Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

7. Chương 2

Phước Long: Trời cũng phải nhỏ lệ

Ở Việt Nam , tên của một số thành phố có liên quan đến lịch sử, đến truyền thuyết hay đến hoàn cảnh: Saigon náo nhiệt, Hà Nội khắc khổ, Hué hoàng gia, Phát Diệm công giáo … v.v..

Phước Bình thuộc tỉnh Phước Long là một thị trấn nhỏ nằm sát biên giới Cam Bốt, không có gợi lên ý niệm gì hết ngoại trừ đối với công chức, nó là một mảnh đất lưu đày.

Mười năm trước đây, một toán đặc công Việt Cộng đã tấn công Phước Bình, năm binh sĩ Hoa Kỳ tử thương, và 12 bị thương. Bây giờ từ trung tuần tháng chạp/ 1974, hai sư đoàn chánh quy Bắc Việt , sư đoàn 3 và sư đoàn 7 đang di chuyển về Phước Bình, quận lỵ của tỉnh Phước Long, một thị trấn nhỏ nằm ngay khúc quanh của con rạch dưới một triền núi của vùng Cao nguyên. Dân số của tỉnh nầy không quá con số 50.000, phần lớn là đồng bào thượng, người Mán và Hmong. Ở đây không có ruộng. người “thượng” sống trong rừng, trồng cao su và khoai mì.

Đối với dân Saigon , Phước Bình là miền “Cực Tây” (Far West), dù nó nằm về hướng Bắc, cách thủ đô 115 cây số. Thị trấn chỉ có một con đường chánh mà dân chúng sống tập trung ở đó, con đường nầy còn được dùng như một phi đạo nữa. Và ở cuối phi đạo là tòa hành chánh, có một gác chuông nhỏ trên nóc. Ở dọc hai bên vừa đại lộ vừa phi đạo nầy là doanh trại của quân trú phòng: 3000 binh sĩ chánh quy, và khoản 1000 Bảo an, Dân vệ. Họ ở cả trong các dãy trại và trong các nhà tranh cất dài theo hai bên đường.

Tất cả các trục lộ về tỉnh nầy đều bị cắt đứt. Quân Bắc Việt đã chiếm hết bốn quận chung quanh, đang bao vây tỉnh theo thế gọng kềm.

Tại Saigon Bộ Tham Mưu Miền Nam Việt Nam đang theo sát những diễn tiến nầy.

Tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân rất lo ngại: nằm về phía Đông Bắc của Phước Bình là ngọn núi Bà Rá, cao 723 thước, là một trung tâm truyền tin.

Đã từ lâu rồi, Saigon phải tiếp tế cho tỉnh bằng phi cơ cánh quạt hoặc bằng trực thăng. Mỗi tháng khoản 500 tấn gạo, đường, muối, xăng dầu và đạn dược.. Chánh phủ Saigon và những người có trách nhiệm quân sự ở đây chỉ bám theo một công thức và những con số thống kê: “còn nắm được tỉnh lỵ là tỉnh đó coi như chưa mất” và ” cộng sản chiếm đóng 18% lãnh thổ Việt Nam và kiểm soát 10% dân số.” Chúng ta hãy nhìn thử xem: Làm sao nắm biết được những con số nầy? vì sau 30 năm đánh nhau không có một kiểm kê nào gần đây hết ? với những người dân quê nay đi mai đến, và dân lánh nạn thì nay đến mai đi?

Không còn nghi ngờ gì nữa, các trung đoàn Bắc Việt đang đổ về hướng Phước Bình. người ta nhận dạng được ngay qua vũ khí của họ, qua đồng phục màu “xanh ve” và nón cối của họ, và nhất là qua giọng nói của họ. Lính việt cộng thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam không bao giờ có đồng phục , thường mặc bà ba đen và đội nón vải với một khăn rằn choàng cổ.

Cả bộ tham mưu Saigon và của tỉnh đều hoàn toàn bị bất ngờ, khi Bắc Việt tấn công mạn Nam của tỉnh lỵ hồi 7 giờ sáng ngày 1 tháng giêng, với 40 xe tăng T.54. Binh sĩ trú phòng chận đứng được đợt tấn công đầu tiên nầy.

Chiến xa T.54 là một loại tăng nhẹ, dài khoản 7 thước, nặng 36 tấn, là một loại cơ giới mạnh có tốc độ đường trường lên đến 48 cây số/ giờ, bình thường có thể hoạt động trong vòng 500 kms, và 700 kms nếu có bình xăng phụ. T.54 được trang bị một đại bác 100 ly với 34 quả đạn trên xe. Liên Xô không viện trợ cho Bắc Việt loại chiến xa biến chế T.62 và T.10 , nặng 50 tấn có trang bị đại Bắc 210 ly. Nhưng họ có cho Bắc Việt xe lội nước PT 76, nặng 14 tấn. Phía Việt Nam Cộng Hòa thì có chiến xa M.48 mạnh hơn nhiều, nhưng chiến xa T.54 có thể đương đầu với M.48 không khó.Dĩ nhiên kháng chiến quân của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thì không được Hà Nội giao cho một chiến xa nào hết.

Lực lượng bộ binh Bắc Việt bao vây cứ điểm núi Bà Rá và mở nhiều đợt xung phong mặc dầu cứ điểm nầy có được không quân yểm trợ. Phi công Miền Nam phải liều lĩnh xuống thấp có khi đến 1500 thước, họ ít khi bay dưới 3000 thước vì sợ cao xạ phòng không dày đặc của Bắc Việt. Ở đây không phải là vấn đề gan dạ, mà vì phi công nhận được lệnh nghiêm nhặt lắm: họ phải tiết kiệm máy bay. Hôm nay không có mây mù thường bao phủ tỉnh lỵ vào sáng sớm, tầm nhìn vừa rõ vừa xa. Bắc Việt đã bố trí gần núi Bà Rá những khẩu pháo 130 ly nên nhanh chóng 8 khẩu 105 ly và 4 khẩu 155ly của Miền Nam không còn xử dụng được nữa..

Ngày hôm sau, Tổng Tống Nguyễn văn Thiệu họp các tướng lãnh, có sư hiện diện của Phó Tổng Thống già nuaTrần văn Hương nặng về pháp lý hơn về chiến lược, và Thủ Tướng trầm lặng Trần thiện Khiêm. Người ta bàn cãi xem có cần phải tăng cường viện binh cho Phước Bình hay không ? Tăng cường bao nhiêu ? Với lực lượng nào ?v.v…

Trong 48 giờ giao tranh, lực lượng trú phòng của tỉnh bắn hạ tại chỗ 15 chiến xa Bắc Việt. Nhưng bô đội Miền Bắc cứ tiến tới. Chiến thuật của họ gây bất ngờ cho mọi người : các tiểu đội bộ binh đi liền sau các chiến xa. Chiến xa cứ tiến tới mặc cho bộ binh chết cứ chết, nhưng đôi khi các chiến xa cũng lui trở lại để đưa môt số bộ binh khác tiến lên theo. Họ đánh chiếm từng cứ điểm, từ nhà nầy qua nhà khác, từng chòi tranh nầy sang chòi tranh khác. Chiến xa được tăng cường các tấm chắn bằng sắt phía trước để chống đạn bộc phá vì loại đạn nầy sau khi xuyên phá qua lá chắn sẽ nổ ngay ở khoản trống nhỏ giữa lá chắn và vỏ chiến xa. Do đó hỏa tiễn M.72 của binh sĩ Miền Nam không còn hữu hiệu nữa được. Đôi khi vì bắn quá gần nên hỏa tiển không kịp xuyên phá, chỉ trúng lá chắn rồi nẩy vọt đi, nổ xa xa ở chổ khác. Hơn nữa chiến xa thường đóng kín các cửa nên binh sĩ Miền Nam khó mà tung lựu đạn vào chiến xa qua pháo tháp.

Các doanh trại, hầm trú ẩn và giao thông hào là mục tiêu của pháo binh Bắc Việt nên hầu hết đều bị sụp đổ thảm hại vì đạn pháo.

Phước Bình nằm trong lãnh thổ trách nhiệm của Vùng 3 Chiến Thuật, Bộ Tư Lệnh Vùng 3 đóng tại Biên Hòa, nơi đây có căn cứ không quân quan trọng, nằm về phía Bắc Saigon chừng 30 cây số. Tướng Dư quốc Đống Tư Lệnh Vùng 3, quyết định sẽ chiếm lại thị trấn Phước Bình, nên xin tăng cường lực lượng. Ông dự trù hành quân trực thăng vận đổ binh sĩ thuộc binh chủng Dù xuống phía Bắc thị trấn đồng thời tiếp tế đạn dược cho quân trú phòng. Nhưng ông Thiệu từ chối, tướng Đống xin từ chức, ông Thiệu không cho.

Có nhiều cuộc bàn cãi rất sôi nổi ở Biên Hòa và Saigon:

  • Phải chăng Bắc Việt muốn đánh lạc hướng khi họ tấn công Phước Bình?
  • Hình như Bắc Việt đã sẵn sáng tiến đánh Biên Hòa , vì từ nơi đây các chiến đấu oanh tạc cơ sẽ bay đi yểm trợ các cuộc hành quân khắp vùng 3 Chiến Thuật.
  • Cộng sản cũng có thể vừa đánh chiếm Phước Bình vừa đồng loạt tiến đánh cả 3 vùng chiến thuật khác.

Do đó ông Thiệu không muốn rút quân ở đâu cả. Tư Lệnh Vùng 3 đòi hỏi vài trung đoàn binh sĩ thuộc binh chủng nhảy dù. Người ta chỉ đồng ý cho ông 2 đại đội biệt kích dù, khoản 200 người tình nguyện và chuyên hành quân biệt kích, thuộc tiểu đoàn “81 biệt kích dù” đang đóng ở Biên Hòa.

Ngày 4/ tháng giêng, trên Phước Bình mây thấp và mây đen kịch. Trời mưa to: cuộc hành quân trực thăng vận không thực hiện được , Hai đợt cố gắng đổ quân đều bất thành. Chỉ có một lần Biên Hòa liên lạc vô tuyến được với Phước Bình nhưng nghe rất yếu.

Đến 8 giờ sáng ngày 5 tháng giêng, 120 biệt kích dù mới được đổ xuống phía Đông của thị trấn. Trực thăng có bị trúng đạn phòng không nhưng đã bay về được. Toán biệt kích bắt tay được với quân trú phòng, bố trí được một vài điểm tựa phần lớn nằm chung quanh dinh tỉnh trưởng. Vũ khí chống chiến xa M72 rất hữu hiệu đối với các T.54 nhưng toán biệt kích không mang theo được nhiều.

Đến 21 giờ thì có tin là gần phân nửa toán quân tăng cường bị loại khỏi vòng chiến. Người ta không thể tản thương được . Lực lượng bảo an người thượng chiến đấu rất tốt nhưng lòng trung thành của họ bị giao động. Biệt kích dù cho biết là tình hình tuyệt vọng lắm. Nhưng họ cũng cố tổ chức lại một tuyến phòng thủ chung quanh trung tâm hành chánh và dinh tỉnh.

Sáng hôm sau, ngày 5 tháng giêng, quân Bắc Việt lại tiếp tục tấn công với một số chiến xa và bộ binh khác, đánh nhau suốt cả ngày.

Ngày 6 tháng giêng chịu hết nổi, nhóm biệt kích dù và những binh sĩ trú phòng còn sống sót rút chạy ra khỏi tỉnh. Lợi dụng trời tối, họ rút đi từng toán nhỏ, không liên lạc vô tuyến, không được yểm trợ, có khi cũng không có vũ khí và đạn dược, họ tiến về phía bìa rừng và đi về hướng đồng ruộng.

Tổng kết của trận tấn công nầy quá xấu về mặt quân sự, mặc dầu trên phương diện chiến lược thị trấn nhỏ bé của cái tỉnh đèo heo hút gió nầy có mất đi cũng không có gì quan trọng lắm. Tính ra chỉ còn có 850 người sống sót về được, mất đi 5.400 người vừa sĩ quan vừa binh sĩ. Gần phân nửa quân số của một sư đoàn! Hai vận tải cơ C.130 bị hạ. Saigon có cả thảy là 32 vận tải cơ loại nầy. Đây là một đòn hơi nặng, trên phương diện chánh trị: cộng sản đã chiếm được một tỉnh. Và đây là lần đầu tiên mà quân chánh phủ không tái chiếm lại được.

Cũng là lần đầu tiên mà trong một cuộc tấn công lớn như vậy quân đội Mỹ không can thiệp. Từ ngày ký Hiệp Định Paris, hai năm trước, các tư lệnh 4 Vùng Chiến Thuật đều có đến thăm Bộ Tư Lệnh Không Lực Hoa Kỳ ở Đông Nam Á, đóng ở Nakhon Phanom, Thái Lan. Hệ thống liên lạc viễn thông từ đây được nối liền đến Saigon và các Vùng Chiến Thuật của Miền Nam Việt Nam. Người ta luôn luôn giải thích và chỉ dẫn thủ tục liên lạc cho các Tư lệnh Vùng, để họ có được sự yểm trợ chiến lược của không lực Hoa Kỳ dễ dàng. Các vị Tư lệnh nầy không có một phút nghi ngờ nào về quyền được oanh tạc cơ Hoa Kỳ yểm trợ. Nhưng vừa rồi tại sao oanh tạc cơ không đến? Tổng Thống Thiệu cho lệnh toàn quốc để tang 3 ngày, đóng cửa các hộp đêm, vũ trường, rạp hát, chiếu bóng . Cấm luôn các trận đá bóng , các buổi đua ngựa, dù đã có chương trình. Các biểu ngữ được treo khắp thủ đô đại ý: “Quân lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ đòi món nợ máu nầy” Nhiều cuộc biểu tình được tổ chức trước trụ sở của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn. Trong suốt cuộc chiến ở Phước Bình, nhân viên của Ủy Hội một lần nữa đã cho thấy sự bất lực lạ lùng của họ. Họ cũng không thương lượng được một thời gian ngưng tiếng súng để tản thương hay đưa dân chúng vô tội ra khỏi vùng khói lửa. Các thương gia, công chức , dân quê và 2 nữ tu sĩ và 400 cô nhi đã về được đến Saigon.

Người Mỹ ở Saigon đã cố gắng làm một bản tổng kết tuy có khổ tâm. Trong bản phúc trình của mình ông William Le Gro, người có trách nhiệm về tin tức tình báo ở cơ quan quân sự Hoa Kỳ, đã cho biết là tổn thất của Miền Nam làm cho người ta chóng mặt. Người tài xế của ông ta than rằng: “Đến Trời cũng phải khóc cho Phước Long”

Tại Hoa thạnh Đốn, ngày 7 tháng giêng, ông Kissinger có buổi họp với toán hành động đặc biệt của ông ta . Các chuyên viên trao đổi nhau nhiều câu hỏi về trường hợp Phước Long:

  • “Đây có phải là một cuộc hành quân quan trọng không ?” William Colby, trưởng cơ quan CIA cho là ” Không.”
  • Làm thế nào để cứu vản tình hình của Vùng 3 Chiến Thuật đây?
  • Có nên gởi đến đó oanh tạc chiến đấu cơ và nhất là oanh tac cơ chiến lược B.52 không?
  • Trên lý thuyết Không Thể Được: Dư luận quần chúng Mỹ sẽ coi đó là một hành động tái can thiệp của Hoa Kỳ mà họ không muốn. Tuy nhiên trận tấn công của Bắc Việt là một vi phạm trắng trợn và quan trọng nhất đối với Hiệp Định Paris kể từ năm 1973.

Người Mỹ là những người duy nhất đã thi hành Hiệp Định Paris, trừ điều 6 là điều dự trù ” Mỹ phải phá bỏ hết các căn cứ quân sự của họ trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa trong vòng 60 ngày” sau khi Hiệp Định được phê chuẩn. Đó chỉ là phương diện pháp lý còn thực tế thì giống như một trò xảo thuật: người Mỹ không có phá hủy các căn cứ quân sự của họ mà chỉ chuyển giao qua cho QLVNCH. Họ thi hành pháp luật một cách kỳ diệu ! Trái với những cam kết, thỉnh thoảng họ cũng cho phi cơ quan sát bay trên không phận lãnh thổ Bắc Việt. Không có gì để ngụy trang cho những vi phạm kiểu đó!

Các cộng sự viên của Tổng Thống Ford muốn quên Việt Nam. Trước ngày bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ, ông Ford không có lợi lộc gì khi ông muốn gắn hình ảnh của mình vào một hành động tái can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam . Người ta muốn có một Tổng Thống trong trắng. Sự kiện Việt Nam đã qua đi rồi mà Ngũ Giác Đài chỉ thấy có mất mát mà không thấy có lợi ích nào hết. Từ khi người binh sĩ Hoa Kỳ rút khỏi Miền Nam hay người tù binh Mỹ ở Miền Bắc được đưa trở về nước, đối diện với Việt Nam, Hoa thạnh Đốn bị trầm mình trong tội lỗi ôi thúi, mất hết cảm giác. Càng ít gợi lại bao nhiêu thì bài toán sẽ mờ nhạt bấy nhiêu. Cuộc chiến Việt Nam lẽ ra phải tàn lụi dần khi người ta không còn găng với nhau quá….

Nhóm hành động đặc biệt không đạt được một quyết định nào. Ông Kissinger hình như quá mệt mỏi. Ông ta đã nhắc đi nhắc lại sau khi ký Hiệp Định Paris: “Nếu chúng ta xét thấy rằng Bắc Việt đã thương thuyết với những ý đồ xấu thì chúng ta sẽ có phản ứng mạnh và ngay tức khắc”

Hạ thấp giọng, chậm rãi nhưng cứng rắn, ông Kissinger giải tán phiên họp đặc biệt với một câu đầy bản chất của một người Đức:

  • “Chúng ta thuộc loại người nào đây?

Các nhân viên dân chính và quân sự trong nhóm tự hỏi: Không biết ông Tổng Trưởng nghĩ gì thế? Chắc chắn là ông nghĩ đến sự khả tín của Hoa Kỳ!

Nhỏ thó nhưng người béo phục phịch, ông Kissinger, 52 tuổi, là một Tổng trưởng Ngoại Giao nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ, được mến chuộng nhưng cũng bị nhiều phê phán. Ông dính vào chuyện Việt Nam từ 10 năm nay. Từ sau ngày bầu cử của ông Nixon năm 1969, ông được giao nhiệm vụ chánh trị đối ngoại, kế đến là cố vấn an ninh và sau đó là Tổng Trưởng Ngoại Giao. Ông Kissinger là một giáo sư đại học có giá trị, một công chức hăng say, một chánh trị gia năng nổ trong hoạt động, ông có một nghệ thuật lả lướt trong chính ngành ngoại giao của mình, từ đó ông có cơ hội trở thành một nhà luân lý.

Trong những ngày đầu tháng giêng nầy, tinh thần của ông chú trọng đến danh dự của Hoa Kỳ. Với một tinh thần thực tiễn, thích điều khiển các nước khác hoặc vận dụng các chánh trị gia, ông là một bộ trưởng thường không giữ được hòa khí với nhóm quan lại của mình, thích giữ những bí mật cũng như vinh quang của riêng mình, có lối sống buông thả, muốn tới đâu thì tới. Ông có tầm nhìn chánh trị tổng quát. Ông tìm mọi cách để củng cố “cấu trúc hòa bình” mà ông xem là một thế quân bình mới của thế giới, xuyên qua sự kiểm soát vũ khí chiến lược. Không còn có sự căng thẳng giữa các siêu cường vì cuộc chiến tranh khốn khổ ở Việt Nam nữa. Ông Kissenger cũng đồng ý phần nào với nhận định của ông Galbraith và những người khác thường nói đùa là: “nếu người Mỹ chúng ta không vấp phải nhiều làm lỗi thì cái quốc gia nhỏ bé kia không bao giờ thoát ra khỏi nơi tối tăm mà họ rất xứng đáng phải nhận lấy. ” Ông Kissinger phải tốn cả 8 năm dài mệt mỏi cho Việt Nam. Tổng Thống Ford giao hết cho ông Kissenger phần lớn các vấn đề ngoại giao. Khác hơn ông Nixon, ông Ford không có ý kiến gì trong vấn đề nầy. Ông bất lực trong việc tìm kiếm quan điểm để làm vui lòng tổng trưởng của mình. Với cá tánh chậm chạp nhưng là một người có nhiều sáng kiến, ông Nixon có tầm nhìn xa rộng khắp. Nhưng người kế vị Nixon không được như vậy nên ông Kissinger thường nói: “Thật tình mà nói thì tôi cảm thấy gần ông Ford hơn là ông Nixon” điều mà chúng ta phải hiểu là trên phương diện tri thức.

Thường gặp những đổi ý bất thần, có khi đến phải chán nản, ông Kissenger phải tốn ba năm rưỡi để thương thuyết với phái đoàn Hà Nội để đạt được một hiệp ước mà uy tín của Hoa Kỳ không bị mất . Những cuộc bàn cãi chính thức và những buổi “đi đêm” thảo luận riêng tư với Lê đức Thọ, cố vấn đặc biệt của phái đoàn cộng sản Bắc Việt tại Ba Lê, đã dẫn tới Hiệp Định Paris. Theo Kissinger thì Hiệp Định không được hoàn hảo lắm, nó chỉ giúp cho quân lực Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam đàng hoàng trong danh dự, mặc dầu có sự chỉ trích triền miên của cánh hữu tại Mỹ. Lâu lắm ông Thiệu không chịu ký vào Hiệp Định. Với một số cộng sự viên, Kissinger cho thấy hình như ông ta hâm mộ những người đại diện phía Bắc Việt hơn là những người của Saigon. Tại thủ đô Miền Nam Việt Nam người ta cho Kisinger cái tên là “nhà ngoại giao đi đêm” và “vua dấu diếm” vì người ta không muốn nói thẳng ông là một thằng hèn, đạo đức giả. Tới năm 1975 thì Kissinger xa cách Việt Nam trên cả mọi phương diện tâm lý cũng như thực tế. Ông chưa hề đặt chân đến Việt Nam từ sau tháng 10 năm 1972, nơi đó ông có một kỷ niệm không tốt gì lắm:

ông Kissinger muốn cho ông Thiệu chấp thuận bản dự thảo Hiệp Định của ông ta. Cuộc gặp gỡ thật nặng nề, ông Thiệu gọi Kissinger là “thằng chó đẻ”. Kissinger nói trước khi rời Saigon:

  • “người ta đã chửi tôi thậm tệ nên chắc tôi không bao giờ trở lại Saigon nữa.”

Một trong những người đối thoại với ông, ông Hoàng đức Nhã, em họ ông Thiệu và là Tổng Trưởng Thông Tin, chọc tức ông Kissinger khi ông chỉ trích Hiệp Định từng điểm một.

Ông Thiệu và ông Nhã đều tin chắc là ông Kissinger hoàn toàn là một người vô liêm sỉ mới đặt bút ký Hiệp Định Paris 1973 với Bắc Việt: “Hoa Kỳ nhận tù binh của họ và an toàn rút quân đội Mỹ về nước, mà trong thâm tâm Hoa Kỳ vẫn biết rằng cộng sản Hà Nội không bao giờ buông bỏ ý định thống nhất Việt Nam bằng vũ lực.”

Ông Kissinger và cộng sự viên của ông đã có nhiều lý do để tin tưởng rằng Hiệp Định dù có yếu kém nhưng cũng có thể đứng vững được: đến một thời điểm nào đó thì việc Việt Nam Hóa quân lực Saigon sẽ cho thấy sự hữu hiệu của nó. Ông Nixon đã đặt hết sự tin tưởng vào đó, nhưng ông Kissinger thì không. Trên căn bản, binh sĩ Miền Nam chỉ có thể đương đầu hữu hiệu với những cuộc tấn công của Bắc Việt ở cường độ trung bình đến cấp trung đoàn. Nhưng ông Thiệu không thể chận đứng được một số lớn sư đoàn Bắc Việt. Dù vậy, chắc Hà Nội sẽ không phiêu lưu trong một cuộc tổng tấn công đâu. Bộ Chánh Trị còn sợ phản ứng của ông Nixon. Ông ta không bao giờ do dự để tung các phi cơ B. 52. Chính ông Nixon đã cho lệnh thả bom ngay vùng thủ đô Hà Nội vào tháng chạp 1972 để kéo Bắc Việt trở lại bàn hội nghị, và tựu trung thì sự khuyến cáo đó có hiệu quả. Hơn nữa, gạt ra ngoài các khó khăn nội bộ, chánh phủ Miền Nam vẫn có phần nào năng nổ tích cực nhất là trên bình diện kinh tế. Chánh phủ không được bình dân lắm nhưng dân chúng Miền Nam không bao giờ nổi dậy.

Cuối cùng, những người có trách nhiệm ở Miền Bắc đã đưa nhân dân mình vào một cuợc chiến quá lâu dài, bền bỉ khó tả, dựa vào sức mạnh của quân đội và công an hùng hậu để cai trị một xã hội bị vắt khô cạn đến hết máu. Họ hy vọng được Hoa Kỳ viện trợ khoản hơn 3 tỷ mỹ kim mà họ quan niệm là “bồi thường chiến tranh”. Ở Paris, Bắc Việt nhấn mạnh điều khoản 21 của Hiệp Định, điều khoản dự trù một sự “hòa giải” và quy định Hoa Kỳ sẽ đóng góp vào việc “hàn gắn vết thương chiến tranh” và “tái thiết Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau cuộc chiến”, theo đúng truyền thống chánh trị của Hoa Kỳ . Danh từ “hàn gắn vết thương chiến tranh” là một cụm từ thuần túy của Bắc Việt đã đưa ra mà Hà Nội đã nhấn mạnh và được thấy khắp nơi trên các bản văn tuyên truyền của Hà Nội.

Ông Kissinger tin rằng lãnh đạo quốc gia nào cũng hành động đúng theo quyền lợi của nước họ. Đối diện với những người lãnh đạo Bắc Việt ông có đánh giá quá thấp sức mạnh về ý thức hệ của họ không?

Cân nhắc lợi và hại, ông Kissinger đặt Hiệp Định Ba Lê vào khung cảnh của không khí hòa dịu bớt căng thẳng giữa Hoa Kỳ, Liên Xô, và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa. Ông cũng như mọi người đều nghĩ rằng Mạc tư Khoa và Bắc Kinh sẽ thúc đẩy Hà Nội đi đến một sự tự chế. Cả hai thủ đô cộng sản nầy hẳn phải có phương thức để thúc ép Bắc Việt: Họ đã tiếp tế cho Bắc Việt cả về quân sự lẫn kinh tế. Trong cái nhìn của Kissinger, tất cả đều đứng vững hết: ông nghĩ tới mối liên hệ giữa sự “thư giãn” quốc tế” giữa các cường quốc để dập tắt lần lần ngọn lửa chiến tranh ở Việt Nam.

Sáu tuần lể trước khi Phước Long bị tràn ngập, Tổng Thống Ford và ông Brejnev đã gặp nhau ở Vladivostock từ ngày 23 đến 24 tháng 11 năm 1974 . Họ đã quyết định tăng cường mối giao hảo giữa Hoa Kỳ và Liên Xô.. Thật khó có thể và không hợp lý chút nào khi Bắc Việt làm hỏng những thỏa thuận của các siêu cường ! Đối với ông Kissinger vừa là tác giả vừa là người thực hành chánh sách liên kết, ông phải chỉ cho Liên Xô và Trung Quốc thấy là sự “thư giãn” phải được dùng như một áp lực đối với bài toán Việt Nam. Kissinger đã “mua” Liên Xô qua việc Hoa Kỳ cho Liên Xô được hưởng quy chế tối huệ quốc về thương mãi. Nhưng cách đây vài tháng vào mùa thu 1974, nghị sĩ Henry Jackson, có khả năng là ứng cử viên Tổng Thống, đã đưa ra một dự luật theo đó: “thư giãn phải liên kết với việc cho phép người Do Thái được rời khỏi Liên Xô”. Một dự luật khác cũng hạn chế mức nợ cho Liên Xô vay. Tất cả những chuyện đó không thể khuyến khích Liên Xô trong hành động hợp lý được. Do đó năm 1975 Liên Xô thấy không có lợi lộc gì khi phải thắng các đồng chí Bắc Việt của họ lại.

Trong năm 1974, cho tới ngày từ nhiệm của Nixon, không khí còn có vẻ thuận lợi.

Từ thủ đô cũng như từ các tòa đại sứ của họ, Liên Xô và Trung Quốc đã bắn tiếng cho biết là họ vẫn tiếp tục viện trợ kinh tế cho Bắc Việt, nhưng sẽ giảm bớt viện trợ quân sự.

Ông Kissinger biết rõ chỗ yếu chính của Hiệp Định Paris trên phương diện quân sự: Ông đã không cho Việt Nam Cộng Hòa biết là ông đã không ràng buộc Hà Nội phài rút hết bộ đội Bắc Việt ra khỏi lãnh thổ Miền Nam , một cách rõ ràng và minh bạch. Do đó quân đội Bắc Việt đã lợi dụng điểm mập mờ nầy để bám trụ nguyên tại chỗ. Hơn nữa Bắc Việt đã không bao giờ tôn trọng những điều khoản quy định về vũ khí và quân dụng hiện có của Hai Bên:

“mỗi cây súng cũ, mỗi khẩu pháo cũ, mỗi quân xa cũ, -tất cả- chỉ có thể được thay thế với thể thức “một đổi một”. Tất cả những chuyện thay thế đó, phải tọa lạc ở những điểm chính xác, và phải được “Ủy Hội Quốc Tế” giám sát nghiêm chỉnh đúng luật lệ như Hiệp Định đã quy định”, một điều khoản không bao giờ được Bắc Việt thi hành.

Một kẽ hở nữa của Hiệp Định, lần nầy là chánh trị:

“trên bình diện “chế độ tương lai của Miền Nam” Hai Bên Việt Nam sẽ thương thảo với nhau”.

Ông Kissinger thừa biết là điếu khoản nầy không bao giờ thực hiện được, cũng giống như việc hình thành một “Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia”. Hãy tưởng tượng xem bằng cách nào mà hai kẻ thù hung hăn ngồi lại được với nhau để cùng nhau cai trị một thôn ấp? đừng nói chi đến cả một nửa nước Việt Nam ? Biết vậy nhưng ông Kissinger vẫn còn tin rằng phải bằng mưu mẹo đó, mình mới thắng Bắc Việt được một điểm:

“cho tới mùa hè năm 1972, phái đoàn thương thuyết Bắc Việt vẫn muốn liên kết chuyện ngừng bắn với một dàn xếp chánh trị” (ai cũng muốn có một sự liên kết nào đó của riêng họ). Ông Kissinger vẫn còn tin rằng. Đây là một thắng lợi ngoại giao của mình, vì bù lại Hà Nội không còn đòi hỏi sự ra đi của ông Thiệu nữa, điều nầy cho phép được giữ lại một “cơ cấu chánh trị mạnh ở Miền Nam Việt Nam”.

Cũng như ông Thiệu và ông Nhã, người dân Miền Nam không bao giờ chấp nhận một Hiệp Định Paris mặc nhiên thừa nhận sự có mặt của bộ đội chánh quy Bắc Việt tại Miền Nam.

Trong tỉnh Phước Long có nhiều sự vận chuyển quy mô của các đơn vị chánh quy Bắc Việt cấp trung đoàn và cả cấp sư đoàn. Cho dù cuộc tấn công nầy là một cuộc tấn công hạn chế, thì trò chơi kiên nhẫn gom góp dữ kiện và phân tách tình hình của ông Kissinger cũng bắt đầu tan rã.

  • Làm gì hơn bây giờ?
  • Xin thêm ngân khoản bổ túc cho Miền Nam Việt Nam?

Quốc Hội và nhất là Hạ Viện Hoa Kỳ giờ đây đa số dân biểu thuộc đảng Dân Chủ, trong nhóm của nghị sĩ George Mc Govern, một người chủ trương hòa bình cực đoan. Năm 1974 Quốc Hội đã cắt giảm mức viện trợ quân sự cho Miền Nam Việt Nam từ 1 tỷ xuống còn 750,000 trong đó có cả phần 300 triệu dành trả lương cho nhân viên dân chính và quân sự thuộc Cơ Quan Quân Sự Hoa Kỳ ở Saigon rồi. Trong cuộc chiến tranh Kippour, Do Thái đã nhận được trên 2 tỷ viện trợ quân sự của Hoa Kỳ. Phần lớn những người dân biểu Hoa Kỳ thấy cần phòng vệ cho Do Thái hơn là Việt Nam. Nhìn kỹ lại, nếu tính luôn sự tăng giá dầu do cấm vận của các nước Á Rập, thì viện trợ cho Saigon coi như bị giảm một nửa.

Đối với ông Kissinger, thì mặt trận thứ hai của cuộc chiên Việt Nam nằm ở Hoa thạnh Đốn, ngay tại Quốc Hội và cũng là ngay trong chánh phủ Hoa Kỳ. Nhiều thành viên của chánh phủ xưa kia là diều hâu. Bây giờ thì hết rồi, họ cho biết như vậy, giống như Tổng Trưởng Quốc Phòng James Schlesinger. Một khi đã ra khỏi chánh phủ rồi thì từ một Mc Namara, một Clarke Clifford, một George Bundy, cho tới những người đã triệt để theo Tổng Thống Johnson, bây giờ họ ước tính là phải ra khỏi vũng lầy Việt Nam . Những người nầy vẫn nghĩ rằng cái gọi là GRP (Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam) cũng chỉ là cánh tay của Hà Nội ở Miền Nam mà thôi, và cộng sản Việt Nam cũng độc tài như các đảng cộng sản khác . Những nghị sĩ nặng ký chống cộng thì có John Stennis hay Richard Russell . Những con diều hâu cũ bây giờ ngã theo đám bồ câu nổi tiếng trong Thượng Viện, George Mc Govern, Frank Church, Albert Gore, Wayne Morse, Edward Kennedy. Ngay như tại Nhà Trắng, ông Kissinger chỉ còn có thể tính đến những người đồng minh tự nhiên của ông. Một vài vị thân cận với ông Ford tin tưởng là bài toán Việt Nam tự nó sẽ tan biến thôi. Mệt mỏi, như bị bao vây, Kissinger không dứt than van:

  • “Không biết chúng ta thuộc loại người gì?”

