Dâu bể trùng phùng

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Hình minh họa

Tập 2

Phần 8
Sáu năm, dâu bể trùng phùng.

Chúng tôi gồm có vài trăm sĩ quan cấp úy của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đi trình diện học tập cải tạo theo lệnh gọi của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, tất cả tụ tập trong sân căn nhà kính của Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt.

Tôi đứng một mình trong góc sân, lặng lẽ quan sát cảnh mọi người gặp nhau tay bắt mặt mừng, chuyện trò nổ như bắp rang, họ thản nhiên vui vẻ nói chuyện cứ như là đang tham dự một buổi họp mặt, mừng ngày hội ngộ sau nhiều năm xa cách. Trước khi đến đây, tôi tưởng chỉ có một mình tôi là sung sướng hạnh phúc, khi được đi học tập cải tạo mười ngày. Nào ngờ lúc nhìn thấy bầu không khí tưng bừng náo nhiệt của các vị sĩ quan cấp úy khi gặp nhau, tôi mới biết được là, mọi người đều có chung một tâm trạng giống như tôi.

Nhìn thoáng qua một vòng, tôi không thấy ai quen thân với mình, nhưng tôi lại biết mặt hầu hết các sĩ quan trình diện ngày hôm nay, bởi vì họ là những người dân của Đà Lạt. Trước khi vào lính những ông sĩ quan này phải là học sinh của Trường trung học Trần Hưng Đạo, trung học Việt Anh, trung học Trí Đức, trung học Bồ Đề, Lycée Yersin, hoặc là sinh viên của Viện đại học Đà Lạt. Nếu không là bạn học cùng trường với tôi, họ với tôi cũng đã từng gặp mặt nhau nhiều lần khi đi bát phố Hòa Bình.

Tôi đi vòng quanh sân với mục đích là tìm gặp những thằng bạn chung trường, chung lớp với tôi ngày xưa ở Trường trung học Trần Hưng Đạo, như là Nhân đầu bạc chẳng hạn. Tôi cần có một vài người bạn thân để chia xẻ ngọt bùi, để tối đến sau giờ học sẽ treo mùng gần nhau chuyện trò tâm sự, uống ly trà hút điếu thuốc.

Đúng hai giờ chiều, một anh cán bộ Việt Cộng mở cửa nhà, với giọng oang oang anh ta nói:

-Các anh tuần tự vào văn phòng nộp lại “Giấy chứng nhận”. Sau đó ra ngoài sân, sắp hàng đợi lệnh mới.

Mọi người ngoan ngoãn thi hành lệnh trong im lặng, trật tự. Khi vừa bước chân qua khỏi ngưỡng cửa của căn nhà, tôi choáng váng cả người như là bị điện giật, trước mặt tôi, ông Năm bánh xèo ngồi chễm chệ sau cái bàn làm việc, ông ta đưa mắt quan sát từng vị sĩ quan một, khi họ nộp lại tờ giấy chứng nhận. Đến lượt tôi, ông Năm bánh xèo cầm tờ giấy lật qua lật lại rồi đọc:“Nguyễn Trọng Quân”. Sau đó ông ta ngẩn nhìn tôi.

-Trung úy mạnh giỏi?

Tôi ngớ người, khi nghe câu hỏi phát ra từ miệng của ông Năm bánh xèo, đây là câu nói xã giao vui đùa, mà ngày xưa khi gặp tôi ông Năm thường hỏi.

Hình minh họa

Tôi ngập ngừng, nếu là ngày xưa câu trả lời của tôi sẽ là “Quá mạnh giỏi, còn chú Năm có khỏe không?”. Hôm nay thời thế đã xoay chiều, không còn là chuyện vui đùa của một ông bán bánh xèo và một trung úy nữa, mà là chuyện sống chết giữa một ông cán bộ của phe thắng trận và một trung úy hàng binh. Tôi lấy giọng, cố nói cho rõ ràng từng chữ.

-Thưa ông, tôi khỏe.

Ông Năm bánh xèo với gương mặt nghiêm nghị, nhưng giọng nói lại giống như đùa.

-Mỗi dĩa bánh của trung úy tôi bỏ vô ba con tôm.

Tôi đứng chết lặng không dám nói một tiếng, không biết ông Năm bánh xèo đang đùa hay nói móc mình đây. Ngày xưa, khi ăn bánh xèo nơi quán của ông Năm, tôi luôn luôn giữ gìn tư cách của một người sĩ quan, không bao giờ phách lối hay làm bất cứ việc gì có thể làm mất lòng ông. Hơn nữa, tôi đâu có dại dột phá phách lôi thôi, để bị quân cảnh còng đầu. Khi xét thấy mình hoàn toàn không có làm điều gì sai trái với ông ta, tôi mạnh dạn nói.

-Cảm ơn ông.

Ông Năm bánh xèo chỉ vào góc phòng, nói mà như ra lệnh.

-Trung úy đợi tôi ở đó.

Quay sang người sĩ quan đang đợi nộp lại giấy tờ, ông Năm bánh xèo lên giọng.

-Người kế tiếp.

Tôi đứng một mình trong góc phòng, nhìn các vị sĩ quan nộp lại giấy tờ mà trong lòng đầy phập phồng lo sợ, không biết chuyện gì sẽ xảy đến cho mình.

Hơn nửa giờ trôi qua, chờ cho đến khi người sĩ quan cuối cùng bước ra khỏi phòng, ông Năm nói với tôi.

-Trung úy tới đây, tôi có cái này cho trung úy.

Tôi ngạc nhiên quá sức, một ông Việt Cộng nằm vùng thì có cái gì mà cho mình.

Cúi đầu lục trong cái xắc cốt một hồi lâu, ông Năm lấy ra một tấm hình.

-Tặng trung úy để làm kỷ niệm.

Tôi nhìn tấm hình màu khổ 6 x 9, rồi chợt nhớ ra đâu khoảng vài năm về trước, trong lúc tôi đang ngồi ăn bánh xèo, ông Năm đã nhờ một người khách, bấm cho tôi và ông một tấm hình. Chụp hình với ông bán bánh xèo chớ đâu phải với đào thì cần gì phải nhớ cho mệt óc, chụp xong tôi quên mất tiêu. Chuyện chụp hình hoàn toàn biến mất trong trí nhớ của tôi. Hôm nay lần đầu tiên tôi được thấy bức hình, trong hình tôi mặc bộ đồ tiểu lễ mùa hè, trên vai cặp lon trung úy màu vàng nổi bật trên nền nhung đen, thêm cái huy hiệu Trường Võ Bị Đà Lạt may nơi tay áo trái gần vai. Với chừng đó thứ cho dù người mặc bộ đồ trên, mặt mũi có xấu xí đến đâu, thoáng nhìn qua cũng thấy oai phong lẫm liệt. Ông Năm mặc áo sơ mi màu xám ngồi bên cạnh tôi, tay trái thân mật quàng qua vai, trông cứ như là bà con thân thích. Người lạ nhìn vào tấm hình, sẽ nghĩ đó là hai bác cháu, hoặc nếu không bác thì cũng phải là chú.

Đang miên man suy nghĩ, bất chợt tôi nghe giọng nói của ông Năm bánh xèo vang lên.

-Trung úy có biết tại sao Ngụy quân Ngụy quyền, bỏ của chạy thoát thân như một bầy vịt chạy đồng hay không?

Hình minh họa

-Thưa ông tôi không biết.

Ông Năm bánh xèo với giọng đắc chí.

-Cảm ơn trung úy nhiều, ngày xưa khi còn Việt Nam Cộng Hòa, tấm hình này là cái bùa hộ mạng của tôi, một đôi lần bị cảnh sát xét giấy tờ, dồn vào ngõ cụt hết phương vùng vẫy, tôi nhờ nó mà vượt qua nhiều cửa ải bố ráp của cảnh sát. Trên giấy tờ tùy thân, tuổi của tôi đã quá hạn phải đi quân dịch thế nhưng có tật giật mình, tôi sợ rằng nếu để mấy ông cảnh sát bắt về đồn để tiếp tục xét hỏi thanh lọc, sưu tra lý lịch có thể tôi sẽ gặp rắc rối. Với cái nghề “Vạch lá tìm sâu” biết đâu mấy tay mật vụ hay cảnh sát chìm sẽ mò ra cái gốc cán bộ nằm vùng của tôi, cho nên tôi chìa tấm hình ra rồi nói “Cháu của tôi là Trung úy An Ninh Quân Đội của Trường Võ Bị Đà Lạt, tôi là cậu của nó, là người Quốc Gia chân chính. Mấy ông có thể quay điện thoại vô Trường để kiểm chứng”. Tuy nói cứng như vậy nhưng biết mình là người xài tiền giả, tôi xuống giọng “Thưa mấy anh, cùng là anh em một nhà với nhau hết mà, tứ hải giai huynh đệ, mời quý anh khi nào rảnh ghé quán bánh xèo của tôi ở đường Tăng Bạt Hổ, tôi sẽ đãi quý anh một bữa no nê”. Khi nghe tôi nói như vậy lại có thêm tấm hình làm bằng chứng, ông nào cũng mềm lòng xét qua loa rồi cho tôi đi.

Ông Năm bánh xèo ngưng nói một lúc, rồi hỏi tôi.

-Ngày xưa, trung úy làm gì trong Trường Võ Bị?

-Thưa ông, tôi làm ở Phòng hành quân.

Ông Năm bánh xèo cúi đầu nhìn xuống, kéo hộc bàn lấy ra gói thuốc và cái hộp quẹt.

-Như vậy trung úy không thuộc diện ác ôn. Ngày hôm nay tấm hình này đối với tôi không còn giá trị nữa, tôi tặng lại cho trung úy, chúc trung úy học tập tốt, mau trở về với gia đình.

Tôi đang đờ người nghĩ, tại sao ông Năm giữ kỹ tấm hình như vậy, rồi bây giờ lại cho tôi. Mục đích của ông là gì? Vì suy nghĩ như vậy nên tôi lấy hết can đảm, liều mạng hỏi ông Năm.

-Thưa ông Cách mạng đã thành công, ông không sợ tôi dùng tấm hình này để lừa dối Cách mạng, như ông đã làm với các cơ quan an ninh của Ngụy hay sao?

Với nụ cười bí hiểm, ông Năm nói với tôi, giọng nói huênh hoang đầy tự đắc.

-Trung úy chỉ được cái lo bò trắng răng, địch vận là nghề của tôi mà.

Tôi cảm ơn ông Năm bánh xèo rồi đi ra cửa, trước khi cất tấm hình vào ví, tôi liếc nhìn phía sau. Cái tên Trần Chiến với chữ ký bằng bút nguyên tử nằm ngay góc trái đập vào mắt, khiến tôi lạnh cả gáy.

Bốn giờ chiều, chúng tôi được chất lên hàng chục chiếc GMC, bốn chục sĩ quan được nhét vô một chiếc xe, đứng sát nhau như cá đóng hộp. Không cần phải giải thích, mọi người đều hiểu rằng đây là những chiếc GMC của Việt Nam Cộng Hòa bỏ lại. Xe lăn bánh chạy dọc theo hồ Xuân Hương, qua cà phê Thủy Tạ, qua sân vận động rồi nhà ga xe lửa, một anh đứng phía trước sát với cabin xe, nhìn qua khe hở nhỏ tí xíu của tấm bạt.

-Chắc họ sẽ đưa tụi mình đến Trường đại học Chiến Tranh Chính Trị hay Trường Võ Bị Đà Lạt để học tập.

Được vài phút sau, một giọng nói khác vang lên.

-Xe đến ngã tư Phan Chu Trinh rồi các bạn, ủa mà sao lại quẹo phải. Đi đâu vậy?

Hình minh họa

Một vài tiếng xì xào bàn tán.

-Không lẽ xuống Phan Rang, dân Đà Lạt mà đem xuống Phan Rang để học tập, đi chi cho xa vậy?

Vì xe bị phủ bạt kín mít nên trong xe tối hù, không thấy rõ mặt nhau, nhưng tôi đoán chắc rằng gương mặt mọi người phải lo lắng băn khoăn ghê lắm. Khoảng mười phút sau, một giọng nói đầy mừng rỡ.

-Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến quý vị ơi, phải như vậy mới được chớ, đi đâu cho xa.

Chúng tôi xuống xe, được đưa vào những dãy nhà ngủ của khóa sinh Cảnh Sát Dã Chiến, phòng ốc ở đây rộng mênh mông, hai người một giường hai tầng. Sau khi ổn định chỗ ở đến phần phát cơm tối, mỗi người được lãnh một nắm cơm vắt to bằng trái cam. Đang sống sung sướng ở nhà, bữa cơm chiều đầy đủ cơm sốt canh nóng, chén bát đũa muỗng sạch sẽ, giờ đây đột nhiên mỗi ông quan tay bốc một cục cơm vắt lạnh ngắt, lòng dạ nào mà ăn cho được. Nhiều ông quan chê cơm nắm, cho rằng “Người quân tử chiếc chiếu trải không ngay, không ngồi” huống gì bốc cơm mà ăn như vậy coi sao được, bèn nhịn đói luôn cho được việc, họ đi ngủ với cái bụng trống rỗng. Ngày đầu tiên trong mười ngày học tập của sĩ quan cấp úy, trôi qua nhẹ nhàng êm đẹp. Chỉ còn chín ngày nữa là sĩ quan cấp úy chúng tôi sẽ trả xong nợ đời, món nợ không mượn mà phải trả.

Sáng ngày thứ hai của mười ngày học tập, nhiều người thức giấc khi trời còn mờ tối, lo làm vệ sinh cá nhân rồi chuẩn bị giấy bút sẵn sàng cho buổi học tập đầu tiên. Cũng vẫn là những gương mặt vui tươi hớn hở của ngày hôm qua, họ tụ tập trò chuyện với hy vọng tràn đầy. Mọi người chờ hoài chờ mãi, chờ cho đến trưa vẫn không được cho đi học, mà lại được hướng dẫn đi ăn cơm. Lệnh của cán bộ Việt Cộng, tất cả sĩ quan Ngụy đội hình di chuyển hàng một, mỗi người cách nhau một mét. Cứ khoảng vài chục mét lại có một anh bộ đội, súng AK mang trên vai đi ngoài hàng kiểm soát. Lội bộ chừng hơn vài trăm mét, chúng tôi đến nhà ăn, mỗi bàn một thau cơm, chút rau luộc, vài con cá khô. Mấy ông quan nhìn nhau lắc đầu ngao ngán, cố nuốt cho trôi hết chén cơm vì bụng đói. Sau bữa ăn, mọi người phải tự rửa chén đũa của mình, giữ lại để dùng cho lần tới.

Đang lui cui rửa chén và đôi đũa nơi bể nước gần phòng ngủ, tôi giật mình vì có ai đó vỗ nhẹ vào vai của tôi.

-Cũng biết rửa chén nữa hả trung úy?

Tôi quay đầu nhìn lên, Trung úy Lợi Công binh Trường Võ Bị Đà Lạt đang tươi cười nhìn tôi, nụ cười như là chế giễu.

Tôi nói với Trung úy Lợi.

-Gọi mày với tao cho quen, cứ trung úy với đại úy, Việt Cộng nó đì cho xói trán bây giờ.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày ở phòng nào?

Tôi chỉ cho hắn căn phòng tôi đang ở.

Trung úy Lợi nhìn theo hướng ngón tay trỏ của tôi.

-Chỗ mày còn giường trống không? Tao dọn qua ở với mày cho vui.

Tôi reo lên.

-Tao đang buồn vì không có bạn, gặp lại mày cứ như là “Tha hương ngộ cố tri”. Mày dọn qua lẹ lẹ lên, còn mấy cái giường bỏ không đó.

Trung úy Lợi sửa lưng tôi.

Hình minh họa

-Đừng có ăn nói tào lao, tao với mày đang ở tại Đà Lạt, trên đất nước của mình, tha hương cái nỗi gì. Mày phải nói là “Buồn ngủ gặp chiếu manh” mới được.

Tôi gật đầu.

-Mày nói phải, chiếu manh, chiếu cói, chiếu cạp điều hay chiếu gì cũng được, giờ thì mày làm ơn về phòng lấy hành lý đi, tao đợi mày tại phòng của tao.

Phải hơn một giờ đồng hồ sau, Trung úy Lợi mới đến, hắn đặt cái ba lô xuống đầu giường kế giường của tôi, cất giọng kể lể.

-Mày biết không, mọi người đều nói mặt mũi của tao coi cũng sáng sủa không đến nỗi nào, vậy mà tao làm chuyện gì cũng chậm lụt, khi di tản khỏi Trường Võ Bị Đà Lạt tao cũng chậm, rồi chuyện chạy trốn ra ngoại quốc tao còn chậm hơn, cho nên giờ phút này mới còn ở đây để gặp mày.

Tôi an ủi Trung úy Lợi.

-Mày tưởng tao ngon lắm chắc, tao còn đần hơn mày nhiều. Mà chuyện mày rời khỏi Trường Võ Bị Đà Lạt sau cùng là phải rồi, còn trách cứ gì ai, bởi vì nhiệm vụ của mày là đặt chất nổ phá hủy trường mà.

Tôi nhìn quanh, khi thấy không có ai tôi mới nói nhỏ vào tai của Trung úy Lợi.

-Tan tành hết phải không? Giống như cả chục phi tuần F 5 của mình dội bom chứ gì.

Trung úy Lợi với gương mặt thảm não.

– Trường Võ Bị Đà Lạt còn nguyên xi như mới, không chết một con kiến, cũng không hư một cục gạch.

Tôi ngồi đờ người ra.

-Mày nói láo cũng vừa thôi, chừng đó kí lô hợp chất C4 mà còn nguyên sao được. Công binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chứ đâu phải du kích Việt Cộng chỉ biết đặt mìn, đắp mô, phá hủy vài khúc đường rầy xe lửa.

Trung úy Lợi mồi một điếu thuốc.

-Mày có cà phê không? Tao thèm quá.

Tôi đùa với Trung úy Lợi.

-Có, mà tao để ở Trường Võ Bị Đà Lạt rồi, mày làm ơn nhớ giùm là tụi mình đang đi học tập chứ không phải ngồi ở cà phê Tùng hay cà phê Thủy Tạ. Nói cho tao biết, tại sao mày không cho nổ Trường Võ Bị Đà Lạt.

Trung úy Lợi rít một hơi thuốc, chậm rãi kể.

-Tối hôm đó, sau khi uống cà phê với mày tại Trung tâm Hành quân, tao cùng bốn ông lính công binh, là chuyên viên chất nổ, chạy xe dodge qua Nhà thí nghiệm nặng. Tại đây, vì còn dư quá nhiều thì giờ, tụi tao ngủ một giấc ngon lành chờ đến giờ hành động. Đúng chín giờ tối, tao bắt đầu cho đệ tử tháo dỡ hợp chất C4 xuống xe, lúc bấy giờ tao mới phát giác ra trong xe không có ngòi nổ với mấy cuộn dây dẫn điện.

Trung úy Lợi nhìn tôi.

Hình minh họa

-Mày biết không lúc đó tao tức điên người, giận đến nỗi run tay mờ mắt, chửi thề nhặng cả lên “Đù má, cuộn dây điện to như cái cối đá mà mấy ông nở lòng nào quên cho được, trước khi đi tôi đã kiểm soát lần cuối cùng, dặn tới dặn lui, ông nào cũng báo cáo đủ. Tại sao đến đây lại không có dây dẫn điện”. Một ông lính rụt rè nói với tao “Tại hấp tấp quá nên em quên”. Tao chụp cái ống liên hợp máy PRC 25 gọi về Đại đội Công Binh của trường. Gọi khan cả cổ mà không một tiếng trả lời, tao gọi máy về đại đội mà cứ như là gọi xuống âm ti, tức mình tao quăng mẹ nó cái ống liên hợp xuống ghế trưởng xa, chỉ vào hai người lính “Hai ông làm ơn lái xe dodge về đại đội lấy ngòi nổ và dây dẫn điện qua đây cho tôi, hai ông còn lại cứ tiếp tục công việc”.

Trung úy Lợi vứt cái tàn thuốc xuống đất, lấy chân giậm lên rồi nói với tôi.

