This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Cố Trung Úy Dù QUÁCH VĂN SỞ Khóa 24 Trường VBQGVN San Jose ngày 29 tháng 04 năm 2009.
Em là Trần Thị Lệ Hà, quê Cần Thơ, hiện cư ngụ tại San Jose, xin kể lại cho bác Lộc và các bác niên trưởng trong quân đội câu chuyện năm 1975. Nếu miền Nam và Saigon gọi ngày 30 tháng Tư 75 là ngày tang của đất nước thì ngày tang của Trần Thị Lệ Hà đến sớm hơn một ngày.
Đó là ngày 29 tháng 4 năm 1975. Đêm 28 tháng 4 cách đây 34 năm trung úy Quách Văn Sở, võ bị Đà Lạt khóa 24, từ giã vợ con vào trại Hoàng Hoa Thám sinh hoạt với tân binh nhảy dù. Trung úy mũ đỏ Quách Văn Sở rất có tinh thần trách nhiệm, đã có giấy lên đại úy nhưng còn chờ lễ đeo lon. Quá nửa đêm 28 qua sáng 29 thì Việt cộng pháo kích vào Tân Sơn Nhất và trại Hoàng Hoa Thám. Sáng sớm 29 tháng 4 lính dù chạy về báo tin anh Sở, chồng của Lệ Hà đã chết. Cùng một lúc khu trại gia binh nhảy dù phải di tản. Em lúc đó 25 tuổi, con trai đầu lòng được 7 tháng. Chẳng có ai thân thuộc. Mẹ con ôm nhau chạy qua nhà ông cậu bên thành Lê Văn Duyệt. Chồng chết ra sao cũng không biết. Đường xá kẹt hết. Chuyện chiến tranh, trận mạc nhà binh từ khi lấy nhau tất cả đều do anh Sở quyết định. Nay bỗng nhiên trời xập, ôm đứa con dại, em ngồi khóc một mình. Không biết xác chồng nằm ở nơi đâu. Chung quanh Sài Gòn náo loạn, ai mà lưu tâm đến người vợ trẻ mất chồng vào cuối tháng 4. Phải mà anh Sở chết sớm hơn một tháng thì truyền thống lính dù đã đưa xác về tận nhà. Tang lễ uy nghi, có đơn vị trưởng chứng kiến lễ gấp cờ, như em đã thấy tại sân Hoàng Hoa Thám. Nhưng sao anh Sở lại chết vào cuối tháng tư, giờ thứ 25 của cuộc chiến. Trải qua một đêm dài thảm kịch. Thằng bé Quách Vĩnh Hưng ôm mẹ nằm trên đất lạ. Cả mẹ con đều không thấy tương lai
Xác anh, giờ ở phương nào? Sáng hôm sau, nhờ cậu em họ dẫn đường vào trại Hoàng Hoa Thám để tìm xác anh Quách Văn Sở. Doanh trại đã di tản. Ở một vài nơi quân ta còn kháng cự và quân địch chưa tiến vào. Khu bị pháo kích chỉ còn di tích đổ nát, thương binh tử sĩ nhảy dù chẳng còn thấy nữa. Nghe nói các chiến binh mũ đỏ đã tản thương anh em vào đêm 29 và đưa xác tử sĩ lên nghĩa trang Biên Hòa. Trên trời máy bay trực thăng ồn ào chở người di tản suốt ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sáng 1 tháng 5 năm 1975, Saigon đổi chủ, em chẳng hề quan tâm. Nhờ người gởi con một nơi, lấy xe máy lên tìm chồng tại nghĩa trang Biên Hòa. Đây là lần đầu tiên em tìm về nơi chôn cất tử sĩ miền Nam. Khu đơn vị chung sự Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đầy xác chết và quan tài đủ loại. Có người phe ta còn làm việc nhưng mặc đồ dân sự. Lính cộng sản xuất hiện nhưng xem chừng còn ngại ngùng không kiểm soát. Phe ta mạnh ai nấy tìm xác người thân và than khóc. Tử sĩ miền Nam vẫn còn đầy đủ quân phục, danh tính cấp bậc. Trên quan tài vẫn còn đèn nến và vàng hương. Thân nhân ngồi khóc bên các tử sĩ từ các nơi chở về. Sau cùng em tìm được xác anh Quách Văn Sở, đã được tẩm liệm và cho vào quan tài. Một bác mặc đồ dân sự nói rằng chị yên tâm, tôi sẽ ghi dấu quan tài của ông Trung úy nhảy dù. Tôi cũng là lính Việt Nam Cộng Hòa. Đã hơn 30 năm rồi, em vẫn còn nhớ hình dáng của người lính bên ta lo việc mai táng vào lúc mà toàn quân cùng với quốc gia không còn nữa. Sau khi thấy rõ tên tuổi di tích của anh Sở nằm đó, em trở về Saigon bắt đầu tìm xe thuê chở xác chồng về quê. Năm xưa, vợ chồng từ Hậu Giang lên Sài Gòn, bây giờ anh đã vĩnh viễn nằm xuống, em nhất định phải chở anh về với gia đình, về nơi anh đã ra đời. Quê em ở Cần Thơ, quê chồng ở Rạch Giá. Giờ này mẹ và các anh em họ hàng bên anh Sở vẫn chưa biết là anh đã hy sinh. Suốt mấy ngày đầu tháng 5, em tìm mọi cách để thuê xe chở quan tài. Trong những ngày giờ đó, chẳng quen biết ai, làm sao mà thuyết phục được chủ xe chở xác sĩ quan dù về tận Rạch Giá. Sau cùng khi tìm được lại phải cùng với chủ xe đi mua xăng. Tiền bạc không đủ, phải trả cả bằng nữ trang và nhẫn cưới đầy kỷ niệm. Chuyến xe tang về quê chồng Đưa xe tải về nhà, dọn những gì có thể đem đi được, từ giã cư xá gia binh, chấm dứt đời vợ lính. Mẹ ôm con lên xe trở lại nghĩa trang. Đó là ngày 3 tháng 5 năm 1975. Nghĩa trang đã thay đổi. Tất cả các xác chết đã bị Việt cộng bắt chôn tập thể. Nhưng may thay những quan tài có người nhận từ hôm trước vẫn còn. Vàng hương và tên tuổi cấp bậc thì vứt đống dưới đất. Người lính chung sự Việt Nam Cộng Hòa mặc đồ dân sự vẫn còn đó. Ông nói rằng quan tài này của trung úy dù tôi vẫn ghi dấu là đã có thân nhân đến nhận. Xin thưa với bác là em cũng chẳng biết tên ông lính đó là ai, nhưng ơn nghĩa tử sinh thì em ghi nhớ suốt đời. Nếu không có ông này, chắc xác anh Sở cũng phải nằm chung trong mồ tập thể. Rồi nhờ mỗi người một tay, quan tài anh Quách Văn Sở được khiêng lên xe hàng. Mẹ con ôm nhau ngồi bên xác anh suốt quãng đường dài. Đó là chuyến xe tang về quê chồng tháng 5 năm 1975. Bác hỏi em quang cảnh bên đường ra sao. Bác ơi, vợ lính 25 tuổi, ôm thằng bé chưa được một tuổi. Lòng dạ nào mà nhìn thấy hai bên đường. Mắt em mở nhưng chỉ thấy toàn kỷ niệm quá khứ. Em là nữ sinh Đoàn Thị Điểm, Cần Thơ. Anh Sở là sinh viên đại học Cần Thơ. Gặp nhau, hẹn hò, yêu đương. Từ đại học Cần Thơ anh vào võ bị khóa 24 học suốt 4 năm. Em ra trường làm công chức, đổi từ Cần Thơ lên Saigon. Bốn năm Đà Lạt, Sài Gòn tình yêu thơ mộng biết chừng nào. Ra trường anh đi lính nhảy dù đóng tại trại mũ đỏ Hoàng Hoa Thám, em làm công chức tại văn phòng phủ thủ tướng. Đâu có quen biết ông lớn nào đâu. Sở công vụ cho đi đâu thì làm đó. Chiến tranh ở đâu thì không biết nhưng Saigon, Cần Thơ và Rạch Giá là những miền đất đầy hạnh phúc của một gia đình trẻ với đứa con trai. Từ đầu tháng tư mẹ em ở Cần Thơ rất lo sợ cho con rể, con gái và cháu ngoại. Mẹ anh Sở ở Rạch Giá cũng đang cầu nguyện cho con trai, con dâu và cháu nội. Chuyến xe đau thương của em ghé Cần Thơ. Mẹ thấy con gái về bèn ôm cháu ngoại hỏi rằng còn thằng Sở đâu. Con gái mẹ kêu khóc mà nói rằng: anh Sở chết rồi. Con đưa xác về đây. Mẹ đi với con qua Rạch Giá. Mẹ già tất tả vừa khóc vừa gói quần áo theo con gái lên xe. Cả xóm tuôn ra nhìn theo, chiếc xe tang về quê chồng lại lên đường. Xe tải chở theo bà xui Cần Thơ đi theo con gái. Nước mắt góa phụ trẻ bây giờ thêm nước mắt mẹ già. Thằng rể quí của bà đi lính nhảy dù mấy năm không chết mà đến ngày cuối cùng lại tử trận.
Người lính mũ đỏ đất Kiên Giang Năm 1971 có anh sĩ quan nhảy dù xuất thân võ bị làm đám cưới ở bến Ninh Kiều, Cần Thơ, tiệc bên nhà gái xong là rước dâu về Rạch Giá. Đoàn xe hoa cũng đi theo con đường này. Qua đến năm 1975, xe hàng chở quan tài người lính chiến về lại quê xưa, cũng có bà xui đại diện cho nhà gái trong chuyến đi cuối cùng. Xe về đến Rạch Giá, cả nhà họ Quách ra đón mừng, thấy quan tài con trai út bà mẹ té dài ngay trên bậc cửa. Mẹ của anh lính dù có hai người con trai. Mấy năm trước người anh tên là Quách Hải đã tử trận. Còn cậu út nhất định đi võ bị rồi theo nhảy dù, bà tưởng rằng gởi gấm được ông tướng Dư Quốc Đống vốn là thân quyến thì cũng đỡ nạn binh đao. Ai ngờ anh sỹ quan nhảy dù chết ngay tại trại Hoàng Hoa Thám vào giờ phút sau cùng của cuộc chiến. Mặc dù lúc đó cộng sản 30 tháng 4 tại Kiên Giang đã làm khó dễ nhưng người góa phụ trẻ hoàn toàn không có kinh nghiệm trong cuộc sống đã một mình đơn độc đem xác chồng về chôn tại quê nhà. Câu chuyện làm xúc động bà con lối xóm nên đám tang rất đông người dự để tiễn đưa người lính dù cuối cùng của đất Kiên Giang trở về quê mẹ.
Nước non ngàn dặm ra đi Sau đó em trốn tránh quanh quẩn tại Hậu Giang vì muốn giấu lý lịch vợ lính dù, lại làm công chức phủ thủ tướng. Qua năm 1979 trở về Cần Thơ vượt biên với má và thằng con trai. Nhờ anh Sở phù hộ, tàu qua Mã Lai bị kéo ra biển nhưng rồi cố lết qua được Indo. Ở bên Nam Dương một năm thì vào Mỹ, đến ngay San Jose. Mấy năm sau, em gặp ông xã sau này, hai bên lập gia đình và có thêm hai cháu. Thưa với bác Lộc rõ, em có duyên số với Võ bị và Rạch Giá. Ông xã hiên nay của em cũng là người quê Rạch Giá, cùng vượt biên năm 1979 trong một chuyến khác. Qua đây mới gặp nhau. Ông ấy ngày xưa cũng dạy trường võ bị Đà Lạt. Con cái của gia đình em, nói để các bác mừng cho, tất cả đều thành đạt và hạnh phúc. Các cháu cũng đã lập gia đình và có thêm các cháu nội ngoại. Ông xã em bây giờ hết sức tế nhị và thông cảm. Chính ông đã làm một bàn thờ tại gia để ghi nhớ hình ảnh của trung úy nhảy dù Quách Văn Sở ba của cháu Quách Vĩnh Hưng. Năm nay cháu 35 tuổi.
Chút di sản muộn màng, gửi tương lai vĩnh cửu Đã 34 năm qua, em còn lưu giữ hồ sơ của anh Sở. Một tờ khai gia đình của khu gia binh sư đoàn nhảy dù, căn cứ Hoàng Hòa Thám. Có chữ ký của thượng sỹ Trần Văn Linh, trưởng trại gia binh. Kiến thị bởi trung tá Nguyễn Văn Tư chỉ huy trưởng căn cứ và chữ ký của gia trưởng trung úy Quách Văn Sở. Ngoài ra còn giấy chứng nhận bằng nhảy dù, thẻ căn cước dân sự, thẻ căn cước quân nhân, chứng chỉ tại ngũ. Trên các thẻ căn cước, chỗ nào cũng có tên mẹ của anh Sở là Dư Thị Kim Thoa, bà là vai cô của tướng Dư Quốc Đống. Trung úy Sở còn tờ giấy nghỉ phép 5 ngày từ 26 tháng 4 đến 30 tháng 4 năm 1975. Cầm giấy phép, nhưng anh Sở không đi phép. Vì lo tân binh Nhẩy dù mất tinh thần nên tối 28 tháng 4 năm 1975 anh vào trại. Trận pháo kích sau cùng đã làm thay đổi vận mệnh của cả gia đình. Người thanh niên Kiên Giang, trải qua 4 năm sinh viên võ bị Đà Lạt, 5 năm sỹ quan nhẩy dù, từ giã cuộc đời năm 30 tuổi. Anh để lại tấm thẻ bài hai mảnh. Gia đình còn giữ suốt 34 năm qua. Nay đã đến lúc chia tay đôi ngả. Một tấm đi theo quân bạ vào viện bảo tàng. Còn một mảnh xin giữ làm kỷ niệm cho con cháu họ Quách đời sau. Với đầy đủ tên họ, số quân và loại máu.
Tâm nguyện cho tương lai Thưa bác, kể xong chuyện ma chay cho người chồng chiến binh 34 năm về trước, trao được các di vật cho viện bảo tàng Việt Nam tại San Jose, em rất yên tâm. Xin cảm ơn nhà em ngày nay, nguyên là giáo sư võ bị ngày xưa đã thông cảm, sẽ thông cảm thêm. Con trai của anh Sở nay đã 35 tuổi, sẽ hiểu biết thêm chuyện gia đình và chiến tranh. Những đứa con sau này ra đời tại San Jose bây giờ mới biết ngày xưa mẹ sống trong trại lính Dù có tên là Hoàng Hoa Thám. Anh em Đà Lạt khóa 24 biết thêm về người con gái miền Tây làm dâu võ bị hai lần. Người Rạch Giá cũng biết thêm về cô gái Cần Thơ hai lần lấy chồng xứ Kiên Giang. Và em tạ ơn trời đất còn có ngày nay. Trước sau em cũng chỉ là người vợ lính đã từng sống trong trại gia binh. Em cám ơn các bác đã nghe hết câu chuyện 29 tháng 4 của em 34 năm về trước.
3 giờ 30 sáng. Tôi thức giấc vì những trái hỏa tiễn nổ làm rung chuyển thành phố. Một trái nổ nghe quá gần. Tôi nhìn qua cửa sổ. Kèn xe chữa lữa và xe cứu thương. Những cột khói bốc lên ở xa. Không đi ra ngoài được vì có giới nghiêm. Tôi không thể ngủ lại được. Nhân vật Thiệu tiếp tục ám ảnh tôi. Cho đến phút chót, hắn vẫn không hiểu rằng người Mỹ không còn muốn nghe nói tới hắn hoặc nói tới Việt Nam nữa. Và Graham Martin, Đại sứ Mỹ đã nuôi hắn trong ảo tưởng đó, ta hãy dùng đúng chữ: sự điên rồ.
Thiệu bám lấy các ý tưởng này. Hắn tuyệt đối muốn rằng quốc hội Mỹ cho hắn 300 triệu mỹ kim viện trợ bổ túc, tuy rằng ngân khoản ấy sẽ chẳng làm được gì, sẽ không kịp dùng số viện trợ ấy để mua vật liệu. Hắn chỉ muốn được một cử chỉ có nghĩa là người ta không bỏ rơi hắn, rằng ngựời cha lại đưa tay ra vớt hắn ra khỏi vũng lầy hắn đang ngồi ngóp.
Dĩ nhiên là nạn hối lộ và thối nát ngự trị khắp nơi. Quân đội của Thiệu đã quen sống xa hoa, phung phí đạn dược vật liệu và xăng nhớt. Nhưng quân đội ấy cũng là một nạn nhân của người Mỹ vì người Mỹ đã để lại cho họ một hạ tầng rất nặng nề về căn cứ, sân bay, kho chứa hàng và cơ xưởng. Chỉ riêng sự bảo trì các cơ sở ấy đã tốn mất một tỷ rưỡi mỹ kim một năm rồi. Và viện trợ Mỹ cứ dần dần cạn. Ngày nay, số viện trợ ấy chỉ còn 700 triệu mỹ kim trong khi viện trợ của Nga cho Hà Nội không ngớt gia tăng – hơn một tỷ rưỡi Mỹ kim – cho năm 1975.
Khi ra lệnh rút lui, Thiệu nhìn về Hoa Thịnh Đốn. Đó không phải là một quyết định quân sự nhưng là một cuộc bắt chẹt chính trị. Khi bỏ một phần lãnh thổ, hắn tưởng đã có thể buộc các nước đồng minh cứ phải can thiệp ồ ạt, phải nối tiếp cuộc chiến bên hắn, phải giữ lời hứa và vì đó hắn đã chịu ký thỏa hiệp Ba Lê. Hắn quên rằng hồi tháng 12-74, người Mỹ đã cho hắn hiểu rằng nước Mỹ sẽ chẳng làm gì khi Phước Bình thất thủ và rằng sẽ chẳng bao giờ có chuyến máy bay B-52 thả bom xuống các sư đoàn Bắc Việt nữa. Theo ý nghĩa các thỏa hiệp vừa nói, nếu quân chính quy đối phương chiếm một tỉnh và tỉnh lỵ thì người Mỹ có thể can thiệp.
Có thể đã có sự thỏa hiệp như vậy vào tháng 10-1972, sau khi Kissinger đã cố gắng thuyết phục trong hai ngày để Thiệu chịu ký. Có lẽ Tướng Haig đã chuyển cho Tổng thống Nam Việt Nam một (hoặc ba) lá thư của Nixon mang lại “những hài lòng mật”.
Đại sứ Graham Martin chủ trương đường lối gì? Phải chăng hắn đã xui Thiệu khi bảo Thiệu ra lệnh rút lui: “Hãy làm cho quốc hội thấy rằng anh sắp mất tất cả, hãy đánh thức dư luận Mỹ. Hãy buộc nước Mỹ phải giữ những lời mà Tổng thống Mỹ đã hứa”? Người ta nói như vậy.
Thiệu hành động như thể sự thất thủ của các tỉnh không đáng kể nữa. Hắn ra lệnh rút lui, tuyệt đối tai hại trên phương diện quân sự, chẳng cần chú ý tới những hậu quả trên trận địa. Hắn chỉ cần chú ý tới những phản ứng của Mỹ. Hắn không biết rằng người ta không còn muốn nghe nói tới cái xứ Việt Nam “đẫm máu” nữa, rằng người ta coi Việt Nam đã mất rồi, rằng Ngũ Giác Đài đã xóa sổ Việt Nam và rằng người ta coi những tiếng kêu cứu của một dân tộc bị bóp cổ là xấc láo và tại sao dân tộc ấy cứ đòi giúp đỡ. Cái dân tộc ấy phải tự lo và đừng nên quấy rầy cái lương tâm của nước Mỹ khi nước Mỹ đang tái sanh trên những đổ nát của vụ Watergate và đang tìm cách tự thanh trừng. Sau cơ quan FBI đến cơ quan CIA.
Đó là hình ảnh của nước Mỹ, thứ hình ảnh mà Graham Martin không muốn cho Thiệu thấy cho đến lúc chót, lúc mà Martin nhận được lệnh đẩy Thiệu ra ngoài.
Đối với Martin, nhà ngoại giao chuyên nghiệp, Việt Nam không phải là một nhiệm sở thường, thí dụ như Vọng Các. Martin đã ở đó và đã làm việc khá tốt đẹp. Con trai của Martin đã chết ở Việt Nam và hắn coi cuộc chiến tranh này là một chuyện cá nhân của hắn. Đó là sự lựa chọn tồi nhất trong hoàn cảnh hiện tại.
Martin thay thế Bunker sau khi ký thỏa hiệp Ba Lê, và giữ vai trò người cha già bên cạnh Thiệu, vai trò mà Tổng thống Nam Việt Nam không thể không cần. Và Martin thành công. Thành công quá mức vì rằhg khi đầu độc người khác thì hắn tự đầu độc luôn.
Năm nay 62 tuổi, Martin có dáng dấp rất bệ vệ: thân hình cao dong dỏng, nét mặt từng trải, một thứ cao giá nhưng lại thất bại trong cái không khí tận thế này.
Thí dụ hắn nhất định giữ một cái cây lớn ở phía sau Sứ quán Mỹ, đó là cái cây cản trở sự đáp xuống của trực thăng. Hắn giữ cái cây ấy vì số nhân viên an ninh lợi dụng đêm tối để chặt đi. Có những toán cảm tử sẽ tìm cách lợi dụng ánh trăng để chặt cái cây ấy bằng những cưa nhỏ.
Hắn đã đồng hóa cái cây ấy với Việt Nam. Cũng như Thiệu đồng hóa ngôi mộ của cha Thiệu với nước Việt Nam. Và Martin làm như thế trong khi vẫn giữ bề ngoài của một người ngoại giao lạnh lùng và khả kính. Cũng như Thiệu làm ra vẻ giữ được sự bình tĩnh để che dấu sự điên rồ lúc miền Nam sụp đổ.
Các nghị sĩ đến Việt Nam tìm hiểu tình hình đã nhận thấy điều ấy và ngày 5-3-75, một người trong bọn họ nói với Ford: “Có một điều mà tất cả chúng tôi đều đồng ý: Đại sứ của chúng ta tại Việt Nam là một tai họa. Ông ta còn cố gắng đứng lại. Về thể chất thì ông ta đang ở tình trạng tồi.”
Graham Martin đang ở đầu giường của con bịnh Nam Việt Nam giống như một thầy thuốc biết con bệnh của mình đã hết thuốc chữa nhưng cứ tiếp tục nói dối để giữ vững tinh thần con bệnh. Thế mà vì cứ lập lại mãi những lời nói dối ấy, thầy thuốc lại bắt đầu tin ở những lời nói dối của chính mình.
Và khi người ta yêu cầu Martin chuẩn bị cuộc rút những người Mỹ thì hắn lại trì hoãn. Hắn không muốn bỏ con bệnh và muốn giữ lại tất cả số nhân viên ở gần hắn.
Một thí dụ khác về bệnh mơ ngủ của Martin: trong khi sự sụp đổ đã hoàn toàn, trong khi hàng ngàn người tị nạn đã lên đường thì hắn gởi về Hoa Thịnh Đốn nhiều bức điện tín dài yêu cầu khẩn cấp “Thực hiện các chương trình phát triển kinh tế dài hạn cho Việt Nam”.
Bị thiếu ngủ, thần kinh căng thẳng, uống rất nhiều thuốc, trở nên đa nghi và lầm lì, hắn không muốn gặp những người cộng sự nữa. Hắn lên tiếng, hắn hành động nhân danh một thứ nước Mỹ này không còn nữa, một nước Mỹ cam kết ở Việt Nam, nước Mỹ của Nixon, nước Mỹ trước khi có trận hồng thủy, trước khi có vụ Watergate. Cũng như trong bài diễn văn chót, Thiệu có nói tới một Nam Việt Nam không còn nữa với các thỏa hiệp Ba Lê và vài ngày trước khi từ chức, tuy Saigon đã bị vây chặt rồi mà Thiệu còn hứa sẽ chiếm lại những tỉnh đã mất.
Chính trường sắp được khai quang cho Minh Cồ. Tôi đã tới nhà riêng của ông ta. Ông ta lập chính phủ. Hôm hay, tôi phải gặp lại ông ta… nếu toán chuyên viên của tôi tới nơi. Ông ta sẵn sàng đọc một lời tuyên bố.
Khi đi ăn điểm tâm, tôi được biết rằng hối suất đồng mỹ kim là 4.000 đồng.
Ngân hàng Chase Manhattan đã quyết định di tản số nhân viên đi Phi Luật Tân, dĩ nhiên đó là nhân viên cao Cấp. Nhân viên bản xứ được một tháng lương và lời chào bye bye. Có 83 nữ nhân viên làm việc cho ngân hàng này. Bộ “tham mưu” của ngân hàng Mỹ Quốc (Bank of America) đã chuồn rồi và để cơ sở lại cho người Việt Nam quản trị. Thân chủ tới đòi rút tiền ra. Họ đang hoảng hốt. Ngân hàng quốc gia đã cho biết sẽ bảo lãnh các trương mục của họ nhưng vẫn không loại trừ được sự kinh hoàng. Các ngân hàng Mỹ hoạt động tại Saigon đóng cửa mà không cho các thân chủ của họ biết, mà cũng chẳng thông báo cho các ngân hàng Việt Nam có liên hệ giao dịch với các ngân hàng Mỹ. Quyết định tàn nhẫn ấy đã gây ra cơn sốt rút tiền. Trong những ngày cuối tháng Tư, trong vòng bốn mươi tám giờ, người dân Saigon đã rút 40 tỉ bạc, tương đương với sáu mươi triệu mỹ kim.
Ngoại trừ hai hãng máy bay Pháp là Air France và UTA, và trừ hãng Hàng Không Việt Nam, các hãng máy bay ngoại quốc trước đây có trạm tại Saigon đều ngưng trạm hoạt động tại Saigon. Các hãng ấy nói là vì lý do an ninh (Pan Am, China Airline, Cathay Pacific, Singapore Airline và Thái International).
Báo Việt ngữ loan tin:
“Người ta cải chánh tin Tổng thống Hương bị áp lực của các đại sứ Pháp và Mỹ đã phải mời Minh Cồ ra làm quốc trưởng”. Đó là lối đính chánh ngu xuẩn vì Tướng Minh đang lập chính phủ của ông ta.
Một biện pháp lớn đã được đưa ra: “Các công sở sẽ làm việc ngày 1-5”.
Thật ra thì chẳng còn chính phủ nào nữa. Cũng không còn được một nội các để giải quyết các việc thông thường. Cái ông già Hương bám lấy một điều không tưởng.
Ngày hôm qua, ông ta còn đòi nhạc cử bài quốc ca lúc ông đi vào tòa nhà Thượng viện. Ông ta đã được toán lính trong quân phục trắng dàn chào nhưng những đơn vị phục kích mặc áo giáp và đội nón sắt đã phải bố trí ở các ngã đường chung quanh. Sẵn sàng chiến đấu. Cộng quân đã ở trong tầm đại bác.
Tôi có mặt trước bài diễn văn của ông ta.
“Tôi yêu cầu quốc hội giúp tôi chỉ định một người khả dĩ thương thuyết được với phía bên kia”. Chỉ còn có Minh Cồ. Nhưng Hương muốn trao quyền cho Trần văn Lắm, Chủ tịch Thượng viện “Vì ông ta thay mặt cho sự hợp pháp của nền cộng hòa”… Ông ta đã ký thỏa hiệp Ba Lê, và nhất là vì Hương không chịu nổi Tướng Minh.
14 sư đoàn Bắc Việt đã ở cửa ngõ Saigon. Trần văn Đôn, ông Tướng có làng Tây cũng lại mon men. Dường như ông ta nói là có tiếp xúc (với bên kia).
Minh Cồ và cái lực lượng thứ ba hoặc “con đường thứ ba” do ông ta đại diện có giá trị gì?
Một vài nhóm có ảnh hưởng nhưng là tặi Ba Lê, như “Các Lực Lượng Tự Do của Việt Nam”, “Các Lực Lượng Dân Chủ Và Hòa Bình”, “Mặt Trận Quốc Gia Cho Hòa Bình và Trung Lập của Nam Việt Nam”, “Hội Phật Tử Hải Ngoại”, “Phong Trào Hòa Giải Quốc Gia” và “Hội Phụ Nữ Quyền Sống Việt Nam”. Tất cả chỉ chừng vài ngàn đoàn viên, phần nhiều là Bộ Tham Mưu. Tôi quên mất cái Lực Lượng Hòa Giải Quốc Gia của Nghị sĩ Vũ văn Mẫu, lực lượng không được đa số tán thành. Chỉ là những nhóm và những hội của những người lưu vong.
Đó là chủ thuyết mơ ngủ, những cái bóng, những sự chia rẽ và những sự cãi cọ cá nhân, nhóm này ganh ghét nhóm kia, đôi khi vì tôn giáo hoặc vì tiền bạc. Ở trên tất cả những thứ ấy có một nhân vật vừa không dứt khoát vừa can đảm, không giật giây nhưng lại muốn để cho người khác lôi kéo: Dương văn Minh.
Ông ta 59 tuổi. Đối với người Việt Nam thì đó là người to con cho nên mới có cái tên là Minh Cồ. Chơi quần vợt giỏi và chú ý tới sự huấn luyện thể chất. Ông ta trồng hoa lan và là một trong những người chơi sành hoa lan và nuôi các thứ cá lạ trong những bể cá tinh vi.
Minh là người thuộc thành phần tiểu tư sản thân Pháp và nói tiếng Pháp của tỉnh Mỹ Tho, tỉnh được Pháp hóa nhiều nhất của Việt Nam cùng với Saigon. Gia nhập quân đội Pháp từ năm 1940, tốt nghiệp thiếu úy năm 1942. Mang cấp Trung tá vào lúc có trận Điện Biên Phủ. Theo học và tốt nghiệp trường Chiến Tranh của Pháp tại Ba Lê. Thăng cấp Tướng năm 1955 và giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng năm 1959. Được coi là một quân nhân tốt, không làm chính trị. Có lẽ tại vì ông ta không làm chính trị nhiều và không chịu gia nhập đảng Cần Lao như nhiều người khác đã dựa vào đảng ấy để leo lên. Và cũng tại vì ông ta được sự ủng hộ của quá nhiều người. Năm 1962, Diệm gạt ông ta ra và cho giữ chức vụ tượng trưng có nhiều thời giờ nhàn rỗi, “Cố Vấn Tại Phủ Tổng Thống”. Sáng nào người ta cũng thấy ông ta chơi quần vợt tại sân Câu Lạc Bộ Thể Thao Sài Gòn. Thường chơi với những cây vợt giỏi của sứ quán Mỹ. Người ta đã quyết định dùng ông để lật đổ chế độ. Nhưng ông ta là người chủ trương sự hợp pháp cho nên người ta phải thúc đẩy ông ta.
Ngày 1-11-1963, ông ta cầm đầu các tướng lật đổ Diệm và khá ngạc nhiên khi tự thấy mình là Chủ Tịch Hội Đồng Quân Nhân và Cách Mạng rồi làm Quốc trưởng.
Hồi đó, tôi hay được gặp ông ta. Ông ta rất mong muốn hòa bình nhưng không phải bằng bất cứ giá nào, và mạnh mẽ phủ nhận chiêu bài trung lập.
Tại văn phòng Bộ Tham Mưu, ông ta nói với tôi:
“Phải làm cuộc đảo chánh, nếu không thì chúng tôi sẽ nguy… Làm sao quí vị muốn chúng tôi có hòa bình, muốn chúng tôi đạt tới thỏa hiệp với miền Bắc khi chúng tôi còn ở thế yếu? Thỏa hiệp như thế là để cho chúng tôi bị xé nát. Chủ nghĩa trung lập chẳng có nghĩa gì và chủ nghĩa ấy chưa bao giờ được coi là một lập trường tốt để mà nói chuyện với cộng sản.
Nhưng đối với nhân dân và tuy không muốn nhưng ông ta đã trở thành biểu tượng hòa bình. Ông ta được hoan nghênh ở khắp nơi. Được hoan nghênh ồn ào quá.
Ngày 31-1-64, người Mỹ bực tức nên cột cho ông ta cái tội muốn nói chuyện với miền Bắc, điều ấy không đúng, rồi họ dùng một thứ đồ bỏ là Tướng Khánh để lật đổ ông ta.
Đến cuối tháng Mười, ông ta bị đầy đi Thái Lan. Được coi như một đại sứ nhưng không có chức vụ. Ông ta sẽ ở đó bốn năm, đọc sách nhiều, buồn phiền và ít tiếp khách. Rốt cuộc, đến tháng 10-1968, Thiệu chịu cho ông ta trở về Saigon và đề nghị dùng ông ta làm cố vấn cho Phủ Tổng thống. Đã biết cái trò ấy rồi nên ông ta từ chối. Ông ta không làm chính trị và trở thành một thứ người hiền.
Rồi đến năm 1971, ông ta ra khỏi sự ẩn dật và sau khi do dự rất lâu, ông ta tranh cử tổng thống chống lại Thiệu. Nhưng lại rút lui, viện cớ rằng cuộc bầu cử ấy là một trò hề. Tại Việt Nam và tại toàn thể vùng Đông Nam Á, luôn luôn có cái trò ấy. Luôn luôn có bài ca do dự.
Thiệu đắc cử và Tướng Minh trở lại với hoa lan và với cá. Ông ta tìm cách lấy lại “thân chủ của ông ta” trong giới quân nhân vì về sau, ông ta đã hiểu rằng không có quân đội thì không thể làm được gì. Nhưng ông ta chỉ có thể đưa ra những lời nói tốt trong khi Thiệu trả tiền mặt.
Khi gặp lại ông ta, Tướng Minh giải thích với tôi rằng ông ta ghê tởm chính trị, nhất là khi giới quân sự làm chính trị, rằng ông ta chỉ muốn phục vụ xứ sở và khi nào cần đến ông ta thì lúc nào ông ta cũng có mặt.
Là một quan sát viên sáng suốt, ông ta lại ít khi dứt khoát khi hành động. Ông ta theo lời khuyên của người này người kia. Người ta tưởng rằng ông ta sắp nói, sắp làm gì nhưng rồi ông ta giữ im lặng.
Giờ của ông ta vừa điểm. Ông ta biết rằng lần này, chỉ có ông ta mới có thể không phải là cứu được Nam Việt Nam nhưng ngăn chận được sự tàn phá Saigon. Vì rằng miền Nam Việt Nam chỉ còn có Sài Gòn, một thành phố gồm bốn triệu người và còn bị những người tị nạn bao vây vì người ta không cho họ vào thành phố và còn có những đơn vị cộng quân mà người ta không thể ngăn lại được.
Tôi chăm chú đọc tờ Courier d’Extrême Orient, một trong những thứ tiêu khiển mà tôi ưa nhất. Trong số những lời đính chính và những tin thất thiệt, tôi thấy có lời đính chính ở một khoảng lớn có đóng khung của ông Lê văn Hộ Gustave:
“Trong những ngày gần đây, có những tin đồn phóng đại đã được tung ra hầu làm hại uy tín và danh dự của gia đình chúng tôi. Một vài kẻ xấu mồm đã tung tin rằng có những vụ cướp và hãm hiếp xảy ra tại nhà hàng Roches Noires tọa lạc tại Vũng Tàu. Để trả lời những tin đồn không xứng đáng đối với người lương thiện chúng tôi khẳng định đính chính rằng không hề có cướp hoặc hãm hiếp. Chúng tôi đang sống yên ổn như quí vị. Mặc dầu có những tin đồn ác ý kia, nhà hàng của chúng tôi tiếp tục phục vụ các thân chủ quý mến của chúng tôi như trong quá khứ. Là người mã thượng, tôi tha thứ những tin đồn đưa ra trong những phút lầm lạc và yêu cầu tác giả những tin đồn ấy nên có một chút lý trí và lương thiện để rút lại những lời dối trá ấy, hầu khỏi làm hoen ố gia đình chúng tôi và khỏi phá hoại việc buôn bán của chúng tôi”. Ký tên: Lê văn Hộ Gustave, Giám dốc nhà hàng Roches Noires Vũng Tàu.
Lại một câu chuyện bôi bẩn nhau theo lối Việt Nam mà nếu biết được lý do bên trong thì chắc lý thú lắm.
Ở vài dòng xa hơn nữa:
“71 người đã được di tản từ Saigon đi Tân Gia Ba sau khi sứ quán Anh quốc tại Saigon tạm thời đóng cửa.”
Rồi đến số tử vi cho ngày Chủ nhật 27:
“Hãy lập một chương trình rồi giữ vững lấy nó. Anh sẽ đi tới sự bối rối nếu anh nghe theo quá nhiều người hoặc muốn thực hiện quá nhiều thứ. Một sự thay đổi nhẹ nhàng trong thói quen sẽ có ích. Đời sống vật chất: anh sẽ hơi ngạc nhiên. Không khí không được sáng sủa. Anh tiên đoán những sự thay đổi ấy. Đường lối tốt nhất là hãy sống từng ngày. Đời sống xã hội: anh sẽ bị cám dỗ muốn thay đổi chỗ ở. Đừng đổi chỗ trước Giáng Sinh. Phải tổ chức lại đời sống gia đình của anh. Nếu chưa lập gia đình thì hãy giữ tình trạng độc thân thêm một năm nữa. Gắn bó ngay bây giờ là không hợp lý. Hơi căng thẳng về mặt nhân sự. Anh có một vấn đề cần phải giải quyết, anh sẽ tìm được giải đáp ít ngày trước Giáng sinh. Nếu bình tĩnh và cương quyết thì mọi sự sẽ xong xuôi.”
Christian Hoche của tờ Figaro và Michel Laurent, nhiếp ảnh viên của hãng Gamma, đến ngồi chung bàn với chúng tôi. Họ còn trẻ và đầy hăng hái. Họ cười khi đọc mục tử vi.
Cùng với nhóm Moscardo của hệ thống truyền hình số 1, họ đi coi xem những gì đang diễn ra trên đường từ Xuân Lộc đến Trảng Bom. Chúng tôi vẫn cho toán chuyên viên của chúng tôi tới. Nếu họ tới được thì chúng tôi có lẽ sẽ đi về hướng đó vì theo một vài nguồn tin thì các đơn vị tự vệ Công giáo chiến đấu dữ dội.
Viên Thiếu tá Việt Nam Cộng hòa phải đi theo các, ký giả tỏ vẻ lo ngại. Sau hai ngày ngừng đánh, cộng sản lại vừa tiếp tục tấn công.
Chúng tôi nghĩ rằng miền Nam còn giữ được bốn sư đoàn chính qui, một sư đoàn Biệt Động Quân, một sư đoàn Dù và một lữ đoàn Thiết Giáp. Tất cả chừng 100.000 người đối đầu với 15 sư đoàn Bắc Việt bao vây Saigon từ 18-4 chưa kể các trung đoàn Pháo. Nếu tính bằng con số thì một trăm ngàn người của Bắc Việt đang bao vây. Vậy thì bề ngoài, cuộc chơi không đến nỗi quá chênh lệch. Nhưng quân đội miền Nam đã bị tan rã, mất tinh thần, và lại còn mất đi một phần lớn các cấp chỉ huy và các khí giới nặng.
Coutard và tôi đi về phía bến tàu. Một hỏa tiễn 122 ly đã rớt vào khách sạn Majestic, làm hư hại sân lộ thiên. Tôi biết rằng Tướng Vanuxem, bạn và cố vấn của Thiệu ngụ tại khách sạn này và đang tìm nơi khác.
Sau nhà ga xe lửa trung ương, cả một khu bốc cháy vì có ba hỏa tiễn rớt vào khu này. Có chừng một chục người chết. Người ta nghe tiếng đại bác ở xa xa. Đại bác 155 ly của Mỹ đáp lễ đại bác 130 ly của Nga.
Chúng tôi ăn cua rang muối tại Câu lạc bộ Bến tàu. Chúng tôi tìm hiểu xem tại sao mà quân đội Nam Việt Nam, một quân đội mạnh nhất, được trang bị tốt nhất Đông Nam Á, trang bị bằng một lực lượng không quân hùng mạnh, lại có thể sụp đổ trong vòng một tháng. Ngày nay, quân đội ấy chỉ còn bảo vệ được ngoại ô Saigon sau khi đã mất toàn thể miền Nam trừ vài tỉnh phía Nam nhưng các tỉnh này cũng lại có thể thất thủ bất cứ lúc nào. Những sự kiện và những con số:
Ngày 9-3, sau một đợt lắng dịu ba tháng, vào lúc cộng sản mở cuộc tấn công mang tên là chiến dịch Hồ Chí Minh, đây là các lực lượng đối đầu nhau. Kể như gần tương đương. Nam Việt Nam có 270.000 quân chính qui, 300.000 địa phương quân, 200.000 nghĩa quân nhưng lực lượng này không đóng góp được gì nhiều. Không quân có 60.000 người và hải quân 40.000 trong số đó có 370 chiếc khu trục oanh tạc cơ. Nhưng đáng buồn là chiến cụ lại được bảo trì rất tồi và hơn một phần ba số máy bay phải nằm để sửa chữa.
Sự bất lợi lớn của quân đội ấy:không có trừ bị, vì đã phải dàn tất cả ra trận địa.
Cộng sản có 24 sư đoàn gồm từ 6.000 cho đến 8.000 người cho mỗi sư đoàn (Theo nguyên tắc thì mỗi sư đoàn Nam Việt Nam có 12.000 người). Lại còn có 55 trung đoàn độc lập của chiến xa, pháo binh và hỏa tiễn. Theo tổ chức của Nga. Không có máy bay.
Tóm lại, Nam Việt Nam đưa 270.000 quân để đương đầu với 230.000 quân của Bắc Việt và Việt cộng. Các đơn vị phục kích của Nam Việt Nam rõ rệt là trên chân các đơn vị của Hà Nội, bộ binh thì hơi kém một chút nhưng có khí giới tốt hơn. Xe tăng Nga tốt hơn xe tăng Mỹ nhưng đối với phần còn lại, hai bên ngang nhau, sự yếu kém về thiết giáp của miền Nam được bù lại bằng lực lượng không quần mạnh và nhiều máy bay trực thăng.
Ngang nhau vào lúc bắt đầu thảm kịch. Bộ tư lệnh cao cấp của Nam Việt Nam không có trong khi đối phương có những cấp chỉ huy thiện chiến biết rành binh thuyết Clausewitz, Tôn Tử và Mao Trạch Đông. Ở sau họ có cả một quá khứ chiến tranh lâu dài và một ông thầy uy tín, Võ Nguyên Giáp. Giáp đau và mệt mỏi nhưng vẫn là hắn điều khiển.
Tại miền Nam, không có Bộ Tham mưu. Thiệu đã loại bỏ Bộ tham mưu vì sợ đảo chánh. Sự thăng cấp tướng là vì lý do bồ bịch hoặc hối lộ. Chủ nghĩa độc tài ở khắp nơi. Chiến lược của Thiệu rất giản dị: giữ vững tất cả lãnh thổ để Việt cộng không thể chiếm một miếng đất nào lập chính phủ. Chiến lược ấy đòi hỏi rất nhiều quân để dàn ra.
Địa phương quân được giao nhiệm vụ lãnh thổ và lực lượng có phẩm chất tầm thường và các tư lệnh vùng lại dùng quân chính qui để giữ đất đai đó, do đó, tự chặt mất lực lượng trừ bị. Quân chính qui phải đảm nhiệm những nhiệm vụ nặng nề và giữ vai trò cảnh sát. Giữ cầu, đường, đèo, và thành phố. Trái lại, cộng quân có thể điều động khắp nơi bất cứ lúc nào và tập trung quân dễ dàng. Ở khắp nơi, cộng quân giữ thế công. Ở khắp nơi, quân miền Nam bị cột vào vai trò phòng thủ.
Từ năm 1972, quân đội Saigon chiếm đóng các căn cứ và không nhúc nhích nữa, ngay cả đối với Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân. Trừ các đơn vị Nhảy Dù, các lực lượng khác nằm bất động. Khi đóng đồn, các đơn vị nằm yên một chỗ tới ba năm. Gia đình lớn nhỏ kéo nhau tới ở chung. Trong các trại giống như những bức thành bằng vỏ ốc, người ta nuôi gia súc, trồng rau, buôn bán nhỏ, gạt bỏ mọi hoạt động quân sự nào mà người ta coi là nặng nhọc quá: tập dượt, tăng cường sự phòng thủ, điều động. Như thể là người Mỹ vẫn còn ở đó, sẵn sàng can thiệp nếu có chuyện gì xảy ra.
Cuộc tấn công của cộng sản có mục tiêu thứ nhất là cắt đứt vùng cao nguyên ngang với Ban Mê Thuột rồi chiếm Pleiku và Kontum. Cắt được miền Nam làm hai rồi thì sẽ chiếm Huế và Đà Nẵng. Nhưng đó là dự trù cho tháng Mười. Nếu đợt tấn công đầu tiên thành công thì các viên tướng của Hà Nội dự tính cho hết mùa mưa để đến năm tới mới bao vây Saigon. Nếu mọi sự tốt đẹp thì Hà Nội mong chiếm được Saigon vào tháng 5-1976.
Cộng sản chờ đợi những thiệt hại rất nặng và tin rằng quân của Thiệu sẽ kháng cự mạnh.
Tết 1968, cộng sản đã phân tách tình hình quá lạc quan, còn lần này thì chúng lại quá bi quan.
Ngày 9-3, cộng quân cắt các trục lộ, đường 19 nối Qui Nhơn với Pleíku, đường 21 giữa Ban Mê Thuột và Nha Trang. Trong đêm 9 rạng ngày 10, Ban Mê Thuột bị tấn công. Sáu sư đoàn Bắc Việt đánh ba sư đoàn Nam Việt Nam.
Trong khung cảnh ấy, người ta được biết vụ ám sát Paul Léandri, Phó Trưởng phòng Thông tấn của hãng AFP tại Saigon.
