Nỗi buồn tuyết trắng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 18/01/2018  

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Nhà văn Hàn Song Tường (1950-2018)

Không một ai cho hay. Người ấy đã lặng lẽ đi xa. Từ khi trang Gió O bị tin tặc tấn công, tôi buồn nhác ghé thăm bởi chẳng muốn nhìn ra những xáo trộn, nhưng sáng nay có điều gì khiến bàn tay táy máy tìm về địa chỉ ấy. Oh, my God. Lòng thầm than. Oh, mon Dieu! Sao hoang đường vậy trời!

Tôi gặp mặt chị ấy vỏn vẹn có một lần. Mấy mươi năm rồi? Lỡ khuấy quên. Khác người ta luôn tìm cớ để trốn lạnh, chị (lặng lẽ) đến thành phố này vào cao điểm của mùa đông. Tối hôm ấy, tuyết xuống đầy. Chuông điện thoại đổ dồn, có vẻ thất thường. Đường truyền nằm cách 15 cây số gửi vào tai giọng Bắc trầm ấm của anh Đỗ Quý Toàn: Đến nhà tôi uống trà nhé, có một vị khách ở phương xa vừa ghé thăm, muốn gặp mặt chú. Một người nữ.

Gia chủ nói có nhiêu đó. Không bảo vị khách ấy tên gì. Và mặc nhiên xem tôi sẽ tới dù… “cho mưa giăng, có tuyết bùn lầy, có gió lạnh đầy…” Vì tiện đường, anh Bắc Phong sẽ ghé ngang chở tôi đi. Tuyết ngập tới 20 cm, nhưng chẳng vì vậy nó làm khó con ngựa thồ nhỏ nhắn mang tên Renault 5 (đã tuyệt tích từ lâu, thôi sản xuất). Xe quàng xiên giữa con lộ vắng, khinh khoái dẫm lằn mức cuối. Gõ, cửa sẽ mở. Những mái đầu ngưng trò chuyện, nhìn ra. Đây rồi. Gia chủ nói. Và giới thiệu. Khoảng 8 giờ tối, đêm ấy, một đêm giá lạnh, lần đầu tiên (và đâu ngờ chỉ duy nhất) tôi đứng đối diện một khuôn mặt đẹp, bắt tay vị khách phương xa mang mỹ danh Hàn Song Tường.

Thủ bút của nhà văn Hàn Song Tường

Giữa đám đông, chúng tôi không trao đổi gì nhiều. Hơn nữa, chị ấy chừng như ít nói. Tôi ngồi yên, thử nhớ lại những bài thơ, những đoạn văn chị ấy viết. Bấy giờ chị đã ra được cuốn “Một Dặm Tương Thân” và cũng ký tặng, gửi qua bưu điện. Ngay cả một lá thư, chị cũng viết ngắn, ít tâm sự. Bởi chị cho hay, chúng ta đã hiểu nhau qua mặt văn chương. Cuộc họp mặt tàn, nhà thơ Bắc Phong và tôi có nhiệm vụ phải đưa chị bình an về chỗ trọ.

Chúng tôi quyết định nên hò hẹn nhau, vào ngày mai, ăn trưa ở đâu đó để tha hồ hỏi han nhau, cũng thuần là chuyện nắng mưa hoặc thơ văn. Đời sống chị như thế nào, bên ấy, là điều mà chúng tôi tôn trọng chẳng dám vọng động. Và rồi chia tay. Và rồi mất dấu. Và tuyết trắng vẫn lạnh lùng chôn hết những hoang mang. Chị đến rồi đi, êm thắm. Mang chút hương nồng mùi nắng của Houston, chưa cảm được độ ấm rồi thì loãng bay.

Tôi mãi bị dằn vặt bởi không ngờ chị rộng lòng với tôi quá, trong kín tiếng. Đó là vào năm 2005, chị biết tôi có tập truyện bị “giam” ở nhà xuất bản Văn Mới. Không nhúc nhích chẳng tiến thoái gần nửa năm vì chuyện chí tử: Tài chánh. Chẳng đủ sở hụi, tôi quyết định bỏ cuộc chơi xét thấy vô bổ, bằng cách thưa thật với nhà xuất bản bên California. Nhưng lời trần tình đã đến muộn, sách đang sắp trang, đang đóng gáy, đang cắt xén, đang chuẩn bị đóng thùng. Lần ra căn nguyên mới hay cô mụ đỡ đầu: Hàn Song Tường. Mọi việc diễn ra trong câm lặng, chị giúp đỡ mà không cần một đáp trả, kể cả một lời cảm ơn đến từ một đứa mãi sống hồn nhiên chẳng biết toan tính như tôi. Nguyễn Thị Thanh Bình hay chuyện, đã viết thư: Bạn có được một bà chị tuyệt vời! Mình đang ganh tị với bạn đây.

Tôi tự lên chương trình, một mộng mị cần thanh thoả: Cố gắng thu xếp mọi thứ để đi Houston. Sẽ ngồi đối mặt với chị Hàn Song Tường ở trong một hàng quán nào đó, nếu được thì xin nắm lấy tay chị ấy, đôi bàn tay “Ngàn dặm tương thân” đã làm việc thiện nguyện trong thầm lặng. Giấc mộng tiêu tan khi cơ thể làm tình làm tội phải vào nằm nhà thương. Lại nuôi một dự tính khác, hồi nào xuất viện sẽ cố bình tâm viết xuống một tản văn thế lá thư dài xin nhận chịu mọi vụng dại lỡ lầm, nếu có, để xin chị ấy hiểu thêm một lần nữa. Sẽ gửi đăng ở tạp chí Gió Văn, là tờ báo do chị chủ trương cùng với ba người nữ lừng lẫy khác chăm sóc: Trân Sa, Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Ngọc Nhung.

Thỉnh thoảng nghe thấp thoáng tin vọng từ chốn nắng nôi kia: Sức khoẻ chị dạo này đang xuống, ăn chay, cũng lắm bận vào ra nhà thương xét nghiệm. Tạp chí Gió Văn thọ cũng không được lâu, có thể do bốn vị chưởng môn nhân ở khác địa bàn lãnh thổ. Do bốn vị mở lòng với văn chương, thuần khiết, vô vụ lợi. Và có thể do sức khoẻ, do đời sống bên ngoài tác hại. Tất cả chừng như hiện hữu ra chỉ để thu gặt lấy một kỷ niệm. Có thế thôi. Để ngồi nhớ về kỷ niệm, nỗi nhớ cũng phù vân. Còn rồi mất. Nguyên vẹn bỗng hư hao.

Chị Hàn Song Tường ơi, mãi mãi tôi vẫn còn mang đôi ba món nợ không cách gì thanh thoả với chị được, để sáng hôm nay cực lòng đón nhận tin buồn khó dung: Chị vừa đi xa. Điều này có nghĩa là chuyến sang thăm Houston của tôi hoài huỷ là cả một bội bạc. Trong niềm đau, tôi vụng về ghi lại những gì còn có thể nhớ. Nhớ một dấu hỏi: Sao chúng ta chỉ gặp nhau duy có một lần? Cầu mong cho chị quên hết những vướng mắc giữa đời sống tự nó vốn không dài. Tôi đi thắp cho chị một cây nhang đây. Ngoài trời tuyết lại rơi. Trong trí nhớ hao gầy, tự dưng bài thơ Haiku của Matsuo Basho (?) chợt ẩn hiện:

tuyết mà chúng ta cùng ngắm
năm xưa
bây giờ đã rơi chưa?
ngàn trùng.

Vĩnh biệt chị.

Nhà thơ, nhà văn Hàn Song Tường, sinh năm 1950, mất ngày 15 tháng 1 năm 2018 tại Houston, Texas. Tác phẩm đã xuất bản:

– Viên Sỏi Quê Hương. Thơ (1986).
– Một Dặm Tương Thân. Viết chung với Đặng Phùng Quân. Truyện (1988).
– Phía Bên Kia Mặt Trời. Truyện (1995).
– Ở Một Chỗ Khác. Truyện (2002).
– Trong Nỗi Nhớ Một Ngày. Thơ (2012).

Hồ Đình Nghiêm

Những người biết yêu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 25/12/2018 

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Nếu bạn từng ghé thăm qua Đà Nẵng một lần, trước Một Chín Bảy Lăm, chắc bạn có nghe tới tên gọi một bãi biển: Thanh Bình.

Không lớn như Tiên Sa, chẳng choáng ngợp như Mỹ Khê, nhưng độ mặn mà sóng luôn xô bờ ở ba con nước xanh ấy, lượng muối đều tựa nhau, thuỷ chung chẳng nhạt một phân ly. Mặn đến quýu lưỡi, đến… lột da.

Thanh Bình vì len lỏi vào sát nách thành phố, nên như tên gọi, biển Thanh Bình hiền hoà hiếm khi nhìn ra sự cuồng nộ. Sóng có gào đâu đó, chỉ tựa một lời thì thầm xa xôi, để khi con nước thay phiên tấp vào bãi cát trắng, nó mất vẻ thị uy thường hằng. Thanh Bình chừng như muốn hoá thân thành lưu lượng êm ả của một giòng sông mênh mông dịu hiền.

Có lắm người, không cứ là ở Đà Nẵng, sinh đẻ trên từng cây số ra Bắc vào Nam, vẫn chuộng hai chữ Thanh Bình để ghi vào giấy thế vì khai sinh. Nếu 50 đứa theo mẹ mang tên Thanh Bình thì 50 đứa còn lại theo cha ắt cũng một dạ Bình Thanh cho có phúc cùng mang có hoạ cùng gánh. Nôm na: Thanh Bình là danh xưng khiến ta khó quyết đoán về giới tính. Tôi có đứa bạn thân Sinh viên Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức: Trần Văn Thanh Bình. Lưu lạc ra biển ngoài tôi quen một người nữ: Nguyễn Thị Thanh Bình. Khác số 1 là Trần Văn dân võ biền chọn binh chủng Thuỷ quân Lục chiến, Thanh Bình số 2 là Nguyễn Thị nhà văn, nhà thơ. Tôi giao thiệp không rộng, vẫn đồ rằng đâu đó có vô số Thanh Bình là thương gia, lắm Thanh Bình làm chính trị gia… vân vân.

Trong thơ Quang Dũng có hai câu:

“Bao giờ ta gặp em lần nữa
Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa”.

Cho đến tận giờ này, vùng đất bên kia biển vẫn chưa thực sự bình yên, thành ra “thanh bình nở hoa” e phải nương nhờ tới cuộc đất này. Một đoá hoa mới tinh khôi tôi vừa nhận được, ngắt từ Virginia sang, mang cái tên lạ “Thần Thánh Không Biết Yêu” với giòng chữ đề tặng ở trang đầu rất mực bay bướm của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình. Những con sóng thay phiên xô đẩy nhảy múa, thu cất, thâu tóm trong tập truyện có độ dày là 240 trang. Biển Thanh Bình hiền hoà nhưng chữ viết của nhà văn Nguyễn Thị Thanh Bình chuyên chở những con sóng quặn thắt bạc đầu, tôi tin vậy. Trước sau, Thanh Bình dường chẳng muốn làm một nhánh sông trôi êm qua bao khúc quành mà đời bày ra. Không phẫn nộ, không gào thét nhưng vẫn đe doạ những ai muốn qua tới bờ. Chỉ đọc 5 chữ của tựa đề đã mường tượng ra được sự khẳng định, chối bỏ, đả phá, chê bai những lề thói cũ. Thần thánh vốn vô tri? Hay thánh thần lãnh cảm trước những van nài của người trần thế?

Mỗi khi sang Virginia tôi đều gặp mặt một Thanh-Bình-ngó-dzậy-mà-hổng-phải-dzậy. Đằng sau, phía trong con người chị, ở chỗ khuất lấp vẫn thu cất một vùng nước xoáy chực trào dâng, không ngại bày cho đời thấy một biểu tỏ khác thường. Lãng mạn là tràn bờ. Trên cả lãng mạn thì nước dâng làm ngập lụt một niềm tin, hoài nghi hầu hết những giá trị trông có vẻ tạm bợ, thường không vĩnh cửu. Bị cuốn chìm như từng diễn ra “Ở Đời Sống Này” hoặc “Giọt Lệ Xé Hai”. Bạn phải để ý đến chữ “Xé” này nhé. Giọt lệ có khi đã là trang giấy trắng, nhoè mực, hoen ố. Lau, chặm là việc giản dị trong khi xé, nghe luống những cực lòng. Vầng trăng bất quá cũng chỉ xẻ làm đôi. Xé đi một giọt lệ? Thanh Bình tự thân đã chẳng còn thanh thản hoà bình nữa. Tôi mang câu nói phổ thông của người Nam để ví von là do thế. Ngó vậy mà không phải vậy.

Tôi nhớ lại một dự tính ngày cũ rất mực mộng mị từng xẩy ra, có giữa hai phía: Hơi bị bốc đồng là chúng tôi nguyện cùng chung lưng, góp tay, hợp sức để viết nên một cuốn tiểu thuyết đầy chật tình huống liêu trai. Lại tưởng tượng ra một cái tên tác giả, lạ hoắc lạ huơ chơi khó độc giả: Bình Nghiêm (chảnh hơn Bình Nguyên, nhỉ?). Nguyễn Thị Thanh Bình lo việc Hoả, tôi đảm trách tới Mộc. Nếu Thanh Bình viết núi cao thì tôi viết về sông dài. Thanh Bình cáng đáng vai linh mục thì tôi sẽ hoá thân thành ác quỉ. Đại loại thế, thử tạo ra xung khắc xem cuối đường có được hoà thuận chăng. Âm, dương lưỡng cực là logo cầu chứng của môn phái Võ Đang, chúng tôi tin rằng sẽ tác hợp, tựu thành được thứ Song Kiếm Hợp Bích. Nhưng… dự tưởng phác thảo nghe xôm tụ là thế, cuối cùng cũng chẳng đi tới đâu. Nhớ thơ Bùi Giáng: “Áo cơm bỏ lại bên đời, bỏ tan lìa mộng bên lời tử sinh”. Na ná tựa thế. Áo cơm tử, cày bừa sinh. Công việc lao động tay chân đã làm tan lìa mộng.

“Em ơi nếu mộng không thành thì sao, mua Tiêu ban lộ uống vô lành liền”. Con nít ưa hát hỏng bậy bạ nhưng chẳng sai trật, đúng ở chỗ là giờ đây có thắp đuốc tìm cũng nào chộ mặt chai Tiêu ban lộ. Hơn cả qua sông luỵ đò. Quá nhiêu khê.

Kể chuyện này ra chỉ nhằm làm rõ, Thanh Bình và tôi đã chia sẻ với nhau những giây phút hồn nhiên vô ngại. Trong 19 truyện ngắn của “Thần Thánh Không Biết Yêu”, ở trang 9 nằm đầu sách là bài “Cảm Tưởng Về Ngày 30/4”, đây là khúc dạo đầu mà tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình dùng mở tiếp “cuộc phỏng vấn các trí thức văn nghệ sĩ trong và ngoài nước”. Nhận câu hỏi, tôi có ngay bài trả lời, đăng trên trang Tiền Vệ. Cũng ở Tiền Vệ do anh Hoàng Ngọc-Tuấn chăm sóc, tôi cũng góp một bài ngắn, thể theo lời yêu cầu của Nguyễn Thị Thanh Bình bày lối về cuộc chơi có dính dáng tới máu đổ (gửi bài buộc phải kèm ảnh chụp minh hoạ). Nhớ lại, xem ra chúng tôi đã từng sánh bước cùng nhau giữa một giai đoạn khá “nhiễu nhương” dạo đó.

