Nước mắt quê hương

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 12/08/2016 

Post by Sơn râu 5 Apr 2024

Chị mở cửa trước khi tôi bấm chuông. Có vẻ như chị đang chờ đợi, mặc dù trên người chị còn “diện” bộ đồ dùng mặc ngủ. Chị chẳng phân trần mà tôi cũng giả lơ. Đồng hồ gắn gần cửa nghe rõ tiếng chân đi của thời gian, cục pin 2A thúc đẩy kim giờ phút chuyển động. Tà tà rảo quanh, đi đâu mà vội. Một vòng tròn đóng kín chuyện tuần hoàn.

Tôi cởi giầy, thấy trên bàn đặt sẵn ly cà phê đá. Dung tích cỡ 250 ml, không lớn, nhưng uống hết nó, chị sẽ trở lại với một bộ y phục tử tế dùng để ra khỏi nhà. Chị hỏi: Trời nóng không? Tôi thưa: Mát hơn hôm qua 2 độ. Con khỉ. Chị mắng. Uống được không? Tôi liếm môi: Số một. Hỏi cho có vậy thôi chứ chị từng nghe con khỉ nói: Cả gầm trời này chẳng có ai pha cà phê ngon bằng chị, rất đẳng cấp. Tôi nhớ lần đó chị phán: Quỉ sứ! Tôi biết chị thương tôi khi nay cho làm quỉ mai cho làm khỉ. Hai con đó tượng trưng cho tất cả những ngọt ngào mà chị muốn gửi gấm. Không phải dễ để biến thân thành khỉ hoặc thành quỉ. Tiếc một điều là chị hổng nói: Cả gầm trời này chỉ có một con khỉ và một con quỉ thôi!
Mấy giờ rồi? Tôi tính nói, hơn hồi nãy một giờ, nhưng ngậm miệng vì hai con mắt đang bận làm việc. Chị mặc cái áo đầm vẽ đầy hoa lá trên thân, mùa xuân đang cựa mình chẳng hề là câu văn đầy hoang tưởng. Để ăn với sự vui nhộn trẻ trung kia, chị lựa mang đôi giày vải đế thấp và như vậy chị sẽ đứng ngang vai tôi. Đi hí? Chị nói mà không hỏi mặc vậy ngó đặng không? Tôi mang ly cà phê đi rửa rồi úp vào rá nhựa. Trống không, chẳng hiểu chén bát muỗng đũa đã trốn đi đâu hết. Giản tiện đến độ nghèo nàn. Tôi chùi tay vào quần jeans: Chị muốn đi đâu trước? Ờ, ghé chợ Kim Mã trước, mua khoảng chục chai nước mắm chất vào xe rồi hẳn tính. Bất kể Việt Hương 3 con cua xanh hay đầu bếp Number One. Nếu đang bị dịch sốt, có lẽ người ta chẳng màng đến việc truy tìm dầu xanh hoặc Nhị thiên đường hoặc dầu khuynh diệp. Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ. Nhưng nước mắm? Công án chứ chẳng đùa! Tàu vị yểu, xì dầu, maggi. Trời, nuốt xuống cũng phải chợt cuống họng đó quỉ sứ, giỡn chơi chi!

Tôi mở cửa cho chị vén chút hoa lá gọn gàng leo vào ghế xe. Tôi nhớ lại một câu nói của đấng đại trượng phu nào đó: “Khi gã đàn ông mở cửa xe cho vợ hắn, bạn phải hiểu ra hai chuyện, một là chiếc xe đó hắn mới mua, hai là hắn vừa cưới được vợ”. Thiệt xằng bậy và sai trật. Tôi làm chủ chiếc xe cũ rích và chị, chỉ là người có thẩm quyền mắng tôi là quỉ, là khỉ. Một người vợ không đủ sức để nói cho chồng nghe hai chữ dễ mất cảm tình kia, mà đương nhiên đi vào lối mòn: Mình ơi, hoặc cưng ơi. Chí ít cũng ông xã ơi, hay honey, hay con bồ câu bé nhỏ của em.

Kim Mã, chủ cái chợ bề thế ấy chắc không phải người Việt? Làm gì nghèo khó tới độ không tìm ra một chữ khác, nghe giống Tàu quá. Sự cố thì người Việt đương đại cũng đang dùng những từ thật hoành tráng rất bức xúc, tranh thủ phấn đấu gần cự ly đối tác với nước lạ. Chị cười, bất luận là người gì miễn nó còn bán nước mắm là ô kê. Chiều nay mình thử nấu món mì Quảng hí, xem trong internet có ông người Đà Nẵng chỉ bày tận tường xem chừng đáng tin lắm. Trước khi soạn vật liệu ra chất đầy bàn ông ta kể: Ngày nớ, chị tui nấu món này, bạn tui tới chơi gặp đúng bữa nên chị tui kêu hắn vô bàn cùng thưởng thức. “Thằng mất dạy” ấy vừa ăn vừa bắn tiếng: Cái ni là mì hoảng chứ mì Quảng chi được. Chị tui chửi um mà tui cũng cạy mặt thằng khốn nớ. Qua tai nạn kia tui quyết học hỏi trau dồi để bây chừ nhờ miệng lưỡi quý vị thẩm định phê bình giúp. Chị thôi nói, tôi thử tính nhẫm, chính xác là đã 30 năm tôi chưa hề ăn lại món mì danh trấn giang hồ ấy. Nếu chị “hoảng” nhất định thằng khỉ sẽ thốt lên: Eng không eng thì tét đèn đi ngủ, cả nem mới lồm reng bày đặt nhoác chơi! Đất Quảng Nam mọc ra lắm thứ đáng yêu, tôi có cảm tình với chị qua chất giọng đậm đoà bản sắc địa phương kia. Chị từng cảnh cáo thằng quỉ sứ: Liệu hồn, chửi choa không bèng phoa tiếng. Chị nào hay tôi thích đón nghe ngữ điệu ấy biết dường nào. Và tỏ tình, dễ lọt lỗ tai chị hơn mọi cung bậc khác. Tôi chưa tỏ tình vì lấn cấn sợ hiểu lầm, hén đoang chửi choa mình, thèng quỉ.

Chị thích đi đường ngoài hay chạy vào đường trong? Tôi hỏi, đồng thời giải thích là đường ngoài rộng rãi nhưng có lắm ngả tư đèn xanh đèn đỏ cùng với nắng chan chan, đường trong tuy hơi vòng vo nhưng nó dim mát và vắng lặng. Đường trong, chị nói. Tôi bỏ con lộ chính, nháy đèn hiệu để rẽ vào lối mòn có trồng dọc những hàng cây đang độ rậm lá. Khoảng này, xe cảnh sát vẫn thường ẩn nấp để chờ chực những con mồi bất cẩn phóng xe vượt tốc độ cho phép ở đường ngoài. Ở đây, lối đi hẹp, vừa đủ để hai xe ngược chiều tránh nhau, mặt nhựa chẳng được tu sửa, hơi dằn xóc tuy nhiên khung cảnh gần với hoang dã, gần với những đôi tình nhân muốn trút bầu tâm sự, dễ đi tới sự xúi dục: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ. Vắng vẻ để làm gì? Thì cũng tuỳ vào tâm trạng của đôi nhân tình ấy có bị ngoại cảnh rậm rạp không dấu chân người lôi kéo trong hoang mang vụ màn trời chiếu đất ăn lông ở lỗ. Thắng xe lại, lùm cây bụi cỏ thì thào han hỏi với gió mát rợn cảm chẳng một ai hay. Rõ là dại khờ khi chạy tới chốn lao tao nhỉ. Chỉ chỏ, bàn tán, nhìn đểu và lý lịch chúng nó bị bạch hoá trong phút giây, chạy trời không khỏi nắng những thêu dệt vẽ rắn thêm chân. Quý vị đồng hương người mình kiếp trước thảy làm công an cả, nghiệp vụ cao, không CIA thì rõ là CIB chứ còn gì nữa!

Chị thu nhỏ người, chỉ phô trương bộ ngực bởi sợi dây an toàn đen đúa cắt chéo: Ui chu choa, răng mà giống như khúc đường từ Đà Nẵng chạy vào Hội An quá. Tôi giảm bớt tốc độ, nếu mỗi đường đi ở chốn này gợi mở lại những hình ảnh cũ thì điều ấy thật cần thiết. Lãnh cảm là một căn bệnh mà lối đi này là liều thuốc chữa hiệu nghiệm. Đời sống sẽ có ý nghĩa chừng nào ta còn đón nhận nhịp tim đập sai lạc về một nỗi nhớ. Một nguyên cớ tưởng là xằng bậy, không thực. Và rồi “người khôn thực sự đến chốn lao xao”. Tôi vòng xe cốt tìm một chỗ đậu thích hợp gần với Kim Mã.

Tôi theo chị vào chợ, phụ đẩy xe, phụ chất hàng, phụ vét hết được 9 chai nước mắm chất trên kệ. Chị có một vuông giấy trắng ghi lắm danh mục, gấp lại làm tư khi biểu tôi mang cái xe chất đầy thực phẩm đến quầy tính tiền. Chị mở ví căn phồng, chắc chắn không có hươi tờ nem nhưng giấy 100 thì chán khối. Những tờ mới như vừa đánh cắp ở nhà in sau giai đoạn cắt xén, dùng nó có thể cạo râu tận gốc, ngọt lừ, bén ngót, sạch như lau ly. Chị không có râu, dĩ nhiên; tôi râu ria ra rậm rạp nhưng khốn nỗi bạc tôi xài y như tiền âm phủ, bèo nhèo, nhăn nhàu, hôi tanh và đơn vị chẳng mấy khi leo tới hàng trăm. Hàng chục, chất cộm túi để ngỡ mình giàu. Dư sức qua cầu nếu chị buồn miệng muốn cơm hàng cháo chợ. Có những cuối tuần chị đã từng buồn miệng gọi điện thoại, tôi vui vẻ lại đón và cả hai đi vào kéo ghế một quán phở vắng thực khách. Vắng, vì phở không ngon, nhưng chúng tôi bằng lòng khi được ăn trong vắng lặng. Chị có vẻ là người mang nhiều tâm sự, tôi thử làm nhân viên CIA một lần và kết quả điều tra: Từng sang ngang và từng đắm đò giữa giòng sông nhiều hệ luỵ rong rêu cuốn rối. Từ khi đầm đìa leo được lên bờ đến chừ: Vẫn ở vậy. Ba chữ này có tối nghĩa không? Đâu có, sáng như ban ngày. Vẫn ở vậy là vẫn ở không. Vẫn ở không là côi cút mình ên, độc thân tại chỗ.

Có thực mới vực được đạo. Chợ búa đã xong, mình đi kiếm cái gì bỏ bụng. Chị nói khi cài xong dây an toàn. Tôi cà khịa: Cơ thể con người, cái bụng là bộ phận chịu nhiều thiệt thòi. Nó chứa thức ăn óch ách đã đành, ngay cả giận hờn cũng thế, lỡ nói điều không phải thì vội chữa “đừng bỏ bụng” nghen. Chị nheo mắt, theo chỗ tui biết thì cái miệng là nơi đáng lên án nhất, buồn miệng thì sinh ra nói chuyện tào lao, bình phẩm chê bai đặt điều dối trá. Cái bụng đàn ông thường chứa gươm đao chứ bụng đàn bà nó huyền nhiệm ở chỗ, nuôi dưỡng một mầm non, một giọt máu, một sự sống tiếp nối; dù được ân cần trao gửi trong tự nguyện hay bị hành hạ trấn lột buộc phải tủi hờn đa đoan.

Chị lý luận chẳng mấy thuyết phục, nhưng tôi sợ buồn miệng đâm tào lao nên không cãi chày cãi cối. Tôi ngó qua chị, vẫn là tượng hình hai hòn đảo bị phân lìa bởi sợi dây an toàn ràng siết vào giữa: Giống đực và giống cái, chị có thấy rõ sự bất công định phận không? Bất công à? Chẳng phải là thượng đế đã sáng tạo nên, giải quyết một cách vẹn toàn sao? Một bà trong hội phụ nữ từng nói: Đàn bà đã đẻ xong thì đến phiên đàn ông phải cho con bú, bất công ở chỗ là đàn ông chẳng có hai bầu sữa, cho chúng nó mang nịt vú để biết thế nào là lễ độ. Chị cười to tiếng, và như thông lệ không quên chấm câu: Đồ quỷ sứ! Lễ độ hay lệ đổ? Hình dung cánh mày râu chen nhau mua soutien-gorge giảm giá trong ngày lễ mẹ mà cười đến chảy nước mắt.

Những chai nước mắm để ở băng sau va nhau kêu tiếng vui tai khi xe chạy về đường mòn cũ. Lý ra khi chất vào thùng giấy, để bảo quản cô thu ngân sẽ bọc cho nó từng tờ báo chợ đặc kín những ô quảng cáo. Tinh cờ tôi nhìn thấy đâu đó cái ô vuông “hân hoan chào mừng tiệm bánh cuốn Thanh Trì chính hiệu vừa khai trương”. Tôi nói: Chị biết dân nhậu gọi rượu đế bằng chữ gì không? Làm sao biết? Hết cái để hỏi! Họ gọi là nước mắt quê hương. Chắc hẳn là có nguyên do, nhưng so ra bốn chữ kia nên áp đặt vào nước mắm. Cá đang chết vì ngộ độc, tuy chưa chan nước mắm mình cũng nên khóc cho quê hương.

Tôi cho xe chạy chậm trên đoạn đường dằn xóc. Tôi hoàn toàn không muốn làm vỡ, đổ bể chai lọ chứa những giọt nước mắt nồng nàn kia. Khi mình khóc thương ai đó, nước mắt chảy ra hẳn sẽ trút xuống chút hương mùi? Tính bỏ bụng thứ gì đây? Chị hỏi. Tôi đưa xe ra đường lớn: Chị thích ăn bánh cuốn không? Quán này mới mở, nên tới ăn thử cho biết. Phải bỏ bụng, vì bảng hiệu của nó mang trùng tên với chị. Một danh xưng rất uy tín. Chị háy: Con khỉ!

Nấu món mì Quảng phải chịu khó gia công vì nó khá lôi thôi lỉnh kỉnh. Về nhà lúc 3 giờ nhưng cả hai phải xắn tay vào bếp ngay. Chị vẫn mặc chiếc áo “rạo rực mùa xuân nhiều hoa lá” mà không muốn đổi thay và tôi nhập vai làm Thiên Lôi nghe chị sai đâu “đánh” đó. Chất đồ vừa mua từ chợ về có thứ lớp chẳng hạn, nhặt rửa rau chẳng hạn, nướng bánh tráng chẳng hạn, rang mè chẳng hạn, bóc vỏ hành tỏi chẳng hạn, ngâm hộp tôm ướp đá vào nước chẳng hạn. Chị cũng lu bu xoắn xít kề cận vướng cẳng đụng tay rồi buồn miệng khơi dậy một hình bóng cũ. Chị nói tới chữ số mệnh, chị cổ vũ chuyện ăn hiền ở lành, chị nhắc về phút giây cảm động khi Kim Kiều tái hợp bởi thần sầu giọng kể Nguyễn Du. Khác với lệ thường, chị say sưa thuyết giảng mệnh đề châu về hợp phố, thế nào là giá trị của một sự ẩn nhẫn đợi chờ, rằng đất trời mênh mang vô bờ nhưng nó vẫn hữu hạn.

Có thể trước đây chị ở đâu đó trong địa phận Quảng Nam, vượt ba chân đèo ra thi vào Đại học Huế trau dồi ban văn chương và có thể chị tốt nghiệp sau khi cúi đầu thông hiểu thứ triết lý “hồng nhan đa truân”. Hầu như chị luôn xuôi tay bởi một thực thể cô lại giữa cụm từ “trời xanh quen thói má hồng đánh ghen”. Và chị hân hoan về thứ lời nguyền kia đang tới thời gian mãn hạn.

Những dữ liệu và sự kiện ấy giúp nhân viên CIA ngửi ra một điều bất thường: Món mì Quảng sẽ xong xuôi tươm tất vào lúc 5.30 PM, để 6 PM sẽ có hình dáng xưa cũ hiện hồn về đứng bấm chuông cửa. Người kia sẽ trách móc chị: Mật khẩu là em nói Đống Đa thì anh đáp Bạch Đằng, sao em không mở ngay cửa mà cứ bật đèn liền tay. Bạch Đằng khác với Bật Đèn nhiều lắm em ạ. Chao, thiệt sôi gan, phút đầu đoàn viên chẳng nói lời dịu êm lại nhẫn tâm đi trách móc giọng Quảng Nôm của người ta. Ưa lộn ruột mới gớm. Công việc cuối mà tôi phải chu toàn là pha một bát nước mắm gồm hỗn hợp chanh ớt tỏi đường. Chị nói bồ làm nhiều thứ quá khiến tui cũng áy náy nhưng lỡ mang tiếng là chuyên viên pha chế cực ngon thì phải ráng chịu. Rửa tay xong thì “chuông gọi hồn ai” nghe kinh cong bất chợt ngoài cánh cửa đóng chặt. Mới thiếu 15 đầy 6 giờ, kẻ cách mặt xa lòng kia rất thuộc bài “ăn cỗ đi trước lội nước theo sau”. Thuộc một cách trôi chảy, thuộc một cách quá đáng. Nhưng mà tình thật thì người ấy đâu màng tới chuyện ăn nhậu với lội nước. Khi người ta nóng lòng đến sớm thì nguyên cớ ấy chẳng cần một lời giải thích nào cả. Có ai ngồi trên lửa mà chẳng nóng đít? Juliette hẹn 12 giờ khuya mà mới 10 giờ Roméo đã đứng dưới lùm cây bụi cỏ để chu mỏ huýt sáo liên hồi kỳ trận. Dĩ nhiên là nàng sẽ bật đèn mà chẳng đợi nghe khẩu lệnh gì ráo trọi.

Roméo người mềnh bước vô với ba nụ hoa hồng gói trong giấy kiếng cầm tay. Kiểu cách ngoài dự kiến làm chị phải lóng cóng chẳng chịu nép mình dọn lối. Ui, thơm quá, người đàn ông phát biểu cảm tưởng. Có nghĩa là anh bứng cả khu vườn trồng nhiều hoa chở tới tận thềm cũng bị hương mì Quảng xua đuổi ngay. Tôi đứng ngây dại y như tên đầu bếp bị chủ nhà hàng rầy la ngầy ngà dở dang quá mạng, nuốt hổng trôi. Hai người nói cười trao đổi nhỏ to rồi cũng tới hồi bắt tay giới thiệu kẻ ngoại cuộc. Tay anh ta tươm đầy mồ hôi, thứ mồ hôi thường có ở những người yếu tim hoặc hay đối đầu với ác mộng. Không rõ chị sẽ tươm đầy mồ hôi ở ngóc ngách bộ phận nào bởi trông chừng chị đang cố nén cơn đau tim, đang tìm cách làm chủ cục diện. Nào khó gì một cách giải quyết khi nhìn thấy sự cụt hứng của người khách. Tôi la lên: Thôi chết, mình quên mất một thứ quan trọng rồi chị ạ. Chị thôi ngó anh để xây mặt qua tôi. Cái gì? Tưởng chị mời người bạn gái, nếu là anh thì trên bàn buộc phải có nước mắt quê hương. Người đàn ông nhìn tôi. Trời, ở đây đào đâu ra thứ ấy. Bạn cho mình vài lon bia là ô kê.

Chị kéo ghế mời anh ngồi và loay hoay cắm hoa hồng vào cái ly thuỷ tinh cao cổ đặt giữa bàn ăn. Sẽ tình tứ hơn nếu đốt cháy bốn năm ngọn nến. Sẽ eng không eng cũng cứ tét đèn để thêm phần loãng moạn. Tôi ra hướng cửa khom lưng mang giày. Họ chẳng quan hoài, họ biết hắn đi thơ thẩn tới đầu đường, vô tiệm tạp hoá của người Hàn quốc để tha về xâu bia ướp lạnh. Tôi đóng mạnh cửa, ngầm bắn tiếng thông báo sự vắng mặt. Xe tôi sắp cạn xăng, cái thẻ rút tiền ở máy tự động đã hết hạn sử dụng, trong ví còn đúng 12 đô. Giá mà hồi trưa đừng ăn bánh cuốn, đừng gọi thêm chả quế chiên, đừng uống nước mía xay, đừng uống nước dừa tươi… Tôi chẳng rõ thời giá 6 lon bia bây giờ là nhiêu tiền, nhưng tôi biết chắc với 12 đồng bạc đổ xăng, chiếc xe cà rịch cà tang sẽ mang tôi về lại chỗ trú an toàn.

Đổ xăng xong tôi mở máy nhắn tin cho chị: Xin tha lỗi, thiệt là cái khó bó cái khôn. Hôm nào có lý do chính đáng quyết say xỉn với anh ấy một trận, không say không về. Trong trường hợp này giữ cho đầu óc tỉnh táo là tốt nhất. Chúc chị nhiều niềm vui. Hồi nào chan hết 9 chai nước mắt quê hương thì hẳn gọi điện thoại. Mà cũng không chừng lúc đó tình hình đã mặn mà khác xưa. Đừng giận “người bạn đồng minh đã vừa tháo chạy”.

Về tới nhà tôi trụng gói mì Kim chi ăn kèm với hai trai ớt hiểm. Khuya, tôi xem ti vi tới chán chê rồi moi điện thoại gọi thằng bạn đã có vợ con. Hắn hỏi mày đi đâu cả ngày không tới ăn sinh nhật đứa con 5 tuổi của tao? Tôi thuật lại mọi diễn tiến rồi hỏi kẻ giàu kinh nghiệm: Mày thấy tao có trẻ con không? Tuần tới sinh nhật 35 tuổi của tao rồi. Chán thật!

