Tháng tư nghiệt ngã

Oliver Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

5. Lời tựa

Quyển sách này mô tả những tấn thảm kịch của loài người , những toan tính ngoại giao, những chiến lược quân sự và những vận dụng chánh trị từ Hà Nội đến Hoa thạnh Đốn xuyên qua Mạc tư Khoa, Balê.. và nhiều thành phố khác, để cuối cùng dẫn đến sự thất thủ của Sài Gòn ngày 30/4/1975, hai mươi mốt năm sau trận chiến Điện biên Phủ.

Quyển sách này tường thuật lại diễn tiến trong 4 tháng đầu của năm 1975 nghiệt ngã. Thông thường theo ký ức tình cảm của mỗi dân tộc, dưới con mắt lạnh nhạt của sử gia, thì đôi khi chuyện một thành phố bị mất đi hay được chiếm lại trong cuộc chiến .. chỉ là một bóng mờ của một thời gian nào đó thôi. Nhưng khi mà một thành phố được gọi là thủ đô, được xem là trung tâm đầu não cuả hệ thống hành chánh, tài chánh, văn hóa và quân sự mà bị địch chiếm, thì sự chiếm đó có nghĩa là địch đã chiếm được chánh quyền!

Năm 146 trước công nguyên thành phố Corinthe bị mất về tay người La Mã thì tức là nền độc lập của dân tộc Hy Lạp (Grec) không còn nữa…

Nã phá Luân rút quân khỏi Mạc tư Khoa năm 1812 cũng được coi như nước Pháp thất trận.

Nhiều thủ đô đã bị chiếm đóng, như Ba Lê năm 1914 và 1940 mà còn có được những cuộc chiến đấu anh dũng như trận La Marne mới được coi như thành phố đó chỉ bị mất về tay quân thù. Tại Âu Châu, khi người lính của Staline kéo lá cờ đỏ lên Trụ sở Quốc Hội Đức ở Bá Linh, là Tây Âu coi như phải thần phục Đông Âu, cũng như ở Á Châu khi Nhật Bản chiếm đóng Singapore vậy.

Hơn 10 năm sau khi bị thất thủ, Sài Gòn được xem là tiêu biểu của một thời kỳ lịch sử chủ yếu hàng đầu: được sự yểm trợ của Liên Xô, Trung Cộng và các nước cộng sản chư hầu khác, một nước chuyên chính nhỏ bé như Bắc Việt đã buộc một quốc gia dân chủ hùng mạnh như Hoa Kỳ phải tháo chạy, đánh dấu cuộc chiến thắng của một xã hội độc tài khép kín đối với một xã hội tự do cởi mở, một cuộc chiến thắng đối với hệ thống Tự Do Dân Chủ…. Chiến thắng vĩnh viễn ư ? Người ta còn nghi ngờ, nhưng một dẫn chứng lịch sử rất giản dị làm cho người ta phân vân: cho tới giờ này khi đã bám trụ được rồi thì người cộng sản chính thống hình như không bao giờ muốn nhả ra nữa.

Đã có nhiều sự lưỡng lự rụt rè và hành động rời rạc từ chánh sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong cuộc chiến ở Việt Nam. Không có một bình luận nào vô tư hết, mà cũng không thể hoàn toàn thu ngắn từng chữ trong diễn tiến của sự việc được,. Ngay như căn cứ trên tài liệu, nhân chứng, phúc trình, công điện, hay những bản tường trình của phóng viên, các bài phóng sự truyền thanh, phim ảnh, thư từ, báo chí…, một nhà báo đang góp nhặt sự việc trong ngày hay một sử gia đang gom góp từng sự kiện trong năm cũng không ai có thể bỏ qua tính cách chủ quan được khi phải chọn lọc và sấp xếp các sự kiện lại để viết sử cho Lịch Sử. Điều này hoàn toàn không có nghĩa là không “vô tư hay chủ quan”.

Cuộc vận động trên báo chí và phương thức viết sử chính yếu không khác nhau mấy. Người viết sử có không gian và có thời gian rộng rãi , còn người làm báo thì có thể dựa trên những câu hỏi của người trong cuộc, cùng thời với mình. Cả hai người đều phải làm việc với sự nhạy bén của mình, một sự nhạy bén mà họ cần phải có, phải biết và phải kiểm soát được.

Tôi không hiểu tại sao tôi lại muốn thấy và nhìn lại hằng loạt biến cố hỗn tạp của năm 75 này?

Tôi đã theo sát cuộc chiến này từ năm 1965 cho đến năm 1973. Như các bạn tôi, hơn mọi cuộc chiến khác, cuộc chiến này đánh mạnh vào tâm tư của tôi, với tất cả ý nghĩa của nó. Mặc dầu có đặc quyền ưu đãi của một nhà báo, tôi xin chiếu khán vào Hà Nội rất khó khăn, trái lại với Sài Gòn thì rất dễ dàng và nhất là tôi và ông bạn Ron Moreau phóng viên của tờ Newsweek tại Sài Gòn, năm 1973 chúng tôi đã vào được vùng đất của Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam ở Cà Mau. Chúng tôi không thông báo trước , không được hướng dẫn viên đưa đi. Ron Moreau nói thạo tiếng Việt đến độ biết chơi chữ để làm vui các chiến binh Việt Cộng, phần tôi thì biết nói tiếng Miền Bắc: chúng tôi làm việc chung với nhau.

Quan điểm của tôi về cuộc chiến thay đổi tận gốc. Những sự bực bội của tôi từ những lần viếng thăm Miền Bắc năm trước đã bùng lên dữ dội như chất hóa học. Tôi rời khỏi Việt Nam, tin chắc là tôi đã bị gạt: với một vài dè dặt nào đó tôi đã bênh vực cho cái gọi là “phong trào giải phóng quốc gia” với mục tiêu giai đoạn gọi là chiến đấu chống đế quốc thực dân xâm lược. Sau đó tôi khám phá hơi trễ là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam chỉ là cánh tay của chánh phủ cộng sản Miền Bắc được trang bị và nhồi nhét ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Có thể một phần nào đó tôi là một nạn nhân của cái mà Jean Francois Revel gọi là :sự cám dỗ của vấn đề” Để giải thích cho Edgae Morin, dù muốn dù không tôi đã tranh đấu để đến ở Sài Gòn, một thể chế mà chúng tôi đã từng có lần lên án tại Prague (Tiệp Khắc) và Budapest (Hung gia Lợi). Xuyên qua cảm tình của chúng tôi đối với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước kia và Hà Nội sau đó , chúng tôi đã gần như rơi vào cánh tả không cộng sản một cách dại dột và mù quáng. Sự nhận xét của chúng tôi về thể chế cộng sản mà trước tiên là Bắc Việt suýt chút nữa chúng tôi đã coi họ là thiên thần. Sự hoan nghênh của chúng tôi về các chế độ chống cộng, và trước hết là chế độ của chánh phủ Miền Nam Việt Nam xoay qua thành một điều quỉ quái. Chúng tôi không coi Hồ chí Minh là thiên thần mà cũng không coi Nguyễn văn Thiệu là Ác Quỉ. Chúng tôi chỉ mơ về một “chủ nghĩa xã hội có nhân tính” ở vùng Đông Nam Á.

Và còn không ít người đang mơ ước hão huyền như vậy .

Với hai chữ Việt Nam, có nhiều hình ảnh và nhiều khuôn mặt hiện trở lại trong trí tôi, hết sức lộn xộn.

– Đây là một sĩ quan Hoa Kỳ trên núi Bà Đen, chỉ huy một đơn vị lính đánh thuê người Cam Bốt; đây là anh Nguyễn Minh, thông dịch viên của tôi ở Hà Nội , lần đầu tiên tôi đến thủ đô khốn khổ của Miền Bắc, anh Minh giúp Gerard Chaliand và tôi qua khỏi khó khăn trên Quốc lộ 1, lúc các oanh tạc chiến đấu cơ Mỹ đang có mặt trên không phận; kia là ông Thiệu tươi cười sáng lạng đang dùng máy Polaroid chụp ảnh cho tôi tại Dinh Độc Lập… – – Rồi đây là những nỗi kinh hoàng của cuộc chiến, những thương binh của Nam Việt Nam ở Đà Nẵng, của Bắc Việt Nam ở Phát Diệm… Giáo sĩ tiến bộ bên này, giáo sĩ tạp giáo bên kia… chỗ nào cũng toàn là trẻ mồ côi, thiếu tình thương, lắc lư liên tục từ trái qua phải mà triệu chứng thì các nhi khoa Bắc sỉ đều biết rõ cả rồi; nọ là binh sĩ hai Bên, bụng thì lo sợ mà mặt thì vẫn thản nhiên, nhìn chung là gan lì…; đây là những bữa cơm nóng hổi chia xẻ với binh sỉ Hoa Kỳ hoặc Nam Việt Nam , với cán binh Bắc Việt hay Việt Cộng .. người này mời thuốc đầu lọc Winston, người kia mời thuốc lá Điện Biên Phủ và đây là Phạm văn Đồng, lãnh chúa “vĩ đại” mở miệng ra là gọi anh là “bạn thân” theo giọng điệu của chánh phủ Pháp… còn kia là những người dân quê và dân thành thị, tất cả đều mong chờ “hòa bình” nhưng không phải một nền “hòa bình” như lãnh đạo của họ thường quan niệm.

Ôi êm đẹp làm sao những buổi chiều, hay buổi sáng sớm êm ả ở Miền Bắc hay Miền Nam trong thời gian ngưng tiếng súng… Đây là chánh khách Tôn Thất Thiện với những bài bình luận trầm tĩnh và những con cá nhiệt đới của ông…, Kia là nhà lý luận Nguyễn Khắc Viện đang nhồi sọ các khách du lịch ở Hà Nội …,Cả hai ông, người nào cũng thông thạo tiếng Pháp…..

Độc giả sẽ gặp lại trong quyển sách này một số nhân vật mà tôi không quên được vì họ vốn là “con người” . Tôi không hạ thấp người Miền Bắc dù nhiệm vụ và tầm vóc của họ chỉ là thuộc những con rối không hồn và cũng không có nhân cách. Nhưng phải công nhận là họ có một ý chí cao độ, nhưng tự tôn tự đại, một loại anh hùng tính đến khó tả được và không cần biết gì đến thế giới bên ngoài, nhất là dư luận..

Một mặt, nguyên tắc “chỉ huy tập thể” của cộng sản Hà Nội trong mọi hoạt động, như một con quái vật lạnh lùng từ đầu đến chân, theo công thức của Clausewictz chế ngự ba mặt trận ngoại giao, chánh trị và quân sự.

Mặt khác, ở Sài Gòn, người ta nhận thấy sự hỗn tạp của một chế độ mất quân bình, mồ côi.. ở đó những nhân vật chủ chốt đôi khi cảm động vì vô ý thức, nên thường bị rơi vào vô số cạm bẫy của những mưu mô chánh trị hay xảo thuật hành văn trong các văn bản hành chánh của nền dân chủ Hoa Kỳ.

Người ta ngạc nhiên với những sự tiết lộ của một số phiên họp lúc nào cũng mật kín của hệ thống dân sự hay quân sự của Hà Nội. Những cuộc thảo luận, những quyết nghị, những bất đồng… đều do tác giả cộng sản tiết lộ, nhất là từ các tướng lãnh Bắc Việt như Văn tiến Dũng và Trần văn Trà. Khi họ gở được “cái lưỡi cây” ra khỏi miệng thì tha hồ mà họ ăn nói, đôi khi cũng rất thành thật và còn khôi hài nữa, ít nhất là trước quần chúng hay trong các tác phẩm được họ viết và xuất bản.

Những người cộng sản Việt Nam đang làm việc tại Hà Nội hoặc ở các tòa đại sứ, cũng giúp cho tôi tin tức. Tôi thường nói rõ các “nguồn tin” mà tôi có được. Một số “nguồn tin” muốn tôi dấu tên giùm họ, vì họ sợ gia đình của họ bị trả thù, trong số này có vài người Ba Lan, người Mỹ và người Pháp và những người khác cũng vậy: thận trọng, khiêm nhường, thích dấu tên vì an toàn nghề nghiệp ….

Về tên tuổi, dù muốn tránh bị đụng chạm theo phong tục của người Á Đông, tôi cũng cố gắng để không quá cứng ngắt. Chúng tôi nói Thiệu, Minh Dương, Phạm văn Đồng, Hồ chí Minh. Theo người Việt Nam nếu viết trọn thì tên là chữ sau cùng: Thiệu, Minh, Đồng đều là tên. Khi người ta nói Thiệu thì cũng như người ta viết Charles để nói về tướng De Gaulle, hoặc Margaret là để chỉ cho bà Margaret Thatcher.

Một khó khăn nữa cho mắt và tai của người Á Đông: ở Việt Nam Họ và Tên không có nhiều. Ở chỗ này người ta gặp ông Nguyễn cao Kỳ, tư lệnh không quân Miền Nam Việt Nam, ở chỗ khác một anh Nguyễn Kỳ, tù nhân chánh trị ở Miền Bắc . Do đó tôi chỉ dùng tên cho độc giả dễ xem. Khi một nhân vật xuất hiện lần đầu tiên tôi dùng nguyên tên họ như : Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, sau đó tôi chỉ dùng tên:Viên. Độc giả Việt Nam cũng hiểu là tôi không biết dùng 5 dấu trong tiếng Việt, nếu dùng thì chỉ làm trò cười thôi.

Một mong ước: xin độc giả của quyển sách này, dù đứng ở phía hữu hay phía tả, hay ở bất cứ phía nào khác, nếu được hỏi về thái độ, về quan điểm của ngày hôm qua hay của ngày hôm nay đối với Việt Nam, xin đừng có thái độ gần như muốn quên lãng. Trừ trường hợp khi một chiếc thuyền chở đầy người vượt biển tìm gặp được một hải cảng hay một chiếc tàu nào đó, chịu nhận cưu mang những người khách đáng khâm phục này. Ai có thể đánh giá trước một lương tâm hoàn toàn tốt ? Khi đọc lại một vài bài trong các báo bảo thủ năm 1975 chính tác giả cũng phải sửng sờ. Người ta gặp những người chống Mỹ khắp nơi.

Đối với cuộc chiến ở Tây ban Nha, Malraux đã viết là cộng sản ủng hộ người cộng sản và phát xít ủng hộ tướng phát xít Franco, nhưng những thể chế dân chủ không giúp gì cho những người dân chủ hết. Những người dân chủ ở châu Âu quên những người dân chủ ở Việt Nam. Người ta không bao giờ thấy có phát xít ở Nam Việt Nam. Người phương Tây không có gì khác hơn trong đầu họ ngoài những hình ảnh của người Âu Châu . không có hình ảnh nào về chánh phủ dân chủ nửa vời của Sài Gòn. Sự kiện Sài Gòn bị thất thủ không hẳn là một bài học mẫu nhưng vẫn là một tấm gương sáng cho mọi người!

Olivier Todd

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

4. Lời giới thiệu của nhà xuất bản và tác giả Olivier Todd

30 tháng 4 năm 1975: Một ngày lịch sử đen tối của thế kỷ 20 , một ngày không bao giờ quên được đối với tất cả đồng bào Miền Nam Việt Nam. Ngày đó “quân đội nhân dân” Miền Bắc của chánh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (bộ đội Bắc Việt) tiến vào Sai Gon. Ngày đó coi như cuộc chiến 30 năm chấm dứt, một cuộc chiến dai dẳng mà cộng sản Việt Nam theo đuổi bằng mọi giá, ….. dưới chiêu bài “đánh Pháp giành độc lập”, và “chống Mỹ cứu nước” nhằm đuổi họ ra khỏi bán đảo Đông Dương .. bất chấp sự chết chóc, đau thương thống khổ của người dân Việt, để cuối cùng dâng trọn đất nước Việt Nam cho Liên Xô, một pháo đài trung ương của vùng Đông Nam Châu Á …

Ba tháng cuối cùng của tấn bi kịch lịch sử hiện đại nầy được tác giả Olivier Todd tường thuật đầy đủ một cách sống động và độc giả sẽ nhận diện được từng nhân vật bị lôi cuốn hằng ngày theo biến cố nầy, và từng sự việc có liên quan đến tình hình chánh trị quốc gia và quốc tế.

Ông Olivier Todd, sanh năm 1929 tốt nghiệp đại học Sorbonne (Pháp) và Cambridge, Belligue (Anh) là cộng sự viên của đài BBC, của tuần báo Times, Newsweek (Mỹ), là một phóng viên của tờ Nouvel Observateur (Pháp), là tổng biên tập viên của tờ l’Express (Pháp) và là tác giả của nhiều tiểu thuyết có giá trị như: “L’année du crabe” (Năm con cua) hay “Les canards de Ca Mau” (Vịt Cà Mau) v.v.. Ông là một sử gia hiện đại, một trong rất ít nhà báo Tây Phương may mắn theo dõi sát được cuộc chiến từ Hà Nội, Saigon đến vùng bưng biền của Việt Cộng. Rất quen thuộc Việt Nam và nhiều thủ đô của các quốc gia khác ông sẽ đưa độc giả đến các chiến trường sôi động như Phước Long, Kontum, Pleiku, Hué, Đà Nẵng, từ các vùng ngoại ô đến trung tâm Saigon, Washington, Moscou và Paris. .. đến gặp tất cả những nhân vật sống, đang hoạt động lúc bấy giờ, từ Nguyễn văn Thiệu đến Gerald Ford, Kissinger, Võ nguyên Giáp, Phạm văn Đồng, Dương văn Minh v.v… , từ các chiến binh đến những nạn nhân đau khổ của chiến cuộc… Và cuối cùng đến thảm trạng ngày 30/4/75…

Do đó “Tháng Tư Nghiệt Ngã” sẽ được xem như một bản tường thuật đầy đủ và chính xác nhất về những ngày khủng khiếp dẫn tới ngày 30/4/75, ngày báo hiệu cho một màn đêm dài vô tận và còn khủng khiếp hơn nữa cho dân tộc Việt Nam.

Nhà xuất bản Robert Laffont – Paris

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 4 Apr 2024

Cứ mỗi dịp tháng 4 về mỗi năm lại nhắc đến toàn dân miền Nam dù sống trên quê nhà hoặc lưu vong nơi hải ngoại vết thương lòng trong tâm khảm không thể nào quên được ngày đau buồn cuối tháng 4, cái tang chung cho cả dân quân miền Nam.

Lẽ ra tôi sẽ đưa tiếp quyển sách này sau khi xong loạt bài của quyển Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên, nhưng vì đây là đúng vào tháng 4 và đúng là tháng tư nghiệt ngã, xin chia sẽ với bạn đọc quyển sách viết bởi Olivier Todd dịch thuật bởi Dương Hiếu Nghĩa. Xin trân trọng cám ơn tác giả và dịch giả.

Lời giới thiệu của người dịch

Đối với người dân Miền Nam Việt Nam, ngày 30/4 là một ngày dài, bi thảm! Tuy quân dân Miền Nam đã chiến đấu rất anh dũng để bảo vệ đất nước đến giờ phút cuối cùng, nhưng hầu hết Quân Dân Cán Chính Miền Nam vẫn chưa hiểu được.

Tại sao TA mất nước?

Dĩ nhiên phải có những nguyên nhân xa, nguyên nhân gần với những hậu quả chánh trị và quân sự của nó, phải có những lý do chủ quan và khách quan dẫn tới ngày 30/4/75.

Cho dù may mắn chạy thoát được nanh vuốt của bọn quỷ đỏ trước hay sau ngày bộ đội Miền Bắc dùng chiến xa T.54 của Liên Xô ủi sập hai chữ “Độc Lập” của Miền Nam Việt Nam , hay không may mắn hơn phải bị cộng sản lùa đi lao động khổ sai hằng chục năm dài đau khổ từ biên giới Trung Quốc đến mũi Cà Mau, gần như hầu hết quân dân cán chính chúng ta sau giây phút bàng hoàng ngơ ngác chiếu ngày 30/4 với sự có mặt của anh bộ đội Miền Bắc ngay tại Sài Gòn, tất cả đều đã giải đoán sai hết về câu hỏi

Tại sao chúng TA mất nước?

Có hơn “một ngàn lẻ một” câu trả lời: “Tại, Bị, Song le, Vì bởi, Lẽ ra “ … v.v. và v.v.. nhưng tôi nghĩ là chúng ta mỗi người ở mỗi vị trí khác nhau, như người mù chỉ được người ta cho sờ có mỗi một bộ phận nào đó của con voi thôi thì làm sao người đó tả lại đúng hình dáng và kích thước của con voi được?

Do đó lần lượt chúng tôi xin được giới thiệu với độc giả một vài tác phẩm mà hôm nay là quyển “Tháng Tư Nghiệt Ngã” (nguyên tác: “CRUEL AVRIL”) của tác giả người Pháp: Olivier Todd.

Tác phẩm này được xuất bản vào tháng 11 năm 1987 tại Pháp.

Tác giả là một phóng viên, một nhà báo có tên tuổi đã từng cộng tác với các tờ báo lớn ở Hoa Kỳ và Pháp, nên đã theo dõi được gần hết các biến cố chánh trị , quân sự cũng như xã hội tại hai miền Nam Bắc trong suốt cuộc chiến ở Việt Nam.

May mắn hơn ông còn có nhiều liên hệ mật thiết với các bạn đồng nghiệp Pháp, Mỹ, Liên Xô, Đông Âu, và ngay cả Việt Nam : Việt Nam Cộng Hòa, cộng sản Bác Việt và MTGPMN. Nhờ đó tác giả có cái nhìn bao quát hơn, thấy rõ hơn chúng ta mọi nguyên nhân xa gần nhất là về chánh trị và hậu quả của từng sự việc, đặc biệt theo sát được diễn biến của tình hình quân sự ở Miền Nam trong suốt thời gian 4 tháng đầu năm 1975.

Đặc biệt hơn nữa là trước 75, tuy không thuộc hẳn thành phần chống chiến tranh như Jane Fonda hay Ngô công Đức, nhưng ông có tư tưởng tự do phóng khoáng nên ít hay nhiều bị ảnh hưởng của chiến dịch tuyên truyền quy mô , dai dẳng và có hiệu quả của tập đoàn cộng sản quốc tế hỗ trợ cho cộng sản Bắc Việt , nên ông đã có một cái nhìn thiện cảm về “nền hòa bình” mà cộng sản Việt Nam đã vẽ ra và đòi hỏi để lấy đó làm chiêu bài dối gạt dư luận quốc tế về mục tiêu của cuộc chiến xâm lăng của họ, một cái nhìn khác hơn cái nhìn thực tế của chúng ta là những người trong cuộc, đã và đang ra sức chống lại làn sóng xâm lăng của cộng sản quốc tế mà CSVN chỉ là một đạo quân tiền phong. Giống như vợ chồng nữ tài tử Jane Fonda và các nhóm người “chống chiến tranh đòi hòa bình”, về sau này tác giả may mắn thấy được thế nào là “hòa bình” kiểu xã hội chủ nghĩa qua sự thật trần truồng được phơi bày rõ ràng trước cả thế giới, từ thái độ đến hành động của cộng sản đối với người dân Miền Nam Việt Nam trong hơn một thập niên sau khi Sai Gon thất thủ năm 1975, ông chợt nhận ra sự thật phũ phàng, tuy có hơi muộn.

Từ đó ông có một lăng kính khác hẳn với quyển “Cruel Avril” mà chúng tôi tạm dịch là “Tháng Tư Ngiệt Ngã” xuất bản năm 1987, ông thấy rõ nguyên nhân sâu xa và thầm kín của cuộc chiến xăm lăng bạo tàn do cộng sản tạo dựng ra ở Việt Nam, thấy được hậu trường chánh trị của cả phe cộng sản từ Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Miền Bắc đến công cụ tay sai của họ là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và cái gọi là Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Nhờ đó ông cũng đã thấy được nổ lực chống cộng sản và chánh nghĩa sáng ngời của quân dân cán chính Miền Nam …. nên quyển sách này rất có giá trị về mặt lịch sử, một lịch sử suốt chiều dài của hậu bán thế kỷ 20 mà cộng sản Bắc Việt đang cố ra sức bẻ cong, viết theo chìu hướng “yêu nước” và “anh hùng dân tộc” của họ, hầu che đậy kỹ và chạy tội với hậu thế hành động bán nước hại dân, làm tay sai cho đệ tam quốc tế cộng sản . …..

Chúng tôi xin chân thành giới thiệu tác phẩm này với các bạn “yêu nước mà không yêu xã hội chủ nghĩa” ở hải ngoại cũng như ở trong nước, nhất là đồng bào ở Miền Nam Việt Nam của chúng ta, để trả lờì cho hằng ngàn thắc mắc có khi đến giờ này vẫn không hiểu “Tại sao ta mất nước”. Văn của tác giả Olivier Todd là lối văn phóng sự của một nhà báo và đôi khi của một nhà bình luận chánh trị, nên có nhiều đoạn chúng tôi phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới nắm được ý chính của tác giả. Dù vậy, chúng tôi cũng cố gắng với số vốn nghèo nàn về Pháp văn của mình trong công tác chuyển ngữ, vừa giúp độc giả thấy được và nắm được từng sự việc, sự kiện lịch sử để giải tỏa thắc mắc của mình, nếu có, vừa ghi lại những sự kiện chánh trị cũng như quân sự có liên quan đến lich sử trước và trong ngày mất Miền Nam Việt Nam 30/4/1975, cốt không để cho cộng sản Việt Nam bóp méo được lịch sử theo ý đồ bất chính đến ma giáo của họ.

