Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

(Vietnam, Qu’As Tu Fait De Tes Fils?)

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

7. Chương Sáu
Dinh Tổng Thống Bị Dội Bom

Thứ Ba 8 tháng 4: 7giờ 30 sáng
Tôi thả bộ trên con đường Pasteur, đến đại lộ De La Somme và cuối cùng đến bùng binh Chợ Bến Thành. Chợ Sài Gòn có một ngọn tháp vuông trên nóc giống như một chòi canh của một cái đồn nào đó thời ông Galliéni, có những tấm bảng quảng cáo bao quanh hết khuôn viên phía ngoài, nào là kem đánh răng, dầu thơm, rượu, thuốc lá v.v.. Cạnh đó là nhà ga xe lửa, có mấy chiếc xe buýt hiệu Ford và Pontiac sáng chói, đang đậu chung quanh đó, tất cả đều cho thấy là vấn đề kinh doanh của Sài Gòn, mua bán hay mậu dịch gì từ nhiều năm qua đều là sản phẩm từ Hoa Kỳ hết.
Tuy nhiên nên nhớ ở khắp những nơi nào có lớp người bình dân Việt Nam đang sống, thì chỗ dễ tới nhất và gắn bó với người dân nhất, phải là cái chợ.
Dưới cái vòm to của chợ Sài Gòn hay trong những kiến trúc rộng thênh thang kiểu “ba tàu” ở Chớ Lớn; ở khắp các thành phố thuộc Đồng Bằng sông Cửu Long, hay cuối cùng trong tất cả các chợ vườn dọc theo các sông ngòi đầy xuồng ghe hay lục bình, tất cả đâu đâu cũng luôn luôn có lúc nhúc một thứ hàng hóa, cùng một loại người và cùng một cặp mắt như nhau.
Qua khỏi các tấm bảng quảng cao rồi thì mặt trời và ánh sáng phải nhường chỗ cho một vùng lờ mờ nửa sáng nửa tối, với một đám đông ồn ào và lăng xăng san sát bên nhau mà không hề chen lấn xô đảy nhau bao giờ. Trước khi nhận rõ được mặt của từng người là tôi đã bị rơi vào một luồng gió đủ cả các mùi vị lẫn lộn nhau. Mùi trái cây ngọt như nước đường, mùi thơm như ngũ vị hương, nồng nặc như ớt, tiêu, gừng, nước mắm , mùi hôi của đồ lòng, của bếp núc, đủ hương vị của hàng tạp hóa, dầu thơm của thợ cắt tóc v.v..
Tất cả đều có hết ở đây, từ mọi thứ mà con người gặt hái được, đã đánh bắt được, các mặt hàng mỹ nghệ đã sản xuất được, trưng bày hay sắp xếp trên các giá gỗ và các kệ, được rọi sáng rực bằng đèn nê ông. Trước tiên là nhang thơm, những cây nho nhỏ dài dài như diêm quẹt mà người ta thường thắp lên trong nhà hay trong chùa miểu hay dọc theo đường đi: ở đây người ta xếp nhang thành từng bó một, trong những bao vàng, đỏ lòe lẹt kiểu người Tàu. Bên cạnh đó là giấy tiền vàng bạc, loại tiền dành riêng cho người đã quá cố sở hữu dùng để cúng hiến cho ông bà tổ tiên. . . .
Sau các mặt hàng dùng để hiến dâng cho người quá vãng, là tất cả những sản phẩm của đất đai: những quày chuối dài, những trái mít to, những tháp cao đầy ngất trái cây và rau cải đủ loại lạ mắt khác nhau, ngổn ngang. Các trái sầu riêng giống như con nhím xanh, với cơm bên trong hơi thối nhưng rất béo ngọt mà người sành ăn rất thích; những trái khế hình quả trám có khía sáng ngời, các trái ổi ruột đỏ hồng, những trái xoài to chín đỏ như các thỏi vàng, có những khu đầy trái thơm trái khóm và dưa leo, các rổ giá đậu trắng trông như những cọng búng. Xa hơn chút nữa là cá khô từng bó cột lại bằng dây dừa, hay vừa mỏng vừa dẹp được treo lên như những chiếc lá khô. Và đây là hàng cá tươi mới về, nào là cá thu được khứa ra từng khứa, cá ngừ, cá tráp, cua bể, tôm càng xanh, những con cá chình lớn như con trăn mà người bán phải dùng chày để đập đầu cho chết. Còn đây là hàng gạo, người bán mắt tròn xoe mặt sáng rở, đang quảng cáo gạo của mình, gạo ngon, được trưng bày cùng khắp, trong các bao lát miệng bao mở rộng, Người mua gạo bốc gạo lên xem, từng vóc một, đổ gạo từ tay nầy sang tay kia để đánh giá từng loại gạo, này là gạo Gò Công, kia là gạo Vĩnh Long, nhỏ hạt hơn, còn gạo Châu Đốc thì là màu đỏ.
Tôi rời khỏi chợ, đi ra đường, lúc đó vào khoảng 8 giờ. Các tiệm bán hàng vẫn còn bày bán đủ thứ nào là máy truyền hình, nồi nấu cơm Nhật, các túi bằng da cá sấu v.v.., các hiệu nữ trang với những tấm kính có viết chữ tàu sáng chói, với những chiếc vòng đeo tay hay dây chuyền bằng vàng y 24 ca ra đỏ rực.
Đùng một cái, tất cả mọi người đều ngước mũi lên trời. Một tiếng rít chói tai từ một phản lực cơ át hết tất cả mọi tiếng ồn ào khác. Và mọi người đều nhớ biết là đã từ lâu mọi phi cơ đều bị cấm không cho bay ngang qua vùng trời của thủ đô, nơi có Dinh Độc Lập. Tự nhiên mọi người đều cố gắng nhìn lên để nhận dạng xem phi cơ phản lực loại nào đã bay qua thật thấp ở ngay trên vùng trời của thủ đô. Một chị đàn bà la lên: “Chắc chắn nó sẽ bỏ bom vào Dinh Độc Lập “. Và hầu hết những người có mặt trên con đường nầy đều la theo: “Nó sẽ dội bom lên Dinh Độc Lập”
Ngay sau đó, hai tiếng nổ dữ dội đi liền theo tiếng rít của phản lực cơ. Thời gian không đầy một phút trôi qua, chiếc phi cơ lại bay ngang qua mục tiêu của nó, đánh dấu bằng 2 tiếng nổ nhỏ và vài tràng đại liên ngắn. Lần nầy thì tôi nhận rất rõ tiếng nổ lốp đốp đều đặn của súng đại bác tự động. Sau đó thì chiếc phi cơ đi xa lần đến một nơi vô định nào đó.
Cuộc tấn công nầy xảy ra không quá 5 phút. Tôi rảo chân đi nhanh hơn. Phía trên dinh Tổng Thống rất gần đây, một côt khói đang bốc lên, còn bao quanh các cây cối trong vườn. Khoảng 10 phút sau, có 4 xe cứu hỏa đến tại chỗ. Trước cổng chánh của Dinh Độc Lập có khoảng 50 binh sĩ Dù đang ở trong tư thế phòng thủ, mỗi người ngồi sau một góc cây, sẳn sàng chiến đấu. Các xe Quân Cảnh bao quanh khu vục, cô lập Dinh Độc Lập với cả thành phố. Các anh cảnh sát dã chiến với quân phục rằng ri, súng cầm tay, đang hướng dẫn mọi sự lưu thông tránh xa dinh Độc Lập. Các ngả tư đường dẫn tới dinh đều có ngựa sắt kẽm gai chận hết.
Cả trung tâm thành phố có nguy cơ bị tắc nghẽn giao thông một cách nhanh chóng và điều nầy chỉ làm tăng thêm tình trạng hỗn loạn. Tôi đi dài xuống đường Tự Do. Nhiều tin đồn nhảm sai hẳn sự thật đã được lan truyền ra rồi ..
Một anh tài xế xe tắc xi bước ra khỏi xe của anh ta trước tiệm sách Albert Portail, vừa múa tay múa chân vừa la ầm lên : “Tổng Thống đã chết rồi “. Các chị bán thuốc lá lo thu xếp các quầy thuốc của họ lại. Đứng giữa một đám đông những người hiếu kỳ một anh luật sư ở nhóm đối lập thuộc phong trào “đòi quyền sống cho người dân” đã xác nhận một cách rất nghiêm túc:
” Đó là chiếc phi cơ săn giặc F5 do tướng Nguyễn cao Kỳ lái. Ông ta đã làm chuyện vừa rồi đó. Các dàn ra đa của Tân sơn Nhứt đã theo dõi chiếc F5 nầy và đã thấy nó bay về hướng Thái Lan.”
Nhưng, tôi đã biết rất rõ tướng Cao Kỳ, ông chưa từng bay phi cơ phản lực bao giờ!
Có một số xe thông tin có gắn loa phóng thanh chạy khắp nơi để thông báo giờ giới nghiêm bắt đầu có hiệu lực từ 12 giờ trưa nay. Và thành phố đã trở nên vắng ngắt hết sức nhanh chóng. Các cửa hàng bỏ rèm xuống che kín cửa tiệm. Đường sá thường thì đầy rẫy xe cộ, và ồn ào vì tiếng mô tô, giờ thì đã trở nên vắng lặng. Giờ đây Sài Gòn là môt thành phố chết, một thế giới im lặng , ở đó chỉ có các binh sĩ với súng ống đi tuần rỏn như những bóng ma giữa các nút chặn kẽm gai. .
Vào lúc 13 giờ trưa, tôi liên lạc được với tướng Cao Kỳ bằng điện thoại. Với một giọng hết sức mỉa mai ông nói:.
– “Thật là một chuyện tào lao! một hành động quá trẻ con không có một cơ may đi đến đâu hết. Phi công là một sĩ quan rất trẻ, vừa mới học xong phản lực cơ F 5 E cách đây vài ngày. Trước đó anh ta được huấn luyện trong nhiệm vụ săn giặc, và cách đây không đầy 3 tuần lễ, anh ta mới bắt đầu được tham gia tập luyện về nhiệm vụ đánh bom. Theo chỗ tôi nghe được thì đây là một thằng nhỏ bốc đồng, có máu anh hùng. Nhưng tôi chưa từng gặp mặt anh chàng nầy bao giờ. Một lần nữa, tôi không dính dáng gì đến chuyện nầy. Hơn nữa tôi không muốn giết ông Thiệu, tôi chỉ muốn ông ta rời khỏi chức vụ cho rồi.. . . . “
Sau một phút yên lặng, sau đó ông ta lại nói, nhưng gần như nói cho riêng ông ta nghe mà thôi : “Rất tiếc là thằng quỷ phi công đó đã không làm được trò trống gì cả!
Sau đó một ít lâu, Tổng Thống Thiệu lên tiếng trên đài phát thanh. Ông ta vẫn còn sống. Ông ta thuật lại chi tiết cuộc ném bom mà ông là mục tiêu chính. Ông xác nhận đây không phải là một âm mưu mà là một hành động lẻ loi. Phi công bay ở cao độ 300 thước,và đã thả xuống 2 trái bom vào dinh Độc Lập, và sau đó quay trở lại lần thứ hai bắn xuống hai trái hỏa tiễn và vài tràng đại bác 20 ly. Ông Thiệu nói tiếp:
” Có một số người nào đó muốn đe dọa tôi bằng võ lực để ép buộc tôi phải ra đi, nhưng tôi sẽ không nhượng bộ đâu. Tôi sẽ tiếp tục làm việc như thường và tiếp tục dìu dắt quê hương. .”
Mọi người đều đồng ý – một lần không phải là thói quen – nói là Tổng Thống Thiệu đã có phản ứng thật nhanh và rất hay. Nhưng liệu ông có thể giữ yên lặng được không? Vào lúc 4 giờ chiều, đường phố lại nhộn nhịp trở lại, các hiệu buông cuốn rèm lên lại. Sự lưu thông lại có quyền trở nên hỗn loạn như cũ.
Tôi gọi điện thoại đến đại tá Xuân, ở Sở An Ninh, một người bạn cũ trên 20 năm mà tôi đã biết ở Bắc Việt, lúc ông làm ở Phòng Nhì. Ông hẹn gặp tôi ở khách sạn Caravelle vào lúc 5 giờ chiều.
“Với ông ta chắc chắn tôi sẽ biết được việc gì đã xảy ra.”
Trong khi chờ đợi, tôi sẽ đi bách bộ một vòng lên Dinh Độc Lập từ đường Pellerin đi lên.
Trước rạp chiếu bóng Casino, người ta đang xếp hàng mua vé vào xem xuất 17 giờ. Rạp đang quảng cáo ba bộ phim “Công Phu”. Các em bán báo đang trải ra trên sạp những tờ báo buổi chiếu vừa mới in xong.. Ở đường Lê Lợi những người bán hòm rương và va ly đang trúng mánh. Xa hơn một chút, tôi di dọc theo Thư Viện Quốc Gia rất đẹp, được xây cất trên nền cũ của Khám Lớn khi xưa, nơi đã từng giam giữ hằng ngàn tù cách mạng và phần đông là các lãnh tụ thuộc Chánh Trị Bộ hiện thời ở Hà Nội. Trong huê viên trước đó có nhiều toán sinh viên đang cãi nhau ồn ào hay kêu gọi đùa giởn với nhau.
Đại lộ Norodom uy nghiêm rộng lớn nay được gọi là đại lộ Thống Nhất, thẳng tắp từ Vườn Bách Thảo đến Dinh Độc Lập, bây giờ gần như hoang vắng. Các cuộn kẽm gai được căng ra làm nút chặn ở các ngả tư đường bây giờ đã được xếp lại và mang đi, nhưng Quân Cảnh vẫn còn tiếp tục canh tuần.
Không thể nào đi đến gần Dinh Độc Lập được . Cổng chánh của Dinh vẫn còn nguyên vẹn, và không thấy có một dấu vết nào của hành động dội bom hay bắn phá ban sáng.
Dinh Độc Lập, nơi Tổng Thống Thiệu ở và làm việc, có một lịch sử dài và thơ mộng. Được xây cất vào năm 1868, tòa nhà nầy khi xưa có tên gọi là Dinh Đô Đốc hay Dinh Norodom. Lúc bấy giờ đây là một công thự huy hoàng diễm lệ, (xây cất theo kiểu môt chiếc bánh sinh nhật) chung quanh có rào chấn song bằng đồng trên có mạ vàng, những bãi cỏ xanh với đường đi bên trong trải cát đỏ, và một nhà bát giác với nóc cao nhọn. Ngay ở cổng chánh có lính gác đội nón kiểu lính thú trên đỉnh có chóp nhọn bằng đồng sáng chói và đeo găng tay trắng lưu truyền lối văn hóa thuộc địa. Nơi đây các vị toàn quyền có những buổi tiếp tân rất ngạo nghễ, huê viên được thắp sáng lên, có các dàn nhạc vĩ cầm, với những bộ đồng phục lòe lẹt, những bộ lễ phục trắng , các bà các cô thì mặc áo hở ngực hở vai trang điểm diễm lệ như đi dạ hội ở Ba Lê vậy.
Người được ở tại dinh Norodom có nghĩa là người đó là chủ nhân của đất nước nầy. Tướng ÉLy, vị Cao Ủy người Pháp sau cùng ở Đông Dương đã trao cho Chánh Phủ Việt Nam biểu tượng cuối cùng nầy của chánh quyền thuộc địa ngày 7 tháng 9 năm 1954.
Sau khi chánh thể Cộng Hòa được công bố, thì dinh Norodom được đổi danh xưng thành Dinh Độc Lập.
Ngày 27 tháng 2 năm 1962, 2 sĩ quan phi công Việt Nam thề sẽ hạ sát Tổng Thống Diệm nên đã lái 2 chiếc phi cơ dội bom sập nát dinh thự cổ kính nầy. Dĩ nhiên như một phép lạ, Tổng Thống Diệm vẫn không hề hấn gì. Nhưng tòa nhà thuộc địa cổ nầy bị hư hại gần như sập hết, nên Chánh Phủ đã quyết định xây lại một dinh thự mới. Lần nầy nhiệm vụ xây cất được giao cho một kiến trúc sư Việt Nam trẻ, từng được “giải thưởng Roma”, đó là ông Ngô viết Thụ. Để gây quỹ cho công tác xây cất mới nầy, Chánh Phủ mở một “chiến dịch quyên góp”. Mỗi công chức, mỗi người binh sĩ của Miền Nam Việt Nam đều đóng góp một ngày lương vào quỹ xây cất. Các doanh nhân thì ký cho nhiều chi phiếu khá lớn, sinh viên học sinh thì tùy theo túi tiền của mình mà đóng góp, và những người nghèo cũng tùy theo mà bỏ tiền vào toán đi quyên góp do Bộ Công Chánh phái đi.

