“Security Officer” người Việt

baotreonline.com

Đặng Hiếu Sinh

Post on December 2nd, 2023

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Vì vấn đề an ninh trật tự trong cuộc sống ngoài các cơ quan công lực của tiểu bang, thành phố như lực lượng cảnh sát, còn có ngành đào tạo nhân viên an ninh tư nhân (Security Guard hay Security Officer) để cung cấp nhân lực cho các nhu cầu bảo vệ cơ sở, cá nhân khi cần đến.

Chung Hồng Hải, John Nguyễn, Nguyễn Chí Dũng     

Nhiệm vụ và trách nhiệm chính của nhân viên an ninh là canh gác, tuần tra các khu vực để đề phòng các hoạt động bất hợp pháp và các tình huống nguy hiểm. Họ làm việc tại các cơ sở sử dụng nhiều lao động, trường học, ngân hàng, bệnh viện và trung tâm thương mại như sòng bạc, trung tâm thể thao, nhà máy điện và trung tâm giao thông … Nhân viên an ninh làm việc để bảo vệ an toàn cho công chúng, đồng thời đóng vai trò biểu tượng công lực để ngăn chặn các tội phạm nhỏ như trộm cắp, và các tội phạm nghiêm trọng hơn như khủng bố. Ngoài việc phản ứng nhanh về mặt thể chất, nhân viên an ninh thường phải sở hữu khả năng nhận thức nhạy bén để có thể phát hiện và ngăn chặn tội phạm.

Tại Hoa Kỳ, có trên 10,000 công ty tư nhân an ninh được cấp phép đào tạo và cung cấp nhân viên an ninh. Mỗi tiểu bang ở Mỹ đều có những tiêu chuẩn và yêu cầu cấp giấy phép riêng.

Họ phải trải qua các chương trình đào tạo toàn diện, tùy công việc làm nên có cấp độ (Level) khác nhau, từ cấp 1 đến 5, có vũ trang hoặc không vũ trang.  Chương trình đào tạo dành cho nhân viên an ninh bao gồm nhiều chủ đề như quyền hạn bắt giữ, hướng dẫn thoát hiểm v.v.  Chương trình trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để  giải quyết các trường hợp khẩn cấp và các thách thức liên quan đến an ninh một cách hiệu quả gồm: kỹ năng giao tiếp cá nhân linh hoạt, khả năng phản ứng bình tĩnh và hiệu quả trong các tình huống khẩn cấp, kiến thức về các quy định và chính sách về an ninh công cộng, khả năng hiểu, tuân theo và thực thi các quy tắc và thủ tục an toàn.

Trong phạm vi bài viết nầy, người viết muốn giới thiệu đến quý độc giả việc làm của các nhân viên an ninh người Việt Nam đang làm việc tại  giáo xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, thành phố Garland là anh Phan Johnny, Nguyễn Chí Dũng và Chung Hồng Hải.

Logo công ty An ninh Intrastate

Sinh Đặng (SĐ): Xin anh Johnny cho biết tại vùng Dallas Fort Worth có nhiều công ty an ninh tư nhân (Private Security Guard Agency) không?  Riêng các anh em thì trực thuộc cơ quan nào?

Johnny Phan (JP): Thưa anh, có nhiều. Chúng tôi thuộc Security Intrastate Protective in Arlington, TX. Công ty nầy phục vụ khắp tiểu bang Texas.

SĐ: Các anh làm việc toàn thời gian cho công ty hay một quy chế nào khác?

JP: Chúng tôi chỉ phục vụ các tổ chức phi lợi nhuận như nhà thờ, cộng đồng nhưng dưới sự điều hành của công ty.

SĐ: Ngoài công tác phục vụ nhà thờ, cộng đồng, anh có quyền làm việc cho các tổ chức khác không? Và có được công ty trả lương không?

JP: Dù không làm việc trực tiếp cho công ty nhưng đôi khi công ty cần nhân viên an ninh phục vụ nơi nào đó chúng tôi vẫn có mặt. Có nhiều lần sở Cảnh Sát Garland, Arlington thuê chúng tôi đến giúp trong những tổ chức có đông người tham dự ở các cộng đồng sắc tộc nhưng họ phải liên lạc qua công ty và chúng tôi được trả lương.

Chúng tôi không được tự ý làm việc với sắc phục nhân viên an ninh mà không được phép của công ty. Nếu nơi nào cần phục vụ an ninh riêng tư như đám cưới, tiệc tùng hay nhà hàng, họ cũng có thể liên lạc trực tiếp chúng tôi, thỏa thuận lương giờ và việc làm. Khi nhận việc chúng tôi phải thông báo cho công ty và phải đóng một số tiền theo số giờ làm việc để công ty “cover” bảo hiểm công việc chúng tôi làm.

SĐ: Nếu các anh làm việc thì phải đóng một khoản tiền để công ty lo vấn đề bảo hiểm. Như thế, nếu làm việc cho nhà thờ không có lương thì các anh có phải trả tiền bảo hiểm công việc không?

JP: Thưa anh không, vì chúng tôi làm với tư cách thiện nguyện viên không có lương nhưng phải báo cho công ty số giờ làm việc và họ được khai miễn trừ thuế cho khoản bảo hiểm việc làm nầy.

Nguyễn Chí Dũng làm việc với Police officer

SĐ: Muốn trở thành một nhân viên an ninh có vũ trang (Armed Security Officers) như các anh thì phải có điều kiện gì và có phải qua một khóa huấn luyện nào hay không?

Chung Hồng Hải (CHH): Điều kiện tất yếu là phải có một lý lịch tốt và qua khóa đào tạo cấp III. Đó là điều bắt buộc đối với tất cả các nhân viên an ninh được ủy quyền và nhân viên bảo vệ cá nhân. Lớp học kết hợp thời gian trên lớp, một số kỹ năng cần thiết cho công việc mình sẽ đảm nhận. Khóa học kéo dài 40 tiếng với các phần lý thuyết về nhiệm vụ của một nhân viên an ninh, hướng dẫn kỹ thuật về cách còng tay, giữ và kiềm chế cũng như cách giữ vũ khí. Các học viên sẽ học tại sân bắn và vượt qua bài kiểm tra bắn súng được 400 điểm để đủ điều kiện mang súng. Sau khi học viên vượt qua bài kiểm tra bắn súng và bài kiểm tra viết với điểm đậu sẽ nhận được chứng chỉ tốt nghiệp.

Khi hoàn tất khóa huấn luyện, phải lăn tay kiểm tra lý lịch tại Bộ An toàn Công cộng (DPS -Department of Public Safety), là cơ quan  quản lý nghề An Ninh Tư Nhân ở Texas. Học viên phải chờ khoảng 2 tháng, sau khi hội đủ điều kiện về lý lịch, không bị rối loạn tâm thần, học viên mới được DPS cấp giấy phép hoạt động (Licence). Cứ mỗi 2 năm phải “renew”. Hiện tại phải trả chi phí  $250   cho một “Licence”.

SĐ: Quyền hạn của nhân viên an ninh ra sao? Có được khám xét, kiểm soát đồ cá nhân và bắt giữ nghi phạm không?

Nguyễn Chí Dũng (NCD): Khi làm việc cho cơ sở nào, với nhiệm vụ bảo vệ an ninh, chúng tôi được ủy quyền làm tất cả mọi điều với mục đích giữ an toàn cho mọi người trong phạm vi đó. Thí dụ như nhà thờ, nếu có người báo bị mất trộm và chỉ đích danh người tình nghi, chúng tôi được quyền yêu cầu khám xét. Hay khi nhận công việc an ninh tại nhà hàng, hoặc các lễ hội có người quậy phá mất trật tự, được người có trách nhiệm yêu cầu chúng tôi có quyền mời đương sự ra khỏi nhà hàng hoặc khu vực đó. Nếu không tuân hành, chúng tôi có quyền bắt giữ, còng tay và giao cho cảnh sát giải quyết.

 Nguyễn Chí Dũng và Police Officer Kerrens

SĐ: Việc làm của các anh có sự tương tác với sở cảnh sát thành phố không?

NCD: Chúng tôi luôn luôn được sự hỗ trợ của sở cảnh sát. Mỗi khi xảy ra sự kiện an ninh nào có tranh chấp, cảnh sát luôn bảo vệ chúng tôi trong khi thi hành nhiệm vụ.

SĐ: Trong các khu thương mại Việt Nam luôn có những nhân viên an ninh vũ trang làm việc thì những người nầy ai sẽ trả lương?

NCD: Khi một cơ sở thương mại cần nhân viên bảo vệ thì liên lạc với công ty an ninh tư nhân, chẳng hạn như công ty của chúng tôi. Cơ sở thương mại sẽ hợp đồng với công ty an ninh, và công ty sẽ gửi nhân viên đến nhận nhiệm vụ và trả lương cho họ.

SĐ: Các anh em đã làm công việc này được bao lâu? Uniform nầy, súng đạn và các trợ cụ an ninh trang bị theo bộ sắc phục cung cấp từ đâu?

NCH: Anh Johnny và tôi được 8 năm, anh Chung Hồng Hải 7 năm. Tất cả sắc phục, phù hiệu, trợ cụ an ninh chúng tôi phải trả tiền cho công ty cung cấp. Mỗi bộ sắc phục có giá từ $200 đến $250. Súng đạn là của cá nhân tự mua lấy. Chúng tôi cũng phải đi thao dợt tại sân bắn thường xuyên và luyện tập thêm kỹ năng cá nhân để luôn sẵn sàng đối phó với những trường hợp kẻ xấu dùng bạo lực.

SĐ: Xin các anh cho biết trong quá trình phục vụ tại địa phương, trong nhiệm vụ có từng  giải quyết những trường hợp vi phạm an ninh nào không?

JN: Cũng không nhiều thưa anh. Có một nhóm thiếu niên vào khu vực nhà thờ quậy phá, các anh trật tự can thiệp không có kết quả, khi chúng tôi với sắc phục và vũ trang đến can thiệp, họ bỏ đi. Một lần tại hội chợ Cộng đồng khu Sàigòn Mall, có một người đàn ông say rượu, la lối quậy phá không ai cản được. Tôi đến khuyên giải ông không nghe nên đã bắt ông giải giao cho cảnh sát.

SĐ: Thay mặt độc giả Trẻ,  xin cám ơn các anh đã chia sẻ những hiểu biết về công việc mà các anh đang phục vụ thiện nguyện và  giúp gìn giữ an ninh cho những sinh hoạt thường xuyên của giáo xứ cũng như nhiều tổ chức cộng đồng.

Trau dồi kỹ năng tự vệ

SĐ

Những thiết bị trang bị cho một Nhân viên an ninh sắc phục vũ trang:

– Bộ đồng phục của công ty an ninh

– Đai nịt to bản mang thiết bị

– Súng ngắn- băng đạn

– Radio hai chiều

– Điện thoại cầm tay

– Áo giáp chống đạn

– Dùi cui

– Bình xịt hơi cay

– Còng và chìa khóa

– Còi (Whistle)

– Đèn pin

– Máy quay phim đeo trên ngực áo

– Sổ tay và bút

– Kính an toàn

Tự do hay là Chết

baotreonline.com

Đặng Hiếu Sinh

Post on March 15th, 2024

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Ông Raw, Phùng Tài, ông Châu Thụy

Buổi sáng ngồi nhâm nhi tách cà phê nóng bên cửa sổ, đọc tin chiến sự Ukraine với nhiều điều đáng buồn và đáng lo vì quân đội kiên cường của đất nước tang thương này đang thiếu sự yểm trợ về vũ khí để chiến đấu với Nga. Không biết tình hình cuộc chiến tự vệ chống quân xâm lăng của Ukraine ra sao? Nếu Putin thắng thì số phận người lính và dân Ukraine thế nào?

Nhìn ra sân thấy cây đào đã nở hoa trắng xóa. Tháng Ba, hoa đào nở nơi xứ sở tự do này nhưng tháng Ba năm xưa lại bắt đầu cho những bi thương mà miền Nam phải hứng chịu vì đồng minh bỏ rơi và kết thúc là nỗi oan nghiệt của ngày 30 tháng 4. Người chết. Kẻ tù tội. Hằng triệu đồng bào đã liều mình vượt đại dương trên những phương tiện mong manh và đã có biết bao người đã bỏ mình trên biển cả vì 2 chữ TỰ DO.

Tự do ơi tự do! tôi trả bằng nước mắt

Tự do hỡi tự do! anh trao bằng máu xương

Tự do ơi tự do! em đổi bằng thân xác.

Vì hai chữ tự do ta mang đời lưu vong (*)

49 năm qua, thế hệ đầu tiên – nhân chứng của cuộc hành trình tìm tự do nầy đã lần lượt ra đi, có còn ai nhớ đến!.

Người viết chợt nhớ…

Chiếc ghe trong Viện Bảo Tàng sau 38 năm

Khoảng giữa năm 2023, qua phương tiện truyền thông nhiều người đã biết câu chuyện chiếc ghe bằng gỗ dài 6 mét, không máy móc, chỉ có 2 mái chèo và một cánh buồm đơn sơ đã đưa 9 người trẻ vượt thoát cộng sản vào năm 1984, được một tàu buôn Pháp cứu vớt. Chiếc ghe này đã được lưu giữ ở Viện Bảo Tàng Hải Dương Pháp tại Le Havre 38 năm qua. Ngày 14 tháng 11 năm 2022, người Pháp đã trao tặng chiếc ghe cho ông Châu Thụy, Giám đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt (Vietnamese Heritage Museum) tại California.

Duyên may đưa đẩy, người viết gặp được anh Phùng Tài, người thanh niên trẻ đi trên chiếc ghe “lịch sử” đó đang sống tại Dallas và anh đã dành thời gian để kể lại cuộc hành trình mà “vì 2 chữ tự do ta mang đời lưu vong” của anh và cũng phần nào giải đáp những thắc mắc của người viết sau khi đọc bài tường thuật sơ lược trên báo chí.

Đặng Hiếu Sinh(ĐHS): Chào anh Tài, lúc đi vượt biên anh bao nhiêu tuổi và trên ghe có bao nhiêu người?

Phùng Tài (PT): Lúc đó tôi hơn 22 tuổi. Đi cùng với tôi có 8 người, trong đó có 3 phụ nữ và một bé trai khoảng 12 tuổi. 8 người nầy đều là họ hàng với nhau.

ĐHS: Theo bài tường thuật, đây là chiếc ghe nhỏ đi trên sông. Làm sao các anh có được chiếc ghe có buồm mà lại không có máy?

PT: Chiếc ghe này được gia đình Nguyên (anh Nguyên là chủ ghe cũng là người tổ chức và lái) đã mua lại của người hàng xóm, gốc Trà Cổ, Bắc Việt. Người làng Trà Cổ và người làng Xuân Ninh thuộc Móng Cái, Hải Phòng rất giỏi trong việc đóng và lái thuyền buồm. Chiếc ghe là nơi Nguyên cư ngụ, lênh đênh nay đó mai đây trong thời gian trốn tránh nghĩa vụ quân sự và cuối cùng được dùng làm phương tiện vượt biên. Cả nhóm chúng tôi đều nghèo, không có tiền mua máy. Ghe chỉ có 4 cột chèo trước sau và 1 cột buồm chỉ dùng khi có gió.

Thuyền nhân và chiếc ghe được kéo lên tàu

ĐHS: Trong những ngày ra khơi, ghe có gặp trở ngại gì không và điều gì là động lực mạnh mẽ nhất giúp các bạn vượt qua khó khăn?

PT: Dạ, có rất nhiều trở ngại không lường được trước đại dương mênh mông mà chiếc ghe thì quá bé nhỏ, mong manh. Có ngày giông gió, sấm chớp nổi lên ầm ầm, chiếc ghe của chúng tôi bị nhồi như chiếc lá theo từng đợt sóng, đưa chúng tôi lên vút cao rồi nhấn chúng tôi xuống sâu thẳm. Mỗi lần như thế ruột gan ai cũng bị đảo lộn và bao nhiêu tiếng nôn ọe nổi lên giữa những tiếng kêu thất thanh Giê-Su, Maria. Sóng càng lúc càng mạnh, mọi người đều bị ướt sũng và thấm lạnh, nhìn quanh chỉ thấy biển một màu trắng xóa, không biết đâu là phương hướng. Sau đó, có người đề nghị “Hay là tìm cách quay về, chuẩn bị chu đáo hơn rồi tiếp tục ra đi”. Nhưng sự phản đối quyết liệt từ 2 cô gái “Em thà chết chứ không quay về”, cộng thêm đức tin, lòng trông cậy và phó thác mạng sống của mình trong tay Chúa nên chúng tôi quyết định tiếp tục đi bất chấp mệt mỏi, hiểm nguy đang ngày đêm rình rập.

ĐHS: Đến khi nào các anh mới gặp được tàu buôn Pháp và cuộc cứu cấp xảy ra như thế nào?

PT: Đến ngày thứ tư kể từ lúc khởi hành mọi người đều đã kiệt sức sau khi phải liên tục đối đầu với những cơn sóng to gió lớn thì chúng tôi mới thấy tàu lớn và cố gắng đánh tín hiệu cấp cứu nhưng họ làm ngơ, không cứu. Mãi đến tối ngày thứ bảy, một tàu Pháp khi nhận tín hiệu cấp cứu bằng đèn pin do tôi đánh đi đã dừng lại và vớt chúng tôi lên. Nhìn thấy chiếc ghe nhỏ không có máy nên họ kéo cả ghe lên tàu. Đây là tàu chở hàng mang tên Cetra Corona của công ty Chargeurs Réunis Pháp trên đường đi sang Nhật. Sau 17 ngày ở trên tàu, chúng tôi được đưa lên bờ tại cảng Nagoya để vào trại tị nạn đầu tiên ở Omura tỉnh Nagasaki.

ĐHS: Anh ở trại tị nạn Nhật bao lâu?

PT: Trại Omura là nơi tạm trú. Người tị nạn sẽ rời đi nếu có hội đoàn hay cơ quan nào đến nhận. Tôi được Linh mục người Ý bảo lãnh đến Niigata. Sống ở đó một năm rưỡi, học tiếng Nhật và đi làm.

ĐHS: Thời gian ở Nhật, anh có kỷ niệm nào đáng nhớ nhất?

PT: Nhắc đến Niigata tôi nhớ một kỷ niệm dở khóc, dở cười vì bất đồng ngôn ngữ. Một hôm, tôi đến cửa hàng tạp hoá mua trứng gà. Không thấy trứng mà không biết làm sao hỏi, tôi bèn đưa tay ra phía sau mông và cất tiếng “cục cục cục tác”, rồi đưa bàn tay ra phía trước. Người Nhật bán tạp hoá cười to và nói “Wakarimashita” (tôi đã hiểu). Một vị khách hàng có mặt lúc ấy cười rộ lên. Tôi cũng cười cho đỡ “quê”.