Hồ Đình Nghiêm

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 5 Apr 2024

Chương Mười Bảy
Đến Lượt Đại Sứ M. Mérillon Lên Sân Khấu

Thứ Ba, ngày 22 tháng Tư
Với sự thờ ơ nhẫn nại trên đường phố Sài Gòn , với sự bối rối ở Hoa Thạnh Đốn, với sự kín đáo ở Mạc Tư Khoa, với niềm hy vọng ở Ba Lê, với sự từ chức của Tổng Thống Thiệu được loan báo chiều hôm qua. . . cho tới giờ nầy chỉ thấy có phản ứng vừa phải ở khắp mọi nơi thôi. Trên cả thế giới, chánh phủ nào bây giờ cũng chỉ chú ý đến những gì gọi là “biến cố sẽ xảy ra” mà thôi.
Đài phát thanh Sài Gòn chỉ đưa ra hai đoạn trích dẫn từ những bài bình luận đầu tiên của báo chí ngoại quốc:
* Của tờ “Thời Báo Nữu Ước” (New York Times) ở Hoa Kỳ:
-“Sự từ nhiệm của Nguyễn văn Thiệu trong chức vụ Tổng Thống V NCH đã làm giảm đi khả năng sẽ có một cuộc chiến đẫm máu dẫn đến sự “kết thúc” (nguyên văn của tác giả: “finish” bằng tiếng Mỹ, trong dấu ngoặc).. Các bên hiện diện của Việt Nam cuối cùng sẽ có một cơ hội thiết thực để tìm đến một giải pháp phù hợp với các điều khoản của Hiệp Định Ba Lê năm 1973″
* Của tờ “Thời Báo” (Times) ở Luân Đôn:
-“Ai đã phản bội? người nào? Đây là một câu hỏi rắc rối. Từ đây không còn nghi ngờ gì nữa là Chánh Phủ Hoa Kỳ rõ ràng đã có trao hẳn hòi cho Tổng Thống Thiệu những sự bảo đảm trong trường hợp tối cần thiết.. Tổng Thống Thiệu đã có hành động đúng khi ông tuyên bố rút lui vì quyền lợi của đất nước của ông ta, để mở đường cho những cuộc đàm phán…..”
Câu hỏi mà mọi người đều đặt ra chỉ vỏn vẹn là: “Tổng Thống Trần văn Hương, người được chỉ định thay thế ông Thiệu, theo đúng Hiến Pháp Việt Nam, sẽ giữ được chánh quyền được bao nhiêu thời gian nữa?”
Ông Trần văn Hương, người thay thế ông Thiệu, là một ông già 72 tuổi, người đau yếu được may mắn qua khỏi bệnh bướu tim, có một dáng đi nặng nề và có tính hay do dự, luôn đeo kính râm dày để che dấu và bảo vệ cặp mắt hơn là sợ ánh sáng. Vốn sanh trưởng ở tỉnh Vĩnh Long, cha là một ông giáo và mẹ là người bán hàng, ông cũng trở thành một giáo viên, và sau đó là một thanh tra tiểu học, ông bước vào con đường chánh trị ngay sau khi Thế chiến Hai chấm dứt, và được bầu làm Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Tỉnh Tây Ninh trước khi được chỉ định vào chức vụ Thị Trưởng Sài Gòn . Liêm khiết và không ngại ngùng, với chiếc xe đạp hay bằng một chiếc xe 4 ngựa cũ kỹ loại vá víu, ông đi khắp mọi nơi, đến với mọi người, với mọi yêu cầu có tính cách nhân đạo, ông cũng tiếp những người nghèo hơn người giàu sang nên từ đó rất nhanh chóng được nổi tiếng là một người bình dân.
Ông chỉ giữ chức vụ nầy có 2 năm, và mặc dầu đứng ngoài chế độ của ông Diệm, ông vẫn bị bắt năm 1961 vì đã ký tên vào một bản tuyên ngôn chống Chánh Phủ.
Năm 1964, ông Hương trở lại chính trường sau khi ông Diệm bị các tướng lãnh lật đổ. Ông được Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng chỉ định làm Thủ Tướng Chánh Phủ , nhưng ba tháng sau đó ông bắt buộc phải từ chức vì áp lực của Phật Tử và của tướng Nguyễn cao Kỳ.
Sau thời gian 4 năm về hưu mới nầy, năm 1967 ông lại có mặt trên chính trường, với tư cách là ứng cử viên Tổng Thống, đối lập với Tướng Thiệu, nhưng không hề chỉ trích cá nhân Tướng Thiệu trong thời gian tranh cử.. Nhờ vậy vài tháng sau đó ông lại được Tổng Thống Thiệu trọng dụng, mời ông thành lập Chánh Phủ. Sau nhiều lần cải tổ, ông mới thành lập xong Chánh Phủ và ông là Thủ Tướng. Nhưng đến tháng 8 năm 1969, Thủ Tướng Trần thiện Khiêm lại thay thế ông. Đến năm 1971 ông được Tổng Thống Thiệu chọn đứng chung liên danh ứng cử Tổng Thống và từ đó ông mới là Phó Tổng Thống.
Có nhiều dư luận đồn đại ở Sài Gòn theo đó thì trong tương lai lại đến lượt ông Hương phải từ chức Tổng Thống , giao lại cho ông Trần văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện., cựu Tổng Trưởng Ngoại Giao trong thời kỳ hòa đàm Ba Lê, và với chức vụ nầy ông Lắm là một trong những người đã ký Hiệp Định Paris 1973..
Nhưng các tin đồn ở Sài Gòn nầy thực hư cần phải được kiểm chứng lại.Vị nguyên thủ Quốc Gia mới nầy, người mà tôi đã có dịp tiếp xúc nhiều lần trong những năm gần đây, mặc dầu trong tình thế cấp bách, không phải là người chịu lấy quyết định một cách vội vã, Trái lại, ông còn phải có thì giờ để tham khảo, dò hỏi, tiếp các nhân sĩ, các nghị sĩ, các dân biểu, các tướng lãnh, các nhà ngoại giao để biết được ý kiến từng người , biết được lập luận của họ, vừa cân nhắc từng khả năng trước khi ông từ chức, vừa phải giữ đúng mọi hình thức thủ tục, để chọn người nào mà ông nhận định là có đủ khả năng nhất, có thế đứng mạnh nhất để có thể đứng ra đàm phán với kẻ thù.
Nhìn vào tuổi tác của ông, tình trạng sức khỏe của ông, với sự nghiên cứu tiểu sử của ông, người ta có thể suy đoán được ngay thái độ và cách xử sự của ông. Là một người có óc địa phương cứng rắn, được thấm nhuần luân lý Khổng Mạnh, lại được đào tạo trên trường đời, hấp thụ một nền công dân giáo dục và toàn loại văn chương tuyển lựa (thư viện của ông đầy sách của tác giả cổ điển Pháp), ông già cộng hòa cứng đầu, gắt gỏng và tỉ mỉ nầy biểu lộ một sự gắn bó với truyền thống và luật lệ. Nếu có nhiều lần cải vã ra trò cho thấy ông có chống đối Tổng Thống Thiệu, hay nếu ông thường tố cáo trên báo về tham nhũng và những hành động thái quá trong chiến tranh, nhưng ông không bao giờ tán thành chuyện thương lượng với cộng sản mà lúc nào ông cũng khăng khăng gọi “bọn xâm lược Miền Bắc” (nguyên tác:Tonkinois). Là người giữ Hiến Pháp , nếu được chỉ định phải xúc tiến việc thương lượng với kẻ thù, ông nghĩ là ông phải thi hành trong khuôn khổ của thể chế mà ông có bổn phận phải gìn giữ.. “Phía bên kia” hình như không sẵn sàng để cho ông thi hành điều đó một cách dễ dàng đâu.
Chỉ vài giờ sau khi ông Hương nhận chức, Hà Nội đã xẵng giọng nói rõ quan điểm của họ :”Sự từ chức của Nguyễn văn Thiệu chỉ là một mưu mẹo, một toan tính chánh trị nhằm duy trì chế độ Thiệu mà không có Thiệu. Thật sự không có gì thay đổi hết, và đương nhiên cuộc chiến vẫn phải được tiếp tục”.
Vả lại nhất thời cộng sản không có một lý do nào để đi đến một thỏa hiệp. Họ luôn luôn nhấn mạnh là họ chiến đấu trên ba mặt trận : quân sự , chánh trị và ngoại giao.
Trên phương diện quân sự , họ đang ở thế mạnh. Nhưng Sài Gòn cũng vẫn còn vài đơn vị có khả năng bám chặt trận địa, và Miền Đồng Bằng sông Cửu Long vẫn chưa hề hấn gì cả. Như vậy , vì không muốn chiếm một thủ đô Miền Nam đổ nát , họ muốn thúc hối tiến trình của một sự sụp đổ của Chánh Phủ hiện hữu trên phương diện chánh trị , để đi đến một sự thay đổi thành phần của một Chánh Phủ mới có thể ra lệnh cho quân đội ngừng băn , giúp mở toang cửa thủ đô Sài Gòn và Đồng Bằng sông Cửu Long cho họ thong thả tiến vào mà không cần phải chiến đấu.
Cuộc đấu tranh chánh trị được cộng sản đưa lên hàng đầu: có nghĩa là cộng sản muốn đạt được Hiến Pháp của một Chánh Phủ hoàn toàn không có một người nào mà họ gọi là “bè lũ Mỹ Thiệu”. Nhiệm vụ chính của “nội các hòa bình” đó tạo điều kiện dễ dàng cho sự ra đời của một “Hội Đồng Quốc Gia Hòa Hợp và Hòa Giải” mà theo Hiệp Định Paris Hội Đồng nầy sẽ sửa soạn cho cuộc bầu cử.. Theo Hiệp Định Paris thì Hội Đồng nầy sẽ gồm có ba thành phần (CPLTCHMN, Sài Gòn , và lực lượng trung lập), cộng sản sẽ không gặp một điều bất trắc nào mà chỉ hoàn toàn có lợi cho họ khi họ bám chặt vào phương thức hợp pháp nầy . Làm chủ được tiềm lực của Sài Gòn nhờ vào số phận hẩm hiu của vũ khí và sự bỏ rơi của người Mỹ, cộng sản đang ở vị thế chọn lựa và áp đặt điều kiện với Sài Gòn (họ muốn chọn ai thì chọn, muốn loại bỏ người nào không thích hợp với họ thì loại bỏ). Họ cũng tự cho mình có quyền kiểu đó để lựa chọn những nhân vật trung lập “tin cậy được” để đưa vào đại diện cho lực lượng thứ ba trong Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia tương lai.
Như vậy, trên phương diện “hình thức”, Hiệp Định Paris sẽ coi như được họ tôn trọng, không ai có thể chê trách là cộng sản đã không thi hành đúng từng chữ trong Hiệp Định Paris trên phương diện chánh trị . Và như vậy họ cũng bảo đảm được những phê phán thuận lợi cho họ đối với dư luận quốc tế, bảo đảm được sự cộng tác của các nhà ngoại giao ngoại quốc đang lo ngại không tránh được một trận chiến đẫm máu trong thủ đô Sài Gòn.
Trong hiện tại, với những mặc cả khó khăn, những nhà chánh trị của Miền Nam đang bàn cãi nhắm tìm một người đối thoại khả dĩ có thể được phía cộng sản chấp nhận.
Tổng Thống Hương vừa bắt đầu tỏ thiện chí của mình bằng cách chấp nhận sự từ nhiệm của “Chánh Phủ chiến tranh” vừa mới được vị Tổng Thống tiền nhiệm chỉ định cách đây 12 ngày. Bây giờ Ông đang cố gắng liên lạc với những lãnh tụ khác của Miền Nam và với những nhà ngoại giao Mỹ và Pháp ở Sài Gòn , để tiến hành một sự thay đổi đường lối chánh trị mà phía cộng sản đòi hỏi. Nhưng ông Tổng Thống già nầy vẫn cứng rắn không chịu từ chức:
– “Tôi không có quyền buông bỏ tính cách hợp pháp của Quốc Gia nầy ( một điều mà ông thường nhắc đi nhắc lại) để trao cho một nhân vật không được dân chúng bầu lên. Thay vì chuyển giao quyền hành và trách nhiệm một cách bất hợp pháp, tôi muốn thành lập một tân Chánh Phủ hẳn hòi, không có một dấu ấn nào về đường lối trước kia, để họ có đầy đủ quyền hành mà đàm phán với bên kia. “
Trong sổ tay của Tổng Thống Hương, thấy có tên của ba người có thể là Thủ Tướng, cả ba đều là người Miền Nam , ông Trần văn Lắm, ông Nguyễn văn Huyền, và tướng Trần văn Đôn. Ông đã tiếp cả ba người , tuần tự từng người một.
– Ông Trần văn Lắm, là người sanh trưởng ở Chợ Lớn, 62 tuổi, đầu tròn trịa tóc chải nằm xuống thật kỹ lưỡng, gương mặt rất thản nhiên. Ông là một nhân sĩ ung dung, tự tin, với một tư thế hay giúp người . Ông đã học Dược ở Hà Nội và có một số vốn liếng khá lớn nhờ sản xuất và bán thuốc tây. Ông đã từng là Thống Đốc Nam Kỳ, Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến, Đại sứ V NCH ở Úc Châu, và sau đó là Tổng trưởng Ngoại Giao, và với tư cách nầy ông là người đã ký vào Hiệp Định Paris 1973, nhưng sau đó ông bị Tổng ThốngThiệu bãi nhiệm chỉ vì Tổng Thống Thiệu không thích cử chỉ của ông khi ông ôm bà Nguyễn thị Bình vào lúc ký Hiệp Định và gọi bà Bộ Trưởng Ngoại Giao của CPLTCHMN bằng ” bà chị thân yêu”. Được bầu làm Chủ Tịch Thượng Viện vào cuối năm 1973, được người Mỹ tích cực ủng hộ, kể từ lúc đó ông đã cố gắng tỏ thái độ độc lập đối với ông Thiệu, và giữ một khoảng cách nào đó với những vấn đề liên quan đến chánh trị, một thái độ cũng không khó gì lắm, so với công tác quản trị công việc làm ăn riêng của mình, công tác nầy coi như đã chiếm gần hết thì giờ của ông – nhất là ngân hàng tư của ông, một ngân hàng rất thịnh vượng-
– Ông Nguyễn văn Huyền: 61 tuổi, tiến sĩ luật học, một luật sư có tài. Sanh trưởng ở Mỹ Tho, ông là một người rất liêm khiết và được mọi người kính nể. Ông là lãnh đạo những người công giáo Miền Nam (ôn hòa hơn những người công giáo từ Miền Bắc vào), là bạn thân với Đức Cha Nguyễn văn Bình, Tổng Giám Mục giáo phận Sài Gòn . Ông có một đời sống rất khắc khổ, rất xứng đáng, tận tụy hết sức mình với Đạo giáo, và công việc của Quốc Gia. Là Chủ Tịch Thượng Viện từ 1967 đến 1973, ông từ chức để phản đối việc sửa đổi Hiến Pháp theo ý của Tổng Thống Thiệu để giúp ông ta được ra ứng cử thêm một nhiệm kỳ thứ ba. Ông tuyên bố ngay lúc đó:
– ” Sự chấp thuận bản văn đó, nhờ vào những áp lực không thể chấp nhận được, kèm theo những “bao thơ” được phân phát… đã tước hết hy vọng của những người trong chúng tôi lúc nào củng muốn đóng góp vào công tác xây dựng một nền dân chủ thật sự cho đất nước ” .
Sau đó ông tham gia phong trào “chống tham nhũng” của linh mục Thanh và từ đó lúc nào ông cũng kêu gọi sự từ chức của Tổng Thống Thiệu.
– Trung tướng Trần văn Đôn: 58 tuổi, sanh trưởng và được đào tạo bên Pháp. Ông thuộc một gia đình cổ xưa và có uy tín ở Miền Nam. Cha ông là một người tình nguyện trong Thế Chiến thứ Nhất , đã học Y Khoa ở Bordeaux, và vô dân Pháp. Khi trở về Việt Nam , ông nổi danh trong việc hành nghề ở Sài Gòn , trở thành một nhân sĩ có tên tuổi của thành phố, và được các vị Toàn Quyền người Pháp ở Miền Nam che chở và thường xuyên tiếp kiến. Là bạn thân của lãnh tụ Nam Việt Trần văn Hữu, Thủ Tướng đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa, ông được đặc ân của Thủ Tướng Hữu bổ nhiệm ông làm Thị Trưởng Sài Gòn Chợ Lớn, và sau đó làm Đại Sứ ở Luân Đôn. Nhưng vì ông quá thân thiết với Đại sứ Pháp ở Anh Quốc (ông Massigli) đến độ ông thường tiết lộ những chuyện mật kín của Việt Nam , cho nên Thủ Tướng Hữu thấy cần phải thận trọng hơn và đổi ông sang làm Đại sứ ở La Mã (Ý đại Lợi).. Vào năm 1956, rất nhiều người dân lớn tuổi ở Miền Nam đã nghiêm khắc phê phán ông, khi ông ta vì muốn được sự trọng dụng của Tổng Thống Diệm , kẻ thù của người bảo trợ cũ của ông mà từ bỏ quốc tịch Pháp. Thái độ có tánh cách cơ hội nầy đã làm cho người ta hiểu rõ hơn về những hành động liên tiếp và mâu thuẫn của đứa con trai của ông, Trần văn Đôn, lúc nào củng bị ám ảnh về một “sự thành công” nào đó.
Con người mảnh khảnh nhưng có thân hình đẹp trai, với những nét thanh bai, tao nhã và quyến rũ, ông Trần văn Đôn là một tướng lãnh chánh trị hơn là một chỉ huy quân sự . Thành thạo trong những tằng tịu vụng trộm và trong những cuộc vận động ở cấp Bộ, nghề nghiệp và sự thăng quan tiến chức của ông phần lớn nhờ vào sự bảo trợ mà ông biết giành được qua những hành động nổi bật của mình. Cựu sinh viên sĩ quan trường đào tạo sĩ quan Saint Maixent (Pháp), sau đó trường quân sự Tông (Bắc Việt ), trung úy André Trần văn Đôn bắt đầu đi lên từ các văn phòng Phủ Thủ Tướng (Xuân, Hữu và Diệm). Vào năm 1956, thình lình ông mất hết sự kính trọng của tất cả những người bạn cũ người Pháp và của nhiều người bạn trong quân đội, khi vì muốn làm vui lòng ông Diệm , ông đã chủ tọa buổi lễ “thiêu hủy những tàng tích quân sự trong thời thuộc địa dưới sự thống trị của người Pháp”. Ngày hôm đó, tướng Trần văn Đôn đã cho đốt hết những cấp bậc và huy chương của quân đội Pháp bằng cách đích thân châm lửa vào củi. Bà chị ruột của ông phẩn nộ vì hành động và cử chỉ của ông, đã phải tát cho ông hai tát nên thân.
Về sau nầy, vì ông đã quay lưng lại với bạn bè và nguồn gốc Pháp của mình, tướng Đôn lại đi tham gia vào cuộc hạ sát Tổng Thống Diệm, người đã cho ông quá nhiều danh vọng và đã bổ nhiệm ông làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân đội Việt Nam Cộng Hòa.
Tướng Đôn đã tham gia sau đó vào tất cả các biến chuyển chánh trị ở Miền Nam Việt Nam. Là bạn của tướng Dương văn Minh, ông Đôn lại xa lánh ông nầy để nhảy sang với tướng Cao Kỳ, nhờ tướng Kỳ nâng đỡ để được bầu vào Thượng Viện, rồi lại bỏ tướng Kỳ để làm thân lại với Tổng Thống Thiệu…. bằng cách trình và bênh vực trước lưỡng viện Quốc Hội dự án sửa đổi Hiến Pháp nhằm tăng nhiệm kỳ của Tổng Thống lên 5 năm thay vì 4 năm và cho phép Tổng Thống được quyền ra ứng cử nhiệm kỳ thứ ba.
Để đền bù lại việc nầy, coi như một trao đổi, Tổng Thống Thiệu bổ nhiệm ông Đôn làm Phó Thủ Tướng. Nhưng rồi, quá lo nghĩ cho tương lai của mình, tướng Đôn lại khôn ngoan tránh né không muốn dính chặt với Tổng Thống Phủ bằng cách đi tìm cách ngao du khắp nơi ở ngoại quốc, qua Âu Châu, Phi Châu thuộc Pháp, đi Nhật và Hoa Kỳ . Nhất là ở Paris, ông nối lại liên lạc với một số thượng cấp cũ của ông, biểu lộ những sự hối tiếc của mình đã có hành động “không tế nhị” khi chủ tọa “buổi lễ dại dột để đốt cấp bậc và huy chương Pháp”.
Ông ta được các ông Giscard d’Estain và Poniatowsky tiếp kiến, cảm động vì cử chỉ tốt của ông, vì tiếng Pháp quá gọt dũa của ông, và vì những cam kết gắn bó vời “nền văn hóa và sự rạng rỡ” của nước Pháp.
Ông ta nhờ một người bạn lâu đời của Việt Nam là tướng Loisillon để can thiệp xin cho ông được quyền lãnh trợ cấp của quân đội Pháp, vì ông đã phục vụ trong quân đội nầy 16 năm… và lãnh hồi tố được một số tiền là 130.000 quan Pháp (3 quan Pháp = 1 mỹ kim lúc đó). Đồng thời, nhờ sự giúp đỡ của ông Sainteny (cựu Toàn Quyền Cộng Hòa Pháp ở Bắc Việt ), ông giữ được liên lạc đều đặn với những thành phần trung lập bị trục xuất sang Pháp, những người còn quan hệ chặt chẽ với Hà Nội và CPLTCHMN. Tại Sài Gòn ông giữ mối giao hảo mật thiết với đại sứ Pháp, ông Mérillon, người coi ông như một trong những lãnh tụ có khả năng lãnh đạo một Chánh Phủ liên hiệp. Là một con người kín đáo, nhiều màu sắc, và lịch lãm không chê được, cho tới giờ nầy ông Trần văn Đôn đã thành công trong việc luồn lách qua những giọt nước của các cơn mưa sa bão táp mà vẫn không ướt bàn chân.
Là một người quyến rũ may mắn, ông Đôn còn đi đến hành động ve vãn và thân thiện với mấy ông chồng khờ dại mà ông ta lường gạt để cưỡm mấy bà vợ nhẹ dạ- nhưng ông khôn khéo vẫn giữ được gia đình của mình nguyên vẹn và êm ấm. Mấy đứa con của ông cũng được giáo dục tốt như ông, học hành cũng rất tốt và vẫn rất mực kính trọng ông.
Trong khi Tổng Thống Hương tiếp tục thăm dò và thử thành lập một Chánh Phủ với sự góp ý của các ông Trần văn Lắm, Nguyễn văn Huyền và Trần văn Đôn, thì người ta chú ý nhiều hơn về những cố gắng ngoại giao hướng về một nền “hòa bình qua thương lượng” hơn là về tình hình quân sự thật tình đang rất nguy kịch.
Góp mặt như những nhà trung gian hòa giải đắc lực nhất, là người Pháp, họ giữ những sự tiếp xúc với tất cả các Bên trong cuộc chiến, không riêng gì ở Sài Gòn, mà cả ở Paris và Hà Nội.
Thái độ và hành vi sau cùng của Chánh Phủ Pháp đã có một tiếng vang nào đó trong thủ đô Miền Nam , ở đó nhiều nhà trí thức tưởng rằng Paris đã lấp khoảng trống do Hoa Kỳ bỏ lại. Đối với một dân tộc đang lo sợ sẽ bị bỏ rơi thật sự, sự kiện mà điện Élysée kêu gọi (nguyên tác :inviter :mời) người Pháp hãy ở lại Việt Nam , hình như là một bằng chứng cho thấy là mọi việc rồi sẽ không kết thúc bằng một cuộc tàn sát, hay tắm máu đâu.
Tất cả dân chúng ở Sài Gòn đều nhắm vào ông Đại sứ Pháp Mérillon, Người nhỏ thó, gầy, nhưng nóng tính, tóc đen , ông Mérillon có cặp mắt tròn sáng ngời dưới cặp kính râm. Ông là cựu sinh viên trường E.N.A., năm 1970 đã nổi bật và được dư luận chú ý trong lúc chiến cuộc “tháng chín đen” ở Jordan đang hồi khốc liệt. Lúc bấy giờ ông đang là Đại sứ Pháp ở thủ đô Amman, ông đã bỏ tiền ra bất chấp tốn hao để lo chuyển thực phẩm và thuốc men đến cho dân chúng, cho những người ngoại quốc đang bị phong tỏa kẹt trong vòng chiến, và cho những con tin đang bị du kích Palestine cầm giữ.. Táo tợn hơn dưới cơn mưa đạn và rốc kết, ông đích thân đứng ra hướng dẫn các phi công của các phi cơ cứu viện đáp xuống phi trường. .Là một nhà ngoại giao bất chấp hết thủ tục, thường mặc sơ mi nhẹ và quần kaki dài hơn là đứng đắn có thắt cà vạt, ông hăng say làm việc nhưng không được kiên nhẫn lắm, nên đôi lúc có những cơn nóng giận bất thường.
Các cộng sự viên của ông thường nói về ông:
-” Ông rất tự tin, có thói quen tổng kết tình hình và phán đoán con người qua vài câu bén nhọn và nhanh gọn, ông tự biết mình là một người thông minh và không bỏ qua một cơ hội nào để chứng minh điều đó “.
Những người Pháp lớn tuổi ở đây nhận thấy ông đã “tăng cường” nhân viên của Tòa Đại Sứ, để làm tăng giá trị cho vị thế của ông hơn là muốn có một sự hữu hiệu thật sự cho công việc, và họ nhún vai phê bình thêm:
– ” Ông ta khuấy động nhiều quá, làm ồn quá, coi chừng ông ta sẽ có nguy cơ trèo cao té nặng đó!”
Thật ra, từ mấy ngày nay, ông Jean- Marie Mérillon đã tỏ ra rất năng động. Tin chắc là cái giá phải trả cho một cuộc “chiến đấu trong danh dự” của Sài Gòn sẽ thật sự rất đắt, nên điều lo lắng đầu tiên của ông là phải cố tránh không để cho thủ đô bị đánh chiếm. Muốn được như vậy, ông hình dung ra một sơ đồ căn cứ trên một ý nghĩ thật giản dị : phải đạt cho được sự từ chức của Tổng Thống Hương và thành lập một Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải với những nhân vật thuộc “thành phần thứ ba”. Hội đồng nầy chỉ cần tồn tại trong vòng hai hay ba tuần lễ mà thôi. Một thời gian trì hoãn. Muốn được như vậy, là ông phải lắc mạnh cái mà ông gọi là “sự bất động cố hữu” của ông già Hương; phải cố thuyết phục cho đến cùng rằng sự chống trả bằng võ lực bây giờ là điều hoàn toàn vô ích; và cố gắng hòa giải các nhóm “đối lập hợp pháp” vì lúc nào họ cũng chia rẻ với nhau.
Vậy bây giờ là ông bắt đầu tiến hành những cuộc mặc cả hết sức khó khăn rồi trở thành mạnh bạo hơn khi mà mỗi giờ trôi qua là mỗi giờ áp lực của lực lượng cộng sản càng nặng thêm lên.
Hà Nội vừa mới xác định một lần nữa lập trường của họ:
– “Trong bộ máy chánh quyền mới sẽ được thành lập ở Sài Gòn , không được có mặt bất cứ người nào đã ở trong bè cánh của Thiệu, có nghĩa là những người đã hợp tác chặt chẽ với Thiệu để chống phá quyền lợi Quốc Gia, kéo dài cuộc chiến và phá hoại Hiệp Định Ba Lê. “
Với những lời tuyên bố nầy, đương nhiên bị loại ra ngoài ông Trần văn Lắm, đương kim Chủ Tịch Thượng Viện và tướng Trần văn Đôn, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Qyốc Phòng của Chánh Phủ “chiến đấu”, tuy đã từ nhiệm nhưng vẫn còn là “xử lý thường vụ”.
Về phía ông Nguyễn văn Huyền, ông đã từ chối không nhận đề nghị lập Chánh Phủ bằng một lời tuyên bố rất giản dị “Trong lúc tình hình cần có một sự đoàn kết Quốc Gia rộng rãi, với tư cách một người lãnh đạo công giáo, tôi sẽ nhanh chóng bị phê phán là muốn lập một “Chánh Phủ tôn giáo “
Do vậy lại bắt đầu trở lại những sự mặc cả mới.., mà ông Mérillon hơi chua chát gọi đó là “những trò chơi viển vông” . Tin tức từ mặt trận đưa về thật đáng lo ngại.. Một số đơn vị của Chánh Phủ đang thiếu đạn . Về hướng Tây Bắc của thủ đô, trung đoàn bộ binh thuộc sư đoàn 25 đang phòng thủ một giao lộ rất quan trọng là Gò Dầu Hạ, chỉ còn có vài tràng mỗi ngày dự trữ cho các khẩu pháo 105 và 155 ly. Trên mặt trận hướng Đông, số phận của chiến trận chỉ tùy thuộc vào sự yểm trợ của Không quân chiến thuật..
Tin chắc rằng những cuộc bàn cải dài dòng của các chánh trị gia và các nhà ngoại giao còn phải kéo dài trong vài ngày nữa, nên tôi muốn đi trở lên mặt trận hơn.

