Phan Rang, đất tận cùng?

quanvan.net

Hoàng Long Hải   

Post by Sơn râu 26 Mar 2024

Theo tổ chức hành chánh triều Nguyễn, Ninh Thuận, tên chánh thức, không được coi là một tỉnh vì diện tích nhỏ, dân ít. Tỉnh lớn, hoặc hai ba tỉnh gom lại, đứng đầu cơ quan hành chánh là Tổng Đốc (hàm thượng thư), tỉnh nhỏ là Tuần Vũ. Ninh Thuận cũng như Đà Lạt, “tỉnh” nhỏ nhất thì gọi là Đạo. Đứng đầu đạo là “Quản Đạo”. Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, năm 27 tuổi, trước khi làm thượng thư, từng giữ chức vụ “Quản Đạo Ninh Thuận.”

Một ít về lịch sử:

Thời Bắc Thuộc, ranh giới giữa Cửu Chân của Giao Châu và nước Chiêm Thành là đèo Ngang? Đời Lý, năm 1069, khi vua Lý Thánh Tông đem quân đánh Chiêm Thành, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Vua Chiêm xin dâng đất Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính để xin chuộc tội.

            Đó là cuộc xâm lăng và chiếm đất Chiêm Thành đầu tiên của người Việt Nam.

Theo học giả Thái Văn Kiểm, những cái tên như Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính, còn lại trong các vùng đất như huyện Bố Trạch, thuộc tỉnh Quảng Bình, và Vĩnh Linh, Gio Linh, thuộc tỉnh Quảng Trị.

            Cuộc Nam Tiến của người Việt được tiếp nối với vua nhà Trần, “đổi” Công Chúa Huyền Trân để lấy đất hai châu Ô và Rí (sách viết là Lý. Viết Lý là sai, nhưng chữ Nho không có chữ Rí nên phải viết trại là Lý). Cũng theo cách suy luận như trên, tên châu Ô nay còn lại ở địa danh sông Ô-Lâu, ranh giới Quảng Trị Thừa Thiên, một trong ba con sông đổ nước vào phá Tam Giang, và Nam Ô (phía nam châu Ô), nơi sản xuất nước mắm nổi tiếng ở phía nam đèo Hải Vân.

            Chính sách xâm lăng của “Đại Việt” trong cuộc Nam Tiến không thiếu phần độc ác và tàn nhẫn.

            Sai khi Bình Định Vương đánh đuổi quân Minh về Tầu, Vương giành được quyền tự chủ, thì Chiêm Thành cũng không còn bóng quân Tầu, lại chịu ảnh hưởng Đại Việt. Chiêm Thành lại bị chia thành hai nước: Vijaya (Đồ Bàn) Panduranga (vương quốc).

            Chia để trị vẫn là chính sách xưa nay trên toàn địa cầu.

Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh đánh Chiêm Thành. Sau khi thắng trận, để tận diệt nước Chiêm, vua Thánh Tông chia Chiêm Thành thành ba nước: Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan, đặt ba nước có ba ông vua “mâu thuẫn nhau”. Tự ba ông vua nầy chống nhau, để “tự diệt”. Từ đó về sau, người Chiêm chỉ có thể thực hiện những cuộc nổi dậy nho nhỏ, chứ vua Chiêm không thể đem quân đánh phá Đại Việt như trước kia, và dân tộc Chiêm dần dần tiêu vong.

Ba nước Chiêm nầy ở phía Nam đèo Cả.

Để ghi lại công trạng của mình, vua Lê Thánh Tông lên “Núi Đá Bia”, tên chữ là “Thạch Bi Sơn”, cho khắc một bài thơ vào cái bia đó. Ngày nay, Thạch Bi Sơn vẫn còn bài thơ.

Dân tộc Chiêm bấy giờ chia làm ba: Một số còn bám lại đất tổ ở phía nam đèo Cả, chính yếu là ở Phan Rang và vùng phía tây xứ nầy, một số khác di cư về Châu Đốc, lập thành một xứ người ta gọi là “Chà Châu Giang” và một số chạy qua Cam-Pu-Chia. Trước vụ “cáp Duồn” ở Campuchia năm 1970, thời Sihanouk còn làm quốc trưởng, báo chí Saigon có nhắc đến Kasem, trưởng phòng Nhì của quân đội Miên, nổi tiếng tàn ác đối với người Việt bên xứ ấy. Y là người Miên gốc Chàm. Sự tàn ác của y có phải từ lòng hận thù người Việt đã tiêu diệt nước Chiêm?

            Khi Nguyễn Ánh và Tây Sơn chống nhau, người Chiêm theo Nguyễn Vương. Vì vậy, sau khi lên ngôi, để trả ơn, vua Gia Long không có chính sách cai trị khắc nghiệt như dưới thời Minh Mạng.

            Khi Nguyễn Ánh chống nhau với Tây Sơn, vua Chiêm là Po Saong Nyung Ceng từng phò trợ Chúa Nguyễn. Vì vậy, khi lên ngôi, Gia Long cho Po Saong làm vua nước Chiêm.

            Khi Minh Mạng làm ngôi, vì sự mâu thuẫn với Lê Văn Duyệt, nhà vua kiểm soát chặt chẽ xứ Chiêm, bắt Phó Vương là Po Klan Thu (tên Việt là Nguyễn Văn Vĩnh) về giam ở Huế cho đến khi ông nầy qua đời.

            Sự mâu thuẫn giữa vua Minh Mạng và Lê Văn Duyệt đưa tới chính sách cai trị có mục đích tiêu diệt văn hóa Chiêm Thành, xóa bỏ hoàn toàn “Vương Quốc Chiêm”, biến lãnh thổ nước Chiêm thành một tỉnh năm 1832. Nước Chiêm không còn, vua Chiêm cũng không còn và dân tộc Chiêm trên đường tiêu vong. Kinh đô nước Chiêm cuối cùng ở Phan Rang cũng không còn.

            Phan Rang là thủ đô cuối cùng của dân tộc Chiêm.

Văn hóa Chiêm như ngọn đèn sắp hết dầu, bừng lên một chút ánh sáng rồi tắt ngấm. Có phải vì vậy nên ở Phan Rang có nhiều di tích tháp Chàm đẹp và hùng vĩ. Đó là tháp Po Klong GiaRai, Po RôMê xây dựng vào thế kỷ 17, Tháp Mỹ Sơn, Po Nagar… Tháp Po RoMe được coi là một “bản sao” của tháp Pô Klong Giarai.

            Sau khi triều đại Chàm sụp đổ, hình ảnh và lịch sử cũng như dân tộc Chàm để lại nhiều dấu ấn trong lòng người Việt. Ông Lê Đình Khởi, – thầy giáo dạy lớp nhì của tôi, niên khóa 1949-50 -, trước 1945, ông từng làm việc nhiều nơi ở Đông Dương: Phan Rang và cả Phnom Pênh, từng nói với bọn học trò chúng tôi: “Khi đứng trước một cái tháp Chàm, lòng mình bỗng thấy buồn và như tiếc nhớ một cái gì đấy! Có phải trong dòng máu của mình có dòng máu của người Chàm. Trong quá trình Nam Tiến, không hẳn cha ông chúng ta không có việc pha tạp dòng giống giữa người Việt và người Chàm!”

            Tuy nhiên, tập thơ “Điêu Tàn” của Chế Lan Viên,
“khóc than” cho dân tộc Chàm, thì nhà thơ không phải là một người Chàm chính gốc như Chế Linh. Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan, quê ở Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, một thời ông làm thông phán ở Phan Rang. Có phải vì từng làm việc ở Phan Rang mà ông thấy “Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi.”

            Phan Rang là nơi có vũ độ thấp nhất Việt Nam, vì vậy, đây là “vùng đất khô”, chỉ thích hợp cho những loài cây chịu khô, ít nước. Do đó, Phan Rang có một ít phẩm vật nổi tiếng, nhất là tỏi.

            Giống như Bình Định, xuống xe ở ngay trung tâm thành phố, nhìn quanh, du khách chỉ thấy bốn bề là núi, không biết hướng nào là biển, hướng nào là núi, phải định thần một lúc mới nhận ra; nó hoàn toàn khác với Huế, nhìn về phía Tây, người ta thấy ngay dãy Trương Sơn, ngược với hướng Tây là hướng biển Thuận An.

                Vậy mà người Huế và người Qui Nhơn đổ thừa cho nhau câu nói “Sơn bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ da dâm”. Cho tới bây giờ, nói cho ngay tình, tôi không biết câu nầy ám chỉ nơi nào. Phan Rang cũng bốn bề là núi như Qui Nhơn, nhưng không nghe ai dùng câu trên để ví với vùng đất Phan Rang.

            Trên con đường đi về phía Nam, qua khỏi đèo Cả, du khách đôi khi cảm thấy lòng buồn, bang khuâng, và cảm thương cho thân phận người di dân trong cuộc Nam Tiến của cha ông ta ngày xưa.

Thử nghe vài câu:

Mũi Nậy bảy bị còn ba,
Mũi Dinh chín bị không tha bị nào.

            Đi ghe qua Mũi Nậy (nậy có nghĩa là lớn), ở Phú Yên, mang theo bảy bị gạo, ăn hết ba bị là qua được. Qua Mũi Dinh, ở Ninh Thuận, bảy bị gạo, ăn hết cả bảy, chưa chắc qua được. Vậy thì qua Mũi Dinh khó khăn và nguy hiểm hơn mũi Nậy nhiều. Mũi Dinh được xem như điểm “Cực Đông” của vùng bờ biển nước ta.

                        Tiếng ai trên núi véo von,

                        Phải chăng chú lính trên hòn Cù Mông,

                        Xa xa em đứng em trông,

                        Hỏi thăm chú lính thử chồng em đâu?

            Đèo Cù Mông ở Bình Định.

Câu ca dao có vẻ gì như Chinh Phụ Ngâm vậy: Người vợ đi tìm chồng ở ngoài biên ải.

            Vùng đất nầy, ngày xưa đáng sợ lắm đấy: “Cọp Khánh Hòa, Ma Bình Thuận” đấy. Ma Bình Thuận cũng là Ma Hời.

            Năm 1964, sau khi làm giám thị kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp ở Quảng Ngãi, một số giáo sư chúng tôi, vô làm giám khảo ở Hội Đồng thi Nha Trang. Chúng tôi bèn họp nhau thuê xe hơi đi theo quốc lộ. Cho tới bây giờ, tôi còn nhớ những cảm tưởng u buồn về chuyến đi ấy, nhất là khi đi qua đoạn đường Đèo Cả, lòng người lẫn lộn với những ý tưởng về cuộc Nam Tiến của cha ông ta ngày trước. Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, gian nan, khốn khổ còn hơn cả cuộc Tây Tiến của người Mỹ khi họ di cư về phía Tây.

            Phan Rang là quê hương của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu.

            Theo cách kê khai lý lịch của người Việt Nam từ xưa, quê quán hay bản quán của một người, phải kể tử nơi sinh cơ lập nghiệp của cha ông. Các Chúa Nguyễn phần đông sinh ra và lớn lên ở phía nam sông Gianh, nhưng quê quán của họ là Gia Miêu, Ngoại trang Thanh Hóa, phía bắc sông Gianh.

            Nếu tính theo cách đó, thì Phan Rang chỉ là nơi sinh, nơi cư trú (khi còn trẻ) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Vậy quê hương bản quán của Tổng Thống ở đâu?

            Thân phụ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là cụ Nguyễn Văn Trung, gốc là một kép hát của một gánh hát rong nào đó, quê quán ở Cái Bè hay Cai Lậy. Xưa, có những gánh hát bội nhỏ, tương tự như kiểu “Gánh Hát Giữa Rừng” trong “Hương Rừng Cà Mâu” của Sơn Nam. Đó là những gánh hát bội – hồi đó cải lương chưa phát triển như sau nầy, di chuyển bằng ghe, từ xã nầy qua xã khác ở thôn quê. Nơi nào trù phú thì ghé lại hát ở đình chợ, đình làng năm ba nữa. Nơi nào vắng vẻ thì tối hát, sáng “dông”. Có khi tới mùa lúa, gặt hái xong rồi, thì chủ điền kêu gánh hát về, hát năm ba bữa cho tá điền coi chơi, miễn mua vé.

            Gánh hát, trong đó có cụ Trung, khi ấy cụ còn trai trẻ, ghé lại làng Tri Thủy, rồi “nghe theo tiếng gọi tình yêu”, như cách nói của “văn nghệ cải lương”, kép Trung bỏ gánh, lấy vợ, lập nghiệp quê người.

            Sau nầy, khi đã nên danh phận, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu có cho người về Cai Lậy, Cái Bè tìm lại tổ tiên, nhưng không tìm được. Thời gian lâu dài và chiến tranh loạn lạc, không ai còn nhớ anh kép hạt có quê quán xiêu lạc nơi xứ người đã lâu.

            Như vậy thì “huyệt đế vương” của Tổng Thống Thiệu, như ông thường nói, ở đâu? Không chắc ở Cái Bè Cai Lậy, có huyệt đế vương, nhưng đó cũng là nơi sản sinh ra “Vua Hề Trần Văn Trạch”. Làng hề cũng dễ lên ngôi vua. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Saigon ít ra có những “Năm ông vua hề”.

            Vậy chính đất Phan Rang là “huyệt đế vương” của Tổng Thống Thiệu chớ gì nữa!

            Ông sinh trưởng là làng Tri Thủy. Nơi nầy, đúng là “địa linh nhân kiệt”. Trước khi vô làng, người ta phải đi theo một con đường đất, sau nầy được mở lớn, có một “bãi đá”, tên thường gọi là “Bãi Đá Dao” vì ngay chính giữa bãi là một tảng đá lớn, có hình mũi nhọn như mũi dao.

            Bên kia “Bãi Đá Dao”, qua một cái vịnh nhỏ, là một ngọn đồi, có mấy tảng đá, dân làng gọi là “Đá Mặt Quỉ”, mặt mũi giống người, nhưng trông có vẻ ác như mạt quỉ.

            Một bên là “Ông Thiện”, một bên là “Ông Ác”. Dân làng nói vậy. Dĩ nhiên, người dân gần gũi với ông Thiện và sợ ông Ác.

            Hòn Đá Dao ngàn năm như vậy, “vững như bàn thạch”, bỗng đầu năm 1975, hòn đá “tự nhiên” nghiêng sang một bên! Tại sao nó nghiêng được? Người ta không thể hiểu được! Có điềm lành dữ gì hay chăng?

            Trong đời có những “Điềm Lạ” hay có khi người ta gọi là “Điềm Trời”. (Xem “Điềm Trời” cùng tác giả trên VănTuyển.net)

Chẳng hạn như ở Vịnh Hà Tiên, “Hòn Phụ Tử” có cả triệu năm nay, bỗng mấy năm trước đây, “Hòn Phụ” bỗng đổ ùm xuống nước, khiến dân Rạch Giá “sáng tác” câu ca dao:

                        Than ôi “Hòn Phụ” đổ rồi,

                 Dũng còn chi nữa mà ngồi khóc than!

“Dũng” là Nguyễn Tấn Dũng đấy!

            Lại bỗng nhiên, cũng thời gian với “Đá Dao” bị nghiêng, trên Quốc Lộ 1, đoạn ngang qua Phan Rang, một đàn sâu đen, bò ngang qua đường, hết con này đến con khác, liền một dây cả ngày không dứt. Xe đò thấy vậy, e ngại điềm linh thiêng, không dám chạy qua, sợ cán nhằm sâu, làm cho xe bị kẹt một hàng dài.

