Viết Báo Xuân!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Hồi thời VNCH mình, lúc tui mới vừa 14, 15 tuổi, tuổi đọc thông và viết thạo, khoảng chừng năm đệ ngũ là tui đã viết báo rồi đó nhe bà con.

Bài viết cũng được đăng trong các trang thiếu nhi (dĩ nhiên vì tui còn là con nít), tờ Thần Chung của ông Nam Đình, tờ Đuốc Nhà Nam của ông Trần Tấn Quốc, tờ Chánh Đạo của Đại đức Thích Hộ Giác, tờ Xây Dựng của Linh mục Nguyễn Quang Lãm hay tờ Công Luận của Thượng nghị sĩ, gốc nhà binh, Tôn Thất Đính. (Thực ra ông tướng nầy chỉ ra tiền làm báo để có tiếng tăm về chánh trị; chớ mọi chuyện là do nhà văn Duyên Anh ‘thầu’ hết ráo).

Đăng đâu có cắc nào nhưng cũng khoái chí tử; vì hồi nhỏ đứa nào hổng ngu như vậy chớ?

Thân phụ tôi có thói quen đọc báo; nên xế trưa nào, khoảng 3 giờ chiều, một chú giao báo tháng chạy chiếc xe đạp, có cái bọc vải chứa báo cuốn tròn, vắt ngang cái đòn dông, xẹt ngang qua nhà, giao một tờ cho tui đang đứng chực chờ.

Tui đọc hết ráo từ tin xe cán chó đến Tiếu Ngạo Giang Hồ của Chú Ba Kim Dung bên Hong Kong, Lịnh xé xác (tiểu thuyết kiếm hiệp của Hàn Giang Nhạn), Song Ngoại của Quỳnh Dao do Liêu Quốc Nhĩ dịch hay những chuyện nhảm nhí như Con ma vú dài chẳng hạn.

Đọc hết, rồi đọc luôn tới Tìm bạn bốn phương, Gởi giòng lá thắm, Gỡ rối tơ lòng…thòng!

Không bao giờ bỏ sót mục tử vi của Chiêm tinh gia Huỳnh Liên. (Dẫu thừa biết bói ra ma quét nhà ra rác). Sau cùng là đọc luôn mục tìm trẻ lạc, quảng cáo linh tinh.

(Nói tới quảng cáo là phải nói tới nhật báo Chính Luận của ông Đặng văn Sung.

Nghe nói ông chủ báo nầy giàu thôi hết biết. Tuy nhiên cũng có người tự xuất vốn ra làm báo, cầm cự được chừng vài tháng thấy không êm, thì tưng bừng khai trương và âm thầm dẹp tiệm…)

Phải nói làm báo không phải là cái nghề để làm giàu mà cái nghiệp vì đam mê nên mang cái chuyện buồn hơn vui nầy vào cái cần cổ.

Bây giờ trên web cũng vậy thôi, người người làm báo, nhà nhà làm báo (như ở không lắm vậy). Đâu kiếm được cắc nào; mà cũng đâu có trả tiền nhuận bút cho ai. Bài đi ‘chôm’ của thiên hạ không hè. Vậy mà lâu lâu, vì một bài viết, cũng mắng nhiếc nhau như bạn hàng tôm, hàng cá chợ Cầu Ông Lãnh vậy.

(Tuy nhiên cũng mở ngoặc đây để cám ơn hội Petrus Ký Úc Châu ở Sydney. Mặc dầu đăng mấy cái bài cũ mèm của tui hồi năm nẩm, cũng thơm thảo nghĩ tình, xuất tiền quỹ của Hội gởi cho tui một cái ‘gift card’ của tiệm rượu Dan Murphy tới 100 đô Úc.

Rượu của mấy anh, tui uống hết cả mấy tháng nay… mà vẫn còn say cái tình văn nghệ cho tới tận bây giờ. Call again! He he!)

***

Việt Nam Cộng Hòa mình là một đất nước tự do, nên nền báo chí cũng phát triển khá rầm rộ. Chủ báo thường là người làm chánh trị, có thế, có lực, có tiền, xuất vốn ra, mướn thư ký tòa soạn điều hành hết ráo từ bài vở tới in ấn.

Quản lý trị sự thì trả tiền cho nhà in và các nhà văn, nhà báo, cộng tác viên. Nghe xôm tụ vậy chớ toàn thể ban biên tập chỉ loe ngoe vài mống.

Nhật báo ngày ấy cũng phân định đẳng cấp, đại ca hay tiểu đệ, báo 4 trang hay 8 trang, căn vào lượng độc giả mua báo (số bà con đọc báo mướn cũng nhiều không kém làm mấy ông chủ báo la trời như bộng).

Ngoài nhựt báo còn có tuần san, bán nguyệt san rồi nguyệt san chuyên về lãnh vực giải trí. Trăm hoa đua nở như vầy thì theo nền kinh tế thị trường là phải đua, cạnh tranh nhau rất dữ dội. Tin thời sự phải nóng hổi, bình luận chánh trị phải sắc bén.

Còn những bài “nằm”, tức bài dài kỳ, tiểu thuyết tâm lý xã hội, dịch thuật từ tiểu thuyết kiếm hiệp ‘Long Hình Quái Khách’ tới cao trào hấp dẫn là thòng thêm câu: “Xin quý độc giả theo dõi kỳ sau sẽ rõ”.  Cái nghệ thuật làm báo nầy gọi là câu nhấp tới câu rê…

***

Làm báo mỗi ngày là vậy nhưng cuối năm, mỗi độ Xuân về, Tết đến là còn tranh đua quyết liệt hơn nhiều. Số Xuân còn gọi là báo Tết phải công phu chuẩn bị bị trước đôi ba tháng. Mới tháng Chín là mấy ông Chủ bút đã la làng chói lói đòi bài inh ỏi rồi hè!

Báo Xuân hải ngoại phát hành hơi sớm, trước Tết Tây. Còn hồi xưa trong nước, báo Xuân phát hành từ 20 tháng Chạp âm lịch cho tới 23, ngày đưa ông Táo về trời, lúc bà con đi chợ Tết, nhưng vẫn còn nhiều báo phát hành vào ngày 25, 26, thậm chí tới 28 Tết.

Tờ báo Xuân khổ lớn, bìa in 4 màu, hình ảnh nghệ sĩ nổi tiếng, (mà toàn con gái không hè), trình bày rực rỡ, tăng trang lên gấp nhiều lần, bài vở phong phú đặc sắc của những nhà văn tiếng tăm lừng lẫy, được treo trang trọng ở các quầy sách báo ven đường, các ngã ba, ngã tư luôn đập vào mắt mọi người.

Độc giả háo hức chờ đợi, chực sẵn ở các quầy sách báo ven đường để mua tờ báo xuân mình yêu thích, chọn thêm 2,3 tờ báo xuân mà mình thấy đẹp, thấy hay, có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà báo tên tuổi cộng tác để tặng bạn bè. Thiệt là một truyền thống đáng yêu hết sức.

***

Bà con mình ai cũng biết khi Tây tới, nước Việt Nam mình mới có nghề báo.

Nhưng có lẽ chỉ duy nhất Việt Nam là quốc gia có báo Xuân ra đời đã gần một thế kỷ.

Chính tờ Nam Phong Phạm Quỳnh sáng lập cho ra số Tết đầu tiên năm Mậu Ngọ, 1918. Ngay trang đầu, nêu lý do làm số Tết, ông chủ bút Phạm Quỳnh kính báo: “Cả năm có ngày Tết là vui. Vui ấy là vui chung của mọi người, vui suốt trong xã hội, vui khắp một quốc dân, trong thế giới dễ không đâu có một cuộc vui hoàn toàn như vậy. Dẫu người buồn đến Tết cũng phải vui…”

“Bản báo muốn cho khúc đàn riêng của mình không đến nỗi sai nhịp với khúc cảm chung của xã hội trong buổi đầu Xuân mới, giời ấm, khí hoà, cảnh vật tươi cười, lòng người hớn hở, lại muốn không trái chủ nghĩa bình thường, bèn định in ra tập ngày Tết này, ngoài những số báo thường, trước là để cùng quốc dân góp một phần vào cuộc vui chung, sau là để tặng các bạn đọc báo đã có bụng tin yêu gởi mua từ đầu đến nay một cái quà hợp với cảnh năm mới…”

Mà muốn độc giả đọc báo Xuân để vui mừng vui quá vui thì bổn báo phải lựa đề tài vui. Mấy cái vụ ghen vác súng rượt chồng chạy có cờ hay chồng ghen quánh vợ văng mất cái đầu tóc mượn (kiếm hoài hổng có ra) thì dẹp qua một bên sợ có huông.

Thay vào đó là lời chúc Xuân của ông chủ nhiệm, kiêm chủ bút, kiêm luôn ông xã của cô thư ký tòa soạn.

Ông chúc thân chủ quảng cáo trước; rồi tới thân hào nhân sĩ, chức sắc, độc giả mua báo năm rồi cuối cùng mới tới quý văn hữu (đứng hạng bét)

Sau đó là Sớ Táo quân. Bài điểm lại nhưng sự kiện quan trọng năm qua… như Donald Trump ‘quánh” Tập Cận Bình vì ‘khoái’ dân Việt Nam mình chẳng hạn.

Đề tài chánh trị ít thôi; đọc cả năm nhức đầu quá, uống gần hết cả trăm viên asprin rồi hè.

Sau đó là bài năm Hợi nói chuyện Heo theo truyền thống. Tại sao phim bậy bạ dành cho người lớn, con nít không được quyền xem, lại được gọi là phim con Heo?

Truyện ngắn như tình Lan Điệp phải có hậu, dẫu trái ngang nhưng Lan không có đi tu vì nhờ Điệp thuyết phục con vợ nhà, là con quan phủ, cho Lan về làm vợ bé chẳng hạn.

Hay những chuyện mua vé số bỏ quên trong túi, còn một ngày nữa quá hạn, tình cờ móc ra dò thấy trúng một triệu đô la Mỹ. (Dóc thấy ớn luôn!)

Rồi các mục giải trí văn nghệ, kịch trường, phỏng vấn các ‘ngôi sao’ cải lương, ca nhạc, truyện ngắn, thơ tình, thơ châm biếm, hí họa, chuyện Đông Tây kim cổ loại độc, lạ.

Tiếp theo là mục “Gia chánh” dạy làm các món ngon ngày Tết: Mứt bí, mứt dừa, bánh tét, bánh chưng.

Chuyện vui tiếu lâm nhưng nhớ đừng mặn quá kẻo bị rầy. Chuyện “Thầy thuốc bắt mạch”. Tết ăn nhiều thịt mỡ nhưng kèm theo dưa hành để mỡ máu đừng lên cao. Ngày xuân nhậu quá xá thì làm sao ‘giã’ rượu…

Cuối cùng là đố vui Tết! Ai trả lời ngay chóc được thưởng một hai trăm đô do Mít tờ ‘Hăng rết’, chủ hàng trăm tiệm làm răng trên toàn nước Úc tài trợ.

Làm báo Xuân sướng hay cực? Cực là cái chắc rồi. Nhưng phải làm vì đây là dịp may, năm chỉ có một lần vì các thương vụ đăng quảng cáo rần rần… Mà nhiều chừng nào là tiền vô nhiều chừng nấy. Có ông chủ báo nhậu nói với người viết rằng phải chi tháng nào cũng là Tết; phẻ cho cái túi tiền của bà xã mình lắm nhe.

Chủ báo cháo bào ngư thì bọn viết mướn tụi tui cháo trắng ăn với hột vịt muối. Bèn làm reo, đòi nhuận bút cao gấp mấy lần ngày thường. Ông chủ báo đành bấm bụng ứng trước một mớ, cũng hơi khẳm, để nhà văn có chút rượu nhâm nhi, chút mồi đưa cay, vài gói thuốc lá phì phèo mà sáng tác.

Vậy mà tới hạn chót với nhà in, lửa táp vô đít, mà bài của thằng chả chưa thấy đâu? Bèn gọi điện thoại nhắc: “Làm ơn viết gấp gấp!” Thì thằng chả lại bắt chước Tản Đà phán rằng: “Viết văn đâu phải là bửa củi. Nghe mà ứa gan hè!”

(Sơn Nam là nhà văn chuyên nghiệp, sống bằng nghề viết báo nên làm ăn đàng hoàng cẩn trọng, đề tài độc lạ như Ăn Tết ở rừng U Minh, chuyện người Hoa ở Chợ Lớn ăn Tết ra sao?

Nên nhà văn Sơn Nam thường được các chủ báo giành độc quyền cầm, ứng trước tiền nhuận bút cao gấp mấy lần các tác giả khác. Báo tỉnh lẻ hứa: báo Sài Gòn trả bao nhiêu là tụi tui xin kính ông bấy nhiêu. Ông cười, dơ ngón tay lên, khen: “Ngon a!”

Phát hành báo Xuân xong, ra giêng, còn nghỉ, tui thấy ông mặt mày tươi rói, tay mang, tay xách bánh mứt, thèo lèo cứt chuột và một chồng báo Xuân, đi xe đò về Mỹ Tho thăm vợ, thăm con.)

***

Xuân về, Tết đến, người Việt ở hải ngoại mình cũng hay đến các shop Tàu, mua cho mình tờ báo Xuân ‘ruột’, mang về nhà đọc dần những ngày Tết. Còn mua thêm chừng hai, ba chục tờ ‘sơ cua’, gởi tặng bàn bè; ngầm ý khoe có bài Tết của tui, được đang trang trọng trong ‘Mục Bạn đọc viết’ đó nhe!

Trước thềm năm mới, năm Kỷ Hợi, người viết xin kính chúc bà con mình: “Tân Xuân Vạn Hạnh”.

Xin giữ gìn truyền thông tốt đẹp, mua báo Xuân của ông bà mình để cho anh em báo (đời) chúng tôi, năm chỉ một lần được ăn cháo bào ngư!

đoàn xuân thu.

melbourne

Bậu bỏ qua sao đành!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Sương khuya ướt đẫm giàn bầu,

bậu về Miệt Thứ bỏ sầu cho qua.

Ca dao

Ngày mai bậu vu qui

bữa nay nhà nhóm họ

bà con nhậu như điên!

rượu rót tràn như suối!

Qua gánh bao đôi nước!

phồng rộp một bên vai;

củi chẻ bao nhiêu thước!

dằm sướt, rướm máu tay. 

Tình ta: qua với bậu

sông nước Mỹ Tho rầu,

chảy vòng vo tam quốc,

rốt cuộc chẳng tới đâu!

