một năm, so với hai trăm năm chục, coi bộ sĩ quan tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt có giá hơn sĩ quan Thủ Đức của bọn mình nhiều.

Trung úy Trí với giọng đầy chán nản.

-Còn phải nói, sĩ quan Võ Bị Đà Lạt hơn hẵn sĩ quan Thủ Đức về mọi phương diện, ngoại trừ một điểm.

Tôi nói:

-Tao chẳng thấy ưu điểm nào hết.

-Tại mày không để ý đó thôi, sĩ quan Thủ Đức khi ra trường chết như rạ, chết nhiều đến nỗi đếm không kịp. Nếu không tin tao mày coi lại đi, mười hai ngàn sĩ quan năm sáu tám của bọn mình, giờ này còn được bao nhiêu? Được ba phần tư hay không? Nếu đúng, có nghĩa là hơn ba ngàn đã hy sinh, đã đền nợ nước. Như vậy, sĩ quan Trừ Bị Thủ Đức được trui rèn ngoài chiến trường, trưởng thành trong khói lửa, đem cái chết, đem mạng sống của mình đổi lấy kinh nghiệm, đó không phải là ưu điểm hay sao? Nếu không có sĩ quan Thủ Đức, ai sẽ chỉ huy một triệu lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi và trung úy Trí ăn một bữa cơm không được vui vẻ cho lắm. Trung úy Trí ngửa cổ nốc một hơi bia.

-Ngày nào mày cũng ăn cơm ở đây?

-Không thường lắm đâu, chỉ vài lần trong một tuần.

Hình minh họa

Trung úy Trí nói:

-Ngày xưa, trước khi về Trung tâm hành quân Tiểu khu Tuyên Đức, tao ở Sư đoàn 22 Bộ Binh. Tiểu đoàn của tao đóng tại Tuy Hòa, mẹ nó, cả mấy tháng mới có thì giờ ăn một bữa cơm ra hồn như ở đây. Nói đến Tuy Hòa tao mới nhớ, mày có biết Quân Đoàn II đang trên đường Liên tỉnh lộ 7 di tản về Tuy Hòa hay không?

Tôi gật đầu, nói với Trung úy Trí:

-Biết chớ, đó là lý do tại sao mày và Đại úy Luân tăng phái cho Trường Võ Bị.

Trung úy Trí chấm dứt bữa ăn bằng một hơi bia.

-Tụi mình về cho Đại úy Luân đi ăn, chắc ông ấy đói lắm rồi.

Về đến Trung tâm hành quân chừng mươi phút, tôi nhận được điện thoại của bác Bảy (hai cái điện thoại class A của Trung tâm hành quân Trường Võ Bị, là điện thoại dùng để liên lạc khắp cả miền Nam Việt Nam, quân sự lẫn dân sự đều gọi được). Bác Bảy với giọng nói đầy lo lắng:

-Con và Cúc phải về Sài Gòn gấp, bác có chuyện quan trọng muốn nói với con.

-Chuyện gì vậy bác?

-Mình phải bỏ nước ra đi, không thể chờ đợi được nữa rồi.

Tôi nói với bác Bảy:

-Đi đâu? Đi sao được, con rời bỏ đơn vị sẽ bị coi như đào ngũ.

Giọng bác Bảy như lạc hẳn đi.

-Con Cúc đang ở đâu?

-Thưa bác, ở ký túc xá.

-Nếu con không đi được, bằng mọi giá con phải tìm phương tiện đưa Cúc về Sài Gòn.

Tôi hứa đại cho bác Bảy yên lòng.

-Bác yên tâm, con làm được.

Giọng của bác Bảy như nhẹ hơn.

-Bác tin ở con. Cho bác gởi lời thăm ba má con, thôi bác cúp điện thoại đây.

Tôi gác điện thoại. Như một cái máy, tôi quay số ban vận chuyển của phi trường quân sự Cam Ly. Đầu dây bên kia, một giọng nói khá quen thuộc.

-Alô, trung sĩ Trang nghe.

Mừng quá sức, tôi nhẹ giọng:

-Trung úy Quân, Trường Võ Bị Đà Lạt nè bạn, có việc cần nhờ bạn giúp đỡ.

-Chuyện gì vậy trung úy?

-Có chuyến bay nào về Sài Gòn không?

-Ông hỏi sao mà đúng lúc quá. Bốn giờ chiều nay có một chuyến C130, chỗ quen biết tôi mới nói với ông. Đừng tiết lộ cho ai biết.

-Cảm ơn ông bạn nhiều.

Tôi cúp điện thoại, ba chân bốn cẳng phóng Honda lên Ký túc xá, lôi Cúc ra xe. Cúc vừa chạy vừa nói:

-Để em lấy theo vài bộ quần áo.

Tôi nói như hét:

-Không kịp nữa rồi, bỏ hết, bỏ hết đi.

Khi tôi và Cúc đến phi trường Cam Ly đã thấy chiếc C130 đậu ở phi đạo. Một ông trung úy Không Quân đang đi vòng quanh chiếc C130 tựa như đang kiểm soát trước khi cho phi cơ cất cánh. Bốn cánh quạt của phi cơ vẫn chưa khởi động, tôi biết mình còn dư thời giờ để lo liệu. Tôi nhìn ông trung úy một lần nữa cho chắc ăn, mặt mày của hắn sáng sủa, đẹp trai, thân hình cao lớn trong bộ quân phục áo liền quần của Không Quân.

Tôi la to:

-Nguyễn Văn Ly phải không?

Hình minh họa

Gã trung úy Không Quân nhìn tôi với gương mặt khinh khỉnh, cứ như là cả nước Việt Nam này chỉ có một mình hắn biết lái máy bay. Hắn trả lời cộc lốc:

-Không, trung úy nhìn lầm người rồi.

Tôi là người có trí nhớ rất tốt, chuyện này tôi mới biết khoảng mấy năm gần đây khi học đại học. Những bài vở từ chương trong lớp tôi học dễ dàng, thuộc vanh vách nhưng khi bước qua lãnh vực khoa học, phát minh, tôi lại u mê. Gã trung úy đứng trước mặt tôi đúng là Nguyễn Văn Ly, học chung lớp với tôi từ đệ thất ở trung học Trần Hưng Đạo Đà Lạt, đến năm đệ tam, hắn chuyển qua học bên Trường trung học Adran. Ngày xưa, khi tôi bị lũ bạn trong lớp hiếp đáp, hắn là người đứng ra bênh vực cho tôi.

Giống như chuyện mình bị tạt một gáo nước lạnh, tôi ngượng chín người vì có Cúc đứng bên cạnh. Giận thằng bạn đãng trí mau quên, tôi buông tiếng chửi thề:

-Mẹ nó, làm lơ máy bay chớ được cái mẹ gì mà bày đặt.

Gã trung úy Không Quân cười híp mắt, ôm lấy tôi.

-Tình cờ gặp lại mày, tao mừng muốn chết, mới đùa chút xíu mà đã giận rồi. Mày đưa cô bé này về Sài Gòn phải không?

-Sao mày biết?

Ly hỏi vặn tôi:

-Không lý mày với cô bé này đến phi trường để ngắm cảnh, hay là mày lại nói đến đây để thăm tao? Mà nè, mày vừa nói cái chữ gì? Mày nói tao là lơ máy bay phải không?

Tôi cười như chế giễu hắn.

-Lái vận tải cơ C130, cấp bậc phải là thiếu tá hoặc nếu là đại úy, phải có nhiều giờ bay. Cở trung úy như mày, đi theo máy bay chỉ có việc bưng cà phê cho sếp, hoặc để mấy sếp sai vặt chớ làm được gì.

-Nói cho mày biết, tao là hoa tiêu phụ ngồi ghế bên phải trong phòng lái, thiếu tá trưởng phi cơ ngồi bên trái. Không có tao, phi cơ muốn cất cánh coi bộ cũng hơi khó.

-Như vậy, mày là tài xế máy bay rồi.

Ly cười khoái chí.

-Đúng, tài xế chớ không phải là lơ.

Tôi hỏi nhỏ Ly:

-Công tác gì mà phải đem C130 lên đây?

Ly nhìn vào trong máy bay.

-Sáng nay, mười hai chiếc C130 chở một Liên Đoàn Nhảy Dù ra Đà Nẵng, khi trở về, chiếc của tao được lệnh ghé Đà Lạt để đem gia đình binh sĩ Không Quân về Sài Gòn. Để tao đưa bạn gái mày lên máy bay.

Tôi cải chính.

-Cúc là vợ chưa cưới của tao.

-Mày chậm tiến quá sức, bên Không Quân bọn tao chẳng có ai dại gì dùng chữ vợ hay vợ chưa cưới, mấy chữ này phải bỏ trong tủ sắt, khóa kỹ lại.

Tôi ôm Cúc, hôn nhẹ lên má của nàng:

-Em giữ gìn sức khỏe, đừng lo lắng, bận tâm gì về anh.

Khi Cúc đã bước qua khỏi cánh cửa khổng lồ sau đuôi máy bay, Ly nhìn tôi:

-Mày leo lên luôn, còn chờ gì nữa?

-Mày muốn tao đào ngũ? Đừng có bày đặt xúi dại.

-Tao không có xúi dại đâu, mày nghĩ lại đi cả cái Quân Đoàn II, binh hùng tướng mạnh như vậy còn phải di tản chiến thuật. Trường Võ Bị Đà Lạt bé tí tẹo của mày làm được cái gì, liệu có còn đứng vững một mình ở cao nguyên khi mà Phan Rang rơi vào tay Việt Cộng hay không? Nhiệm vụ của tao lên đây là để di tản gia đình binh sĩ Không Quân về Sài Gòn. Đà Lạt coi như đã mất rồi, mày cứ về Sài Gòn đi, mọi chuyện hãy tính sau.

Tôi nói:

-Cảm ơn lòng tốt của mày, tao phải ở lại trường thôi.

Ly siết chặt tay tôi.

Hình minh họa

-Ở lại mạnh giỏi, tới giờ tao phải bay rồi.

Trước khi bước đi, hắn nói nhỏ vào tai tôi:

-Tao xa Đà Lạt mới có sáu năm, hôm nay trở về đây hình như người đẹp của Đà Lạt biến đâu mất hết rồi.

-Tại sao mày nói vậy?

Ly lắc đầu ra vẻ khổ sở.

-Mày coi bộ chậm chạp vậy mà khôn, vợ xấu mới là vợ của mình.

Tôi chỉ muốn đạp cho hắn một đạp nhưng ngẫm nghĩ lại, nó chỉ nói lên sự thật mà thôi. Câu nói của Ly khiến tôi phải suy nghĩ. Tại sao tôi phải lấy một người vợ tuy là giàu có nhưng xấu, trong lúc mình có người yêu đẹp như mơ, lại yêu mình hết mực. Bỗng dưng, tôi nhớ đến cái cân tiểu ly dùng để cân vàng, khi hai bên dĩa cân đã bằng nhau, chỉ cần thêm một cọng tóc vào bên nào, dĩa cân sẽ nghiêng về bên đó. Lời nói của Ly nhẹ như sợi tóc nhưng nó giúp tôi giải đáp được câu hỏi, giải quyết được vấn nạn mà tôi phải cưu mang bấy lâu nay. Đột nhiên, ý tưởng phản bội Cúc để trở về với Dung thoáng qua trong đầu, tôi nói với Ly:

-Có chuyện quan trọng, tao phải nhờ mày. Lát nữa, mày nhớ nói với Cúc là tao sẽ ở lại luôn tại Đà Lạt với ba má tao. Tao sẽ không đi đâu hết, cho dù Đà Lạt có di tản. Nhớ nói giúp tao.

Gánh nặng ngàn cân đặt trên vai của tôi giờ đây đã được cất xuống. Trên đường về trường, tôi phóng Honda mà người cứ nhẹ như bay.

o O o

Sau khi Quân Đoàn II rút khỏi cao nguyên, tình hình chiến sự biến chuyển một cách mau lẹ, mau hơn sự suy nghĩ của mọi người.

Trung úy Trí với cây viết chì mỡ trên tay, vừa cập nhật tin tức mới nhất vào bản đồ gắn trên tường vừa nói với tôi:

-Quảng Đức mất rồi, Liên đoàn 24 Biệt Động Quân triệt thoái khỏi Quảng Đức đã đến được một khu rừng gần Bảo Lộc, họ xin Trường Võ Bị bốn chục chiếc trực thăng để bốc họ về Đà Lạt.

Tôi nói với Trung úy Trí:

-Mày yên chí, chuyện này tao đã trình với Thiếu tướng Chỉ huy trưởng rồi.

Trung úy Trí thắc mắc.

-Tao đâu có thấy chiếc trực thăng nào trong Trường Võ Bị, một chiếc cũng không có lấy đâu tới bốn chục chiếc để mà chở quân.

Tôi giải thích:

-Mày biệt phái nên không biết đó thôi, hơn chục cái điện thoại trên bàn, trong đó có hai cái điện thoại nóng. Một cái dùng để liên lạc trực tiếp với Phòng Ba của Bộ Tổng Tham Mưu, cái còn lại, trực tiếp với Sư đoàn 6 Không Quân vừa mới di tản từ Pleiku về đóng ở phi trường Phan Rang. Mấy chục chiếc trực thăng cùng với chiến đấu cơ của sư đoàn này, được đặt dưới quyền sử dụng của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt.

-Như vậy thì, khi nào mình bốc Liên đoàn 24 Biệt Động Quân về trường?

Tôi chưa kịp trả lời, Trung úy Trí vừa nói vừa xoa hai tay với nhau.

-Đang không có thêm một Liên đoàn Biệt Động Quân phòng thủ Trường Võ Bị Đà Lạt, chắc ăn như bắp.

Hình minh họa

Tôi nói nhỏ với Trung úy Trí:

-Khi nào bốc hả? Mày qua hỏi Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đi?

Trung úy Trí cười, tiếng cười đầy sảng khoái vang vọng khắp căn phòng.

-Mày định xúi con nít ăn cứt gà phải không? Tao đâu có dại đi vuốt râu hùm.

Tôi nói:

-Tao ở đây hơn sáu năm, chưa bao giờ thấy ông tướng cười, cả năm mới nghe được ông ấy nói vài tiếng. Mình muốn biết chuyện gì phải nghe lén rồi suy đoán thôi. Chuyện bốc Liên đoàn 24 Biệt Động Quân, tao đoán như thế này: Cả ngày hôm nay không có lệnh của thiếu tướng điều động trực thăng, có nghĩa là ông ấy không muốn bốc Liên đoàn 24 Biệt Động Quân về Trường Võ Bị Đà Lạt. Còn nói đến lý do tại sao không bốc Liên đoàn 24, nó thuộc về lãnh vực điều quân, làm sao mình biết được.

Đại úy Luân đang ngồi ở cuối phòng làm việc với hai người hạ sĩ quan truyền tin, ông ta vươn vai đứng lên đi về phía tôi và Trung úy Trí.

-Sư đoàn 7 của Việt Cộng phối hợp với xe tăng, đã chiếm xong Bảo Lộc, đang tràn vào Di Linh, cứ cái đà này vài ngày nữa sẽ tới Đà Lạt. Bảy tỉnh của cao nguyên mất hết sáu, chỉ còn có mỗi một mình Đà Lạt.

Đang nói chuyện, bất ngờ Đại úy Luân hô lớn:

-Nghiêm.

Tất cả mọi người trong Trung tâm hành quân đều bật dậy, đứng nghiêm như tượng đá.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng vừa bước vào phòng, theo sau ông ta là Đại tá Tỉnh trưởng rồi Đại tá Chỉ huy trưởng trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị. Ba người ngồi vào bàn họp hành quân ở giữa phòng. Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nhìn vào tấm bản đồ trên tường rồi hỏi Đại úy Luân.

-Tình hình đến đâu rồi?

Tôi biết thiếu tướng hỏi để mà hỏi, thực ra ông đã biết hết mọi chuyện nhờ vào Phòng hành quân tại tư dinh.

Đại úy Luân với giọng nói chắc và rõ ràng.

-Trình thiếu tướng, Di Linh đã bị Việt Cộng chiếm rồi.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng hỏi tiếp:

-Tiểu đoàn 204 Trinh sát đang ở đâu?

Đại úy Luân nhanh chóng trả lời:

-Trình thiếu tướng, Tiểu đoàn 204 đang đóng quân gần Chùa Sư Nữ ở Trại Hầm.

Chần chừ giây lát như đang suy nghĩ chuyện gì, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng quay sang nói với Đại tá Tỉnh trưởng:

-Bằng mọi giá, đại tá cho Tiểu đoàn 204 chiếm lại Di Linh.

Bầu không khí trong Trung tâm hành quân bỗng trở nên nặng nề, khi Đại tá Tỉnh trưởng cùng với Đại úy Luân đi về phía hệ thống truyền tin đặt ở cuối phòng.

Hình minh họa

Đưa tay chỉ trung úy Trí, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng hỏi:

-Mấy ngày qua, trung úy và Đại úy Luân biệt phái cho Trường Võ Bị, ăn uống ở đâu?

-Trình thiếu tướng, chúng tôi có mang theo lương khô.

-Tạm thời như vậy đi, tháng này trung úy và Đại úy Luân sẽ lãnh lương của Võ Bị.

Vừa dứt lời Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đứng lên đi ra cửa, thân hình của ông tuy to lớn nhưng với huyền đai đệ nhị đẳng Aikido khiến ông có tướng đi nhẹ nhàng lanh lẹ. Khi ngang qua mặt tôi, ông nói:

-Trung úy nhắc Phòng tài chánh, ứng lương cho hai sĩ quan biệt phái.

Khi Thiếu tướng Chỉ huy trưởng và hai vị đại tá đã rời khỏi phòng, mọi người đều thở ra nhẹ nhõm.

Nhân lúc rảnh rỗi, Trung úy Trí giảng cho tôi biết về sự hình thành của Tiểu đoàn 204 mà tiền thân của nó là Đại đội 302 Trinh sát. Đây là tiểu đoàn thiện chiến nhất của Tiểu khu Tuyên Đức, và cũng là tiểu đoàn chủ lực của Quân Khu II. Huyền thoại về Tiểu đoàn 204, tôi và mọi người dân Đà Lạt cũng đều biết rõ.

Khi Thiếu tướng Chỉ huy trưởng quyết định đem Tiểu đoàn 204 tái chiếm Di Linh, tuy sẽ chận được bước tiến quân của Cộng Sản trên Quốc lộ 20 nhưng Đà Lạt không còn quân trừ bị.

Đại úy Luân và Trung úy Trí cả hai cùng nhìn tôi, Đại úy Luân nói:

-Trước sau gì Đà Lạt cũng mất, tại sao mình không đưa hàng chục Tiểu đoàn Địa Phương Quân của Tiểu khu Tuyên Đức với quân số và đạn dược còn đầy đủ, tinh thần chiến đấu còn cao, đi giữ an ninh cho đoạn đường từ Đơn Dương băng qua đèo Ngoạn Mục xuống Sông Pha. Bảo vệ được đoạn đường chiến lược này, Sinh viên sĩ quan Võ Bị, Sinh viên sĩ quan Chiến Tranh Chính Trị, cũng như dân chúng Đà Lạt sẽ an toàn rút về Sài Gòn.

Tôi không có ý kiến, chuyện di tản do Thiếu tướng Chỉ huy trưởng quyết định, đúng hay sai và khi nào bắt đầu không phải là việc khiến tôi suy nghĩ.

Ngày hôm sau, thêm một ngày ba đứa tôi làm việc tối tăm mặt mày nhưng tất cả đều vui vẻ, vì chiều hôm đó, có tin tức báo về Trung tâm hành quân cho biết binh sĩ của Tiểu đoàn 204, kéo về Đà Lạt một chiếc xe Molotova của Việt Cộng do Liên Xô cung cấp, chiếc xe được để ngay nơi vòi phun nước gần cà phê Hạnh Tâm. Điều này chứng tỏ rằng, Tiểu đoàn 204 đang giao tranh với Việt Cộng ở Di Linh, và đã chận đứng được bước tiến quân của Việt Cộng trên Quốc lộ 20.

Khi mà ngoài trời đã tối mịt, ba đứa chúng tôi mới rảnh rỗi có chút thì giờ đổ nước lạnh vào mấy bao gạo sấy, ăn với thịt hộp, thêm chút mì gói bẻ vụn vì không có nước sôi. Câu lạc bộ sĩ quan đã đóng cửa từ sáng, không còn bán nữa. Ba thằng vừa ăn cơm vừa tán gẫu, đại úy Luân hỏi tôi:

-Mấy hôm rồi tôi thấy chỉ có trung úy trực Trung tâm hành quân của trường, một mình ông lo hết mọi chuyện, còn thì giờ đâu để nghỉ ngơi.

Tôi giải thích cho Đại úy Luân biết. -Trường Võ Bị Đà Lạt có hai Trung tâm hành quân, một ở trong trường và một ở ngoài tư dinh của thiếu tướng. Trung tâm hành quân ngoài tư dinh của thiếu tướng do hai vị đại úy và hai hạ sĩ quan thay phiên nhau trực. Trung tâm hành quân trong Trường Võ Bị Đà Lạt do hai trung úy và hai hạ sĩ quan điều hành, tất cả được đặt dưới quyền chỉ huy của thiếu tá trưởng Phòng hành quân. Mấy hôm trước đây vì tình hình biến chuyển ở Liên tỉnh lộ 7, Phòng hành quân từ tòa nhà chỉ huy dời xuống đây, Trung úy Hàn thuộc Trung tâm hành quân của trường, phải vác máy PRC 25 đi theo thiếu tá trưởng Phòng hành quân. Một mình tôi phải cáng đáng tất cả mọi việc ở đây, không biết cho đến khi nào mới có thêm sĩ quan trợ giúp.

Hình minh họa

Đang thoải mái ngồi nghe tôi nói chuyện, bất chợt Đại úy Luân buông đũa đứng lên rồi hô to:

-Nghiêm.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng xuất hiện nơi cửa ra vào, ông nhìn quanh khi thấy tôi, ông ra lệnh:

-Trung úy, gọi Đại úy Đại đội trưởng Công Binh đến Trung tâm hành quân nhận lệnh, gọi ngay lập tức.

Tôi bốc cái điện thoại nội bộ nối trực tiếp với Đại đội Công Binh. Từ đầu dây bên kia, giọng nói của một người gốc Huế.

-Đại úy Thi, Đại đội Công Binh Trường Võ Bị Đà Lạt, tôi nghe.

Tôi nhỏ giọng:

-Tôi, Trung úy Quân Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, đại úy trình diện Thiếu tướng Chỉ huy trưởng gấp. Thiếu tướng đang ở Trung tâm hành quân của trường.

Tôi gác điện thoại rồi đứng nghiêm.

