This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
(Từ trái qua phải) Phúc Lư – Sơn râu – Quỳnh Trần (người em tinh thần đã chia sẽ cùng một thời gian dài làm việc chung nhau gần 20 năm trong hãng sản xuất linh kiện phụ tùng cho vài hãng xe tại Úc).
Quỳnh Trần – Sơn râu trước cổng vào Hội chợ Tết Footscray
Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt di tản về Long Thành, tạm trú chung với Sinh viên sĩ quan Thủ Đức sau đó co cụm lại, rút lui về Trường Bộ BinhThủ Đức cũ.
Mười giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi đang ở tại tuyến phòng thủ của Trường Bộ Binh Thủ Đức với chiếc ống dòm nhà binh, quan sát một chiếc xe tăng T54 của Việt Cộng vừa bị một trái đạn chống chiến xa M72 bắn đứt xích. Chiếc tăng nằm ì một chỗ, tuy không chạy được nữa nhưng cây súng đại liên trên chiếc tăng vẫn còn hoạt động, nó liên tục khạc đạn như mưa. Cùng lúc đó, nhiều loạt đạn M16 do sinh viên sĩ quan bắn vào chiếc xe tăng, đem súng M16 mà bắn xe tăng đúng là chuyện bù mắt cắn sừng trâu.
Theo tài liệu mà tôi đã được học bổ túc tại Trường Võ Bị Đà Lạt, hỏa lực của chiếc xe tăng T54 gồm có một đại bác 100 ly, một đại liên phòng không 12 ly 7 và một đại liên 7 ly 62, riêng sức công phá của khẩu đại liên phòng không 12 ly 7 này nó mạnh gấp chục lần cây đại liên M60 mà tôi đang giữ trong tay.
Tôi đang suy nghĩ làm thế nào để tiêu diệt chiếc xe tăng. Sĩ quan không có kinh nghiệm tác chiến như tôi cùng với vài ngàn sinh viên sĩ quan ở quân trường đang cầm súng bắn nhau với Việt Cộng, gặp phải trường hợp khó xử nên chưa biết phải làm gì. Trong lúc hai bên còn đang giằng co như vậy bất ngờ một sinh viên sĩ quan lao mình về chiếc tăng, vừa đến nơi anh ta nhanh nhẹn leo lên mở nắp pháo tháp, tọt vào đó một trái lựu đạn. Tôi biết, tất cả cán binh Cộng Sản trong chiếc tăng đã chết. Chiếc xe tăng T54 đã bị hủy diệt hoàn toàn. Chuyện đơn giản như vậy mà tôi không nghĩ ra. Hình ảnh vừa xảy ra trông khá quen thuộc, giống hệt như trong phim chiến tranh thời Đệ nhị thế chiến giữa quân Đức Quốc Xã và phe đồng minh Mỹ. Dĩ nhiên chiếc tăng bị bắn hạ là của quân xâm lược Đức Quốc Xã.
Tôi tiếp tục nhìn theo anh sinh viên sĩ quan, đang lom khom chạy về tuyến phòng thủ của anh ta với tất cả lòng ngưỡng mộ, thán phục. Ngay lúc ấy một anh lính mang phù hiệu “Cư An Tư Nguy”, tay ôm cái radio, vừa chạy dưới giao thông hào vừa la ơi ới.
-Buông súng đầu hàng. Buông súng đầu hàng. Lệnh của Tổng Thống.
Tôi giật mình tưởng mình nghe lộn, mới bắt đâu đánh nhau đã đầu hàng rồi sao? Tôi lật đật nhảy qua khẩu đại liên M60, chạy theo giựt cái radio trên tay anh lính rồi áp sát vào tai của mình. Tôi nghe rõ mồn một giọng nói của Tổng Thống, càng nghe tôi càng chán nản, rụng rời tay chân. Mấy hôm nay vòng vây của Cộng Sản quanh Sài Gòn từ từ siết chặt, tôi ngờ rằng, trước sau gì rồi cũng phải buông súng thế nhưng khi nghe lệnh đầu hàng lại bàng hoàng, ngỡ ngàng không muốn tin.
Tin làm sao được mùa hè năm 1972, bốn mươi ngàn quân Cộng Sản Bắc Việt được tăng phái hai trung đoàn thiết giáp thêm hàng trăm khẩu đại pháo từ 130 ly, cho đến hỏa tiễn 122 ly, bao vây tám ngàn quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ở An Lộc. Với quân số gấp năm lần, Việt Cộng những tưởng một sớm, một chiều sẽ nuốt gọn An Lộc. Nào ngờ sau hơn sáu mươi ngày giao tranh đẫm máu, con số thương vong của hai bên đã lên đến hàng chục ngàn người. Cuối cùng, quân Cộng Sản đành phải rút lui, chấp nhận thảm bại nhục nhã trong âm mưu đánh chiếm An Lộc. An Lộc hiên ngang, oai hùng trong máu lửa, đứng vững nhờ vào sức chống trả mãnh liệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Hình minh họa
Cuối tháng Năm 1972, Quảng Trị mất vào tay Cộng Sản. Việt Cộng đã dùng đến bốn sư đoàn để chiếm đóng Quảng Trị. Cuối tháng Sáu năm 1972, Sư đoàn Nhảy Dù và sau đó là Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, sau tám mươi mốt ngày đêm đánh nhau với địch, giành giựt lại từng tấc đất với Cộng Sản. Hàng ngàn chiến sĩ Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến đã hy sinh, máu của họ thấm sâu vào lòng đất, nhuộm đỏ Cổ Thành. Ngày 16 tháng 9 năm 1972, quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa tung bay phất phới trên Cổ Thành Đinh Công Tráng ở Quảng Trị.
Quá khứ đã chứng minh, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từng làm nên những kỳ tích chống lại quân Cộng Sản Bắc Việt. Như vậy, không có lý do gì mà tháng Ba năm 1975 Quân Đoàn II phải tháo chạy, Quân Đoàn I bỏ ngõ để cho Việt Cộng chiếm đoạt. Đó là những chuyện bất bình thường đưa đến sự sụp đổ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Phải có một lý do bí mật nào đó, chìm ẩn bên trong mà một thằng trung úy quèn, một sĩ quan hạng chót như tôi không thể nào biết được. Buông súng đầu hàng, với tôi đó là một bí mật của lịch sử.
Buông súng rồi mình sẽ làm gì đây? Vô tù là cái chắc. Nghĩ đến cảnh tù tội trong chế độ Cộng Sản khiến tôi nhớ lại khúc phim thời sự trắng đen mà tôi đã được coi. Ngày xưa, khi Điện Biên Phủ thất thủ, hàng chục ngàn binh sĩ Pháp từ binh nhì cho đến sĩ quan cấp tướng bị bắt làm tù binh. Đám tù nhân xếp thành mười hàng ngang, dài lê thê bất tận, lủi thủi đi vào tù, phải mấy tháng sau mới được trao trả tù binh. Cái lối trao trả tù binh nhỏ giọt của Cộng Sản , từng đợt rồi từng đợt, vừa trao trả vừa đem tù binh đặt lên bàn thương thuyết để mặc cả. Pháp thua trận Điện Biên Phủ ở Việt Nam nhưng chính phủ Pháp ở bên trời Âu vẫn còn đó, họ thương thuyết để đem tù binh của họ về. Chúng tôi là lính Việt Nam Cộng Hòa, trên một triệu quân chứ ít ỏi gì, nếu xếp hàng mười cũng phải dài hơn vài chục cây số, nhà tù nào mà chứa cho hết. Sau đó trao trả tù binh, nhưng trao trả cho ai? Việt Nam Cộng Hòa đâu còn nữa mà trao với trả, hay là sẽ bị đem đi xử bắn? Trong một giây phút ngắn ngủi, tôi chợt nhớ tới trại Đầm Đùn mà phát rùng mình ớn lạnh.
Lính Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa với hàng trăm, hàng ngàn tàu bè đủ loại, họ có quyền lên tàu ra khơi, cho dù không biết đi đâu nhưng cứ tuôn ra biển cũng tạm thoát được tay Cộng Sản trong nhất thời, chuyện gì xảy ra sẽ tính sau.
Lính Không Quân cũng vậy, với đủ loại phi cơ từ chiếc trực thăng UH1 chở được mười người, bay ra Phú Quốc rồi Thái Lan, cho đến vận tải cơ C130 có thể chở được vài trăm người, bay sang Phi Luật Tân để xin tỵ nạn chính trị, sổng kiếp lưu vong.
Lính Bộ Binh như tôi thật là nan giải, buông súng rồi chỉ còn một con đường duy nhất là chạy bộ, chạy đi đâu bây giờ hỡi trời? Một con kiến bò trong chảo lửa.
Ngày xưa, Tiêu Đẩu trong lúc đào vong vì quốc sự, ông mượn chén rượu để giải sầu. Khi nâng bầu rượu, cảm khái trước cảnh nhà tan, nước mất đã hát bài “Nam Phương Ca Khúc” lời ca nghe thật bi tráng, hào hùng đầy dũng khí. Trong lúc hào khí dâng cao ngút trời, ông một mình rót rượu, vung tay hắt đi khắp bốn phương trời. Cái thằng tôi, giờ đây chỉ mong chạy trốn khỏi đất nước này, chạy trốn gông cùm Cộng Sản đang sắp tròng vào cổ mình, chạy trốn cho dù phải sống tạm kiếp tại đào vong quốc như Tiêu Đẩu.
Hình minh họa
Chạy về hướng Đông, mù khơi biển động, Đệ thất hạm đội của Mỹ đã làm ngơ cho Hải Quân Trung Cộng chiếm lấy Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa từ năm ngoái. Mỹ đã cắt viện trợ vũ khí cho miền Nam Việt Nam, họ không có lý do gì lại dang tay cứu vớt quân đội này vào cái giờ thứ 25.
Chạy về hướng Tây, lửa cháy ngút trời, quân Khờ Me đỏ tàn bạo khát máu đã nuốt trọn Cam Bu Chia từ hơn nửa tháng trước, ở đó máu chảy thành sông, xương phơi thành núi. Tôi nghĩ rằng “Đống xương Vô Định đã cao bằng đầu”. Dân Cam Bốt cùng màu da, cùng huyết thống còn bị quân Khờ Me đỏ chém giết, chôn sống một cách man rợ huống gì với dân Việt Nam vốn có sẵn mối thù truyền kiếp từ ngàn xưa với họ.
Chạy về phương Bắc, mịt mù khói súng, mới tháng trước đây chứ xa xôi gì cho lắm hình ảnh của những người dân miền Trung quần áo xơ xác, mặt mày thất sắc, vợ chồng bồng con, gánh cháu, dắt díu nhau chạy về phương Nam để lánh nạn Cộng Sản. Vùng Một và vùng Hai chiến thuật đã bỏ ngõ, để lọt vào tay Việt Cộng. Hàng chục sư đoàn Cộng Sản với đầy đủ chiến xa, trọng pháo, vũ khí, đạn dược, bọn chúng như cơn lũ dữ đang cuồn cuộn điên cuồng chảy tràn về niềm Nam, cuốn theo bất cứ những gì ngăn cản chúng.
Chạy về hướng Nam, chút hy vọng mong manh, mỏng mảnh như sợi tơ trời phất phơ trước gió. Quân Đoàn IV của tướng Nguyễn Khoa Nam không biết có còn hay không, hay là cũng đã buông súng chờ bàn giao.
Tôi biết hiện tại quân Cộng Sản đang tiến về Sài Gòn. Dinh Độc Lập, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Đài Phát Thanh là những nơi mà họ cần phải đến trước tiên để tiếp thu. Khoảng cách chỉ trong tầm tay, thời gian được tính từng giờ, từng phút. Sài Gòn trong cơn hấp hối.
Tôi chỉ có vài tiếng đồng hồ để thoát thân, chạy đua với số mạng, chạy đua với sự sống còn. Bộ óc rối mù của tôi làm việc một cách chậm chạp, nói cho tôi biết rằng: Từ Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi chạy bộ về Sài Gòn còn không kịp, nói gì chuyện chạy ra ngoại quốc. Giờ phút này làm gì còn máy bay hoặc tàu bè để mà di tản. Tôi tiếc hoài vì chuyện khoảng mấy ngày trước đây, nếu không bị hai người lính Quân Cảnh giữ lại, tôi đã lên được chiếc C130 cùng với gia đình Dung di tản khỏi Việt Nam.
Định mệnh đã an bài, đã dành cho những người lính bộ binh như chúng tôi một số phận nghiệt ngã đắng cay. Kể từ giờ phút này cho đến cuối cuộc đời, tôi sẽ phải sống, kiếp sống của một kẻ thuộc giai cấp bùn đen trong xã hội mới đầy man rợ. Không riêng gì một mình tôi, người dân Việt Nam bị kẹt lại trên quê hương của mình, sẽ ăn nhờ ở đậu trên đất đai của mình. Những gì của tổ tiên, ông bà để lại, từ nay thuộc về Đảng Cộng Sản, thuộc về kẻ chiến thẳng. Một ngàn năm bị giặc Tàu đô hộ đã qua rồi, Pháp thuộc tám mươi năm rồi cũng chấm dứt. Chiến tranh Nam Bắc dai dẳng hơn hai mươi năm rồi cũng đến hồi kết thúc. Hôm nay Việt Nam đã thống nhất, từ Bắc chí Nam non sông liền một dải, đất nước đỏ một màu. Giờ đây, một trang sử mới vừa được mở ra. Người dân Việt Nam bắt đầu cuộc sống mới, trong một xã hội bị cai trị bởi một lũ Hầu tinh, xã hội mà trong đó bọn Cộng Sản đội lốt người Việt đô hộ người Việt, không biết sẽ kéo dài đến bao giờ.
Việc đầu tiên, khi buông súng là tôi cởi chiếc áo trận ra vắt ngang họng súng M60, hai cái bông mai nơi cổ áo vẫn còn đó, nằm im dưới ánh mặt trời, nhìn tên của mình thêu trên túi áo, trong lòng bỗng xót xa như có ai đó xát muối vào lòng. Tôi ngồi thừ người ra đó được mươi phút, đợi cho cơn đau của kẻ thua trận nguôi ngoai được chút ít rồi mới lo tìm bộ đồ dân sự mặc vào. Tôi nhìn quanh, ở Vũ Đình Trường của Trường Bộ Binh Thủ Đức này làm sao mà tìm cho ra bộ đồ dân sự. Sau một hồi suy nghĩ, tôi cởi cái quần lính mà tôi đang mặc ra, dùng lưỡi lê cắt cụt hai ống quần, tiện tay vứt luôn miếng vải thừa xuống hố. Còn đôi giày bốt đờ sô, phải giải quyết như thế nào? Hay là cắt cụt luôn làm thành giày, giống như đôi giày của dân sự. Tôi xỏ chân vào đôi giày, nhìn tới nhìn lui, coi bộ không ổn. Tôi cắt thêm phần sau nơi đôi giày biến nó thành dép. Ở Sài Gòn không có ai mặc quần cụt mà lại mang giày bao giờ, tôi đã trở thành thường dân, giã từ đời binh ngũ. Tôi không hiểu tại sao trong giờ phút lịch sử trọng đại như vậy mà tôi chỉ lo để ý đến những tiểu tiết vụn vặt, mang bốt đờ sô, mang dép, hay đi chân đất thì đã sao? Thì ra tận cùng trong tâm thức, với tôi Cộng Sản đồng nghĩa với dã man, tàn bạo. Và tôi sợ bị bắt nếu mình ngụy trang không khéo.
Hình minh họa
Tôi nhìn cây súng đại liên M60, rồi lầm bầm trong miệng: “Điểu tận cung tàn, hết chiến tranh rồi, súng ống chỉ là khúc gỗ. Kể từ giờ phút này, tao chào vĩnh biệt mày”. Dứt lời tôi co chân đạp mạnh vào cây súng. Bao nhiêu uất hận dồn hết vào cái đạp, cây súng rớt xuống giao thông hào, lăn thêm mấy vòng rồi nằm yên, dây đạn một nơi, súng một nẻo và chiếc áo lính vẫn còn quấn quýt ôm lấy cây đại liên. Tôi biết cây súng còn sử dụng được, lẽ ra tôi phải tháo vụn cây đại liên ra nhiều mảnh nhỏ đem vứt xuống sông mới hả dạ. Đó là hành động uất ức của kẻ thua trận, tuy nó hèn hạ, ti tiện nhưng tôi vẫn thích làm như vậy hơn nếu có điều kiện.
Bảy năm trước, tôi bắt đầu cuộc đời binh nghiệp của mình tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Ngày ra trường, mang cặp lon chuẩn úy trên vai, với lời thề bảo vệ Tổ quốc ở Vũ Đình Trường hãy còn vang vọng bên tai. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên, hôm nay cũng tại Vũ Đình Trường này, tôi là kẻ bại trận phải lột bỏ quân phục, lột bỏ cái lon trung úy. Phe thắng trận là Cộng Sản chỉ có thể ép tôi làm được như vậy. Riêng lời thề bảo vệ Tổ Quốc, tôi giữ mãi trong lòng, lời thề đó ở trong đầu của tôi không ai có thể gột bỏ được.