            Cựu Thiếu tá Nguyễ Văn Tiếp, một “bạn tù” của tôi ở Trảng Lớn, khi ấy làm Chánh Sở Tâm Lý Chiến, Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quân Khu II, kể lại với bạn tù rằng chính anh lãnh nhiệm vụ điều tra việc “Sâu bò qua đường”, xác nhận việc ấy là có thật.

            Vậy rồi Tổng Thống Thiệu từ chức ngày 21 tháng Tư năm 1975. Người ta coi ông như vị “Tổng Thống cuối cùng” của Việt Nam Cộng Hòa, vì Tổng Thống Trần Văn Hương hay Tổng Thống Dương Văn Minh, có làm đúng thủ tục hiến pháp hay không, thì mấy ông nầy chưa cầm quyền cho vững đã phải xuống chức.

            Nhìn lại lịch sử, người ta có thể coi Phan Rang như là một nơi chấm dứt của hai triều đại: Sự chấm dứt của các vua Chiêm. Tại đây nước Chiêm Thành biến mất trên bản đồ, và sự chấm dứt của nước Việt Nam Cộng Hòa có vị tổng thống sinh quán ở vùng đất nầy.

            Điều bí ẩn, – nếu người ta tin như vậy -, thì bí ẩn ấy là ở Phan Rang, vùng đất cuối cùng, chớ không phải ở Saigon, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi Đại Tướng Dương Văn Minh, ra lệnh đầu hàng.

            Sự chấm dứt của một triều đại, dù oan ưng, dù tốt hay xấu  như thế nào, cũng để lại trong lòng người một nỗi buồn, khi “tấn tuồng lịch sử” qua đi.

            Có điều đáng buồn, tháng Sáu vừa qua, khi tôi đến Phan Rang vì việc nhà, không hiểu tại sao tôi không cảm nhận được “Hồn thu thảo” như của Bà Huyện khi Bà trở về thăm lại “Thăng Long thành”. “Tâm hồn chai đá” cũng là điều đáng tiếc cho những ai thấy đời người là đáng thương!

hoànglonghải

Loài cá bị ghét ở nước Mỹ

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

Post on September 16th, 2023

Post by Sơn râu 26 Mar 2024

Người Mỹ yêu thiên nhiên, thích săn bắn, câu cá, nếu câu, họ cũng sẽ thả trở lại sông hồ, hoặc chỉ chọn những con cá đúng tiêu chuẩn về độ trưởng thành.

Tuy nhiên, gần đây, dân Mỹ phát điên lên vì những con cá “nhập cư”, những con cá này thường có nguồn gốc từ Châu Á, cụ thể là Trung Quốc, có thể họ lén mang sang để nuôi, hoặc do phóng sanh, hay bị “lạc” ra sông hồ, và chúng phát triển như vũ bão, “lấn sân” cá bản địa làm mất cân bằng sinh thái và “ô nhiễm” môi trường, ý nói về sự lấn lướt về thể hình cũng như tranh ăn xấu tính của loài cá này…. 

 Bạn là ai?

Người Mỹ gọi chung chúng là cá chép Châu Á (Asian carp), dòng họ gồm: cá chép bạc, cá đầu bự, cá chép cỏ và cá chép đen. Dân Châu Á rất thích cá chép, thậm chí còn được đưa vào truyện thần thoại, như “Cá chép hóa rồng”, không chỉ thần thoại mà cá chép là một món ăn khoái khẩu ở Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc.

Người Mỹ tin rằng các loài cá chép Châu Á đã được du nhập lén lút vào Hoa Kỳ trong những năm 1970 và 1980, nuôi trong ao hồ tại gia và lọt ra ngoài qua hình thức phóng sinh hoặc luồn qua hệ thống nước thải. Ðến những năm 1990, Cơ quan Cá và Ðộng vật hoang dã Hoa Kỳ (U.S. Fish and Wildlife Service, USFWS) cho biết, ban đầu chúng xuất hiện ở lưu vực sông Mississippi, rồi di chuyển về phía bắc sông Mississippi và Illinois và hiện diện 95% trên sông hồ nhiều tiểu bang.

Tệ hại nhất là, chúng sinh sản nhanh như điện..

Cá chép Châu Á (Asian carp)

Tăng trưởng như vũ bão

Trang web của “Cá và động vật hoang dã ở Kentucky” (Kentucky Fish and Wildlife) tuyên bố: “3 loài cá chép, cá đầu bự, cá chép bạc và cá cỏ đang sinh sản ở mức báo động và đe dọa hệ sinh thái của Kentucky”. Một cá mái có thể đẻ hơn 1 triệu trứng mỗi năm. Chúng ăn rất “hỗn” từ sinh vật phù du, rong, tảo… và phá hủy môi trường thủy sinh, sinh vật phù du là nguồn thức ăn quan trọng cho cá con và các loại cá nhỏ.

“Ở Kentucky, cá chép giành thức ăn với các loài cá bản địa”. Allan Brown, trợ lý giám đốc khu vực của Cơ quan Cá và Ðộng vật hoang dã Hoa Kỳ (U.S. Fish and Wildlife Service) đã làm chứng trước tiểu ban Hạ viện Hoa Kỳ vào năm 2018. “Ngư dân không đến các hồ câu cá vì cá chép Châu Á áp đảo tất cả các loài cá khác,” White nói. “Chúng vào vịnh và ăn sạch thức ăn  của cá con. Hầu như không còn mồi nào sống ở dưới nước.”

Nhưng nhà sinh vật học Martin thì tỏ ý nghi ngờ. Ông tuyên bố: “Không có nghiên cứu nào đánh giá sự chồng chéo về chế độ ăn uống giữa cá con và cá chép”.

Chích điện để cá chép vọt lên

Cuộc chiến với cá

Có rất nhiều chiến lược nhằm kiểm soát sự tăng trưởng của cá chép Châu Á. Kể từ năm 2005, các tình nguyện viên đã đi trên thuyền, thuyền phao và các phương tiện khác cùng lưới kéo để bắt cá chép bạc khi dùng một biện pháp không được hoan nghinh lắm, là chích điện. Cá bị giật điện phóng lên và sa vào lưới. Theo những người săn và tiêu diệt cá chép thì, nguồn điện này đã nghiên cứu sao chỉ ảnh hưởng đến cá chép mà không hại các loài cá khác.

Năm ngoái, nhóm tình nguyện đã bắt được 3,000 con cá chép, tổng trọng lượng khoảng 20,000 pound. Ngoài ra, còn có các giải câu cá chép Châu Á được tổ chức nhiều nơi. Vào tháng 8 năm 2022, Aquatic Protein LLC, một nhà máy chế biến cá ở Beardstown, Illinois, đã tài trợ cho giải câu cá thường niên lần thứ ba tại Ðập Barkley để giảm dân số cá chép Châu Á. Ðội thắng giải đã câu được 1,934 pound cá và được trao giải thưởng trị giá 3,000 USD. 3 đội còn lại cũng mang về hơn nửa tấn cá. Aquatic Protein, công ty sản xuất dầu cá, phân bón và thức ăn cho chó mèo từ cá chép, trả 9 xu mỗi pound cho cá được đưa đến trạm chế biến tại Eddyville. Tompkins cho biết: “Chúng tôi có phong trào câu cá chép rất mạnh mẽ ở Tây Kentucky”, đặc biệt nhắm vào các sông Cumberland và Tennessee, ngay bên dưới các con đập. Ông cho biết: “Vào năm 2021, chỉ riêng bắn cá bằng cung đã được khoảng 300,000 pound”.

Và tiêu diệt

“Bên thắng cuộc”

White nói: “Khoảng một năm rưỡi trước, chúng tôi đã bắt đầu thấy có sự thay đổi. Du lịch đã trở lại gần như ngày xưa. Bạn sẽ không còn bị cảnh một con cá chép to đùng bất thần nhảy lên, có khi cả bầy, vì có thể bị đáy thuyền va chạm”. Anh nói. “3 hoặc 4 năm trước, nếu tôi ra ngoài hồ, trừ khi trời rất lạnh, vài con sẽ nhảy lên ghe.” Còn cá chép bạc lớn hơn, rất ít thấy. Chapman của USGS (Cơ Quan Quản lý Tài Nguyên) cho biết: “Cá chép bạc ở sông Missouri nặng trung bình khoảng 12 pound vào năm 2003, nhưng hiện nay một con nặng hơn 6 pound rất hiếm”. Ông nói: “Ở vùng hạ Illinois, có nhiều cá chép bạc, chúng phát triển rất chậm và muốn kiếm được một con nặng hơn 5 pound cũng không dễ gì”.

Nhà sinh vật học thủy sản Tompkins cho biết, dựa vào hai nguồn thông tin: đo lường sinh học chính thức và khảo sát, ông nói: “Ðã có nhiều dấu hiệu cho thấy cá chép Châu Á ít hơn hồi xưa”.

“Chúng tôi ráo riết đánh bắt, tiêu diệt cá lớn có khả năng sinh sản, đó là mục tiêu của chúng tôi,”  “Tôi rất lạc quan rằng, dân số cá chép đã giảm rõ rệt đến mức không còn đáng chú ý.” Mặt khác, Giám đốc nghề cá Dreves  cho biết “Tôi chắc chắn chúng ta sẽ tìm ra những cách tốt hơn để kiểm soát cá chép Châu Á. Nếu bạn không loại bỏ được các loài cá lạ, sẽ ảnh hưởng nguy hại đến sinh thái và sự tồn vong của cá bản địa”.

Cá chép tự động nhảy lên thuyền.

Chơi tới cùng

Trong vài năm nay, Công binh Lục quân Mỹ cũng nhận nhiệm vụ tiêu trừ cá chép Châu Á ở vùng Ngũ Ðại Hồ (Great Lakes). Ðây là loài cá có sức sống mạnh, tạp ăn, mau lớn và có khuynh hướng áp đảo các loài cá nội địa. Nhiều nơi, cá bản địa đã vắng bóng vì không cạnh tranh nổi với quân “xâm lược” từ Á Châu. Cá chép ăn như hạm, chúng tiêu thụ thức ăn khoảng 120% trọng lượng cơ thể/ngày. Tuy nhiên, lý do chính khiến người Mỹ lo ngại là cá “ngoại xâm” sẽ làm tiêu tùng kỹ nghệ đánh cá có doanh số đến $7 tỉ/năm, chưa kể sẽ ảnh hưởng mạnh đến ngành du lịch giải trí câu cá thể thao trên Ngũ Ðại Hồ.

Một vựa sản xuất cá chép tại Two Rivers Fisheries, thành phố Wickliffe, Kentucky

HDV

theo Chuck Stinnett, Courier & Press

Về nơi gió cát!

petruskyaus.net

Đoàn Xuân Thu

Post by Sơn râu 26 Mar 2024

Qantas, viết tắt chữ “Queensland and Northern Territory Aerial Services” thành lập năm 1920. Thoạt kỳ thủy Qantas chỉ chuyên dùng để đưa thơ, là một anh bưu tá biết bay. 100 năm sau, Qantas lên bảng phong thần là hãng hàng không thương mại sống dai thứ hai trên toàn thế giới!

Chính vì vậy mấy thằng Úc xưng tụng em Qantas là: ‘Queen of the Skies (Nữ hoàng của những bầu trời) hoặc “The Flying Kangaroo” (Kangaroo màu trắng cách điệu bay trên nền trời đỏ)

Qantas có tới 65 chiếc Boeing 747-400, ‘Made in USA’. Năm thập kỷ trôi qua, một thời gian quá xá là dài thì biết bao nhiêu là kỷ niệm với dân Úc vốn ngứa chưn, ngồi yên một chỗ không được, nên bay tùm lum, tùm la ra thế giới bằng Qantas!

Dân giàu đi chơi thì ngồi ‘First Class’. Thương gia đi mần ăn thì ngồi ‘Business Class’. Cu li, dân ngu khu đen như tui thì ngồi ‘Economy Class’.

Nói thiệt nhe! Ðược cỡi máy bay Qantas của Úc, dù ngồi hạng cá kèo đi chăng nữa, lòng tui đã mãn nguyện, hãnh diện lắm rồi. Vì xưa giờ,  tui chỉ biết đi tới đi lui bằng xe bò không hè. Giờ tung mây lướt gió thì hài lòng quá đi chớ! Ðừng như thiên  hạ, đứng núi nầy trông núi nọ; được voi đòi Hai Bà Trưng mà chi!

(Dám đua với đế quốc Mỹ về chế tạo máy bay chỉ có thằng ‘Airbus’ của Liên Âu. Chớ cái thằng ‘Tupolev’ của CS Liên Xô là không có cửa. CS Nga chỉ giỏi có một chuyện là sản xuất vũ khí giết người hàng loạt như súng AK 47. Còn cái gì để phục vụ nhân sinh như máy bay chở khách chẳng hạn thì nó dở như hạch. Bằng chứng là chuyến bay 831 bằng Tu-134 hãng Vietnam Airlines của CS, từ Hà Nội tới Bangkok bị trời đánh rớt cái ạch xuống ruộng vào năm 1988).

o O o

Ðời mà! Ðá mòn sông cạn! Thời gian sẽ hủy hoại đi tất cả; huống gì một chiếc máy bay. Vì máy móc chạy suốt tới 50 năm giờ đã ‘rơ’ hết ráo, nên bảo trì rất tốn kém. Rồi uống xăng như uống nước lã, xịt khói mù trời làm tổn hại môi trường. Phải dẹp nó đi thôi.

Vì vậy nên hãng United Airlines và Delta Airlines của Mỹ đã cho phi đội Boeing 747 của mình về nơi gió cát. Qantas cũng bắt chước theo đàn anh Mỹ cho những chiếc Boeing 747 lần lượt xếp hàng tính tới cuối năm 2020 là xong hết! Nhưng vì đại dịch COVID-19, hổng ai bay; ế quá nên Qantas cho cả bọn Boeing 747-400 nghỉ cái rụp vào tháng Bảy. Gần 6,000 phi công, tiếp viên phi hành, nhân viên bảo trì cam đành mất việc. Cũng tại con ‘coronavirus Wuhan’ của thằng Tàu Cộng không hè!

Tranh Bảo Huân

o O o

Bấm đốt tay, Boeing 747 kéo dài tình ta tới 50 năm. Hổng lẽ em ra đi về nơi gió cát mà mình nín thinh, không nói một lời từ biệt thì coi sao phải? Nên Qantas có làm 3 chuyến bay, dài một tiếng đồng hồ, để dân Úc bay vòng vòng trên Boeing 747, trước khi nó mãi mãi đi xa!

Vào ngày 22, tháng 7, năm 2020. chiếc Boeing 747 cuối cùng mang số hiệu VH-OEJ sẽ ‘say good bye’ trên bầu trời Sydney. Nó hôn gió với bà con Úc vốn đã lỡ mất chuyến bay tạm biệt trước đó. “Thôi bà con ở lại mạnh giỏi! Vĩnh biệt! Tôi đi đây, tôi đi về nơi gió cát!”

Nơi gió cát đó là một nghĩa địa máy bay trên sa mạc Mojave thuộc tiểu bang California, Hoa Kỳ. Ở đó, nàng sẽ gặp lại các bằng hữu trong phi đội Boeing 747 của hãng Qantas. Rồi cả bọn sẽ bị xẻ thịt từ từ. Cái ‘logo’ ‘Kangaroo bay’ sẽ không còn bay, bay nữa. Cái gì còn tái chế lại được thì gỡ ra bán ve chai lông vịt.

Không phải là dân Úc rặt, nhưng kỷ niệm tình anh Ba Bốp, bạn nhậu của tui, với em Boeing 747 nầy còn sâu đậm hơn so với bất cứ thằng Úc nào.

Chẳng qua là năm 1995, cách đây ¼ thế kỷ, lần đầu tiên trong đời, anh Ba Bốp được cỡi chiếc Boeing 747 của hãng Qantas đó bà con ơi.

