Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

(Vietnam, Qu’As Tu Fait De Tes Fils?)

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Chương Bốn

Tổng Thống Thiệu Cố Gắng Giữ Thế Chủ Động Chánh Trị

Ngày Chúa Nhật 6 tháng 4
Chiếc phi cơ “Caravelle” của Hàng Không Việt Nam đã đổi đường bay từ Băng Cốc về Sài Gòn. Nó không bay chéo dãy núi dài của Cam Bốt và những đồng ruộng phì nhiêu của vùng Đồng bằng nữa, mà đi thẳng đến Utapao để từ đó bay dọc theo duyên hải của Miền Nam Việt Nam, bay thật cẩn thận trên mặt biển để tránh tầm đạn đạo của hỏa tiễn tầm nhiệt SAM.7 của Bắc Việt. Và sau đó mới bay thẳng về hướng Bắc, rồi tạt ngang qua khúc quanh co sình lầy của con sông Sài Gòn để vào Tân sơn Nhất.
Đường bay đáp xuống hơi ngắn lại hẹp vì hai bên có những bức tường thép vuông vức dùng để chắn đạn của các ụ phi cơ vận tải C.47, các trực thăng và những phi cơ chiến đấu.
Trong những dãy nhà của phi trường bốn chiếc C.130 khổng lồ của Không Lực Hoàng Gia Úc đang đến để chở 600 trẻ mồ côi. Có khoảng 100 em mặc toàn quần áo mới đang đứng yên lặng dưới đất nhìn các phi cơ khổng lồ nầy đầy vẻ sợ hãi.
Chiếc xe buýt đưa chúng tôi ra thành phố chạy giữa đám đông xe gắn máy, xe hơi, xe ba bánh. Thành phố mà cách đây vài ngày tất cả báo chí Tây Phương đều mô tả như là một thành phố đang bị bao vây, hiện rất yên tĩnh lạ kỳ. Gần như không có một tý gì thay đổi từ khi tôi đang còn ở đây sáu tháng trước . Trên các đại lộ và trong các công viên đầy bóng mát của những cây chuối và những cây cổ thụ xanh um, đã thấy toàn hoa phượng nở đỏ rực..
Ở đường Catinat, những phòng trà và phòng lớn của khách sạn Continental đầy ấp khách hàng.Tuy là nhằm ngày chúa nhật nhưng các thư viện, các quán rượu, các kho hàng, các cửa hàng tạp hóa của người Ấn vẫn mở cửa. Trên đường Charner cũ (Nguyễn Huệ) các gian hàng bán bông còn đầy ấp bông huệ và bông hường. Các rạp xi nê thì treo bản “hết vé”. Trên sông Sài Gòn các xà lan đen chở đầy hàng hóa đang bỏ neo giữa những chiếc tàu chiến của Hải Quân súng cao xạ chỉ hết lên trời. Nhiều chiếc ghe chài đường biển đang lướt trên sông vớI những cánh buồm lớn . . .
Phía sau Kho bạc và chung quanh Chợ Cũ, hàng quán vẫn tấp nập kẻ mua người bán. Chỉ riêng các xe xích-lô đã vắng bóng, Có gần 6000 loại xe nầy, lúc nào cũng thấy chạy rong ngược xuôi khắp thành phố tìm khách hay rước khách ở bến xe ba bánh. Cảnh sát đã quyết định cấm không cho họ hoạt động nữa, vì bọn đặc công Việt Cộng đã giả dạng xích lô trà trộn và đột nhập vào thành phố một đêm trước ngày tấn công Tết Mậu Thân, bảy năm trước.
Sài Gòn có vẻ lo âu ngay sau khi Đà Nẵng và Nha Trang bị thất thủ. Tòa nhà của hãng Hàng Không Việt Nam từng sống những ngày vui vẻ nhộn nhịp, nay đã trở lại vắng vẽ im lìm. Hảng hàng không quốc gia nầy nay chỉ còn giữ có 2 chuyến bay trong nội địa đang bị thu hẹp lại: một chuyến đi Phú Quốc, một hòn đảo nằm ngoài khơi trong Vịnh Thái Lan, và một chuyến đi Rạch Giá, một tỉnh nằm trên bờ biển phía Tây Nam của Việt Nam.
Các tờ báo buổi chiều chạy hàng chữ đậm, trích đăng cuộc họp báo được coi là đáng khích lệ của Tổng Thống Ford tại San Diego. Tổng Thống Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng:
– “Tôi là một người rất lạc quan. Bất kể những biến cố bi thảm mà chúng tôi là nhân chứng, cũng vẫn còn một cơ may để Việt Nam và Cam Bốt chống trả lại sức ép của kẻ địch. Tôi không chờ đợi một sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam và tôi sẽ làm tất cả để tránh việc đó. Chúng tôi không để cho một chế độ cộng sản được hiện hữu tại Sài Gòn và ở Phnom Penh cũng vậy. Hoa Kỳ vẫn là một đồng minh đáng tin cậy.”
Cuộc khủng khoảng chánh trị ở Sài Gòn bắt nguồn từ sự kiện Cao Nguyên bị rơi vào tay cộng sản Bắc Việt, vừa bất ngờ được sống trở lại rất ngoạn mục. Vài giờ sau khi ngăn chận được một âm mưu đảo chánh, Tổng Thống Thiệu tuyên bố chỉ định ông Chủ Tịch Hạ Viện Nguyễn bá Cẩn thay thế Thủ tướng Trần thiện Khiêm.
Sau khi khám phá ra được âm mưu đảo chánh , đã có nhiều người bị bắt giữ trong số đó có ông Nguyễn văn Ngân, cố vấn chánh trị của Tổng Thống Thiệu và là một thành viên có uy tín thuộc đảng Dân Chủ của chánh quyền . Ông Ngân là một cựu giáo chức, sau đó là sĩ quan Quân Cảnh, và sau khi được giải ngũ đã quyết định chọn con đường chánh trị và đã nhanh chóng vạch ra con đường cho mình.
Vào năm 1972, Tổng Thống Thiệu đã chọn ông Ngân làm phụ tá đặc trách về công tác thành lập đảng Dân Chủ mà ông hy vọng sẽ là đảng của chánh quyền để yểm trợ cho ông, đồng thời ông Ngân cũng sẽ bảo đảm sự liên lạc chặt chẻ giữa Tổng Thống Phủ và lưỡng viện Quốc Hội .
Là một người mưu mô và có nhiều tham vọng, ông Ngân tiến hành thành lập rất nhanh ở Quốc Hội hai toán liên lạc rất trung thành với ông ta.
Vào mùa xuân năm 1974, ông tưởng rằng vị trí cá nhân của ông đã đủ vững chắc, có thể triệu tập được một buổi họp của các vị dân cử “bạn” để nhờ họ giúp tách rờI Tổng Thống Thiệu ra khỏi những “thủ hạ xấu” chung quanh ông ta. Và một khi bảo đảm chắc chắn là ông Thiệu đã bị “cô lập” như thế rồi thì ông nầy sẽ trở thành con tin trong tay của những người dân cử. Nhưng rất phiền là một trong những nghị sĩ lại có mang theo một máy thu âm trong người , và cuốn băng ghi âm đó cuối cùng lại đến nằm trên bàn làm việc của Tổng Thống Thiệu .
Trong cuộc điều tra ngay sau đó, cơ quan an ninh xác nhận là “những tài liệu tịch thâu được tại nhà của ông Ngân cho thấy ông nầy dính líu đến một đường dây buôn lậu với vùng Việt Cộng”
Bị chỉ định cư trú trong vài tháng, sau đó ông Ngân được phép rời khỏi nước đi sang Gia nả đại ở vớI người anh của ông ta. Nhưng gần đây khi được phép trở lại Việt Nam, hình như không bỏ được tham vọng, ông lại khư khư muốn nắm giữ những vai trò hàng đầu, nên lần nầy ông lại hợp tác với cánh em út của tướng Nguyễn cao Kỳ.
Bị dính líu vào âm mưu nầy, 8 sĩ quan cao cấp bị theo dõi và canh chừng, trong số đó có tướng Loan. Tướng Loan là cựu chỉ huy trưởng cảnh sát, hồi Tết Mậu Thân đã bị báo chí Tây Phưong chụp ảnh, ngay khi ông đang dùng súng lục bắn vào đầu một cấp chỉ huy Việt Cộng, sau đó ít lâu ông bị thương vì một viên đạn từ trực thăng và đã trở nên một phế nhân không có việc làm. Nhưng mặc dù cò một chân bất khiển dụng, vị cựu sĩ quan biệt động nầy, từng là một trong những phi công tài giỏi nhất của Miền Nam Việt Nam , vẫn còn có khả năng phản ứng rất nguy hiểm..
Nằm ngay giữa căn cứ Không Quân rộng lớn trong phạm vi phi trường Tân sơn Nhất, biệt thự của tướng Nguyễn cao Kỳ vẫn còn là một trung tâm sinh hoạt rất náo nhiệt và . . . rất được chú ý canh chừng. Vào mỗi buỗI chiều cứ trước giờ giớ nghiêm là khách khứa tấp nập đến chơi nhà tướng Kỳ. Có nhiều đại tá trẻ và một số phi công, quá tức giận vì các thất bại quân sự gần đây, đã tỏ ra sẵn sàng cho những hành động điên rồ. Bà Mai, người vợ rất đẹp của tướng Kỳ thì lo thức ăn và nước uống. Khách khứa thì bàn cãi thâu đêm suốt sáng về những gì cần phải làm. Tướng Kỳ là người nói nhiều nhất, ông quát tháo, tức giận, cho Tổng Thống Thiệu là một vị tướng “hát bội”, ông xác nhận rằng mình đã hình thành “một kế hoạch phản công” để chận đứng làn sóng cộng sản ông lên án Đại sứ Hoa Kỳ đã “tự ý chống lại mọi sự thay đổi Chánh Phủ” . Không khí âm mưu nầy đã làm cho Tổng Thống Thiệu phát cáu lên. Một số sát thủ đã được thuê để tìm cách thanh toán tướng Kỳ. Họ đột nhập vào được căn cứ, nhưng đã bị toán cận vệ của tướng Kỳ bắn hạ ngay ở cách biệt thự chừng vài ba thước. Có lẽ người ta đang chờ xem những màn biến chuyển náo nhiệt nầy.

Bất chấp những sự đe dọa nặng nề đang đè nặng lên bản thân ông, Tổng Thống Thiệu vẫn cố gắng giữ thế chủ động chánh trị của mình, đồng thời cố giữ không cho phần còn lại của quân đội bị rã ngũ.
Trong một buỗi nói chuyện trên vô tuyến truyền hình, Tổng Thống Thiệu vừa xác nhận là Thủ tướng mới được chỉ định đang lo thành lập một “Chánh Phủ chiến đãu và đoàn kết” vớI nhiệm vụ tái lập an ninh, ổn định hậu phương và cứu trợ dân chúng tỵ nạn. Ông xác nhận là các chỉ huy quân sự nào “hèn nhát và có tinh thần chủ bại” sẽ bị trừng trị. Ông dựa trên vị thế “hợp pháp và hiến định” của một Tổng Thống được dân bầu trong sứ mạng bảo vệ chế độ, và cực lực bác bỏ mọi luận điệu cho rằng ông đã có “một thỏa hiệp kín với cộng sản” trong việc nhượng một phần lãnh thổ của quốc gia để đổi lấy một sự rút quân và bảo toàn dân chúng đang chạy loạn. Cuối cùng ông nhấn mạnh là ông vẫn thi hành đứng đắn Hiệp Định Balê, dù là Hiệp Định đang bị Bắc Việt chà đạp, khi ông nói rằng ông phải dùng bạo lực để trả lời với bạo lực, và ông không bao giờ thương lượng điều gì dưới sự đe dọa của họng súng.
Để kết luận, ông kêu gọi dân chúng hãy “trấn tỉnh lại” và đòi hỏi quân đội phải “chuẩn bị’ để tái chiếm lại những phần lãnh thổ đã mất”. Những ý định đó rất đáng được khen ngợi. Chỉ còn có việc thi hành các quyết định đó mà thôi. Không phải những hoạt động trong hành lang mà chính là những hành động trên chiến trường mới xác nhận được lời nói của ông Thiệu có giá trị hay không.
Số phận của nước Việt Nam tựu trung vẫn phải được giải quyêt bằng súng đạn!

30 tháng Tư – Mất, còn?

hung-viet.org

29 Tháng Tư 2019

Huy Phương

Ba Mươi Tháng Tư, khi Việt Cộng tiến chiếm miền Nam, không ít người dân quan niệm biến cố 30 Tháng Tư là biến cố mất nước, nên nhiều người có ý nghĩ phải tranh đấu phục quốc.

Cũng có người phản bác, cho rằng nước vẫn còn, chỉ có chế độ là thay đổi, như ông Nguyễn Cao Kỳ trong một câu nói chuẩn bị cho thái độ “hồi đầu” sau này, đã phát biểu: “Nước Việt Nam có mất cho Tây, cho Tàu đâu mà phục quốc?”

Bắc Việt xả thân đánh miền Nam cho ai, nếu không là cho Tàu cho Nga? Những thứ mất đó, ai cũng thấy.

Rõ ràng là miền Nam bị xâm lược. Theo Điều 1 của Nghị Quyết 3314 nhằm định nghĩa về xâm lược của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc năm 1974, “xâm lược là việc sử dụng lực lượng vũ trang hoặc là bất kỳ hành động nào trái với Hiến Chương Liên Hiệp Quốc của một quốc gia hay liên minh các quốc gia nhằm chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hay sự độc lập về chính trị của một quốc gia khác hoặc của một liên minh các quốc gia khác.” Mặt khác, Bắc Việt còn công khai xé bỏ hiệp định Paris 1973.

Hố sâu cách biệt giàu nghèo trong xã hội Việt Nam sau 44 năm biến cố 30 Tháng Tư ngày càng trầm trọng. (Hình: Getty Images)
Lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) bị quân đội một quốc gia khác là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) – Bắc Việt- tấn công và chiếm đóng (Bắc và Nam Việt là hai quốc gia có thể chế khác nhau và được thế giới công nhận.)

Người miền Nam bị mất nước, vì bị quân đội Bắc Việt xua quân chiếm đóng, lật đổ chính quyền, lập chính quyền mới.
Quân chiếm đóng đã có chính sách bỏ tù lâu dài quân cán chính chế độ miền Nam, đày ải lưu đày đội quân bại trận và đưa đến các vùng thâm sơn cùng cốc để đày đọa họ. Đội quân chiếm đóng cướp bóc tài nguyên, tịch thu tài sản, kho tàng, của cải của miền Nam đem về Bắc, cướp nhà, cướp đất, chia cho đoàn quân chiếm đóng với danh nghĩa “cải tạo tư sản,” dùng chính sách kỳ thị lâu dài để triệt tiêu và lùa đẩy thế hệ tinh hoa của miền Nam vào nhà tù hay đẩy ra biển cả.

Hành động cướp nước này còn tinh vi và tàn bạo hơn cả thời thuộc địa Pháp, số người thua trận bị giết và đày đọa, kỳ thị chưa bao giờ lên cao như ngày nay, giữa một giống người cùng quê hương với nhau, được tuyên truyền dưới chiêu bài “giải phóng” và “thống nhất” đất nước!

Dù có tuyên truyền đến mức độ nào về chuyện mất cả nước về tay Pháp hay chuyện “xâm lược” miền Nam của Mỹ, thì người dân ngày nay cũng đủ trình độ hiểu biết để nhận thức về việc này!

Dưới thảm họa mất nước, miền Nam rõ ràng đã mất nhiều thứ. Của cải tài sản là nhà cửa, đất đai, ruộng vườn, kho đụn, vàng bạc… đằng đẵng trong gần 45 năm, cuộc cướp bóc vẫn còn tiếp diễn với một cường độ không thấy dấu hiệu thuyên giảm. Chế độ kỳ thị, phân biệt, thù hận gần nửa thế kỷ nay chưa chấm dứt. Dân miền Bắc nghèo đói, sống những vùng cạn kiệt tài nguyên, di dân tràn ngập lãnh thổ miền Nam, chia sự trù phú của miền Nam và đồng hóa con người.

Về mặt tinh thần là quyền làm người bị triệt tiêu, tự do bị trói buộc. Cả nước chỉ có một thứ báo, thứ loa, thứ “đài” là cơ quan tuyên truyền của đảng. Đảng cầm đầu và quyết định. Đảng viên thống trị đất nước từ chức vụ một viên công an gác đường cho đến chủ tịch nước, có đặc quyền, đặc lợi, có một thứ luật pháp miễn trừ, có chế độ giáo dục và y tế ưu đãi riêng.

Một đất nước mà mọi người dân cũng như cả những viên chức chính phủ luôn lăm le tìm đường bỏ nước ra đi phải chăng là một xứ sở tốt đẹp mà các lãnh tụ cộng sản vẫn thường ca ngợi? Nếu cuộc sống hạnh phúc có thể tìm thấy trong chế độ này vì sao con người ta phải tìm vượt thoát, không bằng con đường lén lút ra khơi thì cũng cậy cục bán nhà, vay mượn, cầm cố để đi lao động, làm thuê, ở đợ, lấy chồng, hay thậm chí bán thân nơi xứ người?

Xã hội rêu rao “mình sống vì mọi người,” “con người là vốn quý,” “làm theo khả năng hưởng theo nhu cầu,” cuối cùng cũng chỉ là một xã hội bóc lột, giàu nghèo cách biệt, cán bộ đảng viên làm giàu trên quyền lực, nhờ súng đạn và nhà tù và băng đảng trong tay.

Nhưng điều mất mát lớn lao nhất mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu hôm nay, cho đến cả trăm năm sau, dù một ngày kia chế độ cộng sản không còn trên quê hương nữa, là sự mất mát đạo lý và nhân tính của con người. VNCH xây dựng con người trong cả thế kỷ, cộng sản phá nát con người chỉ trong vòng vài năm.

Con người đối với nhau “cạn tàu ráo máng” như loài thú hoang, không phải chỉ là nhà cầm quyền đối với dân bị trị, mà còn là giữa con người với nhau, trong đó có láng giềng, làng nước. Con giết cha mẹ, vợ chồng dâm chém nhau, tình yêu thương được thay thế bằng luật giang hồ. Những vụ cướp đất, cưỡng chế từ quyền lực, tranh giành, thù hận giữa con người với nhau đến mức khó tin. Cả một vườn chuối bị đốn ngang, một ao cá bị bỏ thuốc độc, thuốc chuột được bỏ vào một nồi bún riêu để hại người thân thuộc. Ngoài đường phố, dao bầu, mã tấu, gậy gộc được dùng để đối thoại, giải quyết mâu thuẫn với nhau. Chuyện hiếp dâm, tấn công tình dục, nhất là đối với trẻ con đã trở thành một tệ nạn lan tràn. Những vụ án mạng của băng đảng và giết tróc hàng loạt, hiếp dâm tập thể không gờm tay, nhờ sự tiếp sức của ma túy, rượu chè.

Người xưa vẫn đem tiêu chuẩn “trọng tài khinh nghĩa” ra để giữ gìn cương thường, đạo lý cho con người, ngày nay đồng tiền là cứu cánh và mục đích tối thượng. Ngay trong hai ngành tiêu biểu cho hoạt động căn bản của một quốc gia của xã hội là giáo dục và y tế, đồng tiền một mặt làm hư hỏng, mặt khác có thể giết chết con người không thương tiếc.

Tình nghĩa giữa thầy trò trong nhà trường, bác sĩ -y tá với bệnh nhân trên giường bệnh, quan chức và dân đen nơi chốn công đường, không còn chỗ cho sự tử tế, tình nghĩa giữa con người với nhau, mà chỉ thấy toàn sự thủ lợi, ích kỷ giẫm đạp lên nhau mà sống!