Sinh tại Huế, tiểu sử in ở bìa sau chỉ nhiêu đó, không năm tháng chào đời, nhưng tôi hằng tin là Nguyễn Thị Thanh Bình cùng tuổi tôi. Theo kinh nghiệm bản thân, nếu cả hai cùng cất tiếng khóc một lượt khi vừa thoát khỏi cửa mình mẹ rặn, tôi nghĩ rằng gái bao giờ cũng khôn ngoan già dặn hơn trai. Sự chênh lệch có thể đo bằng hai (2) năm. Nguyễn Thị Thanh Bình vượt trội hơn tôi e cũng chừng đó tháng ngày, chẳng ngoa ngôn. Do đâu, do ở cõi viết của Nguyễn Thị Thanh Bình, cách chị tạo dựng ra những tình huống rối rắm và rồi tự mình tìm cách tháo gỡ từng nút thắt. Rất thờ ơ, mặt khác có vẻ buông xuôi, thủ phận. Ít biểu lộ giọng kêu gào, bẳn gắt. Trong văn xuôi có nhiều lúc tải đi một chút khí hậu của thi ca, như một nhịp ngắt rời hòng làm nhẹ đi cái tình huống rất mực ê chề của lòng bội phản, của những số kiếp lầm than giữa xã hội đảo điên.

Hãy thử đọc những hàng chữ mở đầu từng truyện ngắn, như ở “Một Nỗi Nhớ Bình Thường”: Đáng ra tôi cũng chẳng nên tâm sự với bạn điều gì. Tôi đã tập sống như thế, như một cái máy vô hồn vô cảm suốt hơn hai mươi lăm năm ở Mỹ rồi còn chi. Thời gian tưởng soi mòn được những đường dây của trí nhớ, của kỷ niệm nhưng kỳ thực chỉ có bây giờ, lúc trở về Việt Nam như một hồn ma tìm về mộ địa, tôi mới càng đau đớn nhận ra rằng chỉ có nơi đây (và không bao giờ là một nơi nào trên trái đất) tôi mới có thể đã sống hoặc đã chết mà thôi.

Như ở “Bản Tự Thú Của Mây”: Giờ thì tôi xin quả quyết tình yêu có thật ở trần gian. Dĩ nhiên bạn có thể nhăn mặt. Tôi cũng từng nhăn mặt như vậy. Tôi không tin. Tôi vờ như không tin. Nếu tim có đập loạn xà ngầu, tôi đổ hết cho bệnh cao máu là xong. Tôi cứ tưởng mình sẽ không tin hoài điều này. Tôi công nhận: Sự hoài nghi làm giết chết những cám dỗ ảo diệu của tình yêu. Tôi cố tình hạ giá những rung cảm tuyệt vời ấy. Tôi tự cho mình là kẻ tầm thường nên không thể mặc khải được tình yêu.

Như lối vào truyện “Chàng Ngẫu Nhiên”: Họ gặp lại sau mười bảy năm phân ly. Cả hai chợt tìm ra đáp số cho thứ tình yêu “vô lượng hải hà”. Nhất là khi chàng vẫn còn độc thân như thuở còn tắm xà bông Cô Ba. Và nàng xem chừng “yên phận tù đày” với người chồng máy móc, sáng xách cặp da đi, chiều xách cặp da về. Tối ngồi vào bàn, dí mũi vào một tờ nhật báo Mỹ hoặc dán mắt lên Tivi. Và đêm (đều đặn là đêm cuối tuần) khi phần cơ thể dưới của người đàn ông vụt trở chứng, tức thì người nàng cũng được lật ngửa ra (nàng vốn có thói quen nằm xấp ngủ). Dĩ nhiên ở trong tư thế ấy, nàng dễ dàng đón nhận mọi nồng nàn của chồng nàng. Cho đến lúc miệng người đàn ông ú ớ hoặc kêu lên xúc động, thì nàng biết ngay đêm cũng bắt đầu khó chịu với tiếng nhạc đệm khò khè.

Như bắt đầu “Quà Sinh Nhật”: Trong đoạn đời năm tháng, ít là một lần người đàn ông nào cũng muốn giải thoát mình ra khỏi vòng vây cũ mòn vợ chồng. Bằng cách này cách khác. Hoặc đơn thuần họ chỉ muốn nhắm mắt lại, lao đầu vào những phút giây mong manh tạm bợ nào đó. Họ muốn tìm kiếm một rung động mới nhưng đồng thời họ không muốn đánh mất những gì họ đang có. Một cách đáng tiếc là không một người đàn bà nào có thể chấp nhận được sự tham lam, tìm tòi của lạ và ăn gian cảm giác của họ.

Và ở “Ngoài Khung Đời”: Dạo này cứ trưa trưa, da thịt đứa con gái bỗng bừng bừng như những ngọn gió chở lửa ở bên ngoài. Trời đất hì hục quất vào nhau những cơn gió giao hoan khiến Mỹ thấy mình cũng hừng hực lây. Người Mỹ nóng ran, cảm tưởng chính ngọn lửa ấy vồ chụp lấy mình thiêu đốt đến tận cùng và điên rồ.

Và ở “Thần Thánh Không Biết Yêu” bắt đầu bằng bốn câu thơ của chính tác giả:

“Đừng hối cải tình yêu quỉ sứ
Vì chắc gì thần thánh biết yêu
Cứ sống thật cảm xúc quỉ dữ
Thiên đàng kia giả dối rất nhiều”

Cô vẫn có thói quen ôm chiếc gối có chiều dài cỡ một tên đàn ông và cong người lại như con tôm bị mắc cạn trên bến bờ cô độc nào đó. Hình như đã khá lâu cô không được ai ôm và cô cũng chẳng buồn ôm ai. Trái tim cô cơ hồ bị liệt kháng trước những bày tỏ (chân thật lẫn giả dối) của mấy con đực. Điều ngộ nghĩnh và cũng khá dễ hiểu là cô càng chạy trốn, họ càng man dại rượt theo như bầy chó đến kỳ động cỡn. “Đàn ông mà. Họ chỉ giỏi vờ vịt tuồng như đau khổ lắm- cô nói với lũ bạn- khi họ chưa dí được mình nằm xuống và nuốt chửng con mồi”. Cô nói như thể mình đã đi qua trăm ngàn những tan tành đổ vỡ.

Và ở “Nóc Nhà Ba Thế Hệ”: Đêm, vẫn như mọi đêm, người cô bấn loạn nhìn căn phòng ngủ chỉ nổi bật nhất là tấm “ri-đô” trắng bệch như giải khăn tang dần dà quấn trọn đầu, mình, và tứ chi của cô. Cô đang ở đâu đây, tầng cuối địa ngục với diêm vương mắt hí và hai con ngươi luôn bóc trần thân thể cô ra từng mảnh, săm soi đỏ ngầu dâm dục? Hay nơi đây mới chỉ là tầng đầu luyện ngục để mặc định hai con mắt của hắn, vẫn còn là nỗi thèm khát cháy bỏng muốn được vuốt ve, quỳ gối chống tay ăn tươi nuốt sống cô từng đêm.

Tất cả những trích đoạn trên gần trùng với một tâm sự, một cảnh báo rằng chốc nữa, không mấy xa, sẽ phải qua khúc quành gắt gao lắm bất trắc, tình yêu đích thực đã trôi tuột ở đằng sau, trôi bên hông hoặc mù mờ trước mặt là địa phận của xót xa, đổ vỡ, thôi vẹn toàn. Nguyễn Thị Thanh Bình rất sở trường về cách trình bày những mối tình đầy thương tật. Chị luôn hoài nghi về hai chữ hạnh phúc. Hoài nghi đi kèm với bỡn cợt. Bỡn cợt sánh đôi với dửng dưng. Văn phong rất mực thong dong, buông thả dù đang kể về những việc đắng lòng, khó tiêu hoá. Bạn thấy đó, thiên đàng luôn giả dối trong khi quỉ sứ vẫn có lắm đứa “chơi được”. Khi xác tín điều này, người đưa ra thông điệp kia phải từng trải “đi qua trăm ngàn những tan tành”. Đi tới cuối đường vẫn gượng đứng lên được. Đó là một lữ thứ biết tự sơ cứu lấy vết thương. Can trường mà cầm máu.

Những tan tành xẩy ra trong bối cảnh khởi đi từ Huế dần vào Đà Nẵng, Nha Trang, Sài Gòn rồi lưu lạc sang tới nước Mỹ. Không phút giây nào người đọc tìm nhặt chút bình yên mà chữ viết của Nguyễn Thị Thanh Bình đã dàn dựng nên. Thanh Bình chỉ là tên gọi về một bề mặt lặng sóng, phía dưới lòng sâu, biển vẫn thu cất lắm hiểm hoạ không cùng.

Tập truyện “Thần Thánh Không Biết Yêu” bao gồm: 1/ Một Nỗi Nhớ Bình Thường. 2/ Cuộc Hẹn Cuối. 3/ Bản Tự Thú Của Mây. 4/ Lạc Bóng. 5/ Tỷ Như Chim Đừng Bay. 6/ Khung Cửa Xuân. 7/ Người Đi Tìm Đoạn Kết. 8/ Chàng Ngẫu Nhiên. 9/ Quà Sinh Nhật. 10/ Bất Chợt Giữa Mùa Xuân. 11/ Rồi Mưa Cũng Trở Về. 12/ Ngoài Khung Đời. 13/ Đằng Sau Những Xuân Thì. 14/ Thần Thánh Không Biết Yêu. 15/ Không Chỉ Có Một Mùa Hè. 16/ Tháng Tư Vữa Nát. 17/ Độc Tố. 18/ Mùi Của Lửa. 19/ Nóc Nhà Ba Thế Hệ.

Người Việt Books xuất bản lần thứ nhất năm 2018. Tranh bìa của hoạ sĩ Nguyễn Trọng Khôi và đây là một trong những bìa sách đẹp nhất của năm qua. Ghi giá 15 Mỹ kim. Tôi nhận sách tặng qua trung gian nhà thơ Luân Hoán chuyển giao thành thử (dù là bạn văn) tôi vẫn không thể ghi ra ở đây địa chỉ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình, để nhỡ như có bạn cần liên lạc mua sách (có chữ ký của nữ nhân ở bên trời Virginia xa cách). Tôi đồ chừng hình như sách cũng có bán qua hệ thống Amazon (?)

Cần chú thích ở đây điểm hệ trọng, tác giả Nguyễn thị Thanh Bình từng phụ tá nhà văn chủ bút Xuân Vũ của Nguyệt san Non Nước. Cùng với nhà thơ nhà văn Hàn Song Tường (đã mất) và Giáo sư Đặng Phùng Quân chủ trương tạp chí Văn học Gió Văn. Cộng tác với hầu hết các tạp chí văn học ở hải ngoại. Góp mặt trong Tuyển Tập 23 Người Viết sau 75 (Văn Nghệ, 1988). 20 Năm Văn Học Việt Nam Hải Ngoại (Đại Nam, 1995). Tuyển Tập Thơ Văn Hải Ngoại (Văn Mới, 2000). Đối Thoại 13 Văn Thi Sĩ Nói Về Mình và Văn Học (Bùi Vĩnh Phúc thực hiện, Văn Nghệ, 2001). Truyện Ngắn Hải Ngoại (in chui trong nước do nhà thơ Trần Tiến Dũng phát hành, 2003). Tuổi Trẻ, Tập Truyện Ngắn in chung với Hàn Song Tường, Đặng Phùng Quân (Gió Văn, 2018).

Riêng tác phẩm của Nguyễn Thị Thanh Bình, đã xuất bản: Ở Đời Sống Này (tập truyện, Đại Nam, 1989). Giọt Lệ Xé Hai (tiểu thuyết, Văn Khoa, 1991). Cuối Đêm Dài (tập truyện, An Tiêm, 1993). Trốn Vào Giấc Mơ Em (tập thơ, Thanh Văn 1997). Dấu Ấn (tập truyện, Văn Mới, 2004). Thần Thánh Không Biết Yêu (tập truyện, Người Việt Books, 2018). Nhật Ký Của Những Mảnh Vỡ (thơ, Người Việt Books, 2018).

Tôi cảm ơn bạn văn Nguyễn Thị Thanh Bình vừa trao gửi món quà cuối năm. Tôi không mở riêng cho mình một thứ gọi là Facebook vì ngại nó soán đoạt nhiều thời gian, nghĩ mình chẳng có thứ gì để khoe; tuy vậy thỉnh thoảng tôi cũng có ghé mắt xem ké đó đây. Tìm thấy “Thanh Bình Thân Mến” và rồi lại nẩy sinh cảm tình khi đọc ra những chia sẻ mà bạn post lên, sự trăn trở của một người xa xứ vẫn nóng ruột tới bao hiểm hoạ đang diễn ra ở cố quận thường trực bất an.

Bạn có tin tới “ngày ấy thanh bình chắc nở hoa”? Tôi xa Đà Nẵng từ 1975, không rõ biển Thanh Bình còn đó hay nó bị chìm trôi, mất dấu theo bể dâu? Thần thánh không biết yêu chỉ là một giả định mà bạn tự đặt, đúng không? Nhưng rõ là có thứ chân lý: Cộng Sản vô thần thì muôn đời chúng đâu hiểu chữ yêu. Yêu rất đỗi bình thường như bạn, như tôi. Như những gì chúng ta từng mê mệt ăn nằm với chữ viết ròng rã hơn 40 năm qua. Tôi mong bạn vẫn luôn giữ một đốm lửa nhỏ trong tâm hoặc một lượng sóng ngầm mãi vồ vập dưới con nước phẳng lặng. Qua đó, hy vọng tôi còn nhìn thấy bạn mãi nồng nàn với cõi văn thơ lạ, một giọng kể đặc trưng riêng cõi mà bạn bày tỏ giữa “đời sống này” đang thực sự ghẻ lạnh, phôi pha.

Hồ Đình Nghiêm
Giáng Sinh 2018.

Nhị khoái

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 04/03/2019 

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Người đi, người không vác mạng qua sông. Sân ga, xe lửa nghiến đường tàu. Bao nhiêu nước mắt dâng thành sóng. Thượng lộ bình an nghẹn, chẳng nói nên lời. Lúc trước ở vào đời tám hoánh, Cuba Vietnam thay phiên chuyện thức, ngủ. Canh giữ hoà bình cho nhân loại, nguyện đặt sông núi lên đôi vai. Nay người đi lo chuyện đàm phán, đất nước này mất ăn mất ngủ đã ba hôm.

Xứ sở nào, đời thuở mô chừ dân cũng cần tứ khoái. Người vẫy tay chào, tàu chuyển bánh, mang đi mất nhị khoái của nhân dân. Về mau nghen cho chúng con được ăn, ngủ, ỉa, đái. Mà nhỡ như người thăng thiên, nói tội trời, e ỉa đái cũng cáo chung theo. Người ơi, khi gặp quả báo ăn cháo cũng gãy răng.
Người tên Un mà người nước lạ kêu thành Ủn. Mẹ nó chứ, năm con heo mà đón ủn thì hợp nhẽ quá, còn đòi gì. Kiểu tóc người vẫn được bọn bần cùng noi gương cắt giống, bầy lợn eng éc ở sân ga mừng vui ủn ỉn đường bệ dẫm chân. Hoá ra đôi ta trời sinh cùng chủng loại, cha mẹ chúng chết vẫn tỉnh như ruồi, nhưng ta có mệnh hệ gì chúng khóc vang rân. Nấm mồ song thân cỏ dại lan tràn cùng phân trâu không quỡn việc nhìn ngó, dành thời gian đứng sắp hàng trước lăng kính cẩn vào thăm người (đẹp giai) say giấc điệp. Khà khà, những điều ta dặn có lời nào thương cha nhớ mẹ đâu. Người đi, áo mỏng buông hờn tủi, giòng lệ cứ thế mãi đổ tràn. Nước mắt cạn thì còn nước tiểu, một bộ phận không nhỏ cùng trạc quần thì chẳng chừng mà cuốn trôi sông núi đặt trên vai gầy. Chưa nghe sao? Trận mưa cực đoan đã nhấn chìm 9 cung đường ở thành phố HCM, hôm bữa. Thế mới nổi lên ba chữ Hồ Chứa Mưa (sai quy trình).