Chúng tôi xin chân thành đón nhận tất cả những ý kiến xây dựng và sửa chữa của quý độc giả xa gần để bản dịch ngày càng chính xác hơn, trước khi xuất bản.

Người dịch: Dương hiếu Nghĩa

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

14. Chương Mười Ba
Quốc Hội Hoa Kỳ Bàn Cãi Về Ngân Khoản,
Trong Lúc Người Dân Miền Nam Lo Chôn Con Mình

Ngày hôm qua 16 tháng 4, ngỏ lời cùng Hiệp Hội các Chủ Báo Hoa Kỳ với tư cách là vị khách danh dự, Tổng Thống Gerald Ford tuyên bố là “sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam là không sao tránh khỏi được” Ông đã xác nhận:
“Theo các điều khoản của Hiệp Định được ký kết tại Paris ngày 27 tháng giêng 1973, trong khuôn khổ một sự thỏa thuận với Miền Nam Việt Nam , Hoa Kỳ đã cam kết cung cấp chiến cụ thay thế và ngân khoản viện trợ kinh tế cho họ. Tôi nghĩ rằng Liên Xô và Cộng Hòa Nhân DânTrung Hoa cũng đã có những cam kết tương tự như thế đối với Miền Bắc Việt Nam. Những cam kết nầy hình như đã được thực hiện. Điều bất hạnh là về phần cam kết của chúng ta, Hoa Kỳ đã không thực hiện được những lời hứa của mình. Nếu chúng ta thực hiện đúng lời hứa thì Miền Nam Việt Nam không gặp cơn khủng khoảng quá bi thảm như hôm nay. Tôi nghĩ rằng trong trường hợp đặc biệt đó, chúng ta không thể trách Liên Xô hay Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc được. Nếu chúng ta giữ đúng lời cam kết với đồng minh của chúng ta thì thảm trạng nầy tôi tưởng là có thể tránh khỏi được.”
Từ hai ngày nay, ông Kissinger và ông Schesinger, tổng trưởng ngoại giao và quốc phòng đã cùng với tướng Weyand, tham mưu trưởng quân đội Hoa Kỳ sau chuyến đi thanh sát Việt Nam trở về, đã phải tranh đấu “một trận cuối cùng về ngân khoản viện trợ” với Quốc Hội . Họ đã nhấn mạnh đến sự cần thiết để chấp thuận 722 triệu mỹ kim mà Tổng Thống đã xin, như là một “ngân khoản tối thiểu rất cần thiết cho cuộc phòng thủ Miền Nam Việt Nam “. trong đó 326 triệu để tái trang bị cho 4 sư đoàn , để tập họp các đơn vị lại và tái trang bị cho họ, phần còn lại sẽ cung cấp cơ phận thay thế và dụng cụ y khoa và thuốc men để có thể “hổ trợ được cho 60 ngày tác chiến mãnh liệt”
Ông Kissinger đã nói tới trách nhiệm tinh thần tuyệt đối là phải nâng đở một đồng minh đang trong cơn nguy kịch . Vừa làm giảm nhẹ những khuyến cáo từ trước của ông, Kissinger vừa nhấn mạnh là nếu Quốc Hội từ chối không bỏ phiếu thuận cho ngân khoản viện trợ đòi hỏi thì “niềm tin và danh dự của Hoa Kỳ dù không bị sụp đổ thì cũng sẽ bị giảm đi”. “Nếu hai bên muốn tiến tới một sự thương thuyết với nhau thì ít nhất tình hình quân sự phải được ổn định, và nếu không có được sự ổn định tiên quyết đó , thì chỉ có một khả năng thương lượng duy nhất mà thôi, đó là sự thương lượng để đầu hàng!”
Sau khi họp kín, tiểu ban ngoại giao Thượng Viện đã thỏa thuận trên nguyên tắc “chấp thuận một ngân khoản khẩn cấp” là 200 triệu mỹ kim dành để di tản trong vòng trật tự những công dân Hoa Kỳ ở Sài Gòn và “vài người Việt Nam ” có thể bị đe dọa đặc biệt đến tánh mạng.
Trong lúc các cuộc bàn cãi đó tiếp tục một cách tế nhị ở Hoa Thạnh Đốn , thì trận chiến vẫn tiếp diễn ở chung quanh Xuân Lộc, và hiện đang mở rộng ra trên 100 cây số về hướng Đông và hướng Nam của thủ đô Sài Gòn . Các khu trục phóng pháo cơ thuộc căn cứ Biên Hòa cứ bay lên và đáp xuống theo nhịp độ từng 2 chiếc một, cách nhau mỗi 3 phút một. Cứ phải có 3 phi công ứng trực để tuần tự thay phiên nhau trong 6 giờ cho mỗi chiếc khu trục.
Phía cộng sản họ có một lực lượng đại bác phòng không rất hùng hậu cơ động bằng xe kéo. Các phi công phải nhận lấy nhiều sự nguy hiểm không lường được để yểm trợ cho các đơn vị bạn dưới đất, như trong khu vực Bình Giã (cách Sài Gòn 120 cây số về phía Đông Nam) binh sĩ đang đánh xáp lá cà với địch. Chỉ trong vòng 2 ngày pháo binh Bắc Việt đã rót 8000 quả đại bác xuống các vị trí của sư đoàn 18 bộ binh. Liên lạc truyền tin với Bộ chỉ huy của tướng Đảo, người có trách nhiệm mặt trận Xuân Lộc bị mất đi và sau đó được thiết lập lại được . Binh sĩ của ông bám lấy trận địa, chống cự hết sức mãnh liệt gần như điên cuồng, và không để mất một tấc đất nào mặc cho lửa đạn như bão táp liên tục được trút xuống vị trí của họ.
Sáng nay, tôi rời khỏi thủ đô và đã qua cầu Bình Lợi với một tóan 10 vị bác sỉ, do một người bạn của tôi hướng dẫn, bác sĩ Triễn. Ông bác sĩ 60 tuổi nầy là một người công giáo thuần thành, đã có 11 đứa con, có một đức tin và một tinh thần từ thiện không hề suy giảm, người ta thường gọi ông là “bác sĩ của người nghèo” vì ông từ chối không nhận một thù lao nào từ những người nghèo khổ mà ông thường chăm sóc mỗi ngày .
Qua cầu rồi chúng tôi đi theo xa lộ Đại Hàn, và đi khoảng 10 cây số thì đến một bìa làng Tam Bình, một đồn điền cao su chừng 30 mẫu có bóng râm, nơi đó có trên 20 ngàn dân lánh nạn đang ở đó: một đám người nghèo, khổ, ốm gầy, áo quần tơi tả, đi chân đất, toàn là đàn bà, trẻ con và người già. Hầu hết đều không có gì cả, có khi nằm ngay dưới đất, có người thì che tạm lều bằng một vài mảnh ván thùng, hay giấy bồi. Họ đến đây từ 10 tỉnh khác nhau, có nhiều người từ Quãng Trị và Huế, phải đi bộ trên 600 cây số mới đến được bờ biển rồi chen chúc nhau trên những chiếc thuyền đưa họ tới bến tàu ở Sài Gòn rồi từ đó nhờ những anh em công giáo đưa họ đến đồn điền cao su nầy, nơi đây ít nhất họ cũng tránh được hỏa tiễn và đạn pháo binh của Bắc Việt được trong vài ngày.
Các bác sĩ sấp xếp chỗ làm việc ở ngay bìa đồn điền, trống trải, để săn sóc cho các bệnh nhân. Hơn 800 người bệnh (rét rừng, sưng phổi, .. .) ngồi bẹp dưới đất yên lặng chờ đến phiên mình được khám. Trẻ con thì mình đầy ghẻ, mắt thì sưng húp lên vì nhặm, vì toét, hay run lên cầm cập vì rét rừng. Có nhiều bà bị thương và không được thay băng trong 3 ngày nay, nên vết thương hôi thúi không chịu được nhưng không nghe người nào than vãn một câu.
Một vị linh mục mặc áo chùng, vậm vỡ, đầu húi ngắn tới đây bằng mô tô. Vừa xuống xe là cả đám đông vây quanh ông, chào ông và lễ ông nữa. Đó là cha Joachim Châu, ở ngay họ đạo gần nhà thờ Đức Mẹ Fatima. Ông đi dài trên đường dọc theo các hàng cao su , và tôi đi theo ông . Ông nói với tôi:
– “Tình hình có vẻ khả quan hơn đôi chút rồi. Binh sĩ thuộc sư đoàn 5 bộ binh đã cho tôi 200 tấm lều cá nhân, và cho tôi mượn 3 xe bồn chứa nước.. Tôi lấy được của anh em thiết giáp 100 kí lô xà phòng và 200 cái thau nhựa của Mỹ. Phần các bác sĩ thì mang theo 500 kí thuốc men, nhưng chắc không đủ đâu, Ở đây đã có nhiều trường hỡp bệnh thiên thời và chúng tôi hết thuốc chủng ngừa rồi. Từ khi Nha Trang bị thất thủ, viện Pasteur ở thành phố đó không cung cấp được gì cho mình hết, và viện Pasteur ở Sài Gòn thì không thể cung ứng nổi nhu cầu đòi hỏi. Mỗi đêm, đã có từ 10 đến 12 đứa trẻ chết. Riêng tôi thì đang chờ đoàn xe chở gạo đến: ba chiếc ghe chài loại 10 tấn, có thể đủ để nuôi những người khốn khổ nầy trong 2 ngày.”
Ngay sát bên mấy lều đầu, khoảng 20 ông già cởi trần trùng trục lòi xương ra, đang dùng cuốc cặm cụi đào đất. Trước mấy hố vừa đào đó có hai hàng dài thây trẻ nít được quấn chiếu hay bọc ny lông trong suốt , đó là 13 đứa vừa chết đêm qua.
Ngồi trước thây của con mình, mấy bà mẹ đờ đẫn và im lặng không còn sức đâu mà khóc được nữa. Tôi đứng lặng người tại chỗ, không sao có được một cử động nào. Nói gì bây giờ đây? và làm gì bây giờ đây? Phải có một sức bật nào đó của cả thế giới để bốc tất cả những người nầy ra khỏi cảnh nghèo đói, sợ sệt và chết chóc ! Một ông già mặt mày nhăn nheo tiến đến gần tôi và nức nở nói với tôi:
-“Ông là một nhà báo Pháp phải không ? Ông hãy viết trên báo của ông là hãy giúp chúng tôi cứu những đứa trẻ nầy, chúng nó vô tội mà. Phải cho chùng nó một cơ hội để sống sót.. Còn chúng tôi hả, chúng tôi có thể chết, chúng tôi đã chịu quá nhiều thử thách rồi, quá nhiều điều khủng khiếp rồi, quá nhiều tang tóc rồi, nhưng chúng nó, chúng nó chỉ mới bắt đầu thấy ánh sáng, chúng nó còn quá yếu đuối. . . .Chúng tôi không còn sữa cho chúng nó nữa. Hằng ngày chúng tôi chỉ có thể cho chúng nó mỗi một chén cơm . Rồi đây trong vài ngày nữa, khi những cơn bão đầu tiên của mùa mưa ập xuống thì chúng sẽ nằm dưới bùn.Muỗi mòng sẽ hoành hành và con số tử vong sẽ tăng lên gấp 4 lần ! Tôi van ông, ông ơi, ông hãy làm một cái gì đi!”
Tôi lấp bấp một vài lời hứa. Cổ họng tôi co thắt lại, và tôi không có can đảm nhìn thẳng vào cặp mắt trang nghiêm chững chạc nhưng đầy vẻ thất vọng của ông già nầy.
Nếu chiến trận đến gần chỗ nầy, nếu đạn pháo hay rốc kết lại bắt đầu rơi xuống đây, xuống cái trại tạm coi là còn có cơ may cuối cùng nầy, thì những người khốn khổ kia sẽ đi đâu ? trong lúc họ gần như không còn sức để lê bước nữa ?Linh mục Joachim Châu đã có dựng tạm một bàn thờ trên một cái bàn khập khiễng, đặt bộ đồ làm lễ bằng bạc lên tấm trải vá víu, rồi mặc lại bộ đồ giáo sĩ của ông, xong đâu đó ông bắt đầu làm lễ trên một vùng đất rộng đầy cỏ khô cằn. Rất thong thả và trong vòng trật tự, hàng ngàn tín đồ chạy loạn quỳ xuống thành một vòng chung quanh bàn thờ và lớn tiếng cùng cầu nguyện. Tất cả cùng nắm chặt tay nhau họ làm thành một sợi giây thiêng tôn kính, gắn chặt với nhau bằng sự nghèo khó khổ sở mà họ đang chia sớt với nhau. Từ những tín đồ công giáo rách tả tơi nầy, kết giây thân ái chặt chẽ với nhau trên mảnh đất khô cằn sỏi cát nầy, tôi thấy toát ra một cảm tưởng thật lạ kỳ đầy phẩm cách, đầy ước vọng làm cho người ta phải kính nể. Bị người đời và cả Chánh Phủ bỏ rơi, lạc loài lánh nạn trong một mảnh đất nhỏ bé đầy lùm bụi bị lãng quên, không ai biết tới nầy, xa đường, xa lộ, vắng vẻ không ai lui tới nầy, trong một giai đoạn chạy loạn mà không ai còn một món gì trong tay, họ chỉ còn biết giao số phận mình cho Chúa một cách mù quáng. Nhưng Chúa có còn nghe họ hay không đây?

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

(Vietnam, Qu’As Tu Fait De Tes Fils?)

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

13. Chương Mười Hai

Với Người Pháp Lớn Tuổi Ở Sài Gòn

Thứ Tư, ngày 16 tháng Tư

Bất chấp tử thần có thể ập tới bất cứ lúc nào, nhất là hành động do đức tin, từ nóc cao của nhà thờ Sai Gòn vọng lên những tiếng hát trầm bổng bằng tiếng la tinh. Bàn thờ Chúa chưng đầy hoa và được trải một tấm lụa sáng rực rỡ. Hàng ngàn tín đồ công giáo đang dự lễ tấn phong của 25 linh mục đại diện cho các địa phận trong nước.
Khi buổi lễ chấm dứt, tất cả tín đồ hiện diện nắm tay nhau chúc bình an và cầu nguyện cho tất cả các Giám mục, các Linh mục và các tín hữu tự nguyện ở lại nhiệm sở của họ trên lãnh thổ bị chiếm để chia xẻ thử thách của mọi anh chị em cả lương lẫn giáo.
Sau đó cả 25 vị linh mục vừa được tấn phong được cho mặc thêm một chiếc áo choàng trắng có thêu một chữ thập bằng sa ten đỏ, nắm tay nhau bước ra ngoài, người nào cũng có thân nhân và bè bạn mặc lễ phục tươm tất đi kèm. Đám đông thân bằng quyến thuộc nầy từ hàng trăm giáo xứ đến đây cùng nhau qui tụ dưới chân tượng đài Đức Mẹ Đồng Trinh nổi bật cao lên giữa công viên Nhà Thờ.Các linh mục với áo dòng đen và nón đen, các tu sĩ với áo chùng vải thô, các bà nữ tu sĩ, các anh em hướng đạo sinh, các nông dân tay lấm chân bùn nhưng vẫn mặc áo dài có mang huy hiệu Trái Tim của Chúa, các cô thiếu nữ với áo dài nhẹ nhàng, các bô lão với khăn đóng áo dài, các binh sĩ với quân phục rằn ri, chào nhau, ôm nhau kêu gọi nhau và kể cho nhau nghe về tin tức của những người bị cộng sản bắt đi làm tù binh hay những người bị coi là thất lạc trong cơn lốc loạn ly nầy.
Họ ở đó hàng mấy giờ, cười đùa chuyện trò, chiếm hết các lề đường, làm tắt nghẽn lưu thông và sau đó, vào khoảng 12 giờ trưa, theo một dấu hiệu của các linh mục, đám đông kỳ lạ và bất thường nầy, kể cả các chánh trị gia và thương gia, xem chừng như đã sung sướng và hảnh diện được biểu lộ đức tin của mình ngay giữa trung tâm của thành phố kinh doanh nầy, mới chịu giải tán hết trong vòng vài phút, mạnh ai nấy chạy về xe của mình , những chiếc xe vận tải hay xe buýt đã đưa họ tận đây, từ các đồng ruộng và làng mạc của họ. Mỗi xe khi ra khỏi bãi đậu đều được một linh mục cởi mô tô hướng dẫn mở đường. Và nửa giờ sau đó là tất cả không còn một người công giáo nào ở đó nữa.
Trung tâm thành phố đã trở lại với những cảnh kẹt xe, xe xì cút tơ, xe tắc xi, và các xe bán hàng dạo. Sự ồn ào của các sự vận động và mậu dịch cũng đã trở lại trên đường Tự Do (Catinat) dài dài từ nhà thờ đến bờ sông . Các chuyên viên về tin tức cũng bắt đầu vui vẽ phao tin, không cần biết là đúng hay thất thiệt. Chuyện khó nhất là phải biết lọc tin đó.
– Một kho đạn ở Biên Hòa đã bị nổ, làm rung chuyễn cả thành phố: tin nầy đúng.
– Một bản tin đánh đi của UPI xác nhận đó là do sự đột kích của đặc công Việt Cộng. An ninh quân đội thì thản nhiên quả quyết đó chỉ là một tai nạn rủi ro: một tàn thuốc dụi tắt không kỹ, bén lửa qua cỏ khô gây lên một đám cháy làm nổ một kho đạn phế thải.
– Ông Thiệu đã nhờ công ty Balair chở 16 tấn vàng thỏi, số vàng dự trữ của Ngân Hàng Quốc Gia sang Thụy Sỹ. Ông Lý long Thân, một người Tầu giàu có, cố vấn tài chánh của Tổng Thống V NCH đã bán cho một tổ hợp Nhật bản một khối đồng của Chánh Phủ trị giá 300 triệu mỹ kim : tin thất thiệt. Vàng vẫn còn trong hầm của Ngân Hàng (Giám Đốc Ngân Hàng từ chối không ký lệnh xuất kho), và không một phi cơ thương mại nào có thể chở đi 16 tấn vàng một lần một mà không vở sàn kho chứa hàng của phi cơ.
– Ở Việt Nam vẫn còn 2 tỷ mỹ kim “sắt vụn” do quân đội Hoa Kỳ bỏ lại lúc họ rời khỏi Việt Nam. Chánh Phủ Sài Gòn đang thương lưộng với một công ty lớn ở Hoa Kỳ định mua với giá 1 tỷ mỹ kim. Chuyện mua bán nầy chưa ngã ngũ.
– Những người Mỹ ở khách sạn Brinks, gần trụ sở Quốc Hội đã rút đi êm trong đêm tối trên 3 xe vận tải được cảnh sát Miền Nam họ tống : tin nầy rất khó kiểm. Không ai có quyền di chuyển vì có lệnh thiết quân luật từ 9 giờ tối đến 6 giờ sáng. Một điều chắc chắn là: tòa đại sứ Hoa Kỳ đã báo cho tất cả các kiều dân Mỹ trong lãnh vực tư và những người làm việc cho Phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ (D.A.O.) có trách nhiệm về tiếp vận quân sự , trừ những người làm việc cho ngành Y dược và tiếp tế lương thực, là phải sẳn sàng rời Việt Nam trong vòng 30 ngày sắp tới.
– Tất cả những chuyến bay quốc tế đều ngưng vì biện pháp an ninh : Tin không đúng, chỉ có các phi công thuộc hãng Cathay Pacific đang đình công. Họ đòi hỏi phải có một số tiền thưởng về nguy hiểm khi phải đáp xuống Sài Gòn . Các hãng hàng không khác đều bảo đảm giữ nguyên các chuyến bay.
Tiếng đại bác nghe cách thủ đô chừng vài chục cây số. Sự uy hiếp từ phía cộng sản Bắc Việt mỗi ngày mỗi đến gần hơn, nhưng khối lượng lớn dân Sài Gòn cố gắng giữ bình tĩnh.
Các viên chức hành chánh làm việc bình thường. Các chợ búa đều được tiếp tế đều đặn . Đồng mỹ kim còn đổi được 1000 đồng bạc. Người dân vẫn còn đi lại với những xe ba bánh nặng trĩu, xe tắc xi vẫn vét túi hành khách, xe kéo xe lôi lại thấy tái xuất hiện.
Ở Chợ Lớn, thương buôn không thấy hốt hoảng. Dự kiến cho một cuộc tấn công có thể bị cúp điện, họ đã tìm mua hết nến để dự trữ, để có thể bán lại với giá cao gấp ba lần. Dự trù trường hợp cộng sản vào được thủ đô, họ cũng đã vét mua hết tất cả vải đỏ. Họ biết rằng ở những thành phố bị cộng sản chiếm ở Miền Trung, dân chúng được lệnh phải treo cờ Hà Nội và M TGP MN trước nhà. Họ đã tính toán rất kỹ. Bốn triệu lá cờ cộng sản phải cung cấp cho người dân trong vòng 48 tiếng đồng hồ : ba tỷ đồng bạc lời, một áp phe không thể bỏ qua được!
Những người Pháp cố cựu gồm các thầu khoán, kỹ thuật gia, giám đốc xí nghiệp, các nhà trồng tỉa… gặp lại nhau ở tiệm Impérial, của Bonelli (50 năm ở Đông Dương.) hay ở quán cà phê mát mẻ của “papa” Charbonnier, ở cảng, một cựu tỉnh trưởng chuyển sang nghề bán cà phê, và dưới bức tranh của ông lãnh sự đầu tiên Dominique, một người dân thuộc đảo Corse vô cùng vui vẻ, đã phục vụ khách từ 27 năm món súp thập cẩm tôm cá biển ngon nhất Sài Gòn và rượu chát quí hiếm Cinarca .
Người ta thấy có những anh cựu quân nhân của đội quân viễn chinh, những người đã sống sót qua bao nhiêu biến cố. Họ đến từ những tỉnh xa xôi của vùng Đồng bằng, hay từ những đồn điền nho nhỏ ở ven biên của chiến trường. Rất mạnh khỏe, rạm nắng, nhưng kín đáo, họ biết tất cả mà nói thật ít và giữ im lặng khi có người lạ xuất hiện.
Tôi đã gặp được ở đây nhiều bạn cũ :
Moulin, một cựu sĩ quan Dù. Chúng tôi đã cùng được huấn luyện về biệt kích, ở Ấn Độ năm 1945. Đồn điền của anh bị Việt Cộng chiếm.
Nasica, con của một anh hùng kháng chiến bị Đức xử bắn năm 1944, có một tượng kỷ niệm trước khi vào thị xã d’Arnay-le-duc. Anh là một cựu kháng chiến quân người Ý, kỹ sư nhiệt lượng, và chuyên viên đóng tàu chuyên chở đường sông. Xí nghiệp cùa anh còn chưa gặp khó khăn nào.
Roger Routin, một binh sĩ gốc Tunisie, râu xồm nhưng rất có tình huynh đệ. Anh là một phi công dân sự giỏi nhất của Miền Nam. Với chiếc phi cơ nhỏ của anh, anh đã lái đi “nhặt” hết người Pháp ở Dalat và Nha Trang dưới lằn đạn của cộng sản.
Le Gall, chín con, vợ là Lucienne. Mặc dầu đông con nhưng anh đã xây cất một viện mồ côi để nuôi trẻ và mang từ mặt trận về đây được hơn hai mươi đứa.
Tino Agopian, một người trên sáu mươi tuổi người nhỏ thó rất tao nhã, luôn luôn ăn mặc rất kẻng, kỵ sĩ lão thành và đáng tin cậy của các trường đua.
Cũng cần phải nói qua về những người truyền giáo và các mục sư, đuối sức nhưng không mệt mỏi, đã biến những viện tế bần thành những trung tâm xã hội . Tặng phẩm cứ dồn dập được gởi tới và xe nầy đến xe khác đầy thuốc men được chở đến các trại dân lánh nạn.
Câu lạc bộ thể thao, với hồ tắm nổi, đầy đủ tiêu chuẩn tranh tài quốc tế, với những dàn hoa vạn lý, với những sân tơ nít, và nhà thể thao đa dụng, những phòng đánh kiếm và sân tập võ thuật và một vòng đua chạy bộ . . . . đó là ốc đảo cuối cùng của “xã hội” người Pháp ở Sài Gòn. Được một hàng me to và hàng rào xanh bao quanh, đây là một câu lạc bộ hạng sang và lịch sự, ở đó những máy điều hòa không khí của Nhật chưa thể thay thế được các cây quạt trần già nua nhưng còn rất êm lặng và đủ tiện nghi. . Người ta còn tìm thấy phía sau các hàng hiên trong những căn phòng rộng rãi mát mẻ với những bàn ghế toàn bằng gổ nặng, những ghế dựa rộng sâu, những ông chủ ngân hàng bình thản, những nhà ngoại giao lạnh lùng, những giám đốc đồn điền, những tay vô địch bài tây (bridge), những nhà sản xuất bia da đỏ ao như gạch, một vài anh tóc dài, quần ống voi và những cô gái dịu dàng tươi trẻ. . . . .
Nhờ đi thăm người nầy đến người kia, từ một người bạn thân đến một sự giao thiệp vững chắc, tôi thu lượm được một vài tin tức đã được kiểm chứng:
Đức Giám Mục Seitz ở Kontum, 40 năm phục vụ ở Việt Nam, vẫn còn, không hề hấn gì.. Bá tước del Fante, người có biệt danh là “vua ở Cao Nguyên”, vẫn còn sống. Con người quí tộc Ý nầy, người nói được tất cả thổ ngữ của đồng bàoThượng, vừa là bạn vừa là cố vấn của tất cả các trưởng bộ lạc.. là một nhân vật rất lạ thường. Cứng rắn trong công việc nhưng khoan hồng độ lượng với mọi người làm, ông có một sức khỏe sắt đá và một tinh thần lạc quan không gì lay chuyễn nổi, và không có gì làm cho ông ta cảm xúc hết.
Ông M. Mercurio, niên trưởng của các nhà trồng tỉa, chết ở Ban mê Thuột vì một trái bom của không quân Miền Nam đã làm sập nhà ông.
Hơn 30 người Pháp trong đó có 12 giáo viên còn ở lại Dalat, vì thiếu phương tiện di tản, nhưng họ vẫn còn khỏa mạnh.
Những nhà trồng trà và cà phê (10.000 mẫu và khoàn 100 nhà khai thác đặc biệt) trãi dài giữa Blao, Djiring và Ban mê Thuột, bị bắt hay đã chạy khỏi , đều coi như bị phá sản hết. Mùa màng khá lắm, nhưng vì đường bị cắt đừt, nên tất cả đều bị kẹt lại và hư thối hết tại đồn điền. Các nhà máy ở Sài Gòn và Chợ Lớn chuyên sấy trà đen, trà xanh , và rang cà phê đều phải đóng cửa vì không có hàng dự trử. Thua lổ tính ra đến hàng trăm triệu đồng.
Bỏ qua các nhộn nhịp và ồn ào của đường Tự Do, trở lại bệnh viện Grall ở nửa đường giữa nhà thờ Đức Bà và vườn bách thảo. Với những dãy nhà xây sáng sủa có hàng hiên chung quanh và nằm dưới tàng cây to rợp bóng mát, cơ sở nầy vừa là một nơi trú ẩn vừa là một học đường. Được thành lập từ năm 1860, bệnh viện 400 giùờng nói trên trong những tuần lễ sau cùng nầy đã có con số bệnh nhân tăng lên gấp 4 lần. Toán quân y của bác sỉ tổng quát Mazeaud đã đến nhập vào với 20 bác sĩ quân y người Pháp ở đây. Ngay sau khi thảm trạng ở miền Trung bộ Việt Nam bắt đầu có tầm mức nguy kịch , thì vị cựu Giám đốc bệnh viện Grall (4 thời phục vụ ở Đông Dương, chuyên viên về các bệnh của vùng nhiệt đới) đã tình nguyện sang đây với một bác sĩ giải phẩu, một bác sĩ khoa tổng quát và một bác sĩ nhi khoa. Mười bác sĩ dân sự đã tình nguyện đến tăng cường toán quân y của ông. Và toán y sĩ nầy đi từ trại lánh nạn nầy đến trại lánh nạn khác, từ Cân Thơ đến Vũng Tàu hay ra tận đảo Phú Quốc để chăm sóc cho các thương binh và các thường dân bị thương vì chiến cuộc.

