Khu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 04/06/2018 

Post by Sơn râu 21 Mar 2024

Thế kỷ trước, tướng lãnh Nguyễn Chánh Thi đọc diễn văn ân cần thăm hỏi, luôn dùng câu: “đồng bào trong khu tôi”. Ở Huế, nhiều người vẫn quen hiểu chữ khu, nghĩa của nó là mông là đít. Ví như: Ỉa xong chưa cu? Đưa khu cho mạ rửa. Hoặc: Con nớ mặt hoa da phấn mà riêng cái lỗ khu của hắn ngó đen thui! Đồng bào ở trong khu tôi, ai cũng hiểu là khu này chẳng mắc mớ chi tới khu nọ, nhưng nghe thế cũng không mấy thơm thảo gì!

Vậy thì chữ khu chớ nên đứng mình ên. Lôi thôi lắm! Nhưng khi khu cặp đôi với chữ khác, nghe cũng hơi bất an. Bản nhạc “Chiều Mưa Biên Giới” nổi tiếng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, có đoạn: “Người đi khu chiến thương người hậu phương, thương màu áo gởi ra sa trường…” Nhắc tới khu chiến thì tự động hình dung từ chết tới bị thương đếm không xuể. Rõ là bất ổn, vì chữ khu chiến nên mới phát sinh ra chữ hậu phương. Nếu hoà bình thì ai hơi đâu quỡn để định phận rạch ròi, “phân lô” ra từng khu vực.

Sau 1975 (vẫn chưa hoà bình) khi không lại cắc cớ lòi ra bốn chữ công an khu vực. Bất kể là khu nào, đồng bào sống trong khu đó thảy đều thắt thỏm sống chẳng an vui. Công an không rửa khu bà con, họ chăm chỉ rửa sinh mạng của những ai đăng ký hộ khẩu trong địa phận ấy. Đăng ký hộ khẩu? Miền Nam trước đây nào có mấy từ nghe chướng tai gai mắt kiểu này. Do ngọn gió lạ từ phương Bắc tràn xuống đấy thôi. Biết cơ man nào mà đếm xong, gây nhiễu sự. Sự cố, cự ly, tranh thủ, khẩn trương, hoành tráng, đột xuất… Thế mới biết ơn bác Bút Tre:

Chú về tác nghiệp bảo tàng
Cũng là sứ mạng cách màng giao cho.

Cứ tôn trọng cách gieo vần mà sáu tám quy định nhằm hoá giải bớt những tình huống rất “căng”. Hoặc căng quá thì giả ngây lạc sai cho êm một vấn nạn, nhại của Bùi Giáng:

Thu Ba ca ngợi Thu Bồn
Thu Bồn thích chí sờ khu Thu Ba.

Sao lại khu? Chữ khu nghe nó thuỳ mị, nhu mì hơn chữ l. nhỉ? Và cái đáng nói, khu đang là chữ rất hot, rất thời thượng, rất chảnh. Này nhé, hãy nghe Tiến sĩ Kinh tế Nguyễn Đức Kiên, phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Quốc hội CSVN ví von: “Tại sao cứ sợ ảnh hưởng của TQ tại các đặc khu? Tại sao ở Úc, Pháp, Mỹ… đều có Chinatown. Ở California có Little Saigon, ở đó toàn người Việt nói bằng tiếng Việt, thì bang California có lo ngại vấn đề an ninh quốc phòng hay không?”

Ngoài đồng bào trong khu, tới chiến khu, tới khu vực thì bây giờ lại nghe thêm chữ đặc khu. Vị tiến sĩ nói thế vì bà con lo ngại việc đất Việt nhường cho TQ những đặc khu sử dụng tới những 99 năm. Con số này cũng lạ nhỉ? Tiếc gì mà chẳng cọng thêm 365 ngày cho tròn đầy “trăm năm trong cõi người ta… những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Trăm năm có dài không? Vừa rồi mấy bà nội cựu học sinh trường Đồng Khánh đã xôn xao từ bốn phương run rẩy về Huế họp bạn ở ngôi trường mất tên để ăn mừng kỷ niệm con số 100 trường tồn qua bao dâu bể. Có mệ nói: Mụ nội tui trước đây cũng học trường ni, rứa là đã ba đời rồi đó nờ! May mà mệ không thêm: Như một chớp mắt!

Trăm năm, e ánh sáng vẫn chưa ló dạng ở cuối đường hầm.

Bấy giờ hoa rụng cánh tàn
Âu nên hãnh diện cách màng duyên trao.

Nguyễn Đức Kiên

Cách mạng luôn sản sinh ra những ông bà tiến sĩ giấy. Vẫn là ông Nguyễn Đức Kiên, hết so sánh chuyện đặc khu đầy ấn tượng như trên, thì ổng lại cho ý kiến khi bộ GTVT biến từ “Trạm thu phí BOT” thành “Trạm thu giá”. Ông nói: “Luật đã quy định là “thu giá” thì gọi là “thu giá”, ví như ở đây em là Hoa, là Lụa, nhưng ở quê em là H… là Cà, thì cái chuyện ấy nó không quan trọng, bởi vẫn là em”.

Có chắc không anh? Mai này em đang sống chuyển sang từ trần, em hưởng thọ 99 tuổi. Tang lễ diễn ra đình đám, đứa cháu nội em đọc diễn văn dài 99 phút trước linh cửu bằng tiếng Trung. Nói anh bỏ lỗi, cháu quên tiếng Việt mẹ nó rồi. Những bức xúc nó bày tỏ, anh có hiểu hay không thì mặc xác anh. Nó tha hồ tự do ngôn luận bởi nó biết mười mươi bà nội nó đang say giấc điệp, vịt nghe sấm cũng một nghĩa như nhau. Tổ cha cái thằng bất hiếu, ngày xưa chính tao đã song lưng rửa khu cho mi trong lúc mạ mi than: Nuôi đứa con ăn mòn cục cứt! Cứt lỏng không nói làm gì, đằng này mi bón, cứt đặc rặn từ đặc khu.

Thôi đừng bù lu bù loa, yên để tao thăng, từ thiên đường xhcn chẳng biết siêu thoát về đâu? Khi còn thở, đọc báo thấy hộ chiếu Việt Nam ngày nay mất giá trị thua cả passport anh Miên chị Lào. Khốn nạn thật! Vì đâu ra nông nỗi? Hở thằng lẻo mép nói tiếng nước lạ, mày có sợ môi hở răng lạnh không, hử con?

Hồ Đình Nghiêm

Hạ nồng

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 18/07/2018 

Post by Sơn râu 21 Mar 2024

– Mang cho chú mấy trái ớt.

– Chưa đủ cay sao?

– Luôn tiện nhón thêm một hai múi chanh.

– Đòi hỏi nhiều thế!

– Nhớ nhé, ăn gần lưng bát rồi đây này.

Người xưng chú nói với đứa ngồi ghế bên cạnh:

– Đắc địa thành ra làm đày làm láo, trước vắng như chùa bà Đanh thì lễ độ khiêm cung. Bây giờ họ là thượng đế chứ không phải đứa vào gọi thức ăn. May mà cơm chửi phở quát ngoài đó chưa được trớn mang văn minh vào đây.

– Con nhỏ đó là gì của bà Ba? Sao nó xem thực khách chả ra kí lô nào cả.

– Nó là con của bả, con ngoài luồng. Bà Ba bán bún bò bị bạn bà bề bể bụng, buồn bã bệnh bốn bữa bèn bướm bay bên bụi bờ…

Tình ngay thì con bà Ba đâu có đứng không, nó tả xung hữu đột túi bụi lùng bùng. Bưng cái này dọn cái kia, lau chỗ này chùi chỗ nọ, ném đôi đũa vất cái muỗng, lòn lối kia chui ngả nọ. Xem ra mệt bá thở chớ không giỡn chơi. Hột nút áo bung hổng có thời giờ gài lại, tóc loạn rối chẳng rảnh tay cột tém. Chừng đâu ra đó rồi nó mới nhớ sực tới “hai thằng chả” ngồi trên ghế nhựa thấp kê sát trong vách.

– Chú người Huế à? Cay chi cay vô hậu, có hơn con nhồng, bảnh mắt đã xơi chục ớt hiểm mà chưa thấm béo!

– Ủa, bộ người vùng miền khác không ăn được ớt sao? Thà mà vào ăn phở cho cam, ăn bún bò bà Ba nấu thì buộc phải đi kèm chanh ớt. Không tin thử vô hỏi Mạ cho xem.

– Nhiều chuyện quá!

Đứa con gái chưa quay lưng được, bị thằng thanh niên ngồi bên “chú” nắm lấy cổ tay:

– Hai cà phê đen đá luôn nghen, em nhớ rộng bụng cho nhiều đường. Quán đông đúc vậy thì có cần người làm không em?

– Chi vậy? Đông là đông vậy chứ ở đây chưa thấy thiếu nhân lực.

– Chí ít cũng nên tìm người bảo vệ chớ.

– Buông tay ra cho tui chạy việc. Anh Bảy ơi, hai cà phê đen đá.

– Í, có anh chàng tên Bảy nữa sao cà? Thằng chả đứng đâu hổng thấy.

Theo trình tự xưa nay nó vốn thế. Ăn xong mới tới uống. Và vừa nhâm nhi chất đắng cà phê vừa thắp lửa điếu thuốc, thở khói gọi là cho bớt tanh miệng. Mọi công đoạn chiếm mất nửa ngày trời. Đúng ngọ, sau khi thanh toán tiền nong cho bà Ba xong, thằng thanh niên mới ra sân khởi động xe máy để thồ “chú” đi. Hắn không quên nói thật lòng: Em tên chi? Để nhận hồi âm từ con nhỏ chạy bàn, chẳng rõ có bao phần man khai: Tui tên Buôn Mê. Trời tên nghe hay lạ! Nếu có đụng hàng thì đụng duy với thành phố cao nguyên dấu đi chữ Thuộc. Buôn hay Ban? Bà Ba đẻ ra Buôn Mê ở chốn buồn muôn thuở đó sao? Rồi bà vác nó xuống núi dựng môn bài chuyên trị món đặc sản Bún Bò Giò Heo ngon nhức nách, thơm điếc lỗ mũi, cay xé cuống họng, giá rẻ gần bèo và e rằng Buôn Mê đang có chục mối thăm dò dạm hỏi. Ai rinh được nó về dinh hẵng sẽ ấm đời phu thê, bởi thế nào nó cũng được truyền thụ bí kíp võ công Bún Bò Chân Kinh. Cắc củm để dành tiền, kiếm tìm một mặt bằng thuận lợi để chính thức khai tử thương hiệu “Bà Ba bán bún bò bị bạn bè bề bể bụng”. Thằng thanh niên đơm mộng ước cùng “chú”. Sức vóc nhà ngươi đâu tá ngoại trừ đi tìm bọn bàng môn tả đạo, nghe giang hồ kháo gần cầu Nhị Thiên Đường có đứa chuyên bán bùa mê thuốc lú. Chỉ có thế hoạ may mày mới làm nó điên đảo thần hồn.

Danh xưng Nhị Thiên Đường cũng hay chi hay lạ! Thiên đường rậm rật lắm tai ương này luôn mộng cuồng tới thiên đường thứ hai. Mẹ nó chứ, mai nầy thế nào cũng xuất hiện hiệu dầu nóng Tam Thiên Đường. Nhị coi mòi sẽ quá tải, chúng sinh nương nhờ vào lối thoát khác cho khớp với lời bình: Quá tam ba bận. Nói chi xa xôi, thằng Việt kiều tên Bình đã gia hạn lần này là lần thứ ba, “chú” gọi thằng thanh niên mặt mày bặm trợn thồ đi để xem thử có trộ được nó không. Nó ở nhà nghỉ Đồng Khởi và chốn ấy nào xa lạ gì với kẻ quyết tâm đi đòi nợ.

Khứa Việt kiều quen ăn trắng mặt trơn, bơ thừa sữa cặn phương ấy tẩm bổ hình hài làm đỏ da thắm thịt, người Bình thơm hơn cả Đường Tăng dưới mũi của ma nữ chực xẻ thịt moi gan. Đường Tăng vượt ngàn gian khó để đi thỉnh kinh, xưa rồi diễm, bây chừ hổng biết Bình ấy bay ngàn trùng về đây để mần tích sự gì? Chưa ra cơm cháo ngô khoai gì sất nhưng ma đưa lối quỉ dẫn đường để sớm đụng mặt oan gia. Khi lôi thằng thanh niên đi, “chú” đã thông tin cho nó chuẩn bị tinh thần: Hơn chục năm trước thằng Bình này đã lừa tao 5 cây vàng đặt cọc. Nó vượt biển mình ên mà lọc lừa dấu nhẹm không ới gọi tao. Đời có vay có trả ân oán phân minh, mày nghĩ tao luận vậy có đúng không? Thằng thanh niên chẳng góp lời, chỉ vén áo cho “chú” thấy thịt da nát nhàu xăm trổ hàng chữ mực đen: Hận đời đen bạc. Thù này phải trả. “Chú” thêm: Thời buổi đó 5 lượng vàng rất chi là lớn, có thể mua được toàn bộ những thứ mà bà Ba bán bún bò đang sở hữu.

Nhà nghỉ Đồng Khởi luôn có mặt thằng bảo vệ ngồi ở gần cửa, cẩn tắc vô ưu “chú” gọi di động kêu Bình xuống đường “kiếm cái gì uống coi”, chẳng lẽ ông cứ mãi cố thủ trong phòng nội bất xuất ngoại bất nhập? Về thăm lại cố hương nhiều hạng mục ăn chơi sao lại đành lòng ru rú tự trói thân ngồi diện bích? Cách Đồng Khởi chừng trăm thước có quán nhậu Cho Em Xin nức tiếng món cháo lòng, bảo đảm không làm chột bụng đứa Việt kiều luôn sợ bị tiêu chảy. Bình đi ra nhăn nhó bởi nắng trưa. An tâm khỏi sợ xe đụng vì có hai thổ địa sánh đôi kềm kẹp đứa lỡ xa nhà “trông vật gì cũng lạ hoắc lạ hươ”. Đứa thanh niên than: Trời nực thấy mẹ! Mặt hắn tỉnh như ruồi khi than thở, chỉ là cái cớ để vén áo cho đứa bị dẫn đi trông ra con dao chặt thịt to chẳng kém Đồ Long đao đang dắt lưng. Ồ, hung khí nọ sao quen mắt quá. Thằng này đúng là diệu thủ thư sinh, chặt đầu tao đi nếu đoán sai, có phải mày vừa chôm nó ở quán bà Ba bán bún bò?

– Ăn cháo lòng không mậy?

– Chú ăn gì tui ăn nấy. Kêu cho tui chai bia, khát nước thấy mồ tổ.

– Cứ vô tư thư giãn đi, bị đứa trả tiền là thằng Bình này đó mà. Còn ai trồng khoai đất này!

– Thì năm xưa kẻ hèn này đã trồng khoai mà ông nhẫn tâm bứng nhổ nó đi, làm sạch cả giây mơ rễ má. Tôi đã thất điên bát đảo tìm ông như thể tìm chim, ông bay qua đế quốc mà tôi tìm ở Mỹ Tho.

– Tui có đi dọ giá, nếu coi đó là món nợ thì tui lỡ vay ông 850 đô. Thằng thanh niên chen vô:

– Thiệt là biết nói chơi. Việt kiều kiểu gì kỳ khôi thế. Trong đầu thằng dốt tính toán như tui cũng hiện lên con số 2000, chí ít.

– Không dám đâu.

– Có nghĩa là sao?

– Là hiện tại trong ruột tượng tui tom góp chỉ còn đúng 850. Nói láo cho bà vật.

– Cũng được thôi. Đưa đây, luôn cả cái iPhone 5 nằm trong túi áo.

– Đù mẹ. Việt kiều không quên chêm thêm chữ fuck. Chơi kiểu bức gân quá.

Thằng thanh niên cười gằn: Đẹp mơ màng rồi, đao kiếm nào đã bức xúc lộ hình đâu. Nó rời khỏi lưng quần thì nó bức cái đáng bức chứ bức gân mà nhằm nhò gì. Ngân hàng nhà nước quy định việc tính tiền lời cho người cả tin ký gửi, bọn này chưa nghĩ ra khoản đó thì nên mở cờ trong bụng.

Cháo chẳng thèm húp, chỉ nhai bộ lòng, khoắn cục huyết bầm, xơi khúc dồi trường, khới cái giò chảo quẩy rồi tợp hết chai bia. Ông Việt kiều ngồi so vai lệch ôm cái hoá đơn ghi 1 triệu 8 đổ mồ hôi dòm “chủ nợ” thong dong rút đi. Ta về ta tắm ao ta, chèn đét ơi nước đục bùn làm ngứa mình ngứa mẩy quá mạng! May mà hổm rày trúng cá độ bóng đá, chêm ấm đít một cục tiền xã hội chủ nghĩa chứ không thì chẳng biết đào đâu ra giấy bổi mà mua phương tiện khứ hồi lại chốn bồng lai. Nhưng nghĩ cho cùng thì quá giận. Chuyện xẩy ra từ đời tám hoánh nào mà sao có đứa còn nhớ chi ly từng tiểu tiết. Đã thế còn nghe đứa bần cùng nọ rao giảng về thứ triết lý chạy trời không khỏi nắng, lại xổ cả nho những hữu duyên thiên lý năng tương ngộ. Rõ là người ơi gặp gỡ làm chi, dân số ở địa phận này chứa tới 8 triệu mống, chưa ngó thấy ngực khủng với chân dài miên man đâu cả đã sớm đụng độ bọn đầu trâu mặt ngựa. Thật là oan ôi ông địa!