-Trình thiếu tướng, đã cho lệnh gọi Đại úy Thi rồi.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng gật đầu, quay người đi đến bục thuyết trình. Ông đứng nhìn tấm bản đồ gắn trên tường rồi hỏi trống không:

-Từ đây xuống cầu Đại Ninh, đường sá có an ninh không?

Đại úy Luân trả lời, giọng hơi rụt rè:

-Trình thiếu tướng, ban ngày an ninh hoàn toàn nhưng đêm đến khi binh sĩ của mình rút quân về căn cứ, du kích quân của Việt Cộng có thể xuất hiện hoạt động quấy phá.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nói:

-Đại úy lệnh cho tất cả các đơn vị đóng dọc theo Quốc lộ 20, từ đầu đèo Prenn đến cầu Đại Ninh lo phần an ninh quốc lộ, binh sĩ đặt trong tình trạng báo động, sẽ có quân xa của mình di chuyển.

Đại úy Luân nói:

-Tuân lệnh.

Tôi hơi thắc mắc, quân xa nào của mình mà di chuyển vào giờ này.

Ngay lúc ấy, cửa phòng Trung tâm hành quân sịch mở mang theo con gió lạnh từ bên ngoài lùa vào, Đại úy Thi bước đi như là chạy đến trước mặt Thiếu tướng Chỉ huy trưởng, ông đưa tay chào kính.

-Đại úy Trần văn Thi, trình diện thiếu tướng.

Thiếu tướng nhìn Đại úy Thi từ đầu đến chân rồi hỏi:

-Đại úy có biết cầu Đại Ninh ở đâu không?

Đại úy Thi đưa tay xuống nhưng vẫn đứng nghiêm.

-Thưa thiếu tướng biết, cầu nằm ở Quốc lộ 20 trên đường về Sài Gòn, cách Đà Lạt khoảng năm mươi cây số.

-Đại úy đã thấy cây cầu ấy chưa?

-Thưa thiếu tướng, mấy năm trước tôi đã đi qua cây cầu ấy nhiều lần khi đi phép về Sài Gòn.

-Nó như thế nào?

-Trình thiếu tướng, cầu khá lớn, chiều dài của cầu có thể đến hai trăm thước, được đúc bằng bê tông cốt sắt khá kiên cố bắc ngang sông… hình như sông Đa Nhim thì phải.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đi đến bàn họp hành quân, ông ngồi xuống rồi tiếp tục hỏi Đại úy Thi.

-Đại úy biết khá rõ về cây cầu, vậy phải cần bao nhiêu ký thuốc nổ để phá sụp cây cầu đó.

Đại úy Thi luống cuống ra mặt.

-Trình thiếu tướng, tôi cần có thì giờ đo đạc chân cầu, tính toán cẩn thận mới biết rõ cần bao nhiêu ký chất nổ.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nhíu mày, chừng như suy nghĩ.

-Đại úy cho một con số phỏng chừng cũng được.

Sau một chút chần chờ, Đại úy Thi trả lời:

-Trình thiếu tướng, phải cần trên một tấn hợp chất C4, chuyên viên chất nổ của Công Binh mới giựt sập cầu được.

Hình minh họa

Giọng nói của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đột nhiên nghiêm lại, nghe như là một mệnh lệnh chứ không phải giọng lúc nói chuyện.

-Tôi muốn, đại úy đích thân dẫn lính Công Binh, đi phá cầu Đại Ninh cho tôi.

-Trình thiếu tướng, khi nào?

-Ngay bây giờ, đại úy thấy có gì trở ngại không?

-Trình thiếu tướng, không.

Tôi biết rõ, nếu Thiếu tướng Chỉ huy trưởng bảo Đại úy Thi nhảy vô lửa, ông ấy cũng nhảy ngay lập tức, sá gì chuyện đi đặt mìn phá hủy cây cầu.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nhìn vào đồng hồ đeo tay.

-Bây giờ là tám giờ tối, đại úy có một giờ để chuẩn bị chất nổ và chuyên viên, chín giờ khởi hành. Từ đây đến cầu Đại Ninh khoảng năm mươi cây số, mười giờ ba mươi đại úy sẽ có mặt tại cầu. Sau khi giựt sập cầu Đại Ninh, đại úy báo cáo kết quả về Trung tâm hành quân của trường.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nhìn thẳng vào mắt của Đại úy Thi:

-Đại úy có gì hỏi không?

-Thưa thiếu tướng, chở một xe chất nổ di chuyển ban đêm không có hộ tống, rất dễ bị Việt Cộng bắn B40.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng chỉ tay về phía đại úy Luân.

-Đã có đại úy Luân, phòng hành quân của Tiểu khu lo phần an ninh lộ trình.

Như chợt nhớ ra điều gì, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng nói với Đại úy Luân:

-Tiểu đoàn 277 của Tiểu khu Tuyên Đức, đã qua cầu Đại Ninh vào vùng hành quân chưa?

-Trình thiếu tướng tiểu đoàn trên đã qua cầu, đang tiến vào quận Di Linh.

-Tốt.

Vừa dứt lời, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng quay sang nói với đại úy Thi:

-Đại úy về Đại đội Công Binh chuẩn bị, một giờ nữa sẽ khởi hành.

Khi Đại úy Thi rời khỏi Trung tâm hành quân, tất cả chúng tôi bắt đầu làm việc, theo dõi từng bước đi của ông ta rồi trình lên Thiếu tướng Chỉ huy trưởng.

Mãi đến 1 giờ sáng, tôi mới nhận được tin của Đại úy Thi nói qua máy truyền tin:

-Trung úy trình cho thiếu tướng biết, tôi đã giựt sập cầu Đại Ninh rồi.

-Tôi sẽ trình ngay lập tức nhưng đại úy phải về Trung tâm hành quân trình diện thiếu tướng, ông ấy đang chờ đại úy ở đây.

Ba giờ sáng, Đại úy Thi về đến Trung tâm hành quân. Sau khi nghe rõ Đại úy Thi tường trình đầy đủ về việc giựt sập cầu Đại Ninh, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng mới chịu ra về. Tốn hơn bảy, tám tiếng đồng hồ, lại đích thân lo mọi việc chứng tỏ chuyện phá sập cầu Đại Ninh là một điều quan trọng trong kế hoạch di tản khỏi Đà Lạt của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng.

Sau một ngày làm việc liên tục, chúng tôi tạm thời được nghỉ ngơi. Tôi đang mơ màng trong giấc ngủ chập chờn, bất chợt tiếng chuông điện thoại reo vang. Tôi nhìn đồng hồ, mới bốn giờ sáng mà điện thoại reo là có chuyện không ổn rồi. Tôi chụp cái ống liên hợp.

-Trung úy Nguyễn Trọng Quân, Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, nghe.

Giọng của bác Bảy ở đầu dây bên kia, nghe không được rõ cho lắm.

-Bác có chuyện quan trọng cần nói với con.

-Dạ, con nghe đây bác.

-Độ mươi ngày trước đây, khi con Cúc về Sài Gòn, nó có nói với bác là chiếc máy bay C130 chở Cúc rộng thênh thang, trung úy lái máy bay lại là bạn của con nhưng con không chịu về, đúng không?

Hình minh họa

Tôi trả lời:

-Dạ phải.

Giọng của bác Bảy nói mà như là phiền trách:

-Bác đã nói với con là mình phải bỏ nước ra đi, vậy mà con không chịu nghe lời bác. Con có biết không, cái đám cố vấn Mỹ bạn của bác, tụi nó ngày nào cũng thúc giục bác phải ra đi càng sớm càng tốt. Hiện tại, bác đang ngồi ở phòng đợi của hãng hàng không Air France, tại phi trường Tân Sơn Nhất. Hai giờ nữa máy bay sẽ cất cánh, với bác mọi chuyện đều suôn sẻ, chỉ tội cho Cúc nó buồn vì không có con nhưng mà bác làm gì được bây giờ. Con với Cúc đã làm đám hỏi, hai đứa bây có duyên mà không có phận, khi bác và Cúc đi rồi, con được tự do hoàn toàn định liệu lấy đời mình.

Nghe bác Bảy nói, tôi mừng thầm trong bụng. Tôi nghĩ, sau này về được Sài Gòn, tôi có thế cưới Dung mà không một chút mặc cảm là đã phụ rãy Cúc. Tôi nói:

-Con cảm ơn bác.

-Còn điều này nữa, cho bác gởi lời thăm ba má con và mấy em của con. Tới giờ bác phải lên máy bay rồi, con ở lại mạnh giỏi.

Tôi nói thêm:

-Con chúc bác và Cúc lên đường bình an.

Cùng lúc ấy, tôi nghe được đường dây điện thoại bị cắt, chỉ còn tiếng u..u.. vọng lại.

Tôi gác điện thoại, nhắm mắt cố dỗ giấc ngủ để mai còn sức mà làm việc. Suốt ngày hôm ấy, chúng tôi lên máy chỉ theo dõi mọi biến chuyển về chuyện điều quân của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng.

o O o

Chiều hôm nay 31 tháng 3 năm 1975, tôi đang đứng tại tòa nhà chỉ huy. Sau khi nhìn quanh một vòng không thấy gì, tôi đi lần theo cầu thang xoắn ốc lên đến tầng hai của bộ chỉ huy. Sau lưng tôi là phòng làm việc của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng, trước mặt tôi là Trung tâm hành quân cũ, hành lang phía trái và hành lang bên phải sâu hun hút, lờ mờ trong bóng tối, cửa nẻo đóng im ỉm không một bóng người. Những tia nắng vàng vọt, yếu ớt còn sót lại của buổi chiều mùa xuân lọt qua những ô cửa kính của bộ chỉ huy, màu vàng của nắng yếu đuối, nhợt nhạt không một chút sinh khí, tất cả chìm trong ánh sáng mờ mờ khiến cả tòa nhà như đã bị bỏ hoang lâu ngày.

Tôi bước tới gần khung cửa kính, bên ngoài là Vũ Đình Trường Lê Lợi xanh màu cỏ, ngay trước khán đài danh dự là cột cờ với cờ Quốc Gia vẫn còn tung bay phất phới. Hình ảnh của những sinh viên sĩ quan quỳ dưới bóng cờ này trong ngày lễ mãn khóa, với lời thề quyết tâm bảo vệ tổ quốc hãy còn vang vang đâu đó. Giờ đây, những sinh hoạt thường ngày của hàng ngàn sinh viên sĩ quan đã hoàn toàn biến mất. Từ hôm qua, sinh viên sĩ quan được trang bị như một người lính tác chiến với súng cá nhân M16, súng cộng đồng M60, thậm chí cả súng chống chiến xa M72, họ được đưa đi giữ an ninh lộ trình trải dài từ cầu Đất cho đến Đơn Dương. Khi sinh viên ra đi, họ bỏ lại ngôi trường trơ trọi một mình, không có sinh viên ngôi trường chỉ là cái xác không hồn, đứng im lìm trong nắng chiều hiu hắt.

Tôi nhìn ngôi trường, nơi mà tôi đã phục vụ hơn sáu năm trong đời quân ngũ của mình. Sáu năm, một khoảng thời gian không nhiều cho lắm, so với chiều dài của cuộc sống con người, thế nhưng khoảng thời gian ấy đủ để chiếm lấy một phần trong ký ức, đủ để khắc sâu vào tâm khảm của mình. Lòng tôi bỗng dưng chùng xuống, bùi ngùi thương cảm. Một chút luyến thương, khi biết mình sắp phải rời xa vĩnh viễn ngôi trường khiến tôi cảm thấy cay cay nơi mắt. Đêm nay hoặc chậm lắm là ngày mai, chúng tôi sẽ di tản. Ra đi là bỏ lại Đồi Bắc, bỏ lại cổng Nam Quan, bỏ luôn cả tòa nhà chỉ huy với Trung tâm hành quân, tất cả chỉ còn lại trong quá khứ vàng son một thuở. Tôi đi mà hành trang mang theo, chỉ là những ngày dài nhớ thương về ngôi trường trên đỉnh cao nguyên Lâm Viên.

Hình minh họa

Tôi bước dọc theo hành lang phía trái của bộ chỉ huy, để trở về Trung tâm hành quân mới. Khi gần đến nơi, đột nhiên tôi đổi ý rẽ vào thư viện. Cũng lại hoàn toàn im vắng, cho dù có đốt đuốc cũng không tìm ra một người. Mặc dù đã biết trước như vậy, tôi vẫn cảm thấy xốn xang trong lòng. Cái cảm giác như là đang xem một cuốn phim đen trắng, chiếu về cảnh ngày tận thế, mà trong đó kẻ sống sót duy nhất thẫn thờ đi lang thang hết dãy phố này qua dãy phố khác, với mục đích tìm cho được mầm sống, còn sót lại đâu đó. Một mình tôi đang đứng giữa hằng hà sa số sách và sách, chung quanh đó là bàn ghế sạch sẽ được săp xếp ngăn nắp gọn gàng. Tôi chọn một chỗ rộng rãi thoáng mát, thoải mái ngồi dựa ngửa, gác nguyên đôi bốt đờ sô lên bàn rồi đốt một điếu thuốc, khói thuốc chầm chậm, lơ lửng, là đà bay trong không khí. Giữa không gian tĩnh lặng không một tiếng động, giá như có một hạt bụi rơi, tôi tưởng rằng mình có thể nghe được. Tôi ngồi đó tận tình thưởng thức hương thơm của khói thuốc, thuận tay, tôi vớ lấy cuốn sách mà ai đó đang đọc nửa chừng còn để úp ngược trên bàn. Tôi bắt đầu đọc, đọc để quên đi chuyện di tản đang sôi động ở bên ngoài.
Được một đoạn ngắn, sức hấp dẫn lôi cuốn mãnh liệt của cuốn truyện khiến tôi quên hết mọi chuyện ở quanh mình. Tôi lạc vào thế giới của “Trại Đầm Đùn” lúc nào cũng không biết.

-Trung úy, trung úy.

Tiếng gọi của người hạ sĩ quan trực hành quân vang vang khắp căn phòng, kéo tôi về với thực tại.

-Tôi đây.

-Tôi tìm trung úy muốn hụt hơi. Trời đất, trong giờ phút dầu sôi lửa bỏng, phải bỏ của chạy lấy người đến nơi mà trung úy còn bình tĩnh ngồi đây đọc sách. Ông hay thiệt, mà nè sách gì vậy, có hay không?

Tôi không trả lời người hạ sĩ quan mà hỏi ông ta:

-Có chuyện gì?

-Trung úy Lợi, bên Công Binh của trường cần gặp trung úy.

-Mấy giờ rồi?

-Bảy giờ.

-Hai vị đại úy và trung úy thuộc Trung tâm hành quân của Tiểu khu, biệt phái cho trường ở đâu rồi?

-Họ đang theo dõi, cập nhật, bố trí của mấy tiểu đoàn Địa Phương Quân.

Tôi lẹ làng nhét cuốn truyện Trại Đầm Đùn vô túi áo jacket, rồi vội vàng phóng một mạch về Trung tâm hành quân. Cuốn sách trong túi áo của tôi, là cuốn sách duy nhất trong thư viện của trường Võ Bị được tôi đem theo, tất cả sách còn lại sẽ bị thiêu hủy dưới sức công phá của hàng ngàn ký chất nổ C4.

Trung úy Lợi đang đứng bên hông chiếc xe Dodge 4×4, ông ta nói với tôi:

-Tôi muốn kiểm chứng lại lần chót với Trung tâm hành quân.

-Chuyện gì?

-Bốn điểm trọng yếu trong trường mà tôi phải đặt mìn để phá hủy là tòa nhà bộ chỉ huy, nhà thí nghiệm nặng, thư viện và phạn xá, đúng không?

-Đúng.

-Coi như xong, với mấy xe Dodge đầy nhóc chất nổ C4, đủ sức cho tôi hoàn thành nhiệm vụ.

Giọng nói của Trung úy Lợi đột nhiên nhỏ lại chỉ vừa đủ nghe.

-Khi nào bọn mình dọt?

-Tôi mà biết được, giờ này tôi đã là chỉ huy trưởng rồi.

Nhìn nét thất vọng hiện rõ trên gương mặt của Trung úy Lợi, tôi an ủi.

-Phá sập xong Trường Võ Bị thì trung úy dọt, lúc đó cho dù ông có muốn ở lại cũng không được.

Trung úy Lợi nói với tôi:

-Phải chi giờ này Câu lạc bộ sĩ quan còn, bọn mình qua đó làm một ly cà phê trước khi chia tay với Trường Võ Bị.

Hình minh họa

-Tôi có cà phê nhưng không có nước sôi.

Trung úy Lợi hăng hái nói:

-Dễ ợt, giựt sập Trường Võ Bị tôi còn làm được, sá gì chuyện mấy cái ly nước sôi, để đó tôi lo.

Vừa nói Trung úy Lợi vừa đi vòng ra phía sau xe Dodge, ông ta lôi ra một bánh C4, thoáng chốc ngọn lửa xanh biếc bùng lên. Khi nước trong chiếc ca nhôm bắt đầu sôi, Trung úy Lợi đổ thẳng cà phê bột vào ca nước.

Chúng tôi uống cà phê mà như uống thuốc độc.
Nó đắng nghét, lợn cợn những hột cà phê nhỏ như những hột cát mịn bám đầy lưỡi. Đó là ly cà phê cuối cùng, mà tôi và Trung úy Lợi uống ở Trường Võ Bị Đà Lạt.

Gần chín giờ tối, hai Đại đội sinh viên sĩ quan cuối cùng rời khỏi trường theo cổng Tôn Thất Lễ. Cho tới giờ này, tôi biết rằng trong trường chỉ còn lại năm người vẫn còn đang làm việc tại Trung tâm hành quân, đó là hai hạ sĩ quan trực máy, hai sĩ quan hành quân của Tiểu khu Tuyên Đức biệt phái cho trường và tôi. Điều đặc biệt là bên ngoài vòng đai của trường, gồm có Tiểu đoàn An Ninh cũng như những đơn vị bảo vệ vẫn còn đóng quân tại chỗ, giữ an ninh cho trường, nói đúng hơn là giữ an ninh cho một cái xác không hồn.

Sáng nay, đoàn quân xa của trường đã chở tất cả gia đình binh sĩ trong trại gia binh của trường xuống Sông Pha, sau đó, quay về trường sẵn sàng đón thêm binh sĩ cũng như sinh viên sĩ quan của trường, chưa di tản lúc sáng.

Đang chăm chú theo dõi mọi diễn tiến của cuộc rút quân, tôi chợt nghe giọng nói của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng vang lên đàng sau lưng tôi.

-Trung úy đi hỏi coi, trực thăng có đáp xuống Pr’line được không?

Tôi giật mình, lật đật đứng nghiêm chào thiếu tướng. Khi đã hiểu rõ câu hỏi của ông, tôi chạy đến sân cỏ trung đoàn sinh viên nơi có chiếc trực thăng của thiếu tướng đậu sẵn ở đó. Tôi hỏi vị đại úy lái chiếc trực thăng:

-Thiếu tướng muốn biết, trực thăng có đáp xuống Pr’line được không?

Vị đại úy lái trực thăng nói với tôi:

-Tối hôm nay trời nhiều sương mù, đáp được nhưng không an toàn.

Tôi đi trở lại Trung tâm hành quân.

-Trình thiếu tướng, vị đại úy lái trực thăng nói đáp được nhưng không an toàn.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng ra lệnh cho tôi:

-Cho trực thăng đến Pr’line, ở đó chờ lệnh mới.

Tôi biết, Pr’line là tên của ngọn núi cao nhất gần Cầu Đất, cách Đà Lạt khoảng hai mươi lăm cây số trên đường đi xuống Sông Pha. Ngày xưa, đây là trung tâm phát tuyến lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam, trung tâm này do Mỹ thành lập, sau năm 1973 họ bàn giao lại cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hiện tại, Sinh viên sĩ quan Võ Bị đã đóng quân tại căn cứ này từ hôm qua.

Một lần nữa, tôi lại phải chạy ra sân cỏ trung đoàn sinh viên, truyền lệnh cho vị đại úy lái trực thăng.

Khi tôi trở lại Trung tâm hành quân, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng đang đi tới đi lui trong phòng, đầu cúi xuống như đang nhìn vào mũi giày của ông, bất ngờ ông đưa tay nhìn đồng hồ rồi nói:

-Xé và đốt tất cả bản đồ hành quân trên tường, phá hủy đường dây điện thoại.

Hình minh họa

Dứt lời, thiếu tướng ngồi xuống ghế nhìn chúng tôi làm công việc tiêu hủy tài liệu. Khi thấy mọi việc đã xong xuôi, ông nói:

-Đi.

Chúng tôi vai ba lô, súng M16, tay xách máy PRC25, đặc lệnh truyền tin, rời khỏi Trung tâm hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt, tôi nhìn đồng hồ đeo tay của mình: chín giờ rưỡi.

Thiếu tướng Chỉ huy trưởng bước lên chiếc xe jeep của ông, trên xe chỉ có tài xế và ông. Vị Đại úy Tùy viên, người vẫn thường theo ông như bóng với hình, hôm nay ông ấy ở đâu tôi không thấy. Có thể ông ấy đang ở ngoài tư dinh.

Chiếc xe jeep của phòng hành quân đậu cách xe của thiếu tướng chừng mươi thước, tôi bước tới nhìn vào xe rồi giật mình hỏi tài xế:

-Hai đứa nhỏ nào đây?

Người tài xế trả lời:

-Con của tôi đó trung úy.

Tôi nhìn hai đứa nhỏ khoảng mười ba, mười bốn tuối đang ngồi trong xe rồi tính nhẩm trong đầu, năm người của Trung tâm hành quân, tài xế nữa là sáu thêm hai đứa nhỏ vị chi là tám người, trong đó sáu người với đầy đủ ba lô súng đạn, thêm bốn máy truyền tin PRC25, chỗ đâu mà chứa cho hết. Tôi bấm đèn pin, rọi xuống sàn xe rồi hỏi tài xế:

-Còn cái bao gạo năm chục ký với mấy cái nồi này của ai? Phải bỏ lại thôi.

Người tài xế nói, giọng nói như là năn nỉ.

-Trung úy độc thân nên không biết, tôi bỏ bao gạo lại đây, ngày mai con tôi lấy cái gì ăn.

Tôi nhìn hai đứa nhỏ, rồi nghĩ tới mấy đứa em của mình đang ở nhà với ba má tôi. Ba má tôi, sống trong một căn nhà gỗ tồi tàn gần ba chục năm ở ngoại ô, vừa mới dọn về căn nhà khang trang ở phố chưa được bao lâu, ông bà tiếc của nên đi không đành. Tôi nói:

-Tất cả lên xe.

Chiếc xe jeep của Trung tâm hành quân, tôi là trưởng xa, ghế trước bên phải là ghế của tôi.

Đại úy Luân là người biết chuyện, ông chui vào xe ngồi phía sau tránh cho tôi tình trạng khó xử. Không còn thì giờ tìm hiểu để biết mọi người chen chúc như thế nào ở phía sau, có đủ chỗ hay không? Tôi nói với tài xế:

-Chạy theo xe của thiếu tướng.