Chung quanh Sài Gòn hệ thống an ninh từ từ siết chặt lại. Các đơn vị cảnh sát đặc biệt đều mang áo giáp và đội nón sắt, trang bị hùng hậu đã đi tuần khắp các vùng ngoại ô và được lệnh bắn bất cứ người tình nghi nào mà không cần phải gọi hỏi trước.

° ° °

Chiều nay tôi nhận một lá thơ từ bên Mỹ rất đáng được chú ý. Lá thư của một người bạn của tôi, anh Dick Benham 32 tuổi, cựu phi công trực thăng võ trang thuộc lực lượng Tuần Giang (đơn vị giang thuyền). Hai lần bị thương ở Việt Nam, chuyển sang ngành giáo dục sau khi về Mỹ lấy được bằng tiến sĩ về chánh trị kinh doanh. Và đây là nội dung bức thơ:

” Anh Pierre thân mến, 1

“Tôi đã gọi điện thoại tới Paris, vợ anh đã cho tôi biết là anh đã đi Việt Nam . Bà ta cho tôi số hộp thơ của anh ở Sài Gòn (hộp thơ số 1303). Tôi hy vọng rằng mặc dầu có một “không khí hỗn loạn tại đó, nhưng bức thư của tôi cũng có cơ may đến tay anh được . Có rất nhiều người bạn Việt Nam viết thư hỏi tôi cái gì đang xảy ra ở Hoa Kỳ ? Họ không hiểu “được thái độ chống đối của Quốc Hội và tính thụ động của người đứng đầu Nhà Trắng.” Có rất nhiều lý do để Hoa Kỳ bỏ rơi nước Việt Nam, nhưng tất cả đều dính với câu “chuyện tai tiếng Watergate và chuyện bầu cử lại của dân biểu Hạ viện và 1/3 nghị sĩ “trong tháng 11 / 1974 nầy. Cuộc vận động bầu cử vào mùa thu 1974 được đánh dấu bằng một sự chán nản chung của dư luận quần chúng. Đến độ mà tất cả các kỷ lục về “không đi bầu” đều bị phá hết ! Năm chục phần trăm cử tri Mỹ đã không đi bầu. Đảng Dân Chủ đã đạt được một thắng lợi hoàn toàn áp đảo. Một vài tuần sau đó, ông Jay Lovestone từ lâu là cánh tay mặt của ông George Meany trong tổ chức Công Đoàn Lao Động, đã ước tính trong một cuộc nói chuyện riêng tư rằng trong số những người mới được bầu vào Quốc Hội đã có đến ít nhất 80 là những người còn ướt sũng đằng sau “xe” 2, có nghĩa là những trẻ con thất học 3 và vô trách nhiệm. Vả lại đó chỉ là một đánh giá còn quá thấp, bởi vì 3 tháng sau đó ( tháng 3 / 1975) trong lúc Đông Dương đang trong cơn khủng khoảng, người ta ước lượng con số của những tay “ngu dốt mới” đó đã vào được Hạ Viện Hoa Kỳ 140 đứa 4. Nhất là đặc điểm của bọn “ngu đần” nầy được thể hiện qua thái độ của con đà điểu, không cần suy nghĩ vẫn khăng khăng nhất quyết từ chối không muốn quan tâm đến tình hình của vùng Đông Nam Á Châu. Tự mãn là đã “thuộc một xã hội giàu có, bọn chúng không muốn nhìn ra ngoài những bức tường của chúng đang sống. “Chúng tôi không muốn nghe nói về Việt Nam nữa !” . Đó là câu mà “bọn chúng đã nhắc đi nhắc lại đối với những tiếng vọng từ bên ngoài. Đến khi mà phải gởi một phái đoàn dân cử đi sang Việt Nam để điều tra tình hình tại chỗ, thì người ta đã chọn những con “đà điểu” đẹp nhất. Thí dụ như James Mac Closky (đại diện cho “California), người đã từng khẳng định năm 1967 rằng không thể thắng Việt Cộng nổi; như bà Bella Abzug, một người tranh đấu cho phụ nữ và cho hòa bình đã từng nổi tiếng trong cuộc đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ. Cuộc điều tra của phái đoàn 8 người dân cử đó chỉ được tiến hành vỏn vẹn có 2 ngày và chỉ thừa nhận những thành kiến và định kiến mà họ đã có sẵn từ lâu rồi. Thái độ của những nhà lập pháp đó thật ra chỉ đưa đến một chiến dịch đầu độc rộng lớn từng được các chương trình truyền hình lớn và của báo chí như tờ New York Times, tờ Washington Post, những tập san như New York Review of books 5 (không phải đơn thuần là những tập san văn hóa mà là những phương tiện tranh đấu của những người trí thức như Mary Mac Carthy và 500 người khác với “ý nghĩ “tốt ” cùng loại như thế. Những người to đầu cầm chịch cho trò chơi, cho chiến dịch nầy “chỉ là một nhóm hạt nhân bé nhỏ, nhưng hành động của họ được sức mạnh của truyền thông báo chí Mỹ nhân lên. Một vài nhà báo mà chúng tôi cho họ một biệt danh là “kẻ cả” như James Reston, Antony Lewis, Kraft hay Broder, mà những bài viết của họ được “nghiệp đoàn hóa” (có nghĩa là được phổ biến cùng lúc do một số lượng báo chí địa phương ở các tiểu bang và như thế là có một số lớn độc giã) đã làm mất uy tín của VNCH và những nhà lãnh đạo của họ một cách có hệ thống. Chính những người nầy đã hạ ông Nixon và những người dân cử mới nầy là hình bóng của báo chí đã tạo dựng cho họ lên. Tôi tin chắc là Quốc Hội không chấp thuận ngân khoản viện trợ “

——————————–

1Trong thư bạn của tác giả toàn dùng danh từ “mầy” và “tao” vì họ là bạn chí thân, nhưng trong bản dịch chúng tôi phải dịch là “anh” và “tôi”.
2Nguyên tác bằng tiếng Mỹ “who are still wet behind the cars” (có vẽ khinh bỉ).
3Nguyên tác của tác giả: des jeunes enfants ignares.
4Nguyên tác của tác giả: “nouveaux imbéciles”. Lá thư dùng đến 2 lần danh từ “imbéciles”.
5Về tên của các tờ báo, chúng tôi không muốn dịch ra tiếng Việt, để cho các độc giả nhận diện được rõ ràng những tờ báo Mỹ đó.

Thuốc Phiện: “Trai Tráng Sĩ Cũng…”

Tuệ Chương
Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

“Trai tráng sĩ cũng so vai rụt cổ,
Gái thuyền quyên cũng mặt bủng da chì.”

Thuốc phiện, hồi xưa chỉ có một thứ, màu đen như cao dán, người nghiện lấy một chút, nướng trên “ngọn đèn dầu lạc”, rồi bỏ vào tẩu hút, đại khái như thế, tôi không rành vì tôi chưa hút thuốc phiện bao giờ.

Hút thuốc phiện thú lắm, nên trước năm 1945, đám văn nhà veo ngoài Bắc, diễn dịch mấy tiếng “phiện thú lắm” – nghĩa là hút thuốc phiện thú lắm – thành mấy chữ “phi yến thu lâm”, con chim yến bay trong rừng thu. Tôi nói cho mẹ tôi nghe chuyện nầy, mẹ tôi bảo: Bày đặt! (1)

Hút thuốc phiện gọi là “đi mây về gió”. Mẹ tôi thì thường mai mỉa “trâu bò đút vô ống”. Trâu bò, cũng như ruộng vườn, đem bán hết, đút vô ống, tức là đút vô ống tẩu. Người đã mắc vào vòng nghiện hút thì tài sản tiêu tán hết.

Trước 1945, khi tôi mới vô lớp Đồng Ấu, có nghe anh chị tôi học trong sách “Quốc Văn (hay Luân Lý?) Giáo Khoa Thư” câu ca dao:

Trai tráng sĩ cũng so vai rụt cổ,
Gái thuyền quyên cũng mặt bủng da chì.

Ấy là nói về người nghèo mắc vòng thốc phiện, chớ người giàu thì không. Mấy người Tàu ở xứ tôi, buôn bán giàu có, nhiều người hút thuốc phiện, nhưng ăn uống đầy đủ, cao lương mỹ vị, thì so vai rút cổ thế nào được.

Hồi ấy, trong nhà có bàn đèn là “mốt” chơi của người giàu đấy, không những giàu mà còn sang nữa. Ăn uống no say rồi, sang nằm bàn đèn, “kéo” mỗi người vài ba điếu là nhà giàu có sang trọng.

Anh chàng Long, nhân vật chính trong “Giông Tố” của Vũ Trọng Phụng, tự tử bằng thuốc phiện đấy. (2)

Trong “Hồi Ký Phạm Duy”, ông ta có nói cậu ông – em của mẹ – là Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc trong nhà có bàn đèn thuốc phiện để hút chơi, hay để chứng tỏ nhà sang trọng. Ông Ngọc thuộc nhóm tác giả sách “Quốc Văn Giáo Khoa Thư và Luân Lý Giáo Khoa Thư” thuộc Nha Học Chánh Đông Pháp của chính phủ Bảo Hộ. Ông Ngọc còn là đồng tác giả “Cổ Học Tinh Hoa” với ông Tử An Trần Lê Nhân nữa đấy. Người nhiện thuốc phiện mà viết sách dạy về luân lý thì có tréo cẳng ngổng không? Có lẽ thời ấy hút thuốc phiện, có bàn đèn trong nhà là người sang.

Mốt chơi nầy là do người Việt ta bắt chước người Tàu. Sa vào con đường nầy thì u mê nghiện ngập luôn. Sa vào một tôn giáo, sa vào một tín ngưỡng, sa vào chủ nghĩa… cũng tương tự như vậy. Những người tin vào chủ nghĩa Mác, sa vào chủ nghĩa Mác đều u mê như nhau, giống như người ta xuống tới âm phủ, Diêm Vương bắt ăn một chén cháo lú thì quên hết quá khứ, quen hết cha mẹ, anh em, tộc họ, tổ quốc, đồng bào. Mê muội một tôn giáo, một học thuyết – như người theo Cộng Sản, cũng là ăn cháo lú vậy.

Ông Trần Đình M,. nhà ở cạnh tôi là một tỉ dụ đau đớn. Đau đớn là do tôi cảm nhận, còn ông ta thì tôi không biết rõ. Ông nội anh ấy là một ông quan lớn cuối đời Tự Đức. Nhà vua nhiều lần giao cho ông ấy nhiều trọng trách khi thương thuyết với Pháp, lúc ấy Pháp đang xâm lăng nước ta. Thân phụ anh M. làm thông ngôn cho công sứ tỉnh “Quảng Trị tui”. Anh M. thường khoe với tôi: “Trên là quan công sứ, dưới là quan tuần vũ, giữa là ba tui.” Tôi thường có ý tưởng đen tối về chữ “giữa” ấy của anh M., nhưng thực sự thân phụ anh M. là một người quyền lực lớn lắm. Quan tuần vũ không biết tiếng Tây, nên thân phụ anh ta, thông dịch cho Tây như múa gậy vườn hoang. Quan quyền mà lại làm quan cho Tây nên nhà anh M. giàu có lắm. Vì vậy nên anh M. lo chơi hơn lo học, đọc chữ quốc ngữ không thông, không có công ăn việc làm gì cả. Vợ anh buôn bán ở chợ tỉnh, tần tảo nuôi con, nuôi chồng. Chị vốn là “người ở” nhà anh M., anh ấy “vớt” luôn làm vợ. Chị ấy không đồng ý cũng không được vì anh M. là “cậu ấm con nhà quan to nhất tỉnh”. Không làm việc gì cả nên anh M. “nhàn cư vi bất thiện”. Ban đầu thì chiều chiều anh lên chợ gặp vợ, biểu vợ đưa ít chục để anh đi uống rượu chơi. Ban đầ thì uống ít say ít, “tiến bộ” hơn nữa thì uống nhiều say nhiều. Trước thì uống rượu say rượu, sau thì anh M. đổi món ăn chơi: hút thuốc phiện say thuốc phiện. Thời Ngô Đình Diệm cấm “tứ đổ tường” thì anh M. hút ở tiệm, say ở tiệm. Tới thời Nguyễn Văn Thiệu, không còn thấy cấm “tứ đổ tường” thì anh soạn chỗ hút ở nhà, say ở nhà, có nhiều “hít tô phe” cùng đến với anh. Không chỉ người ta “say thuốc phiện” mà những con thằn lằn trong nhà anh cũng say thuốc phiện luôn. Một hôm về thăm nhà, thằng cháu lớn gọi tôi bằng chú nói với tôi: “Chú ngửi thấy gì không? Bên nhà ông M. đang hút thuốc phiện.” Tôi lắng nghe, trong không khí có mùi lạ, thơm.” Một lúc, thằng cháu lại nói: “Chú nhìn qua vách nhà ông M. coi, cả chục con thằn lằn nằm im trên vách.” Thằn lằn đang say thuốc phiện.”

Cách nay lâu lắm, tôi có đọc một póhng sự trên báo Cải Tạo / Hà Nội. Bài báo kể chuyện, – thời Quốc Trưởng, ngay Hà Thành có nhà ông quan cũ, ông con trai thích làm quan huyện ở nhà quê, khoái con gái nhà quê da thịt “săn chắc” – Nông Thị Xuân, con gái miền Sơn Cước, còn “ngon” hơn con gái nhà quê nhiều. “Bác Hồ” cũng có con mắt “tinh đời” khi chọn Nông Thị Xuân đấy. Nhà có con gái út, học hành thì nhác, mà đọc tiểu thuyết, “truyện đường rừng” thì chăm. Có hôm cô đọc một truyện kể có anh đang hút thuốc phiện, có con rắn bò đến bên cạnh, nằm im, để nghe mùi thuốc. Nghe chuyện ấy, ông nội mai mỉa: “Rắn thì ưa thịt tươi máu sốt, ưa gì mùi thuốc phiện, để nó cắn cho một phát là xong đời cho rổi. Truyện mhảm nhí.”

Anh M. có hai con trai, giống cha, chẳng học hành gì cả. Đứa lớn tới tuổi nhập ngũ, bị đưa tuốt vô Nam, không biết chữ làm sao viết thư về nhà thăm gia đình, coi như đi mất tiêu. Thằng em, mấy năm lính Mỹ đóng ở Ái Tử, lén bán cần sa, bị bắt đi tù. Hai đứa con gái, con chị có chồng đăng lính tử trận, con em làm gái. Vợ anh M. bỏ nhà đi mất, không ai rảnh hơi đi tìm giùm anh M. Thế là gia đình tan nát, lỗi tại “ả phù dung.” Mẹ tôi thường nói câu tục ngữ: “Có ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời.” Ông bà thất đức, con cháu gánh hết.”

Bày “bàn đèn thuốc phiện” để tỏ sự giàu có là do người Việt học thói người Tàu. Tức là nói người Tầu đông người, người giàu cũng đông, và “bàn đèn” cũng nhiều, “sức mua” (thuốc phiện) cũng mạnh. Người Anh thấy ngon, bèn đi mua thuốc phiện bên Ấn Độ đem bán cho người Tàu, gây nên “Chiến tranh Nha phiến”. Sử chép:

Chiến tranh Nha phiến, hay Các cuộc chiến Anh-Trung là hai cuộc chiến xảy ra giữa thế kỷ 19 (1840 – 1843 và 1856 – 1860) gây nên xung đột kéo dài giữa Trung Quốc dưới triều Mãn Thanh và đế quốc Anh. Trong cuộc chiến lần thứ hai, Pháp, Nga và Hoa Kỳ đã liên minh với Anh để tấn công Trung Quốc.

Nguyên do cuộc chiến xung quanh việc chính phủ Anh đòi quyền tự do buôn bán nha phiến từ Ấn Độ thuộc Anh sang Trung Quốc trong khi nhà Mãn Thanh có lệnh nghiêm cấm.

Trung Quốc hoàn toàn thất bại trong hai cuộc chiến với hậu quả phải công nhận thương quyền buôn nha phiến của ngoại quốc. Hơn nữa triều đình Mãn Thanh phải ký các hiệp ước bất bình đẳng, chịu mở nhiều cảng cho các nước ngoài vào thông thương. Hồng Kông thì bị cắt làm nhượng địa cho đế quốc Anh. Nhiều nước đế quốc (Đức, Pháp, Nhật, Nga,…) khác theo chân nước Anh và đã buộc Trung Quốc phải chấp nhận nhiều điều kiện bất bình đẳng ngay trên đất Trung Quốc. Mối nhục này của triều đình Mãn Thanh trước các cường quốc Tây phương là ngòi lửa góp phần cho cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc (1850 – 1864), rồi Nghĩa Hòa Đoàn (1899 – 1901) và cuối cùng là Cách mạng Tân Hợi, kết thúc thời đại phong kiến Mãn Thanh (1911).

(trích Wkipedia)

Người Anh khôn?

Người Pháp cũng không dại!

Cậu (cha) tôi không phải là người thích uống rượu nhưng giỗ kỵ thì phải có rượu cúng, đúng như phong tục của người Việt Nam. Nấu rượu không khó nhưng thực dân buộc người dân Việt Nam phải dùng “Rượu Sica”. Rượu Sica là “rượu Tây”. Rượu Tây nói ở đây không phải thứ rượu sản xuất bên Tây như Champagne, Martell… mà rượu do Tây “quản lý”, như Cộng Sản nói “nhà nước quản lý” vậy. Cho ăn mới được ăn, cho uống mới được uống. Người dân muốn uống rượu, nhà nước cho uống mới được uống. Thời Tây muốn uống thì phải mua rượu Sica đem về uống. Rượu Sica là rượu “Nhà nước – Tây – quản lý”. Ở thị xã Quảng Trị, trước 1945, người ta mua rượu Sica ở tiệm “Chú Sừng” – Chú Sừng làm đại lý rượu Sica cho Tây. Trên sông Thạch Hãn, kế bên chợ Quảng trị, ngày xưa có một bến sông, người ta thường gọi là “Bến Sica”, có lẽ là nơi vận chuyển rượu cho tiệm rượu Sica của Chú Sừng. Chỉ cần nghe người ta gọi “Chú” – (Sừng) – thì biết ngay đó là “Chú Ba Tàu”, như “Chú Quánh” tên thiệt là Diệp Khôn, chủ cửa tiệm Diệp Đức Ký – cố nội Tyler Diệp – hay “chú Nàm”, “chú Vạn” vậy.

Người ta thấy người Việt mang “một vòng thắt cổ”: Uống rượu Tây, mua ở tiệm Tàu” . Người Việt Nam chạy đằng nào cho thoát, nên phải hát như Văn Cao: “Việt Nam bao năm ròng rên xiết lầm than”, Trịnh Công Sơn thì gọi “Một trăm năm nô lệ giặc Tây.”

Ai nấu rượu (lậu), ai uống rượu (lậu), tức là không phải rượu của hãng Sica, thì bị đi tù “mọt gông”. Cũng may, thân phụ tôi không phải là người nát rượu, chỉ khi nào cúng quãy, chị cả tôi mới mua chưa tới nửa chai nhỏ đựng rượu đem về cho “cậu” (tức là bố tôi đấy) cúng ông bà.

Nhưng người ta cũng nấu rượu – công khai -, bán rượu cũng công khai. Ai mà ngon vậy? Dân làng Trí Bưu, bên ngoài thành phố Quảng Trị. Làng nầy là “làng đạo” – 99% là dân có đạo, có nhà thờ rất lớn, có ông cha Tây “cai quản họ đạo”. Thằng Tây “đoan” (Douanne) nào “gan cùng mình” mới dám vào làng nầy kiểm soát. Ông cha Tây là cái dù của dân làng nấu rượu đấy.

Ngày nay, “Độc lập – Tự Do – Hạnh Phúc” nên mặc sức “Sáng xị, trưa xị, chiều xị”, “xỉn” tối ngày. Người dân “đã thiệt”.

“Sống đời Nghiêu Thuấn khổ thay,
Giếng đào mà uống, ruộng cày mà ăn.
Sống đời Kiệt Trụ sướng thay,
Có rừng nem béo, có ao rượu đầy.”

Món hàng thứ hai bị Tây độc quyền là thuốc phiện. Năm 1950, người bạn học lớp nhì với tôi, con trai một chú ba, nhà có bàn đèn, rủ tôi: “Mày đi với tau, mua cái nầy cho ba tau.”. Tôi theo nó vào nhà Douanne, mua một hộp thuốc phiện, hộp nhỏ như hộp dầu Cu-là Mắc xu (Mac-Phsu), bằng thiếc, sơn màu đỏ. Buôn bán thuốc phiện là độc quyền của Nhà Nước Tây, ai buôn lậu, đều bị tù.

Người ta thường cho rằng thuốc phiện là món kích thích trí óc người ta nên các nhà văn, nhà thơ xứ Bắc Kỳ khuyến khích nhau hút thuốc phiện, nằm nghiêng mà ngó “Ngọn đèn dầu lạc”. (một tác phẩm của Nguyễn Tuân). TCHYA, Lê Văn Trương, Ngọc Giao, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Trọng Phụng (?) … là đệ tử của “Nàng Tiên Nâu”. Cố vấn Ngô Đình Nhu là một “mưu sĩ” của chế độ nhà Ngô nên cũng có người cho rằng ông thuộc “phe hít-tô”. (hít tô phe.)

Cụ Phan Bội Châu, khi bị giam lỏng ở Bến Ngự, gọi ông Ngô Đình Diệm là chí sĩ, nên dân Huế hồi đó gọi ông Diệm là “Chí sĩ Ngô Đình Diệm”, gọi chung với cụ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Tiểu La… là những nhà cách mạng. Ông Ngô Đình Diệm cũng là người đại diện cho Kỳ ngoại hầu Cường Để ở Huế, ông cũng thuộc “dòng Nho Gia” nên sau khi cầm quyền ở miền Nam, ông phát động phong trào “bài trừ tứ đổ tường”. “Tứ đổ tường” là bốn thói xấu của xã hội thực dân, phong kiến, đồi trụy… miền Nam VN thời bấy giờ. Đó là:  cờ bạc, rượu chè, thuốc xái, đĩ điếm.

