This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Tiếng Quảng Đông, phát âm chữ “mụ”, có nghĩa là không. Hình như người Việt đổi lại mụ thành mậu? Trò cờ bạc xập xám chướng (13 lá bài): Mậu binh là không cần binh vì bài quá tốt, tự động được chung tiền. Mậu hào là không còn đồng nào. Mậu đối nghịch với dậu. Dậu là có. “Dách cô dành dậu” nghĩa là có một người. Nghĩa ngữ này không dính tới ba cái niên lịch, thiên can đứng trước 12 địa chi rắc rối kia đâu, như Dậu là gà, mà Mậu Thân với Mậu Tuất thì chớ nghĩ là không khỉ không chó. Mậu này mậu nọ cách biệt những 50 năm. Mới đồ con khỉ đó, loay hoay lại gặp đồ con chó! Can chi của Mậu gồm: Mậu tý, mậu dần, mậu thìn, mậu ngọ, Mậu Thân, mậu tuất. (Hổng có mậu binh). Lỡ ăn mắm ăn muối dụng tới tiếng Tàu chữ Hán nghĩa Nôm, xúi nhớ đại ngôn của Khổng Tử khi ăn to nói lớn kiểu “ngũ thập tri thiên mệnh”. Năm mươi tuổi thôi mà, đâu ai hiền triết để ngộ rõ mệnh trời. Phim ảnh Đài Loan Hồng Kông Trung Quốc kịch bản lời thoại thường nhét vô miệng đạo sĩ như này: “Thiên cơ bất khả lậu!”. Đánh mất lập trường để bật mí chút xíu e thác dưới tay Ngọc Hoàng? Lưới trời lồng lộng tuy thưa nhưng khó thoát? Kíp ngậm bồ hòn làm ngọt đi nghen cưng.
Những em ra đời mùa xuân tang tóc Mậu Thân giờ này đã tròn năm mươi, vẫn dại khờ vẫn hoang mang khi nghe ba mạ kể về kỷ niệm “máu lửa” hôm con chính thức làm người. Ngày con khóc oe oe giữa một thành phố tang hoang, cũng là lúc có vạn tiếng khóc thầm khi chịu đối mặt với lòng hận thù say máu được dịp tàn sát thoả thuê. Ba ngày Tết của người Việt có linh thiêng không? Dậu hay mụ? Huế có chùa Thiên Mụ dựng đặt ở tả ngạn sông Hương, làm cảnh cho vui rứa thôi chứ mụ linh thiêng đối với bọn người cộng sản, đội ngũ ma quỉ có thể ngán chùa chiền chẳng dám lai vãng, nhưng bó tay (1968 chưa có chấm còm) đối với mấy ôn từ núi rừng tràn về.
Những em được chào đời năm Mậu Thân ở Huế, giờ đây nhiều em chẳng dám tổ chức sinh nhật mình ngũ thập niên. Bởi các em hiểu khi mình sinh ra, cùng thời điểm có hơn 7.000 hồn oan suốt đời chẳng được siêu thoát. Năm mươi tuổi không hiểu mệnh trời nhưng nhờ được giáo dục (Huế trước 1975 được đánh giá là thành phố có nhiều trường học cũng như đông học sinh nhất miền Nam) các em ý thức về niềm đau vô bờ mà bà con không dưng phải hứng chịu. Thay vì thắp nến cắm trên mặt bánh kem, một bộ phận không nhỏ người tử tế đã thắp nhang cúi đầu trong bóng tối mặc niệm những kẻ đang sống chuyển sang từ trần. Nhớ đến một câu nói “chướng tai”: Chỉ có thú vật mới săm soi bộ lông của mình! Và mấy em đã chướng mắt khi thấy nhà nước tổ chức kỷ niệm ăn mừng 50 năm Mậu Thân. Giết một con chó để làm xôm tụ buổi nhậu cùng các chiến hữu đã thấy gớm tay. Dùng cuốc, búa, dao, mã tấu để phang, nện, chặt, chém vào những người đang bị trói bắt quỳ gối bên hố nông. Cha mạ ơi! Hét được tiếng cuối trước khi bị đạp xuống mộ huyệt. Phim trường Hồ Ly Vọng thực hiện một thước phim về bọn khủng bố chắc sẽ e dè thảo luận để thôi “action”. Dã man quá! Thú tính quá! Ăn lông ở lỗ quá! Khốn nạn quá! Cut… Cut… Các diễn viên thủ vai vi-xi, hoá trang bọn người từng nhảy núi cũng hú hồn thở phào nhẹ nhõm: Cho em nhờ tí, nếu lộ hàng, sợ về nhà mẹ con nó ngầy ngà đồ ác đức bất nhơn! Chịu đời chi thấu mấy eng!
Ngoài đời, những tay sát thủ năm xưa đã vào hạng tuổi 80 nếu chúng còn thọ. Và giống y như trong phim ảnh, những đứa ác ôn thường sống lâu. Lực lượng hét ra lửa ngày nào bây chừ có kẻ tàn phế thân bại danh liệt lại có kẻ không dưng trở thành nhà Huế học, tự hào từng đọc thiên kinh vạn quyển. Già đầu là vậy nhưng một mực chủ trương sống để bụng chết mang theo. Mậu hối cải. Mụ thành tâm. Đảng ta dùng chữ kiên cường, dành cho đồng chí; nhưng ngoan cố thì áp đặt cho bọn phản động. Số đông cảm tình viên khác cũng ngoan cố một mực lá lành đùm lá rách tìm lời biện minh. Oan cho tớ quá, nói vậy mà không phải vậy đâu. Mồm năm miệng mười mà làm gì? Gân cổ làm chi cho nhọc sức! Đơn giản và ấu trĩ nhất, anh khẳng định đồng chí A, B, C không nỡ lòng nào xuống tay thì anh phải chỉ ra chính thằng X, con Y, ông Z mới khát máu dường ấy. Đã lấp liếm mà còn tổ chức ăn mừng tội ác. Ui, ông trời thật không có mắt! Thiên cơ là con khỉ chi mà không chịu hé lộ? Nhạc vàng có bài: Tôi xin người hãy gian dối, cho tôi tưởng… Tác giả chắc sáng tác nó sau thời điểm Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy?
Quang minh chính đại chẳng hề có trên lãnh thổ hình chữ S. Câu chuyện mãi không đi tới đường là do vậy. Cũng vì lẽ đó, đã 50 năm Chó nhìn lui Khỉ vẫn thấy mới những vết thương, chưa thể liền da tựa mới xẩy ra vào năm Gà vừa bóc lịch xong. Có người duy tâm hồ nghi đặt dấu hỏi: Ở Huế có nhiều ma không? Dạ thưa, tui không duy vật nhưng mạnh miệng đáp: Mậu. Không đâu. Mần chi có. Vì răng? Anh ni chủ quan dễ sợ! Vì nếu có ma, em thấy đó, mấy ôn nớ mô có bình an mà sống thọ hung rứa. Ma hiện hồn lên vặn cổ chỉ là sản phẩm của tượng tượng. Dạ thưa xứ Huế bây giờ vẫn còn núi ngự bên bờ sông hương, nhưng Huế mộng Huế mơ thì… nói vậy mà hổng phải vậy đâu, xưa rồi diễm. Khuya ni có tới nhà anh không? Hai đứa mềnh thắp đèn sáp ngồi tưởng niệm cố đô Mậu Thân. Lại mượn lời ông Bùi Giáng nữa nghe: Không có ma đâu mà sợ. Có tôi? Nhưng tôi đâu phải là con ma!
(Dân trí) – Nguyễn Hải Chí (1943 – 2003), nổi tiếng với bút danh Chóe, là một họa sĩ chuyên vẽ tranh biếm họa. Ông được coi là “họa sĩ biếm số một của Việt Nam” với những tranh biếm đặc sắc phê phán các thói hư tật xấu.
Người họa sĩ này còn có nhiều tài lẻ khác như viết văn, làm thơ và cả sáng tác nhạc. Ông vẽ chủ yếu là tranh sơn dầu, giấy dó và tranh lụa.
Nói đến tranh lụa của ông, có nhiều nhận xét cho rằng chúng rất khác với tranh lụa của đa số các họa sĩ miền Nam khác. Bởi các họa sĩ miền Nam vốn xuất thân từ trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định, trung thành với phong cách Lê Văn Đệ: trong trẻo, thơ mộng… Còn Nguyễn Hải Chí vốn là một họa sĩ tự học, lại học rất nhanh. Ông quen với bút pháp phóng khoáng của hí họa, nên ông vẽ tranh lụa cũng nhanh như khi vẽ hí họa với những nét bút mạnh mẽ, dứt khoát, sử dụng các mảng màu một cách rất phóng khoáng.
Cũng có nhiều người cho rằng tranh lụa của ông không đúng với tranh lụa truyền thống Việt Nam. Ông cũng đồng ý với nhận xét trên và cho rằng đây là cách vẽ riêng của ông. Về sau, ông còn vẽ thêm tranh giấy dó Việt Nam và giấy “sín chỉ” của Trung Quốc, theo phong cách tranh màu nước riêng của ông.
Một trong những bức tranh sơn dầu đầu tiên của ông là bức Phong cảnh cao nguyên được sáng tác năm 1965. Bức tranh này ông tặng người yêu, và sau này trở thành người vợ chung thủy của ông. Cuộc đời của ông gặp khá nhiều thăng trầm, biến cố về chính trị, tuy nhiên, những gì ông đóng góp cho nghệ thuật vẫn được công nhận.
Trong suốt quãng đời nghệ thuật của mình, họa sĩ Nguyễn Hải Chí đã tổ chức được nhiều triển lãm trong nước và ở quốc tế. Trong lần triển lãm những bức tranh của ông tại phòng tranh Tự do (Sài gòn) lần này, hai bộ tranh Phụ nữ nước tôi và Vision d’Été 1998 (Quang cảnh mùa hạ 1998) thuộc bộ sưu tập của gia đình họa sĩ sẽ được giới thiệu lần đầu tiên tại Việt Nam (trước đó đã được giới thiệu tại Pháp và Nhật Bản cùng một số nước Châu Á).
Cuộc triển lãm Tranh của Chóe mở cửa từ ngày 4/5 đến ngày 31/5 tại phòng tranh Tự do, Quận 1, Sài Gòn.
Không biết là mình đã ngủ được bao lâu, đang lơ mơ trong cõi hồng trần, tôi giật mình choàng tỉnh vì thân hình của mình bị nhấc lên khỏi mặt ghế rồi quăng mạnh xuống. Chưa kịp tìm hiểu nguyên nhân, tôi đã nghe Cúc hỏi.
-Chuyện gì vậy anh?
Minh vội vàng trả lời thay tôi.
-Một cái ổ gà quá lớn, hình như đó là một cái hố đạn pháo mới có độ một vài tuần trở lại đây, khiến tôi không tránh kịp. Mọi chuyện đều tốt đẹp, cô cậu cứ ngủ đi.
Tôi quay qua Minh.
-Mình đi tới đâu rồi anh Minh?
-Vừa lên hết đèo Bảo Lộc, chừng một giờ nữa, khoảng sáu giờ sáng mình sẽ đến Di Linh.
Tôi nhắc lại hai chữ Di Linh, rồi nhớ đến cái quận lỵ buồn hiu, còn in đậm dấu ấn của những ngày người dân Đà lạt chuẩn bị di tản.
Tôi hỏi Minh.
-Vào khoảng ngày này tháng trước, anh ở đâu?
-À…tôi đang ở Sài Gòn.
-Như vậy, anh có biết gì về trận đánh tái chiếm Di Linh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hay không?
-Đánh nhau ở Di Linh? Tôi không biết.
-Để khỏi buồn ngủ, tôi sẽ kể cho anh nghe vài chi tiết trong trận đánh ấy. Anh là tài xế đường Sài Gòn – Đà Lạt nên anh biết rõ, Di Linh là một quận lỵ nhỏ nằm trên Quốc lộ 20, cách Đà Lạt đúng tám mươi cây số. Để tôi nhớ lại coi, vào khoảng hai mươi bảy tháng Ba trong cuộc tấn công tiến chiếm Đà Lạt. Lực lượng của Việt Cộng gồm có Trung đoàn 165 và Trung đoàn 209 của Sư đoàn 7, phối hợp với xe tăng và đại pháo 130 ly, thế mạnh như chẻ tre, chúng di chuyển như chỗ không người. Bắt đầu từ Đại Quay ở gần đèo Chuối chỉ trong vòng một ngày họ đã chiếm xong Bảo Lộc, sau đó đánh thốc vào chi khu Di Linh, làm chủ luôn quận lỵ này. Ở Đà Lạt, Thiếu tướng Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, đưa Tiểu đoàn 204 Trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức do Thiếu tá Lê Xuân Phương làm Tiểu đoàn trưởng tái chiếm Di Linh. Ông Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng này, tôi đã nghe danh từ lâu, từ lúc ông ấy còn mang cấp bậc trung úy làm đại đội trưởng Đại đội 302 Trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức. Nghe danh, nhưng tôi chưa bao giờ được gặp mặt. Anh Minh có biết không, với tôi chuyện gặp mặt Thiếu tá Phương, còn khó hơn là gặp Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.
Minh cười ra vẻ thích thú.
-Ông thiếu tá ấy, có gì mà ghê vậy?
Hình minh họa
-Có chứ, có nhiều điểm đặc biệt về ông ấy mà tôi cần phải nói, điểm thứ nhất là về chiến công. Tôi muốn hỏi anh Minh là sáu năm trong lính Nhảy dù, anh tham dự bao nhiêu trận đánh? Có được bao nhiêu huy chương?
Đang chăm chú lái xe, gương mặt của Minh vụt sáng rực lên.
-Tôi đụng địch cả vài chục trận, thắng có thua có, chiến thắng thì đầy oai hùng mà khi thua cũng te tua tàn mạt không khác gì con gà chết. Trong gần sáu năm ở Nhảy Dù, tôi có được hai Anh Dũng Bội Tinh, một cái đồng, một cái bạc. Ngầu nhất là cái huy chương bạc, khi giấy tờ hình như từ trên Bộ tư lịnh Sư đoàn Nhảy Dù về, trong một buổi lễ thật là long trọng được tổ chức trước Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Tôi diện bộ đồ bông mới cáu chỉ, đôi giày bốt đờ sô láng cóng, cái mũ nồi đỏ tươi trên đầu, thêm sợi dây biểu chương ba màu trên vai, cùng với hơn ba chục sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ, đứng trước hàng quân để thiếu tá Tiểu đoàn trưởng gắn huy chương.
