Post by Sơn râu 21 Feb 2024

Lân của Gia đình Phật Tử Đại Bi Quan Âm thưở sơ khai. Năm Kỷ Mão 1999 tổ chức tại Richmond


Các người mẫu Úc Việt trong tà áo dài

Post by Sơn râu 21 Feb 2024

Lân của Gia đình Phật Tử Đại Bi Quan Âm thưở sơ khai. Năm Kỷ Mão 1999 tổ chức tại Richmond


Các người mẫu Úc Việt trong tà áo dài

Post by Sơn râu 20 Feb 2024
Xuân Giáp Thìn 2024 tại Footscray Park Melbourne tiểu bang Victoria

Những tà áo dài Việt Nam không thể thiếu trong ngày Tết


Cựu quân nhân thành phần chủ yếu trong lễ thượng kỳ.



Một vị khách mời cựu quân nhân ngoại quốc?

Bàn thảo và sắp xếp cho lễ thượng kỳ

“Xuân đến đây với muôn ngàn thiết tha..”



Lá cờ Úc được Hướng Đạo Sinh chịu trách nhiệm

Cờ Việt Nam Cộng Hòa do Cựu quân nhân đảm trách


Thượng kỳ lá cờ Australia

Lá cờ tung bay trong gió

Lá cờ Việt Nam Cộng Hòa

Diễn văn của Ông Nguyễn Quang Duy Chủ Tịch Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Melbourne Victoria

Sơn râu & Quỳnh Trần trước cổng vào Hội Chợ Tết Footscray Park

Sơn râu & Sơn Phạm (bạn vong niên)

Sơn râu & Phúc Lư (bào đệ)

Nắng ấm và màu cờ quê hương

Các gian hàng trong Hội chợ

Mum trổ tài thiện xạ

Có lẽ thời điểm còn sớm nên vòng quay này chưa có trẻ em tham dự

Vòng quay chưa có khách

Xuân nhớ về Sài Gòn

Rồng trong lều của gian hàng

Gian hàng Thư Pháp

Tết nhớ về quê hương

Gian hàng của Hội Hướng Đạo Úc Việt

Một em bé đang đi trên cầu tre của gian hàng Hướng đạo

Thịt xiên nướng (ngon lắm!)

Chọi lon chưa có người tham dự

Tấm hình này do râu tôi chụp hôm nay khi đi trên phố Footscray thấy 2 tiên ông đang bày thế trận, nên ghé lại xin phép bấm vài tấm kỷ niệm.



Quý bạn đọc có thể coi cái Video Clip râu tôi post ngày hôm trước trên Youtube sẽ thấy nhiều hình ảnh hơn và có nhạc Xuân
petruskyaus.net
Đoàn Xuân Thu
Post by Sơn râu 20 Feb 2024

Bà con độc giả thương thiệt là thương của tui ơi! Giờ nầy 2:15 am, khuya thứ Sáu ngày 30, tháng Tám, năm 2019, tại Melbourne, tiểu bang Victoria, nước Australia.
Chỉ còn ngày mai, 31, tháng Tám là mùa Đông nó dông rồi. Nhưng trước khi nó dông, nó còn lạnh trối, để lại cho anh chút lạnh quéo râu (luôn nếu có râu); còn không có râu, khộng lạnh trên cằm thì nó lạnh chỗ khác!
Hút thuốc trong nhà em yêu cự nự lắm: “Hút thuốc vừa tốn tiền, vừa bị bịnh ung thư; nên có phì phà anh ra trước sân nhà mà hút. Em chưa muốn chết đâu nhe!”
Thương vợ mà, vợ kêu gì làm nấy; nên tui bèn ra trước sân đốt thuốc phì phà. Khói thuốc bay hay vì trời lạnh mà mồm tui phun ra toàn những khói. Nhiệt độ bên ngoài giờ xuống tới chỉ 3 độ C thôi.
Làm xong một điếu đã cơn ghiền, tui vô ngồi trước bàn phiếm, gỏ cóc cóc viết về mùa Giáng Sinh.
Chắc bà con nghĩ cái thằng tui bị khùng hay sao mà mới cuối mùa Đông Úc Châu tháng Chín lại viết về Mùa Giáng Sinh?
Hổng ‘dám’ khùng đâu! Người ta nói mùa Giáng Sinh tức là mùa, tức là căn theo thời tiết, hết mùa Đông ắt tới mùa Giáng Sinh. Thiên Chúa chào đời! Ngày Sinh của Chúa mang lại cho con chiên (lạc bầy) như tui biết bao niềm hy vọng trong cuộc sống vốn dĩ đã quá khổ đau nầy. Ý nghĩa Mùa Giáng Sinh là vậy đó!

Nhớ hồi xưa, quê mình tựu trường vào tháng Chín, học riết tới tháng Sáu mới bãi trường, nghỉ “hè” (tức ra hè mà nghỉ). Còn Úc tựu trường vào cuối tháng Giêng; bãi trường vào cuối tháng Chạp, cũng là nghỉ “hè”, ra biển chọc cá mập cho nó “phập”.
Niên học chia ra làm 4 học kỳ; cứ học 9, 10 hoặc 11 tuần là nghỉ xả hơi hai tuần, ở nhà “quậy”. Cuối học kỳ 4, nghỉ lâu nhứt tới 5 tuần cả thảy, để học trò ăn lễ Giáng Sinh, Merry Chrisstmas và mừng Năm mới, Happy New Year!
Mùa lễ hội của Mỹ bắt đầu từ lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day) tới giao thừa Tây. Còn ở Úc là từ Melbourne Cup (Đua ngựa), thứ Ba đầu tiên, tháng Mười Một tới giao thừa Tây.
So lại, Úc ăn rồi chơi nhiều hơn Mỹ. Hổng có gì lạ đâu, thưa bà con, vì Úc nổi tiếng làm biếng nhứt thế giới mà. Riêng người Việt tỵ nạn mình ở Úc, hổng cần đợi tới cuối năm mới nhậu, cứ cuối tuần là có ‘độ’, tuần nào y như tuần nấy.
Mùa lễ hội, Mít mình thì khoái ăn thịt gà ta; còn Úc khoái ăn thịt gà Tây. Nên đám gà ta cà nanh với đám gà tây “Tụi bây chỉ bị “xử đẹp” vào ngày lễ Tạ Ơn và lễ Giáng Sinh thôi hả? Thiệt là may mắn! Bọn tớ, Chúa nhựt nào cũng đi chầu ông bà ông vải hết trơn hè!”
(Có anh mình hơi bị tự ti mặc cảm nên cảm thán rằng Tây bao giờ cũng hơn ta. Ngay gà ta cũng thua gà Tây nữa! Nghĩ vậy không hoàn toàn đúng! Đâu phải ta lúc nào cũng thua. Tùy lúc chớ! Như tui nè hồi mới chân ướt chân ráo, bị Úc nó chơi gác, ăn hiếp dài dài từ trong sở ra tới ngoài đời. Nhưng ở đây lâu, mình mọc nanh, đâu có ngán đứa nào. Biết điều, nhậu nhẹt bù khú với nhau; cầm bằng ra vẻ ta đây là “Úc rặt”, ngon hơn; thì xin lỗi… nhà ai nấy ở, rượu ai nấy uống; vợ ai nấy “cự” vậy thôi. Làm gì nhau hè?)

Nhớ mùa Giáng Sinh năm ngoái, dắt em yêu đi mua sắm ở “High Point Shopping Centre” (thằng Mỹ viết là Center) trong tiếng nhạc rộn ràng Jingle Bells của mùa Giáng Sinh.
Trong siêu thị, có Santa Claus ngồi để bà con mình chụp hình kỷ niệm (có trả tiền, dĩ nhiên). Santa Claus gọi tui bằng “bro” tức “brother” (anh); trong lúc gọi em yêu của tui bằng “cháu”. Em yêu khoái quá Trời vì nghĩ mình vẫn còn thuở thanh xuân; chẳng qua em mới vừa nhuộm tóc.
Còn tui, giận xanh râu luôn! “Ê! Santa kỳ thị tuổi tác phải không?” “Boss” của chú mầy là ai? Kêu nó ra đây để tao chính thức “còm len” (complain than phiền) một chút coi!”
Santa nghe tui hăm như vậy, mặt xanh chành như đít nhái, vì sợ mất “job” nên giả lả là: “Take it easy mate!” (Thôi! Bỏ qua đi Tám!)
Tối về, khi em yêu của tui đã ngáy “ò ó o”, tui vẫn còn ấm ức, tức, nên sau vài ly rượu đỏ; lên Facebook, tui gọi cho thằng bạn học cũ bên Little Saigon USA để trút bầu tâm sự. Ai dè nó cũng va vào hoàn cảnh đau đớn như tui.
“Để ăn mừng lễ Giáng Sinh, kiểu Mỹ, bắt chước thần tượng Sở Khanh, mày râu nhẵn nhụi; áo quần bảnh bao, tao bèn đi hớt tóc đầu đinh, xong còn nhuộm đen kịt, không quên xức nước hoa “Xà neo” ba số 5. Mặc cái quần jeans mới nè, có xé te tua ở đầu gối, hết 150 đô, cái áo chim cò mới có chữ “Free hugs” (ôm miễn phí) nè hết 100 đô; đôi giày thể thao Adidas gần 200 đô. Xong dung dăng dung dẻ, dắt trẻ đi chơi, đưa em xuống phố trưa nay đang còn nhức mỏi hai vai.
Sở dĩ đóng bộ đàng hoàng như vậy vì tao muốn ‘xứng đôi vừa lứa’ với em yêu, mái tóc người vợ trẻ, từ ‘Hốc Bà Tó’ Việt Nam tao khều ra, rồi lãnh qua đây.
Hai đứa ‘tính tình tang’ lang thang vô siêu thị. Em đòi chụp hình Giáng Sinh ở Mỹ để gởi về Tía Má em bên ấy an tâm là em đang sống trong một cuộc đời nhung lụa ở cái xứ tư bản giãy chết nầy.
Ôi muốn là chiều! Dù chụp chỉ mấy tấm hình mà bay hết một ông “Benjamin Franklin”. Trong lúc móc chi tới 100 đô, đau quá; thì em yêu lại khoái quá chừng vì được Santa gọi là cháu; còn hỏi em có muốn ngồi lên đùi nó để chụp hình kỷ niệm hay không?
Tao trừng mắt nhìn, em cụp xuống, hổng dám ho he gì ráo; xong tao chuyển đôi mắt hình viên đạn qua Santa thì bất ngờ thay, “giả” phân bua bằng tiếng Việt: “Con giỡn chút chơi mà ghen tuông gì ông Ngoại?”
Tao ngạc nhiên đến ‘đứng hình’ luôn. Người Việt mình ốm yếu nhỏ con, thì làm sao kiếm được cái ‘job’ mập, làm Santa Claus, cho được chớ?

Santa Claus ‘dê xồm’ nầy sợ tao ghen, nóng mặt lên là nó mũi ăn trầu cái đầu xỉa thuốc; bèn tìm cách làm tao bớt giận bằng câu chuyện làm quà là: “Từ hôm Lễ Tạ Ơn là con Mỹ đen, vợ cháu đã tẩm bổ bằng gà lôi đút lò rồi. Ngày nào cũng gà lôi và gà lôi, bụng lồi lên nhưng trái khinh khí cầu. Mà nó cứ dụ: ‘Honey! Honey!’ Ráng ăn đi, cho mập cho có da, có thịt hai đứa mình giống hịt…mới được! Chớ đứng gần nhau cứ số 1 và số 0 hoài, kỳ quá. Hai nhờ cái thể hình ‘ú nu’ như vậy mới kiếm được ‘job’ mập, làm Santa Claus, thêm chút đỉnh tiền để bánh mì bơ cho bầy con lủ khủ, ăn như xáng xúc! Vợ chồng dẫu cày sâu cuốc bẫm suốt năm chỉ đủ cái bỏ vào mồm. Phép thường niên 4 tuần, năm, ‘honey’ cứ tụ bè tụ đảng ăn nhậu hoài thì trước sau gì nhà nầy cũng thành ‘homeless’!”
Nhưng công bằng mà nói: tay Santa Claus gốc Mít nầy nhận xét cũng hổng có trật!
Hai đứa mình giờ cũng già rồi. Giống như những trái nho nhỏ của cây thông Giáng Sinh, chủ yếu để trưng bày, trang trí coi chơi; chớ đâu còn làm ăn gì được nữa?
***
Do đó, thưa bà con, tui sẽ ăn Giáng Sinh theo Mùa. Cuối mùa Đông nước Úc chuyển qua Mùa Xuân, tháng Chín tui ăn và nhậu. Sau đó tui sẽ ăn Giáng Sinh theo ngày, ngày 25, tháng Chạp, cho giống với người ta. Vụ kia chỉ để trang trí; đời chỉ còn ăn với nhậu mà thôi! Ăn càng nhiều nhâu càng nhiều càng khoái thì ngu sao mình cữ hé bà con!
Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.
sangtao.org
Hồ Đình Nghiêm
Posted 02/01/2019
Post by Sơn râu 20 Feb 2024