Trên trời, con trăng mười tám hay mười chín tôi không rõ lắm treo lửng lơ, mặt trăng đã bắt đầu meo méo tỏa chút ánh sáng mờ mờ xuống khu đồi 1515. Trường Võ Bị Đà Lạt nằm trên ngọn đồi này. Xe jeep của tôi và của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng không mở đèn, chạy chầm chậm đến cổng Nam Quan rồi quay đầu lại tòa nhà chỉ huy. Khi xe jeep chạy ngang qua Vũ Đình Trường Lê Lợi, tôi quay nhìn về phía tay phải, Đài Tử Sĩ chìm trong ánh trăng mờ vàng úa, tiếng kèn truy điệu gọi hồn tử sĩ vị quốc vong thân chừng như còn văng vẳng đâu đây. Tôi nhắm mắt, bịt tai cho đến khi xe băng qua hai ngôi nhà tiền chế của Tiểu Đoàn An Ninh, qua Liên Đoàn yểm Trợ rồi ra khỏi trường theo cổng Lý Thường Kiệt. Tôi nghĩ trong đầu, lát nữa đây hàng ngàn ký chất nổ C4 của Trung úy Lợi, sẽ giựt sập bốn điểm trọng yếu của Trường Võ Bị.

Khi chiếc xe jeep của tôi đến cổng tư dinh của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng, ở gần ngã tư Phan Chu Trinh, tôi cho tài xế quay đầu xe lại đợi ở bên ngoài. Bên trong sân tư dinh đèn đuốc sáng choang, tôi thấy Đại tá Chỉ huy trưởng Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị cùng với Đại tá Tỉnh Trưởng đang đứng trước hàng hiên. Chờ cho đến khi đoàn xe trong tư dinh bắt đầu chuyển bánh, tôi cho xe jeep của tôi chạy trước dẫn đầu. Điều tôi không ngờ được là dân chúng Đà Lạt đã di tản từ lúc nào, có thể là từ chiều. Người dân bỏ Đà Lạt ra đi bằng tất cả mọi phương tiện mà người ta có được, từ chiếc xe truck, xe du lịch, xe Lam, xe Honda, cho đến xe đạp thậm chí kể cả chuyện phải bồng bế, gánh gồng, tất cả chen chúc nhau trên đoạn đường từ Đà Lạt xuống Đơn Dương. Đoàn người di tản đông đến độ xe cộ chỉ chạy được với vận tốc không quá mười cây số một giờ. Với một đoạn đường khoảng ba chục cây số, phải mất gần ba giờ chiếc xe jeep của tôi mới tới được Eo Gió, chuẩn bị để đổ đèo Ngoạn Mục. Đường đèo dài khoảng hai chục cây số, quanh co khúc khuỷu ôm theo triền núi, nhiều đoạn sườn núi thắng như vách đá dựng, người dân Đà Lạt di tản nếu vượt qua được đoạn đường này, xuống đến Sông Pha kể như đã vào vùng an toàn, không còn gì phải lo lắng. Một giờ sáng ngày 1 tháng 4, cả đoàn xe bị kẹt trên đèo Ngoạn Mục hơn hai tiếng đồng hồ. Qua máy truyền tin, tôi biết được Việt Cộng bắn B40 vào một chiếc xe chạy đầu ở Sông Pha.

Hình minh họa

Tôi đứng ở đỉnh đèo Ngoạn Mục nhìn xuống chân núi, đoàn người di tản đi bộ dọc theo hai bên đoàn xe, đèn xe sáng rực cả một góc trời trông giống như là một con rắn lửa khổng lồ đang bò theo triền núi, để trườn mình xuống đồng bằng. Cái đầu của con rắn đã qua khỏi Sông Pha, trong khi thân của nó hãy còn ở đỉnh đèo Ngoạn Mục, và cái đuôi con rắn có thể còn ở đâu tận Đà Lạt.

Khi xe jeep của tôi đến một khúc cua gắt như cái cùi chỏ, lúc này xe chạy còn chậm hơn người đi bộ. Dưới ánh sáng của hàng ngàn ngọn đèn đủ mọi loại xe, tôi thấy một anh Sinh viên sĩ quan Võ Bị đứng trên một mô đất bên vệ đường, hai chân của anh xoạc ra theo thể thao diễn nghỉ, tay trái buông xuôi, tay phải ôm khẩu M16, báng súng chống vào bên hông, nòng súng hướng lên trời. Tôi xuống xe, đi bộ đến bên anh sinh viên, định hỏi tại sao anh ta không di chuyển theo đoàn quân mà lại đứng một mình ở đây.

Khi đến trước mặt anh sinh viên, tôi giật mình vì thấy đôi dòng lệ chảy dài theo khóe mắt của anh ta. Anh sinh viên với nét mặt u buồn, đôi môi mím chặt, đứng bất động nhìn theo đoàn người di tản đang từ từ trôi xuống đồng bằng. Nếu không có những giọt nước mắt lăn dài trên gương mặt buồn bã của anh sinh viên, tôi tưởng rằng mình đang đứng đối diện với một pho tượng được tạc bằng đá. Tôi không biết pho tượng đá đó khóc vì phải đời đời rời xa ngôi trường thân yêu, hay khóc vì cảnh sinh linh đồ thán.

Tôi nghĩ rằng, chẳng thà anh sinh viên khóc thành tiếng, có thể tiếng khóc sẽ làm vơi đi những uất hận, đớn đau chất chứa trong lòng. Đàng này, anh lại yên lặng nuốt cái uất ức vào lòng, nỗi đau tự nó sẽ nhân lên gấp bội.

Tôi tốt nghiệp Thủ Đức, chỉ làm việc ở Trường Võ Bị, vậy mà khi rời xa ngôi trường lòng tôi đau đớn như bị dao cắt huống gì Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt, bốn năm gắn bó với ngôi trường trên đỉnh ngọn đồi 1515. Tôi hiểu và cảm được cái đau của pho tượng đá trước mặt tôi.

Hơn một ngàn Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt ba lô trên vai, súng M16 cầm tay vừa di chuyển vừa bảo vệ dân chúng, chân đi nhưng lòng của họ còn để lại ở Trường Võ Bị, bởi vì tôi nghe một anh sinh viên với giọng nói như gào thét, đầy phẫn uất.

-Tại sao chưa đánh mà chạy.

Một anh sinh viên khác, nói mà như khóc:

-Phải ở lại bảo vệ Đà Lạt, bảo vệ Trường cho dù có chết. Không thể hèn như vậy được.

Hơn một ngàn trái tim với tinh thần kỷ luật cao độ, đó là một khối thép đồng nhất, một khối sức mạnh vô địch mà Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt đã đem xuống bảo vệ đèo Ngoạn Mục, vì đây là đoạn đường đèo trọng yếu, là con đường huyết mạch trong cuộc di tản của dân Đà Lạt. Một ngàn Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt, họ thà chết, hy sinh cho đến người cuối cùng, để dân chúng Đà Lạt an toàn di tản về Sài Gòn. Bởi vì, Bảo Quốc An Dân là bổn phận và trách nhiệm của họ.

Thêm một chi tiết khá quan trọng mà ít người biết đến, là khi người dân Đà Lạt đã đi quá Sông Pha vào được vùng an toàn thì Tiểu đoàn 204 trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức, đang còn giao tranh với Cộng quân tại Di Linh. Và Tiểu đoàn 277 của Tiểu khu Tuyên Đức đang trên đường tiến vào Di Linh. Hai Tiểu đoàn 204 và 277, với quân số chưa tới một ngàn người phải chiến đấu chống lại Trung Đoàn 812 là chủ lực quân của Khu 6 và Sư Đoàn 7 của Việt Cộng. Tôi tin rằng họ sẽ cầm chân Việt Cộng ở Di Linh ít ra cũng được vài ngày, đủ thời giờ cho dân chúng Đà Lạt di tản. Có một điều khiến tôi phải thắc mắc, nếu sĩ quan cũng như binh sĩ của hai Tiểu đoàn 204 và 277 biết được là họ đi vào mặt trận mà không có lực lượng trừ bị, không có yểm trợ của pháo binh, không quân, ngay cả việc tiếp tế đạn dược và lương thực cũng không có, liệu họ có đủ can đảm chiến đấu hay không khi biết mình là những cảm tử quân, chỉ có đi mà không có về. Cuối cùng là chuyện, nếu Cộng Sản tiêu diệt được hai tiểu đoàn thiện chiến nói trên, xe tăng của Việt Cộng cũng không làm sao vượt qua được sông Đa Nhim, vì cầu Đại Ninh đã bị giựt sập.

Hình minh họa

Trong suốt cuộc đời của tôi, đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến một cuộc di tản vĩ đại, đầy đau khổ của người dân khi chạy trốn Cộng Sản. Dân Đà Lạt bỏ tất cả nhà cửa ruộng vườn, đất đai, chỉ với vài bộ quần áo và nắm cơm trên tay chạy về vùng Quốc Gia kiểm soát, chạy về những nơi chưa lọt vào tay Cộng Sản.

Khi tôi đến Sông Pha trời đã sáng hẳn, xe của Thiếu tướng Chỉ huy trưởng hãy còn xa tít ở phía sau, ông là người nằm trong toán quân đi bọc hậu ở chót cùng. Tất cả sinh viên sĩ quan cũng như binh sĩ của Trường Võ Bị Đà Lạt tập trung tại một bãi đất trống bên đường để nghỉ ngơi sau một đêm thức trắng. Riêng dân chúng Đà Lạt vẫn tiếp tục chạy về Phan Rang. Tôi quay đầu, ngước nhìn lại đỉnh đèo Ngoạn Mục, hai đường ống dẫn nước khổng lồ từ đập Đa Nhim đổ xuống Sông Pha lấp lánh dưới ánh mặt trời, những tia nắng đầu tiên trong ngày làm rõ thêm đoàn người đông như một đàn kiến, vẫn còn tiếp tục đổ xuống đèo.

Đà Lạt di tản gần như là hoàn hảo, không một tiếng súng nổ, không có cảnh chết chóc như Đại Lộ Kinh Hoàng ở Quảng Trị năm 1972, không chen lấn hoảng loạn như Quân đoàn II, khi triệt thoái về Tuy Hòa theo Liên Tỉnh Lộ 7 khoảng hai tuần lễ trước đây.

Từ Sông Pha về Sài Gòn, đi theo ngã Phan Thiết, rồi Bình Tuy, không còn khó khăn nguy hiểm. Ngày 4 tháng 4, Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt cùng quân nhân cơ hữu của trường được vận tải cơ C130, và trực thăng Chinook bốc từ Bình Tuy về Long Thành.

Nắm trong tay bốn chục chiếc trực thăng UH1, thêm vận tải cơ C130, trực thăng Chinook, được điều động từ Sài Gòn, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt có thể bốc tất cả Sinh viên sĩ quan Võ Bị đem về Sài Gòn trong vòng vài tiếng đồng hồ. Tại sao ông không dùng máy bay vừa an toàn vừa nhanh chóng, mà lại dùng đường bộ. Lý do đơn giản và dễ hiểu nhất bởi vì ông không thể bỏ rơi dân Đà Lạt. Một trong nhiều lý do khiến Việt Nam Cộng Hòa thua Cộng Sản đó là tinh thần Nhân Bản, đã ăn sâu vào tâm khảm của người dân miền Nam, trong đó có Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt.

Những dòng sông không trở lại

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 26 Jun 2015

Post by Sơn râu 14 Feb 2024

Gởi Hoàng Thị Đính, cháu tôi

Con sông Bồ trước khi tới địa phận làng tôi, phải chảy qua hai cây cầu. Một cầu xe lửa gọi là cầu sông Bồ, hoặc cầu Hiền Sĩ. Phía hữu ngạn là ga sông Bồ, một ga xép, phía tả ngạn là ga Hiền Sĩ, ga đầu nguồn để chở gỗ từ rừng Hòa Mỹ về.

Trong chiến tranh Việt – Pháp cả hai ga nầy đều bỏ hoang, tiêu điều. Nhưng với tôi, nó có những kỷ niệm thời thơ ấu khó phai, tôi sẽ kể cho độc giả nghe về sau. Cầu thứ hai là cầu An-Lỗ (1), cầu xe hơi, dài và hẹp. Phía hữu ngạn có một cái chợ nhỏ miền quê, không bao giờ thấy khách mua bán tấp nập, ngoại trừ khi cầu hư, xe đò kẹt lại. Cái chợ nhỏ bé gần chân cầu ấy, bao giờ cũng đìu hiu, dù sáng dù trưa, nó muôn đời mang cái cảnh “chợ chiều”. Cảnh “chợ chiều” làm tôi nhớ  câu ca dao:

                        Thân em như gánh hàng hoa

                  Sớm qua chợ sớm, chiều qua “chợ chiều”.

            Qua khỏi cầu An-Lỗ, sông Bồ không còn chảy hướng Tây -Đông, từ hướng Trường Sơn ra biển. Nó quay ngoắt một cách lạnh lùng chảy theo hướng Bắc – Nam, cặp theo Quốc lộ 1, tới “Đồn Cây Số 17”, một đồn binh quân sự, nó quay theo hướng cũ, lại lạnh lùng để cái đồn binh ngơ ngác trông theo, như những người lính miền Nam mới đổi ra miền Trung xa xôi, lạ lẫm. Chỗ khúc quẹo đó, phía tả ngạn là địa phận làng tôi, làng Hạ Lang, phía hữu ngạn là làng Văn Xá. Nỗi bi thảm xẩy ra cho mấy đời gia đình tôi chính là chỗ khúc quanh nầy của dòng sông Bồ, như một định mệnh, không phải cho một đời người mà cả mấy đời của dòng họ Hoàng tôi vậy.

            Tôi không có nhà. Ngôi nhà nơi tôi sinh ra và lớn lên chính là nhà từ đường họ nhà tôi. Từ khi biết khôn, khoảng giữa thập niên 1950, khung cảnh tôi thấy thường là một gian nhà tranh dài 5 gian hai chái, cửa bàng khoa chắc chắn. Sát cửa là những bộ bàn ăn cũ kỹ, mốc trắng, để người trong họ đến ngồi ăn giỗ những ngày cúng kị, phía trong, suốt cả 5 gian giữa là những bàn thờ có bát nhang sành, chân đèn bằng gỗ, các bài vị. Hồi xưa lắm, các chân đèn bằng đồng. Sau nhiều năm tao loạn, nhà tôi càng ngày càng nghèo nên các chân đèn bằng đồng lặng lẽ ra đi, thay vào đó là những chân đèn làm bằng thứ gỗ mít khá cứng. Tôi là con gái, không khi nào phải lau chùi quét dọn các đồ tự khí nầy. Việc đó, có bà nội tôi và ông Lại già chăm sóc.

            Ông Lại không phải là tên thật của ông. Đó là một phẩm trật nào đó của triều đình xa xưa. Trước năm 1945, khi còn triều đình nhà Nguyễn, ông nhận một chức trách nào đó. Khi nhà Nguyễn dứt nghiệp, ông trở về làng cũ, sống nhờ vườn cây ăn trái và mấy thửa ruộng nghèo. Sinh nhai và việc học của các con ông đều nhờ vào vườn cây và mấy thửa ruộng ấy. Dĩ nhiên, trong cảnh nghèo khó ấy, phần đông các con ông phải bỏ học sớm, sau khi qua khỏi bậc tiểu học.

            Cái dư âm của một dòng họ làm quan triều đình cũ còn vướng vất đôi nét trên con người ông Lại. Có thể đó là chiếc áo dài đen, cái khăn đóng, quần cháo lòng và đôi giày hạ ông chỉ dùng trong những ngày giỗ kỵ. Cũng còn nữa chứ, trong dáng dấp nhẹ nhàng, cung cách chậm rãi, trịnh trọng khi ông đứng trước bàn thờ, cầm mấy nén hương trong tay khấn nguyện ông bà về hưởng huơng hoa quả phẩm cũng như các món đồ cúng đơn sơ đạm bạc của một dòng họ càng ngày càng hàn vi, đặt trên bàn thờ tỏ lòng thành với tiên tổ, cùng với lời cầu nguyện phù hộ con cháu đổ đạt vinh hoa.

            Khi khôn lớn, nghe những lời cầu nguyện của ông Lại, bao giờ tôi cũng thấy buồn cười một cách chua xót cho dòng họ nhà tôi. Ngay trước khi triều đình Huế đổ nát, dòng họ bên nội tôi đã thất tán nhiều rồi, lắm người tha phương cầu thực, còn những ai chưa đi xa được thì đành ôm lấy mảnh đất nghèo sống bằng bữa cơm bữa khoai, khó ai có thể thấy một chút tương lai sáng lạn nào chờ đón ở cuối chân trời, nói chi tới đổ đạt vinh hoa, ông nghè ông cống như lời cầu xin của ông Lại. Một trong những người có thể có được một chút tương lai nào chăng, thì người ấy là nội tổ tôi. Nhưng ông bỏ xứ ra đi khi cha tôi còn niên thiếu, còn cha tôi thì đã chết từ khi tôi chưa chào đời.

            Đúng ra, ngôi nhà từ đường nầy phải giao lại cho ông Lại trông coi gìn giữ. Nhưng ông Lại từ chối công việc ấy, vì nội tổ tôi chỉ đi biệt tích, chưa qua đời thì việc nắm lấy chức vụ trưởng nhánh, trên nguyên tắc, ông nội tôi là người vai vế lớn nhứt và cũng là người lớn tuổi nhất, vẫn giữ lấy công việc phụng thờ nhang khói tổ tiên. Nếu nội tổ tôi không có nhà thì bà nội tôi phải đảm đương công việc ấy, có ông Lại giúp đỡ. Vã lại, ngôi nhà từ đường nầy chỉ là cái xác không. Ba bốn năm một lần, khi mái tranh bắt đầu có chỗ dột, bà nội tôi phải ngưng trồng khoai lang ở sân trước một mùa, để dành đất trồng tranh, lấy tranh lợp lại nhà từ đường. Ngoài ra, ngay ngõ vào là một cây hải đường đã già, mỗi năm bông lại càng nhỏ đi và vài cây bưởi, cây chanh, cây măng cụt cũng thuộc một thời niên thiếu với cây hải đường, nay cũng đang ở tuổi “xế chiều nghiêng bóng”. Những cây trái chúng cố gắng sản sinh ra được càng năm càng quắt queo đến độ những người buôn trái cây đi mua mảo hàng năm cũng ít khi buồn tình ghé vào.

            Thế nhưng, ông nội tôi là con quan. Quan như thế nào tôi đâu biết. Tôi chỉ biết sự quan quyền ấy còn lại trong cái tên gọi ông của người trong làng. Người ta gọi bà nội tôi là mụ ấm, hay  thím ấm hay bác ấm tùy theo sự quan hệ thân tộc gần xa hoặc có khi không có quan hệ máu mũ gì cả. Sự “quan quyền” đó bên bà nội tôi thì rõ hơn, nhưng mỗi năm tôi chỉ được thấy một hai lần. Đó là những bộ quần áo may theo kiểu xưa, có nhiều màu, giống như những thứ áo quần người ta thường thấy trong tranh vẽ các cô gái hồi cuối thế kỷ 19, cùng với những đôi dép của bà tôi và của em gái bà do bà tôi cất giữ được. Đó là những đồ kỷ niệm khi các bà còn trẻ, mỗi năm mặc một lần để cố ngoại tôi dẫn vào “đại nội” chúc thọ các thái hậu, hoàng tử, công chúa… Có lẽ các triều đại đó kéo dài không bao lâu, việc mặc áo quần mới như thế không được nhiều lần nên trông không đến nỗi quá cũ. Bà nội tôi cất những thứ “gia bảo” ấy trong chiếc rương xe có khóa và cũng là chỗ nằm của tôi và bà tôi. Mỗi năm, khi mùa đông qua rồi, trời bắt đầu có nhiều nắng mới, bà tôi lấy những thứ “gia bảo” đó ra, phủi một cách nhẹ nhàng những chút bụi tưởng tượng bám vào đấy rồi nhẹ nhàng phơi lên cây sào tre phía bếp. Chỗ đó vừa có nắng nhiều vừa tránh được mặt tiền nhà từ đường. Bà tôi không bao giờ phơi quần áo ở sân trước, phía trước các bàn thờ. Đến chiều, khi sắp hết nắng, bà tôi lấy vào trải ra trên cái rương xe, cho hơi nóng bay bớt, vải ỉu đi rồi mới cẩn thận xếp lại, rất nhẹ nhàng, tưởng như bàn tay gầy, da nhăn nhúm của bà làm cho chúng đau được. Một cách từ tốn, bà tôi bỏ vào một cái rương nhỏ, để ở trong góc rương xe mà tôi biết chắc phải 365 ngày nữa, chúng mới được lấy ra để hưởng chút nắng mùa xuân năm tới.

            Một năm, khi tôi đã lớn, học trung học, chủ nhựt từ Huế về thăm bà, thấy bà đang xếp những chiếc áo ngày xưa ấy cẩn thận như năm trước, tôi nói đùa:

– “Mệ!(2) Mai mốt trên trường có biểu con đóng vai hai bà Trưng, mệ cho con mượn bộ áo quần ni.”

Thật thà, bà tôi hỏi:

– “Thiệt à con? Đừng làm hư của mệ!”

Thấy tôi cười ha hả, bà tôi mắng nhẹ:

            – “Cha mi lên! Giỡn hoài. Cười chi mà to rứa. Con gái con

lứa “khôông” có ý tứ chi hết!”

Tôi biết bà nội tôi “lạc hậu” mất rồi. Bất cứ việc gì bà cũng muốn đem cái khuôn phép của thế kỷ thứ 19 mà rập khuôn lên đầu tôi. Tôi không thể tranh luận hay giải thích cho bà tôi những điều mới, những đổi thay của xã hội mà bà không thể hiểu hay chấp nhận được. Nhưng tôi lại đùa một lần nữa:

            – “Mai mốt mệ có lên thăm con trên Huế, mệ nhớ đừng mặc đồ ni, người ta cười con chết!”

Nói xong, tôi cố nín cười. Bà nội tôi thật thà nói:

            – “Đồ ni xưa rồi. Ai mà mược (mặc). Mệ cất là để dớ (nhớ) “ôông” cố con”.

Thấy bà thật thà, tôi ôm ngang hông bà, nói:

– “Mệ rứa hèn chi mất “dôông” (chồng)!”

Bà tôi vẫn cứ thật thà:

– “ÔÔng” đi làm ăn xa thì để “ôông” đi!