***

Bà Ba bán bún bò bày biện bình bông tươi đứng bên dĩa đựng nải chuối xanh lè. Không phải ba lùn, không phải chuối sứ, không luôn là chuối cau, hình dáng ngộ lắm kìa, e là chuối tiêu mọc trên cuộc đất hoang dã. Bà Ba biểu con bà thắp ba cây nhang cho ông Thổ địa. Buôn đông bán đắc vin nhờ vào thủ tục mỗi sớm mai mở hàng. Buôn Mê châm nước nếu ba cái ly nằm đó cạn khô. Hợp lẽ thì chắp tay trước ngực, mắt nhắm làm bộ tịch thành khẩn. Đến khi đồng tử mở ra thì thấy đứng sát bên mình là cậu thanh niên hôm nọ quyết hỏi tên mình cho bằng được. Trời đất, hú hồn, quá hơn con ông thổ địa. Làm gì mà hiện ra êm re vậy cha? Ừa, anh lợi trả em con dao hôm nọ vui tay nhét lưng quần. Anh lấy như kiểu muốn có một thứ kỷ niệm cùng em, nhưng nghĩ là nó “ấn tượng” quá nên đem hoàn lại chủ cũ. Cũng cần nên thưa với em là anh đã bỏ công mài nó thật bén, con ruồi bay ngang có thể chặt đứt làm hai.

Thay vì coi khinh dân chôm chỉa, đứa con gái cười: Đâu, thử biểu diễn coi, quán này nhiều ruồi quá chừng. Ủa, ông chú không lợi hả? Tìm gặp em thì nên ra đi trong cô đơn lẻ bóng, ấy là tâm trạng của đứa nhiều cảm xúc. Ủa, biết ca cải lương nữa sao? Ăn gì thì kêu, đòi ớt thì nói, cà phê thì nên gọi liền kẻo lát nữa chộn rộn khách khứa vô ra thét quên mất tiêu. Vũ như cẩn hay sao? Thì vô ra cũng thằng cha khi nãy, độc món bún bò chứ nào có bánh bèo bánh nậm mà kén cá chọn canh? Em biết đổ bánh bèo không Buôn Mê? Xời tưởng gì, dễ như ăn ớt. Quán xem ra đang có mòi thuận lợi sao không thử mần thêm đôi ba món khác cho giàu một thực đơn? Anh biết đổ bánh khoái bánh xèo nè, không ấy anh nguyện đổ mồ hôi ra phụ giúp em. Mạ em nói “nhất nghệ tinh nhất thân vinh”, trau dồi riêng một món mà tay nghề đạt tới tám phần hoả hầu thì lúc đó có muốn đuổi khách đi cũng không hết. Anh thấy bún bò chỗ này chưa đạt đạo sao? Bà Ba bán bánh bèo nghe cũng sướng cái lỗ tai vậy. Ăn riết có mỗi một thứ bún bò cũng dễ ngấy lắm. Vậy sao anh cứ giỏi chân tới ngồi chan lùa húp ngốn xì xụp suốt cả nửa ngày trời? Í, anh tới vì em chớ đâu màng cái nồi bốc khói kia. Ngó em cười thì ba ngày bụng đói meo cũng cam lòng. Thôi đi ông thánh, tránh chỗ cho con an tâm chu toàn việc sinh nhai. Mà cũng ngộ hén, chưa từng khai ra tên tuổi, mãi đứng ngoài sân mà mang âm mưu đi lần vô trong bếp! Em hỏi thì anh xin khai, anh tên Long, chỗ thân tình vẫn gọi là rồng đất.

Long chưa kéo ghế nhựa ngồi an vị, bún bò giò heo chưa mang ra, thinh không cái ngoài ngạch cửa có hai bạn dân hùng hổ đi vô, chẳng nói chẳng rằng xấn tới lấy thịt đè người quật ngã Long chúi nhủi xuống đất. Họ có sợi dây nhựa, đem ra cột hai cổ tay Long lại. Chặc cứng, thúc thủ. Bà con cô bác cứ vô tư ăn uống xem như chẳng có chuyện gì xẩy ra. Một trong hai người biết môn kung fu uýnh lén nói, tên này can tội hăm doạ trấn lột tài sản vật dụng cá nhân của Việt kiều John Bình. Theo đơn khai báo, chúng tôi đã bỏ công theo dõi hắn đã hai hôm. Bà Ba bán bún bò có thể cung cấp thêm thông tin cho chúng tôi, vì không riêng Long tội phạm còn thêm đồng bọn khác.

Đồn công an nằm cách quán bún bình dân không thương hiệu của bà Ba đúng một ngã tư, đối diện tấm pa-nô hoành tráng: Quyết tâm theo đuổi kế hoạch 10 năm nhằm phấn đấu trở thành khu phố vệ sinh an toàn nhất tỉnh.

Đúng là thằng nầy không? Việt kiều John Bình gật đầu, rồi hỏi: Tên kia đâu? Đừng nóng. Tận tình tẩm quất thằng này thì lòi ra thằng kia thôi. Đã viết lá đơn cụ thể chưa? Chúng nó dùng thủ đoạn để cưỡng đoạt của anh bao nhiêu tiền? Hai ngàn đô. Được, anh vẫn đăng ký ở nhà nghỉ Đồng Khởi? Dạ, vẫn chỗ ấy. Được, chúng tôi sẽ liên hệ lại anh sau, chừng nào tóm được đối tượng kia. An tâm đi nhé. Thế mấy anh bắt tên này ở đâu? Đằng chỗ bà Ba bán bún bò. Tôi về được rồi ạ? Trước mắt là vậy, chúng tôi luôn ưu tiên giải quyết, đảm bảo sự an toàn cho Việt kiều về thăm quê hương.

Việt kiều Bình hỏi gã gát cổng. Không xa đâu, bác đi bộ non năm trăm thước là đến, phía lề phải đấy. Đi mới hai trăm đã nghe dậy mùi bún bò lẩn trốn trong gió. Không phô trương biển hiệu cũng đúng thôi, bởi ngay cả đứa mù lạc bước giữa bể trầm luân cũng ngửi ra mùi ấy để sáng mắt sáng lòng nhận biết đấy đích thị là món ăn nức tiếng cố đô phải chịu cảnh lang bạt bầm dập trôi nổi vào chốn lạ nước lạ cái này. Đầu tiên, Bình ngó ra thể hình “ngon cơm” năng động của đứa con gái phục vụ mời chào. Bình sửa giọng: Chuyện ăn uống tính sau nhé, tôi công tác đằng chỗ công an, vừa rồi họ có bắt đi một tên tội phạm. Hãy hợp tác với tôi nhé, chiếc xe máy của nó dựng ở đâu? Buôn Mê quan sát “chú công an”. Ngộ hén, chú này không Việt kiều thì chí ít phải làm cho bọn CIA chứ công an xứ ta đâu có khéo tu ba đời để được mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao đến vậy. Sếp cơ quan trực thuộc trung ương quen ngồi mát mà ăn bát vàng thì dễ nghe hơn, nhỉ? Vậy thì Long, tự rồng đất, chẳng lẽ đang mang âm mưu lật đổ chế độ siêu khủng? Chứ bắt một thằng ăn cắp vặt thì hà cớ gì lại nhờ tới “chiên da” hình sự tận đỉnh cao chế độ ra tay. Lợn cợn, chao đảo tâm tư chỉ trong sát na, bình thường người dân không ưa dây tới bọn chúng, Buôn Mê cũng thế, mình chưa cùi nên đành phải sợ hủi. Cô dong tay chỉ tới chiếc xe chính chủ, gia tài riêng của Long đất sở hữu. Tốt. May mà “chú” ấy chẳng ngứa miệng “thanh kiu ve ri mớt”. Dù gì chú cũng là “ma-dzê-in Vietnam”.

Người Mỹ gốc Việt dắt xe đi không khoan nhượng. Đi một thôi, dẫn một lèo sang biên giới quận khác, rồi dắt chiếc xế không người lái êm ru bà rù vào lọt cửa “Tiệm hớt tóc không tông-đơ”. Ma nữ hiện ra trong cảnh tranh tối tranh sáng, mắng yêu: Tuy mới đầu quân nhưng em có thể khẳng định rằng: Cả cuộc đời này thắp đuốc tìm không ra một Việt kiều lạ lùng như anh. Người ta ban lộc cho bá tánh không hết, có ai như anh lại soán đoạt tư trang hiện vật của bá tánh. Vào đây đi anh, có ưa soán đoạt cái ngàn vàng của em thì em nguyện nín khe mà mang anh đi từ a tới z. Việt kiều Bình lắp bắp: Anh muốn em kêu người luộc chiếc xế trước, xem thử được bao nhiêu rồi mình bày cuộc mây mưa sau, có ô kê không nè? Ba mươi giây, để em gọi vào di động xem sao. Theo em lượng định thì con xế này được khoảng hai triệu. Chuyện gì cũng còn có đó, nghe lời em, cứ vô tư thư giãn đi mà.

Bình nghe lời, vô tư thư giãn những mong tới bến. Nhưng bên quận sát nách nạn nhân Long đất vô tư khai báo thì bị ngay màn đánh phủ đầu thiếu đường giãn đứt giây thần kinh. Cường độ màn tẩm quất vui buồn nặng nhẹ tuỳ theo cách ăn nói của đứa đang hộc máu mồm: Thằng Việt kiều ấy man khai lếu láo coi thường lề luật nhà nước, nó dựng chuyện bị cưỡng đoạt tới hai ngàn đô la. Nó bôi trơn mấy trăm mỹ kim để các anh ra tay hành động bắt oan dân lành? Đù mẹ mày, ông uýnh cho bỏ mẹ. Cứ ăn nói linh tinh thì ông nhổ cho hết răng. Cơm không ưa xơi lại thích húp cháo.

Màn lấy khẩu cung chưa ra đầu ra đũa, nạn nhân mới bị rụng mất hai cái răng cửa, có nghĩa là dư sức xơi cơm thì hai ông thần đứng trong hoả lò buộc phải ngừng tay khi có một chú công an ló đầu vào: Báo cáo các anh là em mới đi tác nghiệp ở hiện trường về, theo lời khai của con bà Ba bán bún bò thì “có một chú đẹp giai nhất ngành công an”, mặc thường phục đã dẫn độ chiếc xe máy giá hơn 5 triệu đi mất. Long đất nghe thế liền chửi đổng: Đù mẹ thằng ác đức bất nhơn mưu mẹo khôn ranh dàn trời!

Song sắt đóng lại. Gạch đá đổ mồ hôi. Báo đài loan tin, do áp thấp nhiệt đới dồn dập, mưa lũ đe doạ Bắc bộ và Trung bộ, từ Thanh Hoá đến Quảng Trị có nguy cơ cao xảy ra sạt lở đất. Hề, nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, ở miền Nam này vẫn vô hại, vẫn xảy ra những cái chết do tự té, vẫn khởi thuỷ là nhất nhật mà hậu vận là thiên thu. Bức bối không riêng cho mỗi mùa hè mang lại trên xứ sở đang hiện mọc đặc khu.

Hồ Đình Nghiêm

Nhà tù hình chữ S

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 21 Mar 2024

Hình minh họa

Tập 3

Phần 5
Nhảy núi

Bảy giờ tối, chúng tôi đang ngồi sinh hoạt kiểm điểm ở sân của khối 5 Đà Lạt, quản giáo Thành bất ngờ xuất hiện, ông ta ra dấu cho mọi người im lặng rồi nói.

-Trong khối này, có anh nào biết kẻ chữ, kẻ bảng hiệu không?

Nhanh như con sóc, một cánh tay đưa lên trời.

-Tôi biết.

Giọng quản giáo nói mà như ra lệnh.

-Anh gì mới đưa tay lên đó, đến hội trường gặp tôi ngay lập tức.

Tôi nhìn thật kỹ, người đưa tay là Sơn Fulro, hắn thản nhiên rời khỏi chỗ ngồi, đi thẳng về phía hội trường mà không nói một lời nào với khối trưởng. Lệnh của quản giáo lúc nào cũng mang đầy uy quyền đối với tù nhân, giống như là thánh chỉ của vua ban xuống, không cần biết khen thưởng hay xử phạt, tù nhân cứ nhắm mắt mà thi hành, khỏi cần phải hỏi han lôi thôi.

Tôi nghĩ thầm, không biết Sơn Fulro học được cái nghề kẻ khẩu hiệu hồi nào mà hắn khá tự tin khi xung phong đi làm, không một giây do dự.

Buổi họp kiểm điểm, bình bầu cá nhân xuất sắc thường ngày của khối, được kết thúc bằng một bài hát đầy hồ hởi phấn khởi, do hàng trăm cái miệng đói ăn của tù nhân đồng loạt cất lên. Tất cả phải rống cho thật to mới đạt yêu cầu.

Ta xuất trận trong tiếng kèn chiến thắng.
Khắp Miền Nam ngọn lửa cháy trong tim.
Đốt quân thù trong cơn bão tố.

Sau hơn nửa năm học tập cải tạo trong trại tù Sông Mao, tôi cũng như mọi người thuộc được non mười bài hát của Việt cộng, thêm một mớ chữ mới tối nghĩa mà chúng tôi phải cố nhét vào đầu và tập dùng cho quen. Chẳng hạn như một lần nọ, tôi nghe anh vệ binh dẫn chúng tôi đi lao động nói to “Các anh đi cứ linh tinh lang tang như một đàn vịt, đi cho đúng vào trọng tâm.” Sau khi được vệ binh nhắc nhở, chúng tôi đi theo thứ tự hàng một, và tin rằng đã đi đúng trọng tâm.

Khi bài hát chấm dứt, mọi người lục đục kéo nhau về phòng. Chưa đến giờ ngủ, tôi đi ra sân sau của tổ 37, ngồi dựa lưng vào tường ngắm trăng sao trên trời, nhớ đến vợ và đứa con chắc cũng vừa mới chào đời ở Đà Lạt. Dưới ánh sáng nhàn nhạt của vầng trăng vàng úa treo lơ lững giữa trời, tôi thấy Sơn Fulro đang tà tà đi đến chỗ tôi, hắn thong thả ngồi xuống bên cạnh rồi hỏi.

-Ngày mai, mày muốn lên hội trường kẻ khẩu hiệu không? Tao đã xin phép quản giáo Thành cho một thằng phụ tá, giúp tao trong công tác đó.

Hình minh họa

Tôi nói với Sơn.

-Từ nhỏ đến giờ, tao chưa bao giờ cầm đến cây cọ. Đi kẻ bảng hiệu, tao không làm được đâu.

Sơn Fulro cười.

-Mày chỉ giúp tao trải  mấy tấm vải xuống đất, căng cho thẳng, khuấy sơn cho đều, tất cả mọi việc khác tao bao hết. Công việc sẽ kéo dài vài tuần, tụi mình ngồi làm việc trong hội trường, mát mẻ nhẹ nhàng hơn là lao động cuốc đất ngoài nắng nhiều, mày còn đòi hỏi gì nữa.

Tôi hỏi Sơn.

-Tại sao mày không chọn mấy thằng trong nhóm lực sĩ của mày, mà lại kêu tao phụ giúp.

Sơn Fulro chau mày như suy nghĩ một hồi.

-Mấy thằng đó với tao tuy là đồng sàng nhưng dị mộng, tụi nó bộp chộp, nóng nảy, lúc nào cũng chỉ muốn trốn trại, trốn càng sớm càng tốt, thậm chí cướp súng AK bắn nhau với Việt cộng cũng chơi luôn. Tao không muốn như vậy mà làm việc phải cẩn thận, phải có kế hoạch đàng hoàng. Tao chấm mày vì mày tương đối hiền lành, đằm tính hơn mấy thằng hảo hán Lương Sơn Bạc bên tổ của tao.

Tôi vốn nhát gan, rất sợ khi nghe ai đó bàn đến chuyện chống đối và trốn trại, nên vội vàng gật đầu, rồi nói với Sơn.

-Gì chứ khuấy sơn cho đều thì tao làm được, tao sẽ đi kẻ khẩu hiệu với mày.

Sơn đứng lên, hắn nói to.

-Mày đồng ý rồi phải không? Vậy thì bây giờ tao phải đi gặp và thông báo với khối trưởng, kể từ ngày mai tao với mày sẽ làm công tác vẽ bảng hiệu ở hội trường, thời gian khoảng hai tuần. Sáng mai tao qua rủ mày đi làm.

Buổi sáng khi mà mọi người trong khối đều đã đi lao động ở bên ngoài, bỏ lại hai dãy phòng ngủ chìm trong im lặng, lúc bấy giờ tôi và Sơn mới thong thả đi đến hội trường. Chưa đến tám giờ, hãy còn sớm hai đứa nằm dài trên bục gỗ gác cẳng lên trời, nói chuyện ngày xưa chờ quản giáo Thành. Mãi cho đến khi mặt trời đã lên cao ngang nóc của hội trường, chiếu ánh sáng chói lòa xuống tận chỗ tôi nằm, lúc bấy giờ mới thấy quản giáo Thành đến, theo sau ông ta là hai tên bộ đội tay xách vai mang, lủng củng lỉnh kỉnh nào là vải vóc, thùng sơn, cọ vẽ. Tất cả đều hấp ta hấp tấp đi mà như bị ma đuổi. Quản giáo Thành mồ hôi nhể nhại, lấy trong xách cốt đeo bên hông tấm giấy vở học trò đưa cho Sơn Fulro rồi nói.