Bậu như chim vào lồng;

qua -Tề Thiên- mắc nạn:

bùa nghèo, ai dán trán?

vùng vẫy cũng vô phương!

Bậu hót tiếng buồn thương

qua đành trơ mắt ngó;

mai xuất giá theo người

bay đi trời Miệt Dưới!*

Rượu giao bôi, hợp cẩn

bậu với người trong tay

dìu nhau phòng hoa chúc

còn qua? rượu đắng cay!

Thời gian trôi lần lữa,

bậu tay bế, tay bồng

bên chồng, tay bậu gối

lòng qua sao bão dông?!

Quê nhà một mình qua

gặp ba bậu, qua chào

gặp má bậu, qua xá

(qua nhớ bậu nhiều quá!)

ba má bậu tham giàu

mừng: gả bậu đi xa

công dưỡng dục, sanh thành

chín chữ, nghĩa cù lao,

chữ hiếu bậu vâng lời

làm sao qua dám trách?!

Rót ly rượu đắng cay,

uống tràn đêm nỗi nhớ

tình bậu, qua một thuở

thôi! hẹn bậu kiếp sau!

Qua đã thức trắng đêm

chào bình minh rồi ngủ

trong mơ qua thấy bậu

bồng bềnh…xa, xa thêm!

*Miệt Dưới: Down Under, Australia.

đoàn xuân thu.

Bài thuộc lòng năm cũ!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

melbourne

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Bạn thơ thân mến.
Tháng chín bên ấy tựu trường.
Xin chia sẽ cùng các bạn thơ một thời là học trò và có bạn (như Giáo Nghĩa) một thời phấn bảng … bài thơ “Bài thuộc lòng năm cũ”
Tình thân

Em đọc bài thuộc lòng yêu dấu?
của em, của ta, thời thơ ấu,
của hạ tàn, phượng nở về đâu
mà buổi dạy đầu tiên ta nhớ.

Bài thuộc lòng giọng đọc thiết tha,
qua cánh đồng đang thì con gái,
quanh quẩn mãi, vườn dừa xanh trái,
chảy xuôi về trăm nhánh sông xa.

Bài thuộc lòng là tiếng chị ru,
tiếng bìm bịp kêu nước lớn, ròng,
là tiếng thơ ta chiều lá rụng,
em đọc bài trong khói mù u.

Bài thuộc lòng là lời nhắn nhũ:
yêu má em, suốt đời lam lũ,
yêu ba em, dãi nắng dầm sương,
yêu nhà em, vườn sau, sân trước,
yêu con đò, bến nước, quê hương,
em vào đời, chan chứa yêu thương!

Thơ giặc tháp tùng tăng, pháo giặc
chiếm trường ta, đốt sách của ta
tiếng em đọc rơi vào tĩnh lặng
trường em, ta đằng đẵng xót xa.

Bài thuộc lòng theo ta vượt biển,
từ trường xưa, biền biệt tha hương.

Quê người chiều, xám đông ủ rũ
dịu dàng nghe, thương tiếng em thương,
dạy con: bài thuộc lòng năm cũ,
vầng vặc buồn thương, khóc quê hương

đoàn xuân thu

Ráp ráp…

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 29/11/2018 

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

 thơ việt dã tiếp sức của Cao Vị Khanh, Hồ Đình Nghiêm, Hoàng Xuân Sơn, Vũ Hoàng Thư.
Từ trái: Cao Vị Khanh, Hoàng Xuân Sơn và Hồ Đình Nghiêm

Ly cầm chưa ấm ngón tay
Bồ đào đã đỏ như say tiếng cười
Rượu mời không ngọt cũng bùi
Xẻ nhau chút xíu nụ đời gần… phai.

Ước gì đủ mặt chiều nay
Cụng ly bốn góc, không say không về!

Tuyết vây rót sợi trắng. hề
Bóng ai vụt thoảng tứ bề ảnh hư
Nghe chừng thiếu mặt phần thư
Thơ mon, men đến cho nhừ lòng không.

Lòng không đổ rượu cho đầy
Đốt thêm sợi nhớ khói vầy mắt nhau
Nhìn ra lưng tuyết trắng phau
Bồi hồi chợt nhớ khúc đầu khúc đuôi
Khúc tr(g)iữa xuôi ngược đâu rồi?
Rối “đêm cỏ tuyết” khóc hồi ải biên.

Nước chia đoạn, người xa trôi
Ba ly chụm, chiều lậm bồi sầu riêng
Trốn vào giấy bút linh thiêng
Gói. Ôm cho trọn mấy miền lưu linh.

Hồ Đình Nghiêm
Gửi bạn phương xa chút tình
Hồ Gươm quán chiều 26/11/2018

Mười năm 2001 – 2011 

nhà văn hàng đầu của Văn Chương Hải Ngoại

phỏng vấn Hồ Đình Nghiêm

thực hiện: Lê Thị Huệ

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Lê Thị Huệ: Viết hình như là thúc hối thứ hai. Vẽ là thúc hối thứ nhất, vì ngày mới lớn Hồ Đình Nghiêm bắt đầu là học trường Mỹ Thuật Huế. Một người bị nghệ thuật xà quầng không dứt được, bây giờ là nhà văn “ngon” của Văn Chương Hải Ngoại. Nhà văn cảm thấy còn thiếu thốn điều gì và điều gì làm cho nhà văn thỏa mãn vì có thể phát biểu điều mình muốn phát biểu, khi được sống ở ngòai Việt Nam.

Hồ Đình Nghiêm: Mình học Mỹ thuật chưa xong, ngang năm thứ hai thì bỏ trốn vì biến cố Bảy Nhăm. Xấc bất chạy tuốt vào được Sài-gòn, chưa kịp định thần chốn ấy cũng lại bị Phỏng Giái. Đành xang bang lộn ngược lui Huế. (Hì hì, đi với về cũng một nghĩa như nhau! Từ chết tới bị thương e cũng na ná nhau thôi). Giữa đường đứt gánh, ghi danh học tiếp cho biết sự tình chứ bấy chầy lòng đã ơ hờ với hội họa. Ra trường, với tờ quyết định bổ đi làm cán bộ Thông tin văn hóa ngoài Quảng Trị, lương 52 đồng một tháng, (năm 78). Bộ tính cạp đất à? Thôi, vất cây khế lại, tìm đường dông. Hoàng thiên hữu nhãn độ trì gắn mác Thuyền nhân. Viết truyện từ dạo ấy, sau hàng rào lưới sắt, giấy bút đều có in logo Hội Hồng thập tự Quốc tế. Viết, do bởi lòng thù hận của người “Diệt”. Viết, do bởi lòng bác ái của tha nhân luôn mở rộng vòng tay. Viết, muốn nói đôi điều cho vơi đi, mà hội họa không đủ sức để can dự tới, phương tiện ấy chẳng thể giải bày, làm nguôi ngoai. Mình dông dài thế chỉ nhằm trả lời: Hai món ấy đến với mình có vẻ như một thỏa thuận miễn cưỡng, như ai kia chia cho mình 13 lá bài với duy chỉ một đường binh. Một ván bài xấu, xóc xáo mãi vẫn không thỏa mãn. Đôi lúc mình để trí óc chạy rông: Nếu không xảy ra biến cố 1975, mình có là một thằng người tơ lơ mơ như giờ này? Hắn có bị nghệ thuật xà quầng “phá rối”? Hắn sẽ làm gì “cho hết nửa đời sau”? Không. Chắc chắn hắn sẽ chìm ngập vào một cảnh sống khác, mình tin thế. Giờ này, ngay tình mà nói, hình như mình cũng chả phát biểu được chuyện gì cho ra hồn! Có một điều nên tri ân: Nhờ chữ nghĩa, mình đã quen được một số tên tuổi trên văn đàn mà mình luôn mến chuộng. Những đàn anh, những đàn chị. Những bạn văn 5 châu 4 bể. Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình. Xin mạn phép hô to: Tình đồng chí bất diệt! 

Lê Thị Huệ: Nhà văn đào chữ từ đâu? Đào cốt truyện từ đâu? Để mà viết vậy. Vì hình như nhà văn ít đi rời khỏi Montreal? Hỏi câu này không có nghĩa là hàm chứa một kết luận rằng người ít đi là không viết hay đâu đấy. 

Hồ Đình Nghiêm: Mình là con kiến bò quanh miệng chén và nhìn… cơn bão trong tách trà. Cái gì sẽ là giọt nước cuối làm tràn ly? Gay cấn hén? Một trận gió đi băng qua công viên và làm những cái xích đu đong đưa cùng xác lá xoắn tít. Một tiếng cười trong trẻo vẳng lại từ cuối đường của đứa bé khi nhặt được quả bóng. Một giọng khản kêu người mẹ đang bước xa dần và cô con gái mặc quần yếm sẽ khóc nếu chân đi kia không đứng lại. Cơn mưa đổ tình cờ làm xua đuổi mọi thứ, nó buông rèm, sắc tối từ tốn xâm chiếm công viên ngập cỏ tợ một nghĩa trang… Có thể đó là thứ hình ảnh diễn ra quanh ta mỗi ngày, nó tích tụ vào đầu mỗi khi một ít, hồi nào hết chỗ chứa nó sẽ tìm cách thoát ra. Chưa ra, đành phải cất công mà đào. Tự bới móc, đã đành. Xét thấy chưa đủ, lại phải lén phén đi dòm lén. Vừa rồi, trên diễn đàn này có hiển thị loạt ảnh “Mẹ điên con điên (đi vào vùng gió cát điên)”. Xem xong, có thể viết được cái chuyện ngắn chứ không đùa. Tin không? 

Lê Thị Huệ: Chuyện ngắn của Hồ Đình Nghiêm với những câu như:

Người đàn bà mở nắp nhựa và khởi sự uống.

– Cái nhân vật Trúc ngày xưa bán cà phê bây giờ ra sao?

– Không biết. Anh đã vắng mặt quá lâu với cuộc đời này. (Mất Đất)

Những câu văn nặng ký nâng Hồ Đình Nghiêm lên nhà văn hàng quốc tế, theo nhận xét của tôi. Chỉ vì các ông các bà độc giả, dịch giả, lẫn phê bình gia Việt Nam thiếu bản lĩnh và không sắc sảo đủ để nhìn ra những nhà văn Việt Nam đại tài mà chỉ ra. Một mình Lê Thị Huệ thì nhằm nhò gì. Nhà văn thỉnh thỏang nên uống một ngụm rượu, vui với lời chúc mừng của Lê Thị Huệ đi, là được rồi. Phải không. 

Hồ Đình Nghiêm: Mình thuộc “diện” ốm o xo bại. Thông thường, kẻ nhẹ kí mới dễ nhấc bổng. Nặng kí? Không dám đâu. Nhưng mà “Chỉ một mình Lê Thị Huệ thì (nhằm nhò) quá xá đi chứ lị. Thỉnh thoảng mình vẫn uống một ngụm rượu đào, rồi rung đùi nhại đọc một câu dễ thương trong Tam Quốc diễn nghĩa: “Sinh ra ta là cha mẹ ta mà người hiểu ta chính là HUỆ vậy!” 

Lê Thị Huệ: Và nói đến văn chương của Hồ Đình Nghiêm không thể không nói đến tính nghịch ngợm. Nghịch ngợm trong nhận xét, nghịch ngợm trong cách xử dụng từ, nghịch ngợm một cách yêu đời và hồn nhiên …. như một nhà văn đại tài. Tôi hơi cường điệu khi xử dụng cụm từ “nhà văn đại tài”. Vì cả hai chúng ta đều cầm bút, có lẽ Hồ Đình Nghiêm cũng biết, nhà văn tài ba thì làm sao thiếu tính nghịch ngợm. Tài năng càng cao, khả năng nghịch ngợm càng thông mình. Càng tài năng, cách nghịch càng khéo, khéo viết đến độ nhiều khi những nhà phê bình mắt ếch cóc nhìn ra được khía cạnh ấy của họ. Nhà văn có nhận xét gì về điểm này 

Hồ Đình Nghiêm: Nhận xét của mình là đằng ấy nói không sai vào đâu được. Vấn đề là cách nói của đằng ấy dễ làm người khác ngộ nhận. Gây ngộ nhận có khi làm mình vui, đôi khi gieo phiền muộn. Và theo như sự hiểu “thô thiển” của mình, đằng ấy chẳng ke những ngộ nhận. Chả có ông kẹ nào làm đằng ấy chùn bước, ăn nói hơi bị “vô tư”. Mình thích nghịch ngợm, thuở nhỏ ưa sờ vú mẹ, ưa bú tí. Luôn bị nạt nộ, luôn bị bợp tai, luôn bị đá đít… liền cai sữa. Xin chừa. Già đầu như ri đây mà còn nghịch thì e là “châu về hợp phố” mất rồi. Bản tính chăng, có căn tu chăng? Hề hề. Mình thích đọc văn chương Nhật bản vô hậu, bởi đa số các tác giả xứ phù tang đều có lối hành văn rất hợp tạng mình, dí dỏm, thông minh, tinh tế, nhẹ nhõm, ấn tượng… khi viết những trang văn chương ẩm ướt, rốt ráo về dục tính. Nó mang mình tiếp cận một vẻ đẹp ngời sáng, đánh rơi hoàn toàn cái nhầy nhụa xấu xí do bởi những kẻ non tay nghề viết ra. Sau tài ba của Haruki Murakami, giờ đây mình đang “mặn” một Amy Yamada.   

 Lê Thị Huệ: Nói đùa thế, chứ tôi tin là nhà văn cũng đã được những lời khen thưởng của nhiều người khác. Nhà văn nghĩ thế nào về vai trò của các nhà phê bình Việt Nam đối với các tác phẩm của nhà văn 

Hồ Đình Nghiêm: Mình chưa được (bị) một ai phê bình. Nói theo ngôn ngữ đời thường là chưa được lọt vào mắt xanh. Và chả có kẻ nào đá lông nheo cả. Thế có buồn không cơ chứ, hở giời!