Thơ đưa người đi, chừng như trước sau nam, nữ vẫn làm riêng trao gửi cho tình nhân. Đưa người ta không đưa qua sông, sao nghe tiếng sóng ở trong lòng? (Thâm Tâm). Chưa khuất đầu non đã cố nhân, Người ôi! Cho núi chuyển theo gần, Vầng trăng mười bẩy rưng rưng nhớ, Con nước đầy vơi lệ thuỷ ngân. (Đinh Hùng). Bọn tiểu tư sản ấy quả vị kỷ, chỉ lo chăm chút sự an toàn cho lứa đôi. Yêu ba lăng nhăng mà cũng bày đặt, người thế thiên hành đạo bàn chuyện nghiêng trời lệch đất như “ảnh” lỡ làm ta mất ăn mất ngủ thì thấm béo gì. Đêm nay chú không ăn không ngủ, thì đêm mai chú ăn ngủ bù, có sao đâu? Chiện nhỏ! Bác Ủn ta đó chính là bác Mao. Con bà nó, Mao mà nhằm nhò gì. Mao chết, xứ hắn có lắm đứa cười sướng sung, nhớ không? Người dân Tung cọt toàn bọn tiểu nhân, nghe tin Nhật bản bị động đất, trà đình tửu điếm ở Bắc Kinh liền giảm 50% giá để ăn mừng “chúng bị trời phạt”. Bọn trang bị thứ mặc cảm bệnh hoạn đó đang ngắm nghé, đang canh thức với giấc mộng bành trướng dòm ngó phương Nam. Chúng từng mang quân sang “dạy cho Việt Nam một bài học” vào năm 1979. Chúng sẽ dạy tiếp và dạy tiếp, chẳng rõ khi đó “sông núi đặt trên vai” có bị sứt mẻ chút nào không? Chẳng biết thành phần “còn đảng, còn mình” sẽ binh xập xám chướng theo kiểu nào? Thùng thì thủ, cù lũ thì dương?

Hú hồn, chộn rộn năm bảy bữa rồi cũng yên. Ủn đi rồi Ủn lại về, ăn bờ ngủ bụi lời thề trôi sông. Quên đi một bọn kỳ nhông, màu da thay đổi cùng tông đỏ lừ. Tiễn người chẳng thốt tạ từ, bên trời Bình Nhưỡng đã nhừ cơn giông.

Người Việt ta nên “dạy cho Ủn một bài học” bằng lời ca dao:

Còn ăn còn ngủ là tiên
Mất ăn mất ngủ tốn tiền thêm lo.

Nhưng nói nào ngay, người Việt thường mang bệnh hoài nghi đố kị: Ui, chúng quen làm bộ làm tịch để an thân chớ tình nghĩa gì. Đứa nào không khóc bù lu bù loa, chẳng mất ăn mất ngủ thì công an sẽ đến đập cửa còng về đồn hỏi cho ra nhẽ. Hổng nhớ sao, lãnh tụ (bố thằng Ủn) chết hồi nẫm, đài truyền hình tường thuật chiếu cảnh rừng hoa tự động héo úa buồn đau, chim không bay chim quên hót, nhường khoảng lặng cho con dân đứng có thứ lớp đấm ngực kêu than cùng mây xanh (nói cho đúng là mây xám) trì nặng trôi dật dờ.

Người Việt ngon cơm hơn xứ kim chi vì con rồng cháu tiên vẫn luôn đề cao tứ khoái, giờ này có thể là ngũ khoái lục khoái. Ngon cơm ở chỗ, là hồi nào tập đoàn lãnh tụ thay phiên rơi rụng đi gặp mặt người, e rằng tất cả các hàng quán vin vô cơ hội nghìn năm một thuở ấy mà đồng loạt hạ giá tới 75% ăn mừng, tiễn đưa bọn “trời không dung, đất không thu” nọ. Cơm chửi, Bún mắng, Phở quát tự dưng đâm tử tế với thực khách. Mời bác vào xơi ạ. Gớm, mấy khi mà chúng em được vui đến thế nầy, hở giời! Cơ mà…

Hồ Đình Nghiêm

Chiêm ngưỡng danh nhân Việt Nam qua nét vẽ họa sĩ Chóe

07/08/2015

tuoitre.vn

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

TTO – 30/60 bức tranh thuộc bộ sưu tập tranh vẽ chân dung các danh nhân Việt Nam chưa từng công bố của họa sĩ Chóe đã lần đầu được giới thiệu tại triển lãm “Danh nhân Việt Nam qua nét cọ của Chóe” sáng 7-8.

Chóe- Chân dung tự họa

Giáo sư Trần Văn Khê

Họa sĩ Bùi Xuân Phái

Họa sĩ Nguyễn Gia Trí

Họa sĩ Tô Ngọc Văn

Học giả Đào Duy Anh

Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị

Nhà sưu tập đồ cổ Vương Hồng Sễnh

Nhà thơ Bùi Giáng

Nhà thơ Chế Lan Viên

Nhà thơ Hàn Mạc Tử

Nhà thơ Huy Cận

Nhà thơ Lưu Trọng Lư

Nhà thơ Nguyễn Bính

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp

Nhà thơ Tản Đà

Nhà thơ Thế Lữ

Nhà thơ Xuân Diệu

Nhà văn Nam Cao

Nhà văn Ngô Tất Tố

Nhà văn Nguyễn Tuân

Nhà văn Sơn Nam

Nhà văn Tô Hoài

Nhà văn Vũ Trọng Phụng

Nhạc sĩ Lê Thương

Nhạc sĩ Phạm Duy

Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

Nhạc sĩ Văn Cao

Dâu bể trùng phùng

Huy Văn Trương

Posted on April 21, 2019 by Lê Thy

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Chương 5
Cây cầu trên sông Đa Nhim

Xe chạy được hơn nửa giờ trên Quốc lộ 20, khúc đường này cong queo, ngoằn ngoèo như một con rắn, tôi quay đầu nhìn sang bên phải, cây cối thi nhau chạy giật lùi trong cánh rừng thưa đầy lau sậy với những bụi tre gai mọc chen chúc. Thỉnh thoảng xen vào giữa vùng đất hoang dọc theo quốc lộ, là mươi ngôi nhà tranh vách đất xiêu vẹo ngả nghiêng, xóm không ra xóm, làng không ra làng. Cho đến khi xe qua khỏi đèo Ông Cố một đoạn khá xa, tôi nhìn thấy cầu Đại Ninh sơn toàn một màu trắng, hiện ra sừng sững trước mắt. Cây cầu này, tôi đã đi qua, đi lại nhiều lần vào những năm Quốc lộ 20 còn an ninh, chưa bị Việt Cộng đắp mô, chận đường xe đò để thu thuế. Cầu Đại Ninh được đúc bằng bê tông cốt sắt rất kiên cố, ánh nắng ban mai của mặt trời chiếu sáng cả một vùng quanh cầu, khiến tôi có cảm tưởng như mình đang sống trong mơ.

Tôi vẫn còn nhớ như in, dưới ánh sáng dìu dịu của hàng chục ngọn đèn néon trong phòng hành quân Trường Võ Bị Đà Lạt, Đại úy Thi công binh của trường, đứng nghiêm trước mặt Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng “Trình Thiếu tướng, tôi đã giật sập cầu Đại Ninh rồi”. Đang làm việc nhưng tôi vẫn lén nhìn, gương mặt của Đại úy Thi trông bơ phờ, mệt mỏi sau một chuyến công tác đầy khó khăn nguy hiểm. Với gương mặt đó, giọng nói đó, tôi biết Đại úy Thi nói thật, có nghĩa là ông ấy có cho nổ mìn cầu Đại Ninh. Như vậy, tại sao cho đến hôm nay, cây cầu vẫn còn đó, vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Chuyện về cây cầu Đại Ninh không bị vùi sâu dưới lòng sông Đa Nhim, chỉ có Đại úy Thi mới có câu trả lời chính xác, rõ ràng mà thôi.

Minh giảm bớt tốc độ, cho xe chạy từ từ qua cầu. Khi xe đến giữa cầu, đột nhiên Minh rà thắng, chiếc xe chạy chậm hẳn lại. Tôi nhìn về phía trước, trên mặt cầu chỗ mí nối, nơi mà hai tấm bê tông khổng lồ với bề dày hơn cả một thước tây, tiếp giáp nhau. Mặt đường ở đây bị sụp xuống tạo ra độ chênh lệch, một bên thấp, một bên cao khoảng năm, sáu tấc. Vết sụp chạy dọc theo bề ngang từ trái qua phải của cầu. Một thân cây thông khá lớn, đường kính cũng vào khoảng sáu tấc được thả xuống dọc theo vết nứt, nhờ vậy mà xe cộ vẫn có thể lưu thông được, tuy có hơi khó khăn chút đỉnh. Bất chợt một tia sáng lóe lên trong đầu, tôi hấp tấp nói với Minh:

-Anh ngừng xe lại cho tôi xuống đây.

Minh nói nhanh.

-Luật không cho phép ngừng xe ở giữa cầu.

Tôi cằn nhằn.

-Anh là một người quyền biến lanh lẹ, tại sao anh lại có thể nói một câu ngớ ngẩn như vậy. Từ tối hôm qua tới giờ, tôi đếm được ba chiếc xe chạy ngược chiều với mình, đường sá vắng tanh, không một đồn bót, không một trạm kiểm soát. Lính Việt Cộng còn đang lo ăn mừng chiến thắng, Quốc lộ 20 này, ngày hôm nay coi như là của riêng anh. Anh ngừng xe lại cho tôi xuống thì đã sao, có chết thằng Tây nào không? Hay là anh sợ lính Việt Cộng tịch thu bằng lái xe của anh.

Minh hỏi tôi.

Hình minh họa

-Tại sao cậu muốn xuống ở đây?

-Tôi cần tìm hiểu chút việc riêng.

Khi xe đã dừng hẳn lại, tôi phóng cái ào ra khỏi xe, miệng nói to với Cúc mà mục đích là muốn cho Minh nghe luôn.

-Em với anh Minh, qua khỏi cầu rồi đợi anh ở đó.

Tôi đứng trên thân cây thông, ngay mí nối giữa cầu, đưa mắt nhìn quanh. Mặt đường chỉ bị hư hại nhẹ tại một điểm. Thiệt hại nặng nhất của cây cầu, là độ chênh lệch cao thấp khoảng sáu tấc giữa hai tấm bê tông khổng lồ.

Từ giữa cầu, tôi thong thả vừa đi vừa đếm cho đến khi qua hết cầu, tất cả được một trăm hai mươi bước. Tôi biết, khoảng cách trung bình giữa hai bước chân của tôi là bảy mươi phân, như vậy một nửa cây cầu, sẽ có chiều dài khoảng tám mươi lăm mét.

Tôi bước lên xe, câu đầu tiên tôi hỏi Minh.

-Bên Nhảy Dù, anh Minh có biết gì về việc sử dụng mìn và chất nổ hay không?

Minh nổ máy xe, gài số rồi nói với tôi.

-Lính như tôi thì mù tịt về chuyên môn, tôi hoàn toàn không biết gì về chất nổ, còn về mìn claymore, thì bất cứ người lính Nhảy Dù nào cũng đều sử dụng thuần thục. Trước khi gài một trái mìn claymore, tôi chỉ cần nhớ mấy động tác sau đây: ôm cái mặt lõm của trái mìn áp vào bụng, hướng mặt lồi về phía địch, đặt trái mìn xuống đất, gắn ngòi nổ, kéo dây điện, kích hỏa bằng cách bấm vào con cóc. Tất cả sự hiểu biết của tôi về mìn claymore chỉ có vậy. Ngoài ra, tôi không biết gì hơn nữa.

Tôi cười với Minh.

-Tôi cũng như anh thôi, sau gần bảy năm làm việc ở Trường Võ Bị, bao nhiêu bài học về mìn cũng như chất nổ ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi gởi trả lại cho huấn luyện viên hết rồi. Có điều này, tôi muốn hỏi anh. Tết Mậu Thân, khi anh tung trái lựu đạn để diệt mấy tên Việt Cộng đóng chốt, anh có nhìn theo cho đến khi nó nổ hay không?

Minh cười trong cổ họng.

-Trước khi quăng lựu đạn, tôi đã liếc mắt tìm sẵn nơi an toàn. Khi trái lựu đạn rời khỏi tay, tôi núp ngay lập tức, ở đó mà coi với ngó. Tuy vậy do kinh nghiệm nơi chiến trường, tôi cũng biết được một điều, thông thường lựu đạn chạm đất rồi mới nổ, miểng lựu đạn sẽ bung mạnh lên trời theo hình chữ V, hình cái nón lá lật ngửa.

Tôi nói.

-Anh Minh nhớ giùm tôi cái điểm này.

Minh hỏi.

-Tại sao tôi phải nhớ.

-Chút nữa tôi sẽ giải thích cho anh biết.

Tôi nhắc Minh.

Hình minh họa

-Anh còn nhớ không, lúc ở Sài Gòn tôi có nói với anh là cầu Đại Ninh đã bị giật sập. Vậy mà, trong thực tế cây cầu vẫn còn nguyên vẹn như anh thấy đó. Để giải thích tại sao có chuyện như vậy, cách suy luận của tôi như thế này, anh Minh nghe thử coi có hợp lý không? Khoảng tám giờ tối của hơn một tháng về trước, Đại úy Thi công binh Trường Võ Bị, nhận được khẩu lệnh trực tiếp từ Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Đà Lạt, đi phá cầu Đại Ninh. Đại úy Thi dùng một chiếc xe dodge chở đầy hợp chất C4, cùng với bốn người lính công binh của ông ta đi phá cầu. Mười một giờ đêm, năm người đến nơi, họ dừng xe trên cầu Đại Ninh rồi quan sát hiện trường. Dưới sông, ở độ sâu ước chừng mười lăm thước, từng làn hơi nước lạnh lẽo từ mặt sông Đa Nhim bốc lên cộng với những cơn gió rét lùa qua vách núi, lòn dưới chân cầu. Cái lạnh thấu xương của núi rừng cao nguyên vào lúc nửa đêm về sáng, khiến cho mọi người run cầm cập. Tối hôm đó, nếu tôi nhớ không lầm thì hình như là đêm rằm hay mười sáu gì đó. Cho dù là có ánh trăng, cũng không đủ soi sáng khắp dưới gầm cầu, để lính công binh thực hiện công tác đặt chất nổ. Thường thì khi muốn phá sập một cây cầu, người ta phải cột chất nổ vào chân cầu, vì đó là điểm trọng yếu của nó. Chân cầu gãy, cầu sẽ sập. Những người lính công binh của Đại úy Thi, không phải là biệt kích, làm sao họ có thể treo mình dưới những sợi dây dài hàng chục mét, đánh đu bên hông hoặc dưới gầm cầu tối đen, để cột chất nổ vào chân cầu. Nội cái chuyện đong đưa trong gió như là làm xiếc, cũng đủ cho mấy anh lính công binh mất hồn, sơ ý sẩy tay là rơi tòm xuống sông, kể như toi mạng. Chuyện mỗi anh Công binh phải ôm theo vài chục kí chất nổ để cột vào chân cầu, gài ngòi nổ, chạy dây dẫn điện, đó là chuyện làm không tưởng, ngoài khả năng của họ.

Minh chận ngang.

-Cậu Quân nói là cậu không biết gì về chất nổ, sao cậu lại có thể diễn tả một cách rành rọt như vậy.

Tôi cười.

-Tất cả từ ciné, tôi coi nhiều phim chiến tranh với những toán Biệt kích quân được huấn luyện thuần thục, công tác của họ là xâm nhập vào đất địch, dùng chất nổ phá hoại cầu cống, đường xá của đối phương. Kiến thức về phá cầu, là do tôi học được trong những phim chiến tranh.

Tôi ngưng nói, quay tìm lon nước bên chỗ Cúc ngồi, ực một hơi rồi mới nói tiếp.

