Vĩnh biệt Sài Gòn

 Jean Lartéguy

Phạm Kim Vinh dịch

Nhà xuất bản Thế Giới 1991

Post by Sơn râu 8 Apr 2024

4. Chương 4

Thứ Hai ngày 28 tháng 4

Sáng nay, đương đầu với các sư đoàn Bắc Việt, Nam Việt Nam không còn một đạo quân ra hồn nữa mà chỉ còn những thành phần tản mác chiến đấu không hi vọng, chiến đấu vì danh dự, vì những chiến sĩ ấy không thể hoặc không muốn chấp nhận sự độc tài của những người miền Bắc.

Vì sự hiện hữu của miền Nam còn đó. Sự hiện hữu ấy có từ thời Pháp (nước Cộng Hòa Nam Kỳ) và không ngớt được củng cố trong hơn hai chục năm phân chia Nam Bắc, mỗi miền xoay quanh một hành tinh khác và chỉ có một gạch nối mong manh là Mật Trận Giải Phóng và chỉ có ở Ba Lê là người ta tin rằng còn có gạch nối ấy.

Mặt trận Giải phóng là một giả tưởng quân sự. Theo giáo điều Mác Lê thì miền Nam Việt Nam phải tự giải phóng bằng

chính các chiến sĩ bựng biền của mình. Nhờ ơn trên cao cả của ủy ban Trung ương Đảng tại Hà Nội mà 24 sư đoàn Bắc Việt và một số lính tự vệ được ban phép lành đổi tên là Mặt trận Giải phóng. Có đơn vị gồm tới 80% quân Bắc Việt. Tất cả các cán bộ và cấp chỉ huy đều là người miền Bắc.

Cũng lại là giả tưởng chính trị khi Mặt trận Giải phóng phô trương là đã qui tụ được mọi tầng lớp và mọi khuynh hướng ở miền Nam. Trừ Nguyễn Hữu Thọ, những người khác trong Mặt trận Giải phóng đều là cộng sản. Những người cộng sản chính hiệu. Không phải thứ cộng sản như ở Mạc Tư Khoa, trưởng giả, thơ lại và được hưởng nhiều đặc quyền của giai cấp mới. Ở đây là thứ lính thầy tu, tuyệt đối sống cho đảng vì đảng ở cao hơn hết: cao hơn cả tiện nghi, hạnh phúc và gia đình.

Một đảng, ta hãy nói là một đạo quân, toàn thể một dân tộc mặc đồng phục đã dự chiến tranh từ ba chục năm nay và đã được hoàn toàn uốn nắn để thích nghi với cuộc chiến tranh này.

Một ông bạn cũ người Việt Nam là ký giả tới kéo tôi dậy. Ông ta bảo tôi:

– Nếu tôi có thể biết chắc rằng Mặt trận Giải phóng có thật, rằng ít ra trong vài năm, người ta sẽ giữ lại cho miền Nam cái bề ngoài của một quốc gia dân chủ, rằng chúng tôi có thể hi vọng được cấp giấy chiếu khán đi Pháp nếu chúng tôi ngoan ngoãn thì…

– Ông sẽ ở lại…

– Tôi sẽ ở lại. Vì tôi không muốn khi đến một trại tị nạn bị người Mỹ xịt thuốc DDT như xịt vào một con vật hôi tanh, như thể là tôi có chấy rận hoặc có mùi nặng. Hình như tại Phi Luật Tân, người Mỹ đã làm như thế. Đối với người Mỹ thì lúc nào chúng tôi cũng nặng mùi. Chúng tôi có cái mùi mà họ không thể chịu được là mùi thất trận của họ. Tôi sẽ ở lại, biết rằng không có cái Mặt trận Giải phóng nữa, rằng chúng tôi sẽ bị các anh bộ đội chiếm đóng, sẽ bị họ cai trị, rằng vào tuổi này, tôi sẽ bị ép trở lại trường và phải từ bỏ nghề nghiệp của tôi. Vì ở một nước cộng sản thì không có ký giả. Chỉ có những chuyên viên tuyên truyền đánh máy các chỉ thị của Ủy ban Trung ương. Saigon sẽ bị xuống địa vị thành một tỉnh lỵ. Người ta cũng chẳng cần đến thương cảng Saigon vì người Mỹ để lại cho chúng tôi cảng Cam Ranh, một hải cảng nước sâu.

Ông ta nhún vai:

– Muốn làm người tị nạn thì phải rất trẻ hoặc rất giàu. Tôi không còn trẻ nữa và tôi chưa bao giờ giàu. Ông có biết không, sáng nay, tại các tiệm thuốc tây, tôi muốn nói những tiệm thuốc tây còn mở cửa, người ta không tìm được thuốc ngủ nữa. Dân Saigon đã mua hết rồi.

– Ông thấy họ còn chưa đủ ngủ mơ sao?

Ông ta cười giòn làm rung cả bộ râu:

– Đó là để ngủ giấc chót của cuộc đời. Ồ! Nếu Mặt trận Giải phóng có thật! Nếu người ta có thể tin ở điều ấy.

Thế là rốt cuộc, Minh Cồ cũng lập được chính phủ của ông ta. Cái chính phủ ấy thực ra chỉ có hai người. Ông Nguyễn văn Huyền, một người Công giáo ôn hòa, nổi tiếng vì sự trong sạch và vì đạo đức, sẽ là Phó Tổng thống, và ông Vũ văn Mẫu, một nghị sĩ theo đạo Phật, sáng lập viên của Mặt trận Hòa giải, Thạc sĩ Luật khoa, sẽ là Thủ tướng.

Trễ quá rồi, Mặt trận Giải phóng vừa từ Ba Lê cho biết (dường như cái mặt trận ấy chỉ có ở Ba Lê) rằng: “Sau khi tên phản quốc Nguyễn văn Thiệu ra đi, những kẻ thay thế tên đó gồm có bọn Dương văn Minh, Nguyễn văn Huyền và Vũ văn Mẫu vẫn còn ngoan cố muốn chiến tranh để giữ lấy phần đất đai trong khi đòi thương thuyết. Rõ ràng là bọn ấy tiếp tục ngoan cố muốn kéo dài chiến tranh để duy trì chủ nghĩa Tân Thực dân của Mỹ. Nhưng bọn chúng không lừa dối được ai. Những trận đánh sẽ chỉ ngưng khi tất cả binh lính của Saigon buông súng và khi tất cả các tầu chiến Mỹ rời khỏi hải phận Việt Nam. Phải có hai điều kiện ấy của chúng ta thì mới có ngưng bắn. Cho tới nay, hai điều ấy không được tuân theo…”

Vẫn từ Ba Lê, Mặt trận Giải phóng loan báo rằng: “Nhân dân Saigon đã ồ ạt nổi dậy chống nhà cầm quyền” và rằng: “Binh lính Saigon đã buông súng đầu hàng”.

Vì có mặt tại chỗ nên tôi biết rõ không hề có chuyện ấy. Nhưng sự thật của tôi đáng kể gì so với tất cả những đòn tuyên truyền ở Ba Lê, có những kẻ vì ăn không ngồi rồi, vì theo lời chỉ thị hoặc vì xu thời đã bị Mạc Tư Khoa giật dây và nhai lại. Và cái lối phát thanh chát chúa của Mặt trận Giải phóng.

Chỉ có những người cộng sản là thuận lý. Bọn chúng chẳng cần gì đến sự thật. Đó là một ý niệm trưởng giả, một ý niệm giai cấp.

Sáng nay Saigon sao yên tĩnh lạ!

Những thành phần của một lữ đoàn Dù đang bố trí trong thành phố, sau các bức tường. Những người lính này không chán nản và không tuyệt vọng. Họ điều động bình thản như khi họ thao dượt. Đôi khi họ cười vui và chuyền cho nhau những chai coca cola. Nhưng họ không nuôi một ảo tưởng nào về số phận của họ hoặc về kết quả của trận đánh cuối cùng này. Tôi có cảm tưởng rằng họ quyết định đánh đến cùng và quyết định sẽ tự chôn dưới những đổ nát của Saigon. Và họ còn giữ được các cấp chỉ huy của họ. Một trong những người chỉ huy của họ là một đại tá. Ông ta mệt mỏi, tuyệt vọng. Tôi đã cùng với ông ta và vài người bạn ăn Tết 1971. Lúc đó, ông ta biết rằng sắp cùng đơn vị của ông ta đánh vượt biên giới Lào để cắt đường mòn Hồ Chí Minh, và ngay hồi đó, ông ta đã không nuôi ảo tưởng và kết quả của trận đánh.

Ông ta đưa cho tôi một hộp la de. Còn nóng. Người ta tưởng đó là nước tiểu của con lừa. Tôi hỏi ông ta:

– Tình thế ra sao?

– Chúng tôi sẽ chiến đấu và có lẽ chúng tôi là những người chót chiến đấu. Nên nói rõ là chúng tôi chết không phải vì Thiệu, vì Hương hay vì Minh, Thiệu là đồ bỏ, Hương là bù nhìn, còn Minh chỉ là kẻ quá mềm yếu cứ đứng một chỗ mà phụng phịu, thay vì dùng sức mạnh để lật đổ Thiệu.

“Chúng tôi sắp chết vì chúng tôi đã quen với cái tật là ưa tự do, ưa chỉ trích và ưa độc lập. Tôi đã lớn tuổi nên không bỏ được các tật ấy. Chế độ của Thiệu là một chế độ độc tài giả hiệu. Chỉ cần tôn trọng một vài điều bề ngoài là người ta có thể nói và làm những gì người ta muốn.”

“Những kẻ sắp tới sẽ không cho chúng tôi được suy nghĩ theo ý riêng. Cấm tán gái, cấm đánh bạc và cấm nhậu. Thay vào đó là những buổi tự kiểm thảo và những điệu vũ nhân dân.”

“Những con cá lớn đã chuồn rồi. Chúng tôi là cá nhỏ nên mắc kẹt trong rổ. Thiệu có tới mười sáu tấn hành lý. Người Mỹ đã cho hắn một máy bay vận tải để chở hắn cùng gia đình và của cải tới Đài Loan.”

– Tại sao, sau khi hắn từ chức rồi và về ở tại căn nhà trong cư xá Bộ Tổng Tham mưu, các ông không bắt hắn cho đứng dựa vào tường rồi giết luôn?

– Vì hắn không bao giờ ở trong căn nhà tại Tân Sơn Nhất. Hắn ở đâu? Không ai biết. Và hắn cũng không đáng được đưa vào tường nữa. Có làm thế cũng chỉ làm tăng thêm sự rối loạn. Bọn cộng sản sẽ rêu rao rằng chúng tôi nổi dậy theo chúng, rằng chúng tôi tuân theo chỉ thị của chúng để giết các tướng lãnh, rằng Nam Việt Nam đã tự giải phóng và không phải đã bị quân đội nước ngoài chiếm đóng. Làm như vậy là mắc mưu tuyên truyền của chúng. Vì thế mà Thiệu thoát.

– Vậy các ông coi lính Mặt trận Giải phóng là người nước ngoài?

– Không có Mặt trận Giải phóng. Không có Việt cộng. Chỉ có lính Bắc Việt. Những kẻ được coi là Việt cộng đều là con cháu của những người miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954 cùng với gia đình những kẻ ấy sanh ra tại phần đất của cộng sản.

“Những tên Việt cộng thật sự thì đã bị giết gần hết trong cuộc tấn công Tết 1968. Những tên khác đã bị thanh toán trong chiến dịch Phượng Hoàng. Người ta đã diệt được rất nhiều tên Việt cộng. Chỉ còn lính Hà Nội và lính Saigon đối đầu nhau. Lính Hà Nội được Nga, Tàu, Tiệp Khắc, Ba Lan, Hung Gia Lợi và Đông Đức giúp, còn chúng tôi, những người lính cuối cùng của Saigon thì bị người Mỹ bỏ rơi.”

 “Ông-nghĩ sao về Tướng Minh vừa mới lên cầm quyền?”

– Ông ấy là một quân nhân tốt. Nhưng là người chẳng bao giờ biết giữ lấy quyền. Năm 1963, ông ta cầm quyền trong ba tháng và chẳng biết làm gì hết. Năm 1964, ông ta trở lại nhưng lần này chẳng có quyền gì và ngồi đó sáu tháng, khánh thành những cuộc triển lãm. Năm 1971, ông ta tranh cử đốì đầu với Thiệu và rút lui trước khi bầu cử.

“Lần này, ông ta sẽ cầm quyền được bao lâu? Đến tối nay? Đến ngày mai? Hồi nãy, chúng tôi bắt nghe đài phát – thanh của cộng sản. Chúng không ngớt lập lại là không muốn nói chuyện với ông ta. Chúng tố cáo ông ta là hiếu chiến khi ông ta phản đối việc Mỹ gián đoạn việc ném bom miền Bắc. Chúng không muốn nói chuyện với ai hết. Chúng muốn dùng sức mạnh chiếm Saigon.”

“Này mời ông nhà báo làm một ly nữa! Người Mỹ biết cách chế tạo La de ngon, nhưng không biết cách tạo cho chúng tôi một quân đội vì họ không ưa chúng tôi vì họ không hiểu chúng tôi và họ lựa cho chúng tôi những cấp chỉ huy biết nói tiếng Mỹ và tốt nghiệp từ các trường của họ chứ không phải là lựa trong số những người giỏi nhất. Nếu tôi tốt nghiệp từ các trường của Mỹ, nếu tôi không tốt nghiệp trường của Pháp thì tôi đã là tướng từ lâu. Có lẽ lẽ tôi đã có tên trong

mặt danh sách và sẽ có một chỗ trong chuyến bay đã chuồn nhẹ nhàng.”

“Cách đây bốn năm, khi chúng ta gặp nhau, tôi đã là Trung tá. Tôi không ngừng đánh giặc. Chúng tôi không đáng phải thua trận này. Thế mà sự thất trận lại không thể tránh được vì chúng tôi chưa bao giờ biết chiến đấu một mình và vì người ta đã không tập cho chúng tôi chiến đấu một mình.”

Một trận mưa dữ dội như trời sập.

Tôi nhảy lên một chiếc tắc xi, một chiếc 4-CV ọp ẹp, còn ông đại tá già chẳng thèm bận tâm tới mưa, cứ chầm chậm đi về chiếc jeep có gắn máy truyền tin kêu sè sè.

Các cửa tiệm đều đóng kín, các quán rượu vắng ngắt. Các cô gái thất nghiệp ngồi hút thuốc lá trước cửa, theo thói quen chờ một người khách không tới nữa. Họ không phải là những cô gái đẹp nhất: dường như những cô số một (number one theo ngôn ngữ của họ) đã biến mất cùng với những bóng tùng quân Mỹ rồi.

Cuộc đi dạo buồn bã trước cửa vài quán rượu và tiệm ăn Pháp còn mở cửa. Ramuncho, Valino, Aterbea. Họ đã làm ăn khá giả khi người Mỹ tới đây và sa sút khi người Mỹ ra đi. Vì các sĩ quan Việt Nam có thói quen đáng buồn là ăn xong không trả tiền, còn các cảnh sát viên thì đòi chủ quán chia tiền mới chịu canh gác.

Dominique, chủ nhà hàng Valino nói tiếng Pháp giọng đảo Corse nặng đến nỗi người ta phải tự hỏi hay là anh ta làm ra vẻ người của đảo ấy. Anh ta giải thích cho tôi nghe sự thất bại của miền Nam theo cách của anh ta:

– Tất cả những tướng lãnh ấy chỉ có dùng để mà thờ. Tụi nó ưa ăn ngon, vợ và tình nhân của chúng thì đeo kim cương đầy mình. Không thể như thế được. Ấy thế mà chuyện đó lại có thật mới chết chứ. Tụi nó lấy tiền ấy ở đâu? Khi đánh giặc thì tụi nó chuồn hết. Như lũ thỏ… chuồn bằng máy bay của Mỹ. Bỏ mặc bọn lính…

Tôi gặp bà Lyne Galant, chủ tiệm bán hoa đường Catinat. Bà ta đến Saigon hồi tháng 12 năm 1929 là thời mà bà ta gọi là “Thời vàng son của thuộc địa”. Và sau đó, bà ta ở lại Saigon luôn.

Bây giờ,bà ta đã có vé máy bay, đã giữ chỗ, đã chiếu khán và đã có giấy chứng nhận không thiếu thuế. Vào phút chót, người phụ nữ khả kính ấy quyết định ở lại.

– Thưa ông không, tôi không thể nào bỏ rơi những người đã hợp tác với tôi từ ba chục năm nay. Tôi muốn được ở bên họ trong những ngày khó khăn sắp tới. Sau đó, tôi sẽ ra đi, để lại cửa tiệm cho họ để họ muốn làm gì tùy ý họ. Vì tôi cho rằng những người chủ mới của Saigon cũng chẳng cần gì tới một người bán hoa và rằng họ sẽ chẳng để cho nhân viên của tôi theo tôị.

Tất cả những người Pháp còn ở lại Saigon đều nói rằng họ không hi vọng gì hết. Nhưng họ sẽ ở lại cho tới cùng, cho tới lúc người ta đuổi họ đi. Vì Saigon là thành phố của họ. Có tất cả mười ngàn người Pháp ở Nam Việt Nam, trong số đó có chín ngàn người tại Saigon. Màn đêm đã buông xuống những người Pháp ở Đà Lạt, Đà Nẵng hoặc ở các đồn điền vùng cao nguyên. Người ta không được tin tức gì về họ cũng như về các giáo sĩ. Một số đã mất tích, một số khác bị cầm tù.

Đối với Tổng thống Giscard d’Estaing thì chẳng có gì khó khi ông ta yêu cầu người Pháp ở lại Việt Nam để duy trì sự hiện diện của nước Pháp. Tôi nhớ lại chuyện ở Hà Nội. Trong vài tháng sẽ chẳng còn gì là sự hiện diện của Pháp ngoại trừ một tòa tổng lãnh sự. Các trường học, nhà thương, các phái bộ và các quán ăn có vẻ Pháp sẽ phải đóng cửa như đã xảy ra tại Hà Nội. Các nhóm truyền giáo sẽ bị hỏi thăm trước nhất vì tôn giáo cộng sản chỉ có thể chấp nhận những người truyền giáo cho tôn giáo cộng sản và chỉ có thể chấp nhận những chính trị viên làm một thứ linh mục.

Bảy ngàn người Pháp tại Việt Nam có thể mất tự do vì chính sách đối ngoại dựa trên sự giả tưởng của Giscard d’Estaing.

Tôi đã trông thấy những người Pháp ấy chen chúc trước cửa tòa Lãnh sự Pháp, tay đưa thẻ thông hành lên cao, nhiều tấm giấy thông hành đã hết hiệu lực. Họ yêu cầu tòa Lãnh sự trấn an họ. Cũng có người dân mò tới tòa Đại sứ Pháp nhưng chẳng có ai thèm tiếp họ.

Thật là một phép lạ khi tôi trông thấy toán chuyên viên của tôi tới Saigon trên chuyên bay sau chót đáp xuống Tân Sơn Nhất. Merlin, chuyên viên chụp hình và quay phim và Mathurin, chuyên viên âm thanh. Họ kể cho tôi nghe những cố gắng vô ích của họ để tới Cao Mên. Nơi nào cũng xua đuổi họ. Chính quyền mới không muốn cho bên ngoài thấy những gì đang xảy ra tại đó. Người Khờ Me đỏ đã dùng đường lối đẫm máu tiêu diệt tất cả những gì có thể gợi ra hình ảnh của Tây Phương. Thư viện cũng bị tàn phá. Các nhà thương cũng bị phá vì người cộng sản nói họ khộng cần có nhà thương.

Vì người Nga da trắng cho nên bị đối xử tệ hơn người Pháp. Cửa Sứ quán Nga bị nổ tung vì súng Bazooka và bầy nhân viên của sứ quán này bị xích tay đưa tới Sứ quán Pháp là nơi mà tất cả những người ngoại quốc bị tập trung lại.

Dường như ảnh hưởng của Trung Cộng rất mạnh và giữa những người Khờ Me Đỏ thân Nga hoặc thân Tầu, người ta hoan hỉ giết nhau.

Coutard và tôi đi tới sứ quán Pháp để dùng bữa? trưa với Đại sứ Mérillon. Ông ta ló đầu ra cửa sổ:

– Tôi xin lỗi một lát vì đang tiếp một người bạn. Ông ấy đến từ biệt tôi.

Đó là Tướng Trần văn Đôn. Ngày hôm qua, ông ta còn là Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng và đã có lúc nghĩ tới việc nắm được ghế quốc trưởng. Hôm trước, Đôn đã hoạt động mạnh để đẩy Trần văn Hương ra khỏi chiếc ghế tổng thống bằng cách dệt ra một tình hình quân sự bi thảm ở dưới sự thật.

Trong những ngày gần đây, Đôn là người thừa hành trung thành của chính sách Pháp, và người ta bảo tôi rằng từ nhiều tháng trước, ông ta được Sứ quán Pháp nghe theo rất nhiều. Tướng Đôn bảnh trai, xuất sắc, nhẹ nhàng, đã tới tòa đại sứ Pháp để lấy giấy thông hành. Phải chăng ông ta sanh tại Bordeaux? Vì quá vội vàng nên Đôn quên không báo tin cho viên Đại tá Chánh văn phòng của Đôn biết. Viên Đại tá sau này đã tự tử.

Có lẽ Đôn sẽ làm lại một sự nghiệp chính trị trên bờ sông Garone. Một khi người ta quên được cặp mắt có vết nhăn của ông ta thì người ta có cảm tưởng đang nói chuyện với một chính khách Pháp kiểu Đệ Ngũ Cộng Hòa.

Tôi đi tìm Tướng Minh để phỏng vấn ông ta. Các biến chuyển sẽ diễn ra quá dồn dập đến nỗi không thể nào có được Tướng Minh ở trước ống kính của tôi.

Tại Dinh Độc Lập, lễ bàn giao diễn ra với đủ mọi lễ nghi. Ông già Hương run rẩy đọc diễn văn, rồi rời khỏi ghế và vấp vào một bậc thềm. Minh ngồi vào và nói vài lời.

Tôi trở lại khách sạn Continental. Coutard cho biết là anh ta đã quay phim được cảnh các sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đà Lạt tiến ra mặt trận như là lực lượng trừ bị chót của quân lực Nam Việt Nam.

Tôi đã trải qua cái cảnh đó năm 1940 khi người ta gọi tôi cùng với các sinh viên sĩ quan khác tới bảo vệ một cây cầu trên sông Loire. Chẳng bao giờ, chúng tôi làm được việc ấy vì quân Đức đã bọc tới, tôi cảm thấy sợ nhưng chúng tôi quyết định chiến đấu như các bạn của chúng tôi ở trường Saumur.

Với lối hỏi tàn nhẫn để che dấu sự trìu mến, Coutard hỏi các sinh viên sĩ quan Đà Lạt:

– Các ông có biết sắp bị giết không?

Câu trả lời của một chuẩn úy:

– Chúng tôi biết.

– Tại sao? Hỏng hết rồi.

– Tại vì chúng tôi không muốn chủ nghĩa cộng sản.

Và trong bộ đồng phục mới, giầy chùi xi láng bóng, các sinh viên anh dũng của trường Võ Bị Đà Lạt đã đi vào chỗ chết. Họ chỉ còn thiếu có cái nón diễn hành và đôi bao tay trắng.

Chúng tôi đang đứng trên sân lộ thiên của khách sạn Continental, bàng hoàng trước sự mau lẹ và tầm vóc rộng lớn của sự bại trận này. Và chúng tôi cảm thấy rất gần gũi với những kẻ thất trận hơn là với kẻ chiến thắng.

18 giờ 30. Trận mưa nặng nề của nhiệt đới đã quét sạch đường phố. Ánh đèn điện mầu đỏ, ngả sang mầu cam, lề đường lấp lánh. Có tia chớp và tiếng sấm. Không, đó là tiếng hỏa tiễn nổ và tiếng đạn réo. Còi báo động ré lên. Chúng tôi nhào xuống dưới bàn rồi sau đó mới hiểu rằng Dinh Độc Lập bị tấn công chứ không phải khách sạn.

Ba phản lực cơ A37 mang mầu cờ Nam Việt Nam đã bắn vào dinh và trên đường về đã dội bom sân bay Tân Sơn Nhất.

Từ trên mái nhà ở ngoài phố, ai có thứ súng nào cũng đều bắn hết. Do đó mới hỗn loạn.

Lúc đầu, chúng tôi tưởng đó là một đòn của Nguyên Cao Kỳ, trận đấu cảm tử kiểu Kamikaze lần chót của những phi công theo phe Kỳ. Vì nghĩ rằng đã hết hi vọng, họ quyết định phá vỡ dinh trước khi Tướng Minh đầu hàng không điều kiện và không để cho người Mỹ được yên ổn di tản.

Sự thật lại khác hẳn. Máy bay và phi công từ Phan Rang tới. Họ đã chạy sang phía cộng sản. Một trong ba người là trung úy đã từng ném bom Dinh Độc Lập của Thiệu. Và anh ta đã được thăng cấp đại úy. Thế có nghĩa là cộng sản chẳng cần nói chuyện với ai hết. Đài phát thanh Việt cộng không ngớt lập lại rằng không có vấn đề thỏa hiệp với tên hiếu chiến Minh và bè lũ của hắn vì hắn chỉ nghĩ tới việc kéo dài chiến tranh cho tân thực dân Mỹ. Khi người ta muốn giết con chó thì người ta nói nó mắc bệnh ghẻ.

Minh và nhóm của ông ta, người Phật tử Vũ văn Mẫu và người Công giáo Nguyễn văn Huyền đang làm tất cả những gì họ có thể làm để chiều ý người cộng sản.

Họ đã yêu cầu người Mỹ rút khỏi Nam Việt Nam thật lẹ, đẩy mạnh việc di tản bằng mọi phương tiện.

Chúng tôi nhận được tin tức về sự sụp đổ từ khắp nơi gởi về. Minh Cồ không sao kiếm được một tham mưu trưởng, tuy rằng ông ta rất cần có một người như thế trong lúc nầy, dầu rằng chỉ để mà ra lệnh cho quân đội, tìm cách gom lại các đơn vị đang chiến đấu để chuẩn bị tư tưởng của họ trong một cuộc ngưng bắn.

Tướng Cao văn Viên và viên phụ tá đã chuồn cùng với người Mỹ. Còn lại Minh “Nhỏ”. Rồi Minh Nhỏ cũng chuồn. Rồi đến Tướng Vĩnh Lộc hăng hái tuyên bố trên đài phát thanh:

– Anh em binh sĩ, các bạn đừng có hành động như những con chuột chạy trốn, như cựu Tổng thống Nguyễn văn Thiệu.

Và rồi Vĩnh Lộc chuồn luôn.

Một máy bay DC-6 của Hàng không Việt Nam chở đầy người tị nạn đã cất cánh không có phép và đáp xuống Phi Luật tân. Một chiếc tàu dùng đường sông để chở

nhân viên tòa Lãnh sự Mỹ tại Cần Thơ đã bị các máy bay trực thăng của Nam Việt Nam tấn cộng. Tức giận vì bị bỏ rơi hay đó chỉ là một hành động đạo tặc?

Minh cho thi hành vài biện pháp. Ông ta quyết định thả các tù nhân chính trị, cho tục bản ba tờ báo trước đây bị Thiệu đóng cửa và giới nghiêm liền trong 35 giờ từ 8 giờ tối đến 7 giờ sáng mai để cho phép người Mỹ tiếp tục di tản. Khi đòi người Mỹ phải ra khỏi Nam Việt Nam trong hai mươi bốn giờ, ông ta chỉ làm cái việc chuyển cho người Mỹ một yêu sách của cộng sản.

Một viên đại sứ tên là Dean Brown được chỉ định để phối hợp tất cả các hoạt động. Năm chiếc mẫu hạm đã ởngoài khơi Việt Nam, trong đó có chiếc Hancock và Okinawa chở trực thăng hạng nặng, cùng với 46 chiếc tàu khác, từ những đơn vị nhẹ để đổ bộ cho tới những tàu phóng phi đạn. 37.000 người trọng đó có 4.000 Thủy Binh Lục Chiến sẵn sàng bảo vệ cuộc di tản. Và hằng trăm máy bay PhanTom và trực thăng Cobra có võ trang. Cuộc hành quân di tản mang tên là Talon Vise.