-Đây là những khẩu hiệu, hai anh phải khẩn trương làm cho xong trong vòng mười ngày, khi kẻ xong, tôi sẽ hướng dẫn chỗ cho các anh treo.

Nói xong quản giáo cùng hai tên cảnh vệ quay lưng bước đi, bỏ mặc hai thằng tù muốn làm gì thì làm.

Tôi và Sơn Fulro ôm cuộn vải to dài  màu vàng, nặng có thể đến hơn chục kí lô lăn dài trên mặt đất, khi thấy đã tạm đủ cho một khẩu hiệu, Sơn lấy một cây gỗ dài khoảng một sải tay đo bề rộng của sân khấu, vừa đo hắn vừa đếm thầm trong miệng rồi nói “Bảy cây rưỡi”. Sau đó hắn đo luôn bề rộng của hội trường, xong xuôi mọi chuyện Sơn lấy miếng giấy mà quản giáo Thành đưa lúc nãy, đặt lên tấm vải.

Tôi đọc được những hàng chữ.

-Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.

Hình minh họa

-Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

-Không có gì quý hơn độc lập tự do.

Tất cả có hơn một chục khẩu hiệu mà nội dung chỉ ca tụng lãnh tụ, nói tốt về đảng Cộng sản. Một khẩu hiệu duy nhất liên quan đến tù nhân là “Phấn đấu học tập tốt, lao động tốt”.

Tôi nói với Sơn Fulro.

-Tụi mình bắt đầu, tao quậy sơn cho đều để mày kẻ chữ, phải không?

Sơn với giọng nói rất từ tốn.

-Mày muốn thi đua giành danh hiệu lao động xuất sắc trong tuần, phải không? Nếu không thì lấy mấy lon sơn với hai cây cọ để cạnh tấm vải, tụi mình bày binh bố trận cho xôm tụ, sau đó tao với mày nằm nghỉ ngơi cho khỏe cái thân tù trước đã. Chuyện kẻ khẩu hiệu không có đi đâu mà vội, cứ thong thả, nhẫn nha mà làm.

Tôi nhìn mớ vải với hàng chục khẩu hiệu phải kẻ mà đâm ra lo lắng, chỉ sợ Sơn Fulro làm không kịp nên nhắc nhở hắn.

-Phải làm gấp đi mày, nếu không xong tao với mày coi bộ khó có đường sống với quản giáo.

Sơn trấn an tôi.

-Nói thực cho mày biết chỉ hai ngày là tao làm xong tuốt, không những xong mà còn đẹp nữa. Tuy nhiên tao muốn mỗi ngày hai đứa mình chỉ kẻ một khẩu hiệu mà thôi, làm xong sớm lại vác cuốc đi lao động chứ có được cái mẹ gì. Tin tao đi.

Sau khi ăn trưa xong, tôi và Sơn mới tà tà làm việc, đến chiều thì khẩu hiệu đầu tiên kẻ xong. Quản giáo Thành xuất hiện ở cuối hội trường, ông ta đi đến bên hai đứa tôi, đứng nhìn những chữ sơn đỏ được kẻ ngay hàng thẳng lối trên vải vàng, với đôi mắt đầy vẻ thán phục, ông ta nói.

-Bọn Ngụy các anh kể ra cũng lắm tài thật, anh học kẻ chữ ở đâu mà đẹp thế này.

Đứng lặng yên một lúc lâu, quản giáo Thành lại hỏi.

-Anh vẽ hình bác được không? Chúng tôi cần một tấm hình của bác lớn thật lớn để treo ở hội trường.

Sơn Fulro rụt rè, do dự một chút rồi hắn mới trả lời.

-Thưa anh tôi chỉ biết kẻ chữ, không biết vẽ chân dung, nếu có biết tôi cũng không dám bởi vì bọn lính Ngụy chúng tôi, không xứng đáng cầm cọ vẽ hình bác.

Quản giáo Thành nhìn Sơn Fulro ra chiều suy nghĩ điều gì đó, sau cùng ông ta nói.

-Anh nói thì tôi nghe, nhưng tôi đoán thực lòng anh không nghĩ như thế đâu. Các anh vẫn thường dè dặt khi nói chuyện với chúng tôi, nghĩ một đàng lại nói một nẻo. Tôi còn lạ gì.

Những ngày sau đó, quản giáo Thành bỏ mặc hai đứa tôi muốn làm gì thì làm, thỉnh thoảng ông ta mới ghé qua, liếc mắt nhìn cho có, hỏi vài câu bâng quơ rồi đi mất. Một vài lần ông ta đem cho tôi và Sơn Fulro vài củ khoai, lúc thì điếu thuốc Rubi quân tiếp vụ của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, gọi là bồi dưỡng cho hai ông thợ vẽ.

Tôi và Sơn Fulro lề mề lễ mễ, cà kê dê ngỗng kéo dài công việc được mười ngày. Cuối cùng Sơn cũng hoàn tất được khoảng chục khẩu hiệu chữ đỏ trên nền vải vàng. Hai đứa tôi đang tính chuyện thu dọn đồ nghề để đi về, từ xa quản giáo Thành và một tên cảnh vệ khiêng cái thang tre cũ mèm tới, ông ta nhìn những khẩu hiệu bày la liệt trên sân khấu với vẻ mặt vui vẻ.

Hình minh họa

-Hai anh treo những băng vải khẩu hiệu này lên sân khấu và chung quanh hội trường, tôi chỉ đến đâu các anh làm tới đó, hiểu không?

Tôi và Sơn Fulro vội vàng đáp.

-Thưa anh, hiểu.

Khi mà mọi chuyện đã xong xuôi, quản giáo Thành nói với chúng tôi.

-Sắp tới, các anh sẽ được đến đây để học tập.

Nghe quản giáo Thành nói, lúc bấy giờ tôi mới chợt thấy cả hội trường giống như một cái sân khấu dùng để diễn kịch, với những khẩu hiệu hai màu vàng đỏ giăng mắc khắp nơi.

Quản giáo Thành tươi cười hớn hở, rảo bước vòng quanh hội trường, ông ta vừa đi vừa ngước nhìn những tấm khẩu hiệu, miệng không ngớt lời khen ngợi Sơn Fulro và tôi. Ông ta nói.

-Tôi phải đề nghị biểu dương hai anh, không phải trước khối mà là trước toàn trại B trung úy mới được.

Hình như có sự tính toán từ trước, quản giáo Thành mở xắc cốt lấy cho tôi và Sơn Fulro mỗi đứa một tán đường và một nắm thuốc, với giọng đầy chân tình, ông ta nói.

-Thuốc lào ba số tám Cái Sắn, quý lắm đó.

Lúc này tôi mới nhìn kỹ quản giáo Thành, những lời nói của ông vừa rồi khiến tôi cảm thấy có một sự khác biệt giữa ông và những người quản giáo khác.

Cả hai đứa chưa kịp nói lời cảm ơn đã nghe quản giáo Thành nói tiếp.

-Kỳ thăm nuôi vừa qua, anh Sơn có gặp được gia đình không?

Sơn lắc đầu.

-Thưa anh, tôi còn độc thân chưa có vợ.

Quản giáo Thành nhíu mày.

-Vậy thì cha mẹ anh em, có ai đến thăm không?

Đứng lặng một hồi lâu, Sơn nói.

-Thưa anh cũng không, ba má tôi bị mất sạch vốn trong vụ mùa bắp sú tháng năm vừa qua, mấy ngàn gốc sú, đó là tất cả tài sản của ông bà đành để cho hư thúi ngoài vườn, rồi chặt bỏ. Ngày đi học tập, tôi biết ba má  tôi không có lấy một đồng trong nhà, cho nên kỳ thăm nuôi vừa qua ông bà không có đi. Tôi hiểu rõ nguyên nhân vì sao nên không lấy đó làm buồn.

Quản giáo Thành quay sang tôi.

-Còn anh Quân thế nào?

-Thưa anh, tôi được gặp mặt vợ tôi và đứa con lúc đó được khoảng bảy tháng trong bụng mẹ. Giờ này vợ tôi chắc đã sinh rồi, không biết là trai hay gái.

Quản giáo Thành đột nhiên nhỏ giọng lại chỉ vừa đủ cho hai đứa tôi nghe. -Hai anh muốn viết thư về thăm gia đình không? Nếu muốn, cứ viết đi tôi sẽ coi kỹ nội dung rồi chuyển giùm cho. Điều quan trọng là nhớ không được cho bất cứ một ai biết chuyện này.

Hình minh họa

Ngạc nhiên quá sức, tôi và Sơn Fulro nhìn quản giáo Thành mà cứ tưởng rằng mình nghe lầm. Một ông cai tù xúi hai thằng tù lén viết thư cho gia đình, đây là chuyện vi phạm nội quy trại, chuyện mà đổ bể hai thằng tù sẽ bị cho vô nằm nghỉ mát trong thùng sắt như chơi. Thấy hai đứa tôi còn ngơ ngác như mán về thành, quản giáo Thành đến ngồi trong góc của hội trường, bên cạnh mấy thùng sơn rồi ngoắt hai đứa tôi lại.

-Tôi biết hai anh cũng như tất cả sĩ quan Ngụy trong trại này đều cẩn trọng giữ gìn, đứng trước mặt quản giáo, các anh hiền lành như một bầy cừu, gọi dạ bảo vâng, nhưng mà sau lưng thì mấy ai biết được chuyện gì sẽ xảy ra, đúng như câu nói khá tục tĩu mà người Việt thường hay nói …..

Hai anh ngồi xuống đây, nghỉ giải lao một chút, hút điếu thuốc lào, uống ly nước, mọi chuyện khác mình sẽ tính sau. Đợi cho chúng tôi ngồi đâu vào đó, quản giáo Thành nói mà như phân trần.

-Ngày xưa bọn tôi mà gặp lính Ngụy là xả súng bắn ngay lập tức, bắn liên hồi như bị đồng nhập, ở đời mà, cá ăn kiến thì kiến ăn cá. Các anh cũng vậy thôi mới nhác thấy Việt cộng là M79, M16 rồi đại liên M60 nổ như điên, thậm chí còn gọi thêm đại bác 105 ly yểm trợ, tiếp theo sau là máy bay giội bom lửa, bắn rocket,  làm gì để có dịp hai bên phân bua, giải bày tâm sự. Hôm nay nhân có chút thì giờ rảnh rỗi, tôi sẽ kể cho các anh nghe chuyện này, nghe xong nhớ quên luôn, coi như chưa nghe.

Được lời như cởi tấm lòng, hai thằng tù của phe thua trận, thoải mái ngồi xích lại gần đối diện với quản giáo Thành, lắng nghe một ông Việt cộng của phe thắng trận kể chuyện. Không một chút gì gọi là nôn nóng, hấp tấp, quản giáo Thành từ tốn nhét một bi thuốt lào Cái Sắn vào cái nõ của điếu cày, ông ta đánh mạnh cây diêm vào vỏ hột quẹt, một cây rồi hai cây, mãi cho đến cây thứ sáu ánh lửa mới bùng lên. Hút xong điếu thuốc lào, nhả khói bay mù trời, quản giáo Thành buông tiếng chửi thề.

-Mẹ … cái nhà máy diêm quốc doanh. Hai anh có thấy không? Có cây diêm quẹt mà làm cũng không xong, vậy mà nó đánh thắng đế quốc Mỹ, thế mới là lạ.

Tôi và Sơn Fulro mặt mày xanh lè cắt không còn hột máu, tôi chỉ muốn xin quản giáo cho tôi trở lại làm việc, ngồi đây nghe ông ta nói chuyện phản động, lành ít dữ nhiều coi bộ không khá. Hai thằng tù thì sợ nhưng quản giáo Thành vẫn tỉnh bơ, tà tà nói với Sơn Fulro.

-Anh hút một điếu cho sảng khoái tinh thần.

Được quản giáo mời thuốc thì còn gì hơn, không chần chờ, Sơn Fulro đỡ lấy cái điếu cày từ tay quản giáo rồi nói.

-Cảm ơn anh.

Quản giáo Thành ngồi dựa lưng vào cái bục gỗ, lim dim đôi mắt, rồi cất giọng đều đều.

-Hồi xưa lâu lắm rồi, cái thuở mà tôi còn ở trong rừng Trường Sơn, quanh năm suốt tháng ẩn núp trong hang động, trốn chui trốn nhủi trong rừng già, né tránh bom đạn của đế quốc Mỹ. Ngày thì đói meo vì ăn không đủ no, đêm thì gió rừng lạnh buốt mà không có áo ấm. Vậy mà bọn tôi vẫn phải vác AK, B40 đi đánh nhau với lính Ngụy, khổ cực như vậy vẫn chưa hết, còn phải chẻ dọc Trường Sơn chống Mỹ cứu nước theo lệnh của Bác và Đảng. Thôi thì muôn vàn khó khăn, nguy hiểm nói sao cho hết.

Hình minh họa

Quản giáo Thành ngưng kể chuyện ông ta hỏi Sơn Fulro và tôi.

-Mấy anh là dân Đà Lạt phải không?

Cả hai đứa cùng trả lời.

-Phải.

-Ngày xưa, các anh có biết con đường bộ đi từ Đà Lạt đến Buôn Ma Thuột không?

Sơn nhanh miệng trả lời.

-Tôi biết, nhưng mà con đường đó bỏ hoang lâu lắm rồi mà.

Quản giáo Thành gật đầu.

-Anh nói đúng đó.

Rồi với vẻ mặt đầy ngạc nhiên, quản giáo Thành gặng hỏi Sơn Fulro.

-Bộ anh có đi qua con đường đó rồi hay sao?

Sơn Fulro lúng túng ra mặt, hắn ấp a ấp úng.

-Thưa anh …không, tôi biết vì nghe người ta nói.

Quản giáo Thành tiếp tục câu chuyện.

-Từ Đà Lạt theo quốc lộ 20 xuống đến ngã ba Liên Khương rồi quẹo phải, đi thêm hơn chục cây số là tới Thanh Bình, La Ba. Tại đây đến quận Lạc Thiện của Buôn Ma Thuột chỉ còn khoảng một trăm cây số, đoạn đường này do người Pháp làm nhưng chưa hoàn tất, nó giống như là con đường mòn. Sau đó con đường này bị bỏ hoang vì bọn Ngụy các anh không có đủ lính để bảo vệ. Kể từ đó, khu vực này trở thành an toàn khu cho chúng tôi. Ở về phía tây nam của quận Lạc Thiện là một vùng đồi núi hoang vu, rộng mênh mông bát ngát, là địa bàn hoạt động của tiểu đoàn chúng tôi. Danh xưng là tiểu đoàn nhưng chỉ có khoảng trăm rưỡi người, do chuyện bổ xung quân số thường gặp nhiều khó khăn, không như một tiểu đoàn bộ binh Ngụy của các anh, quân số gấp đôi gấp ba tiểu đoàn của chúng tôi.Thường thì lính của tiểu đoàn phân tán mỏng trong những khu rừng quanh hồ Buôn Tría, nhiệm vụ là phá hoại bất cứ những gì mà các anh xây dựng được như đường xá, cầu cống, tung quân đi đánh phá, đặt mìn trên con đường đất duy nhất của quận Lạc Thiện, khiến hàng chục chiếc xe dân sự cũng như quân sự bị phá hủy, chiếc thì chổng bốn bánh lên trời, chiếc cắm đầu xuống đất, chiếc cháy đen thui. Chính cái xác của những chiếc xe này như là một lời cảnh cáo của tử thần, khiến cho không còn một chiếc xe dân sự nào dám di chuyển. Tuy nhiên, chuyện quan trọng nhất vẫn là pháo kích vào quận Lạc Thiện, pháo càng nhiều càng tốt bất kể ngày đêm, pháo để uy hiếp tinh thần của lính Ngụy. Cũng tại quận Lạc Thiện này, một trận đánh mà tôi vẫn còn nhớ mãi cho đến bây giờ, nhớ và không bao giờ quên.

Quản giáo Thành đưa tay lấy cái điếu cày, miệng hỏi.

-Các anh có biết tại sao không?

Sơn Fulro nói.

-Thưa anh, chắc lính Ngụy chúng tôi chết quá nhiều chứ gì.

Quản giáo Thành cười mà miệng ông ta méo xệch.