Ở Saigon, mãi tới ngày 12 tháng 3 người ta mới được biết cuộc tấn công vào Ban Mê Thuột. Người ta không biết các chi tiết. Léandri đánh đi bức điện tín sau đây:
“Một Linh mục Việt Nam, nhân chứng bằng mắt những cuộc chiến đấu tại Ban Mê Thuột, đã xác nhận hôm thứ Tư tại hãng AFP rằng cuộc tấn công vào Ban Mê Thuật là do các lực lượng người Thượng tự nhận là thuộc nhóm Fulro (Mặt Trận Thống Nhất Giải Phóng Các Chủng Tộc Bị Áp Bức, Front Uniflé Pour La
Libération Des Races Opprimées) và các đơn vị của Mặt trận Giải Phóng miền Nam thực hiện. Linh mục này trốn được khỏi Ban Mê Thuột và nói rằng giao tranh đã khởi đầu lúc ba giờ sáng. Dân chúng tưởng rằng đây là một cuộc nổi dậy của người Fulro giống như hồi 1963 và 1964. Lúc đầu, dân trong tỉnh không hoảng hốt và có tới 70% dân số là người Thượng. Nhưng đến lúc bình minh thì có thêm những đơn vị Việt cộng có chiến xa đã nhập cuộc. Theo Linh mục nói trên thì không hề có quân Bắc Việt mà chỉ có quân Fulro và các đơn vị của Việt cộng, tất cả thuộc các trung đoàn địa phương. Lúc đầu, dân chúng chỉ muốn chạy ra các khu rừng lân cận. Một số thoát được, một số khác bị chết vì đạn. Vì cường độ giao tranh gia tăng, các gia đình đành ngồi yên trong nhà và dùng đồ đạc để chặn các cửa ngõ. Linh mục nói rằng nhà thờ và nhà của dân bị hư hại vì trái phá. Tình hình yên tĩnh tại các đồn điền ở chung quanh Ban Mê Thuật khi vị Linh mục này đi ngang qua. Trong lúc ấy giao tranh diễn ra ở ngay trung tâm tỉnh lỵ. Theo Linh mục này thì chiến thuật của cộng sản tại cao nguyên đã phong tỏa kinh tế ở vùng này bằng cách chặn các ngả đường đưa tới Pleiku và Kontum để cô lập các tỉnh ấy. Từ lúc tấn công vào Ban Mê Thuột khởi đầu, một vài quan sát viên đã nói tới sự hiện diện và sự gia tăng số người tự nhận là Fulro. Trong khi chờ đợi các tin tức khác thì có thể là những người đầu tiên tiến vào Ban Mê Thuột là người Thượng. Chính họ đã mở đường cho quân cộng sản địa phương. Còn theo lời của nhân chứng này, không thấy có quân Bắc Việt.”
Bản tin ấy có một phần không đúng sự thật và sẽ gây ra cái chết của Léandri. Léandri là người rất ưa chuộng sự thật và anh ta sắp chết vì một bản tin sai sự thật một phần. Anh ta đã bị lừa.
Vị Linh mục Việt Nam không có thật. Người ta đã kể cho anh ta nghe câu chuyện cũa một trong những người sống sót là Linh mục Bianchetti nhưng ; đã bịa đặt thêm theo đường lối tuyên truyền của cộng sản. Không có vấn đề giải phóng thành phố mà chỉ có xâm chiếm.
Và không có quân Fulro. Không có các đơn vị địa phương mà chính là sư đoàn 320, từng dự trận Điện Biên Phủ cùng với sư đoàn 308. Với chiến xa, pháo binh và vũ khí tối tân. Chúng tôi có lời chứng đầy đủ của Cha Bianchetti vì người có mặt tại chỗ. Linh mục này biết Việt Nam rất rành và là một trong những người lập ra tổ chức Fulro. Fulro do các Linh mục cùng với những chủ đồn điền lập ra để tìm cách cứu các bộ lạc Thượng khỏi bị áp chế của Nam lẫn Bắc Việt Nam. Có lúc CIA đã tìm cách khai thác phong trào ấy và dùng các lực lượng đặc biệt. Nhưng dưới áp lực của chính phủ Saigon, các nhân viên CIA đã phải để mặc cho những người Thượng đói. Nhưng tại Ban Mê Thuật, còn có một văn phòng của người Mỹ, một văn phòng dân sự gồm có một nhóm quan sát viên để thâu thập tin tức cho sứ quán Mỹ. Theo nghĩa quân sự thì đó là một “Trạm nghe ngóng” Lúc ba giờ sáng ngày 10-3-1975, nhiều người Thượng đến báo tin cho người Mỹ và cho chính quyền địa phương biết có ị nhiều chuyện lạ trong rừng. Họ trông thấy ở cách mười hai cây số nhiều chiến xa lớn di chuyển theo các đường mòn của những người lấy củi. Và ở phía sau là cả một sư đoàn quân Bắc Việt. Lập trường của người Thượng rất giản dị: họ không theo Bắc hoặc Nam Việt Nam và chỉ mong được đứng ở giữa. Nhưng có một vài thành phần
theo Bắc Việt đã cung cấp người dẫn đường cho quân Bắc Việt.
Ban Mê Thuột do một trung đoàn bộ binh và nhiều tiểu đoàn Biệt Động Quân chiếm đóng. Ngay sau khi số lính Mọi tới thì có một cuộc pháo kích liên tục kéo dài cho tới bảy giờ sáng. Cha Bianchetti được người Thượng hướng dẫn đi vào rừng cùng với họ. Chỉ có cha là thoát được cộng quân.
Đến bảy giờ thì các xe tăng tiến vào thành phố. Giao tranh hai giờ tại sân bay. Hậu trạm của sư đoàn 23 bị tràn ngập và tỉnh trưởng cùng các quận trưởng chuồn rất mau. Bọn chúng chỉ nhậm chức để làm tiền chứ không phải để chiến đấu và lại càng không phải để chết. Viên chỉ huy quân sự là Tướng Phú, một quân nhân tốt nhưng không được sủng ái vì không ở trong đảng của bọn tham nhũng.
Cho rằng ông ta không làm hại về mặt chính trị và là quân nhân tốt, người ta giao cho ông trách nhiệm phòng giữ cao nguyên với quân số không đầy đủ. Phú đã mệt mỏi vì bệnh tật, không nhanh nhẹn và không có khả năng ứng biến. Hai trung đoàn giữ Pleiku và Kontum được đưa về và thay bằng các đơn vị Biệt Động Quân. Dân chúng đa số là gia đình quân nhân đã chạy trốn, khoảng hai mươi lăm ngàn người đàn bà, trẻ em và ông già cùng với các quân nhân của sư đoàn 23 đang được gom góp lại cách Ban Mê Thuật khoảng ba mươi cây số về phía tây.
Đây không phải là một đạo quân nữa mà là một đàn cừu. Không có mặt những cấp chỉ huy. Cộng quân bao vây họ. Người ta gọi không quân đến tới yểm trợ. Nhưng các phi công biết rằng cộng quân có súng phòng không rất mạnh: đại bác bốn mươi ly tự động, đại liên bắn mau và nhất là hỏa tiễn Sam.
Các phi công sợ quá nên thay vì yểm trợ gần mặt đất, họ từ trên cao khoảng mười ngàn thước yểm trợ đại khái. Sự can thiệp của họ chẳng giúp được gì.
Như vậy là chúng ta thấy khác xa với những điều do Léandri ghi lại khi anh ta đã làm được một việc là loan báo sự thất thủ của Ban Mê Thuột.
Ngày thứ Sáu 14, hai ngày sau khi anh ta gởi bản tin đi, quyền giám đốc sở di trú ngoại kiều là Thiếu tá Mai đến hãng AFP gặp Léandri. sở cảnh sát hi vọng sẽ dùng lời đe dọa trục xuất để làm cho Léandri tiết lộ tên của vị Linh mục không có thật kia. Điều họ muốn biết không phải là Ban Mê Thuột đã mất mà là việc Fulro tham dự trận đánh. Léandri trả lời đang mắc kẹt vì công việc và chỉ có thể rảnh sau 18 giờ.
Đây là cách trình bày của chính quyền về cái chết của Léandri. Cách trình bày này cũng không đúng sự thật, như bản tin của Léandri.
Lúc 18 giờ, Léandri rời văn phòng AFP nhưng anh ta cẩn thận đã gọi điện thoại báo cho vài đồng nghiệp biết rằng anh ta bị cảnh sát gọi tới sở ngoại kiều. Người tài xế Việt Nam lái xe cho Léandri tên là Hùng. Từ lâu tại Việt Nam, anh ta vẫn bị bứt rứt vì khí hậu và yì những sự khó chịu mà các nhà báo ngoại quốc làm việc tại VN thường gặp. Trong lúc Léandri vào văn phòng của sở ngoại kiều thì tài xế Hùng đi dạo ở phía trước xe. Từ 19 giờ tới 19 giờ 30, từ bên trong sở ngoại kiều-, Léandri kêu điện thoại cho văn phòng AFP để báo cho người vợ biết rằng anh ta sẽ về trễ, kêu cho đại sứ Pháp Mérillon để cho biết anh ta đang ở sở ngoại kiều và có mặt tại tòa nhà 3018. Rồi anh ta lại kêu cho văn phòng AFP nói rằng anh ta đang bị cầm tù. Người ta dọa sẽ nhốt anh ta cả đêm và sẽ trục xuất anh ta bằng chuyến máy bay đầu tiên sáng ngày mai. Tuy nhiên viên tổng lãnh sự Pháp là De Beauvais, sau khi thử kêu điện thoại cho sở ngoại kiều, đã gửi một người cộng sự đến nơi này, đó là Morgan, một Pháp kiều sinh tại Á châu, và cũng là người đã gỡ rối cho tôi khi tôi tới Sàigòn.
Tại Pleiku còn năm liên đoàn Biệt Động Quân, một lữ đoàn Thiết giáp, tất cả các thành phần cơ giới của sư đoàn 23 BB, tất cả các đơn vị của địa phương và cơ cấu tiếp vận của một sư đoàn Không quân.
Mới vừa biết cái lệnh rút lui là mọi người đã rút trong một sự hỗn độn khủng khiếp. Một cuộc chạy tháo thân trong khi tình thế chưa có gì là đe dọa. Một đoàn hàng ngàn chiếc xe làm nghẹn cả quốc lộ 7 đưa tới Qui Nhơn và tới bờ biển. Dân và quân di chuyển lẫn lộn, xe kéo pháo binh lẫn với xe chở heo gà, xe thiết giáp lẫn với xe bò, trâu, công chức, cảnh sát, các bà nội bà ngoại và cô bác. Và cả một đạo quân con nít.
Thật là một cơ hội quá ngon cho cộng quân. Các đơn vị của sư đoàn 320 cắt đoàn xe: 3.000 chiếc xe và toàn thể vật liệu sẽ bị mất. Người ta sẽ thấy một lữ đoàn thiết giáp phải dừng lại trước một con suối nhỏ, chờ tới hai ngày để công binh làm cầu. Kế bên chỗ nước không sâu có thể băng qua nhưng chẳng có ai nghĩ tới. Khi cộng quân tới thì quân chính phủ bỏ xe tăng và các xe đại liên. Không chiến đấu. Gần như chẳng còn gì là sư đoàn 23 nữa, chẳng còn gì là quân trú phòng Pleiku và Kontum nữa. Và mới chỉ có ít đụng độ.
Trước thảm họa to lớn như vậy, Thiệu vẫn lại một mình quyết định đưa ba lữ đoàn Dù từ Huế về tăng cường cho Saigon. Đồng thời lại tuyên bố không bỏ Huế.
Sau cùng, hắn có một ý kiến. Bỏ hẳn tỉnh Quảng Trị rồi dùng sư đoàn Thủy Binh Lục Chiến có bốn lữ đoàn cùng với các đơn vị khác thay thế sư đoàn Dù để giữ cố đô.
Nhưng cái sư đoàn Thủy quân Lục chiến kia thay vì phải cực kỳ lưu động thì lại nằm yên một chỗ từ ba năm nay. Không nhúc nhích, không hành quân. Lại còn trở nên nặng nề và cồng kềnh. Vợ con lúc nhúc. Nói tới gia đình Việt Nam thì phải biết!
Khi lệnh được ban ra, có tới 100.000 người đi về Huế trong sự hỗn loạn cùng cực, quân đội bị dân chúng tràn ngập. Cộng quân rất khoái trá và mặc sức bắn bừa bãi vào đoàn người đó. Chỉ có vài người lính mỏi mệt là còn sống sót được và chạy tới bờ biển.
Một trung úy Thủy Quân Lục Chiến kể lại cho tôi nghe: Tướng tư lệnh biến mất, rồi đến các đại tá thì dùng trực thăng. Chẳng bao lâu chỉ còn những trung úy và đại úy và binh sĩ không nghe theo nữa vì họ còn phải lo cho vợ con và lo cướp bóc nữa.
Cả một tỉnh đi về phía nam. Có 500.000 người đi trên đường.
Người ta chết đói, chết khát. Cướp và hãm hiếp. Ai có khí giới trong tay thì dùng để mở đường. Ai cũng muốn về tới Đà Nắng.
Phía cộng sản thì đưa ra lời giải thích rằng khối dân chúng chạy như vậy vì họ sợ dội bom. Ai có thể dội bom? Người Mỹ? Không thể có được chuyện ấy. Phía Nam Việt Nam? Không quân Việt Nam tê liệt rồi. Ai cũng chạy trốn vì sợ người Bắc Việt và sợ Việt cộng vì bọn chúng đã nổi danh về tài tàn sát ồ ạt tại Huế năm 1971.
Đám người tị nạn cứ lớn lên như một cơn sóng gặp nước lũ, cuốn trôi và đánh chìm luôn cả những đơn vị nào còn muốn chống cự và muốn chiến đấu.
Ngày 26-3, quốc lộ I bị cắt. Huế thất thủ mà không có giao tranh. Thế mà hàng ngàn người đã chết vì Huế năm 1968.
Cuộc triệt thoái đã biến thành cuộc chạy mạnh ai nấy lo cho người ấy. Tại Đà Nẵng, ngoài số 391.000 dân cư, còn thêm một nửa triệu người tị nạn chồng chất nữa.
Ngày 28, cộng quân có các phật tử cầm cờ đi trước tiến vào căn cứ. Chẳng ai thèm chiến đấu để bảo vệ Đà Nẵng, một thời là phi trường hành quân lớn nhất lúc còn người Mỹ.
Không quân bay gấp rút, để lại tất cả vật liệu tại chỗ và một số máy bay.
Hiện tượng kinh hoàng tai hại đến nỗi cộng quân súng đeo vai mà chiếm được thành phố như Quảng Trị, Huế, Đà Nẳng là những nơi có đủ đồ tiếp tế và lương thực đạn dược để chống giữ được một năm, kể cả trường hợp bị nhiều lực lượng quan trọng bao vây. Và những nơi ấy đã từng được các đơn vị giỏi nhất của quân lực miền Nam bảo vệ. Thí dụ như sư đoàn I.
Cuộc tản cư Đà Nẳng, bằng máy bay Mỹ, các chuyến máy bay chót, các chuyến trực thăng chót sẽ gây ra những cảnh khủng khiếp. Từng đám người bám lấy chân trực thăng. Phải dùng báng súng đập nát những bàn tay ấy mới gỡ ra được. Những xác trẻ đẫm máu. Vì rằng cộng quân pháo vào đoàn người tị nạn để làm tăng thêm sự rối loạn.
Thiệu hoàn toàn mất sự kiểm soát. Hắn gởi một lữ đoàn Nhảy Dù từ Saigon đi Nha Trang để giữ thành phố ấy nhưng gởi đi rồi thì hắn quên luôn lữ đoàn ấy, mặc dầu lữ đoàn đã phản công rất anh dũng. Một nửa lữ đoàn bị thiệt hại.
Nha Trang thất thủ ngày 4-4.
Đến lúc ấy, Thiệu bám lấy Nha Trang. Hắn lại nướng mất một lữ đoàn Nhảy Dù nữa tại đây.
Thoạt đầu Hà Nội ngạc nhiên vì sự sụp đổ mau lẹ đó, nhưng rồi Hà Nội phản ứng ngay. Quyết định đánh mạnh để giáng cho Nam Việt Nam phát súng ân huệ. Bỏ hẳn kế hoạch trước, Hà Nội đưa hết tất cả các sư đoàn trừ bị xuống phía Nam, chỉ để lại một sư đoàn tại Hà Nội. Đó là cuộc xua quân vũ bão xuống phía Nam.
Phan Rang mất ngày 16-4. Phan Thiết ngày 20-4. Hàm Tân ngày 22-4. Nhưng tại Xuân Lộc, cộng quân bị sư đoàn 18 chận đứng. Cộng quân tấn công dữ dội để đánh bạt chiếc chìa khóa cuối cùng ở cửa ngõ Saigon. Nhưng đánh không được. Thế mà cộng quân đánh vượt qua vị trí ấy. Tại đây quân đội Nam Việt Nam đã xử dụng bom dưởng khí CBU làm cho nhiều ngàn cộng quân chết.
Bây giờ cộng qụân có 120.000 người để mở cuộc xung phong vào thủ đô miền Nam, và có một số sư đoàn chưa tham chiến, tất cả đều gồm từ 90% đến 95% người miền Bắc.
Những nguyên do của sự thất bại này: cơ quan chỉ huy hết lực, thêm vào đó, phải nói tới sự mệt mỏi của dân chủng cũng như quân miền Nam trước cuộc chiến tranh bất tận mà từ đây, họ sẽ phải chiến đấu đơn độc không có sự giúp đỡ của người Mỹ. Trong khi nước Mỹ bỏ rơi miền Nam thì phía Nga không ngớt gia tăng viện trợ cho Bắc Việt.
Trong lúc quân đội tan rã thì Thiệu biến mất. Hắn đi trốn và người ta tự hỏi hay là hắn tự tử. Thế rồi hắn tự nhiên tái xuất hiện trên máy truyền hình ngày 4 tháng 4. Hắn xử sự y hệt một cái xác không hồn. Với giọng nói buồn tẻ, mặt không hề tỏ vẻ tuyệt vọng hoặc bấn loạn, hắn tuyên bố quyết định bảo vệ những gì còn lại của lãnh thổ miền Nam Việt Nam và hắn lại còn hi vọng rằng sẽ lấy lại được phần đất đã mất. Hắn cải chánh tin nói có thỏa hiệp giữa chính phủ của hắn và bên kia hoặc có sự giàn xếp nào giữa các đại cường quốc để trao miền Trung cho cộng sản vì có lúc, thái độ kỳ lạ của hắn đã khiến cho người ta nghĩ như vậy. Hắn tái xác nhận cương quyết không nhường đất cho cộng sản và không bao giờ nhận một chính phủ liên hiệp với cộng sản.
Ngay ở trong sự bại trận, hắn còn từ chối những thỏa hiệp Ba Lê là thỏa hiệp mà dầu sao, hắn cũng đã ký, các thỏa hiệp mà bên này cũng như bên kia đều vi phạm nhưng Bắc Việt vi phạm nhiều hơn vì Bắc Việt lợi dụng thỏa hiệp ấy để đưa vào miền Nam toàn thể quân lực của họ: 20 sư đoàn, 600 xe tăng, và hàng ngàn đại bác đủ cỡ.
Nhưng nhờ tài tuyên truyền, và nhờ những người bạn trên thế giới, cộng sản Việt đã đóng vở kịch nạn nhân rất giỏi dầu rằng bọn chúng là kẻ xâm lăng và lại còn nại ra những nguyên tắc thiêng liêng của sự hợp pháp trong khi chúng chẳng cần gì tới sự hợp pháp.
Thiệu vẫn ngoan cố trong sự ngủ mơ của hắn. Hắn lải nhải: “Một ngày nào đó chúng ta sẽ lấy lại lãnh thổ đã mất, dầu rằng có phải chờ đợi mất nhiều năm”.
Hắn giải thích sự bại trận. Dĩ nhỉên là hắn chẳng có trách nhiệm gì. Tất cả đều do sự chủ bại, sự thiếu can đảm và thiếu cương quyết của một số cấp chỉ huy đơn vị.
Những sự yếu kém sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc và những đơn vị chiến đấu anh dũng sẽ được tưởng thưởng.
Nhà vua lõa thể mà chẳng ai dám nói gì.
Và hắn tiếp tục:
– Chúng ta có quân số cần thiết để chiến đấu. Chúng ta đang tổ chức lại một số đơn vị. Chúng ta sẽ thành lập nhiều đơn vị khác lớn hơn. Chúng ta sẽ có viện trợ quân sự quan trọng…
Thiệu vẫn tin ở sự can thiệp của người Mỹ và tin rằng Ford sẽ thực hiện những lời hứa bí mật của Nixon.
Hắn nói:
– Nhân dân Hoa Kỳ và quốc hội phải ý thức rằng phải làm một cái gì để nhân dân Việt Nam khỏi nghĩ rằng các đồng minh đã bỏ rơi họ…
Rồi bất ngờ, hắn tiết lộ ý tưởng thầm kín của hắn, sự bí mật về lệnh rút lui.
“Với 700 triệu mỹ kim chúng ta hiện có, chưa được phân nửa số viện trợ mà nước Mỹ đã hứa giúp, Nam Việt Nam chỉ có thể giữ được một nửa lãnh thổ. Tôi hi vọng rằng trong tương lai, người Mỹ sẽ hiểu rõ hơn.”
Đó là lối nói chuyện của kẻ bán ngựa nói với những người không còn là khách hàng nữa.
“Thưa các Ngài tại Hoa Thịnh Đốn, nếu quí ông cho tôi một tỉ rưỡi mỹ kim thì chúng tôi sẽ giữ toàn cõi miền Nam Việt Nam. Với 700 triệu mỹ kim, tôi có thể giữ được một nửa.”
Và trong buổi sáng Chủ nhật 27-4 này, tin tức đưa tới càng ngày càng tồi tệ. Cuộc tấn công của Bắc Việt tiến triển ở khắp nơi nhưng không gặp sự kháng cự nào mạnh.
Sư đoàn 18 giữ Xuân Lộc đã phải rút và hoàn toàn bị tan vỡ. Sư đoàn 5 cũng vậy. Để bảo vệ thủ đô chỉ còn có một sư đoàn, vài đơn vị Nhảy Dù và một số lính tự vệ chiến đấu của Hố Nai.
Lại có thêm những tin tức khác. Long Thành đã bị pháo dữ dội. Trường Thiết Giáp bị tấn công, vẫn giao tranh tại Trảng Bom. Đường số 4 đi Mỹ Tho và đi về vùng đồng bằng đã bị cắt tại nhiều nơi.
Chiếc máy bay Caravelle của hãng Hàng không Việt Nam vẫn không chịu đáp xuống Tân Sơn Nhất vì viên phi công Trung Hoa người Đài Loan sợ.
Tôi đi quanh chợ Bến Thành, vẫn có trái cây. Nhưng rau Đà Lạt không tới nữa. Tất cả đều yên tĩnh. Những mùi vị của Saigon: Hương thơm ngát của hoa, mùi cá, mùi thịt nướng và mùi béo của phở bò. Tiếng gõ lách cách của những người bán mì. Các cô gái mang bao tay trắng lái xe xì cút tơ, y phục giống như những con búp bê, áo trắng, quần lụa đen ống rộng, thân hình mảnh mai, mũi nhỏ, nụ cười xa xôi. Những cậu trai “cao bồi” mặc quần jean để tóc dài. Những con vịt nướng mỏng và bóng mỡ. Những trái bưởi, cam, dưa, những bó rau muống và những trái sầu riêng ăn thì ngon nhưng ngửi thật là khó chịu. Sao mà tôi yêu mến Saigon quá chừng!
Bầu trời đầy những đám mây dày. Chúng tôi đang ở vào mùa mưa, không khí oi bức ngột ngạt.
Quốc hội nhóm từ sáng nay. Sau mười giờ thảo luận, quốc hội đã biểu quyết một quyết nghị hai điểm tái xác nhận sự tín nhiệm Tổng thống Hương và mời ông ta “Chỉ định một nhân vật, nếu cảm thấy tình thế đòi hỏi, để thay thế Tổng thống đạt tới một nhiệm vụ hòa bình trong danh dự và trong phẩm cách và với sự chấp thuận của quốc hội.
Vẫn bắt chước văn thể của Pétain.
Morgan gặp Thiếu tá Mai và Léandri trong sân của sở ngoại kiều. Léandri phàn nàn là bị cầm tù. Anh ta yêu cầu viên tổng lãnh sự can thiệp ngay. Morgan đi tìm DeBaeauvais.
Sau 20 giờ, một nhân viên mặc thường phục ra lệnh cho tài xế xe của Léandri phải dời chiếc xe và đưa tới bãi đậu trước Tổng Nha cảnh Sát.
Quả thật là ở bên kia đường là cơ sở của các lực lượng an ninh gọi là cảnh sát đặc biệt và đó là những lực lượng thường được biết là có tiếng rất xấu.
Lần này viên Tổng Lãnh sự đi cùng Morgan tới sở ngoại kiều. Sĩ quan trực cho biết rằng Léandri đã lên xe đi rồi. Đó là lời nói dối.
Qua những cử chỉ bí mật mà viên sĩ quan trực trao đổi với vài người đứng ở đó, Morgan tin rằng Léandri chưa đi và có lẽ đã bị đưa tới ban an ninh. Viên Tổng Lãnh sự và Morgan yêu cầu được gặp Đại tá Phạm Kim Qui hoặc Thiếu tá Mai hoặc bất cứ một sĩ quan nào hữu trách. Viên sĩ quan trực thoái thác bằng cách nại lý do không có số điện thoại, rằng máy của hắn không thể liên lạc được trong thành phố. Trở về văn phòng viên Tổng Lãnh sự được các ký giả cho biết rằng Léandri vẫn chưa trở về.
Trong khi đó thì tài xế Hùng được lệnh mang xe trở lại. Léandri ngồi bên tài xế trong khi Thiếu tá Mai cùng với hai người cộng sự ngồi ở ghế phía sau. Họ vào bên trong sở cảnh sát tư pháp – gồm một loạt nhà gỗ rải rác theo chiều lối đi. Ngồi ở trước cửa cùng với một cảnh sát viên, trong khoảng từ 20 giờ tới 20 giờ 30, Hùng trông thấy Léandri ra khỏi một căn nhà gỗ và đi tới một căn nhà khác, rồi Léandri đi tới đi lui, hai tay khoanh trước ngực trong vòng từ năm tới bẩy phút và sau hết, đi vào trong khu nhà. Một lát sau, Hùng thấy Léandri ngồi ở xe cho xe chạy lui thật mau rồi lái xe ra cửa chính để ra ngoài. Hùng thấy tám hoặc mười viên cảnh sát chạy theo xe Peugeot bám lấy cánh cửa để định nắm lại rồi về sau, phải buông ra. Cảnh ấy diễn ra chỉ có một lát. Hùng không thấy xe và Léandri nữa. Một cảnh sát viên đưa Hùng vào một căn nhà. Một lát sau, viên thiếu tá bảo Hùng đưa chìa khóa của xe. Léandri có một xâu chìa khóa khác. Viên thiếu tá bảo Hùng rằng Léandri đã bị đạn bắn chết. Hùng phải ngủ đêm tại đó. Đến bảy giờ sáng ngày hôm sau, các cảnh sát viên tới và đưa Hùng trở về bằng xe jeep. Giữa khoảng từ 21 giờ 15 đến 21 giờ 45, viên tổng lãnh sự lại kêu nhiều lần điện thoại. Ông ta tới gặp viên tổng trưởng nội vụ và bày tỏ sự lo ngại. Ông ta yêu cầu vợ của viên chủ tịch phòng thương mại Pháp tìm cách liên lạc trực tiếp với vợ Đại tá Phạm Kim Qui vì chính ông ta không thể gặp Qui được. Đến 22 giờ, bà ta cho viên lãnh sự biết rằng Léandri đã bị giết trong khi định chạy trốn. Lúc 22 giờ, viên lãnh sự cùng với ông Groboileau lại đi tới hàng rào trước Tổng Nha cảnh Sát. Vào giờ ấy đường đã bị chặn. Có rất nhiều người, những người hiếu kỹ và những cảnh sát viên. Lúc đi ngang, họ trông thấy xe của Léandri đèn còn chiếu sáng, một cánh cửa mở về phía đại lộ trước sở Cảnh Sát Tư Pháp. Phía trước xe húc phải tường trước mặt. Bên trong sở cảnh Sát Tư Pháp cũng có nhiều người. Thiếu tá Mai rất bối rối không nói được những chuyện rời rạc. De Beauvais tìm hiểu xem có thật Léandri bị giết không và y sĩ nào đã khám nghiệm xác của Léandri. Về sau, người ta đưa ông tới gần chiếc xe. Xác Léandri nằm bẹp bên trong, mặt đầy máu. Một viên đạn bắn xuyên qua kính cửa bên trái, phía tài xế. Phía sau xe, De Beauvais và Groboileau tìm thấy vết của hai ba viên đạn khác. Xác Léandri được đặt trên một chiếc cáng và được luật y sĩ khám nghiệm. Xác được đưa tới nơi khoảng23 giờ đêm Đường phố vắng vì giới nghiêm. Một xe cứu thương của cảnh sát chở Léandri đi trước xe của viên tổng Ịãnh sự tới nhà thương Grall. Tại đây, Hansi (vợ Léandri), Đại sứ Mérillon và vài ký giả khác được gặp mặt Léandri. Hansi hét lên khi thấy vết máu trên mặt
Léandri và tưởng rằng Léandri bị đánh đập. Hansi sắp sanh đứa con đầu lòng và không tin rằng có cái chết ấy. Y sĩ Đại tá Michel Gruet và các y sĩ khác đã khám xác chết lần thứ nhất. Chỉ có một viên đạn đi vào thái dương bên trái. Về sau, các Y sĩ sẽ dùng máy chụp hình xác định được vị trí viên đạn ở phía trước của xương sọ. Sau những khám nghiệm này, không tìm thấy dấu vết nào của sự đánh đập.
Chính quyền đã không nói sự thật về cái chết của Léandri. Léandri không bị giết trong xe. Đến một lúc anh ta chờ lâu quá nên chịu không nổi. Vì từng biết anh ta nên tôi hiểu anh ta không phải là người kiên nhẫn. Anh ta trông thấy Đại tá Phạm Kim Qui và Thiếu tá Mai. Anh ta biết rõ hai người này vì họ đã làm khó dễ anh ta nhiều lần. Anh ta nắm lấy cổ áo của Qui và nói: “Câu chuyện ra sao, lâu quá rồi!” Qui nói với tên cận vệ: “Hãy liệng thằng này đi cho tôi!” Đó là câu nói thông thường tại miền Nam Việt Nam có nghĩa là: “Hãy đưa nó đi cho khuất mắt tôi”. Những người cha thường dùng câu ấy để nói những đứa trẻ ngỗ nghịch. Tên cận vệ đần độn rút súng ra và bắn. Hai viên cảnh sát hoảng hồn. Chuyện này khó tin đến nỗi sẽ không ai chấp nhận. Muốn chạy tội một cách ăn chắc, họ bày ra chuyện Léandri định chạy trốn, và kéo tên tài xế vào trong cuộc và tổ chức dàn cảnh thật sự. Họ đặt xác Léandri phía trước xe. Họ bắn vào xác Léandri nhưng bằng súng M16 và đẩy xe cho nó húc vào tường.
Cùng ngày hôm đó, Thiệu rút quân khỏi cao nguyên. Người ta kể lại rằng Léandri bị giết vì anh ta được biết kế hoạch rút lui ấy trước những người khác: điều ấy không đúng. Người ta nói rằng anh ta tiết lộ các kế hoạch rút lui. Hoàn toàn sai. Anh ta làm nhiệm vụ thông tin và vì không ra khỏi được Saigon, anh ta tìm cách thâu thập tin tức. Nhưng cái chết của anh ta sẽ nói lên tính cách nghiêm trọng của những biến cố diễn ra sau đó. Tất cả sẽ phi lý, không hiểu được và không thể xác định được sự thật. Chúng tôi sẽ còn gặp lại hai tên Mai và Qui một lần nữa trong những trường hợp đặc biệt.
Thứ Sáu, 14 tháng 3, Thiệu đi thăm mả tổ tiên tại Phan Rang vì những ngôi mả ấy mới bị sét đánh trúng. Thiệu cảm thấy bị mọi người xa lánh. Từ Phan Rang, Hắn đi Cam Ranh và ra lệnh cho Tướng Phú gặp hắn.
Chẳng tham khảo một ai, Thiệu ra lệnh rút lui. Và hắn còn hỏi ý kiến của ai được nữa? Hắn không có bộ tham mưu vì từ nhiều năm nay hắn đã trực tiếp chỉ huy các tướng lãnh. Vì nghi kỵ, vì sợ hãi, vì óc bệnh hoạn muốn giữ bí mật.
Trong các tài liệu của các cố vấn Mỹ, có một kế hoạch dự trù việc rút tất cả các lực lượng của Nam Việt Nam về phía Nam Kỳ nếu quân cộng sản làm mạnh quá và nếu vì lý do tài chánh cũng như lý do chiến thuật không thể giữ được toàn thể miền Nam nữa. Những kế hoạch ấy chỉ mới ở trong vòng dự án.
Thiệu hướng cái nhìn về nước Mỹ và chẳng biết chuyện gì đang xảy ra tại Nam Việt Nam. Hắn đã bị tách khỏi thực tế. Một sự rút lui như vậy đòi hỏi trăm ngàn sự chuẩn bị và đề phòng. Không phải chỉ có ra lệnh mà còn phải đi vào các chi tiết. Thí dụ phải di chuyển gia đình binh sĩ trước rồi mới tới các binh sĩ, chỉ để lại các đơn vị chiến đấu. Sẽ tính việc rút từng đơn vị và phải tính từng phút. Một cuộc hành quân như vậy cần có thì giờ, nhiều phương tiện và nhất là sự bảo mật, một ý niệm mà người ta không biết tới tại Việt Nam vì ai cũng biết đủ mọi chuyện, và biết nhiều hơn nữa. Phải rút bằng đường bộ, đường biển và máy bay, nghĩa là phải phối hợp tất cả những phương tiện ấy.
Vào lúc Thiệu quyết định rút, các con đường từ cao nguyên xuống đồng bằng hoặc ra bờ biển đều đã bị cắt đứt, đường 17, đường 21 và cả đường Đà Lạt nữa. Chỉ còn dùng được máy bay để thực hiện cuộc hành quân ấy.
Viên Tướng Phú dũng cảm được lệnh của Thiệu là phải đưa hết quân về duyên hải, bỏ Pleiku và Kontum, tuy rằng hai nơi ấy còn giữ được và còn có thể giữ lâu nữa, nhất là vì Pleiku là một căn cứ quan trọng.
Phú kể như đã hết. Ông ta không còn chủ lực nữa. Ông ta chẳng thèm bàn cãi về mệnh lệnh điên rồ kia, sự rút lui chỉ có mục đích đánh thức sự chú ý của người Mỹ khi người Mỹ chẳng cần gì nữa, khi Mỹ không muốn nghe nói tới Việt Nam nữa. Vì rằng đó chỉ là sự rút lui để bắt chẹt.
Phú bắt đầu cuộc rút lui bằng cách chuyển bản doanh về Nha Trang. Rồi ông ta trao quyền chỉ huy ở mặt trận cho một viên phụ tá là Đại tá Biệt Động Quân tên Tất. Tất được phong Chuẩn tướng vào dịp đó. Chính Tướng Tất phải chỉ huy cuộc rút quân. Biệt Động Quân là binh chủng hành quân lưu động, để đột kích. Và Tướng Tất chỉ biết có thế. Ông ta chưa học trường Tham mưu nào. Đáng lẽ phải là một viên tướng biết rõ nghệ thuật hành quân triệt thoái mới làm nổi. Tất là người can đảm nhưng chẳng có một ý kiến gì về kế hoạch sắp phải thi hành. Không biết mình sẽ được dùng những phương tiện gì.
Nhân vật ấy chỉ có thể là Tướng Dương văn Minh. Không còn một người nào khác nữa trong cuộc đua. Danh dự và phẩm cách chẳng đáng kể, cộng quân đã ở cửa ngõ Saigon rồi. Chúng muốn trừng phạt Saigon, cần phải làm gấp. Nhưng làm thế nào cho những tên bù nhìn kia hiểu?
Các viên tướng đã tường trình về tình hình. Có mặt Tướng Cao văn Viên, Tổng Tham mưu Trưởng, Trần văn Đôn, Tổng trưởng Quốc phòng, cùng với viên Tổng trấn Saigon và viên Tư lệnh Cảnh sát, một tên Bình nào đó. Tất cả những tên vừa kể đều nói rằng hết cả rồi, rằng những đơn vị cuối cùng đã bị bao vây và chạy tứ tán, rằng cần phải thương thuyết với bất cứ giá nào và thật sớm.
Nhưng quốc hội lại không chịu chấp nhận Minh Cồ và không chịu đạt tới điều ấy. Minh không phải là người của bọn họ. Thế là tất cả cái bọh ấy đều thề thốt trung thành với các đại nguyên tắc, trung thành với nền Cộng hòa và với hiến pháp.
Trần văn Đôn lại can thiệp một lần nữa. Anh chàng dân Tây xứ Bordeaux ấy giữ vai trò phát ngôn viên cho nước Pháp và bênh vực chính sách của Đại sứ Merillon và anh ta rất gắn bó với viên đại sứ ấy. Đôn thắng. Toàn quyền được trao cho Tướng Minh. Tổng thống Hương chống gậy rời ghế. Đã gần đui, ông ta vấp phải một bực thềm.
Hạm đội số 7 đậu ngoài khơi Việt Nam. Nhiều tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến có lẽ đã sẵn sàng đổ bộ để bảo vệ một hành lang từ Saigon đến Vũng Tàu để di tản những người Mỹ chót (khoảng hai ngàn) và một trăm ngàn người Việt Nam sẵn sàng đi theo họ. Nhưng từ khi Hàm Tân thất thủ thì cộng quân đã ở cửa ngõ Vũng Tàu.
Tôi không thấy rằng cộng sản muốn nói chuyện với Tướng Minh. Chúng đã để rơi mặt nạ và chẳng thèm bận tâm tới các thỏa hiệp Ba Lê là những thỏa hiệp đã được chúng lợi dụng để chuẩn bị khéo léo cuộc tổng tấn công của chúng.
Nếu Tướng Minh cầm quyền trước đó một tuần, lúc quân chính phủ còn giữ được Xuân Lộc thì có lẽ cộng sản chịu nhận một cuộc dàn xếp. Bây giờ thì bọn chúng không cần sự dàn xếp nữa. Saigon là của chúng rồi nên cần gì phải hỏi xin phép ai nữa.
Minh đã cùng Vũ văn Mẫu trở về nhà để sửa soạn lập chính phủ. Sau cùng, giờ của ông ta đã tới nhưng trễ quá, trễ cho nước Việt Nam, trễ cho nước Pháp và nước Pháp đã hy vọng một cách ngây thơ là có thể đóng vai trò trung gian qua Minh.
Sắp tới giờ giới nghiêm. Tôi chậm chạp trở về khách sạn, chạm trán với những người đi dạo.
Tại đây, tôi lại gặp viên thiếu tá Việt Nam Cộng Hòa, người đã chứng kiến cuộc bắt Laurent và Hoche (hai ký giả Pháp). Ông ta không biết hai người ấy còn sống hay chết. Ông ta nghĩ rằng họ đã bị cộng quân bắt. Không thể đi về phía Hố Nai được nữa vì cộng quân đã tràn ngập nơi đó.
Ông ta tiết lộ cho chúng tôi hay rằng đại bác 130 ly của cộng quân đã được bố trí cách trung tâm Saigon chưa tới 15 cây số. Tâm xa của thứ súng ấy là hai mươi lăm cây số. Ông ta tin rằng Saigon sẽ bị pháo trong đêm nay. Điện và nước có thể bị cúp. Tôi đi kiếm mấy cây đèn cầy.
Trước khi đi ngủ, tôi đọc mục điểm báo Việt bằng Pháp ngữ. Đôi khi, tôi thấy cần phải dụi mắt. Tờ Tiền Tuyến chạy dài tám cột: “Nước Việt Nam Cộng hòa sẽ không bao giờ đầu hàng cộng sản chừng nào quán đội vẫn còn đó và vẫn còn sự ủng hộ của nhân dân… Tướng Kỳ đã tuyên bố trong một cuộc mít tinh qui tụ mười ngàn người rằng các lực lượng của Việt Nam Cộng hòa vẫn còn mạnh và sẽ đem lại hòa bình trong danh dự cho xứ sở.”
Tờ Chính Luận: “Không có chuyện thương thuyết đầu hàng”.
Tất cả những binh sĩ Hoa Kỳ, những cố vấn Mỹ trong các đơn vị QLVNCH, những chuyên viên, những tổ chức bán quân sự Hoa Kỳ, tất cả đều rời khòi Việt Nam từ tháng ba năm 1973. Hoa Kỳ tôn trọng điều 5 của Hiệp Định Paris: điều nầy qui định là tất cả các lực lượng của họ phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 60 ngày. Dư luận chánh trị , Quốc Hội và những người Mỹ nhắm mắt giữ đúng luật đều chống lại mọi vi phạm quá rõ rệt Hiệp Định. Trước khi ký Hiệp Định, người Mỹ cũng đã có gian lận phần nào khi họ tăng cường thêm đạn dược và một số vũ khí tối tân cho Miền Nam Việt Nam : Ngũ Giác Đài dĩ nhiên không muốn mang tiếng xấu là đã để lại cho Miền Nam quân dụng không tốt. Bây giờ thì chỉ còn khoản 8000 công dân Mỹ ở Miền Nam Việt Nam. Riêng Tòa Đại sứ đã có danh sách 2300 người rồi. Bây giờ họ chỉ là người đỡ đầu thôi, với ít quyền lợi và bổn phận hơn. Tòa Đại sứ Hoa Kỳ, một trung tâm đầu não của người Mỹ, nằm cách Dinh Dộc Lập của Tổng Thống Thiệu chừng vài trăm thước, trông giống như một cái đồn. Trong cuộc tấn công hồi Tết Mậu Thân 1968 có một toán đặc công cộng sản đã đột nhập vào được một góc trong vài tiếng đồng hồ.
Từ văn phòng của ông ở lầu 2, nằm giữa ban kinh tế và ban chánh trị , Đại sứ Graham Martin cai quản rất nhiều cơ quan trực thuộc ở khắp SàiGòn và 4 tòa Lãnh sự. Ở các tỉnh thì ông cũng có nhiều tai mắt, phần lớn các ông “phó lãnh sự” đều là nhân viên của cơ quan Tình Báo Trung Ương Hoa Kỳ (CIA). Những người nầy báo cáo thẳng về văn phòng của ông Thomas Polgar, trưởng lưới CIA, nằm ở lầu 4 của Tòa Đại sứ, bên cạnh một trung tâm truyền tin tân tiến. Trực thuộc Tòa Đại sứ còn có Phòng Thông Tin Hoa Kỳ nằm ở lầu 1, ngay trên thư viện Lincoln và cơ quan Nghiên Cứu & Phát Triển nằm ở những dãy nhà gần Câu lạc bộ thể thao SàiGòn.
Tòa Đại sứ có hai cơ quan thiết yếu vừa có đông nhân viên vừa có nhiệm vụ quan trọng. Đó là Phòng Trung Ương Tình Báo CIA và Phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ. Ngay tại SàiGòn không thôi, cơ quan CIA đã xử dụng 300 nhân viên tính luôn cả thơ ký và nhân viên mật mã. Nhiều người phải ra ở khách sạn DUC, ở đây thường có đông người ở quầy rượu, hồ bơi và bãi tắm nắng.
Phòng Tùy Viên đặc trách về phòng thủ (DAO: Defense Attache Office) một tổ chức duy nhất trên thế giới nầy, là một cơ quan lớn nhất, gồm có 50 quân nhân và 1200 nhân viên dân chính, dưới quyền của tướng Homer Smith, chuyên viên về tiếp vận. Có khoản 100 người là binh sĩ ở trong tình trạng giải ngũ tạm thời làm việc như nhân công khế ước. Tướng Smith là một tùy viên quân sự đặc biệt trực thuộc thẳng với Đại sứ. Nhưng là một cấp tướng, ông còn trực thuộc với Bộ Tham Mưu Liên Quân ở Ngũ Giác Đài, Hoa thạnh Đốn, một hệ thống chỉ huy nặng nề trong không gian và thời gian đã có từ khi có chiến tranh. Tướng Smith rất hợp với ông Martin, còn Alan Carter , trưởng Phòng Thông Tin, thì lại lạnh nhạt với Đại sứ của mình, vì bị chỉ trích là nói quá nhiều với các nhà báo. Nhà cầm quyền ở SàiGòn cũng như ở Hà Nội đều biết về cái tổ hợp ngoại giao nho nhỏ đầy thương yêu lẫn tỵ hiềm kín đáo nầy.
Phòng Tùy Viên của tướng Smith và các ban ngành trực thuộc đã chiếm đóng lại hết các cơ sở của Bộ Tư Lệnh Quân lực Hoa Kỳ ở Việt Nam, từ Tổng hành dinh đến các rạp chiếu bóng, hồ bơi, phạn điếm, câu lạc bộ… ở ngay sân bay Tân sơn Nhứt. Tướng Smith coi về việc cấp phát quân dụng và gởi người đến thanh tra các đơn vị thuộc quân đội Miền Nam Việt Nam. Một công việc rất phức tạp. Bắc Việt thì báo cáo láo với Liên Xô và Trung Quốc về tình trạng tồn kho của mình, còn Miền Nam thì cũng không khác gì đối với người Mỹ. Dựa theo các báo cáo từ hơn 10 cơ quan ở các tỉnh gởi về, Phòng Tùy Viên Quân Lực soạn thảo phúc trình về tình hình vi phạm Lệnh ngừng bắn của Hiệp Định Paris, một việc mà Ủy Ban Quốc Tế ít khi chịu làm.