Cuộc dội bom Tân Sơn Nhất làm cho Mỹ thiệt hại một máy bay C 130. Rõ rệt là quân Bắc Việt đã ở trong tầm đại bác và chúng có thể bắn vào sân bay Tân Sơn Nhất bất cứ lúc nào. Nhưng bọn chúng biết rằng người Mỹ sẽ không tha thứ nếu việc di tản người Mỹ bị ngăn cản, còn hơn một ngàn người Mỹ, và chưa nói tới một số người Việt Nam được người Mỹ che chở.

Con số người Việt Nam này được người ta phỏng đoán từ 70.000 đến 140.000.

Ở khắp nơi, người ta bắt đầu treo cờ Pháp. Khách sạn Continental treo một lá cờ Pháp hạng bự.

Giới ăn sương vẫn hoạt động mạnh ở quanh khách sạn. Họ phải kiếm được một người khách trước tám giờ tối. Nửa giờ trước khi giới nghiêm thì giá cả sụt xuống. Vài phút trước khi giới nghiêm thì có thể tìm được một cô bạn gái miễn phí qua đêm. Buổi chiều ngày 29 tháng 4, một số gái ăn sương sẵn sàng trả tiền nước để được nước Pháp che chở và cho trú ẩn sau những bức tường kiên cố của khách sạn. Người ta chờ đợi một cuộc dội bom.

Chờ tới 18 giờ, các người lãnh đạo Mỹ vẫn còn tưởng rằng có thể đạt được một thỏa hiệp giữa Minh Cồ và các đại diện Mặt trận Giải phóng trong căn cứ Tân Sơn Nhất về việc di tản vì phía người Mỹ cũng tin rằng có những cuộc tiếp xúc với Mặt trận Giải phóng.

Họ sững sốt thấy rằng chẳng có gì hết. Hai sự việc chứng tỏ điều ấy: các máy bay do Bắc Việt kiểm soát dội bom Đinh Độc Lập và Mặt trận Giải phóng không chịu tiếp phái đoàn chính phủ Minh do Phó Tổng thống Nguyễn văn Huyền người Công giáo cầm đầu. Phái đoàn này tới xin hòa bình, sẵn sàng chấp nhận mọi điều kiện. Nhưng các điều kiện do Ba Lê đặt ra, còn tại Saigon thì người ta không chịu nói chuyện.

Tôi đến một tiệm bán thuốc gần chợ Saigon. Tiệm trông rất tồi tàn. Tôi hỏi một người không rõ là chủ hay người làm:

– Khi bọn cộng sản tới thì sẽ có gì xẩy ra?

Anh ta trả lời bằng thứ tiếng Pháp rất rành:

– Bấy giờ thì mọi sự sẽ tốt đẹp.

– Tại sao vậy?

– Thưa ông, mọi người đều bằng lòng. Người Pháp đã đổ bộ ở Vũng Tàu.

Anh ta phải giải thích anh ta là Cựu Trung sĩ Nhất trong quân đội thuộc địa và nhờ tôi giúp để kiếm một chân thông dịch viên. Tôi hứa tất cả những gì anh ta muốn. Tôi không muốn phá vỡ giấc mơ của anh ta.

Tôi vội vã trở về khách sạn Continental. Tôi bỗng có cảm tưởng rằng chẳng có gì là sự thật hết: Vì tôi nhìn thấy trong một cơn ác mộng sự bi thảm, sự phi lý và sự vụng về pha trộn với nhau. Đại sứ Pháp và khoa nghĩa vụ học của ông ta, Minh Cồ khi lên cầm quyền nhận được mấy trái hỏa tiễn thay cho quà mừng, còn Đại sứ Martin thì tìm cách trì hoãn việc di tản các Mỹ kiều vì ông ta không chịu nhận sự thua trận này của nước Mỹ và ông ta che cái đầu của ông ta như con đà điểu.

Tân Sơn Nhất cháy. Biên Hòa thất thủ. Lửa cháy lớn rọi sáng ban đêm.

Cuối cùng, vào lúc 22 giờ 51, lệnh di tản bằng trực thăng được ban ra. Ám hiệu là Lựa Chọn 4.

Tại nước Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng Schlesinger đã nhân dịp này ca ngợi quân lực Mỹ: “Ở chiến trường, các bạn là những người chiến thắng, các bạn đã rời chiến trường trong danh dự. Nước Việt Nam đã sụp đổ vì những áp lực nặng từ bên ngoài, nhưng các lực lượng Mỹ đã cho nước Việt Nam một cơ hội phải chăng để sống sót.”

Kissinger thì tuyên bố: “Chúng tôi hy vọng rằng người Bắc Việt sẽ không tìm một giải pháp tuyệt đối bằng các phương tiện quân sự, họ đã đổi thái độ và chúng tôi vẫn không hiểu tại sao.”

Vậy thì mọi người đã điên mất rồi.

Ai đã là người Việt Nam cuối cùng chết cho lá cờ vàng ba sọc đỏ của miền Nam, cho cờ sao vàng của Mặt trận Giải phóng hay cho lá cờ đỏ của miền Bắc?

Ba triệu người đã chết cho cuộc chiến tranh này. Chết cho ai? Tại sao chết ? Chết để có cái vũ khúc siêu thực này ?

Những người cộng sản ngạc nhiên khi thấy mình tiến được mau quá và ngạc nhiên khi thấy mình chiến thắng. Họ chẳng chuẩn bị được gì vì họ sợ sệt khi chiếm được một thành phố chen chúc, thù nghịch và xa lạ như Saigon.

Người ta nói rằng đã có những chuyện ghê gớm xẩy ra tại các trại tị nạn ở Vũng Tàu khi các trại ấy bị pháo kích.

Nhiều tàu nhỏ của Hải quân Nam Việt Nam đã chận bắt những tàu chở người tị nạn. Binh sĩ Hải quân cướp tiền và nữ trang của đàn ông và đàn bà trên tàu. Chúng hãm hiếp những người con gái mà chúng thèm muốn. Rồi chúng đánh chìm tàu, bắn những người nào còn sống sót định bơi vào bờ và tàn sát những trẻ em. Những tên cướp Thái Lan đã sáp lại gần những chiếc tàu chở người tị nạn và cướp phá. Suốt đêm, máy bay gầm thét trên trời, trên đầu chúng tôi. Người ta tưởng như xe lửa đang chạy, ở phía dưới, chúng tôi phải bịt tai.

Lần này, cơn hấp hối của Saigon đã bắt đầu. Sau bao nhiêu ngày, bao nhiêu ngày nữa nó mới chết?

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 8 Apr 2024

9. Chương 4 – Ngọn lửa đấu tranh của Hà Nội

Khi bà ký giả Mỹ Frances FitzGerald viếng thăm Hà Nội thì bà xếp ông Thiệu thuộc cánh “cực hữu” của cầu vòng chánh trị Việt Nam. Là một giáo sư đại học và nhà báo, bà đã phát hành 3 năm trước quyển ” Ngọn Lửa Trên Hồ Nước” , một quyển sách rất thú vị về người Việt Namvà người Hoa Kỳ ở Việt Nam. Quyển sách đã thành công và được xếp vào danh sách các tài liệu bắt buộc tất cả các nhà ngoại giao và giới quân nhân Hoa Kỳ phải đọc qua . Hiện vẫn còn một vài quyển ở Tòa Đại sứ Mỹ tại SàiGòn , trrong thư viện của Phòng Thông Tin, và trong phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ với một vài tác phẩm của Bernard Fall, của Sir Robert Thompson, của Mao, của Giáp v.v… Bà không cho cộng sản Việt Namlà thiên thần tiến bộ, nhưng chỉ trích thái độ, phương tiện và mục đích của người Mỹ ở Việt Namvà phân tách các xung đột mâu thuẫn cao độ của các nền văn hóa Đông Tây. Đối với bà, cộng sản Việt Namcứng rắn thật nhưng mà chính thống, mặc họ! Họ ít tham nhũng hơn người Miền Nam, bà có ý nghĩ của một người tự do và cấp tiến. Bà biết rõ sự liên hệ giữa Hà Nội và CPLTCHMN nhưng bà cho là cái CPLTCHMN nầy cũng có phần nào độc lập tự chủ.. Rất tự nhiên, bà viết lên một cách vô ý thức đến độc ác: ” Ngọn lửa cách mạng dù mỏng mành nhưng đủ sức thanh lọc xã hội tham nhũng ở Miền Nam Việt Namcũng như sự vô trật tự của chiến tranh của người Mỹ.”

Ông Mai văn Bộ, một công chức cao cấp ở Bộ ngoại giao Hà Nội, cựu Đại sứ Bắc Việt ở Paris, đã ca tụng quyển “Ngọn Lửa Trên Hồ Nước ” khi duyệt qua các phong trào và dư luận ở Hoa Kỳ. Bà trí thức trưởng giả tốt bụng Hoa Kỳ nầy kết luận rằng: ” Nếu Việt Namphải được độc lập, thì nước Việt Namphải có một Chánh Phủ thống nhất . Bây giờ muốn có hòa bình phải cần làm cách mạng.” Bà FitzGerald chúc phúc cho sự thống nhất bằng cách mạng.”!

Ông Mai văn Bộ nghĩ rằng quan điểm của bà FitzGerald đúng đắn, cần thiết và trong sáng. Rất xứng đáng được cấp chiếu khán. Sau một thời gian dài chờ đợi, bà nhận được chiếu khán. Bà viếng Hà Nội vào đầu tháng giêng với một phái đoàn trong đó có Fred Bransman, đồng chủ sự của tổ chức “Tài nguyên ở Đông Dương”, một tổ chức “vì hòa bình” mà ông đại sứ Graham Martin rất ghét.

Ở Hà Nội, người ta cho khách ngoại quốc ở khách sạn Thống Nhất. Khách sạn nầy giống như khách sạn Continental ở SàiGòn, hai khách sạn nầy trước kia cùng một chủ. Cũng những phòng rộng rãi, đẹp nhưng cũ kỹ, cũng những chiếc quạt máy chạy chầm chậm. Nhưng ở đây không có sân thượng như ở Continental, điện nước hơi trục trặc, vải trải giường thì vá víu, và nhân viên của sở an ninh ở cả tầng trệt. Họ giám sát các sự di chuyển và thư từ của khách . Khách được cho ăn đầy đủ lắm nhưng thấy ngay là thiếu cà phê, bơ và thịt. Khách ngoại quốc luôn luôn được chú trọng, coi như có đặc ân, không bao giờ thiếu thuốc hút. Một hệ thống tuyệt hảo, nhưng khách coi như bị giam lỏng: mỗi phái đoàn luôn luôn lúc nào cũng có người bên cạnh, một tài xế, một nhân viên tổ chức, thường là công an, và một thông dịch viên, trong trường hợp cho phái đoàn Mỹ lần nầy là ông Long.

Bà FriztGerald thấy Hà Nội “không hấp dẫn lắm” nóng bức và không sáng sủa nữa. Mặt tiền phố xá ở thủ đô Bắc Việt thì nứt nẻ, hồ vữa rơi vỡ từng mảnh vụn, những người cỡi xe đạp không tin tưởng vào luật giao thông. Họ chỉ tự tin vào tài nghệ của mình như những người cỡi xe đạp ở Miền Nam. Trung tâm thành phố già nua của người Pháp thuở nào giờ đây nom cũng còn có vẻ sạch.

Dân chúng ở thủ đô Bắc Việt không lúc nhúc như ở SàiGòn. Họ chen chúc nhau đi một cách vô trật tự. Có ít xe cộ và lính tráng trên các con đường chính, Xe đạp thì vô số kể, người thì đi xe Phénix của Liên Xô, người thì xe MIR của Trung Cộng, nhưng người ta thích xe Peugeot hơn. Vào sáng sớm hay buổi chiều thì có nhiều quân xa hơn. Đây là giờ đoàn kết của tất cả các nước dân chủ nhân dân: xe cam nhông, xe nước, xe cần trục, xe jeep và xe chỉ huy Liên xô, xe Molotova, Zis, Zil, Aurochs vĩ đại… Nhưng người ta cũng thấy được xe Gia Phong của Trung Quốc, với ca pô dài và tròn, các xe Star 20, 25, 27 của Ba Lan và những xe Praga và Tatra của Tiệp Khắc, xe Ipha của Đông Đức, hay Hirondelle của Bắc Hàn. Rồi người ta cũng thấy những chuyến xe điện cũ kỹ màu đọt chuối hay màu xanh đỏ gì đó chở đầy người chạy ngược chiều với các xe trâu.

Trong những khu công thự của thủ đô cũ, và cả khu gia cư bình dân đều có những hầm núp cá nhân, những hố tròn bằng xi măng, sâu chừng 2 thước tất cả đều ngập nước bùn. Ý chừng người ta không còn sợ các oanh tạc cơ Hoa Kỳ trở lại nữa hay sao? Ở nơi khác thì người ta đã làm sạch các hố núp bom nầy rồi .Có lẽ người ta sợ Hoa Kỳ lại tái leo thang oanh tạc.

Nếu không có chế độ phân phối lương thực thực phẩm, không thấy những bộ đội có võ trang, những khẩu pháo phòng không , những hỏa tiễn SAM lộ thiên,, những mẩu chuyện về chiến sự… thì ở đây người ta đã quên mất chiến tranh rồi. Người Mỹ không bao giờ oanh tạc trung tâm thủ đô Hà Nội, một vài quả bom rơi lạc vào thôi, gây tử thương một nhà ngoại giao Pháp hay một trung sĩ của Ủy Ban Quốc Tế (CIC). Trung tâm Hà Nội vẫn được bảo vệ. Chiến tranh chỉ bắt đầu ở ngoại ô giống như ở SàiGòn.

Bên bờ hồ, một số bạn trẻ đang uống bia ngoài sân của các quán cà phê. Trong khu thủ công ở phố tàu cũ không náo nhiệt như Chợ Lớn, gần cầu Long Biên – tức cầu Paul Doumer cũ- , bị phá ,sửa đi làm lại cả hai chục lần, trên con đường dẫn tới bệnh viện Bạch Mai, đâu đâu cũng có hệ thống phóng thanh oang oang các khẩu hiệu và từ 6 giờ sáng là giờ trực tiếp truyền đi các buổi phát thanh của đài Hà Nội.

Bà FitzGerald hơi khó chịu về sự “úp mở”. Phái đoàn của bà được “Ủy Ban Đoàn Kết Với Nhân Dân Hoa Kỳ ” mời, mà qua đây bà chỉ gập toàn là viên chức của chánh quyền. Toàn là nghi thức giống nhau trong một không khí tối ư lịch sự và các phái đoàn phải kiên nhẫn, ngồi nghe hàng loạt thuyết trình không biết bao giờ chấm dứt, những “báo cáo” loại trả bài Mác xít. (“bao cao” nguyên văn chữ việt không có dấu của tác giả)

Trên một cái bàn kiểu cổ của Pháp thời thập niên 30 hay 40 gì đó, chủ nhà bày ra nào là trà, chuối, bánh tây, kẹo và thuốc lá để đãi khách. Với những cử chỉ hết sức vồn vả và rất trân trọng họ mời khách, làm như kẹo trà đó là những món tối cần thiết, không dùng không được vậy. Họ vồn vã hỏi thăm về sức khỏe của khách, của gia đình và bạn bè của khách, cố tạo ra một bầu không khí thân mật từ ông khách ở New York đến ông bạn ở Paris hay ở Stockholm …. Họ nhắc đi nhắc lại đến cả chục lần rằng ở Hà Nội lạnh hơn ở SàiGòn nhiều… rồi từ từ họ cũng lái được người ta vào đề tài chánh trị, không đến đỗi chậm chạp lắm như con mèo thò chân vào nước đá đâu.

Cũng có lúc toán hộ tống thay đổi người. Nhờ vậy mà phái đoàn Hoa Kỳ mới khám phá ra người thông dịch viên ở Viện Đông Nam Á là vợ của tướng Võ nguyên Giáp, tổng trưởng Quốc Phòng. Có điều không may mắn là phái đoàn không gặp được ông tướng nầy.

Theo bà FitzGerald, nhân vật chánh thức và quyến rũ nhất có lẽ là ông Hoàng Tùng. Vóc người nhỏ thó và hoạt bát, tóc bạc trắng và húi cua, lúc nào cũng có khăn quấn trên cổ và luôn luôn mặc áo choàng, ông Tùng là chủ nhiệm tờ Nhân Dân, nhật báo của đảng. Ông là ủy viên dự khuyết Trung ương đảng, là đầu cầu mà các nhà trí thức có tiếng tăm khi đến Hà Nội bắt buộc phải đi qua. Vì ông là gạch nối liền trực tiếp với hệ thống đảng cũng như chánh quyền, một hệ thống chịu trách nhiệm phân phối khách thăm viếng và các nhân viên trong công tác phục dịch và tuyên truyền.

Ông Tổng bí thư Lê Duẩn tiếp các thành viên quan trọng của các đảng cộng sản anh em, Thủ Tướng Phạm văn Đồng thì tiếp các nhà ngoại giao, các giáo sư, các ông Cha, các Mục sư và báo chí ngoại quốc. Ông Hoàng Tùng thì chuyên tiếp giới trí thức có chút ít tiếng tăm.

Vẻ chân thật, hay nói thẳng và giản dị của ông, đôi lúc hơi tếu, dù gì cũng không che dấu được sự trung thành tuyệt đối của ông đối với ý thức hệ cộng sản . Người ta có thể liên tưởng ông ta là một khúc gỗ lim, một loại gỗ cứng rắn nhất ở rừng Việt Nam. Khác hẳn với các nhân vật chánh thức ở đây, ông Hoàng Tùng không sợ những câu nói bóng gió. Muốn nói tới ” kháng chiến quân” ở chiến khu thuộc CPLTCHMN hay các anh bộ đội chánh quy của Miền Bắc đang ở trong Nam, ông không tránh né, dùng ngay danh từ “lực lượng giải phóng quân” để nói với quan khách Hoa Kỳ:

” Có người gọi họ là “quân đội Bắc Việt”, có người gọi họ là “việt cộng”, có người gọi họ là “cộng quân”… các ông muốn gọi họ là gì cũng được.”

Ông không dấu diếm gì cả, nói thẳng rằng “các sư đoàn Bắc Việt đã cung cấp phần lớn binh sĩ cho Miền Nam.

Ông sẵn sàng kể lại một cách thích thú vài mẩu chuyện về ông Kissinger:

– “Ông tiến sĩ triết học nầy gần đây lại thích chuyện gián điệp. Quý vị có biết là trong thời gian thương thuyết ở Paris, ông Lê đức Thọ – cố vấn đặc biệt của Phái Đoàn Bắc Việt- có hỏi ngay ông Kissinger là: “ông có gặp khó khăn nào trong việc xin Quốc Hội thông qua đạo luật viện trợ cho Việt NamDân Chủ Cộng Hòa của chúng tôi hay không ?”

Thì ông Kissinger trả lời ngay:

_ “Các ông không biết đâu, Chánh Phủ Hoa Kỳ thường gặp khó khăn khi xin ngân khoản nho nhỏ cho một vài dự án cụ thể nào đó thí dụ như về an sinh xã hội chẳng hạn, Tuy nhiên mỗi năm Quốc Hội chấp thuận một ngân khoản lớn cho Ngũ Giác Đài. Chánh Phủ có thể trích ra từ ngân khoản này một số nào đó để viện trợ cho Bắc Việt được.”

Sự thật không phải vậy và không đúng như vậy đâu. Câu chuyện nầy thật quá sáng tỏ: ý nghĩ về một ngân khoản hàng tỷ mỹ kim để tái thiết Miền Bắc gọi là “hàn gắn vết thương chiến tranh” đã ám ảnh những người có trách nhiệm ở Miền Bắc. Người cán bộ cộng sản như ông Tùng hay người quốc gia chống cộng như ông Thiệu đều tưởng là Tổng Tống Hoa Kỳ nào cũng có thể “qua mặt” được Quốc Hội về vấn đề tiền bạc.

Để trả lời cho bà FitzGerald về câu hỏi: “Chiến tranh Việt Nam có vai trò gì trong “Lịch Sử”? , ông Hoàng Tùng dã say sưa thích thú đi vào giải đáp lý thuyết loại ngay:

“Cuộc chiến đã góp phần làm thay đổi cán cân lực lượng trên thế giới”.

Người ta thấy là ông đã trả lời như một nhà thông thái, nhanh gọn và rất khiêm nhường.

Những lý thuyết gia cộng sản của Hà Nội đều biết và tin rằng cuộc cách mạng thế giới đang được tiến hành, mà cộng sản Việt Namlà một trong những động cơ chính yếu, cũng như Cuba vậy. Nước VNDCCH là “đội quân tiền phong” của giai cấp vô sản. Nhưng theo Mạc tư Khoa thì đạo quân tiền phong là Liên Xô. Ngưòi Việt Namđã nhớ rất rõ là khi mới được khai sanh, nước VIT NAM DCCH không được Liên Xô nhìn nhận ngay đâu.. Người cộng sản Việt Namcũng không bao giờ tha thứ cho Trung Quốc khi nước nầy giao hảo với Hoa Kỳ nhờ Nixon và Kissinger. Hà Nội cũng không khi nào quên đưọc lúc ký Hiệp Ước Geneve 1954, Liên Xô và Trung Quốc đã ép người đồng chí VIT NAM nhỏ bé của mình phải chấp nhận vĩ tuyến 17 là biên giới quốc cộng: Cộng sản ở phía Bắc và Quốc gia ở phía Nam. Lãnh đạo Bắc Việt cũng không khi nào tha thứ cho Liên Xô khi họ chỉ phản đối lấy lệ lúc Hoa Kỳ phong tỏa Hải Phòng vào tháng 4/1972 hay dội bom Bắc Việt tháng 12/ 1972. Trong thời gian khó khăn nầy của cuộc chiến, trong giai đoạn đang có sự căng thẳng giữa Hà Nội và Hoa thạnh Đốn, Liên Xô đã có thái độ quá dè dặt.

Báo chí Bắc Việt nhận định rằng cuộc họp thượng đỉnh giữa hai ông Nixon và Breijev vào tháng 5/1972 là “đi ngược với nguyên tắc”. Lãnh đạo đảng cộng sản VIT NAM biết là Mạc tư Khoa và Bắc Kinh đang chơi trò “thư giản” với Hoa Kỳ, như vậy là coi như họ muốn dời cuộc cách mạng thế giới lại một ngày khác rồi”

Tất cả những nhận xét của ông Hoàng Tùng trên đây tuy có vẻ nhẹ nhàng nhưng nhân vật Hoàng Tùng muốn cho khách người ngoại quốc thấy: có một khoảng cách giữa Hà Nội, Bắc Kinh và Mạc tư Khoa, và cuộc tranh chấp nầy có vẻ khá nặng nề..

Đôi khi Hoàng Tùng lợi dụng những cuộc thảo luận tổng quát nầy để gợi lên cho khách thấy sự dị đồng. Như vậy về mặt lý thuyết trong cái thế giới cộng sản người ta đặt một câu hỏi xét ra thật là căn bản: ” trên con đường dẫn tới thiên đường xã hội chủ nghĩa có thế nào “giáo điều, ý thức hệ vượt lên khỏi nhu cầu phát triển kinh tế hay không ?”

Nước Việt Namchưa phải là một nước kỹ nghệ. Cộng sản Việt Nambắt buộc phải đi theo con đường của Trung Quốc, có nghĩa là ý thức hệ phải được coi như ưu tiên hơn là phát triển kỹ nghệ. Ông Hoàng Tùng nhấn mạnh : ” Những người kế thừa Hồ chí Minh đã chọn một đường lối sát với cộng sản chính thống Liên Xô. Đất nước chỉ tiến được lên xã hội chủ nghĩa khi nào nền kinh tế của quốc gia đã ở trong tình trạng phát triển.”

Trong văn bản của ông, Lê Duẫn đã nhấn mạnh vị trí quan trọng của sự phát triển kỹ thuật (ông Tùng nhận xét). Tại Hà Nội, chủ thuyết Mao trạch Đông chẳng những không được coi trọng nếu không muốn nói là quá lạnh nhạt, xa cách, mà lại còn kèm theo các nụ cười khó chịu nữa. Tòa Đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội có đầy những quyển tiểu luận màu đỏ bằng tiếng Việt nhưng vì một sự tình cờ nào đó mà không thấy một quyển nào được thấy xuất hiện ra ngoài.

Đi lần xuống từ đỉnh cao của ý thức hệ đó, bà FitzGerald nêu lên câu hỏi về bài toán tế nhị của những sự thay đổi trong nội bộ đảng cộng sản.

Đối với người cộng sản Việt Nam, cái gì mới là quan trọng : Hồng hay Chuyên?

Ông Tùng trả lời:

“ Đường lối của chúng tôi khác hẳn của người Trung Quốc, chúng tôi tin tưởng rằng “Phải biết làm và Làm có kỹ thuật” đó mới là ưu tiên, là quan trọng. Có ý chí là một điều cần thiết đấy, nhưng cũng chưa đủ.”. Tùng lại nói tiếp:

– “Trong nội bộ đảng CS VIT NAM cũng đã có những sự tranh luận, nhưng không có sự dị biệt về ý thức hệ, từ thế hệ nầy đến thế hệ khác, từ cấp trên xuống tới cấp dưới. Đảng và Chánh Quyền gồm có những người lớn tuổi từ cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất. Họ không có đủ phẩm chất cần thiết để canh tân nước Việt Nam. ” Và ông lại giải thích:

–“Chúng tôi vấp phải một xu hướng nào đó, có chủ trương cứ để cho lịch sử của quá khứ dắt mình đi, cứ coi như sự thiếu khả năng trong hiện tại là cần thiết. Tôi đã nói đùa với ông Lê Duẫn là “nếu chúng ta sống trong chế độ hồi xưa thì tôi sẽ chấp thuận ban cho rất nhiều người một quy chế quý tộc rồi, quý vị thấy tôi muốn nói gì chớ? một quy chế danh dự thôi mà!

Trong thời gian 19 ngày phái đoàn Hoa Kỳ thăm viếng Hà Nội, họ đã đi tham quan các đền đài, viện bảo tàng và các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Đâu đâu và lúc nào người ta cũng giải thích là Miền Bắc cần phải nâng cao sản lượng lúa gạo, than đá, sắt thép, điện lực, xi măng và phân hóa học. Người ta đã làm việc quá nhiều cho kế hoạch sắp tới, cho thời gian chuyển tiếp sau khi thống nhất được hai Miền Nam Bắc. (họ đã nói như vậy). Các doanh gia ở Miền Nam sẽ được mời, nếu họ muốn mua than đá và bán gạo cho Miền Bắc. Việc thống nhất nầy phải còn tốn rất nhiều thời gian. Có thể 5 năm hay 10 năm không biết chừng. Đâu đâu và lúc nào phái đoàn cũng nghe thấy họ nhắc đi nhắc lại thời khóa biểu nầy. Ngay như Thủ Tướng Phạm văn Đồng cũng vậy, đích thân ông đã tiếp phái đoàn Hoa Kỳ nầy, rất ngắn thôi, nhưng cũng đủ để ông gieo vào đầu họ ý nghĩ nầy khi ông tuyên bố:

– “Sẽ có thống nhất thôi, ai cấm? Cứ hỏi ngay ông Gerald Ford xem! Trước hết, phải thi hành Hiệp Định Paris. Chúng tôi phải có được “Hòa Bình, Dân Chủ và Hòa Hợp Quốc Gia” và một Chánh Phủ mới ở Sài Gòn. Sẽ có thống nhất thôi ! chừng đó tôi là người sẽ trở về Miền Nam.”

Ông Phạm văn Đồng là người sanh trưởng ở Miền Trung, trong tỉnh Quảng Ngãi. Năm nay ông 79 tuổi có cặp mắt sáng rỡ, đẹp và sâu nom hết sức quyến rủ, luôn tiết ra một luồng nhiệt độ có lẽ từ bịnh rét rừng. Ông có đôi môi dày, nước da ông ngâm ngâm đen và đôi tay ông dài, ông nói tiếng Pháp rất cứng với người ngoại quốc. Với tướng người cao ráo, ông thường mặc đồ lớn, nửa dân sự nửa quân sự, vùa thực dụng vừa thơ mộng của một ông thủ tướng hay nói về Diderot, về Victor Hugo hay về Zola, để tán tụng họ. “Hết Ý” là một trong những từ rất đắc ý của ông ta. Khi nói tới sự thống nhất giữa hai Miền Nam Bắc, ông làm như cần phải dời ngày đó lại một thời điểm nào đó xa xôi hơn, không đoán trước được. Ông vừa cười vừa nói với bà FitzGerald:

_“Về ngày đó hả? Chắc tôi phải hỏi lại một chiêm tinh gia mới được!”