-Không thể làm gì khác vì những khó khăn, trở ngại như trên, Đại úy Thi sau khi quan sát hiện trường kỹ càng ông de xe đến giữa cầu, ra lịnh cho lính của ông ta đem tất cả chất nổ từ chiếc xe dodge xuống, sắp thành đống ngay mí nối giữa cầu Đại Ninh, chỗ cây thông mà anh vừa cho xe chạy qua, gắn ngòi nổ. Khi mọi việc xong xuôi, Đại úy Thi cùng toán lính của ông ta lăn cuộn dây điện về phía bên này cầu, thuộc địa phận Đà Lạt. Khoảng cách từ khối chất nổ, cho đến nơi an toàn mà Đại úy Thi cùng lính của ông ta ẩn nấp, ít ra cũng phải hơn tám mươi lăm mét. Để cho chắc ăn, tôi đoán nơi họ ẩn núp phải cách xa nơi đặt chất nổ, tối thiểu là trên một trăm mét. Cuối cùng Đại úy Thi chính tay bấm nút để kích hỏa, nhiều tia chớp xé toạc màn đêm tiếp theo là tiếng nổ tưởng chừng như rung chuyển cả đất trời, một cột lửa khổng lồ cao vài chục mét bùng lên soi sáng cả một vùng. Cầu Đại Ninh hoàn toàn chìm trong biển lửa, có nghĩa là cầu đã bị chôn vùi dưới sông Đa Nhim. Đại úy Thi cùng toán lính của ông ta leo lên chiếc xe dodge đã quay đầu sẵn, chạy về Đà Lạt. Đại úy Thi tin chắc rằng công tác hoàn tất tốt đẹp, mà không kiểm soát lại hiện trường, cho nên ông ta mới báo cáo với Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng là cây cầu đã sập rồi. Có một điều khá quan trọng mà Đại úy Thi quên nghĩ đến là, khối chất nổ mà ông ấy đặt trên mặt cầu, khi nổ sẽ tỏa ra như hình cái nón lá lật ngửa. Tất cả sức công phá của nó bung mạnh lên trời cao, giống như trái lựu đạn mà anh Minh cho nổ, khi diệt mấy tên Việt Cộng đóng chốt. Đỉnh cái nón lá chỉ là một điểm nhỏ nằm trên mặt đường của cây cầu, nơi đó, sức phá hủy của chất nổ gần như là con số không. Cho dù Đại úy Thi có đặt thêm hàng tấn chất nổ vào đó, cũng không làm cho cây cầu sập được.

Tôi nhìn Minh rồi kết luận.

Hình minh họa

-Tôi đã tự đặt mình vào vị trí của Đại úy Thi, và tôi biết bất cứ ai ở vào hoàn cảnh đó, cũng sẽ hành sử giống như ông ấy mà thôi. Anh Minh nghĩ coi tôi suy luận như vậy có đúng không?

Minh nhìn tôi rồi gật đầu.

-Có thể là đúng, dấu vết sụp ở giữa cầu chứng tỏ là Đại úy Thi có cho nổ mìn tại đó.

Cúc đang chăm chú lắng nghe tôi nói chuyện với Minh, bỗng nàng đột ngột hỏi tôi.

-Anh à, tại sao anh quan tâm nhiều đến chuyện cây cầu như vậy, em chỉ muốn mau mau về Đà Lạt để gặp ba má.

Minh hỏi Cúc với giọng đầy ngạc nhiên.

-Ủa, bộ ba má cô còn kẹt ở Đà Lạt sao? Chuyện này mệt cầm canh à nghen, Việt Cộng mà bắt được ba cô, khác nào họ trúng số độc đắc. Tài xế xe tải như tôi mà cũng biết rằng, cứ nhắm mắt mà khảo ba của cô, thế nào cũng lòi ra của, lòi ra đô la.

Cúc cười thích thú.

-Anh nói đúng, nhưng ba tôi kẹt ở bên Mỹ rồi, ở Đà Lạt là ba má chồng của tôi. Gần hai tháng rồi, tôi chưa được gặp ông bà, cho nên tôi mới nóng lòng như vậy.

Nghe Cúc nói, tôi vội hỏi Minh.

-Anh Minh à, mấy giờ mình tới Đà Lạt?

Liếc mắt nhìn đồng hồ đeo tay, Minh nói.

-Chậm lắm là mười giờ.

Khi xe chạy ngang qua khu phố Hòa Bình, tôi nhìn quanh, người đâu không thấy, chỉ thấy cờ đỏ sao vàng treo khắp phố phường. Nếu đem so sánh cờ của nước Việt Nam Cộng Sản với cờ của Trung Cộng, nó giống nhau đến chín mươi phần trăm. Cái khác biệt duy nhất là trên lá cờ của Tàu Cộng ngoài một cái ngôi sao vàng ở giữa, họ thêm vào lá cờ bốn cái ngôi sao vàng nhỏ, Mãn, Tạng, Hồi, Mông. Chừng đó chi tiết cho tôi thấy, Việt Nam Cộng Sản đã thần phục Thiên Triều, đã tự đặt nước Việt Nam vào vị trí là chư hầu của Tàu Cộng, tất cả được thể hiện qua lá cờ đỏ sao vàng, một lá cờ nô lệ lai căn như vậy không thể nào được coi là cờ của người Việt Nam. Cả Thành phố Đà Lạt nhuộm bởi một màu đỏ rực, xen lẫn vào đó lác đác dăm ba lá cờ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Đà Lạt vốn là thành phố du lịch của Việt Nam, có nhịp sống trầm lặng yên tĩnh, với nét đẹp của hoa Đào và sương mù, đến hôm nay sau hơn một tháng giải phóng, trông nó cứ như là một góc phố nào đó của Tàu Cộng, một góc phố chết trong nô lệ, chết trong rừng cờ đỏ, sao vàng.

Theo sự hướng dẫn của tôi, Minh ngừng xe trước nhà ba tôi. Nhìn căn nhà, Minh rối rít khen:

-Nhà đẹp quá mạng, của cậu hả?

Tôi cười với Minh.

-Anh nghĩ sao mà hỏi như vậy, tôi chỉ có cái mạng cùi, đây là nhà của ba tôi.

Tôi bắt tay Minh với chút ngập ngừng, không hiểu sao, tôi lại lừng khừng nửa muốn xuống xe, nửa muốn nấn ná thêm chút nữa. Có phải vì chút tình giữa hai người lính Việt Nam Cộng Hòa hay không? Hay là tôi thích tính tình bộc trực, thẳng như ruột ngựa của Minh, của người Miền Nam. Chắc là cả hai.

Tuồng thăm Thầy cũ!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on June 16th, 2022

Post by Sơn râu 24 Feb 2024

Tranh Bảo Huân

Chuyện rằng: Năm Tự Ðức thứ mười lăm (1862), ông Phan Thanh Giản vâng mạng triều đình vào Nam nhậm chức Kinh Lược ba tỉnh Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Khi đến Gia Ðịnh, ông ghé Gò Vấp để viếng tôn sư Võ Trường Toản. Lúc gần đến nhà tranh của thầy thì ông truyền xếp võng điều và lọng lại. Ông xuống đi bộ vào bái thăm thầy.

Thầy trò gặp gỡ nhau khôn xiết vui mừng, vì cách nhau đã nhiều năm! Hỏi thăm việc, hàn huyên xong rồi, ông Phan Thanh Giản bái tạ thầy mà đi Vĩnh Long.

Ông dâng lên cho tôn sư hai nén bạc để uống trà. Tôn sư Võ Trường Toản đáp lại, cho học trò cũ của mình một chục trái bắp! Ông Phan thọ lãnh bắp của tôn sư cho, bèn bổn thân xách lấy, chẳng để cho quân lính nó cầm. Ði một đỗi xa ông mới truyền sửa võng lọng mà lên lại.

Thiệt là tình thầy trò giữa những con người có học và có hạnh! “Gặp vận vinh vang thêm toại chí, nhớ thương sư phụ phận con em!”

o O o

Ðó là tình nghĩa thầy trò hồi xưa. Năm 1975, CS Bắc Việt xích hóa được Miền Nam. Ngạc nhiên thay, thầy cô ‘bị’ chúng xưng tụng, thổi phình lên như bong bóng bay lên tới tận mây xanh.

Nào là kỹ sư tâm hồn, nhà giáo nhân dân (chớ không phải nhăn răng).  Rồi mười năm trồng cây; trăm năm trồng người.

Và bà con mình mới biết ngày 20 tháng Mười Một hằng năm là “Ngày nhà giáo”. Ðói chết cha mà ngày nầy học trò chỉ tặng hoa thay vì cho thầy cô vài lít gạo.

Chắc thấy mấy cô đói quá xá, đói lòi cả hai cái lỗ tai, nên mấy năm trước, bọn quan lớn thị xã Hồng Lĩnh tỉnh Hà Tĩnh rủ rê một đám cô giáo đi ‘tiếp khách’. Cả đám mất nết nầy nhậu, hát hò để ôm vai, bá cổ để ‘an’ rồi ‘ủi’ mấy cô.

Quan lèng èng cỡ cấp thị xã, bọn bồi bút báo quốc doanh nó đâu có ngán. Nó la rùm lên là: “Sao tụi bây lại dám điều mấy cô giáo đi ‘tiếp khách’?”

Hồi xưa trong Nam, động từ phụ nữ ‘tiếp khách’ nghĩa là đi làm gái, đi ‘tiếp khách’ làng chơi. Tui e mấy nhà báo nầy dám ám chỉ cái vụ mấy quan khoái nhậu thịt sống nhưng sạch lắm đó đa. Vì đất Hà Tĩnh có núi Hồng Lĩnh, có dòng sông Lam, chính là quê hương của thi hào Nguyễn Du tác giả truyện Kiều. Thúy Kiều từng ‘tiếp khách’ Thúc Sinh: “Nguyệt hoa hoa nguyệt não nùng. Ðêm xuân ai dễ cầm lòng được chăng?”

Thì thử hỏi mấy con heo nọc Hồng Lĩnh nầy lúc ăn nhậu ngà ngà rồi cọ quẹt, bốc hốt tùm lum. Nếu cô giáo đã có chồng hay có người yêu rồi thì họ nghĩ ra sao? Mấy ổng có đành nhắm mắt làm ngơ?  Ðành nuốt nhục mà chấp nhận cho người vợ trẻ hay người yêu của mình đi ‘tiếp khách’ hay không?

o O o

Cái xã hội thời CS, đạo đức tôn sư trọng đạo đã suy đồi đến thế thì không phải chỉ quý cô bị làm nhục mà ngay cả mấy ông giáo già nó cũng không tha.

Ninh Bình, mấy năm trước, có Trùm CSVN rùm beng về thăm trường cũ. Báo chí quốc doanh Miền Bắc đua nhau liếm gót Trần Ðại Quang. Tụi nó ca là: “Với thầy và trò Trường THPT Kim Sơn B (Ninh Bình), Chủ tịch nước Trần Ðại Quang không chỉ là người trò giỏi, người con ưu tú của quê hương, người từng bắt đom đóm làm đèn để học. Ðó là tấm gương sáng về nghị lực vượt khó để bao thế hệ học sinh noi theo.”

Rồi quan chức sở tại bắt Vũ Xuân Sinh, Hiệu trưởng trường nầy phải ‘bợ đít’ Trần Ðại Quang. “Lần về dự khánh thành trường năm 2016, Chủ tịch nước đã căn dặn thầy trò cố gắng dạy và học để xứng đáng với những thế hệ đi trước.

Nghĩa là Trần Ðại Quang về trường với tư cách là học trò cũ nhưng dạy lại cả thầy trường nầy. Vậy là thầy bèn hô khẩu hiệu hạ quyết tâm: “Dạy tốt! Học tốt!” Cái gì cũng tốt hết ráo! Kể cả chuyện tào lao Bắc đế cũng tốt. “Giờ hay tin bác mất, thầy trò nhà trường rất đau buồn nhưng hứa sẽ cố gắng hơn nữa trong dạy và học để xứng đáng với lời căn dặn của bác”

(Xin độc giả chú ý cách tên bồi bút nầy dùng chữ ‘bác’ để nịnh. Nhưng nó cũng chơi đểu, nó không viết hoa chữ bác. Viết hoa là ‘Bác’ khác. Không viết hoa, chữ bác có nghĩa là anh. Tay nầy hỗn, hắn dám kêu Chủ tịch nước VNCS là anh).

Không những thế, chúng còn bắt ông Phạm Thạnh (81 tuổi) là Hiệu trưởng năm xưa đã từng dạy dỗ Chủ tịch nước Trần Ðại Quang phải nịnh.

Hơn 80 tuổi, mái đầu đã bạc trắng, nặng tai; nên mỗi khi nói chuyện với khách, thầy Thạnh luôn phải có vợ túc trực bên để…phiên dịch. Dẫu nghễnh ngãng như vậy nhưng thầy của Chủ tịch nước Trần Ðại Quang tự hào kể chuyện trò cũ: “Có lần xem báo thấy học trò của mình tiếp xúc gần gũi với đồng bào dân tộc trong Tây Nguyên, thầy đã nghĩ: “Anh ấy rồi sẽ là Ðinh Bộ Lĩnh thứ 2 của Ninh Bình”. Ha ha!

o O o

Báo chí quốc doanh trong Nam thấy đồng nghiệp ngoài Bắc nịnh dơ như vậy, dẫu lòng ấm ức nhưng vẫn phải ráng chờ Trần Ðại Quang đi bán muối rồi mới dám lôi Francois Sadi Carnot, Tổng thống nước Pháp về thăm thầy cũ trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư của mấy thầy Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Ðặng Ðình Phúc và Ðỗ Thận soạn do Nha Học chính Ðông Pháp xuất bản ra mà chửi một bài là: “Nhân một lần về thăm quê nhà, khi đi ngang qua trường làng, trông thấy người thầy dạy mình lúc bé, bây giờ đã rất già nhưng vẫn còn đi dạy, ông Carnot ghé vào, đến ngay trước mặt người thầy cũ, lễ phép: “Chào thầy, con là Carnot, thầy còn nhớ con không?”.

Ông Carnot, Tổng thống Pháp, không yêu cầu chính quyền địa phương ‘tiền hô hậu ủng’ đón mình, cũng không cần dọn dẹp trường lớp, trang hoàng lộng lẫy, với hàng rào danh dự học trò để chào mừng.

Ðối với người thầy giáo già, cũng chẳng cần biết có ‘ông lớn’ nào tới, chẳng cần chạy vội ra cổng trường xum xoe đón tiếp rồi hộ tống vào lớp xem xét, huấn thị này nọ. Thầy vẫn dạy học bình thường như mọi ngày. Tổng thống Carnot quyền uy hôm nay vẫn là cậu học trò nhỏ tinh nghịch của ngày xưa đã từng bị thầy véo tai, bắt phạt quỳ gối.

o O o

Bây giờ là chuyện tình thầy trò mới vừa xảy ra bên Úc! Một trong những vỡ diễn coi bộ rất ăn khách suốt 5 tuần vận động tranh cử vừa qua là tuồng: “Tui nghèo nhưng tui hổng có ngu!”

Ðảng Lao Ðộng Liên bang Úc sau 9 năm làm đối lập vừa thắng cử, chiếm được chánh quyền. Tân Thủ tướng Anthony Albanese hay khoe: “Tui không có Tía. Má tui làm nhân viên vệ sinh, chuyên nghề quét dọn, lau chùi. Tui ở ‘housing’, (nhà chánh phủ cho dân nghèo mướn). Giờ tui là Thủ tướng thứ 31 của nước Úc Kangaroo.

Thấy tuồng ăn khách quá xá, quà xa nên giờ kép Jason Clare ra hát bài ‘Trường cũ tình xưa’! “Hôm nay tôi trở về thăm trường cũ. Cây dương đầu trường còn khắc hàng tên. Thầy đó trường đây bạn hữu đâu rồi?”

Thông thường, những người làm quan lớn ở Úc xuất thân từ những trường tư rất xịn. Trường xịn chặt phụ huynh mỗi năm hàng chục ngàn đô tiền học phí cho con. Ðầu tư như vậy không bao giờ lỗ cho dù cậu ấm, cô chiêu học dở ẹc. Sao kỳ vậy? Dễ hiểu mà bạn học đứa nào cũng giàu, lớn lên, là bạn học cũ dựa vào nhau thành băng đảng rất dễ kiếm lợi danh.