Thật ra, cuộc tình duyên giữa ông bà nội tôi là một sự gượng ép. Tôi nói là gượng ép, chưa đến độ ép buộc. Như tôi nói, người làng gọi bà tôi là bà ấm, mụ ấm vì ông nội tôi con quan. Với tôi, tiếng “ấm” bao giờ cũng gợi lên trong trí tôi cái ấm nấu nước sôi, có khi là cái ấm đất đã bị sứt vòi hay cái ấm đồng bà tôi cất kỹ trong rương xe, mỗi năm lấy ra vài lần để nấu nước sôi pha trà cúng ông bà. Xong, buổi chiều, bà nội tôi dùng lá khế chua kỳ cọ thật kỹ, đến khi không còn một vết khói đen nào bám vào ấm thì phơi khô, lại đem cất vào rương xe. Những thứ đồ đồng quí đó, không bao giờ bà tôi để qua đêm mà không cất vào rương xe, sợ ăn trộm. Đồ ấy quí lắm, nhưng với tôi quí không phải ở chỗ nó là ấm đồng, không phải là cái ấm đất mà chính là một thứ đồ cổ có số tuổi còn lớn hơn cả tuổi bà tôi.

Bởi vì cùng là con nhà quan nên cố nội tôi xin làm đám hỏi cho con trai khi bà tôi mới mười lăm tuổi. Tuy nhiên, cố ngoại tôi không chịu cho cưới vì bà tôi tính tình chất phát hiền lành, sợ không biết làm dâu. Bà tôi kể:

– “Khi cố ngoại sắp qua đời bèn mời bên nội tới cho cưới gấp. Làm đám cưới hôm 11 âm lịch thì tối 14, cố ngoại tắm rửa sạch sẽ, lên giường nằm, biểu bà cố thắp 7 ngọn đèn sáp (đèn cầy) trên đầu giường. Xong, “ôông” uống chén nước trà, nằm ngủ, tới sáng thì đi luôn.”

Tôi hỏi:

– “Cố đau bệnh chi?”

– “Mã đao!” Bà tôi trả lời.

            Khi biết bệnh mã đao bây giờ gọi là ung thư cổ, tôi vẫn cứ thắc mắc về cách chết điềm tỉnh của cố ngoại tôi. Ông là thầy thuốc, biết bệnh của mình nan y, ông linh cảm được cái chết đó, ông uống một chén độc dược để chết cho được nhẹ nhàng, tránh được đau đớn, vật vã? Ông là thầy thuốc mà! Tuy nhiên, tôi chẳng bao giờ nói với ai điều thắc mắc ấy và cũng chưa có dịp nói ra với chồng.

            Những năm Thế giới Chiến tranh thứ 2 đói kém, ông nội tôi, cậu ấm con quan bỏ nghiên bút xin làm công nhân xe lửa. Ông lưu lạc vào Bình Định khi cha tôi mới hơn mười tuổi. Khi chiến tranh Việt Pháp xảy ra, ông không về. Có lẽ một cô gái Bình Định nào đó, biết “múa roi đi quyền” (3) giữ riệt không cho ông về, hay một người đàn bà nào đó đã “hớp hồn” ông. Ông đã “bội bạc” bà tôi rồi. Nhưng tôi cũng chẳng bao giờ nói ra với bà tôi ý nghĩ đó vì tôi biết chắc sẽ bị mắng là hỗn. Với bà tôi, bao giờ ông nội tôi cũng chỉ là người “đi làm ăn xa”, dù ông đã có nhà cửa, vợ con đùm đề ở chỗ “làm ăn xa” ấy. Bà tôi ở nhà chăm chỉ nuôi ba tôi nên người, tròn nhiệm vụ của một người mẹ và lo cúng kỵ ông bà, tròn nhiệm vụ của một người con dâu, dù khi bà còn trẻ hay khi tôi khôn lớn, bà cũng đã già.

Dù trong cảnh gần như góa bụa, bà tôi nuôi cha tôi học hành. Ông là một trong số ít người làng được đi học đến nơi đến chốn. Năm 1945, khi cuộc khởi nghĩa xảy ra, cha tôi đang học ở Huế, rồi về làng.

            Là một trong số ít người có học, cha tôi tham gia “công tác cách mạng” trong làng: Tổ chức và dạy các lớp Bình dân Học vụ,  các công tác Thông tin Văn hóa, họp hành liên miên. Nhà không giàu, bà tôi vẫn cần cù làm lụng để cha tôi tham gia “công tác cách mạng”, không một lời than phiền. Do tham gia việc làng như thế, cha tôi gặp mâu thuẫn với người trong làng, những người cha tôi cho là dốt nhưng ưa nắm quyền lãnh đạo. Khi chiến tranh Việt – Pháp bùng nổ, quân Pháp đến dựng một cái đồn bên kia sông, ngang nhà từ đường tôi, gọi là “Đồn Cây Số 17”. Quân Pháp bắt đầu các cuộc lùng sục, bắt Việt Minh và đốt nhà dân. Ban đầu, khi Pháp đi lùng, cha tôi chạy trốn như mọi thanh niên trong làng. Khi Pháp đốt vài nhà trong làng, bà tôi rất sợ họ đốt nhà từ đường. Một lần, bà tôi phải quì lạy một sĩ quan Pháp, họ mới chịu rút đi. Nghe bà tôi kể, lần kế, khi quân Pháp bên kia sông qua làng, cha tôi không chạy nữa. Quân Pháp vào làng, cha tôi xin gặp viên trung úy chỉ huy. Vì đang học để thi tú tài thì bỏ học, cha tôi nói tiếng Pháp lưu loát. Thấy vậy, những người Pháp tỏ ra tử tế. Viên trung úy Pháp còn cấp cho cha tôi một tờ giấy, dặn khi nào có quân Pháp đi lùng, cứ đưa giấy nầy ra, nhà từ đường sẽ khỏi bị đốt.

            Năm đó, cha tôi cưới mẹ tôi. Việc cha tôi cưới mẹ tôi không phải vì tình yêu. Hai người không biết nhau, chỉ qua người làng môi giới cho bà tôi, khen mẹ tôi hiền và đảm đang, tuy mẹ tôi dốt chữ, nên bà tôi chọn lấy. Cha tôi thì rất thương mẹ, thấy mẹ chọn, cha tôi không nói gì. Làm thinh tức là chịu.

            Những mâu thuẫn giữa cha tôi và các người lãnh đạo Việt Minh càng ngày càng sâu sắc. Một phần cha tôi tự cao, cho rằng họ dốt nát, không thể lãnh đạo được những công tác thông tin văn hóa mà cha tôi đang phụ trách, một phần những người lãnh đạo nầy là bà con chú bác bên mẹ tôi, mặc cảm vì sự không cân xứng giữa hai gia đình. Lại một lần, người Pháp đi lùng đốt gần hết các nhà trong làng chỉ chừa một số nhỏ, trong đó có nhà một ông đội từng đi lính cho Tây, nhà từ đường dòng họ tôi. Việt Minh cũng khám phá ra việc viên trung úy Pháp cấp cho cha tôi một giấy chứng nhận để khỏi bị đốt nhà. Ban đầu, Việt Minh ghét cha tôi nhiều điều: Có học, phê bình, chê bai họ, rồi tình nghi, vu cáo cha tôi làm tay sai cho Pháp. Họ tung ra dư luận trong làng rằng cha tôi làm “Việt gian”.

            Thế rồi một đêm Việt Minh đến nhà gọi cửa. Cha tôi trèo qua cửa sổ nhà bếp, chạy ra đồng, thay vì chạy ra sông, bơi qua bên kia bờ để cầu cứu người Pháp. Ông có mặc cảm sợ người làng cho rằng ông theo Tây. Việt Minh cầm giáo mác đuổi theo cha tôi ra đến đồng, vừa chạy vừa la “bắt Việt gian”. Họ đâm cha tôi. Ông cố chạy thêm một quãng, khi đến đám ruộng gần mộ cố ngoại tôi thì cha tôi gục xuống đó. Việt Minh đâm thêm mấy nhát nữa, đến khi cha tôi chết hẳn họ mới đi.

            Sáng hôm sau, trời chưa sáng, trong khi bà tôi và mẹ tôi thấy cha tôi suốt đêm không về, sửa soạn đi tìm thì người làng đến báo cho biết cha tôi nằm chết ngoài bờ ruộng. Dĩ nhiên bà tôi và mẹ tôi khóc, đi tìm xác. Vì tục ở làng không cho đem xác người chết bất đắc kỳ tử về nhà nên bà tôi nhờ người dựng một cái chòi tranh bên cạnh mộ bà cố ngoại; cùng ngày hôm ấy, chôn bên cạnh mộ cố ngoại, nơi bà tôi dự tính sẽ an táng bà ở đó, để hai mẹ con nằm bên cạnh nhau, khi bà tôi qua đời.

            Cha tôi chết khi mẹ tôi mang thai tôi bảy tháng. Hai tháng sau, tôi sinh ra ở làng quê ấy, không có cha, trong cảnh khó nghèo, chiến tranh loạn lạc.

            Trong ngôi nhà từ đường mênh mông ấy, ba người đàn bà thuộc ba thế hệ: Bà tôi, mẹ tôi và tôi âm thầm sống với nhau trong cảnh hiu quạnh, buồn bã. Mẹ tôi lúc đó còn trẻ lắm, 18 tuổi, chịu cực chịu khổ nuôi tôi bên cạnh hình ảnh già nua của bà tôi.

            Năm tôi sáu tuổi, vừa mới đi học lớp năm ở trường làng, mẹ tôi đi lấy chồng. Bà tôi nói:

– “Con còn trẻ, bước thêm bước nữa, mạ không trách chi con. Có điều, làm mâm cơm cáo cho thằng Tường (tên cha tôi) trước khi con đi.”

Mẹ tôi nghe lời, bắt một con gà làm thịt, dọn một mâm cơm trên bà thờ, nói với bà tôi:

– “Mạ lên khấn cho con đi.”

Bà tôi mặc áo dài, thắp hương đứng trước bàn thờ, khấn lầm thầm. Rồi bà tôi khóc. Từ khi khôn lớn, đó là lần đầu tiên tôi thấy bà tôi khóc. Những dịp tôi nghĩ bà tôi có thể khóc như ngày giỗ bà cố tôi, tôi lại chẳng thấy bà khóc bao giờ.

Trong khi ông Lại đang rót rượu vào những cái ly nhỏ đặt bên mâm cơm, bà tôi kéo tôi vào lòng, vuốt tóc. Tôi biết có những gịot nước mắt của bà rơi trên tóc tôi. Mẹ tôi cũng khóc. Tôi lại chẳng biết gì để khóc!

Bữa cúng đó thật đạm bạc nên bà tôi chẳng mời ai. Trong bữa ăn chỉ có bà tôi và ông Lại. Tôi được ngồi chung mâm với ông Lại, đó là lần thứ nhứt. Trước kia, mỗi khi có giỗ, tôi thường được cho bánh và đuổi ra sân chơi, không được làm phiền người lớn. Mẹ tôi đi tới đi lui từ bếp ra bàn ăn để lo cho bữa cỗ được tươm tất. Nửa tiệc, mẹ tôi nói với bà tôi và ông Lại:

            – “Thưa mạ, thưa “ôông”, thường thì chồng chết để tang ba năm là được phép đi lấy chồng. Con vì thương con mà ở rứa là sáu năm. Con mong mạ và “ôông” thông cảm mà tha tội cho con.”

            Ông Lại trầm ngâm nhìn ra sân. Một lúc sau, ông mới nói:

– “Rứa cũng là quí rồi!”

Bà tôi nói:

– “Người ta bỏ vợ bỏ “dôông” thì được, không ai bỏ được con. Mạ cũng già, lâu lâu con về chăm sóc cháu giùm mạ.”

Mẹ tôi nói:

            – “Con biết mạ thương con hơn cả mạ con nữa. Con còn muốn về thăm mạ nữa, huống chi con của con. Con chọn người trong làng để gần gũi lui tới.”

Một lúc, bà tôi nói với ông Lại:

-“Phải chi thằng Tường “khôông” chết con dâu tui khỏi góa bụa mà con Đính (tên của tôi) cũng có cha.”

Ông Lại vẫn cứ nhìn ra sân, nói bâng quơ:

– “Ác chi mà ác dữ rứa “khôông” biết!”

Bà tôi hiểu ý, nói như than:

– “Anh em giết “dau” (nhau), trời ơi là trời!”

Ý bà tôi muốn nói những người Việt Minh giết cha tôi là anh em chú bác bên mẹ tôi. Giết cha tôi là làm cho mẹ tôi góa bụa, họ không biết vậy hay sao, hay biết mà họ cứ làm.

            Chiều hôm đó, mẹ tôi ra đi, vỏn vẹn chỉ có mấy cái áo quần gói trong cái khăn trùm đầu bà tôi cho. Cặp gói áo quần bên nách, mẹ tôi chào bà tôi, rồi bồng tôi đi ra cổng, vừa đi vừa khóc. Bà tôi đi theo. Ra tới cổng, mẹ tôi bỏ tôi xuống, hôn vào má tôi. Tôi thấy má tôi nóng ướt vì những giọt nước mắt của mẹ. Xong, mẹ tôi quay lại hôn bà tôi. Đó là lần độc nhứt tôi thấy mẹ tôi hôn bà. Xong, mẹ tôi xóc lại gói quần áo, nói:

            – “Con đi nghe mạ.”

            Rồi quay qua nói với tôi:

– Con ở “già” (nhà) với mệ, ráng học giỏi cho mệ vui!”

            Xong mẹ tôi lặng lẽ đi theo con đường đất chạy dọc theo bờ sông xuống xóm dưới. Bà tôi nhìn theo rất lâu, hình như bà khóc! Tôi đứng im lặng bên cạnh bà, không khóc mà cũng chẳng nói gì.

            Một chốc, mẹ tôi đi khuất sau rặng tre, bà tôi dắt tay tôi vào nhà, vừa đi bà tôi vừa nói:

– “Túi ni con ngủ với mệ.”

            Bà tôi có hai người em trai, một người chết khi còn trẻ, không có con cái gì, chôn ở làng Văn Xá, quê vợ ông ta. Người vợ ấy đi lấy chồng khác nên mỗi năm đến ngày chạp giỗ, bà tôi đi đò ngang qua Văn Xá thắp hương, giẫy cỏ, thuê người đắp mộ cho em. Còn một người nữa, con út, bỏ làng ra đi khi ông còn trẻ. Có hai lý do để ông cậu ấy bỏ làng mà đi. Thứ nhứt là tại cố ngoại tôi quá thật thà. Khi ông cố còn sống, nhờ làm thầy thuốc Bắc có tiền, nhứt là thời gian làm ngự y ở trong triều, được hưởng ơn mưa móc của vua và các bà thái hậu, ông mua mấy khu vườn mà lại mua của những người bà con bên vợ. Khi ông cố tôi qua đời, ông cậu tôi mới 9 tuổi, bà con bên ngoại bà tôi lợi dụng bà cố ngoại thật thà, tìm cách lấy lại các văn tự, xong họ lấy lại hết đất đai vườn tược, làm cho cố ngoại tôi nghèo đi. Khi ông cậu tôi lớn lên, thưa lên huyện để đòi lại ruộng vườn, vì nghèo không có tiền đút lót cho quan trên nên thất kiện. Đó là nỗi buồn thứ nhứt. Ông cũng thật thà, khi mới 18 tuổi, cố ngoại tôi cưới cho ông một người vợ đã có một đời chồng. Cả làng người ta chê cười ông. Ai đời “trai tơ lấy gái nạ dòng”. Ông mắc cỡ, đó là động lực cuối cùng thúc đẩy ông làm kẻ tha phương. Ông ra Quảng Trị, làm trợ giáo, lấy vợ ngoài ấy, sinh 8 người con. Việc ông lấy vợ xa xứ lại nẩy sinh những mâu thuẫn giữa bà tôi, em gái của bà với bà vợ ông cậu ấy. Một, ông không lấy vợ người làng như tục lệ làng tôi. Thứ hai, vợ ông là người thành phố, mảnh mai, không biết làm ruộng. Quan trọng nhứt là bà tôi và em bà cho rằng bà mợ người ngợm thành phố, chân yếu tay mềm như thế, không sinh được nhiều con, trong khi các bà cần một cô em dâu tốt giống, sinh con nhiều vì ông cậu tôi là con trai độc nhứt, rất mong có kẻ nối dõi tông đường. Đến khi bà mợ tôi sinh ra một bầy con, việc mâu thuẫn giữa các bà mới êm. Đến đó, bà mợ tôi bắt đầu phản công. Không bao giờ bà mợ tôi về thăm quê chồng, dù là ngày chạp giỗ. Chỉ có những người con trai của bà, sau khi hòa bình lập lại năm 1954, họ làm việc hay học hành ở Huế, cuối tuần về làng thăm và về chơi. Mỗi lần họ về như thế, bà tôi và em gái bà rất vui, họ nghĩ rằng “lá rụng về cội”. Khi khôn lớn, tôi nói một cách văn vẻ hơn. Tôi gọi họ là “Những dòng sông trở lại.”  Thậm chí, bà tôi còn khuyến khích họ lấy vợ ở làng để giống dòng khỏi lưu linh lạc địa.

            Bà mợ ấy có bốn người con trai. Tôi kêu bằng chú, anh em cô cậu với cha tôi. Ông con lớn, tôi chưa thấy mặt, khoảng thời gian cha tôi bị Việt Minh giết ở làng thì ông con lớn ấy làm báo ủng hộ Việt Minh ở Huế và bị Tây bắt thủ tiêu cùng năm cha tôi bị giết. Dòng họ tôi, như thế, có người bị giết khi họ còn trẻ, một người chết vì phe bên nầy, một người chết vì phe bên kia.

            Khi tôi sáu bảy tuổi là những năm hòa bình. Mỗi lần các chú tôi về chơi, tôi vui lắm. Sau khi mẹ tôi đi lấy chồng, cuộc sống của tôi và bà tôi rất hiu quạnh. Ngôi nhà từ đường dài 5 gian chỉ có hai bà cháu. Ngoài việc học, tôi chẳng có gì để làm. Vả lại, ngoài việc khuyến khích tôi học bài, bà tôi chẳng cho tôi làm việc gì, ngay cả việc vo gạo để bà nấu cơm hay lặt rau.

Nhà không có đồng hồ. Không chắc bà tôi biết xem đồng hồ, và chính cuộc sống hằng ngày của bà cũng như một cái đồng hồ. Mùa hè, bà nhìn bóng nắng trong sân nhà, hoặc mùa đông khi trời đầy mây, bà nhìn trời để đoán giờ, không mấy khi sai. Tuy nhiên, phía sau lưng nhà tôi, sát bờ sông là chùa làng. Bất cứ mùa nào, hễ nghe chuông chùa công phu ban chiều là bà tôi gọi: “Vô học bài con”. Tôi thắp ngọn đèn dầu hôi leo lét lên và ngồi e a một chốc. Khi thấy tôi xấp cuốn vở lại là bà tôi biết tôi đã thuộc bài rồi, không cần hỏi. Tôi chưa bao giờ nói dối với bà tôi. Buổi sáng cũng thế, dù khi mùa đông lạnh giá, nghe chuông chùa đổ, bà tôi lại gọi tôi dậy ôn bài trước khi đi học. Trong khi tôi ngồi ôn bài, bà tôi xuống bếp nấu một nồi xôi nhỏ để tôi ăn sáng, luộc một vài củ khoai, lấy giấy gói lại để tôi bỏ túi đem đến trường ăn vào giờ ra chơi. Dù nghèo khó như thế nào, bà tôi không để tôi đói bao giờ.

            Cuối tuần, khi các chú tôi về, tôi đi theo họ chơi, bà tôi không bao giờ rầy la gì.

            Về làng, ba ông chú tôi có ba cách vui chơi khác nhau. Chú Thế, người lớn tuổi nhứt, làm công chức, mỗi lần về là đi xe Vespa. Đang ngồi trong bếp, nghe tiếng xe bành bạch, biết ông về, tôi chạy ra sân đón, miệng tôi cười toe toét.

            Chú tôi vào nhà một chốc, gặp bà tôi xong, lại lên xe đi, cho tôi đứng phía trước, giữa hai chân ông. Nhiệm vụ của tôi đi theo là để trả lời ông về các cô gái trong làng. Những câu ông thường hỏi là “Con ni có chồng chưa?”, “Chồng nó làm chi ở mô?” hoặc làm chim xanh, vào trạm y tế xã kêu cô y tá ra cho ông ta gặp. Khi quen cô y tá rồi, ông ta không cho tôi đi theo nữa. Thế rồi “Thanh niên Cộng hòa” xã đòi bắt ông về tội hủ hóa, tứ đổ tường là những việc chính phủ đang bài trừ triệt để, bởi hai người hẹn nhau ở trong vườn sắn. Bà tôi cũng còn “phong kiến” nói: “Cha con nớ hồi trước kéo xe tay, “khôông” làm sui gia được mô.” Ông chú ấy bỏ đi mất, cả mấy năm không về. Tôi biết tính ông chú ưa du hí, không du hí đuợc nữa thì ông về làng làm gì!

            Người chú thứ hai còn đang đi học. Mỗi lần về, sau xe đạp của ông thường có cái cặp da, đựng vài ba cuốn sách học. Ông treo võng dưới mái hiên hay ngoài vườn, nằm ở đó suốt ngày, ngủ trưa cũng trên võng, bà tôi lo việc ăn uống cho ông nhưng ông dễ tính, thế nào cũng được. Năm ông chuẩn bị thi vào đại học, chị Tiết, chị Thuyên xóm tôi để ý đến ông. Các chị ấy cũng học trường Đồng Khánh, cuối tuần từ Huế về thăm nhà.

            Một hôm chú ấy đang nằm đưa võng ngoài sân, tôi ra đầu ngõ thì chị Tiết và chị Thuyên đi giặt áo quần ở bến sông về, gọi tôi hỏi:

– “Này, chú Hoàng tuần nầy có về chơi không?”

Tôi nói có. Chị Tiết hỏi:

– “Chú Hoàng học giỏi phải không?”

Tôi nói không biết.

Chị lại hỏi:

– “Chú Hoàng là nhà văn phải không?”

Tôi phải hỏi lại nhà văn là gì. Chị giải thích. Tôi trả lời không biết.

            Chị ấy nói như giận dỗi:

– “Răng cái chi mi cũng không biết. Vào hỏi lại coi. Nói là tao hỏi đó.”

Tôi vào đứng bên võng, hỏi chú Hoàng các câu hỏi của chị Tiết. Chú cười trả lời:

– “Năm kia tao học băng thi đậu nên người ta tưởng tao học giỏi. Học băng mất căn bản, làm sao giỏi được?”

Hỏi về chuyện viết văn, chú ấy cười:

– “Răng gọi là nhà văn. Mới bắt đầu viết, gọi là “mầm non văn nghệ”.

Hôm sau, lại gặp hai chị ấy xuống bến, tôi nói lại những gì chú Hoàng nói. Chị Thuyên nói đùa:

– “Con Tiết nó nói nó ưng chú Hoàng mi, hỏi chú mi có chịu cưới không?”