Gia đình Phùng Tài

ĐHS: Làm thế nào anh được sang Mỹ?

PT: Dạ, tôi được người anh bảo lãnh.

ĐHS: Cơ duyên nào giúp anh tìm lại được chiếc ghe ở Pháp?

PT: Được biết chiếc ghe đã chuyển vào Viện Bảo Tàng Hàng hải Le Havre, nên sau khi định cư ở Mỹ hàng năm tôi vẫn liên lạc với ông bà Giám đốc Viện. Những năm sau đó tôi bị mất liên lạc, có thể do ông bà đã già không còn làm việc ở đó, nên thư của tôi bị trả lại và tôi cũng vô tình làm mất quyển sổ địa chỉ. Sau đó, ông Châu Thụy giám đốc Viện Bảo tàng Di Sản Người Việt muốn có chiếc ghe vượt biên để làm biểu tượng cho Viện nên đã liên lạc với tôi. Chúng tôi qua Pháp, tìm đến viện bảo tàng và “gặp” lại chiếc ghe đã được gìn giữ suốt 38 năm.

ĐHS: Làm sao ông Châu Thụy biết anh và chiếc ghe nầy đang được lưu giữ ở Pháp?

PT: Trước đây tôi thường viết hồi ký đưa lên “internet”, ông Thụy đọc được nên tìm tôi và tỏ ý mong ước có được chiếc ghe cho Viện.

Phùng Tài và tác giả

ĐHS: Làm sao chứng minh cho họ tin anh chính là thuyền nhân  trên ghe đó?

PT: Nhờ trước kia tôi đã từng liên lạc nên họ tin. Hơn hết là họ nhìn thấy niềm cảm xúc vô bờ của tôi khi sờ được chiếc ghe. Thật sự, tôi đã không kềm nén được sự xúc động nên đã khóc rất lâu. Được biết, trước đây đã có 2 nhóm người đến gặp và ngỏ ý muốn xin chiếc ghe nhưng họ từ chối vì sợ nhóm người này dùng vào mục đích xấu. Lúc ấy, tôi lo lắng không biết có được nhận lại chiếc ghe không, hoặc phải trả một khoản tổn phí nào nhưng cuối cùng khi ông Giám đốc Raw vỗ vai tôi và nói “Kể từ ngày hôm nay chiếc ghe nầy thuộc về lịch sử các anh” thì tôi biết rằng họ cho không.  Ngoài ra, họ còn sốt sắng giúp đỡ chúng tôi trong việc tìm công ty chuyên chở để đưa ghe về Mỹ.

ĐHS: Tổn phí chuyên chở về Mỹ chắc không phải là con số nhỏ?

PT: Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã làm thủ tục nhận và chuyển về Mỹ. Tôi không biết chính xác nhưng hình như khoảng 50 ngàn đô. Ông Châu Thụy cũng gặp nhiều khó khăn trong việc vận động cho đủ số tiền, vì có rất nhiều thuyền nhân không còn nhớ đến và tha thiết lắm với công việc này. Tôi nghĩ rằng, chiếc ghe nhỏ nầy là một vật chứng sống thật nhất cho con cháu thuyền nhân biết tại sao chúng được sinh ra ở đây.

ĐHS: Qua câu chuyện vượt biên và nhất là thấy được chiếc ghe là một chứng tích sống thực, các con anh nghĩ gì và có ảnh hưởng gì đến cuộc sống của cháu?

PT: Tôi có 3 đứa con, 2 trai, 1 gái. Hai con trai đã phục vụ trong quân đội Hoa Kỳ. Tôi tin rằng chúng hiểu rõ chế độ cộng sản qua việc đánh đổi mạng sống vì tự do của cha ông.

ĐHS: Thay mặt độc giả Trẻ, xin cám ơn anh Tài đã chia sẻ câu chuyện về cuộc hành trình tìm tự do thật liều lĩnh và gian nan của anh. Chúc anh và gia đình luôn bình an, hạnh phúc.

—

(*) Trích lời trong nhạc phẩm “Xin Đời Một Nụ Cười” của nhạc sĩ Nam Lộc.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

May 14th, 2021

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

(Kỳ 12)

Mục đích khai chiến của Nhật là chiếm lấy các mỏ dầu trên quần đảo Nam Dương khi ấy chưa gọi Indonesia mà hãy còn mang tên Dutch East Indies, Đông-Ấn thuộc Hòa Lan. Để thực hiện, Nhật cần phá hai lá chắn Mã Lai và Phi Luật Tân. Sau khi hai thiết giáp hạm Prince of Wales và Repulse chìm xuống biển Đông, cách Sàigòn 400 hải lý, Đại tướng Yamashita Tomoyuki cùng với 70 ngàn binh sĩ của Lộ quân XXV tiến vào Tân Gia Ba, bắt sống Trung tướng Arthur Pervical với 130 ngàn quân Anh-Ấn-Úc. Hơn một nhục nhã, một khởi đầu của sự tan rã của đế quốc Anh mà tiến trình giải thực về sau ở Á châu là hệ quả. Với Nhật Bản, còn lại lá chắn Phi cần thanh toán.

Douglas MacArthur là một danh tướng, quyền Tổng tư lệnh Hoa Kỳ tại Viễn Đông (USAFFE). Chi tiết Eisenhower từng là thuộc cấp nói lên chiều kích của MacArthur trong quân đội Hoa Kỳ. Tuy nhiên, việc phòng thủ xứ Phi lại là một vết đen trong binh nghiệp MacArthur.

10 giờ sau khi Trân Châu Cảng bị tấn công, tuy biết tin, MacArthur đã không có một động thái nào. Trung tướng Lewis Hyde Brereton, Tư lệnh US Far East Air Force, đề xuất tung các pháo đài bay B17 nghiền nát Không đoàn Đài Nam của Nhật trên đảo Đài Loan vì biết chắc không tập Nhật sẽ xuất phát từ đây. MacArthur từ chối, viện lý lẽ không thể dùng hết các oanh tạc cơ nặng cho một canh bạc. Đối lại với phương châm “Make the first move” của Brereton, MacArthur áp dụng công thức “Wait and See” – trông chờ viện binh mà Roosevelt hứa hẹn.

12 giờ trưa ngày 8 tháng 12-1941, Không đoàn Đài Nam tấn công phá hủy hầu hết máy bay Mỹ ở Clark Field Air Base. Không còn không yểm, US Asiatic Fleet của Đô đốc Thomas C. Hart gồm 2 tuần dương hạm nhẹ và 10 khu trục hạm phải lui về Nam Dương trú ẩn. Chỉ sau một ngày, MacArthur không còn không quân và hải quân. Việc 151 ngàn binh sĩ Phi-Mỹ phải lui về cố thủ trên bán đảo Bataan rồi đầu hàng trong pháo đài Corregidor sau khi MacArthur thoát đi, là đoạn kết. Với lời hứa “I came through and I shall return!” của MacArthur.

Trong những ngày này, Trung tá Hara tham dự hành quân đổ bộ lên thủ phủ Davao phía cực Nam Manila. [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 12

Vào ngày 15 tháng 12-1941, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt hài lòng về diễn tiến êm đẹp của cuộc hành quân đổ bộ lên Luzon, và xét thấy không cần thiết phải duy trì các cuộc tuần tiễu ở hải phận Legaspi nữa nên đã ra lịnh cho các tàu của chúng tôi trở về Palau. Một cuộc phản công của Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân đã bị chặn đứng vào thời gian đó. Trong khi lấy nhiên liệu ở Palau, chúng tôi được lịnh hộ tống các tàu chuyển vận đổ bộ lên Davao phía Nam đảo Mindanao.

7 giờ sáng ngày 17 tháng 12, một đoàn tàu 12 dương vận hạm chia ra làm 3 nhóm vận chuyển một trung đoàn bộ binh rời khỏi Palau. 7 khu trục hạm và 2 dương đĩnh nhỏ giữ nhiệm vụ hộ tống. Trên tuần dương hạm Jintsu (Thần Ðạo), Ðề đốc Tanaka chỉ huy cuộc hành quân.

Bốn mươi lăm phút sau khi rời khỏi Palau, lúc đang đứng trên đài chỉ huy, nhân viên sonar của tôi báo cáo phát hiện một chiếc tiềm thủy đĩnh cách 2000 thước ở 80 độ hữu mạn. Sự phát hiện này giống như những gì đã xảy ra vào ngày 6 tháng Chạp. Bây giờ thì không còn sự lưỡng lự nào nữa. Chúng tôi tiến đến cách mục tiêu 1000 thước, tăng gia tốc lên 21 hải lý, thả xuống 6 trái thủy lôi nổ ngầm, đoạn xoay hướng 230 độ và thả thêm 6 trái nữa. Các thủy lôi phát nổ ở độ sâu 30 thước. Chúng tôi quan sát mặt nước, không có chứng cớ nào cho thấy cuộc tấn công của chúng tôi có hiệu quả. Tôi cho khu trục hạm Amatsukaze của tôi chạy phía bên phải của nhóm tàu chuyển vận thứ hai và giữ vị trí hộ tống như cũ. Ðoàn tàu chạy với tốc độ 10 hải lý theo hình chữ chi.

Vào lúc 1 giờ trưa cùng ngày, khu trục hạm Kuroshio (Hắc Thủy) chạy ở cánh phải của nhóm thứ nhứt báo cáo: “Phát hiện tiềm thủy đĩnh địch. Phối hợp với phi cơ tuần thám, chúng tôi đã tấn công chiếc tàu ngầm này bằng mìn nổ chậm. Một khoảng dầu rộng lớn nổi lên mặt nước. Chúng tôi xem như tiềm thủy đĩnh địch đã bị đánh chìm.”

Công điện này gây ra sự “đố kỵ” trên chiếc Amatsukaze. Tôi lặng lẽ trao công điện cho các sỹ quan dưới quyền. Họ vừa càu nhàu vừa kêu lên thất vọng. Trước bình minh ngày 20 tháng 12, đoàn tàu tiến vô vịnh Davao mà không gặp sự ngăn chặn nào của phi cơ hoặc chiến hạm của Ðồng Minh. Hành quân đổ bộ không mới mẻ gì đối với tôi. Cách đây 5 năm tôi đã từng nếm mùi hỏa lực địch ở Thượng Hải. Hành quân Davao lần này, chúng tôi được lịnh không nổ súng, trừ phi bị thách thức. Chúng tôi muốn chiếm Davao mà khỏi phải đụng độ và càng ít tàn phá càng tốt. Hai nhóm tàu đã đổ quân nhanh chóng, một cách êm thắm.

Các tàu hộ tống chạy chầm chậm trong vịnh cảng yên tĩnh. Từ chiếc Amatsukaze, một trung đội thủy thủ của tôi xuống xuồng máy, đảm trách nhiệm vụ giải giới và bắt giữ tất cả các tàu buôn nhỏ đang đậu trong hải cảng. Nhưng khoảng sau vài phút, địch quân thình lình xuất hiện trên bến tàu và xả súng bắn vào trung đội của tôi đang đi trên ca-nô. Một số thủy thủ bị trúng đạn.

Tôi hét: “Tả mạn khai hỏa!” Câu này giống như tôi đã hét trong cuộc đổ bộ Thượng Hải. Một sự lặp lại đần độn mà chính tôi phải rủa thầm.

Sáu khẩu trọng pháo 127 ly xoay nòng và khai hỏa. Không một quả đạn nào trúng ngay vào quân địch chỉ cách 2,000 thước, nhưng họ vẫn phân tán và bỏ chạy. Chúng tôi bắn đuổi theo cho đến khi không còn thấy bóng dáng một tên địch nào.

“Ngừng bắn!” tôi ra lịnh. Nhưng một quả đạn đã bay ra khỏi nòng và một chiếc tàu chở xăng dầu đậu cách bờ 50 thước bị trúng đạn bùng cháy.

Diễn biến cuộc hành quân này khác xa sự hy vọng của tôi. Tôi đã lặp lại một số lỗi lầm vụng về. Tôi không còn là một chuyên viên khu trục hạm hàng đầu nữa, nhưng là một gã thấp trí và ngu dốt.

Lúc đó, chiếc ca-nô trở về với một xác chết. Ngày hôm sau, tôi thi hành đủ lễ tống táng cho Trung sỹ Tsuneo Horie, thủy thủ đầu tiên của tôi ngã xuống trong cuộc chiến. Chiếc tàu dầu cháy suốt ba ngày ba đêm.

Sau cuộc đổ bộ, chúng tôi bận rộn suốt cả tuần với công việc giải thoát các kiều dân Nhựt trong khu vực. Rất may là chỉ có một vài cư dân Nhựt đã bị Ðồng Minh giết vào đầu cuộc chiến.

Không lâu trước đó, các báo cáo thương vong trên một số khu trục hạm khác gửi đến. Các khu trục hạm này tham dự hành quân ở đảo Wake, tỏ ra còn tồi tệ hơn những gì chúng tôi đã làm ở Davao. Vào ngày 11 tháng 12, khu trục hạm Kisaragi bị các phi cơ của hải quân Hoa Kỳ đóng ở Wake đánh chìm. Cùng ngày, khu trục hạm Hayate, một đồng đội của Kisaragi, cũng bị các pháo đội phòng duyên Hoa Kỳ triệt hạ. Làm sao mà hai chiếc tàu này lại vụng về như vậy!

(Chiếc Kisaragi, 1,400 tấn đóng năm 1924, võ trang 4 hải pháo 120 ly đã tham dự vào Lực Lượng Ðặc Nhiệm tấn công Trân Châu Cảng, bị 4 chiến đấu cơ F4F Wildcat từ đảo Wake tấn công bằng bom 50kg, 1 trong 4 quả thả trúng sườn phần nằm chìm dưới nước làm nổ tung bên dưới tàu và chìm cấp kỳ, trước đó vài giờ chiếc Hayate (Cơn Lốc), một khu trục hạm 1,720 tấn đóng cùng thời với Kisaragi, võ trang 3 hải pháo 120 ly, bị pháo binh duyên hải 127 ly của Hoa Kỳ trên đảo Wake bắn trúng 2 phát và chìm với 168 thủy thủ đoàn.)

Nhưng tôi biết còn nhiều chiến hạm khác vụng về hơn như khu trục hạm Shinonomé (Rạng Ðông), 1,750 tấn, võ trang 6 hải pháo 127 ly thuộc lớp tàu khu trục “hạng sang”chạm phải một trái mìn và chìm ở Miri, Bornéo. Báo cáo không thể xác định loại mìn mà chiếc tàu này chạm phải là của Nhựt hay của Hòa Lan!

Vào ngày 24 tháng 12, tôi muốn nổi khùng khi nghe tin khu trục hạm Sagiri (Sương Mù), cùng loại với  chiếc Shinonomé bị một tiềm thủy đĩnh tấn công bằng ngư lôi và cũng chìm gần Bornéo. Ðúng là một con mèo bị một con chuột nuốt. Sau đó chúng tôi biết được chiếc tiềm thủy đĩnh đạt được chiến công này là chiếc K16 của Hòa Lan.

(Chiếc Shinonomé chạm phải mìn và chìm với tất cả thủy thủ đoàn. Chiếc Sagiri bị trúng ngư lôi từ tiềm thủy đĩnh K16 của Hòa Lan và chìm với 121 thủy thủ, 120 thủy thủ sống sót được khu trục hạm Shirakumo (Bạch Mây) cứu thoát).

Nhưng tin khu trục hạm Kuroshio thuộc phân đội của tôi đã thành công trong việc đánh chìm một tiềm thủy đĩnh của địch đã gây phấn chấn và gỡ thể diện cho chúng tôi phần nào. Nhưng ngày 23 tháng 12, chiếc tàu này đã “ngủ quên” và bị một chiếc phi cơ xuất hiện thình lình tấn công. Rõ ràng Kuroshio không tin là có phi cơ Ðồng Minh hoạt động quanh quẩn khu vực. Chiếc phi cơ, một pháo đài B17, sà xuống dội một loạt bom, và một trong những trái bom đã trúng ngay chiếc tàu gây nhiều thương vong.

Những câu chuyện này không được tiết lộ ra ngoài, mà bị chôn vùi hẳn giữa những chiến công ngoạn mục của Nhựt Bản được quảng bá rộng rãi vào thời gian ấy. Nghe các tin tức này làm tôi càng thêm rầu rĩ. Người ta thường nói chiến tranh là một loạt những sai lầm, nhưng những sai lầm này không thể nào chấp nhận được. Những thiệt hại như thế đã khiến tôi giận dữ tột độ, và tên hạm trưởng do dự, đắn đo một tháng trước đây không còn trong tôi nữa. Tôi đã trở thành một kẻ khác, hung tợn và dứt khoát.

Sự sai lầm của chúng tôi cứ tiếp tục trong suốt tháng ngày đầu của cuộc chiến. Một việc xảy ra vào ngày 4 tháng 1 năm 1942 khiến tôi điên tiết. Vào ngày đó, 14 chiến hạm quan trọng, bao gồm hầu hết lực lượng trên biển của Nhựt trong khu vực, đậu ở hải cảng nhỏ Malalag trên bờ Tây vịnh Davao. Hải khẩu thật nhỏ hẹp và Ðề đốc tư lịnh đã ra lịnh đóng lại bằng một mạng lưới chống tiềm thủy đĩnh.

Lúc đang dùng bữa trưa, tôi nghe tiếng la của thủy thủ canh gác: “Phi cơ tấn công!” Chúng tôi nhìn lên trời và thấy 9 oanh tạc cơ 4 máy đang bay trên cao độ 30,000 bộ, là 9 ngàn thước. Chúng tôi biết đây là loại B17, các pháo đài bay, bởi thời gian đó Nhựt chỉ có loại thủy phi cơ quan sát 4 máy Kawanishi (Emily) trong khu vực.

Sỹ quan và thủy thủ chạy ùa vào vị trí chiến đấu. Nhưng mà chạy vào vị trí chiến đấu để làm gì? Chúng tôi bó tay trước hải khẩu nhỏ bé đã bị đóng kín. Chúng tôi không thể làm gì khác hơn là đứng nhìn. Các khẩu súng của chúng tôi không thể nào chạm tới các pháo đài bay đó, và lúc đó cũng không có chiến đấu cơ nào của Nhựt cất cánh nghinh chiến.

Tôi khoanh tay nhìn những quả bom được trút xuống. Rất may là các oanh tạc cơ Hoa Kỳ, hiển nhiên là mới đến Java, không mang theo bom hạng nặng và nhắm mục tiêu không chính xác. Một quả bom 250 cân Anh trúng thẳng vào pháo tháp thứ hai của tuần dương hạm Myoko đậu chính giữa hải cảng, gây cho hơn 20 người chết và 40 thủy thủ khác bị thương. Mảnh của quả bom này văng qua chiếc tàu chở thủy phi cơ Chitose (Thiên Tuế) đậu cách đó 500 thước, phá hủy 5 phi cơ trên sàn tàu. Không một phi cơ nào của Nhựt kịp cất cánh để truy đuổi các oanh tạc cơ địch.