 Tình thật mà nói mình không mấy ưa người làm phần việc phê bình, họ chủ quan quá, sự chủ quan đôi khi làm cái nhìn lệch xa dụng tâm của tác giả- kẻ bị phê bình. Tác giả viết: Tôi ăn bát phở ấy rất ngon… Nhà phê bình phán: Lếu láo, cậu đang húp xì xụp tô bún rõ ràng là thế mà đánh lừa người đọc. Và đã là nhà phê bình, vũ khí họ trang bị: ưa khoe vốn kiến thức. Họ ưa viện dẫn ông này ông nọ, bên Tiệp bên Nga bên Hung bên Tây Ban Nha bên Ý bên Đức bên Pháp bên Mỹ… Trường phái này triết thuyết nọ, vô vàn chuyện trọng đại chỉ để phủ chụp vào một tác giả Việt đang chập chững bước vào văn đàn nhược tiểu. Khi đọc những bài phê bình, cảm giác của mình thường bị ngộp thở, không dưng họ dẫn mình vào mê lộ và tới tận cùng dấu chấm mình vẫn chưa lai tỉnh. Thực ra thì họ đã bỏ bộn thời gian để truy cứu tài liệu. Tốn công sức như vậy nhằm đánh đổi được điều gì? Thuyết phục người có học thức hơn mình chăng? Ôi, thương cho người bị phẩu thuật mà cũng sợ cho dao kéo nọ biết bao!

 Lê Thị Huệ: Nhà văn thường viết được nhất trong bối cảnh nào? Đánh răng thơm tho xong, ăn mặc sạch và láng, uống một tách cà phê thơm, rồi mới ngồi viết vào bàn viết. Hay thường là sau khi ngủ với bồ tèo xong thì viết được sung mãn hơn bên gối mộng. Hoặc ngồi quán cà phê ồn ào vẫn viết được như thường. Nhà văn kể nghe chơi 

Hồ Đình Nghiêm: Kể nghe chơi thì mình không kể, phải thiệt cơ mình mới nói. Ngủ với bồ tèo xong hả? Điên sao ngồi dzậy dziết dzăn? Thần khí đâu nữa? Sức lực nhà ngươi đâu tá? Và, mình đọc trong báo Tây, kinh nghiệm họ truyền đạt cho khối đứa vô tình: Trả bài xong là lỉnh sao? Hết nhiệm vụ rồi sao? Sai lầm! Người bạn tình vẫn đang nằm chờ một cánh tay bạn quàng ôm. Hãy hôn vào người ấy, nếu có thể. Hãy nói một điều gì đấy, êm ả, nếu có thể.

 Rồi, đi đong! Ngồi quán cà phê ồn ào? Chịu thôi, phải tịch lặng, phải đơn côi. Ngồi ở xó bếp, một hai giờ sáng. Và giờ ấy thì nhớ là chưa thể đánh răng, áo quần lôi thôi người hôi như cú. Vậy đó, nói láo thì còm piu tờ nó cháy ổ cứng. Viết văn, xem ra nản quá hí? Chưa kể, gửi báo mạng “lề phải” họ hổng chịu đăng. Chưa kể, hổng có sỡ hụi để mua cà phê thuốc lá trợ lực. Chưa kể bớt bạn thêm thù. Chưa kể họ hàng thân sơ khi khổng khi không làm “đồng minh tháo chạy”. Lại phải nói thiệt: Oải quá!  

 Lê Thị Huệ: Với tình hình cấu trúc của Internet và với tình trạng người tiêu thụ càng ngày càng tham gia vào các sinh hoạt phát biểu nhiều hơn, những hình thức sáng tác của nghệ thuật như ca nhạc, văn chương, vẽ vời, càng lúc càng bị số đông núm lốc lôi đi, bạn nghĩ thế nào về khả năng của các tác phẩm nghệ thuật và sự viên mãn của nó trong tình hình “nhà nhà ca hát, người người viết như hiện nay” 

Hồ Đình Nghiêm: Mình có xem một hai cuốn phim, quên mất tựa đề, bị ám ảnh bởi duy một hình ảnh: Một anh chàng đeo kính cận, to bản, gọng đen, tóc rối, râu lún phún, môi ngậm điếu thuốc mà tàn cong chưa chịu rơi xuống. Trên bàn: Một ly nước lọc đã vơi cạn. Một chai rượu rỗng không. Một xấp giấy. Cái gạt tàn thuốc chứa chật chội những đầu lọc cong queo nhăn nhúm. Một bàn máy đánh chữ đen đúa, hình như hiệu Olivetti. Một ngọn đèn vàng treo đong đưa trên đầu. Và dưới sàn nhà có vô vàn những tờ giấy đã bị vò lại. Tiếng kêu của cái rouleaux đang cuốn nạp tờ giấy mới vào. Những mặt mẫu tự đúc chì thay phiên gõ lên đó bằng mười ngón tay đặt để chuẩn xác trên mỗi ô nhựa lõm… Lóc cóc lóc cóc suốt canh khuya. Tiếng chuông báo hiệu đã đi cuối đường, đưa tay gạt cần để sang dòng. Lóc cóc lóc cóc. Mình xem, mê tơi. Thằng nhà văn, khi đó, tự thân nó, toát ra một hấp lực kỳ lạ. Nó như một con dã tràng đơn côi và ngoài kia, biển khuya đang có sóng lừng lững đi vào bờ. Mình yêu cái hình ảnh đó quá. Đừng nói mình quê mùa hủ lậu. Cái đứa ngồi trước màn hình máy vi tính chả ra làm sao cả so với cái thằng người dị dạng kia. Nó tiện lợi gấp vạn lần, đồng ý. Nó hiện đại và siêu khủng. Chẳng ai chối cãi. Nhưng nó không chỉ phục vụ cho riêng cá nhân nhà văn. Nó phổ cập, nó đại chúng, nó hang cùng ngõ hẻm, nó Pop quá. Bàn máy đánh chữ thô kệch nặng nề vô tình bị đẩy về cương vị Rock, một thứ Heavy Metal kén cá chọn canh. Và thú thật, mình mết Rock and Roll, chịu đèn Hard rock cách chi. Pop là karaoke, ai chơi cũng vậy, chả có gì ghê gớm. Mình không thích internet lắm, nó xô bồ quá, nó hỗ lốn quá, tạp nhạp quá, là một thứ “Thị tại môn tiền náo”. Nó xúi người ta giấn liều, văn chương dần dà chuyển tải thứ gì đấy gần như một bản báo cáo lê thê. Chả có gì sàng lọc qua, nó đã an nhiên tự tại nhảy lên lưới lên mạng. Người ta quen đọc thứ thơ văn phi kiểm soát đó, và người ta hoài nghi về dòng văn học @ kia. So ra, nếu được ấp ủ một cuốn sách trong tay, chúng ta hẳn bắt gặp một nỗi an tâm thầm lặng. Thứ thầm lặng cần thiết, chỉ còn Em với ta. Hãy tạm bằng lòng với câu thơ của tiền nhân: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ! 

 Lê Thị Huệ: Tôi thích gọi tôi là “Nhà Văn Hải Ngoại”. Vì sự ra đời của nó gắn liền với tư thế từ chối chủ nghĩa Cọng Sản của những người ty nạn chính trị ra khỏi Việt Nam năm 1975, từ đó mới có cụm từ “Văn Chương Hải Ngoai. Tôi yêu kỷ niệm về sự chào đời này, nên thích nhận mình là “Nhà Văn Hải Ngoại”. Hơn là “Nhà Văn Lưu Vong” (người ta có thể Lưu Vong ở ngay chính trên Quê Hương của họ).  Hoặc là “Nhà Văn Di Dân”, từ nhà văn “Di Dân” nghe nhà quê quá, đối với tôi. “Di Dân” nghe không hách xì xằng, không mang một thái độ chính trị mãnh liệt, gấu, như “Hải Ngoại”. Trong cái mớ bùng xùng tôi vừa kể, anh gọi tên anh là gì? 

Hồ Đình Nghiêm: A, B, C. Không có D. Không có “Những câu trên đều sai”. Vậy thì làm ơn đừng che tay lại, cho mình cọp dê với. Dứt khoát khoanh tròn chữ Nhà Văn Hải Ngoại. Tình thật, mình yêu chữ Thuyền Nhân vô bờ. Boat People. Nghe đứt ruột, nghe da diết, nghe tủi hổ, nghe đớn đau. Nhưng tiếc uổng là nó chỉ khoanh vùng một đám người, chẳng đại diện cho tập thể tị nạn. Ngang đây mình cũng xin tâm sự, là có khi mình thực sự bị choáng khi nghe có người nói: Thôi bỏ đi, giờ này mà còn viết chuyện cải tạo, chuyện vượt biển, nghe ớn thấy mồ! Mình suy nghĩ, mình thở dài. Đó là hai thảm họa, hai bất hạnh lớn của người Việt. Anh xúi dục tôi quên đi, điều đó cũng đồng nghĩa là anh trách bọn nhà văn toàn một lũ bất tài? Chúng nó cặm cụi viết và chúng nó chẳng xô được vào lòng anh một con sóng bạc đầu, một niềm đau, một tủi hờn nào cả. Ừ, tôi xin cúi đầu nhận tội. Tôi thực sự bất lực trước niềm đau vô bờ của đồng loại. Nhà văn Hải Ngoại, dù nằm dưới một danh xưng khác, có ai đứng cùng tôi ở hàng ngũ: Xuội lơ? Nói không cùng, chẳng cạn kiệt. Bất hạnh lớn lao của nhà văn là anh bó tay trước nghịch cảnh. Anh cảm nhận cái yếu kém của chữ viết, và đôi khi anh chợt nhìn ra việc anh đang làm nó nhằm phục vụ riêng cho anh, rất vị kỷ! 

 Lê Thị Huệ: Câu cuối cùng. Gió O chủ biên là người đàn bà Lê Thị Huệ, nhà văn có nhận xét gì về điều này ?

Hồ Đình Nghiêm: Như trên có thưa, mình rất ngẳng nghịch. Thưa kiệm lời, chưa đủ, xin bổ túc. Cái đứa hoang đàng ấy mắc phải một yếu điểm (?): Nó rất yêu chuộng qúy vị phụ nữ, bất kể hồng quần không biết cầm roi đi quyền, bất luận hồng nhan có làm thơ hay viết văn. Có chữ Thị dính vô là “lòng trong như đã mặt ngoài còn e”. Chỉ rứa thôi! Giang hồ (hiểm ác) đồn đãi chưởng môn nhân Gió-o là một vị nữ lưu khó tính “độc cô cầu bại” nên tại hạ lân la tới làm quen bằng cách thi triển những tuyệt học của mình, và mọi thứ đều ô-kê. Cả hai tuy Nga Mi tuy Không Động nhưng đi lại trên giang hồ thì nên tôn trọng sở trường sở đoản của nhau, chẳng làm khó nhau. Lê Thị Huệ đối với tớ giống như chủ nhân một cơ sở bảo tiêu, và tớ có ngân lượng nào cũng kíp trao tay nhờ áp tải, thời nay gọi là chọn mặt gửi vàng. Gửi vàng xong, lại kèm theo chút tình: Xin vì bảng hiệu Gió-o mà hạn chế dây dưa đôi co với hắc bạch giang hồ. Tâm mình trong sáng thì hoàng đạo e chẳng có thảo khấu chận đường. Một chút hương vị Phật pháp, có nên chăng? Cái này mình “lụm” trên lưới của nhà thơ nổi tiếng Ko-un, người Hàn Quốc (thứ lỗi quên tên vị chuyển ngữ):

 MỘT NGƯỜI BẠN

Này!

Với đất sét anh đã đào

Tôi đã nặn một tượng Phật

Trời mưa.

Tượng Phật trở thành đất sét

Không một vết như trời sạch sau mưa. 

Cám ơn bạn đã đặt câu hỏi. Viết bài gửi Gió-o là một chuyện, mà đối thoại lại là một chuyện khác, đúng không? Viết bài là cục đất sét. Hỏi đáp, ngộ thành một tượng Phật(?)

 Cầu mong trời đừng mưa. Mãi mong bạn Huệ chưa tìm ra phương án hạ môn bài, dẹp tiệm. Nói một câu dở nhất thiên hạ: Xin cứ chân cứng đá mềm. Bảo trọng!

 Lê Thị Huệ: Cám ơn nhà văn Hồ Đình Nghiêm. 

TB: Đấy đã bày fim bộ Kung Fu: Bảo trọng! Thì đây cũng bắt chước, vai Thị Nở tân tòng Công Giáo hối lỗi: Giê Su Ma Lạy Chúa Tôi!

Ông già (đêm) Noel

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 21/12/2018 

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

tối hai mươi bốn chẳng biết ăn chi
mình người huế chỉ mặn món bún bò
thức này nên thời vào chiều tà hoặc ngày rạng
chơi rề-vơi-dông e nặng bụng năm canh

kinh cong chuông giáo đường cùng tuyết đổ
không bóng người đường lạnh vắng chùa bà đanh
nhờ nồi bún sưởi ấm vuông bếp chật
đèn chớp đỏ đeo cây thông mùi sả dật dờ

món ăn ba miền chỉ lạ riêng anh huế
ai đời mà bò bắp đi giao duyên chị giò heo
cứ đổ hô bò giống đực heo nái giống cái
âm dương hoà hợp nêm chút ruốc mặn mòi

thuở đầu xanh vô tội vạ ưa hát hỏng:
“bà già vuốt râu ông già
chiều chiều dắt ra bờ sông
hai người đang nói tâm tình
tự nhiên ông…” giờ nhớ sực
mới hay ai kia sớm đổi lời
chế ca từ trật lất từ bài jingle bells

và đăm chiêu đưa tay tự vò râu
má sấp nhỏ bữa ni đang vô lại sài gòn
ăn giáng sinh ngoài mình hồi nước rút
răng bao nhiêu tiền ngó không đủ ông ơi

ai cũng hỏi thăm việc chi mà đi lẻ bóng
đành đoạn để ông già cô đơn cho tuyết vùi
chuyện tình lan và điệp nên viết lại lời thoại
bị tiểu đường rồi cao huyết áp cản trở lưu thông

rứa đó, già rồi ai lại để bà vuốt râu
tra có hột thiếu chi việc để mần
bà có đòi nhổ lông mày mềnh cũng oải
bu như sam có nước mà nhồi máu cơ tim

ông già ngồi thu lu trong đêm nô-en
ba đứa con hồi chiều đã tới trao quà
thằng út giỡn già như ba thiệt vô tư lự
khỏi để tâm mấy cái vụ chui ống khói tặng đồ
tối nay tụi con đi ăn cùng anh em hãng xưởng
anyway
ba nấu bún bò cay thấy mồ
no thank-you

ông già đang nhớ bà già
chiều chiều đâu mặt nhai cơm
hai người đang tính viễn du
tự nhiên bà đi một mình

múc tô bún ngậm mà nghe
từ khi chúa chịu đóng đinh trên thánh giá
đầu tiên tui ăn lẻ bóng bữa chúa sinh ra đời
mụ vợ tui thày lay đi xa làm từ thiện
tui côi cút cũng góp phần an ủi chúng sinh

quà sấp nhỏ cho má cái máy xay sinh tố
tặng ba máy philips năm lưỡi cạo râu
kỉnh chung hai ông bà già bộ dao thớt
hôm nào con vợ chuyển bụng
má nhớ chạy lại giúp một tay nghen

giờ này buổi trưa em tới sài gòn chưa đó
vương cung thánh đường ngày nớ mình thì thầm
chúa quyền năng đã cho em vượt cạn
đứa con đầu mình đặt tên bình an
an bữa mô cho má leo lên chức bà
chăm nom cháu đôi ngày nửa tháng
để ba một mình xoay trở thì cũng “no star where”

sớm về nghe, không có râu thì để anh vuốt má
bún chồng nấu coi mòi rất trình độ mát tay
nhưng thiếu vợ, mặt ông già nô-en cũng chảy dài
ăn, không ăn, thì tắt đèn đi ngủ, một hai giờ sáng
nằm một mình máng cỏ lạnh ngứa gối chăn
về già có nhiều điều thật bất tiện
nhưng ngủ hai mình, an ủi ta có đôi
như chim liền cánh như cây liền cành
dù chim nhác chơi xuội lơ thu mỏ
dù cây thưa lá mãi sợ cành rung

nói dông nói dài không bằng nói thiệt
chúc mừng giáng sinh. ông già đi ngơi đây
bình an dưới thế cho những ai mình ên
lạy chúa con là người có tội
Nô-En và No Em.