Cơ quan CIA cũng có mặt ở phi trường Tân sơn Nhất, rất dễ nhận với các chiếc phi cơ và trực thăng sơn màu sậm và trắng của hàng không Air America. Vào những năm cuối thập niên 60, thời kỳ tốt nhất, Air America có tới 5600 nhân viên. Các phi công, thường là cựu quân nhân rất hiểu biết về Việt Nam. Lương của những người nầy thường lên đến 45.000 kỹ kim một năm (khoản 200.000 quan Pháp) mà một nửa khỏi bị trừ thuế.
Từ ngày ký Hiệp Định, Air America thường được dùng để chuyên chở nhân viên của Ủy Ban Quốc Tế, kể cả các thành viên Ba Lan và Hung gia Lợi. Kể từ khi Ủy Ban đến SàiGòn, Polgar giải thích là nếu các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế gồm có Gia nã Đại (sau nầy được Iran thay thế), Nam Dương, Ba Lan và Hung gia Lơị, mang theo phi cơ của họ nữa thì chắc chắn sẽ có nhiều tai nạn xảy ra lắm. Do đó ông đề nghị dùng phi cơ của hàng không Air America. Mọi người ai cũng biết phi cơ nầy là của CIA. Đại sứ Ba Lan đầu tiên của Ủy Ban trước kia là giám đốc hàng không LOT của Ba Lan nên rất am tường vấn đề và thúc đẩy các đồng chí Hung gia Lơi của ông nên chấp nhận đề nghị của Polgar. Đề nghị nầy giúp hai phái đoàn nầy tiết kiệm được ngoại tệ mà các nước Đông Âu nầy vốn thiếu. Và như vậy cũng tránh được tai nạn. Nhưng có một lần người của Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã bắn hạ hai trực thăng của Ủy Ban Quốc Tế. Một trong hai chiếc đó có chở một sĩ quan Bắc Việt.
Ủy Ban Quốc Tế có một Tổng hành dinh ở trong thành phố và các cơ sở khác thì đóng ở sân bay Tân sơn Nhứt. Nhiệm vụ của Ủy Ban là Kiểm soát và Giám sát việc ngừng bắn, nhưng họ không kiểm soát gì hết và cũng không giám sát được bao nhiêu. Do đó phía Gia nã Đại nhanh chóng mĩa mai chuyển danh từ tiếng Pháp CICS (Comité internationale de Controle et de Surveillance) ra tiếng Anh ICCS (International Committee of Control and Survey) để họ đọc trại ra là “I Can’t Control Shit” (Tôi không kiểm soát được gì hết, tôi chỉ kiểm soát mấy cục gạch chơi thôi !) Người Miền Nam Việt Nam hằn học hơn dịch ra là “Im Cho Coi Sao” (ngồi yên lặng chơi để coi cái gì sẽ xảy ra !)
Hiệp Định Paris dành trọn 18 điều khoản cho cơ cấu pháp lý nầy, trên nguyên tắc CICS ( Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát Ngừng Bắn) thay thế cho CIC (Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến), một ủy ban “hữu danh vô thực ” có mặt ở cả SàiGòn và Hà Nội từ 1954 cho đến 1973 mà không có làm gì hết. Phái đoàn Gia nã Đại thấy rõ là Ủy Ban không hữu hiệu nên họ nhanh chân rút lui khỏi Ủy Ban, và họ được phái đoàn hoàng gia Ba Tư (IRAN) thay thế. Như vậy Hoàng đế Ba Tư coi như bước vào sân khấu quốc tế.
Các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế nầy có nhiệm vụ phải đi điều tra mỗi lần một trong Hai Bên có báo cáo hay phản kháng về vi phạm Hiệp Định của phía Bên kia. Và trên nguyên tắc tất cả các quyết định của Ủy Ban đều phải đạt được sự “đồng thuận”. Hai phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi luôn luôn khước từ mọi sự điều tra vi phạm do Chánh Phủ SàiGòn yêu cầu, Từ đó hai phái đoàn Nam Dương và Ba Tư chán nản vì họ thường đơn phương đi điều tra. Dù công việc có trịnh trọng thì trên phương diện pháp lý những bản phúc trình của họ cũng không có giá trị (vì thiếu chữ ký của Ba Lanvà Hung gia Lợi).
Ngày 10 tháng giêng 1975, một người Ba Lan và một người Hung gia Lợi cùng hai cộng sự viên Ba Tư và Nam Dương đồng ký tên trong một bản phúc trình xét thấy bất lợi cho Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam, trong quận Long Khánh nằm về hướng Đông Bắc SàiGòn 80 cây số. Khi về đến SàiGòn, được cấp trên của họ khiển trách và nhắc nhở, hai người Ba Lan và Hung gia Lợi nầy khai là họ bị bắt buộc phải ký vào văn kiện nầy mà không hiểu gì hết.
Hiệp Định Paris dự trù triển khai 7 toán Quốc Tế ở địa phương để giám sát quân dụng khi có sự thay thế. Các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế đều biết rằng phần lớn những toán địa phương nầy không bao giờ được thành lập và không bao giờ có mặt đầy đủ ở những địa điểm hay địa phương được quy định. Khởi đầu quân số của Ủy Ban Quốc Tế tính chung là 3.300 người . Tổ chức nầy lần lần trở thành một cơ cấu hành chánh nặng nề, tự nuôi sống lấy. Họ không có quan sát viên ở tỉnh Phước Long. Trường hợp rất điển hình: Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu họ có thái độ, Phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi thì đổ thừa là họ “thiếu tin tức”, Phái đoàn Nam Dương và Ba Tư đề nghị gởi các toán quan sát lên xem, Phía Ba Lan và Hung gia Lợi từ chối hẳn, viện lẽ “không có an ninh”. Cho nên ở SàiGòn không có ai ngạc nhiên hết.
Sỹ quan của Ủy Ban thường tổ chức tiệc tùng ăn uống, chơi tennis hoặc bơi lội ở Câu lạc bộ Thể Thao SàiGòn nhưng lúc nào cũng làm ra vẻ tài phán. Các báo cáo phản kháng vi phạm thì luôn luôn bị xếp xó bằng phủ quyết để không đi đến đâu cả. Trong những phiên đại hội, người ta không bàn cải về Phước Long, trừ khi để lấy một quyết định quan trọng và nhanh chóng là người ta không thể làm gì hết. Người ta dùng thì giờ để bàn cãi những chuyện thiết thực hơn như : tại sao hồ bơi ở Tân sơn Nhứt không chịu thay nước mỗi ngày? Tuần nầy chúng ta được cấp bao nhiêu xăng? Giá mỗi phần ăn ở Câu lạc bộ có cao lắm không? Làm sao cho sửa chữa các máy điều hòa ? Chiều nay phái đoàn nào sẽ đại diện cho Ủy Ban chúng ta ở Tòa Đại sứ Pháp? và ngày mai ở Tòa Đại sứ Úc Châu? Các phái đoàn sẽ cho trình chiếu phim gì ở phòng chiếu bóng?….. v.v…
Đối với người Ba Lan và Hung gia Lợi thì đây là chuyến du hành đầu tiên ra nước ngoài của họ. Họ chóa mắt về đồng lương được trả bằng mỹ kim cho họ. Họ di chuyển trong thành phố bằng những xe buýt có lưới che ngừa lựu đạn, thăm viếng các đình chùa, mua sắm nữ trang và vàng, chơi gái và học cách chơi bóng bầu dục của Hoa Kỳ. Trong những buổi dạ hội ở SàiGòn tướng Czeslaw nặng nề và đại sứ Fijalkowski mảnh dẻ hơn, đều tỏ ra bình dân. Họ hôn tay kiểu Ba Lan rất là vui vẻ và lịch thiệp. Tướng Dega còn làm ngạc nhiên nhiều người khi ông cất tiếng ca tụng “cuộc cách mạng trắng của hoàng đế Ba Tư ” và những “dự án cải cách đầy cao vọng” của Ngài. Tướng Dega chơi thân với Tùy viên Quân lực của Pháp, Đại tá Yves Gras, một sử gia chu đáo về trận chiến tranh của người Pháp ở Đông Dương nhưng hiểu rất ít về cuộc chiến hiện tại. Hai sĩ quan nầy thảo luận về Nã phá Luân, về bà Walewska, về ông tướng Foch. Đại tá nầy khá đấy chứ. Ông ta tâm sự với tướng Ba Lan:
_ “Bài toán Việt Nam quá rắc rối để người ta có thể giải quyết bằng “chánh trị đô la”
Người Ba Lan biết rành Việt Nam hơn người Hung gia Lợi. Họ có đại diện ở Miền Bắc và ở Miền Nam từ hơn 20 năm nay rồi. Nhiều người Ba Lan đã dùng phi cơ của Ủy Ban Quốc Tế trên các chuyến bay con thoi nối liền SàiGòn và Hà Nội mỗi thứ sáu hàng tuần. Còn người Hung gia Lợi thì chuyên lo tìm tin tức có lẽ vì họ cần phải theo kịp các đồng chí Ba Lan của họ về mọi sự hiểu biết. Họ cứ mang máy ảnh đi quanh quẩn các cầu, các trại lính, các căn cứ không quân, các kho đạn v.v.. Người dân Miền Nam giận lắm, họ khiếu nại. Làm gì được họ? Các thành viên của Ủy Ban Quốc Tế đều có quyền đặc miễn ngoại giao. Người Ba Tư thì rất là mềm mỏng và hiếu khách. Họ cung cấp cho mọi người món trứng “caviar” để nhậu với rượu vodka của Ba Lan hay với rượu vang của Hung gia Lợi. Riêng người Nam Dương thì làm việc hoàn toàn trong tinh thần của Hiệp Định Paris. Họ luôn luôn có mặt bất cứ chỗ nào có nhận tiếp tế từ viên đạn thường đến viên đạn pháo, họ đánh giá và so sánh lực lượng và tính sổ hết các vi phạm.
_ “Tại sao các ông hoạt động tích cực như vậy? Polgar hỏi thử một sĩ quan cao cấp Nam Dương.
_ “Chúng tôi có lẽ phải chiến đấu với người Việt Nam, không phải trong hiện tại đâu, mà có lẽ một ngày nào đó ….
Trong hai năm, người Ba Lan, Hung gia Lợi và người Mỹ, dân chính hay quân nhân, họ đều gắn bó với nhau. Dù sao họ cũng đều là người da trắng, đối diện với người Việt Nam dù họ là người quốc gia hay cộng sản thì cũng khó mà nắm được họ lắm khi người ta từ Budapest (Hung) hay từ Varsovie (Ba Lan) hay từ Hoa thạnh Đốn xa xôi tới. Hơn nữa, giữa những người công chức cao cấp hay những quân nhân nhà nghề vẫn có sự tương quan với nhau. Mặc kệ ý thức hệ hay sự rủ rê của người nầy người kia. Các phái đoàn của Ủy Ban Quốc Tế đầy sĩ quan tình báo. Họ lùng bắt những người đào ngũ nhưng không bao giờ thành công. Ở trong Ủy Ban Quốc Tế người ta không giám sát chiến sự ở Việt Nam mà người ta giám sát kỹ người nầy người kia trong nội bộ. Các sĩ quan Ba Lan và Hung Gia Lợi canh chừng các đồng chí đảng viên cộng sản của họ, điều nầy làm cho CIA nhẹ lo. Polgar nói: ” Có việc làm cho tất cả mọi người . Ngay như anh có tiểu tiện vào đại dương thì anh cũng có thể làm tăng mực nước biển lên được vậy.
Ông Đại sứ Graham Martin cũng tỏ ra một thái độ lịch sự với người Ba Lan. Khi Đại sứ Ba Lan tới SàiGòn ông ta có đến chào người bạn đồng sự Hoa Kỳ . Trái lại Đại sứ thô kệch Hung gia Lợi kia đã coi thường thủ tục nầy, cho nên ông Martin không gặp ông ta bao giờ.
Trái lại ông Polgar thì liên lạc chặt chẻ và rất tốt với người Hung gia lợi, nhất là với đại tá Janos Toth và cố vấn chánh trị Antyon Tolgyes. Polgar gốc người Hung gia Lợi. Đại tá Toth chỉ huy cơ quan tình báo Hung. Là đồng nghiệp với nhau hai người thích nhau lắm, mà cũng rất dè dặt nhau. Để thấy rõ trong lãnh vực mênh mông của ngành tình báo nầy, và để giúp đỡ lẫn nhau, Polgar và Toth đặt ra một phương thức tài tình mới lạ lắm: vào một giờ nào đó, ở hai địa điểm tại SàiGòn , một nhân viên CIA và một sĩ quan tình báo Hung mỗi người thuyết trình cho nhau nghe về tình hình của phe bên kia. Một phương pháp rất kín đáo: người Hoa Kỳ và người Hung không thể gạt nhau hay báo cáo sai với nhau được hay dùng lại những gì họ tin cậy trao đổi cho nhau. Nhưng trong tiến trình cuộc chơi nầy hình như phía Ba Lan muốn lợi dụng. Sỹ quan của họ mặc thường phục, đi vào Tòa Đại sứ Hoa Kỳ và được Frank Snepp, một cộng sự viên của Polgar tiếp.
Theo chỗ riêng tư mà nói thì trước mặt người Mỹ người Ba Lan chê người Hung, và ngược lại người Hung cũng chê người Ba Lan. Rất có lễ độ, người Mỹ than phiền giùm cho Miền Nam
. Các sĩ quan thuộc hai phái đoàn Hung và Ba Lan thật thà thú thật rằng họ cũng khó xử với những đồng chí cộng sản Việt Nam.
_ “Những đồng chí Việt Nam của chúng tôi can đảm thiệt, bướng bỉnh và cương quyết lắm, nhưng rất khó mà hiểu được họ lắm.
Mặc dầu họ cố nài nỉ nhưng các sĩ quan Hung và Ba Lan không thể biết được một tin tức nào từ các đồng chí cộng sản Việt Nam về sự kiện họ chiếm tỉnh Phước Long. Niềm nở hơn, người Mỹ đã cho các thành viên của Ủy Ban biết diễn tiến của sự việc.
Các đồng chí cộng sản Việt Nam của họ cũng có mặt ở SàiGòn, với một số không ít hành trang, và một vài vũ khí, đóng ngay sân bay Tân sơn Nhứt từ năm 1973 : 250 binh sĩ và sĩ quan việt cộng – có nghĩa là thuộc CPLTCHMN- và lối 50 bộ đội và sĩ quan Bắc Việt, khó tiếp cận lắm vì nụ cười của họ không khác biểu ngữ bao nhiêu. Họ đóng trong những dảy nhà thẳng hàng nhau, có kẽm gai và bao cát bao quanh, dĩ nhiên dưới sự dòm ngó canh chừng từ các chòi gác của binh sĩ Miền Nam . Họ là thành phần thuộc Hai trong Bốn Bên có liên quan đến cả 19 điều trong Hiệp Định Paris. Binh sĩ thuộc CPLTCHMN thì mặc quân phục màu xanh lá cây, còn bộ đội Bắc Việt thì mặc quân phục màu be, gọn ghẽ hơn chút. Các đại diện CPLTCHMN thì nói toàn giọng Bắc.
“Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên” gồm có Hoa Kỳ, quân đội Miền Nam , Miền Bắc , và bộ đội của CPLTCHMN. Họ có nhiệm vụ tìm người chết và mất tích.
“Ban Liên Hợp Quân Sự 2 Bên” chỉ gồm có đại diện của SàiGòn và của CPLTCHMN
Cả hai Ban Liên Hợp nầy phải đi theo các Tổ Quốc Tế khi được họ chánh thức báo cho biết lộ trình và khi được yêu cầu. Trong hai năm nay, hai Ban Liên Hợp nầy coi như không còn hoạt động gì hết. Khi các sĩ quan Ba Lan và Hung Gia Lợi hỏi các sĩ quan việt cộng tin tức của trận chiến ở Phước Long thì họ chỉ cười trừ : “chúng tôi không hay biết gì hết”
Cộng sản ít khi ra khỏi trại của họ, được gọi là “trại Davis”. Tên của một binh sĩ Mỹ tử trận đầu tiên ở Việt Nam. Trong tài liệu, báo chí sách vở của họ, cộng sản cũng gọi là “trại Davis”. Có hai dãy trại, một cho bộ đội Bắc Việt, một cho CPLTCHMN. Khi mới tới đây, cộng sản và nhất là tướng Trần văn Trà, đại diện cho CPLTCHMN, (về sau nầy là người có trách nhiệm các cuộc hành quân ở Phước Long) thấy nhiều bộ phận thâu âm được gắn cùng khắp, từ ngoài sa lông đến phòng ngũ phòng tắm. Toàn là của người Mỹ.
Hiền hậu quá, nên tướng Trà được tướng Hoàng anh Tuấn thay thế, cương quyết hơn. Nhưng trên thực tế, nhân vật quan trọng ở trại Davis năm 1975 là đại tá Võ đông Giang. Đó là nguyên tắc ngoại giao bôn sơ vích: người số 2 chánh thức có trách nhiệm hơn người số 1. Binh sĩ cộng sản tổ chức trồng rau, trồng bông và trồng cây trong trại, và cũng làm công tác gián điệp nữa. Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Bắc Việt , tướng Văn tiến Dũng đã thường nói: “Các đồng chí của chúng ta ở Tân sơn Nhứt giữ một vị trí đặc biệt, ngay giữa lòng địch. Điểm quan sát triền tiêu đó là biểu tượng của cuộc cách mạng của chúng ta, và từ vị trí tốt đó họ sẽ giúp chúng ta biết được dư luận hằng ngày và những phản ứng của địch trước giờ hấp hối của họ”.
Phái đoàn cộng sản ở trại Davis không ngừng trao đổi điện tín với Hà Nội. Tướng Văn tiến Dũng giải thích một cách chân thật: “Ban Quân Sự Hỗn Hợp của tướng Hoàng anh Tuấn cho Hà Nội tin tức trong ngày thật nhanh về những cuộc điều động binh sĩ mà phái đoàn nhận được từ nhiều nguồn tin kể cả từ công tác quan sát trực tiếp.” Thật vậy, không chỗ nào có thể quan sát được hết các chuyến bay bằng vị trí nầy.
Nỗi ưu tư chính của phái đoàn cộng sản ở trại Davis là được bảo đảm từ phía người Mỹ không quấy nhiễu bằng cách chen vào phá mật mã của họ. Hoạt động chánh yếu của họ là cuộc họp báo vào mỗi sáng thứ bảy hàng tuần, ngay dưới chân dung Hồ chí Minh hay dưới các ảnh bán thân của các cấp lãnh đạo của họ. Báo chí chẳng biết được gì cả. Sau tuần trà, nuớc cam hay thuốc lá, (thuốc lá Điện Biên Phủ loại đen trong các bao xanh, hay thuốc vàng trong bao đỏ), các sĩ quan cộng sản đem chuyện phản kháng ra trình bày với cái lưỡi cây truyền thống của họ: SàiGòn và Hoa Thạnh Đốn vi phạm Hiệp Định. Họ phải chịu trách nhiệm về các vi phạm lệnh ngừng bắn. Họ không tôn trọng tinh thần Hiệp Định, Họ không cho những binh sĩ cộng sản của chúng tôi vô ra dễ dàng trại Davis v.v….
_ “Ở Phước Long, lực lượng của chúng tôi đang trả lời cho những khiêu khích của chế độ SàiGòn”, họ xác nhận như vậy.
Tuy nhiên, trong tỉnh Phước Long bộ đội Bắc Việt đã vi phạm rõ ràng các điều khoản chính của Hiệp Định Paris. Từ năm 1973, bộ đội Bắc Việt không bao giờ tôn trọng lệnh ngừng bắn. Hà Nội đã cho quân đội “xâm nhập” và đưa quân dụng vào Miền Nam tự do không bao giờ kiểm soát được.. Quân đội Bắc Việt dùng các căn cứ Lào và Cam bốt. Chỉ có một điều khoản duy nhất mà Hà Nội không vi phạm : đó là vùng phi quân sự ở vĩ tuyến 17 không bị họ tràn qua như trong năm 1972.
Chuyện hết sức lạ lùng là Trại Davis đã có ghi trong Hiệp Định. Những người cộng sản ở trại Davis nầy đã đến từ Hà Nội và từ chiến khu của họ ở Miền Nam, trì chí, dạn dày, đã xác nhận về trận tấn công của họ vào Phước Long, như một “đêm giữa ban ngày”. Họ sống ở đây từ gần 2 năm rồi, chỉ cách Văn Phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ và các dinh thự của các tướng lãnh Miền Nam có vài trăm thước. Một sự hỗn độn lạ kỳ, kiểu SàiGòn. Chúng ta hãy tưởng tượng xem trường hợp của một toán truyền tin quân sự Hoa Kỳ hay Nga Sô ở ngay tại thủ đô Bá Linh của Đức trước ngày chấm dứt Thế Chiến Hai. Hay vài đại đội của Đức Quốc Xã ở ngay tại thủ đô Luân Đôn năm 1944!
Ở Hà Nội người ta gặp các sĩ quan Ba Lan và cũng có vài sĩ quan liên lạc Hoa Kỳ , chỉ trong vài tiếng đồng hồ thôi không hơn không kém.
Sự có mặt của cộng sản ở trại Davis chọc tức ông Thiệu, người ta biết như vậy. Hồi năm 1973 khi những binh sĩ cộng sản nầy tới Tân sơn Nhất (SàiGòn), chánh quyền muốn họ phải điền vào các phiếu nhập cảnh. Nhưng họ từ chối vì họ không muốn đương nhiên công nhận chủ quyền của Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa . Và vì thế mà họ không được cho nhập cảnh. Sau nhiều giờ ngồi trên phi cơ chờ đợi, và sau nhiều áp lực của phía Hoa Kỳ, hai phái đoàn Hà Nội và CPLTCHMN mới được ra khỏi phi cơ (Mỹ) và được chở thẳng vào trại Davis.
Sau khi tỉnh Phước Long bị hoàn toàn thất thủ, ông Thiệu nghĩ tới chuyện trả thù những người cộng sản ở trại Davis. Chỉ có một phương thức bắt bí bọn nầy thôi: cúp nước. Nhưng ông không làm như vậy được, vì lý do nhân đạo.
Tổng Thống Thiệu còn nhiều việc khác phải lo, cấp bách hơn, về hành chánh cũng như quân sự. Chánh Trị Bộ Hà Nội còn những toan tính gì nữa đây ? Họ còn có hành động gì nữa để khích động được một bước “nhảy vọt” ở Miền Nam?
Với một gương mặt tròn, trán hơi vồ nhưng không có vết nhăn, tóc chải keo sát, ông Thiệu không tỏ vẻ mệt mỏi chút nào và giữ vững lòng tin. Ông Thiệu tự xem mình là người được “Ơn Trên” giao cho sứ mạng giữ nước và cứu nước, có sự bảo đảm và ủy thác của người Mỹ. Ông đã chứng tỏ là ông cũng chống cộng như họ. Ông cảm thấy không được thoải mái lắm với giới lãnh đạo Hoa Kỳ , nhưng ông thấy gần gũi hơn với hai người đã từng đương đầu với quân đội cộng sản Bạch sùng Hy của Đại Hàn và Tưởng giới Thạch của Đài Loan. Ông đã bổ nhiệm người anh ruột là ông Nguyễn văn Kiểu sang làm đại sứ với ông thống tướng nói trên.
Ông Thiệu có một sự tin tưởng tuyệt đối: trong bất cứ trường hợp nào Hoa Thạnh Đốn cũng sẽ không bỏ rơi mình. Tuy nhiên ông vẫn biết rằng những người có trách nhiệm Hoa Kỳ có thể phản bội đồng minh của họ. Họ chẳng đã một lần buông bỏ Tổng Thống Diệm năm 1963 đó hay sao? Ông Thiệu đã thấy thi hài của ông Diệm. Năm 1968 ông Thiệu đã lo sợ đến lượt mình sẽ bị ám sát với thỏa ước Hoa Thạnh Đốn.
Ông sanh năm 1924, tuổi tý, tháng tý, ngày tý và giờ tý,. đó là một điềm không tốt. Nhưng ông đã 52 tuổi đầu rồi, một thành công có một không hai ở cái quốc gia đầy biến cố nầy. Ông lên nắm quyền từ hơn 8 năm rồi. Sự ổn định vững vàng của ông chứng tỏ một sự khôn khéo mà người Mỹ đánh giá cao. Và nhất là Đại sứ Martin.
Là con út trong 7 anh chị em trong một gia đình bình thường ở Miền Nam, ông Thiệu có đi vào kháng chiến với Việt Minh mấy tháng trong năm 1944. Sau đó ông chọn phía quốc gia. Ông suýt trở thành một sĩ quan hải quân. Theo học trường Vỏ bị Coetquidan (Pháp), ông Thiệu theo con đường quân sự và tiến lần đến đỉnh cao quân sự và sau cái chết của Tổng Thống Diệm ông lại leo lên tuyệt đỉnh chánh trị. Người tiền nhiệm của Đại sứ Martin là ông Đại sứ Ellsworth Bunker, đã thích chọn ông Thiệu là ứng viên Tổng Thống hơn là người phi công nhanh nhẹn Nguyễn cao Kỳ. Ông Thiệu có vẻ già dặn hơn, và bề ngoài có vẻ mềm mỏng hơn. Can đảm trong chiến trận, sĩ quan tham mưu không kém lắm, người có tham vọng, ông biết tránh tai tiếng để chờ thời. Ông là một Phật tử nhưng đã trở về Ki tô giáo thời ông Diệm, một người công giáo cực đoan. Trong thư viện ở Dinh Độc Lập ông Thiệu còn giữ một bộ sưu tầm về “niên Giám của Vatican” có gáy da màu đỏ, một di sản của ông Diệm. Sự theo đạo của ông Thiệu hình như vì hoàn cảnh. Và cũng nhờ đó mà ông cưới được cô Nguyễn thị Mai Anh làm vợ, cô nầy là con của một người công giáo dòng. Tính vui vẻ và tự chủ, ông dấu kín tư tưởng của mình bằng những tràng cười như pháo nổ, theo đúng theo lời dạy của Khổng Tử: “Giận là hạ sách, Cười là một phương pháp tốt nhất để không ai đoán được ý mình”. Từ SàiGòn đến Hà Nội những người lãnh đạo Việt Nam ai cũng có nụ cười khỏa lấp, thường không ai đoán nổi.
Cộng sản Bắc Việt thường dùng danh từ “tay sai”, “phản động” và “phát xít” hay “đầy tớ của Mỹ” để chửi ông Thiệu trên báo chí hay trên hệ thống truyền thanh. Khác hơn nhiều chánh trị gia ở SàiGòn Tổng Thống Thiệu không bao giờ đi gặp một người Mỹ nào. Ông không chịu làm thân với người nào, khác với người em họ của ông là Hoàng đức Nhã, lịch thiệp hơn. Ông Thiệu thường tiếp Đại sứ Mỹ, hay vị cố vấn ngoại giao ông Lehmann, và một vài phái đoàn. Ông cương quyết không có thái độ quy lụy của một người nô lệ.
Đường lối hành động trong hiện tại: nếu Ông Thiệu nói nhiều quá về sự kiện Phước Long, thì ông ngại sẽ gây sợ hãi cho những nhà đầu tư ngoại quốc., nhất là người Mỹ và người Nhật . Còn nếu ông không nói gì hết thì dư luận quần chúng và Quốc Hội ở Hoa Thạnh Đốn không thấy được mối nguy đang đe dọa đất nước Việt Nam . Là một quân nhân, đi theo con đường chánh trị , lại không phải là một nhà ngoại giao giỏi, ông Thiệu không bao giờ tạo dựng cho mình được một đường lối chiến lược quốc tế, mặc dầu có sự cố vấn của người em là ông Nhã và của đại sứ lưu động Bùi Diễm thúc đẩy. Trong hai năm ngoài những người khách Hoa Kỳ người ta còn thấy có một người ngoại quốc có danh tiếng, một tổng trưởng phi châu. Ở thủ đô SàiGòn chỉ có hai Tòa Đại sứ là đáng kể: Tòa Đại sứ Hoa Kỳ và ngay sau lưng là Tòa Đại sứ Pháp. Hoa Thạnh Đốn nhấn mạnh để các Tòa Đại sứ khác, của Anh Quốc, của Đức, của Ý và của Bỉ phải có mặt ở SàiGòn. Các Tòa Đại sứ nầy gần như bất động.
Đối với báo chí, ông Thiệu có một yêu cầu, thường trực: khi nói tới Hiệp Định Paris thì họ cần phải nói lớn lên: đó là một sự phản bội, một trò gian lận. Đó là một sự đầu hàng, một án tử hình! Thay vì không nhìn nhận Hiệp Định, ông Thiệu không chịu tìm cách luồn lách để khai thác Hiệp Định. Đối với các nhà ngoại giao người ta gọi như vậy là không thấy xa. Dù là thù hay là bạn của ông, ai cũng cho là nếu không thích ông Thiệu thì họ cũng phải kinh nể ông ta. Dù có tinh ranh và đa nghi nhưng ông rất có uy quyền mà không phải là độc tài. Các nhóm đối lập phát biểu tự do ở Hạ Viện, ở Thượng Viện, qua hệ thống tư pháp hay trong gần 30 tờ nhật báo hay tuần báo. Cái mà một chiến binh chống cộng nhân từ như ông Thiệu đang thiếu đó là không chịu nhìn thẳng vào sự việc, nhất là đối với những truyền thuyết của lãnh đạo Bắc Việt. Đối với tướng Võ nguyên Giáp, Tổng trưởng quốc phòng Bắc Việt ông Thiệu nói là ” ông ấy muốn chơi trò Nã phá Luân Việt Nam” rằng “ông ấy là một giáo sư lỗi thời”
Ở Miền Bắc đồng chí Lê Duẫn, Tổng bí thư đảng là nhân vật số 1, đầy huyền thoại. Ông Thiệu thì hay gặp gỡ các nhà báo, còn Lê Duẫn thì tuyệt đối không. Ở Hà Nội họ áp dụng nguyên tắc chỉ huy tập thể, nên không thấy có tư tưởng khác biệt giữa những người có trách nhiệm. Còn ở SàiGòn thì các đối thủ đều ra mặt, công khai, mạnh được yếu thua. Ông Thiệu không tin tưởng cộng sự viên và thường hay coi rẻ họ. Ông chỉ định một ông tướng khác bốn sao làm Thủ Tướng. Ngày bầu cử Tổng Thống sấp đến, tháng 10 năm 75, ông Thiệu tự hỏi không biết ông tướng Khiêm nầy có ra ứng cử như ông hay không? Ở SàiGòn giới trí thức lớn tiếng tuyên bố là Miền Nam Việt Nam là một quốc gia mà cái gì cũng chỉ có một nửa, nửa dân chủ nửa độc tài, với một chánh phủ chỉ có biện pháp nửa vời. Ông Thiệu không đánh bóng công dân của mình. Những người dân tị nạn từ Phước Long đã chứng tỏ rằng họ không nổi dậy để chạy theo Bắc Việt. Trong khi Hà Nội cũng nói rằng dân chúng không nổi lên chống họ, mà cũng không phải họ theo chế độ của Thiệu.
Mặc dầu đứng trong hàng tướng lãnh, ông Thiệu không nắm quân đội như đảng cộng sản nắm quân đội của họ ở Miền Bắc. Ông Thiệu đã phong cho tướng Cao văn Viên là Tổng tham mưu trưởng liên quân bởi vì ông Viên không có một chút tham vọng chánh trị nào. Ngoài ra ông ta còn để cho ông Thiệu trực tiếp chỉ huy ông nữa. Ông Thiệu biết chỉ huy mà không biết điều khiển. Đối với quân đội của mình, ông Thiệu cũng vẫn sợ sẽ là nạn nhân của một cuộc đảo chánh. Bản thân ông ta là người đã có tham gia vào cuộc đảo chánh ông Diệm. Sau vụ Phước Long, các tướng lãnh tham khảo với nhau, và mỗi lần mà cố vấn an ninh báo cáo cho ông rằng các ông tướng hai hay ba sao đã có gặp nhau, thì Tổng Thống đâm lo. Ông thích để yên không muốn có hành động nào, đó là bản tánh của ông Thiệu. Khi các cộng sự viên có đề nghị đưa lên thì ông trả lời “có thể” hay “để xem đã ” để ông khỏi bận trí. Cũng giống như nhiều chế độ quân phiệt trong thế giới thứ ba, ông ước tính là Tự Do Dân Chủ chỉ phải được tiến tới từ từ, một cách tiệm tiến.
Ông Thiệu thiếu môn chánh trị học. Mặc dầu ông Nhã có chỉ cho ông luật lệ về hiến pháp, ông Thiệu không hiểu Chánh Phủ Hoa Thạnh Đốn điều hành ra làm sao. Mặc dầu đã có cả hai viện ở Quốc Hội, Tổng Thống Thiệu vẫn tùy tiện tháo khoán được hàng triệu đồng . Ông không tưởng tượng được rằng Tổng Thống Hoa Kỳ không thể làm như vậy được vì không thể qua mặt Hạ viện và Thượng Viện ở Hoa Thạnh Đốn được . Gặp trường hợp nguy kịch như trường hợp Phước Long bị chiếm, ông Thiệu chỉ trông cậy có mỗi một ông Gerald Ford.
Tướng Quang là người tín cẩn của ông Thiệu, là một cố vấn, là người tâm phúc, là người quan sát tình hình chánh trị tổng quát, là một thủ hạ thông minh và trung thành với ông chủ của mình. Ông Kỳ đã từng là Thủ Tướng rồi. Người ta cách chức Tư Lệnh Vùng 4 Chiến Thuật của ông Quang, vì cho ông là tham nhũng. Ông Thiệu bổ nhiệm ông Quang vào chức vụ Bộ Trưởng Kế Hoạch, và sau đó Phụ tá hay là cố vấn đặc biệt về an ninh quốc gia. To con với cặp mắt sắc sảo, ông Quang có bộ vó như một kẻ gian trong loại phim hạng xoàng. Thiếu bằng chứng, nhưng ở Saigon ai cũng biết ông là một người không tốt. Điều hơi lạ: ông muốn gởi con gái ông sang học ở đại học Mỹ, nhưng không đủ sức trả học phí. Ông nhờ các cơ quan giáo dục Hoa Kỳ để xin học bổng, nhưng không được, con gái ông đành phải đi qua Úc Châu ở với một người bà con của ông đang làm việc ở Tòa Đại sứ Việt Nam ở đó. Bà Quang không khi nào đeo nữ trang khi đi ra ngoài, không làm áp phe. Và cũng lạ lùng nữa, ông Quang vô ra Dinh Độc Lập lúc nào cũng được, vẫn được toán gác dinh mang găng trắng chào kính. Văn phòng ông rất sang trọng với bàn tủ ghế sơn vẹt ni đen bóng loáng, với những tấm bình phong cẩn xa cừ, bàn làm việc loại tối tân với ghế bành bọc da, lẫn lộn nửa xưa nửa nay không tương hợp nhau lắm.
Ông Quang cho ông Thiệu hay là một chiến dịch đang bắt đầu nhen nhúm nhắm vào Tổng Thống đấy. Người ta muốn nhắm vào gia đình Tổng Thống, bổn củ soạn lại thôi: tham nhũng! Bà Thiệu làm áp phe, đó là quyền của bà. Nhưng luân lý ở đây muốn đệ nhất phu nhân, hay bất cứ người nào có chồng làm lớn, là phải đứng trên cái giới áp phe thường núp dưới các hoạt động từ thiện hay công tác xã hội. Tổng Thống thường làm việc với giới dân sự, nhất là với ông Lý long Thân, một thương gia người Tàu Chợ Lớn, chủ xưởng Vinatexco, một công ty dệt lớn. Người ta nói bà Thiệu và bà Thân có nhiều quyền lợi trong việc thu hồi “sắt vụn” như đồng, thép và nhôm. Chiến tranh đã để lại biết bao sự điêu tàn, những phế liệu, sắt vụn được thu lượm để xuất cảng trên những thương thuyền của Đại Hàn hay của Panama. Người ta tố cáo bà Thiệu đầu cơ đồng bạc. Bắc Việt đã không nghe lời khuyên của Liên Xô để in bạc giả và nếu cái Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam của họ cần tiền thì Hong Kong là nơi tốt nhất để Hà Nội tìm đủ tiền Miền Nam cho đám tay sai mà họ đã tạo dựng lên.
Hồi xưa, bà Thiệu thường hay lui tới với ông Nguyễn cao Thăng, chủ nhà bào chế thuốc Tây, mà cũng là người nắm độc quyền nhập cảng nhiều loại hàng đặc biệt. Ông Thăng người cộng sự ưu ái của ông Thiệu, là người ảnh hưởng và điều động được các dân biểu ở Hạ Viện và cả Nghị sĩ ở Thượng Viện. Ông vừa là môt lý luận gia vừa là một túi tiền của ông Thiệu. Một chuyến bầu cử cho các ông nầy tốn cũng phải từ 1000 đến 2000 mỹ kim. Ông Thiệu ước tính là bài toán tham nhũng chỉ sẽ được giải quyết sau chiến tranh mà thôi. Người ta nói nhiều về tham nhũng ở Miền Nam và rất ít khi nói tới những chuyện nầy ở Miền Bắc.
Vấn đề nầy được báo chí quốc tế nói tới nhiều nhưng ông Thiệu biết là quan điểm của ông Martin không có gì khác lạ,: những gì mà người phương Đông gọi là tham nhũng, theo ông Martin chỉ là một chứng bệnh về kinh tế, một hiện tượng khó tránh khỏi trong thời kỳ chiến tranh. Tình trạng chợ đen ở Việt Nam ngày nay đâu có nặng hơn hồi thế chiến II ở Âu Châu. Ông Thiệu có thể an tâm về điều nầy. Tướng Quang báo cáo là ông Martin đã không cho các cơ quan của Tòa Đại sứ gởi về Hoa thạnh Đốn những phúc trình sơ suất về vấn đề nầy. Ông Martin thì đòi hỏi phải có những bằng cớ xác thực, mà những tay buôn lậu, những người ăn hối lộ có bao giiờ ký biên nhận đâu và cũng không để cho ai chụp được hình trong những cuộc dàn xếp giao dịch . Họ dùng tên giả, và những thủ tục vô hình. Và tướng Quang nghĩ là chiến dịch chống ông Thiệu sẽ không trầm trọng lắm.
Ông Thiệu đã lưu giữ 25 bức thư của Tổng Thống Richard Nixon trong phòng ngủ của ông ở Dinh Độc Lập như một hồ sơ mật, một loại vũ khí riêng của mình. Những bức thơ nầy là những bản chánh hay bản sao của các công điện được một viên chức ngoại giao Mỹ chuyển giao cho ông. Đối với ông Thiệu, nội dung của những bức thư nầy và một vài lời tuyên bố của ông Nixon còn quan trọng vững vàng hơn là những điều khỏan của Hiệp Định Paris. Đối với các tổng trưởng, ông Thiệu không nói rõ nội dung của những bức thơ nầy nhưng đã có cho thấy những cam kết của ông Nixon. Ông vừa nói vừa mân mê bao súng của ông coi như ông hiện đang có những bức thư trong đó vậy: “Tôi có lời hứa của ông Nixon ở đây nè!”.
Khi ông Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa từ chối không chịu ký vào văn bản đầu tiên của Hiệp Định Paris một cách giận dữ, thì ông Nixon nói với ông Kissinger: “Lời nói đó không có gì hung dữ đâu, ông sẽ thấy là ông không phải là “con chó đẽ” đâu.” (nguyên văn của tác giả Todd Olivier). Dù ông Nixon có bị gì thì ông Thiệu vẫn tin tưởng ông ta, nhưng ông vẫn nghi ngờ ông Kissinger, vì ông nầy vẫn còn tại chức. Ông Nixon đã từng hứa là sẽ có phản ứng ngay nếu có những cuộc tấn công nghiêm trọng của Bắc Việt.
Ngày 16 tháng 10 năm 1972, ông Nixon viết cho ông Thiệu: “Ông có thể hoàn toàn tin chắc rằng chúng tôi tiếp tục cung cấp cho Chánh Phủ ông một sự yểm trợ đầy đủ, gồm có viện trợ kinh tế dài hạn và tất cả viện trợ quân sự đúng như Hiệp Định Paris đã quy định.”
Cũng trong thơ nầy, đối với Bắc Việt, ông Nixon viết: “Tôi có thể bảo đảm với ông rằng chúng tôi sẽ coi việc họ không thực hiện đúng theo lời hứa quan trọng của họ sẽ dẫn tới những hậu quả tối nguy hiểm cho họ.”
Ông Thiệu thấy bị ông Kissenger chơi xỏ, vì ông ta âm thầm và đương nhiên chấp nhận sự có mặt của quân đội Bắc Việt ở Miền Nam sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực. Ông Thiệu tin chắc rằng Kissinger đã dối gạt ông Nixon về nội dung những cuộc nói chuyện ở Paris giữa ông ta và Bắc Việt. Ông Kissinger đã nhượng bộ cho Bắc Việt nhiều hơn là ông Nixon đã chấp nhận. Tuy vậy, ông Thiệu chỉ tính tới những gì ông Nixon đã viết và nói với ông, với tư cách là một tổng tư lệnh của quân lực Hoa Kỳ.
Ngày 14 tháng 11 năm 1972, đặc phái viên của ông Nixon và Kissinger , tướng Alexandere Haig yêu cầu ông Thiệu nên nhượng một vài điều trong Hiệp Định. Trong bức thư kèm theo ông Nixon đã cam kết với ông Thiệu như sau: “Điều quan trọng hơn những điều mà chúng tôi nói trong Hiệp Định, là chúng tôi sẽ hành động thế nào trong trường hợp Bắc Việt tiến hành các cuộc xăm lăng mới của họ.” Hai ông Nixon và Thiệu cùng gặp nhau trên một tần số: “Hình thức không bằng nội dung”. mặc kệ các điều khoản của Hiệp Định muốn nói gì thì nói ! ông Thiệu nhìn thấy trước nhất là sự cam kết từ cá nhân một vị Tổng Thống Hoa Kỳ về phần pháp lý của một bản văn. Không thể có một sự hiểu lầm được . Ông Nixon còn viết thêm: “Ông có một sự bảo đảm tuyệt đối của tôi (nguyên văn của tác giả Olivier Todd: you have my absolute assurance) là nếu Hà Nội không tôn trọng lời văn trong Hiệp Định thì tôi có ý định sẽ dùng trở lại những sự trả đủa nhanh chóng và khốc liệt.”
Ngày 14 tháng giêng năm 1973 cũng trong luận điệu đó, ông Nixon đã cho oanh tạc Bắc Việt và thả mìn ở các hải cảng Miền Bắc Ông không ngần ngại phải hành động cứng rắn như vậy. Sau đó ông đưa bàn tay sắt cho ông Thiệu khi ông nói rằng:“‘Việt Nam Cộng Hòa có ký hay không ký, thì Hoa Kỳ cũng sẽ ký Hiệp Định Paris.” nhưng ông viết tiếp cho ông Thiệu : “Chúng tôi không nhìn nhận quyền có mặt của quân đội ngoại quốc trên lãnh thổ Miền Nam Việt Nam …. Chúng tôi sẽ có phản ứng mạnh nếu Hiệp Định bị vi phạm.”
Năm ngày sau đó ông Nixon lại viết tiếp cho ông Thiệu. Ông nhắc lại hai đề tài đã nói và viết: “Hoa Kỳ chúng tôi nhìn nhận Chánh Phủ của ông như một Chánh Phủ hợp pháp duy nhất ở Miền Nam Việt Nam.” điều nầy làm vui lòng ông Thiệu.
Rất tự tin, khẩn thiết và cương quyết, ông Nixon vuốt ve để rồi sau đó cũng hăm doạ ông Thiệu. Để cho ông Thiệu phải ký vào Hiệp Định, ông Nixon không ngần ngại cho thấy Quốc Hội Hoa Kỳ có thể sẽ cắt hết mọi viện trợ cho Miền Nam. Nhưng ông Nixon lúc nào cũng hứa những hành động trả đủa đối với Bắc Việt.
Thêm một bằng chứng mới, ông Thiệu mân mê những kỷ niệm của ông sau khi ký Hiệp Định Paris: tháng 4/1972, ông được ông Nixon mời sang Tiểu Nhà Trắng San Clemente ở California – không mời đến Hoa Thạnh Đốn vì sợ các cuộc phản đối và ông Nixon đã nói với ông Thiệu trong cuộc gặp gở nầy:“Ông có thể tin ở chúng tôi.” ông Kissinger tinh ranh kia lại nói thêm rằng “sẽ có những “phản ứng dữ dội và nặng nề” nếu Hà Nội vi phạm Hiệp Định. Đại sứ lưu động Bùi Diễm cũng có mặt ở San Clemente. Ông Martin từ lâu cũng đã thường tiết lộ với Tổng Thống Thiệu là người Mỹ tiếp tục giúp ông. Trong trường hợp bị tấn công mạnh thì sự trả đủa sẽ như sấm sét.
Trong bức thư đề ngày 13 tháng 6 năm 1973, ông Nixon viết: “Chuyện nầy không còn là một đề tài liên quan đến những nhà thương thuyết, hay những luật gia, hay những chuyên viên nữa. Bây giờ là một đề tài trực tiếp giữa hai chúng ta.” (This is now a matter directly between the two of us.” (nguyên văn của tác giả Todd Olivier)
“…. hay những luật gia…” ông Thiệu diễn dịch là: những điều khoản của Hiệp Định, là những tờ giấy lộn, là dẻ rách. Ông biết cách nhìn các Hiệp Ước của những người cộng sản chính thống lê nin nít và sít ta lin nít. Nếu họ vi phạm thì chúng ta cũng phải làm như vậy mới được . Ông Nixon hiểu như vậy và ông Thiệu hiểu ông Nixon. Những cam kết dù bằng lời nói hay trên giấy trắng mực đen, lập đi lập lại nhiều lần công khai hay được hiểu ngầm, thì lời nói của ông Richard Nixon với ông Nguyễn văn Thiệu đều nhắm vào Hiệp Định: những chữ “trả đủa”,“phản ứng“, trong những bức thư (bản chính) của ông Nixon được ông Thiệu gạch đít, dưới mắt của ông Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa ít nhất cũng ám chỉ một sự can thiệp của các oanh tạc cơ Hoa Kỳ.