Ngay trong cả tập thể lãnh đạo của đảng cầm quyền, truyền thống của những đảng Cộng Sản, đã có những vụ thanh toán, giết tróc nhau công khai mà không bao giờ có thủ phạm.
Trong một xã hội băng hoại, đạo đức xuống cấp trầm trọng, nhưng danh từ như “nếp sống văn hóa,” “đời sống nhân văn” thành ra những khẩu hiệu trơ trẽn, vẫn viết bằng những hàng chữ lớn, hoa mỹ trên nền đỏ thẫm tượng trưng cho chế độ, hiện diện ở khắp hang cùng ngõ hẻm. Con người sống với nhau bằng sự dối trá, lường gạt nhau càng nhiều càng tốt, từ thực phẩm vào con đường dạ dày, đến niềm tin và trí tuệ cho phần tinh thần.

Những ngày cộng sản Bắc Việt mới vào Nam, dân chúng còn thấy được những điều tốt xấu, lối sống khác biệt giữa hai miền Nam Bắc, từ lối ăn nói, cử chỉ, phản ánh từ văn hóa, giáo dục và nếp sống hằng ngày giữa hai miền. Từ những khác biệt giữa hai miền, chúng ta thấy bật rõ, từ thói quen của một đứa trẻ trong trường học, thái độ của một cô bán hàng, lối cư xử của một nhân viên công lực…
Nhưng dần dần cái xấu tràn lan, áp đảo những điều tốt đẹp, mảnh đất không được chăm bón, trở thành môi trường cho cỏ dại, loài trùng độc, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời (theo ý của Đức Đạt Lai Lạt Ma,) nên đất nước ngày hôm nay không còn mấy tốt đẹp, tử tế và cũng chẳng còn mấy ai chú ý hay muốn duy trì hay phục hồi những điều tốt đẹp ấy nữa.

Nỗi mất mát đó, tưởng chừng khó có thể tìm lại được. Miền Bắc đã ở dưới chế độ Cộng Sản hơn 70 năm, miền Nam đã mất 44 năm, thời gian đó đã sinh sản ra những thế hệ con người gọi là “xã hội chủ nghĩa,” của một thế hệ hãnh tiến, còn được gọi là “thế hệ Hồ Chí Minh.” Liệu rằng, một ngày nọ, chế độ này không còn, dân tộc phải trải qua bao nhiêu thời gian nữa để xây dựng lại con người?

Huy Phương
Nguồn Người Việt



30 Tháng Tư ‘cho ta sáng mắt, sáng lòng’

hung-viet.org

23 Apr 2018

Huy Phương

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Từ sau ngày Hiệp Định Geneve năm 1954 lấy sông Bến Hải làm ranh giới chia cắt hai miền Nam Bắc Việt Nam, cả hai phe Quốc-Cộng đều tranh thủ nhân tâm đồng bào, lấy thông tin tuyên truyền làm vũ khí hàng đầu để tố cáo tội ác và nêu lên sự đau khổ lầm than của đồng bào bên kia giới tuyến.

Minh chứng sự tốt đẹp của việc “đất lành chim đậu,”thực tế là trong thời gian 30 năm chia cắt, chỉ thấy người miền Bắc vượt vĩ tuyến 17 vào Nam, chứ không thấy ai ở miền Nam ra miền Bắc tìm tự do.

Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, vĩ tuyến 17 chia đôi hai miền Nam-Bắc. (Hình: Wikipedia)

Sau ngày 30 tháng 4-1975, nhờ thông thương đi lại, nhờ mắt thấy tai nghe, người Việt Nam của cả hai phe, đã thấy rõ sự tuyên truyền, tố cáo của chế độ bên này đối với phía kia là đúng hay sai.

Sự tuyên truyền và những thông tin của miền Nam đưa ra chưa thấm vào đâu so với sự thật tàn tệ và thảm cảnh của đồng bào miền Bắc. Sau này, chuyện đấu tố trong đợt cải cách ruộng đất năm 1949 còn kinh hoàng gấp trăm lần những gì miền Nam đã biết qua các tác phẩm của các nhân chứng miền Bắc được viết sau ngày “thống nhất” như “ Ngày Long Trời, Đêm Lở Đất” của Trần Thế Nhân, “Une Voix dans La Nuit” (Tiếng vọng trong đêm,) của Hoàng Văn Chí – Mạc Định, “Chuyện Làng Ngày Ấy” của Võ Văn Trực và rải rác hầu hết trong các tác phẩm của Dương Thu Hương, Trần Đĩnh… mà khả năng của người viết không đếm hết.

Một cuốn phim “Tố Cộng” của miền Nam như “Chúng Tôi Muốn Sống” không nói đủ 1/10 sự thật. Sau này, trong một cuộc phỏng vấn của ký giả Đinh Quang Anh Thái, nhà văn Dương Thu Hương đã kể: “Tôi còn nhớ lúc xảy ra chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất, ngay trước cửa nhà tôi là một người bị chết treo và lúc 8 tuổi, tôi đã phải đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến các cuộc đấu tố địa chủ. Sau lưng nhà tôi, ngay đường xe hỏa, một người khác bị vu là địa chủ nên tự tử bằng cách đặt cổ vào đường ray cho xe lửa cán chết.”

Về chuyện đói nghèo của dân miền Bắc, dù giàu tưởng tượng, tôi không bao giờ nghĩ ra được cái cảnh đói của ngay gia đình của chị ruột tôi ở vùng Đức Thọ, Nghệ Tĩnh. Chị tôi đi lấy chồng trước năm 1954, sau này làm hộ sinh nông thôn, đi đỡ đẻ về, đói quá, có lần bị té xỉu dọc đường. Anh rể có thời gian làm Trưởng Ty Thương Binh- Xã Hội tỉnh Quảng Bình, sau về làm ở Ủy Ban Nhân Dân huyện Đức Thọ. Trong bốn năm chị tôi mất ba đứa con trong thời gian chỉ có vài tháng tuổi, vì mẹ thiếu ăn, không có sữa, nhà nhiều lúc phải ăn lá bí ngô nấu với sắn mốc qua ngày.

Ở miền Bắc, chế độ Cộng Sản tuyên truyền nói xấu miền Nam thì quá cường điệu, lếu láo, không có nổi 1% sự thật. Khi vào được để “tham quan” miền Nam và thăm bà con, dân miền Bắc còn ngây thơ mang vào Nam cứu trợ mấy ký gạo đỏ và chục chén ăn cơm. Sự thật thì miền Bắc đã mang về từ vùng đất “được giải phóng” hàng chục tấn vàng, kim cương cho Bộ Chính Trị đảng và cho hàng vạn xe gắn máy, đồng hồ, radio, quạt máy và vàng bạc đủ xây lại nhà cửa khang trang từ những thân nhân mà họ đã “khai tử” trên bản lý lịch trích ngang, vì không muốn liên hệ gì với những người đã di cư vào Nam năm 1954.

Bà chị tôi sau ngày “giải phóng” thương nhớ quay quắt cha già, nhưng chỉ có nước mắt làm quà cho cha. Phía Nam, gia đình tôi toàn là thầy giáo theo nghề sư phạm, không giàu có gì, nhưng lúc nào gạt lệ trước khi ra Bắc, chị cũng được cô em dâu dúi vào tay bà một hai chỉ vàng làm quà “thất trận!” Anh tôi, mỗi lần đi thăm bà chị “bên thắng cuộc” cũng kho một nồi cá lớn, khi cá sòng, khi cá thu vì gia đình chị tôi vẫn thường “thiếu chất!” Sự nhồi sọ đến mù quáng, khó tưởng tượng nỗi, khi một thằng cháu, con bà chị tôi đã dẫn ở đoạn trên, tốt nghiệp kỹ sư Hà Nội, từng du học Liên Xô, khi vào gặp tôi sau năm 1982 tại Sài Gòn, đã thắc mắc:

– “Cậu mang quân hàm Đại Úy mà nhà cửa chỉ thế này sao?” (Nó được tuyên truyền sĩ quan miền Nam, cắt cổ mổ bụng, bóc lột nhân dân nên ai cũng có đời sống vương giả, nhà lầu xe hơi!)

Một hôm, có vẻ sau một hồi ngần ngại, “ông kỹ sư Hà Nội” này đã rụt rè hỏi tôi một câu rất mâu thuẫn với câu hỏi trước.

– “Thế Mợ có bị cảnh sát… không?” (Miền Bắc được tuyên truyền ở Miền Nam bị cảnh sát Ngụy kìm kẹp, cảnh sát muốn hiếp dâm ai cũng được, kể cả vợ… Đại Úy Ngụy!)

Biết là “Một sự bất tín, vạn sự chẳng tin” – Nếu một lần ta đã làm người khác mất lòng tin thì những lần sau không ai tin mình nữa! Nhưng trong vòng cương tỏa của đảng, bị bịt mắt che tai, đồng bào miền Bắc không có dịp để biết sự thật, chỉ biết nghe chuyện hoang đường. Từ chuyện Nguyễn Văn Trỗi bị trói tay vào cột, còn dùng tay giật băng vải đen bịt mắt, sau khi nhận một tràng đạn vào ngực còn dõng dạc hô to: “Hồ Chí Minh muôn năm!” đến chuyện hồi chánh viên Nguyễn Văn Bé còn sống sờ sờ, đã miền Bắc dựng thành liệt sĩ sau khi cầm quả mìn Claymor đập vào một chiếc xe tăng, làm chết 69 binh sĩ Mỹ và VNCH, phá hủy nhiều xe tăng. Từ chuyện Kim Đồng xa xưa tẩm xăng vào mình cho nổ kho đạn ở Thị Nghè, đến chuyện ngày nay “Hercule” Bùi Minh Kiểm tay không níu càng trực thăng chúi đầu xuống đất cho đồng đội bắn, máy bay nổ tan xác. Rồi chuyện đồng bào ở bờ Nam Bến Hải nghe tiếng loa đài phát thanh Vĩnh Linh vang lên, đã chạy ào ra bờ sông mừng rỡ reo hò: “Bà con ơi, o Nhạn, anh Tích (xướng ngôn viên) chưa chết. Đài Vĩnh Linh còn. Quốc gia nói láo.”

Rõ ràng quốc gia nói chưa được 1% sự thật của miền Bắc, trong khi cộng sản nói láo từ suốt 30 năm cho tới ngày cả nước được sáng mắt, sáng lòng.

Ai cũng nghĩ rằng nhà nước cộng sản dù chính sách ngu dân, làm cho dân càng ngày càng ngu, để tuyên truyền được hữu hiệu, nhưng ngu là đối với nông dân thất học, quanh quẩn trong rặng tre làng. Ở đây một kỹ sư có học, từng đi ngoại quốc lại nghe và tin sự tuyên truyền như vậy, thì không còn chỗ nói nữa. Quả là nghệ thuật tuyên truyền của Cộng Sản Bắc Việt quá hay, nhưng không may Việt Nam có cái ngày 30 Tháng Tư đã làm rơi cái mặt nạ giả dối, phơi bày một sự thật trần truồng khiến người có lòng tự trọng thấy xấu hổ. Miền Bắc cảm thấy nếu được sống 1/10 cuộc đời bị đàn áp bóc lột của người dân miền Nam thì cũng đã sung sướng chán.

Huy Phương
Nguồn Người Việt



“Việc nhà”

baotreonline.com

Huy Phương

Post on June 19th, 2020

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Tôi không có thể nói chắc người phụ nữ Á Ðông thế nào, chứ đàn bà Việt Nam, từ xưa đến nay hầu như dính liền với hai tiếng “nội trợ!” Nghĩa của nó là “giúp việc trong nhà” như độc giả đã biết và từng có kinh nghiệm và như ông bà ta đã khuyến cáo:“Gáithìgiữ việc trong nhà, khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa!”

Ðàn ông là người đi ra ngoài làm việc, thường không quan tâm đến việc trong nhà. Ngay cả ở thành thị hay nông thôn, ở thế kỷ trước, hay cho đến ngày nay, quý ông đi làm về chỉ có việc nằm đọc báo, coi TV, chơi game, nghe nhạc, ngủ, trong khi người đàn bà “nội trợ” phải tất bật từ sáng đến chiều, chợ búa, bếp núc, cơm nước, dọn dẹp nhà cửa, tắm rửa con cái và … phục vụ nhu cầu của đấng phu quân.

Nhiều phụ nữ than phiền, vì ở nhà không đi làm kiếm tiền, giữ “thiên chức nội trợ” hoàn toàn, nên thường người chồng mặc nhiên coi những việc trong nhà là việc của vợ, mà mình không có trách nhiệm hay không cần quan tâm tới.

Có những đức ông chồng, có hôm đi làm về mà cơm chưa dọn xong đã gay gắt, um sùm, vì chồng vẫn có quan niệm “nội trợ” mà “giờ này chưa có cơm ăn”, “cả ngày có mỗi việc nấu bữa cơm mà cũng không xong!” Nhiều người vẫn còn mang ý nghĩ, công việc của vợ ở nhà là rỗi rảnh, trong khi bản thân mình thì ra ngoài kiếm tiền vất vả, mỗi ngày 8 tiếng, chưa kể thời gian đi về.

Ngày nay, trên thế giới nhiều phụ nữ đã gánh vác những công việc mà lâu nay là của phe đàn ông, chúng ta thấy không thiếu Tổng Thống, Thủ Tướng, Bộ Trưởng cho đến Giám Ðốc những đại ngân hàng, đại công ty hay những ngành nghề chuyên môn khó khăn khác, trong khi vẫn có những người đàn bà âm thầm, chịu đựng là những “nội trợ” suốt đời.

Người chồng đi làm ở ngoài có đồng lương đem về cụ thể, chi phí tiêu pha trong nhà chứng minh được bằng những con số, trong khi người phụ nữ làm việc nhà là công việc không công, không nhận được đồng lương thù lao nào. Trong trường hợp phụ nữ ra ngoài làm việc, về nhà họ vẫn dành hơn 5 tiếng đồng hồ “over time” cho công việc nhà “không lương!” Nếu là nhận công việc “nội trợ” full time, mỗi ngày một phụ nữ làm việc nhà không dưới 15 tiếng, từ 5, 6 giờ sáng cho đến 10 giờ đêm. Nếu tính cả “full time” lẫn “over time” của một bà nội trợ, chúng ta phải trả lương cho bà bao nhiêu mới hợp lý?

Theo điều tra năm 2019 của Salary.com, một công ty chuyên hỗ trợ cá nhân định giá năng lực bản thân cũng như giúp doanh nghiệp quyết định mức lương hợp lý cho nhân viên, một bà mẹ nội trợ trung bình phải nhận được số lương hằng năm là $162,581, so với lợi tức trung bình của một gia đình ở Hoa Kỳ hiện nay là $63,179. Chúng ta cũng nên biết rằng, mức lương mà Salary.com đề nghị cho “chức” nội trợ còn cao hơn mức lương trung bình của dược sĩở Mỹ là $121,500.

Marilyn Waring, nhà kinh tế học Australia đã nêu lên câu hỏi: người ta trả tiền cho người giữ trẻ; trả tiền mua gas nấu bếp; trả tiền để có nước, điện; trả tiền cho thức ăn từ nhà sản xuất; trả tiền khi đi ăn nhà hàng, trả tiền cho tiệm giặt công cộng hay dry-clean. Nhưng nếu một phụ nữ tự làm tất cả những việc đó – làm giường, chăm sóc tắm rửa cho con, nấu ăn, giặt giũ, rửa chén bát, xay sinh tố, pha cà phê và – mà không ai trả tiền và cũng không ai nể phục họ như đối với một bà giám đốc công ty.

Trong các gia đình Á Ðông, có khi phải sống chung với cha mẹ già, nàng dâu còn phải lo phục vụ cơm nước, thuốc men, săn sóc. Có khi ngoài việc ở nhà, nhiều bà còn phải đưa con đến trường và đón con trở về. Nhưng tất cả, đơn giản và bình thường, vì người ta coi đó là việc nhà, và bà chỉ là một người “nội trợ,” phải làm “miễn phí.”

Melinda Gates, vợ của Bill Gates, người đàn ông giàu nhất thế giới, cho rằng “khi các nhà kinh tế tính thời gian của những nông dân, họ chỉ đếm số giờ của những người làm việc trong nông trại chứ không hề nghĩ đến phần của các bà vợ, đã dùng thời gian để nấu ăn, dọn dẹp và chăm sóc nhà cửa, để cho những nông dân kia làm việc hiệu quả.” Những bà nội trợ đang “làm rất nhiều việc mà không hề được công nhận,” đó là lý do tại sao họ dường như luôn mệt mỏi và chán nản.

Câu hỏi đặt ra cho các bà nội trợ là “làm gì cho hết ngày?” Mọi người làm cứ như không có bà “nội trợ” thì những đứa trẻ vẫn sạch sẽ, no đủ, lớn lên ngoan ngoãn, khoẻ mạnh và vui vẻ, nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp, cơm nước tự dưng bày ra. Chẳng ai ca ngợi một câu, chỉ có trách móc: “Ở nhà có mỗi việc (nấu ăn, giữ con, lau nhà…) mà cũng không xong!”

Người đời hoặc ngay cả những bậc cha mẹ vẫn đánh giá con gái, con dâu hay người hàng xóm qua công việc của họ, viên chức, cán bộ chuyên môn, cô giáo, giám đốc… hay chỉ là bà nội trợ ở nhà, sống nhờ vào đồng lương của chồng.

Kể về cái tất bật của người phụ nữ Việt Nam, không có gì mô tả đúng bằng câu ca dao “khẩn trương” sau đây trong nhân gian: “trong khi lửa tắt, cơm sôi, lợn kêu, con khóc, chồng đòi tòm tem!”

Nếu Quý Vị cho rằng mức lương đề nghị cho Quý Bà hơn cả đồng lương của một dược sĩ ở Mỹ là quá đáng, thì phe đàn ông thử xin làm nghề “nội trợ” này, chỉ cần một ngày thôi, cho biết … mùi đời.

Tôi nghĩ câu chuyện kể sau đây là một câu chuyện hay:

Một ông chồng luôn quan niệm mình phải đi làm ngày hai buổi vất vả, còn vợ nhà, nội trợ, quanh quẩn bếp núc, nhàn hạ, như vậy là Thượng Ðế không công bằng. Ganh tỵ với số phận của vợ nhà, ông ao ước chi mình có thể trở thành đàn bà ở nhà giữ vai trò nội trợ, và vợ thành … đàn ông đi làm ở ngoài cho biết thế nào là vất vả, cực khổ. Việc trao đổi này, trước hết xin được thực hiện trong vòng 24 tiếng đồng hồ.

Gã đàn ông cầu nguyện và lời khẩn cầu của ông đã được Thượng Ðế đoái thương cho y mãn nguyện.

Sáu giờ sáng thức giấc, gã đàn ông đã hoàn toàn trở thành một phụ nữ, trong vai trò một bà nội trợ. Ðâu có thể nằm nướng trên giường như lúc còn làm đàn ông, người đàn bà này trở dậy vì con trong nôi đang thức giấc, khóc ré lên.

“Gã” phải dậy thay tã lót cho con, cho con bú sữa, dỗ con ngủ lại, vội vàng đi làm vệ sinh buổi sáng, rồi tất tả xuống bếp, bật lửa, sửa soạn bữa sáng cho ông chồng, ăn để kịp đi làm. Một khúc bánh mì nướng, hai quả trứng chiên, một tách cà phê sữa nóng và bữa “lunch”, chai nước, bới theo đến sở cho lang quân, đâu phải dễ dàng làm trong vòng mười lăm phút.