Kiến trúc sư Ngô viết Thụ từ chối không nhận tiền thù lao cho bản vẽ, và các kỹ sư, chuyên viên của quân đội bắt tay vào việc, công trường làm việc 24 trên 24 giờ kéo dài hơn 10 tháng. Cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, và cái chết của Tổng Thống Diệm và người em của ông làm ngưng trệ công trường suốt trong 6 tháng dài. Sau đó công trường được mở lại, nhưng phải mất 3 năm nữa mới xây dựng xong Dinh thự mới, được tướng Nguyễn cao Kỳ long trọng khai trương ngày 30 tháng 10 năm 1966. Công trình đã phải tốn đến 1 triệu 500 ngàn mỹ kim (7 triệu quan Pháp). Dinh Độc Lập được xây bằng xi măng cốt sắt, cẩn toàn đá hoa cẩm thạch, cửa kính màu xanh da trời, có 3 mặt phẳng nằm ngang và song song, (kiến trúc theo lối chữ Việt Nam tượng trưng cho nền dân chủ). Tất cả đặt ngay trung tâm của một công viên được vẽ rất cẩn thận và rất tráng lệ.
Giờ đây dinh thự rất duyên dáng nầy được binh sĩ Dù vây quanh canh gác, đạn và lựu đạn mang đầy ngườI, ẩn mình phía sau rào chấn song sắt nặng nề, biến dinh thự thành một pháo đài. Tòa nhà bát giác trước kia dùng làm nơi chơi nhạc, nay đã biến thành một pháo đài chống chiến xa. Nhiều pháo đội phòng không được ngụy trang dưới các tàng cây trong hoa viên, và 3 chiếc trực thăng trang bị liên thanh đang đậu trên bãi cỏ. Cổng chánh được khóa chặt. Quan khách phải trình diện ở “cổng công vụ” , cổng nầy dẫn đến các nhà đậu xe, nằm gần Tòa Án. Mỗi xe đều phải qua sự khám xét của binh sĩ. Họ đưa xuống gầm xe một tấm kiếng để xét kỹ là không có một bánh thuốc nổ nào được gắn vào sườn xe . Sau đó quan khách đi qua một cái rào chắn được quay bằng tay để chạy đến chỗ đậu xe. Dưới chân cầu thang lớn đã có một sĩ quan tùy viên tiếp đón và dẫn khách đến phòng tiếp tân, nơi đây có ghế dựa màu đỏ và tủ cẩn xa cừ, có một cặp ngà voi lộng lẫy.. Ở về phía cuối phòng có một cánh cửa, ăn thông vào phòng làm việc của Tổng Thống Thiệu, một gian phòng rất rộng , ngay giữa phòng có một lá quốc kỳ VNCH to lớn. được căng từ trên trần xuống tận sàn nhà. Ở hai đầu bàn làm việc, có những chân quỳ trên để các máy truyền tin và các hệ thống thông âm nội bộ, dùng như các trạm tiếp vận truyền tin giúp cho Tổng Thống có thể liên lạc thẳng với các tổng bộ trưởng hay các tư lệnh Vùng, Cảnh sát trưởng hay các tỉnh trưởng bất cứ lúc nào cũng được Trước cửa và trong hành lang dọc theo phòng làm việc nấy luôn luôn có hai người cận vệ lực lưỡng, mặc quần áo xám, giỏi võ và thiện xạ, được tuyển lựa trong lực lượng người nhái hay biệt động quân. Hai người nầy nằm trong một nhóm 8 người cận vệ của Tổng Thống được huấn luyện đặc biệt. Các anh lực sĩ nầy có gương mặt rất bình thường, nhưng có đôi tay cứng rắn, và dưới lớp áo ngoài lúc nào cũng có khẩu súng lục đeo ở nịt, Họ liên lạc với nhau bằng máy truyền tin cầm tay và canh giữ Tổng Thống ngày lẫn đêm.
Tổng Thống Thiệu nhỏ người nhưng có một thái độ gần như lạnh lùng, cô đơn và bướng bỉnh, tự giam mình trong Dinh giống như một thuyền trưởng của chiếc tàu lặn của người Đức lúc nào cũng ở bên tay lái và từ khước không chịu nổi lên mặt nước để đầu hàng.
Mặc dầu bị chính phi cơ của mình dội bom, hay bị các tướng lãnh của mình đe dọa, không ai có thể nói được hôm nay con người của ông đang nghĩ gì, một con người miền Trung rất bí mật và cứng đầu đã đọc một bài diễn văn thao thao như nước chảy ở đài truyền thanh và truyền hình, nhưng không bao giờ tiết lộ tâm sự của mình trong chỗ riêng tư.Ở phòng trà Givral, một người Việt Nam ốm gầy, có đôi mắt ti hí, có bộ râu rậm trên cằm, đang giải thích cho một số thanh niên đang bu quanh ông ta về những điều bậy bạ của ông Thiệu. Tất cả đều do ông kể hết, từ chuyện thâm cung bí sử đến chuyện bán quyền bán tước, từ chuyện giãi phẩu thẩm mỹ của bà Thiệu đến chuyện buôn lậu hột xoàn..
Ông ta vừa cười khẩy vừa nhổ mấy sợi râu trên càm vừa nói :
– ” Thiệu đã trở thành một người điên như Hit Le trong hầm trú ẩn của ông ta vào những ngày cuối cùng ở Bá Linh vậy .Ông ta điều động các sư đoàn ma của ông và tin tưởng là ông có thể thắng trận vì người Mỹ sẽ gởi phi cơ và vũ khí bí mật đến cho ông ta. Sự điên rồ của ông ta là hậu quả của những ám ảnh về sinh lý của ông. Ông ta đã hoang phí thì giờ với các cô gái 14, 15 tuổi mà thuộc hạ đã dẫn nộp cho ông ta.”
Tôi cố quan sát con người hùng biện nầy. Ông là một người thuộc giới báo chí, gốc người Miền Bắc,từng bị thất bại trong cách mạng, là một người đã từng hợp tác có giá trị đối với Nhật trong cuộc săn đuổi cộng sản lẫn kháng chiến Pháp , sau đó ông đã phục vụ rồi lại phản bội liên tục các chánh quyền và các tư lệnh cảnh sát thuộc Chánh Phủ Việt Nam . Anh ta có một biệt danh là “Cao Giao” và đã làm việc lâu năm với tờ New Week. Đây là một người hay lục lạo tỉ mỉ nhất vào các “bãi phân thối” mà tôi biết được ở Sài Gòn.
Khách sạn Caravelle nằm bên cạnh Quốc Hội, trước kia có tên là Khách sạn của Nhà Hát Tây, bởi vì tòa nhà có vòm tròn hiện đang dùng làm Trụ sở cho Quốc Hội trước kia là Nhà Hát Tây của thành phố Sài Gòn dưới thời Pháp thuộc. Trước kia Cha Lecca là chủ khách sạn nầy; ông ta là một cựu thượng sĩ thuộc quân đội Pháp bụng phệ và chột mắt đã đổi sang nghề bán nước giải khát. Những nhà hàng hải và các tay ma cô người “Cọt sờ” chuyên buôn lậu vàng và mỹ kim thường đóng đô ở đây, uống rượu a-nis của Miền Nam nước Pháp do họ tự mang tới trong những hộp bánh bít quy có hàn chì cẩn thận, hết chầu nầy đến chầu khác. Cô thâu ngân viên là một cô gái lai Tầu, khoảng 20 tuổi, rất đẹp và lả lơi khiến cho mọi người đều phải dán mắt nhìn cô. Một ngày nào đó Cha Leccia về nước và bán khách sạn lại cho Tòa Giám Mục Sài Gòn. Vị quản lý giáo xứ nầy biến cải khách sạn của những người vô lại nầy thành một “khách sạn hạng sang”. Ông cơi thêm 8 tầng lầu, sân thượng ở tầng chót là một nhà hàng lộ thiên. Trang trí bằng cẩm thạch Đài Loan, gổ dát từ Phi luật Tân, cây xanh, sơn mài Thành Lễ, nhơn viên được tuyển lựa cẩn thận và quản lý là người Pháp, khách sạn Caravelle đã nhanh chóng trở thành một cơ sở đẹp nhất của thành phố. Suốt chiều dài của cuộc chiến, khách sạn không có phòng trống bao giờ: sĩ quan, dân biểu, nhà báo, các nhà kinh doanh, thường chia nhau các phòng có đầy đủ tiện nghi. Sau người Mỹ lại đến lượt các kỹ nghệ gia Nhật và các nhà thầu Đại Hàn.
Bây giờ, sau chuyện tán loạn ở Cao Nguyên, thảm kịch ở Đà Nẵng và cuộc chiến đang đến gần thủ đô Sài Gòn , các nhà báo lại tràn ngập khách sạn. Phòng khách đầy những tay săn hình, trang bị máy thâu hình lớn và nặng nề, vai lại mang máy ảnh và ống kính dài như những ống phóng lựu.
Đại tá Xuân đợi tôi ở quầy rượu. Ông ta cười, nụ cười của ông kéo dài làm lộ những nét nhăn từ mắt đến tận mang tai.
Chúng tôi đã sống với nhau trong hai năm sau cùng của cuộc chiến Pháp Việt ở Miền Bắc và những ngày cuối cùng ở Hải Phòng. Lúc nào tôi cũng thấy ông cườI, ngay những lúc chúng tôi đang bị đạn bách kích pháo nện vào lúc chúng tôi đang nằm trong các hố cá nhân đầy bùn sình ở Suối Tre. Tôi không bao giờ thấy ông ta hốt hoảng và cũng không thấy ông to tiếng bao giờ. Ông nói năng nhỏ nhẹ, chẫm rãi, hay tìm dùng đúng danh từ, và luôn chú ý giữ đúng cú pháp. Trong văn phòng của ông ở cổ thành Hà NộI, ông đã viết rất cẩn thận bằng cọ lông một câu rất có ý nghĩa xây dựng: “Nếu anh biết thì hãy nói cho những người hiểu biết. Nếu anh không biết, thì hãy im lặng và cố lắng nghe. Và có lắng nghe thì anh sẽ biết.”
Ông ta nói với một giọng bình tĩnh nhưng có chút ngập ngừng.
– ” Chào anh Pierre, Cuối cùng rồi Anh cũng đã tìm lại được đúng đường rồi đó .
– Việc gì đã xảy ra hồi sáng nầy vậy anh Xuân? Ở ngoài phố người ta thuật lại là Mỹ đã dàn dựng cú nầy để thanh toán ông Thiệu. Họ còn nói là phi công đã đáp xuống sân bay Udorn của Mỹ và đã được chấp thuận cho tỵ nạn tại Thái Lan.
– Người ta không biết gì hết. Người phi công đã dội bom xuống Dinh Độc Lập tên là Nguyễn thành Trung. Đó là một anh trung úy trẻ mới có 26 tuổI, người Miền Bắc, đã có một vợ và 2 con. Anh ta đã hành động theo sáng kiến riêng của mình, vì quá giận và chán ngán khi thấy các tướng lãnh và Tổng Thống đã bỏ hết tỉnh nầy đến tỉnh khác mà không có một trận chiến nào. Anh ta cũng buồn và thất vọng vì vợ con anh ta không thể rời khỏi Đà Nẵng được và còn bị kẹt trong vùng kiểm soát của cộng sản.
– Sáng sớm hôm nay, vào khoảng trước 8 giờ có hai phản lực phóng pháo cơ đã cất cánh từ phi trường Biên Hòa, cách Sài Gòn 30 cây số. Họ có nhiệm vụ đánh bom vào một mục tiêu địch ở phía trên tiểu khu Phan Rang, dọc theo bờ biển. Một lúc sau dó trung úy Trung báo cáo là phi cơ anh bị trục trặc kỹ thuật không thể tiếp tục bay được. Hai mươi phút sau anh ta nhắm vào Dinh Độc Lập đâm thẳng xuống. Tất cả đều diễn tiến rất nhanh chóng. Pháo đội phòng không ở Dinh Độc Lập không có thì giờ để mà kịp phản ứng. Một trong hai trái bom của anh ta đã làm mẻ một góc cầu thang sau của Dinh và làm vở hết các cửa kiến của tầng trệt. Trái bom thứ hai rơi xuống hoa viên không gây một thiệt hại nào. Sau đó anh ta còn bắn hai trái hỏa tiển làm thủng nóc nhà để xe, và có bắn đại bác 29 ly xuống bải cỏ, gây 2 tử thương và 5 bị thương nặng. Có trên 40 người bị mảnh kiếng làm trầy da..Dù gì đi nữa, nếu anh ta có đánh trúng ngay Dinh đi nữa thì anh cũng không thể nào giết Tổng Thống được . Nóc dinh mới cất nầy dày đến mấy thước bê tông, và phải qua cả 4 tầng lầu từ nóc dinh mới xuống tới phòng của Tổng Thống được.
– Còn chuyện đáp xuống sân bay ở Thái Lan?
– Một sự bịa đặt hoàn toàn! Trưa nay hồi 15 giờ, đài Hà Nội đã cho ra một thông cáo xác nhận là trung úy Trung đã đến vùng giải phóng Đà Nẵng với phóng pháo cơ của anh ta. Tổng trưởng Quốc Phòng của cái gọi là Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam đã gắn huy chương yêu nước hạng 2 và đã thăng cấp Đại úy của quân đội Giải Phóng Miền Nam Việt Nam cho anh ta. Điều nầy chứng minh rõ ràng là mấy anh “mũi lõ” không có gì dính dáng đến việc nầy. Tùy viên quân sự Hoa Kỳ rất tức giận vì đây là chiếc phản lực phóng pháo cơ F.5.E. đầu tiên đã rơi nguyên vẹn vào tay cộng sản. Đây là một phóng pháo cơ chiến thuật vừa ngăn chặn vừa yểm trợ, tốc độ bay nhanh (mach 1,6), dễ điều khiển, được trang bị vũ khí rất mạnh và toàn bộ bằng điện tử (máy dò tìm mục tiêu loại nhỏ, tác xạ bằng máy điện toán, máy chụp ảnh bằng hồng ngoại tuyến). Loại phi cơ nầy chỉ mới được mang ra xử dụng cách đây không quá 18 tháng…

Buổi điểm danh cuối cùng

hung-viet.org

Huy Phương

Post on 7 Jul 2016

Post by Sơn râu 31 Mar 2024

(Hình minh họa: David McNew/Getty Images)

Ngày mới bước chân đến Mỹ, với tuổi mới trên 50, lo chuyện dựng vợ gả chồng cho con cái, tham gia niềm vui của con cháu mình và con cháu bạn bè, tháng nào chúng tôi cũng phải tham dự một hai tiệc cưới. Bây giờ suýt soát tuổi 80, sắp lên chức “cố,” cả năm không còn khăn áo chỉnh tề, lên xe “phó hội” ký tên vào sổ vàng, tươi cười đóng hụi chết, mà áo trắng, cà vạt đen, mặt mày buồn thảm đi viếng tang cũng khá nhiều.

Bạn bè, đơn vị cũ, một thời chinh chiến hay là long nhong thời thơ ấu, ông thì nằm trong nhà hưu dưỡng đã hơn năm, ông thì đi gậy chống, walker hay ngồi xe lăn, ông thì đã thành tro bụi chứa trong cái hũ có khắc tên để trên chùa, hay ra nằm ngoài nghĩa địa với bia mộ đề tên!

Bây giờ không còn vào nhà hộ sinh để thăm cháu ra đời, hay chúc mừng hôn lễ của ai nữa, mà toàn đi nhà dưỡng lão, bệnh viện hay tang nghi quán! Có người bạn mới gặp ở quán cà phê, tươi vui, yêu đời, vài hôm sau vừa nghe tin đột quỵ. Sau một vài tuần ở bệnh viện và trung tâm phục hồi trở về, bây giờ không còn nói được, tay chân lẩy bẩy, gặp nhau, ứa nước mắt, mà không khóc, sợ bạn buồn nản chí.

Trong nhà hưu dưỡng, đi thăm một người bạn khác, gặp một người bạn biến chứng tiểu đường, mắt đã mù, nằm ở đây đã bốn năm, còn nhớ tiếng nói của bạn mà mừng, nhưng không còn trông thấy nhau nữa. Rồi có người mang ống dẫn tiểu, có người mang tã, có người sống nhờ thức ăn chuyền thẳng vào bao tử, mà phải sống không chối từ, không thể dễ dàng chọn cái chết dù muốn chết.

Tôi cũng biết có trường hợp, anh nằm đây đã trên 10 năm, sau lần “tai biến.” Anh mở lớn đôi mắt nhìn tôi, anh nhớ tôi hay không, tôi không rõ, đôi mắt đờ đẫn, mệt mỏi, đầy những chịu đựng. Lần nào vào thăm anh, tôi cũng thấy chị ngồi đó, theo anh suốt một cuộc hành trình dài lâu, mà vẫn như đi một mình. Nhan sắc chị đã tàn phai, thân gầy như xác ve, sức tàn, lực kiệt. Chỉ sợ một ngày nào đó, chị ra đi, bỏ anh lại cho ai? Rồi một ngày, nghe tin anh mất, buồn, nhưng mừng cho chị, từ nay được giải thoát.

Nhưng chỉ ít lâu sau thôi, nghe tin chị cũng theo anh. Chút dầu còn lại trong cây đèn nhỏ đã cạn!

Tuần rồi vào bệnh viện thăm một thằng bạn thời niên thiếu, cái thuở bạn bè mùa Hè nào cũng rong chơi, tinh nghịch mà vô tư, có đêm ngủ lại nhà nhau, mà bây giờ nó nằm đó, hôn mê. Cũng một thời hạnh phúc, cũng một thời đau khổ, cũng vật vã trong chiến tranh, cũng tủi nhục trong tù đày, giờ này đâu còn gì vui buồn mang theo nữa. Thôi ra đi bình yên!

Những người lính cũ dự định tổ chức họp khóa, thời còn sung mãn, một năm một lần, bây giờ ba năm chưa muốn gọi nhau. Ngày trước tập họp vài ba trăm có dư, nay là vài ba chục cũng khó kiếm. Trong điện thoại, ở xa, có bạn nói thều thào không ra hơi, có anh điếc ù phải đeo máy, có người kêu than đau chân đi không nổi, thì làm sao mà họp khóa, điểm danh với anh em được. Ở gần thì đau mắt, không lái xe được, cũng có nhớ bạn thương bè, nhưng sức đã tàn, lực đã kiệt, cũng chẳng còn vui thú gì những lúc gặp gỡ anh em. Thôi đành một tiếng “xin lỗi” là xong!

Trước đó, thăm một anh bạn cùng khóa nhà binh, tuy già yếu, đau ốm trên giường bệnh, nhưng thấy còn lạc quan vui tươi: “Thế nào tháng sau, họp khóa, tôi cũng đến! Lâu quá không gặp anh em!” Lời hứa vui vẻ ấy không ngờ không bao giờ thực hiện được. Chúng tôi “họp khóa” năm ba thằng với anh tại nhà quàn trong ngày tiễn đưa. Rõ ràng là anh có hẹn với chúng tôi là anh sẽ đến, nhưng ở một nơi khác.

Hôm nay họp khóa, chị đã trở thành bà quả phụ, nhận bó hoa từ anh em, nhắc lại như một lời chia buồn. Lần “điểm danh” này, vắng mặt quá nhiều anh em, trong đó có anh. Vắng mặt có lý do – Miễn tố!

Quân số hôm nay đã hao hụt nhiều, phần lớn bất khiển dụng, hoặc được xếp loại 2, nhưng không bao giờ được bổ sung! Chắc các bạn còn nhớ giờ điểm danh cuối cùng, hay là buổi chào cờ cuối cùng trong đơn vị vào cái Tháng Tư nghiệt ngã của đất nước, rồi anh em, mỗi người một nơi. Có anh em may mắn trôi giạt, sống sót đến xứ người, có người thất thân lâm cảnh tù đày. Đã có bao người chết trong trại tù hung hãn, bao nhiêu người chìm sâu xuống đáy biển oan khiên.

Bây giờ quê người lận đận, mà vẫn có đồng đội, rỗi công đi tìm người thất tán, tái cấu trúc, hay tái bố trí, gọi là đồng môn cùng quân trường, là khóa học, là binh chủng, là đơn vị! Họ gặp nhau, già yếu hơn xưa, tóc đã bạc phơ, câu chuyện ngày cũ, nhớ nhớ, quên quên. Họ gặp nhau mà nước mắt lưng tròng. Nhưng những lần tập họp thưa thớt dần, xa dần, mệt mỏi dần trong ngày tháng phai tàn.

Không phải là một lời nói bi quan, đây có thể là lần điểm danh cuối cùng. Ở tuổi ngoài bảy mươi, cuộc đời còn lại chỉ có thể tính bằng giờ. Nhiều đồng đội đã bỏ anh em đi xa, nhiều người đã không đến. Con số người mất cũng lớn bằng người còn. Răng, tóc, trí nhớ cùng với bạn bè đã bỏ chúng ta ra đi biền biệt.

Tướng MacArthur đã để lại một câu nói để đời: “Old soldiers never die; they just fade away” (Người lính già không chết; họ chỉ phai nhạt dần đi).

Tôi thích và yêu kính những người lính chết trận. Tôi không thích những người lính sống cũng như chết, sống như cái bóng ma. Phải có sự khác biệt của một người lính hy sinh trên chiến địa ngày xưa và một người lính cũ chết trong nhà dưỡng lão. Không thể coi họ như nhau.

Sống mà phai nhạt dần, cho đến một ngày nào đó, không ai còn nhớ đến mình nữa, thì cuộc đời này buồn biết mấy! Mà thôi, chuyện gì rồi cũng qua, cái gì rồi cũng đến!

Huy Phương
Nguồn Người Việt



Anh hùng và phản bội

Huy Phương

Post by Sơn râu 31 Mar 2024

“Anh hùng có sá chi thua được,
Tiết nghĩa nào phai với đất trời.”
(Thủ Khoa Huân)

Chúng ta đã biết một nước Nhật anh hùng, người Nhật có trách nhiệm với quần chúng và Tổ quốc.
Trong chính quyền, các viên chức gây ra sự tổn thất hay tai nạn trong phần trách nhiệm của mình đều tự xử bằng cách nhận lỗi và từ chức.
Những Sĩ quan Nhật lúc sa cơ thất trận biết chọn cái chết cho mình để tròn khí tiết. Trận Okinawa với Quân đội Mỹ kéo dài 82 ngày, kết thúc vào tháng 6, 1945, trong những giờ phút cuối cùng biết không giữ nổi đất đai của Tổ quốc, ngày 15 tháng 6, trong một hang động lớn, Đại Tá Kanayama, Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 27 BB tập hợp 102 người còn lại của Trung đoàn. Ông ta làm lễ đốt Quân kỳ Trung đoàn và nói:
– “Trong ba tháng vừa qua, anh em đã cùng tôi chiến đấu. Lòng dũng cảm, chí hy sinh, sức chịu đựng của anh em, lịch sử sẽ khắc sâu. Nay tôi nói lời cám ơn anh em đã phục vụ quên mình. Giờ đây, tôi tuyên bố giải thể Trung đoàn. Từ nay trở đi, anh em không còn bị ràng buộc, tôi lãnh trách nhiệm về việc này. Riêng tôi, tôi sẽ vĩnh viễn ở lại đây. Nhưng tôi cấm anh em theo tôi. Ra lệnh cho anh em phải sống để kể lại cho hậu thế biết Quân đội Nhật Bản đã anh dũng chiến đấu như thế nào ở Okinawa.”
Đoạn Đại Tá Kanayama rút gươm mổ bụng. Đại Úy Sato chặt đầu người chỉ huy theo đúng nghi thức rồi hô to TennMheika banzai! (Thiên Hoàng vạn tuế), dứt tiếng hô, ông chĩa súng lục vào đầu bóp cò tự sát.
Cũng trong ngày 21 tháng 6, trong Chỉ huy sở của mình tại Mabumi, Tướng Ushijima và mọi người đều hớt tóc, cạo râu. Sau đó ông viết thư trình lên Thiên Hoàng Hiro Hito báo cáo về tình hình chiến sự tại Okinawa và tạ tội không giữ được đảo. Thư được điện về Bộ Tổng Tham Mưu Quân đội Hoàng Gia tại Tokyo. Cuối cùng, ông nói với Đại Tá Yahara:
– “Đại Tá Yahara, ông cũng như tôi lẽ ra phải tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhã, nhưng Tư lệnh của ông ra lệnh cho ông phải chịu cái nhục này.”
Yahara do đó là Sĩ quan cao cấp bên phía Nhật sống sót sau trận đánh và về sau ông đã cho xuất bản cuốn sách mang tựa đề “Trận Đánh Vì Okinawa.”
Chiều ngày 22 tháng 6, Tướng Ushijima và Tướng Cho quỳ gối hướng về phía Bắc (hướng Hoàng Cung) vái ba vái và tiến hành lễ tự sát. Tướng Cho đưa cổ cho Đại Úy Sakaguchi chém đầu. Tướng Ushi-jima lấy gươm tự mổ bụng, tiếp theo đó bảy Sĩ quan tham mưu cùng tự sát. Ngày 2 tháng 7, trận Okinawa chính thức chấm dứt.
Hai tháng sau trận Okinawa, trong giai đoạn cuối cùng của Đệ II Thế Chiến, Mỹ đã thả hai quả bom nguyên tử xuống hai thành phố Hiroshima and Nagasaki của Nhật Bản, sáu ngày sau, 15 tháng 8, 1945, Nhật Hoàng mới dứt khoát chấp nhận Tuyên ngôn Potsdam, đồng ý đầu hàng. Biết tin này, một số Sĩ quan trẻ trong Quân đội Nhật định làm đảo chính, định tiêu diệt phái chủ hàng và buộc nhà vua chấp nhận quyết chiến đến cùng. Nhưng cuộc đảo chính đã không xẩy ra, khi lệnh đầu hàng ban ra, nhiều Tướng lĩnh và Sĩ quan đã tự sát, trong đó có Bộ Trưởng Lục Quân Anami, Đại Tướng cựu Tổng Tham Mưu Trưởng Sugiyama, Đại Tướng Tư Lệnh miền Đông Tanaka…
Vào tháng 4 năm 1975, khi Quân đội Cộng Sản đang trên đường tiến vào Nam Vang, người Mỹ đã mời Thủ Tướng Sirik Matak và toàn bộ Chính phủ Miên nên ra đi, vì ở lại thì sẽ bị Khờ Me Đỏ sát hại. Ngày 16 tháng 4 năm 1975, Thủ Tướng Sirik Matak đã viết một lá thơ vô cùng cảm động gởi cho Đại sứ Mỹ tại Nam Vang là ông John Gunther Dean. Lá thư đầy nghĩa khí và tiết tháo của một người anh hùng “Sinh vi tướng, Tử vi thần,” nhưng cũng đầy cay đắng như sau:
Tôi chân thành cám ơn lá thư của quý ông, và ngỏ lời đưa tôi đến bến bờ tự do. Tôi thì không thể rời bỏ nơi này một cách hèn nhát đến thế. Đối với quý ông và nhất là đối với đất nước nhân hậu này, tôi chưa hề tin rằng quý ông có ý nghĩ từ bỏ một dân tộc muốn tìm chọn tự do. Quý ông đã từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi đành bó tay. Quý ông đã rời bỏ chúng tôi, chúng tôi thật lòng ao ước quý ông và quý quốc sẽ tìm thấy hạnh phúc dưới bầu trời này. Nhưng hãy nhớ rõ điều này, nếu tôi có chết ngay bây giờ, trên mảnh đất mà tôi yêu mến, thì cũng chỉ vì mọi người sinh ra rồi sẽ có ngày trở về cát bụi. Tôi chỉ có một lỗi lầm là đã tin vào người Mỹ các ông.
Xin ngài, người bạn quý, nhận nơi đây lòng biết ơn chân thành của tôi.”
(Hoàng Tử Sirik Matak)
Khi Khờ Me Đỏ vào toàn bộ chính phủ Miên đều bị giết, riêng gia đình ông Sirik Matak, từ con cháu đến các người giúp việc trong nhà ông đều bị Khmer Đỏ sát hại.

Trong những ngày cuối cùng của VNCH, trước khi người Mỹ quyết định bỏ mặc cho VNCH tự chiến đấu chống Cộng sản, Đại Sứ Martin của Hoa Kỳ đã chính thức gặp Tổng Thống Trần Văn Hương và mời Tổng thống rời khỏi nước, đi đến bất cứ xứ nào, ngày giờ nào với phương tiện nào, cũng như hứa sẽ bảo đảm cho tổng thống một đời sống xứng đáng với cương vị Tổng thống cho đến ngày trăm tuổi.
Tổng Thống Trần Văn Hương đã trả lời : “Thưa ông Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi bỏ nước ra đi, tôi rất cám ơn ông. Nhưng tôi đã suy nghĩ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết Cộng Sản vào được Saigon, bao nhiêu đau khổ nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.”
Ngày 30 tháng 4, 1975, Saigon thất thủ sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng quân Bắc Việt, Quân Đội Việt Nam chúng ta không thiếu anh hùng: bốn Tướng lãnh VNCH đã tự sát, đó là Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh Vùng 2 Chiến Thuật, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Vùng 4 Chiến Thuật, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh SĐ 21 BB, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh SĐ5BB. Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã dùng độc dược, và ba Tướng lãnh sau dùng súng ngay tại Bộ Chỉ Huy của mình.