Hồ Đình Nghiêm

Xem Lại Những Hí Họa Của Chóe

tienglongta.com

Nguyễn Ngọc Chính

Post February 16, 2023

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Viết về hội họa có lẽ không ai có đủ “thẩm quyền” hơn các họa sĩ. Họ là những người trong nghề nên có những nhận xét chuyên môn mà những người “ngoại đạo” như tôi không thể nào có được. Muốn làm nhà phê bình hội họa lại càng khó hơn vì chưa chắc một họa sĩ tài hoa đã là một nhà phê bình xuất sắc.

Thế cho nên, bài viết này chỉ là một cái nhìn của người thưởng ngoạn những bức hí họa của họa sĩ Nguyễn Hải Chí (*) mà lâu nay ta biết đến qua cái tên Chóe trên báo chí.

Sự nghiệp hí họa của Chóe kéo dài qua hai thời kỳ, từ năm 1969 dưới thời VNCH và chấm dứt vào năm 2003 trong thời CHXHCN. 2003 là năm ông qua đời vì biến chứng của bệnh tiểu đường sau một thời gian bị lòa con mắt, đành phải “bó tay” xếp cọ. Họa sĩ mà mắt bị lòa thì cũng chẳng khác nào ca sĩ bị mất giọng.

Họa sĩ Chóe

(Ảnh Nguyễn Phong Quang)

Bước đường dẫn đến nghệ thuật của Nguyễn Hải Chí quả là… đặc biệt. Người thanh niên sinh trưởng tại An Giang bước vào nghệ thuật qua lãnh vực văn chương chứ không phải bằng con đường hội họa. Ông tâm sự:

“Tôi đến với nghệ thuật vì… mê gái. Năm 20 tuổi, tôi thầm yêu trộm nhớ một cô gái Sài Gòn. Cô ấy có cả một tá sĩ quan chế độ cũ săn đón, còn tôi chỉ là một anh chàng thất học, không mong gì lọt vào mắt xanh người đẹp… Tôi biết nàng là độc giả của một tờ báo, vậy là tôi liều mạng sáng tác truyện ngắn với hy vọng sẽ được đăng…”

Chàng trai si tình làm liều thế nhưng lại có kết quả mỹ mãn: người con gái tên Nguyễn Thị Kim Loan đã trở thành vợ của ông cho đến ngày ông lìa đời. Và cũng nhờ si tình nên ông bước thẳng vào nghề viết lách, lại còn đoạt giải nhất về truyện ngắn của báo Tiền Tuyến năm 1969.

Cũng vào cuối năm đó, ông đã quen biết với nhiều nhân vật của làng báo Sài Gòn trong đó có nhà văn Viên Linh, chủ bút tờ Diễn Đàn. Khi họa sĩ chính của Diễn Đàn ra đi, bí quá, Viên Linh mới bảo: “Ông thử vẽ đi!”

Nguyễn Hải Chí kể tiếp, “Trước đây tôi chỉ mày mò học của một thầy giáo làng, nhưng nể bạn cứ vẽ liều. Vẽ xong, chẳng biết ký bút danh gì, Viên Linh lại bảo: “Ông tên Chí, vậy thì ký là Choé!”. Tôi nghe cái tên này thấy cũng kêu, vậy là thành bút danh…”

Từ tờ Diễn Đàn, ông còn vẽ cho tờ Báo Đen năm 1970, nhưng sự nghiệp vẽ tranh của Chóe vẫn chưa được độc giả lưu ý lắm. Thời đó, báo chí Sài Gòn đã có hai cây bút biếm nổi tiếng là Ngọc Dũng ký Tuýt và Đinh Hiển ký Hĩm. Phải đợi đến khi  chuyển qua cộng tác với báo Sóng Thần của Chu Tử ông mới bắt đầu được biết tới qua những bức hí họa.

Hí họa vẽ trong những năm 1972-1973 là những bức tranh lột tả tình hình xã hội tại miền Nam thời bấy giờ. Dĩ nhiên trong loại tranh biếm người họa sĩ chỉ vẽ ra những cảnh đáng phê phán, khác hẳn với loại tranh cổ động, tuyên truyền cho cái hay, cái đẹp của xã hội hoặc chế độ. Chính yếu tố này đã đi sâu vào suy nghĩ của người xem tranh, vì trông thì vui mắt thật nhưng vẫn có một cái gì đó nghèn nghẹn nơi cổ… Dưới đây là những hình ảnh trong tranh của Chóe: từ chiếc cyclo thường thấy nơi thành thị xa hoa, đến hình ảnh người nông dân gầy giơ xương ở thôn quê và cuối cùng là một con gấu mang tên Prices (giá cả) to béo, ục ịch đang leo trên những bậc thang được kết bằng hình người…   

(Vẽ tháng 8/1972)

(Vẽ tháng 3/1973)

(Vẽ tháng 5/1973)

Năm 1973 cũng là năm diễn ra Hiệp định Paris về Việt Nam nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình giữa 4 bên tham chiến: Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa ký kết tại Paris ngày 27/1/1973.

Lê Đức Thọ và Henry Kissinger, hai nhân vật chủ yếu trong cuộc đàm phán, cả hai ông đã được trao giải Nobel Hòa Bình năm 1973. Đây là đề tài thời sự nóng bỏng để báo chí khai thác và dĩ nhiên cũng là đề tài cho những bức hí họa của Chóe. Chân dung các nhân vật được lần lượt xuất hiện trên báo chí Sài Gòn.

Đầu tiên là Lê Đức Thọ của phía VNDCCH, người đã từ chối không nhận giải Nobel Hòa bình. Qua nét bút của Chóe, ông Thọ có hai chiếc răng cửa thật dài để chống đỡ cho bảnh Hiệp định (Agreement). Anh du kích thuộc Mặt trận Giải phóng miền Nam nhỏ bé đang lăm lăm khẩu súng nép mình dưới bản Hiệp Định…   

(Vẽ tháng 4/1973)

Phía Mỹ có ngoại trưởng Henry Kissinger được Chóe vẽ với một cái miệng có hình lỗ khóa. Trong cặp mắt kính của Kissinger mang hình ảnh một bên là tháp Eiffel và bên kia là hình ngôi sao cũng có hình lỗ khóa. Chiếc mũi của Kissinger lại chính là chìa khóa, chắc là để mở miệng và mở mắt cho vị ngoại trưởng Mỹ gốc Do Thái này.

(Vẽ tháng 6/1973)

Cả hai nhân vận Lê Đức Thọ và Kissinger còn xuất hiện trong một bức tranh vẽ vào tháng 6/1973. Chóe vẽ hai người đang ngồi trên một con ngựa gỗ, một loại đồ chơi của trẻ em thời xưa để tạo cảm giác ngựa đang phi nhưng chỉ lắc lư tại chỗ chứ không hề chuyển động. Giữa hai nhân vật được che phủ bằng một tấm chăn có dòng chữ “Negotiations”, hay còn gọi là Đàm phán:

(Vẽ tháng 5/1973)

Bối cảnh chính trị thế giới vào thời điểm 1973 là cuộc “đi đêm” giữa Nixon và Mao Trạch Đông. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến Hiệp định Paris năn 1973. Cái “bắt tay hữu nghị” Hoa Kỳ – Trung Cộng được Chóe vẽ trên “chiếc cầu dựng bằng người”, tượng trưng cho hai miền Nam – Bắc Việt Nam. Chiếc cầu còn được đóng đinh vào chân của hai người dân để gia cố cho sự bền vững của tình hữu nghị Tư bản – Cộng sản:

Chóe còn tiên đoán hòa bình cho Việt Nam bằng bức tranh một người Việt gầy giơ xương đón nhận hòa bình với chiếc nón lá. Khi “trái bom” hòa bình rơi xuống, chiếc nón lá bị rách toạc. Nhân vật trong tranh khiến có người liên tưởng đến một đệ tử của “cái bang” với chiếc nón lá xin tiền. Tác giả chỉ vẽ có vậy, ai muốn hiểu sao thì hiểu!

  Lúc sinh thời, họa sĩ Chóe cho rằng nghề của ông là vẽ “hí họa”, chứ không phải “biếm họa”. Ông nói: “Xin bạn hãy cùng tôi gọi con đường này là hí họa, vì hí họa là con đường rộng và lòng ta rộng theo… Trong hí họa cần cả nội dung lẫn hình thức. Không tạo được hình thức sẽ làm hỏng nội dung. Hình thức càng tốt, càng giảm được số chữ phải ghi trong tranh. Hí họa cần nhất là dễ nhìn, dễ phân biệt, tập trung làm nổi bật ý chính, tạo cho người xem chú ý ngay về sự khập khễnh của hình thức rồi mới dẫn dắt họ đến cái phi lý, cái lố bịch của nội dung”.

Chân dung tự họa của Chóe (1992)

Hí họa của Chóe được các báo danh tiếng thế giới như The New York Times, Newsweek… chọn đăng. Cũng trong năm 1973, cuốn The World of Choé (Thế giới của Choé) được nhà xuất bản Glade Publications ấn hành tại Mỹ do công trình thu thập của nhà báo Barry Hilton. Một trong những bức tranh trong cuốn sách này, tuy là hí họa nhưng lại mang nét buồn của đất nước chiến tranh khi thế giới bước vào mùa Giáng sinh vui vẻ trong năm 1972.

Ông già Noel Việt Nam áo quần tả tơi, đầu đội nón lá và trên vai là chiếc đòn gánh với hai cái thúng thủng đáy, trống không, không quà Giáng sinh mà cũng chẳng nụ cười. Nếu quan sát kỹ hơn người xem sẽ thấy hai ngón chân cái của ông giao nhau vì ông vốn là người… Giao Chỉ.   

Năm 2004, Chóe mang 29 bức tranh chân dung sơn dầu về những người phụ nữ đoạt giải Nobel sang Stockholm nhân Ngày Việt Nam tại Thụy Điển. Giới thưởng ngoạn nghệ thuật ở Bắc Âu có dịp nhìn lại những khuôn mặt nữ nổi tiếng thế giới như Berthan Von Suttner (Nobel Hòa bình, 1905), Grazzia Deledda (Nobel Văn chương, 1926), Sigrid Undset (Nobel Văn chương, 1928), Emily Greene Balch (Nobel Hòa bình, 1946), Rosalyn Yalow (Nobel Sinh lý học & Y học 1977), Rigoberta Menchu (Nobel Hòa bình, 1992) và cả chân dung Afred Nobel, người sáng lập giải thưởng.

Chân dung Afred Nobel

Nhà báo Lê Minh Quốc nói về Chóe: “Tôi ấn tượng nhất Choé ở bức hí họa vẽ một người phụ nữ gánh trên vai cả trái đất mang tên Phụ nữ nước tôi. Đó là bức tranh đầy ý nghĩa về vai trò của người phụ nữ Việt Nam. Việc bức tranh ấy được chọn triển lãm hội hoạ quốc tế chứng tỏ tài năng của họa sỹ. Rất lâu nữa Việt Nam mới có được một họa sỹ biếm tài năng như Choé”.

Chóe đem bộ tranh Phụ nữ nước tôi đi dự triển lãm tranh quốc tế tại các thành phố lớn bên Nhật theo lời mời của lãnh sự Nhật Bản năm 1995. Theo tôi, bức tranh Chồng Con trong số tranh triển lãm mới “ấn tượng” nhất.

Tranh vẽ một người đàn bà mặc áo dài nhưng lại đi chân đất. Trên vai có đòn gánh nặng chĩu, một đầu là người chồng với chai rượu trong tay và điếu thuốc trên miệng. Đầu bên kia là 5 đứa con ngồi lọt thỏm trong một cái thúng. Tranh chỉ vỏn vẹn có hai chữ Children và Husband nhưng lại nói rất nhiều về sự tảo tần và chịu đựng của người phụ nữ Việt Nam. 

“Chồng con” (1995)

Bà Kim Loan nói về người chồng quá cố: “Có thể nói là cuộc đời của chồng tôi rất nhiều thăng trầm. Trước 1975 ông là quân nhân, sau được chuyển về làm ở Bộ Tổng tham mưu của chế độ cũ nhưng thời đó có luật cấm quân nhân làm báo. Tuy nhiên vì mê nghề báo nên ông vẫn lén lút viết và đến năm 1974 bị lộ, bị bắt, ở tù được mấy tháng thì miền Nam mất thì ông được tự do. Sau năm 1975, ông làm cho báo Lao Động gần một năm thì bị đưa đi học tập cải tạo cùng một số văn nghệ sĩ miền Nam. Nhưng thời gian cải tạo quá dài, đến 9 năm, từ 1976 – 1985 mới trở về”.

Bà Kim Loan trong buổi lễ tưởng niệm 10 năm ngày mất của họa sĩ Chóe

Những ngày cuối đời khi không còn nhìn rõ để vẽ, Chóe quay qua làm thơ. Những câu thơ dưới đây tuy không vần điệu nhưng đã nói lên nỗi lòng của người họa sĩ tài hoa:

Trót làm người vui tính.