Tuy nhiên cũng có quan lớn học trường công ở khu vực nghèo vì nhà nghèo.

Cabramatta thủ đô của người Việt Nam tị nạn ở Úc có trường công lập Cabramatta Public School. Dân biểu Jason Clare, có vợ Việt Nam, là tân Bộ trưởng Giáo dục Liên bang Úc mới trở về thăm trường cũ. Jason Clare ôm người thầy cũ là cô Fry rồi tấm tức khóc. Cô Fry xoa lưng trò cũ để ông Bộ trưởng Giáo dục Liên bang dằn cơn xúc động.

(Sau bao nhiêu năm, Jason Clare giờ là sếp của nhiều sếp của cô Fry; nghĩa là nó là sếp bự nhứt, nhưng nó không ăn chuối)

Kết luận tuồng về thăm thầy cũ của Úc có nước mắt. Tuồng của CSBV thì diễn hài. Jason Clare diễn giỏi. Còn Trần Ðại Quang giễu dở.

ĐXT

Truông Nhà Hồ! Phá Tam Giang!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu.

Post by Sơn râu 24 Feb 2024

Mùa hè đỏ lửa năm 1972, CS Bắc Việt điên cuồng vét hết thanh, thiếu niên miền Bắc ném liên hồi vào chảo lửa chiến tranh.
Nhà thơ CS Lê Bá Dương viết:

“Ðò lên Thạch Hãn ơi… chèo nhẹ.
Ðáy sông còn đó bạn tôi nằm.
Có tuổi hai mươi thành sóng nước.
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm!”

“Có tuổi hai mươi thành sóng nước” chưa hoàn toàn chính xác lắm đâu; vì trong nghĩa trang Trường Sơn, cổ thành Quảng Trị bây giờ, có nhiều bia mộ của những người lính CS Bắc Việt, ghi năm sinh là 1953 hoặc 1954.
(Nghĩa là lúc đó những người lính sinh Bắc tử Nam nầy vẫn còn tuổi thiếu niên chỉ vừa 18, 19 tuổi).

***

Tháng Tư, năm 1972, hai sư đoàn CS Bắc Việt tràn qua sông Bến Hải cộng thêm một sư đoàn từ Lào về tấn công Cam Lộ, La Vang, Hải Lăng chiếm được thị xã Quảng Trị. Quân ta buộc phải đoạn chiến, lui binh về bờ Nam sông Mỹ Chánh.
Ðến tháng Sáu, năm 1972, quân ta chuẩn bị phản công để chiếm lại cổ thành Quảng Trị. Một chiều tháng Sáu, năm 1972 tháp tùng Tướng Bùi Thế Lân, Tư lịnh Sư đoàn TQLC, nhà thơ Tô Thùy Yên bay trên phá Tam Giang, gió lộng, mênh mông nước trời phía dưới.
Nhớ câu ca dao sầu vạn cổ:

“Nhớ em anh cũng muốn vô.
Sợ Truông nhà Hồ sợ Phá Tam Giang”

Nhà thơ Tô Thùy Yên cảm tác thành bài: “Chiều qua Phá Tam Giang”, là một trong những tuyệt tác về thân phận nhỏ bé của người lính cả đôi bên, trong chiến tranh, trong vùng đất điêu tàn bị tử thần của cuộc chiến khốc liệt bủa vây.

Ngày xưa, muốn đi vào hai châu Ô, châu Rí (Lý) của nhà Hồ tức Chiêm Thành thì chỉ có đường bộ và đường thủy. Ðường bộ thì phải qua Truông nhà Hồ và đường thủy thì phải vào Phá Tam Giang.

“Anh đi Rạch Giá qua truông.
Gió rung ngọn sậy ngồi buồn nhớ em!”.

Truông là vùng đất hoang, rộng bạt ngàn, có nhiều cây cối um tùm, lau sậy, có đường mòn nhưng hai bên và phía trên đầu người đi đều có thân cây và cành lá bao phủ.
Nên ngày xưa bọn cướp tàn ác chọn Truông nhà Hồ làm sào huyệt để cướp bóc lương dân. Ngày nay, Truông nhà Hồ trải dài hai bên Quốc lộ I, thuộc 2 xã Vĩnh Long và Vĩnh Tú, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Còn Phá Tam Giang diện tích khoảng 52km², trải dài khoảng 24km, chỉ sâu từ 2m đến 4m. Mùa nước đổ tràn về mới có nơi sâu tới 7m. Mặt nước rộng mênh mông do ba con sông: sông Ô Lâu (Phong Ðiền), sông Bồ (Hương Trà) và sông Hương (chạy qua Cố đô Huế) đổ về thông ra biển bằng Cửa Thuận An quá hẹp nên hiểm trở, sóng gió trên cửa Phá Tam Giang thường rất dữ dội. Sóng to đến mức làm cho thuyền bè ra vào cửa thường bị chìm.

***

Nhà văn Sơn Nam từng nói: “Muốn viết văn, muốn hiểu văn là phải biết Sử Ðịa!” quả không sai!
Khi biết chút đỉnh về Truông về Phá, chúng ta đọc “Chiều qua Phá Tam Giang của nhà thơ Tô Thùy Yên!
Nhà thơ Tô Thùy Yên là nhà thơ tài hoa duy nhứt gốc Nam Bộ trong nhóm Sáng Tạo. Chữ ông dùng tưởng chừng như đã cũ nhưng lại mang cái nghĩa mới toanh.
Như trong bài Trường Sa Hành, Tô Thùy Yên viết:

“Mùa Ðông Bắc gió miên man thổi.
Khiến cả lòng ta cũng rách tưa”.

Chữ ‘tưa’ ở đây chưa hẳn là ‘tả tơi’ hoặc như một nhà văn gốc Bắc đoán là chữ đã xưa, dùng cuối thế kỷ 19 trong từ điển Ðại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huình – Tịnh Paulus được nhà thơ Tô Thùy Yên làm mới lại!
Không hẳn vậy đâu! Người Miền Nam, nhất là miệt Lục tỉnh Nam Kỳ, vẫn còn dùng ‘tưa’ đó chứ. Như khi ăn trái khóm, trái thơm nhiều quá lưỡi bị ‘tưa’ đi. Hay gió thổi mạnh làm tàu lá chuối bị ‘tưa’ đi, tức là bị rách nhiều khoảng cách nhau chừng một gang tay.
Thơ của Tô Thùy Yên chứng tỏ được hai điều: Một là: bất cứ một phương ngữ Bắc, Trung, Nam nếu được nhà thơ dùng một cách xảo diệu cũng hay như thường hè!
Cái thứ hai là nhà thơ Tô Thùy Yên làm tan biến đi cái định kiến thơ hay dở theo vùng miền. Miền nào cũng có nhà thơ hay hết ráo. Thơ không có ‘chủ nghĩa lý lịch’ chen vô nhe!

Nhà thơ Tô Thùy Yên cũng từng nói: Ðộc giả được quyền hiểu thơ theo cách nhìn của chính mình! Thế nên khi nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc từ đoạn 2 viết về tình yêu của một bài thơ ‘Chiều Trên Phá Tam Giang’ dù âm nhạc có tánh lan tỏa rộng, làm nhiều người biết đến bài thơ hơn nhưng Tô Thùy Yên bảo đó không phải tứ thơ ông hài lòng nhất trong bài nhưng vẫn tôn trọng quyền của độc giả phổ thơ ông!
Riêng thiển ý, người viết lại thích đoạn 1 của bài thơ nơi Tô Thùy Yên cắt nghĩa thân phận của những người lính miền Bắc phải sinh Bắc tử Nam vì tham vọng của một lũ điên!

Chiếc trực thăng bay là mặt nước
Như cơn mộng nhanh
Phá Tam Giang, phá Tam Giang
Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát
Cát hôn mê, nước miệt mài trôi
Ngó xuống cảm thương người lỡ bước
Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi

Phá Tam Giang, phá Tam Giang
Nhớ câu ca dao sầu vạn cổ…

…Ta ngó thấy ghe thuyền quần tụ
Từng đoàn như trẻ nhỏ ghê ma
Ta ngó thấy thùy dương gãy rủ
Từng cây như nỗi bất an già

Ta ngó thấy rào chà cản nước
Từng hàng như nỗ lực lao đao
Ta ngó thấy nhà cửa trốc nóc
Từng ngôi như mặt đất đang gào

Vì sao ngươi tới đây?
Hỡi gã cộng quân sốt rét, đói
Xích lời nguyền sinh Bắc, tử Nam

Vì sao ta tới đây?
Lòng xót xa, thân xác mỏi mòn
Dưới mắt người làm tên lính nguỵ

Ví dầu ngươi bắn rụng ta
Như tiếng hét
Xé hư không bặt im
Chuyện cũng thành vô ích

Ví dầu ngươi gục
Vì bom đạn bất dung
Thi thể chẳng ai thâu
Nào có chi đáng kể

Nghĩ cho cùng, nghĩ cho cùng
Ví dầu các việc ngươi làm, các việc ta làm
Có cùng gom góp lại
Mặt đất này đổi khác được bao nhiêu?

Ngươi há chẳng thấy sao
Phá Tam Giang, phá Tam Giang ngày rày đâu đã cạn?
Ta phá lên cười, ta phá lên cười

Khi tưởng tượng ngươi cùng ta gặp gỡ
Ở cõi âm nào ngươi vốn không tin
Hỏi nhau chơi thoả chút tính bông đùa:

Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh
Cho tổ quốc Việt Nam – một tổ quốc…?
Các việc ngươi làm
Ngươi tưởng chừng ghê gớm lắm

Các việc ta làm
Ta xét thấy chẳng ra chi
Nên ngươi hăng điên, còn ta ảm đạm
Khi cùng làm những việc như nhau

Ta tự hỏi vì sao
(Còn ngươi, có bao giờ ngươi tự hỏi?)
Và ta tự trả lời
(Có bao giờ ngươi tự trả lời?)

Chúng ta khác nào cánh quạt phi cơ
Phải quạt, phải quạt
Chỉ vì nó phải quạt

Ta thương ta yếu hèn
Ta thương ngươi khờ khạo
Nên cả hai cùng cam phận quay cuồng
Nên cả hai cùng mắc đường Lịch Sử
Cùng mê sa một con đĩ thập thành

Chiều trên phá Tam Giang rộn ràng tiếng chiến trận
Chiều trên phá Tam Giang im lìm âm cảm thông.

***

Nhà thơ Tô Thùy Yên đã từ trần lúc 9 giờ 15 phút tối Thứ Ba, ngày 21, tháng Năm, 2019, nhằm ngày 17, tháng Tư, năm Kỷ Hợi, tại Houston Texas, hưởng thọ 82 tuổi.
Ông mất đi nhưng vẫn còn để lại rất nhiều bài thơ hay. Trong số đó có bài: “Chiều Trên Phá Tam Giang” viết về chiến tranh, tình yêu và thân phận con người.
Phải công nhận đó là một trong những bài thơ hay nhất của nền văn học miền Nam viết về cuộc chiến Việt Nam.
Tôi xin cảm ơn ông!

Đoàn Xuân Thu.
Melbourne.

Trở về từ cõi chết!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 24 Feb 2024

Theo tác giả người Mỹ, Guenter Lewy, chỉ trong vòng 9 năm, từ 1965 tới 1974, thì cuộc chiến tranh xâm lược của CS Bắc Việt vào Miền Nam Việt Nam đã làm:

Quân đội VNCH và Ðồng minh chết: 282,000.

CS Bắc Việt và VC chết: 444,000.

Thường dân Bắc và Nam Việt Nam chết: 627,000.

Tổng cộng: 1,353,000.

Ngoài những người bị thiệt mạng, còn nhà cửa, tài sản của lương dân vô tội bị phá hủy và hội chứng sau chiến tranh làm vô số quân nhân và thường dân còn chịu nhiều đau khổ cho tới tận ngày hôm nay.

Một trong những người tưởng đã chết nhưng cuối cùng may mắn được trở về là: Binh nhứt Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ: Ronald L. Ridgeway.

Là con của một công nhân đường sắt Southern Pacific, Ridgeway xuất thân từ một vùng ngoại ô thuộc tầng lớp lao động tại Houston, Texas, USA.

Ông thôi học và gia nhập Thủy quân Lục chiến bởi vì muốn trốn chạy cái bi kịch của một gia đình tan vỡ vì cha mẹ ông ly dị.

17 tuổi khi đăng lính Thủy quân Lục chiến vào năm 1967; 18 tuổi bị bắt cầm tù; 19 tuổi bị làm đám tang và 23 tuổi được phóng thích ra khỏi nhà tù Hỏa Lò Hà Nội, sau Hiệp định Paris năm 1973.

Mới đầu tại quê nhà Texas, trường cũ của ông: loan báo trên loa phóng thanh là ông bị mất tích khi chiến đấu (missing in action).

Nhưng thân mẫu của ông nhận được thư của cấp chỉ huy ông cho biết rằng vẫn còn một chút hy vọng! Tuy nhiên vào tháng Tám, bà nhận được một thư chia buồn từ Lực lượng Thủy quân Lục chiến là ông đã tử trận.

Trong lúc đồng đội và gia đình thương tiếc người chiến sĩ đã bỏ mình thì Ronald L. Ridgeway đang bị quân CS Bắc Việt cầm tù một cách khắc nghiệt trong suốt 5 năm trời.

Ronald L. Ridgeway thường bị biệt giam, bị cô lập, bị hành hạ về tinh thần cũng như thể xác bởi địch quân, cho dù đối với ông, vốn đã là một tù binh, thì cuộc chiến tranh đã chấm dứt…

***

Gần 50 năm sau khi bị cho rằng mình đã tử trận, Ridgeway, giờ đã 68 tuổi, đang ngồi suy tư ở nhà, hồi tưởng lại cuộc chiến tranhViệt Nam.

Có từ 20 đến 40 ngàn quân CS Bắc Việt bao vây khoảng 6 ngàn Thủy Quân Lục Chiến ở căn cứ Khe Sanh! Chúng pháo kích cấp tập và có súng phòng không làm hạn chế các cuộc không yểm, nên các cuộc tuần tra ngoài căn cứ để tìm kiếm vị trí đóng quân của địch là cực kỳ nguy hiểm.

Vào buổi sáng đầy sương mù, ngày 25, tháng Hai, năm 1968, trung đội tuần tra do Thiếu úy Donald Jacques, 20 tuổi, chỉ huy lọt vào cuộc phục kích của địch quân.

Binh nhứt Ronald L. Ridgeway trong nhóm 4 người dẫn đầu trung đội, đang lục soát một giao thông hào hình chữ chi trống rỗng.

“Thình lình quân địch ném lựu đạn xuống. Chúng tôi cũng ném trả lại vài quả lựu đạn ! Ðột nhiên chúng tôi nhận ra tiếng súng của Thủy Quân Lục Chiến phía sau ngừng bặt.

Khi nhóng lên nhìn quanh quất, chúng tôi thấy lính CS Bắc Việt từ những bụi cây thấp tiến về phía họ. Tôi đoán chắc chúng cho rằng các người lính đó đã chết hết. Chúng tôi phải làm gì bây giờ? Chúng tôi phải rút lui.”

Charles G. Geller rút trước, theo sau Ronald L. Ridgeway chạy ngược về trảng cỏ nơi họ xuất phát. Khi chạy đến bờ rìa, họ gặp Willie J. Ruff, 20, quê Columbia, tiểu bang South Carolina, đang nằm vật ngửa ra vì bị trúng đạn vào tay. Geller quỳ xuống cạnh Ruff, một viên đạn trúng vào mặt Geller, gây một vết thương kinh hoàng. Khi Geller đang trong trạng thái bấn loạn vì bị thương nặng cố quỳ lên thì địch quân ném một quả lựu đạn và giết chết anh ấy.

Ruff  khẩn cầu Ridgeway đừng bỏ anh lại. Ridgeway nói: “Không! Tao không bỏ mầy lại đâu!” Ðêm đó Ruff chết!

Rồi Ridgeway bị một viên đạn xuyên qua bả vai.“Chúng tôi nằm trên trảng trống. Tất cả điều có thể làm là nằm đó và giả chết.”