Vậy mà một hôm, ông Ngô Đình Nhu, cố vấn tổng thống, với bác sĩ Trần Kim Tuyến, trùm mật vụ, xin gặp tổng thống để bàn việc cho phép “buôn thuộc phiện”.

“Nho sĩ” Ngô Đình Diệm bỗng “đỏ mặt tía tai”, giận dữ nhìn hai ông, tưởng như muốn đuổi hai ông ra khỏi phòng. Tuy vậy, hai ông kia cố gắng thuyết phục. Cuối cùng, tổng thống Diệm đồng ý. Có chi lạ không? Không! Chuyện là như thế nầy.

Trước năm 1954, quân Pháp ở Việt Nam, có một đài kiểm thính. Nhiệm vụ của trung tâm nầy là”bắt”, là theo dõi, kiểm soát, thu thập, giải đoán các luồng sóng điện của địch, để biết sự di chuyển, hoạt động của địch, để có biện pháp “đáp ứng” thích hợp. Đài kiểm thính đó của Pháp để lại cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, vừa cũ vừa lạc hậu. Chính phủ Miềm Nam VN có yêu cầu Mỹ thiết lập cho một đài mới, hiện đại hơn, mạnh hơn, để có thể theo dõi hoạt động của Quân Đội Bắc Việt, đề phòng họ xâm nhập miền Nam, vượt vĩ tuyến 17 hoặc xâm nhập Lào.

Người Mỹ không đồng ý. Họ không muốn chính phủ miền Nam có phương tiện tình báo chiến lược. Họ đã có một đài kiểm thính ở Đài Loan, làn sóng “phủ” toàn bộ vùng Hoa Nam và Bắc Việt. Với lại, quân đội miền Nam chỉ có tình báo chiến thuật, nên Mỹ chỉ đâu thì Việt Nam đánh đó. Mỹ không muốn nước nào “ngang cơ” với họ.

Muốn vượt khỏi vòng kiềm tỏa nầy, chính phủ miền Nam muốn có một “Trung tâm kiểm thính” riêng cho mình, không phụ thuộc vào Mỹ. Tuy nhiên, muốn thiết lập một trung tâm như thế, má móc có thể mua được, hàng của Mỹ, của Nhật, của Đài Loan. Với lại, thuốc phiện là thứ muôn đời, dù cấm cản như thế nào, các chú Ba Chợ Lớn vẫn có thuốc phiện hút đều đều, chi bằng chính phủ “nắm” lấy việc buôn thuốc phiện để dựng đài kiểm thính thì vẫn hơn. Nghe bùi tai, Nho sĩ Ngô Đình Diệm bèn gật đầu cho tiến hành.

“Nguồn” thuốc phiện bán ở miền Nam VN xuất phát từ đâu? “Tam Giác Vàng”, thuộc vùng “tam biên”: Miến Điện, Thái Lan và Lào, chủ là Khun-Sa, một người Tàu lai Shan (dân tộc thiểu số Miến Điện), được mệnh danh là “Vua thuốc phiện”, cung cấp 60% ma túy, xử dụng ở Mỹ. Đối với chế độ anh em nhà họ Ngô, đây là một việc quan trọng, nên tôi có nghe đồn, – chỉ là đồn mà thôi -, ông Ngô Đình Nhu có đi Lào, để gặp một “người bên phía bán thuốc phiện” cho miền Nam. Quả tình tôi tin mấy ông buôn thuốc phiện nầy, dù sao, họ cũng “vì nước” thật lòng.

Sự việc nầy, tôi đọc được khi tôi đọc “Làm thế nào để giết một tổng thống” khoảng trang số 290. Về sau khi cuốn sách nầy tái bản lần thứ hai, thứ ba… ở trong nước cũng như hải ngoại, đoạn nầy bị xóa mất. Có lẽ “Sở Phối Hợp Nghệ Thuật” của TT Thiệu, tái sinh dưới cái áo chùng đen, phùng mang trợn mắt với BS Trần Kim Tuyến và Giáo sư Cao Thế Dung nên hai ông tác giả nầy sợ hay chăng?

Việc buôn bán nầy người ta nói “đụng” với “Xịa”. Nó có thể là một trong nhiều nguyên nhân để Ngô triều sụp đổ hay không, tôi không rõ, nhưng về sau, thời ông Thiệu, nó là công việc của ông tướng Đặng Văn Quang, tay chưn ruột của TT Thiệu trong mối lợi nầy.

Chính trường miền Nam có không ít điều kỳ lạ. Việc buôn ma túy của ông Thiệu xảy ra lúc nào, dư luận và báo chí miền Nam bàn tới không nhiều thời kỳ trước Hiệp Định Paris 1973. Sau biến cố đó, tình hình chính trị miền Nam có nhiều xáo trộn: TT Thiệu muốn thông qua “Luật ủy quền” để ông Thiệu ngồi ghế tổng thống lâu hơn, ông Thiệu muốn thành lập “chế độ độc tài”, Mỹ muốn “lật ông Thiệu” để việc “giao miền Nam cho Cộng Sản Bắc Việt” suôn sẻ hơn… cho nên mới xảy ra “Phong trào chống tham nhũng” của 301 ông cha, do linh mục Trần Hữu Thanh đứng đầu. Trong việc chống tham nhũng nầy, người ta “moi luôn” việc buôn bán ma túy của ông Thiệu do tướng Đặng Văn Quang phụ trách.

Khoảng giữa năm 1974, tôi từ Hà Tiên về Saigon có công việc, ghé thăm nghị sĩ Hoàng Xuân Tửu, tình đồng hương, chớ không có gì về đồng đảng, nhân tiện dịp nầy, tôi vừa bắt giữ hai tên buôn hơn hai ký thuốc phiện trắng và tôi được Trung Tâm Bài Trừ Ma Túy Trung Ương thưởng hơn một triệu đồng thời ấy. Ông Tửu hỏi tôi về tình hình chống tham nhũng ở dưới đó. Tôi trả lời xứ tôi khỉ ho cò gáy, buôn lậu thì nhiều, tham nhũng thì ít, ông Tửu liền ra xe lấy cho ôi xem một tạp chí nói về việc buôn ma túy của ông Thiệu, cuốn The Politics of Heroin in Southeast Asia của tác giả Alfred McCoy. Độc giả muốn biết rõ tình trạng buôn bán ma túy ở Đông Nam Á thì hãy đọc sách nầy, cũng đọc bài của Nguyễn Mạnh Quang: 

“Vấn Nạn Buôn Bán Ma Túy Ở Việt Nam Trước 30/ 04/ 1975”.

Năm 1980, khi tôi đang bị tù cải tạo tạp trại Xuân Lộc, Z30A thì có một số tù cải tạo, khoảng 100 người, từ trại Vườn Đào/ Cai Lậy chuyển lên nhập chung với chúng tôi. Qua chuyện trò với nhau, chúng tôi biết thêm một cách chuyển lậu ma túy dưới thời Tổng Thống Thiệu, do một vài bạn tù nói trên từng phục vụ ở ̉ các “Tiểu khu Bình Long, Phước Long” kể lại.

Như có sắp đặt trước, một vài tuần một lần, một báy bay loại Cessna, từ hướng Lào bay qua, đảo cánh trên một rừng cao su gần tỉnh lỵ, thả xuống một hay hai bao to gần bằng tạ gạo. Tức thì, từ tư dinh tỉnh trưởng, một xe Dodge quân đội, với lính tráng và súng ống đầy đủ, chạy ra nơi có đồ từ máy bay thả xuống, nhặt các bao ấy, đem về dinh tỉnh trưởng. Ngay hôm đó, hoặc vài hôm sau, có trực thăng quân đôi ghé lại, nhận hàng được che dấu trong máy lạnh, hay tủ lạnh, nói là “của ông đại tá” – thường tỉnh trưởng có cấp bậc đại tá -, bị hư, đem về Saigon sửa”. Trực thăng đem về trụ sở “Quốc Tế Quân Viện” – hồi đó do ông trung tướng Trần Ngọc Tám làm chỉ huy trưởng – ở đường Trần Quốc Toản – Bây giờ là Ủy ban Nhân dân Quận 10 – Từ chỗ “Quân viện”, tủ lạnh, máy lạnh” được chở vô Chợ Lớn cho Ba Tàu. “Ở đâu có người Tàu là có buôn gian bán lận” – người ta nhận xét vậy -. Sự việc nầy, trong sách viện dẫn nói trên, tôi không thấy bàn tới. Tôi không thấy có ai nó tới Kontum, Ban Ma Thuột… cũng là những tỉnh sát biên giới Lào, có cách vận chuyển hàng quốc cấm như vậy không?

Có phải đây là đường giây buôn ma túy của ông trung tướng Đặng Văn Quang?

Sau 1975, việc buôn bán ma túy ở Việt Nam thì sao?

Chúng ta là những người rất dễ bị tuyên truyền, dễ định kiến nên có người nói rằng “Cách mạng cái gì cũng tốt, cũng hay”, dưới thời Cộng Sản làm ggỉ có việc buôn bán ma túy.

Lầm to đấy!

Giữa năm 1982, tôi đi tù cải tạo về sống tại Saigon. (Bắc kỳ gọi là “Thành phố Bát” đấy), xem ra mọi chuyện đều tệ hơn xưa. Bấy giờ ma túy có thêm nhiều loại mới, nặng “đô” hơn, dễ dùng hơn, dễ cất dấu hơn. Phổ biến nhất là “chích”. Ống chích quăng vất tùm lum ở nhiều ngõ ngách, bãi rác…

Phân tích tình trạng nầy cũng phức tạp, mất thì giờ. Tuy nhiên, nhìn chung, có hai lý do quan trọng: Hòa bình, khuynh hướng hưởng thụ mạnh hơn trong khi đang có chiến tranh. Hai là một số người “mới” giàu có hơn, nhưng văn hóa mỗi người, mỗi gia đình “thấp” hơn. Đó là những người giàu xổi, và các cậu ấm cô chiêu mới, trong từng lớp thống trị mới. Đó là các gia đình cán bộ Việt Cộng.

Việc mua bán và xử dụng ma úy có dính líu gì tới chính quyền Cộng Sản không mà ít nghe nói tới, nhất là trong giới “báo chí cách mạng”?

Bây giờ chuyện buôn bán ma túy, vì “mấy chả chơi nhau”, như thiên hạ đồn, đổ bể tùm lum. Người ta “ngụy trang” việc buôn bán nầy qua phái nữ ra vào ngoại quốc dễ dàng, như 5 “tiếp viên hàng không” trên chuyến bay từ Pháp về, cũng như 2 “tiếp viên hàng không” đi Seoul.

Không phải việc “chuyển vận” nầy, lần nầy là lần đầu. Cả chục lần rồi đấy. Bây giờ, tranh nhau cái ghế, chức chưởng, quyền lợi, “chơi” nhau mới bể ra.

Trước đây, có bắt vài vụ buôn thuốc phiện ở Nghệ An, sát biên giới Lào, có dính tới Công An, nhưng đó là chuyện nhỏ, nhằm nhò gì với chuyện bây giờ.

Nói mà nghe… chơi thôi.

“Độc lập, Tự do” rồi, nhưng trong một xã hội dù có hay không có dân chủ, ai có quyền thì hơn, như Voltaire đã nói: “Trong bất cứ một xã hội nào, giai cấp cầm quyền là giai cấp thượng lưu.”

Muốn thì làm, ai nói gì được

(1)- Lê Duẫn, con trai “ông thợ Tiềm” – thợ mộc, nhà ờ làng Hậu Kiên, cuối Chợ Sãi. Chợ Sãi nằm trên ngã ba sông Thạch Hãn và sông Vĩnh Định trên đường đi của các chuyến “buôn đò giọc” của tỉnh Quảng Trị/ Thừa Thiên, có dịp sẽ kể sau. Bên cạnh tiệm mộc của ông thợ Tiềm là sạp gạo của mẹ “Mụ Xạ Bình”. Trong chợ Sãi, có hai anh em gốc “chú Ba”, là hai anh em ruột: Ông Xạ Lớn và Ông Xạ Bé. Nhà Ông Xạ Lớn có bàn đèn cho khách. Một hôm, ông Lê Duẫn bị Công An Liên Bang Tây
(2)- “Dấm thanh trộn với thuốc phiện là món “tự tử rất ngọt – dĩ nhiên tôi chỉ nghe nói, chưa dùng bao giờ”

Thiệt thà là cha đứa dại

Hoàng Long Hải
Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Đứng bên quan tài của Vương Tấn sắp hạ huyệt, anh bạn tù Trần Phú Trắc nói nhỏ với tôi, vẻ tội nghiệp:

– “Cái số thằng nầy khổ thiệt! Nó thiệt thà quá!”
Tôi cũng đang thương tình cho anh bạn tù nằm trong quan tài, nhưng nghe Trắc nói, tôi không khỏi cười thầm vì sự ngộ nghỉnh trong nhân sinh quan của người Việt. Nói số phần chỉ là cách an ủi. Ông trời bắt vậy thì phải vậy. “Bắt phong trần phải phong trần…” Số phận là do trời, đó là quan điểm của đạo Nho, nhưng tại sao Trắc lại nói “Nó thiệt thà quá!” Vì nó thiệt thà nên nó khổ. Vậy nó khổ là vì nó thiệt thà. Vậy thì còn số phận gì nữa, trách trời gì nữa. Nó tự tạo cho nó cái số khổ, đâu phải tại trời. Cũng theo cách nghĩ đó, theo nhà Phật, nó tự tạo cho nó cái nghiệp. Quả của cái nghiệp đó là sự khổ. Nhân cái nghiệp là thiệt thà. Vì thiệt thà nên khổ. Nếu quan niệm như vậy thì triết lý đạo Phật cũng… trật lất. Làm ác thì mới chịu cái khổ. Thiệt thà mà cũng khổ, vậy nhân quả đâu có tương ứng nhau. Tôi nói ông Phật nói trật là tôi đúng chớ gì nữa! Tôi giải thích cho Trắc như vậy, anh ta cười, trách nhẹ tôi: “Anh thì cứ hay rắc rối!”
Tôi chỉ lý luận quàng xiên mà chơi như vậy, nhưng trên đường về, vừa lái xe, vừa nghe nhạc “vàng” và tôi không ngớt suy nghĩ về tính thiệt thà của Vương Tấn.
Tốt nghiệp khóa 6 Thủ Đức, khoảng năm 1958, theo như bạn đồng khóa thì ít cũng lên lon thiếu tá, trung tá, có ông lên đại tá, Vương Tấn chỉ mới có đại úy cũng là vì cái tính…thiệt thà.
Hồi ấy, việc lên lon không dễ như sau nầy. Đủ thời gian qui định thì lon chuẩn úy tự động lên lon thiếu úy, thiếu úy lên lon trung úy. Từ trung úy trở lên mới phải “chạy”. Chạy là nói nôm na, văn vẽ là đề nghị lên bộ Tổng Tham Mưu; còn như đặc cách mặt trận là do mấy ông tướng tư lệnh quyết định ngay tại chiến trường. Vương Tấn chưa bao giờ được lên lon tại mặt trận vì anh không thuộc loại đánh giặc chì. Thời của Tấn là thời lên lon nào cũng phải “chạy” mà Tấn thì không biết “chạy” nên lon lá bao giờ cũng ở sau người ta.
Khi có chương trình đào tạo quan sát viên không quân, cũng khoái đi máy bay, nên Vương Tấn xin đi học. Mãn khóa, anh về phục vụ ở miền Trung. Vương Tấn chọn miền Trung vì Huế ở ngoài ấy. Anh hy vọng làm nghề bay, có dịp về Huế chơi. Anh ta đến Huế thật, và với bộ đồ bay trên người, anh đi dạo phố Huế,
– “Trông oai lắm!” – như anh ta nói.
– “Hồi đó tui tính cưới một cô Huế. Sao mà khó thế. Nói chuyện, nó không nhìn mình, cứ nhìn xuống đất, không tán được.”
Bởi câu chuyện đó, có lần tôi nói Trắc: “May cha thằng Tấn. Rước về một cô rồi ngữa mặt lên trời mà than!”
Trắc không đồng ý với tôi, nói: “Duyên số cả anh à! Nó không cưới vợ Huế, về Phước Tuy rước một cô, đời lại bầm dập hơn!”
Trong bọn tôi, Dương Tiến Đông, đội phó, là tay ăn nói bạo mồm bạo miệng nhứt. Có điều, chuyện nó nói, làm người ta bất mãn nhưng vẫn phải cười.
Hôm đó, chúng tôi đang cuốc đất, cách trại cũng không xa, bỗng Vương Tấn bị bệnh. Tấn yếu lắm. Anh ta bị thương, mất một phần xương đùi. Hồi đó, để cứu Tấn khỏi bị cưa chân, Tổng Y Viện Cộng Hòa nhờ Hải Quân Mỹ chuyển Tấn ra hạm đội. Ngoài đó phương tiện đầy đủ và tối tân hơn. Thay vì cưa, bác sĩ Mỹ ghép vào đùi Tấn một thanh Inox, bắt ốc, nên Tấn đi lại được, tuy không bình thường. Vì là thương binh, không muốn giải ngủ, Tấn xin qua 101. 101 là đơn vị tình báo, “tội” của Tấn với “cách mạng” nặng hơn, coi như “tù cải tạo” lâu về. Vì đi đứng khó khăn, Trương Đình Gòn, đội trưởng, xin cán bộ Chinh, công an, cho Tấn khỏi đi đốn cây, phá rừng, công việc nặng nhọc lắm. Anh ta được giao nhiệm vụ xuống suối mài dao. Lâu lâu, sợ Tấn mất việc, Gòn lấy dao của anh em, đưa cho Tấn đi mài. Dao không lụt cũng mài. Gòn nói với người có dao: “Không có dao thì ông ngồi chơi. Thằng Tấn không có dao mài, thằng Chinh bắt nó đi kéo cây. Tội nghiệp nó.”
Hôm Tấn bị bệnh, Đông nói với cán bộ Chinh: “Cán bộ để tui đem nó về; lỡ nó chết ngoài rừng, cán bộ làm báo cáo mệt lắm!” Rồi Đông cỏng Tấn về, có anh cán bộ bảo vệ (tức là bọn canh tù), cầm súng đi theo. Đông nói nhỏ với Tấn: “Đ. má. Tao phải hù thằng Chinh nó mới cho tao cỏng mày về. Vậy mà mày vô ơn.”
Tấn nói: “Tao đi không nỗi, mày cỏng. Tao biết ơn mày. Mày nói tao vô ơn cái chi?”
Đông nói: “Mày nói cám ơn khi nào? Tao nói thiệt, nếu mầy không chịu, tao bỏ mày xuống đây. Mầy chịu, tao cỏng tiếp về trại. Chịu không?”
– “Chịu cái gì? Mày nói đi.” Tấn hỏi.
– “Tụi nó nói vợ mầy đẹp lắm. Mai mốt vợ mầy lên thăm, mày hôn vợ mày giùm tao một cái, còn không thì… đi bộ mà về nè!”
Nói xong, Đông giả bộ buông Tấn xuống. Tấn nói: “Thôi đươc rồi! Đ. mẹ, anh em chơi ép nhau. Mày cỏng tao về đi. Tao sẽ nói với vợ tao!”
Đông phải đứng lại giữa rừng mà cười ha hả vì cái tính thiệt thà của Tấn. Nghe Đông thuật lại chuyện đó, anh em trong đội ai cũng cười. Cũng có người vừa cười vừa nói: “Đ. mẹ! Thằng Đông mất dạy, vợ người ta mà đòi hôn.”
Vậy mà Tấn vẫn không hết tai nạn với Đông. Đang ở ngoài rừng, gần nhà thăm nuôi. Có người ra tận bãi gọi Tấn, báo cho biết có vợ lên thăm. Tấn hoảng, không biết làm sao! Về trại thay áo quần thì mất thì giờ. Vào thăm vợ ngay bây giờ thì kỳ cục! Anh ta đang mặc quần xà lỏn đi lao động, đưa hai cái giò như hai cây sậy đen đủi thì kỳ quá! Áo quần thiếu, phải tiết kiệm, ở với Việt Cộng thì lấy thân che của thay vì lấy của che thân.
Gòn lại tới nói với cán bộ Chinh, cho Tấn đi thăm liền ngay đi, cho vợ Tấn thăm sớm, về sớm, xe cộ khó khăn. Chinh đồng ý, nhưng Tấn không đi thăm được vì không có quần. Đông nói: “Mày mặc quần tao chắc được. Tao cho mày mượn. Nhưng mày đừng quên lời tao dặn như vợ mày lên thăm lần trước. Lần nầy phải nhớ nghe không.” Tấn chần chừ. Đông nói:
– “Mày phải ừ tao mới cởi quần ra cho mày. Ừ đi!”
Tấn lại phải ừ!
Đông lại làm khó: “Mày ừ gì yếu xìu. Ừ to lên, như ở quân trường vậy.”
Tấn ừ thật to! Cả bọn đứng chung quanh, ai cũng cười.
Lần thăm đó, Tấn gặp tai nạn.
Cha mẹ chết, để lại cho Tấn căn nhà gạch. Lần nầy lên thăm, vợ Tấn biểu làm giấy ủy quyền cho thị. Té ra, thị có bồ là cán bộ. Thị lấy nhà, sang tên cho cán bộ vì tên nầy hứa kết hôn với thị. Có nhà rồi, tên cán bộ bèn “Quất ngựa truy phong”.
Từ đó, vợ Tấn không lên thăm chồng nữa. Tấn vừa mất vợ, vừa mất nhà, con Tấn về ở với chị Tấn. Chị Tấn cũng nghèo, không ai thăm nuôi Tấn, hoàn cảnh thật ái ngại. Tấn cam chịu số phận mình, không than van, oán trách.
Một lần, vợ Đông từ Đà-Nẵng vào thăm, Đông mời mấy anh em cùng ăn chung một bữa, chia xẻ niềm vui. Đang bữa ăn, có người than phiền bây giờ nhiều người bỏ chồng, không đi thăm nuôi vì đời sống khó khăn quá, không đi thăm được, cũng có người “ôm cầm thuyền ai.” Hoàng, người cùng đội, nói: “Lấy chồng là một sự chọn lựa, lấy là lấy ông bác sĩ, kỹ sư, ông sĩ quan. Bây giờ lon lá mất hết, chỉ còn là thằng tù. Ai lấy thằng tù làm gì.” Vài anh em tỏ ý không đồng ý với lời giải thích của Hoàng, nhưng ông già Minh lại góp ý: “Cứ trường hợp mình thì anh em biết. Người đàn bà khi lấy chồng là họ tìm một chỗ che thân. Khi sự che thân đó không còn nữa thì họ tìm cái khác. Các cậu không thấy sự sinh hoạt trong một đàn bò sao. Con bò mạnh nhứt là con bò “cai quản” hết tất cả các con bò cái.” Ngưng một chút, già Minh nói tiếp: “Con gà trống muốn dụ con gà mái, giả kêu túc túc, làm như tìm được hột lúa để con gà mái chạy tới.”
Gòn nói, giọng bực tức:
– “Anh nói vậy bộ không có chung thủy hay răng?”
– “Có chứ sao không,” già Minh nói, “nhưng chỉ ở một số người, cái đó tùy thuộc vào cá tính, văn hóa, nền nếp của gia đình, làng xã. Ở nước ta, người ta cố giữ lệ làng là để giữ văn hóa của làng là vì vậy. Thành thử lệ làng, có khi còn hơn cả luật vua.”
Nghe già Minh nói, anh em thông cảm ông. Ông bị mất vợ từ trước khi “sập tiệm” những mấy năm. Vợ ông bỏ ông đi lấy một ông tướng Quân Đội Cộng Hòa. Chế độ trước thì ông bị mất vợ, chế độ nầy thì ông ở tù. Ông có cay đắng với đời cũng không có gì lạ.
Hơn 5 năm sau, khi Tấn được tha về, không có nhà để ở. Hai đứa con ở với chị của Tấn. Bà chị nghèo, hai đứa con thất học. Còn vợ Tấn thì coi như… “Thuyền ra cửa biển”. Tấn đi tìm vợ, vợ Tấn tránh mặt. Lâu lâu, tình cờ gặp vợ, Tấn tới hỏi thăm thì vợ Tấn kiếm cớ bỏ đi.
Cải tạo về, Tấn làm nhiều nghề để sống. Nhiều người bạn tù được tha, làm nghề đạp xích lô. Tấn, vì cái chân què, không đạp nỗi. Nghề phổ thông thứ hai cho “cải tạo viên được tha” là mở “tiệm” vá xe đạp bên đường. Nói “mở tiệm” cho oai. Tiệm là khoảnh đất bên cột đèn, gần ngã ba, ngã tư gì đó, với một cái ống bơm to, mấy miếng ruột xe cũ, một miếng lon sữa bò đập thẳng, đục nhiều lổ để làm bàn mài, một hộp keo, mấy miếng cao-su non, một cái piston cũ, có cái bàn ép, và chai dầu để đốt nóng piston khi muốn vá ép. Thường ruột xe Honda phải vá ép mới bền. Sáng đi, khuya về, ăn uống tại “tiệm”.
Tấn bỏ Phước Tuy ra Vũng Tàu, năng đường, đông khách hơn. Có tiền, Tấn giúp chị nuôi con chị và con của Tấn. Rồi Tấn bỏ nghề đi buôn thuốc Tây.
Mười năm nay, “chính quyền cách mạng” thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng” đời Tự Đức, nội bất xuất, ngoại bất nhập với Tây phương nên cái gì cũng phải “xếp hàng cả ngày” (xhcn) để mua mà không có. Nhờ vậy nên tàu “các nước Xã Hội Chủ Nghĩa anh em” vào ra cảng Vũng Tàu, tàu nào cũng buôn lậu, đặc biệt các loại thuốc Tây, “mặt hàng gọn nhẹ” dễ che dấu. Nhờ người chị quen biết với nguồn hàng nầy nên Tấn được gọi tới giao nhiệm vụ đem hàng từ Vũng Tàu lên Saigon. Tấn dấu hàng trong người, thuốc Tây, nhiều nhứt là “hàng Bun” (Hàng do Bulgaria sản xuất), đạp xe đạp ra khỏi trạm, quá một quảng xa, hơn một cây số, Tấn đón chiếc xe đò quen, đã hẹn giờ trước.
Gần tới Saigon, cũng cách trạm Văn Thánh cỡ hơn một cây số, Tấn lại xuống xe, lại tàn tàn đạp xe vô Saigon, giao hàng cho người quen, là đầu mối ở đường Phạm Hồng Thái, bên ga Saigon cũ. Lại có mối từ miền Tây lên nhận hàng về. Tấn chỉ có nhiệm vụ giao hàng, nhận tiền công, còn giá hàng bao nhiêu, lên xuống thế nào, hai dầu mối trao đổi với nhau. Nhờ làm việc chăm chỉ và chắc chắn, không mánh mung, không ăn cắp, ăn bớt hàng nên các đầu mối tin tưởng. Suốt mấy năm trường, nhờ chịu khó vậy, tuy vất vả, tuy đau ốm, lâu lâu cái chân bị thương lại trở chứng đau nhức, Tấn vẫn cố gắng làm tròn công việc được giao, sống qua ngày, còn dư tiền đưa cho chị nuôi con của Tấn.
Rồi lại có tin đồn xôn xao về việc lập hồ sơ đi Mỹ, được Mỹ bảo lãnh, cho định cư. Ai tù cải tạo 3 năm trở lên, đều được Mỹ cho đi hết. Ban đầu, Tấn không tin. Cỡ như mình Mỹ nhận làm quái gì. Tấn tự nghĩ như vậy. Ai lon to, trung tá, đại tá, tướng lãnh, Mỹ bỏ không được mới phải “gánh” đi. Còn như Tấn, đại úy quèn, lại què quặt, Mỹ rước qua làm chi, nuôi báo cô! Cứ suy nghĩ như vậy nên Tấn chăm lo “chuyện vận chuyển thuốc Tây để cứu người”. Tấn hay đùa với bạn bè về công việc của mình, đầy “tính nhân đạo” như vậy.
Thường đi Saigon, Tấn hay gặp các bạn “đồng tù” như Trắc, Kim, Hoàng, v.v… Ông già Minh thì đã qua đời trong trại cải tạo, trước khi Tấn được tha. Còn Đông thì về Đà-Nẵng, “buôn đường dài”, có nghĩa là mua hàng Saigon đem ra Đà-Nẵng và ngược lại. Gòn thì về Long Khánh, làm rẫy, không gặp ở Saigon bao giờ. Mỗi khi lên Saigon mà gặp Đông thì thế nào cũng có một buổi “nhậu chết bỏ”. Tuy không muốn “chết bỏ” như Đông nhưng Tấn không thể từ chối. Bọn nó có nhiều tiền, Tấn khỏi đóng góp hoặc “Cho mày đóng tượng trưng”, như Đông nói. Cũng qua bạn bè, do họ thúc đẩy, Tấn cũng làm hồ sơ, gởi lén qua Bangkok.
Vợ Tấn nhạy bén chuyện đi Mỹ nầy hơn Tấn nhiều, nên trước khi Tấn làm hồ sơ, vợ Tấn đến thăm, lại năn nỉ khóc lóc, “Anh đi đừng bỏ em lại tội nghiệp. Em dại dột chớ bao giờ em cũng thương anh.” Tấn cảm động khi nghe vợ nói. Vã lại, cũng có lời khuyên của chị Tấn nữa. “Người ta trở lại với mình, em không bỏ được đâu! Tội nghiệp người ta lắm!” Vừa thương chị, lại mang ơn chị nuôi con mình, Tấn nghe lời, làm hồ sơ cho cả gia đình: Vợ, mấy đứa con, mấy đứa cháu con của chị, Tấn nhận là con của mình.
Tháng 10 năm 1992, gia đình Tấn đến Cali, có hội từ thiện bảo trợ. Các con, cháu của Tấn, những đứa lớn vừa đi làm vừa đi học, những đứa nhỏ chỉ đi học mà thôi. Vì là thương binh chế độ cũ, các cơ quan từ thiện khuyên Tấn nên nghỉ ở nhà. Tấn được gọi lập hồ sơ y khoa, được ăn trợ cấp “tiền bệnh”, được “trợ cấp tiền nhà”, v.v… Cuộc sống tạm ổn định.
Đến Mỹ chưa được nửa năm, vợ Tấn lại “giong buồm ra khơi” lần nữa. Giong buồm ra khơi là tiếng lóng của Trắc báo cho bạn bè hay khi ai hỏi thăm Tấn. Riêng với Tấn, anh ta lại buồn, ôm lấy mối buồn trong lòng, cũng không than vãn, khóc lóc, như hơn mười năm trước, vợ Tấn ra đi. Số phận. Bao giờ Tấn cũng tự an ủi mình bằng hai tiếng số phận. Thường thì Tấn thấy thương con nhiều hơn thương thân mình. Con cái bao giờ cũng cần mẹ. Chúng nó cần mẹ mà vợ Tấn bỏ Tấn, điều đó không quan trọng bằng mẹ bỏ con. Nghĩ lại mình, so với số phận con, Tấn thấy mình may mắn hơn. Mẹ Tấn vẫn thương Tấn, gần gủi với Tấn, chăm nom, thăm viếng Tấn cho đến khi mẹ Tấn qua đời. “Con mình thì không được như mình vậy.” Tấn chép miệng than, chua xót.
Năm ngoái đây, tôi đi Cali, không phải để thăm Tấn hay đi đám ma anh ta. Tôi đâu có biết gì rõ về bệnh tình của Tấn. Mấy năm trước, điện thoại cho Trắc, hỏi thăm anh em, người nầy, người kia. Tất cả bạn tù cũ, đều tìm lại được hết, trừ một vài người, không biết ở đâu, dù nhắn gởi nhiều lần. Tôi cũng tìm được số điện thoại của Gòn, hiện ở Houston, liền báo cho Trắc biết. Gòn biến mất từ ngày ra tù tới giờ, không ai biết tin tức gì hết, trong khi vài anh em cố tìm Gòn. Gòn, tính khí hào hiệp, làm đội trưởng, không ít lần cải tay đôi với quản giáo để bênh vực anh em, nhứt là với Chinh, tên nầy khá “ác ôn côn đồ Việt Cộng.” – Câu Gòn thường nói đùa với anh em sau khi “đấu tranh” với Chinh xong.
Tôi đi Cali thăm ông anh vợ và bạn bè. Về tới đó, gọi điện thoại cho Trắc, hẹn đi ăn phở, nhưng trước khi nhận lời, Trắc nói: “Trước khi đi ăn phở với vợ chồng anh, tui tới chở anh đi viếng đám ma thằng Tấn đã. Nó chết rồi, chiều nay chôn.”
Hỏi tới nữa thì Trắc giải thích: “Cả năm nay nó không đi lại được. Bác sĩ lại mổ cái chân bị thương nhưng không hết. Rồi lại bị biến chứng, phong thấp, đau tim… Đủ thứ bệnh. Hai ngày trước bị đột quị. Coi như xong!”
Hỏi tới vợ con, Trắc nói: “Không có tin tức gì vợ nó cả, qua khỏi truông, đi mất biệt. Nghe nói đi theo một thằng nhân tình nào đó, cặp khi thằng Tấn còn ở tù. May mắn các con cháu nó đều học hành và tốt nghiệp đại học cả. Tấn rất vui về việc thành đạt của tụi nó. Đám ma, tụi nó về đủ. Riêng thằng Tấn thì vẫn cu ki một mình cho đến khi qua đời! Số nó vậy!”
Số phận! Lại số phận! Cũng được thôi, dù đó chỉ là tiếng để an ủi, nhất là với một người thật thà như Tấn.