-Mày biết rồi, từ Nhà thí nghiệm nặng đến Đại đội Công Binh khoảng chừng mười phút lái xe, vậy mà tao đợi hơn một tiếng đồng hồ vẫn không thấy tăm hơi của hai ông đệ tử. Tao cùng hai người đệ tử còn lại, ôm đống hợp chất C4 mà khóc ròng. Không máy PRC 25, không đặc lệnh truyền tin, không súng đạn, tụi tao như những thằng mù, điếc, câm. Đã hơn mười giờ rưỡi rồi mà tụi tao vẫn còn ở trong trường. Tao đoán rằng hai ông đệ tử của tao khi đến Đại đội Công Binh thấy cảnh vườn không nhà trống, mọi người đã chạy mất tiêu hết rồi, quá sức hoảng sợ cả hai bèn dọt luôn cho êm chuyện. Tao chỉ hơi buồn chút xíu là tại sao họ chạy mà đành đoạn bỏ thầy, bỏ bạn của họ ở lại. Mười một giờ đêm, khi biết chắc rằng hai ông lính của tao đã dông mất đất rồi, tao mới dẫn hai người lính còn lại chạy bộ ra khỏi trường. Ba thầy trò như những cái bóng ma vừa chạy vừa run, khi chạy ngang qua Vũ đình trường Lê Lợi, tao chỉ sợ lính của Tiểu đoàn An ninh chưa rút đi, còn đóng ở điểm kích 1511 phía sau lưng Đài Tử Sĩ tưởng mình là Việt Cộng thì bỏ mẹ, họ làm thịt ba đứa tao là cái chắc. Mày nhớ giùm tao, ban đêm di chuyển trong trường mà không biết mật khẩu, mật hiệu, kể như là chết chắc, chết chắc luôn. Cuối cùng sau mấy chục phút chạy muốn hụt hơi, mồ hôi đổ như tắm, tụi tao cũng thoát được ra khỏi cổng Lý Thường Kiệt, khu Chi Lăng vắng ngắt không một bóng người, dân chúng ở đây đã di tản tự lúc nào.

Trung úy Lợi nhìn tôi rồi nhắc lại.

-Trường Võ Bị Đà Lạt còn nguyên xi, không hư một cục gạch.

Tôi nói đùa với Trung úy Lợi.

-Như vậy là mày đã lập được công lớn với Cách mạng rồi.

Trung úy Lợi nghiêm sắc mặt.

-Đừng có nói giỡn, ở tù mọt gông đó mày, chuyện đặt chất nổ chỉ có tao với mày biết, tao là thủ phạm, mày là tòng phạm vì phối hợp kế hoạch với tao. Từ đây về sau, hai đứa mình cứ câm như hến là được, mày biết câu nói “Tai vách mạch rừng” rồi chớ gì.

Nhìn nét mặt đầy lo sợ của Trung úy Lợi, tôi nói.

-Biết quá đi chớ, nhưng tại sao đêm đó mày không gọi máy cho Trung tâm Hành quân?

Trung úy Lợi nhăn mặt.

-Trên đời này chưa có ai mà ngu như tao, máy PRC 25 cùng với đặc lệnh truyền tin tao đều để trên xe dodge, chuyện chết người là ở chỗ đó.

Hình minh họa

Những gì muốn biết, tôi đã biết rõ ràng tường tận. Tôi không muốn nghe Trung úy Lợi kể thêm về chuyện đặt chất nổ phá hủy Trường Võ Bị Đà Lạt trước khi di tản, nên chuyển đề tài.

-Dẹp mẹ chuyện đó qua một bên, mày đem thức ăn gì cho mười ngày.

Trung úy Lợi hỏi tôi.

-Mày hỏi làm gì?

-Tao đề nghị hai đứa mình góp thức ăn lại, ăn chung cho vui.

-Mày nói nghe được, tao có năm lon thịt hộp với mấy gói mì. Còn mày có gì?

Tôi mở cái xách tay lôi ra hũ ruốc kho sả.

-Tao chỉ có chừng này.

Trung úy Lợi thắc mắc.

-Cái thứ gì trong đó?

Tôi cười với Trung úy Lợi.

-Ruốc thịt heo kho sả.

Trung úy Lợi dùng cả hai tay bưng cái hũ ruốc lên, miệng cười toe toét.

-Mẹ nó, làm gì mà mày đem theo cái hũ ruốc to quá mạng như vậy.

-Món này vợ tao làm, tao chê là nhiều quá nhưng vợ tao cứ nhét vào cái xách tay của tao.

Trung úy Lợi gật gù cái đầu.

-Mày lấy vợ được bao lâu rồi.

-Mới hơn một tháng.

-Chắc vợ của mày ghét mày lắm, muốn mày học tập ba, bốn tháng thay vì là mười ngày, cho nên mới làm cái hũ ruốc to như vậy. Nhưng mà không sao đâu, yên chí đi tao sẽ ăn phụ với mày.

Tôi và Lợi thân với nhau kể từ đó.

Một ngày ở Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến trôi qua lẹ như cái chớp mắt, ăn trưa xong chưa kịp làm gì đã đến cơm chiều, ngày hôm sau lại cũng cơm trưa, rồi cơm chiều. Mười ngày trôi qua cái vù, mọi chuyện vẫn giậm chân tại chỗ, không nghe nói gì đến chuyện học tập.

Gần như là tất cả mọi người đều bắt đầu thắc mắc bàn ra tán vào. Nhiều câu nói đầy ngờ vực được đưa ra.

-Nếu mai hay mốt bắt đầu học, như vậy chắc phải hai tuần nữa sẽ được về.

Một giọng nói hơi bi quan cất lên.

-Tao nghi phải một tháng quá.

Một anh có máu tếu trong người, vọt miệng.

-Chắc phải ba năm.

Nhiều tiếng ồn ào phản đối.

Hình minh họa

-Thằng nào nói ba năm đó, miệng mồm ăn mắm ăn muối, chỉ được cái nói bậy là giỏi.

Chuyện học tập mười ngày coi như không có, mọi người tuy không nói ra nhưng đa số đều tin rằng chắc cũng phải học tập vài tháng. Khi đã có được niềm tin, mọi hy vọng sẽ đến, nhờ vậy mà sinh khí trong trại vẫn còn.

Qua buổi sáng của cuối tuần lễ thứ ba, hàng chục chiếc GMC bít bùng chở chúng tôi đến chỗ mới, theo lời của cán bộ Cộng Sản là tạo điều kiện cho chúng tôi học tập tốt hơn. Mọi người lại hy vọng, lần này sẽ là Trường Võ Bị Đà Lạt, vì chỉ có nơi đó mới đầy đủ phòng ốc cho hàng ngàn sĩ quan chúng tôi học tập. Khi xe ra khỏi cổng Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến sẽ quẹo trái để về Trường Võ Bị Đà Lạt như mọi người dự đoán, thì đoàn xe lại rẽ phải. Một bầu không khí yên lặng chụp xuống, tất cả ngơ ngác nhìn nhau “Đi đâu đây hở Trời”.

Sĩ quan cấp úy chúng tôi, trình diện Ủy ban quân quản Thành phố Đà Lạt, được đưa đến tập trung tại Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, ở đây khoảng hai chục ngày. Suốt thời gian nói trên, chúng tôi chỉ học được một bài học duy nhất là viết bản lý lịch trích ngang hay trích dọc gì đó, dài hàng chục trang giấy, trong đó khai rõ lý lịch ba đời của dòng họ nhà mình và cả ba đời dòng họ bên vợ, viết đi rồi viết lại, viết cho đến khi nào đạt yêu cầu mới thôi. Cái khó cho chúng tôi là không một ai biết Việt Cộng yêu cầu cái gì, cho nên đã hai chục ngày qua, chưa có ông quan nào viết được bản khai lý lịch đạt yêu cầu như Việt Cộng mong muốn. Cho dù đó là quan kỹ sư, quan bác sĩ, quan dược sĩ, quan tiến sĩ…cũng bó tay luôn.

Giã từ Trung tâm huấn luyện Cảnh Sát Dã Chiến, đoàn xe GMC chở chúng tôi nối đuôi nhau giong ruổi trên con đường thiên lý, mãi cho đến chiều tối mới đến thị trấn Sông Mao thuộc tỉnh Phan Thiết, rồi ngừng lại tại trại gia binh của Trung đoàn 44, Sư đoàn 23 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa.

Đến đây tôi biết được một điều, chuyện học tập mười ngày đã trở thành chuyện cổ tích.

Theo lời của cán bộ quản giáo nói với tất cả sĩ quan cấp úy, để cho việc học tập được dễ dàng, đạt kết quả tốt, trại học tập phải được tổ chức theo lệnh trên.

Về nhân sự cũng như nơi ăn chốn ở, Trại học tập cải tạo Sông Mao, Phan Thiết, được chia ra làm ba Trại phân biệt rõ ràng: Trại A giam giữ sĩ quan Ngụy có cấp bậc đại úy, Trại B trung úy và Trại C thiếu úy.

Tôi ở Trại B trung úy, nên không biết rõ tổ chức của Trại A đại úy và Trại C thiếu úy như thế nào. Tôi chỉ biết rằng Trại B trung úy của tôi, được chia làm năm khối: Khối 1 Lâm Đồng, Khối 2 Bình Tuy, Khối 3 Ninh Thuận, Khối 4 Bình Thuận và Khối 5 Đà Lạt. Trước năm 1975, sĩ quan cư ngụ ở tỉnh nào sẽ về khối đó. Khối Đà Lạt của tôi có sáu tổ, mỗi tổ có mười sáu người, bắt đầu từ tổ 37 cho đến tổ 42. Như vậy toàn Khối 5 Đà Lạt có tổng cộng khoảng chín mươi sáu sĩ quan cấp trung úy. Khối sẽ có khối trưởng và khối phó, tổ sẽ có tổ trưởng và tổ phó điều hành, những vị sĩ quan này đều có thân nhân đi theo cách mạng khi khai lý lịch. Họ được cách mạng chỉ định giữ những chức vụ trên.

Khối trung úy Đà Lạt của tôi ở trong hai dãy trại gia binh nằm đối diện, cách nhau bởi một cái sân rộng, một dãy nhà gồm có nhiều căn. Cứ tám người ở trong một căn nhà bề ngang khoảng bốn mét, chiều dài chừng mười mét được chia làm ba phần: nhà trước, nhà bếp, phía sau là nhà vệ sinh và phòng tắm. Tường xây gạch, loại gạch đúc bằng xi măng có lỗ hổng ở bên trong, mặt tường không có tô hồ, mái nhà lợp tôn. Nhà có phòng tắm nhưng không có nước, sông Mao là vùng đất bán sa mạc, về mùa nắng giếng khô cạn cho nên mỗi tuần một lần, tù cải tạo được dẫn lên đập nước cách trại chừng vài cây số để tắm rửa và giặt quần áo.

Sau vài ngày xáo trộn lúc ban đầu, cuộc sống của tù nhân dần dần ổn định, 6 giờ sáng khi tiếng kẻng báo thức đánh lên, mọi người phải ra sân tập thể dục tập thể đúng mười lăm phút, sau đó vệ sinh cá nhân, lãnh phần ăn sáng để chuẩn bị 7 giờ đi làm lao động.

Hình minh họa

Sáng hôm nay, Tổ 37 của tôi đang sửa chữa hàng rào kẽm gai, ngay nơi cổng ra vào của Trại trung úy. Đám tù nhân chúng tôi phải làm lại hàng rào cho kiên cố hơn để giam giữ mình. Một ông cán bộ Cộng Sản nói với chúng tôi “Các anh đòi kềm, búa, kéo cắt sắt, bao tay để làm việc phải không? Trước đây chiến sĩ cách mạng tay không còn đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào. Hôm nay sĩ quan Ngụy các anh chỉ có làm cái hàng rào kẽm gai sơ sài như thế này mà đòi hỏi lung tung. Cách mạng còn nghèo không có những thứ ấy, các anh phải khắc phục khó khăn để hoàn thành công tác.”

Chúng tôi với tay không, cố gắng làm cho xong lớp hàng rào thứ nhất, sau đó đến lớp hàng rào thứ hai, rồi lớp thứ ba. Mặt trời lên khá cao chiếu ánh nắng chói lòa xuống đầu lũ tù, tôi đưa tay áo lên quẹt bớt mồ hôi đang chảy ròng ròng trên trán.

Trung úy Lợi đưa bình nước cho tôi.

-Nhắp một chút cho đỡ khát đi mày.

Tôi cầm cái bi đông nước, mà mắt không rời một đám người đang tiến về trại. Hàng trăm người chứ ít ỏi gì, tất cả đều mặc bà ba đen, chậm rãi di chuyển, trông họ giống như là đang cố lê bước chứ không phải là đi. Khi đoàn người đã đến gần, có thể trông rõ mặt, tôi chợt rùng mình nhìn lại mình, hơn hai tháng rồi bọn tù chúng tôi tuy có ốm đi nhưng vẫn còn mạnh khỏe, vẫn còn đầy đủ hình hài vóc dáng của một con người. Đám người mới tới trông như là những bộ xương biết đi, những gương mặt tái mét vàng ủng, chỉ còn da bọc xương, đôi mắt lờ đờ lạc thần như những cái xác chết.

Một người trong Tổ 37 của chúng tôi lên giọng hỏi.

-Ở đâu tới vậy?

-Cà Tót.

Ba, bốn thằng Đà Lạt ngơ ngác nhìn nhau.

-Có thằng nào biết Cà Tót ở đâu không?

-Hình như là ở trong mật khu Lê Hồng Phong.

Một giọng cằn nhằn.

-Phải không đó, đừng có đoán mò nghe cha nội.

Cà Tót, cái địa danh lạ hoắc mà từ nhỏ đến lớn, tôi chưa bao giờ nghe đến. Tôi nhìn đám tù mới với đôi mắt thờ ơ, vì biết rằng mình không có quen ai trong nhóm. Tôi định quay người tiếp tục làm việc, bất ngờ một người hai tay chống gậy, chầm chậm đi đến bên tôi.

-Quân bắp cải phải không?

Tôi ngớ người ra, cái biệt danh Quân bắp cải của tôi khi còn ở Quân trường Thủ Đức, chỉ có Biên, Long công tử và một số ít bạn bè trong đại đội cùng khóa với tôi biết mà thôi. Biên đã chết rồi, người trước mặt tôi có thân hình giống như là cái xác chết, nhất định không phải là Long công tử. Tôi nhìn kỹ người gọi tôi một lần nữa, trước mặt tôi là một bộ xương khô dơ dáy bẩn thỉu, người không ra người, ngợm không ra ngợm, hai con mắt của hắn thụt sâu vào như hốc mắt của cái đầu lâu, tóc tai rụng gần hết chỉ còn lưa thưa vài cọng, hai bàn tay gầy trơ xương nắm chặt lấy cây gậy đang chống xuống đất, hai bàn chân không giày không dép, dính đầy đất bùn, cả thân hình của hắn được che bởi bộ đồ bà ba đen rộng thùng thình. Tôi hoàn toàn không biết được gã tù đứng trước mặt mình là ai. Tại sao hắn lại biết cái tên Quân bắp cải.

Hình minh họa

Tôi hỏi hắn.

-Mày là ai? Sao biết tên tao?

Bộ xương không trả lời, vất cây gậy xuống đất rồi đưa cả hai tay ôm lấy mặt tôi, nước mắt từ trong cái hốc mắt vô hồn của hắn chảy tràn qua làn da đen sạm nhăn nheo, lăn dài trên đôi gò má hóp.

-Bắp cải à, mày không nhìn ra tao sao?

Tôi lắc đầu, hỏi lại hắn một lần nữa.

-Mày là ai? Cùng chung Đại đội sáu mươi hai với tao ở Thủ Đức phải không?

Cái thây ma trước mặt tôi thều thào.

-Tao là Long công tử đây.

Cái tên Long công tử lúc bấy giờ mới thực sự trở về trong đầu của tôi, kéo theo cả một dĩ vãng vàng son một thuở, đánh thức luôn thính giác của tôi. Thêm vài câu trò chuyện trao đổi, tôi nhận ra giọng nói ngọt ngào đầy tình cảm của Long công tử, đúng là giọng nói của hắn vào những ngày xa xưa khi tụi tôi còn ở quân trường Thủ Đức. Trong trường hợp này, tôi có mắt cũng như mù, thị giác của tôi có cũng như không, vì gương mặt và hình dáng bề ngoài của Long công tử đã thay đổi, khác biệt hoàn toàn với ngày xưa. Dang rộng hai cánh tay, tôi ôm lấy bộ xương mà nước mắt của mình chỉ chực tuôn tràn. Mắt của tôi mờ đi như bị bao phủ bởi một màng sương mỏng, tôi nói với giọng nói nghẹn ngào trong cổ họng, nhiều lúc tưởng như bị hụt hơi.

-Long công tử, mày làm gì để đến nỗi thân tàn ma dại như thế này, sáu năm hơn rồi phải không, kể từ ngày tao với mày rời xa đồi Tăng Nhơn Phú, sáu năm dâu bể đổi thay, đâu ngờ hôm nay tụi mình lại gặp nhau trong cảnh đọa đày đau xót, trùng phùng trong tù ngục thê lương bi thảm như vầy.

Long công tử đưa tay rờ tai, mắt, mũi của tôi, nó dùng mấy ngón tay chỉ còn da bọc xương với móng tay đầy cáu ghét, bẩn thỉu, lau mấy giọt nước mắt trên má của tôi.

-Mày chỉ thay đổi chút ít, không còn sữa nữa rồi.

Thương thằng bạn ốm đói, lòng đầy hoang mang, không biết Long công tử có được ở chung trại B trung úy với mình hay không, tôi vỗ nhẹ vào lưng của nó.

-Nói cho tao biết ngày ba mươi tháng tư, mày là đại úy hay trung úy.

Long công tử hỏi lại tôi.

-Mày hỏi cấp bậc của tao để làm gì?

Tôi từ tốn giải thích.

-Nếu mày còn là trung úy thì tụi mình sẽ được ở chung một trại, còn nếu là đại úy, mày phải qua trại khác.

Long công tử dịu giọng.

-Tao là trung úy.

Tôi mừng rỡ ôm chặt lấy hắn.

-Vậy là tụi mình được nhốt chung một trại rồi.

Viết từ Úc Châu: Hồi mã thương!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Thưa bà con! Hồi mã thương là một chiêu thức chiến đấu tay đôi bằng thương thời cổ.

Hồi mã thương nguyên thủy phải gồm vũ khí (thương), phương tiện (ngựa – mã) và chiến thuật (hồi – đột ngột tập kích trở lại).

Trong chiêu này, người ta giả vờ thua chạy, nhử cho đối thủ đuổi theo thật sát sau lưng rồi bất ngờ quay ngựa phóng thương (hoặc đâm ngược) để phản kích bất ngờ, khiến đối phương trở tay không kịp.

Trong Tam Quốc diễn nghĩa, Quan Vân Trường sử dụng chiêu hồi mã thương khi đánh nhau với Hoàng Trung, lúc cả hai không phân thắng bại!

Quan Vân Trường quay ngựa bỏ chạy chờ Hoàng Trung đuổi theo, để bất ngờ xoay thanh đại đao chém ngược lại. Nhưng ngựa của Hoàng Trung bị gãy chân, Hoàng Trung té cái bịch xuống đất nên nên chiêu này không triển khai được vì chém hụt…!

 Trong Anh hùng xạ điêu của Kim Dung thì Dương Khang giả bộ thua, bỏ chạy, Quách Tỉnh rượt theo ‘quánh’, bị dính Hồi mã thương thiếu điều tiêu tán đường.

Từ đó “Hồi mã thương” không đơn thuần về một thế võ, đòn đánh mà nó đã được thành một thành ngữ để chỉ sự phản kích, phản công bất ngờ khi đối thủ đang có ưu thế hơn mình!

Và cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ mới rồi cuộc đấu tay đôi giữa Hillary Clinton và Donald Trump! Dù Donald Trump đang chiếm ưu thế khiến Hillary Clinton phải gọi điện chúc mừng! Nhưng phe ta vẫn còn tức quá nên chưa có chịu thua! Bàn mưu tính kế tính chơi cú hồi mã thương nầy; coi có lật ngược thế cờ hình như đã an bài theo phần số!

Những ủng hộ viên của Hillary Clinton tức hộc gạch, tức cành hông vì mình hơn đối thủ tới 2 triệu phiếu và có thể lên tới 4 triệu khi kết thúc hoàn toàn cuộc kiểm phiếu mà vẫn thua… Nên tức tối và bức bối tìm cách chơi cái chiêu hồi mã thương nầy.

Thấy ta thua tưởng chạy; ai dè ta sẽ quay lại cho nhà ngươi một cú hồi mã thương cho biết tay.

 Tui ơi đừng tuyệt vọng khi nghe một giáo sư trường đại học đàng hoàng nêu lên cái nghi vấn: Tại ba tiểu bang tranh chấp quyết liệt giữ đôi bên Pennsylvania (20 phiếu cử tri đoàn), Michigan (16 phiếu ) và Wincosin (10 phiếu) thì thấy rằng những quận hạt bầu bằng tay thì thua kém giữa hai bên không bao nhiêu; mà những quận hạt cử tri bỏ phiếu bằng vi tính thì Hillary Clinton thua Donald Trump tới 7%.

Sao có sự chênh lệch với nhau quá xa như vậy? Tui nghi nó ăn gian quá hà!

Ông giáo sư nầy còn chỉ rõ là: “Dẫu không nối với internet, nên không thể bị tin tặc (Nga) tấn công; nhưng người lập trình, gài vô máy bỏ phiếu trước ngày bầu cử, vài cái malware, là có thể chỉnh sửa kết quả theo ý mình! Dễ ăn hơn cơm sườn nữa đó!”