Khi gặp chuyện đau lòng.

Ta không dám khóc.

Bằng nước mắt…

Cuối năm 2002, Nguyễn Hải Chí được đưa sang Mỹ với hy vọng những tiến bộ y khoa có thể giúp ông kéo dài tuổi thọ. Ngày 18/1/2003, bác sĩ ở Virginia đã chích thuốc phục hồi thị lực cho ông. Khi được nhìn bằng mắt của mình, chỉ trong khoảng nửa giờ, ông vẽ cấp tốc một mạch 6 bức tranh. Một trong số 6 tác phẩm đó, ông đã vẽ những khuôn mặt cười, tràn đầy lạc quan, lúc nào cũng… chí chóe:

Chú thích:

(*) Nguyễn Hải Chí (1943 – 2003) là một họa sĩ vẽ tranh biếm nổi tiếng với bút danh Choé, ngoài ra ông còn có bút danh Trần Ai, Cap, Kit. Ông được coi là “họa sĩ biếm số một của Việt Nam” với những tranh biếm đặc sắc phê phán những thói hư tật xấu của xã hội qua nhiều thời kỳ. Ông vẽ chủ yếu là tranh sơn dầu, giấy dó và tranh lụa. Ngoài vẽ, Chóe còn được biết đến như một nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ.

Nguyễn Hải Chí sinh ngày 11/11/1943 tại Cái Tàu Thượng, Hội An, Chợ Mới, An Giang. Sau đó gia đình ông chuyển về xã Vĩnh Tế dưới chân núi Sam, Châu Đốc. Do hoàn cảnh gia đình rất nghèo, ông phải nghỉ học từ năm lớp 2, đi làm kiếm sống từ năm 9 tuổi. Ông làm đủ nghề: đập đá, đốn củi, chăn bò mướn…

Năm 1960, bị cán bộ Cộng sản ép lên núi hoạt động du kích nên ông bỏ trốn về Mỹ Tho, xin làm việc tại một phòng vẽ quảng cáo và học vẽ tại đây. Năm 1964, ông đi quân dịch, năm sau được chuyển về làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Lúc này ông bắt đầu làm thơ, viết truyện gửi đăng báo. Từ đó ông đã thâm nhập vào làng báo Sài Gòn.

Cuối năm 1969, ông chuyển qua vẽ hí họa cho tờ Diễn Đàn, ký tên Choé, nghệ danh do nhà văn Viên Linh đặt, lúc đó là chủ bút báo Diễn Đàn. Một số tranh của ông đã đụng đến vấn đề “nhạy cảm” do đó ông bị chính quyền VNCH bắt giam từ tháng 2 đến tháng 4/1975. Sự kiện 30/4/1975 diễn ra, Nguyễn Hải Chí thoát khỏi trại giam của An ninh Quân đội tại số 8 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Sài Gòn.

Mấy tháng sau ông được nhận vào làm báo Lao Động Mới với nhiệm vụ trình bày tờ báo. Tháng 4/1976, ông bị bắt đi học tập cải tạo cùng với các văn nghệ sĩ miền Nam cho đến cuối năm 1985 tại các nhà giam Chí Hòa rồi trại cải tạo Gia Trung, Pleiku. Sau đó ông vượt biên nhưng bị bắt và phải trở lại tù thêm lần nữa.

Từ năm 1990, do không xác định được thời hạn tù, ông bị từ chối đơn xuất cảnh theo diện H.O. Ông ở lại Việt Nam hành nghề vẽ tranh bán cho khách nước ngoài. Ông cộng tác với phòng tranh Tự Do tại Thành phố Hồ Chí Minh, để trưng bày và bán tranh lụa, giấy dó và tranh sơn dầu, ký tên Vân Bích. Ít lâu sau, ông được nhiều tờ báo trong nước đề nghị cộng tác trở lại. Tranh của ông tiếp tục xuất hiện trên nhiều tờ báo và tạo được phong cách riêng trong việc phê phán những thói hư tật xấu, những tiêu cực của xã hội.

Năm 1997, Choé bị đột quỵ, dẫn đến bại liệt một thời gian. Trước đó ông cũng đã mắc phải bệnh tiểu đường. Từ năm 1998 tới 2001, ông có 2 lần sang Pháp điều trị nhưng không thuyên giảm. Từ năm 2001, ông bắt đầu đi đứng khó khăn, mù mắt trái, mờ mắt phải, từ đó không vẽ nữa mà chuyển qua làm thơ, viết nhạc.

Cuối năm 2002, ông được bạn bè giúp đỡ đưa sang Virginia, Hoa Kỳ chữa bệnh. Ngày 22/2/2003, ông đột ngột bị ngộp thớ, 10 ngày sau đột quỵ và đứt mạch máu não. 3 giờ 50 phút sáng ngày 12/3/2003, ông qua đời tại bệnh viện Fairfax, Virginia. Lễ tang được cử hành tại nhà thờ các thánh tử đạo Arlington, sau đó được đưa về Việt Nam an táng tại nghĩa trang nhà thờ Thánh Mẫu, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

Ngoài rất nhiều tranh biếm đã được đăng trên các báo, còn những tuyển tập thu thập các tác phẩm của Chóe:

Sách

·         The World of Choé (Thế giới của Choé), do nhà báo Mỹ Barry Hilton đã thu thập một số tranh biếm họa của ông, do nhà xuất bản Glade Publications ấn hành tại Mỹ năm 1973.

·         Lai rai vẽ viết – bút ký (nxb Lao Động, 1992)

·         Tử tội – tuyển tập tranh hí họa, thơ, văn, nhạc (nxb Tiếng quê hương, Hoa Kỳ, 2001)

·         Nghề cười, tuyển tập tranh, thơ, văn, nhạc (nxb Văn hóa Văn nghệ, 2013)

Một số ca khúc:

·         Gió  – (Hồng Nhung hát), nghe tại:

http://cothommagazine.com/nhac/Gio-NHC-HN.mp3

·         Mưa  – (Cẩn Vân hát), nghe tại:

http://cothommagazine.com/nhac/Mua-NHC-CV.mp3

·         Bên vườn nhà em – (Nguyễn Chánh Tín hát), nghe tại:

http://cothommagazine.com/nhac/BenVuonNhaEm-NHC-NCT.mp3

·         Khi đến cuối đời

·         Vinh dự

·         Khi dứt cơn mưa

·         Dù ta xa nhau

·         Ngả lưng trên đồi

(Nguồn: Wikipedia)

Dâu bể trùng phùng

Huy Van Truong

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Phần 7
Mười ngày

Tôi trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt. Một ông cán bộ Việt Cộng ngồi sau cái bàn, giống như bàn ăn ở trong tiệm ăn bình dân của Tàu. Nhìn quanh căn phòng, không thấy ai, tôi bước đến trước mặt ông ta.

-Thưa ông, tôi là sĩ quan Ngụy đi trình diện theo lịnh gọi của Chính phủ Cách mạng.

Người cán bộ hất hàm.

-Giấy chứng minh đâu?

Tôi lục trong ví, đưa cho ông ta thẻ căn cước quân nhân và giấy chứng chỉ tại ngũ của tôi.

Người cán bộ tuổi chừng ba mươi, áo quần chỉnh tề, gương mặt sáng sủa, đưa tay cầm lấy giấy tờ tùy thân của tôi, trong khi đôi mắt của ông ta chăm chú nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi sau đó thản nhiên vất tất cả giấy tờ của tôi vào cái bị để dưới đất. Trên bàn, trước mặt ông cán bộ Việt Cộng là một xấp giấy và cây viết Bic, với giọng nói từ tốn, cái từ tốn đầy uy quyền của phe thắng trận.

-Tên?

Tôi đáp.

-Nguyễn Trọng Quân.

Ông ta cúi đầu ghi chép rồi hỏi tiếp.

-Cấp bậc?

-Trung úy.

Ngẩn nhìn tôi với đôi mắt khó chịu.

-Anh phải nói là trung úy Ngụy, ở đây không có chuyện lẩn lộn “lập lờ đánh lận con đen” giữa một trung úy hàng binh Ngụy và một trung úy của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng.

Tôi nghĩ thầm, tay Việt Cộng này coi bộ cũng có ăn học đàng hoàng cho nên mở miệng ra là nói Kiều. Tôi định nói với ông ta, hôm nay tuy mang thân phận “Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu”, nhưng tôi biết chắc một điều là tất cả binh sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không một ai đầu hàng Cộng Sản, họ buông súng chỉ vì tuân lệnh thượng cấp. Và tôi có thể khẳng định với ông, cho đến chết họ vẫn tự hào là sĩ quan của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, dứt khoát không bao giờ lẩn lộn với sĩ quan Cộng Sản. Nghĩ như vậy, nhưng tôi kịp ngừng lại vì biết miệng người thắng trận có gang có thép, bất cứ những gì họ nói ra đều là mẫu mực, là chân lý cho mọi người noi theo.

Hình minh họa

Người cán bộ nói xong, lại cặm cụi ghi ghi chép chép. Sau đó, ông ta trao cho tôi tấm giấy to bằng một phần tư cuốn vở học trò.

-Đây là giấy chứng nhận đã trình diện Ủy ban quân quản, anh về nhà đợi lịnh mới, không được đi xa, muốn đi đâu phải có giấy phép.

Tôi quay người đi ra cửa, mắt liếc nhìn tờ giấy, tên của tôi và cấp bậc được điền vào chỗ trống bằng bút nguyên tử màu xanh. Đây là mẫu giấy đã được in sẵn, chữ ký cũng đã được ký trước rồi. Tờ giấy không ghi ngày tháng, chỉ vỏn vẹn có mấy hàng chữ.

Giấy chứng nhận.

Tên : Nguyễn Trọng Quân.

Cấp bậc: Trung úy Ngụy.

Đã trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt.

Ký tên.

Trần Chiến.

Kể từ hôm nay, cuộc đời của tôi hoàn toàn lệ thuộc vào tờ giấy này, đi đâu, làm gì, ở đâu, đều phải xin phép cái ông Trần Chiến lạ hoắc này.

Tôi gấp tờ giấy lại, nhét vào ví rồi thong thả ra về.

Gần một tháng trường trôi qua, tôi sống mà như bị giam lỏng, hoang mang, lo sợ không biết số phận của mình rồi sẽ về đâu. Khi sống trong tận cùng của tuyệt vọng, người ta chỉ còn biết dựa vào những tin đồn. Hôm nay, có tin là tất cả quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị bắt bỏ tù, ngày mai, lại có tin sẽ phải lên tàu đi ra Phú Quốc, nơi mà ngày xưa Việt Nam Cộng Hòa đã giam giữ tù binh Cộng Sản. Những tin đồn xấu như vậy tôi nghe qua rồi quên mất, nhất định không thèm nhớ. Rồi vài ngày sau nữa lại có tin đồn, chúng tôi sẽ được đưa đi học tập về chính sách của Chính phủ Cách mạng Lâm thời trong một thời gian ngắn. Sau đó được trả về quê cũ, ai ở đâu sẽ về lại nơi đó, sống và làm ăn lương thiện như một người dân thường. Đó là cái tin đồn mà tôi thích nghe nhất. Một cái tin đồn đầy lạc quan như vậy tôi phải giữ lại trong đầu, rồi hy vọng mọi chuyện sẽ diễn ra đúng như thế.

Cuộc sống của tôi trong những ngày bị giam lỏng, nếu không có những lo âu phiền muộn vô cớ, quả thật là tràn đầy hạnh phúc. Buổi sáng, tôi thức dậy khi mặt trời bắt đầu chiếu những tia nắng vàng ấm áp xuyên qua khung cửa sổ. Cúc đã nấu xong bữa ăn sáng cho tất cả mọi người trong gia đình, khi thì nồi xôi đậu đen ăn với muối mè đậu phụng, khi thì chén cháo đậu xanh ăn với đường cát trắng.

Tôi nói với Cúc.

-Em có vẻ thích món cháo lắm phải không?

Cúc cười.

-Ba em rất thích món này, ngày xưa khi ăn cháo trắng với trứng vịt muối, ba thường gật gù đắc ý nói với em “Ở ngoài xứ của mình, đây là món ăn sáng của nhà giàu”.

Hình minh họa

Tôi múc một muỗng đường cát trắng, rải lên chén cháo đậu xanh còn nóng hổi.

-Ba của anh và ba của em, hai ông già lúc nhỏ ở ngoài xứ đi chăn trâu để kiếm sống, buổi sáng có được củ khoai, lát mì lót bụng là quá rồi, cháo đâu mà ăn. Chắc ba em thấy mấy người Tàu ở Hội An ăn cháo nên mới nói vậy. Để hôm nào rảnh anh sẽ hỏi lại ba của anh, chuyện có đúng như vậy hay không? Anh với em cùng là dân Quảng Nam, nhưng là Quảng Nam mất gốc, cho nên phong tục tập quán của người xứ Quảng, tụi mình hoàn toàn mù tịt. Hay là vậy đi, mai mốt anh và em về xứ làm ruộng sinh sống “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”, em sinh cho anh một bầy con cỡ chừng một chục đứa. Được không?

Cúc múc một muỗng cháo thổi nhè nhẹ.

-Anh muốn về đâu cũng được chỉ sợ Việt Cộng không cho. Với em, Đà Lạt, Sài Gòn hay Quảng Nam cũng như nhau thôi, sống ở đâu cũng vậy vì đều là đất nước Việt Nam mà. Có điều này em muốn nói là anh bớt mơ mộng một chút đi, sống dưới chế độ Cộng Sản mà anh nghĩ đến chuyện làm ruộng để nuôi một bầy con, đó là chuyện hiện thực huyền ảo.

Cúc nhìn qua khung cửa sổ.

-Hôm nay nắng đẹp quá, mình lên sân thượng ngắm cảnh, uống cà phê đi anh.

Sân thượng nhà tôi khá rộng, trước mặt là rạp ciné Ngọc Hiệp, nhích qua bên tay phải là quán cơm Kim Linh, Như Ý của người Tàu, gồm bốn cái kiosk nối liền nhau rồi đến con hẻm có quán mì quảng nổi tiếng của Đà Lạt.

Tôi và Cúc ngồi trên bộ ghế loại đặc biệt chỉ dùng ở ngoài trời. Tất cả trang thiết bị ở trong nhà, đều do bác Bảy mua sắm nên không thể nào chê được, đẹp, tốt và bền. Nhìn Cúc thong thả nhấp một hớp cà phê, đôi mắt lơ đễnh ngắm đám mây trắng trôi dật dờ ở cuối chân trời, trong lòng đầy sung sướng, tôi cầm tay Cúc rồi chỉ cho nàng hai ngọn núi mờ xa lẩn trong sương mù.