Thật là nhịp nhàng và ăn khớp với nhau quá!

Không có lúc nào mà người Mỹ trong phái đoàn của bà FitzGerald thấy được tầm vóc của trận đánh chiếm tỉnh Phước Long, cũng giống như những nhà ngoại giao đương nhiệm ngay tại Hà Nội!

Trong một giác thư, viên xử lý thường vụ Úc Châu, ông G.C. Lewis không sao rút ra được một kết luận nào gọi là thê thảm của diễn tiến quân sự ở Miền Nam. Gần đây nhất ông ta đã có nói chuyện với các đồng nghiệp Liên Xô và Ba Lan ở Hà Nội. Họ cũng đã quả quyết với ông rằng VNDCCH bây giờ chưa dự tính thống nhất hoàn toàn hai Miền Nam Bắc vì họ coi đó là một mục tiêu dài hạn, nếu họ thật sự muốn như vậy.

Ở Miền Nam Chánh Phủ VNCH của ông Thiệu và CPLTCHMN (GRP) có thể từ từ sát nhập với nhau dưới một hình thức “Liên Hiệp” để rồi một ngày nào đó sẽ đương nhiên trở thành một thành phần trong Liên Bang với Miền Bắc.”

Các nhà ngoại giao Liên Xô giải thích cho người Úc là CS VIT NAM đang nghỉ xả hơi:

“Hai nền kinh tế của Miền Nam và Miền Bắc quá chênh lệch nhau để có thể kết hợp ngay với nhau được, dù là có thể hợp tác với nhau giữa một Miền Nam nông nghiệp với một Miền Bắc kỹ nghệ.

Vui tính, nhà ngoại giao Úc Châu tiếp lời:

– “Nhìn từ đây, ngay bây giờ mà VNDCCH muốn sát nhập công ty Honda của Miền Nam cũng không phải thật sự là một đề nghị có thể đi đến thành tựu được.”. Ngoài ra theo ông Lewis, các lãnh tụ Miền Bắc còn nghi ngờ về ảnh hưởng của người Miền Nam đối vói người Miền Bắc”.

Nhà ngoại giao Úc Châu chỉ lập lại những gì mà Miền Bắc đã nói với các dồng chí Liên Xô của họ mà thôi.

Hai vị cố vấn trong tòa Đại sứ Liên Xô, ông Trigoubemko và Markow đã đánh tiếng trong ngoại giao đoàn là Liên Xô đã cắt giảm viện trợ quân sự cho Hà Nội trong năm 1974. Hai nhân vật Liên Xô nầy giải thích là chính người Trung Quốc là những ngưòi muốn theo đuổi chiến tranh và muốn đi tới mục tiêu cuối cùng của cuộc chiến. Họ khuyến khích Hà Nội phải tiến hành một cuộc tấn công vào Miền Nam. Ông Trigoubemko nói thêm rằng Trung Quốc có thể “gởi quân đội của họ qua tham chiến” giúp Miền Bắc. Dĩ nhiên ông xác nhận đây chỉ là ý kiến riêng của ông. Ông ước tính là các nhà lãnh đạo của Hà Nội thực tế đang mơ ước có được một Liên Bang Việt Namhơn là một nước Việt Nam thống nhất. Ông nói tới hai nước VIT NAM giống như hai nước Nam, Bắc Hàn, Đông và Tây Đức.. ông đổ lỗi cho Trung Quốc là một “bá quyền thực dân mới”, một bá quyền có ảnh hưởng rất xấu đối với các chiến sĩ cách mạng Cam Bốt.

Đại ý của các nhà ngoại giao Liên Xô là:

_ “Các đồng chí Việt Nam lúc nầy cần phải tâp trung tài nguyên vào việc tái thiết đất nước và xây dựng xã hội chủ nghĩa.”

Tất cả những người thuộc Ban Lãnh đạo đảng CS Việt Namnào có liên lạc với Tây Phương ở Hà Nội đều loại trừ khả năng tấn công của lực lượng giải phóng ở Miền Nam trong năm 1975. Họ cũng không loại trừ khả năng can thiệp của oanh tạc cơ Hoa Kỳ. Những người có trách nhiệm nầy tuyên bố là họ muốn tránh phản ứng mạnh của Hoa Kỳ:

– “Chúng tôi không muốn làm hỏng lễ kỷ niệm 30 năm ngày lập quốc của Việt NamDân Chủ Cộng Hòa vào tháng 9 / 1975 nầy”.

Tất cả những luận điệu và phân tách nói trên lan rộng ra bất kể trong trường hợp hay hoàn cảnh nào, càng ngày càng vững chắc thêm lên, cùng khắp ở Hà Nội để đi tới thủ đô của các quốc gia Tây Phương. Những mẫu chuyện có tính cách “hòa hoãn” này đã ăn sâu vững chắc vào tư tưởng của cả những người ít nhạy cảm nhất.

Người Tây Phương vốn không cho là quan trọng và ít khi tin vào những gì mà người Liên Xô hay Bắc Việt nói ra, nhưng những đòn loạn ngôn lừa bịp nầy cứ được nói đi nói lại liên tục, lại có kèm theo chứng tích trong giới ngoại giao đoàn, một thế giới thu hẹp vừa bé nhỏ vừa bị bưng bít ở Hà Nội. Hơn thế nữa CS Việt Namđã khôn khéo giới hạn mức độ phổ biến vừa đủ với ý định nào đó của họ muốn mà thôi: “kiến tạo hòa bình có lợi cho họ hơn là tiếp tục theo đuổi chiến tranh”. Clausewitz đã có nói; “Kẻ xâm lược lại là những người thích có hòa bình”. Họ muốn vào nhà anh mà không muốn gặp bất cứ một trở lực nào! do đó mà Bắc Việt sẳn sàng chờ đợi…

Vào đầu năm 1975, họ than phiền là đồng minh của họ không tiếp tục viện trợ đúng mức và đúng lúc cho họ. Họ đánh tiếng cho các nhà ngoại giao Tây Phương và cả Đông Phương rằng các đoàn xe tiếp vận từ Trung Quốc thường quá trể nãi. Người ta đổ lỗi cho công nhân Hỏa xa Trung Quốc đình công. Các công điện ngoại giao của Tây Phương gởi đi từ Hà Nội đều cho thấy rằng cộng sản Việt Nam đang theo chánh sách bước đi từng bước một…mà bước nào cũng vững chắc.

Như vậy là tất cả đều trùng hợp, Bộ Chánh Trị CS Việt Nam đặt vấn đề kinh tế lên hàng đầu, ưu tiên hơn vấn đề chánh trị. Họ chuẩn bị một cuộc chiến lâu dài, có thể kéo dài trong nhiều năm nữa.

Nhưng ít nhất cũng có 2 nhà ngoại giao không chia xẻ phân tích nầy, một của Tây Phương và một của Đông Phương.

Từ tháng 12/74 ông Domogola của Ba Lan, đương nhiệm ở Hà Nội 3 năm rồi, nghĩ là Bắc Việt đang chuẩn bị mở một cuộc tấn công vào Miền Nam. Ông không thấy có một giải pháp chánh trị nào khả dĩ có khả năng thành tựu được. Không có một lãnh tụ ôn hòa nào có khả năng vươn lên để thay thế ông Thiệu. Ông Domogola giữ liên lạc chặt chẽ với những nhân viên dân chính cũng như quân sự của phái đoàn Ba Lan đang có trách nhiệm ở Miền Nam, những người đang biết rõ các cuộc chuyển quân của Bắc Việt hơn những người khác.

Người thứ hai là ông Philippe Richer, một người đã từng là cựu tù binh bị lưu đày ở Buchewald, một cựu sĩ quan hiện dịch đã có 2 năm phục vụ trong quân đội hoàng gia Lào. Ông là đương kiêm Đại sứ Pháp tại Hà Nội. Ông cũng có nhận định như ông Domogola. Là một nhà ngoại giao rất bén nhạy, ông biết rất rõ từ Mạc tư Khoa đến Bucarest, và ông tới Hà Nội đúng vào tháng giêng năm 1975 . Ông không có một ảo tưởng nào về mọi khả năng giải quyết Miền Nam Việt Nambằng một giải pháp chánh trị.

Vài tuần lễ trước đó Thủ Tướng Phạm văn Đồng qua trung gian ông Francois Missofle, một đặc phái viên của Chánh Phủ Pháp ở Á Châu, đã nhờ Chánh Phủ Pháp nhấn mạnh với Hoa Kỳ để họ ép buộc ông Thiệu rời khỏi chức vụ. Hiệp ước Paris đã mặc nhiên chấp nhận giữ ông Thiệu lại ở Miền Nam, bây giờ Bắc Việt lại tìm cách để bứng ông Thiệu ra khỏi Miền Nam. Như vậy là họ đâu có muốn nghỉ xả hơi như họ đã nói đâu?

Thủ Tướng Phạm văn Đồng tiếp ông Richer lần đầu tiên vào tháng giêng và nói với ông Richer rằng:

– “Tôi hy vọng là ông đem tới cho tôi một câu trả lời”.

Nhà ngoại giao Pháp không hề nhận được một chỉ thị chính xác nào trước khi đi, nên ông ta phân vân trong một sự mơ hồ…

Trừ trường hợp ngoại lệ, còn thì tất cả các tin tức khắp các nơi đưa về đều giống nhau, từ Hà Nội và từ các nhiệm sở ngoại giao của Bắc Việt trên khắp thế giới, từ hệ thống tình báo và phản tình báo hùng mạnh của cộng sản, tất cả đều cho biết là “không nên quan trọng hóa vấn đề Phước Long, dù đó là một biến cố không phải nhỏ. Bộ Chánh Trị công sản chỉ muốn giữ một tình trạng căng thẳng nào đó thôi ở Miền Nam để cho bộ đội của họ vui chơi, không hơn không kém”!

Rất ít có chuyên viên nào nghĩ rằng tất cả các nguồn tin dù đến từ Đông hay Tây cũng đều có một xuất xứ duy nhất là Hà Nội!

Hơn nữa, vào trung tuần tháng giêng, tất cả các chuyên viên đều có trong tay một bản tài liệu từ tháng 12/74: bản nghị quyết 08/CT74 do Bộ Tư Lệnh Quân Đội của CPLTCHMN phổ biến. Nghị quyết nầy có nội dung duyệt xét các mẫu số của cuộc đấu tranh cho những năm sắp tới: “Chánh Phủ và Quân Đội bù nhìn của Nguyễn văn Thiệu nếu không sụp đổ ngay thì cũng tiếp tục gặp nhiều khó khăn trực diện trên mọi lãnh vực và sẽ suy yếu lần lần về phẩm cũng như về lượng”.

Cộng sản thường mắc bệnh giấy tờ nên họ thường cung cấp tin túc đều đặn cho cán bộ các cấp ngay cả trên mặt trận. Do đó mà đôi khi cán bộ cộng sản còn biết tin tức chính xác trước cả ông Thiệu nữa, như trường hợp nội dung thảo luận ở Paris giữa ông Kissinger và Phái đoàn Bắc Việt. Cơ quan tình báo của Việt NamCộng Hòa phân tách kỹ các tài liệu tịch thu được trên xác chết của bộ đội hay của tù binh bắt được. Một cuốn sổ tay tịch thu được của một cán bộ Việt Cộng trong tháng giêng có bản phân tích nghị quyết 08/CT74:

“Các đồng chí phải ý thức được sự cứng đầu của địch khi họ muốn tiêu diệt giai cấp thợ thuyền. Đó là nguyên nhân gây ra tình trạng căng thẳng trong hiện tại. Do đó trong năm 1975 chúng ta phải tăng cường nỗ lực gắp ba hay gấp năm lần. Chúng ta phải chiến đấu trên cơ sở của sự đau thương nầy bởi vì chúng ta còn phải tiếp tục một trận chiến lâu dài.”

Cộng sản Việt Nam không bao giờ buông bỏ mục đích cuối cùng của họ là thống nhất nước Việt Nam, nhưng trong hiện tại rõ ràng họ đang dự kiến một cuộc chiến lâu dài.

Đối với dư luận quốc tế, Việt Nam DCCH và CPLTCHMN được coi là hai thực thể riêng biệt. Dù họ có để lộ cho dư luận thấy một vài điểm dị biệt, nhưng họ chỉ có một tiếng nói chung, giống nhau. Còn người Mỹ, từ chánh quyền đến quân đội, cấp nào cũng vậy, họ không bị bó buộc phải có một quan điểm giống nhau, cả trên hai lãnh vực ngoại giao và truyền thông.

Ngày 8 tháng giêng, vị Tư Lệnh các lực lượng Hoa Kỳ ở Thái bình Dương (bao gồm chiến trường Việt Nam), Đô đốc Noel Gayler, có thực hiện một cuộc phỏng vấn cho đài truyền hình tại trại Smith ở Honolulu.

Trước khi cho phát hình cuộc phỏng vấn nầy, đại tá Sheldon Godkin đánh tiếng cho biết rằng Đô Đốc Gayler không loại trừ khả năng một cuộc can thiệp của Hoa Kỳ để ngăn chận một sự “sụp đổ” của Miền Nam Việt Nam, sau khi Phước Long bị Bắc Việt chiếm.

Cuộc phỏng vấn truyền hình được đài NBC phát đi trong chương trình “today show” một chương trình có rất nhiều người theo dõi. Đô Đốc đưa ra một quan điểm khác biệt với quan điểm của ông lúc ban đầu:

Trước hết ông tuyên bố là: Hoa Kỳ sẽ xử dụng chiến cụ chớ không dùng quân lính để tăng cường cho Chánh Phủ của ông Thiệu. Ông nói:

– “ Có khả năng có một sự can thiệp, nhưng cơ hội dẫn tới đó hình như còn quá xa vời”.

Có vẻ ngần ngừ và hơi ấp úng, ông nói tiếp:

“Cần phải giúp đỡ cho Miền Nam Việt Nam chiến cụ để họ có thể xử dụng tùy theo nhu cầu của họ.” – “Không đến độ quá phi lý đâu. Dĩ nhiên là hợp lý, không đến đổi nào đâu… Tôi muốn nói là về đạn dược…. phải có đủ để họ có thể tự bảo vệ và ….về lương thực cũng phải có để họ có đủ ăn, họ và gia đình họ,… và… cả vải bạt nilon nữa… để họ che mưa ..! “ Những ý kiến của nhân vật quan trọng nầy đã làm cho những người ở Sài Gòn mất hết cảm tình: Những tấm vải nhựa che mưa có thể chống được T.54 sao? Và ở Hoa thạnh Đốn cũng vậy, người ta cũng không vui vẻ gì. Cần phải hết sức thận trọng về viễn ảnh của một sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Không có mấy ai nghĩ tới việc nầy. Ông Kissinger đã có nói về một sự can thiệp ở Trung Đông. Đối với kẻ địch, người ta không bao giờ nên nói là sẽ không làm việc nầy hay việc nọ, nhất là việc không gởi quân… Hai mươi lăm năm trước Bắc Hàn đã tấn công Nam Hàn chỉ vì ông Tổng trưởng Ngoại Giao Dean Acheson vừa tuyên bố là tuyến phòng thủ của Hoa Kỳ không bao gồm Nam Hàn. Ở Bộ ngoại giao hầu hết các chuyên viên đã có “đường lối” riêng của họ rồi: ”Sự việc Phước Long là một sai lầm không thể được tái diễn lại nữa vì đó cũng chỉ là một hành động quân sự hạn chế mà thôi “. Người ta không thể kết luận cho đó là một hành động có tính cách chiến lược được…. Và dĩ nhiên sự chống trả của lực lượng của Miền Nam lẽ ra phải mảnh liệt hơn mới phải”.

Một nhóm chánh trị gia chuyên nghiên cứu về kế hoạch dài hạn, dưới quyền ông Kissinger ước tính rằng cần có một sự can thiệp, nhưng rất khó có thể thi hành được việc nầy. Ngũ Giác Đài cũng nghĩ rằng Hoa Kỳ không thể gởi oanh tạc cơ tới đó dù các kế hoạch xử dụng oanh tạc cơ vẫn còn trống. Ngũ Giác Đài thường có kế hoạch yểm trợ cho khắp nơi, như can thiệp ở Việt Nam, Trung Đông, Đức v.v.. cả ở vùng Nam băng Dương nữa.

Không thể được? Tại sao? Tổng Thống Ford, vị Tổng Tư Lệnh của Quân Lực Hoa Kỳ bị đạo luật 93-50 và 93-52 và nghị định 542 của Quốc Hội lưỡng viện tháng 11/1973 ràng buộc. Theo đó Tổng Thống chỉ được phép xử dụng quân lực Hoa Kỳ sau khi có sự tuyên chiến của Quốc Hội; hay trong những trường hợp thật chính xác, như lãnh thổ hay chính quân lực Hoa Kỳ bị tấn công. Trong trường hợp nầy, mọi quyết định của Tổng Thống (về việc xử dụng quân lực) phải được thông báo ngay trong vòng 48 tiếng đồng hồ cho Quốc Hội Hoa Kỳ . Thời gian xử dụng được giới hạn là 60 ngày. Ông Kissinger có chủ trương gởi Hạm đội Mỹ đến vùng biển Việt Namđể cho Hà Nội hiểu rằng họ phải ngưng ngay các cuộc tấn công. Ông Ford đương nhiên phải nghiêng về sự thận trọng nên đã chống lại ý kiến nầy.

Tất cả những màn tranh luận hay bàn cãi của Chánh Phủ Hoa Kỳ được diễn ra một cách công khai, để cho dân chúng ai cũng thấy biết. Tòa Đại sứ Liên Xô ở Hoa thạnh Đốn xuyên qua Mạc tư Khoa đã cho Hà Nội biết hết toàn bộ những sự do dự, những màn căng thẳng và phản đối ngay trong Chánh Phủ Hoa Kỳ. Chánh sách của Hoa Kỳ được bàn tới bàn lui ở Nhà Trắng, ở Quốc Hội và ở các Bộ trong Chánh Phủ. Cả ở trên vô tuyến truyền hình nữa!

Ông Nixon không dám chen vào. Các cố vấn của ông Ford thì muốn cho ông lên truyền hình. Ngày 13 tháng giêng Tổng Thống Ford nói chuyện trên 13 kênh trên truyền hình, nhơn ngày ông đọc diễn văn về đoàn kết quốc gia. Các cố vấn của ông đã nhấn mạnh với ông là “Việt Nammãi mãi vẫn là con số không” Cho nên ông không có một chữ nào về vấn đề Việt Nam. Chiến lược của các cố vấn nầy thật là quá rõ ràng:

_Hoặc là sự kiện một tỉnh lẻ của Việt Nam rơi vào tay của Bắc Việt sẽ chìm xuống lần lần: như vậy im lặng là điều cần thiết.

_Hoặc tình hình chiến sự ở Việt Nam sẽ xuống thang: Hãy để cho ông Kissenger lo dọn dẹp các mảnh vụn thạch cao của ông ta.

Các cử tri, các ông nghị sĩ, dân biểu hiện đang quá bận tâm về nền kinh tế của Hoa Kỳ, không ai còn nghĩ tới số phận của Sai Gòn hết.

Tại Quốc Hội, khi nói tới Việt Nam, các nhóm có nhiều ảnh hưởng đang gây áp lực ở đây là những người thiên về “hòa bình”, không có ai thiên về ông Thiệu cả.

Trên đường về Hoa Kỳ, sau khi rời khỏi Việt Nam, phái đoàn của bà FitzGerald ghé qua Lào. Fred Bransman tường trình về chuyến đi Việt Namcủa ông ta với Đại sứ Mỹ tại Vientiane. Một cố vấn ngoại giao đã viết tờ trình về Hoa Thạnh Đốn, nội dung thật là rất buồn cười!

“ Ông Bransman rất xúc động. Theo ông thì ở Bắc Việt có một không khí hài hòa! Chánh quyền luôn luon thỏa mãn nhu cầu của dân chúng, không một ai trong Bộ Chánh Trị lợi dụng chức vụ để làm giàu, các đồng ruộng đều được gia nhập vào các hợp tác xã một cách vui vẻ. Người dân ở Bắc Việt không có gì gọi là theo ý thức hệ cộng sản, trái lại họ theo thuyết thực dụng. Họ rất mong có được một giải pháp chánh trị.”

Ngày 19 tháng giêng, vừa về đến Hoa thạnh Đốn là ông Bransman và thuộc hạ của ông ta đã tràn ngập các hành lang của Quốc Hội. Họ tích cực vận động để Quốc Hội chống lại mọi hình thức viện trợ cho Chánh Phủ Việt NamCH. Ông Bransman đã làm việc thật là quá dắc lực!

Tổng Thống Ford lúc nào cũng đo kỹ nhiệt độ cũa Quốc Hội và phản ứng của báo chí. Một bản nghiên cứu của Bộ Ngoại Giao, xuyên qua các bài bình luận của 36 tờ nhật báo đã cho thấy là 16 tờ cương quyết chống viện trợ cho Việt Nam, 13 tờ nếu không có cảm tình với Chánh Phủ VNCH thì ít nhất cũng có ý kiến là phải viện trợ cho họ.

Được bước lên ghế Tổng Thống Hoa Kỳ một cách bất ngờ từ sáu tháng nay, ông Ford đã tỏ ra là một nguời có dũng khí. (người ta cũng thật sự chưa biết được có phải như vậy hay không). To con, mũi gảy, càm vuôn, ông Gerald Ford “Jerry” có vẻ mạnh khỏe, thành thực. Ông không có vẻ gì ở tuổi 62 hết. Trước khi ông nhậm chức Tổng Thống, báo chí nhắc đi nhắc lại “ông Jerry là một người liêm khiết”. Người ta rất mong ông được như vậy. Chắc ông sẽ không hành động bừa bãi đâu trước khi ông tham khảo ý kiến với người tiền nhiệm của mình. Trước khi ông tuyên thệ nhậm chức đã có 350 người điều tra, xem xét cẩn thận cuộc đời của ông rồi. Theo truyền thuyết nghe thấy được ở Hoa thạnh Đốn thì ông Nixon thích tiền và hay khinh người. Còn ông Ford trái lại đã có một mối giao hảo tốt với mọi người. Ông có khoản 250 ngàn mỹ kim tiền túi và trong chương mục ngân hàng của ông. Ông Tổng Thống nầy không có dấu diếm gì cả bởi vì ông không có gì để mà che dấu, nhất là về trình độ trí thức của ông mà những người có ác ý thường đòi hỏi. Đầu óc ông rất trong sáng, không mảy may vẫn đục và tánh tình ông thật giản dị. Ông không thiết tha lắm với tầm nhìn lịch sử. Tóm lại, về ông “Jerry” chỉ có một chữ thôi: đứng đắn. Khía cạnh hướng đạo sinh của ông làm cho một số người ưa thích ông và một số người khác tin tưởng ông. Ông không giàu tưởng tượng lắm nhưng khéo léo. Sự có mặt của ông gần 25 năm ở Hạ Viện đã chứng minh điều đó. Phải có một tinh thần dung hòa cao độ ông mới trở thành một lãnh tụ thiểu số của đảng Cộng Hòa ở Hạ Viện. Giờ đây liệu ông có phải là một ông Tổng Thống có tầm vóc hay không? Trước kia ông Harry Truman không có tầm vóc lúc đầu nhưng đã trở thành một Tổng Thống rất lỗi lạc. Muốn vào Nhà Trắng (Mỹ) hay điện Elysée (Pháp) hoặc ở đường Downing (Anh) trước tiên cần phải có nhân cách. Trong những tháng đầu, ông Ford coi như còn ở trong thời kỳ của tuần trăng mật mà ông còn hưởng được, báo chí đã nương tay cho ông hoặc che chở cho ông. Dĩ nhiên nếu không có ông Ford nầy thì người ta cũng nặn ra một ông Ford khác được vậy. Ông vẫn biết rằng người ta không mong gì hơn “ông Jery là một ông Tỏng Thống bình thường thôi, không cần như các trào Tổng Thống khác, từ ông Roosevelt tới ông Johnson, hay từ ông Kennedy tới ông Nixon.

Theo tất cả mọi cuộc thăm dò và bình luận, thì ông Ford đưọc coi như một ông Tổng Thống Cộng Hòa bảo thủ. Vốn là một người đã từng hưởng ứng cuộc chiến ở Việt Nam, ông đã chỉ trích tính cách điều hành cuộc chiến dưới thời ông Johnson, về phương tiện chớ không phải về cứu cánh.

Ông chấp nhận mọi sự bất đồng ý kiến. Ngay cả trong gia đình ông cũng thế. Hai đứa con trai của ông, Mike và Jack chống đối cuộc chiến tranh nầy. Ông không cầu mong có được một khả năng vượt bực trong những lãnh vực mà ông chưa từng quen thuộc. Vài tuần trước ông đã có gặp ông Valery Giscard d’Estaing (Tổng Thống Pháp) ở đảo Antilles. Ông đã để cho ông Kissinger ăn nói nhưng ông cũng không đến đổi tệ lắm đâu. Ông Giscard đã cho biết là đã có khả năng dàn xếp với Hà Nội. Ông Kissinger có vẻ hoài nghi nhưng nghĩ là nên cứ để người ta thử xem sao.

Ông Ford không muốn bị lôi cuốn trở lại vào cuộc chiến ở Việt Nam nữa. Có lẻ nhờ Quốc Hội hạn chế quyền hành của Tổng Thống trong lãnh vực nầy chăng? Ngoài ra ông còn bị áp lực của ông James Schlesinger, Bộ Trưởng Quốc Phòng: tới giai đoạn nầy ông bộ trưởng không muốn có một hành động can thiệp nào nữa cả. Trong một cuộc họp báo ngày 14 tháng giêng, ông Schlesinger tuyên bố:

-“ Chúng tôi không thể tin được rằng Bắc Việt đã sẵn sàng tiến hành một cuộc tấn công qui mô trên toàn quốc. Họ chỉ muốn lũng đoạn sự kiểm soát của Chánh Phủ VNCH thôi. Tôi không dự kiến một cuộc tấn công quy mô nào kiểu như cuộc tấn công mà chúng ta đã biết hồi năm 1972. Tôi tin rằng Bắc Việt vẫn còn phải nể sợ sức mạnh của Hoa Kỳ”.

Sau đó để chứng tỏ ông là một thành viên trung thành với Chánh Phủ, ông tuyên bố tiếp:

“Trên phương diện lịch sử, dư luận Hoa Kỳ sẽ có một phản ứng giận dữ đối với một cuộc xăm lăng bạo tàn. Trong trường hợp dó, Tổng Thống sẽ thỏa thuận với Quốc Hội để có được sự chuẩn y trong việc xử dụng quân lực hùng mạnh của mình.”

Liên quan đến những phê bình trên bình diện chánh trị về một thảm họa có thể xảy ra ở Việt Namthì ông Schlesinger lại giả bộ ngây ngô, đùa qua hết cho Bộ Ngoại Giao, cho ông Kissinger!

Trong cái không khí hỗn tạp chánh trị ở Hoa thạnh Đốn, ông Kissinger và ông Schlesinger giống như hai con cá sấu thù nghịch đang gờm nhau, vừa khinh nhau mà cũng vừa nể nhau. Ông Schlesinger là người duy nhất trong Chánh Phủ có thể cạnh tranh được với ông Tổng trưởng ngoại giao trên lãnh vực học vấn. Ông Kissinger thường sấp xếp để lúc nào ông Schlesinger cũng phải đứng ngoài mọi quyết định quan trọng. Các cựu quân nhân từng phục vụ ở Việt Nam đều có làm việc trong cả 2 Bộ ngoại giao và quốc phòng của 2 ông. Các nhà ngoại giao không có được nhãn quan bén nhạy của giới quân nhân nhà nghề. Người thì muốn giữ được lòng tin đối với Hoa Kỳ trên sân khấu quốc tế. Người khác thì muốn di tản hết các sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ Mỹ cuối cùng đang còn hiện diện ở một vài tỉnh ở Việt Nam. Ông Schlesinger chỉ mới đảm trách chức vụ Bộ trưởng quốc phòng từ 18 tháng nay nên chưa phải là hiện thân của cuộc chiến ở Việt Nam. Còn ông Kissinger là đồng tác giả của Hiệp Định Paris nên không thể tự tách rời ra khỏi việc nầy được. Đối với dư luận thì vấn đề Việt Nam đè nặng trên cả hai vai của ông.