Vì muốn chứng tỏ sự hiểu biết của mình về dây biểu chương, tôi nói với Minh, mục đích là khoe khoang kiến thức của mình, mặc dù, sự hiểu biết này là do tôi nghe lóm khi thiếu tá trưởng phòng của tôi nói chuyện với bạn của ông ấy.
-Anh Minh nè, dây biểu chương ba màu, anh dùng chữ không được đúng cho lắm. Đại khái, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có bốn loại dây biểu chương: thứ nhất, dây biểu chương màu vàng Anh Dũng Bội Tinh, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội hai lần. Thứ hai, dây biểu chương màu xanh Quân Công Bội Tinh, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội bốn lần. Thứ ba, dây biểu chương màu đỏ Bảo Quốc Huân Chương, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội sáu lần. Thứ tư, cao nhất là dây biểu chương màu Tam Hợp, tổng hợp ba màu nói trên, dành cho đơn vị được tuyên dương trước quân đội tám lần. Hồi còn ở quân trường, Sinh viên sĩ quan Thủ Đức bọn tôi được mang dây biểu chương màu vàng Anh Dũng Bội Tinh, có nghĩa là Trường Bộ Binh Thủ Đức được tuyên dương trước quân đội hai lần. Riêng dây biểu chương màu Tam Hợp của anh, tôi không chắc cho lắm, nhưng hình như trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chỉ có Tiểu đoàn I Nhảy Dù, một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến là được mang dây biểu chương màu Tam hợp mà thôi.
Nghe tôi nói xong, Minh gật gù.
-Vậy mà tôi cứ tưởng lính đeo dây biểu chương trên vai, cũng giống như đồ trang sức của mấy cô đeo nơi tay nơi cổ, khi đi dạo phố. Cậu Quân biết không, sau lễ gắn huy chương, suốt ngày hôm ấy tôi cứ như là đi trên mây, bay trong gió, cái cảm giác thoải mái ấy kéo dài cả ngày.
Tôi thúc cùi chỏ vào hông của Minh.
-Anh không nói cho tôi biết, tại sao anh có được cái huy chương Anh Dũng Bội Tinh với ngôi sao bạc.
Minh nhíu mày rồi nói.
-À… chuyện như thế này, Tết Mậu Thân, Việt Cộng đồng loạt đánh phá Thủ đô Sài Gòn và mấy chục tỉnh thành của Miền Nam Việt Nam. Tiểu đoàn I Nhảy Dù cùng những đơn vị bạn của các binh chủng khác, có nhiệm vụ giải tỏa áp lực của Việt Cộng tại Sài Gòn. Trung đội của tôi đụng với một đơn vị chính quy của Việt Cộng, đang cố cầm chân lính Nhảy Dù để cho phe họ rút lui. Ba thằng Việt Cộng đóng chốt, chúng đặt cây đại liên dưới một gốc cây me to lớn, cành lá um tùm, rậm ri, thân cây như là một lá chắn thiên nhiên tuyệt vời, che chở cho việc phòng thủ. Bọn Việt Cộng bám chặt lấy gốc cây, khi thấy lính Nhảy Dù ló đầu ra là cây đại liên quạt xối xả như mưa, tụi tôi mà di chuyển lạng quạng là bể gáo ngay lập tức. Ông Trung sĩ tiểu đội trưởng của tôi, với cây súng phóng lựu M79 trên tay, đang loay hoay tìm cách khóa họng cây đại liên của Việt Cộng, chỉ vì một sơ xuất nhỏ khi di chuyển, ông ấy đã lãnh một viên đạn đại liên ngay ngực.
Hình minh họa
Vừa nói, Minh vừa lấy tay chỉ vào ngực phải của mình.
-Ngay đây nè, ông trung sĩ té ngửa, giãy đành đạch như con cá lóc bị đập đầu bằng cái chày vồ. Hai thằng bạn của tôi vì nóng lòng nhào lên cứu bạn của mình, cũng bị đốn ngã luôn. Mọi việc xảy ra khá bất ngờ khiến tôi đâm hoảng. Đang lúng túng, chưa biết phải làm gì trong tình huống nguy nan như vậy, tôi đưa mắt nhìn quanh, chợt phát hiện được một con hẻm ở gần đó. Tôi sống ở khu Vườn Chuối, Bàn Cờ nên khá rành về ngóc ngách của những con hẻm ở Sài Gòn. Không một chút chần chờ, tôi phóng ngay vô con hẻm. Đánh trước mặt không được thì phải đánh bọc hậu, với tình thế không lấy gì làm sáng sủa như thế này, một phút trôi qua sẽ có thêm nhiều đồng đội của tôi bị mất mạng. Tôi biết rằng, mình cần phải chạy đua với thời gian, chạy càng mau càng tốt, mau như một lực sĩ chạy tranh tài ở Thế vận hội. Vì suy nghĩ như vậy, cho nên tôi chạy như bay thiếu điều muốn đứt hơi. Sau một hồi chạy vòng vo tam quốc trong mấy con hẻm, cuối cùng tôi cũng đến nơi. Không kịp nghỉ xả hơi, tôi nhẹ nhàng rút chốt một trái lựu đạn M26 tặng cho tụi nó. Sau một tiếng nổ vang trời, rung rinh cả mặt đất, tôi bồi thêm một băng M16 cho chắc ăn. Hai thằng Việt Cộng nằm thẳng cẳng, im ru bà rù, thằng thứ ba còn ngáp ngáp được vài cái rồi cũng đi luôn, tôi tà tà vác cây đại liên đem về trung đội.
Giọng nói của Minh trở nên sôi nổi hơn.
-Cậu Quân biết không, cả trung đội nhìn tôi với những ánh mắt đầy thán phục. Riêng ông thầy của tôi, vỗ vai tôi rồi khen “Lẽ ra sếp lớn phải mượn cái quai chảo của tao, gắn vào cổ áo của mày mới đúng”. Đó là câu khen thưởng khiến tôi nhớ đời, bởi vì suốt mấy năm trong lính, chưa có một ông sĩ quan nào khen lính hay bằng ông thầy của tôi. Chuẩn úy trung đội trưởng của tôi, tuy mang lon nhỏ nhưng lại dám ăn to nói lớn, coi bộ ông ta nói còn ngon hơn ông tướng Tư Lệnh Sư Đoàn.
Minh quay đầu nhìn tôi.
-Cậu Quân có biết tại sao tôi nói như vậy không?
Tôi lắc đầu.
-Không.
Minh cười khoái chí.
-Vì ông thầy của tôi, thăng cho tôi một lần năm, sáu cấp luôn, từ lính lên thẳng quan, bỏ qua giai đoạn hạ sĩ quan. Kể từ đó, tôi có cái biệt danh là “Minh chuẩn úy”. Lợi dụng cái biệt danh này, mỗi lần được phép về Sài Gòn, tôi diện bộ đồ bông bạc màu sương gió với cái mũ nồi màu đỏ thắm, khi gặp gỡ và chuyện trò với các em gái hậu phương, tôi tự giới thiệu với mấy cô, câu nói mà tôi đã thuộc lòng, nguyên văn như sau “Thưa cô, bạn bè ở đơn vị gọi tôi là Minh chuẩn úy”. Tôi nói sự thật, nhưng đó là một sự thật đầy gian dối kiểu mập mờ đánh lận con đen. Xin cậu Quân nhớ cho, tôi nói tôi là “Minh chuẩn úy” chứ không phải Chuẩn úy Minh. Tiếng Việt của mình nó hơi lắc léo ở chỗ đó, cậu Quân ở trong quân đội còn lầm lẫn, huống gì các em gái hậu phương. Đúng không?
Tôi nói với Minh.
-Anh nói đúng, thoáng nghe qua lầm chết đi được. Mà thôi, trở lại chuyện ba thằng Việt Cộng và một cây đại liên đổi lấy cái ngôi sao bạc, cũng xứng đáng quá đi chớ. Chỉ có một cái huy chương mà anh vui vẻ cả ngày. Thiếu tá Lê Xuân Phương, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 204 Trinh sát của Tiểu khu Tuyên Đức, có hơn bốn chục cái huy chương. Từ cái thấp nhất là Anh Dũng Bội Tinh ngôi sao đồng, cho đến cái cao nhất là Bảo Quốc Huân Chương, Thiếu tá Phương có đủ. Chưa kể những huy chương của Mỹ trao tặng cho ông ta.
Hình minh họa
Hình minh họa
Minh quay nhìn tôi, đôi mắt của anh mở lớn.
-Hơn bốn chục cái huy chương?
Tôi đáp.
-Đúng.
Minh lắc đầu ra vẻ không tin.
-Huy chương chứ đâu phải lá vàng rơi rụng đầy đường, muốn lượm bao nhiêu cũng được. Tôi nghĩ đó chỉ là tin đồn, người ta vẽ rắn thêm chân để ca tụng ông ấy mà thôi. Cậu Quân nè, tôi có hơi thắc mắc cộng thêm chút nghi ngờ, cậu chưa bao giờ gặp ông Thiếu tá Phương, làm sao mà cậu biết được ông ấy có bao nhiêu cái huy chương. Cậu nghe người ta kể lại phải không? Chắc cậu biết câu chuyện con rắn vuông rồi chứ gì?
Tôi gật đầu, rồi nói với Minh.
-Tôi có biết chuyện con rắn vuông.
Miệng trả lời nhưng tôi nghĩ thầm, anh chàng này lăn lóc, va chạm với đời quá nhiều, nói chuyện với anh ta chỉ cần một điểm không rõ ràng, sẽ bị anh ta quay tới bến. Thiệt vàng đâu có sợ lửa, tôi từ tốn giải thích cho Minh.
-Anh đọc sách nhiều cũng biết rồi, đâu cần phải giáp mặt trực tiếp, nói chuyện với ai đó mới biết về họ. Tôi đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hòa, tất cả những chi tiết về cuộc đời và binh nghiệp của Thiếu tá Phương đều có đăng đầy đủ trên đó.
Thấy Minh im lặng không phản đối, tôi mới nói tiếp.
-Đối với một quân nhân, chiến công rất quan trọng nhưng tư cách của họ mới là chuyện đáng nói hơn. Cũng trong số báo Chiến Sĩ Cộng Hòa nói trên, có thêm một bài viết dài gần ba trang của Đại úy William, ông này là cố vấn của Tiểu đoàn 204 Trinh sát, bài viết bằng tiếng Anh, được dịch ra tiếng Việt. Đại úy William là người từng sống chết với binh sĩ của Tiểu đoàn 204 trong suốt hai năm, ông ta đưa ra hai nhận xét về Thiếu tá Phương như sau “Thứ nhất về phương diện vật chất, Thiếu tá Phương là cấp chỉ huy trong sạch, không bao giờ lợi dụng cấp bậc và chức vụ của mình, làm thiệt hại đến quyền lợi của binh sĩ. Một hộp thịt, một gói thuốc lá, một kí đường, một lon dầu ăn của Quân tiếp vụ, phải được đưa đến tận tay của binh sĩ thụ hưởng, không một chút suy suyển. Hơn thế nữa, trong nhiều trường hợp ông ta bớt chút tiền lương đầy khiêm nhường của mình để giúp đỡ cho binh sĩ dưới quyền, khi họ lâm cảnh ngặt nghèo. Thứ hai về phương diện chiến đấu, bọn cố vấn chúng tôi, khi hành quân nhảy toán với ông ấy vào mật khu Núi Voi của Việt Cộng, nơi đó với những dãy núi đá hoa cương chập chùng, chớn chở, cao ngút trời xanh, quanh năm mây xám giăng đầy, Thiếu tá Phương cùng với lính của ông ta trong những bộ bà ba đen hay ka ki Nam Định tùy theo vùng xâm nhập, súng AK trên tay, chân mang dép râu. Họ xuất hiện như những bóng ma, di chuyển nhẹ nhàng như lướt đi trong không khí, khi ẩn khi hiện, đó là hình ảnh của con cọp sống trong rừng già. Cảm phục một con người trong sạch, một chiến sĩ can trường, cho nên chúng tôi tặng Thiếu tá Phương danh hiệu The Gray Tiger”. Từ đó về sau, bắt chước cố vấn Mỹ, tất cả binh sĩ cũng như sĩ quan của Tiểu khu Tuyên Đức, đều gọi Thiếu tá Phương là Gray Tiger.
Tôi ngưng kể chuyện, định hỏi ý kiến Minh có đồng ý với Đại úy William, cố vấn Mỹ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát về chữ Gray Tiger hay không. Chưa kịp hỏi, tôi đã nghe Minh nói với tôi, giọng nói đầy tự tin của một cựu chiến binh Nhảy Dù.
Hình minh họa
-Theo như tôi biết mặc áo quần, trang bị vũ khí của Việt Cộng, rồi nhảy vào mật khu của họ bên Lào hoặc trong dãy Trường Sơn với mục đích do thám, lấy tin tức của những đại đơn vị của Việt Cộng di chuyển như thế nào, rồi gọi máy bay đến tiêu diệt, đó là nhiệm vụ của Lực Lượng Đặc Biệt, Lôi Hổ Nha Kỹ Thuật. Tiểu đoàn 204 Trinh Sát của Tiểu khu Tuyên Đức là Địa Phương Quân, họ chỉ có bổn phận giữ gìn an ninh diện địa trong phạm vi của Tiểu khu Tuyên Đức mà thôi. Nói rộng ra, Địa Phương Quân của tỉnh nào sẽ lo phần bảo vệ an ninh lãnh thổ của tỉnh ấy.
Minh quay nhìn tôi, rồi hạ một câu chắc nịch như một cộng với một là hai.
-Nhảy toán vào mật khu của Việt Cộng, không phải là nhiệm vụ của Địa Phương Quân.
Minh đã dồn tôi vào góc tường, không chừa cho tôi một lối thoát nhỏ. Tôi nói với Minh.