Theo lời ảnh thuật lại thì: “Ngày 20, tháng Chín, năm 1995, tui ra khỏi một nhà tù bao la, là đất nước Việt Nam bị bọn CS Bắc Việt cai trị cực kỳ khắc nghiệt. Theo chương trình ODP (Orderly Departure Program) của Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc (United Nations High Commissioner for Refugees (UNHCR), tui dắt vợ và hai thằng cu con vĩnh biệt cái đất Sài Gòn.

Ra phi trường Tân Sơn Nhứt còn bị một thằng Hải quan CS, ‘BK 75’ làm khó dễ, hạch sách nầy nọ chỉ nhằm mục đích là lột sạch bách 200 ngàn bạc của tui còn dằn túi. Cống nạp nó xong, cả nhà tui mới được chiếc ‘mini bus’ chở ra tới tận cầu thang của một chiếc máy bay đang đợi sẵn.

Khoảng 1 giờ rưỡi chiều, chiếc Boeing 737 của hãng Hàng không Philippines cất cánh hướng ra biển. Nhìn xuống cánh bay là những dòng sông quanh co uốn khúc. Quê hương tui đó mà tui đành đoạn bỏ ra đi vì mình đã làm thân mất nước! Chịu đựng sự hành hạ của CS suốt 20 năm, từ 1975 tới nay thì cũng đủ trả nợ tiền kiếp rồi. Giờ tới lúc tui phải được trả tự do chớ!

Máy bay bình phi, dưới kia là biển. Nhà thơ Cao Tần trong bài thơ ‘Biển chiều’ đã từng:“Có bạn nào đang rắp tâm vượt thoát. Nhớ rằng ta luôn cầu nguyện cho người. Láng đời chót đã tan trên chiếu bạc. Thì sá gì thêm một chuyến ra khơi!”

Và biển đó đã chôn vùi hàng trăm ngàn xác đồng bào ruột thịt của tui (đa phần còn rất trẻ) nên: “Này biển chiều sóng xô ào lớp lớp. Những tiếng đời phiêu bạt khóc thương nhau!”

Chưa tới 3 tiếng đồng hồ, chiếc Boeing 737 từ trên mây sà xuống, lượn vòng vòng phi trường quốc tế Ninoy Aquino của thủ đô Manila. Dưới kia là những mái nhà lúp xúp như bát úp. Xuống phi trường, trời nhiệt đới đổ trận mưa to. Nước tuôn lã chã như khóc cho người đứt từng đoạn ruột bỏ xứ ra đi. Biết bao giờ trở lại?

Một thằng nhóc có mẹ là người Việt, cha là lính Philippines từng tham chiến tại Việt Nam, làm cho IOM  (International Organization for Migration, Tổ chức về định cư thế giới) nên nó nói tiếng Việt cũng khá sõi ra đón. Chú ‘IOM’ nầy đưa cả nhà tui vô một nhà hàng nho nhỏ trong sảnh ở phi trường để ăn tối.

Ngồi đối diện tui trong bàn là thằng bạn của nó. Coi như tụi tui không có, hai đứa khề khà hai ly rượu, bận rộn bàn chuyện mần ăn buôn bán bằng máy bay gì đó.

Tui gọi một cái đùi gà chiên bơ với ‘sa-lad’ và ‘cà-tô-mách’. Tưởng ăn thịt gà chiên bơ là sang, là nhứt hạng rồi; sau nầy mới biết nó rẻ rề hè. KFC bán đầy ra đó! Ăn tôm hùm mới gọi là sang!

Tính kêu thêm một ly rượu đỏ để uống mừng ngày vượt thoát thì nó giơ tay ngăn lại. Chỉ được uống nước ngọt, kêu rượu là phải trả thêm tiền (mà tiền đô mình đâu có); làm tui cụt hứng.

Sau nầy tui mới biết tiền ăn bữa đó là của thằng em tui, người bảo lãnh tui, chi trả. Té ra hai thằng ‘khỉ mắc phong’ nầy nó thản nhiên ăn chực đồ ăn của mình, uống chực rượu của mình mà không cho mình uống chớ! Thiệt là quạu nhe!

o O o

9 giờ 30 đêm, vợ chồng con cái anh Ba Bốp lại lục tục từ phòng đợi của phi trường qua lối đi bước thẳng vào chiếc Boeing 747 của hãng Qantas từ Osaka Nhựt Bản về. Nó ghé qua Manila trả khách rồi rước thêm một mớ trước khi bay luôn suốt cả đêm về nước Úc.

6 giờ sáng hôm sau, chiếc Boeing 747 của Qantas đáp xuống phi trường quốc tế Tullamarine của Melbourne. Ðèn sáng trưng như mở hội Hoa đăng chào tui vậy!

Ba và mấy em tui ra đón. Tháng Chín mùa Xuân nước Úc, Ba tui choàng vào vai con mình chiếc áo khoác vì sợ tui bị lạnh. Thằng em, công khó bấy lâu lo giấy tờ bảo lãnh cả nhà tui, cười hí hí nói: ‘Welcome to Australia! Ha ha!’

Tui khoái thiệt chớ! Sau mấy lần vượt biển bất thành, có lúc phải đi ở tù; giờ thì tui đã đáp xuống một vùng đất tự do rồi. Ðêm ngủ với vợ không còn sợ bọn Công an phường lôi đầu mình về nhốt vì tội không có tên trong tờ hộ khẩu.”

Nói xong, anh Ba Bốp khóc hu hu. Vượt biên bằng máy bay sướng thấy mồ mà thằng chả lại khóc; vì mãi mãi xa rồi em Boeing 747 ơi! Thiệt anh Ba Bốp đúng là một con người đa cảm, đa sầu, mau nước mắt như tui vậy!

Đoàn Xuân Thu

Vàng ít thau nhiều!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

August 5th, 2022

Post by Sơn râu 26 Mar 2024

Nhà văn Sơn Nam

Hồi xưa nền báo chí ở Miền Nam rất sung, rất phát triển. Phát triển là do người dân, là do bà con mình rất thích đọc nhựt trình. Có cung ắt có cầu. Những người cung cấp cho cái nhu cầu đọc nhựt trình đó là những người bán chữ.

Báo chí tạo ra một cái nghề bán chữ sống được, dù không giàu có gì, đủ nuôi được vợ con đó cũng là may. Nghề đó gọi chung là nghề văn.

Ða phần các nhà văn nầy xuất thân từ những gia đình ở quê, có ruộng, có vườn, không giàu nhưng tương đối đủ ăn.

Tháng Tám, năm 1945, Mỹ thả hai trái bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki. Nhựt Bổn đầu hàng quân Ðồng Minh. Thế chiến thứ hai chấm dứt. Phong trào các nước thuộc địa đòi độc lập dâng cao.

Sau 9 năm kháng Pháp, cuộc chiến tranh đẫm máu chấm dứt. Ðất nước chia đôi. Những thanh niên tham gia kháng chiến có hai lựa chọn. Một tập kết ra Bắc. Hai là về thành.

Ông Sơn Nam chọn về thành. Vốn là người có khiếu văn chương, khoái chữ nghĩa, ông gia nhập làng báo Sài Gòn.

Mẫu thân của ông lo sốt vó, lặn lội từ làng Ðông Thái, An Biên, U Minh Thượng lên coi thằng Tám chết sống ra sao?

Cái giai thoại ‘thằng tư con tám’ trên phố xa hoa, tui nghi ông nhà báo đặt dóc. Tui bèn hỏi người con gái lớn của nhà văn Sơn Nam là Ðào Thúy Hằng (theo họ Mẹ) cho rõ ngô khoai.

Té ra ông thần nầy đặt dóc thiệt! Vì Ðào Thúy Hằng trả lời tui như vầy: “Thu! Ông bà nội tui có ba người con: Bác Hai tui tên Phạm Minh Trí. Ba tui Phạm Minh Tài mà hộ tịch ghi thành Tày. Cô Út là Phạm thị Xuân. Cô Tư cũng học hết tiểu học. Bác Hai học giỏi, cũng có bằng Thành Chung nhưng không được học bổng như ba tui. Nhà ở miệt rừng, gói ghém đủ ăn, sống thong dong, không lam lũ”

Như vậy thằng Tám trong bài chỉ là cách gọi chung chung một người dân miền Lục tỉnh với một tầng lớp xã hội nào đó như Thầy Hai, Chú Ba, Anh Bảy v.v. Chớ ông Sơn Nam thứ ba.

Cùng thời với Bình Nguyên Lộc, Lê Xuyên, Ngọc Linh, Dương Hà…Sơn Nam đi từng bước vào nghề văn. Một làm thơ. Kế đó viết truyện ngắn, viết tiểu thuyết. Viết mỗi ngày từng đoạn cho hai ba truyện của vài tờ báo gọi là viết “phơi-dơ-tông” (Feuilleton).

Còn nhà văn nào mê đào hát thì chịu khó đi học bài bản cổ nhạc, vọng cổ, xàng xê v.v. để soạn tuồng cải lương như: Kiên Giang Hà Huy Hà, Hà Triều, Hoa Phượng…

Cuối cùng, nhờ rất cứng tiếng Pháp, Thư viện quốc gia là nơi ông Sơn Nam thường vô lục lọi. Ổng lục cái gì ở trỏng? Ổng kiếm tài liệu cho dồi dào để viết dài dài mà kiếm cơm. Nên con đường nhà văn Sơn Nam trở thành nhà biên khảo là chuyện tất nhiên.

o O o

Sơn Nam là một người rất nổi tiếng nên có nhiều người quen. Quen thiệt có, quen giả có, có hết ráo. Có nhiều giai thoại về ông. Ðồ thiệt thì ít mà đồ giả thì nhiều. Vàng thau lẫn lộn!

Giai thoại nầy, tui tin là thiệt nè: “Quê ông Nguyễn Quang Sáng có nhiều câu chuyện rất ly kỳ, ông muốn kể cho ông Sơn Nam nghe để viết. Nhưng ông Sơn Nam từ chối: “Vùng đó tao không biết. Tao thấy rặng cây từ xa thôi. Mày cũng có chữ nghĩa, viết đi!”

Quan niệm mần văn của ông Sơn Nam, theo tui nghĩ, là: ngũ quan cộng với cái đầu. Ngũ quan là lưỡi (vị giác) để ăn mắm kho. Mắt (thị giác) để thấy hai lúm đồng tiền của em. Tai (thính giác) để nghe em rủ rỉ, rù rì. Mũi (khứu giác) để ngửi mùi bồ kết em gội đầu? Và tay, (xúc giác), tê tê giựt giựt như lần đầu nắm tay em Chín bờ đò trên bến nước. Rồi quan trọng nhứt là cái đầu để biết chọn lựa vàng trong đám thau lẫn lộn.

Ông Sơn Nam kể là: “Hồi nhỏ, tôi nhớ quê tôi có rất nhiều chim, thú. Ðặc biệt là cọp, khỉ, heo rừng, nai, thỏ. Hơn 5 cây số bờ rạch toàn đất úng, um tùm rừng tràm, cỏ lác, cỏ năn. Chẳng một ai thèm để mắt đến đất, chớ nói chi tới tranh chấp.

Dân quê lại thường đồn đãi chuyện ma quỷ. Những lúc rảnh rang là họ tụm năm tụm ba rượu trà, đờn ca, thổi sáo và kể đủ chuyện. Tôi nghe, gom lại viết thành một truyện ngắn, cốt cho hấp dẫn. Tôi liên tục khai thác nền văn minh miệt vườn cho các trang viết của mình”.

Lúc ông viết biên khảo, tui tin là vì khi đọc những bài về Sử, về Ðịa, biên khảo về Văn minh Miệt vườn, Sơn Nam tra cứu tài liệu đa phần bằng tiếng Pháp rồi dùng đầu óc để loại rác rưởi ra, chỉ giữ lại cái tinh ròng. Ông Sơn Nam viết lách đàng hoàng chớ không viết ẩu tả.

Nhưng có hai chuyện nầy, thiệt tình tui hổng dám tin. Ông nhà báo viết là: “Nhưng rồi khi chuyển sang viết văn xuôi, ông tự phát hiện mình làm thơ dở hơn viết truyện nên dứt khoát ‘ly dị’ nàng thơ”.

Tui không tin là ông Sơn Nam vì làm thơ dở hơn viết văn nên ông nghỉ làm thơ. Mà vì làm thơ là đói; là ‘húp nước mắm’ (chữ của ông).

Chuyện thứ hai tui cho ông nhà báo nầy đặt dóc: “Cuối thời chống Pháp, Sơn Nam là nhà văn duy nhất gốc Nam Bộ được Trung ương mời ra Bắc để sống và viết, nhằm bảo vệ một tài năng văn chương trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh”.

Cuối thời chống Pháp là năm 1954, hoà bình lập lại, hết chiến tranh thì Trung ương nào mà mời ông Sơn Nam ra Bắc vì sợ tên bay đạn lạc.

Hiệp định Geneve ký xong, ông Sơn Nam không đi tập kết vì ông đã có vợ con đùm đề. Ông về thành viết văn để nuôi vợ, nuôi con! Viết vậy nghe còn có lý. Ðặt dóc, bợ đỡ, nịnh hót Trung ương để làm gì?

Tranh Bảo Huân

o O o

Miền Nam có những nhà văn hay lắm như: Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Lê Xuyên, Bình Nguyên Lộc… Hồ Biểu Chánh rất am hiểu về đời sống nông dân. Từng làm ‘chủ quận’ Càng Long, tỉnh Trà Vinh thời Pháp thuộc, Ông có tài quan sát tinh tế. Ông ưa giao du với hương chức, hội tề. Ông lặn lội tận thôn ấp làng mạc, viết rất dài hơi.

Còn Phi Vân trong Phóng sự Ðồng quê, xuất bản năm 1940, trong đó có truyện ‘Trao thân con khỉ mốc’ nó hay như một kịch bản phim.

Với 60 năm cầm bút, Sơn Nam đã để lại một gia tài rất đáng kể và đáng nể. Gia tài đó cho đám hậu sinh là vàng thiệt chớ không phải thau như: Hương rừng Cà Mau, Chim quyên xuống đất,  Gia Ðịnh xưa, Bến Nghé xưa, Hai cõi U Minh, Lịch sử khẩn hoang miền Nam,  Phong trào Duy Tân Bắc Trung Nam, Vạch một chân trời, Văn minh miệt vườn…

Nếu một mai, dưới ách cai trị của CS, Miền Nam chúng ta từ từ chắc sẽ không còn nhà văn nào làm ăn đàng hoàng, viết văn chân thật nữa. Chỉ toàn là bọn bố lếu, bố láo cầm bút viết ra để bán rẻ cái lương tâm thì chao ôi cuộc đời nầy nó chán hơn cơm nếp nát!

ĐXT

Giả định

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted 09/01/2018 

Em không nhìn anh khi đứng ở Tự Do
Cũng như anh chẳng ngó đèn chuyển màu
Áo sắc vàng mòn thân vùi nắng cũ
Đồng khởi âm vực gió lùa phai mất tên

Anh xấu hổ điều tầm thường luôn á khẩu
Thành phố chật cư dân trao nhận mình lẻ loi
Hoa mười giờ nở từ đường rạn gạch đá
Dáng em đi xẻ rách lá me bay

Nghiêng đổ vai gánh đầy giữa nắng ngọ
Có thiên thần thấp thỏm đợi mầm non
Cực lòng mở trong vòng tay đón nhận
Em hoang mang từng ngày nạn ấu dâm

Anh đứng tự giả định là đứa mồ côi
Có vui không dấu vùi ngực mẹ hiền ?
Em dắt con nhập lối mòn hổ ngươi
Cứ mặc lòng quên đóng khép bao lầm lỡ

Thân anh toa tàu sai sân ga lộn
Hai đường phân chia cứ song hành
Khứ hồi không dung cho một vé lẻ
Tiếng còi rớt vung vãi tiếng than bay

Ngọn tỏ ngọn lu chừng xa khuất
Trước mặt anh luôn hiện đốm đỏ màu
Tà áo bay huyễn nhàu trang cổ tích
Mà thiếu thời phồn thực bạt ngàn xanh

Bụi tháng ngày dị dạng vấy khẩu trang
Đâu ai quan hoài mặt vốn dày
Tuy dạt đây lâu cũng sót ngờ nghệch
Giả định như anh đóng vai mẹ mìn?