Hình minh họa

-Không phải như anh nghĩ đâu mà ngược lại, bọn tôi chết không biết bao nhiêu mà kể, cả tiểu đoàn nát như tương tàu. Điều quan trọng là có một chuyện lạ khác trong trận đánh đó, đã làm thay đổi cái nhìn của tôi về lính Ngụy các anh. Trước khi trận đánh xảy ra, chúng tôi có hơn hai tháng để chuẩn bị. Về phần tin tức, lính Ngụy trú đóng trong quận Lạc Thiện chỉ có một đại đội trừ, tức là khoảng năm, sáu chục tay súng, tin này do cán bộ nằm vùng cung cấp. Di chuyển trong vùng đã có giao liên, sĩ quan chúng tôi được học tập địa hình, địa thế trên sa bàn, binh sĩ được huấn luyện kỹ càng, công tác động viên tinh thần cũng đạt yêu cầu cao. Trong trận đánh đó sẽ có thêm hai tiểu đoàn cùng một đại đội đặc công phối hợp với chúng tôi để đánh vào quận Lạc Thiện vào đêm ấy. Còn chuyện tên của hai tiểu đoàn và phối hợp như thế nào thì tôi không biết. Mang tiếng là sĩ quan nhưng là sĩ quan cấp thấp, trên chỉ cho tôi biết có bấy nhiêu thôi.

Chuyện gì đến phải đến, 6 giờ chiều của một ngày cuối tháng 1 năm 1970, chỉ còn vài ngày nữa là đến Tết. Sau khi cơm nước xong xuôi, súng đạn cũng như những trang bị cho trận chiến đã được chuẩn bị đầy đủ, từ buông Tría đi theo hướng Đông, dưới sự dẫn dắt của giao liên, tiểu đoàn chúng tôi xé rừng vượt suối đi mà như chạy tiến đánh quận Lạc Thiện. 12 giờ khuya, khi mà đại đội đi đầu của chúng tôi gần đến chợ Liên Sơn, còn cách mục tiêu là quận Lạc Thiện khoảng hơn ba trăm thước. Cả tiểu đoàn đang tập trung binh lính lại để tấn công thì một chuyện bất ngờ xảy ra. Tôi nói bất ngờ vì theo tin tức tình báo mới nhất của sáng ngày hôm đó, là khi đêm đến, tất cả lính Ngụy đều rút vào phòng thủ bên trong hàng rào kẽm gai của quận. Vậy mà không hiểu tại sao, đêm đó toán tiền sát của chúng tôi vướng mìn Claymore và sau đó cả một đại đội đi đầu bị đủ mọi loại đạn M16, M79 cho đến đại liên M60 của Ngụy thi nhau nhả đạn như mưa sa, bão táp. Cá nhân tôi thì tin rằng, lực lượng của Ngụy ước chừng phải hơn một đại đội đang phục kích tại chợ, mới có được hỏa lực mạnh mẽ như vậy, chỉ mới vài phút nổ súng, hơn nửa đại đội của chúng tôi đã bị loại khỏi vòng chiến. Những người còn sống sót sau đợt bắn hủy diệt, đã cố gắng cầm cự trong tuyệt vọng, bắn và không biết tại sao. Chừng hơn mười phút sau, tiếng súng AK của đại đội đi đầu hoàn toàn im lặng trong khi súng M16, M60 vẫn tiếp tục nổ giòn, tệ hơn nữa là đạn của đại bác 105 ly của Ngụy bắt đầu dồn dập chụp xuống liên tu bất tận, vào đại đội đi sau.

Quản giáo Thành ngưng nói, ông ta nhìn hai đứa tôi rồi hỏi.

-Gặp trường hợp như trên, là cấp chỉ huy thì hai anh phải làm sao?

Sơn Fulro nói.

-Đem tất cả lính của tiểu đoàn lên tiếp viện.

Riêng tôi, tôi nói với tất cả sự thật xuất phát tự đáy lòng.

-Chạy thoát thân.

Quản giáo Thành nhìn tôi cười. -Anh Quân nói đúng, không cần đợi lệnh chúng tôi quay đầu nhắm hướng cũ chạy thục mạng, chạy bất kể gai cào, cây xóc, bao nhiêu là vật dụng cứu thương như những cặp thanh tre dài từ một, hai, ba gang tay mà chúng tôi mang theo, dây thừng, móc sắt, cả súng đạn AK và B40, mạnh ai nấy vứt, vứt cho nhẹ để dễ bề thoát thân. Chúng tôi bỏ chạy trong tiếng đạn pháo 105 ly nổ rền cùng với hỏa châu sáng rực cả một góc trời, trái này chưa kịp tắt thì đã có trái khác tiếp nối. Và cuối cùng cái mà chúng tôi sợ nhất đã xuất hiện, ba hay bốn chiếc trực thăng, có thể hơn thế nữa tôi không đếm được, chúng thi nhau trút rocket xuống con đường mà chúng tôi đang tháo chạy.

Hình minh họa

Mấy thằng giặc lái Ngụy các anh khôn tày trời, tụi nó bắn rocket gọn thơm như chơi thảy lỗ, chặn đầu, chặn hông, chặn đuôi khiến chúng tôi không biết đâu mà trốn. Phần tôi đang cắm đầu cắm cổ chạy, bất ngờ cả thân hình của mình bị nhấc bỗng lên trời rồi ném mạnh xuống đất, tai của tôi ù đi, mắt của tôi tối sầm lại, bỗng dưng tất cả đột nhiên chìm vào im lặng. Tôi không còn biết gì nữa.  Nằm bất tỉnh không biết bao lâu, nửa giờ, một giờ, hay hơn tôi hoàn toàn không biết cho đến khi tai tôi nghe được nhiều tiếng chân người giậm trên lá khô, rồi một giọng nói vang lên “Ông thầy, chắc bọn nó chạy mất đất rồi, chẳng còn đứa nào nữa đâu.” Tôi mở mắt nhìn, bầu trời không còn tối đen mà đã có pha chút sang sáng mờ mờ, ở tận cuối chân trời hình như sao mai đã xuất hiện. Bất chợt tôi lại nghe một giọng nói khác vang lên “Các anh lục soát lại một lần nữa cho kỹ rồi chuẩn bị trở về.” Cùng lúc ấy tôi nghe tiếng la to “Chuẩn úy có thêm xác một thằng Việt cộng nằm đây nè.” Một tên lính Ngụy mặt mày bặm trợn nhìn sát vào mắt tôi, hắn nói với giọng đầy ngạc nhiên “Ý trời, nó còn sống, để tôi làm phước cho nó về chầu diêm vương luôn nghe chuẩn úy?” Tôi nhắm mắt lại, biết rằng cuộc đời của mình đến đây là hết, mơ mơ màng màng tôi thấy ba má của tôi, thấy hai người thân yêu mà mấy năm rồi tôi chưa được gặp. Một cú đá nhẹ vào bên hông khiến tôi mở mắt nhìn, bắt gặp gương mặt của thằng lính Ngụy trẻ măng, hắn có đôi mắt hiền như một con nai với cái lon chuẩn úy đen thui nơi cổ áo, hắn nhìn tôi nhưng lại nói “Các anh rẽ phải độ mươi thước, quay đầu rút lui theo đường cũ. Thằng Việt cộng này để tôi xử, cho nó theo Bác và Đảng của nó luôn.” Dứt lời hắn đưa ngón tay trỏ lên miệng như ra dấu, tôi không hiểu hắn muốn nói gì nhưng tôi biết, lần này cái chết mới thật sự đến, tôi nhắm mắt chờ, bỗng dưng có vật gì đó nằng nặng rớt trên người tôi, không phải một mà tới hai, đồng thời cả chục tiếng đạn M16 nổ vang bên tai của tôi. Một cảm giác dễ chịu lan khắp người, thì ra cái chết cũng êm dịu, nhẹ nhàng như mình đi vào giấc mơ, không có một chút gì gọi là nhức nhối hay đau đớn. Quanh tôi rừng xanh đã hoàn toàn chìm vào im lặng, tôi bay dật dờ trên mây, bay hoài bay mãi cho đến mấy phút sau, lý trí mới nói cho tôi biết là mày hãy còn sống. Việc làm đầu tiên là tôi đưa tay sờ nắn khắp người, mọi thứ đều có vẻ bình thường. Tôi nhéo mạnh vào tay, cái nhéo khiến tôi đau muốn chết, tôi đứng lên chỉ thấy hơi tê tê nơi chân phải, rồi nghe rõ mình nói “Không chạy đi còn đợi gì nữa.” Tôi co giò phóng nhanh về phía trước, đầu thì biểu mình chạy nhưng bắp chân phải của tôi tê dại, không chịu nhúc nhích, cả thân hình của tôi đổ dài  xuống đất hệt như một gã võ sĩ bị cú đấm nốc ao.

Quản giáo Thành ngưng nói, ông ta hỏi hai đứa tôi.

-Hai anh có biết tại sao tôi bị té không?

Son Fulro trả lời.

-Hình như chân của anh bị thương.

-Đúng rồi, chân phải của tôi bị mảnh đạn rocket nằm kẹt ở bắp chân mà tôi không biết, nếu để yên thì không sao, nhưng khi cử động mảnh đạn cắt vào dây thần kinh khiến mình bị đau buốt. Tôi té nhào là phải. Suốt hai ngày sau đó, tôi bò lết trong rừng, sống nhờ bịch gạo sấy với bi đông nước mà thằng chuẩn úy trẻ quăng lại trên người của tôi, cuối cùng tôi được mấy tay đặc công cứu, đem về đơn vị. Với thương tật nơi chân, tôi được điều qua làm việc ở hậu cần cho đến ngày giải phóng. Bấy lâu nay tôi vẫn thường lưu tâm tìm kiếm thằng chuẩn úy Ngụy đã tha chết cho tôi, không những tha mà còn cung cấp thực phẩm và nước uống. Tìm hoài nhưng chưa gặp, tôi nghĩ rằng nếu có ông chuẩn úy nào đóng ở Lạc Thiện trong thời gian đó, hy vọng sẽ tìm ra manh mối. Ngày xưa, một tên sĩ quan Ngụy đã tha chết cho tôi, hôm nay tôi muốn làm một việc gì nho nhỏ như gởi thư giùm cho hai anh để đền ơn cứu mạng, xét cho cùng tôi vẫn còn lời quá nhiều. Đúng không?

Tôi nhìn Sơn Fulro mà lòng nghi ngờ, thằng chuẩn úy trẻ mà quản giáo Thành kể, có thể là hắn lắm chứ, vì cuối năm 1969 hắn đang ở Lạc Thiện. Như đoán được ý nghĩ của tôi, Sơn Fulro nhìn tôi rồi lắc đầu như ngầm nói, đừng bao giờ nhắc chuyện xa xưa cũ.

Hình minh họa

Quản giáo Thành kết thúc câu chuyện bằng một điếu thuốc lào rồi nói.

-Công việc kẻ khẩu hiệu đã hoàn tất tốt đẹp, hai anh có thể về nghĩ ngơi chuẩn bị tinh thần, các anh sắp bước vào học tập rồi đó.

Sơn Fulro hơi ngập ngừng rồi hỏi quản giáo Thành.

-Thưa anh, có điều này tôi hơi thắc mắc, ngôn ngữ anh dùng không giống các cán bộ quản giáo khác.

Ngửa mặt nhìn trời rồi cất tiếng cười vang, quản giáo Thành nói.

-Tôi là dân Miền Nam, mười năm trước sau khi đậu xong cái bằng Trung học đệ nhất cấp, tôi nhảy núi, đi theo con đường Xã Hội Chủ Nghĩa. Các anh là Ngụy quân, đường anh anh đi, đường tôi tôi đi, hồn ai người nấy giữ.

Trên đường về, Sơn Fulro nói với tôi.

-Mày có biết, tại sao lính của mình tiêu diệt gần như là sạch một đại đội của Việt công không? Quản giáo Thành thắc mắc cũng phải. Tất cả chỉ là một chuyện tình cờ, ngẫu nhiên, nó xảy ra đúng giờ, đúng ngày, đúng chỗ. Vào khoảng thời gian đó, tao đang đi biệt phái cho đại đội Fulro nên không biết gì hết. Khi mãn hạn trở về, tao mới được nghe kể lại tường tận chi tiết.

Sơn Fulro đi chậm lại, hắn nói.

-Chuyện như thế này, chiều ngày hôm đó, Đại đội 1 thuộc tiểu đoàn của tao sau bảy ngày hành quân, kéo về quận nghĩ ngơi, tạm đóng quân ngay chợ Liên Sơn. Tao biết quản giáo Thành không biết gì về ngôi chợ này đâu. Gọi là chợ nhưng đây là một cái chợ có thể nói là nhỏ nhất thế giới, nó nằm trên một khoảng đất trống cách quận Lạc Thiện khoảng ba trăm mét. Nền nhà của chợ hình vuông được tráng xi măng mỗi cạnh khoảng sáu mét. Trên đó người ta dựng bốn cây cột, đường kính khoảng ba mươi phân, chống đỡ cho mái chợ lợp tôn. Chợ chỉ có vậy, họp mỗi buổi sáng từ tám giờ đến mười giờ. Trong chợ có đúng bốn người bán hàng, mỗi người trải một tấm poncho của lính, trên đó một bên là rau cải mà dân địa phương trồng được như bầu bí, bên còn lại là thực phẩm khô như muối, đường, cá khô và một ít đồ gia vị. Chợ cũng có vài món đồ đắt tiền như chục gói thuốc lá, dăm ba hộp sữa đặc có đường hiệu ông Thọ. Ngôi chợ này tao đã nhiều lần ghé qua để mua thuốc lá, trong chợ lúc nào cũng vắng khách, chỉ lèo tèo dăm ba người, khách đi chợ thường là những người lính ở trong quận, thêm vài người Thượng vai mang gùi, với con chó nhỏ lẽo đẽo theo sau đi vào chợ, họ đổi rau rừng lấy muối hột, cá khô. Chợ chỉ có một vài ngày đông khách là khi lính mình lãnh lương, vào những ngày đó, chợ mới nhộn nhịp ồn ào được đôi chút.

Tôi thắc mắc hỏi Sơn Fulro.

-Mày nói không có đường bộ từ Ban Mê Thuột vào Lạc Thiện, vậy thì hàng hóa bán ở chợ do đâu mà có, nguồn cung cấp hàng từ đâu đến.

Sơn Fulro nhíu mày suy nghĩ.

-Mày hỏi cũng phải, thường thì khoảng hai cho tới ba tháng sẽ có một chuyến tiếp tế bằng đường bộ từ Ban Mê Thuột vào. Ngày tiếp tế sẽ có một cuộc hành quân khá lớn, hai đại đội Đia phương quân thuộc chi khu Lạc Thiện có nhiệm vụ dò mìn, mở đường rồi giữ an ninh từ Liên Sơn qua khỏi đèo Lak ra đến Giang Sơn. Theo chiều ngược lại, Tiểu khu Darlac cũng có hai đại đội Địa phương quân dò mìn và sau đó giữ an ninh từ phi trường Phụng Dực vào đến Giang Sơn. Thường thì khoảng mười giờ sáng, cuộc hành quân mở đường mới hoàn tất, lúc bấy giờ thì đoàn quân xa tiếp tế gồm có hàng trăm chiếc xe GMC của Bộ chỉ huy 5 tiếp vận vùng II chiến thuật, từ Tiểu khu Ban Mê Thuột mới bắt đầu lăn bánh đi vào Lạc Thiện, chở theo đầy đủ mọi nhu cầu thiết yếu như gạo, thực phẩm tươi, lương khô, súng ống đạn dược cho tất cả binh sĩ và dân chúng ở quận Lạc Thiện.

Hình minh họa

Đang nói Sơn Fulro quay qua cằn nhằn với tôi.

-Mày hỏi hơi nhiều làm tao bị phân tâm, quên đầu, quên đuôi.

Nói xong, Sơn Fulro tự gõ vào đầu của nó.

-Tao nói tới đâu rồi? À, chiều hôm đó, đại đội 1 thuộc tiểu đoàn của tao đóng quân gần chợ, trải dài theo những căn nhà của dân, nằm dọc theo con đường đất với hai điểm kích cách xa đại đội cả cây số. Ngay đêm Việt cộng đánh vào quận, họ đi theo con đường này, ngang qua điểm kích mà không biết. Nhờ sự báo động của toán kích này, mà cả đại đội súng đạn sẵn sàng chờ địch. Và như lời quản giáo Thành kể, đại đội đi đầu của Việt cộng kể như bị xóa sổ.

Tôi hỏi Sơn Fulro.

-Mày có biết ông chuẩn úy nào đã chơi đẹp, tha mạng cho quản giáo Thành không?

-Biết chớ, đó là Chuẩn úy Châu. Chính nó kể lại đầu đuôi mọi chuyện cho tao nghe, tuy nhiên Châu giấu biệt chuyện hắn tha chết cho quản giáo Thành. Chuyện này hôm nay tao mới biết, có thể hắn sợ bị hạch hỏi lôi thôi, tại sao không đem tù binh về mà tự động thả. Sau trận đánh kinh hồn với hơn bốn chục Việt cộng bỏ xác tại trận, Chuẩn úy Châu được thăng cấp thiếu úy tại mặt trận. Có điều một năm sau đó, nó chết vì bị Việt cộng bắn sẻ trong một lần dẫn đại đội hành quân mở đường ra Ban Mê Thuột. Lúc nãy xém chút nữa là tao đã nói với quản giáo Thành, thằng chuẩn úy tha chết cho ông tên là Châu và hắn đã chết rồi, nhưng tao kịp thời ngưng lại bởi vì nếu tao nói ra, thì tao phải khai luôn thời gian tao đi biệt phái cho Đại đội Fulro. Điều mà tao giấu kín không khai trong tờ khai lý lịch.

Đến đây, như chợt nhớ ra điều gì mới, Sơn Fulro cười khoái chí.