-Quả thật, những hoạt động nhảy toán của Lực Lượng Đặc Biệt và Lôi Hổ Nha Kỷ Thuật tôi hoàn toàn mù tịt, chuyện mình không biết, tôi không dám bàn đến. Thế nhưng chuyện Đại úy William mãn nhiệm kỳ phục vụ ở Việt Nam, trước khi lên đường về nước, ông ta viết một bài đề cao Thiếu tá Phương thì ông ấy được lợi lộc gì? Tôi tin rằng, Đại úy William chỉ muốn nói lên một sự thật mà ông ta đã chứng kiến tận mắt, trong suốt thời gian ông ấy làm cố vấn cho Tiểu đoàn 204 Trinh sát mà thôi. Hơn nữa, anh Minh à, anh nhìn người lính Địa Phương Quân qua con mắt chủ quan của một người lính Nhảy Dù, đó là cách nhìn của mười năm về trước, ngày đó tôi cũng nghĩ như anh, nhưng sau này tôi mới hiểu rõ hơn: Sư đoàn Nhảy Dù và Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, năm bảy mươi hai phải lo tái chiếm Cổ Thành, mấy năm sau đó lại phải giữ vùng địa đầu giới tuyến, nơi mà cả năm, sáu sư đoàn lính chính quy Bắc Việt với xe tăng, đại pháo, lúc nào cũng sẵn sàng lấp sông Bến Hải, tiến chiếm Miền Nam. Lợi dụng chuyện hai sư đoàn tổng trừ bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị trói chân, cột tay tại Quảng Trị, vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm, quân Cộng Sản đang hoạt động tại Miền Nam tha hồ tác yêu tác quái, mà không một chút lo sợ phải đối đầu với Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến.
Tôi nhìn Minh thật lẹ, rồi nói tiếp.
-Trong tình huống khó khăn như vậy, bốn Quân khu của Việt Nam Cộng Hòa, phải tự lo liệu lấy thân mình. Địa Phương Quân không còn hoạt động trong phạm vi tỉnh của mình nữa, đến đầu năm bảy mươi lăm, Địa Phương Quân đã được nâng lên cấp Liên Đoàn và họ được điều động đi khắp mọi nơi. Anh Minh cũng đừng có ngạc nhiên khi thấy vài tiểu đoàn Địa Phương Quân của Tiểu khu An Giang, ở mãi tận Quân khu III sình lầy nước đọng, lại bay lên núi đánh nhau với Việt Cộng tại Khánh Dương, là một quận lỵ nhỏ của Tiểu khu Khánh Hòa thuộc Quân khu II. Tiểu đoàn 204 Trinh Sát là đơn vị trừ bị vùng của Quân khu II, bất cứ tiểu khu nào của Quân khu II cần, Tiểu đoàn 204 Trinh Sát sẽ nhảy vào tăng viện. Họ đã từng tăng phái cho Tiểu khu Ninh Thuận, từng Nhảy trực thăng vận vào mật khu An Lão của Việt Cộng, nằm trong lãnh thổ trách nhiệm của Tiểu khu Bình Định, với nhiệm vụ là tiêu diệt những đơn vị của Việt Cộng, lẩn trốn trong mật khu này. Binh sĩ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát, ngụy trang và trang bị vũ khí của Việt Cộng nhưng nhiệm vụ của họ là tấn công để tiêu diệt và phá hủy hậu cần của Việt Cộng, chứ không phải do thám lấy tin tức.
Liếc mắt nhìn Minh, khi thấy anh ta vẫn đang chăm chú lái xe mà không một lời phản đối, tôi bèn quay trở lại câu chuyện The Gray Tiger.
-Cái biệt danh mà cố vấn Mỹ tặng cho Thiếu tá Phương tuy đúng nhưng không được chính xác cho lắm.
Minh vẫn dán mắt vào kính xe, miệng nói.
-Ở trong rừng, còn có ai hơn chúa sơn lâm, tụi cố vấn Mỹ gọi Thiếu tá Phương là Gray Tiger, tôi cho rằng khó tìm được chữ nào đầy đủ ý nghĩa hơn.
Tôi nhỏ giọng với Minh.
Hình minh họa
-Có chớ sao không, theo tôi nghĩ nếu cố vấn Mỹ có đọc bài thơ Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác, họ sẽ không ngần ngại tặng ngay cho Thiếu tá Phương mấy chữ “Đại trượng phu”.
Minh hơi nhăn mặt.
-Thật lòng mà nói, tôi chưa bao giờ nghe hay đọc bài thơ Hồ Trường. Bài thơ đó ra sao? Nói về cái gì vậy?
Tôi nói.
-Câu đầu của bài thơ, mở ra hình ảnh của một người hùng như thế này:
Đại trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường.
Bài thơ khá dài, mai mốt rảnh rỗi tôi sẽ chép bài thơ này tặng anh. Còn bây giờ, tôi muốn nhắc lại: chữ Gray Tiger trong tiếng Anh chỉ nói lên được cái vẻ hiên ngang, oai hùng bên ngoài của một người, họa hổ họa bì nan họa cốt. Chữ “Đại trượng phu” của Việt Nam trong bài thơ Hồ Trường mới diễn tả đầy đủ được một con người toàn diện, cả trong lẫn ngoài, cả Tài lẫn Đức. Trong khi tôi đi lính gần bảy năm, leo lên đến cấp Trung úy mà chưa một lần thấy chiến trận là gì, thậm chí, tôi có cây súng M16 treo ở góc phòng Trung tâm Hành quân mà chưa hề chạm tay đến. Hai người lính, hai thái cực, Thiếu tá Lê Xuân Phương ở cực Bắc, tôi ở cực Nam. Ông ấy ngày đêm dầm mưa dãi nắng đánh nhau với Việt Cộng ngoài chiến trường, với hơn bốn mươi cái huy chương đủ loại, tôi làm việc ở văn phòng với nệm ấm chăn êm, chưa bao giờ thấy cái huy chương vuông hay tròn như thế nào. Cho nên tôi mới nói, không bao giờ tôi gặp được Thiếu tá Phương. Thế nhưng, Tổng Thống Thiệu thì tôi đã thấy mặt ông ấy.
Minh cười thoải mái.
-Tôi biết rồi, cậu Quân thấy Tổng Thống Thiệu khi ông ấy chủ tọa lễ mãn khóa ở Trường Võ Bị Đà Lạt phải không? Cả vài ngàn người thấy chứ đâu phải một mình cậu.
Tôi chần chừ giây lát rồi nói.
-Chỉ một mình tôi đối diện với Tổng Thống Thiệu, chuyện có hơi dài dòng chút đỉnh.
Đang nói chuyện với Minh, tôi bỗng giật mình khi thoáng thấy cái tháp chuông nhà thờ của quận Di Linh, lờ mờ trong sương sớm. Tôi vội vàng hỏi.
-Anh Minh thấy cái tháp chuông đó không?
-Thấy chớ, mình đang đi ngang qua Di Linh. Sẵn đây, tôi cũng nói với cậu là mình sẽ ghé lại tiệm ăn của anh Tư, là anh kết nghĩa của tôi. Trước đây chúng tôi là tài xế xe khách, cách đây ba năm anh ấy giải nghệ rồi mở quán ăn, tụi mình ghé chỗ đó để rửa mặt tiện thể trút luôn cái bầu tâm sự cho nhẹ người, sau một đêm thức trắng.
Tôi khều nhẹ vào vai Cúc.
-Em à, thức dậy đi.
Cúc giật mình, đưa tay giụi mắt rồi nhìn quanh.
-Mình đang ở đâu vậy anh?
Tôi nói nhỏ với Cúc.
-Di Linh.
Minh cho xe tấp vô bãi đậu xe của một cái quán ăn mà cửa nẻo hãy còn đóng kín, với tấm bảng to choán hết cái bao lơn ở lầu hai “Tiệm cơm Tư Chơi”.
Hình minh họa
Theo tôi ước đoán, có tám mươi đến chín mươi phần trăm người dân Di Linh chạy trốn Cộng Sản, họ di tản đến Đơn Dương rồi theo dân Đà Lạt về Sài Gòn. Cho đến hôm nay những người dân di tản khỏi Di Linh vẫn còn kẹt ở Sài Gòn, chưa kịp trở về, quận Di Linh giống như một cái thành phố chết.
Tôi đảo mắt nhìn quanh, bên kia đường chợ Di Linh vắng hoe như chùa Bà Đanh, trước chợ lèo tèo vài ba người đàn bà ngồi bệt dưới đất, bên cạnh mớ quang gánh, thúng mủng, với dăm ba trái bầu xanh, mươi trái bí đỏ bỏ nằm lăn lóc dưới đất.
Minh vừa đập cửa vừa gọi to.
-Anh Tư, mở cửa đi, Minh chuẩn úy nè. Mở cửa đi.
Tôi nhắc Minh.
-Nhỏ nhỏ thôi anh, giờ này mà còn chuẩn úy với thiếu úy gì nữa.
Một người đàn ông với gương mặt khá bảnh bao, tuổi trạc 40 trong bộ đồ bà ba đen đã bạc màu, chân mang đôi dép râu, chầm chậm đẩy cánh cửa sắt. Khi nhìn thấy Minh, ông ta mừng rỡ ra mặt.
-Minh hả, cả tháng hơn rồi mới gặp lại em, vô tiệm đi.
Vừa bước chân qua khỏi ngưỡng cửa, Minh la to.
-Trời đất ơi, bàn ghế đâu hết trơn rồi anh Tư? Bộ dẹp tiệm rồi hả?
Người đàn ông trả lời với giọng nói xụi lơ.
-Mấy ổng không cho buôn bán, hơn nữa, đâu có gạo để nấu cơm mà bán. Còn bàn ghế, đồ đạc của tiệm thì chở về cái ủy ban nhân dân hay quân đội gì đó quản lý rồi. Không muốn dẹp tiệm, cũng phải dẹp thôi.
Người đàn ông tên Tư nhìn tôi và Cúc rồi nói tiếp.
-Mời cô với cậu ngồi, đây là bộ bàn ghế duy nhất còn sót lại trong tiệm. Đó là đồ của Cách Mạng lại quả cho tôi, sau khi dọn sạch sẽ tất cả mọi thứ trong tiệm.
Tôi và Cúc chưa kịp ngồi xuống ghế, Minh đã nói với anh Tư.
-Lái xe cả đêm mệt quá, tụi em cần ra bể nước phía sau rửa mặt. Trong tiệm có gì ăn uống không anh Tư?
Với giọng nói tỉnh bơ của một người bất cần đời.
-Sạch sẽ, không có cơm mà cũng chẳng có cháo, trong nhà còn vài gói mì ăn liền, nếu mấy em muốn anh sẽ nấu cho.
Minh tươi cười.
-Gì cũng được mà anh Tư.
Nói xong, Minh ngoắc tay, kêu tôi và Cúc đi ra phía sau nhà.
Khi chúng tôi trở vào trong tiệm, anh Tư đang ngồi nơi bàn ăn, trên bàn đã dọn sẵn ba tô mì còn nóng hổi, khói bốc lên nghi ngút. Tôi nhìn quanh tiệm, một bầu không khí lạnh lẽo bao trùm khắp mọi nơi, rồi cúi đầu nhìn cái trứng gà trong tô mì mà cảm thương cho ông chủ tiệm hết sức. Mới có hơn một tháng giải phóng mà Di Linh đã tiến mau quá chừng, cứ cái đà này, vài tháng nữa không biết sẽ tiến tới đâu. Tôi, Cúc và Minh vì đói quá nên chúi đầu vô tô mì. Anh Tư đi xuống bếp, đem lên ba ly cà phê đen, đựng trong một cái khay.
-Uống chút cà phê cho tỉnh người đi mấy em.
Hình minh họa
Tôi vừa ăn mì, vừa gợi chuyện với anh Tư mà mục đích là muốn tìm hiểu, muốn biết rõ hơn về trận đánh tái chiếm Di Linh của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát.
-Tháng trước, đánh nhau tơi bời ở chợ Di Linh này, phải không anh Tư?
Với vẻ mặt đầy ngạc nhiên, anh Tư hỏi tôi.
-Sao cậu biết?
Minh lật đật trả lời anh Tư.
-Cậu Quân, là sĩ quan của Phòng hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt đó anh Tư.
Anh Tư nhìn tôi như dò xét rồi nói.
-Đúng vậy, khoảng hơn một tháng trước, buổi sáng tôi nghe được tin Việt Cộng đã chiếm xong Di Linh mà không nổ một tiếng súng, bởi vì dân chúng và lính Việt Nam Cộng Hòa ở Di Linh đã di tản về Đà Lạt, về Đơn Dương hết rồi. Lính đi đến đâu, dân chạy theo đến đó, bỏ lại Di Linh vắng hoe như cái thành phố ma. Vậy mà, khi chiều đến tiếng súng nổ như bắp rang khắp mọi nơi, tôi nhìn qua khe hở của cánh cửa sắt và lấy làm lạ đến độ không tin vào đôi mắt của mình, không hiểu tại sao Việt Cộng lại bắn nhau với Việt Cộng, cả vài chục cái xác chết nằm lăn lóc trước chợ. Khi tiếng súng ngừng hẳn, chiến trường đã được kiểm soát, một ông Việt Cộng gõ cửa nhà tôi xin nước uống và trấn an tôi.
-Bà con yên tâm, chúng tôi là lính Trinh sát thuộc Tiểu đoàn 204 của Tiểu khu Tuyên Đức, ngụy trang làm lính Việt Cộng, tái chiếm Di Linh.
Nghe tới đây, Minh gật gù như thấm ý rồi nói.
-Bây giờ, tôi mới thật sự tin lời cậu Quân nói đêm qua, về Thiếu tá Lê Xuân Phương và Tiểu đoàn 204 Trinh Sát của ông ta.
Anh Tư nhìn Minh hỏi.
-Tối qua, cậu Quân nói chuyện gì vậy?
Minh nói.
-Không có gì đâu, anh Tư kể tiếp đi.
Anh Tư chậm rãi mồi một điếu thuốc, đôi mắt lơ đễnh nhìn lên trần nhà.