Tôi không biết làm thơ. Có viết được một đôi bài đăng báo, chị tôi đọc thấy và bảo “cái này mà gọi là thơ ư?”. Ai chỉ trích thì bụng tôi không vui nhưng khi nghe chị tôi nói, tôi buộc phải đưa tay ra sờ sau ót. Chị tôi đọc nhiều sách, yêu thơ rất mực và có một trí nhớ đáng nể. (Chị từng phê bình là văn viết của tôi có nhiều điển tích bị trích dẫn sai, liền mang sách ra đọc rõ ngọn ngành; nói có sách, mách có chứng, hết đường chối cãi). Thời nữ sinh, chị chép tay nhiều bài thơ tiền chiến trong một tập giấy xanh, lên tới hai ba cuốn, nâng niu. Chị gieo cho trí óc dại khờ tôi dạo nọ một hoài nghi: Có phải thơ là món cần thiết?
Người ta sống thở có cần tới thơ không? Cần Thơ cũng là tên gọi một thành phố mà ngày đó tôi chưa có cơ may ghé thăm qua. Khi bị đẩy ra khỏi nước, đôi khi an lành ngồi trên cuộc đất này đâm nhớ quàng xiên về chốn xưa. Ai đâu ngờ được sự vận hành của cuộc bể dâu, giá mà ngày cũ được rộng cẳng xuôi Nam, thăm thú, nhìn ngó cho thoả biết bao thành phố “gấm vóc” thì khi đã già đầu, tiếc nuối đi kèm với hối hận có vơi bớt phân nao?
Sau 1975, nhà thơ Bùi Giáng có làm ra bốn câu (viết theo trí nhớ):
“Tôi gọi Cần Thơ là cần thở
Cần Thơ ơi cần thở đến bao giờ?
Tôi gọi Bình Dương là bình dưỡng
Dượng dì ơi có thương nhớ con không?”
Vào năm 1965 an lành, tại một ngôi trường Trung học ở Cần Thơ, có một nữ sinh học lớp đệ Nhị, mang tên Lý Thị Kim Xương đã viết nên một bài thơ. Từ một cô gái (17, 18 tuổi) ẩn mặt, bài thơ “Thư Cho Anh” đã mang chị Lý Thị Kim Xương thoát khỏi Cần Thơ, vang danh ra chốn xa, kể cả hải ngoại giờ này. Tôi xin mượn nguồn từ nhà văn Trần Hoài Thư để chép lại bài thơ ấy, ra đây, chỉ thế tấm gương tự soi vào mặt mình: Học lớp đệ Nhị (lớp 11, sẽ thi Tú tài Một) tôi vẫn còn là thằng học sinh ngây thơ, nhút nhát, yêu chùng thương vụng chẳng dám biểu lộ, hổ ngươi chịu kém anh thua chị cả đoạn đường dài. Theo cảm nhận riêng tôi, bài thơ này quá tuyệt, có muốn nói khác cũng thừa bởi tự thân bài thơ mang thứ giá trị mà qua thời gian, mãi còn đó là nụ tường vi chưa phai nhạt hương mùi:
THƯ CHO ANH
anh nghĩ gì khi người ta nói yêu em?
khi trời mưa người ta đưa em đến trường
người ta bảo người ta thường hay khóc
vì em nhìn người ta quá dửng dưng
chủ nhật người ta đi xem lễ
anh nghĩ gì khi người ta ngồi gần em?
người ta đọc kinh khe khẽ
em nghe người ta đọc tên em
mai nhớ về thăm em nghe anh!
cho người ta hiểu em không sống một mình
nếu người ta yêu thì phải yêu hai đứa
(yêu em và yêu anh)
người ta yêu em anh có buồn không?
nhỡ một mai em gọi người ta bằng chồng
anh có còn yêu em không nhỉ?
(chết! người ta đang nhìn em ngoài song).
LÝ THỊ KIM XƯƠNG
Bài thơ ra đời năm 1965. Nếu vậy thì tác giả giờ này đã là tuổi hạc, tóc bạc phôi pha. Giáng Sinh vừa rồi tôi không đọc-kinh-khe-khẽ nhưng tôi có đọc tên Lý Thị Kim Xương. Tôi nghĩ, bạn làm thơ, nếu hay một vài, hậu thế sẽ có người mang ra đọc thầm. Tôi không rõ Lý Thị Kim Xương là tên thật, hay đó chỉ là bút hiệu của tác giả, dẫu sao tôi có cảm tình với danh xưng khác lạ kia.
Kim Xương sáng tác có nhiều không? Chị ra sao giờ này? Chị vẫn ngụ ở Cần Thơ? “Nếu người ta đọc tên Xương khe khẽ chị có buồn không?”.
Cần thơ? Thế kỷ trước, khi báo giấy còn sống hùng sống mạnh, người ta rất cần đến thơ. Một bài thơ là thứ xét thấy “hợp lý” nhất dùng để “điền vào khoảng trống” một trang báo. Người ta tính toán độ dài có ở câu chữ hòng “ăn” với chỗ trống kia mà chẳng thiết tới nội dung thơ ấy muốn diễn đạt về điều gì. Rẻ rúng. Tuỳ tiện. Coi thường, vô tội vạ.
Thế kỷ này, hôm nay, khi nhà nhà đều hứng thú với thế giới ảo, ai ai cũng có facebook, người ta có còn cần thơ hay chúng sinh cần thở? Ai đó đã chụp lại một vuông giấy mà bề mặt ghi ra thứ nội dung “đáng sợ” rồi post lên (nguyên văn): “Thằng Nguyễn Văn Mít. Nếu mày không trả nợ. Tụi tao sẽ tag thơ vô phây búc của mày”. Trong cõi hỗn mang đó, rõ ràng thơ đã trở thành một thứ vũ khí lợi hại mang ra để đe nẹt, cảnh báo, dằn mặt con nợ. Hơn cả thư rơi, thư nặc danh, black mail, thơ nào khác gì đao, kiếm, a-xít, kim tiêm có nhiễm bệnh sida? Không phải vô tình, Bùi Chí Vinh từng viết nên:
“Mới đầu ta định làm thơ
Sau cùng nghĩ lại giặt đồ hay hơn”.
Lao động tay chân có khi mà thiết thực, “hay hơn” ngồi động não dệt nên vần điệu. Để thu hút số đông, giờ này người làm thơ “chịu khó” lùng sục trên mạng cố tìm lấy được một tấm ảnh “mát mẻ”, chụp hình một cô bé phơi bày da thịt hở hang xem đó là thứ phụ kiện cần thiết, minh hoạ, cộng hưởng với tấc lòng của thi nhơn.
Một quan chức có quyền thế ở Việt Nam phán: “Thơ trên phây búc toàn cả thơ rác”. Lời ông ta đã gây ra sự phẫn nộ lây lan trong cộng đồng nhiễu nhương ấy mặc dù ở Việt Nam người ta vẫn truyền khẩu câu:
Gặp nhau tay bắt mặt mừng
Rượu chè thì được nhớ đừng tặng thơ.
Chao ôi, nghe luống những ngậm ngùi! Giá mà có ai rộng lượng tặng tôi một bài thơ tựa như “Thư Cho Anh” của Lý Thị Kim Xương thì thằng tôi sẽ bỏ thói rượu chè, sẽ trân quý thơ, xem món quà nọ là vô giá, sống bỏ bụng chết mang theo. Ở phương Tây nói chung, tất cả những người sinh hoạt trong lãnh vực sáng tác nghệ thuật đều có chung một nhận định, rằng nên sắp hạng thi ca là thứ đứng hàng đầu. Ví dụ như lời tâm sự của nhà văn William Faulkner: “Tôi là một thi sĩ thất bại. Có thể là các tiểu thuyết gia đầu tiên đều muốn làm thơ, thấy rằng mình không làm được rồi mới thử viết truyện ngắn, là món khó khăn đứng sau thơ. Viết truyện ngắn cũng hỏng luôn, rốt cuộc họ mới quay ra viết tiểu thuyết”.
Tuổi học trò đã vuột trôi, đến tuổi nhi nhĩ thuận tôi cũng chẳng làm được một bài thơ cho ra hồn. Tôi nghĩ đến chị tôi, về lời cảnh báo không sai trật mà chị từng nhận xét, ngầm khuyên nhủ tôi đừng làm thơ nữa. Tôi cũng nhớ tới ông Mao Trạch Đông: Các đồng chí cứ ca ngợi chế độ cho nhiều vào, thế nào trong hằng hà ức triệu các sáng tác kia cũng nhặt ra được một bài thơ hay, chí ít.
Năm mới, nhà nước phía bên kia biển sẽ ban hành luật an ninh mạng. Nó thành lập để thế cho một cái còng, một gọng kìm hầu siết chặt, ngăn ngừa những lời lẽ phản động, bêu rếu nói xấu chế độ. Nếu nó hoá thân là một cái chổi thì nó không tài nào quét sạch “thơ rác”. Biết đâu, khi bà con chí thú tạo ra rác, bà con quên đi phần nào thứ hiện thực trái ngang đang diễn ra thường nhật chứa lắm thương đau. Xã hội nhờ “rác” mà làm nguội, tạm lắng bớt những oan ức, thôi diễn ra cảnh xuống đường biểu tình ra yêu sách dân chủ này nọ. Hãy để bà con vùi đầu sống trong thế giới ảo, nơi họ được làm vua không ngai.
Người ta yêu thơ anh có buồn không?
Nhỡ một mai người ta xem Thơ là thứ cần thở
Bình Dương thiếu dưỡng khí thơ bỏ trốn
Em thôi làm thơ anh mừng vui chăng?
Chủ nhật người ta đi xem lễ
Nghe tiếng nguyện cầu đất nước bình yên.
Thức trên gọi là tức cảnh sinh tình, mang thơ Lý Thị Kim Xương ra nhào nặn lại. Điều này chẳng hay ho gì, bạn chớ nên làm loài ốc mượn hồn. Bạn nên tự tạo ra được một cái vỏ bọc, chữ dùng trong nước kêu bằng “gây được thương hiệu riêng”. Tôi yêu hai câu của Hồ Dzếnh, bởi trước sau, nó luôn hợp với tâm cảm tôi mang:
Mộng tàn nước chảy mây trôi
Tôi lui hồn lại nhưng đời đã xa.
Hồ Đình Nghiêm
baovecovang2012.wordpress.com
Huy Văn Trương
Posted on April 21, 2019 by Lê Thy
Post by Sơn râu 20 Feb 2024

Tập 2
Chương 1
Bát nhã tâm kinh
Chỉ mới lơi tay quạt, chợp mắt được chút xíu, tôi giật mình thức giấc vì tiếng kêu của một đàn muỗi đói đang rình rập gần đâu đó. Những con muỗi tinh ranh quỷ quái, chỉ chờ tôi ngừng tay là chúng lẹ như chớp, hè nhau đáp xuống hút máu của tôi và Cúc rồi bay mất tiêu, để lại những mụn đỏ ngứa ngáy trên tay trên cổ. Không muốn bị muỗi đốt, tôi chỉ còn một cách duy nhất là thức để quạt muỗi chờ trời sáng. Càng chờ, thời gian như càng dài ra, một giờ trôi qua mà tôi tưởng như một năm. Để giết thời giờ, tôi nhìn cây kim dài bò chầm chậm quanh mặt kính nơi cái đồng hồ đeo tay của mình, rồi đếm theo từng tiếng tích tắc âm vang trong đêm khuya vắng lặng. Cuối cùng vì mệt mỏi quá sức, tôi thiếp đi lúc nào không biết, mặc cho lũ muỗi đói tha hồ hút máu.
Chập chờn trong giấc ngủ nửa mê nửa tỉnh, tôi mơ hồ nghe tiếng chuông chùa nương theo cơn gió thoảng, vang đến bên tai.
Bong.. Bòng ..Bong
Tiếng chuông êm đềm, khoan thai ngân dài trong đêm vắng rồi quyện vào bầu không khí tĩnh mịch, bao trùm lấy khoảng không gian chật hẹp quanh tôi. Hình như, tiếng chuông mà tôi nghe được là từ trong tiềm thức xa xăm vọng lại thì đúng hơn.
Boong.. Boòng ..Boong
Đúng rồi, đúng là tiếng chuông chùa Sư Nữ Linh Phong ở xóm Trại Hầm của tôi. Nhà tôi ở đầu xóm, chùa Sư Nữ ở cuối xóm.
Ngày xửa, ngày xưa… xưa lắm rồi, lúc mà thuở trời đất còn mang mang trong trí nhớ, khi tôi học lớp nhì, lớp nhất ở bậc tiểu học, cứ vào những ngày rằm hoặc mồng một, má tôi thường dẫn tôi đi lễ ở chùa Sư Nữ. Đó là ngôi chùa nằm trơ trọi trên đỉnh một ngọn đồi giữa rừng thông xanh, quanh năm chim kêu gió hú, nghe đến buồn hiu hắt. Chùa vốn đã nhỏ lại được làm bằng gỗ, trải bao năm tháng dãi dầu mưa nắng, màu gỗ đã xuống sắc khiến cho ngôi chùa trông cũ kỹ, nghèo nàn đến tội nghiệp. Nếu không nhờ mái chùa uốn cong, được lợp ngói âm dương với hai con rồng bằng gỗ chạm trổ rất tinh vi gắn ở hai đầu nóc chùa, người ta có thể tưởng lầm đó là một căn nhà của cư dân trong xóm.
Lần đầu tiên nhìn thấy ngôi chùa ẩn mình trong một khu rừng quạnh hiu thanh vắng, hình ảnh ấy, đã ăn sâu vào tâm khảm của một đứa bé mười tuổi như tôi. Vì chùa ở quá xa thành phố, cho nên chỉ vào những ngày lễ lớn hoặc Tết Nguyên Đán, mới thấy khách thập phương từ Đà Lạt hoặc những nơi khác đến viếng chùa. Những ngày còn lại, hầu hết thiện nam tín nữ, đi dâng hương lễ Phật tại chùa Sư Nữ đều là người dân ở trong xóm Trại Hầm của tôi. Lễ vật của dân trong xóm dâng lên chùa có gì đâu ngoài vài nải chuối sứ hãy còn xanh, dăm ba trái mận vừa chín tới, mấy củ khoai đào ở sau vườn cọng thêm tấm lòng thành kính của họ. Tất cả chỉ có vậy, không còn gì khác.

Chùa Yên Tử-Quảng Ninh– Hình minh họa
Má tôi là một phật tử thuần thành, đi lễ chùa và niềm tin vào Đức Phật, với bà đó là hai chuyện không thể tách rời. Lần nào cũng vậy, trước khi đi lễ, má tôi thường ra mảnh vườn sau nhà đào một ít khoai lang, bà cẩn thận lựa những củ to lớn tốt đẹp, sắp riêng vào một cái rổ nhỏ đem lên cúng chùa, những củ còn lại còi cọc xấu xí, bà để ở nhà luộc cho tôi ăn sáng. Má tôi cũng không quên cắt một ít bông Vạn Thọ giao cho tôi ôm, theo bà lên chùa.
Tôi theo má dâng hương lễ Phật, rồi ngồi im lặng nơi chánh điện nghe tiếng tụng kinh gõ mõ, đều đều bên tai. Một đứa trẻ năng động, ham chạy nhảy chơi đùa như tôi, phải ngồi im một chỗ để nghe kinh, đúng là một cực hình. Tai nghe nhưng đầu óc của tôi lại lang thang đâu mãi tận đầu làng cuối xóm với mấy đứa bạn, khi thì chơi bịt mắt bắt dê, lúc thì đá banh hoặc kéo nhau xuống cái trũng sâu bên kia đồi bắt dế. Người một nơi mà hồn một nẻo, đó là tâm trạng của tôi khi ngồi trong chùa. Tuy vậy, chuyện nghe kinh cũng không khiến tôi đau khổ bằng phải ăn cơm trưa tại chùa, đó là những bữa ăn đáng nhớ trong đời. Nhà tôi vốn đã nghèo, nhưng trong bữa cơm cũng có được vài con cá hấp kho mặn to bằng hai ngón tay, cái trứng vịt luộc dằm trong chén nước mắm ớt dùng để chấm rau luộc. Và một nồi cơm trắng với những hột gạo chín đều, nở bung khi xới ra chén. Trong chảo cơm của chùa, cơm có màu vàng lại thoang thoảng mùi ẩm mốc, một thau nhôm đựng rau lang luộc mà trong đó nước nhiều hơn rau. Tôi gắp cọng rau luộc, chấm vào tô nước muối, ăn với những miếng cơm bở rệt lạt nhách. Chê cơm của chùa nhưng tôi phải cố ăn cho được hai chén cơm đầy, vì cái bụng đói của mình. Lẽ dĩ nhiên tôi nhai và nuốt cơm một cách khó khăn, khổ sở. Không biết gương mặt của tôi nhăn nhó, xấu xí như thế nào nhưng sau bữa ăn, thừa lúc mọi người lo dọn dẹp, lau bàn rửa chén, Sư bà trụ trì giúi vào tay của tôi khi thì trái chuối sứ chín rục ngọt lịm, lúc thì trái quít nho nhỏ chua chua. Tuy còn nhỏ nhưng tôi cũng biết chùa quá nghèo, có phải Sư bà đã nhịn phần ăn của mình cho tôi hay không? Điều ấy tôi không thể xác quyết được. Tôi chỉ biết là với đôi mắt đầy lòng nhân từ độ lượng của Sư bà lúc cho tôi trái chuối, khiến tôi thấy hương vị của trái chuối thơm tho, ngon ngọt hơn bội phần.
Sau này khi lớn lên rồi vào lính, tôi đã đi nhiều nơi, ăn nhiều món ngon vật lạ, tham dự những bữa tiệc mâm cao cỗ đầy với xôi thịt ê hề, bia rượu rót tràn ly thế nhưng hương vị trái chuối của Sư bà cho tôi ngày nào, vẫn là món quà ngon nhất, món quà mà tôi nhớ mãi suốt đời.
Thời gian âm thầm lặng lẽ trôi mau, chưa kịp ngoảnh mặt nhìn lại, tôi đã bước chân vào trung học. Cũng trong khoảng thời gian này, chùa Sư Nữ đang bắt đầu xây lại bằng gạch, to lớn hơn, nguy nga bề thế hơn xưa rất nhiều. Mái chùa được lợp ngói đỏ mới tinh, hai con rồng gỗ cũ kỹ trên nóc chùa được thay thế bằng hai con rồng to lớn, đúc bằng xi măng khảm sành sứ, với nước men bóng loáng đủ màu. Cổng Tam Quan trước chùa, tuy không lớn lắm nhưng với lối kiến trúc hài hòa độc đáo, làm tăng thêm vẻ uy nghi trang nghiêm của chùa. Phật lịch 2505 là năm mà ngôi chùa mới đã xây cất xong hoàn toàn, năm đó tôi đang học lớp đệ lục trường nam trung học công lập Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Vì trường ở cách xa xóm nhỏ Trại Hầm của tôi hơn chục cây số, cho nên tôi phải dùng xe đạp để đi học.
Một ngày của tôi thường bắt đầu từ lúc 5 giờ sáng, khi tiếng chuông công phu của chùa Sư Nữ từ cuối xóm len lỏi qua rừng thông xanh vọng đến đầu xóm. Tiếng chuông như một cái đồng hồ báo thức, đã đánh thức tôi dậy. Buổi sáng trời Đà Lạt lạnh tê tái, tôi quấn mình trong cái mền cũ, đi ra sau hè múc một gàu nước từ trong cái lu bằng sành, đổ vào cái thau nhôm để rửa mặt, đánh răng. Xóm Trại Hầm của tôi chỉ có ba vòi nước máy công cộng được đặt ở đầu xóm, giữa xóm và cuối xóm, cho nên nhà nào cũng gánh nước về chứa trong lu để dành dùng cho cả ngày. Nước trong lu để qua đêm ở ngoài trời trở nên lạnh cóng, lạnh đến độ khi chạm tay vào nước, tôi có cảm tưởng máu trong tay của mình muốn ngưng chảy.