Em còn nước mắt, còn đấm ngực?
Tiền chuộc nào đánh đổi cuộc đoàn viên?
Anh đứng như kẻ sắp xuống đường
Đèn chuyển màu khi em băng hết ngả tư

Lòng anh có nhiều thứ muốn biểu tình
Đình công bên rào cản bụi trần ai
Cổng mầm non gà lúc thúc ngóng mẹ
Nóng màu cờ nung lửa hấp chảo rang

Phố bây giờ giăng phường qua tới quận
Một lối đi thu thuế xã huyện đường
Anh đắm chìm không định được phương hướng
Chìm về đâu một ngọn hải đăng lu?

Chó đang tru cuối đường lên bàn nhậu
Giả định làm cầy tơ em có đoái hoài?
Biển ngoài kia chờ anh đi khất thực
Làm mẹ mìn bắt cóc chuộc tự do.

Hồ Đình Nghiêm

Niệm tình tha thứ

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 19/07/2018  

Post by Sơn râu 26 Mar 2024

Gần những bức tranh tĩnh vật bị ám khói và phủ bụi dầy có treo tấm bìa cứng in chữ Tam Tông Miếu nhạt nhoà. Tấm bìa màu đỏ bầm, cũ kỷ như có mặt cùng lần với những tảng màu sắc đã ngã màu đứng cao thấp gần bên. Hắn ngồi quan sát thầm lặng, phát hiện bức tường đối diện chỉ có cuốn lịch cột dây thép vào tấm bìa Tam Tông Miếu kia là coi bộ mới lạ và nổi bật hẳn. Con số 28 nằm trên một xấp giấy đã bị lột mỏng, xộc xệch. Thời gian. Tháng ngày. Đã bao lâu rồi hắn chưa được nhìn tận mặt một cuốn lịch? Cũng như ròng rã mấy năm trời hắn chẳng còn được đeo vào tay cái đồng hồ chỉ giờ giấc? Để cho trí nhớ lẩn thẩn chạy ngược về tìm kiếm thì đụng dội vào một mạng lưới dày đặc, ở đó hình ảnh Sa vây kín. Đêm có gió lạnh, có sóng nước, có đạn réo và đầy những bước chân người chạy hỗn loạn. Sự hồi tưởng luôn dừng lại ở đấy. Nỗi lo âu cho Sa lạc lối trắc trở như một tận cùng của bến nhớ. Con thuyền tôi bị mắc cạn Sa ơi…

Uống gì gọi đi.

Hắn giật mình. Thì cà phê chứ gì nữa.

Bạn hắn từng chửi hắn dật dờ nên bây giờ không có lý chi để chửi thêm. Dật dờ cũng đã tột cùng của chữ nghĩa rồi. Đù má mày cà chớn gì đâu không. Câu này hắn cũng đã từng nghe từ cửa miệng của người bạn. Nghe mà tủm tỉm cười trừ, chứ không phải nghe để cau có phẩn hận như khi tụi nó chửi thằng phản động tính trốn ra nước ngoài làm gián điệp.

Tao không hiểu được mày. Cà phê ở đây chắc ngon lắm?

Đâu biết được, cũng còn tùy. Ngày xưa thì đã khác ngày nay.

Ở đây có hơi ngột ngạt, biết vậy kiếm cái quán cóc ngồi ngoài lề đường có phải thoải mái hơn không.

Hắn nhìn bạn, dấu nhẹm cái lý do. Sa biết không, hôm nay anh được tự do, bà chị người bạn anh buôn thuốc tây trúng mánh lớn nên cho tiền hai đứa gọi là để trả thù đời bấy lâu cực khổ. Anh dụ hắn vào quán nước, ngồi đúng chỗ mà hôm nào tụi mình đã ngồi. Những bức tranh vẫn còn treo và cuốn lịch đang vơi những tờ cuối, năm tháng tàn tạ…

Mày sợ dương cái bản mặt tù tội ra ngoài chốn công cộng chứ gì?

Ừ. Mày đoán đúng. Vả lại trời hình như sắp có mưa.

Trời ui ui phía ngoài như tức giông. Hắn làm đại công việc dự đoán thời tiết với bạn cho yên thân. Một đứa con gái mảnh mai đi tới gần bàn, chùi tay ướt vào hai bên hông, trí nhớ còn tốt để giương đôi mắt ngó sững hắn.

Anh Mạc, lâu ngày chưa tề?

Người bạn ngẫng đầu lên.

Có lộn người không đó. Cho hai ly cà phê đen đi chị Hai, chờ bắt khô cổ họng.

Hắn cười ruồi với cô gái đứng tần ngần.

Phải đó, thiệt là lâu, e hơn cả năm trời chớ ít răng.

Thôi mà Dinh. Có ưa thì đợi tối nay tao dắt đi ngủ…bụi đời.

Lâu nay anh đi mô mà không thấy?

Ờ… Tại đi buôn… tuốt trong Sài Gòn.

Người bạn mình hắn đang gãi đầu tóc ngắn, chởm, mọc không thứ tự như rễ tre cắm trên khuôn mặt xanh xao dật dờ mà tức cười. Áo quần nữa, toe tua xác xơ như rứa lại dám đội lốt con buôn. Nhưng được gọi tên là Mạt Rệp chi đó thì quả có đúng.

Em không tin. Bộ bẻ hết mấy cây cọ rồi sao anh Mạc?

Người bạn gióng cổ tới những bức tranh cố điều tiết mắt nhìn. Bức treo gần nhất đọc thấy chữ ký Sa Mạc nằm trên mặt bố thụng có những đường nứt của sơn. Bẻ cọ? Bộ thằng này làm họa sĩ thiệt sao? Cái thằng cà chớn dật dờ vậy chớ thâm trầm dấu nghề còn hơn cả mèo dấu cứt. Có lý nào? …

Chứ để làm chi. Đừng nói nữa mà nghẹn ngào, cho cà phê thiệt đặc sắc uống về trằn trọc chơi.

Đứa con gái nhắm hai mắt cười rồi bỏ đi. Gió bắt đầu thổi ngoài bực thềm làm tấm bạt treo ở trên cứ phập phồng lên xuống, một vài chiếc lá bị gió cuốn hút bay lơ lững qua bên kia đường nơi chỗ ngồi của một thằng bé lọ lem hành nghề vá sửa xe đạp.

Ê Dinh! Mấy bức tranh kia chính tay mày vẽ hết à?

Ừ. Lâu rồi, lại không đẹp nữa. Mai sau làm cách nào để kiếm ăn như thằng nhỏ kia thì…vừa rẻ vừa đẹp. Thử tìm đường binh coi.

Binh con mẹ gì cho nó mệt. Mầy biết vẽ chân dung không? Tao sắm đồ nghề cho.

Cà phê được đem ra. Hai cái muổng nhôm kêu lách cách bên thành ly nghe như người hết xí quách gượng mình cầm tô cháo. Hắn nhớ tới người cha trong những ngày đầu cuộc đổi thay, ở vào ngày cuối của cuộc đời ông. Ba nói mà con đâu chịu nghe, học Mỹ Thuật làm chi để giờ này chỉ biết tối ngày cong lưng vẽ bóng thằng già dịch kia. Hắn đút những muổng cháo hẩm vào miệng người tàn hơi, thấy giọt lệ ứa bên trũng sâu và đôi mắt lung lạc mất dần thần sắc. Võng mô đóng cửa, từ chối phải nhìn màu đỏ ngập tràn thù hận giữa cuộc sống. Tang gia không có gì bối rối. Ra đi lúc đó là biết lựa chọn một lên đường. Ai đó an ủi hắn vậy. Cả Sa nữa, người gánh vác rất nhiều những hư hao vừa đổ ập xuống cuộc đời chính hắn. Cái chết sao mà giản tiện đến thế. Cho cả mọi nghĩa.

Tao nói thiệt đó. Giấy viết than chì tốn đâu có mấy trự. Trời! Có sẵn hoa tay như mày việc chi phải để cho lấm lem dầu mỡ như thằng cắc ké bên kia.

Hắn khuấy đường, nhìn sang tên sửa xe đạp đang loay hoay thu dọn đồ nghề. Một vài giọt mưa rãi không đều xuống đất nồng. Hắn thấy lấm tấm chút cảm động với tình cảm của người bạn vừa gieo, một người bị nhốt chung phòng và ra tù cùng lần. Đù má, làm giấy phép đi đường dỏm mà cũng dở cả cuốn lịch, đó là nhờ chị tao biết chạy mánh chớ không thì cũng thiên thu tại tù chớ không vừa đâu. Mày bị bao lâu?

Không nhớ rõ lắm, chắc cũng ngang cơ như nhau.

Dật dờ vừa phải cha nội, phải tính từng ngày để nuôi thù hận chớ.

Hận thù? Trả bằng cách nào đây?

Hút thuốc chi mày? Samit cho thông cổ hỉ?

Sang dữ vậy đa.

Không hút để thuốc nó mốc hết, không thấy tao cột một cục tiền sau đít à? Tối nay lấy tiền thế giẻ mà đi thông nòng nghe mày. Phải xa xui một chuyến để tính lại cuộc đời chứ.

Cũng được, nhưng cho tao đến thăm lại người bạn rồi hẳn tính.

Sa, rồi cuối cùng tụi mình cũng sẽ gặp nhau. Bãi bốc đêm đó chắc có ai lén điềm chỉ. Thật kỳ cục cho lối tách người đàn bà đàn ông riêng lẻ. Trong đổ bể cuống cuồng anh không tài nào tìm được nhóm của Sa giữa vùng bóng tối đầy đe dọa.

Hút thuốc đi kìa. Hú ba hồn bảy vía thằng Dinh mô về. Tao phải gọi là Dinh hay Mạc cho đúng đây? Mẹ, mặt mày sững sờ cứ y như bị ai giải phóng không bằng.

Người bạn vừa nói vừa phà khói thuốc thơm. Mưa bắt đầu đổ lớn ngoài trời. Hắn lơ đãng với tay kẹp một điếu thuốc có đầu lọc nằm trên đĩa nhưng chưa vội thắp lửa. Với hắn, mưa bao giờ cũng đem theo một nỗi buồn nào đó khó giải thích. Hắn hình dung tới những cành hoa trồng trong vườn nhà Sa hẳn đang tơi tả. Nghe tiếng người bạn đang chắc lưỡi chửi thề trước khi ồ ề hát giọng đục. Anh đến thăm em một chiều mưa…sưởi ấm lòng nhau…Lời chắp vá nhớ sau quên trước. Cũng không trách. Đã bao lâu rồi trên vùng đất này hoàn toàn câm lặng một loại nhạc gọi là tình ca.

Người đàn bà đến thắp hương bàn Phật, quay lưng bỏ mặc hai đứa ngồi lúng túng nơi cánh cửa nửa khép nửa mở. Vạt áo có nhiều đường nhăn gấp thành nếp cũng như đằng sau nó, cái lưng cong rồi sẽ còng xuống dần như thảy mọi bà mẹ già. Nếu cuộc đời không nhiều bất trắc, có thể người đàn bà sáu chục tuổi đang đứng thì thầm khấn vái kia sẽ được hắn gọi là Mạ. Một người mẹ thứ hai cho bất kỳ thằng con trai bình thường nào đến tuổi làm đàn ông lấy vợ. Hắn đau xót nghiệm ra điều ấy. Đã trễ tràng, đã bất bình thường rồi. Người đàn bà tóc bạc lưa thưa bối một lọn sau đầu nhỏ như quả cau. Hình như tóc bà đã rụng đi quá nhiều. Sa nó về tĩnh dưỡng ở dưới làng rồi…Vậy mà bác cứ tưởng Dinh đã được trót lọt. Tù tội. Mô Phật. Mới đó mà cũng gần tròn một năm…

Uống thêm đi mày. Đã đồng ý là phải say một bữa kia mà.

Giọng người bạn trôi đi mơ hồ. Và mưa đổ rào rào trên mái tôn quán nhậu nãy giờ đã lấn át rất nhiều những lời lãi nhãi an ủi của người bạn hướng tới hắn. Hắn thấy cõi lòng sũng nước. Hắn là miếng tôn bầm dập đầy lổ hê lổ hủng chống đỡ không nỗi lượng nước mắt của đất trời trút xuống. Bị tù? Người đàn bà ngạc nhiên khi nghe hắn kể. Đâu có khó tin như hắn khi nhìn gian nhà trống lạnh và sự vắng mặt quái gỡ của sa. “Đêm đó nó về xác xơ tiều tụy. Hỏi gì không nói chỉ biết gục đầu tức tưởi. Nó thất thần mất trí nhớ hồi mô mà lẹ quá. Ngày ngủ đêm thức cơm cháo ơ hờ. Cái bức tranh Dinh vẽ chân dung cho nó đó, bị nó cầm dao rạch nát. Đừng, đừng…thà mày giết tao đi. Trời ơi! Dinh ơi! Dinh ơi! Sau đó bác biết chuyện mà chết đứng như trời trồng. Sa nó bị thằng công an biên phòng ức hiếp làm nhục rồi mới thả đi. Oan nghiệt ác đức bất nhơn biết chừng mô mà kể…”

Dinh, vô hết cái này coi…Mày không uống thì phải thò đủa mà phá mồi đi chớ.

Ai bảo không uống? Đù má mày cứ càm ràm như mấy cái loa của tụi nó.

Khà…à…à…Đã không? Uống cho đời lên hương. Nam vô tửu như nữ vô kinh.

Mày đã sứa chưa mà ăn nói cà chớn như rứa thằng tê?

Thấm thía chi ba cái lẻ tẻ. Đừng cà chớn, thì nhất trí thôi. Nam vô tửu như Hồ vô râu.

Ê, đừng láng cháng mày, phát ngôn bừa bãi thì liệu có nước điên.

Hắn chợt ngậm miệng khi vô tình thốt ra chữ điên. Mắt đảo một vòng trong quán xem thử có bóng áo vàng nào không. Toàn dân chơi, dân nhậu cả nên ai nấy đều y phục thường thường bậc trung chứ chẳng có quân phục, đồng phục công an. Mẹ nó, nếu có thì sao? Mày cầm cái ghế hay nắm xị rượu mà phang lên đầu kẻ khác giai cấp kia để rửa hận cho Sa, hả Dinh? Hắn đực mặt ra với ý thầm vừa chợt hiện. Sao mà buồn thúi ruột thúi gan, cuồng trí thúc thủ.

Hai con mắt mày đỏ ké như ma cà rồng rồi đó. Liệu giữ phong độ để còn vác súng xuống đò nữa. Chương trình tạp lục còn dài mà cưng.

Người bạn khề khà ngồi rung đùi vẽ ra nhiều tiết mục hấp dẫn cố dìu hắn qua cơn đau, ít ra trong một đêm.

Vác súng? Văn hoá lắc léo thiệt. Phải chi mà có phép mầu biểu tao đổi súng bắn nước trên người thành khẩu côn đu cho thiệt cụ thể hiện thực, tao cũng cam tâm hy sinh của quý.