Ðợi cho chồng ăn xong, tiễn chồng ra cửa, trong khi con đang còn ngon giấc, “gã” tranh thủ ăn qua loa mấy miếng cơm nguội và thức ăn thừa hôm qua còn trong tủ lạnh. Công việc buổi sáng dọn bếp, lau nhà, đi chợ có cõng con theo. Buổi trưa cũng ăn vội vàng, khi con ngủ, chợp mắt đi một tí đã thức choàng trở dậy vì con. Xay cháo, bón cho con, chơi với con một lúc lại nhớ đến mớ đồ chưa giặt, sấy. Ðể con vào xe đẩy, ra vườn tưới vội cho mấy chậu cây cần nước. Trở vào nhà thì đã đến giờ lo cơm tối, lại xắt, băm, gọt, tỉa, luộc, xào, chiên… mới có được bữa cơm tươm tất. Buổi tối, chờ chồng về, mới có được bữa ngồi ăn cơm với chồng.

Cơm nước xong thì trời đã tối, trong khi chồng bật TV, vào facebook hay nựng nịu con, thì “gã” lại phải rửa mớ chén bát, sắp đặt lại nhà cửa. Chưa xong thì đã nghe tiếng chồng gọi: “Em ơi! Con bậy ra rồi nè. Tã để đâu? Cưng thay tã cho con giùm anh nha!”

Hơn 10 giờ đêm, hai con mắt “gã” như trụp xuống, mình mẩy ê ẩm, hai chân gần như lết không nổi, thì ông chồng đã tắt TV. Tiếng gọi ngọt ngào: Cưng ơi!

Bây giờ con đã ngủ, nhà không nuôi lợn, lửa bếp ga đã tắt, nồi cơm điện để ở nút “warm,”cửa ngõ trước sau, “gã” đã chốt xong, thì đến giờ chồng đòi … tòm tem! Sau đó, “gã” ngủ thiếp đi một giấc dài mê mệt, cho đến 6:00 giờ sáng hôm sau, khi đồng hồ báo thức reo lên.

“Gã” thức giấc trong mừng rỡ, nhưng sờ lại thân thể mình, thất vọng thấy sao mình vẫn chưa trở lại làm đàn ông. “Gã” khóc lớn tiếng, gào tên Thượng Ðế. Thượng Ðế hiện ra, bình thản, ung dung, chưa cần nghe câu hỏi của “gã” đã dịu dàng lên tiếng:

-“Trễ rồi con! Hôm qua để chồng “tòm tem,” con bị dính thai rồi. Con phải ở trong thể xác của người đàn bà, ít nhất là 9 tháng 10 ngày nữa, rồi hãy tính tiếp!

HP

Orange County, CA

Ngày xuân đọc chuyện… không vui “Mồ côi tội lắm ai ơi!”

quanvan.net

hoànglonghải

Posted on 5 Jan 2016 

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Cuối năm 1945 đầu năm 1946, người miền Trung, có thể cả người Bắc nữa, tham gia “Nam Bộ Kháng Chiến” đông lắm. Có lần chị cả tôi cùng “đoàn thể” lên ga xe lửa Quảng Trị để “hoan hô” và “tiếp tế quà bánh” cho thanh niên các tỉnh phía ngoài đi “Nam Bộ Kháng Chiến”. Họ đi Nam bằng xe lửa. Xe chỉ nghỉ lại ở ga Quảng Trị một thời gian ngắn, và cũng để đón thêm thanh niên Quảng Trị cùng đi về Nam.

Thời bấy giờ, tinh thần tham gia “Nam Bộ Kháng chiến” lên cao lắm, không cần Việt Minh tuyên truyền, thanh niên cũng tự động, hăng hái kêu nhau đi. Bài hát Nam Tiến được phổ biến rộng rãi:

“Nước non xa ngàn dặm, chúng ta đi ngàn dặm,

Cùng nhau tiến, hướng về Nam…”

Tác giả là ông Lưu Hữu Phước.

Cũng thời gian ấy, bài hát “Hòn Vọng Phu 1” rất phổ biến. Hình như ông Lê Thương chưa soạn bài số 2, số 3. Nhiều nơi, nhiều buổi văn nghệ, không thiếu bài:

“Lệnh vua, hành quân, trống kêu dồn,

Quan với quân lên đường…”

Có lẽ người ta nghĩ “lệnh vua” cũng như lệnh của đất nước, dân tộc, “quan với quân cùng lên đường” thì quan với quân bình đẳng, cùng một lòng vì nước cả. Còn như trống kêu dồn thì rõ ràng, bấy giờ trống đánh đêm ngày vì “không khí cách mạng”.

Về đoàn thể phụ nữ, có lẽ ngày nay không ai còn nhớ bài:

“Giờ nầy chồng con anh em ta tiến ra sa trường,

Khúc hát hành quân đang vang lừng dậy trong bốn phương.

Cờ bay phất phới tưng bừng non nước câu reo mừng.

Anh thư Lạc Hồng mau bắt tay giúp vào việc chung.

Đồng lòng bạn gái, đứng lên tranh đấu, thù nhà thù nước…

(tôi chỉ nhớ tới đây mà thôi!)

Anh Hoàng Mông, thợ may, ở Xóm Heo, tham gia “Nam Bộ Kháng Chiến”. Dân chúng phường tôi họp mặt, tiễn anh lên đường.

Ít tháng sau, anh lại trở về nhà.

Tình hình Nam Bộ bi đát lắm. Tây đã chiếm hết thành phố Saigon, đang đánh bung ra các tỉnh chung quanh. Những người đi “Nam Bộ Kháng Chiến” chỉ có tinh thần là cao, còn ngoài ra, họ “thiếu đủ thứ”: Thiếu cấp chỉ huy, thiếu vũ khí, thiến đạn dược, thiếu quần áo và cả… thiếu ăn.

Đơn vị anh Mông bị Tây đánh bại, tan rã.

Anh kể: Tự tìm đường, khi thì đi bộ, khi đi xe để về quê. Ngang Nha Trang, quần áo rách cả, anh lấy vải “bang đờ-rôn” cắt may áo quần mặc tạm. Anh là thợ may, việc đó với anh khá dễ dàng.

Về tới phường, chưa được bao lâu, anh cưới chị Cháu làm vợ. Đám cưới “thời cách mạng”, lúc chiến tranh gần kề, cũng đơn giản nhiều. Thế rồi chuẩn bị tản cư, anh Mông “tham gia cách mạng”, chính quyền hay Vệ Quốc Đoàn, tôi không biết. Chị Cháu có bầu, mang cái bụng bầu “chạy giặc” theo các ông Hoàng Hà, Hoàng Hải. là hai ông anh chồng. Khi gia dình tôi hồi cư thì gia đình nầy đã hồi cư trước rồi, cũng về lại Xóm Heo, nơi nhà cũ của họ. Chị Cháu đã sinh được “một thằng cu”. Chị ở chung với gia đình các anh chồng, còn anh Mông thì không thấy đâu. Người ta nghĩ rằng anh còn sống, theo Việt Minh, ở trên chiến khu.

Chẳng bao lâu chị Cháu để “thằng cu” ở lại với các bác của nó, còn chị lên chiến khu theo chồng. Hai vợ chồng đi mất, chẳng có tin tức gì hết, ngoại trừ tin anh chị tập kết ra Bắc, theo hiệp định Genève năm 1954.

“Thằng cu” tên là Tâm. Các bác lo cho nó cũng tạm đủ. Họ là dân lao động, đủ ăn là may, làm gì mà giàu có. Dù vậy, áo quần, ăn uống, guốc dép, thằng Tâm không thiếu bao giờ. Chỉ có việc học là họ không lo được vì họ là những người thất học. Thầy Trợ Hào, cũng ở Xóm Heo, xin cho nó vô trường tiểu học, nhưng việc học của nó chẳng ai theo dõi, chăm lo cho nó được.

Thằng Tâm trở thành đứa bé lêu lổng, có mặt đầu xóm, cuối phường nhiều hơn ở lớp học. Hai bác nó có rầy, nhưng một đứa bé không cha, không mẹ, làm sao có thể là một đứa bé dễ dạy được?

Mẹ tôi rất thương trẻ con, nhất là một thằng bé như thằng Tâm, nên mỗi khi thấy nó đi ngang nhà, mẹ tôi gọi vào hỏi: “Đón bụng không?” Rồi mẹ tôi sai lấy một dĩa xôi hay chén chè vừa cúng xong biểu nó ăn đi. Tôi thường thấy nó ăn một cách ngon lành. Có lẽ nó không đói, nhưng ưa ăn vặt. Nó không có mẹ, ai lo cho nó cái ăn vặt nầy?

Từ lêu lổng, Tâm trở thành một đứa bé trộm cắp, ban đầu là những trái ổi, trái mít trong vườn nhà ai đó, sau trở thành trộm cắp tiền bạc. Phường tôi vốn dĩ phần nhiều là nhà trách vách đất, cửa nẻo dùng để đề phòng người ngay hơn là kẻ gian, nên từ đầu tới cuối phường, Tâm “chiếu cố” không ít nhà. Nó trở thành một đứa bé “nổi tiếng”. Càng nổi tiếng, bọn trẻ trong phường không dám chơi với nó, sợ “mang tiếng lây”, sợ cha mẹ rầy “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Từ đó, đã cô đơn vì “mồ côi” cha mẹ, nó trở thành đứa bé cô đơn hơn vì không có bạn bè.

Tôi không rõ năm nào, – khi ấy tôi đã đi xa – nghe kể lại hôm Bác Nẫm, thân phụ của Thiếu tá Bé (cấp bậc lúc ấy) và Nguyễn Cẩm, – bạn học của tôi – Nguyễn Bích, Nguyễn Bạch, – bạn học “Hùng móm”, qua đời. Nhà có đám tang, khách khứa, bà con tới lui đông đúc. Nhân lúc “tang gia bối rối”, không ai lưu ý, thằng Tâm lẻn vào nhà Bác Nẫm “chôm” cái ví đựng tiền và giấy tờ của Anh Bé. Anh Bé nói mất tiền anh không tiếc, nhưng giấy tờ trong ví thì quan trọng. Nghe chuyện, tôi nói đùa, có lẽ cái “giấy chứng xịa” là quan trọng nhất.

Suy đi tính lại, kẻ “chôm” cái ví ấy, không ai ngoài “thằng Tâm” vì người dân phường tôi, họ biết tính tình nhau lắm. Thế là mấy người em của “Anh Bé” đi tìm “thằng Tâm”, bảo: “Tiền Anh Bé cho em, nhưng em phải trả giấy tờ lại”. Tâm vâng lời, ra “hồ cá phi” (1) tìm lại cái ví dấu ở đó, trả lại. Thấy tội nghiệp, vả lại được cái ví cũng mừng, “Anh Bé” cho nó thêm năm trăm đồng.

Thằng Tâm tới tuổi “quân dịch quân gà”. Phường tôi cũng có người làm chức nầy chức kia, tuy không lớn, cũng có thể nhờ ai đó giúp cho thằng Tâm khỏi đi lính, giữ chữ “thọ”, ví dụ như xin vô làm Cảnh Sát Công An, cán bộ Xây dựng Nông thôn v v… Nhưng tội nghiệp cho hai ông bác nó, vốn dốt nát, phận hèn mọn nên chẳng dám nhờ cậy ai giúp cho đứa bé không mồ côi cha mẹ mà cũng như mồ côi một chỗ an toàn.

Thế rồi thằng bé cũng chẳng biết mình tới tuổi “quân dịch quân gà” gì nữa. Nó đi chơi lang thang, bị Quân Cảnh thộp cổ được: “À! Thằng trốn quân dịch.” Vậy là nó bị đưa vào quân trường. Học quân sự xong, xem lý lịch, thằng bé nầy, vì nhiều lý do, không thể phục vụ gần nguyên quán, phải đưa nó đi xa. Dân Quảng Trị, phải là đơn vị ở Cao nguyên.

Thế rồi nó biệt tăm. Nó đi hồi nào cũng chẳng có ai quan tâm. Tuy nó hay ăn cắp, nhưng người ta cũng thấy nó “vô hại”. Vả lại, người ta cũng thấy tội nghiệp cho một đứa bé lớn lên không cha không mẹ như nó. Hai ông Hà, ông Hải bác nó, cũng chẳng bao giờ nhận được thư từ gì của nó cả. Nó không thấy mối thân tộc máu mũ với họ hàng hay nó “viết không ra chữ” vì nó có chịu học hành gì đâu.

Rồi có tin nói nó tử trận, ở đâu trên những ngọn núi cao Pleime, Chu-Pao hay gì đó, một cái tên mà người xứ tôi trước kia, chẳng nghe tới bao giờ. Cũng không thấy đưa quan tài về, hay Bộ Thương Binh đem tiền tử tuất tới cho hai bác nó. Tiền đó thường đem tới cho cha mẹ. Cha mẹ nó ở ngoài Bắc, ai dám gởi tiền đó ra Bắc, dù có biết địa chỉ cha mẹ nó đi nữa.

Chỉ có những người già ở xóm tôi, như mẹ tôi chẳng hạn, một đôi khi cũng nhắc tới thằng Tâm, với vài tiếng chắt lưỡi “tội nghiệp”. Không ai chê trách thằng bé lêu lỗng gì nữa đâu. Chỉ vài khi, tôi nghe mẹ tôi nói với vài người trong xóm, như Chị Xạ Thử chẳng hạn: “Cha mạ nỡ bỏ con sao đành!”

Dĩ nhiên cũng có người trong xóm tôi phê phán việc hai vợ chồng anh Mông bỏ con đi mất, nhưng tôi nghĩ khác. Tôi tin ở long nhân aí của người Việt ta, nhất là ở những người đàn bà, người mẹ. Thấy một đứa bé mồ côi, người ta còn thương xót nữa là, huống chi con mình sinh ra mà chị Cháu không thương nó được! Sinh đứa con đầu lòng, mà lại con trai, người mẹ thường thương con lắm.

Nhưng tại sao chị Cháu bỏ con mà đi?

Có lẽ không phải vậy!

Sau khi thằng Tâm được vài tuổi, chị để con lại cho hai bác nó, coi sóc dùm để chị lên chiến khu Ba Lòng thăm chồng. Do môt lý do nào đó, thăm chồng xong chị không về thành phố lại liền, với lại có thể chị cũng sợ Công An Liên Bang hồi đó. Hồi bấy giờ Công An Liên Bang, cũng như Đờ-dèm Buy-rô của Tây muốn bắt ai, giết ai, rất tùy tiện, không cần tòa án xét xử gì cả. Tại thành phố có nhiều người bị Công An Liên Bang bắt rồi thủ tiêu, bị đạp xuống sông…  ở đâu chẳng ai biết cả, như trường hợp anh Nguyễn Ấu là anh Nguyễn Châu, bạn học của tôi, hay anh Đỗ Nho, anh của chị Đỗ Thị Túy, người nổi tiếng đánh đàn Hạ Uy Cầm rất hay.

Có phải vì sợ mà chi không dám về, vì nếu Công An Liên Bang biết chị lên chiến khu thăm chồng, chị sẽ không tránh khỏi tai vạ. Có thể chị nghĩ, vài năm nữa, “kháng chiến thành công”, như người ta tuyên truyền, chị lại về với con.

Nhưng rồi Hiệp Định Genève ký kết, hai vợ chồng chị có “tập kết ra Bắc” thì cũng chỉ hai năm, “hiệp thương thống nhất”, anh chị lại sẽ về gặp con.

Ai ngờ cái hai năm ấy kéo dài tới hơn hai mươi năm. Dù có thương con bao nhiêu đi nữa, cái tình thương ấy cũng có phai lạt phần nào. Thói đời:

            Cái nghĩa hợp ly là thế đấy,

            Thời gian thường đổi nhớ ra quên…

… dù là mẹ con.

Lịch sử nước ta, trong mấy chục năm chinh chiến, có biết bao nhiêu đột biến xảy ra, đâu ai có thể đoán trước được.

Sau 1975, tôi không thể về Xóm Cũ để có thể gặp chị Cháu, nói  những ý kiến như vừa nói trên với chị Cháu. Ai lại bỏ con mà đi biền biệt như thế được!

Tuy nhiên, dù tôi có về Xóm Cũ đi nữa, chắc chi tôi gặp anh chị Mông. Sau mấy chục năm “theo cách mạng”, hai anh chị nay đã thành “ông to bà lớn” cả rồi. Chắc chắn họ ở Hà Nội, Sai Gòn hay ít ra cũng Đà Nẵng, Nha Trang, chứ ai chịu về cái Xóm Heo cũ đó làm chi, xóm nhà lá cột tre vách đất, một bên là cái hồ gần cạn, một bên là nghĩa địa bị bỏ hoang lâu ngày của làng Cổ Thành.

Thành ra, sự bất hạnh của thằng Tâm, dù có cha mẹ cũng như mồ côi, là điều chưa được sáng tỏ, làm cho tôi nhiều đêm khó ngủ, nhớ về cố quận, và câu chuyện thằng Tâm lại lẩn quẩn trong trí tôi.

Một thằng bé coi như “mồ côi” nhưng vẫn còn cha mẹ.

Cái số phận đau xót đó, nhìn chung, đâu có phải một mình nó gánh chịu mà thôi. Bởi vì, dân tộc nầy, tuy có nguồn gốc cha mẹ hẳn hoi, thuộc dòng dõi Lạc Long Quân và Bà Âu Cơ, có khác chi với số phận thằng Tâm hay không nhỉ?

hoànglonghải

  • Hồ cá phi: Khoảng trước năm 1960, do “Mỹ Quốc viện trợ”, Ty Ngư Nghiệp có đào một cái hồ nuôi cá phi giống ở sát bờ hồ, để phát không cho nông dân đem về nuôi. Bỗng nhiên, nông dân nghe nói ăn cá phi bị bệnh phung, nên không đến lấy cá giống nữa. Một năm, nước lụt lên ngập hồ, cá bỏ đi cả, thành ra hồ bị bỏ hoang.

Trăng nhú giữa chiều

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 20/04/2017

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

 

Đò trôi êm trên Thảo Giang. Những cành liễu quanh bờ ma mị thế vòng tay ôm, thu cất bao trầm mặc của nơi vốn thiếu bóng ngựa xe. Màu rêu thẩm xanh cùng lớp sương khói dâng lên, tiếng chim quạnh rớt và mặt nước gợn sóng dường đánh thức bình minh. Mặt trời dần nhú, đủ chiếu tỏ năm mạng người quá giang. Lố nhố đứng ngồi khi mũi đò vén mở đám lau sậy, xào xạc. Thân hơi xiêu đổ lúc nhìn ra bến bờ chợt hiện. Gã lái đò chống một đoạn tre, cắm vào đất mềm, tựa người vào cốt giữ cho đò thôi chòng chành. Gã thuộc hạng khó lân cận, lầm lì trong việc đưa người sang sông, tuyệt chẳng hé môi dù nửa lời.

Thảo Giang nào lớn rộng, sông nước mênh mông là bởi sự vắng tẻ tác thành ra. Ở chốn hoang dã không gian thường ẩn giấu đôi điều, một nửa của rợn cảm và nửa kia là hoang mang nghi ngại khi phát hiện. Ngồi vào lòng đò quá giang khách sang sông nhận ra phận người thật nhỏ bé. Lên được tới bờ lại choáng trước sạn đạo quanh co. Chỉ một lối đi, chận bít tầm nhìn là dáng đứng đồ sộ của toà nhà có lối kiến trúc kỳ lạ. Không hẳn là lâu đài, chẳng ra một cổ thành, hoặc nó gộp lại mọi thứ để dựng nên hình khối trông thâm u, kín cổng cao tường. Từ đây trông lui, con sông đã xoá mờ hình tích, biến thành một đường cắt chia, sắt sảo tựa thanh kiếm bén. Ẩm thấp, mát lạnh từ hướng ấy dồn thổi về, ngắt quãng theo chân đi ơ hờ của gió.