Tuệ Chương/ Hoàng Long Hải

Tết ăn bánh tét

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 23 Nov 2017 

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Hồi ký,

hoànglonghải kể, chuyện thật trăm phần trăm.

(Người Nam ăn bánh tét,

Người Trung, người Bắc ăn bánh chưn)

Họp “Phụng Hoàng” xong, tôi nói nhỏ với thiếu úy Nguyễn Tấn Kiệt, “phụ tá đặc biệt” của tôi:

_ “Chút ông qua phòng tui.”

Vừa về văn phòng, chưa kịp ngồi, thiếu úy Kiệt đã vô, tôi nói liền:

_ “Ông ngồi xuống đi. Tụi đang nghĩ tới thằng cha Hiệp đây!”

Thiếu úy Kiệt hỏi:

_ “Hiệp Vàm Rầy?”

_ “Chớ ai.”

Vàm Rầy, trong Nam thường gọi “vàm” là “dzàm”. Là một khu dân cư ở đầu cầu Vàm Rầy. Khu nầy có khoảng vài chục căn nhà, dọc bờ kinh Rạch Giá / Hà Tiên, kế một cái chợ thật vắng, chẳng thấy họp chợ bao giờ. Dãy nhà bên hông chợ, phía đầu kế ngoài đường lộ là quán càphê hủ tiếu của một cô gái khoảng trên hai mươi tuổi, không đẹp, không xấu, dáng người cao, chưa chồng.

Đó là nơi chúng tôi thường tụ họp, không ăn hủ tiếu thì cũng uống cà phê. Cả hủ tiếu với càphê đều dở, nhưng quán nầy là quán độc nhất ở đây, không ghé vô đây thì chỉ còn ngồi bên đường, như “ăn mày”. Tôi thường nói đùa như vậy. Có lần, tôi với trung tá Hồ Đàn, Thiết đoàn trưởng Thiết đoàn 16, trải bản đồ trên mặt bàn trong quán để chấm tọa độ cho đại bác 105-ly nổ chụp “bọn chúng” đang nghỉ chân trong “kinh Kháng Chiến”.

“Cô nàng” chủ quán, không có chi đáng ngại về việc cô ta có thể làm giao liên cho Việt Cộng. Hôm Việt Cộng đánh vô xã, tức địa điểm nầy, có mấy tên du kích biểu cô làm hủ tiếu cho chúng ăn mà không trả tiền. Nghe cô ta phiền, tôi nói đùa:

_ “Em gái hậu phương” – tôi và trung tá Đàn thường gọi đùa cô ta như vậy, gọi riết rồi tôi không biết cô ta thứ mấy, tên gì – “cứ đòi ngay ông Phó Nghiêm” – Phó quận trưởng Nguyễn Đức Nghiêm.

Tôi cũng gọi đùa ông Phó Nghiêm là “ông Thần Tài” – hễ nơi nào có đánh nhau, nhà cháy, có người dân thường chết hay bị thương, là ông mang giấy tờ tới. Nhà cháy thì được ông ghi tên vô danh sách “Bồi thường chiến tranh”, lãnh bốn chục ngàn và hai mươi tấm “tôn” lạnh – tôn bằng nhôm, của Úc, không nóng như tôn thiếc. Tôi không rõ về người chết và bị thương thì được “bồi thường” bao nhiêu. Có lần tôi cãi với ông Phó Nghiêm:

_ “Sao gọi là “bồi thường”. Mình gây ra mới “bồi thường” chớ. Việt Cộng tấn công vô, gây ra tai họa chớ mình có làm gì đâu?”

Ông Phó Nghiêm, vốn dĩ “dân Bắc kỳ”  mà  lại “vô sự”, có nghĩa là ông không “rắc rối” như tôi, “dân trọ trẹ”, cưới nói:

_ “Ngưuời ta đưa cho mình một danh sách có tên như vậy, cứ thế mà làm. “Cứ thế cứ thế” mà.”

“Cứ thế cứ thế” (CTCT) là tiếng gọi đùa thiếu úy Thịnh, mới về Chi khu, xuất thân khóa 2 trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị (CTCT).

Một lúc ông Phó Nghiêm nói thêm:

_ “Tiền viện trợ Mỹ mà, coi như tiền… chùa. Cho dân hưởng thoải mái.”

Phía trong cùng, sát bờ kinh là nhà xã trưởng Ngô Văn Àn. Hôm Việt Cộng tấn công, ông ta và anh con trai lớn, cảnh sát viên Ngô Văn An, lui xuống nhà bếp, rồi trượt xuống bờ kinh, núp dưới đó.

&

Tôi  nói với thiếu úy Kiệt:

_ “Hôm Viẹt Cộng tấn công, thằng cha Hiệp không có mặt ở cuộc.”

_ “Nó ở nhà con vợ bé, trong Xóm Biển.”

_ “Nó không sợ? Bộ trong Xóm Biển không có giao liên?”

_ “Không đâu! Xóm Biển hầu hết làm nghề biển, tụi nó không móc nối được. Dân “xóm Đồn Giữa”, “xóm Chủ Ry”, “xóm Rượu” đi làm đồng mới dễ bị Việt Cộng bắt chẹt.”

“Xóm Đồn Giữa” là xóm nghèo, dân tứ xứ mới tìm tới ở mấy năm nay, từ hồi có hiệp định Paris càng đông hơn. Xóm nằm từ “Đồn Giữa” – đồn Nghĩa Quân nằm giữa Kinh Lình Quỳnh và Kinh Vàm Rầy – tới đầu cầu Vàm Rầy. “Xóm Chủ Ry” là xóm cũ có nhà ông Henry, thân phụ “Chị Tư Nết”, tức Annette, tức bà vợ ông đại tướng, thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Hồi trước 1945, ông Chủ Ry có vài ngàn mẫu ruộng, vài trăm con trâu – để cày ruộng – Ruộng ông nhiều lắm, ông phải cho đào kinh xã phèn, trong bản đồ quân sự còn ghi tên “Kinh Chủ Ry”. Sau khi “Thổ dậy”, rồi tới Việt Minh khủng bố, ông bỏ xứ đem gia đình chạy lên Rạch Giá, sau khi Tây chiếm lại thị xã nầy.

Ông Chủ Ry thì “theo Tây” nhưng chú Út, em út của ông thì lại “theo Việt Minh chống Tây”, bị Tây bắn chết, mộ chôn bên kia kinh, ngang nhà ông ta. Xóm Chủ Ry bây giờ còn cái nền nhà của ông và mấy ngôi mộ sơn trắng của gia đình ông, nằm kế bên con lộ Rạch giá / Hà Tiên. “Xóm Rượu” là xóm có lò nấu rượu của hai anh em ông Tư, ông Năm Rượu, nằm xa phía trên, ngang “Xóm Đạo” bên kia sông.

Dân xóm nào cũng nghèo, kiếm ăn từng ngày. Họ “đi làm đồng” là đi giăng câu, đặt lợp, đốn tràm, sống “thiếu trước hụt sau”. Giăng câu, đặt lợp thì tôm cá không bao nhiêu, đốn tràm bán cho Tư Trạng, chủ vựa cũng khổ không kém chi, thường bị du kích – Việt Cộng, dĩ nhiên – nghiêm cấm, bắt giữ, tịch tu dao búa, cưa xuồng.

Lệnh của Việt Cộng là:

“Đốn tràm khô đâm mồ chiến sĩ,

                        Đốn tràm xanh rước Mỹ về nhà.

Đốn hết tràm làm cho đất thành trơ trụi hay thưa ra thì Việt Cộng trốn ở đâu. Chỉ có ai là thân nhân của du kích hay phải làm giao liên cho chúng, chúng mới cho đốn tràm.

&

_ “Tại sao thằng cha Hiệp đêm đó không có mặt ở cuộc. Nó biết trước nó tránh đi hay tình cờ?”

Thiếu úy Kiệt hỏi ngược lại tôi:

_ “Đại úy nghi nó làm Việt Cộng?”

Tôi cũng nói ngược ông Kiệt:

_ “Ông là người chỉ huy trực tiếp nó, ông phải biết rõ nó hơn tui. Sao ông lại hỏi tui?”

Kiệt nói:

_ “Thằng cha nầy ham nhậu, ham gái. Tui không nghĩ nó theo Việt Cộng!”

_ “Nó có bị gài không?” Tôi hỏi.

_ “Đại úy nói con vợ bé nó gài nó?” Kiệt hỏi lại.

_ “Việt Cộng là chúa gài, “thủ đoạn”. Đừng để tụi nó qua mặt mình.” Tôi nói.

_ “Không gài đâu.” Thiếu úy Kiệt lại nói. “Con vợ bé nó sáng đi theo ghe chở cá, ra Rạch Giá giao hàng cho Tư Sậm, xong tính tiền, chiều đem tiền về. Không nghi có lý do con mẹ nầy vô đồng làm giao liên cho Việt Cộng.”

_ “Khi tấn công vô cuộc, Việt Cộng có điều nghiên. Chỗ nào văn phòng, chỗ nào để súng, chỗ nào hầm tuyền tin, chỗ nào phòng ngủ của thiếu úy Huệ, thiếu úy Trực… Bằng cách nào tụi nó biết. Thằng cha Hiệp có qua con vợ bé báo cáo cho Việt Cộng không?” Tôi hỏi.

_ “Trụ sở cuộc, dân chúng vô ra hằng ngày, văn phòng có che dấu gì đâu. Hầm truyền tin thì ngay trước sân. Vô ra ai cũng thấy, cần chi tới thằng cha Hiệp.” Thiếu úy Kiệt góp ý.

_ “Với lại…”

_ “Với lại chi?…” Tôi hỏi tiếp câu bỏ lửng của thiếu úy Kiệt.

Thiếu úy Kiệt vừa nói vừa cười:

_ “Tướng con vợ bé thằng cha Hiệp dâm lắm. Đã ngủ đoản mà cặp lông mày như sâu róm. Hai người nầy cặp nhau chỉ ham có chuyện đó, ham chi “chách mạng cách miếc” mà làm giao liên.”

Tôi cũng cười, nói: “Đa mi đa hộ mao!”

Nhớ hôm ra Rạch Giá, tôi và mấy người bạn ngồi chung quanh bàn ăn, thiếu tá Trinh kể chuyện ở Giồng Riềng, Cảnh Sát Đặc Biệt đi kích, gặp chiếc ghe nhỏ, trên ghe có hai “anh chị” du kích ngủ say như chết, áo quần còn hở hang, chắc xong rồi chưa kịp mặc.

Thiếu tá Trinh nói: “Hôm qua “mần” nhau môt trận dữ dằn lắm hay sao mà tới sáng còn ôm nhau ngủ như chết; súng nổ cũng không biết, đi luôn. Chết đến nơi còn chưa buông.”

Nói xong Trinh cười ha hả. Cả đám cười theo. Tôi nói: “Trời sinh mà ông! Trời cho sướng vô cùng, ai mà không ham! Không phải là yêu nhau chân thật sao?”

Tôi cười, lại nói thêm: “Thật” không thì không biết. “Chân” thì có “chân”. Hai chân chổng lên trời, hai chân xuôi theo giường.”

Thiếu tá Trinh cũng cười: “Hoan hô “Mối tình “chân.” Có lẽ Trinh muốn nhại tên một truyện dài của Nhất Linh.

&

Tôi lại hỏi thiếu úy Kiệt:

_ “Từ hôm giải toả xong tới giờ, thằng cha nầy có báo cáo gì không?”

_ “Không!” Thiếu úy Kiệt trả lời gọn lỏn.

Một lúc sau, tôi nói:

_ “Mình có 7 xã, Vàm Rầy là nặng nhất, vừa ngang trên đường giây 1C, vừa nhiều nguồn lợi, cá, tràm, máy cày, lúa… Tụi nó bám kỹ lắm. Nếu thằng cha Hiệp phụ trách vùng dó không có kết quả gì thì phải thay người giỏi hơn. Ông cho gọi nó về trình diện ông, giải thích cho y rõ. Biểu Năm Hùng chỉ biểu thêm kinh nghiệm cho thằng chả. Năm Hùng từng làm trưởng ấp Vàm Rầy cả chục năm, hồi còn “Đặc Khu Hòn Sóc”, rành rẻ dưới đó. Nó mà không có kết quả gì chắc phải cho nó đi xã khác.”

Thiếu úy Kiệt “dạ” rồi bước ra.

&

Gần tết, thiếu úy Kiệt vô văn phòng tôi, nói:

_ “Xong rồi, đại úy.”

Tôi hỏi:

_ “Gì xong?”

_ “Thằng cha Hiệp.

_ “Nó làm gì hả?” Tôi hỏi.

_ “Thiếu úy Chiếu vừa tịch thu xong một trăm cặp bánh tét ở Vàm Rầy, nhà Tư Lừng, tiếp tế cho tụi Tư Ngọc ăn tết. Thiếu úy Chiếu sẽ giải Tư Lừng lên.

_ “Tư Lừng nhà đối diện nhà thầy Côn, phải không?” Tôi hỏi.

Thiếu úy Kiệt trả lời:

_ “Đúng đấy!”

Tôi cười:

_ “Cái nầy không phải “Trẻ Tạo đành hanh” đâu nghe. Tự dưng ông “Côn” làm nhà kế ông “Lừng”. Hai ông tự đến với nhau chớ đâu phải do ông trời sắp đặt mà trách trời.”

Nghe tôi nói, thiếu úy Kiệt cũng cười.

Một lúc cười xong, tôi hỏi thiếu úy Kiệt:

_ “Công của “ông” Hiệp?” Tôi hỏi.

_ “Vâng! Nó lên bây giờ, trình diện đại úy.” Thiếu úy Kiệt nói.

Tôi gọi tài xế Thành, biểu kêu hai caphê cho tôi với thiếu úy Kiệt. Tôi nói thêm với tài xế Thành:

_ “Chút nữa có thêm mấy người, “ông” nhớ hỏi họ uống gì kêu thêm.”

Nửa giờ sau, trong khi tôi và thiếu úy Kiệt đang ngồi nói chuyện chơi thì thiếu úy Chiếu với cảnh sát (đặc biệt) Hiệp đi vô. Sau khi chào hỏi xong, biểu ngồi xuống, tôi hỏi thiếu úy Chiếu:

_ “Bữa nay Phó Nghiêm làm gì ở dưới?”

_ “Cả đám ở dưới. Vui lắm. Tỉnh đoàn trưởng Xây Dựng Nông Thôn, ty Xã Hội với ông Phó Nghiêm.” Thiếu úy Chiếu trả lời.

_ “Phát bao nhiêu gạo mà đông vậy?” Tôi hỏi.

_ “Mỗi nhà một bao một trăm ký. Chưa phát tiền, hình như trên bộ chưa đem tiền về. Tôn cũng vậy?” Thiếu úy Chiếu lại trả lời.

_ “Có bao nhiêu nhà bị cháy đâu mà phát nhiều vậy?” Tôi hỏi.

_ “Xã Àn ghi tên hết toàn xóm. Ai xin ông cũng cho. Gởi qua em xác minh, em cũng ký tuốt. Gạo gì của mình đâu!” Thiếu úy Chiếu cười trả lời, vẻ thích thú.

Một lúc, thiếu úy Chiếu hỏi tôi:

_ “Đại ca nhớ con Bạch chủ quán càphê Xóm Biển không?”

_ “Nhớ chớ sao không? Bữa tui ghé, nó săn đón nồng nhiệt lắm, cười tình với tui hoài, “ỏng ẹo” buồn cười thiệt; con nhỏ mặt mày phúc hậu đó chớ! Nhưng tui lơ luôn, tới có một lần rồi thôi.”

_ “Em biết rồi!” Thiếu úy Chiếu trả lời tôi. Xong, anh ta nói tiếp: “Đại ca mà tới hoài, chết nó luôn.”

_ “Ông nghĩ bộ tôi không biết à?” Tôi nói.

_ “Đại ca tới hoài, con nhỏ đóng cửa tiệm luôn.”

_ “Quán nó sống được,” tôi nói, “là nhờ mấy thằng đánh cá biển. Sáng tụi nó ngoài biển về, ghé càphê Bạch uống càphê, ăn nhậu, trưa về ngủ, chiều đánh cá tiếp. Tui ngồi chình ình đó, mấy thằng trốn quân dịch đâu dám tới, “chết” quán con Bạch. Ông nghĩ vậy chớ gì?”

Thiếu úy Chiếu cười:

_ “Đúng y chang.”

_ “Vậy ông có biết tội gì không?” Không chờ trả lời, tôi nói tiếp: “Tán trợ bất phục tùng” đó. Tránh mặt cho tụi nó ăn nhậu, tuy không có chứng cớ, nhưng rõ ràng là vậy. “Em gái hậu phương” phải biết vậy mà cám ơn tui chớ!

_ “Con nhỏ Bạch chịu đại ca lắm đó. Ông vô nó chịu đèn ngay.” Thiếu úy Chiếu vừa nói vừa cười.

_ “Chịu thôi! Chịu thôi. “Hà Đông sư tử hống!” Ông biết không?”

_ “Con Bạch cũng được lảnh gạo?” Tôi lại hỏi.