Hứ. Nói như mày thì có quỷ chi ghê gớm đâu. Khi xưa trong Đại Nội thiếu chi hoạn quan với thái giám. Người ta trống trãi lạnh lùng vậy mà cứ đi phây phây như con ngựa Thượng Tứ có chết chóc ai đâu. Thường quá, dở quá cho sự hoán đổi kia.

Người bạn cầm ly rượu trắng đưa lên mắt nhìn săm soi qua ánh đèn vàng đục treo hà tiện một ngọn chập chờn giữa quán. Hắn nhìn qua vuông cửa đen bay nghiêng những hạt mưa. Gió từ dòng sông thổi ngược lên làm những kẻ uống rượu nồng thấy gay lạnh. Hắn thắp lửa điếu thuốc cúi đầu thầm đếm tẳn mẳn những cái đinh đóng sâu vào mặt bàn gỗ cau có. Cái hòm quốc doanh liệm kín hình hài người cha cũng mong manh èo uột tựa thế. Những cái đinh đóng kín nắp ván thiên như những vết đau hằn sâu vào cõi lòng bật dội những nhát búa rớm máu của kẻ sống. Và gì nữa. Tấm vải bố trắng căng thẳng bằng kềm quanh khung, những cây đinh lấy từ tay Sa vội vàng tạo dựng một mặt phẳng trinh khiết háo hức sẽ vẽ. Sa mắc cở vén tóc ngồi bên cạnh cửa sổ có vạt nắng xanh ngoài vườn tạt vào làm nên vũng sáng tối đọng mờ ảo trên gương mặt rực rỡ. Mùi sơn dầu nặn ra trên palette nồng nàn như cụm khói cần sa đầy kích thích lôi cuốn. Đụng tới là lãng đãng say sưa. Này mắt em là một dòng sông, này tóc em là một suối mây, này môi em là nguồn sữa mật… Bức tranh đã bị dao rạch. Người mẫu đã phôi pha ký ức. Đã về làng xa hiu quạnh như muốn chôn một thực tại có quá nhiều niềm đau, mới mẻ những thương tích mà mẹ cô ta khuyên chớ vội tìm gặp mặt. Hãy nên để đó cho hở một khoảng trống.

Mưa coi bộ còn lâu mới ngớt. Nếu thấy đủ đô thì nên kiếm một chỗ ngã lưng.

Người bạn đưa tay vòng ra sau đấm thì thụp, ngồi ưỡn người với khuôn mặt tái nhách. Điệu bộ làm như đang đau lưng nhưng không nói ra.

Đã vậy còn tính vác cày qua núi sao ông nội?

Khuôn mặt tái cười hề hề nham nhở.

Hơn năm trời thiếu vitamin Đ rồi, Thông cảm mà …Mày nghe chi không? Cái tiếng con bé rao hàng đó.

Nghe gì đâu?

Mới đó mà, chắc có ai gọi rồi. Ai ăn hột vịt lộn không? Lát nữa mày sẽ nghe, tao chưa say mà.

Thì có chi lạ chớ?

Hột vịt gì? Con nhỏ đó dám chơi chữ lắm. Dấu nặng hay dấu huyền thiệt khó phân biệt.

Nếu dấu huyền thì đã sao?

Thì nhắc nhở tới cái hứng của tao chớ sao. Đi nghe…Ê, tính tiền ông chủ.

Người bạn đếm những tờ bạc nhàu nát thảy xuống bàn. Rồi cắc cớ nhặt lên đếm tới đếm lui, miệng lẩm bẩm như trẻ con đang học thuộc lòng bảng cửu chương.

Không phải rượu làm mờ mắt mô. Tại tiền bạc bữa ni răng mà khó coi dễ sợ.

Ông chủ quán đứng vặn vẹo mắt cười có nhiều đường nhăn. Mới đổi hai lần chớ mấy. Thét rồi quen. Tui mà như anh dám dẹp tiệm sớm.

Lời chết mẹ còn ở đó nói.

Thì dẹp tiệm trễ. Trước sau chi cũng vô hợp tác xã hay là cửa hàng ăn uống mậu dịch quốc doanh.

Bầm dập tới nơi rồi à?

Làm răng biết chuyện ngày mai. Sống ngày mô hay ngày nớ. Cứ còn nước còn tát.

Có rãnh tay vất gàu để moi bọc đút lót không?

Hích hích. Anh ni thuộc bài ác liệt. Có vô thì phải có ra mình mới được yên thân mà không trách phận. Chân lý ngàn năm không đổi đó mà.

Người bạn đứng lên vỗ vai ông già hôi mùi khét củi lửa rồi quàng vai hắn dìu ra thềm mưa.

Mày chạy nổi không? Hay ưa đi văn nghệ dưới mưa?

Văn nghệ để bệnh cho chết à? Bỏ cái vụ Ngày xưa Hoàng Thị lãng mạn đó đi.

Chừ khác rồi, phải khẩn trương lên.

Khổ vừa vừa a. Riết rồi tiêm nhiễm ngôn ngữ dật dờ của bọn kia mất.

Hai đứa chạy dưới mái hiên một hồi cho đến khi suýt tông vào người một con mẹ đứng thu lu, lấp ló trong hẻm tối ngập nước.

Ngủ đò không hai anh?

Đò mô đây mà hỏi?

Xa xôi chi, phía dưới sông a tề. Đi hí?

Có chi hấp dẫn không? Mẹ, ướt cha cái quần độc nhất vô nhị này rồi.

Muốn chi có nấy. Ưa của lạ thì có O bộ đội ni chịu chơi lắm.

Bộ đội à? Ủa, em giã từ vũ khí hồi mô rứa?

Không. Con gái ở ngoài Bắc đó mà. Cứ gọi bộ đội cho… rõ trắng đen.

Được a. Ở chiến trường này mày đừng có vội di tản nghe Dinh.

Mấy anh vui thiệt. Mà suy nghĩ cũng tường tận. Có đâu như bà con nghe bộ đội là lắc đầu quầy quậy bỏ đi. Mụ nội hắn, từ khi tiếp thu con nớ cứ bị ế rề ế rà. Bởi vì rứa mà nó ít “đi” lắm.

Hắn không phản ứng, lạnh run chân theo người bạn và mụ xồn xồn làm nghề giao liên dẫn khách đồi trụy tìm hoa đi tới hầm ả du kích dích cu.

Cái Nậm mô rồi, có người tìm em đó.

Mụ làm loa trên miệng bằng tay khum chỏ mỏ xuống dãy đò yên ngủ. Trở ngược lên lại sau khi có ánh đèn dầu ở một chiếc đò thắp sáng trong khoang và xuất hiện một bóng đen đưa tay vẫy.

Vui vẻ cả làng nghe. Đừng xả oá mà tan nát đời hoa.

Giọng mụ trầm bỗng như hát cải lương. Câu vọng cổ xuống bất ngờ làm hắn nghẹn ngào muốn khóc. Chưa bao giờ mấy chữ tan nát đời hoa sến sịa kia nghe nó kinh khiếp ép phê dữ dội như lúc này. Hắn rùng mình với người ngợm vắt ra nước của hắn, chân bước qua tấm ri trơn trượt với cảm nghĩ mình đang bước qua cầu Hiền Lương, vĩ tuyến thứ 17. Mình có quyền trả thù không, đối với một kẻ ngã ngựa? Một đứa con gái từ Bắc trôi dạt vào đây hẳn nó cũng đã từng hứng chịu những nghiệt ngã nào đó do đồng loại mang tới triền miền để biến dạng thành đĩ.

Sao, những hai anh cùng một lần cơ à?

Cái gì cùng một lần? Đêm còn dài mà em. Anh nói giọng Huế em nghe hiểu không?

Tiếng Việt chứ phải tiếng Liên Xô Cu Ba hay sao mà không hiểu.

Tốt. Nghe 5 trên 5 hỉ. Anh đụng trận đầu còn hắn thì ngồi đợi kiểm tra vũ khí cái đã.

Ối giời! Khiếp, tay chân gì mà cứ y như nước đá.

Em cũng biết nước đá nữa à. Tiến bộ nhỉ. Ăn cái gì mà vú lớn thế này.

Khéo đùa. Ăn bo bo chứ gì.

Xức dầu chi mà thơm nghẹt cả mũi. Dầu của Ban Ga Ri hay loại gì mà có mùi cà ri Ấn Độ thì mình còn giữ tình hữu nghị anh em nữa thôi?

Người bạn mở máy lia chia. Rượu đã thấm nên tay bốc hốt quờ quạng. Hắn ngoảnh mặt, thôi không nhìn khi đứa con gái cởi bỏ áo quần vén màn chui vô buồng sau. Còn lại với ánh đèn hiu hắt chiếu bóng, hắn thấy lòng trống trãi như mặt sông rộng bên ngoài. Trời nhỏ âm thầm vung vãi những hạt mưa làm hẹp tầm nhìn con nước đang bềnh bồng.

Người bạn thở dồn dập đằng sau bức màn.

Quê hương mình đã thống nhất chưa em. Hãy đổ tội cho anh là tên thiệt ác ôn côn đồ rồi em mới thấy thế nào là sung sướng khi tiếp thu tàn dư Mỹ Ngụy.

Đò chòng chành. Hắn chóng mặt. Đầu nặng nề trì kéo xuống thấp, không thể gắng gượng để mửa ra trên chiếu tanh một đống lòng heo bao tử. Quay cuồng. Mờ mịt. Bẩn thỉu. Bệ rạc. Yếu đuối. Tàn tệ.

Chán thật, sao mà vội khóc ngoài biên ải thế này. Dinh ơi, vào tiếp ứng đồng đội.

Hắn nằm thẳng cẳng nghe tiếng người bạn vọng ra. Hắn muốn nói tao là thằng cắc ké dật dờ cà chớn nhất miền Nam mà tự nhiên á khẩu chẳng thốt nên lời.

Hồ Đình Nghiêm

Ngôi thứ hai

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 01/06/2018 

Post by Sơn râu 26 Mar 2024

Ở gian nhà bếp, nơi xét thấy thích hợp nhất, anh có đóng cây đinh vào vách, treo một cuốn lịch gần bên bàn ăn. Tấm bìa cứng dùng để dán chặt, bôi keo ba trăm sáu mươi lăm tờ giấy lại với nhau. Cỡ giấy khá lớn, kích thước bằng với loại sách bỏ túi (livre de poche) của Tây. Mỗi ngày, anh dành quyền tự tay bóc rời từng tờ. Chị tôn trọng. Chị biết anh ưa viết lách lăng quăng vào mặt sau mỗi tờ lịch. Tuy lớn tuổi, chữ anh vẫn cứng cáp, ngay hàng thẳng lối, chưa cứng tay và… đẹp là do bởi siêng viết hàng ngày, nét mềm mại. Chị đồ chừng vậy bởi chẳng mấy khi chị ghé mắt đọc trộm. Trong gian bếp người ta cấu trúc một cái bàn thẳng góc gồm nhiều hộc tủ. Chứa dao muỗng nĩa đũa búa kềm cưa kéo bao bì dây nhợ linh tinh lục tặc… Ở đó luôn chừa một ngăn trống dùng chứa đựng “ngày tháng” của anh. Những tờ lịch nằm yên trong ngăn hộc, ghi ra thứ cảm nhận gì đấy. Thường, anh có bôi xoá khi viết, nhưng ít khi anh xé bỏ, vày vò, ném vào thùng rác. Anh khỏi ghi ngày tháng khi viết xong, đơn giản vì mặt sau đã in đen đỏ con số khắc ghi thời gian. Ngày nối ngày, tờ này chồng tờ khác. Anh cần kiệm thu gom, để dành, định bụng hôm nào chính thức nghỉ hưu, anh sẽ bồi hồi mang chúng ra, chắp nối, chỉnh chu nhuận sắc. Đánh máy, thu vào bộ nhớ của máy điện toán và khi nhận cái ngân phiếu tiền già đầu tiên, anh sẽ mang chúng đi in thành sách.

Anh ít khi tâm sự với chị. Chị cũng tôn trọng cái kín tiếng của anh, không xía phần vào mộng tưởng riêng mang. Chị vẫn nhìn ra nét bần thần luôn đeo nặng ở bộ mặt nghiêm nghị của anh. Chị thầm yêu anh, chẳng giống người ta cứ ưa hẹn hò cùng nhau đi ăn nhậu hoặc chuyện trò vang rân bên bàn cà phê. Anh cô đơn, lẻ bóng đồng nghĩa với đạo đức gương mẫu. Cách anh chọn niềm vui, thứ giải trí lạ thường ấy khiến chị nửa an tâm, và nửa khác luôn là nỗi hoài nghi không biết cách lý giải. Hạnh phúc đôi khi tựa đôi vầng nhật nguyệt, mỗi thứ mang một màu sáng tối khác nhau. Đẹp, xấu, thụ hưởng là do cách nhìn của từng cá nhân. Và chị luôn ngó tới anh như lạc hồn ngó ra cây phong hằng đêm trụ yên cuối góc vườn có trăng mông muội chiếu bóng. Hoàn toàn, dưới mắt chị, anh chưa bao giờ mang nguồn sáng bẳn gắt của thứ hào quang bùng vỡ mặt trời. Bóng đêm luôn chứa đầy sự ngờ vực. Bóng tối thu cất sự quyến rũ và trong chừng mực, nó không có nghĩa là đồng loã với tội ác.

