Tèo con!

baotreonline.com

January 13th, 2024

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Thú thiệt với bà con; tui sanh bất phùng thời, đời buồn quá nên tui thích đọc chuyện cười cho cuộc sống nó cân bằng, kẻo té.

Rồi luân lạc quê người, buộc phải học tiếng Anh hầu đi làm ‘cu li’ kiếm tiền nuôi vợ, nuôi con cho giống người ta. Học tiếng Anh ở trường theo kiểu xưa chán lắm. Trong lớp, tui ngủ gục hoài. Chán nhưng phải học. Không học, không kiếm được việc làm, bị thất nghiệp; buồn ở nhà nhậu hoài con vợ nó chửi cho mà tắt bếp.

May nhờ anh Ba Tèo cho tui một cái bí kíp. “Chán thì chú mầy kiếm cái gì không chán mà học. Ảnh kêu tui lên mạng nghe mấy cái chuyện cười của Mỹ của Úc, có phụ đề tiếng Anh mà học!”

Hiệu nghiệm thiệt! Học theo bí kíp của ảnh chỉ mới một năm mà tiếng Úc của tui tiến bộ thấy rõ. Tui bớt dùng động từ to “quơ” (tay) khi phải nói chuyện với thằng ‘boss’.

Xin mấy anh mình đừng có tưởng Mỹ, Úc nó không biết cười. Ngược lại, nó biết cười và cười rất thâm thúy.  Vin vô mấy cái ‘jokes’, nó chọc quê mình để dạy đời. Nghe, mình cười he he nhưng nghĩ kỹ thì rất thấm.

Như cái chuyện nầy nè: Tại Texas, Miền Tây hoang dã của Hoa Kỳ, một bà già buộc con lừa của mình vào cái cột trước quán rượu. Bà phủi bụi trên mặt và trên quần áo. Ngay lúc đó, một tên cao bồi tay cầm súng và tay kia cầm chai rượu whisky bước ra. Hắn nhìn bà lão rồi cười khẩy: “Này bà già, bà đã bao giờ khiêu vũ chưa?” Bà nhìn lên rồi trả lời: “Không! Tôi chưa bao giờ khiêu vũ. Và chưa bao giờ tôi muốn cả”

Một đám đông bu lại xem, tên cao bồi hừng chí cười toe toét: “Đúng là bà già cổ lỗ sĩ, bây giờ bà sẽ biết nhảy!” Hắn bắn vào chân bà già. Bà già không muốn bị bắn cụt ngón chân nên đành phải nhảy nhót. Những tên cao bồi khác nhăn răng cười khèn khẹt như khỉ. Khi bắn tới viên đạn cuối cùng, tên cao bồi cũng ôm bụng cười rũ rượi. Hắn nhét súng vào bao rồi quay trở vô quán rượu.

Tranh Bảo Huân

Bà lão quay sang con lừa của mình, rút ra một khẩu súng hai nòng rồi lên đạn. Tiếng lên cò rốp rốp vang mồn một trong trời sa mạc. Đám đông ngừng tiếng cười ngay lập tức. Tên cao bồi cũng nghe tiếng lên đạn bèn quay trở ra. Im lặng nghe cả tiếng ruồi bay vo ve. Vẻ mặt ai cũng căng thẳng. Tên cao bồi nhìn chằm chằm vào tay bà lão. Nòng súng không dao động, bà nói khẽ: “Nè con trai, con đã bao giờ hôn ‘đít’ của một con lừa chưa?” Tên cao bồi nuốt khan, trái cổ chạy lên chạy xuống, hắn nói: “Không, thưa bà, nhưng giờ thì tui muốn”

Mấy bạn ơi! Cái “joke” ngắn nhưng nó chứa tới 5 bài học: Đừng bao giờ phách lối. Đừng lãng phí đạn dược. Bạn phải biết quyền lực từ nòng súng. Rượu whisky làm bạn bốc đồng nên nghĩ mình khôn hơn thực tế.  Đừng chòng ghẹo người già. Họ già, từng trải; nên họ không ngu như bạn nghĩ”. Câu chuyện như đùa nhưng thật là thâm thúy.

Thằng Tèo con cuối tuần, thứ Bảy, đi học thêm tiếng Việt, có lần nó hỏi: “Cô con, người Bắc nói: Ví dầu cầu ván đóng đinh. Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi” Sao con nghe ông Thanh Sang hát cải lương: “Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi” Ai đúng ai sai? Tui nói: “Cô con sai”. Đây là ca dao Miền Tây, thơ lục bát phải vần. Nếu cô con nói ‘gập ghềnh’ thì ‘Ví dầu cầu ván đóng đinh” cô con phải nói ‘Ví dầu cầu ván đóng đênh mới vần”

Chiều cuối năm, anh Ba Tèo hỏi tui có quỡn hay không? Tui hỏi chi vậy?”Anh nói: “Lại nhà tui nhậu!”. Tui trả lời: “Ai rủ nhậu, không tốn tiền, tui lúc nào cũng quỡn”.

Chiều, tui ló mặt tới, anh Ba Tèo đang lui cui chiên ức gà, đùi gà trong bếp. Thằng Tèo con đang ngồi gặm cái đùi. Nó nói: “Bác biết hông? Tuần rồi trước khi nghỉ lễ Giáng Sinh và Tết Tây, cô giáo hỏi con thích con vật nào nhất? Con trả lời: “Gà rán”

Tui làm tài khôn sửa lưng nó: “Bắc Kỳ hai nút mới gọi là gà rán; còn Nam Kỳ thì gọi là gà chiên. Gọi gà rán không đúng đâu! Rán là xài ít mỡ, ít dầu. Gọi chiên vì đùi, ức gà nó ngập trong dầu mỡ. Như ba con chiên chuối chiên; như chú Ba chiên bánh tiêu, hay chiên dầu cháo quảy.

Thằng Tèo con chống chế: “Tiếng mẹ đẻ của con là tiếng Bắc. Mẹ con là Bắc Kỳ chín nút kêu là gà rán. Bố con người Mỹ Tho. Đúng ra con phải kêu bằng Ba. Nhưng lần nào Mẹ cũng hỏi: “Bố mầy đâu? Lên lầu kêu Bố mầy xuống rửa chén; Ăn xong bỏ đó; cứ chui vô phòng chít chát Nẹ nên (Lẹ lên) bà ứa gan Nắm rồi (lắm).”

Tranh Bảo Huân

Sợ làm thằng nhỏ cụt hứng; tui châm dầu thêm: “Rồi sao nữa con?”, “Cô ấy nói con đừng giễu dở”. Nhưng cô ấy không đúng; vì học trò cả lớp, bạn con, chúng đều cười hô hố.

Bố Mẹ con bảo phải luôn nói sự thật. Con đã làm y như lời Bố dạy: “Gà chiên là động vật em yêu thích nhứt” Đi học về, con kể cho Bố chuyện đã xảy ra và Bố nói có lẽ cô giáo của con là thành viên của ‘People for the Ethical Treatment of Animals – Người đối xử có đạo đức với động vật’. Con cũng yêu động vật, nhất là thịt gà, thịt bò và thịt lợn. Con nói thật nhưng cô lại gửi con đến văn phòng hiệu trưởng. Con kể cho thầy ấy nghe chuyện đã xảy ra và thẩy cũng cười he he. Sau đó, thầy bảo con đừng nói như vậy nữa.

Ngày hôm sau, cô giáo lại hỏi: “Con vật nào còn sống mà con yêu thích nhất?” Con trả lời: “Con gà!” Cô hỏi tại sao?” “Em thích gà vì Mẹ em có thể biến chúng thành món gà rán”. Cô ấy lại đưa con trở lại phòng hiệu trưởng. Thầy ấy cười he he và bảo con đừng nói như vậy nữa.

Hôm sau nữa, cô kêu con kể cho cô nghe người nổi tiếng nào mà con ngưỡng mộ nhất? Con trả lời: “Colonel Sanders” (Người sáng lập KFC, Kentucky Fried Chicken). Bác hãy đoán xem sau đó con sẽ đi đâu?

Bố Mẹ dạy con: Quý nhất của con người là sự chân thật. Con nói thật nhưng cô con không chịu mới chết!

ĐXT

Rồng bị gãy đầu

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 16th, 2024

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Bà con mình có tánh dị đoan hay tin vào điềm báo. Điềm báo là hiện tượng báo trước chuyện tương lai, thường là một thay đổi lớn. Điềm có hai loại tốt và xấu. Điềm tốt là điềm lành. Điềm gở là điềm dữ.

Sách Đại Việt Sử ký chép: “Bà họ Phạm, đi chơi chùa Tiên Sơn, Bắc Ninh, có thai với thần nhân, sinh ra Lý Công Uẩn, vào ngày 12 tháng 2 năm 974.

Điềm lành là: Chùa Ứng Thiên Tâm (Châu Cổ Pháp) có con chó con mới sinh, lông trắng có đốm đen, kết thành hình hai chữ thiên tử. Lý Công Uẩn sinh năm Giáp Tuất, sau lên làm thiên tử, quả là ứng nghiệm.

Còn điềm gở, điềm dữ? Sách Đại Việt Sử lược chép: Đỗ Thích đêm nằm trên cầu, bỗng thấy sao sa rơi vào miệng. Mùa Đông, tháng Mười Một, năm Kỷ Mão 979, Đỗ Thích giết Đinh Tiên Hoàng, giết luôn cả Nam Việt vương Đinh Liễn đang ngự tiệc.

Thiên hạ cho rằng: Đỗ Thích chỉ là một hoạn quan, không có vây cánh, không thể tự ý giết vua. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn đang nắm quyền bính trong tay mới là kẻ thí vua. Giả thuyết nầy rất hợp lý. Lịch sử tranh giành quyền bính chỉ là những điều lặp đi, lặp lại hoài.

Ngày mùng 2, tháng 11, năm 1963, Nguyễn Văn Nhung, một sĩ quan cấp thấp không thể tự ý bắn chết Tổng thống Ngô Đình Diệm và Cố vấn Ngô Đình Nhu cho được. Kẻ thí vua ngày xưa là Thập đạo tướng quân Lê Hoàn; sau nầy là Tướng phản loạn Dương Văn Minh. Tướng có quân trong tay mới dám giết vua. Chớ xưa cỡ hoạn quan, nay cỡ lon đại úy thì sức mấy?

Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị giết, cuộc tranh giành quyền bính bắt đầu khốc liệt, một mất một còn. Các đại thần Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp, Lưu Cơ … đều bị giết. Cuối cùng, với sự ủng hộ của Phạm Cự Lượng và Thái hậu Dương Vân Nga, Lê Hoàn giành được chiếc ‘long ngai’

Rồng Tiền Giang – nguồn báo phụ nhữ 

Và bây giờ lịch sử Việt Nam cũng đang lặp lại. Dưới chế độ độc đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là vua từ năm 2011. Vào ngày 14 tháng 4 năm 2019, ông  Nguyễn Phú Trọng – khi đó là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước bị đột quỵ trong chuyến công tác tại Kiên Giang. Cho dù căn cứ tại khoản 11 Điều 7 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước 2018, tình trạng sức khỏe lãnh đạo đảng CS là tuyệt mật; sợ sùy ra sẽ gây nguy hại đến lợi ích quốc gia. Nhưng đằng sau hậu trường, nội bộ CSVN đấm đá, thanh trừng lẫn nhau diễn ra ngày càng khốc liệt. Ủy viên Bộ Chính trị Đinh La Thăng bị nhốt không biết ngày ra. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc năm ngoái về vườn đuổi gà cho vợ. Mới đây Trần Tuấn Anh, con cựu Chủ tịch nước Trần Đức Lương, bị cho về vườn. Trần Tuấn Anh có hạ cánh an toàn hay không tùy theo số tiền tham nhũng nhả ra bao nhiêu? Nên không ai biết hắn ta có bị nhốt hay không?

Đó là đám kỳ nhông. Còn cắc ké, cỡ Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, Phạm Bình Minh hoặc cỡ Bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa, Bến Tre, Lâm Đồng … bị kỷ luật hoặc phải đi tù thì vô số kể.

Hồi năm ngoái, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đón Tổng thống Joe Biden của Mỹ đến thăm Việt Nam. Rồi tự nhiên ông ta biến mất tiêu. Thấy chữ mà không thấy hình. Vậy là tin đồn thất thiệt, tin vỉa hè ‘Catinat’nở rộ như nấm mối gặp mưa, tràn lan trên mạng xã hội. Bà con mình hồi hộp phấn khích coi cái cuộc tranh giành quyền lực nầy như coi một trận đánh võ đài. Chớ dân ngu khu đen không biết vua có bị bịnh nặng lắm không? Vua băng hà tức đã chết rồi hay chưa chết? Nếu vua đã chết thì phải công bố quốc tang để cả nước khui bia uống mừng. Cứ úp úp mở mở như lắc bầu cua con gì ra đây nên dân chỉ hóng tin đồn. Tin vào điềm gở; tin vào điềm dữ: ‘chim sa cá lụy.’ Đi bộ thấy chim sà xuống chết ngay trước mắt mình; hoặc đi sông mà có con cá nhảy vô ghe là điềm không may. Nhất định là nhà có người chết!’

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền giang, đường hoa Mừng Xuân Giáp Thìn 2024 làm linh vật rồng lấy ý tưởng “Cửu Long Hội tụ – Tiền giang hóa Rồng.” từ truyền thuyết “trăm trứng nở trăm con” như một niềm tự hào về nòi giống Tiên Rồng và truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam, với khát vọng vươn lên của đất nước và quê hương. Con rồng tào lao, bá láp nầy nuốt hết tiền thuế của dân tới 6 tỷ đồng (khoảng 245,790 đô la).

Rồng Tiền Giang – nguồn người Việt

Con rồng nầy không có bay được. Nó phải ngự long xa đến quảng trường Hùng Vương, thành phố Mỹ Tho, để trưng bày. Khi chạy đến xã Đạo Thạnh, thành phố Mỹ Tho, thì mô hình rồng bị nghiêng xuống đường. Phần đầu rồng bị rơi ra và nứt gãy một số bộ phận.

Bà con mình hay tin dị đoan nên bàn tán xôn xao: đầu Rồng bị long ra như răng long; là “điềm gở” trong năm Giáp Thìn.

Bà con mình ai cũng biết Dinh Độc Lập trước năm 1975 là Phủ Đầu Rồng. Vì báo chí coi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là vua.

Rồng, long là vua. Long nhan, mặt vua. Long bào, áo vua mặc. Long xa, xe vua đi. Longines đồng hồ vua mang. Vua đi nhảy đầm, Long mắc (lắc mông). Vua đi nhậu về bị hoàng hậu nhốt ngoài đường thì gọi là Long kẻo (leo cổng). Giờ long nhong, ổ gà dằn xóc nên long đong gãy mẹ cái đầu rồng.

Bà con mình ai cũng biết ở nước VN mình từ tháng Tư năm 1975 tới nay tên Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc do dân làm chủ. Khẩu hiệu in cho tốn mực, tốn giấy. Đọc chơi rồi bỏ; chớ chẳng ai tin. Bà con mình ai cũng biết Tổng bí thư đảng CS là rồng, là vua. Bà con không thấy hình Tổng bí thư đảng CSVN Nông Đức Mạnh ngồi trên một chiếc ghế lớn, chạm trổ đầu rồng màu vàng tại tư dinh của ông ta đó sao?

Ở cõi thiếu, vắng

vandoanviet.blogspot.com

Hồ Đình Nghiêm

Thứ Ba, 17 tháng 10, 2017

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Trên đường đi, đôi lúc bạn phải tạm dừng lại, nghỉ chân. Bạn nhìn quanh, phát hiện cái thưa thớt, rơi rụng dần của bầu đoàn lữ thứ, hao hụt.