Chùa Hương– Hình minh họa
Sau khi làm vệ sinh cá nhân, tôi ngồi vào bàn ăn. Ba tôi là thợ mộc, thế nhưng cái bàn ăn của nhà tôi với dăm bảy miếng gỗ thông ghép vào nhau, long đinh, xộc xà xộc xệch, trông thật tội nghiệp. Có một lần, tôi tình cờ thấy má tôi nhìn cái bàn rồi bà lẩm bẩm một mình “Thợ rèn xài dao cùn”. Tôi nghe má tôi nói nhưng không hiểu bà muốn nói gì, bởi vì một cái bàn cũ mèm, xấu xí, có liên quan gì đến ông thợ rèn đâu mà má tôi lại nói như là than thở. Tôi nhìn trên bàn, mấy củ khoai luộc èo uột quặt quẹo, nhỏ bằng ngón chân cái đựng trong một cái tô sành cũ rích, sứt mẻ nhiều chỗ. Đó là phần ăn sáng mà má tôi đã dọn sẵn cho tôi. Tôi quấn chặt cái mền quanh người mong tìm chút hơi ấm, rồi thong thả thưởng thức bữa ăn sáng. Tôi phải nhét cho đầy cái bao tử của mình để chút nữa lấy sức đạp xe hàng chục cây số đến trường, có bao nhiêu khoai lang tôi ăn sạch sẽ. Một hôm, khi đã ăn hết khoai mà tôi vẫn còn thấy đói. Nhìn đống vỏ khoai trong tô, khiến tôi nhớ đến những củ khoai tốt đẹp mà má tôi đã đem đi cúng chùa, điều đó cho thấy, má tôi quý mến ngôi chùa đến mức nào. Sau một hồi suy nghĩ, tôi bốc một ít vỏ khoai ăn thử. Vỏ khoai tuy dai dai nhưng cũng có chút ngòn ngọt, tôi từ từ ăn sạch luôn mớ vỏ khoai trong tô nhờ vậy mà tôi biết được một điều, khi đói ăn vỏ khoai cũng không tệ lắm đâu. Từ đó về sau, khi ăn khoai tôi có thói quen ăn luôn cả vỏ và coi đó là chuyện bình thường. Nếu nhà hết khoai, má tôi làm cho tôi chén cơm chiên hoặc bà nấu cho tôi vài chén cháo. Với tôi, thứ gì cũng được, tôi ăn tuốt, miễn sao đầy bụng là tốt rồi. Sau bữa ăn sáng đầy khiêm nhường, tôi thay quần áo, đi lấy cặp vở cột vào cái yên sau của xe, thêm một lon gô lưng lửng cơm nguội trong đó có vài con cá cơm to bằng ngón tay út kho mặn. Đó là phần ăn trưa của tôi tại trường. Riêng về nước uống, tôi không cần phải mang theo, vì đã có vòi nước máy công cộng ngay bên hông nhà của thầy Tổng giám thị.
Khi đã chuẩn bị mọi thứ xong xuôi, tôi dẫn chiếc xe đạp ra khỏi nhà, đẩy xe men theo lề đường của con dốc cao ngất trời, dài lê thê lên đến khúc đường Lê Thái Tổ bằng phẳng, sau đó mới bắt đầu đạp xe đi học. Buổi sáng khi sương mù còn giăng mờ khắp nẻo, tôi mặc hai cái áo ấm, cái còn lành lặn ở trong, cái rách ở bên ngoài. Sở dĩ tôi mặc như vậy vì lúc đến trường, tôi chỉ có việc cởi cái áo rách ra, cất vào cặp rồi vào lớp học.
Một mình trên chiếc xe đạp lao đi trong sương mù lạnh ngắt, giữa không gian bao la một màu trắng sữa, tôi nhớ đến thầy giáo dạy anh văn của tôi vừa du học bên Anh trở về. Thầy Hạnh, với bộ vest nỉ xám, đôi giầy da bóng loáng, cặp kính trắng trên gương mặt thông thái nghiêm nghị. Trong giờ học, thầy thường đi tới đi lui trên bục gỗ, miệng giảng bài nhưng trên tay lúc nào cũng là cái tẩu, thỉnh thoảng thầy lại đưa lên miệng bập bập vài hơi, lúc ấy trông thầy giống như là một nhà quý tộc Ăng Lê, chứ không phải là một ông thầy giáo dạy Anh văn ở một tỉnh lẻ. Thường thì sau giờ học, còn dư độ mươi phút, với giọng nói khoan thai từ tốn, thầy kể cho chúng tôi nghe những điều mới lạ về cuộc sống đầy lý thú nơi xứ người. Và, điều đáng nhớ nhất vẫn là sương mù Luân Đôn, sương mù ở đó dày đặc đến độ đứng cách xa chừng vài mét, chỉ thấy một cái bóng mờ. Thầy nói “Các em có biết không, rất nhiều lần, thầy đi trong sương mù Đà Lạt mà cứ ngỡ là đang còn sống ở Luân Đôn”. Rồi, lần nào cũng vậy câu nói cuối cùng của thầy vẫn là “Sương mù Luân Đôn chỉ được cái làm nguy hiểm cho giao thông, chứ chẳng được cái tích sự gì, so với sương mù Đà Lạt lãng đãng giữa rừng thông, Đà Lạt quả thật là đẹp tuyệt vời.”
Riêng tôi, sương mù Đà Lạt tuy có đẹp thật nhưng lại mang theo cái lạnh buốt đến cóng tay, và khi tôi đạp xe được vài cây số tới nhà Thủy Tạ, chiếc áo ngoài của tôi đã ướt dầm sương mai.
Nhà Thủy Tạ sơn toàn một màu trắng, nằm trên mặt hồ Xuân Hương, tên cũ của nó là La Grenouillère, đó là nơi gặp gỡ, tụ họp của những người Pháp trong câu lạc bộ thể thao. Bên hông trái của La Grenouillère, là bến đậu của hàng chục chiếc thuyền buồm giống hệt nhau, được phân biệt bằng cách đánh số thứ tự, bắt đầu từ số một. Thuyền trắng, buồm cũng trắng soi bóng nước trong xanh. Mỗi khi chiều đến, với chút gió nhẹ làm gợn sóng lăn tăn trên mặt hồ, là lúc mấy ông Tây hãy còn luyến tiếc Đà Lạt không chịu trở về Pháp, giăng buồm, thả thuyền trôi theo gió. Hồ Xuân Hương lúc bấy giờ, trông thơ mộng như một cảnh trong ciné với nét đặc thù của người Pháp.

Chùa Bái Đính – Ninh Bình – Hình minh họa
Đi thêm chút nữa, tôi đến cái đập ngăn nước của hồ Xuân Hương mà người dân Đà Lạt gọi là cầu ông Đạo . Tôi hoàn toàn không hiểu vì sao người ta lại gọi như vậy, cho đến khi được một người lớn tuổi chỉ cho tôi căn nhà của ông Đạo gần ngay đó. Tuy vậy, phải đợi cả chục năm sau, khi học về tổ chức hành chánh của triều Nguyễn dưới thời Pháp thuộc ở Viện đại học Đà Lạt, tôi mới biết rằng ông Đạo không phải là tên riêng của một người, mà đó là chức Quản Đạo của vị quan trông coi một Đạo ở miền núi, tương đương với chức tỉnh trưởng ở vùng đồng bằng hay miền duyên hải.
Qua khỏi cầu ông Đạo là con dốc Lê Đại Hành, dẫn đến chợ Đà Lạt. Đây là một ngôi chợ khá đặc biệt, tôi không biết nó được xây dựng vào năm nào, khi tôi lớn lên, ngôi chợ đã có ở đó tự bao giờ rồi. Nơi mặt tiền của chợ, một cái huy hiệu hình tròn đường kính ước chừng hai mét, gắn nơi nóc chợ, trong đó có hình một đôi nam nữ. Người thiếu nữ để ngực trần, với một mảnh vải nhỏ quấn ngang hông, trái tai căng bằng hai cái khuyên to, cổ, tay, chân đeo đầy những vòng trang sức. Người thanh niên đóng khố, tay cầm cây lao dài và nhọn. Dưới chân họ là hàng chữ “DAT ALIIS LAETITIAM, ALIIS TEMPERIEM”. Tôi nhìn cái huy hiệu với đôi mắt của một người khách du lịch nhàn nhã, ung dung cưỡi ngựa xem hoa, nhìn đó rồi quên luôn. Mãi cho đến vài tháng sau, bỗng một lần nọ, óc tò mò khiến tôi chép lại hàng chữ trên, rồi đạp xe đến thư viện. Đà Lạt là một tỉnh nhỏ, nhưng thư viện của nó lại to lớn, bề thế vô cùng. Tôi tìm ông quản thủ thư viện, với mục đích là hỏi ông về ý nghĩa của hàng chữ trên. Chỉ vừa mới liếc qua tờ giấy, ông ta nói với tôi, giọng nói của người Miền Bắc.
-Cậu chép câu này ở trên nóc chợ phải không?
Tôi hơi ngạc nhiên, hỏi lại ông.
-Tại sao bác biết?
Ông quản thủ thư viện cười.
-Không hiểu nghĩa câu này, thì không phải là dân Đà Lạt. Cậu ở đâu mới tới, đúng không?
Tôi mắc cỡ quá sức nhưng cũng đành thú thực với ông.
-Thưa bác, con sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt.
Ông quản thủ thư viện chắt lưỡi, rồi nói.
-Hỏng, hỏng hết, tôi là dân Bắc kỳ di cư, thế mà xem ra tôi còn biết về lịch sử và sự hình thành của Thành phố Đà Lạt hơn cậu đấy. Cậu có biết không, năm một ngàn tám trăm chín mươi ba, khi bác sĩ Yersin khám phá ra Đà Lạt, thì tại đây đã có bộ tộc người “Lạch” sống từ lâu rồi, cho nên người Pháp mới lấy hình ảnh của đôi trai gái người Lạch, với hàng chữ La Tinh mà cậu mới đưa cho tôi coi, làm biểu tượng cho Thành phố Đà Lạt. Ý nghĩa của những chữ La Tinh đó dịch ra tiếng Việt như sau “Cho người này niềm vui, cho người khác sức khỏe”. Tôi tạm dịch như vậy không biết có sát nghĩa hay không, khả năng của tôi chỉ có chừng đó. Theo tôi nghĩ, cậu nên đến nhà thờ Con Gà, hỏi mấy vị linh mục ở trong đó, cậu sẽ được nghe giải thích rõ ràng hơn về mấy chữ trên, bởi vì còn ai mà giỏi tiếng La Tinh hơn những vị linh mục.
Ông quản thủ thư viện trả lại tờ giấy cho tôi.
-Mà nè, cậu có biết nhà thờ Con Gà ở đâu không?
Không trả lời câu hỏi của ông quản thủ thư viện, tôi cười đùa với ông ấy, rồi lập lại câu nói mà tôi đã nói với ông trước đây.
-Thưa bác, con sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt.
Tôi cảm ơn ông quản thủ thư viện rồi ra về, vừa đi tôi vừa nghĩ đến những gia đình người Lạch ở đâu tận chân núi Lâm Viên, vẫn thường mang những gùi củi sau lưng, hay những giò Lan rừng ra chợ Đà Lạt để đổi lấy cá khô hoặc muối hột. Tôi không biết những người Lạch này, họ nghĩ gì khi thấy hình của mình trên nóc chợ.

Chùa Bảo Lâm Phú Yên – Hình minh họa
Thêm một điểm đặc biệt nữa là cái tháp hình khối của chợ, nếu đứng trước chợ nhìn vào thì nó nằm bên tay phải, gần trên đỉnh tháp có gắn một cái đồng hồ, mỗi ngày đúng vào lúc mười hai giờ trưa, khi hai cây kim nơi tháp đồng hồ chập lại làm một, là còi trong chợ bắt đầu hú lên báo hiệu đến giờ nghỉ. Khi nghe còi hụ, hầu như tất cả mọi tiệm buôn, hàng quán quanh chợ đều đóng cửa để ăn cơm và nghỉ trưa, mãi cho đến gần hai giờ mọi sinh hoạt mới trở lại bình thường. Cái lối sống chịu ảnh hưởng của Pháp sâu đậm như vậy, hình như chỉ có ở Đà Lạt.
Tôi đang đứng nơi chân con dốc Lê Đại Hành, trước mắt tôi cao hơn con dốc chút xíu là đường Thành Thái nằm bên trái, cả hai con đường với hai hàng hoa Anh Đào già cỗi. Hàng năm khi mùa xuân đến với tiết trời ấm áp, là lúc hoa Anh Đào nở rộ, tô thắm cả hai con đường. Đà Lạt lúc bấy giờ trông giống như thành phố đầy hoa Đào ở Nhật Bản, nhưng cái khác biệt là cả khu chợ Đà Lạt nổi lên trên đám sương mù, khiến tôi tưởng rằng Đà Lạt như được treo lơ lửng giữa trời. Chẳng trách, người ta gọi Đà Lạt là thành phố mộng mơ. Tôi đẩy xe đạp lên hết con dốc đường Lê Đại Hành, lúc này tôi đang đứng tại chợ Đà Lạt. Đến đây, coi như tôi đã đi được già nửa đoạn đường. Cái đồng hồ trên đỉnh tháp hình khối vuông chỉ bảy giờ, sáng rồi mà phố xá vắng tanh, trong chợ chỉ toàn là những người bán hàng đang lục đục sắp xếp, bày hàng lên sạp. Cả Thành phố Đà Lạt hình như còn yên ngủ, ngay trung tâm thành phố mà chỉ có vài ba người quấn mình trong những bộ đồ ấm, đứng mua bánh mì dưới mái hiên của tiệm Vĩnh Chấn. Tôi chạy xe xuống hết con dốc Minh Mạng, tên cũ của nó là đường Cầu Quẹo, sau đó rỉ rả đạp xe đến cuối đường Phan Đình Phùng, leo thêm một con dốc lài lài khoảng một cây số, ôm theo nghĩa địa thành phố. Bảy giờ rưỡi, Trường Trần Hưng Đạo đã hiện ra trước mắt tôi.
Một đứa nhỏ mười hai tuổi như tôi, mỗi ngày đạp xe hơn hai chục cây số đi và về, đường xa vời vợi, ngang qua đường Lê Thái Tổ với sương mù của thành phố Luân Đôn, qua La Grenouillère và chợ Đà Lạt mang nét đặc thù của văn hóa Pháp, rồi qua những hàng hoa Anh Đào của xứ Phù Tang thơ mộng. Chỉ một đoạn đường có vài cây số, tôi đã đi qua ba nước giàu có, văn minh vào hạng nhất nhì thế giới, hỏi sao tôi không mê Đà Lạt cho được. Ngày nào cũng đạp xe, hết lên đèo rồi lại xuống dốc, hết sáng lại đến chiều, hết tuần này qua tháng nọ, năm này qua năm khác, tôi mãi mê đạp xe đi học. Thêm phần cũng quan trọng không kém, vì bài vở ở bậc trung học quá nhiều so với khi còn ở bậc tiểu học, khiến tôi không còn thì giờ ôm những bó hoa Vạn Thọ theo má đến chùa.
Bước qua những năm trung học đệ nhị cấp, từ lớp đệ tam cho đến khi lên đệ nhất, tôi tự cho là mình đã lớn nên suốt mấy năm trường, tôi đi học mà cứ tà tà như đi chơi, tới đâu hay tới đó.
Một lần nọ, vì muốn chứng tỏ mình không phải là thằng cù lần. Ở cái tuổi của tôi vào thời bấy giờ, nếu bị gọi là cù lần, đó là một lời chê trách nặng nề, cho nên tôi nghe theo lời rủ rê của Nhân đầu bạc trốn học, để rồi suốt một buổi chỉ biết đi lang thang vòng quanh chợ Đà Lạt, lúc đó đã được sửa chữa lại với cái tên mới là Khu phố Hòa Bình. Chúng tôi, vừa đi vừa nhẩm đếm xem có bao nhiêu cây cột xi măng chống quanh rạp hát. Sau đó, hai đứa đến ngồi nơi những bậc cấp trước nhà thờ Tin Lành ở đường Hàm Nghi, nhìn những cô gái má phơn phớt hồng như hoa Đào, học ở trường nữ trung học Bùi Thị Xuân trong bộ đồng phục quần trắng, áo dài trắng, chân đi guốc, tung tăng đùa giỡn, chuyện trò trên đường đi đến trường. Hai đứa tôi tha hồ ngồi ngắm những người đẹp, rồi mặc sức khen chê bình phẩm. Cho đến khi không còn bóng dáng chiếc áo dài trắng nào trên đường phố, lúc bấy giờ tôi mới nhìn Nhân như ngầm hỏi “ Phải làm gì nữa đây để tiêu pha cho hết một ngày trốn học?”

Chùa Lá Sen Đồng Tháp – Hình minh họa
Nhân đầu bạc là một người không bao giờ chịu thúc thủ trước mọi hoàn cảnh, bất cứ lúc nào nó cũng có thể đưa ra sáng kiến mới để giải quyết vấn đề. Hắn nói với tôi.
-Mày có biết quán mì quảng ở hẻm ciné Ngọc Hiệp không? Tụi mình đến đó ăn mì, tao sẽ trả tiền, nhưng sau đó mày phải làm cho tao một chuyện.
Tôi nghĩ đến quán mì quảng ngon nhất của Thành phố Đà Lạt. Lần đầu tiên, tôi biết được quán mì này là do ba tôi dẫn tôi đến. Điểm đặc biệt của quán là bán mì quảng, nhưng lại do hai vợ chồng người Bắc đứng nấu. Người chồng hiền khô như ông bụt với con mắt hiêng hiếng, lo việc múc mì ra tô cho khách kiêm luôn việc thu tiền, vợ dọn dẹp. Lần đó, ba tôi thưởng cho tôi một tô mì to bự, khi biết tôi đã đậu vào lớp đệ thất Trường trung học công lập Trần Hưng Đạo Đà Lạt. Bốn năm sau khi đậu bằng Trung học, tôi lại được ông thưởng cho một tô mì y như xưa, nhưng giá tô mì lúc này là năm đồng chứ không còn là ba đồng như ngày xưa. Đặc biệt, lần này ba tôi kêu thêm cho tôi một ly cà phê túi vải, uống với sữa đặc có đường. Với tôi, tô mì quảng ở hẻm ciné Ngọc Hiệp quả thật là danh bất hư truyền. Những sợi mì gièm giẹp vàng ươm bóng lưởng vì thấm dầu phụng, được xếp gọn trong một cái tô to bên dưới là rau sống, ông chủ quán mì chan nước xốt xăm xắp ngang những cọng mì. Nước xốt ở đây quả thật là đặc biệt, được nấu với thịt heo bằm và tôm khô, nó sền sệt tựa như có pha thêm tí da heo xắt hột lựu, thêm chút vàng óng ánh của mỡ, chút đỏ tươi của ớt bột. Trên cùng là mấy lát thịt heo ba chỉ mong mỏng, nằm cạnh hai con tôm tươi không đầu đã được lột vỏ. Khi ăn khách dùng đũa, mạnh tay trộn đều lên sẽ thấy những cọng rau thơm xanh ngắt như húng lủi, tím bầm như tía tô, lẫn với rau xà lách, bắp chuối xắt nhỏ và mùi thơm nức mũi của nước xốt. Cuối cùng, thực khách chỉ cần thêm vào tô một ít đậu phụng rang giã nhỏ, dăm miếng bánh tráng bẻ vụn, một tí nước mắm ớt để làm dậy mùi thơm, là đã có được một tô mì nóng hổi, thơm ngon. Một điểm đặc biệt không nơi nào có, là cái gáo múc nước mắm làm bằng nửa hột mù u to cỡ trái chanh, với cái cán bằng tre. Chỉ mới nghĩ tới thôi, nước bọt đã ứa ra đầu lưỡi, tôi hăng hái hỏi Nhân.
-Mày cần tao làm việc gì?
-Dễ thôi, không có gì là nặng nhọc, mày lấy cái kéo hớt tóc cho tao.
Nghe Nhân đầu bạc nói mà tôi cứ tưởng nó nói đùa.
-Tại sao mày không vô tiệm hớt tóc, mà lại biểu tao cắt tóc cho mày.
Gương mặt Nhân lộ vẻ đau khổ thấy rõ.
-Tao không ngờ, mày lại chậm hiểu quá sức như vậy. Mười đồng má tao cho để hớt tóc, tao với mày sẽ lấy đi ăn mì, còn tiền đâu nữa mà trả cho tiệm hớt tóc.
Nghe nó nói, tôi chợt tỉnh mộng. Tô mì quảng thơm lừng, mới đó đã biến mất tiêu.
-Mày làm tao mừng hụt, tao thà chịu nhịn đói chứ nhứt định không dám xởn cái đầu của mày. Tao mà cắt tóc cho mày xong, đầu tóc của mày lúc bấy giờ loang lổ, vằn vện chẳng khác gì tấm da beo.
Nhân đầu bạc nhìn tôi
-Mày nói cũng có lý, vậy thì mình phải tính chuyện khác, mà dầu có làm chuyện gì đi nữa, mày cũng phải đóng vai chính. Chương trình của tao như thế này: Tao với mày sẽ vô cà phê Tùng vừa rỉ rả uống cà phê, vừa nghe những bản nhạc đã một thời vang bóng. Mày nghe bản nhạc “Chiều vàng” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Khánh do bạn Tôn Thất Niệm trình bày trên Đài phát thanh Đà Lạt chưa? Giọng hát của ông ấy, phải nói là tuyệt vời.
Tôi chỉnh Nhân đầu bạc.
-Ca sĩ chứ bạn sao được, ông ấy đã là bác sĩ, lại còn hơn mình có tới hai chục tuổi như không. Mày ăn nói hồ đồ, không chịu để ý kính trọng người trên.

Chùa Đồng trên đỉnh Yên Tử – Hình minh họa
Nhân đầu bạc lên giọng với tôi.
-Cách đây hơn chục năm, trên Đài phát thanh Đà Lạt người ta dùng chữ “bạn” để chỉ người trình bày bản nhạc, chứ không dùng chữ ca sĩ như bây giờ.
Tôi đá nhẹ Nhân đầu bạc.
-Thời đó mày cũng như tao, bảy tám tuổi thì biết cái gì về Đài phát thanh Đà Lạt mà bày đặt nói.
Bị bắt bí, Nhân đầu bạc cười bẽn lẽn.
-Thì tao nghe chú tao nói ấy mà.
Tuy bắt bí được Nhân đầu bạc nhưng tôi vẫn thầm phục hắn quá trời, vì chuyện hắn muốn vào cà phê Tùng, đó quả là một ý tưởng hết sức mới mẻ và đầy táo bạo. Tôi là dân Đà Lạt đúng bảy mươi hai phần dầu, đã từng đi ngang qua cà phê Tùng cả ngàn lần nhưng chưa một lần bước chân vào, bởi vì tôi nghĩ rằng nơi đó chỉ dành cho người lớn. Bọn nhóc tì dở dở ương ương, nhỏ không ra nhỏ, lớn không ra lớn như chúng tôi, chỉ có việc đứng ngoài cà phê Tùng mà nhìn vào. Thêm nữa, điều quan trọng nhất vẫn là chuyện tôi không có tiền. Tôi nói với Nhân:
-Tiền đâu mà uống cà phê?
Nhân đầu bạc tươi cười, hắn xoa hai bàn tay vào nhau.
-Nếu muốn uống cà phê, mày phải làm theo lời tao dặn, chuyện này cũng dễ thôi. Mày chạy đến sạp vải Hưng Long của má tao ở trên lầu hai chợ mới, nói với bà là tao bị té xe đạp. Chiếc xe bị hư hại nặng, tao cần tiền để sửa xe.
Tôi nói với Nhân.
-Ăn gian, nói dối là chuyện tao không thể làm được. Ba tao mà biết được chuyện lường gạt, gian dối, ổng tống cổ tao ra khỏi nhà ngay lập tức. Hơn nữa, liệu má mày có tin tưởng tao để mà đưa tiền hay không?
Thấy tôi lừng khừng, Nhân đầu bạc trấn an tôi:
-Tao sẽ viết vài chữ với nội dung là tao đang ngồi ở tiệm sửa xe đạp, nhờ mày về nhà lấy tiền. Má tao biết mày mà, bà thường gọi mày là thằng “Cục Bột”, mỗi khi nhắc đến mày. Giao tiền cho một thằng khờ như cục bột thì có gì mà phải lo. Còn nữa, mày cứ yên chí, má tao rất cưng tao, bà chỉ quan tâm tới sự an nguy của tao thôi. Chuyện tiền bạc, má tao không coi nặng bằng thằng con yêu quý của bà.
Sau một chút suy nghĩ, Nhân đầu bạc nói thêm.
-Tiền hai ly cà phê hết hai chục, tụi mình cần thêm bốn đồng để mua năm điếu thuốc Ruby. Uống cà phê mà không có thuốc lá, coi không được chút nào. Đã lỡ làm dân chơi, dù là dân chơi tỉnh lẻ cũng phải chơi cho tới bến. Tao sẽ viết xuống giấy, xin má tao hai mươi bốn đồng.
Tôi nghĩ thầm, người ta thường nói “được voi đòi tiên”, còn ông bạn quý của tôi, không cần biết có voi hay chưa, đòi luôn một lần cả voi lẫn tiên cho tiện việc sổ sách. Vì nghĩ như vậy nên tôi nói với Nhân.
-Xin hai chục đồng là đủ uống cà phê rồi. À… mà sao mày biết giá một ly cà phê là mười đồng? Mày có lộn không? Tao muốn nhắc cho mày biết, một tô mì quảng to hết cỡ, ngon hết biết ở hẻm Ngọc Hiệp, chỉ có năm đồng.
Nhân đầu bạc với giọng nói đầy quả quyết.
-Một trăm phần trăm là đúng vì chú tao mới nói với tao tuần trước, khi ông ấy dẫn bà vợ sắp cưới của ổng đi uống cà phê ở Tùng. Chú tao còn nói thêm rằng, nội cái chuyện nghe nhạc ở cà phê Tùng cũng đáng giá mười đồng rồi, ly cà phê coi như cho không.

Chùa Linh Ứng – Bãi Bụt Đà Nẵng – Hình minh họa
Khi đã có tiền trong tay, tôi và Nhân đẩy cánh cửa của cà phê Tùng, hiên ngang ưỡn ngực bước vào. Với khoảng không gian không lấy gì làm rộng rãi cho lắm, chừng bốn mét bề ngang, chiều sâu đâu khoảng bảy tám mét, gần cuối phòng, bên tay phải là một cái cầu thang nhỏ dẫn lên lầu hai. Diện tích của cà phê Tùng chỉ có ngần ấy. Chọn một cái bàn nhỏ ở góc phòng gần quầy tính tiền, Nhân đầu bạc dõng dạc gọi hai ly cà phê đen. Lần đầu tiên được ngồi trong một tiệm cà phê nổi tiếng của Đà Lạt, tôi tò mò nhìn quanh, trên tường bên tay trái của tôi treo một bức tranh lập thể, vẽ hình một người đàn ông tay ôm cây đàn guitar, cần đàn chúi xuống đất. Tôi chăm chú nhìn bức tranh, nhìn hoài mà vẫn không thấy cái đẹp, cũng không hiểu ông họa sĩ muốn nói gì trong bức tranh đó. Cuối cùng, tôi đành phải chấp nhận, mình là người phàm mắt tục, không có chút kiến thức gì về hội họa, thôi thì đừng có thắc mắc gì về tranh với ảnh cho được việc. Khác với tôi, Nhân thong thả mồi một điếu thuốc, nhả khói bay mù mịt y hệt như một người sành điệu. Chỉ có điều, ngay lúc đó nó ho sặc sụa vì khói thuốc. Hai tay ôm lấy ngực, Nhân đầu bạc nói mà như là phân bua để chữa thẹn.
-Thuốc Ruby Queen tưởng nhẹ, ai ngờ nó lại gắt hơn thuốc Bastos.
Đợi cho những giọt cà phê đen cuối cùng từ cái phin xinh xắn làm bằng một loại sắt không rỉ sét, nhỏ xuống tách cà phê, tôi cho một muỗng đường khuấy đều rồi hớp một ngụm. Cà phê phin ở Tùng quả thật là thơm ngon, nhưng lại quá sức đậm đặc so với ly cà phê túi vải nhạt phèo mà tôi đã được uống. Đem so sánh ly cà phê Tùng với ly cà phê túi vải là một chuyện làm khấp khểnh, nhưng biết làm sao bây giờ. Bởi vì, ly cà phê túi vải nơi hẻm ciné Ngọc Hiệp là ly cà phê duy nhất mà tôi đã từng được uống. Tôi xin một ly nước sôi, thêm hai muỗng đường, lúc bấy giờ tôi mới có được một ly cà phê vừa theo ý mình.
Hai đứa tôi ngồi im lặng thưởng thức ly cà phê đen, lắng tai nghe nhạc trong bầu không khí lù mù khói thuốc lá. Bất chợt, Nhân đầu bạc hỏi tôi.
-Má tao có nói gì khi đưa tiền cho mày không?
Tôi phải giải thích vòng vo Tam Quốc với Nhân.
-Từ nhỏ tới lớn, chưa bao giờ tao biết ăn gian nói dối, nhưng vì cái hấp lực quá mạnh của ly cà phê Tùng nên tao đành liều mạng, nhắm mắt đưa chân. Có tật giật mình, mày biết không khi gặp má của mày, tao run còn hơn là leo rào trốn học, bị thầy Tổng giám thị bắt gặp tại trận. Cũng may má mày hiền quá sức, khi biết mày cần tiền để sửa xe, bà vội vàng đưa tiền cho tao mà không một chút nghi ngờ.
Nghe tôi nói, gương mặt của Nhân đầu bạc sáng rỡ, hắn nói, câu nói không liên quan gì đến chuyện gian dối của hai đứa.
-Mày có biết tao bao nhiêu tuổi không?
Tôi hơi ngạc nhiên vì câu hỏi không đâu vào đâu của hắn, cũng không hiểu vì sao hắn hỏi tôi như vậy. Tôi nhìn lên mái tóc muối tiêu của Nhân đầu bạc rồi giả vờ nói.
-Trông mày giống một ông già bốn mươi.
-Đừng có giỡn, nói thiệt đi.
Tôi nói.
-Mày giỏi lắm cũng chỉ hơn tao một tuổi là cùng. Mười chín.
Nhân nói với tôi mà như là thổ lộ tâm tình, hắn dốc cạn bầu tâm sự.
-Vậy mà má tao cứ tưởng là tao chỉ có bảy, tám tuổi. Từ sau ngày ba tao mất đi, má tao sống đó mà cứ như người chết rồi, có bao nhiêu tình thương bà dồn hết cho tao, bà thương tao quá sức, chiều chuộng tao còn hơn là chiều vong. Suốt ngày, má tao bám theo tao không rời nửa bước, cơm ăn áo mặc, bà lo từng chút một, thậm chí đến chuyện buổi tối trước khi đi ngủ, bà nặn sẵn kem vào bàn chải đánh răng cho tao, giục tao đánh răng sau đó mới cho tao đi ngủ. Mày nghĩ coi, một thằng con trai lớn tồng ngồng còn bị má giám sát từng chút một như vậy, không giận sao được. Tao chỉ mong sao đậu xong cái Tú tài là tao đăng lính ngay, mà phải là lính Nhảy Dù hay là Thủy Quân Lục Chiến mới được. Mày biết tại sao không?
Tôi trả lời mà trong lòng đầy thắc mắc.
-Không.
Nhân đầu bạc nói một cách rành rẽ.

Chùa Vĩnh Nghiêm Sài Gòn – Hình minh họa
-Bởi vì Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến là lực lượng tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được điều động đi khắp bốn vùng chiến thuật. Hôm nay họ đang thanh toán chiến trường ở Kontum, ngày mai có thể bay ra địa đầu giới tuyến để giải tỏa áp lực của Việt Cộng. Nơi nào mà chiến trường sôi động, sặc mùi thuốc súng, nơi đó sẽ có sự hiện diện của Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến. Nếu tao được vào một trong hai binh chủng này, cho dù má tao có cánh bà cũng không theo kịp để mà giám sát tao.
Đang rù rì tâm sự, đột nhiên Nhân đầu bạc nghiêng đầu như lắng tai nghe rồi nói.
-Mày có nghe gì không? Hình như cả tiếng đồng hồ ngồi đây, tao không nghe bản nhạc Việt Nam nào hết trơn. Nhạc ở đây nghe không khá chút nào, không lý ông chú của tao du học ở bên Tây về mà lại không biết nghe nhạc.
Nhân ngừng nói nhìn tôi, gương mặt của hắn lộ vẻ giận.
-Tao phải hỏi ông chủ quán mới được.
Vừa dứt lời, hắn hùng hổ đứng lên đi về phía quầy thâu ngân, cách bàn của chúng tôi độ dăm bước, nơi ông chủ cà phê Tùng đang ngồi.
Tôi nhìn theo Nhân đầu bạc mà trong lòng đầy lo âu, chỉ sợ hắn ăn nói lỗ mãng với người lớn. Trái với thái độ hung hăng con bọ xít, khi đến trước mặt ông chủ cà phê Tùng, Nhân đầu bạc với giọng nói nhỏ nhẹ:
-Thưa bác, cho tụi con nghe bản nhạc “Hai lối mộng” của nhạc sĩ Trúc Phương được không?
Ông chủ quán cà phê Tùng trong bộ vest màu nâu đậm đúng thời trang, với cái tẩu đang cầm trên tay, ngẩn nhìn Nhân đầu bạc. Ông không trả lời mà hỏi hắn.
-Cậu là học sinh trường nào?
-Dạ thưa bác, con học Trường Trần Hưng Đạo.
-Lớp mấy?
-Thưa bác, đệ nhị.
-Cuối năm nay, cậu thi Tú tài Một phải không?
– Dạ phải.
Ông chủ cà phê Tùng, với giọng nói như là cha dạy con.
-Học hành không lo, đi uống cà phê hoài coi chừng thi rớt đó.
Dứt lời ông nhẫn nha nhồi một ít thuốc vào cái tẩu, rồi chỉ vào thời khóa biểu gắn trên tường.
-Chương trình hôm nay là nhạc hòa tấu cổ điển tây phương, ngày mai là nhạc tiền chiến, bản nhạc thời trang mà cậu muốn nghe, ở đây không có.
Lâu nay, tôi cứ đinh ninh rằng thầy Hạnh dạy Anh văn của tôi, là người duy nhất ở Đà Lạt hút thuốc bằng cái tẩu. Hôm nay, tôi lại thấy thêm một người nữa cũng hút thuốc bằng tẩu. Đó là ông chủ cà phê Tùng. Hai người, hai công việc khác nhau nhưng cái điểm chung mà tôi thấy được nơi họ, là cả hai đều có bề ngoài lịch sự, trang nghiêm, và nhất là lời ăn tiếng nói khoan thai từ tốn.
Nhân đầu bạc đứng tần ngần như suy nghĩ, một lúc sau hắn nói.
-Thưa bác, tính tiền giùm con.
-Mười đồng.
-Tụi con uống hai ly cà phê lận, nghe nói phải hai mươi đồng.