Bằng chứng phụ thêm: NKP (NaKhom Phanom) là một mật hiệu cho tất cả các vị Tư Lệnh Quân Đoàn Miền Nam, là một tổng hành dinh của Đệ Nhất Không Đoàn Hoa Kỳ ở Thái Lan. NKP là một công thức mầu nhiệm. Mặc cho những lời phê bình hơi chua chát hay những dè dặt hơi độc ác của ông Nhã, ông Thiệu vẫn tin rằng vào giờ chót Hoa Kỳ vẫn cứu ông ta. Ở NaKhon Phanom, các oanh tạc cơ B.52 vẫn còn nằm chờ tại đó….
Đối với ông Thiệu, Tổng Thống Ford là người kế thừa cả nhiệm vụ và những cam kết của ông Nixon. Tất cả những thơ từ của Richard Nixon bắt buộc ông Ford phải hành động như thế. Ông Thiệu nghĩ rằng Tổng Thống Ford vì thiếu tin tức nên ước tính rằng việc mất tỉnh Phước Long chưa phải là mức độ nguy ngập.
Bạn ơi,
Làm anh thêm đau khổ
Nhưng kẻ thù sẽ phải sợ
Vì nó trường cửu
Vì nó dài vô tận
Vì nó rất cảm động
Đó là lịch sử
Của khúc sắn củ mài
Trong tất cả các trại tù của Miền Bắc mà Phong Quang là một, cái đói theo đuổi người tù mãi mãi như một ác mộng!
Chanh , chuối, cam, đường
Lạc, đậu, cơm, khoai
Là ân huệ của đảng
Ân huệ vĩ đại
Thật sự vĩ đại!
Tại Saigon các nhà ngoại giao ước tính là các nhà tù có thể chứa từ 5000 đến 30.000 tù binh và tù chánh trị. Nhưng ở Hà Nội những nhà ngoại giao dù là Đông Phương hay Tây Phương cũng không có một ý niệm nào về con số tù nhân chánh trị. Ở Miền Nam, Hội Hồng Thập Tự và những phái đoàn điều tra quốc tế được phép viếng thăm các trại tù. Còn ở Bắc Việt thì không bao giờ!
“Thành kính tưởng niệm các chiến sĩ Địa Phương Quân anh dũng đồn Dak Seang” “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” Đại úy Ngọc thòng một câu đùa trong chiếc Phi Cơ L19 ở cao độ 8 ngàn bộ, hôm chúng tôi cất cánh từ Nha Trang đi Kontum với hành trang cho 15 ngày biệt phái. Đồng ý đó là một câu đùa, nhưng tôi không cười được chút nào cả vì lòng tôi đang héo hon như cái vỏ xe bị xì lốp. Đang vui vẻ với đám bạn bè từ Ban-Mê-Thuột về Nha Trang nghỉ mát, ngày nào cũng sáng tiểu yến với cà phê, phở, thuốc lá 3 số 5. Chiều đại yến với la de, nem nướng, sò huyết mà phải khăn gói qủa mướp ra đi như thế này thì thật là đau khổ vô cùng, lại mới bị Thủy giận, tôi chưa có dịp làm hòa. Tính vốn lo xa, tôi đâm ra hãi. Đi biền biệt 15 ngày mà không từ gĩa em được, em tưởng mình… rớt máy bay chết rồi bèn đi cặp * khác thì hết một đời trai. Cứ tưởng tượng cái cảnh Thủy cặp tay một * chết tiệt nào đó đi coi hát bóng, đi nhảy đầm vung vít là tôi cảm thấy… hết muốn bay bổng. Đời phi công sao khổ thế nầy, tôi than thở. có lẽ thấy được những cái vẻ đau khổ khó chịu trên khuôn mặt * Thiếu úy trẻ, anh Ngọc cười. Nhìn thấy cái bản mặt táo bón của chú mầy tao nhớ đến cái thuở huy hoàng của những ngày..chưa lấy vợ. Tôi phản đối “ở Phi Đoàn 114 mà không biết phản đối thì chẳng bao giờ lớn được”. Chưa lấy vợ thì khổ bỏ xừ đi chứ huy hoàng gì anh? Bị đào hành lên hành xuống, quay vòng vòng như con mắm có gì mà huy hoàng. Lại còn phải đi biệt phái lâu ngày như thế này, xát thân ở nơi tiền tuyến không sợ mất mà chỉ sợ… mất đào ở nhà. Đại úy Ngọc bật cười lên khoái chí. Hậu sinh…. chẳng biết mẹ gì cả. Mày lấy vợ đi rồi mới thấy cái gía trị của những ngày biệt phái. này nhé, ở nhà với vợ, có * chó nào dám ti teo, đi phải thưa về phải trình, tiền bạc phải “báo cáo”đầy đủ. Ấy là chưa nói đến chuyện ở gần mặt trời thì phải sống có qui củ, có nề nếp, gặp xếp từ xa là phải cung tay chào rốm rốp. * nào cũng muốn kiếm thêm tí điểm thì phải biết điếu đóm v..v.. Đi biệt phái, nói một cách văn chương, đó là “những ngày nghỉ mát” vì thứ nhất mình thoát khỏi vòng cương tỏa… bà tư lệnh, muốn làm gì thì làm, gặp bất kỳ cô thôn nữ yêu kiều nào cũng có quyền đấu tưới hột sen, muốn khoe mình chưa vợ hay vợ… mới chết thì đó là quyền của mình. Các cô thôn nữ vốn dễ dãi và cả tin, chẳng ai thèm khiểm chứng hay thắc mắt lôi thôi. Thứ hai, đi biệt phái, cuộc sống không gò bó như ở phi đoàn. Mình tự chỉ huy lấy, đời sống thoải mái hơn, chỉ làm sao đừng bê trể công việc, thứ ba, làm việc trực tiếp với bộ binh có nhiều cái thú. Mười tám tuổi bỏ nhà đăng lính đâu phải để suốt ngày dòm ba cái đồng hồ phi cơ rồi cứ hết cất cánh rồi hạ cánh. Phải có “Action” phải có đánh bomb, có ăn pháo kích v..v. Nghe anh Ngọc thuyết một lúc là tôi đã thấy xiêu lòng. Mẹ, tôi đâu biết là lấy vợ sẽ khổ như thế này. Sống bị kềm kẹp vậy chả trách gì ông nào cũng có vẻ chán đời. Anh Ngọc cảm thấy hình như tôi đã thấm ý, nên kết luận. – Đó là những cái khác nhau giữa hai thế hệ, Thế hệ chưa vợ và thế hệ có vợ. Bây giờ nhìn lại mấy chú, anh thấy tiếc hùi hụi. Rồi hứng tình, anh chơi thêm hai câu thơ, giọng vịt cồ nghe không có tính chất…văn học chút nào hết. Tình chỉ đẹp khi còn dang dở Đời hết vui khi đã vẹn câu thề
Sau hai câu thơ là một chuỗi cười hì hì nghe rất ngứa lỗ tai. Men rượu của buổi tiệc gĩa từ tối hôm qua còn ngây ngất trong máu tôi, làm đầu óc cứ dật dờ. Tôi tắt radio, bảo anh Ngọc: – Anh bay hộ, em buồn ngủ quá. Anh Ngọc dễ dãi: – Ngủ đi, tao bay cho. Ráng ngủ lấy sức, xuống đến Kontum chuyến này có nhiều chuyện lắm. Tôi kéo tuột ghế ra sau, nhắm mắt làm một giấc ngon lành…. Biệt đội Kontum lần ấy, các phi hành đoàn ở trong cư xá vãng lai Sĩ Quan của Tiểu Khu. Cả thành phố Kontum như một trại lính khổng lồ, đi đâu cũng chỉ gặp toàn lính là lính. Từ lính không quân đến lính bộ binh, lính nhảy Dù, lính Lôi Hồ, lính Biệt Động Quân, lính Biệt Kích…..,ai nấy võ khí trang bị tới răng trông phát khiếp. Lâu lâu, phải chịu khó tìm tòi và chờ đúng giờ tan học mới nhìn thấy được vài tà áo dài phất phơ cuả các em nữ sinh, Những tà áo dài bé nhỏ xinh xinh coi có vẻ vừa lạc lõng vừa hiền lành làm sao trong cái thế giới đầy dẫy súng đạn của thành phố địa đầu này. Cũng như một con én không làm được mùa xuân, một chiếc áo dài tha thướt cũng không làm mất đi được cái vẻ chinh chiến của quê hương khốn khổ. Đứng nhìn ngắm những tà áo này, tôi thấy nhớ Thủy chi lạ, buổi chiều cơm nước xong về khu tạm trú thắp đèn cầy đánh bài cho hết giờ. Buổi tối, cái khổ nhất của chúng tôi là hai cây cà nông 175 ly to tổ bố của thiết đoàn 14 Kỵ Binh đặt cách dẫy nhà chúng tôi ở chừng 500 thước. Hai cây súng mắc dịch này, ban đêm, giữa lúc mọi người đang ngủ say, cứ thỉnh thoảng nổ một vài phát bắn quấy rối rồi nằm im. Đang mơ màng giấc diệp, tiếng súng đại bác ở sát bên bắn một phát làm chúng tôi nẩy tung muốn văng ra khỏi giường ” Đêm hôm khuya khoắc, bắn con C…gì mà bắn độc thế? Sao không về nhà mà bắn… bà xã cho được việc”, một giọng càu nhàu cất lên. Lại có giọng khác hăm dọa ” ngày mai tao phải “phản đấu”mới được. Đó là tiếng nói của Đại úy Bá, trưởng biệt đội. Ông đại úy này người dân xứ Quảng, lâu lâu phải để cho ông ấy “phản đấu” ai một lần thì ông ăn cơm mới ngon. Mất cả tiếng sau mới dỗ được giấc ngủ. Nhiều khi vừa mới chợp mắt thì lại “ầm” một tiếng như trời long đất lở tiếp theo, lỗ tai như bi ai tống vào một cây đinh. Đến lúc này thi đại úy Bá không nhịn được nữa, chửi thề um sùm “Đ..” mọa nó, bén chi mà bén miết..”. Thế là hết mẹ nó một tiếng đồng hồ nữa rồi… Tôi không hiểu các anh em bộ binh làm sao mà sống được như vậy không phải chỉ trong 15 ngày biệt phái như tôi mà tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác. Phải đi biệt phái những nơi như vầy mới hiểu được và thương các anh em bộ binh. Người lính bộ binh Việt Nam khổ qúa. Khổ đến độ sự khác biệt giữa sự sống và cái chết hầu như không có ranh giới. Cuộc đời là địa ngục thì chết chắc cũng chẳng có ai sợ. Và có lẽ, chết sẽ là một giải thoát. Tôi đã tận mắt nhìn thấy nhiều người sống suốt mấy tháng trong giao thông hào nước ngập tới háng. Đó là nơi mà anh em vừa ăn, ỡ ngủ v.v.. Các anh cũng là người với những cảm giác bình thường, biết lạnh, biết nóng, biết thèm ăn ngon, biết sợ đau khổ, sợ chết. Mãnh lực nào. sức lôi cuốn nào đã khiến anh em từ bỏ gia đình ôm cây M16 để trở thành người lính bộ binh. Trở thành người linh bộ binh để “chết thay dùm dân tộc” để chấp nhận mọi đắng cay, mọi hiểm nguy, Chắc chắn không phải để lãnh số lương mười mấy ngàn , chỉ đủ mua bao gạo. Cũng không phải vì sợ cảnh sát bắt đi quân dịch ở đầu ngõ. Cũng càng không phải vì mủi lòng bỡi vài cái bích chương kêu gọi rẻ tiền của chính phủ dán trong thành phố, hay vì câu hát của Hùng Cường , Mai Lệ Huyền. Tôi nghĩ, anh em đã ra đi chỉ vì lòng yêu nước. Vì, anh em nghĩ rằng cầm súng chiến đấu là bổn phận của ngững người trai thời ly loạn. Chỉ biết rằng đi để thể hiện chữ “Yêu” yêu Quê Hương yêu Tổ Quốc, không cần tính toán, không đo lường gía cả. Chỉ vài ngày đi bay mà anh em ai cũng bị hốc hác thấy rõ. Đêm mất ngủ, lên trời gió mát, chỉ muốn nhắm mắt. Cùng tắc biến, biến tất thông, mấy hôm sau chúng tôi biết cách trị.. Pháo Binh. Trước khi leo lên giường ngủ, chúng tôi lấy bông gòn nhét kín hai lỗ tai. Thế là mấy chú thiết giáp cứ mặc sức mà bắn. Có *… Thiếu úy tên On nằm gần giường tôi, mới được cho đi hành quân lần đầu nên lẩm cẩm không chịu được. Tên nghe đã lẩm cẩm mà người lại còn lẩm cẩm hơn. Đang đêm, tôi thấy nó thỉnh thoảng ngồi dậy, móc bông gòn ra khỏi hai lỗ tai, nghe ngóng một chút rồi lại nhét vào, nằm xuống. Mặt mày nó làm ra vẻ quan trọng lắm. Trằn trọc không ngủ được, tôi thắc mắc: – Mày làm cái trò khỉ gì đó ông Thiếu úy On? Nó đáp tỉnh queo: – Tao phải thức dậy để nghe ngóng xem có pháo kích không. Tôi suýt bật cười. Đúng là * lẩm cẩm, nó làm như Việt Cộng chờ nó tháo bông gòn ra khỏi hai lỗ tai rồi mới thèm pháo. Tôi phịa một câu: – Tao có ý kiến này hay hơn. Mày chỉ cần rút bông gòn ra khỏi một lỗ tai thôi. Một tai bịt kín để khỏi nghe pháo binh mình, tai kia bỏ trống để nghe VC pháo kích. Một thoáng êm lặng, rồi như biết được câu móc lò của tôi, * On chửi thề: – Đ.. M.. * mất dạy. Mày mà đòi móc lò tao sao được. Tao đâu có ngu. Thấm thoát mà 15 ngày biệt phái của tôi trôi qua mau. Con người qủa thật là dể thích ứng với hoàn cảnh mới. Tôi chỉ còn nhớ Thủy… sơ sơ thôi chứ không còn “nồng nàn da diết” như những ngày mới đến đây nữa. Cuộc đời biệt phái cũng có nhiều niềm vui khác như đi uống cà phê đêm, nhậu nhẹt, gặp lại bạn bè cũ, kết bạn bè mới. Với lại, chúng tôi vừa khám phá ra một quán cà phê mới khai trương. Cô Cashier coi xinh không chịu được. Thế là chiều chiều cơm nước xong, chúng tôi bảy tám người chất nhau lên chiếc xe Jeep ra quán cà phê ngồi… lì đến tới tối. Giữa khu rừng núi hoang dại này, dể gì kiếm được một cành hoa. Tôi để ý thấy Thiếu úy On yêu đời ra mặt. Không hiểu nó tính dợt le với ai mà đi biệt phái ở nơi rừng sâu núi thẩm này cũng mang theo được mấy cái khăn quàng cổ đủ các màu. Đi uống cà phê những lần sau này nó nhất định phải đóng thêm cái khăn quàng cổ màu tím vào cho ra cái điều như là… màu tím hoa sim, coi chán đời không chịu được. Vào quán cà phê, Thiếu úy On ăn nói chững chạc đàng hoàng, không láu cá nham nhở như tôi.. Có mấy lần tôi tính thò tay ra sờ mông em thì bị nó gạt phắt đi, điệu hung hãn làm như nó… chưa sờ đít ai bao giờ. Nó muốn mang khăn quàng màu gì hay tán tỉnh gì thì kệ nó, tôi không để ý tới. Cái làm tôi thích thú nhất là mỗi lần ra về, cu cậu nhất định dành trả tiền cho kỳ được. Di nhiên, tôi không bao giờ phản đối cái mục này. Tôi biết * khỉ này nó có bao giờ trả tiền cà phê cho ai đâu. Hóa ra là con người khi yêu ai cũng trở thành dễ thương hết. Chả trách gì nhà văn Shakespeare đã phán một cau “everybody loves the lover”. Cả thế giới đều yêu một kẻ si tình. Đúng thật. Tôi ước giá phi đoàn có chừng chục * như Thiếu úy On thì tôi khỏi sợ tốn tiền cà phê thuốc lá. Được trớn, tôi xúi dại nó, bảo hay là mầy xin ở lại Kontom luôn cho anh em nhờ. Nhưng nó quắc mắt lên, cười khỉnh ” Vừa phải thôi… tám. Tao tuy ngu nhưng đâu có ngu hơn mày.” Lần biệt phái này, trái với lời anh Ngọc tiên đoán, sư đoàn 23 BB không có đụng trận nào ra hồn cả. Thỉnh thoảng một bọn ” giặc cỏ” đến quấy rối rồi lặn mau như chuột. Dường như cả hai bên đang nghỉ ngơi dưỡng sức. Dưới đất mà không thèm đánh nhau thì trên trời biết ăn thua với ai. Những phi vụ air cover nhàn rỗi, tôi hỏi đại úy Ngọc đi ” duy trì khả năng” bắn rocket. “duy trì khả năng” là một danh từ không quân dành cho những anh chàng phi công văn phòng, sợ lâu quá không bay thì lúc leo lên tàu, thì quên béng nó mất cái cần lái nằm chỗ nào nên phải bay “duy trì khả năng” cho khỏi quên. Tôi thì khoái tập bắn rocket sao cho nó đẹp như ‘Dăng gô” bắn súng. Chỉ đâu bắn trúng đó. Cái kiểu bắn rocket của tôi phi đoàn ai cũng chán vì lối bắn mất dạy. Bay trên mục tiêu, Tôi cắt ga cho tàu rơi cái rào nhiều khi gần như cắm đầu thẳng xuống. Cứ thế mà bóp cò. Bắn thì dể nhưng khi kéo tàu lên mới là cực hình. “G” đâu mà lắm thế, mặt mũi cứ dài ra cả thước. nhưng đại úy Ngọc chịu chơi, lần nào cũng cho tôi bắn. Nhiều khi anh còn nhìn “tác phẩm” của tôi phê bình “Số mày sinh ra để bay khu trục mà bị trời bắt lái .. L19. Đúng là con nhà vô phúc”. Ngày cuối cùng của cuộc biệt phái, chúng tôi cất cánh phi vụ thứ hai vào khoảng 3 giờ chiều. Lên trời, làm vài vòng, tôi hỏi đại úy Ngọc: – Hay mình làm vài vòng, nếu không có gì thì đi kiếm cái chòi thượng nào đó “duy trì khả năng” rồi về đáp. Mai đổi biệt đội khác rồi.
Đại úy Ngọc tự nhiên phản đối: – Thôi cứ để đó, mày bay dọc lên Dak Pek đi. Tao đi quan sát lần chót để bàn giao vùng trách nhiệm cho phi hành đoàn mới. Có cái gì thắc trong đầu anh mà tôi không nghĩ ra. Lát sau anh nói: – Mày để ý thấy chiến trường lần này, đặc biệt là cách mấy ngày hôm nay yên lặng một cách quá đáng không? Tôi chả biết gì, trả lời: – Yên thì có yên đó, nhưng mà có gì không anh? – Thường thường mà yên quá như thế này là thế nào cũng có đánh lớn. Tôi nói xuôi: – Mai mình về rồi, nhằm nhò gì. Khoảng 5 giờ chiều tôi đang lơ lửng gần một cái đồn nhỏ gọi là đồn Dakseang, phía Nam của Dakto. Đại úy Ngọc chợt giật cần lái, quẹo một vòng. – Để tao coi. Đ.M. hình như đồn này đang bị pháo kích. Chỉ một thoáng sau anh la lên: – Đ.M. đúng rồi. Đ.M. nó đang pháo vô đồn. Anh Ngọc gọi máy về Trung Tâm Hành Quân, báo cáo những gì mình thấy và xin tần số liên lạc ngay. Chỉ trong vài phút, Trung Tâm Hành Quân xác nhận với chúng tôi là đồn bị pháo kích, và có nhiều dấu hiệu cho thấy đồn sẽ bị tấn công. Chúng tôi được chỉ thị ở lại làm việc với đồn. Bắt được liên lạc, trao đổi danh hiệu xong là chúng tôi giảm cao độ. Vừa tà tà bay vô thì bổng hàng chục cây phòng không nhắm vào chúng tôi nổ tới tấp. Chắc chắn phải có vài viên trúng tàu vì tôi nghe lên vài tiếng bụp bụp. Tôi càu nhàu: ” 15 ngày biệt phái không sao, ngày cuối cùng mà lãnh một viên vào.. đít là xui quảy..” vô không nổi, tôi quẹo ra. Đại úy Ngọc phê bình: – Trên trời mà phòng không “kèm cứng một rừng” như vậy là dưới đất nó đã chuẩn bị trận địa pháo rồi. Lạng quạng thì đồn này chắc mất tối nay. Anh giở tấm bản đồ, ba cái FM trên phi cơ được sử dụng liên tục. Cái gọi pháo binh, cái trực với đồn Dakseang, cái nói thẳng với Bộ Tư Lệnh chiến trường. Cường độ pháo kích càng ngày càng trở nên khốc liệt, Tôi lên cao chút xíu rồi rình rình lại chui vào từ một hướng khác. Bố khỉ, tôi lúc ấy mới khám phá ra là khu vực làm việc bị mây “broken” từng cụm nhỏ bao phủ khoảng từ 5 đến gần 8 ngàn bộ trên trời. Đang quan sát, tàu chui vào mây là coi như mù. Ra khỏi mây thì phải mất một lúc mới trở lại được chổ quan sát cũ. Đại úy Ngọc chửi thề “Đ.M. mây mà cũng bị VC dụ dỗ đâm sau lưng chiến sĩ. Trời đất bao la sao không kiếm chỗ bay mà cứ lẩn quẩn làm con C.. ở đây.” Tôi đã cắt ga xuống dưới trần mây mấy lần nhưng vừa xuất hiện là bị hàng chục họng phòng không thổi rào rào vô mặt, đuổi trở lên “súng đâu mà chúng nó lắm thế” Tôi đành vật lộn với mấy cụm mây…VC này. Bi thảm hơn, giặc bắt đầu nả 130 ly vào đồn, Hai cây đại pháo, một cây đặt ở ven làng cách đó chừng 15 cây số, cây kia ở hướng đối diện cứ tà tà nã từng trái một vào đồn. Từ trên, tôi nhìn thấy rõ ràng những quả đạn rơi rất chính xác vào trong đồn. Cứ mỗi quả đại bác rơi xuống là có chừng mười mấy trái súng cối nổ kèm theo “phụ diễn”. Tôi và anh Ngọc lồng lộn trên tàu bay. Máy vô tuyến gọi đến gần nát cả họng, nhưng bất ngờ quá, chả thấy phi tuần xuất hiện, anh Ngọc gọi pháo từ căn cứ pháo binh gần đó nhất để yểm trợ. Vừa nhận được tọa độ, đã nghe ở dưới đất kêu trời: – Vô ích bạn ơi. Xa quá, bắn tới… Tết cũng huề. – Thì bạn quay nòng xuống thổi đại cho một chục tràng đi, bắn dọa nó cũng được. – Xong rồi, để tôi cho yếu tố tác xạ – Yếu tố mẹ gì, bắn đi bạn…. Khoảng 5 giờ rưỡi chiều, người chỉ huy đồn Dakseang có vẻ bối rối: – Bạch Ưng, đây Thanh Trị. – Nghe 5 bạn
– Báo cho bạn biết đến giờ phút này con cái tôi đếm được là 500 trái rồi đó bạn. Hầm hố tôi 50% thiệt hại. Tôi muốn nhảy nhổm trong tàu bay. 500 trái vừa cối vừa pháo xuông một diện tích tí teo như thế kia thì còn hầm còn hố nào. Anh Ngọc bổng nẩy ra một kế…chết người. – Nếu để nó pháo điệu này thì chừng tí nữa quân mình chẳng còn gì hết. Mình phải “chiến tranh chính trị” mới được. – Có học trường chiến tranh chính trị ngày nào đâu mà đòi…chiến tranh chính trị anh? Người phi công chiến tranh chính trị bất đắc dĩ lên mặt dạy dỗ. – Từ từ để tao cắt nghĩa. Chiến tranh chính trị nghĩa là…có là không, không là có. Bây giờ chưa có phi tuần thì mình phải làm như có phi tuần. Mình phải xuống ngay trên đầu mấy cây pháo làm bộ như phi tuần sắp tới thì pháo nó mới câm được. – Xong rồi. Mặc dù vẫn còn ngán mấy chục họng phòng không nhưng trong hoàn cảnh này, đạn tránh người chứ người làm sao tránh đạn? Tôi cắt ga cho tàu rơi cái rào, cứ nhắm họng đại bác bay tới. Đạn nổ tùm lum chung quanh tàu. Anh Ngọc trấn an tôi: – Mầy đừng lo, tao có bùa nanh heo rừng. Đạn nó né tao. Nghe sao mà chán đời, Tàu bay chỉ có 2 người, đạn nó bay vào đây mà né anh Ngọc thì nhất định nó phải kiếm người khác để chui vào. Người đó còn ai khác hơn tôi. Bỗng nhớ ra điều gì, anh sờ tay vô ngực quờ quạng rồi rú lên: – Bỏ mẹ rồi, nanh heo rừng đíu có đem theo. Đ.M. hôm qua đi tắm treo nó chỗ phuy nước quên đeo vô rồi. Nhưng anh nói ngay: – Nhưng tử vi nói tạo sống thọ lắm, yên chí lớn đi * em. Tôi nghiệm ra rằng con người, lúc ở trong những hoàn cảnh nguy hiểm đều kiếm ra một lý do gì đó để tự tin và hy vọng. Càng đi xa đồn thì phòng không càng bớt dần. Thấp thoáng con gà cồ của giặc đã nằm ngay dưới cánh, chúng tôi xuống thấp thêm tí nữa, lượn vòng chung quanh cây pháo. Đúng y như anh Ngọc đoán, pháo im bặt. Rồi như một cơn mưa rào đổ xuống mùa hạn hán, một hợp đoàn Cobra của Tây xuất hiện. Đại úy Ngọc qua được tần số của Tây xí xa xí xồ một chập, tôi nghe được mấy tiếng “everywhere”. Vừa vào vùng là mấy anh Cobra làm ăn liền. Tôi ngạc nhiên thấy họ thay phiên nhau bắn rào rào chung quanh đồn. Như vậy con cháu họ Hồ đang “tùng thiết” đi vô chăng? Dĩ nhiên phòng không giặc bây giờ đổi mục tiêu, nhắm mấy anh Cobra nhả đạn. Trận thư hùng coi rất đẹp mắt nhưng ngắn quá. Mấy ông Tây bắn chừng 5 phút là hết đạn, quay lui. Khốn nạn hơn cái món chiến tranh chính trị xem ra hết ép phe. Có lẽ giặc biết chúng tôi chỉ dọa giả nên cây pháo bắt đầu nổ trở lại. Đại úy Ngọc gầm lên: – Đ.M. tụi mày, lát nữa khu trục lên tao cho nó…bỏ bom thấy mẹ mày. Tức quá mà không làm gì được thì…chửi cho đã tức. Chúng tôi chỉ có 4 quả Rocket khói, chẳng sơ múi gì được. Rồi Peacock gọi thông báo sẽ có phi tuần khu trục A-1 đang cất cánh khẩn cấp từ Pleiku lên làm việc với chúng tôi. Đại úy Ngọc hớn hở gọi máy: – Thạnh Trị, đây Bạch Ưng – Nghe 5 bạn, gần ngàn trái rồi. Tụi nó mới xung phong đợt đầu đó bạn. – Có sao không bạn? – Không, mấy * chuồn chuồn tới đúng lúc với lại con cái tôi đánh giặc còn “tới” lắm bạn ơi. Tụi nó rút hết rồi. Khoảng chùng 50 xác nằm dài dài. Mấy * Tây đánh đẹp lắm. – Chúng tôi sẽ có 2 phi tuần lên liền bây giờ với bạn. – Bạn ráng dùm, hầm hố gần nát hết rồi bạn.
– Tôi hiểu bạn. Cây 130 ly quái ác vẫn đì dạch phọt ra từng cụm khói đen. Tôi bảo anh Ngọc. – Anh để em lên làm đại một trái khói vô đó coi, may ra…. – Ờ, may ra…. Tôi làm vòng bắn, nghiêng cánh quẹo vào, nhắm và bóp cò. Oành cái Rocket nổ…gần cây đại pháo. L-19 mà bắn được vậy là nhất rồi, nhưng có chết * chó nào đâu? Không chết nhưng cây pháo lại im tiếng một lần nữa. Tốt! Tôi tính cứ lâu lâu nhào xuống xịt cho tụi nó một trái để mua thời gian chờ khu trục lên. Rồi tiếng rè rè thử vô tuyến của mấy ông khu trục A-1 nghe lên bên tai. Phải thú nhận, cái tiếng rè rè đực rựa lúc này nghe sao mà nó…đáng yêu thế. Đó là thứ tiếng nói của hy vọng, của niền tin, của sức mạnh, của tình chiến hữu. Anh Ngọc trao đổi vô tuyến với phi tuần khu trục rồi gọi máy cho quân bạn. – Thạnh Trị, đây Bạch ưng – Nghe bạn 5. – Chim sắt của tôi lên rồi đó bạn. bạn muốn tôi đánh đâu? – Bạn lo dùm mấy con gà cồ trước đi. – OK! Roll Phi tuần khu trục vừa xuất hiện thì cả bầu trời biến thành một biển lửa. Số lượng phòng không bây giờ không biết là bao nhiêu cây, nhưng dòm hướng nào cũng chỉ thấy lửa và lửa. Trời đã về chiều nên những viên đạn lửa bay vút lên cao càng được thấy rõ ràng hơn. Phi tuần đầu nhào lên nhào xuống mấy lần vẫn không làm câm họng được cây pháo phòng không vì trời quá xấu. Những đám mây…phản quốc, khốn nạn vẫn chình ình khắp nơi. Khó khăn lắm họ mới kiếm được cái lỗ chui xuống, bay giữa những loạt đạn phòng không trùng điệp, để tới mục tiêu, bấm rơi bomb, rồi kéo lên. Còn 2 trái cuối cùng, người phi công A-1 “để” vào ngay trên ổ súng chính xác như để bi vào lỗ. Ầm một tiếng vang lên rồi tiếp theo là nhiều tiếng nổ phụ. Cha con nó đang đền tội. Xong một cây. Anh Ngọc hướng dẫn phi tuần thừ hai đang làm ăn thì tôi nghe tiếng gọi: – Bạch ưng, đây Thạnh Trị – Nghe 5 bạn – Báo bạn biết, hầm chỉ huy tôi xập rồi. Tôi ra giao thông hào với mấy đứa con. – Bạn nhớ giữ liên lạc với tôi. – Bạn… Không có tiếng trả lời. Tôi hoang mang. “ra giao thông hào với mấy đứa con” vậy là bi đát lắm rồi. Anh Ngọc bảo tôi: – Anh đang bận hướng dẫn khu trục, em qua FM gọi thẳng TTHQ xin gấpcho anh ít nhất là 2 phi tuần nữa, lên liền lập tức, nếu không kịp làtụi nó sẽ “over run” Dakseang trong vòng nửa tiếng đồng hồ.Tôi đổi tần số FM, Anh Ngọc cẩn thận dặn dò thêm: – Phải nhớ la ơi ới lên như là đang bị bóp…dái thì cha con nó mới chịu chạy dùm.Tôi phì cười, ông đại úy nầy lúc nào cũng đùa được. Khỏi cần bị ai bóp dái tôi cũng la được vì hò hét và tả oán là sở trường của tôi. Tôi gọi máy và có kết qủa ngay. Anh Ngọc mừng rú lên khi được thông báo có một phi tuần F4 của Hải Quân Mỹ sẽ cất cánh ngay từ hàng không mẫu hạm vào làm việc. Giọng nói từ dưới đất bây giờ nghe có vẻ hốt hoảng: – Bạch ưng, đây Thạnh trị – Nghe bạn 5 – Bạn cho mấy con chim sắt đánh sát quanh đồn gấp đi bạn. Tụi nó đang “à lát xô” lên. Anh Ngọc la ùm lên trong tần số khu trục. Hai chiếc khu trục A-1 còn mấy trái bomb bỏ dở cây, hối hả trở về đồn nhào xuống đánh sát chung quanh rào. Một ông la to khi kéo tàu lên. – Tụi nó đông như kiến bạn ơi.
– Còn phải hỏi. Khu trục đánh hết bom nhưng vẫn bay trên mục tiêu để bắn hết những tràng cà nông 20 ly. Tình hình lúc này đã bi đát lắm rồi. Giặc xung phong lên ào ào. Thạnh trị thông báo là một góc phòng tuyến đã bị vỡ và con cái anh đang xáp lá cà với giặc. Tôi nghe Trung tâm hành quân “TTHQ” thêm ba căn cứ khác cũng bị tấn công một lúc. Anh Ngọc bảo tôi: Tao còn lạ gì cái trò này, tụi nó đánh nghi binh để dứt điểm Dakseang đó. Phải cẩn thận. Trong vô tuyến, tiếng tàu bay gọi nhau tiếng trao đổi gã trên trời và dưới đất nghe loạn cào cào.. Bởi trong những tiếng ồn ào đó, có tiếng gọi của mấy ông F 4 Hoa Kỳ. Mấy ông Tây trang bị vũ khí tận răng. Hai chiếc F4 mỗi chiếc mang 18 trái 500 pouds đang làm vòng chờ ở khoảng 20 ngàn bộ. Anh Ngọc chỉ “briefing” một tí, mấy ông “Roger” và “Sir”lia lịa nhào xuống làm ăn liền. Khu trục Việt Nam đánh đã đẹp, mấy ông Tây đánh cũng không thua ai. Từ khoảng 15 ngàn, mấy ông nhào xuống dưới trần mây, để những trái bomb thật chính xác. Phòng không bắn dữ dội nhưng xem ra không ăn thua gì với mấy chiếc F4 này. Đang đánh ngon lành thì tôi nghe tiếng gọi từ dưói đất: – Bạch ưng, đây Thạnh trị Giọng nói lúc này không có vẻ hốt hoảng mà bình tĩnh lạ thường. Anh Ngọc bấm máy: – Nghe bạn 5, cho biết tình hình đi bạn. – Tôi yêu cầu Bạch ưng cho đánh ngay vào trong đồn. Cả hai chúng tôi giật nẩy mình, chỉ hy vọng là mình nghe…lộn. Chúng tôi sững sờ không trả lời được. Người chỉ huy phía dưới đất xác nhận lại: – Bạch ưng, tôi xác nhận lại, tôi xin bạn đánh xuống đầu tôi. – Bạn nói bạn xin đánh thẳng vào đồn? – Đúng 5. Hết hy vọng rồi bạn ơi. Cứ đánh vào đây để tụi nó chết chùm luôn với chúng tôi. – Bạn suy nghĩ kỹ chưa? – Giọng nói dưới đất lúc này nghe có vẻ hết kiên nhẫn: – Không còn lựa chọn nào khác bạn ơi. Bạn đánh lẹ giùm. Chúc bạn may mắn. “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” mà bạn… Đó là những tiếng nói cuối cùng tôi nghe được từ đồn Dakseang “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi”. Anh Ngọc hốt hoảng gọi máy về xin chỉ thị quân đoàn. Quân đoàn trả lời phải xác nhận với đồn Dakseang một lần nữa rồi cho biết kết qủa. Chúng tôi gọi muốn đứt hơi nhưng không còn liên lạc được với Thạnh Trị nữa. Báo cáo trở lại, quân đoàn quyết định: cho đánh thẳng vào đồn nhưng phải… cẩn thận. “Cẩn thận con C… ông” anh Ngọc lẩm bẩm chửi thề rồi gọi máy thong báo cho mấy ông Tây, bảo đánh thẳng vào đồn. Người phi công hải quân Mỹ vừa kéo con tàu lên sau một loạt tấn công cũng bối rối không kém: – Roger! Sir, Did you say…right on it? Over – Yes sir, it’s all over. I said you salvo right on it. Over. – Roger, sir, I understood, sir, Over. Chỉ có vậy thôi, đồn Dakseang biến thành một biển lửa sau hai đợt bomb salvo của mấy chiếc Phantom. Tôi đang chứng kiến một hình ảnh mà có lẽ suốt đời sẽ không bao giờ quên được. Tôi biết nói gì lúc này đây cho những người chiến sĩ Địa Phương Quân QLVNCH? Tất cả những ngôn từ, những ý nghĩ đều trở thành vô nghĩa trước cảnh tượng bi thảm hào hung này. Bay cách đó chừng 5 cây số với cao độ 5 ngàn bộ mà con tàu tôi như rung lên dưới tiếng nổ và sức ép khủng khiếp của mấy chục trái bomb 500 cân Anh nổ một lần. Làm sao còn có ai sống sót sau cơn tàn phá khủng khiếp này?. Những thịt, những xương, những máu của các anh hùng Dakseang đã tung bay khắp nơi rồi rơi xuống lẫn lộn với bụi, với đá, với sắt, để rồi nằm im trên mặt đất. Cũng trên mặt đất nầy của quê hương, ở một nơi nào đó, những người vợ, những đứa con, những bà con thân bằng quyến thuộc của các anh đâu biết người thân của mình vừa anh dũng đền nợ nước, vừa ” Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” như lời trăn trối cuối cùng của người đồn trưởng, vừa chết để cho cả dân tộc được sống, được hít thở không khí Tự Do dù chỉ trong một khoảnh khắc… Ngày mai đây, những chiếc khăn tang trắng sẽ được chít vội vã lên đầu những người thiếu phụ nghèo nàn khổ sở kia, những khuôn mặt bầu bĩnh vô tội của trẻ thơ. Nước mắt nào khóc cho hết nỗi bi thương của người vợ lính VNCH đây hỡi ông trời xanh thẩm? hình ảnh nào có thể thay thế được hình ảnh ngọt ngào của Cha chúng nó, suốt khoản đời còn lại của những em bé hồn nhiên vô tội kia hỡi ông trời? Dân tộc tôi đã làm gì nên tội, “Tử biệt sinh ly” câu nói nghe được từ thuở học trò bầy giờ mới thấy trọn nghĩa ý đau thương. Máu nào chảy mà ruột không mềm, mắt tôi bỗng chan hòa nước mắt. Tôi tống ga bay trở lại đồn. Qua màn lệ nhạt nhòa, tôi chẳng còn thấy gì, ngoài những cụm khói đen bốc lên giữa đồn. Những cụm mây oan khiên vừa rồi vẫn còn vần vũ như những chiếc khăn tang trắng lồng lộng bao phủ cả bầu trời. Mây ơi là mây, còn sống chẳng chịu giúp nhau, bây giờ người đã chết, đồn đã mất sao còn lảng vảng để khóc thương. Trời chiều cao nguyên vốn đã thê lương cô quạnh lại càng trở nên tang tóc sầu thảm hơn. Hai chiếc Phantom Hoa kỳ ráp thành một hợp đoàn tác chiến bay những vòng tròn thấp chung quanh đám đất đá điêu tàn không hiểu để quan sát hay để chào vĩnh biệt những chiến sĩ gan dạ anh hùng của Địa Phương Quân QLVNCH. Dưới trời chiều nắng tắt, trông hợp đoàn Phantom như hai con chim hải âu ủ rủ lượn từng vòng quanh xác chết của đồng loại. Sau khi nhận kết oanh kích của anh Ngọc, giọng nói xúc động của người phi tuần trưởng Phantom vang lên: – Sir, may I reach out across the fires and destructions of today to tell you this: Those people down there have fought like men and have gone in honor. Giọng anh Ngọc run run nghẹn ngào: – Yes sir, they have gone in honor. That was an Alamo by all means, sir. An ever greater Alamo than ours, Over. Tôi thấy hai hàng nước mắt chảy dài trên má anh Ngọc. – Roger! We have thousand of Alamo like that every day in our country. – Roger, I believe that, sir, God bless you all. Over. Hai chiếc Phantom liếc cánh chào vĩnh biệt rồi bốc lên cao, mất hút giữa bầu trời ảm đạm. Alamo, cái tên nghe đã đi vào huyền sử của dân tộc Hoa Kỳ mà bất cứ công dân Mỹ nào nghe cũng phải hảnh diện. Alamo, làm tôi nhớ đến bài học Anh văn năm đệ ngũ. Alamo, đúng ra là một ngôi nhà thờ “Y pha nho” mà hai ngàn chiến sĩ kỵ binh Hoa Kỳ đã tử thủ khi chống cự lại với hàng chục ngàn quân Mễ Tây Cơ cho đến giây phút cuối cùng. Không ai đầu hàng và tất cả đã bị tàn sát. Người Mỹ chỉ có một thành Alamo trong suốt 200 năm lập quốc mà cả thế giới đều biết, đều mến phục. Đất nước tôi có bao nhiêu thành Alamo còn tàn khốc hơn, đẩm máu gấp ngàn lần hơn suốt bao nhiêu năm chinh chiến. Sáng hôm sau tôi và anh Ngọc bay thêm một phi vụ sớm trước khi bàn giao biệt đội. Tối đêm qua một trận mưa bomb của B52 đã cày nát khu tập trung quân giặc. Dù biết là vô ích, chúng tôi vẫn mở lại tần số cũ để gọi cho Thạnh Trị. Nhưng chả còn Thạnh trị nào để trả lời cho Bạch ưng nữa. Đồn Dakseang chỉ còn là đống đất vụn điêu tàn. Gió thổi lên từng cơn cuốn theo những lớp bụi đỏ mù. Tôi nhìn xuống đó, tưởng nhớ đến những cái chết oai hùng chiều qua. Trong một quê hương khói lửa, kiếp người quả thật mong manh như gió, như đám bụi mù kia. Mới nói nói cười cười mà giờ đây đã ngàn thu vĩnh biệt. Bay thêm vài vòng quanh đồn để tưởng nhớ ngậm ngùi cho các anh rồi cũng đến lúc phải từ giã để ra đi. “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” Thôi thì xin thành kính nghiêm trang giơ tay chào vĩnh biệt các anh. Những người lính Địa Phương Quân âm thầm của một tiền đồn xó núi. Địa Phương Quân, cái tên nghe khiêm nhường và hiền lành như đất, như bộ đồ xanh bạc màu của các anh. Địa Phương Quân, thứ lính…âm thầm nhất trong các thứ lính của quân lực; không màu mè, không áo rằn ri, không có những huyền thoại khủng khiệp, không “truyền thống, binh chủng” không có đến những khẩu hiệu nẩy lửa chết người. Nhưng Địa Phương Quân Pleiku chiều hôm qua đã bình tỉnh xin “cho nó nổ trên đầu tôi”. “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi bạn ơi” Xin vĩnh biệt và cảm tạ. Cảm tạ các anh đã đem cái qúi giá nhất của cuộc đời là mạng sống mình để đổi lấy cho quê hương dù đã rách nát tả tơi còn có được những ngày xanh hy vọng. Cho buổi hợp chợ ban mai, dù nghèo nàn thưa thớt vẫn còn được an bình. Cho ngôi trường quận lỵ thấp lè tè những mái tôn cháy nắng còn rộn tiếng trẻ thơ cười. Cho mái chùa cong cong nơi sườn núi còn được ngân lên những hồi chuông tín mộ. Và cho những người ở lại như tôi đây biết rằng mình sống tức còn nợ phải trả…. Các anh chính là những người được mô tả trong một bài học thuộc long tôi thuộc làu làu lúc còn là một đứa bé:
Họ là kẻ khi quê hương chuyển động Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng Đã xông vào khói lửa quyết liều thân Để bảo vệ tự do cho tổ quốc Trong chiến đấu không nài muôn khó nhọc Cười hiểm nguy bất chấp nỗi gian nan Người thất cơ đành thịt nát xương tan Những kẻ sống lòng son không biến chuyển Tuy tên họ không ghi trong sử sách Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên Không ai đến khẩn nguyền dâng lễ vật Nhưng máu họ đã len vào mạch đất Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông Và linh hồn chung với tấm tình trung Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.
Xin thành kính viết lại một phần bài thơ của Đằng Phương để tặng các anh. Các anh chính là những “Anh Hùng Vô Danh”. Tổ Quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam ngàn đời sẽ còn ghi ơn các anh. Xin vĩnh biệt và cảm tạ.
QUẢNG TRỊ (NV) – Sau khi được cộng đồng người Việt ở hải ngoại giúp đỡ, trưa 12 Tháng Tư, 2016, bà quả phụ cố Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương, tức Trần Thị Mai, và người con trai út Nguyễn Viết Xa đã có chuyến đi từ Sài Gòn đến đồi 31, Hạ Lào, nơi “Người Anh Hùng Mũ Ðỏ Tên Ðương” hy sinh.
Bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương và con trai Nguyễn Viết Xa khấn vái vong linh của chồng và cha trên đỉnh đồi 31, Hạ Lào. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
Buổi trưa hôm ấy, anh Nguyễn Viết Xa cũng chay xe ôm, nhưng khác hẳn mọi hôm, hôm nay anh chở vị khách đặc biệt, là mẹ của mình, thẳng tiến phi trường Tân Sơn Nhất, bắt đầu cuộc hành trình đầy khó khăn để sang vùng đất nơi thân phụ mình nằm lại.
Máy bay vừa cất cánh, bà Mai quay sang chúng tôi nở nụ cười: “Ðây là lần đầu cô đi máy bay, nên cảm giác hơi run. Nhưng cứ nghĩ sắp được đến Hạ Lào là vui lắm.”