Có hai nam nhân lực lưỡng đứng vòng tay án giữa lối đi, mặt chẳng lộ thiện cảm. Một trong hai đứa cất tiếng: Theo nội quy, chúng tôi buộc phải khám xét hành trang của quý vị, bất luận người ấy là ai, xưa nay chưa hề đổi thay thủ tục. Những gì dính dáng tới kim loại đều bị thâu giữ, không hoàn trả. Năm lữ hành tự động sắp hàng một, tự động mở phơi hành lý lỏng lẻo chứa toàn tư trang đợi bàn tay kẻ lạ sờ nắn lục lạo. Bốn êm thắm cho đi chỉ đôi co lời qua tiếng lại với đứa sau cùng. Khách nhàn du phân trần:

– Túi xách này chỉ chứa toàn giấy bút, tôi vi phạm điều chi?

– Bút làm bằng sắt tựa mũi nhọn, buồn tay có thể đâm chết người, là hung khí. Bỏ bút lại, mang giấy đi có phải là thong dong nhẹ nhàng hơn không?

– Nực cười! Giấy bút phải luôn sánh đôi, như sông phải có đò, thiếu một trong hai thứ e thảy đều vô dụng.

– Nói vậy là chưa thông đạt đạo lý. Có người chỉ lo vun bồi cho khẳm đầy giấy quý mà chẳng màng tới thứ khác, mang loại giấy đó vào thân, người ta có thể đi suốt mọi chân trời góc bể.

– Cứ xem như tôi là hạng nho sinh chỉ chí thú với sách vở thánh hiền, thành phần ấy trước sau vẫn xem nhẹ thứ giấy mà các vị vừa nói. Đã là nho sinh thì chẳng thể đoạn lìa với bút mực, phương chi cây bút này do một cao nhân gửi tặng. Các vị tu luyện võ công, ắt sẽ không để ai tước đoạt đao kiếm, đúng vậy chăng? Vật bất ly thân.

– Rườm lời, khuyết điểm của bọn có ăn học là ưa lý sự cự cãi làm căng thẳng hiện trường. Muốn giữ vẹn toàn giấy bút thì hãy tìm đường khác mà đi.

Phàm kẻ có ăn học đều chẳng thể đối thoại với bọn chỉ quen bầu bạn với vũ lực, xưa nay đều vậy và bi kịch nọ vẫn chưa tìm ra lời giải. Lỡ trói gà không chặc thì kíp lui bước, hai đứa xăm trổ đầy mình kia tuy chẳng là quan nhưng miệng chúng có gang có thép, đứa có súng trong tay thì có thể thế thiên hành đạo, chẳng ngoa ngôn. Lời thật mất lòng, xem thành tâm thiện ý của đối tượng luôn chứa âm mưu bất chính. Gạn đục khơi trong, tâm huyết nọ vẫn bị xem là sự xúc phạm khó dung thứ. Đứa biết giữ thể diện là những đứa bị gạt ra khỏi dòng chảy của mưu sinh đời này. Giấy bút vô tình là con dao hai lưỡi vậy!

Đứa tự nhận là nho sinh quay đầu, đeo cái túi xách vào người bước lui lại bến sông. Nếu đó là túi thơ bầu rượu thì ta sẵn lòng rót ra chén đắng mà thù tạc cùng gã lái đò. Gã chỉ thầm lặng trong việc đưa người sang sông, lầm lì cắn răng tuồng chất chứa trong tâm nhiều vấn nạn. Tìm cho ra người để tâm sự, việc ấy dường bất khả. Ngày xưa, cảnh sông trôi nước chảy, cảnh trăng mờ bên núi luôn đánh động vào lòng người quá giang, gây cảm hoài cho cánh bèo dạt hoa trôi rồi tức cảnh sinh tình gửi xuống bờ vắng bãi quạnh bao nỗi niềm chất ngất. Ngày nay, tuyệt không nhìn ra bóng dáng “hoài cổ” kia, đã tuyệt chủng, nếu sót lại đôi ba thằng cuồng sĩ thì ắt chúng cô đơn trong định nghĩa “người âm lịch”. Qua sông chẳng luỵ đò, chỉ ngậm bồ hòn làm ngọt, chẳng dám nhìn “đểu” chỉ ngước mặt ngó mây bay vô tội vạ. Mây bay về đâu? Chim vỗ cánh tới phương nào? Người trôi sông lạc chợ thì không chừng bắt gặp cảnh sơn cùng thuỷ tận. Sao chốn này hoang lạnh đến sờn lòng!

Đò vẫn chưa di dời, gã lái đò đang khơi than bếp ấm, đút que củi gầy chỉ đủ gửi lên không chút khói xám nhạt dùng dằng lẩn trốn. Gã đổ người bên mạn đò để múc đầy nước sông chứa trong lon sắt. Rồi gã thầm lặng đưa mắt dọ hỏi đứa đứng tần ngần bên lau sậy. Và lau sậy thì muôn đời vẫn run thân. Người kia cất tiếng, giọng hụt như đã dong duỗi hết đoạn đường dài: Anh có biết một tiểu lộ nào khác chăng? Gã lái đò nhíu mày: Sao? Vừa gặp phải chướng ngại? Qua sông phải trả tiền đò, anh trở lại là muốn mua một thông tin đấy à? Có nghĩa là chẳng có gì miễn phí? Khách tần ngần bước chân lên đò, thấy nước đọng trong lòng in rõ khoảng trời xanh đang cau có. Mới hay là nước có thể len lỏi để thẩm thấu dần dà, mai kia mốt nọ ăn mục sườn đò rồi thuận theo quy luật nước chảy đá mòn, chịu cảnh phơi xác bên bãi lạnh. Đò ơ… ơi. Không một tiếng đáp trả.

Khúc gỗ mọn cháy hết bề dài mà chẳng đủ sức làm sôi lon nước. Khách mở túi xách, xé hết nửa cuốn vở rồi trao cho gã lái đò xấp giấy trắng. Chừng ấy có mua nổi một lời chỉ bày? Lửa táp giấy reo vui nhảy múa có ngọn. Nước dùng để chế trà, trà xanh đổi màu khi rót vào hai chén đất vốn chứa cơm. Uống đi. Chủ nói cùng khách. Khách bưng chén, hai tay bao bọc như muốn đón giữ hơi ấm. Tháng năm dài gầm đầu vào công việc bất đắc dĩ nầy, tôi chưa từng thấy qua một người khách lạ như anh. Qua sông mà sao chỉ mang theo giấy bút? Khách moi bọc áo ra bao thuốc: Hút đi. Những gì ít thấy thì bảo rằng lạ, những gì nhan nhãn thì nói rằng quen. Cái vụ lạ quen ấy mang đủ sự nghịch lý bên trong. Cả hai mồm đều bặp thuốc, khói thổi ra làm nhân diện kẻ này mơ hồ đối với kẻ kia. Sao cơ ạ? Kẻ bần cùng đói rách đi đầy đường khiến anh quen mắt, điều thuỷ chung nọ chẳng khiến anh dậy một cảm hoài? Chủ ngắm khách: Cho tôi hỏi ngu tí, mang thứ hành trang đó vào thành hẳn anh có dự tính? Khách tợp xong chén trà, búng điếu thuốc cụt xuống sông: Ở đây không ai, âu cũng nên giãi bày tâm sự, bạn tôi vừa mãn hạn tù, tôi muốn đến thăm hỏi, muốn vẽ lại chân dung, muốn ghi lại những năm lao lung mà bạn nếm trải, muốn chia sẻ chút đớn đau, chỉ có vậy thôi. Tuy tại ngoại nhưng vẫn bị quản thúc không cho đi xa, phần tôi mang tiếng là rộng cẳng nhưng thảng hoặc ngẫm ra mình nào khác gì kẻ bị bó chân. Anh là lái đò nhưng do đâu lại tìm ra được thứ trà xanh này, vị ngọt thanh cao uống vào nghe khinh khoái. Phải chăng việc đưa người sang sông chỉ là cách thế che dấu thân phận, hoặc mượn nó để xa lánh những luỵ phiền mãi giăng bủa hồng trần?

Chủ khách ngưng chuyện trò vì cả hai cùng nhát thấy một vị khách vừa bước lên đò. Một thiếu phụ với hành lý xem chừng nặng lệch bên vai. Mặt xanh kiểu thiếu ngủ, không trang điểm với đầu bù tóc rối. Sầu thảm, lạc hồn, lẻ loi. Chẳng ai đưa tiễn sang ngang, đi mà chừng một hoài nghi đích tới, ngồi vào lòng đò rồi bỏ mặc những sóng nước mênh mang mơn trớn mạn đò mãi một điệp khúc. Khách một nhìn khách hai, thầm lén. Đàn ông ngắm đàn bà, vụng trộm. Do có trí nhớ tốt, hoặc bởi một cánh hoa dẫu tàn úa vẫn vấn vương chút đẹp dễ mềm lòng. Cái sót lại ấy, cái chưa thể đành đoạn kia đã làm thằng đàn ông ngây người, hoài nghi về từng trang quá khứ đang lật vội.

Dự cảm rằng mình đang bị kẻ phàm phu tục tử ăn tươi nuốt sống, người đàn bà đâu mặt lại nhìn. Nhìn đểu, nhìn chăm bẳm mà không háy, chẳng nguýt, không liếc ngang nhìn dọc. Đồng tử mở lớn, con ngươi đọng lại một dấu hỏi. Con mắt ấy tuồng đã khóc nhiều. Ướt, long lanh, chực đổ lệ. Hai hàng mi không nháy. Hang cùng ngõ hẹp hay sơn cùng thuỷ tận rồi cuối cùng cũng sinh hậu vận: Đoàn tụ. Thế mới bày ra định đề: Quả đất này vốn nhỏ bé. Hoặc có ta bà nghìn cõi khi có duyên sẽ xúi hai linh hồn lạc lối chạm mặt nhau. Người đàn ông kêu: Nguyệt. Người đàn bà gọi: Tự.

Xác định ra danh tính, xướng lên trong tự tin, chẳng nhầm lẫn như đinh đóng cột; vì vậy Tự bỏ gã lái đò để lần tới ngồi gần bên Nguyệt. Soi mặt trong “đôi mắt em là một giòng sông” mà thời trai trẻ ta đã từng đắm đò nhiều phen, lóp ngóp trong hạnh phúc bị chết chìm. Tự đi đâu mà lạc loài đến chốn đây? Đi lang thang, chưa hết đường đã bít lối. Thế còn Nguyệt? Bao năm rồi sao còn mãi giữ niềm hư hao. Nguyệt qua sông, lên phố huyện, Nguyệt đi tìm tương lai. Tự còn chí thú với chữ nghĩa như xưa? Trót mang tên ấy vào thân nên nguyện vui vầy, có điều chí thú là thứ chính mình cũng phải ngờ vực. Tự cũng có nghĩa là chùa, tham sân si như mình khiến nhác vãng lai, gió thổi trên sông trước sau vẫn vậy, gợn nhăn một nỗi lòng.

Tự hỏi gã lái đò: Bao lâu thì đẩy đưa mái chèo? Chủ nhân con đò đứng lên: Nếu sợ ngày sớm nhuộm bóng chiều tà thì tôi sẵn lòng rời bến, phương chi cô này lửa đang đốt lòng mong được sang bờ, ít nhân mạng thì tự khắc đò sẽ lướt êm. Gã chưa rút lên cây sào đã nghe tiếng la lớn: Khoan, hãy đợi. Tiếng gióng lên ở đất liền, âm thanh vang động mặt sông, hốt hoảng chưa tan bất ngờ thì đứa sợ trễ đò đã đặt được chân lên khiến đò phải run thân. Gã lái đò nhíu mày khi trông ra diện mạo kẻ kia. Sao sớm quày quả nhổ neo dù người chưa khẳm đầy như thông lệ? Hắn nói. Ôi may thay, không nhanh chân đã rách việc! Muốn về chốn phồn hoa bên nọ thật lắm muộn phiền! Hắn ngồi xuống: Mọi thứ đều đổi thay, biến dạng, chỉ có con sông này vẫn cầm cự chưa đổi thành cánh đồng. “Sông kia rày đã nên đồng”, e đôi lúc được vậy mà lại hơn, đi trên mặt lộ ngẫm an toàn, đã mang mạng hoả thì ắt phải sợ phiêu bồng cùng sóng nước.

Hắn đeo chéo người cái túi vải, đặt lên đùi khi ngồi và bắt đầu trông qua hai vị khách: Tôi có ít hàng thuộc dạng đặc sản, những mong anh chị mua mở hàng giúp, giá cả dễ chịu bởi muốn vật giá trị rơi đúng vào tay chủ mới. Nói chưa dứt câu đã trao tay Nguyệt một hộp gỗ, quảng cáo: Thứ son phấn dầu thơm tinh lọc này đến từ nước lạ, e có lúc chị mượn nó mà điểm phấn tô son lại chăng? Quay sang Tự: Xuất xứ con dao này là của nước Xiêm La có thể cứa đứt những vật rắn, dắt vào lưng thế bạn đường thì đêm hôm an tâm làm kẻ dạ hành.

Nguyệt nói: Tôi không phải là hạng người mặn nồng với mỹ phẩm, mà anh Tự này cũng chẳng thiết tha gì tới hung khí vật nhọn. Hãy đưa con dao ấy cho tôi xem, được giá thì mua. Hắn lại lục soạn trong túi xách: Không ưa võ thì chắc anh thích văn, cây viết này lưỡi có bọc vàng và nó tuyệt chẳng bao giờ nghẹn mực, ròng rã đổ theo chữ cho tới hồi cạn mực mới thôi. Tự đón lấy, ngắm nghía chừng thích thú: Tôi có thể biết xuất xứ của nó chăng? Không dấu gì anh, tôi mua lại từ hai tên kiểm soát an ninh trên bờ, chúng tịch thu đồ vật của bá tánh chất đầy kho.

Cả Nguyệt lẫn Tự đều moi tiền ra cùng lần: Đấy, còn bao nhiêu trao hết cho anh, chỉ giữ lại chút bổi nhằm trả lệ phí chuyến sang sông. Được, chuyện nhỏ, cứ tiền trao cháo múc. Việc mua bán xẩy ra nhanh, tuy vậy đò cũng đi tới giữa giòng. Gã lái đò hỏi: Việc tôi từng nhờ ông tiến triển tới ngang đâu? Đứa chẳng mang dáng vẻ thương gia kia lần đi về cuối đò, ngồi xuống bên bếp lửa còn giữ nhiệt: Cập mũi vào bờ hẳn trao thông tin, có được không? Tại sao? Tại tôi ngại ông nghe đâm vụng về làm lật đò, thằng tôi mạng hoả không biết bơi, sợ giao mạng cho hà bá. Gã lái đò mặt thoáng đổi sắc, cằm bạnh, hai hàm răng đang cắn chặt như vừa nhai xong nỗi hoài nghi. Làm chủ hơi thở là nghề của chàng, bởi động tác liên hoàn khoắng mái chèo nặng rất dễ làm hao tâm tổn trí rã rời tay chân. Hít hơi sâu, hai nhịp, lại thở dài, lại chèo, lại đưa mái đẩy, dần dà ắt sẽ eo thon ngực nở. Sức lực ba người khách hợp lại chưa chắc đã sánh bằng. Cứ nói ra, lòng ta xưa nay đã quen chịu đựng với sầu não.

Trong lon bắt trên ba cục gạch còn thừa chút nước, hắn ngửa cổ uống cạn rồi nhìn mũi đò đang đi gần về đích tới. Được, điều ông dự cảm quả không sai trật, tôi bỏ công theo dõi mất ba ngày và xác tín rằng, thằng Chín làm ở ty Thương nghiệp vẫn thường mang vợ ông đi vào nhà nghỉ. Hắn có ô dù, tiền bạc rủng rỉnh nên xem thường dư luận, chỉ có vợ ông còn biết nguỵ trang, luôn thay đổi lộ trình và ưa nhắm vào tiểu lộ mà giỏi chân. Việc ông cậy nhờ tôi đã hoàn tất, phần còn lại ông nên vắt tay lên trán tìm ra một chước hay mà xử lý. Cây dao quý hiếm duy nhất tôi đã bán cho chị ấy, trong xách này chỉ còn hai lọ thuốc diệt chuột trừ rầy. Ôi chao, xin các vị nhớ cho, kẻ hèn này chẳng ưa làm tòng phạm.

Tự nhìn sâu vào mặt Nguyệt, hỏi nhỏ: Ngày xưa Nguyệt nổi tiếng là đoan trang thuỳ mị, công dung ngôn hạnh các thứ, sao giờ đây lại chọn đao gươm mà lựa mua. Đâu có ai mãi lạc hậu như anh tối ngày mơ mộng cùng giấy bút. Nguyệt đang cố vá lại vết thương trong lòng, mà cứu cánh chỉ nương nhờ vào dao bén. Nó là phương tiện duy nhất giúp Nguyệt trôi bớt phẫn hận. Nguyệt đang muốn nhìn ra cảnh máu đổ. Nếu còn giữ cho nhau chút cảm tình, Tự có vui đi theo Nguyệt một đoạn đường? Tự run tay lấy ra một điếu thuốc, cau mày đốt lửa, khói xanh vương mặt Nguyệt, lây lất một vẻ đẹp ám muộn sầu bi.

Lên bờ, chúng ta dọ tìm một nhà nghỉ, nằm bên nhau Nguyệt sẽ kể ngọn ngành về cách tàn héo một bông hoa. Tự sẽ viết được một khúc đoạn trường. Và xin tô đậm hàng chữ: Đời này ta khó thực thi lời dạy của thánh hiền, oán thù nên cởi không nên trói. Nguyệt sẽ trói Tự một đêm trong hân hoan, rồi sau đó lẩn vào dòng đời tạp nhạp để trả hận một đứa lương lẹo gian dối bạc tình mà mình lỡ dại khờ trao thân.

Tự ngó xuống mặt sông gợn sóng, khi không mà giờ này ta có được những hai cây viết, ta mà không viết ra toàn bộ những nỗi lòng Nguyệt mang thì từ nay nguyện sẽ thôi sang sông, bất kỳ một con nước nào. Nếu chữ không xô được, chẳng làm sụp đổ cái xấu xa đang làm vấy bẩn cuộc đời thì ít ra, ta nên tán dương, ngợi ca nỗi oan ức của kẻ thế cô đang cận kề bên ta. Đôi tay ta chưa từng nhúng chàm, nhưng vì tình yêu, có thể ta không ngại cho máu loang.

Đò ủi cái mũi gỗ trầy trụa, xào xạc vào bến bờ đầy sạn sỏi. Tại sao người đời ví một người đàn bà đi theo chồng bằng hai chữ sang ngang? Tại sao đàn bà tự ngờ vực, hoang mang không biết mười hai bến đậu sẽ neo thân là đục hay trong? Tự đưa tay cho Nguyệt bám để vững chãi nhảy thân lên đất liền. Bờ ẩm làm hằn dấu chân Nguyệt, móp méo. Sau gót chân Nguyệt còn đeo cứng lớp bùn tanh. Gã lái đò thu tiền mãi lộ, nói như cổ nghẹn một cục cơm: Mai này anh qua sông mà thấy thiếu bóng con đò này thì chắc đã hiểu ra nguồn cơn. Tôi cũng xin chúc anh chị an toàn trên hoạn lộ mới. Là kẻ chèo đò tôi thấu hiểu được một chuyện: Chẳng bao giờ mình cầu mong cho mặt sông được bình lặng, trôi xuôi. Sóng lên không do mình khuấy động. Vĩnh biệt.