Có những cuộc sum vầy tình cờ, đưa đẩy bạn ngồi kề một nhân dáng, hai ba bóng người đối diện. Những khuôn mặt, giọng cười đùa vô thưởng vô phạt, nhạt; làm bạn nhớ tới câu “Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu. Thoại bất đầu cơ, bán cú đa”.

Đám đông nào mà chẳng vậy? Kia là rậm rật ánh sáng, nọ là bóng tối với so vai, trầm mặc tự chọn. Tôi luôn yêu mến một người anh già tuổi, ốm yếu. Ốm vì trong tay luôn nắm cốc rượu, chẳng thiết việc ăn. Yếu vì môi kia luôn ngậm điếu Winston, chẳng màng tâm sự. Hai hàm răng, chỉ còn trụ chừng năm bảy chiếc, nói giọng Hà Nội 9 nút, trầm, đục; nhưng nghe thanh tao mỗi bận anh dùng chữ Đếch. Làm cái đếch gì mà ồn thế! Chẳng phải ai cũng thốt được chữ đếch nghe vui tai bằng anh. Một người thầy vừa khó tính lại rất mực dễ chịu. Nửa xa cách nửa thân cận. Nửa khinh mạn nửa khuyên can. Có lần anh bảo: Cậu nên nhớ điều này, là nhà văn cậu nên ngồi trong bóng tối, sân khấu đèn màu là nơi dành cho Hùng Cường Mai Lệ Huyền.

Tạp chí Văn số 89, phát hành tháng 11 năm 1989 có đăng bài thơ của anh, đa số không dài, thường chỉ bốn câu, bài “Sáng Sớm”:

mắt nhắm mắt mở bước lật đật

đi một thôi đường còn gà gật

con lật con đật hai con đi

cũng sống rất an nhàn kiểu Mỹ.

Thời gian ấy tôi chăm viết. Anh gửi thư hối bài, cũng chỉ đôi dòng, chữ viết đẹp trên một vuông giấy nhỏ. Có khi hỏi: Cậu đâu biết làm thơ, nhỉ? Có khi phân trần khi nghe tôi hăm sẽ gửi sang một cái truyện dài: Tôi rất tránh chuyện phải để cho người đọc chờ cả tháng. Một ngắt rời từng đoạn là điều không nên.

Nếu anh thuận lòng, biết đâu tôi đã phóng lao, rồi phải cực lòng theo lao. Tôi đâu biết làm thơ, thơ nằm ngoài tay với. Văn Magazine như tấm gương soi, qua đó tôi thấy mặt mình rất xấu chai. Cần siêng tắm gội, chải tóc, ăn ở hợp vệ sinh mới dám bước vào vườn thơm hoa lạ (nhỡ gặp ai trong mơ, mình cũng đã chuẩn bị chút đỉnh sự tử tế). Nói đâu xa, chính anh là một rào cản. Tôi không đủ lực để tạo dựng sức mạnh, bước qua. Bài “Lẻ Một” của anh là một trong muôn ngàn lực cản:

sách một dẫy nằm trơ trên giá

cạnh người thân thế cũng trơ trơ

sách, người hai cõi cùng hư hoại

nơi một ngàn chương thiếu một tờ.

Không những nhìn thấy trước cơn hấp hối của chữ nghĩa, tháng 10 năm 1989, vào thời điểm ấy đã sớm tựu thành ở anh nỗi ám ảnh về một màu đêm tận tuyệt, nơi dừng chân thực sự của những lên đường trước, sau. Đời bày ra thức mà anh gọi là “Món Đất”:

đất tưởng còn xa trời vẫn gần

giờ đất đã gần trời xa dần

khăn bàn trải sẵn cùng thân thế

đợi chiếc khay trời món đất ăn.

Sang tới tháng 11 năm 1992, tạp chí Văn số 125 đăng một thứ gần với “Bản Chúc Thư Trên Ngọn Đỉnh Trời” (nhan tập truyện ngắn của anh), bài thơ mang tên “Nói Với Mộ Chí”:

đá kia tuổi đá đã nghìn năm

dựng trên kẻ đã về trong đất

nó sống hư huyền như nó mất

đánh dấu làm chi chỗ nó nằm.

Càng về sau anh càng thích thu bé lại, làm thơ nhiều, trong quán rượu, ngồi xe đò, trên máy bay. Thôi viết dài, đêm khuya cúi bóng trên trang giấy, đèn thắp nhìn thấy mực dầu đang xuống dần, đốm sáng lung lay. Tạm gọi là dài khi mỗi tháng chỉ viết được Sổ Tay lay out chừng bốn năm trang, kể chuyện nắng Cali mà mưa Seattle, ai vừa di dân đến ai vừa bỏ lại hành trang. Trang văn rất lành, không bình phẩm chẳng khen chê một ai (mặc xác chúng nó). Trước sau chỉ là một kẻ đưa tin, càng trung thực càng tốt. Nhưng, cốt lõi của thơ lắng đọng lời tự thán, chút yếm thế, vẽ ra viễn cảnh chừng thảng thốt, “ai tri âm đó mặn mà với ai?” Và chữ dùng, ám chút hằn học, bất ưng: “Thằng Viết Mướn”.

những trang đời viết còn dang dở

sẽ có bàn tay ấy viết giùm

ngón cái sang trang và ngón út

viết giòng vuốt mắt phút lâm chung.

Nhà văn Mai Thảo (1927-1998) hàng tháng viết tên cùng địa chỉ tôi trên bì thư vàng, ra bưu điện mua tem, con mộc Westminster đóng lên và tờ Văn chưa một lần lỗi hẹn tới vùng băng giá.

Lý ra tôi chỉ nên nói riêng về anh, nhưng khi tìm đọc lại những số báo Văn cũ, úa màu, tôi đụng phải một bài thơ “thần sầu” của Cao Đồng Khánh (Văn số 131, tháng 5.1993). Một tiếng thơ lạ, (đôi khi chữ lót của anh lại thiếu dấu huyền) người không có tên trong tuyển tập 40 năm thơ hải ngoại và cũng đã vắng mặt dài lâu tựa Mai Thảo. Cao Đồng Khánh, tác giả của thi tập nổi tiếng “Lửa Đốt Ngoài Giới Hạn” sinh năm 1941 và mất năm 2000. Sau đây là bài vừa chạm trán, “Địa Chỉ Tình Yêu”, cầm lòng không đậu buộc phải chép lại, thay tưởng nhớ người bạc mệnh:

đời tứ xứ! em ơi. thành phố tôi tróc nóc

mưa bão nào. hơn nữa. cũng không sao

có người thuỷ tận đi tìm sắc nước

con mắt màu lý lục không yên.

con mắt có đuôi vẫy gọi trí nhớ

chiếc lá cuối cùng thắm thiết ra giêng

như vết môi son thoa trên đông chí

bay ngập vào trong tiểu sử phiêu lưu.

tháng chạp bạch kim. tháng giêng tóc bạc

mùa đông lạ kỳ khuya sớm tuyết trân sa

tháng chạp gió lúc. tháng giêng nước nổi

những tháng trời gầm em ở thật xa.

mưa bát ngát phía bên trời đánh lớn

trên đường sét sáng trưng ai đó quẩn quanh

sầu cố xứ nặng nề hơn thế sự

chuyến xe đò lên xuống máy long lay.

mặt trăng sắc sảo trong sơn cùng ký ức

địa chỉ tình yêu, em. hãy nhớ tận tường

con đường máu nóng đưa vô hương lộ

có một ngôi nhà trong góc giác quan.

ở ngoài bão táp. trong lòng dông tố

hãy ghé vào đây, em. bàn ghế tận tình

em sẽ gặp em, như, một người mất tích trở lại

chải gỡ đời tư bằng gương lược liêu trai.

những tàn tích hệ luỵ trồng ngoài sân, phong cảnh

về sau thành thế núi hình mây

ngôi nhà cảm động nồng nàn sự thật

yểu điệu vô cùng thân thể trăm hương.

tháng giêng, trên ấy tuyết rơi, dưới nầy mưa lũ

ở giữa, cuộc đời, lạnh lẽo long đong

mặt trời quốc sắc trong tư phần phú quý

có một ngôi nhà trong khoé mắt em.

Trong ý nghĩ cạn xợt của tôi, bài thơ trên có thể là một biểu tượng cho hai từ: Hải Ngoại. Giạt trôi. Dông bão. Hoạn nạn. Tấp bồi. Lưu lạc. Sống thở bằng trí nhớ đã thôi còn nguyên trạng. Không thể hít vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười. Một bài kệ dài chất không thứ lớp những rạn vỡ từ con chữ khác thường, lạ lẫm. Mà tôi yêu quý.

Có người nhiễu sự đặt dấu hỏi: “Thơ đến từ đâu?” Tôi câm lặng. Có người dùng từ thậm sáo: “Tôi là con chim đến từ núi lạ ngứa cổ hót chơi”. Tôi tủi thân. Tôi vụng về. Tôi chỉ biết thổn thức khi nhớ đến hai tài năng đã về “núi lạ”. Cảm ơn anh Mai Thảo. Cảm ơn anh Cao Đồng Khánh. Mộ chừng nghe cỏ mọc xanh!

Nơi có lắm cổ tích

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 27/05/2019 

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Bạn còn nhớ Truyện Kiều của Nguyễn Du không? 3254 câu lục bát khởi đi khúc đoạn trường bằng vào cuộc dạo chơi của ba chị em trong tiết tháng ba, Thanh Minh là dịp lễ tảo mộ, xúi gặp phải nấm mồ lạnh tanh của Đạm Tiên không nhang khói, thế một điềm báo trước về kiếp hồng nhan, vận vào nhân vật chính: Thuý Kiều.

Sè sè nắm đất bên đường
Dàu dàu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.

Cỏ là cỏ. Nguyên trạng, mọc thấp lè tè, ngứa ngáy, tràn lan (xanh tận chân trời), không mắc mớ gì tới đám cỏ mịn màng kín đáo nằm trong hai câu của Bùi Giáng (1926-1988):

Bây giờ em đứng nơi đâu
Cỏ trên mình mẩy em sầu ra sao?


Thi sĩ Bùi Giáng dùng chữ đứng, nếu cho “em” nằm thì ta hiểu em ấy nào khác gì Đạm Tiên, nghĩa là thác dưới ba tấc đất có cỏ nửa vàng nửa xanh phủ lặng một cuộc đất không thân bằng quyến thuộc vãng lai. Đứng khác nằm, do vậy cũng nên nhìn nhận cái khác biệt của mỗi loại cỏ. Có loài cỏ không nhờ đất bón nuôi. Và sau hết, dàu dàu ngọn cỏ nọ cũng cạy mặt với “trồng cỏ”, thuật ngữ của bọn chuyên lao động mờ ám nhằm cung cấp cần sa cho những kẻ thích sống thử với mộng ảo, nghiện đi mây về gió.

Đã lâu (nói kiểu giật gân là vào thế kỷ trước) tôi có viết một truyện ngắn “Bữa Ăn Trên Cỏ” đăng ở trang mạng Tiền Vệ, tựa vay mượn từ “Le déjeuner sur l’herbe”, bức tranh sơn dầu nổi tiếng của nhà danh hoạ Édouard Manet (1832-1883) mà thời còn học trường Mỹ Thuật ở Huế đã bị nó quyến rũ khá lâu (một phần vì tai tiếng?).

Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng (1940-2014) cũng sáng tác ra tập tuỳ bút mang tựa “Ý Nghĩ Trên Cỏ” xuất bản ở Sài Gòn, năm 1971. Chạy ra biển ngoài, vì nghiệp viết lách đưa đẩy, dần dà tựu thành một tình thân ái. “Bữa Ăn Trên Cỏ” hằng tháng vẫn có thư đi tin lại với “Ý Nghĩ Trên Cỏ”, từ thư tay bỏ phong bì ra bưu điện mua con tem chừng năm bảy ngày là tới San Jose, cho đến hồi cách mạng bùng nổ bèn ngồi vọc mấy ngón trên bảng mẫu tự của máy điện toán, vi tính, MacBook Air, computer. Nội dung thường nhăng cuội hỏi thăm tới sức khoẻ, thèm được ngồi uống cà phê kề cận bên nhau, nhớ lại những thành phố từng đặt chân, nhắc về khung cảnh nơi ngồi sáng tác truyện ngắn. Và chân đi của thời gian luôn là một dấu chấm đầy nghi hoặc. Tôi khen bức ảnh đẹp đóng khung bốn nhân vật ngời sáng: Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Nguyễn Xuân Hoàng chụp vào năm 1973 trước toà soạn báo Văn, 38 Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn. Để hai hôm sau, trong email gửi vào ngày thứ Bảy, 5 tháng 8, 2006 lúc 6 AM, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng hồi đáp (chép lại nguyên văn):

“Hình cũ, scan đi scan lại hao mòn, mờ mịt, nhìn không rõ nét. Người chụp là một thợ ảnh sát bên toà soạn- ông này sau 75 là 1 cán bộ VC- ai mà ngờ. Chắc ngày ra đi của nxh không xa”.

“Ai mà ngờ”. Đó là câu ta thán nhuốm chút hoang đường thường chứa đựng trong truyện cổ tích và được thuật lại ngay cả sau tháng Tư, 1975. Một cổ tích luôn mới thế cho Chuyện Ngàn Lẻ Một Đêm mà khi kể ra (nhằm vỗ về) không ai có thể chợp mắt yên ngủ suốt năm canh, trằn trọc là đằng khác. Cổ tích cũng nằm lắng đọng trong thơ Tô Thuỳ Yên (1938-2019), hãy nghe thi sĩ kể lể, trích một đoạn trong bài “Nỗi Mình Lần Giở”:

Ở chốn mệnh danh là chốn cũ
Dân gian thay mới những truyền kỳ
Đất trời ủ lứa chiêm bao khác
Dâu biển làm mưa nắng lạ đi
Bụi rác mỗi thời, một dạng loại
Chồng sâu thêm những địa tầng quên
Người về không biết có đúng chỗ
Lịch sử qua đường đã cải trang.

Ai mà ngờ. Nhức nhối. “Ai mà ngờ”, nghe nhẹ nhàng hơn “đùng một cái”. Chú Sáu khù khờ ngày trước chuyên hạ heo bò trong lò sát sanh cung cấp và phân phối thịt cho mấy chợ, đùng một cái giờ này chú ở trong uỷ ban nhân dân tỉnh ăn to nói lớn miệng mồm có gang có thép. Đùng một cái thế cho tiếng súng bất ngờ nổ, hoặc “tin đâu sét đánh ngang tai, Sáu kia coi bộ lắm tài trị dân”?

Bạn còn nhớ bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan (1916-2010)?

…
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
Đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương
Tàn lạnh vây quanh…
…
Khi gió thu về
Cỏ vàng chân mộ chí
…

“Tôi” đi lính, đi dưới hòn tên mũi đạn thì không sao; vậy mà “nàng”, vợ mới cưới của tôi ở hậu phương an lành, đùng một cái, đang sống chuyển sang từ trần. Thế mới sinh chuyện. Chuyện cổ tích. Ai mà ngờ. Ngờ sao đặng. Mấy ai học được chữ ngờ. Ngờ khác ngộ. “Đất nước mình ngộ quá phải không anh?” Ngộ nghĩnh lại khác với giác ngộ, hiểu ra vấn nạn. Nghĩ mà nhức đầu không kể xiết !

Cỏ mọc, giống này tăng trưởng rất nhanh, rậm rạp, lan tràn, xốn mắt; do lẽ đó, nó bày ra một thứ nghề và nuôi sống “tập đoàn” chuyên đẩy xe cắt cỏ. Cỏ cũng hăm hở đi vào lãnh vực thơ văn, đại loại như Ý Nghĩ Trên Cỏ và Bữa Ăn Trên Cỏ có nói ở trên, rồi thì là “đàn bà đái không qua đầu ngọn cỏ”. Vân vân. Nhưng hình như, người ta thích dùng cỏ để minh hoạ, làm rõ hình ảnh một nấm mồ. Biết chủ ngôi mộ mới vừa thác đi vì cỏ chưa kịp mọc. Hiểu ra người nằm dưới kia chết đã lâu rồi, bộ không thấy cỏ vàng héo hắt sao?

