Dâu bể trùng phùng

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Văn Trương

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy

Post by Sơn râu 22 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Chương 3

Mấy giọt mưa rừng.

Từ xa, tôi đã thấy Cúc đang đứng nói chuyện với anh tài xế xe vận tải. Một tay của Cúc đưa lên trời, tay kia chỉ về phía chiếc xe như muốn phân bua điều gì đó. Khi nhìn thấy tôi, Cúc bỏ mặc anh tài xế, vội vàng chạy về phía tôi. Dang tay nắm lấy tay tôi với đôi mắt đầy ngạc nhiên, Cúc hỏi.

-Anh đi đâu từ sáng tới giờ, làm em lo quá sức. Em phải năn nỉ mãi anh tài xế mới chịu đợi anh trở về. Mà nè, áo của anh đâu rồi? Tại sao lại ra nông nổi này?

Thay vì trả lời, tôi kéo Cúc ngồi xuống bậc thềm phía trước, dưới mái hiên của căn nhà mà chúng tôi ngủ tối hôm qua, rồi từ tốn kể cho Cúc nghe chuyện của viên chuẩn úy Nhảy Dù và năm người lính của ông ta. Cuối cùng tôi nói.

-Cái áo em mua cho anh ngày hôm qua ở chợ Bến Thành, anh đã dùng nó, đắp lên mặt của viên chuẩn úy Nhảy Dù rồi.

Cúc nói.

-Em thấy anh không mặc áo nên mới hỏi vậy thôi. Anh không nhớ sao? Hôm qua em đã mua cho anh ba bộ quần áo, để em lấy cho anh cái khác.

Tôi gật đầu, mắt liếc nhìn anh tài xế vừa hút thuốc vừa đi về phía chiếc xe. Khi ngang qua chỗ tôi và Cúc ngồi, anh ta vẫy tay.

-Cô với cậu lẹ lẹ lên. Mình đi cho rồi.

Tôi chụp cái áo tròng vào người không kịp gài nút, tay trái xách cái va-ly, tay phải nắm tay Cúc kéo vội lên băng ghế trước của chiếc xe tải. Cúc ngồi giữa, tôi ngồi ngoài, lòng cabin xe rộng rãi, nệm ghế dày và êm vì được thiết kế cho tài xế lái đường xa khiến tôi hài lòng, không muốn đòi hỏi gì thêm nữa.

Khi xe chạy đến cầu xa lộ Biên Hòa, Cúc đưa cho tôi gói xôi đậu đen được gói trong miếng lá chuối.

-Anh ăn đi kẻo đói.

Nói xong Cúc nhìn sang anh tài xế.

-Bác tài ơi, bác có ăn xôi không? Tôi mua tới sáu, bảy gói lận, đủ cho mình ăn tới Đà Lạt.

Anh tài xế miệng nói nhưng mắt vẫn dán vào kính xe phía trước.

-Cảm ơn cô, tôi không đói. Khi nào cần tôi sẽ xin cô.

Tôi vừa ăn xôi vừa đưa mắt nhìn quanh, khúc đường này quá quen thuộc với tôi. Tôi biết, chừng mươi phút nữa xe sẽ chạy ngang qua nhà máy xi măng Hà Tiên, rồi Trường Bộ Binh Thủ Đức. Nếu mọi chuyện suôn sẻ, chiều nay chúng tôi sẽ tới cầu Đại Ninh. Tại đây, tôi và Cúc xuống xe, tìm tàu bè hay bất cứ phương tiện gì để qua sông Đa Nhim, sau đó đón xe khác đi về Đà Lạt. Phần anh tài xế, anh ta phải bỏ xe lại bên này sông. Nếu muốn đem xe về Đà Lạt, cách duy nhất là anh tài xế phải chạy ngược trở lại ngã ba Dầu Giây, đi vòng qua Phan Thiết, Phan Rang rồi theo đèo Ngoạn Mục lên Đà Lạt.

Hình minh họa

Lương tâm của tôi không cho phép mình lừa gạt anh tài xế, về chuyện cầu Đại Ninh đã nằm dưới đáy sông rồi. Tôi nói với anh ta.

-Anh có biết là cây cầu Đại Ninh đã bị sập rồi hay không?

Anh tài xế trợn mắt nhìn tôi.

-Sập hồi nào? Mà tại sao lại sập?

Tôi trả lời.

-Cầu đã bị công binh của Trường Võ Bị Đà Lạt đặt mìn, giựt sập hơn một tháng rồi. Anh không biết hay sao?

-Ê…đó chỉ là tin đồn. Hôm qua, một ông bạn của tôi đã lái chiếc Desoto chở đầy rau từ Đà Lạt xuống Sài Gòn. Chính ông ấy nói với tôi, tất cả cầu cống trên quốc lộ 20 đều nguyên vẹn tốt đẹp, còn đường xá thì êm ru phẳng lì.

Tôi nghe anh tài xế nói mà tưởng như mình nằm mơ, làm sao có thể có được một chuyện thần thoại hoang đường như vậy. Tháng trước chính mắt tôi thấy Đại úy Thi, công binh của Trường Võ Bị Đà Lạt, trình với Thiếu tướng Chỉ huy trưởng là ông đã cho nổ sập cầu Đại Ninh rồi. Tại sao, hôm nay cây cầu vẫn còn nguyên? Không lẽ Đại úy Thi đã báo cáo không đúng sự thật. Không biết phải tin vào ai, tôi nghĩ thầm phải chi mình có đôi cánh, bay cái vèo tới cầu Đại Ninh để biết rõ hư thực như thế nào. Nghĩ như vậy nhưng tôi vẫn tin rằng cầu Đại Ninh đã bị sập, đúng như lời Đại úy Thi đã báo cáo.

Tôi thở dài rồi nói.

-Không thể nào có chuyện như vậy được. Chính tai tôi nghe báo cáo, cầu Đại Ninh đã bị giật sập.

Anh tài xế nhìn tôi, rồi ngập ngừng nói.

-Cậu dám đoan chắc như vậy, nếu tôi đoán không lầm, cậu phải là lính mà cũng có thể là sĩ quan của Trường Võ Bị Đà Lạt.

Tôi định nói dối rằng mình không phải là lính, vì không biết rõ anh tài xế là người có thân Cộng hay không. Bài học kinh nghiệm lúc sáng còn đó, trong lúc tranh tối tranh sáng như thế này, không biết giữ gìn lời ăn tiếng nói có thể mất mạng như chơi, nhưng không biết vì sao, tôi lại dõng dạc nói với anh ta.

-Đúng, tôi là trung úy thuộc Phòng hành quân của Trường Võ Bị Đà Lạt.

Gương mặt của anh tài xế chợt sáng lên, đang lái xe anh ta vội vàng đưa tay phải lên cuối chân mày.

-Chào trung úy, trước đây tôi là hạ sĩ nhất Nhảy Dù. Năm một ngàn chín trăm bảy mươi, tôi được giải ngũ….

Tôi nhìn bàn tay phải của anh tài xế chỉ còn ba ngón tay, ngón trỏ và ngón giữa của anh ta bị cụt mất. Tôi hiểu ngay tại sao anh ta được giải ngũ. Tôi nói mà như là nhắc nhở.

-Việt Nam Cộng Hòa đã mất rồi, xin anh đừng có gọi tôi là trung úy nữa. Tôi tên là Quân, còn đây là Cúc, vợ của tôi.

Anh tài xế cười.

Hình minh họa

-Cậu Quân nhắc tôi mới nhớ, mấy chục năm nay quen thói rồi, tôi sẽ thay đổi cách xưng hô cho hợp thời thế. Tôi tên là Minh.

Bầu không khí trong xe bỗng trở nên thân mật ấm cúng hơn, khi Minh lấy một lon nước ngọt đưa cho Cúc.

-Mời cô và cậu Quân.

Tôi nói.

-Cảm ơn anh Minh, bây giờ tôi có thể nói chuyện thật lòng với anh mà không sợ gì cả. Mấy phút trước đây tôi vẫn còn lo sợ, lỡ anh là người có cảm tình với Việt Cộng thì kẹt cho tôi.

-Cậu Quân khỏi lo, gia đình tôi là Ngụy thứ thiệt, Ngụy một trăm phần trăm.

Như để chứng minh cho lời nói của mình, Minh nói thêm.

-Tôi còn có hai thằng em đều là sĩ quan Nhảy Dù, một thằng chết trong trận tái chiếm Cổ Thành, thằng còn lại, tháng Ba vừa rồi bị thất lạc ở mặt trận Khánh Dương. Cho đến giờ này, tôi vẫn không có tin tức gì của nó.

Tôi hỏi Minh.

-Em của anh thất lạc ở Khánh Dương mang cấp bậc gì?

-Nó là chuẩn úy, ra trường năm ngoái rồi tình nguyện về Nhảy Dù.

Tôi giật mình và cảm thấy trái tim của mình đập mạnh hơn, hình ảnh của chuẩn úy Ngo quay về trong đầu. Tôi vội vàng hỏi Minh.

-Anh ấy tên gì?

-Nó tên Hoàng.

Tôi lắc đầu rồi nói.

-Không phải.

Minh nói với tôi.

-Phải mà, nó tên là Lê Văn Hoàng.

Tôi phân trần với Minh.

-Xin lỗi, tôi đang nói về một người khác.

Sau một hồi đắn đo suy nghĩ, tôi mới từ tốn kể cho Minh nghe về chuyện của ông chuẩn úy Nhảy Dù tên là Ngo, vừa bị bắn chết sáng nay. Gương mặt của Minh biến đổi theo từng chi tiết của câu chuyện, từ cái vẻ thờ ơ lúc ban đầu, chuyển dần sang căng thẳng. Khi tôi kể xong xuôi mọi diễn biến đã xảy ra lúc sáng nay, riêng cái đoạn tôi không dám nhận mình là lính Ngụy, tôi giấu biệt, lúc ấy cũng là lúc xe sắp đến Biên Hòa.

Minh quay nhìn tôi.

-Tôi có chuyện muốn bàn với cậu.

-Chuyện gì vậy anh?

Giọng nói của Minh lộ vẻ như trách móc.

-Tại sao cậu không phụ giúp mọi người một tay, lo chôn cất mấy người lính Nhảy Dù?

Hình minh họa

Tôi giải thích.

-Anh Minh à, trước khi đi, tên cán bộ chỉ huy của Cộng Sản có viết mấy chữ đặt dưới chiếc giày, với nội dung là cấm đem xác đi chôn.

Minh nói.

-Cậu không biết gì về Cộng Sản, tin bọn nó chỉ có nước bán lúa giống, đánh trống bỏ dùi là nghề của họ. Tên Việt Cộng viết tấm giấy đó, giờ này nó đã dông mất tiêu rồi, không bao giờ trở lại chốn cũ. Cậu có đốt đuốc tìm mười năm, cũng chẳng bao giờ gặp nó.

-Sao anh biết?

-Việt Cộng là bọn đa nghi xảo quyệt giống như bầy Cáo, chúng không bao giờ dám trở lại chỗ chúng đã đi qua hoặc đã trú ngụ vì sợ gài bẫy. Tôi còn lạ gì họ, suốt thời niên thiếu ở vùng xôi đậu, thêm gần ba năm lái xe chở hành khách, hai năm lái xe vận tải trên tuyến đường Sài Gòn – Đà Lạt, bị Việt cộng đào đường đắp mô, chận xe đóng thuế. Tiếp xúc thường xuyên với Việt cộng, cho nên tôi rành bọn họ quá. Hù dọa, khủng bố thiên hạ, là chính sách và đường lối của mấy ổng mà.

Minh ngừng nói, anh ta lần trong túi áo lấy ra bao thuốc Bastos xanh, chìa về phía tôi.

-Mời cậu Quân hút thuốc.

-Cảm ơn anh, để khi khác.

Minh quay cửa kính xe xuống, với cái bật lửa Zippo bóng loáng trên tay trái, Minh mồi thuốc, trong khi tay phải chỉ với ba ngón tay vẫn điều khiển tay lái một cách thuần thục.

Minh nói với tôi, mà khói thuốc vẫn còn đầy trong miệng.

-Cậu Quân à, tôi có chuyện cần cậu giúp một tay. Không biết cậu có đồng ý không?

-Chuyện gì? Nếu không phải chuyện hái sao trên trời, tôi sẽ làm ngay.

Minh nghiêm giọng.

-Tôi muốn cậu với tôi, tụi mình đi chôn sáu người lính Nhảy Dù. Một mình tôi không đủ sức, nhất là vấn đề tài chánh. Hai ngàn mà cậu và cô trả tiền xe cho tôi ngày hôm qua, tôi tiêu xài đã hụt đi mất gần một trăm rồi.

Tự nãy đến giờ, Cúc ngồi yên nghe Minh nói chuyện với tôi. Bất ngờ Cúc lên tiếng.

-Anh Minh là dân Sài Gòn phải không?

Minh đáp.

-Tôi chỉ có một phần là dân Sài Gòn thôi.

Cúc nói.

-Vậy còn mấy phần khác, là dân xứ nào?

Minh hỏi lại Cúc.

-Cô muốn biết gốc gác tôi ở đâu, là dân xứ nào phải không? Ba anh em tôi gốc ở Bến Tre.

Hình minh họa

Cúc hỏi.

-Tại sao anh không ở Bến Tre mà lại lên Sài Gòn? Chắc ở dưới đó mất an ninh chứ gì?

Minh nói.

-Việt Cộng gọi đó là vùng đất bất khả xâm phạm của họ, cho nên ở Bến Tre tình hình an ninh không được yên ổn như Sài Gòn, nhất là làng của chúng tôi ở cách tỉnh khá xa, khi mặt trời mọc phe Quốc Gia mình kiểm soát, lúc mặt trời lặn lại thuộc về đám âm binh Việt Cộng. Sống ở vùng quê, chúng tôi thấy rõ cái dã man tàn ác của Việt Cộng mà những người sống ở thành phố như cô và cậu Quân, không bao giờ biết được.

Minh hít một hơi thuốc dài rồi mới thong thả nói tiếp.

-Nói có sách mách có chứng, tôi phải kể lại chuyện sau đây, để cậu Quân và cô Cúc thấy rõ cái man rợ của Việt Cộng. Đâu khoảng đầu năm một ngàn chín trăm sáu mươi bốn, khi mà Đệ Nhất Cộng Hòa vừa mới sụp đổ được vài tháng, sau đó hàng rào ấp chiến lược bị tháo bỏ, tình hình an ninh trong các xã, ấp bắt đầu trở nên tồi tệ. Những viên chức hành chánh của xã, ban ngày họ làm việc tại văn phòng xã, đêm đến họ phải ôm mùng mền vô trong Quận để ngủ, hầu tránh sự truy lùng của du kích quân Cộng Sản. Một buổi chiều nọ, ông xã trưởng Lâm Châu sau giờ làm việc, cao hứng làm vài ba xị đế, khi đã ngà ngà say, ông quên mất cái nguy hiểm nên ngủ luôn tại nhà. Nhà tôi ở cách nhà ông xã trưởng Lâm Châu khoảng chừng mươi mét, giữa hai căn nhà là một hàng dừa lão. Khoảng chín giờ tối, bốn ông Việt Cộng súng ống đầy người, kéo đến nhà ông xã trưởng. Sau khi đọc bản án tử hình được viết trên một tờ giấy xé ra từ một cuốn vở học trò, với nội dung là ông xã trưởng đã làm tay sai cho Mỹ Ngụy, bức hại dân lành. Chuyện mới nghe qua tưởng như là giỡn chơi, thế nhưng khi thi hành án lệnh, là cắt cổ thiệt, thời bấy giờ khi giết người để răn đe, Việt Cộng chỉ dùng một cách duy nhất là cắt cổ. Đối với Việt Cộng chuyện cắt cổ Ngụy quyền cũng đơn giản giống như mấy bà nội trợ cắt cổ con gà, con vịt. Tay Việt Cộng thi hành bản án, đúng là một sát thủ chuyên nghiệp, hắn tính toán một cách chính xác, cắt cổ như thế nào mà ông xã trưởng không chết ngay. Ông xã trưởng Lâm Châu, tuy bị thương nặng nhưng vẫn cố bò đến cái gốc dừa gần nhà tôi, suốt đêm ông rên la thảm thiết, rồi kêu cầu cứu, nhiều lúc lại rú lên như chó tru. Nhìn thấy người bị thương nằm đó, tôi nói với ba tôi hãy cứu ông ta. Ba tôi ra dấu cho mấy anh em tôi yên lặng, ông chỉ vào căn nhà bếp của ông xã trưởng, nơi mà ngọn đèn dầu hãy còn tỏa chút ánh sáng mờ mờ, rồi nói “Bọn Việt Cộng vẫn còn ở trong nhà ông xã trưởng. Nếu ba cứu ông ta, cả gia đình mình sẽ bị tụi Việt Cộng xử tội, cái tội tiếp tay bao che cho bọn phản quốc chạy theo Mỹ Ngụy. Mấy đứa bây có muốn bị cắt cổ hay không? Nếu không, hãy im lặng”. Mãi cho đến khi trời mờ sáng, tiếng kêu của ông xã trưởng mới yếu dần rồi tắt hẳn. Khi biết chắc rằng mấy ông Việt Cộng đã rút đi rồi, ba tôi và tôi vội chạy ra gốc cây dừa nơi mà ông xã trưởng Lâm Châu đang nằm, với chút hy vọng là sẽ cứu được ông ta. Đến nơi, tôi lặng người đi vì sợ, xác ông xã trưởng nằm bên vũng máu hãy còn tươi, một vết cắt tím bầm nơi cổ, hình như máu hãy còn tiếp tục rỉ xuống đất. Gương mặt ông xã trưởng trắng nhợt, đôi mắt trợn trừng, cái miệng há hốc như con cá Ngảo cần không khí để thở. Tôi đoán rằng, ông xã trưởng phải chết trong đau đớn cùng cực.

Minh ngừng nói, đưa điếu thuốc đến gần khe cửa, chút tro tàn nơi điếu thuốc bị gió cuốn hút ra ngoài.

-Ngay ngày hôm đó, ba tôi dẫn anh em tôi ra bến xe, cho ba đứa cùng “Đồng Khởi” lên Sài Gòn, tạm trú nơi nhà ông chú của tôi ở khu Bàn Cờ. Trước khi chia tay, ba tôi căn dặn tôi phải lo cho hai đứa em, đừng có bận tâm gì về ông.

Minh quay nhìn tôi, gương mặt của anh hiện rõ nét đau khổ.

-Cậu Quân có biết số phận của ba tôi ra sao không?

Tôi ngập ngừng.

-Coi bộ hơi phiền à nghe.

Minh vội nói.

Hình minh họa

-Chỉ phiền thôi sao? Chưa kịp nhớ về ba tôi thì một người bạn của chú tôi từ dưới quê lên, báo cho chú tôi biết là ba tôi đã mất rồi. Cái chết của ba tôi, giống hệt cái chết của ông xã trưởng Lâm Châu. Ba tôi chết, một cái chết thê thảm, oan ức, tức tưởi, chỉ vì có ba thằng con lên Sài Gòn học, chạy theo Mỹ Ngụy. Chúng tôi không một đứa nào dám về quê, dự tang lễ của ba tôi, không được nhìn mặt ông lần cuối cùng, năm đó tôi vừa mười tám tuổi, chiến tranh đã bắt đầu lan rộng khắp Miền Nam. Tôi biết rằng trước sau gì mình cũng phải đi quân dịch, sau nhiều ngày suy nghĩ, tính toán thiệt hơn, tôi tình nguyện vào Nhảy Dù. Chuyện tôi quyết định vào Nhảy Dù, không biết đúng hay sai nhưng hai đứa em của tôi, khi nhìn thấy ông anh của chúng oai hùng trong bộ đồ bông nên sau khi đậu tú tài, chúng vô Thủ Đức rồi cũng tình nguyện vào Nhảy Dù luôn.