Hồ Đình Nghiêm

Thiên tai và thiên thu

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 18/05/2017  

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên (1952-1992)
dinhcuong

Cuối tháng 5, nhằm ngày sinh của một nhà thơ vắn số, bút danh Nguyễn Tất Nhiên. Người mà có dạo sinh viên học sinh miền Nam, từ 1970 đến 1975 đều yêu mến chất giọng lạ thường của anh, lại được nhạc sĩ Phạm Duy phổ dăm ba bài thơ thành ca khúc, như một chắp cánh, tên Nguyễn Tất Nhiên tất nhiên trở thành một hiện tượng. Tuần báo Tuổi Ngọc số 141 phát hành ngày 5 tháng 8 năm 1974 có đăng bài phỏng vấn dưới tựa: Nguyễn Tất Nhiên: Năm Năm Tình Lận Đận. (Nguồn: Tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 45, tháng 1/2011. Cám ơn nhà thơ nhà văn Trần Hoài Thư).

Có thể tâm sự của nhà thơ ít có người đọc thấy, tôi xin chép lại để chia sẻ, ghi nhận và tưởng tiếc về một người làm thơ rất sớm ở Trung Học Ngô Quyền, Biên Hoà và nổi tiếng khi vào trường Luật ở Sài Gòn.

Tuổi Ngọc (T.N): Bạn làm thơ nhiều?

Nguyễn Tất Nhiên (N.T.N): Thưa, ít. Bởi tôi rất quý chữ nghĩa, nên lúc nào cũng tự khó khăn với chính mình. Thứ nữa, tôi rất sợ làm độc giả thất vọng hay nói cách khác, tôi rất sợ bị chê!
…
T.N: Những bài thơ đã phổ nhạc có phải là những bài thơ bạn ưng ý?

N.T.N: Thưa, không. Như đã nói, tôi chỉ yêu một bài thơ cũ, Linh Mục. Thuở ấy, tôi thiệt thà đôn hậu lắm. Thuở ấy nhà tu sáng chói trong tôi. Thuở ấy…

T.N: Thuở ấy, có phải bạn sắp nhắc tới tên một người con gái?

N.T.N: Vâng, thuở ấy, tôi yêu người con gái tên Duyên, ngồi cùng lớp. Tình yêu học trò thời trung học tôi trong sạch, ngu ngơ, dễ thương quá. Bây giờ, nghĩ lại, tiếc hoài. Cũng nên mở dấu ngoặc nơi đây. Duyên sắp có chồng!

T.N: Nguyễn Tất Nhiên có in một tập thơ?N.T.N: Vâng, tập Thiên Tai, năm 1970, ngồi lớp 12B. Tôi nhớ rằng mình đã bỏ học gần trọn năm với tập thơ này, chỉ vì Duyên. Tập thơ vừa in xong thì bão lụt miền Trung ầm ầm, quả là Thiên Tai! Nhân đây, tôi muốn nhắc đến hai người ơn. Anh Đinh Cường đã đem tên Đinh Cường của mình ký hẳn hoi lên bìa “chùa”

vẽ cho thằng con nít tôi, hồi đó. Cha Lê Hoàng Yến, giám đốc trường Trung học Khiết Tâm, Biên Hoà- đã tận tình giúp đỡ, thương mến tôi, trong khi, chính những thầy tôi lại lơ là, khi dể.

T.N: Tại sao tập thơ tình lại có nhan Thiên Tai?

N.T.N: Người tình là Thiên Tai. Ngày xưa tôi nghĩ vậy!
…
T.N: Bạn đã gặp may mắn hay trở ngại nào ở tập thơ thứ nhất?

N.T.N: Như cái nhan đề của nó vậy. Và còn ảnh hưởng về sau này. Cũng nhân đây, tôi muốn ngỏ lời cám ơn các bạn nhỏ của tôi ở Ngô Quyền, Biên Hoà. Đã tiếp tay giúp tôi trong những sinh hoạt văn nghệ. Và cũng là một lời xin lỗi. Mong các bạn nhỏ hiểu giùm, đợi một ngày gần đây…

T.N: Bạn cho bạn ngọc biết qua về đời sống riêng của bạn một chút nếu tiện, chẳng hạn như sinh hoạt chính hàng ngày?

N.T.N: Học Luật. Cô đơn. Túng thiếu. Lang thang. Khổ tâm. Sinh hoạt chính hàng ngày: buồn bã và tìm cách đùa bỡn trên nỗi buồn của mình. Lúc gần đây, có thêm một đam mê mới: Kịch nghệ. Anh Lê Cung Bắc là người khuyến khích và hướng dẫn tôi trên địa hạt này.

T.N: Cuối cùng. Nguyễn Tất Nhiên, bạn còn muốn nói thêm gì chăng?

N.T.N: Có lẽ, nên thôi. Bởi tôi sắp sửa đề cập tới nàng con gái khác, trong bài “Hai Năm Tình Lận Đận”. Nàng con gái khác nữa trong bài “Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ”… Trong khi, tôi muốn lúc nào tôi cũng một tên Duyên!

Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30 tháng 5, 1952 ở Biên Hoà. Mất ngày 3 tháng 8, 1992 ở Garden Grove, California. Hưởng dương 40 tuổi. Tác phẩm đã in:

– Nàng Thơ Trong Mắt (thơ, cùng với Đinh Thiên Phương. Biên Hoà, 1966)
– Dấu Mưa Qua Đất (thơ, cùng với bút đoàn Tiếng Tâm Tình. Biên Hoà, 1968)
– Thiên Tai (thơ, tác giả xuất bản, Sài Gòn 1970)
– Thơ Nguyễn Tất Nhiên (góp nhặt từ 1969- 1980, Nam Á Paris, 1980)
– Chuông Mơ (thơ, từ 1972- 1987, Văn Nghệ California, 1987)
– Tâm Dung (thơ, Người Việt California, 1989).

Tôi xin chép lại sau đây một bài thơ mà tôi yêu thích, có thể nó chất đủ, mang nguyên vẹn chất giọng “sầu khổ dịu dàng” cá biệt của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên:

THIÊN THU

Sao thiên thu không là xa nhau?
Nên mưa xưa còn giăng ngang hồn sầu
Tôi đứng như cây cột đèn gẫy gập
Và một con đường cúp điện rất lâu

Sao thiên thu không là chôn sâu?
Nên nắng xưa còn hanh mái tóc nhầu
Tôi đứng như xe tang ngừng ngập
Và một họ hàng khăn trắng buồn đau

Sao thiên thu không là đường chim?
Nên mây năm xưa còn trên tay phiền
Tôi đứng như tường vôi luống tuổi
Và những tàng xanh chùm gởi quê hèn!

Sao thiên thu không là lãng quên?
Nên tình xưa còn cháy âm thầm
Tôi đứng như căn nhà nám lửa
Và những người thân trốn chạy vội vàng!

Sao thiên thu không là sương tan?
Nên mặt trời xưa còn gượng huy hoàng
Tôi đứng như dòng sông im lặng
Và những cánh buồm kiệt sức lang thang!

Sao thiên thu không là thiên thu?
Nên những người yêu là những ngôi mồ
Tôi đứng một mình trong nghĩa địa
Và chắc không đành quên khổ đau!

1970

Ở Việt Nam, ngày ấy, tôi chưa từng tới Biên Hoà. Ở Sài Gòn, ngày nọ, tôi từng lang thang nhưng không có duyên gặp mặt anh sinh viên trường Luật ưa lang thang. Tôi sang Canada mà chẳng có dịp rộng cẳng đi thăm thủ đô tị nạn bên Cali. Chung cuộc là không gặp mặt tác giả “Thiên Tai” và một hôm buồn tiếc khi hay tin nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên đường đột qua đời, về ở hẳn với Thiên Thu.

“Tôi đứng như tường vôi luống tuổi….
Và nhạt nhoà những chữ nhớ anh”.

Hồ Đình Nghiêm
Montréal tháng 5, 2017.

Thân em

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 24/08/2016 

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Bạn bác sĩ ở Việt Đức bảo: Mày không thể in sách ở Việt Nam, vì tao bắt quả tang mày đang hút thuốc. Căng thế! Méo mó nghề nghiệp thế! Bắt bẻ nhau thế! Chơi nhau không khoan nhượng thế! Ưa ùn tắc sự cố thế!

Riêng gì tao, cả hội đồng ban giám khảo đã quyết định gỡ vương miện ra khỏi đầu cô hoa hậu, rành rành bắt đúng người đúng tội, phì phà thư giãn cùng thuốc lá, ngữ ấy đẹp người mà chẳng đẹp nết một ly ông cụ. Ngay con nít cũng nhăn mặt: Vú má sao toàn mùi bia mí lị thuốc lá, sữa chua le thật khó măm.
Đọc những gì mày viết chúng nó có thể xét nghiệm từng con chữ mang mầm ung thư phổi chứ không đùa. Chúng sẽ mắng “cha nào con đó”, nhân thân tác giả xấu thì sách của đứa ấy buộc phải khó xem. Mày thấy đó, báo Playboy giờ này đã thôi chưng hình đồi truỵ, xốn mắt những rào cản che đậy, áo xống nhiêu khê. Ví von gì mà thiếu khoa học biện chứng, ông văn minh quá thể chứ tui ếch ngồi đáy giếng đâu xem được tờ báo ác ôn kia. Tui sẽ đi vào các trang mạng cỡ tạp chí Cộng sản để cọp dê hình ảnh. Báo với bổ, mày đừng hòng được rửa mắt khi xem hình. Với logo búa liềm chủ đạo, thắp đuốc tìm hổng ra bóng dáng một nữ nhân ăn vận thông thoáng.

Tui chêm ba cái phụ bản, một cái của Che đội béret ngậm thuốc đầu đỏ lửa, một cái Fidel cắm điếu xì gà to đùng giữa mồm rậm râu, một cái Hồ Chí Minh vàng tay luôn bặp thuốc bọn tư bản. Dĩ nhiên là ba lão ấy mũ mão xiêm áo chỉnh tề chứ không ở truồng toàn tập. Ba lá bùa cu-lơ bốn màu in trên giấy láng uy tín thì nhắm có êm chăng?

Êm, có thể. Nhưng nó ám màu hoài cổ lạc hậu, sao êm bằng ảnh Bill Clinton hiện đại móc xì gà ở nhà trắng hay photoshop ngài Obama đương đại ngậm ba con năm sau khi xơi xong bún chả khói huyền lãng mạn mùa này Hà Nội hay mưa. Người quyền lực nhất thế giới đã ngoan ngoãn nghe lời vợ bỏ hút, ảnh than thời oanh liệt nay còn đâu! Nói photoshop là bởi vậy. Đời này vốn thật giả khó lường.

Để dễ duyệt, sao mày không đổi tựa truyện Formosa thành Đơn Cam Kết Không Đi Biểu Tình. Nhưng nếu gọi là đơn thì buộc phải viết tên nước lên trên và câu thoại bên dưới: Độc Lập- Tự Do- Hạnh Phúc. Tả cảnh làm tình thì dễ nhưng viết 6 chữ đó thiệt khó khăn. Hoạ sĩ Gustave Courbet, kẻ chủ trương nghệ thuật không nguỵ tạo nói: “Tôi chưa từng thấy qua một thiên thần nên tôi không thể vẽ ra những gì chưa bắt gặp”. Một lá đơn, ngoài cái vô vọng nó mang, còn lôi theo bao hệ luỵ khác. Khó nuốt lắm. Là bác sĩ lao động trong bệnh viện xịn như này, ông có thấy độc lập tự do hạnh phúc không? Ậy, mày mơ ngủ đấy à, tao làm chủ cái khoản ấy từ dạo bước chân vào trường y cơ. Giờ này hả, con bệnh đưa vào, gãy tay trái tao độc lập bó bột tay phải, sưng cổ chân tao tự do cưa ngang đầu gối. Nhân dân có sáng mắt sáng lòng thì làm gì được nào? Sá gì bọn cùng khổ ấy.

Vậy thì ông hạnh phúc nào khác gì thượng đế, nhỉ? Muốn lành lặn cho lành lặn, muốn tật nguyền cho tật nguyền. Đã thế còn được sở hữu lắm tiền bôi trơn. Bọn phản động bên Tây phương chúng nó rêu rao: Nhà văn là ông giời, có quyền định đoạt số phận từng nhân vật. Tụi lạc hậu ấy cần phải sang xứ mình đi thực tế nhỉ? Sao bản thảo của tui bị cắt xẻo vụn vằn thế hở, nào là nhạy cảm, nào là phạm huý, nào là không có đạo đức cách mạng, nào là lời thật thường mất lòng, đặt điều nói xạo mà vui vẻ cả làng vẫn cao quý hơn… Chưa kể phải đầu tư chuyện chạy vạy đút lót, không thu vào một xu đã đành mà trước mắt là đi đong mấy trăm K.

May ưa chơi khó bỏ mẹ, hay như này, cứ cắm cúi viết chuyện bốn mùa xuân hạ thu đông mưa thuận gió hoà đất lành chim đậu. Thu hoạch sai quả xuất khẩu hàng đầu. Nắng không oi nồng nực nội, mưa chẳng gây lụt lội triều cường vỡ đê, chứng minh rằng thì là đa phần người ngoại quốc đều không nhìn đểu, một mực tán dương ấy là nơi đáng sống hàng đầu thế giới. Thôi, chớ vẽ đường cho hươu chạy, nghe ông đề xuất vậy có mà xúi tui chết chẳng có đất chôn, chen chân chi lọt so với đội ngũ đảng viên thông tin văn hoá sống với duy nhiệm vụ đề cao văn mình vợ mình cơm mình phở mình xe mình nhà mình cá mình biển mình. Mình toàn tập, cái tôi vĩ đại tựa thánh Gióng, tựa giao cấu thì đẻ ra trăm trứng (không phải hột vịt lộn).

Hay mày chớ tơ tưởng tới chính chị chính em gì sất, vắng mợ chợ vẫn đông, một mực thỏng tay vào chợ kể toàn chuyện tình mùi rệu, một thứ Love story ma dzờ in Việt Nam. Không lâm ly không lấy tiền. Ông là bác sĩ, không ấy ông cho tui chút tài liệu về tên bác sĩ thẩm mỹ gì đó đem bệnh nhân quẳng xác xuống sông. Đéo mẹ mày, dốt thế con, cái ấy là hình sự chứ dính dáng gì tới chuyện tình. Ông nói ma dzờ in làm tui liên hệ ra ma quỷ, tui nhắm viết truyện ma liệu có ngon cơm không? Cơ khổ, ai can du, đất này không hạp tạng với món ấy đâu. Mày lỡ tay giết chết nhiều người thì mày đâu mặn nồng gì tới hồn oan quả báo. Sợ hãi, dị ứng là đằng khác. Đúng không con. Mày thử ra Huế xem, cầm tấm biển y như bọn đi biểu tình ấy, viết mấy chữ trên đó: Nhớ tết Mậu Thân. Chừng đó thôi cũng đủ cho chúng nó uýnh mày sặc máu. Ai xúi mày nhớ, đánh vào đầu cho mày phải tê liệt bộ ký ức đi.

Tui nói dại mồm, quê hương ta không có nhà văn nhà thơ sao? Thôi mày, thơ phú ích gì cho buổi ấy! Dân đói rã họng mà chúng có thèm ngó ngàng tới đâu. Tụi nó sống với những khó hiểu rối rắm mà chúng tự xưng là đương đại, ai xung phong thì mặc xác, hãy để bọn tớ sống trong tháp ngà. Nếu bọn đó mà học tập gương sáng của tao thì đáng khen. Học tập chuyện gì ạ? Chuyện gãy tay chân và nhắm mắt chữa trị đấy. Bọn nó cứ ngoan đi lề phải sao chẳng thử nhảy sang lề trái đôi phen? Đấy là ông nói tới thành phần nội địa, mày làm khúc ruột ngàn dặm thì biết cái đếch gì! Tư duy mày cần phải thay đổi nhiều mà trước mắt, thiết thực nhất là hãy dắt tao đi nhậu cho khỏi héo người. Mẹ, việc cơ quan căng quá, chúng nó mới thảy về đây ba cái thây đòi xét nghiệm của ba tay thứ dữ ở Yên Bái. Hấp dẫn thế. Đi, chúng ta nên nhậu say một bữa. Vừa uống bia ông vừa kể chuyện về ba tay sừng sỏ ấy cho tui nghe, vì sao chúng thanh toán nhau. Nữa, lại chứng nào tật ấy, mày ưa viết truyện hình sự giả tưởng hay chuyện Nghìn lẻ một đêm ma dzờ in cố quốc.

Thì tui cũng có viết được chút chút, về đoàn lực sĩ nước nhà âm thầm dự thế vận hội với sứ mạng đem chuông đi đánh xứ người. Đề cao ông xạ thủ mình ên đoạt hai cái huy chương bạc vàng cổ lai hy, tán dương sức chịu đựng dẻo dai của con rồng cháu tiên khi họ đi thi đấu mà chẳng cần mang theo một tay bác sĩ. Sống chết mặc bây là thành ngữ mà Việt Nam luôn thủ đắc. Ông là bác sĩ sao lại bỏ lỡ cơ hội không tranh thủ đi xuất dương? Dại gì nói ra cho mày ngứa tay hí hoáy ghi chép, bứt dây động rừng vô tình mày làm bể nồi cơm của ông, khà khà ông đây kinh nghiệm đầy mình con ạ. Ông rất tâm tư. Nhậu xong thì phủi đít đi hay thực thi ăn no bò cỡi? Ông đây rành biết đường dây chân dài chuyên cung cấp gái non. Có ưa ta về ta tắm ao ta không nào? Ông đảm bảo xơi trái khế ngọt thì hẳn ngon hơn vạn lần nho táo của bọn tư bản. Rất vừa miệng. Xi-đa thì ông thua, chứ bọn du kích cỡ hoa liễu giang mai thì ông dư sức đánh thắng, bác sĩ mà lị, cứ vô tư xả oá.

Tui nghe Tây ba lô đi bụi kẹt tiền cũng chịu qua đêm lấy giá bèo, sao ông không đi điều tra xem thử có gái nhảy Trung quốc không? Chi vậy? Tụi nó xi lô xi la tiếng nước lạ nghe sao sướng bằng gái quê mình: Chơi em đi. Tui nghĩ khác, biết nó là China ông tha hồ dập liễu vùi hoa, ông mãn nguyện vì trả thù được cho dân tộc. Nữa, ông thánh cứ ngôn vậy thì có ngày sẽ nhập kho. Đéo mẹ, có ngày thằng bác sĩ này sẽ phải tu học chuyện khâu mồm may mỏ bá tánh. Chúng sinh ăn nói linh tinh quá, thật là mất linh thủ đô ngàn năm văn vật.

Xe BMW bảy chỗ ngồi do chính bác sĩ lèo lái trực chỉ tới quán nhậu Mỹ Lệ, băng qua đống rác cao quá đầu người, song song với con mương nặng ngập nước đen thì dừng ở nơi thắp nhiều bóng điện. Đối diện Mỹ Lệ là nhà nghỉ Thành Đô, một bên ăn no một bên bò cỡi. Lãnh địa của các vị đại gia, hoặc tiểu gia nhưng đít chêm cứng tiền.

Mùa này có lẽ vì ô nhiễm môi sinh biến đổi khí hậu nên đất trời chóng tối. Nhưng lo gì, đồng bạc có mệnh giá lớn tự thân luôn phát quang. Phàm ở đời- bác sĩ dạy dỗ- mọi tư tưởng, mọi chủ nghĩa, mọi lập thuyết rồi cũng sẽ bị huỷ diệt. Mày hiểu không? Chỉ có tiền bạc. Không có gì quý hơn tiền bạc. Tiền bạc sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Đời đời nhớ ơn tiền bạc.