“Rồi cái đáng nghi nhứt là phiếu bầu khiếm diện! Tin tặc nó mà chôm được cái danh sách cử tri là nó bầu dùm mình… theo ý nó muốn!”

Tại Wisconsin, Hillary Clinton thua Donald Trump 22,525 votes tức khoảng 0.8 phần trăm. Hillary Clinton có thể bị ăn gian tới 30.000 phiếu. Tức thắng thành thua!

Tại Michigan, Hillary Clinton thua Donald Trump 10,704 phiếu, tức khoảng 0.2 phần trăm.

Còn Pennsylvania, Hillary Clinton mới đầu thua khoảng 70 ngàn phiếu! Giờ thu hẹp lại còn 60 ngàn thôi! Tức khoảng 1.2 phần trăm. Tóm lại là hỏng bao nhiêu!

Nhưng Hillary Clinton đã chánh thức chịu thua rồi; hỏng lẽ lại nuốt lời?!

Mình là người lớn; nói một là một; nói hai là hai chớ không phải là hai rưỡi… nên thay vì đích thân đi thưa thì cho ủng hộ viên (ngầm) của phe ta đi khiếu nại.

Ứng cử viên Tổng thống đảng Xanh, Jill Stein, bèn nộp đơn xin kiểm phiếu lại ở ba tiểu bang quanh vùng Ngũ đại hồ là: Michigan, Pennsylvania và Wincosin.

Muốn kiểm phiếu lại là phải móc tiền túi ra chi chớ không được xài vào tiền thuế của nhân dân.

Và Stein đã quyên góp được tới 4.5 triệu đô la (chỉ vòng 24 tiếng đồng hồ); chỉ cần 3 triệu đô nữa, tổng cộng là 7.5 triệu đô là đã đủ mướn người đếm phiếu lại cả ba tiểu bang chiến trường vẫn còn bên tám lạng đằng nửa cân nầy.

“Tui làm vậy vì nhiều người Mỹ đang hoài nghi, liệu kết quả bầu cử có đáng tin cậy hay không? Tại sao kết quả bầu cử bất ngờ như thế và những nghi vấn cần được điều tra trước khi kết quả được công nhận chớ?!”

Giấc mộng đêm xuân của Hillary Clinton là, nếu đếm lại phiếu, mà thắng cả ba thì ta sẽ là Nữ Tổng thống đầu tiên trong lịch sử nước Cờ hoa. Chớ hỏng phải là thằng cha chuyên đi bán nhà đất Donald Trump.

Hiện tại Hillary Clinton được 232 phiếu cử tri đoàn nếu thêm (20+16+10=46), nghĩa là đạt 278 phiếu, còn dư 8 phiếu cử tri đoàn để xưng ‘Đại đế’.

Cầm bằng thắng hai trong ba tiểu bang là chưa đủ; thì đi dụ khị mấy cử tri đoàn của đảng Cộng Hòa, mà ghét Donald Trump, phản thùng, ‘chiêu hồi’ qua bên ta là ta cũng thắng.

Nhờ cú hồi mã thương ngoạn mục nầy biết đâu chừng thấy thua nhưng thắng. Thấy bại chưa chắc đã xụi… lơ đâu nhe!

Không giống như nước Úc ‘Kan lu lu’, Hoa Kỳ không theo thể chế Ðại nghị (parliamentary system), sáp nhập Hành pháp và Lập pháp làm một!

Ai chiếm đa số ghế ở Hạ viện, tức Lập pháp, là lập nội các, cầm quyền Hành pháp.

Nước Mỹ ngày nay có 50 tiểu bang và một khu vực hành chánh tự trị là thủ đô Washington D.C, đều có chính quyền, chính phủ và Quốc hội, với thống đốc lãnh đạo Hành pháp.

Ngày bầu cử, cử tri không trực tiếp bầu ra Tổng thống mà bầu ra những Cử tri đoàn (Electoral College).

Hiện thời Trump đang được 290 phiếu cử tri đoàn còn Hillary được 232 phiếu.

Dẫu vậy, hơn 4.5 triệu cử tri Mỹ khắp nước ký vào đơn thỉnh nguyện trên mạng để kêu gọi các cử tri đoàn quay sang ủng hộ Hillary Clinton.

Ông Trump sẽ không trở thành Tổng thống Mỹ nếu nhiều cử tri đoàn đảng Cộng hòa không bỏ phiếu chọn Trump ngày 19 tháng 12 tới đây.

Tuy nhiên điều nầy hầu như không xảy ra trừ trường hợp chính chóp bu của đảng Cộng Hòa muốn thế!

(Sáu cử tri đoàn của phe Cộng Hòa đã tuyên bố sẽ không bỏ phiếu cho Donald Trump và hy vọng có ít nhất 37 đồng đảng Cộng hòa cũng làm như vậy!)

Nếu vây, Donald Trump chỉ còn 269 phiếu, không đủ mức tối thiểu 270 để trở thành Tổng thống Mỹ.

Nếu cả Hillary Clinton lẫn DonaldTrump đều không giành được 270 phiếu cử tri đoàn, thì Hạ viện Mỹ sẽ quyết định một trong hai sẽ là tổng thống.

Hạ viện Mỹ, do đảng Cộng hòa kiểm soát, nên không giờ trao ghế nầy cho ứng cử viên Dân Chủ bao giờ.

Không giao cho Hillary Clinton mà cũng không muốn ông thần Donald Trump làm tổng thống vì phập phồng quá… thì chỉ còn cách đá lên cho Thượng Viện quyết định.

Lúc đó Thượng Viện (cũng do phe Cộng Hòa chiếm đa số) có thể chọn người khác… như Phó Tổng thống tân cử Mike Pence chẳng hạn…

Nếu trường họp cực kỳ hi hữu nầy xảy ra thì quả ông Mike Pence nầy có số chánh vì vương!

Làm gợi nhớ Gerald Ford, là tổng thống Mỹ thứ 38, mà không đâu có ai bầu! Đời mà! Hay đôi khi hỏng bằng hên! Và chuyện gì cũng có thể xảy ra ở nước Mỹ hết ráo… Nên xin bà con cô bác cứ bình tĩnh, đừng ngạc nhiên (tới té ghế như tui khi nghe tin Donald Trump thắng vào đêm thứ Ba, ngày mùng 8, tháng Mười Một vừa qua) khi cớ sự xảy ra!

Tuy nhiên một số thuộc phe Dân Chủ không tin vào cú hồi mã thương nầy khuyên các đảng viên Dân Chủ khác là mình ‘move on đi’.

Bốn năm nữa, đâu có lâu, mình đưa con gà khác ra đá. Thua keo nầy ta bày keo khác!

Trước mắt là phải bỏ quách cái lối bầu gián tiếp thông qua cử tri đoàn rối rắm nầy đi cho nó dễ hiểu hè!

Cứ đầu phiếu phổ thông trực tiếp cho nó công bằng! Phiếu nào như phiếu nấy!

Chứ hơn 3.5 triệu phiếu ở California mà lại không bằng vài chục ngàn phiếu ở các tiểu bang dân ít hơn một Los Ageles hay San Francisco thì ‘ô hô’ bất công hết sức!

Cứ ai nhiều phiếu hơn là làm Tổng thống! Cho nó gọn! (Mà khó ăn gian nữa)

Chớ trong vòng có 16 năm trở lại đây, mà tới hai lần thua tức tưởi như vầy ai mà ‘hửi’ cho được chớ?

Năm 2000, Al Gore thua George W. Bush chỉ vài trăm phiếu ở tiểu bang Floria nên mất đứt 26 phiếu cử tri đoàn! Bush được 271; Gore được 269 phiếu!

Trong khi phiếu phổ thông bầu cho Al Gore hơn Bush cả 500 ngàn; vậy mà Gore lại thua Bush!

Tức cành hông từ đó tới giờ! Mà giờ còn tức hơn nữa!

Hillary Clinton hơn Donald Trump có thể lên tới 2.5 triệu phiếu phổ thông… Mà vẫn thua là thua làm sao?

Cách bầu cử nầy không công bằng! Dẹp!

Thưa tui cũng khoái cái ý kiến nầy! Và tui cũng khoái nhân dân Mỹ ở cách suy nghĩ của họ: Sai là sửa… Thấy bất công là nói hông! Cho dù nó tồn tại 200 năm, từ hồi lập quốc tới giờ cũng vậy! Nước Mỹ! Mỹ là mới thì phải mới, mới là Mỹ chớ!

Theo thiển ý tui là: Trump đã thắng 35 tiểu bang, Hillary thắng 15.

Trump chiếm nhiều phiếu cử tri đoàn hơn nhiều quá; nên cú hồi mã thương ‘trối’ nầy của phe Dân Chủ sẽ không làm Donald Trump xanh mặt mà ngã ngựa đâu?!

Trump giờ chỉ hơi ‘tè’ mấy anh chóp bu trong đảng Cộng Hòa, sợ sẽ chơi đểu mình thôi; bằng cách bảo cử tri đoàn đừng bỏ phiếu cho Trump là Trump âm thầm về với vợ!

Đảng Cộng Hòa muốn Trump phải gặc đầu cho những ông đảng chọn ngồi vào mấy cái ghế chủ chốt trong nội các của Trump như Mitt Rommey làm Ngoại trưởng Hoa Kỳ chẳng hạn (dù hai ổng chẳng khoái gì nhau).

Rommey đã từng dán nhãn: Trump là bậc thầy lừa đảo (a con man, phony and fraud)!

Nhưng Cựu thị trưởng New York, Rudy Giuliani, người đã hết lòng phò tá Trump trong cơn hoạn nạn cũng thèm nhễu nước miếng cái ghế Tô Tần; để tối ngày ngồi chần vần, ăn ngủ trên máy bay mà đi thuyết khách toàn thế giới.

Du lịch năm châu bốn bể, hỏng tốn tiền, sướng giàn trời mây đi!

Hỏng thấy Ngoại trưởng John Kerry… dù chạy xe đạp té lọi giò cũng ráng cò cò mà đi đó không?

Trump định đem cái ghế nầy mà giao cho bạn hiền để thưởng công; nhưng cái đám chóp bu của đảng Cộng Hòa lại không chịu…

Làm mấy ảnh giận, mấy ảnh chơi cú hồi mã thương là hai đứa mình chỉ còn đường về nhà chăn vịt…

Thôi nhịn đi nhe Rudy! Qua ngồi cái ghế Giám đốc Tình Báo quốc gia (Director of National Intelligence)! Rudy Giuliani, tên nào mà nhiều ‘i…i’ là gốc Ý hè! Mà Ý New York nữa, nổi tiếng xưa giờ… Nên ghế nầy cũng ‘ngầu’ lắm đó!

Thế mới thấy dù mấy hôm nay đã bày mâm đặt ghế cho đám quân sư quạt mo dày công hãn mã cho Trump đi đến chiến thắng long trời lở đất, từ kinh ngạc tới kinh hoàng nầy đang cầm ly sâm banh lên nhậu; rồi chia chác. Trump cũng không dám tự ên mình; tự tung tự tác! Sợ vãng hát!

Hơi tức tức chớ, nhưng chỉ dám khoèo một câu thôi: “Hồi trước mấy anh lãnh đạo đảng Cộng Hòa không thương tui… Nhưng giờ thì mấy ảnh lại yêu tui quá xá… há?”

Là đồng chí, đồng đảng Cộng Hòa với nhau mà xỏ ngọt nhau chi thưa Tổng thống tân cử Donald Trump?

đoàn xuân thu

melbourne

Cám ơn em đã yêu anh!

petruskyaus.net

Thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 28- Feb 2024

Em trách… “anh yêu em?!
làm thơ cho người khác,
anh biết… yêu là ghen,
anh làm em tan nát.”

Tình cũ chẳng trăm năm,
cố nhân đã ôm cầm,
thản nhiên sang thuyền khác,
người tham đó bỏ đăng
rằng thơ: “toàn phù phiếm!”
thuyền hoa đi biền biệt,
bóng nhạn đã mù tăm,
sao thơ còn tha thiết?!

Thơ anh dán đầy vách,
khạp gạo em cạn rồi,
thương cánh cò lặn lội,
cuối bãi tới đầu sông,
em gánh gạo nuôi chồng,
lồng tiếng khóc nỉ non.

Nhớ má rầy: “con dại…
lấy ai! sao không lấy?
lại lấy nó – nhà thơ…
nhà thơ… nghèo biết mấy!”

Em cãi lời của má,
ngoan cố…  em lấy anh,
giàu, nghèo em đâu sá,
đâu ngăn được tình ta …

Đôi ta đã qua chiều,
cuộc đời, trời sắp tối,
cuối cùng rồi anh nói:
“còn có một bài thơ
không bao giờ viết nổi…
chữ nghĩa dẫu khôn cùng
cũng còn là giới hạn
để diễn tả tình em.”

 “cám ơn em yêu đã…
làm bài thơ dở dang!”

đoàn xuân thu.

melbourne.

Búp bê

petruskyaus.net

Thơ đoàn xuân thu

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Từ mặt trận anh về,

anh ghé qua thành phố,

anh mua con búp bê

biết cười và biết khóc.

Con búp bê cùng em

hai đứa chơi nhà chòi

em cho búp bê ăn

em dỗ búp bê ngủ

em chọc búp bê cười

hai đứa em cùng vui.

Anh trở về binh lửa

búp bê nó nhớ anh

nó không cười, cười nữa

nó khóc, em dỗ dành.

Tàn trận đánh, anh về

trong hòm gỗ sơn xanh.

Tiễn anh, búp bê khóc

dàn lính bắt súng, chào

tiếng kèn buồn, vĩnh biệt

nước mắt đẫm má em

mộ phần ai ném đất

vùi sâu anh của em.

Búp bê đòi theo anh

bên kia khoảng trời xanh

không còn bom đạn nổ

không còn người giết người

búp bê làm anh vui

em chắc anh sẽ cười.

Ngủ ngon nhá anh hai!

 đoàn xuân thu

Té và rơi

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 08/11/2019 
Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Té và rơi là hai động từ
chết tới bị thương, không tránh khỏi
dân đen hay cán bộ thường gặp phải
chẳng ai biết cớ gì, tại sao, vì răng
những dấu hỏi luôn hiện ra, quen thuộc
thét đâm lờn, hỏi đầu gối đâu biết trả lời
đang đi khi không tự té
hắn chết vì sơ ý đập mặt vào dùi cui
phó giám đốc ông tiến sĩ này nọ
công tác lầu cao tầng ma đưa lối quỉ bày đường
hốt nhiên làm sầu riêng rụng sau vườn lịch bịch 
thà thua cá độ bóng đá nhảy cầu
có để lại gia đình lá thư tuyệt mạng
đằng này lặng lẽ ra đi máu đọng vũng hờn
“đường ra trận mùa này” đã hết đẹp
“đất nước mình ngộ lắm…” chưa nghe sao?
té có thể sứt cọng gãy càng bò lăn bò lết
nhưng rơi, eo ơi, các-mác lê-nin vẫy tay chào
thiên đường xã hội chủ nghĩa nằm cao quá
lỡ tay rơi chỉ còn lối địa ngục vùi thây
như có bác trong ngày vui đại thắng
có ai đánh bài mà không một lần thua?

Hồ Đình Nghiêm

Rượu chưa đủ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 06/03/2019 

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Nhà văn Mai Thảo (1927-1998)

Trong một số báo Văn cũ có in lại bài thơ của Thanh Tâm Tuyền mà tôi yêu thích. Tựa đề là “Bài Nhớ Thi Sĩ”, ở dưới ghi hàng chữ: Nhớ già Ung (Guiseppe Ungaretti) gửi Mai Thảo.

Bài thơ hay. Khó giải thích sự cảm nhận và cũng không nên lạm bàn quanh co. Tác giả “Thơ Ở Đâu Xa” đã gặp gỡ vị thi sĩ người Ý kia chưa, đó chẳng phải là điều đáng thắc mắc. Tôi nhìn chữ “Gửi M.T”, mường tượng ra hình ảnh một ông già khác, chắc cũng không kém phần đặc biệt so với già Ung?

Cả hai ông già, kẻ phương Tây người phương Đông, tôi đều chưa có cơ may gặp gỡ, mặc dù ông già thứ hai, một ông đông-phương-bất-bại dựng lại được “bàn viết lữ thứ” ở bến bờ Cali, thì nghe như có thứ gì thật gần gũi, thật thân quen… Thật thiếu sót nếu chẳng hề một lần được đối mặt.

“Rượu, Chưa Đủ” là nhan truyện ngắn của nhà văn Dương Nghiễm Mậu tôi đọc lại khi ngồi trên xe lửa đi từ Montréal vượt biên giang hồ vặt lần đầu sang Virginia. Rượu, Chưa Đủ, theo như Mai Thảo kể, (in trong cuốn “Chân Dung Mười Lăm Nhà Văn Nhà Thơ Việt Nam”. Nxb Văn Khoa,Cali. Hoa Kỳ. 1985) là những trang bản thảo của một người viết trẻ bị vất vào đáy sọt rác ở một toà soạn báo bạn, ông nhặt về đăng trên tờ Sáng Tạo số đang làm, không sửa một dấu phẩy và là người sớm nhìn ra ở đấy cái lấp lánh sáng của một hạt ngọc.

“Rượu, Chưa Đủ” quá ngắn so với đoạn đường dài. Tuy nhiên, những nhân vật trong truyện đã ùa ra, giúp tôi giết đi cái khoảng trống mãi lắc lư, lấp đầy một nửa đoạn thiết lộ luôn lầm bầm thứ điệp khúc tẻ nhạt; nửa còn lại là hình bóng hư thực của Mai Thảo cứ chực khuấy động trong trí khi muốn nhắm mắt dỗ một giấc ngủ không hề tới giữa chuyến đi vội vã sớm nghe ra sự mỏi mệt.

Cảnh sắc bên ngoài cửa sổ con tàu luân phiên khiêu vũ, đổi thay bao phông màn trôi đi, trôi đi. Những cụm rừng mùa thu vàng rực màu lá như đám cháy phực lửa giữa khoảng không. Những vách núi dựng đứng mà đá xanh tuồng như biết khóc, trơn láng, ẩm ướt với quyến luyến sương mỏng dùng dằng. Những mặt hồ thoáng rộng bày ra một đường chỉ bạc hàn gắn, khâu liền với chân trời hút thẳm. Những bầy chim di bay về đâu mà vẽ lên trời xanh một nét cọ đen, run rẩy… Tất cả, với tôi, đều dẫn tới cuối một tâm thức: Lạc lõng, quạnh quẽ, lẻ loi. Những trang viết đều đặn hằng tháng nằm trong mục Sổ Tay của tạp chí Văn cũng tựa thế. Chủ nhiệm Mai Thảo đã vun quén, đã ghi nhận, đã ngăn phên dậu cho vùng đất ấy thành ra một lãnh thổ riêng. Có tứ thời bát tiết, có năm châu bốn bể, có chuyện người chuyện ta, có sum họp có lìa xa… Và tựu trung, cái bề trái nằm ẩn mặt sau những dòng chữ giàu có chất thơ kia luôn dẫn người đọc vượt qua dấu chấm cuối cùng để chạm mặt với phân vân, buồn nhẹ, tịch lặng, êm rơi. Là bức tường in vào đó cái bóng gầy như một ý thơ của chính Mai Thảo dàn dựng.

Hai ba người mặc đồng phục xanh xám đi băng qua các toa tàu nối kết. Dáng dấp to lớn, dềnh dàng. Và đôi mắt họ dừng tới đâu thì dường như gửi theo chút tra vấn. Tôi đưa cho họ xem tấm căn cước bọc nhựa của một thằng công dân Canadien.

– Toa đi tới đâu?

– Washington DC.

– Làm chi ở đó? Lâu, mau?

– Khoảng độ hai ba hôm. Moa đi thăm một người anh.

– Cảm ơn. Chúc một ngày lành.

Chỉ thế thôi, lấy lệ. Chẳng có gì phải dông dài. Đối đáp cho đỡ buồn ngủ. Mai Thảo chính là sân ga cuối, là trạm dừng sau chót, là “một người anh tôi muốn thăm” như câu nói tiếng Pháp vừa trình bày với nhân viên kiểm soát biên giới Gia Nã Đại- Hoa Kỳ.