Ngày xa xưa, thời Pháp thuộc, ba tôi làm boss, chủ một cơ sở sản xuất gạch ngói ở Điện Bàn Quảng Nam, thường liên hệ với dân mắt xanh mũi lõ nên tiếng Tây tiếng u pạt-lê búa sua có chết thằng thực dân nào mà sợ. Nhưng ai ngờ, lúc đó người ta đang ra sức “giết Tây chết càng nhiều càng mừng vui”. Đùng một cái, khéo trách con tạo xoay mòng, ba tôi bị xếp vào dạng thế lực thù nghịch đối với giai cấp vô sản, hòng mưu cầu tai qua nạn khỏi ba mươi sáu kế tẩu vi thượng sách, ôm vợ con bỏ của chạy lấy người trở ra Huế (nơi phồn thịnh màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt). Những chú Ba, anh Tư, con Năm, thằng Bảy tổng nổi dậy, chất củi tưới xăng dầu đốt sạch cơ ngơi gia tài điền sản của ba tôi. Ai mà ngờ, từ rường cột hoành tráng chuyển đổi qua đống tro tàn chỉ chưa đầy 24 giờ, lửa táp rần rần cả một góc trời, đứng ở Cẩm Lệ Hoà Vang không cần bặp điếu thuốc cũng ngửi ra mùi khét, ngồi ăn cao lầu ở Hội An sơ ý mặt cũng bị dính bồ hóng từ chốn hung hiểm nọ thổi tàn tro về.

Trong những tấm ảnh đen trắng ghi lại thời hoàng kim mà ba tôi còn cất giữ (kỷ niệm thương đau), con cái ông đều nhìn nhận rõ có bốn (4) loại gạch ngói khác biệt nhau được sản xuất (đúng quy trình và đạt chất lượng) đều có ghi tên ba tôi nằm bên góc, thế một cái triện, một logo khằn lên cầu chứng, khi lõm khi lồi, trông rất uy tín. Ba tôi mất đã lâu, không đợi gió thu về quanh năm cỏ vẫn vàng chân mộ chí. Xa xứ triền miên từ độ tóc xanh nay đã úa màu, tôi quyết định tự mình đi Việt Nam một chuyến, chết bỏ bể bỏ. Trước thăm mộ song thân (mà chẳng đợi dịp tiết Thanh Minh tháng ba bởi sợ gặp lắm oan hồn) sau thử mò kim đáy bể cốt lùng sục cho ra một cục gạnh có khắc tên ba tôi mang về giữ làm vật gia bảo. Tôi nghĩ, một viên gạch cạy ra từ bức tường ô nhục Bá Linh, giá trị chả là bao so với viên gạch mà ba tôi từng đổ mồ hôi sôi nước mắt để nung nấu thành hình dạng. Sẽ đi hang cùng ngõ hẹp quanh khu vực Điện Bàn cạy cục, đào bới. Hoặc khù khờ ông trời độ tình cờ nhìn thấy nó lòi ra bên một bức tường sụp đổ do một đề án thi công nâng cấp cơ sở nào đấy đang đập phá. Xin không xong thì mua, hét giá bao nhiêu kẻ hèn này cũng xin hầu, ba vạn cũng bỏ. Tôi sẽ la trong bụng: Ba ơi, con tìm thấy nó rồi! “Tôi” về đã gặp “nàng”, vuông vắn nằm yên bên mương rạch đầy bóng tối, bần cố nông ghẻ lạnh vây quanh.

– Mục đích của ông khi về đây? Có quen ai ở chốn này không?

– Tôi về tìm nhặt chút di tích mà hồi xưa gia đình tôi khổ công làm ra.

– Di tích gì? Cớ sao lại bỏ quên?

– Thú thật là tôi mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua những mong tìm ra một hai cục gạch.

– Đang công tác ở viện bảo tàng hử? Hay dụng tâm muốn nói cạnh nói khoé?

– Là sao ạ? Tôi chẳng nắm bắt được ý bác.

– Báo vừa đăng chuyện xưa tích cũ đấy. Một phái đoàn ta được trung ương đề cử đi sang Pa-di để tìm cho ra hai cục gạch mà năm nào Bác đã vận dụng chất xám cạy cục mang gửi vào lò nướng bánh mì, hối hả đem về thế cái lồng ấp để đánh đuổi rét lạnh trong thời kỳ chông chênh lịch sử đảng hòng mở ra một lối đi cho dân tộc ngay trên đất thằng thực dân Pháp.

– Chuyện lạ nhỉ? Gay cấn thật! Thế họ có tìm ra không ạ?

– Có đấy. Thành công vang dội. Chúng ta đã không mần thì thôi, khi rớ tay vào thì nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

– Hay nhỉ! Từ hồi đó tới giờ mà gạch đá cũng giữ lòng chung thuỷ một nắng hai sương đợi chờ. Rồi có đưa gạch đi xét nghiệm năm tháng ra lò không ạ? Nó mang dấu vết dị hình gì để dễ nhận dạng không ạ?

– Lo bò trắng răng! Chạy trời sao khỏi nắng, giờ này nó nằm êm ấm, bảo quản chặt chẽ trong viện bảo tàng. Ta trân quý bảo vệ nó, nó đã giúp người sống qua bao đêm trường đói rét, cơm không có mà ăn áo không có mà mặc.

Cái bác người Quảng Nôm này mô có làm ở ban tuyên huấn mà răng mãi “nhồi sọ” tôi, trong khi miệng phun khói thuốc thơm của đế quốc mà tôi vừa “bôi trơn”, hối lộ cả bao để khỏi “gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”. Bác ấy chà đạp mẩu thuốc cụt: Thôi khoắn ngay đi nhé, không nên thậm thụt dò la bất chính quanh đây cho rách việc. Hừ, hoá ra gia đình chú ba đời là thành phận địa chủ, giờ này còn mang âm mưu về bòn rút thành quả của nhân dân.

Tôi lấm lét chẳng đưa lời giã biệt, đành theo kế sách của ba tôi ngày cũ: Tẩu vi thượng sách. Rút lui, nhất bộ nhất bái. Tôi về không gặp nàng, tôi ngồi bên mộ ba mẹ mình đầy bóng tối. Cỏ không mọc được ở đất cày lên sỏi đá. Tôi chảy nước mắt. Ba tôi khởi nghiệp thành công với nghề sản xuất ra gạch ngói, đến khi mất, chôn xuống đất lạnh đã không có lấy một viên gạch cắm quanh chỗ an nghỉ sau cùng. Tôi bỏ ra năm trăm đô la nhờ một ông già thợ nề sống trong căn nhà tranh hở hang dưới chân đồi đầy gió, nhờ xây đắp xi măng và dựng một tấm bia cho ra hình dáng một nấm mồ. Nếu tôi là Thuý Kiều, nói tội trời e tôi bán trôn để “nâng cấp” căn nhà ba mẹ tôi ngó cho được tử tế, nhìn vào là biết ông bà khuất mặt này ắt có con cháu Việt kiều làm phận bèo giạt hoa trôi.

Gần chỗ tôi ngồi trông coi bác thợ nề đang ra sức thi công có đôi vợ chồng, áng chừng vậy, chậm rãi bày hoa quả và cúi đầu thắp nhang bên một ụ đất cao. Tôi rảo bước tới với ý nghĩ, dù gì thì thân nhân họ cũng là bạn láng giềng với song thân mình. Chết không biết có nói năng “bắt sóng” trao đổi những gì, nhưng đương sống thở thì nên biểu lộ chút tình cảm. Bất ngờ là giữa chốn hoang vắng gần trùng cảnh sơn cùng thuỷ tận này tôi đón nhận được một chuyện cổ tích theo lời thuật của anh thanh niên:

– Đống xương cốt lấp vùi dưới đó là ông nội tui. Ông chết bữa Mậu Thân dầu sôi lửa bỏng, hưởng dương 39 tuổi. Ông nội tui có một xưởng gỗ, nơi tạm coi như là một cơ sở an toàn cho việc giao liên thu nhận tin tức cũng như ông từng bỏ tiền mua thực phẩm thuốc men chuyển lên cho bạn bè nhảy núi. Ông có người bạn thân, xem nhau hơn anh em ruột thịt và ông bị chính người bạn này rút súng bắn ba phát vì ngang bướng không chịu theo họ rút lên Trường Sơn khi bị đánh đuổi. Xét cho đúng thì ông nội tui có công với cách mạng, nhưng theo chủ trương giết lầm hơn bỏ sót của họ thì ông nội là thành phần nguy hiểm, lỡ cơ sở bị lộ ông sẽ khai ra danh sách những ai đi theo kách mệnh. Sau 75, người bạn cũ, đứa giết ông về làm lớn ở bộ môn văn hoá, hoàn toàn chẳng gợn chút ăn năn về việc xuống tay “xử” tên đồng chí ngày nào, gieo cho ba mạ tui nỗi sợ triền miên khi trốn chạy. Máu mình nóng, thôi thì xa lánh kẻ máu lạnh cho yên ngày nào hay ngày đó. Đã mấy mươi năm mà mồ vẫn không xanh cỏ! Tức tối mới gớm!

Tôi nhìn đôi vợ chồng, thế hệ kế thừa thứ ba siêng năng thắp nhang cho ông nội họ, thành kính tưởng nhớ về trường hợp đột tử bất nhân. Cả ba đời đều nhẫn nhục câm tiếng kêu ca. Tự dưng tôi nhớ một đôi câu trong bài Quê Hương của ông Giang Nam bên thắng cuộc: “Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm… Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất có một phần xương thịt của…”

Yêu, ghét. Thương, hận thực sự giữa hai đối cực nọ chỉ cách nhau không đầy một gang tay. Đo thêm gang nữa sẽ đụng tới duy một đối đầu: Niềm phẫn uất. Giờ đây tôi chẳng có quê hương nên tôi không sôi máu. Tôi đứng trên mảnh đất còi cọc lạ lẫm này, đợi hoàn tất việc chỉnh trang ngôi mộ rồi tôi lại ra đi, thẳng cò o ngón chẳng quay đầu. Tôi chán ngán, tôi bơ phờ, tôi kiệt sức, tôi ngu dại. Sức người có hạn, ai đâu kể hết được những cổ tích liên tu bất tận xẩy ra trên xứ sở có 4000 năm văn hiến? Làm gì có cảnh đớn đau bỏ ra vườn ngồi bưng mặt khóc liền có một bà tiên hiện ra dỗ dành: Nín đi, con xin gì ta sẽ giúp hoàn thành ước nguyện. Hoang đường! Một cục gạch của cha, con thắp đuốc cũng tìm không ra hòng mang về xứ tuyết, sưởi ấm lòng trong tứ thời bát tiết.

Thôi. Ba Mạ chịu khó nằm lại với cô quạnh. Xin gạt lệ bái biệt, con bay.

Truyện Kiều dở ở hai câu kết thúc:

Lời quê chắp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài trống canh.

Đoạn trường ai có qua cầu mới hay. Ba hồn chín vía bước được xuống cầu sao lại bảo là mua vui? Vui này có giống như “ngày vui đại thắng”? Cái ngày cổ tích mà có ngàn người cười thì có triệu người khóc. Ba chục cái đám cưới thì ba chục vạn cái đám ma diễn ra, song hành. Nức nở dông dài mặc cho trống canh liên hồi điểm nhịp, hình như ngày mai trời lại tối.

Hồ Đình Nghiêm

Nói chuyện cùng nhà văn Phan Tấn Hải

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 02/05/2019 

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Nhà văn Phan Tấn Hải

Không cứ là chuyện cổ tích bao giờ cũng khởi đầu giọng kể bằng “Ngày xửa ngày xưa…” Mỗi chúng ta hôm nay vẫn quen dùng tới nó khi nhớ lại một kỷ niệm đã trôi trong quá khứ. Ngày xưa, tôi từng gặp anh. Anh ở bên Mỹ sang đây, tay bắt mặt mừng những hai lần. Một lần có diễn ra Đại Hội Văn Bút tổ chức ở Montréal (1989). Lần khác anh lặn lội về chung vui cùng nhà văn hoạ sĩ Võ Đình để rồi chung buồn trong vấn nạn khôi hài có tên gọi “động đất ở Mộng Lệ An” (1992). Ngày xửa, anh có tặng tôi tập truyện ngắn “Cậu Bé Và Hoa Mai”. Ngày xưa, dù tổn thất do trận động đất gây ra có lớn tới mức nào đi chăng nữa, xấu xa rồi cũng chóng vuột trôi; nhưng tôi vẫn nhớ, tôi không quên một người: Anh Phan Tấn Hải. Nhớ nụ cười hiền, nhớ mái tóc thưa, nhớ giọng nói chậm rãi thường chứa những ẩn dụ bên trong, dẫu ngập ngừng như kiểu đắn đo trước khi bày tỏ. Nhớ ngày xưa, thấy trán anh bị sưng một nốt bằng ngón tay cái, không dằn lòng tôi buột miệng hỏi để có ngay câu trả lời: Đêm qua Phật chỉ trăng, tôi thưa ồ trăng sáng quá. Phật cười khẽ búng ngón tay vào trán tôi.

Sau này, có lúc tên anh đi kèm với “pháp danh” Nguyên Giác. Tôi tin là mỹ danh nọ hẳn đã khoác vào thân anh từ lâu lắm. Ngày xưa, hoạ sĩ Đinh Cường vẫn mến chuộng anh, có thuật lại cho tôi nghe về cái tâm lành anh luôn nuôi dưỡng: Muốn đi đâu, muốn nhờ giúp đỡ việc gì Hải đều sốt sắng đứng ra lo liệu, chẳng đắn đo, không ngại tốn thời gian… Những phác hoạ sơ khởi trên không làm rõ về một người tôi mang đầy cảm tình. Muốn “nhìn ngắm” anh, tôi mạo muội bước vào “hậu liêu” để quấy phá, lôi anh ra khỏi thế giới riêng anh đang tĩnh tâm.

Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Thưa anh Phan Tấn Hải, trước tiên xin anh xí xoá giùm tôi cái tật ưa kể lể dài dòng như trên. Ngày xưa anh rất phong độ, bây giờ anh có nghe ra chút hao hụt nào không?

Phan Tấn Hải (PTH): Kính thưa nhà văn Hồ Đình Nghiêm và tất cả độc giả, tôi rất hân hạnh được trả lời phỏng vấn hôm nay — đây là một may mắn, vì tự lòng mình chỉ thấy mình chẳng là gì, may ra chỉ là một hạt bụi rất nhỏ trên trí nhớ của một số độc giả. Lòng tôi rất mực là vui, trước giờ vẫn luôn luôn hướng về Canada với nhiều hình ảnh đẹp. Các nhà văn, nhà thơ ở Canada mình từng gặp, như Hoàng Xuân Sơn, Hồ Đình Nghiêm, Bắc Phong, Lưu Nguyễn, Trân Sa, Trang Châu, Võ Kỳ Điền… vẫn là các ký ức đẹp, rất đẹp và thơ mộng. Bạn cũng vừa mới nhắc tới họa sĩ Đinh Cường, người tôi rất mực quý trọng — tài hoa, thơ mộng, độ lượng. Mình tự thấy rất mực may mắn có giao tình với những người như thế. Bây giờ bạn hỏi gì, nếu mình biết gì, sẽ xin nói ra. Còn hao hụt, thì sức khỏe yếu dần với thời gian. Ngày xưa, sức khỏe mình khá, lái xe từ Virginia sang Canada là chuyện bình thường. Chở họa sĩ Đinh Cường từ Virginia lên New York xem tranh cũng là chuyện dễ dàng. Bây giờ sức yếu, lái xe đi xa không nổi nữa.