Tôi kể lại với chú. Ông ta cười:

            – “Ưng thì ưng nhưng đang còn đi học, mười năm nữa mới cưới.”

            Tôi kể chuyện với hai chị ấy, họ cười thiệt to và nói:

– “Hỏi chú mi có điên không. Chờ mười năm, con Tiết nó “hâm” những mấy lần, ai thèm nó nữa. Nói với chú mi cưới lẹ lên kẻo người ta cưới mất, uổng lắm.”

            Nói xong, hai người bỏ đi, vừa đi vừa cười.

            Người ta gọi ông là con mọt sách. Chỉ học và đọc sách, chẳng làm được gì. Bà tôi muốn nấu cháo gà cho ông ăn, sai ông bắt gà, ông không bắt được, cứ đuổi con gà chạy quanh sân. Bà tôi nói: “Học trò trói gà không chặt” và phải kêu người hàng xóm sang bắt giùm. Về sau, ông đi dạy. Có bà thím nói: “Bỏ cục phấn ra không biết lấy chi mà ăn.” Anh ông thì nói: “Thằng ấy như sống trên mây, chết đói sớm!” Quả thật ông là con mọt sách. Không bao giờ trên tay không có một cuốn sách gì đó nhưng tôi chẳng muốn xem qua những sách đó là gì. Tôi chỉ mới học những năm đầu tiểu học, chưa biết gì.

            Một lần, ông tò mò vào phía sau bàn thờ lục ra một cái hộp nhỏ. Lúc đó tôi mới biết đó là những thứ cha tôi cất giữ lại. Một ít thư từ, một cuốn sổ tay, vài ba tấm hình đã ố vàng, trong đó có tấm hình một cô gái đẹp, phía sau ghi: “Tố Quyên – 1944”.

            Chú Hoàng lấy tấm hình, đem ra sân xem cho rõ. Chú nói:

– “Chị Quyên nầy, tao biết, chắc là bồ của ba mi hồi xưa. Khi ổng học ở Huế.”

            Về sau, khi tôi đã vào Đồng Khánh, một hôm, tôi đến thăm

chú Hoàng. Ông nhắc chuyện cũ:

            – “Đính có nhớ tấm hình chị Tố Quyên không? Bồ cũ ông già mày đấy, chưa có chồng. Bữa nào mình lên chơi.”

Nhà cô ở trên đường Phan Đình Phùng, con đường chạy dọc theo bờ sông An Cựu, giữa đoạn cầu Bến Ngự và cầu Nam Giao. Khi chú Hoàng giới thiệu tôi là “con anh Tường” cô ấy nhìn tôi hơi lâu nhưng không nói gì. Trong khi ngồi nói chuyện, lâu lâu cô ấy nhìn lén tôi.

Ra về, chú Hoàng nói:

– “Hồi trước nhà chị ấy ở trên giốc Bến Ngự, làm địch vận cho Việt Minh, mỗi ngày xuống Huế xem tình hình lính tráng về báo cáo lại cho Việt Minh. Bị Tây bắt bỏ tù mấy năm, được tha về chị đi học lại, tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm. Đã già, còn đi học với bọn trẻ, bọn chú gọi lén là “chị Quyên già.”

Rồi chú Hoàng đọc hai câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm:

                        Nay oanh đã giục “quyên già”,

                        Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.

Tôi biết chú Hoàng đổi chữ oanh ra chữ quyên. “Oanh già” mới đúng, ông chú tôi cố đọc như vậy để chọc cô Quyên.

Tôi nói đùa:

– “Lo học nên không lấy chồng.”

Chú Hoàng nói: – “Đâu có. Không lấy chồng được. Hễ có người đi hỏi là chị ấy lên cơn điên, đập phá lung tung. Người ta nói là ông Tường nhập hồn về phá, không cho lấy chồng. Ba mày ích kỷ, lấy vợ rồi để cho người ta lấy chồng chớ!”

Tôi nói:

– “Phải chi khi mẹ cháu lấy chồng, ông cũng phá thì bà khỏi lấy, cháu còn mẹ.”

Chú Hoàng nói:

– “Có lẽ không yêu. Yêu mới phá vậy.” Cho mãi đến già, cô ấy vẫn chưa có chồng.

            Khi ông chú thứ ba bắt đầu về làng chơi thì tôi đã hơi lớn. Ông ấy cao lớn, thích đá banh, đi xe đạp đua, và không mấy khi ở yên một chỗ như ông chú đọc sách nằm võng.

            Mới về tới nhà, ông hỏi ngay bà tôi:

– “Có chi ăn không o (cô). Con đói bụng!

            Thế là bà tôi phải nấu một cái gì đó cho nhanh. Nồi xôi nhỏ, mấy củ sắn. Ông thường mang bên lưng một cái “bị-rết” của lính, để trong đó lẫn lộn sách vở và mì gói. Có khi bà tôi chỉ nấu nước sôi để ông ăn mì gói. Ăn xong, ông lấy cái mền nhỏ, buộc vào chỗ giàng xe đạp đua để tôi ngồi cho khỏi đau đít. Xong, ông bồng tôi bỏ lên ngồi trên đó, đưa tôi đi chơi xa. Nhiều khi ông chở tôi lên ga Hiền Sĩ để nhìn đường xe lửa mà tôi từng nghe tiếng còi tàu nhưng chưa từng thấy bao giờ.

            Về khuya, trước khi tôi ngủ, nhiều đêm nghe tiếng còi tàu buồn lắm. Nó kéo dài lê thê như tiếng ai rên rĩ, đau đớn, mệt nhọc, như tiếng khóc thê thảm của người đàn bà, kích thích trí tò mò của tôi.

            Lên ga Hiền Sĩ chơi, tôi bỗng thấy thương những chiếc tàu đen. Con tàu chạy qua cầu sắt kêu rầm rầm như xoáy động tâm hồn tôi. Không lý tôi là con gái mà cũng có dòng máu phiêu bạt như hai họ nội ngoại bên bà tôi. Những con tàu đi ra phía Bắc, Quảng Trị nơi quê ngoại của mấy ông chú trẻ, mỗi lần họ về làng là đem tới cho tôi những niềm vui lớn hay con tàu xuôi về Nam, nơi nội tổ tôi lưu lạc về phương ấy. Trong khi tôi ngồi trên đầu cầu suy nghĩ vẩn vơ về những con tàu đưa người thân đi xa, đi rất xa, có người không trở lại, thì chú Ngọc đi lần theo vài cầu gãy, nửa còn vướng trên bờ, nửa chìm xuống nước để phóng ra giữa sông. Chú bơi qua bờ bên kia, rồi bơi qua bơi lại nhiều lần.

            Trên đường về, bao giờ chú cũng ghé lại cái “chợ chiều” bên đầu cầu An-Lỗ. Ở đó, lần đầu tiên trong đời, tôi biết uống nước ngọt, xá xị hay limonade, biết ăn cà-rem cây, những thứ tôi chưa từng thấy ở làng tôi bao giờ. Có lần chú nói đùa:

– “Mua một cây cà-rem lấy lá gói lại mà cầm về cho mệ.” (bà tôi).

Tưởng thật, tôi làm y như chú ấy nói. Nhìn tôi, chú ấy cười:

– “Ngu chi ngu dữ không biết!”

Chú Ngọc cầm cây cà-rem ăn hết, xong đưa cái que tre cho tôi, nói:

– “Này, cầm về cho mệ, bà chưởi cho mà nghe!”

Sau nầy, khôn ra, nhớ câu chuyện cũ, tôi vẫn cười cái tính tinh nghịch của ông chú ấy.

Khi chú Ngọc vào đại học, chú có cô bồ nhỏ tên là Thạch Thảo. Hè năm đó, cứ mỗi tháng một lần, đúng vào giữa mùa trăng, hai người về làng chơi và ở lại. Họ vui đùa suốt đêm, không ngủ. Tôi tò mò hỏi chú Ngọc:

– “Khi hôm chú với chị Thảo ngủ ở mô?”

Chú ấy nói:

– “Cần chi ngủ, ngồi chơi trước hiên nhà, ra vườn tìm có trái cây gì ăn chơi, khuya đói bụng, vô bếp nấu mì gói, mỗi người một tô.”

Chị Thảo nói với tôi:

-“Trời có trăng, ở nhà quê vui ghê, đi chơi mãi không chán. Ở thành phố ít khi thấy trăng đẹp.”

Rồi hai người rủ nhau đạp xe lên ga sông Bồ, tôi lại được đi theo. Chú Ngọc lấy xe chị Thảo để chở tôi ngồi sau póc-ba-ga, còn chị ấy đi xe đạp đua của chú Ngọc, trông rất buồn cười. Lên ga xe lửa, trong khi tôi và chị Thảo ngồi trên bờ chơi thì chú Ngọc nhảy xuống sông, bơi qua bơi lại giữa hai bờ. Xong, trên đường về, chúng tôi lại ghé “chợ chiều”, lại ăn nhiều thứ: bánh ú, bún không ăn với nước mắm ớt, chuối, khoai lang… Chị Thảo không quên mua vài cái bánh ú cho bà tôi, treo tòn ten nơi ghi-đông xe đạp. Bà tôi thường khen:

– “Con nớ thiệt có tình, ăn chi cũng không quên mệ.”

Được ba mùa trăng thi hai người tan vỡ. Sau nầy, khi có người yêu rồi có chồng, tôi vẫn thường nghĩ tới hai người ấy. Sao tình yêu của họ trong sáng và thánh thiện đến thế! Tôi chưa từng thấy họ hôn nhau bao giờ chứ đừng nói chuyện gì khác. Thế mà cũng tan vỡ, nguyên do thật đáng thương.

Ba chị Thảo, thiếu tá, nhờ thời thế, được bổ làm quận trưởng một quận gần quận tôi. Qua cái chức đó, ông có vợ bé, khá trẻ. Mẹ chị Thảo khóc, chị Thảo thương mẹ cũng khóc. Chú Ngọc bèn dẫn chị Thảo đến gặp ngay cô vợ bé ấy, yêu cầu cắt đứt quan hệ với ba cô. Ông thiếu tá cho rằng làm như thế là thiếu tôn trọng ông, cho rằng chú Ngọc là người chủ động việc nầy. Ông gặp chú Ngọc rồi một cuộc xung đột xảy ra giữa hai người. Dĩ nhiên chị Thảo chỉ còn cách khóc cho hết nước mắt mà xa chú Ngọc. Chú ấy đau khổ, dĩ nhiên, bỏ học, lang thang mấy năm rồi nhập ngũ. Ra trường chú xin về một đơn vị nhảy dù, gần năm năm sau, khi chỉ huy đơn vị về tái chiếm cổ thành Quảng Trị mà chú thường gọi là “thành phố quê hương”, chú Ngọc tử trận ngay ga xe lửa Quảng Trị, cửa ngõ thành phố. Tôi cũng khóc như bao nhiêu người thân trong gia đình.

Ôi! người chú đáng yêu ấy, người chú thánh thiện tôi đã tôn sùng như một thần tượng ngay khi tôi còn thơ ấu, người chú đem lại niềm vui lớn cho một đứa bé ở chốn quê mùa hiu quạnh như tôi, chú đã ra người thiên cổ.

Và tất cả ba ông chú ấy không còn ai về làng nữa. Chiến tranh lại lan tràn; kẻ chết, người đi xa. Tôi lại gọi họ một cách bóng bảy nhưng ý nghĩa đã khác xưa, với niềm đau tận đáy lòng tôi: “Những dòng sông không trở lại.”

            Hai năm trước khi chú Ngọc tử trận tôi lấy chồng, sau khi tôi tốt nghiệp trường Sư Phạm và dạy học được một năm. Tôi chọn nhiệm sở ngay trường tiểu học xã tôi, cho gần nhà và gần bà tôi. Ngôi trường nhà quê ấy, chẳng ai tranh giành thành ra việc về quê của tôi không có gì khó khăn. Người chồng tôi, quê ở Văn Xá, bên kia sông, cách làng tôi một chuyến đò ngang. Hôm rước dâu qua sông, phải đi bộ, trẻ con và bà con ra đứng xem hai bên đường thật đông, vui. Con đường làng dài và hẹp, chỉ vừa rộng đủ cho cô dâu chú rể đi bộ bên nhau, làm gì có “lên xe hoa”. Nhưng tôi không quan tâm việc ấy đâu, ngay cả khi qua sông, bỗng gãy một mái chèo. Bà tôi rất lo. Tôi cũng chỉ cười, an ủi bà đừng tin dị đoan. Chuyện tan vỡ về sau đâu phải tại vì mái chèo gãy ấy. Anh ấy học trước tôi hai lớp, ngay cả khi đang yêu nhau, trước khi quyết định làm đám cưới, tôi đã thấy mầm mống sự chia lìa rồi. Tôi đã cố gắng để sống, để vượt qua những mầm mống chia ly ấy nhưng định mệnh đã an bài.

Người Huế, và cả người làng tôi cũng vậy, có một định kiến rất “khó chịu” về hôn nhân, có nghĩa là bao giờ người chồng cũng phải hơn người vợ, người chồng luôn luôn phải là lá chắn, là cái khiên che chở cho vợ, đã đành, nhưng tại sao phải hơn cả về mặt học vấn. Người ta cho rằng nếu người vợ đậu tú tài, người chồng phải cử nhân, người vợ cử nhân, người chồng phải tiến sĩ. Và nếu có cô nào đậu tiến sĩ, bác sĩ, chắc chắn phải… ế chồng. Học cao quá, không ai vói tới. Các cô gái nghĩ và chọn lựa như thế đã đành. Các ông con trai cũng đành chấp nhận như thế. Chồng tôi dù học trước tôi hai năm, không qua được tú tài phần hai, không vào được trường Sư Phạm trong khi tôi được người làng và bà con khen là học giỏi từ khi tôi còn nhỏ. Học ở trường làng, bao giờ tôi cũng đứng đầu lớp. Lên Huế học, chưa bao giờ tôi thi hỏng, lại đậu cao. Tôi vào trường sư phạm chẳng qua vì con nhà nghèo, không cha mẹ, ở với bà nội. Lo cho tôi ăn học tới cấp ba là một sự cố gắng tột cùng của bà tôi. Hết nuôi ba tôi rồi lại nuôi tôi được cắp sách, bà tôi đã đổ ra biết bao nhiêu công sức.

Chồng tôi có cái mặc cảm thua kém ấy, dù tôi có muốn xóa nó đi, nhưng chồng tôi vẫn cứ khư khư giữ lấy nó, như một bức rào chắn giữa hai người. Không có sự phụ lực của anh ấy, tôi làm gì được, biết làm sao được!

Học quân sự xong ra trường, dù chồng tôi xin về đơn vị đóng bên kia sông, chúng tôi cũng không mấy khi gần nhau, nói chi tới sống chung. Tình hình làng tôi và làng anh ấy đều không

được yên, đêm đêm du kích về hoạt động, khiến anh ấy ban ngày cũng không dám về thăm gia đình hoặc thăm tôi. Tôi lại chẳng có thể bỏ bà tôi đi đâu được. Nếu có qua sông thăm chồng, tôi cũng chẳng thể ở lại với chồng nhiều đêm, nhà cửa không thuận tiện, không có trại gia binh và vì hành quân, anh ấy rất nhiều khi phải đi xa.

Một buổi chiều, trước giờ học trò ra về, vợ ông cai trường gọi riêng tôi nói nhỏ:

– “Cô nói với thầy (tức chồng tôi) rán đề phòng, “khôông” chừng “cách mạng” họ sẽ tấn công hay pháo kích vào đồn của thầy. Chắc họ đánh dữ chớ “khôông” mô!”

Tôi lo lắng hỏi:

– “Chắc không thím, làm răng thím biết?”

Bà ấy nói:

– “Dấu lính chớ “khôông” dấu dân được mô. Cả chục chiếc ghe chở đạn về dấu sau bàu, diều dà (nhiều nhà) tuốt cuối “xóm doi” bên mạ cô lo nấu bánh tày, bánh chưng, chắc là để tiếp tế cho bộ đội.”

Tôi nói:

– “Cám ơn thím nhiều lắm, tôi sẽ tìm cách báo cho anh ấy biết, nhưng tôi nói thiệt với thím, những chuyện nầy nguy hiểm lắm, thím nên cẩn thận; lỡ khi bên kia họ biết, nguy hiểm cho thím.”

Bà ấy trả lời:

– “Tui cũng biết rứa chớ cô, dưng (nhưng) thương cô, tui tội nghiệp cho thầy. Làng ni mấy chục năm ni (nay) người ta ở với dau (nhau) ác lắm, “khôông” còn thương dau dư (như) tục làng hồi xưa nữa. Cô mồ côi cha sớm cũng vì cái ác nớ (ấy). Ở với dau (nhau) dư (như) rứa làm chi mà còn làng!

Người Việt Nam ở quê có những nhận xét sâu sắc về tình làng nước. Thím cai trường tuy ít học nhưng nói đúng đấy. Làng là đơn vị căn bản của đất nước, mỗi làng có những phong tục, lề thói, tinh thần của làng nên nó mới đứng vững được trước bao nhiêu cuộc biển dâu. Làng tồn tại được là nhờ ở tinh thần của nó và cũng nhờ vào tình thương yêu đùm bọc, giúp đỡ nhau qua bao nhiêu đời, bao nhiêu thế hệ. Bỗng nay, người trong làng đâm ra ghét bỏ, thù hận nhau thì sự tan rã của làng, của đất nước tất phải đến mà thôi. Trên đường đi dạy về, nghĩ tới sự phân ly tan rã ấy, tôi bỗng thấy lạnh mình và buồn ghê gớm. Bao đời nay, làng tôi, dòng họ tôi có biết bao nhiêu người bỏ làng ra đi vì sinh kế. Vì sinh kế, nhưng lòng yêu làng, yêu bà con thân tộc thì cũng vẫn vậy. Có dịp, có cơ hội, người ta lại tìm cách về làng như các ông chú của tôi. Nếu tình thương ấy không còn, tình làng nước không còn, nếu trong làng chỉ còn những ghét bỏ, thù hận thì những người đi sẽ đi mãi. Con đường trở về không còn, như những dòng sông trôi đi, không còn quay trở lại.

Chồng tôi cũng thế, 1975, anh ấy đã đi, qua bên kia nửa vòng địa cầu. Với tất cả những mặc cảm dồn nén trong tâm hồn anh đối với cá nhân tôi, và với tình làng nước bạc bẽo, anh không còn nhớ tới nơi anh từng được chôn nhau cắt rún, nhớ tới tôi là nguời đàn bà đã đi qua đời anh, nhớ tới đứa con là một kỷ vật quí báu anh đã cho tôi. Dòng sông quay ngoắt qua một khúc rẽ khác, rồi xa khuất hẵn.

Mùa đông năm 1977, bà tôi qua đời, không phải trong cảnh nghèo đói mà phải nói là túng cực. Đất nước thống nhứt đã được hai năm nhưng chưa bao giờ dân tình thiếu thốn như lúc đó. Tôi nghĩ cái đói làm tăng cái lạnh đã làm cho bà tôi ra đi sớm. Đất chôn thì đã có sẵn bên cạnh mộ ba tôi, nhưng tìm mua cho ra một cái quan tài không phải là chuyện dễ như ngày xưa, mà tiền bạc thì tôi không có. Lương giáo viên sau 1975 là đồng lương chết đói hạng nhứt, thầy cô ai cũng thiếu thốn, rách rưới, còn ai nhờ cậy được ai, nên tôi lại càng vất vã trong việc chạy mua quan tài. Trước kia, bà tôi có mua dành sẵn cho bà một cái để ở đầu hiên nhà, nhưng hồi tôi học năm thứ hai sư phạm ở Qui Nhơn, tết muốn về thăm nhà nhưng không dám đi xe hơi vì quốc lộ 1 thường bị cắt và đặt mìn, nên bà tôi phải bán cái quan tài đó đi để tôi có tiền mua vé máy bay cho tôi. Suốt một cuộc đời bà tôi hết lo cho ba tôi rồi lo cho tôi ăn học, thậm chí bán cả quan tài để tôi có tiền mua vé máy bay, lẽ nào tôi lại có thể mua cho bà tôi một cái quan tài loại gỗ tạp. Chạy được tiền rồi, tôi phải lên tận rừng Hòa Mỹ để mua cho được một cái quan tài vừa tốt vừa rẻ. Trong khi tôi chạy ngược chạy xuôi lo tiền và mua quan tài thì con gái tôi ở nhà với bà con. Cũng may, trong làng vẫn còn nhiều người bà con xóm làng cố cựu tới lui thăm viếng, lo lắng, giúp đỡ nên việc chôn cất bà tôi được êm đẹp. Sự giúp đỡ đó là niềm an ủi lớn của tôi sau “cuộc đổi đời”.

Gần hai mươi năm sau ngày đã có hòa bình nhưng bình an thì không bao giờ có, đứa con gái của tôi lấy chồng, cũng để lại cho tôi một đứa con nhỏ, rồi nó lại đi thật xa, như nội tổ tôi ngày xưa vậy, tìm một miền đất hứa khác, ở cuối miền Nam khi cuộc sống chúng tôi quá nhiều khó khăn. Ngôi nhà từ đường bị tịch thu để làm kho hợp tác xã. Các bàn thờ và tự khí cũng bị tiêu hủy. Tôi chỉ được cho lại có gian nhà bếp.

Đêm đêm, ôm đứa cháu ngoại vào lòng, tôi sống lại cuộc đời bà tôi nửa thế kỷ trước, cũng trên chiếc rương xe ấy nhưng nay đã rỗng tuếch. Tôi chẳng cất giữ được những gì do bà tôi để lại, kể cả những thứ “gia bảo” của bà khi bà còn trẻ. Hai bà cháu tôi đắp cái chăn sờn rách nhiều chỗ mà số tuổi của nó kém tuổi tôi không xa. Tôi cố ép sát mình tôi vào đứa cháu ngoại cho nó được ấm như ngày xưa bà tôi đã ấp ủ tôi trong những đêm lạnh giá. Tôi miên man nghĩ tới những thế hệ đã qua, bao nhiêu người nằm xuống, bao nhiêu người đã đi xa mà tôi không thể hy vọng họ quay về, dù chỉ một lần thăm hỏi.

Tiếng bà lão ru cháu bên hàng xóm làm tôi nhớ những tiếng “ạ ời” của bà tôi ngày xưa, không bao giờ tôi có thể quên được. Ngày thơ bé ấy, tôi chưa hiểu lời ru, nhưng cái âm thanh đều đặn, trầm buồn phát ra từ cổ họng bà tôi, đã ru tôi vào giấc ngủ hiền hòa. Ngày sau lớn lên, ý nghĩa câu ca dao bà ru làm cho lòng tôi thêm đau đớn, buồn rầu. Đất nước nầy, dân tộc nầy có đầy những bài ca, những lời ru quyện lấy những điều chia lìa, ly biệt:

“Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội,

            Người xa người tội lắm người ơi!”