-Ngày hôm sau, Tiểu đoàn 204 Trinh Sát bắt sống được ba cán binh và một ông Thượng úy Việt Cộng, tịch thu một xe Molotova do Liên Xô sản xuất với nhiều súng ống, đạn dược. Đến chiều, họ kéo chiếc xe và bốn tù binh về Đà Lạt. Hôm sau nữa, lại đánh nhau gần tháp chuông nhà thờ, Việt Cộng đã bị đẩy lui về hướng Bảo Lộc. Chiến tranh đã lùi ra ngoài bìa rừng, không còn ở trong thành phố nữa.
Anh Tư đẩy ly cà phê về phía tôi và Minh rồi nói.
-Hình như, hai bên đã đánh nhau một trận long trời lở đất ở ngoài rừng, tôi nghe tiếng gầm rú liên hồi của xe tăng, tiếng súng lớn, súng nhỏ, rồi đạn pháo nổ suốt đêm, mãi cho đến sáng chiến trường mới im tiếng súng. Sau này, khi đã hoàn toàn chiếm được Di Linh, rồi kéo quân lên giải phóng Đà Lạt. Trong buổi mít tinh mừng ngày Di Linh hoàn toàn giải phóng, một ông cán bộ Việt Cộng thứ thiệt nói với dân chúng rằng, họ đã tiêu diệt hơn một trăm năm mươi tên lính Ngụy thuộc Tiểu đoàn 204 Trinh Sát, bắt sống gần một trăm tên, số còn lại băng rừng chạy trốn về Phan Thiết. Cuối cùng ông cán bộ Việt Cộng nói “Kết thúc chiến dịch giải phóng Di Linh, các chiến sĩ của ta đã xóa tên cái Tiểu đoàn 204 Trinh Sát Ngụy phản động, góp phần giải phóng hoàn toàn Miền Nam Việt Nam”.
Hình minh họa
Anh Tư cười với cặp môi trề ra.
-Đó là cán bộ Việt Cộng nói, tôi nghe sao thì nói lại như vậy, cậu Quân tin hay không là quyền của cậu.
Tôi nghĩ, với chừng đó chiến sĩ phải hy sinh mới chận đứng được sức tiến quân như vũ bão của Việt Cộng, đủ thời giờ cho người dân Đà Lạt di tản về Sài Gòn. Cho dù những con số mà anh Tư nói, có thể không chính xác nhưng cũng làm cho tôi quặn đau trong lòng.
Minh hớp một ngụm cà phê, mắt nhìn ra cửa rồi nói.
-Anh Tư, có khách.
Anh Tư quay nhìn người đàn bà đang xăm xăm đi vào.
-Chào bà tổ trưởng, mời bà vào chơi.
Đưa tay chỉ chúng tôi, anh Tư nói với bà tổ trưởng.
-Đây là mấy đứa em, vừa từ Sài Gòn lên.
Liếc mắt nhìn chúng tôi, cái liếc mắt đầy xoi mói, bà tổ trưởng nói với anh Tư, giọng nói nghe như là một mệnh lệnh.
-Mười giờ sáng nay họp tổ, nhớ mang theo cơm trưa với cây cuốc.
Dứt lời, bà quay lưng đi ra cửa, đưa cái mông bánh đúc ngúc nga ngúc ngắt, dáng đi lẹt đẹt y hệt như con vịt bầu.
Anh Tư nói.
-Bà tổ trưởng, trước đây là người làm công rửa chén cho tiệm của tôi. Cũng may, tôi đối xử rất tử tế với bà, cho nên bây giờ làm tổ trưởng, bà vẫn nể trọng tôi chút đỉnh, nếu không thì thế nào bà ta cũng hạch hỏi mấy người vài câu, để chứng tỏ uy quyền của mình. Cách Mạng ba mươi mà, ngọn lửa đấu tranh giai cấp đang ngùn ngụt cháy trong tim họ, nhìn đâu cũng thấy rặt một bọn phản động do CIA của Mỹ gài lại.
Minh nói với anh Tư.
-Tụi em phải đi, vì có nhiều việc cần giải quyết ở Đà Lạt.
Cúc lục trong bóp lấy ra tờ giấy 500 đồng, đưa cho anh Tư.
-Chừng này, có đủ cho tiền ăn sáng và cà phê không anh Tư?
Cầm tiền trong tay, anh Tư nói.
-Dư rồi, cảm ơn mấy em.
Chúng tôi chào ông chủ tiệm cơm thời Cộng Sản Chủ Nghĩa, rồi ra xe.
Khi xe đã đi khỏi Di Linh một đoạn khá xa, tôi vẫn còn nhớ về những người lính Địa Phương Quân của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát đã hy sinh thân mình trong trận đánh tái chiếm Di Linh, họ đi vào chỗ chết để người dân Đà Lạt có con đường sống, con đường di tản về Sài Gòn. Những chiến sĩ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát, đã một thời chiến đấu vì dân vì nước, bảo vệ quê hương, hình bóng của họ sẽ không bao giờ mờ phai theo năm tháng, mà sẽ mãi mãi sống trong lòng người dân Đà Lạt, trong lòng dân tộc. Tôi quay đầu nhìn lại, quận Di Linh đã khuất sau cánh rừng thưa. Một niềm tin mãnh liệt chợt đến với tôi, Thiếu tá Lê Xuân Phương và hàng trăm binh sĩ của Tiểu đoàn 204 Trinh Sát vẫn còn sống sót, họ đang ở đâu đó trong núi rừng trùng trùng điệp điệp của dãy Trường Sơn.
Tôi nhắm mắt lại “The Gray Tiger, Đại trượng phu, ngàn thu vĩnh biệt.”
Đã hơn 45 mươi năm rồi đó nhưng ta cứ tưởng như mới hôm qua ngày định mệnh. Ta soi gương. Hình ta đã già hơn năm trước. Tóc bạc thêm. Vầng trán nhăn nheo, những vết nhăn, buồn theo nỗi buồn năm tháng.
Rót ly rượu đắng cay, ngồi một mình, nhắm nháp nỗi buồn của một người thất trận và nghĩ suy. ‘Rồi có một ngày chinh chiến tàn’. Câu hát cũ gợi đầy nỗi nhớ. Nhưng chinh chiến vẫn chưa tàn trong ta dù hơn bốn mươi năm đã trôi qua.
Đêm qua trời đổ trận mưa to. Mưa như người đi xa trở về quê cũ. Những giọt mưa ồn ả gõ vào khung cửa kính như nói người rằng: Mưa đã trở về. Nước đã trở về.
Ta nửa tỉnh, nửa mơ trong tiếng mưa rơi. Và trong cơn mơ, ta trở về quê cũ. Ta thấy quê ta mênh mông trong buổi chiều thơm rơm đốt đồng khói toả. Ta thấy cánh cò xoải bay về đâu trong buổi chiều ráng đỏ. ‘Chim bay về núi tối rồi. Chị em sắm sửa lấy nồi nấu cơm.’
Hòa bình!
Ta thấy nhà ta buổi tối quây quần bên ngọn đèn Huê kỳ vặn tỏ. Ba ta ngồi đọc báo; má ta ngồi may vá; anh, em ta đang ngồi tập đọc cuốn vần con gà nó gáy ó o.
Rồi ai làm bom, đạn nổ? Chiến tranh! Chiến tranh là do tham vọng của một lũ điên từ phương Bắc!
Ta thấy lại những người không còn ai thấy nữa. Những người đã chết.
Người chết là em thơ, chết ngơ ngác, chết bàng hoàng như thể chưa nhận ra được kết cuộc bi thảm của một chuyến đi đầu năm từ một vùng quê nào đó lần đầu đặt chân vào thành phố mà em cứ tưởng là một chuyến rong chơi.
Người chết là bé thơ còn ngậm bầu vú mẹ. Xác mẹ và con, cả hai, đều lạnh giá trong ngày mồng một Tết Mậu Thân tám nẻo đường thành.
Người chết là thiếu nữ, mới chớm tuổi xuân thì, mà buổi chiều còn trò chuyện với ta về tương lai, về hạnh phúc để nửa đêm về sáng, một mảnh đạn pháo xuyên vào tim em, chấm dứt ngày em mơ mộng cũ.Ta vẫn còn thấy em nằm sóng soài trên chiếc ghế bố, ai dùng thay thế chiếc băng ca để ta tiếp khiêng em vào bệnh viện. Nhưng không còn kịp nữa rồi! Em chết mà không biết vì tội gì mình phải chết.
Người chết là người lính trẻ, tử trận chiều qua mà ta đã gặp trong nhà quàn liên đội chung sự nghĩa trang quân đội Biên Hoà khi ta lên để nhận lại xác của anh ta bỏ mình trong trận Ba Hô, Quảng Trị.
***
Ta vẫn còn nghe tiếng ông Chín Đờn Cò và bà Năm Trầu nói chuyện. Ta yêu cái giọng miền Tây Nam Bộ chơn chất ấy. Ta nghe tiếng gà vịt trong chuồng đòi ăn, tiếng nghé ngọ của bầy trâu rời chuồng trong chương trình phát thanh Hương Quê mỗi bình minh năm cũ. Ta vẫn còn nghe tiếng ai đó hò vòng vọng, lan tỏa trên đồng bằng sông Cữu Long mùa nước nổi.
Ta vẫn còn nghe tiếng hò reo xung trận, tiếng súng nổ, đạn bay, tiếng rên la của người bị thương, tiếng than khóc của những người ở lại, đau đớn tiễn người đi.
Ta vẫn còn nghe lời nói của một người lính, trích từ kinh thánh:
“We, the soldiers who have returned from battles stained with blood, say to you with a loud and clear voice: Enough of blood and tear. Enough.”
“Ta, những người lính từ mặt trận trở về, mình còn đẫm đầy những máu, dõng dạc nói với các ngươi rằng: Đã đủ rồi máu và nước mắt. Đã đủ rồi.”
Chúng ta đã buông súng vì nghĩ rằng máu và nước mắt đã đủ rồi. “Enough of blood and tear. Enough.”
Ta, những người lính trẻ năm ấy, không hề nghĩ rằng: “Mẹ ơi! Nuôi con lớn để con làm tù binh!”
Ta còn trẻ, mắt còn sáng, tóc còn xanh, nhìn đời vẫn còn nhiều cao vọng pha lẫn chút ngây thơ. Tuổi trẻ nào không thế! Ta đã từng ngây thơ tin rằng: hết chiến tranh rồi mọi sự đâu sẽ vào đấy.
Sẽ hòa giải. Sẽ hàn gắn. Sẽ không còn bắn nhau, không còn đặt mìn, phục kích, pháo kích, bỏ bom. Người Việt Nam sẽ không còn giết nhau bằng súng Nga, bom Mỹ nữa. Người Việt Nam sẽ không còn chết nữa.
“Rồi có một ngày chinh chiến tàn. Ta trở về quê.” “Không! Ta không còn quê nữa để trở về. Ta lưu lạc, ta tha hương!”.
***
Melbourne sắp sửa vào Xuân, vào mùa hoa ‘blossom’, (nở). Quê người ôi đẹp biết bao! Nhưng quê người dẫu đẹp vẫn không phải quê ta. Quê ta là con đò, bến nước, là mái lá có lu nước nước mưa trước hiên nhà dành cho khách bộ hành đở khát bước đường xa.
Đêm ta mơ về thành phố cũ. Cần Thơ. Chiếc phà Hậu Giang. Người nghệ sĩ mù và câu hát: ‘Dẫu sao đi nữa thì chị cũng về với em’.
Có thể là quá trễ để “Dẫu sao đi nữa thì chị cũng về với em.” Ta đã già rồi, sức tàn lực kiệt, đèn khô dầu lụi bấc. Ta sẽ không còn dịp gặp lại ông Chín Đờn Cò và bà Năm Trầu nữa đâu.
Hỡi ơi! những người nghệ sĩ thân thương ngày đó còn sống hay đã chết? Nếu sống thì phiêu bạt ở phương nào? Có đêm mơ về quê cũ như ta?
Ngày ta nằm xuống ở đất lạ quê người hãy đưa ta vào lò thiêu. Thân xác ta! Cát bụi sẽ trở về cát bụi. Hãy giữ dùm ta những tro than để mang ta về quê cũ, vùi những tro than đó xuống lòng đất quê hương.
Ta sẽ thực hiện được lời ước nguyện của người nghệ sĩ mù trên bến bắc Cần Thơ với câu hát tiên tri: “Dẫu sao đi nữa thì chị cũng về với em.” Lúc đó cuộc chiến mới thực sự tàn hẳn trong ta. Hãy để bụi thời gian năm tháng phủ mờ bia mộ đường quên!
Khi sang đây, thời gian đầu tôi xin được việc làm với đồng lương khá cao: Chùi rửa, thay bao rác, quét dọn vệ sinh trong một cao ốc có bốn tầng lầu. Từ chín giờ tối tới hai giờ sáng. Địa điểm khá xa, nằm giáp ranh với ngoại ô không đèn, hơi bất tiện. Cho dù người ta có thiết lập ra tuyến đường xe buýt chạy về khu tân lập kia thì tan tầm vào lúc hai giờ sáng, chẳng có ma nào còn láng cháng đi lại trên vùng đất vắng tẻ kia. Muốn cày bừa, tiên quyết bạn phải có xe để tự lái đi.
Mới chân ướt chân ráo đến nhập cư, tôi làm gì tậu được xe. Người bạn giới thiệu việc vì ở nơi trái đường đã dọ hỏi giúp tôi, may thay một ông người Miên gốc Việt làm chung chỗ hứa sẽ nai lưng đóng vai tài xế giùm, chỉ chi cho ổng một khoản tiền nhỏ dùng để đổ xăng và đừng quên đãi cà phê bánh ngọt. Như thế, vạn sự không hẳn đều khởi đầu nan. Với tôi, có mòi thuận lợi. Chỉ duy một chuyện hơi lấn cấn trong khi lao động, đêm nào cũng vậy, khoảng một giờ sáng, đang hút bụi ở hành lang có trải tấm tapis màu đỏ bầm, máy đang êm tự nhiên gầm rú lên đồng thời tôi đón nhận hơi lạnh kỳ lạ như kiểu có cơn gió vừa vụt qua. Mọi cánh cửa đều đóng kín sau khi đã kỳ cọ lau sạch. Hàn khí chợt gây ớn xương sống nổi da gà nọ thật khó giải thích.