HĐN: Trước 1975, anh là sinh viên ở Đại Học Văn Khoa Sài Gòn hay Đại Học Vạn Hạnh, thưa anh? Và tới ngang đâu thì quyết định giũ áo lên đường?

PTH: Kính thưa, mình học ở Văn Khoa Sài Gòn. Nhà thơ Lưu Nguyễn, một người hàng xóm của Hồ Đình Nghiêm, là bạn cùng học Ban Triết ở Đại Học Văn Khoa SG với mình, cùng làm Tập San Nghiên Cứu Triết Học ở trường với mình. Chuyện lên đường là vì đất nước qua mấy kỳ tổng động viên, thì đi thôi; lúc đó, mình học năm thứ 3, chưa xong Cử Nhân, sau này là tự đọc sách là chính. Tự mình thấy bất toàn trong việc nghiên cứu, vì tiếng Hán thì lôm chôm, còn tiếng Phạn, dù Pali hay Sanskrit, thì đều chẳng biết.

HĐN: Duyên do nào anh theo học Phật Pháp và theo đuổi tu tập Thiền?

PTH: Đó là khi đất nước ngổn ngang, tự nhiên lòng người hướng về Đạo Phật. Thiệt sự, từ hồi bậc trung học, mình đã tự mua sách về tập Thiền, tập Hatha Yoga, rồi Raja Yoga, rồi có anh bạn dạy cho mình chú thuật Katha chi đó, rồi sau gặp vị sư dạy bài Đại Bi, rồi lên học Mật Tông nhà Phật với Hòa Thượng Thích Thiền Tâm ở Lâm Đồng… rồi tự học Thiền Chỉ Quán theo một cuốn sách mỏng gặp ở một ngôi chùa. Nhưng tuyệt vời là Thiền Tông. Ban đầu do các bạn trong Nhóm Nghiên Cứu Triết dẫn lên gặp Hòa Thượng Thích Tịch Chiếu ở Chùa Tây Tạng Bình Dương. Thầy nói rằng chưa thấy tánh thì tu gì cũng là sai. Thầy biết bản thân mình (và Nhóm Triết) ưa đọc sách, nên cũng nói rằng phải rời bỏ chữ thì mới xong. Tôi nghe là tự nhiên tin liền, nhưng phải mất nhiều năm mới dần dần mà vào. Cần phải nói rằng, bản thân mình chẳng là gì cả, vẫn tự xem như người dựa cột, ngoài cửa. Thí dụ, hàng sư huynh của tôi nổi bật có nhà văn Nguyễn Thế Đăng (nhà sư, nhưng vẫn ký tên đời khi cầm bút), hay dịch giả Thị Giới Trần Đức Phi Bằng thì hơn mình xa lắm, và một số vị khác. Bản thân mình được chú ý phần lớn vì mình viết truyện, làm thơ, viết báo, nghĩa là có tiếng vang hơn, chớ tự thân không có gì là đáng nể.

HĐN: Nếu như tôi than thở cùng anh “đời là bể khổ”, trong nhất thời anh sẽ dùng lời gì để khuyên tôi? Tôi sẵn sàng để cho trán u lên như ngày xưa anh hứng chịu.

PTH: Bạn ơi, mình thử đưa ra nhiều câu trả lời – làm kiểu như bàn tiệc, để bạn lựa chọn tùy ý. Kinh Phật dạy nhiều pháp, không phải một. Mình không dám nói ý riêng, chỉ đưa ra Kinh Phật thôi.

Điều quan trọng là toàn lực, nên y hệt như võ sĩ ra trận, bốn bề cung tên, chỉ có cách: đầu mình tay chân đều trở thành áo giáp. Do vậy, phải thanh tịnh cả ba nghiệp thân, khẩu và ý. Pháp Cú Kệ 183 tóm tắt Phật Pháp: “Đây là lời Phật dạy: Chớ làm ác, hãy làm lành, giữ tâm trong sạch.” Giữ tâm cho trong sạch thì cần thấy tâm, và từ đó các phương pháp có thể khác nhau.

Cần ghi nhận rằng hiện nay nhiều phương pháp Thiền tập tại Hoa Kỳ và Canada chú trọng vào Chánh Niệm (Mindfulness) và xem đó như là thuốc chữa bá bệnh. Thậm chí, nhiều huấn luyện viên không nói gì về Giới khi dạy Mindfulness cho chiến binh, doanh nhân, vận động viên thể thao… Trong khi đó, Đức Phật luôn luôn xem giới là quan trọng nhất.

Đặc biệt, Đức Phật cũng nhấn mạnh về Từ Bi. Kinh SN 10.4 nói rằng Chánh Niệm không đủ để giải thoát, mà cần có Từ Bi nữa (Bản dịch Bhikkhu Sujato: Each new day is better for the mindful, but they’re not freed from enmity).

Nhiều pháp khác được kể trong Kinh Pháp Cú, qua các bài kệ từ 368 tới 376, ghi rằng Đức Phật dùng thần lực hiện ra trước 900 tỳ khưu, và khi ngài đọc một bài kệ về một cửa giải thoát, thì có 100 tỳ khưu đắc quả A La Hán. Tới 9 lần như thế, là toàn bộ 900 tỳ khưu giải thoát. Trong đó, bài kệ 368 nói về Từ Bi. Kệ 369 nói giữ tâm vô niệm. Kệ 371 nói về Chánh niệm trong mọi thời. Kệ 372 nói giữ tâm trong Chỉ Quán (lặng lặng, tỉnh tỉnh)… Nghĩa là, 900 vị, theo 9 cách khác nhau.

Mình tu chưa tới đâu, cho nên chưa biết nên khuyên Hồ Đình Nghiêm thế nào. Nhưng có lẽ tiện nhất là dùng Bát Nhã Tâm Kinh: hễ thấy được Tánh Rỗng Rang Vô Tướng của các pháp là hết khổ. Đó là nhận ra thực tướng cái được thấy (sắc) là vô tướng, là Không (bật màn hình TV là thấy hình ảnh vèo vèo hiện rồi biến, dù đẹp cỡ nào, rồi cũng vào cõi tịch lặng), nhận ra thực tướng cái được nghe (thanh) là vô tướng, là Không (ca khúc nào hay cỡ nào cũng trôi vào tịch lặng) thì cái khổ cũng thế: bạn mở mắt ra nhìn xem, cái khổ đó ở đâu trong tâm, tới một lúc sẽ thấy nó là rỗng rang, là không ở đâu cả.

Chúng ta là nhà văn, từng có nhiều cơ duyên để gặp những người đẹp nhất và nghe những giọng hát hay nhất. Nếu để động tâm, thì chỉ gây nghiệp thôi. Tốt nhất là theo bài Bát Nhã Tâm Kinh mà tu. Thí dụ, tự nhủ lòng rằng cô hoa hậu này chỉ là cái được thấy, rằng giọng ca tuyệt vời kia chỉ là cái được nghe, thì tự nhiên thấy các pháp tịch lặng dễ dàng. Trong kinh đó, chữ “hành thâm” có nghĩa là chỉ, là định, là giữ tâm cho vắng lặng; chữ “chiếu kiến” là quán, là nhìn vào thực tướng; chỉ quán được như thế, sẽ thấy cái được thấy là không, cái được nghe là không… thì khổ còn bám vào đâu, từ từ sẽ hết.

HĐN: Anh giải thích thế nào về chữ Nghiệp? Hình như từ khi qua Mỹ đến giờ, công việc của anh đều bị bù đầu vào lãnh vực báo chí? Điều đó có thể gọi là Nghiệp không?

PTH: Mình tin đây là nghiệp. Tự nhiên mê đọc, mê viết từ thời thiếu niên. Rồi xã hội sắp xếp cho những cơ duyên để rồi gặp môi trường thích nghi cho công việc cầm bút.

HĐN: Tôi theo dõi những buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật bên vùng anh cư ngụ, hầu như anh đều góp mặt để sau đó viết nên những cảm nhận thật chân tình, thật ấm áp, thật sâu sắc dành cho các văn nghệ sĩ ấy. Từ sinh nhật Gió-O đến buổi ra mắt sách của nhà thơ nữ Nguyễn Thị Khánh Minh, đến đêm nhạc của nữ ca sĩ Thu Vàng… Tôi vẫn nghĩ, trong một cộng đồng luôn cần có một người đứng trong bóng tối như anh. Ở xa, nhờ vào anh, tôi mới được tham dự “nguội”, chia sẻ những thành tựu mà cộng đồng đó vừa gặt hái ra. Tôi nói cảm ơn anh thì hình như vẫn còn thiếu?

PTH: Bạn Hồ Đình Nghiêm ơi, mình học viết theo tiêu chuẩn Đức Phật dạy trong Kinh MN 58, chỉ viết và nói khi thấy lợi mình, lợi người và trong tâm từ. Còn chuyện tu học thì, tự thân vẫn thấy chưa tới đâu cả.

HĐN: Anh vừa xuất bản tuyển tập “Viết Từ Phương Xa”. Thưa anh, tôi nghĩ theo đà này anh sẽ viết thêm cuốn thứ 2, 3… Bởi vì tấm lòng nhân ái của anh dành cho bạn bè không chỉ gom đủ trong một cuốn. Anh đặt nhan Viết Từ Phương Xa có phải muốn chia sẻ cho bạn đọc trong nước chút tâm tình của kẻ tha phương?

PTH: Cuốn “Viết Từ Phương Xa” chưa phát hành, chỉ mới có 1 bản duy nhất do nhà xuất bản gửi tới để xem cần sửa gì không. Mình gửi bản duy nhất này tặng cho họa sĩ Đinh Trường Chinh rồi, vì trong đó có một bài về họa sĩ Đinh Cường, thân phụ của ĐTC. Có thể vài tuần nữa, sách đó mới lưu hành ra thị trường. Còn nói “phương xa” là vì luôn luôn có ý nghĩ rằng mình đang ở xa quê nhà. Còn cuốn 2 hay 3 thì sợ không viết được, vì chuyện văn nghệ bây giờ là thứ yếu, phải ưu tiên tập trung đọc và dịch Kinh Phật.

HĐN: Vì công việc, mỗi ngày anh đọc phải biết bao tin tức diễn ra khắp nơi, những “sự cố” xẩy ra ở Việt Nam có quấy rầy, có tác động vào tâm cảm anh? Anh có từng buồn cho vùng đất chịu nhiều đổ vỡ đau thương ấy?

PTH: Có nhiều lúc mình mất ăn, mất ngủ vì quê nhà. Như năm 2014, khi giàn khoan Trung Quốc 981 vào Biển Đông, mình theo dõi tin suốt ngày đêm; có khi nửa khuya thức dậy, mở máy để vào Internet xem tin tức. Đọc tin quê nhà ngày nào cũng có chuyện không vui, nhưng làm sao bây giờ; cõi này nhiều chuyện không vui như thế.

HĐN: Anh vừa làm thơ, vừa sáng tác truyện ngắn, vừa viết ra bao nhiêu là cuốn sách về Thiền, vừa làm báo, vừa dịch bản tin, vừa viết cảm nhận về một cuốn sách mới trình làng… Tôi ngờ anh là người đeo vào tay cái đồng hồ đặc biệt mà mỗi ngày hai cây kim ở đó quây tới 48 giờ mới giáp vòng. Cho tôi nghịch chút xíu, rằng chị Dung có than vắn thở dài không anh? (Kinh nghiệm cá nhân tôi).

PTH: Khi viết nhiều, nghĩa là giấc ngủ phải ngắn lại. Mà không thể không viết, vì các đề tài Phật học cứ hiện ra trước mắt hoài. Do vậy mình phải giữ sức khỏe kỹ, phải tập thể dục, ăn kiêng, tập thiền… Còn chuyện bị than vắn thở dài là bình thường. Hễ bị cằn nhằn nhiều quá, thì mình tự nhắc tới Kinh SN 35.242 (Kinh Đàn Tỳ Bà), rằng những âm thanh nghe được chỉ là do duyên mà sinh và diệt, vốn thực là không, là tịch lặng; chẳng nên vì cái không mà phản ứng cho thành cái có.

HĐN: Ở thể loại truyện ngắn, tôi thường sa đà vào những cảnh đời bất hạnh, dung tục và có hơi “ngã mặn” bởi có nhiều điều tôi chẳng muốn hư cấu nó. Với một người đang tìm cách từ bỏ những phiền não như anh, anh có phê phán tôi không? Về chuyện thanh, tục ấy?

PTH: Mình cùng trong cõi này thì phê phán làm chi. Từ từ rồi mọi chuyện sẽ tự lắng xuống. Thêm nữa, cách viết mỗi nhà văn thay đổi theo thời gian. Đọc nhiều, viết nhiều, rồi tự nhiên sẽ thay đổi theo hướng tốt nhất. Các nhà văn nổi tiếng thế giới cũng tự thay đổi. Thực ra, truyện của Hồ Đình Nghiêm vẫn thuộc loại hiền lành.

HĐN: Khi tôi muốn tập tĩnh tâm, làm chủ bản thân, theo kinh nghiệm anh từng trải, anh có thể ban cho tôi một lá bùa nhằm độ trì? Vỡ lòng thôi, nhập môn thôi, vì đốn ngộ thì phải trì chí dài lâu, đúng không anh? Nói không phải thì anh bỏ quá cho, tôi vốn là đứa “quay đầu là bờ, ngờ đâu là biển”.

PTH: Xin nói rõ, rằng bản thân mình chẳng là cái gì. Do vậy, mình sẽ nhắc những gì có thể Hồ Đình Nghiêm đã đọc, nhưng chưa chú ý, và có thể chưa thử tập. Rất nhiều pháp trong nhà Phật linh diệu vô cùng tận. Chỗ này, mình nói dài dòng, nói về nhiều pháp, rồi bạn tập, với thời gian sẽ thấy một pháp nào thích hợp thì tập hoài cho tiện dụng. Mình nói cô đọng, rồi bạn tìm đọc thêm. Tập một phút, là an lạc một phút; tập một giờ, là an lạc một giờ.

Có một lời khuyên của Đức Phật trong Kinh AN 9.36 là nên vào sơ thiền, rồi từ đó quán vô thường. Mà vào sơ thiền, là an lạc vô cùng tận. Kinh AN 5.28 gọi lúc đó là cảm thọ hỷ lạc nhờ ly dục. Đó là khi tâm lắng xuống, lặng lẽ, cảm nhận làn da trên toàn thân vui sướng vô cùng, hệt như bột tắm xoa toàn thân. Có nhiều cách vào sơ thiền. Bạn nếu còn chưa rõ, có thể vào Google để tìm bài “Các Pháp Vào Định” trong đó mình đã dịch nhiều bản văn liên hệ.

Có thể vào sơ thiền nhờ tập qua hơi thở. Bạn theo dõi hơi thở dịu dàng. Không cần đếm hơi thở, vì Đức Phật không dạy đếm, chỉ các luận sư đời sau mới dạy đếm hơi thở. Không cần ngồi xếp bằng; ngồi bình thường trên ghế thì hai chân áp sát mặt đất để không bị nghiêng. Chỉ thở tự nhiên, dịu dàng, tỉnh thức theo dõi hơi thở, cảm thọ hơi thở. Rồi đi đứng nằm ngồi đều theo dõi hơi thở, cảm thọ hơi thở.

Cách thứ nhì, qua Tâm Từ: Kinh MN 52, nói rằng tu Từ vô lượng, rồi suy tư, nhận biết, vững trú trong cái thấy vô thường, từ đây đoạn trừ lậu hoặc.