Tôi đưa tay chào giã biệt sếp của tôi, rồi đi ra cổng chính của trường. Chân đi mà lòng còn bịn rịn khiến tôi phải quay đầu nhìn lại Trường Bộ Binh Thủ Đức lần cuối rồi mới chịu theo đám tàn quân, một đoàn người ô hợp, thất tha thất thểu đi ra xa lộ để về Sài Gòn. Tôi cúi đầu, lầm lủi đi như kẻ mất hồn, chân đi nhưng trong lòng ngổn ngang trăm mối u sầu.
Hai giờ chiều, tôi mò về tới Sài Gòn với đôi chân rỉ máu vì đôi dép tôi cắt lúc sáng, xét cho cùng nhiều khi khôn quá cũng không tốt. Giờ này ông chủ của miền Nam đã ngồi chễm chệ trong Dinh Độc Lập. Lá cờ hai màu xanh đỏ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam đang tung bay phất phới trên nóc dinh.
Hình minh họa
Vừa đói, vừa khát, tôi ngồi bệt xuống bãi cỏ ở công trường Kennedy để nghỉ chân, rồi đưa mắt nhìn một rừng người bao quanh những chiếc xe tăng T54 và xe tăng PT76. Dân Sài Gòn đón phe thắng trận với gương mặt thờ ơ, không biểu lộ chút thiện cảm nào. Người ta tụ họp ở đây chỉ vì tính hiếu kỳ, chuyện gì chứ chuyện hiếu kỳ trên thế giới có dân tộc nào mà tránh khỏi. Hai chiếc xe đụng nhau cũng khiến cho người qua lại phải liếc mắt nhìn xem, huống gì một biến cố trọng đại như vầy, ngàn năm mới có một lần, không hiếu kỳ cũng uổng. Dân Sài Gòn muốn tận mắt nhìn người lính Cộng Sản, muốn tận tay sờ vào chiếc xe tăng mà trước đây họ chỉ được nhìn thấy trên TV. Họ nói chuyện với cán binh Cộng Sản, hỏi thăm về đời sống miền Bắc, tất cả chỉ vì tò mò muốn biết người dân miền Bắc sống như thế nào dưới chế độ Cộng Sản, để rồi suy đoán mức độ cực khổ mà người dân miền Nam sẽ phải gánh chịu. Hỏi về người để biết tương lai của mình, tôi cũng vậy thôi, bảy năm lính nhưng là lính văn phòng, đây là lần đầu tiên tôi đứng sát bên chiếc T54 để hóng chuyện miền Bắc.
Trước mặt tôi là đường Công Lý, chạy ngang qua Dinh Độc Lập kéo dài xuống tận phi trường Tân Sơn Nhứt, men theo con đường này sẽ ngang qua nhà Cúc vợ chưa cưới của tôi, rồi đến nhà của Dung ở đường Nguyễn Minh Chiếu, cả hai căn nhà giờ đây chắc trống không. Tôi đang suy nghĩ vẩn vơ, chợt một người đàn bà chừng năm mươi tuổi bước lại gần tôi.
-Lính phải không?
-Dạ, sao bà biết.
-Cái quần ông đang bận, bên cao bên thấp, mới cắt đi. Nhìn qua là biết liền.
Thấy tôi ngồi im, bà ta nói luôn một hơi, giọng nói nghe như than thở, trách móc:
-Mấy ông đánh đấm cái kiểu gì kỳ vậy. Cứ chạy hoài, từ Ban Mê Thuột chạy xuống tới Khánh Dương, rồi từ Quảng Trị chạy vào tới Tuy Hòa. Người ta đồn là quân mình sẽ lập tuyến phòng thủ ở vĩ tuyến 13 . Đâu ngờ mấy ông rút lui về Nha Trang, rồi Phan Thiết, rồi về Sài Gòn, cứ chạy mãi để cho cái lũ Việt Cộng nó chiếm hết miền Nam.
Tôi chạy trốn Việt Cộng, vừa từ cao nguyên về tới đây chưa kịp hoàn hồn, hôm nay lại bị dân giũa thêm cho một trận te tua, vuốt mặt không kịp. Tôi ngồi đó còn biết nói sao với nỗi oan ức của mình. Người đàn bà nói xong đưa cho tôi ly nước đá chanh. Hành động của bà khiến tôi nhớ đến mẹ tôi. Ngày xưa, mẹ tôi thường la mắng khi tôi làm điều gì sai quấy, nhưng sau đó bà cho tôi củ khoai hay cục kẹo. Trời nóng như đổ lửa, nhìn mấy miếng chanh mong mỏng, tròn tròn nổi trên mấy cục đá lạnh, trông hấp dẫn làm sao, chỉ muốn cầm ly nước mà uống nhưng trong lòng vẫn còn chút giận hờn vô cớ, tôi nói với giọng không được bình thường cho lắm:
-Tôi không gọi mua nước.
Người đàn bà nhoẻn miệng cười, bà thân mật nói với tôi như mẹ nói với con:
-Uống ly nước cuối cùng đi, mất nước rồi, mai mốt đâu còn nữa mà uống.
Hình minh họa
Tôi cầm ly nước, ngẩng nhìn mấy tên Việt Cộng đang ngồi ngất ngưởng trên chiếc T54 rồi vội vàng nói với bà ta:
-Nói nho nhỏ một chút, bà không sợ họ sao?
-Tôi sợ đến vãi đái trong quần ấy chứ lị, mả cha tụi nó.
Bà ta nói một câu mà nửa câu đầu là lối nói chuyện của người Bắc, nửa sau lại là lối nói của người Nam.
Người đàn bà nhìn tôi như phân trần:
-Cậu lính à, cái năm năm tư tôi bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ đất đai với mồ mả ông cha ở ngoài Bắc, ôm theo có mỗi một bộ đồ lên chiếc tàu há mồm vào Nam. Tôi chạy trốn cái đảng cướp ngày, trốn cái quân cướp cạn này đã hơn hai chục năm rồi, những tưởng được an thân, yên ổn làm ăn, nào ngờ tới hôm nay lại bị cái bọn oan gia này đuổi theo tới tận đây. Mẹ bố nó, cái lũ khốn nạn này dai như đỉa đói.
Người đàn bà đảo mắt nhìn quanh rồi hỏi:
-Cậu là lính gì?
-Dạ tôi ở Trường Võ Bị Đà Lạt.
-Sinh viên sĩ quan Võ Bị như cậu, mai mốt bọn Cộng Sản sẽ đem các cậu ra xử tùng xẻo về cái tội chống phá cách mạng cho mà xem. Sao cậu không chạy trốn đi? Còn ngồi đây làm gì?
-Tôi biết chạy đi đâu?
Người đàn bà thở dài rồi nói:
-Tôi cũng vậy. Mấy hôm nay thấy người ta ùn ùn chạy trốn Cộng Sản , tôi cũng muốn chạy mà chả biết chạy đi đâu, cái năm năm tư ở Hà Nội tin tức gọi đi vào Nam rất rõ ràng, lần này không thấy ai gọi. Vô tuyến truyền hình, radio chẳng có nơi nào nói về việc trốn chạy. Tôi tìm hoài ở bến Bạch Đằng chả thấy tăm dạng cái tàu há mồm nào hết? thế cậu có thấy cái tàu nào không?
-Nếu thấy, tôi đã đi mất đất rồi đâu còn ngồi ở đây để nói chuyện với bà. Cảm ơn bà đã cho ly nước.
-Ơn với nghĩa, cậu uống xong đưa cái ly lại chiếc xe sinh tố đàng kia, tôi trả tiền ly nước rồi.
Tôi nhẫn nha uống ly nước chanh mà tưởng như mình đang uống nước mắt của mình, mất nước rồi còn đâu mà uống.
Hiện giờ, tôi đâu có việc gì phải làm ở cái đất Sài Gòn này. Tôi mới được giải ngũ lúc sáng, hết tập họp, hết điểm danh, hết lau chùi súng ống, tạm thời muốn đi đâu không cần phải xin phép. Đi đâu bây giờ? Một kẻ không nhà không cửa, không cha mẹ, không thân nhân ở Sài Gòn thậm chí đến bộ quần áo lành lặn cũng không có để mà mặc. Mới đó mà tôi đã trở thành một kẻ vô sản thứ thiệt, vô sản còn hơn mấy tên Cộng Sản vô sản đang ngồi trên chiếc xe tăng trước mặt tôi. Tôi đi mà không biết đi đâu, cứ dọc theo đường Công Lý mà đi.
Lúc đi đã khá xa Dinh Độc Lập, tôi nhìn thấy những bộ quần áo rằn ri, giày bốt đờ sô, súng M16 vất bừa bãi hai bên đường. Khi mà quân nhân đã cởi bỏ quân phục, cảnh sát rời nhiệm sở không còn ai giữ gìn an ninh trật tự, thành phố bỗng trở nên hỗn loạn. Đường Công Lý là đường một chiều thế nhưng hàng ngàn chiếc Honda hai bánh chiếc chạy xuôi, chiếc chạy ngược, mạnh người nào người ấy chạy. Một số người đi hôi của, leo vào những căn nhà trước đây cho Mỹ thuê hoặc những căn nhà mà chủ nhân đã di tản đi Mỹ, họ khiêng ra khỏi nhà bất cứ những vật dụng gì có thể dùng được, từ cái chén, đôi đũa, nồi nấu cơm cho đến TV, tủ lạnh.
Trước mặt tôi độ chục thước, hai thằng bé khoảng mười ba, mười bốn tuổi còng lưng khiêng một cái TV hiệu Denon, loại có bốn chân to như một cái rương, đi được một đoạn, cả hai đặt cái TV xuống nghỉ mệt rồi lại khiêng tiếp. Tôi tới gần hai đứa nhỏ.
Hình minh họa
-Muốn chú phụ không?
Thằng bé với gương mặt lanh lợi trả lời tôi:
-Không cần đâu chú, tụi con khiêng được.
Đi được vài bước, tôi chợt nghe giọng nói của thằng bé, hình như nó muốn nói cho tôi nghe.
-Tao đâu có dại, để ổng khiêng giùm rồi ổng khiêng đi luôn, mình làm gì được.
Tôi cười thầm trong bụng, tôi cũng đâu có dại. Thân tôi đây lo còn chưa xong, ôm theo cái của nợ đó mà làm gì.
Tôi lầm lủi đi về hướng chùa Vĩnh Nghiêm, với chủ đích là muốn xin chùa chén cơm chiều, và tìm chỗ ngủ cho tối nay. Tôi đi hoài, đi mãi, cho đến khi chợt thấy cánh cổng của nhà bác Bảy. Tôi không ngạc nhiên khi thấy hai cánh cổng mở toang hoác. Một đứa bé đang dùng hai tay lăn cái bánh xe hơi ra khỏi cổng, nó nhìn quanh như dò xét rồi tiếp tục lăn cái bánh xe.
Tôi nhìn vào trong sân, một cảnh tượng đau lòng đập vào mắt tôi. Khắp cái sân cỏ rộng mênh mông ngập tràn giấy và rác, đầu này dăm ba cái bàn xiêu vẹo gãy chân, cụt cẳng, đằng kia vài cái ghế ngã chổng gọng, cuối sân bên góc trái ba, bốn cái xe hơi bể kính, móp méo nằm mọp một đống. Tôi đi đến gần một anh thanh niên, quần cụt áo cộc đang hì hục tháo mấy cái bánh xe, mồ hôi tuôn nhể nhãi trên trán.
Tôi góp ý với anh ta.
-Tại sao anh không đẩy cái xe Peugeot 404 này về nhà luôn, rồi từ từ tháo gỡ những gì mà anh muốn.
Người thanh niên nhìn tôi, im lặng một lúc rồi nói:
-Tôi chỉ cần mấy cái bánh xe thôi.
-Tôi biết rồi, xe hơi của anh bị mòn vỏ phải không?
Người thanh niên cười.
-Tôi làm gì có xe hơi, mấy cái bánh xe này đem về quê gắn vô xe bò, dùng để chở phân chở lúa tốt khỏi chê, xài cả chục năm cũng chưa hư.
Tôi nói với anh thanh niên:
-Lúc nãy, tôi thấy một thằng bé lăn cái bánh xe ra cổng.
-Nó là em tôi, ở dưới Long Xuyên nhưng nhà tôi thì ở gần đây, anh biết bến Tắm Ngựa không?
-Không.
Hình minh họa
-Ở gần ngã tư Công Lý và Yên Đổ.
-Chỗ đó thì tôi biết.
Người thanh niên hỏi mà như muốn đuổi tôi.
-Còn anh, ở đây làm gì? Đi vô nhà, coi có gì dùng được lấy đem về xài.
Tôi nói với anh ta:
-Anh nói phải, tôi đi đây. Mà nè, nếu anh có cần người giúp một tay, kêu tôi.
Tôi đi vào nhà, cảnh tượng còn thê thảm hơn ở ngoài sân, tất cả đèn đuốc ở phòng khách từ cái đèn trần cho đến đèn treo tường bị tháo gỡ không còn một cái, bao nhiêu là màn cửa biến đâu mất. Cửa sổ, cửa lớn mở tung ra, trong nhà không sa lông, không bàn ăn, không tủ rượu, một căn nhà trống không, đầy nhà chỉ toàn là giấy rác, loại giấy mà tôi đoán là hồ sơ hợp đồng cho thuê nhà của bác Bảy.
Tôi đi lần xuống nhà bếp, cảnh tượng cũng như ở phòng khách, chén bát bể vương vãi khắp sàn nhà, trong chậu rửa chén một cái tô chưa rửa với vài cọng mì còn dính nơi đáy. Khi nhìn thấy mấy cọng mì khiến tôi cảm thấy xót trong ruột, rồi nhớ ra từ sáng đến giờ chưa có một hột cơm vào bụng. Cơn đói ập đến khiến tôi run tay run chân, hoa cả mắt. Sau một hồi lục lọi khăp các ngăn kệ đựng thức ăn gắn trên tường, cuối cùng tôi tìm được một hộp thịt nấu với đậu nằm kẹt trong góc tủ. Bọn lính chúng tôi, mỗi người thường có một cái khui đồ hộp dã chiến lúc nào cũng đem theo bên mình, nó nhỏ bằng nửa ngón tay cái, mỏng như con dao, tôi lấy nó ra mở hộp đậu. Mùi thơm của thịt và đậu tỏa khắp căn phòng, tôi đưa hộp đậu tới gần miệng phồng mũi hít một hơi dài, đợi cho mùi thơm lan xuống con tì con vị lúc bấy giờ tôi mới từ từ bốc một ít đậu trộn lẫn với thịt cho vào miệng. Không có đi đâu mà vội, tôi nhai chậm rãi vừa nhai vừa thưởng thức chút beo béo của thịt heo, bùi bùi của đậu, mằn mặn của nước thịt. Tôi ăn ngon lành, cho đến hết lon đậu. Nhìn mấy hột đậu còn sót ở đáy lon, tiếc của trời, tôi mở vòi nước hứng nửa lon nước lạnh, lắc nhẹ rồi ực một hơi. Bụng hãy còn đói vì lon đậu quá nhỏ chỉ bằng lon sữa Ông Thọ, tôi lục soát khắp nhà bếp một lần nữa với hy vọng sẽ tìm được thức ăn, chỉ hoài công thôi, không còn thứ gì có thể ăn được.
Tôi nhìn ra bên ngoài, chút nắng chiều còn sót lại bên khung cửa, mắt tôi như nhíu lại. Tôi đi lên lầu, phòng thứ hai bên trái là căn phòng ngày xưa tôi ở, bao nhiêu đồ đạc trong phòng đều biến mất chỉ còn lại cái giường và tấm nệm có thể vì quá lớn người ta khiêng không được nên còn đó. Tôi ngả mình xuống giường chợp mắt được một lúc. Không biết được bao lâu, cho đến khi tôi mở mắt nhìn, con trăng mười chín đã đứng bên cửa sổ tự lúc nào, tỏa ánh sáng mờ mờ lành lạnh lên khắp căn phòng.
Đúng một tháng trước, cũng ánh trăng mười chín này đã dẫn đường cho tôi trên chiếc xe jeep rời bỏ Trường Võ Bị Đà Lạt. Chỉ mới có một tháng mà không biết bao nhiêu là chuyện đổi thay dâu bể, chuyện tôi phải xa cha mẹ, phải chia tay vĩnh viễn với người yêu của mình, rồi chuyện Sài Gòn bị bức tử, khiến tôi tưởng chừng như đã mấy thể kỷ vừa mới trôi qua.
Hồi thời Tía Má tui và xưa xưa nữa, trước khi cưới nhau, đâu có ai dám có hẹn hò đi ăn đậu đỏ bánh lọt, chuối nướng, chuối xào dừa gì đâu. Ðâu có trốn nhà, trốn Tía, trốn Má chui vào rạp hát Long Phụng hoặc Thành Chung ở Ngã Bảy Vườn Lài, coi phim Ấn Ðộ. Vô rạp, đèn tắt tối hù… hổng chịu coi mà cứ lo hun và hít hè.