Ông Ford nghĩ là cần phải xin Quốc Hội 300 triệu đô la viện trợ quân sự bổ túc cho Việt Nam. Chiều ngày 23 tháng giêng, trên hệ thống truyền hình, đài NBC, ông bị hai bình luận gia trứ danh John Chancellor và Tom Brokaw chất vấn ông,. Họ đi thẳng vào vấn đề Việt Nam. Ông Brokaw đua ra một câu hỏi thật là giản dị:

“ Thưa Tổng Thống, xin ông cho biết mục tiêu mà ông cần phải đạt được ở Đông Nam Á, và đặc biệt là ở Việt Nam?”

Ông Ford hơi vụng về nhưng đã tỏ ra rất chân thật:

_ “Ở Việt Nam, sau những mất mát về nhân mạng …”… – trên 50 ngàn công dân Hoa Kỳ- và sau quá nhiều phí tổn phi thường của chúng ta tính bằng đồng đô la Hoa Kỳ ..”… thường thường trên 30 tỷ mỗi năm- ..”.. tôi thấy hình như chúng ta phải thử cho người dân Miền Nam Việt Namtrách nhiệm tự bảo vệ “lối sống của họ” bằng viện trợ quân sự của Hoa Kỳ ” (nguyên văn câu tiếng Anh của tác giả: “the way of life”).

Khi ông Ford nói chuyện trên hệ thống truyền hình và nhất là sau bữa cơm tối, người ta có cảm tưởng lời nói của ông ta có đệm nhạc, giống như một bài hát đạo thoang thoảng nghe được trong các thang máy của các cửa hàng!

Sau đó ông Ford nói về những quan điểm tổng quát về truyền thống của Hoa Kỳ từ thế chiến 2, về sự viện trợ cho các quốc gia đồng minh. Ông phân tách rõ rệt giữa viện trợ nhân đạo với viện trợ quân sự. Ông lại tiếp tục nói về truyền thống và đức độ của Hoa Kỳ trong tương lai làm ông Brokaw phải kéo ông về đề tài:

_ “Sự cam kết của Hoa Kỳ sẽ kéo dài trong bao nhiên năm nữa, và nó sẽ đi đến đâu? Tổng Thống Ford nói:

_ “Tôi không tin là sẽ có một sự cam kết lâu dài. Thật ra Đại sứ Hoa Kỳ ở bên đó, ông Graham Martin, có nói với tôi giống như ông Kissinger, là ông ta nghĩ nếu có một số lượng viện trợ (bằng đô la) đầy đủ đổi ra thành vũ khí đạn dược và trợ giúp kinh tế, …”.. và viện trợ nầy được đặt dưới quyền xử dụng của họ, thì trong vòng 2 hay 3 năm, Miền Nam Việt Namsẽ qua khỏi được thời kỳ khó khăn của họ”.

Những lời tuyên bố nầy thiếu căn bản, ông Ford cũng hiểu như vậy:

  • “Tôi tin chắc là người ta đã nói với ông điều nầy rồi, … người dân Miền Nam đã có nhiều tiến bộ lắm rồi, bây giờ thì họ bắt đầu thiếu chút ít về đạn dược, và nạn lạm phát đã bắt đầu tăng trong những tháng gần đây…”

Ông Ford xác nhận là đã ban khen đại sứ Martin của ông, một người rất tận tụy và rất thiết thực.

Vừa có khuyết điểm lại vừa có đức độ, Tổng Thống Ford quả thật là một nhân vật giản dị và ngọt ngào như chiếc bánh ngọt nhân táo chua vậy.

Với các chánh trị gia chuyên nghiệp, với các cử tri, thì những cuộc tranh luận, bàn cãi và những pha căng thẳng thần kinh trong bộ máy chánh quyền Hoa Kỳ được coi như rất sáng tỏ.

Và đối với Hà Nội cũng vậy thôi, thật là quá rõ ràng!!

Ngày 28 tháng giêng, rất long trọng, ông Ford đã gởi một công hàm đặc biệt cho Quốc Hội Hoa Kỳ để xin một ngân khoản viện trợ bổ túc là 300 triệu đô la cho Việt Nam; và 222 triệu đô la cho Cam Bốt. Tổng Thống Ford không có khẳng định là với sự viện trợ này Cam Bốt sẽ thắng trận giặc ở đó hay chiến cuộc Việt Namsẽ chấm dứt, tuy nhiên theo ông, ít ra trên bàn cờ quân sự mà họ đang chơi, người ta có thể buộc kẻ địch phải thôi đi để trở lại bàn hội nghị thương lượng về một giải pháp chánh trị.

Những người thân cận ông Ford hy vọng là ông sẽ là một vị Tổng Thống thời “hậu chiến tranh Việt Nam”, nhưng thực tế cho thấy ông đang ở trong cái vũng lầy, ngập đến tận cổ, mà bản thân ông lại không hay biết gì hết!

  • “Ông Ford đang ngồi trên một đống phân”, một công chức cao cấp trong Bộ Ngoại Giao đã nói như vậy, dĩ nhiên câu nầy không sao đến tai ông Kissinger được!

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Post by Sơn râu 8 Apr 2024

Phần 1 – Trị Thiên

Bên giòng Thạch Hãn

Mẹ theo nước non À á a a!

Theo dân tộc đi tị nạn

Chiều căm gió căm À á a a!

Nghe giòng Thạch Hãn ngậm hờn

Bờ tre giếng xưa À á a a!

Quê hương này xin tạ từ

Bỏ trâu bỏ cày Á á a a!

Ôi mẹ bỏ luôn ruộng vườn

Hò ơ ơ ớ! Hò ơ ơ ớ!…

Phần 2 – Tam Biên

Lời dặn dò

Cơ nghiệp kia phút chốc tan hoang

Tiển mẹ đi đạn réo kinh hoàng

Rưng mắt lệ nhìn quê ngụt khói

Về cố đô nặng nề bước mỏi

Lời dặn dò lạc lỏng trong sương!

Ở lại nghe con…Ở lại nghe con…

Sống chết với quê hương…

Chiến Ca Mùa Hè

Thơ Phạm Lê Phan

Post by Sơn râu 8 Apr 2024

Phần 1 – Trị Thiên

  1. Qua cầu Ái Tử

Mẹ u sầu qua cầu Ái Tử trăm thương ngàn nhớ…

Gởi lại bên sông. Bên sông máu thắm đôi giòng!

Bên sông giặc về hiện hình muông thú…

Con trai mẹ lao mình trong đạn bủa

Máu thép, tim gan ngăn chiến xa thù!

Mắt ngời say lửa dũng ngàn xưa!

Bàn tay thép trên sắt che nòng súng…

Cắn máu môi uống lời thề kiêu dũng

Lời thề chém đá, xé mây…

Mẹ u sầu qua cầu Ái Tử

Bằng hơi thở TRỊ THIÊN

Quyết giữ

Quyết giữ bến sông này!

Chuyến bay di tản bằng trực thăng của phi công Hoàng Trọng Nghĩa

Post by Sơn râu 8 Apr 2024

Thấm thoát đã 40 năm kể từ “ngày này tháng ấy”…
30 Tháng 4 năm 1975, Tổng thống Dương Văn Minh đọc lệnh đầu hàng. Đó cũng chính là ngày mà lịch sử thế giới ghi nhận là “cuộc di tản vĩ đại của dân tộc Việt Nam” và chưa bao giờ phai nhòa trong tâm trí người đi cũng như người ở lại. Những chứng nhân của cuộc ra đi đó có người đã vĩnh viễn nằm xuống. Có những đứa bé giờ đã trở thành người thành đạt trên xứ người. Và cũng có người chọn giữ cho riêng mình một quá khứ oai hùng trong suốt 40 năm. Giờ đây, họ bằng lòng kể lại với lời nhắn gửi “chúng tôi là đại bàng đã xếp cánh, xin nhường bầu trời lại cho thế hệ trẻ hôm nay.”
Đó là lời của phi công Hoàng Trọng Nghĩa, người từng được tờ báo The Blade, Ohio gọi là “Crazy pilot” trong bài phỏng vấn năm 1971. Phải sau hai lần gửi thư, hai lần nói chuyện qua điện thoại tôi mới được ông đồng ý cho một cuộc hẹn để nghe ông kể câu chuyện của “crazy pilot” cũng như cuộc di tản bằng trực thăng trong những ngày cuối cùng của năm đó.
Dáng người khỏe, nhanh nhẹn, ánh mắt vẫn rất sắc bén, tiếng nói vẫn sang sảng như âm vang một vùng trời ông và những người bạn của mình từng sải cánh.
“Làm sao quên được chứ, dù đã gần 40 năm. Tôi nhớ từng chi tiết không gian và thời gian. Và chắc chắn trong suốt cuộc đời còn lại, nó vẫn theo tôi như một kỷ niệm đau buồn nhưng rất oai hùng,” ông vừa nói vừa hướng mắt ra ngoài cửa, như nói với chính mình.
Những ngày cuối cùng…
Sau ngày 20 Tháng Tư, bộ binh dưới quyền chỉ huy của tướng Lê Minh Đảo đã rút dần về phòng thủ ở Trảng Bom, Long Bình, Long Thành. Việt Cộng đã bắt đầu uy hiếp Quân đoàn III, trong đó có Sư đoàn III Không Quân.
Các dải đất “co cụm” dần trên bản đồ miền Nam Việt Nam.
Sau khi Buôn Mê Thuộc thất thủ, lần lượt Sư đoàn 6 Không Quân (Pleiku,) Sư đoàn I Không Quân (Đà Nẵng,) Sư đoàn II (Nha Trang,) căn cứ Không Quân Phù Cát và cuối cùng là căn cứ Không quân Phan Rang đều bị di tản chiến thuật về căn cứ Không quân Biên Hòa, Tân Sơn Nhất và Cần Thơ. Những người lái máy bay cánh quạt được lệnh chở gia đình của họ ra Côn Sơn, Phú Quốc.
Đó cũng là những ngày cuối cùng tôi có thể về thăm gia đình. Trong hoàn cảnh biến động và nguy cấp, câu nhắn gửi của ba vợ tôi: “chồng đâu vợ đó” làm cho tôi hiểu được đây là sự gửi gắm cuối cùng của ông đặt vào tôi. Tôi chở theo người vợ mới cưới bằng cách cho cô ấy mặc đồ bay, đội mũ đen hoa lá cành của mình, giả làm phi công ngồi sau lưng tôi.
Tôi nhớ rất rõ đêm hôm ấy, đêm 27 Tháng Tư, Việt Cộng pháo kích vào bãi đậu trực thăng của Không đoàn 43. Đạn nổ rất gần vì đã được điều chỉnh bởi tiền sát viên Việt Cộng. Do đó, tất cả phi công chúng tôi được lệnh từ Lôi Hổ 1, là danh xưng của không đoàn trưởng của Không đoàn 43 cho cất cánh từ Biên Hòa về phi trường Tân Sơn Nhất.
Hàng trăm phi cơ cất cánh cùng một lúc. Như đàn chim vỡ tổ bay trong hoảng loạn, nhưng không hề va đụng nhau, không hề có tai nạn xảy ra. Chúng tôi bay về đáp ở taxiway wisky 7 trong Tân Sơn Nhất.
Buổi sáng 28, dù tình hình đã rất hỗn loạn nhưng vẫn còn những phi hành đoàn hành quân yển trợ bộ binh ở những khu vực quanh Sài Gòn. Đến khoảng 2, 3 giờ trưa một đoàn A-37 dưới sự chỉ huy của Nguyễn Thành Trung đã thả bom khu đậu vận tải cơ. Trước mắt tôi lúc đó là những chùm bom rời cánh máy báy rớt xuống. Tiếp theo đó là những quả cầu lửa khổng lồ sáng bừng một vùng trời.
Tôi quay máy và cất cánh khẩn cấp về Nhà Bè, đổ xăng và chờ qua đêm ở đó.
Đường bay di tản
Sáng ngày 29, từ Nhà Bè, tôi nghe tiếng pháo kích kinh hoàng ở phía phi trường Tân Sơn Nhất bị tổng pháo kích. Tôi nổ máy, cất cánh và đồng thời mở tần số không lưu. Lúc đó, tôi nghe hiệu lệnh của Thần Phong 1 (là danh hiệu của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ) điều khiển phi tuần đánh về hướng Tây của Tân Sơn Nhất.
Tôi bay về Vũng Tàu để đổ xăng. Tại đây, tôi gặp Đại tá Phùng Văn Chiêu, không đoàn trưởng Không đoàn yểm cứ của Sư đoàn 3 Không quân. Ông lệnh cho tôi bay về vùng IV chiến thuật để chờ lệnh vì Vũng Tàu lúc đó cũng đang bị pháo kích và rất hỗn loạn.
Tôi cất cánh, lấy cao độ trực chỉ vùng IV. Đến Mỹ Tho, bãi đáp không có một bóng người. Tôi đành theo quốc lộ 4 bay về Cần Thơ, đổ xăng và cũng bị pháo kích. Tình hình vô cùng hỗn loạn. Tôi lại cất cánh bay xuống Rạch Sỏi. Nơi đây cũng không có một người lính nào. Lúc đó, trong một tâm trạng không biết bay về đâu khi nơi đây là nơi tận cùng của miền Nam?
Tôi nghĩ đến Phú Quốc có lẽ an toàn hơn.
Chiếc trực thăng của tôi lại cất cánh, hướng ra Phú Quốc. Vì từng phục vụ trong sư đoàn 4 vùng 4 chiến thuật nên tôi thuộc nằm lòng đường bay này. Chúng tôi ở Phú Quốc đến 2 giờ chiều. Mọi người ai cũng đói và khát.
Tôi mở tần số GUARD, một tầng số chỉ dùng cho trường hợp khẩn cấp, để nghe những chỉ dẫn đường bay từ Vũng Tàu, Sài Gòn, Phú Quốc, Côn Đảo ra hạm đội, cũng như từ Việt Nam sang Thái Lan.
Tôi xin một số xăng ở Phú Quốc để dự trữ và cất cánh khoảng 10 ngàn bộ để đỡ hao xăng. Tôi bắt đầu chuyến bay lịch sử nhất của mình, một chuyến bay di tản không bản đồ, thiếu xăng và tâm trạng không biết chuyện gì phía trước.
Có một điều mãi mãi tôi không bao giờ quên trên đoạn đường bay “lịch sử” đó. Khi vừa bay ngang qua hết cánh rừng của Hà Tiên, tôi biết mình đã vào không phận của Campuchia. Tôi biết, tất cả đã hết. Tất cả đã mất. Không còn ngày quay lại nữa.’
Kể đến đây, hình như hơi thở của ông đang dừng lại một nhịp. Đôi mắt ông có nước.
Khi biểu đồ xăng xuống thấp, tôi vẫn không biết mình đang ở đâu. Lúc đó, quyết định nhanh phải đáp xuống để đổ xăng nếu muốn tiếp tục chuyến bay. Tôi đáp xuống ngọn đồi khoảng 4,000 feet, dùng nón sắt để đổ xăng và lại cất cánh, nhắm hướng bay đến Thái Lan.
Từ trên cao, tôi nhìn thấy bình nguyên, thấy xe chạy bên trái trên đường xa lộ phía dưới, tôi biết mình đã vào không phận của Thái Lan. Cố gắng bay đến 5 phút xăng cuối cùng, tôi đáp xuống một ngôi chùa Miên.
Tại đây, chúng tôi được nghỉ ngơi và dùng cơm chay trong chùa. Đến khoảng 11 giờ trưa hôm sau, một máy bay Mỹ đến đổ xăng cho trực thăng của tôi và cùng bay về phi trường TRAT, sát biên giới Thái Lan. Sau đó, có thêm vài trực thăng cũng đáp xuống phi trường này.
Tại đây, họ, những người lính Mỹ, được lệnh phải dùng sơn xóa đi huy hiệu của Không lực Việt Nam Cộng Hòa trên trực thăng của tôi. Những chiếc máy bay khác cũng thế.
Tôi lầm lũi, ngậm ngùi cuối đầu bước đi trong buổi chiều trên đất Thái.
Tôi hiểu từ nay, tất cả đã chấm dứt. Những “người bạn sắt” này không còn là của mình nữa. Người Mỹ đã đào tạo chúng tôi trở thành những phi công anh dũng. Họ đưa cho chúng tôi những chiếc trực thăng này. Giờ đây, chúng tôi trả lại cho họ.
Sau đó chúng tôi được chuyển đến UTAPAO, căn cứ quân sự của Mỹ tại Thái Lan. Tại đó, đã có rất nhiều máy bay VNCH. Sau đó, đoàn người lại tiếp tục được đưa đến ASAN, một trại tỵ nạn ở Phi Luật Tân. Khi chúng tôi đến thì hàng trăm ngàn người Việt Nam đã có ở đó.

(Theo tài liệu được ghi lại trong ‘Flying Dragons: The South Vietnamese Air Force’ của Robert Miskesh, số lượng phi cơ của không quân Việt Nam bay thoát sang Utapao, Thái Lan khoảng 132 chiếc, gồm khoảng 25 F5, 27 A37, 11 A1, 13 C47, 6 C130, 3 AC 119, 5 C7 và 45 UH1. Theo Wayne Muntza, trong “The A-1 Skyraider in Viet Nam: The Spad’s Last War” và Ralph Wetterhahn trong “Escape to Itupao” thì con số máy bay được cho là 165 chiếc. thêm vào đó là các U-17 và O-1, ngoài ra không kể vài phi cơ dân sự của Air VN.)
Chúng tôi, những tâm trạng đối nghịch nhau. Người thì hoang mang không biết đi đâu về đâu. Người thì lo lắng vì không biết gia đình thế nào khi còn vướng lại trong loạn lạc. Người thì bàng hoàng khi được tin Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng…
Sau 20 ngày với những tâm trạng chất chứa đó, tất cả chúng tôi được chuyển đến căn cứ Mỹ ở San Diego.
Một mệnh nước đã đổi thay!
Một dân tộc đã phân lìa!
‘Chúng tôi là những con sóng trước’
Ông đã dừng kể từ lâu. Nhưng hình như cả ông và tôi vẫn còn trôi trong những ngày loạn lạc ấy. Tiếng súng, tiếng trực thăng, tiếng đạn pháo kích, và nhất là hình ảnh:
“Liên đoàn 81 biệt kích nhảy dù nghe lệnh đầu hàng, họ xếp thành dọc, mũi súng chĩa xuống, tuần tự oai nghiêm đi từ núi Châu Thới ở Biên Hòa về Đường Sơn Quán.” Nhìn đôi mắt ông khi đó, tôi thấy như có ánh lửa.
“Khi rời trại Pendleton, gia đình tôi đến thành phố Elcampo, Texas. Sau đó, cũng như những người tỵ nạn khác, phải có người tài trợ để chúng tôi ra khỏi trại. Và cũng như bao người khác, tôi bắt đầu lại cuộc đời mình với những công việc bình thường nhất.”
Tôi khẽ hỏi, “ông có nhớ bay không?”
“Tôi đã gắn bó với trời xanh từ năm 1967. Tôi đã được huấn luyện bay trực thăng ở Fort Rucker, Alabama và Fort Wolters, Texas. Trực thăng và bầu trời là cuộc đời của tôi. Như vậy, làm sao mà không nhớ?” ông mỉm cười trả lời.
“Khi qua Texas, có nơi đồng ý cho tôi một công việc gắn bó với máy bay, nhưng phải đi rất xa. Lúc đó, mới sang xứ này, vợ tôi còn rất trẻ. Tôi không thể để cô ấy một mình chống chọi với cuộc sống mới. Tôi đã từ chối. Và sau đó, tôi làm tất cả mọi việc có thể. Từ quét rác, cho đến sửa xe. Thời gian sau, tôi ổn định với công việc bán xe trong một dealer”

“Và trong suốt mấy mươi năm, tôi học cách nhìn cuộc đời rất bình dị và êm ả. Một quá khứ oai hùng của người phi công với cấp bực cuối cùng là thiếu tá đã khép lại. Nhưng ‘chỉ khép lại’ chứ không thể nào mất đi trong chúng tôi.” Đôi mắt của người phi công năm xưa lại rực sáng.
Ông tự nhận mình là những con sóng trước, “Khi con sóng sau tiến đến thì những con sóng trước phải chìm xuống để có được những đợt sóng cao và mạnh. Đó là đạo và đời.”
Trước khi chào tạm biệt, tôi tò mò hỏi ông về những dãi ngân hà đẹp như thế nào trong những chuyến bay đêm?
Cười thật to, ông nói: “Đó là cái đẹp trong bài hát. Những phi công chúng tôi khi bay đêm phải tập trung rất nhiều vào phi cụ và nhiệm vụ của mình phải làm, không thể nào biết được ngân hà trong đêm như thế nào đâu. “Khi qua Texas, có nơi đồng ý cho tôi một công việc gắn bó với máy bay, nhưng phải đi rất xa. Lúc đó, mới sang xứ này, vợ tôi còn rất trẻ. Tôi không thể để cô ấy một mình chống chọi với cuộc sống mới. Tôi đã từ chối. Và sau đó, tôi làm tất cả mọi việc có thể. Từ quét rác, cho đến sửa xe. Thời gian sau, tôi ổn định với công việc bán xe trong một dealer”
“Và trong suốt mấy mươi năm, tôi học cách nhìn cuộc đời rất bình dị và êm ả. Một quá khứ oai hùng của người phi công với cấp bực cuối cùng là thiếu tá đã khép lại. Nhưng ‘chỉ khép lại’ chứ không thể nào mất đi trong chúng tôi.” Đôi mắt của người phi công năm xưa lại rực sáng.
Ông tự nhận mình là những con sóng trước, “Khi con sóng sau tiến đến thì những con sóng trước phải chìm xuống để có được những đợt sóng cao và mạnh. Đó là đạo và đời.”
Trước khi chào tạm biệt, tôi tò mò hỏi ông về những dãi ngân hà đẹp như thế nào trong những chuyến bay đêm?
Cười thật to, ông nói: “Đó là cái đẹp trong bài hát. Những phi công chúng tôi khi bay đêm phải tập trung rất nhiều vào phi cụ và nhiệm vụ của mình phải làm, không thể nào biết được ngân hà trong đêm như thế nào đâu.”

*** Theo bài viết phát hành trong tờ báo The Blade, Ohio năm 1971, phi công Hoàng Trọng Nghĩa được những người chỉ huy của ông gọi ông là “Crazy Pilot” vì trong những lần yểm trợ bộ binh, ông không ngần ngại điều khiển cho trực thăng lao thẳng vào quân địch, ngay trong vùng bom đạn. Ông nói rằng “Làm như thế quân thù mới run sợ.”




Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 8 Apr 2024

24. Chương Hai Mươi Ba
Sự Rẫy Chết Của Một Thành Phố

Thứ Hai, ngày 28 tháng Tư, 1975
Sàigòn thật sự đã ở trong tình trạng hấp hối ngay trong buổi chiều ngày thứ hai 28 tháng 4 với cái trò bắn súng lăng nhăng tiếp theo sau bài diễn văn của vị Tân Nguyên thủ Quốc Gia.
Khi những trái bom đầu tiên rơi xuống Tân sơn Nhứt và khi mà các loại súng bắn lên khắp nơi trong môt thành phố đang sấp cò một cơn giông bão đổ ập xuống, thì dân chúng vì chưa có được một lời giải thích nào nên hốt hoảng nằm sấp xuống các rãnh bên lề đường hoặc chạy vào nấp bên các cửa phố. Nhưng dân chúng cũng biết là chiến cuộc thường tránh xa thủ đô từ 30 năm giặc giã, thì nay “nó”đã đến đây rồi… và sớm muộn gì trong vài ngày nữa đây, hay trong vài giờ nữa thôi, bàn tay sắt máu của cộng sản sẽ ập xuống nghiền nát Sài Gòn để bắt thành phố nầy phải tùng phục họ.
Hai giờ sau đó, đài phát thanh Sài Gòn cũng vẫn chưa đưa ra được một lời giải thích nào rõ ràng cho dân chúng đang hấp tấp trở về nhà mình sau khi có lệnh thiết quân luật 24/24.Do đó, trong cơn giông bão của một buổi hoàng hôn đầy sấm sét, người dân Sài Gòn bắt đài “MTGP”. Nhưng đài cộng sản không hề nói đến chuyện “hòa bình”! Toàn là những điều kiện đòi hỏi và những lời hăm dọa, nhắc đi nhai lại cứng rắn như một cối xay lúa những luận điệu cũ mèm mà họ đã dùng mãi để lên án cựu Tổng Thống Thiệu:
” chánh quyền Sài Gòn dù mang một nhãn hiệu nào cũng phải cáo lui…. Bộ máy chiến tranh Mỹ Ngụy phải được chấm dứt… Chiến cuộc chỉ chấm dứt khi nào tất cả quân đội Miền Nam bỏ súng xuống hết và tất cả các chiến hạm Hoa Kỳ đã rời hết khỏi lãnh hải Miền Nam Việt Nam. Các binh sĩ nào còn nghe lệnh chỉ huy của Mỹ Ngụy sẽ bị trừng trị đích đáng để làm gương…”
Cũng vào giờ nầy, ngay tại Paris (tính theo giờ địa phương), sau những lời tuyên bố của tướng Dương văn Minh, các “trung tâm quyền lực” Pháp vẫn còn nói rõ là “viên đạn hiện đang ở trong doanh trại của CPLTCHMN”
Vài giờ sau đó, hồi 4 giờ sáng (giờ địa phương) thì dân chúng Sài Gòn mới nghe được câu trả lời của cái gọi là CPLTCHMN, để đáp lại phần bình luận vô cùng lạc quan đến không thể tin được về tài ngoại giao của người Pháp: đó là một trận mưa rốc kết xuống thủ đô của Miền Nam Việt Nam! Và phi trường Tân sơn Nhất tiếp theo đó bị tấn công bằng đủ các loại pháo lớn.