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Chương Mười Sáu: Tổng Thống Thiệu Từ Chức

Thứ Hai, ngày 21 tháng Tư
Sài Gòn đã bắt đầu nhúc nhích và có hành động. Tổng Thống Ford với lý do cấp bách của tình hình, đã đòi hỏi Quốc Hội phải công bố những đề nghị viện trợ quân sự cho Miền Nam Việt Nam “trước ngày 19 tháng 4”. Nhưng, bất chấp hạn định do Hành Pháp yêu cầu, các nhà Lập Pháp Hoa Kỳ một lần nữa lại tiếp tục triển hoãn việc trả lời . Báo chí ở Sài Gòn đã công khai nói đến chuyện người Mỹ bỏ rơi Miền Nam Việt Nam . Trong lúc mà quân đội Miền Nam Việt Nam dựa lưng vào tường để chiến đấu, và đang cần có một số lớn phương tiện để nuôi dưỡng và yểm trợ cho cuộc chiến, thì sự triển hạn bỏ phiếu của Quốc Hội được coi như một sự “phản bội” đồng minh thật sự. Người dân Việt Nam nói là “người Mỹ đang tái diễn hành động của họ ở Phnom Penh (Campuchia). trước hết là cắt viện trợ, và sau đó là sẽ rút đi “
Thành phố Sài Gòn đầy rẫy tin đồn: Hoa Thạnh Đốn đã quyết định tiến hành nhanh chóng cuộc hành quân di tản công dân của họ. Một công điện của Bộ Ngoại Giao sẽ được gởi đến cho đại sứ Graham Martin để ra lệnh cho ông ta phải thi hành sớm cuộc hành quân nầy.
Nhưng những chuyến di tản đầu tiên đã được bắt đầu vào ngày 10 tháng 4, khi hầu hết những xí nghiệp lớn của Hoa Kỳ (các hảng Hàng Không , các công ty xăng dầu, và công ty đang có những công tác lớn) đã có quyết định cho hồi hương các cán bộ và nhân viên của họ. 2000 người Mỹ và 6000 người Việt (các chuyên viên kỹ thuật và gia đình của họ) đã được đi sang Hoa Kỳ.
Trong tuần lễ từ 14 đến 20 tháng 4, các phi cơ vận tải khổng lồ thuộc cầu không vận quân sự của Ngũ Giác Đài, chuyển quân dụng thay thế cho quân đội Miền Nam (2 liên đội pháo binh, một số cao xạ phòng không và 2 tiểu đoán chiến xa ) lượt về sẽ được xử dụng để chở những người dân tỵ nạn. Các phi cơ có khả năng chuyên chở nhiều người, loại Galaxie, Starfighter và Hercules. sẽ bốc đi trong 6 ngày khoảng 20.000 người Việt Nam tỵ nạn, và 2000 người Mỹ. Nhưng cũng còn hơn 5000 người Mỹ ở Sài Gòn và Bộ Ngoại Giao ước tính có khoảng 130.000 người Việt Nam mà “tánh mạng bị cộng sản đe dọa” cần phải được di tản . Như vậy con số người phải được bốc đi củng không phải nhỏ.
Vào hồi 1 giờ trưa, tôi biết được là có một điện tín của hảng thông tấn UPI loan báo là Xuân Lộc đã bị thất thủ. Tin nầy ở đâu ra ? Tôi vẫn còn ở Xuân Lộc chỉ cách đây vài giờ, lúc đó binh sĩ còn giữ chặt vị trí của họ kia mà. . . Tin tức nầy dù sao cũng đã được tung ra khắp thành phố như một giây thuốc pháo và tinh thần của dân chúng do đó đang bị một cú sốc.
Nếu cộng sản Bắc Việt thật sự đã chiếm được Xuân Lộc thì tình thế trở nên thật là nghiêm trọng. Chiếm được một giao điểm quan trọng trên quốc lộ, và tập trung lực lượng ở một nơi chỉ cách thủ đô Sài Gòn có 50 cây số, cộng sản Bắc Việt sẽ có khả năng tiến nhanh về hướng Vũng Tàu ở phía Nam , và về hướng Biên Hòa ở phía Tây. Nếu họ chiếm được Vũng Tàu (nguyên tác :Cap Saint Jacques) thì họ sẽ cắt đứt con đường rút lui duy nhất còn lại của Sài Gòn để đi ra biển, Nếu họ chiếm được Biên Hòa , họ sẽ vô hiệu hóa được một trong hai căn cứ không quân sau cùng của Miền Nam Việt Nam và coi như thủ đô Sài Gòn bị nằm trong tầm pháo binh nặng 130 ly của họ.
Tôi cố gắng liên lạc được bằng điện thoại với đại tá Xuân ở phòng nhì. Ông ta xác nhận là – “Xuân Lộc chưa bị mất, nhưng từ 10 giờ sáng nay cộng sản Bắc Việt đã nã vào thành phố điêu tàn nầy bằng pháo binh nặng 130 ly với nhịp độ 2000 quả trong một giờ. Để tránh bị thiệt hại quá nặng về nhân mạng, binh sĩ của tướng Đảo và anh em biệt động quân đã di tản khỏi đống gạch vụn nầy để ra nằm bố trí chung quanh thành phố. Nhưng mặt trận Xuân Lộc chưa bị chọc thủng, chiến trận vẫn còn đang tiếp diễn, liên lạc vô tuyến vẫn chưa bị gián đoạn. Tất cả phi cơ đều sẵn sàng bay lên để thay phiên nhau nện các đoàn quân cộng sản đang di chuyển.”
Hai ngàn quả đạn đại bác 130 ly trong một giờ ! Tôi hiểu tại sao binh sĩ phải bỏ cả hầm trú ẩn.. Cả một biển lửa ập xuống thành phố điêu tàn, đó là câu trả lời của cộng sản Bắc Việt đối với mấy trái CBU được thả xuống đêm qua. ! Và để nói rằng : Xuân Lộc còn có nghĩa là mùa xuân có lộc (hạnh phúc) hay không?
Bắt đầu buổi trưa, tôi đi thăm bà Ngô bá Thành, một người đàn bà nhỏ con đang ở trong một biệt thự khiêm nhường ở trung tâm thủ đô, bên cạnh dãy nhà của những người Pháp và được nằm trong khu vực do tòa đại sứ Pháp bảo vệ như những tấm bảng yết thị mới được thấy dán ở ngoài. Là một mưu sĩ của “lực lượng thứ ba”, bà tiếp khách thường xuyên ở ngoài vườn, nhất là những nhà báo ngoại quốc..Bà đỗ ba bằng tiến sĩ luật học (Pháp, Hoa Kỳ và Bồ đào Nha), nói được nhiều ngoại ngữ, bà là Chủ tịch “Phong Trào Phụ Nữ đòi Quyền Sống”, một trong nhiều tổ chức đào tạo về công dân, về tôn giáo và về nghiệp vụ trong “Tổ hợp 36 chợ của Sài Gòn” thuộc phong trào chống tham nhũng, dự định sẽ ngồi giữa CPLTCHMN và chánh quyền Sài Gòn trong Hội Đồng Hòa Giải Quốc Gia được dự trù trong Hiệp Định Ba Lê.. Là môt địch thủ hăng say của Tổng Thống Thiệu, điều làm cho bà phải 4 lần vào khám, bà Thành hiện bị quản thúc tại gia. Báo chí Mỹ trong những tháng gần đây đã từng lên tiếng ồn ào về vấn đề “giải phóng phụ nữ” của bà, đã cho biết là bà hiện đang bị canh phòng cẩn mật.. Thế nhưng con trai của bà, một người trẻ tuổi, cao lớn, tóc để dài, là lính đào ngũ mà vẫn sống kín đáo trong nhà nhiều tháng nay mà không sợ gì cảnh sát hết. . . . Là con gái của một nhân sĩ Miền Bắc , chồng là một bác sĩ thú y dễ dãi và sống âm thầm, bà Thành là một người tranh đấu tiến bộ, quả quyết nhưng ương ngạnh. Bà nói với tôi:
– “Thiệu đã ở thế cùng rồi, Số phận của ông ta được tính từng giờ. Ông ta dựa vào người Mỹ và quân đội . Người Mỹ đã bỏ rơi ông ta, và quân đội thì đã tan rã rồi. Sĩ quan và binh sĩ đã chán ghét ông ta rồi. Có lẽ ông không biết là các binh sĩ ưu tú – biệt động quân và thủy quân lục chiến – có nhiệm vụ bảo vệ nơi chôn nhao cắt rrún của ông ta gần Phan Rang, đã nổi dậy và đã dùng chất nổ để phá tan mồ mả của gia đình ông ta rồi. Việc phá nát mộ phần của cha mẹ ông bà của ông ta là một sự chối bỏ nghiêm khắc đối với Thiệu và tất cả những gì ông hiện đang nắm giữ. Ở Việt Nam , nơi mà sự thờ cúng ông bà là nền tảng của Tôn Giáo của chúng tôi , không có một sỉ nhục to lớn và nghiêm trọng nào như sự xúc phạm như thế. Đó vừa là một sự chửi rủa, vừa là một sự khinh bỉ hoàn toàn và là một lời nguyền rủa nữa.. Còn về ông Kissinger, thì mới chiều hôm qua đây, ông đã tuyên bố một câu ngắn gọn nhưng đầy đủ ý nghĩa :” Hoa Kỳ chúng tôi ủng hộ một Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam , nhưng không ủng hộ đặc biệt một cá nhân nào cả ” Quá rõ rồi phải không ? Hơm nữa, những ngày sau cùng nầy, đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin và đại sứ Pháp Jean Marie Mérillon đã tấn công ông Thiệu để bảo ông ta hãy rút lui đi, và nhường chỗ lại cho một toán khác có khả năng chận đứng được chiến cuộc lại “
Ông Ngô bá Thành mời khách dùng trà trong những cốc đẹp màu xanh với cử chỉ chậm chạp giống như các bà, mà không hề nói một tiếng nào. Vợ ông mặt rạng rỡ, cặp mắt sáng ngời, lại tiếp tục đánh tiếp với những luận điệu của bà:
– ” Ông Thiệu bao giờ cũng chỉ biết nghĩ đến tương lai qua một cuộc chống trả cực đoan và một chiến thắng quân sự . Sự tan rã của quân đội ngay tại chiến trường đã lên án ông không chống đỡ nổi. Ông cứ khư khư tin rằng Hoa Kỳ không bao giờ bỏ rơi ông.. Ông không để ý tớí những chuyện thay đổi đã xảy ra ở bên Hoa Kỳ. Từ hai năm nay, dân chúng Hoa Kỳ đã gạch bỏ hai chữ Việt Nam rồi. Quốc Hội đã từ chối không bỏ phiếu cho mọi viện trợ quân sự và họ đã gạt hẳn ra ngoài việc cho phép tái can thiệp bằng võ lực. Ông Ford là một Tổng Thống được chỉ định chớ không phải do dân bầu, nên không có đủ phương tiện để có thể giữ lời hứa của ông Nixon được . Còn Kissinger hả ? ông ta là một con người quá thực tế nên đâu có dại gì đi khư khư bênh vực khi đã nắm chắc phần thua? “Quân đội nhân dân giải phóng” chỉ còn không đầy một tiếng đồng hồ nữa trên đường đến Sài Gòn rồi. Và Hoa Thạnh Đốn cũng dư biết là vài trăm triệu mỹ kim, vài trăm chiến xa hay đại bác thêm nữa củng đâu có cứu được nước Việt Nam của ông Thiệu ? Nhiều lắm là nó chỉ có thể kéo dài giây phút hấp hối của một kẻ sấp chết mà thôi.. . . “
Bà đưa ngón tay trỏ chỉ ngay tôi và nói với một giọng đổ lỗi:
– ” Các nhà báo nước Pháp của anh – ngoại trừ các phóng viên của tờ Le Monde – đều không biết làm công việc của họ. Phải đập ông Thiệu. Phải tố cáo những tội sát nhân của ông ta, tố cáo chế độ cảnh sát trị của ông ta. Các anh phải giúp chúng tôi mở cửa các nhà tù đang nhốt 200.000 tù nhân chánh trị . Và hơn thế nữa các anh không đặt nặng tầm quan trọng và một chỗ đứng cho “lực lượng thứ ba” của chúng tôi. Lực lượng nầy có thực, các anh phải thấy rõ là nó cò một vai trò chánh trị quan trọng trong đất nước chúng tôi , trong một tương lai rất gần đây thôi. Ngay như những người cộng sản ,họ củng nhìn nhận là họ phải nghĩ đến chúng tôi .!.”
– Thưa bà, các nhà báo Pháp, chưa bao giờ tỏ ra quá mềm dịu đối với Tổng ThốngThiệu đâu. Nhưng chúng tôi không có phận sự phải đề cao một phong trào chánh trị và cho phong trào nầy một tầm vóc hay một sự kết hợp mà nó vốn không có. Về vấn đề tù chánh trị , thì con số 200.000 là con số thật sự được Hà Nội, và phe đối lập của ông Thiệu thổi phồng lên. Con số 200.000 nầy đã nhiều lần được báo chí Tây Phương nhắc đi nhại lại nhưng không bao giờ được Hội Hồng Thập Tự Quốc tế củng như hầu hết các Hội Nhân Quyền quốc tế thuộc các tổ chừc Tôn Giáo hay không Tôn giáo xác nhận, dù là tất cả đều rất quan tâm đặc biệt đến vấn đề nầy trong 2 năm gần đây. Theo thống kê thì nhân số trong tất cả các nhà tù của Miền Nam Việt Nam (kể cả các người bị nhốt tạm ở các xã ấp đến những tù nhân đang bị giam giữ ở các nhà lao lớn ở Côn Sơn) đều không quá con số 36.000 người . . . “
Bà Ngô bá Thành nhảy dựng lên, giận dữ, tuông ra một tràng:
-” Thật là đê tiện, quá buồn cười, Sai ! và hoàn toàn sai bét !” Gương mặt bà thay đổi thình lình, mặt mày nhăn nhó. . .bà ho lên một tràng dài, ho và nấc lên từng cơn, rung động cả người.
Bằng một giọng đau khổ lẫn trách móc, chồng bà nói với tôi:
– ” Lẽ ra ông không nên nói những điều nghịch ý với vợ tôi. Bà vợ tôi đang rất hào hứng khi nói về vấn đề chánh trị . Bà không thể chịu nổi những điều trái ngược với ý của bà ta. Bà ta giận ngay, nhanh lắm, khó chịu lắm và cơn suyễn lại kéo đến và bà ta sẽ ngộp thở. Mỗi lần như vậy là tôi phải cho bà một liều thuốc kháng sinh (nguyên tác : hydrocortisone). Bà vẫn biết đó là thuốc độc, nhưng đó là phương thuốc duy nhất. . . “
Tôi ra về mà không hỏi được bà Ngô bá Thành một câu hỏi có ích lợi nào cả. Bà ta đã nằm co ro trong cái ghế bành lớn bằng mây rồi. Trông bà có vẻ rất là yếu đuối để bảo đảm sự thay thế các tướng lãnh đang đối diện trận chiến khốc liệt với cộng sản Bắc Việt, những bộ đội đã từng sống cam khổ qua những trường huấn luyện rừng núi, nay đang sấp sửa tiến vào Sài Gòn . Và sau đó tôi bỗng thình lình sực nhớ lại cách đây 2 năm, được gọi phải ra gặp vị Chánh Án ở Toà Án tỉnh Gia Định, người đàn bà yếu đuối và bệnh hoạn nầy đã rình trước cửa Tòa Án và dùng một viên đá lớn liệng vỡ kính trước xe của ông Chánh án nầy . Sau đó bà chạy lại lôi tuột ông nầy ra khỏi xe, kéo vào lề đường và dùng cán dù đánh ông nầy một trận nhừ tử, sau đó lại còn đá ông mấy đá vào cạnh sườn làm ông nầy đo ván luôn.

° ° °

Vào khoảng 4 giờ chiều, một tin đồn nữa được tung ra khắp thành phố Sài Gòn. Tổng Thống Thiệu đang sửa soạn từ chức. Phải chăng đây là những tiếng đồn bậy bạ, báo động một lần nữa? hay chỉ là lời đồn giỡn chơi như thường ngày để làm cho thủ đô lên cơn sốt ? Có nhiều chỉ dấu ít nhất cũng rất nghiêm trọng hơn là bình thường. Ngay như buổi sáng nay, vị nguyên thủ Quốc Gia không dự buổi lễ Thanh Minh truyền thống. Bí thư của ông đã dùng điện thoại báo cho tất cả những nhân sĩ là các buổi hẹn trong vòng 48 tiếng đồng hồ sấp tới đều được hủy bỏ. Rõ ràng là sẽ có một chuyện gì đó, quan trọng lắm sấp xảy ra.
Vào lúc 5 giờ chiều , Hội đồng Chánh Phủ họp bất thường tại Dinh Độc Lập. Nhiều người nói đây là một buỗi họp mặt để từ giã nhau.
Vào 6 giờ chiều, đài phát thanh báo cho biết là Tổng ThốngThiệu đã mời hết tất tất cả các Tổng Bộ trưởng, Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng, các nhân viên Tòa Thượng Thẩm và các vị dân cử thuộc lưỡng viện Quốc Hội , có mặt lúc 7 giờ tối để Tổng Thống đọc một bài diễn văn của ông, được trực tiếp truyền thanh. .
Trong ba tuần nay, chiến lược gia của các tiệm cá phê ở đường Catinat đã tiên đoán là sự từ chức của Tổng Thống Thiệu là chuyện đương nhiên rồi.
Trong những ngày đầu tháng tư, một nguồn tin đã được loan đi và báo chí cũng đã có nói lại rõ ràng là một “hội đồng tướng lãnh” của Miền Nam đã trao cho Tổng Thống Thiệu một tối hậu thơ, khuyên ông nên từ chức trong vòng 3 ngày. . . nhưng rồi có thấy chuyện gì xảy ra đâu?
Khi nào nhịp độ tấn công của cộng sản Bắc Việt càng mạnh thì phía đối lập lại cứng rắn thêm. Cảnh sát đã phá vỡ hai mưu toan ám sát và dinh Độc Lập đã bị dội bom. Nhưng cho tới giờ nầy Tổng Thống Thiệu không thấy có một dấu hiệu gì nhượng bộ.. Càng ngày càng có nhiều nhân sĩ chánh trị hay tôn giáo đã công khai yêu cầu ông hảy ra đi, để người ta có thể đàm phán với “phía bên kia”. Phần đông các đối thủ của ông dường như tin chắc rằng ông Thiệu muốn ngồi mãi ở cái ghế Tổng Thống nầy cho đến cùng. Ngày hôm kia, ông ta còn dọa giết ông Ngô khắc Tỉnh, người anh em bà con bạn dì với ông, đương kiêm Tổng trưởng Giáo dục, khi ông nầy muốn nói với ông ta về sự nghiêm trọng của tình hình trong hiện tại, làm ông ta giận dữ hét lên:
-“Anh chỉ là một thằng chủ bại bẩn thỉu. Nếu anh còn tiếp tục nói nữa, thì tôi sẽ cho anh ăn đủ 12 viên đạn của tiểu đội hành quyết ngay bây giờ “

° ° °

Ông Dominique, người chủ tiệm ăn Valinco, chuồi cho tôi một tuy dô “hết ý”. Theo ông ta thì Tổng trưởng ngoại giao Sauvagnargues của chúng tôi đã có điện thoại cho ông Mérillon (đại sứ Pháp ở Sài Gòn) để bảo ông nầy :”Anh hãy đi gặp ông Thiệu đi, và bảo cho ông Thiệu là ông ta phải đi đi  . . “

1.
Trước cổng vào dinh Tổng Thống, người ta phải mất độ 30 phút để cẩn thận hướng dẫn các xe chánh thức . Vào một buổi hoàng hôn ấm áp, với bãi cỏ và các vòi nước phun lên được đèn rọi chiếu sáng, với các anh tài xế toàn đội kết trắng tinh, tất cả đều làm cho người ta liên tưởng đến một dạ hôi nào đó. Nhưng những chiếc áo dài lụa xinh xắn của Sài Gòn hoa lệ thường hay làm đẹp mắt cho các buổi tiếp tân lại không thấy góp mặt ở đây, mà chỉ thấy toàn là quân cảnh khắp nơi trong khu vực..
Vào hồi 7 giờ rưỡi, nửa giờ trước giờ giới nghiêm (thình lình được tăng lên 1 giờ), đường phố đã gần như vắng vẻ. Đằng sau các tấm rèm che phía trước tiệm buôn, các gia đình tựu họp lại quanh chiếc máy truyền thanh. Các cảnh sát cũng lẩn quẩn ở trước cửa tiệm để cùng nghe diễn văn của Tổng Thống Thiệu.
7 giờ 43 phút: Trong căn phòng lớn ở tầng dưới của Dinh Độc Lập, đứng trước bức họa tượng trưng của 18 vua Hùng, theo truyền thuyết là những vị vua dựng nước Việt Nam , Tổng ThốngThiệu bắt đầu nói. Với một giọng rắn rõi, bình tĩnh, nhưng không dấu được một sự bực tức , ông đi vào một trong những sự trình bày dài mà đó là sở trường của ông. Ông nhắc lại từng giai đoạn lớn của cuộc chiến ở Việt Nam và những giai đoạn của những cuộc thương thuyết dẫn đến sự ký kết Hiệp Định Ba Lê. Ông hết sức nhấn mạnh các lần từ chối liên tục mà ông đã phải đối đầu chống lại với Kissinger trong cuộc hòa đàm:
– từ chối không chấp nhận một “Chánh Phủ ba thành phần” mà ở các tỉnh và xã ấp củng phải có một nền hành chánh với ba thành phần.- từ chối không chấp nhận “Đông Dương chỉ có 3 nước là Việt Nam , Campuchia và Lào”, và nhấn mạnh đòi hỏi của chúng ta là phải trở lại Hiệp Định Genève 1954 với 2 nước Việt Nam, Bắc Việt và Nam Việt..
Ở điểm thứ ba, Tổng Thống Thiệu đã xác nhận rõ là:
– “Tôi nhìn nhận là tôi đã thất bại, vì tôi chỉ đạt được thỏa thuận là “sự rút quân của người Mỹ phải được đổi lấy sự rút quân của tất cả các đơn vị cộng sản Bắc Việt ra khỏi lãnh thổ Miền Nam mà họ đã lấn chiếm.” Tôi đã tranh đấu suốt 4 tháng để diều khoảng nầy phải được đưa vào bản văn của Hiệp Định , một điều khoản cực kỳ quan trọng.
Cuối cùng tôi phải chịu thua dưới áp lực của người Mỹ. Họ nói :”Nếu ông không chịu ký thì Quốc Hội sẽ “chấm dứt ngay mọi viện trợ kinh tế và quân sự ” . Để thuyết phục tôi phải chấp nhận bản dự thảo Hiệp Định của họ, tôi đã nhận được một sự cam kết chánh thức của Tổng Thống Nixon – một cam kết trong danh dự của một đại cường quốc, một lãnh tụ của thế giới tự do – bao gồm có 2 sự bảo đảm:
* Hoa Kỳ sẽ can thiệp bằng võ lực và ngay tức khắc nếu cộng sản Bắc Việt tiếp tục cuộc chiến.
* Hoa Kỳ chỉ nhìn nhận có một Chánh Phủ của nước Việt Nam : đó là Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa, mà Hoa Kỳ sẽ viện trợ ồ ạt và đúng lúc, viện trợ cần thiết về kinh tế và quân sự .