Cả bọn có mười lăm phút để nghỉ giải lao, thường khi thì co cụm lại từng nhóm riêng lẻ khác biệt ngôn ngữ vùng miền cho tiện việc hàn huyên. Tôi, người bạn và ông “tài xế” bày bánh trái trà nước ra, ngồi xuống ở chỗ xét thuận tiện nhất, không xa nơi mình đang dở dang công việc. Có lúc, khi một ngọn đèn tự dưng tắt đi, không dằn được lòng, tôi đã hỏi: Trong đời, quý vị đã từng có lần gặp ma chưa? Người bạn nhăn mặt như kiểu hớp nhằm ngụm nước nóng vừa chế từ bình thuỷ ra: Chưa, bộ đời hết cái để thấy rồi sao? Cho em nhờ tí! Bạn rùn vai: Ừ, nhưng mà muốn thấy cũng không dễ đâu nha, phải tuỳ duyên. Ông “tài xế” người Miên gốc Việt, hình như trước ở Châu Đốc hay Hà Tiên gì đó bắt bẻ: Tui chưa nghe ai áp đặt chữ duyên kỳ lạ như vậy cả. Khi cưới được cô gái đẹp, người ta bảo phải khéo tu mới nên duyên vợ chồng thì hợp lý. Còn nếu chẳng bị ma nhát thì xem như có phúc, nói vậy nghe thuận tai hơn. Tôi hỏi: Anh từng vô phúc chưa? Ai? Tui hả? Phúc phần gì. Tui chưa gặp ma, có thể do bởi hồi nhỏ má tui thỉnh thầy cho tui lá bùa, rồi vô lính, tui đi xăm trổ hình lá bùa đó vào bắp tay. Tránh hòn tên mũi đạn và ngăn được tà khí. Bạn tôi nói: Vậy lát nữa nhờ anh bắc thang thay giúp cái bóng đèn ấy nha, bọn tôi chẳng có bùa, hơi bị yếu bóng vía.
Về tới nhà đã ba giờ sáng, hôm nào nóng nực thì siêng vào phòng tắm bằng không thì vệ sinh qua loa rồi lăn đùng ra giường hú ba hồn bảy vía trở lui, trưa mai hẵng tính. Vì công việc nên tay chân nghe nhừ mỏi, nằm lơ mơ có cảm giác như có cái gì đè nặng xuống người. Đầu óc mụ mị chẳng biết nhăng cuội, mình đang tỉnh hay đang chìm sâu vào mộng mị? Sáng, tối. Hư, thực. Bần thần, hay nghĩ vẩn vơ về những điều không tượng hình, vô căn cớ. Cảm giác bất an sau cùng đã có đáp số, ông người Miên gốc Việt đóng vai tài xế đã không tới đón tôi đi làm, điện thoại hỏi thăm người bạn, hắn cho hay ông ấy tối qua trúng gió, cảm nặng, già đầu rồi mà cứ kêu than má ơi má hỡi. Ê kíp chỉ còn mình tao phải xin lão sếp sắp đặt tăng viện nhân lực. Bùa chú đầy người có khi cũng phải nhác chơi!
Như vậy, tôi làm nhân viên vệ sinh công sở chỉ đúng một tháng. Mười ngày sau, trên tờ giấy èo uột dán trước cửa chợ Á châu, tôi đọc thấy hàng chữ cần người. Không nhanh tay lẹ mắt ắt sẽ vuột mất cơ hội. Thời cơ lại đến, khỏi sợ đói người, lần này thì làm đứa đội nắng mưa đi thu hoạch hoa màu ở một nông trại nằm chốn đồng không mông quạnh. Trái cây, rau rác, bầu bí, hành ngò, xà-lách, cà chua, cà-rốt… có gì chơi nấy. Họ chỉ định một địa điểm thuận lợi nhất để tập trung nhân công, điểm danh xong chất có thứ lớp lên chiếc xe trước đây dùng để đưa đón học sinh, hoặc na ná như xe thùng sáu bánh chuyên thồ bọn phạm nhân từ trại giam ra pháp đình luận tội. Gầm rú, dằn xóc cả tiếng đồng hồ thì thả người xuống một bình nguyên xanh mơn mởn, xanh tận chân trời. Phút đầu ai cũng lộ vẻ hân hoan vì được dầm thân trong môi trường thoáng đãng khí trời lồng lộng, chỉ có quý vị phụ nữ là mặt ủ mày chau và sĩ số họ đông gấp ba lần phái nam. Chi cũng được nhưng nắng kiểu đó thì tui ngán lắm, rồi sẽ đen như con mọi. Họ phát biểu cảm tưởng. Đã rất lâu, giờ đây tôi mới nhìn lại hình thể một chiếc nón lá hình chóp đặc thù của quê cũ. Chẳng biết có ai ép trong đó một bài thơ? Anh về xin nhớ mua quà, mang qua một vật che loà nắng mưa.
Vì là lính mới, tôi được một chị tên Sương kèm sát bày đường chỉ lối. “Lom khom dưới núi tiều vài chú”. Ừ, tiều phu thì chỉ một vài, chớ bọn tui đây e tới cả trăm không chừng, lúc nhúc, chổng mông, còng lưng, tay khoan tay nhặt, mồ hôi mồ kê ràn rụa chảy. Chẳng nói chẳng rằng, hôm sau chị Sương trao cho tôi một chiếc nón vải rộng vành. Không sao đâu mà, đội đi, tui mua ở chợ trời giá rẻ như cho, chớ ngại. Giờ giải lao, chị mời ăn củ khoai mì hấp chín với nước dừa. Ở đây không có đâu, chỉ riêng chợ Mễ mới bán nó. Chị cho hay khi đưa thêm gói mè rang. Tôi nghe họ nói ăn củ này trong lúc bụng đói sẽ dễ bị say. Bụng tôi no cũng muốn chóng mặt, dung mạo chị Sương tầm tầm nằm giữa mức xấu đẹp nhưng lòng dạ ấy thì quá mỹ lệ, ưa giúp đỡ kẻ khác. Chị ở một mình nuôi con ăn học. Chị tâm sự: Cháu nó được tám tuổi rồi, sợ nó quên tiếng mẹ đẻ nên cuối tuần tui chịu khó dắt nó tới chùa, những người tốt bụng thành tâm có ngăn ra một gian sau hậu liêu để dạy tiếng Việt cho bọn nhỏ. Khi chúng ê a thì ngoài sân tui phụ giúp nấu các món ăn chay để thiện nam tín nữ lót lòng. Chủ nhật mà, người vào ra đông vô số kể. Anh có từng lên chùa thắp nhang?
Nếu có thể xem là nghề thứ ba, thì do chị Sương giới thiệu, tôi được làm “ông thầy” thiện nguyện dạy các em nhỏ tập viết tập đọc chữ quốc ngữ ở sau ngôi chùa to ngất độc tôn trong vùng. Trước chỉ có lớp học vào ngày thứ bảy, sau này do đông học viên nên sinh thêm một lớp tụ bầy vào hôm chủ nhật. Và tôi làm đứa “gõ đầu trẻ” vào ngày thảnh thơi ấy.
Việc đó là hậu sự, tiên khởi chị Sương kể là tui từng chứng kiến có đôi ba cặp đã nên duyên vợ chồng nhờ gặp nhau ở ngôi chùa đó, sao anh không thử một phen, biết đâu lòng thành được chốn khói nhang chứng giám, kinh kệ độ trì. Tôi nghe, bụng thấy chút khó chịu. Đã vác thân tới chốn trang nghiêm mà sao còn mang theo một đống bụi trần thất tình lục dục chất chứa trong lòng? Đã không buông bỏ lại còn muốn trói buộc thêm vô. Việc tôi tự nguyện dạy dỗ các em tuổi hồn nhiên rạng ngời kia có phải là một trong muôn ngàn cách buông?
Chị Sương làm “tài xế”, ông thầy ngồi bên cạnh và cô học trò tám tuổi khép nép lễ phép ngồi băng sau, chẳng mè nheo, chẳng sinh sự, không có ý kiến. Dễ thương hết biết. Má của con lòng tốt bao la như vậy thì mai này con sẽ hưởng lấy phúc lộc, hổng thèm tới chùa cũng gặp được kẻ xứng đôi, vinh hiển ấm đời.
Bức tường vôi vàng ngăn hai gian nhà, bên kia lớp học là nơi đặt di ảnh, hũ tro của các người vắn số được thân nhân mang gửi vào, những mong vui vầy phần nào khi lìa xa nhân thế. Ngoài lời kinh tiếng mõ, tôi mong là tiếng đọc bài ê a “Công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” của các em nhỏ sẽ làm “họ” vui tai, mỉm nụ cười độ lượng.
Chị Sương có tài nấu nướng, chị mua rau quả ngoài nông trường với giá rẻ và thường mang đến chùa từng túi lớn chất đầy các loại xanh tươi. Chị mặc chiếc áo lam, mặt đỏ hồng khi gia công với củi lửa, có vẻ vui thú khi nghĩ thành quả mình làm ra sẽ giúp mọi người có bữa ăn no nê trong thanh đạm. Nhìn chị, tôi luôn mọc ra ý nghĩ về người chồng khiếm diện, anh ấy đang ở đâu? Có được một người vợ tựa thế phải dày công tu mới nên duyên chứ? Chị chưa một lần tâm sự và tôi luôn tôn trọng cái im lặng của chị. Hẳn đó là vết thương lòng, khi đã biết thế mình không nên khơi mở nó ra. Cách chị siêng năng đến chùa mỗi cuối tuần hầu như là phương thức nhằm cố vơi bớt nghiệp chướng?
Thời gian này tôi đã quen lại với giấc ngủ bình thường giống mọi người, đã đoạn tuyệt với thời khoá biểu lấy đêm làm ngày như trước đây. Có khi soi gương, đọng trong ấy phản chiếu một khuôn mặt lạ lẫm, đen đúa vì mãi một sương hai nắng. Hai bàn tay thì biến dạng thấy rõ dù có mang găng bảo vệ khi lao động. Và lao động thì mãi chẳng vinh quang. Làm việc chỉ đủ sống. Sống chỉ để ăn, ngủ rồi vận hành theo một lập trình cũ, không biết cách hoán đổi. Miếng ăn tôi không lo toan, vì chị Sương bao giờ cũng nấu thừa ra, bới xách cho tôi, chu đáo đến cả thức uống hoặc món tráng miệng. Ăn cho có sức mà làm việc. Chớ so đo, đồng tiền mình làm ra đều lương thiện, không có gì đáng để tủi thân. Chị thường uỷ lạo, an ủi tôi.
Ở nông trường bắt đầu phát tiếng nhỏ to ong ve xì xầm. Cộng đồng người Việt, dù chỉ một nhóm người, họ cũng có khối chuyện để bàn tán, dị nghị, cả tin, nghi ngờ và ưa làm tài khôn. Đại để như: Bà Sương nên đi bước nữa, cũng lớn tuổi rồi đâu thể ở không. Mình chẳng nói gì nhưng nghĩ tới đứa con còn nhỏ dại, hơn ai cả nó cần một người cha… Ngay chính miệng người mẹ cũng có lần nói với tôi, con bé nó đặc biệt có cảm tình với anh, việc học tiếng Việt xem chừng nó tiến bộ làu thông, đôi lúc hỏi nhiều câu bất ngờ, không biết đường mà trả lời, cứ ấp a ấp úng!
Tôi tập thói quen đi ngủ vào lúc mười giờ, để đồng hồ báo thức vào sáu giờ sáng. Thời gian đầu không sao, gần đây thỉnh thoảng tôi bị đánh thức bằng thứ tiếng động lạ như kiểu ngoài tôi đã có ai khác cùng trú trong cái ấp hai phòng rưỡi nhỏ nhắn này. Tôi ngồi dậy, cảm nhận rõ có luồng gió lạnh vừa vụt qua, y như đêm hôm nào làm việc quét dọn trong cao ốc vắng lặng. Cái địa điểm mà sau cùng người bạn tôi cũng đã bỏ việc, hắn chỉ nói mơ hồ bằng mấy chữ “Chịu đời không thấu”. Tôi mở sáng đèn đi thăm dò cửa nẻo vốn đã khoá chặt cài then. Heo may ngoài trời như biết thẩm thấu qua vách ngăn, lạnh trong người lạnh ra.
Chứng mất ngủ bắt đầu hiện tới, trùm chăn nằm đếm số, cố nhớ ra những đoạn văn thật thơ mộng thật giản dị của tiền nhân để truyền lại cho bọn trẻ luôn háo hức, luôn thân tình với người thầy bất đắc dĩ. Một con nước trôi dịu dàng ra cửa biển? Một đám mây bay nhẹ nhàng sang bên kia núi? Một cánh chim cô quạnh vụt qua trời chiều nhá nhem? Một tình yêu cao cả có thể chuyển hoá sự xấu xa?…
Tôi mê thiếp một hồi thì nghe tiếng réo liên tu bất tận ở đồng hồ báo thức. Chồm người dậy tắt, con số 3:00 xanh lè ở đó cháy tỏ. Kỳ khôi chưa? Phải là số 6:00 mới đúng chứ! Một lần không nói, đêm sau cũng giở chứng y hệt. Đã có bàn tay thần bí nào nhúng vào?
Tôi bắt xe buýt đi tới chùa. Không nhằm cuối tuần, chùa vắng. Một chú sãi hay chú tiểu đang quét lá ngoài sân bị tôi nắm chéo áo cậy nhờ, làm ơn dắt tôi vào chỗ thờ phụng người khuất mặt. Tôi nào lạ gì khi chỗ ấy nằm sát vách nơi tôi đạo mạo làm giáo viên hàng tuần. Tôi muốn chú ấy đi theo bởi bóng chiều tà vừa bao phủ khiến tôi ngán khi đơn thân phải vào nơi thâm u.