_ “Nó lảnh hai phần, hai trăm ký. Không biết nó khai sao mà hay vậy!” Thiếu úy Chiếu nói.

_ “Ông cho luôn?” Tôi hỏi.

_ “Cho luôn. Gạo Mỹ mà, tiếc chi? Thằng cha thương phế binh ở đồn giữa, khai ba phần, ba trăm ký, em cũng cho luôn.” Thiếu úy kể, hào hứng.

_ “Thằng thương phế binh nầy có báo cáo “chống Mỹ cứu nước”, có phải không?” Tôi hỏi.

Thiếu úy Kiệt trả lời:

_ “Có”.

_ “Mỹ là vậy đó. Đem gạo cho người ta mà đi đâu người ta cũng ghét. Mấy ông biết sao không?”

Không ai trả lời, một lúc tôi nói:

_ “Đem gạo cho dân thì lâu lâu mới có, còn súng đạn thì ngày nào không có. Thằng cha thương phế binh ngày ngày nó nhìn cái chưn què của nó, nó trách ai? Chiến tranh! Tại vì tụi ngoài kia xâm lược hay tụi Mỹ gây chiến tranh. Tui rất “thần tượng” ông Washington, ông Jefferson, nhưng bọn “buôn bán chiến tranh” ngồi ở “Man-Hát-Tan” như Sương Biên Thùy nói thì có cảm tình sao được. Chiến tranh cũng do bọn đó nữa chớ. Mỹ cứ phát cơm áo cho dân quê hằng ngày, cho bọn trẻ con học hành bình an thì Việt Cộng làm gì được chớ! Người Mỹ có hiểu gì người Việt mình đâu, thành ra viện trợ… trật lất. Vô ích!

&

Ai nấy không nói gì thêm. Để tránh cái không khí nặng nề, tôi quay qua hỏi cảnh sát Hiệp:

_ “Đầu đuôi ra sao?”

_ “Dạ! Bữa hổm ở đây về, Em cũng lo. (Cảnh sát Hiệp lớn hơn tôi mấy tuổi, nhưng y xưng “em” với tôi, giống như nhiều người trong ngành). Em kể chuyện với con vợ bé của em. Nó hỏi em:

_ “Anh có muốn lập công không? Có công thì ông đại úy tha, cho anh ở lại đây chớ gì? Dễ lắm, để tui lo.”

“Em làm thinh, cũng tin vợ chút chút. Tuần rồi, vợ em đem cá ra Rạch Giá về, gặp vợ Tư Lừng xin quá giang. Vợ em cho đi. Nó đem về mấy thúng dừa khô với đậu xanh. Hỏi làm chi. Vợ Tư Lừng nói “gói bánh tét”. Năm ngoái, người ta nói nhà Tư Lừng gói cho Tư Ngọc (Tư Ngọc là trưởng ban kinh tài xã Đức Phương, tức Vàm Rầy), một trăm cặp. Năm nay gói nữa là gói cho Tư Ngọc chớ gì. Xứ nầy, ai nấu nấy ăn, ai giàu có gì đâu mà nấu nhiều.

Môt lúc, cảnh sát Hiệp kể tiếp:

“Xong rồi vợ em giả bộ tới nhà Tư Lừng đặt tiền cọc, nhà nó sát bờ kinh. Gói xong rồi, Tư Lừng chuẩn bị cột giây để giòng xuống kinh.

Thiếu úy Chiếu chen vô, giải thích:

_ “Đại ca biết không! Giòng bánh xuống kinh, đáy kinh lạnh, giữ được lâu. Khi em dẫn đệ tử “Tám Hông-đa” tới khám, tìm không ra mối giây. Té ra thằng cha Tư Lừng nầy cũng phòng xa. Đầu mối giây nó không cột trên bờ. Nó đóng cọc ngay dưới mặt nước, phải mò tay xuống mới nắm được. Em cũng tinh ý, nghi rồi, em dò chừng mé kinh từ đầu nhà tới cuối nhà, thấy đầu cọc, thò tay xuống, thấy mối giây. Nặng thấy mẹ, một trăm cặp.

_ “Tư Lừng khai làm sao?” Tôi hỏi.

_ “Tư Ngọc đặt nó nấu, trả công cao, hình như Tư Ngọc chuẩn bị cho một đám “xâm lược” (Bắc Việt xâm lược) từ Kampuchia qua, chờ sau Tết thì theo 1C mà về Chương Thiện.” Thiếu úy Chiếu báo cáo.

_ “Ăn tết chỉ có một cặp bánh tét?” Tôi hỏi.

_ “Trong mật khu chớ có phải Saigon đâu mà đòi “thịt mỡ dưa hành”. Vậy là may lắm rồi.” Thiếu úy Chiếu trả lời tôi.

_ “Ông giải Tư Lừng cho Năm Hưng lấy lời khai chưa?” Tôi hỏi.

_ “Xong rồi!” Thiếu úy Chiếu trả lời.

Tôi quay qua thiếu úy Kiệt:

_ “Ông nói Năm Hưng (ban khai thác) kết thúc sớm, giải giao về cho F. (Cảnh Sát đặc biệt cấp tỉnh). Tết nhứt, trong khám mình không có tù, ăn tết thoải mái.”

Thiếu úy Chiếu hỏi tôi:

_ “Giải quyết “chiến lợi phẩm” làm sao đại ca?”

_ “Ông làm gì chưa?” Tôi hỏi.

_ “Chưa? Chờ đại úy!” Thiếu úy Chiếu trả lời.

_ “Đừng cho ai ăn. Không đáng chi mấy cái bánh tét, tụi nó thưa ra, mấy thằng cha dân biểu đối lập lợi dụng làm tùm lum, mình bị “điều tra, ăn bánh của dân”, “ăn khế trả vàng”, bực mình lắm.” Tôi nói.

_ “Làm sao? Để vài bữa, bánh hư hết.”

“Ăn khế trả vàng” là câu tôi thường nhắc nhở mấy ông cấp dưới của tôi: Mình ăn hối lộ mười đồng. Cấp trên xuống điều tra, mình đút lại cho tụi nó ăn một trăm, mới yên thân. Vậy là “ăn khế trả vàng”. Mình ăn hối lộ “phương trình bậc một”, thanh tra ăn lại “phương trình bậc hai.”

&

Trưa hôm đó, gặp thầy giáo Xinh, hiệu trưởng trường tiểu học ở quận, tôi kể chuyện một trăm cặp bánh tét. Thầy Xinh cười:

_ “Dễ thôi. Ông đem qua bên trường sơ cấp Vàm Rầy, phát cho học trò mỗi đứa một cặp; vậy là xong ngay; mấy thằng chả “đối lập chống Thiệu” có muốn khai thác, cũng chẳng làm gì được, trơ mắt ếch mà nhìn.

Ý kiến “thần sầu”, tôi nói đùa với thầy Xinh, rồi liền gọi truyền tin cho thiếu úy Chiếu, biểu cho Xã Àn ký nhận trăm cặp bánh; xong, sáng mai đem qua trường phát cho học trò. “Tui sẽ xuống chơi. Chờ tui xuống.” Tôi dặn thiếu úy Chiếu như vậy.

Sáng hôm sau, tôi xuống Vàm Rầy.

Bọn học trò đang học, bỗng nhiên, được xã trưởng, cô giáo gọi ra sắp hàng, mỗi đứa được cho một cặp bánh tét, đem về ăn tết.

Bọn con nít hí hửng ra về, xách cặp bánh tòn ten, vui cười, chuyện trò om sòm. Ai thấy cũng vui.

&

Mất bánh, mất tiền, Tư Ngọc giận lắm mà không làm gì được Quốc Gia.

Một hôm, Hai Quẹo, nguyên là du kích địa phương, bị thương vì bị trực thăng bắn. Sau khi chữa lành ở bệnh viện Rạch Gia, y trở lại Vàm Rầy, lo làm ăn, nuôi vợ con, không theo Việt Cộng nữa. Y đi giăng câu, gặp Tư Ngọc.

Tư Ngọc hỏi con Hai Quẹo có ăn bánh tét của Cảnh Sát phát không? Vô tình Hai Quẹo nói có. Tư Ngọc liền chặt đầu Hai Quẹo cắm lên đầu cọc tràm ở cuối kinh, ghi bản án: “Cướp tài sản của “cách mạng”.

Thấy cái đầu lâu Hai Quẹo, ai cũng giật mình.

Nghe thiếu úy Kiệt báo cáo vụ Tư Ngoc chặt đầu Hai Quẹo xong, tôi nói: “Ác giả ác báo”. Cuộc chiến chưa tàn mà.

Mùa hè năm 1974, Tư Ngọc với mấy tên du kích về thu thuế máy cày phía ngoài “mật khu Trà Tiên”, bị Ba Thân, trung đội trưởng thám báo chi khu, phục kích bắn chết khi y đang ngủ trên võng; mình lỗ chỗ tới mấy chục phát đạn AK.

Đời có ân, có oán cả!

Tuy nhiên, nói cho cùng, cũng là “huynh đệ tương tàn”.

Chuyện nầy tôi có kể trong “Hương Tràm Trà Tiên – tức “Kể chuyện đánh giặc ở quê hương Nguyễn Tấn Dũng” do Văn Mới xuất bản.

hoànglonghải

Bí Mật Của Một Câu Kinh Phật

ThuyenNhanVN

Posted on 22/09/2015by mevh2hpsgfr80

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Hình minh họa

Vừa rồi, chúng tôi , những người bạn chí thân từ thời còn đi học ở Việt Nam trước 1975, rủ nhau qua Canada thăm mấy ông bạn khác. Chúng tôi đến thành phố Montreal vào mùa Hè nên không lạnh lắm. Ở Mỹ hay Canada, nhà cửa, cách sinh hoạt không khác nhau mấy. Và việc đi thăm bạn bè thì cũng chẳng có gì đáng kể ra đây nếu không có một câu chuyện, mà nếu bạn nghe được, chắc cũng sẽ ngạc nhiên, đặt nhiều câu hỏi. Chuyện hơi dài dòng, xin bạn kiên nhẫn. Chúng tôi gồm ba cặp vợ chồng, được gia đình người bạn tiếp đón rất thân tình. Ông ta còn gọi các bạn khác ở gần đó, kéo đến, nên buổi họp mặt thật đông vui.

Khi bữa cơm gia đình đã mãn, các bà lo dọn dẹp chén bát để pha trà và các ông đang chuyện trò sôi nổi , thì ông bạn chủ nhà đổi đề tài:

– Có một chuyện thực, xảy ra ở Việt Nam, khoảng năm 1982. Một chuyện kỳ lạ mà bà chị tôi vừa là người trong cuộc vừa là nhân chứng. Lúc còn ở Việt Nam, chị tôi giấu kín vì sợ đến tai Công An thì sẽ bị tra hỏi, có thể bị tù cũng nên. Nay chị tôi đến xứ tự do, sẽ kể thoải mái. Trong câu chuyện, có gì thắc mắc, xin cứ hỏi chị tôi. Người chị của chủ nhà, đang ngồi với các bà, khi được yêu cầu kể chuyện, chị xin phép vài phút để lên lầu. Lát sau đi xuống, tay chị cầm một phong bì đặt trước mặt và bắt đầu kể. Mọi người yên lặng, lắng nghe.

Gia đình tôi, sau bảy lăm (1975), chỉ còn đàn bà vì đàn ông đều vô tù cải tạo hết cả. Khoảng năm tám mươi (1980), chúng tôi được móc nối để vượt biên nhưng vẫn phải chờ ít nhất một người đàn ông đi tù cải tạo về mới quyết định được. Năm đó, cậu em tôi được thả về, chúng tôi báo cho người tổ chức, họ bảo, có một chuyến sắp ra khơi, phải đi ngay. Từ Sài Gòn chúng tôi đón xe về Cà Mau dự đám cưới. Đám cưới thật nhưng ăn cưới chỉ là cái cớ. Dân địa phương thấy người lạ từ Sài Gòn về ăn cưới thì biết ngay, nhưng rình bắt là công việc của Công An. Thế nên, ai cũng chờ đợi màn thứ 2 là khuya nay, Công An sẽ phục ở bãi đáp để tóm gọn quý vị quan khách nầy. Trò nầy xảy ra thường xuyên, nhưng họ không biết rằng vụ vượt biên nầy lại do chính Công An địa phương đứng ra tổ chức, nên tối đó quí vị Công An với các viên chức xã ấp có nhiệm vụ phải nốc rượu cho thật say, để sáng ra, ai cũng không biết gì cả!

Khuya đó, chúng tôi bị gọi dậy , cấp tốc lên đường. Từ nhà ra biển chỉ vài cây số. Trời quá tối. Chúng tôi âm thầm theo người trước mặt, đi vòng vèo trên các con đường đất. Trong bóng đêm tối đen, thỉnh thoảng , bên đường lại có một toán chui ra nhập bọn, tôi đoán, cả đoàn chúng tôi, ít ra cũng hơn trăm người. Mặc dù đã được dặn trước là khi xuống thuyền phải tuyệt đối yên lặng và trật tự, không được chen lấn cãi cọ, nhưng khi thấy mấy chiếc tắc xi (thuyền nhỏ đưa ra thuyền lớn), người ta ùa nhau lội xuống nước, tranh nhau leo lên thuyền. Cậu em tôi đi trước, tay bồng hai đứa con, vợ nó níu lưng đi sau, tôi níu áo cô ta để khỏi lạc nhau. Chỗ bãi đó toàn sình, ngập đến đầu gối khiến ai nấy bì bõm mãi mà chưa đến thuyền . Cậu em tôi phải kéo hai người đàn bà chúng tôi phía sau nên càng vướng víu, chậm chạp. Mọi người như những bóng ma âm thầm, chen nhau leo lên thuyền.

Khi cậu em tôi bỏ được hai đứa nhỏ lên thuyền, đẩy được vợ nó lên, đến lượt tôi thì bỗng có tiếng súng, tiếng la hét:

– Tất cả đứng yên! Đưa hai tay lên. Ai bỏ chạy sẽ bị bắn bỏ.

Tôi thấy ánh đèn pin loang loáng cách chỗ chúng tôi vài trăm thước. Chủ thuyền vội đẩy thuyền ra. Cậu em tôi chỉ kịp níu lấy be thuyền, người vẫn còn ở dưới nước. Tôi và khoảng vài chục người đành đứng nhìn mấy chiếc thuyền lẫn vào bóng tối, mờ dần ngoài biển khơi. Lúc đó tiếng súng và tiếng hô hoán « Đứng yên! Bỏ chạy bắn bỏ » càng như gần hơn khiến mọi người vội chạy ngược về phía bờ. Như đã dặn trước: Khi bị bể, phải chạy tránh xa ánh đèn của Công An, trốn cho kỹ, chờ vài hôm, yên tĩnh mới tìm cách ra lộ đón xe về.

Vậy là mạnh ai nấy chạy. Tôi bương đại lên bờ, chạy ngược hướng tiếng súng. Vừa chạy vừa run, miệng niệm: «Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quảng Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát » còn thì cứ nhắm mắt, nhắm mũi chạy đại, vấp mô đất hay gốc cây té xuống thì vùng dậy chạy tiếp. Lúc đầu hình như có người cùng chạy với tôi , quay lại thì không thấy ai cả! Tôi chạy độ nửa tiếng, thấy đã xa, vừa hoàn hồn thì hai chân rã rời, nhấc không lên. Tôi ngồi đại xuống đất, thở dốc. Lúc đó khoảng một giờ sáng. Tôi nhìn quanh. Một bên là biển đen sì, rì rào tiếng sóng, một bên là bờ rừng, với hàng cây là những khối đen, cao hơn đầu người, trông như những con ác thú đang chờ mồi. Tôi đoán, có lẽ Công An rình bắt một vụ vượt biên khác, cách chúng tôi vài ba trăm mét, chủ thuyền tưởng bị bể, nên bỏ chạy, vì thế mọi người mới chạy thoát.

Từ lúc lên xe ở Sài Gòn đến khi về Cà Mau, tôi hoàn toàn không biết mình đang ở đâu? Bây giờ ngồi bơ vơ giữa đồng không mông quạnh, chung quanh tối mù, tôi tự hỏi mình sẽ làm gì, hay phải ngồi như thế nầy cho đến sáng? Lúc nãy, chạy, người toát mồ hôi, bây giờ, gió biển thổi vào, tôi lạnh run cầm cập. Tôi thầm ước cho Công An đến bắt mình , có người cùng bị bắt với nhau cũng yên tâm, rồi sau đó muốn ra sao thì ra! Cái xách nhỏ trên vai tôi vẫn còn. Tôi tìm chai nước lạnh, uống mấy ngụm. Trong xách chỉ có vài chai nước lạnh, mấy viên thuốc say sóng, mấy hộp sữa đặc, cái khăn nhỏ, một mớ đô la và vàng cùng quyển kinh Phật. Không hiểu sao, trong lúc hoảng loạn mà tôi còn giữ được cái xách?

Đang ngồi rầu rĩ, bỗng nhiên, tôi thấy từ xa, có ánh đèn thấp thoáng, có lẽ là đèn dầu hôi, loại thường thấy ở thôn quê, cách tôi hơn một cây số. Tôi mừng rỡ, quên cả mệt, đứng lên, nhắm ánh đèn mà đi. Tôi đi như chạy, té lên, té xuống, mà không thấy đau, cứ nhắm ánh đèn bương tới, vì sợ người ta tắt đèn thì không biết làm sao tìm đến. Độ nửa giờ sau, tôi đến nơi. Đó là một nhà lá, cửa mở, một cây đèn bão (loại đèn để đi trong gió mà không sợ tắt), đặt trên một chiếc ghế nhỏ, để ngay trước cửa, nhờ vậy mà từ hướng bên trái ngôi nhà, tôi vẫn thấy được.

Khi đến trước cửa, tôi kêu lên:

– Có ai trong nhà không? Cho tôi vào với.

Có tiếng đàn ông nói lớn:

– Vào đi! Đừng sợ!

Khi bước vô cửa tôi mới nhận ra là có một người đàn ông đang ngồi hút thuốc lào, cạnh một cái bàn để giữa nhà. Người đàn ông đứng lên, ra đem cây đèn bão và chiếc ghế vào. Nghe giọng lơ lớ, với cách dùng chữ, tôi đoán ông ta là người Bắc giả giọng Nam. Tôi bước vào nhà. Nhà không rộng lắm nhưng đặt ba nơi ba chiếc giường rộng, có trải chiếu tươm tất. Ông ta chỉ chiếc ghế:

– Ngồi đấy đi!

Tôi nói cám ơn, vì áo quần dính sình, không dám ngồi, sợ dơ ghế. Ông ta bảo, giọng bình thản như việc nầy đã từng xảy ra nhiều lần:

– Thế thì đi tắm đi! Tôi có sẵn áo quần của bà xã tôi, thay tạm. Áo quần bẩn thì giặt đi, phơi ra ngoài gió, sáng mai khô ngay, thay trả lại cho tôi, rồi tôi sẽ đưa ra bến xe, đón xe về Sài Gòn.

Nghe nói sáng mai đón xe về Sài Gòn, tôi mừng quính, không ngờ mình may mắn gặp được cứu tinh. Tôi thấy có cảm tình với người đàn ông tử tế đó, định nói lời cám ơn, nhưng nhìn thấy hai con mắt của ông ta, tôi rùng mình khiếp sợ. Ông ta khoảng năm mươi tuổi, dáng người tầm thước, mặt sạm nắng, hai gò má cao, tóc ngắn , chân tay gân guốc … nghĩa là ông ta đúng là một nông dân, chỉ có đôi mắt là khủng khiếp. Tuy đèn dầu tù mù nhưng đôi mắt vẫn ánh lên những tia sáng lạnh lẽo, vừa uy quyền, tàn nhẫn vừa như giễu cợt. Tôi sợ quá, cảm tưởng như mình là con chuột đã bị con mèo chộp được trong móng vuốt nhưng vẫn giữ đấy chờ con mồi chết khiếp mới từ từ thưởng thức. Thấy tôi đứng bất động vì sợ, ông ta cười, giọng dịu dàng nhưng vẫn uy quyền, như ra lệnh:

– Tôi không hại cô đâu. Cô đừng sợ. Tôi nghe tiếng súng nổ là biết ngay vượt biên bị bể nên thắp đèn lên để ai chạy thoát thì đến đây tá túc, sáng mai tôi lấy thuyền đưa ra bến xe về nhà. Tôi đã cứu hàng mấy trăm người rồi. Ai cũng về nhà an toàn. Đừng sợ. Để tôi lấy áo quần cho cô thay tạm. Hôm nay vợ tôi ra chợ thăm đứa con gái, sáng mai, tôi đưa đi, nhân tiện đón vợ tôi về. Đói bụng thì có cơm nguội trong nồi với con cá khô trong bếp, lấy ra mà ăn.

Ông ta nói nhỏ nhẹ, từ tốn nhưng tôi vẫn sợ, răm rắp theo lệnh. Ông ta vào buồng đem ra một bộ đồ đàn bà màu đen , trao cho tôi rồi thắp một cây đèn cầy , chỉ lối đi ra sau chái nhà:

– Có cái phòng tắm sau kia. Sẵn nước với khăn lau. Tắm xong, mặc tạm, còn bộ đồ bẩn thì giặt đi, phơi lên, sáng mai khô, mặc vào, trả lại bộ đồ cho vợ tôi.

Tôi riu ríu cầm áo quần và cây đèn cầy, ra nhà sau, vào phòng tắm, đóng cửa lại, gắn cây đèn sáp lên bệ, xây lưng về phía đèn, cởi đồ ra, dội nước. Tôi làm một cách vô thức, như bị thôi miên bởi cặp mắt của ông ta, tôi đoán , đang nhìn tôi qua khe hở của vách phòng. Tôi tắm qua loa, mặc áo quần vào. Còn nửa thùng nước, tôi đổ ra cái thau nhỏ sẵn đó, vò bộ đồ dính sình rồi treo lên một sợi dây kẽm trong phòng tắm . Khi tôi lên nhà trên thì ông ta chỉ cái giường, có giăng sẵn mùng:

– Cô ngủ trên giường nầy. Tôi ngủ trong phòng. Ngủ đi cho khoẻ, đừng sợ mà thao thức. Mai đi sớm.

Tôi nói:

– Dạ. Cám ơn! Rồi chui vô mùng. Ông ta tắt đèn, đi vào buồng.

Tôi nằm trên giường, mắt mở thao láo, không dám ngủ. Có chiếc mền mỏng, tôi lấy quấn chặt quanh người rồi nằm lắng nghe, không biết chuyện gì sẽ xảy ra? Tôi chỉ mong được ông ta tịch thu hết số đô la và vàng tôi mang theo rồi tha cho tôi về nhà. Tôi cứ lẩm nhẩm niệm Quán Thế Âm, cầu Phật Bà cứu khổ cứu nạn. Trong đêm tối, tất cả im lặng , chỉ có tiếng sóng biển rì rầm nghe như tiếng xe chạy rất xa . Bấy giờ tôi mới thấy người rã rời, vừa mỏi vừa đau ê ẩm khắp nơi , nhất là những chỗ bị mô đất hay gốc cây đập mạnh vào khi tôi chạy bị ngã. Suy nghĩ miên man, tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.

Khi tôi tỉnh dậy thì trời đã sáng. Vừa xếp mùng, mền xong thì ông ta từ trong buồng bước ra.

– Ngủ có được không?

– Dạ. Đi mệt quá nên ngủ say một giấc đến sáng.

Tôi nói mà không dám nhìn ông ta, sợ thấy đôi mắt kinh khiếp đó.

– Cô thay đồ rồi chúng ta đi ngay. Tôi chở cô ra bến xe ngoài chợ, họ sẽ đưa cô lên bến xe tỉnh, đón xe về Sài Gòn. Cô viết vào miếng giấy trên bàn kia, tên họ địa chỉ của cô. Tôi cần biết về cô để sau nầy dễ xác nhận.

Tôi ra sau nhà, thay đồ, đem bộ đồ của vợ ông ta để trên giường, đến chỗ cái bàn, viết tên họ, địa chỉ vào miếng giấy. Ông ta chỉ cái xách nhỏ của tôi « Đừng quên cái xách tay ». Tôi thấy quyển kinh của tôi để ra ngoài nhưng không dám lấy bỏ vào xách, mà làm như không thấy, chỉ vơ vội cái xách, cầm đi theo ông ta. Ra ngoài sân, tôi mới biết, trước nhà là một con sông rất rộng, có lẽ là cửa sông, còn biển thì nằm bên trái căn nhà, cách một cây số. Nhà ông ta nằm giữa một vùng hoàn toàn hoang vắng, chung quanh là sình lầy với cây đước, vẹt, sú gì đó mọc mênh mông, chạy đến mút mắt. Tôi không hiểu vì sao vợ chồng ông ta lại đem nhau ra ở chỗ nầy? Không ruộng vườn, không thuyền bè đánh cá, không có người chung quanh, ngay đến con chim cũng không thấy bay qua. Có chăng là mấy con cua còng gì đó nằm trên mặt sình dương mắt nhìn tôi. Con đường từ nhà ra bến sông được đắp cao, có lẽ là lối duy nhất đưa ông ta ra chiếc thuyền, đến với xã hội loài người.

Ông ta xuống thuyền, tôi bước theo. Nhờ mấy miếng bê tông làm thành tam cấp nên tôi xuống thuyền không khó khăn lắm. Chiếc thuyền nhỏ, dài khoảng 6, 7 mét, rộng hơn 2 mét, gắn máy đuôi tôm. Ông ta tháo dây cột thuyền, giật máy, đưa thuyền ra giữa giòng sông.