Buổi tối, tại tư gia bác sĩ Phó Ngọc Văn (người từng gửi thơ, giọng khinh bạc lẫn hào sảng đăng trên tờ Văn Học ở Cali.) nhà nằm uy nghi trên “đồi gió” đắc địa đã bày sẵn một tiệc rượu linh đình nhằm đón chào bằng hữu phương xa. Tôi không là tửu đồ, nhưng bàn tiệc ê hề sóng sánh đêm hôm ấy khó làm người ta cưỡng chống một cơn say. Say với những khuôn mặt bao vị từng cầm viết, chỉ mới đọc thơ văn họ mà chưa từng được chen vai thích cánh chung ghế bàn. Mệt mỏi, bụi đường xin trút bỏ ngoài bậc thềm. Bước vào, trăm ngọn nến lung linh soi tỏ, lòng mềm ra với muôn tiếng cười rộn ràng vây quanh. Khi nghe gia chủ hô hoán, một ông già gầy còm da xếp nếp tay nắm cốc rượu lững thững đến gần. Dáng cao, khật khưỡng: “Ối dà, cái thằng nhà quê bên xứ lạnh cũng vừa sang tới?” Khuôn mặt không biểu hiện rõ điều gì khi nói. Ngăm đen, thiếu linh hoạt, là một đầu tàu va vấp gió bụi mãi chạy trên đường rầy chưa hề gián đoạn, ngơi nghỉ. Giang hồ và phong sương. Trán cao, tóc thưa, miệng móm, răng rụng mất đã nhiều và chẳng ai chửi thề nghe sướng tai cho bằng. “Đừng gọi tao là nhà văn lớn. Lớn cái đếch gì?”. Trong toàn thể lời nói khô khan, riêng mình “đếch” là chữ có hồn nhất, được kéo dài ra, lên giọng cao, đếch chẳng đùa đâu nhé.

Đó là phút ban sơ tôi gặp mặt Mai Thảo. Và quả thật, tối đó tôi là thằng nhà quê chóng say hơn ai hết. Tiệc rượu tàn, người vẫn thường đăng lắm truyện ngắn của tôi trên Văn tục bản ở hải ngoại vẫn còn ngồi yên bên những chiếc ghế trống. Cổ rụt xuống trên vai gầy, ly rượu chẳng bao giờ vơi được bao phủ bằng những ngón dài, tài hoa. Đôi bàn tay cầm viết không mỏi mệt đã tạo dựng được trên dưới sáu mươi (60) tác phẩm (ông rất ghét dùng chữ “tác phẩm”). Ông ngồi lặng trên ghế, chính nhân dáng kia cũng tự tạo quanh ông một hình khối, nổi bật sự cô đơn bủa vây.

oOo

– Cuối cùng rồi anh cũng sang thăm xứ nhà quê nầy.

– Tôi sang nhiều lần rồi chứ. Bọn chúng nó dắt cho đi xem những kỳ quan. Ừ, thì cũng có đẹp đấy, nhưng mà rượu đâu, hãy mang ra đi chứ. Kỳ quan với thắng cảnh thì cũng nằm ở một chừng mực nào đấy thôi. Nhìn ngó làm cái đếch gì!

Montréal đang giao mùa. Thu như thu ở Virginia năm nào đã rời đi. Chúng tôi cùng bước vào một quán ăn chịu khó đóng cửa ngủ muộn để tránh gió se lạnh vừa vụt tràn qua, khởi đầu cho một mùa đông có tiếng là khắc khe, hung bạo. Bước đi của nó chậm rãi nên khi ghé ngang đã dây dưa trì nán những năm (5) tháng. Nó đang tới để khiến chúng tôi co ro bước lên một tửu quán người Tàu di dân đã ba đời. Củi lửa reo cùng khói bốc cao từ một chảo dầu chiên xào thức ăn vùng nhiệt đới thơm nồng chào đón. Trong đầu tôi hiện lên một nhản rượu: Ông già chống gậy. Chẳng hiểu tại sao? Người viết nên “Sống Chỉ Một Lần” đang là một ông già, nhưng bước đi vững chãi đó mãi mãi từ chối một cây gậy cầm tay.

– Cậu nhớ viết cho Văn giai phẩm Xuân một cái truyện ngắn.

– Dạ vâng.

– Cậu đã ra được cuốn nào chưa? Một thằng nhà văn đừng bao giờ coi nặng chuyện phải in cho kỳ được một vài cuốn sách. Có thì tốt bằng không thì cũng chả sao. Mình sống với văn chương bằng cả tấm lòng, chỉ chừng ấy là đủ.

Tôi nghe, tôi cúi đầu. Như từng im lặng đón nhận lời phát biểu của ông: Thằng nhà văn nên thu mình trong bóng tối, sân khấu đèn màu nhẩy múa, chỗ ấy vốn dành riêng cho bọn Hùng Cường Mai Lệ Huyền.

Phạm Nhuận gọi mấy món. Anh bồi bàn nghiêng mình một bên lễ phép thưa gửi “tài lũ”.

– Tài lũ cái đếch gì. Nó làm như bố người ta không bằng. Anh nên ăn thức này, anh ngủ một tị cho khoẻ. Ối giời! Sợ, sợ lắm!

Mọi người cùng cười. Cười luôn đi trước tâm sự. Cởi mở xong mới đụng tới được những hàn huyên thân tình. Và Mai Thảo là một người khó tính, ít ăn ít nói trước đám đông xô bồ. Thảng hoặc nge tâm sự, riêng tư: Ban đầu là Hồ Dzếnh, người từng khuyên chớ dẫm chân vào con đường văn chương. Tôi không nghe, trái lại còn hăm hở nữa. Kết quả cái sự giấn liều kia là một quyết định đúng đắn.

Ai cũng ngầm hiểu, ông và nhóm Sáng Tạo đã đưa văn học Việt Nam bước ra một khung trời mới, cách ly khỏi ảnh hưởng của Tự Lực văn đoàn. Gần bên Mai Thảo như tiếp cận một cuốn sách dầy nặng nhiều chương hồi. Giở số trang 1976 là bắt gặp một đoạn văn đầy mưa bão, u ám. Lật vội qua trang sau là chuỗi ngày lưu đày, trốn chạy trên chính quê hương mình. Giở lui thì bắt gặp thời bất toàn của “Đêm Giã Từ Hà Nội”. Giở tới thì nhìn ra “Hồng Kông Ở Dưới Chân”. Từ 1994 là bước qua chương tương lai, ở đó khẳng định một điều: “Lưu vong là lưu vong mãi. Đã mang phận phải ra đi thì nên đi luôn, chẳng muốn về. Không về là vì tâm chẳng muốn về. Thế thôi”.

Mọi người cùng ăn, ông thì không. Lại lập luận: “Cái bao tử nó không đòi hỏi thì cứ để mặc nó, tôn trọng nó. Và đã thành thói quen. Cái uống thì lại khác…” Ông cười, nhếch mép rồi “vô” một ly khác. Thuốc lá Winston đốt lên điếu mới mặc dù nằm trên đĩa gạt tàn hẳn còn nửa điếu cháy dở. Ông từng nửa đùa nửa thật cùng tôi: “Thành phố cậu ở xem ra văn minh hơn bọn nhà quê bên Cali. Anh làm cái đếch gì mà cấm người ta hút thuốc? Nhà quê bỏ mẹ!”. Khói thuốc mơ màng, giọng trầm, khàn đục: “Điều tôi mãi tiếc, hối hận thì đúng hơn, là chưa được uống rượu với ông Tản Đà”.

Ông già Mai Thảo ở chơi với bọn “nhà quê” được một tuần. Đón có Luân Hoán, đưa tiễn có Phạm Nhuận. Trời mưa lai rai, gió cuồng thảng hoặc những đêm hàn huyên muộn trễ việc lên giường. Một tuần có khi nghe ông nói tiếng Pháp lưu loát, có khi nghe chậm rãi tiếng mẹ đẻ, giọng Hà Nội chuẩn mực rót xuống bàn rượu những tâm sự đắng lòng. Không nghe ông trách cứ một ai, chẳng nghe ông ca ngợi người nào. Ông quan niệm: Cứ mặc xác chúng nó. Hơi đâu!

Một tuần, có khi thấy phong độ, lại lắm lúc nhìn ra cơ thể ấy đang đến hồi suy nhược, mệt mề, thôi linh hoạt. Tạp chí Văn mỗi khi một đi xuống, điều đó có phải do bởi tuổi già, một mình chăm sóc? Không, chẳng phải thế. Lỗi ở bọn trẻ đi sau, lỗi ở tôi khi đóng góp bài vở. Có lần ông nói: “Thế hệ cậu không có được sự may mắn. Thời ấy, sinh viên học sinh vẫn kẹp trong sách vở những cuốn “Để Tưởng Nhớ Mùi Hương”, “Mười Đêm Ngà Ngọc”… Bọn tôi sống hẳn với văn chương, chí thú viết truyện không hở tay”.

May mắn? Bất hạnh? Quả có thế. Chẳng có gì kỳ cục hơn là khi ta ném một hòn sỏi xuống hồ, quăng mạnh tay, rớt, chìm, mất tăm tích; mà mặt nước kia vẫn tịch lặng chẳng hề xao động cho sóng đồng tâm nhăn gợn, loang ra.

Ông Mai Thảo về lại Cali. Nhớ lời ông, tôi ngồi viết truyện ngắn cho Văn giai phẩm Xuân với cõi lòng trống vắng. Đây cũng là điều kỳ quái khác. Nói kiểu Mai Thảo: Xuân cái đếch gì khi ngoài kia là một trời băng tuyết lấp đầy chôn lạnh! Cái ô vuông cửa sổ trông tựa một tờ giấy trắng. Để nó sạch tinh khôi hay vấy bẩn vào, cào cấu những hàng chữ không thật lòng, run yếu? Ừ, viết thì viết. Một lời đã hứa thì cố gắng giữ tròn. Chữ thoát ra, dẫu không hay nhưng nó ký gửi theo một tâm thành, chẳng dối gạt.

Chuông điện thoại reo:

– Đang làm gì thế?

– Đang bóp trán.

– Viết lách đấy à?

– Phải.

– Ngồi vọc bàn máy đánh chữ sướng hay ngồi nhậu cùng anh em sướng?

– Còn phải hỏi.

– Thay áo quần đi. Ta lái xe đến đón liền khi.

Tôi không phải là tửu đồ. Điều đó đã có lắm người “thị thực chữ ký”. Nhưng mà chén chú chén anh thì vẫn thích hơn là đầu óc đã quên khuấy hình dáng cây mai chi chít hoa vàng nở đầy cành lá mà cố mường tượng lấy được rồi vẽ rắn thêm chân những bánh chưng pháo đỏ ông đồ lì xì mừng tuổi tống cựu nghinh tân.

Ông Mai Thảo đi rồi, bàn rượu có vẻ trầm mặc, như thiếu một thức gì. Bạn hãy để mặc tôi, đừng thắc mắc, hãy uống những gì bạn thích. Cordon bleu, X.O… Thế thì trà đá chanh đường chăng? (chữ của Khánh Trường). Không, đâu mà tệ thế, cho tôi xin một ly Martell. Tôi muốn bắt chước thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, uống trôi chất cay này để nhớ già Mai Thảo.

Rượu, chưa đủ. Nhớ Mai Thảo là nhớ câu thơ của Bùi Giáng mà ông ca ngợi: “Xin chào nhau giữa con đường, mùa Xuân phía trước miên trường phía sau”. Là mỗi khi nhận báo Văn qua bưu điện, vẫn bất di bất dịch hàng chữ viết tay quen thuộc ngoài phong bì vàng. Cầm lên, trong trí hiện ra một đám mây; nhiều màu, rực rỡ, bay giạt qua bầu trời nhỏ bé của văn chương Việt Nam. Mây che nắng, mây tạo mưa rồi trôi tới một phương trời rộng. Một đám mây cô quạnh, thong dong, bềnh bồng, lạc loài trên vùng đất viễn xứ.

Tôi không là tửu đồ. Đã đành. Nhưng rượu, biết uống mấy cho vừa, cho nguôi ngoai, cho chìm quên, hở ông nhà văn không thích được gọi là lớn?

Hồ Đình Nghiêm

Bài đã đăng Hợp Lưu số 16, tháng 4 & 5, năm 1994. Chủ đề “Mai Thảo 50 năm hệ luỵ với văn chương”. Đánh máy lại, có chỉnh sửa. Tháng 3, 2019. Và thêm chú thích: Vì sức khoẻ sa sút, năm 1996 Mai Thảo chuyển giao tạp chí Văn cho nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng chăm lo. Mai Thảo sinh năm 1927 tại Nam Định và mất năm 1998 ở California.



Ta bà nắc

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 12/02/2019 

Post by Sơn râu 28 Feb 2024

Đó là nói trại từ tiếng chửi thề chẳng đâu có được. Tabarnak. Hoàn toàn do địa phương này sáng chế ra. Phúc vẫn thích âm vực nặng nề ấy khi nghe Monisa phát âm, thường để chấm câu, quyết liệt, dứt khoát. Đôi khi kháu ó, đôi lúc phiền muộn; mặt khác chữ đó sử dụng tựa một quen miệng, vô thưởng vô phạt, chẳng nhằm bày rõ tâm trạng Monisa đang mang. Đi ngang qua tiệm bán áo quần ngoài phố, thấy treo chiếc váy đỏ kiêu sa nằm đằng sau tấm kính. Monisa trì hoãn cước bộ, nhìn vào và phát tiếng: Tabarnak! Cô đọng chỉ có thế, thay vì trầm trồ: Mẹ rượt, nó bắt con mắt quá. Nó đẹp quá mạng, bà con ơi!
Có chữ (xấu xa) khác là Calisse, nhưng Monisa ít dùng, có lẽ vì phát âm ra nghe không sướng miệng sướng tai bằng? Dân Tây từ Paris qua thăm thú Québec thường đực mặt chẳng hiểu mô tê gì về thứ Pháp văn trời ơi đất hỡi đó. Ngày đầu tới đây sinh sống, Phúc cũng từng ngậm bồ hòn, nhưng đó là thứ bồ hòn biết tiết ra vị ngọt, chẳng chói tai. Sướng hơn hứng lấy fuck mà bọn người nói tiếng Anh vẫn ưa làm đày làm láo. Phúc nhạy cảm, không thích do lẽ khi phát âm gần trùng với tên mình mang đầy phúc phận.

Monisa làm chung chỗ với Phúc, nơi mà người ta chẳng quan hoài tới điều lệ căn bản là bạn có bao nhiêu năm kinh nghiệm, và do vậy nhân viên cứ thoải mái với mức lương căn bản. Điều khiến cho Monisa công khai chửi tabarnak là đã hơn hai năm, thằng chủ quán ăn rậm rật nọ vẫn giả điếc việc lên lương, leo dốc ạch đụi là việc của chúng mày, kham không nổi thì cuốn gói mà đi. Calisse!

Eo hẹp chẳng khiến Monisa tằn tiện việc tiêu pha, cô đã xăm xăm đi tậu chiếc váy đỏ kia. Chưa tính thuế vào, giá trị nó cân xứng với 32 giờ bù đầu tóc rối việc chạy bàn. Tabarnak, Phúc phát biểu khi thấy Monisa từ phòng thử kéo màn bước ra, một bông hoa dâm bụt hay mồng gà mãn khai biết di chuyển, vặn vẹo, săm soi. Nhờ kéo cái zip đằng sau lưng tí, coi đặng không? Rõ là phải tốt nước sơn, người ta mới bỏ công đào bới đằng sau sơn nọ thớ gỗ thơm thịt có tốt không. Lắm khi hình thức cũng nắm phần quyết định nội dung, bởi chẳng ai can đảm mang thân gỗ ra dầm ngoài nắng mưa mà quên đi sự sơn phết che đậy. Khi mảng lưng để hở chưa khép đóng đường khe, Phúc thấy những sợi lông măng đồng loạt dựng đứng lên. Lông Monisa vàng tựa phấn hoa bám víu, rơi vãi. Dựng đứng có lẽ là do phản ứng khi da để hở cho hơi lạnh vuốt ve, cứ trần thân thêm năm bảy phút thì tự khắc da sẽ nổi hột, kêu bằng nổi da gà. Tuy đứng trong góc khuất, hàn khí mùa này có thể thâm nhập vào, xem thường sự hiện diện của máy sưởi để làm người ta phải rùng mình bất chợt. Nhưng muốn đón nhận cái ấm lòng thì lắm khi người ta cũng chẳng quan hoài tới máy nhiệt điện. Một cái váy màu đỏ cắt may khá hở hang tự nó cũng biết toả lan nỗi ấm cúng. Chẳng phải vô cớ khi có đứa thốt lên câu: Oh, so hot baby!

Đi làm thì áo xống xuề xoà, chỉ yêu cầu y phục nên sạch sẽ chớ bốc mùi khiến làm nhột lỗ mũi thực khách, chịu khó bôi thuốc khử mùi vào nách. Vậy thì chiếc váy mà Monisa sắm sửa hẳn chỉ dành cho cô nàng diện vào những dịp hệ trọng lễ lạc các thứ. Và tuyệt đối nó chẳng diễn ra ở trong cái quán ăn luôn nồng mùi tỏi hoặc sốt cà chua, nơi có hàng chữ Pháp ngữ diễn nôm thành “Nếu bạn muốn có bữa điểm tâm trên giường, tốt nhất bạn nên ngủ ở nhà bếp”, nơi có cô hầu bàn được kêu tên thân mật bằng Mô.

Phúc yêu Mô, một thứ tình cảm không cần biết mô tê răng ri rứa. Có thể do phút ban đầu, Monisa khác biệt hẳn so với bọn người làm việc trong quán ăn luôn quen mồm áp đặt Phúc là “thằng ba tàu không biết kung-fu”. Ông cố nội tao có hai cái đồn điền trồng cao su và trồng cà phê, ổng bỏ của chạy lấy người vì ông cố nội mày cầm mã tấu đòi chặt đầu thằng địa chủ thực dân. Ông cố nội tao nói: Merde! Bọn an nam mít thiệt khó nhai. Ba bốn đời sau, con cháu bần cố nông gặp lại dòng máu di truyền bọn thực dân mới, tình bạn xảy đến và hơn một lần Phúc giao mạng cho Monisa nhai, dễ như ăn ớt. Ông cố nội Phúc từng mô tả về con cọp lén vào đồn điền cho ông cố nội Monisa nghe: Bớp mais pas bớp, luỹ gầm luỹ gừ, luỹ măng-rê moi luỹ măng-rê toi, luỹ măng-rê tout. Bớp là con bò, mang ra ví với cọp, một trời một vực vậy mà “thằng” thực dân sáng dạ hiểu ra. Phúc nói, trong chợ có bán phô mai “la vát ki ri”. Mô chận ngang, hôm kia tao đi vào tiệm phở có vẽ cái đầu bò nhăn răng cười, khá thơm ngon, giá dễ chịu, có điều xơi xong thì bắt uống nước cả ngày. Phúc hát nhạc Tây: Vu lê vu cút-sê a véc moa xơ xoa. Đằng ấy có thích ngủ với tớ đêm nay không. Nàng Mô thông minh lanh lợi ứng khẩu: Có sao đâu, chuyện nhỏ, xem thử sức lực thằng nhược tiểu mạnh bao dường mà xẳng xái đòi tẩm quất em đế quốc.

Rồi tới lúc Phúc cũng nhìn thấy Monisa diện chiếc váy màu đỏ mới cáu chỉ. Ngồi trong quán cà phê, Mô mang theo cái bọc ny-lông khi lách thân vào nhà vệ sinh, không tiểu trung đại tiện gì cả, mượn chỗ nồng mùi khai chỉ để thay đổi xiêm y. Vào bình thường, ra khác thường. Vào tăm tối, ra sáng choang. Phúc không rõ vì sao người Việt gọi đó là áo đầm? Áo dành riêng cho dân đầm (ma-đàm)? Áo do dân đầm sáng chế? Monisa bảo, có thích làm một vòng quanh hội chợ Tết không? Phúc ngạc nhiên, đầm cũng biết món này sao cà? Năm mới, đừng mang bộ mặt nhà quê ấy, trông khó coi lắm. Tao có thấy qua một tấm poster quảng cáo. Ủa tết đến rồi sao? Phúc la thầm. Tết mais pas tết, không hoa mai, pháo chẳng gầm chẳng gừ, nhưng ở hội chợ thì bày nhiều món cho toi măng-rê, moi măng-rê, hai đứa xơi tout.

Tao muốn khám phá. Monisa nói thêm, tao có tâm hồn ăn uống, thích thử của lạ. Phúc cảm động ra mặt, ít ra thì hậu duệ bọn thực dân cũng biết tới Tết để mặc một chiếc áo đẹp nhất mà xẳng xái đến tham dự hổng ke tới thứ thời tiết lạnh đến teo bu-gi. Hai đứa man khai cảm cúm, xin nghỉ ngày chủ nhật, dùng métro đến tụ điểm có lắm tà áo dài vờn bay. Ăn gỏi khô bò, bớp giao duyên cùng đu đủ bào thành sợi. Ăn bánh cuốn nhân thịt cô-son bằm với nấm mèo. Ăn chả giò chiên hải sản fuy-đờ-me. Húp đọi bánh canh tự xưng là Nam Phổ (không thấy o bán hàng ở lỗ trèo cau). Súc miệng bằng chè ba màu. Phúc hỏi: Muốn thời chi khác? Thôi, nhiêu đó đã cành hông. Chưa có khi nào tao ăn ngon miệng như hôm nay. Calisse, làm chỗ đó thét phát sợ với thực đơn Ý, Pháp.