Tay trái cầm điếu thuốc, cánh tay tì lên tay lái, Minh dùng tay phải nâng lon nước, hớp một ngụm.

-Chúng tôi chỉ là dân tạm trú ở Sài Gòn.

Cúc nói.

-Ở Sài Gòn, anh có biết ông Nguyễn Văn Bảy không?

-Không, mà cha nội đó là ai vậy? Tài xế xe đò hả?

Cúc cười vui vẻ.

-Đương nhiên là anh không biết, nhưng ông trùm nhà cửa ở Sài Gòn chắc anh biết. Đúng không?

-Ông trùm nhà cửa ở Sài Gòn thì ai lại không biết, có phải là ông Bảy Ấn không?

-Đúng, Nguyễn Văn Bảy tự là Bảy Ấn. Ông ấy là ba của tôi.

Minh vội vàng quăng tàn thuốc qua khe cửa, anh ta há hốc miệng, tròn xoe đôi mắt nhìn Cúc.

-Nè cô Hai, đừng giỡn với tôi, cô nói thì tôi nghe. Còn tôi nói có gì không phải, xin cô bỏ qua cho. Con gái của một đại tư bản, trùm nhà cửa ở Sài Gòn mà ngủ vỉa hè, làm sao tôi tin cho được.

Cúc vẫn cười vui vẻ.

-Tôi có bắt anh tin đâu. Tôi chỉ muốn nói với anh, ở trên đời này chuyện gì cũng có thể xảy ra được.

Cúc chỉ tôi rồi nói tiếp.

-Hai ngày trước, vợ chồng tôi còn sống trong một ngôi biệt thự nguy nga ở đường Công Lý. Sáng hôm qua, hàng chục chiếc xe tăng với hàng trăm lính Việt Cộng chạy vào sân nhà tôi, họ đuổi vợ chồng tôi ra khỏi nhà. Đó là hành động của bọn côn đồ, bọn ăn cướp giữa ban ngày chứ đâu phải là quân Giải Phóng. Chuyện như vậy anh tin được không?

Minh suy nghĩ một chút rồi trả lời.

-Tôi tuy học hành không ra gì, có cái bằng Trung học đệ nhất cấp mà thi cũng không đậu. Nhưng nhờ sớm lăn lóc với đời, học hỏi, bươn chải, đọc thêm sách vở, nên tôi hiểu được chút ít gian manh của Việt Cộng. Dinh Độc Lập là biểu tượng cho cơ quan công quyền tối cao của Miền Nam đã bị nghiền nát dưới xích sắt xe tăng của Việt Cộng. Cướp được chính quyền rồi, nước Việt Nam là tài sản riêng của đảng Cộng Sản, họ muốn đem cho ai cũng được, bán cho ai cũng xong.

Minh ngừng nói quay sang Cúc.

-Cô với cậu thử nghĩ coi, có một bọn ăn cướp, sau khi cướp được tài vật, thì chúng nó làm gì?

Không đợi cho Cúc và tôi trả lời, Minh nói tiếp.

Hình minh họa

-Ở đây tôi không muốn nói đến lũ ăn cắp, ăn trộm, bởi vì những hạng người này họ chỉ khoét vách đào ngạch, lén lút vô nhà cạy tủ lấy trộm của người, còn cái bọn ăn cướp là dùng vũ lực để cướp của người ta. Những gì dùng được chúng nó giữ lại để dùng, không dùng được, chúng đem đi bán sạch bách, lấy tiền chia nhau tiêu xài hoang phí. Đúng không? Cộng Sản cũng vậy mà thôi, mấy chục năm kiên trì, rình rập, lừa đảo, hôm nay họ đã dùng hàng chục sư đoàn lính chính quy cọng với xe tăng và trọng pháo, đã cướp xong hoàn toàn nước Việt Nam, ngày mai họ sẽ đem bán cái đất nước này lấy tiền chia chác cho các đảng viên của họ. Ngày nào, đảng Cộng Sản còn nắm quyền, trước sau gì nước Việt Nam cũng bị đem đi bán, bán cho đến sạch sành sanh mới thôi.

Tôi nghĩ thầm, anh chàng Minh này nếu được học hành tới nơi tới chốn, cuộc đời của anh ta sẽ khác đi nhiều, chứ không phải chỉ là một anh tài xế tầm thường chuyên lái xe vận tải. Tôi hỏi vặn Minh, với mục đích dò xét thêm về khả năng lý luận của anh ta.

-Dựa vào đâu mà anh nói như vậy?

Minh cao giọng.

-Dựa vào đâu hả? Thì cô Cúc mới nói với tôi đó. Hàng chục chiếc xe tăng, hàng trăm tên bộ đội với súng đạn đầy người, tràn vô sân nhà của cô, họ chỉa súng vô đầu, đuổi cô và cậu ra khỏi nhà. Đó có phải là chuyện họ mua căn nhà của cô và cậu, với cái giá thuận mua vừa bán hay không? Nếu cô Cúc nói rằng, cô đồng ý bán căn nhà cô đang ở cho Việt Cộng thì tôi sẽ im miệng, không có gì cần bàn cãi. Còn nếu cô nói rằng, đó là hành động của bọn ăn cướp thì chắc chắn là tôi nói đúng. Như vậy chuyện tương lai lũ Việt Cộng bán nước, sẽ bán sạch cái đất nước Việt Nam này, lấy tiền chia chác với nhau, là chuyện sẽ phải xảy ra.

Tôi nhắc Minh.

-Anh đang dùng “tam đoạn luận” để chứng minh là Việt Cộng sẽ bán nước, thế nhưng anh quên mất, tiền đề của anh đưa ra không đứng vững, bởi vì Việt Cộng nói rằng, họ đánh Mỹ là để giải phóng cho dân tộc.

Minh cười ranh mãnh.

-Tôi không cần biết “tam đoạn luận” hay “tứ đoạn luận” gì hết. Chuyện đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, giải phóng Miền Nam, đem lại độc lập tự do cho đất nước chỉ là chiêu bài để mị dân mà thôi. Từ thủa thành lập cho đến ngày hôm nay, đảng Cộng Sản Việt Nam núp dưới cái chiêu bài này để ăn cướp. Và đó là bản chất của họ, chuyện chỉ có vậy.

Cúc nhìn Minh như ngầm đồng ý, rồi xen vô.

-Anh Minh nè, tạm gác chuyện tranh cãi qua một bên, lúc nãy anh muốn cùng với chồng tôi, lo việc chôn cất mấy người lính Nhảy Dù. Phải không?

-Đúng, nhưng tôi không có đủ tiền.

Cúc với giọng nói đầy tự tin.

-Chuyện tiền bạc tôi có thể lo được, tuy nhiên vẫn còn có nhiều việc quan trọng hơn, mà mình cần phải làm trong việc chôn cất mấy người lính Nhảy Dù. Chẳng hạn: Phải chôn họ ở đâu? Ai sẽ là người đi mua áo quan?

Hình minh họa

Minh nói.

-Tôi báo trước cho cô và cậu biết, mình không thể nào chôn họ ở Nghĩa trang quân đội Biên Hòa.

Tôi chen vào hỏi Minh.

-Tại sao vậy?

Minh với giọng nói chắc nịch.

-Việt Cộng đóng quân ở đó đông như kiến. Mình mà đem xác mấy ông lính nhảy dù này vô đó chôn, chẳng khác gì chạm vào cái tổ ong vò vẻ. Chọc vào mấy ông đang say men chiến thắng, họ bắn bỏ mình như không.

Vừa dứt lời, Minh vặn người sửa lại thế ngồi trong khi hai tay vẫn cầm chắc tay lái.

-Ngày hôm qua, tôi lái xe đến Nghĩa trang quân đội Biên hòa, với mục đích là thăm mộ thằng em tôi một lần cuối. Thời thế đã đổi thay, gió đã đổi chiều, biết đâu sau này người ta sẽ cày xới, san bằng cái nghĩa trang này để xóa bỏ vĩnh viễn hình ảnh của những người lính Miền Nam. Em tôi tên là Lê Văn Huy, chuẩn úy Nhảy Dù chết trong trận tái chiếm Cổ Thành, thân xác của nó được đem về chôn ở Nghĩa trang quân đội Biên hòa. Khi tôi đậu xe gần bức tượng “Thương Tiếc” đang gặm bánh mì, uống ly nước mía. Tôi bỗng giật mình vì một ông lính Việt Cộng tay cầm cái ống nói, với giọng oang oang qua máy truyền tin “Bọn tớ đang ở ngay chân đồi mả lính Ngụy. Mẹ kiếp cái bọn Ngụy, chúng nó dùng nguyên một quả đồi để chôn xác hàng vạn thằng lính Ngụy, cảnh quang trông hoành tráng ra phết”.

Minh lại loay hoay mồi thêm một điếu thuốc, rít một hơi dài, thở khói ra mũi coi thoải mái hết sức.

-Tôi nghe tên Việt Cộng nói rõ ràng, nhưng phải suy nghĩ một lúc mới hiểu. Cô cậu biết nó nói gì không?

Cúc lắc đầu.

-Không, mà cảnh quang hoành tráng là cái gì?

Minh trả lời Cúc.

-Theo tôi hiểu, nó muốn nói Nghĩa trang quân đội Biên Hòa to lớn và đẹp đẽ.

Tôi hỏi Minh.

-Không chôn người ở Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, vậy thì mình phải chôn họ ở đâu?

Cúc nói.

-Em biết, chỗ xử bắn ông chuẩn úy Nhảy Dù đến Nghĩa địa Chí Hòa, khoảng mười phút lái xe. Chôn ở đó là tiện nhất.

Chuyện nói ra thì dễ nhưng khi thi hành mới khó. Chôn cất xong năm người lính Nhảy Dù và viên chuẩn úy, đồng hồ đeo tay của tôi chỉ một giờ sáng ngày 3 tháng 5 năm 1975.

Đợi cho đến khi Cúc thanh toán xong xuôi tiền công cho những người lo việc chôn cất, Minh giục tôi và Cúc.

-Chúng ta lên xe, trễ lắm rồi.

Đêm Sài Gòn phủ một màu đen, nhà cửa hai bên đường chỉ còn là những cái bóng chạy giật lùi mỗi lúc một mau. Chút ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn đường khi mờ khi tỏ của một thời xa xưa, không làm cho mặt đường sáng thêm chút nào. Đường phố vắng tanh không một bóng người, không một tiếng động ngoại trừ tiếng nổ đều đều bên tai của động cơ xe vận tải do Minh lái. Xe chạy băng băng trên xa lộ Đại Hàn, xuyên qua màn đêm dày đặc, lao đầu về phía trước.

Hình minh họa

Tôi nhìn Minh đang chăm chú lái xe, với vẻ mặt đầy mệt mỏi rồi nói với Cúc.

-Em đổi chỗ cho anh, anh muốn ngồi giữa để nói chuyện với anh Minh. Lái xe trong đêm vắng, có người chuyện trò hy vọng anh Minh sẽ đỡ buồn ngủ.

Cúc nhoài người ra ngoài, ngồi tựa vào cửa xe rồi nói với tôi.

-Phải đó, em cũng mệt quá rồi, cần nhắm mắt một chút. Hai người nói chuyện mà em ngồi ở giữa, em sẽ không ngủ được.

Tôi nói với Cúc.

-Em dựa vào vai của anh mà ngủ.

Cúc không nói gì, ngoan ngoãn tựa đầu vào vai của tôi.

Quay nhìn Minh, tôi hỏi nhỏ.

-Tôi biết anh là lính Nhảy Dù, nhưng yếu tố đó không đủ mạnh, khiến anh phải lo chôn cất sáu người lính Nhảy dù. Phải còn lý do nào đó chìm ẩn bên trong, anh có thể nói cho tôi biết được không?

Không vội trả lời tôi, Minh quay cửa kính xe xuống thành một kẽ hở nhỏ, mồi một điếu thuốc, rít một hơi dài, đốm lửa nơi đầu điếu thuốc rực sáng trong đêm. Chỉ một giây bừng cháy sáng, tôi thấy đôi mắt Minh như mờ đi. Minh nói với tôi, giọng nói trầm đều.

-Tôi làm như vậy vì tôi là lính Nhảy Dù, và tôi vẫn còn mang một món nợ với ông thầy của tôi, Chuẩn úy Bùi Anh.

Giọng nói của Minh trở nên xa vắng.

-Đâu hơn chục năm trước, mãn khóa Nhảy Dù, tôi cùng bốn chục tân binh được một ông thiếu úy lãnh về Tiểu đoàn I Nhảy Dù. Mang cái phù hiệu của Tiểu đoàn I nơi túi áo, tôi tham dự nhiều trận đánh lớn có, nhỏ có. Từ đồng bằng đánh lên cao nguyên, từ Sài Gòn bay ra vùng hỏa tuyến.

Đang kể chuyện say sưa, Minh đột ngột ngưng nói quay qua hỏi tôi.

-Cậu Quân có biết bản nhạc “Kỷ vật cho em” không?

Tôi trả lời Minh.

-Biết, đây là bản nhạc mà tôi thích. Đã là lính Việt Nam Cộng Hòa ai mà không biết bản này.

-Tại sao cậu Quân lại thích nó?

-Tôi là khách thường trực của quán cà phê Hạnh Tâm, bản nhạc này được mấy cô thu ngân cho khách nghe hoài. Mặc dù lời của bản nhạc nghe chán chường, đầy bi quan, mỗi lần nghe là một lần muốn tự tử nhưng nó lại có sức thu hút mãnh liệt. Tôi nghe riết rồi đâm ra thích.

Minh nói với tôi.

-Tôi thì khác. Sở dĩ tôi thích bản nhạc này vì nó nói đúng y bon chuyện năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm, Tiểu đoàn I Nhảy Dù của tôi, nhảy trực thăng vận vào mặt trận Bình Giã. Tôi mê bản nhạc này, vì có tôi hiện diện trong đó. Sau này tôi còn tham dự nhiều trận đánh nữa, như ở Sơn Tịnh Quảng Ngãi rồi quay về giải tỏa áp lực của địch quanh thủ đô, bảo vệ đài phát thanh Sài Gòn trong trận Tết Mậu Thân.

Thấy Minh sắp sửa lạc đề, tôi nhắc khéo.

-Anh Minh à, anh kể tiếp cho tôi nghe chuyện Chuẩn úy Bùi Anh đi.

Hình minh họa

Minh vỗ trán.

-Chút xíu nữa là tôi quên mất tiêu, nếu cậu không nhắc, chuyện như thế này: trong cuộc hành quân vùng Mõ Vẹt Cam-Bu-Chia, một biến cố trọng đại đã xảy ra khiến tôi nhớ mãi suốt đời. Chuẩn úy Bùi Anh và tôi bị thất lạc đơn vị, không địa bàn, không bản đồ, mỗi người chỉ còn khẩu M16 trên tay với vài băng đạn. Riêng tôi chỉ bị thương nhẹ ở chân, vết thương do miểng đạn pháo 82 ly không có gì nguy hiểm. Lúc bấy giờ, sau gần năm năm trong quân ngũ, tôi đã mang lon hạ sĩ nhất, là một chiến binh dày dạn chiến trường, quen xông pha nơi trận mạc. Tôi rất hãnh diện vì mình là một trong ba người còn sót lại, trong số bốn mươi tân binh được bổ sung cho tiểu đoàn vào cuối năm một ngàn chín trăm sáu mươi bốn. Trong khi đó, ông thầy của tôi là Chuẩn úy Anh mới ra trường được vài tháng, kinh nghiệm chiến trường chưa có bao nhiêu, ông ấy chỉ hơn tôi cái lon chuẩn úy gắn nơi cổ áo, chuyện mưu sinh thoát hiểm, di chuyển trong rừng, làm sao bằng tôi được. Tận cùng trong thâm tâm, tôi không phục Chuẩn úy Anh, nếu không muốn nói là coi thường. Chuyện trốn chạy Việt Cộng, hai người hai ý kiến trái ngược nhau, tôi chỉ muốn chạy thật mau, bất kể phương hướng, miễn làm sao thoát khỏi vùng ảnh hưởng của Việt Cộng càng sớm càng tốt. Với tôi, thì giờ là vàng bạc, chạy chậm đồng nghĩa với chết. Chuẩn úy Anh ngược lại, ông ta chạy nhưng vẫn cẩn thận xác định phương hướng. Giữa rừng già, không có địa bàn làm thế nào mà Chuẩn úy Anh có thể tìm được phương hướng. Vì nghĩ như vậy, nên tôi xẳng giọng với Chuẩn úy Anh “Chuẩn úy có biết đơn vị mình nằm ở chỗ nào không mà ông dò tìm phương hướng?” Chuẩn úy Anh trả lời “Tôi cũng như anh, không biết đơn vị ở đâu, nhưng tôi biết chắc một điều, nếu mình đi về hướng Đông sẽ là phía Việt Nam Cộng Hòa, hy vọng sống sót rất cao. Còn nếu đi về hướng Tây sẽ là Cam-Bu-Chia, là hậu cần của Việt Cộng, đó là tử địa. Anh có muốn đi theo tôi hay không, tùy anh lựa chọn”. Tôi đi theo Chuẩn úy Anh mà trong lòng đầy bực tức, hơn hai ngày trong rừng rậm, lầm lũi băng rừng vượt suối, hai thầy trò dẫn nhau tìm đường trở về lại đơn vị. Qua ngày thứ ba, vết thương nơi chân của tôi bắt đầu làm độc vì bị nhiễm trùng, cùng lúc ấy một cơn mưa nhỏ kéo đến đã làm cho toàn thân của tôi lạnh ngắt, tai ù đi như bị điếc, đầu thì nóng sốt trong khi chân tay lại run lập cập khiến tôi không thể nào di chuyển được. Tội nghiệp Chuẩn úy Anh, mặt mày hốc hác vì đói và mệt, vậy mà ông ấy một mặt vẫn cố gắng cõng tôi trên lưng, mặt khác vừa lo dò tìm phương hướng. Gục đầu trên vai của Chuẩn úy Anh, hai tay của tôi choàng qua cổ của ông ta, mắt tôi thấy rõ ràng, Chuẩn úy Anh cố lê từng bước chân nặng nề, đi xuyên qua những rừng cây âm u đầy muỗi mòng rắn rết. Tôi thầm nghĩ, nếu tình trạng bi đát như thế này kéo dài, cuối cùng cả hai sẽ cùng chết. Trong lúc tuyệt vọng, tôi nói với Chuẩn úy Anh “Ông thầy bỏ tôi lại đây, một mình ông đi nhanh hơn, may ra còn thoát được.” Chuẩn úy Anh nói với tôi, giọng nói chứa đầy tình nghĩa “Trong binh chủng của mình, những người lính Nhảy Dù coi nhau như anh em trong một đại gia đình. Một ngàn trái đạn pháo của Việt Cộng nổ chụp lên đầu, lính Nhảy Dù cùng nhau chung sức gánh chịu, bởi vì, họ từng chia xẻ với nhau từng ngụm nước trên đỉnh Trường Sơn, từng nắm cơm nơi địa đầu giới tuyến. Và điều quan trọng nhất là lính Nhảy Dù không bỏ anh em, không bỏ bạn bè. Một người lính Nhảy Dù nằm xuống nơi chiến địa, xác của họ phải được đem về hậu phương chôn cất.” Cuối cùng, Chuẩn úy Anh nói với tôi, câu nói mà suốt đời tôi không bao giờ quên “Trừ khi tôi chết đi, nếu còn một hơi thở, tôi còn cõng anh trên lưng”.