Ridgeway vừa tỉnh vừa mê. “Chúng đã bắn trúng tôi và bỏ mặc cho chết, rồi tiếp tục xung phong tràn qua xác của tôi!”  Trời sụp tối, pháo binh từ căn cứ Khe Sanh cày nát khu vực nầy.

After his disappearance, Ridgeway’s name was etched onto a tombstone in a St. Louis cemetery, along with those of eight fellow Marines who went missing in the 1968 ambush. (Fred Waters/Associated Press)

Ridgeway sực tỉnh vào sáng hôm sau, khi ai đó kéo cổ tay mình. Mới đầu ông nghĩ là đồng đội Thủy Quân Lục Chiến nhưng sau lại là một tên lính Bắc Việt, mặt non choẹt, đang cố rứt cái đồng hồ ra khỏi cổ tay của ông.

Cuộc hành quân cứu viện để thu hồi xác tử sĩ đã không xảy ra vì cấp chỉ huy sợ sẽ bị chịu thêm nhiều thương vong. Thế nên các tử sĩ phải nằm ngoài đó ròng rã suốt 6 tuần.

Cuối cùng, vào ngày mùng 6, tháng Tư, năm 1968, Thủy Quân Lục Chiến mới có thể trở lại chiến địa. Chỉ còn lại xương cốt của những người đã chết, giày trận và thẻ bài…

Tất cả được mang về nhà xác dã chiến tại căn cứ Khe Sanh nhưng nhận dạng chính xác chỉ được 9 người trong 26 người được liệt kê mất tích.

Những phần di thể không thể nhận dạng, được liệm chung trong hai chiếc quan tài, chôn dưới hai ngôi mộ tập thể.

Vào ngày mùng 10, tháng Chín, 1968, đám tang theo lễ nghi quân cách rất trang trọng được cử hành tại nhà quàn Jefferson Barracks, Nghĩa trang Quốc gia St Louis, thân mẫu của  Ronald L. Ridgeway đến dự và mang về một lá quốc kỳ nước Mỹ được gấp lại.

***

Xa bên ấy, mùa mưa Bắc Việt Nam đang đến và Ronald L. Ridgeway đang là tù binh chiến tranh đã được 7 tháng.

Tàn trận đánh, chúng băng bó và cáng ông xuyên rừng bên Lào rồi trở vào Bắc Việt Nam. Trải qua nhiều trại tù trong rừng, bị nhốt trong chuồng cọp bằng gỗ làm vết thương trở nặng hơn.

Ông mặc bộ đồ tù binh chiến tranh, POW, màu hồng và xám, mang dép râu!

(Tất cả những thứ đó ông mang theo về làm kỷ niệm khi được phóng thích)

Ông bị chấy rận, bị sốt rét rừng, bị kiết lỵ hành hạ. Hậu quả là sụt mất gần 50 pounds.

Một điều tra viên được ông đặt cho cái biệt danh là ‘phô mai’ (cheese). Vì hắn trông giống một miếng phô mai bự chảng. Mặt hắn như một con chuột chù, tánh tình lại cực kỳ hung ác.

Hắn nói tiếng Anh và ngồi trên một cái ghế cao khi hỏi cung, và khi hắn ra dấu bằng cách gật đầu, tên lính dưới quyền dùng gậy tre đánh đập, tra khảo tù nhân đang bị trói nằm dưới sàn nhà.

Dẫu bị tra tấn tàn bạo như vậy nhưng ông không bao giờ cộng tác với kẻ thù, ông nói dối với bọn điều tra và khai ra những tin tức quân sự không có thật!

Những cai tù quân CS Bắc Việt cho rằng ông là một kẻ cứng đầu ngoan cố, và tất cả bọn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ là đồ súc vật!

Ông nói: “Bạn phải tính từng ngày một. Trong đầu, phải ráng nghĩ rằng mình sẽ sống sót. Phải tin rằng chúng sẽ không đánh bại được mình, tin rằng cuối cùng thì mình sẽ chiến thắng!”

Ông  ngồi cô độc trong xà lim không cửa sổ, cạnh một chiếc giường gỗ! Không có ai để chuyện vãn, cố giữ vững tinh thần bằng cách tưởng tượng rằng mình đang ở một nơi nào khác, một ngày nào đó trong tương lai ông sẽ mua được một chiếc xe ‘pick up’ để chở vợ và con đi câu cá.

Tháng Giêng, năm 1973, đang bị nhốt trong nhà tù Hỏa Lò ở Hà Nội, mà tù binh Mỹ gọi châm biếm là ‘Hanoi Hilton’ (Khách sạn Hilton Hanoi), thì những kẻ giam cầm ông loan báo rằng: Các tù nhân chiến tranh sẽ được phóng thích theo thỏa thuận hòa bình trước khi Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam.

Khi danh sách tù binh Mỹ được công bố, tên Ronald L. Ridgeway nằm trong số đó. Ở Houston, mẹ ông đập cửa nhà hàng xóm, reo mừng: “Ronnie’s alive!” (Ronnie còn sống!)

Nhiều tháng sau khi trở về,  Ronald L. Ridgeway tới doanh trại Jefferson Barracks, Nghĩa trang Quốc gia St. Louis để nhìn tận mắt tấm bia mộ của chính mình. “Ambushed Patrol Died in Vietnam Feb. 25, 1968.” (Toán tuần tiễu bị phục kích, đã chết tại Việt Nam  ngày 25-2-1968).

Retired Marine Ronald L. Ridgeway, photographed at his Texas home, was 18 years old in 1968 when his patrol was attacked in Vietnam. He was captured and held prisoner for five years before being released, a time during which he was believed dead. (Matthew Busch for The Washington Post)

Năm nay, 2017, khi Hoa Kỳ đang đánh dấu nửa thế kỷ kể từ cao điểm chiến tranh Việt Nam ác liệt nhứt vào năm 1967-1968 thì chiến công của một thanh niên dũng cảm trong chiến đấu, bền gan trong ngục tù, dù bị hành hạ tra tấn một cách dã man, vẫn sống sót để trở về từ cõi chết lại xuất hiện trên truyền thông Mỹ.

Dẫu cuộc chiến Việt Nam (theo cách gọi của người Mỹ) vẫn còn chia rẽ người Mỹ một cách sâu sắc, nhưng họ cũng có cùng một điểm chung là: “Chúng ta, những người may mắn còn sống sót sau cuộc chiến, không bao giờ được phép quên lãng những người đã nằm xuống!”

đoàn xuân thu.

melbourne

Nhân ngãi

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 02/08/2019 

Post by Sơn râu 24 Feb 2024

1.
– Nếu mày có vợ, người ta câm lặng. Nếu mày ở chung với một người con gái, người ta xí xọn rêu rao: Thằng ấy có mèo.

Quân nâng ly cà phê đen đá lên, tợp một hớp. Xong nói tiếp: Khi đã có vợ mà còn vụng chùng, còn đèo bồng thêm một nhan sắc, đối tượng kia được mang hỗn danh bồ nhí.

Sĩ thắp một điếu thuốc, thở khói:

– Mày chúa lý sự lôi thôi, luôn áp đặt những từ không chính xác. Mèo với bồ nhí là cái thá gì? Cơm với phở cũng thuộc dạng hồ đồ. Bà kia là vợ chính thức, bà nọ là người tình, đơn giản là thế, minh bạch là thế. Mày có mèo rồi à? Hay mày đang thậm thụt cùng bồ nhí?
Quân đổi thế ngồi:

– Cà phê chỗ này uống được quá đi chớ.

Sĩ nhìn ra bóng nắng đang nới rộng dần, bắt đầu ăn vào dãy xe gắn máy dựng sát trên hè phố:

– Vì tiện đường thôi chứ thực chất tao chẳng mấy thích quán này. Làm cái méo gì mà trương bảng hiệu “Thơm Như Tình Nhân Cũ”?

– Chê bai là quyền của mày, nghĩ ra tên gọi khác lạ là quyền của họ. Thực chất thì đổi mới cũng cần thiết.

– Nhằm đổi mới hoàn cảnh sống, kiếm một con mèo có cần thiết không?

– Tao chẳng rõ. Cũng tuỳ. Mèo tao nói đằng ấy to gan thật, thế nào cũng có lúc phải ra chuồng heo mà nằm… Sao mày cười?

– Tại tao nhớ lại một chuyện tiếu lâm, có anh chàng nọ khai bệnh với bác sĩ: Đêm qua tôi ho như gà, nằm co quắp như tôm, run như thằn lằn đứt đuôi, lệ tuôn như nước mắt cá sấu… Vị bác sĩ xua tay: Anh sang phòng bên kia, nơi ấy mới có bác sĩ thú y.

– Ờ, thì con người đôi khi phải nương nhờ vô thú vật vậy. Hàng xóm tao có con bé luôn kêu tao là đồ dê chúa. Có sao đâu? Dễ thương hơn đồ rắn mắt với lại đồ chằn ăn trăn quấn.

Sĩ hỏi:

– Có gọi thằng Long không? Sao chưa thấy rồng đất tới?

Quân cười:

– Thì phải chờ nó dàn xếp ổn thoả chuyện vợ con đã chứ. Đâu phải thong dong muốn đi là đi ngay.

– Nghĩa là sao? Nó tử tế? Nó đạo đức? Nó gương mẫu? Nó không thích dây vào chuyện mèo mả gà đồng?

– Nghĩa là được chúng bạn phong cho danh hiệu hội viên hội sợ vợ. Chưa nghe nó phân bua à? Tuy mang tên Long nhưng tao tuổi Tý lấy nhằm bà vợ tuổi Mẹo. Cái số nó vậy, cọp hay mèo thì chuột phải ngán, lẽ thường tình. Ông bà vẫn nói một sự nhịn chín sự lành. Long này tuyệt không biết sợ vợ. Chiến hữu gật gù, nói cũng đúng, vậy từ nay mày đổi qua làm hội trưởng hội thích hoà bình. Long gật đầu: Phải đa, súng ống ích gì cho buổi ấy?

Dưng không, Sĩ lớn tiếng:

– Linh như cái miễu, vừa nhắc Tào Tháo thì Tào Tháo lộ hình!

Long đi vào:

– Trên đường đi tao nhảy mũi liên hồi kỳ trận. Chúng mày nói xấu gì ông đấy?

– Thưa ông, chúng cháu chỉ thắc mắc, chẳng rõ ông có biết thơm như người tình cũ là gì không ạ?

– Vợ tao từng đặt đít ở đây rồi, nàng khen quán này được a, chẳng thấy bóng dáng mấy em phục vụ viên ăn vận ít vải bẹo hình bẹo dạng ở đâu cả. Nom lành mạnh ra phết.

– Vậy là ngon cơm rồi. Trời phán không bằng vợ phán. Lính tráng cũng có hai mươi bốn giờ phép vậy. Nhưng cớ sao đến trễ thế, cha nội?

– Bị tao mang bộ đồ vía đi giặt khô. Coi tóc tai thằng Quân kìa, không tính hớt tém cao ráo sạch sẽ gọn gàng sao?

– Con ghệ tao bảo trông tướng tá anh rất mực nghệ sĩ, anh mà xuống tóc thì cái mặt ngó cộc cằn dữ tợn như dân anh chị vậy đó. Ẻm nhận xét thì mình phải nghe thôi. Cái đáng quan tâm là tao chưa tậu được một bộ đồ ăn nói nào cả.

– Đi ra chợ hàng bành, đồ xi-đa mà bới tìm, giá đã bèo lại còn thơm ngát cả mùi Mỹ. Đi ăn đám cưới mà trần thân nghĩ cũng kỳ, lâu lâu mới có một lần chứ nào như mỗi tháng trăng lại rằm. Thằng Huỳnh tâm sự bằng mọi giá chúng mày phải đến chung vui, biểu dương lực lượng chớ phía đàng gái quân số đông cấp đại đội. Mẹ, phút đầu mà thấy cán cân chênh lệch thì còn thế giá gì cánh mày râu nữa!

– Lỗi ở thằng Huỳnh cả. Hay là do trời sắp đặt? Khi không lại làm tài khôn đi chọn vợ chợ đông. Rước một nàng ở tiệm hớt tóc không dao kéo về dinh. Đứa nào thích xơi phở thì lo quan hệ thắm thiết với vợ thằng Huỳnh là vừa.

– Đừng vẽ đường cho hươu chạy chớ. Thân này lẽ nào ví xẻ làm tư!

Đang chuyện trò rôm rả thì có tiếng chuông điện thoại đổ dồn trong túi quần của ai đó. Nhìn qua ngó lại thăm dò, sau cùng Sĩ moi cái iPhone ra: A lô… Hắn đứng lên, áp sát tai vào cái vật khởi sự lôi thôi rồi đi tìm chỗ vắng tiếng động.

Long nhìn theo:

– Tao chúa ghét điện thoại thông minh, mình trốn trong góc kẹt ở hóc bò tó nó cũng định vị được. Nôm na là chạy trời không khỏi nắng. Rồi mưa giông, rồi sấm sét; báo đăng tin có anh chạy xe ôm đứng núp bên mái đình móc di động báo cáo cùng vợ hiền liền bị thiên lôi vác búa đánh xuống một tia chớp gọi là bắt sóng, người nám đen như khúc củi ẩm còn hun khói. Vợ vào bệnh viện thăm hỏi nghe chồng thều thào, tại em đó, cứ bắt đi thưa về trình cho cố xá. Câm lặng đã là vàng, bẩm thưa đành chịu đen đúa thôi!

Sĩ trở lại, đón nhận mấy con mắt săm soi ngầm tra vấn. Sĩ nhún vai: Đám cưới thằng Huỳnh xong, e tao cũng nên dẫm vào vết xe đổ của hắn. Đã mang lịch ra tính ngày, đã mang bao cao su cẩn tắc vô áy náy vậy mà cũng tắt kinh. Tao về nha. Bực cả mình.

Quân nói, cứ y như quân sư: Trước mắt chỉ có ba phương án, một là chở em đi phá, đi trục của nợ ra. Hai là ăn cơm trước kẻng, vợ chồng e thẹn ra mắt bà con cô bác. Ba là tam thập lục kế tẩu vi thượng sách.

Long đưa lời bình: Trong ba điều, mục thứ hai là nghe ổn nhất, hợp công đạo nhất. Tao vui vẻ đóng vai phụ rể. Đã là bạn bè của nhau, nỡ lòng nào bày chuyện tào lao làm thắt họng hiền hữu.

2.
Cha ăn mặn con khát nước. Người ta nói sao thì mình nghe vậy, chẳng phản bác. Tôi không dám phạm tội bất hiếu, chỉ trích, lậm bàn. Ba tôi có một bà lớn, một bà bé và một cô non tuổi lúc nào cũng nũng nịu chú với cháu. Tôi rất nể phục, tim ông đã lớn mà xem chừng đầu óc ông cũng cực kỳ lanh lợi chuyện dương Đông kích Tây, đâu ra đó chẳng gây ra thảm cảnh nhà tan cửa nát. Nay ông an giấc điệp ở giường này, mốt ông ngơi mộng thắm trên giường khác. Một kẻ cô đơn hẳn sẽ không ngủ thẳng cẳng một giấc an lành suốt năm canh như ông.

Ba tôi có lắm con, chuyện dễ hiểu, mặc dù ông chẳng đoái hoài gì tới phương thuốc “Lục giao sinh ngũ tử” của vua Minh Mạng. Một hoàng hậu thì nói làm gì, đằng này có thêm thứ phi rồi lai rai cung tần mỹ nữ vào ra những hôm trái gió trở trời. Cảnh buồn người có buồn đâu bao giờ. Xem ra ba tôi vui suốt hai mùa mưa nắng. Tôi là con bà hai, trên tôi có ba anh chị của con bà một. Má ruột tôi chép miệng: Mấy ông có thói trăng hoa thích đèo bồng những lê với lựu thì họ cũng có sẵn vạn lý do để cả vú lấp miệng em. Ba mày đã có được thằng con trai làm vốn, vậy mà còn hối tao đẻ thêm ra mày, ổng lập luận “để dành đặng phòng hờ, ba cây chụm lại nên hòn núi cao, hai ba bốn hợp quần thì phải hơn mình ên đơn độc”.