-Ước gì tụi mình được mãi mãi sống bên nhau như thế này, giống như hai ngọn núi Bà, ngàn năm đứng bên nhau cho dù vật đổi sao dời.

Cúc nhìn theo hướng tay của tôi chỉ.

-Vậy mà hồi nào tới giờ, em cứ tưởng đó là đỉnh Lâm Viên.

Tôi gật đầu.

-Đúng, đó là đỉnh Lâm Viên nhưng người dân Đà Lạt gọi là núi Bà.

Cúc thắc mắc.

-Có tới hai đỉnh núi, một ngọn là Bà, ngọn còn lại phải là Ông thì mới đúng chứ.

Tôi cười thích thú.

-Em nói đúng, ngọn bên trái là núi Bà, ngọn bên phải là núi Ông. Núi Bà cao hơn núi Ông chừng bốn chục thước. Em có biết tại sao không?

Cúc lắc đầu.

-Không.

Tôi giải thích.

-Anh chỉ đoán thôi, vì người Lạch theo chế độ mẫu hệ cho nên bà phải cao hơn ông mới hợp lý. Anh sanh đẻ ở Đà Lạt nhưng chưa bao giờ nghe người dân Đà Lạt gọi là “Núi Bà, Núi Ông”, mà anh chỉ nghe họ gọi chung cho cả hai ngọn núi là “Núi Bà”. Còn nếu muốn hiểu rõ tường tận về núi Bà, phải đi xa hơn nữa với câu chuyện cổ tích của người Lạch, kể về mối tình lâm ly bi đát, đầy nước mắt của chàng Lang và nàng Biang. Người dân Lạch lấy tên hai người đặt tên cho hai ngọn núi là LangBiang mà sau này đổi thành Lâm Viên. Chỗ này lại phát sinh thêm mâu thuẫn, nếu theo chế độ mẫu hệ thì bà phải trước ông, ngọn núi phải được đặt tên là BiangLang mới đúng.

Hình minh họa

Cúc chần chừ giây lát, rồi nói với tôi.

-Cao hay thấp, trước hay sau em không quan tâm, chỉ muốn biết anh đã lên đỉnh Lâm Viên rồi. Phải không?

Tôi hơi ngạc nhiên.

-Ai nói với em như vậy?

-Em nghe mấy đứa bạn của em nói, theo truyền thống của Trường Võ Bị Đà Lạt, tất cả Sinh viên sĩ quan trước ngày lễ gắn Alpha đều phải chinh phục đỉnh Lâm Viên mà.

Tôi than thở với Cúc.

-Khổ quá em à, sao ai cũng lầm hết trơn vậy, anh tốt nghiệp Trường Bộ Binh Thủ Đức trên đồi Tăng Nhơn Phú, không dính dáng gì đến đỉnh núi Lâm Viên của Sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt. Một đàng là sĩ quan trừ bị, một đàng là sĩ quan hiện dịch, khác nhau hoàn toàn.

Cúc lắc đầu.

-Anh nói gì mà khó hiểu quá, anh là trung úy của Trường Võ Bị Đà Lạt mà, sao anh lại không nhận.

Tôi đành chịu thua Cúc, nhưng cố nói thêm.

-Quan cũng có năm, bảy đường quan, như sĩ quan Không quân, sĩ quan Hải quân, sĩ quan của Binh chủng. Chưa kể những ông quan có chuyên môn đặc biệt như: sĩ quan giáo sư, sĩ quan kỹ sư, sĩ quan nha sĩ, sĩ quan bác sĩ…và nhiều nữa. Mỗi ông quan có một nhiệm vụ khác nhau, không có ông quan nào giống ông nào.

Tôi đang khổ công giải thích cho Cúc hiểu, cái rắc rối của mấy ông quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, bất ngờ con Quyên tung cửa chạy tới, ôm lấy Cúc.

-Chị Hai nè, em có tin vui cho chị.

Cúc bẹo má con Quyên.

-Tin vui gì? Em muốn ăn canh chua cá phải không? Hay là em muốn ăn xôi gà? Mấy món đó không phải là tin vui.

Con Quyên nũng nịu.

-Em nói tin vui thiệt mà, hôm qua có thông báo của Ủy ban quân quản, nói về chuyện hoc tập của lính Ngụy. Tất cả hạ sĩ quan, binh sĩ phải đi học tập ba ngày, sáng đi chiều về, mang theo cơm trưa.

Con Quyên lần mấy đốt ngón tay.

-Tính ra chỉ còn hai ngày nữa là bắt đầu học rồi.

Ngừng một chút, con Quyên nói tiếp.

Hình minh họa

-Còn phần sĩ quan cấp úy, mang theo mùng mền vật dụng cá nhân, tiền ăn cho mười ngày. Sĩ quan cấp tá và tướng em không muốn nhớ. Em chỉ cần nhớ, thời gian mười ngày cho anh Hai là đủ rồi. Đó không phải là tin vui hay sao?

Cả tôi và Cúc đều mừng rỡ ra mặt, Cúc nắm chặt hai vai con Quyên, lắc mạnh.

-Em nghe có đúng không?

Con Quyên gật đầu, đưa ra tờ giấy.

-Đúng mà chị Hai, em còn ghi xuống giấy nữa nè.

Cúc khen con Quyên.

-Em giỏi thiệt, tối nay chị sẽ nấu xôi gà để thưởng công cho em. Tin vui như vậy, mà sao hôm qua em không nói cho anh chị biết.

Con Quyên liếc nhìn tôi.

-Hôm qua khi em về đến nhà, anh chị đã ngủ khò mất rồi.

Tôi dang hai tay ôm lấy Cúc, hôn khắp mặt mũi của nàng, với giọng vui mừng.

-Từ nhỏ cho đến giờ, chưa khi nào anh có được những giây phút sung sướng, hạnh phúc như hôm nay. Mình phải xuống nhà, nói cho ba má biết để ông bà bớt lo. Anh để ý mấy hôm nay, ba má và em ai cũng buồn xo.

Cúc quay nhìn con Quyên.

-Chị em mình đi chợ mua con gà bự thiệt bự, nấu xôi ăn mừng. Em biết chỗ nào bán gà chợ đen không?

-Chị khỏi lo, cứ theo em thứ gì cũng có.

Sau đúng ba ngày học tập, tất cả hạ sĩ quan, binh sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không phân biệt binh chủng, đều được cấp giấy chứng nhận là đã học tập xong và trở thành công dân trong chế độ mới. Chuyện này khiến cho tôi phải trằn trọc suy nghĩ suốt mấy ngày, tôi hồi tưởng lại, năm 1968, Việt Cộng lợi dụng hưu chiến đã tấn công khắp các tỉnh thành Miền Nam, gây nên cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, giết hại hơn sáu ngàn thường dân vô tội ở Huế. Mùa hè đỏ lửa 1972, Việt Cộng đem bốn mươi ngàn quân vây hãm An Lộc, xua xe tăng, đại pháo vượt sông Thạch Hãn, chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Năm 1973 Việt Cộng ký hiệp định Paris, mực chưa kịp khô trên giấy, họ đã xé bỏ.

Tất cả những việc dã man, gian dối, bội ước mà Việt Cộng đã làm trong quá khứ, với tôi đó là những chuyện đã qua. Trong chiến tranh, họ phải làm như vậy nếu muốn thắng đối phương. Hôm nay, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, đã bị tiêu diệt, mối lo không còn nữa, Việt Cộng giờ đây đã hoàn toàn đổi khác rồi, không giống như xưa. Bằng chứng hùng hồn, rõ ràng nhất trong đường lối và chính sách của Chính phủ Cách mạng lâm thời là cho hạ sĩ quan, binh sĩ của Việt Nam Cộng Hòa học tập ba ngày, theo thông báo đã đưa ra. Họ đã giữ đúng lời hứa, nói như thế nào, thi hành như thế ấy.

Chuyện học tập của hạ sĩ quan, binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã diễn ra suôn sẻ tốt đẹp, khiến tôi hoàn toàn tin tưởng vào chuyện sĩ quan cấp úy chúng tôi, cũng sẽ êm đẹp mau mắn như vậy. Khi thấy được chân lý, tôi thở phào nhẹ nhõm, bao nhiêu lo âu phiền muộn chất chứa trong lòng từ hơn một tháng qua, vụt biến mất. Tôi vui mừng, sung sướng lo chuẩn bị sẵn sàng để đi học tập, mười ngày có là bao, chỉ là một cái chớp mắt thôi mà, đi học cho xong còn trở về với gia đình.

Hình minh họa

Sáng hôm nay, tôi chuẩn bị mọi thứ để hai giờ chiều sẽ đến ngôi nhà kính gần cầu ông Đạo , trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt đi học tập. Ngoài bộ đồ đang mặc trên người, tôi đem thêm hai bộ quần áo, một cái mùng ni lông, một cái mền poncho dù, kem và bàn chải đánh răng cùng vài thứ đồ dùng lặt vặt. Nhìn cái hộp kem đánh răng quá lớn nên tôi để lại ở nhà, lấy hộp kem mà tôi và Cúc đã dùng hơn phân nửa đem theo. Tôi nghĩ có mười ngày, đem làm gì cho lắm. Mấy ngày trước đó, Cúc mua cho tôi một cái xách tay loại tốt, gọn gàng mà người đi máy bay thường dùng. Sau đó, Cúc bỏ ra một buổi chiều làm cho tôi một hũ ruốc thịt heo kho sả ớt. Cúc nói với tôi.

-Món này để anh ăn với cơm, đông người quá em sợ không đủ thức ăn.

Tôi nhìn cái hũ thủy tinh đựng thịt ruốc to quá khổ, lắc đầu ngao ngán.

-Nhà không có cái hũ nhỏ hơn sao em?

Cúc đặt cái hũ vào trong xách tay.

-Cái này là nhỏ rồi.

Quay người lục trong va ly, Cúc đưa cho tôi một xấp tiền.

-Đây là tiền ăn mười ngày của anh.

Tôi hỏi.

-Bao nhiêu vậy em?

-Mười ngàn.

Tôi càu nhàu.

-Em à, anh đi học tập chứ đâu phải đi du lịch, mỗi ngày anh ăn cơm hay mì gói tốn chừng một trăm, mười ngày khoảng một ngàn.

Tôi rút trong xấp tiền, lấy ra bốn tờ giấy bạc Việt Nam Cộng Hòa có in hình con cọp màu vàng cam, nhét vào ví của mình. Số tiền còn dư, tôi đưa trả lại Cúc.

-Anh chỉ cần hai ngàn thôi, chừng này là quá đủ rồi.

Cúc với giọng nói đầy âu yếm.

-Nghe lời em đi cưng, thà dư còn hơn thiếu.

Tôi nhắc với Cúc.

-Em có nhớ không, khi gặp lại em ở Sài Gòn, trong túi của anh không có lấy một xu, cái áo cũng không có mà mặc. Nếu không có em, hơn một tháng qua liệu anh có cơm mà ăn hay không, nói gì đến tiền bạc khi đi học tập.

Cúc cầm tay tôi, đẩy nhẹ.

-Anh cứ đem theo để mà phòng thân, nếu tiêu xài không hết thì đem về.

Biết là không cãi được Cúc, tôi ầm ừ cho qua chuyện. Đợi đến lúc Cúc bận rộn sắp xếp hành lý vô cái xách tay, tôi lẹ làng nhét mớ tiền xuống dưới gối của Cúc.

Mười hai giờ trưa, tôi chào ba má tôi để lên đường đi học tập. Cúc ngỏ ý muốn tiễn đưa tôi một đoạn. Hai đứa thả bộ ra phố, men theo con dốc Minh Mạng lên khu phố Hòa Bình. Khi cả hai đã đi khá xa nhà, tôi đưa tay vuốt mớ tóc lòa xòa trên trán của Cúc.

Hình minh họa

-Về đi, em không nghe người ta nói “Có tiễn nhau ngàn dặm, cuối cùng cũng phải chia tay” hay sao.

Cúc cúi mặt, cố giấu đi đôi mắt ươn ướt đỏ.

-Để em đưa anh thêm một đoạn nữa.

Tôi và Cúc im lặng đi bên nhau, tôi cúi nhìn hai cái bóng ngắn ngủn, di chuyển nhẹ nhàng theo những bước chân của hai đứa dọc theo vỉa hè, một niềm thương cảm chợt đến với tôi khiến lòng mình chùng xuống. Tôi đưa tay tìm bàn tay mềm mại của Cúc, trong lòng muốn nói với nàng bằng thứ ngôn ngữ tình yêu được truyền qua hơi ấm của bàn tay.

Khi tới con dốc Lê Đại Hành Cúc không chịu buông tay ra, lật đật nói với tôi.

-Em đưa anh đến bên kia cầu ông Đạo , tới Ủy ban quân quản luôn.

Tôi nhìn Cúc rồi nói nhỏ.

-Anh đâu có muốn xa em, chỉ sợ chút nữa một mình trên đường về em buồn. Em à chỉ có mười ngày, một cái chớp mắt thôi mà.

Tôi đâu ế chồng!

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

September 8th, 2022

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Tôi tên Chi, Trần Thị Chi. Nếu ai đọc “Chí Phèo” của Nam Cao ngày xưa, họ sẽ liếc vô tui, nói nhỏ với nhau:

– Xấu hơn Thị Nở!

Nhưng bây giờ trên đất Mỹ, hiếm người biết về “Thị Nở” nên tôi chỉ nghe xầm xì ở các chợ VN:

– Nó làm cho mấy cô xấu bỗng đẹp ra.

– Vậy thì vợ tao quá đẹp.

Tôi tự biết, mình là người con gái xấu, răng hô, mắt hí.

Nhưng khi lớn lên trổ mã, tôi cũng biết rằng, mình có bộ ngực đẹp, đốm son trên núm, mông tròn, người cân đối. Ðúng là quý tướng, có chồng giàu sang, hưởng đời sung túc, như tôi đã đọc ở quyển sách tử vi, năm 12 tuổi.

Vậy là tôi không quan tâm sự xấu của mình mà chỉ thấp thỏm chờ “Ðúng là quý tướng, có chồng giàu sang, hưởng đời sung túc”.

Tôi định cư với gia đình ở Boston năm 14 tuổi. Tuổi lỡ cỡ, muốn kiếm tiền nên tôi chỉ học xong trung học và tìm việc làm.