Khu trục hạm Amatsukaze của tôi đậu cạnh bãi biển và không thể nhấc một tấc nào để tránh các quả bom rơi xuống. Chúng tôi đã thoát được nhờ may mắn. Tôi chưa bao giờ cảm thấy buồn rầu hơn ngày hôm đó, khi dõi theo tuần dương hạm Myoko, một đồng đội thiết thân của tôi từ ngày phát động cuộc hành quân, “khập khiễng” rời khỏi vịnh Davao trên đường trở về Nhựt để sửa chữa.

Chúng tôi không thể nào chấp nhận phương cách tác chiến ngu xuẩn này. Ðể giải buồn tôi uống liên tiếp nhiều ly sakê.

(Tuần dương hạm hạng nặng Myoko, trọng tải 13,300 tấn, dài 204m và có thể đạt tốc độ 36 hải lý (67km/h), đóng tháng 10 năm 1924 và hoàn tất vào tháng 7 năm 1929, trang bị 10 hải pháo 203 ly, 6 hải pháo 120 ly, hỏa lực mạnh nhứt của một tuần dương hạm vào thời đó, đây là chiếc đầu tiên của lớp tàu này, ba chiếc được hoàn tất kế đó là Nachi, Ashigara và Haguro. Chiến hạm này tham gia tất cả các trận đánh lớn trên Thái Bình Dương và sống sót sau cuộc chiến. Ngày 21 tháng 9 năm 1945, Myoko đầu hàng quân Anh ở Tân Gia Ba và đến ngày 7 tháng 6 năm 1946 bị quân Anh đánh đắm ở eo biển Malacca.

Số phận của chiếc Chitose (Thiên Tuế), là một tàu chở thủy phi cơ hạ thủy vào năm 1936 rồi cải biên thành một hàng không mẫu hạm hộ tống vào năm 1943, sẽ bị đánh đắm trong thủy chiến vịnh Leyte vào tháng 10 năm 1944 bởi Task Force 38 của Ðô đốc Halsey.) Trong một chuyến tiếp tế, có một gói hàng do người bạn thâm niên nhứt của tôi hiện sống ở Osaka gởi đến. Trong đó là một cái áo lót mình đàn ông, tương tợ loại áo maillot de corps của sỹ quan Pháp ở Ðông Dương, với 1,000 mảnh vải đủ màu sắc được khâu lại bằng tay. Theo cổ tục, cái áo lót này đối với người Nhựt chẳng khác nào lá bùa hộ mạng chống được vũ khí của kẻ thù. Nếu được may bằng tấm lòng chân thực của một người đàn bà có trời chứng giám sẽ hóa thành một tấm áo giáp che thân.

Trong thơ, bà vợ của bạn tôi cho biết có một phụ nữ đã đứng ở một góc phố để nài nỉ 999 người đàn bà khác mỗi người cho một mảnh vải, rồi đem về khâu, rồi van lơn vợ chồng bà gởi cho tôi. Cảm kích tôi mặc ngay chiếc áo lót vào mình cho dù tôi không tin tưởng cổ tục dị đoan này. Vợ tôi, Chizu là một người vợ phẩm hạnh và đoan trang, chắc chắn là không hài lòng nhưng người phụ nữ ấy là ai? Tôi chợt nghĩ đến Utamara, nhớ đến nàng mỗi khi đánh giày cho tôi xong đều ngước lên nói: “Em muốn anh bảnh bao.” Và mỗi khi nàng áp má lên ngực tôi, luôn thì thầm: “Em ước lồng ngực anh rắn mãi.” Utamara! Tôi vụt xúc động và lấy giấy viết dòng chữ Watashi no ai! Tình yêu của anh! … cho đến khi tôi tự trấn tĩnh và thả tờ giấy xuống lòng biển sâu. Tôi đứng nhìn cho đến lúc tờ giấy chìm vào sóng.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

May 6th, 2021

Churchill và Roosevelt trên thiết giáp hạm Prince of Wales  

(Kỳ 11)

Prince of Wales là tước hiệu của Thái tử Charles, quân vương tương lai sau khi Nữ hoàng Elizabeth II băng hà. Tước hiệu này nói lên vị trí của đại thiết giáp hạm Prince of Wales trong Hải quân Hoàng gia Anh. Nặng 44 ngàn tấn, tốc độ 54 km/g, bọc thép 15 inch, võ trang 10 hải pháo 360 ly, 16 hải pháo 133 ly và 64 phòng không 40 ly, Prince of Wales là niềm kiêu hãnh của đế chế Anh. Một chi tiết khác: Ngày 14 tháng 8-1941 Winston Churchill ký Hiến Chương Đại Tây Dương

(The Atlantic Charter) với Franklin Roosevelt trên thiết giáp hạm Prince of Wales. Một Hiến Chương quan trọng đặc biệt vì Anh-Mỹ cùng cam kết “Không một sự thay đổi lãnh thổ nào trái với ý nguyện của các dân tộc liên quan. Chủ quyền của một quốc gia bị một quốc gia khác dùng sức mạnh tước đoạt phải được khôi phục”. Churchill đã có thể gặp Roosevelt ở Toronto hay Québec là vùng đất của Nữ hoàng, không quá xa Washington DC nhưng Churchill đã muốn ký kết Hiến Chương trên thiết giáp hạm Prince of Wales, ngoài khơi Canada, để phô diễn sức mạnh của Vương Quốc Mặt Trời Không Bao Giờ Lặn.  

Cùng với chiếc Prince of Wales, thiết giáp hạm Repulse 38 ngàn tấn, võ trang 6 hải pháo 380 ly, bọc thép 9 inch, hợp thành Hải Lực Z. Nhiệm vụ: “Trừng trị giặc Nhật!”(Punish the Japanese enemy!).

Ngày 10 tháng 12-1941, Đô đốc Tom Phillips chỉ huy Hải Lực Z tiến đánh các dương vận hạm Nhật đang đổ quân lên Mã Lai Á, tại Kota Bharu, cách Sàigòn 400 dặm về phía Tây Nam của biển Đông. Đề đốc Sadaichi Matsunaga, Tư lệnh Liên Phi đoàn Đông Dương với hai phi đoàn 22 và 23 trú đóng tại Tân Sơn Nhất và Thủ Dầu Một, tung 96 máy bay phóng ngư lôi. Vài giờ sau, cả hai chiến hạm Anh chìm vào biển sâu.

Một thập niên sau, trong tập VI trang 259 của hồi ký The Second World War, Nobel Văn Chương 1953, Churchill ghi lại giờ phút thảm khốc: “Trong đêm khuya chuông điện thoại reo cạnh giường. Giọng nói của bộ trưởng hải quân run run lạ lùng và ho khan liên tục làm tôi không hiểu ngay câu chuyện. “Tôi trình lên Thủ tướng là cả hai thiết giáp hạm Prince of Wales và Repulse đã bị quân Nhật đánh đắm. Đô đốc Tom Phillips chết đuối, còn Đại tá John Leach chết theo tàu.” Tôi gác máy. Trong suốt chiến tranh tôi chưa từng nhận cú đấm nào khốc liệt bằng. Tất cả các nỗ lực và hy vọng chìm theo hai chiếc tàu này. Tôi xoay ngang xoay dọc trên giường, suốt đêm không tài nào chợp mắt. Tất cả kinh dị hiện ra sáng trưng: Không còn một thiết giáp hạm nào của Hải quân Anh-Mỹ ở Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương đã thành ao hồ của Nhật Bản!”

Sau chiến thắng, nhật ký hành quân của Liên Phi đoàn Đông Dương ghi: đích thân Đề đốc Sadaichi Matsunaga rót rượu và tháo huân chương danh dự Jugun Kisho (Military Medal of Honor) của chính ông gắn lên ngực Phi đội trưởng Nakanishi trong câu lạc bộ Sakura no hana (Hoa Anh Đào), về sau là câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc của Không quân VNCH. Riêng hạm trưởng Hara theo dõi trận đánh từ xa.

Chương XI

“Thưa Hạm trưởng, có công điện…”

Tôi xoay người sang anh thủy thủ chạy việc. Thủy thủ Takeo Murata 18 tuổi, phục vụ trên tàu chỉ mới một tháng nay. Anh ta là một trong những người đã thay thế các thủy thủ đau yếu. Murata chào tôi kính cẩn.

Tôi nói: “Cám ơn Murata.” và mở mảnh giấy anh ta vừa trao. Tim tôi đập mạnh vì nghĩ mảnh giấy này sẽ chứa phản lịnh của cuộc hành quân đang diễn ra. Nhưng đó chỉ là một tin tức tình báo.

“Một tàu chở thủy phi cơ cùng lớp với loại tàu Bristol và một khu trục hạm Hoa Kỳ bỏ neo ở hải cảng Davao lúc 6 giờ chiều ngày 6 tháng 12.”

Tôi thở dài và tiếp tục nhìn đại dương đen sẫm.

“Thưa Hạm trưởng, công điện…” Murata lại xuất hiện, mồ hôi nhỏ giọt trên khuôn mặt non choẹt của anh ta. Anh ta phải chạy từ phòng truyền tin lên đây. Một gã được việc! Tôi bỗng nghe buồn bã, không ngờ gã con nít này lại đang chia sẻ vận mạng của cuộc chiến với những người đáng cha anh.

Nội dung công điện: “Không có tàu nào của địch quân được phát hiện ở Legaspi lúc 7 giờ tối ngày 6 tháng 12.” Hai công điện kế tiếp là mẫu tin báo chí: “Hai vị Ðại sứ Nomura và Kurusu đã trao cho Ngoại trưởng Hull và Tổng thống Roosevelt đề nghị cuối cùng…” và phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Nhựt hôm nay cho biết tàu chở hành khách Tatsuta Maru, đã rời Yokohama tuần rồi để đến Los Angeles, vừa được chỉ thị ghé Mễ Tây Cơ. Hiện tại tàu này đã sắp xếp ngày đến Los Angeles là ngày 14 tháng 2-1942, và sẽ rời khỏi nơi đây vào ngày 16 tháng 2 để đến Manzanillo vào ngày 19…”

Chắc chắn không có chứng cớ nào cho thấy cuộc chiến đang chuyển động qua các diễn biến vừa rồi. Nhưng có ai ngờ rằng chiếc tàu Tatsuta Maru sẽ được lịnh quay về Nhựt Bản 30 tiếng đồng hồ sau đó?

Ngày hôm sau, 7 tháng 12-1941, vẫn là một ngày yên tĩnh như thường lệ. Chỉ có mạch máu của tôi là bị căng cứng do các công điện như loại đã nhận được vào đêm hôm trước. Ðêm thứ hai trên đại dương, kim đồng hồ của tôi chỉ đúng nửa đêm, và ngày ló dạng, nhưng không có một phản lịnh nào được gởi đến. Tôi vẫn còn cách xa tuyến xuất phát cuộc tấn công, là phải cách phía Ðông mũi San Augustin 50 dặm và phía Ðông Davao 100 dặm.

Tôi bỗng nghe mệt mỏi sau hai ngày và hai đêm ngồi trên đài chỉ huy, nên sau khi giao quyền chỉ huy cho Ðại úy Toshio Koyama, hoa tiêu trưởng trẻ tuổi nhưng đầy đủ khả năng của tôi, tôi đã thiếp ngủ trên ghế ngồi. Những hạt nước giá lạnh đã đánh thức tôi dậy khi đoàn tàu của chúng tôi chạy vào vùng mưa bão mù mịt giữa đại dương đen thẫm. Lúc ấy là 3 giờ 30 sáng của ngày D, tức ngày 8 tháng 12 năm 1941 (Phi Luật Tân cách múi giờ Hawaii +18 tiếng, tức là đang 11 giờ 30 trưa mùng 7 tháng 12 tại Pearl Harbor, tấn công Trân Châu Cảng đã diễn ra).

Ngủ thiếp trong thời khắc quan trọng thế này quả là ngu ngốc biết bao! Tôi tự rủa thầm và gọi Phòng Truyền tin mang lên cho tôi các công điện mới. Không có công điện nào hết. Cơn mưa bão lướt qua, và cơn buồn ngủ của tôi lại kéo đến. Tôi lấy làm tức giận, vì như thế làm sao tôi còn đủ sáng suốt để theo dõi cuộc chiến trên đà bùng nổ.

Vào bình minh, khoảng 5 giờ sáng, 20 oanh tạc cơ hạng nhẹ và chiến đấu cơ cất cánh từ hàng không mẫu hạm hộ tống Ryujo. Bấy giờ chúng tôi đã ở ngay tuyến xuất phát cuộc tấn công, nghĩa là cách phía Ðông mũi San Augustin 50 dặm và phía Ðông Davao 100 dặm. Hình ảnh của các phi cơ Nhựt đã khiến tôi tỉnh táo và phấn kích. Bao nhiêu cảm giác thiếu nồng nhiệt của tôi đối với cuộc chiến sắp xảy ra, bây giờ, đứng trên đài chỉ huy của khu trục hạm Amatsukaze, đã tan biến, và tôi cương quyết dứt khoát thi hành các mạng lịnh.

Sau khi các phi cơ của Ryujo xuất phát, các khu trục hạm Hayashio (Thủy Triều Sớm), Natsushio (Thủy Triều Mùa Hạ), Kuroshio (Dòng Hắc Thủy) và Oyashio (Dòng Nước Lạnh) rời bỏ đội hình di chuyển cũ, gia tăng tốc độ lên 30 hải lý, chạy về phía trước để tham dự một cuộc tấn công phối hợp nhằm vào các lực lượng Hoa Kỳ ở Luzon. Tám chiếc còn lại, một chiếc rẽ về phía Ðông, một chiếc rẽ về phía Tây, cách 1,500 thước, và giữ đội hình bất thường này để chờ đợi các phi cơ của hàng không mẫu hạm Ryujo trở về.

Ryujo là hàng không mẫu hạm duy nhứt sử dụng trong cuộc hành quân Phi Luật Tân. Nguyên trước đó tàu này được dự định phối hợp với 2 hàng không mẫu hạm biến cải khác cho cuộc tấn công Luzon, nhưng vì khả năng chở phi cơ của chúng quá giới hạn, thành thử cuối cùng có quyết định sử dụng phi cơ ở phi trường Ðài Loan cho cuộc tấn công này. Do đó, Ryujo đến Palau và 2 hàng không mẫu hạm kém khả năng hơn quay trở về Nhựt.

Ánh nắng mặt trời lúc ẩn lúc hiện trên đại dương. Gió đứng hẳn. Chúng tôi ướt đầm mồ hôi sau bốn tiếng rưỡi đồng hồ chạy tới chạy lui trên biển. Mười chín chiếc phi cơ trở về hàng không mẫu hạm Ryujo lúc 9 giờ 30. Chiếc thứ 20, một oanh tạc cơ, bị trục trặc máy móc và đâm chúi xuống biển. Sau đó, chúng tôi nghe tin phi hành đoàn của chiếc phi cơ này đã được khu trục hạm Kuroshio cứu thoát.

Cuộc tấn công Davao của lực lượng đặc nhiệm hoàn toàn thất bại. Phi cơ và khu trục của chúng tôi đã chui đầu vào cái túi rỗng. Hai tàu chiến của Hoa Kỳ, bỏ neo tại hải cảng theo báo cáo, đã biến mất trước khi lực lượng của chúng tôi đến. Chỉ có 2 thủy phi cơ của Hoa Kỳ trên bãi biển và bị máy bay của chúng tôi xạ kích hủy diệt. Sau đó, máy bay của chúng tôi quần trên không phận Davao hơn hai tiếng đồng hồ, nhưng không gặp một phi cơ nào của Hoa Kỳ cất cánh từ phi trường này hoặc bất kỳ phi trường nào khác lên nghinh chiến. Ðó là một cuộc hành quân kỳ quái nhất.

Thái độ của lực lượng Hoa Kỳ ở Davao ngày hôm đó vẫn còn nằm trong vòng bí ẩn. Dù thái độ của lực lượng Hoa Kỳ như thế nào, ít ra họ cũng phải báo cáo cho Tổng hành dinh của họ biết về cuộc tấn công mạnh mẽ của chúng tôi. Nhưng Tổng hành dinh Hoa Kỳ ở Manila đã tọa thủ bàng quan, và ngay cả cuộc tấn công phi trường Clark ròng rã suốt bốn tiếng đồng hồ của các phi cơ Nhựt xuất phát từ Ðài Nam, tiếp liền sau cuộc tấn công Davao của chúng tôi, họ cũng chẳng cho bất kỳ một máy bay nào của họ cất cánh để chống trả lại.

Sự thiếu chuẩn bị của Không lực Hoa Kỳ ở Clark Air Base vẫn còn nằm trong vòng bí mật. Như Louis Morton viết trong cuốn The Fall of Philippines (Phi Luật Tân thất thủ): “Tất cả các đơn vị Hoa Kỳ ở Phi Luật Tân đều biết có cuộc tấn công Trân Châu Cảng nhiều tiếng đồng hồ trước đó, trước khi các oanh tạc cơ Nhựt xuất hiện trên không phận Luzon. Cuộc tấn công Davao là dấu hiệu cho thấy Nhựt quyết ý đập tan các hải đảo có căn cứ không quân quan trọng của Hoa Kỳ tọa lạc, và cuộc tấn công Luzon ngay buổi sáng cùng ngày cho thấy rõ quyết ý này của Nhựt.

Theo lời của Ðại tá William A. Campbell, chỉ huy Liên Phi đoàn 332 (332d Expeditionary Operations Group), phi trường Clark đã nhận được tin phi cơ Nhựt đang đến trước khi xảy ra cuộc tấn công. Ðại tá Eugene Lowry Eubank (về sau lên chuẩn tướng tư lệnh binh chủng oanh tạc cơ) lại nói rằng việc biết trước này không hề có. Một số sỹ quan khác lại cho biết các hệ thống liên lạc đều gián đoạn trong suốt thời gian nguy cấp này. Qua những chi tiết trái ngược do các nhân chứng cung cấp, vấn đề trên còn nằm trong vùng tăm tối…”.