Hội chợ đông người, sợ lạc nhau Monisa chẳng rời tay nắm. Phúc, Phúc. Có thằng la giật giọng. Làm bộ lơ nhau nữa sao? Phúc quay mặt lại. Ồ, chỉ là đứa học chung khoá Pháp văn ngày nào, chừng đã lâu lắm. Năm mới phát tài. Hắn nói. Đù mẹ, bữa này chơi với Tây rồi bày đặt làm le làm gió. Phúc rủa thầm tabarnak. Đầu năm phải kiêng cử lời ăn tiếng nói nghe cha nội, nhỡ con Tây này là vợ moả thì dễ sứt mẻ cảm tình với nhau quá. Vợ con gì chưa? Sắp, qua tết thì dìa bển làm đám cưới. Sao không lại đứng gần sân khấu, lát nữa đến tiết mục của Hương Thuỷ lên hát rồi đó. Ừa, ông đi xí chỗ giùm cái, tui dắt con Tây này đi tìm chỗ đái, nhẹ bụng mới hạ hồi phân giải. Monisa hỏi: A-mi à? Bằng hữu á? Luỹ nói gì thế? Ờ, nó khen bồ tèo quá rô-li, cách cả cây số cũng nhìn ra cái váy đỏ kiêu sa. Có thật không đó? Chừng như dài dòng văn tự hơn cơ mà. Ờ, nó bảo nếu cái váy đó mà có đính một ngôi sao vàng ở bụng thì moa sẽ chóng gặp các mác lê nin. Là sao? Xề-qua-xá? Là toa lạc hồn ở dương thế mà moa thì hồn du địa phủ. Nó thương tình thì chỉ đánh moa sặc gạch thôi. Rơ-xe. Lá cờ máu chơ chi. Moa đâu phải trẻ lên ba, ông cố nội moa cũng từng tởn tới già, một ra đi không trở lại.

Sau thằng Michel làm phụ bếp, đến phiên Phúc được mời vô. Làm ơn đóng cánh cửa sau lưng bạn. Ngồi xuống đi, chỉ vài phút thôi. Tôi tên Jacques, người được cấp trên giao cho cái “job” này. Bạn có thể cho biết tên bạn mang? Tôi tên Phúc. Fuck, tôi có nghe lầm không? Không, đúng là như thế, có điều viết khác. P. H. U. C. Cảm ơn. Tiếng Pháp bạn có trôi chảy không? Ý tôi muốn hỏi là bạn hiểu hết những gì tôi nói, đâu cần tới thông dịch viên, nhỉ? Thông thường là thế, căn bản là thế. Điều gì nghe lạ tai thì tôi bí. Tốt. Bon. Vào tối thứ bảy, ngày 2 tháng 2 bạn làm gì? Tôi đi xem Hockey, Canadiens gặp Canucks. Đi với ai? Đi một mình. Đầu năm trong quán ăn có tổ chức trò bốc thăm, tôi trúng chỉ được cái vé lẻ, nguyên uỷ là vậy. Bạn làm ở quán “Con Mèo Ướt Mưa” đã bao năm? Tháng 6 tới là đúng 4 năm. Giao tình với những bạn đồng nghiệp như thế nào? Bạn chơi thân ai nhất? Tôi chỉ thân với cô Monisa, mấy người kia chỉ là trao đổi xã giao, chẳng mấy thân thiết.

Trên bàn không thấy có đặt máy thu âm, trước mặt Jacques là cuốn sổ nhỏ, thỉnh thoảng ông ghi xuống một vài chữ. Ông lật lui trang trước: Michel cho hay Mô có vẻ dễ dãi trong chuyện ấy, bạn hiểu ý tôi không? Và bạn nghĩ nhận xét của Michel có sai quấy? Tôi chẳng rõ lắm, nhưng với ý nghĩ của người Á đông như tôi, có thể Michel không nói sai. Tốt, quan hệ giữa bạn và Mô vẫn tốt đẹp? Lần cuối hai người ở bên nhau là vào thời điểm nào? Chừng hai tuần trước, chúng tôi đi dự hội chợ Tết… Ông hiểu không? Hiểu, đó là dịp mà hằng năm cộng đồng bạn gặp gỡ nhau, thậm chí đón nghe vị Thủ tướng nói lời chúc bằng tiếng Việt “Chuc Mung Nam Moi”. Làm việc trong quán ăn đó, có bao giờ bạn đi về nhà bằng cửa sau? Chưa bao giờ. Có nghĩa là bạn chưa từng đi ra ngoài bằng lối đó? Nhiều lần chứ, họ nhờ tôi đi quăng bịch rác hoặc Michel rủ tôi lẻn ra sau hút vội điếu thuốc. Tốt lắm, cảm ơn sự hợp tác của bạn. Jacques đứng lên bắt tay Phúc. Bạn muốn hỏi điều gì không? Tôi nghe toàn những tin có vẻ thêu dệt, sẵn đây xin ông cho tôi biết về tình trạng của Monisa.

Jacques ghé mông trên góc bàn, ông đóng kín cuốn sổ nhỏ bằng một sợi dây thun, thứ mà Mô vẫn dùng để buộc tóc. Cái đêm mà bạn đi xem Hockey, Monisa ở trong nhà bếp quán ăn cùng ông Puzzo sếp bếp. Puzzo bị ba nhát dao đâm vào bụng, cánh cửa lấm lem máu có dấu tay Monisa. 7 giờ 30 sáng, Jimmy là người đầu tiên nhìn thấy Puzzo nằm với một vũng máu. 6 giờ chiều ngày hôm sau chúng tôi nhìn thấy Monisa ở bến xe đò. Theo như phỏng đoán, quán ăn đó sẽ trở lại sinh hoạt bình thường sau ba ngày, có nghĩa là bạn được dịp nghỉ xả hơi một thời gian ngắn.

Phúc mua tờ nhật báo, ảnh Monisa in ở trang đầu. Cô cho hay, bị lão Puzzo ép uống rượu, bị xâm hại tình dục và với con dao nằm gần tầm tay, cô đã dùng nó để tự vệ. Điện thoại của chủ quán ăn réo gọi Phúc trở lại làm việc nhưng Phúc thoái thác. Phúc nhớ tới tấm giấy có in số điện thoại của Jacques trao. Liệu vị cảnh sát ấy có thể nói cho Phúc biết nơi giam giữ Monisa? Nhân danh một bạn đồng nghiệp cũ, tôi có thể đến thăm hỏi cô ta? Vu-lê-vu-cút-sê-a-véc-moa-xơ-xoa? Trường hợp này làm sao mà Oui được? Có là tài thánh mới lọt vào, ôm lấy một kẻ sát nhân thì thầm bên tai bản nhạc cũ: Nếu tình yêu thực sự không hiện hữu, chúng ta sống với hoài niệm, rằng đã có một Tết xa xăm em mặc chiếc váy đỏ, lòng vui như mở hội và em trao cho tôi, không toan tính, bao ân sũng, giúp hồi sinh, vực dậy đứa tị nạn đang xơ xác một mảnh đời. Tabarnak! Bao lâu nữa thì chúng ta lại tay trong tay?

Phúc nộp đơn xin việc, lương hậu. Được thu nhận, làm ca đêm trong một nhà quàn. Lạnh vắng, chỉ nghe tiếng chân tự mình dấy lên trên mặt thảm nâu đỏ và tiếng nhịp tim riêng mình vọng dội, quanh quất tịnh đều ngơi nghỉ. Đó là một cái hotel tạm bợ, khách đến ghi tên to trên tấm bảng, nằm đôi ba hôm rồi dong duổi đi chuyến dài lâu về phương trời vô định, chẳng một ai có quyền được biết. Sở dĩ Phúc làm cuộc “đổi đời” vì giản dị rằng, nhà quàn đó mang tên Monisa.

Hồ Đình Nghiêm

Chân dung người chiến sĩ thiết giáp kỵ binh và biệt động quân trong hai năm cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam (1974-1975) – Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi

Posted on February 26, 2024 by dongsongcu

Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi Tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Huy hiệu Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh

Huy hiệu Biệt Động Quân

Lời Mở Đầu:

Thưa quý vị,

Sau khi Mỹ đơn phương ký kết Hiệp Định Paris với CSVN, đầu năm 1973 rút quân bỏ rơi chúng ta, báo chí truyền thông Mỹ mở chiến dịch rầm rộ bôi nhọ quân lực chúng ta. Quân CSBV nắm lấy thời cơ không ngừng vi phạm Hiệp Định Paris, tấn công chúng ta liên tục ở MNVN. Đồng thời Quốc Hội Hoa Kỳ cắt đứt viện trợ quân sư. Quân Lực VNCH buộc phải chiến đấu tự vệ trong thiếu thốn kinh khủng về trang bị quân dụng, đạn dược, xăng dầu.

Lúc bấy giờ ở Vùng 1 Chiến Thuật trên tuyến đầu của Tổ Quốc ở các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, các đơn vị tổng trừ bị thiện chiến Dù, TQLC, BĐQ cùng với SĐ1, SĐ2, SD3BB và các đơn vị NQ-ĐPQ của quân lực chúng ta phải chiến đấu ngày đêm vô cùng gian khổ giành nhau từng thước đất với quân thù CSBV.

Dân chúng MNVN bị tuyên truyền xảo quyệt của báo chí truyền thông Mỹ và CSBV, nên đa số hiểu sai khả năng thật sự của quân lực chúng ta. Có biết bao anh hùng tử sĩ đã hi sinh để bảo vệ MNVN thân yêu của chúng ta.

Những năm tháng cuối của cuộc chiến, mặc dù gặp muôn ngàn khó khăn về yểm trợ và tiếp vận, quân lực chúng ta vẫnn chiến đấu bền bĩ kiên cường làm cho Bộ trưởng Ngoại giao Kissinger có lúc mất bình tĩnh phải thốt ra: “Sao bọn chúng chưa chết phứt đi cho rồi”. Chẳng những quân lực chúng ta không chết đi, mà còn đánh trả quân xâm lược những đòn chí tử cho đến phút chót.

Nhân Xuân Tha Hương nhớ người chiến sĩ VNCH, nhớ anh thương phế binh sống tủi nhục đau đớn ở quê nhà, tôi xin đăng lại một chiến tích xuất sắc đáng được hãnh diện về quân lực của chúng ta.

Ảnh minh hoạ

Trần Quang Khôi

TB: Bài CHÂN DUNG NGƯỜI CHIẾN SĨ cũng đã được dịch ra Anh ngữ sẽ đăng trên trang nhà của TGB và sẽ được phổ biến rộng rãi trong dân chúng Mỹ. Đã gởi các copy đi:

– TS Sorley

– Nhà văn Jay Veith

– Giáo sư TS Louis Leresche

– Đại tá Raymond Battreall

– Một số người Mỹ bạn của VNCH

1. Tình hình chung ở Vùng 3 Chiến Thuật

Sau khi ký kết Hiệp Định Paris, đầu năm 1973, Quân đội Mỹ ở Miền Nam Việt Nam (MNVN) bắt đầu rút quân về nước. Các đơn vị chủ lực của CSVN ở Vùng 3 Chiến Thuật gồm có 3 Sư Đoàn Bộ binh: 5, 7, 9 và các đơn vị đặc công ém quân bên kia biên giới Việt Miên thường xuyên xâm nhập vào lãnh thổ nước ta quấy nhiễu hoặc bao vây tấn công các đồn biên phòng của chúng ta dọc theo biên giới ở các tỉnh Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bình Long và Phước Long. Chủ lực của Quân Đoàn III gồm có 3 Sư Đoàn Bộ Binh 5, 18, 25 và Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh được sự yểm trợ trực tiếp của Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh 155 ly, Tiểu Đoàn 61 PB 105 ly và Liên Đoàn 30 Công Binh dưới quyền chỉ huy của Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, một mặt phải lo dàn mỏng quân ra thay thế Lực lượng II Dã chiến Hoa Kỳ để bảo vệ lãnh thổ chống lại chủ trương “dành dân lấn đất” của Cộng Sản sau khi Hiệp Định Paris ra đời; mặt khác, Trung Tướng Nguyễn Văn Minh, tư lệnh Quân Đoàn III phạm sai lầm rất lớn về tổ chức và sử dụng lực lượng là giải tán Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III và phân tán nát Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ra từng mảnh nhỏ sau khi tôi rời Lữ Đoàn đi du học ở Hoa Kỳ năm 1972. Hai sự kiện đó làm cho Quân Đoàn III bị suy yếu trầm trọng và hoàn toàn bị mất đi tính di động. Vì thế mà Lộc Ninh bị địch chiếm và các đồn biên phòng ở Tây Ninh lần lượt bị lọt vào tay địch. Tháng 7 năm 1973 tôi từ Mỹ trở về nước. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần cũng vừa thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn Minh đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Quân Đoàn III. Ông nghe tiếng tôi đã từng chỉ huy Chiến Đoàn 318 và Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh đánh thắng nhiều trận lớn trên chiến trường Campuchia từ thời Đại Tướng Đỗ Cao Trí trong 2 năm 1970-1971, nên vận động xin tôi về trở lại Quân Đoàn III với ông. Ngày 7 tháng 11 năm 1973, tôi nhận quyền chỉ huy Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh ở Biên Hòa.

Ảnh minh hoạ

Việc đầu tiên là tôi gom các đơn vị Thiết Giáp bị phân tán về lại Lữ Đoàn và trình Trung Tướng Thuần gấp rút tổ chức lại Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III (LLXKQĐIII) theo mô hình tổ chức của Đại Tướng Đỗ Cao Trí. Ông cho tôi toàn quyền hành động.

Tình hình quân sự ngày càng nặng sau khi quân Mỹ rút đi. Trong “Mùa Hè Đỏ Lửa” 1972, nhiều chiến xa T-54 địch xuất hiện lần đầu tiên ở miền Nam trên chiến trường ở An Lộc, nên tôi tiên đoán chiến trường tương lai chiến xa địch có thể xuất hiện ở Biên Hòa; tôi xin Quân Đoàn trang bị cho tất cả các đơn vị Địa Phương Quân ở Biên Hòa súng phóng hỏa tiễn M72 chống chiến xa, được phép huấn luyện họ sử dụng loại vũ khí này và huấn luyện họ phối hợp tác chiến với Thiết Giáp, đồng thời tích cực tổ chức địa thế chống chiến xa địch chung quanh thành phố Biên Hòa. Các đường xâm nhập vào thành phố đều được thiết kế đặt mìn chống chiến xa và hầm hào chống chiến xa địch. Chính nhờ nỗ lực này của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh mà sau này trong “Chiến Dịch Hồ Chí Minh” năm 1975 của Cộng Sản Bắc Việt, Quân Đoàn 4 CS đã thất bại trong kế hoạch đánh chiếm tỉnh Biên Hòa và Sư Đoàn 341 CS bị quân ta đánh bại ở Biên Hòa trong ngày 30-4-1975.

Tôi ra sức cải tổ lại Lữ Đoàn 3 KB cho phù hợp với địa thế Việt Nam. Mỗi chi đội chiến xa có 3 chiến xa M48 thay vì 5 chiếc. Tôi cơ động hóa Pháo Binh bằng cách dùng xe xích M548 biến cải chở pháo 105 ly. Tôi tổ chức LLXKQĐIII thành một đại đơn vị liên binh Thiết Giáp – Biệt Động Quân – Pháo Binh – Công Binh hoàn toàn cơ động gồm 3 Chiến Đoàn : 315, 318 và 322. Tôi gấp rút huấn luyện tác chiến liên binh thuần thục và thường xuyên làm công tác tư tưởng để mọi quân nhân hiểu rõ địch, hiểu rõ nhiệm vụ và mục tiêu chiến đấu của chúng ta, nhất là để mọi chiến sĩ dưới quyền có niềm tin ở sự chỉ huy của tôi. Đến hạ tuần tháng ba, 1974, LLXKQĐIII đã trở thành một đại đơn vị cơ động tinh nhuệ sẵn sàng lên đường chiến đấu.

2. Tình hình đặc biệt :

Cuộc chiến đấu anh hùng của Tiểu Đoàn 83 Biệt Động Quân Căn Cứ Đức Huệ nằm khoảng 56 km hướng Tây Bắc Sài Gòn gần biên giới Việt Miên thuộc quận Đức Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa do Tiểu Đoàn 83 BĐQ Biên phòng trấn giữ với quân số trên dưới 420 người cùng với gia đình vợ con binh sĩ vào khoảng 80 người sống trong căn cứ nguyên là một trại Lực lượng Đặc biệt của Mỹ để lại (xem hình 1) . Tiểu Đoàn trưởng là Thiếu Tá Hoa Văn Hạnh. Khi xảy ra trận chiến thì Thiếu Tá Hạnh đi nghỉ phép vắng mặt. Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo, Tiểu Đoàn phó thay thế chỉ huy.

Tiểu Đoàn 83 BĐQ có 4 Đại Đội tác chiến và 1 Đại Đội Chỉ huy và Công vụ:

– Trung Úy Thạch Thông chỉ huy Đại Đội 1,

– Trung Úy Hiền chỉ huy Đại Đội 2,

– Trung Úy Thất chỉ huy Đại Đội 3,

– Trung Úy Tuội chỉ huy Đại Đội 4 và

– Thiếu Úy Vạng chỉ huy Đại Đội Chỉ huy và Công vụ.

Được tin tình báo VC sẽ đến đánh căn cứ, Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo cho 3 Đại Đội tác chiến ra ngoài căn cứ: 1 Đại Đội bố trí các tiền đồn an ninh xa và 2 Đại Đội hành quân tìm và diệt địch ngoài xa căn cứ. Còn lại một Đại Đội tác chiến trừ bị bố phòng trong căn cứ.

(1) Đêm 27- 3 -1974, một đaị đội Đặc Công CS xâm nhập được vào bên trong Căn Cứ Đức Huệ; vào lúc 02:00 giờ sáng ngày 28-3-1974, chúng chiếm được một góc trong căn cứ. Ngay từ những phát súng nổ đầu tiên, Thiếu Tá Bảo bị thương ở chân, gọi được 3 Đại Đội tác chiến bên ngoài gấp rút trở về. Tiểu Đoàn tập trung lại phản công quyết liệt. Bên ngoài căn cứ, Sư Đoàn 5 CS (Công Trường 5) bao vây chặt; pháo binh địch tập trung hỏa lực pháo kích vào căn cứ rất dữ dội. Bên trong căn cứ Biệt Động Quân và Đặc Công CS cận chiến giành nhau từng vị trí một, đánh nhau bằng lưỡi lê và lựu đạn. Đến sáng thì đại đội Đặc công CS bị quân ta tiêu diệt hết.

Tiểu Đoàn 83 BĐQ làm chủ tình hình bên trong căn cứ, tổ chức lại phòng thủ chặt chẽ và sử dụng Pháo Binh của Tiểu Khu Hậu Nghĩa bắn yểm trợ hỏa lực chung quanh căn cứ. Trong khi đó, các Đại Đội tác chiến BĐQ bố phòng bên trong chặn đứng các đợt xung phong bên ngoài của các đơn vị bộ bnh Sư Đoàn 5 CS. Hai bên giao chiến ác liệt ngày đêm không ngừng nghỉ.
Tiểu Đoàn 36 BĐQ do Thiếu Tá Lê Quang Giai chỉ huy, tăng phái cho Tiểu Khu Hậu Nghĩa, vượt sông Vàm Cỏ Đông ở Đức Hòa tiến về hướng Căn Cứ Đức Huệ bị phục binh của các đơn vị thuộc Sư Đoàn 5 CS ở Giồng Thổ Địa thuộc xã Đức Huệ tấn công buộc Tiểu Đoàn phải thối lui lại gần bờ sông Vàm Cỏ.

(2) Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III liền điều động Bộ Chỉ huy Liên Đoàn 33 BĐQ do Trung Tá Lê Tất Biên phụ trách sang Đức Hòa cùng với Tiểu Đoàn 64 BĐQ do Thiếu Tá Nguyễn Chiêu Minh chỉ huy. Ngày 31-3-1974, Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ (khoảng 50 người) do Trung Úy Anh chỉ huy được trực thăng vận xuống Căn Cứ Đức Huệ tăng cường cho Tiểu Đoàn 83 BĐQ, đồng thời Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-) vượt sông Vàm Cỏ Đông ở gần nhà máy đường Hiệp Hòa, nhập với Tiểu Đoàn 36 BĐQ làm 2 cánh quân tiến song song về hướng Căn Cứ Đức Huệ ở cách đó chừng 10 cây số đường chim bay về hướng Tây. Tiến được chừng 2 cây số, khoảng hơn 1 trung đoàn Bộ Binh thuộc Sư Đoàn 5 CS từ những vị trí hầm hào đào sẵn, xông lên tấn công mạnh, đồng thời pháo binh địch tập trung hỏa lực bắn xối xả vào đội hình của hai cánh quân này gây tổn thất nặng. Cuối cùng Tiểu Đoàn 64 BĐQ (-) và Tiểu Đoàn 36 BĐQ buộc phải gom quân rút lui về lại bên này bờ sông Vàm Cỏ (xem hình 1).