Tôi muốn tự mình xác tín một chuyện. Trước đây, trong giờ tập viết, tôi đã ra đầu đề, các em hãy nắn nót tên người cha của mình trên trang giấy xem có được không, có sai lỗi chính tả thầy sẽ sửa giúp. Đứa con của chị Sương viết, chẳng sai một mảy may: Trần Văn Như Gia. Chú tiểu nhắc: Thầy nên thắp cho các vị ấy ba cây nhang. Tôi nghe lời cùng lần với dãy bóng đèn néon đồng loạt cháy sáng. Tôi cúi đầu, chẳng biết khấn nguyện điều gì. Tôi vái và tôi cắm run rẩy vào bát tro.
Bức tường trước mặt tôi, nằm sau lưng bàn thờ đầy hoa trái treo đầy những tấm ảnh vàng vọt của kẻ gửi thân về cát bụi. Mất chừng năm phút, tôi đọc thấy bốn chữ Trần Văn Như Gia nằm dưới một gương mặt có vẻ nghiêm khắc, có vẻ khó tính, có vẻ cộc cằn, có vẻ không hoà thuận với cuộc sống, hoặc ít ra anh ta chẳng ưa chụp ảnh, bộc lộ cái bất bình, gấu ó.
Tôi xin chú tiểu một cuốn kinh, bất kể là loại gì, in một vài câu cũng được, nhằm khấn đọc thầm, tụng chú trong canh khuya. Rồi chia tay. Rồi gửi lui lời hẹn gặp vào chủ nhật. Tôi bước tới trạm đợi chuyến buýt. Thay vì về nơi cư ngụ, tôi đứng bên kia đường để ngược hướng, tới nhà chị Sương. Tôi sẽ nói cùng chị những hoạn nạn mà tôi đang gặp phải. Và rất khó khăn, tôi buộc lòng thưa thật, rằng tôi sẽ kiếm việc làm khác, tôi sẽ vắng mặt một thời gian. Và rồi tôi sẽ ngồi yên, chờ nghe từ chị một cao kiến, một kế sách vẹn toàn.
Bóng tối chan đầy lòng đường, chỉ có vũng sáng từ cổng chùa tạt hắt ra vuông màu vàng nhạt. Chuyến buýt sật sừ đi tới, thắng đứng lại, cửa mở.
Tôi bước vào lòng xe, băng ghế cuối có bóng đen vừa ngẩng đầu lên. Ông ta mang bộ mặt lãnh cảm, giống hệt người chồng chị Sương. Cuốn kinh trong tay tôi đẫm ướt.
Tôi mời em ra quán phở, lâu rồi mình không kéo ghế ngồi ngó vào mặt nhau. Chuông điện thoại đổ dồn nức nở, hồi lâu vọng tới giọng em cùng tiếng thở: Răng chọn bữa ni? Nhằm ngày Phật đản cả nhà em ăn chay. Anh đơn thân một mình mà đi. Rứa nghe! Trời đang mưa tự cầm dù mà che. Chẳng dông dài. Em cắt sóng. Thôi trông ngóng. Tôi đã mất ô, ai như Tú Xương: “Lấy gì đi sớm về trưa với tình!”
Đã lạ lùng chưa hôm qua nắng gắt bây chừ lại mưa. Ướt nghe ngói từ sớm tới trưa, khóc bưa thôi chẳng biết khi mô tạnh. Vũ vô kiềm toả năng lưu khách, đường tới chùa Quan Âm hàng lại hàng xe cộ đi vô. Mô Phật! Có cả mấy ông tây bà đầm chen chân cùng thiện nam tín nữ cố xa dần bến mê, cố chặt đứt những tham sân si đời là bể khổ.
Tôi biết ngôi chùa to đùng này vì có lần theo em đi đón con. Con em chín tuổi chăm trau giồi tiếng mẹ đẻ. Chùa dành một phòng “tàng kinh các” sau hậu liêu có cô giáo mặc áo lam thành tâm làm giáo viên thiện nguyện. Nghe mấy sấp nhỏ ê a đọc theo lời cô lên bổng xuống trầm mà sướng cái lỗ tai.
Tan buổi học mẹ ngồi tựa cửa mắt trông con đứa đứa dần về xa xa con đã tới gần các con về đủ quây quần bữa ăn cơm dưa muối khó khăn mới có của không ngon nhà khó cũng ngon khi vui câu chuyện thêm giòn…
Tôi có cảm tình với cô giáo mặt không nghiêm nhưng buồn, lòng dậy sóng những mong gửi gắm tới tay cô đôi ba bài thơ ca tụng công cha nghĩa mẹ để bắt con trẻ học thuộc lòng mà tâm dùng dằng chưa quyết. Hỏi ý em xem thì bị nạt nộ phủ đầu: Người ta chỉ mặn rau rác sao anh bê tới những ruột những lòng? Ngay em đây một tháng hai lần cũng xơi đồ chay cho tâm tịnh bớt. Tập tu từ từ đi anh. Đặt pháp danh nhé: Thích Từ Tu. Đã mở cờ trong bụng chưa?
Đứa con em cũng chẳng mấy thích tôi. Ba nó mất rồi và nó chỉ biết trần gian thì có mỗi một tía thôi. Mấy mùa Phật đản trôi qua con bé vẫn khoá cửa cài then chối từ một linh hồn lạc lối. Chín tuổi mà sớm nói chi lời muối xát gừng thoa: Má có đến chùa đón con thì nhớ đừng dắt ổng theo kẻo chúng sanh dị nghị. Thà mà cháu nói tiếng Anh cho cam, đàng này tiếng Việt vừa chuẩn lại vừa chỉnh mới chết một cửa tử! Lời phát ngôn kia làm tôi hết dám rón rén đứng bên ngoài thư phòng học lóm ê a vần điệu chữ quốc ngữ ngân nga. Bài thơ “chay” tôi định viết riêng cho cô giáo cũng tắt thở trong trứng nước. Tôi than cùng em: Ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói láo. Và sau đó đã xẩy ra cuộc chiến tranh lạnh giữa song phương. Ai láo hồi mô? Răng ưa đổ hô! Nói lời vẽ tô. Tai không lọt vô. Số gì canh cô! Gặp người thiển thô…
Hôm nay, xứ phiêu bồng này, mây bay tán loạn vô chừng vô đỗi, mùa Phật đản thất thường trời đổ mưa như khóc cho những số phần không may. Tôi đưa đầu trần xô cửa ướt át vào một quán phở buổi trưa. Ủa, sao kỳ khôi chưa! Quán chật người đông chúng sinh tuồng một dạ ưa ngã mặn. Tái nạm gầu vè gân sách tứ tung bát giác trôi trong bể mỡ béo ngậy, cứ thế mà gục đầu vào vui cho trọn đường trần. Lên niết bàn xuống âm ti không biết có được năng nổ xì xụp như rứa không?
“Em về có hỏi răng ri rứa, nhắm mắt đưa chân có bận liều!”
Bùi Giáng đắc đạo vì ông đã giấn liều lách thân qua bao cánh cửa hẹp. Thi nhân liều lắm thứ, sá gì chuyện mặn chay.
“Nửa vời trăng rộng mông lung đường hoa nghi hoặc tháp tùng ni cô”.
Cô giáo gõ đầu trẻ môn tiếng Việt cho mấy em xa xứ ắt không là ni cô, giả như tôi lò dò đi theo cô để trao đổi cái đạo ở đời chắc là gây căng thẳng hiện trường. Cô ơi, thử mơ cùng tôi một giấc điệp: Mấy em đầu xanh trong lớp cô đồng loạt cất tiếng sang sảng đọc thơ tôi thì hạnh phúc khác gì tôi lọt người vô toà sen rộng mở. Có làm ơn làm phước chăng? Sao khi không mắt phượng mày ngài lại nhăn nhó, mặt ủ mày ê?
Mấy người? Nhân viên chạy bàn trong quán gióng tiếng, chất giọng của một đứa chưa bao giờ biết đọc thơ. Tuy vậy tôi cũng đưa ngón tay ra làm dấu, kiểu khen number one! Hắn dắt tôi tới bàn số một, nơi duy nhất còn một ghế trống. Bàn được đánh số từ trong ra ngoài, vì thế tôi ngồi sát quầy tính tiền, gần bàn thờ Thổ địa có đặt nải chuối vàng lườm bằng nhựa quanh năm tốt tươi. Ba cây nhang không toả khói nhiệm mầu cháy đỏ bóng điện nhỏ bằng hột đậu. Ông địa thì khỏi chê, chàng rất mực sexy, phong phanh hơn các chân dài, rất phản cảm với vòng số 2 lộ hàng hoành tráng.Trên vách đối diện treo cái ti vi màn ảnh rộng cực mỏng, bình thường là nơi cho các ca sĩ bẹo hình bẹo dạng nhảy múa gào thét hoặc trực tiếp các trận đá banh giải ngoại hạng Anh. Hôm nay bớt sôi động vì có cô làm cho đài truyền hình nào đó đang đọc tin tức từ trong nước ra tới hải ngoại túi bụi lùng bùng. Tượng Trần Hưng Đạo và con đường mang tên ngài ở phố Bolsa… Bà con ở Huế chộn rộn bởi trông lên bầu trời sáng loà ánh mặt trời lung linh ngàn năm một thuở. Dẫn nguồn báo Thanh Niên thì dương quang chiếu sáng đến hai giờ đồng hồ, từ 9 giờ 30 đến 11 giờ rưỡi mới thôi rạng ngời. Rơi đúng vào ngày Phật đản nên Phật tử cố đô thành tâm tin rằng đó là “hào quang đức Phật ban phước lành cho chúng sanh”…
Tin tức đọc chưa xong bàn số 2 với bốn thực khách bắt đầu bình loạn ăn mặn nói ngay. Ông số một lên giọng: Cái này khoa học gọi là hiện tượng khúc xạ ánh sáng thôi mà, có chi mà phải náo động thiên cung! Ông số hai nạt: Ba trăm sáu mươi lăm ngày im re, tự nhiên sáng loà đúng vào ngày Phật đản thì phải có cớ sự gì đó chứ, khoa học đôi lúc chẳng giải thích được hiện tượng siêu nhiên đâu. Ông thứ ba gác đũa: Ấy dà chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên thôi, cứ ưa tô vẽ làm rối thêm sự việc! Ông thứ tư ngồi xỉa răng: Còn sớm quá để kết luận, dân tình đang đói chuyện đổi thay, họ vin vô vụ này để ấp ủ thêm niềm tin. Đừng trách họ tô vẽ, sống mà chẳng hy vọng thì đâu còn nước nôi gì để thở, để chờ mong. Đến phiên ông một: Giờ này người cộng sản họ chúa tin vào chuyện mê tín nhỉ, thôi còn duy vật biện chứng tào lao như hồi xưa. Ông hai hăm hở: Nè, mỗi đứa đóng năm đồng, bốn đứa vị chi là hai chục. Cầm hai mươi đô đi quất vé số hổng chừng mà quận hạt này mới nổi lên bốn chàng triệu phú. Có tiếng bình phẩm: Thằng cha này dị đoan quá mạng, phải mà bốn đứa đang ngồi trên đất thần kinh thì hoạ may. Đi xe máy lên chùa Thiên Mụ mà lạy, bắt xe ôm vào ngã tư Âm Hồn mà cúng, về hố chôn tập thể vụ Mậu Thân mà nhang khói lòng thành thì có thể hoàng thiên hữu nhãn ngó xuống độ trì.
Tôi ăn không hết tô phở, ngang miệng, tính rời bỏ hiện trường thì chuông điện thoại di động nằm trong túi áo réo liên hồi kỳ trận. A-lô… Anh đang ở mô đó? Thì ở quán phở như đã thưa từ ban sáng. Đi một mình à? Ủa, dòm quanh ai cũng ăn chay thì còn biết nói năng chi! Có cái ni nói ra nghe hơi khó xử, hơi phiền, hơi chướng… Kệ đi mà, đang nhằm Phật đản xin em cứ thành tâm thiện ý thử… Đứa con gái em đó, nó phụng phịu dỗi hờn quyết tuyệt thực chiều ni, đương sự một hai cứng đầu không chịu ăn chay… A-lô. A-lô… À, em mới hỏi thì nó kêu thích ăn phở, tự nhiên mà chướng trời sợ! Còn em thì sao? Thử chướng một lần coi có khớp với câu “mẹ nào con đó” không. Người chi mô ưa móc họng kẻ khác! Đâu có, chỉ thích thấy em chướng thôi, hai mẹ con thay đổi xiêm y rồi anh lại đón đi ăn mặn. Anh xem tin tức thấy ở Huế quê em có hiện tượng lạ xảy ra… Biết rồi, mặt trời với hào quang chứ gì? Đừng dụ em vào con đường khổ nạn, lý ra anh phải khuyên em siêng ăn chay mới đúng. Sẵn đang còn đó anh chỉ việc mua thêm một bát phở mang về thì có phải nhẹ nhàng đơn giản hơn không? Người chi mà sân si quá! Tôi cười hề hề: Phải a, em là mặt trời chân lý chói qua tim. Mua ngay mua ngay, tới liền tới liền!
Chạy ba chừng bảy đỗi thì thắng xe kêu cái rột. Tôi cầm bao ny-lông cột hai tô giấy đựng xác đựng nước riêng bước vô sân nhà em. Tôi sửa giọng cho thông: Nghe lời dặn bác về tận cửa, mắt dõi trông dáng bé bên song. Khoan thai bác bước chậm rì, một tô vừa đủ cho người chán chay. Cơm dưa muối không ngon bằng phở, xe lửa có to bé cũng xơi xong. Khi vui câu chuyện thêm giòn, đã lâu rồi chừ mới thấy bác dễ thương.
Tôi ê a bài tập đọc đó cho đứa con em nghe. Chiều nay cô bé thần sắc rạng ngời, đẹp hơn cả mẹ nó. Vừa giữ cửa cho tôi dễ dàng bước vào nó vừa nói thứ tiếng Huế pha tạp giọng Nam: Ai dạy bác bài học tầm bậy quá, bác cần phải siêng đến chùa Quan Âm mà học lén cho nên người. Tôi cười: Bây giờ mình đổi thức ăn, con ăn phở còn bác ăn phần cơm chay của con, có chịu không? OK, công bằng quá, như vậy không ai mắc nợ của ai. Em bước tới gần: Nãy giờ hai bác cháu to nhỏ chuyện chi? Tôi thưa: Huế chỉ có một vầng quang mà đã mơ màng, bên này sáng tỏ hai mặt trời một nhỏ một to không sớn sác mới là chuyện lạ. Cám ơn mùa Phật đản đất khách quê người. Thiện tai, cho xin một chén cơm chay ăn lấy thảo hỡi người từ tâm!