Tám năm sau biến cố, Ðại tướng Henry Harley Arnold, từng là Tổng tham mưu trưởng USAAF đã viết rằng: “Tôi chưa bao giờ biết câu chuyện thật ở Phi Luật Tân. Nhưng kết quả của cuộc tấn công ai ai cũng đồng ý: 18 trong tổng số 35 chiếc B17, pháo đài bay tối tân nhứt của Hoa Kỳ vào thời đó bị hủy diệt, 35 chiếc P40 Curtiss, 3 chiếc P39 Cobra, khoảng 30 phi cơ quan sát mọi loại và nhiều oanh tạc cơ hạng nhẹ cũng bị thiệt mất.” Như vậy, “sau một ngày của cuộc chiến”, Arnold viết, “với năng lực bị cắt xén hết phân nửa, Không Lực Viễn Ðông của Hoa Kỳ (Far East Air Force) không còn được xem là một lực lượng chiến đấu hữu hiệu nữa.” Thiệt hại của Nhựt Bản: 7 chiến đấu cơ.

Tuần dương hạm Jintsu (Thần Ðạo) và khu trục hạm Hatsukaze (Nhất Phong) và chiếc tàu của tôi rời lực lượng đặc nhiệm để hướng đến cửa vịnh Davao kết hợp với bốn khu trục hạm vừa trở về sau chuyến đi không kết quả. Tất cả các tàu gặp nhau vào lúc 2 giờ. Tôi đã sửng sốt khi nghe đài phát thanh công bố kết quả vượt mức của hai cuộc tấn công ở Trân Châu Cảng và phi trường Clark. Không thể nào ngờ được đó là sự thật hoàn toàn.

Hàng không mẫu hạm Ryujo

Tuy nhiên, tôi tỉnh táo ngay do sự xuất hiện của một oanh tạc cơ B24. Chiếc phi cơ bay cao khoảng 30,000 bộ và hình như đã phát hiện các tàu của chúng tôi. Ðề đốc Tanaka quyết định thi hành kế nghi binh trước khi kết hợp với hàng không mẫu hạm Ryujo, nhằm ngăn ngừa oanh tạc cơ Hoa Kỳ khám phá ra sự hiện diện của hàng không mẫu hạm này. Chúng tôi đổi hướng 180 độ và chạy với tốc độ 18 hải lý một giờ, sau đó đổi hướng 90 độ và gia tốc lên 21 hải lý, trước khi xoay trở lại 60 độ để gặp gỡ Ryujo.

Chiếc B24 vẫn bay trên đầu, nhưng không có ý định tấn công, và cuối cùng chiếc phi cơ mất dấu các tàu của chúng tôi trước khi chúng tôi hướng về vị trí sơ khởi. Chiếc oanh tạc cơ này là một bí ẩn khác đối với tôi. Không sao biết được nó xuất phát từ đâu và định làm gì?

Vào lúc chúng tôi trở lại phía Ðông San Augustin 50 dặm, tôi và hạm trưởng khu trục hạm Hatsukaze nhận được lịnh mới. Theo đó, chúng tôi chạy đến Legaspi để kết hợp với hai tuần dương hạm Nachi và Myoko lúc đó đang di chuyển phía trước chúng tôi. Hàng không mẫu hạm Ryujo và 2 khu trục hạm hộ tống đã hướng về Palau, và soái hạm Jintsu của Ðề đốc Tanaka cùng 4 chiếc khu trục hạm chạy tiếp sau.

Tôi ở trong hải phận Legaspi một tuần lễ với nhiệm vụ tuần tiễu và chống lại các tàu ngầm cùng các tàu trên mặt biển mang quân tăng viện của Hoa Kỳ. Không thấy gì hết, nhiệm vụ thật đáng chán, nhưng tất cả chúng tôi đều biết sự giữ gìn hải vực hậu phương nầy rất quan yếu, có tánh cách hỗ trợ cho cuộc hành quân đổ bộ chánh của Nhựt lên Luzon.

Trong khi thi hành nhiệm vụ này, khoảng thời gian 24 tiếng đồng hồ bắt đầu từ 5 giờ 10 chiều ngày 9 tháng 12, thích thú duy nhứt của tôi là hiệu thính viên nhận một công điện đánh đi từ tiềm thủy đĩnh I-65 báo cáo việc phát hiện 2 chiến hạm Anh đang hướng mũi về đoàn tàu chuyển quân đổ bộ của Nhựt lên Mã Lai Á. Sau đó, truyền tin của tôi chuyển đến các báo cáo tin tức về cuộc tấn công của Nhựt chống lại thiết giáp hạm nặng Prince of Wales và thiết giáp hạm nhẹ Repulse của Hoàng gia Anh. Mồ hôi tôi đổ như tắm khi tôi đọc hết công điện này sang công điện khác liên quan đến trận chiến cách tàu của tôi 1,000 dặm.

Thoạt đầu cuộc tấn công đã gây cho tôi cảm giác phức tạp. Ðó là cảm giác lẫn lộn kính nể và cảm phục mức độ dàn trận nhanh chóng của hải quân Anh, đồng thời tôi bỗng thấy hăng hái chiến đấu và mong muốn thử sức ngay với kẻ thù. Nhưng ý nghĩ tham dự vào trận đánh đang diễn ra chỉ có tánh cách ước muốn thuần túy, vì tôi không thể nào rời bỏ nhiệm vụ riêng ở đây.

Khi các báo cáo sơ khởi của cuộc tấn công vào các tàu chiến Anh được gởi đi, tôi đã quan tâm rất nhiều. Lúc đó Nhựt chỉ có một khu trục hạm và 2 thiết giáp hạm trong hải phận Mã Lai Á. Ðó là 2 chiếc Haruna và Kirishima, cả hai đều 27,500 tấn. Ðược đóng năm 1912 và 1913, đó là 2 thiết giáp hạm nhiều tuổi nhứt còn hoạt động trong Hải quân Nhựt. Tôi đã nghĩ 2 chiếc tàu này không thể chịu nổi bất kỳ một đấu pháo nào với 2 thiết giáp hạm Prince of Wales “không thể chìm” và Repulse “võ trang tận răng” của Anh quốc. Chiếc Prince of Wales 44 ngàn tấn, hạ thủy 1939 mới tinh, 10 đại bác 360 ly trong lúc chiếc Haruna chỉ có 8 pháo 356 ly. Chiếc Repulse nặng 32 ngàn tấn với 6 đại bác 380 ly trong lúc chiếc Kirishima chỉ có pháo 356 ly. Ðiều cần biết là tầm xa của pháo 380 ly là 41 cây số, trong lúc pháo 360 ly chỉ bắn xa 32 cây số. Ngay cả khi đó là “lý thuyết tác xạ” thì chênh lệch vẫn quá lớn.

Trận bão “công điện” từ vùng phụ cận Mã Lai Á thổi đến hỗn loạn. Ðề đốc Shintaro Hashimoto (Tư lịnh Phân Hải đoàn 3 Khu trục hạm) báo cáo rằng các chiến hạm của ông gặp khó khăn khi chạm trán sơ khởi với các chiến hạm Anh. Tiềm thủy đĩnh I-62 lúc 4 giờ 30 sáng qua báo cáo thứ 10 cho biết đã mất dấu 2 thiết giáp hạm Anh vì gặp phải mưa bão dữ dội. Sau đó, liên lạc vô tuyến giẫm chân lên nhau, và các hệ thống truyền thanh cũng nghe không rõ.

Ðiều đáng lấy làm lạ là lúc ấy không có một chiến hạm nào của Hoa Kỳ xuất trận để chống lại chúng tôi ở Phi Luật Tân. Hiện thời chỉ có hải quân Anh quần thảo với chúng tôi trên tất cả các hải phận trong khu vực. Bầu trời bỗng nhiên quang đãng vào lúc 2 giờ trưa, và chúng tôi bắt được công điện này: “Không có phi cơ hộ tống nào được nhìn thấy bay trên các tàu chiến Anh.” Sau đó thêm nhiều công điện dồn dập cho biết diễn tiến của cuộc tấn công:

“Phi đoàn 22 oanh tạc thiết giáp hạm địch lúc 2 giờ 20.”

“Thiết giáp hạm địch bị trúng ngư lôi do phi cơ thả xuống lúc 2 giờ 30.”

“Ngư lôi của phi cơ trúng trực tiếp vào thiết giáp hạm địch lúc 2 giờ 40, và hiện chiếc tàu này nghiêng hẳn về tả mạn.”

“Một trong 5 khu trục hạm địch bốc cháy.”

“Một thiết giáp hạm địch nổ tung và chìm lúc 2 giờ 50.”

Bấy giờ tôi ngơ ngác, không tin những gì đã xảy ra. Phi cơ Nhựt đã đánh chìm hai chiếc Prince of Wales và Repulse!!

Tôi không bao giờ tin thành công của cuộc tấn công Trân Châu Cảng là do khả năng hoàn toàn của không quân, bởi vì lúc ấy địch quân bị đánh trong lúc bất ngờ. Trong tư cách một chuyên viên khu trục hạm, cái nhìn của tôi quá hạn hẹp. Nhưng bây giờ tôi thật sự xúc động qua chiến thắng mà tôi đang theo dõi. Tôi không ngờ khả năng của phi cơ Nhựt đã đạt đến mức ấy, đã có thể đánh chìm thiết giáp hạm bọc thép dầy 379 mm! Với chúng tôi, những sỹ quan hải quân, mỗi thiết giáp hạm là một pháo đài, một tòa thánh! Một kim tự tháp trên mặt biển chỉ có thể bị đánh đắm bởi một thiết giáp hạm khác…

Nhưng sự cố chấp của tôi vẫn không thay đổi, ngay cả sau trận đánh ngoạn mục ở Mã Lai Á, tuy niềm tin bị lung lay chút ít. Tôi tin rằng hoạt động của phi cơ thường bị thời tiết gây trở ngại, các tàu chiến vẫn phải giữ vai trò then chốt, bất chấp mọi thời tiết. Do đó, trong khi tôi bắt buộc phải tin phi cơ đã đóng một vai trò quan trọng trong chiến tranh, tôi vẫn bướng bỉnh cho rằng các khu trục hạm mới thực sự giải quyết các trận đánh trên mặt biển.

Sự bướng bỉnh nầy có thể là một thái độ tốt, vì nó gây cho tôi niềm tin đặt vào các khu trục hạm, khiến tôi càng thêm cố gắng “ghi điểm”, và còn sống sót sau nhiều trận đánh dữ dội nhứt.

Tôi nghiên cứu kỹ lưỡng chiến thắng Mã Lai Á của chúng tôi ngoài khơi Kuantan phía Tây biển Nam Hải mà không ngờ rằng vào cuối cuộc chiến Nhật Bản sẽ mất một thiết giáp hạm nặng với một tuần dương hạm nhẹ trong cùng hoàn cảnh, và thuyền trưởng chiếc tuần dương hạm ấy lại là tôi.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

April 30th, 2021

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

(Kỳ 10)

Cho đến 1940, Hoa Kỳ sản xuất 1 tỷ rưỡi thùng dầu hàng năm (cứ 7 thùng là một tấn dầu), giữ vị trí quốc gia xuất cảng dầu hỏa nhiều nhất, gấp 6 lần Venezuela là xứ xuất cảng nhiều thứ nhì và vượt xa các xứ Ả Rập thuộc Liên Hiệp Anh. Nga giữ vị trí thứ 4 nhưng không bán dầu ra thế giới. Ngay khi quân đội Thiên hoàng tiến vào Đông Dương, Roosevelt phong tỏa kinh tế Nhật. Bước sang 1941 Roosevelt gia tăng cấm vận: cấm bán xăng có chỉ số octan cao dành cho máy bay nhằm làm tê liệt Không quân Nhật và áp đặt Nhật phải thanh toán dầu thô bằng tiền mặt; nhưng cùng lúc, Bộ trưởng ngân khố Dean Acheson đóng băng các trương mục của Nhật khiến việc mua dầu trở nên bất khả thi đối với xứ Mặt Trời Mọc.

Roosevelt và Acheson về sau sẽ bị các sử gia phản chiến kết án đã đẩy Nhật vào đường cùng, vì trữ lượng dầu hỏa của Nhật Bản chỉ còn đủ dùng 18 tháng và 80% dầu hỏa của Nhật nhập từ Mỹ (20% còn lại từ Mã Lai thuộc Anh và Nam Dương thuộc Hòa Lan nhưng các xứ này tuân thủ embargo của Hoa Kỳ). Không quặng mỏ, không khí đốt thiên nhiên và không xăng nhớt, các samurai sẽ phải buông kiếm? 

Câu trả lời của các võ sĩ đạo là cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Với phương châm “Tiên hạ thủ vi cường/Hậu thủ vi tai ương (Ra tay trước chiếm ưu thế/Ra tay sau mất lợi thế)”. Một phương châm được chính Harold Stark, Tư lệnh Hành quân của US NAVY đồng tình, qua mệnh lệnh ban cho US Pacific Fleet vào đêm trước khai trận: “Do not take any offensive action until Japan has acted openly (Không thực hiện bất kỳ tấn công nào cho đến khi Nhật Bản công khai hành động)”.

Trong Chương X, Hara kể lại quyết định quan trọng nhất binh nghiệp: Đã ngưng tấn công một tiềm thủy đĩnh Đồng Minh trong hải vực trách nhiệm của khu trục hạm Amatsukaze, vì ý thức tuy đã có lệnh hành quân nhưng vẫn còn đang hòa đàm, và khác biệt múi giờ giữa Trân Châu Cảng và Phi Luật Tân có thể cứu vãn hòa bình. Cùng lúc, vào 6 giờ 45 sáng tại Pearl Harbor, vào ngày 7 tháng 12-1941, Hải quân Thiếu tá William W. Outerbridge ra lệnh cho khu trục hạm USS Ward đánh đắm một tàu ngầm bỏ túi của Nhật bị phát hiện ngoài khơi Hạ Uy Di. Cả thảy 5 tàu ngầm Nhật đều bị đánh đắm trước khi Đại sứ Nomura trao tối hậu thư và trước khi Hạm đội Hỗn hợp của Nagumo tấn công Trân Châu Cảng. Định mệnh không thể thay đổi. Một giờ sau, vào lúc 7 giờ 53 phút, Hải quân Trung tá Fuchida Mitsuo chỉ huy 183 máy bay của đợt không kích đầu tiên nhìn thấy mục tiêu và đánh đi công điện lịch sử: Tora! Tora! Tora! Hổ! Hổ! Hổ!

Lưỡi kiếm samurai sáng lòa không trung. [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương X

Cuộc hành binh “Giai đoạn I” được ban lịnh vào ngày 7 tháng 11 năm 1941.

Hạm đội Hỗn hợp nhanh chóng phân tán trong vòng trật tự. Khu trục hạm của tôi, với ba chiếc khác thuộc Hải đoàn 16 lặng lẽ tiến vào quân cảng Kuré. Nhưng tôi không biết các thành phần chính thuộc Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Hạm đội đã hải hành về hướng Bắc, tụ họp ở Hitokappu Wan (vịnh Tankan) ở Chishima (Thiên Liệt Ðảo/Kurile Islands) phía nam bán đảo Daikokuya (Kamchatka). Các phân hạm đội họp thành Lực lượng Ðặc nhiệm Nhựt Bản (là một lực lượng hải quân bao gồm nhiều chiến hạm mọi loại), một lực lượng vĩ đại nhứt chưa từng thấy bao giờ.

Các chiếc tàu của chúng tôi phải qua một cuộc kiểm soát cẩn thận ở Kuré. Những gì lặt vặt không cần thiết và những thủy thủ bịnh hoạn đều được lịnh mang lên bờ. Số thủy thủ khiếm khuyết này lập tức được thay thế. Chỉ có những sỹ quan chỉ huy mới biết rõ cuộc hành quân đang khai triển, riêng thủy thủ đoàn chỉ biết họ sẽ thực hiện một hải xuất huấn luyện ở Nam Thái Bình Dương.

Bộ Tư Lịnh Tối Cao bãi bỏ mọi đặc ân, đình chỉ tất cả đi phép. Tôi đã được nghỉ phép lần cuối cùng hồi tháng 9, và tôi đã đáp chuyến xe lửa tốc hành 16 tiếng đồng hồ từ Kuré về thăm gia đình tôi ở Kamakura (Liêm Thương Thị), một thành phố bờ biển gần Yokosuka (Hoành Tu Hạ Thị). Chuyến đi dài dằng dặc đầy mệt mỏi được đền bù. Hai con gái tôi nhảy nhót chào đón cha về, hớn hở bên Mikito, đứa con trai hai tuổi vừa biết nói của tôi. Tôi chỉ lưu lại nhà một ngày tròn. Ðám trẻ con đã buồn bã khi tôi ra đi, chính tôi cũng buồn bã không kém gì chúng. Tôi ghì ghặt từng đứa một và nói: “Ba của các con sẽ sớm trở về!”. Hy vọng gặp lại các con … có thể sẽ không còn nữa.

Cuộc hành binh “Giai đoạn II” được ban lịnh vào ngày 21 tháng 11 năm 1941.

Ngày kế đó, toàn thể Lực lượng Ðặc nhiệm của Phó Ðô đốc Chuichi Nagumo đã tập trung đầy đủ trong vịnh dầy đặc sương mù Etorofu (Trạch Tróc Ðảo) ở Kurile. Với 6 hàng không mẫu hạm, 9 thiết giáp hạm và 40 chiến hạm nhỏ hơn cùng 350 máy bay các loại, Liên hợp Hạm đội (Rengo Kantai) của Nagumo là một vũ khí vô tiền khoáng hậu. Một hải lực chưa từng có.

Vào ngày 23, tám khu trục hạm của hai Hải đoàn 16 và 24 âm thầm thoát ra khỏi cảng Kuré và hướng mũi về eo biển Terashima. Bốn ngày liên tiếp, các giàn phóng thủy lôi và mọi loại vũ khí khác trên tàu chúng tôi đều trong tư thế sẵn sàng. Các bác sỹ bận rộn săn sóc, khám sức khỏe và chích thuốc cho thủy thủ đoàn. Ðề đốc Ryunosuke Kusaka chỉ huy hai hải đoàn này.

Hai hải đoàn của chúng tôi di chuyển khỏi eo biển Terashima và trực chỉ ra Thái Bình Dương vào lúc 6 giờ chiều ngày 26 tháng 11. Cùng thời gian này Lực lượng Ðặc nhiệm của Nagumo cũng rời khỏi vịnh Tankan và nhắm hướng Hạ Uy Di. Ðiểm đến của chúng tôi là Palau, còn gọi Belau, một trong các hòn đảo của chuỗi Tiểu đảo Micronesia thuộc quyền của Nhựt Bản. Tất cả các sỹ quan chỉ huy đều được thông báo cho biết việc thành lập một Lực lượng Ðặc nhiệm nhỏ ở Palau là để tấn công đảo Mindano thuộc Phi Luật Tân, cùng lúc với cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Palau nằm phía Ðông Nam thủ phủ Davao trên đảo Mindano là đảo lớn thứ nhì sau đảo Luzon của Phi. Chúng tôi vô cùng hồi hộp.