Rồi cũng đâu có cái vụ dụ em ra góc đường Lê Lợi và Pasteur để ăn phá lấu gan, lòng heo. Cầm cây tăm găm miếng thịt; đưa lên miệng nhai rào rạo… Rồi đôi ta sánh vai nhau, thuở nầy chưa dám nắm tay, nắm chưn gì ráo, đi uống nước mía Viễn Ðông đâu nè!
Xưa muốn cưới vợ là phải có cái đầu heo bự xộn, tốn bộn tiền để bà mai đi đi lại lại giữa hai đàng trai gái như phi thuyền con thoi, loi choi giới thiệu cho hai gia đình quen biết nhau, đốc thúc hai bên gặp gỡ, xúi… vô đi, vô đi!
Tuy nhiên đàng gái chào hàng bên đàng trai và đàng trai quảng cáo láo cho đàng gái không phải ai làm cũng được. Phải có kinh nghiệm, nghệ thuật dẻo miệng phải cao kỳ.
Tìm bạn bốn phương trên báo cũng là một hình thức mai mối đấy thôi.
“Một thanh niên có nghề ngỗng đàng hoàng! Không rượu chè chích choác, không trai gái lăng nhăng, trai cũng không, (nghĩa là anh không phải thuộc thành phần thứ ba); gái cũng không (nghĩa là chỉ biết cơm nhà quà vợ). (Thằng nào mèo mả gà đồng là trời đánh nó!) Muốn tìm một người con gái trong tương lai để làm vợ. Yêu cầu là phải ở gần biển Williamstown và có tàu câu cá. Xin gởi kèm hình chiếc tàu!”
“Em là người dân xứ Mũi, nhưng chưa hề sửa mũi. Nhà có 20 cái vuông tôm, chưa hề mích lòng hàng xóm nên không sợ nó bỏ thuốc diệt cỏ làm tôm giống chết hết ráo. Tía em hứa của hồi môn là một chục vuông tôm đang mùa thu hoạch. Muốn làm quen với mấy anh bên Úc, không phân biệt tuổi tác.
Thư đầu xin gởi hình nguyên bản, chưa ‘photoshop’ về Rạch Vọp, Sông Ông Ðốc, Cà Mau. Hứa sẽ hồi âm tất cả dù thơ đến trễ.”
Thấy hông? Sợi chỉ hồng se tơ xưa giờ cũng vậy nhưng đã từng cột chặt đôi ta tới răng long đầu bạc. Mà cũng nhờ mai mối mới có mặt thằng tui trên cõi đời ô trọc nầy đó nhe bà con.
Rồi mấy thằng Tây thời buổi điện toán tân kỳ, lập ra mấy cái trang mạng xã hội như Facebook, Twitter, Instagram app. Nhờ đó mà mấy em kiếm được một đấng trượng phu và mấy anh mình kiếm được một người thục nữ.
Tui e rằng Melania Trump, từ nước Tiệp Khắc, Ðông Âu xa mút chỉ cà tha mà được làm The First Lady (Ðệ nhứt Phu nhân) của nước Mỹ cũng nằm trong trường hợp đó.
Và tui cũng cho rằng: Melania trúng số độc… độc đắc; còn khó hơn cả chục ngàn lần trúng xổ số Powerball bên Mỹ. Vì xác suất của Powerball là 1 trên 292 triệu, còn xác suất của Melania là 1 trên 3 tỉ rưỡi đàn bà con gái trên hành tinh nầy.
***
Do vậy! Cưới vợ lấy chồng theo tui là một trò chơi hên xui may rủi mà hình như rủi nhiều hơn may.
Thế nên Trời cho cái gì mình nhận cái nấy đừng có càm ràm: “Phải phải chi hồi đó ta đừng biết nhau!” Nói vậy là ác… Là làm em yêu buồn lắm đó! Lỡ rồi anh biết làm sao? Nói vậy là tiêu cực hè; phải tích cực lên chớ mấy anh mình! Phải xây dựng hạnh phúc trên một đống hoang tàn!
Ðừng lo đã có Thầy đời dạy mình miễn phí đây nè! Chuyện rằng: Một anh nhậu xỉn về chui vào phòng ngủ, lục đục một hồi rồi nằm lăn quay ra ngáy như trâu rống. Sáng hôm sau, gặp mặt vợ gục gặc đầu cám ơn “Chai rượu của em để trên đầu giường, tợp một cái là cạn queo nhưng thơm hết biết!” “Ối giời ơi! Anh nốc hết sạch chai dầu thơm em mới mua về rồi phải không?”
Em nầy tệ thiệt thua vợ thằng Ðậu xa lắc xa lơ hè! Chớ vợ thằng Ðậu lái xe từ Bắc Arizona về nhà sau một chuyến đi thương thảo chuyện mần ăn.
Em thấy một bà già đang đi bên vệ đường, bèn dừng lại hỏi: “Má có muốn quá giang không?” Bà cụ không nói gì, chỉ lẳng lặng gật đầu.
Lên xe, bà chẳng nói chẳng rằng chỉ nhìn quanh quất; bỗng đôi mắt dừng lại cái túi giấy màu nâu, em đặt kế bên bèn hỏi: “Ðựng cái gì vậy?” “À chai rượu! Con mua nó cho chồng con!” Bà cụ gặc đầu: “Con biết mua quà lắm đó!”
Thế nên yêu chàng, muốn chàng yêu lại, yêu nồng nàn, yêu tha thiết là phải biết chồng thích cái gì nhứt trên đời. Ðáp ứng ngay chóc tim đen thì tình ta bền muôn thuở.
***
Nói nào ngay khi mấy em đi lấy chồng, nghĩa là từ giã tuổi thần tiên để theo một thằng ‘điên điên’, xuống thuyền để đôi ta dông vào giông bão của cuộc đời.
Ngày xuất giá, lạy Mẹ con đi vì nước non nhà Việt Nam. Ủa? Có chồng hổng phải vì mình mà vì nước non nhà Việt Nam là tại làm sao?
Chẳng qua lấy chồng rồi em sẽ có con; sẽ duy trì nòi giống đó mà. Ðây là một nghĩa vụ thiêng liêng chớ hổng phải chuyện giỡn chơi. Không vì cái tiền đồ của đất nước em sẽ ở nhà với Mẹ phẻ hơn.
Vì về với chàng rồi là phải cơm bưng nước rót, hầu hạ người dưng hè. Mà hổng biết làm bao nhiêu mới vừa lòng thằng chả?
Tối ngày cứ ‘cook! cook’ nghe như tiếng gà kêu (nấu ăn, nấu ăn hoài hè).
Tui hỏi em yêu: “Em muốn đi đâu vào dịp kỷ niệm ngày cưới của đôi ta?”
“À em muốn đến một nơi mà đã lâu rồi em chưa đặt chưn tới.” Tui bèn đề nghị: “Nhà bếp được không?”
Rồi một hôm em thỏ thẻ với chàng rằng: “Hãy chở em đến một nơi nào mắc nhứt. Thì thằng chả lại chở em đến ngay cây xăng. Hỏi có tức không hè?”
Thì thằng chả mặt nhăn mày nhó: giá dầu thô lên tới 70 đô một thùng nên giá xăng mắc quá!
Dĩ nhiên người phụ nữ nào cũng tam tòng tứ đức, công dung ngôn hạnh theo lời dạy của tiền nhân. Tiền nhân là người thuở xa xưa đã chết hết ráo rồi sao bắt em vẫn phải nghe theo?
Chớ tiền nhân nghĩa là người có tiền, có tiền mua tiên cũng được. Nói cái gì em cũng ‘Yes’ hết trơn chỉ trừ cái chuyện nấu ăn ra. Vì em biết nấu món gì đâu mà cứ bắt ‘Cook! Cook!’
***
Rồi phần cãi nhau cũng vì em yêu của tui hay có cái tánh hay xúi ẩu lắm. Như hôm rồi nè! Chở em đi chợ. Chạy lên chạy xuống tìm chỗ đậu xe. Thấy chỗ còn trống, em khèo, anh tấp lẹ vô đi kẻo thiên hạ họ giành.
Tấp xe vô đậu, dắt em dung dăng dung dẻ một hồi trở lại thì thấy trên kiếng trước, chình ình cái giấy phạt của mấy thằng ‘cáo sồ’, kẹp trên cọng quạt nước.
Lấy xuống coi! Hết 159 đô, một ngày lương sau thuế chớ ít ỏi gì đâu. Lòng đau như cắt.
Anh vẫn thừa biết mấy thằng ‘cáo sồ’ chỉ xách cái ‘đít’ không dạo lên dạo xuống kiếm chiếc xe nào tài xế ba chớp ba nháng là ‘táng’ cho một cái giấy phạt.
Lỗi là vì bãi đậu chỉ dành cho thằng chủ nhà phía trong từ 3 giờ chiều trở đi.
Từ đó anh cạch mặt! Em xúi điều gì anh phải dòm trước xem sau… Riết rồi bỏ luôn cái tánh là vợ mình nói cái gì cũng đúng.
Vậy mà hôm qua em lại xúi anh nữa. Mà lời xúi nầy nghiêm trọng hơn nhiều, tốn nhiều tiền hơn nếu anh khờ dại nghe theo.
Em hỏi: “Sao anh không bắt chước thằng hàng xóm! Mỗi ngày trước khi đi làm nó ôm con vợ hun đúng ba cái?” “Anh làm vậy sao được hè? Vì anh đâu có quen biết gì con vợ nó đâu?”
Nghe lời em xúi là dám bay hết cả hai hàm răng chỉ còn vài ba cái; lại tốn tiền làm hàm giả tới 1000 đô một cái lận đó!
Thế nên anh mình an phận đi! Ðừng được Như Quỳnh mà đòi phải Mạnh Quỳnh mới chịu nhe! Ðừng được voi đòi Hai Bà Trưng!
Còn phần mấy em! Tui khuyên thật lòng rằng: “Trăm năm may rủi một chồng. Dù ai thêu phượng vẽ rồng mặc ai!”
Chồng người áo gấm xông hương! (Ðừng có) Chồng em áo rách em thương chồng người là được hè!
Đò trôi êm mái chèo đều lực đẩy. Ban đêm giòng nước ấm ngửa mình đón hạt mưa rơi. Không lớn chẳng nhỏ chỉ đủ cho tầm nhìn thu ngắn, nhoè trên bờ thẳm những ngọn đèn vàng run thân trong vũng tối lần lượt khuất chìm.
Con đò cũng tầm trung theo lượng định, dưới vòm che hình bán nguyệt úp vung có gắn cửa tạm bợ ở mỗi đầu, một trước một sau, mong manh tựa tấm màn bằng giấy cứng cốt ngăn gió lùa cùng tia nhìn thọc mạch kẻ bàng quang. Sau, có giăng tấm bạt nhỏ bằng chất liệu ny-lông chùng, thấp ngang đầu người ngồi chèo đò và nhằm che chắn mưa tạt khỏi làm ướt lò củi ẩm còn âm u hòn than hồng vương khói mỏng. Trước là đằng đầu gỗ tháp gia công tạo dáng cong lên, đâm vào bóng tối nhiều sương quyện trông hư thực chẳng thiết nhìn rõ một bến bờ ghé lại, mặc tình đẩy đưa giữa đoạn sông vắng.
Đi trên cầu, giọt mưa đâm thấy lạnh nhột vỡ vào da rợn cảm nhưng chẳng ngờ được là mưa rơi xuống sông làm rỗ mặt, sự tiếp nhận đó có điều diệu kỳ nào can dự khiến cho thân dẫu trần truồng không manh áo vẫn chẳng thấy lạnh một mảy may. Ấm, nóng là đằng khác. Ngủ chay hay ngủ mặn, mò sâu tới chốn bồng bềnh này việc tiên quyết phải nên thực thi là xin hãy trút bỏ y phục để chứng minh nguyên cớ. Điều lệ ấy giúp người ta làm quen với mắc cỡ ban đầu rồi dần dà sự hổ ngươi sẽ bị rơi tỏm ngoài sông, lóp ngóp sặc nước, chết chìm. Triết lý tượng hình: Đẹp trai không bằng chai mặt. Đối tượng bổ sung thêm: Thẹn thùng chi nữa anh ơi, đã là cọp thì nào biết tới lần khân ngại ngần!
Cái ngủ khác với cái ăn, bởi rằm hoặc mồng một người ta có quyền vô tư chấm mút việc ngủ mặn. Trở ngại chút xíu nếu kẻ bán hoa vốn là Phật tử thuần thành: Anh ngẵng nghịch cũng vừa phải thôi, cho em nhờ tí, bữa ni kiêng cử nhác chơi. Trời sinh con gái có nhiều thứ bất tiện, ngoài chay với mặn hằng tháng họ còn bị dính chấu vấn nạn kinh nguyệt hành. Họ leo lên bờ so vai nhìn đời hiu quạnh. Có đi không? Đi mô được bữa ni, người em chẳng được sạch sẽ, khi khác anh hỉ!
Mưa giăng chập chùng ngoài đò, ngoại vật ướt át. Nhưng trên tấm chiếu khô hạn bốc mùi lạ thường này đàn ông con trai thảy nên mặc áo mưa. Bài công dân giáo dục sơ cấp từng truyền dạy: Cẩn tắc vô áy náy xa hối hận. Và nói tình ngay, sao mầm bệnh nhỡ vô phúc bị nhiễm phải kia lại mang được tên gọi quá gợi cảm: Em Giang Mai tới chị Hoa Liễu. Người thích môn đạo đức thì rộng lòng chỉ mặt xỉa xói không khoan nhượng: Chết mày chưa, thích đi đêm có ngày cũng gặp thằng lậu mủ đón đường. Nhức nhối không con?
Áo mưa chưa bao giờ bị liệt vào hàng đắt đỏ, gộp chung vào chuyện mần ăn, tính luôn tiền đò, em lấy anh giá văn nghệ. Ủa, văn nghệ văn gừng luôn nằm trên sân khấu, sao có khi lại mò xuống tận chốn phong ba này? Tiểu liên bán tự động có hai ngấc, liên thanh hay nhát gừng bắn phát một. Ngó sức vóc kiểu tân binh như anh e nên vác súng trường thô lậu, nổ cắc bụp phát thì lo hào hển rút quân. Phương án này một phần tuỳ thuộc vào lương lậu để nhắm liệu cơm gắp mắm. Dư tiền chút đỉnh thì em cho vật mình sang bên đợi bình minh nhú sẽ tính kế lên bờ, xem như năm canh vùi thân vào manh chiếu ấm chứ nỡ lòng nào đưa đầu trần người đi trong mưa gió sảng hồn lìa xa cơn mơ về sáng.
Người con gái tóc dài che nửa khuôn mặt như số đông quý chị em thích làm vậy. Bày ra nửa dung mạo khó bề tìm đoán một số tuổi thích hợp. Cứ du di chín bỏ làm mười để hàm hồ là hai chục trăng thôi tròn. Sạch nước cản thì trông mong gì khi chân bước xuống đò khoắn bùn đục nước ba mươi sáu kế thảy đều hạ sách. Cha có tù tội đâu mà bán mình trả hiếu? Chữ trinh làm gì mà hét tới ngàn vàng, nghe lùng bùng lỗ tai. Không dám đâu!
Mèo ăn vụng thường chẳng có quyền lựa chọn cục mỡ, thêm căng thẳng hiện trường cấp bách. Vui buồn tuỳ thuộc vào diễn biến tâm sinh lý bữa nọ. Đôi lúc cháy hàng, dòm trước ngó sau còn mỗi chị tuổi hơn ba chục cũng đành gát chân lên nhau nằm luận chuyện đời, những thứ éo le luôn cắc cớ bày ra rồi bàn giao vào mỗi phận số con người. Và gần bốn chục tuổi đầu vẫn xưng em với thằng con trai mới có nhị thập niên, chẳng lấy đó làm điều vui miệng gọi con chim cu mới ra ràng bằng hai tiếng anh ơi! Xem nào, đã đủ lông đủ cánh chưa đây. Ui, thương hết biết. Phàm bọn đàn ông khác đều một hạng lỗ mãng cục súc ưa hành hạ kẻ thất thế chịu nằm dưới. Đâu ai thư sinh dịu dàng như anh. Nói tội trời chớ anh mô phải người ruồi gieo máu lửa, khi nớ cánh hoa thời loạn ắt khó rụng tàn!
Người con gái với tay vặn nhỏ tim bấc ngọn đèn dầu cho bớt sáng trước khi cởi hết áo quần đạp ún thành đống dưới chân. Lòng đò chật, do vậy ánh sáng có yếu bằng cây diêm sinh cũng dư sức táp thứ màu vàng đục lên đôi vú nhỏ, trắng nhợt nhạt. Như loài bò sát, cô chuồi thân mềm mại nằm thẳng đuột đợi chờ. Lần đầu hay răng? Cô hỏi, mắt long lanh trao gửi chút ngờ vực. Ở hạ thể cô thu cất một vũng tối, có dốt môn hình học đứa người trần mắt thịt cũng nhìn ra tụ điểm cân phân một tam giác đều có ba cạnh bằng nhau. Nếu tính sai thì đổ thừa là vì lông đen mọc rối bời che bớt phần nào cái sắc sảo dễ đánh sập thành quách. Hề, đã gọi là mỹ nhân trong thiên hạ, tự cổ chí kim đều thủ đắc thứ vũ khí chết người kia, hảo hán đi mười phương hành hiệp cũng phải e ngại chừa riêng phương ấy, cổ thi từng gọi: Chốn ấy hang hùm chớ mó tay!