Minh ngừng nói, chừng như quá xúc động khi nhắc lại chuyện xưa, anh đưa tay quẹt ngang mắt của mình rồi nói tiếp.

Hình minh họa

-Mỗi một chữ của Chuẩn úy Anh nói ra, là một giọt nước mắt của tôi lại rơi xuống, trộn lẫn với những giọt mưa rừng lạnh ngắt. Đột nhiên Chuẩn úy Anh hỏi tôi “Tại sao anh lại khóc”. Ngạc nhiên quá sức, tôi không hiểu tại sao Chuẩn úy Anh biết tôi khóc. Tôi nói “Sao ông thầy biết?” Chuẩn úy Anh nói “Có mấy giọt nước mưa âm ấm, rớt vào cổ tôi”. Trong lòng đầy thương cảm, hối hận vì suy nghĩ nông cạn, sai lầm của mình, tôi buột miệng nói “Xin ông thầy tha lỗi”. Không biết Chuẩn úy Anh có nghe tôi nói lời xin lỗi hay không, nhưng ông vẫn cúi đầu lê bước. Một chuyện hết sức là may mắn, chiều ngày hôm ấy, khi chúng tôi vượt qua một cái trảng trống, được trực thăng phát hiện và bốc về. Những lời nói của Chuẩn úy Anh trong chiến trường ngày nào đã thấm vào từng mạch máu, từng tế bào của tôi. Đó là lý do khiến cho tôi ngày hôm nay, phải lo chôn cất sáu người lính Nhảy Dù.

Tôi nói với Minh.

-Bây giờ, tôi đã hiểu tại sao, nhưng trong lòng vẫn còn chút lấn cấn.

Minh lập lại.

-Lấn cấn?

Tôi gật đầu.

-Đúng vậy, nếu không có cái ơn cứu tử của Chuẩn úy Bùi Anh, liệu anh có lo chôn cất sáu người lính Nhảy Dù không?

Minh chần chừ một chút rồi mới trả lời.

-Câu hỏi của cậu quả thật là khó, tôi đành phải nói thật, câu trả lời có thể là không.

Quay nhìn tôi, Minh nói tiếp.

-Tôi biết làm như vậy là không phải. Nhưng mà xét cho cùng, tôi cũng chỉ là một con người bình thường như muôn vạn người khác mà thôi.

Tôi ngồi đó trên chuyến xe đêm đang lao đầu về Đà Lạt, chạy trở về quá khứ. Đèn xe chỉ đủ soi sáng chừng vài chục thước trước mặt. Đôi mắt của Minh đăm đăm dõi theo ánh sáng đèn xe, hai tay nắm chặt tay lái. Bầu không khí trong xe êm ả lạ thường, chỉ còn nghe chút hơi thở nhẹ nhàng đều đặn của Cúc bên tai, tôi nhắm mắt, miệng hỏi Minh:

-Anh có buồn ngủ không?

-Không. Tôi lái xe đường xa quen rồi. Khi buồn ngủ quá sức, tôi biết liền. Lúc ấy, tôi tấp xe vào bên lề đường ngủ một giấc độ chừng mươi phút, cơn buồn ngủ sẽ tan biến ngay.

Tôi đang trò chuyện với Minh nhưng mí mắt của mình cứ nhíu lại, kéo tôi vào giấc ngủ. Tuy là ngủ gà ngủ gật, thế nhưng đó lại là một trong những giấc ngủ phải nói là ngon nhất mà tôi có được, kể từ khi rời bỏ Trường Võ Bị Đà Lạt.

Trễ!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu
Post by Sơn râu 22 Feb 2024

Tranh Bảo Huân

Thưa! Văn hào William Shakespeare của nước Anh đã từng phán: “Nên tới sớm 3 tiếng đồng hồ hơn là đến trễ một phút!”

Vì ổng là nhà soạn kịch! Kéo màn, đèn tắt mà còn lục tục đi vô rạp, dẫm phải chân người khác, đau la oai oái! Giận là phải!

Tuy nhiên không phải ai cũng chịu khó lắng nghe lời khuyên chí lý nầy để không bao giờ đi trễ.

Tại sao vậy?! Thưa vì người đi trễ luôn vui vẻ hơn nhiều so với những người đang chờ đợi.

(Đời mà! Cái gì làm mình vui là được. Còn làm thiên hạ bực mình… thì cũng được…Vậy thôi!)

Mà nhân vật thích và cố ý làm người khác phải bực cả mình về cái thói cà chớn, chuyên đi trễ là Tổng Thống Nga, Vladimir Putin.

Nên có chuyện vầy: Sáng chuông reo tới giờ làm việc, Diêm Vương bệ vệ đăng đường, dỡ sổ khai tử ra, rồi hỏi: “Sao tới giờ nầy vẫn chưa thấy Vladimir Putin tới?”

Quỷ Sứ trả lời: “Ông Tổng Thống Nga nầy chuyên môn tới trễ xưa giờ lận! Tâu Bệ Hạ!”

Ngay cả đám ma của chính thằng chả, thần tin chắc là ‘giả’ vẫn tới trễ; trong khi thiên hạ đang nôn nóng chờ, để đem ‘giả’ đi chôn.

Nói có sách mách có chứng, Quỷ Sứ bèn đem hồ sơ đi trễ (dầy cui như cuốn từ điển Bách Khoa Toàn Thư) của Vladimir Putin trình lên để Diêm vương có chứng cớ mà thi hành kỷ luật; như bắt ‘giả’ phải ngồi bàn chông hay cưa hai nấu dầu; vì trên trần thế; Putin không hề ngán ai hết ráo.

Người vợ cũ của Putin là Lyudmila Putina đã từng tố cáo: “Em không bao giờ trễ hẹn nhưng Vladimir Vladimirovich luôn luôn trễ.

Một tiếng rưởi đồng hồ là thường. Em phải đứng quanh quẩn ở ga xe điện ngầm mùa Đông Moscow. Chờ 15 phút cũng được đi, kể cả nửa tiếng. Nhưng chờ suốt một tiếng là em khóc hu hu!”

Rồi phụ huynh của những trẻ con bị thiệt mạng trong vụ rớt máy bay cũng tố cáo là phải chờ suốt 2 tiếng đồng hồ tại nghĩa trang Bashkortostan năm 2002; vì Putin mãi bàn chuyện Syria với Ngoại Trưởng Mỹ, John Kerry, hơn kế hoạch dự trù tới 3 tiếng đồng hồ.

Năm 2003, Nữ Hoàng Anh tố: Putin bắt bà cụ ngồi chờ tới 14 phút; thiếu điều ngủ gục.

Năm 2012, Ngoại Trưởng Mỹ, John Kerry, cũng tố là: tui phải chờ tới 3 tiếng đồng hồ; phải thẩn thơ đi dạo ở Quảng trường đỏ Moscow trước khi được mời vào Điện Kremlin.

Ngóng cổ chờ hoài nên sau cái lần gặp đó cái cần cổ của quý lãnh đạo nầy ai nấy cũng dài thêm ít nhứt vài phân như cái cổ cò.

Diêm Vương giận quá vỗ bàn: “Thôi thôi đủ rồi!”

Nhưng Quỷ Sứ chắc cũng không thích gì Tổng Thống Nga, nên cố gắng bồi thêm cú chót.

“Tâu Bệ Hạ! Cái nầy mới quá quắc nè. Vladimir Putin còn dám để Đức Giáo Hoàng Francis chờ suốt cả tiếng đồng hồ tại Vatican thì y mới vác cái bản mặt của mình tới”

Putin trễ hẹn với ai khoảng nửa tiếng là… kính trọng người đó ghê lắm đó.

Putin là vậy nên Bệ Hạ đừng hòng mong là y sẽ thay đổi.

Diêm Vương bèn chất vấn Quỷ Sứ rằng: “Tại sao Vladimir Putin luôn luôn trễ hẹn?’

Thì Quỷ Sứ quỳ xuống tâu: “Putin đi trễ vì trong sâu thẳm, nghĩ mình đã thay thế ngôi vị của Sa Hoàng trong thời cực thịnh của đế chế Nga! Nhân vật quan trọng bao giờ cũng tới trễ hơn thiên hạ”

 “Đâu có được nè! Chỉ ta là Diêm Vương, là Vua cái địa ngục nầy! Còn Putin chẳng qua chỉ là một tay Trung tá tình báo KGB cò con, gặp thời, hên;  được Boris Yeltsin nâng đở, mới được làm Tổng Thống nước Nga. Giờ nghĩ mình là Sa Hoàng ngang đẳng cấp Vua như ta sao được?!”

“Trẫm nghĩ rằng: Putin chuyên môn đi trễ vì là dân KGB, dân tình báo. Tình báo kỵ nhứt là đúng giờ vì sợ kẻ thù, căng theo thời biểu, nó đang rình theo kế hoạch là mình hộc gạch!

Quỷ Sứ còn tâu thêm là: “Ngạc nhiên thay! Chưa thấy có nhà lãnh đạo nào hủy bỏ cuộc họp nào với Putin cả; mà vẫn kiên nhẩn chờ?!”

Diêm Vương gật gù: “Ờ thì ta cũng vậy thôi! Cũng đang chờ! Được rồi, khi gặp mặt hắn, ta sẽ tính chuyện phải quấy sau! Giờ bãi chầu! Ta đi ngủ! Chừng nào y tới, vô kêu ta dậy, ta sẽ cho hắn một bài học để biết thế nào là lễ độ, để bỏ cái tật đi trễ thâm căn cố đế nầy đi!”

Thưa bà con! Đúng vậy! Đi trễ rất có hại. Hại to nữa là khác! Chắc bà con có nghe, biết chuyện đi trễ mà mất vợ rồi chớ.

Chuyện rằng: Hùng Vương thứ 18 có con gái tên gọi Mỵ Nương, duyên dáng, xinh đẹp. Vua Hùng kén rể. Sơn Tinh, Thần núi Tản Viên, còn Thủy Tinh, Chúa Thủy Tề, thập bát ban võ nghệ, tài năng cân lượng ‘sêm sêm’.

Chọn ai bây giờ? Vua Hùng đành tuyên bố: “Ai đem đầy đủ sính lễ tới trước sẽ là phò mã!”

Sơn Tinh tới trước. Thủy Tinh đến trễ đành mất vợ, đùng đùng nổi giận, bèn sai binh tôm tướng cá đi cướp Mỵ Nương về.

Thủy Tinh dâng nước ngập mênh mông. Còn Sơn Tinh ném đất đá xuống mép các vùng ngập nước, ngăn nước lại! Bây giờ mình gọi là đắp đê ngăn lũ.

Đi trễ thì mất vợ, rán chịu đi, chớ quạu quọ, lũ lụt mà chi cả mấy ngàn năm cho dân tình ta thán?!

Thưa cái vụ cưới vợ của tui thì lại khác.

Nôn lắm! Ngày rước dâu, tui đã thúc Tía Má đi sơm sớm cho kịp con nước.

Từ Cạnh Đền, Cà Mau phải đi vỏ lãi lên tới tận Giai Xuân, Bình Thủy, Cần Thơ rước dâu; mất tới gần 3 ngày độ đường sông. Nhờ lo xa nên đến trước trăng treo thềm cổng vu quy sớm được nửa ngày trời. Nhưng ông Trưởng tộc bên đàng gái không cho làm lễ tơ hồng gì hết ráo; viện lẽ chưa tới giờ Hoàng đạo.

Cả đám đàng trai lủ khủ đứng xếp hàng, mâm xửng phủ nhiễu đỏ, mà chịu trận một cơn mưa nặng hột, làm quần áo chiến đi đám cưới ướt nhem như con chuột lột. Lạnh run mà giận cũng run. Tía tui nói: “Thôi dìa!”

Làm tui sợ mất vợ, năn nỉ thiếu điều gãy lưởi. “Tía à! Nhịn chút đi. Quân tử trả thù mười năm chưa muộn mà!”

Từ đó tui rắp tâm cho em yêu (và cả dòng họ nhà em) biết thế nào là nỗi lòng căm phẫn của người chờ đợi!

Về với nhau, như chim liền cánh như cây liền cành, tui thường nói với em rằng:

“Nửa tiếng nữa anh về” thì có nghĩa là hai tiếng nữa, tui mới về.

“Anh đang trên đường về” có nghĩa là tui đã quên đường về.

“Anh sẽ về tới trong vòng 5 phút nữa. Đừng có cái mửng cứ nửa tiếng lại gọi, coi anh đang ở đâu nhé!”

Em ngây thơ đâu biết rằng chồng em, tức là tui, đang rắp tâm trả mối hận lòng năm cũ.

Một lần hiếm hoi duy nhứt trong đời, tui lại về đúng giờ; thì em ngạc nhiên nói: Em có cảm tưởng là anh muốn về thình lình để bắt quả tang em đang làm gì phải không?

Thì tui cự lại: “Em muốn cái gì? Anh về đúng giờ cũng la mà về trễ cũng la là làm sao?”

Rồi nghe em yêu ca cẩm với bạn em trên điện thoại là: ” Chị biết hông? Rút kinh nghiệm, người sao mười hẹn chín thường đơn sai? Em tính giờ dây thun của ảnh, là có trừ hao, nếu nói 15 phút nữa về thì em cứ nhởn nhơ không làm đồ ăn gì hết; vì biết chắc ảnh 2 tiếng đồng hồ nữa mới về!”

Hôm cuối tuần, em muốn hai vợ chồng ra ngoài ăn để kỷ niệm 40 năm tình lận đận, em cẩn thận dặn trước: “Chiều mai 6 giờ mình đi ăn nha anh, nhớ đúng giờ dùm một cái được hông?”Ảnh gục gặc cái đầu rồi nói: “OK Salem!”

Em chờ hơn một tiếng rưởi đồng hồ, gần 8 giờ, trời mùa đông Melbourne sập tối hù. Mà bóng người vẫn khuất mấy ngàn dâu xanh!
Đói run, lạnh run và giận cũng run luôn, em bèn quyết định thay đồ ngủ, ngồi xem ti vi.

Thì ảnh hiện hình ra! “Trời ơi! Anh về trễ có hai tiếng vậy mà em cũng chưa có sửa soạn gì hết ráo vậy hả?” “Hỏi có tức chết đi không ?”

Thưa bà con! Cái thói đi trễ với vợ để trả mối thù xưa, năm dài chày tháng nó ngấm vào máu trở thành một thói quen (xấu) khó bỏ.

Bởi có câu rằng: “Không ăn đậu không phải Mễ, không đi trễ không phải là Việt Nam”.

Tui đi trễ hoài hè nhứt là lúc đi ăn đám cưới! Vì đám cưới của mình mà mình, (như Thủy Tinh), đi trễ mất vợ thì rán chịu. Nhưng đám cưới của người ta, vợ của người ta, mình có đi trễ thì đâu có mệnh hệ gì phải không?

Đi ăn đám cưới, là đi đóng tiền hụi chết, thì việc gì phải gấp chớ?!

Gia chủ ít có cằn nhằn vì ngày vui họ cữ, sợ xui! Còn gia chủ không nói năng gì mà bạn bè ngồi chung bàn cằn nhằn dùm; thì tui cứ cười hè hè cầu tài!

“Tới trễ hả? Tui cứ nghĩ đám cưới nầy sẽ kéo dài tới nửa đêm mà!”

Hoặc chống chế rằng: “Tui tới đúng giờ tại những người khác đến sớm đó thôi! Phần tui đã nói rồi, nếu tui chưa đến thì cứ tiến hành không có tui cũng được mà. Tui đâu phải là chú rể đâu! Hi hi!”

Lè phè là bản tánh của tui. Bởi đi đâu mà vội mà vàng. Mà vấp phải đá mà quàng phải dây. Té cho lọi họng thì đừng có trách!

Thưa bà con! Dẫu vậy có những thứ, tui không bao giờ đi trễ.

Nhứt là đi ăn đám giỗ. Ăn đám giỗ khác với ăn đám cưới; vì mình ăn miễn phí không có đi hồng bao gì ráo; nên tui khoái đi ăn đám giỗ hơn ăn đám cưới gấp ngàn lần.

Phần ông bà mình có dạy một câu rất là chí lý: “Ăn cỗ đi trước! Lội nước đi sau!”

Ăn cỗ đi trước là đồ ăn còn thơm phức chưa ai đụng đũa vào; đi trễ, đi sau coi chừng phải ăn ‘xà bần’…

Còn lội nước mình đi sau là đề phòng đứa đi trước có sụp lỗ chân trâu thì mình biết mà né chớ. Phần đi ăn giỗ không bao giờ đi trễ nếu không muốn rửa chén.

Nhì là được mời nhậu, không bao giờ nên đi trễ! Vì khi chiến hữu đã ngà ngà, nói thánh nói tướng, nói sùi bọt mép, tay chém gió lung tung phèn, mà mình mới ló mặt vô, còn tỉnh như sáo, nghe mấy ‘giả’ nói chuyện trên trời dưới đất, nổ bốp Trời thiên, nổ mát trời ông Địa; mình nghe không lọt cái lỗ tai thì dễ sinh ra cự cãi mất vui.

Thưa bà con! Tóm lại chuyện sớm trễ đối với tui là tùy theo tình hình cụ thể hè!

Đời mà cứ răng rắc chạy theo cái đồng hồ công nghiệp… thiệt thấy căng thẳng lắm.

Vốn trẻ trâu, đồng hồ của tui là đồng hồ nông nghiệp, là mặt trời với mặt trăng, là tiếng gà gáy ó ò o.

Giờ khắc của tui là áng chừng; là khoảng đó. Chớ không giờ phút, giây chính xác như cái đồng hồ thạch anh của phi thuyền NASA mà chi chớ?

Tuy nhiên “Tui trễ là OK! Nhưng khi em (con bồ nhí ngoài luồng của tui) trễ! Là tui ngã lăn ra chết giấc!

đoàn xuân thu.

melbourne

Trễ Bắc làm sao qua?

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 22 Feb 2024

Năm rồi, cuối năm, ngày áp lễ Giáng Sinh, hai thằng ‘cu’ con của tui nghỉ cày, cao hứng lấy xe chở tui và em yêu cùng 4 đứa cháu nội của tui quánh một vòng từ  phía Tây, Queenscliff  trên bán đảo Bellarine xuống phà qua Sorrento trên bán đảo Mornington về phía Ðông của thủ phủ Melbourne.

Hải trình của chiếc phà ngoài cửa Vịnh Port Phillip, tiểu bang Victoria, Úc Châu nầy dài 10 cây số, mất 40 phút. Từ 7 giờ sáng, hai chiếc phà biển nầy luân phiên chạy qua chạy lại tới 6 giờ chiều thì nghỉ. Một chiếc xe tốn 62 đô. Người lớn 12 đô, thẻ giảm giá 10 đô. Con nít từ 4 đến 15 tuổi 8 đô; nhỏ hơn nữa thì được miễn.

Xe xuống phà đậu, hành khách phải rời xe, leo lên lầu thượng ngắm cảnh trời mây nước. Từng đàn cá heo (dolphins) hụp lặn bơi theo phà như biểu diễn tài bơi lội. Mấy đứa cháu nội của tui chỉ chỏ, cười ‘hi hi’ vì khoái quá trời hè!

(Ở nước Úc tư bản nầy đây kinh tế thị trường thứ thiệt, khi ngân sách của chính phủ Liên bang và Tiểu bang không kham nổi thì để công ty tư nhân nó làm.

Qua phà là trả tiền, không qua thì phải chịu khó chạy xa hơn, mất thời giờ hơn, tốn xăng hơn. Quyền chọn lựa là của mình chớ không có thằng cha căng chú kiết nào dám nhào vô nắm đầu mình trấn lột; không đi cũng phải trả như có đi!