Tuy nhiên, việc gì đã xảy ra?
Khi cộng sản Bắc Việt đã chiếm căn cứ quân sự Tống lê Chân vào tháng 5 / 1973, người Mỹ không có một phản ứng nào. Dựa vào thái độ tiêu cực nầy của người Mỹ, cộng sản Bắc Việt từ đó đã không ngừng tiếp tục các cuộc tấn công của họ. Sau khi đã lấn chiếm xong các căn cứ xa xôi hẻo lánh, họ tiến chiếm đến các quận lỵ, rồi tỉnh lỵ. Nhưng rồi với thảm kịch Watergate và những ảnh hưởng chánh trị tiếp theo cuộc khủng khoảng về năng lượng trên thế giới, Hoa Kỳ tằn tiện từ từ cắt bớt viện trợ ngày nầy qua ngày khác. Trong lúc Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh thì lợi dụng được các biến cố nầy và gởi cho đồng minh Bắc Việt của họ một số lượng vũ khí chiến cụ to lớn , càng ngày càng tăng lên rất quan trọng, giúp cho các đơn vị chánh quy Bắc Việt xâm nhập không ngừng vào Miền Nam với nhiều chiến xa và chiến cụ, quân dụng tối tân.
Vì thế mà trong khoảng thời gian không đầy 2 năm mà cán cân quân sự hoàn toàn bị đảo ngược với phần thất lợi về phía chúng ta .Chỗ nào chúng ta có một sư đoàn thì cộng sản Bắc Việt có hai. Chỗ nào chúng ta có 10 chiến xa thì họ có hai chục. Quân đội chúng ta mất đi 60% khả năng tác chiến và khả năng di động.Chúng ta không có được sự yểm trợ ồ ạt của không lực nữa và hỏa lực của chúng ta ở trận địa kém hơn hỏa lực của cộng sản quá nhiều
Hoa Kỳ vốn cam kết phải thay thế với tiêu chuẩn một đổi một các quân dụng và chiến cụ hư hỏng, nhưng kể như không có thay thế chi hết.Tổng ThốngThiệu cố nói to lên:”Trong chiến tranh, không thể có phép lạ. Phải có bom, có đại bác, phải có đạn dược, và những phương tiện tiếp vận.Chính vì tình trạng thua sút nầy mà tôi đến phải có quyết định chánh trị và chiến thuật lui quân, không thể làm khác hơn được như đã chứng minh.”
Vừa trình bày cho thấy một số lỗi lầm và một số trường hợp “yếu hèn” của một số cấp chỉ huy liên quan đến thảm trạng quân sự trong sáu tuần lễ vừa qua, vừa nhìn nhận là ông rất tiếc là tình hình các biến cố ở Cao Nguyên diễn tiến quá nhanh, ông Thiệu chỉ rõ: chính Hoa Kỳ là kẻ phải chịu trách nhiệm chính trong vấn đề nầy:
– Tôi đã nói với người Mỹ là: các ông muốn tôi làm những gì mà quân đội của các ông với 300 tỷ mỹ kim, đã không làm được trong sáu năm.
– “Tôi đã nói với họ là: Các ông muốn rút ra khỏi cuộc chiến tranh ở Việt Nam trong danh dự và bây giờ các ông đòi hỏi chúng tôi phải làm những chuyện vô lý và không thể làm được. Điều hành một cuộc chiến với viện trợ quân sự bị cắt xén thì có khác nào mấy ông trao cho tôi 3 mỹ kim mỗi ngày mà bảo chúng tôi phải sống như một du khách hạng sang.”
Sau đó tường trình về những cuộc nói chuyện vào cuối tháng 2 với những thành viên của Quốc Hội lúc họ sang Việt Nam nghiên cứu tình hình, Tổng Thống Thiệu tuyên bố :
– “Tôi đã nói với họ rằng câu hỏi duy nhất được đặt ra là liệu Hoa Kỳ có quyết định giữ những cam kết của mình hay không ? và lời nói của Tổng Thống Mỹ có còn chút giá trị nào hay không ? Tôi nói với họ rằng so với 300 tỷ mỹ kim mà người Mỹ đã xài ở đây thì 300 triệu mỹ kim mà họ đang tranh luận chỉ là số tiền đủ chi tiêu trong 3 ngày tác chiến mà thôi, vậy mà họ vừa trả giá với tôi trong lúc họ đòi hỏi tôi phải chận đứng được làn sóng tấn công xâm lược của cộng sản , một điều mà ngay chính họ, với sức mạnh vô địch của một đại cường quốc, Hoa Kỳ đã không có khả năng chận đứng được trong sáu năm dài chiến đấu.
Thái độ vô nhân đạo của Hoa Kỳ là thái độ của một cường quốc lớn đang trốn tránh trách nhiệm của mình.”
Với một giọng giận dỗi và khích động, ông Thiệu gào to lên:
-“Không bao giờ tưởng tượng nổi là tôi có thể chứng kiến trong một thời gian nào đó tấn bi kịch của những sự trả giá bẩn thỉu đang diễn ra bên trong toà nhà Lập Pháp của Quốc Hội Hoa Kỳ . Không bao giờ tôi tưởng tượng nổi một người như Kissinger lại có thể đưa dân tộc Việt Nam mình vào một định mệnh hết sức thảm khốc như ngày hôm nay”.
Đúng 8 giờ 36 phút, sau 53 phút đọc diễn văn, Ông Thiệu loan báo là ông từ chức . Ông nói thêm :
– “Tôi nghĩ rằng sự hy sinh của tôi sẽ giúp thay đổi được tiến trình viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng Hòa, và giúp thay đổi được diễn tiến trên chiến trường. Nếu nó có thể mang lại hòa bình cho toàn dân, và đem lại cho quân đội và cho đất nước sự giúp đở cần thiết cho sự sống còn của họ thì đó chỉ là một sự hy sinh tối thiểu mà thôi. Đối với những người luôn luôn chỉ trích tôi cho tôi là một chướng ngại cho nền hòa bình, tôi xin họ vì tình yêu của Tổ Quốc họ hãy giúp đỡ người kế vị tôi, là Tổng Thống Trần văn Hương, để ông mang lại hòa bình cho đất nước , một việc mà tôi đã không thể làm được. Tôi hy vọng rằng hành động của Ông, căn cứ trên sự thi hành Hiệp Định Ba Lê và căn cứ trên quyền tự quyết của dân tộc, sẽ đi đến một giải pháp chánh trị trong hòa bình và ngăn chận được cộng sản Bắc Việt không tiến chiếm Sài Gòn . Kể từ giờ phút nầy, tôi xin tự đặt mình hoàn toàn dưới sự xử dụng của vị Tân Tổng Thống, của dân tộc và của quân đội . Tôi tiếp tục làm việc bên cạnh đồng bào và các chiến sĩ để bảo vệ đất nước chúng ta.”
Bây giờ là 9 giờ đêm. Đèn ở Dinh Độc Lập đã lần lượt tắt hết. Các bãi cỏ và các vòi nước cũng đã chìm trong bóng tối. Ông Thiiệu không còn là Tổng Thống nữa. Trong thời gian 8 năm, đối với Hoa Kỳ cũng như đối với tất cả những người thân của ông, Nguyễn văn Thiệu đã là một người mạnh, một đồng minh trung thực và chắc chắn, là thành lũy cuối cùng chống chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á, và ngay đối với Tổng Thống Nixon, ông Thiệu là một trong những chánh trị gia khôn khéo nhất của thời đại.. Đối với kẻ thù cộng sản và những những đối thủ chống đối ông thì ông là một kẻ độc tài và một người tham nhũng tay sai của đế quốc Mỹ. Chiều nay, ông chỉ còn là một người cô đơn, chua chát và thất vọng, một người đang bất thần đứng ra đo lường sự khoa trương hão huyền về danh dự con người, đo lường những sự cam kết và sức mạnh của chánh trị . Có nhiều người sợ rằng nếu ông ta cứ giữ một thái độ hiếu chiến muốn tử thủ, thì ông có thể sẽ đưa thủ đô Sài Gòn vào một trận chiến đẫm máu và phá hoại điêu linh.

——————————–

1Chú thích của tác giả: Trong một cuộc phỏng vấn dành cho tờ báo Nouvel Observateur, ông Sauvagnargues xác nhận tin tức lạ lùng nầy:” Theo đúng chỉ thị của tôi, đại sứ Pháp đã có đến gặp ông Thiệu và nói với ông nầy rằng :”Ông phải ra đi thôi. . . “, một cách thi hành Hiệp Định Paris hết sức quái lạ…

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

Chương Mười Lăm
Thời Kỳ Của Những Trái Bom “Thí Nghiệm”

Thứ Bảy, ngày 19 tháng Tư
Ở đầu một đường bay, những người lính chữa lửa đang chữa cho một phi cơ phản lực 2 động cơ, bị trúng một hỏa tiễn SA.7 của Liên Xô lúc mới vừa cất cánh. Cạnh một chiếc xe vận tải tôi nhìn thấy 4 bao ny lông dài đã đóng kín. Đó là những gì còn nhặt lại được từ thân thể của phi hành đoàn 4 người.
Vào lúc 2 giờ trưa, tôi lại lên được một chiếc phi cơ vận tải “chinook” để bay lên vùng mặt trận. Tôi được tháp tùng với khoảng 40 anh em biệt kích người vạm vở, gọn ghẽ trong bộ quân phục đen, được trang bị súng phóng lựu và tiểu liên 45 ly ngắn nòng M3 A.1 bá xếp. Huy hiệu mà họ mang trên tay áo là một con ó và một chiếc dù được thêu trong một hình tam giác, chỉ cho tôi biết họ thuộc lực lượng biệt kích dù Lôi Hổ (cọp bay). Đây là một đơn vị đặc biệt, chuyên hành quân ban đêm từng toán 3 người một, trong vùng địch, có nhiệm vụ tìm vị trí địch, các trục tấn công của địch, sau đó báo cho pháo binh và không quân bạn để có hành động phản ứng kịp thời.
Giờ đây tôi lại đang trên đường đi đến Xuân Lộc: đây là lần thứ ba trong tám ngày nay tôi lên khu vực nầy, mà lần nầy thì chuyến đi có vẻ thoải mái và anh em đoan chắc với tôi là đến một vị trí tương đối yên tĩnh và sạch sẻ hơn. Chiếc trực thăng bay độ 15 phút thì đến vùng Xuân Lộc, bay trên quốc lộ 1 và ngoặc hẳn về hướng Đông, hạ thấp xuống độ 700 bộ đến một vườn cao su bạt ngàn thẳng tấp.
Chiếc “chinook” xuống rất nhanh. Từ trên nhìn xuống, Xuân Lộc ít nhất nếu còn gì thì cũng chỉ có một quang cảnh mờ nhạt. Rất lo ngại tôi ghi nhận là có nhiều chùm lửa, cột khói do đạn pháo cứ rơi đều xuống vòng đai đã bị tàn phá. Chiếc “chinook” của chúng tôi hạ cánh đáp xuống làm tung bụi mù đỏ thẳm. Khoảng 50 người dân rách rưới chạy lại bao quanh chiếc trực thăng. Có nhiều người đã bị thương; và vẫn một cảnh tượng cũ: các bà mẹ bế con trẻ áo quần đầy máu, vẻ mặt hốt hoảng đang muốn đi khỏi đây. Một chiếc xe Jeep, chạy gần như nhảy qua các đống gạch vụn, chở tôi đến một trạm cứu thương.
Mỗi một làn gió nhẹ đưa tới là có một mùi hôi thối kinh người từ mấy trăm xác chết của cộng sản Bắc Việt đầy ruồi nhặng xông lên.. Một người y tá nói với tôi:
– “Chúng tôi làm gì có thì giờ để chôn cất họ, chỉ kịp rải lên mình họ một lớp vài vá cát đá vụn mà thôi”.
Ở trạm cứu thương nầy đầy những quân nhân bị thương. Có hai vị bác sĩ trẻ đang làm những gì mà họ có thể làm được dưới một ánh đèn mờ màu xanh. Họ gọt, họ cắt xén, khâu lại, hay cưa bỏ… Có nhiều người mang những vết thương kinh hoàng đầy mủ trắng. Các tay chân bị cắt được vất lẫn lộn vào một thùng phuy xăng mà các anh y tá đã mang tới lúc còn đầy xăng. Các mảnh vụn khác thì được chôn ở một hố được đào lên cách đó chừng 20 thước có tưới thuốc khử trùng và được lấp đất lại cẩn thận.. Ngoài sân trời đang vần vũ, mấy đám mây đen kịt đang là đà dưới chân trời. Cơn bão lại sắp đến.
Tôi cố tìm đại tá Phước, chỉ huy trưởng đơn vị biệt động quân. Một trung sĩ cho tôi biết là ông đang ở gần nhà bưu điện, nơi sắp có cuộc đụng độ mạnh. Mưa đã bắt đầu rơi nặng hột xuống mảnh đất khô khan đầy máu nầy, và sau đó thì mưa to, mưa quá to và chỉ trong vài phút đã làm ướt ngập trũng hết nơi đây. Anh em binh sĩ ai cũng phải choàng áo đi mưa vào. Hằng đàn chuột to từ những lổ cống hay từ các bức tường sập tuông ra. Có đến hằng ngàn con xám đen, từng đàn, lì lợm tuông ra từ những đống thây ma chôn vội vàng.
Một sĩ quan biệt động quân dẫn tôi đi và bắt tôi phải ẩn nấp trong một hầm trú ẩn lụp xụp trong đó có khoảng một tiểu đội với súng liên thanh nhẹ được bố trí đạn đã lên lòng.. Viên trung úy liên lạc vô tuyến. Mưa càng ngày càng to. Các anh em binh sĩ dù nằm hay ngồi dựa lưng sau bức tường sập tất cả ai cũng đều trong tư thế sẵn sàng chờ chiến đấu.
Vào lúc cơn mưa bão đang hoành hành, một tràng đạn rốc kết bay xuống nhà bưu điện và tất cả những vùng quanh đó. Tất cả phải chen nhau xuống hố chiến đấu đầy bùn đầy nước nhầy nhụa hay nấp trong những ô tường không nóc để chịu trận, nghe tiếng gầm rú xé tai và tiếng nổ chát chúa của các quả rốc kết. Và sau rốc kết lại đến phiên đạn bách kích pháo, khô khan hơn, chát tai hơn và chính xác hơn. Và thình lình, nhìn xuyên qua cơn mưa tầm tã, xuất hiện những bóng người mặc quân phục xanh sậm. đội nón cối tròn, sát cánh nhau đi tới: đó là bộ đội Bắc Việt đang tấn công. Họ đến từ dường rày xe lửa. Viên trung úy ra hiệu và các súng liên thanh bắt đầu đua nhau nhả đạn. Toán nầy ngã gục nằm xuống lại có toán khác tràn lên. Họ tiến vào bưu điện. người ta nghe được nhiều loạt nổ của lựu đạn trong nhà bưu điện, và hai tiếng nổ thật lớn sau đó. Một mảnh tường bay lên vụn vằn. Đó là 2 tên đặc công cộng sản đang mở đường bằng cốt mìn. Một toán người nhỏ thó đang tràn vào nhà bưu điện. Cùng lúc với cứ điểm nầy, nhiều loạt tấn công khác đã được tiến hành.
Cộng sản Bắc Việt hiện đang ở thế mạnh, ít nhất củng phải đến một tiểu đoàn. Họ bắn liên tục không ngừng. Lần xung phong sắp tới, chắc là đến lượt chỗ của chúng tôi. Nhưng một hàng rào chính xác và hữu hiệu của đạn pháo 105 ly trên chiến xa ở phía sau chúng tôi chừng 800 thước đã cứu vãn tình thế. Những trái đạn đi rồi nổ trước mặt chúng tôi làm chúng tôi muốn ngưng thở, nhưng đã sát hại kinh khủng hàng ngũ của cộng sản. Qua 10 phút bắn cuốn chiếu, pháo đội ngưng bắn. Các biệt động quân ra khỏi hầm trú ẩn và phản công. Những gì còn lại của nhà bưu điện đang cháy như một ngọn núi lửa. Đến 5 giờ chiều, tất cả coi như xong.. Châu vi bãi chiến trường gần như quang đãng, cơn bảo củng đã qua, bầu trời lại xanh trở lại. Một sự yên tĩnh không tả được đang ở đâu đây, chung quanh chúng tôi. Chỉ có một con chó phèn duy nhất đang đau khổ chạy quanh khu nhà sập đổ nát, kêu la ầm ĩ vì bị các mảnh đạn trên lưng.
Tôi quay trở lại bản doanh của sư đoàn . Dưới chân của tượng Chúa trước nhà thờ, một anh lính Dù đội mũ nồi đỏ đang quì cầu nguyện, hai tay chấp lại nhưng vẫn tì trên khẩu súng của mình. Tôi có cảm tưởng là thành phố nầy đã bị cày xới lên bằng máy ủi. Tất cả chỉ còn là những đống gạch vụn của các bức tường đổ nát, các tấm tôn và gạch vữa bị nhào đi nhào lại với nhau rải rác thành từng đống một, và trên tất cả là chiếc thánh giá của nhà thờ với tường lỗ chỗ dầy vết đạn, và những lỗ hổng tác hoác. Trong dãy nhà của trường đạo đầy lỗ thủng đạn, tôi gặp đại tá Hiếu, 40 tuổi, quân phục vẫn láng cót, với chiếc nón vải đi rừng nhưng vẫn có khẩu súng lục đeo ngang lưng. Ông rất tự hào về trung đoàn 40 của ông, đơn vị đang phòng thủ cả mặt Nam của thành phố. Ông ta nói:
“Anh biết không, chúng tôi có thể đánh họ chớ sao không. Chúng tôi đã đẩy họ ra khỏi thành phố rồi đấy chứ và chúng tôi không rời khỏi thành phố nầy đâu. Giả thiết mà chúng tôi có được một số đại bác 130 quỷ quái mà họ dùng để nã vô tội vạ vào chúng tôi! Tinh thần dù sao cũng vững lắm, Chúng tôi đã lãnh đủ 12 ngàn quả đạn pháo và ba ngàn quả rốc kết từ ngày 9 tháng 4 đến nay. Cộng sản đã tấn công chúng tôi 6 trận trong 8 ngày nay. Chúng tôi đã đẩy lui được hết, nhưng trận tấn công quyết liệt nhất chưa đến đâu. Tôi chắc chắn là nó cũng sẽ đến gần đây thôi.
Trong vài ngày nữa đây, thế nào họ cũng gom lực lượng của họ lại bằng cách tập trung các sư đoàn được rảnh tay sau khi các tỉnh ở Miến Trung bị thất thủ và đây có lẽ sẽ là trận chiến cuối cùng. Nếu chúng tôi chịu không nổi, thì Sài Gòn chắc không đứng được lâu đâu.”
Sau hai giờ tôi vừa sống ở đây, thật tình tôi không muốn nghĩ tới “trận chiến cuối cùng” nó sẽ như thế nào.
Phía ngoài, giữa nhà thờ và những gì còn lại của các văn phòng hành chánh, các chiến binh Dù, những người đã đụng trận nặng hồi đêm qua, đang nằm dài nghỉ ngơi dưới đất ở bìa sân bay. Có 3 người trong số nầy gác súng của họ vào môt cái cây và họ ngồi cạnh nhau, vừa đàn gui ta vừa hát nho nhỏ theo tiếng đàn.. Trông họ cũng đã có tuổi rồi.
Tôi rảo chân đi về phía chợ. Binh sĩ thuộc khu phòng thủ trung ương nầy được rải dài ra trên năm trăm thước khỏi nhà thờ (đã bay hết nóc, kính thì củng vỡ tan, tường rạn nứt) nằm vững chắc trong những hầm núp kiên cố, có bao cát che đầu được sấp trên các tấm đan bằng bê tông, tất cả đều có đường dây điện thoại chôn duới đất nối liền với nhau. Các vị trí nầy đều tua tủa súng liên thanh, súng phóng hỏa tiễn chống chiến xa, và đại bác không dật. Các chiến xa M.48, có trang bị đèn chiếu hồng ngoại tuyến cho đại bác để tác chiến ban đêm đang bố trí dài theo hai bên bệnh viện có một đại đội Dù trấn giữ.
Đến 6 giờ chiều thì tôi mới được gặp đại tá Phước, ông đi thanh sát các tiền đồn vừa mới trở về. Là một sĩ quan với diện mạo và tướng đi trông rất trẻ trung, 39 tuổi, người chắc nịch như một trụ đá, ông Phước không bao giờ đeo súng hay nón sắt tác chiến. Chúng tôi đã biết nhau từ trận tấn kích Tết Mậu Thân của cộng sản. Lúc đó ông chỉ huy các liên đội biệt động quân đến thay thế các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến ở Chợ Lớn. Ông đã có tiếng là một sĩ quan đặc biệt liêm khiết, ham tiến chớ ít chịu lùi, nhưng biết tiết kiệm gìn giử từng mạng sống của binh sĩ mình. Sau đó tôi lại gặp ông ở Neak Luông, nơi đó các đơn vị Miền Nam đã thiết lập một căn cứ lớn trong chiến dịch tấn kích lên CampuChia. Đại tá Phước nắm tay tôi và nói:
_”Vào đây, vào phòng hành quân của tôi, chúng mình sẽ ăn một chén cháo gà với nhau đã . Tôi chưa có ăn gì cả từ sáng đến giờ, đói muốn chết đây bạn “
Phòng hành quân (phòng chỉ huy) của người chỉ huy biệt động quân nầy nằm ngay trước chợ, trong một nhà xe được tổ chức cẩn thận lắm, có rào kẽm gai và có gài lựu đạn, xem còn nguyên trạng. Các tường được tăng cường bằng các khúc gổ tròn, các khúc sắt đường rầy xe lửa và những tấm thép dày. Trên bàn có gắn những tấm bản đồ của từng khu vực của thành phố được vẽ lớn và ghi chú rõ bằng tay và có cả đèn măng sông soi sáng. Một chiếc tủ lạnh chạy bằng dầu đang ướp lạnh các thùng bia. Nhà bếp có năm cái lò bằng đất nung nằm gọn trong góc, không tốn chỗ bao nhiêu. Các sĩ quan thì nằm trên chiếu thường. Ông Phước dẫn tôi đến một chỗ trống, chỉ có một cái bàn thấp, trên đó có một bình trà và mấy chén cháo nóng có vài cọng rau thơm và ớt. Chúng tôi ngồi bẹp xuống ăn. Phước ăn vội tô cháo của anh, uống một tách trà nóng, xong dựa lưng vào vách và nói: xà ngang của đường rầy lấy được bằng cách tháo gở đường xe lửa cũ . . .
Anh rót thêm một tách trà, hớp từng ngụm và tiếp tục:
_ “Trước hết, chúng tôi thiếu cái gì? Đó là một sư đoàn hành quân di động tốt. Bao giờ chúng tôi mới thật sự đánh úp họ được và bẻ gãy các cuộc tấn công của họ được. Nhưng chúng tôi không – “Như vậy là anh tới thăm tôi? Tướng Đảo có nói với tôi là anh đã tới đây 3 hôm trước . . . Ê, được lắm! Tình hình càng ngày càng quyết liệt hơn rồi đó. Trên phương diện giá trị chiến đấu của binh sĩ, tôi không có gì lo ngại hết. Anh em Dù và Biệt động quân đều có cú đấm của mình và sư đoàn của tướng Đảo là một đơn vị ưu tú. Trước mặt chúng tôi là bộ đội Bắc Việt còn rất trẻ nhưng thiếu kinh nghiệm hơn chúng tôi, nhưng họ có quân trừ bị quan trọng, và có lực lượng tăng cường cho họ đều đều. Vì không có đầy đủ quân số cần thiết nên chúng tôi phải nằm cứng ở thế phòng ngự và vì thế bị chúng nó tấn công có phương pháp. Kết quả là chúng tôi phải đào lỗ và sống như những con chuột chù và thiết trí những hầm trú ẩn hay đường hầm tác chiến nhờ có cát nên nằm mơ! Tướng Đảo đã cố gắng gần một tuần nay để đem về lại Trung đoàn 43 của ông (trung đoàn thứ ba của sư đoàn) đang bị cầm chưn ở Củ Chi. Bộ Tư Lệnh đã từ chối, và ông rút trung đoàn về không được. Nhưng còn một bài toán rất trầm trọng hơn nữa, đó là vấn đề tiếp vận. Tôi sẽ cho anh một vài con số. Hiện giờ cấp số đạn của chúng tôi, mỗi binh sĩ chỉ có được 100 viên đạn và hai trái lựu đạn mỗi ngày. Với khẩu súng tự động M.16 (nhịp bắn thực dụng là 400 viên / phút) 100 viên đạn thật ra là không có gì cả! Lúc còn người Mỹ ở đây, không có một binh sĩ nào có dưới 400 viên đạn khi đi hành quân. Cấp số tổng quát cho vòng đai phòng thủ là 15 tấn. Với 20.000 người trên mặt trận, thì phải có 50 khẩu pháo binh, chưa kể bách kích pháo, như vậy là chỉ tính cho một giờ tác xạ mà thôi đó nghen. Anh em pháo thủ của chúng ta không thể nào thực hiện được những tác xạ “ngăn chận” nhằm dùng hỏa lực của mình để đánh vào những trục tiến quân của địch và ngăn chận được sự tập trung của địch ở những tuyến xuất phát. Chúng tôi xoay sở bằng cách gài mìn cá nhân và tăng các đội tuần tiễu của biệt động quân trên những đường tiến sát hay đường xâm nhập của địch mà thôi. Khi họ ghi nhận hay khám phá được một sự di chuyễn của địch thì họ gọi Không quân. Còn thì chúng tôi phải ấn định một kỷ luật tác xạ thật khắc nghiệt. Pháo binh chỉ tác xạ chận các đợt xung phong của địch, và bộ binh thì chỉ bắn diệt địch thật hữu hiệu ở tầm gần. Đây là một chiến thuật có nhiều nguy hiểm bởi vì mình phải chở cho các làn xung phong của địch đến thật gần, ở cự ly xáp lá cà mới được bắn. Hiện giờ thì coi như cũng được đi vì binh sĩ của chúng tôi toàn là dân thiện chiến, không hốt hoảng và chịu nằm yên dưới làn đạn pháo binh của địch. Nhưng chuyện đó không thể kéo dài tuần nầy qua tuần khác dài dài như vậy được. Chúng tôi mất từ 60 đến 80 mạng hằng ngày như vậy, chỉ tính riêng cho Dù và Biệt động quân thôi đó. Và một người lính thiện chiến già dặn khó mà tìm được người thay thế lắm!
– Anh đã bi quan rồi sao đó?
Phước nở một nụ cười có vẻ ngạo nghễ:
– “Bi quan hả? nó có nghĩa gì? Chúng ta đang ở trong thời chiến. Không có ba mươi sáu giải pháp đâu. Chỉ có thắng, hay bại hay chết mà thôi. Tướng Đảo có chín người con, tôi thì có năm. Gia đình chúng tôi ở Sài Gòn. Cả anh em binh sĩ của tôi cũng vậy. . . . và chúng tôi không muốn bị bọn Bắc Việt khốn kiếp nầy đè bẹp. Có thế thôi.
– Anh nghĩ là bọn cộng sản sẽ làm gì?
– Ồ, đâu có gì hơn đâu? Họ đang cố gắng bóp cổ chúng tôi. Họ cắt đứt đường ở phía sau lưng của chúng tôi để ngăn chận không cho đạn dược tới được. Họ tiếp tục dập chúng tôi bằng pháo 130 ly và tập họp 5 sư đoàn lại để cuối cùng họ nghiền nát chúng tôi. Trong khi chờ đợi giây phút đó, tôi cố gắng không cho mất cái mạng nầy. Tôi cho cái mũ nồi nâu của tôi đi dạo khắp nơi, tôi cố gắng đứng thẳng khi bọn cộng sản Bắc Việt bắn tôi . . .
– Anh thích cuộc chiến hả anh Phước?
– Anh nói thế có nghĩa là thế nào đó anh Pierre? Thích cuộc chiến hả? Tôi thương vợ tôi, thương con tôi, thương đất nước tôi. Tôi thích sống như cha mẹ tôi đã sống, có lễ độ, thích tổ chức nghi lễ theo truyền thống của dân tộc tôi, thích đi xem chiếu bóng, thích đi dạo trên thuyền hay chăm sóc vườn tuợc. Cái phiền là ở Việt Nam người ta không thể đi dạo chơi từ lâu rồi mà không sợ lảnh một viên đạn vào đầu hay bị giẫm vào một trái mìn nào đó. Hồi Tết Mậu Thân chúng tôi đã sửa soạn tất cả rồi để ăn một cái Tết.. Nhà cửa được trang hoàng đầy hoa thủy tiên, bánh mức truyền thống cho Ông Táo bày ra rồi, bánh chưng, chè, và một chai rượu nếp nhỏ nữa, lại có cả một bức tranh lụa vẽ hình một con chim đại bàng đang tung cánh bay và một con ngựa đang phi. Các con tôi đang cười đùa, vợ tôi vui lắm. Chúng tôi đã có một buổi tối thật hạnh phúc. Nhưng đùng một cái đúng 4 giờ khuya thì Việt Cộng tấn công. Tôi phải rời khỏi gia đình tôi tức khắc,, và chỉ được về phép năm tháng sau đó. Đêm đó thằng em út của tôi, trung úy Dù, và vợ nó (chúng nó ở Chợ Lớn) đã bị Việt Cộng cắt cổ xơi tái. . .
Đại tá Phước đứng dậy và bước lại đài vô tuyến truyền tin của ông. Tôi còn ngồi lại một mình ở cái phòng nhỏ còn có được một cây đèn măng xông đang chiếu lên tường cái bóng chập chờn của bình trà.
Ở ngoài, đêm thật là yên lặng. Ở về hướng Gia Kiệm, tiếng súng đại bác vẫn rền vang như một cơn bão xa xăm. Tôi nghĩ tới điều lạ lùng của một sự bất ngờ. Cách đây 28 năm, tôi đang ở một cái đồn nhỏ có rào tre vạt nhọn, gần hành dinh mà tôi vừa mới đến ban chiều. Các bạn thân của tôi gồm có một người Pháp ở Miền Bắc (Bretagne), và một người Đức. Ông bạn Pháp thì vạm vỡ hồng hào tên là Massé, là trung úy chỉ huy một đại đội thân binh, đi đâu củng mang theo một cái máy hát quay tay và cả một chồng dĩa nhạc cổ điển, đã mòn gần láng hết rồi vì xài quá nhiều. Còn ông bạn người Đức là một cựu sĩ quan quân đội Đức, đã từng chiến đấu ở Tây ban Nha, sau dó vào lê dương (đã từng chiến đấu chống lại tướng Rommel ở Ý), một tay lực sĩ với nước da ngâm đen và một cái nhìn xám xịt, tên là Guerlach. Sau khi đã trở thành một nhà trồng tĩa rồi, anh vẫn không chịu rời bỏ khẩu súng tự động KAR 43 của anh, mà anh gọi là “dụng cụ cá nhân ” của mình, và một khẩu súng ngắn Walther P.38. Trung úy Massé đã chết trong một trận tấn công đoàn xe ngày 18 tháng 5, năm 1948, do Hoàng Thọ, một chỉ huy đặc công Việt Cộng có râu quai hàm như một linh mục, mà tàn ác như một con hổ đói. Còn anh bạn Guerlach thì bị giết vài tháng sau đó trong một trận phục kích trên đồn đỉền Courtenay. Nhưng trước khi chết anh đã hạ chín Việt Cộng với hai khẩu súng mà anh gọi là “dụng cụ cá nhân” của anh”.
Bao nhiêu năm đã trôi qua rồi nhưng tôi tự hỏi tại sao tôi luôn luôn còn đây? Mà cũng vẫn ở vùng Xuân Lộc, không ở nơi khác? Trong cái thành phố ma quỷ nầy, thành phố chỉ còn là một cái tên, với kỷ niệm của những con ma khác mà tôi đang nhớ đến?
Đại tá Phước trở lại với một chén cà phê nóng. Ông đặt chén cà phê lên bàn và nói với tôi:
– ” Này, cái nầy tốt cho anh đó, anh Pierre! Anh em Lôi Hổ đã thành công, họ đã tìm và định được vị trí của một trung đoàn cộng sản Bắc Việt đang di chuyễn khoảng 10 cây số cách quận lỵ. Nếu Lôi Hổ mà định được chính xác đúng dường đi của trung đoàn nầy thì chúng tôi sẽ dập tan họ bằng Không quân trước khi họ mở cuộc tấn công. Như vậy sẽ tiết kiệm được cho chúng tôi một cuộc chiến không mấy tốt. Trong khi chờ đợi, tôi không có quyền đi ngủ..”
Sự bình tĩnh quá cứng rắn của vị sĩ quan nầy được thể hiện rõ trên nét mặt điềm nhiên của một người có thói quen nhìn thấy trước một việc không tốt sẽ xảy đến cho mình mà vẫn bình thản để có giải pháp đối đầu . . .xem rất là cảm động. Ông ngồi xuống dựa lưng vào tường và hỏi tôi:
-” Ông bạn Thomann của anh thế nào rồi anh Pierre? Không thấy anh ta đến đây chuyến nầy?
– Anh ta đang ở Ba Lê. Hiện anh đang có một đứa con trai nhỏ.
– Anh ta nghĩ không đi làm phóng sự nữa sao?
– Không phải vì anh mới có con nhỏ đâu. Cơ quan mướn anh đã tính sổ cho anh ta luôn rồi.
– Tôi thích anh đó lắm. Anh ta đã từng đi với chúng tôi trong nhiều tháng hành quân ở nhiều khu vực khác nhau. Anh ta cũng dai như đỉa đói vậy, không biết mệt mỏi là gì mà không nói quá ba tiếng trong cả tuần. Anh ta cùng ăn với chúng tôi, cùng ngủ dưới đất như chúng tôi và không bao giờ rời khỏi máy quay phim của mình. Anh ta bị thương 3 lần khi cùng lặn lội với chúng tôi: lần thứ nhất bị thương trên đầu ở thung lũng A Shau, tháng hai 1969, vì miển đạn bách kích pháo; lần thứ nhì vào tháng giêng 1970 trong khu vực “Thất Sơn” ở gần biên giới Campuchia, vì một trái đạn bách kích nổ cách anh ta chỉ có 2 thước, lần đó tôi có 4 binh sĩ tử thương nhưng anh ta thì 2 chơn đầy miểng; lần thứ ba vào tháng 7 năm 1972, trong khi anh ta đang quay cảnh một đoàn dân chúng đang bị pháo 130 ly của Liên xô. Lần đó anh ta suýt nằm luôn tại chỗ rồi! Anh ta bị thương rất nặng: cườm tay trái gần đứt lìa và đùi phải bị quá nặng. Các anh em biệt động quân của tôi đánh giá anh ta cao lắm.
– Đánh giá cao là phải rồi! Tôi nghĩ là họ rất có lý. Anh Phước nầy! tôi biết anh Raymond Thomann nầy từ lâu rồi. Anh ta là một cựu chiến binh Biệt kích Dù của Algérie đó! Sau đó anh vào làm lính đánh thuê ở Yémen và ở Congo, trước khi sang Việt Nam làm việc cho đài NBC và AP của Mỹ. Anh ta đi bộ không bao giờ biết mệt và không sợ gì cả. Anh ta đã thành công rất đẹp vào tháng giêng năm 1969. Không biết làm thế nào mà anh ta biết được là người Mỹ sẽ trao đổi tù binh với Việt Cộng, nên đã đi trước hai ngày lên Tây Ninh, rồi từ đó anh lôi bộ vào bưng, lang thang không biết chỗ nào là chỗ nào hết vì không biết rõ địa điểm trao đổi chính xác nằm ở đâu. Anh tìm cách qua được Sông Bé bằng xuồng, tránh được nhiều đội tuần tiễu của Việt Cộng và cuối cùng anh tìm đến được một bìa rừng trống trải, ở đó sẽ có cuộc trao đổi tù binh. Cả người Mỹ và Việt Cộng đều ngạc nhiên khi anh ta xuất hiện. Việt Cộng ngạc nhiên vì họ đã lừa được hệ thống canh chừng của bọn họ, còn người Mỹ ngạc nhiên vì họ tới đó bằng trực thăng và không thể tưởng tượng nổi một người tay không như anh ta mà lại đột nhập thật sâu vao đây một mình được như vậy, để xuất hiện như một con ma trong lúc không một bên nào chờ đợi sự có mặt nầy. Lần đó Raymond đã mang về một số hình ảnh thật là tuyệt vời. Bọn Việt Cộng thì đội nón vải đi rừng mặc quần cụt, người chỉ huy của họ có một lỗ mũi khá kỳ dị, nhọn hoắc và có một cái bứu. Còn đại tá Mỹ là một người ốm gầy cao mặt xương, nói tiếng Việt rất rành tên là Sauvageot 1. Ông ta quá đỗi giận khi thấy Raymond có mặt ở ngay nơi có buổi trao đổi bí mật nầy, nên đã từ chối không cho anh ta về bằng trực thăng, nên ông bạn tôi lại phải lội bộ trở về..
Đại tá Phước cười lên nắc nẻ, nấm tay đập xuống đầu gối và la lên:
– ” Tiếc quá, thật tình tôi không biết sự việc nầy, nhưng nó chỉ xác nhận những gì tôi đã nói với anh về Thomann. Muốn làm được một “cú” đẹp như thế, tôi nghĩ là phải có một bản lĩnh! Nếuanh còn gặp anh ta ở Ba Lê, anh cho anh ta biết cái tình bạn thật thân thiết của tôi đối với anh ta nhé.
Một đại úy đến đứng nghiêm, chào đại tá Phước và trình: “Thưa đại tá, có “Lôi Hổ 6” gọi.
Đại tá Phước nhảy lên gọn gàng và chạy lại trung tâm truyền tin của ông. Có một giọng nói chắc nịch đang bình tĩnh báo cáo:
– ” một trung đoàn cộng sản Bắc Việt đang tập trung ở 5 cây số về hướng Đông Bắc trước khi xuất phát. Tiền sát của họ đã nằm ở cách sân bay khoảng 2 cây số. Có hai tiểu đoàn chiến xa yểm trợ,  xin đại tá ghi giùm tọa độ đi.” Phước ghi vội tọa độ và cho lệnh ngay, ngắn gọn:
-” Tránh ngay khỏi trục tiến quân của họ. Hết “
Sau đó ông báo động ngay cho Biên Hòa, tin tức, tọa độ, và xin một “yễm trợ nặng”. Sau đó ông mới liên lạc và chuyển hết tin tức cho Pháo binh,
Tôi bước ra khỏi nhà xe. Bên ngoài, trời về đêm vẫn yên tĩnh, thỉnh thoảng chỉ nghe một vài tiếng động nhỏ dều đều của tiếng vá đào đất, chắc hẳn là binh sĩ đang tu bổ các hầm trú ẩn của họ..
Mười phút trôi qua, Có tiếng máy nghe được xa xa, trên trời cao. Pháo binh bắt đầu tác xạ. Có tiếng kẻn khua, tiếng đạn đi ngang qua và vài giây sau đó là những tiếng nổ inh tai.
-“Họ bắn dài để chận đường rút lui của trung đoàn địch và che lấp tiếng phi cơ bay đến” đại tá Phước theo đứng bên cạnh tôi và nói.
Có ba vừng ánh sáng liên tiếp lóe lên cao, và ba tiếng nổ kinh hồn như những trái đạn của hải quân, cửa nhà xe rung lên ba lần.. Chúng tôi nhìn thấy có mấy ánh lửa lóe lên nhưng ngay sau đó bị các cột khói lên che lấp ngay, mấy chiếc nấm lớn khói đen kịt hình như đang tụ lại bao vòng một khỏang lớn của chân trời. . . . Pháo binh đã ngừng bắn. Đại tá Phước trở lại đài chỉ huy vô tuyến. Hai chục phút trôi qua. Có tiếng gọi của Lôi Hổ trên đài. Bây giờ là 1 giờ sáng rồi.
– ” Đơn vị Bắc Việt bị đánh trúng rất nặng. Có vài tên sống sót đang chạy tán loạn. Thống kê kinh hoàng!”
Đại tá Phước dùng vô tuyến cho lệnh hai tiểu đội biết động của ông tiến chiếm và tảo thanh vùng vừa bị dội bom. Ông xoay qua tôi và nói:
-“Anh có thể vào ngủ yên, sẽ không có gì xảy ra nữa trong đêm nay. Bọn chúng phải cần có một thời gian mới có thể tiêu hóa xong những trái “C.B.U. 55” nầy.
– Anh muốn nói những trái “Cluster Bomb Unit”? Tôi cũng đã biết chúng nó rồi. Đó là loại bom có nhiều miển, chống cá nhân, được thả từng chùm, khi đụng đất, nổ tung ra nhiều trái đạn nhỏ bằng trái banh tennis phải không? Loại bom nầy gây nhiều thiệt hại đáng kể . . “.
Đại tá Phước đưa tay chận tôi lại ngay
– “Loại CBU.55 nầy cũng được thả từng chùm, nhưng là một loại bom đặc biệt, cho đến giờ nầy chưa bao giờ được xử dụng.
– Anh nói “đặc biệt”, nó có nghĩa gì đây?
– Tôi không muốn giải thích chuyện đó bây giờ cho anh nghe đâu. Anh sẽ thấy rõ kết quả ngày mai khi trời sáng. Chúng ta sẽ đến đó xem tận mắt. Bây giờ anh hảy đi ngủ đi.”
Tôi đến nằm trên một chiếc chiếu và ngủ ngon lành.
Đến 6 giờ sáng, có người đánh thức tôi dậy. Tôi nhận ra đó là đại úy hồi hôm.
– ” Đại tá tôi đang chờ ông “
Chúng tôi đi bằng xe Jeep. Ba cây số về hướng Đông Bắc, và sau đó chúng tôi xuống xe và có ba anh biệt động quân vai choàng đại liên M.60, mình mang đầy mấy giây đạn hướng dẫn chúng tôi đi.
Và thình lình giữa những hàng cây trụi lá, một cảnh tượng thật rùng rợn, như một ảo tưởng! Trong một khoảng trống mỗi bề độ 100 thước, hằng trăm bộ đội Bắc Việt không còn hình dạng rãi rác cùng khắp nơi. Một chiến xa bị lật ngữa. Các tử thi không thấy có một vết thương nào trên mình. Chỉ thấy cò vài vết máu chung quanh mồm và mủi. người ta có thể nói là họ bị một cơn lốc cuốn lên cao và ném họ nằm bẹp xuống đất. Đại tá Phước giải thích:
– “CBU.55 là một loại bom “rút hết khí trời”. Công thức của nó còn là ” tối kín / mật”. Bộ Tham mưu chỉ cho biết là nó “đốt” hết dưỡng khí trong không khí và làm cho tất cả đều ngộp thở, chết tức khắc. Thông thường thì dưỡng khí chỉ là một nhiệt khí, (có nghĩa là không thể cháy được). Theo tôi thì loại bom CBU.55 nầy đốt hết không khí, gây ra sự bùng nổ mãnh liệt tạo ra một làn sóng va chạm cực mạnh làm vỡ hết buồng phổi, và những người chết không có một dấu vết gì gọi là thương tích trên thân thể. 2
Dầu muốn dầu không thì kết quả thật khủng khiếp. Tất cả cây cối bị thổi bay hết lá cùng tất cả bộ đội bất thần bị chết chung trong một thời gian không đến một giây. . . tất cả để lại một cảm tưởng như một đoạn phim kinh hoàng do các nhà phù thủy bí mật của phòng nghiên cứu đạo diễn. Nhưng đây thật sự không phải một màn hay một cảnh trong phim, và người chết ở đây không phải là những hình nộm!
Tôi vội vã ra đi. . . .
Vào lúc 8 giớ một trực thăng đưa tôi về lại Biên Hòa. Trực thăng có chở một lô binh sĩ bị thương, ở bụng, ở đầu. Có nhiều người bị bể cặp mắt.