Năm hạt nút áo tự nhiên làm khó tay lần, quýnh quáng. Cái nịt dùng thắt lưng buộc bụng cũng chướng, gây trở ngại không nhỏ. Đi chơi đĩ, mấy chữ này thật khó êm tai. Rồi ra sẽ đến hạn kỳ tam thập nhi lập, phải tự kiếm cách lo làm nháp trước cho khỏi vướng mắc cuộc tình, đường đi ong bướm đã tường một khi.
Thầy cô giở sách ra dạy: Thân thể người ta chia ra làm ba phần: Đầu, mình và tứ chi. Giáo khoa quả đoán: Chỉ nhiêu đó thôi. Giải thích chút đỉnh: Tứ chi là gộp hai tay với hai chân lại mà thành. Hết. Đâu mà đơn giản vậy cà! Con người chúa rắc rối lắm mà. Kiêng khem tằn tiện quá đáng. Phì nhiêu trù phú trốn đi đâu? Chí ít cũng nên phân định là “người ta” gồm có giống cái và giống đực. Cớ làm sao một bên thì chẳng ra cơm cháo gì trong khi khác giống lại “sẵn đúc một toà thiên nhiên”? Một bên bình nguyên còi cọc bằng phẳng xuôi xị, bên kia lại phồn vinh không giả tạo những hòn non bộ, đèo cao lũng thấp, suối khe cùng rừng lá thấp mê muội đích thị là báu vật của trời ban… Răng đó? Cần giúp một tay không? Dưới tấm chiếu là những thanh gỗ ghép lại thành chỗ ngã lưng. Độ cứng của nó có thể làm mỏi gối chồn chân, nhưng hạng tuổi cỡ lục thập nhi nhĩ thuận mới quan ngại chớ thanh niên trai tráng hồi nào giờ đều dạng ngựa non háu đá. Ngựa cũng có nhiều giống, Xích thố của Quan Vân Trường hay bạch mã của Triệu Tử Long thuộc vào khoa học viễn tưởng, kỳ dư tất thảy đều lệ thuộc vào câu chú: Chạy xa mới hay đường dài. Hối thúc như bị Tào Tháo rượt đuổi thì chóng bở hơi tai, phì phò khịu chân xếp vó.
Người con gái chẳng biểu lộ buồn vui, giọng ráo hoảnh: Biết cớ sự này thì đã nhờ o Thảo bán cho ly rượu thuốc, anh uống để dìu em tới chốn xa. Quanh đi quẩn lại nhịp trống chưa báo sang canh. Thôi đành chờ lần sau, so ra còn khá hơn là phải chịu khóc đầm đìa ngoài biên ải. Cô ngồi dậy, chỉ tròng chiếc áo bà ba đậy điệm nhũ hoa cho khỏi trúng gió rồi vớ lấy cái thau nhựa, kéo nhẹ liếp cửa ở đằng đầu. Mưa vẫn rơi, làm màu đêm vấy trên sông ánh lên sắc xanh huyền hoặc. Lần ra sát mạn đò, cô gái vục thau xuống để múc lên một dung tích đầy vun, động tác thành thục chẳng sóng sánh trào đổ. Ngồi xích lại gần cửa tránh mưa, khum bàn tay hứng nước và khoan nhặt đưa lên đặt xuống kỳ cọ rửa ráy vệ sinh cửa mình. Nếu có hà bá hoặc con cháu thuỷ thần đi hoang bên dưới con đò e chúng cũng kiêng dè cạy mặt người sở hữu lắm hương mùi bụi trần vây khổn. Thau nước qua sử dụng được hoàn trả xuống con sông nổi tiếng Hương thơm. Tiếng nước táp vào bề phẳng trầm mặc của nó bật lên thứ cung bậc nghe sướng cái lỗ tai, cơ hồ vỗ bàn tay vào mông đít lắm thịt. Tuy mênh mông nhưng gây vang ra điệp trùng hồi đáp vọng dội. Bây giờ thì hình tam giác cân đã biến đổi thành thứ hình học không gian có nhiều phương thức chứng minh “ngó vậy mà hổng phải vậy”. Đôi giọt nước còn ngập ngừng ở thềm rêu chưa vội nhỏ xuống, rời đi từ cụm tóc xoắn, rối, bời bời một nguồn cơn khó ráp lại nên câu cú. Chủ nhân lách người qua khe hẹp rồi ngồi xuống chiếu tròng đôi chân vào chiếc quần đen chịu nhiều nếp gấp, bèo nhèo. Mái tóc bị ướt ít nhiều, cô để vậy không buồn lau khô; như bên dưới mãi chịu sự ẩm thấp, tuồng quan niệm “để vậy cho mát em”. Việc trước mắt cần giải quyết là thử ném viên đá dò đường, thăm dò nhằm đuổi khách. Ong đã hút nhuỵ hoa, dù chưa vơi hương mật thì liệu đường mà chờn vờn chốn khác. Bắt chấm mút phải bu vô, đến hồi hết sức chớ tô vẽ trò.
Người ta gầy sòng cờ bạc thử đỏ đen luôn theo tiêu chí thua keo này bày keo khác. Xóc xáo lại bộ bài, chia ván mới.
Cô gái nghe thế liền cười nửa miệng: Mô có ai cản ngăn? Cớ sự là anh còn tiền để chung cho nhà cái không?
Tên em là chi, anh quên hỏi?
Kêu em là Xì-lát cũng được, hay xập xám, hay thùng pha sảnh, tuỳ ở anh cả, em đâu quan hoài, chuyện nhỏ.
Răng không nói em tên Thoa cho anh an tâm.
Đánh bài mà bắt phải khai tên, có ngược đời không? Ừ, em là Thoa đây, có chuyện chi không?
Có chớ, đại sự là đàng khác. Nếu đúng là Thoa thì em chắc nhớ ra một thằng tên là Ngô Văn Đồng. Ba ngày trước hắn thiếu tiền được Thoa cho mắc chịu, chỉ thu giữ thẻ căn cước của hắn làm vật thế chân…
Rồi răng nữa?
Tối nay anh xuống đây có mang theo tiền chuộc.
Đứa con gái cười rộng miệng, cười rung cả vai, rối cả tóc. Đánh bài thì anh có cơ may gỡ lại vốn, nhưng anh chơi em thì khác, một ra đi không trở lại, tiền trao cháo múc. Nghe mắc cười quá, vừa húp cháo vừa đòi lấy lui vật thế chân, tham lam vừa vừa thôi ông thầy. Cái anh chàng tên Đồng nớ đã lạ đời lại quen thêm người bạn thật kỳ khôi. May mà em không phải tên Thoa, em chưa khi mô cho người ta mắc chịu cả. Chịu chơi cũng ở chừng mực mô thôi, chơi kiểu nghịch tặc thì ai mà chịu đời cho thấu!
Có nghĩa là anh ưa gầy cuộc vui lần nữa coi bộ không xong?
Đêm mai hẵng hay, em sẽ dọ hỏi giúp để anh gặp đúng người mà lấy lại thẻ căn cước. Thiệt cả gan! Ra đường không bọc theo giấy tờ tuỳ thân chẳng sợ họ bắt đi lính sao?
oOo
Khi đất nước hà khắc, độc đoán, mê muội, kỳ thị, đày ải, bần cùng hoá nhân dân. Cuối chân tường người ta đào được một lỗ đen, đặt tên: Vượt biên. Rỉ tai nhau: Đánh đổi bằng mọi giá để thoát ra được địa ngục trầm luân này. Hai chữ “vượt biên” mới toanh luôn đeo nặng trong giấc ngủ đầy ác mộng, lắm tính toan. Nó trở thành một ước ao chẳng có gì so sánh được, vô đối. Bao trùm và vĩ đại tới độ phát sinh ra câu thoại cười ra nước mắt: Nếu cột đèn có chân nó cũng bỏ trốn!
Hơn cả vết dầu loang, hơn cả cơn bệnh dịch, người ta đồng loạt đổ xô đi tìm sinh lộ bất chấp tử lộ chực chờ. Nếu vượt biển, động vật hai chân nương nhờ vô ghe tàu, hoặc một vật nổi được trên mặt nước có gắn động cơ sau đuôi bất biết tới sông dài bể rộng. Có kẻ trần tình lời nghe quặn lòng thắt gan: Hãy cho tôi thấy mặt trùng khơi một bận rồi có chết cũng cam tâm!
Muốn ra ngoài cửa biển có ghe chực sẵn để bốc người đi, những đứa “phản bội tổ quốc” phải chung tiền thuê “taxi”- lại một thuật ngữ mới ám chỉ mấy con đò nguỵ trang kín kẽ “đưa người ta không đưa sang sông” mà chạy xớn xác ra gặp sóng biển bạc đầu. “Bóng chiều không thắm không vàng vọt” như Thâm Tâm tả mà phải tối trời không trăng sao, đen như mực tối như hũ nút mới đắt địa. “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thật!” Dầu sôi lửa bỏng ai còn lòng dạ mà đùa dai giỡn thật với giả. Tất cả giá trị hiện vật đều bỏ lại, chỉ vác mạng không đóng vai thi nhân làm bài hành về tứ phương vô định. Hành phương Nam của Nguyễn Bính e chẳng thấm thía bằng bài hành của Thuyền nhân: Một là con nuôi má, hai là con nuôi cá, ba là má nuôi con. 1: Tự do. 2: Chết. 3: Ngục tù. Chẳng lôi thôi gì cả.
Ngày xưa, cổ nhân đi hành quân sát bên doanh trại địch đóng, muốn bảo mật phải tuân thủ “ngựa thì cất lạc, người thì ngậm tăm”. Giờ đây nằm chất lớp chư cá ương trên lòng đò ướt lưng áo lạnh, con trẻ thì uống thuốc ngủ để khỏi cất tiếng khóc nhè làm bể ổ, người lớn có khấn nguyện thì Nam mô A di đà Phật cứu khổ cứu nạn chỉ lâm râm tụng thầm cho mỗi mình nghe thấy. Đò có gắn máy đuôi tôm vì thồ người khẩm nặng, tiếng lạch bạch vang giữa đôi bờ kéo theo bao nỗi niềm mà dạ chẳng yên để phân định buồn vui đang ngập sóng trong lòng. Chắc rằng mặt sông có xao động cũng chẳng tài nào sánh với tâm thức kẻ cùng khổ đang lặng lẽ trốn chạy. Ba đào dâng lên trong người, say với thứ mà sóng và rượu không đủ độ mạnh làm chao đảo. Người cầm tay lái là một ông già gầy ốm ngồi sau đò, cô gái phụ đỡ ông thì ngồi bên một đống rong rêu cao ngất vớt được tự lòng sông. Tuy có bóng tối can dự nhưng cô ta cũng nhìn nhận ra được đứa “hành khách” nửa nằm nửa ngồi sát bên đôi chân. Một ván bài vừa chia phần mà nhà cái mang tên định mệnh. Vật đổi sao dời, biến thiên dâu bể tới cỡ nào cô vẫn không quên bộ phong tróc ảnh ám nơi thằng con trai đã từng nhờ cô giúp trở thành đàn ông một đêm mưa sụt sùi ngày cũ. Một chút dại khờ đi kèm với lòng thuỷ chung, hắn một mực tìm tới cô để ngủ qua đêm, chẳng ai khác. Không Thoa chẳng Lài, không Xuân chẳng Gái cho dù bốn chị em ấy nhan sắc có đứa mặn mà hơn, thể hình có đứa văm hơn, tuổi tác có đứa son trẻ hơn.
Bắt chước người bạn rắn mắt, hắn từng nhăn nhó gãi đầu đòi để căn cước bọc nhựa ở lại thế chân. Hắn biết cách san bằng hố sâu dị nghị bằng lối đùa nghịch hồn nhiên. Cách hắn tiếp cận, lối xử thế không như hành động một con đực muốn trấn lột, chiếm đoạt con cái. Hắn dịu dàng mơn trớn, như người nữ nằm dưới thân hắn chẳng phải là một ả điếm, thứ vật thể hắn dùng để trút bỏ bao hằn học trong khi hành lạc. Trong đầu hắn tuồng không mọc ra ý tưởng chơi cho xứng đồng tiền bát gạo. Hắn chẳng biết chữ dày vò, dập liễu vùi hoa. Và tới phút yếu lòng cô đã thú thật tên cô cho hắn nghe.
Diệu. Hắn thầm thì. Hắn cũng có bộ nhớ tinh nhạy, nhìn là nhận ra ngay. Hắn kê đầu vào đùi cô, từ tốn rướn thân lên. Chừng như hắn đang mó bàn tay tinh nghịch vào chỗ đó. Chỗ thôi còn là vùng oanh kích tự do, chỗ đã ký kết hiệp định ngưng bắn có hiệu lực đã ba năm. Nôm na là cô ngủ chay chừng đó tháng ngày. Cô theo ông già dùng đò mưu sinh một nắng hai sương, chở cát từ thượng nguồn về, chở rong từ hạ lưu lên, chở gạch từ xí nghiệp sản xuất mang ra chợ… Tóm tắc là lu bu làm thợ đụng chứ không nằm ngửa trên chiếu để mặc cho cuộc đời vấy bẩn tàn phá kiếp hồng nhan. Hắn thăm dò, bàn tay chăm đi hoang. Hắn nói hắn từng trông lui, tưởng nhớ cô, những ngày êm đẹp cũ. Hắn ngỡ cô đã bị dồn đẩy bắt đi khai hoang lập ấp trên vùng kinh tế mới đèo heo hút gió nào đó. Cô nín thinh, ngồi yên chẳng kháng cự. Cô biết hắn sắp liều lĩnh đi xa với cuộc lữ chịu nhiều hoạn nạn.
Lâu rồi đôi vú cô chẳng có tay ai sờ nắn. Bộn bề tháng ngày cửa mình cô, cái hình tam giác lạ thường như cách ví von của hắn, chưa có ai đo đạc mân mê vò rối. Cô hớt tóc trên đầu lắm lần nhưng bên dưới chừng như nó vẫn vậy, vẫn cong xoắn vẫn không mấy dài. Và năm ngón tay hắn đang khiến người cô chao đi, co rút lại. Chưa khi nào cô thèm làm tình với hắn đến vậy. Nếu bị đổ bể, taxi không gặp ghe đợi, tôi sẽ tìm cách đi vào ngục thất thăm anh. Cô nói nhỏ, đủ cho hắn nghe. Dù vẽ ra điềm gở, hắn đón nhận chút cảm động vì lời cô mang đủ chất thành thật.
Hắn moi trong lưng quần ra cái khâu hai chỉ, dự trù bán đi khi tới đảo để đánh về nhà cái điện tín báo tin. Nhưng phần số đã bày ra cuộc gặp gỡ này… Diệu. Diệu cất giữ nó đi, khi mô lấy chồng thì có sẵn, chẳng bợn lòng mà đeo vào ngón tay chứng thực là mình yên bề gia thất. Chỉ xin đánh đổi, hãy thầm nguyện cho anh đến được bến bờ tự do. Áo Diệu có hai miếng vải vá khác màu, ở vai và ở khuỷ tay. Người Diệu nồng mùi nắng dù đò trôi trong đêm mà cửa biển gần kề đang dồn thổi vào một lượng gió mặn muối. Mặn đến chạnh lòng.
Mọi người hối hả bồng bế nhau dồn lên ghe lớn, cao ngất, chòng chành, sóng nhồi, mênh mông con nước rộng doạ dẫm. Cầu trời khẩn Phật cho anh được tai qua nạn khỏi. Diệu nói với một đầu tóc đang bị rối bung. Đó là thời điểm thích hợp nhất để Diệu nhắm mắt liều lĩnh hôn vào môi hắn. Vị mặn ứa từ cửa sổ tâm hồn bò chậm rãi xuống bờ môi khô hụt nhịp thở. Hắn liếm quanh.
Phút cuối rời xa đất mẹ hắn đã thu cất vào buồng phổi lượng dưỡng khí mà Diệu vừa hà hơi tiếp sức. Và đầu mấy ngón tay hắn hình như vẫn nhờn rít chất sữa ngọt thất thoát từ mật khu, từ cửa mình ấm áp Diệu thầm lặng gửi trao. Còn gì nữa mà keo sơn gắn bó!
Nhân một buổi họp mặt tại nhà người bạn sống ở Mỹ đã lâu, một vài người chưa quen biết, sau khi biết tôi chỉ vừa qua Mỹ vài tháng, đã tỏ vẻ ngạc nhiên: “Thế mà hồi nẫy tới giờ tôi cứ tưởng anh qua Mỹ đã lâu!” Lẽ cố nhiên những người này chỉ mới quan sát mình qua bề ngoài và câu nói đó có tính cách khẳng định: những người mới qua Mỹ chỉ có thể là những người “thân thể thì ốm đói, mặt mày xanh xao, áo quần xơ xác,” một người khác thường không thể nhầm lẫn được. Sống với Việt Cộng, cả tù trong lẫn tù ngoài 15 năm mà chưa xương bọc da, người chưa hóa ngợm kể cũng lạ!