Thế ai làm nên những điều chia xa, giết cha tôi bên bờ ruộng, làm cho mẹ tôi góa bụa khi còn trẻ mà không thấy tội cho người?

“Con chim phượng hoàng bay qua hòn núi bạc

Con cá ngư ông móng nước ngoài khơi

Gặp nhau đây cạn tỏ một đôi lời

Kẻo mai kia con cá về sông vịnh,

con chim phượng hoàng dời non cao!”

Vâng, có bao nhiêu người thân yêu may mắn gặp gỡ nhưng chưa nói hết những điều muốn nói thì lại đã chia tay, như một dòng sông chia ra nhiều ngã, như những nhánh sông chảy qua miền đất phì nhiêu ruộng đồng xanh tốt và cũng có những nhánh sông băng qua nhiều thác, nhiều ghềnh. Những nhánh sông đó không bao giờ gặp nhau lại nữa!

Vậy là bên dòng sông Bồ nầy, ba thế hệ của dòng dõi nhà tôi đã trôi qua, với bao nhiêu khổ đau vì chiến tranh, chết chóc, chia ly và nghèo khó, của sự suy tàn triều đại nhà Nguyễn, kéo theo sự suy tàn của dòng họ Hoàng của tôi.

Mai đây, con tôi lớn lên, lại tiếp nối một thế hệ thứ tư, có gì làm chắc, có gì hy vọng ở thế hệ thứ tư đó, không riêng gì con tôi mà toàn thể thế hệ chúng nó, tránh dược những khổ đau và ly biệt mà cha ông nó đã từng gánh chịu?!

Lắm khi tôi bỗng giật mình vì những tiếng còi tàu thời thơ ấu từ ga sông Bồ, ga Hiền Sĩ vẳng lại. Trong đêm khuya tĩnh lặng, tiếng còi tàu thê lương rền rĩ vang lên thật rõ, như tiếng khóc một người đàn bà cô quạnh, như tiếng ạ ời giữa đêm khuya của người đàn bà nào đó ru con bên hàng xóm. Người đàn bà đó là ai? Là người đàn bà góa chồng như tôi ở bên cạnh nhà, là hòn núi đá Vọng Phu trong dãy Trường Sơn đứng ngó ra biển Đông, mòn mỏi đợi chồng, là bà tôi trong cuộc sống cô quạnh của bà hồi nửa thế kỷ trước ở một làng quê nghèo khó, hay chính tôi đang tiếp nối cuộc hành trình của bà trong cuộc đời vô định như những dòng sông trôi đi không bao giờ trở lại,

hoànglonghải

(1) Cầu bắt ngang làng An-Lỗ, quận Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên.

(2) Mệ: Bà (nội hay ngoại), tiếng miền Trung.

            (3) “Ai về Bình Định mà coi,

           Con gái Bình Định múa roi, đi quyền.”  (Ca dao)

Ngày Phụ Nữ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 02/11/2018 

Post by Sơn râu 14 Feb 2024

Email chuyển tiếp quanh một vòng, cả nhóm đếm ra chỉ có sáu mạng là “chơi được”, vậy chớ muốn thống nhất giờ nọ ngày kia để gặp mặt nhau xem chừng cũng “mệt dữ à nghen”. Sáu mạng thảy đều trên sáu bó, thảy về vườn, thảy chây lười ngồi không, rất bất thiện ở cái khoản nhàn cư, thế mà kết quả của hồi âm rằng thì là: A bận ra phi trường đón anh chị sui từ bển qua du lịch, B mắc đến nhà con ăn thôi nôi đứa cháu nội, C ăn cái giống gì mà tự nhiên đau bụng, bắt tay thằng Tào Tháo đã hai hôm, D kêu sao không tổ chức ban ngày mắt tôi lóng rày đêm hôm chẳng phân biệt được đâu là nhà ngói đâu là nhà tranh. E bảo tìm hàng quán khác thì ô-kê chứ thực đơn chỗ ấy dầu mỡ bỏ mẹ…

Người gửi điện thư đưa lời mời mọc không vì thế mà thấy nản, ổng biết tỏng khi đã về già tính khí quý vị cao niên ai nấy thường chướng, ưa dỗi hờn, thích nghe đối tượng xuống nước van lơn. Vì vậy lỡ bắn mũi tên ra khỏi dây cung vẫn trì chí ngó tên cắm vào đích. Ổng lại mó tay tới bàn phím, bỏ dấu tiếng Việt hẳn hoi: Vậy thì mấy ông sắp xếp sao cho thuận tiện hoặc có cao kiến gì nhớ cho tôi hay, bị giờ này hoàn cảnh hết giới nghiêm, tôi thôi cắm trại 100% rồi. Cắm trại hoặc trại cấm cũng một nghĩa như nhau. He he he.

Sau một tuần thư đi tin lại, mỏi mòn con nhạn bơ phờ bay về đưa ra “nghị quyết” tối hậu: Buổi trưa ngày thứ sáu sắp tới, bằng hữu ai nấy thôi lu bu, chẳng còn lý do gì để cột chân lại và sẽ quây quần ở một hàng quán khác, giá hơi đắc chút đỉnh nhưng được cái thông thoáng tha hồ cho tiên ông ngồi tán dóc, búa xua tâm sự lâu ngày chầy tháng khỏi nhìn đời hiu quạnh. Lục vị nhi nhĩ thuận này nếu không đồng hương thì cũng đồng chí, không ưa chữ đó thì còn chữ khác: Đồng bệnh. Bệnh ưa đặt điều thêm mắm dặm muối, ưa mơ mộng về cảnh giới không thực, ưa vẽ rắn thêm chân, ưa tự hành xác, ưa đứng núi này trông núi nọ cách biệt đời thường; nôm na là thích làm bạn với chữ nghĩa bù đầu sáng tác thơ văn. Phàm những kẻ mắc chứng bệnh ấy, trong máu thường bị nhiễm vi-rút “Văn mình vợ người”. Con vi trùng rất mực hiền lành chẳng mắc mớ chi tới chuyện sống chết phải vào nhà thương bắt tay mấy ông bác sĩ. Văn thơ ta tự hí hoáy, nhất cô nhạn. Vợ thằng kia thì rõ là nhị cô tiên, đẹp hết biết. Ta tuy người trần mắt thịt nhưng có khiếu mỹ thuật, hơn hẳn thằng kia có mắt mà nào khác đứa mù, uổng lắm thay!

Trong sinh hoạt chè cháo của nhúm bạn già, có một điều lệ không cần ghi ra văn bản, trăm khi như một, đó là lúc đã bóng ngã về chiều chén bát lăn chiêng đổ đèn, lục vị đề cử một người cầm hoá đơn vào thanh toán cơm hàng cháo chợ, xong cái thì làm phép toán chia trẻ lên ba cũng tường đáp số. Ví như vừa ăn vừa uống vừa phá mồi cả thảy là 300 thì tiện việc sổ sách, mỗi thành viên họp quanh bàn tròn sẽ móc ví ra 50 đô để chồng đủ số cho Lê Lai chẳng liều mình cứu bồ. Hoạt cảnh sẽ diễn tiếp, rằng đông đúc là thế, đủ mặt đủ mày là thế, vậy mà dường như con bé mặt hoa da phấn đứng sau quầy thu ngân chỉ gửi riêng tới “Lê Lai” chưa từng khoác long bào một nụ cười xem chừng nghiêng thùng đổ nước. Sao quần hùng tranh nhau rượu vào lời ra bán trời không văn tự nhá tới 300 lạng bạc mà riêng “ảnh”, kẻ oai phong đứng mũi chịu sào mặt tỉnh như ruồi khi đặt đống ngân lượng rõ to lên quầy, bộ dạng ra vẻ khinh khoái rất mực lại được mỹ nhân mày ngài mắt phượng gửi sóng thu ba cùng một nhếch môi màu son chưa phai nhạt: Cháu cám ơn bác nhiều ạ! Bác xơi có mặn miệng không ạ! Xưng hô phải phép đúng là con nhà gia giáo, bởi nếu ta mà hoang sớm, sang sông trước thiên hạ thì cháu ta giờ nầy cũng trạc tuổi “em”. Nhưng mà tình ngay, bạn ta (không phải hiền hữu) nổi hứng về thăm lại xứ cũ đã vừa mang sang một cô vợ coi mòi son trẻ hơn “cưng” nhiều lắm lận. Tròn trăng hay đôi tám cũng một nghĩa như nhau, cứ thế mà ỏng ẹo anh em một dạ không đổi, chẳng ngượng mồm. Đâu có thằng chồng nào dở hơi đi gọi vợ bằng cháu, nhỉ? Bất quá chỉ hạ mình tự ví ta là trâu già mà nường đúng là cỏ non vậy!

Thứ nội quy góp gió thành bão, chơi theo kiểu Mỹ kia, vô tư nghĩ là đúng quy trình, nhưng có lúc, như hôm nay đã bị người gửi email cực đoan bác bỏ, ưa mần kách mệnh để tui bao từ A tới Z lần này, năm thực khách được mời nghe thế rất lấy làm tâm tư với thứ lời hay ý đẹp kia, ngôn ngữ đời thường kêu bằng “bảnh” chớ hổng phải chơi ngông. Chuyện gì thế? Trúng lô tô chăng? Tập truyện ngắn vừa xuất bản đã bán đắc như tôm tươi, được tới “một chục mười tám” cuốn chăng? Chủ tịch nước xứ lá phong vẫn còn sống hùng sống mạnh, nào đã thác để xây lăng mộ hoành tráng đâu mà bày đặc lấy cớ mở cờ trong bụng để nâng ly? Dù là lý do gì thì cũng nên lây lan sự hả hê ba chân bốn cẳng chạy u đến nhà hàng mừng ngày vui đại thắng. Khi “khổ chủ” chưa xuất hiện, mấy bạn già đã vào kéo ghế ngồi rung đùi đoán hươu đoán vượn về sự cố đột xuất nọ. Một ông luôn bị ám ảnh về cái chết đã nói, kiểu đinh đóng cột: Các bạn không biết chứ tôi thì rành sáu câu, lạ lùng gì, ảnh mới từ bệnh viện trở lui sau khi đánh bại thằng thần chết, nốc ao chỉ ở hiệp ba, rất oanh oanh liệt liệt khiến thằng diêm vương phải xếp giáp quy hàng tháo chạy. Họ tên ảnh, kể cả bút hiệu vẫn còn rành rành giấy trắng mực đen trong sổ đoạn trường mà diêm vương chẳng đủ sức để bôi xoá, gôm tẩy. Tóm tắc rằng thì là ảnh điếc không sợ súng, rất mực ngon cơm đề huề phong độ, bỏ ngoài tai lời triệu tập đi trình diện cải tạo của quản giáo địa ngục môn. Làm trai cho đáng nên trai là chuyện xưa tích cũ, ảnh làm ông già gân cho đáng gừng càng già càng cay. Chỉ chừng đó thôi, không đủ để mần nên buổi nhóm họp chia vui đáng nhớ này sao?

Và “ảnh” tới, độc cô cầu bại xô cửa đi vô, phát ngôn rào đầu rất lịch sự: Các bạn chờ có lâu không? Lỗi tại tôi mọi đàng, xe buýt chạy lố một trạm dừng mới bừng con mắt dòm ra. Vậy đó, người ta thì tranh nhau lấn tới bước nữa mà tui thì cứ luôn đi lộn lui. Một bạn quan sát anh chủ xị, không phải nhìn đểu: Giả như tôi ngồi chung chuyến buýt cùng anh thì chắc là tôi không nhận ra anh, hôm nay trông chải chuốt quá, tươm tất quá, đẹp lão quá. Cho hay là khi gặp chuyện vui, điều đó làm người ta trẻ hẳn ra, mặt mày hồng hào tươi nhuận có thể phổng phao. Nào, chuyện vui của anh là gì? Kíp khai ra mau. Các đồng chí rót rượu ra đi chứ. Ông luôn mang ảo giác có thằng cầm lưỡi hái đứng sát bên hông rót nước lạnh vào ly, nâng lên, may mà ông không nói: Chăm phần chăm nhé, không say không về.

Cô phục vụ chạy bàn như biết môn kung-fu Lăng ba vi bộ, bóng hồng thoắt cái đã dựa thân vào một chiếc ghế trống: Các bác đã lựa xong thức ăn chưa ạ? Trong khi chờ đợi các bác nên thử dùng qua món gỏi trộn, bảo đảm không dở đâu ạ. Ông già “bữa nay tự dưng trẻ lại” vỗ vai “cháu ngoan”: Ừ, cứ việc mang ra cho mấy bác trắc nghiệm xem tài nghệ của các cháu đến ngang đâu. Tiếng là xưng bác như ai kia nhưng lục vị hổng có trự nào chịu nuôi râu dài thậm thượt cả, và dứt khoát các bác nể nang tới công đạo lệ luật chốn đây nên chả ai dại ôm cháu vào lòng xoa đầu bẹo má gỡ gạc cả. Làm bác cho ra bác kẻo mẹ mấy cháu khinh cho.

Trong khi chờ món gỏi trộn mang ra, mỗi người tranh thủ tự chọn món ăn mình hợp khẩu, bởi người ưa ăn gà kẻ thích ăn cá, người nem công kẻ chả phụng, chưa tính tới điều kiện thật giả nằm nơi hai hàm răng có cho phép nhai rau ráu không. Cua ghẹ nghêu sò ốc hến có bốc mùi thơm tới cỡ nào thì cũng đành niệm tình tha thứ cho. Ngó lơ, hổng màng tới, y như kiểu món gái gú dâng tận miệng thì giờ đây coi mòi xơi không êm. Ai bảo tuổi già hạt lệ như sương? Cái đáng bàn tới nhất là già cả đâm bất tiện, loay hoay chẳng giải quyết được cả trăm vấn nạn lận, bực cả mình khi ngồi ngay trên miệng giếng mà khát nước tới khô rát cổ họng, kiếm chẳng ra sợi dây dài nhằm nối thêm vào cái gàu múc nước.

A: Trước khi đụng đũa thì yêu cầu anh bỏ ra ít phút để tuyên bố lý do.

B: Phải a, ứng khẩu thôi chớ đâu cần phải ghi soạn ra trên giấy như diễn văn cho nề hà lôi thôi.

C: “Đạo diễn” quá thì thực phẩm đâm nguội lạnh, ăn mất ngon.

Chủ xị nắm cổ chai bia lên, tợp một phát, đằng hắng: Bữa nay tui mời mấy bạn tới đánh chén là nhằm kỷ niệm ngày vui tràn bờ của thằng già hạnh phúc này.

D: Còn biết tới chữ hạnh phúc là đã giỏi!

Chủ xị: Ấy là mụ vợ vừa chính thức ra thông cáo: Anh đường anh tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta có thế thôi. Danh chính ngôn thuận thì tui vừa được vợ bỏ.

E: Chết mẹ! Hơn sáu mươi năm cuộc đời, lần đầu tiên tui mới nghe ra câu sấm “hạnh phúc khi được vợ bỏ”. Có ngược đời thì cũng chừng mực nào thôi chứ!

Chủ xị: Bị ông mãi an tâm đi dưới tấm bảng chỉ đường, học tập cải tạo tốt nên không được trông xa thấy rộng.

A: Có lửa mới sinh ra khói. Do đâu mà xẹt ra lửa?

Chủ xị: Ông quen chơi chữ văn hoa trừu tượng quá. Ở nhà ông bà có hay cãi nhau không?

A: Có chứ, thường khi, nhưng vợ tui bảo thương nhau lắm cắn nhau đau. Vợ mà không nói không rằng cái ấy mới đáng sợ!

B: Tui hổng đồng ý với thứ lập luận đó đâu nghen. Anh phải khéo tu ba đời mới lấy được người vợ mãi câm như thóc. Nhà cửa êm ấm cách gì!

C: Mềnh ngồi đây cốt là để nghe tâm tư của nhân vật chính chứ mô phải học lấy luận thuyết của anh A anh B.

D: Đúng vậy, hạnh phúc của người được vợ bỏ là thứ đáng nghe hơn cả.

Chủ xị: Bà ấy nói, ông lớn hơn tôi cả chục niên dĩ nhiên ông sẽ thác trước tôi, sức người có hạn, tôi nhắm lo không nổi việc chôn cất ông nên giờ này còn đủ hai mặt hai lòng, để tránh ngỡ ngàng, tôi liệu đường rút sớm.

A, B, C, D, E ngồi làm thinh chẳng vọng động. Trong quán có con ruồi, ắt hẳn là ruồi cái, vừa bay ngang rồi đậu xuống bên đĩa gỏi cuốn. Chủ xị đưa tay xua đuổi.

C: Tui hỏi điều không phải thì xin anh bỏ qua, bà ấy có ai nguyện nâng khăn sửa túi mà hăm hở bỏ đi?

A: Nói tầm bậy. Đàn ông ai lại đi nâng khăn sửa túi cho đàn bà? Nói chúng chuyên lột truồng đàn bà ra thì đúng hơn.

B: Trong lúc “tang gia bối rối” ông còn nhớ đến thơ cụ Bùi Giáng? “Bây giờ tôi đối diện tôi, còn hai con mắt khóc người một con”.

Chủ xị: Trong người tui đâu còn giọt nào mà biểu khóc, cái đáng giận là tui muốn cười mà cười chẳng được thôi.

E: Phải a. Cười được thì nên cười, bởi muôn đời cười là thang thuốc bổ. Tui mới xem được câu chuyện vui dành cho người già, xem quý bạn có cười nổi không? “Thằng cháu 13 tuổi hỏi ông nội nó: Ông còn làm chuyện đó với bà không? Thường khi cháu yêu ạ, vẫn ngon lành, như cơm bữa. Đứa cháu trố mắt: Cái gì? Ờ, ông quên nói là giờ đây chỉ biết làm bằng miệng thôi. Cái gì? Ờ, mỗi khi ông nói Fuck you thì bà cháu đáp trả Fuck you too”.

C: Fuck! Thế anh biết vợ dọn đi đâu không?

Chủ xị: Tại sao tui phải quan tâm tới việc đó? Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, còn vợ bỏ đi đâu thì đó là điều mà ta không tài nào biết được.

D: Thế chuyện chia chác tài sản?

Chủ xị: Dùng chữ tài sản thì quá lớn lao. Hồn ai nấy giữ, duy chiếc xe của tôi thì bà ấy lái đi, dùng phương tiện hòng làm nhẹ gánh hành trang. Ấp đang mướn xét thấy lớn quá, e tôi dọn thuê chỗ hẹp té đặng trú thân qua ngày đoạn tháng.

B: Tui mà như ông thì về Việt Nam ở mẹ cho xong chuyện!

A: Hạ sách, đừng tập hư, chớ xúi dại. Nhỡ ốm đau, tiền đâu mà vào nhà thương?

C: Hiện tại ông tính cách gì làm nguôi ngoai?

Chủ xị: Tui đang vui mà, nguôi ngoai nỗi gì? Tui sẽ bê nguyên niềm vui ấy vào cuốn tiểu thuyết dự tính sẽ dày ngàn lẻ một trang.

Cô hầu bàn sau khi thu dọn chén bát đã liền tay bê ra 6 dĩa nhỏ.

D: Ngộ hén. Hình như mấy bác đây chẳng có ai gọi thức này cả.

A: Món gì thế?

Cô phục vụ: Dạ món chuối chiên ạ, dùng để tráng miệng ạ. Các bác xơi đi ạ.

Ngay ngắn trước mặt sáu bác là 6 cái đĩa nhỏ đựng một vật thể co quắp như khúc dồi chịu già lửa nằm bên trên, có rưới nước đường làm ướt đẫm cái món bèo nhèo ấy. Trái chuối cho dù đã bóc lấy vỏ đi thì hình thể bên trong nó trông đường bệ phương phi lắm kìa, có đâu như thứ bị kêu là chuối chiên này, nhìn mà bủn rủn tứ chi. Mẹ già như chuối chín cây thì cha già tựa khúc chuối chiên vậy!

Cô cháu ngoan mang thêm cho mỗi bác một cái nĩa, cô sửa giọng:

Bọn cháu chiêu đãi riêng thức này, không tính tiền vì hôm nay rơi vào ngày Phụ Nữ ạ.

Chủ xị nắm lấy tay cô con gái: Cháu đã thành phụ nữ chưa? Đừng dại khờ vội đánh mất tuổi xuân cháu nhé. Cháu cho bác xin một cái hoá đơn để thanh toán bữa nay.

Hồ Đình Nghiêm

Linh hồn lạc lối

vandoanviet.blogspot.com

Hồ Đình Nghiêm

Thứ Ba, 21 tháng 11, 2017

Post by Sơn râu 14 Feb 2024

Khi sang đây, thời gian đầu tôi xin được việc làm với đồng lương khá cao: Chùi rửa, thay bao rác, quét dọn vệ sinh trong một cao ốc có bốn tầng lầu. Từ chín giờ tối tới hai giờ sáng. Địa điểm khá xa, nằm giáp ranh với ngoại ô không đèn, hơi bất tiện. Cho dù người ta có thiết lập ra tuyến đường xe buýt chạy về khu tân lập kia thì tan tầm vào lúc hai giờ sáng, chẳng có ma nào còn láng cháng đi lại trên vùng đất vắng tẻ kia. Muốn cày bừa, tiên quyết bạn phải có xe để tự lái đi.

Mới chân ướt chân ráo đến nhập cư, tôi làm gì tậu được xe. Người bạn giới thiệu việc vì ở nơi trái đường đã dọ hỏi giúp tôi, may thay một ông người Miên gốc Việt làm chung chỗ hứa sẽ nai lưng đóng vai tài xế giùm, chỉ chi cho ổng một khoản tiền nhỏ dùng để đổ xăng và đừng quên đãi cà phê bánh ngọt. Như thế, vạn sự không hẳn đều khởi đầu nan. Với tôi, có mòi thuận lợi. Chỉ duy một chuyện hơi lấn cấn trong khi lao động, đêm nào cũng vậy, khoảng một giờ sáng, đang hút bụi ở hành lang có trải tấm tapis màu đỏ bầm, máy đang êm tự nhiên gầm rú lên đồng thời tôi đón nhận hơi lạnh kỳ lạ như kiểu có cơn gió vừa vụt qua. Mọi cánh cửa đều đóng kín sau khi đã kỳ cọ lau sạch. Hàn khí chợt gây ớn xương sống nổi da gà nọ thật khó giải thích.