Chiếc thuyền chạy giữa hai bờ rừng vắng vẻ, hoang vu. Một lúc thật lâu thì xa xa thấp thoáng mấy mái nhà sau hàng dừa nước, rồi vài chiếc thuyền xuất hiện, chạy ngược chiều. Thuyền ghé vào một bến đò, có nhà cửa, quán ăn, một chợ thôn quê nhỏ và một bến xe lam (xe Lambretta, ba bánh dùng chở khách). Ông ta cột thuyền, ra dấu cho tôi cùng lên bờ. Mọi người thấy ông ta thì cúi đầu chào vẻ kính cẩn và sợ hãi. Ông ta không thèm nhìn ai, đi thẳng đến chiếc xe lam, nói gì đấy với người chủ xe. Người chủ xe khúm núm gật đầu, miệng dạ nhịp, rồi đến nói với tôi:

– Mời cô lên xe. Xe chạy ngay bây giờ.

Ông ân nhân không để ý đến lời cám ơn của tôi, cũng không nói với ai tiếng nào, xuống thuyền, giật máy, quay thuyền ra giữa giòn. Khi ngồi trong xe lam, tôi thấy mọi người đang tò mò nhìn tôi với vẻ sợ hãi rồi thì thầm với nhau gì đấy. Ông xe lam nổ máy, chở một mình tôi, vòng vèo trên đường đất trong xóm rồi đưa xe ra đường lớn, chạy vào thành phố. Ông ta chạy thẳng đến bến xe khách, ngừng cạnh một xe đầy khách, mời tôi xuống, đưa tôi đến ông tài xế, thì thầm với ông ta. Ông tài xế mời tôi lên ngồi ghế trước. Tôi lục trong xách nhỏ, thấy gói đô la và vàng còn nguyên, lấy ra một mớ tiền Việt đưa trả cho hai người, nhưng ai cũng khoát tay.

– Anh Năm dặn rõ là ảnh sẽ trả tiền xe cho cô, chúng tôi đâu dám nhận.

Chiều hôm đó, tôi về đến nhà . Khoảng một tháng sau, người tổ chức đến gặp tôi, báo tin là mọi người đến đảo an toàn, thân nhân sẽ gửi thư sau. Ông ta hỏi tôi rất tỉ mỉ về vụ những người không kịp lên thuyền, tôi kể lại sự việc. Ông ta bảo những người kẹt lại đã bị Công An bắt, chỉ thiếu hai gia đình, gồm bốn người, không có tin tức. Hai gia đình nầy thì tôi biết, họ là thương gia xuất nhập cảng trước bảy lăm, rất giàu. Trước khi đi, họ đã bán nhà, vì tin chắc sẽ đi lọt, như vậy, họ ôm của cải theo (vàng và đô la), phải nhiều lắm.

Chuyến vượt biển lần đó khiến tôi sợ quá, không dám nghĩ đến, ai rủ đi cũng lắc đầu.

Khoảng một năm sau, tôi nhận được một lá thư, tên người gửi lạ hoắc. Tôi hoàn toàn không biết ai đã gửi đến – Chị ta cầm lá thư đưa lên – Mấy năm sau, chồng tôi đi tù về. Chúng tôi qua Mỹ theo diện HO. Vợ chồng tôi qua Canada ở chơi với gia đình cậu em. Gần 10 năm mà tôi vẫn còn giữ lá thư nầy. Để tôi đọc cho quý vị nghe:

– « Gửi bà H (là tên tôi). Bà còn nhớ, lần vượt biển ở Cà Mau, bị bể và bà được tôi cho trọ qua đêm, hôm sau đưa ra bến xe, về thành Hồ. Tôi biết bà thắc mắc. Tôi là ai? Tại sao lại ở nơi vắng vẻ? Tôi sinh sống bằng cách nào?

Tôi cho bà rõ. Tôi là Công An, có nhiệm vụ ở đó để đón những người vượt biên bị bể chạy thoát được. Công An chúng tôi làm nhà cách nhau một vài cây số, dọc bờ biển, nơi thường có bến bãi vượt biên, có thuyền con đón ra thuyền lớn. Như vậy, khi Công An đến bắt vượt biên, người nào chạy thoát cũng chỉ quanh quẩn đâu đấy, thấy đèn là tìm đến, thế là nộp mạng cho chúng tôi. Tôi bảo rằng có vợ ở chung nhưng thật ra, vợ con tôi đều ở ngoài Bắc, tôi vào đây công tác đã được bốn năm, khi nào ổn định sẽ đưa gia đình vào thành phố, vì chẳng ai có thể ở nơi hoang vắng nầy.

Mỗi Công An chúng tôi đã chuẩn bị sẵn các tiện nghi, nước nôi, lương thực, giường chiếu để đón những người vượt biên tìm đến nhờ cứu giúp. Tôi cho ăn uống, ngủ lại, sáng hôm sau, cho họ xuống thuyền, nói là chở ra bến xe để họ về nhà, nhưng kỳ thực, thuyền đi được nửa đường là bị Công An chận bắt. Tôi cũng bị bắt để không ai nghi ngờ.

Thông thường, nếu nhiều người tìm đến thì tôi bảo họ, có gì đem theo nên kê rõ, nhất là tiền bạc, quý kim, để tránh chuyện lấy cắp của nhau. Nếu chỉ một người thì tôi chờ lúc người đó đi tắm sẽ lục xách tay, kiểm tra những gì đem theo. Tôi còn rình nhìn lúc họ đi tắm, cởi đồ ra, sẽ thấy những gì họ lận theo người? Tôi không bao giờ lấy của ai bất cứ thứ gì, nên khi giải giao họ (đưa lên thuyền để bị Công An chận bắt), Công An chấp pháp lấy lời khai, sẽ thấy rằng tôi rất trong sạch …

Tôi từng được Công An tỉnh và trung ương biểu dương nhiều lần về thành tích chận bắt người vượt biên cũng như tinh thần chí công vô tư, không tơ hào đến của cải, vật chất của người bị bắt. Nhưng không ai biết rằng, hễ người nào đem nhiều đô la, vàng ngọc, hột xoàn là tôi thủ tiêu, chôn xác trong rừng. Tôi đào sẵn những cái hố, muốn giết ai, khuya đó, tôi lận súng trong người, bảo họ đi theo tôi để tôi chỉ đường mà đi ra đường chính đón xe về. Vào rừng, tôi bắn chết, đạp xuống hố, hôm sau ra lấp đất lại. Không người nào thoát khỏi tay tôi, vì chung quanh toàn sình lầy, có bỏ chạy một quãng là ngập người dưới sình, tôi chỉ rọi đèn pin, đi tìm và bắn họ rất dễ dàng. Tôi có nói bao nhiêu người bị tôi thủ tiêu với bà cũng chỉ làm bà kinh hoàng chứ chẳng ích lợi gì. Tất cả của cải cướp được, tôi đưa cho vợ tôi đem về quê chôn giấu. Hột xoàn, đô la, vàng ngọc, châu báu … Nghĩa là vợ chồng tôi rất giàu. Vợ tôi bảo, có thể bỏ vốn lập những công ty, mua máy móc để sản xuất hàng hoá xuất khẩu hoặc mua nhà cửa ở Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh cũng không hết của. Dĩ nhiên gia đình tôi ngoài Bắc vẫn sống đạm bạc như bao nhiêu người khác, để tránh bị nghi ngờ. Tôi dự định sẽ làm thêm vài năm, kiếm một số tiền vàng nữa rồi xin ra khỏi ngành. Tính ra, tôi ở đó đã được bốn năm, cho đến cái đêm bà tìm đến nạp mạng cho tôi.

Như mọi khi, lúc bà đi tắm, tôi rình xem bà cởi đồ (để biết của cải lận theo người) rồi lên kiểm tra xách tay của bà. Tôi thấy trong xách có nhiều vàng và đô la. Như vậy, số phận của bà đã được tôi quyết định. Bà sẽ bị tôi thủ tiêu. Trong lúc lục xét xách tay tôi thấy có một quyển kinh, khổ lớn hơn những quyển kinh khác, mà những người vượt biên khác thường đem theo. Quyển kinh lớn đó khiến tôi tò mò. Theo thông lệ, tất cả kinh Phật của những người vượt biên, tôi giữ lại, khi nào lên tỉnh, tôi tặng cho người bạn đang trụ trì một ngôi chùa lớn, gần chợ. Anh ta là Công An, đi tu là công tác, vẫn lãnh lương Công An. Tôi tặng các quyển kinh Phật cho chùa để ai đến lễ chùa mà «thỉnh» những kinh đó thì biết ngay, người đó sẽ vượt biên và chúng tôi theo dõi. Vì tò mò và vì nghiệp vụ, tôi mở quyển kinh của bà ra, để sát ngọn đèn cho dễ đọc. Tôi đọc một cách tình cờ, một câu kinh nằm ngay giữa trang kinh. Chỉ một câu thôi. Câu duy nhất đó khiến tôi lạnh toát người vì kinh sợ. Tôi sợ đến choáng váng, muốn té xỉu, đến độ ngồi chết lặng một lúc thật lâu. Tối đó, tôi không ngủ được.

Hiện nay tôi đã ra khỏi ngành Công An. Tôi đã đi tu ở một vùng núi miền Tây Nguyên, rất hẻo lánh, xa hẳn phố phường, làng xóm. Ngôi chùa nhỏ được cất bên góc núi. Rất xa, dưới chân núi, cách nơi tôi ở, thấp thoáng những nhà sàn của những người thuộc sắc tộc thiểu số. Mỗi buổi sáng, tôi lạy Phật, tụng kinh, rồi lên đồi cuốc đất, trồng khoai sắn, rau quả. Buổi tối tôi lại tụng kinh và suy ngẫm lời Phật dạy. Tôi bảo với vợ tôi là tôi làm nhiệm vụ trên giao, không nên gặp nhau nhiều, thỉnh thoảng lên tiếp tế lương thực mà thôi. Của cải mà tôi kiếm được (vợ tôi đang giữ), tôi dặn, nên trích ra một phần, khi nào có thiên tai bão lụt thì đem cứu giúp người hoạn nạn, giúp bà con, bạn bè khi họ cần, giúp các người già lão, bịnh tật, không nơi nương tựa, giúp các trại mồ côi, các trại cùi hủi …

Tôi viết để bà rõ, nay tôi đã chọn con đường khác. Tôi chỉ muốn biến mất trên thế gian, nhưng còn các con tôi? Chúng là nguồn sống của tôi. Tôi lo sợ cho chúng … Nếu bà là một Phật tử, xin bà đến chùa, cùng góp lời cầu xin Phật Tổ cho tôi sớm tìm được con đường giải thoát. Chúc bà sức khoẻ».

Đọc đến đó, chị đàn bà giơ lá thư lên và nói: «Thư chỉ viết thế thôi».

Chúng tôi lặng đi một lúc rồi có người hỏi:

– Chị có nhớ mình mang theo quyển kinh Phật tên gì không?

– Đúng ra, lúc nào tôi cũng để sẵn quyển kinh «Quán Thế Âm Bồ Tát» trên bàn thờ, hễ hô «đi!» là tôi chỉ việc bỏ vô xách tay và lên đường. Hôm đó, cô em dâu tôi đây, lại lấy quyển kinh đó trước, tôi vội quá, mở tủ kinh Phật của ba tôi để gần đó, vơ đại một quyển, nghĩ rằng «Phật nào cũng là Phật, vị nào cũng phù hộ, độ trì cho chúng sinh tai qua nạn khỏi». Ba tôi, khi còn sinh thời, tu tại gia, nghiên cứu kinh Phật. Ngoài chữ Việt, ông cụ còn biết chữ Hán, chữ Nôm nên thỉnh rất nhiều kinh về nghiên cứu. Thế nên, đến bây giờ tôi cũng không biết mình đã mang theo quyển kinh nào khi vượt biên. Điều tôi tin chắc rằng. Chính quyển kinh đó đã cứu mạng tôi và câu kinh trong đó, như một lời phán của Đức Phật hoặc đấng Hộ Pháp, bảo thẳng với kẻ ác hãy ngừng tay lại. Lời phán đó phải có uy lực mạnh mẽ đến nỗi một kẻ giết người phải khiếp đảm.

Trong bọn chúng tôi, chẳng ai là đệ tử nhà Phật mặc dầu, thỉnh thoảng có đi chùa lạy Phật, tụng kinh trong những ngày lễ, tết. Chúng tôi hỏi nhau rồi phán đoán đủ thứ. Câu «buông đao thành Phật» quá tầm thường, chẳng làm ai động tâm. Muốn biết bí mật của câu kinh đó, chỉ còn cách đi hỏi các Nhà Sư thì hoạ may.

Vì bị câu chuyện trên ám ảnh, nên trên đường từ Canada về lại miền Đông Bắc nước Mỹ, chúng tôi quyết định, ghé vào một ngôi chùa của Sư PT để thăm và hỏi cho ra lẽ. Sư trạc tuổi chúng tôi, là chỗ quen biết nên rất thân tình. Sư PT xuất gia từ lúc 11 tuổi tại chùa Diệu Đế ở Huế. Vượt biên qua Mỹ, sư học và tốt nghiệp tiến sĩ Phật Học. Tuy còn trẻ, nhưng Sư PT thông hiểu Phật pháp và có một cuộc sống rất đạo hạnh.

Trưa hôm đó, chúng tôi được sư khoản đãi cơm chay. Trong lúc thọ trai, chúng tôi kể lại câu chuyện trên cho sư nghe và hỏi sư có biết câu kinh nào đã khiến một người vô thần phải buông đao giết người và đi tu không? Nhà Sư suy nghĩ một lúc và nói:

– Nếu lý luận theo Phật pháp thuần tuý ở đây thì không thích hợp với một người Cộng Sản. Họ đã được dạy căm thù và được huấn luyện cách giết người, nên dù có cả một bầy quỉ dữ từ địa ngục chui lên, hay hàng nghìn Đức Phật hiện ra thuyết pháp, chưa chắc ông Công An nầy phải sợ mà ngưng tay. Ông ta chẳng thù hận gì những người vượt biên, nhưng giết họ để cướp của, ông ta làm thản nhiên như người đồ tể giết heo, giết bò. Mục đích là để có nhiều tiền của cho con cái được sung sướng. Cán bộ Cộng Sản thường bảo nhau: Hy sinh đời bố, củng cố đời con là thế. Kinh Phật chỉ nói về cái nghiệp và cái quả. Ai làm nấy chịu. Nhưng người Việt mình lại có câu Đời cha ăn mặn, đời con khát nước. Cha mẹ thương con cháu thì ăn ở nhân đức, để phước cho chúng. Con cháu, nhớ ơn đó mà thờ phụng các vị một cách thành tâm. Đó là «Đạo Thờ Ông Bà». Ông Công An Cộng Sản nầy thì làm ngược lại, nên ông ta bị ám ảnh bởi việc ác của mình,  quả báo nhãn tiền», con cháu sẽ lãnh đủ. Có thể, con cái ông ta bị đâm chém hay bị giết chóc sao đó, khiến ông ta nghĩ rằng «Mình giết người ta thì con mình bị người ta giết» nên ông ta sợ. Nhưng Phật đâu có dạy về chuyện quả báo cho đời con cháu mà ông ta, khi đọc một câu nào đó trong kinh Phật lại sợ hãi đến nỗi phải bỏ nghề, đi tu?

Trầm ngâm một lát, Nhà Sư nói tiếp:

– Đa số những người vượt biên đều đem theo người là kinh A Di Đà hoặc Bạch Y Thần Chú, coi như có Thần Phật hộ trì bên cạnh. Khi gặp chuyện hiểm nguy thì niệm «Nam Mô Đại Từ Đại Bi Quảng Đại Linh Cảm Quan Thế Âm Bồ Tát» chỉ đọc tới đọc lui câu đó thôi, coi như tiếng kêu cứu, các vị Bồ Tát sẽ ra tay tế độ, giúp cho tai qua nạn khỏi. Những quyển kinh mà ông ta tịch thu, không nhất thiết đều giống nhau. Có thể người đàn bà kia đã mang một quyển kinh khác. Hơn nữa ở một nơi hoàn toàn vắng vẻ, không có gì giải trí ngoài việc đọc các quyển kinh Phật, quả thật, ông ta đang bước về hướng của giải thoát. Chính cái ý niệm muốn giải thoát khiến ông ta bỏ nghề, và câu kinh Phật kia chỉ như vật xúc tác, như cái nút điện mà ông ta đang mò mẫm trong bóng tối, đã bật sáng, cho ông ta thấy được con đường phải đi. Mỗi người là Phật chưa thành là vậy. Con người dù độc ác , mê muội đến đâu , cũng còn le lói một chút ánh sáng của lương tri.

Chúng tôi hỏi:

– Giả dụ như ông Công An đó đến xin thọ giáo với thầy. Thầy sẽ giảng những gì cho một người vô thần như ông ta hiểu về Phật pháp?

Nhà Sư cười:

– Thoát được «tham, sân, si» là tự giải thoát rồi. Chính tôi phải học ông ta, làm cách nào đã bỏ được chữ «tham»? Chữ «tham» đơn giản, thường tình thôi, không cần phải triết lý xa vời. Tiền của vô tay dồi dào, dễ dàng như vậy mà lại bỏ hết, mấy ai làm được? Còn hai chữ «sân, si», bản thân tôi như đang nằm trong cái rọ, không biết bao giờ mới thoát ra! Ông ta là thầy tôi mới đúng.

– Thầy có thể đoán được câu kinh nào nằm trong quyển kinh nào, đã khiến ông ta phải sợ mà đi tu không?

Nhà Sư lắc đầu:

– Chỉ riêng ông ta biết được mà thôi. Có thể chỉ một câu tình cờ, bình thường nào đó ông ta đọc được nhưng giải thích đúng những băn khoăn, thắc mắc, sợ hãi bấy lâu của ông ta, nó đánh động lương tâm ông ta, hướng dẫn ông ta tìm con đường giải thoát. Xưa kia, lục tổ Huệ năng chỉ nghe một câu trong kinh Kim Cang liền ngộ được đạo.

– Nhưng nhất định phải có một câu kinh nào đó. Thầy thử nhớ xem sao?

Nhà Sư lắc đầu:

– Bị hỏi thình lình, tôi không nhớ ra ngay. Hay là thế nầy. Bây giờ mời quí vị ra vườn sau chùa uống trà, ngắm hoa. Tôi xin được ít phút tập trung tư tưởng, hoạ may sẽ nhớ được điều gì chăng? Mục đích không phải tìm hiểu mà chỉ như trò chuyện cho vui vậy thôi. Tôi không đủ trình độ để giải thích câu chuyện kỳ lạ nầy.

Nhà Sư lên chánh điện. Chúng tôi ra sau chùa, vừa chuyện trò vừa lang thang ngắm hoa cảnh. Có tiếng chuông ngân vang từ chánh điện, rồi tất cả yên lặng. Có lẽ Nhà Sư đang lễ Phật và trầm tư …

Độ một giờ sau, Nhà Sư xuất hiện ở ngưỡng cửa với nụ cười. Sư tiến đến, ngồi xuống với chúng tôi ở một bàn nhỏ dưới gốc cây. Chúng tôi vội hỏi:

– Tìm được câu kinh nào chưa Thầy?

Sư lắc đầu và cười:

– Kinh Phật chẳng có câu nào hăm doạ người ta, bắt người ta phải đi tu cả! Để nói về nghiệp báo thì kinh Thuỷ Sám Pháp có nói nhiều, nhưng tôi chỉ nhớ chính xác vài câu ở các quyển kinh khác, chẳng hạn, trong kinh Đề Bà Đạt Ma (Devadata -suta) có câu: Những việc ác mà ngươi đã phạm, không phải là tại cha ngươi, không phải tại mẹ ngươi, không phải tại thầy, chủ ngươi. Chính một mình ngươi đã phạm, và một mình ngươi phải chịu quả báo. Trong kinh Pháp Cú (Damma-pada) cũng có câu: Dẫu ngươi chạy lên trời cao, ẩn dưới biển sâu, trốn trong núi thẳm, không có nơi nào ngươi tránh khỏi cái quả ghê gớm về tội ác của ngươi …

Nói xong Nhà Sư lộ vẻ bối rối:

– Rất tiếc, vì sự vô minh của tôi mà câu kinh đó vẫn còn là một bí ẩn. Xin lỗi đã làm quý vị thất vọng. Theo tôi nghĩ, sự thống hối của ông ta quá thành khẩn, đã cảm động đến đức Phật, và Ngài đã ra tay tế độ, đã khai ngộ cho ông. Nhưng phải là người thật thành khẩn thì Đức Phật mới làm được việc đó. Và quý vị cũng nên nhớ, cả triệu người Cộng Sản Việt Nam, may ra mới có được một người như vậy thôi.

Phạm Thành Châu 2009/04/29 VanTuyenNet

Chiến tranh bên cạnh, tình yêu

baovecovang2012.wordpress.com

Huy Van Truong

Posted on December 6, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 3 Apr 2024

Hình minh họa

11. Kết
Đoạn cuối cho một quê hương băng hoại,
một nền văn hóa suy đồi,
một xã hội mục nát.

Tên của hắn là Lâm Châu, độc thân, 30 tuổi, đến Pulau Bidong ngày 28 tháng 4 năm 1980, trên tàu CLA 10385 gồm có 76 người, số thứ tự tàu là 622, có nghĩa là trước con tàu của Lâm Châu, đã có 621 chiếc đến Mã Lai và sau đó được đưa ra đảo Pulau Bidong. Sau khi hoàn tất mọi thủ tục nhập đảo với Ban tiếp nhận người mới, Lâm Châu được Ban nhà ở cho về tạm trú trong một căn lều thuộc khu A, nơi có 3 thanh niên độc thân đang trú ngụ.

Vào khoảng giữa tháng 4 năm 1980, số người Việt Nam tỵ nạn ở trên đảo Pulau Bidong chỉ còn hơn ba chục ngàn người, so với bốn mươi lăm ngàn vào tháng 4 năm 1979. Với chừng đó người, sống chen chúc trong một khu vực khoảng một cây số vuông, quanh bờ biển phía Nam của đảo, quả là có hơi chật chội. Tất cả nhà cửa cũng như lều trại ở trên đảo, được chia ra làm 7 khu A,B,C,D,E,F và G. Tùy theo quan niệm sống cũng như sở thích riêng của từng gia đình, nhiều người mong được sống trong khu A, vì gần bịnh viện Sick Bay, gần chợ chồm hổm nơi khu C, và gần nơi lãnh thực phẩm do Cao ủy tỵ nạn phân phát. Riêng Lâm Châu, vì độc thân nên ở đâu cũng không có gì là quan trọng đối với hắn. Hắn quan niệm, ở khu nào trên đảo Pulau Bidong cũng đều là thiên đường nơi hạ giới.

Một hôm khi đi tắm biển ở khu F, bất ngờ Lâm Châu gặp lại một người bạn ngày xưa cùng ở chung xóm. Cái tình hàng xóm của một thời mà hai người còn bận quần xà lỏn tắm mưa, bắt dế, đá cá lia thia. Sau đó khi lên bậc trung học, mỗi người một nẻo bặt âm vô tín. Gần hai chục năm sau nơi đất khách quê người tình cờ gặp lại, tha hương ngộ cố tri, cả hai ôm lấy nhau mừng mừng tủi tủi, cứ như là Bá Nha gặp Tử Kỳ.

Ông bạn hàng xóm hỏi Lâm Châu.

-Tới đảo lâu chưa?

-Được khoảng một tuần. Còn mày?

-Tao hả? Ngày mai tao qua trại chuyển tiếp Terengganu, rồi đi Mỹ.

Lâm Châu vỗ vai ông bạn hàng xóm.

-Chúc mừng, chúc mừng.

Mặt mày tươi rói, ông bạn hàng xóm hỏi Lâm Châu.

-Mày đã gặp phái đoàn nào phỏng vấn chưa?

-Chưa.

-Ngày xưa có lính tráng gì không?

Đưa bàn tay phải cụt mất hai ngón tay trỏ và giữa, Lâm Châu nói.

-Tao được miễn đi lính vì lý do tàn tật.

-Có cha mẹ, anh em gì ở Mỹ không?

-Không.

Ông bạn hàng xóm chắt lưỡi rồi than.

-Hốt rác là cái chắc.

-Mày nói gì? -Tao nói nếu muốn xin đi Mỹ, mày sẽ bị xếp vào thành phần hốt rác. Hiện tại muốn đi định cư ở Mỹ, phải có một trong ba điều kiện ưu tiên như sau: Ưu tiên một, cha mẹ bảo lãnh cho con cái hay ngược lại, thành phần này sẽ ở đảo khoảng ba đến bốn tháng. Ưu tiên hai, vợ chồng anh em bảo lãnh, thành phần này ở đảo khoảng năm sáu tháng. Ưu tiên ba, là quân nhân, cảnh sát, những người đã từng phục vụ cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, những người này sẽ ở đảo khoảng chín tháng tới một năm.

Hình minh họa

Ngừng một chút như chờ cho Lâm Châu hiểu rõ vấn đề, ông bạn hàng xóm nói tiếp.