Cách thứ ba, qua buông xả. Kinh SN 48.10, bản dịch Sujato viết, buông xả là vào định: “It’s when a noble disciple, relying on letting go, gains immersion, gains unification of mind. Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption…” (Đó là khi một vị Thánh đệ tử, nhờ buông xả, được định tâm, được nhất tâm. Vị ấy xa rời dục, xa rời bất thiện pháp, vào và an trú trong sơ thiền…”

Thiền Tông, bên Tào Động, nói một câu y hệt: thân tâm phóng hạ. Tức là: buông bỏ cả thân và tâm. Kinh Kim Cang còn gọi là “vô sở trụ”…

Còn pháp Thấy Tánh thường dạy qua thấy và nghe. Tức là nhận ra thế giới này, chung quanh mình, và tất cả đều là những gì hiện ra trong gương tâm của mình. Nghĩa là, nói về “cái được thấy” và “cái được nghe” hiển lộ trong gương tâm. Thầy Tịch Chiếu thỉnh thoảng vẫn hỏi: có nghe gì không, có thấy gì không… Trong khi Kinh Lăng Nghiêm chỉ rõ lắm: tâm không ở đâu hết, nhưng khi có tiếng chim kêu, thì đó là tâm, là tiếng hiển lộ qua tâm. Tiếng kêu có sinh, có diệt; nhưng gương tâm vẫn trong trẻo, không sinh và không diệt. Do vậy, mình có cảm giác sự tích Đức Phật cầm bông hoa đưa lên, Ngài Maha Ca Diếp mỉm cười… lẽ ra, là ngài Maha Ca Chiên Diên mới đúng. Vì trong Trưởng Lão Kệ Thag 8.1 của ngài Mahākaccāyana viết, trích bản Sujato như sau:

All is heard with the ear; all is seen with the eye; the wise ought not forsake all that is seen and heard. Though you have eyes, be as if blind; though you have ears, be as if deaf; though you have wisdom, be as if stupid; though you have strength, be as if feeble.

Xin dịch (có đối chiếu với bản dịch Bodhi):

Tất cả được nghe với tai, tất cả được thấy với mắt; người trí không nên xua đuổi, kình chống tất cả những gì được thấy và nghe. Dù người có mắt, hãy làm như mù; dù có tai, hãy làm như điếc; dù ngươi có trí tuệ, hãy làm như khờ dại; dù ngươi có sức mạnh, hãy làm như mong manh.

Đó là Thiền Trúc Lâm, là Thiền Nhà Trần, không thể khác được. Trần Thái Tông gọi đó là “Thế Tôn chưa ra khỏi thai mẹ, độ người đã xong.” Tức là nghe tiếng chim kêu là nhận ra tâm, và gương tâm trong thực tướng chính là không, là vô tướng, là vô tác. Tức là, giải thoát đã hiển lộ sẵn trong thấy nghe; hễ xua đuổi, bóp méo gì với thấy nghe đều là trên đầu lại chắp thêm đầu. Đó là, các pháp như thế, thì cứ như thế. Cái nhìn và nghe như thế cũng là là kinh vô tự, là cái nhìn vô ngôn, là ngôn ngữ dứt bặt, là không đọc sách, là không dính vào khái niệm. Do vậy, mình tin Đức Phật truyền dạy Thiền Tông cho ngài Maha Ca Chiên Diên, chớ không phải cho ngài Maha Ca Diếp.

HĐN: Sợ anh mất thời giờ, tôi xin có câu hỏi cuối: Anh thường làm thơ vào lúc nào? Anh có thích thơ Haiku của Nhật Bản không? Việt Nam thì tôi yêu quý tất cả những bài thơ của Tuệ Sĩ, vừa thông tuệ vừa thơ mộng vừa ảo diệu.

PTH: Buồn hay vui, có khi thấy muốn làm thơ thì làm. Thường khi do bạn hữu yêu cầu. Mình vẫn thích đọc thơ, đủ thể thơ, kể cả haiku. Thơ Thầy Tuệ Sĩ là tuyệt vời rồi. Hy hữu trong cõi này đó. Tôi vẫn tự xem mình là học trò của Thầy Tuệ Sĩ, dù chưa trực tiếp diện kiến.

HĐN: Xin thành thật cảm ơn anh Nguyên Giác Phan Tấn Hải. Qua anh, tôi học hỏi được nhiều điều. Bể học vốn vô đáy, mong có duyên lành được ngồi bên anh “đàm đạo” dài lâu hơn. Mến chúc anh, chị Dung luôn an lành, tìm gặp những điều tốt đẹp ở “phương trời viễn mộng”.

PTH: Cảm ơn nhà văn Hồ Đình Nghiêm về cuộc phỏng vấn này. Cảm ơn tất cả các độc giả đã đọc những lời trình bày này.

Hồ Đình Nghiêm
Thực hiện bằng điện thư cuối tháng Tư, 2019

Triển lãm tranh của họa sĩ Chóe

petrotimes.vn

Post 04/05/2013

Thanh Thanh

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

(Petrotimes) – Từ ngày 4/5 đến ngày 31/5 tại Phòng tranh Tự Do ở Sài Gòn diễn ra cuộc triển lãm hai bộ sưu tập tranh “Phụ nữ nước tôi- 1995” và “Cảnh quan mùa hạ 1998” cùng một số bức tranh màu trên lụa, trên giấy dó của cây hí họa nổi tiếng thế giới- Chóe.

Trước và sau năm 1975, họa sĩ Chóe (tên thật là Nguyễn Hải Chí (1944 – 2003) là một cây hí họa danh tiếng quốc tế. Không những thế, ông còn là một họa sĩ sáng tác và bán được nhiều tác phẩm tranh sơn dầu, tranh lụa, tranh giấy dó. Ngoài ra, ông còn viết văn, làm thơ và sáng tác nhạc.

Chủ nhiệm Phòng tranh Tự Do Đặng Hải Sơn kể rằng: “Khoảng cuối năm 1970, tôi gặp Chóe lần đầu ở tòa soạn nhật báo Báo Đen ở đường Cống Quỳnh Sài Gòn. Lúc đó Chóe vẽ hí họa cho vài tờ báo ở Sài Gòn. Mấy  năm sau, Chóe trở thành cây bút hí họa lừng lẫy thế giới. Phòng tranh Tự Do khai trương ngày 24/6/1989 thì đến tháng 7/1989, lần đầu chúng tôi mua 20 bức tranh lụa của Chóe. Đó là những bức tranh đầu tiên của họa sĩ Chóe trong bộ sưu tập của Phòng tranh Tự Do”.

Cuộc đời ông cũng rất nhiều thăng trầm. Ngoài hí họa thì ông cũng thành công trong thể loại sơn dầu mà bức tranh sơn dầu đầu tiên của Chóe là “Phong cảnh Cao Nguyên” sáng tác năm 1965. Bức tranh này ông tặng người yêu, sau này trở thành người vợ chung thủy của ông. Năm 1985, trở về từ trại cải tạo, ông vẽ bức chân dung vợ.

Bà Kim Loan – người vợ chung thủy của họa sĩ Chóe tại cuộc triển lãm 

Cuộc triển lãm “Tranh của Chóe” của Phòng tranh Tự Do lần này giới thiệu hai bộ tranh “Phụ nữ nước tôi” (gồm 10 bức hí họa đã tham gia triển lãm “Hí họa châu Á” tại Tokyo Nhật Bản vào năm 1995) và “Vision d’Été 1998” (Cảnh quan mùa hạ 1998 – đây là 20 tranh sơn dầu trên bố, sáng tác năm 1998, khi ông sang Pháp trị bệnh và triển lãm tại Tòa thị chính thành phố Savigny Le Temple, Pháp).

Cả hai đều thuộc bộ sưu tập của gia đình họa sĩ, tuy đã triển lãm ở nước ngoài, nhưng chưa triển lãm trong nước lần nào. Ngoài ra, triển lãm lần này cũng có các bức tranh sơn dầu, tranh màu nước trên lụa, trên giấy dó của họa sĩ Chóe trong bộ sưu tập của Phòng tranh Tự Do.

Một số tác phẩm trong triển lãm lần này

Chồng con – hí họa – 1995

Môi trường – hí họa – 1995

Giã từ ve chai – hí họa – 1995

Mặt nạ – sơn dầu – 1998

Một phương pháp giáo dục – hí họa – 1995

Nhà văn Vũ Trọng Phụng – Sơn dầu – 2000

Nghệ sĩ Trà Giang – sơn dầu – 1999

Xích lô – hí họa – 1995

Che chắn – hí họa – 1995

Dâu bể trùng phùng

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Chương 6
Lý Ngựa Ô

Vì muốn dành một sự ngạc nhiên, bất ngờ cho ba má của tôi, cho nên tôi dùng chìa khóa riêng của mình mở cửa, rồi dẫn Cúc vào nhà. Không thấy ai trong phòng khách, tôi kéo Cúc đi ra sau bếp, hai đứa đứng núp sau một cánh cửa. Đưa mắt nhìn qua ô kính nhỏ, tôi thấy má tôi đang rửa chén, ba tôi ngồi nơi bàn ăn, mắt nhìn mông lung qua khung cửa sổ nhỏ và hẹp.

-Bà nghĩ coi, giờ này thằng Quân đang ở đâu?

Vừa nói xong, không để má tôi trả lời, ba tôi thở dài.

-Không biết nó sống chết ra sao rồi !

Má tôi nói mà như muốn khóc.

-Cầu xin Trời Phật giúp nó trốn thoát được ra nước ngoài, tìm gặp vợ nó. Tội nghiệp, con nhỏ hiền lành lại dễ thương quá sức.

Ba tôi than thở.

-Cũng tại phúc phần nhà mình không có, cho nên đã làm đám hỏi rồi mà thằng Quân phải chịu cảnh chia lìa với vợ nó như vậy. Nếu biết được tình thế đổi thay như thế này, tui cho tụi nó làm đám hỏi và đám cưới một lần luôn cho rồi.

Tôi bấm nhẹ vào tay Cúc, nói nhỏ vào tai nàng.

-Em đợi anh một chút.

Nói xong tôi bước vô nhà bếp, hai tay chụm lại làm cái loa.

-Con đây nè.

Má tôi giật mình buông tay, cái chén sành bà đang cầm rớt xuống sàn nhà vỡ tan tành.

Tôi chạy đến, ôm lấy má tôi.

-Má ơi, con về rồi nè má.

Hai tay run run ôm chồm lấy tôi, má tôi nói, giọng nói nghẹn ngào đứt khúc.

-Có..có phải là con không Quân? Má có..mơ không?

Tôi nói thật rõ và chậm.

-Má không có mơ đâu, con về thiệt mà.

Hình minh họa

Ba tôi đến bên cạnh tôi, ông đưa bàn tay sần sùi, thô nhám nắm lấy tay tôi lắc mạnh, với giọng nói đầy thắc mắc.

-Tại sao con không trốn ra ngoại quốc, mà còn trở về đây làm gì?

Tôi quay người lại ôm lấy ba tôi, miệng nói với ông nhưng trong đầu lại nghĩ đến hai người lính Quân Cảnh đã chận tôi nơi đuôi chiếc phi cơ C130, ở phi trường Tân Sơn Nhất đêm nào.

-Con có trốn đi đó chớ, mà không được.

Tôi quay nhìn Cúc rồi đưa tay ra dấu. Cúc nhẹ nhàng đẩy cửa bước ra với cái va ly trên tay.

Bất ngờ thấy Cúc xuất hiện, ba tôi thảng thốt kêu lên.

-Trời đất ! Hai tháng trước, ba nghe thằng Quân nói con đã đi Mỹ với anh Bảy rồi mà. Sao bây giờ con còn ở đây?

Cúc đặt cái va ly xuống đất, lí nhí trong miệng.

-Thưa ba, con không có đi Mỹ.

Đưa hai tay ôm lấy đầu, ba tôi nói như là than thở, trách móc.

-Trời ơi là trời, con làm ba tức muốn chết được. Con và thằng Quân, cho dù có chết cũng phải liều mình mà trốn đi, tại sao giờ này cả hai đứa đều kẹt lại ở Việt Nam.

Cúc nhìn ba tôi, khi thấy đôi mắt của ông lộ vẻ giận dữ, Cúc ôm ông khóc ngon lành. Má tôi nhìn Cúc, rồi như mủi lòng bà cũng khóc theo. Đưa tay ngăn những giọt nước mắt lăn dài trên gò má nhăn nheo, bà thổn thức.

-Tội nghiệp cho hai đứa con.

Tôi lặng người đứng nhìn mấy người thân của mình, cố gắng đè nén cảm xúc, không để bật thành tiếng khóc rồi vỗ nhẹ vào lưng Cúc.

-Nín đi em, mới gặp lại ba má, mình phải vui vẻ lên chứ.

Nghe tôi nói nhưng phải một lúc sau Cúc mới lau nước mắt rồi hỏi má tôi, giọng nói vẫn còn đầy xúc động.

-Thằng Tý với con Quyên đâu rồi má?

Má tôi cúi người nhặt một miếng miểng sành vỡ dưới đất, miệng nói.

-Tụi nó đi sinh hoạt đoàn thể Thanh thiếu niên tiền phong cứu quốc hay xung phong gì đó rồi, ở nhà chỉ còn ba với má thôi.

Cúc mở va ly lấy ra mấy xấp vải, đưa cho má tôi.

-Con mua xấp vải này để má may quần áo, màu và bông của nó rất trang nhã hợp với tuổi của má, xấp này dày và đậm màu để ba may quần tây, còn mớ này cho thằng Tý với con Quyên.

Vừa nói xong Cúc cúi đầu lục trong xách tay, lấy ra một cái hộp nho nhỏ cỡ bằng gói thuốc lá.

-Còn đây là chai dầu nóng Nhật Bản, con mua riêng cho má. Má để dành khi nào chân tay có nhức mỏi, dùng nó để xoa bóp.

Hình minh họa

Hai ngày trước tại chợ Bến Thành, khi thấy Cúc mua quần áo cho tôi rồi mua thêm mấy xấp vải cùng vài món đồ lẩm cẩm, tôi cứ nghĩ rằng Cúc mua cho nàng. Hôm nay, khi thấy Cúc chia quà cho mọi người, tôi mới biết Cúc đã tính toán sẵn mọi thứ trong đầu. Với tôi, trước đây Cúc là con gái nhà giàu chỉ biết tiêu xài phung phí. Bằng cớ là một tháng lương trung úy của tôi, chưa chắc mua được cái áo choàng hoặc đôi giày của Cúc, nói gì đến cái xách tay được làm tại Pháp mà Cúc đang dùng. Mọi việc trong nhà, Cúc chỉ cần sai bảo người làm, một lời của Cúc nói ra là một mệnh lệnh, kẻ ăn người ở phải tuân theo. Cúc dư biết, căn nhà mà ba má tôi đang ở là do bác Bảy bỏ tiền ra mua, chiếc xe Honda tôi đang đi, có một nửa là tiền của bác Bảy. Ba má tôi là những người quê mùa dốt nát, thuộc giai cấp nghèo khó trong xã hội, gia đình tôi được sự giúp đỡ, chịu ơn của bác Bảy quá nhiều, nếu phải đền ơn thì không biết đến kiếp nào mới xong. Cúc không cần phải mua quà cáp, để lấy lòng ba má và mấy đứa em của tôi. Dựa vào lối suy luận như trên, tôi có thể kết luận rằng: Những việc làm của Cúc cho ba má tôi ngày hôm nay, tất cả đều xuất phát từ cái tâm của nàng.

Tôi đã từng đi chơi với Cúc nhiều lần, nhưng ít khi để ý đến cử chỉ, hành động cũng như lời ăn tiếng nói của Cúc, cô vợ sắp cưới của mình, bởi vì thiên kiến về cuộc sống con gái nhà giàu như thế nào vốn đã có sẵn trong đầu của tôi. Những thành kiến trước đây của tôi về Cúc, hôm nay đã bị đánh đổ. Bấy lâu nay tôi có mắt mà như mù, đã nhìn lầm về cô vợ mới cưới của mình.

Khi đã hiểu rõ thêm chút tính tình của Cúc, tôi không ngạc nhiên cho lắm khi thấy Cúc nhanh tay lo phụ má tôi quét nhà, nấu cơm.