– Chi, dọn bàn 12, rảnh thì rửa giùm đống chén!

Tôi làm cho tiệm phở VN, bồi bàn kiêm rửa chén khi ế khách, bà chủ keo kiệt chỉ trả lương bồi bàn, được 6 tháng, tiệm bị đóng cửa vì phạm vệ sinh, tôi nhảy qua nhà hàng Tàu.

– Hầy, nị làm pể chén nhiều quá! Pửa nay lau nhà bù lại.

– Rảnh thì cắt hành giùm ngộ! Tối ngộ chở dzề.

– Không rảnh!

– Lấy đồ ăn, khỏi nấu.

– Không thích đồ Tàu.

Hai tháng sau.

– Cho nị hộp bánh trung thu của Trung Quốc.

– Không ăn bánh Tàu.

Thằng chủ Tàu Trung Quốc răng hô hơn tôi, nói chuyện nước miếng văng phèo phèo.

Bữa kia nhà hàng đóng cửa sớm, ăn Tết Trung Thu, ai cũng uống rượu, tôi làm chai bia, hừng hừng.

Mọi người lãnh lương ra về, nhà hàng vắng tanh, tôi đợi chủ trả tiền. Nó từ phòng rửa mặt, bước ra:

– Hầy, nị có cái mông ngon quá. Cho ngộ mần một phát!

Tôi hỏi:

– Mần cái gì?

Thằng Tàu già hẩy hẩy, tôi giận, tán một cái hết ga.

– Ái da, xẩy ngộ dồi!

Xẩy là đúng! Tướng chả như con heo mọi, nên chả ở lại còn hàm răng bay mất.

Xong.

Cha chủ vô bệnh viện, tôi ra khỏi tiệm.

Lúc đó tự dưng tôi thấy buồn.

Mấy năm cuối trung học ai cũng có bạn, có bồ, tôi thì tới 19 tuổi vẫn chưa có người con trai nào chào “Hello”.

Vậy là con Chi này nổi chứng, tình nguyện đi lính 3 năm vì nghĩ rằng đi lính là “gái khôn tìm chồng ở chốn ba quân” (hồi đó mẹ tôi hay đọc câu này) sẽ gặp nhiều đàn ông, làm giảm bớt tỉ lệ ế chồng.

Tôi vô đơn vị Ranger, làm việc cho toán Cấp cứu Tác chiến, có nghĩa là tôi tác chiến và làm các công việc cấp cứu tạm cho quân nhân bị thương tại chiến trường trong lúc đợi trực thăng tải thương. 8 tháng sau, tôi được chuyển tới Afghanistan.

Ban đầu tôi chỉ làm việc như một y tá hạng nhẹ tại căn cứ Pratt, ở thị trấn Baghlan thuộc vùng quân sự phía Bắc Afghanistan.

– Hey, Chin (tên riêng của tôi trong quân đội) bạn được nhập vô toán Ranger tối nay, chuẩn bị mọi thứ.

– Ok!

Vậy là tôi tham dự vô chuyện tác chiến thật sự, tôi có dịp đụng thẳng, bắn thẳng tụi khủng bố. Ha, đó là điều tôi mong muốn.

Vùng núi đá, bắc Mazar-e-Sharif, 7 giờ tối lạnh ngắt với những hang động, nhóm Taliban của Mazuk cà thọt trùm khăn ngồi im trong động đá, dưới đám râu tóc lờm xờm đám tròng mắt đỏ ngầu như những con sơn cẩu rình mồi.

– Mẹ, tụi nó đang hớn hở nướng gà tây cho lễ Phục Sinh sắp tới.

Mazuk văng câu chửi thề.

Trung đội Ranger áp sát mục tiêu.

Ðại úy “Clark già”, trung đội trưởng:

-Tụi chuột Taliban hay chơi mìn cóc cá nhân, nhào ra đánh phủ đầu với B40, rút lẹ vô hang đá độn thổ. Tụi bây dàn 2 hàng ngang, buộc dây vô giày, thằng sau nắm dây thằng trước, bò chậm, lấy dao rà mìn, nếu gặp, tránh qua, áp sát vách đá, tao đi đầu, mình sẽ làm BBQ bọn rệp tối nay. Ok?

Ông gọi căn cứ:

– Mẹ, tối quá, đèn!

Mấy phút sau, hỏa châu nổ đều, khu tác chiến sáng trưng, trung đội Ranger tiến tới, “Clark già” nằm xuống lấy dao rà mìn, tôi bò phía sau.

5 phút đèn tắt, đúng lúc trung đội chạm hang núi.

– Tụi con xơi bãi mìn.

Khẩu M60 chơi những tràng đạn tung bãi mìn, và bọn chuột nhào ra bắn xối xả…

Cái bẫy của trung đội Ranger sập xuống.

“Clark già” la:

– Ðốt đèn!

Những cây soi sáng được ném vô lòng hang, tụi Taliban lố nhố phía xa.

Bao nhiêu súng, bao nhiêu đạn đổ hết vô hang đá cùng một lúc.

Tiếng M-16, AK-47, M60, B40, cộng với tiếng Ả Rập la hét như ngày tận thế.

Bỗng, yên lặng!

Chưa tới 10 giây, “Clark già” nhìn thấy sự việc:

– Rút ra khỏi hang, mở đường chạy.

Ông phóng nhanh tới cửa hang, đúng lúc mấy trái B40 nổ.

– Ầm! Ầm! Ầm!

Những người lính Ranger can trường bật ngã.

Bọn Taliban túa ra như bầy chuột núi từ một hang đá bên trái, tấn công mạnh, bọn trong hang cũng quay ra tấn công sau lưng, trung đội nằm giữa 2 mặt đối địch, tụi nó chơi 2 gọng kềm hốt sổ trung đội Ranger.

“Clark già”:

– Rút hết ra ngoài tựa lưng vách núi, đánh thẳng, mở đường máu, liên lạc!

Trái B-40 nổ, người lính liên lạc vừa gục xuống, tôi chạy tới, chụp lấy máy.

“Clark già” hét lên:

– Chin, Chin! gọi ngay pháo cối! Trực thăng tải thương.

Tôi lúng túng với máy liên lạc siêu tầng trên lưng người liên lạc.

– Clark, mật hiệu?

– “Chuột chiên”.

Chừng 2 phút, 2 phát cối nổ tung trên vách núi.

Tôi la:

– Clark! Dạt ra 2 bên, cối sẽ làm cỏ, trực thăng tải thương tới ngay.

Tôi bỏ máy, nâng đầu người lính truyền tin, mặt đầy máu, mắt dại lại, thở từng đọan ngắn, anh ưỡn ngực, la lên:

– Cứu!…

Giật mạnh, đầu quẹo qua, ngất đi.

Tôi đâm liền 2 mũi cấp cứu ngay cổ, siết chặt băng cầm máu trên đầu và mặt, người lính liên lạc co giật, há to miệng, triệu chứng của hụt hơi, sắp bất tỉnh hoặc sắp đi luôn.

Như một cái máy, tôi tống thêm mũi cấp cứu, áp môi vô miệng anh, tiếp hơi.

Người lính bắt đầu thở mạnh, đã hết co giật, đôi môi ấm lại dưới môi tôi. Trực thăng tải thương tới.

“Clark già”:

– Chin! Cô đưa anh ta đi luôn, xong tuồng, rảnh rồi.

Cuối tháng.

Clark già gọi vô phòng:

– Chin, tháng này bị tụi nó phục kích, chơi màn độn thổ nhiều, bị thương khá đông, cô được chuyển qua bệnh viện dã chiến ở thành phố Mazar-e-Sharif.

Ông đẩy tờ giấy trên bàn:

– Công lệnh đây! Rất cám ơn một chiến sĩ xuất sắc như cô.

3 ngày sau, tôi nhận nhiệm vụ tại phòng chỉnh hình, nơi theo dõi và tiếp tục điều trị cho các bệnh nhân bị thương tứ chi, và các bộ phận bên ngoài, như mắt, tai mũi họng, hàm, mặt.

Tôi coi một phòng có 4 thương binh.

Kent, TQLC, bay xương quai hàm, đã được nối bằng hàm của lính tử trận, đang bình phục. Roberto, Ranger, mất một chân, đang bình phục. Mandes, chuyên chất nổ, mìn bẫy, mất 2 cánh tay, tới cùi chỏ, mới tới dưỡng thương tuần trước. James, da đen, trung sĩ Ranger, bị chấn thương mắt, đang điều trị.

Việc của tôi là phát thuốc, cho uống thuốc, theo dõi tình trạng vết thương, ghi chú và gởi phúc trình cho bác sĩ. Tôi dành thêm thì giờ để thăm hỏi, nói chuyện với các thương binh.

Kent:

– Tôi gọi cô là…?

– Chin.

– Rin?

Giọng anh ngọng, vì quai hàm chưa lành hẳn.

– Hôi có hể nói hình hường? (Tôi có thể nói bình thường)

– Chắc chắn! Anh có thể hát và thành ca sĩ luôn, nếu muốn, nhưng không phải bây giờ.

– Hao hâu nữa? (Bao lâu nữa)

– Sắp rồi! 3 tháng nữa thôi.

– Hâu hóa! (Lâu quá).

Tôi cười:

– Thì tập hát bây giờ, khi chờ đợi.

– Ừa!

Kent uống thuốc, bắt đầu hát i ỉ bài “Take me home country road”.

Tôi vỗ tay:

– Không kém John Denver!

Bước tới Roberto.

– Hi! Roberto, anh uống thuốc giùm.

Tôi đưa thuốc. Roberto cúi đầu, im lặng.

Tôi hỏi:

– Có chuyện gì vậy?

– Cô nghĩ tôi sẽ làm gì khi về nhà dự sinh nhật cô bạn gái?

– Thì tặng quà và hôn cô ta.

– …!

– Mời đi ăn! Mời vô bar…

Roberto mở to mắt nhìn tôi:

– Mẹ, rồi nó sẽ mời bạn say sưa, nhảy đầm.

Tôi nhún vai:

– Tất nhiên, vui mà!

– Nhưng…

Robert đứng phắt dậy với cái chân còn lại, la lên:

– Tôi sẽ ôm cô ta nhảy với cái chân lủng lẳng này? Hả, mọi người?

Anh ôm lấy tôi, khóc.

– Không sao, rồi anh sẽ có loại chân giả loại mới, chơi thể thao, chạy và nhảy đầm dễ dàng.

Hết khóc.

– Chắc không cô?

– Bao nhiêu người đã xài rồi. Anh sẽ có trong vài ngày tới.

Tôi quay qua:

– Chào Mandes.

– Chào.

Anh chống 2 tay chỉ còn tới cùi chỏ:

– Cô sẽ nói: Anh sẽ có đôi tay điều khiển bằng hệ thống điện tử…

Tôi cười:

– Giống như hôm qua…

– … Có thể đi tự làm vệ sinh, nấu ăn…

Tôi tiếp:

– Hút bụi, lau nhà như người bình thường.

Mandes tần ngần:

– Những chuyện đó vợ tôi làm hết rồi… Tôi muốn hỏi về chuyện khác.

– Chuyện gì? Nhảy đầm như Roberto, hoặc bắn súng?

– Không.

Mandes, nhỏ giọng:

– Có còn ôm vợ, vuốt ve rờ rẫm tình tứ được như xưa?

Máu con gái bùng lên nóng đầu, đỏ mặt, tôi nhớ những đoạn phim sex đã lén lút coi:

– Tôi không biết chuyện này … nhưng chắc làm được, nếu anh cố gắng.

Tôi quay đi, tránh đôi mắt đam mê của Mandes.

Cuối phòng là giường của James, người lính liên lạc, trúng B-40, chấn động thị giác, đã giải phẫu, đang bình phục.

– Hi, James.

– Chào cô gái xinh đẹp Chin!

– Chào anh! Anh đã thấy được tôi xinh đẹp à?

– Không! Còn tối thui, nhưng tôi biết cô Chin xinh đẹp.

Chin ngồi xuống bên giường.

James ngồi dậy:

– Chin! Tôi có thể hỏi.

– Ừ!

– Giọng nói của Chin có âm hưởng của Châu Á. Cô từ đâu: Phi, Nhật, Ðại Hàn, Tàu?

– Việt Nam.

James sờ soạng, nắm lấy tay tôi, người lính Mỹ da đen, đen hơn những người da đen khác bật cười:

– Ha ha ha, Chúa ơi! Tôi lai Việt Nam. Chào Kô Chìn. Ha, chào Kô.

James tuôn một tràng.

– Pa tui là thiu úy, sĩ kwan trong 3.500 TQLC đổ bộ vô bãi Shu Lai (Chu Lai) năm 1965, đóng tại Ðà Nẵng…

Tôi nhìn người Mỹ đen, không một vết tích gì của Việt Nam trên khuôn mặt đang vui vẻ kể lể của anh ta.

– …Pa tui cỡi má tôi tại Ðà Nẵng, cùng về Mỹ năm 1972, ở Boston, sinh tôi năm 1998, tôi là con út trong 3 người.

Tôi nói tiếng Việt:

– Rất vui khi biết anh là VN.

– Ðà Nẵng, miền Nam.

Tôi đứng dậy, lòng nao nao khi quen James.

Mỗi cuối tuần, bệnh viện thường dọn bữa ăn sáng “tươi” cho các thương binh. Sau khi giúp những người khác, tôi trở lại, lấy phần ăn cho tôi và James.

Dắt anh ra ngoài thềm. Nắng ấm, trời xanh, không gợn mây.

– Tôi đã thấy màu trắng hồng của ánh sáng.

James khoe.

Tôi đẩy ly cà phê sữa qua bên phải, để khay đồ ăn xuống bàn, lấy miếng thịt ham nướng, đưa cho anh ta.

– Trước mặt anh là ớt ngâm chua, xà lách.

– Cám ơn Chin.

Hai người ăn buổi sáng ngon như ở nhà.

-Sau khi pa tôi qua đời, mẹ tôi vô nhà già, tôi về pên ông nội ở Washington, học hành, lớn lên, đi lính ở đó sau khi xong đại học kiến chúc.

Lúc này, James đã nói tiếng Việt rất nhiều.

Tôi ngồi nhìn anh.

– Cô Chin nói về mình đi, tôi muốn biết.

– Chin!

– Tôi sợ làm anh không vui và mất đi buổi sáng thật đẹp …

James nắm tay tôi, tự nhiên tôi run, cố nói:

– Tôi sinh ra nơi ba anh đổ bộ, nhưng tuốt dưới một làng nhỏ nghèo xơ xác ven biển Chu Lai.