Thứ Ba, ngày 29 tháng Tư, 1975
Đài phát thanh Mạc tư Khoa đã mỉa mai ghi nhận là :”tướng Dương văn Minh trên thực tế không còn gì nữa để mà trị vì” Vài giờ sau đó, đài phát thanh Sài Gòn đã truyền đi những lời phát biểu của Tân Thủ tướng Vũ văn Mẫu như sau:
– “Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa hoan nghênh việc thi hành Hiệp Định Ba Lê, đặc biệt là các điều khoản 1, 4 và 9 đã qui định là Hoa Kỳ phải tôn trọng những quyền tự do căn bản của dân tộc Việt Nam về vấn đề “quyền tự quyết” của mình trong việc quyết định và chấm dứt mọi giao tranh quân sự , cũng như mọi sự can thiệp vào nội bộ của Miền Nam Việt Nam “
Lời tuyên bố công khai nầy dù sao cũng đã được nói lên tiếp theo sau một thông cáo đòi “Đại Sứ Hoa Kỳ , ông Martin, phải đóng cửa tòa đại sứ trong vòng 24 tiếng đồng hồ và đồng thời phải làm mọi cách để tất cả những người Mỹ còn lại ở Miền Nam Việt Nam cũng phải rời khỏi lãnh thổ Miền Nam Việt Nam trong thời hạn đó”.
Và ngay sau đó ông M.Martin đã tức khắc cho biết là ông sẽ làm đúng theo lời đòi hỏi đó.
Cuộc hành quân di tản những người Mỹ cuối cùng và những người Việt Nam “có liên hệ” với Hoa Kỳ , theo kế hoạch đã được Ngũ Giác Đài thiết lập, lẽ ra sẽ được tiến hành cho đến ngày thứ tư tuần tới, 7 tháng 5 / 1975. Nhưng tình hình diễn tiến quá nhanh.
Từ thứ hai 29/4, Tổng Thống Ford đã có một buổi họp khẩn cấp với Hội Đồng An Ninh Quốc Gia. Cầu Không Vận đã được thiết lập để di tản người Mỹ và người Việt Nam từ phi trường Tân sơn Nhứt đã bị ngưng trệ: nhiều loạt rốc kết và đạn pháo nặng 130 ly, kể cả bom, đã được nã vào căn cứ Không quân lớn nhất nầy. Ngoài 11 chiếc phi cơ của Miền Nam bị phá hủy do bị dội bom vừa qua, còn có 1 chiếc phi cơ vận tải C.130 của Hoa Kỳ bị cháy dưới đất. Một chiếc trực thăng của Miền Nam chở 40 binh sĩ Dù trên đường bay đi Tây Ninh đã bị trúng một hỏa tiển, bị nổ tung và cháy trên không thật khủng khiếp.
Có nhiều đạn rốc kết đã rơi vào Chợ Lớn, một thành phố mà cư dân hầu hết là người Hoa kiều, nằm sát Sài Gòn. Một phóng pháo oanh tạc cơ Skyraider có nhiệm vụ đánh bom vào các vị trí của các đơn vị cộng sản Bắc Việt ở 7 cây số về hướng Tây Bắc Sài Gòn đã bị trúng một hỏa tiển tầm nhiệt S.A.7. của cộng sản.. Và có nhiều cuộc chạm súng thật dữ dội đang diễn ra trong vùng ngoại ô thành phố.
Hoa Thạnh Đốn không còn thời gian chờ đợi nữa. Và Tổng Thống Ford đã ra lệnh cho Hạm Đội VII tiến hành ngay cuộc hành quân di tản.
Vào lúc 11 giờ trưa ngày thứ ba nầy, thủ đô Sài Gòn thật là hỗn độn không tả được.
Người Pháp cư ngụ ở các khu nằm ở chung quanh thủ đô cũng đã bị “sơi” đạn pháo binh cộng sản nên họ phải đổ dồn về trung tâm Thủ đô tìm ở với bạn bè đồng hương, vì không thể vào tạm trú ở trường trung học Saint Exupéry theo đúng chỉ thị trước đây của tòa Đại sứ Pháp được . Vị hiệu trưởng trường nầy đúng ra phải chịu trách nhiệm đón tiếp những người Pháp nầy nhưng ông lại không nhận họ, viện cớ là “không có đủ dự trữ nước uống và lương thực để bảo đảm sự sống cho họ”.
Tất cả những người Pháp cư ngụ ở thủ đô gồm các giáo chức, các nhà trồng tỉa đã rút về đây, các nhà buôn, chủ tiệm ăn hay giám đốc xí nghiệp, đều đã treo cờ Pháp trước nhà ở, văn phòng, tiệm tùng v.v.. Có nhiều người Việt Nam bắt chước họ. Tất cả đều tin rằng lá cờ tam tài của Pháp có thể cứu được sanh mạng và tài sản của họ nếu có xảy ra những cuộc đánh nhau trên các đường phố. Và bất thình lình cờ xanh trắng đỏ được treo rợp trời vào những giờ bi thảm của một sự sụp đổ nầy đã làm cho một vài khu vực của thành phố có một bộ mặt lạ lùng khác thường của một ngày lễ 14 tháng 7 của Pháp. Nhưng hỡi ôi! đây chỉ là một ảo ảnh! một ảo ảnh quá đau lòng che đậy những dấu hiệu lo âu sợ sệt đang tràn ngập cả thủ đô Miền Nam vốn đang rơi vào tình trạng vô trật tự và vô Chánh Phủ.
Trên xa lộ Biên Hòa trước khi đến cầu Sài Gòn mà gần đó là những căn cứ tối tân nhất của bến Tân Cảng, có 50 binh sĩ Dù dưới sự điều động và chỉ huy của một đại úy, đang đánh nhau từ chiều thứ hai với một toán đặc công để cố ngăn cản không cho họ đến được dạ cầu. Đặc công cộng sản đã 5 lần chiếm được cầu và cả 5 lần binh sĩ Dù đã chiếm lại cầu. Trên 50 xác cộng sản Bắc Việt nằm đầy trên đường, mình mẩy đầy vết đạn, gần như họ đã chết rồi mà vẫn còn bị tiếp tục ăn đạn của binh sĩ Miền Nam quá hăng say và quá cẩn thận!
Bất chấp chiến trận đang diễn ra, một đám đông dân chúng, đông như một đàn kiến đếm không xuể, đã tràn vào chiếm các kho hàng của Tân Cảng để cướp bóc hôi của. Đó là đám dân đen khốn khổ ở các đồng lầy, đói khát, và háu ăn. Họ chia ra làm 2 đoàn rõ rệt, những người mới tới, tay không, và những người trở về mang đầy chiến lợi phẩm. Năm trăm người? một triệu người? Không một ai có thể đếm được một cách chính xác, phần lớn là đàn bà và trẻ nít, có rất ít đàn ông… họ càn quét đủ mọi thứ các kho đầy ấp hàng viện trợ Mỹ.
Đám đông xô đẩy nhau để chạy đến nơi cướp bóc, giẫm bừa lên các xác chết của bọn đặc công cộng sản làm bật lên tiếng kêu răn rắc của xương gãy như cành cây khô ! Để trở về, đám đông dân chúng nầy phải vượt qua sông, lội lõm bõm trong bùn. Một em bé khoảng 10 tuổi đầu toàn thân đầy bùn đen và thối, nhưng tay vẫn đưa cao một bó cao su xốp rửa chén! Hai bé gái khá hơn quần áo cũng đầy bùn sình, mang một số nấm, pa tê và trái cây đóng hộp. Một người đàn bà thu nhặt được hai bịch thuốc lá thơm và một máy xây sinh tố. Một anh bạn khác thì khệ nệ bê một cách khó khăn một thùng sốt cà chua.
Một “chợ chồm hổm” được tổ chức ngay bên đường: người ta mua bán, trao đổi trong cơn sốt tiền bạc ngay trong một ngày có quá nhiều khủng khoảng quân sự lẫn chánh trị.
Binh sĩ trên các quân xa phải bắn chỉ thiên mới vạch được lối đi cho đoàn xe.
Tấn thảm kịch sấp buông màn, chấm dứt. Còn chưa phải là một sự hoãng loạn nhưng là một cuộc tháo chạy toàn bộ…
Từ sáng nay, không một nhà báo nào còn được một tin tức gì từ giới chức có “thẩm quyền quân sự” về tình hình, vì một lẽ rất đơn giãn là các giới chức nầy không còn ở đó nữa hoặc họ đã bị “mất chức” không biết lúc nào.Tướng Minh đã cách chức tướng Bình, Tổng giám đốc Cảnh Sát và An ninh quân đội. Kết quả là sáu chục ngàn (60.000) cảnh sát và mười ngàn cảnh sát đặc biệt (10.000, hầu hết là các binh sĩ có tuổi từ các binh đoàn thiện chiến), đang kiểm soát thủ đô, đã không còn ai để chỉ huy và ra lệnh cho họ. Vị Tổng Tham mưu trưởng quân đội Miền Nam được thay đổi 3 lần trong vòng 24 giờ đồng hồ. Ngày hôm kia là tướng Cao văn Viên, nhưng ông đã ra đi cùng vị Tham mưu phó lẽ ra phải thay thế ông mới đúng. Ngày hôm qua là tương Nguyễn văn Minh, nhưng ông chỉ ngồi đó có mấy giờ trước khi xách va li chuồn mất. Chiều hôm qua là tướng Thiết giáp Vĩnh Lộc, một cây rượu mạnh, anh em họ hàng với cựu hoàng đế Bảo Đại. Ông ta đã cổ võ binh sĩ trên đài phát thanh và yêu cầu họ đừng “chạy như chuột giống như Tổng Thống Thiệu”. Nằm gần sân bay Tân sơn Nhứt, là Bộ Tổng Tham Mưu nhưng giờ nầy rất là vắng vẻ, chỉ thấy còn lưa thưa ra vào một vài sĩ quan cấp tá. Các viên chức thì còn ở nhiệm sở nhưng không một ông tướng nào còn trả lời khi điện thoại reo cả ở trong văn phòng hoặc ở nhà. Trên trận địa, các đơn vị trưởng nào còn tiếp tục chiến đấu thì từ đây phải tự lo liệu lấy cho mình thôi.
Ở trung tâm Sài Gòn, đột nhiên sự căng thẳng lên cao độ, vì mọi người bây giờ đều biết là người Mỹ sẽ bỏ đi hết. Cuộc hành quân di tản của Hoa Kỳ bắt đầu từ 11 giờ. Người Mỹ và những người “bạn” Việt Nam nào đã được giới chức ngoại giao Hoa Kỳ báo trước đều nhận được lệnh phải đến tập trung ở 13 điểm hẹn đã được dự trù từ trước : các sân thượng hoặc các vườn chơi công cộng.
Và cuộc di tản bằng trực thăng bắt đầu. Các chiếc trực thăng vận tải loại lớn của Thủy Quân Lục Chiến từ Hạm Đội VII, các trực thăng riêng của Trung Ương tình báo, và trực thăng màu trắng bạc của hãng Hàng Không Hoa Kỳ (Air America) bay là là trên các nóc nhà trong thành phố, có trực thăng võ trang (trang bị rốc kết và đại bác tự động) bay theo yễm trợ. Trên không phận lại có các chiến đấu phản lực cơ “Phantoms” lúc nào cũng sẵn sàng can thiệp, nếu cần.
Ở Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ người ta hấp tấp đốt các hồ sơ lưu trữ cuối cùng. Ngay trên nóc tòa Đại Sứ các trực thăng Huey đáp xuống bay lên trong khỏang thời gian cách nhau rất đều.
Tò mò đứng từ các nhà chung quanh để quan sát, thì đây là một cảnh tượng hết sức lạ lùng. Phía trước những chiếc xe du lịch đến đậu sát hàng rào sắt của tòa đại sứ, các chú tài xế mặc áo gi lê chống đạn nhưng đầu vẫn không quên đội mũ cát kết trắng, vì các viên chức Việt Nam vẫn nhất định phải tôn trọng lễ nghi cho đến cùng. Không biết các anh tài xế nầy sẽ nghĩ gì sau khi các ông chủ của họ đã lên trực thăng và họ phải quay về các khu vực bình dân giữa những tiếng nổ của đạn rốc kết?
Người Mỹ rời khỏi Sài Gòn bỏ lại xe của họ đầy đường. Tức khắc, có những toán tháo gở từ vùng ngoại ô đến “làm thịt” ngay tại chỗ. Thời gian cứ thế trôi qua và lần lần đám người tụ tập trước cửa rào của tòa đại sứ cáng ngày càng đông, họ bu quanh sát tường và có người còn có ý định trèo qua tường để vào bên trong tòa đại sứ. Trong số người cố bám vào tường như những chùm nho với niềm hy vọng cuối cùng có thể “chạy” khỏi đây để tìm tự do…, người ta thấy có đủ mọi hạng người, sinh viên, công chức, lính cứu hỏa với mủ đồng còn trên đầu, các cô gái ăn sương, các bà mẹ trẻ bồng con đưa lên thật cao, coi như họ trình lên một mẫu giấy thông hành sống là các chú bé con lai mà cha của chúng là một anh lính Mỹ da trắng hay da đen tóc nâu hay tóc đỏ nào đó… Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến canh gác vẫn bình thản và lạnh lùng dùng báng súng đẩy đẩy họ ra.
Một cảnh tượng thiểu não khác đã xảy ra bên lề đường. Tướng Đặng văn Quang, mà mọi người đều tố cáo là kẻ cầm đầu đường dây buôn lậu ở Miền Nam, lại không được có tên trong danh sách di tản do Hoa Kỳ thiết lập. Khi ông ta đến trình diện trước cổng tòa đại sứ, binh sĩ canh gát đuổi ông ra. Ông mới chạy lại gặp nghị sĩ Nguyễn văn Ngãi để van nài giúp đở ông ta được trực thăng bốc đi. Có ai ngờ được, một ông cựu cố vấn quân sự của Tổng Thống, một người đầy ngạo mạn và kiêu căng chểm chệ tác oai tác phúc hằng mấy năm liền ở Dinh Độc Lập, giờ đây chỉ còn là một đống mỡ run rẩy vì sợ sệt. Ông ta hết lạy van, cầu khẩn rồi lại viện dẫn đến mạng sống của vợ con và của chính bản thân ông sẽ bị cộng sản giết v.v… xuống nước, kính cẩn, khúm núm van xin.. Động lòng thương hại, nghị sĩ Ngãi đưa ông ta cùng đi với mình, cẩn thận không nói rõ tên họ ông ta là ai, nghị sĩ Ngãi mới đưa ông ta lên được trực thăng.
Nhìn từ bên ngoài, với đám đông người khốn khổ đang khóc lóc, kêu la, cầu xin một lối đi để ra khỏi hỏa ngục nầy, cuộc hành quân di tản nầy coi như rất ồn ào náo nhiệt và vô trật tự. Nhưng đối với những người đã được vào khuôn viên tòa đại sứ rồi , thì sẽ thấy bô máy di tản hoạt động hết sức chính xác. Các hành khách được đưa lên lầu thượng, từng toán 3 người một, đưa lên trực thăng (chở được 12 người một chuyến). Từ đó bay thẳng qua phi trường Tân sơn Nhứt. Ở đây họ được đưa vào các dãy nhà thuộc Phòng Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ, trên nóc vẫn phất phơ lá quốc kỳ Mỹ. Các dãy nhà nầy lẽ ra là mục tiêu rất tốt của cộng sản , nhưng vẫn còn nguyên xi, không hề hấn gì. Mặc dầu lửa đạn gần suốt đêm qua trong khu vực phi trường, nhưng hình như các dẫy nhà nầy được cộng sản cố ý chừa ra. Có nhiều trực thăng vận tải “Chinook” đến từng toán 4 chiếc một, mỗi toán đỗ xuống một đại đội Thủy Quân Lục Chiến trang bị đại bác không giật và hỏa tiễn chống chiến xa với đầu đạn “Tows” có hồng ngoại tuyến. Thủy Quân Lục Chiến có trách nhiệm giữ an ninh cho khắp cả vùng di tản. Mỗi chiếc “chinook” sau khi đổ Thủy Quân Lục Chiến và quân dụng xuống rồi thì bốc luôn 45 hành khách Việt Nam, xong mới bay đi.. Thời gian bay khoản 1 giờ đến các chiến hạm của Hạm Đội VII và trên 20 chiếc tàu vận tải đang đậu chờ rước họ ở 30 cây số ngoài khơi bờ biển Việt Nam ngoài tầm tác xạ của pháo binh cộng sản Bắc Việt.
Hành trình không gặp một trở ngại nào. Không có một viên đạn, một hỏa tiễn , một trái đạn pháo binh nào được bắn đi từ dưới đất lên các trực thăng to lớn đang nối duôi nhau rất đều đặn bay ra biển để đáp xuống một trong hai hàng không mẫu hạm, chiếc Hancock hoặc chiếc Okinawa, từ đó họ đã cất cánh bay vào Sài Gòn. Sau khi đặt chân xuống các chiến hạm rồi thì người Việt Nam ai cũng bị các binh sĩ Mỹ rất đứng đắn nhưng cũng rất lạnh lùng khám xét trong người thật kỹ, để được bảo đảm là họ không có mang theo vũ khí, ma túy hay các loại y dược nguy hiểm. Sau đó họ mới được chuyển xuống các thuyền cao su hay thuyền máy để đưa họ sang các tàu vận tải . Các thuyền máy nầy chạy qua chạy lại như con thoi giữa các các chiến hạm. và các tàu vận tải. Và các tàu vận tải nầy sẽ đưa họ về các trại định cư ở đảo Guam. Có nhiều chiếc tàu vận tải nầy được Hạm Đội gọi trở lại cả ban đêm để “vớt” những người tỵ nạn Việt Nam khác đang lênh đênh ngoài biển cả cách bờ biển Việt Nam hàng trăm cây số, trên các tàu đánh cá, các thuyền buồm thô sơ, có đèn đốt sáng rực, người trên thuyền dùng đuốc và đèn bấm, đèn lồng .. vừa vẫy gọi, vừa chạy lại các tàu chiến của Mỹ . Tất cả các làng đánh cá dọc theo bờ biển từ Phan Thiết đến Bình Tuy đều ra khơi và kêu cứu. Có hơn 20.000 dân tỵ nạn được đưa lên tàu và được cứu khỏi nanh vuốt của cộng sản.

° ° °

Tại Sài Gòn lưu lượng trực thăng của Mỹ vẫn tiếp tục đều đặn, không ngừng.. ồ ạt bay suốt buổi chiều. Trước cổng tòa đại sứ Mỹ có` đến trên 20.000 người đang chen chúc nhau đứng chờ với va ly cầm ở tay, và nước mắt ràn rụa. Có một số người vào được cổng sắt và được bốc đi. Có nhiều người dí hằng xấp đô la vào mũi các anh Thủy Quân Lục Chiến Mỹ nhung họ vẫn lạnh lùng không lay chuyển. Có hằng trăm xe chở đầy người mở còi nhấn kèn inh ỏi chạy vào phi trường Tân sơn Nhất, nhưng không có một chiếc phi cơ nào cất cánh. Và trước cổng phi trường quân cảnh đã có thiết lập một hàng rào cản có bố trí súng liên thanh.
Lại có hằng ngàn người chạy xuống bến cảng để cố gắng nhảy theo các tàu chiến, tàu buôn hay xà lan hoặc bất cứ một chiếc thuyền nào đó để chạy khỏi thành phố nầy bằng đường sông.
Có khoản 200 người vừa sĩ quan vừa công chức hay con buôn xuống được một chiếc tàu hàng còn tốt đang nhổ neo lúc 3 giờ chiều để chạy ra biển. Họ không đi xa hơn được Vì vừa mới qua khỏi Nhà Bè thì chiếc tàu bị trúng đạn pháo, nổ tung và chìm. Những người may mằn còn sống sót lội vào bờ lại bị cắt cổ hoặc bị súng liên thanh bắn chết hết. Dĩ nhiên đô la và vàng họ mang theo đều bị vét sạch.
Vào cuối buổi chiều thì tướng Trần văn Đôn và con trai ông ta, một bác sĩ, được một chiếc trực thăng bốc đi. Trước đó vài giờ, rất lịch sự như ông đã nổi danh, ông đã đến từ giã vị Đại sứ Pháp… và luôn tiện cũng để nhận thông hành Pháp của ông. Ông M. M. Mérillon cũng đã có một vài lần nhờ vã đến tướng Đôn.. Từ nhiều tháng qua, và nhất là trong cơn khủng hoảng của Chánh Phủ vừa qua, tướng Đôn được coi như là một phụ tá rất đắc lực cho hoạt động trung gian chánh trị của người Pháp. Ông đã trực tiếp thúc đẩy tướng Dương văn Minh đi tới, và trước Quốc Hội lưỡng Viện ông đã có một buỗi thuyết trình quá thảm hại về tình hình quân sự. Có một lúc nào đó, ông M. Mérillon đã mong muốn đẩy ông Đôn vào ghế Thủ Tướng của ông Minh. Hôm chiều thứ hai, chấn động vì sự chống đối nhau giữa các trung tâm chánh trị của Miền Nam , tướng Đôn đã có ý định tự tử. Nhưng sau đó được giới thân cận lên giây cót an ủi…nên cuối cùng đã quyết định nhờ Mỹ đưa đi., Trước khi lên trực thăng, tướng Đôn đã nói với toán binh sĩ cận vệ của ông , những người đã không rời khỏi ông nửa bước, rằng:
“Tôi bắt buộc phải ra đi thôi, vì nếu bọn cộng sản mà tóm được tôi thì tôi sẽ bị bọn chúng hành quyết ngay. Còn các anh, các anh chỉ là cấp nhỏ, các anh chẳng có gì nguy hiểm hết… và các anh có thể lẫn lộn được trong dân chúng.”
Mấy anh binh sĩ nầy với gương mặt rắn rõi, nắm chặt tay lại buồn bã nhìn chiếc trực thăng cất cánh mang theo ông cựu tổng trưởng Quốc Phòng của mình lòng nặng triệu không biết vì tức giận hay vì khinh bỉ…
Không phải chỉ có một tướng Trần văn Đôn là sĩ quan cao cấp đã rời khỏi Miền Nam Việt Nam. Đã có gần 60 vị tướng lãnh khác ra đi như vậy. Như trung tướng Vĩnh Lộc, mới vừa sáng hôm qua đây đã từng kêu gọi binh sĩ “đừng có trốn chạy như chuột” ; như tướng Bùi thế Lân, một vị chỉ huy của Thủy Quân Lục Chiến , một người hùng đã rút quân bằng đường bộ từ Đà Nẵng về Sài Gòn vừa lui binh vừa đánh du kích ; như trung tướng Trưởng, Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật; tướng Thắng, thuộc binh chủng Pháo binh, một cử nhân toán học và vô địch cờ, như tướng Toàn, tư lệnh Vùng III Chiến Thuật, người đã giữ vững trong 4 tuần lễ mặt trận Miền Đông của Sài Gòn; như tất cả các giám đốc An ninh và Tình Báo Quân sự, như vị Tư lệnh Không quân; như tướng Lưỡng thuộc sư đoàn Nhảy Dù, người luôn luôn được binh sĩ của mình ái mộ…. và tướng “thần phong” râu kẽm Nguyễn cao Kỳ, người đã từng thề sống chết với khẩu súng trên tay, và người đã chê Tổng ThốngThiệu là quá nhát gan….
Tuy nhiên, cũng có một số người đã thẳng thừng từ chối không rời khỏi vị trí chỉ huy và binh sĩ của mình khi được các tùy viên quân sự của tòa đại sứ Mỹ trực tiếp liên lạc hay kêu gọi qua điện đài. Đó là tướng Nguyễn khoa Nam, người cò trách nhiệm phòng giữ Đồng bằng sông Cửu Long, tướng Lê minh Đảo, Tư lệnh sư đoàn 18 bộ binh, người đã giữ vững Xuân Lộc và là người đã trả lời:”Các binh sĩ của tôi đã hăng say chiến đấu, làm sao tôi nỡ bỏ họ được để đi trong lúc họ rất cần sự có mặt của tôi bên cạnh họ?” tướng Lý tòng Bá, người chống giữ mặt trận phía Bắc, một tướng Kỵ binh Thiết Giáp, tướng Lê nguyên Vỹ, người đã chiến đấu với phần còn lại của sư đoàn 5 bộ binh ở Trãng Bom, tướng Phú đang bị phạt giam , người đã tuyên bố với vị Cố vấn Hoa Kỳ khi ông nầy đến tìm rước ông đi:
– “Tổng ThốngThiệu đã chà đạp danh dự tôi khi ông công khai đổ lỗi cho tôi về chuyện mất Cao Nguyên Trung Phần….. và ông ta đã ra đi như một người du lịch với những chiếc va ly mà ông đã soạn sẳn…. Nhưng phần tôi, tôi sẽ ở lại, tôi sẽ tự tử và máu của tôi sẽ rơi trở lại vào lưng ông ta. Tôi chỉ còn có một cách đó để đính chánh lời cáo buộc của ông ta mà thôi”

° ° °

Thủ đô Sài Gòn đã về đêm. Ở vài cây số về hạ lưu sông Sài Gòn , để tránh những kẻ tò mò, có mấy chiếc tàu sà lan đang bốc hằng ngàn người toàn là đàn bà và trẻ con thuộc gia đình của anh em Hải Quân. Các sà lan nầy được các tàu lớn kéo đi, có thuyền máy võ trang hay các tàu phóng ngư lôi hộ tống ra biển, ở đó có trên 30 chiếc tàu đang chờ họ. Tất cả các tàu chiến thuộc các đơn vị lớn của Hải Quân Miền Nam Việt Nam đều rút hết về đảo Guam. Trong bầu trời tối đen như mực của thủ đô, những chiếc trực thăng Hoa Kỳ với đầy đủ đèn hiệu sáng rực của mình đã dùng đèn pha chiếu thẳng thành những vệt dài sáng rực cắt đứt hẳn màn đêm. Ở dưới đất thì những cọc tiêu và những đèn rọi đánh dấu các nóc nhà mà trực thăng sẽ đáp xuống bốc người đi. Trên các sân thượng khác lại có những kẻ đau khổ lo âu đang đốt những cuộn giấy hay giẽ có tẩm dầu. họ hy vọng lửa sẽ dẫn dụ được những con chim sắt khổng lồ đến bốc họ ra khỏi nỗi lo sợ của họ và đưa họ ra khơi… cốt chạy khỏi bọn cộng sản …. nhưng vô hiệu.
Đại sứ Graham Martin, người đánh giá cuộc hành quân di tản như là một việc “không ra gì” thì muốn ở lại Sài Gòn và chết ở đó. Ông ta chỉ phải rời khỏi thành phố nầy lúc 4 giờ sáng theo lệnh bắt buộc của Kissinger. Với một tâm trạng đảo điên, quá mệt mỏi (ông thức suốt 72 giờ liền), ông đáp xuống hàng không mẫu hạm “Blue Ridge” đang nằm chờ ông xa tít ngoài biển cả… sau đó ông vào phòng đóng cửa lại ngay để không cho ai thấy được nỗi thất vọng của mình.
Những binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến cuối cùng ra đi vào lúc rạng đông sau khi đã phá hủy hết các dụng cụ điện tử ở tòa đại sứ và không quên mang theo lá quốc kỳ.
Mười tám ngày sau khi di tản khỏi Phnom Penh, Hoa Kỳ lại rời khỏi Việt Nam bỏ lại một thành phố Sài Gòn mặc cho nỗi lo sợ và những tai họa sẽ dồn dập đến với nó. Hoa Kỳ chỉ có để lại nhà trống, vài nhà báo (vì họ muốn ở lại) và khoảng 50 người có quốc tịch bị bỏ quên.Tức khắc các nhà đó đều bị cướp phá.
Trong khi còn những ánh lửa đỏ rực bay trên nền trời thủ đô và các vùng chung quanh thành phố, đã có hàng trăm hàng ngàn người, vừa đàn ông đàn bà và trẻ nít đua nhau “làm thịt” tất cả các vật dụng chết của tất cả các nhà vô chủ thuộc người Mỹ trong dĩ vảng…. Từ những chiếc nệm giường, tủ lạnh, máy đánh chữ, máy giặt máy sấy, máy rửa chén, máy thâu thanh, truyền hình, máy ảnh, máy quây phim, quạt trần, quạt máy, điện thoại, cho đến từng cuộn giấy vệ sinh… thượng vàng hạ cám không bỏ sót một vật gì, vì món nào cũng là tốt… xài được hết. Từ trước đến giờ lúc nào Chánh Phủ cũng nghiêm cấm mọi hành động cướp bóc, và tuyên bố là sẽ xử bắn tại chỗ những kẻ hôi của cướp bóc. Nhưng bây giờ thì những người lẽ ra có bổn phận phải xử bắn kẻ cướp lại đi về hùa với kẻ cướp để kiếm chút chiến lợi phẩm cho mình.
Từ bên lề cuộc hành quân di tản ồ ạt của người Mỹ, từ những người quá thất vọng cứ điên cuồng chạy rong cùng khắp, từ những tiếng gằm thét của pháo nặng 130 ly Bắc Việt đang nã vào xóm làng công giáo ở Hố Nai và những vùng lân cận, trong những giờ phút cuối cùng của ngày thứ ba cuối tháng 4/75 nầy, Sài Gòn đã sống trong một hậu trường chánh trị quá sôi động, không đo lường nổi một lối thoát khó tránh được của biến cố, nhưng nhờ vậy người ta mới có thể thấy và hiểu thêm được không khí lố bịch trong địa hạt chánh quyền mấy giờ trước khi Sài Gòn bị thất thủ.
Một nhóm người bất mãn qui tụ các vị lãnh đạo giáo phái, một số đại tá trẻ có liên lạc với các đơn vị còn đang chiến đấu và Phó Đô Đốc Chung tấn Cang Tư Lệnh Hải Quân… không tin tưởng khả năng và cơ may của tướng Dương văn Minh có thể đi tới cuộc thương thuyết được với bọn cộng sản . Họ sẳn sàng đứng lên lật đổ tướng Minh để phòng thủ Sài Gòn và vùng Đồng Bằng sông Cữu Long và tổ chức kháng chiến với bất cứ giá nào. Họ cũng đã có dự trù sẵn một người để thay thế tướng Minh nếu cần.
Vào hồi 12 giờ 5 phúr trưa rgày thứ ba 29 tháng 4 nầy, một đoàn xe 3 chiếc Jeep với 12 binh sĩ đã hộ tống Phó Đô đốc Chung tấn Cang có ủy quyền của các đơn vị còn đang chiến đấu và một đại diện có thẩm quyền của Phật Giáo Hòa Hảo thay mặt cho các giáo phái ở Miền Nam, đã đến gặp tướng Minh tại nhà riêng của ông ta.
Phó Đô đốc và vị lãnh đạo giáo phái hùng mạnh Phật Giáo Hòa Hảo ở miền Tây đã vào tới phòng khách lớn của tướng Minh. Ông ta đang chờ hai vị nầy ở đó, có vẻ rất mệt mỏi, với cặp mắt đầy âu nhấp nháy của một người hoàn toàn vừa bối rối vừa mất ngủ từ hai ngày nay. Ông ta quá xúc động và bất ngờ về chuyện cộng sản ném bom vào phi trường chiều ngày hôm qua. Ông thú thật với hai người khách:

-” Tôi rất nản lòng. Tôi đã nhận được những bảo đảm từ phía “bên kia”, đại sứ Pháp đã xác nhận với tôi là Chánh Phủ Pháp đã có một kế hoạch “hòa bình”, và tôi sẽ có một thời gian là 6 tháng để thương thuyết. Ông ta đã thúc đẩy tôi phải từ chối không nhận chức vụ Thủ Tướng và phải cố đòi cho được ghế nguyên thủ quốc gia . Tôi đã theo đúng những lời khuyên bảo của ông ta. Tôi lại còn thỏa thuận để soạn thảo với ông ta một bản tuyên bố nói rằng “nước Pháp phải giữ một vai trò quan trọng trong tiến trình tái lập hòa bình” ở đây. Và sau đó thì có cuộc dội bom. Chỉ một vài phút sau khi tôi nhận nhiệm vụ. Thật là một điều lăng nhục không thể chịu được. “
Tướng Minh lắc đầu hai ba lần và chua chát ông nói tiếp:
– “Ông Mérillon không còn lý gì đến tôi nữa! Ông ta đã đến đây gặp tôi sáng nay. Và đây là tất cả những gì mà ông có thể nói được và nhắc lại với tôi: “rằng ông ta không còn một giải pháp chánh trị nào nữa hết…., không còn kế hoạch nào nữa hết.. và rằng các đơn vị cộng sản Bắc Việt đã tiến đến rất gần thủ đô rồi và rằng chỉ còn cách tốt nhất là nên đơn phương ra lệnh cho bên mình ngưng bắn mà thôi.” Đó là tất cả những gì đại sứ Pháp đã nói với tôi sau khi đã bảo đảm với tôi trong bao nhiêu ngày liên tiếp rằng kế hoạch của nước Pháp đã được “phía bên kia” chấp thuận rồi!”
– Và ông đã trả lời cho ông ta ra sao? Phó Đô Đốc hỏi
Tướng Minh nhỏm dậy một lúc, cặp mắt đờ đẫn;
– ” Tôi đã nói là: tôi không thể ra lệnh cho binh sĩ đầu hàng vô điều kiện như vậy được . Trái hẳn với danh dự… Dù sao thì tôi cũng từng là sĩ quan của quân đội Pháp”
Vị lãnh đạo Phật Giáo Hòa Hảo xẳng giọng chen vào:
– “người Pháp là người Pháp. Còn ông là người Việt Nam, là nguyên thủ quốc gia và có trách nhiệm với tương lai của đất nước. Ông đã nói với Tổng Thống Hương, và mới đây ông cũng đã nói với chúng tôi là ông đã có nhận được bảo đảm của “phía bên kia”. Vậy ông đã có liên lạc gì với cộng sản , và họ đã bảo đảm với ông những gì?
Tướng Minh dụ dự một lúc hình như ông muốn nói ra, nhưng sau đó ông cứng rắn trả lời
– “Tôi không thể cho ông biết những chi tiết ngay bây giờ được”.
Vị đại diện của Phật Giáo Hòa Hảo đưa một ngón tay chỉ ngay ông Minh và nói gần như tố cáo
– “Không phải chỉ có một mình ông thất vọng và bọn cộng sản nuốt lời đâu. Còn có sự ngầm phá hoại đê tiện của người bạn của ông, là tướng Trần văn Đôn, đối với tinh thần của quân đội và của Quốc Hội. Trước hết ông ta đã bịp Lưỡng Viện Quốc Hội để họ ra một quyết định trao quyền cho ông và cho ông có toàn quyền hành động. Ông ta đã vận động can thiệp trước khi Quốc Hội bỏ phiếu bằng cách trình bày cho Quốc Hội một bản thuyết trình gian dối về tình hình quân sự, thổi phồng lực lượng cộng sản Bắc Việt mà theo ông ta thì họ đã bao vây Sài Gòn rồi. Không duới 14 sư đoàn Bắc Việt – con số nầy ông đã lập đi lập lại nhiều lần sau đó qua điện thoại cho từng người trong lúc Quốc Hội đang thảo luận để quyết định cho lá phiếu của mình.. Nhưng các con số đó không đúng. Chỉ có vỏn vẹn 4 sư đoàn cộng sản đang trực tiếp đe dọa chúng ta từ mặt trận phía Đông. Các sư đoàn khác thì còn cách đây ba bốn ngày đường và trên đường tiến quân của họ, họ còn phải gặp 2 sư đoàn nguyên vẹn của ta còn đang chiếm giữ trận địa . Các vị trí ở hướng Bắc thủ đô được tăng cường rất mạnh. Đồng bằng sông Cửu Long vẫn chưa có hề hấn gì và chúng ta còn đến 6 sư đoàn không kể gần trăm ngàn thuộc lực lượng địa phương quân. Tướng Đôn còn từ khước không chịu cấp phát võ khí cho lực lượng Hòa Hảo, Cao Đài và công giáo khi họ muốn chiến đấu. Chúng tôi có thể cung cấp thêm hàng trăm ngàn người để chống giữ đất nước. Hãy mở cửa kho vũ khí cho chúng tôi. Hảy hiệu triệu quốc dân đồng bào. Cần phải xác nhận quyết tâm của chúng ta để phòng thủ Sài Gòn . Nếu ông muốn cuộc thương thuyết có được chút cơ may thắng lợi, thì chớ nên ra lệnh vứt súng xuống hay nói rằng chúng tôi đã ngừng bắn rồi! Nếu ông không muốn kháng cự nữa thì hãy nhường chỗ lại cho một nội các cứu quốc, hoặc là quân nhân và các giáo phái chúng tôi sẽ tiến hành một cuộc đảo chánh.”
Tướng Minh ra vẽ suy nghĩ. Hiển nhiên là ông đã đi sau tình hình rồi. Ông nhìn Phó Đô đốc Cang như hỏi ý .

Phó Đô đốc Cang khẳng định:
– “Quân đội không muốn đầu hàng!
– Tôi cũng không muốn như vậy. Tôi là một quân nhân, và tôi không sợ chết. Và tôi rất chán cái màn hài bịch nầy lắm rồi. Bây giờ thì tôi thấy là tôi đã bị lừa, và người ta đã lợi dụng tôi! Tôi sẳn sàng rút lui, với điều kiện là phải tìm được một cái đầu thật sự biết làm chánh trị.
Vị đại diện Phật Giáo Hòa Hảo đưa ngay lá bài ra:
– “Đây, cái đầu đó có đây rồi:đó là ông thủ tướng Trần văn Hữu. Các giáo phái sẽ ủng hộ ông ta vì ông ta luôn luôn có một đường lối chánh trị khoan dung đối với họ. Các sĩ quan sẽ theo ông vì chính ông đã thành lập quân đội quốc gia năm 1951, khi ông ta là Thủ tướng của nước Việt Nam. Bộ chánh trị của Hà Nội biết ông ta và đánh giá cao ông ta. Ông ta là một nhân vật của Quốc Gia có kinh nghiệm và là một người Miền Nam chính cống. Hãy kêu gọi ông ta!
Ông Minh có vẻ nghe theo đề nghị nầy. Và ông nói với một giọng thành thật:
– “Tôi biết ông ta nhiều .Tôi đã từng là sĩ quan tùy viên của ông. Tôi kính trọng ông. Và tôi biết là các công chức vẫn giữ nhiều kỷ niệm tốt về ông: vào thời kỳ ông làm Thủ tướng, mọi người đều được trả lương hậu hỹ và đồng bạc Việt Nam rất có giá.
Phó Đô đốc Cang tiếp lời;
– “Vậy thì hãy gởi cho ông một công điện đi.
Tướng Minh gật đầu và nói;
– “Rất đồng ý. Tôi sẽ tuyên bố trên đài phát thanh và đài truyền hình trong một giờ nữa. Chúng ta hãy cùng nhau thảo bản tuyên bố nầy đi.”
Bản tuyên bố viết: “Tôi yêu cầu ông Thủ Tướng Trần văn Hữu, một người yêu nước chân thành và đáng kính, hãy chấp nhận lãnh đạo đất nước và đưa đất nước đến con đường hòa bình chân chính và trong danh dự.”
Lúc nầy đã 13 giờ hơn. Hai người khách của ông Minh đứng dậy. Ông Minh tiễn họ ra ngoài cổng, thân mật bắt tay và còn nói:
– “Tôi sẽ tuyên bố công khai, Tôi hứa với các ông như thế”
Phó Đô Đốc Cang trả lời:
– “Phần tôi, tôi sẽ lo các chuyên viên truyền hình và truyền thanh để phối hợp loan báo lời tuyên bố của ông”.
Phó Đô Đốc Cang và vị đại diện Phật Giáo Hòa Hảo sau đó đi ngay đến Bộ Tư Lệnh Hải Quân . Phó Đô Đốc gọi ngay được các chuyên viên cần thiết cho công tác truyền thanh và truyền hình. Vào lúc 14 giờ trưa thì tất cả sự bố trí về mặt kỹ thuật và chuyên viên đều đã sẳn sàng.
Nhưng, tướng Minh không đến.
Thật ra, sau khi ông bắt tay từ giả 2 người khách, thì ông bước ngay sang phòng bên cạnh với những người cộng sự chánh yếu của ông là Thủ tướng Vũ văn Mẫu và Tổng trưởng Thông Tin Lý quý Chung, những người nầy đã ngăn không cho ông trao quyền lại cho ai hết. Nhất là ông Vũ văn Mẫu, đặc biệt đã tỏ ra rất là cay đắng khi ông xác nhận:
– “Tất cả các điều kiện của họ chúng ta đã thực hiện, để có thể mở ra một cuộc nói chuyện với “phía bên kia”. Người Mỹ đã đi khỏi nước Việt Nam hết rồi. Tôi đã loan báo là tất cả bộ máy hành chánh từ trung ương đến địa phương sẽ nhanh chóng được cải tổ để cho hợp với một chế độ tự do thật sự. Ông Trần văn Hữu ở tận Ba Lê, mà không có một phi cơ nào có thể hạ cánh lúc nầy được .Chúng ta có chánh quyền và chúng ta phải giữ nó. Phía những người cách mạng sẽ chấp thuận thương lượng cho một thỏa ước. Tôi tin chắc như vậy.”
Trong cuộc thương thuyết mà ông dự trù với “phía bên kia”, ông Vũ văn Mẫu định xử dụng lá bài chủ : “sự ra đi của tất cả người Mỹ”, điều mà ông ta đã bắt buộc họ phải rời khỏi nước Việt Nam . Nhưng khổ cho ông, là ông không hề biết là con bài đó đã không còn nằm trong tay ông nữa. Vì “người Mỹ phải rút hết khỏi nước Việt Nam ” đã là đề tài của một thỏa hiệp bí mật giữa Hoa Thạnh Đốn và Hà Nội từ lâu rồi!
Tại Bộ Tư Lênh Hải Quân, Phó Đô Đốc Cang vẫn tiếp tục chờ đợi…Đã hai lần ông cố gắng gọi tướng Minh, nhưng cả hai lần, ở Dinh Độc Lập và cả ở tư dinh người sĩ quan tùy viên đều mhanh nhẩu trả lời lạnh lùng: “Ông Trung tướng Tổng Thống không có ở đây”!
Đến 16 giờ, Phó Đô Đốc Cang mới quyết định báo động cho đại sứ Pháp để nhờ ông chuyển về Ba Lê qua hệ thống vô tuyến điện, lời mời của trung tướng Dương văn Minh đến ông Trần văn Hữu. Nhưng tổng đài điện thoại của Tòa Đại sứ trả lời là “ông Đại Sứ đang bận họp” Phó Đô Đốc Cang gọi lại 3 lần nhưng cả ba lần đều nhận được câu trả lời thoái thác tương tự, có nghĩa là họ không muốn tiếp.
Bực tức và phẫn nộ, Phó Đô Đốc Cang gác điện thoại xuống một cách giận dữ và tức tối càu nhàu:
– “Cái anh mất dạy Mérillon nầy (nguyên tác “Ce salot….de Mérillon”) không muốn dính vào nữa rồi đây. Khi mà mọi việc êm xuôi thì ông ta đi đến đây ngay để gặp mình, hay cho xe riêng đến đón mình. Bây giờ thì anh lại nhờ một anh “lon ton” đưổi khéo mình!”
Còn vị đại diện Phật Giáo Hòa Hảo thì rời khỏi Bộ Tư Lệnh Hải Quân đi thẳng tới gặp các thành viên của mình đang họp tại một biệt thự gần nhà ga Sài Gòn . Vào buổi chiều ông điện thoại cho Phó Đô Đốc Cang, nhưng ông nầy đã rời khỏi Bộ Tư Lệnh để đi tổ chức cho các tàu chiến của mình rút ra biển. Liên lạc giữa 2 người mất từ lúc đó.
Đến 9 giờ tối, vị đại diện Phật Giáo Hòa Hảo nầy lại đến nhà tướng Minh ở đường Chasseluop Laubat một lần nữa. Nhưng ông thấy vị nguyên thủ quốc gia Miền Nam lúc bấy giờ lại tỏ ra đần độn hơn buỗi trưa nay nữa:
– “Tôi chẳng biết làm gì bây giờ. Nhưng tôi không thể nào ra đi lúc nầy. Tôi phải ngồi lại cho đến cùng…. để bảo vệ dân chúng và thủ đô khỏi bị tàn phá.”
Vị đại diện Phật Giáo Hòa Hảo buông ra một câu hơi chối tai:
– “Ông là người không biết giữ lời hứa. Ông không có đến đọc lời tuyên bố của ông trên đài phát thanh. Nhưng ông còn có thể làm việc đó. Ông hãy bốc điện thoại lên và gọi ngay ông Hữu ở Ba Lê. Ông dừng có do dự nữa…
Tướng Minh nhún hai vai:
-“Đã quá muộn rồi ! người Mỹ đã cho nổ trung tâm điện đài hồi trưa nay rồi….
– Ông hãy nghe đây, vị đại diện giáo phái đáp lại ngay, hồi sáng nay ông đã từ chối không chịu nói cho chúng tôi biết ông đã bắt liên lạc với những ai ở “phía bên kia”. Bây giờ Phó Đô Đốc Cang không có ở đây. ông không phải bối rối về chuyện “mất thể diện” nữa . Ông phải giải thích rõ cho chúng tôi. Ông hãy nói cho tôi biết ai trong số những người của ông ở đây đã có đủ tư cách đi bắt liên lạc với “bên kia” và họ đã nói chuyện với ai?
Tướng Minh do dự một lúc lâu và sau đó tuông ra hết:
– “Đó là con tôi, thằng Đức, nó đang là sinh viên khoa chánh trị , nó đã gặp Võ văn Sung, đại sứ Bắc Việt ở Ba Lê. Ông Sung đã nói với con tôi là Hà Nội và CPLTCHMN không có gì chống đối tôi hết và họ chấp nhận sẽ thương thuyết với điều kiện là trên căn bản của sự thi hành Hiệp Định Ba Lê “
Vị đại diện Phật Giáo Hòa Hảo bực tức thốt lên:
– Nhưng đó là trò trẻ con! Con của ông không có một tư cách chánh thức nào cả. không có một sự ủy nhiệm nào hết để mà bàn cãi với cộng sản . Và ông đã căn cứ vào một phúc trình đơn giản của một cuộc nói chuyện riêng tư để làm việc! Ông đã thực hiện cả một chuỗi dài hành động chánh trị, ông đã làm áp lực với Tổng Thống Hương và lưỡng viện Quốc Hội để đưa họ vào con đường vi phạm Hiến Pháp , ông đã lừa bịp dân chúng Việt Nam và trước dư luận quốc tế bằng cách bắn tiếng là ông đã nhận được những bảo đảm của “phía bên kia”. trong lúc ông không có được trong tay một mảnh giấy lộn nào từ “phía bên kia”! Bản thân ông cũng chưa bao giờ gặp được một nhân vật chính thức nào của phía “bên kia”.
Ông Minh còn cố chống chế:
– “Không phải chỉ có một mình con tôi, Tôi đã nhận được những khuyến khích từ ông đại sứ Pháp Mérillon, nhân danh Chánh Phủ của ông và những chuyên viên ở Phủ Thủ tướng Pháp.
– “Và bây giờ thì ông ta bỏ rơi ông như một cái bị rách?”
Tướng Minh chấp nhận và đưa nắm tay lên tức tối:
– “Đúng vậy, tất cả đều rất đúng…. Ông ta chả cần biết việc gì sẽ xảy ra nữa ! Nhưng mà bây giờ tôi không có thề lùi được nữa rồi. Tôi đã cam kết là sẽ tiến tới cuộc thương thảo. Và tôi sẽ gánh hết trách nhiệm của tôi.. Những người có trách nhiệm ở phía bên kia bắt buộc phải nghĩ đến một Chánh Phủ hòa hợp quốc gia.”
– “Nhưng cuối cùng, xin ông cho biết xem ông trông chờ những gì ở người cộng sản ? Ông cũng biết rõ là từ chiều hôm qua, đài phát thanh Hà Nội nhắc đi nhắc lại không ngừng là CPLT CHMN và Bắc Việt không muốn bàn thảo gì với bất cứ người nào đã từng ở trong “tập đoàn Diệm – Thiệu”. Và như ông đã biết đó ;vị Phó Tổng Thống của ông lại là Chủ Tịch Thượng Viện của Tổng ThốngThiệu. Vị Thủ Tướng của ông đã từng là Tổng trưởng ngoại giao của Tổng Thống Diệm trong suốt 9 năm liền. Và bản thân ông cũng đã là cố vấn quân sự của ông Diệm!”
Tướng Minh có vẽ sững sốt:
– Ở đâu lại có câu chuyện phát thanh đó vậy?
– Ông đừng đùa nữa. Làm như ông không có bắt đài phát thanh Hà Nội nghe vậy ? chuyện sơ đẳng quá mà ! Chỉ cần có nghe là sẽ thấy những gì tôi nói là đúng hết. Cứ mỗi 15 phút là xướng ngôn viên nhắc lại cái tối hậu thơ đó. Đây nầy…
Vừa nói xong vị đại diện Phật Giáo Hòa Hảo liền đứng phắt dậy, đi lại máy thâu thanh để trên bàn và vặn kim điều chỉnh đài. Một bài hát cách mạng nổi lên, tiếp theo đó là thông báo các chiến thắng, kế tiếp là tiếng nói đanh thép của xướng ngôn viên Bắc Việt đọc một bản thông cáo:
-” CPLTCHMN không sẵn sàng để thương thuyết. Nguyễn văn Thiệu đã bỏ chạy. nhưng những người thay thế hắn, được biết là tập đoàn Minh – Huyền – Mẫu vẫn còn ngoan cố vừa lớn tiếng kêu gọi quân đội tiếp tục chiến đấu, nhằm giữ vững lãnh thổ còn lại, vừa đòi hỏi phải có thương thảo. Thật quá rõ ràng là tập đoàn nầy đang ngoan cố tiếp tục muốn kéo dài chiến tranh với hy vọng là giữ lại bọn thực dân mới Hoa Kỳ . Nhưng họ đừng có hòng đu đưa trong ảo vọng! Họ không có đại diện cho ai được hết và không lừa bịp được ai đâu.“
Xem chừng như tướng Minh rụng rời cả chân tay… ông thều thào:
– Tôi không biết được chuyện nầy, Không có ai báo cáo cho tôi biết chuyện phát thanh nầy hết .”
– Bây giờ thì ông đã biết rồi đó, vị đại diện Phật Giáo Hòa Hảo vừa nói vừa đứng lên. Chỉ có một chuyện duy nhất mà cộng sản đang chờ ở ông, đó là “đầu hàng không điều kiện.” Không cần phải mất sức để nói chuyện với ai nữa hết mới đi đến chuyện đầu hàng! Phần chúng tôi, trong bất cứ trường hợp nào, chúng tôi cũng không thể nào buông súng xuống được “.
Trong lúc vị đại diện các giáo phái đi ra cửa, mất hút trong bóng tối của một hành động bí mật mới nào đó thì ông Minh ngã người trong ghế dựa xét đi xét lại với một tinh thần bấn loạn. Có một chuyện mà ông đã không có nói được cho người vừa đối thoại với ông. Đó là : Vào lúc trước 7 giờ tối, ông đã gởi một phái đoàn đến “trại Davis”, một doanh trại ở giữa lòng sân bay Tân sơn Nhứt , là nơi trú đóng từ tháng 2 năm 1973 của hai phái đoàn quân sự của Bắc Việt và của CPLTCHMN thuộc Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên (và sau nầy là Hai Bên), với nhiệm vụ kiểm soát sự ngưng bắn theo Hiệp Định Ba Lê.
Nhưng các sĩ quan cộng sản đã từ khước không chịu tiếp phái đoàn đại diện của tướng Minh., làm cho họ phải qua đêm đến sáng sớm hôm sau trong một hầm trú ẩn.
Ông Minh cũng không dám cho vị đại diện các giáo phái biết là trong suốt hai cuộc hội kiến với ông ta trong ngày, vị đại sứ Pháp lúc nào cũng có mặt ở ngay phòng bên cạnh. Ông Jean Marie Mérillon đã ở nhà tướng Minh gần suốt ngày thứ ba nầy . Ông ta chỉ vắng mặt có một lúc khi ông phải đi vào Tân sơn Nhứt với một vị Tổng trưởng của ông Minh. Các đại diện cộng sản ở đó đã xác nhận với hai người là
“trong trường hợp tướng Minh ra lệnh cho quân đội Miền Nam ngừng bắn thì chừng đó cộng sản mới sẽ không bắn vào thủ đô Sài Gòn nữa.”
Đại sứ Pháp đã chuyển câu trả lời đó cho tướng Minh và hối thúc ông Minh sớm có quyết định. Tối hôm đó, Tổng Thống Minh ngã người xuống ghế trường kỷ, nằm thao thức suốt đêm trước bể nuôi cá của mình, nhìn cặp mắt tròn xoe của con cá để tự xét lại hành động của mình trong thời gian qua…