Và cộng sự viên của ông nhận thấy ông đang cắn móng tay….

Sáng ngày 7 tháng giêng, Tướng Viên gọi điện thoại cho ông Thiệu. Tham mưu Trưởng Liên Quân báo cáo cho Tổng Thống. Những phi cơ thám sát trên không phận Phước Bình cho biết là mọi dấu hiệu kháng cự coi như đã chấm dứt.

Tại Dinh Độc Lập, ông Thiệu triệu tập một phiên họp đặc biệt. Có mặt Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, hai Phó Thủ Tướng Trần văn Đôn và Nguyễn văn Hảo, hai vị Chủ Tịch Thượng Viện và Hạ Viện, Chủ tịch Tối cao Pháp Viện, và tướng Đặng văn Quang, phụ tá Tổng Thống đặc trách về an ninh.

_“Địa thế và khó khăn về tiếp vận của chúng ta đã tiếp tay cho cộng sản. Quân lực của chúng ta khó lòng chiếm lại tỉnh Phước Long được” ông Thiệu nói.

Tướng Quang thường ít khi phát biểu trong các phiên họp, hôm nay tuyên bố:

_ “Quận lỵ Phước Bình và tỉnh Phước Long rất khó phòng thủ nên không thể giữ được.Thị trấn An Lộc và tỉnh Kon tum cũng vậy. Thị trấn An Lộc nằm ở phía Tây và Tỉnh Kontum ở về hướng Đông Bắc. Cả hai đều rất quan trọng. Nhất là tỉnh Kontum”

Rồi hơi sẳn giọng, tướng Quang nói tiếp:

  • “Những nơi nầy rồi cũng sẽ bị mất, nếu cộng sản quyết định đánh chiếm.”

Không thấy một phản ứng nào cả. Như không ai nghe thấy gì hết vậy: Hình như người ta thấy những việc đó không có gì đáng cho họ phải quan tâm.

Ông Thiệu lại phải nói tiếp:

_“Chúng ta có thể phản kháng để thử tìm hậu thuẩn của dư luận quốc tế. Phản kháng ngay Liên Hiệp Quốc. Phản kháng với cả 13 thành viên đã ký tên vào Hiệp Định Paris. Chắc cũng không có kết quả gì đâu. Phần đông các nước đang bấn vì cuộc khủng khoảng năng lượng. Nhưng trước hết chánh phủ chúng ta cần phải có được một sự gia tăng viện trợ quân sự và kinh tế của Hoa Kỳ.”

Rồi hướng về 2 vị chủ tịch Thượng và Hạ viện, ông nói:

_ “Chúng ta phải gởi một phái đoàn đến Hoa Kỳ để vận động với chánh phủ Hoa Kỳ làm áp lục Quốc Hội. Nhưng trước hết chúng ta phải chọn lựa vài nghị sĩ và dân biểu để chúng ta mời . Chúng ta vào bàn với Tòa Đại sứ Mỹ về danh tánh những người nầy.”

Chủ tịch Hạ viện đồng ý:

_ “Nhưng hình như các dân biểu Hoa Kỳ có nhiều vấn đề đối với cử tri của họ lắm. Chúng ta nên thăm dò dư luận dân chúng Mỹ trước, xuyên qua các tổ chức.

_ “Tổ chức nào?

_ “Các nghiệp đoàn, Hội Cựu chiến binh, hay Hội Hồng thập Tự …. ÔngThiệu tỏ ra chưa chịu:

_ “Cần phải tiếp xúc với các nghị sĩ Mỹ, vấn đề cử tri đó thuộc về chánh trị nội bộ của họ.

Làm cách nào để có tiếng nói của quần chúng?

  • Tôi thấy sao Chánh Phủ cô đơn quá, Thiệu vừa nói vừa nhìn sang Thủ Tướng dường như Tổng Thống không kiểm soát được chánh phủ vậy.

Ông Thiệu ngưng một giây, chờ ông Khiêm lên tiếng. Nhưng như thường lệ, Thủ Tướng vẫn giữ im lặng. Thiệu nói tiếp:

_ Trong quá khứ, gặp trường hợp khủng khoảng nặng thì các nhóm đối lập sẽ phải hợp tác với Chánh Phủ.

Không có một nhóm nào thực sự hăng say năng nổ hoạt động hết, trừ ra có đảng Dân Chủ do ông Thiệu thành lập. Tổng Thống muốn mở rộng căn bản chánh trị của Chánh Phủ nên ông đã ra một luật đảng phái khá tự do, đúng ra là cho các đảng phái chánh trị để cho phép họ ra hoạt động hết, trừ đảng cộng sản. Điều nầy gây cảm tưởng tốt ở Mỹ.

Sau đó ông Thiệu dặn dò vài điều cho hai vị chủ tịch Thượng và Hạ viện. Ở Miền Nam Việt Nam hành pháp lèo lái lập pháp.

Hai vị Phó Thủ Tướng hiện diện đề nghị ông Thiệu nên đi gặp các nhân vật có tầm vóc quốc gia để tìm hậu thuẩn. Ông Thiệu lắc đầu, nhưng không người nào gợi ý ra được tên ai hết vì có lẽ không mời mọc ai được hết. Ông ta nhắc các dân biểu và nghị sĩ phải hoàn tất luật báo chí và nên cho ông xem qua. Sau cùng phiên họp đưa ra vấn đề kinh tế, nhắc lại các điểm đã bàn cãi trong phiên họp nội các bốn ngày trước. Thủ tướng có nói là phải mua thời gian. Năm 1976 Miền Nam sẽ xuất cảng dầu hỏa.

Như thường lệ ông Khiêm không xen vào các vấn đề quân sự và những bài toán về chánh trị nội bộ, ít nhất trong công khai hay lúc có mặt các tổng bộ trưởng. Ông thích đi sâu vào các vấn đề kinh tế và xã hội . Hôm nay là ngoại lệ, theo ông thì dư luận quần chúng trên thế giới về vấn đề Việt Nam hình như bị “đông lạnh”. Ông còn đi xa hơn khi quả quyết rằng Hoa Kỳ không còn can thiệp quân sự vào Việt Nam nữa, vì ông Ford cũng lạnh cẳng rồi.

Ông Thiệu lắng nghe, gần như không được thoải mái lắm vì ông không đồng ý với Thủ tướng Khiêm.

_ “Chúng ta phải kéo dài sự sống còn trong thời kỳ gọi là khó khăn tạm thời nầy, ông Khiêm tiếp tục nói, chính vì chúng ta sẽ có lợi tức dầu hỏa trong năm 1976.

Ông so sánh tình hình của đất nước với tình thế của người chơi bài phé. Thấy được dầu lửa người ta sẽ tăng thêm tiền đánh cuộc. Trước mặt chúng ta, Hà Nội không theo kịp mình đâu. Muốn cho dầu hỏa chảy ra càng nhanh càng tốt thì các công ty đầu tư cũng phải được hưởng lợi nhuận nhanh. Phải khuyến khích họ, phải nhường cho họ một bách phân hợp lý nào đó của Chánh Phủ.

_ “và lúc đó thì họ sẽ cố gắng thúc đẩy công tác khoan dầu nhanh hơn. Chúng ta không thể tự cho mình một sự xa hoa được hưởng lợi tối đa trong dài hạn.

Ông Khiêm nhắc lại là ông ta có nói với ông Hảo Phó Thủ Tướng đặc trách kinh tế để ông nầy hối thúc các công ty dầu hỏa. Ông Khiêm muốn thấy kết quả cụ thể trong vòng 6 tháng.

Có vẻ phấn khởi, ông nhấn mạnh:

_ “Nếu chúng ta xuất cảng được nhiều dầu vào năm 1997 thì lúc bấy giờ tình thế chúng ta sẽ tốt hơn.

Phiên họp chạy theo tình hình kinh tế quên mất việc tỉnh Phước Long vừa bị Bắc Việt chiếm.

Chiều hôm đó, hai bản phúc trình chi tiết của phiên họp nầy tới tay Tòa Đại sứ Mỹ. Một bản do Phụ Tá an ninh của ông Thiệu. Tướng Quang được yêu cầu báo cáo những gì đã xảy ra ở Phủ Tổng Thống. Thiệu vẫn biết như vậy. Và còn khuyến khích ông nầy làm như một nhân viên CIA tại đây nữa. Nhờ đó mà ông Thiệu điều động được một vài người Mỹ của Tòa Đại sứ trong lúc họ vẫn tưởng họ là “thầy” trong trò chơi nầy. Người Việt Nam bên nào cũng thế đã có một kinh nghiệm lâu đời về nghề gián điệp rồi, cả nhị trùng lẫn tam trùng ! Người Mỹ thì mới đây thôi.

Bản báo cáo thứ hai xuất phát từ một trong những thành viên của phiên họp vừa rồi.

Có rất nhiều sự “thoát tin” như vậy ở Saigon và Hoa thạnh Đốn, và có nhiều người “bán tin” như vậy chung quanh Tổng Thống, Thủ Tướng, và những người có trách nhiệm hành chánh và quân sự. CIA đã gài rất nhiều máy thu âm trong dinh Tổng Thống. Họ tin chắc rằng trong hàng thân cận của ông Thiệu phải có một người làm việc cho Hà Nội . Ai ? Quang, Hảo, hay một người nào khác?

Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân đã được thông báo về những quyết định của phiên họp quan trọng vừa qua. Ông ta đã nhận được chỉ thị, và ông chuẩn bị để thuyết trình cho những người khách Mỹ quan trọng.

Ngày 9 tháng giêng, trong gian phòng thuyết trình rộng lớn của Bộ Tổng Tham Mưu, tướng Viên tổng kết cho các sĩ quan của ông một bản phúc trình dài 11 trang. Ông thông báo kết luận: “một cuộc tấn công quân sự đại quy mô của Bắc Việt”, một cuộc tấn công mà Tổng Thống đang chờ đợi.”

Người ta nói tướng Viên “che dù” một tiếng lóng của giới quân sự Việt Nam. Ông không có sáng kiến mà cũng không có khả năng phân tách hay giải đoán tình hình mà lẽ ra ở cương vị của ông là phải có đầy đủ. Ông nhanh chóng chấp nhận là Bộ Tham Mưu của ông hoạt động trong vai trò của một cơ quan tư vấn, một nhiệm vụ mà bất cứ một đại tá quèn nào cũng đảm trách được . Phải chăng đó là cái giá phải trả để được ngồi mãi ở chức vụ nầy? Ông thích ngồi thiền (yoga) hơn là đi thanh tra chớp nhoáng ngoài mặt trận, với một tướng đi tướng đứng khá đẹp lúc nào đầu cũng đội mũ đỏ của binh chủng nhảy dù. Ông không khúm núm nhưng chịu vâng lời. Tướng Quang cố vấn an ninh, là người soạn kế hoạch đại cương về chiến lược và chiến thuật cho ông Thiệu. Sau khi Tổng Thống chấp thuận thì ông Quang chuyển lịnh thi hành xuống cho Bộ Tổng Tham Mưu. Chính ông Quang đã cho lệnh trực thăng vận đổ 200 biệt kích dù xuống Phước Bình đang bị bao vây.

Ngày 17 tháng giêng, ông Viên nhận được một bản phúc trình của tướng Trần Văn Trung, Tổng cục trưởng Tổng Cục Chiến Tranh Chánh Trị. Bản phúc trình được chuyển đến Thủ Tướng và Tổng Thống, và ngày hôm sau nó cũng đến tay Đại sứ Hoa Kỳ.

Bản phúc trình nghiên cứu về kế hoạch của cộng sản trong năm 1975:

“Chiến dịch nầy có thể sẽ chấm dứt vào tháng 6 dl. Nhằm tiến chiếm một số quận và tỉnh, nhất là thuộc các tỉnh Tây Ninh, Phước Long, Bình Long, Kiến Tường và Kiến Phong” Cộng sản sẽ cố cắt đứt Việt Nam Cộng Hòa theo một con đường kéo thẳng từ Kontum xuống miền duyên hải Quảng Nam. Trong những tháng sắp tới họ sẽ tìm cách phá cho nền kinh tế của Miền Nam yếu đi. Họ sẽ đồng loạt tấn công các cầu, các kho nhất là kho đạn và đặc biệt những cơ sở thuộc kỹ nghệ dầu hỏa. Họ cũng sẽ cẩn thận vì họ cũng muốn giữ cơ cấu hạ tầng để họ sẽ còn khai thác và xử dụng được một khi họ nắm được quyền hành ở đây. Họ sẽ tạo cơ hội để bắt Miền Nam phải nhận cả triệu dân di cư. Và lồng các nữ cán bộ đảng vào các trại di cư kể cả các trại di cư cũ, để tạo biến loạn. Cộng sản sẽ nuôi dưỡng các phong trào chống ông Thiệu để ông không thể ra ứng cử năm vào tháng 11 năm 1975. Họ sẽ hô hào: “Chiến tranh vẫn tiếp diễn khi nào ông Thiệu còn ở chánh quyền” . Những tổ chức của cộng sản như thanh niên phụ nữ và trí thức sẽ hợp tác với phong trào “đòi Hòa bình” ở Hoa Kỳ để ngăn cản Tổng Thống Ford không cho viện trợ quân sự cho Miền Nam. Trong chiến dịch nầy cộng sản hy vọng sẽ dùng những cựu tù binh Mỹ. Nếu kế hoạch và chương trình hành động nầy được thi hành thì vào khoản tháng 6/1975 Việt Nam Cộng Hòa bắt buộc sẽ phải ký một hiệp ước khác và sẽ phải chịu thành lập một chánh phủ liên hiệp. Chừng đó những toán tuyên truyền sẽ cố gắng xé nát tất cả các đơn vị của QLVNCH. Những đại biểu cộng sản trong chánh phủ liên hiệp sẽ tạo thêm nhiều khó khăn trong một hay hai năm, và cái Chánh Phủ đó sẽ bất lực , các thành viên cộng sản sẽ từ nhiệm, và một Chánh Phủ khác sẽ được thành lập: Chánh Phủ độc lập “Quốc Gia Dân Chủ Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” một Chánh Phủ “cấp tiến, xã hội của giai cấp vô sản” . Và ba bốn năm sau, một “chánh phủ độc tài” thực hiện việc thống nhất hai miền Nam Bắc sẽ thay thế Chánh Phủ của giai cấp vô sản kia.

Chung quanh ông Thiệu, người ta tin là cộng sản sẽ tốn ít nhất 2 hay 3 năm nữa. Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa tuy là cô đơn nhưng sẽ đứng vững. Cần nhứt là tình hình kinh tế phải tốt đẹp hơn. Các tổng bộ trưởng phải gia tăng tuyên bố khích lệ thêm lên. Đặc trách về kinh tế ông Hảo cam kết sẽ gia tăng xuất cảng. Bị hối thúc, ông nói gỗ và ngư hải sản có thể sẽ mang về 100 triệu mỹ kim hằng năm. Ông nói hơi quá: trong năm 1974 Miền Nam phải nhập cảng 929 triệu mỹ kim và chỉ xuất cảng được 76 triệu. Người ta đổ cho Chánh Phủ điều hành lãnh vực kinh tế không tốt, ngó lơ các cuộc mua bán ngoại tệ và chợ đen.

Hãy noi gương cá nhân ông Hảo: “hành động có đạo đức”

Ông cùng với Đô trưởng Saigon đi khắp các chợ, những nơi có chứa hàng lậu thuế, thuốc lá, rượu tây, hàng ngoại , máy thu phát âm thanh cực chính xác …. ông cố thuyết phục người bán là nên chấm dứt chuyện mua bán bất hợp pháp nầy đi, điều làm cho người ta vừa kinh ngạc vừa tức cười. Trong sự ngây thơ nầy ít nhất ông cũng đã tỏ ra thành thật. Cả người mua và người bán ai cũng cười. Báo chí nghiêm khắc chỉ trích ông Phó Thủ Tướng. Tờ Điện Tín viết: những chuyến đi dạo chợ của ông Phó Thủ Tướng Hảo được chiếu trên vô tuyến truyền hình là hành động có tánh cách “cố tình khoa trương”.

Người dân đứng đắn ai cũng biết là nếu có tham nhũng, hối lộ, để được giấy phép nhập cảng hậu hĩ hay giấy phép xây cất bừa bải, hoặc chuyện mua bán ngoại tệ v..v.. thì những thứ toan tính đó không ai dại gì đem ra ngay giữa chợ đâu.

Ở “chợ trời” nơi các món hàng đánh cắp, hàng lậu thuế… được bày bán lẫn lộn với mọi thứ lặt vặt với giá hạ, người ta mua đi bán lại đủ mọi loại hàng từ chiếc máy thu thanh cực nhỏ đến bàn máy đánh chữ, đồ trận, và đồ lót bằng vải kaki, từ đồ hộp, thức ăn khô của binh sĩ đến những máy khoan điện cầm tay xuất xứ từ California đến những đôi giày da cá sấu của Đài Loan. Trên quầy hàng đủ loại xà phòng còn nguyên xi trong hộp nằm lẫn với các mũ lưỡi trai. “Thượng vàng hạ cám” thứ gì cũng có, tốt xấu gì cũng có….. nhưng từ khi 500.000 lính Mỹ hồi hương rồi thì ” chợ trời” mua bán hơi ế ẩm..

Về khách hàng thì ở chợ trời nầy, người ta nhận thấy đủ mọi tầng lớp người trong xã hội , giàu sang có, nghèo hèn có, dân quê từ các tỉnh Miền Tây lên có, từ các tỉnh miền Đông giáp giới Cam Bốt xuống có, công nhân và thợ thầy của hàng ngàn công ty ở Saigon có, quân nhân mặc quân phục có, sĩ quan và binh sĩ ngoại quốc thuộc Ủy Hội Quốc Tế có… Ngoài ra người ta còn nói nhiều về một số không ít “cao bồi”, quần ống túm, từng cặp từng cặp lượn qua lượn lại đèo nhau trên các xe Honda, để thừa cơ hội đông người chôm món nầy chỉa món nọ… đôi khi làm phiền khách du lịch. Một số người ngoại quốc thường nhìn bề ngoài hào nhoáng, thơ mộng, khó thấy những gì ẩn kín của thành phố. Ở Saigon phải trên 100 tiệm thương mãi mới có một tiệm hút thuốc phiện, trên 1000 tiệm ăn hay chạp phô mới có một quán nhảy. Đô thành Saigon rộng lớn với Gia Định, Chợ Lớn và các quận ngoại thành, ngoại ô, có khoản từ 3 triệu 500 ngàn đến 4 triệu dân, trong đó có một số từ các tỉnh đổ về, đến, ở một thời gian, rồi đi… không cố định.

Du khách thường hay chơi ở trung tâm thành phố, chung quanh dinh Độc Lập, nhà bưu điện trung ương, nhà thờ chánh tòa, đường Tự Do con đường chính đi thẳng từ nhà thờ Đức Bà đến Sông Saigon là nơi có những nhà hàng nổi. Du khách đi dạo chơi chung quanh chợ Saigon và các khách sạn, như Continental mà người chủ Philippe Franchini kín đáo ở ngay tại đó, Caravelle tối tân có máy điều hòa và ngang đó là Graham Greene…. Du khách thường ăn ở các nhà hàng do người Pháp hay người Corse làm chủ, và giao dịch với 18 chi nhánh ngân hàng Việt Nam hoặc 14 ngân hàng ngoại quốc.. Giới quốc tế sang trọng thì ở những khu đẹp hơn, ở quận 3 và quận 1, nơi đó đường sá sạch sẽ hơn với những hàng cây cao bóng mát hai bên đường, có những biệt thự tráng lệ kín cổng cao tường, với những hàng rào cây xanh ngắt, bông hoa cây kiểng. Đây cũng là khu gia cư của giới thượng lưu trí thức , công chức cao cấp, người Âu Châu, Nhật Bản và Hoa Kỳ. Đường phố ở đây rất yên tĩnh như chìm trong giấc ngủ trưa vậy vì ít người qua lại. Trong cuộc chiến mà Bắc Việt gọi là “chống Mỹ cứu nước” hay là “cuộc kháng chiến thứ hai”, hàng trăm hàng ngàn người Mỹ cư trú ở Saigon. Ngoài các khách sạn hay trong doanh trại, họ còn thuê hay mua nhà ở những khu sang trọng và yên tĩnh nầy, một di sản kiến trúc rất đẹp của người Pháp đã để lại cho Việt Nam.

Người dân Saigon thì ở các nơi khác, như quận 5 quận 7 ồn ào đông đúc hơn, chen chúc nhau dài theo các con đường nhỏ hẹp hơn, có khi không được tráng nhựa, không được sạch sẽ lắm. Nhưng cũng không đến đỗi nghèo khổ như Calcuta hay Dacca đâu. Người dân Saigon nào mà không tìm được nhà 1, 2, hay 3 phòng ở nội thành, không có được nhà xây gạch thì họ sẽ ở những dãy nhà xây cất bằng vật liệu nhẹ, bằng cây, hay trên những nhà sàn hai bên bờ rạch, hoặc trên những nhà bè, nhà nổi, trên thuyền bè lưu động. Chỗ nào cũng ồn ào với tiếng động cơ máy móc của các xưởng thủ công nghệ, sản xuất ngay tại gia đình từ nồi niêu song chảo bằng nhôm đến mọi vật dụng bằng nhựa, một loại chất dẽo của thế giới thứ ba cũng còn được gọi là thế giới đang phát triển. Giới bình dân Saigon là thợ sửa chữa đủ loại, từ chiếc xe đạp đến mô tô, tủ lạnh.. họ hành nghề ngay trong căn nhà ọp ẹp trống trải của họ, dưới mái tôn nóng bức. Hai bên các con rạch nước đen ngòm lại còn có những căn nhà nhỏ như ổ chuột. Trẻ con trần truồng chơi đùa vui vẻ vô tư giữa các thùng cây, các bao lúa hay các vật liệu phế thải bẩn thỉu, vỏ đồ hộp, thùng giấy, ống cao su …của gia đình thu nhặt được.

Ở cái thế giới hỗn độn nầy trẻ con được ăn uống no đủ, nhưng các cơ quan y tế không chiến thắng được bịnh thiếu sinh tố và bịnh sốt rét. Cuộc chiến tranh và sự có mặt của người Mỹ đã tạo ra được một sự phồn thịnh bề ngoài hay tạm thời thì đúng hơn (mà bộ máy tuyên truyền Bắc Việt sau 1975 gọi là “phồn vinh giả tạo”). Hậu quả của sự phồn thịnh nhất thời ở đây sẽ rơi vào lớp người không được ưu đãi nầy. Ngoài một số ít trại tỵ nạn, không có một người dân Miền Nam nào đói hết. Năm 1975 người ta đọc được trên báo chí các nước rằng Miền Nam Việt Nam vẫn còn là một nước nông nghiệp (đến 80 %) . Chưa đúng lắm, vì bị ảnh hưởng của chiến tranh, bị đồng lương hấp dẫn, nhiều nông dân chẳng những đã trở thành công nhân, mà còn đã biến thành thợ hồ, thợ máy, thợ tiện, thợ điện hay cả nhạc sĩ nữa . Các chuyên viên xã hội học của Hoa Kỳ đến Miền Nam Việt Nam không có thì giờ để thấy rõ được hiện tượng nầy, vì họ còn đang bận với kế hoạch bình định, và điều tra các tù binh việt cộng. Xã hội Miền Nam Việt Nam thay đổi, tiến lên lần lần với thế kỷ XX, có người nói là huy hoàng, có người cho là suy sụp. Chiến tranh làm cho gia đình ly tán, sanh ra đĩ điếm nhưng cũng tạo ra những công nhân giỏi và thợ khéo, những bác sĩ và dược sĩ lành nghề, nhiều chuyên viên cấp cao, nhưng cũng làm cho một số hàng chục ngàn thất nghiệp, phần lớn nhóm sau nầy vào quân đội để sống. Con số công nhân ở Saigon chắc chắn phải nhiều hơn ở Hà Nội.

Vì họ đoàn kết chặt chẽ với nhau nên trên 500.000 người Tàu sống ở Chợ Lớn ít có người thất nghiệp. Từ lâu rồi trên nguyên tắc Hoa Kiều bị cấm buôn bán cá, thịt, vải vóc, sắt thép, chạp phô và gạo. Họ cũng không có quyền có cửa hàng tạp hóa, buôn bán xăng dầu và chuyên chở công cộng. Nhưng ở Việt Nam luật lệ là một chuyện còn thi hành luật là một việc khác. Người Trung Hoa kiểm soát hết hệ thống các thương hội, trong đó tất cả những cơ quan an ninh mật vụ và trước hết là CIA, khó mà tuyển được người lắm. Trên thực tế người Trung Hoa như các thầu khoán, các người làm việc , đều núp kín dưới tên họ Việt Nam nên họ đều có ruộng , là chủ các hãng xưởng, sản xuất từ bột, dầu ăn, đồ hộp v.v.. đến cả nước mắm nữa, họ còn là chủ khách sạn, các tiêm ăn, nhà hàng sang trọng, các tiệm “lạc son” (bán đồ sắt đồ đồng ), và các tiệm bán thực phẩm. Những người bán dạo, các tiệm bán thức ăn thức uống đầy rẫy khắp mọi nơi khắp các thành phố. Họ còn có chân hay làm chủ một số lớn công ty xuất nhập cảng, các hãng buôn sĩ bán lẻ. Tất cả những dàn xếp tính toán trong việc mua bán đều chắc chắn và khả tín vì trong chuyện làm ăn lớn nhỏ có dính dấp đến tiền bạc, thì một lời nói của người Tàu dù không có giao kèo khế ước đều chắc như đinh đóng cột, đều là vàng. Họ liên lạc chặt chẽ với mọi ngân hàng, mọi công ty tín dụng ngoại quốc, từ Bangkok đến Singapore, Hong Kong, Đài Bắc. Không gì qua được người Tàu khi muốn chuyển tiền ra ngoại quốc, hay muốn đổi tiền Việt Nam ra mỹ kim, đồng quan thụy sỉ, hay đồng mark của Đức v.v.. mà không cần phải đi qua sở Hối Đoái.

Ở Chợ Lớn, người ta không thấy một biểu ngữ nào của chánh phủ. Bây giờ thì ở thủ đô đang có treo một biểu ngữ mới: “Phước Long sẽ được tái chiếm”. Biểu ngữ mới toanh, được treo ở trước các công sở.

Còn rất ít người chú ý đến “Bốn Không” của ông Thiệu:

_ “Không thương thuyết với địch” còn có ý nghĩa gì nữa sau bao nhiêu thời gian dài ở bàn hội nghị để đi đến Hiệp Định Paris 1973.

_ “Không công nhận cộng sản ở Miền Nam Việt Nam”: điểm chánh trị căn bản của Tổng Thống Thiệu.

_ “Không có Chánh Phủ Liên Hiệp”, khi một điều khoản của Hiệp Định đã có dự trù một Hội Đồng Hòa Giải Dân Tộc.

_ “Không nhượng một tất đất cho cộng sản”, trở thành chua chát sau khi mất Phước Bình….và tỉnh Phước Long.

Cũng tương tự như ở Miền Bắc, ở Miền Nam các biểu ngữ được dán, treo hay vẽ lên tường. Như: “Đừng bán gạo cho cộng sản” hay “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”, hoặc “Hợp tác với cộng sản là tự mình uống một viên thuốc độc có bọc đường” v.v…

Ở Saigon nếu không có những hình thức tuyên truyền như vậy, không có các bản tin tức truyền thanh truyền hình, không có báo chí, tin đồn, chuyện nhãm nhí .. ở khắp các quận, không có binh sĩ mặc quân phục… thì người ta có thể không nhớ gì đến chiến tranh.

Đôi khi người ta nghe tiếng đại bác bắn ở xa xa, nhưng không còn có những vụ đặc công hay nổ mìn ở Saigon nữa, hàng rào kẽm gai đã rỉ sét, bao cát thì rách và lính gác trước quận hay doanh trại thì thờ ơ, thường ngồi nhiều hơn đứng. May mắn thay cho Saigon một thủ đô yên tĩnh lạ lùng trong cuộc chiến, Saigon có một vẻ đẹp duyên dáng, vui tươi, đầy nhựa sống.

Vào buổi sáng sớm tinh sương êm dịu, Saigon thức dậy như một đóa hoa vừa hé nở.. Giống như các đô thị lớn ở Á Châu, dân chúng từ ngoại ô đổ về trung tâm thành phố. Cảnh sát mặc đồng phục xám bắt đầu đi tuần rỏn.. giữa tiếng gáy rân trời của vô số bồ câu. Các bà bắt đầu nhóm lửa đốt lò. Mùi than, củi hòa lẫn với mùi nước lèo thơm ngát, mùi xăng, mùi nước mắm. Để đi làm việc, già trẻ gì các ông cũng mặc quần dài áo sơ mi đẹp, các bà thì đội nón lá, các cô thì mặc áo dài mượt mà.. Xe đạp và xe gắn máy chạy chật cả đường, Các quầy hàng bày đầy kẹo, thuốc lá, kính râm, nước hoa, kem đánh răng, ấm tích, bút máy, thau chậu, cả chim nữa..Tất cả hàng hóa bằng mũ nhựa màu sắc rực rở kiểu Á Đông làm cho người Phương Tây lóe mắt. Người ta mua bán, đổi chác, sửa chữa .. ở đây có mùi dầu bạc hà, chỗ kia mùi nước tiểu.. Chợ nào cũng đầy ngập hàng hóa, nhất là chợ trung ương. Dâu, cam, trái vải, bưởi, ớt, khoai, rau muống, hành, cà rốt không thiếu thứ gì cả, và nhiều nữa. Người mua trả giá không phải để cho vui mà thực sự để tìm giá hạ. Từ sáng tới chiều, lưu thông tấp nập, tất bật và vui nhộn. Người ta tôn trọng phụ nữ hơn là tín hiệu đèn lưu thông. Xe buýt và xe khách đầy người mặc dầu đã cũ. Xe đạp, xe gắn máy , mô tô, nổ rần trời chạy chen với tắc xi, những xe Renault 4 ngựa, cũ kỷ màu xanh mà đồng hồ tính tiền không bao giờ nhảy. Tài xế cứ vô số 2 rồi vọt… Saigon là thành phố của xe Honda, của xe Peugeot, của xe Renault. Khoản 8 giờ thì người ta thấy tài xế Việt Nam trên những xe Ford Pinto đen của Mỹ. Ai cũng biết rằng những người Mỹ ngồi cạnh tài xế Việt Nam là nhân viên của CIA. Xe Ford Pinto đen là loại xe ưa thích hay chánh thức của cơ quan nầy. Những người Tây Phương khác , nhất là người Pháp thì thường dùng xe La Dalat hay Méhari. Các xe ba bánh thì chuyên chở các thùng hàng mà họ ràng buộc cao ngất lên, nhưng thăng bằng như hát xiệc vậy. Người ta bị chận lại hoài, rồi người ta nhận kèn in ỏi, người ta vọt lên, càu nhàu lấy lệ. Một đứa trẻ, hai đứa bé, có khi ba.. được đèo phía sau xe, cười đùa tự nhiên. Ở trung tâm thành phố được ghi nhận là có nhiều người Ấn Độ, Có khoản từ 3000 đến 4000 dân Ấn ở Saigon. Họ đến đây từ Coromandel, từ Malabar, từ những chi nhánh thương mại của Pháp. Họ chuyên nghề mua bán ngoại tệ. Vì là dân cho vay chuyên nghiệp nên họ đổi tiền nặng lời kinh khủng. Dân Hindous thường có thông hành Pháp, và người ta thường mướn những người Hindous nầy, đôi khi cũng có vài người dân Sikh để gác đêm các cơ sở thương mại quan trọng như kho hàng hay các khách sạn lớn như Continental.

Có vài trẻ nhỏ khoảng 12 hay 13 tuổi đầu thường chạy quanh theo người ngoại quốc để gạ đổi tiền hay gạ tìm gái hay gạ bán ảnh khỏa thân.

Có những trẻ khác lớn hơn rủ rê đi tiệm hút. Những người sành điệu thì thường chọn khách sạn Hưng Đạo, Hưng Đạo 1 hay Hưng Đạo 2 , nơi đây có những cô gái mặc áo lót ra tiếp khách. Cuộc chiến thường vứt vào thành phố đủ hạng người , từ người quân nhân với bộ quân phục mà không có súng ống, tới những kẻ vô công rổi nghề, những người chạy áp phe. Các anh lính thường tản bộ tay nắm tay, giống như bộ đội ở Hà Nội. Sỹ quan thì có vẻ quan trọng hơn đi xe Jeep hay xe chỉ huy. Đến khoảng giữa trưa, hơi nóng phủ mặt đường , không khí dày đặc , nặng nề.. oi bức. Đâu đó có tiếng còi hụ của một xe cứu thương.

Ở tiệm cà phê Givral, “ba chàng ngự lâm pháo thủ” đang nhâm nhi ly cà phê đầu tiên trong ngày. Vượng và Cao Giao đang nghe Ẩn nói chuyện, có vẻ chăm chú và nể phục, đôi lúc kinh ngạc vì tầm nhìn quá rộng và quá chính xác của người bạn.

Quá trưa thì các rạp chiếu bóng đầy khách. Phim chiến tranh thì quá phổ thông, nhưng cách đây chừng ba bốn chục cây số người ta có thể nghe thấy tận mắt trận chiến thật sự, tại sao phải xem phim ? Có lẻ vì phim nó có hồi kết cuộc. Ở Saigon người ta sống bên lề cuộc chiến, nhưng không thể quên cuộc chiến được . Người nào cũng biết là cuộc chiến chưa chấm dứt và không một ai biết nó sẽ chấm dứt lúc nào và như thế nào.