Đại Tá Hồ ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng. Đại Tá Cẩn đã bị quân Cộng sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ.
Cũng như Đại Tá Kana-yama, Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 27 BB của trận Okinawa, Tướng Vỹ của Bình Dương đã triệu tập một phiên họp bất thường, thật ngắn ngủi, để giải thích cho mọi người rõ lệnh đầu hàng. Ông nói : “Lệnh bắt chúng ta buông súng bàn giao cho địch, nói thẳng ra là đầu hàng… Vì tôi là một Tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành được lệnh này. Tôi nghĩ thân làm Tướng là phần nào đã hưởng vinh dự và ân huệ của Quốc Gia hơn các anh em, nên tôi phải chọn lấy con đường đi riêng cho tôi.”
Cảm thấy nỗi nhục thất trận, không phải chỉ hàng Tướng lãnh, cấp Tá như Trung Tá CSQG Nguyễn Văn Long, đã tự bắn vào đầu, chết dưới chân tượng TQLC trước Quốc Hội, Trung Tá Trần Đình Chi, An Ninh Quân Đội đã tự sát tại văn phòng ông ở Biên Hòa. Một Hạ sĩ quan Quân Cảnh đã kết liễu đời binh nghiệp của mình tại Biệt Khu Thủ Đô, và nhiều binh sĩ Nhảy Dù đã choàng vai vây vòng tròn với nhau trên đường lui ở Ngã Ba Ông Tạ, cũng như những toán TQLC trên bãi biển Tư Hiền, với những quả lựu đạn mở chốt để cùng chết với nhau.
Quyết định chọn cái chết là khó, nhưng cái chết diễn ra rất nhanh, chọn sự sống là dễ, nhưng sự sống kéo dài làm người ta tủi nhục.
Trong khi đó ngày 7 tháng 5, 1954, Điện Biên Phủ thất thủ, Tướng chỉ huy De Castries đã ra đầu hàng, bị bắt làm tù binh và được trao trả sau Hiệp Định Genève. Ông rời Quân ngũ năm 1959 và qua đời năm 1991 tại Paris, Pháp. Ông có trở lại thăm chiến trường xưa nhưng không hề ca tụng kẻ thù. Trái lại Đại Tá Bigeard, bị bắt tại Điện Biên Phủ, sau 50 năm đã ca tụng kẻ thù và chê Quân đội Pháp. Tương tự như vậy, bên cạnh những hào kiệt đã tuẫn tiết, Quân đội chúng ta cũng có những mạt Tướng không chịu chết cho đời thương tiếc, mà sống để lại ô danh và tủi nhục cho đồng đội đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp, chạy về quị lụy ôm chân kẻ thù xưa. Bên cạnh những anh hùng, cũng có những kẻ phản bội.
Chúng ta liên tưởng đến hai câu thơ của Cụ Phan Bội Châu:
Dù lịch sử, cha ông thây kệ.
Nhục hay vinh họ kể gì đâu!
Người xưa đã nói : “Không lấy thành bại mà luận anh hùng.” Nếu hôm nay chúng ta mỗi năm đến ngày 30 tháng 4 còn ngẩng mặt nhìn đời được là nhờ hào quang của những người đã chết, rửa mặt cho miền Nam.
Còn chúng ta sống, kéo dài cuộc sống làm sao để cho khỏi hổ thẹn.
Huy Phương



Vỏ xe không hơi

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

Post on December 15th, 2023

Post by Sơn râu 31 Mar 2024

Hầu như ai trong chúng ta, đều biết, vỏ xe có cấu trúc cơ bản là một vòng cao su tròn chứa đầy không khí. Nói cách khác, đó là vỏ xe “khí nén” mà John Boyd Dunlop là người đã phát minh ra loại vỏ khí nén đầu tiên vào năm 1888 ở Ireland, đó, chỉ là sáng kiến nhằm giúp cậu con trai nhỏ của mình đi xe đạp êm ái hơn trên mặt đường gồ ghề.

Thử nghiệm vỏ xe không hơi trên xe 4×4. Nguồn. pinterest.co.uk

Giờ đây, chúng ta đang trên đà tiến tới bước thay đổi thiết kế kiểu xưa đó, nhiều công ty đang phát triển, và thử nghiệm vỏ xe “không có hơi”.

Những thử nghiệm

Hầu hết các nhà quan sát đều đồng ý rằng, Michelin đang tiến xa nhất trong cuộc đua, dùng “Vỏ xe không hơi” vào xe hơi để chạy trên cao tốc với “Hệ Thống Chống Thủng Vỏ Xe, (Unique Puncture proof Tire System, UPTIS) Công ty tuyên bố đây là “Giải pháp di chuyển với bánh xe không có không khí đầu tiên dành cho xe chở khách”. Vào năm 2019, Michelin và General Motors đã đưa ra thông báo về một thỏa thuận nghiên cứu chung với tư cách là đối tác đồng phát triển cho công nghệ mới, nêu rõ mục tiêu của họ là biến vỏ xe không hơi trở thành “Thực tế phổ biến” trên các phương tiện chở khách, sớm nhất là vào năm 2024. Không rõ, trận đại dịch và suy giảm về kinh tế có ảnh hưởng gì đến thời gian dự kiến đó hay không.

Bridgestone cũng đang tham gia vào lĩnh vực này, họ nhân cơ hội kỳ Thế vận hội Tokyo năm 2021 để trình diễn một số thiết kế vỏ xe AirFree trên xe tay ga và các phương tiện hạng nhẹ khác. Công ty cũng thừa nhận có những trở ngại với vỏ xe loại này, như tìm cách tránh bị kẹt các mảnh vụn trong hệ thống căm xe và đạt được trọng lượng phân bổ đều trên vỏ xe.

Goodyear cũng trong quá trình nghiên cứu này, và đã có bước nhảy vọt từ sản phẩm đầu tiên có mặt trên thị trường dành cho máy cắt cỏ và thử nghiệm trên xe điện đưa đón tự động, trên xe hơi thường. Chương trình 3 năm của Goodyear với nhà sản xuất xe chuyên dụng Local Motors đã khẳng định vị trí đầu trong ngành với việc phát triển bộ vỏ xe không hơi sử dụng cho phương tiện vận chuyển tự động trong thành phố với sự giám sát của Cơ quan Giao thông vận tải Jacksonville.

Thử nghiệm của GM. Nguồn. Motor Authority

Hankook đã trình làng một mẫu concept ngay từ năm 2013.

Mới đây, vào tháng 1, nhà sản xuất vỏ xe Nam Hàn đã giới thiệu phiên bản mới nhất của vỏ i-Flex không có không khí với sự hợp tác của Hyundai Motor Company.

Polaris đã cung cấp vỏ không hơi cho các loại xe địa hình của mình bắt đầu từ năm 2013, với vòng đệm do Resilient Technologies sản xuất.

Tuy nhiên, bất kỳ công ty nào hoạt động trong lĩnh vực này cũng phải đối mặt với sự chấp thuận của Bộ Giao thông vận tải Hoa Kỳ (U.S. Department of Transportation), điều này cho thấy, việc sử dụng phổ biến loại vỏ xe này có thể cần thêm vài năm nữa.

Chắc chắn, cấu trúc của vỏ có thể sẽ khác đi, và việc bảo trì vỏ xe sẽ ít hơn, tuổi thọ kéo dài của vỏ có thể dẫn đến việc giảm số lượng bị phế liệu và giảm được tổng lượng nguyên liệu thô và năng lượng cần thiết trong sản xuất vỏ xe. Đây là lý do tại sao các công nghệ vỏ xe không hơi đang phát triển mạnh.

Mẫu vỏ xe không hơi. Nguồn. www.amazon

Những trở ngại

Phát triển vỏ xe không hơi, không phải là một việc dễ dàng và đơn giản. Các công ty phải thiết kế, sản xuất, tìm các nguyên liệu hợp lý, đồng thời cân bằng giữa chi phí và độ bền.

Về hiệu suất, lý tưởng nhất, vỏ xe không hơi cần có khả năng chịu trọng tải cao, độ cứng thấp, bền lâu, độ cân bằng tốt, trọng lượng thấp, lực cản lăn thấp, ít bị xẹp, lắp ráp chính xác và chi phí thấp. Đó là một yêu cầu cao. Kể từ những năm 1800, không khí đã là thành phần được sử dụng trong vỏ xe để giúp chúng hoạt động hoàn hảo. Nếu không có không khí, vỏ xe không dùng hơi sẽ có cấu tạo vật liệu nhiều hơn và có thể dẫn đến tích tụ nhiệt.

Vỏ không hơi có thể sẽ biến dạng, không như vỏ xe hơi.

Thử nghiệm trên xe tải hạng nhẹ. Nguồn. wonderfulengineering.com

Các nhà sản xuất vỏ xe đang tìm giải pháp cho những vấn đề này, và yếu tố quan trọng nhất trong bất kỳ công nghệ mới nào là sự an toàn, đặc biệt khi tốc độ và tải trọng tăng lên.

Chris Helsel, giám đốc công nghệ của Goodyear, đã giải thích trong một bài phát biểu gần đây: “Đó là lý do tại sao bạn thấy được sự phát triển và các ứng dụng mà chúng tôi đang nghiên cứu. Vỏ xe không hơi bắt đầu thí nghiệm với một máy cắt cỏ tốc độ thấp, trọng tải thấp. Goodyear đã phát hành các video thử nghiệm trong những năm gần đây về các lần lặp lại không dùng vỏ xe khí nén trên những chiếc xe tốc độ cao, chẳng hạn như BMW 3-Series và Tesla Model 3, nhưng vẫn thừa nhận rằng loại vỏ xe không hơi của họ có thể sẽ chưa sẵn sàng lăn trên đường cho đến năm 2030”

Công nghệ vỏ xe không hơi có khả năng thay đổi cuộc chơi, một ngày nào đó loại vỏ mới này sẽ xuất hiện trên thị trường.

Thử nghiệm trên xe nhà. Nguồn. whichcar.com.au

HĐV

Theo Jim Davis

Vai trò của quân nhân

sangtao.org

Thơ Hồ Đình Nghiêm

Posted on 24/01/2017 

Post by Sơn râu 31 Mar 2024

Fusata Iida (1913-1941)

Ngày 7 tháng 12 trời đứng gió, biển lặng
Trung tá Fusata Iida phi công hải quân hoàng gia Nhật
điều khiển phi đội bay vào không phận Pearl Harbor
những chiếc Zero mang nhiệm vụ ném bom Trân Châu Cảng

Đạn phòng không thức muộn giục giã gọi
đan chéo vào bầu trời cày nát giấc ngủ mơ
Fusata nhào lộn giữa mắc lưới mũi tên đỏ
Zero nấc lên thân cắm bao vết thù

Quay trở lại không nao lòng bỏ cuộc
lái cột khói nhắm hầm địch thủ đâm vào
Thái dương thần nữ chừng bao trùm trận mạc
khói lửa nào thiêu huỷ được can trường

Kẻ bị tấn công, những người lính Mỹ
đã tự nguyện chôn cất lập mộ bia
đứng thế nghiêm tay chào Fusata Iida
Nhân danh những kẻ mặc quân phục
dù khác chiến tuyến
chúng tôi bày tỏ lòng ngưỡng mộ
sự quả cảm mà Trung Tá thể hiện
chiến đấu chẳng từ nan cho tổ quốc ông
phút này chúng ta không đứng
trên lằn ranh thù nghịch
ông đúng là vị anh hùng
là tấm gương sáng chúng tôi cần soi.

Có những cái chết không hề vô danh
tuỳ thuộc vào suy nghĩ người cầm súng
Sử sách chúng ta luôn ghi lại
tình yêu luôn vượt qua hận thù. (*)

Hồ Đình Nghiêm

(*) mượn ý của Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe phát biểu trong buổi tưởng niệm về trận đánh Trân Châu Cảng, 75 năm sau.

Và sầu ơi

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 31 Mar 2024

1. 

Hình như cả dãy phố, chỉ có căn nhà ấy quét vôi màu hồng.

 Trong tất cả những màu, hồng và đỏ là màu mà anh không bao giờ có cảm tình. Anh đi qua và về, một ngày có khi bốn năm bận trên con đường đó, vậy mà anh nào ngờ bên trong tường vôi chói lọi màu anh ghét lại là giang sơn riêng tư bí mật một cõi của Sầu.

 Mỗi người trong chúng ta, không ai cấm cản chuyện một kẻ có tới những hai ba tên gọi khác nhau. Anh khai sinh cho Hồng cái tên mà anh chắc là Hồng không thích. Đành vậy. Cũng như lúc nhỏ anh tên Cu. Bây giờ nhiều người vẫn quen miệng gọi thế. Ê, Cu, Cu… Anh chẳng ưa tên gọi kỳ cục như vậy, nhưng tuyệt đối anh không thấy có gì trở ngại để phải phật lòng. Cu là một động vật dễ thương, xét cho cùng. Dù cu vừa ra ràng hay cu đã đủ lông đủ cánh. Và Sầu, trời ơi, nghe cũng da diết lắm. Sầu ơi, anh xin chào em. Bonjour Tristesse…

 Anh không biết tuổi Sầu. Án chừng nhỏ thua anh bảy tám tuổi. Sầu học Đồng Khánh. Áo dài trắng, nón bài thơ và một vạt lưng đen tuyền màu tóc. Căn cước và “dấu vết dị hình” của Sầu anh chỉ biết có ngần ấy. Anh chẳng thể đạp xe đeo theo Sầu, bởi lẽ biết chọn lời gì thích hợp để nói? Anh ghét chữ tán gái vô hạn và anh luôn tin phút đầu xảy tới cho một đôi tình nhân phải là khoảnh khắc đẹp, đáng nhớ. Người này và người kia đều cảm thấy thế, gây ấn tượng tốt… Điều mà mấy vị quân sư ưa bàn luận: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

 Hôm nay anh cúp cua giờ cơ thể học có ông thầy chuyên mổ xác chết bên nhà thương qua dạy. Một người mà sinh hoạt lúc nào cũng kề cận bên những thây ma thì hẳn Sầu cũng mường tượng ra đôi phần. Ông ăn nói vô duyên tẻ nhạt và người ngợm thì chẳng khi nào ngó cho tươm tất, kể cả việc khi đi dạy thì ta nên tươm tất chút đỉnh, đại khái ta cũng có vét-tông cà-vạt như ai. Ông chịu khó nuôi trên thân thể một hương mùi quái lạ mà chẳng một ai có thể phân chất, tìm ra căn nguyên. Tết Mậu thân, anh đã từng ngửi mùi xác chết thối rữa ngập ngụa Thành nội. Mùi tử thi không giống mùi nồng nàn có trên thân thề vị giáo sư dạy môn học nản ơi là nản kia. Anh dong tay xin đi tiểu, lòn lách khỏi nhà ông cai, chạy băng qua đám tượng của ban điêu khắc đứng xiêu lạc đủ mọi dáng vẻ. Anh nhảy tường và lang thang bát phố. Anh vẫn hay có những cơn hứng bất tử như thế. Đi không chủ đích. Đi cho hết một buổi chiều. Đi với một đầu óc trống trơn, một cái túi quần nhẹ tiền sạch bạc. Ngang qua căn nhà quét vôi hồng, ma đưa lối qủi dẫn đường, cái đầu anh quay nghiêng như bị một lực hút vô tình. Đôi ta cùng nhìn thấy nhau, chỉ trong một sát na. Anh bước vào khung cửa hẹp. Tất cả đều hoang vu, như đôi ta là chứng nhân duy nhất còn sót lại sau cơn hồng thủy. Hoàng hôn đổ về trên con phố chưa sáng đèn. Chập choạng. Vị khuất mặt nào đã cho anh lòng can đảm? Một đứa đứng trên đôi chân run với một trái tim đập hoảng loạn sẽ chẳng bao giờ lập nên kỳ tích. Nó sẽ ngậm miệng hến và sau đó, cúi đầu bước đi trong muôn vàn tủi hồ. Anh khác, anh vào được vùng cấm địa, chẳng có bóng hậu vệ nào cả, anh vờn bóng và có tiếng còi, rất hoang đường, thổi lanh lãnh từ tâm anh, tuyên bố anh là kẻ thắng cuộc.

 2.

 Hình như anh quen Sầu đã gần một năm

 Anh có đọc ở đâu đó, như thể trích đoạn từ tuồng cải lương, đại loại: Khi yêu em anh tính từng tháng ngày. Anh hiểu tâm trạng cái ông viết nên câu ấy, nhưng anh thì không. Anh ghét tính toán, kể lể, so bì, cộng trừ nhân chia. Nói anh là đứa lỡ mắc bệnh đãng trí cũng được. Bởi thú thật, giờ này anh đã quên những gì đôi ta chuyện trò trong cái buổi chiều “định mệnh” kia. Chưa cổ xưa nhưng đã là quá vãng. Một năm, có thể vậy. Hai mùa mưa nắng đến và đi qua thành phố của chúng ta. Bước chân nó khi nản nề khi reo vui, khi ào ạt khi đằm thắm và hầu như nó chẳng để lại dấu tích gì lạ lẫm. Căn nhà Sầu vẫn mới màu vôi hồng, nhốt kín nhân dáng mà anh hồ nghi là hình bóng ấy tuồng như mỗi lúc một bí mật hành tung hơn. Nó khiến anh ốm o gầy mòn, buộc đứa khờ dại là anh chuyên cần ngồi viết những lá thư dài, tựa hồ đó là phương cách cuối cùng nhằm làm nguôi ngoai những nỗi buồn không lối thoát. Anh đi học, đứng trước người mẫu khỏa thân, đứng trước giá vẽ, anh từ chối làm bài, điền thế bằng cách vẽ chân dung Sầu theo trí nhớ. Anh cuộn tròn tờ giấy croquis, bức tranh màu nước và tan học, căn nhà vôi hồng là địa chỉ để dừng chân. Sầu không có mặt ở đấy cho anh nhờ. Một người đàn ông đón anh với tia nhìn khắc nghiệt nhất mà lần đầu anh trông thấy.

 – Tôi là Ba của Hồng. Cậu là ai?

 Mở miệng là đã nghe gay cấn, không khí chừng như nặng nề. Ông đặt tờ nhật báo Sóng Thần đang xem xuống bề mặt tủ kính. Anh tránh nhìn sự lãnh đạm có nhiều trên gương mặt không mấy giống Sầu. Những hàng chữ in lớn về các mặt trận bỏ ngõ trên cao nguyên, ngoài hướng bắc của thành phố đập vào mắt làm anh thêm nản lòng. Và anh xử sự như một đứa trẻ đang phạm nhiều lỗi lầm.

 – Thưa bác, bạn của Hồng nhờ chuyển tới Hồng món quà này.

 Ông đón lấy đứa con tinh thần của anh để thiếu đường bóp méo chân dung Sầu bằng những ngón tay của một thương gia quen đếm giấy bạc. Không xua đuổi, nhưng hiện ra ở đó là sự khước từ cái lân la nán ở của ai kia. Anh chào đấng phụ huynh cau có đầy quyền thế nọ để vô cớ giận lòng đi lang thang giết thêm một chiều hanh nắng quái. Thơ thẩn dọc theo bờ sông Hương, thất thần lên Thương-bạc, lạc hồn qua Phú-văn-lâu, đi mãi miết. Một vài chuyến xe đò lấm lem bụi đường chở đầy nhóc người vật từ Quảng-trị bắt đầu ló dạng di tản vào thành phố. Anh không nghe tiếng súng nổ. Chắc là trong hàng quân ngũ của miền Nam dung thân rất nhiều những binh sĩ trước khi cầm súng họ đã sống qua thứ cảm giác mà anh đang hứng lấy giờ này. Anh ghét chữ thất tình vô hạn. Nhưng Sầu ơi, có một điều khó chối cãi: Anh luôn là tên hàng binh trước mỗi trận tuyến!

 3.

 Anh nghe những đứa bạn mới quen kể chuyện xảy ra ở bên Trung-quốc: “Một ký giả phương Tây băng qua đường ở một ngã tư đang bật đèn xanh. Kết quả, ông bị mấy trăm chiếc xe đạp Phượng-hoàng cán ngang người. Nằm trong nhà thương, vị bác sĩ chuyên châm cứu đã giải thích cho nạn nhân tội nghiệp đầy lạc hậu mà luôn vỗ ngực thậm xưng văn minh: Bận sau đi đường nhớ nhìn kỹ đèn báo hiệu. Màu xanh buộc phải ngừng lại, màu vàng là chuẩn bị tinh thần để đợi đèn màu đỏ chói sáng để thẳng tiến xông lên. Đỏ là màu của cách mạng, là màu của một sự đạp đổ mà không có gì đủ sức ngăn chận để chùn bước. Vì sao trước ngọn đèn hồ hỡi phấn khởi đó, người bên xứ ông lại phải thúc thủ dừng chân đứng đợi?”