Chị cũng có riêng một tờ lịch in đủ tháng ghim trước cánh cửa tủ lạnh bằng bốn nụ nam châm. Những vòng tròn mực đỏ khoanh từng con số. Có hẹn với bác sĩ lúc mấy giờ. A nhờ trông cháu để con đi phỏng vấn tìm việc khác. Ngoài các nhắc nhở dài dòng đó, anh còn nhìn thấy những dấu hoa thị, những ký hiệu đánh dấu rải rác chỉ mình chị hiểu, kiểu như thời son trẻ chữ X bí hiểm ấy nhằm cho hay về ngày trứng rụng, đại khái vậy. Hoặc kinh nguyệt trễ? Vợ chồng anh chỉ có duy một người con gái, Anne đã lấy chồng, tiểu gia đình chúng ở cách đây khoảng bốn mươi phút lái xe và vì có con mọn Anne vẫn thường cậy nhờ mẹ giúp một tay, không cách này thì kiểu khác. Chị thương Anne, yêu cháu ngoại nên không hề từ nan. Có khi chị ở đậu nhà con hai ba hôm vào cuối tuần. Ở đó chị tìm gặp nụ cười, ấm cúng vây bọc. Xa anh, rời khỏi một không gian chừng đình trệ trong tĩnh lặng là điều đáng thực thi. Anh chẳng thấy khó chịu chút nào khi chị thường vắng mặt và nhiều khi anh đã ăn gian bóc lịch trước bước chân thời gian. Đừng hỏi anh hôm nay thứ mấy? Cuốn lịch treo trong tầm tay không cầu chứng con số chính xác đâu. Anh đã tước đoạt để làm êm một đầu óc đa đoan nhiễu sự. Anh nhìn nhận, vắng chị anh viết nhiều hơn, thứ sáu ngày 13, viết một thôi đã đụng tới tờ 17. Không dò lại, bỏ vào hộc tủ, đóng chặt. Tắm giấc khuya cho trôi mụ mị, vào giường lạnh, đắp mền, giấc ngủ thường băm vụn với bao ý tưởng quàng xiên. Họ bảo, nhà văn thường có trực giác bén nhạy. Anh hồ nghi vì anh chưa phải là nhà văn. Khi layout ra, trang đầu có nên in hàng chữ nghiêng: “Cảm ơn EM đã tác thành trong nhẫn nại”. Anh nghĩ thế. Hay mình ghi đủ đầy họ tên vợ? Anne, con anh thì mười phần nó đã lỡ quên tiếng mẹ đẻ tới sáu, bảy. Tìm lời diễn đạt khó khăn, một đôi khi. Thương anh, nó chỉ biết nói Je t’aime. Khỏi ấp úng. Nó biết anh dốt sử dụng computer, ba chỉ việc đánh máy, hồi nào ba muốn gửi đi in, con sẽ đến giúp ba việc kỹ thuật, giàn trang, trình bày, đánh số…

Có bữa, giữa giấc trưa quạnh quẽ, thần hồn anh đã không chống cự được một ríu mắt, cơn buồn ngủ bất chợt kéo thân anh vật xuống nệm giường, mê thiếp. Không lâu, chừng mười lăm phút trì trệ chẳng biết trời trăng. Chỗ nằm lạnh, bên gối đặt cạnh còn vướng một sợi tóc dài. Nó rụng đã bao lâu? Sao khi nhìn ra tự dưng anh nghe lòng nôn nao. Anh đi pha một ly cà phê rồi gọi điện thoại cho Anne: Mẹ tính nán ở đằng con mấy ngày? Ủa, mẹ chưa về tới nhà à? Đã chia tay sáng nay rồi mà. Để làm Anne an lòng, anh tự tìm bới một nguyên cớ: Tủ lạnh trống trơn, chắc mẹ đã tạt vào một siêu thị nào đó. Hồi nào mẹ về nhớ nói cho con biết. Anh buông điện thoại xuống. Anh nhìn vào tờ lịch dán ở cửa tủ lạnh, không đọc thấy một ký hiệu nào nằm bên 30 con số. Anh đến bên cửa sổ, vén màn nhìn ra con đường vắng, chiều mùa đông bóng tối sớm chan đầy ngõ ngách. Những đốm vàng vừa thắp trên dãy đèn chạy đâm vào giao lộ thỉnh thoảng có dáng chiếc xe buýt sật sừ băng qua. Tiếng máy nổ nhọc mệt của nó chẳng đủ sức vọng tới tai anh một gào thét nào. Trôi đi trong câm nín. Chị không biết lái xe, và chuyến buýt vừa vụt ngang đã không thả chị xuống ở trạm dừng. Mất mười phút anh mới tìm được số điện thoại cầm tay của chị. Tiếng chuông đổ chừng như bất tận và rồi nó được kết thúc, vọng tới giọng nói của Anne: Ba à, mẹ đã để quên ở bàn ăn. Sao đãng trí vậy không biết! Anh tính ngắt sóng nhưng chiếc taxi vừa thắng đứng ngoài ô cửa, anh nói lời cuối vào điện thoại: Con an tâm, mẹ vừa về tới.

Chị không đi một mình. Lý do khiến chị về muộn có thể đổ thừa vào nhân vật thứ hai. Anh mở cửa sẵn cho họ được thong dong bước vào nhà, bởi cả hai đều bận tay ôm giữ những bao bì. Anh có nhận ra ai đấy không? Chị nói. Anh đưa tay mang đỡ hộ những gì có vẻ trĩu nặng bên hông chị, mắt tập trung vào nhân dáng đứng tần ngần như thể giúp anh chóng nhận diện. Bộ nhớ đang hoạt động, có vẻ sai lập trình chẳng đạt kết quả. Và bậc thềm là nơi không hứng nhiều nguồn sáng. Mời vào nhà kẻo lạnh, chiều nay sao nhiều gió quá. Anh ngửi ra một thoảng hương ngọt khi đóng cửa lại. Chị vẫn đứng đó trông lui, quan sát anh. Chị vẫn luôn bắt gặp ở anh sự vụng về và lần này chị phát hiện thêm, anh quả là người có trí nhớ kém. Nụ cười mọc trên môi người ấy vẫn chưa lặn mất nhưng nó không tròn nụ, ái ngại hoặc miễn cưỡng hoặc nói cách khác, một hân hoan oà vỡ không dành cho mắt anh. Chỉ duy một đốm sáng có khả năng cướp đi sự ngờ nghệch đang khiến anh lúng túng: Viên ngọc trai gắn ở đôi bông tai. Không mấy xác tín nhưng miệng anh vừa thốt được hai chữ trời ơi!

Đau thương cũng trời ơi mà mừng tủi cũng dùng ngần ấy chữ. Thiếu đất hỡi bởi vì chân đi trên mặt đất cũng lắm khi sẽ được giáp vòng. Ơn trời. Những tờ lịch anh “tái sinh” đã xé rời gần trọn năm, một chu kỳ. Đã mấy mươi năm cơn mộng mới thành hiện thực? Chương, anh gọi thầm. Đó là người đàn bà sở hữu một dung mạo mà nhiều khi nhìn trộm Anne, anh phát hiện con gái mình có nét gì đó… Anne vô tâm chẳng biết mình là một đầu cầu dắt trí tưởng ba mình ra đứng ngó mông về một hình bóng cũ. Thứ cầu ván đóng đinh vững chãi, nghe sóng bên dưới thì thào những xô động thật đằm thắm.

Chị nói, có vẻ chạy tội giúp anh, phần khác là không muốn khách phải thấy khó xử: Lâu nay ổng vẫn thế, vẫn nhớ trước quên sau, lộn hồn lộn vía, mình đừng thèm giới thiệu gì cả, tự khắc rồi ổng sẽ nhớ ra. Vào đây đi. Anh đi sau lưng Chương để cả ba đặt những túi ny-lông xuống mặt bàn kê trong gian bếp. Bạn thấy đó, nhà chỉ có hai mạng, sống giản đơn. Hôm nay phá lệ phải mua nhiều thứ vì chẳng mấy khi bọn này gặp được khách quý. Anh, có mua đủ gia vị đây này, chiều nay vén tay áo vào bếp trổ tài làm món sở trường để đãi khách nghe. Mái tóc che một nửa mặt, Chương thay đổi nhiều quá, anh lại nghĩ thầm. Và đến lúc cần phải nói ra: Hai người gặp nhau ở đâu? Sao hay quá vậy? Không phải đặt điều chứ tự dưng bữa nay đâm nóng ruột, anh gọi mà em lại bỏ quên điện thoại ở nhà con. Chị tiếp lời anh: Em cũng thế, mấy khi mà đãng trí kiểu đó, lật đật chạy đi chợ như có điều gì hối thúc… Và rồi tình cờ gặp lại Candy. Dốt tiếng Anh lắm, cả chị lẫn anh đều hiểu candy là kẹo ngọt. Tuy ngày xưa vô duyên chẳng được mút nhưng giờ đây nhìn ngắm đã nhìn nhận cái mòn hao ở cây kẹo di động kia. Chỉ có bạn bè cũ mới gọi nhau bằng thứ mật ngữ ấy, và chị nhắc, như kiểu giúp anh sớm nhớ lại những hoàng kim đã bị trấn lột, mất tăm hơi…

Gió lạnh chẳng hiểu từ đâu trôi qua giường, trên dáng anh nằm co quắp. Chương hoặc Candy là mẫu hình nằm ngỗn ngang giữa những hàng chữ viết tháo trên bao tờ lịch rời… Sau cơn hàn khí là tiếng chuông điện thoại hối thúc đổ, vực anh ra khỏi giấc “ma đè”. Giọng nghe tuồng ngái ngủ. A-lô… Sợi dây nằm cuối đường thì khác hẳn, một thứ tỉnh táo ngập đầy bấn loạn, thất thanh. Ba à… Mẹ gặp tai nạn… bị xe đụng… bệnh viện vừa phone cho con…

Anh không đón nhận gì thêm. Anne đổ đầy nước mắt của nó, ngập lụt trong ống nghe… Chết điếng, tức tưởi, thút thít. Anh ngồi bệt xuống nền nhà, ngó sửng sợi tóc rụng của chị không dưng vướng vào tay áo. Một sợi tóc dài, bạc trắng, quấn quýt chẳng rơi.

Hồ Đình Nghiêm

Nhà tù hình chữ S

Huy Văn Trương

Posted on April 21/ 2019, by Lê Thy

Post by Sơn râu 26 Mar 2024

Hình minh họa

Tập 3

Phần 10
Trừ khi mình có cánh

Sáng tinh mơ tôi giật mình thức giấc, không phải vì tiếng kẻng khủng bố man rợ, gõ liên hồi như muốn chọc thủng lỗ tai của tù nhân, mà là tiếng khóc của con. Tôi đưa tay qua bên cạnh, không tìm thấy vợ. Đang bối rối, không biết làm sao dỗ cho con bé ngủ tiếp, tôi đã thấy Cúc xuất hiện nơi cửa với chai sữa trên tay. Chỉ một thoáng sau, Cúc đã gọn gàng và lanh lẹ vừa cho con bú vừa nói với tôi.

-Gần tám giờ rồi, bên ngoài trời khá đẹp lại có nắng ấm, lát nữa mình ăn sáng trên sân thượng, uống cà phê ngắm cảnh Đà Lạt, tiện thể cho con phơi nắng luôn.

-Em muốn sao cũng được, mới mấy ngày trước, anh chỉ mơ một chén cơm đầy mà không được. Hôm nay có diễm phúc ngồi bên vợ con, uống cà phê ăn sáng, anh không dám đòi hỏi gì hơn đâu.

Sở dĩ tôi nói với Cúc như vậy, bởi vì tôi không tin được rằng, chỉ cần một bước, người ta có thể từ địa ngục lên đến thiên đàng. Ở trong tù tôi đã nhiều lần nằm mơ, thấy mình được về xum họp với vợ con, để rồi khi tỉnh giấc lại bàng hoàng tiếc nuối. Đối với tôi “Những gì tốt lành quá sức tưởng tượng, thường chỉ có trong mộng mà thôi”. Tôi hỏi Cúc.

-Anh đang nằm mơ phải không em?

Cúc cho con bú, miệng nói với tôi.

-Không có đâu, nhưng anh phải mau mau đi rửa mặt, chị Hai sắp mang thức ăn sáng lên rồi đó.

-Đồng ý, em bồng con lên sân thượng trước đi, anh sẽ lên liền lập tức.

Miệng thì nói vậy nhưng phải mười phút sau tôi mới lên đến sân thượng. Cúc đang ngồi mơ màng nhìn về phía Bắc, nơi có đỉnh núi Bà mù mờ trong mây, con bé nằm trong cái giường nhỏ xíu bên cạnh. Nhìn vào cái bàn trống, nghĩ đến chuyện ăn sáng, không biết tại sao tôi lại nhớ đến quán cà phê chị Huệ ở đường Phan Bội Châu. Tôi vịn hai tay vào hai vai của Cúc.

-Ước gì mình có hai khúc bánh mì chả và hai ly cà phê nóng, thì còn gì tuyệt diệu hơn.

Có thể vì quá vui, Cúc vòng hai tay, cúi đầu trịnh trọng như đang đóng phim Tàu.

-Bẩm hoàng thượng, ở trong tù cải tạo, mỗi buổi sáng hoàng thượng ăn gì thần thiếp không biết. Riêng ở trong nhà này, ngài khỏi cần ao ước làm gì cho mệt, thần thiếp đã dặn chị Hai làm theo ý của hoàng thượng rồi.

Tôi ngạc nhiên hỏi Cúc.

-Sao em biết anh muốn ăn bánh mì chả.

Cúc nhắc tôi.

Hình minh họa

-Lần đầu tiên gặp anh, tụi mình ăn sáng ở quán cà phê chị Huệ ở đường Phan Bội Châu. Anh có nhớ là anh đã gọi cho em món gì không?

Tôi suy nghĩ một lúc rồi trả lời.

-Có.

Cúc nói tiếp.

-Sau đó anh bỏ em ngồi một mình trong quán, chuyện đó khiến em nhớ suốt đời. Khi anh rời khỏi quán, vì tò mò em hỏi chị Huệ và biết được thói quen của anh khi tới quán.

Tôi không ngờ những chuyện nhỏ nhặt ngày xưa của mình, Cúc lại nhớ kỹ như vậy. Muốn Cúc hiểu rõ mình hơn, tôi nói.

-Hồi đó, anh thường ăn bánh mì chả vì nó rẻ, vừa với túi tiền của mình. Nếu được chọn lựa, dại gì anh không lấy tô phở tái, chín, nạm, gầu, gân, nóng hổi, thơm ngon đầy chất bổ dưỡng.

Chị Hai bưng hai phần ăn sáng đến, đặt lên bàn rồi nói.

-Tôi bồng em bé xuống nhà chơi với ông bà.

Cúc vội vàng lên tiếng.

-Chị xuống ăn sáng với ba má tôi đi, để em bé đó, tôi muốn cho nó tắm nắng chút xíu.

Hai đứa tôi ngồi thưởng thức ly cà phê sữa nóng, thơm lừng. Trong cái không gian bao la tĩnh mịch, với bầu không khí mát mẻ trong lành, Cúc với giọng nói tràn đầy hạnh phúc.

-Theo em biết, có thể có đến bảy, tám chục ngàn sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa đi tù cải tạo, tất cả đều bặt âm vô tín. Em không bao giờ ngờ, anh lại được phóng thích sớm như vậy. Anh biết có bao nhiêu người về cùng một lượt với anh không? Và tại sao anh lại được thả?

Lúng túng một chút, tôi nói.

-Chuyện anh được về có chút nghi vấn, mà chính anh cũng không biết thì làm sao anh nói cho em hiểu được.

Nói xong tôi ngồi thừ người suy nghĩ một hồi lâu, sau cùng tôi nói với Cúc.

-Anh sẽ kể lại cho em nghe thật chi ly, rành rọt từng chi tiết nhỏ, từ ngày đầu tiên, khi anh bắt đầu trình diện học tập cải tạo cho đến ngày về. Hy vọng với cái nhìn khách quan, em có thể giải thích chuyện tại sao anh được thả về sớm như vậy.

Tôi hớp một ngụm cà phê, cắn một miếng bánh mì, rồi bắt đầu câu chuyện.

-Anh gặp ông Năm bánh xèo tại Ủy ban Quân quản thành phố Đà Lạt, ông ta ngồi ngay trong văn phòng tiếp nhận sĩ quan Ngụy đi trình diện học tập cải tạo. Tên của ông Năm là Trần Chiến….., ông ta cho anh tấm hình màu chụp anh với ông ấy trước năm 1975 ….

Cúc ngồi đối diện với tôi, hai tay chống cằm, chăm chú lắng nghe.

Khi tôi kể đến đoạn, gã bộ đội tất lấy cả tiền bạc và năm trăm đô la cùng với cái đồng hồ của tôi. Cúc la lên.

-Sao kỳ vậy, em còn nhớ, em nhét dưới đáy lon gô đựng thịt ruốc đúng một ngàn đô la lận mà.

Tôi lật đật tiếp lời Cúc.

-Đúng, đúng, một ngàn đô, nhưng trước đó anh quên kể cho em nghe, là anh đã chia cho Long công tử bạn của anh năm trăm đô, anh chỉ còn giữ năm trăm thôi…..

Sau khi đã nghe đầy đủ, trọn vẹn câu chuyện ở trong tù mà tôi kể. Cúc ngồi thừ người ra như suy nghĩ, cuối cùng nàng nói.