Người ta ít đi xem những cuộc triển lãm do cơ quan văn hóa các Tòa Đại sứ tổ chức vì các cơ quan nầy cũng chiếu phim tài liệu hấp dẫn lắm. Như Học Viện Pháp sẽ chiếu “Bốn trăm phát” ngày 7 tháng giêng, “Jules và Jim” ngày 9, “Cesar và Rosalie” ngày 10. Trung tâm Saigon cũng như Hà Nội đều có lối kiến trúc của Pháp. Nhưng các sinh viên bây giờ không còn ai nói tiếng Pháp nữa. Trong những năm gần đây, tiếng Anh thông dụng hơn để bước vào các hệ thống hành chánh hay quân sự. Những người dân tị nạn đến từ Phước Long từng nhóm nhỏ, đi bộ có, đi xe cũng có, vài nhóm quá giang xe quân đội. Họ không làm rối loạn thành phố.

Không như các thành phố lớn khác như Đà Nẵng hay Huế, Saigon gần như đứng ngoài cuộc chiến vốn thường xảy ra xa thủ đô, trên vùng Cao Nguyên, trong đồng ruộng hay tận các làng mạc xa… Ở những nơi đó cũng có đầy đủ vật dụng bằng mủ, bằng nhựa nhưng không có đèn nê ông vì không có điện. Trẻ con giữ trâu thường đi bắt cua cá trên các bờ đê ruộng hay trong các ao. Ở Saigon một tiếng súng thôi cũng làm cho người ta bu lại. Nhưng ở trong đồng ruộng, phải là một tiếng bom nổ hay một đạn pháo nổ bên cạnh mới làm cho các chú bé nầy ngẩng đầu lên nhìn. Bọn chúng đánh giá sự nguy hiểm bằng thính giác. Dân làng cũng vậy, họ tìm cách sống bên lề cuộc chiến, để làm việc, để tìm nguồn nước mà trồng trọt, để mà sống và được sống còn. Với những đàn heo đen và đàn gà chen chúc dưới gầm giường, dân làng dù sống trong những căn nhà tranh hay nhà gạch, họ vẫn có đủ những máy thâu thanh nhỏ để nghe được tin tức đủ loại và âm nhạc. Ngay năm 1975 cũng như những năm trước, 1965, 1955. hình ảnh của làng mạc trong Miền Nam là như thế, không giống như làng mạc ngoài Bắc Việt. Ở Miền Bắc có được mấy miếng tôn dợn sóng trên mái nhà là điều hiếm có.

Truyện “trước ngày ba mươi tháng tư”

quanvan.net

Hoàng Long Hải

Posted on 19 May 2021

Poist by Sơn râu 6 Apr 2024

Tướng Trưởng đổi ra miền Trung rồi mà “Chiến thuật diều hâu” của ông ở Vùng 4 vẫn còn đi thưc hiện. Chiến thuật nầy, ở khu vực tôi, xem ra cũng đơn giản. Dọc theo “kinh Kháng Chiến”, con kinh được đào “hồi 9 năm” – thời 9 năm kháng chiến chống Pháp -, nằm dọc theo ranh giới hai tỉnh Long Xuyên/ Châu Đốc và Kiên Giang, thường có những chòm rừng tràm đơn độc. Nó có nghĩa là giữa vùng nước nổi mênh mông hay bên ngoài khu rừng Trà Tiên rộng lớn, là những “chòm” tràm mỗi bề cỡ vài ba trăm thước, đất hơi cao, có thể có Việt Cộng về hoạt động hay ẩn núp trong đó. Cứ cho lính tấn công vào những chòm tràm đó, thế nào cũng “có ăn”.

  Khu 4…/ Chiến thuật được tăng phái mỗi ngày 7 trực thăng HU/ 1B, mỗi sáng đến đậu trong phi trường An-Bình. Sau khi Bộ Tư Lệnh Khu /CT chấm xong mục tiêu, cho một đơn vị Biệt Động Quân dùng trực thăng đổ xuống phía ngoài chòm rừng tràm. Đơn vị hành quân “lội” băng qua chòm rừng. Nếu qua xong rồi, không đụng địch thì được trực thăng đón ở phía bên kia, đem về doanh trại nghỉ ngơi. Nếu đụng địch, tùy theo tình hình trận đánh nặng nhẹ, binh sĩ được tăng cường. Nhờ “Chiến thuật Diều hâu” nầy, chúng tôi thắng nhiều trận rất ngoại mục: Một trận bắt được “Bác sĩ Việt cộng”, một trận “chộp” trọn Bộ Chỉ Huy Tỉnh đội, cấp tiểu đoàn, có một bác sĩ ngoài Bắc vào “chi viện” và “Bản đồ Nhà Máy Xin Măng Hà Tiên”, sa bàn. Ý đồ của chúng là tấn công và phá sập nhà máy. Dĩ nhiên, bữa đó, ông Giám đốc Nhà Máy” Lê Hữu Ph., phải khao chúng tôi một “két” Hennessy “cổ vàng thứ thiệt” nhậu chơi… “Đời lính chiến, thắng trận là… vui!

&

          Hôm đó, thiếu úy Kiệt, phụ trách tình báo đặc biệt, báo cáo với tôi, bên Biệt Khu 4… có bắt được mấy “ngoe” tù binh, khi họ “nhảy diều hâu” xuống chòm tràm cuối kinh 1 / An Hòa – con kinh nầy kéo dài từ núi Trầu vô với “kinh Kháng Chiến”.

          “Chiến lợi phẩm” hôm đó chỉ toàn bộ đội “nón cối” chớ không đội “nón tai bèo”, có nghĩa rằng đây là “quân Cộng Sản Băc Việt xâm nhập”. Chúng lại tiếp tục “xâm nhập miền Nam”, sau khi chúng đã ngưng một thời gian, khoảng hơn nửa năm, sau “Hiệp Định Paris 73”. Tình- trạng “tiếp tục xâm nhập” như thế này là rất quan trọng, có nghĩa Cộng Sản lại tiếp tục công việc xâm lăng miền Nam chớ không ngưng lại như trong Hiệp Định đã cam kết.

          Khi tôi đang đứng trong sân Chi Khu K.L, nơi tạm đóng của Biệt Khu 4…, thì một ông trung sĩ dẫn một tên “cán binh Cộng Sản”, nói nôm na là một “tên lính Cộng Sản” hay nói cách khác là “bộ đội cụ Hồ” đi vào – Ông trung sĩ tên Cung hay Cưng gì đó, vì chữ U trên bảng tên ông ta không có dấu, nói:

          – “Thiếu tá! Thằng nầy nó không chịu khai gì cả.”

          Thiếu tá Thanh, – người tôi sang gặp là thiếu tá Thanh -, bước tới phía tên lính Cộng Sản, nói, vẻ dữ dằn, chưởi thề:

          – “Mày không khai hả. Đ.M. tao đá một cái cho mầy thấy mẹ bây giờ!”

          Ông thiếu tá chưa kịp đưa chân lên, tên lính Việt Cộng đã cúi gập người xuống xin xỏ:

          – “Nậy (lạy) ông. “nậy” ông! Con bị bắt nghĩa vụ. Con xin khai.

          Vừa bỏ chân xuống, thiếu tá Thanh nói với trung sĩ “Cung”

          – “Đưa nó vào trong. Bảo nó khai hết. Không khai thì liệu hồn, cho bỏ đói.

          Một lát sau, thiếu tá Thanh gọi tài xế của ông tới bảo:

          – “Mày vào trong, coi thử thằng bé khai chưa?”

          Anh tài xế “dạ” rồi đi vào trong. Một lát, y đi ra, nói với thiếu tá Thanh:

          – “Nó khai rồi thiếu tá. Có mặt cả đại úy Danh Lol bên Chi Khu.”

          Đại úy Danh Lol là trưởng ban 2 Chi Khu. Thiếu tá Thanh nói với tài xế: “Mày ra ngoài mua cho nó ổ bánh mì thịt!” Thiếu tá Thanh vừa nói vừa rút ví lấy tiền đưa cho tài xế. Tôi nói nửa đùa nửa thật:

          – “Không biết khi mình bị bắt có được Việt Cộng cho ăn bánh mì thịt không, chớ xem điệu nầy “ông” nuôi tù binh Việt Cộng  hao quá.

          – “Cũng may, “Tử Thần” cũng thông cảm, lâu lâu đưa cho tôi ít tiền để lo việc “bánh mì Chùa” như vầy.

          – “Tử thần” là danh hiệu truyền tin của trung tá Thiệt, tư lệnh Khu CT. Ông ta có một nét “đặc biệt”, biểu lính phải gọi ông là “Tử Thần” khi trình diện ông, không gọi theo cấp bậc.

          Một lúc thiếu tá Thanh hỏi tôi:

          – “Anh có biết cái chiến thuật độc ác của Võ Nguyên Giáp không?”

          – “Không!” Tôi trả lời.

          – “Khi vào một trận đánh, Võ Nguyên Giáp dùng cái chiến thuật thắng thì có ăn, được tiếp tế, có lương thực, có tiếp liệu…

          – “Còn thua?” Tôi hỏi.

          Thiếu tá Thanh đáp: “Thua thì “chém vè”. May gặp gia đình “Việt Cộng” thì được che giấu, cho ăn… Còn nếu không thì trốn trong rừng, trong ruộng, rồi tìm về với đơn vị. Chết không ai hay cũng là chuyện thường.

  – “Tôi từ Thủ Đức ra, chỉ học làm trung đội trưởng, không rõ loại chiến thuật có một không hai ấy, nhưng cách đây không lâu lắm, tôi có nghe một “ri-póc-tơ” (reporter) của AP hay AFP gì đó, nói trên đài BBC về cái chiến thuật ấy của Võ Nguyên Giáp, và khen ông là người tài giỏi.”

          – “Giỏi gì?” Thiếu tá Thanh nói. “Dù có ai đọc hết binh thư xưa nay, không mấy ai thấy cái chiến thuật độc ác như thế nầy của “ông đại tướng thước mốt”. Dù có “Nhứt tướng công thành vạn cốt khô”, cũng khong bằng “Thắng có ăn, thua nhịn đói”. Tàn nhẫn với lính của mình đến thế là cùng”. Cấp chỉ huy có lương tâm, thương lính bao giờ cũng phải lo cái ăn cho lính của mình.”

          Một lúc, tôi đi theo thiếu tá Thanh đi vào văn phòng. Tên “cán binh Cọng Sản” đã khai xong, đang được cho ngồi nghỉ.

Thiếu tá Thanh hỏi trung sĩ Cưng:

          – “Nó khai chưa?”

          – “Khai chớ! Khai xong hết rồi, thiếu tá. Đơn vị nó mới xâm nhập, thiếu giao liên nên lạc giữa rừng tràm. Bọn nó tính tản ra, đi kiếm gì ăn thì bị “múm” gọn, chớ chưa có ý đồ gì hết!”

Quay qua tên tù binh, thiếu tá Thanh cười hỏi:

          – “Bánh mì ngon không mậy?”

          – “Dạ thưa ngài…

          – “Ở đây không ai là Ngài cả nghe mậy! Chế độ Cộng Hòa nầy đâu có “phong kiến”. Dù “Quốc trưởng Bảo Đại”, dù ông tổng thống, dù “ông già râu dê” của mầy, không ai gọi họ là “Ngài”, huống gì tao!”

          Rồi thiếu tá Thanh hỏi tiếp: “Ngoài Bắc có bánh mì ăn không?”

          – “Bánh mì? Cái hồi nãy cho ăn “nà”… “nà” …

          – “Bánh mì đấy! Có bao giờ ăn bánh mì chưa?”

          – “Dạ chưa! Con ở nhà quê, nghe “lói” ở Hà Nội mới có bánh mình, nhưng con chưa ra Hà “lội” bao giờ! Sao mà “ló” ngon thế!”

          – “Sao mầy không ở nhà mà lên Hà Nội ăn bánh mì?”

          – “Dạ không! Con bị bắt “nghĩa vụ”!

          – “Nghe mầy nói, muốn nổi sùng! Đã là “nghĩa vụ” thì còn “bị bắt” gì nữa. Mày nói vậy không sợ cán bộ à?” Tôi nói.

          – “Họ cũng “lói” như vậy ông à!

          – “Chúng nó biết chữ nghĩa gì đâu!” Tôi nói: “Nói như con vẹt mà không rõ ý nghĩa của nó như thế nào cả. “Bị bắt đi nghĩa vụ, tình nguyện đi nghĩa vụ hay đi nghĩa vụ”, ý nghĩa cũng như nhau, không khác gì cả.”

          – “Cũng buồn cười – “Tam đại bần nông” cả đấy, vậy mà chúng nó cai trị một nửa nước Việt Nam. Lỡ mai đây, chúng nó dốt nát như vậy mà cai trị cả nước thì bỏ mẹ luôn!”

          Tôi hỏi “thằng bé” – đúng là thằng bé thật. Nó ốm nhom, xương  hai gò má nhô cao, cái áo “kaki bộ đội” rách teng beng -. Thay vì cái quần kaki như cái áo thì nó mặc cái quần xà lỏn nhăn nhúm, hình “thằng nhỏ” của nó ịn ra trong lớp vải mỏng khá rõ. Da nó mốc đen… Tôi hỏi:

          – “Mày bao nhiêu tuổi?”

          – “Dạ thưa ông, nhà cháu mười bảy tuổi.”

          – “Láo! Mày đi “lính cụ Hồ” mấy tuổi.”

          – “Dạ thưa 16 tuổi? Thằng bé nói.

          – “Mười tám tuổi chớ?

          – “Dạ không. Đảng/ nhà nước đang cần, vay 2 tuổi.

          – “Vay! Vay! Rồi có trả không, khi nào trả?

          – “Dạ! Nhà cháu không biết! Đảng nói sao, nghe vậy.” Rồi nó nói tiếp: “Dạ cho cháu đi đái một cái.”

          Trung sĩ Cung cầm súng dắt thằng bé đi ra phía sau. Một chốc cả hai người vào.

          Tôi nhìn thằng bé rồi cười nói với thiếu tá Thanh: “Cỡ nầy thì “chưa biết mùi đời” đã đi lính rồi. Chết không thành ma mà thành tinh đấy.

          Nghe tôi nói đùa, một anh trung sĩ trong chi khu, chỉ hình con đầm ở truồng trong tờ Playboy lót dưới tấm kính để bàn, hỏi “thằng nhỏ”: “Mày thấy cái nầy chưa?”

          Thằng nhỏ nhìn tấm ảnh, nói như than:

          – “Ối dzời. Ối dzời. Cái “lầy” là không được đâu. “Trên” phê bình dữ lắm đây.

          – “Trên cũng khoái thấy mẹ. Tụi nó đạo đức giả đó mầy ơi. “Bác Hồ” mầy mà không khoái cái nầy là tao “đi đầu xuống đất”. Chỉ có những “thằng bé” như thằng nầy mới dễ bị tuyên truyền.” Tôi nói.

          Thiếu tá Thanh: “Người ngợm như thế nầy, còn con nít quá mà bắt con người ta đi lính, thật tội nghiệp.”

          Tôi cười: “Đâu phải một mình thằng nầy. Năm thằng Việt Cộng đeo cành đu đủ không gãy mà “ông”. (1).

          – “Nãy giờ là nói chơi! Bây giờ tao hỏi thiệt: “Hồi nhỏ mày làm gì?”

          – “Nàm” gì “nà” “nàm” gì? Thằng bé hỏi lại.

          – “Nghĩa là, là… Mày có đi học không?” Thiếu tá Thanh nói.

          – “Thưa ông! Có. Nhà cháu học tới “nớp” “lăm” thì nghỉ.”

          – “Sao nghỉ”. Thiếu tá Thanh lại hỏi.

          – “Dạ! Không có thầy giáo?”

          – “Thầy bị bắt lính?” Tôi hỏi.

          – “Dạ đúng. Thầy bị bắt nghĩa vụ. Không ai đứng “nớp”.

          – “Cô giáo thì sao?”

          – “Cô giáo cũng nghỉ “nuôn”. Đi thanh “liên” Xung phong.

          – “Đi B”? Thiếu tá Thanh hỏi.

          – “Dạ đi B hết!”

          – “Cha mẹ mầy thì sao?” Thiếu tá Thanh hỏi.

          – “Bố cháu đi “Lam” rồi mất tích trong “Lam” “nuôn”.

          – “Mẹ mầy có lấy chồng khác không?”

          – “Không. U cháu ở vậy!”

          – “Chung thủy với chồng?”

          – “Không! Chủ tịch xã không cho “nấy” chồng.

          – “Sao kỳ dzậy?”

          – “Ló” cặp với u cháu “lên” không cho u cháu “nấy” chồng!

          – “Mày không ghét nó sao?” Tôi hỏi.

          – “Dạ có! “Ló” ghét cháu, bắt cháu “nột” khăn quàng đỏ. Cháu chả cần.”

          – “Nghỉ học mầy làm gì?

          – “Chả “nàm” gì cả, chờ đi nghĩa vụ. Người “nàng” “lói” cháu đi nghĩa vụ sớm vì Chủ tịch Xã ghét cháu. Tới tuổi, cháu đi ngay đợt đầu”.

          – “Mày ưa đi bộ đội phải không?” Thiếu tá Thanh hỏi.

          – “Cũng không phải ưa, nhưng “nàng” người ta đi hết, không đi cũng không được.”

          – “Mày không muốn “chống Mỹ cứu nước sao?” Tôi hỏi.

          – “Người ta “lói” vậy thì mình hay vậy thôi, chớ cháu còn nhỏ, chưa biết gì?

          – “Nhưng mày “ghét Mỹ Ngụy” lắm phải không?” Thiếu tá Thanh hỏi.

          – “Cháu cũng không “ý thức” như người ta giáo dục đâu! Nhưng ghét thì có ghét Mỹ như mọi người vậy. Cháu “nói” thiệt. Hồi “lãy” cháu cũng khai vậy!”

          – “Tại sao lại ghét Mỹ?”

          – “Mỹ đánh bom khiếp “nắm” ông à. Người ta sợ “nắm”, nhất “nà” đám “chẻ con.”

          – “Sợ bom nên người ta ghét Mỹ phải không?”

          – “Ghét hai cái, Mỹ đánh bom “nà” một. Đánh bom “nà” xâm “năng” “lước” ta.

          – “Ai bảo mầy thế?”

          – “Người ta tuyên truyền thế; với thực tế cũng thế. “Chánh phủ ta” mà đầu hàng “nà” Mỹ cai trị “lước” ta, không còn độc “nập” “lữa”.

          Thiếu tá Thanh nói nhỏ với tôi: “Đúng là bọn Mỹ hãnh tiến, cứ tưởng mình súng đạn đầy đủ, ngon lành là ai cũng sợ, cũng đầu hàng. Ngoài ấy, chết là chết dân chứ bọn lãnh tụ bao giờ lại chẳng an toàn.”

          – “Thưa các ông! Cháu sợ ở tù “nắm”. Xin các ông đừng bỏ tù cháu.”

          – “Ở trong Nam nầy,” tôi nói. “Ở tù sướng lắm, không như ngoài mầy đâu! Đừng lo!” Sở dĩ tôi nói câu ấy là vì mấy năm trước, khi còn dạy học, có lần tôi nói chuyện với một hồi chánh viên, tốt nghiệp Đại học Sư phạm ngoài ấy, bị bắt “nghĩa vụ”. Anh ta nói: “Thà đi lính chết mất xác ở trong Nam còn hơn ở tù ngoài Bắc. Một chế độ tù kinh khiếp nhất nhân loại.”

          Thiếu tá Thanh nói đùa: “Mày không muốn ở tù thì tao cho mày về lại ngoài ấy với “bác Hồ” của mày nhé! Chịu không?”

          – “Dạ, không!”

          Tôi và thiếu tá Thanh nhìn nhau cười.

          Tôi nói: “Tao mới sợ Cộng Sản. Mày là Việt Cộng rồi, sợ chi nữa mà không dám về ngoài đó?”

          – “Ngoài Bắc, không phải ai cũng “là” Cộng Sản đâu ông ạ! Ưa hay không ưa, không ai dám “lói” ra. Tù mọt gông đấy! Cháu cũng vậy. Cháu không phải là Cộng Sản. Họ biểu gì “nà” chấp hành, không “nàm” “nà” không được.”

          – “Còn như chủ tịch xã của u mày?”

          – “Ông ta “nà” cán bộ rồi. Ông “nà” vua của “nàng” cháu đấy! Về gặp ông ấy, cháu không muốn về.”

          – “Thế còn mẹ. Mày không thương mẹ?”

          – “Thương thì có, nhưng u cháu có ông chủ tịch xã.”

          – “Ông ta mới chủ tịch xã. Còn bí thư xã nữa chi?” Tôi lại hỏi.

          – “Ông “lào” cũng như ông “lào”, “trên” của dân cả.

          Thiếu tá Thanh hỏi:

          – “Bây giờ mầy muốn đi ở tù hay chiêu hồi?”

          – “Cháu không hiểu!” Thằng bé nói.

          – “Ở tù là làm tù binh.” Tôi nói. “tức là vô tù ngồi chờ.”

          – “Chờ gì? Thưa ông.”

          Tôi đùa:

          – “Chờ đem đi bắn, xô xuống biển, trả mày về ngoài kia với “bác Hồ” của mày.”

          – “Ối dzà! Cái “lào” cháu cũng sợ, không muốn cả.”

          – “Vậy tao mày “chiêu hồi”. Mày biết “chiêu hồi” là gì không, muốn không?” Thiếu tá Thanh hỏi.

          – “Cháu có nghe nói chiêu hồi, sợ lắm!

          – “Sợ ai?” Tôi hỏi.

          – “Trên” biết “là” xử “ní” ngay. Ông ạ.”

          – “Xử lý” là bắn?” Tôi hỏi.

          – “Chứ gì!” Thằng bé trả lời.

          – “Tao cho mày chiêu hồi. Mày đi học ba tháng rồi về. Đi học không phải ở tù.”

          – “Mày nhớ khai là mày đầu hàng – túc là “chiêu hồi” đấy, trước khi nổ súng. Mày có tờ truyền đơn “chiêu hồi.” Quay sang tôi, tiếu tá Thanh nói: “kiếm bên chiêu hồi cho nó tờ truyền đơn được không?

          – “Thiếu gì. Tôi sẽ biểu thiếu úy Kiệt kiếm cho nó một tờ.

          Thiếu tá Thanh giải thích: “tôi kèm tờ truyền đơn vào lời khai của nó.” Lại quay sang trung sĩ Cung, thiếu tá Thanh nói:

          – “Cho nó khai lại để chuyển nó cho Chiêu Hồi.”

          – “Trong “Lam” “lày” cháu không có thân nhân. Học chiêu hồi xong, con ở đâu?”

          – “Mày trở thành công dân trong Nam nầy, làm gì chẳng được. Mày còn tuổi quân dịch, không chừng bị bắt lính đấy.” Tôi giải thích.

          – “Nính” như “nính” của các ông? Con thích “nắm” đấy.” Thăng bé cười. Từ nãy đến giờ, tôi mới thấy nó cười. Thấy vui, tôi nói:

          – “Mày đi lính trong Nam nầy rồi, ít lâu nữa, quân trong Nam về giải phóng ngoài Bắc. Mày đi không?”

          – “Đi chứ. Con thích lắm.”

          – “Mày có về làng tìm thằng cướp vợ của cha mày không?” Thiếu tá Thanh cười hỏi.

          – “Chủ tịch xã?” Thằng bé hỏi lại.

          – “Chớ ai nữa!” Thiếu tá Thanh lại cười nói.

          – “Thế thì con thích “nắm”. Con thích “nắm”. Con sẽ hỏi tội thằng cha ấy.”

          Tôi cười, nói với thiếu tá Thanh: “Cộng Sản Bắc Việt là vậy, đi đâu cũng chỉ nghe nói tới hận thù.”

          Thiếu tá Thanh cười to, phủ nhận: “Bắc kỳ Cộng Sản đó ông, không phải Bắc kỳ Quóc Gia như tôi đâu!”

Viết cho ngày 30 tháng Tư/ 2021

hoànglonghải

  • Tranh tuyên truyền thời kỳ Đệ Nhứt Cộng Hoà, vẽ hình 5 tên Viêt Cộng đeo cành đu đủ không gãy./

Thương nhớ Lương Thúc Trình

hungviet.org

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Posted on 15 Mar 2016

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

(Giáo Sư Trung Học – Đại Úy Thiết Giáp, sĩ quan Chính Huấn trường Thiết Giáp 1965-1970)
Năm học 1949 – 50, Lương Thúc Trình ở lại lớp Nhì, tôi từ lớp Ba lên, chơi thân với nhau từ đó cho đến khi tôi vượt biên năm 1989. Chẳn chòi 40 năm.
Trình người làng Phước-Tích, thường gọi là làng “đôộc-đôộc”, ở gần làng Vân-Trình là làng nổi tiếng con gái đẹp, quận Hải Lăng, trên đường từ Mỹ-Chánh về Thanh Hương. Làng của Trình có nghề truyền thống làm đồ gốm như lu, vại, trách (tréc), nồi, ấm, v.v…
Anh là con nhà quan, bố là ông Nghè nhưng ông Nghè mất sớm. Vì vậy, khi còn nhỏ, anh được gọi là cậu ấm (con quan). Tôi thường gọi đùa Trình là “Cậu ấm sứt vòi”. (Thứ ấm đất thường dùng nấu nước sôi, sản phẩm của làng Phước-Tích, dùng lâu thường bị sứt vòi). Tuy là con nhà hàn mặc nhưng bao giờ Trình cũng ăn mặc sạch sẽ, có thể gọi là “diện” và căn nhà lá nhỏ nhưng rất sạch sẽ của anh, bên bờ hồ đối diện tư dinh ông Thái Văn Toản, là nơi chúng tôi thường gặp nhau, nói chuyện, hát chơi với nhau. Khi tôi hát thì Trình đánh đàn. Còn tự anh thì vừa hát vừa đàn.
Hồi còn trẻ, Trình có một cô bạn người Pháp, tên là Louise, dân Paris chính hiệu. Hai người chơi correspondence, thường qua lại thư từ với nhau. Cũng lúc ấy, tôi thường thấy nhiều buổi chiều anh ôm đàn Guitar ngồi dưới giàn mướp trước sân nhà anh, hát bài “Johny Guitar”. Tôi tưởng anh sính dùng tiếng Tây nhưng tôi đã lầm. Một hôm, tôi yêu cầu anh hát một bài hát nào anh thích nhất, tôi nghĩ là một bài tiếng Pháp như “Tristesse” hay “Serenata” chẳng hạn. Anh làm theo lời tôi, nhưng thay vì hát một bài ngoại quốc, anh lại hát cho tôi nghe bài “Quê Nghèo” của Phạm Duy. Tôi ngạc nhiên hỏi, anh nói một câu thật sâu sắc, thấm thía, tôi còn nhớ tới bây giờ: “Hát lời Anh, lời Pháp là hát từ trí óc. Hát tiếng mẹ đẻ là hát từ con tim.”
Như trong bài viết về nhạc sĩ Hoàng Nguyên, tôi có nói Trình được anh Hoàng Nguyên truyền nghề đánh đàn Espanol cho. Năm anh học Đệ Tứ tại trường Trung Học Quảng Trị, sau nầy có tên là Nguyễn Hoàng, cô Trần thị L., dạy Toán, thường biểu anh ta hát cho cả lớp nghe khi có giờ trống. Bài ruột của Trình lúc đó là “Ghen”; anh ta nhìn cô giáo và bắt đầu bằng câu “Hỡi cô nhân tình bé nhỏ của tôi ơi!” khiến mấy đứa bạn nhìn cô giáo mà cười. Có phải chúng nó cười vì một thằng nhóc mà hát chuyện “yêu đương” hay chúng có ý nghĩ “đen tối” nào khác? Mỗi khi Trình kể chuyện đó, – mà anh rất hay kể chuyện nầy cho tôi nghe -, hỏi Trình lý do tại sao “mi còn nhỏ mà hát bài đó?” thì anh ta chỉ cười.
Trình rất hiền, tôi chưa bao giờ thấy anh ta nổi giận hoặc cau có. Thậm chí nhiều khi tôi “mi tau”, – mà tôi rất thường mi tau với anh ta -, anh cũng chỉ cười. Ngày 20 tháng 8 năm 1954, ngày ngưng bắn đầu tiên tại miền Trung theo hiệp định Genève năm 1954, Hoàng Xuân Định rủ tôi và Trình, Hồ Diện đi cửa Việt chơi. (Lại Hoàng Xuân Định rủ rê!). Chúng tôi chỉ có ba xe đạp. Định, Diện đi một mình, còn tôi phải chở Trình cả đi lẫn về. Đường xa và mệt, nổi cáu, tôi chưởi thề “đ. mạ” lung tung. Trình cũng chỉ cười. Còn anh ta đòi chở tôi thì tôi lại không chịu. Bao giờ anh ta cũng “dáng em gầy gầy”. Nếu anh ta chở tôi thì ngồi đằng sau thấy cái lưng ốm nhom của anh, trông thảm lắm, tôi lại không chịu được!
Năm 1958, tôi và Trình thi tú Tài 2.
Kỳ hai, tôi mới đậu thi viết (Trình đậu thi viết từ kỳ 1), cả hai cùng vào vấn đáp. Tôi may mắn được điểm sử địa rất cao, bù cho các điểm khác, mặc dù người hỏi tôi là ông Lê-Khắc Phò, nổi tiếng khó. Còn Trình, khi vào thi vạn vật, gặp ngay “hung thần” Vũ Đình Chính.
Năm trước, 1957, viện Đại Học Huế mới mở, cần sinh viên, lại gặp cha Luận làm Chủ Tịch Hội Đồng Giám Khảo. Cha lại mới được bổ nhậm làm Viện Trưởng Đại Học Huế, nên khi kêu bảng vấn đáp, giám khảo chỉ đọc tên những người đậu ưu, bình hay bình thứ, “Còn tất cả đậu hết, không ai hỏng” (Câu của Giám Khảo hô bảng), nên tỷ số đậu rất cao. Năm sau, bộ Giáo Dục “xiết thòng lọng” thí sinh Tú Tài 2 ở Huế. Nạn nhân đau đớn nhất là Trình.
Ông Chính ra cho Trình một câu: “Sự tiêu hóa lipit”, chữ “pít” ông xì một tiếng nghe rất kêu, như tiếng xú bắp xe xả hơi, xong rồi chắp tay sau đít đi quanh phòng, chẳng thèm nghe Trình trình bày gì cả. Vả, như Trình kể lại: “Học trò ban B như mình mà hỏi vạn vật như rứa thì biết chi mà nói. Mình không nói được chi hết”. Kết quả là một con zéro to tướng. Phải ba năm sau, Trình mới vượt được Tú Tài 2.
Năm đó, hỏng oral, Trình về dạy ở trường Phước Môn Nữ của linh mục Nguyễn Cao Lộc, trường ở trong khuôn viên nhà thờ Thạch-Hãn. Anh có một người yêu, tên là Ph., học trò của Trình, khá đẹp. Cuối cùng thì mối tình ấy tan vỡ. Tôi không hỏi lý do. Trước đó, Trình cũng có một mối tình khắn khít với một cô y-tá, lớn tuổi hơn Trình, tuy không đẹp lắm nhưng rất có duyên, làm việc tại bệnh viện Quảng Trị. Cô nầy là con gái ông hiệu trưởng một trường Trung Học ở Quảng Trị lúc đó, đã có chồng đi tập kết.
Trình lại thường kể chuyện hai người hẹn hò nhau cho tôi nghe. Nhiều tối, họ rủ nhau đi chơi dọc theo các con đường nhỏ và vắng trong làng Thạch-Hãn. Tới chỗ vắng, hai người ôm nhau hôn, nhưng mắt mỗi người nhìn một hướng canh chừng, lỡ ai đi tới bất tử. Anh ta cũng dạy cho tôi cách hôn như thế, mỗi khi tôi và H. hẹn nhau đi chơi theo những con đường làng mà Trình và cô bồ anh ấy đã đi.
Thời ấy, hôn nhau mà để người khác thấy là “dị” lắm, có khi là một trọng tội vì chưa… cưới.
Sau khi thôi dạy ở Phước Môn Nữ, Trình đi học lại, khi học khi nghỉ vì gia đình khó khăn hoặc anh tìm không ra nơi làm “giáo tại gia”. Tôi đi dạy 10 năm rồi nhập ngũ năm 1968. Trong suốt thời gian gần 10 năm đó, tôi vì sinh kế và lo nuôi các em ăn học, lo làm ăn, không có thì giờ gặp Trình nhiều.
Đầu năm 1969, mãn khóa ở Trường Bộ Binh Thủ Đức, tôi theo học khóa 25 Sĩ Quan Căn Bản Thiết Giáp. Trường nầy cũng trong khuôn viên trường Thủ Đức.
Trình diện ở đây, tôi lại gặp Trình. Khi ấy anh là Trung Úy, sĩ quan Chính Huấn của trường, còn tôi thì “lon” chuẩn úy mới toanh, “loon” sĩ quan trẻ nhứt quân đội Việt Nam Cộng Hòa, mặc dù lúc ấy tôi đã ba mươi tuổi. Dĩ nhiên, những giờ học chính trị, Trình là ông thầy của tôi. Khi ấy Trình cũng là Tổng Thư Ký nguyệt san “Kỵ-Binh”, tờ báo của binh chủng Thiết-Giáp. Trình thường nhờ Đinh Cường, cùng học một khóa bộ binh với tôi, khi tôi đi Thiết Giáp thì ông Cường đi Công Binh, vẽ bìa giúp.
Ông Cường hay đến chơi với Trình và vẽ bìa giúp cho tờ Kỵ Binh theo yêu cầu của Trình. Nhìn những bức hình bìa đó, tôi thấy lạ và có thể gọi là đẹp nhưng tôi chẳng hiểu gì cả, phải nhờ Trình giải thích giúp. Trình có tài xem hội họa còn tôi thì bù trớt. Vì Kỵ Binh là một binh chủng “Arme noble”, nên theo thông lệ, khi mãn khóa, do yêu cầu của trường, khóa sinh đóng tiền tổ chức liên hoan và mời mấy em “ca-ve” Saigon lên nhảy đầm.
Tôi không khoái mấy vụ nầy và Trình cũng không tham gia nhảy đầm. Hỏi Trình không thích nhảy đầm? Anh làm thinh. Tôi nhớ năm 1956, nhân dịp kỷ niệm 60 năm trường Quốc Học, Tôn Thất H., bạn của Trình biểu diễn nhảy thiết hài (Claquette) trên sân khấu. Tôn Thất H. là học trò của Hoàng Thi Thơ khi anh ta nghỉ hè vào Saigon. Sau lễ Kỷ Niệm 60 năm đó, Tôn Thất H. dạy nhảy cho Trình. Trình lại dạy cho tôi, như tôi có kể lại trong bài viết về nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Vậy mà bấy giờ anh ta lại không tham gia nhảy đầm? Có “vấn đề” gì đây?!
Năm tôi và Trình học với ông Lê-Đình-Ngân, ông Ngân có nói rằng con gái nhà quê thật thà, chất phát hơn con gái thành phố, không bị ảnh hưởng “nếp sống văn minh”. Thật vậy, trong tập truyện ngắn “Phong-Lan” của nhà văn (Lê) Đình Ngân, ông có thuật lại một vài chuyện vui khi ông cùng các bạn đi “cua” vài cô gái, dĩ nhiên là các cô gái “thành phố” nhưng khi lấy vợ, thì ông Ngân lại “rước” một bà cùng làng. Cưới vợ rồi, ông Ngân phải dạy cho vợ tập đọc, tập viết vì bà nầy sinh ra và lớn lên ở làng, không biết một chữ quốc ngữ.
Té ra trong khoảng thời gian dài tôi không gặp Trình thì có lẽ vì câu chuyện của thầy giáo mà anh ta về làng Phước-Tích, làng của anh, rước một cô thợ may làm vợ, sau khi tan vỡ đôi lần với những người đẹp có tiếng ở thị xã Quảng Trị và cả Huế nữa.
Một lần mãn khóa sĩ quan như tôi nói ở trên, khóa sinh tổ chức nhảy đầm. Trong khi Trình đang say sưa với những đường nhảy bay bướm, lả lướt với các em “ca-ve” thì vợ Trình xuất hiện. (Nhà Trình cũng ở trong cư xá, gần trường). Đứng bên ngoài, vợ Trình ngoắt tay gọi chồng ra, rồi tiện tay, cô ấy cho Trình một tát tai, ngay giữa chỗ đông người, lại kéo cổ chồng về, không cho nhảy nữa. Trình lặng lẽ theo vợ về, bỏ dở “cuộc chơi”. Từ đó, Trình không bao giờ nhảy đầm. Biết chuyện nầy, có lần tôi nói đùa với Trình: “Hồi nhỏ, bọn mình xem thầy, cô giáo là thần tượng. Thầy cô nói cái gì mình cũng cho là hay, là đúng nhứt. Lớn rồi mới biết chân lý là tương đối. Theo Pascal thì “Bên nầy là chân lý, bên kia thì ngược lại.”
Trình hiểu tôi nói ám chỉ việc anh lấy vợ ở làng, chỉ cười cười mà thôi.
Mãn khóa thiết giáp, tôi về phục vụ ở Khối Chiến Tranh Chính Trị của binh chủng đóng tại Gò Vấp. Từ Thủ Đức đi công tác Saigon, bao giờ Trình cũng ghé lại chơi với tôi. Khi tôi và Trình tổ chức “Hướng Đạo Sinh Quân Đội”, tôi và anh ấy lại dẫn bọn nhỏ hướng đạo đi cắm trại chung với nhau, khi ở Suối Tiên, khi “Rừng Chí-Linh” ở Vũng Tàu.
Khi phụ trách tập san “Kỵ Binh”, Trình thường có những sáng kiến đặc sắc. Để làm phong phú tờ báo, Trình giới thiệu các trường Thiết Giáp nổi tiếng trên thế giới như Saumur của Pháp, Fort Knox của Hoa Kỳ, v.v… Để viết về các trường nầy, anh thường rủ tôi đến tòa đại sứ các nước ở Saigon để xin tài liệu.
Buồn cười nhất là khi đến tòa Đại Sứ Anh. Tôi không rõ “Nước Mỹ Lạnh Lùng” của Huy Phương như thế nào nhưng hồi đó, đến tòa Đại Sứ Anh, rõ ràng người Anh “lạnh lùng” nhưng rất lịch sự.
Sau khi trình giấy giới thiệu cho nhân viên tiếp nhận, chúng tôi được yêu cầu ngồi chờ. Chưa đầy năm phút, một anh chàng mắt xanh, mũi lõ ra tiếp chúng tôi, bắt tay chặt nhưng không nhếch mép cười, mặt lạnh như tiền. Sau khi nghe chúng tôi trình bày ý định, anh ta lại lịch sự “Xin quí ông vui lòng ngồi chờ chốc lát”. Một lúc sau, anh chàng lại xuất hiện với một chồng sách trên tay, lại “lịch sự và lạnh lùng” giới thiệu từng cuốn sách, sẵn sàng cho mượn sách để đem về đọc, “lạnh lùng” mà trịnh trọng chìa ra tờ giấy yêu cầu chúng tôi ký nhận. Ra tới sân, tôi nói với Trình: “Lần thứ nhất trong đời, tao mới biết người Anh “lạnh lùng mà lịch sự”. Chẳng ưa được”.
Trình nói ngược ý tôi:
– “Mình thích người Anh hơn người Mỹ. Cứ đọc Locke, Hải sẽ thấy họ hay lắm, đi tiên phong trong lịch sử tư tưởng tiến bộ của nhân loại.”
Tôi hơi ngạc nhiên vì câu nói của Trình. Anh ấy học ban Toán tại sao lại rành về những tư tưởng triết học. Cái nầy phải hỏi Nguyễn Châu chứ. Tôi chuyên dạy về Văn Chương Việt Nam nên lại càng không rành tư tưởng Âu Tây, ngoài những tác giả trong “Thế Kỷ Ánh Sáng”. Sau nầy, khi đọc về Locke, thấy những tư tưởng tiến bộ của ông về bình đẳng, tư hữu, nhân quyền, chính quyền… mới thấy Trình đi trước tôi cả chục năm về trình độ kiến thức. Năm 1970, Trình lên “lon” đại úy, được biệt phái về dạy lại ở trường Trần-Cao-Vân, Quảng Tín. Anh ấy giao tờ báo của binh chủng lại cho tôi chăm sóc. Sau đó, tôi lại về miền Tây, xuống tận Hà Tiên cho đến ngày “đứt phim”.
Năm 1986, sau khi cải tạo về, tôi trốn tại một căn phòng nhỏ trên lầu ba của một người quen ở gần cổng xe lửa số 6 vì chuyện vượt biên bị vở lỡ thì Trình gặp vợ tôi. Hỏi được địa chỉ, Trình tới tận nơi thăm tôi nhiều lần. Bao giờ Trình cũng tôi rủ tôi xuống quán cóc bên đường ngồi uống cà-phê nói chuyện chơi, với một chút tiền nhỏ mà phải công khó lắm, Trình mới có được. Đang dạy học ở Quảng Tín thì miền Nam mất về tay Cộng-Sản, Trình bỏ dạy về quê, không khai mình là sĩ quan Thiết Giáp mà khai là giáo viên để khỏi đi “Cải tạo”, tính làm ruộng sinh nhai.
Trong làng có vài người biết Trình là sĩ quan nhưng chẳng ai đi tố cáo việc Trình che dấu lý lịch với chính quyền Cộng Sản. Mấy ông chú của Trình ngoài Bắc về. Mấy ngày đầu thì rất tử tế, chú chú cháu cháu ngọt như đường. Chưa được một tháng, mấy ông chú đòi hết ruộng vườn với lý do là ruộng vườn ấy mấy lâu nay “Cháu và ba má cháu hưởng, nay phải giao lại cho các chú.”
Không còn kế sinh nhai, Trình dắt díu vợ con vào Nam, ghé lại Hố Nai 4, nơi còn có tên là Trà Cổ, có nhiều gia đình vượt biên để lại những căn chòi trống. Trình chọn một căn chòi vá víu lại cho vợ con ở và kiếm đất trồng sắn (khoai mì) sống qua ngày. Không quen nghề nông, Trình trồng khoai mì mà không có củ, bèn bỏ nghề nông cùng đứa con trai đầu mới 15 tuổi đi buôn khoai mì khô xắt lát từ Hố-Nai-4 “nhảy tàu” về Saigon. Nếu đi lọt được một chuyến thì cũng đủ mua gạo cho vợ con ăn một tuần.
Bấy giờ thì Trình không còn “dáng gầy gầy” nữa mà gầy lắm, gầy hơn que tăm. Con thì còn nhỏ mà vợ Trình lại đau bệnh thần kinh, ngày càng nặng, chẳng giúp gì được cho Trình trong việc chăm sóc việc nhà. Trình phải cáng đáng cả hai việc kiếm tiền mua gạo và chăm sóc con cái.
Mới năm ngoái đây, về Cali, tôi nghe tin Trình đã qua đời ở Việt-Nam. Lòng tôi đau thắt lại.