Ngồi bên cạnh bà Mai, anh Nguyễn Viết Xa cũng vậy. Khuôn mặt hiền lành, nhìn cái gì trên máy bay cũng đều lạ lẫm. Có lẽ suốt hàng chục năm qua, ước mơ một lần được ngồi máy bay của vợ con người anh hùng Mũ Ðỏ tên Ðương mới thành hiện thực.
Tỉnh Quảng Trị có ranh giới với Hạ Lào, không có phi trường, chúng tôi mua vé bay ra phi trường Phú Bài của Huế, rồi từ đó bắt xe đi Quảng Trị, men theo đường tỉnh lộ 9 sang biên giới nước Lào qua cửa khẩu Lao Bảo.
Ðón chúng tôi ở phi trường Phú Bài là hai người quen mà phóng viên Người Việt đã liên lạc từ trước. Họ đều là người Việt Nam đang sinh sống và làm ăn ở Lào và nói được tiếng Lào sành sỏi. Khi nghe tin báo Người Việt đề cập đến việc đưa bà Mai sang vùng Hạ Lào, họ vui vẻ bỏ công việc và bắt xe để giúp đỡ cuộc hành trình mà chúng tôi đang hướng đến. Từ Phú Bài, Huế, đến cửa khẩu Lao Bảo khoảng 200km, chiếc xe chúng tôi bắt đầu lăn bánh trên quốc lộ 1A, đi tới địa phận tỉnh Quảng Trị, qua con sông lịch sử Thạch Hãn khoảng 20km là có con đường số 9, bên tay trái. Rẽ vào đó và thẳng tiến khoảng 90km là đến cửa khẩu Lao Bảo.
Bà quả phụ Nguyễn Văn Ðương và con trai Nguyễn Viết Xa lần đầu tiên trong đời đi máy bay. (Hình: Việt Hùng/Người Việt) Trên đoạn đường số 9 này, đoàn chúng tôi ghé lại khu vực Khe Sanh, nơi chiến trường khốc liệt trong chiến dịch hành quân Lam Sơn 719, thắp nén nhang tưởng niệm các tử sĩ VNCH, cũng như các quân nhân Hoa Kỳ hy sinh ở khu vực đồi núi này.
Con đường 9 ngoằn ngoèo, băng qua những vùng đồi núi trập trùng đầy cây xanh. Ðến cửa khẩu Lao Bảo đã 5 giờ chiều, làm thủ tục xuất và nhập cảnh xong là trời tối đen như mực. Hạ Lào đón chúng tôi bằng một cơn mưa tầm tã.
Hạ Lào là một vùng quê miền núi nghèo khó, nguồn thu nhập của người dân ở đây chủ yếu từ cây chuối. Tìm một khách sạn đầy đủ tiện nghị ở đây còn khó hơn lên trời. Chúng tôi tìm mãi mới ra được một khách sạn, hay nói đúng hơn là một nhà nghỉ ven đường, vì phòng chỉ có một chiếc quạt gọi là& tiện nghi. Ngoài ra không có vật dụng gì khác.
Thời tiết ở đây khắc nghiệt, ban đêm trời lạnh và ẩm ướt bởi sương mù. Nhưng ban ngày rất nóng bởi ánh nắng mặt trời và nguồn gió Lào khô khan.
Ðêm đó, nói chuyện với chủ khách sạn, chúng tôi biết được 2 ngày nữa là ngày Tết chính thức của người Lào. Người dân đang chuẩn bị đón tết, nên chợ búa, hàng quán không buôn bán gì. Bởi vậy việc tìm khách sạn đã khó, mà việc tìm thức ăn còn khó hơn.
Cuối cùng mọi người ăn món “xôi hấp thịt gà nướng,” món đặc trưng của người dân nơi đây. Bà Mai lại là người ăn chay trường, bởi vậy chỉ có thể ăn một ít xôi với phần lương khô chay, mà bà đã chuẩn bị sẵn mang theo.
Gian khó là vậy, nhưng khi được hỏi “cô có mệt không?” Bà trả lời: “Có gì đâu mà mệt, cứ nghĩ sáng mai được đến đồi 31 là hết mệt. Cảm xúc của cô bây giờ cứ vui buồn lẫn lộn. Vui vì sắp được chứng kiến nơi anh Ðương đã hy sinh. Nhưng buồn vì có lẽ khó mà tìm được xương cốt của ảnh.”
Hai mẹ con khi vừa bước qua cửa khẩu biên giới Việt-Lào
(Hình Việt Hùng/Người Việt) Rồi bà tiếp tục cầm tràng hạt, miệng lẩm nhẩm tụng kinh. Tôi nhìn bà, nét khắc khổ hiền hòa của người phụ nữ miền Nam. Trong thời chiến, họ hy sinh ở nhà chăm sóc con cái cho chồng ra chiến trận. Thời bình, họ đứng trước cảnh mất chồng, các con thơ còn quá nhỏ. Thế nhưng họ không bỏ cuộc, tiếp tục cuộc mưu sinh, nuôi dạy con khôn lớn.
Ðồi 31, nơi người lính không về! Sáng 13 Tháng Tư, đúng vào 30 Tết của người Lào, cả khu thị trấn Tchepone-Hạ Lào vắng hoe. Chúng tôi ghé một quán cà phê cóc ven đường, tình cờ gặp anh Kha, một người Việt đang làm ăn sinh sống ở đây.
Khi được hỏi về đồi 31 Hạ Lào, anh Kha cho biết: “Người dân ở đây gọi vùng đất này là Nam Lào, tôi chỉ biết là có một ngọn đồi, trước 1975 là nơi đóng quân của lính VNCH và lính Mỹ. Hiện nay họ đã làm một viện bảo tàng. Nhưng không biết đây là đồi 30 hay 31.”
Rồi anh chỉ đường cho chúng tôi. Ðó là một ngọn đồi rộng khoảng 10 hecta. Bên ngoài cổng có tấm biển ghi bằng tiếng Lào và tiếng Anh, tạm dịch sang tiếng Việt là “Bảo tàng di sản chiến tích chiến tranh Việt Nam-Lào trên đường 9.”
Khung cảnh hoang vắng, không một bóng người. Nơi đây vẫn còn lưu giữ những chiếc trực thăng của Mỹ, Xe chở quân đội VNCH, súng ống đại bác… Tại đây chúng tôi gặp được anh Xê Phảnh, người Lào, là người bảo vệ ở khu vực này. Khi được hỏi về đồi 31, anh cho biết: “Ở đây là khu vực đồi 30, khu vực của quân đội Mỹ và VNCH đóng quân trước đây, thuộc huyện Sepone, tỉnh Savannakhet. Còn đồi 31 cách đây khoảng 7km, cũng sát bên đường 9, nó thuộc bản Skiphine.
Ngôi miếu thờ trên đỉnh đồi 31. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
“Hiện nay bên đồi 31 chỉ có một cái miếu thờ, người ta đã xây hàng rào bao xung quanh, phải có chìa khóa mới vào bên trong được.” Anh Xê Phảnh vừa nói, vừa chỉ tay sang khu vực vùng đồi 31.
Sau khi nghe chúng tôi trình bày về mục đích đi đến đây, anh Xê Phảnh ngạc nhiên: “Tôi làm việc ở đây đã hơn 15 năm, nhưng đây là lần đầu tiên tôi thấy một phái đoàn thuộc lính VNCH ngày xưa sang đây thắp hương.”
“Các cựu chiến binh miền Bắc Việt Nam hàng năm vẫn đến đây viếng thăm, nhưng phía VNCH thì không thấy ai? Có lẽ quí vị là người đầu tiên thuộc lính VNCH tìm đến đây để viếng?”
Anh Xê Phảnh cho biết thêm: “Ðồi 31 chủ yếu là lính miền Bắc Việt Nam, chết rất nhiều. Vì Mỹ cho B52 rải thảm ở khu vực đó. Bởi vậy bên đó người ta xây đền thờ lính miền Bắc với dòng chữ ‘Tổ quốc ghi công’. Còn lính miền Nam cũng có chết ở đó, nhưng rất ít.”
Khi chúng tôi đề cập đến việc dẫn phái đoàn qua thăm đồi 31, anh Xê Phảnh tỏ ra lo ngại: “Thật tình mà nói, nếu sếp tôi có ở đây thì các bạn khó mà tự do đến đó (chính quyền đang quản lý khu đồi 31 hiện nay là Ðảng nhân dân cách mạng Lào, rất thân với Ðảng CSVN). Nhưng nay là dịp Tết của người Lào, nên ông ta đã về Viêng Chăn ăn tết cùng gia đình.”
Nghe xong, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì nếu đi qua Lào vào ngày khác, có lẽ khó mà vào được đồi 31.
Bà Mai đã lấy nắm đất trên đồi 31, nơi Ðại Úy Ðương hy sinh để mang về Việt Nam. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
Anh Xê Phảnh đưa chúng tôi sang đồi 31. Từ đồi 30, men theo đường 9, hướng về cửa khẩu Lao Bảo-Việt Nam khoảng 7km, sẽ bắt gặp một ngọn miếu thờ bên phía tay trái nằm trên một ngọn đồi hiu quạnh.
Ðồi 31 nằm sát ngay đường 9, khu đất này cao hơn mặt đường khoảng 10m. Tấm bảng bên ngoài bức tường rào, ngay cổng lối đi vào khu đền thờ, ghi bằng cả chữ Lào và Việt Nam với lời lẽ đầy phân biệt đối với chính quyền VNCH.
‘Mong anh hãy theo mẹ con em về Việt Nam’ Ðúng 11 giờ trưa, chúng tôi đến khu vực đồi 31. Ngọn đồi hoang vu giá lạnh. Ðất đai khô cằn, nền đất đỏ với nhiều hạt đá nhỏ trộn lẫn vào nhau. Chỉ có giống cỏ voi là còn mọc được nơi đây, ngoài ra không thấy cây cối nào khác.
Cầm tấm hình cố Ðại Úy Ðương trên tay, bà Trần Thị Mai bước xuống xe như ứa nước mắt, nhìn xa xăm và nói: “Cô cảm thấy lạnh quá cháu à. Cô cảm nhận được anh Ðương đang ở rất gần đây.” Rồi cô ôm bó nhang, cùng bịch trái cây đã chuẩn bị sẵn mang theo bên mình, đi đến khu vực có miếu thờ.
Chưa đi tới cổng vào, tự nhiên một trái táo trong món đồ cúng mang theo rơi xuống đất. Bà Mai giật mình đứng lại, hai tay chắp lại, quì xuống vái lạy và miệng lẩm nhẩm: “Anh Ðương ơi, có phải anh muốn báo nơi anh mất chính là ở đây?” Rồi bà òa khóc nức nở.
Thấy thế, anh Nguyễn Viết Xa cũng chạy đến bên mẹ, và hỏi: “Hay là mình cúng ở đây đi mẹ à.” “Ừ, đúng rồi, mình làm lễ thắp hương ở đây đi con. Mẹ cảm nhận cha con đã hi sinh ở nơi này.” Bà Mai trả lời.
Rồi bà thắp nhang, bày vật dụng đã mang sẵn theo ra để làm nghi thức cúng viếng. Trong tiếng gió rít trên đồi, tiếng bà thì thầm với người chồng nằm lại mảnh đất này: “Anh Ðương ơi, hôm nay em dẫn con trai của anh đến đây thắp nhang và rước vong hồn của anh về lại Việt Nam. Ðây là lần đầu tiên em đến được nơi này.”
“Nếu anh có linh thiêng thì hãy theo mẹ con em về Việt Nam, chứ ở đây lạnh lẽo lắm anh à. Em sẽ thỉnh một nắm đất nơi đây, đem về Việt Nam để nơi Chùa, mong hương hồn anh hãy theo em về, để mẹ con em còn được thắp hương cúng thờ cho anh.”
Bà Mai vừa nói, vừa bốc nắm đất bỏ vào cái khăn vải đỏ gói lại để mang về Việt Nam.
Bàn thờ tạm trong ngôi miếu trên đồi 31, nơi bà Mai cúng vái vong linh của chồng cùng các tử sĩ của cả 2 bên.
Còn anh Nguyễn Viết Xa nói với cha: “Ba ơi, 45 năm rồi từ ngày ba ra đi đến hôm nay con và mẹ mới được đến nơi đây. Ngọn đồi 31 này con cũng nghe nhiều, nhưng hôm nay mới được chứng kiến. Con và mẹ đã rất muốn đến đây sớm hơn, nhưng điều kiện không cho phép. May mà có quí vị ân nhân ở hải ngoại giúp đỡ, nay mẹ và con mới đến được nơi này.”
“Khi ba mất con còn quá nhỏ. Bởi vậy con không nhớ gì về thời gian ba còn sống bên con. Chỉ nghe mẹ nói trong 4 anh chị em, ba thương con nhất. Con mong ba hãy an nghỉ, bởi còn có rất nhiều người quí mến ba. Họ đã giúp đỡ con và mẹ rất nhiều trong thời gian qua.”
Trong khi ấy, bà Mai sụt sịt khóc: “Mong anh hãy tha lỗi cho em, vì em chưa làm tròn bổn phận của người vợ. Tâm nguyện của anh, em cũng không hoàn thành. Vì đời sống quá khó khăn, bốn đứa con không đứa nào được ăn học đàng hoàng. Hai đứa cũng đã mất rồi anh à…”
Rồi bà cầm xấp giấy tiền hàng mã, rải đều trên đất. Mảnh đồi hoang vu, cùng với cơn gió Lào thổi mạnh, khiến cho từng tờ giấy bay xa. Khuôn mặt bà nhìn xa xăm theo làn gió theo những tờ vàng mã bay xa. Một mắt bà đã mù hẳn, con mắt còn lại cũng yếu mờ, nhưng bà vẫn cố nhìn ra xa, xa mãi nơi ngọn đồi 31 huyền thoại, nơi rất nhiều người lính vẫn nằm lại nơi đây không trở về.
Sau nghi thức cúng vái, bà Mai đi thắp nhang khắp nơi, xung quanh ngọn đồi 31. Bà đi mà không biết mệt giữa cái nắng chói chang và từng cơn gió Lào nóng khô khốc, hất vào mặt, từng cơn, từng cơn…
“Cô phải thắp càng nhiều càng tốt, không những cho anh Ðương mà còn các đồng đội của anh nữa con à. Họ cũng lạnh lẽo lắm, bao năm qua không ai nhang khói hết!”
Sau đó, bà cầm di ảnh và “nắm đất” của cố Ðại Úy Ðương, tiến thẳng vào ngôi miếu thờ. Tại đây bà bày mâm cơm để cúng các vong linh đã bỏ mình nơi đây, trong đó có cả lính bộ đội Bắc Việt.
Bà Mai thắp hương, vái lạy, miệng cầu: “Xin chào các người lính đã hy sinh nơi đây, hôm nay tôi đến đây để thắp nén nhang kính viếng đến các anh. Tôi là vợ của người lính VNCH, nhưng tôi cũng cầu chúc cho các vong linh của người lính Bắc Việt. Chiến tranh đã đi qua, mong các anh hãy tha thứ cho nhau.”
Hai mẹ con bà Mai thắp nhang khắp khu đồi 31. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)
“Tuy khác chiến tuyến, nhưng các anh đều đã hy sinh ở cùng một nơi này. Âu cũng là số phận. Bởi vậy ở thế giới bên kia, mong các anh hãy là những người bạn tốt của nhau, chứ đừng cầm súng mà chĩa vào nhau nữa. Tất cả chúng ta đều là người Việt Nam cơ mà.” Bà Mai gửi lời đến các vong linh.
Mong vợ chồng được ở mãi bên nhau Sau nghi thức cúng viếng ở đồi 31, mọi người bắt đầu ra về. Bà Mai vui hẳn: “Cô vui vì cô tin là anh Ðương sẽ theo cô về Việt Nam.”
Khi được hỏi, lúc còn sống kỷ niệm nào về Ðại Úy Ðương khiến bà nhớ nhất, bà cho hay: “Tính anh Ðương hay ‘nổ’ (nói dóc) lắm con à. Cô nhớ trước khi đi chiến dịch Lam Sơn, anh Ðương có nói là đợt này đi xong chiến dịch là anh sẽ lên lon thiếu tá.”
“Hồi đó cô nghe chỉ cho vui, cứ nghĩ ổng lại ‘nổ’ nữa rồi. Ai ngờ ổng lên thiếu tá thật. Nhưng có điều sau khi mất mới được vinh thăng. Có lẽ đây là lời ‘nổ’ chính xác nhất của anh Ðương.”
Những mẩu chuyện vừa vui vừa buồn theo suốt chiều dài cuộc hành trình từ Hạ Lào về lại Huế. Chúng tôi lưu trú lại thành phố Huế một đêm.
Ðêm duy nhất ở Cố Ðô, chúng tôi lại có một kỷ niệm đẹp khi mọi người cùng đi ăn tối. Chúng tôi bất ngờ được anh Lê Quýnh, một người gốc Huế, nhận ra bà Mai và chủ động tới bắt chuyện.
“Tôi biết được câu chuyện của cô khi vô tình đọc được bài viết trên báo Người Việt Online. Không ngờ được gặp cô nơi đây. Bản thân tôi rất yêu thích bản nhạc ‘Anh Không Chết Ðâu Anh’ và quí mến, nể trọng Ðại Úy Nguyễn Văn Ðương.” Rồi anh lấy Guitar, tự đàn hát ca khúc “Anh Không Chết Ðâu Anh” để tặng mọi người.
Sáng hôm sau, chúng tôi trở về lại Sài Gòn và đi thẳng đến một ngôi Chùa mà bà Mai đã đặt trước am thờ và nhờ thầy tụng kinh niệm Phật.
“Sau này cô mất, cô mong muốn được thiêu và mang tro cốt đặt bên cạnh Ðại Úy Ðương nơi đây. Ðể con cháu có thể dễ dàng đến thắp nhang cúng viếng. Và cũng để vợ chồng cô mãi mãi được bên nhau,” bà Mai tâm sự.
Đại tá Nguyễn Công Vĩnh dự tiệc Chào mừng chiến sĩ xuất sắc của Quân Lực VNCH gặp gỡ TT Nguyễn Văn Thiệu & Phu nhân.
Đại Tá Nguyễn Công Vĩnh trở về từ miền Bắc sau những năm tháng tù đày.
Bức ảnh này ai đã đăng trước đó, chú thích là: Đón người thân “học tập cải tạo” (!) từ miền Bắc trở về tại ga Sài Gòn, ảnh chụp bởi Philip Jones Griffiths.
Nhưng ít ai biết, cụ già tóc bạc, cựu tù nhân trại “Học tập cải tạo” đó là cựu đại tá Nguyễn Công Vĩnh của QLVNCH.
Ông vốn là trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 9 thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Trong cuộc hành quân tại vùng Lộc Ninh, áp lực đối phương rất nặng và đánh úp vào bộ chỉ huy của chiến đoàn. Đại tá Vĩnh, Trung tá Nguyễn Văn Thông (anh ruột của tôi) làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 53 Pháo Binh và Trung Tá Dương và Thiếu tá Đặng văn Sơn Tiểu Đoàn Trưởng (một người bạn cùng khóa của tôi) đều bị bắt làm tù binh. Thời gian bị báo cáo là bị mất tích khi bị chiến xa của VC tràn ngập bộ chỉ huy tại Lộc Ninh. Sư Đoàn 5 và BCH Pháo Binh chỉ cho biết là bị mất tích không biết còn sống hay chết. Lính của anh tôi về cho bà chị dâu cho biết là thấy chiến xa T54 của VC ủi sập hầm của anh tôi, vì vậy không biết tình trạng như thế nào. Bà chị dâu của tôi lo sợ mất ăn mất ngủ, chạy lo coi thầy thật là tội nghiệp.
Kinh nghiệm cho tôi biết rằng VC bắt được sĩ quan cấp chỉ huy thường hay bắt đọc trên Đài Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam để làm lung lay tinh thần chiến đấu của đơn vị Quân Đội VNCH. Tôi mang vào sở một cuộn băng cassette và nhờ anh trung úy Hưng thuộc truyền tin trong Phủ Phó Tổng Thống. Tôi nhờ anh em trong ban truyền tin theo dõi đài Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam 24/24. Nếu nghe được tin tức về anh tôi thì thu băng ngay. Dự đoán của tôi đúng 100%. Ngày hôm sau tôi đi làm được Trung úy Hưng cho biết đă thu được tiếng nói của anh tôi. Tôi nghe thử cuốn băng thì đúng tiếng nói của anh tôi 100%. Tôi chạy về nhà cho chị tôi biết là anh tôi vẫn còn sống bà đã bị bắt làm tù binh. Đại Tá Vĩnh, Trung tá Dương, Thiếu tá Sơn bạn của tôi cũng vậy. Tôi mang mấy cuốn băng thu được về cho gia đình của Đ/Tá Vĩnh, Trung tá Dương biết để an tâm.
Khi Hiệp Định Paris ký kết xong, việc trao trả tù binh cũng thật là khó khăn. Các sĩ quan cao cấp chúng không muốn trao trả, chúng để tới gần hết thời hạn cũng không chịu giao Đại Tá Vĩnh, Trung tá Dương, Thiếu tá Sơn và Trung Tá Thông anh tôi. Vào lúc nầy tình trạng sức khỏe các ông nầy đã yếu lắm. Về phía VNCH, do biết phía VNDCCH sẽ không định trao trả các tù nhân là sĩ quan cấp cao nên phải cắt cử một số quân nhân thật khỏe mạnh đứng sẵn chờ đợi gần lằn ranh trao trả. Phía VNCH yêu cầu bên VC phải cho thấy tận mắt những sĩ quan kể trên còn sống thì mới tin và yêu cầu VC phải mang họ ra gần nơi trao trả mới tin được. Khi họ mang các sĩ quan kể trên ra trình diện thì bên phía VNCH nhảy qua cướp tù, nhờ vậy mới giải thoát được những sĩ quan kể trên. Lúc bấy giờ Đại Tá Vĩnh và anh tôi rất yếu, đi không nổi phải khiêng bằng băng ca.
Sau một thời gian dưỡng bệnh và kiểm tra an toàn về vấn đề an ninh xong. Đại tá Vĩnh về làm Quân Vụ Trưởng Quân Vụ Thị Trấn tại Saigon. Anh tôi được về làm Chỉ Huy Phó Pháo Binh thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh. Vì là chỗ thân tín trong tình chiến hữu với anh tôi. Đại Tá Vĩnh xem tôi như người em. Nên khi ở Việt Nam ông Đại Tá Vĩnh và tôi hay gặp nhau khi ông làm chỉ huy trưởng QVTT.
Sau ngày 30-4-75, Đại Tá Vĩnh lại bị bắt đi tù học tập cải tạo lên tuốt miền Bắc đến năm 1988 mới được thả về Sài Gòn, anh tôi ở tù đến năm 1983, sau đó mất vào năm 1989 vì bệnh tại Việt Nam. Đại tá Vĩnh qua Mỹ theo diện HO. Hiện đang ở Costa Mesa, hiện ông vẫn khỏe mạnh và minh mẫn.
Đốt sách
Sáng mắt sáng lòng
Tấm hình lịch sử: Biệt Động Quân không bắt tay với Cộng Sản
Ngày 5 tháng 2 năm 1973, một tuần sau ngày “Hiệp Định Paris” có hiệu lực (27/1/1973), Ủy Hội Quốc Tế về Kiểm Soát và Giám Sát (International Commission of Control and Supervision – ICCS) và Ủy Ban Liên Hợp Quân Sự – 4 Bên ( the Four – Party Joint Military Commission – JMC -4P) mở một cuộc họp chính thức ở Thủ đô Sài Gòn nước Việt Nam Cộng Hoà. Trên lối đi vào phòng họp, có nhiều quân nhân và cảnh sát VNCH giữ an ninh trật tự trước hàng trăm phóng viên báo chí khắp thế giới, một cán bộ cộng sản Bắc Việt là “Thượng tá” Bùi Tín phóng viên báo “Nhân Dân”, muốn bắt tay với một quân nhân Biệt Động Quân đang giữ an ninh tại đây nhưng bị từ khước không bắt tay (hình 1).
Bị “tẽn tò” trước các phóng viên quốc tế, Thượng tá Bùi Tín phải giả lả vỗ vai anh BĐQ này để “gỡ gạc” cho bàn tay bịp bợm của Việt Cộng (hình 2). Đúng là …. Biệt Động Quân… SÁT !
Trung tá nhảy Dù Bùi Quyền (hình dưới, bìa phải) ở Hoa Kỳ cùng hai con trai ông đến buổi lễ tốt nghiệp phi công. Ông được thả sau 16 năm cải tạo tại Việt Nam, năm 1991.
Hình ảnh của tướng Dương văn Minh do các ủng hộ viên của ông đưa lên ở Việt Nam cũng như ở ngoại quốc đã được rút ngắn gọn lại chỉ còn một vài nét ca tụng cá nhân, nhưng thường không đúng và có quá nhiều sự việc, chi tiết quan trọng thì đã bị bỏ lửng trong bóng tối. Hình ảnh đó được tóm gọn trong một vài phẩm cách căn bản cần thiết và có lợi cho những người lãnh đạo như : đó là một người chủ trương “hòa bình”, liêm chính, trung trực, bình dân và được kính nể,v.v… Cộng sản Bắc Việt xem ông ta như một “người đối thoại có giá trị”. Tờ Kinh Tế Viễn Đông còn trịnh trọng xác nhận ông ta đã tốt nghiệp trường Des Charles của Pháp nữa. Nhân vật nầy có thể không cần phải có những nhận xét quá đơn thuần như thế đâu, nếu người ta nghĩ tới động cơ nào đã thúc đẩy ông đi tới hành động và nếu chịu khó nghiên cứu kỹ về tiểu sử của ông người ta sẽ thấy là các phẩm tính đã gán cho ông không được chính xác lắm đâu. Những biến cố mà ông đã dính vào, sự bất nhất và những mâu thuẫn của những người chung quanh ông đã cho thấy rằng ông thường là công cụ của những khuynh hướng chánh trị khác nhau hoặc của những nhân vật có tham vọng cá nhân nhưng sau đó họ đã bỏ rơi ông ta trong sự bối rối không biết phải làm gì. Ông sanh ngày 19 tháng 2 năm 1916 tại Mỹ Tho, ngay thị xã của một tỉnh cũ của người Khờ me, một giang cảng quan trọng thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Ông đã lớn lên ở Miền Tây Nam Bộ trong vùng đồng ruộng mênh mông có nhiều sông rạch rộng và sâu. Thân phụ ông là một người cao lớn hiền lành , thông phán của Chánh Phủ, giỏi về văn chương thơ phú Việt Nam và triết học Lão Giáo, chỉ sống cho bạn bè. Thân mẫu ông cũng to con, đen đúa có giòng máu Cam pu chia. Từ hệ gia tộc như vậy, ông Minh là một mẫu người đặc biệt, thích có bạn bè, không sợ cái chết, thường có sự kính trọng các quan chức, và cũng có một màu da ngâm đen. Ông học hết bậc trung học ở trường Pháp Chasseloup-Laubat và có tú tài đôi, khoa học. Ông ta gần như là một lực sĩ , bơi lội giỏi và là một tay chơi quần vợt rất có hạng. Năm 1939 ông bị động viên vào bộ binh của người Pháp. (nguyên tác: infanterie coloniale). Vào thời đó, các binh sĩ bộ binh nầy thường có biệt danh là những con “cá heo”, là những tay đấm đá, dân xâm mình, hay nhậu nhẹt và lúc nào cũng sẵn sàng đánh nhau. Không như các bạn Việt Nam yếu đuối khác thường tránh gây sự, ông Minh to mồm và hiếu chiến, không bỏ qua chuyện gì hết, cứ húc thẳng mỗi khi bị khiêu khích và húc mạnh. Năm 1940, ông ra trường với cấp bậc chuẩn úy ở Thủ dầu Một, đứng hạng 3. Năm 1945 được thăng trung úy và là sĩ quan thể thao của đồn quân Vũng Tàu. Cũng vào năm đó, ngày 9 tháng 3 khi quân Nhật tấn công các đơn vị Pháp, ông chiến đấu mãnh liệt suốt đêm, nhưng khi cuộc chiến chấm dứt, ông đã ngả theo Nhật, đó là một điểm quá yếu. Khi Nhật đầu hàng, để tránh ra hội đồng quân pháp, ông lui về quê nhà ở Mỹ Tho sống với môt quan chức, ông Nguyễn ngọc Thơ, bạn của thân phụ ông. Trong vòng mấy tuần lễ với sự sảng khoái của nền độc lập vừa mới tìm lại được, ông lại ngồi vào “ủy ban hành chánh Việt Minh” của tỉnh Mỹ Tho. Đến tháng 10 năm 1945, khi đoàn quân thiết giáp của đại tá Massu vào Mỹ Tho, ông tự để cho họ bắt mà không kháng cự. Được hộ tống về Sài Gòn , nơi ông bị truy tầm như một quân nhân đào ngũ, chánh quyền đưa ông sang Cảnh Sát đặc biệt ở đường Catinat đễ điều tra. Ở đó ông bị qua một cơn hành xác quá khủng khiếp. Các nhân viên điều tra đã đánh ông bằng gót giầy làm gãy hết hàm răng trên chỉ còn lại một chiếc. Từ lúc đó ông mới có biệt danh là “Minh sún” (nguyên tác :”L’Édenté”). Mãi đến năm 1947 ông mới được trở vào quân đội Pháp lại với cấp bậc cũ .Là một sĩ quan tốt, rất chịu khó chiến đấu không mệt mỏi, ông được binh sĩ trực thuộc thương mến. Năm 1951, ông được thăng cấp đại úy và đảm nhiệm chức vụ sĩ quan tùy viên cho ông Trần văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam . Năm 1952 ông được thăng Thiếu tá và được gời đi thụ huấn lớp Chỉ Huy Tham Mưu ở Pháp. Đến 1953, ông ra trường và trở về Miền Trung Việt Nam với cấp bằng Chỉ Huy Tham Mưu cao cấp. Ở đây ông chỉ huy nhiều cuộc hành quân trong vùng rừng thiêng nước độc của “dãy phố buồn hiu”. Sau Hiệp ước Genève 1954, ông được gọi về Sài Gòn. Thủ đô Sài Gòn lúc bấy giờ như một thùng thuốc súng sấp nổ, không người nào tin vào khả năng đứng vững của tân Chánh Phủ của ông Diệm. Ở Miền Nam Việt Nam các giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài và Bình Xuyên rất hùng mạnh. Lực lượng quân sự của họ nếu tính chung lại được lên quá con số 50.000 người và những vùng ảnh hưởng của họ trải rộng khoản 1/3 đất nước. Bảy Viễn, lãnh tụ Bình Xuyên từ một cựu thảo khấu đã trở thành một tướng lãnh, là một người hung bạo và gan dạ như một con trâu rừng, làm chủ cả thủ đô mà không còn ai nghi ngờ gì nữa. Ông ta nắm cảnh sát, nắm sòng bạc Đại Thế Giới, kiểm soát bọn con buôn người Tàu, các lò sát sinh, và mọi sự lưu thông đường bộ cũng như đường thủy . Do đó ông ta rất giàu mạnh, dân chúng ai cũng sợ. Nhưng ông Diệm có quyết tâm cần phải phá bỏ tập đoàn phong kiến và chứng tỏ uy quyền của Chánh Phủ mình. Do đó ông cho thăng cấp ông Minh lên đại tá, trao cho ông quyền chỉ huy tiểu khu Sài Gòn Chợ Lớn với toàn quyền hành động. Lúc bấy giờ ông Minh mới kêu gọi đến sự hợp tác của các sĩ quan thâm niên thuộc các tiểu đoàn Dù. Ngày 28 tháng 4 năm 1955 hồi 4 giờ sáng có tiếng bách kích pháo nặng nổ trong thành phố. Một cột khói đen khổng lồ bốc cao trên nền trời. Cuộc chiến chống các giáo phái bắt đầu. Cuộc chiến nầy kéo dài 2 năm. Một cuộc nội chiến đẫm máu , không khoan nhượng, nếu không muốn nói đến hai chữ “tàn nhẫn”, từ chiến đấu trong đường phố đến các trận tập kích của đặc công trong vùng sình lầy, các trận xung kích của thiết giáp suốt cả Miền Tây Nam Bộ. Ông Minh có mặt khắp nơi khi có chạm súng nặng. Người của ông ta đã phạm vào một vài hành động “thất nhân tâm”, cướp một xe hàng hóa gọi là chiến lợi phẩm trị giá 8 triệu đồng, chia cả kho bạc của Bảy Viễn trên 100 triệu đồng (tương đương với 1 tỷ quan Pháp cũ lúc bấy giờ). Thanh toán Bình Xuyên xong là đến lượt Hòa Hảo, một cuộc đuổi bắt với đủ loại cạm bẩy, xuyên qua các đồng ruộng mênh mông ngập nước, xuyên qua các giồng cát, các kênh rạch hay các rừng đước rừng tràm. Hàng loạt cuộc săn lùng người khắp nơi, không nhân chứng, được diễn ra trên hàng trăm cây số từ Đồng Tháp Mưồi đến núi Thất Sơn qua tận biên giới Việt Miên. Cho đến khi với hành động phản trắc bắt được tướng Ba Cụt, một nhân vật nổi tiếng, một vị chỉ huy trưởng gầy gò để tóc dài của kháng chiến quân Hòa Hảo mà cả người Pháp lẫn cộng sản không hạ được và cũng không khuất phục được .Ba Cụt bị xử tử bằng máy chém và cả Hoà Hảo không bao giờ tha thứ cho ông Minh về chuyện nầy. Lúc bấy giờ ông Minh là một quân nhân và sự thù hận nầy không làm cho ông quan tâm lắm. Sự chống đối triền miên của giáo phái Hòa Hảo được ăn sâu trong cả 11 tỉnh đông dân cư của đồng bằng sông Cửu Long đã làm suy giảm một cách đáng kể đến tầm vóc của người lãnh đạo Miền Nam khi ông Minh thật sự bước vào con đường chánh trị . Nhưng đây là một việc khác… Năm 1958, tướng Minh về Sai Gon trong chiến thắng. Lễ lạc, tràng hoa, vinh thăng trung tướng…. diễn hành, duyện binh, kèn trống …. Nhưng bà Ngô đình Nhu cố vấn chánh trị và em dâu của ông Diệm lại không tin tưởng những tướng lãnh quá bình dân. Bà nói với ông Diệm: -” Không nên để cho lớn mạnh dưới trướng của mình một quân nhân có quá nhiều ảnh hưởng trong quân đội . Với khuynh hướng thông thường thích các cuộc đảo chánh kiểu Nam Mỹ của người Anh, đã là một người chiến đấu giỏi, nhưng dễ bị mua chuộc, không thông minh lắm và nhất là không biết gì lắm về chánh trị , tướng Minh không khéo rồi sẽ trở thành một tướng lãnh để cho người ta nhắm vào. Chỉ cần có một đường giây nhỏ nào đó của tòa đại sứ hay Bộ Ngoại Giao Mỹ và một cố vấn có hạng của bọn Trung ương tình báo Hoa kỲ ( CIA ) là đủ rồi. Cho nên tốt hơn hết là chúng ta nên giữ một khoảng cách nào đó đối với ông ta.” Mặc dầu các phe phái đã bị đập tan, các cán bộ cộng sản không có được bao nhiêu, nhưng chế độ của ông Diệm cũng chưa được tự tại cho lắm. Là một người ngoan đạo lại thấm nhuần tập quán của Khổng Mạnh, vị Tổng Thống của Miền Nam Việt Nam là một người quốc gia cực đoan và đến giờ nầy vẫn còn độc thân, sống khắc khổ, nên có một đường lối chánh trị đặt trên nền tảng “tập trung quyền hành”, với một tinh thần đạo đức khắc nghiệt, tôn trọng và bảo vệ triệt để tôn ti trật tự trong gia đình, cùng với một sự hướng dẫn chánh trị cho dân chúng và một sự nâng đỡ vô điều kiện đối với khối giáo dân di cư từ Miền Bắc. Các vũ trường và tiệm hút đều bị đóng cửa, cờ bạc bị cấm, vợ chồng phải có cưới hỏi hợp pháp, tội ngoại tình phải bị xử tù và học tập chánh trị bắt buộc. Hầu hết các vị trí then chốt trong chánh quyền đều do trí thức Miền Trung nắm giữ. Tướng Minh vốn là người Nam , gốc Miền Nam Việt Nam , rất sợ những sự gò bó, nghi lễ và những mánh khóe chia rẽ bạn bè. Ông mạnh mẽ chỉ trích các trí thức Miền Bắc và Trung hèn hạ, thượng đội hạ đạp, tự cho mình là “những con mọt sách”. Ông không cần biết đến “dịch rửa tội” nó đang tàn phá hàng ngũ các cấp tá đang chạy lo cho vấn đề thăng thưởng của họ. Khi có dịp đi thăm miền quê với Tổng trưởng quốc phòng , ông tự tách rời khỏi đoàn quan khách, đi lẫn lộn trong đám nông dân, có khi lội xuống ruộng sình lầy mà không cần phải xăn quần hay cởi giầy., còn có đổ mồ hôi thì tự kéo tay áo lên chùi trán. Với hàng binh sĩ thì ông nói công khai :”Nên để thì giờ chạy theo tán gái còn hay hơn là chạy theo mấy ông cố đạo” Trong các cuộc tiếp tân thì ông từ chối tán tỉnh để kiếm điểm với bà Nhu, chỉ trích công khai các công chức và các sĩ quan xin vào đảng “Cần Lao” 1 Vị thế của ông lần lần bị lu mờ. Vào cuối năm 1959, ông được cử làm thanh tra các Quân Đoàn I và Quân Đoàn II (Vùng Hué và Cao Nguyên Trung Phần). Nhưng thật sự ông không rời khỏi Sai Gon và cứ ngồi ỳ trong văn phòng của mình. Vì các đặc quyền của ông đã được ông Ngô đình Cẩn làm hết rồi, ông nầy là người em “út” của ông Diệm, một vị lãnh chúa xảo quyệt và bí mật, một ủy viên chánh trị và thủ quỹ của Miền Trung Việt, một người nắm hết cả vùng với một mạng lưới cán bộ đảng viên đảng Cần Lao, từ cảnh sát đến binh sĩ và điềm chỉ viên, một người tự cho mình là thấy hết, biết hết, mua chuộc và bảo đảm sự trung thành của mọi người bằng tiền bạc hay bằng một sự giúp đỡ nào đó… một người không chịu bỏ qua bất cứ một chuyện lớn nhỏ nào cả. Ngày 11 tháng 11 năm 1960, hai vị đại tá thuộc binh chủng Nhảy Dù đã làm một cuộc đảo chánh ở Sai Gon với 3 tiểu đoàn Dù, họ đã chiếm hết các điểm trọng yếu trong thủ đô, đánh vào Liên đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống gần vườn Bách Thảo và bao vây Dinh Độc Lập. Các sĩ quan nầy đã mời ông Minh lãnh đạo cuộc binh biến nầy nhưng ông từ chối, không tham gia. Cuộc đảo chánh thất bại. Các sĩ quan chạy qua Cam Bốt. Tướng Minh cũng không được ân huệ gì hơn. Đến năm 1961, ông nhận một chức vụ mới :”Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Hành Quân” của quân đội. Nhưng cũng chỉ là một chức vụ tượng trưng “ngồi chơi sơi nước” mà thôi. Bởi vì trong những cuộc hành quân chống du kích đầu tiên và thành lập các “Khu trù mật”, ít khi mà quân đội can dự vào. Bất bình vì coi như đương nhiên bị gạt ra ngoài vòng, ông ta càu nhàu, gậm nhấm mối hận nầy, nhưng vẫn giữ một thái độ hết sức thận trọng. Năm 1963 ông lại được chỉ định làm “Cố vấn quân sự cho Phủ Tổng Thống”, một chức vụ hoàn toàn có tánh cách danh dự và thụ động. Dù sao thì ông vẫn là người rất bình dân trong quân đội nên có một nhóm tướng lãnh và đại tá đã tiếp xúc với ông để chuẩn bị cho một cuộc đảo chánh, Ông Ngô đình Nhu nhờ cảnh sát mật vụ của ông cho biết nên đã cảnh giác đề phòng. Nhưng ông không tin là ông Minh có đủ tài cán, nên bỏ qua việc nầy với một câu nói có vẻ khinh bỉ : – ” Anh ta có sức như một con voi nhưng có bộ óc của một con chim muỗi. Không có quản tượng thì voi không thể làm gì được đâu. “. Ông Nhu nói cũng đúng lắm nhưng ông đã lầm. Tướng Minh và “nhóm đảo chánh” của ông không thiếu quản tượng đâu: – Tướng Maxwell Taylor, cố vấn quân sự đặc biệt của Tổng Thống Kennedy là người đầu tiên đã tiếp xúc và khuyến khích những người tạo phản. – Đại sứ lỗi lạc của Hoa Kỳ ông Henry Cabot-Lodge, nhà quý tộc của thành phố Boston, một người biết tính toán và rất lạnh lùng… đã làm gạch nối với sự trợ giúp của một kỹ thuật gia thuộc Cục Trung Ương Tình Báo : đại tá Lou Conein (18 năm ở Việt Nam ), một bợm rượu có hạng, một kẻ phiêu lưu rất nên thơ nhưng rất dữ dằn, cha là người Nga mẹ là người Pháp, vợ là người lai Âu Á, anh là cựu chiến binh của OSS (tiền thân của CIA ) ở bưng biền Bắc Việt , cựu huấn luyện viên của những toán đặc công Việt Minh đầu tiên vào năm 1945… 2 Tướng Minh và Lou Conein đã biết nhau từ chiến dịch đánh Bình xuyên, một chiến dịch đã gây ra những sự đụng chạm nặng giữa sĩ quan Phòng Nhì của Pháp và cố vấn quân sự của CIA . Người Pháp thì ủng hộ Bình Xuyên, những người đồng minh cũ trung thành với Pháp. Người Mỹ thì ủng hộ ông Diệm và tướng Minh trong việc nắm lại thị trấn Sài Gòn – Chợ Lớn. Cộng tác chung quanh tướng Minh và Conein trong việc chuẩn bị lật đổ ông Diệm, còn có cả một nhóm chuyên viên: tướng Lê văn Kim, một sĩ quan tham mưu quan trọng (trước thế chiến 2 ở Paris là người đạo diễn đã làm việc với Marcel Pagnol), tướng Trần thiện Khiêm (sau nầy là Thủ Tướng và là cánh tay mặt của Tổng Thống Thiệu), tướng Mai hữu Xuân, (cựu tư lệnh Cảnh Sát Đặc Biệt, một người có tánh dứt khoát, hung dữ và thù hận, biết rất nhiều chuyện bí mật và có dưới trướng nhiều toán sát thủ trung thành và phục vụ vô điều kiện.), Đại tá Đỗ Mậu, Giám Đốc Nha An Ninh Quân Đội, cựu trung sĩ vệ binh Việt Nam thời Pháp, một con người mưu sĩ đầy mánh khóe nhưng không biết ngại ngùng là gì. Con bài chủ của nhóm người nầy là tướng Trần văn Đôn, Tham mưu trưởng QLVNCH, người được bà Nhu vừa đẹp vừa say mê bảo vệ đặc biệt. Tướng Đôn là người được Tổng Thống Diệm và ông Nhu tín nhiệm hoàn toàn, sẽ là người phối hợp không bị nghi ngờ cho toàn nhóm. Ngày 1 tháng 11 năm 1963, chế độ bị lật đổ, Cả hai ông Diệm và Nhu đều bị đại úy Nhung thanh toán bằng mấy phát súng lục 12 ly và bị đâm thêm nhiều nhát dao găm. Đại úy Nhung, sĩ quan cận vệ của tướng Minh, là người thi hành tất cả lệnh của tướng Minh một cách mù quáng. Sau khi thành công, nhóm đảo chánh thành lập “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng” và tướng Minh được giao cho chức Chủ tịch nắm lấy chánh quyền. Nhưng không phải chỉ hạ bệ một ông Tổng Thống bằng đại bác là đã chứng minh được là mình có khả năng trị quốc. Tướng Minh lúc nào cũng trung thành với bạn bè nên đã chỉ định người bạn cũ trong kháng chiến và cũng là bạn trong tù là vị quan lại Nguyễn ngọc Thơ vào chức vụ Thủ tướng Chánh Phủ , và giao Bộ Thể Thao cho một người bạn khác của ông, một kiến trúc sư ốm yếu bệnh hoạn , một người suốt cả đời chưa bao giờ biết làm một động tác thể dục nào. Hội đồng Quân Nhân quá bận tâm với hồ sơ về “sự độc tài của chế độ Diệm” nên không có đưa ra được một chương trình hành động về chánh trị hay kinh tế nào . Tướng Minh đã có những lời tuyên bố làm cho các nhà báo sửng sốt: “Chúng tôi cũng đã nghĩ tới học thuyết. Nhưng trong hiện tại, có rất nhiều việc quan trọng hơn: nắm vững lại công việc để đi tới chiến thắng.” Ngoài ra, vì các đơn vị ưu tú của quân đội cứ tập trung và đóng mãi ở thủ đô, cũng như có nhiều tướng lãnh mải lo tìm chức vụ và bổng lộc, nên đã có một khoảng trống trầm trọng trong lãnh thổ. Các “ấp chiến lược” từng được xem là xương sống của hệ thống phòng thủ của dân chúng chống lại Việt Cộng lại bị phá tan. Có nhiều vị tổng bộ trưởng và công chức cao cấp bị bắt giam hay lưu đày, và có nhiều vị tỉnh trưởng bị cách chức. Cộng sản lợi dụng tình trạng hỗn loạn trong quân đội , lợi dụng khoảng không chánh trị và sự thiếu vắng của nền hành chánh trong lúc nầy để tiến hành những hành động qui mô hơn trong tất cả vùng quê thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Còn nói về việc “nắm chặt tình hình” của các tướng lãnh thì đó thường được diễn dịch ra là những cuộc ”làm tiền”. Trước tiên, các “ông đảo chánh” bắt đầu là “đánh vào” các kỹ nghệ gia, họ cho đó là những người đã làm giàu dưới trào chế độ cũ. Cố vấn tài chánh của ông Nhu, một nhà tư sản có hạng ở Hué. đã bị bắt buộc phải nộp 60 triệu đồng. Theo lệnh của tướng Minh, vị linh mục từng làm lễ rửa tội cho ông Diệm bị bắt . Bị hăm dọa xử tử hình, linh mục nầy phải giao lại cho vị nguyên thủ quốc gia 35 triệu đồng, số tiền đã được Tổng Thống Diệm giao cho nhà thờ thuộc Dòng Chúa Cứu Thế ở đường Kỳ Đồng.. Sau đó, các “ông đảo chánh” tự chia nhau khoản 500 triệu tiền công quỹ còn lại sau cái chết của ông Diệm. Ở Dinh Độc Lập, chán nản và phiền phức vì cứ phải cứu xét các hồ sơ, tướng Minh tiếp hết mọi người . . làm cho các cơ quan an ninh muốn điên lên. Có một ngày nào đó, trên 20 người mặc quần ngắn không cà vạt đi giầy bố, đến trính diện ở cổng. Tất cả đều là bạn quần vợt của ông Minh, những ông thông ông phán, những thầy thơ ký, những người gác cửa, lục sự và có cả những người lượm banh nữa. Tất cả đều vào công viên và chơi ở sân quần vợt của Phủ Tổng Thống luôn trong suốt hai giờ đồng hồ với tướng Minh. Ngay ở nhà ông Minh ở đường Chasseloup Laubat, các cửa vào ra cũng không có người canh gác. Còn Bà tướng Minh thì cũng đẹp, lớn con, lúc nào cũng tươi cười, không kiểu cách, mời tất cả bạn bè. Nhà luôn luôn có bạn bè khách khứa, nhạc sĩ, các chiêm tinh gia, và mấy tay tứ sắc… Nhưng dân chúng thì không ai chú ý nữa. Cách đây mấy tuần, dân chúng Sài Gòn rất mừng rỡ hoan nghênh tận tình sự sụp đổ của một chế độ mà họ chán ghét. Các tướng lãnh thấy được hoan hô nhiệt liệt, ngây thơ tưởng rằng dân chúng hoan hô mình. Thật không còn cái lầm nào hơn !. Đám đông dân chúng chỉ vui mừng vì tìm lại được sự tự do và nhất là lời hứa là Miền Nam Việt Nam có triển vọng chấm dứt được trận giặc đã kéo dài quá lâu rồi. Dân chúng thật thà tưởng rằng sự sụp đổ của chế độ Diệm là có thể dàn xếp được tất cả. Nhưng giờ đây họ thấy là cuộc chiến chẳng những vẫn tiếp tục mà còn bành truớng mạnh thêm lên, họ thấy là khó mà có được thanh bình và cánh cửa Tự Do vừa thấy mở ra được một lúc thì lại được đóng lại ngay rồi. Một luật sư Việt Nam được ra khỏi nhà tù, không bị tình nghi là có cảm tình với chế độ cũ, đã tâm sự với một đặc phái viên của một tờ báo lớn ở Paris: “Ông biết bây giờ có một sự khác biệt nào với “lúc trước” không ? Các cô gái điếm có thể níu kéo khách rất là tự do trên đường Tự Do. Còn ở các quán rượu thì người hầu bàn không còn bị bắt buộc phải mặc chiếc áo bờ lu trắng theo lệnh của bà Nhu nữa, mà họ được phép ăn mặc theo sở thích và theo khuynh hướng riêng của họ. Tôi quên nói là kể từ nay được nhảy tuýt một cách hợp pháp nữa.. Thật là quá yếu !” Thật ra thì không còn có vấn đề hứa hẹn gì về Tự Do đâu. Các cuộc phổ thông đầu phiếu coi như được dời lại sau khi chiến tranh kết thúc.Một “Hội Đồng Nhân Sĩ” được thành lập với nhiệm vụ rất khiêm nhường là soi sáng Chánh Phủ trong mọi quyết định. Nhưng rồi Hội Đồng nầy cũng không đi đến đâu cả. Người ta ghi nhận có một số người mới tự thiêu. Thật khó mà tin được . Theo luận điệu chánh thức của chánh quyền thì “họ chỉ tỏ thái độ vui mừng vì cuộc đàn áp Phật Giáo đã chấm dứt”. Các đảng phái chánh trị tái hoạt động một cách khó khăn. Báo chí thì tràn ngập (trên 50 tờ báo được xuất bản sau ngày đảo chánh, và chỉ cần có một lá thơ giới thiệu của một tướng lãnh nào đó là giấy phép ra một tờ nhật báo có thể được phê chuẩn ngay). Báo chí được phép tố cáo chế độ cũ. Nhưng nếu tờ báo nào tự do chỉ trích hành động của các tướng lãnh thì sẽ bị tịch thu ngay và vĩnh viễn bị đóng cửa. (việc này đã xảy ra ba lần trong vòng không đến một tuần). Chế độ của ông Diệm dĩ nhiên phải có những lỗi lầm (lỗi lầm chính yếu nhất là đã làm phật lòng người Hoa Kỳ), nhưng chế độ nầy đã góp công vào sự ra đời và tồn tại của chánh quyền Miền Nam Việt Nam. Chế độ đó cũng đã thiết lập được một hàng rào ngăn chặn bọn Việt Cộng, có thể là chưa hữu hiệu lắm, nhưng cũng là một rào cản. Bây giờ thì không còn gì cả. Miền Nam Việt Nam là một đất nước đang trong thời nội chiến mà lại không thấy có chánh quyền nào hết! Dưới thời ông Diệm, đã có một ý kiến, một cán bộ xã hội và kinh tế, một đường lối chánh trị và một niềm tin. Đã có được một người : Nhu, người biết làm cho người ta nghe lời, và mọi người đều run sợ trước người đó. Những mệnh lệnh của ông ta nói ra đều được thi hành. Nhưng bây giờ thì là một nền Cộng Hòa của những người bạn nhỏ . Người nào cũng là chỉ huy hết mà không có ai là người tuân hành. Thật là cả một sự hỗn độn. Tất cả quyền hành quân sự lẫn hành chánh đều nằm trong tay “Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng”.. Nhưng rất rõ ràng là những người lãnh đạo của nhóm đảo chánh hình như không biết phải làm gì với quyền bính đó. Dân chúng đã tin tưởng rằng các tướng lãnh khi nắm được chánh quyền rồi thì phải có quyết định đi đến hành động, sau khi đã suy tính về kế hoạch của họ, dù là có quá lâu. Không có gì không đúng ! Cuộc đảo chánh không phải là một cuộc hành quân “vì” một chuyện chơi nào đó! mà là để “chống” một chế độ hiện hành: chế độ gia đình trị của nhà họ Ngô. Và hành động bằng vũ lực nầy kéo theo 2 án mạng đã tõ ra thật sự vô nghĩa. Rất mau chóng những người không được chuẩn bị cho việc nầy thấy là mình bị đứng trước một nhiệm vụ là phải soạn thảo một chương trình hành động mới , một nhiệm vụ quá cao đối với họ. Nhưng thay vì phải hoạch định một học thuyết, họ chỉ cần cho bộ máy hành chánh cũng như kinh tế chạy lại, và cho dân chúng tham gia…. Các tướng lãnh cứ tự giam mình trong văn phòng của bộ tham mưu với những cuộc thương nghị dài dòng vô ích mà cuối cùng chỉ thấy có một quyết định cụ thể duy nhất được thông báo cho dân chúng. Đó là “lệnh tịch thu” tài sản của tất cả thành viên thuộc gia đình họ Ngô, còn sống hay đã chết cũng vậy, và của tất cả những người cộng sự thân cận của họ. Bây giờ chỉ còn trông chờ ở người Mỹ mà thôi. Nhưng đại sứ Cabot Lodge, nản lòng vì những sự cãi vã và bất lực rõ ràng của các tướng lãnh, đã giữ khoảng cách xa trở lại. Không còn những buổi chơi quần vợt, không còn những cuộc tiếp tân thân mật ở tòa đại sứ Mỹ nữa, tất cả những gì để cho dân chúng thấy được , nhất là gia đình họ, những người quân nhân đó bị thất vọng phần nào vì không quen lễ nghi danh dự cho những nhân vật quan trọng. Không đầy 3 tháng sau sự thành công nổi bật của cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11, vì tuyên bố “trung lập” và “thân Pháp”, tướng Minh đã bị tướng Khánh bắt giữ và đuổi ra khỏi chánh quyền , Tướng Khánh là một nhân vật béo tròn, hung tợn và để râu cầm, là người được Cabot Lodge đưa vào quỹ đạo để dễ điều khiển. Nhưng tướng Minh bị giữ không bao lâu và chính tướng Khánh đã nài nỉ để ông Minh trở lại với chức vụ nguyên thủ quốc gia . Sau vài ngày lưỡng lự, tướng Minh cuối cùng đã chấp nhận. Ông ở chức vụ đó cho đến ngày 15 tháng 9 1964, nhưng thực tế cũng không có quyền hành gì. Vào cuối tháng 10 năm đó, tướng Khánh lại bị tướng Không quân lật đổ. Tướng Minh bị đày sang Thái Lan dưới danh nghĩa là “đại sứ lưu động”, chức vụ thì giả định, nhưng lương bổng thì đầy đủ. Trong khoảng 4 năm sống lưu vong ở Bangkok, tướng Minh liên tiếp được các Chánh Phủ sau nầy ở Sài Gòn cho hưởng lương đại sứ rất đầy đủ. Biệt thự của ông nằm ở vùng ngoại ô Bangkok, những người dân Thái ở gần ông thường gọi là “ông Việt Nam to con”, nhưng ở đây ông buồn, vì ông nhớ nhà. Để giết thì giớ, ông đọc hàng loạt sách loại trinh thám (Proudhon và Mémorial de Sainte-Hélène), nuôi cá và trồng lan. (ông có cả một bộ sưu tập lan rất đẹp). Các bạn bè có dịp ghé lại Bangkok đều có đến thăm ông. Ông muốn trở về Việt Nam nhưng Sài Gòn vẫn làm lơ giả điếc.. . Vào một ngày tốt trời nào đó trong năm 1965, ông chịu hết nổi nên đáp máy bay hàng không Thái về Sài Gòn .Tướng Nguyễn cao Kỳ, lúc bấy giờ là Thủ Tướng, cấm không cho phi cơ đáp xuống và cho một phi tuần phóng pháo cơ hộ tống chiếc phi cơ hàng không đến tận biên giới Thái Lan, Chiếc phi cơ phải trở về Bangkok với tất cả hành khách của nó. Vào tháng 5 năm 1967, vốn muốn về lại Sài Gòn hơn là muốn hoạt động chánh trị trở lại, Tướng Minh tuyên bố sẽ về ứng cử Tổng Thống vào tháng 9. Nhưng tên ông bị gạt ra ngoài danh sách ứng cử viên Tổng Thống và tướng Nguyễn văn Thiệu đắc cử. Cuối cùng mãi đến ngày 5 tháng 10 năm 1968 tướng Minh mới được phép về Việt Nam .. Ông đến gặp ngay Tổng Thống Thiệu, người đã cầm quyền từ 3 năm rồi, được Tổng Thống đề nghị giữ chức vụ cố vấn cho Tổng Thống. Ông vừa từ chối.vừa càu nhàu: – “Tôi đã biết quá về cái món nầy ở Phủ Tổng Thống rồi ! Tôi đã có lần ở chức vụ nầy rồi. Tôi không muốn làm chiếc bình chưng bông bày trên kệ nữa” Với các nhà báo thì ông chỉ tuyên bố nhẹ nhàng:”Tôi muốn đứng ngoài mọi hoạt động chánh trị , trong vị trí của một quan sát viên.” Một vài tuần lễ trôi qua, sau đó trong những ngày đầu tháng 11, tướng Minh nêu lên một phản đối “chống lại việc Hoa Kỳ ngưng dội bom ngoài Bắc Việt vô điều kiện” một điều mà ông coi như một sự “đầu hàng” và một “hành động khuyến khích kẻ xăm lăng”. Một năm sau, ngày 1 tháng 11 năm 1969, ông tập họp các cựu tướng lãnh trong cuộc đảo chánh để “kỷ niệm ngày lật đổ chế độ độc tài của ông Diệm”. Báo chí đối lập đã ghi nhận một cách hiểm độc rằng :”một người duy nhất có giá trị lại vắng mặt trong buổi họp mặt thân mật nầy là Tổng Thống Thiệu, một người đã có một vai trò chính yếu trong cuộc đảo chánh nầy.” . Lo âu sợ thua kém các đồng nghiệp, một bình luận gia thân Chánh Phủ nghiêm khắc nhận xét là – “lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam nơi mà sự kính trọng người chết là một điều thiêng liêng, thì những người có trách nhiệm trong hai án mạng lại dám trân tráo lăng nhục linh hồn của các nạn nhân của họ bằng cách uống rượu ăn mừng hành động tội ác của mình.” Kế tiếp, ngày hôm sau, chúa nhật 2 tháng 11, Tổng Thống Thiệu cho phép cử hành một buổi lễ “Tưởng Niệm” cầu siêu cho linh hồn của ông Diệm và ông Nhu, một buổi lễ đạo rất long trọng tại nhà thờ Chánh Tòa ở Sài Gòn, có sự tham gia của Tổng Trưởng Thông Tin, đại diện của Chánh Phủ. Sau buổi lễ, một đoàn khoản 2000 giáo dân mang hoa đi trong vòng trật tự đến nghĩa trang Mạc đỉnh Chi, nơi hai anh em Diệm Nhu được an táng trong hai ngôi mộ cạnh nhau cùng chung dưới một tấm xi măng đúc. Được phỏng vấn sau đó, ông Tổng trưởng Thông Tin trả lời cho các phóng viên là “sự có mặt của ông nơi đây là “để tỏ lòng tưởng nhớ đến ông Diệm, một vị anh hùng dân tộc, một gương mặt lịch sử của nước Việt Nam độc lập”. Tức khắc các tờ báo theo Phật Giáo cho đó là một sự “khêu khích”. Tướng Minh phá vỡ thình lình sự im lặng của chính mình bằng hai bản thông cáo đặt vấn đề tính cách đại diện của Tổng Thống Thiệu. Đồng thới ông tuyên bố chủ trương tổ chức trưng cầu dân ý về “một hình thức chánh trị” thật sự cho nền độc lập quốc gia về sự giải ước của quốc gia Việt Nam là “không thể ngả theo bên tả hay bên hữu mà phải ở vị trí trung lập, ở giữa hai thế giới tư bản và cộng sản” Tổng Thống Thiệu xẵng giọng cãi lại ngay: “Chánh Phủ VNCH được thành lập từ “tự do phổ thông đầu phiếu” . Tôi thi hành sứ mạng do dân chúng phó thác cho tôi. Chúng ta đã đi gần đến chiến thắng rồi. Trung lập là môt điều phi lý, là một hình thức ngụy trang đi đến đầu hàng cộng sản . Có nhiều chánh trị gia bực tức chỉ vì với mục đích thỏa mãn dục vọng cá nhân, đe dọa sự đoàn kết quốc gia trước kẻ thù”. Thế là cuộc so kiếm đã bắt đầu. Nhưng đó chỉ là một màn chạm trán nhỏ thôi. Cuộc chiến thật sự sẽ được diễn ra trong tương lai. Tướng Minh lại giữ im lặng, mỗi năm chỉ đi ra khỏi nhà đôi ba lần để chua chát chỉ trích chế độ mỗi lần một nhiều hơn. Biệt thự ở đường Chasseloup Laubat không vì thế mà thiếu vắng người lui tới: bạn bè, khách khứa, thân hữu, sư sãi, thầy bói, sứ giả mang tin tức đến từ Pháp, Nhật hay Hoa Kỳ , các tướng lãnh khác hay Tổng Bộ trưởng bị lưu đày. Người ta trò chuyện, đánh bài, và uống trà. Khi ông không tiếp khách thì ông đến “Câu lạc bộ thể thao Sài Gòn ” với cây vợt trên tay. Ông đánh quần vợt với mấy ông nghị sĩ, dân biểu, các tướng lãnh, các giáo sư, với người Mỹ, với nhân viên ngoại giao của các sứ quán ngoại quốc.. Ở vùng Đông Nam Á, chơi quần vợt có một đặc điểm là tạo được sợi dây thân ái giữa các đấu thủ không phân biệt chánh kiến. Và tướng Minh là một đấu thủ chơi không biết mệt. Tất cả những người đến với ông ta đều nhấn mạnh là viên cựu tướng lãnh đáng sợ này đã già dặn hơn trước nhiều, và đã thay đổi rõ nét là một người tranh đấu cho “hòa bình”. Ông chỉ nổi giận lên khi người ta nói đến “người Bắc kỳ” (nguyên tác “Tonkinois” ) Tuy nhiên dần dần ông Minh cũng thành lập một nhóm chánh trị, mở rộng thêm ra và cố gắng hướng dẫn các lực lượng đối lập. Những người của ông ta và những người hợp tác với ông được phân ra thành 4 nhóm rõ rệt: – những ông đốc phủ, chủ sự hành chánh và cựu tỉnh trưởng, những công chức già nổi bật với nền văn hóa Pháp, những người được kính trọng qua nhiều thể chế. – Những sư sãi cốt cán của chùa Ấn Quang và của nghị sĩ Vũ văn Mẫu, tiến sĩ luật, chủ tịch Phong Trào Hòa Giải Quốc Gia (phần đông là Phật Tử), được người Mỹ tài trợ và thao tác từ lâu. – một số sĩ quan trẻ, giáo sư, nhà báo đối lập, và những công chức chuyên nghiệp có khuynh hướng tiến bộ được đào tạo ở trường Quốc Gia Hành Chánh có liên lạc với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam , những người cấp tiến chủ trương cải cách xã hội Việt Nam , và chủ trương một Chánh Phủ Liên hiệp với cộng sản. – Những cựu tướng lãnh của cuộc đảo chánh 1 / 11, đã từ lâu đứng ngoài chánh quyền và không có một trách vụ quân sự nào, vừa chống ông Thiệu vừa chống cộng sản. Sự khác biệt nhau của các nhóm nầy, tuy cùng đồng ý với nhau về sự ra đi của Tổng Thống Thiệu nhưng có nhiều bất đồng về phương pháp áp dụng, và đường lối chánh trị phải theo để đi đến mục đích, đã giải thích phần nào những cuộc vận động bất thần và những lập trường mâu thuẩn của tướng Minh, thường hay ngả theo kẻ đối thoại nào ăn nói thuyết phục nhất. Vì thế mà sau nhiều lần tránh né, bàn bạc, rụt rè… tuớng Minh mới bất thần loan báo là sẽ ra ứng cử Tổng Thống vào năm 1971. Cuộc vận động bắt đầu, lúc đó tôi còn ở Sài Gòn. Các quan sát viên ngoại quốc nhận xét là tướng Minh có vài lợi thế trong chuyện tranh cử: ngoài những nhóm đã nói ở trên, ông còn được sự ủng hộ của Đức Giám Mục Bình của địa phận Sài Gòn, và của Phong Trào Trung Lập ở Paris của cựu Thủ Tướng Trần văn Hữu, người đỡ đầu cũ của ông, Ngoài ra ông cũng có một người em út là tướng cộng sản Dương văn Nhật (1) thuộc “quân đội nhân dân Bắc Việt”, điều nầy giải thích tại sao đài Hà Nội và đài Mặt Trận không bao giờ tấn công tướng Minh trên hệ thống truyền thanh. Có 4 người lo vận động tranh cử cho ông. Hai nhân sĩ là ông Tôn thất Thiện và ông Nguyễn ngọc Thơ. Hai dân biễu trẻ là ông Lý quý Chung và Ngô công Đức. Trong thời gian nầy tôi đã có gặp tất cả 4 người nầy nhiều lần. – Ông Tôn thất Thiện sống trong một căn nhà rất đẹp với đầy đủ tiện nghi được xây cất trong một miếng vườn được phát họa rất là chu đáo. Ông là người miền Trung, ốm yếu và nóng tánh, có gương mặt quí phái, thuộc một gia đình quý tộc ở Hué. Là một con người kiêu kỳ và kiên quyết, ông nói thành thạo tiếng Anh và tiếng Pháp. Một vài chỉ dấu đặc biệt :ông có một người anh em là tướng trong Không Quân Bắc Việt; ông có liên lạc chặt chẻ với cơ quan tình báo Anh, và không thích người Miền Bắc (nguyên tác: Tonkinois). Ông bắt đầu đi vào con đường chánh trị trong chức vụ Tùy Viên Báo Chí và thông dịch viên chánh thức của Tổng Thống Diệm. Không đồng ý với những phương pháp và mục tiêu của Tổng Thống , ông từ chức và đi Thụy Sĩ để hoàn tất học vị tiến sĩ về khoa học chánh trị . Sau đó ông là Bộ trưởng của Phó Tổng Thống Hương, nhưng nhận thấy ông nầy quá lạc hậu và thiển cận nên lại từ nhiệm một lần nữa và nhảy sang phía đối lập. Bây giờ thì số phận của ông được gắn liền với số phận của tướng Minh Dương, ông tổ chức các buổi phỏng vấn và thu xếp các buổi tiếp xúc với dân chúng cho tướng Minh, đồng thời ông cũng đi dạy ở trường đại học Phật Giáo ở Sài Gòn và cộng tác với tờ báo Kinh Tế Viễn Đông của Hong Kong. Ông nói với tôi: -“Tôi chấp nhận yểm trợ cho ông Minh vì ông là một tướng lãnh biết chấp nhận uy quyền hành chánh đối với quân nhân . Ông hiểu rõ về tính cách pháp lý, và biết tôn trọng dân chúng. Ông ta muốn chấm dứt cuộc chiến và nói chuyện với “Mặt Trận”. Còn ông Thiệu lại là người của chiến tranh. Ông chỉ tồn tại và sống đượclà nhờ vào chiến tranh và sự yểm trợ của người Mỹ, cố vấn và trả lương cho ông ta và áp đặt cuộc chiến đối với chúng ta. Nước Việt Nam phải chấm dứt không còn là một “trại lính” hay một nhà kho khổng lồ chứa đầy dụng cụ chiến tranh do một bọn côn đồ đần độn mặc quân phục điều hành, một bọn người chỉ có một công tác chính yếu là “đếm xác chết” . Các tướng lãnh của chúng ta thường hay quên rằng những xác chết lạnh cứng mà họ xếp lên bàn như những con thỏ mà họ đã đi săn được, không phải là những con thú vật mà chính là những người Việt Nam như chúng ta .” Khi tôi lưu ý với ông là “trong cuộc đời binh nghiệp của mình, tướng Minh cũng thường phải làm những bản tổng kết tương tự, và lúc ông có chánh quyền trongtay các tổng bộ trưởng dân sự của ông không thể làm gì được nếu không có ý kiến của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng gồm toàn là tướng lãnh . Hơn nữa bọn Việt Cộng mỗi ngày cũng đều có thông báo nêu lên con số hàng trăm binh sĩ và những viên chức Chánh Phủ bị họ giết…” thì ông Tôn thất Thiện cương quyết ngăn tôi lại ngay và nói: – ” Chỉ có những người ngu xuẩn mới không chịu thay đổi quan điểm hoặc không có khả năng rút tỉa những bài học từ những sự thất bại của họ. Tướng Minh đãtừng bị thất sủng và lưu đày, nên có thì giờ suy gẫm. Bây giờ thì ông đã biết rõ là không phải chỉ tăng thêm các sư đoàn, không phải chỉ khóa mồm báo chí, hay tăng quân số cho cảnh sát là có thể cai trị đất nước được đâu. Dĩ nhiên là ông không hiểu nhiều về kinh tế và chưa có một ý kiến nào chính xác về các bài toán quốc tế. Nhưng đã có chúng tôi ở đây để giúp đỡ và hướng dẫn cho ông. Điều quan trọng là ông ta có thể tái lập lại sự Tự Do cho nền Dân Chủ và khóa các họng súng lại. “ – Một vị cố vấn khác mà tướng Minh thường nghe theo là ông Nguyễn ngọc Thơ, một người khôn khéo và ít đanh thép hơn. Là con của một đại điền chủ ở Miền Nam , ông là một quan chức già, khuôn mẫu, khôn ngoan, lịch lãm, luôn tươi cười . Dưới thời Pháp, ông là một “chức sắc” của giáo phái Cao Đài, và bí thư của vị toàn quyền Đô đốc Decoux, kế đó là cộng sự viên của người Nhật và đã nhiều lần ở chức vụ tỉnh trưởng trước khi đi tập sự một khóa trong bưng biền với Việt Minh. Tổng Thống Diệm rất quý trọng ông nên đã đưa ông đi nhận chức đại sứ đầu tiên của Việt Nam ở Nhật Bản, sau đó lại gọi ông về giao cho chức vụ Tổng trưởng Bộ Kinh Tế, và cuối cùng là Phó Tổng Thống . Sau đó nhờ hợp tác với những người đảo chánh ông Diệm ngày 1/11/63 ông lại kế nghiệp người đã bảo trợ và nâng đỡ ông trong chức vụ lãnh đạo Chánh Phủ không khó khăn gì ! Qua những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời nghiệp vụ của mình, ông Nguyễn ngọc Thơ đã giữ được một số lớn kinh nghiệm cho những chuyện công cộng, một hệ thống tin tức rất tốt, một sự ủng hộ đắc lực của các hội viên hội Tam Điểm và những người tư bản ở Paris, một vài bạn bè còn sót lại trong nhóm lãnh đạo cộng sản, những liên hệ rất tốt với các trung tâm dịch vụ và một vài nhóm chánh trị Nhật Bản, và những tài liệu mật được cập nhật rất cẩn thận. Tính ông vốn người thận trọng, lại thêm dè dặt vì hoàn toàn bị lãng tai, ông ở xa thành phố trong một ngôi nhà kín đáo nhưng sang trọng, có khá nhiều người phục dịch tuy luôn mặc áo bỏ ngoài nhưng khó che dấu được súng lục đeo ở thắt lưng , ngay cả lúc mời trà . Khác hẳn với ông Tôn thất Thiện thường thích trình bày dài dòng kiểu triết lý – sử học, với những lý luận biện chứng, ông Nguyễn ngọc Thơ hay dùng những câu ngắn gọn nhưng đầy thuyết phục. Với một nụ cười ranh mãnh, ông nói: – “Từ hai năm nay người Mỹ và người Tầu đã kín đáo gặp nhau . Cách đây 2 tháng họ đã công khai hóa những mối quan hệ giữa họ với nhau. Bây giờ thì họ liên lạc điện thoại với nhau hằng ngày. Rồi đây họ sẽ ăn chung với nhau một bàn . Ông Thiệu là hòn sỏi trong tô canh của họ. Dĩ nhiên là họ cần phải vứt bỏ hòn sỏi đó nếu họ muốn ăn chén súp đó một cách yên lành.Đối với “kế hoạch 7 điểm” của Mặt Trận đưa ra, người ta chỉ nêu lên 2 chủ đề không đồng ý: – chuyện rút quân tức khắc của Hoa Kỳ và chuyện ra đi của ông Thiệu. Điểm thứ nhất sẽ được giải quyết không xa. Người Mỹ ra đi, việc nầy không có gì phải bàn cãi nữa. Chỉ còn lại điểm thứ hai. Chương trình và đề tài tranh cử của chúng tôi được đặt trên sự vãng hồi hòa bình với 2 lý do: Trước hết bởi vì bắt buộc các cuộc chiến phải được chấm dứt. Ngưới ta không thể vừa nói chuyện ích lợi với nhau mà vừa bắn nhau. Thứ đến bởi vì chúng tôi chắc chắn rằng ông Thiệu không thể cưỡng lại nền hòa bình bao lâu nữa . Ông ta là một người chống cộng sản nhưng thiển cận còn hơn cộng sản nữa. Và chế độ của ông nói là chống cộng sản nhưng hành sử cũng máy móc giống y như họ vậy. Lực lượng quân sự , hành động tâm lý chiến, và cảnh sát có mặt khắp nơi… Tất cả kết cấu chánh trị của ông Thiệu đều dặt trọng tâm vào chiến tranh. Và chiến tranh giải thích tất cả, và chứng minh cho tất cả. Những sự hy sinh, đòi hỏi ngân khoản, sự lạm phát, các sự trấn áp, khủng bố những người đối lập … Chấm dứt được chiến tranh là tất cả kết cấu đều sụp đổ theo hết. Không có gì giản dị cho bằng !” – Ông Lý quý Chung, trưởng nhóm trẻ, là một người có cử chỉ lanh lợi và ăn nói dễ dàng. Xuất thân từ một gia đình khá giả ở Đồng Bằng sông Cửu Long, tuổi vào khoảng trên 30, tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh, tiên khởi ông là giáo sư sinh ngữ (Anh và Pháp), trước khi nhảy vào làng báo như một tổng biên tập viên cho nhiều tờ báo. Sau đó ông ra một tờ nhật báo cho chính mình: tờ “Tiếng Dân”. Chính trong tờ báo nầy ông đặt lại rõ ràng “tấn bi kịch của những người Việt Nam đứng ngoài cuộc chiến” , bị kẹt giữa 2 khối đối kháng, và từ đó ông đưa ra ý kiến thành lập “lực lượng thứ ba”. Năm 1966 ông đắc cử dân biểu, và nhanh chóng nổi tiếng qua những cuộc can thiệp gay gắt và liên tục với “chánh quyền quân sự” , đồng thời tập hợp và thành lập một nhóm 18 dân biểu đối lập rất năng nổ. Lúc nào không có mặt trong Quốc Hội thì ông thích ngồi ở phòng trà Givral ở đường Tự Do, nơi hẹn hò thích nhất của các nhà báo Mỹ mà ông tìm cách nhập bọn. Ông thường nói với tôi: -“Các nhà báo ngoại quốc là phương tiện duy nhất của chúng tôi để mở nắp nồi “sốt de” đầy hơi mà Tổng ThốngThiệu đã đặt trên đầu của chúng tôi cho ra bớt hơi nóng. Những câu chuyện và những tin tức mà chúng tôi trao đổi với họ thường là khởi điểm của các cuộc điều tra giúp đưa ra ánh sáng những vụ tai tiếng và những chuyện buôn lậu mà Chánh Phủ muốn ém nhẹm.” – Cựu dân biểu Ngô công Đức , 39 tuổi, đẹp trai, trác táng, tính hơi ngông và rỡm, là một nhà doanh nghiệp và anh có một chỗ đứng riêng biệt trong sinh hoạt chánh trị ở Miền Nam. Anh là cháu của Đức Cha Bình Giám Mục ở địa phận Sài Gòn, cha anh là một người công giáo bị Việt Cộng hành quyết vào thập niên 50 ở vùng Trà Vinh, một tỉnh cũ của Cam Bốt bên bờ sông Cửu Long. Anh có tài hái ra tiền nhưng cũng xài tiền ra như nước . Anh đã tuần tự là chủ báo, thầu khoán , và cả bốc rỡ hàng có giao kèo cho người Mỹ, đắc cử dân biểu năm 1967. Sau khi thất cử năm 1971. thình lình anh trở thành người của thời cuộc khi anh sang Paris (Pháp) và trình bày kế hoạch “hòa bình” của anh: -“Việt Nam Hóa” là độc tài cộng (+) với chiến tranh”. Từ đó giới quân sự đã liệt anh vào loại “bồi bút” của cộng sản, và anh đã trở thành kẻ thù của chế độ ông Thiệu.Tờ “Tin Sáng” của anh nhiều lần bị tịch thu, nhà của anh bị cho nổ bom và xe của anh bị đốt. Anh viết nhiều bài theo nhu cầu của báo chí Mỹ và Pháp. Bị cảnh sát quấy rầy quá mức , anh đành phải chạy sang Pháp tỵ nạn, trong lúc tờ Tin Sáng của anh vẫn tiếp tục đánh phá không ngừng chống sự độc tài của ông Thiệu. Từ Paris nơi anh đã tăng thêm sự liên lạc với các phái đoàn của cộng sản Bắc Việt, của Mặt Trận, và của nhóm trung lập, anh đã gởi về những bản tường trình dài nhằm phân tách tình hình giúp tướng Minh . Những người chống đối anh thường biết về anh rất rõ, nên rất ngạc nhiên khi thấy anh viết trên diễn đàn của tờ Le Monde những bài rất đặc sắc với một cú pháp quá điêu luyện, trong khi bản thân anh thường nói tiếng Pháp gần như không có quy tắc nào hết. Sự thật là khi nói chuyện với anh ta nhiều lần, tôi nhận thấy trình độ học vấn của anh chỉ ở cấp tiểu học mà thôi. Trong vấn đề chánh trị , kinh nghiệm cho thấy là thường chỉ cần có gan, vài ý kiến hay .. và một ít tiền. Sau đó những cây viết hay sẽ tìm đến không khó lắm.. (sau đó anh phát động phong trào “phản chiến” mạnh mẻ ngay bên Mỹ và Pháp tiếp tay cho kế hoạch xâm chiếm Miền Nam Việt Nam của cộng sản Bắc Việt). Cuộc tranh cử năm 1971 khởi đầu bằng dục vọng và sự náo nhiệt. Hai bên hiện diện đối chọi nhau mãnh liệt..Không khí căng thẳng lại tăng thêm gấp bội khi một ứng cử viên thứ ba nhảy vào cuộc : tướng sáng giá Nguyễn cao Kỳ. Có nhiều phòng trà bị đánh bằng chất nổ, 15 chiếc xe Mỹ bị đốt chỉ trong vòng 10 ngày, Hòa thượng Thích thiện Hoa kêu gọi “một triệu đoàn viên” thuộc phong trào Phật Giáo đấu tranh của Ấn Quang hãy đoàn kết lại, hàng ngàn thương phế binh đội nón lá vẽ đủ mọi khẩu hiệu chống Mỹ tập trung trước tòa đại sứ Hoa Kỳ , thượng nghị sĩ Mc Govern, người chủ trương “hòa bình” tình cờ ghé ngang Sài Gòn bị vây trong một nhà thờ và bị một đám đông giáo dân chống cộng hăm dọa treo cổ; sinh viên và cảnh sát đụng nhau, bom xăng chống lựu đạn cay, Nhà kiếng, trụ sở của Tổng Liên Đoàn Lao động, thân Chánh Phủ bị các cựu chiến binh đốt phá và tấn công bằng cốt mìn…. Chánh trị Việt Nam đang xuống đường! Một nhóm đại tá trẻ thân Tổng Thống Thiệu đổ hết trách nhiệm cho đối lập và đặc biệt là tướng Dương văn Minh. Một vị trong nhóm nói với tôi: – ” Ông Minh Dương bình dân thật vì ông không có làm gì hết. Ông là một người tốt, không ai nghi ngờ điều đó, nhưng trong quân đội ông không đại diện cho ai cả. Khi ông sang Thái Lan năm 1964, cuộc chiến thật sự chưa bắt đầu. Trong suốt 7 năm liền, ông chỉ chơi quần vợt và trồng hoa lan. Trong lúc đó thì ở đây chúng tôi phải chiến đấu và chiến đấu rất khốc liệt. Một thế hệ chỉ huy khác trẻ hơn và tân tiến hơn đã thành hình nhờ được trui rèn trong lửa đạn, trong chiến đấu. Đối với các sĩ quan đó, lịch sử cũ coi như không còn nữa! ” Còn Tôn thất Thiện thì lại khác. Ông ta là một người thông minh thật nhưng có quá nhiều tham vọng và bất mãn vì thấy không ai biết đến tài năng của ông. Thậtlà một người đối lập cố chấp.. Đối với ông ta tướng Minh chỉ là một cái đầu để cho ông quảng cáo thôi không hơn không kém ! Cái mà ông Thiện nhắm vào trên hết chỉ là cái ghế Thủ Tướng. Lúc nào cũng thấy ông nói đến dân chúng, nhưng ông có biết dân chúng là ai không đã ? Ông xuất thân từ một gia đình hoàng tộc, triều thần và chuyên chạy áp phe, Chân ông không bao giờ lấm, tay ông không bao giờ dính bùn. Ông cũng không bao giờ ở trong quân đội. Những người trí thức Việt Nam cỡ ông đó hay học lực còn cao hơn ông gấp bội ăn nói vanh vách còn có cả ngàn người , ở Mỹ cũng như ở Pháp… Hàng chục ông trong số nầy họp nhau lại âm mưu chuyện nầy chuyện nọ, nghĩ rằng chỉ có mình mới có một công thức duy nhất khả dĩ mang lại “hòa bình” . Các ông đó không đồng ý nhau chuyện gì hết, trừ một chuyện, đó là “nhu cầu thay đổi chế độ”, dĩ nhiên với điều kiện là họ phải có được ghế Tổng bộ trưởng nào đó trong thành phần mới của Chánh Phủ . Nhưng chúng tôi không muốn như vậy. ” Họ là những người chưa từng biết sống chết như chúng tôi . Họ chưa từng bao giờ chia xẻ nỗi đau khổ của chúng tôi . Họ chưa bao giờ biết trả giá bằng máu như chúng tôi. Dân chúng không bận tâm đến những lý thuyết đồ sộ của những người huênh hoang nói với họ từ trên cao và từ ngoài xa. Dân chúng chỉ muốn được bảo vệ, muốn được vĩnh viễn thoát khỏi vòng khủng bố và hổn độn như địa ngục. Chúng tôi đã đem lại cho họ sự an ninh, sự tự do lưu thông, và họ được gặt lúa một cách thực tế. Họ sẽ theo chúng tôi. “Các nhóm chánh trị gia trưởng giả đó của Sài Gòn vẫn biết rằng họ không tác động được đất nước . Nhóm Phật Giáo đấu tranh của chùa Ấn Quang làm gì có “hằng triệu tín đồ” sau lưng họ ? Khoảng 30 ngàn là cùng , và phần đông các sư sãi đang rất bận rộn trong công tác quyên góp tiền bạc hay đang đầu cơ trong việc mua bán đất đai. Khi quả quyết là họ có một lực lượng chánh trị mới, không màng quyền lợi, thì hoặc họ chỉ là những người không tưởng, hoặc họ là những người chuyên nghiệp không có niềm tin. ” Nhưng rồi tất cả đều phải tin chắc điều nầy : Nếy quân nhân chúng tôi buông súng xuống, thì đối mặt với cộng sản họ không đáng một gram nào hết. Hoặc họ sẽ chịu khuất thân làm bù nhìn hay tôi tớ cho cộng sản , hoặc họ sẽ bị cộng sản thanh toán. Và đến ngày đó thì không còn một người phóng viên báo ngoại quốc nào để đăng giùm những lời kêu ca hay chỉ trích cho họ!” Chuyện tranh cử Tổng Thống giữa hai ông Thiệu và Minh cuối cùng không có nữa. Ngày 23 tháng 10 năm 1973, một tháng rưỡi sau đợt vận động rất ồn ào sôi động, tướng Minh cho là “cuộc bầu bán sắp tới chỉ là một trò hề” nên thình lình rút tên ra khỏi danh sách ứng cử. Ngay sau đó tướng Kỳ cũng rút tên không ứng cử nữa. Ông Thiệu đương nhiên không còn ai là đối thủ nữa và trở thành “độc diễn” Cuộc bầu cử Tổng Thống bị phá hoại ngầm nên đương nhiên trở thành một cuộc biểu quyết thông qua của dân chúng mà thôi. Sự rút lui của tướng Minh làm cho mọi người đều ngạc nhiên, bè bạn, thân hữu, và kể cả đối thủ. Ai cũng đồng ý là tướng Minh có một quyết định quá hời hợt. Những nhóm sinh viên từng ủng hộ hành động của người lãnh đạo Miền Nam đều giận dữ vì quá thất vọng. Một trong những trưởng nhóm, anh Ngọc, 26 tuổi, sinh viên năm thứ năm ngành Y, chưa hết giận: -“Chúng tôi đã vận động mấy tháng nay cho cuộc bầu cử này, chúng tôi đã bỏ cả học hành, suốt đêm đi gõ cửa từng nhà, đã in truyền đơn vận động, lo soạn từng tấm biểu ngữ, tổ chức các buổi họp… Chúng tôi đã bị cảnh sát đánh đập. nhiều em đã bị bắt. Tất cả công việc làm của chúng tôi đều nhắm vào ông Minh Dương, Ông ta đã cam kết đi cho đến cùng và thình lình, không báo trước gì cả, ngay trong lúc cuộc vận động đang thực sự bắt đầu thì ông lại buông bỏ chúng tôi”. Thượng nghị sĩ Đông, một Phật Tử ôn hòa, cử nhân khoa học còn nghiêm khắc hơn, rất chẩm rải nhưng đắn đo, ông nói: -“Tôi không thích Tổng Thống Thiệu và phương pháp làm việc của ông ta . Nhưng tôi từ chối không ủng hộ tướng Minh. Về phương diện sức khỏe ông to con mạnh khỏe thật đấy nhưng hoàn toàn kém thông minh trên phương diện chánh trị. Nhìn bề ngoài thì thấy ông có vẻ ung dung và bình tĩnh đâu ngờ lại có những phản ứng mạnh không chính chắn như vậy. Ông ta vừa mới chứng minh điều đó hôm nay đây” Ông Võ văn Hải, cựu chánh văn phòng của ông Diệm, vừa mới chạy theo tướng Minh mấy tháng nay đã xác nhận: –“Tướng Minh là một người can đảm và trung trực, có đầy đủ lương tri. Chúng tôi là bằng hữu và bạn tranh đấu của ông, chúng tôi là những người đầu tiên lấy làm tiếc về sự rút lui của ông ta. Chung quanh ông toàn là những nhân vật hàng đầu ở Việt Nam nầy, ông lại được tài trợ rất mạnh và hy vọng có thể tập trung tất cả các lực lượng đối lập để thành lập một đảng chánh trị lớn. Tôi đoan chắc là qua sự rút lui nầy ông đã mất hết cơ may. Trong vòng 4 năm nữa chắc chắn sẽ là quá muộn. Nhưng ông rất chán vì những áp lực của Tổng Thống Thiệu đối với người của ông, đối với báo chí, đối với hành chánh cũng như đối với quân đội. Và dù sao chúng tôi cũng không thể nói hết được những lý do thật sự thầm kín của sự rút lui nầy. Ông Thiệu có vô số phương tiện để cho ông được thắng cử. Ông có biết là ở Việt Nam có một câu tục ngữ nầy không? “Vai mang túi bạc kè kè Nói bậy nói bạ người nghe thiếu gì “ Những “lý do thầm kín” mà ông Hải vừa nói đó quả nhiên đã có một vai trò không nhỏ trong quyết định bỏ cuộc của tướng Minh. Vừa mở màn chiến dịch tranh cử, người Mỹ lo lắng muốn cho cuộc tranh cử Tổng Thống phải có một vẽ dân chủ nên đã tiếp xúc với tướng Minh. Đại sứ Bunker theo người ta nói đã mong muốn có một cuộc tranh cử tay đôi giữa hai ứng củ viên nên đã tài trợ cho tướng Minh để ông nầy có phương tiện vận động tranh cử. Việc nầy được thực hiện vài ngày sau đó bằng một tín dụng thư 200 triệu đồng gởi vào chương mục được mở ra cho ông ở Đông Kinh Ngân Hàng (qua trung gian của một kỹ nghệ gia Nhật Bản). Ông Minh đã lãnh ra 100 triệu trước để cho các chi phí đầu tiên. Tòa Đại sứ Hoa Kỳ ước tính là tướng Minh sẽ được một tỷ lệ vào khoản 30 đến 40 phần trăm trong tổng số phiếu bầu. Như vậy là đã quá đẹp và quá tốt cho cuộc bầu cử rồi. Ông Thiệu sẽ được đắc cử không có gì khó khăn lắm và tướng Minh sẽ có một tầm vóc chánh trị khả quan hơn để giúp ông lãnh đạo một đối lập vững chắc. Tuy nhiên trong những ngày đầu của tháng 10 năm đó, một chỉ thị mật của Hà Nội (văn phòng trung ương trong Bộ Tham mưu cộng sản phối hợp đấu tranh chánh trị và quân sự ở Miền Nam Việt Nam ,) do cơ quan kiểm thính của Mỹ giải mã được, ra lệnh cho “tất cả cán bộ đảng viên thuộc mọi cơ cấu của Việt Cộng ở Miền Nam phải dồn phiếu cho tướng Minh.” Tỷ lệ số phiếu bầu do Việt Cộng kiểm soát được ước tính khoảng 15 % của tổng số , như vậy kết quả bầu cử sẽ có thể bị hiện tượng “ngựa về ngược”, phần thắng có thể ngã về tướng Minh thì Sài Gòn sẽ có nguy cơ có một Chánh Phủ trung lập, Chánh Phủ nầy sẽ đặt lại vấn đề “sự có mặt của quân đội Mỹ ở Việt Nam”. Do đó ông Bunker báo động ngay cho Hoa Thạnh Đốn . Ở đây sau khi tham khảo lại với ông qua điện thoại đã quyết định bớt phương tiện tài trợ cho tướng Minh. Và khi ông Minh đến Ngân Hàng Đông Kinh để rút tiền thêm lần thứ hai, thì ngân hàng từ chối và người ta đã trả lời cho ông là chương mục đã được kết toán. Ngày thứ năm 19 tháng 10 vào buổi sáng vài giờ trước khi ông tiếp xúc với ông Bunker, lúc ông nầy vừa từ Hoa Thạnh Đốn trở về thì tướng Minh lại bị một đòn đau nữa: Một thông cáo từ chùa Ấn Quang đã báo cho ông biết là sau 3 giờ thảo luận, tất cả 7 vị sư đại diện cho phong trào Phật Giáo Cải Cách (Phật Giáo đấu tranh mà tướng Minh nghĩ rằng sẽ hoàn toàn đứng sau lưng mình), đã quyết định chấm dứt sự ủng hộ ứng cử viên Dương văn Minh (với 6 phiếu thuận 1 phiếu chống của thượng tọa Thích thiện Minh). Trong văn thư thông báo quyết định nầy cho tướng Minh, các Sư đồng thời cũng cho ông biết những lý do đưa đến quyết định chấm dứt sự ủng hộ nầy như sau: “Phong trào tranh đấu của Ấn Quang đã bỏ ra 4 năm để tái lập lại đội ngũ cán bộ, vì tổ chức và các phương tiện của họ đã bị đập tan trong thời kỳ tranh đấu chống Chánh Phủ năm 1966. Chúng tôi xét thấy tướng Minh không có một cơ may nào được đắc cử và chúng tôi không muốn bị lôi cuốn vào những hành động cực đoan quá khích nữa để chúng tôi bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và phải hứng chịu những đòn trả thù nặng nề của chánh quyền lúc đó. Phong trào khước từ không vận dụng bộ máy vận động của mình, để dồn hết phương tiện và ngân khoản vào cuộc bầu cử dân biểu Quốc Hội , ở đó Phong Trào mới mong thành lập được một khối đối lập quan trọng như đã có ở Thượng Viện, khả dĩ có thể cân bằng với hành động của chánh quyền trong khuôn khổ hợp hiến.” Như vậy lực lượng chánh trị trong khối cử tri ở Miền Nam Việt Nam được chia ra như sau: Quân Đội , Công chức hành chánh , những Phật Tử ôn hòa, những Phật Tử đấu tranh của Ấn Quang, những người di cư từ Miền Bắc 1954, những người công giáo, Mặt Trận Giải Phóng và thân hữu của họ và các Giáo Phái. Quân đội thì đã là một khối sau lưng Tổng Thống Thiệu, và Hành chánh thì dĩ nhiên phải tuân theo ông rồi. Các Phật Tử ôn hòa vẫn có mối giao hảo tốt với Chánh Phủ và lúc nào cũng đứng ngoài mọi tranh chấp chánh trị; Những người Bắc di cư thì ủng hộ tướng Kỳ. Còn phần lớn giáo dân ở Miền Nam từ sau cuộc đảo chánh 1963 và cái chết của Tổng Thống Diệm thì chống hẳn tướng Minh. Giáo phái “Hòa Hảo” rất đông và rất mạnh ở các tỉnh giàu có của Miền Tây thuộc vùng Đồng Bằng sông Cửu Long thì không bao giờ quên các cuộc hành quân giết người của tướng Minh đối với họ vào những năm 1955 và 1956 trong “chiến dịch diệt giáo phái”. Phong trào Phật Giáo Ấn Quang, rất mạnh ở miền Trung và ở nhiều thành phố lớn trong nước đương nhiên là một lực lượng tôn giáo và chánh trị có tổ chức, một lực lượng duy nhất mà tướng Minh có thể dựa vào. Sự rút lui bất thình lình và không ai chờ đợi, đã giảm xuống đến con số không tất cả mọi hy vọng của ông ta, làm cho ông không có một con đường nào khác ngoài một kết quả bầu cử tệ hại nhờ vào phiếu bầu của cộng sản . Không còn đủ phương tiện tài chánh (ông không muốn phiêu lưu với tiền riêng của mình vả lại cũng không đủ), lại bị một vố đau của người Mỹ, và bị những đồng minh tốt nhất bỏ rơi, tướng Minh đành phải chọn con đường bỏ cuộc “rút lui ” mà thôi. Ngày 3 tháng 11 năm 1971, Tổng Thống Thiệu không có đối thủ, đắc cử với 94 % số phiếu bầu. Tướng Minh cho ra một thông cáo theo đó ông tuyên bố :”không hợp tác với một chế độ đã mất hết danh dự và tất cả phẩm cách.” Thế là lần đó coi như tướng Minh đã mất tất cả. Dù sao thì ông cũng bắt đầu đi qua sa mạc một lần thứ hai nữa. Hầu hết các người ủng hộ ông – ngoại trừ một vài bạn thật thân thiết- không biết được những lý do thật sự và thầm kín khiến ông phải rút lui… đã tránh xa ông. Ông nói đi nói lại với những người thân :” Chánh trị là cả một cơn ác mộng !” Ông lại đọc sách trở lại. Nhân vật De Gaulle làm ông bị quyến rũ.. Theo gương ông nầy tướng Minh gần như tự đặt mình ngoài vòng của chế độ Cộng Hòa. Ông sống như vậy suốt trên 3 năm, giới hạn trong các tố cáo hành động của chế độ với những ngôn từ gay gắt, kêu gọi một sự tái lập một nền dân chủ thật sự và sự thi hành nghiêm chỉnh Hiệp Định Ba Lê. Các nhóm khác nhau thuuộc lực lượng thứ ba lại bắt đầu dựa vào ông trở lại. Ông cũng thường tiếp vị cố vấn chánh trị của tòa đại sứ Pháp, ông Brochand, một người dân miền Nam nước Pháp, lanh lợi nhưng ranh mãnh, rất khôn khéo trong việc dựng lên những tổ hợp chánh trị , là người của ông Froment-Meurisse, Giám đốc Á Châu Sự Vụ ở Quai D’Orsay (Phủ Thủ tướng Pháp) Ông Brochand đã tin chắc chiến thắng tất yếu của Miền Bắc từ nhiều năm rồi . Những sự giao thiệp của ông ta với tướng Minh kèm theo với một đại diện của tòa đại sứ Pháp đã làm cho người Việt Nam lầm tưởng rằng tướng Minh được Ba Lê ủng hộ sẽ là một ứng viên được CPLTCHMN chấp nhận. Chỉ mới cách đây vài tháng thôi., các thành viên của phái đoàn điều tra thuộc Quốc Hội Hoa Kỳ đã có tiếp xúc rất lâu với ông Minh và động viên ông ta nên hoạt động chánh trị trở lại. Ông cũng chỉ nghe vậy thôi. Người cố vấn lão thành của ông là ông Nguyễn ngọc Thơ đã qua đời rồi vì bệnh ung thư. Còn ông giáo sư chánh trị của ông Minh, là ông Tôn thất Thiện lỗi lạc kia, sau khi bắt được ngọn gió từ tòa đại sứ Anh và xét thấy chiến thắng của Bắc Việt đã gần kề và không sao tránh khỏi .. nên ông ta thu xếp và vọt đi êm trên một chiếc phi cơ của Hội Hồng Thập Tư Riêng về phía các tướng lãnh bạn của ông Minh thì luôn luôn lúc nào cũng nghi ngờ đối với cộng sản Bắc Việt, nên đã khuyên ông ta nên cẩn thận. Chỉ riêng có nghị sĩ năng động Vũ văn Mẫu, người hay tiếp xúc với ông rất thường, và nhóm “tranh đấu trẻ” của Lý quý Chung đã thúc hối ông hãy nắm lấy chánh quyền và “đưa ra những điều kiện”. Trên thực tế, tướng Minh không phải là một nhà chánh trị .Lúc nào ông cũng chỉ mong muốn là một người hòa giải và chỉ muốn đóng vai trò hoà giải! Và hiển nhiên từ lúc ông thất bại năm 1971, ông có thể sẽ có một vai trò nào đó khi nào Miền Nam Việt Nam đứng trước một thảm họa. Quả nhiên, bây giờ chính là lúc chuyện đó đang xảy ra. Đồng ý nhận thấy là tai họa mà Tổng Thống Thiệu phải gánh một phần lớn trách nhiệm, bạn bè của tướng Minh và một phần của các đối thủ của ông muốn ông phải cứu lấy những gì còn có thể cứu được . Sau nhiều ngày mặc cả gay go và đôi khi cứng rắn với ông Tổng Thống Hương già nua, cuối cùng tướng Minh cũng đã nhận được đầy đủ quyền hành. Chánh Phủ của ông đã được thành lập. Trong vài giờ sắp tới đây, ông Minh sẽ vào chiếm lĩnh Dinh Độc Lập. Bạn bè thân hữu của ông vui mừng hớn hở. Sau nhiều năm bị lưu đày, ở thế đối lập và bị hất hủi, cuối cùng tướng Minh cũng lại trở lại là vị nguyên thủ quốc gia … và những người đã thúc đẩy và đưa ông ta lên như một món hàng rồi đây sẽ có thể được ngồi vào các ghế dựa nhung đỏ…. Nhưng liệu sẽ được bao lâu đây?