Trên hải trình 2,000 dặm phát khởi từ Terashima, các công điện chuyển đi bằng vô tuyến của chúng tôi đều bị đình chỉ, phải tuyệt đối im lặng, kể cả Lực lượng Ðặc nhiệm của Nagumo, nhưng các kiểm thính viên vẫn tiếp tục nghe ngóng. Khi các tàu chiến của chúng tôi rời khỏi hải phận Nhựt, chúng tôi nghe được một tin tức loan đi trên đài phát thanh: “Báo chí cho biết vào sáng ngày 26 tháng 11, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Cordell Hull đã trao một công hàm cho hai vị Ðại sứ Nhựt Kichisaburo Nomura và Saburo Kurusu. Theo sự hiểu biết, Hoa Kỳ thông báo quyết định sau cùng về hòa đàm.”

Ngày 28, khi băng ngang qua Ðài Loan, chúng tôi nhận được một công điện khẩn từ bộ chỉ huy địa phương ở Ðài Trung: “Hai tiềm thủy đĩnh không rõ quốc tịch, có thể là Hoa Kỳ, đang di chuyển về phía Ðông Bắc Ðài Loan.”

Cuộc “Hành binh Giai đoạn II” giao quyền cho các sỹ quan chỉ huy đưa ra các động thái đối đầu “chỉ khi nào tối cần thiết”. Qua máy liên lạc nội bộ, tôi truyền lịnh cho các sỹ quan phụ trách Sonar (máy thẩm âm tiềm thủy đĩnh): “Cảnh giác! Tàu ngầm địch trong khu vực!”

Tiếng đáp lại thật điềm tĩnh của một tay nghề nghiệp: “Tất cả Sonar đều tích hợp. Nếu phát hiện gì sẽ thông báo ngay.” Sonar là một phát minh của Anh-Pháp, dùng kỹ thuật phản xạ sóng âm, bằng cách phát sóng rồi nghe tiếng vọng lại từ chân vịt của tàu ngầm khi xung sóng chạm vào một âm thanh đối nghịch. Tóm lại là một kỹ thuật sử dụng sự lan truyền của âm thanh dưới nước. Vào thời điểm đó Sonar của chúng tôi khá hoàn hảo nhưng chúng tôi không phát hiện gì hết.

Ngày 1 tháng 12, truyền tin của chúng tôi nhận điện tín: “Sáu chiến hạm Anh, bao gồm hai thiết giáp hạm nặng Prince of Wales và Repulse trên đường sang Viễn Ðông. Chuẩn bị nghinh chiến!”

Căng thẳng cực độ nhưng rồi tất cả kích thích đều giảm xuống khi hòn đảo Palau xanh rì nhô ra phía chân trời. Cùng ngày, lúc 1 giờ trưa, chúng tôi tiến vô hải cảng của hòn đảo này. Chỉ trong vòng năm ngày, khí hậu mùa Ðông đã chuyển sang mùa Hè đối với chúng tôi. Bóng dừa rợp mát lả lơi trên bãi biển xanh mượt nắng vàng là nơi trú ẩn ấm áp đầy yên tĩnh. Nhưng tôi không hưởng cảnh này được lâu. Không khí ở cảng Palau đầy gấp rút. Nhiều tàu lớn chạy vào buông neo, trong số đó có cả những tàu chuyển vận. Các cuộc tập dượt ráo riết của thủy thủ trên những chiếc tàu này vẫn tiếp tục. Các hoạt động hối hả làm không khí như có điện. Bóng dáng chiến tranh đã xuất hiện.

Ðứng trên đài chỉ huy, ý nghĩ đầu tiên của tôi là phải đặt các điểm canh gác trên bờ, tuy nhiên sau đó tôi nhận thấy việc làm này vô ích, vì hải cảng tràn ngập binh lính. Và tôi ra lịnh thả lỏng thủy thủ đoàn. Mọi người cũng nhận chỉ thị tắm rửa sạch sẽ, lần đầu tiên chúng tôi có dịp tắm rửa thỏa thích kể từ ngày rời khỏi Kuré một tuần trước đây. Lợi dụng dịp này, tôi cũng mang một số sỹ quan của tôi đi xem địa hình địa vật của hải cảng, và luôn tiện đi lang thang cho dãn gân  dãn cốt. Chúng tôi dùng xuồng nhỏ ngao du đây đó, cả ngày lẫn đêm. Các quán rượu ở Palau khá rộn rịp, chừng như mọi người muốn tiêu hết tiền lương trước khi chết.

Buổi chiều ngày hôm sau, 2 tháng 12, chúng tôi nhận công điện “lịch sử” từ Tổng Hành dinh Hạm đội Hỗn hợp: “Nitaka Yama Noboro I208”.

Câu tiếng Nhựt này có nghĩa đen: “Leo lên đỉnh Nitaka I208.” Nitaka là ngọn núi cao nhứt ở Ðài Loan (các phi xuất tấn công Phi Luật Tân sẽ phải phát xuất từ Ðài Nam). Tôi đọc ngấu nghiến công điện này và cảm thấy hồi hộp như lúc sắp giở xem các tài liệu đóng dấu tối mật. Nghĩa bóng của câu này là “Cuộc chiến chống Ðồng Minh sẽ phát động vào ngày 8 tháng 12.”

Ngay sau đó, tất cả các hạm trưởng của Phân Hải đoàn 2 Khu Trục Hạm nhận lịnh của Ðề đốc Raizo Tanaka, tập họp quanh ông, để lãnh các chỉ thị tấn công Davao. Trong vài lời vắn tắt, Tanaka, lặp đi lặp lại câu: “Các anh phải nhớ rằng cuộc hòa đàm vẫn còn đang tiếp tục ở Hoa Thạnh Ðốn. Chúng ta phải chuẩn bị để nhận một công điện đình chỉ toàn thể cuộc hành quân, không biết gởi đến lúc nào, nếu hòa đàm đạt kết quả. Sau đó, chúng ta chỉ còn một việc để làm: là quay tàu trở về Nhựt.”

Tôi lên tiếng: “Thưa Ðề đốc, ở đây, Palau chỉ cách phía Ðông căn cứ then chốt Davao của Hoa Kỳ 500 dặm, và chỉ cách Ðông Nam căn cứ quan trọng khác của họ là Guam 700 dặm. Với khoảng cách khá gần như vậy, một số đông tàu chiến của chúng ta tụ họp ở đây, thì thế nào Hoa Kỳ cũng phái các tiềm thủy đĩnh của họ theo dõi chúng ta. Phải hành động như thế nào, nếu chúng ta chạm mặt với các tàu ngầm này?”

Tanaka đáp: “Chúng ta buộc phải đánh, đánh chìm, cho dù giai đoạn II của cuộc hành quân chỉ cho phép chúng ta đưa ra các hành động thù nghịch khi nào gặp trường hợp tối cần thiết.”

Cuộc họp chấm dứt, các hạm trưởng lặng lẽ trở về tàu của mình. Nhưng không khí im lìm này khó mà duy trì được trong tình trạng hiện tại. Sự hiểu biết về năng lực của Ðồng Minh vẫn khiến tôi bi quan, và tôi cũng nhận thấy kế hoạch được đưa ra hình như có vẻ gì không thật.

Tôi chờ đợi, có thể là mong mỏi, cuộc hành binh này cuối cùng sẽ được lịnh hủy bỏ. Một câu trong binh thơ Tôn Tử lảng vảng trong trí tôi: “Một vị chỉ huy vĩ đại thật sự là vị chỉ huy chiến thắng địch quân mà không phải dụng binh.” Tôi không ngờ rằng Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt đã xem công hàm của Ngoại trưởng Cordell Hull trao ngày 1 tháng 12 có tánh cách như tối hậu thơ đòi hỏi Nhựt đầu hàng, và vì vậy Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã quyết định khai chiến với Hoa Kỳ.

Suốt 3 ngày, từ 3 đến 5 tháng 12, chúng tôi tập dượt ráo riết, và cuối cùng các chiến hạm đều được xem xét lại tỉ mỉ, từ máy móc đến quân dụng, tất cả những gì không cần thiết được mang lên bờ. Lúc 1 giờ 30 khuya 6 tháng 12, sáu khu trục hạm của chúng tôi và một tuần dương hạm rời khỏi hải cảng rộng lớn Palau. Chúng tôi được giao phó nhiệm vụ “tẩy sạch” tiềm thủy đĩnh của địch để dọn đường cho một hàng không mẫu hạm và hai tuần dương hạm hạng nặng tiến đến Mindanao. Nhiều dương vận hạm vẫn nằm chờ trong cảng Palau để tham dự vào các thành phần tấn công khác nhằm vào Phi Luật Tân và quần đảo Nam Dương là một dãy đảo thuộc Hòa Lan.

Với đội hình hàng dọc, chúng tôi rời khỏi hải cảng Palau, hướng về phía Tây một đỗi và sau đó đổi sang đội hình “răng cài lược” lướt ngang mặt biển với các máy dò tìm tàu lặn. Không có dấu vết đáng lưu ý, cho đến 4g chiều ngày đầu tiên, sỹ quan Sonar mới báo động:

“Một vật thể, giống tiềm thủy đĩnh ở 60 độ hữu mạn, cách 2,500 thước!”

Tôi lập tức cho chiếc Amatsukaze hướng đến mục tiêu và ra lịnh: “Chuẩn bị phóng chất nổ ngầm!” Ðồng thời, chiếc tàu của tôi rít một hồi còi dài và các cây cờ ám hiệu “ABX” (có nghĩa là “chúng tôi tấn công bằng mìn lôi ngầm”, được kéo lên, để lưu ý các chiến hạm bạn biết hoạt động của chúng tôi.

Sỹ quan sonar lại báo cáo: “Mười độ tả mạn, cách 2,000 thước! Âm thanh bắt được chắc chắn là của tiềm thủy đĩnh!”

Tôi điều chỉnh hướng tiến của Amatsukaze, và gia tăng tốc độ lên 12 hải lý. Nhìn quanh, tôi thấy tất cả các thuộc cấp đều sẵn sàng và họ chỉ chờ chỉ thị của tôi là hành động. Sỹ quan sonar tiếp tục báo cáo các giác độ, và khoảng cách khi chúng tôi dần đến mục tiêu. Tôi bị căng thẳng và nổi lên hứng thú của một tên thợ săn đến gần con mồi. Khi chiếc tàu tiến đến khoảng cách vừa vặn để tấn công, tôi biết giây phút quyết định đã đến. Tôi la to: “Gia tốc 21 hải lý!” Mìn lôi ngầm chỉ có thể được thả sau khi một chiếc khu trục hạm gia tăng tốc độ, vì nếu không làm như vậy thì chính chất nổ được thả xuống sẽ hủy diệt chiếc tàu. Nhưng ngay giây phút cuối cùng sắp ban lịnh “dứt điểm”, miệng tôi bỗng nhiên cứng lại. Thay vào đó, tôi la to: “Ðình chỉ thả chất nổ! Ðình chỉ thả chất nổ!”.

Ðó là một trong những quyết định quan trọng nhứt mà tôi đã đưa ra trong suốt cuộc chiến. Hành động của tôi vào lúc đó chắc khó ai hiểu được, và người ta sẽ nghĩ là tôi đã cãi lịnh trên.

Quyết định của tôi căn cứ trên những lý lẽ sau: 0 giờ (tức giờ tấn công) được đặt ra vào ngày 8 tháng 12, nghĩa là còn 2 ngày nữa (múi giờ Trân Châu Cảng đi trước Phi Luật Tân 18 tiếng). Chiếc tàu ngầm chưa tỏ dấu hiệu nào gọi là thù địch. Ngay cả khi nhận được báo cáo khám phá tàu ngầm, tư tưởng của tôi đã xung đột dữ dội. Tôi xem hòa bình là trọng, vì vậy ý nghĩ đầu tiên thoáng qua đầu tôi, là với hành động hiện tại của tôi có thể khiến cơ hội tiến đến hòa bình đổ vỡ. Hơn nữa, thái độ của tôi lúc đó là sự cân nhắc có tánh cách chiến thuật. Tấn công một mục tiêu ngầm không dễ đạt kết quả dễ dàng, đặc biệt khi mục tiêu đó đã có sự đề phòng trước. Nếu mục tiêu thoát khỏi cuộc tấn công, kết quả sẽ hoàn toàn trái ngược. Nói một cách khác, nếu chiếc tàu ngầm không bị hủy diệt, nó sẽ thông báo về đại bản doanh và mọi tàu chiến của Hoa Kỳ sẽ được báo động để tung ra một cuộc phản công. Khi một người đã có sự lưỡng lự trước một quyết định, chắc chắn người đó sẽ không bắn trúng mục tiêu. Tôi đã từng rút kinh nghiệm qua các buổi diễn tập, vì vậy, tôi đã ra lịnh hủy tấn công.

Lúc ấy từ tuần dương hạm nhẹ Jintsu 5,950 tấn, Ðề đốc Raizo Tanaka đang theo dõi tôi. Ông không hề hỏi về hành vi kỳ dị của tôi ngày hôm đó. Có lẽ ông đã hiểu và chia sẻ cảm nghĩ của tôi.

Sau khi chấm dứt cuộc săn đuổi tàu ngầm, khu trục hạm của tôi quay về nhập bọn với các chiến hạm khác. Lúc đó hàng không mẫu hạm hộ tống Ryujo, 10 ngàn tấn mang 33 máy bay (24 chiến đấu cơ Zéro và 9 phóng pháo cơ Kate), với hai tuần dương hạm hạng nặng và hai khu trục hạm, rời khỏi Palau đến kết hợp với chúng tôi. Lực lượng Ðặc nhiệm Nhẹ gồm 12 chiến hạm bây giờ di chuyển theo đội hình hàng dọc, với tốc độ 18 hải lý trực chỉ về phía Tây. Chúng tôi đã sớm ra ngoài đại dương bao la, đất liền đã biến mất khỏi tầm mắt và ngoài chúng tôi ra không còn bóng dáng chiếc tàu nào khác nữa. Từng đoàn cá heo hết lượt này đến lượt khác phóng đuổi theo tàu chúng tôi, nhưng ngoài các sinh vật này, trước mắt chúng tôi chỉ có trời và nước.

Tôi ra lịnh tập hợp thủy thủ đoàn trên sàn tàu và cho họ biết nơi đến và nhiệm vụ của họ. Tất cả đều không có một phản ứng nào khi nghe tin này khiến tôi kinh ngạc. Hiển nhiên là họ đã đoán biết chuyến đi sau khi được huấn luyện đặc biệt.

Sỹ quan và thủy thủ trở lại phận sự của họ. Tôi ngồi trên đài chỉ huy chăm chú nhìn Davao và ngoại cảnh của nó trên bản đồ. Chiếc tàu lặng tanh và đại dương im lìm. Ðêm tối dần và tất cả đều yên bình. Ðoàn tàu lướt đi âm thầm, đèn đuốc đều được lịnh tắt hết.