Ảnh minh hoạ

(3) Sư Đoàn 25 BB hành quân giải tỏa. Tiếp theo, Bộ Tư lệnh QĐIII giao nhiệm vụ cho Sư Đoàn 25 BB do Đại Tá Nguyễn Hữu Toán chỉ huy, tổ chức hành quân giải tỏa Căn Cứ Đức Huệ. Đại Tá Toán liền điều động các đơn vị thuộc Sư Đoàn đang hành quân trong vùng lân cận biên giới từ phía Bắc đến giải tỏa (xem hình 1). Một căn cứ hỏa lực được thành lập tại làng Phước Chỉ thuộc tỉnh Tây Ninh. Căn cứ này nằm cách biên giới khoảng 2 Km về phía Nam đồn biên giới An Hòa và cách Căn Cứ Đức Huệ khoảng 13 Km về phía Bắc. Ngoài Tiểu Đoàn Pháo Binh 105 ly cơ hữu Sư Đoàn phối trí trong căn cứ Phước Chỉ, còn có Trung đoàn 46/SĐ25 BB được tăng cường Chi đoàn 3/10 Thiết kỵ. Chi đoàn trưởng Chi đoàn này là Đại Úy Trần Văn Hiền. Tất cả lực lượng liên binh này được đặt dưới quyền điều động của Trung Tá Cao Xuân Nhuận, trung đoàn trưởng Trung đoàn 46 BB và được giám sát chỉ huy bởi Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 25 BB ở Củ Chi.

Để đối phó với đoàn quân giải tỏa của Sư Đoàn 25 BB, quân địch đã chủ động tổ chức địa thế, bố trí quân kín đáo chờ đánh quân tiếp viện. Chúng đặt các chốt chặn trên trục tiến quân của ta không vượt qua được, đồng thời Pháo Binh tầm xa của chúng nằm sâu bên kia biên giới mở những trận địa pháo chính xác, liên tục và ác liệt gây nhiều thương vong cho Trung đoàn 46 BB, làm tê liệt các cánh quân không điều động được, nên kế hoạch giải tỏa của Sư Đoàn 25 BB thất bại. Một phi cơ quan sát L19 bị phòng không địch bắn rơi gần đó, Trung đoàn cũng không tiếp cứu nổi phi hành đoàn. Sau đó quân địch pháo kích tập trung hỏa lực thẳng vào căn cứ Phước Chỉ bằng hỏa tiễn 107 ly và 122 ly khiến Trung Tá Cao Xuân Nhuận, trung đoàn trưởng Trung đoàn 46/SĐ25 BB bị tử thương. Trong suốt thời gian gần một tháng trời, quân bạn không đem lại một kết quả khả quan nào, hàng ngày vẫn bị pháo kích dồn dập, trực thăng tản thương và tiếp tế bị bắn rớt ngay trong căn cứ, 1 khu trục cơ Skyraider yểm trợ hành quân và 1 phi cơ DC3 thả dù tiếp tế bị hỏa tiễn SA 7 bắn rớt; những cánh dù mang lương thực và đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ thường bay ra ngoài vòng rào và lọt vào tay quân địch. Như vậy là cả hai nỗ lực từ phía sông Vàm Cỏ Đông của BĐQ qua và từ phía Bắc của Sư Đoàn 25 BB xuống đều bị thất bại trong việc tiếp cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ (xem hình 1).

(4) Những “Anh hùng Alamo Việt Nam”. Bên trong căn cứ, trong lúc đó, các chiến sĩ Tiểu Đoàn 83 BĐQ và Đại Đội 3 của Trung Úy Anh thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Nguyễn Văn Bảo chiến đấu vô cùng dũng mãnh, càng đánh càng hăng từ lúc đầu cận chiến với đặc công địch bằng lưỡi lê và lựu đạn bên trong căn cứ cho đến về sau này phải chiến đấu đẩy lui các đợt xung phong của địch ngày đêm không ngừng nghỉ. Cuối cùng lương thực và đạn dược bắt đầu cạn, căn cứ bị cô lập không được tiếp tế, không tản thương được, nhưng không vì thế mà tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ BĐQ bị suy giảm. Họ thề quyết tử chiến với quân thù. Gia đình vợ con của các chiến sĩ BĐQ trong căn cứ cũng tích cực tham gia chiến đấu bên cạnh chồng cha họ. Họ cổ võ, họ giúp tản thương, cứu thương, tiếp tế đạn dược và lo cơm nước. Có người còn cầm súng chiến đấu vô cùng dũng cảm. Mặc dù tỷ lệ quân số giữa ta và địch quá chênh lệch, quân địch không sao dứt điểm được. Xác địch chồng chất ngổn ngang bên trong và bên ngoài Căn Cứ Đức Huệ.

So sánh sự tử thủ nổi tiếng của quân đội Mỹ ở đồn binh “Alamo” năm 1836 do Trung Tá William Barret Travis chỉ huy với quân số 189 người chống lại sự bao vây và tấn công của hơn 2,000 quân Mễ với tỷ lệ quân số hai bên là 1/11. Sau 13 ngày đêm tử chiến, đồn binh bị quân địch tràn ngập ngày 6-3-1836. Tất cả 189 chiến sĩ trong đồn binh đều tử trận, chỉ còn sống sót 14 người là đàn bà và trẻ con. Khoảng 1,600 quân Mễ bị giết.

Hoặc so sánh sự tử thủ nổi tiếng của quân Lê-Dương Pháp ở làng “Camerone” ngày 30-4-1863 với 65 chiến sĩ do Đại Úy Danjou chỉ huy chống lại sự bao vây và tấn công của 2,000 quân Mễ với tỷ lệ quân số hai bên là 1/34. Sau 11 giờ tử chiến, quân Lê-Dương Pháp giết hơn 300 quân Mễ, vị trí phòng thủ bị tràn ngập, 62 quân Lê-Dương Pháp bị giết, chỉ còn sống sót 3 người bị trọng thương.

Tiểu Đoàn 83 BĐQ phòng thủ trong Căn Cứ Đức Huệ với quân số khoảng 420 người được tăng cường 50 người của Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ. Tổng cộng quân số là 470 người chống lại sự bao vây và tấn công của hơn 6,500 quân của Sư Đoàn 5 CS với tỷ lệ quân số đôi bên là 1/13. Sau hơn 1 tháng chiến đấu quyết liệt từ ngày 27-3-1974 đến ngày 28-4-1974, giữ vững vị trí phòng thủ, giết hơn 200 quân địch và gây thương tích cho khoảng 500 tên khác. Tổn thất bên BĐQ là 24 chết và hơn 100 người bị thương.

Mặc dù thời đại có khác nhau, mẫu số chung của những anh hùng ở Alamo, Camerone và Đức Huệ là sự quyết tâm tử thủ bằng mọi giá. Với tỷ lệ quân số đôi bên chênh lệch như thế, họ vẫn hiên ngang chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, đến hơi thở cuối cùng. Có thể nói không quá đáng là những chiến sĩ Biệt Động Quân chiến đấu ở Căn Cứ Đức Huệ đích thật là những “Anh hùng Alamo Việt Nam”.

Sự chiến đấu kiên cường và dũng cảm của BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ còn chứng minh hùng hồn cho thế giới thấy rằng tinh thần và khả năng chiến đấu của quân lực chúng ta không thua bất cứ quân đội tân tiến nào trên thế giới. Một số người thiển cận và một số dư luận báo chí kỳ thị của Mỹ cho rằng khi Quân đội Mỹ rút đi khỏi Miền Nam Việt Nam thì Quân Lực VNCH thiếu tinh thần chiến đấu đưa đến việc mất Miền Nam Việt Nam. Nhận định này là vô lý và hoàn toàn sai sự thật. Mất Miền Nam Việt Nam rõ ràng là vì quân ta thiếu phương tiện chiến đấu chứ không phải thiếu tinh thần chiến đấu.

3. Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh – Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III Xuất Trận:

Vấn đề vô cùng khẩn trương lúc đó là việc tản thương, cứu thương và tiếp tế lương thực, nước uống, đạn dược cho Căn Cứ Đức Huệ trong lúc mọi đường giao thông liên lạc vào căn cứ đều bị Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn cắt đứt nhiều ngày. Căn cứ bị cô lập và bị bao vây chặt. Tình hình bên trong căn cứ rất căng thẳng.

(1) Ngày 17-4-1974, Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh Quân Đoàn III, cho gọi tôi. Lúc bấy giờ tôi đang chỉ huy Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh hành quân thám sát “Khu Tam Giác Sắt” và “Vùng Hố Bò”, sau khi Chiến Đoàn 315 của Trung Tá Dư Ngọc Thanh đập tan Tiểu Đoàn Tây Sơn thuộc Trung đoàn 101 Địa phương Việt Cộng giải tỏa áp lực địch chung quanh đồn Bò Cạp và đồn Chà Rày thuộc Chi Khu Trảng Bàng của tỉnh Tây Ninh.

Tôi lên trực thăng chỉ huy bay về Biên Hòa trình diện Trung Tướng Tư lệnh Quân Đoàn. Ông tiếp tôi và cho tôi biết qua tình hình địch và bạn và tình trạng hiện nay bên trong Căn Cứ Đức Huệ. Sau đó Trung Tướng ra lệnh cho tôi lấy trực thăng bay qua Đức Hòa xem xét tình hình chiến sự bên đó rồi về trình cho ông biết ý kiến.

Tôi liền lên trực thăng bay qua Đức Hòa. Trên đường bay, tôi mải mê lo nghĩ phải làm gì để đối phó với Sư Đoàn 5 CS đây? Linh tính cho tôi biết có thể tôi sẽ được Bộ Tư lệnh Quân Đoàn chỉ định giải quyết tình trạng nguy kịch ở Căn Cứ Đức Huệ. Đây là một nhiệm vụ rất khó khăn. Cách đánh của quân địch từ trước tới nay vẫn là “Công Đồn Đả Viện”. Địch chủ động tổ chức chiến trường nhiều ngày chờ ta đến. Pháo binh tầm xa của chúng bố trí an toàn bên kia biên giới và sẵn sàng mở những trận địa pháo chính xác và ác liệt khó lọt qua được. Địch lại nắm ưu thế về quân số và địa thế. Ta có lực lượng Thiết Giáp hùng hậu, ta làm chủ không phận và có không lực yểm trợ mạnh mẽ. Nhưng gần đây, quân địch được trang bị nhiều vũ khí tối tân của Liên Sô như hỏa tiễn phòng không tầm nhiệt SA7 đã gây cho Không Lực ta nhiều tổn thất đáng kể, và hỏa tiễn chống chiến xa AT3, một loại hỏa tiễn lợi hại có bộ phận điều khiển giống hỏa tiễn TOW chống xe tăng của Mỹ. Tôi đã từng gặp hỏa tiễn AT3 này một lần trên chiến trường Campuchia. Mải mê suy nghĩ, trực thăng đáp xuống sân bay Đức Hòa lúc nào không biết khi một loạt đạn pháo kích của địch nổ chát chúa chung quanh trực thăng làm tôi giật mình bừng tỉnh. Tôi cầm bản đồ phóng nhanh xuống đất và ra dấu cho trực thăng bay đi. Tôi vội lên xe Jeep đang chờ và cho tài xế chạy nhanh đến nhà máy đường Hiệp Hòa là nơi Bộ Chỉ huy Liên Đoàn 33 BĐQ đang tạm đóng. Tôi leo lên tầng cao nhất của nhà máy. Ở đây nhìn ra ngoài, ta thấy con sông Vàm Cỏ Đông uốn khúc bên dưới. Bên kia sông là một dãy đất trải dài xa tắp đến tận biên giới Việt Miên. Trung Tá Lê Tất Biên, Liên Đoàn trưởng Liên Đoàn 33 BĐQ, tiếp tôi và thuyết trình cho tôi rõ tình hình của cánh quân BĐQ ở phía Đông Căn Cứ Đức Huệ. Sau khi vượt sông Vàm Cỏ Đông thất bại, Tiểu Đoàn 36 BĐQ và Tiểu Đoàn 64 BĐQ đang tổ chức lại hàng ngũ, bổ sung quân số và chờ lệnh mới của Bộ Tư lệnh Quân Đoàn (xem hình 1).

(2) Kế hoạch hành quân của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh.

Rời Bộ Chỉ huy của Liên Đoàn 33 BĐQ, tôi lên trực thăng bay về hướng biên giới. Tôi cho trực thăng bay thật cao để có cái nhìn tổng quát bên dưới và cũng để đề phòng phòng không của địch bố trí dày đặc ở bên dưới. Bay qua khỏi sông Vàm Cỏ Đông là đến vùng biên giới Việt Miên. Bên này biên giới là một dãy đất bằng phẳng sình lầy, chi chít những kinh lạch gần giống như vùng Đồng Tháp Mười ở Miền Tây. Xa xa trên đất Miên là những làng mạc rải rác vắng vẻ. Nằm xa tít về hướng Nam là Căn Cứ Đức Huệ lẻ loi, cô độc. Tôi cho trực thăng bay sâu vào đất Miên. Thị trấn ChiPu của Campuchia xuất hiện ở phía trước. Về phía Nam một chút, có một khu rừng chừng 10 mẫu Tây gây sự chú ý của tôi. Tôi chợt nhớ lại cách đó 4 năm, trong cuộc hành quân “Toàn Thắng 42” cuối tháng 4-1970, tôi có đi qua khu rừng này và tôi có biết rất rõ địa thế phía Nam của Thị trấn ChiPu.

Trong chớp mắt, tôi thấy ngay là phải hành động như thế nào để đánh bại Sư Đoàn 5 CS, cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ. Quả thật giản dị đúng như Napoléon nói: “La guerre est un art simple et tout d’exécution” (Chiến tranh là một nghệ thuật giản dị và tất cả là cách thực hiện trên chiến trường). Trong đầu tôi hiện ra cách thực hiện một kế hoạch hành quân giản dị trong đó hành động táo bạo, nhanh chóng và hoàn toàn bất ngờ là chìa khóa của thắng lợi. Lòng tôi cảm thấy nhẹ nhỏm.

Trở về hậu cứ của Lữ Đoàn ở Biên Hòa, tôi liền tự tay phác họa ra kế hoạch phản công trong vòng 20 phút. Đặc điểm của kế hoạch này là sự giản dị tối đa và bất ngờ hoàn toàn: Toàn bộ LLXKQĐIII sẽ cùng tôi vượt biên đêm và bí mật tiến sâu vô lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Nỗ lực chính là đột kích đêm vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS từ hướng Nam ChiPu. Phải hết sức giữ bí mật và hành động thật nhanh, tập trung toàn bộ sức mạnh của Thiết Giáp, khai thác tối đa tốc độ và “Shock Action” trên trận địa, không cho địch trở tay kịp (xem hình 2).

Tôi cầm kế hoạch trong tay đi lên Bộ Tư lệnh Quân Đoàn gặp Trung Tướng Phạm Quốc Thuần. Ông tiếp tôi và tôi xin được trình bày. Tôi trải tấm bản đồ 1/50,000 ra bàn. Ông chăm chú lắng nghe tôi nói: “Sáng nay, theo lệnh Trung Tướng, tôi đã bay đi thám sát mặt trận ở Đức Hòa Đức Huệ. Tình hình rất xấu, chúng ta phải hành động ngay, sợ không kịp vì Căn Cứ Đức Huệ bị vây hãm từ 27-3 đến nay hơn 20 ngày. Tiếp tế và tản thương cho Căn Cứ Đức Huệ bị địch cắt đứt hoàn toàn. Tôi xin đề nghị lên Trung Tướng: Sử dụng LLXKQĐIII phản công ở Căn Cứ Đức Huệ. Kế hoạch phản công của tôi có 2 giai đoạn.

– Giai đoạn 1: Hành quân lừa địch: Từ ngày N-6 đến ngày N: Rút LLXKQĐIII đang hành quân thám sát trong tỉnh Tây Ninh về khu Comi ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một). Tôi sẽ tung tin là LLXKQĐIII sẽ di chuyển lên Xuân Lộc (Long Khánh). Mục đích của cuộc điều quân này là làm cho quân địch tưởng là lực lượng Thiết Giáp sẽ rút đi đến một nơi khác.

– Giai đoạn 2: Hành quân phản công: Từ ngày N: Xuất quân đêm, trở lên Gò Dầu Hạ, vượt biên giới tiến sâu vào lãnh thổ Campuchia về hướng ChiPu. Sau đó chuyển sang hướng Nam ChiPu, dựa vào đêm tối tấn công toàn lực vào hậu tuyến của Sư Đoàn 5 CS bố trí ở phía Tây Căn Cứ Đức Huệ ” (xem hình 2).

Sau khi tôi trình bày xong, Trung Tướng có vẻ băn khoăn lo lắng. Ông suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Tôi lo kế hoạch này của anh sẽ đưa đến những hậu quả nghiêm trọng về chính trị. Vì như thế là chúng ta xâm phạm vào lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền. Chính phủ Campuchia sẽ có phản ứng và Liên Hiệp Quốc chắc chắn sẽ lên tiếng phản đối. Tôi sẽ gặp khó khăn.

– Nhưng thưa Trung Tướng, CSBV đâu có tôn trọng chủ quyền của Campuchia. Chúng đang sử dụng lãnh thổ của Campuchia để tấn công chúng ta. Tôi đáp lại.

– Đúng vậy, nhưng đây là một vấn đề rất tế nhị. Anh có thể làm một kế hoạch khác được không? Ông hỏi tôi.

Tôi liền đáp:

– Thưa Trung Tướng, tôi đã xem xét kỹ tình hình và địa thế, tôi nghĩ chỉ có kế hoạch này chúng ta mới đánh bại Sư Đoàn 5 CS, cứu Tiểu Đoàn 83 BĐQ ở Căn Cứ Đức Huệ.

– Ông trầm ngâm suy nghĩ một lúc rồi nói:

– Thôi được, tôi sẽ trình kế hoạch này của anh lên Tổng Thống để ông quyết định .Nếu được chấp thuận, anh sẽ chỉ huy cuộc hành quân này. Hãy về chuẩn bị lực lượng.

Tôi nhận lệnh, đứng nghiêm chào rồi lui ra. Trên đường về Lữ Đoàn, tôi nghĩ chắc rồi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu sẽ chấp thuận vì chúng ta không thể vì lo ngại Liên Hiệp Quốc mà hy sinh sinh mạng của hơn 500 chiến sĩ BĐQ và gia đình họ ở Căn Cứ Đức Huệ.

Trong lòng tôi rất vui mừng và biết ơn được vị tư lệnh Quân Đoàn tín nhiệm. Đây là lần đầu tiên tôi có trong tay sự tập trung một lực lượng Thiết Giáp lớn nhất trong chiến tranh Việt Nam và cũng là lần đầu tiên tôi được cho toàn quyền hành động để đương đầu trực diện với một Sư Đoàn CS kể từ khi Hiệp Định Paris ra đời.

Tôi vừa được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu thăng cấp tướng một sao cùng với các anh Nguyễn Văn Điềm Sư Đoàn 1 BB, Phạm Ngọc Sang Không quân, Hoàng Cơ Minh Hải quân. . . Đây là dịp tôi muốn chứng tỏ khả năng chỉ huy của mình và muốn chứng tỏ một đại đơn vị Thiết Giáp biết sử dụng tập trung là một vũ khí lợi hại có thể đánh bại các đại đơn vị CS trong thế công cũng như trong thế thủ.

Ngày 20-4-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chấp thuận Kế hoạch Hành quân của tôi, đồng thời ra lệnh cho Không lực VNCH trực tiếp yểm trợ tác chiến cho Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh 120 phi xuất (Tactical Air Support) từ ngày N đến ngày N+3 theo yêu cầu của tôi.

Tôi chọn ngày N là ngày 28-4-1974.

(3) Công tác chuẩn bị

Ngày 21-4-1974, Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III triệu tập buổi họp hành quân ở Biên Hòa do Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh Quân Đoàn III chủ tọa. Có mặt Bộ Tham Mưu Quân Đoàn, Bộ Chỉ huy 3 Tiếp Vận và 3 tư lệnh Sư Đoàn 5, 18, 25: Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và Đại Tá Nguyễn Hữu Toán. Sau khi Bộ Tham Mưu trình bày tình hình chung ở Vùng 3 Chiến thuật và tình hình đặc biệt ở Căn Cứ Đức Huệ, Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn tuyên bố chỉ định tôi thay thế tư lệnh Sư Đoàn 25 Bộ binh chỉ huy mặt trận Đức Hòa – Đức Huệ và sử dụng LLXKQĐIII phản công, giải vây Căn Cứ Đức Huệ. Tôi đứng lên trình bày ngắn gọn trước hội nghị Kế hoạch Hành quân vượt biên đêm của LLXKQĐIII ở Gò Dầu Hạ và Hành quân Phản công của LLXKQĐIII trên lãnh thổ Campuchia (Hình 2).