Chú thích của tác giả: dưới chiêu bài của “đảng Cần Lao”, đây là một sự tuyển chọn một đội ngũ cán bộ và những người được gọi là ưu tú để phục vụ chánh quyền hiện tại.
Chú thích thêm của tác giả: Có một chuyên viên CIA khác làm việc chung với Lou Conein. Đó là đại tá Spera, người sau nầy được nổi tiếng là đã thanh toán Che Guevera ở Bolivie.
21. Chương Hai Mươi Những Trò Chơi Vô Vị Cuối Cùng
Thứ Sáu, ngày 25 tháng Tư Hôm nay Tổng Thống Hương lại tiếp ông M. Mérillon trong vòng 80 phút và sau đó lại họp với ông M. Martin, Đại sứ Hoa Kỳ . Cả hai nhà ngoại giao nầy người nào cũng cố thuyết phục Tổng Thống Hương là nên cấp tốc đưa ra một phương thức khả dĩ có thể mở đường cho một cuộc thương thảo với những người “cách mạng” (nguyên văn: révolutionnaires”) Cả hai đều nói “phương thức nầy nên gạt ra ngoài Hiến Pháp năm 1967,… cần có sự từ chức của Ngài, và giao lại cho một toán nào đó mà “phía bên kia” có thể chấp nhận được “ Vị Tổng Thống già đồng ý chấp thuận mục đích của các đề nghị, nhưng khăng khăng muốn tìm một giải pháp theo đúng với Hiến Pháp. Ông Mérillon càu nhàu: – “Ông ta cứng đầu lắm! như một con lừa vậy ! Lúc nào cũng “Tôn trọng hình thức hợp Hiến”., ông ta chỉ nói hoài có bấy nhiêu đó . Như một người nghèo sắp sửa bị cháy nhà mà cứ từ chối không chịu kêu lính chữa lửa, vì nghĩ rằng mình đang có trong túi một hợp đồng bảo hiểm đúng cách.” Trong cuộc tiếp xúc nầy, Ông Hương đọc lại một bài thơ trào phúng của văn hào Pháp Sully Prud’homme tuyên dương hành động anh hùng của một người chỉ huy Ba Lan, khi ông nầy muốn chận đứng đoàn quân Nga trước một con rạch cạn , bằng cách làm cho họ tin tưởng rằng con rạch nầy khó có thể lội qua được . Để chứng minh điều nầy người Ba Lan lội xuống nước và gập hai chân lại đi bằng đầu gối, rồi sau đó nằm sấp xuống, trước khi giả bộ chìm hẳn và bị chết đuối. Jean M. Mérillon trợn tròn đôi mắt lên nhìn thẳng Tổng Thống Hương và vừa nhún vai vừa sốt ruột nói: – “Chúng ta không còn ở thế kỷ 19 nữa, thưa Ngài Tổng Thống , và những tên cộng sản bây giờ đã có những chiến xa lội nước và đã có cầu nổi được kéo theo để qua sông dễ dàng “ Những ngày vừa qua, đã có nhiều nhân sĩ Việt Nam đến gặp Đại Sứ Pháp. Đó là : Đức Tổng Giám Mục Bình , Thượng Tọa Thích Trí Quang, thuộc chùa Ấn Quang, và Chủ Tịch Luật sư đoàn. Tất cả đều có một đề nghị: ” Ông hãy có một hành động nào đó để tránh những trận đánh nhau trên dường phố trước khi đã quá muộn.” Nhưng Tổng Thống Hương cứ ôm cứng Hiến Pháp không lay chuyển nổi! Cuối cùng, sau khi làm việc rất lâu với những người thân cận của mình, ông mới quyết định triệu tập phiên họp đặc biệt của Lưỡng Viện Quốc Hội vào sáng ngày mai thứ bảy 26/4.
° ° °
Một tiểu đoàn chánh quy cộng sản Bắc Việt từ Đồng Tháp Mười định tiến đánh bất ngờ tỉnh lỵ Tân An , một thành phố nằm cách Sài Gòn khoảng 30 cây số về hướng Tây Nam. Cuộc tiến công nầy được diễn ra trên một cánh đồng lúa quá trống trải nên đã bị Không quân đập tan. Tiểu đoàn cộng sản đã bị diệt gọn. Nhưng cuộc tấn công nầy được xem như một cuộc hành quân của một đơn vị tiền phương, đã cho thấy là các đại đơn vị Bắc Việt từ Cam Bốt đang chuẩn bị tràn sang Việt Nam để siết chặt vòng vây Thủ đô Sài Gòn của Miền Nam Việt Nam. Từ hôm thứ hai vừa rồi, thiên hạ đua nhau xin hộ chiếu. Đi ra khỏi Việt Nam từ đầu tháng đã là một chuyện rất khó rồi, còn bây giờ thì gần như không còn thế nào được nữa. Trừ một vài trường hợp được ân huệ riêng là thân nhân hay bạn rất thân của giới lãnh đạo Miền Nam Việt Nam Từ hai tuần nay, có người đã phải trả thật đắt (đến 15 triệu đồng bạc) cho một chiếu khán. Bây giờ thì chiếu khán đó không còn dùng vào đâu được nữa rồi. Có một số người Việt Nam đến phi trường Tân sơn Nhứt với một hộ chiếu (giấy thông hành) và một chiếu khán “đã mua”, mới được biết là có một cú điện thoại từ Bộ Nội Vụ (Bô Trưởng đã được thay rồi) báo cho họ biết là những giấy tờ đó đã không còn giá trị nữa. Đồng đô la trong ba ngày đã vọt từ 1200 lên đến 2500 đồng. Và cái giá phải trả cho những “biện pháp ân huệ” cũng tăng theo nhịp độ đó. Do vậy số người được xuất ngoại “hợp pháp” càng ngày càng ít đi. Hầu hết những người Việt Nam có cơ may rời khỏi nước đều nhờ vào cầu không vận cùa Hoa Kỳ . Cầu không vận nầy hoạt động suốt ngày đêm và khả năng bốc người đi được tăng lên gấp 3 lần. Mục đích đầu tiên của Hoa Kỳ là nhằm đưa về nước khoản 800 công dân Mỹ còn đang kẹt lại ở Việt Nam ..Công tác nầy chỉ đến cuối tuần nầy là hoàn tất. Cùng đi với người Mỹ mỗi ngày, có từ ba đến bốn ngàn người Việt Nam được tháp tùng, những ai được ghi danh trong “danh sách ưu tiên”, gồm có những người làm việc cho các công ty Mỹ , những công chức hay công nhân làm việc cho văn phòng thuộc sứ quán hay các sở Mỹ, các nhân viên tình báo, các cấp thuộc chương trình bình định và gia đình của họ. Sự việc được phép mang cả gia đình theo đã mở toang cửa cho tất cả mọi sự móc nối làm tiền. Có những người khi đã được ghi tên vào danh sách được đi rồi thì cho ghi thêm thân nhân của chính mình càng ngày càng nhiều ra và đã cho họ cùng đi với mình với một số tiền thù lao rất là hậu hĩ. Nhịp độ ra đi càng ngày càng nhanh hơn. Những người di cư được các xe buýt to có lưới thép bọc bên ngoài cửa kiến chở đến Tân sơn Nhứt. Ngay ở cổng phi trường đã có nhiều thảm cảnh rất đau lòng giữa kẻ đi người ở. Sau đó họ được đưa vào các gian nhà lớn ở trong khuôn viên của Phòng Tùy Viên Quân Lực Mỹ, nằm trong khu vực sân bay Tân sơn Nhứt. Ở đây không thiếu chỗ và có đầy đủ tiện nghi: có gần 1000 chiếc giường bố xếp cho họ nghỉ ngơi chờ đợi chuyến bay, có phần ăn nóng sốt 3 bữa mỗi ngày. Khi được kiểm điểm lý lịch xong, họ lại được xe buýt đưa thẳng ra phi đạo lên các phi cơ vận tải quân sự để đi đến Phi luật Tân, Đài Loan hay tới đảo Guam, và Honolulu (Hạ uy Di). Thỉnh thoảng cũng có một vài cô chiêu đải viên hàng không mảnh khảnh và duyên dáng trong chiếc áo dài xanh lơ đã tìm cách được kín đáo đưa lên các chuyến bay nầy. Những người không có một mối liên hệ nào với người Mỹ hay với những người được Mỹ “bảo trợ” đã cố gắng tìm hết mọi cách và mọi phương tiện để được đi ra khỏi Miền Nam Việt Nam: – Những nhà buôn khá giả bỏ tiền ra mua hay mướn các chiếc tàu, thuyền máy đánh cá của dân chài ngoài biển hay những chiếc thuyền đi biển để đưa họ đến Malaysia hay Thái Lan, nếu dọc đường họ không bị cướp hay giết chết để đoạt sạch tài sản vòng vàng tiền bạc mà họ dấu đút mang theo trong người. – Có những người lanh lợi hơn liên lạc thẳng với các phi công của “câu lạc bô hàng không” và đề nghị mười ngàn đô la (10.000) cho mỗi hành khách nếu họ chịu chở những người nầy ra ngoại quốc. – Có nhiều người bạn Pháp của tôi được mấy người Việt Nam lớn tuổi , đạo mạo khả kính, đến gạ với họ ngay ngoài đường phố, với đề nghị cưới giùm các cô con gái của họ với một số tiền hồi môn kếch sù lên đến hai chục triệu đồng cho mỗi người (khoản 80.000 quan Pháp), để mang các cô nầy về Pháp, với cam kết là khi đến nơi rồi họ sẽ làm thủ tục “ly dị ngay” – Có một người Mỹ vừa mới bị bắt và bị trục xuất, vì anh ta đòi bảy ngàn đô la (7000) mỗi người để nhận họ là “thân nhân trong gia đình”. Anh Mỹ nầy đã thành công trong việc đưa đi 18 người Việt Nam đến đảo Guam qua trung gian của người vợ Việt Nam của anh ta. – Ở quán rượu Impérial của ông già Bonelli, một bà giám đốc cơ sở bào chế thuốc Tây (Bà Anh) đang tìm cách bán nhà của bà. Bà nói với tôi: – “Đây là một biệt thự tuyệt đẹp, ở một địa điểm rất tốt, nằm trên đầu đường Paul Blanchy. Tám phòng, với hai nhà xe và 800 thước vuông vườn. Ba tháng trước tôi đã không bán với giá 30 triệu đồng. Bây gìờ thì tôi sẵn sàng nhượng lại với giá 3 triệu thôi (chưa đến 12.000 quan Pháp với hối đoái chánh thức). , và tôi sẽ để lại tất cả đồ đạc trong nhà gồm có bàn tủ ghế, quần áo, chén bát, máy lạnh và hai tủ lạnh….” Ba ta móc bóp lấy một xấp giấy tờ ra và nói thêm: – ” Đây là giấy bán nhà, tôi đã ký sẵn rồi, chỉ còn ghi tên người mua vào là xong hết.” Ông già Bonelli trầm ngâm suy nghĩ và mỉm cười, ngẫng đầu lên mệt mỏi nhún vai và nói: – “Ít nhất bà là người thứ hai đã đến đây gặp tôi từ hai hôm nay. Làm gì còn có người muốn mua nhà trong lúc nầy? Bà Anh lại quay sang tôi: – ” Tôi cũng có một chiếc xe Mercédès chạy dầu gần như mới toanh, 5000 cây số thôi, có đủ cả ra diô và cát sét. Tôi muốn bán nó với giá rẽ 500 đô la – Chừng nào bà sẽ đi? – Trưa nay – Bà làm sao có được chiếu khán xuất cảnh hay vậy? – Ông nghĩ xem. bà vừa trả lời cho tôi vừa cười rộ lên, các chiếu khán bây giờ vô giá. Tôi tự xoay sở với người Mỹ. Tôi đã giao dịch với họ từ 15 năm nay rồi và con gái tôi là một nhà sinh vật học ở Cựu Kim Sơn. Nếu ông muốn dùng chiếc xe tôi, ông hãy điện thoại cho tôi trước 15 giờ, Đây là số điện thoại của tôi. Tôi không có ý định mua xe Mercédès của bà Anh, nhưng vì tò mò tôi đã điện thoại đến nhà bà vài phút sau 15 giờ. Một người làm cho bà đã trả lời cho tôi là bà ta đã đi ngoại quốc rồi và bà ta cũng không thèm ghé lại nhà để lấy chiếc va ly của bà nữa!
° ° °
Vào chiều tối, hành khách của chiếc phi cơ “ca ra ven” thuộc hãng Hàng Không Việt Nam đi Băng Cốc (Thái Lan) đã được chứng kiến một cảnh rất não lòng. Trong chiếc phi cơ, ông tướng Trần văn Đôn, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng trưởng Quốc Phòng của nội các vừa từ nhiệm, nhưng vẫn còn là Xử Lý Thường Vụ, đang mơn trớn vuốt ve một người đàn bà đẹp rất duyên dáng trong bộ đồ mỏng mùa hè, có đeo một nhẫn hột xoàn lớn bên tay trái. Vừa mới ngày hôm qua đây, tướng Đôn đã cổ võ quân đội Quốc Gia phải bảo vệ đất nước đến hơi thở cuối cùng, thì hôm nay ở đây ông ta đang vừa rót vào tai của người bạn gái của ông ta những lời êm ái vừa vuốt ve hai bàn tay của cô ta. Sau đó ông trao cho cô ta một tấm ngân phiếu mà ông ta ký ngay tại ghế ngồi, và từ giã cô nàng với vẻ mặt vồn vã và đau khổ của những cặp tình nhân ở lứa tuổi sinh viên. Ngay trong lúc đó hẳn nhiên là vị tướng lãnh nầy chỉ dán cặp mắt và tâm tư của mình vào người đẹp sắp đi đến một nơi yên ổn. Các quân nhân đang chết trong các hầm chiến đấu của họ, chỉ cách nơi nầy có vài cây số, chắc hẳn không bao giờ ngờ được rằng họ đang hy sinh để giữ an ninh cho những sự trao đổi tình cảm yêu đương vụn vặt của một vị tham mưu lớn tuổi như vầy, một vị mà tên tuổi của ông ta đã từng được nêu lên như là một Thủ Tướng tương lai của một Chánh Phủ Liên Hiệp!
Thứ Bảy, ngày 26 tháng Tư Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã bay đi Đài Loan tối nay rồi. Có những lời đồn đãi từ “đài phát thanh Catinat” quả quyết là ông ta đã “mang theo 16 tấn hàng gồm có cả một bộ sưu tầm đá quý và đồ cổ đánh cắp ở Viện Bảo Tàng Quốc Gia và 4 tỷ vàng nén.” Một đại úy Dù đã tức giận nói với tôi : – “Ông Thiệu ra đi không có một lời nói. Ông ta đã tuyên bố trên truyền hình là ông ta sẽ ở lại với chúng tôi và sẽ chiến đấu bên cạnh chúng tôi cho đến cùng. Tất cả dân chúng trong nước đều có thấy và có nghe. Và giờ đây ông ta trốn đi như một tên hèn, lợi dụng ban đêm để mọi người không trông thấy ông ta Bọn Tàu ở Đài Loan đã trải thảm đỏ để đón ông ta. Chỉ có một cách để chào đón ông ta, đó là để vào đầu ông ta một viên đạn!” Tờ báo Pháp Le Courrier d’Extrême – Orient và báo chí Việt Nam đã cho hành động của TổngThống Giscard d’Estaing có một “tầm quan trọng rất lớn”, khi ông đã nói chuyện rất lâu qua điện thoại với ông Đại sứ Pháp tại Sài Gòn . Làm như là Ba Lê đã thay thế Hoa Thạnh Đốn trong vấn đề tìm kiếm một giải pháp bằng thương thuyết cho Miền Nam Việt Nam rồi vậy. Ông nghị sĩ Paul d’Ornano, đại diện cho người Pháp ở Việt Nam, đã đến Sài Gòn tối hôm qua bằng phi cơ. Ông đã có tuyên bố như sau: – “Tôi rất sung sướng được trở lại với những người Pháp ở Sài Gòn , những người mà tôi thấylà đã rất trầm tĩnh và rất là xứng đáng như lúc tôi còn ở đây 3 tuần lễ trước . Tôi cũng rất lấy làm sung sướng để được nói với họ rằng Tổng Thống của nước Cộng Hòa Pháp đã có tiếp tôi ngay trước khi tôi rời khỏi Ba Lê, để bày tỏ tất cả sự ân cần của Ngài đối với cộng đồng người Pháp ở Sài Gòn mà Ngài đã biết và đánh giá cao lòng can đảm và phẩm chất….” Nghị Sĩ Paul d’Ornano là một kỹ sư hầm mỏ, thuộc một gia đình quý phái lâu đời ở đảo Corse, đã từng phục vụ ở Đông Dương 22 năm. Là một cựu giám đốc đồn điền, ông là một người rất cứng cỏi và nhã nhặn, môt người biết rất rõ đất nước nầy.. Sự có mặt của ông ta làm yên lòng cộng đồng người Pháp ở đây, mà nếu có chuyện gì xảy ra thì họ sẽ trông cậy vào ông ta hơn là vị Đại Sứ, một người quá bận rộn với những sự theo dõi và suy nghĩ tới các giai đoạn biến chuyển chánh trị của Việt Nam Và cũng ngay trong lúc đó, phần đông các nhà báo ngoại quốc đang dự buổi họp báo hàng tuần của sĩ quan Việt Cộng và của Bắc Việt, thành viên của Ủy Ban Kiểm Soát và Thi Hành Lệnh Ngừng Bắn đã được Hiệp Định Ba Lê ấn định. Lại thêm một chuyện rời rạc nữa, và không phải chuyện nhỏ đâu, vì cái chuyện “chấm dứt chiến tranh” nầy đã trở thành rất khó hiểu, và trên bình diện chánh trị nó là một vở kịch quá nực cười. Kể từ tháng 3 năm 1973, 200 Việt Cộng và 500 cộng sản Bắc Việt đã đóng quân ở ngay giữa sân bay Tân sơn Nhứt, chiếm mấy dãy nhà có rào kẽm gai chung quanh, bên trong thì cộng sản tự canh gác với súng A.K.47 còn bên ngoài thì được quân cảnh Miền Nam bảo vệ. Cách doanh trại nầy chừng vài trăm thước, các phóng pháo oanh tạc cơ của Miền Nam cất cánh ầm ĩ mang bom đến đánh các đơn vị Bắc Việt trên đường tiến về thủ đô Sài Gòn. Đại tá Võ đông Giang, phát ngôn viên của Việt Cộng ngồi dưới bức ảnh cụ Hồ với chòm râu dưới cằm. Cũng giống như các cuộc họp báo trước, anh ta tố cáo những “hành động tội ác” của Tổng Thống Hoa Kỳ và của “Ngụy quyền” Sài Gòn – lời của ông ta thường xuyên bị ngắt quãng do tiếng gầm thét của các phản lực – nhưng lần nầy thì anh ta nhấn mạnh rằng chiến tranh giải phóng ngày càng tốt hơn cho “lực lượng cách mạng” Để kết thúc ông ta nhắc lại dai dẳng những điều kiện do “lực lượng cách mạng” đặt ra cho Chánh Phủ Sài Gòn để bắt đầu những cuộc thương lượng nghiêm chỉnh: ” – chấm dứt sự hiện diện của Hoa Kỳ – Thành lập một tân Chánh Phủ, với tuyên ngôn “cho hòa bình, độc lập, dân chủ và hòa giải quốc gia” – Thi hành Hiệp Định Ba Lê – Loại bỏ tất cả những người đã từng nằm trong guồng máy của Thiệu – Từ bỏ đường lối hiếu chiến, phát xít, áp bức và đàn áp đối với nhân dân – Hủy bỏ tất cả các luật lệ phản dân chủ. Bảo đảm tôn trọng tự do dân chủ. Trả tự do cho tất cả những người bị giam giữ vì đã tranh đấu cho hòa bình và độc lập quốc gia.” Một phần lớn các điều kiện đó đang trên con đường được thực hiện. Nhưng đại tá Võ đông Giang muốn nói gì khi ông ta đặt điều kiện “phải thi hành Hiệp Định Ba Lê” ? trong lúc 23 sư đoàn Bắc Việt tràn vào chiếm hai phần ba lãnh thổ của Miền Nam Việt Nam? Và trong lúc ông vừa nói vừa đang đập bàn rầm rầm ở đây thì hàng trăm người Mỹ đang xếp hàng chạy lên chiếc phi cơ vận tải khổng lồ “Galaxie” đang chuẩn bị cất cánh.. Chuyến ra đi hấp tấp của người Mỳ nầy đang diễn ra không xa vị trí đồn trú của cộng sản bao nhiêu, nơi mà người Mỹ gọi là “Trại Davis” để kỷ niệm cho một người binh sĩ Hoa Kỳ tên Davis bị tử trận đầu tiên ở Miền Nam Việt Nam
° ° °
Về phía Sài Gòn , tiến trình giải thể Chánh Phủ đang được xúc tiến. Chỉ còn một vài hình thức bề ngoài cần phải xem xét lại mà thôi. Hồi 10 giờ sáng nay, chiếc xe Mercédès dài của Phủ Tổng Thống đến đậu trước cửa Thượng Viện. Tổng Thống Hương, một ông lão đáng kính, bước xuống xe, chống gậy, chậm rãi đi duyệt qua hàng binh mặc lễ phục trắng đang dàn chào Ông. Các dân biểu và nghị sĩ thuộc lưỡng viện Quốc Hội tập họp đầy đủ đang đứng chờ ông trong sảnh đường lớn của tòa nhà. Họ đến như vậy là khá đông đấy: 183 trên 219 người dân cử thuộc lưỡng viện Quốc Hội . Vì còn phải tính đến mọi sự khó khăn trong vấn đề di chuyển, nào là đường sá bị cắt đứt, nào là các tỉnh và thành phố đang bị cô lập hay đã bị cộng sản chiếm. Như vậy cho thấy là Quốc Hội rất quan tâm đến phiên họp đặc biệt quan trọng nầy. Tổng Thống Hương mở đầu phiên họp với một bản tường trình về những biến cố đã xảy ra từ khi ông lên nắm quyền.. Sau khi nói về những “khó khăn gặp phải trong các cuộc tiếp xúc” và những “áp lực liên tục mà ông phải chịu với những nhà ngoại giao ngoại quốc và với một số chánh trị gia của Miền Nam “, ông tuyên bố: – ” Tôi không muốn dấu quý vị lâu hơn nữa rằng cần phải và bắt buộc phải thương thuyết với phía bên kia. Nhưng vẫn còn có dân tộc và đất nước.Tôi không mong muốn Sài Gòn trở thành một Nam Vang thứ hai. Tôi không muốn thủ đô của chúng ta bị xóa tên trên bản đồ và cũng không muốn dân chúng của chúng ta bị bom đạn tàn sát.. Nhưng tôi muốn chứng tỏ sự kính trọng của tôi đối với đất nước cho đến cùng. Những trọng trách mà tôi đang gánh vác đây được gắn liền vơi tính cách hợp pháp của Việt Nam Cộng Hòa, của Lưỡng Viện Quốc Hội và của quý vị dân cử. Tôi thấy tôi không có quyền đơn phương từ bỏ trọng trách đó. Tôi phải trông chờ vào quyền lực của Quốc Hội vì chỉ có Quốc Hội mới có đủ tư cách để quyết định phải xúc tiến việc thương thuyết và chỉ có Quốc Hội mới có quyền chỉ định cá nhân nào mà Quốc Hội xét thấy có đủ khả năng nhất để thi hành nhiệm vụ thương thuyết nầy “ Và sau đó ông Hương không có nêu thẳng ra tên tuổi của ai cả, nhưng ông giải thích chi tiết rõ ràng về những sự điều đình của ông với tướng Dương văn Minh: – “Trước hết tôi đã đề nghị trên giấy trắng mực đen với “người đó” về chức vụ Thủ Tướng Chánh Phủ với đầy đủ quyền hành. Ông ta đã từ chối. Tôi đã phải mời ông ta đến gặp tôi tại Dinh Độc Lập. Ông ta cũng lại từ chối. Với một thiện ý muốn giải quyết vấn đề, tôi bất chấp hết mọi thủ tục và mặc dầu tuổi già sức yếu, tôi đã phải chấp nhận di đến nhà một người bạn để gặp “người đó”. Tôi đã đề nghị với “ông ta” chiếc ghế Phó Tổng Thống nhưng một lần nữa “người đó” chẳng những đã khước từ đề nghị của tôi mà còn nói với tôi rằng: “Phải có tất cả hay không có gì hết “, có nghĩa là “phải là Tổng Thống của Việt Nam Cộng Hòa”. Tôi có lưu ý như vậy là ông ta đòi hỏi tôi phải vi phạm Hiến Pháp, và ông ta đã trả lời rằng “Đó không phải là việc của ông ta “. Sau đó tôi đã đặt cho ông ta một câu hỏi: ” Có gì bảo đảm rằng phía bên kia sẽ chấp nhận thương thuyết với ông?”. Người đó đã trả lời rất gọn : ” Tôi đã nhận được từ phía bên kia đầy đủ những bảo đảm để tôi làm tròn vai trò của tôi “. Mặc dầu tôi đã có nhấn mạnh nhưng tôi không thể có thêm một giải thích nào khác về những lời nói úp mở của ông ta và tôi thú thật là tôi không tin vào những lời nói đó.Tôi sẽ không bao giờ gánh lấy trách nhiệm về việc trao quyền hành một cách bất hợp hiến , vì lẽ đó nên ngày hôm nay tôi xin quý vị hãy trao quyền hành pháp lại cho người đó bằng lá phiếu hợp pháp của lưỡng viện Quốc Hội . Đó là phương thức duy nhât vừa để cứu Sài Gòn khỏi một thảm họa vừa không làm mất thể diện của quốc gia và chế độ.” Nói xong những lời đó, ông Hương rời phòng họp và trở về Dinh. có 2 xe hộ tống mở dường qua các phố đang đông nghẹt dân chúng. Ông Trần văn Lắm, Chủ tịch Thượng Viện đề nghị ngay sau đó là các trưởng nhóm thảo luận ở các tiểu ban trước khi trở lại hội nghị khoáng đai. Sự bàn thảo của các trưởng nhóm đã được nhanh chóng tổ chức. Trưởng nhóm “Dân Tộc Xã Hội” thuận cho tướng Minh nên muốn “Tổng Thống Hương phải từ chức một cách đơn giản”. Trưởng nhóm Cộng Hòa lớn tiếng: ” Chúng tôi không có một tín nhiệm nào đối với tướng Minh. Ông ta đã thường thay đổi màu áo của ông ta, và không có gì để chứng minh rằng ông ta đã có xúc tiến bàn thảo với phía bên kia. Ông ta có thể đưa ra được một chứng từ nào không ? Ai là người đã liên lạc với ông ta và người đó ở vào đẳng cấp nào? Trưởng nhóm “Độc Lập” vỗ bàn: “Chúng ta không thể đặt tương lai của đất nước trên những giả thuyêt suông!” Chủ tịch Thương Viện nhắc lại một liên lạc điện thoại của ông M.Graham Martin, đại sứ Hoa Kỳ. Ông nói : “Người Mỹ đã mạnh dạn khuyên chúng ta đừng nghĩ đến Hiến Pháp. Thời giờ đã quá cấp bách rồi . Không còn phải lúc để cho chúng ta tự trói buộc vào những lý sự cùn nữa “ Tướng Trần văn Đôn đang làm việc ngoài hành lang, tâm tình nhỏ to với các nghị sĩ: “Người Pháp là những người duy nhất có thể nói chuyện với Bắc Kinh, Mạc tư Khoa, Hoa thạnh Đốn, Hà Nội và CPLTCHMN, họ ủng hộ triệt để tướng Minh. Họ đoan chắc là cộng sản chỉ muốn bàn thảo với ông ta mà thôi.” Cuộc thảo luận công khai đã diễn ra lúc 14 giờ.Và nó kéo dài cho đến 22 giờ. Các diễn giả thay phiên nhau lên diễn đàn. Các cuộc thảo luận vô vị cứ kéo dài. Họ cãi vã, xô đẩy nhau, trao đổi nhau những lời đe dọa, nhưng cuối cùng rồi họ cũng đi đến thỏa thuận cho một bản văn quyết nghị vô thưởng vô phạt không giải quyết được gì cả: – ” Quốc Hội nhìn nhận Tổng Thống Hương có đầy đủ tư cách và thẩm quyền để chọn người thay thế ông. Người nầy sẽ được ủy thác để tiến hành các cuộc thương thuyết.” Tên của tướng Minh Dương không thấy nêu lên trong bản văn của quyết nghị.
Chủ Nhật, ngày 27 tháng Tư
Vào lúc 4 giờ sáng có nhiều tràng rốc kết được nã vào Sài Gòn . Những tiếng nổ làm rung chuyễn các cửa sổ. Sau đó chừng vài phút tôi nghe thấy tiếng còi hụ của các xe cứu hỏa và xe cứu thương. Từ trên sân thượng của mình tôi nhìn thấy ánh lửa và những cột khói đen quyện vào lửa đỏ trên nền trời.Có cháy ở về hướng nhà ga Sài Gòn , một khu vực có nhiều nhà gạch và nhà cây nhỏ. Nhưng phải đợi đến hết giờ giới nghiêm mới biết được chính xác là các quả rốc kết rơi ở khu vực nào, và gây thiệt hại ra sao cho dân chúng. Đến 7 giờ sáng tôi mới đi săn tin được. Một quả đánh trúng khách sạn Majestic, nằm ở cạnh bờ sông Sài Gòn . Quả thứ hai nổ trên lề đường gần chợ Sài Gòn. Sáu quả khác đã nổ trong khu đông dân cư nằm bên kia đường đối diện với Bộ Tư Lệnh Cành Sát. Hàng trăm lều trại, xưởng nhỏ đang bốc cháy với những tiếng nổ như pháo. Mặt đất có cả một lớp tro đen phủ lên trên nhầy nhụa vì nước của các anh cứu hỏa. Những tấm tôn cong vẹo nằm vắt vưởng lên các bức tường đổ nát, và các bàn tủ ghế chỉ còn là những que củi cháy dở dang. Các bà đang ngồi xổm, im lặng bới đám tro tàn. Các trẻ em bất động đứng nhìn chần chầm vào mấy bà mẹ.Các anh khiêng cáng đang chuyển lên xe cứu thương ba thây người co rúm, chỉ còn khoảng nửa thân mình, ba con người mà giống như những hình nộm bị cháy đen. Tổng kết của cuộc pháo kích và của đám cháy : chín chết và 36 bị thương, Hai ngàn người không nơi cư trú. . . . Trong những khu khác trong thành phố, cuộc sống vẫn tiêp tục rất bình thường. Bạn hàng trong chợ vẫn bày hàng trên sạp của mình. Các tiệm buôn vẫn kéo màn mở cửa. Lưu thông vẫn tấp nập nhưng đôi khi bị nghẽn vì có đoàn xe tang năm sáu chiếc của quân đội có trang hoàng vòng hoa đang chở các binh sĩ bị tử thương từ mặt trận về. Trong một vài quán rượu còn sót lại hay những phòng “đấm bóp” trên đường Catinat, các cô gái xinh đẹp chuyên buôn hương bán phấn đã thay đổi hoàn toàn . Họ đã búi tóc lên và không còn sơn móng tay đỏ nữa và không còn mặc cũn lẳng lơ hay quần bó sát thân mình nữa mà đã mặc lại chiếc áo dài truyền thống của Việt Nam . Có tin nói là các cô đang tìm cách trữ thuốc ngừa thai dự kiến là cộng sản vào họ sẽ tịch thu hết. Giá dồng đô la lên xuống giữa 3500 đến 4000 đồng. Các tay buôn bán ngoại tệ người Ấn đang trúng mối to với sự đầu cơ giấy 100 đô la (người cầm đầu là Ali Ismael nhìn nhận rằng đã kiếm lời trong mười năm qua được trên hai triệu đô la) 6000 người Mỹ đã rời khỏi Việt Nam, bỏ lại trên 8000 chiếc xe bừa bãi khắp nơi, tạm thời được coi như vô chủ.
° ° °
Cũng vào ngay chúa nhật đó, lúc 12 giờ trưa, ông Chủ Tịch Thượng Viện nhận được một văn thư của Tổng Thống VNCH do mô tô mang đến trao tận tay. Đại ý: ” Theo các điều khoản của Hiến Pháp thì Quốc Hội phải ra quyết định thay thế tôi và phải chỉ định người kế vị tôi với tên họ đầy đủ. Do đó tôi đòi hỏi Quốc Hội phải nhanh chóng bày tỏ ý kiến của mình.” Vào lúc 14 giờ đài phát thanh đã kêu gọi tất cả các nghị sĩ và dân biểu phải có mặt ở Quốc Hội đúng 17 giờ để dự một “phiên họp khoáng đại vì quyền lợi quốc gia” Vào giờ ấn định, các nghị sĩ và dân biểu đến Thượng Viện cũng đông đủ như ngày hôm qua. Chủ tịch Thượng Viện thông báo với họ là trước khi mở khoáng đại hôi nghị, tướng Trần văn Đôn, xử lý thường vụ Tổng Trưởng Quốc Phòng, sẽ thuyết trình về tình hình quân sự. Tướng Đôn mặc thường phục có 3 vị tướng lãnh và một đề đốc tháp tùng: Tổng Tham mưu Trưởng, Tư lệnh Biệt khu Thủ Đô,Tư Lệnh Không Quân và Tư Lệnh Hải Quân. Ông yêu cầu sự có mặt của các vị nầy để chứng thật tin tức trong bài thuyết trình của ông ta. Tướng Đôn đưa ra một hình ảnh quá đen tối: ” Mười bốn sư đoàn Bắc Việt được trang bị pháo binh thật hùng hậu đang bao vây thủ đô Sài Gòn. Biệt kích và đặc công cộng sản đang xâm nhập vòng đai. Trận chiến ở Xuân Lộc vẫn còn đang tiếp diễn chung quanh thị xã, ờ đó các đơn vị của Chánh Phủ đang hăng say chiến đấu, nhưng họ bị phân tán và pháo binh của họ bị pháo binh cộng sản vượt trội về tầm xa. Họ pháo ta từ xa nên không bị thiệt hại gì. Không quân của ta được xử dụng liên tục ngày đêm không ngơi nghỉ trong nhiều tuần lễ nay, nên cả anh em phi công và phi cơ đều đã quá sức chịu đựng. Ngoài ra còn bị thiệt hại khá nặng do phòng không địch và hỏa tiễn địa không của họ. Căn cứ Không quân Biên Hòa dưới hỏa lực của địch đã gần như bị tê liệt. Trong vài ngày nữa, mà cũng có thể là trong vài giờ nữa không chừng, có thể sẽ đến lượt Sài Gòn phải bị tàn phá vì đạn pháo 130 ly tầm xa của Bắc Việt. Nhất định cần phải thương thuyết với họ để ngừng bắn càng sớm càng tốt…” Một số dân biểu trẻ hung hăn chen vào la lối om sòm một cách giận dữ và mỉa mai: “Bị bán đứng rồi! Đồ hèn nhát, chủ bại, tướng phòng ngũ!” Tiến sĩ Vũ quốc Thúc trưởng nhóm “Độc Lập” vừa tiến tới tướng Đôn vừa hét to lên nhiều lần: ” phản bội, đồ phản bội, anh chỉ là một tên phản bội, đáng được đem ra xử bắn “. Khi nghe chửi như thế, Tướng Đôn mặt tái mét im thin thít không nói được một tiếng nào . Các tướng lãnh đi theo ông sửng sốt về những phản ứng dữ dội của cử tọa nên cũng cúi đầu im thin thít.Chủ tịch Trần văn Lắm cố gắng trấn tĩnh mọi người nên khuyên can: ” Các anh em nên đặt câu hỏi là phải hơn, các vị tướng lãnh sẽ trả lời cho mình.” Các câu hỏi được đưa lên loạn xà ngầu: ” Ông chỉ nói về hành động và sáng kiến của địch mà về phần ông ông đã có biện pháp nào chưa? Ông đã có đi lên mặt trận mấy lần rồi?” Nghị sĩ Vũ văn Mẫu đứng lên và chẩm rải nói gằn từng tiếng: “Ông là Tổng Trưởng Quốc Phòng phải không? Vậy tôi lập lại câu hỏi của tôi: Ông đã có những sáng kiến và những biện pháp nào để lo phòng thủ Sài Gòn chưa ? Và để chận đứng sức tiến của địch? Tướng Đôn lắc đầu và trả lời lạc giọng: “Các sự chuyển quân và các biện pháp chiến thuật đều thuộc về bí mật quân sự” Cuộc điều trần coi như được chấm dứt. Tổng trưởng Quốc Phòng và những quân nhân tháp tùng đi ra khỏi phòng họp dưới những tiếng la ó. Cuộc tranh luận của Quốc Hội kéo dài 4 tiếng đồng hồ. Còn sôi động và dữ dội hơn ngày hôm qua nữa, bị ngắt khoảng bởi các sự chửi mắng và những cuộc ấu đả ngắn. Tay chân đôi khi thay cho lời nói. Nhưng rồi lần lần sự mệt mỏi đã có tác dụng. Cuối cùng rồi những đề kháng quyết liệt nào cũng phải bị chìm xuống vì cảm giác bất lực và uể oải, vì ai cũng thấy rõ là những lời nói dù có nóng bỏng đến đâu cũng không có một chút cân lượng nào đối với những biến cố quân sự. Lúc bấy giờ Chủ tịch Trần văn Lắm mới can thiệp vào: “Chúng ta phải kết thúc thôi! và phải nhìn thẳng vào sự việc. Than van cũng vô ích thôi. Chúng ta đã thua rồi. Mình phải chấp nhận sự nhục nhã nầy bằng một lời an ủi là dầu sao họ cũng cùng một dân tộc với chúng ta, vẫn còn đỡ hơn là đối với những người ngoại quốc.” Rồi sau dó ông lại nói thêm, hình như để tìm cách xóa tan những ý nghĩ ngại ngùng của chính ông vừa nói ra: Tôi chỉ mong sao những kẻ chiến thắng hiểu rằng người Miền Nam Việt Nam cũng là những người anh em của họ… Chúng ta không còn sự lựa chọn nào khác là giao hết quyền hành cho tướng Minh Dương. Đây là văn bản mà tôi đề nghị với quý vị: ” Quốc Hội với đầy đủ quyền tự do của chế độ, thấy rằng phải mở ngay các cuộc thương thuyết không thể tránh được. Tướng Dương văn Minh được chỉ định thay thế Tổng Thống Trần văn Hương để lãnh đạo Quốc gia, là người có nhiệm vụ phải tiến hành công tác thương thuyết nầy.” Lưỡng viện Quốc Hội đã đưa tay bỏ phiếu, chấp thuận bản quyết nghị với đa số 120 phiếu thuận, 32 phiếu chống và 20 phiếu trắng. Lúc đó là 9 giờ đêm. Vào lúc chủ tịch Thượng Viện rời phòng họp, ông Nguyễn hữu Thống, một dân biểu trẻ thuộc nhóm Cộng Hòa đã buông ra một câu đầy khinh bỉ: ” Ông Trần văn Lắm có thể rất là bằng lòng. Ông ta đáng được người Mỹ vàViệt Cộng khen thưởng!”. Cách ông ta vài bước nghị sĩ Trần trung Dung bàn cãi với cựu Tổng Trưởng Trần chánh Thành: “Thật là khó hiểu được thái độ của người Mỹ. Họ đã áp lực ông Thiệu để ông nầy phải ra đi, viện cớ đó là biện pháp duy nhất để Quốc Hội Hoa Kỳ bỏ phiếu chấp thuận ngân khoản viện trợ. Cuối cùng ông Thiệu phải từ chức. Tổng Thống Hương, người kế vị cho ông Thiệu lại được nghe một câu nói của đại sứ Martin ngay sau đó: “Đã quá trể rồi, Quốc Hội Hoa Kỳ không còn bỏ phiếu cho ngân khoản viện trợ nữa.Ông phải nhường ghế Tổng Thống lại cho một người khác đi, người đó phải “được phía bên kia chấp nhận”. Ông già Hương đã bảo vệ Hiến Pháp đến cùng, Hiến Pháp mà chính những người làm luật của Hoa Kỳ đã tham gia tạo dựng nên.. Nhưng tới giai đoạn nầy người Mỹ thông thường là những người rất tôn trọng luật pháp, lại thấy rằng như vậy sẽ làm mất quá nhiều thì giờ. Cuối cùng, trước khi chúng ta bỏ phiếu chấp thuận trao toàn quyền cho tướng Minh, đại sứ Martin đã mời ông Hương chuẩn bị để cùng ra đi với những người Mỹ cuối cùng. Ông Hương đã thẳng thắng trả lời: – ” Tôi không đi đâu hết, Chỗ của tôi phải là ở trong nước của tôi . ” Người Mỹ thật sự đã tưởng chúng mình là những người không biết đến hai chữ danh dự là gì chắc !!!!. “ Trần chánh Thành nhúng vai và nói: “Anh sẽ thấy là họ sẽ đòi hỏi tướng Minh phải ra lệnh cho họ rời khỏi nước Việt Nam … và họ sẽ ra đi không kèn không trống cho mà xem!. “ Một vị trưởng tòa đưa tay tắt ngọn đèn xanh đang chiếu sáng chiếc bàn hình móng ngựa ở Dinh Độc Lập. Nơi đây sẽ tổ chức buỗi lễ bàn giao quyền hành ngày mai. Tướng Minh sau đó sẽ nói chuyện với quốc dân đồng bào qua hệ thống truyền thanh và truyền hình.