Cả bọn có mười lăm phút để nghỉ giải lao, thường khi thì co cụm lại từng nhóm riêng lẻ khác biệt ngôn ngữ vùng miền cho tiện việc hàn huyên. Tôi, người bạn và ông “tài xế” bày bánh trái trà nước ra, ngồi xuống ở chỗ xét thuận tiện nhất, không xa nơi mình đang dở dang công việc. Có lúc, khi một ngọn đèn tự dưng tắt đi, không dằn được lòng, tôi đã hỏi: Trong đời, quý vị đã từng có lần gặp ma chưa? Người bạn nhăn mặt như kiểu hớp nhằm ngụm nước nóng vừa chế từ bình thuỷ ra: Chưa, bộ đời hết cái để thấy rồi sao? Cho em nhờ tí! Bạn rùn vai: Ừ, nhưng mà muốn thấy cũng không dễ đâu nha, phải tuỳ duyên. Ông “tài xế” người Miên gốc Việt, hình như trước ở Châu Đốc hay Hà Tiên gì đó bắt bẻ: Tui chưa nghe ai áp đặt chữ duyên kỳ lạ như vậy cả. Khi cưới được cô gái đẹp, người ta bảo phải khéo tu mới nên duyên vợ chồng thì hợp lý. Còn nếu chẳng bị ma nhát thì xem như có phúc, nói vậy nghe thuận tai hơn. Tôi hỏi: Anh từng vô phúc chưa? Ai? Tui hả? Phúc phần gì. Tui chưa gặp ma, có thể do bởi hồi nhỏ má tui thỉnh thầy cho tui lá bùa, rồi vô lính, tui đi xăm trổ hình lá bùa đó vào bắp tay. Tránh hòn tên mũi đạn và ngăn được tà khí. Bạn tôi nói: Vậy lát nữa nhờ anh bắc thang thay giúp cái bóng đèn ấy nha, bọn tôi chẳng có bùa, hơi bị yếu bóng vía.

Về tới nhà đã ba giờ sáng, hôm nào nóng nực thì siêng vào phòng tắm bằng không thì vệ sinh qua loa rồi lăn đùng ra giường hú ba hồn bảy vía trở lui, trưa mai hẵng tính. Vì công việc nên tay chân nghe nhừ mỏi, nằm lơ mơ có cảm giác như có cái gì đè nặng xuống người. Đầu óc mụ mị chẳng biết nhăng cuội, mình đang tỉnh hay đang chìm sâu vào mộng mị? Sáng, tối. Hư, thực. Bần thần, hay nghĩ vẩn vơ về những điều không tượng hình, vô căn cớ. Cảm giác bất an sau cùng đã có đáp số, ông người Miên gốc Việt đóng vai tài xế đã không tới đón tôi đi làm, điện thoại hỏi thăm người bạn, hắn cho hay ông ấy tối qua trúng gió, cảm nặng, già đầu rồi mà cứ kêu than má ơi má hỡi. Ê kíp chỉ còn mình tao phải xin lão sếp sắp đặt tăng viện nhân lực. Bùa chú đầy người có khi cũng phải nhác chơi!

Như vậy, tôi làm nhân viên vệ sinh công sở chỉ đúng một tháng. Mười ngày sau, trên tờ giấy èo uột dán trước cửa chợ Á châu, tôi đọc thấy hàng chữ cần người. Không nhanh tay lẹ mắt ắt sẽ vuột mất cơ hội. Thời cơ lại đến, khỏi sợ đói người, lần này thì làm đứa đội nắng mưa đi thu hoạch hoa màu ở một nông trại nằm chốn đồng không mông quạnh. Trái cây, rau rác, bầu bí, hành ngò, xà-lách, cà chua, cà-rốt… có gì chơi nấy. Họ chỉ định một địa điểm thuận lợi nhất để tập trung nhân công, điểm danh xong chất có thứ lớp lên chiếc xe trước đây dùng để đưa đón học sinh, hoặc na ná như xe thùng sáu bánh chuyên thồ bọn phạm nhân từ trại giam ra pháp đình luận tội. Gầm rú, dằn xóc cả tiếng đồng hồ thì thả người xuống một bình nguyên xanh mơn mởn, xanh tận chân trời. Phút đầu ai cũng lộ vẻ hân hoan vì được dầm thân trong môi trường thoáng đãng khí trời lồng lộng, chỉ có quý vị phụ nữ là mặt ủ mày chau và sĩ số họ đông gấp ba lần phái nam. Chi cũng được nhưng nắng kiểu đó thì tui ngán lắm, rồi sẽ đen như con mọi. Họ phát biểu cảm tưởng. Đã rất lâu, giờ đây tôi mới nhìn lại hình thể một chiếc nón lá hình chóp đặc thù của quê cũ. Chẳng biết có ai ép trong đó một bài thơ? Anh về xin nhớ mua quà, mang qua một vật che loà nắng mưa.

Vì là lính mới, tôi được một chị tên Sương kèm sát bày đường chỉ lối. “Lom khom dưới núi tiều vài chú”. Ừ, tiều phu thì chỉ một vài, chớ bọn tui đây e tới cả trăm không chừng, lúc nhúc, chổng mông, còng lưng, tay khoan tay nhặt, mồ hôi mồ kê ràn rụa chảy. Chẳng nói chẳng rằng, hôm sau chị Sương trao cho tôi một chiếc nón vải rộng vành. Không sao đâu mà, đội đi, tui mua ở chợ trời giá rẻ như cho, chớ ngại. Giờ giải lao, chị mời ăn củ khoai mì hấp chín với nước dừa. Ở đây không có đâu, chỉ riêng chợ Mễ mới bán nó. Chị cho hay khi đưa thêm gói mè rang. Tôi nghe họ nói ăn củ này trong lúc bụng đói sẽ dễ bị say. Bụng tôi no cũng muốn chóng mặt, dung mạo chị Sương tầm tầm nằm giữa mức xấu đẹp nhưng lòng dạ ấy thì quá mỹ lệ, ưa giúp đỡ kẻ khác. Chị ở một mình nuôi con ăn học. Chị tâm sự: Cháu nó được tám tuổi rồi, sợ nó quên tiếng mẹ đẻ nên cuối tuần tui chịu khó dắt nó tới chùa, những người tốt bụng thành tâm có ngăn ra một gian sau hậu liêu để dạy tiếng Việt cho bọn nhỏ. Khi chúng ê a thì ngoài sân tui phụ giúp nấu các món ăn chay để thiện nam tín nữ lót lòng. Chủ nhật mà, người vào ra đông vô số kể. Anh có từng lên chùa thắp nhang?

Nếu có thể xem là nghề thứ ba, thì do chị Sương giới thiệu, tôi được làm “ông thầy” thiện nguyện dạy các em nhỏ tập viết tập đọc chữ quốc ngữ ở sau ngôi chùa to ngất độc tôn trong vùng. Trước chỉ có lớp học vào ngày thứ bảy, sau này do đông học viên nên sinh thêm một lớp tụ bầy vào hôm chủ nhật. Và tôi làm đứa “gõ đầu trẻ” vào ngày thảnh thơi ấy.

Việc đó là hậu sự, tiên khởi chị Sương kể là tui từng chứng kiến có đôi ba cặp đã nên duyên vợ chồng nhờ gặp nhau ở ngôi chùa đó, sao anh không thử một phen, biết đâu lòng thành được chốn khói nhang chứng giám, kinh kệ độ trì. Tôi nghe, bụng thấy chút khó chịu. Đã vác thân tới chốn trang nghiêm mà sao còn mang theo một đống bụi trần thất tình lục dục chất chứa trong lòng? Đã không buông bỏ lại còn muốn trói buộc thêm vô. Việc tôi tự nguyện dạy dỗ các em tuổi hồn nhiên rạng ngời kia có phải là một trong muôn ngàn cách buông?

Chị Sương làm “tài xế”, ông thầy ngồi bên cạnh và cô học trò tám tuổi khép nép lễ phép ngồi băng sau, chẳng mè nheo, chẳng sinh sự, không có ý kiến. Dễ thương hết biết. Má của con lòng tốt bao la như vậy thì mai này con sẽ hưởng lấy phúc lộc, hổng thèm tới chùa cũng gặp được kẻ xứng đôi, vinh hiển ấm đời.

Bức tường vôi vàng ngăn hai gian nhà, bên kia lớp học là nơi đặt di ảnh, hũ tro của các người vắn số được thân nhân mang gửi vào, những mong vui vầy phần nào khi lìa xa nhân thế. Ngoài lời kinh tiếng mõ, tôi mong là tiếng đọc bài ê a “Công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” của các em nhỏ sẽ làm “họ” vui tai, mỉm nụ cười độ lượng.

Chị Sương có tài nấu nướng, chị mua rau quả ngoài nông trường với giá rẻ và thường mang đến chùa từng túi lớn chất đầy các loại xanh tươi. Chị mặc chiếc áo lam, mặt đỏ hồng khi gia công với củi lửa, có vẻ vui thú khi nghĩ thành quả mình làm ra sẽ giúp mọi người có bữa ăn no nê trong thanh đạm. Nhìn chị, tôi luôn mọc ra ý nghĩ về người chồng khiếm diện, anh ấy đang ở đâu? Có được một người vợ tựa thế phải dày công tu mới nên duyên chứ? Chị chưa một lần tâm sự và tôi luôn tôn trọng cái im lặng của chị. Hẳn đó là vết thương lòng, khi đã biết thế mình không nên khơi mở nó ra. Cách chị siêng năng đến chùa mỗi cuối tuần hầu như là phương thức nhằm cố vơi bớt nghiệp chướng?

Thời gian này tôi đã quen lại với giấc ngủ bình thường giống mọi người, đã đoạn tuyệt với thời khoá biểu lấy đêm làm ngày như trước đây. Có khi soi gương, đọng trong ấy phản chiếu một khuôn mặt lạ lẫm, đen đúa vì mãi một sương hai nắng. Hai bàn tay thì biến dạng thấy rõ dù có mang găng bảo vệ khi lao động. Và lao động thì mãi chẳng vinh quang. Làm việc chỉ đủ sống. Sống chỉ để ăn, ngủ rồi vận hành theo một lập trình cũ, không biết cách hoán đổi. Miếng ăn tôi không lo toan, vì chị Sương bao giờ cũng nấu thừa ra, bới xách cho tôi, chu đáo đến cả thức uống hoặc món tráng miệng. Ăn cho có sức mà làm việc. Chớ so đo, đồng tiền mình làm ra đều lương thiện, không có gì đáng để tủi thân. Chị thường uỷ lạo, an ủi tôi.

Ở nông trường bắt đầu phát tiếng nhỏ to ong ve xì xầm. Cộng đồng người Việt, dù chỉ một nhóm người, họ cũng có khối chuyện để bàn tán, dị nghị, cả tin, nghi ngờ và ưa làm tài khôn. Đại để như: Bà Sương nên đi bước nữa, cũng lớn tuổi rồi đâu thể ở không. Mình chẳng nói gì nhưng nghĩ tới đứa con còn nhỏ dại, hơn ai cả nó cần một người cha… Ngay chính miệng người mẹ cũng có lần nói với tôi, con bé nó đặc biệt có cảm tình với anh, việc học tiếng Việt xem chừng nó tiến bộ làu thông, đôi lúc hỏi nhiều câu bất ngờ, không biết đường mà trả lời, cứ ấp a ấp úng!

Tôi tập thói quen đi ngủ vào lúc mười giờ, để đồng hồ báo thức vào sáu giờ sáng. Thời gian đầu không sao, gần đây thỉnh thoảng tôi bị đánh thức bằng thứ tiếng động lạ như kiểu ngoài tôi đã có ai khác cùng trú trong cái ấp hai phòng rưỡi nhỏ nhắn này. Tôi ngồi dậy, cảm nhận rõ có luồng gió lạnh vừa vụt qua, y như đêm hôm nào làm việc quét dọn trong cao ốc vắng lặng. Cái địa điểm mà sau cùng người bạn tôi cũng đã bỏ việc, hắn chỉ nói mơ hồ bằng mấy chữ “Chịu đời không thấu”. Tôi mở sáng đèn đi thăm dò cửa nẻo vốn đã khoá chặt cài then. Heo may ngoài trời như biết thẩm thấu qua vách ngăn, lạnh trong người lạnh ra.

Chứng mất ngủ bắt đầu hiện tới, trùm chăn nằm đếm số, cố nhớ ra những đoạn văn thật thơ mộng thật giản dị của tiền nhân để truyền lại cho bọn trẻ luôn háo hức, luôn thân tình với người thầy bất đắc dĩ. Một con nước trôi dịu dàng ra cửa biển? Một đám mây bay nhẹ nhàng sang bên kia núi? Một cánh chim cô quạnh vụt qua trời chiều nhá nhem? Một tình yêu cao cả có thể chuyển hoá sự xấu xa?…

Tôi mê thiếp một hồi thì nghe tiếng réo liên tu bất tận ở đồng hồ báo thức. Chồm người dậy tắt, con số 3:00 xanh lè ở đó cháy tỏ. Kỳ khôi chưa? Phải là số 6:00 mới đúng chứ! Một lần không nói, đêm sau cũng giở chứng y hệt. Đã có bàn tay thần bí nào nhúng vào?

Tôi bắt xe buýt đi tới chùa. Không nhằm cuối tuần, chùa vắng. Một chú sãi hay chú tiểu đang quét lá ngoài sân bị tôi nắm chéo áo cậy nhờ, làm ơn dắt tôi vào chỗ thờ phụng người khuất mặt. Tôi nào lạ gì khi chỗ ấy nằm sát vách nơi tôi đạo mạo làm giáo viên hàng tuần. Tôi muốn chú ấy đi theo bởi bóng chiều tà vừa bao phủ khiến tôi ngán khi đơn thân phải vào nơi thâm u.

Tôi muốn tự mình xác tín một chuyện. Trước đây, trong giờ tập viết, tôi đã ra đầu đề, các em hãy nắn nót tên người cha của mình trên trang giấy xem có được không, có sai lỗi chính tả thầy sẽ sửa giúp. Đứa con của chị Sương viết, chẳng sai một mảy may: Trần Văn Như Gia. Chú tiểu nhắc: Thầy nên thắp cho các vị ấy ba cây nhang. Tôi nghe lời cùng lần với dãy bóng đèn néon đồng loạt cháy sáng. Tôi cúi đầu, chẳng biết khấn nguyện điều gì. Tôi vái và tôi cắm run rẩy vào bát tro.

Bức tường trước mặt tôi, nằm sau lưng bàn thờ đầy hoa trái treo đầy những tấm ảnh vàng vọt của kẻ gửi thân về cát bụi. Mất chừng năm phút, tôi đọc thấy bốn chữ Trần Văn Như Gia nằm dưới một gương mặt có vẻ nghiêm khắc, có vẻ khó tính, có vẻ cộc cằn, có vẻ không hoà thuận với cuộc sống, hoặc ít ra anh ta chẳng ưa chụp ảnh, bộc lộ cái bất bình, gấu ó.

Tôi xin chú tiểu một cuốn kinh, bất kể là loại gì, in một vài câu cũng được, nhằm khấn đọc thầm, tụng chú trong canh khuya. Rồi chia tay. Rồi gửi lui lời hẹn gặp vào chủ nhật. Tôi bước tới trạm đợi chuyến buýt. Thay vì về nơi cư ngụ, tôi đứng bên kia đường để ngược hướng, tới nhà chị Sương. Tôi sẽ nói cùng chị những hoạn nạn mà tôi đang gặp phải. Và rất khó khăn, tôi buộc lòng thưa thật, rằng tôi sẽ kiếm việc làm khác, tôi sẽ vắng mặt một thời gian. Và rồi tôi sẽ ngồi yên, chờ nghe từ chị một cao kiến, một kế sách vẹn toàn.

Bóng tối chan đầy lòng đường, chỉ có vũng sáng từ cổng chùa tạt hắt ra vuông màu vàng nhạt. Chuyến buýt sật sừ đi tới, thắng đứng lại, cửa mở.

Tôi bước vào lòng xe, băng ghế cuối có bóng đen vừa ngẩng đầu lên. Ông ta mang bộ mặt lãnh cảm, giống hệt người chồng chị Sương. Cuốn kinh trong tay tôi đẫm ướt.

Chuồng bồ câu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 28/02/2019 

Post by Sơn râu 14 Feb 2024

Để tránh lôi thôi, Thục My quyết định mang tôi đi trình diện Clementine. Cô giáo trẻ gọi thêm bà Beatric đến, ba bốn mặt một lòng ngầm thoả thuận rằng, đừng hô hoán mông-xừ Tran là l’étranger, kẻ lạ ngác ngơ bất chính đột nhập vào sân trường với mục đích xấu. Ông Tran này nếu không bố, thì bác, chẳng bác thì chú, tóm lại là người thân thích của cháu Annie, đại diện mẹ bận lu bu công chuyện mần ăn, Tran sẵn lòng dang tay đón Annie về nhà trong an toàn, cho dẫu bé ngoan có làm bộ làm tịch phụng phịu mặt mày.

Thục My đã đi mài dũa một chiếc chìa khoá nhà, ân cần trao phó bản vào tay tôi. Tôi móc cái chìa vàng ấy nằm chung đụng với ba cái của riêng tôi, kiếm sợi dây tròng vào cổ, đong đưa trước ngực cùng thẻ nhựa đi xe buýt mua hằng tháng. Tay My bao giờ cũng ấm khi chạm phải. Mười ngón, hai mươi ngón khác biệt chỉ giống nhau ở chỗ, cả đôi lứa đều không đeo nhẫn, trống vắng. Thục My bảo: Đã nhớ chưa, đúng ba giờ rưỡi, chịu khó đừng để con bé mầm non mẫu giáo lạc loài hoang mang khi đứng đợi, tội nghiệp.

Như vậy, tự dưng tôi có job mới, chủ không trả lương, không cả quan hoài trao bonus hai chữ “tội nghiệp” cho ông Tran xứng đáng đón nhận một chia sẻ thân thương, cả tin, đong đầy uy tín.

My xong việc lúc 5 PM. Về tới nhà nếu hanh thông đường sá cũng bóng đổ tà dương lu mờ cảnh sắc. Tôi làm quen với Annie mới non tháng, con bé 5 tuổi “chảnh” như một thiếu nữ dậy thì vui buồn bất chợt. Trời giông, trước khi đổ nước cũng biết làm khúc dạo đầu bằng mây đen kéo về bưng bít. Annie khác, tính khí trời sợ, không quỡn để đưa lời cảnh báo trước. Xem chừng nó biết kẻ lạ là mông-xừ Tran này sẽ “từ ngoài sân sau lần vô bếp”, là bad guy muốn soán đoạt bớt cảm tình mà má nó dành riêng cho cục cưng. Nhưng nói nào ngay tôi biết học bài nhẫn nhục, Tran là đệ tử ruột của thằng cha nội Hàn Tín xem việc lòn trôn thiên hạ chỉ là chiện nhỏ, chẳng hề lấy đó làm điều. Căn tu thâm hậu do vậy hôm giới thiệu với mấy cô giáo coi trẻ, Annie đã nắm lấy tay tôi biểu hiện tình hữu hảo môi hở răng lạnh.

Về ngón đòn tâm lý chiến thì dễ như ăn ớt, ba rưỡi đến hẹn lại lên, tôi xẵng xái đặt chân vào vùng cấm địa, toét miệng cười, chào hỏi thắm thiết tới quý vị phụ nữ xong, liền dắt con bé đi thơ thẩn tới cửa hàng Mách Đô. Tôi có xem tờ báo chợ, thống kê cho rằng 90% các đấng nhi đồng thảy mặn khoai tây chiên đi cùng cái hamburger hoặc cục thịt gà bọc bột chiên, tu một hơi gần cạn ly coke. Mặt tươi như hoa được phun nước, tiếng cười trong trẻo vi vút hơn lệ thường. Bận ngồm ngoàm cứng miệng, nếu không đã ghé tai tỏ tình: Je t’aime.

Thục My luôn khuyến khích tôi trao đổi tiếng mẹ đẻ cùng Annie. Mới 5 tuổi khả năng đàm thoại của con bé y như tôi khi sử dụng tiếng Pháp với người bản xứ, có nghĩa là còn giới hạn lắm. Nó đã vất bỏ chữ ông Tran, nó gọi tôi lúc bác lúc chú. Không riêng nó, ngay cả già đầu như tôi cũng chẳng biết cha nó, papa, ba, bố còn sống hay đã chết. Ổng giang hồ vất vưởng phương nao. May cho Annie, nó chưa một lần thắc mắc, gióng hỏi. Nó biết cái đáng biết, Tran, bác, chú nọ không thể là người khiến má nó mang bầu rồi hạ sinh ra một con bồ câu bé nhỏ. Bồ câu là tên ở nhà của Annie. Tôi từng ra sức vẽ nên một con bồ câu giống thật vào giấy rồi biểu nó tô màu tuỳ thích, xanh xanh đỏ đỏ trẻ nhỏ cũng ưa. Đó là kế điệu hổ ly sơn, để bác và má có cơ hội đứng trong bếp cùng sát vai thổi lửa nấu ăn chung. Thục My nói: Bồ Câu biết hôn, ngoài tài vẽ đẹp, bác còn biết nấu nhiều món ngon lắm. Và như thế, lắm khi tôi nai lưng thêm chức sếp bếp, hoặc ngửa tay nhận tiền cậy nhờ đi chợ mua sắm nguyên vật liệu ở nhà đang thiếu thốn. Ghi ra giấy kẻo quên, lần trước xớn xác dặn một đường tha đồ về một nẻo, trật chìa, lộn tùng phèo. Người gì mà cứ dật dờ, để tâm trí rơi tận đâu đâu á!

Tôi mần thinh, chưa phải lúc để thưa thốt: Dạ thưa em, lòng dạ Trần này bận tơ tưởng tới hình dáng em. Đứng gần em thì băn khoăn không rõ sau áo xống lụa là che đậy kia là thức gì ẩn dấu? Trần khờ khạo lắm, mong được em chỉ giáo một lần để sớm mở mắt, có vậy con bồ câu mới đâm quyến luyến với con chim cu này.

Có bữa mát trời ông địa, đón Annie về, nó đòi vào công viên coi ông già vô gia cư ngồi yên trên băng ghế đá mặc tình cho đàn chim mổ thức ăn rơi bám thân ông. Phải hiền từ đôn hậu lắm chim mới thân tình ríu rít vây quanh xem nhau như bạn được. Chân tay tôi có biến thành bốn ổ bánh mì e chim chóc cũng nhác ăn, cạy mặt cái đứa đến từ nơi chốn “con gì nhúc nhích đều xơi ráo”. Tôi không phải “tự nhiên như người Hà Nội” ghiền món thịt cầy, chưa hề thử “ngon nhức răng” vậy mà đi ngoài đường có nhiều con chó gầm gừ, mắt long lên kỳ thị thấy rõ. Chuyện nhỏ! Chuyện nhớn là Annie càng lúc càng “mặn nồng” với bác, Bồ Câu xem tôi là người bạn đồng minh có thể chơi được, có thể gặp cảnh bất bình rút đao tương trợ, đừng hòng có đứa nào lén phén tới ăn hiếp tao, nhớ. Mông-xư Tran biết kung-fu đấy.