——————————–

1Đại tá người Mỹ tên Sauvageot nầy là một nhân viên tình báo thuộc Cơ Quan Tình Báo Trung Hoa Kỳ (CIA), nói và viết tiếng Miền Nam như một người Việt Nam chính cống. Từ tháng 3 năm 1973 đến 30/4/75 đóng vai quân nhân thông dịch viên chánh thức cho Phái Đoàn Quân Sự Mỹ trong Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên Trung Ương tại Tân Sơn Nhất Sài Gòn nhưng không đeo cấp bực nào của quân đội Mỹ.
2Theo giải thích chánh thức của một đại tá Hoa Kỳ, cố vấn trưởng cho một tiểu khu ở Đồng bằng Sông Cửu Long: loại bom nầy khi đến gần mặt đất khoảng 100 thước thì có một chiếc dù bung ra, còn cách mặt đất chừng 10 thước thì nổ. Bom không có miểng, không giết người bằng mảnh bom. Nhưng khi nổ sẽ “hút” hết dưỡng khí trong một vùng khoảng 1 cây số đường bán kính. Tất cả mọi sinh vật nào ở trong vòng ảnh hưởng nầy đều tức khắc không còn dưỡng khí để thở, (kể cả cây cối, nên lá phải rụng hết), bị trào máu ra miệng và mũi chết ngay tức khắc (kể cả những người ở dưới hầm sâu dưới đất). Chẳng những không có một vết bị thương nào trên người mà chết trong tư thế tự nhiên (như đang ngồi, nằm, hay đứng, đi v,v,). Nguyên văn trong sách tác giả dùng danh từ “đốt” nhưng sự thật phải nói là “hút đi” mới đúng. Loại bom nầy được giao cho Hải Quân Hoa Kỳ thí nghiệm lần đầu tiên năm 1972 ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

Chương Mười Bốn
“Phnom Penh Thất Thủ”
“Một Triệu Chứng Đáng Buồn Cho Sai Gòn”