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Chương 12

Con người của NĐSơn bất thường qua những cơn điên dại, đôi khi hoảng loạn. Bất thường như trời mưa trời nắng, thời tiết của miền Nam. Có đêm đang ngủ say, Sơn vùng dậy, ngồi chồm lên ngực tôi, đánh đấm túi bụi, đánh tôi và chửi bới rủa xả ai đó, rủa xả đời, cả ông trời. Hắn nổi điên, tôi biết điều đó, nắm lấy tay hắn, xách cổ hắn ra vòi nước máy ngoài đường tưới cho ướt đầu rồi xách hắn trở vào: 
– Mày lại điên rồi! 
– Đúng tao điên, tau không đục mày thì chẳng biết đục ai, tau đục người khác thì họ đánh tau chết mẹ…..Mày biết tau yếu mà, tau đâu có đánh được ai. nhưng bây chừ thì hết rồi. 
Lần nào cũng vậy NĐSơn vừa vuốt nước trên mặt vừa giải thích với tôi như thế, tôi cảnh giác hắn: 
– Mày đánh tao có ăn thua gì, nhưng khi thấy cục đá thì đừng dùng nó đập vào đầu tao là được rồi. 
– Tao sẽ cố gắng, tốt hơn hết quanh chỗ mình nằm không nên để vật gì cứng, sắc nhọn bên cạnh. Mày cứ việc xách cổ tau ví vào vòi nước máy. như mình chơi bập bênh con ngựa gỗ ở vườn Tao Đàn. Trẻ thơ chứ hỉ? 
Tôi phì cười và cả hai đứa chúng tôi lại vui vẻ với nhau như không có chuyện gì xảy ra. 
Buổi tối trời trở lạnh, chắc chắn Sơn sẽ không nổi cơn điên, hắn có vẻ rất bình thường. Chúng tôi ngồi chơi với nhau ở bờ sông, bên cạnh Cầu Mống. Bên kia sông là Khánh Hội. Cuối công viên là chợ Cầu Muối có quan Biên Thùy, một quán nhậu bình dân, có món cá lóc nướng trui rất nổi tiếng. Một lần toôi đã từng được những tay giang hồ ở chợ Cầu Muối rủ nhau qua đó nhậu. 
Ngồi buồn chẳng có chuyện gì nói với nhau. NĐSơn lặng lẽ nghe, hắn chậm rãi nói với tôi: 
– Mày cũng có sắp có một món tiền rồi đó, tha hồ mà đi nhậu. 
– Tao mà có được? Mày có xem bói không? 
– Tao không xem bói, mà có thật đấy, chẳng nhiều nhặn gì, trăm đồng bạc mà. Mày có gửi một truyện ngắn cho tờ Ngôn Luận phải không, đăng mỗi ngày một truyện. 
– Đúng, đúng, tao gửi lâu rồi, nghĩ họ đã quẳng vào sọt rác. Mà sao mày biết? 
– Tau quen với một thằng, tao chẳng nhớ nó tên gì, nó nói với tau như vậy. 
– Tao chỉ gửi cầu may thôi, tao tưởng mục đó dành riêng cho Chàng Phi viết. 
– Cũng có thể, thằng đó đau ốm hay bận hút thuốc phiện nên lấy bài của mày thế vào, văn thơ họ đăng chẳng phải chuyện gì trang trọng mà chỉ để thay thế hoặc lấp lỗ trống. Văn còn có tiền, thơ chán bỏ mẹ, đòi được tiền của chủ báo là chuyện xuẩn động. Vào cái nghiệp ấy là bị coi là làm văn nghệ, không có tiền. người ta lạm dụng cái văn sĩ thi sĩ là phải nghèo, dù anh tài năng đến mấy, chúng nó tha hồ bóc lột, như truyền thống một ông sư thì phải trọc đầu, nếu không trọc đầu thì không thể là ông sư, không là chú tiểu hoặc ni cô. Vậy thì làm nghề văn nghệ phải nghèo, phải được tận tình bóc lôt. khi nào có tiền thì phải tiêu hoang cho đến hết. Ngày mai ra sao rồi hẵng hay. Tất cả anh em chúng ta đều như thế, chẳng riêng gì thằng nào. Đó là cái nghiệp, nên tau nghĩ khác, dù vẫn viết văn làm thơ đó. Tau mang cái triết lý của tau vào văn thơ, ít có người hiểu được tau. 
Gió sông mỗi lúc một lạnh. Tôi nói chỉ còn vài ngày nữa là Noel thôi. Mày đi chơi Noel với tao nhé.NĐSơn nói, chẳng biết được, tao không mấy quan tâm đến ngày Chúa sinh ra đời. Ngày nào mà mình không là rong chơi. Chán thì tau lên rừng, tau nhắm một nơi rồi….. 
Ban đêm hai thằng ôm nhau ngủ, truyền hơi ấm cho nhau. Tôi chỉ nghĩ đến một nơi nào đó có đệm ấm chăn êm để mà ao ước, tiếc nuối rồi ngủ thiếp đi. Chuyện ấy chỉ xảy ra trong giấc mơ. Tô chẳng hề có một mái nhà….. 
Tôi nhận được tiền nhuận bút truyện ngắn vào ngày Noel năm đó. Một truyện ngắn tôi cho là tầm thường vào giỏ rác, một câu chuyện tình rẻ tiền, chạy theo thị hiếu vậy mà lại được đăng báo, có nhuận bút. Khi viết truyện ngắn ấy tôi chỉ mong được đăng báo để có tiền. Nhưng khi gửi đi rồi tôi lại ân hận, hơi chút xấu hổ. nhưng rồi tôi quên đi. 
Vậy mà bây giờ nó nằm chình ình trên mặt báo dù nằm ở chỗ khiêm nhường nhất, nhưng tôi vẫn thấy làm sao ấy. một câu chuyện tình hoàn toàn tưởng tuợng, không một chút thực tế. Một con điếm vô học mà nói lên được với một chàng tay chơi dạc dài những lời ong bướm thối không chịu được, mà là tâm hồn thât của nàng. Nhất định không phải như thế rồi, tôi gò ép nhân vật đến tội nghiệp. Tôi là người viết có cái mặt trâng tráo, lãnh đồng tiền đó lại càng trâng tráo hơn nữa. Cũng may người quản lý nhà báo phát tiền nhuận bút của tôi chỉ để ý đến chữ ký nhận tiền, anh ta chỉ làm công việc hành chánh, chẳng mảy may quan tâm đến những bài viết. Thành ra tôi biết thêm một điều mình chẳng là cái thá gì hết. Điều đó khiến tôi đỡ ngượng… 
Mới buổi chiều Lễ Giáng Sinh mà đường phố đã đông đảo. Tôi phải tìm NĐSơn, chúng tôi phải ăn một bữa ” no căng phao câu “. Tìm Sơn tôi phải tìm ở quán cơm Anh Vũ. Tôi ngồi chờ Sơn mãi mà không thấy. Tôi đành ăn một mình. Phiếu bán cơm có hai hạng: ba đồng và năm đồng. Tôi lấy phiếu 5 đồng. Ăn xong còn uống một ly nước mía ngay ngoài cửa hàng năm cắc mà vẫn không thấy Sơn. Trời vẫn còn sớm quá, bây giờ về chỗ ngủ chắc gì đã gặp Sơn. Theo đi theo giòng người dạt trôi tới rạp Đại Đồng ở đường Cao Thắng. Rạp đang chiếu phim Les Misérables, phỏng theo tiểu thuyết của Victor Hugo. Tôi lấy vé chui vào rạp ngồi xem một mình. Cuốn phim làm gần đúng với nguyên tắc ccủa nhà văn. Cuộc cách mạng pháp. Nhân dân Pháp nổi dậy chống bạo quyền. Anh tù khổ sai vượt ngục để trở thành một kẻ thàng công, vứt bỏ mọi xấu xa của mình để biến thành một người khác tốt lành đấy lòng nhân hậu, một con người tốt, nhưng nghiệp chướng vẫn mãi đeo đuổi anh… 
Tôi ra khỏi rạp, lan man nghĩ hoài về chuyện phim viết. Đạo diễn tài ba khi làm một cuốn phim dựa trên một tác phẩm lớn. VN mình biết bao giờ mới có được một tác phẩm lớn như vậy. Khi đất nước ta nhiều chất liệu vô cùng? Điều suy nghĩ lan man của tôi bám trong đầu như rong rêu. Đoàn người đi lễ và đi chơi đêm Giáng Sinh đông đảo, đẩy mãi tôi đi. Tôi thấy một nhà thờ, đèn ngôi sao và hang đá Bê Lem lộng lẫy ngay ngopài lề đường. Tôi đứng lại giữa đám người đông đảo đó, nhìn lên gác chuông nhà thờ. Tôi nhận ra nơi mình đang đứng, nhà thờ Bắc hà trên đường Lý thái Tổ nhìn sang chợ cá Trần Quốc Toản. Tôi là người ngoại đạo, nhưng cũng thấy xúc đông về ngày chúa giáng sinh. Những bài thánh ca vang khắp phố phường, ngay trong đầu tôi. Tôi thấy mình cô đơn và muốn quỳ xuống như những con chiên kia ngước nhìn lên tượng Chúa chịu nạn trên thập tự gía. Trong nhà thờ rực sáng ánh đèn. người đông, nhưng cũng chưua phải là giờ Chúa Giáng Sinh, nên chuông nhà thờ chưa reo vang. Cà phê Nhân ở gần đó, tại sao tôi không vào uống một ly cà phê đen đậm đà. Không biết cà phê Nhân này có phải là cà phê Nhân ở phố Cầu Bồ Hà Nội không, chủ nhân là người Bắc di cư, cà phê cũng ngon, tôi không biết rõ vì khi ở Hà Nội tôi còn là môt chú nhóc tì, chưa có dịp thưởng thức cà phê ngon Hà Nội. Tôi tìm môt lối vào quán cà phêNhân trong đám người đông đảo đứng tràn ra ngoài đường. Một tiếng kêu: 
Móc tui, móc tui, nó đó, thằng đang đi kìa, coi chừng nó chạy, túm lấy nó. 
Tôi choáng váng vì bị một cú đấm vào mặt, chưa hết hoang mang, bị liền những cú đạp tới tấp. Rồi một cái khoá tay rất nhà nghề vặn chéo tay tôi. Một tiếng quát vào mặt tôi: 
– Bỏ cái bóp của người ta ra. 
Tôi la lên trong hoảng hốt: 
– Cái gì vậy, tôi biết gì đâu, các người lầm rồi. 
– Tao không lầm, rõ ràng mày móc túi người ta. A, mày chuyền đồ ăn cắp cho đồng bọn rồi phải không? 
Thêm một cái tát vào mặt tôi cướp tinh thần, người tôi bị lục sóat, không có gì cả. 
Vẫn tiếng quát ấy: 
– Về bót, người nào mất bóp đi theo tôi, công an chìm đây, nó phải khai….chúng tôi sẽ túm cổ cả bọn. Chỗ chợ cá này kẻ cắp như rươi. 
Bỗng dưng, chỉ trong chớp mắt tôi bị khép một cái tội vô cùng bẩn thỉu. Thằng móc túi bị bắt tại trận. Khi ấy chuông nhà thờ đổ hồi, giờ Chúa giáng sinh. Tại sao thế này, tô không biết nữa? 
Tôi bị ấn ngồi xuống chiếc ghế, trước một ông cảnh sát phì nộn: 
– Khai đi, đồng bọn của tụi bay? 
– Tôi không biết gì, cũng chẳng móc túi ai hết. 
– Vậy mày len lõi vào đó làm gì, trong đám đông, mày không đi lễ như mày đã khai mày là kẻ ngoại đạo. Lợi dụng đám đông, mày len qua người ta, người ta mất liền cái bóp. Không tìm thấy tang vật trong người mày vậy thì mày đã chuyển tay cho thằng nào, biết điều thì khai ra đi, mày sẽ nhẹ tội. 
Tôi không biết gì để nhận tội một cách bừa bãi, dầu bị ăn bạt tai, túm tóc dập đầu xuống bàn, tôi không chịu ký biên bản khẩu cung. Đầu tôi vừa nhức vừa buốt. Chịu đựng thôi, tôi không nào nhận bừa một tội bẩn thỉu đến thế, dầu thân phận tôi bây giờ không đáng một xu. 
Người cảnh sát lấy khẩu cung thở hồng hộc, anh cầm ly cà phê đá lên uống một hơi, anh nhìn tôi bằng đôi mắt nẩy lửa: 
– Nhất định lì hả mày? mày vã lắm cần hút một điếu thuốc không? 
– Không, không, sao tôi lại nhục thế này. 
Một người cảnh sát khác mang một mớ giấy tờ ra, trong đó có cái thẻ quân nhân của tôi, còn sót lại trong bóp. Anh cảnh sát mập nghe anh cảnh sát kia trình bày một hồi, anh ta nhìn tôi cười hà hà: 
– Tao đoán không sai mà, mày là thằng lưu manh chuyên nghiệp. đi lính thì đào ngũ ngày 13/11, đúng vào ngày bọn Nhảy dù bị thua Ngô Tổng Thống. Mày lang thang nên đói rách sinh ra ăn trộm móc túi. Tao phải đưa mày về an ninh quân đội điều tra, thôi hồ sơ móc túi của mày chấm dứt tại đây, tao chuyển về bên an ninh, nó đánh vãi cứt mày ra, không có tôicụng thành có tội, xme mày lì đến độ nào…. 
Năm giờ sáng ngày hôm sau tôi bị đưa về tiểu đội hiến binh Chợ Lớn, phía cuối đường nguyễn Trãi. Người thượng sĩ hiến binh không hỏi gì tôi nhiều ngoài tội đào ngũ. Còn hồ sơ móc tí bên cảnh sát coi như đã làm rồi, ông ta không có nhiệm vụ gì về những vụ án dân sự. 
– Vào trong phòng tạm giam kia, đủ số người chúng mày sẽ lên khám Chí Hòa. Bọn lính đào ngũ chúng mày hồi này đông quá….. 
Từng đợt lính phạm kỷ luật bị giải đi, chúng được coi là quân phạm. Quâm phạm sẽ có phòng giam riêng ở Chí Hoà. Hôm đi là ngày giáp tết. 
Đường thành phố vắng vẻ, đì đẹt tiếng pháo và tôi thấy nhiều nhà bầy bàn thờ ra lề đường. 
Chiếc xe chở tù chao lắc….. 

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Chương 11

Thế là đã ba năm rồi mẹ vẫn chưa về. Có lẽ rằng đời sống của bà không khá mấy, chua đủ diều kiện để về SG gây dựng lại gia đình ly tán. Tôi kiểm điểm lại từng giai đoạn, tôi thấy đúng như thế. Tôi chấp nhận đã đành, nhưng còn hai đứa em tội nghiệp của tôi, chúng còn coi như nhỏ bé. nhưng làm sao được, tôi chưa là cái gì hết. 
Vào quân đội, tôi chán ngấy quân đội. Sao hồi ấy tôi không đi quân dịch, nếu đi quân dịch thì tôi đã giải ngũ rồi, bây giờ thì tha hồ bay nhẩy, không như những người bạn tôi cứ phải trốn chui trốn nhủi. Có thằng đã bị tóm cổ đưa vào trại nhập ngũ, thằng thì tự huỷ hoại thân mình để trở thành vô dụng với quân đội, như chặt ngón tay bóp có súng, lấy ống nước chì đập bể xương tay để được giấy tờ miễn dịch vĩnh viễn. Dù quân đoội đang lớn mạnh để đáp ứng với nhu cầu chiến tranh đang lan rộng, như chính nghĩa quốc gia đã mất, không còn bầu nhiệt huyết của thanh niên như thuở nào. Quân đội thoát thai từ lính khố xanh khố đỏ thời phong kiến hoặc tư cách của loại lính ” ba ti găng ” thời thực dân Pháp được gọi là quân đội liên hiệp Pháp, rồi quân đội quốc gia VN. Vẫn là bình mới mà rượu cũ do một bầy đoàn tham nhũng thối nát pha chế đóng nút vô chai, mang ra kinh doanh. 
Tôi vẫn là thằng lính tạp dịch làm tất cả việc lăng nhăng trong phi đoàn, gác phi đạo phi đoàn, hoặc leo lên trực thăng H19 bay ra chiến trường làm công việc tải thương hay tiếp tế. Không phải lính chiến đấu mà giống như lính chiến đấu. 
Lễ Giáng Sinh năm ngoái, phi đoàn mất một chiếc H19 khi bay đi công tác. Tôi mất một thằng bạn, hạ sĩ Bạch Xuân Định, thằng bạn từ hồi nhỏ xíu ở phố hàng Đồng hà Nội. Mẹ hắn vào phi đoàn, ngồi trên phòng chỉ huy trưởng khóc khản cả cổ, nghe tiếng bà gào: 
– Các ông nói thật đi, có phải con tôi đã chết rồi không, tôi nghe nói nó đi chở biệt kích ra ngoài Bắc, chứ không phải tặng quà Noel cho vùng cao nguyên…..Hôm nó đi nó còn ôm lấy tôi từ giã và các em nó, tôi biết là điềm gỡ rồi…. 
Có thể bà cụ nói đúng. Tôi từng thấy những toán lính áo đen, mặt mũi lầm lì, võ trang gọn hẹ ban đêm bí mật vào phi đoàn lên trực thăng rồi bay đi. Dáng thằng Định cao lêu ngêu ở phi đạo. leo lên máy bay sau cùng. Rồi máy bay cất cánh không biết đi đâu. bạch Xuân Định cùng một chuẩn uý hoa tiêu ra đi buổi tối hôm ấy rồi đi mãi không về…Chiến tranh là thế đó, tôi đang đối mặt, không quân tuyển quân ào ạt, những phi đoội Skyraider, C130 vận tải được thành lập, phi đoàn trực thăng bỏ luôn tên ” đệ nhất phi đoàn trực thăng ” mà đổi thành phi đoàn I, trên đất nước này sẽ có thêm bao nhiêu phi đoàn nữa ở 4 vùng chiến thuật. Phi đoàn tôi sẽ nhânthệm loại trực thăng H34. Loại lính tạm như tôi nhận chỉ số và sửa soạn đi học chuyên môn, nhưng riêng tôi vẫn là anh lính ghẻ ” thâm niên quân vụ “. Ngàng chiến tranh tâm lý đẩy mạnh. Có một số nhà văn nhà thơ ở bên ngoài gia nhập không quân và được mang cấp bực, mèng mèng cũng từ hạ sĩ quan trở lên. Phi đoàn tôi có chuẩn uý Đặng Trần Dưỡng sang báo Lý Tưởng làm, ông nói với tôi: 
– Thế nào tôi cũng lấy cậu sang, chỉ số hay không cũng đếch cần, bây giờ cậu cứ gởi bài cho tớ dọn đường đi trước. 
– nhưng tôi không thể viết nổi những bài quảng cáo tuyên truyền như ” Đi quân dịch là thương nói giống “. Hay tác phẩm kiểu của ông Toàn Phong. 
– Ôi, không cần, thoải mái thôi, như thằng DHCường, hiện giờ nó ngồi bên đó, thoải mái viết báo, xuất bản tiểu thuyết bên ngoài. Thơ của Cung trầm Tưởng Phạm Duy phổ nhạc đấy. Quân đội mình nhiều văn nghệ sĩ lắm, đừng nói chuyện cấp bậc. 
Lòng tôi lại dấy lên đốm lửa đam mê, hằng đêm tôi lại ngồi dưới ánh đèn điện ở hangar viết lách, những nhận xét của xung quanh phi đoàn, của binh nghiệp. Đứng bên này hàng rào dây théo gai ngăn cách trại nhẩy dù, quan sát những chuyến bay trực thằng dòng dây thả những chiiếc áo quan lính tử trận xuống bãi cỏ trại nhẩy dù. Những tiếng khóc, những vành khăn tang của con cái vợ lính từ trại gia binh túa ra. Nhiều lần tôi phải quay mặt đi không dám nhìn cảnh đó. Nhưng tiếng gào thét thê lương vẫn lọt vào tai tôi. Còn nhiều…nhiều nữa….những trận đánh lớn bắt đầu xảy ra ở miền Đông miền Tây….Đêm ngồi gác ở phi đạo trực thăng tôi đã nghe rõ tiếng đại bác từ xa vọng về…..Xung quanh SG và các tỉng lỵ là chiến tranh. Một vài vụ phá hoại khủng bố cũng đã xày ra ngay trong SG. Lựu đạn nổ trong vũ trường, trong rạp hát, cả trong cuộc trưng bày máy bay ở Toà Đô Chánh để gây tiếng vang. 
Tôi nghe tin mặt trận GPMNam phát động đồng khởi ở Củ Chi, Bến Tre, Hóc Môn, một chiến khu D nào đó. Ở miền Trung có nhiều thanh niên cùng đường phải ” nhảy núi “. Tôi đã thấy những toán ngươòi bị bắt, xâu từng chuỗi giải đi, mà người ta gọi là VC. VC bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Cái máy chém tha đi khắp nơi. Ông đội Phước, đao phủ thủ chuyên nghiệp nổi tiếng khắp nước, từ khi hạ tay đao chém Ba Cụt, của giáo pphái Hoà Hảo ở miền Tây. Những huyền thoại về cái máy chém và ông đội Phước xoay trong báo chí như cơn lốc, như nỗi kinh hoàng răn đe tất cả mọi ngưòi. 
Buổi tối hôm nay, tôi ngồi gác ở trong hangar nhìn ra phi đạo mà buồn hiu hắt. Tôi nghĩ đến thân phận mình lại càng buồn. Phi trường quạnh quẽ, ngoài kia là lau sậy mọc đầy, đằng sau lưng là hangar với mấy chiếc trực thăng cũ rích. 
Tôi cám cảnh cho thân phận mình, tôi muốn làm thơ, nhưng tôi biết mình không có tâm hồn thơ, như một số anh em bạn bè chọn nghiệp cầm bút. 
Một buổi chiều mưa, khi còn ở đường Chi Lăng, tôi gặp Viên Linh, chúng tôi rủ nhau vào cà phê bằng ngồi nhâm nhi ly cà phê đen đậm. Viên Linh cho tôi biết anh mới đăng một bài thơ ” được lắm ” trên báo văn nghệ tiền phong. Tên bài thơ tôi òcn nhớ là ” bài ca của người giang hồ “. Bài thơ sao giống cảnh sống của chúng tôi đến thế. 
Bây giờ ngồi một mình ở sân bay quạnh hiu, tôi chợt nhớ đến bài thơ ấy, nhưng chỉ nhớ được có mấy câu đầu, giống hoàn cảnh chúng tôi nhất. Tôi đọc trong hangar quạnh vắng 
Sáng ở đầu sông nhớ núi 
Đêm về trong núi nhớ sông 
Có tin về hôm giáp tết 
Số nó bây giờ long đong 

Rồi tôi lan man đọc những bài thơ, đúng ra bất cứ câu thơ nào tôi nhớ được. Tâm hồn tôi cũng đỡ trống vắng. Tôi quên cả buồn ngủ. Sao tối nay tôi nhớ mẹ da diết. những cái tết gia đình sum vầy, những nồi bánh chưng bốc khói nếp thơm. Tôi mất thật rồi chăng đến bao giờ mới thấy lại. 