Mới qua Mỹ vài hôm, người đang dật dờ giữa ngày và đêm, tâm hồn đang còn hoang mang giữa đi và ở, thực và mộng thì một người bạn điện thoại đến hỏi thăm:
“Sao thấy thế nào, trong người ra sao?”.
Mình cứ thật thà kể lể là người cứ chao đảo, ăn không ngon, cứ như nửa tình, nửa mê. Người bạn này bèn quạt cho một hồi:
“Người ta vượt biển chịu đói khát, đầy đọa, gặp bao nhiêu hiểm nghèo, chết sông chết biển… mới qua được đây. Còn anh, đi máy bay, có tây đầm túc trực hầu hạ, cơm tây bưng, nước Coca rót còn than vãn nỗi gì!”
Trong vòng bà con cũng có lúc có người phỏng vấn:
“Sang đến đây, anh thấy thế nào!”
Mình than:
“Qua bây giờ là quá chậm. Con cái 25, 30 cả rồi quá tuổi vào high school, khó vào đại học! Kinh tế down khó kiếm việc làm! Làm cu li thì quá già, làm thầy thì quá đốt! Chưa biết sao đây, nhưng thôi cũng rán!”
Ông cậu thân mật giảng giải:
“Anh biết ở Việt Nam hiện có bao nhiêu người đang chờ để có được cái diễm phúc như anh là đặt chân lên đất Mỹ không? Gần một triệu người đã nộp đơn xin đi… nhưng đủ điều kiện hay gần đủ điều kiện thì may ra chỉ có 20%. Chương trình ODP ta cứ tạm gọi chương trình bảo lãnh thân nhân danh sách đã đến F, G… mà chờ phỏng vấn cứ dài cổ ra, có người ở danh sách C, D mà giờ này chưa ai hỏi han đến. Còn H.O. mới phỏng vấn đến H.O. 8 mà danh sách Việt Nam gởi cho phái đoàn Mỹ ở Bangkok đã lên đến H25, 26. Mỗi danh sách 8 đến 10,000, đi cho đến bao giờ mới hết. Sống trong tuyệt vọng ai lại không hy vọng. Chỉ béo bở cho công an ngoại vụ, dịch vụ. Ra xuất cảnh là tiền, lên danh sách gởi phái đoàn Mỹ lại tiền. Từ danh sách thấp lên danh sách cao lại tiền. Từ ODP qua H.O. lại tiền. Nếu bây giờ anh còn ở Việt Nam thì anh sẽ thấy điều anh qua được đây là quá hạnh phúc rồi, còn những vấn đề khác, ồ no big deal.”
Tôi cũng như những anh chàng lạc quan khác cứ cho rằng mình đi H.O là bảnh lắm. Có anh làm như ta đây là công thần, không chiến sĩ cũng anh hùng, Yên Báy, Bắc Thái, Hàm Tân có khác chi khách sạn Hilton qua đến nơi thì từ trên máy bay thảm đỏ trải dài đến tận xe bus, có quân nhạc, có cờ vẫy. Tôi cũng chế ra nào H.O. là viết tắt chữ humanitarian operation, có anh lại cãi: “H.O. là viết tắt hai chữ High Officer, bạn mình toàn là sĩ quan cao cấp cả ở tù trên 3 năm, cũng phải thôi!’ Có anh lại mỉa mai: “Bọn mình là Homeless Object (H.O.) một lũ không nhà, tướng tá chạy cả rồi, Cộng Sản không dung nạp, kỳ thị, bây giờ già rồi cũng ráng đi cho con cái được nhờ thôi.”
H.O. viết tắt của hai chữ gì thì cũng chẳng có văn thư nào xác nhận, toàn là do các bạn tôi suy đoán. Mà danh sách này là do phía Việt Nam đưa cho Mỹ ở Bangkok chứ không phải do Mỹ đặt ra. Mới đây khi Nam Trân phỏng vấn ông Fleming giám đốc thì mới vỡ lẽ ra là danh sách H.10 trở đi thì gọi là H.11, H.12, H.13.. Tôi như trên trời rơi xuống vì điều dễ hiểu nhất: chữ O là con số 0 mà thôi. Cũng như người ta gọi C.09, C.08 hay D.01, D.02 vậy thôi. Thôi đành quên cái officer của tôi đi mà đi điền đơn xin việc.
Có lúc quên bẵng chuyện mình, gặp anh em bạn bè cứ tâm sự: nào lo nghĩ, nào sợ không việc làm. Có người nói như mắng vào mặt:
“Các anh qua lúc này mà khó nỗi gì, mâm cổ người ta dọn sẵn cứ việc ngồi vào mà ăn. Hồi 1975, bọn tôi qua cái gì cũng phải mò mẫm, sponsor là người Mỹ, mở miệng không ra, đâu có dám hỏi dám nói như các anh bây giờ. Bọn tôi đi bộ mà tìm việc làm dưới trời lạnh. Vợ chồng con cái bảy tám người nhét vào một phòng. Xin welfare thì sợ mất sĩ diện. Hai năm sau mới mua được cái xe hơi 500 bạc. Ở trại định cư thèm trái cam không có ăn. Các anh đừng thấy chúng tôi bây giờ nào nhà, nào xe, con cái kỹ sư, bác sĩ… mà thấy dễ. Chúng tôi trầy vi tróc vảy mới được như vậy. Bây giờ các anh có Mỹ nuôi một năm, có bạn bè anh em giúp đỡ hướng dẫn, có cộng đồng Việt Nam để sinh sống. Các anh qua bây giờ nghề nghiệp còn chọn lựa, trước kia chúng tôi làm mửa mật ra, có ngày cắt cả nghìn cái cổ gà, có ngày rửa chén bát suốt 10 tiếng đồng hồ không lê chân nổi về nhà.”
Tôi chỉ có việc nhìn chăm chú vào đôi mắt người thuyết giảng và cám ơn rối rít.
Mới sang, ai cũng có đôi lúc phân vân nhất là những người tuổi còn dưới bốn mươi: “Tiếp tục đi học hay kiếm việc làm?”
Có người con cái đều đạt hạng khoa bảng khuyên: “Anh nên cho các con anh tiếp tục học và ngay chính anh cũng phải đi học tiếp. Ở Mỹ không có bằng cấp làm việc cực suốt đời. Chịu cực vài ba năm rồi sau đó tha hồ mà sung sướng!”
Có người lại bảo: “Các anh qua bây giờ là quá chậm, tiếng Anh chẳng bằng ai, sức khỏe không bằng Mễ, Mỹ đen… thôi thì kiếm việc làm gì một giờ năm ba đồng cho qua ngày chờ… lãnh lương hưu là quý lắm rồi.”
Cô cháu hỏi: “Chú già rồi, chọn nghề Real Estate hay làm Loans Officer là hợp nhất!”.
Ông bác khuyên: “Rải giấy đi cắt cỏ là tự do nhất!”.
Người hàng xóm bảo: “Tôi có nghề này hay lắm, ông mua một cái truck cu cũ, vào các shopping, thùng rác nhặt thùng carton, ve chai đi cân ký lô mỗi ngày cũng kiếm được 50 đồng.” (Ôi, năm chục đồng một ngày, tháng 30 ngày nghe hấp dẫn quá!).
Gặp cậu học trò cũ: “Thầy già rồi, có lẽ thầy nên kiếm một chân gác dan, về đêm càng nhiều tiền. Già rồi, ngủ ngáy chẳng bao nhiêu làm nghề này là nhất”. Tôi liên tưởng đến mấy ông gác-dan Ấn Độ, hàm răng và đôi mắt trắng dã ở đường Hàm Nghi, Tôn Thất Thiệp, Chợ Cũ… chắc suốt đời không biết nhắm mắt. Tôi đang bị bệnh mất ngủ, giá kiếm được một chân gác-dan thì chắc tốt, nhưng không biết bên Mỹ này ma có nhiều hơn ở bên nhà không? Mà gặp ma Mỹ, không biết nói tiếng Mỹ có gì trở ngại không?
Tôi có một người em họ, nhỏ tuổi hơn tôi nhiều. Trước kia khi chỉ thấy tên tôi nằm trên hộp thư tòa soạn của một tờ tuần báo đã khâm phục tôi lắm, nay khuyên tôi:
“Anh qua đây, đã lớn tuổi rồi, lại viết lách quen, đi làm báo là sướng nhất. Anh làm cả chủ nhiệm, chủ bút, thư ký đánh máy, quản lý, long tong một mình một chợ. Anh muốn viết gì thì viết, vẽ rồng vẽ rắn bao nhiêu cũng được, kể cả đăng ảnh gia đình anh lên báo và viết bài khen vợ con anh. Anh muốn chửi ai cũng được, nhưng chửi vừa vừa kẻo chửi quá lời, chúng uất quá pằng cho một phát là đi đong. Anh chết rồi là hết, chẳng ai cần tìm ra thủ phạm làm gì. Muốn báo quảng cáo nhiều thì anh phải khen tuốt luốt, mà phải khen thằng có tiền.”
Cậu em họ tôi mới nêu sáng kiến cho tôi hy vọng làm chủ báo, lại dọa tôi, rồi khuyến khích tôi. Sau cùng anh kết luận:
“Nhưng chị ở nhà còn trẻ đẹp không? nói tiếng Anh giỏi một tí càng tốt. Đi xin quảng cáo mà già cọp, cóp róp như anh lại là đàn ông nữa thì còn lâu mới có được một phần tư trang trong chứ đừng nói trang bìa 4 màu. Ở đây tôi biết có khi quảng cáo tiệm phở thì phải lấy tiền quảng cáo bằng phở trừ cơm, quảng cáo hớt tóc thì phải hớt hàng tháng thay vì lấy tiền.”
Vợ tôi đã quá già, hom hem, nhan sắc chỉ có chim sa cá lặn dưới mắt người đối diện là tôi. Nêu thuê một cô thư ký trẻ đẹp để ngoại giao quảng cáo thì chỉ có nước chết đói và chết… đuối. Thế là mộng làm báo coi như dẹp qua một bên.
Tôi mon men hỏi một anh bạn làm báo:
“Nếu tôi không làm chủ báofull-time mà part-time viết dăm ba bài kiếm bạc trả tiền điện, tiền nước, điện thoại có được không?”
Anh bạn tôi ra vẻ thương hại, nói thẳng với tôi:
“Báo ở đây chỉ nuôi sống may ra là ông bà chủ nhiệm, chủ bút kiêm tùy phái, tiền đâu mà trả nhuận bút cho ông. Mà dù bài ông có hay mấy đăng có tiền thì cũng chẳng đăng làm gì. Người ta đọc là đọc quảng cáo, ai thèm đọc bài ông. Người ta đây là các doanh gia đã bỏ tiền quảng cáo, đọc xem có đúng số nhà, số điện thoại của người ta không, xem ảnh người ta có rõ ràng, sắc nét không? Hiện nay báo tôi đang bỏ chợ, lúc nào bán được sẽ mời ông cộng tác thường xuyên. Ông cứ để số điện thoại lại cho tôi.”
Lại một hôm có dịp tôi hỏi một ông bạn già:
“Ở Việt Nam, tôi đánh máy giỏi lại có kinh nghiệm làm văn phòng, nếu như tôi xin đi làm thư ký văn phòng thương mãi hay phòng mạch bác sĩ có được chăng?”
Ông bạn già tôi cười ngất:
“Anh có nói tiếng Anh giỏi như mấy em tốt nghiệp high school ở Mỹ không? Anh có nhan sắc mơn mởn, giò dài không, có trẻ không? mà tôi quên anh là đàn ông mà! Ai lại đi thuê anh làm thư ký? Tôi hỏi thật anh: nếu như anh làm bác sĩ, luật sư hay giám đốc anh có chọn tôi, thằng bạn già trứng cá đầy mặt này, làm thư ký không, hay anh tuyển toàn các em trẻ đẹp phây phây, õng ẹo cho mát mắt anh mà cũng mát mặt khách hàng lúc tắt gió! Anh tự suy nghĩ đi rồi tìm câu trả lời, vì sao anh không thể làm nghề thư ký được.”
Ở Sài Gòn, sau 1975, tôi có anh bạn làm ba nghề. Lúc hàn vi làm nghề vá xe đạp ở lề đường. Khi đã bảnh bao, anh làm nghề viết thư mướn ở bưu điện và cố vấn cho bà con làm sao rút gọn vài chữ trong bức điện tín, để đỡ đi vài nghìn đồng, phần anh chỉ xin năm trăm. Lúc lỏi đời anh làm nghề chẻ tiền nhanh như chớp, đưa cho người ta năm chục nghìn đồng, về đến nhà họ đếm lại chỉ còn hai nghìn rưỡi. Qua Mỹ anh như con cá nằm trên cạn, bao nhiêu sở trường sở đoản của anh coi như vứt bỏ. Nghề vá xe đạp, bà con cũng hiểu là đây không có đất dụng võ. Nghề viết đơn mướn ở Việt Nam còn bịp được thiên hạ với mớ tiếng Anh ăn đong của anh. Qua đây, xứ của tiếng Anh, là đất của Lỗ Ban, anh đâu dám múa búa. Còn nghề chẻ tiền thì ở đây mua một cái quần jean có mấy chục, xoè ra có mấy tấm, không như ở thành phố “bác Hồ” phải khuân cả bó bạc, lấy gì mà chẻ. Anh ta than vãn:”Cuộc sống ở đây khó thực!”
Lại nói về nghề nghiệp, một chiến hữu nay là bác sĩ đã thân mật khuyên tôi:
“Anh em qua đây khá đông, tuổi phần lớn đã già, lại học hành dở dang, tôi biết anh em khó nghĩ. Những người đi trước, nhất là số làm social worker, đều khuyên anh em đi học E.S.L. rồi học nghề. Không có E.S.L. không có nghề thì những tổ chức hướng nghiệp, xã hội coi như bỏ, thất nghiệp. Tôi biết các anh đã đổi đời hai lượt, tất phải khó khăn. Nhưng tôi khuyên các anh, dù ít dù nhiều cũng phải ráng mà vào đại học. Vào đại học, gặp thầy gặp bạn tức là đã học Anh ngữ rồi. Có nghề hai năm có thể làm technician, lương khá cao. Học được khá hơn thì nghề nghiệp càng thăng tiến hơn. Không lẽ suốt đời anh đi làm những việc tay chân mãi sao. Tuổi về hưu ở Mỹ bây giờ là 67 chứ không phải là 65 như anh tưởng. Anh phải sống 12 năm nữa mới được lương già. Vậy anh phải vào đại học ít lắm là hai năm hay dài hơn, cao hơn nữa. Rồi còn phải làm gì cho đất nước nữa chứ!”
Tôi biết ông thương người, mong mỏi anh em mới qua thành đạt cũng như ông, đã từng cực khổ đi học lại tương đương với high school, rồi vào đại học, ra bác sĩ. Nhưng phần tôi, tôi thấy quả là khó khăn trước một mớ vợ con đùm đề, bill tiền nhà, tiền điện, tiền bảo hiểm… Chắc khó có thể yên tâm mà dùi mài kinh sử được nữa. Tôi chỉ mong mỏi sao có được một nghề lương tháng 5, 6 đồng một giờ cộng thêm tí benefit nữa là mãn nguyện rồi.
Trước những ý kiến, lời khuyên, dạy bảo… của bà con, bạn bè, chiến hữu, đồng hương… quả là đôi khi tôi thấy lùng bùng lỗ tai. Những ý kiến này, tất cả đều vì thương tôi là “người mới sang” mà góp ý, có khi những ý kiến này chỏi lại nhau mà tôi không đủ sức đo lường, phán đoán. Tuy nhiên, trên đời này còn hai chữ tuy nhiên.
☆
Tôi đã ở tù trong cái mà người ta gọi là trại-tập-trung-cải-tạo 7 năm, thời gian trung bình so với người không ở tù ngày nào và với những người ở tù 12 năm hay đang còn ở tù. Tôi đã có lúc cân chỉ còn 38 kg với mớ da bọc xương. Tôi đã có lúc đói meo thấy củ sắn mà chảy nước miếng. Tôi đã có lúc “lao động” mửa mật ra suốt ngày mà tối về chỉ được ba củ khoai, trong đó có một củ hà. Tôi đã có lúc xuống hầm cầu tiêu hốt phân bắc, nôm na là hốt cứt của bọn cai tù. Tôi đã có lúc đi qua nhà dân thấy bếp lửa nhà ai mà thèm không khí gia đình ấm cúng. Tôi đã có lúc quằn quại trên chõng tre vì bệnh nặng mà chỉ có mấy ngọn lá rừng vò nát làm thuốc. Tôi đã có lúc muốn đâm thằng đội trưởng tàn ác với chiến hữu, mà hèn nhát không dám đâm. Tôi đã có lúc muốn treo cổ tự tử vì nhục nhưng xót vợ con, không làm. Tôi đã có lúc muốn hóa thành con chó, con mèo, con chim cho đỡ khổ.