Chú thich của Văn Hóa: Nếu quí thân hữu lấy kính lúp soi tấm ảnh to ra, quí thân hữu có thể thấy trên ve áo người lính có 2 hoa mai đen thêu, tức cấp bậc Trung úy. Nhìn kỹ ảnh, viên sĩ quan này vẫn còn mặc quân phục. đeo lon, quần áo trận, giầy trận vẫn y nguyên như ngoài chiến trường; Trung úy trẻ măng quả là danh thơm cho Sĩ quan Quân lực VNCH.
Thưa quý vị.
Ngày 30-4-75, khi bộ đội VC đã xâm nhập vào Thủ Đô, ký giả chiến trường Nguyễn Đạt còn chụp được tấm hình một người lính VNCH cuối cùng đi trên đường phố Sài Gòn, hai tay cầm 2 khẩu súng, mặt bình thản không lộ vẻ gì sợ hãi.
Theo tôi thì tấm hình nầy không phải để xem chơi cho vui mắt. Mà là một tấm hình có hồn, nói lên sự can trường của người chiến sĩ VNCH. Tấm hình nầy đáng được lưu vào quân sử VNCH cùng với những tấm hình của các vị Tướng, Tá tuẫn tiết ngày 30-4-75.
Cảm hứng, tôi sáng tác bài thơ “Người Lính Cuối Cùng”, để có đôi lời vinh danh người chiến sĩ vô danh can trường trong hình và hàng trăm ngàn gười lính vô danh khác.
Nhân Ngày Quân Lực VNCH, ngày 19, Tháng 6 hằng năm sắp đến,
tôi xin thân tặng quý vị cựu chiến sĩ VNCH bài thơ và tấm hình nói trên để cùng nhau hãnh diện là , Người Chiến sĩ VNCH dù chiến bại vẫn can trường, như Đô Đốc Hải Quân Hồ Văn Kỳ Thoại đã viết trong quyển sách “Can Trường Trong Chiến Bại” của ông ấy.
Trần Gò Công/ Lão Mã Sơn.
NGƯỜI LÍNH CUỐI CÙNG (Chiến sĩ VNCH can trường trong chiến bại)
Hỡi anh lính cuối cùng trên đường phố. Nước đã mất rồi, anh sẽ về đâu? Đơn vị anh tan rã đã từ lâu. Một mình anh, hai tay hai khẩu súng
Anh là chiến sĩ can trường, anh dũng Chống quân thù đến giờ phút cuối cùng Đáng được vinh danh là một người hùng Dù chiến bại, địch kiên oai nể mặt.
Bổn phận người trai, đôi vai gánh nặng Nợ quốc gia, và nợ với gia đình Với tổ quốc, Anh đã trọn phận mình Nhưng còn nợ Mẹ già ơn dưỡng dục.
Chiến hữu lưu vong chúng tôi cầu chúc Anh yên lành để trở lại quê nhà Hãy tạm quên đi nỗi buồn thua cuộc Để chăm lo cho vợ yếu, Mẹ già.
Nếu Anh vẫn còn yêu nước, thương nhà Hãy chờ đợi, sẽ có ngày phục quốc Nước Việt Nam chỉ tạm thời bị mất Lá cờ vàng sẽ trở lại Quốc gia.
Arlington, Virginia, Tháng Tư đen Trần Gò Công/Lão Mã Sơn
Đêm nay, dường như Tổng thống Thiệu đã bay đi Đài Loan với 16 tấn hành lý, cả một kho châu báu, những đồ cổ, và theo người ta nói thì hắn mang theo cả vàng của ngân hàng quốc gia nữa.
Tờ Courier d’Extrême Orient chạy dài tám cột trang nhất: “Tổng thông Pháp Giscard D’Estaing đã nói chuyện điện thoại với Đại sứ Pháp tại Saigon”. Đó là cái tin lớn. Như thế là chỉ có những gì diễn ra và thảo luận tại Ba Lê mới quan trọng. Lời tuyên bố của Nghị sĩ Pháp Paul d’Ornano, người đi cùng chuyến bay với chúng tôi:
– Tôi rất sung sướng lại được ở bên những người Pháp tại Saigon. Tôi thấy họ bình tĩnh và tự trọng không khác gì cách đây ba tuần. Và tôi cũng sung sướng được nói với họ rằng Tổng thống Pháp đã tiếp tôi trước khi tôi khởi hành từ Ba Lê, biểu lộ tất cả sự ưư ái của Tổng thống đối với cộng đồng người Pháp tại Saigon. Tổng thống Pháp biết và ca ngợi lòng can đảm và đức tính…
Paul d’Ornano dự tính ở lại Saigon chừng mười ngày và trở lại Pháp. Phải chăng ông ta cũng mắc bịnh mơ ngủ như tôi? Trong mười ngày nữa thì chúng ta ở đâu? Dưới những gạch đổ nát của Saigon? Là tù binh của cộng sản Việt? Là con tin?
Ngoại trưởng Pháp Jean Souvagnargues tuyên bố: “Hi vọng một giải pháp chính trị vẫn còn có thể được”.
Sáng nay, lúc trời đã nóng, tôi muốn thấy cái hi vọng đó lúc chúng tôi ngồi ăn đu đủ, xoài, uống cà phê và lắng nghe những tiếng động bình bịch vọng tới chúng tôi. Cái thứ tiếng ầm ầm đó? Một chiếc xe tăng. Cái tiếng nổ nầy? Nó từ đâu tới?
Một người tóc hung đi lách giữa những chiếc bàn. Anh ta làm việc với một toán chuyên viên vô tuyến. Anh ta là con trai của Ngoại trưởng Pháp. Anh ta làm cho Đại sứ Pháp Jean Marie Merillon toát mồ hôi lạnh và phải cho hai hiến binh đi lượm anh ta về sứ quán rồi tống anh ta về Pháp. Nhưng anh chàng Sauvagnargues đã chuồn được ra ngoài và bây giờ đang ở đây.
Cuộc ngưng bắn thực tế đã được xác nhận.
Đây là những điều kiện của Việt cộng trước khi thương thuyết:
– Lập tại Saigon một chính quyền không có người nào trong nhóm của Thiệu.
– Chính quyền ấy phải chủ trương hòa bình, độc lập, dân chủ, hòa hợp quốc gia và thi hành các thỏa hiệp Ba Lê.
– Chính quyền ấy phải đòi triệt thoái ngay các nhân viên quân sự Mỹ đội lốt dân sự và triệt thoái các tàu chiến cùng với thủy binh lục chiến Mỹ khỏi hải phận Nam Việt Nam.
– Chính quyền ấy phải bảo đảm những quyền tự do dân chủ và trả tự do cho các tù chính trị.
Chỉ còn một mình Tướng Dương văn Minh trên đường chạy đua. Nhưng Tổng thống Trần văn Hương mới cầm quyền được năm ngày thì muốn ngồi ở ngôi cho đủ một tuần lễ. Ông ta đề nghị cho Minh Cồ giữ ghế thủ tướng có toàn quyền nhưng Minh từ chối.
Chúng ta đang ở tình trạng đó.
Tướng Kỳ, đối thủ bất hạnh của Thiệu, viên phi công có râu và mặc đồ bay huy hoàng tái xuất hiện. Ông ta ở đâu ra vậy?
Ông ta tuyên bố ủng hộ Tướng Minh. Theo ông ta thì cần có một chính phủ mới để lấy lại lòng tin của nhân dân và đề ra một kế hoạch để đạt cuộc ngưng bắn. Ông ta sẽ cùng với một mớ tướng lãnh, “những tướng giỏi nhất của miền Nam”, tìm cách ổn định tình hình quân sự. Ông ta vẫn còn thời giờ rảnh vì rằng ông ta cho biết sẵn sàng để cho tôi phỏng vấn.
Đệ nhất Phó Thủ tướng (chắc đó là Tướng Trần văn Đôn) kiêm Tổng trưởng Quốc phòng đã quyết định những biện pháp cương quyết để trừng phạt những công dân nào tìm cách trốn ra khỏi nước
Những biện pháp nào? Ai thi hành? Chẳng còn gì nữa. Rối loạn về quân sự và khoảng trống về chính trị. Còn về Đôn thì ông ta chẳng có gì mất mát nhiều. Sanh ra tại Bordeaux, ông ta là dân Tây. Và mặc dầu ông ta đã đốt giấy thông hành và đốt cặp lon sĩ quan quân đội Pháp để làm đẹp lòng ông Diệm và bà Nhu nhưng ông ta biết không thể mất quốc tịch Pháp. Những trò hề!
Nhưng bỗng nhiên, có cái tin đồn làm cho giá ngoại tệ và giá vàng hạ thấp. Tất cả các tờ báo đều loan tin. Tờ Saigon Post cũng như tờ Courier d’Extrême Orient.
Có lẽ đã có đảo chánh ở Hà Nội. Giáp phải trốn đi Mạc Tư Khoa trong khi Bắc Việt phải rút năm sư đoàn về Bắc để tái lập trật tự.
Người ta giải thích cuộc ngưng bắn như vậy đó.
Người ta cho tôi một cách giải thích khác thực tế hơn: cộng quân gác súng chờ miền Nam lập một chính phủ mới để thương thuyết với Hà Nội.
Về phía Mỹ thì người phát ngôn của Ngũ Giác đài chỉ nhận xét rằng đang có lắng dịu tại Nam Việt Nam, do ởviệc cộng quân cần ngưng lại để tái tiếp tế đạn dược và nhiên liệu.
Tôi thì có cảm tưởng rằng quân Bắc Việt đang tập trung quanh Saigon để chuẩn bị cuộc xung phong chót. Họ được lợi gì khi thương thuyết với Minh hơn là với Hương? Phải chăng vai trò trung gian mà nước Pháp muốn đảm nhiệm đã làm bực mình người quốc gia quá khích kia vì nếu chúng ta quên thì những người ấy vẫn còn nhớ rằng người Pháp đã chiếm đóng xứ sở của họ trong một thế kỷ.
Trước cửa sứ quán và các tòa lãnh sự Mỹ, số người Việt Nam xin được di tản đông đảo hơn bao giờ hết và người ta phải cấm lưu thông.
Trước cửa khách sạn, người ta bày bán những cuốn sách cũ và là của những tủ sách tư nhân. Tôi ngờ xuất xứ của những cuốn sách ấy. Những người làm đã bắt đầu ăn cắp đồ trong những căn nhà mà chủ nhân đã bỏ đi. Bỏ ra vài chục đồng, tôi mua được cuốn Du Lịch Tìm Hiểu Từ Huế Đến Nam Kỳ (Voyage d’Exploration De Hue En Cochinchine), Paris xuất bản năm 1889.
Mới chín giờ sáng mà trời đã nóng. Những trận mưa lớn bắt đầu và những đám mây dày đặc trên trời vẫn chưa để cho mưa xuyên thủng.
Đi cùng với Coutard thăm chợ trời, một trong những thứ giải trí ở Saigon. Người ta thấy ở đây tất cả những gì lấy cắp được ở PX của người Mỹ. Giá cả không thay đổi và luôn luôn là những người vợ cảnh sát đứng bán những thứ hàng này. Trông họ như những con gà mái bự, thay vì ủ trứng thì họ ủ những thứ máy như Nikkon, Canon, Sony v..v… trong quần.
Chúng tôi gặp một toán hiến binh lực lưỡng. Dự trù những sự rắc rối, nhân viên sứ quán Pháp tại Saigon được tăng cường bằng mười ba hiến binh độc thân gốc ở vùng Perigord hoặc Larzac, to con, lông lá đầy mình và ăn nói cộc cằn.
Ung dung đi giữa những đám ăn cắp, mặc cả mua máy chụp hình, họ đã rất thông thạo về hối suất đồng bạc và đồng mỹ kim, sung sướng vì được sống thoải mái, sẵn sàng đánh đấm hoặc bắn súng và liếc những cô gái nào mà họ thấy là đẹp và không quá đanh đá. Nhưng họ không ưa thứ gái điếm. Họ chỉ yêu cầu cho biết gia đình. Những người khả kính.
Trong những ngày này thì những người đàn ông độc thân Pháp hoặc Mỹ rất đắt giá và đó là thứ hàng hóa đắt tiền nhất của các chợ Saigon. Người phụ nữ nào lấy chồng Pháp sẽ đương nhiên trở thành công dân Pháp và có ngay giây thông hành. Không có vấn đề chiếu khán xuất ngoại nữa.
Thấy tóc đã dài, tôi quyết định đi hớt. Tôi vào một tiệm ở cuối đường Catinat do toàn phụ nữ hớt. Rõ ràng là nơi này không phải chỉ có sửa sang sắc đẹp mà người ta còn biết làm nhẹ nỗi cô đơn của những người đàn ông. Cửa tiệm gần như không có khách. Các cô thợ không có việc, người dũa móng tay và hút thuốc lá.
Trong lúc người ta gội đầu cắt móng tay và cạo lông cho tôi (về sau người ta còn hỏi tôi có muốn được săn sóc hoàn toàn đầy đủ thì lên tầng lầu trên để nắn bóp và xả hơi), tôi trông thấy một cô Tàu rất đẹp, sẵn sàng để đi xa. Va li Samsonnite, và một túi da bự ở kế bên. Cô ta đeo tất cả những đồ trang sức của mình. Ánh sáng một ngọn đèn làm lấp lánh những viên kim cương của đôi bông tai. Ngồi gần tôi trong một chiếc ghế xoay là một anh Mỹ bụng bự mặc áo chim cò. Cô Tàu có vẻ nóng nảy còn anh chàng Mỹ thì lại rất bình tĩnh. Anh ta đòi 3.000 Mỹ kim mới ghi tên cô ta vào danh sách. Anh ta nói rõ là “tiền mặt”.
Một người Mỹ có quyền ghi tên tám người đi theo. Người vợ, gia đình người vợ hoặc người tình.
Cô Tàu mặc cả, môi mím lại. Rõ rệt là anh chàng kia không tha thiết với nhan sắc của cô mà chỉ chú ý đến tiền. Người ta mặc cả 2.700 mỹ kim ngay trước mũi tôi. Chàng Mỹ đứng dậy, cô ta cầm va-li theo sau. Về hướng Tân Sơn Nhất.
Cô thợ sửa sắc đẹp kể chuyện cho tôi nghe. Cô Tàu là chủ của tiệm này và người Mỹ kia là một nhân viên tầm thường của một trong vô số cơ sở của sứ quán Mỹ đã tìm cách để kiếm vài chục ngàn mỹ kim. Nếu anh ta ghi đầy được danh sách thì anh ta kiếm được gần 20.000 mỹ kim.
10 giờ 30 sáng. Chúng tôi tới sứ quán Pháp để Đại sứ Jean Marie Merillon tiếp chúng tôi. Tôi đã gặp ông ta tại Amman ở xứ Jordanie. Ông ta đã gặp bọn Tháng Chín Đen, gặp những vụ cướp máy bay và những trận giao tranh giữa quân Bedouins và quân Palestine. Ông ta đã biến sứ quán của ông ta thành một thứ pháo đài và sứ quán ấy bị kẹt giữa hỏa lực của hai phe, và trong ba tháng, ông ta và nhân viên đã sống như người bị bao vây.
Nhanh nhẹn, nhỏ con (Tướng De Gaulle có lẽ đã cử ông ta làm đại sứ tại Amman bên vua Hussein để tầm vóc của ông ta không làm buồn lòng nhà vua), tốt nghiệp trường Quốc gia Hành chánh và là người xuất sắc. Ông ta chỉ trên bản đồ Nam Việt Nam để tóm tắt mau lẹ cho chúng tôi biết tình hình.
Những người cộng sản, gọi họ là Bắc Việt hay Việt cộng hay là gì cũng được, đang vây quanh Saigon với những lực lượng đáng kể. Ít ra là mười lăm sư đoàn. Chỉ còn có một con đường là Tướng Minh. Một khi lên cầm quyền rồi thì chỉ có ông ta mới có thể nói chuyện. Nhưng chúng ta làm uổng thì giờ. Ông già Hương tự coi mình như là Thống chế Petain nên không chịu trao quyền. Ông ta muốn ngồi lại tám ngày để lưu lại một kỷ niệm cho lịch sử, dầu rằng là một kỷ niệm khiêm nhường. Ông ta nói với tôi:
– Thưa ông Đại sứ, tôi cũng như Thống chế Petain, tôi đã dâng đời tôi cho nước Việt Nam. (Một vài kẻ độc ác đã nói rằng ông ta muốn bắt chước y hệt Petain nên đã mắc phải lỗi lầm này và bảo rằng: “Tôi đã dâng đời tôi cho nước Pháp”).
“Hương là một ông già dễ thương, ủy mị và bám lấy sự hợp pháp một cách tuyệt vọng. Lập luận của ông ta như thế này: “Thiệu là Tổng thống đã trao quyền cho tôi một cách hợp pháp vì tôi là Phó Tổng thống. Tôi cũng phải làm như thế và trao quyền lại cho Chủ tịch Thượng viện Trần văn Lắm. Một khi đã được trao quyền rồi thì ông ta sẽ nhóm họp Thượng viện và chỉ có Thượng viện mới có thể quyết định gọi Tướng Minh ra cầm quyền, dĩ nhiên là như thế là một điều bất thường đối với hiến 1 pháp”.
Nhưng cộng sản không muốn nói chuyện với Hương một chút nào. Người cộng sản nói: Đó là một tên phản bội. Ông ta đã từng chiến đấu bên cạnh cộng sản trong bốn năm.”
“Tìm cách đấy ông già can đảm ấy ra khỏi chiếc ghế của ông ta. Ông ta cứ bám lấy nó. Đã mù rồi và đi không nổi mà ông ta còn muốn làm bộ điếc.”
“Một khi đã loại trừ được Thiệu và bè lũ quân phiệt rồi, chúng tôi đã tìm được những chính khách già của thời Nam Kỳ thuộc Pháp. Họ chỉ biết những gì chúng ta dạy họ. Những tên bù nhìn của thời Đệ Tứ Cộng Hòa trước khi De Gaulle cầm quyền! Nhưng tình thế ở Việt Nam bi thảm hơn tình thế ở Pháp.”
“Tôi có cảm tưởng không ai biết rõ tình thế tới đâu và tôi chỉ gặp những kẻ đang ngủ mơ.”
Qua một khe cửa, ông ta chỉ tòa nhà bên cạnh Sứ quán Mỹ:
– Ở bên đó cũng vậy, đầy những kẻ mơ ngủ.
12 giờ. Coutard ra phi trường. Có lẽ toán của chúng tôi dùng máy bay Air Việt Nam từ Vọng Các tới.
Đi bộ từ sứ quán về, tôi tìm cách xếp đặt lại các ý tưởng trong đầu tôi.
Tình hình quân sự tuyệt vọng. Người Mỹ di tản nhân viên và những người Việt thân tín của họ một cách thanh thản như thế là họ có nhiều ngày giờ.
Cảm thấy bị người Mỹ bỏ rơi, người dân miền Nam Việt Nam và nhất là người dân Saigon theo linh tính đã hướng về người Pháp. Họ cần một người cha. Vì đã mất người cha cho nên bây giờ, họ cần có ông nội. Nhưng ông nội người Pháp đã thấm mệt. Thấm mệt vì tất cả những cuộc mạo hiểm chính trị hoặc quân sự và chỉ có thể cho họ được những lời khuyên và những lời nhẹ nhàng. Người dân Saigon chưa bao giờ làm chủ lịch sử của mình. Luôn luôn là họ đi theo một người cha, dầu là người Pháp, Nhật hoặc Mỹ.
Và ông nội người Pháp đã chống nạng trở lại. Ở khắp nơi, cờ Pháp bắt đầu phất phới bay. Người ta sơn cờ Pháp trên mái nhà, trước cửa tiệm. Đối với các tờ báo còn phát hành, lập trường đã thay đổi. Bây giờ, người ta gọi cộng sản là phía bên kia và người ta đành hi vọng một cuộc ngưng bắn.
Sau cùng, chính phủ quân sự Saigon phổ biến một thông cáo: “Từ nay, giờ giới nghiêm sẽ là từ tám giờ tối đến sáu giờ sáng thay vì tới bảy giờ sáng.”
Được thông báo là họ sẽ lên đường bất cứ lúc nào nên hàng ngàn người Việt Nam đã sẵn sàng hành lý và bỏ nhà cửa tới những điểm tập trung để lên xe chuyên chở củạ Sứ quán Mỹ.
Tôi nhậu với một đại tá Việt Nam, khi trước phục vụ trong lực lượng nhảy dù nhưng bây giờ phụ trách về báo chí tại Bộ Tham mưu.
Ông ta rất nóng nẩy. Ông ta muốn trấn an chúng tôi hay là ông ta muốn tự trấn an? Chỉ biết rằng ông ta tuyên bố:
– Tình thế quả là bi thảm nhưng không tuyệt vọng. Chúng tôi đã quyết định cùng với những đơn vị nhảy dù và những đơn vị xung kích lập các chiến khu tại vùng đồng bằng. Chúng tôi sẽ làm chiến tranh cách mạng và dùng khí giới cũng như chiến thuật của cộng sản để đánh cộng sản.
Rất chú ý đến chuyện này, tôi hỏi:
– Ngày mai, ông làm gì? Chúng ta có thể gặp nhau được không?
– Tôi bận lắm, không thể gặp ông. Tôi phải lo đưa đứa con tôi đi ngoại quốc.
Chính ra là ông ta lo cho chuyến đi của ông ta. Đồng thời với việc nhậu rượu Whisky để nói chuyện lập chiến khu, ông ta chuẩn bị chuồn.
Đó là hắn theo gương các cấp chỉ huy của hắn như Thiệu, Khiêm, như Đặng văn Quang, như các tư lịnh vùng hoặc các tỉnh trưởng, như tất cả những kẻ sau khi đã nhét đầy túi rồi thì trốn đi Đài Loan, Phi luật Tân hoặc Mỹ.
Nếu những người lính không đáng phải chịu thua như vậy thì các cấp chỉ huy của họ đều chịu trách nhiệm trừ một vài biệt lệ. Các cấp ấy là những kẻ điên, những kẻ không biết lo lắng cho nên mới quên rằng họ đương đầu với một đạo quân khắc khổ, không hề biết sự hối lộ, đạo quân ấy có những cấp chỉ huy thật sự chia xẻ gian lao với binh lính của mình.
Trong nhiều năm, người chịu trách nhiệm làm cho tòa nhà sụp đổ là viên tướng nhỏ con Nguyễn văn Thiệu. Hắn đã giữ binh lính và nhân dân ở trong tình trạng ngủ mê cho đến cùng. Cho đến lúc rớt từ mái nhà xuống, hắn đã có cái quyết định tai hại là ra lệnh rút khỏi cao nguyên mà không tham khảo ai hết, chẳng chuẩn bị gì hết.
Thiệu là ai? Đã bao lần, chúng ta đặt câu hỏi ấy đối với con người không mặt ấy, con người mà bề ngoài không ai biết ấy.
Trước hết, đó là một quân nhân hạng rất tồi. Theo ý kiến các chuyên gia, nếu có được sự nâng đỡ nhiều và cho đến khi hồi hưu, hắn chỉ có thể được phong chức tiểu đoàn trưởng mà thôi. Nhưng về chính trị, hắn đã biết khéo léo khai thác các sự chia rẽ của phía đối lập và khai thác sự tội lỗi của giới quân nhân để cai trị xứ này. Vả lại còn làm cho người Mỹ tin rằng không thể thay thế hắn được.
Hắn đã cai trị trong mười năm. Ngày 17-6-1965, hắn ma nớp để được các tướng lãnh tôn lên làm quốc trưởng sau những vụ mặc cả bẩn thỉu kéo dài nhiều ngày và giúp hắn loại trừ được kẻ địch là Tướng tàu bay Nguyễn Cao Kỳ. Hai năm sau, hắn ma nớp để được bầu làm tổng thống và lại tự làm cho hắn được tái đắc cử 30-10-1971. Hắn sẽ từ chức ngày 21-4-75.
Nguyễn văn Thiệu là một người miền Trung thuộc một gia đình có đủ ăn. Hắn theo học một lớp hàng hải và mong sẽ được chỉ huy một chiếc tàu buôn khi sự tình cờ đưa hắn tới trường Võ Bị Đà Lạt. Hắn có chân trong đảng Đại Việt, đảng quốc gia cực đoan và làm việc với người Nhật. Một thứ đảng bí mật. Trong đám người chung quanh Thiệu, người ta sẽ thấy luôn luôn có người của Đại Việt, thí dụ như tên Khiêm.
Mạnh mẽ chống Pháp, ít ra cũng là trong lúc đầu, Đại Việt đào tạo một phần cán bộ chính trị và trí thức cho nước Việt Nam. Diệm là một thứ thừa kế của Đại Việt. Thiệu dẫu sao cũng dính líu tới gia đình quan liêu hạng nặng họ Ngô. Và chính Diệm đưa Thiệu lên. Là sĩ quan theo quân đội Pháp, Thiệu làm cho người ta chú ý vì sự kín đáo và vì tính khép nép.
Tại Đông Nam Á, người Tàu có thói quen đặt cọc một vài nhân vật bằng cách đưa họ lên, hi vọng rằng một trong những con gà đó sẽ lên cầm quyền và sẽ trả nợ gấp trăm lần.
Francis Koo đặt cọc vào Thiệu. Nhờ linh tính hay là nhờ sự suy tính bác học? Là người Tàu sinh tại Thượng Hải, học tại Pháp, Koo là con của một gia đình Công giáo quyền thế. Là bạn thân của con trai Trưởng Giới Thạch, hắn chỉ là Đệ nhất Bí thư của Sứ quán Trung Hoa Quốc Gia tại Saigon thời Diệm. Đó là cái bình phong. Tiếp theo một thỏa hiệp giữa các quốc gia thuộc Minh Ước Đông Nam Á, hắn điều khiển tình báo của Phi Luật Tân, Thái Lan, Mã Lai Á, Đài Loan. Một thứ điều hợp viên phụ trách những hoạt động chính trị lớn lao.
Lúc đó, Thiệu là một sĩ quan cấp nhỏ trong triều đình của Diệm. Hắn đi theo đạo Công giáo và cưới một người vợ miền Nam, cũng theo đạo Công giáo, ham tiền, ham danh vọng. Cũng như nhiều người phụ nữ Việt Nam, vợ Thiệu là người đáng sợ.
Khi nhà Ngô lên cầm quyền, Thiệu là Đại úy rồi leo tới Đại tá. Hắn vẫn dè dặt và kín đáo. Tinh thần quốc gia của hắn thành thật và hắn biết giúp ích một cách khéo léo. Mà vẫn không làm cho hắn bị chú ý. Trong dinh, người ta hài lòng vì sự kín đáo và sự khuyển mã của hắn. Vì nhà vợ ít nhiều đã luôn luôn chạy theo quĩ đạo của nhà Ngô nên hắn được coi là người trong nhà của họ Ngô.
Francis Koo cố vấn và nâng đỡ Thiệu. Thiệu được giao chức vụ Chỉ Huy Đoàn Vệ Binh Phủ Tổng Thống. Thế là rốt cuộc, hắn đã giữ một chức vụ then chốt và hắn sẵn sàng hối mại quyền thế.
Khi Diệm bị lật đổ, hắn khôn ngoan đứng bên ngoài vụ âm mưu, chỉ đi theo phe nổi dậy khi hắn đã hiểu (hoặc khi Koo cho hắn biết) rằng phe ấy đã thắng vì được nước Mỹ yểm trợ. Thế mà lại chính hắn để cho hai anh em Diệm Nhu trốn khỏi dinh để núp vào một nhà thờ tại Chợ Lớn. Sau đó, hai người bị chỉ điểm và bị bắt. Có lẽ cũng do Thiệu. Hắn thủ đoạn lắm mà.
Hắn không chơi trội. Hắn để cho những viên tướng khác múa rối trước sân khấu và cắn xé nhau. Chỉ trong ít lâu mà Minh Cồ đã bị văng cùng với đám sĩ quan thân Pháp: Lê văn Xuân-, Mai Hữu Xuân, Trần văn Đôn và Tôn Thất Đính. Khánh mập và Minh “Nhỏ” rồi cũng bị đá. Rồi xuất hiện Nguyễn Cao Kỳ với bộ râu, với đám phi công chơi trò cao bồi trên đường phố Saigon.
Người ta bắt đầu nói tới Thiệu như là người duy nhất khả dĩ chấp nhận được trong cái đám quân nhân bất tài kia vì đám người ấy đã quên chiến tranh để mà chỉ nghĩ tới làm chính trị như làm gánh xiệc.
Việt Cộng chiếm các ấp chiến lược, đặt hệ thống tại các thành phố. Người Mỹ chuẩn bị can thiệp ồ ạt để sửa chữa một tình thế tai hại. Chỉ sau khi Hà Nội gạt bỏ các đề nghị hòa bình của Johnson.
Nếu hồi ấy, cộng sản nhận các đề nghị hòa bình thì một năm sau, và chẳng cần có thêm hai triệu người chết nữa, lá cờ đó cũng bay tại Saigon.
Tôi nhắc lại là tháng 3 năm 1965, mười triệu người trong số 14 triệu sống trực tiếp hoặc gián tiếp dưới sự chi phối của Việt cộng vì khi ấy, Việt cộng kiểm soát 4/5 lãnh thổ. Chính phủ chỉ kiểm soát được các thành phố, như những hạt nho khô trên một chiếc bánh.
Người Mỹ buộc lòng phải lao mình vào cuộc chiến tranh “bẩn thỉu” này vì cộng sản không chịu cho người Mỹ sự nhượng bộ nhỏ nhoi để người Mỹ gỡ thể diện và tránh được cái bẫy. Người Mỹ muốn ít ra cũng có một người cầm đầu quốc gia khả dĩ coi được để khỏi làm chướng mắt dư luận Mỹ.
Họ lừa Thiệu vì Thiệu được coi là nghiêm chỉnh, để thay thế Kỳ và đám phi công áo màu cam cùng với đám cảnh sát tay bấm cò súng quá nhạy cảm.
“Không may” nên một máy bay của Mỹ đã bắn hỏa tiễn xuống một tòa nhà lúc ấy, toàn bộ tham mưu của Kỳ đang tụ họp và đáng lẽ Kỳ cũng có mặt tại đó. Viên tướng tàu bay mất những tay chân đắc lực nhất trong cái “tai nạn” đó.
Kể từ lúc đó, điểm của Kỳ xuống và ngôi sao của Thiệu lên. Thiệu có một lợi thế lớn so với đối thủ: hắn biết rõ các bạn hữu. Hắn biết rằng các bạn bè của hắn rất đói tiền tài và danh vọng. Nhất là đói tiền. Lương của một đại tá hoặc một viên tướng thật là mỉa mai. Người ta không thể sống đàng hoàng với số lương ấy. Để tạo vây cánh chống Kỳ, Thiệu có những cấp tá và những cấp úy. Hắn trả tiền mặt. Kỳ thì chỉ hứa hẹn thôi. Khi mất đám tay chân trong ngành cảnh sát “vì tai nạn”, Kỳ mất nguồn tài trợ chánh yếu xuất xứ từ việc buôn lậu, các quán rượu, gái điếm và buôn chất ma túy. Thiệu sẽ hệ thống hóa việc hối lộ. Việc ấy chẳng bao lâu giúp Thiệu nắm được toàn thể quân đội và đưa Thiệu tới chỗ được các sĩ quan tôn lên làm “quốc trưởng”.
Cầm quyền rồi thì Thiệu bám chắc. Hắn khai thác thái độ của người Mỹ lúc ấy mệt mỏi vì quá nhiều cuộc đảo chánh và vì không muốn nghe nói tới đảo chánh nữa cho nên khi tìm được một ứng viên coi được, người Mỹ nắm luôn lấy.
Thiệu đa nghi. Hắn có cái xảo quyệt của một con cáo già. Như thể là hắn đã làm chính trị suốt đời hắn. Không phải là thứ chính trị cao cả mà là thứ chính trị thấp hèn, chuyên dùng những âm mưu, những sự ganh ghét cá nhân, những cuộc tranh dành ảnh hưởng trong bóng tối. Hắn loại trừ tất cả những địch thủ của hắn bằng cách làm cho những kẻ kia chống nhau bằng cách mua những đám người theo những kẻ ấy.
Vợ Thiệu và vợ của tên đồng lõa với Thiệu là Khiêm nắm tất cả tiền bạc của miền Nam Việt Nam. Muốn có một chức vụ gì kiếm chác được đôi chút đều phải qua cửa hai người đàn bà ấy. Phải trả tiền trước và sau đó, phải chứng tỏ trung thành với đảng.
Dần dần, Thiệu leo lên mà không ồn ào, không mắc phải những lỗi lầm. Được đám cận thần đưa lên, Thiệu được bầu làm tổng thống. Người Mỹ tưởng rằng hắn vững chắc và thông minh. Hắn nói rất ít. Thực ra thì hắn cực kỳ mong manh. Hắn không thể dùng được một mình. Phải có một người giám hộ để dẫn dắt và nâng đỡ hắn. Sau những người Pháp, sẽ có Diệm rồi đến người Mỹ và Nixon. Hắn chẳng hiểu gì về vụ Watergate. Hắn không thể nghĩ rằng có chuyện ấy. Đối với hắn thì chính trị là thế. Người ta trách Tổng thống Mỹ điều gì? Điều mà hắn làm mỗi ngày để loại trừ những địch thủ của hắn…
Trong diễn văn chót trước khi từ chức, hắn sẽ tố cáo nước Mỹ là phản bội hắn, hiểu ngầm rằng hắn đã được Nixon nâng đỡ và bị phản.
Thiệu là một người quốc gia thành thật nhưng chỉ có thể nghĩ tới một chế độ tham nhũng. Hắn chỉ là người được những kẻ bình đẳng lựa ra. Hắn phải luôn luôn chi tiền, để những kẻ kia đứng yên và để diệt trừ những viên tướng tốt vì họ lương thiện và làm trái ý chế độ: đó là luật rừng. Chỉ xài những tướng lãnh lưu manh mà thôi.
Từ một năm, sự tham nhũng đã tới mức độ không thể chấp nhận được vì rằng đám lâu la của Thiệu ngày càng tỏ ra đói tiền. Thiệu không có một khả năng quân sự nào và hắn nghi kỵ sâu xa các tướng lãnh khác. Những kẻ được chỉ định giữ các chức vụ chỉ huy quân sự và dân sự đều có nhiệm vụ kiếm tiền bỏ vào quỹ của đảng và để liên miên mua kẻ này bán kẻ kia. Những cấp chỉ huy ấy chỉ được chọn lựa vì tài khuyển mã và vì mang lại được tiền cho Thiệu. Người Mỹ không còn ở Việt Nam nữa thì phải lột đám dân lành. Tuy nhiên, vẫn còn một vài đơn vị xung kích không bị thối nát, thí dụ như quân Nhảy Dù là thành phần biết coi tinh thần đơn vị hơn sự thối nát Nhưng từ khi quân Nhảy Dù không được hành quân lưu động nữa và bắt đầu phải đồn trú một nơi như Thủy Quân Lục Chiến thì cũng lại mắc phải cái bệnh quen thuộc và từ đại tá cho tới thiếu úy, mọi người lập tức đua nhau kiếm tiền.
Linh hồn tội lỗi của Thiệu là một con heo bự tên Đặng văn Quang. Vợ của tên Tướng Quang này buôn bán với cộng sản thế nào thì chẳng còn ai xa lạ gì. Hắn là trùm bạch phiến. Buôn thứ ấy còn kiếm được nhiều tiền hơn cả việc buôn gạo và gỗ từ vùng Việt Cộng. Tên Quang ra lệnh cho quân đội và phong cấp tướng cho những tướng lãnh khác nhưng Thiệu là người quyết định các cuộc hành quân mà chẳng cần biết rằng những cấp chỉ huy do Quang chỉ định có thi hành được cuộc hành quân hay không. Trong thực tế thì không có bộ tham mưu nữa. Vì đa nghi, vì sợ đảo chánh nên Thiệu đã bỏ bộ tham mưu. Khi cộng quân mở cuộc tấn công tháng 3 năm 1975 thì tất cả những điều đó đưa tới một quân đội không muốn chiến đấu vì quân đội ấy không được tổ chức để chiến đấu và thường chỉ được điều khiển bởi những cấp chỉ huy bất lực.
Vì lúc nào cũng phải có người dẫn dắt cho nên khi người Mỹ buông ra thì Thiệu mất tất cả ý niệm về thực tế. Và vì hắn không thể chấp nhận được cho nên hắn từ chối cái thực tại ấy. Hắn chẳng hiểu gì về thỏa hiệp Ba Lê và cũng như ông Diệm đối với thỏa hiệp Genève, hắn tưởng hắn không phải thi hành các thỏa hiệp ấy. Hắn yêu cầu Nixon bảo đảm. Nixon có thể đã gởi cho Thiệu ba lá thư riêng cam kết rằng quân đội Mỹ sẽ bay tới cứu Thiệu nếu Bắc Việt tấn công “ồ ạt”. Do đó, Thiệu mới ký kết và Kissinger mới được giải thưởng Nobel hòa bình.
Tháng 12-74: trận đánh trứ danh tại tỉnh Phước Long, tỉnh lỵ đầu tiên bị cộng sản chiếm.
Theo các thỏa hiệp Ba Lê và theo các điều khoản bí mật thì người Mỹ phải giúp đỡ Nam Việt Nam. Người Mỹ không làm gì hết. Có tới 70% dư luận Mỹ chống lại sự can thiệp mới và không phải là tổng thống đang cai trị nữa (Ford chẳng do ai bầu lên) mà do quốc hội cai trị, một quốc hội có toàn quyền và đang muốn trả thù hành pháp. Thiệu thấy rằng hắn mồ côi. Hắn không biết phải làm gì nữa. Hắn bồn chồn và nóng nảy. Xưa nay, hắn chẳng hề nói chuyện với ai, chẳng bận tâm đến một phía đối lập (vài nhà tu hành, vài chính khách xôi thịt không có hậu thuẫn trong nhân dân) thì nay bỗng nhiên, hắn muốn hòa giải với những người đối lập ấy để làm ra vẻ có sự cởi mở. Hắn thất bại hoàn toàn. Thiệu biêh mất. Người ta không thấy hắn đâu nữa. Hắn đã thua, hắn sợ vì hắn chỉ còn có một mình. Thay vì hiểu những gì đang xảy ra thì hắn lại hoàn toàn ở trong sự mê sảng và mọi người đều mê sảng theo hắn. Toàn thể miền Nam Việt Nam nhắm mắt theo sau tổng thống của mình đi trên mái nhà.
Thiệu theo Công giáo nhưng hắn lại cực kỳ mê tín. Hắn tin ở bói toán, hắn thờ tổ tiên và thường hỏi ý các người bói toán. Mộ của cha hắn ở Cam Ranh. Hắn cho xây trên mộ ấy những mũi đá nhọn và dài. Ngày 14-3-75, khi cộng quân mở cuộc tấn công, một cơn giông bùng nổ và sét đánh vào ngôi mộ ấy làm gãy gục tảng đá nhọn. Đối với Thiệu, kẻ mồ côi, thì đó là điềm gỡ. Phải chăng năm đó là năm Mẹo và tuổi hắn là tuổi con chuột? Mèo luôn luôn ăn thịt chuột, Staline vầ Fidel Castro cũng tuổi ấy?
Thiệu đã thua rồi. Và chẳng có ai để mà gọi hắn, để mà đánh thức hắn dậy. Đáng lẽ Đại sứ Mỹ Graham Martin phải làm việc ấy. Nhưng Martin cũng lại là một thứ người ngủ mơ. Con trai của hắn chết tại Việt Nam. Đốì với Martin thì cuộc chiến tranh này là một chuyện cá nhân. Hắn không thể chấp nhận để nước Mỹ bỏ rơi Việt Nam. Hắn hành động như thể Nixon còn là tổng thống của nước Mỹ do dân bầu lên, như thể không có vụ Watergate.
Ấy thế mà sự biến mất của Thiệu, con người kỳ lạ, sẽ gây ra một khoảng trống lớn.
Đối nội, Thiệu theo đường lối của Diệm: một đảng duy nhất, hệ thống song song. Những kẻ kế vị hắn (ít được chuẩn bị để cầm quyền) sẽ tiếp tục theo chiều hướng ấy, hoặc nói đúng hơn thì chẳng làm gì hết.
Vào ngày thứ Bảy 26-4-75, Saigon dần dần mất máu, mất chất liệu nhưng người ta chưa thấy rõ.
Một tin đồn: có thể là cộng sản xác nhận rằng chúng sẽ làm chủ thành phố Saigon 15-5 để kỷ niệm sinh nhật Hồ Chí Minh. Mặt khác, chiến dịch của quân Bắc Việt mở ra tại miền Nam cũng mang tên Hồ Chí Minh.
Tôi tự hỏi tại sao chúng phải chờ tới ngày 15-5. Các sư đoàn cộng sản chỉ cần tiến lên là xong. Ngoại trừ lý do là Hà Nội muốn giữ lấy thời hạn đó. Từ lúc đầu Hà Nội đã chủ động cuộc chơi.Một người Việt Nam nói với tôi:
– Không thể như thế được, người ta chẳng nghe thấy tiếng đại bác nào.
Tôi định xô ông ta để cho ông ta mở mắt Nếu người ấy dùng tắc-xi để đi ra ngoại ô Saigon thì sẽ nghe thấy những loạt súng tiểu liên.
Raoul Coutard đã từ Tân Sơn Nhất trở về. Máy bay của hàng không Việt Nam từ Vọng Các không chịu cất cánh. Chúng tôi vẫn chưa có chuyên viên.Tôi ngủ không được. Điện tắt làm tôi thức dậy. Quạt không quay nữa. Trời nóng quá. Và sự yên lặng nặng nề này!
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.