Hồ Đình Nghiêm

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Hình minh họa

4. Chương 37

Đất nước mang mặt nạ

Sau hơn một năm học tập cải tạo tại Tổng trại 8 tù binh Sông Mao, tôi được Cộng Sản cho về đoàn tụ với gia đình, kèm theo cái án quản chế một năm ghi ở cuối tờ giấy phóng thích.Với cái án này, cuộc sống hàng ngày của tôi bị gò bó trong một khuôn khổ nhất định, nó chật hẹp, tù túng đến nghẹt thở, nhiều lúc tôi có cảm tưởng như mình đang bị bó tay, cột chân rồi nhốt trong một cái cũi. Suốt mấy tuần lễ đầu tôi sống loay hoay trong cái vòng lẩn quẩn, với số tiền mà vợ tôi đang có trong tay, thừa sức bảo đảm cho gia đình tôi có một cuộc sống an nhàn, mà không cần phải làm gì cả. Tuy nhiên theo lý thuyết của Cộng Sản, Xã Hội Chủ Nghĩa là một xã hội không có chuyện ngồi mát ăn bát vàng, những gia đình nào không trực tiếp lao động sản xuất đều bị đưa đi tái định cư tại vùng kinh tế mới. Ba chữ kinh tế mới là một cách nói để lừa dân, mà thực chất là chính sách đem con bỏ chợ của Cộng Sản, quăng người ta vào những nơi rừng thiêng nước độc, rồi bỏ mặc trong đó. Người dân nếu có bị đói rét, bệnh tật hay đau yếu, thì phải gắng mà tự lo liệu lấy thân, không phải là chuyện của nhà nước.

Muốn được sống tại thành phố, tôi chỉ còn một con đường duy nhất là ngày ngày phải đi lao động sản xuất lại mảnh vườn của mình ở Đa Thiện. Vào khoảng cuối năm 1976, tôi nghe phong phanh đâu đó, người dân trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa được chia ra làm 13 hay 16 bậc. Sĩ quan Ngụy cải tạo trở về chưa có quyền công dân nên không có tên trong bản phân chia giai cấp nói trên.

Biết mình hết đường vùng vẫy, tôi sống im lặng nhẫn nhục cho qua ngày đoạn tháng, sống như một cái bóng mờ, đứng bên lề xã hội, cho dù đó là một cái xã hội man rợ của thời trung cổ. Tôi sống mà lúc nào cũng phải tuân theo đúng mọi luật lệ khắt khe, nghiệt ngã, của công an khu vực và sự kềm kẹp vô lý của bộ ba tổ trưởng dân phố, tổ phó, tổ phó an ninh.

Mới có hơn một năm sống dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, tôi thấy được một điều, tất cả mọi người từ dân đen cho đến ông Tổng Bí Thư của Đảng Cộng Sản, Chủ Tịch nước, Thủ Tướng, tất cả đều phải mang mặt nạ. Có hàng trăm loại mặt nạ khác nhau, Ngài Tổng Bí Thư chẳng hạn, ông là người buôn dân hại nước nhưng khi xuất hiện trước công chúng, ông ta mang cái mặt nạ “Thanh liêm đạo đức”. Ngài Thủ Tướng lẳng lặng bán nước cho Tàu cộng, nhưng khi nói chuyện với mọi người, Ngài mang cái mặt nạ “Vì dân vì nước.” Ở một đất nước mà chính quyền cai trị dân dựa trên căn bản lừa dối, người dân của nước đó muốn sống còn, họ phải ăn gian nói dối với chính quyền thôi. Theo gương các vị lãnh tụ, cá nhân tôi ngay cửa ra vào nhà, tôi treo một cái bị rồi tưởng tượng trong đó có một mớ mặt nạ. Khi bước chân ra khỏi nhà, tôi đeo cái bị vào cổ rồi tự hỏi mình “Hôm nay mình đi đâu? Gặp ai? Làm gì?” Nếu đi gặp bà tổ trưởng, tôi đeo cái mặt nạ “Quỵ lụy xin xỏ”. Nếu đi gặp công an khu vực, công an phường, tôi đeo cái mặt nạ “Gọi dạ bảo vâng”. Bài học quý giá ở trong tù cải tạo còn đó, nhiều vị sĩ quan tánh tình cương trực, thẳng thắn, nhất định không chịu khuất phục trước sự tuyên truyền dối trá, lừa đảo của Việt Cộng, không chịu đeo mặt nạ. Họ đã chống đối, phản kháng, tìm cách vượt ngục, hình phạt dành cho họ là bỏ đói, hành hạ tra tấn dã man cho đến chết và sau đó là một phát súng ân huệ.

Một ngày trong đời sống quản chế của tôi xem ra chẳng có gì đáng nói, nó đều đặn, trầm lặng, như tiếng nước suối chảy róc rách trên nguồn. Sau một ngày tiếp xúc với xã hội bên ngoài, khi về đến nhà tôi cất mấy cái mặt nạ vào túi, treo lên cây đinh nơi cửa để ngày mai dùng lại.

Hình minh họa

Ở trong nhà với cha mẹ, vợ con, anh em, tôi không đeo mặt nạ, lúc bấy giờ tôi mới trở lại chính là tôi. Buổi sáng thức dậy, tôi rủng ra rủng rỉnh ngồi ăn sáng với vợ, chơi đùa với con. Thức ăn sáng của chúng tôi thường thì có bánh mì thịt hoặc trứng ốp la, khi thì bún bò do vợ tôi nấu, sau đó tôi ung dung nhấp từng ngụm cà phê sữa béo ngọt, thơm lừng. Sau bữa ăn sáng đầy đủ chất dinh dưỡng, tôi mang cái mặt nạ vào rồi đi qua gõ cửa nhà bà tổ trưởng, xin chữ ký cho phép đi làm lao động ở vườn rau tại Đa Thiện. Nhìn cái bản mặt đầy đau khổ của tôi, bà tổ trưởng vui vẻ ký vào sổ như là đã ban phát ân huệ cho một tên tiện dân nghèo đói, khốn khó.

8 giờ sáng, tôi đi ra Đa Thiện làm vườn, làm lao động để tạo ra của cải vật chất theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách, của Đảng và nhà nước. Chiếc xe Honda mà tôi mua đâu khoảng năm 1973 hãy còn khá mới, được lau chùi sạch sẽ để ở nhà làm cảnh. Sĩ quan Ngụy vừa mới ở tù về, đang bị quản chế mà cỡi Honda đi làm vườn, khác nào cái gai nhọn đâm vô mắt tên công an khu vực. Để được an thân, tôi chọn cách dùng chiếc xe đạp cà tàng đi làm và coi đó là phương tiện di chuyển hợp lý nhất.

Từ nhà tôi tới vườn, đường dài khoảng chừng 4 cây số, tôi vừa đạp xe vừa mơ màng nghĩ đến một ngày nào đó vượt biên thành công đến được nước Mỹ. Mơ mơ mộng mộng tôi đã đạp xe đến vườn lúc nào không hay. Tại vườn, việc đầu tiên là tôi đi tìm ông tổ phó an ninh để xin chữ ký là đã đến nơi làm việc. Lúc này nắng đã lên khá cao, tỏa ánh sáng chói lòa xuống cả một vùng thung lũng đầy những vườn rau xanh ngắt. Mọi người dân làm vườn ở đây đều thức dậy từ tờ mờ sáng, đã tưới tắm xong xuôi khu vườn của họ. Riêng tôi cho tới lúc này, mới từ tốn quay cái máy bơm nước chạy bằng dầu cặn hiệu Yanmar, tưới nước cho mấy ngàn cây bắp sú của mình. Vì tưới nước trái giờ như vậy nên rau tôi trồng không được xanh tươi, tốt đẹp, như những vườn rau chung quanh. Hàng ngày tôi chỉ làm có mỗi một việc là tưới cây, những chuyện nặng nhọc khác như cuốc lật đất, bón phân cá, dọn cỏ, xịt thuốc trừ sâu, Cúc đã thuê người chăm lo.

Trưa đến, tôi đi vào trong căn nhà nhỏ với diện tích chừng 20 mét vuông, căn nhà này Cúc thuê người dựng tạm lên ở cuối vườn, gần cái máy bơm nước, dùng để nghỉ ngơi và có chỗ ăn trưa. Sau khi rửa tay chân sạch sẽ, tôi soạn cái gà men cơm để lên bàn, Cúc đã làm sẵn cho tôi cơm canh, thịt cá, thức ăn phải nói là quá dư thừa cho một người. Tôi cắm cái bếp điện hâm nóng thức ăn. Bị ám ảnh suốt cả năm với cái đói ở trong tù, tôi xới một chén cơm trắng đầy vun, gắp miếng thịt kho trứng béo ngậy, rồi nhai chầm chậm. Tôi nhai hoài nhai mãi mà không nuốt được miếng cơm vì hình ảnh đói khát của Sơn Fulro, Trung úy Lợi và những người bạn tù cứ lẩn quẩn trong đầu, khiến tôi thấy mình như mắc nghẹn trong cổ. Cuối cùng tôi phải húp một miếng canh, nước canh cuốn trôi đi hình ảnh trại tù cải tạo, với những đói khát, nhọc nhằn mất hút trong trí nhớ. Xong bữa ăn trưa, tôi nấu nước sôi pha một ly trà, thong thả thưởng thức cái hương vị đậm đà của trà cũng như cái hậu ngòn ngọt của nó, rồi đánh một giấc thoải mái cho đến 2 hay 3 giờ chiều. Giờ này là giờ tôi phải đi tìm ông tổ phó an ninh để xin chữ ký. Để trễ hơn lỡ ông ta bận việc đi đâu mất, mình phải đợi tới khuya. Nói như vậy chứ nếu có việc, ông tổ phó thường ký cho tôi một lần hai chữ ký. Buổi chiều khi về đến nhà, tôi lại lò dò qua nhà bà tổ trưởng xin chữ ký và báo cáo mọi việc tôi đã làm trong ngày. Chuyện sau cùng là tôi kiểm soát lại, mình đã xin đầy đủ bốn chữ ký hay chưa. Những công việc này, tôi lập đi lập lại hàng ngày đều đặn như tiếng kêu tíc tắc, êm ái, của một cái đồng hồ Thụy Sĩ.

Một tuần làm việc qua đi, cuối tuần tôi lại chuẩn bị sẵn sàng một gà men cơm, trong đó cơm thì ít nhưng khoai mì và bo bo thì nhiều, cộng thêm một gói muối đậu, một chai nước lạnh, đi làm lao động không công, góp sức xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa, theo lệnh của công an khu vực và tổ trưởng dân phố. Cách vài tuần lại có một lần đi làm lao động xa nhà, dưới sự hướng dẫn của cán bộ Phường, tôi cùng tất cả sĩ quan Ngụy đang bị quản chế tại thành phố Đà Lạt, khăn gói quả mướp, gạo, mắm, muối, lội bộ vào khu kinh tế mới Tà Nung cách Đà Lạt khoảng hơn 10 cây số đường rừng. Tại đây, suốt hai ngày thứ bảy và chủ nhật, chúng tôi khai hoang, phát cỏ, trồng khoai lang và khoai mì. Sĩ quan Ngụy bị quản chế như chúng tôi, mang cơm nhà đi lao động sản xuất, đến khi thu hoạch mùa màng sẽ do nhà nước quản lý, đó là chân lý của Xã Hội Chủ Nghĩa và chân lý đó không bao giờ thay đổi.

Hình minh họa

Tôi thi hành lệnh quản chế nghiêm chỉnh, không một chút sai sót với hy vọng sẽ được giải chế, chấm dứt chuyện một ngày phải lặn lội đi xin cho đủ bốn chữ ký. Và điều quan trọng nhất mà tôi mong đợi là khi được giải chế, mình có thể lên Phường, xin công an tờ giấy phép đi ra khỏi tỉnh. Tuy nhiên, nếu xin phép đi xuống những thành phố ở vùng duyên hải, chuyện cấp phép sẽ khó khăn hơn nhiều. Lý do thì mọi người đều hiểu rõ.

Một năm trôi qua lẹ như cái chớp mắt, mới đó mà đã đến ngày tôi được giải chế. Tối hôm ấy, tôi ăn mặc chỉnh tề đứng trước mặt mấy chục gia đình trong tổ dân phố, trên bục cao là bàn chủ tọa đoàn gồm có công an khu vực, bộ ba tam đầu chế, thư ký. Sau khi ho nhẹ vài tiếng để lấy giọng, tôi đọc to tờ tổng kết thành tích lao động cùng những công tác Xã Hội Chủ Nghĩa, mà tôi đã làm trong suốt một năm vừa qua. Khi tôi vừa dứt lời, mọi người trong tổ dân phố xì xào bàn tán xôn xao, một vài giọng nói vang lên “Cho giải chế là phải, hành hạ người ta cả năm cũng đủ rồi”.

Tôi chưa kịp vui mừng, đã thấy tên công an khu vực đứng lên, hắn đưa tay ra dấu cho mọi người hãy giữ im lặng. Tên công an đảo mắt nhìn quanh, khi thấy mọi người đều đồng lòng ủng hộ thằng sĩ quan Ngụy ác ôn, gương mặt của hắn bỗng trở nên lầm lì. Giận cá chém thớt, tên công an khu vực bèn ưu ái tặng thêm cho tôi một năm quản chế nữa, lý do hắn ta đưa ra rất giản dị “Một năm qua, đương sự tuy có chấp hành nghiêm chỉnh mọi chỉ thị của nhà nước, lao động tốt nhưng về mặt tư tưởng thì không có chút tiến bộ nào. Bác Hồ có nói, Xã Hội Chủ Nghĩa của chúng ta cần người hồng hơn chuyên”.

Khi nghe tên công an tuyên bố như trên, tôi tự phản tỉnh, phân tích phần nội tâm của mình. Cho đến ngày hôm nay, tôi chỉ mới sống dưới chế độ cai trị của Cộng Sản được hơn hai năm, trong đó có một năm hai tháng là ở tù cải tạo, một năm quản chế tại địa phương. Với một khoảng thời gian ngắn ngủi như vậy, đầu óc của tôi chưa kịp thấm nhuần tư tưởng cũng như đạo đức cách mạng, thì làm sao tôi có thể chấp nhận ngày 30 tháng tư, là ngày giải phóng. Với tôi cho đến ngày nhắm mắt lìa đời, 30 tháng tư là ngày Đảng Cộng Sản đã dùng bạo lực để cướp Miền Nam Việt Nam, đặt cả nước Việt Nam dưới sự cai trị độc tài của một cái đảng không khác gì bọn thổ phỉ. Vì suy nghĩ như vậy nên tôi phải công nhận rằng, tên công an khu vực nói đúng một trăm phần trăm tư tưởng trong đầu của tôi. Hơn ai hết, tên công an này biết rõ tôi và mọi người dân đều mặc áo giấy, mang mặt nạ, chuyện lột mặt nạ của tôi, quá dễ dàng đối với hắn. Tâm phục khẩu phục, tôi vui vẻ ôm thêm một năm quản chế nữa.

Biết tôi không được giải chế, gương mặt của Cúc buồn thấy rõ rồi nói với tôi.

-Anh à, họ cứ cột chân của anh như vậy thì làm sao mình có thể về Sài Gòn, tìm đường vượt biên. Hôm qua em nghe đài BBC, có một gia đình gồm mười tám người đi trên một chiếc ghe nhỏ, vượt biển đến Úc Châu xin tỵ nạn chính trị.

Tôi an ủi Cúc.

-Hãy gắng chờ đi em, hy vọng năm tới anh sẽ được giải chế, lúc bấy giờ mình hãy tính.

Cúc bàn với tôi.

-Em đang tính chuyện sẽ dùng tiền lo lót, để tên công an khu vực giải chế cho anh. Không biết em tính như vậy có được không?

Tôi hăng hái trả lời Cúc.

-Được quá đi chớ, nhưng mà mình phải tuyệt đối cẩn thận, đừng có để chuyện tiền mất tật mang thì không tốt chút nào.

Chần chừ một lúc, Cúc cho tôi biết kế hoạch mà chúng tôi phải làm trong những ngày sắp tới. Trước hết, phải tăng phần lo lót quà tặng cho bộ ba tam đầu chế, sau đó mình sẽ gặp riêng tên công an khu vực, giúi cho hắn một cái đồng hồ hoặc một cái radio với điều kiện là năm tới, hắn phải đồng ý giải chế cho anh.

Sợ tôi không hiểu hết ý của mình, Cúc nói.

Hình minh họa

-Thực ra tên công an khu vực muốn bao nhiêu tiền, mình đều có thể cho nó được. Vì việc giải chế cho một sĩ quan Ngụy, tất cả đều do công an khu vực quyết định, nhưng nếu mình đưa quá nhiều tiền, hắn sẽ đâm ra ngờ vực, tìm hiểu về nguồn tài chánh của mình.

Tôi góp ý với Cúc.

-Em nói đúng, suốt năm qua cứ một, hai tuần, anh đưa cho tên công an khu vực một gói thuốc lá, đút lót kiểu như vậy đúng là không đủ nhét kẽ răng của con cọp, của một tên công an khu vực, có toàn quyền sinh sát trong tay. Đúng không?

Cúc gật đầu.

-Đúng vậy tụi mình ngu thiệt. Nếu mình lo lót nhiều từ năm ngoái, biết đâu anh đã được giải chế rồi.

Không được giải chế, tôi lại tà tà đạp xe đi làm vườn mà thực chất là đi xin chữ ký, chứng minh mình có làm việc. Xét ra việc tôi bị quản chế, không ít thì nhiều cũng giúp cho bà tổ trưởng, tổ phó, tổ phó an ninh cũng như tên công an khu vực, có thêm chút bận rộn, thêm công ăn việc làm.

Khoảng một tháng sau đó, theo đúng kế hoạch, vào một buổi tối nhân dịp tên công an khu vực đi thăm hỏi người dân trong tổ dân phố, mà thực chất là đi kiểm soát an ninh, tôi trịnh trọng mời hắn nán lại nhà một chút, uống ly trà rồi hãy về.

Thấy tên công an chừng như vẫn còn do dự, tôi vội nói.

-Thưa anh, vợ chồng tôi có chút quà mọn tặng anh, để cảm ơn lòng tốt mà anh đã dành cho gia đình chúng tôi.

Nghe tôi nói, tên công an đặt cái sắc cốt lên chiếc ghế sofa sau đó y khoan thai ngồi xuống.

-Có chuyện gì anh cứ nói đi.

Tôi thong thả rót nước trà vào ly, đợi cho hắn uống một hơi rồi mới nói.

-Chẳng giấu gì anh, vợ chồng tôi mang ơn anh rất nhiều, không biết lấy gì mà đền đáp.

Vừa nói tôi vừa lấy gói quà nhỏ, đựng cái đồng hồ Seiko 5 đưa cho anh ta.

-Chút quà mọn xin anh vui lòng nhận cho, tiện thể lần tới xin anh nới tay “giơ cao đánh khẽ” giúp cho tôi được giải chế.

Liếc mắt nhìn quanh, khi không thấy ai, tên công an khu vực lẹ làng nhét cái hộp quà vào sắc cốt rồi hấp tấp ra về.

Những tuần lễ sau đó, khi tôi đọc kiểm điểm hàng tuần trước tổ dân phố, thái độ của tên công an khu vực hoàn toàn đổi khác. Hắn khen ngợi tôi hết lời, nào là có tiến bộ nhanh chóng về mặt tư tưởng, đáng được biểu dương trước tổ, sau đó hắn khuyên mọi người hãy coi tôi như là một tấm gương trong việc lao động sản xuất.

Con đường giải chế của tôi đã được khai thông, tôi chỉ còn chờ kết quả.

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

(Vietnam, Qu’As Tu Fait De Tes Fils?)

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

Chương 3
Chiến Dịch Hồ Chí Minh

Vào đầu tháng giêng năm 1975, một phái đoàn quân sự Liên Xô do tướng V.A. Jukilov Tham mưu trưởng quân đội Liên Xô cầm đầu, đến Hà Nội. Về bài toán Việt Nam Mạc tư Khoa và Bắc Kinh luôn luôn có cái nhìn tương phản với nhau. Từ năm 1954, Liên Xô đã thúc đẩy Hà Nội mở cuộc tấn công quân sự quy mô và quyết định để chiếm Miền Nam. Ngược lại Bắc Kinh thì lại khuyên Hà Nội chỉ nên tăng cường các khu vực đã giải phóng và tiến hành một cuộc chiến tranh gậm nhắm lâu dài (trường kỳ kháng chiến).