Trước lúc Trình qua đời, Hoàng Ngân Hà và Lê Văn Ni từ Bắc Cali về thăm quê nhà. Lê Quang Sấm, ở Saigon, đưa hai người lên Trà Cổ (Hố Nai 4) thăm Trình đang bệnh nặng. Trình nằm liệt trên một cái giường tre, trong căn nhà lá nhỏ. Biết có bạn đến thăm, anh chỉ đưa mắt nhìn. Anh không còn nói được. Khi Hà nắm lấy tay Trình, Trình yếu ớt nhúc nhích mấy ngón tay, như muốn nắm lấy tay Hà mà không nắm nỗi.
Anh đã yếu lắm rồi, chắc chẳng còn sống được bao nhiêu ngày. Trình chảy nước mắt và mọi người ai cũng khóc. Bạn bè chí cốt, gặp gỡ nhau lần cuối cùng không thể nói với nhau một đôi lời… Khi các bạn cũ qua tới Mỹ thì nghe tin bạn ở Việt Nam đã vĩnh biệt cõi trần.

***
Trình thân yêu!
Mới đó mà đã hơn 50 năm. Kẻ lưu lạc nơi đất khách quê người, kẻ vào cõi thiên thu. Quê hương thì chúng ta không bao giờ thấy lại được nữa.
Con đường bờ sông Thạch-Hãn, những bãi cỏ xanh tươi mát nơi hai chúng ta thường nằm bên nhau trong những ngày hè, nhìn ngọn dương liễu chỉ chỏ vẫn vơ những đám mây trôi giạt từ Trường Sơn ra biển hay từ biển vào núi, không ít lần chúng ta hỏi nhau những đám mây ấy trôi đi đâu, giạt về đâu? Có phải chúng là những linh hồn người nổi trôi vô định?
Bây giờ thì Trình đã theo những đám mây kia đi mãi, chẳng bao giờ trở lại cố hương?
Không! Trình đã vào cõi hư vô, nơi không có cả thời gian, không gian. Hơn thế nữa, nơi mịt mờ xa xôi ấy, chính là nơi Trình đặt xuống đó tâm hồn mệt mỏi rã rời vì cuộc đời của Trình có quá nhiều phong ba, quá nhiều đớn đau, đói khổ và phiền muộn. Hơn tất cả, một người không mấy giận hờn trách móc ai như Trình, Trình sẽ tìm được cho mình một nơi yên ả vĩnh hằng, không còn giận, không còn thương, và cũng không còn thù hận.
“Người ta” dạy cho Trình thù hận nhưng với một tâm hồn chơn chất, thật thà và trong sáng, Trình có giận hờn ai bao giờ?! Trình đã không giận hờn một người mà hầu hết thí sinh gọi là “hung thần”, cố ý đánh hỏng Trình trong kỳ thi Tú Tài năm đó, để Trình lận đận với thi cử mà phải ba năm sau Trình mới qua được cửa ải ngặt nghèo đó. Trình cũng không hờn giận được những người chú đã giành ruộng, giành nhà, đuổi Trình cùng vợ con phải dấn thân vào con đường phiêu bạt, làm một kẻ lưu dân, với hai bàn tay trắng, dắt dìu nhau về phương Nam tìm đất sống.

Trình thân mến!
Con đường đời là con đường oan nghiệt!
Trình không đi hết con đường oan nghiệt đó. Tấm thân gầy gò muôn thuở của Trình không thể nào cam chịu nỗi những đắng cay, dằn vặt và khổ ải của một giai đoạn lịch sử đầy ly loạn. Trình đã bỏ dỡ cuộc hành trình, đã nằm lại đó, Hố Nai-4 hay Trà Cổ, hay một nơi vô danh chẳng ai biết tới, để lại đây cho tôi đầy những nỗi tiếc thương, cho một người bạn cũ, kết với nhau từ những ngày còn thơ ấu.
Giờ đây, còn chăng, trong lòng tôi, chỉ là tiếng gió vi vu trên những ngọn dương liễu già bên bờ sông Thạch-Hãn, âm vang một thời trong tâm hồn chúng ta khi còn niên thiếu. Tiếng gió reo vi vu ngàn năm ấy, hòa với tiếng thở dài của tôi ngày hôm nay, khi tôi ngồi bên lò sưởi trong căn nhà vắng vẻ lạ lùng, xa vắng tất cả bạn bè, nơi xứ lạnh xa xôi nầy, trong những ngày sắp đến lễ “No-En” để phải rơi hai hàng nước mắt, thương bạn mà tôi cũng thương tôi!
Hôm nay tôi là người vong quốc, nhưng bên tôi còn có gia đình, vợ và các con, nhất là trong những ngày lễ Tết, gia đình sum họp đầm ấm. Nghĩ đến đó, tôi thương Trình biết bao nhiêu!
Nhìn ngọn lửa nhảy múa trong lò sưởi, lòng tôi nhớ bạn xót xa rồi tôi tự hỏi, biết đến bao giờ tôi mới nguôi ngoai nỗi thương xót những người thuộc thế hệ chúng ta, một thế hệ lớn lên trong chiến tranh, đi trong chiến tranh và không ít người như Trình, nằm lại đó, ở một nơi xa lạ. May mắn hay không, khi chiến tranh đã qua rồi nhưng chúng ta còn sống sót?!
Suy cho cùng, dù nằm xuống như Trình hay còn sống đến ngày hôm nay như tôi, bạn và tôi cũng là xong một kiếp người!

hoànglonghải

(*) Locke: John Locke (1632-1704), triết gia Anh, chủ trương mọi người sinh ra đều bình đẳng vì tất cả đều là con của Thượng Đế, có quyền tư hữu để mưu cầu hạnh phúc. Nhà nước có nhiệm vụ điều hòa quyền lợi của mọi người để tránh sự bóc lột. Ông từng giữ chức bộ trưởng Hội Đồng Thương Mại trong nội các Anh. Các sách nổi tiếng của ông gồm có (Xin tạm dịch): “Tiểu Luận về sự quan tâm hiểu biết lẫn nhau giữa con người” (Essay Concerning Human Understanding), “Chuyên Luận về Chính Quyền” (Treatises on Government), “Vài ý nghĩ về Giáo Dục” (Thoughts of Education), “Sự Hợp lý của Đạo Cơ Đốc” (The Reasonableness of Christianity).

Không quân Mỹ – Trực thăng cấp cứu

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

April 21st, 2023

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

Trong chiến tranh, các chiến sĩ tham gia tác chiến trực hoặc gián tiếp, được điều động triệt tiêu đối phương nhanh nhất để dành chiến thắng cuối cùng. Do đó các chiến sĩ, có khả năng bị nguy hiểm và thương vong,cho nên, quân đội có trách nhiệm lớn trong việc truy tìm, trợ giúp, cấp cứu những chiến sĩ bị lâm nguy. Nhiệm vụ này là một trong chiến lược hàng đầu của quân đội Mỹ.

Phi cơ trực thăng HH-60W truy tìm và cấp cứu của Không Quân Mỹ. Nguồn. tolgaozbek.com

Cấp cứu với trực thăng mới nhất

Trực thăng cấp cứu mới nhất của Không Quân Mỹ, HH-60W, có 2 động cơ tua bin GE T700-GE-701D, đã thay thế trực thăng cấp cứu HH-60G của Không Quân Mỹ. HH-60W do hãng Sikorsky Aircraft sản xuất, hãng này là một công ty con của Công Ty Công Nghệ Quốc Phòng Lockheed Martin. Ðây là mẫu biến thể của trực thăng chiến đấu UH-60M Black Hawkm.Trực thăng HH-60W, có thể thực hiện chiến dịch di tản thương binh, di tản y tế, di tản dân sự, truy tìm và cấp cứu, yểm trợ các chương trình nhân đạo, thiên tai, đổ quân và rút quân.

Máy bay vận chuyển cấp cứu Lockheed C-130.Nguồn. wingsairpower.com

Cấp cứu di tản nạn nhân Casualty Evacuation (CASEVAC)

Hệ thống cấp cứu chiến đấu tân tiến của Không Quân Mỹ đã phát triển trong 20 năm qua trong trận chiến chống khủng bố thế giới, nơi những chiến sĩ và thường dân bị thương được di tản nhanh chóng từ tuyến đầu tới ngay các bệnh viện cấp cứu nhanh chóng.

Sau khi được trực thăng cấp cứu di tản các nạn nhân ra khỏi tuyến đầu, trở lại căn cứ, công việc tiếp theo là của Ðội di tản y tế trên không của Không Quân – Aeromedical evacuation (AE), phải giữ cho các nạn nhân sống sót bằng cách không vận họ tới những bệnh viện lớn hơn như Trung Tâm Y tế vùng Landstuhl, Ðức. Phi hành đoàn của đội AE đã được huấn luyện để sử dụng  dụng cụ, máy móc y khoa tinh vi trên máy bay vận tải C-130 hoặc C-7, giữ cho nạn nhân còn sống cho đến khi được đưa tới bệnh viện lớn.

Hệ thống cấp cứu nhà nghề của Không Quân càng hiệu quả hơn với máy bay trực thăng chiến đấu cấp cứu mới HH-60W trong tay. Ðược biết với tên “Jolly Green II” Trực thăng này có phạm vi hoạt động xa hơn, thân bọc thép, hệ thống cảm biến mạnh hơn và thông báo nhiều dữ kiện kỹ thuật hiệu quả hơn mẫu trực thăng cũ, HH-60 G Pave Hawk, một con ngựa già trong cuộc chiến chống khủng bố thế giới mà các đơn vị truy tìm và cấp cứu của Không quân Mỹ cho biết cần phải thay thế.

Trực thăng chiến đấu của Sikorsky UH-60M. nguồn. wall.alphacoders.com

Bộ Trưởng Không Lực Mỹ (Secretary of the US Air Force) Frank Kendall, đã nói với báo chí, theo tạp chí Breaking Defense, “Cái mà chúng tôi lo lắng là hoàn cảnh không giống như trước đây” “Khi chống lại, chúng tôi bị mất nhiều phi công trong những hoàn cảnh này, nhu cầu bây giờ đã quá khác nhau. Các hành động gây chiến như chúng ta thấy ở Châu Âu, hoặc có thể thấy ở Thái Bình Dương đã đẩy chúng tôi vô một kịch bản hoàn toàn khác biệt” Ông Ronnau, chỉ huy trưởng Lực Lượng Phục Hồi Nhân Sự (Human Resources Command) đã nhấn mạnh rằng các phi công phải có khả năng nhào vô trận chiến, bốc ngay các thương binh, và vượt qua mọi nguy hiểm trở về.

Ông phát biểu thêm.

“Các Ðơn Vị Chiến đấu Cấp Cứu Không Quân (Air Force Combat Rescue Units) được điều khiển, huấn luyện và trang bị để đáp ứng với tình hình cấp cứu của chiến trường, mang về những thương binh của Mỹ, Ðồng Minh và các lực lượng quân đội bạn”.

Trực thăng cấp cứu cũ HH-60G-pave-hawk. Nguồn.military.com

“Thiên Thần Hộ Mệnh”(Guardian Angel) Đơn Vị Cấp Cứu 106th.

Một đơn vị cấp cứu lừng danh là Ðội 106th, là một đội cấp cứu được mệnh danh là “Thiên Thần Hộ Mệnh” (Guardian Angel) của Không quân Mỹ. Ðội cấp cứu này đã được thiết lập rất đặc biệt trong suốt thời gian qua. Các nhiệm vụ, gồm:

– Cấp cứu, di tản, những người bị cô lập, hoặc bị thương trong khi tham gia các nhiệm vụ quân sự, hoặc của chính phủ Mỹ.

– Thực hiện phục hồi sức khỏe trong thời bình hoặc chiến tranh.

– Hướng dẫn các hoạt động sau khi đã phục hồi.

“Thiên Thần Hộ Mệnh” thực hiện cấp cứu trên mặt đất, là một thành phần trong chiến lược cấp cứu “Bộ Ba” của Không Quân Mỹ, thường hoạt động với máy bay trực thăng HH-60, C-130, đơn vị này có thể hoạt động riêng biệt, hoặc kết nối với các lực lượng liên minh như Lực Lượng Ðặc Biệt, thực hiện nhiệm vụ bốc, thả các chiến sĩ, chỉ huy, kiểm soát, tiếp tế, trợ giúp trên không và mặt đất.

Đơn vị tác chiến cấp cứu 332nd Không quân Mỹ. Nguồn. AF.mil

Đặc điểm của “Thiên Thần Hộ Mệnh”

Ðội cấp cứu này thực hiện nhiệm vụ truy lùng, cấp cứu cho các lực lượng Mỹ và đồng minh trong các trận chiến, thực hiện các hoạt động nhân đạo để hỗ trợ các đồng minh trong thời bình.

Guardian Angel đã thực hiện trên 12,000 lần cấp cứu, ngay cả những cấp cứu trong những trận chiến từ 11-9-2001. Ngoài ra, vì những khả năng đặc biệt của mình, họ đã được yêu cầu chỉ huy trận giải thoát trên 5,000 thường dân trên thế giới, qua các thiên tai khủng khiếp.

Ðội cấp cứu “Thiên Thần Hộ Mệnh” là tia hy vọng cuối cùng đối với các chiến sĩ, là nhịp cầu bắt giữa cái chết và sự sống cho các lực lượng Mỹ trong chiến tranh bảo vệ tự do, hòa bình cho đất nước Mỹ, và cả Ðồng Minh khắp thế giới.

Đơn vị tác chiến cấp cứu tại chiến trường của Không Quân Mỹ. Nguồn. businessinsider

HĐV

Bi kịch của cọp trắng

baotreonline.com

Hồ Đắc Vũ

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

Cọp thường làm cho người ta sợ, nhưng cọp trắng luôn thu hút sự chú ý của mọi người vì vẻ đẹp khác thường của nó. Với đôi mắt xanh biển quyến rũ, chiếc mũi hồng lợt và bộ lông trắng với sọc đen nổi bật, tương phản một cách hoàn hảo. Vẻ đẹp này, đã được các nhà làm phim, ảo thuật gia, những người bảo trợ sở thú Hollywood yêu thích từ lâu.

Cọp trắng. Nguồn. http://www.blogspot.com 

Sự bất lợi của cọp trắng hoang dã

Cọp săn mồi theo kiểu phục kích, ẩn nấp, trước khi chúng tấn công. Khả năng săn mồi là cần thiết để sinh tồn và những con cọp khi lớn lên, thường dành hàng tháng để học từ mẹ của chúng, trước khi chúng sống tự lập. Trên thực tế, việc săn bắt rất khó khăn đến nỗi khoảng 50% cọp con hoang dã không thể sống sót sau 2 năm đầu tiên.

Cọp trắng thuần chủng. Nguồn. http://www.blogspot.com

Theo một nghiên cứu năm 2019 được công bố trên Tạp chí Hiệp hội Hoàng gia (Royal Association), những động vật có vú lớn như hươu và lợn rừng, khó nhìn thấy bộ lông màu cam trong môi trường là rừng và đồng cỏ, nhưng có thể dễ dàng nhìn thấy màu trắng. Điều này là một bất lợi lớn của cọp trắng. Ngoài ra, việc không có khả năng ngụy trang này cũng khiến những cọp con, hoặc cọp yếu ớt dễ trở thành con mồi của các loài khác như cá sấu, rắn, báo, những con cọp khác và thậm chí là chó rừng, linh cẩu, chuyên săn theo bầy đàn. Ngoài ra, cọp trắng cũng có nhiều khả năng mắc các vấn đề về yếu thị lực do khiếm khuyết trong di truyền. Với những yếu tố bất lợi này, trong thực tế hổ trắng hoang dã thường bị chết vì đói.

Mọi cọp trắng hiện nay là cùng huyết thống

Trái với suy nghĩ của nhiều người, cọp trắng không phải là một loài đặc biệt hay một phân loài, như hổ Bengal hay hổ Siberia mà là do đột biến gen rất hiếm xảy ra, nên hổ trắng có giá rất cao so với đồng loại. Trong tự nhiên, chỉ có khoảng 1/10,000 con cọp có bộ lông trắng, đó là do chúng phải thừa kế cả hai bản sao của gen lặn cho màu sắc nhạt từ cả bố và mẹ. Cách nhanh nhất để tạo ra nhiều hổ trắng hơn là phối giống hai con trắng với nhau. Nhưng làm thế nào để bạn tìm thấy hai khi một đã là quá hiếm hoi?

Hầu hết trong số khoảng 200 con hổ trắng đang bị nuôi nhốt ngày nay đều có nguồn gốc từ một con hổ Bengal đực hoang dã duy nhất tên là Mohan, bị bắt ở Ấn Độ vào năm 1951. Những người canh giữ Mohan đã liên tục lai tạo nó với con cọp cái trắng khác và sau đó là với các con, cháu… để sinh ra một bộ sưu tập cọp trắng. Cuối cùng, những con cọp này và họ hàng của chúng đã được bán đi khắp nơi trên thế giới.

Theo bác sĩ thú y Daniel Laughlin trong một bài báo anh ấy viết cho Big Cat Rescue. Một sở thú Hoa Kỳ lần đầu tiên cho lai giống giữa cọp Bengal với cọp Siberia, sau đó cho các con của chúng lai với nhau, kết quả là đẻ ra một vài chú cọp con màu trắng. Một trong những con hổ này sau đó được lai tạo với một con cọp trắng thuộc dòng dõi của Mohan, và sinh ra tất cả những con hổ trắng hiện có ở Hoa Kỳ.

Cọp vàng và cọp trắng. Nguồn. http://www.jooinn.com

Hậu quả do quá trình nhân giống nhân tạo

Với nguồn gen cực kỳ nhỏ, mọi con hổ trắng hiện tại, đều có  chung giòng máu với nhau.  Và do giao phối cùng huyết thống, chúng sinh ra thường là chết sớm, không khỏe mạnh hoặc bị biến dạng không thích hợp với điều kiện sống bình thường. Nhìn chung, để có một con màu trắng mong muốn, khoảng 30 đến 60 con cọp chết trong quá trình nhân giống.

Bầy cọp con. Nguồn. http://www.wallsdesk.com

Cọp là nạn nhân của con người

Khi những con cọp trắng đầu tiên được ra mắt với công chúng ở Ấn Độ vào những năm 1950, mọi người đã nhìn thấy tiềm năng sinh lợi từ những con mèo trắng quý hiếm này. Theo Science Reporter, Mohan, một con hổ trắng bị bắt khi còn nhỏ ở Ấn Độ vào năm 1951, là cha của tổng cộng 34 con, 21 trong số đó được sinh ra màu trắng. Chúng được đưa đến các vườn thú trên khắp thế giới, và nhiều vườn thú đã nhanh chóng thu lợi từ những con cọp trắng quý hiếm này.

Cọp trắng và con (Trắng). Nguồn. http://www.timesunion.com

Sở thú Cincinnati của Hoa Kỳ đã trở thành nơi nuôi hổ trắng hàng đầu. Họ đã mua những con mèo trắng đầu tiên từ Vườn thú Quốc gia ở Washington, D.C., nơi đã nhận được ít nhất một trong số những con hổ trắng từ Ấn Độ. Cựu giám đốc Sở thú Cincinnati, Ed Maruska, thừa nhận rằng những con mèo độc đáo này là những máy kiếm tiền lớn. Maruska giải thích: “Cọp trắng đã hấp dẫn nhiều người đến sở thú của chúng tôi.” Những con cọp trắng của Sở thú Cincinnati cuối cùng đã lọt vào nhiều bộ sưu tập của tư nhân.

Khuôn mặt đẹp của cọp trắng. Nguồn. http://www.blogspot.com

Hiệp hội Sở thú & Thủy cung (Zoo & Aquarium Association) đã cấm nhân giống cọp vào năm 2011 do giao phối cùng huyết thống do những lo ngại về sức khỏe, nhưng điều này chỉ khiến việc nhân giống cọp hoạt động ở thế giới ngầm, không được kiểm soát. Nuôi hổ trắng vẫn là một ngành kinh doanh sinh lợi cao. Trên thực tế, người ta ước tính rằng một con hổ trắng bình thường được bán với giá khoảng từ 30,000 đến 60,000 đô la, trong khi những con hổ trắng thuần chủng có thể trị giá tới 100,000 đô la.

Cọp con. Nguồn. http://www.wallpapercave.com

HĐV

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

20. Chương Mười Chín
Tướng Dương Văn Minh Xuất Hiện

Thứ Năm, ngày 24 tháng Tư, 1975
Cứ mỗi lần từ vùng chiến trận trở về Sài Gòn, là mỗi lần tôi gần như bị chấn động vì không khí rất khác biệt giữa thành phố và tiền tuyến. Một bên là sự khốc liệt quá mức của chiến tranh, những người chết, những người bị thương, xóm làng nhà cửa bị tàn phá dưới sức rung chuyển của bom đạn như những cơn động đất, những cỗ pháo, những phóng pháo oanh tạc cơ, những binh sĩ đang bám đất, những người nông dân đang chạy loạn… Một bên thì sự yên tĩnh của thành phố với những bãi cỏ được săn sóc hằng ngày thật công phu cẩn thận, với những ngân hàng, và tấp nập những nhà buôn , với những nhà ngoại giao v.v.. Chỉ cách nhau không quá 50 cây số mà tôi có cảm tưởng như là cách xa nhau vạn dậm, hay không cùng ở một hành tinh!
Sài Gòn đang tranh cãi với nhau, đang lợi dụng lẫn nhau, và đang dàn cảnh một sân khấu chánh trị để cho các nhân sĩ có nơi cho họ xuất hiện nhanh để rồi biến đi to nhỏ với nhau ngoài hành lang. Một hoạt cảnh vừa mới bắt đầu đã nhanh chóng trở thành vô ích hay đã lỗi thời ngay sau đó!.
Ngày hôm kia, thứ ba 22/4, một đám đông dân chúng, theo lời kêu gọi của 4 Tôn Giáo lớn ở Miền Nam – Ki tô giáo, Phật giáo, Cao đài và Phật Giáo Hòa hảo – đã tập hợp lại trong nhà thờ Chánh Tòa ở Sài Gòn . Đứng dưới một tấm biểu ngữ thật lớn có vẽ hai chữ “Hòa Bình” thật to bằng sơn đỏ, là một hàng rào các sư sãi đầu cạo nhẳn bóng láng mặc cà sa vàng hực hỡ, đức Tổng Giám Mục với lễ phục trắng, các thân hào nhân sĩ mặc áo dài đen, và đang quì phía sau họ là cả một khối giáo dân.
Người ta chỉ thấy đại diện duy nhất của ngoại giao đoàn là Đại Sứ Pháp, Jean-Marie Mérillon, một người được mời dự buổi lễ đặc biệt nầy và là người được người ta chú ý đến nhiều nhất. Các quan sát viên cho rằng đây là nhân vật đương nhiên tự thừa nhận là mình đang tiến hành một cuộc vận động chánh trị để đi đến hòa bình. Nhưng chương trình của buổi lễ hôm nay đã được dự tính từ nhiều ngày trước rồi, được dự trù là sau khi hành lễ xong tất cả đều sẽ kéo nhau đến dinh Độc Lập cách đây không xa, để kêu gọi “Tổng Thống Thiệu hãy từ chức”.
Sự ra đi bất ngờ của vị nguyên thủ Quốc Gia vừa qua đã làm bể hết kế hoạch và mất hết ý nghĩa của những sự vận động của các nhóm người chỉ có sát cánh nhau vì cùng chung một động cơ hành động. Tất cả đều mong muốn có “hòa bình”, nhưng con đường mà họ định đi đến đích thì không người nào giống người nào!
Bây giờ thì mọi người đều nghĩ đến một cái tên, tên của tướng Dương văn Minh, thường được gọi là “Minh Lớn” (nguyên tác: “Grand Minh”), người được xem như là phương sách cuối cùng.
Ông Đại sứ Mérillon nghĩ rằng CPLTCHMN sẽ chấp nhận ông Dương văn Minh, nên hối thúc ông Trần văn Hương nên mời ông Minh lập một Chánh Phủ gọi là “Chánh Phủ để Thương Thuyết”. Ông Đại sứ Pháp thấy rằng tình hình đã quá nghiêm trọng rồi nên cần phải có những quyết định cấp bách. Nhưng từ 48 giờ qua, ông vẫn giẫm chân tại chỗ trong sự nhẫn nại. Ông đã hai lần ngồi xe D.S của ông có gắn cờ Pháp để đi vào Dinh Độc Lập hối thúc ông Tổng Thống già nua nên sớm “có hành động” kịp thời. Hôm nay lúc 5 giờ chiều, đã có một phát súng bị tịt ngòi trên sân khấu chánh trị. Tướng Minh đã mời các nhà báo và đã nói với họ rằng:
– ” Tổng Thống Trần văn Hương đã mời tôi nhận chức vụ Thủ Tướng, Tôi đã từ chối. Ở cương vị Thủ tướng tôi không thể mở đường đi đến một cuộc thương thảo được với “phía bên kia”. Tôi đã trả lời cho Tổng Thống Hương là: điều kiện tiên quyết mà những người “cách mạng” đặt ra là Tổng Thống phải từ nhiệm. Đó không phải là một điều mong muốn, mà là một sự bắt buộc “
Sự từ chối chức vụ Thủ tướng của tướng Minh đã nói lên ý muốn “đốt giai đoạn” của ông ta. Đại sứ Pháp, người đã hướng dẫn cho ông ta, đã chơi một ván bài nguy hiểm. Sơ đồ hành động của ông, nhằm đẩy cụ già Hương ra khỏi ghế Tổng Thống và thay thế ông bằng một người chưa từng bao giờ “bị phía bên kia chỉ trích”, chủ yếu được dựa trên niềm tin rằng cộng sản sẽ sẵn sàng thương thảo trên căn bản của Hiệp Định Paris 1973. Và theo ông thì không có gì là không vững chắc. Mười hai ngàn người có quốc tịch Pháp ở Miền Nam Việt Nam, được Tổng Thống Giscard d’Estaing và Đại sứ của họ kêu gọi hãy ở lại tại chỗ, có thể có nguy cơ phải trả giá rất đắt với tài sản và sanh mạng của mình, nếu giải pháp chánh trị nầy bất thành. Cân nhắc kỹ lưỡng rồi, ông Mérillon ước tính là cơ nguy đó phải được qua và ông dùng cách để thuyết phục cộng đồng người Pháp ở đây là không có gì đáng phải lo sợ hết..
Trước tiên là ông quyết định vẫn giữ nguyên ngày giờ thi Tú Tài toàn phần là ngày thứ hai 28 tháng 4, mặc dầu có những sự vận động khẩn thiết của các phụ huynh học sinh. Kế tiếp là trong lúc hầu hết các tòa đại sứ Tây Phương ở đây đều đóng cửa, ông Jean- Marie Mérillon đã công khai cho sơn lại mặt tiền của tòa đại sứ và cho trồng thêm bông hoa trong khu vườn của tư dinh ông. Có 12 người hiến binh được gởi tới bằng đường hàng không để tăng cường canh gác, Ông đã cho họ thay phiên nhau đứng gác ngoài cổng rào của tòa đại sứ.. Ông cho một số thợ hồ xây thêm tường rào tòa đại sứ cho cao hơn lên, vừa để tránh những sự dòm ngó của kẻ tò mò nhằm bảo vệ cho các nhân sĩ Việt Nam ra vào tiếp xúc với Ông, vừa có thể dùng tòa đại sứ như một nơi tỵ nạn đúng theo quyền tỵ nạn chánh trị , nếu có xảy ra chiến trận ở đây.
Và cuối cùng, để dự trù trường hợp xấu nhất, có một số tiêu lệnh đã được ban ra cho một số người “đầu đàn” trong cộng đồng người Pháp. Ba điểm tập trung đã được dự trù: đó là bệnh viện Grall, trường trung học Saint Exupéry (Chasseloup Laubat cũ) và cư xá Lareynières, nơi cư trú của các giáo chức Pháp. Tất cả những cơ sở công cộng, tất cả những tiệm buôn và nhà cửa, tài sản hay nơi cư trú của người Pháp đều phải được treo cờ tam tài Pháp. Những người nào còn nghi ngờ về tương lai và thiện chí của cộng sản , tự thấy mình “bi quan thái quá” và muốn nghe câu trả lời thì đây:
“Hãy làm một bản thống kê chính xác tất cả tài sản của mình. Thiết lập hồ sơ thật đầy đủ, nhưng vẫn phải ở lại tại chỗ. Vì khi rời khỏi nước Việt Nam, trước tiên là mình sẽ mất hết tất cả các quyền cứu xét để được bồi thường vì lý do chiến tranh, nếu có.”