Chùa Bà Thiên Hậu – Sài Gòn – Hình minh họa
Ông chủ cà phê Tùng mỉm cười rồi nói, giọng nói của một người đầy hào phóng.
-Học sinh tính nửa giá. Từ rày về sau, tôi cấm hai cậu tới đây uống cà phê, cho đến khi nào đậu xong cái bằng Tú tài Một mới được vô tiệm của tôi.
Chúng tôi đi ra cửa, vẫn còn nghe ông chủ cà phê Tùng dặn vói theo.
-Nếu muốn uống cà phê Tùng, phải gắng tập nghe nhạc hòa tấu cổ điển.
Tôi nghe nhưng thầm nghĩ, ông chủ cà phê Tùng không ở trong hoàn cảnh của tôi, cho nên ông mới khuyên chúng tôi như vậy. Ông đâu có biết, nếu tôi muốn nghe một bản nhạc mà tôi thích, đó là chuyện không dễ chút nào. Trước tiên, tôi phải viết một lá thư gởi cho đài phát thanh Đà Lạt, với nội dung xin yêu cầu được nghe bản nhạc mình muốn. Sau đó, phải đợi từ hai tới ba tuần lễ, một đôi khi sự chờ đợi có thể kéo dài đến bốn, năm tuần là chuyện thường tình. Tuy vậy sự chờ đợi không phải là chuyện đáng nói, mà là chuyện nhà tôi không có radio. Với tôi radio là một vật xa xí, chỉ có trong ước mơ. Nội cái việc Thứ tư hàng tuần, vào giờ có nhạc yêu cầu của đài phát thanh Đà Lạt, nếu muốn nghe, tôi phải chạy qua tiệm tạp hóa Đông Á ở gần nhà, ngồi bên hè để nghe ké. Tuy là nghe lén nhưng vẫn không ổn, bởi vì trong tiệm tạp hóa Đông Á có mấy cô gái, cũng trạc tuổi của tôi, cô nào cô nấy xinh như mơ. Nếu cha mẹ của họ thấy tôi ngồi bên hông nhà, làm sao tôi có thể giải thích được chuyện tình ngay lý gian của mình. Vậy thì nếu muốn nghe nhạc hòa tấu cổ điển, tôi phải đến đâu để nghe.
Sau này lớn lên rồi vào lính, khi có chút tiền rủng rỉnh trong túi, nếu muốn vừa uống cà phê, vừa ngắm cảnh, tôi chọn cà phê Thủy Tạ. Nếu muốn ngắm người đẹp, nghe nhạc thời trang tôi ghé cà phê Hạnh Tâm. Năm thì mười họa, tôi mới bước chân vào cà phê Tùng một lần. Bởi vì, với tôi nghe nhạc hòa tấu cổ điển cần phải có thời gian học hỏi, làm quen và sau đó mới là thưởng thức. Bắt tôi nghe nhạc hòa tấu với những cái tên lạ hoắc như Mozart, Schubert, Beethoven, Chopin khác nào chuyện đàn gảy tai trâu.
Vừa bước chân ra khỏi cà phê Tùng, với mười đồng trên tay, Nhân đầu bạc cười với tôi, nụ cười thật là rạng rỡ.
-Tao đói lắm rồi, tụi mình đi tới hẻm ciné Ngọc Hiệp, ở đó, mày có quyền tì tì thưởng thức tô mì quảng danh tiếng của Đà Lạt, mà không phải lo sợ cầm kéo hớt tóc cho tao.
Cho đến khi niên học chấm dứt, chỉ còn hai tháng nữa là đến ngày thi, tôi mới ôm một chồng sách đến chùa Sư Nữ để ôn lại bài vở. Với cái cầu thang bằng gỗ ở cổng Tam Quan, tôi leo lên căn gác đúc nơi cổng, đưa tay đẩy nhẹ cánh cửa gỗ nho nhỏ hình vuông lên, chun vào rồi sập cánh cửa xuống. Trên đầu tôi là một bầu trời xanh lơ với vài cụm mây trắng đã bao bọc, cô lập tôi với thế giới bên ngoài. Tôi đang ở trong căn gác chỉ độ vài mét chiều dài, một mét rưỡi bề ngang, một mình tôi một cõi tịnh không, bao nhiêu phiền nhiễu phức tạp biến đi đâu mất. Tôi học bài thi mà cứ như là đi tu. Sở dĩ tôi được đặc ân lên căn gác đúc ở cổng Tam Quan của chùa Sư Nữ để học bài, bởi vì ba tôi đã góp nhiều công sức lo về phần đóng bàn ghế trong chùa. Tôi cố nhồi nhét vào cái đầu chậm chạp u mê của mình, cuốn sách vạn vật dày cộm, cuốn lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới, mà trong đó đầy đặc những năm tháng cấm không được quên. Thêm nữa, cái khó nhất vẫn là giải những bài toán vật lý, hóa học, tuy hiện thực nhưng lại quá sức trừu tượng hoặc những bài toán hình học với ba chiều không gian khô khan, mà trong đó tôi tìm hoài không thấy chiều không gian thứ ba nằm ở đâu. Gặp những bài toán khó như vậy, tôi lại thấy như mình đi lạc trong sa mạc hoang vu nắng cháy, mò hoài không thấy đường ra, thậm chí một cái ốc đảo nho nhỏ cũng bặt tăm biệt tích. Biết mình không được thông minh cho lắm, cho nên tôi cố gắng học thuộc lòng bài vở, học quên trời quên đất, mãi cho đến khi chút nắng vàng yếu ớt còn sót lại của một ngày vừa khuất sau dãy núi phía xa, sương mù kéo về bao trùm lên cái xóm nhỏ, cùng với tiếng chuông thu không của chùa Sư Nữ ngân vang trong sương mù ẩm đục.
Boong… Boòng… Boong…….. Boong… Boòng… Boong…
Từng tiếng chuông thong thả nối tiếp nhau, tạo thành một hồi chuông ngân dài trong chiều vắng, lúc bấy giờ tôi mới ôm chồng sách vở trở về nhà. Hai tháng trường tu luyện trên cái gác đúc nơi cổng Tam Quan của chùa Sư Nữ, tiếng chuông thu không thanh thoát gióng lên vào mỗi buổi chiều, trở nên gần gũi thân thiết với tôi hơn bao giờ hết. Tôi đậu hai cái Tú Tài rồi bùi ngùi luyến tiếc, giã từ tiếng chuông chùa, lên đường nhập ngũ. Năm tháng dần trôi, dòng đời đưa đẩy, cuốn hút con người theo cơn lốc của chiến tranh, quay cuồng trong chiến cuộc. Mới đó mà đã gần bảy năm trời trong quân ngũ, tôi quên bẵng đi tiếng chuông chùa của thời niên thiếu.

Chùa Bái Đính Ninh Bình – Hình minh họa
Đêm nay trong cảnh nước mất nhà tan, bơ vơ lạc lõng giữa Sàigòn, tôi gối đầu lên bậc cấp nơi vỉa hè của một căn nhà ở bến xe, nhìn thấy tương lai là hai cánh cửa của địa ngục Xã Hội Chủ Nghĩa đang mở rộng đón chào, nghe lại được tiếng chuông chùa năm xưa khi tôi còn bé vang vọng đến bên tai. Tôi ngờ rằng tiếng chuông hình như không có thực, bởi vì có khi nó lẩn quẩn bên tai như là tiếng chuông của một ngôi chùa nào đó gần đâu đây, lại có lúc xa thật xa như từ trong quá khứ vọng về. Tiếng chuông trầm trầm, lắng xuống, nhỏ dần, nhỏ dần rồi tan vào cõi hư không, kéo theo cái bóng một thằng bé mười tuổi của những năm tháng xa xưa, ngồi nơi chánh điện chùa Sư Nữ, tai nghe má đọc câu kinh “Sắc bất dị không, không bất dị sắc”. Mà trong đầu chỉ mơ ước có được một con dế.
petruskyaus.net
Đoàn Xuân Thu

Bạn có bao giờ nếm một món ăn ngon mà không có đường cho ngọt, tiêu cho thơm hay ớt cho cay cháy lưỡi không?
Món ăn ngon là có tiêu hành tỏi ớt, phải cay, đắng, ngọt, bùi đầu lưỡi tê, đê mê cái lỗ… mũi, cắn sừng sực; mới đã cái hàm răng!
Tình nghĩa vợ chồng cũng vậy! Cũng như món ăn ngon thôi! Làm gì cũng phải tê, phải đê mê; phải ngọt bùi… rồi đắng cay mới đặng.
Dĩ nhiên không phải là bỏ đường, bỏ tiêu, bỏ ớt, bỏ hành vào tình ta mà bỏ vào đó: hòn đất và hòn chì! Để hòn đất ném đi, hòn chì ném lại; pháo kích lẫn nhau!
Nói tách bạch ra là sống với nhau, tình nghĩa vợ chồng… là phải cãi. Cãi tới bến! Tình ta mới bền lâu.

Sao tréo cẳng ngỗng vậy cà? Vì cãi là phải có hai người, là em chưa có bỏ ta đi vào nơi gió cát! Để đêm về chàng tắm ‘mát’ (xa) nơi mô?
Chính vì vậy, xưa giờ, tui chưa thấy vợ chồng nào mà không hề cãi nhau hết ráo.
(Ông anh nào nói chưa bao giờ… Là tui tin anh mình xạo! Nè xạo vừa vừa chừa chỗ cho tui với chớ!)
Như con vợ tui nè, người Quảng Nam đó; mà bà con mình đều nghe câu Quảng Nam hay cãi. Cãi thì cãi chớ tui đâu có ngán.
Tuy nhiên hơn bốn chục năm cưới vợ, tui chỉ cãi với em yêu vỏn vẹn có một lần; ngay sau đêm tân hôn, đuốc hoa còn đó mặc nàng rên!
Không có trận cãi nhau lần thứ hai đâu! Vì trận cãi nhau từ hôm nó tới giờ chưa có dứt; thì làm sao có được trận cãi nhau lần thứ hai? He he!
***
Dù cãi nhau với em yêu có một lần nhưng vô số đề tài để cãi.

Em yêu của tui có đầu óc so sánh! Chẳng hạn như em thường nói: “Chồng người ta thì cày sâu cuốc bẫm còn chồng mình vẫn ‘lẫm đẫm’ tập đi!”
(Đi còn chưa xong; ngã tới ngã lui vì xỉn… thì kể xá chi tới chuyện đi cày?). Nghe vậy là tự ái rồi.
“Em so sánh rất là khập khiễng. Ai cũng có những điểm mạnh, điểm yếu. Ai cũng chứa trong người mình một thiên tài. Chẳng qua thiên tài của thiên hạ thức sớm còn của anh vẫn còn mãi ngủ quên.
Kiên nhẫn chút đi, khi nó thức dậy, em sẽ thấy toàn là chuyện kinh thiên động địa, đội đá vá Trời cho mà coi! Chớ đừng có khi dễ thằng nầy!”
Em yêu của tui quả là người dễ dụ. Nghe tui bốc phét, nổ rùm trời, em tin lời, tưởng thiệt. Nhưng chờ hoài chờ hủy; chờ cho mãn kiếp còn chờ, chờ cho rau muống lên bờ trổ bông. Rau muống lên bờ trổ bông, bao nhiêu đợt nước ròng, nước lớn mà tui hỏng chịu vươn vai Phù Đổng chút nào nên lòng em tràn thất vọng, than rằng: “Tui đã hối hận vì đã lấy anh! Lấy anh là lỗi lầm lớn nhứt của đời tui!” Thôi anh là một giải thoát đời em. Hu hu! Má ơi!”
Hỏi mấy anh mình nè! Bị con vợ coi mình hỏng ra ‘cà ram’ nào mấy anh tự ái hông?
Tự ái chớ! Mình là một đấng anh hùng; dẫu em là một trang thuyền quyên, thục nữ, dữ như con sư tử, cũng không được quyền bỉ thử, nói sống với anh hỏng có hạnh phúc gì ráo.
Vậy là để chứng tỏ tui không phải là đồ bỏ vô thùng rác, một hôm vợ tui với tui đi dự buổi họp mặt trường cũ. Khi ngồi với em yêu, tui cứ nhìn chằm chằm vào một em bàn kế bên, có vẻ đã quá say.
Vợ tui hỏi: “Bộ anh quen con nhỏ đó hả?” Tui thì thầm: “Ờ! Con nhỏ đó là người yêu cũ của anh! ‘Ẻm’ ấy bắt đầu say sưa, chè chén bét nhè khi anh bỏ ‘ẻm’ đã nhiều năm về trước.”
Em yêu của tui kêu: “Trời! Làm sao ‘chị ấy’ có thể ăn mừng lâu đến thế kia chớ!” Vậy là trận cãi nhau bắt đầu như thế đấy.
Rồi nghe thiên hạ dạy đời là đàn ông phải xuống bếp, tiếp con vợ mình, rửa chén, lặt rau, nấu ăn mới được.
Ngu! Nên nghe lời xúi dại, tui bèn sớ rớ chui vô bếp. Em nạt ngang hè: “Anh biết gì mà chui xuống đây! Đàn ông vô bếp hỏng biết mắc cỡ hè. Bạn bè nó cười cho thúi đầu; rồi nó rủa xả tới em, phận làm vợ không biết lo cho chồng mình ăn uống. Lên phòng khách coi ti vi đi… Để đó cho em!”
Em đuổi thì tui đi! Mười lăm phút sau, em dọn lên hai món để trên bàn kêu tui qua ăn kẻo nguội.

Ăn xong, em hỏi tui thích món nào để lần sau em nấu nữa. Tui chỉ vô cái tô còn phân nửa nói: “Món nầy nè! Nhưng anh không biết phải gọi nó là miến hay là cháo!” Vậy là trận cãi nhau bắt đầu như thế đấy!
***
Có nhiều người võ đoán, hùa theo dư luận quần chúng để vội vàng kết án mấy anh mình là quen cái thói phong kiến thời cổ lỗ xỉ, chồng chúa vợ tôi, chuyên môn ăn hiếp vợ.
Ai tui hỏng biết; chớ tui làm sao dám! Tui cũng chết nhát như ‘Máu Cằm’ (Malcolm), thằng bạn Úc của tui.

‘Máu Cằm’ đã từng bị vợ quánh chảy máu môi, dạy tui rằng: “Theo thống kê, dân số, đàn bà Úc ít hơn đàn ông Úc tới cả triệu. Bị vợ bỏ là khó kiếm vợ khác lắm. Nó kiếm chồng cái một hè; nên một câu nhịn bằng chín câu cự! Nhớ nhe! Đừng làm nó giận, nó cấm vận… là tối nằm chèo queo, lạnh chết!”
Từ đấy, tui bái ‘Máu cằm’ (Malcolm) làm thầy! Dặn trò, trò nhớ; nhưng Thầy lại quên mới chết!
‘Máu Cằm’ kể rằng: “Sau khi về hưu, tui ra văn phòng sở An sinh Xã hội nộp đơn xin trợ cấp. Em nhân viên đòi xem bằng lái xe để biết tuổi của tui.
Tui lục túi nhưng xui cái là tui đã bỏ quên cái bằng lái ở nhà. Sorry nhe, để tui về nhà và sẽ trở lại sau.
Em bèn kêu tui cởi nút áo sơ mi ra. Tui nghe lời và khi tui cởi nút, lông ngực của tui đã bạc trắng phong trần.
“Lông trên ngực anh đã làm bằng chứng đủ rồi!” Vậy là đơn xin tiền già của tui được em ‘OK Salem’ cái rụp!
Khi về nhà, tui hào hứng kể lại chuyện ấy cho vợ tui nghe! Em yêu phán: “Phải chi cô ấy kêu anh cởi nốt cái quần thì có thể anh đã hưởng được thêm tiền tàn phế!”
Trên đời cánh đàn ông mình cực kỳ căm ghét chuyện vợ mình chê mình hết xí quách cho dù đó là một sự thực phủ phàng duyên kiếp ba sinh đi chăng nữa.
‘Máu Cằm’ cũng vậy thôi! Bị vợ vạch trần ra như thế nó bèn tìm cách vạch trần lại.
Hôm mùng Một tháng Tư rồi, ‘Máu Cằm’ gọi điện cho con vợ đang đi chợ về nhà gấp, có chuyện không thể nào chờ lâu được nữa. Trong tiếng vọng của cái mobile phone là bản nhạc. “Một trăm em ơi! Chiều nay một trăm phần trăm!”
Em nghe vậy, mừng húm, ba chân bốn cẳng về nhà, từ nhà tắm một trăm phần trăm bước lên phòng ngủ của đôi ta.