Vừa đọc xong bài viết hay: “Huế, tôi và Mậu Thân”. Quá cảm động. Quá đau thương. Quá chân tình. Tác giả là cựu Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Tiểu đoàn trưởng TĐ 8 “Ó Biển” Thuỷ Quân Lục Chiến, thuật lại trận giải toả thành phố Huế mùa Xuân Mậu Thân tang thương nghiệt ngã. Vào thời điểm đó, người con anh hùng của Huế chỉ mang cấp bậc Đại Uý ở Tiểu Đoàn 1 “Quái Điểu”. Và Phu Nhân là tên nguỵ trang, ám hiệu được dùng trong tần số liên lạc của truyền tin. Bài viết làm tôi nhớ lại cả tháng trời sống chui rúc giữa nội thành ngập mùi tử khí, quẫn trí trong căn nhà cách ba ngả tư có Phán Phu Nhân cùng binh lính đang khó nhọc di chuyển từng thước một, đổ mồ hôi sôi nước mắt khi thấy “con cái” rơi rụng, hao hụt dần. Những hàng chữ đầy tình nghĩa đã mang tôi về một kỷ niệm khác, vui hơn, phải mấy mươi năm sau, ngày đầu tiên tôi tình cờ được gặp mặt anh trong căn nhà nằm trên đồi gió.
Đồi gió là tên gọi một khu vực đắt địa ở Virginia, có thể “ăn” sang vùng phụ cận. Chủ nhà là bác sĩ Phó Ngọc Văn, năm 1990 anh có gửi dăm ba bài thơ (giọng hào sảng khinh khoái) cho báo Văn Học và mùa hè năm đó, tôi được quen anh, được bước chân vào một địa chỉ luôn hào phóng rộng cửa cho bằng hữu văn nghệ bốn phương về nghỉ chân. Trên đồi gió, láng giềng vây quanh Dr Van là dân bản xứ, họ hiểu sự hiếu khách của ông gia chủ lạ thường kia nên tế nhị đun xe vào garage, nhường con đường trống “cho quý vị được thong dong”, tha hồ đậu ngang dọc. Tế nhị một phần, phần khác coi mòi có hơi “tâm phục” do họ từng chứng kiến cách chào đón khách của “anh bạn người Việt không bao giờ tháo chạy”: Thuê bọn sinh viên học sinh Mỹ (muốn có chút tiền tươi) áo xống chỉnh tề đứng tiếp rượu, một thiếu nữ tóc vàng mặc đầm trắng ngồi đánh đàn piano tiếng du dương những cung bậc cổ điển. Chúng hiện diện chỉ hai tiếng thôi, như thể công binh đi dò mìn vậy mà, hết phận sự thì để cho chủ lực quân nhập trận chứ. Gia chủ Phó Ngọc Văn đùa thế, anh từng là bác sĩ quân y một đơn vị thiện chiến ngày cũ, giọng Bắc trầm ấm, hơi khàn đục. Tôi có cảm tình ngay với anh, chỉ xét riêng một cảm nhận: Đang hành nghề bác sĩ nhưng ăn chơi nào sợ mưa rơi, rượu uống mềm môi, thuốc Salem đốt khói liên tục. Hai ba giờ sáng: Còn sớm mà, ngủ ngáy gì giờ nầy!
Ở căn nhà ấm áp ấy, tôi gặp nhà thơ Tô Thuỳ Yên, nhà văn Mai Thảo, nhà thơ Cao Đồng Khánh, nhà văn nữ Dương Như Nguyện…để rồi chạy về một quán ăn nằm dưới phố được ngồi chung bàn với những khuôn mặt từng vào sinh ra tử, tưởng chỉ nhìn ra họ trên những trang ký sự thuật lại các trận chiến đẫm máu dành từng thước đất mà ngày xưa, thuở học trò tôi từng mê mệt họ: Phạm Như Đà Lạt. Phan Nhật Nam. Trung Tá Nguyễn Lô, Tiểu đoàn trưởng TĐ 7 ND. Trung Tá Nguyễn Văn Phán, Tiểu đoàn trưởng TĐ 8 TQLC. Bốn vị anh hùng này đều là “người mềnh”, con của Quảng Trị và Huế cả. Ngồi sát cánh bên họ, ngó Phan Nhật Nam vừa từ địa ngục sang tới, tôi ý thức rõ: Văn chương đã bất lực, đã không vẽ ra hình ảnh chân thực về những người sĩ quan từng xem cái chết nhẹ tựa lông hồng.
Tôi xúc động khi nghe anh Nguyễn Văn Phán kể về những ngày vừa ký kết hiệp định ngưng bắn, con cái anh bị rụng khi lội qua sông Thạch Hãn và vì thương xót những cái chết vô nghĩa, lãng phí kia, anh đã làm một cuộc trả thù cho đàn em thuộc cấp để suýt phải bị ra toà án quân sự đối mặt với bản án vi phạm hiệp định. Giọng Huế khàn đục, nhìn tôi, anh cười chấm câu: Coi kìa, chưa chi mà mi đã nổi da gà ra rứa! Ở Mỹ lâu chưa mà da mặt anh vẫn ngăm đen, râu thép đầy cả sợi bạc? Và anh có hay hát không mà lại hát quá hay? Một ông Tiểu đoàn trường “lính thuỷ đánh bộ”, đơn vị kiêu hùng là thế mà sao có máu văn nghệ văn gừng dồi dào đến vậy? Ngồi bên anh biết ngay đó là một người lính năm xưa quen đụng trận trên khắp bốn vùng chiến thuật nhưng điều gây bất ngờ là anh từng làm thơ, viết tản văn rồi bây giờ ôm guitar hát giọng truyền cảm xưng tụng vẻ đẹp một tà áo vàng bay bên hàng giậu. Điều này hiếm, khác với Trung Tá Nguyễn Lô của Nhảy Dù, thân còn dấu tích của đạn AK 47 găm nát sẹo đã liền da, dáng người nhỏ thó hiền lành như học trò nhưng dầu sôi lửa bỏng cỡ nào cũng cầm cự được, đánh hết rác rồi chiếm lĩnh mặt trận. Tôi tự nhủ, đời mình không gặp mặt những vị này thì thật uổng phí, tôi lân la muốn nghe anh Nguyễn Lô kể về tháng ngày cầm súng nhưng hình như anh muốn quên, chỉ lầm lì tợp rượu.
Mà nói tình ngay, chưa chắc nhà văn đã thuật lại được mọi diễn tiến đầy sống động tựa trang viết “Huế, tôi và Mậu Thân” của anh Nguyễn Văn Phán:
“… thằng em luống cuống chạy quanh bị Mạ tôi nạt: Mi chạy mau vô nhà lấy khúc cá kho khô và đòn bánh tét gói lại đem ra đây bới cho anh mi. Mạ tôi dúi vào tay tôi chai dầu Nhị Thiên Đường: Con xức cho khỏi gió. Lính đi ngang hỏi nhau: Mạ Đại Uý sao đầu trọc lóc vậy bây? Bà ấy đi tu để phước cho con, tụi mình cũng được hưởng ké đấy! … Mạ tôi khóc oà, tôi thật não lòng… Tiếng gọi, nước mắt, những cánh tay chào vẫy, phải chăng nhắc nhở trách nhiệm của tôi. Bây giờ là lúc đền đáp ơn sâu nghĩa nặng. Vinh dự này thật khổ. Máu nóng sôi trong người…”
Thời gặp gỡ anh Nguyễn Văn Phán ở Virginia, nghe đâu anh lao động việc gì đó trong toà nhà trương bảng hiệu The Washington Post, một tờ báo lẫy lừng đầy uy tín. Sau này lại có tin anh đã dọn về sống ở bang Texas, nghỉ hưu nhưng tiếc uổng là anh đã thôi viết văn, làm thơ. Cá nhân tôi, một đứa sinh đẻ ở Huế, dù muốn hay không, đã mang nợ anh, ông Đại uý Tiểu đoàn 1 Thuỷ Quân Lục Chiến đã từ Sài Gòn mang quân ra đánh chiếm, dành lại từng tấc đất mà bọn thù địch đã lợi dụng dịp Tết linh thiêng để tràn về tàn sát những cư dân vô tội của một Huế nổi tiếng hiền hoà.
Tổn thất sơ khởi, chưa được bổ sung thêm, bắt đầu từ rạng sáng 31 tháng 1 năm 1968 kéo dài cho tới ngày 22 tháng 2,1968 có hơn 7.600 thường dân bị chết hoặc bị thủ tiêu. Con số này (hoặc nhiều hơn) sẽ vĩnh viễn gắn liền với ba nhận vật: Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân và Nguyễn Thị Đoan Trinh. Hoặc nói khác đi, nhớ về Tết Mậu Thân, những người Huế còn sống sót vẫn bị ám ảnh bởi Phan, Xuân, Trinh. Đã năm mươi năm, những kẻ liên luỵ vẫn chối quanh, vẫn tìm cách che đậy, vẫn phân bua chạy tội. Và trong chừng mực nào đó, khi hoài niệm chúng ta vẫn dấy lên chút hối tiếc về sự ngã xuống của vô vàn cái chết vô danh mà bài viết của quân nhân Nguyễn Văn Phán chỉ là một nhắc nhở hiếm hoi. Đó chỉ là chai Nhị Thiên Đường xức cho khỏi gió mà vô phước cho chúng ta đã từng sống qua một trận cuồng phong vô phương cứu chữa.
Cảm ơn anh Phan Nhật Nam, cảm ơn anh Nguyễn Văn Phán. Tôi nghĩ không riêng Huế, cả miền Nam yêu chuộng tự do sẽ còn nhắc nhớ tới các anh, từng đổ máu trên chiến trường đổ mồ hôi trên các trang viết chỉ nhằm nói lên một sự thật: Chúng ta thua đối phương một phần vì chúng ta không tàn ác bằng Bắc quân, bằng những tên nằm vùng. “Vì răng Mạ Đại uý đầu trọc lóc rứa bây?” Hỏi cũng là một cách trả lời. Quân nhân miền Nam ra trận mang theo con tim ngự đầy Chúa Phật như ý thơ của sĩ quan Thám báo Trần Hoài Thư.
Căn nhà trên đồi gió sang nhượng chủ quyền đã lâu, tôi bặt tin anh Phó Ngọc Văn cũng hơn hai mươi năm mà chưa có cơ hội nói lời cảm ơn sự hào sảng anh dành cho. Ôi, những người muôn năm cũ, những anh đã trao cho tôi một kỷ niệm khó quên. Nghe mơ hồ tiếng vọng của ai đó: Lính mà em!
Những người lính đầy khí khái dẫu thời cuộc đã khiến họ đầu hàng cuộc chơi. Đọc “Huế, tôi và Mậu Thân” để xúc động thấy rõ khuôn mặt của người lính hôm qua, thân cận, bất biến. Gợi nhớ lời thơ của anh Tô Thuỳ Yên:
“… Lúc tàn khuya Nhà hương hoả tối mốc Còn ai không, có gọi chỉ thêm buồn Thôi, chẳng tiếc túi vàng đã phung phá Mà mừng mẩu nến chợt tìm ra”.
(Đọc qua tựa đề của bài viết bạn hẳn đã hiểu đề tài. Lý do râu tôi đưa bài này lên vì trong tay tôi hiện đang có quyển sách Tử Tội của Chóe mua từ bên Mỹ do người bạn mang về. Với ý định sẽ đưa lên trang blog này với bài vỡ và hình ảnh trong quyển sách đó, nhưng trước khi có đủ thì giờ để sửa soạn cho loạt bài đó, xin tạm đưa lên các bài viết về Chóe từ các trang mạng khác viết về Ông)
Trên tờ báo Chicago Daily 1973, Larry Green viết về Chóe: The Vietnam’s Most Potent Pen, khi nhà xuất bản Glade PUBLICATIONS và nhà báo Barry Hilton thu thập khoảng 200 tác phẩm hí họa của Chóe đăng rải rác tại Sài Gòn, in lại tại Mỹ dưới tựa The World of Choe(VietNam’s Numberone Editiorial Cartoonist) và giới thiệu rộng rãi trên toàn thế giới.
Một trong những bức tranh trong cuốn sách này, tuy là hí họa nhưng lại mang nét buồn của đất nước chiến tranh khi thế giới bước vào mùa Giáng sinh vui vẻ trong năm 1972. Nếu quan sát kỹ hơn người xem sẽ thấy hai ngón chân cái của ông giao nhau vì ông vốn là người… Giao Chỉ.
Chiến tranh Việt Nam đã đến hồi bi thống, đã khiến anh em văn nghệ sĩ có nhiều chính kiến, cật lực bày tỏ tư hướng của bản thân với hậu quả diệt vong của dân tộc. Chóe cũng vậy, là một nghệ sĩ đã mang trong hồn nhiều sự sáng hóa và tình cảm sâu rộng, nên trước tai họa cùng cực đang đổ dập xuống quê hương, thái độ của một người làm văn nghệ được bộc phát bằng tài hoa sẵn có của mình. Giống như các bằng hữu văn nghệ ở khắp các tỉnh thành miền Nam, thơ văn hay âm nhạc… là vũ khí của thất phu hữu trách trước mọi hoàn cảnh bi thương của đất nước. Nguyễn Hải Chí (Chóe), từ làng quê bên góc nhỏ khu giáo phận Núi Sam (Đầu Bờ), ven sườn Bạch Vân Hộc Lãnh Sơn Châu Đốc, bước vội lên Sài Gòn năm 1965. Chuyện hòa nhập vào cuộc sống trước một Sài thành hoa lệ, đã là một can đảm thật bi hùng của một chàng trai 21 tuổi. Tôi hiểu cái nhìn dịu vợi của chàng trai làng khi đặt chân hòa đồng vào nếp sống mới, năm 1964 tôi cũng như Chóe bước vào một xã hội phồn hoa đang đầy rẫy xáo trộn và tiếng bom đạn thường xuyên âm vọng về thành phố.