“… Nắng thiêu đốt, làm cong đám lá rong lớn phơi trên bờ cát, chị Hậu, hốt từng bó dồn vô chiếc bao tải, chị mệt mỏi đứng dậy. Nắng bỗng lung linh như ngàn vì sao, chị Hậu ngước mặt, há miệng hớp liên tục, trời tối một màu tím, ngả sang đen… Tiếng khóc la của con Chi giữa trưa nắng, khiến mấy người hàng xóm chạy ra bãi…”.

– Mẹ tôi qua đời vì kiệt sức, ba tôi cõng tôi theo ghe biển vượt biên.

James thở dài:

– Lại một thảm cảnh.

– Vậy là anh mất đi buổi sáng đẹp.

– Nhưng tôi lại có những phút yên lành với Chin.

Tháng sau.

Tôi nói:

– Bác sĩ cho biết sẽ mở băng mắt anh tối mai.

– Buổi tối?

James hỏi.

– Ánh sáng bớt gắt, đỡ làm mắt anh dị ứng.

– Cô Chin sẽ ở đây với tôi?

– Tôi sẽ.

– Tôi muốn nhìn thấy ánh sáng và Chin cùng một lúc.

Chin thấy điều gì đó nhói lên trong lòng.

“Nếu chẳng may James nhìn thấy khuôn mặt xấu xí của mình”, “Nếu chẳng may James không thích mình”

– Ok, James.

Chin nói thật nhỏ, lẳng lặng ra khỏi phòng.

“Ckark già” đến thăm James từ buổi chiều.

– Hello con trai!

James nắm tay Clark, người chỉ huy chịu chơi.

– Rồi mầy lại thấy cái bản mặt chán ngắt của tao như mọi khi.

– Ðó là điều may mắn của con, tạ ơn Chúa.

– Và tạ ơn người đã cứu mầy, con trai.

Clark cúi xuống nói nhỏ với James điều gì đó.

Bác sĩ và cô y tá tới.

– Hello bạn James! Chỉ vài giây ngắn ngủi nữa bạn sẽ nhìn thấy căn phòng dưỡng bệnh, nơi bạn vượt qua cơn thương tật, buổi chiều vàng rực ngoài cửa sổ và cuộc sống quen thuộc của các đồng đội trại Ranger…

Cô y tá mở từng lớp băng trên mặt James…

Mọi người chung quanh chờ đợi

“Clark già” chép miệng:

– Mẹ, hồi hộp như gỡ mìn.

Chỉ còn một vòng băng, James đưa tay, anh sụt sùi:

– Khoan! Tôi mong muốn được thấy người đồng đội đã cứu tôi, người đã mang lại cho tôi hy vọng và can đảm trong những ngày bệnh hoạn…

Anh yên lặng, cúi mặt.

– Clark! Tôi mong muốn được thấy Chin ngay phút đầu tiên tôi mở mắt.

Anh bác sĩ định gọi phone.

– Tôi đây.

Chin từ cửa bước vô.

Cô y tá tháo vòng băng cuối cùng.

James chớp chớp đôi mắt, anh ngước mặt, đưa 2 tay lên theo truyền thống của Ranger:

– Huraaahhhh!

Anh nhìn mọi người.

Một giây yên lặng…

James bước tới, anh quỳ xuống trước Chin, tay cầm cuộn băng vừa gỡ.

– Em có chịu lấy anh hông?

Chin cầm tay James, bật khóc.

Như vậy là tôi đâu có ế chồng!

Chin cười.

Còn quý tướng, có chồng giàu sang, hưởng đời sung túc… Ðợi coi!

HĐV

Về nơi gió cát!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Feb 2024

Qantas, viết tắt chữ “Queensland and Northern Territory Aerial Services” thành lập năm 1920. Thoạt kỳ thủy Qantas chỉ chuyên dùng để đưa thơ, là một anh bưu tá biết bay. 100 năm sau, Qantas lên bảng phong thần là hãng hàng không thương mại sống dai thứ hai trên toàn thế giới!

Chính vì vậy mấy thằng Úc xưng tụng em Qantas là: ‘Queen of the Skies (Nữ hoàng của những bầu trời) hoặc “The Flying Kangaroo” (Kangaroo màu trắng cách điệu bay trên nền trời đỏ)

Qantas có tới 65 chiếc Boeing 747-400, ‘Made in USA’. Năm thập kỷ trôi qua, một thời gian quá xá là dài thì biết bao nhiêu là kỷ niệm với dân Úc vốn ngứa chưn, ngồi yên một chỗ không được, nên bay tùm lum, tùm la ra thế giới bằng Qantas!

Dân giàu đi chơi thì ngồi ‘First Class’. Thương gia đi mần ăn thì ngồi ‘Business Class’. Cu li, dân ngu khu đen như tui thì ngồi ‘Economy Class’.

Nói thiệt nhe! Ðược cỡi máy bay Qantas của Úc, dù ngồi hạng cá kèo đi chăng nữa, lòng tui đã mãn nguyện, hãnh diện lắm rồi. Vì xưa giờ,  tui chỉ biết đi tới đi lui bằng xe bò không hè. Giờ tung mây lướt gió thì hài lòng quá đi chớ! Ðừng như thiên  hạ, đứng núi nầy trông núi nọ; được voi đòi Hai Bà Trưng mà chi!

(Dám đua với đế quốc Mỹ về chế tạo máy bay chỉ có thằng ‘Airbus’ của Liên Âu. Chớ cái thằng ‘Tupolev’ của CS Liên Xô là không có cửa. CS Nga chỉ giỏi có một chuyện là sản xuất vũ khí giết người hàng loạt như súng AK 47. Còn cái gì để phục vụ nhân sinh như máy bay chở khách chẳng hạn thì nó dở như hạch. Bằng chứng là chuyến bay 831 bằng Tu-134 hãng Vietnam Airlines của CS, từ Hà Nội tới Bangkok bị trời đánh rớt cái ạch xuống ruộng vào năm 1988).

o O o Ðời mà! Ðá mòn sông cạn! Thời gian sẽ hủy hoại đi tất cả; huống gì một chiếc máy bay. Vì máy móc chạy suốt tới 50 năm giờ đã ‘rơ’ hết ráo, nên bảo trì rất tốn kém. Rồi uống xăng như uống nước lã, xịt khói mù trời làm tổn hại môi trường. Phải dẹp nó đi thôi.

Tranh Bảo Huân

Vì vậy nên hãng United Airlines và Delta Airlines của Mỹ đã cho phi đội Boeing 747 của mình về nơi gió cát. Qantas cũng bắt chước theo đàn anh Mỹ cho những chiếc Boeing 747 lần lượt xếp hàng tính tới cuối năm 2020 là xong hết! Nhưng vì đại dịch COVID-19, hổng ai bay; ế quá nên Qantas cho cả bọn Boeing 747-400 nghỉ cái rụp vào tháng Bảy. Gần 6,000 phi công, tiếp viên phi hành, nhân viên bảo trì cam đành mất việc. Cũng tại con ‘coronavirus Wuhan’ của thằng Tàu Cộng không hè!

o O o

Bấm đốt tay, Boeing 747 kéo dài tình ta tới 50 năm. Hổng lẽ em ra đi về nơi gió cát mà mình nín thinh, không nói một lời từ biệt thì coi sao phải? Nên Qantas có làm 3 chuyến bay, dài một tiếng đồng hồ, để dân Úc bay vòng vòng trên Boeing 747, trước khi nó mãi mãi đi xa!

Vào ngày 22, tháng 7, năm 2020. chiếc Boeing 747 cuối cùng mang số hiệu VH-OEJ sẽ ‘say good bye’ trên bầu trời Sydney. Nó hôn gió với bà con Úc vốn đã lỡ mất chuyến bay tạm biệt trước đó. “Thôi bà con ở lại mạnh giỏi! Vĩnh biệt! Tôi đi đây, tôi đi về nơi gió cát!”

Nơi gió cát đó là một nghĩa địa máy bay trên sa mạc Mojave thuộc tiểu bang California, Hoa Kỳ. Ở đó, nàng sẽ gặp lại các bằng hữu trong phi đội Boeing 747 của hãng Qantas. Rồi cả bọn sẽ bị xẻ thịt từ từ. Cái ‘logo’ ‘Kangaroo bay’ sẽ không còn bay, bay nữa. Cái gì còn tái chế lại được thì gỡ ra bán ve chai lông vịt.

Không phải là dân Úc rặt, nhưng kỷ niệm tình anh Ba Bốp, bạn nhậu của tui, với em Boeing 747 nầy còn sâu đậm hơn so với bất cứ thằng Úc nào.

Chẳng qua là năm 1995, cách đây ¼ thế kỷ, lần đầu tiên trong đời, anh Ba Bốp được cỡi chiếc Boeing 747 của hãng Qantas đó bà con ơi.

Theo lời ảnh thuật lại thì: “Ngày 20, tháng Chín, năm 1995, tui ra khỏi một nhà tù bao la, là đất nước Việt Nam bị bọn CS Bắc Việt cai trị cực kỳ khắc nghiệt. Theo chương trình ODP (Orderly Departure Program) của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner for Refugees (UNHCR), tui dắt vợ và hai thằng cu con vĩnh biệt cái đất Sài Gòn.

Ra phi trường Tân Sơn Nhứt còn bị một thằng Hải quan CS, ‘BK 75’ làm khó dễ, hạch sách nầy nọ chỉ nhằm mục đích là lột sạch bách 200 ngàn bạc của tui còn dằn túi. Cống nạp nó xong, cả nhà tui mới được chiếc ‘mini bus’ chở ra tới tận cầu thang của một chiếc máy bay đang đợi sẵn.

Khoảng 1 giờ rưỡi chiều, chiếc Boeing 737 của hãng Hàng không Philippines cất cánh hướng ra biển. Nhìn xuống cánh bay là những dòng sông quanh co uốn khúc. Quê hương tui đó mà tui đành đoạn bỏ ra đi vì mình đã làm thân mất nước! Chịu đựng sự hành hạ của CS suốt 20 năm, từ 1975 tới nay thì cũng đủ trả nợ tiền kiếp rồi. Giờ tới lúc tui phải được trả tự do chớ!

Máy bay bình phi, dưới kia là biển. Nhà thơ Cao Tần trong bài thơ ‘Biển chiều’ đã từng:“Có bạn nào đang rắp tâm vượt thoát. Nhớ rằng ta luôn cầu nguyện cho người. Láng đời chót đã tan trên chiếu bạc. Thì sá gì thêm một chuyến ra khơi!”

Và biển đó đã chôn vùi hàng trăm ngàn xác đồng bào ruột thịt của tui (đa phần còn rất trẻ) nên: “Này biển chiều sóng xô ào lớp lớp. Những tiếng đời phiêu bạt khóc thương nhau!”

Chưa tới 3 tiếng đồng hồ, chiếc Boeing 737 từ trên mây sà xuống, lượn vòng vòng phi trường quốc tế Ninoy Aquino của thủ đô Manila. Dưới kia là những mái nhà lúp xúp như bát úp. Xuống phi trường, trời nhiệt đới đổ trận mưa to. Nước tuôn lã chã như khóc cho người đứt từng đoạn ruột bỏ xứ ra đi. Biết bao giờ trở lại?

Một thằng nhóc có mẹ là người Việt, cha là lính Philippines từng tham chiến tại Việt Nam, làm cho IOM  (International Organization for Migration, Tổ chức về định cư thế giới) nên nó nói tiếng Việt cũng khá sõi ra đón. Chú ‘IOM’ nầy đưa cả nhà tui vô một nhà hàng nho nhỏ trong sảnh ở phi trường để ăn tối.

Ngồi đối diện tui trong bàn là thằng bạn của nó. Coi như tụi tui không có, hai đứa khề khà hai ly rượu, bận rộn bàn chuyện mần ăn buôn bán bằng máy bay gì đó.

Tui gọi một cái đùi gà chiên bơ với ‘sa-lad’ và ‘cà-tô-mách’. Tưởng ăn thịt gà chiên bơ là sang, là nhứt hạng rồi; sau nầy mới biết nó rẻ rề hè. KFC bán đầy ra đó! Ăn tôm hùm mới gọi là sang!

Tính kêu thêm một ly rượu đỏ để uống mừng ngày vượt thoát thì nó giơ tay ngăn lại. Chỉ được uống nước ngọt, kêu rượu là phải trả thêm tiền (mà tiền đô mình đâu có); làm tui cụt hứng.

Sau nầy tui mới biết tiền ăn bữa đó là của thằng em tui, người bảo lãnh tui, chi trả. Té ra hai thằng ‘khỉ mắc phong’ nầy nó thản nhiên ăn chực đồ ăn của mình, uống chực rượu của mình mà không cho mình uống chớ! Thiệt là quạu nhe!

o O o

9 giờ 30 đêm, vợ chồng con cái anh Ba Bốp lại lục tục từ phòng đợi của phi trường qua lối đi bước thẳng vào chiếc Boeing 747 của hãng Qantas từ Osaka Nhựt Bản về. Nó ghé qua Manila trả khách rồi rước thêm một mớ trước khi bay luôn suốt cả đêm về nước Úc.

6 giờ sáng hôm sau, chiếc Boeing 747 của Qantas đáp xuống phi trường quốc tế Tullamarine của Melbourne. Ðèn sáng trưng như mở hội Hoa đăng chào tui vậy!

Ba và mấy em tui ra đón. Tháng Chín mùa Xuân nước Úc, Ba tui choàng vào vai con mình chiếc áo khoác vì sợ tui bị lạnh. Thằng em, công khó bấy lâu lo giấy tờ bảo lãnh cả nhà tui, cười hí hí nói: ‘Welcome to Australia! Ha ha!’

Tui khoái thiệt chớ! Sau mấy lần vượt biển bất thành, có lúc phải đi ở tù; giờ thì tui đã đáp xuống một vùng đất tự do rồi. Ðêm ngủ với vợ không còn sợ bọn Công an phường lôi đầu mình về nhốt vì tội không có tên trong tờ hộ khẩu.”

Nói xong, anh Ba Bốp khóc hu hu. Vượt biên bằng máy bay sướng thấy mồ mà thằng chả lại khóc; vì mãi mãi xa rồi em Boeing 747 ơi! Thiệt anh Ba Bốp đúng là một con người đa cảm, đa sầu, mau nước mắt như tui vậy!

Đoàn Xuân Thu