Bổng đèn bật sáng, ‘Máu Cằm’ mặc áo vest, có thắt cà vạt đàng hoàng đưa ra một đóa hoa hồng và “Xin chúc mừng em yêu! Ngày Cá Tháng Tư! Vậy là trận cãi nhau bắt đầu như thế đấy!
‘Máu Cằm’ đã từng tâm sự rằng: trước để lập kỷ lục ghi vào Guiness, nên chưa bao giờ dám cãi nhau với vợ! Giờ lỡ cãi một lần thì cử chi nữa hở Trời? Tới luôn bác tài!
“Máu Cằm” đưa vợ đi ăn. Người hầu bạn không hiểu tại sao không nịnh đầm gì ráo trọi hỏi tui muốn ăn gì? “Thịt bò ‘bít tết’ chín vừa vừa thôi!”
Anh bồi bàn lại hỏi: “Ông không lo gì đến con bò điên sao?” “Không! Bà ấy biết tự mình đặt món ăn mà?” Và trận cãi nhau bắt đầu như thế đấy.
“Chú mầy biết hông? Tuần rồi nè! Tui kêu vợ tui đi mua 6 chai beer, tốn 14.95 xu. Em không mua beer mà mua kem lạnh tốn 7 đô 95 xu.
Tui nói với em rằng: Beer sẽ làm anh thấy em về đêm đẹp hơn là kem lạnh nhiều.
Và trận cãi nhau bắt đầu như thế đấy.
Nè! Nghe nói trong nền văn hóa Việt Nam của chú mầy, người ta thường đồn là có người ăn nói có duyên, mở miệng ra là ăn tiền thiên hạ. Rồi cũng có đứa vô duyên mở miệng ra là ăn… bạt tai.
Mà có hay vô duyên là do ‘Midwife’ tức Bà Mụ móc miếng phải không?
Tui trả lời: “Ờ có nghe nói vậy! Chắc hồi sư phụ đẻ ra, chắc ‘Midwife’ quên móc miếng nên ‘sư phụ’ nói ra cái gì cũng bị chúng chửi hết trơn hè.”
“Ờ! Tui cũng nghi tui quá! Chiều qua, tui dắt em yêu đi ăn nhẩm xà. Em yêu hỏi tui xem cái áo nầy mặc vào có làm bụng em trông bự lắm không? Tui trả lời chiếc áo bữa nay em mặc đỡ hơn chiếc áo ngày hôm qua!” Và trận cãi nhau đã bắt đầu như thế đấy.
Thế nên ngày nào đi làm thời thôi, về tới nhà là cãi liên tu bất tận hè. Nên cuối tuần nào, ‘Máu Cằm’ cũng tìm cách trốn con vợ Sư tử Hà Đông, dông đi câu cá.
Sáng thứ Bảy dậy sớm, lẳng lặng mặc quần áo, làm bữa ăn trưa mang theo, dắt theo con chó vào nhà để xe, tui móc chiếc thuyền câu vào chiếc ‘Four Wheel’.
Ra khỏi nhà, trời mưa như trút nước, gió giật liên hồi, mở ‘I phone’ xem dự báo thời tiết, mới hay rằng: Trời sẽ mưa bão suốt bữa nay vì áp thấp nhiệt đới từ đảo Tasmania tràn lên Victoria.
“Máu Cằm” de xe lại vô ‘ga ra’. Lặng lặng vào nhà, cởi quần áo ra chui lên giường. Ôm lấy lưng em cưng, thì thầm trong bóng tối: “Thời tiết bên ngoài thiệt là kinh hoàng!”
Con vợ yêu đã mười năm hương lửa, nhừa nhựa: “Vậy mà anh có tin được rằng thằng chồng ngu ngốc của em lại đi câu cá hay không?”
Vậy là trận cãi nhau bắt đầu như thế đấy.
“Rồi sau trận cãi nhau đó hai đứa tụi bây có thôi nhau hay không?”
“Ngu sao mà thôi! Như tui đã cảnh báo với bạn hiền là trai thừa gái thiếu không phải xẩy ra ở Hoa Lục của Tập Cận Bình không đâu mà nó xảy ra ngay tại cái nước Úc nầy nè. Có con vợ dẫu cà chớn chút đỉnh… thì cũng đỡ hơn… hỏng có con nào! Đòi hỏi chính chuyên; làm gì có?
Phần con vợ mình là một tờ báo cũ mình đọc rồi. Nhưng đối với mấy thằng khác vợ mình là tờ báo mới, tụi nó chưa đọc nên rất muốn đọc thì mình làm hiểm, ích kỷ cũng kỳ!”
“Ở đời muôn sự của chung. Hơn nhau một tiếng ‘gian hùng’ mà thôi!”
Phần nói thiệt nhe! ‘Máu Cằm’ nầy đây cũng đã từng đọc báo của thằng Sam, thằng ‘Mái cồ’ bên hàng xóm hết trơn, hết trọi rồi hè! He he!
đoàn xuân thu.
melbourne
petruskyaus.net
đoàn xuân thu
Lá Thư Úc Châu
Thưa bà con! Lễ Phục Sinh vừa rồi, người viết rất vui mừng vui quá vui khi được thằng bạn học cũ cách đây 53 năm, từ Wellington, Tân Tây Lan bay qua thăm.
Nó đi du học theo chương trình học bổng Colombo năm 1970. Học xong, tính về, nhưng năm 75, miền Nam mình ‘sập tiệm’ nên nó dông luôn tới tận bây giờ.
Trước khi qua, cố nhân đã cẩn thận gởi cho người viết một tấm ảnh để tui xem dung nhan đó bây giờ ra sao? “Kẻo gặp nhau ngoài đường không nhìn ra, không nhận ra nhau, mầy dám ‘đục’ tao như hồi xưa mình đi học lắm đa!” Bạn hiền nói đùa như vậy!
Thưa gặp bạn học cũ là vui hết biết, mầy tao rôm rả lên; dù đứa nào cũng cháu nội, cháu ngoại một bầy.

Petrus Ký niên khóa 1963-70
Nó có nhắc tới các thầy cô trường Petrus Ký niên khóa 1963; như chiếu lại cái cuồn phim cũ, đã rất lâu, mình cất vào ngăn kỷ niệm vì không có bạn coi cùng; giờ tưởng bụi thời gian đã phủ mờ năm tháng; dè đâu nhắc lại cứ tưởng mới hôm qua.
Bạn đồng song nhắc tới một Giáo sư Sử Địa, (nghe nói giờ bên Mỹ), khá nghiêm khắc (phải vậy chớ!) làm tui nhớ, tui cũng hơi rét, nên lâu lâu mới chịu học bài, nhờ vậy mới biết Úc Châu là một cái đảo đó chớ!
Sử Địa tuần có hai giờ thôi mà đám học trò tụi tui lúc đó coi nó dài như hai thế kỷ vì cô thường coi đứa nào mặt mày lấm lét, xanh chành như trái chanh… để kêu lên trả bài rồi cho nó hai cái trứng vịt!
Có lần cô kêu một đứa lên trả bài. Thằng nhỏ khớp quá nên cà lăm. Sử dạy rằng: “Lý Thường Kiệt đánh Tống” mà nó dám đọc là: “Lý Thường Kiệt đánh trống”. Làm cả lớp ôm bụng cười: Ha ha! Hi hi! và He he!
Thưa cái trường Nam, toàn học trò trai chỉ có nữ Giáo sư là gái nên dưới mắt tụi tui, cô nào cũng đẹp một cách thần sầu.
Vậy mà chuyện vui, bữa nhậu đoàn viên đó, bạn hiền lại kể cho tui nghe là:
“Lớn lên em sẽ làm nghề gì?” Thì em gái học trò trả lời: “Thưa cô! Lớn lên nếu em chân dài, đẹp, em sẽ đi làm người mẫu, làm diễn viên điện ảnh hay đi hát cải lương! Còn nếu lỡ em là con gái trời bắt xấu thì em sẽ đi làm… Cô giáo!”
Thưa hồi xưa đi học, Tía tui cũng như Tía của mấy thằng khác đều muốn con mình học giỏi hơn con của người ta. Nên Tía nói: “Tèo nè! Tía rất kỳ vọng ở con. Nếu năm nay nếu con được lãnh phần thưởng… hạng ba cũng được! Tía sẽ thưởng cho con một chiếc xe đạp Peugeot mới cáu cạnh.”
“Thưa Tía! Con rất thông cảm nỗi kỳ vọng của Tía đặt vào con. Nhưng con e rằng nỗi kỳ vọng đó rất viển vông!” Xong tui dọt mất.
Thưa học Petrus Ký được ba năm thì Tía tui được đổi về Mỹ Tho, quê cũ; nên tui buộc lòng phải đi theo; dù xa mấy thằng bạn quỷ phá nhà chay suốt ba năm học nầy cũng buồn biết bao trong tấc dạ.

Về trường mới đi ban C, học chung với vài đứa con gái bên trường Nữ Lê Ngọc Hân gởi qua. Vì ban C ít đứa quá; nên không đủ túc số mà mở cho một lớp nên mấy em phải học… lưu vong.
Mấy em ra vẻ thiếu nữ con nhà đài các, mặc áo dài, điệu đà tay raglan, đội nón lá bài thơ của Huế, đi yểu điệu trước sân trường… làm mấy đứa học ban A, ban B nhìn theo mút con mắt.
Không có thì ước; chớ có rồi thì phiền toái lắm. Học chung với con gái là ngày phải tắm một lần chớ không phải tuần một lần như trước nữa.
Mặc quần áo đi học là phải xem xét đàng hoàng coi có quên kéo ‘fermeture’ đóng cái cửa sổ hay không? Kẻo mấy em kết tội mình khiêu dâm thì lại khốn.
Hết ba năm lên đại học, đường ai nấy đi nhưng khổ nỗi vắng mấy cái nón lá nầy là nhớ!
Tuy nhiên có người nữ đi qua đời ta như cơn lốc rồi không để lại xót xa gì ráo trọi. Tại sao vậy?
Vì: “Nè anh có nhớ em không? Hồi xưa hai đứa mình học chung lớp, ngồi chung bàn đó!”
“Dà! Già rồi nên xin lỗi tui không nhìn ra được bạn cũ?”
“Ờ để em nhắc cái kỷ niệm đắng cay nầy cho anh nhớ nhé! Anh thường gọi em là hột mít đó, nhớ chưa?”
“Nhớ rồi nhưng quả anh nhìn không ra vì em bây giờ không còn là hột mít nữa… Mà thời gian đã biến em thành… một trái mít!”
Chọc quê người em cùng lớp mình năm nẩm thôi cho vui! Ai dè giống hịt khi xưa ta bé ta chơi, em giận thiệt!
Em hứ cái cốc rồi bỏ đi bàn khác sau khi phán một câu mình nghe cũng đau lòng hết sức: “Đừng có làm tàng nhe! Hồi xưa xấu trai thấy thương luôn. Đi học bữa nào gặp cái bản mặt của anh tối về ngủ, tui cũng đều bị ác mộng! Gần năm chục năm rồi, bữa nay gặp lại anh nữa, tui e ác mộng ngày xưa lại trở về trong giấc ngủ của tui!”
Thưa bà con! Sau nầy mình ra hải ngoại rồi. Mấy năm đầu thì mạnh ai nấy cày! Cày tối tăm mặt mũi để lạc nghiệp, an cư. An cư rồi thì nhớ nhau sao không tìm nhau? Vậy là hội đoàn lập ra như nấm gặp mưa vậy. Trường nào cũng có hội ái hữu hết để bạn bè cùng trường gặp lại, ôn lại thời đi học, cái thời ai cũng cho là đẹp nhứt đời người.

“Hôm nay tôi trở về thăm trường cũ/ Nhiều nét đổi thay tường mái rêu mờ/” “…Thầy đó trường đây bạn hữu đâu rồi?/ Bao nhiêu kỷ niệm hoa bướm ngày thơ/ Vang trong nỗi niềm nhung nhớ/ Có ai đi thương về trường xưa?”
Giờ thì mình không về trường xưa được thì mình gặp lại bạn xưa cho đỡ ghiền vậy mà.
Hằng năm, trường nào cũng có tổ chức luân phiên Đại hội toàn thế giới mà học sinh cũ về đôi khi phải bay cả hàng chục ngàn cây số, đi Mỹ, đi Úc, đi Canada gặp nhau dù chỉ vài bữa cuối tuần cho thỏa cái lòng mong nhớ.
Đó là cái truyền thống hay đấy chớ nên khi có trường nào mời dự đại hội là tui, dù không phải là học trò trường đó cũng chịu khó đi cho nó vui.
Người ta nói trẻ sống cho tương lai; già sống về quá khứ! Tui già rồi chỉ còn cái thời quá khứ là vui thì tại sao không?
Tui đi dự đại hội trường xưa để tìm vui mà lại gặp chuyện buồn mới chết.
Chẳng qua mấy tuần trước đi dự hội Cựu Học sinh Phan Thanh Giản Cần Thơ, nghe chuyện nầy tui cũng buồn lây theo anh bạn cựu học sinh trường nầy.
Ảnh nói rằng: “Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ quê mình là thuộc địa của Tây; trong khi Trung Kỳ và Bắc Kỳ là xứ bảo hộ suốt 61 năm, từ năm 1884 mãi tới năm 1945 mình mới giành được độc lập đó anh!”
“Tây thì có thương tưởng gì dân mình! Chỉ muốn bóc lột tài nguyên của xứ mình chở về xứ nó. Sau khi bình định được đất Nam Kỳ để củng cố guồng máy cai trị, Tây cần người bản xứ đi học chút đỉnh để làm việc cho nó.
Chớ Tây với chánh sách chia để trị, chánh sách ngu dân nên tới năm 1945 dân Việt mình tới 95% phần trăm là mù chữ đó anh!”
“Đau đớn thay – phận An Nam/ Để cho Đại Pháp – nó làm thịt dân!

Cả cái Nam Kỳ mênh mông, cò bay thẳng cánh, chó chạy cong đuôi nầy chỉ có được 3 cái trường Trung học. Hai cái chỉ dạy tới “Đút rơm trâu ăn mê” tức là Diplôme, tức cái bằng Thành Chung ở Collège Le Myre de Vilers (sau nầy là Nguyễn Đình Chiểu) và Collège de Cantho (sau nầy là Phan Thanh Giản.)
Nhà giàu muốn con mình học lên nữa tới Baccalauréat Local (Tú tài Bản xứ) là phải lên thi vào Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký ở tận Sài Gòn.
Dẫu trường do Tây cất để phục vụ yêu cầu của thực dân nhưng (dù chúng không muốn) những ngôi trường nầy đã sản sinh ra biết bao người yêu nước như trường Phan Thanh Giản của tui đây!
Võ cũng như văn! Võ có ông làm tới Tướng! Còn văn như ông Sơn Nam, nhà biên khảo nổi tiếng xưa giờ về Văn minh Miệt vườn đã từng theo học đó anh!”
Trường Phan Thanh Giản (tiền thân là College de Cần Thơ) Tây cất năm 1917! Tới 2017 là đúng một trăm năm! Một thế kỷ! Hiếm và quý!
Vậy mà mấy quan lớn CS ở Cần Thơ (hỏng biết có đứa nào là học trò cũ hay không lại nỡ đang tâm ra lịnh tử hình trường Phan Thanh Giản) ra lịnh kéo sập xuống, cất lại mới toanh! Chỉ còn giữ cái mặt tiền để làm kiểng.
Nghe thiệt là buồn nhe. Có những công trình kiến trúc còn xưa hơn trường Phan Thanh Giản như: Nhà Thờ Đức Bà, Bưu Điện Sài Gòn mà còn giữ lại được! Thì trường Phan Thanh Giản tại sao không?
Ngay cả tuốt ngoài Bắc, trường Ngô Quyền mà tiền thân là trường Bonnal đã 96 tuổi, cất năm 1920, tức ‘ít già’ hơn trường Phan Thanh Giản có 3 tuổi thôi… Xưa học trò 45 đứa hiện giờ tới hơn 1600 đứa vẫn đi học đều đều phẻ re ngày hai buổi đó thôi.
Tại sao những công trình đó người ta còn giữ được mà Trường Phan Thanh Giản tụi bây lại đập tan tành cho đành chớ?
Thưa bà con! Anh bạn nầy vốn là một cựu học sinh rất nặng lòng với trường cũ, (Thiệt là đáng ngưỡng mộ nhe!), vài năm trước, mấy ảnh lên tiếng đòi lại cái tên Phan Thanh Giản cho trường mà sau 75 tụi nó tự động đổi thành Châu Văn Liêm.
Rốt cuộc, chạy tới chạy lui, chạy vô chạy ra, chỉ toàn nghe hứa cuội và trớt quớt. Lý do là mấy ảnh thiếu cái thủ tục đầu tiên tức tiền đâu!
“Tiến sĩ Phan Thanh Giản là một nhà yêu nước xuất chúng của Lục Tỉnh Nam Kỳ mình, cái đó giờ đã rõ không bàn cãi gì ráo thì phải trả tên trường Phan Thanh Giản lại cho dân chớ!”
“Sau 75, có ba điều đáng phê phán mà tui tin rằng những đứa đầu têu ở Thành phố Cần Thơ, chắc cũng có đứa là học trò cũ của trường nầy chớ hỏng lẽ xưa giờ tụi nó hỏng có ai đi học?
Một là dùng búa đập nát tượng cụ Phan Thanh Giản vừa mới dựng trong khuôn viên nhà trường năm 1974. Hai là bỏ tên trường. Rồi bây giờ cũng vì tiền, chúng đập luôn cả ngôi trường…
Dân Cần Thơ đâu có ai chịu… Mà tụi nó vẫn đập. Thiệt đau lòng tụi tui quá!
Trường đâu chỉ là cái vật chất thôi đâu… mà còn là cái hồn, cái tinh thần, là tình cảm, là kỷ niệm của biết bao lứa học trò năm cũ.
Tụi nhỏ, nhứt là đám con gái, nghe trường sắp bị đập bỏ, bèn mếu máo rủ nhau trở về, chụp hình kỷ niệm trường xưa! Kẻo mai kia mốt nọ biết đâu mà tìm?”
“Té ra mấy đứa nhỏ con cháu mình nó thông minh hơn tụi tui nhiều. Tụi mình lại ngây thơ hơn vì vẫn còn nắm níu, hy vọng trường Phan Thanh Giản sẽ được trùng tu chớ!”
Thưa hỏng biết an ủi anh gì hơn, nên tui nói xụi lơ là: “Mình có nước mà mình không biết giữ cho đến nông nỗi nầy thì cái trường của anh cũng chịu chung phần số tang thương theo vận nước đó anh!”
Nghe vậy ảnh chép miệng thở dài, cay đắng: “Biết bao kỷ niệm êm đềm thời đi học của Ba tui, Má tui, con cháu tui cũng sẽ tiêu vong.
Cái trường Phan Thanh Giản của tụi tui 100 tuổi; giờ tụi nó ‘hô biến’ thành một tuổi!
Tụi mình giờ chỉ còn biết:“Minh tinh chín chữ lòng son tạc/ Trời đất từ rày mặc gió thu!”
đoàn xuân thu
melbourne.
sangtao.org
Hồ Đình Nghiêm
Posted 01/12/2017
Post by Sơn râu 19 Feb 2024