Phần tôi, chỉ có việc ngồi nơi bàn uống ly nước trà, chờ cơm chín. Hơn cả tháng rồi, hôm nay tôi mới có dịp ngồi chuyện trò với ba tôi. Thôi thì đủ thứ chuyện được nói tới, bắt đầu từ cái chuyện học hành, vô đoàn thể của hai đứa em tôi, tới chuyện sau khi tất cả dân chúng, quân nhân cũng như cảnh sát và Trường Võ Bị Đà Lạt di tản, Thành phố Đà Lạt bỏ ngõ, phải ba bốn ngày sau mới có vài ông du kích tiến vào tiếp thu. Đang nói chuyện, bỗng nhiên ba tôi hỏi.

-Con còn nhớ ông Năm bán bánh xèo bên hông tiệm sắt, ở ngã ba đường Minh Mạng và Tăng Bạt Hổ không?

Tôi trả lời mà không cần suy nghĩ.

-Nhớ chớ, con với ba đã có lần ăn bánh xèo ở đó rồi mà.

-Ba cũng nhớ chớ sao không, bởi vậy ba mới hỏi, ngày trước con có ỷ mình là trung úy rồi hống hách hay hiếp đáp gì ông ta hay không?

Tôi cười vì câu hỏi quá sức thật thà của ba tôi.

-Ba à, trung úy không là cái gì hết, chỉ cần phạm một lỗi nho nhỏ về quân phong quân kỷ thôi, như mặc quần mà không gom ống cho gọn hay để tóc dài chưa kịp hớt, cũng đủ để Quân Cảnh còng đầu, bỏ tù ngay lập tức, huống gì mang cái tội về hình sự, hiếp đáp dân lành. Ba có biết không, một trong sáu điều tâm niệm của người lính Việt Nam Cộng Hòa là không được làm mất lòng dân, con là trung úy nên phải triệt để thi hành, lấy câu nói đó làm phương châm khi giao tiếp với mọi người. Có bao giờ con làm mất lòng ai đâu. Còn quán bánh xèo ông Năm thì quá quen đối với con, tuần nào con lại không ghé đến đó một hai lần. Vì quen biết như vậy, nên khi đổ bánh xèo cho con, ông Năm thường ưu ái thêm vào cái bánh một hai con tôm gọi là tặng cho khách quen đặc biệt. Mối giao tình giữa con và ông ấy rất tốt.

Ba tôi với giọng nói dè chừng.

-Theo ba nghĩ, lúc còn Việt Nam Cộng Hòa, với bất cứ ai ông Năm cũng đối xử vui vẻ niềm nở, thậm chí còn khúm núm thưa bẩm nữa là khác.

Hình minh họa

-Con không có binh ông Năm, nhưng ba nói hơi quá, ai làm ăn buôn bán cũng phải nể trọng, chiều chuộng khách hàng, ông ta hành xử như vậy có gì là lạ đâu.

Ba tôi hứ trong cổ họng.

-Lạ chớ sao không, con có biết ông ta là ai không, gốc gác như thế nào?

-Con làm sao mà biết được.

-Sở dĩ, ông Năm nhún nhường như vậy, bởi vì ông ta đóng kịch để che giấu cái gốc Việt Cộng nằm vùng của ông ấy. Nhờ đóng kịch khéo léo cho nên một cán bộ gộc, sống ngay trước mắt các cơ quan tình báo của Việt Nam Cộng Hòa mấy chục năm rồi, mà không bị phát giác. Hiện tại ông Năm là chủ tịch hay là phó chủ tịch tỉnh của mình, mỗi khi ông ta đi đâu đều có hai ông lính Việt Cộng, súng đạn đầy người theo sát bên hông để bảo vệ ông ta. Mới hôm qua, ba gặp ông Năm trước trụ sở khu phố, thoáng thấy ba, ông ngoắt ba lại rồi hỏi “Cậu Quân, con của ông về chưa?”. Ba chỉ ăn ở quán bánh xèo ông Năm có một lần duy nhất, đó là lần đi với con, vậy mà gặp ba là ông ấy nhớ liền.

Nghe ba tôi nói mà tôi giật mình, ngồi trong nhà mát lạnh mà trán của tôi rươm rướm mồ hôi. Bao nhiêu năm rồi, tôi tiếp xúc với một cán bộ gộc của Việt Cộng, lúc nào cũng đùa giỡn với ông ta, đùa với lửa mà hoàn toàn không biết. Tôi nhấp một ngụm trà, cố nuốt trôi cái đăng đắng nơi cổ họng, rồi nói.

-Hôm nay, ba nói con mới biết.

Ba tôi với giọng nói chậm rãi.

-Đổi đời rồi, ba chỉ muốn nhắc nhở để con chuẩn bị tinh thần.

-Dạ con nhớ rồi.

Tôi nhìn qua bếp, má tôi múc thức ăn ra dĩa rồi lên tiếng.

-Hai cha con chuẩn bị ăn cơm.

Cúc bưng lên hai chén nước mắm ớt, mỗi chén có một cái trứng luộc và một dĩa bắp sú xào mỡ, tôi là dân Đà Lạt nên gọi bắp cải là bắp sú. Thức ăn bữa trưa của bốn người, chỉ có vậy. Tôi nhìn dĩa bắp sú xào trên bàn, rồi nói đùa với má tôi.

-Tụi con mới về, bữa cơm đoàn tụ mà má cho tụi con ăn chỉ có một món bắp sú thôi sao? Mà má à, tại sao bắp sú lại xắt nhỏ và có màu nâu như vậy?

Má tôi giải thích.

-Đây là bắp sú phơi khô, chuyện như thế này, lúc dân Đà Lạt di tản hết rồi, người không nhà trống tuy nhiên rau cải đã đến kỳ hạn mà không có người thu hoạch, để mặc ngoài vườn cho hư thối. Một vài người dân nghèo tiếc của, họ chặt rồi gánh bắp sú ra phố đi bán dạo. Của đổ mà hốt, được đồng nào hay đồng nấy.

Má tôi xới cơm ra chén.

-Con có biết không, một gánh bắp sú nặng năm, sáu chục kí-lô, bán chỉ được một trăm đồng. Nội cái chuyện gánh mấy cây số từ vườn ra tới phố, tiền công gánh, cũng phải gấp năm lần tiền bán sú. Với một trăm đồng, họ mua chưa được một kí gạo, cho nên người ta không bán sú để lấy tiền, mà chỉ đổi lấy gạo. Thấy hoàn cảnh khổ cực của mấy người bán bắp sú, ba của con đổi cho họ, hai kí lô gạo lấy một gánh sú. Hình như, những người bán bắp sú thấy chuyện trao đổi với ba của con là có lợi nhiều nhất cho họ, cho nên vài ngày sau đó, người ta lại gánh đến trước nhà thêm vài gánh nữa. Ba con đồng ý đổi cho họ, nhưng dặn thêm lần tới sẽ không đổi nữa, vì hết gạo và nhà mình đã thành cái vựa bắp sú rồi. Với mấy trăm kí lô bắp sú, ba con xắt nhỏ, phơi khô rồi đóng vô bao bố. Cả tháng rồi nhà mình ăn cơm với bắp sú khô xào, rồi bắp sú khô luộc, đến nỗi thằng Tý với con Quyên nói, thấy bắp sú khô là tụi con ớn lên tận cổ.

Hình minh họa

Tôi hỏi má tôi.

-Trong nhà còn gạo nhiều lắm phải không má?

Má tôi lắc đầu nguây nguẩy.

-Làm gì có, trước khi Đà Lạt di tản, có bao nhiêu tiền má gom góp lại đem hết đi mua gạo, được đâu một trăm kí. Nhà mình có bốn người, ăn dè sẻn cho đến hôm nay, cũng hết quá phân nửa rồi.

Cúc đang ăn cơm ngẩn nhìn má tôi.

-Ngoài chợ có bán gạo không má?

-Có đó nhưng mà mắc lắm, mua không nổi đâu.

Cúc thắc mắc.

-Nếu như vậy, khi hết gạo, thì lấy gì để ăn?

Má tôi với giọng nói bình thản.

-Trời sinh voi sinh cỏ con à, mình đã lo rồi mà không được, phải đành chịu thôi.

Nghe Cúc và má tôi nói chuyện, tôi nghĩ đến người Lạch ở trong buôn làng mấy chục năm trước, chặt được một gùi củi đem ra chợ Đà Lạt, đổi lấy vài kí lô muối hột. Hôm nay chuyện trao đổi lại tái xuất hiện, chỉ khác biệt là người dân làm vườn trồng rau cải, suốt ba, bốn tháng trường, chăm lo tưới nước, bón phân, xịt thuốc sâu. Đến khi thu hoạch gặp lúc tai trời ách nước, gánh một gánh bắp sú nặng oằn vai ra phố Đà Lạt, đổi lấy hai kí lô gạo.

Bữa cơm gia đình chấm dứt trong bầu không khí đầy lo âu, tôi đưa Cúc về phòng riêng của chúng tôi ở tầng ba. Hai tay vịn lấy lan can nơi cầu thang, vừa đi Cúc vừa nói.

-Anh chở em ra phố chút xíu thôi, được không?

-Đi liền hả?

-Dạ, đi liền.

Tôi lái chiếc Honda hai bánh của mình, chở Cúc chạy chầm chậm vòng quanh khu phố Hòa Bình. Chung quanh tôi, không bóng dáng một chiếc xe hơi, chỉ có cờ đỏ với sao vàng ủ rủ trong nắng chiều, lác đác vài khách bộ hành áo quần lem luốc đi trên hè phố. Cà phê Tùng rồi nhà hàng Mê Kông, tiệm thuốc bắc Đức Xương Long, bánh mì Vĩnh Chấn cùng tất cả mọi cửa hàng đều đóng kín. Cúc đập nhẹ vào vai của tôi, rồi nói nhỏ.

-Mình chạy xuống chợ đi anh, em muốn mua ít đồ. Tôi cho xe đổ dốc Lê Đại Hành, đi vòng quanh vòi phun nước gần cà phê Hạnh Tâm rồi quẹo vô chợ Đà Lạt. Giống như Khu phố Hòa Bình, những tiệm tạp hóa quanh chợ đều đóng cửa im ỉm. Trong chợ, chỉ một số ít sạp hàng là có người buôn bán, trong đó có vài gian hàng thực phẩm khô, còn lại, hầu hết là những sạp bán rau cải tươi của Đà Lạt.

Hình minh họa

Cúc mua một mớ tôm khô, cá khô, rau củ tươi, thêm mấy bao gạo, mỗi bao chỉ có mười kí lô. Người bán kéo bao gạo giấu ở dưới chân đưa cho Cúc, đôi mắt của bà ta lén lén lút lút nhìn ngang, liếc dọc như sợ có người trông thấy.

Cúc hỏi bà bán hàng.

-Tại sao mỗi bao chỉ có mười kí, có bao một trăm kí không bà?

Bà bán hàng nói.

-Cô di tản xuống Sài Gòn, mới trở về Đà Lạt phải không?

-Sao bà biết?

-Gạo là món hàng thuộc quyền quản lý của nhà nước, bao gạo chỉ xanh một trăm kí làm gì có nữa, cô có thấy mấy tiệm gạo bên hông chợ không, nhà nước đã tịch thu hết gạo rồi, còn đâu nữa mà bán. Số gạo mà tôi giấu ở đây là gạo chợ đen, gạo lúa rẫy trồng ở Tùng Nghĩa, phải bán chui, bán lén, trốn tránh sự kiểm soát của nhà nước.

Đang nói chuyện với Cúc, bà bán hàng quay qua nhìn tôi phân bua.

-Cậu nghĩ coi tôi nói có đúng không, ở vào thời buổi gạo châu củi quế, kiếm được đồng tiền không phải dễ, làm việc đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có được, tiền đâu mà mua bao gạo chỉ xanh một trăm kí lô. Cho nên, tôi đóng mỗi bao mười kí cho dễ mua bán và chuyên chở.

Nhìn mớ hàng quá nhiều mà Cúc vừa mua, tôi phải dặn Cúc ngồi trong chợ, đợi tôi chở gạo và mấy món đồ khô về nhà, sau đó sẽ chạy ra đón Cúc về.

Khi tôi trở lại chợ, Cúc đang đứng bên mấy bị gạo mới mua thêm với đủ mọi thứ thực phẩm đựng trong hai cái giỏ xách to. Tôi đùa với Cúc.

-Em định dọn hết cái chợ Đà Lạt về nhà mình phải không? Có muốn dọn cũng phải kin kín một chút, coi chừng đám cách mạng ba mươi.

Tôi lái xe mà đầu óc cứ suy nghĩ vẩn vơ, mấy hôm nay tôi thấy Cúc tiêu xài khá nhiều, suốt mấy ngày qua một câu hỏi cứ lởn vởn trong đầu của tôi “Cúc còn bao nhiêu tiền?” Nghĩ như vậy nhưng tôi không dám hỏi thẳng Cúc, bởi vì từ trước cho đến giờ, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh bởi chuyện mình là kỹ sư đào mỏ.

Cúc đã nấu xong cơm chiều, mãi đến lúc trời tối mịt hai đứa em của tôi mới về đến nhà. Khi thấy vợ chồng tôi, cả hai đứa đều vui mừng chạy lại ôm lấy Cúc, tụi nó coi như không có tôi, không có ông anh đứng bên cạnh. Chuyện cũng phải thôi, trước đây mỗi khi tới nhà tôi, Cúc đều mua quà cho cả hai đứa, khi thì bánh kẹo, lúc thì đồ chơi thậm chí một đôi lần còn cho tiền, con nít gặp bà chị dâu như vậy, không thương cũng uổng.

Hai đứa em của tôi, mặt mày tươi rói khi ngồi vô bàn ăn, thằng Tý nói.

-Ăn cơm tối mà giống như nhà có tiệc, Chị Hai nấu phải không?

Má tôi cười, nụ cười đầy sung sướng.

-Chị Hai tụi bây chứ còn ai vô đây.

Con Quyên láu táu.

-Mấy tháng rồi, con mới thấy miếng thịt heo ba chỉ, con ăn được không?

Cúc mời ba má tôi ăn cơm, rồi nói với hai đứa em.

Hình minh họa

-Hôm nay, nhà mình ăn thịt heo luộc cuốn bánh tráng, chấm mắm nêm, sau đó mới ăn cơm với thịt heo kho tàu. Mấy đứa ăn bao nhiêu cũng được, chị mua nhiều nhưng cũng đừng ăn mỡ nhiều quá, coi chừng đau bụng.

Bầu không khí trong nhà vui vẻ, ấm cúng lạ thường, bao nhiêu chuyện xưa tích cũ cũng như những gì đã xảy ra trong tháng vừa qua, đều được đem ra kể lại.

Ba tôi vừa ăn vừa nói với Cúc.

-Cúc à, nhân dịp cả nhà đầy đủ, ba muốn nói với con chuyện này, căn nhà này là nhà của con, tối nay con muốn ở phòng nào, con cứ chọn.

Cúc nói với ba tôi.

-Tụi con ở căn phòng trên lầu là được rồi, mà tại sao ba nói như vậy.

Ba tôi từ tốn giải thích cho Cúc hiểu.

-Mấy năm trước, anh Bảy có nói với ba hãy bán căn nhà ở Trại Hầm, mua căn nhà nơi phố mà ở. Ba với má không chịu nhưng anh Bảy nói với ba “Anh chị phải mua nhà ở phố, khi thằng Quân cưới con Cúc, tụi nó mới ở chung với anh chị, lo phụng dưỡng anh chị lúc tuổi già. Nếu anh ở Trại Hầm, căn nhà gỗ nhỏ như vậy làm sao đủ phòng cho sáu, bảy người”. Nghe anh Bảy nói, ba đã ngầm đồng ý vì ảnh nói đúng ngay ước mơ của ba, nhưng mà ba không có tiền, nội cái chuyện ăn uống trong nhà đã thiếu trước hụt sau, đào đâu ra tiền để mua nhà ở phố. Thấy ba im lặng không nói gì anh Bảy mới nói thêm “Tôi mua căn nhà ở phố nhờ anh đứng tên, mai mốt thằng Quân với con Cúc làm đám cưới xong, tụi nó dọn về ở với anh chị. Nếu anh chị chê không thèm ở đó, thì sang tên lại cho con Cúc.”