Coi cảnh ngoạn mục chim ăn chim ỉa trên đầu ông già rách rưới có thể là xem phim quảng cáo phút đầu, anh thanh niên đạp xe ba bánh chứa thùng kem nhiều màu tựa bên thân cây rậm lá mới là bộ phim chính lâm ly bi đát hơn hẳn. Chưa coi mà đã chảy nước miếng. Bác, con thích ăn kem. Ơn trời, may mà trong túi có chêm chút bổi, làm đứa khố rách áo ôm thì chẳng biết mần răng giải quyết. Ô kê, kem thì kem, sợ gì. Kem múc hai cục rõ to ém vào cái ly làm bằng loại bánh xốp. Của cháu là chó-có-lát của ông là va-ni, vị chi là tám đô chín mươi chín xu. Va-ni dắt chocolat tìm bãi cỏ mượt nhẹ nhàng buông thân nửa nằm nửa ngồi mút lấy mút để hai cục đường mát ngọt cần cổ. Tôi nhìn vẻ say sưa của con bé, thè lưỡi liếm cho mòn, cho triệt tiêu cục kem trơn láng: Bồ Câu thích có em không? Là sao? Con thấy mấy con chim đậu sát bên người ông ấy không? Lúc nào chúng cũng có bạn, chúng chẳng đi một mình. Em là bébé, là đứa bé sẽ được chị Bồ Câu bồng bế ẵm ru. Môi con bé ướt ngọt: Nếu con thích em bé thì phải xin má, hay xin bác? Ai cho con?

Đàm thoại cho có, cho khỏi quên tiếng mẹ đẻ, tưởng sẽ chìm vào dĩ vãng, ai có ngờ đâu chữ “em bé” đã ghim vào trí nhớ nhỏ nhoi kia. Hồi nào con lớn bộn bề, ắt con “về nhà dối mẹ”, hiện tại con tẻo teo như cây kẹo, con thật thà như đếm: Má, con muốn có em bé. Có lửa mới sinh ra khói, má rùng mình đón nghe lời trần tình quá sức cực đoan, má nhìn bác bằng đôi mắt biết nói: Ô là la, mông-xừ Tran đã đầu độc trẻ thơ, còn ai trồng khoai đất này? Gieo rắc tai hoạ là hậu quả của việc giao lưu tình cảm chùng lén giữa song phương bấy chầy, ưa bắt đương sự viết bản kiểm điểm quá. Em bé đâu phải từ trên trời rớt xuống dưới đất chui lên. Muốn tựu thành ra em bé thì biết bao cơ man là gay cấn buộc phải nhắm mắt liều mạng bước qua cầu tre lắc lẻo. Có rớt xuống sông làm ướt cái quần ny-lông thì tai kíp nghe lời ai hát hỏng: Dô đây em đợi quần khô anh sẽ đưa em dìa. Cởi quần phơi cho ráo nước, trong khi chờ đợi thời khắc từ ướt tới khô, em nào biết mần chi, há lẽ anh biểu em ngồi không? Hoàn cảnh ấy rất mực căng thẳng, thót tim trong e ấp. Búi xờm xờm chớ hổng giỡn chơi đâu nhen. Hèn chi người xưa dạy: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Chốn cô quạnh khiến tim mềm, ta dễ nghe lọt tai lời rù quến.

Tôi vụng tu. Tôi vụng về. Tôi không biết cách xử thế. Tôi chẳng thông hiểu mức nông sâu của lòng người. Tôi thất nghiệp. Người ta đã từ chối bao công sức tôi trao chẳng toan tính. Người ta đã gài số de, lùi một lèo, không thèm nháy đèn chẳng cần đạp thắng. Lỗi tại tôi mọi đàng. Tiên trách kỷ hậu trách nhân.

Điện thoại im re. Bước lên bậc thềm cửa đóng then cài bấm chuông chẳng ai mở, đút chiếc chìa khoá vàng mãi tòn teng trước ngực vào ổ, đút hoài chẳng vô. Ai kia nhẫn tâm đã thay ổ mới, nhìn qua cửa kính, thấy đen thui một sự từ khước lạnh tanh. Thất bại, đứng dáo dác nghe gối mỏi chân mòn, chẳng biết làm chi tôi rảo chân đến ngôi trường với lấn cấn dấu hỏi: Chuyện gì? Tại sao? Sao quay lưng mà chẳng bảo gì nhau?

Chào cô Clementine, cô khoẻ không? Ah, chào ông Tran. Cảm ơn, tôi tốt. Ông đến có việc gì không ạ? Mẹ của Annie đã thốt lời chào tạm biệt chúng tôi, dọn tới chốn khác thuận tiện hơn, có lẽ vậy. Ơ, đợi tôi một chốc nhé, chừng hai phút thôi, tôi có cái này trao ông.

Tôi đứng nhìn vào cánh cửa vừa mở rộng, một hành lang sạch bong thắp sáng những đốm điện vàng, thế giới êm ả đó vừa gửi trao một hương mùi đặc thù nó riêng thu cất. Mùi bàn ghế hao mòn của bao thế hệ từng mài đít, mùi giấy ẩm của sách vở, bục gỗ, bảng đen, phấn trắng chừng cũng biết phát hương. Hít phải, nghe lòng bồi hồi trong hoài niệm tự ùa đến. Đã là ngôi trường thì buộc chúng phải có linh hồn, thứ linh hồn luôn tỉnh thức. Nó không đời nào chợp mắt, dẫu nó thoi thóp nằm yên trong ba tháng hè. Nó tựa chứng nhân, bao dung, sẵn lòng hàn huyên cho bạn nhớ về một thời vụng dại tuổi học trò. Thời gian đã lạnh lùng soán đoạt cái kho báu giá trị ấy. Bạn nghe ra một nỗi đau dịu dàng, buồn tủi. Cắm cúi học vạn điều hay lẽ phải để về già vẫn thấy mình chưa thật sự khôn lanh.

Đây, ông xem. Annie vẽ nhiều bức nhưng tôi vẫn thích bức tranh này nhất. Cô Clementine đã trở lại, tay nắm tờ giấy vung vẫy khi bước ra. Trong các lớp, chúng tôi vẫn trang hoàng chật vách bằng chính thành quả các em say sưa vọc màu. Trẻ con bao giờ cũng đáng yêu, hồn nhiên thể hiện rõ qua màu sắc, đường nét. Clementine trao cho tôi bức tranh vẽ bằng màu nước có ghi tên Annie bên dưới. Tranh vẽ một gã đàn ông tay chân lòng khòng ngồi trên ghế đá, trên đầu có đậu con chim rõ to. Màu chim xanh, xanh nhỏ giọt chảy tràn trên bãi cỏ, lốm đốm. Con bé giải thích, mông-xừ Tran là người còn con chim mang tên Annie. Mình thương ai thì mình để trên đầu, con bé khẳng định thế. Trên đầu chứ không trong tim. Ông giữ làm kỷ niệm.

Cảm ơn nhiều. Tôi nói, cẩn trọng gói tròn tờ giấy nhăn nhúm vì màu nước tấp dày. Tôi bắt tay Clementine, chào tạm biệt. Tôi đón xe buýt về chỗ trọ. Có lẽ tôi sẽ kiếm tìm một công việc nào đó để cứu vớt phần nào, không ai an lòng sống với những ngày vô tích sự. Trước, tôi có chiếc xe hơi mua trả góp, làm chân cẳng vì hãng xưởng nằm tuốt ngoài xa lộ. Một ngày băng giá tự dưng có chiếc xe tải lảo đảo lạc tay lái đâm thốc một bên thân. Tôi nằm viện hơn tuần lễ, không biết cách viết đơn kiện tụng. Theo giám định hiện trường nơi xẩy ra tai nạn, hãng bảo hiểm đã bồi thường cho tôi một số tiền khá lớn. Tôi thong dong quên việc cày bừa đã được hai năm, tôi sợ ngồi vào tay lái do vậy tôi quyết định dùng phương tiện vận chuyển công cộng. Tôi trình bày rõ mọi chuyện cho Thục My nghe, cô nói nhàn cư vi bất thiện, chi bằng tới giúp cô những việc cô không kham nổi. Nhỏ nhặt như bóng điện bị hỏng bất chợt cũng chẳng biết cách thay cái mới.

Tôi ghé ngang một cửa hiệu chuyên bán khung ảnh. Người bán hàng muốn giúp tôi việc lồng bức tranh vào trong. Ông ta bảo, bức vẽ này quá dễ thương, hãy cho tôi xén bớt khoảng trống, như vậy bố cục sẽ hoàn chỉnh hơn. Tôi gật đầu. Cháu được mấy tuổi rồi? Picasso từng nói: Mỗi một đứa bé đều là nghệ sĩ…

Tôi trả tiền. Tôi cầm lên “tác phẩm” của Bồ Câu vừa được gói giấy cẩn thận. Tôi bước ra, tôi băng qua đường vì chợt thấy một quán nước lộ thiên có trương dù che nắng gió.

Ông dùng cà phê loại gì ạ? Không, hãy bán cho tôi một cốc kem, loại chocolat, xin vui lòng.

Tôi nghe như có tiếng cười trong trẻo của Bồ Câu vừa vọng vào đôi tai. Tôi đồ rằng Thục My chê tôi nghèo khó. Tôi mút cục kem, ngậm bồ hòn làm ngọt. Tôi là ông già rách rưới ngồi trong công viên mà chim chóc ái ngại chẳng dám đáp xuống ríu rít hót ca quanh thân. Chẳng có con chim nào đậu ngay đỉnh đầu tôi cả. Yêu ai nên để trên đầu. Ai đã dạy con chuyện ấy? Trên đầu là nơi chỉ dành riêng cho bố mẹ thôi, con ạ. Tôi cầu mong cho Bồ Câu ở được trong một cái chuồng vững chắc, che kín nắng mưa, tránh tai ương vụt đến tước đoạt đi hạnh phúc má vừa ra công gầy dựng. Annie, toa có thương moa không? Moa treo bức tranh này bên chỗ nằm cho tới mãn kiếp.

Hồ Đình Nghiêm

Thầy đời!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 14 Feb 2024

Người viết có thằng bạn Turkey. (Turkey không phải là con gà Tây đâu; xin bà con đừng có hiểu lầm nhe! Nó là nước Thổ Nhĩ Kỳ đó ạ) làm chung sở kể cái chuyện vui như vầy:

Có hai người cãi lộn không phân thắng bại! Ai cũng cho là mình đúng, hỏng có đứa nào chịu mình sai. Cuối cùng cả hai đồng ý đến một bô lão trong làng có uy tín, vì là người học cao hiểu rộng để nhờ phân xử.

Theo người Việt mình hay nói ông cụ nầy làm: “Thầy đời!”

Ông cụ bèn mời từng đứa lần lượt vào thư phòng của mình để nghe ý kiến.

Bà cụ lui cui châm trà đãi khách, vừa nghe lóm.

Không biết ông cụ phân xử ra làm sao mà ra về hai đứa đều vui vẻ.

Nhưng bà cụ thì hỏng có vui; bèn lên mặt “thầy đời” với ông cụ (Cái nầy giống con vợ tui nhe):

“Sao ông nói gì kỳ quá hè? Nghe hỏng lọt lỗ tai! Ông quả là thằng cha ba phải! Thằng A, ông cũng cho là đúng. Thằng B, ông cũng cho là đúng.”

Ông cụ nghe vợ mình dạy đời xong, bèn vuốt râu, phán: “Bà cũng đúng luôn!”

Thưa nói nào ngay tui cũng khoái làm “Thầy đời” lắm nhe. Khoái hóng chuyện của người khác cãi nhau.

Nhưng ngặt hỏng có đủ đầy uy tín là một, không học cao hiểu rộng là hai hoặc già háp, già khú đế là ba để người ta đến nhà nhờ tui phân xử khi cãi nhau bất phân thắng bại!

Dù ế không có khách; nhưng cái tính tui lại thày lay, chuyện trong nhà không tỏ chuyện ngoài ngõ đã hay (Như con vợ tui hay rầy tui vậy).

Lần nầy, dù hỏng có ai nhờ phân xử tui cũng tình nguyện nhào vô phân phải trái cho chúng chửi tui chơi!

Chẳng qua có một hiền hữu gởi cho tui nội dung một cuộc tranh luận sanh tử lửa như vầy:

Một nhà báo sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, rồi tạm cư nhiều năm ở Đông Âu, đến khi đã quá tuổi trung niên thì mới sang Mỹ, định cư được chỉ một thời gian ngắn, nói tiếng Anh chưa rành, mà đã tuyên bố rằng “Mỹ là tổ quốc của tôi”, và “tôi đã chọn nước Mỹ là tổ quốc của mình”, thì còn gì lố bịch hơn?

Nực cười hơn nữa, anh ta tuyên bố: “Tôi quan tâm đến nước Mỹ nhiều hơn VN. Tôi mong muốn nước Mỹ giàu có và hùng mạnh, vì tôi là công dân của đất nước này. Còn Việt Nam chỉ là sự trăn trở thôi vì đã lỡ sinh ra ở đó. Kể cả Việt Nam có dân chủ, thì tôi cũng chẳng về. Tôi đã chọn nước Mỹ là tổ quốc của mình.”

Hỡi ôi, sao anh ta lại nhận vơ “tổ quốc” của những người khác, và chối bỏ Tổ quốc đích thực của chính mình một cách dễ dàng như thế nhỉ?

Hỏi xong? Bậc thức giả nầy bèn tự trả lời luôn cho nó tiện sổ sách là:

“Tổ quốc là gì? Tổ quốc là đất nước mà Tổ tiên đã xây dựng, tô bồi, gìn giữ từ bao đời trước và để lại cho con cháu.

Chúng ta là người Việt Nam. Tổ quốc của chúng ta là đất nước Việt Nam. Tổ quốc của chúng ta là một đất nước đã tồn tại nhiều ngàn năm trước khi chúng ta được sinh ra trên chính đất nước ấy.

Chúng ta được sinh ra và thừa hưởng đất nước mà Tổ tiên của chúng ta để lại.

Rất nhiều người tỵ nạn hay di dân, vì nhiều lý do khác nhau (?), đã phải rời xa tổ quốc của họ để đi đến một đất nước khác và định cư ở đó.

Đó là “quốc gia định cư” của họ, chứ đó không phải là Tổ quốc của họ.

Sau nhiều năm sống trên “quốc gia định cư”, họ hội nhập vào cộng đồng xã hội của “quốc gia định cư”; họ trở thành công dân của “quốc gia định cư”; họ có công ăn việc làm ổn định, lập nghiệp, xây nhà, sinh con đẻ cái trên “quốc gia định cư”; thì tất nhiên họ có tình cảm gắn bó với “quốc gia định cư”, và họ có thể gọi đó là “quê hương thứ hai”, chứ họ vẫn không thể nào gọi đó là Tổ quốc, vì đất nước đó không phải là đất nước do Tổ tiên của chính họ để lại cho họ!

Nên nhớ rằng chỉ những dân tộc có đất nước với lịch sử rất dài lâu thì mới có ý niệm Tổ quốc. Ở những quốc gia trẻ (có lịch sử chỉ vài trăm năm) như Australia, New Zealand, USA, Canada,… thì ý niệm tổ quốc (ancestral country) chỉ dành riêng cho thổ dân (Australian Aborigines, New Zealand Maori, American Indians, Aboriginal Canadians), vì thổ dân là những dân tộc đã hiện hữu và làm chủ đất nước của họ đã vài chục ngàn năm trước khi người da trắng đến định cư!

Đừng chối bỏ tổ quốc của mình, và đừng nhận vơ tổ quốc của những người khác.”

Nghĩa là ông nhà báo nầy bị chửi; mà cái bọn đế quốc Mỹ, Úc, New Zealand, Canada là những nước tiếp nhận rất nhiều người Việt mình tỵ nạn CS cũng bị chửi luôn.

Cả bọn hòa lời ca, dưới một tay lĩnh xướng như vầy: “Những kẻ như thế không hiểu rõ tiếng Việt và có bản chất của một con thú vật (?!), ai cho ăn thì mang ơn và không biết cội nguồn và tự hào dân tộc.

(Tranh luận thì cứ nhẹ nhàng mà đổi trao… mới là người có ăn, có học chớ. Mạt sát những người không đồng chánh kiến với mình kiểu “đầu gấu” như vầy làm tui lại nhớ đến thầy tui, Giáo sư Lâm Văn Bé có viết như vầy:

“Khi vào cưỡng chiếm đất miền Nam, cưỡng đoạt tài sản dân miền Nam, Cộng sản đã gọi tất cả dân miền Nam là bọn Mỹ Ngụy.

Đối với người dân có cơ may vượt thoát được bằng những cuộc vượt biển, vượt biên để xin tị nạn ở các xứ tự do, Cộng sản dùng nhiều danh từ thô tục để điểm mặt người tị nạn.

Trước tiên, trong một hội nghị với các cán bộ tại Hà Nội năm 1975, Trần Phương, Chủ nhiệm Ủy Ban Khoa học Xã hội đã ví von một cách tục tĩu dân miền Nam là những con điếm cho Mỹ làm tình để đổi lấy viện trợ. Cùng trong tư tưởng dâm ô ấy, Lê Duẩn mạt sát những người di tản là một bọn ma-cô, đĩ điếm, Phạm văn Đồng chửi người ra đi là bọn phản quốc, và các nhà báo nhà văn cộng sản, kể cả bọn Cộng sản 30 cũng chửi hùa theo là những đồ rác rưởi trôi dạt khắp năm châu bốn bể. cặn bã xã hội, trây lười lao động, chạy theo bơ thừa sữa cặn” .

Rồi lại có một giọng nam (làm) cao, hát bản “Việt kiều yêu nước” (khúc ruột xa ngàn dặm): “Tôi rời Việt Nam từ 1971, biết vài ngoại ngữ, nhưng luôn hãnh diện là người Việt Nam. Khi đi du lịch, nếu ai hỏi tôi từ đâu đến, tôi nói như phản xạ, không do dự: “Tôi là người Việt, đang sống ở Mỹ.” “Xin được mãi mãi là người Việt Nam!””

(Chu choa nghe sao giống hô khẩu hiệu trong mấy cuộc biểu tình chống Mỹ năm xưa quá ta?!)

Nhưng một bực thức giả khác có vẻ khoan hòa, không hung hăng con bọ xít phát biểu rằng: “Việt cộng chỉ là một chế độ tạm thời. Nó không đồng nghĩa với Việt Nam. Tình thương là việc không thể gò ép được, cũng không thể mua bán được. Mỗi người có sự chọn lựa cá nhân dựa trên những điều kiện, hoàn cảnh của họ!

Tôi có thể không đồng ý với họ, nhưng tôi sẽ không chỉ trích họ chỉ vì họ không suy nghĩ giống với tôi!”

Thưa bà con sau khi trình bày câu nói gây tranh cãi mà tui e rằng có cha nào đó ở không đặt ra cái đề tài nầy để cho cả bọn (vốn chung xuồng ba lá) nhào vô chửi bới một nhóm người mà thằng chả không có thích.

Cái chiêu thức nầy gọi là bôi tro trét trấu lên mặt người ta. Có ít xít ra nhiều, ném đá giấu tay để những người ngây thơ nghe theo lời mình đốc xúi… dại.

Úc nó thường nói: “I wasn’t born yesterday” tức là “Tao đâu có mới đẻ hôm qua” mà ngu ngơ nghe lời chú em mầy đặt chuyện chớ?!

Cái sách nầy VC xài lâu lắm rồi nhe! Chẳng qua vì bà con mình vì tình thân gia đình buộc phải gởi tiền kiều hối về giúp đỡ người con kẹt lại để qua cơn thắt ngặt. Tụi nó nắm được “con tin”, khoái quá, lấy đô la xanh của Mỹ, đưa lại bằng giấy tiền vàng bạc để dung dưỡng một chế độ toàn trị sắp tới ngày rã gánh vì hết tiền do bọn chúng ăn quá xá, ăn không chừa một thứ gì?

Kiều hối hằng năm hơn chục tỉ đô Mỹ, giờ bà con mình cứ lần lượt qua Mỹ ở, bớt gởi tiền về nên tụi nó đau lòng, bèn đặt chuyện ra chửi bới cho đỡ tức đó mà!

Câu phát biểu của ông nhà báo nào đó (?) (mà tui nghi tới 72 phần dầu là do đặt chuyện) là chiêu thức của mấy đứa chuyên đá gà, ôm con gà nhứ nhứ; để mấy con gà khác nóng máu do không tường suy cạn nghĩ mà tự nguyện nhào vô đá để làm âm binh cho bọn chúng?

(Chu choa! Ở cái xã hội tôn trọng quyền tự do ngôn luận mà bất cứ ai mở miệng ra nói một cái ý không đúng theo ý mình muốn là “à lát sô” vô, tẩn tơi bời, tẩn nặng lời, tẩn đã đời… cho sướng cái miệng mình như vậy hình như hơi bị xưa rồi đó Diễm!)

Mà cho dù nhà báo nầy có nói chăng đi nữa thì đã sao nè?

Có thể là ổng bị dị ứng, nổi mề đay với chữ “tổ quốc” hay bị lạm dụng nầy hay chăng?

Tui cũng đã từng bị ngứa ngáy như vậy khi nghe réo gọi trong mấy cuộc Sinh viên biểu tình trước Đại học Khoa học trên đại lộ Cộng Hòa, Sài Gòn hồi năm 1971.

“Ôi tổ quốc ta đã nghe lời réo gọi/ Trong tiếng hờn trong máu lửa ngập trời

Ôi tổ quốc bao tiếng ca giờ lên đường… Đường ta đi hôm nay bao xác thù gục ngã tan thây…” (Sao giống bọn khủng bố quá vậy thằng ông nội con nít?!)

Cứ “Tổ quốc ơi ta đã nghe lời réo gọi” Réo hoài hè?! Người ta biết cái tỏng không ai chịu nghe nữa, không ai chịu tin vào cái chiêu bài quê hương là chùm khế ngọt để gởi kiều hối về… thì tức lắm phải không?

Rồi “Tổ quốc ơi! Ta yêu người mãi mãi/ Từ trận thắng hôm nay, ta xây lại bằng mười.”

Nhưng bà con miền Nam mình thông minh, nhanh nhạy lắm nghe, bèn phóng tác lại là: “Tổ quốc ơi, ăn khoai mì ngán quá/ Từ giải phóng vô đây ta ăn độn dài dài!…” “Cả quê hương miền Nam ăn khoai bí/ Có ngày dân mình mắt hí (ớ ớ) như heo!”

Cái “tổ quốc” bị tụi nó lợi dụng, lập lờ chế độ toàn trị với quê hương, với đất nước để đày đọa, bóp nặn dân mình như thế… làm cả triệu người dân Việt liều mạng, xuống những chiếc thuyền ọp ẹp vượt biển Đông nên ông nhà báo nghe tới “tổ quốc” là ông chán, ông ngán tới tận cần cổ…thì cũng có cái lý của nó phải không, thưa bà con?

Đoàn xuân thu

Melbourne