-Mày nhớ không, quản giáo Thành nói “Mấy thằng giặc lái Ngụy khôn tày trời” vì không biết nên ông ta mới nói như vậy. Thật ra theo lời kể của Chuẩn úy Châu, đêm đó chỉ có pháo binh yểm trợ là của phe mình, còn trực thăng bắn rocket cũng như C47 thả hỏa châu suốt đêm, là do ba thằng cố vấn Mỹ đi hành quân với đại đội gọi đến, chính họ điều động, hướng dẫn phi cơ đánh phá. Có điều này hơi khác thường mà tao muốn lưu ý với mày, thường thì Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến hoặc Bộ Binh khi hành quân cấp tiểu đoàn, mới có cố vấn Mỹ tham dự. Chỉ riêng chi khu Lạc Thiện của tiểu khu Darlac, rất nhiều lần đại đội Địa Phương Quân đi hành quân là có khoảng ba cố vấn Mỹ đi theo. Tao không hiểu, tại sao lại có chuyện ưu tiên khác thường như vậy.

Ngay buổi tối hôm đó, tôi nằm trằn trọc đắn đo suy nghĩ suốt cả đêm, cuối cùng tôi viết cho vợ một bức thư ngắn gọn.

“Con mình là trai hay gái, anh ở trong trại học tập tốt, lao động tốt, một ngày không xa, anh sẽ được Cách mạng cho về đoàn tụ với gia đình. Anh là Nguyễn Trọng Quân.”

Tôi liều mạng đưa thư cho quản giáo Thành, rồi hồi hộp chờ đợi. Sở dĩ tôi nói liều mạng vì vẫn còn chút nghi ngờ. Việt cộng nói mười ngày là mười tháng, cũng có thể là mười năm. Tin Việt cộng khác nào binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã tin vào Hiệp định Paris do chính Việt cộng ký kết, đến nỗi nước mất nhà tan phải mang thân tù tội.

Hình minh họa

Ba ngày sau, khi tôi còn đang ngồi họp tổ, quản giáo Thành đến lôi tôi ra một góc vắng rồi nói.

-Tôi đã xé bỏ thư của anh rồi, anh có biết tại sao không? Thư anh viết không có đạt yêu cầu.

Hồn vía lên mây, tôi không hiểu quản giáo Thành muốn nói gì. Tôi nhớ lại, trong thư tôi viết rất đơn giản không có gì đụng chạm đến chính trị, không nói xấu Cách mạng, tại sao lại không đạt yêu cầu.

Thấy tôi đứng đờ người ra như tượng đá, quản giáo Thành nói.

-Mới bị giam có mấy tháng mà các anh sợ bóng sợ gió, sợ chúng tôi như sợ cọp, sợ đến nỗi viết thư cho vợ mà chỉ viết có mấy chữ. Vợ mình sanh cho mình đứa con, anh cũng nên thăm hỏi sức khỏe của cô ta và nói một vài lời động viên tinh thần.

Tôi mừng như vừa thoát khỏi một đại nạn nên vội vàng nói, giọng nói lắp ba lắp bắp.

-Thưa anh…, tôi…tôi sẽ viết thêm.

Tôi đứng ngẩn ngơ nhìn theo quản giáo Thành đang đi chầm chậm về phía cổng trại, bước chân của ông ta hơi khập khà khập khểnh, do bị thương tật trong một trận đánh ở Lạc Thiện với lính Việt Nam Cộng Hòa.

Bâng khuâng tôi tự hỏi mình, những việc làm đầy tình người của quản giáo Thành, có thay đổi được lòng căm thù Cộng sản trong tôi hay không? Hỏi rồi tự trả lời, dưới mắt của tôi, người lính Việt cộng với cái nón cối trên đầu, bộ đồ ka ki Nam Định, cây súng AK trên vai, đôi dép râu lẹp xẹp dưới chân, ngồi trên chiếc xe tăng T54, hình ảnh đó đại diện cho một chế độ độc tài, man rợ, bội ước. Nó đại diện cho một đội quân xâm lược, đi đánh phá gây ra không biết bao nhiêu là tang tóc đau thương cho người dân Miền Nam, kéo cả nước Việt Nam đi thụt lùi hàng thế kỷ. Ngày nào mà Việt Nam còn bị đặt dưới ách cai trị của đảng Cộng sản, ngày đó người dân Việt Nam còn phải làm nô lệ phục vụ cho những tên Cộng sản đang cầm quyền ở Hà Nội.

Hành động đầy lòng nhân từ của quản giáo Thành, tôi sẽ luôn luôn ghi nhớ trong lòng, nhưng chắc chắn không thể nào đánh đổ được thành kiến xấu xa về Việt cộng đã có từ mấy chục năm trong đầu của tôi.

“Thầy phong thủy”

baotreonline.com

Nguyễn Sinh

Post on February 24th, 2024

Post by Sơn râu 19 Mar 2024

Khi gặp phải chuyện khó khăn trong cuộc sống, một số người thường tìm đến với phong thuỷ nhằm mong sớm thay đổi vận mệnh. Sự thay đổi thế nào chưa rõ nhưng những phiền toái, rắc rối, mất tiền … luôn là có thật.

Bát nháo các thầy/bà phong thủy   

Phong thủy biến tướng

Hiện nay, trên các trang mạng như Facebook, Zalo, TikTok, Instagram, Twister…có rất nhiều hội, nhóm hay trang cá nhân tự giới thiệu mình là các thầy/bà phong thủy với các clip quay sẵn đang say mê thuyết trình về phong thủy, luận giải lá số … Bằng chiêu thức che phủ bởi “lớp màn” huyền ảo trộn lẫn giữa tử vi, tâm linh, khoa học hoặc gắn với các bài nghiên cứu chính thống của các chuyên gia về phong thủy nổi tiếng xưa nay, các thầy/bà phong thủy này dễ dàng tạo ra sự tò mò, hấp dẫn đã thu hút hàng nghìn, chục nghìn lượt vào xem, bình luận, chia sẻ.

Song như đã nói, các dịch vụ thầy/bà phong thủy hiện nay đang trở nên bát nháo, lợi dụng sự cả tin của mọi người nhằm moi tiền, trục lợi. Các loại thầy/bà phong thủy này thường dùng đủ chiêu trò chèo kéo “tín đồ”, thậm chí hù dọa. Nếu tìm hiểu kỹ dễ thấy mỗi người phán mỗi kiểu, kiến thức đôi khi nhầm lẫn lộn xộn. Có những thầy/bà nhận xem bao quát đủ thứ, từ gieo quẻ, tử vi, tứ trụ, bói toán, ngày tốt giờ tốt đến tìm mộ người thân, ngoại cảm, xem tuổi xây nhà, ngày giờ cưới hỏi… và mục đích sau cùng của họ là chào bán các thứ đồ pháp khí, vật phẩm phong thủy. Chẳng hạn các loại đá phong thủy, từ vòng đeo tay, đeo cổ, nhẫn, bông tai cho tới tượng Phật, kim bài, linh phù, hồ lô, hồ ly, tỳ hưu, cóc thiềm thừ, cóc ngậm vàng, cá chép vượt vũ môn … có giá từ vài trăm nghìn đến chục triệu VNĐ/chiếc. Tất cả đều được quảng cáo rất kêu mà theo lời phủ dụ, cái gì cũng nên mua, cũng tốt, dễ dàng thăng tiến, phát tài, phát lộc làm gì cũng gặp may mắn, nhanh chóng thành đạt (?). Nói chung, nếu là người nhẹ dạ, cả tin hay…nhát gan, chắc chắn sẽ bị lạc vào mê hồn trận này không biết lối ra.

Hồ lô tài lộc

Đi thực tế

Qua “chỉ điểm” của anh Minh (56 tuổi, Thủ Đức) vốn là một tín đồ “nghiện” phong thủy, tôi tìm đến thầy Huy – người được “giới làm ăn” xem là “thầy phong thủy có mắt trời nhìn thấu mọi sự” – nhờ tư vấn giúp việc mở quán nhậu có chương trình “hát với nhau”. Sau cuộc điện thoại, tôi được thầy hẹn đến nhà riêng ở gần Công ty Coca-Cola (Linh Trung, Thủ Đức) lúc 18 giờ chiều. Có mặt sớm lúc 15 giờ, tôi làm quen, hỏi chuyện một phụ nữ đang ngồi chờ đến lượt. Chị này tên Thảo, ngụ Bình Thạnh, kể: “Tôi nghe tiếng thầy Huy đã lâu nhưng nay mới có dịp đi xem. Do thời gian gần đây công việc làm ăn không suôn sẻ, vợ chồng lại lục đục nên đến nhờ thầy giúp”. Một người khác tên Phát, ngụ Gò Vấp, cho biết: “Sau khi xây nhà xong công việc của tôi liên tục gặp trục trặc, con cái bệnh tật hoài, nhiều người khuyên tôi tìm thầy Huy xem phong thủy thế nào để tìm cách hóa giải…”.

Đến lượt, tôi được một trợ lý của thầy Huy mời vào. Đối diện trước mặt tôi là một người đàn ông khoảng trên 50 tuổi, trên bàn bày la liệt sách phong thủy … Vừa gặp nhau, dù tôi chưa nói gì, thầy đã tự giới thiệu: “Tôi là thầy phong thủy theo trường phái Huyền Không Phi Tinh có thể biết hết quá khứ, xem được hiện tại và thấy cả tương lai. Ví dụ mới đây có một gia đình nọ nhờ tôi xem phong thủy. Tôi chỉ đứng ngoài xem góc và hướng ngôi nhà là biết ngay trong nhà có một người bệnh thần kinh, một người già yếu bệnh tật và một đứa con phá của. Chủ nhà thừa nhận gia cảnh đúng như vậy và nhờ tôi hóa giải. Bằng Huyền Không Phi Tinh, tôi đã hóa giải thành công, giúp gia đình đó thoát đại nạn…”.

Cóc thiềm thừ

Thầy còn “khoe” có nhiều người đến với mình vốn là kỹ sư, tiến sĩ, giám đốc công ty, chủ ngân hàng (?). Tiếp nữa, sau khi hỏi tôi vài thông tin cơ bản, thầy bấm đốt tay tính toán một lúc và phán: “Tháng Giêng không phù hợp để khai trương quán xá đâu, phải chờ qua tháng 2 mới tốt. Thêm nữa, anh về phải cho cưa bỏ cái cây xanh đang án ngữ phía trước cửa, mua thêm bức tượng Di Lặc cười mà tôi đã chạm khắc sẵn quẻ chú độc quyền đặt phía trước để thu hút tài lộc…”. Tôi hỏi bức tượng Di Lặc cười (nghe nói làm bằng đá thạch anh, cao khoảng 25 cm) giá bao nhiêu. Thầy Huy đáp: “Chẳng bao tiền! Chừng …12 triệu VNĐ!”

Phong thủy theo khoa học

Theo ý kiến của một số chuyên gia, phong thủy học, nếu hiểu đúng phong thủy sẽ góp phần làm môi trường sống đẹp hơn, cân bằng hơn và tâm lý của mọi người thoải mái hơn.

Chuyên gia nguyên cứu phong thủy Tuấn Thịnh (Tân Bình), người có hơn 20 năm nghiên cứu về phong thủy cho biết: Cái nôi của phong thủy phương Đông phải kể đến Trung Quốc, vốn là học thuyết nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến đời sống hoạ phúc của con người.

Khi văn hóa bị ảnh hưởng, du nhập rồi kinh tế phát triển, người ta có nhiều thứ để quan tâm cũng là lúc phong thủy được đề cập. Cùng với đó khi xã hội xảy ra quá nhiều sự bất ổn, người ta có khuynh hướng tìm đến phong thủy xem như liều thuốc tinh thần giúp chúng ta tĩnh tâm, tin tưởng vào những gì mình đang làm. Tất cả chỉ là phép “thắng lợi tinh thần”. Tuy nhiên, vì được khoác lên chiếc áo nửa hư nửa thực mà thời nay, phong thủy được xem là vũ khí để những kẻ tự xưng mình là “thầy/bà” làm chiếc vỏ bọc kiếm tiền.

Lời kết

Nói chung người đi xem phong thủy cần hết sức cảnh giác về những “lời phán” của họ và đừng mù quáng tin theo. Vì có sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt hay không là do bản thân mình chứ không thể nào chỉ dựa vào mấy viên đá, mấy thứ vật phẩm kia mà thay đổi được!

Một số loại vật phẩm phong thủy được chào bán

NS

Ông Thủ hiến cấm!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on October 29th, 2020

Post by Sơn râu 19 Mar 2024

Nói nào ngay, vụ bịnh trầm cảm do căng thẳng thần kinh nó có từ thuở ông Adam với bà Eva lận kìa. Có thể là lúc Adam đi săn, Eva sợ cọp, sợ beo ăn thịt mất “anh yêu” của mình. (Mà ông trời chỉ cho em có một “anh yêu”, một “của quý” thì đâu còn có thằng cha nào khác nhào vô điền vào chỗ trống chớ). Do quá sợ mất “của quý” nên Eva bị căng thẳng thần kinh, từ từ tiệm tiến tới bị trầm cảm, cười đó rồi khóc đó. Căn bịnh của Eva, người phụ nữ đầu tiên của nhân loại, di truyền tới tận ngày nay cho quý “em yêu” thừa kế. Căn bịnh trầm cảm của quý “em yêu” đã và đang làm quý “anh yêu” bỏ cha cả lũ!

Phần Adam đi săn bắn kiếm ăn, cực chẳng đã, phải bỏ “em yêu” ở nhà, không có láng giềng hàng xóm để rủ nhau qua đánh bài tứ sắc giải sầu trong lúc chàng vắng nhà? Lo cho em quá, nên Adam từ từ cũng trở nên hơi tưng tửng.

o O o

Trong đời sống quay cuồng của xã hội công nghiệp này nay, có tới 45% người Úc bị ảnh hưởng về sức khỏe tâm thần trong một thời điểm nào đó của đời mình.

Xã hội ngày càng tân tiến thì căng thẳng cũng tiến lên theo. Sợ thằng “boss” mới cà chớn nói: “Hãy coi tui như là bạn. Nhưng là một người bạn có quyền nắm đầu, đá đít chú mầy ra khỏi công ty”.

Vậy là, muốn chạy trốn căng thẳng thần kinh, một anh chàng Hồng Mao, mới 27 tuổi, mà đã làm lớn trong ngân hàng, lương một năm tới 75 ngàn bảng, chịu hết nổi phải bỏ việc trốn sang Don Det, một đảo nhỏ, vùng quê hẻo lánh trên sông Mekong tuốt tận bên nước Lào.

Nhà bằng tre để vui với cỏ nội mây ngàn, đi câu cá ngoài sông hay đi săn bắn trong rừng. Dẫu nhớ tía, nhớ má, nhớ bạn, nhớ bè nhưng thằng chả nhứt quyết không quay lại đời sống xô bồ, xô bộn ở nước Anh nữa. Sống nơi khỉ ho cò gáy, chó ăn đá gà ăn muối này, không có quán rượu để bù khú với bạn bè mỗi khi chiều sụp tối. Ðêm về không có Facebook của thời buổi hiện đại, (hại điện) để tìm bạn bốn phương, gỡ rối tơ lòng xong rồi cùng nhau chửi lộn nữa!

o O o

Ðó là chuyện tự nguyện cách ly, cô lập mình với thiên hạ (toàn là những đứa quá huỡn, không có việc gì làm nên nhiều chuyện, chuyên chõ mỏ vô đời tư vợ bé vợ mọn của mình; rồi tới tai con vợ mình để gây ra biết bao điều rắc rối) hồi xưa kìa. Chớ trong thời buổi Coronavirus (COVID-19) nầy, dù muốn dù không, tui cũng bị ông nội Daniel Andrews, Thủ hiến tiểu bang Victoria nước Úc nầy cấm ra khỏi nhà quá 5 cây số; cấm chiều chiều nhong nhong đi nhậu từ độ tháng Ba.

Tay Thủ hiến nầy xin Quốc hội Victoria cho phép đặt tiểu bang trong tình trạng khẩn cấp trong vòng 12 tháng tới. Daniel Andrews liền hiện nguyên hình là một tay độc tài phát xít như nhiều người dân Victoria chửi.

Ông nội con nít đặt ra đủ thứ điều cấm mà ngay cả chính ông còn không nhớ hết mình đã cấm những cái giống gì?

Chánh phủ Lao động của ông bỏ tiền dân đóng thuế ra để mướn các công ty an ninh tư nhân. Nhân viên an ninh không được đào tạo cơ bản về phòng dịch; nên cứ tự nhiên mang cái con Coronavirus nằm sẵn trong phổi của dân Úc từ hải ngoại trở về, vô tư đi phát cho người vài con.  Hậu quả làm cơn đại dịch bùng phát lần hai, từ ngày 20 tháng Sáu tới nay, gần 3 tháng trời ròng rã. Hàng trăm ông già, bà lão trong nhà Dưỡng lão phải mất mạng.

Dân Úc hỏi: “Ðứa nào quyết định ngu như thế?” thì thầy đổ bóng, bóng đổ thầy. Tới nay chỉ có bà Bộ trưởng Y tế và ông Chánh văn phòng Nội các bị đem ra tế thần. Dù hai con dê nầy gân cổ cãi: “Tội chung đừng có bắt mình tui phải chịu nhe!”