° ° °

Mặc dầu ông Đại Sứ Pháp đã cho thấy tất cả sự lạc quan của mình, cuộc khủng hoảng chánh trị xem ra khó có thể tháo gỡ được . Phía ngoài hàng rào có vẻ yên tĩnh và mặc cho bối cảnh vận động chánh trị bận rộn của tòa đại sứ , thành phố Sài Gòn vẫn đầy rẫy những mánh khóe và những sự âm mưu toan tính . Những sự liên minh vừa mới được kết hợp ngày hôm qua thì ngày mai lại tan rã …Từ đêm ngày thứ năm cho tới thứ sáu, ở khách sạn Palace đã có một buổi họp của đại diện các phe nhóm ở Miền Nam, một số các tướng lãnh trẻ, các đại diện của người công giáo di cư và những lãnh tụ đối lập. Nhưng sau nhiều giờ bàn cải, họ không muốn chọn tướng Dương Văn Minh. Họ có ý trách ông nầy rất thụ động về phương diện chánh trị trong mười năm qua, và thiếu năng lực phán đoán. Tin chắc rằng mục tiêu duy nhất mà cộng sản đang theo đuổi là chiếm Miền Nam Việt Nam bằng giải pháp quân sự , họ nghĩ rằng ông Minh “không đủ sức” nên các cuộc thương lượng với cộng sản nếu có đi chăng nữa thì củng chỉ sẽ dẫn đến một sự đầu hàng mà thôi không hơn không kém. Đại diện của Phật Giáo Hòa Hảo đề nghị đem lên Sài Gòn hai chục ngàn người tình nguyện (20.000) để “thanh toán hết các phần tử chủ bại và thành lập một Chánh Phủ cứu quốc”. Đặc biệt hơn ông nầy tấn công ngay tướng Trần văn Đôn vì ông Đôn không chịu phát vũ khí cho các lực lượng tôn giáo và hằn học kết luận là :”Phải bắt ông ta, đưa lên đoạn đầu đài và xử bắn ông ta!”
Linh mục Hoàng Quỳnh , người được những người công giáo di cư tuyệt đối tin tưởng, xác nhận là ông “sẵn sàng đưa hai trăm ngàn người công giáo (200.000) xuống đường” (biểu tình). Luật sư Trần văn Tuyên thì tố cáo Đại sứ Pháp đã có hành động không thể tha thứ được là xen vào công việc nội bộ của Việt Nam. Ông Tuyên nói:
– “Ông Mérillon đã dám xấc xược nói với tôi rằng Tổng Thống Hương đã già yếu bệnh hoạn. Phải đưa ông ta vào bệnh viện để người ta giải phẩu cho ông, và nếu ông nằm ở bệnh viện thì bài toán sẽ được giải quyết ” Ông Trần văn Tuyên, 62 tuổi, một luật sư có tài, là trưởng nhóm xã hội trong Quốc Hội và là một đối thủ của ông Thiệu. Ông là một trong những người hoạt động tích cực cho “Phong tràio Tự Do Báo Chí” . Ông Tuyên nói tiếp:
– ” Tổng ThốngTrần văn Hương rất phẫn uất vì thái độ khinh khỉnh và không thân thiện của ông Mérillon. Nản lòng vì những lời mỉa mai cay độc nhắm vào ông, và những áp lực đối với ông, vị Tổng Thống lớn tuổi của chúng ta đã đe dọa sẽ tự tử bằng ống thuốc thạch tín mà ông luôn luôn đeo ở bên mình “
Tham vọng và sự nóng giận đã thúc đẩy những người có trách nhiệm nầy ý thức được mối nguy cơ cộng sản và sẵn sàng làm tất cả những gì để tránh nguy cơ nầy. Người nào củng tin rằng mình có thể cung ứng hàng ngàn chiến sĩ. Có người người còn dự trù thành lập một khu kháng chiến ở Đồng Bằng sông Cửu Long ở Miền Tây. Họ đề nghị chuyển hết các kho vũ khí và đạn dược về vùng nầy. Còn các tướng lãnh trẻ thì thề nhứt quyết họ không bao giờ đầu hàng cộng sản. Nhưng liệu cuộc kháng chiến như thế có cơ may kéo dài được bao lâu nếu không có một sự yểm trợ từ bên ngoài? Dù gì đi nữa thì Hoa Kỳ sẽ không can dự vào nữa rồi. Lên tiếng ở tiểu bang New Orléans, Tổng Thống Ford vừa mới thản nhiên xác nhận điều đó làm cho tim mọi người muốn ngừng đập. Ông ta đã yêu cầu người Mỹ “hãy lật sang trang khác” để hướng về tương lai. Ông ta đã tuyên bố thêm là ông đã gạt ra ngoài mọi khả năng tái can thiệp của Hoa Kỳ bằng hai câu ngắn:
– ” Bây giờ thì chúng ta có thể tìm thấy lại được sự hãnh diện mà Hoa Kỳ đã có từ trước sự kiện Việt Nam,Một sự hãnh diện mà Hoa Kỳ sẽ không bao giờ tìm lại được, nếu còn tham gia vào một cuộc chiến coi như đã hoàn toàn chấm dứt đối với chúng ta.” !

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 6 Apr 2024

Chương Mười Tám
Ngọn Đồi Cuối Cùng

Thứ Tư, Ngày 23 Tháng 4
Cứ cách nhau 3 phút là các phóng pháo khu trục cơ cất cánh và đáp xuống phi trường.Trên bãi đáp trực thăng số 42, đang có 4 chiếc gồm 2 chiếc vận tải loại lớn “Chinooks” và 2 trực thăng võ trang U.H. 1 B. đang sắp sửa cất cánh. Nhiệm vụ: tiếp tế đạn cho 1 tiểu đoàn thuộc trung đoàn 48 bộ binh đang đụng địch ở chân núi Thị, một ngọn núi chế ngự hết cả vùng của đồn điền cao su An Lộc rộng lớn (S.I.P.H.), và đang chuẩn bị chống trả những trận tấn công dữ dội hơn của cộng sản.
Thiếu tá Luân, 36 tuổi (với 4000 giờ bay và 12 huy chương), một trong những phi công ưu tú nhất thuộc Không Quân chiến thuật, đã chấp nhận cho tôi cùng bay với ông ta. Chúng tôi sẽ nghỉ đêm tại mỏm núi và sáng sớm ngày mai chúng tôi sẽ bay lượn trên khắp vùng trận địa – 60 cây số dàn quân – của chiến trường Xuân Lộc trên quốc lộ 1 và tỉnh lộ 24.
Có một số thợ máy mặc quần áo chống cháy đang gắn những tấm lưới thép dưới lườn thực thăng Chinooks và chất đầy ắp các thùng đạn vào đó. Mặc vào một cái áo giáp chống đạn và đội một nón sắt có kính che mắt, tôi nịt giây nịt an toàn vào rất kỹ lưỡng. Trên phòng lái, là thiếu tá Luân và sĩ quan hoa tiêu. Bên trái của tôi là một sĩ quan pháo binh có cả ống nghe trên mủ và ống nói dưới cằm. Phía sau tôi ở hai bên trong hai ụ súng là hai anh xạ thủ với hai khẩu đại liên 50 chỉa ra ngoài, và dưới lườn trực thăng có hai ống phóng mỗi ống chứa 7 quả rốc kết. Chúng tôi cất cánh lúc 18 giờ 15 phút.
Trực thăng lấy cao độ nhanh, và trực chỉ hướng Đông. Xuyên qua các đám mây chúng tôi thấy một đường thẳng dài của quốc lộ 1 , lấm chấm có vài dấu nổ của đạn pháo.: đó là tác xạ ngăn chặn của pháo binh sư đoàn 5 bộ binh đang phòng thủ các ngõ vào Trãng Bom.
Trực thăng sau đó chui qua các đám mây xuống thấp , bay rà rà trên các ngọn cây cao su của hàng S.I.P.H. Trên một con đường mòn thẳng vắt ngang đồn điền cao su, trên 12 xe vận tải Molotova chở đầy bộ đội đang chạy rất gần. Thiếu tá Bẻ cần quẹo gấp Luân đưa trực thăng nằm đúng ngay trên trục của đường mòn. Thình lình, hai, rồi bốn sự rung chuyển ngắn làm chấn động chiếc trực thăng. Bốn quả rốc kết đã được Luân phóng đi từ hai ống phóng và nổ đúng vào đoàn xe vận tải của Bắc Việt . Nhiều tiếng nổ dữ dội cho thấy là các quả rốc kết đều trúng mục tiêu. Lửa , khói và miểng đạn bắn ra tung tóe gần như bao trùm chiếc trực thăng, vì nó bay rất thấp. Tôi nghĩ là chúng tôi cũng có thể gập nguy cơ lắm. Chiếc trực thăng rung lên từng chập. Các đại liên thôi thì thi nhau nhả đạn. Xuyên qua cửa ngang hông được mở toang ra, trong chớp nhoáng tôi thấy một chiếc xe đang cháy và những tên bộ đội bé nhỏ mặc quân phục xanh bị cháy đang nhảy tứ tung như những tia lửa bắn lên tứ hướng từ một cục than hồng. Thế rồi không còn nghe thấy gì nữa cả. Chiếc Chinooks lại bay rà lên trên tấm thảm xanh của rừng cao su trở lại, chỉ còn nghe tiếng phành phạch của hai cánh trực thăng. Cuộc tấn công vừa rồi chỉ kéo dài có 20 giây. Sáu phút sau, chúng tôi đã thấy Núi Thi., Một mỏm đá với một chòm cây và một gian nhà lớn chỉ còn nửa nóc . Đó là biệt thự của viên thanh tra đồn điền cao su. Thiếu tá Luân đáp xuống một bãi đất rộng được đánh dấu bằng mấy trái khói mầu vàng, nằm cao hơn mỏm đá. Một anh thiếu úy đưa chúng tôi đến Bộ chỉ huy của Trung tá Phát, một phòng lớn ở tầng trệt của biệt thự, có bao cát chung quanh, và một số bàn đầy máy móc truyền tin và điện thoại.
Trung tá Phát hớt tóc ngắn, cầm to, tôi có cảm tưởng như người ông toát ra sức mạnh và nghị lực. Chung quanh ông thấy có một nhóm sĩ quan ăn mặc sạch sẽ và chỉnh tề, đang chờ nhận lệnh. Trung tá Phát bắt tay tôi, tay kia đấm Luân một phát, rồi đãi chúng tôi mỗi người một cốc cà phê nóng có chế vào một ly rượu mạnh, xong vùa cười vừa nói:
– ” Các anh đừng lo, căn nhà nầy chắc lắm, toàn là xi măng cốt sắt và trước khi có giặc nghen ! Năm 1947 biệt thự nầy đã bị cháy và người Pháp đã bỏ đi. Hai chục năm sau người Mỹ lại sửa lại, tăng cường tới nóc nhà bằng các tấm thép. Họ đặt mấy chiếc tủ lạnh và sơn phết lại hết, màu xanh lá cây.”
Rồi sau đó ông ta nghiêm sắc mặt lại, nói với thiếu tá Luân :
– “Tôi đã mang lên được trên ngọn đồi nầy 4 khẩu pháo binh 105 ly và 3 khẩu 155 ly. Nhưng tôi thiếu đạn, tôi chỉ có 30 quả cho mỗi khẩu. Tôi cần gấp ba lần như thế, và một số đạn bách kích pháo. Anh cố tìm mọi cách mang lên đây cho tôi. Đi làm 6 hay 8 chuyến. Và làm sao để tôi có một trực thăng võ trang C.119 trước 12 giờ đêm và cho nó trực thôi, sẳn sàng chờ lệnh, vì bọn Bắc Việt chắc chắn sẽ chơi tôi vào lúc 2, 3 giờ sáng gì đó thôi.
– Hai chiếc Chinooks đang mang đến cho Anh 3 tấn đạn , thiếu tá Luân đáp ngay. Họ sẽ đến đặt trước nhà cho anh trong một vài phút nữa thôi. Về phần còn lại tôi sẽ làm cho anh tối đa”.
Thiếu tá Luân tiến tới một máy truyền tin và gọi Biên Hòa , Trung tá Phát đốt một điếu thuốc , lật bản đồ ra và giải thích cho tôi nghe về tình hình:
– ” Sư đoàn 18 và Liên đoàn biệt động quân của đại tá Phước đã đánh nhau với bọn nó như những con sư tử trong suốt 14 ngày ở thành phố Xuân Lộc đổ nát nầy. Họ đã bình tĩnh lãnh đủ hơn 20.000 quả pháo và rốc kết. Họ đã bắn sụm 37 chiến xa T.54 và cho đo ván hơn 5000 tên cộng sản . Thứ hai vừa rồi, Bắc Việt đã bọc vòng phía sau thành phố chiếm lại giao lộ Suzannah và sơi luôn một đoàn xe tiếp tế của mình. Sau đó họ bố trí cẩn thận hai bên ngã tư, điều chỉnh sẳn tác xạ và để 2 sư đoàn gần đó trong tư thế chờ đợi, hy vọng đánh tan xác chúng ta khi ta rút quân. Nhưng tướng Đảo đã “chộp” được chúng nó. Trưa thứ hai Tướng Đảo đã phản công và giải tỏa phần đất chung quanh phi trường trên hơn 2 cây số..đồng thời xin tiếp tế đạn thật nhiều cả bằng trực thăng và thả dù. Sau đó ngày thứ ba, nghĩa là mới hôm qua đây, thay vì lui về ông đã cho cả sư đoàn đi thẳng về phía trước theo trục các đồn điền Courtenay- Xa Bang- Bình Ba- Bà Rịa. Ông đã bất thần phá vỡ vòng vây Bắc Việt , mang theo tất cả thương binh, tất cả xe cộ (50 xe vận tải và trên 30 chiến xa. Không quân đã yểm trợ ông bằng cách dội bom CBU để dọn đường cho sư đoàn , loại bom mà cộng sản Bắc Việt rất khiếp sợ. Để giúp cho tướng Đảo thành công trong sự điều quân của ông ta, chúng tôi đã cho 2 tiểu đoàn đánh ngược hướng tiến quân của sư đoàn (1 tiểu đoàn dù và tiểu đoàn của tôi), để cho cộng sản Bắc Việt tưởng rằng chúng ta sẽ rút lui về hướng Sài Gòn theo quốc lộ 1. Tiểu đoàn Dù tình nguyện đâm thẳng vào Gia Kiệm để cầm chân một trung đoàn địch. Tiểu đoàn của tôi đã băng ngang đồn điền S.I.P.H. đánh ngay sau lưng địch, hạ sát trên 300 tên bộ đội, cắt hết đướng dây điện thoại của chúng, và bất ngờ đã bắn hạ 2 chiến xa T.54… Và chúng ta đã lên thẳng trên ngọn đồi nầy vốn chỉ được có một đại đội địa phương quân phòng thủ, và chúng tôi đã mất hết hai ngày hai đêm dùng cuốc , vá để tổ chức vị trí phòng ngự. Muốn đuổi chúng tôi ra khỏi đây hả?, chúng cũng phải trả một giá hết sức đắt.”
Đại úy Nhân đưa tôi đi xem vị trí phòng ngự. Thiếu tá Luân đã cất cánh với chiếc trực thăng của ông ta.
Ngọn đồi nầy chiếm một vị trí rất đặc biệt, nó là một khối đá cao trên 100 thước , mặt phía Tây thẳng đứng và rất nguy hiểm, mặt phía Bắc và phía Đông toàn là rừng, duy mặt Nam thì có một lô cao su khá lớn bao quanh.. Là một cao điểm duy nhất giữa một khu đất bằng phẳng rộng lớn, vị trí nầy chế ngự cả vùng, địch khó có đường tiến sát đến đây được mà không bị lộ, và không thể leo lên hay tràn ngập vị trí phòng thủ được bằng một cuộc tấn công trực diện. Dưới chân đồi và ở cách xa khoảng 1500 thước là trung tâm đồn điền An Lộc, với một hệ thống dường sá như bàn cờ ở dưới làn sóng xanh um của dồn điền cao su An Lộc. Một bên là sân bay và bệnh xá, bên kia là một dãy nhà kho, câu lạc bộ, biệt thự của giám đốc đồn điền, nhà của các nhân viên phụ tá, hồ tắm, sân tơ nít, và trung tâm truyền tin. Chỉ là một thành phố rất nhỏ nhưng hiện đại như thế thôi, do một nhúm người Pháp điều hành mà nó nuôi sống được hằng ngàn công nhân và kỹ thuật gia Việt Nam cư ngụ trong các làng khéo tổ chức với những căn nhà tuy nhỏ nhưng đầy đủ tiện nghi (điện nước v.v..)
Các nhà trồng tỉa Pháp ở Việt Nam thật là đáng phục. Siêng năng, thẳng tánh nhưng kín miệng, họ sống với nhau rất là đoàn kết.. Đã quen với những sự nguy hiểm, thường đối đầu với những bài toán rất tế nhị, hay bị bọn Việt Cộng ở địa phương quấy nhiễu, thường hay bị bắt để đòi tiền chuộc, đôi khi còn bị không quân của ta bắn nữa, còn di chuyển thì bắt buộc phải đi trên những con đường hay bị phục kích, những người Pháp nầy làm việc trong những điều kiện hết sức khó khăn. Họ phải đi khắp các lô cao su, kiểm soát công việc cạo mủ hằng ngày, lo tu bổ dụng cụ, kiểm soát số lượng mủ., theo dỏi cây ương và còn phải chú ý đến sức khỏe của nhân công mà họ vừa là chủ vừa là những người đỡ đầu. Họ phải giải quyết tất cả các bài toán về nhân sinh , như dàn xếp các cuộc gây gỗ trong gia đình , giữ luôn cả sổ sách về hộ tịch và còn phải giúp đở về dịch vụ săn sóc y tế cấp thời miễn phí nữa. Họ không bao giờ phàn nàn điều gì cả và chỉ có một lo âu : làm sao cho công việc mà họ có trách nhiệm được chạy đều. Lúc nảy, cũng gần như mỗi buỗi chiều, họ có nghe tiếng đại bác. Nhưng đêm nay, có thể họ có nguy cơ bị kẹt giữa hai lằn đạn của chiến trận.. Có phải vì thế mà mặc dầu đêm đã xuống rồi mà sở An Lộc vẫn chưa lên đèn?
Tôi chia xẻ nhận xét đó với đại úy Nhân.
-” Không phải đâu, người sĩ quan trẻ nầy đáp lời, những người Pháp của đồn điền nầy không có ở đây nữa. Họ đã gặp rất nhiều khó khăn. trước hết là đối với những người dân chạy giặc từ Miền Trung vào, rồi sau đó là dân Xuân Lộc nữa . Hằng ngàn người bất thần bị bom đạn, nên đã ùa vào đồn điền cao su lánh nạn. Chủ đồn điền là ông Parnès, không lo xuể. Ông ta đã thiếu gạo, nên đã phải băng ngang qua vùng lửa đạn để tìm xe lấy gạo. Ông đã săn sóc cho đàn bà và trẻ con , đích thân chích thuốc cho họ, nhưng không có cách nào để điều trị cho những người bị thương và những bệnh nhân nặng. Vã lại có quá nhiều người . Ông ta đã cố xuống Xuân Lộc để tìm một trong năm bác sĩ của bệnh viện dân chính, nhưng không còn ông nào, họ đã chạy hết cả rồi. Ông ta lại phải trở về đồn điền, và tiếp tục đi tìm họ trong những người dân tỵ nạn đang ở trong các lô cao su.. Cuối cùng ông ta cũng gặp được một người đang giả dạng thường dân, mặc bộ đồ bà ba đen, choàng khăn và đội nón lá sùm sụp để che mặt lại. Ông ta đã nắm lấy bác sĩ nầy và lôi về xe Jeep của ông. Bác sĩ nầy khẩn khoản xin cho ông một thời gian :” Tôi đang tìm bà vợ của tôi, bà ta sắp sửa tới ngày giờ sinh cháu rồi mà lạc mất 3 ngày nay. Khi nào tôi gặp được bà ta thì tôi theo ông ngay” Ông Parnès đã giúp bác sĩ nầy đi tìm bà vợ, và cuối cùng họ đã gặp người đàn bà bất hạnh nầy nằm trên một vũng bùn gần một con rạch nhỏ. Bà đã sanh con trên miếng đất trống, giống như một con thú vậy !
– Và ông bác sĩ đã làm gì ?
– “Vợ ông bụng căng lên đầy mủ. Bà ta qua đời vài giờ sau đó, nhưng ông bác sĩ đã giữ lời hứa, mang đứa con của ông về bệnh viện của đồn điền và sau đó đã làm việc thật bận bịu với những người dân chạy loạn.
Đại úy Nhân đưa tôi một điếu thuốc , dẫn tôi tới xem một ụ phòng thủ và nói tiếp :
– ” Các ông chủ sở cao su nầy có những mối ưu phiền khác. Các đơn vị Bắc Việt đã đi ngang qua đồn điền. Một trung đoàn “bộ đội” (nguyên tác :Bo- Dois”) quá khát nước đã tràn vào nhà máy và đã nốc sạch cả bồn nước của nhà máy, làm nhà máy phải ngưng hoạt động vì bồn nước nầy dùng để làm nguội máy móc của nhà máy. Rồi lại đến lượt một trung đoàn khác sau đó không lâu. Toán tiền sát của họ đã đến trung tâm đồn điền. Toàn là người Bắc và toàn là nông dân là những người chưa từng thấy cái gì hết. Họ đã lục lọi đủ mọi thứ, và đã dùng báng súng đập vỡ hết các thứ kể cả các máy thu thanh. (nguyên tác :postes de radio). Sau đó họ đã bắt đi 3 vị phụ tá, trói họ lại và dẫn vào rừng, còn đe dọa giết họ nữa bởi vì họ là “gián điệp của Mỹ” . Các anh công nhân chạy đi tìm gặp bọn Việt Cộng ở địa phương, một chánh trị viên người Nam đã đến gặp bộ đội Miền Bắc và cuối cùng đã lãnh họ về được với một “giấy đi đường”. Các anh phụ tá nầy đã trở về làm việc ở sở. Rồi một đơn vị Bắc Việt khác lại đi qua, lại bắt họ trói dẫn đi vào rừng. Nhưng lần nầy thì không còn một ai biết được số phận của họ ra sao nữa .
– Còn thợ thầy công nhân thì sao?
– Họ vẫn làm việc nhưng họ sợ bị trả thù. Cách đây 2 ngày, một tiểu đoàn chánh quy Miền Bắc đã bị thiệt mạng trên 100 người trong một bãi mìn. Họ đã tràn vào làng công nhân ở khu D và đã dùng loa kêu tất cả phải ra ngoài. Có một số ra ngoài, nhưng phần đông đều ở trong nhà không ra. Các binh sĩ Bắc Việt đã nổ súng và liệng lựu đạn vào các căn nhà một cách rất ung dung và đã tàn sát trên 100 người phần đông là đàn bà và trẻ con….”
Đêm đã xuống hoàn toàn. Binh sĩ đã nằm ở vị trí chiến đấu , Và rải rác ở phía bên đường dẫn xuống đồng bằng, giữa những hòn đá, ở những vị trí pháo binh và bách kích pháo, các xạ thủ củng đã sẵn sàng. Dài theo bìa phía đồn điền, là một đại đội biệt động quân với các khẩu trung liên , súng phóng lựu và súng không dật 57 ly. Phải biết chờ đợi và biết giữ yên lặng.
Vào lúc 10 giờ đêm, có tiếng phành phạch của trực thăng Chinooks nghe được mỗi lúc một gần… Binh sĩ cho đốt những ngọn đèn mà ánh sáng chỉ có trên không mới nhìn thấy, đánh dấu bãi đáp để nhận hàng tiếp liệu. Những chiếc trực thăng đảo tròn trên Bộ Chỉ Huy, với những kiện hàng nặng trong các lưới thép lòng thòng dưới lườn. Chỉ trong vòng vài phút, họ đã đặt các kiện hàng tiếp liệu xuống đất, hệ thống dây bịt thả ra hết và trực thăng lại bay đi. Và họ trở lại hai lần nữa. Từ xa, các tiếng nổ của đại bác gầm thét như những tiếng sấm trong cơn mưa. Nhưng cơn bão mà chúng tôi đang chờ đợi lại không thấy tới. Nằm gọn trong một hốc đá, tôi không tài nào ngủ được . Chỉ nghe tiếng dế gáy liên hồi…..
Nhưng đến 3 giờ sáng thì mọi sự đều biến chuyển. Nhiều chùm lửa đỏ rực của pháo binh Bắc Việt bay vào ngọn đồi. Có môt số cây bị trốc cả gốc lên. Rồi có một đợt tiếng la vang dội dưới chân các mỏm đá, phía dưới chân đồi.. Đó là lệnh xung phong của cán binh cộng sản . Bộ đội Bắc Việt tấn công trực diện dọc theo hai bên con đường . Binh sĩ Miền Nam không bắn phát súng nào. Họ chờ cho “bộ đội” đến gần hơn dưới 100 thước. Và lúc đó tất cả các loại súng đều nổ một lượt.. Mấy ống bách kích pháo nhắm vào hai bên đường, nã đạn, nòng súng gần như thẳng đứng cho tầm tác xạ ngắn lại. Pháo binh 105 ly tác xạ ở cự ly 0 độ. Thấp hơn phía dưới, về phía bên trái thì các khẩu trung liên của biệt động quân nổ như bắp rang. Có vài trái sáng được bắn lên xé tan màn đêm tối, cho thấy các bóng người tan tác, ngã lăn oằn oại dưới đất với những tiếng kêu la thảm thiết. Rồi hai trực thăng võ trang C119 lại xuất hiện, đang xé gió bay tới,,, sau tiếng gầm, lao xuống như hai con chim ưng gặp mồi và dùng các khẩu đại liên điện bắn như mưa xuống đám cán binh Bắc Việt còn sống sót đang tháo chạy tán loạn dưới cánh đồng.
Có nhiều tràng pháo 130 ly bắn quá ngắn nên rơi hết xuống đám rừng làm trốc gốc thêm một số cây . Pháo binh 155 ly của Miền Nam phản pháo lại cũng dữ dội như sấm sét.. Đến 5 giờ sáng thì mọi tiếng súng đều ngưng.. Lúc trời sáng tỏ thì binh sĩ mới cẩn thận bước ra khỏi phòng tuyến và đi lần xuống đồi, súng lăm lăm cầm tay sẳn sàng nhả đạn. Trên mặt đất có rất nhiều thây của cán binh Bắc Việt mặc quân phục xanh lá cây. Đại úy Nhân trao cho tôi một ly cà phê nóng và nói:
– ” Đêm rồi mọi việc đều rất tốt. Nhưng mà họ sẽ trở lại. Một tiếng đồng hồ nữa là thiếu Tá Luân sẽ có mặt ở đây, và anh sẽ đi về với ông ta.”
Vào 7 giờ sáng tôi lên trực thăng của thiếu tá Luân, và chúng tôi cất cánh, lên cao độ 1200 bộ và bay về hướng Bắc. .. Nhìn từ trên cao, Xuân Lộc chỉ là một đống gạch vụn đầy bụi, duy nhất chỉ còn mỗi lầu chuông của nhà thờ sừng sững như một ngọn hải đăng. Trực thăng đổi hướng về hướng Đông và xuống thấp là là trên ngọn cao su. Qua khỏi đồn điền Hàng Gòn, chúng tôi thấy một đoàn xe dài của Bắc Việt , các chiến xa , các xe pháo binh, và xe vận tải chở đầy cán binh đang di chuyển dài trên mấy cây số ngang nhiên như chỗ không người và không thấy có nghi trang.Thiếu tá Luân tạt thật nhanh đi chỗ khác, dùng vô tuyến báo động ngay cho Biên Hòa và vọt thẳng lên cao độ 1500 bộ. Mười phút sau, chúng tôi chứng kiến một cảnh tượng quá kinh hồn. Hai, rồi bốn, rồi sáu chiến đấu cơ A.37 đâm bổ xuống tác xạ từ phía sau của đoàn xe gây nhiều đám cháy, lửa khói mịt mù.. Vài giây sau đó lại có hai chiếc vận tải cơ C.130 thả xuống từ trên cao hai thùng tròn đen, có dù , và khi gần chạm đất gây ra hai tiếng nổ thật kinh khủng và phi thường, tiếp theo sau đó là hai lằn ánh sáng ngắn màu xanh kỳ dị. Hai ngọn khói hình nấm tròn bốc lên cao với một luồng gió mạnh phi thường đến đỗi trực thăng của chúng tôi ở cao độ 500 thước bị ảnh hưởng, phải bị lắc lư rung chuyển thật mạnh, rồi rơi tuột xuống một khoảng không như một hòn đá, đến cao độ 800 bộ mới lấy lại được cự thăng bằng. Khi khói tan biến hết, thì mới thấy được con đường ngổn ngang đầy xe cộ bị lật ngã, nghiêng ngữa, tan nát, các khẩu pháo bị tung xuống hố và thây người chết nằm rãi rác trên 200 thước bề ngang, cây cối bị trốc gốc ngã lộn nhào đưa cả rễ lên trời . Thật là một cái nhìn khiếp đảm, cả một sự hủy diệt chỉ trong nháy mắt . Thiếu tá Luân cho trực thăng bay sà xuống đường và bắn hết tất cả rốc kết dọc theo hai bên đường . Không có một tiếng súng bắn trả: Thì ra thiếu tá Luân đã bắn vào một đoàn người chết…..
Sau khi đáp xuống sân bay Biên Hòa, Thiếu tá Luân vừa cởi nón sắt ra vừa nói với tôi;
– ” Anh có thấy rõ mức độ thiệt hại không ? Hai thùng tròn đen được thả xuống ban nảy là hai trái bom C.B.U. 55. Một đầu đạn được gắn vào phía trước hai thùng đen đó là bộ phận kích hỏa phát nổ gần mặt đất. Như vậy là không có góc độ “tử giác” .Trong vòng 150 thước đường bán kính, không còn một chút không khí nào hết, dĩ nhiên là không còn dưỡng khí ở đâu cả. Cộng thêm với làn sóng cực mạnh của sức nổ. Cho nên đây là một loại vũ khí kinh hoàng, chỉ có thể dùng nó khi nào địch quân tập trung đông đảo thì mới có hiệu quả cao.
– Như vậy họ dùng thuốc nổ loại nào?
– Tôi cũng không biết chính xác cho lắm. Công thức nấy còn là “Tối Mật” và chỉ có người Mỹ là có thể biết thôi. Tôi nghĩ đây là một sự pha trộn giữa chất nổ T.N.T và một chất hóa học nào đó. Loại bom nầy đã có từ lâu rồi, nhưng vì sợ dư luận của dân chúng Hoa Kỳ , nên người Mỹ chưa bao giờ xử dụng . Khi rời khỏi Việt Nam , họ để lại cho chúng tôi trên 20 trái bom nầy và có dặn chúng tôi là chỉ nên xử dụng khi nào tối cần thiết, coi như đó là biện pháp sau cùng., Gần như đây là loại vũ khí của “cơ may cuối cùng”…. chúng tôi đã xử dụng 7 trái trong vòng 3 ngày nay.