Xưa kia ở trong trại tù tôi chỉ dám mơ ước ra tù, cuốc đất trồng khoai, được ăn ngày ba bữa khoai, không tính đến mấy củ khoai hà. Xưa kia, ở trong trại tù cuốc bộ mười hai cây số với một gánh ngô trên vai tôi thấy thèm địa vị của thằng bộ đội cỡi xe đạp. Xưa kia, ra gần đường lộ tôi thấy hạnh phúc thay những người dân miền Bắc, lem luốc chen nhau lên cái xe hàng chạy than. Xưa kia, thấy cái máy bay trên trời tôi cho đó là niềm vô vọng mà cả nghìn kiếp sau chưa chắc tôi đã được ngồi trên đó.
Tôi chỉ cầu được tự do, rồi sau đó ra sao thì ra!
Rồi tôi được ra tù. Rồi tôi được sum họp với vợ con, có bếp lửa ấm cúng trong căn nhà cũ. Rồi tôi được cỡi lên chiếc xe đạp chạy phom phom trên thành phố Sài gòn thân yêu của tôi. Rồi tôi được đi xe hơi. Rồi tôi được phục hồi danh dự – có xuất cảnh, được phía Mỹ cho nhập cư, được phía Việt Nam gởi danh sách qua phái đoàn Mỹ.
Bao nhiêu thằng cán bộ chảy nước miếng thèm lại địa vị của tôi. Rồi tôi được leo lên máy bay phản lực, các cô em chiêu đãi Hà Nội mặt nặng như chì vì ghét tôi và bạn bè tôi, cũng phải cơm bưng nước rót. Rồi đổi máy bay, tây đầm phục vụ chu đáo một tiếng sir, hai tiếng sir.
Cuối cùng tôi đặt chân xuống đất Mỹ, nơi mà con tôi vì mong muốn đến, đã bỏ mình trên Thái Bình Dương. Các em tôi ra đón, ôm tôi mà khóc.
Hiện nay tôi đã là người cũ. Hơn nửa năm thì không còn gọi là người mới nữa. Là người cũ tôi cũng có nhà ở, có xe đi, có cơm ăn áo mặc và nhất là tôi cảm thấy tự do, tôi muốn viết gì thì viết theo lương tâm tôi. Ở “thành phố Hồ Chí Minh,” buổi sáng vào quán ăn phở ngồi chung với một anh nón cối bi bô chuyện “ngoài ta”, là tôi ăn đã mất ngon. Qua đây tôi cho là thoát. Thế thì tôi mơ ước, đòi hỏi gì hơn.
Tôi cũng như các bạn bè chiến hữu đau khổ của tôi, không chết ở trong tù, lẽ nào ta lại chịu chết ở đây! Chúng ta đã khổ quá nhiều rồi, sẽ không còn đau khổ nào lớn hơn, cao hơn. Hai lần đổi đời, ta sẽ làm lại cuộc đời. Và nếu tôi nói không quá, dù có chết được chôn cũng không sợ đào mồ cuốc mả nữa.
Chúng ta thường là những người vô tâm, hay quên, nhưng quên ở đây cũng đồng nghĩa với phản bội các bạn bè anh em ta đã nằm xuống…lẽ cố nhiên không phải nằm xuống ở đây.
Khóa 28 và 29 của Trường Võ Bị Đà Lạt vừa làm lễ mãn khóa được vài ngày, trong trường chỉ còn lại hai khóa 30 và 31. Nhàn cư vi bất thiện, tôi và Trung úy Trí rảnh rỗi ngồi uống cà phê ở Long Thành với mấy người bạn cùng khóa. Khóa của tôi có khoảng một trung đội đi du học Fort Benning ở Georgia Hoa Kỳ, sau khi tốt nghiệp hầu như tất cả được đưa về làm huấn luyện viên tại Trường Bộ Binh Thủ Đức. Tụi tôi gặp lại nhau, thôi thì không biết bao nhiêu là chuyện ngày xưa được đem ra nhắc lại. Đang say sưa tán gẫu, tôi bỗng giật mình khi nghe loa phát thanh gọi tên mình.
-Trung úy Nguyễn Trọng Quân, Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, đến Khu tiếp tân có thân nhân cần gặp.
Cả Sài Gòn này, tôi chỉ quen có hai người con gái là Cúc và Dung. Cúc là vợ chưa cưới của tôi, đã đi Mỹ với bác Bảy từ mấy tuần lễ trước rồi, không lẽ người tìm tôi lại là Dung.
Tôi nói với Trung úy Trí và mấy người bạn cùng khóa, hiện đang là huấn luyện viên của Trường Bộ Binh Thủ Đức.
-Xin lỗi quý vị, tôi phải ra khu tiếp tân có chút chuyện.
Khi hai đứa còn cách xa nhau cả chục thước, Dung chạy đến ôm chầm lấy tôi hôn lên khắp mặt mũi, vừa hôn vừa nói:
-Cảm ơn trời Phật.
Tôi nghe rõ nhưng vẫn hỏi lại Dung:
-Em nói cái gì vậy?
-Em nói cảm ơn trời Phật đã cho em gặp anh, em chỉ sợ anh không có ở trường sẽ hư hết mọi chuyện.
-Chuyện gì? Mà tại sao em biết anh ở đây?
-Em đọc báo nên biết được Trường Võ Bị Đà Lạt di tản về đây.
Giọng nói của Dung đột nhiên trở nên như hờn giận.
-Anh về đây đã mấy tuần rồi, sao không báo cho em biết?
Tôi nói với Dung:
-Vừa đặt chân xuống Long Thành, việc đầu tiên mà anh nghĩ đến là phải tìm gặp em ngay lập tức, vì anh có chuyện quan trọng muốn nói với em. Vậy mà cũng phải cả tuần sau, anh mới có được cái phép hai ngày để về Sài Gòn. Trái với những gì anh nghĩ trong đầu, khi đứng trước nhà em, anh hoàn toàn không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Nhìn ngôi nhà im lìm trong nắng sớm, cửa đóng then cài thêm hai sợi dây xích to khóa chặt cánh cổng, trong nhà không một bóng người. Anh đoán rằng có thể cả nhà em đã đi Mỹ rồi. Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, anh trở về Long Thành mà lòng buồn vô hạn.
Hình minh họa
Tôi nắm tay Dung rồi hỏi nàng:
-Bấy lâu nay gia đình em ở đâu?
Thay vì trả lời, Dung lại hỏi tôi:
-Anh đến nhà em ngày nào?
-Để anh nhớ lại coi, hôm đó là…là thứ Năm ngày mười tháng Tư.
Dung nói to:
-Đúng rồi, đâu khoảng hai ngày trước đó, khi cái ông trung úy không quân phản bội lái phi cơ F5 ném bom Dinh Độc Lập, ba thấy tình hình Sài Gòn không yên ổn nên đưa cả nhà về Bạc Liêu, một tuần sau gia đình em mới trở về lại Sài Gòn. Tội nghiệp cho anh, anh đến đúng lúc cả nhà đang ở Bạc Liêu.
Đang nói chuyện Dung choàng hai tay qua vai tôi, kéo đầu tôi xuống, nàng nói nhỏ vào tai tôi:
-Có chuyện quan trọng, anh phải trốn về Sài Gòn với em ngay bây giờ.
-Em à, anh là lính chứ đâu phải thường dân, muốn đi đâu thì đi.
-Bởi vậy em mới nói là trốn, anh tính toán như thế nào tùy anh, chiều nay mình phải có mặt tại nhà, ba đã dặn em như vậy.
-Nhưng mà có chuyện gì? Quan trọng hay không? Nếu không, anh sẽ không về đâu. Đừng có nói với anh là tụi mình về Sài Gòn để làm đám cưới.
Dung cười tươi như cô dâu.
-Chuyện đám cưới tính sau, ba nói cả nhà sẽ đi Mỹ.
Tôi nói với Dung:
-Đúng rồi, ba em làm ở USAID nên cả nhà sẽ đi Mỹ, anh có liên hệ gì với Mỹ đâu mà đi với đứng.
-Anh phải về nhà, ba em sẽ giải thích rõ ràng hơn cho anh nghe. Ba nói với em, Sài Gòn sẽ mất trong nay mai. Riêng em, chỉ nghe lỏm được là khi lập danh sách của gia đình em để đi Mỹ, tên anh Biên vẫn còn trong sổ gia đình, anh Biên mất rồi, anh thể chỗ của anh Biên.
Nghe tin Sài Gòn sẽ mất trong vài ngày nữa, từ một viên chức của cơ quan USAID, tôi chợt rùng mình chỉ muốn chạy trốn, sẵn dịp được trốn đi Mỹ với người mà mình yêu thì còn gì bằng, tôi nói với Dung:
-Em nói nghe cũng có lý, chờ chút, để anh vô xin phép thiếu tá trưởng phòng rồi mình về Sài Gòn.
-Đợi anh xin được cái giấy phép mọi chuyện đã trễ rồi, tối nay mình phải đi.
-Không sao chỉ cần sếp gật đầu, không cần ký giấy phép, anh sẽ dù về Sài Gòn nếu đi Mỹ được cũng tốt, đi không được cũng chẳng có mất mát gì.
Tôi chở Dung trên chiếc Honda Dame của nàng, nắng đã bắt đầu dịu lại, tôi nhìn đồng hồ rồi nói với Dung:
-Anh đoán chừng mình sẽ về đến Sài Gòn trước khi trời tối, có kịp không em?
Hình minh họa
-Ba nói, khuya nay sẽ đi.
-Như vậy không có gì phải lo.
Tôi cho xe chạy với tốc độ vừa phải, không chậm cũng không mau, gió chiều nhè nhẹ thổi, vài sợi tóc của Dung bay bay trong gió quấn lấy mặt tôi. Dung ôm tôi chặt cứng, ngực của nàng áp vào lưng của tôi, mặt của nàng tựa vào vai của tôi, một cảm giác êm đềm thoải mái như mơ chạy khắp người. Tôi nói với Dung:
-Anh yêu em.
-Em biết, anh đã nói với em từ hồi anh còn là Sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức. Ngày đó, khi nghe anh nói như vậy khiến em sung sướng quá chừng, cả tuần lễ sau đó lúc nào cũng nghĩ tới anh, ngủ không được.
Nghe Dung nói, tôi cứ tưởng rằng minh đang sống lại thời còn là sinh viên sĩ quan ở Thủ Đức. Tôi cho xe chạy chậm lại, nói to hơn:
-Có chuyện này anh muốn hỏi em. Ngày xưa em nói: “Nếu là anh, em sẽ chọn cái tên Quân sữa”. Sau đó, em hứa với anh là hôm nào rảnh, em sẽ nói cho anh nghe là tại sao anh nên chọn cái tên đó. Hôm nay, anh muốn em nói cho anh biết.
Dung cười ngặt nghẽo, tiếng cười tràn đầy hạnh phúc.
-Như vậy thì anh phải đợi. Khi nào tụi mình đến Mỹ, làm đám cưới xong, em sẽ nói cho anh nghe.
Tôi không nói gì thêm, im lặng lái xe.
Khi hai đứa đến ngã ba Biên Hòa, chúng tôi bị chận lại ở một trạm gác dã chiến của Thủy Quân Lục Chiến. Người lính chào tôi rồi nói:
-Trung úy cho coi giấy tờ.
Tôi đưa cho anh ta cái căn cước quân nhân cùng với giấy Chứng chỉ tại ngũ. Người lính chăm chú đọc một cách cẩn thận, rồi anh ta nhìn thẳng vào mặt tôi, cái nhìn như để nhận diện, coi tôi có phải là người mang giấy tờ mà anh ta đang nắm trên tay không? Cuối cùng, người lính nói với tôi:
-Đơn vị của trung úy đang ở đâu?
-Tôi là sĩ quan hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt, mới di tản về Long Thành.
-Trung úy có giấy phép về Sài Gòn hay không?
-Không có.
-Như vậy, trung úy không được về Sài Gòn.
Tôi nói, giọng nói như là ra vẻ hằn học.
Hình minh họa
-Tôi đưa vợ tôi về Sài Gòn, sau đó trở lại trường cũng không được hay sao?
Dứt câu nói, tôi nhìn Dung rồi nháy mắt một cái.
Người lính vẫn điềm đạm.
-Thưa không, chúng tôi nhận được lệnh, không để bất cứ quân nhân nào vào Sài Gòn mà không có giấy phép.
Tôi nhìn Dung, lắc đầu tuyệt vọng.
-Chắc em phải về Sài Gòn một mình, cả nhà đang đợi em, anh sẽ trở lại Long Thành xin giấy phép rồi về sau.
Dung nhìn tôi bối rối ra mặt.
-Như vậy trễ mất rồi.
Tôi nói:
-Biết làm sao bây giờ.
Vừa nói tôi vừa bước tới cạnh chiếc Honda định lấy chìa khóa xe đưa cho Dung. Cùng lúc ấy, tôi nhìn thấy một nhóm lính Thủy Quân Lục Chiến đang trò chuyện. Trong đó, một người lính đứng quay lưng lại phía tôi với mái tóc muối tiêu, dáng người trông rất quen. Tôi hỏi người lính Thủy Quân Lục Chiến.
-Trung úy Nhân đầu bạc phải không?
Người lính nói:
-Đúng, ông ấy là thầy của tôi, mà sao trung úy biết?
Tôi mừng quá la to lên:
-Ê Nhân, Nhân.
Người lính quay đầu lại, khi nhìn thấy tôi hắn vừa chạy vừa nói:
-Mày làm gì ở đây?
-Tao từ Đà Lạt di tản về, còn mày sao lại ở đây?
-Tụi tao, tạm thời đóng quân ở Biên Hòa giữ an ninh, không cho quân nhân di tản vô Sài Gòn.
-Tao biết rồi, ông lính của mày chận tao lại từ nãy đến giờ.
Nhân đầu bạc hỏi tôi:
-Mày có tin tức gì của Vân không?
-Không, hai tuần lễ trước khi di tản, tao không có thì giờ ra Đà Lạt nên không biết gia đình Vân như thế nào, có di tản hay không.
Nét thất vọng hiện rõ trên gương mặt của Nhân, hắn nói:
-Cả hai tháng rồi tao không nhận được tin gì của Vân. Gặp mày, tao mừng muốn chết, tưởng biết được chút tin tức về Vân, hóa ra gặp cũng như không.
Hình minh họa
Tôi vỗ tay lên trán rồi nói với Nhân đầu bạc:
-Tao nhớ ra rồi, Vân có một bà dì tên là Hoàng Yến bán hàng vải trong chợ Bến Thành, nếu gia đình Vân di tản về Sài Gòn, chắc chắn họ sẽ ở nhà bà dì của Vân. Mày thử đến đó tìm đi.
Vừa dứt lời, tôi nhìn Dung rồi nói tiếp:
-Quên giới thiệu với mày, đây là Dung, người yêu của tao.
Khi nói xong, tôi cười với Dung.
-Không đúng, phải nói là vợ sắp cưới mới đúng.
Nhân đầu bạc nhìn Dung rồi nói:
-Chúc mừng chị.
Dung nói với Nhân:
-Cảm ơn anh, tình hình lộn xộn như vậy không biết có làm đám cưới được không để mời anh, mà anh Nhân nè, tụi này có việc cần về Sài Gòn gấp.
Nhân nhìn tôi.
-Từ đây về Sài Gòn còn mấy trạm gác nữa, mày về không được đâu. Cách hay nhất, tao khuyên mày vô nhà ga Biên Hòa, đi xe lửa về Sài Gòn sẽ không bị xét giấy tờ.
Tôi bắt tay Nhân đầu bạc mà trong đầu nghĩ đến chuyện trốn đi Mỹ. Tôi nói:
-Không biết tụi mình còn có dịp gặp nhau nữa hay không? Tao ngờ rằng, đây là lần cuối cùng gặp gỡ. Gắng giữ gìn sức khỏe nghe mày.
Tôi chở Dung chạy vô nhà ga xe lửa Biên Hòa.
Bảy giờ tối, chúng tôi về đến nhà. Ba má của Dung chạy ra mở cổng, cả hai ông bà mừng rỡ ra mặt, ba Dung nói:
-Con lên lầu, lấy bộ đồ dân sự của anh Biên đưa cho anh Quân bận.
Quay qua tôi, ba Dung nói:
-Con phải bỏ bộ đồ lính, thay đồ dân sự, bận đồ lính sẽ không vào phi trường được.