Bị dân chửi quá xá, cái ghế Thủ hiến đang rung lắc dữ dội, không biết sụm bà chè lúc nào. Nên ông Thủ hiến đâm ra bối rối, hổng biết lần đường nào mà làm cho dân bớt giận, bớt chửi đây?

Ông Thủ hiến nên nhớ là trong khi chờ có thuốc chủng ngừa COVID-19 – mà sớm lắm theo các nhà khoa học về phòng dịch thì đầu năm tới hy vọng mới có – thì chúng ta phải tìm cách sống chung với nó.

Con người có hai loại sức khỏe: thể chất và tâm thần. Thể chất thì ai cũng sợ bị mắc dịch, sợ chết. Tâm thần, nếu ông cứ khăng khăng nhốt cả 5, 6 triệu dân tiểu bang Victoria như nhốt tù; (dù họ hổng có tội gì), thì ông không sợ tụi tui sẽ phát điên hết ráo hay sao cha nội?

Một giải pháp quá cực đoan của ông, một đứa dân ngu khu đen, dốt đặc cán mai như tui cũng biết. Cái tụi tui cần là ông phải cân nhắc thiệt hơn những thiệt hại do con Coronavirus “Made in China” nầy gây ra để có những biện pháp thích hợp cho cuộc sống của người dân, cho công ăn việc làm, và sức khỏe nữa chớ!

Suốt 6 tháng trời nay, ngày nào cũng thấy mặt ông trên truyền hình. Bữa nay ông nói cũng không khác gì hôm qua. Mà ngày mai chắc cũng lại là một cuốn băng cũ, quay tới quay lui hoài, nên nó nhão nhẹt hè! Nếu có khác, chỉ là một con số thống kê. Nói ông đừng buồn, tui chán ông còn hơn chán cơm nếp nát.

Tranh Bảo Huân

Nói nào ngay, khác với các nước độc tài cộng sản, chó cứ sủa và đàn lạc đà cứ đi; nước Úc nầy, đỡ một cái, là dân chửi đám chánh trị gia nó rét, nó phải nghe vì sợ bị mất chức.

Vì thế, Chủ Nhựt, ngày 19 tháng Mười, “mông xừ” Daniel Andrews, Thủ hiến tiểu bang Victoria, có thể nới tay bớt bóp cổ bà con mình đang khò khè, nghẹt thở. Những hạn chế có thể được bãi bỏ vào thứ Hai, ngày 19 tháng Mười tới, Có thể là: Một, bỏ cái vụ không được quyền đi khỏi nhà mình quá 5 cây số. Hai là cho khoảng 5 người khách đến nhà thăm viếng lẫn nhau coi nó có chết hay chưa?

Nhiêu đó cũng làm tui bớt quạu đôi chút, vì có thể tụ bè tụ đảng đi mua đồ nhắm ở nhà hàng về nhà đứa nào đó; vừa cầm ly vừa nói dóc để không bị bịnh trầm cảm.

Tiệm hớt tóc chắc cũng được mở. Mỗi lần chỉ cho một đứa vô để thầy hù mang khẩu trang như Ninja đè đầu đã rồi móc túi lấy tiền. Còn cái vụ các quán cà phê và nhà hàng ở Melbourne cho đặt bàn, đặt ghế ở ngoài đường để bán buôn kiếm chút cháo cầm hơi chắc còn lâu.

o O o

Trong thời buổi ôn dịch Coronavirus, COVID-19 này, nói thiệt với bà con nhe, tui cũng không là ngoại lệ, cũng bị căng thẳng thần kinh, bị trầm cảm lắm đó.

Một tuần không nhậu, không được bù khú, đấu láo với bè bạn thì cũng được đi. Mà cả 6 tháng trời dài đằng đẵng ai mà chịu cho thấu chớ?

Nhớ hồi xưa, hơn 1/4 thế kỷ trước, có cái “đít” không và một bầu đoàn thê tử, tui vẫn sống được trên nước Úc này cho tới ngày nay. Phẻ re như con bò kéo xe, tui chưa hề bị bịnh trầm cảm bao giờ!

Tui sống như một con trâu. Sáng hừng đông đi cày bừa, tối sương sương vài ly rồi ngủ. Tuần nào y như tuần nấy. Từ từ, tui biến thành một người máy trong xã hội công nghiệp Úc hồi nào tui cũng hổng có hay?

Bây giờ thất nghiệp, huỡn mà bạn bè lại không gặp được. Ði ra đi vô cứ gặp mặt “em yêu”, nghe chửi chó, mắng mèo hoài thì ai chịu cho nó xiết?

Chịu hết xiết lời cằn nhằn, cửi nhửi của “em yêu”, nên một hôm, tay cầm cái va-li, tui hùng hồn tuyên bố với “em yêu” là: “Tui chán cái nhà nầy quá rồi… Tui đi đây!”.

Rồi sực nhớ ông nội Thủ hiến nầy cấm mình đi khỏi nhà quá 5 cây số. Hổng tuân theo, thằng chả cho cảnh sát phạt cả ngàn đô, thì tiền đâu mà mình đóng? Vậy là tui xách va-li trở vô để tiếp tục bị bịnh trầm cảm, nói cho dễ hiểu hơn là bị khùng, cũng bởi tại con COVID-19, Made in Tàu cộng nầy, nó đã và đang gây ra đau khổ cho đời tui và nhân dân toàn thế giới.

Sao nhìn cái bản mặt của Chủ tịch Trung quốc, Tập Cận Bình, tui ghét quá hè! Tất cả cũng tại cái chế độ Cộng sản Trung quốc của nị, chuyên dối dưới lừa trên!

ĐXT

Hùm Xám Cai Lậy.

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on March 8th, 2024

Post by Sơn râu 19 Mar 2024

Mần văn mà dùng chữ trật hay bị rầy lắm nhe! Chẳng qua có độc giả cắc cớ hỏi: “Tại sao ông dám hỗn hào gọi con rồng cháu tiên là Mít hả?” Bộ ông chê người mình chữ không đầy cái lá mít hay sao? Dạ oan cho tui lắm! Tui đâu dám. Tui chỉ giỡn chơi thôi. Chớ chữ ‘mít’ này là tiếp vĩ ngữ của chữ ‘An-na-mít’. Hồi xưa, Tây gọi nước mình ‘Annam’ còn người Việt là l’Annamite.

Không ẩu xị như tui, anh bạn nhà báo của tui thủ cẳng; né trước chắc ăn; khỏi bị thiên hạ ném đá lỗ đầu. Ảnh có cái tánh không biết xấu hay tốt: “Thấy sang là bắt quàng làm họ”. Nhứt hạng nếu người sang là dân Mít của mình.

Chẳng qua Giáo  sư Jonathan Van-Tam chuyên gia phòng dịch hàng đầu của nước Anh, được Nữ hoàng Elizabeth II của nước Anh, hồi chưa băng hà, phong tước ‘Sir’ (Hiệp Sĩ). Ảnh dặn tui là: “Từ rày về sau viết bài về ổng mình phải kêu ổng bằng “Sơ”. “Sơ” đây không phải là bà Sơ (Seur) mà là ‘Sir’ đấy ạ.

Sir Jonathan Stafford Nguyễn Văn Tâm MBE sinh năm 1964, chuyên gia ngành dịch tễ học. Sir Jonathan Van-Tam là cháu nội của Thủ tướng quốc gia Việt Nam cờ vàng ba sọc đỏ Nguyễn Văn Tâm từ năm 1952 tới 1953.

Sir Jonathan Stafford Nguyễn Văn Tâm 

Nghe ảnh dạy vậy; giờ tui mới tin thông minh là do di truyền! Chớ không phải do mình ăn nhiều cá đâu nhe. Nếu nghĩ ăn cá là thông minh và muốn thông minh cỡ cháu nội của Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm-Hùm Xám Cai Lậy, chắc tui phải ăn hết một chục con cá voi!

Nghe tui nói vậy, anh bạn nhà báo lên giọng thầy đời: “Đừng có đi săn cá voi ở Nam Cực về làm món ‘sushi’ như mấy thằng Nhựt; chúng chửi chết. Anh ăn sò lông còn thông minh hơn ăn cá voi. Sò lông bên Việt Nam thiếu gì? Anh không thấy Tết mấy cha Việt kiều ùn ùn bay về bển hay sao?” Nhưng tui thưa rằng: “Ai dám ăn lông ở lỗ còn tui thì không. Vì con vợ tui nó hổng cho! Nên tui vẫn còn ngu như một con bò!”

Báo chí hồi xưa cho biết: “Ông Nguyễn Văn Tâm sinh năm 1893 tại Tây Ninh. Xuất thân là thầy giáo, sau ông chuyển qua hành chánh, ngạch đốc phủ sứ. Tiếng Pháp của ông lưu loát và rất hay. Tánh ông rất nguyên tắc như máy móc. Năm 1938, ông Tâm cho một bạn thân người Pháp tên là Mariani coi tấm hình Nguyễn Văn Hinh, con trai ông Tâm, lúc ấy đang theo học tại trường Võ Bị tại Pháp. Vậy mà khi Mariani từ Sài Gòn xuống Cai Lậy xin mượn chiếc ghe gắn máy đuôi tôm để đi thăm ruộng ở kinh Tổng đốc Lộc; dù đi cùng nhưng ông Tâm vẫn bắt ông bạn thân phải ký vào biên bản mượn tài sản công. Ghe đến một cái làng, trên bờ hương chức hội tề đánh trống chầu nghinh tiếp. Mũi ghe không cặp được sát vào bến. Muốn lên phải lội nước, hoặc từ mũi ghe nhảy lên bờ. Có người muốn cõng ông chủ quận lên bờ cho khỏi ướt 2 cái ống quần. Nhưng ông từ chối, tự mình nhảy phóc lên bờ, miệng nói: “Cậu thấy chưa, tôi có võ mà”.

Sính làm thơ, ngày đầu nhận chức chủ quận Cai Lậy, ông Nguyễn Văn Tâm mời các nhà tai mắt trong quận đến dự tiệc và xướng họa thơ phú với nhau. Rồi dựa vào ý thơ, ông nhận ra ai là người thân cộng sản, ông ra lệnh bắt giam. Nhờ chống nội tuyến nằm vùng kiến hiệu nên năm 1940-1941, ông Nguyễn Văn Tâm dập tắt ngay được cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa do Đảng CS Đông Dương xúi giục. Từ đó, người dân Cai Lậy đặt cho ông chủ quận Nguyễn Văn Tâm biệt danh “Cọp Cai Lậy” hay “Hùm xám Cai Lậy”.

Thủ Tướng Nguyễn Văn Tâm trao kiếm cho Khóa sinh Sĩ quan Thủ Khoa

Nhưng có một tay ăn cơm quốc gia thờ ma CS, lên mặt thầy đời, dạy rằng: “Nên nhớ thời Pháp thuộc, không phải ai chống Pháp đều là cộng sản. Hèn chi có người tặng cho câu ‘Đại điểm quần thần. Đại điểm là chấm to. Quần thần là bầy tôi. Nói lái lại là: chó Tâm bồi Tây. Ông ta rút cuộc cũng là Việt gian”

Rồi một tay dư luận viên khác hùa vô: “Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm bị đặt biệt danh ‘Hùm Xám Cai Lậy’ vì ổng tàn ác và lạm quyền. Rồi tay này hỏi là trong lịch sử và văn chương Việt Nam có viên quan nào cai trị dân có tiếng tốt mà người dân, thuộc hạ gọi là cọp (gây khiếp sợ cho người dân) không?

Nghe vậy, anh bạn nhà báo của tui nóng mũi đốp lại: “Nghi ngờ nội tuyến chỉ là bước đầu. Bước kế là phải điều tra để tìm ra bằng chứng. Bước cuối mới truy tố nghi can ra toà. Đâu phải nghi rồi muốn bắt ai mà bắt như CS tuyên truyền; như ông đoán bậy bạ đâu nhe?”

Thứ Hai là ngày 11 tháng 3 năm 1945, Vua Bảo Đại ký đạo dụ ‘Tuyên cáo Việt Nam độc lập’, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884 để khôi phục nền độc lập, thống nhứt Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ.

Từ trái: Tướng Nguyễn Văn Hinh, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, Hoàng thân Nguyễn Phúc Bửu Lộc và Phan Huy Quát năm 1954

Hai ông có biết: ‘Việt gian’ là một từ của VC xài để khủng bố người dân rồi cho họ đi “mò tôm” không? Chúng đặt điều bôi xấu Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm; vì ổng là một người quốc gia chống cộng.

‘Hùm xám’, cọp 3 đầu rằn, binh chủng Biệt động quân, là hình ảnh oai hùng của những người mạnh nhất, của những anh hùng. Nguyễn Du trong truyện Kiều tả Từ Hải: “Râu hùm hàm én mày ngài”. Quang Dũng trong bài Tây Tiến với câu thơ: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm”.

Tóm lại, người quốc gia chúng tôi hiểu hùm, cọp là anh hùng. Chúng tôi không thoá mạ những người mà dân miền Nam hằng kính trọng. Chúng tôi không vu cáo, đặt điều Thủ tướng Nguyễn Văn Tâm như các ông đã từng vu cáo: “Phan Lâm bán nước” (Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp). Hoặc các ông chửi bới nhà bác học Petrus Trương Vĩnh Ký, người có công rất lớn trong việc cổ suý chữ Quốc ngữ là thứ chữ các ông đang xài, là ‘bồi Tây’ là ‘Việt gian’ là ‘bán nước’.

Là người quốc gia yêu nước, anh bạn nhà báo thân mến của tui một lòng một dạ theo nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu: “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”

Ảnh khuyên tui: Nếu lên mạng đọc, đừng tin ngay, phải nhớ thầy Mạnh Tử: “Tận tín thư, bất như vô thư”. Đừng biến mình thành loài nhai lại.

ĐXT

Bắt nóng xứ lạnh

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 31/01/2019 

Post by Sơn râu 19 Mar 2024

Theo lời bày vẽ, từ quận nhất tìm về Phú Nhuận cứ đâm xe ra Cách mạng tháng 8, quẹo Nguyễn Thị Minh Khai gặp Pasteur, chui vô hẻm sát bên tiệm phở Ngân xong gặp Huỳnh Tịnh Của, quẹo phải đụng Lý Chính Thắng… chỗ ông Paul Khamvanongsa thuê nằm gần cầu Kiệu. Mô tả thêm: Tầng lầu hai, ba cánh cửa gỗ đều sơn xanh, ngoài ban-công có giàn hoa leo, đôi lúc treo ở đó cái lồng chim, thỉnh thoảng giọng nó hót gửi được tiếng vui tai xuống dưới con hẻm chật.

Paul Khamvanongsa là người Lào, thông thạo tiếng Pháp và giỏi đàm thoại tiếng Việt. Ông thuê nhà ở đó đã được ba tháng. Tôi tìm đến ông là để dọ hỏi về tin tức má. Má tôi sang Lào đã gần năm, chẳng biết bà kiếm ra công ăn việc làm như thế nào. Lòng tôi nóng, đêm ngủ đón gặp những hình ảnh xấu xa. Má sợ chuyện gì mà chẳng hề viết về cho tôi một lá thư? Câm lặng mãi là chuyện không nên, do vậy bà tìm tới một nhịp cầu dọ dẫm bắn tiếng.

Paul là đầu cầu giúp thông thương, là con chim bay được qua biên giới để chuyển hộ tin tức cho má con tôi vơi bớt bao ngờ vực thấp thỏm hoang mang. Trái ngược với hình ảnh trong ca dao là má chưa gả chồng cho tôi thì bả đã đi xa, chim kêu vượn hú còn biết tới nhà con không?

Paul cao hơn tôi cả cái đầu, da rám nắng, rắn chắc. Ông với lấy chiếc áo thun tròng vào thân sau khi mở hé cánh cửa. Áo in hình con voi xám mốc hoen ố trước ngực. Tôi đoán chừng Paul lớn hơn tôi cả chục tuổi. Ông luôn gọi má tôi bằng chị. Ông nhận xét, mới đầu nhìn qua, biết ngay em là con của chị ấy, hai người giống nhau quá.

Hình như người Lào thích ăn xôi? Tôi đã ghé chợ Tân Định mua hai dĩa xôi, một nấu cùng lạp xưởng với nấm mèo, một còn lại là xôi ba màu nấu với nước dừa. Tôi mang đặt giữa bàn, hỏi: Ông đã ăn gì chưa? Paul nói chưa, tôi có ý đợi Lan tới để cả hai cùng đi ăn hủ tiếu. Tôi nhớ là má của em vẫn thích ăn hủ tiếu. Bên Phonsavan ở Luang Prabang có tiệm chuyên bán hủ tiếu Nam Vang.