Ðêm nay, đêm tháng Chạp cuối năm, tui nhớ chuyến phà xứ người năm ngoái; lòng tui lại nhớ những chuyến phà của quê mình năm cũ! Ôi! Tháng của những ngày ly biệt, rồi ra đi biền biệt, dẫu quê lòng tha thiết nhớ… nhưng làm sao biết tới ngày nào mà về quê cũ?

Ðúng là Lục tỉnh Nam Kỳ mình sông rạch chằng chịt! Nào là đò dọc, đò ngang, xuôi dòng hay băng ngang qua bến khác, rồi lại quay về bến cũ. Thủ đô Sài Gòn muốn qua bên Thủ Thiêm thuở ấy là mình phải đi đò. “Bắp non mà nướng lửa lò. Ðố ai ve được con đò Thủ Thiêm.”

Như vậy chiếc ghe trọng trọng một chút để đưa hành khách từ bên nầy sông qua bên kia sông gọi là đò, đò ngang. Ðể chở được nhiều người, xe đạp, xe gắn máy, tàu có tài công, thì gọi là phà. Còn bự kinh hơn nữa, chở cả chục chiếc xe hơi mỗi lần, trọng tải tới 100, 200 tấn thì mình gọi là bắc. Như vậy theo ‘ngu’ ý của tui, là xếp từ nhỏ tới lớn, từ thô sơ chèo tay đến chạy máy diesel hiện đại. Mình có đò ngang, rồi phà và ‘number one’ là chiếc bắc (âm tiếng Tây là Bac).

Nhưng sau 75, thì gọi búa xua bắc là phà. Sao vậy cà? Vì các nhà thơ, nhà nhạc ưa chữ phà hơn, vì vần điệu dễ hát; dẫu đã làm mất dần sự trong sáng của tiếng Việt đi! Hi hi!

(Chẳng hạn như xưa giờ, tui chỉ nghe trai cưới vợ; gái lấy chồng. Vậy mà báo chí dám viết là: em người mẫu chân dài đầu ngắn nầy ‘cưới’ chồng (?!)

Ðọc xong, tui cũng tự mình vò đầu bứt tai tự hỏi: “Ủa nước mình theo chế độ mẫu hệ hồi nào vậy cà?” Té ra không phải mà là dùng chữ tầm bậy tầm bạ, đụng đâu xắn đấy mà thôi!)

Tiếng Việt mình dĩ nhiên không ai hoàn hảo cả, nhưng làm cái nghề bán chữ thì cũng nên kỹ kỹ chút đi kẻo chúng nó khi! Trước 75  mà dùng chữ phà thay cho chữ bắc là trật lất rồi! Bằng cớ là soạn giả Viễn Châu trong bài vọng cổ: ‘Người Ðánh Ðàn Trên Sông Mỹ Thuận’, toàn là chữ bắc Mỹ Thuận không hè, tui tìm đỏ con mắt mà hổng thấy chữ phà Mỹ Thuận nó nằm ở đâu?

o O o

Ôi nhớ xưa! Xe đò đi miền Tây như: Ðức Hiệp chạy Cần Thơ, rồi Thuận Thành, Lộc Thành, Nhan Nhựt, Quang Minh, Ðại Hưng, Thuận Hiệp, Vĩnh Phát, Thuận Lợi, Liên Hiệp, Nhơn Hòa, Phi Long, Hiệp Hưng, Kim Long, Nam Thành, Hữu Phước, Quang Minh, Hiệp Thành, Tam Hữu chạy tới Bạc Liêu, Cà Mau. Tất cả các hãng xe nầy phải chờ qua cầu Bến Lức và cầu Tân An (chỉ cho chạy một chiều) rồi xuống tới Bắc Mỹ Thuận quẹo về tay phải đi Sa Ðéc qua Bắc Vàm Cống để về Long Xuyên và Rạch Giá.

Qua Bắc Mỹ Thuận, quẹo tay trái trước khi vô chợ Vĩnh Long là bà con mình phải qua cái quận Long Hồ. Nằm ép bên chân cầu là một cái chợ nhỏ tên là Trường An thuộc làng Tân Ngãi. Trường An và Long Hồ là tên hai nhân vật trong tuồng cải lương ‘Tuyệt Tình Ca’ mà bà con mộ điệu cải lương đặt tên tuồng lại là ‘Ông Cò Quận Chín’ (do Út Trà Ôn đóng) của soạn giả Hoa Phượng và Ngọc Ðiệp. Trường An, vai chị, do Bạch Tuyết; Long Hồ, vai em, do Thanh Sang đóng!

Ðó là thời hoàng kim của sân khấu cải lương, của đoàn Dạ Lý Hương của bầu Xuân. Sau nầy sân khấu cải lương cũng bị lụi tàn, leo lét như đèn treo trước gió!

o O o

Tui vốn là dân “vưỡn”, dân miệt vườn, lớn lên một chút đã lội nát nước Nam Kỳ Lục Tỉnh! Ðã qua biết bao lần Bắc Mỹ Thuận, Bắc Cần Thơ và Bắc Vàm Cống.

Cái bắc cuối cùng tui qua là Bắc Rạch Miễu (nối Mỹ Tho với Bến Tre) và Bắc Hàm Luông về Mỏ Cày để đêm vừa xuống, leo lên thuyền xuôi Ba Ðông vượt biên cuối năm 1988; vì tháng Tư năm 1989 các trại tỵ nạn khắp vùng Ðông Nam Á sẽ bị đóng cửa. Tui đi nhưng trong lòng vẫn thương nhớ những chiếc bắc ngày xưa cũ!

Nhớ Bắc Mỹ Thuận, ngang sông Tiền mênh mông, vàng quạch phù sa, mà Tây đặt tên là “les bacs de My Thuan”.

Nhớ Bắc Cần Thơ, ngang sông Hậu dài 1,840m! Phía Cần Thơ, cầu Bắc tại Cái Khế! Phía Vĩnh Long, cầu Bắc tại Cái Vồn, quận Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Chiếc Bắc cặp vào gờ ponton (phao nổi), một chú em kéo một cái dây cáp móc vào cái trụ trên ‘ponton’ để ngăn không cho chiếc Bắc tuột ra, để xe đang ‘đề pa’ không bị rớt tuốt xuống sông!

Ðêm quê người, trong cơn mơ về quê cũ, trong tiếng mưa rơi lộp độp ở hiên nhà tui vẫn nghe văng vẳng tiếng: “Tới Bắc Cần Thơ rồi, bà con xuống xe đi bộ, qua Bắc”. Tui tuột xuống giường cái rột làm em yêu giựt mình hỏi tui đi đâu đó: “Lẹ lẹ lên em ơi! Trễ Bắc, làm sao mình về lại Úc cho được! Hu hu!” Em yêu đợi tui hơi tỉnh ngủ, bình tâm lại, bèn vỗ về an ủi: “Mai anh phải đi khám bác sĩ tâm thần mới được!” “Bắc Mỹ Thuận, nay đã nghỉ chạy; vì Úc đã giúp xây xong cầu Mỹ Thuận.

Bắc Cần Thơ, nay đã nghỉ chạy; vì Nhựt đã giúp xây xong cầu Cần Thơ. Thì còn chiếc Bắc nào đâu mà anh sợ trễ chớ?” “Phần hai vợ chồng mình chưa có về quê cũ thì việc gì phải sợ trễ Bắc, trễ máy bay, kẹt lại ở Việt Nam đó anh yêu?”

o O o

Từ Cần Thơ đi Sài Gòn chỉ có 171 cây số bây giờ xe chỉ chạy mất 3 giờ 24 phút. Chớ hồi xưa cũng cung đường ấy qua sông nên phải lụy đò, phải qua hai lần bắc! Mình rời Cần Thơ lúc tuổi thanh xuân vô tới cầu An Lạc ở Sài Gòn đầu muốn bạc.

Mất 8, 9 tiếng đồng hồ là thường. Cùng khoảng thời gian đó, bây giờ bằng mình leo lên máy bay ở phi trường Tullamarine, Melbourne đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt để đi uống bia ôm như thằng bạn nhậu (mất nết) của tui hay làm vào những ngày cuối năm giáp Tết. Nó rủ tui về hoài hè; nhưng tui lắc đầu quầy quậy, nói tui hổng dám ỷ có chút đỉnh rủng rỉnh tiền đô, về để du hí thì thiệt là tệ hơn con khỉ.

Tỉnh cơn mộng du, trời chưa sáng (như quê mình vậy). Tui lui cui rót ra ly rượu đỏ làm một hơi để nhớ về người chiến hữu thương binh ngày cũ trên Bến Bắc Cần Thơ: “Chiều qua phà Hậu Giang tiếng ai hát dạo buồn thay. Tiếng ca sầu mênh mang như khơi niềm đau năm tháng xưa. Chân nạng gỗ thấp cao kéo lề đời theo dòng nhạc đưa. Mảnh chiến y phai màu khúc ca nào gợi sầu khôn nguôi!”

Ðêm cuối năm về sáng quê người sao buồn quá Má ơi?!

đoàn xuân thu.

melbourne

Trao thân gửi phận!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu.

Post by Sơn râu 22 Feb 2024

Tranh Bảo Huân

Cưới vợ một lần là sợ tới già nên tui không dám làm tới lần thứ hai. Nhiêu khê lắm mấy anh ơi.

Nè trước khi cưới là Tía Má mình phải làm Ðám hỏi, mà Tây gọi là Ðính hôn!

Người Việt mình ở Úc nầy đây dù gả cho Tây hay cho Mít ít nhiều cũng còn giữ gìn phong tục của ông bà mình. Nhưng không khe khắt lắm. Cái nào của Tây hay hay, mình cũng học chớ không bo bo thủ cựu như các cụ ngày xưa!

Ðối với Tây thường chỉ có một đám Tân hôn thôi. Người Việt có tới hai lễ: Vu quy và Tân hôn.

Vu quy, tổ chức bên nhà gái, sính lễ: gồm trầu, cau, (vì miếng trầu là đầu câu chuyện), dù bây giờ đâu còn ông, bà nào ăn trầu xỉa thuốc rê nữa. Rồi rượu, chè tức trà, nhẫn, hột xoàn, dây chuyền, đồ trang sức cho cô dâu; cộng thêm tiền chợ tức tiền làm tiệc để quan viên hai họ cùng vui.

Tiệc tan, đoàn rước dâu sẽ rời nhà gái về nhà trai để làm lễ Tân Hôn. Theo cô dâu về nhà chồng cũng có mấy em phù dâu, tức dâu phụ, chưa chồng. Mấy em trang điểm lộng lẫy như Thẩm Thúy Hằng hay Thanh Nga để quảng cáo chào hàng. Ðám cưới nầy mới đẻ ra đám cưới kia chớ!

Rước dâu về, tân lang và tân giai nhân cũng đến bàn thờ gia tiên, nam tả nữ hữu, lạy, báo với ông bà tiên tổ nhà mình có thêm một người nhập vào ‘hộ khẩu’.

Rồi lạy, lạy hoài hè! Lạy cha mẹ chồng, chú, bác, cô, dì bên chồng để nhận phong bì tiền mừng cưới. Ðược miễn lạy mừng muốn chết! Chớ cuốc lên cuốc xuống hoài đêm động phòng hoa chúc, còn xí quách nữa đâu mà cuốc. Hổng lẽ đuốc hoa còn đó mặc nàng nằm trơ?

Chú rể nhận phong bì mừng cưới nhưng đừng bỏ túi mà đưa cho cô dâu giữ để thiên hạ đừng có xầm xì là thằng chồng gì mà rít quá, kẹo kéo quá.

Ðêm hợp cẩn giao bôi động phòng hoa chúc, tân lang nói với tân giai nhân là: “Thôi hai đứa mình bắt đầu đi!” Em e lệ, mặt đỏ bừng, lí nhí trong cổ họng: “Anh tắt đèn đi đã!”

“Tắt đèn thì làm sao thấy đường mà đếm tiền hè? Bà chủ nợ cho anh mượn tiền làm đám cưới em còn ngồi ngoài bàn chờ kia kìa!”

Thì ra mới về với nhau, em nghĩ chuyện khác, tiền bạc không quan trọng bằng yêu. Sau nầy thì ngược lại 180 độ.

Còn anh, đầu tiên phải là tiền đâu trước? Còn cái vụ kia có mất đi đâu mà sợ chớ, nên từ từ cũng được.

***

Úc đây ít thấy đám cưới làm tại nhà như quê mình mà đến những dịch vụ chuyên tổ chức đám cưới.

Bỏ tiền ra là guồng máy chuyên nghiệp phục vụ cho ngày vui của đôi trẻ khởi động liền.

Dĩ nhiên, tùy túi tiền nặng hay nhẹ thì đám cưới lớn hay nhỏ. Coi vậy chớ tốn cũng khẳm lắm nhe!

Hãy nghe một em du học sinh lấy chồng Úc, trải nỗi lòng … thòng trong tiệc cưới của mình như sau: Ðám cưới ở Australia, tốn kém hơn ở Việt Nam nhưng không khí thoải mái, vui vẻ hơn và không câu nệ hình thức.

Tiệc cưới theo kiểu Tây, gồm món khai vị, món chính và tráng miệng, được người phục vụ thường là những sinh viên làm thêm cuối tuần dọn các món ra dần dần, mỗi người một phần ăn rất lớn, bảo đảm ăn là no luôn.

Cuối cùng là trà, hoặc cà phê. Bia rượu các nhân viên sẽ phục vụ tại bàn, có quầy bar nhỏ để ai thích có thể ra đó uống rồi tự mình móc xỉa.

Khách gồm gia đình, bạn bè và đồng nghiệp tới 150 người. Mỗi đầu người dự chi khoảng 150 đô. Vợ chồng em tốn hết khoảng 30 ngàn đô Úc.

Khách Úc không đi phong bì như ở Việt Nam mà mang hoa, chai rượu hay những món quà nhỏ! Sau tiệc, mỗi người có một hộp kẹo xinh xinh mang về.

Ðám cưới theo kiểu Úc là có tiền thì làm, không thì chờ; chớ hổng hy vọng gì có phong bì để mà gỡ vốn, là ngày vui của mình thì mình ráng chi, ráng chịu; chớ hổng có ai nhào vô gánh tiếp cho mình.

Có một ông khen là: “Ðám cưới bạn hay quá. Ðể mình rút kinh nghiệm cho lần sau!” (He he! Con vợ mầy nghe được thì mầy chết!)

Truyền thống người Việt mình thì hay hơn nhiều. Hai vợ chồng tui đi đám cưới ít nhứt cũng 400 đô. Ối tiếp sắp nhỏ mà! Mình ăn mình trả tiền chớ tụi nó có lời lóm gì đâu?

Nhưng cầu mong một năm xin mời vợ chồng tui đi đám cưới một lần thôi nhe! Thân lắm hãy mời. Còn quen sơ sơ xin quên dùm một cái được hông?

Người Việt mình mới định cư không lâu mà đám cưới người Việt ở Úc nầy tới 5, 6 trăm khách là thường. Úc thấy còn hết hồn. Ðông đến nỗi Úc nó tưởng là mình đi biểu tình chống Trung quốc chớ không phải là đi ăn đám cưới.

Do đó mấy chú Việt Nam bên nầy dù cưới vợ Tây hay vợ Việt nên mời khách Việt hơn là khách Tây, vì Tây nó đi đám cưới đã không cho tiền mà còn ôm con vợ mình hun nữa chứ!

***

Melbourne nầy, mùa cưới là mùa Xuân, hoa chen sắc thắm, tháng Mười hoặc mùa Thu, tháng Ba chuẩn bị lạnh, nên quý anh mình sắm cái lò sưởi 37 độ rưỡi nầy về ôm cho nó ấm.

Tiệc cưới thường tổ chức vào những ngày cuối tuần: Thứ Bảy hạng nhứt, Thứ Sáu hạng nhì và Chủ Nhựt hạng ba.

Ngày Thứ Bảy, sau Lễ Tình nhân (Valentine’s Day) rơi vào mùa Thu là ngày được ưa chuộng nhứt. Nhưng phải đặt cọc trước 2, 3 năm mới có chỗ đó!

Ðàn ông Úc trong gia đình, ngày thường đóng một vai trò rất mờ nhạt!

Cho đến ngày bàn giao con gái mình vào tay một thằng khác, mới được quyền chiếm đài phát thanh mà dạy đời và tán dóc.

Nói với con gái: “Tía đã làm cha suốt một khoảng thời gian dài, Tía đã lo lắng khi con gái mình bị ốm (dĩ nhiên không phải là ốm nghén), đã tắm cho con, đã ru con ngủ. Tía không bao giờ nghĩ ngày con sẽ theo chồng. Nhưng cuối cùng thì Tía rất vui vì từ nay cái bồn tắm duy nhứt trong nhà sẽ trở lại tay Tía.”

Rồi quay sang con rể tương lai: “Tía xin tự giới thiệu Tía là thân phụ của cô dâu! Khi lớn lên nó đã kêu Tía bằng cái tên thân thương, bữa nào nó làm biếng thì gọi cụt ngủn là ‘Dad’, bữa nào siêng nó gọi dài hơn một vần là ‘Daddy’.

Tuy nhiên đôi khi nó cũng gọi Tía là: ‘Visa, Mastercard hay American Express’.

Giờ Tía giao con gái cưng của Tía cho con và hãy nhớ là: Hàng mua rồi không được quyền trả lại.

Từ giờ phút nầy: Con là rể của Tía, là người trong nhà. Con đường tình ta đi, Tía đã trải qua, hôm nay Tía xin trải lòng mình cho con một trời tâm sự!

Nhớ rằng khi phải tranh luận với vợ về vấn đề gì thì hãy để cho nó nói lời cuối cùng. Còn nếu con muốn nói lời cuối cùng, thì câu đó phải là: ‘Em nói đúng!’ Cầm bằng nói câu khác hơn con sẽ khơi mào cho một cuộc cãi lộn mới.

Khi con sai hãy mở miệng ra mà nhận lỗi nhé! Khi con đúng nhớ đừng có mở miệng ra.

Cưới vợ rồi tốt hơn mua một cuồn băng keo dính về dán miệng trước khi đi ngủ vì: Có ông nầy đến nhà thờ lúng búng vài câu rồi thấy rằng mình đã kết hôn.

Một năm sau, trong giấc ngủ, ông cũng lúng búng trong miệng vài câu và thấy rằng mình ly dị.

Cũng như Tía, chắc con chưa hề biết hạnh phúc là gì cho đến khi con cưới vợ. Tiếc thay lúc đó đã quá trễ, chim đã vào lồng cá đã cắn câu.

Tía tin rằng con không cưới vợ vì tiền. Vì mình đi mượn tiền ở ngân hàng sẽ chịu tiền lãi ít hơn.

Bởi một cuộc sống vợ chồng hạnh phúc chỉ gom lại hai chữ cho và nhận. Chồng cho và vợ nhận.

Người ta nói tình yêu là mù quáng. Tin Tía đi! Hôn nhân sẽ làm con sáng mắt ra!

Tía không nghi ngờ gì về chuyện con có đủ phẩm chất để làm chồng. Nhưng đủ phẩm chất làm con rể thì hãy chờ xem. Coi mỗi Chủ Nhựt, con còn đến nhà hay là cứ để Tía cắt cỏ một mình.

Tía chúc con rể của Tía được nhiều may mắn.”

Sau lời khuyên chí lý của thằng bạn Úc nầy với con rể nó, thì chỉ một ngày sau nó bị vợ bỏ vì tội tuyên truyền bôi xấu lãnh đạo nhà ta.

đoàn xuân thu.

melbourne

Cờ tây

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 01/02/2018 

Post by Sơn râu 22 Feb 2024

Ai chơi chữ cờ tây, chắc dân nhậu?
Ác đức cầy tơ có ngon không mấy cậu?
Bất nhơn gà chết chó hiện về bên hàng giậu.