Vĩnh biệt Sài Gòn

 Jean Lartéguy

Phạm Kim Vinh dịch

Nhà xuất bản Thế Giới 1991

Post by Sơn râu 5 Apr 2024

Chương I: Ngày 25 tháng 4

Màn đêm vừa buông xuống Saigon và buông xuống luôn cả hai mươi năm của đời tôi. Tôi đặt chân đến Saigon lần đầu tiên vào năm 1950. Tôi đi trên chiếc tàu Marseillaise, một chiếc tàu trắng chở những sĩ quan trẻ tuổi được hứa hẹn cho tử thần, chúng tôi phung phí hết lương tháng trong những quán rượu hạng nhất để gây sự chú ý của những người đẹp gốc Âu Á, của những người vợ các chủ đồn điền hoặc của những nữ công chức theo chồng đến thiên đường xa xôi này.

Tôi bị đuổi khỏi thiên đường ấy ngày 28-5-75. Một mối liên lạc đầy biến cố. Cuộc chiến các giáo phái chút nữa giết tôi, vụ ám sát ông Diệm, quân Mỹ ồ ạt tới, hàng loạt những cuộc đảo chánh, Khánh với bộ râu dê và chẳng có gì trong đầu, Kỳ với những bộ đồ phi công hào nhoáng, Thiệu không có bộ mặt, và Minh Cồ thì lặng lẽ, có thể vì chẳng có gì để mà nói nhưng lại biết chơi quần vợt khá và chơi hoa lan.

Cái thành phố từ đó tôi bị xua đuổi không còn mang tên là Saigon nữa. Bây giờ tên nó là Hồ Chí Minh, thành phố của bác Hồ. Mỗi ngày thành phố ấy lại thêm xa lạ với tôi. Tôi chẳng còn gì để làm ở đó nữa.

Còn thành phố kia, thành phố mà tôi hằng yêu dấu thì đã chết khi các xe tăng Nga chở các xa đoàn người Bắc Việt phá tung cánh cửa sắt của dinh tổng thống tuy rằng người ta chỉ mong mở cửa ấy cho bọn chúng.

Ba người hỏa tinh từ Hà Nội tới, dáng nhỏ bé, đồng phục xanh, nón lá trên đầu, hông mang súng ngắn đã làm ra vẻ như họ đọc bản án trục xuất tôi vì những “bài viết của tôi”. Họ không biết rằng tôi đã quyết định sẽ đi chuyến bay ngày mai và tôi không ưa trì hoãn lâu hơn nữa bên giường một người chết. Tôi bắt tay họ như bắt tay những thợ xe đòn sau khi họ làm xong bổn phận.

Đây không phải là một cuốn sách. Có lẽ một ngày nào đó tôi sẽ viết cuốn sách ấy. Đây chỉ là lời vĩnh biệt Saigon. Đây cũng là câu chuyện năm ngày hấp hối của Saigon và chuyện cái chết của thành phố ấy. Chẳng có gì khác hơn là những lời ghi chép vội vã tại căn phòng của tôi trong khách sạn Continental.

Thế là rốt cuộc tôi đã tới Saigon. Không dễ gì tới được đây và cho tới giờ phút chót tôi đã tưởng bị đuổi tại Tân Sơn Nhất.

Hai ngày trước đó, tôi xin chiếu khán tại tòa lãnh sự Nam Việt Nam. Tôi và Raoul Coutard phải thực hiện một cuốn phim về sự thất thủ của Saigon. Tôi được cơ quan truyền hình Pháp cấp giấy giới thiệu nồng hậu và đứng tên thật của tôi chứ không đứng cái tên Larteguy vì nó chỉ là cái tên giả tôi bịa ra để viết vài bài báo cho khỏi phải xin phép thượng cấp. Hồi đó, tôi còn là một sĩ quan.

Coutard được chiếu khán. Tôi bị khước từ. Coutard có ba chục năm liên lạc với Đông Dương. Anh ta đã thực hiện cuốn phim xuất sắc về Đông Dương tựa là Hòa Bình và được giải thưởng tại hội điện ảnh ở Cannes.

Lại xui xẻo nữa. Tôi có tên trong sổ đen, cả tên thật và tên giả. Người ta cho tôi xem cả một hồ sơ đầy đủ. Thời Diệm bị cấm, thời Khánh bị cấm và đầu thời Thiệu bị cấm. Nhưng Nguyễn Cao Kỳ đã kiếm được cách đưa tôi qua biên giới để chọc giận Thiệu. Lần này thì tôi có tội viết vài điều không đẹp về chế độ Thiệu và về Thiệu: “Thiệu là người thâm độc, suy tính và đa nghi đến nỗi không tin ai hết, không tin cả đến bóng dáng của ông ta khi đứng trước gương. Nếu như thế thì rồi có ngày ông ta sẽ bắt giam chính ông ta… Nước Việt Nam càng ngày càng có chiều hướng giống nước Trung Hoa và của Quốc Dân Đảng trước khi Mao thắng. Saigon là Thượng Hải nhưng còn tệ hơn nữa. Cảnh sát trưởng Gia Định đã mua chức vụ giá mười triệu đồng, chức quận trưởng Tân Bình giá hai chục triệu đồng. Chức vụ tại Chợ Lớn lên giá tới hai mươi lăm triệu…” Đó là một đoạn trong cuốn Voyage Au Bout De La Guerre tôi viết năm 1971.

Tùy viên báo chí của tòa đại sứ, một người tên là Gia, bà con với một người khác cùng tên Gia và giữ một chức vụ gì đó trong chính phủ Thiệu, không chịu tiếp tôi.

Ở đường giây điện thoại của tòa lãnh sự, hắn lập lại: “Thưa ông, tôi rất tiếc nhưng mà ông có tên trong sổ đen. Tôi phải gửi một điện tín về Saigon để xin các chỉ thị của chính phủ của tôi”.

Tôi cằn nhằn hắn:

– Chính phủ nào? Thiệu xuống rồi và Tướng Minh sẽ thay thế. Và ông có biết không, Tướng Minh là bạn với tôi. Ai sẽ trả lời điện tín của ông? Chẳng còn chính phủ nào nữa và Saigon sẽ sụm trong vài ngày nữa. Tôi phải có mặt cùng với Coutard để làm nhân chứng cho những gỉ sẽ xẩy ra.

Tôi vẫn hằng yêu mến xứ nầy, yêu dấu thành phố này và tôi luôn luôn mong mỏi rằng miền Nam chiến thắng, những sự mong mỏi ấy không ngăn trở tôi thấy rằng chế độ thối nát và đưa xứ nầy tới sự sụp đổ.

Gia lúng túng, xin lỗi vì đã không làm gì được giúp tôi. Tôi phải chờ sự cho phép của một chính phủ không còn nữa và của một vị tổng trưởng đã tháo chạy. Tại Saigon chẳng có ai trả lời.

Thiệu xếp hành lý, chất chứa kho tàng của hắn, còn ông già Hương thay thế hắn thì không hé răng. Người ta thấy ông ta không thể trả lời một cú điện thoại. Và đui nữa: người ta lại càng thấy ông ta không thể đọc một điện tín. Tôi nhớ đến ông ta như một người bù nhìn, một người can đảm hoàn toàn không có hiệu năng.

Ngày mai sẽ có chuyến bay và có thể đó là chuyến bay chót đáp xuống Tân Sơn Nhất.

Thế là tôi đánh bài liều. Tôi mua vé đi tới Hương Cảng, biết rằng máy bay Air France không đi xa hơn Saigon vì còn phải chở đầy những người tị nạn Pháp, Mỹ và Việt Nam. Tôi sẽ xin chiếu khán tại chỗ và trong sự rối loạn chắc chắn sẽ diễn ra, chắc chẳng còn chàng cảnh sát viên nào chú ý đến tôi.

Quả thật là mọi người Pháp đều được quyền chiếu khán bảy ngày nếu không bị liệt vào danh sách đen.

Ngày 24-4 chúng tôi khởi hành trên một phản lực cơ Jumbo Jet gần như không có hành khách. Người ta tưởng như đó là một phòng chiếu bóng ở Elysée đang chiếu một phim trí thức mà nhà phê bình của tờ Le Monde đã gởi gấm.

Trong số hành khách thưa thớt, có Paul d’Ornano, nghị sĩ của những người Pháp Viễn Đông. Ông ta mang đến cho các cử tri của ông ta một thông điệp của Tổng thống nước Pháp yêu cầu người Pháp ở lại tại chỗ, và bốn cô y tá của Air France được phép nghỉ để săn sóc những người tị nạn. Những cô gái rất đàng hoàng. Trên máy bay có không khí của một ngày tận thế. Tôi vẫn còn lo không biết họ có cho tôi đi lọt không. Và nếu họ giữ tôi lại phi trường thì tôi sẽ tung ra một nắm Mỹ kim để tìm cách chuồn.

Tới Saigon. Tim tôi đập mạnh hơn. Một sự may mắn. Khi rời máy bay, tôi trông thấy viên Tổng Lãnh sự De Beauvait mà tôi đã gặp ở Lào và ông tay ra đón nghị sĩ và Morgan, một người Pháp sanh tại Á châu, tế nhị, quen gỡ được mọi trường hợp rối rắm. Ông ta cầm giấy thông hành của tôi và lo liệu. Tôi thấy ông ta nói chuyện gì đó với người cảnh sát trong khi người này đóng dấu trên tờ thông hành một cách máy móc. Tôi đã được chiếu khán ghé tạm. Ông ta cũng chẳng cần nhìn vào tập hồ sơ nữa. Cái chàng Morgan này hẳn là một tay chơi bài đại bịp hoặc là một người tuyệt hảo theo thuyết ảo tưởng.

Tôi đã có mặt ở Saigon. Một cảm tưởng kỳ lạ là tôi thấy cái thành phố này không thay đổi nhiều từ lần chót tôi tới đây năm 1971. Cũng vẫn có những làn sóng xe sì-cút-tơ chạy loạn xà ngầu, những chiếc xe 4-CV cũ mèm, vẫn mùi xăng, vẫn cái mùi tanh tưởi đó. Xe Jeep và xe quân vận chở nhiều thường dân hơn quân nhân và chở những thứ đồ đạc lủng củng chẳng ăn nhằm gì với chiến tranh. Các cảnh sát viên thì hở hững với sự lưu thông hỗn loạn và đó là hình ảnh của xứ này. Chẳng ai chú ý tới ai. Nhưng theo các báo Pháp và Mỹ thì tình hình thê thảm. Người ta nói rằng Cộng quân chỉ còn cách Saigon hai mươi lăm cây số, một trận đánh dữ dội đang diễn ra tại Xuân Lộc, rằng có lẽ người ta đã dùng bom CBU diệt hàng chục ngàn Cộng quân mà vẫn không chận được sự tiến quân của chúng. Tất cả đều sụp đổ. Các tỉnh phía Bắc đã thất thủ: Đà Nẵng bị mất sau Huế. Các tỉnh duyên hải và Bắc Nam phần rụng như những trái chín. Tôi tới một thành phố ở đó, mọi sự diễn ra bình thường như không có gì diễn ra và có vẻ bất cần. Thật lạ lùng! Có điều là các cảnh sát viên có vẻ bớt hung hãn với các tài xế taxi và không đòi tiền hối lộ giữa khoảng từ sân bay và Saigon như trước nữa (một cách tự tăng lương).

Tôi thấy nhà hàng Continental không đổi, ông quản lý Lợi thì toe toét và mập tròn như tượng ông Phước. Ông ta xiết chặt tay tôi.

Các cửa hàng và quán rượu đường Tự Do vẫn mở cửa. Đời sống tiếp tục. Bọn nhỏ thấy tôi thì cười rú lên. Tôi không biết tại sao, tôi luôn luôn là người làm cho bọn nhỏ của nhà hàng Continental khoái trá vì tôi thường ở trong tình thế nghịch thường, vì rằng người ta thường đến tìm tôi để trục xuất tôi, rồi người ta mang tôi trở lại rồi người ta quên tôi. Tôi là một trong những trò giải trí của khách sạn. Khỏi cần giải thích, bọn nhỏ đó là gia đình Sàigòn của tôi.

Tôi lựa một phòng lớn mà trước kia tôi từng ở. Ngày mai, tôi sẽ lo điều chỉnh tình trạng của tôi và chuyển sự chiếu khán ghé tạm thành chiếu khán cư ngụ tạm. Tôi sẽ không nhờ sứ quán hoặc tòa lãnh sự Pháp nhưng sẽ nhờ người gác cửa đưa vài ngàn cho những người của cảnh sát. Tất cả mọi người sẽ được hài lòng. Ở Việt Nam đừng có nhờ những công chức quan trọng vì họ chẳng giúp được gì cho chúng ta mà chỉ nên nhờ những cấp trung gian. Họ biết lo công chuyện rất giỏi và không ồn ào. Nhưng các biến chuyển diễn ra quá dồn dập đến nỗi tôi không phải xin chiếu khán nữa.

Chuyến đi dạo đầu tiên của tôi tại thành phố này. Tôi bắt đầu bằng cách hỏi thăm hối suất đồng bạc. Đó là cái thước đo chính xác tại Saigon. Hối suất không những được ấn định bởi những người tài tử là bọn làm báo chúng ta nhưng phần lớn là được phổ biến ở người Tàu và Chà-và là những người nghiêm chỉnh biết rõ tình thế. Giá một Mỹ kim là 3.500 đồng nhưng nếu đổi lấy giấy 100 thì phải trả tới 4.000 đồng. Hối suất chính thức là 775 đồng. Tôi kết luận rằng một số người tinh khôn đã thật sự lo lắng vì thời cuộc và chuẩn bị rút dù.

Tôi tìm cách kêu điện thoại cho các bạn hữu, những nhân vật thuộc chế độ cũ hoặc mới, nghị sĩ hoặc tướng lãnh. Luôn luôn là tôi được một người làm trả lời: “Ông chủ đã đi ra ngoài rồi” hoặc “Bà chủ không có ở nhà”, hoặc “Có thể ngày mai ông chủ trở về”. Đôi khi câu trả lời xem tiếng cười: “Ông chủ đi lâu. Hì! Hì!”

Tôi đi tìm dấu vết của một vài người bạn Trung Hoa. Cũng vậy. Chẳng có ai ở đầu giây. Một số người Việt và Tàu đã bỏ đi rồi. Họ là những người có địa vị quan trọng hoặc giàu có. Chỉ còn lại những người có địa vị tầm thường hoặc vô tư, và những người chưa tìm được đầu mối để ra nước ngoài. Tôi trở về phòng và những kỷ niệm xâm chiếm lấy tôi.

Cách đây hai mươi lăm năm, tôi đi trên đường Catinat. Đó là Sài gòn của thời thuộc địa. Tại các sân lộ thiên của những quán cà phê, người ta uống Pernod và cognac-soda, chưa có whiskey. Saigon lúc đó không có vẻ gì là một thủ đô, mà chỉ là sự pha trộn của một tỉnh nhỏ miền Nam và một thị trấn thuộc địa với những hàng hiên dài, những căn nhà mở rộng  và những tên bồi mặc đồ trắng.

Đồng bạc trị giá 17 Phật lăng. Tại hội quán thể thao, các cô gái tắm nắng và được các sĩ quan trẻ tuổi tán tỉnh trong thời gian họ nghỉ phép ngắn ngủi trước khi trở lại chiến đấu ở vùng đồng ruộng Bắc Việt hoặc ở vùng rừng núi cao nguyên và họ kể chuyện những giống người kỳ quái mà họ tuyển làm lính đánh thuê cho họ: người Nùng, người Thổ, Thái, Mường…

Có một vài nữ chúa của Saigon. Cũng như tôi, họ đã già nhưng tất cả đều đã giữ lại một cái gì. Dẩu rằng ngày nay, họ ở trong cảnh nghèo khổ. Tôi tin rằng họ đã khóc khi hay tin Saigon sắp chết.

Lúc ấy Saigon còn là thủ phủ của Đông Dương thuộc Pháp. Bảo Đại còn ngự trị nhưng bên ngoài ấy chỉ là một giả tưởng. Người Pháp trực tiếp cai trị xứ này và binh lính thuộc đạo quân viễn chinh thì đánh giặc, nhất là ở miền Bắc. Sau này, tôi biết Hà Nội và vì tôi còn trẻ, tôi ưa tiếng súng cho nên tôi thích Hà Nội hơn Saigon. Hà Nội uy nghi hơn nhưng kém phần duyên dáng. Hà Nội có một lịch sử thật sự, còn Saigon không có và Saigon không có thắng cảnh nào lâu đời hơn hai thế kỷ.

Hà Nội có những ngôi chùa cổ kính. Hà Nội ở xa biển và ở bên bờ hai cái hồ có những ngôi chùa nhỏ soi bóng. Hà Nội khắc khổ. Hà Nội lạnh về mùa đông, các cửa sổ đều lấp kính và người ta đã có lần phải đốt lửa trong lò sưởi.

Vì phải chống chọi với nhiều thứ, khí hậu, sự nghèo khổ và nạn lụt cho nên người Bắc Kỳ cứng rắn hơn và ít khi cười. Họ dễ cuồng tín và có tinh thần quốc gia quá khích. Họ không có cái tinh thần ham sống và chủ nghĩa cá nhân bất trị của người miền Nam. Người miền Bắc sinh ra để dự các cuộc mạo hiểm tập thể, để chinh phục, để tham gia chiến tranh. Ưa những chế độ đạo đức trong khi Saigon là cô gái điếm của Á Châu, nơi đó, người ta khiêu vũ theo tất cả mọi thứ âm nhạc.

Hà Nội là thủ đô của chiến tranh còn Saigon không bận tâm vì chiến tranh. Người ta nói: Hà Nội là thủ đô của chiến tranh, còn Saigon là thủ đô của đồng bạc. Tôi lại tìm thấy cái không khí đó hồi tháng 4 năm 75 khi chiến tranh tiến tới cửa ngỏ Saigon. Nhưng Saigon tiếp tục sống không lo lắng.

Tôi trở lại Saigon vào năm 1952, lần này tôi ở lại lâu để theo dõi cuộc chiến tranh cho tờ báo Paris Press. Tôi ở lại Saigon vài tuần và đã tập được những thói quen. Trái với những điều người ta tưởng, các ký giả không ưa đi lại nhiều.

Tôi ở Đông Dương tới 1954 là năm mất Điện Biên Phủ. Tôi mất Hà Nội nhưng tôi còn có Saigon. Và không khí ở đó thật là kỳ lạ. Một triệu người Công giáo từ miền Bắc tới gõ cửa miền Nam. Một người Công giáo nhiệt thành, một sự pha trộn giữa quan lại và linh mục nửa vời, Ngô Đình Diệm được người Pháp đưa lên cầm quyền dưới áp lực “thân hữu” của người Mỹ và của Giáo chủ Spellman.

Tôi lại trở về Pháp. Miền Nam Việt Nam không chính thức ngăn cấm tôi nhưng nên để cho người ta quên tôi đi là tốt hơn. Đã hai lần tôi tới Hà Nội. Tôi đã dự cái trò duy vật biện chứng và tự kiểm thảo. Tôi đã được biết thế nào là sự nhồi sọ Mác-Xít nhưng về mặt quân sự thì miền Bắc rất hữu hiệu! Năm 1960, tôi lại xin chiếu khán đi Nam Việt Nam. Chế độ Diệm đã được thiết lập kiên cố. Đó là chế độ của gia đình đối với khách hàng. Còn về ý thức hệ thì có một đảng duy nhất là Cần Lao, một sự pha trộn thập cẩm của những ý tưởng trái nghịch nhau nhưng dường như khá thích hợp với những bộ óc Việt Nam.

Tôi đi theo nhóm của tôi, ngoan ngoãn nghe người ta ca tụng Diệm, đi xem vài thành tích của chế độ. Nhờ một người quen biết cũ là Tôn Thất Đính, tôi lén đi được tới Quảng Trị. Người Mỹ đã xây một con đường chiến lược để bọc lấy vĩ tuyến 17. Quân chính qui của Bắc Việt đã tấn công vào công trường và vào các nơi chứa vật liệu. Bắc Việt đã dùng Sư đoàn 38 và Sư đoàn 315.

Người ta đi tìm tôi và sau cùng, Ngô Đình Nhu thấy tôi đang dính vào việc không phải của tôi. Nghĩa là tôi đang làm phận sự của một nhà báo. Người ta giam tôi vào một túp lều có lính canh gác trong vòng hai ngày rồi giải tôi về Saigon.

Ngô Đình Nhu sỉ vả tôi, nói rằng lại một lần nữa tôi phản bội lòng tin cậy của dân tộc Việt Nam và tôi xứng đáng lãnh một sự trừng phạt nghiêm khắc. Sự trừng phạt đôi khi có thể là cái chết như Paul Leandri của hãng AFP bị hạ sát tại Saigon tháng 3-75 trong trụ sở cảnh sát của Thiệu. Nhưng may cho tôi là Ngô Đình Nhu không ngu xuẩn như tên Phạm Kim Qui đã giết Leandri. Nhu để cho tôi trình bày lập luận của tôi.

Thay vì trục xuất tôi, Như đưa tôi tới một buổi tiếp tân tại dinh Độc Lập, ở đó có đông đủ gia đình nhà Ngô và các quần thần. Người ta cho tôi uống nước cam và ca tụng sự quảng đại của Tổng thống đối với những kẻ lộn xộn như tôi. Rồi Nhu để cho tôi về viết bài báo. Bài báo ấy xuất hiện tại Pháp dưới tựa đề: “Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai vừa bắt đầu”.

Lúc đó, người Pháp bị ghét bỏ. Tướng Lansdale, người chế tạo các vị vua đã đưa Diệm lên ngôi, vừa mới công bố một phúc trình trong đó, ông ta ước lượng rằng người Pháp đã thua trận về chính trị vì mắc cái tội mang chiêu bài thực dân và thua về quân sự vì không biết thích nghi với một vài hình thức chiến tranh khuynh đảo trong hoạt động tuyên truyền lẫn lộn với hoạt động đột kích. Sự thật thì ông ta trách người Pháp những điều mà sau này người Mỹ mắc phải và còn mắc một cách tệ hại hơn nữa. Không nên quên rằng Mỹ đã gọi hội nghị Genève là một tai họa có thể đưa tới sự mất Đông Nam Á.

Thế mà từ 1945 đến 1954, nước Pháp đã để lại Việt Nam 91.000 người chết, trong số đó có 75.000 là người Pháp thật sự. Ít nhất đó cũng là con số bằng năm khóa học sĩ quan trường Saint Cyr. Nhờ có những người đó mà miền Nam Việt Nam có thể hiện diện và Saigon mới có thể đóng vai trò đàng hoàng. Thực ra thì vai trò ấy không thích hợp với Saigon.

Vì bài báo của tôi viết về sự thất bại của Ấp chiến lược, tôi bị đưa ra biên giới. Bài báo ấy được đăng trên tờ Paris Press là làm cho tôi bị trục xuất khỏi Việt Nam và bị đưa tên vào sổ đen.

Tôi phải chờ cho tới cuộc đảo chánh 1963 mới trở lại Saigon. Với Hội đồng Quân dân Cách mạng của Tướng Minh và một số tướng lãnh khác, tất cả đều tốt nghiệp từ các trường quân sự của Pháp, Saigon lại ăn chơi nhảy nhót. Miền Nam tưởng rằng hòa bình đã gần kề. Điều trái lại đã xẩy ra. Cường độ chiến tranh tăng gấp đôi với sự tham dự của quân Mỹ, ta hãy gọi là chiến tranh.

Xong chuyện rồi thì người ta loại Tướng Minh và nhóm tướng lãnh thân Pháp ra bằng cách gán cho họ bệnh ghẻ, nghĩa là kết tội họ là trung lập. Nếu tin ở lời của Tướng Minh nói với tôi hồi đó thì ông ta không phải là người trung lập.

Một anh lùn là Nguyễn Khánh được thay thế để chơi trò khủng bố. Làm trò hề ít lâu xong rồi đi Pháp mở tiệm ăn. Khánh biết ý kiến của tôi nên đã thề giết tôi nếu hắn gặp tôi.

Một loạt những cuộc đảo chánh. Gần mười hai vụ. Thật là loạn. Những cuộc đảo chánh ấy đã đưa tới sự tan rã quân lực Nam Việt Nam. Ngày 13-8-1965, phi công Nguyễn Cao Kỳ cầm quyền và tôi được chiếu khán đi Saigon. Tôi thấy tình thế thật thảm bại. Nếu người Mỹ không can thiệp ồ ạt thì Nam Việt Nam đã thua rồi. Các tướng lãnh Nam Việt Nam mãi lo cắn xé nhau cho nên không còn quân đội nữa mà chỉ còn những nhóm để phục vụ tướng này hoặc tướng kia.

Saigon trở thành một thành phố bẩn thỉu, hôi tanh và buông xuôi. Tại Saigon lúc ấy có sáu ngàn hộp thơ của Việt Cộng. Hộp đêm mở khắp nơi. Không ai muốn đánh giặc nữa, kể cả những người phu kéo xe. Những người Tàu ở Chợ Lớn thì tình nguyện vào làm bồi bàn trong các căn cứ của Mỹ. Ý nghĩa dân sự đã hết: các viên tướng nhỏ con của Việt Nam đã giết chết cái ý nghĩa ấy. Một số gái điếm làm điệp viên cho Việt Cộng, một số khác thì hùn tiền với nhau, một số khác nữa thì mong sẽ lấy chồng Mỹ để chuồn ra nước ngoài. Đó là khởi đầu sự ung thối theo nhịp độ gia tăng khi người Mỹ đổ bộ.

Thoạt đầu, người Mỹ tràn đầy những hảo ý. Do đó Tướng Westmoreland mới cho phổ biến chín giáo điều mà các quân nhân Mỹ phải tuân theo tại Việt Nam. Chín giáo điều ấy đã được tuân theo nhưng mà theo lối ngược lại. Lính Mỹ không cư xử như những người khách mà như những chủ nhân ông. Người Mỹ không hòa mình với dân Việt Nam: họ sống trong những cắn cứ gắn máy lạnh, ăn đồ hộp lạt vô vị trong khi họ có thể ăn món ăn Tàu tại bất cứ một góc đường nào. Đôi khi, họ mạo hiểm tới các hàng ăn của Pháp nhưng không bao giờ vào nhà hàng Việt Nam. Đối với Mỹ thì tất cả phụ nữ Việt Nam đều là gái điếm vì họ chỉ tiếp xúc với gái điếm.

Tôi rời Saigon, tự nghĩ rằng trên bình diện quân sự, người Mỹ đã đảo ngược tình thế nhưng thất bại trên bình diện chính trị. Họ không tìm được những người thích đáng để điều khiển xứ này và không tìm được một ý thức hệ có giá trị để đối đầu với cộng sản. Dân chủ không thích hợp với Đông Nam Á.

Tôi không có mặt ở Saigon khi có cuộc tấn công Tết 1968 và tôi chỉ tới Saigon sau đó. Việt cộng đã phân tích sai lầm tình hình ở đây. Họ nghĩ rằng cái thành phố này đã chín mùi cho cuộc nổi dậy vì đã ghê tởm sự thối nát, ghê tởm người Mỹ. Việt cộng chuẩn bị trận đánh kỹ lưỡng. Họ tung quân chính qui và du kích đánh vào Saigon. Nhưng Saigon không nổi dậy và nhân dân cũng chẳng đi theo Việt cộng. Việt cộng lạc lõng trong thành phố. Việt cộng đánh rất giỏi và vì lạc lõng nên đã bị tàn sát.

Chút nữa, chúng đã chiếm được tòa Đại sứ Mỹ. Nhưng Việt cộng không được nhân dân hưởng ứng. Chúng đã treo cờ Mặt trận Giải phóng trên thành nội Huế nhưng đã mắc phải lỗi lầm không thể tha thứ được. Chúng đã tàn sát có hệ thống tất cả những người nào bị chúng cho là có thể chống lại chúng. Tại Saigon, chúng giết các cảnh sát viên. Tại Huế, chúng giết giới tiểu tư sản, giết thành phần trí thức ưu tú trong khi giới ấy muốn theo chúng.

Và chúng giết nhiều công chức.

Tại Huế, tại Saigon hồi Tết 1968, cộng sản đã thua trận giặc chính trị. Sẽ không bao giờ có cuộc nổi dậy theo cộng sản. Nghiêm trọng hơn nữa là dưới hình thức quân sự, Mặt trận Giải Phóng từ nay sẽ hết hiện diện và đã bị những thiệt hại và hoàn toàn lệ thuộc vào cộng sản miền Bắc. Những kẻ đại bại hồi Tết Mậu Thân là Việt cộng và Mặt trận Giải Phóng.

Bây giờ là ngày 25-4-75 và mặc dầu có sự sụp đổ của Nam Việt Nam, người ta không thấy nhân dân nổi dậy ở nơi nào. Không một đơn vị nào của quân đội mang khí giới và hành trang theo phía cộng sản.

Tôi lại nhớ Saigon hồi Tết 1971. Hình ảnh thật là thê lương. Từng đàn trẻ em đi lang thang, từng đàn người què cụt đi hành khất. Có 200.000 trẻ em lang thang tại Saigon, 250.000 hành khất không nhà cửa và phạm pháp đủ loại. Dân số Saigon lên tới bốn triệu trong khi Saigon chỉ được dự trữ để chứa một triệu người… Thoạt đầu Saigon đã qua một thời kỳ say sưa khi người Mỹ ồ ạt đổ bộ 543.000 quân, chưa kể số lính thủy của hạm đội số 7, những nhân viên quân sự, những người dân sự mặc đồng phục, tất cả lên tới 600.000 người. Những người lính Mỹ đầu tiên đã được choàng hoa trên bãi biển. Bây giờ, không còn chuyện ấy nữa. Bất cứ một căn nhà nào cũng có thể làm quán rượu. Chỉ cần kiếm ra ba cô gái điếm là quán rượu có thể xài được.

Tháng 2 năm 1971, nước thủy triều đã xuống. Chỉ còn 335.000 lính Mỹ. Đến tháng 5 thì còn 284.000. Đồng bạc sụp đổ: 400 đồng ăn một Mỹ kim. Đến ngày 29 tháng này, 600 đồng mới ăn một Mỹ kim.

Người ta có vẻ thắng trên mặt quân sự. Tôi đã tham dự cuộc hành quân Lam Sơn. Trước khi đi, người Mỹ muốn chứng tỏ rằng Nam Việt Nam phải tiến vào đất Lào để cắt đường mòn Hồ Chí Minh. Công cuộc Việt Nam hóa chiến tranh đã tỏ ra là một chuyện bịp bợm và nó cho người ta hiểu sự bại trận năm 1975. Thí dụ người Mỹ đã đào tạo một số phi công trực thăng Việt Nam. Các phi công này không lái được bằng dụng cụ mà chỉ điều khiển được bằng mắt. Một trực thăng chở các ký giả lạc trong sương mù và bị bắn rơi. Suýt nữa thì tôi cũng ngồi trên chiếc trực thăng ấy, nhưng may tôi lại ngồi ở chiếc khác và chiếc này tuy cũng bay lạc nhưng không đáp xuống đất của địch quân.

Tại Mỹ, người ta đào tạo các sĩ quan Việt Nam để trở thành sĩ quan liên lạc địa không. Họ được coi như có thể từ dưới đất điều khiển hỏa lực yểm trợ của không quân. Khi theo học, họ đã học thuộc lòng những gì mà người ta bắt họ lập lại trên trận địa, họ không điều khiển nổi sự tác xạ của máy bay Mỹ. Họ không nói được tiếng Anh!

Người Mỹ ca tụng quân lực miền Nam để có thể rút lẹ.

Tại Saigon, tôi đã thấy những lính Mỹ đào ngũ, đã thấy Saigon của ma túy, một thành phố tự bán mình lại vừa giữ phẩm giá. Nếu người ta suy nghĩ thì sẽ thấy rằng Saigon đã từ chối người Pháp, từ chối chế độ Diệm, từ chối Mỹ và từ chối Việt Cộng. Thành phố ấy chưa bao giờ thật sự là thành phố Việt Nam. Thành phố ấy được thiết lập để chịu ảnh hưởng của bên ngoài và để buôn lậu.

Ngày xưa, Saigon có một vẻ duyên dáng. Người ta biết cười. Lính Mỹ đã làm hỏng Saigon. Mọi hàng rào đã bị đồng Mỹ kim phá vỡ. Ngày xưa và ở thế kỷ trước, người ta gọi Saigon là Hòn Ngọc Viễn Đông và người ta viết những bài ca nói về “cô gái Bắc Kỳ bé nhỏ”. Bây giờ, cô gái Bắc Kỳ đang ngồi trên một vị trí súng phòng không ở miền Bắc và bây giờ, Saigon biến thành thành phố của mọi sự hối lộ và của sự thanh toán nhau.

Người ta mua được chất ma túy tại Saigon với giá rẻ hơn bất cứ nơi nào trên thế giới, rẻ hơn cả thuốc phiện là chất nguyên thủy của bạch phiến. Cộng sản đã đưa bạch phiến vào Lào và Thái Lan vào Việt Nam. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho Heykal, Chu Ân Lai đã thú nhận việc ấy: “Người Mỹ có B-52, chúng tôi có chất ma túy”. Ở phía sau sân bay Tân Sơn Nhứt, những người lính Mỹ đào ngũ đã trốn tránh, thường là Mỹ da đen. Họ đã đào ngũ vì đã nghiện nặng và biết rằng trở về Mỹ thì họ không có bạch phiến nữa. Và tờ Stars and Stripes đã lập lại nhiều lần rằng giá bạch phiến tại Mỹ đắt gấp mười lần hoặc hai mươi lần, bọn lính đào ngũ đã chọn con đường ở lại. Những tên lính này dơ dáy, tóc dài mang khăn che mặt và làm các dấu hiệu hòa bình ở đường phố. Chúng bê tha tại quán các quán rượu, tại các ổ điếm. Người Mỹ đã làm ung thối Saigon và Saigon đã làm ung thối người Mỹ.