Bốn người chúng tôi chất lên chiếc xe taxi nhỏ tí xíu, chạy đến nơi có một tòa nhà to lớn, tôi không biết nó nằm trên đường nào, chỉ đoán đó là cơ quan của Mỹ. Một người Mỹ đen, đứng ngay cổng kiểm soát người rồi cho vào trong sân để lên xe bus. Bên trong sân, một người Mỹ khác nhìn vào sổ gia đình, đếm người rồi so với tờ danh sách ông ta đang cầm trên tay, khi đã đầy đủ người ông ta mới ra lệnh cho xe chạy. Phải mất khoảng nửa giờ, xe bus mới đến cổng sân bay Tân Sơn Nhất, người Mỹ lo chuyện di tản ôm hồ sơ xuống xe, trình giấy tờ. Hình như, những người lính gác cổng chỉ lo coi giấy tờ chứ không nhìn số lượng người trên xe. Khi thanh gỗ chắn ngang cổng được nâng lên, chiếc xe từ từ đi vào sân bay tim của tôi mới đập bình thường trở lại. Xe vừa chạy được một đoạn lại thêm một trạm kiểm soát thứ hai, rồi thứ ba, mỗi lần qua một trạm kiểm soát, tay của tôi lại nắm tay của Dung bóp mạnh. Dung nói nhỏ vào tai tôi:
Hình minh họa
-Không sao đâu anh, mình có giấy tờ hợp lệ mà.
Tôi nói với Dung, giọng nói không được bình tĩnh cho lắm:
-Không biết còn bao nhiêu trạm kiểm soát nữa đây? Mỗi lần qua một trạm kiểm soát là một lần trái tim của anh lại đập trật đi vài nhịp.
Cuối cùng, xe bus ngừng lại cách đuôi của một chiếc phi cơ C130 khoảng hai mươi mét, cánh cửa khổng lồ sau đuôi của phi cơ đã hạ xuống chạm mặt phi đạo làm thành một chiếc cầu, mọi người xuống xe theo thứ tự rồi cứ hàng một đi vào phi cơ. Theo chân đoàn người, tôi vừa đi vừa nhìn quanh rồi giật mình khi thấy hai người lính Quân Cảnh đứng gác nơi đuôi chiếc phi cơ, họ để cho mọi người đi vào mà không nói gì. Có thể, nhiệm vụ của họ là giữ gìn an ninh trật tự chứ không phải là kiểm soát.
Thấy tôi chỉ lo chăm chú nhìn hai người Quân Cảnh, Dung kéo tay tôi.
-Lẹ lên anh.
Khi chỉ còn vài bước nữa là tôi đặt chân lên cửa sau của chiếc phi cơ, bỗng dưng người lính Quân Cảnh dang tay cắt đứt tôi và Dung ra, anh ta làm dấu cho Dung tiếp tục đi đồng thời nói với tôi:
-Mời ông đứng qua bên này, để cho mọi người có đường đi.
Tôi bước tránh qua một bên, người Quân Cảnh thứ hai bước đến bên tôi:
-Ông cho coi giấy tờ.
Tôi như kẻ mất hồn, tay móc túi lấy giấy tờ đưa cho người lính Quân Cảnh, mắt nhìn theo Dung vừa đi vừa ngoái cổ nhìn tôi. Đôi mắt của Dung đầy vẻ lo âu. Đó là hình ảnh cuối cùng về Dung mà tôi còn nhớ được.
Người lính Quân Cảnh nói với tôi:
-Chúng tôi phải giữ trung úy lại.
Tôi nói, giọng nói như là cằn nhằn:
-Ba má tôi, vợ tôi trên máy bay, tôi có tên trong danh sách được đi, tại sao mấy ông giữ tôi lại.
Người Quân Cảnh trả lời tôi:
-Mỹ cho trung úy đi, nhưng chính phủ Việt Nam Cộng Hòa không có lệnh cho quân nhân xuất ngoại, chúng tôi chỉ thi hành nhiệm vụ, trung úy thông cảm.
Khi mà tất cả mọi người đã lên phi cơ, cánh cửa sắt khổng lồ từ từ nâng lên rồi đóng chặt lại, lòng tôi bỗng dưng chết lặng, cơ hồ như cả vũ trụ này đã sụp đổ.
Hình minh họa
Người lính Quân Cảnh nói:
-Mời trung úy lên xe.
-Mấy anh đưa tôi đi đâu?
-Chúng tôi đưa trung úy ra khỏi phi trường, sau đó trung úy tự mình về lại đơn vị.
Mấy tuần trước khi nghe tin Cúc đi Mỹ với bác Bảy, tôi chỉ hơi tiêng tiếc rồi quên Cúc dễ dàng. Hôm nay khi bị cắt đứt, chia tay đột ngột với Dung, tôi cảm thấy đau đớn, xót xa như ruột gan bị cắt chia làm nhiều đoạn. Khi biết mình đã đi đến bước đường cùng, không nhà, không người thân ở Sài Gòn, không còn gì phải giữ gìn, tôi nói với hai người Quân Cảnh:
-Tôi có chuyện muốn nhờ mấy anh giúp đỡ.
-Chuyện gì? Nếu được chúng tôi sẽ làm.
-Nhờ hai anh, bắt tôi bỏ tù luôn được không?
-Xin lỗi, chuyện này chúng tôi không giúp được.
Tôi trở về nhà của Dung, chị Lành ra mở cổng hỏi tôi với giọng nói đầy vẻ ngạc nhiên:
-Cậu không đi sao?
-Không.
Tôi thay bộ đồ dân sự, tròng vào người bộ đồ lính, chào từ giã chị Lành rồi đi ra cửa.
Một mình tôi lang thang giữa đêm khuya ở Sài Gòn, Cúc và Dung giờ đây đã nghìn trùng xa cách.
Hai mươi sáu tuổi đời, chưa có bao giờ tôi cảm thấy cô đơn, lạc lõng, tuyệt vọng đến như vậy. Dưới ánh sáng mờ mờ của ngọn đèn đường, tôi nói với anh xe ôm đang đậu xe chờ khách ở một ngã tư:
-Cho tôi về Long Thành.
Anh xe ôm nói với tôi:
-Giờ này, gần giới nghiêm rồi, trung úy có cho bạc triệu tôi cũng không dám chạy về Long Thành.
Đường trần quên lối cũ Người đời xa cách mãi Tinh trần khôn hàn gắn thương lòng…
(Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay – Đoàn Chuẩn – Từ Linh)
Vĩnh Phú, địa danh tôi muốn quên mà không thể nào quên. Trong suốt hơn mười năm qua và trong cả cuộc đời. K1, K2, K3. K4…những chữ số ký hiệu kinh hoàng. Của tôi. Của những người tù và gia đình họ. Ở rồi, đến rồi, đi rồi…mấy ai muốn quay trở lại? Vậy mà hôm nay tôi vẫn phải trở về đây. cảnh vật không khác xưa là bao nhiêu dù thời gian trôi qua bốn năm rồi…
Những khẩu hiệu: “Chào mừng thành công Đại hội Đảng 5,” “Đảng Cộng sản Việt Nam, Người lãnh đạo Tài Tình”, “Đảng Cộng Sản Việt Nam muôn năm…” lem luốc màu đỏ vì nước mưa, chảy dài xuống như những dòng nước mắt pha máu ngoằn ngoèo trên từng bờ tường loang lổ, cũ kỹ. Ngay phía dưới lại có hàng chữ mang tính “Pháp lệnh” bằng những lời thô tục “Cấm ỉa đái.” Có cả những nét chữ nguệch ngoạc chửi thề. Hình như không một ai để ý.
Ở cái ga xép èo uột gần tận cùng của đất nước này, những con người lam lũ, ngác ngơ, còn đang loay hoay với ký trà, bao gạo, rổ rá nhựa, nồi niêu xoong chảo, xấp vải hoa Chợ Lớn hoa xanh, hoa đỏ…Che che, giấu giấu, tránh con mắt dòm ngó của bọn Công an kinh tế. Chính sách của Đảng đổi mới rồi, tự do buôn bán nhưng người dân lại khổ vì sưu cao thuế nặng.
Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi không đến trại Tân Lập bằng đường sông nữa. Đạp xe trên bờ đê. Dắt xe đi bộ qua bãi cát lổn nhổn những vỏ sò, vỏ ốc. Băng ngang những thửa ruộng khô cằn của vùng đất miền trung du. Cái hình ảnh “quê em miền trung du, đồng chiêm lúa xanh rì” của một thời hoàng kim nào xa lắm, nay ở đâu? Giặc tràn về đốt phá thôn làng. Gia đình ly tán. “Vườn không nhà trống tàn hoang” còn trong trí óc non nớt của tuổi thơ tôi. Giờ đây, giặc nào đã làm cho miền Bắc điêu tàn?
Đảng Cộng sản Việt Nam, đỉnh cao của trí tuệ loài người! Ôi! mỉa mai thay những khẩu hiệu kêu to như những chiếc thùng rỗng! Đảng lãnh đạo tài tình làm sao để bao nhiêu năm đời ta có Đảng, bấy nhiêu năm Đảng phá nát tan? Để những người dân quê hiền hòa cởi mở trở nên ngu ngơ câm lặng đến thế kia sao?
Dân cư ở đây rất thưa thớt. Họ sống trong những mái nhà lụp xụp, vách đất, mái tranh. Mảnh vườn. Rào thưa. Khoảng sân đất. Giếng nước. Chiếc gầu…tất cả đều quá nhỏ bé, trơ trụi, xa lạ. Trẻ con gầy còm, ốm yếu. Quần đùi vá víu miếng nọ miếng kia. Cởi trần, ngồi nghịch đất. Không tiếng nô đùa. Không tiếng hát. Không tiếng nhạc của máy thu thanh. Không cả tiếng chim hót. Như một vùng đất chết.
Ba người anh cùng đi với tôi chuyến này đều là những thanh niên đầy nhiệt huyết của hơn ba mươi năm về trước. Thoát ly gia đình, mang tuổi trẻ của mình cống hiến cho đất nước. Để rồi khi biết mình bị lừa thì đã muộn. Cũng dòng sông Lô nắng vàng lấp lánh nhưng còn đâu tiếng hát rộn ràng? Cũng con đê này của những buổi chiều vai đeo ba lô từ chiến khu về, rầm rập bước chân.
Trong thời gian, “Hồi chuông ngân nga trong chiều thu ngập gió…Hồn ta chìm đắm tiếng chuông xa vời.” Ba người anh tôi ôn lại một vài kỷ niệm xưa. Tiếc nuối. Tôi làm các anh tỉnh giấc mơ: “Phải chi ngày ấy các anh không đi theo phong trào Thanh niên Cứu quốc thì ngày nay em đâu phải đi bốc mộ chồng ở một nơi đèo heo hút gió này!” Ba người anh im lặng. Họ như muốn quên đi những năm tháng sục sôi khí thế cách mạng. Yêu tự do. Yêu tổ quốc. Đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi đất nước. Chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày trở về giải phóng thủ đô Hà Nội. Những người bộ đội với tuổi hai mươi. Trẻ trung. Học thức. Hà Nội đã bừng lên một sức sống mới.
Hà Nội rực rỡ cờ hoa. Hà Nội tưng bừng tiếng hát. Không bao lâu, những cuộc đấu tố dã man diễn ra khắp nơi. Ông bác tôi bị đấu tố, dù có năm người con đi kháng chiến. Nghe tin dữ, các anh về quê xin Đảng khoan hồng. Không những không tha, họ còn xúi giục các anh tôi: phải giác ngộ cách mạng, phải đứng vào hàng ngũ nhân dân, cùng vạch tội, chỉ tên địa chủ, cường hào, ác bá. Ông bác tôi bị tù. Khổ sai lao động, Thất vọng, đớn đau nhìn bố vác cây, đào đất, khiêng đá, trộn hồ…Những người tù già này làm việc suốt ngày đêm để đạt chỉ tiêu biến khu đất hoang quanh hồ Bảy Mẫu, Hà Nội, thành một công viên mang tên Thống Nhất. Đến thập niên 1980 đổi thành công viên Lê Nin.
Cũng vì sự khổ nhục của người bác thân yêu mà bao lần ra Hà Nội là bấy nhiêu lần tôi không đặt chân vào công viên này. Cũng như tôi đã không đến vui chơi ở khu K4 Long Khánh, một địa điểm du lịch mới lạ của miền Nam. Vì nơi đây được tạo nên bởi những bàn tay của cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị Cộng sản tù đầy, hành hạ.
Các anh tôi, vài năm đầu “Sài Gòn giải phóng,” vì đường lối của Đảng, hay vì muốn các em của mình ở miền Nam sớm “giác ngộ” để hòa nhập ngay với cuộc sống mới, đã có những lần tranh luận. Bao giờ cũng trở thành lớn tiếng cãi nhau. Tôi đã làm các anh nhức đầu không ít. Lần cuối cùng, tôi không cãi lại các anh nữa. “Đảng đã cho các anh tôi sáng mắt sáng lòng.” Đó là lần một anh nói với tôi: “Người em không yêu làm em khổ, em đâu có đau bằng anh? Anh đã yêu, anh đã dâng hiến cả cuộc đời, mà ngày nay anh bị phụ bạc, anh bị lừa dối…” Một anh khác: “Viên gạch đã trót để vào xây tường, giờ có rút ra cũng bị vỡ tan. Thôi em ạ, không còn con đường nào khác!”
Trên con đê này, giữa khung cảnh hoang vắng của buổi chiều trung du, bốn anh em đi bên nhau. Thương cho thân mình. Thương cho các anh. Lý tưởng sụp đổ tan tành. Ngày mai đen tối.
Trời chạng vạng. Tôi đã bắt đầu đi những bước thấp bước cao. Quãng đường này làm tôi nhớ lại những lần vượt biên. Xuống ghe tại Nhà Bè khi thành phố còn chìm trong màn đêm. Lên bờ đi bộ băng qua bao nhiêu là thửa ruộng, vấp ngã bao lần mà không cảm thấy đau đớn vì thần kinh đang trong tình trạng căng thẳng: hồi hộp, lo sợ.
Lần này trên cánh đồng: mệt mỏi, chán chường. Cũng phải vài giờ nữa mới tới trụ sở Ban chỉ huy. Tiếng dế nỉ non. Xa xa ánh đèn leo lét. cố lê bước tới đó để xin ngủ nhờ qua đêm. Nhìn một căn nhà tương đối khang trang, chúng tôi vào gặp chủ nhà xin ngủ đỡ ngoài mái hiên. Nhưng cũng bị từ chối. Đang lo lắng không biết tôi có đủ sức đi tiếp hay không, thì như có phép lạ, một người đàn bà gánh lúa từ xa đi tới. Bà ta dừng lại: “Các bác tìm nhà ai thế?” Khi biết ý, bà ta mời chúng tôi về nhà. Bốn anh em mừng rỡ như người sắp chết đuối vớ được chiếc phao. Dù gánh lúa nặng trĩu trên vai, bà ta vẫn bước đi thoăn thoắt. Trong khi tôi lẽo đẽo theo sau.
Khi bà đẩy cánh cổng tre, bóng tối làm tôi không thể nhìn rõ một người đàn ông đang xếp lúa ngay đầu nhà. Ông ta không quay lại và cũng không lên tiếng đáp lại lời chào của các anh tôi. Trước thái độ lạnh nhạt đó, chúng tôi hơi e ngại. Trong lòng vẫn mừng thầm không bị đuổi ra.
Một gian nhà ba gian bằng tre sơ sài nhưng gọn ghẽ. Nhìn cách trang trí nhà cửa, nhìn bức tượng Chúa nho nhỏ trên bàn thờ cao, tôi có thể đoán chủ nhân không phải là người quê mùa. Tôi ôm bộ quần áo ra giếng. Những giọt nước mát lạnh làm tôi tỉnh táo lại. Trăng bắt đầu lên. Tôi đã nhìn rõ khung cảnh chung quanh. Mảnh sân hình chữ nhật. Khu vườn nhỏ. Chái bếp cuối sân. Ánh lửa bập bùng. Hàng cây cau vươn cao đón ánh trăng. Tôi liên tưởng tới hàng cau của khu vườn trước nhà tôi ở quê hương. Ngày còn nhỏ, tôi vẫn thường trèo lên nhanh như một chú mèo con để hái quả cau cho mẹ tôi têm trầu đãi khách. Trong không gian thoang thoảng mùi hương hoa thiên lý. Âm thanh tiếng đàn mandoline bản Valse Favorite vui tươi, tiếng hát chan chứa tình quê “Làng tôi xanh bóng tre. Hồn lắng tiếng chuông ngân. Tiếng chuông nhà thờ rung…” chợt khua động trong tôi ngày tháng êm đềm thời thơ ấu.
Tôi thở thật sâu để nén xúc cảm. Đêm yên lặng. Đêm mờ ảo. Tất cả đều rất mong manh. Một tiếng động nhỏ cũng đủ làm tan vỡ giấc mơ xưa thoáng đến với tôi, đưa tôi về thực tại. Tôi phải vào nhà để bàn chuyện ngày mai.
Tiếng cười nói làm tôi ngạc nhiên. Ông chủ nhà cùng ba anh tôi đang vui vẻ quây quần bên khay trà bốc khói. Thấy tôi vào, ông kéo ghế trịnh trọng mời ngồi. Tôi còn đang ngơ ngác trước thái độ thay đổi nhanh chóng thì một anh đã giải thích: “Ban đầu ông Tuyển tưởng anh em mình đi thăm nuôi tù. Bây giờ ở đây có tù hình sự (những thanh thiếu niên can tội cướp của giết người). Tù chính trị chuyển đi từ lâu rồi. Một số về trại Hà Nam Ninh. Đa số vào Nam.”