Milkmaid
Johannes Vermeer
Phòng tranh mang tên “Giao Mùa” mở cửa hơn hai ngày thì bị đóng. Mưa đang về, bay nghiêng hạt xuống một địa phận sẵn lòng đón nhận sự dầm thân trong rét mướt. Tấm bích chương mềm nhũn, hoen màu, chịu thử thách ban đầu cái tác hại của nước ngấm. Hàng chữ “từ ngày 7 đến ngày 14” đã bị mưa cào đến thủng giấy, hết còn đọc ra. Đây là cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên của Nguyễn Văn Xê, 30 bức tranh sơn dầu hiện hữu sau 10 năm mài miệt vẽ. Xin được giấy phép đúng một tuần, chỉ bán được một bức “Thiếu Nữ Cởi Áo Lụa Bên Hồ” thì… giông bão tới.
Đột ngột. Khách muốn thưởng ngoạn ngác ngơ trước cánh cửa có bắt cái khoá rõ to. Những kẻ muốn lợi dụng một không gian nồng ấm để trú mưa cũng bị dội ra. Nghệ thuật mà làm gì mấy cha! Nghe đâu bão lớn ngoài biển Đông đang đe nẹt đòi thổi vào. Hai ba người đứng luận chuyện trước cửa đóng then cài. Thì ít ra phải có mặt tay hoạ sĩ đứng đó phân bua giải thích. Đóng bất ngờ kiểu này coi bộ không êm. Ừ, quả có đột xuất thật! Tay ấy bị xe điên đụng phải chăng?
Nguyễn Văn Xê, 32 tuổi. Chẳng được đào tạo từ trường ốc chính quy. Do khéo tay cộng với niềm đam mê chẳng ngơi nghỉ nên trì chí tự mày mò để bước vào con đường nghệ thuật tạo hình. Quá trình đã từng góp tranh trong những cuộc triển lãm “12 khuôn mặt trẻ”, hoặc “Sức sống và cuộc đột phá của những cây cọ miền Trung”. Nguyễn Văn Xê, chưa vợ con. Tóc để dài, trang phục bụi bặm, quần jean thủng rách lấm lem màu dầu, và như đa số bọn “tác nghiệp” thứ nghề tự do vô bổ ấy, hắn nghèo rớt mồng tơi. Nhưng chớ nên áp đặt Xê là dân vô sản chuyên chính, hắn giàu có ở mặt khác, hắn sở hữu những thứ vô giá.
Nguyễn Văn Xê ngồi một mình trong căn phòng nhỏ, đóng kín. Một ngọn đèn vàng, một chiếc bàn gỗ và hai cái ghế. Phòng có trổ một ô cửa sổ, tấm kính mờ đục ở đó không bưng bít được vuông màu xám nát nhừ những giọt mưa mãi cào cấu bên ngoài. Một cốc cà phê, một điếu thuốc. Yêu cầu của Xê chẳng được đáp ứng, người ta chỉ vứt xuống mặt bàn tờ giấy vở học trò cùng cây viết từng bị những dấu răng gặm nhắm qua. Thật thà khai báo, có thể đó là đầu đề mà Xê phải trả bài, không nhất thiết phải đúng niêm luật vần điệu câu cú. Khi anh tự nhận mình vô tội thì chữ thật thà kia đã nhảy sang dối gạt. Tìm cách tạo dựng ra tình huống. Bằng không thì anh bó tay, để sự trinh nguyên cho trang giấy vở khỏi lấm màu. Anh sẽ bị bợp tai? Anh sẽ bị mắng chửi? Bị lên lớp? Bị nguyền rủa? Nguyễn Văn Xê cúi mặt xuống. Bài làm bao giờ cũng khởi đi bằng khúc dạo đầu: Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc…
Cửa mở, một “anh” cán bộ bước vào. Anh này không giống anh ban trưa dù áo quần của hai anh tựa hai giọt nước. Anh đứng ngọ dữ dằn, anh chiều tà bớt dằn dữ. Coi bộ tử tế vì ảnh có cầm theo ly cà phê, đặt xuống bàn, trước mặt Xê. Quen vẽ vời chứ không quen viết lách à? Anh ta vừa hỏi vừa kéo chiếc ghế trống, bốn chân gỗ lê thứ âm thanh nghe bất an. Uống đi, cho tỉnh trí. Nguyễn Văn Xê nghe lời, dù mãi hoang mang, hắn cố kềm giữ, không muốn để gã kia nhìn thấy năm ngón tay run. Có lần Ngọc ngồi làm mẫu đã gióng câu hỏi: Điều gì khiến anh sợ nhất? Hắn nheo mắt ngắm bầu ngực trần của cô gái tuổi 17: Anh sợ bị thương tật ở đôi bàn tay.
Cà phê rất tệ dù được uống trong hoàn cảnh này. Chẳng biết khi pha chế, người ta có hoà thêm “một thứ gì đó” vào trong chất nước đen đã mất mùi. Cán bộ sửa giọng, nhập đề buổi lấy cung: Bức tranh “Xuân Thì” là vẽ theo ngẫu hứng hay có chủ đích? Nguyễn Văn Xê khảy đất bám dưới móng tay: Xin lỗi, tôi không hiểu hết ý của anh… Người trong tranh rất giống một nhân vật ngoài đời… Ồ, cô ấy đồng ý làm người mẫu. Làm không công hay sao? Theo hợp đồng thì số tiền tôi phải chi trả là một triệu. Trả hết chưa? Cũng theo thoả thuận tôi đưa trước một nửa, số còn lại sẽ thanh toán sau khi đóng cửa phòng tranh. Chỉ mới hai hôm, tôi chẳng hiểu vì sao… Được, có hai chuyện vướng mắc nên đả thông: Thứ nhất, trên đánh giá là số tranh trưng bày đa phần đều mang tư tưởng ám tối gợi dục. Thứ hai, do đơn thưa kiện của bà Trần Thị Hoàn cáo buộc hoạ sĩ đã cưỡng bức và xâm phạm xác thân gái vị thành niên tên Phan Thị Ngọc, con bà đồng thời cũng là người mẫu trong bức “Xuân Thì”.
Sao ngồi nín khe vậy? Có phản biện không? Hay câm lặng là thú nhận lỗi lầm? Xê ngó xuống mặt gỗ trầy trụa trên mặt bàn, hắn từng vẽ chi ly, gọt tỉa sống động một cái bàn học thời niên thiếu hoen ố đầy vết mực đổ, ghim đầy nét khắc các mẫu tự cặp đôi nằm trong trái tim nham nhở. Và bức tranh tĩnh vật sống động ấy đã lọt vào mắt xanh một Việt kiều rinh về Mỹ quốc. Một ngàn đô la, hắn đã mời hai mẹ con đi vào nhà hàng cao cấp ăn mừng, đã mua quà theo sự vòi vĩnh của Ngọc. Hắn đã sống với những ngày êm đẹp ngắn ngủi gần như hoang tưởng, tận hưởng và phung phí…
Phóng lớn một tấm ảnh, chuyển qua tranh thì mất bao lâu? Nguyễn Văn Xê nhìn vào đôi mắt người quyền lực. Thú thật là tôi không hành nghề như thợ vẽ truyền thần, thứ công việc chuyên sao chép cho thật giống so với bản chánh. Đâu ai ra điều kiện khó khăn thế? Chỉ cần nhìn thoáng thôi là đủ phát hiện… kiểu như ngắm bức “Xuân Thì” thì biết ngay đấy là dung mạo cô Phan Thị Ngọc. Cũng tuỳ anh ạ, việc vẽ vời tôi chưa bao giờ tự ép mình vào một khung thời gian nhất định. Kẻ kia nhún vai: Ba hôm, giả dụ thế, là hoàn tất chứ gì?
Trước mặt Xê, vừa nằm trên vuông giấy vở là tấm ảnh cỡ 5×7 thu giữ một khuôn mặt đầy đặn của người thiếu nữ. Cứ gật đầu chu toàn cái hợp đồng nầy thì tự khắc cánh cửa kia sẽ mở rộng, tha hồ mà dầm mưa trở về nhà thu vén dọn dẹp phòng tranh. Nghe êm không? Có nghĩa là ngoài việc vẽ lại chân dung từ tấm ảnh này ra tôi không phải làm thêm thứ gì khác? Có đấy cậu ạ. Theo thủ tục cậu cứ viết cho xong tờ khai kia, những rắc rối tình cảm liên quan tới hai mẹ con ấy thì phải chính cậu tự giải quyết lấy, bồi thường tiền bạc gì đấy, chuyện đâu có gì phải náo loạn kiện tụng tới chốn pháp đình. An tâm đi, nhớ tập trung đầu óc vào việc được trao gửi. Người trong ảnh là vợ mới cưới của sếp cơ quan đấy chứ không đùa đâu nhé.
Qua trung gian một người bạn tôi gặp được Nguyễn Văn Xê, thực ra giờ này hắn đã đổi chữ ký, dưới góc tấm tranh thôi còn chữ X màu đỏ như trước đây, điền thế bằng chữ Dịch màu vàng. Hắn trú trong xóm nhỏ, cuối đường, tiếp cận với một nghĩa địa trồng lắm mộ bia và chân nhang và hoa héo. Hỏi Xê không ai biết, Dịch thì may ra có đôi ba người chỉ lối giúp. Dịch tóc húi cua, ngắn thật ngắn. Ngắn như tóc vừa mọc dài trên đầu kẻ vừa hoàn tục. Khi biết tôi có ý định in một tập truyện, hắn hứa sẽ minh hoạ giúp tôi cái bìa. Hắn hỏi viết thể loại gì? Ờ, mình viết chuyên tình. Vậy thì thay tranh tĩnh vật hoặc phong cảnh bằng môi hôn, bằng vòng tay ôm giữ, bằng thiếu nữ khoả thân, bằng cuống quýt xác thân nam nữ…
Tôi mời Xê hay Dịch đi ra đầu đường uống cà phê. Hắn mang theo xấp giấy nằm trong bìa cứng. Khi bày cả ba bức tranh màu nước cho tôi chọn, chúng làm khó tôi bởi cả ba đều đẹp hết chỗ chê, phải băn khoăn nhờ tác giả cho ý kiến. Tôi nghe lời hắn: Bức này có nhiều khoảng trống, sẽ dễ sắp xếp những con chữ nằm vào mà chẳng phá hỏng bố cục. Nhan truyện nên dùng màu nâu, những chữ khác màu cam, nét thật mảnh kiểu chân phương, như vậy nó “ăn” với màu sắc đường nét của bức tranh. Không nén được, tôi hỏi: Vì sao chữ ký lại là Dịch mà thôi còn Xê? Đơn giản vì hôm nay không còn như hôm qua. Hắn cười với tay xoa đầu. Mình xuống tóc cũng là cách cố quên đi ngày cũ.
… Khi bước vào phòng, sau khi đóng lại cánh cửa bằng lưng, N. đưa tay gạt xuống công-tắc đèn. Loay hoay một đỗi, N. xua đuổi bóng tối bằng những ngọn nến cô vừa đốt sáng lên. N. quay mặt với hai tay đang mang lại chiếc bánh kem, những đốm lửa nhảy múa, một gương mặt nửa sáng nửa tối và đôi mắt sâu, thu giữ một hân hoan long lanh. Luôn luôn, bầu khí quyển trong căn phòng này phải bị hoán đổi khi N. xuất hiện. Mãi hoài N. vẫn là người muốn xáo trộn cái trật tự mà tôi chẳng biết cách sắp xếp chúng. Nếu đó là sự bừa bộn thì một khi đã bị giăng bủa chẳng ai phải khó chịu cả. Và tôi, tôi vui vẻ thuận lòng đón nhận lấy dù đôi lúc N. tới, bắt tôi phải ngưng ngay công việc. Những mảng màu thôi tấp vào mặt bố, những đường viền phải chịu đứt ngang. Chúc mừng sinh nhật. N. nói. N. nhắc về một con số, một ngày tháng mà lý ra tôi buộc phải nhớ hơn ai cả. Tôi chùi đôi bàn tay vào cái khăn lau mặt cũ. Tôi ôm lấy N. khi cô vừa đặt bánh xuống mặt bàn. Có thể khi mua bánh cô đã nhón lấy một thỏi chocolat. Môi N. còn vị ngọt đắng, như thể nó vừa tan trên lưỡi nóng, như thể nó còn vướng víu ở kẽ răng chờ tôi dọn sạch. Bao giờ thì đến ngày sinh nhật của em? Tôi hỏi khi mũi mình đang đánh cắp hơi thở N. rối loạn. Hôm nay, em nghĩ vậy. Chính xác là ngày nào thì chẳng một ai còn nhớ, nhà bị cơn hoả hoạn đốt sạch, khi làm lại giấy khai sinh, ba em lấy ngày thành hôn cùng má để điền thế, bảo cho dễ nhớ, cho dù mai sau có bị thêm khổ nạn thì thứ tháng ngày kia sẽ không phản bội, mãi lưu vào đầu óc. Trong đống tranh nằm úp mặt kia, có bức nào anh đặt tên là “Vết Sẹo”? Hoặc “Thương Tích”? Vụ cháy nhà đã làm em phỏng nặng, khi nhìn thấy dấu tích nhăn nhúm đó, liệu anh còn thương em?
Không một ai bỏ công thổi đi những đốm lửa run rẩy trên đầu các cây nến nhỏ cắm xiêu vẹo trên mặt bánh. Chúng sẽ thầm lặng đi tới hết đường để rồi tắt ngúm, nhưng khi chúng hấp hối, chúng còn đủ lực để soi cho tôi thấy vết bỏng cháy đã thành sẹo sau mông N. Nó làm da thịt ở đó co rúm lại để phá bớt một hình thế vốn tròn trịa. Trước, tôi chỉ vẽ bán thân N. trong động tác đang cởi áo. Giờ đây thì N. thôi ngượng ngùng dấu che. Hãy cùng nhau ăn mừng sinh nhật, nghe anh. Chúng tôi nằm xuống giường và chính tay N. đã thiện nguyện mặc chiếc áo mưa cho xác thân tôi đợi cơn giông lũ đổ về…
Tôi xoá bỏ truyện ngắn này, không nằm trong mục lục cuốn sách sẽ mang đi in. Người bạn hỏi thăm rằng tôi đã gặp tay hoạ sĩ ấy để xin cái mẫu bìa chưa? Rồi, anh ta dễ chịu hơn tôi tưởng, chỉ cho mà không nhận một đền đáp nào cả. Ừ, tay ấy chơi được. Hắn từng nếm trải hương vị dịu mát cũng như sóng gió bức bối ở cuộc sống này. Hắn là nạn nhân giữa một cuộc tình tay ba. Hai mẹ con cùng yêu mù quáng riêng hắn. Một tình duyên đầy thương tật. Mình còn giữ một bức tranh thuở đầu đời của hắn, dùng toàn gam màu lạnh, vẽ một con mèo co thân dưới chân giường trông lên con chim bất động ở trong lồng. Bức tranh thần sầu ở chỗ, là khi nhìn ngắm bạn sẽ bắt gặp ở đó nguyên vẹn nỗi bất an, ngầm thông báo một tai ương sẽ xẩy tới. Đó là thời gian mà hắn ký tên X. Toàn bộ bức tranh chỉ duy có mẫu tự ấy là màu đỏ.
Tôi còn một ít tiền, tôi nghĩ nên mời Xê hoặc Dịch tới một quán ăn, thế lời cảm ơn về những gì hắn trao cho. Cuối đường vẫn là nghĩa trang cô quạnh thiếu kẻ viếng thăm vọng tưởng khấn nguyện. Cửa đóng, gõ không nghe hồi đáp. Tiếc công, tôi chưa muốn về vội, linh cảm là hắn quanh quất đâu đó, không xa. Tôi thả bộ đi men ngoài hàng rào phân định ra vuông lãnh địa, bóng chiều bắt đầu bôi xoá những hình thể, chỉ có những tấm bia mộ màu trắng là biết phát quang. Và rồi tôi trông thấy hắn. Đối mặt là tảng xi-măng khắc ghi tên tuổi tháng ngày sinh tử của kẻ bất hạnh. Là ai đã bỏ cuộc chơi? Là người tình 17 bé nhỏ, hay phần mộ má người yêu? Những cây nhang được thắp, được cắm trước bia có gió thổi qua làm chớp đỏ từng hồi, yếu mệt. Tôi nhớ có lần nói với hắn, khi tập truyện hoàn thành, bản đầu tiên tôi dùng để mồi lửa nguyên hai trăm trang chữ. Tôi muốn người ở cõi âm chứng giám trước. Lần đó hắn nhìn tôi không nháy mắt, có tin không, hắn nói, hiện tại mình chẳng còn giữ được một bức tranh nào cả. Mình khánh kiệt trước cuộc đời này. Xê rồi Dịch, cứ loay hoay mà làm gì nhỉ?
Hồ Đình Nghiêm
sangtao.org
Thơ Hồ Đình Nghiêm
Posted 02/03/2018