Hình minh họa

-Em có thể đoan chắc một trăm phần trăm, anh được thả về là do báo cáo của tên Việt cộng đã đánh anh ở ban chỉ huy trại. Sau khi đã lấy hết tiền và được anh ký giấy xác nhận vật dụng của anh chỉ có một cái mền và một cái mùng. Nó đã báo cáo anh có ông cậu là Bí thư tỉnh ủy, giống như anh đã khai trong bản tự khai lý lịch. Hồ sơ của anh đã được thông qua mà không cần xác minh. Vì nếu tụi nó trực tiếp hỏi ông Năm bánh xèo, câu trả lời của ông ta sẽ là “không”. Như vậy lòi ra chuyện anh khai gian lý lịch, với cái tội đó anh sẽ là người cuối cùng bước chân ra khỏi trại tù, nói gì đến chuyện được về sớm.Và vì hồ sơ của anh tới chậm, nên tên của anh nằm trong danh sách bổ túc, gồm có mười bảy người.

Cúc ngồi trầm ngâm một lúc, hình như thấy tôi vẫn còn lo lắng, nàng trấn an tôi.

-Anh yên tâm, chuyện gì qua, nó đã qua rồi. Không có lý do gì thả anh về xong, tụi Việt cộng mới đi làm chuyện xác minh giấy tờ, để rồi sau đó lại cho người đi bắt anh trở lại.

Nghe Cúc lý luận mạch lạc, vững chắc, khiến tôi hoàn toàn tin tưởng. Chuyện đơn giản như một với một là hai, vậy mà cả tuần rồi tôi không hiểu, cứ thắc mắc hoài.

Trong lòng thanh thản, tôi hớp một ngụm cà phê, rồi giục Cúc.

-Em ăn đi, còn chờ gì nữa.

Cúc cầm miếng bánh mì lên rồi nói với tôi.

-Chuyện ở trong tù của anh, em đã hiểu khá rõ. Bây giờ đến chuyện ở bên ngoài, có nhiều việc mà anh cần phải biết. Trước hết em sẽ nói về số tiền mình hiện có, nếu không nắm chắc chuyện tài chánh trong nhà, anh lại dè sẻn, tiết kiệm không đúng chỗ. Giống như ngày đi học tập, khi biết anh chỉ đem theo có hai ngàn tiền Việt Nam Cộng Hòa, chuyện đó khiến em lo lắng cho đến khi được thăm nuôi, đưa được tiền cho anh, em mới yên tâm. Hiện tại tiền bạc mình không thiếu, số vàng và đô la em hiện giữ, gia đình mình tiêu xài vài chục năm không hết, chưa kể túi hột xoàn mà em cất trong xách tay, mỗi hột trị giá vài chục cây vàng. Tuy vậy chuyện quan trọng nhất vẫn là trương mục ngân hàng ở ngoại quốc đứng tên em. Chuyện này chỉ có em và anh biết thôi. Và, mục đích cuối cùng của mình là phải tìm cách đặt chân đến bến bờ tự do.

Nghe Cúc nói mà tôi bần thần cả người. Tôi biết trước giải phóng gia đình Cúc giàu có nức tiếng ở Sài Gòn, điều tôi không ngờ mức độ giàu của vợ mình lại kinh khủng như vậy, thảo nào, khi tôi còn ở trong tù Cúc gởi cho tôi một ngàn đô la mà coi nhẹ như hột bụi.

Thấy tôi ngồi im lặng, Cúc nói tiếp.

-Chuyện tiền bạc anh đã hiểu rõ, bây giờ em nói đến cuộc sống hiện tại. Anh đi tù được vài tháng, em đã mua một miếng đất trồng bắp sú ở Đa Thiện, mua đất để khai báo với Việt cộng là mình có đất sản xuất, nếu không sẽ bị lùa đi kinh tế mới. Miếng đất nằm cách Viện đại học Đà Lạt của mình khoảng hơn một cây số, có diện tích là ba ngàn mét vuông, người dân ở Đa Thiện gọi là ba sào. Chủ đất phải bán bớt vì miếng đất của ông ta lớn hơn một mẫu. Có lẽ ông ta sợ chuyện cải cách rộng đất ở ngoài Bắc lại tái diễn ở Miền Nam, cũng có thể ông ta sợ nay mai đất đai sẽ phải vô hợp tác xã nông nghiệp, cho nên ông ta bán bớt đi, kiếm chút tiền dằn túi cho chắc, chỉ chừa lại đúng một mẫu đất cho cả gia đình ông ta. Giấy tờ bán đất em đã đem ra cho cái đám quan chức, gọi là chính quyền Cách mạng ở Đa Thiện chứng thực và hoàn toàn hợp lệ. Nhờ miếng đất đó, mà gia đình mình không thuộc diện phải đi kinh tế mới. Anh biết không, Tà Nung là vùng kinh tế mới của Đà Lạt, nó nằm sâu trong núi, cách phi trường Cam Ly khoảng mười cây số đường rừng. Hình như Việt cộng còn lập thêm vùng kinh tế thứ hai ở Đinh Văn, nằm cách Thanh Bình, La Ba, đâu khoảng hai chục cây số nữa, trên đường đi Ban Mê Thuột. Chuyện này em không rõ lắm, chỉ nghe đồn thôi.

Nghe đến đây, tôi có chút thắc mắc nên hỏi Cúc.

-Lúc đó em đang có bầu, làm thế nào em có thể chu toàn mọi công việc, nhất là việc trồng trọt bắp sú, cần người phụ giúp.

Hình minh họa

-Anh nói đúng, em cần người giúp, đúng ra là em cần một người thân tín, có thể tin cậy được. Người đầu tiên em nghĩ đến là chị Hai. Ngày xưa, tuy chị là người giúp việc trong nhà, nhưng em coi như chị bởi vì chị là người thật thà, trung hậu, lại tứ cố vô thân. Ngày mà anh đưa em từ Đà Lạt về Sài Gòn bằng phi cơ C130 ở phi trường Cam Ly, khi biết cả nhà sẽ đi Mỹ, em cho chị Hai một số tiền, đủ mua một căn nhà bên Tân Định theo ý của chị. Khi mua miếng đất ở Đa Thiện xong, em về Sài Gòn, đưa chị Hai lên sống với gia đình mình.

Tôi ngắt lời Cúc.

-Dù có chị Hai giúp, em làm sao có thể cáng đáng công việc của một người nông dân?

Cúc cười vui vẻ.

-Chỗ này em muốn nói cho anh rõ, tuy mang tiếng là người làm vườn trồng bắp sú, nhưng hầu như tất cả mọi việc nặng nhọc như xới đất, lên luống, làm cỏ, bón phân, tưới nước, em đều mướn người phụ giúp. Sau năm 1975, khi anh đã đi học tập rồi, toàn bộ những gia đình nông dân trồng rau cải ở Đà Lạt, đều phải sống bám vào mảnh đất của họ. Nếu không tiếp tục làm vườn, họ sẽ bị chết đói. Nhà nước Việt cộng kiểm soát hầu hết những gì liên quan đến việc sản xuất rau cải. Họ bán cho nông dân một số lượng nhỏ phân bón, xăng dầu, chỉ bằng một phần ba nhu cầu nông dân cần dùng. Người dân khi làm vườn, họ phải mua thêm  hai phần ba hạt giống, phân xác cá mòi, phân hóa học, thuốc trừ sâu, xăng dầu chạy máy tưới cây với giá chợ đen. Sau ba, bốn tháng làm việc đầu tắt mặt tối, đến mùa thu hoạch, ông nhà nước nhảy vô thu mua tất cả nông sản của nông dân với giá rẻ mạt. Nông dân bị chèn ép dã man tàn bạo như vậy, thiếu ăn, thiếu mặc là chuyện không thể tránh được. Đói thì đầu gối phải bò, người nông dân đành đi làm thuê, cuốc mướn, tìm thêm chút thu nhập để sống qua ngày. Em đã mướn họ làm, và trả công cho họ cao hơn những nơi khác.

Tôi hỏi.

-Làm như vậy em không sợ bị phường khóm cho mình là địa chủ, cường hào ác bá, bóc lột sức lao động của người dân hay sao?

-Anh đừng lo quá như vậy, chính ông tổ trưởng và tổ phó trong tổ sản xuất của vườn mình ở Đa Thiện, vẫn thường vui vẻ xin làm mướn cho mình với danh nghĩa là vần công, đổi công. Người dân trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa dùng mấy chữ này để thay thế cho chữ làm mướn. Giống như những người dân ở Đa Thiện, em cũng làm vườn nhưng không cần tiền, em làm vườn với mục đích khác. Trồng trọt như vậy, lỗ lã là cái chắc rồi, tuy nhiên sau những vụ mùa, mình khai với tổ dân phố đã bán cho Nông hội của nhà nước, lúc thì mười tấn, khi thì mười lăm tấn bắp sú, chuyện này đủ bảo đảm cho gia đình mình không bị ép phải đi kinh tế mới.

Cúc ngưng nói chuyện, đưa tay nựng con, thấy vậy tôi bồng con lên định hun vào đôi má phúng phính của nó, con bé hé mở mắt nhìn tôi vài giây rồi khóc ré lên. Cúc vội vàng ôm lấy con rồi nói.

-Cái ông này mặt mày dữ quá, làm con sợ phải không?

Dứt lời Cúc quay sang tôi.

-Thấy anh lạ nên con nó khóc. Hôm qua gặp anh em còn không nhận ra. Em nói như vậy để cho anh biết rằng chỉ hơn một năm ở tù, gương mặt của anh đã biến đổi nhiều như thế nào.

Tôi nói với Cúc.

Hình minh họa

-Hình dáng của anh có thay đổi, xấu xí đến đâu anh cũng không quan tâm. Chuyện anh muốn nói là sự đổi thay của xã hội Việt Nam dưới sự cai trị của Cộng sản. Tù nhân trong tù, phần thể xác thì bị hành hạ, ngày ngày phải đi làm lao động khổ sai, cơm không đủ ăn, áo không có mà mặc, còn phần tinh thần thì bị gán cho hai chữ Ngụy quân, có tội với nhân dân, phản bội Tổ Quốc, sống dưới sự kiểm soát của quản giáo và vệ binh. Chuyện tưởng chỉ có trong tù, nào ngờ người dân sống ngoài trại tù cũng khổ như vậy, cũng tối ngày đầu tắt mặt tối, lam lũ kiếm miếng ăn, rau cải trồng được thì bị nhà nước thu mua. Đời sống tinh thần thì bị tổ trưởng, tổ phó, tổ phó an ninh cùng công an khu vực áp bức, đè nén, nay bắt đi thủy lợi, mai cướp nhà đuổi đi kinh tế mới. Xét như vậy thì người dân sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa có khác gì ở trong tù đâu.

Cúc tiếp lời tôi.

-Có khác mà anh không thấy thôi, nhà tù dùng để nhốt dân, nó to lớn hơn cái tù giam sĩ quan Ngụy. Nói một cách đơn giản nó là cái nhà tù bao trùm lên tất cả dải đất hình chữ S. Khác nhau là ở chỗ đó.

Tôi hớp một ngụm cà phê rồi nói tiếp với Cúc.

-Em nói đúng, mục đích cuối cùng của mình là phải đem con lánh xa Cộng sản, tránh xa cái Xã Hội Chủ Nghĩa man rợ này, càng sớm càng tốt. Nhưng mà hiện tại cả gia đình mình kẹt trên cái đỉnh núi này, làm sao trốn được.

Tôi nhìn Cúc rồi chắt lưỡi.

-Trừ khi mình có cánh.

Nói chuyện “tào lao”: Hoạn Thư thời đại

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 20 Aug 2016 

Post by Sơn râu 25 Mar 2024

“Khôn chết, dại chết, biết sống”

(Khổng Tử)

Khôn cho người ta nhái, dại cho người ta thương)

Chuyện cũ:

            Dương Tu là người có tài đời Tam Quốc.

            Một hôm, Tào Tháo đi thăm một cái phủ mới xây.  Tháo bèn viết lên cửa chữ “Hoạt”. Hoạt là “trơn”. Những người làm chính trị, nay phò ông nầy, mai theo ông kia , người ta gọi là kẻ “hoạt đầu”. Nghĩa là cái đầu trơn. Đầu trơn nên “chui đâu cũng lọt”.

Chẳng ai hiểu Tào Tháo muốn nói gì! Biết Duơng Tu là người hay chữ, nên có người hỏi Tu. Tu bảo: “Thừa Tướng chê cái cửa hẹp đấy.”

Lần sau đến thăm, thấy cửa bây giờ sửa rộng ra. Tháo hỏi: “Ai biểu làm rộng ra?”

Bẩm Thừa Tướng, Dương Tu ạ!” Có người trả lời.

Tháo không vui. Tháo là người đa nghi, không muốn ai biết rõ mình. Thấy Dương Tu biết rõ bụng dạ mình, Tháo không ưa.

            Lại có lần, Tào Tháo được tặng một hộp bánh. Tháo ăn thử một miếng, rồi viết chữ “ngon” lên nắp hộp. Thấy vậy, Dương Tu đem cho gia nhân biểu ăn hết. Khi về, biết chuyện, Tháo tức giận, nhưng Tháo hiểu, chữ “ngon” cũng có nghĩa là chia cho mỗi người một miếng.

            Lại một lần nữa, Tháo đem quân đánh Lưu Bị, mấy trận rồi mà bất phân thắng bại, “tấn thoái lưỡng nan”. Tháo muốn rút quân về, nhưng còn phân vân lắm.

            Bấy giờ, buổi tối, có  tướng vào xin “mật khẩu”. Tháo bảo: “Kê cân”. Kê cân là gân gà.

            Chuyện đến tai Dương Tu, Dương Tu bảo với lính: “Chuẩn bị, mai về!”

            Nửa đêm, Tháo đi tuần, thấy binh lính chuẩn bị rút về, Tháo hỏi: “Ai ra lệnh?” Binh lính bảo, “Chỉ nghe Dương Tu nói.”

            Tháo giận lắm, lại biết Dương Tu nói, hơi lo! Ăn thịt gà, gặp cái gân, bỏ thì tiếc, nhai thì nhai mãi không ra, như tình trạng Tháo hiện tại vậy.

Thấy Dương Tu khôn quá, biết rõ cả tim óc mình nên Tháo biểu đem chém để trừ hậu họa, mà cũng thỏa cái lòng ghen. Tháo lấy cớ là “làm loạn lòng quân.”

            Dĩ nhiên người đời chê Tháo hẹp bụng, ganh tị, thấy ai hơn mình thì không ưa. Tâm lý đó cũng thường tình. Người đời cũng chê Dương Tu “khôn quá hóa ngu”, đúng như câu nói của Không Tử trích dẫn ở đầu bài. Ở đời, quả thật là “Khôn chết, dại chết, biết sống”.

            Người khôn, có khi sinh ra vị kỷ, chẳng hạn như tục ngữ nói: “Ăn cổ đi trước, lội nước đi sau.” Như vậy là mình chỉ biết mình. Ăn cổ mà giành đi trước thì để cho người đi sau “dọn chén bát” hay sao? Còn như lội nước đi sau, thì người ta chết, còn mình sống mà vui được sao?

            Có người nói Bà Hillary khôn!

Dĩ nhiên, ai không thấy bà ta khôn! Nhắm bộ khôn như thế, không bị người đời ghét hay sao?

Trong những người chê bà, chắc cũng không thiếu gì người thấy bà ta khôn mà ghét, không bằng như Tào Tháo ghét Dương Tu thì cũng ít nhiều có cái tâm lý đó vậy thôi. Đó là…đời!

            Nói như thế nầy, có ngưòi sẽ giẩy nẩy lên đấy: “Không! Tôi không phải là Tào Tháo, tôi chỉ sợ bà ta khôn quá, thì bà ta dễ khuyến dụ người dễ tin hay phỉnh gạt người ta mà thôi.” Đấy cũng là môt cách nói. Tâm lý người ta đâu có dễ thấy để mà nhận xét, phê bình! Vả lại, mình nghĩ rằng người ta ngu, dại nhưng chắc gì người ta đã dại, đã ngu. Ai biết ai ngu dại khôn lanh hơn ai!