Ảnh minh hoạ

Theo nhu cầu hành quân của tôi, các đơn vị sau đây được Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn III chỉ định tăng phái cho Lữ Đoàn 3 KB đễ nằm trong tổ chức của LLXKQĐIII:

– Tiểu Đoàn 64 BĐQ đi với Thiết Đoàn 15 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 315 do Trung Tá Dư Ngọc Thanh chỉ huy; – Tiểu Đoàn 36 BĐQ đi với Thiết Đoàn 18 KB, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 318 do Trung Tá Phan Văn Sĩ chỉ huy;

– 1 Đại Đội Bộ binh thuộc Tiểu Đoàn 1/43 (Sư Đoàn 18 BB) đi với Thiết Đoàn 22 Chiến xa, thành phần nòng cốt của Chiến Đoàn 322 do Trung Tá Nguyễn Văn Liên chỉ huy;
– Thiết Đoàn 10 KB (Sư Đoàn 25 BB) + Tiểu Đoàn 1/43 BB (-) (Sư Đoàn 18 BB) + 1 Chi đội Chiến xa M48 thuộc Thiết Đoàn 22 Chiến xa do Trung Tá Trần Văn Nhuận chỉ huy;

– Tiểu Đoàn 61 Pháo Binh 105 ly + 1 Pháo đội 155 ly thuộc Tiểu Đoàn 46 Pháo Binh do Thiếu Tá Hoa Vạn Thọ chỉ huy;

– Tiểu Đoàn 302 thuộc Liên Đoàn 30 Công binh do Thiếu Tá L?m Hồng Sơn chỉ huy; một Trung đội Điện tử (Quân Đoàn) do Thiếu Tá Hiển, Trưởng phòng 2 Lữ Đoàn kiểm soát;

– 1 Trung đội Truyền Tin Siêu tần số (Quân Đoàn) do Trung Úy Bùi Đình Lộ Trưởng phòng Truyền tin Lữ Đoàn giám sát;

– 1 Đại Đội yểm trợ Tiếp Vận thuộc Bộ chỉ huy 3 Tiếp vận do thượng sĩ Nhất Phan Thanh Nhàn (Quân cụ) chỉ huy.

Ngoài ra Trung Tướng còn ra lệnh cho 3 tư lệnh Sư Đoàn Bộ Bbinh cho tôi mượn 6 giàn hỏa tiễn chống xe tăng TOW để phân phối cho mỗi Chiến Đoàn Thiết Giáp vượt biên 2 giàn hỏa tiễn TOW gắn trên xe Thiết vận xa M113 đề phòng trường hợp có chiến xa T 54 của địch xuất hiện trên chiến trường Campuchia.

Trước khi kết thúc buổi họp, Trung Tướng tư lệnh Quân Đoàn chúc tôi thành công trong nhiệm vụ giao phó. Tôi đứng lên đáp lời cám ơn Trung Tướng. Lúc đó trong lòng tôi có một sự tin tưởng mãnh liệt vào chiến thắng của cuộc hành quân này, nên tự nhiên tôi buột miệng thốt ra:

– Thưa Trung Tướng, chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 Cộng Sản!

Trên đường về Lữ Đoàn, tôi giật mình khi nghĩ lại những lời mình vừa nói. Tại sao tôi dám liều lĩnh khẳng định trước hội nghị là sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 Cộng Sản? Mặc dù tôi có trong tay LLXKQĐIII là một lực lượng chiến đấu tinh nhuệ chưa từng bị thất trận và mặc dù tôi đã nắm chặt trong tay những yếu tố có tính cách quyết định thắng lợi, nhưng vẫn còn 2 yếu tố khác ngoài tầm tay của tôi có thể làm tôi bị thất bại trong cuộc hành quân này. Đó là thời tiết và kế hoạch hành quân bị bại lộ. Thật vậy, nếu đến ngày N là ngày xuất quân trời đổ mưa trong vùng hành quân, địa thế trở nên lầy lội, tôi sẽ không thể điều động lực lượng Thiết Giáp như ý muốn được, hoặc kế hoạch hành quân của tôi được trình lên phủ Tổng Thống để xin quyết định, nếu bị tiết lộ ra ngoài, chắc chắn sẽ đưa tôi đến thảm bại. Cứ nghĩ đến 2 yếu tố này là tôi không ăn ngủ được. Tôi thấy hối tiếc đã thốt ra những lời khẳng định trước là sẽ đánh thắng quân địch. Lời khẳng định này cứ ám ảnh tôi ngày đêm. Cuối cùng tôi tự nhủ: phải giữ đúng lời hứa; bằng mọi cách, mọi giá, phải đánh thắng Sư Đoàn 5 Cộng Sản.

Ảnh minh hoạ

Ngày 22-4-1974, tôi ra lệnh cho toàn bộ LLXKQĐIII đang hành quân thám sát trong Chi Khu Khiêm Hanh thuộc tỉnh Tây Ninh rút quân về đóng ở Khu Còmi thuộc quận Lái Thiêu tỉnh Bình Dương (Thủ Đầu Một). Tôi cho phao tin là LLXKQĐIII sẽ di chuyển qua Xuân Lộc thuộc tỉnh Long Khánh. Mục đích của cuộc rút quân này là để đánh lừa địch, làm cho chúng tưởng là quân Thiết Giáp sẽ rút đi luôn không trở lại. Tôi cho trung đội điện tử thường xuyên nghe lén và theo dõi địch trao đổi tin tức với nhau. Khi LLXKQĐIII vừa rút đi khỏi Gò Dầu Hạ về Lái Thiêu thì đài tình báo của địch ở An Hòa Gò Dầu lên tiếng báo cáo:

“Quân Thiết Giáp đã rút đi”. Tôi biết chắc là chúng đã bị mắc lừa.

Từ ngày 22-4-74 đến ngày 28-4-74, trong 6 ngày này đóng quân ở Khu Còmi quận Lái Thiêu, các Chiến Đoàn 315, 318 và 322 theo lệnh tôi ra sức ôn tập hợp đồng tác chiến giữa Thiết Giáp – Biệt Động Quân – Pháo Binh từ cấp Trung đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn, Chiến Đoàn thật nhuần nhuyễn. Riêng tôi trong 6 ngày đó, tôi tích cực không ngừng làm công tác tư tưởng. Karl Max nói: “Nếu tư tưởng được đả thông, mọi người đều giác ngộ thì sức mạnh vật chất sẽ tăng lên gấp đôi.” Kinh nghiệm chiến trường cho tôi thấy tinh thần hăng say làm tăng sức mạnh của đơn vị lên gấp bội. Khơi dậy được sự chiến đấu của toàn quân là yếu tố số một của thắng lợi. Tôi lần lượt đi xuống họp với các cấp chỉ huy Trung đội, Đại Đội, Tiểu Đoàn của các binh chủng và với các Chiến Đoàn trưởng, nói rõ tình hình của ta và địch, nói rõ nhiệm vụ và cách đánh của LLXKQĐIII để mọi người đều thông suốt và tin tưởng sự tất thắng của chúng ta. Tôi thuyết phục họ tin ở sự chỉ huy của tôi và nói rõ sự quyết tâm của tôi là phải chiến thắng bằng mọi giá. Tôi thúc đẩy họ, tôi nói đến tình đồng đội: Chúng ta không thể bỏ rơi đồng đội của mình đang bị địch bao vây và mong chờ chúng ta đến cứu họ. Tôi nhắc đến những chiến thắng vẻ vang năm xưa thời Đại Tướng Đỗ Cao Trí:

– Chúng ta đã từng gặp nhiều trận khó khăn gây cấn hơn trận này, chúng ta đều chiến thắng, đều vượt qua.

Mỗi lần nói chuyện với các sĩ quan thuộc cấp tôi đều kết luận:

– Kỳ này nhất định phải chiến thắng, tôi sẽ cùng đi với các anh, kỳ này nếu thất bại thì tất cả chúng ta kể cả tôi, sẽ không một ai trở về Việt Nam.

Ý của tôi, quyết tâm của tôi đã rõ ràng: một là chiến thắng trở về, hai là chết trên đất Miên. Không có con đường nào khác.

4. Veni, Vidi, Vici

(1) Ngày N đã đến. Đó là ngày 28-4-1974. Chiều ngày 28-4-1974, Công Binh đã sẵn sàng; Thiếu Tá Lâm Hồng Sơn, Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 302 CB, theo lệnh tôi đã kín đáo cho bố trí từ chiều tối ngày hôm trước ở hai bên bờ sông Gò Dầu Hạ, gần cầu, các phà cao su để đưa chiến xa M48 qua sông. Lúc 20:00 giờ, tôi cải trang đích thân đến tận 2 bờ sông Gò Dầu Hạ kiểm tra Công Bbinh làm công tác chuẩn bị cho chiến xa vượt sông.

Đúng 22:00 giờ đêm, toàn bộ LLXKQĐIII gồm 3 Chiến Đoàn 315, 318 và 322 cùng Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu rời vùng tập trung ở Lái Thiêu (Thủ Đầu Một) di chuyển bằng đèn mắt mèo và im lặng truyền tin trực chỉ Gò Dầu Hạ.

(2) Ngày 29-4-1974, lúc 00:00 giờ, các chiến xa M48 bắt đầu xuống phà qua sông Gò Dầu Hạ. Các loại xe xích khác và xe chạy bánh qua cầu Gò Dầu Hạ theo Quốc lộ 1 trực chỉ ra hướng biên giới Việt Miên.

Từ 01:00 giờ sáng đếnn 03:00 giờ sáng, các Chiến Đoàn, Bộ Chỉ huy nhẹ Lữ Đoàn và Pháo Binh Lữ Đoàn lần lượt vượt biên sang lãnh thổ Campuchia và vào vùng tập trung nằm sâu trong đất Miên về hướng Đông Nam thị trấn Chipu (Xem hình 2 và 3).

Đến 03:15 giờ, tất cả các đơn vị đã bố trí xong, trong vùng tập trung, sẵn sàng chờ lệnh xuất phát. Trung đội điện tử theo dõi nghe địch, không thấy chỉ dấu gì chúng nghi ngờ.

Đúng 03:30 giờ, tôi ra lệnh cho hai Chiến Đoàn 315 và 318 vượt tuyến xuất phát, tấn công song song tiến xuống phía Nam, Chiến Đoàn 315 bên phải, Chiến Đoàn 318 bên trái, Bộ Chỉ huy của tôi theo sau Chiến Đoàn 315; Chiến Đoàn 322 trừ bị, bố trí phía Nam Quốc lộ 1 chờ lệnh (Xem hình 3).

Đúng 04:30 giờ, Pháo Binh Lữ Đoàn bắt đầu khai hỏa, tác xạ đồng loạt tập trung vào các mục tiêu của địch nằm phía Tây Căn Cứ Đức Huệ, đồng thời Thiết Đoàn 10 Kỵ Binh và Tiểu Đoàn 1/43 BB(-) vượt tuyến xuất phát mở đường từ căn cứ Phước Chỉ xuống Căn Cứ Đức Huệ. (Xem hình 3).

Đến 05:00 giờ sáng ngày 29-4-74, các cánh quân của Chiến Đoàn 315 và 318 báo cáo chạm địch. Quân ta liền điều động bao vây, chia cắt, tấn công liên tục. Quân địch bị đánh bất ngờ tháo chạy, quân ta truy đuổi chặn bắt. Các Bộ Chỉ huy Trung đoàn, Sư Đoàn, Bộ Chỉ huy Hậu cần và các căn cứ Pháo Binh của quân địch bị quân ta tràn ngập và lần lượt bị quyét sạch. Nhiều dàn pháo các loại 4 ống, 8 ống và 12 ống, và hàng ngàn hỏa tiễn 107 ly và 122 ly bị quân ta tịch thu và tiêu hủy tại chỗ . Đặc biệt hơn cả có hơn 30 hỏa tiễn chống xe tăng AT 3 của Liên Xô nằm trên giàn phóng, chưa kịp khai hỏa bị quân ta chiếm đoạt.

Đến 08:00 giờ sáng, Không Quân Chiến Thuật lên vùng; Đại Tá Trần Văn Thoàn, tư lệnh phó Lữ Đoàn bay trực thăng chỉ huy, điều khiển Không Lực liên tục oanh kích và oanh tạc địch từ sáng đến chiều tối. Đến 19:00 giờ ngày 29 4 74, đại quân của Sư Đoàn 5 CS bị đánh tan rã rút chạy về hướng Mộc Hóa thuộc Vùng 4 Chiến Thuật. Tôi liền tung cả ba Chiến Đoàn đồng loạt truy đuổi địch và cho Không Quân Chiến Thuật tập trung truy kích chúng sâu trong lãnh thổ Vùng 4 Chiến Thuật. Hàng ngàn quân địch bị giết và bị thương và hàng trăm tên bị quân ta bắt sống.

(3) Sáng ngày 30-4-74, các đơn vị địch còn kẹt lại chung quanh Căn Cứ Đức Huệ chống trả yếu ớt, lần lượt bị quân ta tiêu diệt gần hết. Đến trưa, một cánh quân của Thiết Đoàn 10 đã bắt tay được với Biệt Động Quân trong Căn Cứ Đức Huệ và đến chiều toàn bộ Sư Đoàn 5 CS hoàn toàn bị quân ta quét sạch.

Bộ Chỉ huy của tôi nằm sâu trong lãnh thổ Campuchia về phía Đông Nam Chipu trong một làng nhỏ hoang vắng. Tin chiến thắng làm nức lòng mọi người. Màn đêm xuống, tiếng súng im bặt. Đêm hôm đó thật êm ả, trời trong vắt, đầy sao, lòng tôi tràn ngập một niềm sung sướng khó tả. Có lẽ đây là một đêm đẹp nhất trong đời tôi. Tôi đã khẳng định trước với Quân Đoàn là chúng tôi sẽ đánh bại Sư Đoàn 5 CS và bây giờ chúng tôi đã đánh bại chúng. Tôi đã nói trước khi xuất quân với thuộc cấp là nếu thất bại thì sẽ không một ai được trở về Việt Nam và bây giờ chúng tôi đã chiến thắng có thể trở về. Đối với tôi cũng giống như một canh bạc mà tôi đã lấy mạng sống của tôi ra đánh và bây giờ tôi đã thắng. Cho tới ngày hôm đó trong đời tôi, thật không có một niềm hạnh phúc nào lớn hơn được.

Chưa bao giờ trong lịch sử của hai cuộc chiến tranh Việt Nam có một trận vận động chiến nào mà quân ta hoặc quân Đồng Minh đã chiến thắng một đại đơn vị CS nhanh chóng như thế, triệt để như thế. Tôi chợt nhớ đến cung cách và những lời của Julius Ceasar trong chiến dịch thần tốc ở Zela vùng Tiểu Á báo cáo chiến thắng về La Mã “Veni, Vidi, Vici : “Tôi đến, Tôi thấy, Tôi chiến thắng”, tôi liền lấy một mẫu giấy nhỏ, tự tay thảo ngay bức công điện ngắn báo cáo chiến thắng về Bộ Tư lệnh Quân Đoàn III.

Trân trọng báo cáo:

– Ngày 28-4-74: Xuất quân

– Ngày 29-4-74: Phản công

– Ngày 30-4-74: Tiêu diệt địch

– Ngày 1-5-74: Hoàn thành nhiệm vụ.

(4) Ngày 2-5-1974, tại Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Lữ Đoàn ở Gò Dầu Hạ, phóng viên đài VOA phỏng vấn hỏi tôi:

– Có phải Thiếu Tướng đã đưa quân sang lãnh thổ Campuchia không?

Tôi liền đáp ngay:

– Không, tôi hành quân dọc theo biên giới trong lãnh thổ của Việt Nam. Chính Cộng Sản Việt Nam mới có quân trên lãnh thổ Campuchia.

Tối đến, đài VOA và đài BBC loan tin chiến thắng của Quân Lc ta ở Căn Cứ Đức Huệ. Riêng đài BBC nói thêm:

– Tướng Trần Quang Khôi nói không có đưa quân sang lãnh thổ Campuchia, nhưng theo tin tức của chúng tôi nhận được thì Quân lực VNCH có truy đuổi quân Cộng Sản Bắc Việt trên lãnh thổ Campuchia.

(5) Ngày 3-5-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đi trực thăng đến Gò Dầu Hạ thị sát chiến trường. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và tôi tiếp đón Tổng Thống. Ông vui vẻ bắt tay chúng tôi rồi đi đến xem chiến lợi phẩm tịch thu của quân địch: Rất nhiều vũ khí cộng đồng các loại. Nổi bật là các giàn phóng hỏa tiễn 4 ống, 8 ống và 12 ống cùng hàng trăm hỏa tiễn 107 và 122 ly. Đặc biệt hơn cả là hơn 30 hỏa tiễn AT-3, loại mới nhất của Liên Sô có hệ thống điều khiển chống tăng, lần đầu tiên bị quân ta tịch thu trên chiến trường miền Nam. Các tùy viên quân sự Tây phương mỗi người xin một quả nói để đem về nước nghiên cứu. Nhìn số vũ khí khổng lồ của địch bị quân ta tịch thu mới hiểu được sự tàn phá khủng khiếp trong Căn Cứ Đức Huệ và sự chiến đấu anh hùng của Tiểu Đoàn 83 BĐQ. Tiếp đến, Tổng Thống đi thăm Bộ Tham Mưu Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh và các đơn vị trưởng của các binh chủng trong tổ chức LLXKQĐIII, ông bắt tay khen ngợi từng người và gắn cấp bậc Đại Tá cho Trung Tá Thiết Giáp Dư Ngọc Thanh, Chiến Đoàn trưởng Chiến Đoàn 315. Sau đó Tổng Thống lên trực thăng chỉ huy của tôi cùng tôi bay đến Đức Huệ. Các trực thăng của Trung Tướng Phạm Quốc Thuần và phái đoàn Phủ Tổng Thống bay theo sau.

Trên đường bay, Tổng Thống bắt chuyện với tôi:

– Tôi rất thích tính táo bạo liều lĩnh trong kế hoạch hành quân của anh.

– Thưa Tổng Thống, đây là sự liều lĩnh có tính toán. Tôi đáp lại.

Thấy Tổng Thống vui vẻ, sự hân hoan hiện trên nét mặt, tôi nói đùa một câu tiếng Pháp với Tổng Thống: La chance sourit toujours aux audacieux. (Sự may mắn luôn luôn “cười” với những kẻ liều lĩnh).

Ông gật gù cười có vẻ đắc ý lắm.

Trực thăng đáp xuống Căn Cứ Đức Huệ. Các chiến sĩ Tiểu Đoàn 83 BĐQ và Đại Đội 3 thuộc Tiểu Đoàn 64 BĐQ hân hoan tiếp đón Tổng Thống. Ông đi bộ một vòng viếng thăm, ủy lạo và ban thưởng. Doanh trại trong căn cứ bị Pháo Binh địch tàn phá đổ sập gần hết, nhưng sự hãnh diện giữ vững được đồn hiện ra trong đôi mắt của mỗi chiến sĩ BĐQ.

Một chuẩn úy BĐQ còn rất trẻ đi đến tôi, đứng nghiêm chào, rồi thình lình anh bước tới gần tôi, hai tay nắm chặt lấy tay tôi bật khóc và nói:

– Cám ơn Thiếu tướng đã cứu mạng chúng em.

Tôi cảm động ôn tồn đáp lại: – Chính anh phải cám ơn các em mới đúng. Sự chiến đấu vô cùng dũng cảm của các em là một tấm gương sáng chói, là niềm hãnh diện chung của Quân lực chúng ta. Chúng em mới thật sự là những anh hùng của Quân đội mà mọi người Việt Nam Tự do phải mang ơn các em.

(6) Một tuần sau tôi nhận được một thư của DAO (Defense Attaché Office) trong đó tướng Homer Smith chuyển lời khen ngợi của đại sứ Graham Martin đến tôi: Đây là lần đầu tiên kể từ khi ký kết Hòa Đàm Paris, một kế hoạch hành quân được thiết kế tuyệt hảo và được thực hiện tuyệt hảo(1).

Hai tuần sau, tôi nhận được một thư của Đại Tá Raymond Battreall nguyên Cố Vấn Trưởng của Bộ Chỉ huy Thiết Giáp Binh QLVNCH. Battreall cho rằng đây là một chiến thắng ngoạn mục và xuất sắc nhất trong Chiến tranh Việt Nam. Cuối thư ông viết bằng chữ Việt Nam: Kỵ Binh Việt Nam Muôn Năm.

5. Kết luận :
Đúng một năm sau, ngày 30 tháng 4 năm 1975, Quân Đoàn 4 CSBV do Thượng tướng Hoàng Cầm chỉ huy đã thất bại trong kế hoạch đánh chiếm tỉnh Biên Hòa, và Sư Đoàn 341 CSBV bị LLXKQĐIII đánh bại ở Biên Hòa buộc phải rút đi sau khi chịu nhiều tổn thất to lớn (2).