 Anh cười trong yên lặng. Có thể đó là một trong triệu triệu chuyện tiếu lâm thời đại. Và anh chợt hiểu, khi người ta sống trong hoàn cảnh bị trấn lột tới mức cùng cực bi thảm nhất thì đó cũng là lúc mà đầu óc con người “phát huy sáng kiến” ra những mẫu chuyện vui phong phú cả lượng lẫn phẩm. Điều này ngược ngạo ở chỗ là nó khác trường hợp khi ta đọc một cuốn truyện tình đầy xúc động thì y như rằng tác giả đó đã phải sống qua những giây phút đau đớn nhất mà mức chịu đựng của trái tim đã tới hồi kiệt quệ. Trái tim anh, anh nghĩ nó còn đập nhát gừng kể từ ngày Sầu bỏ đi. Những truyện anh viết, chẳng còn ai đón đọc nữa cả và bất quá nó chỉ làm riêng anh đối mặt với nỗi xúc động mà Sầu là tác giả từ ngàn dặm dài. Sầu đi, lặng lẽ, bất ngờ. Sầu không tin tưởng ở anh để phút cuối nhắn lại một lời, dù đành đoạn và quyết liệt nhất: Vĩnh biệt! Anh đi ngang căn nhà màu hồng đã bị nhà nước dán giấy niêm phong để dừng chân trước cái màu “cách mạng” đã úa tàn. Tựa một cánh hoa đứng trong bình cắm với sự quên lãng triền miên của chủ nhân. Không ánh sáng, khô khốc nước và quắt queo chết đứng rũ liệt. Anh thấy buồn lòng. Niềm hờn tủi nhú lên, như đứa con vô gia cư bất lực đứng trước căn nhà của người sinh tiền trong gia tộc để lại cho mình bỗng một sớm một chiều bị kẻ khác tới chiếm đoạt. Và anh tin, phương trời kia Sầu có khi cũng sẽ quắt quay nhớ về chốn cũ, rồi mường tượng ra đủ điều với một số vốn kỷ niệm phiêu dạt theo chân bước. Cả hai, chúng ta đều hưởng chung sự mất mác. Anh giữ một nửa, nửa kia trao về Sầu. Sầu chẳng còn quê hương. Anh có được nó để ngày đêm mong ước tới vùng đất tự do mà Sầu đang đặt chân hít thở. Anh tự hỏi, chẳng rõ trong chúng ta ai may mắn hơn ai? Đầu óc lú lấp không giải thích được sự hơn thua. Thôi thì mình chung lưng làm một quả đất nhỏ. Anh giao cho Sầu phía có ánh sáng mặt trời, phần trăng soi về đêm thì xin nhường cho kẻ ở lại. Bởi giờ này, bóng tối sẽ rất cần thiết cho anh. Cho những đêm hoang vu anh nhìn mọi vật “nhà ngói cũng như nhà tranh”, trắng đen đừng phân minh và vàng thau thì cứ lẫn lộn như đã từng.

 Bạn bè anh cũng có lắm đứa bỏ chỗ tối mà ra đi. Làm con hoang, thừa nhận hoặc vô thừa nhận thì cũng đứng dưới mẫu số chung cả. Ở tứ tán năm châu bốn bể đều là nhà, chỉ thiếu điều hiểm hóc ngang ngược: Bốn phương vô sản đều là anh em. Bố khỉ! Chúng nó đâu có biết câu ấy. Tất cả đều rặt một phường tư bản. Anh cầu trời cho chúng nó mãi được vậy. Chúng có gửi qùa về cho anh, có đứa tội nghiệp phân trần, viện cớ xứ người mênh mông nên việc anh nhờ dọ hỏi chẳng có kết quả. Không một ai biết đích xác Sầu đang ở đâu. Chỉ đưa tin là Sầu vượt biển cùng ghe với ông bác sĩ dạy môn cơ thể học ngày nào. Ông ấy có người em ruột cũng là bác sĩ nhưng chuyên về sản khoa và mấy thứ bệnh lăng nhăng của đàn bà. Còn trẻ tuổi, nhưng tài cao. Và hình như ba của Sầu cũng đã đi tới quyết định chọn mặt gửi vàng. Hình như. Khi nói thế có nghĩa là còn hồ nghi, chưa ăn chắc? Nhưng hình như anh luôn tin vào những thứ hoang đường. Ở quê nhà anh quen sống thở với tất cả những huyễn mộng mất rồi. Người ta từng lên kế hoạch “biến sỏi đá thành cơm”. Phải thành khẩn tin đến chuyện một chú bộ đội bắn rớt pháo đài bay B-52 bằng một vũ khí thô lậu. Xăng có thể cạn lốp có thể mòn, nhưng số máy số sườn vẫn không hề thay đổi!  Anh phải tin vào những thứ chân lý cắc cớ ấy, như tin là Sầu đang êm ấm chung chăn gối cùng ai kia. Hắn sẽ chẳng mang chứng bệnh gia truyền để làm khổ tới lỗ mũi Sầu bằng thứ mùi kỳ cục mà ông anh hắn lỡ mang. Anh nhắm mắt lại. Vợ một bác sĩ tốt nghiệp tận phương trời văn minh và xa lạ, Sầu có đầy đủ quyền thế và cương vị để quên anh. Quên phần đất luôn ấp ủ bóng tối và tụt hậu. Anh tự hứa, nên làm một cuộc “cách mạng bản thân”. Khai tử cái tên Sầu trong trí nhớ. Anh phải cố quên mọi chuyện, chỉ dây dưa lần cuối bằng cách viết một truyện ngắn… Có tên hoàng tử ngủ vùi trong rừng, giấc ngủ ngàn năm vì sẽ chẳng có thực sự hình bóng một cô công chúa nào xuất hiện để đánh thức.

 4.

 Khi một người bác sĩ nói: Quý vị nên đem anh ấy về nhà và xin hãy chìu chuộng làm vui lòng anh ấy đủ điều, thì ta phải hiểu đó là lời chia buồn sớm sủa nhất dành cho một người đang nằm đếm từng cây số vùn vụt trôi trên con đường dẫn tới miền cực lạc. Đó là lời thú nhận văn hoa khi mà thuốc thang đã đầu hàng trước ông thần chết. Rằng tôi không đủ nhẫn tâm để nói huỵch toẹt với qúy vị tới cái thô nhám sần sùi của sự thật: Ối dà, thằng chả này cao số thì cũng thọ thêm được ba bữa nữa. Ba ngày phù du, qúy vị hiểu không?

 Anh nằm trên giường suy nghĩ đủ điều. Cuộc đời đã xáo trộn từ lâu nên anh lạc lõng không còn ai thân thích kề cận mình. Và bây giờ, những ông bác sĩ cũng đã nhặt đi hết những râu ria trong ngôn ngữ, cau có lột truồng mọi thứ, trần trụi. Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét. Anh có cảm tình với sự sòng phẳng ấy vô cùng và anh dọn lòng thanh thản đón đợi một bản thông cáo cuối đời người. Anh không có gì bận lòng. Một người mà suốt một thời sống thu mình như anh thì khi chết đi nào khác chi một con ốc nhỏ. Anh chẳng làm nên việc gì ghê gớm cả để rồi ân hận cho công trình ấy phải chịu dở dang, không xây đắp trọn vẹn đến chung cuộc. Anh chỉ hơi buồn lòng, duy nhất một điều: Đó là bác sĩ quanh đây không có đủ sự “sáng suốt” để nhìn thấu con người anh mà định bệnh. Xì xào, ngờ vực, lắc đầu. Rồi lại tiếp tục thử nghiệm, bằng một phương thức khác. Anh tựa một con vi trùng khổng lồ, nguy hiểm lạ thường đồng thời cũng ẩn dấu ở bên trong đủ đầy sự lôi cuốn. Anh nhớ những ngày êm đẹp cũ, để rồi so sánh anh là một người mẫu trần truồng và tất cả những bác sĩ đều là sinh viên mỹ thuật đang luân phiên nheo mắt ngó vào người anh, đo đạc, dựng sườn, tạo hình khối và vung tay phát thảo lên giấy những nét vụng về ban đầu.

 Anh đem tất cả gia tài của anh theo, khi nhập viện. Đó là mười hai cái truyện ngắn anh viết trong nông nỗi một thời còn giữ lại được. Một kẻ mà sẵn lòng nhìn mặt bóng đen cái ông thần cầm lưỡi hái thì nó đâu có quan hoài tới mấy ông thần cầm buá cầm liềm lẻ tẻ. Trong tập bản thảo đó có biết bao câu đồi trụy, phản động? Bao nhiêu lời bêu rếu bôi xấu chế độ ưu việt? Anh không đếm xuể và anh chẳng gợn lòng, bởi giản dị một điều nó thảy là sự trung thực mà khi viết nên anh hồn nhiên chẳng biết hư cấu là gì cả. Và những mối tình được nhắc nhở trong đó? Anh cười buồn, ít ra thì gã lao công bệnh viện một hôm cuốn xác anh đi hỏa thiêu, gã sẽ được trả công bằng thứ món ăn tinh thần lãng mạn lạ lùng mà tuổi trẻ hiện tại của gã chưa từng nếm qua, nghe kể, đọc thấy. Giời ạ! Đừng quát tháo: Coi chừng âm mưu thâm độc của Mỹ Ngụy để lại.

Anh được chuyển phòng hoài. Da anh xanh mướt hay vàng khè? Má hóp hay mắt trũng sâu? Anh choáng váng khi nhìn ra vuông trời xanh thẳm có nắng chen đầy lên khung cửa. Anh chảy nước mắt vì nắng chói hay bởi một cánh chim sẻ vừa lượn cánh ngang qua. Tự do và sự quản thúc. Hai điều đen trắng này đã vì nó mà xẩy tới biết bao nhiêu cuộc cách mạng đổ máu?  Anh nói với một ông bác sĩ mà anh thấy ông ấy là người có bộ mặt sáng sủa nhất đám.

 – Bác sĩ can thiệp cho tôi được đi dạo bên ngoài một buổi có được không?

 – Tôi không đủ thẩm quyền làm theo lời yêu cầu của anh, bởi tôi là một bác sĩ ngụy.

 Chữ ngụy ẩn chứa sự thú nhận buông xuôi đầy tội nghiệp mà lâu rồi nó vẫn còn là dấu ấn chưa phai. Nó là vết thương nặng nề nhất. Là người tình thề nguyền với ta đủ điều rồi có khi dửng dưng bỏ ta đi, gieo lại sự chấn động rạn vỡ mà có sống lại kiếp sau ta vẫn còn nhói đau. Ông bác sĩ nói nhỏ:

 – Tôi có thể giúp anh những chuyện khác, nếu anh muốn. Giấy viết, hoặc bồi dưỡng thêm chút thức ăn chẳng hạn. Hoặc một hai điếu thuốc nếu anh buồn miệng muốn hút chùng vụng…

 Anh cảm động đến ngạt thở. Tình người. Nó làm anh sững sốt. Anh nói:

 – Tôi tin là bác sĩ cố ý khi nói tới chữ ngụy. Bác sĩ có quyền hãnh diện về chữ đó, bởi những gì dính dáng tới ngụy đều khác thường, ngay cả trong lãnh vực y khoa.

 – Anh nói vậy thôi. Tôi tiếc là không đem sự hiểu biết của tôi để giúp anh. Một phần vì nhà thương thiếu thốn quá nhiều máy móc dụng cụ… Trước đây anh là nhà văn hả?

 – Dạ không. Tước hiệu đó cao cả quá. Tôi là một con số không. Bác sĩ gọi tôi là Như không, cho dễ nhớ.

 – Anh còn trẻ. Tôi chắc rằng anh sẽ khỏi bệnh… Đời sống, người ta chỉ hơn nhau cách xử sự và chính nghị lực của mỗi người.

 – Nghị lực? Bác sĩ có biết là con người, một đôi khi họ mong được chết lắm không?

 – Thì tôi đã nói rồi. Cái chết cũng là một trong những phương cách để biểu hiện thái độ của mình đối với cuộc đời. Hơn thua là tùy vào mỗi cách chết. Một hai hôm nữa, bệnh viện mình sẽ tiếp đón một phái đoàn bác sĩ ở nước ngoài về tham quan, giúp đỡ. Có lẽ trường hợp bệnh lý của anh cũng là vấn đề để họ quan tâm tới.

 Ông bác sĩ chào anh bằng cách đưa tay vỗ lên vai. Anh lảo đảo bởi cái hành động đó. Tại vì nó nhẹ nhàng và êm ái quá. Anh lê chân tới bên thành cửa sổ. Chỗ anh nằm ở lầu ba, khá cao đối với nhân gian luôn xô bồ bên dưới mặt đất. Anh thấy dòng sông chảy lặng lờ, như tấm gương soi đứng sững. Những tàng cây xanh chen chân hai bên bờ và lác đác đã có những chùm hoa phượng nở sớm, đổ mình soi mặt trên nước, đỏ thắm cho một mùa hè lặng lẽ đến gần. Màu đỏ, màu hồng, với anh vẫn còn là một dị ứng trong nhãn quang. Hiện tại nó nhắc anh về những kỳ nghỉ hè trước đây. Anh chẳng còn thu giữ được gì trong trí não chật hẹp, ngoài hình ảnh từng cánh hoa phượng ép trong cuốn lưu bút khô chết theo những dòng chữ phân ly đầy sáo ngữ vụng dại tuổi học trò. Anh thở dài. Những kẻ bất hạnh là những kẻ mù lòa đôi con mắt ngoái nhìn quá vãng mà tìm hoài vẫn chẳng thấy bóng dáng tuổi thơ.

Buổi trưa, người y tá đem cơm độn khoai và món canh rau muống nấu với nước ruốc hâm hẩm nóng bước lạch cạch vào phòng. Anh rùng mình. Chẳng hiểu vì tiếng ve sầu bất chợt cùng trỗi giọng hợp ca hay vì một thứ nguyên nhân nào khác?

  5.

 Anh bị đánh thức bởi nhiều tiếng động khác nhau. Ánh sáng lùa tới dữ dội khi mí mắt nặng nề được mở ra. Anh nằm yên, chìm sâu vào tấm nệm mỏng. Chuỗi ngày qua, anh đã gần như lụn bại tinh thần trong việc suy xét đâu là thực đâu là hư. Nó nhập nhằng, nó chân thấp chân cao đến giữa nhận thức tăm tối và chính nó đã trở nên một mũi nhọn chọc thủng tới phần sâu thẳm nhất trong anh: Mình là đốm lửa yếu thắp trên một cây đèn đã vơi cạn dầu…

 Anh nghe nhiều tiếng nói vọng lên quanh chỗ nằm, lùng bùng. Ban đầu, anh thấy rõ nét nhất là khuôn mặt người bác sĩ quen thuộc đang cúi thấp xuống bên tai anh:

 – Như tôi có thông báo trước. Đây là phái đoàn những vị bác sĩ đã từ phương xa về thăm bệnh viện mình… Anh nghe tôi nói gì không?

 Anh nghe, nhưng anh không có được một cử động nào nhằm trả lời câu hỏi ấy. Anh thấy Sầu đứng đó như trong mơ, hoang đường hơn cả mộng mị. Màu áo trắng, trắng quá; như một ảo ảnh. Sầu hiện thân, tựa hình ảnh ma soeur đầy lòng bác ái trong một nhà thương thí. Ừ, đúng là Sầu. Dẫu cuộc đời có dấy thêm một cuộc dâu bể khác để đày đọa nhau, làm biến đổi hình tướng mọi vật thể, anh vẫn có thể nhìn nhận ngay ra cái đường nét lạ lùng có trên tổng thể nhân dáng Sầu, sá chi mái tóc dài ngày xưa đã bị cắt cho ngắn đi, cắt như một tuyệt giao với quá vãng nhiều oan trái. Sầu tóc ngắn và Sầu có đôi phần tàn phai. Anh chết lịm một chỗ. Giá trị của sắc đẹp, không gì khác hơn là khi ta nhìn qua một lần, ngàn năm sau ta vẫn còn nhớ tới. Anh đã bị biến dạng tận gốc rễ, bị đổi thay cùng cực đến thế sao? Vì cớ gì mà ánh mắt Sầu khi nhìn tới, lại dễ dàng như khi ngoảnh mặt đi? Sầu đã không còn nhìn nhận anh. Hắn đã chết một hôm nào khi ta bỏ đi biệt xứ? Mọi vật đã chẳng còn như xưa khi ta trở về. Cũng phải. Một tờ giấy đã lỡ vò đi, làm sao trải thẳng lại được như cũ? Sầu có vẻ như chán nản điều gì, bỏ mọi người chộn rộn quanh con bệnh để vòng tay bước kề thành cửa, ngó mông lung ra khoảng trống như anh từng đứng ngờ nghệch hóng gió. Anh chảy nước mắt dễ dàng hơn anh tưởng. Chưa khi nào, anh mong cái sự thật quái gỡ này chỉ nên diễn ra trong cõi mộng hoang đường thôi. Ông bác sĩ lau nước mắt anh bằng cái khăn mù-soa luôn nhàu nát có trong tay ông. Ông an ủi và vỗ về điều gì đó. Ông vẫn mang những ngộ nhận đáng yêu. Ông đã hiểu lầm về những giọt lệ đã rơi chảy xuống gối. Không. Không một ai có thể hiểu được cả.

Họ rời khỏi giường anh, nói là để tránh bệnh nhân bị xúc động thái quá về cái hành động “nghĩa hiệp” mà họ từ phương trời cực lạc mang về lòng hảo tâm cùng kiến thức sở học nhằm cứu khốn những con bệnh ngặt nghèo. Sầu là người khuất lấp trước tiên, đằng sau cánh cửa. Và rồi thì cuối cùng cánh cửa đó đóng chặt lại như cũ. Anh gượng dậy, cố gắng đi quanh phòng một hai vòng. Anh vận dụng khứu giác, bắt lỗ mũi phải làm việc. Sầu đã đến gieo rắc trong bốn bức tường này một mùi thơm và khi đi cũng hà tiện mang theo hương hoa có trên cơ thể Sầu trốn mất biệt. Anh dừng chân bên khung cửa sổ, mường tượng ra chỗ mà Sầu đã đứng vòng tay trước đó để đặt đôi chân mình vào đúng với vị trí mà anh tin sự quan sát của anh không nhầm lẫn. Anh ngó xuống sân như Sầu đã vừa đứng ngó. Những chiếc xe hơi bóng loáng đậu sánh đôi dưới bóng im của từng tàng lá cây xum xoe. Những người “khách không mời” kia lục tục bước ra khoảng sân ngập nắng. Sầu được một người đàn ông ôm eo dìu đỡ bước chậm rãi làm như chính Sầu là một bệnh nhân được chồng tận tụy đến thanh thỏa mọi giấy tờ để làm thù tục xuất viện.

 Anh leo lên, đứng khom lưng trên thành cửa để trông cho rõ mặt Sầu. Anh vẫy tay rối rít loạn xạ nhưng Sầu chẳng thấy. Anh bước thêm một bước nữa để gọi tên Hồng thật to. Tiếng Hồng kéo dài từ miệng lưỡi đắng khô của anh, vỡ ra, rơi xuống và cuối cùng im bặt bằng một vũng máu chảy loang thấm vội vào đất. Thu dấu ở thắt lưng, xấp bản thảo những truyện ngắn bị rơi rớt vung vãi đầy khoảng sân đang rúng động bằng những thứ tiếng hoảng loạn. Gió từ đâu đùa cợt thổi ngang làm vờn bay những cánh bướm kỳ dị. Một tờ giấy vướng víu vào người Hồng, ép chặt vào ngực, không rời. Tờ giấy có tựa đề viết lớn: Em Phương Xa Dấu Yêu.

Hồ Đình Nghiêm

Tư Đen

Hồ Đình Nghiêm

Post by Sơn râu 31 Mar 2024

Tư là tên gọi ở nhà. Bố mẹ anh chị em luôn miệng Tư ơi Tư à. Bạn bè chẳng mấy đứa kêu vậy bởi tên chính thức ghi trên giấy khai sinh: Nguyễn Văn Bốn. Bảng tên thêu chỉ xanh may trên túi áo không sai trật dấu.

Tư hay Bốn, thoạt nghe ngỡ giống nhau nhưng vẫn có chút khác biệt. Tư xà lỏn áo may dô đầu tắt mặt tối ở nhà trong khi Bốn thì đồng phục chỉnh chu chuyên cần việc học, chưa tính là có năng khiếu đá banh, vua làm bàn trong đội tuyển của trường. Giữ vai tiền đạo nhưng khoác áo số 4, huấn luyện viên bảo: Một công đôi chuyện, em cần làm sáng cái tên em luôn thể. Người luôn đeo cái còi tu huýt tòn teng trước ngực ngầm chứng minh: Tư hay Bốn hay 4 cũng đều một nghĩa như nhau, chớ lôi thôi định phận.
Mặt mày Bốn luôn đăm chiêu, coi bộ già trước tuổi. Đen đúa, rắn chắc và trời sinh hắn có cặp giò dài. Bốn ngồi bàn cuối, xóm nhà lá, được thầy cô giao khoán nhiệm vụ bảo vệ trị an giữ gìn trật tự trong lớp. Dần dà sĩ số 42 trò tinh nghịch ấy thôi còn xẩy ra cảnh lấy thịt đè người ức hiếp bắt nạt nhau. Bốn được đôn lên làm trưởng lớp, rất uy tín. Tiếng thơm toả lan đến tai ban giám hiệu, tuy việc học kém cuối năm Bốn vẫn có phần thưởng bọc giấy kiếng xanh đỏ. Ôm về nhà, mũi phình to, ngực nhô ra, hiu hiu tự đắc.

Bốn có người em gái học ở trường Nữ, đoan trang thuỳ mị trắng da dài tóc yểu điệu thục nữ khuôn trăng đầy đặn vào ra sương khói nghiêng một phố trưa làm đổ gục bao cây si ngấp nghé muốn gọi Bốn bằng anh. Nguyễn Thị Mộng Ngũ rất giỏi việc gia chánh nấu ăn. Giống như nấu cơm ta phải sàng lọc gạo, đãi trấu sạn trước khi đổ nước chụm củi thổi lửa, Mộng Ngũ cũng kén cá chọn canh nên lắm đứa lỡ phải lòng có khi gạt lệ, biết phận mỏng thôi làm vướng chân nàng. Nàng đã chấm được anh sinh viên học Khoa Học năm thứ ba. Anh đến dạy kèm cho hai đứa em, thiên thời địa lợi nhân hoà thảy đều thủ đắc, chỉ là “tình trong như đã mặt ngoài còn e”. Anh gia sư dạy kèm môn Toán ấy lớn hơn Bốn tới sáu bảy tuổi nhưng xem chừng biết phép tắc, lễ độ trước mặt Bốn bởi dầu gì thì Tư cũng anh nàng Ngũ, chứ Lục với Thất hả, giải sai phương trình ta nạt nộ rầy la là chuyện đương nhiên. Ban đầu, tuần chỉ có hai buổi gõ đầu trẻ, tháng này qua tháng nọ ảnh đắm đuối tơ tưởng người chị, lòng những muốn gửi gạo để có ngày được chung mâm.

Rồi Bốn thi hỏng tú tài buộc phải khoác chiến y. Mặt trận phía bắc ngày thêm ác liệt cuốn Trung sĩ Bốn nhập vào cảnh dầu sôi lửa bỏng. Từ chiến trường chẳng kiên cố việc phòng thủ, luôn lâm vào thế bị động buộc phải chống trả, Bốn được tin em vội lấy chồng, Ngũ theo chàng về dinh càng xa vùng địa đầu chút nào hay chút đó. Chàng sinh viên đại học Khoa học thuở nọ nay đã là kỹ sư làm việc lặn lội tận trong Sài Gòn ấm êm hay lục tỉnh an lành. Phương này, Bốn đụng trận lia chia đến ù tai quáng mắt, đầu bù tóc rối để rồi bị lãnh đạn lặt lìa được trực thăng bốc về quân y viện Nguyễn Tri Phương, ruột để ngoài da mà tim gan phèo phổi lạnh tanh chẳng còn ai viếng thăm kề cận, quặn lòng. Tất cả đều đã di tản lạc dấu. Nước mắt người lính trẻ chừng khô cạn. Ngay cả súng là vợ đạn là con cũng hơn một lần phụ rẫy, tay vụng về chỉ còn việc ôm ấp lấy vết cắt đau. Anh dũng bội tinh với chiến thương bội tinh mà ích gì cho buổi ấy. Người ta nương nhờ vào sức mạnh khi muốn cưỡng đoạt và vì vậy người ta không hiểu được điều quan trọng, chỉ cần tình yêu, nó giúp người ta hoàn thành những sứ mạng khó khăn. Bốn không có sức mạnh, Bốn cũng chẳng còn tình yêu và xã hội đang ngàn cân treo sợi tóc kia vừa đón nhận một đứa tật nguyền, ghẻ lạnh.