Mình thật hậu đậu, không hiểu vì sao bà con gọi khỉ là Thân, gà là Dậu, mà Tuất là chó. Cũng mù tịt chẳng biết vì răng con người khi bất hoà lại trút phẫn nộ vào đối tượng bằng ba chữ: “đồ chó má”, hoặc nặng hơn: “đồ chó đẻ”? Ngược lại, cũng có nhiều bà mẹ âu yếm nựng con mình, hôn hít rồi nũng nịu cất tiếng: “chó con của mẹ”. Bốn chữ này nặng ký hơn “cục vàng của tui” và giá trị ngang với ba chữ “thương hết biết” !

Danh sĩ Phan Bội Châu (1867-1940) cuối đời được dân chúng gọi tên thân yêu “Ông già Bến Ngự”, có nuôi một con chó, đặt tên là Vá. Khi Vá mất vào năm 1934, Phan Bội Châu tự tay làm mộ chôn và dựng đặt bia đá, khắc ghi:

“Vì có dũng nên liều chết phấn đấu.
Vì có nghĩa nên trung thành với chủ.
Nói thời dễ, làm thiệt khó.
Người còn vậy, huống gì chó.
Ôi con Vá này đủ hai đức đó.
Há như ai kia mặt người lòng thú.
Nghĩ thế mà đau dựng bia mộ nó
”.

Cả mộ lẫn bia vẫn còn ở Huế. Vẫn ngàn năm bia đá cứ thế trơ trơ.

Trong báo Ngày Nay số 210, ngày 1/6/1940, Tú Mỡ (tên thật Hồ Trọng Hiếu 1900-1976) có đăng bài thơ Con Chó (mượn tư liệu của Nguyen Ngoc NY):

“Nội tất cả các loài gia súc
Người ta khen chó là nhất mực tinh khôn
Chó đối với người có nghĩa tựa tôi con
Người đối với chó vẫn gọi tôn là bạn tốt
Chó rất sở trường về môn nịnh nọt
Khéo chui luồn vẫy vuốt cái đuôi
Để tỏ tình quyến luyến chủ nuôi
Cũng lắm lúc quá lả lơi thân mật
Mới thành câu: “Chơi chó, chó liếm mặt!”
Cho hay quá nịnh xằng vị tất đã ai ưa?
Tuy rằng có công săn sóc sớm trưa
Song kiếp chó vẫn tiếng là kiếp khổ…”

(ngưng trích).

Lại nhớ tới Nguyễn Vỹ (1912-1971), người chủ trương bán nguyệt san Phổ Thông có từ năm 1958, tác giả câu: “Nhà văn An Nam khổ như chó!” Chỉ than vậy thôi, nghe mơ hồ vì chưa có ai trình bày rõ vì sao chó khổ, nó khổ ra sao? Người ta mặc nhiên công nhận điều đó mà chẳng buồn giải thích cớ sự do đâu! Có bài hát bọn trẻ con ưa ngêu ngao: “Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ, ngồi mình trâu…” Vậy mà không ai đoái hoài tới chó để thử ê a: “Ai bảo đã là chó thì phải khổ? Ở ngoại quốc xem báo thấy chó sướng lắm cơ”.

Những tờ nhật báo phát hành trước 1975, có tờ dùng một góc ở trang nhất đăng tải chuyện lặt vặt vừa xẩy ra dưới tiêu đề “Từ Thành Đến Tỉnh”. Cũng mang nội dung ba điều bốn chuyện vớ vẩn như thế nhưng có tờ lại dùng chữ “Xe Cán Chó, Chó Cán Xe”. Như vậy, nội tất cả các loài gia súc, e rằng chỉ có chó là con vật được (bị) con người nhắc, lôi đầu ra để nói quàng nói xiên. Cũng chó, đồ rằng nó có nhiều tên gọi nhất: Vá, Cún, Mực, Vàng, Cầy, Khuyển, Cẩu… Vậy thì chó được biệt đãi hơn mèo, gà, chim, cá… mà con người thích nuôi? Và không rõ từ bao giờ, động vật hai chân tên gọi là người đâm ghiền thịt chó, một mực già mồm: Chưa thấy có thịt con nào ngon hơn! Ngon nhức răng, xong tới ngon nhức nách! Thơm điếc mũi chỉ là chuyện nhỏ!

Người Việt từng trải qua giai đoạn sống với bí kíp “con gì nhúc nhích là ăn”. Cực khổ qua rồi, có của dành của để rồi, bèn nổi máu tìm món ngon vật lạ khác. Chúng ăn không từ một thứ gì! Vậy là sinh ra “sự cố”, bày giữa đời một thứ nghề mới, không “đụng hàng”: Khuyển tặc. Bọn này làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm hòng cân bằng cán cân giữa cung và cầu. Quán nhậu “treo đầu chó bán thịt cầy” mọc tràn đìa trên từng cây số, phô trương thương hiệu không khoan nhượng và khách đi đường nhìn vào, ngầm đồng tình: Thật là khổ như chó! Khuyển tặc có nhiều đứa làm ăn sơ suất bị “lộ hàng” nên chúng khó bề đương cự khi người dân vây lại đánh. Đòn roi giáng xuống kèm tiếng chửi: Đồ chó đẻ! Người dân kể: Phàm đứa nào từng xơi thịt cầy, đi tới đâu chó sủa theo tới đó. Con Vện nhà tui nổi tiếng hiền từ, vậy mà trưa nay nó ra ngoài sân sủa vang rân. Mũi nó ngửi ra đứa từng ăn thịt đồng loại nó. Có tin không? Chẳng mấy thuyết phục nhưng nghe qua lời giải thích dạ có băn khoăn. Chúng ta ghét ai mới tìm cách hại kẻ đó. Vậy thì giết chó để ăn thịt nó thì động lực chưa chắc là do sinh lòng thù hận. Cũng có thể vì thương chó? Thiếu mặt nó đâm tương tư đến quay quắt. Đời mà vắng thịt chó, đời ấy ắt quạnh hiu, nhạt mồm vậy!

Khác với Bắc Hàn, khác Trung Quốc, khác Việt Nam là đi đâu cũng nhìn thấy nhung nhúc những tượng đài lãnh tụ, lạc chân sang xứ hoa anh đào đem thắc mắc hỏi người dân Nhật Bản ngụ ở Tokyo: Hình như xứ sở của quý vị không có anh hùng để tôn thờ? Nụ cười hiền lành nở trên môi (Honda, Yamaha, Suzuki), có chứ sao không. Theo tôi đến gần nhà ga Shibuya tôi chỉ cho xem một bức tượng đồng khá khiêm tốn dựng đặt trong một không gian nhỏ bé. Chỉ tay vào hình tượng một con chó, giới thiệu với vẻ tự hào: Đó, vị anh hùng dân tộc của chúng tôi. Chú chó mang tên Hachiko, mỗi ngày ra sân ga đợi chủ suốt trong 9 năm mỏi mòn để chết trong niềm tuyệt vọng bên đường rầy vắng lạnh. Sự trung thành, niềm chung thuỷ một dạ sắt son, do vậy chúng tôi xem Hachiko là anh hùng, có xứng đáng không? Đâu cần phải đạp đổ mọi thứ luân lý đạo đức để đi làm cách mạng cốt mong nhìn ra cảnh máu đổ thịt rơi, nhỉ?

Hachiko, tựa như một trang “huyền thoại” xẩy ra ở Nhật Bản, một lần nữa, góp chung với các huyền thoại khác đã gây tiếng vang đến khắp cùng thế giới (ở các nước văn minh tiến bộ dân chủ thôi nhé). Mọi người đã nghiêng mình, đã cúi đầu, đã nhỏ lệ trước giống vật thân thương có tên Cún, Cầy, Vá, Vện, Mực…

Dạo đó, hồi mình còn nhỏ, gia đình có nuôi một con chó được đặt tên Lu. Lông màu vàng toàn thân, dưới bụng có đốm trắng. Thông minh, hiền lành, biết nghe lời. Xuân Mậu Thân, cả nhà hớt hãi lo chạy giặc mà chẳng ngó ngàng gì tới Lu, cứ ngỡ là Lu cũng sẽ nối đuôi đi men theo những vách tường, những bờ cây bụi cỏ để lần về tìm nơi trú ẩn gần đồn Mang Cá. Gần cả tháng trời tản cư, mọi người thay phiên đi lộn trở lại địa chỉ cũ. Xác mấy ôn ôm AK 47 nằm la liệt bên vệ đường, dưới hố mương hoặc vắt thân qua bụi chè tàu. Trời lạnh, ảm đạm một màu xám. Vách nhà loang lỗ những dấu đạn cày xới, một cái dù trắng (có thể từng mang theo trái sáng hoả châu) phủ một góc mái bếp. Cây vú sữa đổ thân bên nhánh sầu đông gầy và bất ngờ thay, từ một vũng tối thâm u bóng màu vàng của Lu chồm ra, quấn quýt sủa thiếu đường chảy nước mắt. Bốn phần tủi sáu phần mừng rơn. Ốm nhom, xác xơ vì cả tháng cầm cự với sự trống vắng người thân, với tên bay đạn lạc mù trời. Nhờ vào dịp Tết, sẵn có bánh chưng bánh tét, xôi chè mứt món mà đông đảo con cháu dâng lên bàn thờ cúng ông bà cha mẹ. Thực phẩm ê hề, phải nói là cao lương mỹ vị được bày sẵn của một thành phố bỏ hoang cho nên Nguyễn Đắc Xuân cùng một bộ phận không nhỏ các đồng chí từng đấu tranh đô thị, từng nằm vùng tha hồ tiếp thu ăn cho bõ những ngày cơ cực. Nếu bọn người từ núi rừng tràn về tổng tấn công không nhằm vào dịp tết, e số phận của Lu cùng giống nòi chúng ắt đang sống chuyển sang từ trần. Lu còn sống, gần cả tháng trong địa ngục có thật là một điều nhiệm mầu. Có thể vì chó không mang nợ máu với “nhân dân”. Và những kẻ hôm qua từ Huế lên xanh hôm nay trở về chỉ lo thanh toán nhân dân mà tha cho phận súc vật đớn hèn. Lu sống sót có phải là nhờ ơn cách mạng không?

Mậu Thân. Thất bại. Đồ con khỉ! Nhưng có ngày rồi những kẻ vô thần đã thành “bên thắng cuộc”. Đa phần, người bên thắng cuộc đều yêu chuộng món thịt chó. Chó lỡ sinh trưởng ở Việt Nam có muốn noi gương Hachiko bên Nhật e cũng chẳng có cơ hội, điều kiện, nhân bản, giáo dục, môi trường… các thứ. Năm 2018, âm lịch kêu bằng Mậu Tuất. Trở lại giai thoại khi nghe Nguyễn Vỹ than: Nhà văn An Nam khổ như chó! Bạn bè ông đã lên tiếng: Nói thế có khác gì bạn xúc phạm tới những nhà văn? Nguyễn Vỹ đáp: Biết đâu chó mà nghe được nó lại đâm ra tủi thân…

Xin lưu ý, chuyện xẩy ra đã quá lâu, không dính dáng gì tới hội nhà văn đương đại giờ nầy đâu, nhớ? Chẳng biết nhân năm con chó, báo bổ bên ấy có ai mủi lòng đề cao con vật trung thành mang tên cầy không nhỉ? Dù sao nhân năm Mậu Tuất đang về, mình xin thành tâm cầu mong cho người trong nước bớt nói “đồ chó đẻ”. Khi đã hết chó đẻ thì chỉ còn lại một loại người ngó có vẻ tử tế. Có đúng không ạ? Đừng mừng đảng, chỉ mừng Xuân thôi. Nghe thế có dân chủ không nào? Ôi dào, phải mà U-23 nhà ta vô địch môn bóng đá nhỉ, xuân này ắt hẳn khác xuân xưa! Thưởng nóng nhé. Vui xuân tạm quên nhiệm vụ nghe mấy chú.

Hồ Đình Nghiêm

Chuồng bồ câu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 28/02/2019 

Post by Sơn râu 22 Feb 2024

Để tránh lôi thôi, Thục My quyết định mang tôi đi trình diện Clementine. Cô giáo trẻ gọi thêm bà Beatric đến, ba bốn mặt một lòng ngầm thoả thuận rằng, đừng hô hoán mông-xừ Tran là l’étranger, kẻ lạ ngác ngơ bất chính đột nhập vào sân trường với mục đích xấu. Ông Tran này nếu không bố, thì bác, chẳng bác thì chú, tóm lại là người thân thích của cháu Annie, đại diện mẹ bận lu bu công chuyện mần ăn, Tran sẵn lòng dang tay đón Annie về nhà trong an toàn, cho dẫu bé ngoan có làm bộ làm tịch phụng phịu mặt mày.

Thục My đã đi mài dũa một chiếc chìa khoá nhà, ân cần trao phó bản vào tay tôi. Tôi móc cái chìa vàng ấy nằm chung đụng với ba cái của riêng tôi, kiếm sợi dây tròng vào cổ, đong đưa trước ngực cùng thẻ nhựa đi xe buýt mua hằng tháng. Tay My bao giờ cũng ấm khi chạm phải. Mười ngón, hai mươi ngón khác biệt chỉ giống nhau ở chỗ, cả đôi lứa đều không đeo nhẫn, trống vắng. Thục My bảo: Đã nhớ chưa, đúng ba giờ rưỡi, chịu khó đừng để con bé mầm non mẫu giáo lạc loài hoang mang khi đứng đợi, tội nghiệp.

Như vậy, tự dưng tôi có job mới, chủ không trả lương, không cả quan hoài trao bonus hai chữ “tội nghiệp” cho ông Tran xứng đáng đón nhận một chia sẻ thân thương, cả tin, đong đầy uy tín.

My xong việc lúc 5 PM. Về tới nhà nếu hanh thông đường sá cũng bóng đổ tà dương lu mờ cảnh sắc. Tôi làm quen với Annie mới non tháng, con bé 5 tuổi “chảnh” như một thiếu nữ dậy thì vui buồn bất chợt. Trời giông, trước khi đổ nước cũng biết làm khúc dạo đầu bằng mây đen kéo về bưng bít. Annie khác, tính khí trời sợ, không quỡn để đưa lời cảnh báo trước. Xem chừng nó biết kẻ lạ là mông-xừ Tran này sẽ “từ ngoài sân sau lần vô bếp”, là bad guy muốn soán đoạt bớt cảm tình mà má nó dành riêng cho cục cưng. Nhưng nói nào ngay tôi biết học bài nhẫn nhục, Tran là đệ tử ruột của thằng cha nội Hàn Tín xem việc lòn trôn thiên hạ chỉ là chiện nhỏ, chẳng hề lấy đó làm điều. Căn tu thâm hậu do vậy hôm giới thiệu với mấy cô giáo coi trẻ, Annie đã nắm lấy tay tôi biểu hiện tình hữu hảo môi hở răng lạnh.

Về ngón đòn tâm lý chiến thì dễ như ăn ớt, ba rưỡi đến hẹn lại lên, tôi xẵng xái đặt chân vào vùng cấm địa, toét miệng cười, chào hỏi thắm thiết tới quý vị phụ nữ xong, liền dắt con bé đi thơ thẩn tới cửa hàng Mách Đô. Tôi có xem tờ báo chợ, thống kê cho rằng 90% các đấng nhi đồng thảy mặn khoai tây chiên đi cùng cái hamburger hoặc cục thịt gà bọc bột chiên, tu một hơi gần cạn ly coke. Mặt tươi như hoa được phun nước, tiếng cười trong trẻo vi vút hơn lệ thường. Bận ngồm ngoàm cứng miệng, nếu không đã ghé tai tỏ tình: Je t’aime.

Thục My luôn khuyến khích tôi trao đổi tiếng mẹ đẻ cùng Annie. Mới 5 tuổi khả năng đàm thoại của con bé y như tôi khi sử dụng tiếng Pháp với người bản xứ, có nghĩa là còn giới hạn lắm. Nó đã vất bỏ chữ ông Tran, nó gọi tôi lúc bác lúc chú. Không riêng nó, ngay cả già đầu như tôi cũng chẳng biết cha nó, papa, ba, bố còn sống hay đã chết. Ổng giang hồ vất vưởng phương nao. May cho Annie, nó chưa một lần thắc mắc, gióng hỏi. Nó biết cái đáng biết, Tran, bác, chú nọ không thể là người khiến má nó mang bầu rồi hạ sinh ra một con bồ câu bé nhỏ. Bồ câu là tên ở nhà của Annie. Tôi từng ra sức vẽ nên một con bồ câu giống thật vào giấy rồi biểu nó tô màu tuỳ thích, xanh xanh đỏ đỏ trẻ nhỏ cũng ưa. Đó là kế điệu hổ ly sơn, để bác và má có cơ hội đứng trong bếp cùng sát vai thổi lửa nấu ăn chung. Thục My nói: Bồ Câu biết hôn, ngoài tài vẽ đẹp, bác còn biết nấu nhiều món ngon lắm. Và như thế, lắm khi tôi nai lưng thêm chức sếp bếp, hoặc ngửa tay nhận tiền cậy nhờ đi chợ mua sắm nguyên vật liệu ở nhà đang thiếu thốn. Ghi ra giấy kẻo quên, lần trước xớn xác dặn một đường tha đồ về một nẻo, trật chìa, lộn tùng phèo. Người gì mà cứ dật dờ, để tâm trí rơi tận đâu đâu á!

Tôi mần thinh, chưa phải lúc để thưa thốt: Dạ thưa em, lòng dạ Trần này bận tơ tưởng tới hình dáng em. Đứng gần em thì băn khoăn không rõ sau áo xống lụa là che đậy kia là thức gì ẩn dấu? Trần khờ khạo lắm, mong được em chỉ giáo một lần để sớm mở mắt, có vậy con bồ câu mới đâm quyến luyến với con chim cu này.

Có bữa mát trời ông địa, đón Annie về, nó đòi vào công viên coi ông già vô gia cư ngồi yên trên băng ghế đá mặc tình cho đàn chim mổ thức ăn rơi bám thân ông. Phải hiền từ đôn hậu lắm chim mới thân tình ríu rít vây quanh xem nhau như bạn được. Chân tay tôi có biến thành bốn ổ bánh mì e chim chóc cũng nhác ăn, cạy mặt cái đứa đến từ nơi chốn “con gì nhúc nhích đều xơi ráo”. Tôi không phải “tự nhiên như người Hà Nội” ghiền món thịt cầy, chưa hề thử “ngon nhức răng” vậy mà đi ngoài đường có nhiều con chó gầm gừ, mắt long lên kỳ thị thấy rõ. Chuyện nhỏ! Chuyện nhớn là Annie càng lúc càng “mặn nồng” với bác, Bồ Câu xem tôi là người bạn đồng minh có thể chơi được, có thể gặp cảnh bất bình rút đao tương trợ, đừng hòng có đứa nào lén phén tới ăn hiếp tao, nhớ. Mông-xư Tran biết kung-fu đấy.