Ngay sau đó, LLXKQĐIII kéo quân về tiếp cứu Thủ Đô Sài Gòn thì được lệnh buông vũ khí đầu hàng lúc 10:25 giờ ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ai là người chịu trách nhiệm làm mất MNVN? Ai là thủ phạm đưa QLVNCH đến chỗ thua trận?

Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh kể từ ngày thành lập 7-11-1970 đến ngày 30-4-1975 do tôi chỉ huy, luôn luôn chiến thắng hết trận này đến trận khác cho đến phút chót. Không một ai trong chúng tôi lùi bước trước quân thù. Không một ai trong chúng tôi bỏ trốn ra nước ngoài. Tất cả ở tại hàng và chấp nhận định mệnh không than van kêu khóc.

Trong tác phẩm Servitude et Grandeur Militaires, thi sĩ Pháp Alfred De Vigny (1810 1857) nói “Danh Dự và Trách Nhiệm đôi khi kết thúc một cách bi thảm. Cho nên, đứng trước một định mệnh tàn khốc, con người phải biết thân phận của mình mà chấp nhận nó một cách can đảm”.

Tháng Giêng 2009

Trần Quang Khôi

Ghi chú

(1) GEN Homer Smith wrote: “On behalf of the Honorable Graham Martin, the Ambassador of the United States and myself, I wish to express our felicitations upon the brilliant success of your recent operation. This was the first time since the Paris Peace Agreement, a plan of operation has been so well planned and so well executed…”

(2) Xin đọc:

– “Danh Dự và Tổ Quốc”, 1995, CT Trần Quang Khôi “Fighting to the Finish”, BG Tran Quang Khoi, p.19 25, ARMOR, March April 1996.

– Hồi Ký “Chặng Đường Mười Nghìn Ngày”, Thượng Tướng Hoàng Cầm.

Lời giới thiệu tác giả :

TRẦN QUANG KHÔI xuất thân từ khóa 6 TVBQG Đà Lạt 1952 .

* Tốt nghiệp:

– Trường KỵBinh SAUMUR, Pháp 1955.

– Trường Thiết Giáp Lục Quân Hoa Kỳ FORT KNOX, Kentucky 1959.

– Trường Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ FORT

LEAVENWORTH, Kansas 1973.

* Cấp bậc và chức vụ sau cùng: Chuẩn Tướng, tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh thuộc Quân Đoàn III/QLVNCH.

* Sau chiến tranh Việt Nam, tướng Khôi bị bắt và bị tù Cộng Sản 17 năm.

* Định cư tại tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ năm 1993.

*Tốt nghiệp Trường Đại Học George Mason University, Hoa Kỳ với cấp bằng MA Văn Chương Pháp 1998.

Lễ Thượng Kỳ VNCH đầu năm Giáp Thìn 2024 tại Braybrook Hub, thành phố Maribyrnong, tiểu bang Victoria, Australia

Posted on February 18, 2024, by dongsongcu

PT ghi lại hình ảnh.

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà, Quốc Kỳ Úc và Hiệu Kỳ Thổ Dân phấp phới tung bay trong bầu trời tư do.

Vào lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật, ngày 11 tháng 2 năm 2024. Cộng Đồng Người Việt Tự Do, tiểu bang Victoria đã tổ chức Lễ Thượng Kỳ Việt Nam Cộng Hòa tại Braybrook Hub, thành phố Maribyrnong. Ngày Lễ thượng Kỳ năm nay nhằm ngày mùng hai Tết Âm Lịch, là một ngày Xuân nắng đẹp, gió nhẹ làm Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà, Quốc Kỳ Úc và Hiệu Kỳ Thổ Dân phấp phới tung bay trong bầu trời tư do của nước Úc hiền hoà xinh đẹp.

Buổi Lễ Thượng Kỳ diễn ra vô cùng long trọng và trang nghiêm với sự tham dự của Ông Nguyễn Quang Duy Chủ Tịch Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do, tiểu bang Victoria; Ông Đặng Văn Đạt Chủ Tịch Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực VNCH, tiểu bang Victoria; Ông Peter Nguyễn, Chủ Tịch Hội Thương Gia Footcray; Quý Đồng Hương; Bà Cúc Lâm, Thị Trưởng Hội Đồng thành phố Maribyrnong; Mr. Micheal Clarke, Phó Thị Trưởng Hội Đồng thành phố Maribyrnong và Mrs. Moira Deeming, Nghị Viên Hội Đồng thành phố Maribyrnong.

Cờ VNCH là biểu tượng của Người Việt Tự Do Tỵ Nạn.

Cờ VNCH là biểu tượng của Người Việt Tự Do Tỵ Nạn, đã được các Hội đồng thành phố Brimbank; Maribyrnong; Yarra và Dandenong tại tiểu bang Victoria công nhận. Ngoài tiểu bang Victoria, một số hội đồng thành phố khác tại các tiểu bang New South Wales và South Australia cũng đã công nhân cờ VNCH của Người Việt Tự Do.

Ngày hôm qua mùng một Tết, Cộng Đồng Người Việt Tự Do cũng đã làm Lễ Thượng Kỳ Tết Giáp Thìn 2024 tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng – Đền Thờ Quốc Tổ số 90 Knight Ave, Sunshine North.

Lễ chào Quốc Kỳ và thượng Kỳ VNCH.

Buổi Lễ Thượng Kỳ diễn ra vô cùng long trọng và trang nghiêm.

Việt Nam Cộng Hoà và đồng minh Úc Đại Lợi đã từng chiến đấu bên nhau. Hôm nay Lễ thượng Kỳ VNCH, Cờ VNCH và Úc lại phấp phới bên nhau trên nước Úc.

Quý ông cựu quân nhân Quân Lực VNCH chào Quốc Kỳ.

Quý ông cựu quân nhân Quân Lực VNCH chào Quốc Kỳ.

Ông Nguyễn Quang Duy Chủ Tịch Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Tự Do, tiểu bang Victoria phát biểu.

Ông Đặng Văn Đạt Chủ Tịch Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực VNCH, tiểu bang Victoria phát biểu.

Quý ông Cựu Quân Nhân Không Quân, Nhảy Dù, Bộ Binh và Sĩ Quan trường bộ binh Thủ Đức.

Bà Cúc Lâm (áo dài xanh), Mr. Micheal Clarke, Mrs. Moira Deeming, Ông Nguyễn Quang Duy và quý đồng hương chụp hình kỷ niệm.

Quan khách và đồng bào chụp hình kỷ niệm.

Nguồn: PT chuyển.

Chóe – Nhà Hí Họa Bút Sắt Số Một Việt Nam (4.2)

Chóe-Nguyễn Hải Chí

Uyên Thao

Tử tội-Tuyển tập

Post by Sơn râu 27 Feb 2024

(Vài lời của Sơn râu/Người đăng bài/ Đây là loạt bài trong quyển Tử tội của Họa sĩ Chóe. Râu tôi chỉ có được 4 bài của nhà báo Uyên Thao viết, phần chủ yếu tôi đưa lên là hình ảnh vẽ bởi Chóe. Tôi không có thì giờ đủ để ngồi đánh máy lại các bài trong quyển sách này, chỉ có thể dành thì giờ để gom các hình ảnh lại rồi đưa lên trang blog này, mong bạn đọc thông cảm!)

Phần 4: Người làm vườn độc thoại – cuộc đời của Chóe (Kỳ 1)

Cuối tháng 02-2003, từ California, tôi được tin Chóe bất ngờ bị nghẹt thở phải đưa đi bệnh viện. Linh tính như báo trước sẽ có chuyện không lành. Tôi không giấu nổi mối lo này trong buổi tối ngồi với Ðỗ Ngọc Yến và Trần Phong Vũ. Yến bảo tôi lo xa quá và quả quyết Chóe sẽ qua khỏi. Yến nêu bằng cớ là bản thân Yến đã gặp nhiều lúc hiểm nghèo nhưng lúc này Yến vẫn có thể ngồi vời tôi. Yến nhắc tôi khi trở về Virginia cố giúp Chóe tự tin hơn để tạo sức tự đề kháng. Nhưng khi trở về, tôi chỉ có thể tìm lên lầu 10 bệnh viện Fairfax, nhìn Chóe nằm mê man trên giường bệnh với bình dưỡng khí chụp trên miệng và đủ thứ dây nhợ trên người. Mỗi ngày tôi thu xếp để có mặt tại bệnh viện, ngồi kề bên Chóe, lên tiếng với hy vọng sẽ có lúc Chóe nghe được lời nói của tôi. Hơn một lần vợ Chóe nhắc tôi nhìn tay Chóe khẽ nhúc nhích và các cơ bắp trên má Chóe hơi co giật. Rồi những giòng nước mắt lăn dài trên má Chóe trong khi anh vẫn nằm bất động.

Vào tuần lễ cuối tháng 2, tình trạng sức khoẻ của Chóe không bình thường khiến anh đã tới bác sĩ hai lần rồi tới bệnh viện. Ngày 04 tháng 03, Chóe đột ngột bị bất tỉnh phải đưa đi cấp cứu. Vợ Chóe được các bác sĩ cho biết Chóe bị đứt mạch máu não, không còn phương cứu vãn nữa.

Chúng tôi chỉ còn cách duy nhất là ngày ngày ngồi bên Chóe chờ phút giây anh trút hơi cuối cùng. Phút giây đó là 3 giờ 50 phút – giờ ET – sáng 12 tháng 3 năm 2003, gần tròn 3 tháng sau khi Chóe đặt chân lên đất Mỹ.

Tôi không còn nhớ lần đầu gặp Chóe như thế nào và do ai giới thiệu, ngoài các chi tiết là anh đến tòa soạn tuần báo Ðời vào lúc tôi vừa từ giã bộ quân phục rời quân trường trở về với những công việc đang dở dang khoảng mùa hè năm 1971 giữa thành phố Sài Gòn chưa hết xôn xao về dư âm cuộc hành quân Lam Sơn 719 vào Hạ Lào. Dường như Chóe nói là Lê Tất Ðiều bảo anh đến tìm tôi rồi Chóe tự giới thiệu có thể vẽ hí hoạ và đã thử công việc này trong năm 1970 bằng cách thỉnh thoảng vẽ cho một tờ báo. Tờ báo mà Chóe cộng tác gần như không có độc giả nên chúng tôi chưa thấy bức họa nào của Chóe, chưa ai biết cái tên Chóe. Do đó, tôi và bạn bè chưa rõ Chóe sẽ đóng góp đưọc gì. Tuần báo Ðời không có trang hí họa, nhưng lúc này tôi đang chuẩn bị cho nhật báo Sóng Thần ra mắt nên chợt nghĩ dành việc vẽ hí họa cho Chóe, nếu anh làm được.

Trong dự tính của mọi người và của riêng tôi, phần việc này đã được kể là phần việc của Tuýt tức Ngọc Dũng, không chỉ vì tương quan bạn bè sẵn có mà vì cho tới lúc đó không một họa sĩ hí họa nào của làng báo Việt Nam vượt nổi Tuýt. Tuy nhiên tôi chưa gặp Tuýt để hỏi xem anh có thể cộng tác thêm với một tờ báo hàng ngày khác không, vì anh đang là nhân viên thường trực của nhật báo Chính Luận. Sự xuất hiện của Chóe khiến tôi thấy tránh được chuyện gây phiền hà cho tờ báo bạn đồng thời còn có triển vọng giới thiệu một gương mặt mới. Dù vậy, do chưa biết khả năng của Chóe ra sao nên tôi chỉ nhắc anh mang lại cho tôi coi vài bức vẽ vào mấy ngày sau.

Chóe trở lại gặp tôi đúng buổi chiều tuần báo Ðời tổ chức hội thảo giữa nhóm Hà Thúc Nhơn cùng các đại diện Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn về tác hại của tệ nạn tham nhũng đối với vận mạng đất nước. Trước giờ khai diễn hội thảo, lực lượng an ninh gồm cảnh sát đặc biệt và cảnh sát dã chiến lập chốt chận hai đầu đường Cống Quỳnh ngăn cản người đến tham dự, đồng thời trưởng ty cảnh sát quận Nhì cùng một số nhân viên kéo lên tòa soạn tuần báo Ðời buộc hủy bỏ cuộc hội thảo.

Giữa không khí rối tung đó, tôi thấy Chóe xuất hiện. Rất nhanh, tôi nghĩ đến cơ hội tìm hiểu khả năng của anh. Tôi từ chối đòi hỏi của người sĩ quan cảnh sát, quay sang nhắc Chóe theo dõi ghi lại quang cảnh buổi hội thảo sẽ khai diễn dù chỉ với không tới mười người đang có mặt. Diễn biến sau đó thực ra chỉ là cuộc cãi vã giữa các viên chức Cảnh Sát với tôi nhưng cũng kéo dài gần hai tiếng đồng hồ cho Chóe vẽ.

Sau khi người tới dự hội thảo và nhân viên Cảnh Sát rời tòa soạn, Chóe đưa cho tôi xấp giấy phác họa các cảnh ghi nhận. Tôi không tìm được điều gì đặc biệt qua các bức vẽ phác, nhưng bị thuyết phục ngay bởi nét vẽ của anh. Tôi không thể diễn tả nét vẽ của Chóe nhưng cảm thấy Chóe khác hẳn mọi họa sĩ hí họa lúc đó với nét vẽ rất mới so với nhiều người, ngay cả với Tuýt. Rồi Chóe đưa tiếp cho tôi mấy bức vẽ về các nhân vật mà anh đã vẽ theo yêu cầu của tôi mấy ngày trước. Chỉ vừa nhìn thấy bức vẽ thủ tướng Trần Văn Hương, tôi đã nghĩ Chóe dứt khoát là họa sĩ hí họa của nhật báo Sóng Thần sẽ ra mắt vào mấy tháng sau đó.

Quyết định của tôi không được bạn bè trong nhóm chủ trương chia sẻ vì hết thẩy đều cho rằng Chóe đang ở bước đầu học nghề trong khi theo dự trù, tòa soạn Sóng Thần có mặt không ít họa sĩ đã thành danh như Vị Ý, Huy Tường, Ðằng Giao hoặc nếu cần có Tuýt tức Ngọc Dũng, Hĩm tức Ðinh Hiển cũng không phải chuyện khó khăn. Anh Chu Tử là người đồng ý ghi tên chung trong ban chủ biên nhật báo Sóng Thần với điều kiện chỉ viết mỗi ngày một bài phiếm chứ không tham gia bất kỳ công việc nào của tờ báo, nhất là việc chọn nhân sự cộng tác, cũng nhắc tôi nên nghĩ lại, vì theo anh, “Chóe còn non quá”.

Quả tình Chóe không chỉ non về tuổi nghề mà non cả về tuổi đời nữa. Năm đó Chóe hai mươi bảy tuổi và bề ngoài hiền lành cùng cách nói năng từ tốn chậm rãi không giành được tin tưởng sẽ đáp ứng nổi yêu cầu của tờ báo. Bộ quân phục với chiếc lon Hạ Sĩ cộng thêm ánh mắt, nụ cười luôn có vẻ dụt dè còn khiến nẩy sinh ý nghĩ chưa chắc Chóe thích hợp với công việc của một cây cọ châm biếm vẫn được hình dung qua tính giễu cợt với cái nhìn tinh quái hoặc lời lẽ hóm hỉnh. Chóe hoàn toàn trái ngược với hình dung quen thuộc đó của mọi người, lúc nào cũng như chiếc bóng lặng lẽ hiện ra rồi lặng lẽ biến mất.

Nhật báo Sóng Thần ra mắt ngày 26-09-1971.

Chỉ một tuần sau, không còn ai đặt vấn đề về việc chọn Chóe làm hoạ sĩ hí họa nữa. Không phải mọi người ngại đối đầu với sự dứt khoát của tôi mà vì Chóe đã tự chứng tỏ hoàn toàn thích hợp với công việc được giao. Những bức họa của Chóe không chỉ lôi cuốn bằng nét vẽ mới lạ mà bằng chính nội dung phản ảnh một cảm quan chính trị sắc bén khởi từ cái nhìn tinh tế trước các vấn đề thời sự vượt xa hẳn trình độ hiểu biết của Chóe. Chóe còn có lối làm việc đem lại thoải mái cho tòa soạn là không cần chờ hội ý để tìm đề tài. Mỗi ngày, anh đều đặn xuất hiện vào buổi trưa hoặc buổi chiều mang theo không chỉ một bức họa mà có khi ba, bốn bức cho tòa soạn chọn lựa. Ðang là nỗi e ngại có thể làm hư việc của tờ báo, Chóe vụt trở thành sự ngạc nhiên thích thú đối với mọi người.

Chóe không giấu chuyện anh mới học tới lớp Nhì bậc tiểu học và chỉ được học vẽ tại một phòng vẽ quảng cáo ở Mỹ Tho, sau khi bị cán bộ cộng sản hoạt động bí mật lùa lên núi ép buộc trở thành du kích cùng một số thanh thiếu niên khác ở vùng quê anh tại Long Xuyên năm 1960. Thuở đó Chóe chưa tới tuổi mười tám, chẳng biết gì về chính trị. Anh không thích chui lủi trốn tránh, nhất là khó chịu vì bị cưỡng bức phải sống như thế, nên sau vài tháng đã tìm cách lén trở về nhà. Sự việc này khiến anh lâm cảnh bị đe dọa, phải rời Long Xuyên lên Mỹ Tho lánh nạn. Tại đây, anh xin được việc làm tại một phòng vẽ quảng cáo và bắt đầu học vẽ là thứ anh say mê từ nhỏ.

Năm 1964, Chóe thi hành quân dịch trở thành lính thì khả năng vẽ giúp anh được chuyển về phục vụ tại Bộ Tổng Tham Mưu vào năm 1965 với nhiệm vụ vẽ bản đồ. Công việc và môi trường mới giúp Chóe có điều kiện gần gũi sanh hoạt văn nghệ báo chí Sài Gòn.

Việc viết và vẽ đến với Chóe như một trò chơi bắt đầu từ năm 1965 và những năm sau đó vẫn tiếp tục là trò chơi kể cả khi theo thời gian đưa anh tới tương quan mật thiết hơn với sinh hoạt văn nghệ báo chí do đã có một số thơ, truyện được chọn đăng và một truyện ngắn đoạt giải thưởng của một tờ báo.

Cuối năm 1969, tuần báo Diễn Ðàn lâm cảnh bối rối vì bộ biên tập quyết định ngưng cộng tác do bất đồng quan điểm với chủ nhiệm Trần Như Thuần vốn là công chức xa lạ với hoạt động báo chí khiến trang hí họa do hoạ sĩ Tuýt phụ trách bị bỏ trống. Chóe tình cờ tương quan với người mới đến nhận làm tờ báo nên được đề nghị vẽ thử. Bút danh Chóe bắt đầu xuất hiện nhưng chìm khuất ngay vì tờ báo chỉ phát hành thêm ít số rồi đình bản do không thu hút nổi độc giả. Tuy nhiên, hí họa đã lôi cuốn Chóe khiến anh tìm đến với nhất báo Báo Ðen. Ảnh hưởng hạn chế của tờ báo và sự xuất hiện chập chờn với tính cách tài tử khiến cái tên Chóe vẫn không được ai lưu ý.

Rồi Chóe được một người quen nhắc nên tìm đến tuần báo Ðời. Tuần báo Ðời không có việc gì dành cho anh nên Chóe phải chờ tới khi nhật báo Sóng Thần ra mắt.

Chỉ hơn 100 ngày sau khi xuất hiện trên nhật báo Sóng Thần, một số hí họa của Chóe đã được những tờ báo ngoại quốc nổi tiếng trích lại giới thiệu với độc giả ở Ðức, Pháp và Mỹ. Chóe vẫn như chiếc bóng, kể cả lúc cùng vài anh em trong toà soạn mở tờ New York Times ngắm trang báo giới thiệu Chóe với bức vẽ Tổng Thống Nixon trong triều phục đại quan Trung Hoa quỳ gối để diễn tả chuyến viếng thăm Hoa Lục của người lãnh đạo Nhà Trắng. Trong cơn sôi động chiến trường mùa hè 1972, nhật báo Sóng Thần vượt lên với mức phát hành kỷ lục trung bình 120 ngàn số mỗi ngày, Chóe trở thành họa sĩ hí họa thèm muốn đối với nhiều tờ báo.

Nhưng thay đổi duy nhất của Chóe chỉ là chiếc lon Hạ Sĩ trên cánh tay biến thành chiếc lon Trung Sĩ. Vẫn với nụ cười hiền hòa đượm vẻ e dè, anh hỏi ý tôi về việc có thể làm thêm cho các báo khác được không. Tôi không thay có gì trở ngại, nhưng nhắc anh không ký tên Chóe ở nơi nào khác. Do đó trên các báo Hòa Bình, Ðại Dân Tộc đã xuất hiện hai họa sĩ hí họa Kít, Cap.

Các nhân vật chủ yếu trong vấn đề Việt Nam