Thứ Sáu, ngày 18 tháng Tư năm 1975

Phnom Penh đã thất thủ. Bị vây trong năm tháng liền, bị pháo binh 105 và rốc kết nã vào, thủ đô Nam Vang của Campuchia đã chống trả rất can đảm trong vô vọng, Bây giờ thì coi như đã hết rồi.
Nhiều cánh quân kháng chiến, mặc quân phục bằng vải thô đen, đầu đội nón cối Trung Cộng, trang bị súng liên thanh và Súng Không Zdật (SKZ), đã tràn vào thành phố, Không đầy 48 giờ sau khi tòa Đại sứ Hoa Kỳ vừa mới di tản xong là Khmer Đỏ đã làm chủ đất nước Campuchia. Xuất phát từ trong rừng, từ những đầm lầy và từ đêm tối , họ đến Phnom Penh để trừng phạt bọn “phản động”, đến để xóa hết tàng tích của bọn tham nhũng tư bản và để trị vì dân chúng Campuchia. Họ dùng bá súng đập phá hết cửa nhà của những người mà họ gọi là “trưởng giả”, vứt hết các xe cộ, các máy chơi nhạc, những máy thâu thanh, những lò tự động của mọi người dân vào những bãi rác công cộng. Họ bắt buộc dân chúng ở thành phố mà họ gọi là đã quá hư hõng vì đồng tiền,vì phương tiện và những tiện nghi, phải đi hết về đồng ruộng.
Sự thất thủ của thủ đô Campuchia là một biến cố đe dọa nặng nề đối với Miền Nam Việt Nam. Mà còn hơn thế nữa với sự việc Khmer Đỏ đã chiếm được thành phố nầy và cái lối mà người Mỹ đã bỏ rơi thủ đô Pnhom Penh này, Sài Gòn đã có một cảm nhận rất nặng nề vừa như một xúc phạm, một sự sỉ nhục, vừa là một loại triệu chứng bất tường cho chính mình. Dưới sự bảo vệ của một lá chắn bằng khu trục phản lực cơ bay lượn thường trực trên vòm trời của sân bay Pochentong, gần bốn chục chiếc trục thăng đã đáp xuống một thành phố đang bị vây hãm và đang bị pháo kích, các Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ với một sự can đảm, một sự chính xác và một hành động khôn ngoan, đã bốc đi hết 82 người Mỹ và trên 100 cộng sự viên người Khmer. Nhưng hành động nầy không được đánh giá là một hành động đầy tính chất kỹ thuật quân sự mà phải được coi là một sự cố ý bỏ rơi một cách lạnh lùng, có tính toán và dự trù từ trước của Hoa Kỳ. Người Việt Nam không thể không liên tưởng đến một hành động song song giữa tình hình của Campuchia và tình hình của quốc gia họ. Họ sẽ nói: “Hoa Kỳ đã can thiệp quân sự ở Campuchia trong khi họ chánh thức tố giác sự hiện diện của các sư đoàn Bắc Việt trên lãnh thổ nầy. Họ đã cho quân đội và không quân tham chiến ở đây, họ đã nhìn nhận Chánh Phủ của Tổng Thống Lon Nol ngay sau khi ông Hoàng Sihanouk bị truất phế và lật đổ. Họ đã can thiệp vào nội bộ nước Campuchia. Đại sứ John Dean của họ đã tự coi mình như một viên quan thái thú, chấp chánh ở đây. Rồi đùng một cái, không có một lời báo trước không có một câu giã từ đối với những người mà họ bỏ rơi lại phía sau, họ rũ áo ra đi mà không muốn ở nán lại một giây nào nữa để tính sổ cho hành động can thiệp quân sự của họ ở đây: 5 năm cho cuộc chiến, năm năm tang tóc và điêu tàn, với bao nhiêu tỉnh thành làng mạc bị tàn phá, và một phần năm dân chúng bị chết hay bị thương.
Những cuộc tranh cãi kéo dài vô tận giữa Lập Pháp và Hành Pháp Hoa Kỳ về một sự “cần thiết tối khẩn” cho một ngân khoản viện trợ cho Phnom Penh, cuối cùng bị ngưng trệ vô điều kiện vì những người có trách nhiệm của Hoa Kỳ, đã thực sự báo động cho dân chúng Miền Nam Việt Nam. Họ còn bồn chồn lo sợ hơn nữa khi thấy sự phản đối công khai và hiển nhiên của đa số Quốc Hội Hoa Kỳ đối với những đòi hỏi nhắc đi nhắc lại của Tổng Thống Ford mong muốn giúp cho Sài Gòn, cũng như một cuộc thăm dò dư luận gần đây của đài NBC theo đó 70 % dân chúng Mỹ tin chắc rằng dù Hoa Kỳ có làm gì đi chăng nữa thì cũng không thể ngăn cản được Miền Nam Việt Nam bị rơi chắc chắn vào tay cộng sản . Những người Việt Nam đang lo sợ nhất là những người thuộc mấy thành phần rõ rệt sau đây: nhiều nhất trước hết là những người trực tiếp làm việc trong các cơ sở dịch vụ của Hoa Kỳ – như phòng thông tin tuyên truyền và báo chí – các nhân viên tòa đại sứ, các nhà trí thức, các giáo sư, các nhà xuất bản hay chánh trị gia đang hoạt động (số nầy hơn 40.000) kế đó là những nhà hào phú: các ông giàu có nhờ biết lợi dụng chiến tranh (cũng đến hằng ngàn ) đang tìm cách mua giấy phép xuất cảnh hay giấy chứng nhận là công dân ngoại quốc với bất cứ giá nào. Ngoài ra còn có tất cả cán bộ các cấp trong guồng máy quân sự và hành chánh của Miền Nam Việt Nam các sĩ quan cao cấp, sĩ quan an ninh quân đội, tỉnh trưởng hay quận trưởng, thanh tra cảnh sát. . . những người đang lo sợ nếu cộng sản chiếm được Miền Nam. Con số những người nầy cũng từ 150.000 đến 200.000. Đối với 20 triệu dân thì con số nầy chỉ đại diện cho một thiểu số mà thôi (chừng 1%).
Hầu hết dân chúng Miền Nam khiêm nhường và siêng năng đều gắn liền với đồng ruộng của họ. Họ không muốn tự đặt mình dưới sự cai trị của quân thù, nhất là những người đến từ Miền Bắc. Bằng chứng là đã có hằng bao nhiêu ngàn nguời dân sống chết cũng phải bỏ chạy. Họ không chạy đến những người tự xưng là “giải phóng cho họ” và họ cũng không chờ đợi những anh “giải phóng” nầy ở tại làng của họ. Tất cả họ đều kéo nhau chạy về Sài Gòn vì bàn tay sắt khát máu của cộng sản đã làm cho họ run sợ.
Hơn nữa, tránh được làn sóng hoảng loạn lan truyền trên khắp miền Trung của đất nước, Miền Nam đang cứng rắn chịu đựng mối đe dọa của các sư đoàn Bắc Việt.Ý thức kỳ thị và óc địa phương đã bắt rễ thật sự rồi! Sài Gòn và Đồng Bằng Cửu Long là vùng đất cũ của người Nam Bộ, và họ muốn giữ lấy cho họ. Quân dội Miền Nam sẽ đánh và sẽ cố giữ từng tấc đất của họ. Các đơn vị địa phương quân tình nguyện tham gia các cuộc hành quân. Tại Vùng 4, tướng Nam giữ chặt tính chủ động, đường sá vẫn được mở cho mọi sự lưu thông và Sài Gòn vốn được tiếp tế đều đặn, không thấy có dấu hiệu hoảng hốt nào.
Chánh Phủ mới, một “Chánh Phủ chiến đấu”, cuối cùng đã được thành lập xong. Thành phần gồm có những người liêm khiết, những kỹ thuật gia có giá trị, những người lãnh đạo các trường đại học, các lãnh tụ tôn giáo, công đoàn và lần đầu tiên hầu hết đều là những người gốc Miền Nam. Nhưng dù cho có một sự hợp tác rộng rãi của mọi thành phần dân chúng, dù binh sĩ có đầy đủ tinh thần can đảm và ý chí chiến đấu, tương lai gần đây của Miền Nam vẫn phải tùy thuộc vào thái độ của người Mỹ. Muốn đương đầu với môt kẻ thù cứng rắn và cương quyết, được võ trang thật hùng hậu, lại được các đồng minh lớn Liên Xô và Trung Cộng hậu thuẫn vô điều kiện, Miền Nam cần phải có thêm thật nhiều võ khí nặng, đạn dược, cơ phận thay thế và xăng dầu. Chỉ có Hoa Kỳ là có thể cung cấp được ngần ấy thứ mà thôi. Báo chí Mỹ loan báo là Quốc Hội sẽ cho biết quyết định của họ vào ngày mai 19 tháng 4.
Nếu các nhà Lập Pháp Hoa Kỳ chấp thuận giải tỏa ngân khoản do Tổng Thống Ford đề nghị, thì Chánh Phủ chiến đấu mới thành lập nầy còn có cơ may làm tròn nhiệm vụ của họ được. Nhưng nếu không có một sự trợ giúp về tiếp vận và tài chánh, thì Chánh Phủ này sẽ chỉ là một Chánh Phủ chyển tiếp mà thôi, đối diện với một thảm kich tấn thối lưỡng nan: hoặc bán đứng Miền Nam và đưa Miền Nam cho Hà Nội giám hộ, hoặc chống cự lại như kiểu Campuchia với cái giá cuối cùng của một sự tắm máu thật kinh khủng.
Những tin tức từ mặt trận đưa về thường không đầy đủ. Ba sư đoàn Bắc Việt được rút ra từ sau khi Campuchia bị hoàn toàn thất thủ, đã được tung ra để cô lập hoàn toàn tỉnh Tây Ninh, thủ đô tôn giáo của Đạo Cao Đài nằm về hướng Bắc của Sài Gòn khoản 100 cây số. Bốn sư đoàn khác tiến về hướng Đông cốt đánh bật chốt Xuân Lộc . Trong khu vực nầy lực lượng Miền Nam ngày hôm qua đã thành công giành được chút không khí khi họ tiến lên phía trước khoảng 10 cây số, nhưng sau đó bị Bắc Việt cầm chân bằng nhiều cuộc phản công, đồng thời các đơn vị Bắc Việt đã lợi dụng sự cầm chân nầy để tiến đánh bọc hai bên sườn quân Miền Nam. Hai Trung đoàn thuộc sư đoàn 7 Bắc Việt khóa cứng ngã ba Dầu Dây (Suzannah) đồng thời tiến về hướng Trảng Bom. Quân Chánh Phủ tung ra lực lượng trừ bị cuối cùng: sư đoàn 5 và một lữ đoàn Dù.Chánh quyền quân sự đã phải cho lệnh về an ninh trở lại cho dân chúng: đào hầm trú ẩn, thành lập các toán phòng thủ thụ động và cứu thương. Chiếc tàu hàng già nua Taboa đã phải ngược dòng sông Sài Gòn mang thuốc men và dụng cụ giải phẫu cho các bác sĩ Pháp thuộc bệnh viện Grall.
Lúc nãy, tôi có gặp được bạn tôi là ông Hoàng đức Nhã, cựu bộ trưởng Thông Tin, ở tại biệt thự của ông trong khu vực của bệnh viện Grall. Ông có vẻ bận rộn nhưng cũng tâm tình với tôi một vài điều:
” Ngưòi Mỹ chơi trò lạ lùng lắm . Họ không bao giờ ngưng tiếp xúc với “phía bên kia”. Phương tiện họ dùng cũng giản dị thôi. Hằng tuần vẫn có một chiếc phi cơ Mỹ do người Mỹ lái ra Hà Nội . Phi cơ đó chở những nhân viên đi phép thuộc phái đoàn quân sự Bắc Việt trong Ủy Ban Kiểm Soát Ngừng Bắn đang đóng ở Tân sơn Nhứt. Chúng tôi biết là viên phi công Mỹ lái chiếc máy bay liên lạc nầy, có mang theo một số thư mật của Kissinger gởi cho Thủ Tướng Bắc Việt. Chúng tôi biết từ một nguồn tin chắc chắn là cách nay mấy ngày có một đặc phái viên của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã đến Hà Nội, mang theo một lá thư của Chánh Phủ Hoa Kỳ . Bức thư đó đã bảo đảm với Bắc Việt rằng trong trường hợp quân đội Miền Nam sụp đổ hoàn toàn, thì Hoa Kỳ sẽ cho rút hết toàn bộ nhân viên của sứ quán Mỹ ở Sài Gòn ” với điều kiện là lực lượng cộng sản không được bắn vào các trực thăng chuyên chở đang lo việc di tản nầy “. Để cho lời cảnh cáo nầy được thêm nặng ký, bức thư nầy cũng có nhấn mạnh với lãnh đạo Hà Nội rằng: “các pháo đài bay B.52 hiện đang đậu trên căn cứ ở Thái Lan và hạm đội VII với tất cả các hàng không mẫu hạm của mình đã ở trong tình trạng báo động.” Bất cứ một sơ suất nhỏ nào của bộ đội Bắc Việt cũng sẽ dẫn đến những hành động trả đủa thật ghê gớm.”
Tin tức nầy có thể là một “ngòi nổ” lớn được lắm đó, nhưng tôi tin chắc rằng người Mỹ sẽ đính chánh ngay thôi, và dù sao hệ thống kiểm duyệt của Chánh Phủ cũng phải xóa ngay điện tín của tôi. Và hơn nữa tôi không có môt phương tiện nào để kiểm chứng hay phối kiểm được..
Không còn nghi ngờ gì nữa, những ngày sắp tới sẽ là những ngày quyết định. Trong khi chờ đợi, biện pháp duy nhất để tránh sự ám ảnh về sự bí mật và nguồn tin nầy là phải ra sát mặt trận.. Bài toán tương đối cũng không khó giải quyết: chiến trận chỉ còn cách đây chưa tới một giờ lái xe. Ở một vài điểm người ta đang đánh nhau chỉ cách thủ đô chừng 40 cây số.. Tại Biên Hòa pháo binh bắn gần như liên tục, không ngừng. Pháo binh cộng sản thì nã vào các vị trí (đồn) của bộ binh canh gác hay phòng thủ chung quanh vòng đai căn cứ không quân, và pháo binh của Chánh Phủ thì bắn phản pháo.. Những quả đạn pháo 130 ly của Liên Xô chạm mục tiêu nổ rền trời và làn sóng âm thanh vang dội nặng nề trong vòng hàng trăm thước chung quanh..
Trên các đường bay của căn cứ không quân, trông thật là nhộn nhịp trong không khí chiến đấu. Các chiến đấu phóng pháo cơ bay lên và đáp xuống với một nhịp độ 3 chiếc mỗi 5 phút. Các phi công với quần áo bay và súng cá nhân nai nịch gọn gàng lúc nào cũng sẳn sàng chờ bay ngay tại phi cơ của mình, trong lúc mà các thợ máy và các nhân viên lo đổ xăng và tiếp thêm đạn dược, sau đó cất cánh ngay sau khi thấy chiếc phi cơ của mình đã được đầy đủ bom và rốc kết. Có nhiều anh phải bay đến 8 phi vụ mỗi ngày. Đối với anh em phi công, chuyện quan trọng là phải định được vị trí của ánh sáng lóe lên lúc đạn đại bác của pháo 130 liên xô được bắn vào căn cứ của mình, để họ có thể dùng vài tràng đại liên chính xác, vô hiệu hóa khẩu đại bác đó. Nhiệm vụ không phải dễ dàng lắm.
Những phi cơ quan sát nhỏ hơn và các trực thăng thay phiên nhau để có mặt thường trực trên vòm trời căn cứ và đặc biệt canh chừng khu vực rừng Tri Han. Các khẩu pháo130 được ngụy trang rất kỹ duới các tàng cây to cứ mỗi 2 phút bắn đi hai tràng 6 viên đạn đại bác vào căn cứ rồi sau đó thì chạy ngoằn nghoèo di chuyễn đi tìm chỗ khác cách đó từ 2 hay 3 cây số.. Tôi phải chờ ở đây lâu đến 2 tiếng đồng hồ để tìm trực thăng đi Xuân Lộc, nhưng vô ích, nên tôi đành phải dùng xe đến Hố Nai, một cộng đồng 60.000 giáo dân tỵ nạn từ Miền Bắc vào năm 1954.. Người ta gọi Hố Nai là “Hà Nội nhỏ”, gồm có một cuộc đất cao và một cuộc đất thấp; đây là một thị trấn nhỏ nhưng rất năng động, đông dân, và quy tựu chung quanh các thánh đường (gần 20 nhà thờ), mỗi khu có một nhà thờ riêng, có linh mục riêng tuy ốm yếu nhưng được mọi người tín đồ tin theo một cách mù quáng.
“Chúng tôi chỉ tin chắc có một thực tế, Cha Sửu nói với tôi, là chúng tôi phải chiến đấu. Chúng tôi không có con đường nào khác để chọn lựa, chúng tôi đã từ bỏ Miền Bắc hai chục năm nay rồi, để chạy khỏi chế độ cộng sản . Khi chúng tôi đến đây, chúng tôi chẳng có gì. Không tiền bạc, không dụng cụ. Chúng tôi chỉ mang theo với chúng tôi những cái chuông bằng đồng của các nhà thờ cũ của chúng tôi , những tượng thánh bằng gỗ chạm và vật dụng làm lễ. Chúng tôi đã xây cất thánh đường mới, cất nhà cho chúng tôi , trồng vườn cây ăn trái và những vườn hoa nầy cưốp đất từ những cánh rừng nầy, và chúng tôi có phải chết thì sẽ chết ở đây thôi!”
Giáo dân ở đây rất có kỷ luật, rất siêng năng, và được tổ chức rất chặt chẻ, đoàn kết với nhau chung quanh các giáo xứ có ảnh hưởng còn hơn Chánh Phủ nữa. Giờ đây họ đang chuẩn bị để chiến đấu. Để chứng tỏ ý chí chiến đấu và lòng tin vững mạnh của mình, các linh mục mời những đồng bào tản cư từ vùng Xuân Lộc hãy ở lại Hố Nai, Có hằng ngàn người được chia ra ở trong những lều thấp được dựng lên quanh các nhà thờ, hay dưới sân trường học, được giáo dân và hướng đạo sinh săn sóc cho họ chu đáo.
Ông xã trưởng Nguyễn xuân Phiệt đã khẳng định với tôi: “Không có một người nào sẽ rút lui. Tôi có 4 tiểu đoàn nhân dân tự vệ và xin tỉnh trang bị cho chúng tôi. Chúng tôi muốn có súng không zdật, súng liên thanh nặng và súng M.16. Nếu được trang bị như vậy chúng tôi sẽ dùng nhà thờ làm căn cứ để giữ vùng nầy. Nếu không thì chúng tôi cũng sẽ chiến đấu nhưng với súng ống xấu hay bằng vũ khí thô sơ. Chúng tôi không có gì phải nói với bọn Quốc Hội Hoa Kỳ và Tổng Thống Ford của họ. Mọi người đều nói nhiều quá, nhưng lời nói không dùng được việc gì hết. Bây giờ chỉ có hành động mà thôi. Mỗi gia đình của chúng tôi đều đã mất hoặc một người con trai, môt đứa em hay một người cha, hy sinh trong chiến trận, trong hàng ngũ của quân đội. Nếu Hoa Kỳ giúp chúng ta thì cũng tốt nếu họ bỏ rơi chúng ta thì cũng tốt thôi, không có gì gọi là quan trọng hết.. Tựu trung coi như chúng tôi không còn đất để mà lui nữa. Chúng tôi sẽ ở nguyên tại đây để chứng tỏ đức tin của chúng tôi. Chúa sẽ là chỗ dựa duy nhất của chúng tôi và chỉ có Chúa là không bao giờ phản bội chúng ta!

Xét Hộ Khẩu

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

January 13th, 2022

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

Kinh Dương Vương tên thật NGUYỄN TUẤN KHANH, sinh năm 1941, tại Nam Vang. Quê cha: Xuân Lũng – Vân Cương – Lâm Thao – Phú Thọ. Quê mẹ: Tịnh Thới – Cao Lãnh – Sa Đéc (Đồng Tháp)

– Bút danh Hội họa: Rừng

– Bút danh viết văn: Kinh Dương Vương

– Bút danh thơ: Dung Nham

Trước 1975: Viết các báo Bách Khoa, Văn, Văn học, Ý Thức, Tân văn . . . Sài Gòn

Định cư ở Mỹ theo diện HO năm 1994. Kinh Dương Vương từng viết cho Văn, Văn học, Sóng văn. Triển lãm tranh nhiều lần trong và ngoài nước.

– Tác phẩm đã xuất bản: Những chiếc mặt nạ cười (tuyển tập truyện ngắn). Toàn tập văn xuôi KDV

– Toàn tập Thơ Dung Nham. Trên tầng Thanh khí (Tập tranh Rừng). Mắt Trời mù (Truyện dài)

Trang Văn Học đã một lần giới thiệu Đường Kiến của Kinh Dương Vuơng truyện ngắn từng gây sôi nổi ở trong nước. Nguyễn Mộng Giác trong một bài in ở Bạn Văn Một Thuở do Văn Mới xuất bản đã viết:

“Trong những truyện ngắn đọc được trên Bách Khoa, Văn…của những bạn trẻ cùng thời, tôi thích những truyện của Kinh Dương Vương. Truyện nào của anh cũng “nặng” chất hiện thực. Hình như anh muốn dồn hết vào truyện tất cả tai ương của những người khốn cùng, những kẻ bất hạnh. Anh không hề muốn điểm xuyết chút thơ mộng nào vào thảm kịch của dân tộc để làm nhẹ gánh ưu tư như lối viết của Hoàng Ngọc Tuấn, Ngụy Ngữ, Mường Mán. Anh cũng không muốn pha cái “tráng” vào cái “bi” để thành những truyện bi tráng như lối viết của Nguyên Vũ, Thế Uyên, Phan Nhật Nam. Thảm kịch trong truyện Kinh Dương Vương là thảm kịch nguyên khối, bề bộn, giống như một bức tranh dã thú đắp bằng chính máu lệ thịt xương của nạn nhân chiến tranh…”

Về cuộc đời của Kinh Dương Vương, vẫn theo Nguyễn Mộng Giác, “Tôi nghe người ta bảo tác giả là một hoạ sĩ trẻ từng hăng hái cầm cờ dẫn đầu những cuộc xuống đường. Lại nghe Kinh Dương Vương nhập ngũ, rồi đào ngũ, rồi trở thành lao công đào binh, rồi lại được phục hồi quân hàm trước khi bị Cộng quân bắt làm tù binh ở Buôn Mê Thuột đầu năm 1975. Như vậy là người chứng với lời chứng là một, khác với những trường hợp người ta viết về những điều người ta không thực sự sống hoặc thực sự tin tưởng…”

Sau đây, Trang Văn Học lần nữa xin mời các bạn đọc một truyện ngắn của Kinh Dương Vương đăng trên trang web Da Màu.

NGUYỄN & BẠN HỮU

Tính tôi thích công bằng. Nói thế chắc quý vị cho rằng tôi nói huề vốn. Ai lại không thích công bằng. Không hẳn như vậy. Vì cái thích của tôi nó cực đoan. Hễ tôi thấy cái gì không công bằng là chịu không nổi, nhất là điều đó do chính tôi làm nữa thì tôi cho như là tội ác, lương tâm cắn rứt mãi không thôi, chừng nào tôi sửa chữa được thì mới yên. Cho nên câu chuyện tôi sắp viết ra hầu quý vị đây, dù rằng tôi có quyền hư cấu chút ít – quyền của người sáng tạo mà, như Thượng đế vậy! Thì tôi cũng muốn hỏi qua ý kiến của quý vị cho có sự công bằng. “Nếu quý vị đang ăn mà có người đến hất đồ ăn của quý vị đi, hơn nữa món ăn đó rất ngon, quý, lâu lắm, khó khăn lắm quý vị mới được thưởng thức, mà lại trong trường hợp quý vị không làm gì được người đó cả, còn sợ hãi hắn nữa, thì quý vị nghĩ sao, và làm gì? Quý vị nào nóng tính chắc sẽ trả lời “quyết ăn thua đủ”? Còn vị nào trầm tĩnh thì sẽ dùng lời hơn lẽ thiệt để thuyết giảng một bài học “luân lý đạo đức Giáo khoa thư” cho kẻ mất dạy kia ăn năn hối cải? Xin thưa, cả hai vị đều… thua hết. Quý vị trả lời đều sai hết. Như vậy là quý vị không trả lời được, đúng không? Có lẽ quý vị nghĩ rằng tôi muốn làm khó quý vị chăng? Tôi xin thề trên đầu lũ con tôi là tôi không hề có ý đó. Tôi chỉ muốn có sự công bằng trong chuyện này mà thôi. Ðể sau đây, khi tôi kể hầu quý vị câu chuyện, như tôi đã nói – có hư cấu chút đỉnh – thì quý vị mới thấy chỗ khó đoán của nó, quý vị có suy nghĩ nát óc cũng không tìm ra lời đáp. Quý vị mới thấy rằng, không đoán nổi là hợp lý, không cho rằng tôi đã nói ngoa, làm khó quý vị, tôi không… công bằng!

Những năm 80… Tại Thành phố Hồ Chí Minh, rượu làm bằng cồn y tế pha nước lã, cho chút nước mầu, mùi thơm vào hay nấu bằng mì lát, rỉ đường, mùi vị rất lợm, nhưng tôi và bạn bè vẫn uống. Uống như một hành vi tự sát. Sáng uống xong ly cà phê bắp rang, khoảng mười giờ là bắt đầu cữ rượu, thường là kéo dài tới tận khuya.

Một lần, sau khi đã uống thứ rượu lợm giọng, về nhà trong cơn hưng phấn tôi ngỏ ý muốn gần vợ. Vợ tôi cả ngày ngồi chợ bán rau, ăn uống thiếu thốn, lại cho con bú, sức khỏe suy giảm không ham muốn gì, nhưng thương chồng nên cũng chiều.

Nhà văn Kinh Dương Vương

“Có tiếng chó sủa trong xóm”. Ðang cởi áo, nàng ngừng lại nhìn tôi, lo lắng thì thầm.

“Anh có nghe, nhưng chắc không phải phường đội đâu”. Tôi trấn an vợ. “Họ mới xét hộ khẩu đêm hôm kia đây mà. . .Cũng chưa quá giới nghiêm.”

. . .

Cộc! Cộc! Cộc! Giọng đàn ông hét to:

“Mở cửa! Mở cửa! Xét hộ khẩu!”

Ðang ôm riết tôi, vòng tay vợ tôi lỏng ra, dợm ngồi dậy. Giọng nàng như khóc:

“Em nghi là họ mà… Thấy chưa. Ðã bảo có tiếng chó sủa… không nghe”

Cơn hưng phấn đang lúc cao độ, tôi vẫn ghì lấy vợ.

“Thôi! Thôi! Anh ơi!” Giọng vợ tôi van xin. Tôi vẫn không buông. Nàng lật người sang bên, cố đẩy tôi ra.

“Cộc! Cộc! Cộc! Mở cửa! Xét hộ khẩu!

Tôi tức tối xô vợ ra. Những giọt sống bắn tung tóe lên người nàng.

Mặt vợ tôi xanh xám, lẩy bẩy mặc áo quần.

“Có người đây! Xin các ông chờ chút xíu”. Tôi vội lên tiếng.

Mặc vội chiếc quần đùi, mình trần tôi chạy chân không ra mở cửa.

Gã đội trưởng phường đội thảng thốt nhìn vẻ mặt thất thần và đầu tóc bù rối của tôi.

“Cho xét sổ hộ khẩu”

Tôi run tay trình giấy tạm trú.

“Giấy này đã hết hạn lâu rồi. Anh đừng ngoan cố. Mai lên phường làm việc”. Vừa nói anh ta vừa xếp tờ tạm trú bỏ vào túi áo, quay lưng đi.

“Xin anh làm ơn”. Tôi chạy theo năn nỉ, nhưng cả đám đã ra khỏi nhà.

Vợ tôi ôm mặt khóc.

“Lần này họ quyết tâm đuổi mình đi kinh tế mới rồi anh ơi! Không có giấy tạm trú thì làm sao ở thành phố được đây!”

Học tập cải tạo về, mượn khắp bạn bè, bà con, tôi sang lại căn phòng, nhưng bị lừa. Căn phòng nhỏ chút xíu ở hai vợ chồng, ba đứa con. Nhưng căn nhà của người vượt biên, nhà nước quản lý, không được sang nhượng. Xóm bên có cô giáo thuộc diện công nhân viên được cấp nhà mà phường không tìm ra. Cô giáo tỏ ra biết điều với ông phường trưởng, nay quà mai cáp. Có hôm cô bưng cả phở vào tận bàn làm việc cho ông ăn. Ông muốn giải quyết nhà cho cô. Ông nhắm tới lui chỉ có gia đình tôi là ngụy quân cải tạo về, thuộc diện đi kinh tế mới có thể xúc được, nên gây áp lực, xét hộ khẩu liên tục.

Tôi nhìn dáng ủ rũ của vợ mà đứt ruột. Nhưng đầu óc còn vẩn vơ nghĩ đến chuyện ân ái dang dở. “Ăn uống thiếu thốn, phải mất nhiều thời gian mới gom được chút giọt sống, vậy mà cũng không đến được nơi cần đến, vương vãi, phí quá!”

Tôi đến bên vợ, ôm nàng sát vào ngực. Nàng khóc nấc lên.

“Thôi em à. Còn nước còn tát. Mai anh lên phường lựa lời năn nỉ họ. Nhờ anh Thành – bạn học làm chánh quyền thành phố – nói giùm một tiếng”.

Vợ tôi choàng tay ôm riết ngang lưng chồng.

“Tội nghiệp mình. Lâu lắm em mới chiều mình. Vậy mà… lại bị xét hộ khẩu!”

Chúng tôi ôm choàng nhau, cùng cười, nước mắt cả hai chảy ràn rụa.

“Câu chuyện nhạt nhẽo!” Ðúng vậy. Nhưng đến đây thì quý vị có thấy, việc quý vị “ăn thua đủ” hay “giảng Quốc văn giáo khoa thư” cho người phá đám đều vô ích, hay không thể làm được không? Nói trắng ra là quý vị không dám làm gì sất. Có phải vậy không? Và quý vị bị thua vì không đoán được là công bằng đấy chứ? Có vị nào còn chịu không nổi không, muốn làm Lục Vân Tiên “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha” hay tức ói máu không? Nếu không thì chỉ còn nước vượt biên hay tự tử mà thôi.

Hành Trình Bài Thơ ‘Tàu Đêm’

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

January 28th, 2022

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

NGUYỄN & BẠN HỮU

Nguyễn Thanh Châu

Giữa năm 1979 tôi và các bạn tù phải di chuyển từ Phước Bình về Trại Z.30C, Căn cứ 6, Hàm Tân. Bắt đầu từ đây chúng tôi được giao cho Công an đặc trách, không còn thuộc Quân quản nữa. Trại này gồm 2 khu: A và B cách nhau một con suối. Tôi được đưa vào khu A. Có lẽ là cấp bậc nhỏ và không thuộc diện “ác ôn” nên tôi được vào đội làm việc bên ngoài như đốn củi, chặt tre… tương đối được nới lỏng.

Mỗi buổi sáng phải ra khỏi phòng tập trung tại sân trại để phân việc làm lúc 7:30 và mỗi chiều trở về trại lúc 4:30. Trước khi về trại sẽ được tới suối tập trung tắm rửa. Kiếp tù cứ lặng lẽ trôi qua .

Ðến tháng 8 năm 1980 chúng tôi được nghe sẽ có các toán tù từ miền Bắc đến đây, được bố trí ở khu B bên kia suối. Rồi một ngày giữa tháng 8 tôi được anh phụ trách thư viện trong trại, một người cháu của thi sĩ BÙI GIÁNG cho biết đoàn tù từ miền Bắc chuyển đến có thi sĩ TÔ THÙY YÊN trong đó.