Coi cảnh ngoạn mục chim ăn chim ỉa trên đầu ông già rách rưới có thể là xem phim quảng cáo phút đầu, anh thanh niên đạp xe ba bánh chứa thùng kem nhiều màu tựa bên thân cây rậm lá mới là bộ phim chính lâm ly bi đát hơn hẳn. Chưa coi mà đã chảy nước miếng. Bác, con thích ăn kem. Ơn trời, may mà trong túi có chêm chút bổi, làm đứa khố rách áo ôm thì chẳng biết mần răng giải quyết. Ô kê, kem thì kem, sợ gì. Kem múc hai cục rõ to ém vào cái ly làm bằng loại bánh xốp. Của cháu là chó-có-lát của ông là va-ni, vị chi là tám đô chín mươi chín xu. Va-ni dắt chocolat tìm bãi cỏ mượt nhẹ nhàng buông thân nửa nằm nửa ngồi mút lấy mút để hai cục đường mát ngọt cần cổ. Tôi nhìn vẻ say sưa của con bé, thè lưỡi liếm cho mòn, cho triệt tiêu cục kem trơn láng: Bồ Câu thích có em không? Là sao? Con thấy mấy con chim đậu sát bên người ông ấy không? Lúc nào chúng cũng có bạn, chúng chẳng đi một mình. Em là bébé, là đứa bé sẽ được chị Bồ Câu bồng bế ẵm ru. Môi con bé ướt ngọt: Nếu con thích em bé thì phải xin má, hay xin bác? Ai cho con?

Đàm thoại cho có, cho khỏi quên tiếng mẹ đẻ, tưởng sẽ chìm vào dĩ vãng, ai có ngờ đâu chữ “em bé” đã ghim vào trí nhớ nhỏ nhoi kia. Hồi nào con lớn bộn bề, ắt con “về nhà dối mẹ”, hiện tại con tẻo teo như cây kẹo, con thật thà như đếm: Má, con muốn có em bé. Có lửa mới sinh ra khói, má rùng mình đón nghe lời trần tình quá sức cực đoan, má nhìn bác bằng đôi mắt biết nói: Ô là la, mông-xừ Tran đã đầu độc trẻ thơ, còn ai trồng khoai đất này? Gieo rắc tai hoạ là hậu quả của việc giao lưu tình cảm chùng lén giữa song phương bấy chầy, ưa bắt đương sự viết bản kiểm điểm quá. Em bé đâu phải từ trên trời rớt xuống dưới đất chui lên. Muốn tựu thành ra em bé thì biết bao cơ man là gay cấn buộc phải nhắm mắt liều mạng bước qua cầu tre lắc lẻo. Có rớt xuống sông làm ướt cái quần ny-lông thì tai kíp nghe lời ai hát hỏng: Dô đây em đợi quần khô anh sẽ đưa em dìa. Cởi quần phơi cho ráo nước, trong khi chờ đợi thời khắc từ ướt tới khô, em nào biết mần chi, há lẽ anh biểu em ngồi không? Hoàn cảnh ấy rất mực căng thẳng, thót tim trong e ấp. Búi xờm xờm chớ hổng giỡn chơi đâu nhen. Hèn chi người xưa dạy: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Chốn cô quạnh khiến tim mềm, ta dễ nghe lọt tai lời rù quến.

Tôi vụng tu. Tôi vụng về. Tôi không biết cách xử thế. Tôi chẳng thông hiểu mức nông sâu của lòng người. Tôi thất nghiệp. Người ta đã từ chối bao công sức tôi trao chẳng toan tính. Người ta đã gài số de, lùi một lèo, không thèm nháy đèn chẳng cần đạp thắng. Lỗi tại tôi mọi đàng. Tiên trách kỷ hậu trách nhân.

Điện thoại im re. Bước lên bậc thềm cửa đóng then cài bấm chuông chẳng ai mở, đút chiếc chìa khoá vàng mãi tòn teng trước ngực vào ổ, đút hoài chẳng vô. Ai kia nhẫn tâm đã thay ổ mới, nhìn qua cửa kính, thấy đen thui một sự từ khước lạnh tanh. Thất bại, đứng dáo dác nghe gối mỏi chân mòn, chẳng biết làm chi tôi rảo chân đến ngôi trường với lấn cấn dấu hỏi: Chuyện gì? Tại sao? Sao quay lưng mà chẳng bảo gì nhau?

Chào cô Clementine, cô khoẻ không? Ah, chào ông Tran. Cảm ơn, tôi tốt. Ông đến có việc gì không ạ? Mẹ của Annie đã thốt lời chào tạm biệt chúng tôi, dọn tới chốn khác thuận tiện hơn, có lẽ vậy. Ơ, đợi tôi một chốc nhé, chừng hai phút thôi, tôi có cái này trao ông.

Tôi đứng nhìn vào cánh cửa vừa mở rộng, một hành lang sạch bong thắp sáng những đốm điện vàng, thế giới êm ả đó vừa gửi trao một hương mùi đặc thù nó riêng thu cất. Mùi bàn ghế hao mòn của bao thế hệ từng mài đít, mùi giấy ẩm của sách vở, bục gỗ, bảng đen, phấn trắng chừng cũng biết phát hương. Hít phải, nghe lòng bồi hồi trong hoài niệm tự ùa đến. Đã là ngôi trường thì buộc chúng phải có linh hồn, thứ linh hồn luôn tỉnh thức. Nó không đời nào chợp mắt, dẫu nó thoi thóp nằm yên trong ba tháng hè. Nó tựa chứng nhân, bao dung, sẵn lòng hàn huyên cho bạn nhớ về một thời vụng dại tuổi học trò. Thời gian đã lạnh lùng soán đoạt cái kho báu giá trị ấy. Bạn nghe ra một nỗi đau dịu dàng, buồn tủi. Cắm cúi học vạn điều hay lẽ phải để về già vẫn thấy mình chưa thật sự khôn lanh.

Đây, ông xem. Annie vẽ nhiều bức nhưng tôi vẫn thích bức tranh này nhất. Cô Clementine đã trở lại, tay nắm tờ giấy vung vẫy khi bước ra. Trong các lớp, chúng tôi vẫn trang hoàng chật vách bằng chính thành quả các em say sưa vọc màu. Trẻ con bao giờ cũng đáng yêu, hồn nhiên thể hiện rõ qua màu sắc, đường nét. Clementine trao cho tôi bức tranh vẽ bằng màu nước có ghi tên Annie bên dưới. Tranh vẽ một gã đàn ông tay chân lòng khòng ngồi trên ghế đá, trên đầu có đậu con chim rõ to. Màu chim xanh, xanh nhỏ giọt chảy tràn trên bãi cỏ, lốm đốm. Con bé giải thích, mông-xừ Tran là người còn con chim mang tên Annie. Mình thương ai thì mình để trên đầu, con bé khẳng định thế. Trên đầu chứ không trong tim. Ông giữ làm kỷ niệm.

Cảm ơn nhiều. Tôi nói, cẩn trọng gói tròn tờ giấy nhăn nhúm vì màu nước tấp dày. Tôi bắt tay Clementine, chào tạm biệt. Tôi đón xe buýt về chỗ trọ. Có lẽ tôi sẽ kiếm tìm một công việc nào đó để cứu vớt phần nào, không ai an lòng sống với những ngày vô tích sự. Trước, tôi có chiếc xe hơi mua trả góp, làm chân cẳng vì hãng xưởng nằm tuốt ngoài xa lộ. Một ngày băng giá tự dưng có chiếc xe tải lảo đảo lạc tay lái đâm thốc một bên thân. Tôi nằm viện hơn tuần lễ, không biết cách viết đơn kiện tụng. Theo giám định hiện trường nơi xẩy ra tai nạn, hãng bảo hiểm đã bồi thường cho tôi một số tiền khá lớn. Tôi thong dong quên việc cày bừa đã được hai năm, tôi sợ ngồi vào tay lái do vậy tôi quyết định dùng phương tiện vận chuyển công cộng. Tôi trình bày rõ mọi chuyện cho Thục My nghe, cô nói nhàn cư vi bất thiện, chi bằng tới giúp cô những việc cô không kham nổi. Nhỏ nhặt như bóng điện bị hỏng bất chợt cũng chẳng biết cách thay cái mới.

Tôi ghé ngang một cửa hiệu chuyên bán khung ảnh. Người bán hàng muốn giúp tôi việc lồng bức tranh vào trong. Ông ta bảo, bức vẽ này quá dễ thương, hãy cho tôi xén bớt khoảng trống, như vậy bố cục sẽ hoàn chỉnh hơn. Tôi gật đầu. Cháu được mấy tuổi rồi? Picasso từng nói: Mỗi một đứa bé đều là nghệ sĩ…

Tôi trả tiền. Tôi cầm lên “tác phẩm” của Bồ Câu vừa được gói giấy cẩn thận. Tôi bước ra, tôi băng qua đường vì chợt thấy một quán nước lộ thiên có trương dù che nắng gió.

Ông dùng cà phê loại gì ạ? Không, hãy bán cho tôi một cốc kem, loại chocolat, xin vui lòng.

Tôi nghe như có tiếng cười trong trẻo của Bồ Câu vừa vọng vào đôi tai. Tôi đồ rằng Thục My chê tôi nghèo khó. Tôi mút cục kem, ngậm bồ hòn làm ngọt. Tôi là ông già rách rưới ngồi trong công viên mà chim chóc ái ngại chẳng dám đáp xuống ríu rít hót ca quanh thân. Chẳng có con chim nào đậu ngay đỉnh đầu tôi cả. Yêu ai nên để trên đầu. Ai đã dạy con chuyện ấy? Trên đầu là nơi chỉ dành riêng cho bố mẹ thôi, con ạ. Tôi cầu mong cho Bồ Câu ở được trong một cái chuồng vững chắc, che kín nắng mưa, tránh tai ương vụt đến tước đoạt đi hạnh phúc má vừa ra công gầy dựng. Annie, toa có thương moa không? Moa treo bức tranh này bên chỗ nằm cho tới mãn kiếp.

Hồ Đình Nghiêm

Chia tay

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 11/01/2018 

Post by Sơn râu 22 Feb 2024

Montreal snow scene
Darlene Young

Sáng nay trời ửng chút nắng. Nhiệt độ leo lên được con số 3, độ C. Nàng Bạch Tuyết mới làm tình làm tội phủ ngập người mà giờ này lại cựa mình, bắt đầu tan chảy, tựa niềm vui hiếm thấy, chẳng mấy khi gặp. Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ? Câu này đúng mấy phần, sai bao dặm? Chớ thắc mắc. Chỉ nên tin vào thống kê người ta cất công nghiên cứu: Ngoại cảnh u sầu ám nặng trong mùa đông đã ảnh hưởng tới tâm lý và sức khoẻ con người, dẫn tới số tử vong cao nhất so với ba mùa Xuân Hạ Thu còn lại trong năm. Nôm na, qua khỏi mùa Đông thì trên các mặt báo sẽ thưa bớt những ô phân ưu chia buồn bao kẻ bạc mệnh nhác chơi với cuộc lữ. Và mùa đông chốn này, eo ơi nó lê thê kéo dài, giết người không gươm đao bằng cái miên man nọ. Đứng tuổi mới dạ cảm hoài kiểu ấy, chứ thanh niên trai tráng lại phán: Chỉ teo bu-gi chút đỉnh. Chuyện nhỏ! Già cả đâm bất tiện các thứ. Nó teo lại là chết chắc đấy con ạ!

Trời ấm, phải tận dụng màu vàng eo xèo của nắng yếu, tôi cầm đùi lẻ chống cây ba-toong đi bộ ra đầu đường gió nhẹ mơn man. Chim bồ câu tụ bầy trên mái giáo đường đứng gật gù rỉa lông thì thầm bao cung bậc đầy trắc ẩn. Điều này đồng nghĩa là chưa đúng ngọ, tháp chuông gắn phía sau nhà thờ sẽ đổ nhịp lúc 12 giờ trưa. Chim chóc cũng biết hưởng thụ giây phút thanh nhàn trong yên ả. Chúng sẽ bay đến nơi khác trước khi hồi chuông đổ tràn ra điệp trùng tiếng kinh cong. Tôi chưa từng xét nghiệm lòng mình về phản ứng khi nghe chuông giáo đường mãi tạo sóng. Tôi chỉ nghe bất an khi cúi đầu hứng chịu tiếng mõ cùng những đoạn kinh khó hiểu rót vào tai. Và hương hoa, và nhang đèn, và hương khói… Một thứ buồn vào hồn không tên!

Quán cà phê quen thuộc bữa nay có thay đổi cách trưng bày làm như mùa xuân đang ngấp nghé bên ngoài hàng hiên. Chỉ chút nắng tạo ra vệt vàng tấp vào cửa kính cũng đủ đóng khung bức tranh trông sinh động. Tấm bảng gỗ thường viết phấn màu quảng cáo món đặc biệt trong ngày cũng như kê khai một loạt thức uống đã được thay bằng hàng chữ huê dạng: “BOOK, the only thing you can buy that makes you RICHER”. Ủa, giờ này mới biết là sách chứ không phải vé số. Vậy mà bấy lâu cứ đè vé số cá cược may rủi với thần tài đỏ đen, mấy tiền cũng hết răng chưa mua được tiên? Giàu và nghèo, hoá ra không nằm riêng ở khoảng số tiền anh đang sở hữu được. Một ông homeless râu ria ra rậm rạp ngồi trụ ở góc đường đang hí hoáy làm thơ bỏ quên thế sự sầu não thì không hẳn đích thực là kẻ vô sản nghèo rớt mồng tơi đâu nhé, bởi đơn giản đứa tiền rừng bạc biển chưa chắc đã rung động con tim để tạo ra vẻ đẹp, dẫu phù du.

Khi tôi gọi xong ly cà phê và chọn được cái bàn có hai ghế trống thì bạn tới. Bạn tôi nằm trong danh sách những người thôi lao động ở trường đời, ăn tiền già, ăn hưu non hoặc hưởng một thứ trợ cấp nào đó từ chính phủ quan tâm đoái hoài chi viện. Tiền bạc rủng rỉnh tuy chẳng dư thừa nhưng thời gian thì giàu sụ chẳng biết cách tiêu cho hết. Rất đại gia. Đó là những ca sĩ nghiệp dư chỉ biết hát có đôi bài tủ, đại loại: Ôi, ta buồn ta đi lang thang bởi vì đâu… Hoặc: Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa… Rất thân bại danh liệt.

Ông có thấy tấm bảng dựng ở cạnh cửa không? Bạn hỏi. Tôi khuấy ly cà phê đen, chậm rãi: Do đâu mà chúng đổi menu lạ thường vậy không biết! Những cuốn sách long bìa tróc gáy bám bụi dựng sát vách kia thuần chỉ là món dùng để trang trí. Người bạn cởi bớt áo xống móc ở lưng ghế: Chừng nào ông tính in một cuốn sách? Tôi ngó vào mặt kính cận mờ đục hơi ẩm nơi gương mặt người đặt câu hỏi để nhớ lại những dự tính chẳng mấy thiết tha. Hình như đêm tụ họp ăn tất niên cùng nhau, tôi lỡ vung vít: Sang năm mới tôi sẽ thực hiện hai điều có hơi lạc hậu, một là tự mở cho mình trang facebook, hai là in một tập truyện ngắn. Thầm thà thậm thụt kiểu nói trước bước không rời. Ngó trước trông sau, nghiệm thấy chẳng mấy vui. Bất ổn và bất khả. Chắc phải về cố quận để hỏi cho ra lẽ: Hồ hởi phấn khởi nghĩa là gì? Rất hoang mang!

Người bạn tháo hai con mắt xuống để lau cho trong trẻo, hai mắt còn lại tuồng như chưa hề ngủ tròn giấc. Khi lấy cặp kính cận ra, gương mặt bạn lộ rõ những tàn phai ghi dấu, tựa một trang lưu bút đã chịu qua nhiều giở lật. Ngày xưa bố mình tuy nghèo nhưng ông luôn hào sảng chuyện mua sách cho con cái. Bố mình bảo, sách là người bạn chung tình không hề phản bội. Anh mình thì ví von: Đàn bà giống như một cuốn sách mà chúng ta khó đọc xong. Bạn thôi nói khi mang lại vật bảo vệ cửa sổ tâm hồn. Tôi bắt gặp một dung mạo quen thuộc cũ. Tôi kể cho người bạn nghe một mẩu chuyện hài với tựa đề “Sách, đôi khi không tốt”, có anh chàng nọ rất yêu hoa, bỏ tiền mua bao kỳ hoa dị thảo mang về trồng vun xới làm khu vườn trông lung linh huyền ảo. Ngày kia, đi làm về mặt anh biến sắc khi nhìn ra sự trơ trụi xác xơ của khu vườn trong khi vợ anh thì đang nghiền ngẫm cuốn sách Nghệ Thuật Cắm Hoa. Người bạn cười thành tiếng: Vậy thì đã có thêm người đồng ý rằng đàn bà là một cuốn bí kíp hóc hiểm.

Tôi nói e là vậy, vì những cuốn truyện nhiều tình tiết mãi lôi cuốn đều chứa đựng đôi ba hình ảnh của quý vị nữ lưu. Thi ca cũng thế, riêng khoảng diện mạo và thể hình của “nàng” cũng khiến anh hồn xiêu phách lạc, ca ngợi đủ mọi ngôn từ. Món phở nổi đình nổi đám hơn cơm là có nguyên cớ bên trong. Người bạn cho hay mấy năm qua để dành được một ít tiền đặng về thăm nhà trong nay mai. Xa quê hương thì lúc nào cũng nhớ mẹ hiền, bạn bổ túc thêm, và nếu về êm xuôi mình sẽ quyết dùng văn hoá phong bì để được đi vào tù thăm thú phạm nhân Nguyễn Hoàng Tâm. Rất ấn tượng tay này, chỉ mới có 30, tuổi trẻ tài cao mình ên đi xe máy vào Thành nội Huế, cướp ngân hàng BIDV gần cửa Đông Ba lấy đi 800 triệu đồng chỉ trong vòng 12 giây. Ung dung ra nổ máy xe chạy thoát trong lúc nhân viên bảo vệ chưa kịp phản ứng. Tuyệt! Đạo diễn phim hình sự cũng chả dám viết ra được một kịch bản thần sầu như rứa. Ôi chao, con cái nhà ai mà giỏi dang rứa bây! Rất đáng ngưỡng mộ.

Cà phê chỗ này uống được quá đi chứ? Nhâm nhi gần hết ly mà sao giọng người bạn nghẹn như chưa thông cần cổ: Sáng nay mình xem tin tức phát sóng trên đài VTV: Ở Việt Nam vừa phát hiện ra đường dây buôn người. Người được mua đứt với giá từ 300 đến 500 triệu. Mua xong mang về phân loại: Bắt mắt thì thời gian đầu cho làm gái mại dâm, thời gian sau đem bán cho bọn đang cần vợ. Xấu xí thì chuyển đến trại chuyên mổ lấy nội tạng. Mua nhanh bán chạy đắt như tôm tươi là các trẻ sơ sinh…

Có hoang đường không? Những cuốn sách fiction cũ mốc dựng chật một góc kia có tác giả nào viết được một tình huống ấy? Mạng người sao rẻ rúng, sao túng quẫn, sao nằm mơ cũng chẳng ngờ tới nhường kia? Vậy thì khi anh cướp ngân hàng được tới những 800 triệu, buồn tình anh có thể mua luôn hai bà vợ một lúc nhỉ? Biết xài sao cho hết! Vào lúc 30 tuổi, thời đó chúng mình có làm được gì đâu. Sao đẳng cấp bằng! “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi, van nợ lắm khi tràn nước mắt” như cụ Tú Xương mà thấm béo gì. Tình huống căng hơn nhiều. Kể làm răng cho hết. Cháu con nó hoàn cảnh lắm cụ ạ! Nhưng an ủi một điều, chúng nó chưa đánh mất nhân tính, chúng bổn thiện, chúng biết hổ ngươi khác xa thời buổi đương đại này.