-Ngoài ba thành phần trên, hầu hết những người còn lại, nếu không chịu đi định cư tại những nước khác như Canada, Úc, Anh, Pháp…thì cứ nằm ở đảo mà chờ. Một, hai năm, phái đoàn Mỹ sẽ mở một cuộc phỏng vấn nhân đạo, họ lượm hết tất cả những người này, gọi là làm một cuộc hốt rác. Chữ dùng nghe không được êm tai cho lắm, nhưng đó là cách mà những người tỵ nạn sống trên đảo nói chuyện với nhau.

Lâm Châu than với bạn.

-Như vậy tao ở đây có tệ lắm cũng hơn một năm, phải không?

-Đúng.

Sau một phút chần chừ, ông bạn hàng xóm nói tiếp.

-Tao có cái này rất hay muốn nói với mày, tụi mình vô quán cà phê đàng kia ngồi đi. Tao sẽ giới thiệu cho mày một việc làm tốt nhất trên đảo này, làm để cho cơ thể được mạnh khỏe lại có chút tiền, chờ ngày đi định cư. Hy vọng mày sẽ không từ chối.

Lâm Châu nói.

-Khoan đã, tao không có tiền uống cà phê đâu.

-Đừng có thắc mắc, nhằm nhò gì ba cái chuyện tiền bạc lẻ tẻ đó, tao cân hết mà.

Từ bồn chứa nước ngọt khổng lồ, cung cấp nước sinh hoạt cho tất cả mọi người trên đảo, cả hai đi dọc theo bãi biển về phía đồi tôn giáo, ước chừng sáu, bảy trăm mét mới đến được quán cà phê. Quán rộng chừng ba chục mét vuông, một nửa mái của quán lợp bằng tôn, nửa còn lại che bằng mấy tấm ny lông xanh được viền, nẹp, bằng cây rất kỹ. Tuy vậy mỗi khi có chút gió biển thổi vào, phần ny lông dư, viền quanh mái đập phần phật như muốn tách ra, bay đi nơi khác. Bàn ghế trong quán được đóng sơ sài bằng những tấm ván, nhặt nhạnh nơi vỏ mấy con tàu cũ. Một quầy tính tiền ở sâu trong quán, hai cái loa dám tới 100 watt treo trên cột đang phát ra một bản nhạc tình, lời ca buồn da diết.

Nằm nghe sóng vỗ từng lớp xa, bọt tràn theo từng làn gió đưa…

Gần 5 năm rồi mới được nghe lại một bản nhạc ngày xưa của thời Việt Nam Cộng Hòa, nghe trong một không gian bao la rộng rãi của bãi biển nơi xứ người, trong bầu không khí tự do tuyệt đối, không có Bác Hồ, không có Đảng Cộng Sản, không công an khu vực, không tổ trưởng, không tổ phó an ninh, không họp tổ dân phố, không xét sổ hộ khẩu, không đánh tư sản mại bản, không kinh tế mới, không đổi tiền, không cơm độn. Nói chung những thứ gì chết bằm, chết tiệt, có liên hệ tới Đảng Cộng Sản đều không có ở đây. Bất ngờ gặp lại cái không khí bãi biển Nha Trang của những ngày xa xưa cũ hiện về trước mắt, khiến Lâm Châu lặng người chết sửng. Bầu không khí tự do mà anh đi tìm đang hiển hiện trước mắt.

Bắt tay với chủ quán, ông hàng xóm của Lâm Châu giới thiệu.

-Đây là Lâm Châu, bạn của tôi, người mà tôi nói sẽ tiếp tục làm công việc kéo nước.

Chủ quán cười vui vẻ.

-Tôi hoàn toàn tin tưởng nơi ông, cứ thế mà làm đi. Bây giờ hai ông uống gì, cà phê sữa đá, cà phê đen, coca, pepsi, seven up?

Ông bạn hàng xóm của Lâm Châu nói.

-Cho tôi hai ly cà phê sữa đá.

Chủ quán đi vào trong, một lúc sau vợ của ông ta mang hai ly cà phê đến.

Cầm cái muỗng khuấy đều rồi nâng ly ực một hơi. Ông hàng xóm bắt đầu.

Hình minh họa

-Chuyện như vầy, cả năm rồi ở trên đảo Pulau Bidong, tao sống hùng sống mạnh bằng cái nghề kéo nước mướn cho tiệm cà phê này. Đồ nghề của tao gồm có tám cái thùng nhựa đựng nước, mỗi thùng có dung tích là hai mươi lăm lít, và hai sợi dây dù cỡ ngón tay mỗi sợi dài bốn mét. Mỗi buổi sáng sau khi điểm tâm bằng hai chén cơm của Cao ủy, nếu sang hơn tao bỏ ra một đồng Mã Lai là có một tô bún cá to bự, với đầy đủ hành hẹ giá sống. Tám giờ sáng tao đến bồn chứa nước ngọt của đảo, nhờ mấy anh bạn trong Ban cấp thủy du di cho tao tám thùng nước đầy. Từ bồn chứa tao xách những thùng nước này xuống mé biển, cách đó chừng hai chục mét, dùng sợi dây dù xỏ qua tay cầm, cột bốn thùng nước lại với nhau. Sau đó choàng đầu dây qua vai, rồi kéo đến quán cà phê này. Một trăm lít nước tương đương với sức nặng là một trăm ký, mới nghe qua tưởng là khó khăn, cực nhọc lắm. Thực ra nó nhẹ hều, bởi vì tao kéo phía trước, đàng sau nhờ có ông Archimede đẩy phụ. Đoạn đường kéo nước dài chừng sáu trăm mét, tao đi mất nửa giờ, sau đó trở lại làm tiếp chuyến thứ hai. Đổ tám thùng nước vào hai cái phuy của quán cà phê xong, tiền trao cháo múc, chủ quán trả cho tao tám đồng Mã Lai, nếu đổi ra đô la Mỹ được bốn đồng. Mỗi buổi sáng tao tập thể dục chừng hai tiếng kéo nước trên biển, lãnh bốn đô la Mỹ ngon ơ. Mày muốn làm không?

Nhìn bàn tay cụt mất hai ngón của mình, Lâm Châu ngần ngừ.

-Nếu tao không làm thì sao?

-Mày đừng có lo, cái mối này có thằng chịu chung cho tao ba chục đô, để tao sang lại cho nó dàn đồ nghề và giới thiệu với chủ quán cà phê. Khi gặp mày, tao đổi ý chỉ muốn giao lại cho mày, với chút hy vọng là hơn một năm đợi chờ trên đảo, mày có công ăn việc làm để giải khuây, có chút tiền tiêu vặt và tao cũng được trọn chút tình xưa nghĩa cũ với bạn bè. Mày có biết, tại sao tao nói như vậy không?

Lâm Châu lắc đầu.

-Không biết.

Ông hàng xóm của Lâm Châu cười.

-Tao biết mày quên chuyện này rồi. Hồi đó mày có con dế lửa với râu ria chân cẳng coi ngầu hết sức, đá đâu thắng đó, có đứa đòi mua hai đồng mà mày không bán lại đem cho tao. Lúc đó, thiệt lòng mà nói tao cảm động đến muốn khóc. Khi xa cái xóm nhỏ, thằng bạn mà tao nhớ nhất là mày.

Lâm Châu hoàn toàn không nhớ một chút gì về chuyện con dế ngày xưa, vậy mà ông bạn hàng xóm vẫn còn mang theo trong lòng cho đến hôm nay, hắn nhìn ông bạn mà lòng bồi hồi xúc động.

-Cảm ơn mày đã giúp đỡ tao.

-Không có gì đâu, sau khi uống cà phê xong tao sẽ dẫn mày về lều của tao, mày phải dọn qua khu F này ở luôn cho tiện việc làm ăn. Căn lều tao đang ở chỉ có tao và một thằng nữa, hắn cũng mới tới đảo đâu chừng vài ngày.

Khi ông bạn hàng xóm đã lên đường đi định cư, căn lều còn lại hai người, Lâm Châu và một gã thanh niên. Mỗi người một góc lều, mạnh ai nấy sống.

Hai ngày qua đi trong câm lặng, cuối cùng không chịu được bầu không khí tẻ nhạt, Lâm Châu nói với gã thanh niên.

-Tôi tên là Lâm Châu, còn anh?

-Hỏi làm gì?

-Để khi cần, xưng hô cho dễ.

Gã đàn ông với đôi mắt buồn hiu, lơ đễnh nhìn trời.

-Quân.

Lâm Châu chửi thầm trong bụng, mẹ nó sao mày hà tiện lời nói quá vậy, nghĩ như vậy nhưng hắn vẫn cố nhẫn nại.

-Nếu cần gì xin anh cứ nói, làm được gì giúp anh tôi sẽ làm.

-Cảm ơn.

Nói xong Quân lại cắm cúi ngồi viết, coi như không có Lâm Châu đang có mặt trong lều. Một tháng trôi qua bầu không khí nhàm chán trong căn lều vẫn vậy, không có gì thay đổi. Lâm Châu ngày ngày đi kéo nước mướn, khi trở về lều, hắn thấy Quân vẫn ngồi đó chăm chú viết. Có một điều khá kỳ lạ là tuy Quân chăm chú viết, nhưng hình như hắn không viết được bao nhiêu. Một tháng qua rồi mà cũng chỉ một cây viết với cuốn vở. Nhiều lần khi đi lãnh thực phẩm của Cao ủy ở kho tiếp liệu, gần cầu Jetty, tiện thể Lâm Châu lãnh giùm lương thực cho Quân. Nhờ đó mà Lâm Châu biết là Quân đi tàu chỉ có một người, đến đảo ngày… số thứ tự tàu …

Hình minh họa

Chừng đó chi tiết giúp cho Lâm Châu đoán được, chắc tàu của Quân gặp dông tố, bão bùng trên biển, và hắn là người sống sót duy nhất, cho nên hắn mới bị trầm cảm như vậy. Giải tỏa được thắc mắc mang nặng trong lòng, Lâm Châu mới thấy thoải mái, không còn bận tâm nhiều về Quân.

Cũng trong thời gian này, một thuyền nhân là kiến trúc sư đang ở trên đảo, cùng với nhiều người trong khối xây cất, đã được phép của chính quyền Mã Lai, họ bắt đầu xây đài tưởng niệm thuyền nhân trên một ngọn đồi, cách nhà thờ và chùa trên đồi tôn giáo không xa mấy. Mọi việc tiến hành tốt đẹp, qua đến tháng bảy, đài tưởng niệm đã hoàn tất. Đài gồm có một cái đế hình tròn được xây bằng đá, đường kính ước chừng sáu, bảy mét, chiều cao hơn một mét. Ngay trung tâm có một cái trống đúc bằng xi măng tượng trưng cho trống đồng Ngọc Lũ của người Việt Nam. Trên chân đế, có năm cánh buồm trắng, to nhỏ, cao thấp, khác nhau. Cánh buồm cao nhất chắc cũng hơn bốn mét, cùng với bốn cánh buồm khác hội tụ tại một điểm là tâm của nơi đặt trống. Năm cánh buồm tượng trưng cho những con thuyền tỵ nạn Việt Nam, cùng hướng về cái trống đồng là hòn đảo Pulau Bidong, hòn đảo của tự do.

Từ ngày có đài tưởng niệm trên đồi tôn giáo, Lâm Châu thấy Quân không còn ngồi lì trong lều. Mãi cho đến sau này hắn mới biết, Quân ngày ngày vẫn thường lên ngồi dưới những cánh buồm nơi đài tưởng niệm, nhiều lần hắn ngồi cho đến gần nửa khuya mới trở về.

Cuộc sống trên đảo êm đềm qua mau, ngày ngày người ta vẫn tiễn người cũ lên đường đi định cư, đón tàu tỵ nạn mới tới đảo. Những đợt sóng tỵ nạn Cộng sản, lớp sau theo lớp trước, ào ào như sóng biển vỗ bờ tưởng không bao giờ dứt. Sau gần một năm chờ đợi, cuối cùng Lâm Châu cũng được phái đoàn Mỹ phỏng vấn, và chấp thuận cho đi định cư. Để ăn mừng ngày mà cuộc đời bước qua ngã rẽ mới, Lâm Châu chia sẻ với Quân tin vui của mình.

-Anh Quân nè, tôi đã được cho đi Mỹ rồi.

Quân cười, nụ cười mà cả năm rồi Lâm Châu mới thấy.

-Chúc mừng, lên đường bình an.

-Mới được Mỹ nhận thôi, còn phải đợi ít nhất là dăm ba tháng nữa. Trường hợp của anh như thế nào?

Quân thản nhiên nói.

-Tôi thuộc diện ưu tiên ba, năm ngoái phái đoàn Mỹ phỏng vấn và chấp thuận cho đi định cư, nhưng tôi từ chối.

Nghe Quân nói, Lâm Châu tưởng Quân nói giỡn, cho nên hắn không thắc mắc gì rồi nói.

-Cả năm rồi tôi kéo nước mướn cho nên có chút tiền dư. Hôm nay tôi mời anh đi ăn bún cá rồi uống cà phê, mừng ngày tôi được chấp thuận cho đi Mỹ.

Quân gật đầu.

-Đi thì đi.

Sau khi thưởng thức tô bún cá thơm ngon, đậm đà hương vị của biển Bidong, Lâm Châu và Quân kéo nhau đến quán cà phê.

Ngồi xuống chiếc ghế gỗ xập xệ, Quân nói.

-Sở dĩ tôi đi uống cà phê với anh, vì tôi có chuyện muốn nhờ anh giúp đỡ.

-Chuyện gì? Nếu được tôi sẵn sàng làm.

Quân nói.

-Tôi sẽ ở đây làm chúa đảo. Khi nào anh đi định cư, tôi có mấy cuốn vở nhờ anh chuyển cho gia đình của tôi. Được không?

-Tưởng gì khó khăn lắm chớ vài cuốn vở là chuyện nhỏ, anh yên chí đi.

Hình minh họa

Nghe Lâm Châu đồng ý giúp mình, gương mặt của Quân sáng rực lên vui mừng thấy rõ. Hắn nói.

-Cảm ơn anh rất nhiều.

Liên tiếp luôn mấy tuần sau đó, nhiều đêm Lâm Châu để ý thấy Quân say sưa ngồi viết, hắn viết cho đến sáng rồi gục đầu bên ngọn đèn đã cạn dầu từ bao giờ. Hình như có bao nhiêu tâm sự, bao nhiêu sinh lực hắn trút hết vào mấy cuốn vở, như sợ rằng không còn đủ thời giờ để viết.

Đúng như những gì Lâm Châu suy đoán, một buổi sáng nọ khi thức dậy, hắn không còn thấy Quân ngồi đó nữa, thay vào đó là một cái bì thơ, với hàng chữ “Kính gởi anh Lâm Châu”.

Không kịp suy nghĩ, Lâm Châu vội vàng mở phong bì.

Thưa anh Lâm Châu,

Tôi và anh sống chung với nhau trong một căn lều cũng đã được gần một năm, cho đến hôm nay, tôi mới có dịp tâm sự cùng anh qua những trang giấy này.

Như anh biết, bãi biển khu F nơi anh và tôi đang sống, nó nằm ở cực Nam của đảo Pulau Bidong. Nếu đứng tại đây, nhìn về hướng Nam, hòn đảo Cá mập chắn ngay trước mắt, quay qua hướng Đông không bao xa, vợ con tôi đang ở đó. Tuy gần như vậy mà hôm nay, đúng một năm rồi tôi mới chịu đi gặp họ. Sở dĩ có sự chậm trễ như vậy vì tôi cần phải viết, phải kể lại cho ba má và người thân của tôi. Kể cho họ biết chuyện gì đã xảy ra cho vợ chồng tôi vào chuyến vượt biên năm ngoái.

Tàu của chúng tôi, sau năm ngày lênh đênh trên biển, bị tàu hải tặc Thái Lan cướp hết vàng bạc, sau đó húc chìm. Tôi lao mình xuống biển tìm vợ con giữa lúc màn đêm vừa buông xuống. Biển đêm sâu hun hút, đen như mực, tôi vừa bơi vừa gọi tên vợ con đến khản cả giọng. Tôi bơi mà không biết bơi về đâu, cho đến khi sức tàn lực kiệt mới nhắm mắt xuôi tay. Cũng cùng lúc ấy một tấm ván chạm vào tay tôi như có ai đó đưa cho mình. Tôi ôm lấy tấm ván rồi thiếp đi, không còn biết gì nữa. Khi tôi tỉnh dậy, mặt trời đã lên khá cao, chiếu ánh sáng xuyên qua giàn lưới cá phơi nơi mũi tàu. Nhìn thấy mấy người đàn ông lực lưỡng, mình trần như hải tặc Thái lan đang kéo lưới, tôi hoảng sợ la lớn rồi cố vùng dậy để chạy. Hoàn toàn bất lực, tay chân của tôi bủn rủn, tê liệt, không cử động được. Một người trong bọn đánh cá đè tôi, để một ngón tay lên miệng như nói hãy im lặng. Sau đó hắn chỉ vào ngực của hắn, rồi nói.

-Malaysian.

Tôi thở phào nhẹ nhõm rồi nhắm mắt mê đi vì quá mệt.

Bốn ngày sau, tôi được chiếc tàu này đưa đến một đồn lính, hình như là đồn biên phòng của Mã Lai, gần biên giới Thái Lan. Ở đồn lính Mã Lai hai ngày, tôi được Cao ủy tỵ nạn đưa về trại chuyển tiếp Terengganu và sau đó là Pulau Bidong.Trên đảo Bidong, nhiều đêm tôi ngồi một mình nơi đài tưởng niệm thuyền nhân trên đồi tôn giáo. Đêm khuya gió biển lành lạnh, bầu trời đầy trăng sao, tôi dõi mắt nhìn về hướng Đông, nơi đó vợ con tôi và người bạn thân đang trầm mình dưới đáy đại dương, dang tay vẫy gọi. Tôi thẫn thờ ngồi đó nghe biển hát, tiếng hát rì rào khi trầm khi bổng như sóng biển vỗ bờ, như tiếng gọi thầm thương nhớ thiết tha của vợ con, rồi bỗng dưng nước mắt tuôn tràn tưởng như không bao giờ dứt. Cả một quá khứ xa xưa bỗng chốc hiện về ngay trước mắt, năm 1954 hiệp định Genève chia đôi đất nước Việt Nam, gần một triệu người Bắc di cư vào Nam lánh nạn Cộng Sản. Ở Miền Nam người dân được sống trong thanh bình vài năm, sau đó đến cuối năm 1960, Cộng Sản Bắc Việt lập ra Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam rồi đem quân xâm lăng Miền Nam. Chiến tranh mỗi ngày một leo thang khốc liệt, tôi và bạn bè của tôi lên đường tòng quân. Tôi biết, tôi là một người bình thường, đúng hơn là dưới mức bình thường.

Hình minh họa

Suốt bảy năm trong quân ngũ, tôi không có được cái dũng khí của Trung úy Đức bạn tôi, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, thuộc Trung đoàn 8, Sư đoàn 5 Bộ binh, đã cùng anh em binh sĩ chân giẫm lên xe tăng T54, đầu đội hàng chục ngàn trái đạn pháo của Việt Cộng để rồi bị thương phải cưa mất hai chân khi tử thủ An Lộc, trong mùa hè đỏ lửa 1972. Tôi cũng không có được tính kiêu hùng, coi cái chết nhẹ tựa mây trời nơi vùng hỏa tuyến của Trung úy Thủy Quân Lục Chiến Nhân đầu bạc, khi cùng binh sĩ trong đại đội xả thân tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị. Tôi lại càng không có cái hào hoa lãng mạn nơi thành phố, nhưng vẫn đầy đủ bản chất anh hùng trên chiến trường nơi biên giới của Long công tử. Trong khi bạn bè của tôi ở những đơn vị tác chiến, cầm súng đánh nhau ngày đêm với Việt Cộng để bảo vệ Miền Nam, lớp chết, lớp bị thương, người còn sống mang tấm thân tàn phế thì tôi được ở đơn vị không tác chiến, sống an lành ở hậu phương. Như vậy với hai mươi mốt năm, từ năm 1954 cho đến năm 1975, khi mà dân quân Miền Nam anh dũng chiến đấu chống Cộng Sản xâm lược, thì riêng cá nhân tôi CHIẾN TRANH BÊN CẠNH, TÌNH YÊU đậm đà thắm thiết của vợ tôi mới theo tôi cho đến ngày hôm nay, đến cuối cuộc đời.

Thưa anh Lâm Châu.

Tôi là Trung úy Nguyễn trọng Quân, sĩ quan trực Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Một năm trước đây, khi tôi đến được đồn lính biên phòng của Mã Lai, một mình đến được bến bờ tự do, trong khi vợ con thì chìm sâu dưới đáy đại dương, tôi khóc không thành tiếng, dửng dưng đứng nhìn cánh cổng thiên đường Pulau Bidong với ngọn hải đăng đã tắt ngấm, chỉ còn lại cái bóng mờ nơi bờ biển mà không muốn bước chân vào. Tôi tự coi như mình đã chết từ lúc chiếc tàu của tôi, bị tàu hải tặc Thái Lan húc chìm. Trên tàu gồm có hai mươi ba người kể luôn cả tôi, hai mươi hai người đã chìm vào lòng đại dương sâu thẳm, họ là nhóm người trong số hàng triệu, triệu người Việt Nam dùng thuyền vượt biển, được thế giới gắn cho cái chữ Boat People. Người ta ước lượng rằng, trong số vài triệu người đó, một phần tư đã bỏ mình trên biển Đông. Người dân Việt Nam bỏ nhà bỏ cửa, bỏ mồ mả ông cha, bỏ tất cả, vượt biển tìm tự do, họ thà chịu chết trên biển Đông chứ quyết không sống dưới chế độ độc tài man rợ của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Sau này trong lịch sử, các sử gia chân chính của Việt Nam sẽ nói đến giai đoạn mà Đảng Cộng Sản cai trị Việt Nam, và coi đó như một trang sử ô nhục của đất nước, là thời kỳ đen tối nhất của Việt Nam trong suốt bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước.

Sáu cuốn vở mà tôi gói trong tấm ny lông này là những gì tôi muốn nói. Nhờ anh chuyển cho ba vợ tôi, tên ông ấy là Nguyễn văn Bảy, ông vua nhà cửa ở Sài Gòn trước năm 1975. Hiện tại ba vợ của tôi đang sống ở Mỹ, tôi chỉ biết được có chừng đó chi tiết về ông. Anh có thể đọc và phổ biến những gì tôi viết trong mấy cuốn vở này, hy vọng ba vợ của tôi khi nghe chuyện, sẽ biết được tin tức con gái của ông cùng thằng rể và đứa cháu ngoại.

Khi anh đọc những hàng chữ này thì tôi đã đi gặp vợ con của tôi. Chúng tôi đã được sum họp vui vầy bên kia thế giới, một thế giới Tự Do không Cộng Sản

Chúc anh lên đường định cư bình an, hạnh phúc.

Cảm ơn anh.
Nguyễn trọng Quân.

Lâm Châu đọc xong bức thư mà cả người bần thần, thương cho hoàn cảnh bi đát của người bạn chung lều. Không thể chần chờ hắn vội vã mở tấm giấy ny lông, sáu cuốn vở dày cỡ trăm trang được xếp ngay ngắn, đánh số từ một tới sáu. Bên trong mấy cuốn vở là những trang giấy dày đặc những hàng chữ nhỏ đều đặn, nhiều nơi chữ đã nhạt nhòa, hình như là do nước mắt của người viết. Lâm Châu mở trang đầu tiên của cuốn vở rồi bắt đầu lẩm nhẩm đọc.

“ Tôi sinh ra và lớn lên tại Đà Lạt, quê của tôi ở trên cao nguyên với rừng thông bạt ngàn xanh thẳm, quanh năm sương mù lạnh lẽo bao phủ khắp núi đồi. Tuy Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa nắng rõ rệt, nhưng cao nguyên Lâm Viên nơi tôi ở có hơi khác chút xíu….”

Hình minh họa

Mới đọc được vài trang, Lâm Châu chợt nhớ ra những dòng chữ mà mình đang đọc là của Quân, người bạn ở chung lều với mình suốt một năm qua. Anh bạn này vừa mất tích, hay là đã tự tử từ tối hôm qua rồi. Trên đảo Bidong nếu vì bất cứ lý do gì mà mất đi một người tỵ nạn, Ban chỉ huy trại phải báo cho Cao ủy tỵ nạn Liên hiệp quốc biết. Không thể đọc tiếp, Lâm Châu vội vàng gói sáu cuốn vở vào trong tấm giấy ny lông cất vào túi xách tay, rồi co giò phóng như bay lên Ban chỉ huy trại để báo cáo về tình trạng của người bạn sống chung lều với mình.

Một tuần lễ, trước ngày rời đảo Pulau Bidong đi định cư, Lâm Châu bất chợt nghe được trong mục tìm người, phát đi từ loa phóng thanh của Ban thông tin trên đảo.

“Tìm chồng. Trung úy Nguyễn trọng Quân 32 tuổi, trước năm 1975 phục vụ tại Trung tâm hành quân Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, vượt biển ngày 12 tháng 4 năm 1980, trên con tàu gồm có 23 người, đã bị tàu hải tặc Thái Lan húc chìm. Anh Quân, nếu anh còn sống hãy liên lạc số điện thoại …hoặc địa chỉ …California, USA. Vợ Nguyễn thị Cúc.”

Huy Văn Trương
Tháng 12/2023