Tôi gặp Nguyễn Văn Bốn tình cờ trên xứ lạ. Một bài viết gần như tự truyện đăng khiêm tốn trên tờ báo Việt ngữ ở chốn dung thân mới. Chữ viết thật thà cũng đủ hấp lực kéo người ngồi lại. Bốn không biết tôi, kẻ làm thơ vụn vặt dệt vần điệu chừng thương vay khóc mướn. Tờ báo chỉ trả nhuận bút cho truyện ngắn hoặc đoản văn, do vậy khi kéo nhau vào quán cà phê, Bốn nghiêm chỉnh trong lời đùa: Tôi có nhiệm vụ phải là người xuất tiền chi trả hoá đơn. Ở con người Bốn hiển hiện ra thứ gì đó khiến tôi liên tưởng, thoáng nhớ người anh đã khuất. Qua chuyện trò trao đổi, dần dà như vạch lá tìm sâu mới hay ra ngày ấy Bốn luôn gọi anh tôi là ông thầy, để sáng tỏ Bốn nói: Ổng là đại đội trưởng của tôi, đánh đấm rất chì, gạt bỏ khoảng cách cấp bậc kiểu hệ thống quân giai, ổng vẫn đối xử với em út theo tinh thần huynh đệ chi binh, luôn quan ngại cho sinh mệnh đàn con mãi theo ông không rời. Ổng gục xuống ở trận đánh chót ngoài vòng đai thành phố và không ít thằng đệ tử đã mếu máo khóc than khi tẩm liệm ông thầy vào tấm poncho hoen ố bụi đất cùng máu và nước mắt.

Tôi nhớ lại cái quan tài có phủ lá cờ rủ liệt và dáng đứng xiêu đổ của má tôi. Tiểu đoàn thiệt hại nặng, biết bao người mẹ khác đã lạc hồn giống má tôi? Chôn anh không mấy lâu chúng tôi buộc phải chạy theo vết dầu loang, xa dần vùng đất cắm đầy mồ mả ông bà. Và Bốn, duy nhất là người đề cao cái chết của anh, nhân chứng sau cùng kể lại những sự hy sinh vô danh, vô ngôn và vô lý. Tôi trở nên thân với Bốn, lặp lại lời ai đó nói: Điều nguy hiểm nhất khiến trái tim phải nhuốm bệnh là khi bạn có một trí nhớ quá đậm sâu. Bốn cười nửa miệng: Tôi lại nghĩ khác, chúng ta đổ bệnh vì sống với kẻ vong ơn, những đứa muốn trốn chạy bi kịch ngày cũ.

Tờ báo có tổ chức đêm liên hoan trong một nhà hàng chuyên đăng quảng cáo, một trong các ân nhân nuôi sống để cái “món ăn tinh thần” nọ được cầm cự chớ tắt thở. Bốn uống rượu rất cừ. Giải thích, đời lính tráng quen nằm gai nếm mật buộc phải vậy. Khi có chất men đổ vào người, Bốn ngâm thơ xuất thần, chất ngất tâm sự. Vả chăng chút khinh mạn, chút hào sảng nằm trong thơ Tô Thuỳ Yên vô tình đã ăn với chất giọng ấy, kể lể với một tâm thế xót đau trong lạc lõng.

“ở chốn mệnh danh là chốn cũ
dân gian thay mới những truyền kỳ
đất trời ủ lứa chiêm bao khác
dâu biển làm mưa nắng lạ đi
bụi rác mỗi thời một dạng loại
chồng sâu thêm những địa tầng quên
người về không biết có đúng chỗ
lịch sử qua đường đã cải trang

bạn lứa ta nhiều người đã chết
bó mang đi phần mộng góp chung
chuyện thuở nào vừa tai người thuở ấy
mỗi sự tình một tuổi đời riêng
độc giả về già chỉ đọc lại
đôi khi ta lười biếng chuyện trò
đôi khi ta lẩm bẩm mình ta
nhà ta xưa nghe nói chẳng còn
di chỉ đời ta xưa mất theo…

thương quá chiều nay gió váng vất
xác diều vật vã ngọn tre cao
với bản thân ít nhiều ta có lỗi
lỗi chẳng ân cần cầm cộng những ngày vui”.

Bàn tiệc câm lặng như thể bị ngộ độc thực phẩm, như bị một sức nặng không dưng phủ chụp trong sát na. Sát na sau là hàng loạt tiếng vỗ tay tán thưởng, tỉnh thức sau cơn mê thiếp bởi nỗi buồn ùa tới, bởi cái đẹp va vấp vào. Hiện diện vây quanh bàn mười ghế đa phần là bạn của Bốn, những kẻ bỏ nhà đi phiêu bạt. Có người từng ngồi tù rừng sâu trong bốn năm, người ba năm người sáu tháng… Tựu trung nhân thân đều xấu mà muốn sống còn anh chỉ có duy con đường bỏ nước mà đi. Có người hỏi Bốn: Bề dày một cuốn lịch của dân Việt, ngày nào khiến người ta muốn xé bỏ nhất. Xé khác bóc. Chữ bóc lịch thường áp đặt vào thân phận một thằng tù. Bóc hai ba niên thì nhằm nhò gì, chưa đủ mòn tay. Chỉ có thành phần thiên thu tại ngoại mới dùng chữ xé, xé bỏ từng ngày vô vị, chẳng tiếc thương. Bốn nói: Thì tờ lịch 30 tháng 4 chứ còn tờ nào khác? Mày tên Tư, cúng cơm là Bốn, không ấy bọn này bầu mày làm chủ xị bữa đó. Hằng năm cứ vào cuối tháng Tư lá ngoài đường rụng nhiều và trên bàn chai lọ bàng bạc đổ vào mồm uống cho trôi cơn hạn.

Chuyện nhỏ! Bốn nói. Các vị nên lắng lòng mà cám ơn đất nước này, ngoài lòng hảo tâm việc cưu mang họ còn tôn trọng chúng ta, xem Ba mươi tháng Tư là nỗi đau của người Canadian gốc Việt. Tôi thực sự xúc động khi nhìn thấy phiên họp quốc hội với đông đảo dân biểu dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ may thành khăn quàng cổ và ông thủ tướng Justin Trudeau phát âm chuẩn mực bốn chữ Chúc Mừng Năm Mới. Những ly rượu nâng lên: Oh Canada! Họ hát không vẹn toàn bản quốc ca, tiếng Anh tiếng Pháp lộm cộm hai phiên bản.

Bốn nói với tôi: Giấy tờ bảo lãnh có mòi thuận lợi, nếu trời thương hai tháng nữa con em Mộng Ngũ sẽ sang tới đoàn tụ cùng thằng Bốn tứ cố vô thân này. Chồng nó bị xe đụng, chết mất đất. Nó vẫn ở vậy, ra đi mình ên chắc không có gì trở ngại. Tôi hỏi: Vậy đã có chiến hữu nào rắp tâm chờ chực sửa giọng gọi Bốn bằng anh chưa? Bốn không trả lời. Vịn mặt bàn đứng dậy, đen đúa, yếu đuối: Đã khuya, tôi đọc bài thơ của Bùi Giáng rồi chúng ta chia tay:

“ta đứng lại bên này chờ đợi
ồ phải không? em đó phải không?
ta đếm lại từng ngón tay lẩy bẩy
đời chúng ta là mấy trăm tròn

ngày vui ngắn? lòng đã vơi mấy bận
ngày vui đi? mấy bận giữa lòng ta
đổ lây lất mưa về xuân lấm tấm
ô thiều quang tan biến vội sao mà

em có khóc? ta xin em đừng khóc
em nhìn ta? lệ chảy có vui gì
trang phượng mở giữa nguồn em hãy đọc
nước xuôi dòng ngàn thu hận tan đi”.

Cả bọn ngồi không cục cựa. Gió tháng Tư chạy luông tuồng ngoài cửa quán vừa lật lại tấm bảng open. Đèn đường vàng vọt, câm nín. Những dáng xiêu lạc rồi sẽ bị nó bẻ gập hình hài, cán mỏng xuống mặt lộ tối đen. Đèn đường chốn đó đã mọc được đôi chân khi vỉa hè bị dọn sạch? Mộng Ngũ bao giờ tới bến bờ Mộng lệ an?

Lần đầu, có lẽ vậy, Bốn say. Tôi ôm thân Bốn, quàng tay qua vai dìu đỡ người gọi tôi là “em ông thầy”. Tôi tự hỏi những bài thơ tôi viết, biết đến bao giờ được lọt vào mắt Bốn, thẩm thấu lòng Bốn để đệ tử của anh tôi cất giọng đọc, ngâm lên với tất cả những hoài niệm đớn đau về vết thương chẳng thể thành sẹo.

Hồ Đình Nghiêm

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 31 Mar 2024

Hình minh họa

5. Chương 39
Công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Mới có ba năm giải phóng mà không biết Việt Cộng đánh tư sản mại bản mấy đợt rồi. Theo tôi nghĩ đối với Việt Cộng, khi mà người dân Miền Nam còn có tiền thì còn đánh, cướp cho hết mới thôi. Sau ngày bị đánh tư sản, gia đình của tôi rớt xuống bậc thang cuối cùng của nghèo nàn, đói rách. Trước đây vì dư dả tiền bạc, chúng tôi sống cách biệt, rất ít khi quan tâm đến đời sống kinh tế của mọi người chung quanh mình, biết người ta ăn cơm độn bo bo, biết để mà biết không có gì phải bận tâm. Bây giờ thì chúng tôi cũng giống như tất cả người dân Miền Nam, cũng chạy ăn từng bữa. Dân Miền Bắc tôi không nói tới, vì họ đã bị chuyện cải cách ruộng đất, bỏ đói từ năm 1954 rồi. Từ đó tôi biết rõ hơn về nguồn lương thực cung cấp cho dân chúng. Người dân đói hay no, tùy thuộc vào số thực phẩm do nhà nước phân phối. Theo quy định từng địa phương, mỗi tháng người dân sẽ được mua 16 kí lương thực, có tháng chỉ còn 13 kí, trong đó bao gồm gạo, bo bo, bột mì, một đôi khi có cả khoai mì xắt lát. Đường, muối, nước mắm hay vải vóc bán cho người dân cũng thất thường như trời có khi mưa khi nắng, khi nóng khi lạnh. Nói chung nhà nước bán thứ gì thì dân nhờ thứ ấy.

Tôi và Cúc vì làm vườn, canh tác ngoài Đa Thiện nên có sổ lương thực, được sống ở thành phố không phải đi kinh tế mới. Có một điều hết sức là may mắn cho gia đình tôi, là trong đợt đánh tư sản mại bản vừa qua, đám sai nha quan lại của triều đình Cộng Sản, đã quên mất cái máy bơm nước hiệu Yanmar ở vườn trồng rau ngoài Đa Thiện của tôi. Và đó là tài sản quý giá nhất mà tôi và Cúc còn có được.

Hồi mới học tập cải tạo về, tôi làm vườn kiểu tài tử, hàng ngày tôi ra vườn chỉ làm có một việc duy nhất là tưới cây, tưới cho có lệ với mục đích là xin chữ ký vào sổ. Cuối tuần khi đọc kiểm điểm trước tổ dân phố, tôi khai báo rằng mình có lao động sản xuất, tạo ra của cải vật chất. Khác với tôi, người dân trồng rau ngoài Đa Thiện, họ làm việc đầu tắt mặt tối, suốt ngày dãi nắng dầm mưa, chăm lo từng chút cho luống rau, tính toán từng bao phân cá, từng giọt nước, từng hột phân hóa học như U rê và Ka li. Vậy mà cũng có mùa họ bị thất thu, tiền bán rau không đủ chi phí cho tiền mua cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu.

Trước đây khi còn dư dả tiền bạc, cứ sau một vụ mùa Cúc phải bỏ ra một số tiền lớn để bù lỗ. Công ty quốc doanh của Cộng Sản lập ra cũng vậy, gần như một trăm phần trăm đều làm ăn lỗ lã vì tham nhũng. Chuyện không có gì phải ồn ào, nhà nước sẽ lấy tiền thuế của người dân bù vào như họ đã làm từ bao nhiêu năm nay. Hai trường hợp làm ăn giống nhau, với gia đình tôi, nguồn vốn cung cấp đã bị mất sau vụ vợ tôi thuộc thành phần bị đánh tư sản mại bản. Muốn sống còn, tôi và Cúc phải đem hết sức mình ra làm việc, phải siêng năng cần mẫn, như những người dân làm vườn ở Đa Thiện, với hy vọng sẽ sống được nhờ vào mảnh vườn này. Hoài công vô ích, cho dù chúng tôi có cố gắng đến đâu, có làm việc khổ cực như thế nào, thì kết quả vẫn là thua lỗ. Mùa nào cũng vậy, may mắn lắm thì huề vốn, chỉ lỗ công, còn thường thì thất điên bát đảo, cất đầu không nổi.

Những lúc sau này khi đang làm vườn, tôi và Cúc thường gặp dăm ba người thanh niên với giọng nói của dân Sài Gòn hoặc Vùng 4. Những người này đi lang thang từ vườn nhà này sang vườn nhà khác, dò la, hỏi mua lại máy bơm nước chạy dầu cặn. Đối với nhà vườn, máy bơm giống như trái tim, dùng để bơm máu đi nuôi cơ thể của con người. Nhà vườn không có máy bơm nước, chẳng khác gì con người không có trái tim. Do đó những người tìm mua máy bơm nước sẽ có rất ít hy vọng, hay nói đúng ra là mò kim đáy biển. Một hôm tôi đang bận bịu tưới rau, bất chợt có một anh thanh niên áo quần bảnh bao lân la đến làm quen, và xin chỉ cho anh ta quanh đây có ai dư máy bơm nước muốn bán.

Vì muốn tìm hiểu nguyên nhân tại sao người ta tìm mua máy bơm nước, tôi gạ chuyện với anh thanh niên.

Hình minh họa

-Anh là người Miền Tây?

Do dự một chút, anh ta trả lời.

-Tôi là dân tạm trú ở Sài Gòn.

-Tại sao anh phải cất công, lặn lội lên tuốt trên núi này để mua mấy cái máy đó làm gì? Sài Gòn chán vạn gì, sao không mua?

Anh thanh niên cười thoải mái.

-Tôi đâu có rảnh, đi ba trăm cây số lên cái xứ Đà Lạt này để mua máy, lý do rất đơn giản là bạn bè của tôi đã săn lùng khắp cả Sài Gòn rồi, kiếm đỏ con mắt cũng không thấy một cái máy chạy bằng dầu cặn.

Tôi nói đùa với anh ta.

-Trời đất, quý vậy sao? Tôi có cái máy bơm Yanmar, đang dùng tưới rau đây nè. Nếu muốn mua, anh trả được bao nhiêu?

Đôi mắt của anh thanh niên vụt sáng rực lên.

-Cho tôi coi được không?

Tôi chỉ cái nhà nhỏ xíu bằng gỗ, dùng để che cái máy bơm gần hồ nước.

-Anh xuống đó mà coi.

Tôi chưa kịp dứt lời, anh thanh niên đã ba chưn bốn cẳng, phóng như bay.

Để mặc anh thanh niên muốn làm gì tùy ý, tôi tiếp tục công việc của mình. Chưa tưới xong mấy luống khoai tây, anh thanh niên đã trở lại với gương mặt tươi rói.

-Nói thiệt nghe, quá dữ luôn, một cái Yanmar F10 CE, thứ này thuộc loại hàng xịn à nghe.

Tôi cười thầm trong bụng, rồi hỏi.

-Anh nói như vậy, không sợ tôi tăng giá hay sao?

Anh thanh niên cười hô hố.

-Yên chí đi, tôi mà cho giá anh bạn nghe xong sẽ gật đầu cái rụp, không có đắn đo hay suy nghĩ một, hai gì hết. Nói nghe nè, Yanmar F5 tới F9 tôi gặp cũng nhiều, hơi cũ, giá của nó là một cây hay hơn chút đỉnh. Riêng cái F10 này quá ngầu lại còn quá mới, tôi ưu ái cho nó hai cây.

Vì không có chủ tâm bán máy bơm, tôi đùa với anh ta.

-Có hai cây thôi sao? Ít quá vậy.

Anh thanh niên trợn tròn đôi mắt.

-Trời đất, nè anh bạn chắc anh lo làm ăn quá nên không biết xã hội đổi thay như thế nào. Một căn nhà trong cư xá Thanh Đa, lô chữ, tầng trệt ở Sài Gòn chỉ có một cây thôi, lên tầng hai, ba, bốn, mỗi tầng bớt một chỉ. Cái máy Yanmar F10 của anh bạn đổi lấy hai căn nhà ở Thanh Đa. Vậy mà anh bạn còn chê ít hả?

Tôi hỏi anh ta.

-Tôi tưởng chỉ có nhà ở Đà Lạt mới mất giá, ai ngờ ở Sài Gòn cũng vậy sao?

Gã thanh niên cười ra vẻ khoái chí.

-Nói thiệt luôn nghe, liên tiếp mấy năm nay dân Sài Gòn bị lùa đi kinh tế mới cũng khá bộn, gần đây người ta rủ nhau đi vượt biên hà rầm, nhà bỏ trống rất nhiều nên mới xuống giá.

-Anh nói nhà rớt giá nghe rất có lý, vậy còn cái máy bơm nước Yanmar này, tại sao lại lên giá?

Anh thanh niên cười hề hề.

-Hổng biết thiệt sao? Hay là bạn giả ngộ.

-Tôi không biết thiệt mà.

Giữa vườn rau chỉ có hai người, anh thanh niên nhìn quanh như sợ có người khác nghe được chuyện mình nói, anh ta lấy tay che miệng rồi kề sát tai của tôi.

-Máy dầu cặn Yanmar, gắn vô tàu để vượt biên, hiện tại được ưa chuộng nhất. Hút hàng là phải rồi.

Hình minh họa

Mọi thắc mắc mấy tháng nay, về chuyện người ta lùng sục khắp các vườn rau ở Đà Lạt mua máy bơm nước chạy dầu cặn, đã được trả lời thỏa đáng. Tôi nhìn anh thanh niên.

-Anh đưa giá bao nhiêu tôi cũng không bán, mà chỉ muốn trao đổi thôi. Vợ chồng tôi và đứa con gái hơn hai tuổi, ba chỗ ngồi trên tàu vượt biên, đổi lấy cái Yanmar F10 này.

Gã thanh niên gãi đầu bứt tóc.

-Tôi mua máy này đem về Sài Gòn, bán lại kiếm chút lời. Người mua phải chở tuốt xuống đâu Rạch Giá, Cà Mau, gắn vô chiếc tàu nào đó. Ai mà biết được chủ tàu mặt tròn mặt méo ra sao. Điều kiện của anh bạn đưa ra, tôi cũng chịu thua luôn.

Tôi an ủi anh thanh niên.

-Anh cứ giữ chuyện này trong bụng, biết đâu gặp mối, có người chịu thì anh đến đây gặp tôi.

Anh thanh niên chào tôi rồi đi mà lòng chừng như bịn rịn, không nỡ rời cái máy bơm.

Thấy vậy, tôi nói vói theo.

-Nếu tôi đổi ý, muốn bán máy thì gặp anh ở đâu?

Không thèm quay nhìn tôi, anh thanh niên to giọng.

-Về chợ trời Nguyễn Thông ở Sài Gòn, hỏi thằng Vinh máy nổ thì ai cũng biết.

Trong bữa cơm chiều ngày hôm ấy, tôi nói với Cúc về tin tức của người dân Sài Gòn, rủ nhau vượt biên như đi trẩy hội, cùng với chuyện giá trị cái máy bơm hiệu Yanmar ở ngoài vườn có giá là hai lượng vàng.

Cúc phân tích với tôi.

-Trước đây khi còn có tiền, cả anh và em đều đánh giá thấp bọn Cộng Sản. Em cứ đinh ninh rằng, mình bỏ Sài Gòn lên ẩn núp ở Đà Lạt là tạm yên thân rồi. Em đã quá chủ quan nên tất cả tiền bạc đều bị cướp sạch sẽ, giờ thì một xu dính túi cũng không có. Gia tài của mình giờ đây nếu còn chỉ là cái máy bơm đang dùng ở ngoài vườn. Chậm hay mau gì mình cũng phải vượt biên thôi, tuy nhiên anh với em phải soạn thảo kế hoạch thật tỉ mỉ, không được có bất cứ sai sót, lỗi lầm, cho dù là một lỗi nhỏ nhặt nhất.

Tôi đưa ý kiến.

-Nếu vượt biên, chuyện đầu tiên mình phải làm là dọn về ở Sài Gòn hay bất cứ tỉnh nào ở ven biển.

Cúc nói.

-Những tỉnh thành ven biển mình không có nhà, không có người quen. Em sẽ hỏi chị Hai về căn nhà của chị ở Tân Định Sài Gòn, mình sẽ bán cái máy bơm, dùng số tiền đó để chạy sổ hộ khẩu nhập chung với chị Hai ở Tân Định, còn dư bao nhiêu tiền dành ưu tiên cho chuyện vượt biên, cơm nước sinh sống hàng ngày mình phải tự làm để nuôi thân. Anh thấy được không?

Tôi gật đầu.

-Được quá đi chớ, chỉ sợ khổ cho em và con thôi. Anh thì dù gì cũng có được cái bằng “Tù cải tạo” cái bằng này chứng nhận người tốt nghiệp có khả năng nhịn đói, chịu nhục, giỏi nhất nhì trên thế giới.

Cúc cười với vẻ thích thú.

-Anh đừng có mừng, trong thời gian anh ở tù thì người dân Việt Nam cũng đang ở trong cái nhà tù lớn. Hai cái nhà tù cũng không có khác nhau bao nhiêu đâu.

Thấy Cúc vui vẻ, tôi ôm Cúc rồi nói.

-Em có nhớ là hồi xưa, tụi mình đi tắm biển ở Vũng Tàu hay không.

Cúc cười e thẹn.

-Nhớ chớ sao không.

Tôi nói với Cúc.

-Anh muốn hỏi em một câu, chỉ một câu thôi. Em có biết là em có một thân hình đẹp, có thể đi thi hoa hậu được không?