Thằng con trai làm vốn kia lớn hơn tôi năm tuổi, là trai trưởng nên toàn gia một mực nể nang kính mến. Một dọc em út đều là gái nên ảnh không mặn với “ngũ long công chúa” kia, coi bộ thằng chả gần gũi với tôi hơn. Đàn ông con trai với nhau, có ẩn ức gì cũng dễ thổ lộ cho nhau nghe.

– Mày tính đi tu hả? Sao cứ nghe êm ru bà rù miết.

– Êm chuyện gì?

– Chuyện gái gú chớ còn chuyện gì nữa? Có con nào chưa?

– Chưa.

– Còn trinh hả?

– Còn.

– Nghe thảm. Thua cả mấy người đi tu. Sư cũng có khi phá giới.

– Muốn phá giới thì phải làm sao?

– Hổ phụ sanh hổ tử. Ông già nghe được ổng thêm rầu mày. Tướng mạo mày đâu đến nỗi nào. Mấy đứa em, như con Mận con Đào nhà mình cũng rậm rật đi đốn cây si trước cổng đến mỏi cả tay. Không ấy mày thử xuống nước nhờ hai chị em nó mai mối cho một con bò lạc.

Tuần sau, Mận cho tôi tấm ảnh: Nhỏ này tên Ninh Kiều. Chịu đèn không? Kiều này chẳng ân oán gì với Thuý Kiều đâu nhen. Anh hai biểu em ra tay tế độ chớ thực bụng con Mận này chẳng dại làm mai lãnh nợ gác cu cầm chầu.

Anh hai đi vô, bộ dạng rất quyền huynh thế phụ:

– Bằng mọi cách mày phải chứng minh cho tao thấy, rằng mày là em tao, mày không định đi tu, mày vui thú đâm đầu vào đường tình muôn vạn nẻo.

Mận góp lời:

– Quan trọng là đừng để bị nghi ngờ mình đích thị dân bóng, mình pê-đê chính hiệu con nai vàng.

Và như vậy, phải có mợ chợ mới đông. Hết mợ tới dượng thôi bàn ra tán vào, thôi dị nghị. “Hắn đã chịu xuống núi”. Họ thở phào. Hắn kè được con bò lạc. Tôi ê a, ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ… Bồ tôi mang tên Ninh Kiều, mỹ miều thế chứ chẳng sinh quán ở Cần Thơ đâu nghen. Tơ lơ mơ cầm tay nghe em nói, ờ có khi màu nắng không chói bằng sắc áo em mang. Em ghét tên Kiều bị hồng nhan bạc phận vận vào người từng qua một lần dang dở, xin anh thật lòng đừng gây thêm trắc trở buồn đau. Thì mình đang có nhau chung tay lựa nhặt vàng thau. Kiều nhắm mắt chìa môi cho tôi hôn mau, ngực nàng thở gấp đôi vú cau. Có hơi trai nựng nịu rồi hôm nào nó sẽ lớn bộn, tôi nghe đồn bưởi Biên Hoà ngọt nước sờ mềm mềm bóp êm êm, nào còn biết gì thêm.

Lâu lâu anh hai liếc mắt vô giường làm bài sát hạch: – Đến đâu rồi? Vẫn còn ăn chay à? Chưa ngã mặn sao mầy? – Hết Mận thì tui đổi sang hỏi con Đào, em cho hay rằng dục tốc bất đạt, con gái mà dễ chuyện đó thì thiệt thòi mình chịu chớ trách móc ai, phàm đã chơi dao thì ai cũng biết tránh cầm đằng lưỡi. – Vậy thì mày đã bú mồm nhỏ Kiều chưa? – Đã. – Ờ, có vậy chứ. Hôm nào đẹp trời mày dắt Kiều qua cầu để nhỏ về nhà dối mẹ qua cầu gió bay. Ngoài áo quần, thân thể con gái cũng có lắm thứ để bay biến trốn biệt. Khi mất đi nó sẽ đâm quyến luyến mày, bu như sam. Nhỏ Kiều qua tuổi vị thành niên chưa, sao ngực em bé thua cả ngực tao vậy? Bụng tao có sáu múi đây nè, bụng nó thì sao? – Thì thấy có lỗ rốn và hai nốt ruồi.- Chỉ nhiêu thôi hả? Mày bắt chước con chuồn chuồn thử cắn rốn nó xem nó có biết bơi không?- Thử mà hổng đặng, em kêu đời là bể khổ anh đừng quẳng em xuống, em chìm mất tiêu.

Để bổ túc làm rõ vì sao tôi lâm vào cảnh khát nước, nói cách khác tôi đành thuật lại ở đây một chuyện tình không đoạn kết. Hôm đó mặt Kiều xanh lè, em kêu nhác chơi ăn gì vào liền nôn ra chẳng khoan nhượng. Tưởng ngộ độc thực phẩm tôi hối em vô bệnh viện súc ruột. Kết quả giám định, chắc như đinh đóng cột, em đã cấn thai, bầu bì gần ba tháng. Sao nỡ lòng nào đối đãi với nhau như thế? Anh hai biết chuyện, lầu bầu:- Tao tin mày và tao biết trên đầu mày vừa mọc sừng. Xong cái ảnh hát: Đừng buồn nghe em, cố nén đau thương ngóng chờ… Thua keo này bày keo khác. Bò đi lạc thì tìm heo nái, tìm gà mái, tìm nai ngơ ngác. Thiếu chi. Hà rầm.

Mận trách: -Anh cù lần quá, nó ngủ với đứa khác mà anh hổng hay biết sao cà! Đào đi chợ về, thu nhập tin tức nóng sốt: – Kiều lặng lẽ phá thai, nó xù luôn em, nó kín tiếng đi thuê phòng trọ ở đâu đó, Kiều qua cầu rút ván.

Ba ăn mặn con khát nước. Tôi không tin điều đó. Tôi cũng chẳng trách cứ oán hận gì Kiều, lỗi tại tôi mọi đàng. Tiên trách kỷ hậu trách nhân.Tôi chỉ lao đao hụt hẫng một thời gian ngắn, tháng ngày đó nhằm khuây khoả tôi viết được truyện này. Ba tôi giao tiếp rộng, nhà bà nội tôi dưới quê từng là nơi chứa chấp mấy ông du kích đặc công nằm vùng. Có ông giờ này làm lớn ở bộ Thông tin văn hoá, coi ngó một tạp chí văn chương đình đám trong tỉnh, tôi gửi truyện tới ông những mong chúng bạn khỏi khinh khi dè bỉu khi đọc thấy tên tôi in trang trọng lên mặt báo. Người chịu trách nhiệm tạp chí văn nghệ gọi tôi, thẳng thắng từ chối, dập tắt bao mưu toan tôi ấp ủ: Cậu bày ra một đội ngũ trai tráng chỉ biết đàn đúm ăn chơi bàn toàn chuyện trai gái, chây lười lao động, lánh xa thành ngữ “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”. Chí ít, văn chương phải tải đi một thông điệp cao cả nào đấy. Hỏng! Nhà văn phải được đào tạo từ trường ốc hẳn hòi chứ nào thuộc hạng thiếu đẳng cấp như cậu, chúng phải đại diện cho đám đông để ngợi ca những gì tốt đẹp mà nhà nước ta bỏ công xây đắp. Lý lịch gia đình từng có công với cách mạng chứ không thì lôi thôi to.

3.
Vẫn hẹn nhau ở quán cà phê “Thơm Như Tình Nhân Cũ”. Vẫn chơi theo kiểu Mỹ là tự lực cánh sinh, tiền ai nấy trả tránh mang nợ nần nhau. Một ly cà phê thôi mà, làm gì chẳng có mang theo 45 K trong túi quần? Chừng nào ngồi vòng tay tịnh khẩu như bình thì bạn bè sẽ quan hoài tới, hỏi han, chiêu đãi. Và có khi khác biệt, như hôm nay bạn bè dành mua cho Mẫn thức uống, lý do giản dị: Không ngờ thằng Mẫn lụt lịt mà địt ra khói, kết giao đã lâu, ai có ngờ đâu hắn mà bày đặt làm nhà văn tỉnh lẻ ngoại ô đèn mờ. Bài hắn sẽ đăng lên trang trọng một mai, nếu hắn hư cấu chuyện tình một o bộ đội hy sinh hạnh phúc lứa đôi để ra án tuyến đầu cầm tiểu liên AK-47 ngăn chận giặc bành trướng xâm lược.

Sĩ thắc mắc: Bây giờ em Kiều em ở phương nao?

Quân nói: Tao biết có dạo Kiều làm việc trong quán Cô Chủ Mồ Côi.

Long vỗ vai Mẫn: – Tao không tin là mày chả bỏ công sức ra để đi điều tra. Vết thương đó khó lành miệng quá mà! Không nhớ em chết cha thì cũng phải chết mẹ!

Mẫn cười: – Rõ là biết đi guốc trong bụng nhau. Kiều làm bà chủ tiệm hớt tóc thư giãn không dao kéo, chẳng tông-đơ. Kiều phất lên như diều gặp gió, sung túc, giàu có, đồng vào đồng ra. Nàng ta sắp thành hôn và con chuột đực vừa sa hũ nếp kia chính là thằng Huỳnh.

– Cái gì? Vợ thằng Huỳnh là Kiều vú nhỏ sao ta? Mới hay ra thế giới này vốn không lớn.

– Hai bữa nữa thôi. Huỳnh nó cần phe ta đến đông đủ phô trương thanh thế, vậy mày có tính đi dự không Mẫn?

– Đi chứ. Tao muốn nhìn sâu vào mặt cô dâu. Tao sẽ cảm ơn Kiều, cảm ơn em quẳng anh xuống bể trầm luân. Anh bơi và anh thấu hiểu, những đứa nuôi mộng nhà văn thường là kẻ bị sặc nước, bị hà bá xơi, bị rong cuốn, bị vọp bẻ trước thiên hạ. Tao sẽ mượn bờ vai đứa em gái tao để sánh đôi cho có cặp. Sẽ mua một cọc vé số nhét phong bì làm quà cưới. Có trúng lô độc đắc thì đừng quên anh nha.

Có tiếng chuông điện thoại kêu nhát gừng. Quân moi ra, cau mặt mó tay vào vật thông minh biểu nó thôi réo gọi. Mặt hắn đổi sắc: – Con mèo tao chạy xe tay ga đang đợi ở ngã tư đèn đỏ, không dưng có chiếc ô tô điên vượt lên cán em, lôi ẻm đi cả chục thước, giờ sứt mẻ toàn tập, thở ốc-xy ở bệnh viện, toe tua một đời hoa thầm kín.

Sĩ khuấy ly cà phê đá đến sủi bọt: – Vậy là có một người vui một người buồn. Bà xã mày khỏi mất công đánh ghen. Không phải đùa chứ chuyện đời của băng đảng mấy đứa mình mà mang từng chương hồi ra kể hết cho thằng Mẫn thì có ngày sách hắn in ra sẽ bán chạy như tôm tươi.

Mẫn cười hê hê. Kể đi, tao tôn trọng chúng mày, giữ nguyên tình tiết. Chẳng
thêm mắm dặm muối, tuyệt không thèm hư cấu cho nhọc sức. Tiểu thuyết hiện thực đời thường.

Có thằng nào đó vừa thở dài: Vậy thì in chui à? Tính in lậu không có giấy phép sao? Toàn bộ các trang giấy chả có chữ nào thèm mang ơn cách mạng, chả ca ngợi cái lu đậm đà bản sắc dân tộc lấy một tiếng. Từ đầu chí cuối chỉ bàn tới chuyện cái lon. Lon to lon nhỏ, lon chưa khui và lon đã qua sử dụng. Quá nguy hiểm nếu thêm dấu vào chữ lon. Mẫn, mày nghĩ ra bút hiệu nào chưa đặng kéo dài thêm tuổi thọ. Không ấy thì xài tên Cu Đỏ, thử thời vận một phen!

Hồ Đình Nghiêm
31.07.2019

Ngưu Sơn Nhãn Tuyệt

http://www.art2all.net

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 24 Feb 2024


          Thoạt đầu núi có dáng một con trâu nằm, sau biến dạng chẳng còn tì vết bởi một đám đông hành nghề đục đá hăm hở khoan cắt. Không dưng những tấm bia mộ khắc tên tuổi người chết lại trở nên “cháy hàng”. Bụi mờ cùng búa tạ nện không nghỉ, trâu chuyển sang nghé rồi ngày một ngày hai dòm lên chỉ còn luyến lưu một cục đá nham nhở hình thù đọng trong con ngươi. Núi có chết không? Chẳng biết, nhưng tên Ngưu Sơn thì vẫn còn người nhớ. Quen miệng rồi, chẳng lẽ bây giờ kêu là Hòn Non Bộ? Hay Trăm Năm Bia Đá Cũng Mòn?
Ngưu Sơn như tấm bình phong ngăn bão tố gió độc từ hướng Tây thổi qua, người xưa khi khai hoang lập ấp định cư đã điều nghiên việc phong thuỷ tuy vậy dù nó có độn thổ, huyện lỵ dưới chân nó mỗi ngày một đông dân tứ xứ mỏi chân giang hồ tìm về. Nói sầm uất thì quả ngoa ngôn nhưng dân tình tranh sống rậm rật với vạn ngành nghề mánh mung thì xét chẳng sai trật. Dầu núi mất mặc núi, Ngưu Sơn nào khác gì đất lành chim đậu. Chim thì cả ngàn giống, muốn trụ lại chốn này e chỉ còn loài mỏ nhọn với móng sắc mới đương cự cùng sóng gió giang hồ mà chẳng rụng lông. Và chim bây giờ chỉ còn một chủng loại, hót một cung bậc tiếng chì tiếng bấc thảy giống nhau.
Khác chim, huyện Ngưu Sơn có riêng một gã còn hát lời du dương trầm bổng. Gã ngồi cuối chợ, đóng đô chỗ ấy bằng vuông chiếu, mù loà ngồi với cây lục huyền cầm và cái nón vải bạc sờn hứng tiền của bá tánh qua về rộng lòng chia sớt. Hai mắt có mở lớn thì đồng tử phủ màn trắng đục lộ ra, ngó cũng như chộ, bất biết bao hoạt cảnh luân phiên bày trò. Mở rồi nhắm, chỉ nhằm biểu tỏ theo lời ca tiếng hát, theo guitar bấm phím độ rề mi la fa sol. Boléro thì chừng như luôn trì kéo cước bộ dùng dằng trì hoãn, rớt vô thính giác ông đi qua bà đi lại, sảng hồn rồi chạnh lòng nhớ về “chúng ta đã có một thời như thế”, thời mà thiên nhiên khắc hoạ dáng con trâu còn nằm an lành trên núi cao chưa suy suyển. Thiên nhiên thì luôn chung tình chỉ có con người mới hung hiểm lộ hàng soán đoạt cưỡng bức. May cho đứa hành nghề hát dạo, tự thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ gã nào nhìn thấy núi đứng mây bay. Trời đãi kẻ tật nguyền khiếm thị, trao cho gã một chất giọng mà theo như lời bình phẩm của mấy chị bán buôn trong chợ: Nghe anh mù hát, con dế trốn trong hang cũng ngoi đầu vễnh râu chạnh lòng bò ra. Người trao chén cơm, kẻ gắp cho cục chả, đứa chan cho chút mắm. Ăn đi anh, không ăn lấy gì sống. Người đưa tới ly nước đá, kẻ cạo cho ít cơm dừa, đứa đổ vào chút xi-rô hột é. Uống đi anh, uống cho mát cổ họng mà vui kiếp cầm ca!