Việt Nam Quê Mẹ Oan Khiên

Pierre Darcourt

Dịch giả: Dương Hiếu Nghĩa

Post by Sơn râu 8 Apr 2024

23. Chương Hai Mươi Hai
Một Buổi Lễ Trao Quyền Đầy Sóng Gió

“Bớt âu lo và hy vọng”, đó là đầu đề được báo Saigon Post cho chạy tít lớn trên trang nhứt. Trưa nay, Tổng Thống Trần văn Hương sẽ trao quyền cho tướng Dương văn Minh. Các chuyên viên thảo luận với nhau về thành phần của tân Chánh Phủ . Họ đưa ra tiểu sử của ba hay bốn nhân vật nổi tiếng nhất để cùng nhau phân tích rất là khoa học.
– Luật sư Nguyễn văn Huyền, vị Phó Tổng Thống vừa mới được bổ nhiệm sẽ mang đến cho tướng Minh một sự kết hợp của khối giáo dân ở Miền Nam.
– Ông Vũ văn Mẫu, như ông đã từng nói với tôi gần ba tuần lễ nay, hôm nay là Thủ Tướng. Ông ta sẽ đòi hỏi sự ra đi tức khắc của người Mỹ như ông đã từng xác nhận với tôi chăng?
– Lý quý Chung, thủ lãnh của nhóm “tranh đấu trẻ” sẽ là Tổng trưởng Thông Tin.
Giao quyền cho tướng Minh, Tổng Thống mãn nhiệm Trần văn Hương và các dân biểu, nghị sĩ trong lưỡng viện Quốc Hội hy vọng sẽ đạt được trước nhất là một sự ngưng bắn. Sau khi tránh khỏi sự giao tranh rồi, thì sẽ tiến tới những cuộc thương thảo để đi đến một thành phần Chánh Phủ “trung lập” gồm có CPLTCHMN, lực lượng thứ ba và một vài thành phần của chế độ Sài Gòn
Sự phối hợp quá hấp dẫn nầy không cần phải xem xét gì nữa. Chế độ VNCH đứng vững là nhờ vào quân đội và viện trợ Mỹ. Nhưng QLVNCH tự nó đã tan rã rồi, và viện trợ Mỹ cũng không còn nũa .
– Cái gọi là “Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam” (CPLTCHMN) thì đang ở trong một cái thế chánh trị quá mập mờ.
Họ khẳng định họ là một Chánh Phủ, tự cho mình là “đại diện chính thức cho lực lượng cách mạng của người dân Miền Nam trong “Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng” nhưng trên thực tế họ chỉ là một tấm “bình phong” giúp Hà Nội che dấu những âm mưu bành trướng mà họ đang theo đuổi.
Được thành lập từ năm 1960, qua Nghị Quyết của Chánh Trị Bộ Hà Nội, “Mặt Trậm Quốc Gia Giải Phóng” với những du kích quân mặc quần áo đen và chiến đấu bằng những khẩu súng cũ kỹ, nhưng sau bộ mặt tã tơi thơ mộng đó là cả một thực tế kinh hồn: sự hiện diện của một quân đội chánh quy hùng mạnh với những sư đoàn thiện chiến, hoàn toàn cơ giới hóa và được trang bị chiến cụ tấn công hết sức tối tân của Miền Bắc . Hà Nội không muốn thấy M TGPQG (nguyên tác tiếng Pháp: FLN: Front Liberation National) sẽ trở thành một thực thể chánh trị có thể có yêu sách được dự phần trong chiến thắng quân sự của mình; hoặc có thể nhân danh cá biệt địa phương để chống đối một sự thống nhất nước Việt Nam.
Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, 1968, có thể đã vĩnh viễn loại trừ nguy cơ nầy. Được xử dụng như những người dẫn đường và tiền sát viên trong những cuộc tấn công vào các đô thị, các du kích quân và các cán bộ chánh trị gốc Miền Nam đã bị diệt gần hết.
Cái gọi là CPLTCHMN (nguyên tác ở đây tác giả dùng danh xưng tiếng Mỹ, GRP: Goverment of Repubic Popular. Tiếng Việt, họ tự xưng là Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam ) được thành hình năm 1969, trùng hợp với những vận động đầu tiên của Hoa Thạnh Đốn và Hà Nội để giải quyết vấn đề “cái bàn vuông 4 cạnh” để thương thuyết. Bắc Việt dự kiến nhu cầu phải có 2 thành phần đại biểu để cân bằng với con số của Hoa Kỳ và VNCH.
CPLTCHMN, gồm có một số người gốc Miền Nam Việt Nam để quảng cáo, không có lực lượng quân sự mà cũng không có cả phương tiện quân sự. Lực lượng duy nhất thúc đẩy cái Chánh Phủ nầy tiến tới chính là quân đội chánh quy Bắc Việt, dĩ nhiên dưới quyền điều động và chỉ thị của Quân Ủy Trung Ương của Hà Nội.
– “Lực Lượng thứ Ba”, mà Chánh Phủ Pháp tưởng rằng họ sẽ phải có một nhiệm vụ quan trọng trong vấn đề hòa giải giữa hai Bên thù địch nhau (bên cộng sản và bên chống cộng sản), thì nó không có một thực trạng chánh trị nào cả.
Lực lượng thứ ba thực tế chưa bao giờ có một tinh thần tập thể của số đông nhân vật, đến từ khắp nơi khác biệt nhau, chia rẽ nhau vì những sự cạnh tranh sâu xa giữa họ . Những người chống đối ông Thiệu cũng như chống đối cộng sản lại hoàn toàn không có khả năng thỏa thuận với nhau về một chương trình hành động chung.
Trước hết phải ghi nhận là những người thuộc lực lượng thứ ba ở Miền Nam Việt Nam khó có thể mang nhãn hiệu “trung lập” được. Trong vài tuần lễ trở lại đây, hầu như họ không hề có một quan hệ nào với các nhóm trung lập khác được thành lập ở Ba Lê. Một trong những nhóm kỳ cựu và đáng tin cậy nhất là “Ủy Ban tranh đấu cho một Miền Nam Hòa Bình và Tiến Bộ” mà Chủ Tịch là ông Trần văn Hữu, cựu Thủ Tướng Việt Nam từ 1950 đến 1953. Hai nhóm khác nhỏ hơn, nhưng rất thân cận với những tổ chức đấu tranh do Tòa Đại sứ Hà Nội và đại diện của CPCMLTMN dựng lên, đã tỏ ra rất tích cực từ năm 1973 : Đó là “lực lượng tự do cho VN”, do đại tá Trần đình Lan, cựu trưởng Phòng Nhì thời Pháp thúc đẩy, và “lực lượng đấu tranh cho Dân Chủ và Hòa Bình” của các ông cựu Tổng Trưởng Nguyễn hữu Châu và Hồ thông Minh. Sự hợp tác giữa các nhóm nầy trên thực tế chỉ giới hạn trong việc ký tên vào một vài bản “thông cáo chung” mỗi năm mà thôi.
Tại Sài Gòn, từ lâu rồi người ta có cảm tưởng là “Lực lượng thứ ba” chạy theo nhóm tranh đấu của chùa Ấn Quang, một thành trì đối lập cực đoan với ông Thiệu. Nhưng chùa Ấn Quang cũng thường chia ra nhiều nhóm nhỏ. Cũng vì thế mà vào khoảng tháng 9 năm rồi, khi nghị sĩ Vũ văn Mẫu thành lập “lực lượng hòa giải quốc gia” thì chỉ có một khuynh hướng thiểu số của hòa thượng Thích Trí Quang, người cầm đầu nhóm Phật Tử chống Tổng Thống Ngô đình Diệm năm 1963, là ủng hộ phong trào nầy.
Cũng phải nhận định rõ thêm là về phía bà Ngô bá Thành, Chủ tịch “Phong Trào Phụ Nữ Việt Nam đòi Quyền Sống”, bà cũng chỉ có thể huy động được một số quần chúng rất là hạn chế mà thôi.
Do vậy, không thể chối cải được là mặc dầu đã lập đi lập lại nhiều lần vị trí của mình, “lực lượng thứ ba” cũng thiếu hẳn một sự kết hợp. Vào thời kỳ 1963, Tổng Thống Thiệu đã có lần đã nói rất đúng :”Chỉ có 2 lực lượng , lực lượng của chúng ta và lực lượng của cộng sản” Hai năm sau đó, chỉ vài ngày nay thôi, lực lượng thứ nhất của ông Thiệu tan dần tháng nầy sang tháng khác và hầu như sắp sụp đổ. Lực lượng thứ hai là lực lượng của cộng sản sắp sửa là lực lượng chiến thắng. Sài Gòn và chánh quyền đang ở trong tầm tay của họ.
Những bản thông cáo hay những lời tuyên bố của một vài nhân sĩ trí thức dù có thiện chí mà không có binh sĩ và vũ khí, thì cũng không thay đổi được gì đối với diễn tiến của tình hình.
Người dân Sài Gòn trước một thực tế bi thảm, chẳng còn biết phải làm gì hơn với những sự phân tách mà họ thấy là quá tầm phơ và quá trể. Họ chỉ tự hỏi có một câu: Cộng sản sẽ tiến chiếm thủ đô bằng võ lực hay họ đợi thủ đô tự đầu hàng cho đúng hình thức? Họ hy vọng mà vẫn không tin tưởng lắm là “một sự ngưng bắn có thể xảy ra trong tuần”.
Nhưng những cuộc chiến đấu khốc liệt vẫn còn đang xảy ra về hướng Đông của Sài Gòn, và thành phố Sài Gòn không bao lâu nữa sẽ có nguy cơ hứng chịu sự pháo kích của loại pháo nặng 130 ly Bắc Việt . Đã có một loạt đụng độ rất nặng ở thị trấn Long Thành (chỉ cách Sài Gòn có hơn 32 cây số) ngay nơi mà trường Kỵ Binh Thiết Giáp đang đóng ở đó.
Các chiến xa đang trực xạ với nhau với cự ly thật gần. Cách đó 20 cây số về hướng Bắc, trên con lộ Xuân Lộc, điểm chốt Trảng Bom đang sắp sửa mất. Một trung đoàn Bắc Việt và các toán đặc công cộng sản được chiến xa T.54 yểm trợ đã đánh bọc vị trí phòng thủ để tiến vào Hố Nai, nơi mà các thanh niên công giáo từ 13 đến 16 tuổi đã chống cự lại chỉ với vũ khí hư cũ và lựu đạn. Có hai nhà báo Pháp bị kẹt vào bẫy giữa cuộc chiến đấu trên dường phố tại đó: đó là anh Christian Hoche của tờ Figaro và anh Michel Laurent của hảng thông tấn Gamma, cả hai dều được xem là bị mất tích.
Anh Christian vừa mới đến Việt Nam vài ngày trước đây và tôi cũng chưa bao giờ gặp mặt được . Nhưng tôi biết rõ anh Michel Laurent, một chàng trai ốm yếu, mảnh khảnh , kín đáo ít nói, có một gương mặt thanh tao với mớ tóc dài uốn quăn không đúng cách làm tăng thêm vẻ yểu điệu của một “con mèo”. Nhưng đừng tưởng thế mà lầm! Trên trận địa dưới lằn lửa đạn, Michel bất chấp nguy hiểm vẫn giữ một sự bình tỉnh lạ thường. Phóng sự đầu tiên của anh ở Việt Nam rơi đúng vào mùa hè 1972. Tuy mới bước vào nghề, nhưng anh đã được biết đến với giải thưởng Pullizer mà anh đã nhận được ở Bengla Desh. Nhưng những anh già lão luyện cũng đang chờ hoạt động của anh rồi mới có ý kiến. Họ không thất vọng lắm ! Ngày 23 tháng 7 vào lúc sáng sớm, một toán nhiếp ảnh trong đó có Michel Laurent và Raymond Thomann đến với đơn vị Dù Việt Nam đang chạm súng ở 5 cây số phía Nam thành phố Quảng Trị lúc họ đang tiến lên tái chiếm thành phố nầy. Pháo binh Bắc Việt tập trung hỏa lực 130 ly trên quốc lộ 1, trong khi các đoàn dân tỵ nạn đang vừa tuôn chạy vừa la hét. Raymond Thomann vẫn đứng ở nơi trống trải bình tĩnh quay cảnh nầy… Các quả đạn pháo đã rơi đến gần. Các nhiếp ảnh viên khác phải phân tán tìm chổ núp phía sau những hòn đá lớn. Một quả đạn pháo rơi thật gần, làm Raymond bị thương ngã xuống.. Mình anh đầy máu, cườm tay bên trái bị cắt đứt gần nửa, đùi trái của anh bị nhiều mảnh đạn. Hai nhiếp ảnh viên Mỹ và một Úc nằm sát xuống sau những mỏm đá, không nhúc nhích. Đạn bắn quá rát. Cách đó gần 10 thước, Michel Laurent đứng bật dậy, bước qua đường trống trải rất bình tĩnh, thu nhặt các máy ảnh và máy quay của Raymond, rồi xốc nách Raymond mang đến chỗ núp.. Làm công việc cứu người nầy xong, vẫn bình tĩnh và thoãi mái anh đến tìm 2 y tá Việt Nam đến săn sóc sơ khởi cho Raymond để giúp cho anh nầy khỏi bị mất quá nhiều máu. Sau khi biết chắc là bạn mình đã được băng bó cấp thời xong, Michel trở về phía sau, chận xe của một nhà báo da đen thuộc thông tấn xã AP (Associates Press) vừa chạy đến, nhưng xe anh nầy không chịu ngừng , anh lại chận được một xe Jeep của một trung sĩ Dù, đặt Raymond lên băng sau với tất cả dụng cụ máy móc của anh ta và tin chắc rằng anh sẽ được tản thương bằng trực thăng về Đà Nẵng. Sau đó anh mới lấy lại dụng cụ thu hình của mình, bình thản đi trở lại mặt trận, để tiếp tục công tác của anh.
Hai tháng sau, khi ra khỏi bệnh viện, Raymond Thomann gặp lại Michel Laurent trên quốc lộ dẫn đến An Lộc, lúc nào cũng thoải mái… ở giữa những tiếng nổ của bách kích pháo và rốc kết…
Sáng hôm qua, ở Hố Nai, cũng như anh đã ở Quảng Trị, Michel đã tự mình tiến qua vùng lửa đạn để tiếp cứu một người bạn khác đang bị thương… và anh đã bị mất tích trong đám khói lửa mù của đạn pháo. Miễn là vận may thường ngày ngạo mạn của anh đừng bỏ anh…
Những tin tức từ mặt trận đưa về không được vui lắm. Tân Uyên, một quận lỵ nhỏ cách căn cứ Không Quân Biên Hòa khoảng chục cây số đã bị pháo binh Bắc Việt biến thành một đống tro. (2000 quả pháo trong 3 tiếng đồng hồ). Biên Hòa đã có lệnh giới nghiêm 24 trên 24 giờ. Ở 5 cây số về hướng Đông Bắc của Sài Gòn, trực thăng đã tiêu diệt bằng rốc kết và liên thanh một đơn vị nhỏ đặc công Bắc Việt trong lúc họ đang cố phá một chiếc cầu. Cách đó khoảng 4 cây số về hướng Đông là trung tâm Thành Tuy Hạ, kho đạn dược chính của quân đội Miền Nam, không xa Cát Lái bao nhiêu, một căn cứ hải vận trên bờ sông Sài Gòn . Nếu cộng sản làm chủ được khu nầy thì tình hình sẽ không còn hy vọng gì cho quân đội Miền Nam Việt Nam . Có nhiều tàu chiến của giang đoàn đã cho đổ bộ lên đây 3 đại đội Thủy Quân Lục Chiến để họ bám trụ ở đây.
Vào lúc 9 giờ sáng, tôi đi theo xa lộ Biên Hòa. Một đoàn xe trên một chục chiếc thiết giáp bắn tạc đạn 105 ly, có thiết vận xa M113 dẫn đầu chở đầy bộ binh trên đó đang trên đường ra trận tuyến.. Cảnh sát dã chiến được bố trí với súng liên thanh trong các hố dọc bên đường. Trước cầu sông Đồng Nai, cách 25 cây số về phía Đông Bắc Sài Gòn , quân đội đã dựng lên một hàng rào cản. Phía bên kia hàng rào cản nầy là an ninh không được bảo đảm. Các chiến xa đến vị trí của họ. Một đại úy Việt Nam chận xe tôi lại:
– Ông đi đâu?
– Tôi đi Long Thành.
Vừa nói tôi vừa đưa thẻ báo chí của tôi ra. Si quan nầy lắc đầu và nói với tôi:
– “Ông có thể đi thử. Nhưng ông đến đó chắc không được đâu, hoặc tuy nhiên nếu ông đi đến đó được thì ông cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn để trở về. Các chiến xa đang đánh nhau trong vùng. Nhiều đơn vị của sư đoàn 18 đã rút về Bà Rịa và đã đến tiếp tay với các sĩ quan tập sự của trường Thiết Giáp vốn đang bị bao vây và đang bị T.54 bắn vào. Binh sĩ của chúng ta di chuyển quá khó khăn vì các đoàn dân chúng đang tản cư.
Pháo binh cộng sản đã bắn hàng chục tràng rốc kết và đại bác 30 ly vào trại tiếp cư An Lợi, kế cận Long Thành, ở đó đang tập trung gần 100 ngàn dân tản cư. Hơn 200 người chết. Tất cả dân tỵ nạn đều bỏ chạy về hướng biển. Nhưng họ không đi xa hơn được vì con đường đi Vũng Tàu đã bị cắt đứt. Đoàn xe của Hội Hồng Thập Tự Việt Nam rời Sài Gòn từ sáng hôm qua mang theo lương thực cho những người dân khốn khổ trong tuyệt vọng nầy, đã có nhiều xe bị cháy khi đi gần đến Long Thành nên họ phải thối lui trở về.”
Có hai người Pháp tự nguyện trong tổ chức “Bác Sĩ Không Biên Giới”, một hiệp hội thiện nguyện từng gởi các thầy thuốc làm việc không thù lao đi khắp nơi nào có đánh nhau trên thế giới, đến trình diện ngay rào cản. Họ có giấy thông hành và muốn cố gắng đến bệnh viện mà họ đã làm việc trong trại An Lợi mấy ngày trước . Binh sĩ xem giấy tờ và cho họ đi qua.
Viên sĩ quan trả thẻ báo chí lại cho tôi và nói thêm:
– “Trái với tin đồn đãi ở Sài Gòn ,căn cứ Biên Hòa vẫn còn. Và các chiến xa của Chánh Phủ đã vào Hố Nai để tiếp tay cho các chiến sĩ trẻ ở đó. Chào ông.
Đến lượt tôi bước qua rào cản.
Quốc lộ gần như vắng tanh. Dân chúng đã cân nhắc kỹ nên tránh xa quốc lộ và băng đồng mà đi. Xa hơn một chút, tôi hiểu ngay tại sao.
Phía bên trái cách lề đường chừng 20 thước có 2 chiếc xe vận tải bị vỡ tan vì đạn pháo, đang cháy và bốc lên một mùi khét rất khó chịu của dầu lẩn thịt người . Phía bên phải, là một sườn xe nát vụn của chiếc xe ba bánh Lambretta làm tôi nổi da gà: tử thi của một đứa trẻ khoảng 10 tuổi bị treo lủng lẳn ở phía sau thùng xe, hai tay lòng thòng, đầu bị mảnh đạn cắt đi quá nửa đến cặp mắt. Trong một góc của thùng xe phía sau còn có hai xác chết, một của người đàn bà và một của bé gái ôm nhau nằm bất động, cả ngực và mặt đều bể nát máu me vương vãi. Cách đo 2 thước gần một lỗ được đào hơi cạn dựa nền đường nhựa còn một mảnh kim khí cong vẹo đánh dấu nơi viên đạn rốc kết đã nổ và gây ra một sự tàn sát bẩn thỉu mù quáng nầy.
Một sự yên lặng kỳ lạ bao trùm chung quanh căn cứ Long Bình cũ của người Mỹ. Các làng mạc đầy sức sống vừa mới mấy ngày trước đây đang ồn ào náo nhiệt thì nay đã tản cư hết rồi.
Các lô cốt dọc theo quốc lộ được các sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Quốc Gia Dalat trấn giữ. Những sinh viên sĩ quan trẻ từ 18 đến 20 tuổi đầu, sạch sẽ, gọn ghẽ và bóng láng như những chú lính trong tủ kính. Trên ba lô của họ đặt dưới đất là mũ cát kết truyền thống vàng đỏ của sinh viên trường võ bị….
Một anh sinh viên sĩ quan nói với tôi bằng một giọng gần như rất trịnh trọng:
– “Chúng tôi sẽ đội mũ sinh viên lên khi thấy mình phải chết!
Trong những năm 1965 -1972, Long Bình là một trong những căn cứ tiếp vận lớn nhất của Hoa Kỳ ở Viễn Đông. Một doanh trại quân sự rộng mênh mông trải dài trên gần hơn 7.000 mẫu tây đất, gồm hơn 100 trại lính, những sân trực thăng, bệnh viện…. tất cả đều được nối liền nhau bằng một hệ thống đường sá đẹp như xa lộ. Trên 30.000 lính Mỹ và Lữ Đoàn Không Kỵ số 1 với gần 3000 chiếc trực thăng đã đóng quân tại đây. Một “trung tâm giải trí” gồm có một sân khấu ngoài trời (dành cho các màn biễu diễn của các cô gái tóc hồng tóc hoe của anh hề trứ danh Bop Hope), một hồ bơi lội thế vận, một nhà chơi bowl, nhiều sân quần vợt, 3 sân bắn tên, những câu lạc bộ đánh bạc , các phòng đấm bóp và một nhà hàng Tàu. Bây giờ Long Bình chỉ còn là một cảnh trí rộng lớn đầy cỏ dại với một vài gian nhà rỉ sét, những ụ chiến đấu bằng bao cát và trăm bạn trẻ gan dạ đang sẳn sàng chết với chiếc mũ sinh viên sĩ quan truyền thống trên đầu.
Xa xa là những tiếng pháo binh bắn đi từng quả một hòa lẫn với tiếng quay đều đều của các cánh quạt trực thăng đang bay từng đoàn hai hay ba chiếc trên không..
Đi về phía trước một đỗi nữa, tôi gặp một trung đội biệt động quân với mũ nâu trên đầu, quần áo đầy vết mồ hôi loang lổ, với các khẩu trung liên hay M.16 trên tay. Và tiếp theo đó là các đơn vị tiền sát của sư đoàn 18 từ Bà rịa đến. Đơn vị chính của họ đang chạm súng chung quanh Long Thành,.cố phá vỡ vòng vây của cộng sản để tiến tới bố trí sát tường Biên Hòa. Nhưng vòng vây sẽ khó mà phá nổi.
Hai cây số kế tiếp thì quốc lộ trở nên đen kịt : một làn sóng người tỵ nạn vĩ đại đang đi theo binh sĩ từng bước một, ồ ạt đi sát nhau, người thì chống tó, người thì chống gậy, các bà thì gánh gồng mang trên vai đủ mọi loại vật dụng, các trẻ nhỏ 6,7 tuổi cõng em chúng trên lưng, mấy ông già mù được các em bé gái nắm tay dắc….
Quân đội đang đánh nhau hai bên đường, cách đây khoản 3 cây số, nơi có nhiều cột khói đen dày đặc bốc lên cao.
Khi đi vòng qua một con đường mòn dẫn tới một vị trí phòng thủ hơi cao do 2 chiến xa, một đại đội thuộc sư đoàn 18 trấn đóng với vài khẩu pháo 105 ly, tôi mới khám phá ra tầm rộng lớn kinh khủng của đoàn người. Trải dài khoảng ba hay bốn cây số trên đường chỉ là một giòng người nhấp nhô như một giòng sông vĩ đại đang chảy về Long Bình và Biên Hòa. Cả trăm ngàn con người cùng một tâm trạng hoảng hốt trong ngơ ngác , cùng có một nỗi lo sợ và một quyết tâm phải chạy trốn … đang im lặng tiến từng bước, không một tiếnng nói, không một tiếng kêu la, trong một sự yên lặng hoàn toàn quá đổi kinh ngạc!
– “Tất cả đều chạy đi từ trại tiếp cư An Lợi, cộng thêm một số lớn dân Long Thành”
Đó là nhận xét của một sĩ quan đang dùng ống dòm quan sát đoàn người di chuyển. Hai vị bác sĩ mong đến An Lợi đã hiểu rằng họ không bao giờ thấy được bệnh viện của họ nữa nên đã quay trở lại. Làm sao có đủ can đảm tìm lại được chiếc xe và đi ngược lại về phía An Lợi, xuyên qua khối người khốn khổ đi bộ nầy mà không thể giúp được gì để làm vơi nỗi khổ đau của họ?
Viên sĩ quan mang ống dòm quay lại tôi và nói:
– ” Ông có biết tại sao họ phải đi như vậy không? Họ phải đi chung từng nhóm cả gia đình với nhau vì cha mẹ lẫn con cái đều biết rằng chỉ một chút lơ đỉnh thôi là họ có thể bị xa rời nhau vĩnh viễn, không còn nhìn thấy nhau nữa và không bao giờ còn gặp lại nhau được nữa. Nhờ thế họ mới có một động lực kết chặt với nhau một cách thật xúc động như vậy.
Để trở lại Biên Hòa, phải vạch lấy đường đi và chạy thật chậm, cảng xe luôn dính sát với người đi bộ, mà phải luôn tỉnh táo để khỏi phải cán lên họ. Đoàn người giạt ra từ từ. Không có một hành động hay cử chỉ nào tỏ ra chống đối, tuyệt nhiên không có một lời trách móc .Tôi chỉ có một sự nóng lòng không biết làm cách nào để “bay” ra khỏi đoàn người dày đặc nầy!
Đến đoạn giữa Biên Hòa và Sài Gòn giòng người tản cư tự cắt ra thành nhiều đoàn để đi vào hàng chục trại tiếp cư được cấp tốc dựng lên từ nhiều ngày trước . Những người có trách nhiệm của Hội Hồng Thập Tự ở Miền Nam Việt Nam đang cố gắng bảo đảm một sự tiếp tế cũng như sự tạm trú của cả một đoàn người khổng lồ đang chạy loạn nầy. Nhưng họ quá đông, và những trại dựng lên trong hối hả không đủ chổ chứa hết được . Và những người nghèo khó nầy phải chịu cảnh nằm vật xuống đất và không còn muốn đi đâu nữa. Một vài vị bác sĩ, các hướng đạo sinh Phật Giáo và Công Giáo phân phát cho họ đường, sữa hộp và những túi cơm nhỏ. Đủ cho họ sống trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Một vị linh mục đến nói với họ là họ sẽ được đưa về tạm cư ở miền Đồng Bằng sông Cửu Long bằng xe vận tải hay xe buýt.
Trên đường cũ đi Biên Hòa, thường vắng xe từ khi có xa lộ, nên dân chạy loạn cố giữ bên phải nhường đường cho xe quân sự chở đầy đạn dược .Họ cũng không ít đâu, hàng chục ngàn thường đi từng hàng dài với đủ mọi loại phương tiện. Xe bò của nông dân (có bò kéo), xe ba bánh đầy ấp đến độ sàn xe muốn đụng mặt đường, xe đạp thồ chở nặng còn hơn lừa, và đi bộ. Họ mang theo tài sản duy nhất của họ: một con gà trống nhốt trong giỏ tre, một chú heo con trong một thùng mủ nhỏ, có cơm. Ba cô tu sĩ được đèo chung trên một chiếc mô tô đang qua mặt mọi người. Và không một ai chú ý đến một thân người rách nát cả lưng đang lê lết dựa bên đường.
Khi đám đông tràn ra đường dành cho quân xa đang đi ra tiền tuyến thì binh sĩ bắn chỉ thiên để cho họ tránh ra hai bên đường.
Trong nghĩa trang quân đội Biên Hòa, một nghĩa trang lớn nhất ở Miền Nam, hàng chục hố vừa mới được đào chung quanh một ngôi mộ còn dang dỡ. Trên hai chục chiếc quan tài có phủ cờ, được sấp dài gần văn phòng của nghĩa trang, mỗi chiếc đều có mang tên tuổi, ngày tháng và địa điểm hy sinh. Hầu hết các binh sĩ nầy đều bị tử thương mấy ngày cuối cùng gần đây ở chung quanh thành phố. Người ta đang chôn một thiếu tá Dù. Trong số vài người dân sự đang đứng chung quanh đội kèn quân sự và một tiểu đội linh mũ đỏ, có một bà vợ trẻ, rất đứng đắn và rất đẹp mặc áo tang trắng, đang khóc trong lặng lẽ . Một em bé gái khoảng 10 tuổi đang ôm sát mẹ như một con chim đang sợ sệt…
Thành phố Biên Hòa vẫn còn sống động cách đây 2 ngày mặc dầu phi trường bị pháo kích, giiờ đây là một thành phố chết.. Phần lớn dân chúng đều đã đi khỏi đây, các cánh cửa sắt của tiệm buôn được đóng lại và khóa cẩn thận. Ở bệnh viện dân sự trên 50 người bị thương vì rốc kết được mang đến sáng nay, nằm chật hết các hành lang. Chỉ có một bác sĩ giải phẩu và một bác sĩ gây mê còn làm việc. Bác sĩ trưởng đã biến mất từ lúc nào rồi….
Ở căn cứ không quân, còn hàng chục chiếc phi cơ đang nằm trên sân bay. Các phi công đang ráp thêm những bình xăng phụ. Chắc là để cho đủ săng để chạy đến Thái Lan hay bay ra Hạm Đội VII trước khi quân cộng sản đến.
Mãi đến 3 giờ chiều thì tôi mới về đến Sài Gòn.
Và đến 4 giờ rưỡi thì tôi quyết định đi một vòng quanh chợ Sài Gòn. Dọc theo các hành lang trong chợ những con buôn nhỏ và những chủ sạp nói chyện như bắp rang sau khay hàng hay ngay trước sạp hàng của họ. Có nhiều bà ngồi xổm dưới đất bày hàng ra cả trên đường đi, mời mọc đủ mọi thứ, từ những chiếc đèn bấm, các đồng hồ reo, kem cạo râu, rượu tây, thuốc lá và cả cơ phận thay thế của xe hơi…Trong các gian hàng bán vải, cũng còn một vài bà mặc áo dài màu đang chọn hàng tơ lụa và đang trả giá với mấy ông Ấn độ… Các quán rượu nhỏ và nhà hàng thì vẫn đông nghẹt khách ngồi bàn, ăn uống trước những cốc bia lạnh hay những tô phở nóng đang bốc hơi nghi nghút……
Tất cả đều chờ đợi…, họ chờ 5 giờ chiều và xì xào nho nhỏ với nhau: Lúc đó là Tổng Thống Trần văn Hương từ chức, chuyển giao quyền hành cho tướng Dương văn Minh và buổi lễ sẽ được trực tiếp truyền thanh và bình luận qua đài phát thanh Sài Gòn.
Tôi ngồi trong một cái phòng sơn màu xanh lá cây ở tiệm cà phê Thanh Bạch, gần rạp hát. Đứng sau quầy tính tiền, người chủ tiệm đang điều chỉnh tần số và chiếc máy thâu băng Akai.
Đúng 17 giờ, quốc thiều VNCH được trổi lên. Khách khứa đều giữ im lặng để nghe bình luận gia giải thích:
– “Trong gian phòng tiếp tân rộng lớn của Dinh Độc Lập, trước bức hình của các vua Hùng, Tổng Thống Trần văn Hương bước chậm chậm đến bàn vuông hình chữ nhật có khắc phù hiệu của ông : hai con rồng vàng nằm trong một vòng tròn đỏ. Ông bước lên bục và hướng về cử tọa , trên hai trăm người đại diện cho lưỡng viện Quốc Hội , một vài tướng lãnh, và một số đông nhà báo Việt Nam cũng như ngoại quốc.”
Với một giọng nói khàn khàn mà ông cố gắng tự chế, vị Tổng Thống già nua cất lời:
– ” Một trang sử đã được lật qua.
Một trang mới sẽ được đại tướng Dương văn Minh viết tiếp.
Chúng tôi không nghĩ rằng phải đổ thêm máu và phải đánh nhau đến viên đạn cuối cùng và đến người lính cuối cùng, thưa Đại tướng, Đây là một trọng trách rất lớn được giao phó cho ông. Chẳng những ông cần phải có thiện chí, mà cần phải có can đảm nữa! Khi từ bỏ giải pháp quân sự, chúng tôi đã chọn con đường của hòa giải, của sự hòa hợp, và cuối cùng của hòa bình”
Cựu Tổng Thống Hương bước xuống bục. Một vị trưởng tòa bước đến gỡ phù hiệu của ông và gắn lên đó phù hiệu của đại tướng Dương văn Minh: “một bông mai”, một loại bông biểu tượng cho ngày Tết, (ngày đầu năm) dấu hiệu của một sự đổi mới.
Tướng Minh, vị tân Tổng Thống của nền Cộng Hòa, đến ngồi ngay sau bàn vuông hình chữ nhật, quay sang vị Tổng Thống tiền nhiệm, cung kính cuối đầu chào và nói “Thưa Thầy !” (ông Hương đã từng là giáo sư của ông Minh ở trung học):
– ” Nhận điều khiển Đất Nước trong những hoàn cảnh hiện tại, không có gì vui hết. Chánh Phủ mà tôi đã được ủy thác phải thành lập sẽ là một Chánh Phủ Hòa Giải Quốc Gia, và tôi tin chắc rằng Chánh Phủ đó sẽ có thể thương nghị trở lại với Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam.
Chánh Phủ bảo đảm sẽ tôn trọng những Tự Do Dân Chủ và sẽ thả hết những người bị giữ vì lý do chánh trị dưới chế độ cũ.
Thưa đồng bào thân mến, những ngày sắp tới đây sẽ rất là khó khăn. Chúng ta sẽ phải can đảm cùng nhau đương đầu…”
Tôi nhận thấy thoáng qua là giọng nói không được bình tĩnh, sự diễn đạt không chắc chắn. Ông Minh đảo lộn chữ nầy qua chữ khác và phải đọc lai. Ông ta chưa bao giờ là một diễn giã tốt. Quay sang binh sĩ, ông tìm lại được phần nào giọng nói của một vị chỉ huy:
– “Các anh phải giữ chặt phần đất còn lại, bảo vê hòa bình, và giữ một tinh thần cao. Khi mà lệnh ngừng bắn được thi hành, các anh phải triệt để tôn trọng. Trong những vùng kiểm soát của mình, các anh phải bảo vệ an ninh và tài sản của dân chúng, không được đào ngũ, không được bỏ súng và bất cứ trong mọi trường hợp, phải nghiêm chỉnh tuân hành lệnh ban ra, mọi hành động vô kỷ luật sẽ bị trừng trị ngay tức khắc.”
Ngỏ lời kêu gọi phía CPLTCHMN, tướng Minh tuyên bố:
– ” Các anh em ở phía bên kia, tôi thật sự muốn có một sự hòa giải, và các anh em cũng biết điều đó. Tôi muốn rằng mọi tầng lớp dân chúng phải tôn trọng quyền sống của nhau. Đó cũng là tinh thần của Hiệp Định Ba Lê. Các anh đã từng kêu gọi tôn trọng Hiệp Định nầy và chúng tôi cũng kêu gọi như vậy.. Do đó chúng ta phải ngồi lại với nhau chung một bàn để tìm giải pháp có ích lợi nhất cho đất nước và cho dân tộc. Để chấm dứt nhanh chóng sự nghèo nàn của dân chúng và của binh sĩ chúng ta , tôi hy vọng là các anh chấp thuận đề nghị nầy và những cuộc thương thuyết sẽ có thể bắt đầu ngay sau khi Chánh Phủ được thành lập.”
Buổi truyền thanh chấm dứt. Một chương trình khác được tiếp nối sau bài phát biểu của Tổng Thống.
Sau lưng tôi, một ông cụ nhỏ có râu rìa tuông ra một câu đầy mỉa mai chua chát:
-“Ông Tổng Thống của chúng ta có vẻ tốt đấy, với bông mai của ông, trong khi các chiến xa của tướng Giáp chỉ còn cách Dinh của ông có 20 cây số!”.
Ông khách già có một cái nhìn quá sắc bén, không thiếu chút hài hước hay sáng suốt nào. Tổng Thống Hương không nắm quyền được quá 8 ngày, và lúc các chiến xa cộng sản tương đối còn ở xa…
Tôi trả tiền xong bước ra khỏi tiệm Thanh Bạch, Trời đang có quá nhiều đám mây đen…