Lần nầy thì đề nghị của Liên Xô có phần thắng. Mạc tư Khoa vì không có ảnh hưởng gì ở Cam Bốt, nên mong muốn nắm trọn nước Việt Nam, một chế độ thân hữu có thể giúp cho mình có những căn cứ Hải Quân và Không Quân ở Á Châu.

Liên Xô đã khẳng định rằng thời cơ quốc tế đang rất thuận lợi nên đã cung cấp cho Hà Nội rất nhiều phương tiện có thể trang bị cho 55 trung đoàn chiến xa biệt lập, và hỏa tiễn, pháo binh phòng không, để tiến tới sự thành công. Các tàu hàng của Nga chở đầy ắp đạn dược đã chen chúc nhau ở hải cảng Hải Phòng.

Sau khi phái đoàn của tướng Jukilov rời khỏi Bắc Việt lại có một nhân vật cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao Liên Xô đến Hà Nội. Đó là ông Nicolai Firyubin. Cứ mỗi lần mà Mạc tư Khoa quyết định tiến hành một hoạt động chánh trị quân sự ở một khu vực đặc biệt nóng bõng nào đó thì y như rằng họ phải gởi ông Firyubin đến đó.

Ngày 28 tháng hai, lại đến lượt tướng Yang Yung đẫn đầu một phái đoàn quân sự Trung Quốc đáp xuồng Hà Nội cho một cuộc “viếng thăm dài hạn” Bắc Việt. Một sư đoàn đặc công Bắc Việt được thành lập ở Nam Kinh (miền Nam Trung Quốc) được đưa về đóng ở Thượng Du Bắc Việt. Bắc Kinh đã thỏa thuận cho “một hành động giới hạn nhưng quyết định”, mà mục tiêu đầu tiên là phải cắt đôi Miền Nam Việt Nam ra làm hai đoạn.

Như thế là kế hoạch của Hà Nội sẽ nằm ở giữa sự khuyến cáo của Nga và của Tàu.

Quân đội cộng sản Miền Bắc trước tiên sẽ chiếm vùng Cao Nguyên Trung Phần, sau đó sẽ cố gắng chiếm Huế và Đà Nẵng, nhưng họ sẽ chờ hết mùa mưa mới tấn công Sài Gòn và Đồng bằng sông Cửu Long, tức là vào mùa thu 75.

Lãnh đạo Bắc Việt rất lạc quan: quân đội của họ đã sẵn sàng hành động.

Tờ báo Học Tập cơ quan chánh thức của đảng cộng sản ở Bắc Việt đã phản ảnh đúng cái nhìn của đảng, cho thấy Hà Nội hoàn toàn ý thức được điểm rất thảm hại của Miền Nam khi Quốc Hội Hoa Kỳ quyết định từ việc cắt bớt đi đến đình hoãn luôn viện trợ quân sự và kinh tế cho Sài Gòn.

Vài ngày trước khi họ tung ra cuộc tổng tấn công có tên là “chiến dịch Hồ chí Minh” đảng cộng sản rõ ràng đã rất thích thú ghi nhận là!!!”hỏa lực và sự khả dụng của các chiến cụ lưu động thuộc lực lượng Miền Nam đã giảm sút hẳn”. Tình hình nầy cho thấy là dự trử đạn dược và bom đạn của “quân đội bù nhìn” đã không còn đầy đủ và họ đang gặp nhiều khó khăn trầm trọng để tái lập các kho dự trử săng dầu, để bảo trì và sửa chữa các loại chiến xa, tàu chiên và vũ khí nặng mà họ thường dùng.”

Ngày 10 tháng 3/75, hồi 3 giờ sáng, các đơn vị cộng sản đã mở một mặt trận mới trong vùng Cao Nguyên và tung ra một cuộc tấn công quy mô vào thành phố Ban mê Thuột, tỉnh lỵ của Darlac, nằm cách Sài Gòn 250 cây số ngàn về hướng Bắc.

Từ Ba Lê, nơi tôi đang ở, rất khó mà đo được tầm rộng lớn và diễn tiến của hành động nầy. Những tin tức đầu tiên từ Sài Gòn!!!”xác nhận là những trận đánh ở các đường phố đã bắt đầu trong đêm và vẫn còn đang tiếp tục”

Theo phát ngôn viên của quân đội Miền Nam thì!!!” lực lượng của Chánh Phủ và địa phương quân đã cố gắng chống lại một lực lượng địch quá đông

có chiến xa, pháo binh phòng không và một hỏa lực pháo thật hùng hậu bắn yểm trợ. Cuộc tấn công vào tỉnh lỵ đã được pháo binh hạng nặng và hỏa tiển bắn dọn đường trước thật dữ dội. Nhiều cuộc chạm súng đã diễn ra chung quanh phi trường cách thành phố 7 cây số ngàn.!!!Tất cả mọi liên lạc vô tuyến với Bộ chỉ huy tiểu khu đặt ở gần phi trường đều mất hết. “. Cũng theo Sài Gòn thì vòng đai phía Nam của thành phố đã bị địch chiếm, nơi đây có gần 15.000 dân sanh sống. Không quân và binh sĩ của Chánh Phủ đã bắn hạ 8 chiến xa địch trong thành phố

và ở vùng ngoại ô.”

Theo những tin tức đầu tiên nhận được thì chánh quyền Miền Nam ước tinh đây là một “cuộc tấn công quy mô nhất mà cộng sản đã tung ra từ sau ngày ký Hiệp Định Ba Lê về Ngừng Bắn năm 1973”, và cho là tình hình “rất đỗi nghiêm trọng”.

Nhưng Hoa thạnh Đốn không có một phản ứng nào hết.

Ngày thứ ba 12 tháng 3, một bản điện tín từ Hoa Kỳ xác nhận rất đơn giản là “Theo kết quả thăm dò của viện Gallup thì có 78 % dân chúng Mỹ chống lại việc Quốc Hội tăng viện trợ cho Cam Bốt và Việt Nam, chỉ có 12% là chấp thuận”

Ngày thứ tư 13 tháng 3, cũng theo Sài Gòn thì cuộc chiến ở Cao Nguyên vẫn tiếp diễn.

Ký giả Gerard Le Quang đã viết trong báo France soir như sau:!!!” Trong khi các trận đánh ở Phnom Penh đang tiếp diễn, thì MTGPMN (Việt Cộng) chiếm một phần của thị xã Ban mê Thuột (160.000 dân), một thị trấn quan trọng trên Cao Nguyên, sau khi chiếm quận lỵ Đức Lập. Tấn chiếm như vậy là kháng chiến quân ở Miền Nam Việt Nam muốn ngăn chận một sự can thiệp của quân đội Sài Gòn vào Cam Bốt để giải vây cho Phnom Penh. Kế hoạch can thiệp nầy được sự không trợ từ Không Lực Hoa Kỳ đã được đề nghị cho Tổng Thống Thiệu gần đây. Vị nguyên thủ Miền Nam Việt Nam đã dự trù tiến tới một hành động như vậy. Ông hy vọng là sẽ có hai đường lợi: trên phương diện tài chánh ông sẽ được tăng cường một ngân khoản viện trợ từ phía Hoa Kỳ, trên phương diện chánh trị sẽ tăng cường được vị thế không chối cãi của người ngyên thủ quốc gia.

Sự tấn công của “kháng chiến quân” đặt lại tất cả mọi vấn đề, từ nay quân lực Miền Nam có rất ít khả năng để hành động ở Cam Bốt. Ở đây người ta chỉ nói đến việc gởi 20.000 quân thuộc nhóm Khmer Krom mà thôi (binh sĩ gốc Khmer được huấn luyện ở Miền Nam Việt Nam được gọi là Khmer Krom) “

Tôi tự hỏi từ đâu mà ký giả nầy nắm bắt được tin tức theo đó quân đội Miền Nam Việt Nam sẽ tấn công vào Phnom Penh? và tại sao giống như những người khác, ông ta nhất quyết cho là “kháng chiến quân” những anh “bộ đội chánh quy” thuộc một quân đội cơ giới chánh quy của Bắc Việt, được trang bị chiến xa, súng Phòng Không, hỏa tiễn và những khẩu pháo binh tầm xa hạng nặng?

Tờ báo Le Figaro còn nuôi dưỡng mãi một chuyện hoang đường tương tự:!!!”14 thành phố, 13 quận lỵ và một tỉnh lỵ đã rơi vào tay của “những người nổi loạn” từ khi Hiệp Định Paris được ký kết. Đó là chỉ do “lực lượng cánh tả ở Miền Nam” đánh bật từng chốt một do quân đội của Chánh Phủ Miền Nam kiểm soát”

Tại miền Trung, dù sao, cuộc tấn công của cộng sản cũng có một tầm rộng lớn không thể ngờ được.Gần như đâu đâu binh sĩ Miền Nam cũng bỏ mất đất. Bốn tỉnh, ba tỉnh lỵ, gần hết vùng Cao nguyên đã bị đổi chủ. Một tỉnh thứ năm, tỉnh Quảng Trị, ở sát biên giới phía Bắc của Việt Nam đang di tản. Và nửa triệu dân chúng đang chạy về hướng Nam trên quốc lộ. Chỉ mới có mấy ngày, mũi dùi tấn công bất thần của cộng sản đã gây ra một sự xáo trộn hết sức lạ thường về những bản đồ quân sự và về vấn đề dân số từng được chánh thức đăng bạ ở Miền Nam Việt Nam từ trên 20 năm qua.

Vậy chuyện gì đã xảy ra ở đó? Đâu là những lý do sâu xa và thực sự của sự sụp đổ thình lình của quân lực Miền Nam Việt Nam?

Cho tới giờ nầy Chánh Phủ của ông Thiệu không có đưa ra một giải thích nào khác ngoài câu chuyện “tái phối trí chiến thuật” lực lượng của mình. Và để cắt ngang mọi câu hỏi gây bối rối được nêu lên, phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng đã xác định với báo chí rằng kể từ nay sẽ không có một bình luận nào về diễn tiến của các cuộc hành quân trong tương lai. Sự rút bỏ 4 tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac và Quảng Đức nằm dựa lưng vào biên giới Lào và Cam Bốt, đã để mất vào tay cộng sản 4 thành phố quan trọng có phi trường và một hệ thống đường sá quá tốt, một lãnh thổ có rừng cây rộng lớn, có những vườn trồng trọt sung túc và những đồng ruộng phì nhiêu trãi dài trên 250 cây số ngàn bề dài và 150 cây số bề ngang. Đây là một hành lang chiến lược của Miền Nam Việt Nam vừa rơi vào tay của kẻ thù cộng sản mà trên thực tế không có một cuộc chạm súng nào.

Dường như Bộ Chỉ Huy Sài Gòn đã quyết định phải rút tối đa binh sĩ của mình và dân chúng về vùng bờ biển giàu có hơn, trú đóng ở những thị trấn dựa lưng vào biển, khi họ đứng trước một sự đe dọa do sự tập trung quá lớn của lực lượng cộng sản được trang bị quá hùng hậu về chiến xa, hỏa tiễn và pháo binh hạng nặng, để lại cho cộng sản những khu vực tuy rộng lớn nhưng “trống rỗng”, ở đó Miền Nam có thể xử dụng mọi phương tiện hỏa lực của Không Quân mà không sợ đánh nhằm dân chúng bạn lẫn lộn với các binh sĩ của mình.

Dân chúng trong những vùng bị đe dọa không cần phải được kêu gọi hay khuyến khích mới bỏ đi. Các nông dân và những kiều dân đã định cư ở Cao Nguyên từ năm 1960 hầu hết thuộc thành phần di cư người công giáo, đã từng chạy khỏi Miền Bắc ngay ngày hôm sau khi Hiệp ước Genève 1954 vừa được ký kết. Những người từ Quảng Trị và Huế chạy vào đây thì không bao giờ quên cuộc “thanh trừng đẫm máu” có chọn lọc của năm 1968 (Tết Mậu Thân), lúc lực lượng cộng sản chiếm một phần của hai thành phố nầy. Một cuộc thanh trừng đến 6000 vụ hành quyết với phương tiện thô sơ trong vòng chưa đầy một tháng.

Tuy nhiên, sự rút đi bất thần của tất cả mọi hiện diện quân sự trên nhiều tỉnh yết hầu đã làm thương tổn nặng nề đến uy tín và tinh thần của cả dân chúng, Chánh Phủ Sài Gòn và QLVNCH.

Đường mòn Hồ chí Minh được Cộng Sản Hà Nội bảo vệ toàn diện không một xâm nhập nào đến được từ hai cạnh sườn. Do đó quân đội cộng sản kiểm soát toàn bộ phía Đông và phía Nam của Cam Bốt, tất cả dãy Trường Sơn và cái “sân thượng” ngay trung tâm của nước Việt Nam. Họ có thể đổ ập bất cứ lúc nào xuống Dalat, một vùng trồng rau chính của Miền Nam, mỗi ngày cung cấp cho Sài Gòn 70 % rau tươi. Trú đóng trên các cao điểm và được trang bị cơ giới hùng mạnh, lực lượng cộng sản cũng có thể thọc một mủi dùi tấn công xuống biển để cắt đứt Miền Nam làm hai đoạn, qua hành động đó cụ thể hóa sự hình thành một “nước Việt Nam thứ ba”.

Ngày 21 tháng 3,

Đài BBC, trước đây thường hay phát lại những thông cáo của đài Hà Nội, đã loan tin về sự di tản của thành phố An Lộc, ở cách Sài Gòn 100 cây số về hướng Bắc.

Vào năm 1972, An Lộc là nơi mà 5.000 binh sĩ của Miền Nam, trú ẩn trong sự hoàn toàn đổ nát của thành phố vì 70.000 quả đạn pháo đủ loại của cộng sản Bắc Việt, trong ba tháng dài đã chống trả và đánh bật tất cả các cuộc xung phong liên tiếp của 3 sư đoàn cộng sản Bắc Việt có sự yểm trợ trực tiếp của 2 trung đoàn chiến xa T.54. Bản thân tôi, lợi dụng được các chuyến bay tản thương, đã đáp xuống thành phố nầy và đã sống ở đó được vài giờ. Vì hỏa lực địch rất dày đặc, các trực thăng chỉ có 30 giây ở dưới đất – thời gian tối thiểu để những người trên trực thăng nhảy xuống, và những người khiêng cán đưa thương binh lên – sau đó là phải bay lên ngay. Cả thành phố chỉ còn là một đóng gạch vụn, ngổn ngang xác chiến xa T.54 bị lực lượng phòng thủ hạ bằng súng không giật, và hằng ngàn xác bộ đội cộng sản sình to lên trong những quân phục xanh tơi tả. Nhà thờ đã bay mất nóc. Cả trăm thi hài chồng chất lên nhau, đã thối rửa, giữa hàng ghế ngồi đã nát vụn và dưới chân bục thờ Chúa. Trước đó hai tuần, một chiếc T.54 của cộng sản đã dùng đại bác bắn trực xạ vào các tín đồ đang cầu nguyện ở đó, trước khi bị pháo xa 105 ly của quân trú phòng bắn hạ với máy nhắm ở cự ly số 0.

Có nhiều binh sĩ Miền Nam bị thương. Rất nhiều người không chợp mắt được trong vòng 60 giờ. Nhưng tất cả các đơn vị trú phòng đều có một tinh thần sắt thép. Chúng tôi đang ở vào tháng 6. Vài ngày sau đó, Tổng Thống Thiệu đáp xuống An Lộc. Quân trú phòng bước ra khỏi hầm trú ẩn để hoan hô và bế bổng ông lên trong chiến thắng. Một đạo quân tiếp viện cuối cùng đã bẻ gãy vòng vây, và thành phố An Lộc đã trở thành biểu tượng cho lòng can đảm vô biên của quân dân Miền Nam Việt Nam. Các sự hư hại đổ nát đã được dẹp dọn và thành phố đã sống trở lại. Và bây giờ không đầy 3 năm sau chiến công oanh liệt đó, An Lộc di tản mà không có một trận đánh nào.

Vả lại, cũng không có một nơi nào có xảy ra trận đánh thật sự!

Ngày 24 tháng 3,

Cộng sản đã tiến tới được bờ biển. Nước Việt Nam coi như bị cắt làm đôi. Cố đô Huế thất thủ ngày 26, vẫn không được phòng thủ, Huế là nơi đã có hằng ngàn người chết năm 1968. Huế là nơi mà những đơn vị “beo đen”, đơn vị Dù và Biệt động Quân và sư đoàn Không kỵ nổi tiếng của Hoa Kỳ đã lùng sục từng nhà trong chiến đấu lúc đó.

Cuộc triệt thoái đã trở thành một cuộc tháo chạy, “mạnh ai nấy chạy”.

Sự sụp đổ nầy bao gồm hết cả miền Trung của Việt Nam, Đám đông dân chúng tỵ nạn hốt hoảng chạy loạn, lớn dần lớn dần như một con sông cuồn cuộn chảy, với quá nhiều hình ảnh đau thương không chịu nổi…. cuộc chạy trốn cuống cuồng của cà một dân tộc bị vứt ra đường, một cuộc chạy loạn dị thường, dòng người chạy loạn tràn ngập và kéo theo mọi thứ trên đường đi của nó, đã phân tán và nhận chìm các đơn vị đang có ý định chống trả và chiến đãu. Nhiều chị đàn bà la hét một cách kinh hoàng và vô vọng vì không tìm được con cái đi lạc, gần như trần truồng thiểu não và ngơ ngác giữa khối người chạy loạn. Nhiều cụ già ốm teo chỉ còn da bọc xương mệt mỏi kéo lê thân xác khô cằn và bị cháy nắng, lả người vì đường dài trong nóng bụi, buông mình té xuống mà không gượng dậy nổi, đang nằm yên chờ giờ chết.

Những hình ảnh đó cả thế giới đều mục kích ngay trên màn ảnh truyền hình của họ. Phản ứng đầu tiên của họ rất nhân đạo, rất tự nhiên, không kềm chế được. Họ run lên, sau đó họ tìm cách xin về nuôi hàng ngàn trẻ mồ côi.Không có lúc nào họ nghĩ rằng muốn bảo đảm tương lai của những đứa trẻ đó thì chỉ có một cách hay nhất là phải tìm cách cứu lấy cha mẹ của chúng.