Paul đi vào phòng bên thay đổi áo quần, lục đục một chốc khi trở lại với đầu tóc ướt, thẳng thớm những đường răng lược chải tém lui sau. Ông mang một vẻ tự tin, như thể biết chắc là tôi sẽ thuận lòng để ông dắt ra hàng quán. Hủ tiếu thì muôn đời vẫn hấp dẫn hơn xôi. Ông chả vội loan tin, ông nén cái bí mật đó nhằm thế một hấp lực quyến dụ. Khúc cà-rốt chờn vờn để tôi hoá thân làm con lừa ngóng tới, đi theo. Má tôi từng quả quyết, rằng người Lào họ thật thà hơn người mình. Tôi vào mạng lưới thông tin của internet dẫn dắt, biết được hiện nay Lào vượt trội bỏ xa “thằng” Việt Nam nhiều lãnh vực kể cả hệ thống giáo dục. Không cứ là Lào, xứ Campuchia cũng đang qua mặt anh láng giềng chẳng thèm bóp còi. Người Việt giờ này chỉ vin vào mỗi thứ bóng đá để tự hào, sau khi cất cao đầu về mục sản xuất gái đẹp, hoa hậu top 5 các thứ. Đâu có ai tự hào khi mất biển mất đất? Mình đừng hãnh diện, đi bão, cởi truồng vì thứ ấy, nhớ? Gái thì ba vòng rất chuẩn mà chữ S thì ngày mỗi thu bé lại, hết điện nước đầy đủ.

Chúng tôi đang trên đường đi tới quán ăn của người Miên. Ông Paul muốn thế chứ thực chất ở Sài Gòn thiếu cha gì món ăn ngon hơn, đậm đà bản sắc dân tộc. Tôi ghét mấy đứa Việt kiều khi vào quán, trước khi ăn đã xơi cả nạm thuốc trị tiêu chảy, ngừa ngộ độc thực phẩm, không mó tay tới rau xanh. Chúng chê quê hương mình sao quá bẩn. Tôi chưa có cơ hội được đi đây đi đó, nghĩ là tầm hiểu biết của mình chỉ tròn như miệng giếng. Sạch cỡ nào? Vệ sinh ra sao tôi nào hay! Chúng tôi quen sống với thứ triết lý: Ôi dà, hơi đâu, trâu bò mấy sạch!

Paul gọi hủ tiếu khô, tôi chọn nước. Trong mâm cơm ngày xưa bao giờ má cũng nấu một món canh, không thể thiếu. Hình như người nào mạng thuỷ đều ướt át, nhạy cảm dễ mềm lòng? Tôi ngồi vòng tay quan sát khuôn mặt kẻ đối diện.

Paul nói: Tôi biết Lan sốt ruột nhưng cứ ăn xong bữa rồi hẳn hay, chuyện gì cũng còn có đó. Ở bên kia, giờ này thời tiết chắc không đến nỗi nực nội như chốn đây.

Paul moi trong túi áo ra tấm ảnh: Lan nhìn ra ai không?

Má, tôi suýt buột miệng khi nhìn xuống người đàn bà bối tóc cao khoác vào thân chiếc áo đặc thù của phụ nữ Lào. Mượn đầu heo nấu cháo. Lạ chưa. Má tôi mà mặc áo dài, bà đã không trẻ đẹp tựa thế. Ui, ở đây mà quặn lòng nhớ má xa quê hương. Tôi không biết tiếng Lào, và tiếng Miên tôi biết duy chỉ một câu: Ăn xà lon bon tê? Có thương tui không?

Chị Mai có gửi về cho Lan năm trăm đô, chốc nữa tôi sẽ giao. Không viết thư, chỉ nhắn miệng là mọi việc vẫn ổn. Tấm ảnh Lan vừa xem chứng minh rõ về sự ổn kia.

Mai là tên má tôi. Đẻ ra tôi mang tên Lan, sau này tôi có chồng sinh con gái cháu được gọi là Cúc. Nếu theo đúng hàng chữ trên tấm pa-nô dựng ngoài xa lộ, đường về Vũng Tàu: “Mỗi gia đình hai con vợ chồng hạnh phúc” thì đứa sau ắt sẽ mang tên Trúc. Mai Lan Cúc Trúc là bốn giống cây thuộc hàng tứ quý? Hy vọng vẫn là hy vọng, đặt điều vẫn là đặt điều; bây giờ muốn cầm cự với cuộc đời, gia đình buộc phải có người mang thân đi gieo trồng, cắm dùi ở phương xa. Mai đi Lan ở lại nhà, húp tô hủ tiếu thiệt là đắng cay, má làm gì chẳng cho hay, ngồi nghe người thuật nhạn bay cuối trời.

Lan hiện đang làm việc chi?

Làm đủ thứ. Vừa xin được chân thợ may trong một xí nghiệp nằm tuốt Bình Dương. Muốn sang Lào thăm má có dễ không?

Cũng chẳng khó gì. Đợi tôi về thăm dò tình hình bên đó ra sao, quan trọng là ở chị Mai, biết chị ấy có thuận lòng? Chị nói gặp khó khăn thì cho chị hay chứ đừng lặn lội đi thăm làm chi cho tốn kém.

Quan hệ giữa hai người ra sao, có thể cho tôi biết không?

Ờ, chỉ trao đổi tiếp xúc do công việc thôi, chuyện tình cảm thì không xảy ra, chị Mai vẫn ở vậy. Thế nào có lúc chị ấy cũng về thăm Lan. Đừng nghĩ bậy. Trong phong bì này là năm tờ giấy 100 tiền Mỹ, tấm ảnh đó trao cho Lan giữ. Trước khi chia tay mình nên nhờ ai đó chụp giùm một tấm ảnh, tôi sẽ khoe chị Mai, làm chứng cớ là đã gặp Lan.

Tôi đang ở thời gian chọn lựa, nhẫn nha, chẳng nóng vội. Có ba chàng mặt mày cũng không đến nỗi nào sẵn lòng chìu chuộng làm vui lòng tôi. Dĩ nhiên cả ba anh này đều người Sài Gòn cả, tôi vốn chẳng mấy ưa dân tứ xứ vừa nhập cư. Huế Hà Nội thì em chã em chã.

Khi kiếm ra việc làm ở Bình Dương, tôi buộc phải làm màn sàng lọc cuối. Một người tên Trung xẳng xái: Có sao đâu, nơi kia có nhà tía má anh. Địa lợi, nhân hoà đã thủ đắc, giờ chỉ mong vào thiên thời thì ngon ăn cho Lan.

Trung tháp tùng theo tôi về Bình Dương, săn lùng giúp tôi một nhà trọ xét thấy an toàn cho thân gái dặm trường trú ngụ. Chỗ này nằm gần nhà ông bà già của Trung, gặp khó khăn Lan cứ chạy qua chạy lợi, có sao đâu. Theo quy định, mỗi cuối tuần từ Sài Gòn, Trung sẽ chạy xe máy về thăm tôi vào trưa chủ nhật, kéo nhau đi ăn và cũng có thể hôn hít bậy bạ cho vơi nỗi nhớ xa mặt cách lòng. Trung kiếm đâu ra cái khung để lồng bức ảnh má tôi vào, treo ngay ngắn trên đầu nằm. Tôi có kể cho Trung biết là má hiện ở bên Lào, Trung đơm mộng ước có ngày hai đứa nắm tay nhau đột ngột qua thăm má. Ôi, cảnh đoàn viên sao mà lắm cảm động. Ai đây? Chồng mày sao Lan? Ừa, đẻ hối cho má một mụn cháu để ẵm để bồng để à ơi thương ai nên phải đi đêm, nhớ ai nên quyết mần thêm keo này. Một liều ba bảy khéo bày, chơi cho tới bến đoạ đày nhân sinh.

Chủ nhật ấy Trung không về thăm, dù không thích, miễn cưỡng tôi quyết định đi tới gõ cửa nhà tía má Trung. Họ đón tôi với bộ mặt khác thường, Trung bị tai nạn xe máy trên cao tốc rồi ư? Má Trung nói: Cháu chưa hay tin gì sao? Ra cà phê net mà xem tin hôm qua phiên toà xử tội, triệt phá một đường dây vận chuyển ma tuý tinh vi tuồn về từ Lào phân phối khắp nước.

Đầu tiên là Paul Khamvanongsa, kế đến một gã trung niên mang tên Trần Văn Lương, tiếp theo trên băng ghế gỗ là bị can Nguyễn Thị Hoa Mai, là má tôi mặc áo bà ba cổ cột khăn rằng đen trắng. Cả ba ngồi cứng thân trên ghế, cổ tay có còng số 8 làm vật trang sức chớp nháy. Hai tội phạm nam ngậm miệng, quai hàm bạnh ra; riêng người đàn bà thì khản giọng: Oan cho tôi quá. Ma tuý là thứ gì cả đời tôi nào hay biết. Lan ơi, xui cho má số đen đủi ở lần lặn lội đường xa về thăm con. Má mua làm quà hai đòn bánh tét hai cái bánh chưng… có ai mà dè…

Tôi bỏ công ăn việc làm, bắt nóng một chiếc xe ôm hối hả biểu chạy lẹ về Sài Gòn. Tôi không tin vào phiên toà sơ khởi ấy, quá khứ luật pháp xứ này đã diễn ra biết bao oan khuất với thứ luận điệu “thà bắt nhầm hơn bỏ sót” mà họ thường rêu rao. Năm trăm đô má cho tôi chỉ mới hư hao có phân nửa. Tôi sẽ cầm cự sống thở cho đến hồi được gặp mặt má, tôi sẽ nói to: Con tin là má bị người ta gài bẫy, bắt oan.

Tôi sẽ viết một lá đơn xin được đi tù, yêu cầu giam chung khu vực với má. Nếu đơn không được chấp nhận tôi sẽ tìm cách vượt biên sang Lào, phản bội tổ quốc để hít thở bầu trời tự do. Cộng hoà xã hội chủ nghĩa việt nam. Độc lập tự do hạnh phúc. Đơn Xin Được Vào Ngục Tù. Tôi tên Hồ Thị Lây Lan, 23 tuổi… Mực nhoè hoen dòng chữ chẳng ngay hàng. Mày vừa khóc sao Lan?

Hồ Đình Nghiêm

Bận sau nhớ làm cây thông | Thiệt tội trời

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 02/03/2018 

Post by Sơn râu 19 Mar 2024

Tranh Pablo Picasso

Bận sau nhớ làm cây thông

có loài hoa nở về đêm
nên mặt trời đỏ
thẹn thêm bóng tà
trăng đâu phải sáng ánh ngà
mà tròn đến khuyết hỏi hà cớ chi?
dáng xa về gần đôi khi
bình minh người đợi khả thi hôn hoàng
hoa ăn sương nghe bất toàn
gái tiếp thị đứng mặt xâm mày xoàng
nở làm chi nguyệt quế quàng
vai và bá cổ nặng đoàn đảng viên
ai xui bia bọt uống liền
nút đơm hai hột lộ miền đồi non
nước dâng giải hạn một lon
bàn tay năm ngón đã mòn lũng khe
người thua cuộc áo sờn che
giải phóng tiếp mụt măng tre tàn đời
hoa hướng dương hát sai lời
bởi chăng bóng tối phủ mời quỷ ma

tội em pháp nạn chửa tha
hồng nhan tiền kiếp khó ra ngục tù
nhập kho vì chẳng ô dù
an ninh một bọn lù đù ngó vô.

Thiệt tội trời

mềnh quen một nhà thơ
nữ mới nổi tiếng bài
đi đái trong bồn cầu
làm mấy ông lầu bầu
nhăn nhó đàn bà rằng
mần răng qua ngọn cỏ
xanh phê rồi bình đỏ
con mắt ngó như chộ
mặt nàng nguýt với háy
cam làm. quýt đâu chịu
chảnh vậy. mần gì nhau?
buồn vui mềnh lo ngang
dọc lưới mạng xã hội
đen có khi hoá trắng
lỡ nàng dính án oan
ôi ông địa. thị kính
lão đắc thọ khai mau
thật thà vành móng ngựa
nước kiệu nhân thân xấu
tiểu tiện vào chế độ
mi fa sắc vàng khè
sủi bọt khô nước miếng
toà khoan hồng phát bông
vệ sinh khi vào tù
nhỡ trăng sáng kinh nguyệt
mắc võng trường sơn xưa
mới chưa qua sử dụng

đụng độ chất xám tuôn
trào ra bài tân cổ
tui từng dòm mặt ảnh
đẹp giai hơn anh mao
lông lờ đâu chai mặt
háng nào biết lăn tăn
chớ lo bò trắng răng
ri rứa thêm rách việc
màng trinh nghĩa như nhau

nay ở trong thơ nên
mặc sức rặn ỉa đái
thép xung phong xuống biển
minh bạch cá chết thôi
nước thải chất dơ bẩn
đỏ như. đỏ như màu…
khẩu nghiệp tui đã tường
vách mọc loạn lỗ tai.

Hồ Đình Nghiêm

Đất ta ta ngồi-Trời ta ta đứng

Post by Sơn râu 19 Mar 2024

Hình ảnh: Họp bạn Hướng Đạo thế giới 2011/2019

Đất ta ta ngồi

Trời ta ta đứng

Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi

Nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông

Anh em ta oi đường dài đường dài còn nhiều trở ngại còn nhiều gian khó

Kiên gan, kiên gan anh em ta ơi cố tâm vượt qua.

Hay quá hay quá là hay-Xin thưởng một tràng pháo tay

Hay quá, hay quá là hay

Xin thưởng cho một nụ cười Ha-Ha-Ha

Chúng ta hôm nay hiệp vầy, giữ chặt mối dây.

Sông núi không ngăn tình thương

Mưa gió không lay can trường

Chúng ta hôm nay hiệp vầy, cùng nhau nắm tay

Dẫu khi xa xôi đường dài, lòng ta chớ phai

Sớm khuya không quên giờ này, giữ chặt mối dây
Chúng ta hôm nay hiệp vầy, giữ chặt mối dây

Nét thương yêu nhau tỏ bày, giữ chặt mối dây

Tâm trí ta luôn cùng nhau, thanh khí ta nên tương cầu.

Nhà tù hình chữ S

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by6 Sơn râu 19 Mar 2024

Hình minh họa

Tập 3

Phần 4
Cắt cổ cứu người

Ba ngày Tết của tù nhân Tổng trại 8 tù binh lặng lẽ trôi qua trong u sầu, buồn bã, niềm vui khi có được cái bánh chưng, nửa chai bia, nửa chén cơm, không đủ khỏa lấp nỗi buồn thương nhớ gia đình. Suốt ba ngày Tết, đa số tù nhân thường tìm một nơi vắng vẻ, ngồi ăn miếng bánh, uống ngụm bia, yên lặng sống cho riêng mình rồi nhớ về những cái Tết đầm ấm, vui tươi, bên người thân trong quá khứ. Chút hạnh phúc nhỏ nhoi ấy, mới đó đã chìm sâu vào trong trí nhớ của tù nhân.

Tối hôm qua, khi tiếng kẻng báo giờ ngủ vang lên được chừng mươi phút, một tù nhân trong khối Đà Lạt của tôi tên là Hoàng, nhà anh ta ở Đa Thiện gần Viện đại học Đà Lạt, bị bệnh về đường hô hấp thở không được, mặt mày đã bắt đầu tím xanh lại vì thiếu oxy. May mắn cho anh Hoàng, khu B trung úy của chúng tôi có Trung úy Bác sĩ Hồ, chuyên khoa tai mũi họng. Ông bác sĩ này sau khi khám bệnh, đã phát hiện ra anh Hoàng bị bệnh bạch hầu với biến chứng nặng nên gần như bị nghẹt thở. Muốn chữa bệnh chỉ có một cách duy nhất là phải giải phẫu ở cổ, đặt một ống nhựa vào khí quản để bệnh nhân tạm thời thở được, và sau đó phải đưa đi bệnh viện có đầy đủ phương tiện để tiếp tục cứu chữa. Chuyện giải phẫu phải làm gấp càng sớm càng tốt, nếu không chỉ vài giờ sau bệnh nhân sẽ bị nghẹt thở mà chết. Mặc dầu đã hơn chín giờ tối rồi nhưng khối trưởng và khối phó của khối 5 Đà Lạt, có nhiệm vụ phải báo cáo lên quản giáo về bệnh tình của tù nhân Hoàng để xin ý kiến. Từ khối 5 Đà Lạt đến chỗ quản giáo ở bao xa, tôi không biết được, thế nhưng khoảng nửa giờ sau, khi tôi mới thiu thiu ngủ, bỗng giật mình nghe giọng nói oang oang như là ra lệnh bên ngoài phòng của tôi. Với giọng nói đầy uy quyền như vậy, nếu không phải quản giáo thì còn ai vào đây nữa.

-Không có bệnh hoạn gì đâu, lâu quá mới ăn bánh chưng nên bị nghẹt ở cổ thôi. Anh khối trưởng xin ai có dầu Nhị thiên đường thoa vào là hết ngay.

Một vài tiếng động nhỏ nổi lên trong phòng khiến tôi đoán là có người đã thức dậy. Tôi không biết trại C thiếu úy và trại A đại úy, tù nhân ngủ như thế nào, nhưng trại B trung úy của tôi tất cả tù nhân được ngủ xếp cá hộp trên những tấm vỉ sắt PSP.

Trung úy Lợi giật nhẹ tay áo của tôi rồi nói nhỏ.

-Mẹ nó, ỷ là quản giáo rồi muốn nói gì thì nói sao, mấy ngàn ông quan bị giam ở đây đều ăn bánh chưng, tại sao chỉ có một ông bị nghẹn ở cổ.

Tôi cười thầm trong bóng đêm vì cái lối lý luận của Trung úy Lợi, tôi nói với hắn.