Rồi đến một buổi chiều sau giờ lao động, được đến suối tắm tôi len lỏi đến đội của những người tù từ miền Bắc chuyển đến cũng đang tại suối tắm rửa để hỏi tìm Anh TÔ THÙY YÊN. Khi đến hỏi thăm, một anh trả lời: Tiên nào, Tiên thi sĩ hả? (tên thật của thi sĩ là ÐINH THÀNH TIÊN). Anh ta bảo tôi chờ, rồi bỏ đi không lâu trở lại với một người nữa, tôi đoán là thi sĩ TÔ THÙY YÊN hay đúng hơn là người tù cải tạo, thiếu tá ÐINH THÀNH TIÊN của Quân Lực VNCH. Anh có dáng dấp trung bình, gầy nhom như mọi người tù sĩ quan miền Nam. Anh nhìn thẳng và cất tiếng hỏi: Cậu tìm tôi? Tôi có trả lời là người hâm mộ thơ anh từ lâu nay, nghe có anh trong đoàn tù từ miền Bắc chuyển về nên muốn gặp. Chúng tôi trò chuyện và làm thân nhau thật mau. Từ buổi chiều đó, tôi thường gặp anh nơi bãi suối sau giờ lao động để trò chuyện về sinh hoạt hiện thời cũng như được anh chia sẻ kinh nghiệm về sáng tác. Vì tôi đi lao động bên ngoài nên thường gom được cành khô từ những cây phải đốn mỗi ngày hoặc những sóng lá buông làm củi để mỗi Chủ Nhật có cái làm bếp nấu trà hoặc thức ăn do gia đình thăm nuôi. Do đó một hai bữa tôi đưa cho anh một ít để sử dụng vì lao động bên trong trại làm sao có cây, cành khô làm củi.

Cuộc sống trong trại tù cứ tiếp tục diễn ra một cách nhàm chán và khó khăn. Ðiều mong mỏi nhất là được đọc tên thả về mỗi sáng tập họp tại sân trước khi đi lao động. Rồi một buổi sáng thứ sáu ngày 7 tháng 11 năm 1980 trong khi chờ phân công tác lao động, khi đọc danh sách những người tù cải tạo được thả có tên tôi trong đó. Buổi chiều hôm đó tại bãi suối tôi báo tin cho anh để cùng chia sẻ niềm vui…

Chiều hôm sau như thường lệ tôi cũng gặp anh ở bãi suối. Lần này anh đưa cho tôi một tờ giấy và cẩn thận nói: Ðây là bài thơ mới viết, cậu có thể đem về cho gia đình tôi để giữ. Anh cũng cho tôi địa chỉ nhà ở GÒ VẤP gần ngay Cầu Hang. Khi trở về phòng tôi cẩn thận lấy tờ giấy do anh đưa, đó là tờ giấy dầu màu vàng thường để gói đồ cho khách hàng ở các tiệm tạp hóa hay ở ngoài chợ, đã chi chit chữ viết bài thơ bảy chữ TÀU ÐÊM. Tôi hứng thú đọc. Sau đó nghĩ cách giấu và làm sao đem ra khỏi trại giam khi được thả về. Ban đầu tôi tính nhét giữa mặt sau ba lô tự chế bằng bao cát loại ny long có màu xanh áo lính của quân đội. Nhưng qua một đêm suy tính tôi quyết định đọc cho thuộc bài thơ rồi đốt bỏ tờ giấy đi vì vẫn sợ bị khám xét khi ra trại. Nếu bị khám phá thì rắc rối lớn. Cuối cùng, sáng ngày 15 tháng 11 năm 1980 lúc 9: 30 sáng tôi được phép rời trại để về nhà. Dù ra khỏi trại, tôi vẫn mặc chiếc áo tù màu xanh lam chứ không thay đồ dân sự mang theo khi trình diện đi “học tập cải tạo“. Tôi đi bộ dọc theo đường để đón xe đò về gần ngã ba Ông Ðồn. Khi lên xe, tài xế cũng như lơ xe đều không lấy tiền, chắc hẳn biết chúng tôi là tù cải tạo. Về tới Sài Gòn lúc 2:00 giờ chiều. Tôi vẫn mang cái ba lô làm bằng bao cát đi bộ từ bến xe về nhà cũng khá xa. Nhà tôi trước đây là hãng sữa nhập cảng NESTLÉ số 35-37 đường Công Lý bấy giờ đã bị trưng dụng làm Sở Ăn Uống Thành Phố. Gia đình tôi ở tầng 3, nhưng phải đi lên bằng cầu thang trôn ốc phía sau vì mặt trước, tầng trệt, tầng 1 và tầng 2 đã bị chiếm dụng. Bước vào nhà, mẹ tôi đã ôm tôi khóc. Tôi đã về nhà sau 5 năm 5 tháng 10 ngày từ những trại tù CS Trảng Lớn, Phước Bình và Hàm Tân. Sau khi ăn buổi cơm chiều sum họp cùng gia đình, tôi vào phòng nghỉ ngơi. Trong đêm tôi lấy giấy viết ghi lại bài thơ thành hai bản vì sợ để lâu sẽ quên. Sáng hôm sau tôi lên phường công an trình diện. Xong, tôi lấy xe đạp tìm nhà anh tại Gò Vấp, gần Cầu Hang. Ðây là một căn nhà trệt có bề ngang rộng, có một hồ bonsai nhỏ có trồng vài loại cây trong đó có cây bông sứ (nếu trí nhớ tôi còn thấp thoáng) trước, xung quanh sân. Lúc tôi đến, trong nhà chỉ có Chị Bích, vợ anh hiện diện. Tôi trình bày cùng chị sự quen thân với anh từ trại tù Z.30C, Căn cứ 6 Hàm Tân và những lời dặn dò riêng tư của anh trong đợt thăm nuôi sắp đến và cẩn thận trao lại bài thơ TÀU ÐÊM của anh. Tôi không ở lại lâu vì không tiện với tình hình khá nhạy cảm của chúng tôi. Khi về tôi có hẹn sẽ đến sau một vài ngày nữa để trò chuyện nhiều hơn…

Dưới đây là bản chép tay đầu tiên của bài thơ TÀU ÐÊM mà tôi còn giữ và chép lại. Chúng ta sẽ thấy trong bản này có vài chữ chưa chỉnh sửa và một vài đoạn đã bỏ đi khi chính thức ấn hành thành sách như hiện nay đang phổ biến.

Tàu đêm 

Thơ Tô Tùy Yên

Tàu đi. Lúc đó, đêm vừa mỏi

Lúc đó, sao trời đã ngủ mê

Tàu rú. Sao ơi, hãy thức dậy

Long lanh muôn mắt tiễn tàu đi

Thức dậy, những ai còn sống đó

Nhìn ra nhớ lấy phút giây này

Tàu đi như một cơn giông lửa

Cuồn cuộn sao từ ống khói bay

Cảnh vật mơ hồ trong bóng đêm

Dàn ra một ảo tượng im lìm

Ủ ê những ngọn đèn thưa thớt

Sáng ít làm đêm tối tối thêm

Bến cảng, nhà kho, những dạng cây…

Chưa quen mà đã giã từ ngay

Dẫu sao cũng một lần tan hợp

Chớ tiếc nhau vài cái vẫy tay

Toa nêm lúc nhúc hồn oan khốc

Ðèn bão mờ soi chẳng rõ ai

Ta gọi bàng hoàng ta thất lạc

Ta còn chẳng đủ nửa ta đây

Người bạn đường kia chắc chẳng ngủ

Thành tàu sao chẳng vỗ mà ca?

Mai này xô dạt về đâu nữa?

Ðất lạ ơi, đừng hắt hủi ta!

Ðất lạ, người ta sống thế nào?

Trong lòng có sáng những trăng sao

Có buồn bã lúc mùa trăn trở

Có xót thương người qua biển dâu?

Tàu đi như một cơn điên đảo

Sắt thép kinh hoàng va đập nhau

Ta tưởng chừng nghe thời đại động

Xô đi ầm ĩ một cơn đau

Ta nghe rêm nhức thân tàn rạc

Các thỏi xương lìa đụng chỏi nhau

Nghe cả hồn ta bị cán nghiến

Trên đường lịch sử sắt tuôn mau

Tàu đi những chấn động hung hãn

Búa bổ đầu ta đau dại ngây

Có lúc dường như ta khóc ngất

Ôi đời đã kiệt sức buông tay

Ta nhớ dăm ba hình ảnh cũ

Lờ mờ như nhớ lại tiền thân

Ðời ta khi trước vui vầy thế

Bỗng thảm thương nghìn nỗi ngói tan

Ðem thân làm gã tù lưu xứ

Xí xóa đời ta với đất trời

Ngàn dặm lìa tan tình cố cựu

Ðau lòng khi chợt thấy mây trôi

Làm sao chợp mắt được đêm nay

Khi cả đời ta rộn chuyển dời

Khi cả hồn ta vang tiếng hú

Tàu ơi có kéo hết bi ai

Ngồi đây giữa những phân cùng bụi

Trong chuyển dời xung xát bạo tàn

Ta trở thành than, thành súc vật

Tiếng người e cũng đã quên ngang

Hình như ta chợt khóc đau đớn

Lệ nóng cường toan cháy ruột gan

Lệ chảy không ra ngoài mí mắt

Nghẹn ngào đến cả tiếng than van

Giá ta có được một hơi thuốc

Dẫu chỉ là hơi thuốc mốc thôi

Ðể phả cho hồn ấm tỉnh lại

Ðể nghe còn sự sống trên môi

Ðã mấy năm nay quằn quại đói

Thèm ăn như đứa trẻ con nghèo

Mẹ ơi, con nhớ thời thơ dại

Nhớ miếng ăn mà mẹ chắt chiu

Thèm ơi một bữa cơm đầm ấm

Bên ánh đèn đoàn tụ vợ con

Chia sẻ chút tình cay mặn cũ

Miếng không ngon cũng lấy làm ngon

Tàu đi khoan xoáy sâu đêm thép

Tiếng nghiến ghê người, thác lửa sa

Lịch sử dường như rất vội vã

Tàu không đỗ lại các ga qua

Ô, những nhà ga rất cổ xưa

Dường như ta đã thấy bao giờ

Ðến nay, người giữ ga còn đứng

Ðèn bão đong đưa chút sáng mờ

Tàu qua những ruộng đồng châu thổ

Hiu hắt làng xa mấy chấm đèn

Ðêm ở nơi đây buồn lặng lặng

Cái buồn trải nặng mặt bằng đen

Hỡi cô con gái trăng mười bốn

Ðêm có nằm mơ những hội xuân

Ðời có chăng lần cam dối mẹ

Nhớ thương nào giấu thấm vành khăn?

Có lúc tàu qua những chiếc cầu

Sầm sầm những nhịp động đều nhau

Dưới kia con nước còn thao thức

Bát ngát dềnh lên bãi sậy sầu

Có lúc tàu qua những thị trấn

Mà đêm đã gói lại im lìm

Tàu qua, âu cũng là thông lệ

Nên chẳng ai buồn hé cửa xem

Ôi những nỗi sầu vô dạng ấy

Gọi ta về với những đêm vui…

Ở đâu đèn sáng như châu ngọc

Thành phố người chen vỡ nói cười

Vườn ai mộng ảo đèn hoa kết

Yến tiệc bày trong những khóm cây

Ta rót mừng em ly rượu đỏ…

Mà thôi… chớ nhớ nữa, lòng ơi

Mà thôi, hãy nuốt lệ còn đọng

Tỉnh thức, lòng ơi, nhìn tận tường

Thời đại đang đi từng mảng lớn

Rào rào những cụm khói miên man

Người bạn đường kia chắc vẫn thức

Mong tàu đi đến chỗ đêm tan

Có nghe lịch sử mài thê thiết

Cho sáng lên đời đã rỉ han

Tàu ơi, hãy kéo còi liên tục

Cho tiếng rền vang dậy địa cầu

Lay động những tầng mê sảng tối…

Loài người, xin hãy thức cùng nhau

Mắc xương

Hồ Đình Nghiêm

quanvan.net

Post on 27 Apr 2022

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

Nghe nói đây này, bỏ cả cục vô họng, cấm nhai, nín thở cố nuốt cái ực, nhớ chưa? Nuốt ngang xương, nuốt khô khan, khó khăn như bóp họng bóp hầu. Thì trước mắt cứ nuốt cái đã rồi hậu tính, xong húp miếng canh coi thử có trôi đi, hết nấc cục.

Cục cơm nằm trong cuống họng y như con cóc nằm chẳng cục cựa trong miệng rắn, phồng mang trợn mắt. Mọi người bỏ đũa dừng nhai chú mục ngó, người ngồi gần đưa bàn tay tạo thành nắm đấm đập nhịp ba sau lưng nạn nhân. Xong, khoẻ re, thấy chưa, đâu có sao đâu. Gắp rau muống xào mà ăn cho xong bữa, chớ đụng đũa vô khúc cá chiên.

Hắn mới bị mắc xương cá, dù không ngán, thua keo này bày keo khác thì con cá chiên co rúm hình hài nọ đã bị năm miệng ăn kia rỉa cho sạch sành sanh. Đứa mút đầu đứa nhai cái đuôi, xương xóc trắng hếu còn sót nằm chỏng chơ mang vẻ đe doạ. Rau muống xanh đen y như những sợi ny-lông xoắn rối, nhai mỏi miệng không đứt đành vo viên theo cục cơm đã mở đường rớt xuống bao tử. Hú vía, bữa cơm trưa chằn ăn trăn quấn rồi cũng xong, chả cơm lành canh ngọt gì cả. Được ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch là đã may. Chỉ hai thôi mà trước sau đều chan lùa mặn muối với nước mắt.

Theo quy định của xí nghiệp, mỗi bàn có mười khẩu phần, bữa nay đếm ra chỉ sáu đầu người, bốn mạng kia thì đang nằm góc kẹt nào đó trong bệnh viện vì lý do ngộ độc thực phẩm. Nhân số còn lại mừng cho hắn, chỉ mắc xương thôi và đã nuốt chợt cuống họng thứ ám khí ấy xuống mà không cần chạy đôn chạy đáo vào nhà thương. Ăn như ăn cướp, ăn lia ăn lịa thế kia, nếu mày ăn thong dong nhai từ tốn thì đâu đến nỗi. Có đứa đưa ra lời bình. Tía nói sao a chớ, tía có ngon thử ngồi ăn chung với tụi này xem. Công nhân viên nhà nước mà tía, khoan thai có mà đói cho rã họng! Ngoài việc tranh nhau thò gắp, ăn vội vàng tựa như bị ma rượt có thêm lợi điểm là cố tống khứ thứ thực phẩm có vẻ dành cho heo. Ngon lành gì hở tía? Thiệt trần ai khoai củ!

Xí nghiệp chia ba ca, khác biệt giờ ăn giờ mần. Ca đứng máy dệt của hắn tan tầm lúc 5 giờ chiều. Trước cổng xí nghiệp có cái chợ lưu động, hắn ghé gian hàng bán trái cây. Chị Bảy đang rảnh tay, chả thèm cầm quạt mo xua đuổi bọn xâm lược ruồi bu kiến đậu. Ậy, sao mặt mày xanh mét vậy Chín? Dạo này quên cái vụ mắc chịu đi nghen, lôi thôi rắc rối lắm. Hắn lựa được hai trái cam, nặng tay, có vẻ nhiều nước. Nè, có nho Mỹ mới về, ngọt lắm nghe mậy. Nghe nho Mỹ, hắn nói ô-kê. Không cho ghi sổ thì chị đừng hét giá bà chạy, nhân công thôi mà, tiền đâu bồi dưỡng hàng chất lượng! Trời, cớ sao mày đâm nghi kỵ con Bảy này. Tụi mình còn qua lại dài dài mà Chín, chém đứa lạ chớ ai nỡ cứa cổ mày! Hắn trả tiền sòng phẳng, cầm túi ny-lông: Chà, nói nghe thương! Chị Bảy đá lông nheo. Bả lên chức bà nội bà ngoại rồi mà điệu ve kêu. Có lắm anh công nhân viên vô ra những muốn phải lòng quàng xiên như bị trúng gió.

Chạy xe lòn lách một thôi thì ngó ra cổng bệnh viện. Gần 6 giờ mà nắng ở đây vẫn hung hãn quét vằn vện lên tường vôi ngó đau con mắt. Cam và nho, thấy hơi lỏng lẻo Chín mua thêm chai nước trà sâm ướp lạnh sau khi gửi xe. Hắn vòng vo trong hành lang nhiều tiếng khóc than quặn thắt một đỗi thì ngó ra Nhài. Giấy chứng minh nhân dân ghi rõ tên họ: Trần Thị Lài, vậy mà đầu quân vào xí nghiệp sản xuất hàng may mặc tất thảy từ nhớn tới bé đều thống nhất kêu gọi: cái Nhài hoặc bé Nhài hoặc em Nhài hoặc con Nhài. Chính đương sự Lài cũng cười phá ra: Kệ mẹ nó đi mà, chỉ mình bồ gọi đích danh là Lài thì cũng yên tâm, chẳng sợ mai một biến tướng.

Lài mặc quần xa tanh đen, nằm úp mặt vô vách, co cả hai chân nên Chín thấy một đoạn da trần trắng như trứng gà bóc. Tóc rối bung trên gối và tấm chiếu lát hàng nội địa lắm chỗ phai màu. Sao rồi, nghe êm chưa? Chín nói khi ngồi xuống giường con bệnh. Lài trở mình, mặt xanh, mắt quầng, môi khô: Hổng chừng chạng vạng họ đuổi cổ mình về dù chưa nghe êm. Cái bụng nó thốn đau kiểu lạ lắm nghen. Hắn ngó xuống thấy cái lỗ rốn ẩn nấp trên lưng quần luồn sợi dây thun chặt chịa có vẻ như theo đúng chủ trương thắt lưng buộc bụng. Mang Lài đi súc ruột e y tá bệnh viện cũng toát mồ hôi trong công đoạn lột truồng. Lài từng nghịch hắn: Quần chống hiếp dâm đó tía.

Chín bày quà chi viện bồi dưỡng ra: Ăn mấy thứ này vào cho mau lại sức. Lài cầm tay hắn vụng dại: Cả tập thể xà quần nọ chỉ có riêng bồ là đáng yêu, ưa thơm quá. Lài ngồi dậy, tưởng thơm bồ tèo hoá ra là vọc nho cam. Có nên rửa qua không đây, bị sợ ngâm tẩm hoá chất. Lài ngó quanh: Ngồi đây trông chừng giùm cái túi xách, để tui mang trái cây dội qua miếng nước tiện thể đi đái luôn, óc ách nãy giờ. Lài thò chân xuống dò xâu đôi dép cũ mòn, nếu giày dép còn tử tế thì bệnh nhân hẳn đã thu cất dưới gối. Lài đi, như kịch sĩ hài từ cánh gà bước ra sân khấu, bộ điệu một là chọc cười khán giả hai là dòm thấy thương. Đi như một sản phụ mới đẻ con còn đau rát ở cửa mình.

Chú là gì của cổ? Bà nằm giường gần bên ngóc đầu lên hỏi. Tui có con dao Thái Lan sắc bén lắm hồi nào cần cắt cam cứ nói với tui. Chừng tiếng trước có cái anh mặc đồ bảo vệ vào thăm cổ, hai người đút bom lê mận đào cho nhau xong thì anh dẫn xác vô. Tui nằm đây cả ngày trời chả có ma nào vào uỷ lạo, mồ tổ cái phường bạc tình! Chín quay mặt sang con bệnh láng giềng. Nồi nào úp vung nấy, cỡ bốn bó lẻ mấy que hệt bà thì phai nhạt hương tình ắt có lý do, chớ lấy đó làm điều. Nhưng một cái nồi mà có lắm nắp đậy thì ta phải nên ngó lại, tự vấn. Cám ơn chị đã trao cho thông tin, hắn nói, tui làm chung trong xí nghiệp với cổ. Bữa nào tui gặp tai nạn không biết cổ có vào thăm? Rồi cũng nằm ra một đống ngó đời hiu quạnh giống chị vậy. Chú nói sao khó nghe quá, gì mà nằm một đống. Ừ, thà mình ên như tui, tuy có chạnh lòng có tủi thân nhưng so ra, còn hơn rộn ràng quan hệ với bọn người chuyên bắt cá hai tay. Em hổng dám đâu!

Chị có cái ly nào không? Uống cùng tui chai nước trà sâm này cho khỏi đắng họng. Chín khui mở nắp nhựa rồi khom lưng rót đúng nửa chai vô cái ca nhựa bà ấy vừa lấy đi cái bàn chải đánh răng. Hề hề, cái này gọi là bôi trơn đây, tui sẽ làm nhân viên CIA cho chú, sẽ báo cáo cụ thể mọi diễn tiến. Nằm không cũng oải, ngó chùng ngó vụng cũng thú, tin tui đi. Thời bây giờ bạc ác lắm, có con mẹ rách như cái xơ mướp, vào chốn này rồi mà thằng bị cắm sừng còn mang hung khí tới sát giường tính màn chơi tiếp. Bả rên hừ hừ thấy thảm lắm kìa. Thằng giang hồ nọ trước khi bị bắt còn để lại câu nói xanh dờn: Biết vậy ông tạt vào người mày một ca a-xít thì êm đẹp hơn!

Người đàn bà uống sạch ca nước trà sâm ướp lạnh, liếm môi ngó về hướng tới nhà vệ sinh. Ủa, đi đái thôi mà, sao lâu trở ra quá hén! Chú thử rảo một vòng xem có xảy ra sự cố gì không? Chín nhìn cái túi xách Lài đặt bên gối, tần ngần do dự rồi sau cùng ôm lấy nó mà rời khỏi giường. Phòng vệ sinh đâu quá tải chuyện giải thuỷ mà chịu cảnh sắp hàng chầu chực, có hai kẻ đứng tựa người vào tường nhưng họ chủ yếu đang làm sướng mồm chứ chẳng thiết tha chuyện ỉa đái. Lài và một anh y tá mãi huyên thuyên, không biết có phải đang bức xúc bày tỏ thái độ về việc cá đang bơi chuyển sang từ trần? Tay anh y tá đang cầm chùm nho và chí ít ảnh đã xơi hơn chục hột. Hổng rõ Lài đang bôi trơn chuyện gì? Chín nghe chàng mặc áo choàng trắng lên giọng sốt sắng: Không ấy để anh đề đạt với bác sĩ, tối nay anh chuyển em sang nằm phòng kín đáo hơn. Em tắm rửa cho sạch, thay cái áo thông thoáng của bệnh viện và nhớ không được mặc nội y để dễ cho việc làm nội soi. Bác sĩ bảo chỉ lưu tâm tới riêng trường hợp của em thôi đó. Đã sướng chưa? Vậy nhé, tối nay mình gặp lại.

Sao lại đứng lấp ló ở đây? Biểu ngồi đẳng chờ, nói mà hổng khi nào chịu nghe. Đưa cái xách đây, có buồn tay lục soạn không đó tía? Đồ của đàn bà con gái không à, chớ có mó tay tò mò. À mà này, bồ có thủ sẵn cái áo mưa trong túi quần không, cho tui mượn đi. Chín nói, ừa mình kéo nhau vào trỏng, chốt cửa lại làm đại một phát đâu có chết thằng tây nào mà sợ. Đã đến lúc Lài biểu tỏ “thấy thương muốn thơm” tui rồi đó, đúng hôn? Chít mịa, bị ngộ độc đầu óc hả, đồ khùng gì đâu á. Tui đang bỏ công sức đi giao lưu tình cảm với người ta, người ta hứa chăm sóc tui rốt ráo, người ta viết giấy chứng thương hậu hỉ cho tui, người ta khuyên nằm lán lại chớ về cày bừa trong xí nghiệp dễ gây tổn hại… Có thương tui thì bồ về đi, đừng đứng loạng quạng ra đó làm cản trở lưu thông. Về nghỉ cho khoẻ lấy sức mà cày bừa tiếp, không cày cơm đâu mà ăn? Má tui dạy, cơm thương chớ hổng có ai thương đâu. Thấy mặt Chín buồn xo, nghĩ cũng chạnh lòng nên Lài nhón chân thơm vào bên má Chín kêu cái chút. Chắc Lài có xơi nho, môi thơm ngọt rít rát. Bệnh viện chộn rộn lắm người nên tui hôn ở má, chốn phòng the cô quạnh yên hàn thì tui sẽ thơm cùng khắp. Nhớ chưa, nhín đợi năm bữa nửa tháng cho cơ thể thấy sung rồi lúc đó có đòi nợ cũng chưa muộn. Về đi, nói biết nghe thì thương hơn.

Chín bước ra khỏi cánh cửa kính ngăn chia hai cảnh giới khác biệt, bên bầm dập bên dưỡng thương, bên đâm chém bên xức thuốc. Đó chỉ là cái hiểu đơn giản trong đời thường chứ thực chất có lúc tuy hai mà một. Xã hội bên ngoài cũng có kẻ hào hiệp đứng ra xức thuốc cho mình và bệnh viện ấy cũng chẳng thiếu đứa giỏi sử dụng đao gươm, lương y như dì ghẻ, chuyện ấy nào lạ gì, thấy chết không cứu, việc ấy không riêng tiểu thuyết giả tưởng mới thủ đắc.