Cúc hơi đỏ mặt rồi nói.

Hình minh họa

-Biết, đó là lý do mà em kéo anh đi Vũng Tàu, chỉ với mục đích là khoe thân thể tuyệt đẹp của mình. Có điều em không ngờ và hơi thất vọng là anh ngó lơ, không thèm nhìn em trong bộ bikini, khi em từ dưới biển đi lên. Tự ái của một người con gái biết mình có một thân hình đẹp, khiến em nghĩ thầm, cái gã con trai mắc dịch này bày đặt làm cao, chắc hắn tưởng cái lon trung úy của Trường Võ Bị Đà Lạt là ngon lắm, cho nên gương mặt cứ khinh khỉnh coi phát ghét. Đã vậy còn làm bộ như là đứng đắn lắm.

Đang nói Cúc chợt đổi giọng.

-Anh có biết không, cũng tại cái ghét đó mà sau này, vài tuần không gặp anh là em thấy nhớ. Từ nhớ đến yêu, trong tâm hồn chỉ là một khoảng cách không lấy gì làm xa cho lắm.

Mãi cho đến ngày hôm đó, tôi mới biết được tâm sự giấu kín trong lòng của Cúc.

Tôi cười, thú tội với vợ.

-Anh đâu phải là Lục vân Tiên, để nói với Kiều nguyệt Nga

Khoan khoan ngồi đó chớ ra.

Nàng là phận gái, ta là phận trai.

Em biết không, trong bụng thì anh thích ngắm nhìn thân thể của em trong bộ áo tắm, nó có một hấp lực mạnh như sức hút của một thỏi nam châm, khiến đầu óc của anh lúc bấy giờ chỉ toàn là ý tưởng đen tối, bắt anh phải ngoảnh mặt làm ngơ không dám nhìn.

Gương mặt của Cúc lộ vẻ bằng lòng.

-Vậy mà hồi đó em cứ ngỡ là anh bị bệnh lãnh cảm.

-Anh đâu phải là gỗ đá, có điều anh không hiểu em đã tập luyện như thế nào mà có được thân hình đẹp tuyệt vời như vậy.

Cúc giải thích.

-Chỉ là trời sinh mà thôi, em chẳng có tập tành gì cả, suốt ngày chỉ bơi lội trong hồ bơi ở nhà. Thực lòng mà nói, em rất thích đi tắm ở hồ bơi công cộng, vì mỗi khi thấy em mặc đồ tắm đi ngang, bọn thanh niên choi choi vẫn thường huýt sáo vang trời. Tiếng huýt sáo làm em ngượng đỏ mặt nhưng trong lòng lại vui sướng, tuy vậy em rất ít khi đi bơi ở những hồ bơi công cộng, vì nước ở đó không được sạch sẽ như nước hồ bơi ở nhà. Còn một điều quan trọng nữa mà anh không biết đâu, em là một trong bốn nữ lực sĩ bơi lội của Việt Nam Cộng Hòa tham dự Đông Nam Á Vận Hội, trong bộ môn nhào lộn trên tấm ván nhún. Vì bơi lội thường xuyên như vậy, nên thân thể của em nẩy nở đều đặn, chỉ có vậy thôi.

Tháng 9 năm 1978, tôi được đưa ra tổ dân phố lần thứ hai để duyệt xét xin giải chế. Nhờ cái đồng hồ Seiko mà tôi lo lót cho tên công an khu vực từ năm trước, mọi việc đều tiến hành êm đẹp. Cuối cùng để kết thúc buổi họp, tên công an khu vực với giọng nói rõ ràng.

-Trước mặt đồng bào, anh Nguyễn trọng Quân, trung úy Ngụy quân đã được tập trung học tập cải tạo và nhà nước khoan hồng cho về. Hôm nay sau khi giải chế, anh chính thức trở thành một công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc, được hưởng đầy đủ mọi quyền lợi theo hiến pháp quy định.

Tôi cảm ơn nhà nước và Đảng Cộng Sản mà trong bụng chỉ muốn nói. Từ giờ trở đi, tôi thoát được cái nạn bốn chữ ký một ngày, có thể xin phép đi Sài Gòn để tìm đường vượt biên. Chuyện làm công dân của cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tôi xin nhường cho các đảng viên Đảng Cộng Sản và gia đình họ. Tôi cũng tin rằng tất cả người dân của hai miền, Nam và Bắc Việt Nam đều sẵn sàng từ chối cái quyền công dân này. Bằng chứng là năm 1954 hơn một triệu người dân Miền Bắc di cư vào Nam, sau tháng 4 năm 1975, hàng triệu triệu người dân Việt Nam tìm đường vượt biên, không biết cho đến khi nào mới chấm dứt. Riêng cá nhân tôi, tôi thà chết trên biển cả, đem tấm thân này làm mồi cho cá, quyết không làm công dân của một nước, mà trong đó mạng sống của con người bị xem nhẹ như cỏ rác, nhân phẩm của con người bị chà đạp còn tệ hơn súc vật.

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 31 Mar 2024

Hình minh họa

4. Chương 38
Gia Tĩnh Minh Thế Tông.

Đang ngon giấc, tôi giật mình thức dậy vì tiếng đập cửa ầm ầm từ dưới nhà vọng lên. Tôi đoán rằng phải có nhiều cánh tay cùng đập một lần vào cửa thì âm thanh hung hãn, dồn dập, gấp rút của nó, mới có thể vang xa từ tầng một lên đến tầng ba, nơi tôi đang ngủ.

Tung mền ngồi dậy nhìn quanh, tôi thấy Cúc đang ôm chặt con vào lòng, con bé hình như sợ hãi quá sức nên im thin thít. Riêng tôi thực lòng mà nói, tôi sợ đến són đái trong quần.

Từ ngày được thả về với gia đình cho đến hôm nay cũng đã gần hai năm rồi, thỉnh thoảng trong giấc ngủ, tôi lại mơ thấy công an đập cửa nhà rồi bắt tôi nhốt vào trại cải tạo. Với những cơn ác mộng như vậy, tôi thường thấy mình bị giam giữ khi thì năm năm, khi thì mười năm, cũng có khi không có ngày về, bị nhốt hoài nhốt mãi giữa những hàng rào vỉ sắt PSP đen đủi xám xịt, tuy không có cảnh bom rơi đạn nổ, không có bắn giết chết chóc, chỉ toàn là kê khai lý lịch cá nhân, thành khẩn khai báo tội lỗi, đọc kiểm điểm hàng đêm trước tổ, chỉ chừng đó thôi nhưng nó làm cho con người sợ hãi đến bỏ ăn mất ngủ, và một đều ghê rợn nhất không bao giờ thay đổi là câu nói của quản giáo “Sĩ quan Ngụy phản quốc như các anh, không bị xử bắn, chỉ cho đi ở tù là may mắn lắm rồi”. Chỉ có chừng đó sự kiện, tái đi diễn lại từ ngày này qua ngày khác, và lần nào cũng vậy, khi thức dậy là toàn thân của tôi mồ hôi đã ướt dầm hết cái áo lót.

Những cơn mộng dữ theo đuổi tôi, lâu dần khiến tôi có phản xạ tự nhiên như khi thấy nguy hiểm, sẽ tìm đường chạy thoát thân. Không hiểu tại sao đêm nay, khi nghe tiếng đập cửa, sự sợ hãi lại khiến tôi ngồi chết lặng, bất động một chỗ đến vài phút mà không biết phải làm gì. Có thể mặt mày của tôi đã trở nên xanh lè, cắt không còn giọt máu, cho nên Cúc trấn an tôi.

-Không có gì đâu anh, đừng có sợ.

Tôi chưa kịp hoàn hồn thì ầm một tiếng, cánh cửa phòng ngủ của vợ chồng tôi bung ra. Bốn, năm người, mặc thường phục với áo sơ mi xam xám, quần vải màu bộ đội, chân mang dép nhựa. Một điều đặc biệt là tất cả những người này đều có một gương mặt lạnh như tiền, và đôi mắt sắt như dao. Một người trong bọn vai mang sắc cốt, đầu đội nón cối, tay cầm tờ giấy dõng dạc hỏi.

-Ai là Nguyễn thị Cúc.

-Thưa tôi đây.

Nhìn chăm chăm vào mặt Cúc, gã đội nón cối gặng hỏi.

-Chị là Nguyễn thị Cúc?

-Thưa phải.

-Tên tư sản mại bản Nguyễn văn Bảy, là gì của chị?

-Ông ấy là ba của tôi.

-Hắn ở đâu rồi?

-Dạ, đang ở bên Mỹ.

Đưa tay chỉ vào tôi, gã hỏi.

-Còn cái anh ngồi đó là ai?

-Thưa là chồng tôi.

Hình minh họa

Nhìn quanh khắp căn phòng, gã to giọng.

-Còn ai ở trong phòng này nữa không?

Cúc xẳng giọng.

-Còn con gái của tôi.

Cúi đầu ghi ghi chép chép vào tờ giấy một lúc, gã đội nón cối nói to.

-Chúng tôi có lệnh ở trên lục soát căn nhà này.

Nói xong, gã chỉ vào phòng tắm.

-Yêu cầu hai người đi vào phòng đó ngay lập tức, đem luôn đứa bé vào.

Cúc hỏi với giọng bực tức.

-Các ông là ai? Giữa đêm khuya ngang nhiên vô nhà của tôi rồi đòi nhốt chúng tôi vào phòng tắm.

Gương mặt của gã đội nón cối lộ vẻ giận dữ, đôi mắt của hắn long lên sòng sọc như muốn ăn tươi nuốt sống người đối diện.

-Chúng tôi là ai hả? Chị sẽ được cho biết sau. Bây giờ, chị có thi hành lệnh hay không thì nói.

Nhìn gương mặt đầy sát khí của gã, tôi nháy mắt với Cúc rồi riu ríu dẫn Cúc và con đi vào phòng tắm. Mới được vài phút, bất chợt có hai tên Việt Cộng trẻ tuổi vào dẫn chúng tôi ra, họ đưa chúng tôi lên sân thượng, một người chỉ tay về phía trước rồi nói.

-Hai người đến cuối sân, rồi ở đó.

Nói xong hai tên Việt Cộng kéo ghế ngồi chận đường, không cho chúng tôi di chuyển đi đâu hết.

Tôi ngẩng đầu nhìn lên trời cao, bầu trời không còn tối đen như mực mà đã chuyển sang màu xám trắng, tôi ước chừng giờ này chắc đã hơn năm giờ sáng.

Khi mặt trời bắt đầu mọc ở phương đông, tỏa ánh sáng ấm áp xuống sân thượng nơi tụi tôi đang ngồi. Cúc nói với hai tên Việt Cộng đang canh giữ chúng tôi.

-Các anh phải cho chúng tôi đi vệ sinh và làm thức ăn sáng, con tôi đói rồi.

Một trong hai tên Việt Cộng nhìn đồng hồ.

-Chị đợi đấy, tôi còn phải xin lệnh trên.

Vừa dứt lời, hắn quay sang nói nhỏ với đồng chí của hắn rồi quay lưng bước đi xuống nhà. Chừng 15 phút sau tên Việt Cộng lúc nãy trở lại. Hắn chỉ vào Cúc rồi nói.

-Chị dẫn con đi theo tôi.

Quay sang tôi.

-Anh không được đi đâu hết, ở lại đây cho đến khi chị này và con bé trở lại, lúc bấy giờ anh mới được đi.

Loay hoay như vậy mất hơn cả 20 phút, cuối cùng chuyện vệ sinh cá nhân buổi sáng của chúng tôi, cũng giải quyết xong xuôi. Hai tên Việt Cộng canh gác chúng tôi trở lại nơi ghế ngồi, họ thi hành nhiệm vụ một cách nghiêm chỉnh, không chút lơ là.

Tôi và Cúc ngồi ở cuối sân thượng, cách hai tên Việt Cộng một khoảng khá xa. Chúng tôi chuyện trò với nhau, chỉ nói nhỏ nên không sợ họ nghe được. Cúc hỏi tôi.

-Lúc nãy anh xuống dưới nhà, có thấy ba má và mọi người ở đâu không?

Tôi than với Cúc.

-Tên Việt Cộng nói giọng Miền Trung, áp giải anh đi, hắn đưa anh tới thẳng phòng tắm, rồi đứng ngay cửa chờ đợi. Mới được vài phút là hắn lại hối anh mau trở về. Bị canh giữ nghiêm ngặt nên anh không thấy và không biết gì cả.

Cúc nói với tôi.

-Em và con cũng bị y như vậy.

Đến lúc này, Cúc nói mà như là thì thầm.

-Anh à, tất cả vàng bạc, tài sản của mình em đều để trong cái xách tay của em. Hai mươi lăm lượng vàng Kim Thành nặng gần một kí, mười xấp tiền giấy một trăm đô la, mỗi xấp là mười ngàn, tổng cộng là một trăm ngàn đô.

Hình minh họa

Vừa dứt lời, Cúc đã vội vàng đính chánh.

-Không phải một trăm, thực ra số tiền đó chỉ còn chín mươi chín ngàn mà thôi. Vì mấy năm trước, em đã lấy ra một ngàn gởi cho anh. Quan trọng nhất là cái túi đựng hột xoàn, em cũng để trong xách tay luôn.

Vốn đã biết rõ tình trạng tài chánh của gia đình nhưng tôi vẫn đinh ninh là để tiền trong nhà của ba tôi là an toàn nhất, nên tôi rất an tâm, không có ý kiến gì với Cúc. Hôm nay, đứng trước tình trạng của cải mất trắng không còn một xu nào, tôi mới biết là cả tôi và Cúc đều sai lầm. Câu nói “Không bao giờ để tất cả trứng vào một cái giỏ” hiện ra trong đầu.

Tôi nhìn Cúc mà lòng đầy lo âu.

-Anh tin rằng, nếu họ lục soát trong nhà, tất cả tài sản của mình không cánh mà bay mất rồi.

Thay vì buồn bực, Cúc lại an ủi tôi.

-Anh à, mình phải bình tĩnh để đối phó với mọi tình huống khó khăn.

Khoảng 9 giờ sáng, tên Việt Cộng đầu đội nón cối với cái sắc cốt đeo bên hông lúc sáng xuất hiện, tay ôm một mớ giấy trắng. Hắn đưa giấy bút cho Cúc và tôi rồi nói.

-Chị Nguyễn thị Cúc và anh đây, hai người phải khai lý lịch cá nhân, khai báo đầy đủ quá trình hoạt động trong suốt thời gian sống dưới chế độ Mỹ Ngụy. Riêng chị Cúc, chị phải viết cho rõ có bao nhiêu nhà cửa ở thành phố Hồ chí Minh của tên tư sản mại bản Nguyễn văn Bảy và nhà riêng của chị, không được bỏ sót, cho dù là một căn nhà nhỏ.

Cúc nói với tên đội nón cối.

-Tôi muốn gặp người chỉ huy của các anh.

-Chị cần gì?

-Chúng tôi bị bỏ đói từ sáng đến giờ, con tôi chỉ mới hơn hai tuổi, nó cần có sữa và phải được ăn uống đầy đủ.

Gã đội nón cối nhìn con gái tôi.

-Chị cần gì nữa không?

Cúc nói.

-Cho tôi đi lấy một ít thực phẩm của con nít.

Gã đội nón cối lắc đầu.

-Chuyện này thì không thể được, chị và chồng chị bị cách ly, không được liên hệ với bất cứ một ai.

Nói xong gã quay lưng bước đi.

Tôi và Cúc lại phải ngồi đó chờ đợi. Khoảng nửa giờ sau mới thấy gã đội nón cối trở lại, hắn đặt cái giỏ xách xuống bàn, lấy ra bốn ổ bánh mì nhỏ, một chai nước lạnh, hai cái ly và một lon sữa đặc có đường kèm theo cái khui đồ hộp. Mấy thứ thực phẩm này, tôi biết hắn lấy dưới nhà bếp của tôi, trừ mấy ổ bánh mì.

Gã đội nón cối nói.

-Đây là phần ăn trưa và tối của gia đình chị. Theo đây, tôi cũng yêu cầu chị và chồng của chị phải khai lý lịch cho đầy đủ chi tiết. Khoảng ba giờ chiều, tôi sẽ trở lại để thu bản tự khai của hai người.

Nói xong gã đội nón cối quay lưng bước đi, mới được hai bước bất chợt như nhớ ra điều gì, hắn xoay người lại.

-Có một điều quan trọng mà tôi muốn nói thêm, vàng bạc, đá quý hay đô la, là những thứ quốc cấm, đế quốc Mỹ dùng nó để trả lương cho bọn tình báo CIA mà bọn chúng gài lại. Nếu có những thứ trên, chị phải thành thật khai báo với cách mạng.

Sau một thoáng bối rối, Cúc trả lời.

-Tôi không có gì cả, ngoại trừ mấy trăm đồng của nhà nước Việt Nam.

Gã đội nón cối cười thoải mái.

-Chị không có vàng bạc, đá quý, đô la. Đúng không?

Hình minh họa

Cúc đáp.

-Đúng.

-Chị nhớ ghi rõ điều này vào tờ khai, tội lỗi của gia đình chị, một gia đình tư sản mại bản, nặng hay nhẹ là ở mục này.

Dường như thấy đã dặn dò chúng tôi đầy đủ mọi chuyện, gã đội nón cối vội vã bước nhanh như chạy, rồi biến mất sau cầu thang ở đầu sân.

Cúc cầm chai nước, đưa đến trước mặt hai tên Việt Cộng canh chúng tôi.

-Tôi muốn nấu chút nước sôi pha sữa cho con.

Tên Việt Cộng lắc đầu nguầy nguậy.

-Muốn làm bất cứ chuyện gì, chị phải hỏi ông cán bộ lúc nãy, chúng tôi không biết gì hết, chỉ có nhiệm vụ canh giữ hai người.

Tôi biết nấu nước sôi chỉ là cái cớ, Cúc muốn đi xuống nhà để dò la tin tức, tìm hiểu thêm chuyện gì đã xảy ra cho cả gia đình. Gặp hai ông thiên lôi đứng canh cửa, nên Cúc đành chiụ thua.

Cúc cho con ăn bánh mì chấm với sữa đặc, tội nghiệp con bé đói bụng nên ăn uống ngon lành.

Tôi lấy tờ giấy và bắt đầu viết bản tự khai lý lịch cá nhân. Với tù cải tạo, khai lý lịch là nghề của chàng, tôi viết một mạch những chi tiết cá nhân mà tôi đã thuộc lòng, đã khai đi khai lại hàng vài chục lần ở trong tù. Trong vòng nửa giờ, bản tự khai lý lịch cá nhân của tôi đã hoàn tất. Tôi quay sang giữ con để Cúc rảnh tay viết bản tự khai, đồng thời nhắc nhở Cúc.

-Em có biết không, giọng điệu của tên Việt Cộng đội nón cối này, giống hệt như tên Việt Cộng tra tấn anh ở trong tù. Tiền bạc của mình hắn đã lấy hết sau đó hăm dọa, ép buộc mình phải ký vào bản tự khai, xác nhận là không có đồng xu cắc bạc nào hết. Hình như, anh đã kể chuyện này cho em nghe rồi phải không?

Cúc gật đầu.

-Em có nghe rồi.

Tôi nói với giọng rầu rầu.

-Qua bài học kinh nghiệm ở trong tù, anh biết chắc chắn một điều, tất cả đô la, hột xoàn, vàng bạc, của mình đã bị bọn nó cướp mất rồi.

Nhìn gương mặt buồn buồn của Cúc, đột nhiên tôi cảm thấy xót xa trong lòng rồi yên lặng không muốn nói gì. Hai đứa xé miếng bánh mì rồi gắng gượng nhai cho đỡ đói, tôi nói xé mà không nói bẻ vì ổ bánh mì cũ, dai nhách như miếng giẻ.

Ba giờ chiều, gã đội nón cối trở lại. Sau khi thu hai bản lý lịch cá nhân của tôi và Cúc, hắn chìa ra một tờ giấy đã viết sẵn.

-Đây là giấy xác nhận, chị Nguyễn thị Cúc không có vàng bạc, đá quý và đô la. Chị hãy đề ngày tháng vào rồi ký tên ở bên dưới.

Cúc cầm tờ giấy, đọc sơ qua rồi lặng lẽ ký tên, tay ký mà gương mặt lộ vẻ phẫn uất tột cùng. Khi đưa tờ giấy cho gã bộ đội, Cúc nhìn hắn với đôi mắt hung dữ của một con thú khi bị dồn tới chỗ chết.

Gã đội nón cối với giọng nói đầy bực tức.

-Thành phần tư sản mại bản như chị phải vui mừng, vì đã được nhà nước khoan hồng, không bắt đi cải tạo. Tại sao chị lại cau có như vậy?

Cúc nói.

-Ông lầm rồi, tôi không cau mà cũng không có gì hết.

Gã đội nón cối nhìn tờ giấy với chữ ký của Cúc, rồi cười thoải mái.

-Chị làm việc rất tốt, tôi sẽ đề nghị với ở trên giúp đỡ gia đình chị. Tối nay hai người phải ngủ tại chỗ này, ngày mai tôi tin rằng công việc kiểm kê sẽ hoàn tất, lúc bấy giờ chị được trả tự do. Bây giờ tôi xuống phòng của chị, lấy mùng mền giúp cho hai người.

Gia đình nhỏ của tôi, trải qua một đêm dài nơi cuối sân thượng. Cũng may Đà Lạt đang vào mùa hè, chúng tôi lại có đủ mùng mền nên không bị lạnh, mặc dù phải ngủ ngoài trời.

Hai tên Việt Cộng canh gác chúng tôi nằm ngủ ở đầu sân thượng gần cầu thang. Mỗi khi chúng tôi muốn đi tiểu, đều phải xin phép và sau đó được họ đưa đi. Suốt đêm trong giấc ngủ, thỉnh thoảng tôi lại nghe nhiều tiếng búa đập chan chát từ dưới nhà vọng lên.

Hình minh họa

Tôi khều vai Cúc.

-Em à, hình như cái đám Việt Cộng này muốn phá nhà mình hay sao. Anh nghe có nhiều tiếng búa nện xuống sàn nhà.

Cúc với giọng ngái ngủ.

-Em có nghe gì đâu, mà kệ họ muốn phá gì cũng được. Của cải mất sạch em còn chưa lo, thì sá gì cái nhà nho nhỏ này.

Cuối cùng tôi đành nghe theo lời Cúc, nhắm mắt dỗ giấc ngủ.

Quá sức mệt mỏi vì đầu óc căng thẳng suốt ngày, tôi đánh một giấc ngon lành cho đến khi trời đã sáng tỏ.