Ở Sài Gòn, tờ báo Chính Luận có đăng một bài phóng sự quá rụng rời do một đặc phái viên từ Qui Nhơn gởi về:!!! “Không thể tưởng tượng nổi những giờ phút cuối cùng của thành phố đang tự trút bỏ hết đời sống của mình. Dân chúng cướp giật thuyền máy do binh sĩ canh giữ. Sau lưng họ vô số va li, thùng cây, rương hòm, quần áo trộn lẫn với giẽ rách được người ta vứt bỏ đầy trên bãi cát với hàng chục, hàng chục tử thi bé nhỏ gây nên một mùi hôi thúi không chịu được. Có nhiều bà mẹ vẫn còn ôm cứng xác chết của con trong tay mình. Trên những con đường dẫn tới hải cảng, những bé trai bé gái lạc mất hết cha mẹ đã cố kéo lê thân khô cằn đến tận bãi biển để rồi nằm chết lịm trên cát vì quá đói, quá khát và quá mệt mỏi.!!!Một cụ già mặc đồ đen ngồi dựa trên bến thuyền, kể lại hành trình chạy loạn từ Cao Nguyên: “chúng tôi có trên hai trăm ngàn người trên lộ 7 B, gồm bốn ngàn xe vận tải chở đầy binh sĩ, hằng ngàn chiếc mô tô, xe ba bánh, xe cũ của người Tàu, xe đạp, và những người đi bộ. Có khoảng trên 100.000 người đi bộ, gồng gánh tất cả những gì mà họ có thể mang theo được, nào là gà nhét vào bị, nào là heo cột nằm trong gánh, nào là chó với sợi dây giắt theo… những người công giáo thì mang theo tượng ảnh Đức Mẹ và tượng Đức Chúa Trời. Con đường thì nhỏ hẹp chạy xuyên qua rừng giữa những bụi rậm và tre dày đặc không chen chân qua được. Chúng tôi không có một thức ăn, và tuyệt đối không có gì để uống. Chúng tôi đi suốt 3 ngày ba đêm như vậy. Một bộ phận công binh đi trước đoàn xe để sửa đường và sửa lại cầu hư vì chiến cuộc trong những ngày qua. Khi gần tới sông Ba thì từ trong cánh rừng xuất hiện một toán lính cộng sản có người cầm cờ đi đầu. người chỉ huy toán bộ đội ấy phát loa ra lệnh cho chúng tôi phải ngừng lại và phải đi trở về. Nhưng làm sao được bây giờ vì có quá nhiều người ở phía sau cứ đùn chúng tôi đi tới. Tất cả coi như bị dồn cứng lại thành một khối người không nhúc nhích được nữa, rất khó ra lệnh còn hơn là đối với một đàn trâu đang cúi gầm đầu xuống đất. Bấy giờ bọn cộng sản mới bắn vào chúng tôi với tất cả các loại súng của họ đang có. Được dấu kín trong rừng, các loại pháo nặng nhẹ, bách kích, súng không giật.. nã thẳng vào chúng tôi dọc theo con lộ đang bị kẹt cứng. Tất cả đều nổ đồng loạt. Một trái đạn pháo đã chém ngang con gái tôi và hai dứa con của nó. Trên đoạn đường dài 3 cây số thây nằm la liệt, lẫn lộn kẻ chết người bị thương. Hàng trăm xe đủ loại bị cháy, nổ ì ầm như người ta ném đạn vào lửa vậy. Tôi ôm đứa cháu chín tuổi trong lòng, và cố gắng chạy bừa tới đâu hay tới đó. Đứa bé rên rỉ, vì nó bị một mảnh đạn pháo xuyên qua lưng từ bên nầy sang bên kia. Nó khóc thét lên nhắc đi nhắc lại: “Ông ơi, ngực cháu bị thủng rồi đau lắm”. Rồi đùng một cái, tôi không còn nghe nó nói gì nữa. Tôi nhìn lại nó thì đôi môi của nó đã đen hết rồi, và nó đã chết. Tôi tiếp tục bế nó để sẽ chôn cất nó cho phải phép. Khi vào đến thành phố, tôi rửa mặt cho nó ở một cái vòi nước đầu tiên, tôi cuốn nó vào một cái bị vải mới mà tôi mua với số tiền còn lại của tôi, và tôi chôn nó duới một gốc cây. Bây giờ thì tôi không còn gì nữa, người thân cũng không có để mà thuơng yêu và che chở. Tôi sẽ không rời khỏi đây đâu”

Tướng Weyand, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ được Tổng Thống Ford gởi khẩn cấp đến Sài Gòn để đánh giá tình hình quân sự tại đây. Phát ngôn viên của Nhà Trắng, ông M. Ron Nessen, đã xác nhận là “cựu chỉ huy trưởng quân lực Hoa Kỳ ở Việt Nam” cũng có nhiệm vụ trao cho Chánh Phủ Sài Gòn một công điện qua đó Tổng Thống Ford muốn bảo đảm với Tổng Thống Thiệu là ông ta đã quyết định nỗ lực tối đa để được Quốc Hội “chấp thuận cho những ngân khoản cần thiết.”

Nhưng Quốc Hội Hoa Kỳ không thấy và không nghe (nguyên văn của tác giả: đui và điếc) những nỗi thống khổ của một dân tộc bạn đang bị một tai họa giáng lên đầu và đang kêu cứu, và họ đã bỏ đi nghỉ hè cho đến ngày 7 tháng 4.

Không thể nào tả nổi cảnh hỗn loạn trên các con lộ ở Miền Nam Việt Nam được.

Ngày 29 tháng 3/75:

Đà Nẵng, thành phố mà người Mỹ đã có trù tính trong vòng 8 ngày sẽ di tản hết dân chúng bằng một cầu Không vận khổng lồ trong lịch sử chiến tranh, số phận đã coi như bị bỏ rơi. Sáu trái đạn hỏa tiển rơi váo phi trường…. và cuộc di tản đương nhiên bị đình hoãn. Đà Nẵng là một thành phố với một hải cảng đầy ấp tàu thuyền, với một bán đảo được phòng thủ chặt chẽ, với một phi trường chiến lược, với một hệ thống kho tàng đầy ấp lương thực, đạn duợc và chiến cụ có thể kháng cự được trong nhiều tháng. Thành phố bị mất đi không một tiếng súng, và sự ra đi của những chiếc phi cơ và trực thăng cuối cùng đã tạo nên những cảnh tượng hết sức kinh hoàng. Đám đông người tỵ nạn ùa lại tranh nhau cố leo lên những chiếc phi cơ đã đầy ấp người. Một chiếc trực thăng cất cánh lắc lư làm rơi rụng mấy chùm người đang cố bám chặt vào hai gọng sắt dưới lườn, giống như những con sâu nhỏ đeo vào một con bọ hung lớn, làm cho họ rơi lả chả từ trên không, rồi rớt xuống đất bẹp nát từng đống nhỏ không còn hình dạng con người, máu me be bét.

Đán bà và trẻ con khóc lóc, gào thét, van xin, và cố gắng trèo lên một chiếc khác cũng đã đầy cứng người rồi. Có những báng súng đập vào tay và cánh tay của họ. Có một số đang cố bám vào lườn của môt chiếc Boeing đang gầm rú để cố bốc lên khỏi đường bay. Khi đến Sài Gòn người ta còn tìm thấy một tử thi bị xé nát của một người nào đó đang bị cuốn chặt vào hệ thống bánh xe hạ cánh của chiếc Boeing 707 nói trên.

Ba ngày sau khi Đà Nẵng thất thủ thì lại đến lượt Nha Trang! Ở đây 300.000 người dân tị nạn còn sống sót từ vùng Cao Nguyên và từ các tỉnh miền Trung chạy về đã bị gọng kềm của chiếc bẫy sập cộng sản đóng kín họ lại.

Cam Ranh, một vịnh đẹp nhất vùng Á Châu cũng đang được di tản. Pháo binh Bắc Việt cứ tiếp tục nã đạn vào các đoàn người di cư đang chạy trốn cộng sản hướng về miền biển.

Lúc bấy giờ đang có một tình trạng mập mờ khó hiểu tại Hoa Kỳ. Quốc Hội thì vẫn còn đang đi nghỉ hè…. Tổng Thống Ford một ít lâu sau đó cũng bắt chước họ và ông hiện đang thong dong chơi “gôn” tại Palm Springs ở tiểu bang California.

Phần ông Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller thì ước tính là “thật sự đã quá muộn” để muốn làm một việc gì đó cho Việt Nam, kể cả sự giúp đỡ cho dân chúng đang chạy loạn, và ông còn nói thêm một câu khích động hết sức vô liêm sĩ: !!!”Tôi nghĩ rằng có một số lớn những người nầy sẽ chết…… thật đáng buồn, thật quá bi thảm. Nhưng chúng tôi còn phải tiếp tục sống, và tiếp tục đi tới chớ”

Đại sứ Hoa Kỳ ở Việt Nam hiện còn đang ở Hoa thạnh Đốn đã lên án người Mỹ đã “không đưa được một ngón tay lên” để binh vực cho quốc gia mình. Ông nói!!!”tôi nghĩ rằng khắp nơi trên thế giới nầy, mọi người đều có chung một kết luận rất bất lợi cho chúng ta. Có nghĩa là thà làm một đồng minh của cộng sản còn hơn là bất hạnh được làm đồng minh của Hoa Kỳ”

Tại Ba Lê, một đại diện của CPLTCHMN (GRP) lên tiếng mạnh mẽ tố cáo cái mà họ gọi là chánh quyền Ford và tập đoàn Nguyễn văn Thiệu đã “ép buộc dân chúng Miền Nam phải di tản”. Ông ta còn xác nhận là!!! “hàng trăm ngàn người đã nghe lời tuyên truyền xảo trá và bị hăm dọa dưới họng súng, đã bị bắt buộc phải lìa bỏ hết nhà cửa và nơi chôn nhao cắt rún của mình để được chết đói và chết bệnh trên đường di tản. Nhiều ngàn người khác vì không chịu chạy trốn đã phải bị hành quyết…!”

Đó là một đại diện không sợ phải nghiên cứu một sự nghịch lý, và hơn nữa cũng không nghĩ tới một sự đính chánh về những sự kiện đã xảy ra. Cái Chánh Phủ cách mạng lâm thời mà ông ta đang nhơn danh để tuyên bố đó, đã từng phủ nhận từ mấy năm nay về tư cách đại diện cho nước Việt Nam của ông Tổng Thống Thiệu, bỗng nhiên hôm nay đùng một cái, ông ta công nhận một thực quyền phi thường của vị Tổng Thống nầy là làm cho người dân tin theo…….. một quyền lực tâm lý có khả năng di chuyển cả một khối lớn dân chúng, bắt họ phải rời bỏ nhà cửa ruộng vườn để đi về những thành phố cuối cùng dưới sự lãnh đạo “độc tài” của mình. Ở vào thời điểm nào và bằng cách nào mà binh sĩ của Tổng Thống Thiệu đang bị tan rã không qua một cuộc chạm súng nào và đang cùng chạy trong đám dân chúng, lại có thể dùng họng súng của họ để bắt buộc hàng triệu người phải di tản, chạy về các sân bay hay các bến cảng đang lần hồi bị đóng cửa trước mặt họ? Hàng chục ngàn người đã vì quá sợ binh sĩ Bắc Việt mà phải chạy đi, đã chết vì đói khát hay vì mệt lả, hoặc bị tàn sát một cách có phương pháp có tổ chức mà thân nhân của họ đã từng là nạn nhân ở Quảng Trị và ở Huế trong năm 1968. Nhiều ngàn và nhiều ngàn người khác đã bị hành quyết, bằng những quả đạn pháo đủ cở đủ loại của cộng sản trong những tuần lễ sau cùng nầy, khi Bắc Việt muốn ngăn cản không cho họ chạy đi.

Tại Sài Gòn, cuối cùng thì chế độ của ông Thiệu dường như được tính từng ngày. Người ta không thể tha thứ cho ông vì sau khi Ban mê Thuột bị thất thủ, ông đã cho lệnh rút tất cả quân đội từ miền Trung và từ miền Cao Nguyên: vội vàng và cẩu thả, hành động rút quân nầy đã dẫn tới một sự tháo chạy mà ngay như Bắc Việt cũng không bao giờ tiên đoán được.

Bị đối lập tấn công từ nhiều tháng qua bây giờ thì ông lại bị Thượng Viện bỏ rơi, một Thượng Viện đã từng cho ông một sự tín nhiệm hết sức rộng rãi. Sau 8 tiếng đồng hồ thảo luận, 41 trên 42 nghị sĩ hiện diện đã đứng lên chống “sự bất lực của chế độ” và đòi hỏi phải thành lập khẩn cấp một Chánh Phủ đoàn kết quốc gia gồm những nhân vật “có khả năng, liêm khiết và đại diện cho dân”. Chánh Phủ mới thành lập nầy phải cộng tác chặt chẽ với Quốc Hội và các đoàn thể quần chúng, nhanh chóng làm việc trong mục đích tái lập lại sự  “ổn định quân sự, xã hội và chánh trị”.

Tướng Nguyễn cao Kỳ, cựu Phó Tổng Thống và cựu Tư Lệnh Không Quân Miền Nam Việt Nam, đã về hưu từ năm năm nay đã đứng ra thành lập một “Ủy Ban Hành Động để Cứu Quốc” và hô hào sự ra đi của Tổng Thống Thiệu. Cảnh sát đã phá được hai âm mưu đảo chánh và đã bắt giữ nhiều sĩ quan.

Nhiều điện tín sau cùng cho biết là đã có một sự hốt hoãng trong thủ đô Miền Nam Việt Nam. Tất cả những chuyến bay thường lệ rời Sài Gòn đã hết chỗ. Các ngân hàng bị khách hàng bao vây để rút hết tiền ra. Chỉ trong vòng có một ngày giá chợ đen đồng mỹ kim đã tăng vọt từ 700 lên đến 1600 đồng.

Vào giờ phút mà Miền Nam Việt Nam đang lung lay và bị đe dọa sẽ bị sụp đổ dưới sự tấn công dồn dập của các sư đoàn cộng sản Bắc Việt mà hình như không có gì kềm hãm sức tiến của họ được, có một trong nhiều câu hỏi đang làm bận tâm nhưng chưa thấy được nêu lên: trong trường hợp quân Bắc Việt thắng, thì những kiều dân Pháp và quyền lợi của nước Pháp chúng tôi ở đây sẽ còn hay không?

12.000 kiều dân Pháp có một nhiệm vụ rất quan trọng trong đời sống của Miền Nam Việt Nam. Quyền lợi Pháp, được ước tình đến 1 tỷ 730 ngàn quan, được phân ra như sau:

– cơ sở kỹ nghệ (đầu tư và trữ kim): 650 triệu quan Pháp

– các vườn cao su và xí nghiệp: 650 triệu quan

– trà và cà phê: 10 ngàn mẫu,

– doanh nghiệp: (đầu tư và trữ kim) 100 triệu quan

– xí nghiệp vận tải và nhà xe, vận tải đường sông và đường biển: 150 triệu quan

– ngân hàng, công ty địa ốc và bất động sản: 180 triệu quan

Các sự đầu tư nầy không những chỉ là những đầu tư ngoại quốc duy nhất có phần bền vững mà nó còn chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của Miền Nam Việt Nam. Con số mậu dịch lên gần đến 800 triệu quan Pháp và phần đóng góp vào ngân sách của Miền Nam Việt Nam được khoảng 23 %.

Những sự đầu tư về kỹ nghệ của chúng tôi ít được dân chúng bên Pháp biết đến, phần lớn gồm có kỹ nghệ khá tân tiến của Miền Nam Việt Nam, gồm có các xí nghiệp mới nhất như: hãng Citroen, nơi đây đã lấp ráp những xe thông dụng trong năm qua, đặc biệt là xe La Dalat; xưởng sản xuất xi măng ở Hà Tiên; hảng Isostat (kỹ nghệ điện tử), các hảng Elf- Erap và C.F.P. dự phần vào công tác tìm dầu khí ngoài khơi bờ biển Việt Nam

Hơn thế nữa, các công ty hàng không của chúng tôi (Air France đang cộng tác với Air Việt Nam và U.T.A.), các công ty hàng hải (Messageries và Chargeurs Réunis) đang hoạt động bán độc quyền trong công tác chuyển vận quốc tế từ Việt Nam đến Nam Âu Châu và ngược lại.

Những lợi thế mà Lập Pháp ở đây đã dành cho đầu tư của chúng tôi, sự khéo tay của nhân công ở đây, vị trí địa dư thuận lợi cho khả năng xuất cảng, mối giao hảo tốt với nước Pháp và các nước bạn quanh đó (các nước nói tiếng Pháp) đã cống hiến nhiều viễn ành và điều kiện làm việc rất đáng được khuyến khích.

Ảnh hưởng văn hóa Pháp vẫn còn rất quan trọng. Tất cả thành phần lãnh đạo ở Miền Nam Việt Nam và hầu hết các cán bộ cao cấp đều nói tiếng Pháp. Những cơ sở văn hóa Pháp rất nhiều. Một viện văn hóa Pháp ở Sài Gòn, ba trung tâm văn hóa ở Dalat, Đà Nẵng và Nha Trang; sáu trường trung học (Yersin, Dalat, Blaise-Pascal, Đà Nẵng trường Trung học Pháp ở Nha Trang, trung học Marie Curie); trung tâm giáo dục Saint Exupery, trung tâm học vụ Colette ở Sài Gòn. Nước Pháp cũng giúp đỡ cho nhiều trường sở Việt Nam dưới danh nghĩa hợp tác văn hóa và kỹ thuật (trung tâm hướng dẫn học vụ, đại học văn chương và sư phạm của Sài Gòn và Huế, đại học Y và Dược của Sài Gòn, trung tâm kỹ thuật quốc gia Phú Thọ).

Con số học sinh và sinh viên ghi tên vào các trường sở nói trên lên đến 14.000 và nhân viên giảng dạy người Pháp là 272 người. Thêm vào đó còn có những trường khác, trường tư và trường đạo dạy toàn bằng tiếng Pháp: trường trung học Taberd (Sài Gòn ), trung học Fraternité (Chợ Lớn), Les Oiseaux (Dalat và Sài Gòn ), l’Alliance Francaise (Sài Gòn). Các giáo sĩ và các dì phước có mặt khắp các bệnh viện, các trại cùi, các trung tâm xã hội và đã tận tụy hy sinh phục vụ mà không có một sự tính toán nào. Bệnh viện Grall, một trong những bệnh viện tối tân nhất của vùng Đông Nam Á, trong đó tất cả nhân viên có trách nhiệm (bác sĩ, giải phẩu, quang tuyến, dược sĩ và quản lý) đều là người Pháp, là một bệnh viện có danh tiếng không thể chối cãi được.

Tất cả các cơ sở đó, tất cả những nam nữ nhân viên đã dính líu thật sâu đậm vào đất nước nầy, tất cả những sự đóng góp về văn hóa và nhân đạo của nước Pháp… rồi đây sẽ còn lại những gì trong trường hợp có một chiến thắng của cộng sản ở đây?

Bây giờ thì còn quá sớm để có thể ức đoán về tương lai, nhưng dù sao cũng có thể thiết lập được một sự so sánh với những gì đã xảy ra trong quá khứ ở Miền Bắc Việt Nam. Vào năm 1954, những quyền lợi của Pháp ở nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam lên đến 100 tỷ đồng quan cũ. Đến giờ nầy giao dịch kinh tế của chúng tôi với chế độ Hà Nội coi như không có gì cả.

Các cơ sở Pháp đều đã biến mất hết. Không có một cơ sở giáo dục nào ở cấp đại học hay cơ sở y tế nào còn hoạt động ở đó.

Con số kiều bào người Pháp chúng tôi từ gần 6.000 vào năm 1954, bây giờ chỉ còn có 21, trong số đó phải tính 16 nhân viên của tòa Đại Sứ. Năm người còn lại là nhà báo của AFP, của tờ Humanité và tờ l’Unita (hai tờ báo của cộng sản Pháp và Ý). Tiếng Pháp là ngôn ngữ mà những người dưới 50 tuổi không người nào biết.. Đối với những người khác thì tiếng Pháp là một sinh ngữ ngoại quốc đứng vào hàng thứ tư sau tiếng Nga, tiếng Tàu và tiếng Anh.

Từ sự hiện diện của chúng tôi khi xưa, giờ nầy trên bình diện kinh tế, chỉ còn một hồ sơ tố tụng về nợ nần không bao giờ giải quyết được và một khế ước bồi thường cho những mỏ than cũ ở Miền Bắc của chúng tôi mà Bắc Việt đã cho đình chỉ thi hành từ năm 1963. Lãnh đạo của Hà Nội chỉ cần vài năm là quá đủ để họ bôi xóa hết dấu vết ảnh hưởng của người Pháp ở Miền Bắc Việt Nam.

Như vậy cò thể nào người ta đặt hết tin tưởng vào một hy vọng là họ sẽ tõ ra bớt mẫn tiệp hơn nếu họ chiếm được Miền Nam?