Ba tôi cúi đầu, trầm ngâm một chút.

-Cúc à, con có biết không, anh Bảy mua căn nhà này là mua cho con, vậy mà tháng trước ba nghe thằng Quân nói con đã đi Mỹ với anh Bảy rồi, khiến ba như bị hụt chân không biết xử trí ra sao với căn nhà, bây giờ có con về đây, ba thấy nhẹ nhõm cả người.

Cúc cười, nụ cười đầy vẻ tinh nghịch rồi nói với ba tôi.

-Ba với má bị ba con lừa rồi, ổng nói với ba như vậy vì ổng muốn ba dọn về ở đây cho tươm tất hơn thôi. Thật ra, ba con đã xây cho con một cái biệt thự to lớn với đầy đủ tiện nghi ở đường Nguyễn Tri Phương, cái biệt thự xây gần xong, đang chuẩn bị mua sắm bàn ghế, con đã phải bỏ chạy, chắc giờ này cũng bị Việt Cộng lấy mất rồi.

Cúc ngưng nói, nhìn về phía phòng khách.

-Cũng may là còn cái nhà này của ba má, mà hôm nay tụi con mới có chỗ để trú ngụ. Con với anh Quân ở căn phòng trên lầu ba đã quá sức rộng rãi, quá tiện lợi. Ba má đừng có suy nghĩ nhiều cho mệt sức.

Con Quyên cắn miếng thịt heo kho tàu, vừa nhai ngồm ngoàm trong miệng vừa nói:

-Chị Hai nè, chị là số một, em thương chị nhất nhà, thương hơn ba má em luôn, tối nay em ngủ với chị nghe.

Má tôi nhìn con bé . -Có phải chị Hai cho con ăn thịt heo kho, nên con mê Chị Hai phải không? Chị Hai là của anh Hai, con không được giành.

Hình minh họa

Bữa cơm đoàn tụ gia đình đã đem đến thoải mái, vui vẻ cho mọi người. Cơm nước vừa xong, tôi đưa Cúc về phòng. Khi đã đi qua khỏi phòng khách, tôi cười rồi nói đùa với Cúc.

-Để anh cõng em lên lầu.

Hai gò má ửng hồng vì mắc cỡ, Cúc đập nhẹ lên vai của tôi.

-Đừng có giỡn, ba má thấy kỳ chết.

Tôi nói với Cúc giọng chắc nịch, đầy tin tưởng.

-Em không nghe má nói sao, Chị Hai là của anh Hai mà. Nghe theo lời dạy của má, bây giờ anh Hai phải cõng chị Hai lên lầu.

Nói xong, không đợi Cúc có đồng ý hay không, tôi nghiêng vai cúi người xuống.

Cúc cười khúc khích choàng hai tay qua cổ, thì thầm vào tai của tôi.

-Chỉ sợ em nặng quá, anh cõng không nổi.

Máu anh hùng rơm chợt nổi lên, tôi hỏi Cúc.

-Em bao nhiêu kí?

-Bốn mươi tám.

Tôi bĩu môi.

-Nhẹ hều, em có biết không, ngày xưa khi còn học ở quân trường Thủ Đức, mỗi lần đi bãi chiến thuật xa hàng chục cây số, lưng anh mang ba lô, vai vác cây súng đại liên M60, tay xách một thùng sắt đựng hai trăm viên đạn, anh coi như không có.

Sở dĩ tôi nói như vậy, vì biết Cúc hoàn toàn mù tịt về quân trang cũng như quân dụng của lính, cho nên tôi tha hồ nói hươu nói vượn mà không sợ bị lộ tẩy, thậm chí nếu lỡ có sơ suất nói với Cúc là cây súng đại liên M60 nặng bốn mươi tám kí lô, Cúc cũng sẽ tin ngay. Thực ra, cái ba lô tôi mang lép kẹp chỉ có vài cuốn vở ở bên trong, còn cây súng đại liên M60 nặng khoảng mười kí, chỉ chừng đó thôi mà tôi đã đổ mồ hôi cục, thở muốn hụt hơi khi tới được bãi học. Sức đâu mà xách thêm thùng đạn, Sinh viên sĩ quan chứ đâu phải con lạc đà mà mang vác nặng như vậy.

Lên được mươi bậc thang, tôi giả vờ như mình mệt lắm đi chậm lại miệng thở hổn hển.

-Em có nhớ, ngày xưa khi mình đi tắm biển ở Vũng Tàu không?

Cúc nói qua hơi thở.

-Em nhớ suốt đời, khổ đau mới mau quên, còn hạnh phúc thì làm sao quên được.

Tôi góp ý.

-Cũng tùy thôi, với anh bỏ lỡ cơ hội sẽ làm mình nhớ suốt đời.

Hình minh họa

Lợi dụng lúc đang cõng Cúc, tôi bấm nhẹ vào đùi của nàng.

-Hồi đó, khi thấy em từ dưới bãi biển vắng người đi lên, một mình em giữa trời đất bao la, vây quanh bởi nước xanh, mây trắng, cát vàng. Em có biết không, khi nhìn thấy thân hình của em lồ lộ, đẹp tuyệt mỹ với làn da trắng mịn màng trong bộ bikini xanh lợt, lúc ấy anh chỉ muốn ôm lấy em, nhưng…

Tôi chắt lưỡi như là tiếc rẻ.

-Hồi đó anh không dám, phải chi được như bây giờ.

Cúc hỏi.

-Như bây giờ, thì anh làm gì?

Tôi mỉm cười đắc ý.

-Ôm hôn em liền chứ còn chờ đợi gì nữa mà hỏi.

Không nghe Cúc nói gì, tôi quay đầu nhìn lại.

-Em có biết bài dân ca “Lý Ngựa Ô” không?

Cúc gật đầu.

-Biết.

Tôi hát nho nhỏ, chỉ vừa đủ cho Cúc nghe.

“Là đưa í a, anh đưa nàng.
Anh cõng nàng về dinh”.

Vàng ít thau nhiều!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

August 5th, 2022

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Nhà văn Sơn Nam

Hồi xưa nền báo chí ở Miền Nam rất sung, rất phát triển. Phát triển là do người dân, là do bà con mình rất thích đọc nhựt trình. Có cung ắt có cầu. Những người cung cấp cho cái nhu cầu đọc nhựt trình đó là những người bán chữ.

Báo chí tạo ra một cái nghề bán chữ sống được, dù không giàu có gì, đủ nuôi được vợ con đó cũng là may. Nghề đó gọi chung là nghề văn.

Ða phần các nhà văn nầy xuất thân từ những gia đình ở quê, có ruộng, có vườn, không giàu nhưng tương đối đủ ăn.

Tháng Tám, năm 1945, Mỹ thả hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Nhựt Bổn đầu hàng quân Ðồng Minh. Thế chiến thứ hai chấm dứt. Phong trào các nước thuộc địa đòi độc lập dâng cao.

Sau 9 năm kháng Pháp, cuộc chiến tranh đẫm máu chấm dứt. Ðất nước chia đôi. Những thanh niên tham gia kháng chiến có hai lựa chọn. Một tập kết ra Bắc. Hai là về thành.

Ông Sơn Nam chọn về thành. Vốn là người có khiếu văn chương, khoái chữ nghĩa, ông gia nhập làng báo Sài Gòn.

Mẫu thân của ông lo sốt vó, lặn lội từ làng Ðông Thái, An Biên, U Minh Thượng lên coi thằng Tám chết sống ra sao?

Cái giai thoại ‘thằng tư con tám’ trên phố xa hoa, tui nghi ông nhà báo đặt dóc. Tui bèn hỏi người con gái lớn của nhà văn Sơn Nam là Ðào Thúy Hằng (theo họ Mẹ) cho rõ ngô khoai.

Té ra ông thần nầy đặt dóc thiệt! Vì Ðào Thúy Hằng trả lời tui như vầy: “Thu! Ông bà nội tui có ba người con: Bác Hai tui tên Phạm Minh Trí. Ba tui Phạm Minh Tài mà hộ tịch ghi thành Tày. Cô Út là Phạm thị Xuân. Cô Tư cũng học hết tiểu học. Bác Hai học giỏi, cũng có bằng Thành Chung nhưng không được học bổng như ba tui. Nhà ở miệt rừng, gói ghém đủ ăn, sống thong dong, không lam lũ”

Như vậy thằng Tám trong bài chỉ là cách gọi chung chung một người dân miền Lục tỉnh với một tầng lớp xã hội nào đó như Thầy Hai, Chú Ba, Anh Bảy v.v. Chớ ông Sơn Nam thứ ba.

Cùng thời với Bình Nguyên Lộc, Lê Xuyên, Ngọc Linh, Dương Hà…Sơn Nam đi từng bước vào nghề văn. Một làm thơ. Kế đó viết truyện ngắn, viết tiểu thuyết. Viết mỗi ngày từng đoạn cho hai ba truyện của vài tờ báo gọi là viết “phơi-dơ-tông” (Feuilleton).

Còn nhà văn nào mê đào hát thì chịu khó đi học bài bản cổ nhạc, vọng cổ, xàng xê v.v. để soạn tuồng cải lương như: Kiên Giang Hà Huy Hà, Hà Triều, Hoa Phượng…

Cuối cùng, nhờ rất cứng tiếng Pháp, Thư viện quốc gia là nơi ông Sơn Nam thường vô lục lọi. Ổng lục cái gì ở trỏng? Ổng kiếm tài liệu cho dồi dào để viết dài dài mà kiếm cơm. Nên con đường nhà văn Sơn Nam trở thành nhà biên khảo là chuyện tất nhiên.

o O o

Sơn Nam là một người rất nổi tiếng nên có nhiều người quen. Quen thiệt có, quen giả có, có hết ráo. Có nhiều giai thoại về ông. Ðồ thiệt thì ít mà đồ giả thì nhiều. Vàng thau lẫn lộn!

Giai thoại nầy, tui tin là thiệt nè: “Quê ông Nguyễn Quang Sáng có nhiều câu chuyện rất ly kỳ, ông muốn kể cho ông Sơn Nam nghe để viết. Nhưng ông Sơn Nam từ chối: “Vùng đó tao không biết. Tao thấy rặng cây từ xa thôi. Mày cũng có chữ nghĩa, viết đi!”

Quan niệm mần văn của ông Sơn Nam, theo tui nghĩ, là: ngũ quan cộng với cái đầu. Ngũ quan là lưỡi (vị giác) để ăn mắm kho. Mắt (thị giác) để thấy hai lúm đồng tiền của em. Tai (thính giác) để nghe em rủ rỉ, rù rì. Mũi (khứu giác) để ngửi mùi bồ kết em gội đầu? Và tay, (xúc giác), tê tê giựt giựt như lần đầu nắm tay em Chín bờ đò trên bến nước. Rồi quan trọng nhứt là cái đầu để biết chọn lựa vàng trong đám thau lẫn lộn.

Ông Sơn Nam kể là: “Hồi nhỏ, tôi nhớ quê tôi có rất nhiều chim, thú. Ðặc biệt là cọp, khỉ, heo rừng, nai, thỏ. Hơn 5 cây số bờ rạch toàn đất úng, um tùm rừng tràm, cỏ lác, cỏ năn. Chẳng một ai thèm để mắt đến đất, chớ nói chi tới tranh chấp.

Dân quê lại thường đồn đãi chuyện ma quỷ. Những lúc rảnh rang là họ tụm năm tụm ba rượu trà, đờn ca, thổi sáo và kể đủ chuyện. Tôi nghe, gom lại viết thành một truyện ngắn, cốt cho hấp dẫn. Tôi liên tục khai thác nền văn minh miệt vườn cho các trang viết của mình”.

Lúc ông viết biên khảo, tui tin là vì khi đọc những bài về Sử, về Ðịa, biên khảo về Văn minh Miệt vườn, Sơn Nam tra cứu tài liệu đa phần bằng tiếng Pháp rồi dùng đầu óc để loại rác rưởi ra, chỉ giữ lại cái tinh ròng. Ông Sơn Nam viết lách đàng hoàng chớ không viết ẩu tả.

Nhưng có hai chuyện nầy, thiệt tình tui hổng dám tin. Ông nhà báo viết là: “Nhưng rồi khi chuyển sang viết văn xuôi, ông tự phát hiện mình làm thơ dở hơn viết truyện nên dứt khoát ‘ly dị’ nàng thơ”.

Tui không tin là ông Sơn Nam vì làm thơ dở hơn viết văn nên ông nghỉ làm thơ. Mà vì làm thơ là đói; là ‘húp nước mắm’ (chữ của ông).

Chuyện thứ hai tui cho ông nhà báo nầy đặt dóc: “Cuối thời chống Pháp, Sơn Nam là nhà văn duy nhất gốc Nam Bộ được Trung ương mời ra Bắc để sống và viết, nhằm bảo vệ một tài năng văn chương trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh”.

Cuối thời chống Pháp là năm 1954, hoà bình lập lại, hết chiến tranh thì Trung ương nào mà mời ông Sơn Nam ra Bắc vì sợ tên bay đạn lạc.

Hiệp định Geneve ký xong, ông Sơn Nam không đi tập kết vì ông đã có vợ con đùm đề. Ông về thành viết văn để nuôi vợ, nuôi con! Viết vậy nghe còn có lý. Ðặt dóc, bợ đỡ, nịnh hót Trung ương để làm gì?

Tranh Bảo Huân

Miền Nam có những nhà văn hay lắm như: Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Lê Xuyên, Bình Nguyên Lộc… Hồ Biểu Chánh rất am hiểu về đời sống nông dân. Từng làm ‘chủ quận’ Càng Long, tỉnh Trà Vinh thời Pháp thuộc, Ông có tài quan sát tinh tế. Ông ưa giao du với hương chức, hội tề. Ông lặn lội tận thôn ấp làng mạc, viết rất dài hơi.

Còn Phi Vân trong Phóng sự Ðồng quê, xuất bản năm 1940, trong đó có truyện ‘Trao thân con khỉ mốc’ nó hay như một kịch bản phim.

Với 60 năm cầm bút, Sơn Nam đã để lại một gia tài rất đáng kể và đáng nể. Gia tài đó cho đám hậu sinh là vàng thiệt chớ không phải thau như: Hương rừng Cà Mau, Chim quyên xuống đất,  Gia Ðịnh xưa, Bến Nghé xưa, Hai cõi U Minh, Lịch sử khẩn hoang miền Nam,  Phong trào Duy Tân Bắc Trung Nam, Vạch một chân trời, Văn minh miệt vườn…

Nếu một mai, dưới ách cai trị của CS, Miền Nam chúng ta từ từ chắc sẽ không còn nhà văn nào làm ăn đàng hoàng, viết văn chân thật nữa. Chỉ toàn là bọn bố lếu, bố láo cầm bút viết ra để bán rẻ cái lương tâm thì chao ôi cuộc đời nầy nó chán hơn cơm nếp nát!

ĐXT

Vạch lá tìm sâu!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

August 24th, 2023

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Miền Tây có nơi ruộng chỉ dùng cù nèo gom cỏ lại, dùng phảng phát cho sạch rồi cấy mạ, khỏi cày bừa mất công.

Anh bạn văn bút hiệu Cù Nèo là nhà phê bình không bằng cấp gì ráo, tự ên gom cỏ trong báo chí truyền thông CS. Anh Cù Nèo may mắn có duy nhứt một độc giả là tui trên bàn nhậu. Tui uống bia ảnh mua; gắp mồi của vợ ảnh. Bù lại tui cho anh Cù Nèo gom cỏ dại nhét đầy hai lỗ tai tui toàn là những chuyện tào lao.