Chín đứng moi thuốc ra thắp lửa, thở khói vào bóng chiều đang lần đi dần vào màn đêm. Một mụ đàn bà hiện ra sau thân cây to bước lại gần. Mụ nói nhỏ, giọng trọ trẹ khó nghe: Anh muốn sở hữu mười triệu đồng không? Trong xách tôi có chiếc áo choàng trắng của bệnh viện, mặc nó xong anh đi theo lộ trình trong bản đồ tôi vẽ, vào tới cái giường có đánh dấu sẵn rồi bồng ẵm đứa bé nằm đó trở ra. Sau đó người của chúng tôi sẽ lo liệu hết. Chúng tôi đã quan sát, mức độ an toàn lên tới 75 phần trăm. Theo chúng tôi nhận định, anh nào khác gì một y tá, thú thật là ngay cả bác sĩ có khối thằng xấu trai hơn anh.

Chín rít khói, ruột cồn cào. Hắn hỏi, ngay bây giờ? Người đàn bà có đeo khẩu trang nói, tuỳ anh, nhưng càng khuya thì dễ gặp khó khăn hơn. Đi mua cho tôi một chai bia có được không? Chuyện nhỏ. Điều đó có nghĩa là anh đã thoả thuận. Mười triệu? À há, anh nhận trước một nửa, nửa kia sẽ trao khi chúng tôi bồng đứa bé lên xe. Không thành vấn đề, Chín nói, một chai bia lạnh và một con dao nhọn. Người đàn bà gật đầu, không vội vàng, đi thong dong băng qua mặt lộ để bước vào tiệm tạp hoá sáng đèn. Chín không rảnh trí về chuyện sẽ làm gì khi có được mười triệu, đầu óc hắn lợn cợn một điều, giả như vô phúc gặp mặt Lài, có thể Lài là người hứng chịu mũi dao nhọn đâm thủng trái tim bạc tình. Thương cho dao cho kiếm ghét cho nho cho cam. Ghét em hồi đầu rồi thương em hồi sau là vậy. Mười triệu, bán luôn chiếc xe máy, chêm tiền cứng người rồi đi giang hồ một chuyến đoạn lìa quá khứ đau thương.

Người đàn bà đang băng qua đường, đi mà không ngán xe đâm ngang xẻ dọc, đi như vào chốn không người. Lon bia và con dao nằm trong túi ny-lông, phía trên là con mắt biết cười ngó vào mặt Chín.

Hồ Đình Nghiêm

Huế bò bún

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 10/08/2016 

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

tặng anh Phạm Nhuận

Muốn nấu một nồi bún bò, căn bản bạn phải có đủ những nguyên vật liệu sau… Đây là câu mở đầu bạn sẽ đọc phải trong sách, nghe khi xem video ở internet để rồi tò mò muốn xắn tay áo thử sờ soạn với nồi niêu củi lửa điện gaz, thực thi theo công thức người ta bày vẽ, loay hoay xem thành quả món ấy có đạt được đôi phần hoả hầu tựa Mụ Rớt ngày xưa danh trấn giang hồ một thời vàng son cũ.
Mình truy cập vào mạng, có không dưới mười vị giàu kinh nghiệm và giàu lòng hảo tâm bỏ công quây phim chỉ dẫn tường tận cho bá tánh. Lạ một điều là các sư phụ kia có vị nói giọng Bắc 9 nút truyền cảm, có vị phát âm giọng mùi Nam bộ dễ mến. Nghe và ngộ ra: Bún bò đã vượt biên thoát khỏi địa phận miền Trung, đang dần lấy cảm tình hai miền còn lại của một chữ S gầy ốm ngày đêm giao thoa và được vỗ về bởi sóng biển Thái Bình Dương. Sóng lành hay biển dữ? Hồi nào bàn tới chuyện bún hải sản mới mang ra mổ xẻ nguyên vật liệu cá tôm cua mực sò ốc. Heo bò vốn sống ngu ngơ ở đất liền, chẳng liên quan gì tới thuỷ thần, nhớ?

Mình từng nấu Hủ Tiếu Mỹ Tho, khá thành công. Từng ninh hầm Phở Bắc, nước trong khá thơm tho bắt miệng. Thường xuyên trau dồi Bún Bò Huế, khá dậy mùi. Bà con xa láng giềng gần, gom lại khoảng một tá chị em phụ nữ đều thống nhất một kiểu gật gù: Thằng cha này có hoa tay chứ không đùa nhé, nấu thức gì ra thứ ấy, mặn mà… có duyên. Này, đàn ông con trai lưu lạc sang đây không ngờ bọn họ ba đảm đang hơn cả mình tưởng. Thằng cha này mà mở hàng quán hổng chừng phải đuổi khách đi không hết. Họ mồm năm miệng mười khen cho tới hồi thằng cha đầu bếp múc cạn nồi nước lèo mới thôi. Quý vị phụ nữ cấy giấc mơ vào lòng mình: Vay ngân hàng chút bổi mà mở tiệm mần ăn, ông lấy cái tên nghe ấn tượng khác đời cho giang hồ nổi sóng: Bún Bò Ôn Dôn. Thành phố này sẽ mang ơn ôn, khách phương xa ghé thăm Montréal có bún bò ôn Dôn xúi một chút gì để nhớ. Rồi họ tự biên tự diễn ra câu chắp vá: Đi rồi nhớ Dôn, tuổi đời hoàng hôn, may mà có ôn, ta về thăm thôn, quên của hồi môn, đậu một môi hôn, đem tình đi chôn, nào biết dại khôn, không nên tự tôn, chớ có đại ngôn.

Thêu dệt vần điệu thiệt phách tấu, hay ra cái sự cố nữ công gia chánh kia chẳng khác gì chuyện kể nghìn lẻ một đêm, xa xôi, kỳ khu những hoang tưởng. Mình nghe các vị nữ lưu bàn ra tán vô liên hồi kỳ trận khiến đã cái lỗ tai mới gớm. Y như thính giác thưởng thức tiếng lụa xé để lòng vui. Xé trường đoạn, xé toe tua cho đến tận bây chừ mới chịu tắt nghỉn.

Tắt nghỉn hay tắt quạt cũng một nghĩa như nhau, đành phải phơi tình trên cheo leo cọc nhọn. Ngày 6 tháng 8, đúng ngày tháng này của một quá khứ tăm tối, năm 1945, quả bom nguyên tử của Mỹ thả xuống Hiroshima làm chết hơn 100.000 người Nhật. Ở thành phố đó giờ này khói nhang vẫn còn vùng vằn dật dờ một tưởng niệm chưa loãng tan, mờ mịt thức mây. Huế xứng đáng là tụ điểm để hàng năm vào dịp Tết, con dân đứng cúi đầu mặc niệm và hồi tưởng một trang sử đẫm máu do người ở rừng rú về thảm sát dân lành. Đội ngũ bên thắng cuộc đó không duy tâm, họ duy vật để vừa ký xong thứ văn bản “ngậm đắng nuốt cay” chưa ráo mực: UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế đăng ký bảo hộ nhãn Bún Bò Huế (Logo ở đầu bài) nhằm mục đích xây dựng thành một sản phẩm đặc trưng của Huế, có uy tín trên thị trường, được bảo chứng về chất lượng, hương vị, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Đây là điều cần thiết và trách nhiệm của địa phương. Điểm quan trọng là “phát minh” này đã được Cục Sở Hữu Trí Tuệ công nhận. Nôm na có phải là rảnh rỗi sinh nông nỗi? Chẳng có chuyện mần nên tạo dáng selfie một cú, chảnh cho xứng tầm thời đại. Bún bò dứt khoát phải ma-dzê-in Huế.

Vậy thì những ai kinh doanh ẩm thực ở chốn xa, tưởng tới đất Thần Kinh mà hăm he chen vào thực đơn món bún bò thì buộc họ phải chạy u tới xứ Huế xin cho bằng được cái giấy phép và phải dán cái logo đặc thù (của UBND Tỉnh phối hợp cùng hội Du Lịch Thừa Thiên Huế quản lý) bên thương hiệu quán ăn. Tấm bảng viết chữ phăng-ta-dzi “Bún Bò Huế Ôn Dôn” tối nghĩa, chưa hoàn chỉnh hay sao mà bắt phải thêu dệt thêm cái logo Bún Bò Huế kia. Cắc cớ hung! Nhiêu khê quá mạng! Vậy thì tớ bán chui, có được không? Nhắm chơi hổng đặng, tui bỏ mẹ cái món rắc rối ấy đi cho khoẻ xác. Mấy ôn đầu sỏ ở cố đô hồi nào tới giờ vẫn để lộ lối hành sử hơi bị phản cảm vô văn hoá. Không ưa tiếng thơm lây lan xa rộng mà chỉ ưa giữ riết một bên thân xem nó là của gia bảo độc cô cầu bại. Ưa thu gom về một mối, soán đoạt thành tựu của bao nhà quy về một căn hộ tiêu điều vùng ngoại ô. Thử hình dung suốt chiều dài đất nước, mỗi địa phận có món ngon đặc sản thì liền đăng ký sản phẩm, vẽ logo cầu chứng, thằng nào mánh mung chôm chỉa làm hàng nhái tớ kiện cho táng gia bại sản. Và như thế không chừng sản sinh ra nạn thập nhị sứ quân, mỗi đại gia hùng cứ một vùng miền, phở cạy mặt bún, bún ngó lơ mì, mì hổng chơi cơm tấm bì. Rồi hô hào đi làm cách mạng, rồi đến hẹn nại nên ta đi giải phóng, rồi ta đổi tiền và ta thay tên đường. Cứ thế mà loay hoay tiêu hết 4000 năm văn hiến. Vó câu trôi ngoài cửa, bốn mươi năm rồi đường hầm chưa chịu sáng, bị anh Lào láng giềng qua mặt hổng thèm bóp còi. Khi dễ cũng chừng mực nào thôi chứ!

Địa phận Thừa Thiên sẽ mất dấu khi lần qua những chân đèo. Đổ xuống Hải Vân hùng vĩ là trôi tuột vào vùng đất Quảng Nam “chưa mưa đã thấm”. Từ Đà Nẵng trở vô Tam Kỳ, dân địa phương vẫn giữ niềm tự hào về món ngon nức tiếng: Mì Quảng. Theo sử liệu của các nhà nghiên cứu, mì Quảng có từ thời cụ Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng lấn vào mở mang bờ cõi. Món ăn theo chân nhân dân, thuộc về nhân dân mà thầm lặng phát triển bởi lòng yêu mến qua bao niên kỷ. Cố nhà văn Nguyễn Văn Xuân từng nói: “Mì Quảng là mì dân chủ”.

Bún bò Huế không có được sự dân chủ, ngày một ngày hai đã bị phong kiến địa chủ bóc lột. Mô tê răng rứa thì có chút duyên ngầm nhưng nó chẳng thoát ra khỏi một địa phận, gây khó khăn không ít cho một số người khác quê miền Trung. Người miền Nam trước đây chẳng có cảm tình với món bún bò bởi cái cay ác ôn đặc thù. Và hiện tại họ có thêm một cái cớ khác để phụ rẫy: Trình độ thấp kém rất đáng phàn nàn của những kẻ xem thường di sản văn hoá của cha ông. Quyết đóng mộc lên con tem bún bò. Đã lỡ làm Công Tằng Tôn Nữ thì chớ lén phén lấy dôn ngoài xứ Huế. Em là sông Hương mà anh là núi Ngự Bình đó nợ. Sông in dáng núi, núi soi mặt sông. Thuỷ chung. Bún bò Huế muôn năm.

Liên hệ với tin tức thời sự thế vận hội đang tranh đua từng ngày, từng bộ môn, ông Hoàng Xuân Vinh của đoàn Việt Nam vừa làm nên lịch sử với huy chương vàng đầu tiên ở môn bắn súng hơi cự ly 10 mét. Báo chí đồng loạt ca ngợi, sướng rân, xem đó là niềm tự hào dân tộc. Bạn có tự hào khi làm người Huế không? Cho mình bắn một phát súng hơi: Tui rất hãnh diện khi được đứng dưới bảng hiệu “Bún Bò Ôn Dôn”. Có nghĩa là bún bò ni chẳng liên hệ gì với thứ bún bò Huế kia. Ăn bún bò ôn dôn không bổ bề ngang cũng tốt cho bề dọc, chứ xơi phải bún bò Huế nọ có mà triệt tiêu chất xám, rồi uốn lưỡi ăn nói ngôn ngữ của loài vẹt, hoặc két hoặc nhồng hoặc sáo đã từng bị lột lưỡi. Không riêng bún bò, Huế bây chừ lạ lắm eng ơi, ai đời mà hướng dẫn viên du lịch nói cửa ngọ môn điện thái hoà là bản sao chép từ tử cấm thành của Trung quốc đàn anh vĩ đại. Huế ngậm hột thị, có ra bên bến Văn Lâu than thở “ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm ai thương ai cảm” cũng bị công an ngăn cấm. Có khi đau răng mà cũng bị chết, tin không? Đả đảo bún bò Huế quốc doanh!

Hồ Đình Nghiêm

Gạch đá

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted 11/07/2016 

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

Khi bạn vô tình (hay cố ý) phạm lỗi lầm, chúng sinh đua nhau mắng chửi bạn và người ta đẻ ra một từ thật dễ chịu để chỉ tới thảm hoạ nọ: Bị ném gạch đá. Bạn cũng như tôi, đi trong cuộc lữ phiền muộn này, thế nào cũng hơn một lần bị hứng chịu gạch đá, không khỏi.

Ngày 7 tháng 7 (song thất mà không lục bát) tôi đã lục chén lục nồi ngồi ăn cơm nguội cục vắt thành hòn mà lệ ứa trong tim. Hậu sự do bởi thằng Đức đã không thắng nổi thằng Pháp. Đức gạt lệ thua buồn và tôi thua cá độ bay mất một nạm tiền. Chẳng do cảm tính, tôi nhảy vào cuộc chơi lành ít dữ nhiều sau lắm đêm đọc báo để minh định thực tài của đội Đức, dẫu sao họ cũng là nhà đương kim vô địch và theo từ điển bóng đá, họ là hình ảnh của một cỗ xe tăng. Chí ít họ sẽ thắng 1 bàn, đó là theo dự đoán của đám đông, trong đó có tôi sốt sắng làm chú du kích bồng súng đi theo đường mòn đã mở. Mặt trận miền Tây vẫn không yên tĩnh. E.M. Remarque có sống dậy cũng sẽ hậm hực viết sang một cuốn tiểu thuyết khác.
Thời sự của báo đài cũng đẻ ra chữ mới: GERFRA khi mà đèn thắp ở tháp Eiffel liên tục chuyển màu từ cờ Đức đổi ra sắc tam tài của Pháp. Chiếc xe tăng kiên cố của vị tướng Erwin Rommel (The Desert Fox) huyền thoại ngày xưa bá chủ trên khắp mặt trận, hôm nay đã tuột xích hỏng pháo tháp trên sân cỏ một thời từng bị xâm lăng. Con gà trống đã cất tiếng gáy (tiếng gáy át tiếng bom). Một mình Antoine Griezmann, người hùng chỉ cao 1m76, tiền đạo nhỏ thó mặt mày sáng sủa khoác áo số 7 đã đơn thân ghi được 2 bàn thắng khiến 11 con tim của đối phương thôi đập, gục đổ. Chàng Antoine sau chiến công hiển hách đã được xem là thế hệ vàng thừa kế Zidane và xếp sau Platini ở tỷ số ghi bàn. Chưa chính thức lên ngai vàng làm vua bộ môn bóng tròn nhưng dân Pháp mặc nhiên xem đó là thứ mùa hè đỏ lửa. Đỏ hân hoan reo vui trên lửa hạnh phúc rực rỡ thắp cùng kinh thành ánh sáng. Nếu được, bọn cuồng tín có thế viết nên ca từ “Như có bác Antoine trong ngày vui đại thắng” để hát vụng dại cùng bia rượu lai láng chảy bên bờ sông Seine.

Tương truyền ở thành phố hoa lệ này từng rộng vòng tay đón nhận một anh An nam mít phu phen lao động dưới hầm tàu đi chui lên bờ. Anh ta sống trải qua một mùa đông khắc nghiệt trên xứ người, nuôi mộng mần chuyện lớn anh đã giao lưu tình cảm với một bác làm việc ở lò nướng bánh mì. Anh cạy đâu ra được hai cục gạch, lén lút lội tuyết đến gõ cửa tiệm bánh mì của bọn thực dân. Bác ấy cũng là người tử tế nhỉ, bác thuận lòng cho anh mít đun hai cục gạch vào lò nướng sau phút han hỏi lý do: Chơ do cớ sự gì thế hở? Dạ, chẳng dấu gì bác, cháu trọ ở nơi cực kỳ giá rét chẳng có lò sưởi, cháu sẽ mang hai cục gạch nóng hổi mới ra lò này về để chêm dưới lưng đặng kinh qua giấc cơ hàn. Nghe chảy nước mắt, không phải thằng thực dân nào cũng đều xấu bụng, nếu nó ác nó có cả vạn lý do để đuổi cổ cái bộ mặt thường trực lấm lét của ta ra khỏi ngõ ngay. Chuyện ngang đó thì dừng, giống như trọng tài đã thổi súp-lê, chẳng biết thằng thực dân nọ có động lòng dúi vào tay thằng cộng sản trẻ tuổi kia khúc bánh mì nào chăng? Thế kỷ sau, câu chuyện ấy đẻ ra một hậu vận, là nhà nước Việt Nam đã cho người cất công sang Ba Lê cố truy tìm cho ra hai cục gạch ngày cũ để mang về chưng trong viện bảo tàng lịch sử, bởi đó là báu vật giúp “người” kinh qua bao gian khó trong suốt chặng đường đi làm kách mệnh!

Pháp vừa ném hai cục gạch vào mặt thằng Đức, ủ uê, nhức nhối, tái xanh mặt máu. Không biết liên đoàn football của Pháp (FFF) có chùng vụng mang trái banh Adidas từng làm cháy lưới đội Đức về dấu thu trong viện bảo tàng, kẻo mai này nó sẽ làm bóng chim tăm cá, biết đường mô mà mò sau bao dâu bể con tạo xoay vần trắng đổi ra đen!

Tôi cũng vừa mới bị thân bằng quyến thuộc ném cả chục cục gạch đá vì tội vất tiền qua cửa sổ. Để trấn an dư luận tôi đã mở máy vi tính mà chỉ cho quý vị ấy xem hình ảnh chụp lại phút quyên sinh của mấy ông nội nhảy cầu từ Bắc vô Nam, nhan nhãn. Ở đâu có cầu có sông, ở đó có đứa muốn gặp mặt tử thần. Thi thoảng có bóng dáng công an dừng xe lại để can ngăn: Con người vốn quý nhất, sao lại vác thân một hai ôm cục gạch để trầm mình? Thua keo này bày keo khác. Còn một trận chung kết nữa mà, bán hết nhà cửa đi thử thời vận lần nữa hẳn hay, nhớ. Chết như vậy là hơi bị sớm đấy! Ùm, đương sự giả nhời bằng tiếng kêu nghe thậm bức xúc. Sóng mãi loang ra, sông mùa Euro toàn xác người mà thôi còn xác cá. “Người cần nước sạch, cá cần minh bạch”. Ai có đi biểu tình chống cá độ bóng đá thì nhớ viết câu ấy lên biểu ngữ.

Tôi còn chút bổi trong trương mục ngân hàng, trận chung kết tới đây tôi bảo thằng Pháp sẽ đá bại thằng Bồ Đào Nha. Có “đồng chí” nào dám tôm độ, mực độ, cua độ, hến độ với tôi không? Bây chừ thời tiết chốn đây cực nóng, nhằm giải hạn tôi nghe theo điều một bác dạy: Chạy lơ ngơ đi đâu đó, nhanh tay lẹ mắt ăn cắp cho được hai cục gạch. Xong công đoạn đó tôi sẽ cạo sửa di chúc của người, tôi đun nó vào tủ lạnh, ngăn đá rồi cuối cùng chêm sau lưng nằm nhắm mắt riu riu cố an dưỡng tấm thân đang vào độ tuổi cổ lai hy. Mẹ rượt, bác với cháu, bóng với đá, cá với tôm. Làm sao được ngủ với cơn mộng: Tuyển Việt sẽ ném vào mặt tuyển Trung quốc hai cục gạch nóng hổi. Tôi thoi thóp đợi ánh dương quang sáng soi hình hài chữ S. Đừng bảo tôi người ngoài hành tinh. Bạn nên nhớ cho, một giấc mơ muôn đời không tốn tiền mua, khỏi đóng thuế. Xin hãy vô tư.

Bồ lay tôi ra cơn mê sảng. Tôi thương bồ (tèo) cũng như bồ (bịch) nhưng tôi ghét cay ghét đắng anh Bồ Đào Nha. Những cảm tình viên của tuyển Pháp sau phút 20 đã mở cờ trong bụng vì chàng Ronaldo áo số 7 (CR7) bỗng chấn thương ở chân trái. Chàng ta khóc trước khi leo lên băng-ca cho chuyên viên y tế mang ra khỏi sân kéo theo biết bao ánh mắt tuyệt vọng của con dân xứ Bồ bỏ công ăn việc làm nơi quê mẹ lặn lội sang Pháp reo hò cổ vũ cho đội nhà. Nước mắt đổ ra thế cho niềm ăn năn thầm lặng, rằng tôi tự lượng sức chẳng thể đổ mồ hôi cùng đồng đội chạy cho tới cuối cuộc chơi. Bồ có thua trận e món nợ đau thương ấy có tôi gánh ở đầu nặng nhất. Nói có vẻ nhỏ nhen, hơn bốn mươi ngàn kẻ mặc áo có in logo con gà trống bên ngực trái ngồi sát cánh trên khán đài đã lòng như thầm mở hội, bác Antoine Griezmann ơi, đường ra trận mùa này đẹp lắm, đường thênh thang sẽ dẫn tới gần Khải hoàn môn. Hãy kéo sơn pháo, cối cũng như hoả tiển vào vùng cấm địa mà tiền pháo hậu xung.

Bồ lay tôi ra giấc mê muội thua sạch nhẵn, hết tiền hết bạc hết ông tôi. Gần cuối hai hiệp phụ, phút 109 tiền đạo Éder áo số 9 vừa vào thay người đã vung mạnh đường Tuyệt mệnh đao khiến sân cỏ Saint-Denis phải co lạnh tợ có ngọn gió thu trái khuấy thổi ngược. Bồ ném một cục gạch không khoan nhượng khiến 11 con gà trống thôi ưỡn ngực, xác xơ lông, thôi gáy, thôi đạp mái, thẫn thờ như thể bị mắc mưa. Thiên thời, địa lợi, nhân hoà anh có đủ vậy mà anh chẳng làm nên trò trống gì. Tan hàng mà chẳng nghe ai gióng tiếng: Cố gắng. Và như thế, mùa Euro sôi động đang như con sóng cuốn dạt xa dần, nhường lại một bãi bờ quạnh vắng. Chẳng biết phố đêm có đèn vàng suy tư không? Chẳng rõ còn xảy ra cảnh cổ động viên ném gạch đá vào nhau nữa thôi. Rồi nhắc lại thắc mắc của Trịnh Công Sơn: Làm sao em biết bia đá không đau?

Tôi có một người bồ tèo, bạn ấy trao tay thứ kỷ vật thuộc loại hàng độc: Một cục gạch lấy được từ bức tường Bá Linh ở phía Đông. Bồ rỉ tai, biết đâu chừng một ngày kia anh sẽ giàu to khi nó lọt vào tay con buôn di tích lịch sử. Dĩ nhiên đã là gạch đá thì chúng thảy đều tựa nhau, vô tri, thô kệch, nặng nề, xấu xí. Bảo rằng nó được moi ra từ cổ thành Quảng Trị thì ắt có giá trị hơn, tôi nghĩ vậy, nơi từng diễn ra trận quần thảo khốc liệt 81 ngày đêm và chôn vùi theo gạch đá biết bao oan hồn của chiến binh hai phía, than van cao ngất trời xanh để mây phải dồn cục trên dãy Trường Sơn u ám.

Tôi dùng cục gạch ô nhục bồ trao để chèn vào kệ sách cho văn chương xếp hàng trên đó khỏi té lăn chiên đổ đèn xuống sàn nhà lắm bụi. Nó không mấy lớn nhưng có thể buồn tay ném ai đó đến vỡ đầu như chơi. Tôi sẽ vỡ đầu nếu chụp hình cục đá nọ rêu rao trên mạng bán giá phải chăng: “Nó moi ra từ hầm mộ cổ bên Ai Cập với số tuổi được phỏng đoán là hơn 4000 năm”. Vỡ đầu vì tội lừa đảo. Cũng có thể giống như trò chơi dính dáng tới cá độ, tôi được mời về nước có xe hụ còi dẫn đường tới viện bảo tàng, các đồng chí lãnh đạo phán: Cục này là cục thứ ba của “người” thời lưu lạc gầy còm nếm mật nằm gai mới phát hiện thấy, từng đun vô rút ra cả mươi bận trong lò nướng bánh mì ở bển, đêm trường ấp ủ cho tới tàn canh gió lạnh. Dĩ nhiên là chúng ta sẽ vận dụng chất xám nhằm khiến cho cục ấy bị mòn khuyết, thay hình đổi dạng và lên nước chút đỉnh cho phù hợp với nạn bể dâu. 500 triệu cho cục này, chú Hồ tính sao?

Hồ Đình Nghiêm