Tranh Pablo Picasso
Bận sau nhớ làm cây thông
có loài hoa nở về đêm
nên mặt trời đỏ
thẹn thêm bóng tà
trăng đâu phải sáng ánh ngà
mà tròn đến khuyết hỏi hà cớ chi?
dáng xa về gần đôi khi
bình minh người đợi khả thi hôn hoàng
hoa ăn sương nghe bất toàn
gái tiếp thị đứng mặt xâm mày xoàng
nở làm chi nguyệt quế quàng
vai và bá cổ nặng đoàn đảng viên
ai xui bia bọt uống liền
nút đơm hai hột lộ miền đồi non
nước dâng giải hạn một lon
bàn tay năm ngón đã mòn lũng khe
người thua cuộc áo sờn che
giải phóng tiếp mụt măng tre tàn đời
hoa hướng dương hát sai lời
bởi chăng bóng tối phủ mời quỷ ma
tội em pháp nạn chửa tha
hồng nhan tiền kiếp khó ra ngục tù
nhập kho vì chẳng ô dù
an ninh một bọn lù đù ngó vô.
Thiệt tội trời
mềnh quen một nhà thơ
nữ mới nổi tiếng bài
đi đái trong bồn cầu
làm mấy ông lầu bầu
nhăn nhó đàn bà rằng
mần răng qua ngọn cỏ
xanh phê rồi bình đỏ
con mắt ngó như chộ
mặt nàng nguýt với háy
cam làm. quýt đâu chịu
chảnh vậy. mần gì nhau?
buồn vui mềnh lo ngang
dọc lưới mạng xã hội
đen có khi hoá trắng
lỡ nàng dính án oan
ôi ông địa. thị kính
lão đắc thọ khai mau
thật thà vành móng ngựa
nước kiệu nhân thân xấu
tiểu tiện vào chế độ
mi fa sắc vàng khè
sủi bọt khô nước miếng
toà khoan hồng phát bông
vệ sinh khi vào tù
nhỡ trăng sáng kinh nguyệt
mắc võng trường sơn xưa
mới chưa qua sử dụng
đụng độ chất xám tuôn
trào ra bài tân cổ
tui từng dòm mặt ảnh
đẹp giai hơn anh mao
lông lờ đâu chai mặt
háng nào biết lăn tăn
chớ lo bò trắng răng
ri rứa thêm rách việc
màng trinh nghĩa như nhau
nay ở trong thơ nên
mặc sức rặn ỉa đái
thép xung phong xuống biển
minh bạch cá chết thôi
nước thải chất dơ bẩn
đỏ như. đỏ như màu…
khẩu nghiệp tui đã tường
vách mọc loạn lỗ tai.
Hồ Đình Nghiêm
Huy Văn Trương
Post by Sơn râu 19 Feb 2024

Hình minh họa
Bài 11
Nước mất nhà tan
Tôi ngủ một giấc ngon lành thoải mái cho đến sáng ngày hôm sau.
Hôm nay, ngày 1 tháng 5 năm 1975, tôi dự định lát nữa sẽ xuống chợ Bến Thành, bán cái đồng hồ đeo tay, sau đó đến bến xe về Đà Lạt, về với cha mẹ và mấy đứa em của tôi.
Từ lúc thức dậy, tôi đã thấy mót tiểu nhưng làm biếng không muốn đi đến nhà tắm. Tôi biết, chỉ có một mình tôi ở trong nhà, đi đâu cho xa. Tôi đứng trên giường đái đại xuống sàn nhà cho xong việc, tiếng nước tiểu rơi lên những mớ giấy rác dưới sàn nhà kêu lộp bộp, âm thanh vang dội trong căn nhà vắng, nghe như tiếng của những giọt mưa đầu mùa rơi trên đống lá khô. Sau khi trút xong bầu tâm sự, trong người sảng khoái, nhẹ nhàng, tôi đi xuống nhà bếp, mở vòi nước dùng cả hai tay bụm lấy một vốc nước úp vô mặt, miệng ngậm một búng nước, ngửa cổ súc miệng sau đó phun nước xuống chậu rửa chén. Chuyện vệ sinh buối sáng coi như xong.
Ngoài sân im lặng như tờ không một bóng người, tôi lửng thửng đi ra phòng khách rồi khựng người lại, trước mắt tôi, Cúc đang từ trên lầu tay vịn lan can đi xuống. Cho dù có gặp ma cũng không làm tôi hoảng sợ bằng chuyện nhìn thấy Cúc. Tôi nghĩ rằng mình bị hoa mắt nên trông gà hóa cuốc, nhìn cô nào đó lại tưởng lầm là Cúc. Tôi dụi mắt để biết chắc rằng mình đã tỉnh ngủ, rồi nhìn lại một lần nữa. Cô gái trước mặt tôi rõ ràng là Cúc, lúc này Cúc đã đi xuống hểt cầu thang. Khi thấy tôi, Cúc lặng yên nhìn, đôi mắt của nàng mở lớn với hai hàng nước mắt chảy dài. Thời gian như ngừng lại, cuối cùng, Cúc khóc òa chạy lại ôm lấy tôi, với giọng nói đứt đoạn:
-Anh cũng chạy về Sài Gòn sao? Vậy mà em định vài ngày nữa sẽ lên Đà Lạt tìm anh.
Cúc ngưng nói, nhìn khắp người tôi, hai tay của nàng bóp mạnh vào hai vai của tôi.
-Sao anh ăn mặc kỳ cục như vầy? Áo quần của anh ở đâu?
Tôi ôm Cúc.
-Anh tưởng rằng em đã đi Mỹ với ba em từ tháng trước, tại sao giờ này em còn ở đây?
-Em phải chờ anh, em không thể bỏ anh được. Em nói với ba là em chỉ đi Mỹ khi nào có anh. Hơn nữa, tháng trước khi em về tới Sài Gòn ba em đã lo tất cả giấy tờ cho mọi người đi Mỹ, trong đó có bà má ghẻ của em với thằng bé con của bà ấy, thêm cha, mẹ, anh, em của bả. Điều tệ nhất là có luôn thằng bồ của bả núp dưới danh nghĩa là anh bà con. Anh đã biết mối bất hòa giữa em và ba em từ trước, đứng trước tình cảnh tệ hại như vậy em chán nản thật sự, không còn muốn đi đâu nữa.
Tôi ngắt lời Cúc.
-Chính ba của em điện thoại cho anh nói rằng, ông và em đang đợi lên máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhất.

Hình minh họa
Cúc nói với tôi:
-Đúng, tất cả đang ngồi chờ máy bay ở phi trường, nhân lúc ba em đi gọi điện thoại cho ai đó, em trốn về lại đây cho đến giờ. Anh biết không, mấy tuần trước vì có những trận đánh lớn xảy ra ở Long Khánh giữa Sư đoàn 18 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Việt Cộng. Nếu không, em đã đi lên Đà Lạt tìm anh rồi.
Tôi kéo Cúc ngồi xuống cái bậc thềm bằng gỗ của cầu thang, rồi chuyển đề tài.
-Em ở nhà tại sao không đóng cửa lại để cho người ta vào đây hôi của, dọn sạch hết tất cả đồ đạc trong nhà.
-Em cần anh chứ đâu cần của cải vật chất. Ngày hôm qua, khi nghe Tổng Thống kêu gọi quân nhân buông súng, chờ bàn giao trên đài phát thanh, em mở cổng kêu người đi đường vào, ai muốn gì thì cứ tha hồ mà lấy.
Tôi nghe Cúc nói mà không tin nổi, chỉ sợ mình nghe lầm.
-Em kêu người vô lấy hết đồ đạc, đập phá nhà cửa của mình?
Cúc nói:
-Ba em là nhà đại tư bản địa ốc ở Sài Gòn, tất cả nhà cửa kể luôn căn nhà này trước sau gì Việt Cộng cũng lấy. Em thà để cho những người dân nghèo lấy hết của cải về dùng, còn hơn là để cho Việt Cộng.
Câu nói của Cúc khiến tôi tỉnh mộng. Bấy lâu nay tôi chạy trốn Cộng Sản mà không biết rằng nước đã mất thì tự do không còn, ngay cả mạng sống của mình có giữ được hay không cũng chưa biết được, vậy mà tôi vẫn còn ngoan cố chỉ lo ôm giữ vài cái bàn, dăm ba cái ghế. Cái lo nghĩ thiển cận giống như chuyện tôi đi tìm tình yêu ở tận mãi đâu đâu, trong khi mối tình sâu đậm của Cúc sờ sờ trước mắt mà tôi không thấy. Tôi tự hỏi mình, chuyện gì sẽ xảy ra nếu không có hai người lính Quân Cảnh chận tôi lại ở đuôi chiếc phi cơ C130.
Tôi nắm tay Cúc, kéo xích lại gần mình.
-Hôm qua, khoảng năm giờ chiều anh đến đây, lúc đó em ở đâu?
-Em đang ở trong phòng của em, còn anh ở đâu?
-Anh đang ở dưới nhà bếp, đói bụng quá may nhờ tìm thấy hộp đậu trong góc tủ giúp anh giải quyết được cái đói. Tối đến anh ngủ trong căn phòng mà ngày xưa khi về đây anh đã ở.
Ham nói chuyện, tôi quên mất là mình chưa ăn sáng. Tôi nói với Cúc:
-Anh lại đói quá sức rồi, mình phải ra phố tìm cái gì ăn sáng.
Cúc vuốt tóc tôi.
-Tội nghiệp cho anh, trên phòng em còn thức ăn dự trữ rất nhiều.
Tôi đứng lên, định kéo Cúc đứng dậy, bỗng nhiên tôi nghe nhiều tiếng nổ ầm ầm vang trời của tiếng máy xe từ ngoài sân đưa vào, mấy khung cửa kính trong phòng rung động mạnh tựa như bị chấn động bởi bom nổ. Tôi nhìn ra ngoài, năm, sáu chiếc xe tăng nối đuôi nhau chạy vào nhà, chiếc chạy đầu với lá cờ hai màu xanh đỏ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam cắm gần pháo tháp.

Hình minh họa
Tôi nắm tay Cúc chạy ra ngoài sân. Trước mặt tôi, một gã bận thường phục, dẫn theo hàng chục tên cán binh Việt Cộng với súng đạn đầy người, hắn chỉ vào tôi và Cúc:
-Các người là ai?
Cúc lên tiếng.
-Tôi là chủ nhà.
Gã bận thường phục lên giọng hùng hổ như muốn ăn tươi, nuốt sống người đối diện.
-Đừng có láo, tên Nguyễn Văn Bảy đâu rồi?
Cúc trả lời hắn:
-Ông ấy không có ở đây.
Gã bận thường phục quay đầu nói với mấy tên cán binh Việt Cộng.
-Các đồng chí cứ thoải mái tìm chỗ bố trí cho xe tăng, mọi việc khác để tôi lo.
Vừa dứt lời, hắn quay lại nói với Cúc:
-Chúng tôi được lệnh tiếp thu căn nhà này, các người phải ra khỏi nơi đây lập tức, bằng không, chúng tôi không chịu trách nhiệm.
Cúc hỏi lại hắn:
-Tôi là chủ nhà, tại sao ông lại đuổi chúng tôi ra?
-Nói láo, tôi sống ở vùng này mấy chục năm rồi, đây là nhà của tên phản động Nguyễn Văn Bảy, hắn cấu kết với đế quốc Mỹ, cướp đoạt đất đai, tài sản, nhà cửa, làm giàu trên xương máu của nhân dân. Giờ này, chắc hắn đã chạy theo bọn đế quốc Mỹ rồi. Cô là gì của hắn?
-Tôi là con.
-Còn cái anh này.
-Ảnh là chồng của tôi.
Với giọng miệt thị, gã nói:
-Con cái của bọn tư sản ôm chân đế quốc Mỹ như hai người đây, Cách Mạng tha tội chết cho là may lắm rồi, ở đó mà đòi nhà cao cửa rộng.
Đang nói chuyện, bỗng nhiên giọng nói của hắn trở nên quyết liệt. Hắn nói như ra lịnh:
-Được rồi, tôi cho hai người mười phút để thu dọn đồ đạc và đi ra khỏi căn nhà này. Sau đó, tôi không bảo đảm tính mạng của các người.

Hình minh họa
Chúng tôi, những người bị bắt buộc phải đầu hàng vô điều kiện, còn biết làm gì hơn dưới áp lực của kẻ thắng trận, họ nói bằng sức mạnh của xe tăng T54, của họng súng B40 và AK47. Hai đứa tôi bước chân ra khỏi nhà với một va ly quần áo, và cái túi xách tay của Cúc.
Tôi và Cúc, mò đến bến xe Đà Lạt nằm trên đường Petrus Ký, khi trời đã về chiều. Sau một hồi loanh quanh dò hỏi, cuối cùng chúng tôi tìm được một chiếc xe vận tải hiệu Desoto, loại trọng tải sáu tấn thường chở rau cải từ Đà Lạt xuống Sài Gòn, sau đó chở thực phẩm khô lên Đà Lạt.
Người tài xế nói với chúng tôi:
-Năm giờ sáng mai, xe sẽ khởi hành đi Đà Lạt, cô và cậu đây nếu muốn đi phải đưa tiền trước, mỗi người một ngàn.
Sau khi giải quyết xong chuyện xe cộ, tôi và Cúc ghé vào quán cơm gần bến xe, mồi đứa một dĩa cơm tôm, sườn nướng. Tôi nhìn con tôm to bằng hai ngón tay trong dĩa cơm, rồi nói đùa với Cúc.
-Em à, hôm nay ngày một tháng năm, cứ coi như là ngày cưới của tụi mình và bữa cơm này là tiệc cưới, em thấy được không?
Cúc ăn cơm mà nước mắt lưng tròng. Tôi vuốt nhẹ lên lưng của Cúc:
-Lẽ ra anh không nên nói đùa như vậy.
Cúc nhìn tôi.
-Anh nói đúng, hôm nay là ngày cưới của tụi mình, nhưng em không ngờ đám cưới lại thê thảm quá sức như vậy.
Tôi kêu thêm một chai bia 33.
-Mình cần có chút rượu mừng.
Cúc gật đầu, im lặng.
Khi hai đứa ăn xong bữa cơm chiều, màn đêm bắt đầu buông xuống, phố đã lên đèn. Sài Gòn hôm nay hình như tối hơn mọi đêm khác. Tôi thuê một chiếc chiếu trải xuống vỉa hè của một căn nhà gần ngay bến xe rồi đặt cái va ly sát tường. Cúc nằm gối đầu lên chiếc xách tay, tôi ngồi bên cạnh với cái quạt xếp, vừa quạt vừa đuổi muỗi cho Cúc. Cho đến khi Cúc trở mình, tôi chợt nghe được tiếng của hai tấm thẻ bài chạm nhau kêu lẻng kẻng, âm thanh của nó nghe như cả một trời quá khứ xa xôi vọng lại, khiến lòng mình chùng xuống.
Tôi hỏi Cúc:
-Em đeo hai tấm thẻ bài của anh?
-Anh không nhớ sao? Em đeo nó từ ngày đi Vũng Tàu với anh. Ở Viện đại học Đà Lạt, tụi bạn em rất thích cái món trang sức này, coi đó như là một cái mode mới.
Đêm tân hôn của chúng tôi, trên trời trăng sao chen lẫn với đèn đường. Tôi ngồi bên Cúc, chìm vào giấc ngủ trong cảnh màn trời chiếu đất, tay mân mê tấm thẻ bài, tay quạt muỗi, bên tai giọng hát đầy sắt máu, căm thù, từ cái radio của xe bánh mì khuya vọng lại:
Tiến về Sài Gòn đánh tan tành giặc Mỹ,
Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù,
Tiến về đồng bằng giải phóng thành đô.