Vừa bước chân lên Sài Gòn, Chóe đã giành được một giải thưởng truyện ngắn, mà đến nay bản thảo của bài văn này có lẽ đã không còn lưu lại. Hôm chị Kim LOAN (Chóe phu nhân) hỏi tôi có lưu trữ được không? Tôi thành thật tiếc rẻ những kỷ niệm đặc sắc như truyện ngắn này của Chóe bị thất lạc, nhưng bù lại bản thảo truyện ngắn Tu Hú mà Chóe giao tôi năm 1969, may mắn vẫn còn. Lúc này Chóe vẫn còn ký tên thật Nguyễn Hải Chí, kể cả những phụ bản hội họa mà Khai Phá được giới thiệu trên tạp chí trong giai đoạn 1970 – 1972.
Tôi với Chóe là đồng hương cùng một lứa tuổi, nên sự quý trọng và gần gũi thân nhau như một chuyện tình cảm quê xa. Trên bước đường lập thân, tất cả anh em từ đồng nội cất cánh bay về phồn hoa đô thị, tìm một trang trải cho công danh sự nghiệp lâu dài, thì hầu hết đều ngưỡng mắt trông chờ những hội tụ vinh quang. Trước mặt, là những nối kết bằng hữu cùng quê nếu tình cờ bắt gặp ở xứ lạ quê người trên quãng đường bất chợt, là một hạnh phúc không thể nào diễn tả được. Tình cảm quê nhà bao giờ cũng sâu đậm, khiến những người đồng hương thường xuyên liên lạc, dù chỉ một lần ngồi tâm sự đôi câu, uống từng ngụm trà vọng quê. Chóe về Sài Gòn sau tôi một năm, nhưng hầu hết vì lẽ sống và sáng tác, anh dồn hết tâm trí vào những công việc hằng ngày vừa trả nợ áo cơm, vừa tạo dịp để viết lách. Thời gian này, Chóe trong bút danh Nguyễn Hải Chí, vẫn sáng tác thơ văn và vẽ phụ bản cho nhiều tờ báo đương thời, giống như các văn nghệ sĩ trẻ đồng song khác.
Trên bước đường lập nghiệp, tài năng Chóe bộc lộ rõ rệt, có phần không thua kém bạn bè cùng lứa. Chuyện đoạt giải truyện ngắn trên một tờ báo ngày thời đó, quả là một món quà quý giá, giúp tay bút của anh đầy tự tin hơn khi bước vào lối đi không còn nghi ngờ chọn lựa gì. Từ năm 1967 – 1969, tôi và anh em gom hết thực lực để cho ra mắt tờ nguyệt san Trình Diện Tuổi Đất, là tiền thân của tạp chí xuất bản Khai Phá sau này, với những ước mong sẽ hội tụ được những tài hoa của những bạn hữu văn nghệ gốc vùng sông nước Cửu Long, đang sống tại quê nhà hay đang lưu lạc tứ xứ như những cánh chim trời phiêu bạt. Việc làm được bàn luận cẩn thận, với nhiều bàn tròn tham dự đồng ý kiến và bài vở góp mặt của anh em. Kể cả dự tính hết xuất bản hàng chục tập thơ văn, mà cốt yếu của sự thành hình do đóng góp của bằng hữu cho chính tác phẩm mình.
Qua năm 1968, mọi biến cố tang thương càng xảy ra trầm trọng hơn cho đất nước, nên bao nhiêu dự tính đang thực hiện, đành dừng lại chờ một ngày mới xán lạn hơn. Tuy nhiên, bạn bè đều hoạt động trên mọi tạp chí văn học nghệ thuật tại Sài Gòn, nên tên tuổi vẫn được nhắc nhở và ghi nhớ cùng nhau trong thời khắc bi hùng của dân tộc. Mỗi người một hướng với quan điểm sống của tự thân, nên văn nghệ cũng chia ra từng nhóm nhỏ với những tờ báo trải dài khắp nẻo đường đất nước. Từ Quảng Trị xuyên dài vào miền Đông, miền Tây Nam bộ, đầy rẫy các tạp chí mang đậm màu sắc của con tim. Tôi bàn bạc với bạn bè nên xốc dậy làm mới hơn với tờ Khai Phá.
Năm 1969 là một định mệnh an bày. Tôi gặp Nguyễn Hải Chí tình cờ tại tờ Diễn Đàn của nhà văn Viên Linh. Anh đến tham gia bài vở như những bạn hữu khác, nhưng đặc biệt với nét nhìn của nhà văn lão luyện Viên Linh, hầu như anh đã hóa thân một cách tuyệt diệu. Từ đó bút hiệu Chóe như một tinh quang đã chói ngời với thời gian… Khi Viên Linh bận bịu thu xếp công việc tòa soạn, Chóe và tôi cùng trò chuyện và đặt nặng vai trò như của những cuộc viếng thăm quê nhà hơn là câu chuyện văn nghệ. Nói thêm, tạp chí Khai Phá 1 đang nằm trên dạng bản thảo, đã đầy đủ bài vở đang chờ xin giấy phép để ấn hành, với chủ đề Văn nghệ trong tình thế hiện tại. Chóe trầm lặng ngồi đọc xong bản thảo, và nói với tôi rằng, tạp chí có vẻ nặng vì nhiều chữ nghĩa quá. Anh xoay qua đưa tôi một phụ bản còn ký tên Nguyễn Hải Chí và hẹn vài hôm nữa sẽ gởi thêm một số phụ bản và sáng tác văn mới. Khai Phá số 2 đăng trong trang truyện ngắn Tu Hú của Nguyễn Hải Chí, từ đó khám phá ra anh có một bút pháp thật tuyệt chiêu.
Chóe thật hiền dịu trong cung cách một người làm văn nghệ hết lòng vì nghệ thuật và bằng hữu. Bản chất trầm lắng, từ tốn trên ngôn từ khi phát biểu, và trải tất cả tấm lòng đầy chân thật với tha nhân. Tôi thật xúc động trước nhiệt tình của một người bạn quê xưa, mà cả hai chúng tôi cũng cùng đang trôi dạt tại một phương trời xa, với một ý hướng quang quả trong nghệ thuật. Khi tờ báo ra mắt tháng 4/1970, thêm nhiều đóng góp chân tình của anh em khắp nơi, như họa sĩ Lưu Huỳnh Truyền, nhiếp ảnh gia Châu Thành Thơ, họa sĩ Rừng (nhà văn Kinh Dương Vương), họa sĩ Nguyễn Bá Khanh… từ khắp nơi dành hẳn một cảm tình tuyệt diệu cho tờ báo với những ý kiến thật sâu sắc và sáng tác đa dạng trên mọi phương diện nghệ thuật.
Kissinger
Chóe sáng rực rỡ trên những hí họa đăng rải rác trên báo chí tại miền Nam, đặc biệt những bức hí họa xuất hiện trong thời chiến tranh, vẽ các nhân vật như: Kissinger, Nixon, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Thiện Khiêm… đã là đề tài khiến anh gặp nhiều tai họa trong thời đó.
Đằng đẵng gần 10 năm sau, một buổi chiều gần cuối năm 1985, có hai sự tương ngộ thật kỳ diệu khiến tôi có một ấn tượng sâu sắc về tình nghĩa bạn bè, sao mà thâm sâu và trân trọng quá. Khoảng 16 giờ chiều, tôi về tư gia sau một cuộc họp ngành y tế vừa xong, nghe tin báo có một bạn trung niên ghé thăm và từ giã đạp xe trên cầu chữ Y. Tôi vội vã vòng xe chạy đuổi theo, qua bên kia cầu, đường Nguyễn Biểu quận 5, thấp thoáng bóng nhà văn Kinh Dương Vương đạp xe nhẹ lướt đi vội vàng. Tôi chặn lại mừng rỡ và cùng Kinh Dương Vương bước vào một quán cà phê tâm sự. Chuyện bạn bè bao nhiêu ngày tháng nói làm sao tận lời được, nên sự khuynh khoái kéo dài hơn 2 giờ trôi qua, và hẹn gặp anh trên Trương Quốc Dung, Phú Nhuận.
Bước vội vào nhà trong trời đêm chập choạng, Chóe ngồi chờ tôi ở một ghế salon có lẽ cũng hơn một tiếng đồng hồ, anh kiên trì gặp lại bạn xưa đã hơn 10 năm không liên lạc! Chuyện thăm hỏi trên trời dưới đất, chuyện quê nhà, chuyện sáng tác… đều được vun vẩy cho thỏa lòng tri ngộ. Bắt đầu ngày đó, có dịp tôi thường xuyên ghé chợ Hạnh Thông Tây, Gò Vấp thăm anh chị và gia đình. Phong thái Chóe đường hoàng trở lại ngôi vị như xưa, nét bút sắt vẫn hí ngạo tung hoành trên hầu hết các tờ báo của xã hội mới. Sự nhập cuộc và hóa thân của một nghệ sĩ đầy tự trọng và nhân cách đã thể hiện đường nét sáng hóa cho nghệ thuật muôn hình muôn vẻ.
Trước những ngày tháng còn cùng cực của bao cấp, Chóe phát huy một hướng vẽ mới, ngoài các “hàng chợ” trên lụa hay sơn dầu nhưng không bao giờ có chữ ký của Chóe, như một đảm bảo hằng ngày cho cuộc sống gia đình. Anh nghiêng hẳn về những hình tượng nghệ thuật và nắm chặt hơn trong chủ để bài bản sáng tác. Từ năm 1992 – 2003, Chóe thực hiện nhiều cuộc triển lãm bề thế mà hầu như tranh hí họa của Chóe đều được giới thưởng ngoạn đưa vào bộ sưu tập của người yêu tranh như:
– Năm 1992, triển lãm 35 tranh sơn dầu khổ 70 x 90cm, nằm trong bộ sưu tập của Công ty sơn mài Lam Sơn;
– Năm 1993, khoảng 41 tranh sơn dầu khổ 110 x 140cm được bà Nancy Phạm ở Mỹ đưa vào bộ sưu tập riêng;
– Năm 1995, có 57 tranh sơn dầu 50 x 65cm được ông Hàn Đức Minh ở TP. Hồ Chí Minh sưu tập – và năm 1996, Chóe triển lãm 2 bộ tranh về Họa Thơ Hồ Xuân Hương (40 bức sơn dầu 77 x 77cm) và Những Phụ Nữ Đoạt Giải Nobel (27 tranh sơn dầu 70 x 85cm) tại 218A Pasteur quận 3, giới thiệu trân trọng trình diện phục vụ giới thưởng ngoạn mà không bán tranh. Nhưng sau đó, toàn bộ Những Phụ Nữ Đoạt Giải Nobel cũng nằm trong bộ sưu tập của Công Ty Sotraco của bà Phan Thị Thu Mai (Sau đó, công ty Sotraco cũng sưu tập bộ tranh họa thơ Hồ Xuân Hương).
Mặt Nạ
Tác phẩm “Mặt nạ” – sơn dầu trên canvas. Những bức sơn dầu đầu tiên mà họa sĩ Choé vẽ là những tác phẩm về gia đình, vợ con, tự tay ông làm bố, căng khung, vẽ không theo một thủ pháp, kỹ thuật hay nguyên tắc chuẩn mực nào, tất cả đều là sự tung hứng, phá cách.
Trên bước đường sáng hóa nghệ thuật, Chóe còn hoài bão thực hiện nhiều công trình lớn khác như: Bộ tranh mang tên Từ Truyền Thuyết Đến Lịch Sử với chân dung các nhân vật truyền thuyết như Lạc Long Quân – Âu Cơ – Phù Đổng Thiên Vương và trong lịch sử như Hai Bà Trưng – Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn – Nguyễn Trãi của Bình Ngô Đại Cáo… Sau những lần thực hiện các cuộc triển lãm tại Nhật Bản, như 1995, triển lãm hí họa tại Tokyo với hiện diện của 10 nước Châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Philippine, Malaysia, Indonesia, Singapor và Ấn Độ. Ông Kosei Ono là nhà phê bình nổi tiếng của Nhật Bản đã đánh giá tranh của Chóe độc đáo, từ ý tưởng, đến nét vẽ và bố cục. 10 bức tranh Chóe là 10 số phận của giới phụ nữ Việt Nam, mà theo Lưu Trọng Văn: Xem tranh Chóe, tiếng cười và tiếng nấc bật cùng một lúc, nhưng tiếng cười thoát ra ngoài, còn tiếng nấc tọt vào trong.
Trong giai đoạn cực kỳ sung mãn, chuyện sinh lão bệnh tử vẫn là một diễn biến của thành trụ hoại không, khó tránh khỏi trong một kiếp người trên cõi tạm này. Nhưng điều để lại cho nhân thế, bằng sự đóng góp cả sức lực, thần trí và sáng hóa của người nghệ sĩ, đã an nhiên tự tại cho người ra đi và tiếc thương vô tận của người ở lại. Giai đoạn bịnh tình anh càng lúc càng nặng thêm, Chóe có mời tôi lên chia sớt cùng anh chút kỷ niệm quê xa, khi anh vừa chu du vừa trị bệnh tại phương trời Tây, và quy cố hương. Chóe nhìn tôi, trầm lặng hướng dẫn tôi chiêm ngưỡng chân dung của Đức Giáo Hoàng, mà có dịp anh tương kiến tại Vatican. Chóe thốt lời tâm huyết, gặp Đức Thánh Cha là điều mãn nguyện sau cùng của tôi. Tôi như nghẹn lại trước một tâm linh rực rỡ của người bạn cùng tuổi, cùng bay khỏi quê nhà từ thời tuổi trẻ và cùng ngồi lắng động trong những giây phút tâm giao.
Cơn bịnh nghiệt ngã, đã dìu dắt Chóe về nước Chúa vào lúc 4 giờ sáng ngày 12/03/2003, lúc anh đang điều trị tại Bệnh Viện Virginia, Hoa Kỳ (nhằm 16 giờ Việt Nam, 12/03/2003). Linh cữu đưa về quê nhà Việt Nam, an táng tại đất Thánh Mẫu (Định Quán, Đồng Nai).
Vĩnh biệt Chóe, một tài hoa trăm năm có một, một cây bút sắt hí họa độc đáo của hội họa Việt Nam chân thành và đầy tình người…
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.