Cửa tiệm tạp hoá ở sở rác Nguyễn Tấn Nghiêm, căn gác gỗ đứng nhìn thấy cây thập tự giá ở nhà thờ Huyện Sĩ. Vòi máy nước công cộng ồn ào suốt ngày đêm. Tiếng luyện ca cải lương mùi rệu của kép Hùng Cường. Tất cả đã mất rồi chăng? Tất cả đã đi qua như một giấc chiêm bao. Tôi không biết mình nên quên hay nhớ mãi. 
Phiên gác qua mau, tôi không biết ” thiếu tá bình dân ” đến thay gác, nó mắt nhắm mắt mở, tay che miệng ngáp: 
– Biết thế này tao ngủ thêm một tiếng đồng hồ nữa đến còn kịp. 
Tôi nhìn đồng hồ la lên: 
– Cũng muộn cả 45 phút rồi. 
– Thôi đừng cằn nhằn nữa, đưa súng đây rồi lên phòng mà ngủ. 
Tôi mau mắn đưa súng cho thiếu tá bình dân, trở lên phòng. Chưa chắc tôi đã ngủ, tôi sẽ ngồi vào bàn, bên cạnh cái giường sắt nhà binh. Tôi viết, không biết mình viết gì đây? Bên kia góc phòng là giường của thiếu tá Bình Dân. Hắn ít khi ngủ trong trại, nên chỉ có mình tôi ngủ trong căn phòng trống vắng. 
Tôi đi loanh quanh trong phòng mãi rồi ra nằm xuống giường, tôi ngủ thiếp đi lúc náo không biết. Nửa đêm tôi thức giấc vì tiếng thằng Phúc gọi thảng thốt: 
– Dậy mày, dậy Long! 
Tôi ngồi dậy, ngơ ngác: 
– Cái gì vậy, phiên gác kế tiếp không phải tao, sau phiên của mày là phiên thằng Hoan. Tại sao mày bỏ gác lên đây? 
– Tao không bỏ gác, nhưng phi đoàn bị chiếm rồi, có lẽ cả phi trường. mày nghe tiếng súng nổ ngoài SG không. Có lẽ họ đang đánh Dinh Tổng Thống. 
– Ai, VC hả? 
– Không, nhảy dù, cách mạng mà! Tao gặp thằng chuẩn uý Dù quen tụi mình, nó nói tao lên gặp mày ra tập họp cùng anh em ngoài sân cờ. Thôi làm theo lời chúng nó đi không toi mạng cả lũ đấy, mày biết tụi Dù chứ, chúng là lính chiến chuyên nghiệp, không xìu xìu ểnh ểnh như lính không quân mình đâu. 
Tôi rợn tóc gáy, chổm dậy, tôi biết không phải chuyẹn đùa. Tôi vớ bộ quần áo, ” thiếu tá Bình Dân ” hối: 
– Đi mày, không cần mặc quần áo, cứ ra tập họp đã. Này đừng mang theo cây bù loong của mày, chúng tưởng là vũ khí mày bị xử bắn đấy. 
– mẹ mày, lúc này mà vẫn còn giỡn được. 
Ở sân cột cờ đủ mặt những thằng ở trong đơn vị, không nhiều, đông lắm chỉ khoảng 10 thằng. Một ông sĩ quan Dù đứng lên bậc thềm, giọng giõng dạc: 
– Tất cả anh em đây, ai là sĩ quan thì giơ tay lên, đứng sang một bên. 
Trong hàng quân chẳng có ai giơ tay. Ông sĩ quan nhìn chòng chọc vào toán lính lôi thôi hỏi: 
– À không có thằng nào là sĩ quan hả, nếu phát hiện ra thì chết nghe chưa, tao sẽ bắn ngay ở cột cờ này…… 
Tự nhiên có tiếng cườì khinh khích. ông sĩ quan nhìn như xoáy vào một thằng ốm o: 
– Thằng kia, cười cái gì? 
Thằng hạ sĩ Vân, thằng có tiếng là vui nhộn nhất sư đoàn: 
– Báo cáo trung uý, trung uý cần sĩ quan cấp uý hay cấp tá! 
– Cứ sĩ quan là được, để tâp trung sang bên bộ tư lệnh. Cho tụi bay biết cả trung tá tư lệnh của tụi bay cũng bị bắt rồi…… 
– Dạ ở đây không có sĩ quan cấp uý mà có một sĩ quan cấp tá! 
Thằng vân liền chỉ vào mặt thiếu tá Bình Dân: 
– Dạ thằng này, thiếu tá bình dân. 
Hai anh lính nhẩy dù xô ngay lên, súng chĩa vào ngực thằng Phúc: 
– Đi, ra khỏi hàng. 
Phúc thiếu tá bình dân kêu lên: 
– Ấy không phải, tôi là binh nhì Hoàng Phúc, chúng nó đùa tôi như vậy thôi, thằng Vân đểu giả xỏ lá. 
Cả đám lính không nhịn cười được, anh chuẩn uý dù mà chúng tôi quen mặt ở bên kia hành rào dây thép gai phải giải thích mãi với ông trung uý. Một sĩ quan dữ dằn, kỷ luật từ đầu đến chân. Hình như một người sinh ra để làm nghề nhà binh. Xách tai thằng Vân ra: 
– Thụt dầu luôn một trăm cái, kéo hai tai tự cầm tai mình. Còn cả bọn này lên ngồi ở hàng hiên kia. 
Ông trung uý ra nói chuyện ở máy bộ đàm. Trời sáng rõ dần. Thằng hạ sĩ Vân cũng thi hành xong hình phạt trở vào với anh em. Thiếu tá bình dân chửi nhoi: 
– Sư mày đồ hèn, tí nữa thì mày làm ông chết oan. Đùa kiểu gì mà lạ vậy? 
Thằng Vân nhăn nhở: 
– Tao mong cho mày chết, để mày khỏi giành đào của tao. Tụi bay biết không, tuần trước tao tán được một con bán nước mía, thằng này ra thả lời ong bướm cuỗm tay trên của tao. Nó xưng là htiếu tá, anh bình dân lắm, thượng vàng hạ cám gì cũng vô hết. Mẹ, nợ tình nặng lắm đó mày. Mày coi chừng tao, tao còn thù lắm. Con Cúc đào của tao mày cũng cướp, bây giờ nó muốn trở lại với tao, tao cho nó đái công chuuộc tội bằng cách lấy dao mổ heo thọc tiết mày. 
Không khí trở nên vui vẻ mặc dầu tất cả chúng tôi đều là tù binh. 
Trời đã sáng hẳn. Tiếng đại tá dù Nguyễn Chánh Thi nói eo éo trên đài phát thanh, bao nhiêu là nhân sĩ cũng lên tiếng ủng hô, có lẽ Cách mạng đã thành công. Dinh độc Lập đang bị bao vây. Giọng tổng thống Diệm cũng đã dịu xuống. Hôm ấy là ngày 11 tháng 11. 
Tất cả các sĩ quan không quân ở trong phi trường TSNhất bị bắt tập trung tại câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc, nghe đâu cả trung tá quyền tư lệnh Không Quân cũng bị bắt sau đó. nhưng trong cùng ngày có tin trung tá đã trốn thoát lên phi trường Biên Hoà. Trong nhóm người đảo chánh cũng có thiệt hại, trung tá Dù Dương Văn Đông bị tử trận ở vườn Tao Đàn, ngay cạnh phủ tổng thống. những cánh quân ở các tỉnh trung thành với tổng thống sửa soạn phản công. Phi trường biên Hoà rục rịch cho các máy bay cất cánh. Có thể có một cộc phản công kinh khủng, nhưng chúng tôi vẫn còn ở trong tay phe cách mạng. Không biết cuộc đàm phán giữa phe cách mạng và tổng thống diễn ra như thế nào, nhưng tất cả binh sĩ nhảy dù chiếm sân bay đều đói, không bữa ăn sáng, không bữa trưa và không bữa cơm chiều. 
Đến tối thì các binh sĩ ấy phá cửa câu lạc bộ đóng cửa để kiếm lương thực. Các nhà trong trại cũng bị lục lạo tìm đồ ăn. Lính phi công trong phi trường cũng đói lây, không đâu bán đồ ăn, mà ai phải ở chỗ nấy. 
Sang đến ngày thứ hai, tình trạng trở nên tồi tệ, những nút chặn, gác của lính nhảy dù trở nên lỏng lẻo, lính không quân bỏ đi lung tung kiếm ăn, riêng các sĩ quan vẫn phải giam trong câu lạc bộ Huỳnh Hữu Bạc.
Tôi và thằng thiếu tá bình dân bỏ đi lang thang sang bộ tư lệnh. Hai thằng đoói meo, như những người lính nhảy dù. Ra tới cổng phi đoàn chúng tôi gặp anh chành chuẩn uý quen, anh ta ở bên kia hàng rào dây thép gai ngay đầu phòng của tôi. Thỉnh thoảng anh ta ôm cái máy hát cũ mèm, quay tay hát dĩa, leo hàng rào sang phòng hai đứa tôi học nhảy đầm. Phúc ” thiếu tá ” hướng dẫn anh ta từng bước nhảy. Đôi khi hẹn nhau ngoài cổng trại đi dancing. nên trở nên thân thiết nhau. Phúc ” thiếu tá ” hỏi: 
– Tại sao cậu lại mang quân sang đánh chúng tớ? 
– Đánh hồi nào, nhảy dù chúng tớ được tin VC xâm nhập thành phố, nên nhảy dù tới thanh lọc đấy chứ. 
Tôi hỏi: 
– Đã tìm ra tên VC nào chưa? 
– Làm gì có, khi hành quân tớ nghe nói khác bây giờ người chỉ huy lại nói khác, bọn tớ trở thành đám loạn quân, đói bỏ mẹ, đói hết một ngày hai đêm rồi. Các cậu đi đâu thì cứ đi, nếu có thể kiếm gì mang về cho tớ ăn với. Mẹ bị lừa hết rồi….. 
– Không hứa trước, có thì tớ mang về cho. Cả thành phố đóng cửa hai ngày rồi, có ai sản xuất gì đâu. 
Hai đứa chúng tôi đi lại thoải mái, những người lính nhảy dù không buồn ngăn chặn. Chính họ cũng tự phải đi tìm lấy đồ ăn. 
Bên bộ tu lệnh cũng không hơn gì bên phi đoàn chúng tôi. Riêng một số lính dù làm việc tại phi trường vận tải còn có vẻ hoạt động. Một chiếc máy bay C130 đậu ngoài phi đạo. 
Phúc ” thiếu tá ” chán nản: 
– Thôi tao ra ngoài đường đây, tao về nhà con Cúc 
– Ở tận Trương Minh Giảng ấy à? 
Phúc gật đầu: 
– Mày có đi cùng tao không?
– Không, tao ớn con dao của mẻ, hôm trước tao đã đánh tháo mày, chắc mẹ còn thù tao lắm….. 
Tôi chia tay thằng thiếu tá bình dân đi lang thang khắp nơi. Các sĩ quan vẫn bị nhốt trong câu lạc bô Huỳnh Hữu Bạc. Các vị ấy không dám ra ngoài vòng rào, vì nếu ai ra sẽ bị bắn ngay tại chỗ. Chỉ khi nào lính dù cần đến mới gọi một hai người ra. 
Trung uý Phan Phụng Tiên, hoa tiêu vận tải bị gọi ra, đưa ra phi đạo. Ông lên máy bay, rồi xăng được tiếp, một chiếc xe nạp điện chạy đến cạnh máy baymở máy nạp điện. Hình như sửa soạn cho một chuyến bay. Lính dù vòng trong vòng ngoìa bảo vệ chiếc máy bay. 
Tôi ngồi ở câu lạc bộ trống lỗng ngay cạnh phi đạo. Nghe nhiều người nòi chuyện, những tin tức chính xác và cả những tin vịt. Một người nào đó nói: 
– Bọn dù làm đảo chánh sắp thành công rồi, chiếc máy bay này sắp cất cánh, tống khứ gia đình tổng thống cho đi chơi chỗ khác. Ngày hôm qua họ đàm phán với nhau để đặt điều kiện. 
– Điều kiện gì? 
– Tổng thống đi chơi để lại đại tá Nguyễn Chánh Thi lên làm tổng thống. Mỹ hỗ trợ cho ông ta, ông ta mới chống cộng kỹ. 
Một người khác chen nói: 
– Trong vụ này có nhiều đoàn thể đảng phái khác tham gia. Tao nghe nói đại uý Phan Lạc Tuyên bên biệt động quân cũng tham gia đảo chánh, rồi đây ông ta sẽ là bộ trưởng thông tin vì ông ta còn là thi sĩ. Chúng mày nhớ bài thơ nổi tiếng của ông ta khi tiếp thu Bình Định. Đan Thọ phổ nhạc không? 
– Nhớ chứ, tao thuộc lòng….. 
Có tiếng ồn ao phía bên ngoài. Tiếng người nói: 
– Ra xem giải giao đình họ Ngô ra phi trường, lần này thế nào cũng có mụ Trần Lệ Xuân. Máy bay bay ra biển, ném chúng xuống hết thôi. Ở đây mình thấy máy bay về không là xong chuyện rồi đó. Ngày mai mình th hồ ăn tiệc, nhân dân khắp thành phố biểu tình hoan hô tân tổng thống. 
Tôi chán ngấy chuyện đấu láo. Tôi ra ngoài đường đứng xem. Một dẫy xe hơi citroen chạy vào phi trường, qua bộ tu lệnh sang phi đoàn vạn tải. Tôi cố nhòm qua cửa xe nhưng chẳng thấy ai là người thân thuộc của gia đình tổng thống. Tôi nhìn thấy những người đội mũ be rê đỏ trong xe. 
Một anh lính dù cho biết có cả đại tá Nguyễn Chánh Thi. Cái mặt gầy guộc và bộ ria mép đen nhánh. Tất cả đều xuống xe cạnh sân bay. Có người mang quân hàm cấp tướng bộ binh, mặt bị đánh sưng vù. Có người nói đó là thiếu tướng Thái Quang Hoàng. 
Đại tá Nguyễn Chánh Thi lên máy bay đầu tiên, cùng với những sĩ quan tâm phúc của ông. Kế đến là những người khác, lính dù thúc họng súng vào lưng các con tin bắt lên cầu thang. cửa máy bay đóng, thang rút ra, vá máy bay nổ máy. Chỉ một bên cánh quạt quay tít, cánh quạt phía bên kia như bị liệt chỉ quay lờ đờ. Nhung chiếc máy bay cũng lết ra được đường băng, rồi cất cánh phía cuối sân. Máy bay hướng về phía tây. 
Chờ cho chiếc máy bay khuất dạng ở chân trời, người sĩ quan dù ở sân bay ra lệnh cho lính: 
– các chiến sĩ nghe lệnh tôi hạ khí giới, giao lại cho các bạn an ninh phi trường. Chúng ta đầu hàng vô điều kiện khi đã làm tròn nhiệm vụ. không một binh sĩ nào được manh động, như truyền thống binh chủng dù, tuyệt đối nghe lệnh cấp trên. 
Lính an ninh phi trường lúc ấy mới túa ra, an ninh thật cũng có mà an ninh cũng có, toôi bị túm tay lôi ra. Nhưng tôi vùng ra: 
– Xin lỗi, tôi không là lính an ninh. 
Thượng sĩ nhất Phạm Phú Ngự ra lệnh như một người thắng trận: 
– Tước khí giới, mang ngay một khẩu hiệu đại liên bố trí ở con đường dẫn sang trại tù Hoàng Hoa Thám.
Người sĩ quan dù cười, nhìn vào mặt trung sĩ nhất Ngự: 
– Không còn đánh đấm gì nhau đâu trung sĩ à, đưa chúng tôi về cải hối thất rồi nấu một bữa cơm tù cho lính tôi. Chuyện được làm vua thua làm giặc là thường mà….. 
Tôi chán nản, đi bộ ra ngoài cổng phi long, xóm Lăng Cha Cả. Tôi nghe tiếng tổng thống kêu gọi dân chúng bình tĩnh vì quân đội đã dẹp yên được một số sĩ quan trung cấp cầm đầu cuộc phản loạn. Nhưng tổng thống cũng tuyên bố tình trạng giới nghiêm buổi tối. 
Sinh hoạt bên ngoài trại lính bình thường, những quán cơm bình dân, quán cà phê. Tôi nghĩ mình cũng nên đi thăm một số bạn bè, thăm thằng em. bây giờ không biết nó ở nhà bà dì bà mợ hay ông chú nào. Đầu tiên tôi đến xóm Lê Văn Duyệt để thăm Hoàng Bình Sơn. HBSơn ở nhà trọ. Chúng tôi ra quán ăn cơm bình dân rồi uống cà phê. HBSơn chán nản: 
– Chẳng nước non mẹ giù hết, nếu bọn dù kéo dài thêm được vài ngày nữa thì ông Thu anh tớ sẽ ra khỏi tù, ông ấy bị nhốt tù quá lâu rồi. 
– Chắc thế nào cũng có một đợt ân xá. 
– Còm lâu, rồi nó sẽ bắt thêm, mày coi. Chúng nó cần củng cố quyền lực, khủng bố dữ dội không riêng gì đối lập mà tất cả mọi người, nhà tù chật cứng người cho coi…. 
Ừ sao tôi không có một ý niệm gì về chuyện đó. Trời đã muộn, tôi băng qua đường xe lửa Nguyễn Thông sang trương Minh Giảng thăm vợ chồng Trần dạ Từ. HBSơn cho biết Trần Dạ Từ đã có việc lám ở một tờ báo, hai vợ chồng thuê một căn nhà ngay ở dưới dốc cầu. 
Bữa cơm đón bạn vui vẻ, tuy là bữa cơm đơn sơ nhưng Nhã Ca khéo léo làm những món ăn đặc sản Huế. Tôm cháy và mắm cà…..Trời sụp tối lúc nào không biết. Tôi toan về trại lại nghĩ đến lệnh giới nghiêm của tổng thống mới ban hành nên đành ở lại nhà Tứ- Nhã. Tô chưa đi thăm được thằng em. Sáng ngày mai tôi đi tìm nó cũng không muộn.. 
Tôi tìm nó mấy ba ngày mới biết nó ở nhà bà dì trên Gò Vấp. Rồi tôi tính ra rằng mình đã bỏ trại đi được gần một tuần lễ. Ngày ngày tôi về nhà Từ Nhã. Nhà Từ-Nhã thường xuyên cho những người bạn tá túc, đôi khi có những người bạn mang cả nhân tình về…. 