Khi tôi và Cúc thức dậy, hai tên Việt Cộng canh giữ chúng tôi đã biến đi đâu mất tự lúc nào. Không có người gác, chúng tôi lần mò đi xuống lầu ba. Mới nhìn thấy phòng ngủ của mình, tôi tưởng mình bị hoa mắt. Đồ đạc trong phòng ngổn ngang, bừa bộn, như là nhà hoang, ghế gãy, chân bàn xiêu vẹo, tủ mất cửa, bên trong trơ trọi, trống trơn không còn một thứ gì. Quần áo của tôi và Cúc biến mất, chỉ còn sót lại vài bộ quăng dưới sàn nhà, mấy tấm nệm trên gường ngủ bị rạch nát lòi cả bông trắng bên trong, tường và sàn nhà loang lổ vết đục đẽo. Tôi suy nghĩ mãi mà không biết tại sao những người kiểm kê nhà của tôi, phải đục phá như vậy. Cuối cùng sau khi suy nghĩ cặn kẽ, tôi tin rằng họ làm như vậy chỉ với mục đích là tìm vàng và đô la cất giấu trong đó mà thôi.

Trong tự điển của Việt Nam Cộng Hòa, chữ đục tường khoét vách dùng để chỉ những người thuộc thành phần đầu trộm đuôi cướp. Hôm nay năm 1978, sau ba năm Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, những người đục tường khoét vách nhà tôi tự xưng là kiểm kê, đánh tư sản mại bản, đợt hai hay đợt ba gì đó, tôi hoàn toàn không biết. Nếu đem so sánh hai vế kể trên thì nhà nước kiểm kê, đánh tư sản mại bản, đồng nghĩa với bọn đầu trộm đuôi cướp.

Nóng lòng, muốn biết chuyện gì xảy ra với ba má tôi, chúng tôi vội vàng đi xuống thang lầu.

Lầu hai vắng ngắt, không một bóng người, phòng ngủ của ba má tôi và hai đứa em cũng tan hoang như nhà vô chủ, tường, sàn nhà loang lổ dấu vết đục cắt đào bới.

Không thể chần chờ, tôi chạy nhanh xuống tầng trệt, nơi phòng khách bức tường che cái tủ rượu đã bị phá sập, hơn một trăm chai rượu với cái tủ đã bị đem đi đâu mất. Ba má tôi và chị Hai đang ngồi nơi phòng khách. Khi thấy Cúc, ba tôi vội đứng lên ôm lấy đứa con dâu. Đây là hành động hơi khác thường của ba tôi, bởi vì từ xưa đến giờ, chưa bao giờ tôi thấy ông biểu lộ tình thương yêu con dâu bằng hành động ôm Cúc như vậy. Trên gương mặt nhăn nheo già nua của ông, hai hàng nước mắt lăn dài xuống má. Ông nói mà tiếng được tiếng mất.

-Con.. Con có..sao không?

Hình như những giọt nước mắt của ba tôi đã làm Cúc nao lòng. Với giọng nói như nấc nghẹn trong cổ. Cúc nói.

-Dạ con không sao hết.

Cũng cùng lúc ấy, hình như sự chịu đựng khổ đau đã lên đến mức cuối cùng, như một giọt nước tràn ly, Cúc ôm ba tôi khóc như mưa.

Tôi nghĩ rằng bao nhiêu là oan khiên, uất hận, chất chứa trong lòng từ hôm qua đến giờ, được dịp bùng phát, cho nên Cúc mới khóc ngon lành như vậy.

Tôi ôm lấy Cúc vỗ về.

-Nín đi em.

Cúc nói qua nước mắt.

-Ngày xưa, ba có kể cho em nghe một chuyện xảy ra ở ngoài xứ của mình, khi ông dắt trâu trên con đường làng. Chính ba đã chứng kiến cảnh một con gà mái xù lông, xòe cánh, với mục đích bảo vệ đàn con quyết không cho diều hâu bắt con của mình, cho dù chính bản thân của con gà mẹ cũng có thể là con mồi của diều hâu. Trước sự đề cao cảnh giác, sẽ chống cự mãnh liệt đến cùng của gà mẹ, con diều hâu đành bỏ cuộc bay đi. Kể xong chuyện ba nói với em “Trước mặt kẻ thù cho dù họ có mạnh đến đâu, nguy hiểm đến mức nào, con phải can đảm dùng tất cả sức lực của mình để chống lại. Nếu có thắng được mình, kẻ thù cũng phải trả một giá tương xứng.” Hôm nay nhớ lời dặn của ba, em đã tỏ thái độ chống đối của mình. Trước mặt tên Việt Cộng, em phải dùng tất cả can đảm mà mình có để không khóc trước mặt kẻ thù. Nhưng mà bây giờ thì em có quyền khóc, vì tất cả gia tài của mình đã bị những người nhân danh chính quyền ăn cướp một cách trắng trợn, dã man, tàn bạo, rừng rú, hơn cả những bọn thổ phỉ ở trên núi .

Hình minh họa

Má tôi và chị Hai nhìn thấy cảnh mũi lòng trước mặt, cả hai cũng ôm nhau khóc theo, tiếng khóc của họ không chừng còn to hơn tiếng khóc của ba tôi và Cúc. Đứng trước cảnh bi lụy như vậy, tôi phải quay mặt rồi đi ra trước nhà. Nếu nấn ná ở đây lâu hơn chút nữa, tôi biết mình sẽ khóc theo. Đến lúc này tôi mới giật mình, chiếc xe Honda của tôi vẫn thường dựng ở đây, không còn nữa. Trong tận cùng của tuyệt vọng, tôi ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vào tường, đầu óc như tê dại đi khiến tôi không còn muốn sống với thực tại.

Những gì vừa mới xảy ra cho gia đình tôi, nhắc tôi nhớ đến mấy câu thơ trong truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

Đồ tế nhuyễn của riêng tây

Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham.

Gì chứ truyện Kiều thì người Việt Nam hầu như ai cũng biết. Nói gì đâu cho xa, má tôi là một người đàn bà nhà quê, chỉ biết dăm ba chữ quốc ngữ đủ để viết tên mình, vậy mà bà cũng thuộc làu nhiều đoạn trong truyện Kiều.

Ngày xửa ngày xưa, xưa lắm rồi, vào đời Gia Tĩnh triều Minh bên Tàu, thời buổi phong kiến, vua chúa quan lại, có toàn quyền sinh sát trong tay, nhưng khi muốn cướp tài sản của nhà viên ngoại họ Vương, mấy ông tham quan thời bấy giờ, vẫn phải tìm một cái cớ, dựa vào lời khai man của thằng bán tơ để mà hành xử.

Hôm nay, mặc dầu đã gần cuối thế kỷ thứ 20, lúc mà con người đã đặt chân lên mặt trăng từ lâu rồi, thì ở cái nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng Sản ăn cướp giữa ban ngày, mà không cần dựa vào lời man khai của một ai. Nhà nước, chỉ cần gắn cho một người nào đó bốn chữ “Tư sản mại bản” là có quyền cho sai nha đến dọn sạch của cải vật chất trong nhà người đó.

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

(Vietnam, Qu’As Tu Fait De Tes Fils?)

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 30 Mar 2024

6. Chương 5
Các Tướng Lãnh Tức Giận Vì Thấy Mình Bị Nhục

Thứ hai, 7 tháng 4
Đại tá Khôi, sĩ quan phụ tá trưởng Phòng Nhì Quân Đoàn III tiếp tôi tại Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, một doanh trại rộng lớn nằm gần sân bay Tân sơn Nhất, nơi có rất nhiều ăng ten và có Thiết Giáp canh gác. Lúc bấy giờ là 9 giờ sáng. Đại tá Khôi, một cựu sĩ quan lực lượng đặc biệt, được huấn luyện ở Okinawa, là một người cao lớn mảnh khảnh mặt đầy vết thẹo vì ông đã đạp phải mìn năm 1970.
Trên tường của văn phòng ông treo đầy bản đồ, được cập nhật rất cẩn thận.
“Tôi tưởng là Anh muốn biết những gì đã xảy ra ở Cao Nguyên và ở Huế phải không?”, ông ta hỏi tôi.
– Thưa đại tá, Tổng Thống Thiệu có nói về “những sai lầm trầm trọng về chỉ huy”. Vì tôi không có mặt tại chỗ, nên tôi muốn có vài chi tiết chính xác.
Đại tá Khôi xoa tay, nhìn tôi bằng cặp mắt thật sắc bén và tìm tòi, sau đó trả lời cho tôi với một nụ cười có đôi chút gượng gạo:
– Chắc là tôi không thể trả lời hết các câu hỏi của Anh được đâu, nhưng tôi sẽ cố gắng nói với Anh phần chính. Đồng ý không?”
Tôi gật đầu chấp thuận ngay. Đại tá Khôi sau đó mới bắt đầu nói:
“Trước hết chúng ta phải xác nhận một việc: cộng sản đã có tấn công vào thị xã Ban mê Thuột 2 lần vào năm 1968 (Mậu Thân) và năm 1972, và cả hai lần chúng đều thất bại. Nhưng lần nầy quân lực của chúng tôi ở vào một vị thế rất yếu kém và không còn được một sự Không Trợ mạnh mẽ của Không Lực Hoa Kỳ đã từng giúp chúng tôi bẻ gãy cuộc tấn công của cộng sản hai lần trước. Chúng tôi biết là cộng sản Bắc Việt đã tập trung các đơn vị và chiến cụ trong những vùng rừng rậm nằm giữa biên giới Lào và Cam Bốt và các thành phố vùng Cao Nguyên. Nhưng vì người Mỹ đã luôn luôn từ chối không cung cấp cho chúng tôi các oanh tạc cơ hạng nặng để giúp chúng tôi đánh ngay vào tuyến xuất phát nằm ở các vùng tập trung của địch, nên chúng tôi không thể dự đoán được cuộc tấn công của họ.
-Ngày 10/3 hồi 4 giờ sáng, cộng sản đã mở màn trận đánh bằng một trận mưa pháo đủ loại, từ 130 ly, đến bách kích pháo nặng và hỏa tiễn, nã vào thành phố Ban mê Thuột . Pháo dọn đường nầy đã kéo dài trong ba tiếng đồng hồ, và ngay sau đó là các chiến xa T.54 mở cuộc xung phong vào thị trấn. Người của chúng tôi đã cực lực chống trả, đặc biệt là ở mạn Nam của thành phố và chung quanh phi trường, nhưng vào lúc trưa Không Lực của ta lại đánh nhằm ngay bộ chỉ huy của tiểu khu, cứ điểm phòng ngự cuối cùng, và sau đó tất cả mọi nỗ lực để tái chiếm lại thị trấn đều thất bại. Tổng Thống Thiệu đã muốn chống giữ Ban mê Thuột , vì đây là thủ đô của đồng bào Thượng, và mất Ban mê Thuột là tất cả các bộ lạc trên vùng Cao Nguyên nầy sẽ mất hết tinh thần. Ngày 13 tháng 3, được báo là thành phố nầy đã hoàn toàn bị cộng sản Bắc Việt kiểm soát, Tổng Thống Thiệu đã đơn phương quyết định bỏ hết vùng Cao Nguyên, thà là di tản hết dân chúng và quân đội trú phòng đang bị đe dọa còn hơn là tiếp tục chống giữ tới cùng, để có thêm nguy cơ tổn thất về nhân mạng rất cao .
Từ nhiều tháng trước Bộ Tổng Tham Mưu chúng tôi có thỏa thuận với các cố vấn Hoa Kỳ một kế hoạch theo đó chúng tôi dự trù rút hết quân lực về các tỉnh miền duyên hải của miền Trung trong trường hợp bị cộng sản Bắc Việt tổng tấn công mạnh. Cuộc lui binh nầy – đã không thực hiện được vì vừa quá tốn kém vừa còn phải chống giữ lãnh thổ trên phương diện chiến thuật – thật ra có 2 đường lợi, là rút gọn lại tuyến phòng ngự của chúng tôi và có thể tiếp vận dễ dàng bằng đường biển.
Ngày 13 tháng 3, tướng Ngô quang Trưởng, tư lệnh Vùng I Chiến Thuật, một vùng nằm giữa vĩ tuyến 17 và Đà Nẵng , bay về Sài Gòn để họp với Tổng Thống Thiệu. Tổng Thống Thiệu đã cho lệnh tướng Trưởng rút quân trú phòng Quảng Trị và cũng đừng ngần ngại phải bỏ luôn Huế, nếu thấy cần thiết để tổ chức một tuyến phòng thủ vững chắc ở Đà Nẵng , ở đó có thể lợi dụng được phi trường lớn và các kho dự trữ lương thực và đạn dược quan trọng. Tướng Trưởng đã tuyên bố thỏa thuận trên nguyên tắc, và nói thêm là ông sẽ dùng hết khả năng để phòng thủ Huế.
Ngày 14 tháng 3, Tổng Thống Thiệu đến căn cứ Hải Quân ở Cam Ranh để có một buổi họp kín của Hội Đồng Quân sự. Có 5 tướng lãnh hiện diện trong buổi họp : Tổng Thống Thiệu, đại tướng Khiêm Thủ tướng Chánh Phủ , tướng Cao văn Viên Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH, tướng Đặng văn Quang cố vấn quân sự của Tổng Thống và tướng Phú tư lệnh Vùng II Chiến Thuật.
Sau một cuộc bàn cãi thật lâu, tất cả tướng lãnh hiện diện trong buổi họp nầy đều quyết định rút bỏ luôn hai thành phố nằm về hướng Bắc của Vùng Cao Nguyên là Kontum và Pleiku. Kế hoạch được soạn thảo nầy dự trù tập trung các đơn vị xuống vùng Duyên Hải và từ đó sẽ mở một cuộc phản công lên Ban mê Thuột . Không có ấn định chính xác giờ giấc để tiến hành cuộc di tản hai thành phố Kontum và Pleiku.. .. ..’’
Đại tá Khôi bất thình lình ngưng nói, xoa hai bàn tay khô cằn của ông ta, sau đó mới tiếp tục một cách trịnh trọng:
– Điểm sau cùng nầy mang một tính cách lịch sử quan trọng. Bốn trong số năm vị tướng lãnh hiện diện đều nghĩ rằng cuộc triệt thoái phải được tiến hành tuần tự và sẽ được kết thúc vào tuần lễ chót của tháng 3. Vị tướng lãnh thứ năm là tướng Phú, người chịu trách nhiệm về cuộc hành quân nầy, là một sĩ quan có một dĩ vãng quân sự hào hùng, tuy rằng ông đã đi lên từ hàng binh sĩ. Đã từng lăn lóc trên chiến trường suốt 14 năm, ông là một tư lệnh sư đoàn tài giỏi nhưng lại là một tư lệnh Quân Đoàn quá yếu. Đã từ lâu rồi ông bị bệnh, ông lại không được chuẩn bị trước và không đủ khả năng điều khiển một cuộc hành quân triệt thoái quy mô như vầy, nghĩa là một trong những cuộc điều quân khó khăn nhất trong các phép dụng binh trong lịch sử chiến tranh”
Tôi quan sát rất kỹ đại tá Khôi. Thình lình tôi có cảm tưởng khó chịu là hình như ông ta đang cho tôi một bài “diễn văn” đã được soạn sẳn từ trước . Tôi không muốn ngắt ngang ông ta. Tôi cần phải nghe luận giải của ông đến cùng: cũng sấp sửa đến phần kết luận rồi..Và đại tá Khôi nói tiếp:
– “Chiều tối ngày 14 tháng 3, về đến Pleiku hơi trễ, tướng Phú không cần giải thích, đã cho lệnh Quân Đoàn tiến hành cuộc hành quân triệt thoái ngay vào sáng sớm hôm sau. Vào lúc rạng đông ngày 15 tháng 3, tất cả binh sĩ cùng dân chúng của hai tỉnh Kontum và Pleiku đã vội vã rời khỏi hai thành phố nói trên, bỏ lại tại chổ hàng chục triệu mỹ kim chiến cụ. Cả hai đoàn người và xe qua quốc lộ 19 rồi mới vào con đường 7 B. Trên con đường 7 B nầy vốn chỉ là một con đường mòn được trải đá sơ sài, tất cả các cầu đều bị giật sập, đi sâu vào một vùng rừng đầy gai góc lùm bụi, cỏ cao ngất trời. Khi các xe vận tải nặng và các xe thiết giáp đi qua rồi thì các đường nước trở thành những vũng sình lầy lội, làm cho hàng ngàn xe khác đi sau bị mắc lầy, tự đâm vào nhau và ùn tắc nghẽn lại hết. Trên đường rút đi, các đơn vị đi trước và đi sau 200.000 dân tỵ nạn, bị rơi vào một trận phục kích kinh hồn của sư đoàn 320 Bắc Việt. Hai chục ngàn dân (20.000) bị tàn sát, 500 xe đủ loại bị phá hủy, tất cả biến cuộc triệt thoái nầy thành một cuộc tháo chạy trong hỗn loạn. Và cũng từ đó mới gây ra nổi kinh hoàng khó tả trong dân chúng…
– Và Huế thì sao, thưa đại tá? Việc gì đã thật sự xảy ra ở đó?
– Tin tức thảm hại trên con lộ 7 B được lan truyền rất nhanh. Tướng Trưởng lo sợ mình sẽ bị hoàn toàn cô lập ở phía Bắc, đã quyết định bỏ Huế. Nhưng Tổng Thống Thiệu vừa mới tuyên bố trên vô tuyến truyền thanh ý định của ông sẽ cố thủ cố đô của Việt Nam, đã cho lệnh tướng Trưởng phải quay trở lại. Quân lính lúc đó đã di chuyễn gần đến Đà Nẵng trong trật tự, đã phải quay trở lại. Nhưng họ lại gặp trên 100.000 dân tỵ nạn đang chạy loạn, xô đảy họ và ngăn cản họ làm cho họ không sao tiến lên được. Sư đoàn 1 bộ binh, một sư đoàn ưu tú của QLV NCH do đó bị tan hàng và biến mất trong đám đông hổn loạn quái ác nầy vốn đang bị cộng sản Bắc Việt tàn sát bằng đủ mọi loại pháo. Huế đã hoàn toàn bị địch chiếm. Và Đà Nẵng không còn có thể phòng thủ gì nữa được. Phần còn lại thì tất cả các nhà báo đã có tường thuật hết rồi”
Đại tá Khôi đứng dậy và đi vòng bàn viết của ông ta, điều nầy có nghĩa là buổi nói chuyện của chúng tôi đã chấm dứt. Tôi khẳng định là những tin tức mà ông đã nói với tôi hôm nay chỉ đúng sự thật có một phần nào thôi, nhưng chắc chắn không phải là tất cả sự thật. Cái lối giải thích để làm giảm nhẹ đi phần nào trách nhiệm của Tổng Thống Thiệu nó không đúng với tính tình của các nhân vật trong câu chuyện.. Tôi rất muốn nói với đại tá Khôi như vậy, nhưng tôi cảm thấy ông ta không muốn đi ra ngoài luận cứ “chánh thức” mà ông đã cung cấp cho tôi. Do đó tôi chỉ hỏi ông ta:
“Xin đại tá chỉ giùm tôi có thể đi gặp tướng Phú ở chỗ nào được?
Gương mặt ông ta lạnh nhạt trở lại, và câu trả lời cụt lủn của ông ta làm tôi hết sức ngạc nhiên:
– Tüớng Phú đã bị phạt giam, và không thể tiếp ai được hết”
Tôi từ giã đại tá Khôi. Nhưng trước khi rời khỏi Bộ Tổng Tham Mưu, tôi nhờ vị sĩ quan báo chí xin giùm tôi một cái hẹn để đi gặp thiếu tướng Nguyễn khoa Nam, Tư Lệnh Vùng Đồng Bằng sông Cửu Long. Sau vài lần điện thoại, và gọi vô tuyến, tướng Nam đã đồng ý gặp tôi sau 3 giờ chiều, nhơn lúc ông ghé lại Mỹ Tho.

° ° °

Cuộc nói chuyện của tôi với đại tá Khôi làm tôi đau đầu. Hình ảnh mà ông ta đã tả cho tôi về một tướng Phú già nua, suy nhược, không còn đủ sáng suốt và khả năng để phối hợp một cuộc điều quân, thực tình không đứng vững. Thật vậy, tôi chỉ không gặp tướng Phú có sáu tháng, nhưng tôi biết ông ta cách đây 23 năm, từ khi ông ra trường sĩ quan Thủ Đức. Tôi vẫn biết ông ta chỉ còn có một lá phổi. Nhưng dù là nhỏ con ốm yếu nhưng với 49 tuổi đầu, ông là một người dày dạn phong sương. Ông rất cứng rắn đôi với binh sĩ của mình và cũng cứng rắn đối với bản thân, dẽo dai, mưu lược và giỏi về chiến thuật, nên trước hết ông là một sĩ quan của thế công.
Ở Điện biên Phủ, nơi mà ông được thăng cấp đại úy tại mặt trận, ông đã tạo được lịch sử của ông rồi. Ngày 30 tháng 3 năm 1954, lúc Việt Cộng đánh một trận chiến đẫm máu ở 5 ngọn đồi, trong lúc xáp lá cà, bọn bộ đội đã gọi hỏi nhau ơi ới: “Thằng Phú đâu rồi? Phải bắt thằng Phú nghe, bắt sống nó nghe!” Ông ta không rơi vào tròng của quân Bắc Việt và liên tiếp mở hết cuộc phản công nầy đến trận phản công khác. Phương pháp chỉ huy của ông Phú rất khắt khe. Với một người có hành động vi phạm kỷ luật mà ông đã ban hành, ông cho cột chân tay người đó vào hàng rào kẽm gai. Mặc dầu luôn luôn bị pháo kích hết sức nặng nề, hệ thống phòng ngự đầy hố tác chiến trên đồi Elian 1 của ông đã giúp ông cầm cự suốt nhiều tuần lễ, đảy lui tất cả cả các đợt xung phong của địch. Bốn ngày trước khi cứ điểm bị thất thủ, ông còn oanh liệt cho nổ 3 lô cốt có trang bị súng không giật 57 ly, đã kịp thời phát hiện, chận đứng và tấn công một tiểu đoàn Việt Cộng trên sườn đồi, buộc chúng phải rút lui với sự yểm trợ hữu hiệu của pháo binh Pháp do ông đích thân đứng ngay trên địa thế trống trải để điều chỉnh tác xạ thật chính xác. Ông đã sống sót được sau 18 tháng bị bắt giam trong một trại tẩy não cộng sản ở Thượng Du Bắc Việt, mà không hề chấp nhận phải ký một bản “thú tội” hay một tờ truyền đơn nào. Và các sinh viên ở Sài Gòn đã tranh đấu với phái đoàn Bắc Việt đang ở khách sạn Majestic lúc bấy giờ để đòi Bắc Việt phải trả tự do cho ông. Từ khi ông được trở về Nam, ông Phú đã tham gia tích cực vào cuộc chiến. Nhất là ở Lào, năm 1971, lúc ông là tư lệnh sư đoàn 1 bộ binh ông đã giúp cho một đoàn xe thiết giáp của Miền Nam thoát được một sự thảm bại trông thấy, trên đường rút lui ở quốc lộ 9. Để cứu đoàn thiết giáp nầy đang bị 2 sư đoàn Bắc Việt tấn công từ hai bên sườn, tướng Phú đã không ngần ngại đi xuyên qua rừng tìm địch để cuối cùng bẻ gãy được gọng kềm của địch sau 3 ngày tác chiến vất vả có đôi lúc phải đánh xáp lá cà với địch. Vào tháng 5 năm 1972, trong trận tấn công quy mô của Bắc Việt vào Huế, tướng Phú đã cùng đại tá Dickinson đưa tôi đi thanh sát bằng trực thăng ngay trên vùng Việt Cộng. Khi phải cố gắng đáp xuống một mỏm núi đang bị Bắc Việt bao vây, chiếc trực thăng của chúng tôi bị trúng một viên đạn trực xạ của súng 75 không giật, bay mất nửa mảng phía trước và gãy mất một chân càng . Như có một phép lạ, chiếc trực thăng lại bay lên được và tướng Phú đã bắt phi công phải lượn lại trên vị trí bạn một vòng khi ông nói rằng “tôi muốn cho cả Việt Cộng và binh sĩ của tôi biết rằng tôi hãy còn sống.”