Về vấn đề này phải nhấn mạnh ảnh hưởng của người đàn bà Việt Nam. Người đàn bà ấy nắm giữ túi tiền. Ba người đàn bà đã giữ vai trò then chốt trong việc làm mất Việt Nam: vợ của Thiệu, vợ của Khiêm và vợ của Quang. Những người đàn bà ấy đặt văn phòng tại Saigon để mọi người tới hối mại quyền thế. Người ta mua chức vụ, mua giấy phép nhập cảng, mua giấy miễn động viên. Mua tất cả.

Nếu là một người thợ thủ công, người ấy chia tiền kiếm được cho viên tướng hoặc viên tá chỉ huy đơn vị liên hệ và người ấy sẽ được tiếp tục hành nghề. Những người Trung Hoa giàu có thì tinh khôn hơn vì họ xin làm người nấu ăn cho tướng lãnh. Dĩ nhiên là những người Tàu này cung cấp đầu bếp và thức ăn luôn cho các tướng lãnh. Năm 1971, quân số của các đơn vị quân đội đều bị khai man: người ta khai gian số người hiện diện để các sĩ quan chỉ huy cướp số lương của những người vắng mặt và mang bán khẩu phần của những người ấy.

Lúc ấy Thiệu là Tổng thống và được Tổng thống Mỹ cùng cơ quan CIA công khai ủng hộ. Tướng Kỳ là Phó Tổng thống và Tướng Minh là người bình dân nhất. Ông ta là người tượng trưng cho hòa bình. Kỳ sẽ bị loại và Minh phải lưu vong sang Thái Lan. Các tướng tá ủng hộ Thiệu thì được yên ổn làm giàu.

Đó là chế độ thối nát nhưng người dân Nam Việt Nam không muốn có chế độ cộng sản, và họ nghĩ rằng thà rằng chấp nhận cái đảng thối nát của Thiệu. Họ nhớ đến các vụ tàn sát tại Huế.

Năm 1971, phía chính phủ kiểm soát được phần lớn đất đai. Họ đã thắng lúc Mỹ ra đi. Lần này thắng về mặt chính trị. Nhưng vào lúc họ sắp thua trên mặt quân sự.

Người dân Nam Việt Nam sợ những người hỏa tinh Bắc Việt, sợ những “con người nhỏ bé màu xanh”. Họ coi người Bắc Việt như thuộc về thế giới khác, khắc khổ, cứng rắn, tươi cười, thiển cận, một chủng tộc mới. Saigon vẫn luôn luôn thích sống dễ dàng và không muốn phải vào một tu viện để trở thành một dì phước đỏ.

Theo Pétrus Ký thì cái tên Saigon ngày nay là cái tên của Chợ Lớn ngày trước. “Sài” là tiếng Trung Hoa có nghĩa là gỗ và “Gòn” là tên của cây bông gòn. Lúc đầu, người Cao Miêntrồng rất nhiều cây gòn ở quanh những đồn lũy của họ mà dấu vết ngày nay vẫn còn ở gần chùa cây Mai và quanh đó. Người Cao Miêndùng chữ Saigon để chỉ toàn thể vùng đó.

Trước thời vua Gia Long thì Saigon chỉ là một làng của Cao Miêntên là Prei Kor bao quanh bằng hàng rào những cây gòn tươi. Nhưng đó là nơi trú ngụ của một ông vua.

Năm 1680, hai viên tướng đời nhà Minh vì không chịu thần phục người Mãn Châu nên đã cùng với 3.000 người lính đi trốn trên sáu mươi chiếc thuyền. Họ xin phục vụ Chúa Hiền tại Huế. Nhà vua An Nam cho họ một lá thư để trao cho vua Cao Miên lúc ấy là chư hầu của vua An Nam để yêu cầu cho họ lập nghiệp tại Nam Kỳ khai phá đất hoang. Lúc ấy, Cao Miênđang suy đồi và bị chia hai, phần phía tây chịu ảnh hưởng của Thái Lan còn phía đông theo An Nam. Kể như sẽ bị tiêu diệt. Cuộc chiếm đóng của người Pháp đã cứu được Cao Mên.

Tới Đồng Nai, một viên tướng Tàu tiến về Biên Hòa, còn viên tướng kia đi về Mỹ Tho. Vua Cao Miêntại Saigon (đúng hơn là tại Prei Kor) cảm thấy bị đe dọa từ hai mặt, Mỹ Tho và Biên Hòa nên viết thư xin nhà vua Huế giúp đỡ.

Nhà vua Huế nhân dịp này sáp nhập luôn vùng Saigon là cử một tướng tên là Vân đi đánh người Tàu. Vua Saigon đành tự vận để khỏi bị bỏ trong cũi cho chết đói như thói quen thời đó vẫn làm đối với các vị vua thua trận.

Sự can thiệp của triều đình Huế khiến cho một số người Việt được chính phủ khuyến khích tiến xuống phía Nam và dần dần chiếm cả miền Nam.

Vậy thì Saigon, cũng như toàn thể miền Nam Việt Nam phát sanh từ sự pha trộn của người Cao Mên, những tên giặc cướp và người An Nam phiêu lưu, những người Mã Lai và luôn cả những người Nhật cùng với những đám lính đánh thuê Trung Hoa từ nước Tàu đến.

Cuộc khởi gnhĩa của Tây Sơn làm ông vua trẻ tuổi Nguyễn Ánh phải chạy loạn. Nhà vua có may mắn gặp được một nhân vật đặc biệt là Bá Đa Lộc (Pierre Pigneau de Behaine, évêque d’Adran) coi địa phận Nam Kỳ. Giám mục Bá Đa Lộc che chở và giúp đỡ Nguyễn Ánh. Qua trung gian của vị Giám mục khôn khéo đó, Nguyễn Ánh xin vua Pháp che chở và trao Hoàng tử Cảnh và ngọc ấn cho vị giám mục đó.

Ngày 28-11-1787, Hòa ước Versailles được ký, vua Louis 16 cam kết đưa vua Nam Kỳ trở lại ngai vàng, bù lại thì người Pháp được từ đó thông thương ở khắp Nam Kỳ và được dùng hải cảng Tourane nữa (tức Đà Nẵng). Nhưng vì hoàn cảnh đặc biệt nên sự giúp đỡ trên không thể thực hiện được.

Ngày 24-7-1789, Giám mục Bá Đa Lộc vượt Vũng Tàu, điều khiển vài chiếc tàu chiến, trong đó có chiếc Méduse và một đoàn chí nguyện quân 400 người Pháp do chính Giám mục tuyển mộ. Nguyễn Ánh đã chiếm được Saigon là một vị trí không có tầm quan trọng lớn và nhà vua ở đó chờ quân tiếp viện.

Giám mục Bá Đa Lộc là Tổng trưởng Chiến tranh kiêm Tổng trưởng Ngoại giao cho vua Gia Long trong mười năm sau đó. Chính vị Giám mục ấy đã biến cải những nhóm người theo vua Gia Long thành một đạo quân tân tiến, được những người tình nguyện giỏi điều khiển.

Quân Tây Sơn thua phải chạy trốn. Nguyễn Ánh chiếm Huế rồi lấy Hà Nội (20-7-1802). Nhà vua được vua Tàu phong vương nhưng vẫn phải thần phục nước Tàu. Giám mục Bá Đa Lộc đã chết trước đó ít lâu và được chôn ở cửa ngõ Sài Gòn trong một ngôi mộ hùng vĩ. Ngày nay, ở quanh ngôi mả chỉ còn những nhà lụp xụp. Và kẽm gai. Binh sĩ đã đặt những bao cát để lập vị trí ở đó. Lại một lần nữa, Giám mục Bá Đa Lộc tự thấy mình ở tuyến đầu.

Các vị vua kế tiếp vua Gia Long đã ngược đãi và hành hạ những người theo đạo Thiên Chúa. Có những vụ chém giết người Công giáo. Vua Nã Phá Luân III lúc ấy đang cần có một vài chiến thắng quân sự nên đã muốn có cớ bảo vệ người Công giáo để can thiệp.

Saigon bị chiếm đóng ngày 17-2-1859.

Sau này, Saigon trở thành một trong những thành phố dễ chịu nhất ở Viễn Đông. Đời sống ở đó nhẹ nhàng, nhất là đối với những người Âu Châu.

Bến tàu Saigon được trang bị, một đường xe lửa nối liền Saigon với Hà Nội. Dưới sự cai trị của Toàn quyền Paul Doumer, Đông Dương thuộc Pháp được hình thành. Mặc dầu có những lực lượng quốc gia kháng chiến nhưng đa số dân chúng lựa chọn ngả theo nước Pháp.

Trong trận Thế chiến thứ nhất, chỉ có 2.500 binh sĩ giữ an ninh cho Đông Dương và không có chuyện gì xảy ra, trong khi đó, có gần 100.000 người An Nam sang Pháp chiến đấu và làm việc tại đó.

Nam Kỳ được hưởng quy chế một lãnh thổ của Pháp và Sài Gòn có cái duyên dáng của một tỉnh thuộc nước Pháp chuyển tới vùng nhiệt đới. Dạ hội, thi trồng hoa, triển lãm và những buổi diễn kịch đã làm cho người ta quên những hiểm họa đe dọa Đông Dương và nhất là đe dọa Saigon.

Đảng Cộng sản do Hồ Chí Minh cầm đầu và Việt Nam Quốc Dân Đảng bị đàn áp tàn nhẫn nhưng ở Saigon, ai lo lắng đấn chuyện ấy, ngoại trừ một vài chuyên viên của Phòng An ninh và của Vệ binh Đông Dương?

Điều kỳ lạ là năm 1939, khi chiến tranh bùng nổ, sự yên tĩnh ngự trị khắp Đông Dương. Đó cũng là thời kỳ phồn thịnh lớn lao. Giá gạo và cao su lên cao, đường xe lửa xuyên Đông Dương đã được hoàn thành và nối liền Saigon với Hà Nội trong năm mươi giờ. Những kẻ gây rối thì đã bị nhốt tù.

Chưa bao giờ, người bản xứ và người Pháp gần gũi với nhau như vậy. Người ta mời chào nhau. Cả một thế hệ được đào tạo để suy nghĩ theo đường lối của Pháp.

Thất bại năm 1940. Đông Dương bị cắt rời khỏi nước Pháp và ở trong tình trạng ấy năm năm. Ngày 18-6, Nhật gởi tối hậu thư cho Toàn quyền Catroux. Trong hai mươi bốn giờ, ông ta phải đóng cửa biên giới với Trung Hoa và phải để cho các công chức của Nhật kiểm soát việc ấy.

Trong thực tế, vì không có quân đội và máy bay, kêu gọi nước Mỹ giúp mà chẳng thấy gì, Catroux đành cúi đầu. Decoux thay thế phải chịu những sự nhượng bộ khác: bỏ các phi trường Hà Nội, Lào Kay và cảng Hải Phòng. Để đổi lấy một sự thừa nhận mơ hồ về chủ quyền của Pháp tại Đông Dương.

Kempetai, cơ quan mật vụ của Nhật, tìm cách làm cho nhân dân nổi dậy chống người Pháp, nhất là những giáo phái chính trị ở Nam Kỳ: Cao Đài, Hòa Hảo, và một số bộ mặt quốc gia. Các nước đồng minh tiếp tục không giúp người Pháp.

Đô đốc Decoux và nhóm người của ông ta chống cự từng chút, tuyên bố là theo chính phủ Vichy nhưng lại sống hoàn toàn tự trị, không được sự giúp đỡ, không có chỉ thị, tuyệt vọng tìm sự ủng hộ của dân chúng Việt Nam, trong khi khối dân đó đang bị những người quốc gia, những người cộng sản và điệp viên Nhật lôi kéo.

Ngày 9-3-1945 là ngày dùng sức mạnh. Quân Nhật tấn công bất ngờ. Quân Pháp bị loại trừ và bị cầm tù ở Saigon, bị tàn sát ở Lạng Sơn. Không có chính phủ trung ương nữa.

Biết rằng đã thua trận, người Nhật muốn rằng trước khi sụp đổ, họ kéo luôn cả Đông Nam Á vào một cuộc thánh chiến rộng lớn chống người da trắng.

Người Pháp ở Saigon phải qua những giờ khó khăn. Họ bị tập trung vào một khu phố. Quen sống trưởng giả rồi, họ bị dồn lần vào với nhau và không có người giúp việc. Họ đã trải qua cảnh ấy một cách chật vật.

Vào lúc Nhật đầu hàng thì Hà Nội và Huế rơi vào tay Việt Minh. Bảo Đại theo họ. Tại Saigon, một Mặt trận Quốc gia Thống nhất do Nhật lập ra bị cộng sản thao túng mau lẹ. Cờ đỏ bay từ biên giới Trung Hoa tới mũi Cà Mau,

Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh tuyên bố tại Hà Nội rằng toàn thể Việt Nam được độc lập và lập một nước Dân chủ Cộng hòa. Tại Ba Lê, người ta không biết chuyện gì xảy ra và người ta lập những kế hoạch từ trên mây xanh.

Nếu Việt Minh nắm chắc lấy được miền Bắc thì lại không có việc ấy ở Nam Kỳ. Ngay tại Saigon, sự rối loạn diễn ra dữ dội. Bọn trộm cướp ở Khánh Hội, Chợ Lớn, Đa Kao tràn ra khắp nơi. Ở cửa ngõ thành phố, bên kia sông Saigon, bọn cướp Bình Xuyên lập căn cứ để đột kích vào các vùng ngoại ô. Trốt kít, cộng sản, thanh niên Tiền phong, và Cao Đài thi nhau hoạt động trong khi ở gần các trại lính Nhật, việc mua bán khí giới diễn ra một cách qui mô.

Cộng sản không kiểm soát được dân chúng. Người Anh tới tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật lại phải dùng ngay chính những người Nhật để giữ trật tự trong khi người Nhật lại đi đôi với những người nổi loạn.

Ngày 2-9, một nhà truyền giáo bị ám sát ở trước cửa nhà thờ. Một số người xách động đã làm cho đám đông dân chúng tới cướp phá nhà của những người Pháp. Hàng trăm người Pháp bị bắt giữ. Nhiều người chết và bị thương.

Quân Pháp có 2.000 người trong số đó có 1.400 tù binh chiến tranh mà người ta tái võ trang, chỉ chiếm giữ trại của Trung đoàn 11 RIC là nơi có một số người Việt Nam thân Pháp đang trú ẩn. Quân Anh-Ấn có chừng 1.800.

Ngày 24-9, hàng chục người Pháp bị ám sát tại khu vực bến tàu, và ngày 25, tại cư xá Herault, ngay giữa khu người Âu, 150 người Pháp và Pháp lai, đàn ông và đàn bà và trẻ em bị tàn sát trong những điều kiện đặc biệt tối tăm. 150 người khác bị bắt giữ làm con tin. Tất cả xảy ra trong hai giờ, trong sự ghê tởm và trong sự rối loạn.

Vì sợ mang tiếng là thực dân khi tiếp xúc với tân chính quyền Pháp, người cộng sản đã nhúng tay vào máu. Họ còn muốn làm dữ hơn cả những giáo phái và bọn trộm cướp ở Đakao mà những người Âu Châu muốn đồng hóa với cộng sản. Do đó, khó có thể nói chuyện được với cộng sản. Hai mươi bốn năm yên ổn dưới chế độ thuộc địa và sống không lo nghĩ, Saigon tìm lại được bộ mặt kia, bộ mặt đáng sợ. Ở đâu ra bộ mặt đáng sợ ấy? Từ những rối loạn nguyên thủy?

Ngày 5-10, các chiến xa của Tướng Leclerc đi trên đường Catinat giữa cơn giông, dưới những cột nước. Trận chiến tranh Đông Dương vừa mới bắt đầu. Được bình định mau lẹ, từ nay, Saigon được đứng ngoài chiến tranh. Trừ có hai lần, lần thứ nhất là thời kỳ chiến tranh giáo phái năm 1955 và lần thứ hai là Tết 1968. Nhưng Saigon sẽ trắng trợn và tận tình khai thác cuộc chiến này.

Tại sân lộ thiên của khách sạn Continental lúc bẩy giờ tối ngày thứ Sáu, 25-4-1975. Tôi nhậu một ly với vài ký giả cùng đến Saigon để tham dự ngày tàn của Saigon. Những ký giả cũ không còn đó nữa. Bodard, Ullman, Clos và tất cả những ký giả khác, những người mà người ta gọi là ký giả Á Châu. Schoendorffer không tới được vì đang viết một cuốn tiểu thuyết. Bernard Fall đạp phải mìn.

Chung quanh chúng tôi là đạo quân quen thuộc của những gái điếm, hành khất, thương binh thứ thiệt hoặt thứ giả đưa khúc xương cụt ra. Và những đứa trẻ cứ bám lấy như ruồi, đuổi không chịu đi. Chúng rình rập sẵn sàng cung cấp tất cả những gì mà chúng ta muốn, gái hoặc trai, bất cứ thứ ma túy nào. Và sẽ cướp túi tiền của chúng tôi nếu chúng có cơ hội.

Ở phía bên kia đường, những tủ nhỏ bán thuốc lá lẻ. Thật là yên tĩnh! Chiến tranh ở đâu?

Nhưng tại Tân Sơn Nhứt, nhiều chuyến xe ca đổ xuống sân chờ đợi những người Mỹ và Việt. Chẳng cần khai quan thuế hoặc khai với cảnh sát, họ chui thẳng vào bụng máy bay khổng lồ Galaxy. Những máy bay này cất cánh ngay sau đó. Phần nhiều là vào lúc đêm tối.

Từ hai đến ba ngàn người tị nạn vượt qua những lực lượng cảnh sát để tìm cách chiếm lấy một trong những chiếc máy bay này. Người Mỹ dự trù di tản 130.000 người Việt nam mà họ cho rằng họ có một “nghĩa vụ tinh thần”, trong số đó, có 30.000 người xếp loại là có thể mất mạng nếu ở lại Việt Nam. Có lẽ ba chục người đã đi thoát. Mới hôm trước, người Mỹ tưởng rằng còn có thể có được một tuần và có thể đi thoát bằng cách tăng những chuyến bay C-130 và C-141. Những tin tức quân sự rất tồi tệ. Vị trí Xuân Lộc không bị phá vỡ nhưng đã bị vượt qua và Sư đoàn 18 bảo vệ Xuân Lộc phải rút về Trảng Bàng ở giữa đường từ Saigon đến Xuân Lộc. Sự thất thủ của Hàm Tân đã làm cho Vũng Tàu bỏ ngỏ, nơi đây có thể dùng để thực hiện một cuộc di tản ồ ạt. Người Mỹ có lẽ đã dự trù đổ bộ vài ngàn Thủy quân Lục chiến để giữa một hành lang giữa Saigon và Vũng Tàu. Đã trễ rồi. Pháo binh hạng nặng của cộng sản đã dội vào căn cứ không quân Biên Hòa.

Nếu Biên Hòa rơi – chẳng ai ngăn cản được sự thất thủ ấy – thì Nam Việt Nam sẽ chỉ còn dùng được một sân bay: Tân Sơn Nhứt. Chỉ cần vài hỏa tiễn là đủ làm tê liệt sân bay ấy.

Hai ngân hàng Chase Manhattan và First National City vừa mới đóng cửa. Ngân hàng Mỹ quốc cũng theo chân. Phần lớn các hãng hàng không, trừ Air France, UTA và Hàng không Việt Nam, không cung cấp chuyến bay nào nữa: vì rằng các máy bay C-130 và C-140 của Mỹ dường như đã gặp hỏa lực của địch quân.

Hương, ông già khả kính thay thế tướng Thiệu, đang tham khảo Đại sứ Pháp, Đại sứ Mỹ và một vài nhân vật địa phương mà tên họ đã bị chìm vào quên lãng. Ông ta nghiên cứu tình hình. Một cách chăm chú. Ông ta đã có những biện pháp quan trọng. Phải chăng ông ta đã thay thế Tướng Đô trưởng Saigon bằng một đại tá?

Đó là ngày tàn mà tôi vẫn không tin. Đã bao nhiêu lần, Saigon được cứu nguy bằng một phép lạ. Nhưng lần này, người ta không còn nhìn thấy cách nào để có phép lạ nữa. Bốn sư đoàn đáng lẽ phải bảo vệ thủ đô thì đã bị cô lập trong thực tế.

Giới nghiêm lúc tám giờ tối. Chúng tôi ăn tối ở vườn rau của khách sạn. Một hỏa tiễn chiếu sáng lơ lửng một lúc ở đầu cây dù. Từ phòng của tôi, tôi nhìn ra ngoài đường vắng. Không một ai, không có cả toán tuần tiểu nữa. Trong đêm có vài tiếng súng nhưng ở xa. Ngày mai, tôi hi vọng là Merlin (chuyên viên hình) và Marthurin (chuyên viên âm thanh) sẽ tới nhập bọn với tôi. Đáng lẽ họ đã phải đi vào Cao Miênqua ngả Lào nhưng không được. Đang có những chuyện lạ tại Nam Vang. Sự “giải phóng” thành phố bắt đầu bằng một buổi lễ và chấm dứt bằng những cuộc tàn sát và một cuộc lưu đày ồ ạt dân chúng Nam Vang.

Chúng ta sẽ được thấy thứ “giải phóng” nào tại Saigon?

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 5 Apr 2024

6. Chương 1 Hà Nội – Sài Gòn: 1789 km

Ngày 1 tháng giêng 1975,

Vào khoảng 6 giờ, giờ Saigon, ngày 1/1/75 (theo âm lịch Việt Nam, năm Dần, tháng Sửu, giờ Mẹo) 19 quả đạn pháo sản xuất từ Liên Xô, được rót vào tỉnh Biên Hòa, một thành phố nằm về hướng Bắc của Saigon chừng 20 kms. Một quả pháo rơi trúng vào mái nhà tranh của anh Nguyễn văn Bé. Anh chết ngay tức khắc. Là một thanh niên mới 16 tuổi, anh Bé là một thường dân đầu tiên bị pháo kích chết trong năm 1975 ở Miền Nam Việt Nam. Anh Bé ước mơ sẽ là một kỹ sư hóa học….

Trên nguyên tắc, kể từ ngày 27 tháng giêng năm 1973, đúng 0 giờ GMT, thì “Hiệp Định Ba Lê về ngừng bắn và tái lập hòa bình ở Việt Nam ” bắt đầu có hiệu lực và Hai Bên phải ngừng bắn.

Theo thống kê đứng đắn của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ thì trong năm 1974, đã có 14.000 binh sĩ Miền Nam và 7000 thường dân tử thương vì các hoạt động quân sự. Về phía Bắc Việt người ta đếm được 57.000 chết trận và một số xác chết khác nữa trong thời gian ngừng bắn giả hiệu nầy.

Ngày hôm đó, Tòa Đại sứ Hoa Kỳ (nằm sát vách Tòa Đại sứ Pháp), đã không nhận được một công điện nào quan trọng từ Nhà Trắng (Tổng Thống) cũng như từ Bộ Ngoại Giao. Ông bà Tổng Thống Gerald Ford thì đang nô đùa với tuyết chung quanh một lâu đài ở dảy núi Rocheuses. Còn ông Tổng Trưởng ngoại giao Kissenger thì cùng ông Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller đang nghỉ mát ở vùng nắng ấm Porto Rico.

Trên lầu một của Toà Đại sứ Mỹ ở Saigon các viên chức ngoại giao thuộc phòng chánh trị cũng như các nhân viên thuộc phòng tình báo (CIA) ở từng trên cùng, đang phân vân. Người thì đoán là năm nay có thể được yên tĩnh, người thì lo ngại. Hồi tháng chạp, phúc trình của phòng nhì đã ước tính tình hình rõ rệt lắm rồi: “lực lượng quân sự của cộng sản ở Miền Nam mạnh hơn bao giờ hết. Ước tính có thể cộng sản sẽ tung một phần của lực lượng trừ bị chiến lược của họ để thọc vào những yếu điểm chính trong hệ thống diện địa của Miền Nam . Và không biết chừng cộng sản cũng có thể sẽ chuyển qua thế tổng tấn công.” Dành cho những người có tư tưởng chủ bại !

Bản phúc trình giải thích tiếp : Cân nhắc kỹ lại thì chúng tôi nghĩ là họ sẽ không làm thế đâu. Hà Nội thích tìm mục tiêu trong mùa khô ráo để tấn công trên cả hai mặt chánh trị và quân sự để tránh nguy cơ có thể gây tổn thất cho cuộc tổng tấn công.” Dành cho những người lạc quan!

Những sự phân tách của nhóm tình báo nầy căn cứ trên nhiều yếu tố, nhất là yếu tố thời gian. Từ nhiều thế kỷ, ở Việt Nam những trận chiến có tính cách quyết định thường được tiến hành trước mùa mưa. Bắt đầu từ tháng 5 dương lịch. Lúc đó ở vùng Cao Nguyên nước chảy mạnh với những con suối đầy nước. Đất ở vùng rừng trở nên sốp, còn ruộng ở đồng bằng thì ngập nước, nên các xe vận tải, pháo binh, chiến xa đều bị lún sình khó di chuyển được . Trên trời thì mây đen dày đặc trực thăng thường khó bay và nhất là phi cơ. Đất, nước và không gian liên kết với nhau khiến cho con người khó mà di chuyển và chiến đấu. Mùa mưa thường giúp cho địch quân có thì giờ ngơi nghỉ lấy sức lại. Ba chục năm đánh nhau người anh em cộng sản không tôn trọng giờ ngủ nghỉ gì hết nhưng bên nào cũng cúi đầu trước mùa mưa.

Anh Patrick Hays người Bắc Phi (Algerie) cao 1m 86, tóc húi ngắn, mắt trong xanh là một thiếu úy xuất thân từ trường võ bị Saint Cyr (Pháp), thuộc binh chủng nhảy dù; Anh còn nhớ

mãi thời anh còn phục vụ ở trung đoàn I nhảy dù. 12 năm trước anh là phụ tá cho một đồn điền cao su ở Việt Nam , bây giờ thì anh điều khiển cả hệ thống điều hành của hãng Michelin. Vợ anh là một người Việt Nam và là một ngôi sao của đài truyền hình. Anh nói thông thạo tiếng Việt, và thường đi công tác xuống các tỉnh, do vậy mà anh biết rất nhiều tin tức. Với số vốn hiểu biết và bản chất sáng suốt của nhà báo hay nhà ngoại giao, anh là một mật báo viên của tình báo Pháp (SDECC), một việc làm dễ dàng mà anh vừa làm vừa chơi ! Cách đây mấy hôm, Hays không liên lạc vô tuyến được với một đồn điền nhỏ nhất của Michelin ở tỉnh Phước Long, cách Sai Gòn trên 100 kms, một đồn điền cao su rộng 3000 mẫu tây với 1.400000 cây cao su và 500 nhân công. Hays nói là Việt Cộng đã chiếm được 2 đồn trên đường 311, phía Nam của đồn điền nầy và cũng ở về phía Nam của tỉnh lỵ Phước Bình.

Vào trung tuần tháng chạp, Hays đã gặp và trò chuyện rất lâu với quận trưởng sở tại và quản lý đồn điền nầy. Họ đều nói ở đó không có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam mà có sự chuyển quân quy mô của bộ đội Bắc Việt.

Tại văn phòng của anh gần Câu lạc Bộ thể thao Saigon (mà anh là tổng thơ ký),Anh nhận xét: ” Rất có thể là cộng sản tấn công vào các vị trí yếu nhất của quận Phước Bình để có được một đường bay cho vận tải cơ loại nặng. Một phần vì vướng 25.000 dân tại đó nên việc phòng thủ ở đây trở nên khó khăn, phần khác thì phương tiện của chánh phủ yếu kém hơn hồi 1972.”

Không phải lần đầu tiên mà một tiền đồn bị thất thủ. Đôi khi sự liên lạc với đồn điền cũng bị gián đoạn, nhưng quản lý người Việt lai Tàu ở đây khôn khéo lắm, rồi cũng nối lại được thôi!

Một phần của tỉnh Phước Long nằm sát biên giới Cam Bốt đã bị mất và về đêm thì cộng sản có mặt, ban ngày thì chánh phủ Saigon kiểm soát. Phải gan lì lắm ! Chúng ta hãy xếp loại biến cố nhỏ nầy vào một khung cảnh chung. Việt Nam dạy cho chúng tôi đừng bao giờ ngã lòng. Đối với anh Hays, sau khi Hiệp Định Paris 1973 được ký có nhiều hy vọng là đời sống ở Miền Nam Việt Nam có thể tốt hơn. Nếu Bắc Việt toan tính đi xa hơn thì Hoa Kỳ sẽ gởi cho họ pháo đài bay B.52. Hays thấy là từ năm 1970 Miền Nam coi như đã thắng rồi. Trước đó thì trong tỉnh còn “kháng chiến quân” nhiều lắm. Đến năm 1971 thì gần như không còn mống nào, người ta đi lại tự do hơn trên lộ. Nhưng từ đó lần lần tình hình xuống cấp trở lại. Bây giờ muốn đi về Saigon, Hays phải đưa đoàn xe chở mủ đi vòng lên hướng Bắc qua ngã Ban mê Thuột, một đoạn đường vòng 1000 kms. Vì đoàn xe nầy chỉ đi thẳng đến Saigon khi nào đường đã được mở rồi (thường thì hành quân cấp tiểu đoàn để “mở đường” ).

Ông Nguyễn văn Thiệu, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa thường tiếp khách tại Dinh Độc Lập, một dinh thự thường thôi nhưng đầy đủ tiện nghi và kiến trúc theo kiểu hiện đại. Ông Agustini Manglia, Đại Sứ Phi luật Tân, niên trưởng ngoại giao đoàn phát biểu:

-“Bây giờ thì thấy có vẻ lạc quan hơn. Một cuộc dàn xếp chấp nhận được, hướng tương lai… về một chân trời mới.”

Cử tọa gục gặt đầu đồng ý, tán thành.

Tháng nầy nhà ngoại giao Ba Tư chủ tọa “Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Theo Dõi” việc thi hành Hiệp Định Paris. (gọi tắt là CICS). Ông thấy không yên tâm lắm :

“- Tôi hy vọng Hiệp Định Paris sẽ được thực thi”

Cử tọa cũng gục gật đầu ra vẻ tin tưởng như vậy.

Những quân nhân Ba Tư, Nam Dương, Ba Lan và Hung gia Lợi trong Ủy Ban Quốc Tế CICS có nhiệm vụ kiểm tra các vụ vi phạm lệnh ngưng bắn. Họ thừa biết là bộ đội Miền Bắc cũng như quân lực Miền Nam đều ít thi hành điều 2 về ngừng bắn hơn hầu hết 23 điều khác của Hiệp Định Paris 1973. Hai Bên đều có ý hành động thăm dò nhau. Người ta “giành dân lấn đất” nhau, người ta mất đi , chiếm lại từng thôn ấp, từng thửa ruộng. Dầu sao thì các trận đánh nhau cũng còn ở mức độ “chấp nhận được”. Trước hết là từ phía Hoa Kỳ: họ không còn một người lính tác chiến nào ở Việt Nam nữa.

Tại Saigon cũng vậy, ngay trong ngày Hiệp Định có hiệu lực , đúng là yên tịnh. Không có một vụ ám sát nào, cũng không có pháo kích. Khách du lịch đến Việt Nam bằng các chuyến bay của hãng Air France, Thái International, hay Cathay Pacific. Airways … vì một tuần lể hạ giá của Hàng Không Việt Nam. Với 27.000 đồng Việt Nam người ta có thể bay đến Dalat, một thành phố đẹp với khí hậu mát mẻ. Trường đua ngựa ở Phú Thọ với chương trình 8 cuộc đua, ngựa được ưa thích nhất là con Phương Dung ! Mười ngày trước đó người ta khánh thành một tiệm ăn sang trọng: tiệm New Carina. Saigon không có không khí chiến tranh!

Dân Saigon ăn nhậu, nhảy đầm, nhưng không vào hộp đêm “Quốc Tế” được vì đang đóng cửa để sửa chửa. Cáo lỗi của chủ nhân đã được đăng trên tờ “Saigon Post”, một nhật báo tiếng Anh, hình như có trợ cấp của CIA (Mỹ): “chúng tôi đang trang trí lại và đổi một số máy điều hòa không khí”. Có nhiều đầu tư trong thủ đô Sai Gòn. Tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, người ta bàn cải về địa điểm của một khách sạn hạng sang sấp được xây cất: khách sạn Hyatt.

Tại câu lạc bộ của CIA, ở khách sạn “Công Tước” (Duc), người ta ngồi ở các bàn nhỏ để dùng cơm tối. Trong số quan khách người ta thấy có ông Graham Martin, Đại sứ Hoa Kỳ, và các vị đồng nghiệp của ông , ông Nara (Nhật Bản), và ông Aran (Do Thái) Lý thú thiệt ! gần như có một sự chơi chữ ở đây : A-R-A-N, N-A-R-A ! Người ta cũng thấy có ông Thomas Polgar, trưởng lưới CIA ở Việt Nam, một phòng tình báo lớn nhất trên thế giới, và ông Frank Snepp, một phân tích gia có hạng của Trung Ương Tình Báo ở đây. Người ta nói với nhau về kinh tế, về nền kinh tế vững mạnh của Miền Nam Việt Nam, không cần có sự tăng gíá dầu.

Trong mục “quan điểm” của tờ Sóng Thần, báo hằng ngày, tác giả viết : ” 1975, năm bầu cử Tổng Thống, bằng cách nầy hay cách khác, guồng máy lãnh đạo cần phải được cải tiến nhiều hơn…”

người ta bình luận một vài sự việc khác:

“đại úy Lê văn Ngà thuộc đơn vị công vụ, đã bắn vào đầu tự sát, để lại một bức thơ cho Tổng Thống Thiệu, để bênh vực cho mục tiêu đấu tranh của Phật Giáo. Theo lời của một phát nhôn viên quân đội thì đại úy nầy đã hành động hoàn toàn vì lý do tôn giáo. Vì Đại úy Phật Giáo vừa qua tỏ ý tiếc là : – “người ta không cố gắng trong hành động hòa giải quốc gia, một điều mà Hiệp Định Paris đã có dự trù.”