Ông Tuyển đặt ly trà thơm phức trước mặt tôi: “Được biết cô về đây bốc mộ cho chồng, chúng tôi vô cùng cảm kích. Gia đình chúng tôi xin hết sức giúp đỡ cô và các ông anh đây.”
Vầng trán cao. Khuôn mặt chữ điền. Cách nói chuyện lưu loát cùng dáng điệu từ tôn, cử chỉ lịch sự, chứng tỏ ông Tuyển là một người có một số vốn kiến thức về học vấn cũng như về xã hội. Ông cho biết có một người anh là linh mục trong một ngôi nhà thờ vùng đất đỏ Long Khánh.
Ông Tuyển đã sắp xếp chỗ ngủ cho chúng tôi. Để khách được tự do, ông Tuyển dặn dò vợ con và đi vào thôn tìm người quen chuyên việc cải táng.
Gian phòng khách rộng, sơ sài nhưng ngăn nắp. Giường tre, bàn gỗ mộc mạc, thô kệch, được hình thành có lẽ do bàn tay của chủ nhà. Tượng Chúa và tượng Đức Mẹ trên cao là một hình ảnh cảm động hiếm có trong những ngôi nhà tại miền Bắc. Theo như lời ông Tuyển, đời sống gia đình ông bắt đầu khá hơn kể từ khi hợp tác xã nhà nước tan vỡ. Lối làm ăn tập thể nhường lại cho lối khoán sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn phải nộp đủ cho nhà nước, cả nhà xúm nhau cầy cấy mới có gạo ăn.
Dưới nhà ngang, các con ông bà Tuyển đang đập lúa, giã gạo, sàng sẩy… Mọi người chăm chú làm việc, không tò mò để ý khách phương xa. Tôi mệt mỏi nằm thiếp đi trong chốc lát.
Khi tôi tỉnh dậy, trăng đã lên cao. Ông Tuyển vừa về tới. Tay cầm hai chai rượu và một bó hoa tươi. Ông cho biết đã tìm được một người rất thành thạo trong việc bốc mộ. Chai rượu này để rửa hài cốt. Tìm mua được rượu ở miền núi không phải là chuyện dễ dàng.
Bà Tuyển bưng mâm cơm từ nhà bếp lên. Chúng tôi trải chiếu ngoài hiên, ngồi ăn cơm dưới ánh trăng. Đĩa thịt gà luộc thơm mùi lá chanh thái chỉ rắc lên trên. Tô canh rau “tập tàng” – đủ mọi loại rau hái ngoài vườn – mát ngọt. Tôi không thể ngờ anh em chúng tôi được đối xử như một thượng khách ở nơi đây. Thế mới biết ở một nơi tưởng chừng như không có, ta vẫn tìm thấy một tấm lòng.
Qua một đêm ngủ với nhiều mộng mị, sáng sớm hôm sau, tôi và các anh đến Bộ Chỉ Huy. Có quãng đường đi được bằng xe đạp. Có quãng đường đá lởm chởm phải dắt bộ. Chỉ huy trại là người mới. Không phải Thiếu Tá Nguyễn Thùy tôi gặp lần trước. Hắn vồn vã thái quá, khiến tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Hắn kể chuyện, có một người ở nước ngoài, cách đây không lâu, về đây bốc mộ bố. cầm bình hài cốt lên xe, xe không nổ máy. Gọi xe ngựa đến kéo, con ngựa nhảy quớ lên không chịu chạy.
Nhìn hắn ba hoa, ngồi bỏ cả hai chân lên ghế, tôi hơi khó chịu. Nhất là cặp mắt hắn thỉnh thoảng lại nhìn vào mấy bao thuốc lá “555” anh tôi mang đến làm quà. “Ba con năm vừa nằm vừa ký”, cho nên bọn tôi mới được chấp thuận một cách dễ dàng.
Những chuyện hắn nói có thể xảy ra ở đâu, hắn nghe được. Hắn muốn nói đến đời sống tâm linh. Anh em tôi thì có rất ít thời gian. Cũng có thể sau một thời gian quá dài bị đè nén, những con người triệt để chống chủ nghĩa duy tâm ngày nay bắt đầu duy tâm hơn ai hết.
Xe Volga cọc cạch chở chúng tôi đi lên ngọn đồi, nơi an nghỉ của những quân nhân chế độ cũ. Ít ra từ ngày Việt Cộng muốn bang giao với Mỹ, đã có lúc họ bỏ được từ ngữ “ngụy quân ngụy quyền.” Nhưng tiếc thay những tên gọi này vẫn là vết hằn trong lòng người Việt.
Tôi ngồi đợi trong một căn nhà nhỏ dựng sơ sài bằng tre, nứa. Nền đất lồi lõm. Trên vách nhỏ treo đủ thứ khẩu hiệu, kế hoạch công tác hàng tháng, tuần…
Hình ảnh các lãnh tụ Cộng Sản thế giới và trong nước quá khổ so với bức vách, treo xộc xệch như sắp rơi. Đây là nơi làm việc của toán công an canh gác.
Cách đây bốn năm, khi tôi đến nơi đây nhận mộ chồng, cảnh vật chung quanh gọn ghẽ hơn. Hàng ngày còn có bàn tay bạn tù săn sóc. Giờ đây cỏ cây, dây leo chằng chịt, không nhìn thấy lối đi. Hơn một giờ đồng hồ trôi qua, tên công an cầm bản đồ nghĩa trang và các anh tôi trở lại trụ sở với gương mặt thất vọng. Không tìm thấy mộ vì cỏ cây che lấp cả một vùng rộng lớn. Tim tôi như muốn ngừng lại. Chẳng lẽ lại về không?
Tôi xin mọi người hãy cho tôi đến tìm. Tôi thầm cầu nguyện cũng như ở Sài Gòn, mẹ tôi và các em tôi đã cầu nguyện cho chuyến đi của tôi được tốt đẹp.
Kỳ lạ thay! Tôi chỉ vạch lá chui vào đúng một quãng ngắn là tìm ra mộ. Tôi reo to lên. Các anh tôi đứng ngoài không tin. Ngôi mộ có hai bia đá. Tôi lầm thế nào được. Một tấm bia tôi mang từ Hà Nội lên. Một tấm bia nữa của anh em bạn tù đẽo gọt bằng tay. Nét chữ khắc vào đá mờ đi vì rêu phủ.
Trong khi người thợ cải táng chặt cây cối chung quanh, tôi thắp nhang lui cui cắm trên từng ngôi mộ. Đêm mưa, cỏ ướt, ngửi thấy có hơi người, những con vắt nhảy ra, bám lấy chúng tôi. Máu chảy ròng ròng. Tôi muốn ngất người đi vì sợ. Cây cối quang dần. Dầu nóng tôi bôi đầy mặt, mũi, chân, tay, khiến những chú dế bé tí xíu cũng không dám nhảy ra đột kích nữa.
Một ít trái cây mua vội dọc đường, bó hoa ông Tuyển mua giùm, chúng tôi chỉ có những tấm lòng thành trước linh hồn người đã khuất. Người anh lớn nhất của tôi khấn thật lâu. Những cây nhang cháy rất nhanh, tàn cong vòng…khói nhang thơm tỏa ngát. Nhát cuốc đầu tiên bổ xuống đất, lòng tôi đau buốt. Tiếng cuốc, xẻng đều đều vang vọng giữa miền rừng núi hoang vu. Từng tảng đất bật lên, tâm hồn tôi như vỡ vụn. Cho tới lúc lưỡi cuốc đụng vào quan tài. Tôi hồi hộp. Các anh tôi nôn nóng.
Khi tôi ra đến Hà Nội, các bậc lão thành có trấn an: “Đất miền núi khô ráo, xương cốt lâu ngày sẽ tan đi. Phải chuẩn bị sẵn tinh thần: có thể đứng trước một cái hòm chỉ có đầy cát bụi!”
Thế cho nên khi những nhát búa đầu tiên bổ xuống để nạy nắp quan tài, tôi cứ giật thót mình. Một cảm giác đớn đau như lần đầu tiên nghe thấy tiếng đóng đinh vào quan tài bố tôi lúc liệm quan…
Gỗ áo quan dầy và chắc. Khi chiếc nắp bật lên, tôi lạnh người: chiếc chăn len màu đỏ! Suốt đêm qua, người anh lớn của tôi cứ chợp mắt là nằm mơ thấy xác chồng tôi quấn bằng mảnh vải màu đỏ. Gương mặt các anh tôi xúc động. Bóc lượt chăn len ra là quần áo. Hết lớp áo này đến lớp quần khác. Bạn bè đã dồn tất cả cho người chết mang đi. Nước mắt tôi ràn rụa. Màu xanh lá cây đậm của chiếc áo len mẹ tôi mua tặng, gửi trong năm ký lô quà đầu tiên ra Bắc. Chiếc sơ-mi trắng ngà có từng sợi chỉ xanh xanh, hồng nhạt, mang về Sài Gòn sau chuyến du học tại Mỹ năm 1971. Chai dầu gió, đôi giày ba ta…, tất cả tôi đã tự tay xếp vào ba lô trước ngày anh đi trình diện “học tập cải tạo”.
Không còn lầm được. Không còn ảo tưởng: “Đã trốn trại, còn đang ẩn trốn tại một nơi nào.” Tôi mất anh thật rồi! Thế là hết. Tôi khóc nức lên. Trời như nổi gió. Cỏ cây chao đảo. Đồi núi quay cuồng. Quanh tôi cảnh vật mờ đi…
Lâu lắm, khi tôi tỉnh lại, đống tro tàn của áo quần vừa đốt còn âm ỉ cháy. Trong một cái xanh to bằng gang dùng thổi cơm cho trại tù đã gẫy tay cầm, các anh tôi đã đổ bột nhang thơm trộn với rượu trắng để ngâm xương cốt. Người thợ cải táng cùng các anh tôi quấn giấy bao từng lóng xương, đặt từng mảnh vào trong nhiều túi ni-lông…
Không gian mênh mông yên lặng. Tôi lặng lẽ theo các anh tôi bước nhanh cho kịp chuyến đò cuối cùng…
Cầu không vận được thiết lập ngày mười chín, những ngày đầu đi thong thả, vô sáng chiều đi ngay, chỉ từ hai mươi hai, hai mươi ba mới phải chờ đợi, nhưng cũng chỉ trong vòng hai mươi bốn tiếng. Phi cơ C-132 cất cánh lúc đầu mỗi giờ, sau mỗi nửa giờ, có lúc thời gian còn thu lại ngắn hơn. Mỗi chuyến chở cả mấy trăm người, phi cơ bay thẳng từ Tân Sơn Nhất tới Guam. Khi máy bay cất cánh cũng lo vì không biết đi tới đâu, nhưng khi máy bay đáp xuống Guam, những bà Hồng Thập Tự chờ ở phi trường, sự tiếp đón cởi mở, những món ăn nóng được mang lại, thủ tục có phần đơn giản mang lại cho những người tị nạn rời khỏi Sài gòn thời điểm cuối tháng Tư đó sự vững tâm lớn hơn. Họ được chở tới trại Asan, những đoàn người đến trong những ngày đầu còn được tiếp đón bởi một ông Đại tá Hải quân và dàn kèn chào. Cầu không vận khởi đi từ cơ quan Mỹ D.A.O sang Guam kéo dài từ 19 tháng 4 đến cuối tháng. Ngày cuối tháng, khi cầu không vận này không còn hoạt động được nữa thì hàng loạt tàu thuyền ồ ạt từ Khánh Hội đi theo sông Sài gòn túa ra biển Nam Hải. Ngày chót có cả những chiếc sà-lan chở nhiều trăm người, còn nhiều hơn cả tàu Việt Nam Thương tín. Đoàn người tị nạn đường biển được Đệ Thất Hạm Đội Huê Kỳ chờ sẵn ngoài khơi bốc đi an toàn. Người được chở sang Subic Bay, người được đưa tới Guam. Người đến Phi trước thì sau cũng sang Guam. Người đến Guam hay một nơi khác sau chót cũng được đưa về một trại tị nạn trong nội địa của Mỹ. Như Pendleton. Như Arkansas. Như Philadelphia. Tại miền Nam Cali hay miền Đông nước Mỹ, đời sống an toàn, tiếp đón có tổ chức, đời sống của những người tị nạn đầu tiên chỗ nào cũng tương tự. Tuần tự thủ tục processing, một người bảo trợ Mỹ nhận lãnh. Gia nhập xã hội Mỹ với tương đối nhiều thuận lợi. Sự săn sóc của người hay cơ quan thiện nguyện sponsor, trợ cấp các loại không hạn định thời gian, tình trạng kinh tế Mỹ thời đó đang lên nên vấn đề công ăn việc làm không quá khó.
Hãy tưởng tượng bạn hụt đi những chuyến đó. Bạn vô D.A.O thì cầu không vận không còn hoạt động được nữa. Pháo kích phi trường đã khai diễn như những chiếc chầy khô cứng đã gõ trên sàn sân khấu báo hiệu vở kịch đã tới lúc hạ màn.Bạn dắt vợ con ra Khánh Hội, không chen lên sà-lan được, vả chăng chiếc cuối cùng đã ra đi. Lúc trở ra chiếc xe gắn máy của bạn đã bị lấy cắp. Bạn lạc lõng trên đường về của một chuyến đi hụt hay bạn đang ở nguyên vị trí và chờ lệnh. Những chiếc chiến xa T54 đã tiến vào thành phố. Cán bộ ba mươi đã lởn vởn trước cửa nhà bạn. Một tháng sau bạn đi trình diện học tập ba ngày. Lương thực mang đi đủ cho ba ngày. Ba ngày dài tới mười mấy năm.
2
Khoảng thời gian cuối thập niên bảy mươi, bạn hoàn tất học trình kỹ sư, hay bác sĩ, hay kế toán gia, công việc hội nhập diễn tiến xuôi chảy. Chiếc xe hơi nhà thờ cho bạn đã bán từ lâu và đã tậu chiếc xe thứ ba, chiếc thứ nhì cũng used car, nhưng chiếc này mới tinh. Các cháu vào Đại Học. Bạn thầm cảm ơn Thượng đế đã giúp cho bạn đến quê hương thứ nhì này không quá trễ vào lúc mới gần bốn chục, với nhiều cơ may và còn nhiều khả năng để tìm và tìm được một chỗ đứng tốt dưới mặt trời.
Hãy tưởng tượng bạn ở Long Giao một thời gian thì được đưa lên Pleiku. Một thời gian Pleiku sau đó là Thanh Hóa, rồi Bắc Kạn cho tới lúc bang giao giữa Việt Nam Cộng sản và Trung Cộng đứt gẫy bạn được đưa về Hà Nam Ninh. Xe chuyên chở di chuyển đêm, tù được cột vào nhau, cơm trộn bo bo, quản giáo thù nghịch và tàn ác, bản tự khai bạn phải viết nhiều chục lần. Khi còn ở Long Giao, người vợ có tới thăm. Khi bạn lên Pleiku bà ấy có tới, mặt xanh mướt gầy ốm, ba ngày đường không biết bao nhiêu ngày nhịn ăn nhịn mặc để có tiền xe có tiền mua quà tiếp tế cho chồng. Một năm, rồi hai năm một lần. Tới khi bạn bị chuyển ra Bắc Việt, thăm nuôi hoàn toàn gián đoạn. Có đến cả gần mười năm không nhìn thấy mặt vợ mặt con.
Hãy tưởng tượng sau chót bạn tới Mỹ, do chương trình có tên là H.O. Hãy tưởng tượng bạn đã gần tới tuổi sáu mươi, nhưng mái tóc đã bạc phơ, sức khỏe đã suy yếu như người vượt xa sáu chục. Bạn chưa đủ tuổi lãnh lương già 65, trợ cấp cho H.O. lúc trước 18 tháng, lúc này 8 tháng. Bạn ở chung với gia đình người em hai tháng thì ra riêng. Tiền trợ cấp trả tiền nhà xong thấy nhẹ nhõm quá.
Hãy tưởng tượng các cháu không đi làm nghề nghiệp chuyên môn như bạn bè cùng trang lứa, cũng không cần học xong mà chỉ bắt đầu lớp sinh ngữ cho người ngoại quốc E.S.L.
Hãy tưởng tượng sáng nay bạn không di chuyển bằng chiếc xe mới tinh có air bag mà bạn mua tháng trước để đi làm giấy tờ cho ngôi nhà mới mua, nhà này mua để đầu tư, nhà ở có rồi, mà bạn chỉ di chuyển chậm rãi bằng chiếc xe đạp dọc theo đường Bolsa. Bạn đạp từ khúc gần đường First cho đến góc đường Magnolia, đứng nhìn xe chạy chút chút rồi lại đạp xe về.
Bạn sẽ điện thoại chào mừng. Sẽ đến tận nơi thăm hỏi. Bạn sẽ đưa ra một bàn tay. Bạn sẽ cầu nguyện, sẽ khuyến khích, sẽ an ủi, sẽ cám ơn hay sẽ xin lỗi. Không biết, tùy bạn. Nhưng trước hết, bạn hãy tưởng tượng.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.