° ° °

Trong hai tiếng đồng hồ nữa, tôi sẽ rời khỏi Sài Gòn trên chuyến bay chót của hảng “Hàng Không Trung Quốc”. Điện báo quốc tế của Bưu Điện đầy nghẹt các liên lạc điện báo chánh thức cũng như tư nhân, nên các công điện tôi gởi về nhà báo của mình quá trễ.Tôi sẽ ghé lại Bangkok 48 tiếng để dùng điện thoại trao thẳng vài bài và tôi sẽ trở lại…
Thình lình một tiếng nổ vang trời làm rung rinh cả thành phố. Trong một vài giây, đám đông chung quanh tôi sững sờ kinh ngạc. Xe đang chạy đột nhiên người ta thắng gấp, ngừng lại tại chỗ. Và sau đó nhiều tiếng nổ khác mạnh hơn và ngay sau đó súng liên thanh và đại bác phòng không lên tiếng. Đám đông hoảng hốt giải tán chạy tứ tán thành nhiều nhóm nhỏ , chạy qua chạy lại khắp tứ hướng, đụng đầu nhau . Các xe bắt đầu mở máy chạy lại, và chạy nhanh. Có nhiều xe mô tô bị hất tung lên, rồi ngã xuống….
Nhiều phát súng liên thanh được nghe khắp nơi. Cảnh sát và binh lính thi nhau bắn chỉ thiên. Các bà la hét, chạy đến gõ cửa bất cứ nhà nào để xin vào trong. Một số trẻ em bị lạc giữa rừng người đang chạy, đứng khóc la run rẩy. Đây là một sự hoảng loạn hoàn toàn hay đúng hơn là một sự cuồng loạn. Các tài xế bỏ xe giữa đám đông. Một tài xế xe vận tải bị một loạt súng làm vỡ kính xe, quýnh quáng nhảy vội khỏi xe và xe không người lái cứ thế tiếp tục lăn bánh, leo lên lề, phá tan cửa của một tiệm bán đồng hồ và tuông vào phá sập luôn cửa tiệm.
Các tàu chiến đậu dưới sông Sài Gòn bắn đại bác 30 ly lên trời, vào những mục tiêu vô hình. Ngay trên kinh đào, một chiếc C130 chở dân tỵ nạn bị nhiều đạn lửa bắn lên làm cho phi công phải hạ thấp cao độ để tránh đạn, bay sát kho cảng Sài Gòn suýt đụng gẫy cột buồm của mấy chiếc tàu hàng, lấy cao độ lại và bay thẳng về hướng Nam.
Các tiệm café trên đường Tư Do lật đật đóng cửa còn khách thì nằm bẹp xuống gầm bàn.
Phía trước Quốc Hội, rất bình tĩnh, một anh bạn to con, chĩa máy đứng quay cảnh dân chúng chạy tán loạn tìm nơi trú ẩn. Hai anh lính bắn nhiều loạt M.16 lên khắp bốn phía, ngang tầm người, làm cho một bà trúng ngay ngực ngã ngồi xuống, lưng đầy máu.
Phía trên đó một đỗi, trong hẻm cạnh rạp chiếu bóng Eden, có người xác nhận là có mấy tên đặc công Việt Cộng đã lợi dụng chuyện bom nổ để tấn công vào Dinh Độc Lập và Bộ Quốc Phòng. Người khác thì lại nói khác : họ nói là nhóm của tướng Nguyễn cao Kỳ đảo chánh. Chung quanh nhà thờ Đức Bà, các pháo đội phòng không vốn có nhiệm vụ phòng thủ Dinh Độc Lập gần đó, đã xã đại bác bắn hết lên trời. Đại lộ có quá nhiều xe xích lô máy nằm chổng gộng ngang ngửa. Tài xế đã bỏ xe chạy hết vào nằm ở vườn cây lớn bên đường. Nhiều quân xa trên có trí súng liên thanh 50 và đại bác 20 ly cặp đôi, đến bố trí trên đường Thống Nhất và cũng bắt đầu tác xạ. Tiếng nổ inh ỏi khắp nơi nghe rợn cả người ! Hơi khét của thuốc súng ngửi đến tận cổ, và các vỏ đạn đồng nóng bỏng rơi đầy đường.
Độ chừng 15 phút sau thì tự nhiên các vũ khí nặng ngưng bắn hẳn.. Chỉ còn các tiếng súng cá nhân, nhưng cũng thưa dần. Trước câu lạc bộ thể thao cũ, một ông cảnh sát già rất bình thản cho tôi biết với một giọng đều đều: “Các phi cơ cộng sản đã dội bom Tân sơn Nhất, và nghe như đã có thiệt hại”
Tôi chạy về đường Pasteur nhặt hết giấy tờ và hành lý du lịch của mình, xong gọi một chiếc xe tắc xi đang chạy rong, và với giá 10 ngàn đồng (coi như đắt gắp 10 lần), anh ta chấp nhận đưa tôi lên phi trường Tân sơn Nhứt. Cơn bão bây giờ mới bắt đầu: Mưa như trút và rất nặng hột. Chúng tôi chạy trong cơn mưa dày đặt và đường sá gần như vắng tanh. Đến hơn 7 giờ chúng tôi mới tới trạm kiểm soát vào phi trường. Quân cảnh và cảnh sát dã chiến xem giấy tờ rất kỹ, súng vẫn cầm tay. Mười phút sau tôi mới được cho vào phi trường.
Cơn mưa dứt hột thình lình. Vẫn có nhiều cột khói đen bay lên từ sân bay đang còn có nhiều tiếng nỗ nhỏ. Tiếng còi của đội chữa lửa thuộc Không Quân vẫn còn hụ lên inh ỏi. Tất cả các phóng pháo cơ đều bay lên hết. Các quân xa chở đầy binh sĩ từ khắp nơi đang đổ vào phi trường. Tất cả cửa sổ ở phi cảng đều bị thổi tung, trên mặt đất còn vương vãi các mảnh kiến vụn.
Một sĩ quan an ninh cho tôi vài tin tức chính xác: 3 chiếc phản lực A.37 bị cộng sản lấy được ở miền Trung đã dội khoảng 20 quả bom 500 cân anh xuống căn cứ Không quân và đã bay rất thấp. Toán trực bị hoàn toàn bất ngờ vì mấy chiếc A.37 nầy vẫn còn mang cờ VNCH và hình như đã đến đây từ căn cứ Biên Hòa. Thiệt hại cũng khá nặng : Một kho đạn lớn, 11 chiếc phi cơ (trong đó có 3 chiếc F.5), và 4 trực thăng bị phá hủy. Có trên 60 tử thương và mấy trăm bị thương. Tất cả các phi vụ đều được hủy bỏ. Chánh Phủ của tướng Minh vừa cho lệnh thiết quân luật 24/24 cho đến khi có lệnh mới.
Thế mà một chiếc phi cơ thuộc Hàng Không Việt Nam lại cất cánh được với hơn 100 hành khách. Dù sao tôi cũng không thể trở xuống thành phố. Tôi đi đến một hầm trú ẩn làm bằng bao cát. Trên đường đi tôi gặp nhiều toán khiêng cáng đang làm công tác tản thương.
Tôi qua đêm trong hầm trú ẩn nầy. Đạn rốc kết vẫn rơi vào phi trường không dứt. Cũng vẫn có những tiếng rít xé gió và những tiếng nổ đến điếc cả tai, và sau đó là các quả đạn pháo nặng 130 ly. Cứ mỗi lần đạn pháo rơi trúng một chiếc phi cơ nào đó thì lại có một vừng ánh sáng lóe lên xé tan màn đêm mưa gió và một cột khói đen bay lên cao.
Vào lúc 23 giờ thì một tiếng nổ lớn làm rung cả hầm trú ẩn của tôi. Cách đó chừng 50 thước, một chiếc trực thăng vận tải “Chinook” đầy binh sĩ bị cháy và đang rơi xuống đất. Có rất nhiều mảnh kim khí đỏ như lửa bắn tung tóe khắp phi đạo, và thây người cũng vừa bị cháy vừa bị bắn tung cùng khắp, trong một vùng khét lẹt mùi xăng dầu và thịt người bị cháy.
Từ xa, về hướng Đông, pháo binh vẫn nã vào Biên Hòa không dứt và đã biến vùng bị pháo kích thành một biển lửa.
Tôi biết rằng những ngọn lửa to trong đêm tối đó đã “thiêu hủy” cả một thị trấn; tôi biết là những nhà cửa bị đạn pháo của cộng sản làm sụp đổ đã nghiền nát nhiều gia đình mà tôi quen.
Tôi nghĩ tới các bạn thân của tôi, nghĩ tới Trinh, người thợ máy với hai bàn tay to lớn sù sì lúc nào cũng đầy dầu mỡ đang cặm cụi hí hoáy làm việc trong nhà xe lợp tôn của anh.
Tôi nghĩ đến cha Alain, một người Pháp già đã 83 tuổi rồi mà không bao giờ muốn đóng cửa nhà hàng của ông.
Tôi nghĩ tới anh Giang một nhà điêu khắc lúc nào cũng loay quay với các tượng Phật trong xưởng mà anh chỉ dựng lên bằng giấy bồi và vài tấm tôn.
Tôi nghĩ tới những người lính tự vệ công giáo trẻ của Hố Nai, những em 15, 16 tuổi chỉ với một khăn choàng cổ và hai quả lựu đạn mà vẫn hăng hái đương đầu với các chiến xa T.54 của cộng sản Bắc Việt! Trong lúc dưới ánh sáng ở thánh đường cha mẹ chúng đang quỳ gối cầu nguyện xin Chúa ban cho chúng đầy đủ can đảm không chùn bước trước cái chết….
Ngày mai nầy, các bạn tôi và những em bé kia chắc sẽ chỉ còn là những xác chết không mồ mã, tha hồ làm mồi cho chuột bọ, cho chó mèo… giữa sự điêu tàn của một thị trấn yên lặng và tang tóc…
Trời rựng sáng thì tiếng súng chấm dứt, tôi trở lại phi cảng. Có ba xác phi cơ vận tải cong queo và bị cháy đen nằm giữa bãi đậu. Hai trung đội Dù đang đi qua phi đạo, Đầu vẫn đội mũ nồi đỏ (không có nón sắt) quần áo thẳng thớm, súng ống sạch sẽ, họ đi chậm chậm , nhẹ nhàng rất thong thả, lạnh nhạt dửng dưng nhìn khắp chung quanh mà đi tới.
Lúc 9 giờ sáng, tôi gặp được một người bạn, đại tá Lập. Anh chỉ huy một Không đoàn phi cơ săn giặc và vừa đáp xuống sau một phi vụ. Anh có vẻ mệt mỏi và bộ đồ bay của anh có vết máu. Anh mệt nhọc nói:
-” Tất cả rồi sẽ sụp đổ, từng giờ thôi. Căn cứ Không quân Biên Hòa bị 600 quả pháo 130 ly đã hoàn toàn hư hại và đang bị cô lập. Sư đoàn 18 của thiếu tướng Đảo vẫn còn đánh nhau với bọn chúng và đang bám trận địa. Nhưng sư đoàn bị thiệt hại quá nặng và gần 2000 binh sĩ coi như phải thức trắng đêm suốt 5 ngày nay. Sư đoàn 5 thì bể rồi và coi như tan hàng. Thủy Quân Lục Chiến thì đang đụng nặng trên đường phố ở Vũng Tàu, nhưng thiếu đạn và không có pháo binh yểm trợ. Bốn (4) sư đoàn cộng sản Bắc Việt có chiến xa T.54 mở đường, được hàng trăm khẩu pháo yểm trợ đã tiến đến gần Sài Gòn lắm rồi. Đơn vị tiền sát của họ gồm toàn đặc công đang lùa cả chục ngàn dân tỵ nạn đi trước coi như làm khiêng đỡ đạn cho bọn chúng. Họ đã đến Tân Cảng rồi, không đầy 3 cây số cách trung tâm thành phố. Các toán nhỏ Dù đã phản công và có nơi đang cận chiến, đánh xáp lá cà với cộng sản.”
Để trả lời cho câu hỏi của tôi về các phi cơ cộng sản đã từ đâu bay đến bỏ bom ở đây? Anh lắc đầu chán nản nói:
– ” Họ đã cất cánh từ phi trường Phan Rang, và tôi gần như chắc chắn rằng họ toàn là những người bạn cũ, bực tức nhất thời vì sự tan vỡ của chúng ta nên đã theo bọn cộng sản . Họ biết rất rõ các hành lang bay của chúng ta và đã tỏ ra là chủ thật sự của phi cơ mình, chớ không phải phi công Bắc Việt đâu. Tôi tự hỏi cái ông Minh đó, ông ta đang tìm cái gì đây? Chiều hôm qua, ngay sau khi cuộc bỏ bom ở đây chấm dứt, ông ta đòi Hoa Kỳ phải đóng cửa ngay tòa Đại sứ Mỹ , và tất cả tùy viên quân sự Mỹ ở đây phải ra đi tức khắc không được chậm trễ. Gì chớ chuyện đó thì Hoa Thạnh Đốn mừng quá: họ chỉ chờ có bấy nhiêu thôi, họ sẽ nhận gấp. Và tôi nghĩ là cuộc di tản những người Mỹ cuối cùng sẽ tiến hành trong những giờ sấp tới đây thôi. Cũng vì thế mà từ sáng sớm pháo binh Bắc Việt không bắn vào đây nữa để cho cuộc hành quân di tản nầy được tiến hành dễ dàng và nhanh chóng. Tất cả những hành động của bọn cộng sản chỉ nhằm tạo ra một tình trạng hoảng loạn để có một sự kết thúc nhanh chóng. Ông Minh đã cúi đầu tự mình chui vào tròng, và sự ra đi của tất cả người Mỹ chắc chắn sẽ tạo ra một tình trạng hốt hoảng khủng khiếp.”
Đại tá Lập ngưng một chút rồi đặt tay anh lên vai tôi và nói với tôi với một giọng chối tai nhưng đầy tình bạn:
– ” Một chiếc phi cơ của công ty Dài Loan, đậu ở đây 2 ngày nay, sẽ cất cánh trong vòng 30 phút nữa mang theo trên 100 hành khách đến Bangkok. Tôi biết anh bạn phi công nầy, anh ta sẽ cho anh đi, Pierre, anh đi đi, đi ngay khỏi nơi đây. di ngay đi, trước khi bọn “chó chết” kia (nguyên tác: s……) vào thành phố…
Tánh tò mò nghề nghiệp của tôi không mạnh bằng nổi buồn đang siết chặt tim tôi.
Sài Gòn là thành phố của tôi.
Tôi đã được sanh ra ở đây. Tôi không muốn và cũng không thể nào chứng kiến cảnh “bộ đội” từ Miền Bắc vào đây, vào cái thành phố mà tôi biết rõ từng hóc hiểm. Tôi không muốn thấy những người có hạnh phúc cùng thời thơ ấu với tôi sẽ biến mất dưới bộ mặt nạ bằng chì mà họ phải chịu mang suốt đời. Tôi cảm thấy không đủ sức….
Sáng thứ ba hôm đó lúc 11 giờ, lẫn lộn trong hàng trăm người Á Đông âu lo và vội vàng ra đi trong khẩn cấp, tôi rời khỏi Tân sơn Nhứt, phi cảng của Sài Gòn .Chiếc phi cơ Đài Loan đi Bangkok, cất cánh rất bạo và trực chỉ phóng thẳng ra biển, đi về hướng Tây Nam. Phía dưới chúng tôi là thành phố rộng mênh mông với nét đẹp lộng lẫy, có con sông uốn khúc bao quanh… một thành phố đã bị những tràng tiếng nỗ và khói bao vây ở chung quanh rồi.
Một người Tàu ngồi bên tôi, kỹ sư điện toán, nói với tôi là chỉ trong vòng vài giờ nữa thôi là trung tâm hệ thống viễn thông đầy mìn, sẽ “được điều khiển” cho nổ tung. Tất cả các sự thông tin với bên ngoài sẽ bị cắt đứt hết, và Sài Gòn , bị cô lập với thế giới bên ngoài, sẽ rơi vào tình trạng câm lặng .
Tôi thấy cổ họng tôi bị se thắt lại. tôi hết sức tuyệt vọng. Bây giờ tôi mới biết rằng tôi sẽ không bao giờ còn trở lại đất nước nầy nữa, một đất nước mà tôi rất yêu thương…
Một dân tộc khốn khổ, bị dày vò, bị chặt hết tay chân, bị sạt nghiệp chỉ vì bị sa vào bẫy của một vở kịch chánh trị ngu xuẩn và bi thảm quá kinh khủng mà chính họ cũng không hề biết không hề hiểu gì cả… Xin vĩnh biệt tất cả, vĩnh biệt tất cả những anh em đã từng chia xẻ với tôi hạnh phúc cũng như đau khổ trong những năm dài…. Các sư đoàn sắt máu từ Miền Bắc vào đây sẽ tha hồ mà xài xể các anh. Người Mỹ bị xua đuổi sẽ đáp xuống những chiếc hàng không mẫu hạm của Hạm Đội VII, một hạm đội dù bất lực và vô ích vẫn đang tuần tra ngoài khơi bờ biển Việt Nam mấy tuần lễ nay rồi.
Còn về người dân Việt Nam : có thể họ sẽ biết được là đã hết rồi , cơn ác mộng vô nghĩa và thật khủng khiếp của họ đã qua rồi. Người ta đã dành cho họ một sự chọn lựa thật dản dị nhưng quá khắc nghiệt : đầu hàng và được sống, hay là chống cự và chết. Trong vài giờ nữa họ sẽ gánh chịu một luật lệ khắt khe của kẻ chiến thắng.
Chú Sam (Hoa Kỳ) đã biến mất, mang theo khẩu hiệu lỗi thời của chú : thuyết “đô mi nô”!
Con cháu của Bác Hồ sẽ đến, như những kẻ chiến thắng, mang theo biểu ngữ khác bắt buộc phải đọc thuộc lòng: Phải thay đổi lối sống, thay đổi cờ, phải tự phê bình, phải hoan nghinh trật tự mới., phải biết vâng lời cán bộ, các ủy viên gầy gò và bí mật, thường mặc quân phục màu xanh lục, được huấn luyện ở sự nghèo khổ của bưng biền.. v.v.
Thật khổ cho những người bại trận!

A South Vietnamese Paratrooper Shares His Story

By ZITA BALLINGER FLETCHER

5/19/2022

Post by Sơn râu 7 Apr 2024

Dr. Nguyen Quoc Hiep, president of the Vietnamese Red Beret Association, shared his experiences as an airborne officer during the Vietnam War.

Courtesy of Dr. Nguyen

Nguyen Quoc Hiep trains as a paratrooper in 1969.

In 1966, the Airborne Division of the Army of the Republic of Vietnam, or ARVN, was formed with 12,000 troops. An elite unit, it conducted airborne assaults and airmobile operations throughout the war. Known for their distinctive red beret, called “Mu Do” in Vietnamese, the South Vietnamese airborne troops were assisted by U.S. advisers with airborne experience, who were members of Military Assistance Command Vietnam (MACV) Team 162 and also known as “Red Hats.” Most advisers had served previously with the 101st, 82nd or 11th Airborne divisions.

The Vietnamese airborne troops and their advisers took part took part in many decisive battles of the Vietnam War, including at Hue and Dak To. During the Tet Offensive, airborne units were credited with killing over 2,000 enemy troops.

The Vietnamese troops and their advisers are honoured today with a monument at Fort Benning, Georgia, which was built on the initiative of veterans of MACV Team 162 and unveiled in 2012. The monument pays tribute to them with a quotation from Field Marshal Bernard Montgomery on the valour of airborne forces: “What manner of men are these who wear the red beret? … They have jumped from the air and by doing so have conquered fear …. They have shown themselves to be as tenacious in defence as they are courageous in the attack. They are in fact, men apart, every man an emperor.”  

Vietnam magazine is honoured to share the story of Dr. Nguyen Quoc Hiep, president of the Vietnamese Red Beret Association, who spoke with us about his experiences as an airborne officer during the Vietnam War and his subsequent journey to the United States, listed below.

Nguyen Quoc Hiep is pictured during operations at the Cambodian border in 1971. (Courtesy of Dr. Nguyen)

WHY HE FOUGHT

Most of us at the time had to join the military. We had no choice because of the North Vietnamese Army, which invaded the South. Communism is the worst regime in the world. They don’t respect the freedom and democracy of the people. They kill people for no reason. From 1954 to 1956, they had what they called the “Land Rice Field Reforms” — they took all the fields from the farmers and landowners and gave it to poorer people. But it was not the right thing. After that they killed the farmers — thousands of them. From 1956 to 1958, they didn’t like anyone speaking against their regime, so they killed people. Under communism, they didn’t allow us to have freedom. They only allowed people to have portions. For example, they only allowed people to have 15 kilograms [33 pounds] of rice a month. It was very difficult to live on that amount per month.

The communists received support from the Chinese government and also their allies, like Russia, at that time, and Eastern European countries like Romania, Czechoslovakia and Poland. At that time, those countries were under the communist regime so they provided them with everything including ammunition, tanks and missiles to attack and invade South Vietnam. The Viet Cong were not the North Vietnamese Army. They attacked us so we had to take care to fight against them. 

The feelings of the villagers were sort of mixed. If they didn’t follow the communists, they would track down their family and kill them. If the people didn’t provide the communists with rice and money, they would kill them. So the villagers were afraid that they had to follow the communists. Most of the villagers who wanted to have freedom moved to big towns under the control of the [South Vietnamese] army. If they stayed in the small villages under the control of the communists, they had to provide them with rice and anything they needed.

JOINING UP

I graduated from military medical school in 1968 and joined the airborne division in 1969. I served in the 11th Battalion as chief medical officer. After that I became chief medical officer of the 3rd Battalion. I served for one year on each battalion before I moved to the brigade. Then I became chief medical officer of the 2nd Brigade of the Vietnamese paratroopers. You had to graduate from high school to become an officer and attend a military school. Some people trained for two years, others for 18 months. Then they would select some for navy, air force, or army. Our families were very happy and supported us.

I lived in Saigon, but my battalion headquarters was in Long Binh, about 20 miles north of Saigon. Learning to be in the airborne forces wasn’t difficult. You had to pass three weeks of training. From 5 a.m. to 4 p.m. in the afternoon, we had training all day long. We ran for about 8 miles, then after that, we had to train with equipment. After three weeks, we had to jump from aeroplanes to be certified as airborne soldiers. 

I was young. I loved adventure. For the airborne, you can move from one town to another town, from one area to another. One day I would be in a town in the south. The next day I would be transported to a different town in the north, about 600 kilometres away. That is a lot of adventure! I needed to do that to help my comrades.  

The most fun thing about being a paratrooper was jumping out of the aeroplane! The first jump was scary, but for the next one I was very happy and enjoyed it. In total, I made about 70 jumps in about seven years.  

I was a medical officer, so I took care of wounded comrades-in-arms. I also took care of some of the civilians. When during operations we had to go to a village or town, some of the civilians needed medical attention. We took care of all of them. 

GOING EVERYWHERE THEY WERE NEEDED

During the war, we fought anywhere. Any battle where they needed us, we would go over there. In a difficult situation, we would go there to help and solve the problem in a heavy fight. 

We had officers and many generals. We had five generals who commanded the Vietnamese paratrooper division. They have since mostly passed away. I remember Lt. Gen. Do Cao Tri, who stood out to me as one of the best commanders. He had very great courage and was very talented. But he died in a helicopter accident – it exploded in the middle of the sky.

I also worked with some of the American advisers. Most of them are now retired or have passed away because of their age. A couple of them have retired in Texas or New Mexico. The advisers fought side by side with our units and shared blood and tears with us.

Nguyen Quoc Hiep (right) stands with a comrade during operations at the Cambodian border in 1971. (Courtesy of Dr. Nguyen)

During Operation Lam Son 719, we attacked a North Vietnamese base in Laos. I took part in this operation for almost two months. It was a very, very bloody battle on both sides. On the battlefield, we treated both Vietnamese and Americans. When the American advisers were wounded, we treated them and transported them to the American hospital faraway. Some of them went to the Seventh Fleet in the Pacific Ocean.

Most wounded I treated were Vietnamese paratroopers. 

LEAVING THE PARATROOPERS – AND VIETNAM

We lost many friends. In total we lost more than 20,000 Vietnamese paratroopers during the war. And we had more than 20 American advisers who perished along with us. 

I got out of Vietnam at the end of the evening of April 30, 1975, on a U.S. Navy ship. I went to America alone. A lot of relatives stayed behind, but now it’s been 46 years and they have passed away. I don’t have any chance to go back to my country because they are still under the communist regime.  

People left because they wanted freedom. For example, the children of South Vietnamese officers were not allowed to go to school or have an education. They had to take low jobs because the communists would not allow them to work in higher positions. The communists only allowed people who followed them to get a higher education. Most of the children of officers of South Vietnam could not get into school, so that is one reason why families tried to escape from 1975 up to the 1990s. Most people escaped from Vietnam by boat, and many of them died in the open seas — for freedom and democracy.  

COMING TO AMERICA

I arrived in the United States in southern California, at a refugee camp in the Marine Corps base at Camp Pendleton. We stayed there in a tent for a couple months as refugees. Then I moved to New Jersey and got some medical training in the Philadelphia, Pennsylvania, area. Of course, I had a lot of difficulties [after arriving] because we are trained in French. After arriving in the U.S. we had to learn English. The language barrier was the most difficult problem. After a couple years we got used to the language. 

Dr. Nguyen Quoc Hiep (center) and members of the Vietnamese Red Beret Association reunite with their former American advisers from MACV Team 162, known as Red Hats, in Virginia in July 2015. (Courtesy of Dr. Nguyen)

In 1980, all former South Vietnamese paratroopers got together and organized. We call our group, “The Family of the Vietnamese Airborne.” People from all over the United States and the world joined us. Every year, we have a reunion meeting, depending on the people who want to volunteer to organize it. The last year before the pandemic we had a meeting in Orange County in southern California. It was our 39th reunion. The meetings were cancelled in 2020 and 2021. We hope to have another meeting in 2022.