Tôi hỏi: Vậy thì bạn còn giữ nguyên tính bổn thiện không. Mang thứ hành trang ấy về không chừng mà thua thiệt đấy. Sách xưa có dạy “Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Trước đây bạn mắng những thằng Việt kiều sao giờ này lại giở thói sáng nắng chiều mưa tiền hậu bất nhất. Người bạn ngồi rụt cổ: Thôi mà, chớ gắp lửa bỏ tay người, cho em nhờ tí! Hãy xem như mình đang âm mưu viết nên một cuốn tiểu thuyết và về lại chốn cũ là cách đi thực tế. Va chạm, chung đụng, thu gom tư liệu làm giàu vốn sống. Mình tin là sẽ hấp dẫn hơn chuyện Liêu Trai Chí Dị.

Tôi ngó người vừa đơm mộng ước để tự nhủ lòng, cho hắn bon bon chạy mà chớ thọc gậy bánh xe. Ừ, chúc ông thuận buồm xuôi gió. Ông nên tự tạo ra niềm tin, chớ sờn lòng. Kiểu như cách tuyên bố của ông phó chủ tịch quận 1 Sài Gòn: “Không lấy lại được vỉa hè tôi sẽ cởi áo từ quan”. Nghĩa là sao? Nghĩa là không viết được cuốn tiểu thuyết hiện thực huyền ảo kia tớ sẽ thôi làm nhà văn. Tôi gợi ý cho bạn một cái nhan truyện nhé: Đi Xe Có Còi Hụ.

Chuyện nhạt dần, cà phê cũng đã cạn. Một cuốn sách mỏng đã đọc hết chữ cuối. Ngồi trong quán lâu cũng đâm áy náy, nên giã từ trả chỗ trống cho người ta tiếp khách mần ăn. Khi mặc lại áo ấm, người bạn cho hay sẽ ghé thăm các chùa chiền khắp ba miền cho mãn nhãn, ở Hà Nội họ vừa mở khoá bồi dưỡng cho sư sãi và ni cô biết cách tránh thai, cách tính chu kỳ kinh nguyệt và cách sử dụng condom. Muốn ghi danh học lên tiến sĩ về đạo pháp bạn phải thi đỗ môn lý luận triết thuyết Mác-Lê. Mình sẽ đi thăm thượng toạ Thích Chân Quang, người vừa tạo sóng: “Theo lịch sử không chối cãi được, Trung Quốc là anh, Việt Nam là em… mà Lý Thường Kiệt mang quân đánh là hỗn”. Lạ thật, sao những tin tức rậm rật kiểu đó mà tôi lại chẳng hay biết cà? Tại vì ông cứ bình chân như vại chốn đây, còn mình sắp lên đường nên cần phải bỏ công tìm hiểu đôi chút. Ta không vào địa ngục thì ai vào? Phải chăng chính Phật là người nói ra câu đó?

Xô cửa bước ra đường, tôi nói cùng bạn: Tôi cũng hồ nghi chẳng nhớ ai viết ra câu: Khi bọn học trò lớn dần, viết chì được thay bằng viết mực, chỉ để giải thích là bây giờ khó mà tẩy xoá những lỗi lầm. Hơi lạnh còn ẩn chứa trong gió, dù heo may rợn cảm. Về Việt Nam, chẳng biết mình có mắc phải lầm lỗi? Điều ấy chỉ có lương tâm ông hay biết, nhưng viết được một cuốn sách sau chuyến đi là cả một điều đáng xiển dương. Chừng nào chính thức khởi hành? Cuối tuần, chủ nhật tới. Bà vợ cũ vẫn còn ở Nha Trang? Không, nhà dưới đó đã bán vì giá quá hời, bả hiện ở Đà Lạt và trùng hợp làm sao bả có chân trong hội văn nghệ Lâm Đồng. Có nghĩa là khi ông xuống tới phi trường Liên Khương sẽ gặp lại người xưa đứng đợi? Mình không rõ, bà ấy từng gửi email: “Nếu bạn yêu ai mà kẻ đó không yêu lại bạn, nó giống như bạn ra phi trường để chờ một chiếc tàu thuỷ”.

Hai đứa đi ngược hướng nhau. Thôi, bai nhé. Thượng lộ bình an. Còn sớm tôi rảo tới gian hàng bán đồ cũ. Việt Nam gọi là đồ hàng bành, hoặc Sida. Đã xi-đa mà còn xông pha hiến máu. Bên đó bị nhiễm vi-rút chơi chữ, hăng làm thơ đến nỗi bị vợ bỏ mà cũng không nhụt khí. Buồn đến khó chuồn, chán hơn sứt trán. Quá ngao ngán, không cách chi ta thán.

Siêng tay lục soạn một hồi, tôi mua được cuốn “Một Chút Mặt Trời Trong Nước Lạnh” của nhà văn nữ Francoise Sagan với giá 50 xu. “Un Peu De Soleil Dans L’eau Froide”. Một chút mặt trời vừa bỏ đi, trời xám, ẩm lạnh, nhức xương ở chân bước về nhà, gồng mình đợi trận tuyết khác kéo về. Không một chút mặt trời trong băng giá.

Hồ Đình Nghiêm

Dâu bể trùng phùng

Huy Văn Trương

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy

Post by Sơn râu 22 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Chương 2

Nhảy Dù cố gắng

Khi tôi thức dậy, bầu trời đã ưng ửng sáng, những ngọn đèn đường bao quanh khu bến xe đã tắt tự lúc nào. Tôi liếc nhìn đồng hồ, hơn 5 giờ rồi mà người tài xế xe vận tải đi Đà Lạt vẫn chưa đến đón chúng tôi, như anh đã hứa. Một chút nghi ngờ thoáng qua trong đầu, có khi nào anh tài xế lấy tiền của chúng tôi rồi trốn mất tiêu hay không? Có thể lắm chứ. Chuyện Miền Nam mất vào tay Cộng Sản, giống như chuyện trời sập, chuyện không tưởng, vẫn có thể xảy ra thì chuyện anh tài xế xe tải lừa chúng tôi để lấy hai ngàn đồng, có gì là lạ đâu.

Tôi quay đầu nhìn sang bên cạnh, Cúc hãy còn ngủ say. Là con nhà giàu, suốt đời sống trong nhung lụa, trong nhà kẻ hầu người hạ, khi ra đường một bước lên xe, hai bước xuống ngựa, hôm nay phải ngủ lang ở đầu đường xó chợ, tôi tưởng rằng Cúc sẽ cau có, bực dọc, hoặc ít ra cũng trăn qua trở lại vì đàn muỗi đói lẩn quẩn bên tai, vì nền xi măng ẩm lạnh, vì chiếc chiếu cũ đầy mùi hôi hám. Trái lại, Cúc ngủ ngon lành từ tối đến giờ.

Tôi nhẹ nhàng đặt cái quạt giấy xuống bên cạnh Cúc, rồi lượm hai tấm thẻ bài rớt dưới đất đeo vào cổ của mình. Hai tấm thẻ bài này đã theo Cúc mấy năm rồi, hôm qua Cúc mới trả lại cho tôi. Trong cái ánh sáng đùng đục tựa như pha màu sữa của bầu trời chưa sáng tỏ, tôi đọc được hàng chữ Nguyễn thị Cúc, khắc thêm vào khoảng trống bên trên tên của tôi trong tấm thẻ bài.

Năm xưa, ngày đầu tiên bước chân vào lính, tại Trung Tâm II Tuyển Mộ Nhập Ngũ, tôi được nhận quân trang quân dụng, cùng với tấm thẻ bài làm bằng một loại sắt không rỉ sét, trên đó tên của tôi với số quân và loại máu được in bằng máy dập, ép. Cúc đưa tấm thẻ bài của tôi cho thợ khắc chữ ở Sài Gòn thêm tên của Cúc vào. Hai cái tên quyện vào nhau, được làm từ hai loại máy khác nhau khiến tấm thẻ bài có nét là lạ, trông đẹp hơn và cũng tình tứ hơn. Có thể nhờ vậy mà những cô bạn gái của Cúc, coi việc đeo tấm thẻ bài của lính như một món đồ trang sức. Với tôi, đó là những cô gái lãng mạn đáng yêu vào bậc nhất trên cõi đời này.

Tôi vươn vai, duỗi chân để xua đuổi cái mệt mỏi của đêm dài rồi đảo mắt nhìn quanh. Sài Gòn, thành phố của hơn hai triệu dân, với sức sống tràn đầy mãnh liệt vẫn còn chìm sâu trong giấc ngủ mê mệt. Hình như, cái thành phố cứng đầu này không muốn trở lại với những sinh hoạt bình thường của nó. Trong lúc giao thời, chưa biết phải làm gì, nhà nào cũng đóng cửa chờ đợi.

Theo tôi biết, bất cứ thành phố nào của Việt Nam, chợ và bến xe là nơi có sức sống nhộn nhịp nhất vào buổi sáng. Hôm nay, mọi sinh hoạt ồn ào náo nhiệt của bến xe Pétrus Ký không còn nữa, đường phố khá im vắng, một vài ngôi nhà mở hé cửa để lọt chút ánh sáng vàng nhạt qua khe hở. Tôi đoán có thể cả tháng rồi, bến xe đi Đà Lạt chỉ còn những cửa hàng ăn hoạt động cầm chừng, vì Thành phố Đà Lạt đã bị Cộng Sản chiếm đóng từ tháng trước.

Hình minh họa

Trong cái yên vắng tưởng chừng sẽ còn kéo dài không biết đến khi nào, bất chợt tôi thấy một nhóm người đi dọc theo lề đường. Khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, tôi nghe được họ nói chuyện với nhau.

-Đi lẹ lên mấy bà, nghe nói trời sáng là bắt đầu.

Tôi nghe để mà nghe, nghe xong rồi bỏ ngoài tai, chuyện buôn bán của mấy bà để ý làm gì cho mệt. Được vài phút lại có một bầy con nít, vừa đi vừa chuyện trò líu lo.

-Mày chắc không?

-Chắc.

-Ai nói với mày?

-Chị tao nói, lát nữa họ sẽ xử tội mấy ông lính Nhảy Dù.

Câu nói của thằng bé khiến tôi giật mình, không kịp suy nghĩ tôi bung người bật dậy như một cái lò xo, lật đật đuổi theo mấy đứa nhỏ. Tôi vừa chạy vừa la.

-Ê, mấy đứa.

Một thằng nhỏ quay đầu nhìn tôi.

-Chú kêu tụi con có chuyện gì?

Tôi vội vàng hỏi.

-Mày nói xử tội ai?

Thằng nhỏ trả lời tôi.

-Xử tội lính Nhảy Dù.

-Ai xử

-Việt cộng xử chớ còn ai nữa.

Tôi kéo tay thằng bé.

-Xử ở đâu?

-Chú theo đường Pétrus Ký này, chỉ một chút thôi, tới đường Trần Quốc Toản quẹo phải. Mà thôi, chú muốn coi thì theo tụi con, khỏi mất công con chỉ dẫn lôi thôi, tốn thì giờ vô ích.

Không một chút chần chừ, tôi rảo bước theo lũ nhỏ. Khi qua đường Trần Quốc Toản được một khúc, tôi nhìn thấy bên tay trái của tôi là một ngôi tháp nguy nga đồ sộ, cao ba, bốn tầng đang được xây cất dang dở, với những trụ sắt đen sì tua tủa đâm lên trời. Giữa sân là những đống gạch ngói, gỗ đá ngổn ngang, xa hơn chút xíu là cái cổng khá lớn với bốn chữ Việt Nam Quốc Tự.

Tôi nhìn sửng ngôi chùa không chớp mắt, thì ra tối hôm qua tôi thức suốt đêm, có ngủ đâu. Tiếng chuông tôi nghe được là tiếng chuông chùa Việt Nam Quốc Tự, chứ không phải là tiếng chuông chùa Sư Nữ Linh Phong ở Đà Lạt mà tôi nghe được trong giấc mơ. Ôi! Trong cuộc sống đổi thay bất thường này, mộng và thực xét cho cùng khó mà phân biệt được.

Khi đi ngang qua ngôi chùa, một thằng bé giật mạnh cái chéo áo của tôi, tay chỉ về phía xa xa.

-Đó.. đó.. chú thấy chưa! Chỗ đám đông bu quanh thành cái vòng tròn. Mình chạy lẹ lên đi chú.

Vì quá nóng lòng, tôi chạy thật nhanh vượt qua mấy đứa nhỏ, tiến về phía trước.

Hình minh họa

Khi tôi chen chân vào bên trong vòng tròn người, một cảnh tượng hãi hùng khiến tôi như muốn chết đứng, tay run theo tay, chân run theo chân, lạnh cứng cả người. Bốn, năm cái xác lính Nhảy Dù nằm la liệt trên mặt đất, những xác chết bê bết máu với thương tích đầy người, một điều lạ là cả hai đầu gối của mấy xác chết đều bị thấm đầy máu, trong đó có một xác không còn nguyên vẹn hình hài với cái đầu mất đi một nửa, máu khô trộn lẫn với óc phủ đầy ngực của xác chết. Bên cạnh đó, trên một cái ghế dựa cũ kỹ bạc màu sơn, một ông chuẩn úy Nhảy Dù, hai tay bị trói ngược ra phía sau, hai chân bị cột vào hai chân ghế, đôi giày bốt đờ sô cởi vất bên cạnh. Con mắt trái của ông chuẩn úy tím bầm, sưng to như một trái quít, hình như đã mù do bị một vật cứng đập vào chứ không phải do trúng đạn, máu khô còn đọng lại một bên má. Mắt bên phải của ông chuẩn úy còn lành lặn nhưng nhắm nghiền lại, đầu nghiêng về phía trái. Tôi đọc được chữ Ngo nơi túi áo phải của ông chuẩn úy. Tên ông ta là Ngô, Ngộ hay Ngọ, tôi không biết được.

Trước mặt ông chuẩn úy, cả chục tên cán binh Cộng Sản với bộ đồ trận kaki Nam Định, chân mang dép râu, vai mang súng AK, đầu đội nón cối. Gương mặt của họ đầy vẻ tự tin của kẻ thắng trận với những cặp mắt sáng ngời nhìn thẳng về phía trước, chỉ có nước da nhờn nhợt, tai tái xanh màu cây cỏ của núi rừng Trường Sơn. Tất cả đều còn quá trẻ, tôi đoán họ chưa qua được tuổi hai mươi. Riêng người chỉ huy toán cán binh Cộng Sản, sở dĩ tôi biết ông ta là cấp chỉ huy bởi vì bộ đồ kaki mà ông đang mặc trên người trông rất sạch sẽ, thẳng thớm, vai đeo cái xách cốt bằng da màu vàng đậm, bên hông kè kè cây súng ngắn K59. Chân ông ta không mang dép râu mà mang đôi giày xăng đan. Đó là điều tôi thấy khá khôi hài, mới từ trong dãy Trường Sơn ra mà mang xăng đan da còn mới tinh, khác nào George Orwell đã viết “Trong Trại Súc Vật, mọi con vật đều bình đẳng, nhưng có một số con vật bình đẳng hơn những con vật khác”.

Người cán bộ Cộng Sản chỉ huy có gương mặt hiền lành, mang đậm nét quê mùa của một anh nông dân thật thà chất phát, quanh năm chân lấm tay bùn, ông ta nhìn viên chuẩn úy Nhảy Dù với đôi mắt hiền khô rồi cất giọng.

-Đồng bào Miền Nam ruột thịt, hãy nghe tôi nói. Đây là xác những tên lính Nhảy Dù Ngụy ngoan cố. Hai ngày trước, khi mà thằng Tổng Thống Ngụy Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên Đài phát thanh Sài Gòn, vào khoảng mười giờ sáng ngày ba mươi tháng tư, những tên lính Nhảy Dù Ngụy này vẫn không chịu buông súng, chúng điên cuồng, tiếp tục đánh phá cách mạng với mục đích là cản bước tiến của dân quân ta trên đường giải phóng Sài Gòn. Năm cái xác lính Nhảy Dù Ngụy mà đồng bào thấy nằm lung tung, lang tang dưới đất là do bị các chiến sĩ cách mạng trừng trị. Đổi lại, cả chục chiến sĩ của ta đã hy sinh một cách oan uổng dưới tay của đám lính Nhảy Dù Ngụy này. Tất cả chỉ vì lơ đễnh, cả tin vào lời kêu gọi lính Ngụy buông súng đầu hàng của thằng Dương Văn Minh.

Đây là lần đầu tiên, tôi được nghe tận tai, thấy tận mắt một cán bộ cấp chỉ huy Cộng Sản nói chuyện với dân chúng. Tôi không biết ông ta được huấn luyện ra sao, học hành tới đâu, cấp bậc là gì. Thế nhưng, khi một người cán bộ chỉ huy Việt Cộng, gọi Tổng Thống Dương Văn Minh là phe thù nghịch với mình bằng thằng, đó là ngôn ngữ của những người thiếu giáo dục, những kẻ không có học. Văn hóa của Miền Nam từ bao năm rồi không chấp nhận lối nói chuyện như vậy. Bởi vì dân cũng như lính Miền Nam, tuy không gọi Hồ Chí Minh của Miền Bắc là Chủ Tịch nhưng họ gọi ông ta là “ông Hồ Chí Minh” không có chữ thằng đi kèm.

Người cán bộ chỉ huy ngưng nói, ông ta đi tới rồi đi lui, nhìn những người dân đang đứng vây quanh với đôi mắt hiền hòa, nụ cười tươi tắn trên môi rồi thong thả đến trước mặt viên chuẩn úy Nhảy Dù, thân mật vỗ vai viên chuẩn úy.

Hình minh họa

-Chúng tôi hy sinh thân mình đi làm cách mạng với mục đích là đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào, giải phóng Miền Nam thoát khỏi gông cùm kềm kẹp của Mỹ Ngụy, đem lại Độc lập Tự do cho đất nước, đem thanh bình no ấm cho toàn dân. Chuẩn úy biết ăn năn hối lỗi, cứ an tâm ông sẽ được hưởng chính sách khoan hồng nhân đạo của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Chúng tôi những người cách mạng chân chính, đánh kẻ chạy đi, không bao giờ đánh người chạy lại.

Người cán bộ chỉ huy ngừng nói, quay nhìn đám đông như đợi cho mọi người hiểu rõ những gì mình vừa diễn đạt, sau đó ông ta mới từ tốn nói tiếp.

-Riêng tên chuẩn úy Nhảy Dù bị cột trên chiếc ghế mà đồng bào thấy đây, sở dĩ hắn còn sống cho đến giờ phút này bởi vì hắn đã quỳ lạy, van xin cách mạng tha tội.

Từ nãy đến giờ, viên chuẩn úy Nhảy Dù vẫn lặng im như đang nghe, đột nhiên ông ta ngẩng đầu lên, cố nhướng con mắt còn lại nhìn theo người cán bộ chỉ huy, rồi cất giọng thều thào:

-Nước…Nước.

Người cán bộ chỉ huy nhìn mấy tên cán binh Cộng Sản, hất hàm.

-Mở trói, đem nước cho hắn.

Viên chuẩn úy Nhảy Dù đưa tay đón cái bi đông nước bằng nhựa được sản xuất tại Trung Cộng, nhưng hình như ông ta không nhìn thấy rõ, cho nên hai tay cứ quơ quào trong không khí.