Tôi nghĩ lại tất cả các chuyện nầy và tôi không bao giở tin rằng tướng Phú tự nhiên lại mất bình tĩnh đến độ phải cho lệnh triệt thoái một cách vội vã vô trật tự như vậy để cuối cùng phải đi đến một thảm trạng như thế. Phải chăng vì tôi biết về ông ta quá nhiều , hay vì ông ta là bạn của tôi ? hay phải chăng vì tình đồng đội lâu đời quá khắn khít giữa người cùng binh chủng Nhảy Dù của hai chúng tôi đã làm lạc hướng nhận định của tôi ? Tôi không tin như vậy. Tôi khẳng định như vậy khi một lát nữa đây tôi sẽ thảo luận với tướng Nam, ông nầy cũng là một người bạn lâu đời của tôi trong cùng một binh chủng.
Quốc lộ 4 nối liền đoạn từ Sài Gòn đến Mỹ Tho là một con đường rất tốt. Một cây cầu dài 550 thước chạy ngang sông Vàm Cỏ Đông, một dòng sông đầy bùn lờ lững chảy, mang theo nhiều mảng cỏ.. . . mặt nước chỉ cách sàn cầu có 20 thước. Các xe vận tải quân sự chở đầy đạn pháo binh và binh sĩ đang vẫy tay cười đùa và dùng hai ngón tay ra dấu chữ V (chiến thắng) với tôi . Họ nhấn kèn báo cho các xe đò chở dân chúng phải nhường đường cho binh sĩ đi qua. Chúng tôi đang đi vào phần đồng bằng có ruộng lúa, ruộng mía và vườn dừa, môt phần đất mầu mở nhất của vùng Đông Nam Á. Nhìn mút tầm mắt là các ruộng lúa màu vàng cò bay thẳng cánh, với những con đê và lác đác có vài con trâu đen bất động. Làng mạc nằm trong các lũy tre xanh, có nhà dân lớp lá, có các bờ chuối , bờ dừa.. Binh sĩ đi dọc theo các bờ ruộng, súng tự động cầm tay.. Có mấy chiếc trực thăng bay lượn trên bầu trời. Trẻ em vui đùa bên các khẩu pháo binh 105 ly đặt dọc theo quốc lộ, tác xạ không ngừng.
Còn một số cầu nữa, có chiến xa tăng cường canh gác, hoặc có tháp canh với các đài quan sát cao, các nhà dân sau các rào bông bụp hay xuơng rồng trước khi đến chợ Tân An, rồi Tân Hiệp, cuối cùng thì đến Mỹ Tho. Thành phố ngổn ngang đầy xe thiết giáp xe cứu thương, và các đoàn xe đạn dược.
Nhưng ở đây thì các chiến cụ dù là bất đắc dĩ dự phần trang trí cho tỉnh lỵ, cũng không gây cảm giác gì hay làm khó cho một ai hết. Dân chúng ồn ào và tấp nập, chuyện trò, mua bán, chuyên chở rất tự nhiên, gây một cảm tưởng như không thấy biết gì đến tất cả những thảm trạng vừa xảy ra ở miền Trung vậy. Thật ra dân chúng cũng không cần phải biết làm gì, miền Trung ở quá xa và không phải là vùng Đồng Bằng. Mỹ Tho là căn cứ địa của sư đoàn 7 bộ binh với quân số được tuyển mộ và thành lập tại chỗ. Sư đoàn có được trang bị thiết vận xa, thuộc lòng hết các ngỏ ngách của từng xã ấp, từ các con đường mòn đến các cây cầu khỉ, các sông rạch và các nhánh sông chảy cùng khắp phần đất mầu mỡ và các rừng dừa nước trong vùng.
Thiếu tướng Nam mừng rỡ nắm chặt lấy tay tôi lắc thật mạnh và tiếp tôi trong văn phòng của vị tỉnh trưởng, Người quân nhân Nhảy Dù nầy năm nay 48 tuổi, nước da đen sạm, với gương mặt luôn luôn cảm hóa mọi người, ông đã qua các trường đào tạo “mũ đỏ” của người Pháp và được người Mỹ huấn luyện về chiến thuật trực thăng vận. Ông là người quân nhân duy nhất thuộc một gia đình quí tộc danh tiếng ở Huế, gồm toàn các cụ đồ nho và quan lại của triều đình. Ở con người ông, nổi bật nhất là tướng người vặm vở, vai u thịt bấp, cầm vuông rõ nét của một con người thượng võ. Đến giờ nầy ông vẫn sống độc thân không hối tiếc (điều nầy bảo đảm cho tính thanh liêm trong sạch của ông ở một đất nước mà các bà thường mượn uy quyền và địa vị của các ông chồng để làm ra tiền) và ông chỉ thấy vui vẻ thoải mái khi được sống giữa hàng binh sĩ và các đơn vị tác chiến của ông. Người bạn thân nhất của ông là đại tá Ninh (một “mũ đỏ’’ khác được đào tạo ở trường Nhảy Dù Pau, Pháp) một sĩ quan mảnh khảnh với bộ râu mép ngạo mạn, người đã cùng ông với đạo quân tiếp viện của mình đã bẻ gãy vòng vây An Lộc, một trận Verdun của Miền Nam Việt Nam.
– Sao? thiếu tướng Nam vừa cười lớn lên vừa nói với tôi, Anh muốn xuống đây kiếm tôi, chỉ vì các tay trên Tổng Tham Mưu không chịu nói sự thật với anh chớ gì? 1
– Anh Nam ơi, tôi chỉ xuống đây để được biết tin tức thôi.
– Được rồi, Chúng ta hãy nói chuyện về Vùng IV của tôi. Đường sá luôn luôn được mở sạch sẽ để cho lưu thông được an toàn, và Việt Cộng không phải lả chủ ở đây. Các đơn vị Bảo An và Dân Vệ của tôi giữ chặt lãnh thổ, điều nầy cho phép tôi điều động hoàn toàn 3 sư đoàn chánh quy của tôi trong các cuộc đụng độ mạnh với các đại đơn vị cộng sản Bắc Việt đang muốn xâm nhập vào đây từ phía Cam Bốt. Hôm qua, chúng tôi có “sơi’’ một trung đoàn thuộc sư đoàn 4 bộ binh Bắc Việt ở Phú Sơn. Hôm nay họ bị dồn về phía trước các hãng đường ở Đức Hòa rồi. Chúng tôi đã tịch thu hơn một trăm vũ khí nặng, súng không giật, súng phóng hỏa tiễn, bách kích pháo và cả một số súng liên thanh phòng không.
– Sau thảm trạng ở miền Trung, thật sự quân lực VNCH còn bao nhiêu lực lượng khả dụng?
– Còn được 7 sư đoàn với quân số đầy đủ: 6 sư đoàn bộ binh, 1 sư đoàn Dù, cộng thêm 2 lữ đoàn thiết giáp và nhiều liên đoàn Biệt Động quân. Hai lữ đoàn Thủy Quân Lực Chiến và 2 sư đoàn khác (sư đoàn 2 và sư đoàn 4) đang được bổ sung quân số và tái thành lập với những đơn vị vừa từ miền Trung rút về.
Sài Gòn được phòng thủ rất chặt chẽ với 2 nút chận thật mạnh. Nút chận thứ nhất là vòng đai phòng ngự phía Bắc của thủ đô do sư đoàn 25 bộ binh của tướng Lý tòng Bá, một kỵ binh lực lưởng và đầy đủ kinh nghiệm.Trung tâm điểm của tuyến phòng ngự nầy dựa trên thị xã Bến Cát, một vị trí chủ, được xây dựng chung quanh môt ngọn đồi được bố trí các loại súng và có hầm trú ẩn bê tông cốt sắt.
Nút chặn thứ hai là tuyến phòng thủ mặt Bắc, tiêp giáp nhau chung quanh thành phố Xuân Lộc, do sư đoàn 18 bộ binh trấn giữ, một sư đoàn ưu tú mà tư lệnh là tướng Lê minh Đảo, hùng hục và vui vẻ như một thiêu úy. Tôi nghĩ là Bắc Việt cũng khó mà đánh bật được 2 phòng tuyến nầy.
– Dù sao cũng vẫn còn một nguy cơ, ông Nam ơi. Bọn Việt Cộng không có thói quen đánh trực diện vào các cứ điểm mạnh. Họ dùng toàn bộ pháo binh nã vào cứ điểm mạnh nhằm cầm chân các đơn vị của ta để họ lợi dụng vùng rừng bụi tiến đánh bọc hai bên sườn của mình. Nên nhớ là Xuân Lộc và Bến Cát đều có các vuờn cao su và rừng cây bao quanh.
– Chắc vì thế mà chúng không dám đến đánh ở địa thế gần như trống trải ở Đồng Bằng. Có lẽ bọn chúng sẽ cố gắng cô lập Sài Gòn hơn, cắt đứt thủ đô với vùng vựa lúa và giàu nhân lực vì nguy cơ lớn nhất phải đến ngay từ Sài Gòn. Tôi muốn nói đến các chuyện lộn xộn và tham vọng chánh trị ở Sài Gòn. Các nghị sĩ băt đầu rục rịch, các tướng lãnh không có quân cũng đang có âm mưu gì đó, và Tổng Thống Thiệu càng ngày càng bị cô lập. Chánh quyền có thể bất thần sụp đổ và rơi vào tay của những kẻ vô trách nhiệm, sẵn sàng hấp tấp mở cửa rước bộ đội Bắc Việt vào Sài Gòn.
– Anh giải thích thế nào về sự sụp đổ đã xảy ra ở miền Trung?
Tướng Nam chống tay lên thành ghế ông đang ngồi, và bực tức cằn nhằn:
– “Có rất nhiều lý do. Mà đầu tiên và trước hết là do ông Thiệu.
– Ở Tổng Tham Mưu đại tá Khôi nói với tôi người chịu trách nhiệm là thiếu tướng Phú.
– Không phải. Anh đã biết tướng Phú còn hơn tôi nữa mà. Ông là một cấp chỉ huy có khả năng, bám trận địa như một con rận bám sát tóc vậy.
Không, ông không phải loại người chuồn đi, bỏ lại cả một thành phố và toàn bộ chiến cụ nguyên vẹn như vậy.
Trước khi đổ vấy trách nhiệm cho cấp chỉ huy và cho lỗi lầm chánh trị, có vài điểm kỹ thuật cần được làm sáng tỏ: cuộc tổng tấn công của cộng sản vào Vùng Cao Nguyên đã được chờ đợi từ nhiều tuần lễ rồi. Nhưng vì thiếu tin tức chính xác về những cuộc điều quân hay di chuyển của các đơn vị cộng sản Bắc Việt xuyên qua rừng rậm, tướng Phú nghĩ cũng đúng là nỗ lực chính của cộng sản phải nhắm vào Kontum hay Pleiku, nằm ngay ở phía Bắc, và ông ta đã tập trung phần lớn lực lượng vào hai thành phố nầy. Xui cho ông, Bắc Việt lại tấn công vào Ban mê Thuột, nơi mà quân trú phòng chỉ có một trung đoàn và vài liên đoàn Biệt Động Quân mà phải đương đầu với cả 3 sư đoàn cộng sản ! Sau đó cộng sản cắt hết các con dường giao thông chính trên Cao Nguyên. Phản ứng đầu tiên của tướng Phú là phản công. Ông ta cho trực thăng vận 300 binh sĩ Dù và một liên đoàn Biệt Động Quân đổ xuống chiếm lại hai phi trường ở Ban mê Thuột, và sau đó đã cố gắng vào được thành phố và tảo thanh thị trấn. Trong một vài giờ, Ban mê Thuột đã biết được một không khí thật sư vui mừng, một cái gì mường tượng như lúc thủ đô Ba lê được giải phóng. Dân chúng vẫy cờ hoan hô các binh sĩ của Chánh Phủ. Các chủ vườn cao su đem rượu cỏ nhác ra uống mừng chiến thắng. Nhưng sau đó, đùng một cái, theo lệnh từ Sài Gòn chuyển lên, lực lượng Miền Nam được lệnh phải rời khỏi thành phố. Hai sư đoàn Bắc Việt khép kín họ lại và đã tiêu diệt họ.
Còn ở Pleiku và Kontum: còn 2 trung đoàn thuộc sư đoàn 23 bộ binh. Pleiku là một căn cứ Không Quân quan trọng của một sư đoàn Không Quân, không thiếu một thứ gì từ lương thực đến đạn dược.
Tướng Phú đã quyết định đánh và kháng cự. Ông ta đã xác định với các sĩ quan của ông như vậy. Tuy nhiên ngày 14 tháng 3, Tổng Thống gọi ông về Cam Ranh và cho lệnh ông phải lui quân. Bây giờ chúng tôi biết được là cuộc bàn cãi rất là sôi động đầy sóng gió. Tướng Phú đã từ chối không thi hành lệnh. Ông ta đã nói thẳng với Tổng Thống Thiệu: “Tôi đã đánh giặc 23 năm rồi, và tôi chưa bao giờ biết lui quân. Hãy tìm một người khác để chỉ huy cuộc “chạy trốn” nầy. Nói xong ông vứt khẩu súng lục của ông lên bàn và ra khỏi phòng họp, đóng sầm cửa lại. Và sau đó ông bay về Nha Trang, khai bệnh vào nằm bệnh viện. Chuyện đâu có khó khăn gì với ông ta đâu, vì anh cũng biết là ông ta luôn luôn bị khó chịu với hai lá phổi của ông.
– Đại tá Khôi lại xác định với tôi là tướng Phú đã bay về Pleiku và đã cho lệnh triệt thoái vài giờ sau đó.
– Đó là luận thuyết chánh thức. Bộ Tổng Tham Mưu quả quyết là khi về đến Pleiku, tướng Phú đã nói với tư lệnh phó của ông “ tôi cho ông hay một bí mật lớn, là chúng ta sẽ phải sớm di tản hết các vị trí của chúng ta “. Vị tư lệnh phó nầy lập tức báo tin cho các sĩ quan, và cuộc triệt thoái được thi hành ngay lúc đó. Tôi đã gặp tướng Phú ở Sài Gòn ngày hôm kia, ông ta đã xác nhận với tôi là ông ta đã không bao giờ ra lệnh triệt thoái.
Dù sao thì giải pháp tốt đẹp duy nhất là nên giao cho tướng Phú một nhiệm vụ hy sinh bằng cách cho lệnh ông phải tử thủ tại chỗ để bảo vệ Pleiku, nhằm mục đích mua thời gian và để cho dân chúng và các liên đoàn Biệt Động Quân rút đi trong vòng trật tự, như thế thì mới tránh được cái dịch hốt hoảng đã đàu độc cả nước.
– Như vậy thì ai là người ra lệnh triệt thoái?
– Chính là ông Thiệu. Sau khi tướng Phú đã từ chối không thi hành lệnh, Tổng Thống Thiệu đã báo động cho đại tá Tất, tư lệnh phó của ông Phú, một sĩ quan Biệt Động Quân v à giao cho ông nầy chức vụ Tư Lệnh Vùng.
Được Tổng Thống liên lạc thẳng, Tất đã sốt sắng thi hành lệnh, và cho bắt đầu ngay cuộc hành quân triệt thoái, mà không cho tiến hành phá hủy một kho tàng nào. Anh ta đã để lại nguyên vẹn sáu tháng lương thực, một nửa các khẩu pháo và nặng nhất là để nguyên lại 40 chiếc phi cơ và trực thăng còn tốt. Tổng Thống Thiệu đã phạm một lỗi về xét đoán nhân sự không thể nói được khi ông giao quyền chỉ huy cho đại tá Tất. Tôi biết anh nầy quá nhiều , ông ta là một sĩ quan can đảm, một sĩ quan chuyên về tác chiến lưu động, đột kích hay phá hoại. Nhưng anh ta không được đào tạo hay huấn luyện một tý gì để có thể hướng dẫn một cuộc hành quân loại triệt thoái rất tế nhị và quan trọng nầy.
Tổng Thống Thiệu cũng phải gánh hoàn toàn trách nhiệm trong việc bỏ thành phố Huế và Vùng I Chiến Thuật. Tướng Trưởng có 3 sư đoàn ưu tú để lo phòng thủ Vùng nầy, sư đoàn 1 bộ binh, sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và sư đoàn Dù. Nhưng ngày 20 tháng 3, Tổng Thống Thiệu vì sợ bị đảo chánh, nên đã cho rút sư đoàn Dù đưa ngay về Sài Gòn làm cho tướng Trưởng đứng trước một lổ hổng quá rộng trong hệ thống phòng thủ của ông. Vì chỉ với 2 sư đoàn mà ông phải tái phối trí cho một tuyến phòng thủ dài 150 cây số ngàn.. Do đó mà ông phải quyết định thu gọn lực lượng về tuyến phòng thủ Đà Nẵng , lực lượng quân sư ưu tiên lui về trước.
Trong lúc các đơn vị đang trên đường di chuyển, Tổng Thống Thiệu lại cho lệnh phải trở lui lại Huế, nhưng cộng sản Bắc Việt đã chận đường trở lại Huế ở khoảng Đèo Hải Vân. Trước hết Sư đoàn 1 đã đánh một trận khốc liệt để tái chiếm đéo Hải Vân và tái lập lưu thông trở lai. Nhưng vô phước là làn sóng dân chúng chạy loạn như nước vỡ bờ đã phá tan hàng ngũ của sư đoàn 1. Có rất nhiều binh sĩ quá lo âu cho số phận của gia đình mình, nên đã bỏ hàng ngũ, còn một số binh sĩ khác thì đào ngũ hẳn. Vị tư lệnh sư đoàn 1 ở Đà Nẵng đã cố gắng nắm lại sư đoàn của mình nhưng đã bị một anh phản loạn đánh gục.
Thiếu tướng Nam đứng dậy, vươn vai và đi vài bước trong phòng. Sau một vài phút yên lặng, ông lại ngồi xuống và tiếp tục:
– Tổng Thống Thiệu bị ám ảnh vì sự bỏ rơi hèn hạ của người Mỹ. Tôi tin chắc là ông ta muốn bi thảm hóa tình hình bất thần như vậy, hy vọng là Tổng Thống Ford sẽ vượt qua được một mức độ khó khăn nào đó để đi đến quyết định phải gởi các oanh tạc cơ hạng nặng qua giúp VNCH. Nhưng sự việc sau đó đã cho thấy là ông tính toán sai. Và chúng ta đã mất mát quá nhiều trong vấn đề đó. Biện pháp hữu hiệu nhất để thuyết phục Quốc Hội và Nhà Trắng, là chúng ta phải chiến đấu tại chỗ cho đến viên đạn cuối cùng. Chính bọn cộng sản Bắc Việt cũng không tin là chúng sẽ chiến thắng dễ dàng như vậy. Bằng chứng hùng hồn nhất là cả 4 sư đoàn trừ bị chiến lược của Miền Bắc chỉ mới vượt qua vĩ tuyến 17 trong tuần lễ vừa qua.
Tướng Nam nắm chặt lấy cánh tay tôi và nói thêm:
Chúng tôi đã theo Tổng Thống Thiệu mười năm nay rồi. Nhưng bây giờ thì ông ta đã làm chúng tôi mất cả niềm tin rồi. Ông sống chui rút trong Dinh Độc Lập và lấy quyết định một mình không chịu tham khảo với ai hết. Ông ta chỉ nghe có một mình tướng Quang, cố vấn quân sự của ông ta, một con heo mập lúc nào cũng nịnh hót ông ta và không nói trái lời ông ta bao giờ. Tôi không tin là ông ta sẽ còn khả năng vượt qua được các biến cố. Các tướng lãnh đã nổi giận rồi và quân đội đã xấu hổ quá rồi.
– Bây giờ anh định làm gì? Lật đổ ông ta chăng?
– Dù gì cũng không phải tôi đâu. Tôi chỉ là một quân nhân. Nghề nghiệp của tôi là tác chiến và tôi tiếp tục tác chiến. Đối với tôi chánh trị là cái gì dơ bẩn, tôi không muốn phải lội vào đó.° ° °

Trên đường về Sài Gòn, tôi dừng chân giây lát cách Tân An 2 cây số. Một đoàn xe chở đầy binh sĩ Miền Nam đang trở về sau cuộc hành quân . Một ông đại tá to con mập mạp đang bị một nhóm nhà báo và nhiếp ảnh Việt Nam bao vây. Tôi bước đến gần. Trong một cái hố, có khoản 20 bộ đội cộng sản vừa bị bắt ban sáng đang ngồi đó, đầu mặt gục xuống. Tay họ bị trói ra sau lưng, đi chân đất, ở cổ họ có đeo thẻ lý lịch. Tất cả đều đến đây từ Bắc Việt. Không một người nào được trên 17 tuổi. Trên một cái cáng, bụng quấn đầy quần áo đầy máu, là một sĩ quan Bắc Việt, mắt đã đờ rồi, chắc không sống được bao lâu nữa. Ông đại tá đang nói cho các nhà báo nghe một vài tin chi tiết.
Lúc tôi đến Sài Gòn là những ngọn đèn nê ông đầu tiên đang bắt đầu cháy, và thành phố lập lòe ánh sáng xa trông như một tủ kính của một cửa hàng nào đó…

——————————–

1Nguyên văn của tác giả bằng tiếng Pháp: “tu, và moi” (mầy, tao). Tiếng xưng hô rất thân mật khi hai người bạn gặp nhau tay bắt mặt mừng, gọi mầy xưng tao rất là tự nhiên.