            Trên truyền hình, nhiều khi người ta thấy mặt bà Hill “tỉnh bơ”. Ví dụ như mấy chuyện lăng nhăng của ông Bill. Báo chí, truyền thanh, truyền hình, Quốc Hội điều tra, ông Bill ra điều trần… Vậy người ta thấy bà Bill tỉnh lắm. Coi như không có chuyện gì xảy ra.

            Ấy là bà ta khôn lắm! Bả nói gì bây giờ? Không nói gì cả, không tuyên bố, tuyên cáo gì cả, mới là người khôn.

            Thái độ đó, làm cho người Việt Nam nhớ tới Hoạn Thư. Có lẽ bà Hill cũng ghen nhhu Hoạn Thư. Ngoài mặt thì “tỉnh bơ” nhưng chắc trong long thì sóng ngầm sóng nổi dữ lắm. “Lửa tâm càn giập càng nồng”(Kiều). Bà Bill thì để cho chồng đối phó. Trong nhà, bà có “tham mưu” gì cho ông Bill thì người ngoài cũng khó biết.

            Hoạn Thư cũng vậy. Hoạn cũng giấu kỷ lắm. Nhà quan mà, cần phải “giữ danh dự” (?) cho gia đình. “Con quan lại bộ tên là Hoạn Thư.”

            Tham vọng của bà Bill lớn lắm. Ông Bill làm tổng thống được. Bả cũng làm tổng thống được vậy. Ông Bill còn dại (gái); chắc gì bà Bill dại (trai – mê trai). Nội chừng đó cũng thấy bả hơn ông rồi.

            Để đạt cái tham vọng lớn đó, bả phải giữ cái “danh dự” cho ông cho bả chớ! Cho nên báo chí, truyền hình, đối lập… ai nói gì cứ nói, còn bà Bill thì

                        Nỗi lòng kín chẳng ai hay,

Ngoài tai để mặc gió bay mái ngoài.

Còn chuyện trong nhà thì:

                                Trong ngoài kín mít như bưng.

Nào ai còn dám nói năng một lời!

            Vậy mà cũng có người biết đấy!

            Không biết phóng viên báo chí hay ai, một hôm hỏi bà Bill, khi thấy trên trán ông Bill có dán miếng băng keo (first aid), có phải bả lấy cái gì đó ném vào trán ông hay không?

            Bà Bill trả lời: “Nếu tôi ném thì tôi không ném dở như vậy!”

            Câu chuyện nầy, làm người ta nhớ tới cái lẹo lưỡi của bà Nguyễn Thị Bình, bộ trưởng bộ Ngoại Giao của cái gọi là “Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam” trong hội nghị Paris.

            Khi nói về lãnh thổ, cái chính phủ ma do Hà Nội dựng lên không có một cái thủ đô nào cả, ngay cả trong rừng cũng không nên báo chí hỏi: “Lãnh thổ của chính phủ của bà là những chỗ nào?”

            Bà Bình trả lời: “Nơi nào mà chính quyền Saigon bắn súng tới là lãnh thổ của chúng tôi.”

            Người thì cho trả lời như thế là khôn, người thì cho là “Miệng lưỡi sắc như dao!” Dù nhận xét như thế nào thì cũng phải nhận bà Bình trả lời như thế là khôn, chớ không thì phải nói sao, không lý nói “Lãnh thổ của chúng tôi là ở bắc Vĩ Tuyến 17!”

            Khôn có hai cách: Khôn ác và khôn thiện. Dùng cái khôn để làm việc ác thì người đời chê! Dùng cái khôn để làm việc thiện thì người đời khen. Vì vậy, tổ tiên chúng ta có câu tục ngữ: “Khôn cho người ta nhái, dại cho người ta thương.”

            Chẳng qua, theo quan điểm sống của người Việt Nam, sống có Đức là hơn hết!

            Bài nầy viết ra không phải để khen chê ông Bill, bà Bill hay ông Trump hay “vận động bầu cử” cho họ. Chuyện đó để cho người đời phán xét. Tôi không muốn làm “tài khôn”. Chẳng qua thấy việc tranh cử  cũng vui, mà xứ “Ố-Nàm ta” thì chắc cả trăm năm nữa chưa chắc đã có, mà người Tầu, dù gọi người nước ta là “Ố Nàm” thì chắc chắn dân Tàu không thể nào hơn dân ta được./

            Còn lâu!

            hoànglonghải

Vàm Cỏ Đông!

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

Post on June 19th, 2020

Post by Sơn râu 25 Mar 2024

Ðường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho bắt đầu xây năm 1881. Mất khoảng 4 năm, cho tới ngày 20, tháng Bảy, năm 1885, chuyến xe lửa đầu tiên ‘đề pa’ từ ga Bến Thành Sài Gòn hụ còi rầm rầm, khạc lửa ra đàng mồm (vì lực chạy bằng máy hơi nước) về Mỹ Tho.

Tuy nhiên khi vào tới địa phận tỉnh Long An, vì hai con sông Vàm Cỏ Ðông và Vàm Cỏ Tây, xe lửa phải dừng lại, rồi tách toa xe ra lên Bắc (phà) để qua sông.

Tháng Năm, năm 1886, hãng Eiffel của Pháp bắc cây cầu sắt Bến Lức qua sông Vàm Cỏ Ðông và cây cầu sắt Tân An qua sông Vàm Cỏ Tây. Vậy là xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho chạy thẳng bon không cần phải qua Bắc như trước.

Cầu sắt Tân An dốc rất cao, đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước, lực yếu vì chụm củi đun nước trong nồi ‘súp de’ (chaudière) sôi chưa kịp, thành ra có khi nó tuột dốc ngược lại phía sau cả trăm thước.  Sau đó lấy trớn lại, hì hụi ạch đụi tới ba bốn lần mới leo qua được cái cầu. Qua cầu rồi lại đổ dốc ào ào, chạy bon bon. Ngặt cái là ga Tân An lại cách chân cầu không bao xa nên mới có cái vụ: “Xe lửa chạy tới Tân An / Tốp máy chẳng kịp ngã ngang té nhào”

Từ những năm 1930s, đầu máy xe lửa từ hơi nước chuyển sang dầu ‘diesel’. Sài Gòn đi Mỹ Tho có 72 cây số nhưng có tới 17 ga vừa lớn vừa nhỏ nên xe lửa phải chạy mất 3 tới 4 tiếng đồng hồ, hành khách ngồi ‘ông cái mê’ là ‘ê cái mông’ luôn.

(Tui nhớ hồi nhỏ, khoảng 6, 7 tuổi gì đó, Tía tui thương đám con lóc nhóc của mình ở Mỹ Tho đèn ngọn tỏ ngọn lu nên dắt sắp nhỏ đi Sài Gòn coi đèn ngọn xanh ngọn đỏ. Lên xe lửa, tui đâu có ngồi để ‘ông cái mê’, ‘ê cái mông’ mà đứng nhìn qua khung cửa sổ để thấy một đoàn tàu đi nhả khói hai bên đường. Và cũng để thấy hàng cột mắc dây thép để truyền đi tín hiệu ‘morse’ nó rượt theo tui hoài. Khoái quá chừng hè!)

Ðến ngày Mùng Một, tháng Bảy năm 1958, đường xe lửa Sài Gòn Mỹ Tho nghỉ chạy, sau hơn 70 năm xình xịch chạy tới chạy lui..

Năm 1968, Mỹ đúc cầu Tân An và Bến Lức mới. Còn hai cây cầu sắt cũ nầy, năm 2004, CS nó tháo dỡ đem đi bán ve chai, đút túi cũng khá bộn tiền.

(Cái gì bán được là tụi nó bán hè. Cả nước nó còn bán được thì nhằm nhè chi hai cây cầu sắt cũ chớ?!)

Tranh Bảo Huân

o O o

Sông Vàm Cỏ chỉ dài có 35.5 km, chảy trong địa phận tỉnh Long An, nhưng có đến 3 tên gọi. Ðoạn gần ngã ba Bần Quỳ còn gọi là sông Xá Hương, đoạn giáp với sông Soài Rạp gọi là Vàm Bao Ngược.

Thuộc hệ thống sông Ðồng Nai, bắt nguồn từ Prey Veng bên Campuchia, sông Vàm Cỏ có khoảng hai chi lưu, bề ngang sông tương đối rộng là sông Vàm Cỏ Ðông và sông Vàm Cỏ Tây. Vàm Cỏ Ðông và Vàm Cỏ Tây bắt tay ‘bông rua’ (bonjour), hợp lưu tại ngã ba Bần Quỳ (Tân Trụ). “Bần gie, bần ngã, bần quỳ. Sống mà chịu cảnh chia ly thêm buồn”

o O o

Rồi mới đây có một ông nhà văn quê ngay ở cái đất Long An nói: “Hồi nhỏ học bài trong sách Giáo khoa của VC tức lắm, tức cái khúc này nè: “Ở tận sông Hồng, em có biết. Quê hương anh cũng có dòng sông. Anh mãi gọi với lòng tha thiết: Vàm Cỏ Ðông! Ơi Vàm Cỏ Ðông!”

Mắc cái giống gì phải lôi sông Hồng vô làm màu mới có thể nói tới Vàm Cỏ Ðông. Hồng Hà không đẹp, hiền hòa, thùy mị, diễm lệ có bằng sông Vàm Cỏ của tui đâu mà lôi nó vô chớ?

Tui cũng thông cảm với cái bức bối rồi tức tối của ông nhà văn, quê chính tại sông Vàm Cỏ nầy vì: “Quê hương mình đẹp hơn cả!”

Tui bèn lục coi đứa nào cả gan dám làm ông nhà văn nầy giận quá xá như vậy? Thì nó đây rồi. Ðó chính là nhà thơ VC (Cộng sản ở trong Nam) có bút hiệu là Hoài Vũ. Ông ‘ni’ là Tổng biên tập báo Văn nghệ giải phóng của ‘Vi Xi’ (VC) có mần bài thơ tựa là: ‘Nàng Thơm’. Rồi cả bọn thuộc cấp nịnh, xúm lại, áo thụng lạy nhau!

“Nàng Thơm tên lúa hay tên em? Nghe dịu tâm hồn ngọt gió đêm…”

Kể rằng một cô gái thương một chàng trai nghèo khổ, hằng ngày vất vả lam lũ cấy cày mà vẫn đói rách. Ðêm đêm cô gái lặng lẽ ra ruộng dùng nước mắt của mình nhỏ xuống, mỗi cây lúa một giọt khiến ruộng lúa của chàng xanh tốt trở lại. Lạ kỳ thay, từ lúc trổ bông đến khi thành gạo nấu thành cơm đều rất thơm. Rồi Người ta dùng tên Thơm của cô gái cho giống lúa Nàng Thơm ở Chợ Ðào, quận Cần Ðước, tỉnh Long An.

Dĩ nhiên thơ là hư cấu, là đặt chuyện nói không thành có; có ít xít ra nhiều; tuy nhiên cũng phải tôn trọng sự thực một chút đi. Chớ viết tào lao bí đao, tưởng tượng như tưởng voi, như vầy là coi không có đặng.

Vì ngoài giống lúa Nàng Thơm, gạo nấu cơm ăn nó thơm; còn biết bao nhiêu giống lúa có cả đống tên na ná như: “Nàng Bè, Nàng Co, Nàng Cóc,  Nàng Ếch,  Nàng Gồng, Nàng Quớt… thì viết như vậy quả là trớt quớt!

o O o

Hoài Vũ tên thật là Nguyễn Ðình Vọng, sinh năm 1935, dân Quảng Ngãi chớ không phải chánh gốc sanh đẻ lớn lên bên dòng sông Vàm Cỏ, tất nhiên là ổng mần thơ rất bá láp bá xàm, nhứt là hai bài: ‘Vàm Cỏ Ðông’ và ‘Anh ở đầu sông em cuối sông’.

“Vàm Cỏ Ðông, ơi hỡi dòng sông. Nước xanh biêng biếc chẳng đổi thay dòng…”

Con sông Vàm Cỏ Ðông có cây cầu Bến Lức bắc qua, tui từng qua lại cả trăm lần, làm cái quái gì có nước xanh biêng biếc bao giờ? Nước nó màu vàng quạch vì chở nặng phù sa nên màu nước như sương sa mình ăn với dầu chuối hồi nhỏ vậy.

Rồi: “Vàm Cỏ Ðông ơi hỡi dòng sông. Có anh du kích dũng cảm kiên cường. Lẩn ánh trăng vàng băng lửa đạn qua sông…”

Dũng cảm nầy là dũng cảm kiểu giành ngu hết ráo không chừa cho ai ngu với.

Trăng vàng là trăng rằm, trăng mười sáu, đêm nhưng trời sáng trưng như ban ngày. Rồi lính nó bắn ào ào toàn lửa đạn mà chú mầy dám lội qua sông là Há Bá rước chú mầy đi ăn đám giỗ.

o O o

Chắc hổng có ai dám vạch ra và chỉ rõ cái tầm phào nầy nên ông Hoài Vũ hăng tiết vịt, chơi thêm bài nữa là: “Anh ở đầu sông, em cuối sông!” được Phan Huỳnh Ðiểu (1924- 2015) phổ nhạc.

“Anh ở đầu sông em cuối sông. Uống chung dòng nước Vàm Cỏ Ðông. Thương nhau đã chín ba mùa lúa. Chưa ngày gặp lại nhớ mênh mông…”

Sau nầy, được bồi bút quốc doanh phỏng vấn, Hoài Vũ cho biết là có em Bảy Nhàn nào đó từ thành thoát ly ra khu đi học mần văn, mần thơ cách mạng. Thấy em hơ hớ xuân thì nên ông thèm nhểu nước miếng bèn ‘chỉ đạo’ rồi ‘chỉ đại’ em Bảy Nhàn nầy. Hoài Vũ mần bài thơ nầy cho em Bảy Nhàn đọc được để hiểu được tấm lòng (thòng) của ‘qua’ đây.

Làm thầy dạy viết văn, mần thơ cách mạng mà đi dê, đi dụ dỗ học trò thì bậy bạ quá!

Cái bố láo, bố lếu thứ hai là ông Hoài Vũ tựa theo ý bài thơ, là nói lịch sự, còn nói ‘trần trắng trợn’ thì ông chôm từ bài ‘Trường Tương Tư’ của Lương Ý Nương (907- 960) bên Tàu:

“Quân tại Tương giang đầu. Ngã tại Tương giang vĩ. Tương tư bất tương kiến, Ðồng ẩm Tương giang thủy”

“Chàng ở đầu sông Tương. Thiếp ở cuối sông Tương. Nhớ nhau không gặp mặt. Cùng uống nước sông Tương”

Ông ‘thần’ nầy chỉ có cái việc là thay tên sông Tương bằng Vàm Cỏ Ðông (là của nó thành của tao). He he!

Nhưng bài thơ ‘Trường Tương Tư’ của Lương Ý Nương hay hơn nhiều. Hay ở chỗ tựa bài thơ: ‘Tương tư’ là nhớ nhau. Trường là ‘dài’, nên nhớ nhau hoài. Còn con sông tên là Tương Giang, tình như nước của cả một dòng sông là nhớ nhiều quá xá!

Như thế bài thơ: ‘Anh ở đầu sông em cuối sông’ chỉ là một bài thơ cọp dê ý của Tàu Phù, vừa tán gái vừa quánh giặc, (cho đúng đường lối của đảng), thì có hay ho gì mà khoe chớ?

Kết luận: “Thôi đi mấy cha! Dóc vừa vừa phải phải thôi!”

DXT