-Mày có để ý không, ông quản giáo này cũng biết dầu Nhị thiên đường, như vậy ông ta là dân Miền Nam tập kết, nếu không ông ta cũng ở trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chứ không phải chính quy Bắc Việt.

Trung úy Lợi thì thầm.

-Mày nói đúng.

Cũng ngay lúc ấy, giọng nói của ông quản giáo lại vang lên.

Hình minh họa

-Anh đòi mổ ngay cần cổ rồi thọc cái ống nhựa vô để cho người bệnh thở, phải không?

Một giọng nói chắc nịch vang lên, mà tôi đoán là của Bác sĩ Hồ.

-Thưa anh đúng.

Giọng của quản giáo đầy bực tức.

-Anh định lấy con dao chặt bí ở nhà bếp để cắt cái cần cổ của người ta, rồi gọi đó là chữa bệnh. Có phải anh muốn làm như vậy không? Nếu không mổ thì chuyện gì sẽ xảy ra?

Giọng nói của Bác sĩ Hồ trở nên rụt rè.

-Thưa anh, ảnh sẽ chết trong vòng hai tới ba giờ nữa.

-Làm sao anh biết được?

-Thưa quản giáo, tôi là bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng.

Tới đây cả hai người đều im lặng một lúc thật lâu, sau cùng tôi nghe được giọng của quản giáo dịu xuống.

-Được rồi, các anh có thể chuẩn bị mọi việc để mổ, chuyện hơi khó đó, tôi cần phải đi xin lệnh ở trên.

Hơn nửa giờ trôi qua, tôi nằm thao thức, trằn trọc hoài không ngủ được, cuối cùng đành phải ngồi dậy nhìn qua khung cửa sổ phòng của mình. Đối diện với tổ 37 của tôi là nhà của khối trưởng, cách hai căn có một căn phòng trống, bệnh nhân Hoàng đang nằm trong căn phòng này. Trước phòng có dăm bảy người liên quan đến việc giải phẫu, đang tụ tập bàn tán, những người không có nhiệm vụ phải trở về phòng ngủ. Không một ai được đứng trước cửa phòng bệnh, vì bác sĩ cũng như bệnh nhân cần một bầu không khí thông thoáng để thở.

Tôi lò dò bò ra khỏi tấm vỉ sắt PSP, xỏ chân vô đôi guốc rồi đi đến bên cạnh anh khối trưởng xin tình nguyện làm một người sai vặt. Tôi nói với khối trưởng là mình muốn đóng góp chút công sức, nhưng thật ra tôi tình nguyện chỉ vì tò mò, muốn coi ông bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng, dùng loại vũ khí nào để đánh nhau với thần chết, giành giật lại cái mạng sống đang nằm dưới lưỡi hái của tử thần.

Thời gian chờ đợi dường như kéo dài cả thế kỷ, cho đến khi tôi thấy từ xa một người tay cầm đèn pin với ánh sáng chói lòa trong đêm, quét qua quét lại trên mặt đất. Nhìn ánh sáng di động theo bước chân đi, tôi biết là quản giáo đã trở lại, bởi vì ở trong tù chỉ có quản giáo mới có quyền dùng đèn pin. Anh khối trưởng tay nắm mấy con dao hình dạng hoàn toàn khác nhau, vì do tù nhân tự làm lấy, tay phải cầm cái ống nhựa cong cong, cáu bẩn đen sì. Tôi biết cái ống nhựa ở đâu mà có rồi, đó là cái cần điếu bát hút thuốc lào của mấy ông lực sĩ tổ 38.

Tôi điểm qua thật lẹ, thành phần tham dự ca giải phẫu gồm có, Trung úy Bác sĩ Hồ là người trực tiếp cầm dao mổ, phụ tá cho ông có một bác sĩ gây mê, ông bác sĩ này đứng một bên làm cảnh, bởi vì con dao mổ còn không có, ở đó mà đòi thuốc mê với lại thuốc tê. Cạnh đó một ông Nhảy Dù và một ông thuộc Sư đoàn 23 Bộ Binh, hai ông này trước 30 tháng 4 đều là Trung úy Đại đội trưởng, họ hét ra khói, nói ra lửa, bây giờ chắc chỉ có nhiệm vụ đứng đó kể kềm kẹp, nếu bệnh nhân vùng vẫy. Quản giáo là quan sát viên cũng là người giám sát cuộc giải phẫu, phụ tá cho ông ta có anh khối trưởng. Tôi đứng đó chờ được sai vặt. Về mặt nhân sự coi như đầy đủ. Sang phần dụng cụ giải phẫu chỉ gồm có mấy con dao, những con dao này tù nhân khi đi lao động nhặt được dây đeo súng của lính Mỹ, đem về trại tách cái nẹp sắt ra, đập thẳng rồi mài thành con dao. Hình dáng hay kích thước của con dao tùy theo sở thích của mỗi tù nhân khi chế biến. Những con dao làm theo kiểu thủ công như vậy chỉ có thể dùng để gọt vỏ trái cây, nếu đem dùng làm dụng cụ giải phẫu coi bộ hơi khó khăn cho ông bác sĩ. Tất cả mấy con dao đều được khử trùng bằng cách luộc trong nồi nước sôi, đặt ngay trong phòng giải phẫu, bên cạnh là một ngọn đèn dầu leo lét cháy. Một điều may mắn cho bệnh nhân là Trung úy Bác sĩ cũng chỉ khoảng ba mươi tuổi cho nên mắt của ông ta cũng còn sáng tỏ. Sau khi đưa mắt nhìn quanh một vòng căn phòng giải phẫu, bác sĩ bèn xin khối trưởng tăng cường thêm một cây đèn cầy nếu được. Yêu cầu của bác sĩ được khối trưởng thỏa mãn ngay lập tức.

Hình minh họa

Khi cuộc giải phẫu sắp bắt đầu, khối trưởng quay nhìn tôi rồi nói nhỏ.

-Chắc không cần thêm người đâu, anh Quân có thể về phòng ngủ, mai còn đi lao động.

Cũng khá khuya rồi, dám hơn mười một giờ như không, khi tôi về đến phòng thì mọi người đều đang say sưa trong giấc ngủ. Tôi nhẹ nhàng bò vô chỗ của mình, bò thật nhẹ cố gắng không gây lên tiếng động. Trong cái sâu thẳm của đêm dài vô tận, tôi nằm đó đầu óc cứ lởn vởn về mấy con dao mổ mà ông bác sĩ sẽ dùng để giải phẫu. Hình ảnh của một con gà bị cắt cổ với con dao cùn, người cắt cổ gà cầm con dao cưa qua, cứa lại, đẩy lên kéo xuống, còn con gà thì cố gắng vùng vẫy trong đau đớn tuyệt vọng. Vạn vật học năm đệ nhất cho tôi biết, trong cổ của con người có một mạch máu lớn dẫn lên đầu, rồi thực quản, khí quản, thanh quản, ba bốn thứ hầm bà làng cùng nằm ngay đó. Dưới ánh đèn dầu le lói sáng, bệnh nhân nằm đó không được gây mê vì không có thuốc. Con dao cùn của ông bác sĩ chỉ cần lệch đi một phân, mạng sống của bệnh nhân không biết sẽ về đâu. Tôi ôm cái mối lo của một người vô tích sự, chìm vào giấc ngủ mà lòng đầy băn khoăn, thắc mắc, rồi thương cho ông bác sĩ lẫn bệnh nhân, vì biết họ đang phải chiến đấu với tử thần.

Tiếng kẻng báo thức vang lên khi trời mới mờ sáng, chuyện tôi nghe được đầu tiên trong ngày là cuộc giải phẫu thành công mỹ mãn, anh bạn của chúng tôi đã thở được nhờ cái ống nhựa hút thuốc lào đặt xuyên qua vết mổ nơi cổ. Mọi chuyện tốt đẹp, chỉ còn chờ đưa bệnh nhân ra bệnh viện Phan Thiết để tiếp tục chữa trị. Tôi ăn sáng trong vui vẻ miệng nhai miếng bột mì luộc, uống ly nước lạnh, mà cứ tưởng như là đang ăn ổ bánh mì thịt, thưởng thức ly cà phê sữa nóng nơi quán cà phê bình dân của chị Huệ ở đường Phan Bội Châu Đà Lạt. Tôi vui vì bạn mình đã thoát được lưỡi hái tử thần trong đường tơ kẽ tóc, vượt qua cuộc giải phẫu có một không hai đầy bất trắc, trong điều kiện nghiệt ngã với những dụng cụ của thời thượng cổ, khi mà con người còn ăn lông ở lổ, sống chui rúc trong hang động.

Trước sự thành công vẻ vang của cuộc giải phẫu, đám tù chúng tôi thừa thắng xông lên, không chống Mỹ cứu nước mà lại hăng hái vác cuốc sẻng đi lao động. Buổi chiều, khi đám tù nhân chúng tôi đi làm lao động về, mặt trời lúc ấy tròn như một cái mâm, đỏ ối, cũng đã mấp mé trên đầu bức tường vỉ sắt PSP đen đủi xám xì. Chưa về đến khối Đà Lạt, tôi đã nghe tin tức về bệnh nhân. Anh Hoàng không được bệnh viện Phan Thiết cho nhập viện để được chữa trị, lý do rất đơn giản vì anh là sĩ quan Ngụy, là người có tội với nhân dân, với tổ quốc và hiện đang ở tù. Tôi nhìn những vệt nắng cuối cùng của một ngày cũng vừa chìm khuất sau bức tường sắt PSP âm u lạnh lẽo, màu đen của đêm tối phủ xuống trại tù Sông Mao, kéo theo cái hy vọng mỏng manh được cứu sống của anh Hoàng. Chuyện bệnh viện Phan Thiết từ chối không cứu chữa cho anh Hoàng đã xác nhận tù nhân Ngụy không phải là người, cho nên Cách mạng không cần bận tâm. Anh Hoàng phải ở lại trong trại tù Sông Mao, phải tự lo lấy thân mình, sống hay chết không phải là trách nhiệm của ban chỉ huy trại. Trong tình huống nghiệt ngã như vậy, còn nước còn tát, để cứu chữa cho bạn mình, khối trưởng kêu gọi tù nhân trong trại B trung úy, ai có thuốc trụ sinh xin gom lại giúp cho bệnh nhân, vì nếu không có thuốc trụ sinh, vết mổ sẽ bị nhiễm trùng dẫn đến tử vong. Bên cạnh việc xin thuốc, bệnh nhân cũng cần phải ăn uống để sống, sữa với đường là hai loại thực phẩm duy nhất có thể giúp cho bệnh nhân duy trì sự sống, trong giai đoạn hậu giải phẫu. Lời kêu gọi của khối trưởng giúp đỡ bệnh nhân là chuyện hoàn toàn đúng, thế nhưng rất nhiều tù nhân đói đến rã họng, có người từ ngày vào tù cho đến ngày hôm ấy chưa biết được tán đường ngọt hay mặn, thì làm sao họ giúp được. Câu nói “hỏi nơi khố rách” không còn gì đúng hơn trong trường hợp này. Một số ít tù nhân có tiền, có thực phẩm nhưng nếu đem giúp bạn thì lại sợ bóng sợ gió, tôi nằm trong số những người đó. Khi đem mấy tán đường và năm đồng đến gặp khối trưởng, mặc dù đã phòng bị trước nhưng tôi vẫn ngạc nhiên khi anh khối trưởng trợn mắt hỏi tôi.

Hình minh họa

-Ở đâu mà Quân có nhiều tiền dữ vậy? Một đồng đã là tốt lắm rồi.

Không dám nhìn thẳng mặt anh khối trưởng, tôi lật đật nói trớ đi.

-Số tiền này của tổ 37 quyên góp được, họ nhờ tôi đem đến giúp anh Hoàng.

Một tuần lễ trôi qua, anh bạn của chúng tôi vẫn anh dũng chiến đấu chống lại tử thần, với sự giúp đỡ đầy nhiệt tình của Bác sĩ Hồ. Cho dù biết là cuộc chiến không cân sức, thế nhưng hai người vẫn cầm cự ngày đêm không biết mệt mỏi. Vì bệnh nhân không ăn được, nên bác sĩ phải kiêm luôn y tá, bởi vì chỉ có một mình ông biết cách cho bệnh nhân uống sữa mà không bị chảy lan qua vết mổ nơi cổ.

Mỗi ngày trôi qua, tình trạng sức khỏe của anh Hoàng lại giảm đi một ít, có vài lần tôi trông thấy anh ngồi trước cửa phòng với tấm thân gầy gộc chỉ còn xương bọc da, đôi mắt thất thần nhìn bâng quơ lên trời cao. Hơi thở của anh phập phồng qua cái ống nhựa, qua miếng bông băng vàng úa, giống như miếng vải mùng to bằng bàn tay che vết mổ nơi cổ. Vậy mà bốn tuần lễ đã trôi qua, bệnh nhân và bác sĩ vẫn kiên cường chiến đấu. Tôi đoán rằng, cuộc chiến sắp đến hồi kết thúc, cái chết sẽ đến với anh Hoàng trong một ngày rất gần.

Vào một buổi trưa, khi chúng tôi đang chuẩn bị lãnh cơm, một chiếc xe Pegeot 203 đi vào trại chạy thẳng đến gần khối 5 Đà Lạt của chúng tôi. Chiếc xe sơn hai màu, thân xe màu đen mui xe màu trắng ngà, tôi biết đây là chiếc xe taxi của thành phố Đà Lạt, nơi tôi sống. Chiếc xe quá quen thuộc với tôi, Đà Lạt có khoảng hai chục chiếc taxi sơn hai màu như vậy, thường đậu ở bến số 1 trước nhà hàng Chic Shanghai, và bến số 2 trước rạp cine Ngọc Hiệp để chờ khách.

Vừa thấy chiếc taxi, tôi đã có linh cảm là anh Hoàng được thả về để người nhà lo ma chay cho anh, thay vì nhốt anh chết ở trong trại. Anh Hoàng được hai người tù dìu lên xe, anh được trả tự do nhưng không một cái vẫy tay, không một lời nói từ biệt với bạn bè bởi vì thanh quản của anh đã bị nhiễm trùng quá nặng, chưa chết nhưng có thể anh đã bị câm. Khi chiếc xe taxi sơn hai màu đen, trắng ngà, khuất sau khúc quanh nơi cổng mang theo anh bạn tù người Đà Lạt của chúng tôi, lúc bấy giờ tôi mới giật mình tự hỏi. Anh Hoàng bị một thứ bệnh mà y học lúc bấy giờ có thể chữa trị dễ dàng, nhưng không may cho anh là bệnh đến không đúng lúc, không đúng chỗ khiến anh phải chết. Ngày ấy nếu bệnh viện Phan Thiết có cho anh nhập viện thì anh vẫn phải chết như thường, vì khoảng đầu năm 1976 bệnh viện Phan Thiết cũng như hàng trăm bệnh viện ở Miền Nam chỉ còn có cái vỏ bên ngoài, bao nhiêu thuốc cũng như dụng cụ y khoa đã lên xe về miền Bắc hết rồi, và điều tệ hại hơn là gần như một trăm phần trăm bác sĩ Ngụy đều đang ở trong tù. Điều hành khám bệnh trong bệnh viện chỉ là những y tá từ trong rừng Trường Sơn, họ hành sử giống như những con người sống ở trên cây, rành cách sử dụng cây xuyên tâm liên trị bá bệnh, hơn là thuốc trụ sinh và con dao mổ của y học Tây phương. Anh bạn tù của tôi có hai nơi chữa trị bệnh cho mình, thứ nhất ở trong trại tù Sông Mao có dư bác sĩ nhưng lại thiếu dụng cụ y tế và thuốc men, thứ hai bệnh viện Phan Thiết ở ngoài trại tù chỉ còn tên với cái vỏ bên ngoài, không bác sĩ không thuốc. Cả hai nơi đều dẫn đến chỗ chết, như vậy không trước thì sau, anh bạn của tôi cũng phải chết thôi.

Trại tù cải tạo Sông Mao, mười giờ đêm trong căn nhà trại gia binh cũ, bệnh nhân nằm dài trên một tấm vỉ sắt, dưới ánh sáng mù mờ của một cây đèn dầu và một cây đèn cầy, vài con dao thô sơ do tù nhân tự chế, một cái ống nhựa của bình thuốc lào. Không phương tiện khử trùng, không thuốc mê, không thuốc trụ sinh, ông bác sĩ Ngụy mổ cổ bệnh nhân, thọc cái ống nhựa vào cho bệnh nhân thở, trong nhất thời để kéo dài sự sống của bệnh nhân. Câu hỏi đặt ra là sẽ duy trì cuộc sống ấy được bao lâu? Một tháng, hai tháng, một năm, hai năm?

Ngày 27 tháng 01 năm 1973 hiệp định Paris ký kết, Việt Nam Cộng Hòa được đưa lên bàn mổ ở bên Pháp. Mực chưa khô trên bản Hiệp định ngưng chiến, Việt cộng đã tiếp tục đem quân lính và vũ khí xâm nhập Miền Nam. Trong khi đó Việt Nam Cộng Hòa mỗi ngày một cạn dần nguồn tiếp liệu, không còn đạn dược xăng dầu. Với những điều kiện khắc nghiệt như vậy, Việt Nam Cộng Hòa sống sót từ hiệp định Paris năm1973, cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 mới chịu sụp đổ, đó phải là một phép lạ.