Anh mù không lo chuyện ẩm thực, ai cho gì thì ăn nấy. Anh chẳng gây oán thù với tha nhân thành ra chén cơm nghĩa tình nọ hẳn là không trộn thuốc trừ sâu diệt chuột. Vô tư đi anh, đa nghi bợn lòng mà chi, cuộc đời này mà vắng tiếng ca của anh thì đến lúc hoa phượng thôi nở bông trên cây cũng vừa. Hè về mà chẳng phượng đỏ ve sầu cất tiếng than van thì ôi thôi, ngó sao đặng! Anh sướng quá, anh hổng ngó thấy vạn vật đổi thay, anh chả quan hoài chi tới nhan sắc chị em phụ nữ chúng tôi đang tàn tạ. Đứng bên anh thì nhà ngói cũng như nhà tranh hoặc vô gia cư hoặc đầu đường xó chợ hoặc đui què mẻ sứt anh nào có chứng giám hư thực, đúng hôn? Thảy an tâm không sợ bị nhìn đểu.
Tối trời, chợ tan nhóm họp, âm thanh vơi dần gã mù mới đeo cây đàn sau lưng, nhét nón đựng tiền trong bị lát, cuốn manh chiếu, mò ra cây gậy mới lần khân thủng thẳng về trụ sở ngã lưng. Nói trụ sở cho oai phong chứ bốn bức vách có lợp mái ngói ấy trước đây dùng nơi chứa lúa, huyện đường tu sửa qua loa cho người treo lên tấm bảng gỗ: Hội Khiếm Thị. Vì mười hai hội viên chẳng thấy đường nên bóng điện cũng không việc gì mà thòng sợi dây vào hòng toả sáng một vũng màu. Vừa qua chẳng biết từ đâu có cha nội chỉ đui một mắt dẫn xác tới được ở trên tín nhiệm bầu bán giữ chức hội trưởng, vì thế đáp ứng với nếp sống văn minh, đi đúng với tư duy thời đại lão hội trưởng đấu tranh mới có được cặp bóng đèn điện ngọn tỏ ngọn lu. Đã là trụ sở thì chí ít phải có gì le lói để giữ thể diện, khỏi mang tiếng bất công người bóc lột người. Hội trưởng độc nhãn mỗi bận đi họp trên huyện đường, trăm khi như một ngang qua hội phụ nữ tự động đầu lão phải cúi gầm xuống đất. Chị em ta làm cái giống gì mà giàu sụ, phô trương hết mực những cờ xí, lọng phướng, khẩu hiệu, pa-nô ra ngoài và bên trong sảnh đường sáng loà những đèn đóm tuồng như họ không mỏi mệt việc liên hoan làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm. Nôm na hội phụ nữ rất chi là hoành tráng! Coi mòi âm thịnh mà dương suy!
Chuyện ấy không nên lạm bàn, đào sâu. Trời sinh mình mù thì mình phải chịu thủ phận, lấy tư cách gì mù mà được phép sờ vòng một vòng ba. Bản thân hội viên cũng bù trất chẳng giàu chất xám để hiểu cụm chữ “mù sờ voi”. Đừng khi dễ nghe, anh Tư hội viên có biệt tài xâu chỉ lòn kim bách phát bách trúng mà kẻ sáng mắt phải đâm tị hiềm. Chưa kể là bác Năm có tiền gửi ngân hàng vì nức tiếng chuyện coi bói chẳng hở tay. Bọn đầy đủ năm giác quan sắp hàng dài cứ luôn muốn đả thông chuyện tình duyên gia đạo, chuyện thăng quan tiến chức phú quý đại gia? Lạ, mù mà sao thấy trước chuyện tương lai, hơn cả giác quan thứ sáu. Bác Năm chỉ có một câu trả lời: Thiên cơ bất khả lậu! Tính thêm giọng ca trời phú của gã ngồi hát trong chợ thì số phận những hội viên còn lại thảy lu câm. Một phần tật nguyền do bẩm sinh, phần khác thui chột vì từng kinh qua khói lửa chiến tranh, có số má được giấy chứng thực là thương binh liệt sĩ. Ngày lễ ăn mừng “quê hương sạch bóng quân xâm lược” vừa qua được tổ chức đình đám, lãnh đạo mọi ban ngành ở trên cử người xuống huyện hồ hởi cất tiếng ngợi khen, họ vui chân ghé hội khiếm thị uỷ lạo tinh thần và thắm thiết trao tặng món quà lưu niệm: Bức ảnh đã lộng kiếng ngài chủ tịch Un lãnh đạo xứ Triều Tiên đi thăm thú nơi sản xuất ra tên lửa đạn đạo tầm xa, quanh ngài có vô số thuộc hạ tay cầm giấy bút mà mắt sáng miệng cười ghi ghi chép chép. Chỉ có hội trưởng thấy ra quà tặng và với tư cách sếp sòng bọn mù, ông vua chột mắt đưa tay chùi ghèn đọng trong con mắt hư, sửa giọng: Dạ chúng tôi nhiệt liệt hoan nghênh tấm lòng ưu ái của trung ương. Nghe râm ran tiếng vỗ tay đầy sinh khí. Anh Tư có biệt tài xâu chỉ luồn kim đứng dựa cột, nói chùng vụng: Thiệt là sáng mắt sáng lòng, mang tranh ảnh tới tặng kẻ đui mù. Đù mẹ, chơi khăm cũng chừng mực nào thôi chớ! Cơm không có ăn, áo không có mặc, những thứ cấp bách cần được chia sẻ thì chúng bất biết! Thằng Sáu chuyên trị nghề bán vé số đứng gần đưa lời lạm bàn: Kệ đi mà, hôm nào trở trời mưa cuồng gió loạn, mang nó xuống đốt thành ngọn lửa sưởi ấm lòng nhau cũng đỡ vả một phen.
“Con đường xưa em đi, vàng lên mái tóc thề, ngõ hồn dâng tái tê, anh làm thơ vu quy, khách qua đường lắng nghe chuyện tình ta đã ghi…” Sinh hoạt một góc chợ thôi chộn rộn khi tiếng hát gã mù cất lên, biết luồn lách và biết đi vào lòng người. Lòng người như vùng đất hạn hán khô cằn mà tiếng hát kia tựa một cơn mưa đằm thắm chợt rơi. Giải hạn, tươi mát, đâm chồi nẩy lộc… hoặc tất cả những thứ diệu kỳ khác được cựa mình thức giấc dưới giọt ngắn giọt dài, lê thê, ngọt lừ, cần kíp. Nếu cây đàn của gã còn lành lặn, không bị rạn sau thùng ắt nó sẽ chuyển tải một cách vẹn toàn tới tai bá tánh đang liêu xiêu ngác ngơ.
Dứt hơi, kết thúc bài hát, gã xây mặt qua: Tôi tuy bị đui mù nhưng mũi tôi còn hoạt động tốt, tuy chợ búa tạp nhạp những hương mùi nhưng tôi vẫn đánh hơi ra một làn gió lạ, xin lỗi chị có điều chi muốn chỉ giáo? Khán thính giả duy nhất ngồi gần gã có hơi giật mình: Chằng dấu chi anh tôi ngồi đây đã khá lâu, nghe anh hát tôi có thể bỏ bê công chuyện. Ở dưới quê nghe tiếng anh đã lâu, nay lân la tới mới chứng thực là lời đồn quả không ngoa. Đường xa vạn dặm chỉ mang một thỉnh cầu, xin anh rộng lòng ca cho tôi nghe bản “Chiều nay mưa trên xứ Huế” thì chẳng có chi sung sướng bằng. Qua tiếng nói, với thanh âm của nữ giới, gã mù phỏng đoán người ngồi gần tuổi không quá bốn chục. Chỉ rơi vào hạng tuổi đó hoặc lớn hơn người ta mới biết tới được “cổ nhạc” và tình ngay có ai bắt gã hát tân nhạc, đã mù gã đành chịu thêm tật câm. Ngoài việc độ nhật bằng đờn ca hát hỏng, gã xem phương cách biểu tỏ ấy nhằm làm nguôi ngoai một tình cảnh thế cô luôn bị bạc đãi. Muốn hay không thì tâm sự gã chừng hoà trộn vào, đắm say một lòng thành, nức nở. Gã từng nghe ai kể chuyện về nhân vật Trương Chi và gã tin mối tình đứa chèo đò cùng khổ kia là có thật giữa đời này. Gã vui vẻ hát theo yêu cầu, điều gã bận lòng là chẳng rõ hương mùi bất ngờ toả ra kề cận có còn dậy một thuỷ chung quen thuộc. Sáng nắng chiều mưa, đời sống mãi bày trò dối gạt, nay thế này mai đã đổi khác. Một người từ dưới quê vượt qua, thu xếp bao chướng ngại để chỉ nghe ra một giọng hát, chừng đó đủ khiến gã cảm động, ấm lòng.
Chung tình, không phải hai ba lần, tuần này qua tháng nọ người ấy vẫn thầm lặng đến ngồi bên gã. Người ấy dạy cho gã biết hai chữ “sắt son”, thứ mà đại gia chẳng thể vung tiền ra mua được. Ngưu Sơn chỉ có hai mùa mưa nắng và như thế mây đen đúng hạn kỳ bắt đầu mang heo may về giăng bủa. Huyện lỵ sẽ co cụm, sẽ rét mướt, sẽ đìu hiu. Mưa gió sẽ xua đuổi bớt những đứa ưa chạy rong ngoài lộ, chợ sẽ căng từng tấm bạt hòng hứng đỡ vũ lượng chuyên cần chia đều xuống từng cảnh ngộ. Người ấy đến trước cơn mưa, chẳng yêu cầu gã ca, chỉ nhỏ nhẹ: Trong lượng mưa xối xả trút xuống, nó sẽ đánh cắp tiếng hát anh, chìm trôi và do để tâm đối phó với căn bệnh của đất trời sẽ không một ai quan hoài tới anh. Bản thân anh cũng đâu tìm được nơi khô ráo… Người ấy mua cho gã cốc cà phê nóng trao tận tay, người ấy chừng muốn nhìn xem kẻ mù khi khóc, giọt lệ nó lăn đổ có giống đứa sáng mắt?
Người ấy xưng em: Em ở dưới quê gánh rau lên chợ bán, có khi một hai con gà vịt hoặc chục trứng. Má em vừa mất nên giờ sống đơn thân trong mái tranh bên ruộng đồng. Yên ổn vì tự bằng lòng với thứ mình có, nếu anh cần người chăm lo thì cứ ôm đàn mà theo em về nơi tá túc mới. Tránh qua mùa mưa, nếu thấy tù túng ưa rộng cẳng thì cứ bỏ mặc em lại, em chẳng hờn trách. Gã đặt cốc cà phê xuống đất, đưa hai tay ra trước mày mò sờ soạn rồi cầm lấy mười ngón mát lạnh run rẩy của “em”. Em có tin điều huyền nhiệm của cao xanh? Em có thấy là ông trời có mắt? Lưỡng mục của ông đã nhìn xuống số phận anh, đã huyền nhiệm xúi em tới tìm anh. Sao ở đời còn sót lại một người mang từ tâm giống em vậy? Có phải em mang tên Giáng Hương? Một tiên nữ bị trời đày xuống nhân gian như ca từ nằm trong một bài hát? Hãy mang anh lên non xuống biển vào rừng, bất kỳ chốn nào anh cũng không từ nan. Hãy cho anh một lần được hát “tạ ơn đời, tạ ơn em”.
Huyện Ngưu Sơn từng biến mất dấu vết dị hình núi có dáng trâu nằm chây lười lao động và giờ đây khu chợ sầm uất cũng biệt tăm tiếng hát của một gã mù từng khản giọng than van làm chao lòng người. Không ai biết gã đi đâu, hỏi ông chột mắt hội trưởng khiếm thị tật nguyền lão cũng bất biết. Mà tình ngay một thằng mù suốt đời chẳng lập nên công trạng gì lỡ có chết dấm chết dúi ở góc xó nào quần chúng đâu ai quan hoài thắc mắc để tâm cho rách việc. “Chừng nào đá nổi rong chìm, muối chua chanh mặn em tìm được anh”. Câu ca dao nọ khớp với trường hợp gã mù. Mai danh ẩn tích, giũ bỏ tấm thân ám bụi lấm lem bạc màu gió chướng giang hồ, có hát ca cũng chỉ nhỏ tiếng riêng cho em nghe và gạt bỏ dần những bài trái ngang oán khóc tình hận. Nếu là nhạc sĩ anh sẽ viết riêng cho em một trường ca hạnh phúc.
Đêm ấy mưa to cuồng nộ, cả hai dắt nhau ra sân trần truồng tắm mưa. Họ ôm lấy nhau chan hoà ngộp thở niềm say đắm vỡ bờ ràn rụa. Họ dìu nhau lên giường tre. Anh sờ khắp châu thân người tình chung, một nửa của anh. Những ngón lần khân đầy ngần ngại. Em hỏi: Anh có yêu em không? Anh nhướng đôi mắt đục câm tinh thể, chờ nghe một phân trần. Bốn năm trước em bị một tên có quyền hành cưỡng đoạt, để dằn mặt nó sai thuộc hạ tạt cả ca a-xít cường toan vào mặt… Nước mắt có giọt mặn rơi xuống mặt gã mù. Khóc? Hãy khóc đi em! Nhan sắc mà kể gì, quan trọng là trái tim mình chưa hề hấn, còn vẹn toàn cho nhau. Tấm tức, rung động, nhưng dây dưa do bởi đón nhận sự cảm thông. Anh yêu em. Gã nói. Và lần này, chính gã lại đổ lệ. Họ ôm cứng lấy nhau, cuồng si, hối hả. Dốc lòng đền bù cho nhau mãi tới hồi kiệt sức.
Em có hồi nào coi phim ảnh của Nhật? Em có biết trên giang hồ có một gã mù tên Zatoichi? Có phải anh muốn nói tới hiệp sĩ mù nghe gió kiếm? Ừ, kiếm rất bình thường dấu trong cây gậy dò đường. Vạn bất đắc dĩ mới sử dụng nhưng mỗi khi nó tuốt ra khỏi vỏ, kẻ gian chết đi mà không rõ chiêu thức hư thực, kiếm quang nhoáng lên cái là gây tử vong. Người nữ rờ rịt đầu mình và tứ chi của nam, mơn trớn: Anh là hiệp sĩ dùng đàn và anh từng giết em bằng giọng hát. Sao anh lại mang Zatoichi tới để làm gì? Nam rời những ngón tay trên gương mặt lồi lõm biến dạng của nữ: Giá mà anh đẳng cấp cỡ phân nửa ông hiệp sĩ mù huyền thoại kia, anh sẽ tới đúng cơ sở thằng từng hãm hại em, anh sẽ cho hắn nghe gió kiếm, không giết, chỉ rạch nát mặt nó thôi. Nữ hôn khuôn mặt đanh lại của người tình mù: Thời đại mà Zatoichi lê thân đi hành hiệp nó an lành hơn thời này anh ạ. Kiếm anh sẽ chóng gãy bởi cường hào ác bá thì quá đông, chúng thuê bọn xã hội đen vây khổn thì coi như mãnh hổ nan địch quần hồ. Rồi chừng đó em biết tính cách chi? Không lẽ bán hết ruộng vườn nhà đất đi thuê bọn đầu gấu Trung quốc trả thù giúp.
Mưa gió tơi bời ngoài trời. Sấm chớp xé toạc màn đêm nhưng cả hai chẳng để tâm. Khi họ ôm lấy nhau thì dường như họ không còn gì đáng quan ngại. Da thịt họ chia sẻ hơi ấm cho nhau và dần thiếp vào giấc ngủ cơ hàn, thanh bần và mạt hạng. Huyện Ngưu Sơn có không dưới hai ngàn hộ mãi chịu đời lầm than. Hy vọng kế hoạch cải thiện, phấn đấu lên xã hội chủ nghĩa mười năm tới sẽ làm thay đổi diện mạo, mang Ngưu Sơn lên tầm vóc xứng tầm thời đại tựa Thăng Long. Ngưu tầm ngưu mã tầm mã!
Một thứ trâu ngựa đậm đà bản sắc dân tộc! Đêm khuya, sấm động đì đùng, mưa không ngừng khóc than tuồng phẫn nộ một điều gì…
Hồ Đình Nghiêm
Victoria Day (Fête de la Reine) 2017.