Phần lớn dân chúng không ăn mừng ngày Tết dương lịch. Ngày Tết Việt Nam rơi vào tháng 2 dương lịch. Những người thuộc giới trung lưu trưởng giả thường theo người Tây Phương, Pháp hay Mỹ, ăn Tết dương lịch (1tháng giêng) nhưng không ầm ỉ linh đình như người Mỹ, người Pháp, Ba Lan, hay Hung gia Lợi đang có nhiệm vụ ở Việt Nam. Họ chỉ họp nhau và chuyện trò với nhau thôi, bọn trẻ thì nghe ca nhạc (dĩa), và phần đông giới trẻ thích nghe nhạc bình dân của Trịnh côn Sơn..

Đối diện với khách sạn Continental là quán cà phê Givral. Hôm nay có 3 người ngồi thưởng thức café, 3 người mà giới báo chí thường gọi họ là “3 chàng ngự lâm pháo thủ”. Đó là ông M. Vượng đẹp trai; ông Phạm xuân Ẩn một nhân viên toàn thời của báo Times, một nhà báo Việt Nam duy nhất lãnh lương Mỹ, rất thạo tin và đáng kính nể; ông thứ ba là ông Cao Giao, thỉnh thoảng viết cho tờ Newsweek, người có chòm râu càm giông giống hàm râu của Hồ chí Minh. Họ hỏi nhau. Cao Giao nói:

  • ” Người anh họ của bạn tôi làm việc tại đồn điền Michelin, quả quyết là Bắc Việt có xe tăng, loại T.72 và T.54″

Ông Ẩn tỏ ý nghi ngờ:

  • ” Tôi tin là cộng sản chuẩn bị một cuộc tấn công vào Tây Ninh”

Tây Ninh là nơi có Thánh Thất của đạo Cao Đài . Họ thờ Victor Hugo và Tôn Dật Tiên chung với những ông Thánh khác trong một ngôi đền đủ màu sắc trang trí hết sức rực rỡ và rườm rà.

Cách Saigon 3000 cây số, trên đảo Okinawa (Nhật) nằm giữa Đài Loan và Nhật Bản, đại úy Cyril Moyer đang buồn bực. Là một sĩ quan Thủy quân lục chiến, 30 tuổi, đặc trách coi về tiếp vận, đại úy Moyer lo huấn luyện tân binh tại trại Lejeune. Vợ con anh ta đều ở tại Jacksonville (tiểu bang Bắc Carolina, Hoa Kỳ). Binh đoàn Thủy quân tiết kiệm ngân sách, nên gia đình sĩ quan không được theo chồng. 30 tháng trên đảo Okinawa không có gì vui. Chỉ có những trại lính, một căn cứ không quân và những cơ sở của hải cảng. Khi người lính sống xa gia đình thì hay sanh ra lắm tật, rượu chè, dại gái hoặc mê đạo, Moyer nghĩ như vậy. Để không cho mình rổi rảnh, Moyer theo một khóa đại học giống như các sĩ quan ở đây. Anh theo ngành phân tách, như nhiều người đã theo học ở đây. Nếu tiểu đoàn 7 Truyền tin của anh tham gia vào cuộc tập trận dự trù vào tháng 2 nầy ở vùng Phi luật Tân, thì anh sẽ nghỉ học. Việt Nam không nằm trong dự kiến của anh, bộ phận 150 thủy quân lục chiến bảo vệ Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ ở Saigon anh cũng không thích.

Đại úy Moyer huấn luyện lính của anh, anh “gạo” bài học của anh. Ở phạn điếm người ta nói là cuộc tập trận có thể dời lại đến tháng 3.

Tại Hoa thạnh Đốn, cách Saigon 22.000 cây số, Nhà Trắng ban hành luật S.3418 nhằm bảo vệ đời sống riêng tư của người dân.

Ông Gerald Ford đã trở thành Tổng Thống sau khi Richard Nixon từ nhiệm vì vụ tai tiếng Water Gate năm tháng trước đó, (tháng 8/1974). Tổng Thống Ford thừa kế một di sản kinh tế èo uột, với lạm phát và mức lời quá cao, thị trường chứng khoán bấp bênh và đội quân thất nghiệp lên đến 5 triệu người .

Vấn đề Việt Nam nằm trong lãnh vực gần như riêng thuộc Tổng trưởng ngoại giao, Kissenger.

Vào đầu năm nay, người ta lo ngại về những hoạt động bất hợp pháp của cơ quan CIA. Cơ quan nầy đã có dự tính ám sát Fidel Castro, trong thập niên 60. Cơ quan nầy không có quyền hành sự trên đất Hoa Kỳ. Nhưng họ đã thành lập 10.000 hồ sơ của công dân Hoa Kỳ. Họ đã thực hiện sự “giám sát điện tử” để nghe lén đường dây điện thoại. Họ cũng đã lục lọi các thư từ cá nhân. Những sự việc đáng nghi ngờ, những “đồ quý giá của gia đình” CIA nầy các nhà báo thích lắm, nhưng các độc giả và thính giả truyền hình thì không. Trong văn phòng Bầu Dục, Tổng Thống thường tiếp ông William Colby, vị Giám đốc CIA, một người thông minh có bộ mặt của một mục sư, tốt nghiệp trường Princeton, anh hùng đệ nhị thế chiến. Ông Colby dùng thì giờ để giải thích về khuôn khổ làm việc của nhân viên CIA hơn là phân tích tình hình ở Việt Nam. Tổng Thống Ford thì chú ý nhiều về những gì thuộc về “hậu Watergate” hơn là tình hình Việt Nam. Ông ta có ý muốn tháo gỡ ngòi nổ của vụ tai tiếng Watergate để ân xá cho Nixon. Tuần nầy qua tuần khác, thủ đô Hoa Kỳ như bị dán chặt vào vụ Watergate tai tiếng nầy. Sau 15 giờ nghị án, một bồi thẩm đoàn đã tuyên bố là “3 cựu cộng sự viên của Nixon đều phạm pháp vì đã chung sức âm mưu ngăn trở sự tiến hành của tư pháp” . Đó là các ông John Ehrlichman, Bob Halderman, và John Mitchell”

Bị các nhà báo, các dân biểu và nghị sĩ của lưỡng viện quốc hội chất vấn, Tổng Thống Ford không bao giờ chú tâm đến những bài toán của nước Việt Nam xa xôi. Để điều tra về hành động của CIA, ông ta chỉ định một ủy ban làm việc với Phó Tổng Thống Nelson Rockefeller. Ông Ronald Reagan, vừa mãn nhiệm thống đốc tiểu bang California tham gia vao ủy ban nầy.

Những phúc trình của các cơ quan tình báo thường được viết lại, cô động lại đến thường mất hết độ trung thực, rồi mới được đến tay Tổng Thống dưới dạng một bản phân tách.

Có rất nhiều phúc trình và nhiều cơ quan cạnh tranh nhau.

Cơ quan CIA (Trung Ương Tình Báo) thì báo cáo cho Nhà Trắng và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia; cho Bộ Trưởng Quốc Phòng, không thuận lắm với Kissinger, và cho các Tham Mưu Trưởng ở Ngũ Giác Đài.

Mỗi quân chủng Không Quân, Hải Quân, Lục Quân và Thủy Quân Lục Chiến mỗi nơi đều có cơ qua sưu tầm tin tức riêng của mình.

Phía Ngoại Giao cũng có cơ quan tình báo nhưng chuyên về chánh trị. Công tác giải mã và đón nghe các đường thông tin liên lạc vô tuyến của địch hay của cả đồng minh đều tùy thuộc Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Tất cả các cơ quan nầy trên nguyên tắc đều trực thuộc vào vị Giám Đốc Trung Ương Tình Báo của Liên Bang, và tất cả đều gởi về đây bản phân tách tình hình. Bản phúc trình sau cùng mà Tổng Thống Ford đọc được , nó vừa mơ hồ vừa dè dặt. Không có gì có thể gọi là báo động hết: ” Cân nhắc kỹ”, thi không thấy Bắc Việt sẽ mở cuộc tấn công lớn.”

Tại Hoa Thạnh Đốn, không có một người nào chú ý đến công điện của ông Wolfgang Lehmann, cố vấn ngoại giao, nhân vật thứ nhì trong Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Saigon. Ông Lehmann nhấn mạnh đến sự hiện diện của tướng Viktor Kulikov ở Hà Nội vào tháng chạp. Tướng Kulikov là phụ tá tổng trưởng quốc phòng của Liên Xô.

Ông Lehmann không nghĩ rằng vị tướng Xô Viết nầy đi dạo chơi ở thủ đô Bắc Việt chỉ với nhiệm vụ đại diện cho Liên Xô nhơn dịp kỷ niệm 30 năm thành lập của Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt : “Cũng không phải tướng Kulikov dùng hết thì giờ của ông ta để hát nhạc Giáng Sinh. Tại Miền Nam lúc bấy giờ con số bộ đội chết và bị thương cao gần bằng con số trung bình hằng ngày trong thời gian trước và trong cuộc tấn công năm 1972 ..”

Ông Lehmann nhắc lại là ” Phó tổng trưởng quốc phòng Liên xô Pavel Patitsky là người trực tiếp điều khiển dàn cao xạ phòng không ở Hà Nội, một tuần lễ trước ngày Bắc Việt mở cuộc tấn công mùa xuân năm 1972. ” Lúc đó Bắc Việt thất bại trong cuộc tấn công quy mô nầy. ” Công điện của cố vấn ngoại giao Lehmann được xếp loại “Kín”, vì thế nó cứ nằm kín mãi trong tủ hồ sơ thôi!

Một nhân viên khác của Tòa Đại sứ không bằng lòng cái lối đánh giá tình hình Việt Nam của Hoa thạnh Đốn. Ông Thomas Polgar, trưởng cơ quan Tình Báo CIA tại Saigon đã đọc bản lượng giá trong phúc trình tháng chạp. Theo ông thì những phân tích gia ở Hoa thạnh Đốn không “nằm trong chăn” , nên họ cứ nghĩ là cuộc tấn công của Bắc Việt sẽ kéo dài theo “kiểu chiến cuộc hồi năm 1914” , tức là trước hết phải tiến quân xuyên qua vùng phi quân sự trên vĩ tuyến 17 : “chúng tôi thấy các phân tích gia vì muốn có một sự quân bình trong nhận xét, nên đánh giá thấp tiềm năng và từ đó khả năng thực sự của cộng sản về cường độ hoạt động của họ trong những tháng sắp tới.” Ông Polgar nhấn mạnh tiếp: không có một lý do nào để tin rằng cuộc tấn công quan trọng sắp tới của cộng sản sẽ giống như hồi năm 1972… Có nhiều chỉ dấu cho thấy là sẽ có một cuộc hành quân đại quy mô.” Polgar căn cứ trên những sự tập trung của bộ đội Bắc Việt trên đường mòn Hồ chí Minh và những lời khai của tù binh Bắc Việt.

Tại Hoa thạnh Đốn, người ta đặt giả thuyết là Bắc Việt sẽ mở các cuộc tấn công quan trọng trong năm 1975 vì năm 75 là năm bầu cử Tổng Thống ở Hoa Kỳ. Hai cuộc tấn công lớn của Hà Nội năm 1963 và 1972 hình như chứng minh được quy luật bất thành văn của chiến lược chánh trị quân sự của cộng sản.

Ý kiến nầy cũng là ý kiến của Bộ Ngoại Giao. Ở từng lầu thứ bảy của Kissinger, giống như các cố vấn của Tổng trưởng, ông Douglas Pike cũng nghĩ là trong những tháng sắp tới, Bắc Việt chỉ tung ra những cuộc tấn công có giới hạn. “Trận giặc cắm cờ” sẽ tiếp diễn : Miền Nam sẽ cắm cờ vàng sọc đỏ của họ trong đồng quê, còn cộng sản thì cắm cờ xanh đỏ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam lên các xã, ấp. Trò chơi đổ máu độc ác nầy cứ kéo dài từ sau ngày ký kết Hiệp Định Paris.

Kissinger không lo ngại lắm. Còn nhiều bài toán nghiêm trọng hơn đang cần đến sự quan tâm của ông . Trong sáu tháng qua, ông thật sự bận rộn với Trung Đông và nền hòa bình quá bấp bênh ở đó từ sau cuộc chiến của Kippour. Người Á Rập đang chạy đua vũ trang. Đối với Do Thái thì phải có sự chấp thuận của Quốc Hội mới có được máy bay và hỏa tiễn. Kissinger còn phải làm trung gian hòa giải giữa người Hy lạp và người Thổ nhĩ Kỳ về chủ quyền của đảo Chypre. Ông còn phải lo giữ sự đoàn kết luôn luôn là mối đe dọa khối Bắc Đại Tây Dương (OTAN). Ông không tin là Miền Nam sẽ sụp đổ trong năm 1975.

Kissinger luôn luôn nhắc nhở cộng sự viên của ông là Tổng Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ mỗi ngày theo sát và đối phó với 4 việc ưu tiên : (1) là chiến tranh bất thần với Liên Xô. (2)các nguồn năng lượng, và các ống dẫn dầu (3) sự phát triển nguyên tử (4) các điểm nóng không dự kiến được

Việt Nam không nằm trong danh sách “ưu tiên”

Kissinger tin chắc rằng cả Liên Xô và Trung Cộng không ai có lợi gì để cho cuộc chiến tranh tiếp diễn khốc liệt hơn ở Việt Nam. Ở đây chỉ là chiến tranh loại gậm nhắm kiểu âm ỉ của đám lửa sấp tàn chớ không phải chiến tranh loại bộc phát kiểu lửa ngọn bùng cao… Theo tiếng lóng của các nhà chánh trị thì cuộc tranh chấp vẫn được giữ ở “cường độ thấp” . Liên Xô muốn có thư giản trước cuộc chiến nhỏ bé và khốn khổ nầy. Leonid Brejnev vừa hủy bỏ chuyến viếng thăm Ai Cập vì không được khỏe. Còn Trung Cộng thì không muốn có một nước Việt Nam thống nhất, hùng mạnh ở sát biên giới phía Nam của mình. Tổng kết cuối năm 1974, Tân Hoa xã cho thấy quan điểm của lãnh đạo Bắc Kinh là “quan tâm thực sự đến Âu Châu “miếng thịt béo bở ” mà hai siêu cường đang tranh nhau. Trong các chuyến viếng thăm Bắc Kinh, Kissenger không thấy Trung Quốc có một chút lợi lộc thật sự nào đối với người Việt Nam.

Kissinger nói “16 hay 18 giờ mỗi ngày là quá đủ để theo sát tất cả những gì liên quan đến 4 bài toán căn bản đó.” Đã có những cơ quan, và những nhóm nghiên cứu lo phần còn lại.

Ở vùng Đông Nam Á, lúc nầy là phải chú tâm lo cho tình hình Cam Bốt. Lực lượng Khmers đỏ đang tiến gần đến thủ đô Phnom Penh. Người ta không thể theo sông Mékong để đến Phnom Penh được . Chuyện đó mới đáng phải quan ngại. Không nên tự động gắn liền cuộc chiến ở Cam Bốt với Việt Nam. Mối giao hảo giữa cộng sản Bắc Việt và Khmers đỏ đã không được khắng khít lắm mà còn có vẻ khó khăn nữa, như Nguyen đưc Cuc đặc phái viên liên lạc với Khmers đỏ đã tiết lộ với giới ngoại giao ở Hà Nội. Trong tình hình quốc tế hiện tại, cộng sản Bắc Việt không có lợi gì để phiêu lưu trong những cuộc hành quân đại quy mô, mặc dầu mục tiêu cuối cùng của họ vẫn là thống nhất hai miền Nam Bắc. Kissinger không bao giờ tin như vậy.

Luận cứ của Hà Nội còn phức tạp hơn luận cứ của Kremlin hay của Bắc Kinh.

Ở vùng ngoại ô Hà Nội , bên lề quốc lộ 1, có một “cột cây số” cũ kỹ màu trắng và đỏ mà không một người Pháp nào có thể quên: “Sai Gòn 1789 kms”.

Tại Hà Nội khí hậu khắc nghiệt hơn Saigon . Ngày 1 tháng giêng nầy trời lạnh. Kiều xuân Tiến 22 tuổi đi xem chiếu bóng ở Hai Bà Trưng, bên cạnh bờ hồ. Vào hồi 8 giờ tối, người ta đang chiếu phần đầu của một cuốn phim Sô Viết, “Tháng Tám”: cuốn phim nói về đệ nhị thế chiến: người dân Liên Xô đã góp phần đem lại chiến thắng cho Đồng Minh hơn bất cứ sắc dân nào khác. Phim chiếu khó theo dõi : phim được trình chiếu từ bản gốc, đằng sau màn ảnh có một người thông dịch các mẩu đối thoại ..

Tiến là con của một Bác sĩ thuộc Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (GRP), anh đã đến Hà Nội cách đây 4 năm sau một chuyến đi bộ dài khổ nhọc vượt đường Trường Sơn. Mẹ anh còn ở lại trong Nam. Tại đây anh đã tìm được cha. Vì thích đóng phim, anh đang được cho theo học lớp đặc biệt mà nếu anh đạt kết quả tốt thì anh sẽ được gởi đi thực tập ở Đông Bá Linh hoặc ở Mạc tư Khoa. Anh đang có mộng sẽ trở thành một Eisenstein Việt Nam. Người ta cho anh một tem phiếu loại 1 đồng, mà nếu anh bán lại theo giá chợ đen thì anh sẽ được 15 đồng. Chán cái phim xô viết nầy quá nhưng mà anh phải học , phải tự trao dồi…

Như thường lệ hằng ngày, bắt buộc phải vào trường, anh đã đọc xong tờ báo Nhân Dân, và tờ Lao Động, của đảng Lao Động, đảng cộng sản Việt Nam. Bài bình luận dự đoán “thắng lợi lớn của cách mạng” trong vòng 12 tháng sắp tới. Khác với cha anh, người thanh niên nầy không phải là đảng viên cộng sản. Tuy nhiên anh tin tưởng vào báo chí và truyền thanh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Trong những ngày gần đây, báo chí nhấn mạnh đến “chiến dịch thi đua”. Ngoài phố, trên đường, các nhà máy của thủ đô, đâu đâu cũng có những tranh vẽ lớn, với màu sắc rực rỡ tả chân cảnh các công nhân màu “xanh lơ” đang thi nhau làm việc, các bộ đội màu “xanh ve” đang chiến đấu, phụ nữ và trẻ con màu hồng đang khuyến khích anh bộ đội trong “cuộc chiến chống đế quốc”.

Ở Hà Nội người ta ít gặp các nhà ngoại giao “nước ngoài” như ở Saigon, và đời sống xã hội ít có dịp vui chơi hội hè. Các nhà ngoại giao không được phép rời khỏi thủ đô mà không có phép. Ít có cơ hội tiếp xúc với người Việt, họ sống riêng biệt với nhau. Ông John Fawcett, Đại sứ Anh Quốc là một nhà ngoại giao sống cô đơn nhất. Đối với người dân Bắc Việt, Anh Quốc là một “con ngựa thành Troie” của Hoa Kỳ . Nhiệm kỳ một năm của ông tại Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được chấm dứt trong tháng nầy, và một xử lý thường vụ thường sẽ thay thế ông. Đó là ông John Steward. Vì từ 12 tháng nay chánh quyền Hà Nội từ chối ủy nhiệm thơ của ông đại sứ: Chánh Phủ Hoàng gia Anh không muốn nhìn nhận Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam . Vì đối với người Hoa Kỳ hay người Anh, chánh phủ đó (GRP) không được độc lập. Không cần phải liên lạc với cái chánh phủ bù nhìn nầy, sẽ làm mất lòng Hoa Kỳ. Chánh Phủ Hà Nội chấp nhận sự có mặt của nhà ngoại giao Anh mà không cần ủy nhiệm đầy đủ: Bắc Việt chỉ cần sự có mặt của đại diện Anh Quốc ở Hà Nội để có chiếu khán cho họ đi Luân Đôn và nhất là Hong Kong. Trong bản phúc trình mãn nhiệm, ông John Fawcett dành nguyên một đoạn dài cho “chiến dịch thi đua”:

– “Đây không phải lần đầu . Công nhân được kêu gọi thi đua sản xuất, và tránh lãng phí. Có thể chiến dịch nầy thành công đó. Nhưng, khi tôi nhờ thông dịch viên của tôi để nói chuyện với một nhóm công nhân đang làm việc thật chậm chạp trong một tuần lể dài chỉ để ráp những cánh cửa mới cho dãy nhà phụ của tôi – có phải các anh làm như thế là thi đua với nhau để tăng năng xuất phải không ? Có phải các anh làm như thế là để tăng trưởng kinh tế hầu xây dựng nhanh xã hội chủ nghĩa ? Có phải các anh làm như thế với hy vọng đạt được danh hiệu “công nhân danh dự xã hội chủ nghĩa” ?, Nghe vậy các anh thợ nầy còn tỏ vẻ vui thích hơn tôi nữa ! Sau đó để bù lại thời gian vui đùa của chúng tôi, trong hai ngày kế tiếp, họ còn làm việc còn chậm chạp hơn lúc trước nữa.”

Phúc trình cho thấy là ý định quản lý nhân sự của Bắc Việt không có chút gì thực tế hết. Thận trọng, nhà ngoại giao Anh nghĩ rằng cách quản lý đó cũng phải …. thận trọng . Đối diện với cộng sản Bắc Việt các nhà ngoại giao thường vui thích muốn thấy “cái gì cũng thực tế”

Ở phía Bắc Hà Nội cách Lao Kay 30 cây số ngàn, cách biên giới Trung cộng 50 kms, là trại tù Phong Quang. Nơi đây một ngàn người tù đang qua một ngày làm việc bình thường. Tù chánh trị và tù hình sự, lẫn lộn.

Anh Nguyễn Ký, tù chánh trị, đã trốn khỏi chế độ Miền Nam để đến Miền Bắc năm 1958. Anh là một giáo sư trung học và là một người viết sách. Ở đây người ta đã buộc cho anh cái tội là “trưởng giả quốc gia” (hay “tư sản quốc gia”). Người ta trách anh là người có “khuynh hướng tự nhiên” do đó anh bị bắt giam nhiều lần, lần cuối cùng vào năm 1964. Anh vừa được chuyển từ dãy A qua dãy B. Hôm nay anh trồng khoai mì (sắn). Ngoài một chiếc áo sơ mi anh còn mặc thêm một áo lạnh bằng len, thế mà anh vẫn run.. Các bộ đội với súng trường, và các cai tù đeo súng lục, canh gác nhóm 30 người tù của anh. Anh Ký phải lao động mỗi ngày 8 tiếng. Cái đói cào ruột anh. Một người lao động xấu chỉ lãnh được 9 kí khoai lang tây, hay sắn, hay gạo gọi là lương thực cho một tháng. Ngày 1 tháng giêng dương lịch không phải là một ngày lể. Anh Ký ghét nhất các ngày chúa nhật và ngày lễ. Vì những ngày đó anh bị nhốt trong trại không ra ngoài được nên không “ăn cắp” được gì cả. Gọi là “ăn cắp” là tìm thêm chút rau cải hay vài loại cỏ khi lao động bên ngoài để ăn thêm.

Trong một dãy nhà khác của trại tù nầy, anh Nguyễn Chí Thiện, thường bị bắt giam nhiều lần hơn anh Ký. Hai người không biết nhau. Anh Thiện hay đọc thuộc lòng những bài thơ mà anh làm trong tù nhưng không sao chép ra được:

Bạn ơi, khi tôi gặp bạn

 Tôi sẽ nói

Đến khúc sắn, củ mài

 Lịch sử tôi? Bi lắm!

Chỉ có xích xiềng

Những loạt súng

Của tủi hổ

Của phản bội

 Lịch sử nầy

Bạn ơi,

Làm anh thêm đau khổ

Nhưng kẻ thù sẽ phải sợ

Vì nó trường cửu

Vì nó dài vô tận

Vì nó rất cảm động

Đó là lịch sử

Của khúc sắn củ mài

Trong tất cả các trại tù của Miền Bắc mà Phong Quang là một, cái đói theo đuổi người tù mãi mãi như một ác mộng!

Chanh , chuối, cam, đường

Lạc, đậu, cơm, khoai

Là ân huệ

Của đảng

Ân huệ vĩ đại

Thật sự vĩ đại!

Tại Sài Gòn các nhà ngoại giao ước tính là các nhà tù có thể chứa từ 5000 đến 30.000 tù binh và tù chánh trị. Nhưng ở Hà Nội những nhà ngoại giao dù là Đông Phương hay Tây Phương cũng không có một ý niệm nào về con số tù nhân chánh trị.

Ở Miền Nam, Hội Hồng Thập Tự và những phái đoàn điều tra quốc tế được phép viếng thăm các trại tù. Còn ở Bắc Việt thì không bao giờ!

Ốc vít và lưỡi cưa

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 19/03/2016 

Post by Sơn râu 5 Apr 2024

Người trong ảnh mang tên Lê Thị Hà Vi, cháu được 15 tuổi (khi xẩy ra sự cố) và đang là học sinh lớp 10 ở địa phận nào đó trên vùng cao Đắk-Lắk; một nơi chốn mà từ bé tới lớn tôi chưa hề được đặt chân lên. Tôi thầm nghĩ hẳn nó buồn hơn Ban Mê Thuột, hiu hắt hơn Pleiku?

Chắc sẽ có nhiều người đồng cảm với tôi một chuyện, ấy là gương mặt Lê Thị Hà Vi sáng lạng quá, đẹp gái quá và biết đâu chừng trong tương lai có chàng lãng tử ghé chân thăm thú Đắk-Lắk sẽ giật mình khi ngó thấy để rồi bị bông hoa hé nụ kia trì kéo bước giang hồ và chàng ta sẽ xiêu hồn làm ra một cái gì đó na ná như nhà thơ Vũ Hữu Định xa xưa: “… đi dăm phút trở về chốn cũ… may mà có em đời còn dễ thương”.
Đời có dễ thương không? Ai sao chẳng biết chứ cá nhân tôi, từng nằm rêm người trong nhà thương suốt tuần mà ngoài trời tuyết phủ mịt mờ, lòng tôi vẫn trỗi thầm một khúc hoan ca. Tôi chẳng có em nào cả, đời dễ thương vì có nhiều các anh chị làm bạn với thơ văn tự bốn phương trước lạ sau quen gửi tin nhắn về thăm hỏi, sẻ chia rủi ro, trấn an một đứa vừa quàng xiên “lầm đường lạc lối” nghe sầu riêng rụng lẻ loi sau vườn. Bịch.

Tôi ngắm dung mạo Hà Vi, chăm chú, mà tuyệt không đoán ra tâm trạng của cô bé 15 tuổi. Mắt môi ấy chẳng ngầm truyền đi một nỗi niềm mà thông thường kẻ hứng thương tật buộc phải biểu lộ ra ngoài chút đớn đau, chút ngác ngơ, chút hoang mang, chút ngờ vực về sự phi lý của đời sống này vừa phủ chụp lấy số phận. Nói cứng rắn, nói dửng dưng, nói can trường, nói bất khuất thì có oan cho cháu không?

Tôi và Lê Thị Hà Vi có chung một kiểu chấn thương: Gãy xương chân. Nếu tôi ở Ban Mê Thuột hoặc Pleiku, không khéo “hai chú cháu” có chung một hậu vận: Cụt một giò. Cha mẹ sanh ra con vẹn toàn lành lặn là thế, bỗng một sớm mai đây mở mắt ra ngác ngơ trên giường bệnh: “Thân thể người ta chia làm ba phần, đầu, mình và tam chi”. Tam mà chẳng tứ. Ai kia đã nhanh tay cưa ngoẻn của tôi mất một cẳng rồi!

Ngày 6 tháng 3 tôi rời khỏi bệnh viện Do Thái với đôi nạng bằng nhôm và hai con ốc vít nằm trong chân nhằm tháp nối cho xương liền lạc như cũ. Bác sĩ tiễn xuống bậc thềm: Cậu sẽ đi lại bình thường sau 6 tuần tĩnh dưỡng. Cũng vào ngày 6 tháng 3 nọ, Lê Thi Hà Vi nhập viện Đắk-Lắk sau vụ tai nạn giao thông, họ đã bó bột cứng ngắc và ê-kíp phụ trách ca ấy bảo: Vậy là xong, tai qua nạn khỏi, chuyện không có gì phải ầm ĩ. Hà Vi chẳng ầm ĩ, nhưng cái chân đau nhức sưng tấy đến độ nó phát tiếng oán than. Người ta đập cho nát tan khúc bột thạch cao kia, chuyển kẻ bất hạnh nằm thin thít như một thây ma xuống tới bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. Ở chốn văn minh sầm uất nọ, họ quyết định “cắt bỏ một chân để bảo toàn tính mạng” (nguyên văn).

Báo đưa tin: “Do chủ quan, tắc trách và trình độ yếu kém ở lãnh vực chuyên môn” bác sĩ cùng y tá ở Đắk-Lắk phát ngôn: Chúng tôi nhận trách nhiệm và chịu bồi thường cho nạn nhân 20 triệu đồng.

Hai chục triệu bạc cộng thêm lời tự thú về khả năng hạn hẹp của mình, hai thứ đó rõ là nhẹ tợ lông hồng rất dễ phủi tay. Bay quờ quạng và tan biến vào hư không như tuyết rơi chốn đây. Một cô học sinh lớp 10, 15 tuổi đời và một gia cảnh rất mực thiếu thốn chật vật. Tương lai của Hà Vi bị một lưỡi cưa tàn nhẫn cắt ngang. Cháu trở thành kẻ tật nguyền một sớm một chiều, tự dưng biến thành một gánh nặng, một miệng ăn sẽ ăn bám vào nguồn lợi tức khiêm nhượng của mẹ cha trong suốt cuộc đời còn lại. Và quan trọng hơn, với cơ thể khiếm khuyết như vậy liệu cháu có tìm ra một nửa của cháu để nên duyên vợ chồng làm ấm đời nhau?

Trước khi Hà Vi gặp tai nạn đâu chừng non tháng, báo chí có đăng tin một cô gái học giỏi, thi ra trường đạt điểm cao nhưng không một nơi nào thu nhận đơn xin việc, dẫn tới sự quẫn trí và cô đã cắn lưỡi tự tử. Ngay cả tử thần cũng từ chối cái chết nông nổi dại khờ ấy, cô suy sụp tinh thần đến thể xác và bài báo chấm dứt bằng dấu hỏi: Chẳng rõ tương lai người học giỏi ấy sẽ ú ớ đi về đâu?

Đi về đâu? Muốn đi, điều cơ bản là tinh thần anh phải trang bị đủ đầy sự lạc quan, kể cả nó mang ngập tính cách hài hước. Một cầu thủ bóng đá bị mang thương tích ở mặt sau cú va chạm mạnh khi tranh bóng. Bác sĩ khám xét, đưa ra kết luận: Mắt cậu bị hỏng một bên và bên kia thì chịu lé. Nghe thế, cầu thủ ấy khóc thét lên: Vậy là sự nghiệp bóng đá của tôi tiêu tùng rồi! Bác sĩ nói: Chưa đâu cậu ạ. Yên tâm đi, cậu có thể làm trọng tài cơ mà!

Thời gian nằm chờ hồi sức ở bệnh viện Do Thái, để giúp nguôi ngoai y tá có mang báo tới cho tôi xem. Lâu nay Nhật Bản vẫn giữ chức vô địch về chuyện người già có số tuổi thọ cao, kỷ lục đó đã thay đổi với “tân thủ lãnh” là một cụ ông người Do Thái. Israel Kristal, 112 tuổi. Rất phong độ, rất cứng cáp, rất chưa biểu lộ gần đất xa trời, người sống dai nhất thế giới đứng phân trần trước đám phóng viên: “Tôi nào có biết gì về cái gọi là bí quyết trường thọ. Thành thật đấy. Tôi chỉ biết duy mỗi chuyện, là mọi thứ hiện hữu ở đời này đều có bàn tay của Thượng đế chỉ bày”. Bạn có tin không? Tôi tin, nhưng chỉ một nửa. Bàn tay của Thượng đế chẳng đủ quyền uy, sẽ bị “bức tường lửa” của Việt Nam chặn lại. Và như vậy bao oan ức tức tối đớn đau tột cùng vẫn thường hằng diễn ra ở chốn đó mà tuyệt không có chút phép mầu ló mặt. Và tôi tin thêm chuyện khác: Muốn thực hành bí quyết để sống lâu, đơn giản chỉ xin bạn chớ theo dõi tin tức Việt Nam. Bạn sẽ hưởng dương do tai biến mạch máu não, do nhồi máu cơ tim, do huyết áp, do nửa hồn thương đau và do một thứ gọi nôm na là “giết người không gươm đao”.

Lê Thị Hà Vi, đoá tường vi chỉ mới 15 tuổi, giờ đây có muốn chúc cháu “chân cứng đá mềm” e đã muộn mất rồi. Thôi đành gạt lệ thua buồn phen này. Có thương bố mẹ thì cháu chớ dại bắt chước cô sinh viên học giỏi kia để cắn lưỡi tự tử. Khi còn ở Việt nam chú luôn hoài nghi câu chữ “lương y như từ mẫu”, nhưng qua được chốn này người ta buộc chú phải đắm đuối tin, vững lòng tưởng tới bóng dáng các bà mẹ hiền mãi cạnh mình chăm sóc một cách thầm lặng trong tự nguyện. Hai con ốc vít thay vì một lưỡi cưa bạc tình chứng minh rõ về điều đó. Chú có mấy đứa cháu còn ở bên nhà, cũng ngang trang lứa như Hà Vi vậy, khi nghe ông chú tha phương bị tai nạn, tuy chẳng mang gánh nặng tới cho một ai, tuy được chính phủ cho tiền trợ cấp khi thất nghiệp… chúng cũng viết email sang ngầm chê bai: “Sống chiến đấu, lao động, học tập KHÔNG theo gương CHÚ Hồ nhỏ bé”. Hừ, thiệt là xa mặt cách lòng, cái bọn quàng khăn đỏ ấy!

Đôi hàng tức cảnh sinh tình vậy thôi. Chỉ là chút đồng bệnh tương lân vậy mà. Hà Vi đừng giận, hãy chín bỏ làm mười, như đang 2 lại phải cưa bỏ 1 vậy. Tật nguyền tự trứng nước!

Hồ Đình Nghiêm