Một tên cán binh Việt Cộng nắm lấy cổ tay của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đặt cái bi đông nước vào tay của ông ta. Với hai bàn tay tím bầm, máu khô còn đọng lại nhiều chỗ, viên chuẩn úy Nhảy Dù dùng cả hai tay ôm cái bi đông nước sát vào lòng như sợ người khác giật mất. Tôi đợi hoài, đợi mãi vẫn không thấy viên chuẩn úy Nhảy Dù uống nước. Xin nước mà không chịu uống chỉ để ôm vào người, hành động kỳ lạ như vậy, cho tôi thấy ông ta đang lo nghĩ đến chuyện gì đó quan trọng hơn là việc uống nước. Hai phút, rồi ba phút trôi qua trong im lặng, cuối cùng viên chuẩn úy mới từ từ nâng cái bi đông lên cao quá đầu, sau đó ông ta ngửa cổ há miệng, úp ngược cái bi đông lại. Nước từ trong bi-đông òng ọc chảy xuống mắt, mũi, miệng của viên chuẩn úy. Một phần nước chảy tràn qua bên má, hòa với máu khô thành một màu vàng lờn lợt lan xuống chiếc áo rằn ri, làm ướt dầm cái lon chuẩn úy màu đen thêu nơi cổ áo, ướt luôn cái tên Ngo nơi túi áo. Mặc kệ, viên chuẩn úy vẫn tiếp tục uống từng hớp nước một cách ngon lành. Cục xương trái khế nơi cổ của ông ta chạy lên, chạy xuống theo tiếng nước trôi ừng ực qua cổ họng, trong khi hai tay vẫn giữ chặt cái bi đông. Có chứng kiến tận mắt cảnh một người lính của bên thua trận, mang thương tích trầm trọng đầy người, ung dung bình thản uống nước như vậy, mới thấy được cái phong thái hào hùng đầy bi thảm của ông ta.

Như muốn kéo dài thời gian, viên chuẩn úy nhẫn nha uống cho đến giọt nước cuối cùng từ cái bi đông rơi xuống, lúc bấy giờ ông ta mới từ tốn đưa tay vuốt mặt, dụi mắt, quay nhìn người cán bộ chỉ huy. Con mắt còn lại của viên chuẩn úy chợt nhíu lại, rồi bất ngờ, ông ta ném mạnh cái bi đông về phía người cán bộ chỉ huy. Cái bi đông lăn long lóc trên nền xi măng, phát ra những tiếng kêu khô khan, cộc lốc. Với giọng khàn khàn, đầy tự tin, viên chuẩn úy Nhảy Dù gằn từng tiếng một.

-Tao là lính Nhảy Dù của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, không bao giờ quỳ lạy hay van xin những thằng vừa đánh trống, vừa ăn cướp như mày. Nếu tụi tao còn đạn, bọn Việt Cộng man rợ như chúng mày làm gì có cơ hội đứng đây mà nói láo, mà huênh hoang khoác lác với dân chúng.

Hình minh họa

Bất ngờ bị vạch mặt, chỉ ra chuyện nói láo của mình, bẽ mặt trước đám đông, gương mặt của người cán bộ chỉ huy đang dương dương tự đắc, đột nhiên đổi sang màu xanh, xanh như tàu lá, đôi mắt của ông ta long lên sòng sọc biểu hiệu cho sự giận dữ tột cùng. Hai tay run run, ông ta rút khẩu K59 đeo bên hông, lên đạn rồi hướng nòng súng về viên chuẩn úy Nhảy Dù. No mất ngon, giận mất khôn, người cán bộ chỉ huy không còn giữ gìn phong cách của người thắng trận, không còn để ý đến lời ăn tiếng nói trước công chúng, ông ta nghiến răng, rít lên.

-Địt mẹ, mày nói gì? Nói lại cho bố mày nghe coi, cái thằng lính Ngụy ngoan cố.

Như chưa vừa lòng với những gì mình mới nói, gương mặt của người cán bộ chỉ huy chuyển sang màu đỏ, như màu đỏ của cái đầu con gà chọi. Ông ta hét to, nước bọt từ trong miệng văng đầy trong không khí.

-Đồ khốn kiếp, ông thì bắn bỏ mẹ mày bây giờ.

Vừa dứt lời, người cán bộ chỉ huy đá vào cái bi đông nhựa Trung Cộng, cú đá mạnh đến nỗi cái bi đông bay qua khỏi vòng tròn người đang đứng bao quanh.

Trước sự giận dữ của kẻ địch, thay vì giữ im lặng, chấp nhận nín thở để sang sông, viên chuẩn úy Nhảy Dù chậm rãi đưa tay chỉ vào vết thương nơi mắt trái của mình rồi nói.

-Mày là một thằng Việt Cộng bỉ ổi, đã bắn chết mấy người lính của tao, khi họ đã bị thương nặng không còn khả năng kháng cự, đánh bể một con mắt của tao, hành hạ bắt tao nhịn đói, nhịn khát, cột tao ở đây hơn một ngày rồi.

Nói đến đây, gương mặt của viên chuẩn úy chợt nhăn lại biểu lộ sự uất hận tột cùng.

-Tao hối hận…, thật sự hối hận vì ngày xưa trong lúc đánh nhau, tụi tao, hay nói rõ hơn là lính Miền Nam Việt Nam đã đối xử quá sức nhân đạo với tù binh Cộng Sản. Hôm nay, tụi mày là những người thắng trận, đã xử sự với lính Miền Nam Việt Nam còn tệ hơn là đối xử với một con vật. Sau này trong chính sử sẽ ghi lại, Việt Nam trong suốt bốn ngàn năm dựng nước giữ nước, ngày ba mươi tháng tư năm bảy lăm, là ngày khởi đầu cho một giai đoạn đen tối, thời kỳ mà Tàu Cộng sử dụng những người mặt Việt mà lòng dạ Tàu, cai trị Việt Nam.

Tôi sợ đến nỗi xuýt tè ra quần vì những câu nói đầy tính khiêu khích của viên chuẩn úy Nhảy Dù. Lẽ ra, ông ta nên im lặng giả dại qua ải, đàng này ông ta lại nói lên sự thật, sự thật ấy như một nhát dao đâm ngay vào cổ họng của kẻ thắng trận. Tôi chỉ muốn chạy lại đưa tay bịt miệng của viên chuẩn úy Nhảy Dù, nhưng…mọi chuyện đã trễ rồi. Hai tiếng nổ chát chúa vang lên, phá tan bầu không khí im vắng của buổi sáng, tiếp theo đó là nhiều tiếng rú đầy sợ hãi của đám đông dân chúng đứng chung quanh. Hai lỗ tai của tôi lùng bùng như muốn nổ, mắt của tôi hoa lên, đất trời chừng như đảo lộn khi thấy thân hình của viên chuẩn úy Nhảy Dù cùng với chiếc ghế đổ ập xuống đất. Người cán bộ chỉ huy đã bắn hai phát súng vào đầu gối của viên chuẩn úy Nhảy Dù. Như một tia chớp xé toạc màn đêm, tôi rùng mình chợt hiểu, tại sao hai đầu gối nơi xác những người lính Nhảy Dù đều bê bết máu. Người cán bộ chỉ huy với đôi mắt trợn trừng trắng dã, nhìn viên chuẩn úy Nhảy Dù đang lăn lộn dưới đất, đôi mắt của ông ta lúc này giống hệt như mắt một con dã nhân đang nhe nanh, gầm gừ đe dọa địch thủ. Không biết, khi xương bánh chè nơi đầu gối bị bắn bể, mức độ đau đớn mà người ta phải chịu nó như thế nào, nhưng nhìn gương mặt của viên chuẩn úy Nhảy Dù tái nhợt, nhăn rúm, với cái miệng méo xệch, hai tay cố bóp lấy đôi chân mà máu tươi đã thấm ướt hai cái ống quần, tôi biết, ông ta đang gánh chịu một sự đau đớn tột cùng. Người cán bộ chỉ huy đi chầm chậm theo vòng tròn, nhìn mặt từng người đang đứng vây quanh như muốn ăn tươi, nuốt sống họ. Cuối cùng, ông ta quay lại bên viên chuẩn úy Nhảy Dù, kê họng súng vào ngay màng tang của viên chuẩn úy, rồi thản nhiên bóp cò. Chỉ một giây đồng hồ ngắn ngủi, linh hồn của viên chuẩn úy Nhảy Dù đã theo tiếng súng, bước chân qua bên kia thế giới. Ông ta đã anh dũng đi vào lịch sử, một trang sử oai hùng đầy bi thương uất hận của phe thất trận. Máu ở đâu mà nhiều quá, chảy tràn lan trên mặt đất, thấm ướt cái phù hiệu hình vuông may nơi tay áo trái của viên chuẩn úy Nhảy Dù, cái phù hiệu với con chim ưng màu đen bay ngang cánh hoa dù bọc gió, nổi bật trên nền trời màu đỏ thắm. Những dòng máu oan khiên, những giọt máu uất ức chảy hoài, chảy mãi không muốn ngừng, trong khi thân thể của viên chuẩn úy Nhảy Dù đã nằm yên, ngàn đời an nghỉ bên cạnh xác đồng đội của ông ta.

Hình minh họa

Cảm thương cho người vừa nằm xuống, xót xa khi nhìn về tương lai đen tối của mình trong suốt quãng đời còn lại. “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”, nước mắt của tôi được dịp tuôn tràn. Tôi khóc thành tiếng lúc nào không biết, khóc cho mình rồi khóc thương cho mấy chục triệu dân Việt Nam, không biết họ phải chịu kiếp sống đọa đày trong cái địa ngục Xã Hội Chủ Nghĩa này bao nhiêu lâu nữa đây.

Tiếng khóc của tôi vang lên khiến cho nhiều người xì xào, bàn tán. Với vẻ mặt đầy tức giận, khi thấy tôi khóc thương cho viên chuẩn úy Nhảy Dù vừa bị xử bắn, người cán bộ chỉ huy như đang say máu, say mùi thuốc súng, ông ta đi đến trước mặt tôi, gí cái nòng súng còn đang bốc khói vào ngay giữa trán tôi. Với giọng đầy ngạc nhiên, ông ta nói.

-Địt mẹ cái lũ Ngụy ngoan cố này, tao chỉ bắn có một thằng lính Ngụy chống phá Cách mạng. Cho dù, có một triệu thằng phản động như thằng lính Nhảy Dù này tao cũng bắn tuốt. Tại sao mày lại khóc? Mày là lính Ngụy phải không?

Hồn vía lên mây, tôi sợ đến nỗi im ngay tiếng khóc. Đầu óc của tôi làm việc nhanh như một cái máy, tôi phải trả lời người cán bộ chỉ huy liền lập tức, trước khi ngón tay trỏ của ông kịp bóp vào cò súng. Bằng một giọng nói run rẩy vì quá sợ hãi, tôi lắp ba, lắp bắp.

-Thưa… cách mạng tôi không phải là lính Ngụy.

Chỉ là một câu nói tuy đơn giản, nhưng nó cho tôi biết rõ về con người của mình như thế nào rồi.

Một giây chần chừ, chỉ một giây thôi nhưng tôi thấy nó dài như một thế kỷ. Người cán bộ chỉ huy nhích nòng súng lên trời. Tôi nghe được một tiếng nổ vang lên bên tai như muốn rách màng nhĩ, cùng lúc ấy tôi biết là mình vẫn còn sống. Như chưa hả giận, người cán bộ chỉ huy hướng mũi súng vào xác của mấy người lính Nhảy Dù liên tục bóp cò, cho đến khi một tiếng “cắc” lạnh lùng vang lên, ông ta mới chịu ngừng tay. Từ lúc viên chuẩn úy Nhảy Dù bị bắn, cho đến khi những viên đạn điên cuồng ghim vào thân xác của những người lính Nhảy Dù, tất cả mọi việc chỉ diễn ra trong vòng vài phút, tôi hành động theo phản xạ tự nhiên, hoàn toàn theo bản năng sinh tồn của một con người đứng trước cái chết.

Người cán bộ chỉ huy nhét khẩu súng K59 vào bao.

-Mẹ bố cái lũ Ngụy ngoan cố, chỉ có bỏ tù bỏ đói, lưu đày biệt xứ nơi trại Cổng Trời mới trị được bọn chúng mày.

Vừa dứt lời, ông ta bước đến bên cạnh xác của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đưa tay lật cái ghế lên trong khi chân đá mạnh vào cái xác chết.

-Địt mẹ cái đồ bán nước, ôm chân đế quốc.

Nói xong, người cán bộ chỉ huy ngồi chồm hỗm bên cạnh chiếc ghế, lục trong cái xách cốt, lấy ra một tờ giấy đặt lên mặt ghế và bắt đầu viết.

Tôi không biết ông ta viết gì trong tờ giấy nhưng nhìn nét mặt đầy căng thẳng của ông ta, tôi biết chắc đó phải là những điều quan trọng. Chừng độ hơn mười phút sau, người cán bộ chỉ huy ngừng viết, ông ta đặt tấm giấy ngay ngắn trên mặt ghế, rồi cúi đầu lượm một chiếc giày bốt đờ sô của viên chuẩn úy Nhảy dù dằn lên.

Người cán bộ chỉ huy chống tay vào ghế đứng lên, quay nhìn đám cán binh Cộng Sản, ông ta nói:

-Chúng ta về thôi.

Hình minh họa

Cùng một sự việc, tôi và viên chuẩn úy bị kẻ thù uy hiếp bằng súng, viên chuẩn úy Nhảy Dù nói với mọi người là ông đã chiến đấu cho đến viên đạn cuối cùng chứ không van lạy, xin tha mạng như lời nói điêu ngoa của kẻ thù. Ông thà chết để bảo vệ danh dự, quyết không để kẻ thù vu khống, sỉ nhục. Tôi là Trung úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, cấp bực của tôi cao hơn ông chuẩn úy Nhảy Dù hai bậc. Chúng tôi cùng xuất thân từ Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi là siêu huynh trưởng của ông ta nhưng không dám nhận mình là lính. Tôi là một thằng hèn đã nói láo để sống còn. Chuyện rõ như ban ngày, người đáng sống là viên chuẩn úy Nhảy Dù chứ không phải là tôi.

Tôi có thể im lặng, giấu kín chuyện xấu hổ hèn hạ, tham sống sợ chết của mình bởi vì không một ai ở đây biết tôi là trung úy, chỉ trừ một người. Người đó là tôi. Biến cố xảy ra ngày hôm nay, đã làm thay đổi hẳn con người của tôi. Cái chết của viên chuẩn úy Nhảy Dù, đã khiến tôi có cái nhìn khác hơn của một người bên thua trận. Viên chuẩn úy Nhảy Dù chết nhưng ông đã làm cho kẻ thù khiếp sợ. Đó là một cái chết đầy bi thảm oai hùng, cái chết còn sống mãi muôn đời với lịch sử, với Tổ Quốc Việt Nam.

Đợi cho đến khi đám cán binh Cộng Sản đã đi xa, tôi ngồi xuống bên cạnh xác chết của viên chuẩn úy Nhảy Dù với máu tươi bám đầy trên tóc, chảy dài xuống mặt. Con mắt còn lại của ông ta trợn trừng nhìn lên bầu trời cao xanh thẳm. Ở đó, người chết đã chết rồi nhưng oan khiên, uất hận ngàn đời vẫn còn chất chứa không tan. Tôi đưa tay vuốt mắt cho viên chuẩn úy Nhảy Dù, rồi cởi cái áo sơ mi đang mặc trên người. Với tất cả tấm lòng thành kính, tôi cẩn trọng đắp chiếc áo lên mặt người chết, mà tưởng là mình đang làm lễ phủ cờ cho một chiến sĩ vị quốc vong thân.

Khi tôi ngước mặt nhìn lên, đám đông đã tản mác đi gần hết, chỉ còn lại xác của sáu người lính Nhảy Dù, họ nằm yên đó không đi đâu hết, chết rồi làm sao mà đi. Một chuyện lạ lùng hy hữu, đã xảy ra giữa Sài Gòn ngày hôm ấy, trên trời cao, lẫn trong đám mây xám ngập ngừng trôi, một con chim lạc bầy, cất tiếng kêu ai oán bi thương, tiếng kêu vang vọng giữa thinh không như muốn xé nát lòng người, như tiếng gọi hồn tử sĩ trong đêm truy điệu trước ngày lễ mãn khóa, tại Trường Bộ Binh Thủ Đức mà tôi đã tham dự.

Một thằng bé mặt mày sáng sủa, trên người chỉ mặc độc có một cái quần cụt, nhè nhẹ bước đến bên tôi, nó nói nhỏ vào tai của tôi.

-Chú đợi đây, con chạy về nhà lấy cái áo của ba con cho chú bận. Đợi con nghe.

Lòng tôi chùng xuống khi nghe giọng nói êm dịu đầy ắp tình người, vì thằng bé chỉ lo tìm áo cho tôi, trong khi nó thì mình trần trùi trụi. Tôi gật đầu rồi đưa tay nhấc tờ giấy dằn dưới chiếc giày trên mặt ghế. Trên tờ giấy chỉ có một hàng chữ “Ngim cấm kông được kéo sác đi chôn kí tên ba út”. Phải mất hơn mười phút để người cán bộ chỉ huy viết được mười hai chữ, loại chữ như gà bươi mà ngày xưa khi mới bước chân vào học lớp vỡ lòng ở bậc tiểu học, tôi thường tập viết. Tôi nhớ đến sếp của tôi, thiếu tá trưởng phòng hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt. Thiếu tá Hưng là mẫu người rộng rãi, xuề xòa, không bao giờ phê phán, chê trách một ai. Với ông thì chín bỏ làm mười, vậy mà khi nói đến cái man rợ, độc ác của Việt Cộng, ông nói “Có một cái luật bất thành văn là những người chỉ huy, những kẻ lãnh đạo của Cộng Sản Việt Nam, cấp bậc càng cao, chức vụ càng lớn, trong đầu của họ càng chứa nhiều bã đậu, nhưng mức độ gian manh, dã man tàn ác, trong những cái đầu bã đậu ấy, không một ai trên trái đất này sánh bằng”.

Hình minh họa

Tôi đứng lên, nhìn xác thân của những người lính Nhảy Dù bị vứt bỏ bên đường mà lòng đầy thương cảm. Đã đến lúc phải đi, tôi đứng nghiêm như đang làm lễ chào Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa vào mỗi sáng thứ Hai tại Trường Võ Bị Đà Lạt. Sau vài giây chần chờ, tôi đưa tay chào kính xác của mấy người lính Nhảy Dù lần cuối cùng rồi hít một hơi dài để lấy sức, nhắm mắt cắm đầu chạy thục mạng trở về bến xe.

Hai ngày, sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên đài phát thanh, một ông chuẩn úy Nhảy Dù và năm người lính của ông ta vẫn còn chiến đấu. Tuy bị thương nặng nhưng họ đã cố gắng cho đến hơi thở cuối cùng, cố gắng bảo vệ màu cờ sắc áo, cố gắng bảo vệ Việt Nam Cộng Hòa. Bởi vì, bốn chữ “Nhảy Dù Cố Gắng” thì bất cứ người lính Nhảy Dù nào từ quan cho tới lính cũng đều thuộc nằm lòng.

Không phải tự nhiên mà sau hai mươi năm dâu bể đọa đày, Tô Thùy Yên đã phải ngậm ngùi thương tiếc với bài thơ “Anh Hùng Tận”

Tới đây toàn những tay hào sĩ.
Tiêu xác thân, để lại oan hồn.

Lời thơ nghe sao mà xót xa, đau đớn đến tận cùng xương tủy.

Phóng sự bằng hình ảnh những cái Tết năm xưa tại Melbourne Victoria – Xuân Canh Thìn 2000 Springvale

Post by Sơn râu 21 Feb 2024

Đây là hình ảnh Lân đang múa tại ngôi chùa của người Hoa tại Springave một vùng đất có nhiều sắc dân Á châu.

Với đoàn lân gồm 10 chú được rước từ Chinatown vào tận Springvale múa rất xôm tụ!

Phóng sự bằng hình ảnh những cái Tết năm xưa tại Melbourne Victoria – Xuân Canh Thìn 2000 Show Ground

Post by Sơn râu 21 Feb 2024

Ông đồ và gian hàng Thư Pháp

Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,
Đem tốt đầu dú dí vô cung,

Khi vui nước nước non non,
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.