Ðầu tuần, anh Cù Nèo email cho tui đọc trước; rồi cuối tuần, ảnh kêu tui tới nhậu để nghe ảnh bình luận một bài báo quốc doanh có cái tựa dài như cọng rau muống: “Buổi ra mắt sách ‘Ði và ghi nhớ’ và ‘Nhà văn Sơn Nam – Những góc đời riêng lạ’ vừa ra mắt ở TP.HCM nhằm tưởng nhớ 15 năm ngày mất của ông.”

Nhà biên khảo Nguyễn Hiến Lê cho biết: “Tục lệ của mình không coi trọng sinh nhựt (theo dương lịch). Coi trọng ngày đám giỗ (theo âm lịch)”. Như vậy Ông Sơn Nam từ trần vào hồi 13 giờ, ngày 13 tháng 8 năm 2008. Âm lịch là 13 tháng 7 năm 2008 thì ngày giỗ năm nay của ông Sơn Nam là Thứ Hai, ngày 28 tháng 8 năm 2023 chưa tới. Nhưng bọn bồi bút quốc doanh áo thụng vái nhau, thấy sang bắt quàng làm họ, xưng là bạn bè thân hữu với ông Sơn Nam để sớm chường cái mặt mẹt của mình ra để quảng cáo bán sách!

Nói nào ngay xưng bạn văn (không kể tuổi) thì còn chấp nhận được? Chớ so với ông Sơn Nam, bọn chúng chỉ là ‘con nít ke’; thì bạn bè thân hữu cái gì? (Ðã bạn bè mà còn thân hữu nữa chớ? Dư chữ, ý cà lăm!)

Tay nầy nói: “Với tôi, Sơn Nam không chỉ là nhà văn, ông còn là nhà văn hóa…” (?!) “Bộ nhà văn không phải là nhà văn hóa hay sao?

Tay kia lại nói: “Nhà văn Sơn Nam có khả năng quan sát tinh tế và tích lũy kiến thức tốt.”

“Cái quái gì cũng ‘tốt’ hết? Sao không nói là uyên bác?”

Phàm là ký giả, bán chữ mà ăn, thì phải tối thiểu có tay nghề, có kiến thức vững vàng về văn phạm. Viết câu đơn hay câu phức? Một câu phức có bao nhiêu mệnh đề? Mỗi mệnh đề ai làm chủ từ, động từ, túc từ? Rồi liên từ nào để kết nối các mệnh đề ra sao?

Chủ từ là: Sách ‘Ði và ghi nhớ’ và ‘Nhà văn Sơn Nam – Những góc đời riêng lạ’.  Ðộng từ là: “ra mắt” thể thụ động. Trạng từ chỉ nơi chốn ở TP.HCM. Trạng từ chỉ nguyên do “15 năm ngày mất của ông” Câu cú rối rắm dài ngoằng như dây rút quần, thiết nghĩ ông nên viết lại là: “Hai cuốn sách ‘Ði và ghi nhớ’ và ‘Nhà văn Sơn Nam – Những góc đời riêng lạ’ vừa được ra mắt ở TP.HCM nhân 15 năm ngày mất của Sơn Nam” thì dễ cho tui hiểu hơn không? Vì tui vốn ngu lắm đó! Rồi dân Miền Tây nói: ‘ăn cơm chực’ hoặc ‘ăn chực cơm’. Không ai nói ‘ăn cơm ké’ bao giờ? Ké là phải hùn phần của mình vô. Như ké tiền của mình vào một tụ bài nào đó đang hên.

Rồi “chuyến công tác điền dã” là cái giống gì?

Là nhà báo tự do, Úc gọi là ‘a freelance journalist’, ông Sơn Nam không làm việc cho một tổ chức thông tin nào. Ông viết bút ký, biên khảo về văn hóa phong tục thuở khẩn hoang Miền Nam rồi gửi cho giới truyền thông hoặc bạn bè xuất bản. Ổng đâu có phải làm ‘công chức’ đâu mà đi ‘công tác’?

Rồi ‘điền dã’? Theo từ điển, điền dã là đồng nội, nông thôn. Như: từ quan về sống nơi điền dã, vùng xa phố thị. Về quê, về ruộng, về vườn sao không xài mà xài chữ ‘điền dã’; từ Hán Việt xưa chi cho nó rối rắm? Quen cái thói khoe chữ trật lất hoài hè?

Rồi trong bài báo có đoạn: “Nổi bật là kỷ niệm thơ ấu của bà Hằng khi được cha cõng đi xay lúa, giã gạo và cùng ông ăn cơm ké trong xóm ?!). Những kỷ niệm của bà Ðào Thúy Hằng với ba mình là chuyện thiệt, bà kể cho độc giả nghe thì bả đâu có sáng tác ra mà gọi là “truyện ngắn”?

Bà Ðào Thúy Hằng gọi ông Sơn Nam là ba; ông ký giả nầy không thể thay “ba” bằng “cha” (theo tiếng Bắc) cho được?!

Phàm chuyên nghiệp, nhà báo Úc đi làm phóng sự là phải ghi âm. Về sắp xếp, có trích thì phải ngay chóc lời của người trả lời phỏng vấn. Ðâu viết ‘lung tung xèng’ theo ý mình như ông nội ký giả CS nầy được nè!

Bên Houston, Texas, Hoa Kỳ, nghe tui thuật lại lời bình luận của anh Cù Nèo, nhà văn Trần Bang Thạch có vẻ tán đồng và nhân tiện hỏi tui: “Lạ một cái con gái ông Sơn Nam sao lại họ Ðào?”

Họ Ðào là họ của Má. Tui rành chỗ nầy vì là bạn văn với ba tui, năm 1957, ông Sơn Nam dắt vợ và hai con về ở sát cạnh nhà tui. Tui với Ðào Thúy Hằng (tên ở nhà là Mỹ Linh) bằng tuổi và biết nhau từ thời thơ ấu cho tới bây giờ. Coi như tui rành ba câu trong sáu câu vọng cổ đi.

Nhà của bà Ðào Thị Phán, vợ ông Sơn Nam, xưa thuộc Ngã ba Ðạo Ngạn (một ấp) làng Ðạo Thạnh, ngang Chủng viện Chân Phước Liêm. Rồi mấy ‘ông cha’ cho Mỹ mướn nên bà con mình gọi nó là: “Thành Mỹ”. Lúc CS vào, cái Thành Mỹ nầy bị sung công làm Trường Văn Hóa 2 thuộc Bộ Công An. số 55, đường Ấp Bắc, Phường 5, thành phố Mỹ Tho dạy bổ túc văn hóa cho công an từ cấp thiếu uý trở lên nhưng học chưa hết tiểu học.

Ðường Nguyễn Tri Phương, sau VC kêu ông Nguyễn Tri Phương đi chỗ khác chơi; để chúng đặt lại tên đường là Ấp Bắc.

Năm 1970, tại địa điểm nầy, chánh quyền VNCH cho dựng cái Cổng Thị Xã trước khi vào nội ô Mỹ Tho?

Kết luận: Một bài báo không nhiều thông tin, chữ dùng lôm côm, câu nào cũng nổ ‘ì đùng’ như VC pháo kích chứng tỏ ông Ba Ke hai nút nầy đúng là dân tuyên huấn CS chuyên nghề khoác lác.

Thủ tướng CS Phạm Văn Ðồng của bọn chúng từng la làng chói lói là: “Hãy giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Hành văn ẩu xị như ký giả CS nầy thì trong sáng cái giống gì hè?

ĐXT

Tướng Trưởng!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on September 9th, 2022

Post by Sơn râu 25 Feb 2024

Trung tướng Ngô Quang Trưởng

Có một số người sẽ nói những vị tướng giỏi nhất trong chiến tranh Việt Nam là những vị tướng của Bắc Việt. Một số người sẽ nói rằng vài vị tướng Mỹ cũng rất vĩ đại.

Ðể đưa ra một góc nhìn mới về một vị Tướng ít được biết đến của QLVNCH, Tướng Ngô Quang Trưởng.

(Mỹ gọi tên Trưởng trống không, không có nghĩa là họ vô phép)

Vài tướng lĩnh và sĩ quan của Nam Việt Nam thường bị cách chức vì bất tài và tham nhũng. Có một số sự thật cho điều này nhưng cũng có một số ‘quả táo tốt’. Tướng Trưởng là một ví dụ.

Trung tá James H. Willbanks, người từng phục vụ tại Việt Nam và là giáo sư lịch sử quân sự tại Ðại học Chỉ huy và Tham mưu Quân đội Hoa Kỳ, cho biết về Tướng Trưởng: Là một người khiêm tốn, Trưởng là một người không vị kỷ. Ông đối xử công bằng với tất cả mọi người. Ông coi mọi người như nhau.

Ông cống hiến tất cả cho nghiệp lính của mình. Ông nổi tiếng là người chăm sóc binh lính. Ông thường bay qua hỏa lực nặng nề để sát cánh cùng họ trong mưa và bùn để chống lại các cuộc tấn công của kẻ thù.

Không giống như một số tướng lĩnh miền Nam Việt Nam đã giàu lên khi thăng cấp, Trưởng được coi là người hoàn toàn liêm khiết và sống một cuộc đời “tu hành và khổ hạnh”.

Theo Trung tướng Cushman, Trưởng không có một bộ quần áo nào ngon lành vào thời điểm được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn IV. Vợ của ông đã nuôi heo. Heo được nhốt sau khu sinh hoạt của ông trong Bộ chỉ huy tại Cần Thơ.

Cushman nói thêm rằng Trưởng luôn kiếm các biện pháp để nâng cao cuộc sống gia đình của binh lính. Trưởng không dung thứ cho chủ nghĩa con ông cháu cha. Ông từng được yêu cầu chuyển cháu trai của mình từ tuyến đầu sang công việc bàn giấy nhưng ông từ chối và người cháu trai sau đó đã bị tử trận.

Tướng Bruce Palmer Jr., nói: “Trưởng xứng đáng có một số phận tốt hơn so với tài điều động binh lính của ông giữa lúc Thiệu đang bối rối ra mệnh lệnh và sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.”

Một trong những thành tích lớn lao của ông là khi được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 1. Trước ông, Sư đoàn không được nổi danh lắm! Ông về nắm Sư đoàn và trở thành một trong những người giỏi nhất của QLVNCH, Trưởng đã chọn lựa các sĩ quan cấp dưới hàng đầu của mình và đặt các Tiểu đoàn của mình vào tay những người có nhiều năm kinh nghiệm chiến trường.

Không giống như hầu hết những tướng lãnh khác, ông tránh chính trị trong việc lựa chọn các sĩ quan của mình. Ông đã cải thiện việc huấn luyện của Sư đoàn và nâng cao tinh thần của cấp dưới.

Có thể cho rằng thành tích tốt nhất của ông là lật ngược tình thế chiến trường trong cuộc tấn công Phục Sinh năm 1972.

QLVNCH do Hoàng Xuân Lãm bất tài lãnh đạo, gần như gục ngã trước sức tấn công mãnh liệt của QÐNDVN, khi ông ta thay thế Lãm. Sau đó ông phát động Chiến dịch Lam Sơn 72 mà ban đầu bị Tổng thống Thiệu và MACV của VNCH phản đối. Cuộc tấn công nhanh chóng thành công và giành lại được phần đất bị mất vào tay CSBV.

Nhưng ông cũng có một điểm yếu. Ðôi khi ông không thể chủ động độc lập và hành động khi cần thiết. Có lẽ ông đã quá trung thành với Thiệu.

Và khi QLVNCH bị CSBV tấn công vào cuối năm 1974. Thiệu ra lệnh, trước tiên hãy rời khỏi Tây Nguyên và giữ các bờ biển trên quốc lộ 1 để QLVNCH có ít lãnh thổ để dễ phòng thủ hơn. Cũng như từ bỏ Huế để bảo vệ thành phố Ðà Nẵng lớn hơn.

Ðây có vẻ là một quyết định đúng đắn, nhưng vào thời điểm CSBV đã tấn công và nếu QLVNCH rút lui, họ sẽ buộc mình phải rút lui dưới hỏa lực. Ðó là một hành động nguy hiểm ngay cả đối với những quân đội tân tiến nhất.

Kế hoạch di tản chiến thuật này hóa ra là một thảm họa. Vì cuộc rút lui của QLVNCH không chỉ bị hỏa lực mà còn bị chậm lại do lượng lớn người tị nạn làm tắc nghẽn các quốc lộ. Chỉ có Sư đoàn 22 trong Quân đoàn II cố gắng đến được các bờ biển với số lượng đáng kể, mà thôi.

Tư lệnh Quân khu 1, Trung tướng Ngô Quang Trưởng thăm Bộ chỉ huy Thủy Quân Lục Chiến – Ảnh AP / Jacques Tonnaire

Ông Trưởng không đồng ý và ông nói rằng nếu chúng ta có thể giữ được Tây Nguyên vào năm 1972, chúng ta có thể giữ được chúng bây giờ và nó sẽ cứu VNCH khỏi bị cắt làm đôi. Kế hoạch này lẽ ra đã cứu được miền Nam Việt Nam. Nhưng ông đã làm theo lệnh của Thiệu.

Tuy nhiên, Thiệu lại đưa ra nhiều mệnh lệnh khó hiểu và mâu thuẫn. Ví dụ ban đầu dự định bỏ Huế để bảo vệ thành phố Ðà Nẵng quan trọng hơn. Tuy nhiên Thiệu đã thay đổi kế hoạch và làm Trưởng sửng sốt trong cuộc họp giao ban ngày 13 tháng 3, nói rằng Huế sẽ được bảo vệ bằng mọi giá. Trưởng phải rút lui khỏi Quảng Trị, lập phòng thủ trên sông Mỹ Chánh và Huế.

Tình trạng hỗn loạn khiến dân thường hoảng sợ và bỏ chạy vào Huế hoặc Ðà Nẵng. Trưởng tự tin rằng mình có thể giữ được Huế. Sau đó, Thiệu lại ra lệnh chỉ bảo vệ Ðà Nẵng.

Sự lộn xộn và hỗn loạn khiến Sư đoàn 1 sụp đổ khi CSBV đang tiến đến Ðà Nẵng và hỗn loạn bao trùm thành phố.

Vào những thời điểm quan trọng này, nếu ông đã lờ đi những mệnh lệnh khó hiểu của Thiệu và bảo vệ vị trí của Quân đoàn I bằng sáng kiến của riêng mình thì tình hình có thể đã khác.

Ông đã làm điều này vào năm 1972 với Lam sơn 72. Ban đầu của Thiệu và MACV phản đối. Nhưng sau đó Trưởng đã làm tốt. Tất nhiên đây là một quyết định mạo hiểm vì ông có thể bị đưa ra Tòa án Quân sự mặt trận. Nhưng nếu thành công trong việc bảo vệ thì ông đã cứu được quốc gia khỏi cuộc tấn công dữ dội của CSBV.

Tuy nhiên, vì bất cứ lý do gì, ông lại chờ đợi những mệnh lệnh khó hiểu của Sài Gòn thay vì tự mình chủ động. Ðiều này khiến ông phải trả giá bằng cả quốc gia của mình và ông đã phải di tản sang Mỹ.

Ông ấy có là vị tướng giỏi nhất của cuộc chiến không? Nó phụ thuộc vào nhận thức của bạn. Ông ấy tất nhiên là một con người và có những sai sót của riêng mình.

Nhưng với tư cách là một vị Tướng, ông ấy đã làm rất tốt công việc của mình. Tuy nhiên, sự thành công của ông ấy khiến ông trở thành một trong những vị tướng giỏi nhất nếu không muốn nói là giỏi nhất của Chiến tranh Việt Nam và chắc chắn là người giỏi nhất của QLVNCH.

ĐXT lược dịch