Một buổi tối, Từ đưa tôi ra đầu đường nói chuyện: 
– Mày không thể ở nhà tao hoài được, chỗ mày nằm ngủ thằng Trung và con nhân tình nó đã xí trước rồi, mày ở đây thì kẹt cho chúng nó, tao đưa mày mấy chục đồng mày có thể tìm một chỗ khác….
Tôi từ chối 35 đồng bạc của Từ và đi ngay, mà không biết sẽ đi đâu. giờ giới nghiêm sắp tới. Tôi lang thang trong thành phố vắng dần bóng người, thay vào đó là những xe hiến binh mũ kê pi chạy đi chạy lại trên khắp ngã đường. 
Không còn cách nào khác tôi đành tạt vào mái hiên, ở đó nhiều người nằm ngổn ngang. Có lẽ đó là những người không nhà cửa, ăn mày hành khất chi đó. Tôi dựa lưng vào tường, gục đầu trên hai cánh tay khoanh tựa trên đầ gối. Tôi nghĩ ngợi lan man, nghĩ đến những đồng tiền Trần Dạ Từ đưa cho tôi hồi tối mà tôi không nhận. Tôi không hiểu được thái độ TDTừ. mà tôi chẳng cần phải hiểu, cứ cho đó là chuyện đời vẫn xảy ra. mà tôi là người ít may mắn. Nếu tôi kể lể điều gì đó thì tôi tầm thường quá. Tôi nghĩ đến căn gác của mẹ tôi ở sở rác Nguyễn Tất nghiệm, nơi ấy đã tụ tập biết bao bạn bè tôi, lòng mẹ tôi thật bao la. Nay thì tan đàn xảy nghé hết rồi. Thôi thì nhận nơi đây là một mái nhà. Tôi đã dời đơn vị gần một tuần, tôi là kẻ đào ngũ. Mơ thấy mình là đại tướng tự ký giấy giải ngũ cho mình. 
Tôi lo mơ những kỷ niệm và buồn ngủ, mấy lần tôi ngủ gục ngã xiêu cả người. những người ở quanh tôi hình như chẳng ai thèm để ý đến tôi, hành lang thì rộng và dài. Một ngôi nhà rộng thenh thang chẳng của ai cả. 
Có tiếng động cơ xe hơi dừng ở ngoài đường, một cái xe jeep của hiến binh. Tiếng léo nhéo ngoài đó: 
– Thằng điên, mày bắt chúng tao đưa mày đi khắp nơi. Chỗ nào mày cũng nói không phải nhà mày, vậy đây không phải nữa thì vào ngủ ở đồn hiến binh. 
Một giọng nói miền Quảng Nam. 
– Vậy thì cho tôi xuống đây, nhà tui đó, rộng không, mát mẻ không. Trời cảnh thơ mộng làm sao, nhà cao cửa rộng….. 
Tôi đứng hẳn lên, khi gã thanh niên bị lẳng xuống đường. những người nằm trong hành lang khe khẽ: 
– Thằng ngu, nằm xuống đi, lính bắt bây giờ, cái thân ngủ đường ngủ chợ mà không biết gì hết, mày cũng điên rồi. 
Thằng thanh niên ngoài đường la lên với tụi lính khi hắn nhìn thấy tôi: 
– Bọn lính tráng tụi mi, tau nói nhà tau mà, thấy người hầu ra đón cậu không? Ê, ném trả tau cái túi trên xe.
Một cái cặp liệng xuống đường. Chiếc xe rồ ga phóng vút đi. Gã thanh niên khùng điên lượm cái cặp, cắp nách đi vội lên dốc hành lang. Tôi vẫn đứng đó nhìn gã, dưới ánh đèn đường tôi thấy gã còm nhom. Cái đầu nham nhở không hẳn là đầu trọc mà cũng không phải để tóc. Hắn ngẩng lên nhìn tôi, cái mặt coi quen quá. À phải rồi, tôi đã nhận ra hắn và hắn cũng nhận ra tôi. Hắn la lên: 
– Có phải mày là thằng Long không., tao Sơn đây. Nguyễn Đức Sơn, Sao Trên Rừng đây. 
Đúng hắn rồi, tôi có quen biết hắn, thằng người Quảng điên điên khùng khùng thường hay đăng thơ trên báo Sáng Tạo, Văn Nghệ, Quan Điểm. Hắn cũng hay nói chuyện triết học. Đã lâu lắm rồi tôi không gặp hắn. Hình như hắn không để ý đến cái hành lang: 
– Ờ chỗ này cũng được đấy, hành lang này rộng, nhìn ra vườn hoa, dưới kia là sông, phong cảnh hữu tình đó. Phía dưới có cột đèn sáng, có vòi nước công cộng, ban đêm tha hồ tắm nữa. Tao hỏi mày sao tìm được chốn thiên đàng này? 
– Vô tình thôi, hôm nay lần đầu tiên tao tới đây. 
– vậy sao? Tau nghe nói mày đi lính mà. 
– Đúng rồi, nhưng tao đã đào ngũ một tuần nay. 
– Cũng tốt, mày đưa tau vào chỗ nằm, mình sẽ tâm sự với nhau. 
Tôi kể hoàn cảnh của tôi cho Sơn nghe, hắn lắng nghe chăm chú, sau rồi lại nói: 
– Chẳng cần quan tâm, nhưng tau ghi chuyện này vào sổ đen của tau. Từ ngày mai mày có thể rong chơi với tau. 
Hắn nằm ngay xuống thềm, gối cái cặp và ngủ thiếp đi. 
Chỉ một lát tôi hắn ngáy như cưa gỗ. Có lẽ giấc ngủ của hắn bình thản và không quan tâm đến một chuyện gì. 
Tôi thao thức mãi mới ngủ được, gió sông thổi lên lồng lộng. Trời cuối năm lành lạnh, lại sắp hết một năm nữa rồi. Gần sáng tôi mới chợp mắt được một lúc. 
Tôi tỉnh dậy thấy hành lang vắng hoe và NĐSơn ngồi xổm nhìn vào mặt tôi. Sơn hỏi tôi: 
– Bây giờ mày đi đâu hay đi chơi với tau? 
– Tao đến chỗ thằng em trọ học, xem nó học hành ra sao? 
– Học với hành, tau có quan niệm khác. 
– Sao? 
– Có học chỉ khổ cái thân thôi, tau sau này có vợ con, tau cho lên rừng hết, không học hành chi cả. 
– Vậy tại sao mi lại học? 
– Bởi vậy, ném lao phải theo lao, không ra gì hết, chẳng thà không biết gì như cây cỏ, như con thú ở trên rừng. Sống theo bản năng. 
Cơn gàn của anh chành lại lên rồi chăng. Tôi từng nghe bệnh gàn dở của hắn, đôi khi trở thành giai thoại. Khi cần chửi là hắn chửi, nếu không chửi được tận mặt là hắn gửi thư đến tận nhà chửi. nhiều anh em từng là ” nạn nhân ” của anh, của cái tính ngông cuồng dễ thương mà trởi ban cho anh. những cơn điên tiết của anh như trời mưa nắng. 
Còn chút tiền, tôi rủ NĐSơn đi ăn hủ tíu và cà phê thuốc lá. trước khi chia tay bạn, Sơn nhắc nhở tôi: 
– mày bây giờ không làn gì nữa rồi, xong công việc đời thường mày lại đến đây tìm tau, mình rong chơi, rong chơi mà no đủ kía, tiền tiêu có thể là không có, nhưng no đấy, ngày hai bữa được không? 
– Được qúa rồi, nhưng mày ” định cư ” nơi này chưa? 
– Chắc phải vậy thôi, chẳng nơi nào hữu tình hơn nơi này. Gầm cầu kia không thể bằng nơi này được. 
Trước khi chia tay, tôi đứng ngắm nhìn lại chỗ mình ngả lưng đêm qua. Đó là hàng hiên của tổng ngân khố, nhìn ra sông SG. Cái cầu Mống cao và cong cong đổ qua sông, bên kia là Khánh Hội. Nhà Lê Đình Điểu ở bên đó, nhưng thằng em tôi không còn ở đó nữa. Mẹ tôi viết thư về nói nó ở Gò Vấp học trường Hồ Ngọc cẩn gần hơn. Vả lại nó ở nhà dì, cũng là chỗ ruột thịt với mẹ tôi. Có họ hàng mà không nhờ vả, nhờ vả người ngoài mang tiếng. Tôi không rõ điều suy nghĩ của mẹ tôi có đúng không? 
Tôi tới thăm em trai tôi, nơi này nó ở không tệ, nhưng chưa phải là tốt. Tôi muốn nó ở nơi nào đó tốt hơn, nhiều thì giờ để học hành hơn, vì nó đã thi xong trung học, những năm cuối trung học của nó cần yên tĩnh. Tôi không nói cho em tôi biết rằng tôi đào ngũ. Tôi nghĩ đến cái hẹn của NĐSơn, tôi phải về với hắn. Những bạn bè khác tôi không muốn đến nữa. Biết đâu mình chẳng là gánh nặng với họ, không phải là sự phiền nhiễu. 
Buổi tối tôi đem bụng đói về với NĐSơn. Hắn ngồi dựa cột đèn đọc sách, bên cạnh có một cuốn vở để ghi ghi chép chép gì đó. Hắn ngẩng lên hỏi: 
– Mày về đó à? 
Hắn thu dọn mớ sách vở xếp vào cái cặp vải kaki vàng may lại. Trời cuối năm lành lạnh, quần áo của hai đứa lại phong phanh, gió sông lồng lộng, bụng tôi đói càng lạnh hơn. Sơn hỏi tôi: 
– Mày ăn uống gì chưa? 
– Có gì đâu mà ăn, tao đói từ hồi trưa. 
Tao thì no căng một bụng, uống nước phông ten vào nở ra càng no dữ. 
Cái thằng này ăn nói quái thật. Tôi nửa tin nửa ngờ. Vào đến chỗ nằm. NĐSơn mở cặp ra, lấy cho tôi một miếng cơm cháy gói giấy cẩn thận. 
– Ăn đi, tao có rắc sẵn muối tiêu, phần ăn sáng của tau đó. Tau nhường mày, ăn xong ra uống nước phong ten, tức khắc là no thôi. 
Đói quá không còn khách sáo, tôi ăn ngay. Miếng cơm cháy rắc muối tiêu sao bùi ngậy thơm đến thế. Tôi cũng vừa đủ no bụng. NĐSơn giải tấm nilon ra, hai thằng nằm chung. Hắn có vẻ chuyên nghiệp nằm đường nằm chợ: 
– Mày nên có một cái túi, đựng quần áo sách vở, đi đâu mình tha theo. 
– Tao chẳng có gì hết. 
Hai đứa nằm gác chân lên nhau nói chuyện tào lao một hồi rồi Sơn ngủ thiếp đi, tôi còn thao thức mãi quan sát xung quanh. Một số người còn thức, một số khác đã ngủ say. 
Trong một góc khuất ánh đèn, có một đôi trai gái nằm đắp chiếu, làm tình với nhau tự do kêu oeng oéc. Cái miệng thằng đàn ông, hay thanh niên ông ổng: 
– Tao sẽ cho mày một đứa con tha hồ mà bồng đi ăn mày. Khi đó phải nhớ đến công ơn tao. Nói cho bay hay, nhiều đứa vô ơn bội nghĩa với tao rồi. 
– nầy Bảy Nọc, đừng có lối, trên đời này không phải chỉ mình mày mới có cái con….. Tao cũng bị mòn vậy… 
Thật kinh khủng, tôi đang sống giữa bầy đoàn nào đây? 
Ở ngoài khoảng trống, vẫn trong phạm vi mái hiên có hai lão già gầy lên một đám lửa nhỏ, đủ nấu một lon nước, có lẽ hai lão đang uống trà, nói chuyện tào lao: 
– Này anh thấy không, hai ngày nay thằng Tèo của tôi không về. 
– Nó trúng mánh rồi, đâu còn nghĩ đến sư phụ của nó. 
Lão già cười: 
– Rồi nó phải về, nó đâu đã học hết nghề của tôi được, Lão Mõi này ngu dại gì mà dạy hết, thầy võ cũng từng phải giữ lại ngón nghề tủ phòng thân. Sư phụ dậy hết nghề cho đệ tử nó phản thầy thì sao ” sông sâu còn có người dò, lòng người nham hiểm biết dò đến đâu ” Nghề móc túi trộm cắp của tôi cũng thất truyền nhiều rồi, sư phụ tôi dậy cho tôi cũng không dậy hết. Vậy mà tôi cũng tung hoành một thời từ Nam chí Bắc. Thằng Tèo, đệ từ ruột của tôi, chưa học hết nghề của tôi được, dù nó thông thạo mánh móc túi, rạch bóp nhưng chưa phải là hay. thập bát ban võ nghệ còn nhiều rắc rối lắm. 
– Ờ nghề nấu ” xì ke ” của tôi cũng lắm công phu, không phải ai muốn nấu là nấu được đâu. Tôi chỉ cần tí sái, mấy miếng giẻ lót dọc tẩu, lau bàn đèn thôi, cũng đã nổi danh trong thiên hạ. Chích choát là mấy công việc của mấy tay em, không đứa nào dám thiếu chịu của hít tô phe đại đế này được, cũng chẳng dám tố cáo….. 
Lại một buổi sáng, NĐSơn đánh thức tôi dậy, hắn cũng có tí tiền uống cà phê, hắn rủ tôi đến tiệm giặt ủi, hắn vào bên trong thay bộ quần áo giặt ủi láng coóng. Hắn lại còn thắt ca vát, ra vẻ lắm: 
– Tao phải ăn mặc ra vẻ như vậy để còn đi dạy học, học trò của tao toàn học sinh trung học…mày cũng cần có bộ quần áo thay đổi để đi làm ăn. Tao sẽ tìm cho mày một bộ to rộng. 
– Tao thì không cần những bộ quần áo đẹp, vì tao sẽ làm nghề lao động tay chân. 
– Tuỳ mày thôi. 
Tôi hiểu NĐSơn nhiều năm trời sống một mình ở SG ra sao. Anh làm thơ, thơ anh hay, nhưng ít tiếp xúc với bạn bè cùng giới. Tâm hồn anh nhậy cảm, sự nhậy cảm quá độ, nhiều khi tưởng người khác xúc phạm đến mình, anh tự vệ. Sự tự vệ khủng khiếp bằng những bức thư gửi qua bưu điện. Một số bạn bè nói anh có máu điên, thây kệ. Thằng nào xúc phạ đến ta một, ta trả lại cho nó gấp 10 lần sự cay độc. Nhưng bức thư gửi đi ấy đều có bản lưu, lâu lâu giở ra đọc lại….như đọc lại một tác phẩm của mình. 
Tôi chờ NĐSơn ở đầu đường Bùi Viện, gần trường Thăng Long. 12 giờ trưa, Sơn bảnh choẹ đi tới gặp tôi. 
– Mi chờ tau lâu hỉ? 
– Mình có thì giờ mà. 
– Đi ăn! 
Chắc chắn hắn có tiền. Chỉ cần một bữa ăn xoàng. Sơn rủ tôi 9dến quán cơm Anh Vũ cũng ở trên ocn đường ấy, quán cơm có tính cách nậng đỡ các sinh viên học sinh. Cơm ăn thả cửa, ba món ăn, giá chỉ có 3 đồng đến 5 đồng cho một người. Tôi từng nghe nói về quán cơm này, nhưng đây mới là lần đầu tiên đến với Sơn. Tôi htú thật với Sơn điều ấy. Sơn ra người sành sỏi ăn cơm Anh Vũ. 
– Vậy thì mi cứ nghe tau, tao làm gì mày làm cách đó. 
– Tao đủ thông minh, miễn là không ăn giựt ăn chạy. 
– Không có đâu. 
Khi bước chân vào quán Anh Vũ, quán cơm đông khách, hầu hết là những học sinh. Chúng tôi ngồi xuống một bàn trống. Những người khác ra quầy mua phiếu rồi đi ra một bàn khác tự do chọn thức ăn, giỏ cần xé cơm gần đó, ai muốn xúc bao nhiêu thì xúc. Tôi không thấy NĐSơn làm điều đó, anh cắm một cây tăm lên miệng. Tôi ngơ ngác vì chúng tôi chua ăn gì mà đã xỉa răng. NĐSơn hối tôi: 
– Xỉa răng đi 
Tôi làm theo lệnh Sơn như cái máy. Hắn lại ra lệnh: 
– Đứng dậy đi theo tau. 
Tôi đi theo Sơn vào bếp. Những cái chảo lớn nấu cơm. Cơm thì rỡ ra những giỏ cần xé khiêng ra ngoài nhà ăn. Những người nấu cơm dùng cái xẻng lớn cạy những tảng cháy to hất ra những cái thùng to. Có những người chạy đến bẻ một miếng. Sơn cũng tới bẻ một miếng, hối tôi: 
– Mi bẻ lấy một miếng đi, mình ăn cơm rồi, bây giờ đét se miếng cơm cháy cho thơm miệng…. 
Tôi làm theo Sơn, và bây giờ thì tôi hiểu được việc làm của bạn. Tôi bẻ miếng cơm cháy hơi to, theo Sơn lên nhà ăn. Hai thằng ngồi ăn đàng hoàng vào bàn ăn, rắc muối tiêu và xịt nước tương vào miếng cháy. tôi ăn đến loáng hết miếng cháy mà vẫn còn thòm thèm. Sơn nhìn tôi cười: 
– Lần sau thì rút kinh nghiệm nhé, nhưng không sao, chiều mình lại đến. bây giờ mày ra uống trà đàng hoàng cho nó nở ra là vừa bụng. 
Tôi uống một ca trà, người thấy dễ chịu. Hình như trong quán Anh Vũ không phải chỉ có hai đứa chúng tôi ăn uống theo kiểu này, mà nhiều. Tôi nghe tiếng la ở nhà bếp: 
– Thôi chứ các cha nội, lấy hết cơm cháy rồi nhà thâucờm dư tới lại la tụi tôi không để cơm cho heo….. 
Chúng tôi ra khỏi quán cơm Anh Vũ. Sơn nói: 
– Bần cùng lắm tau mới dùng đến chiêu thức này. Gị là chiêu thức cứu đói. No bụng đàng hoàng. Mình vô tài kiếm không ra miếng ăn, đói, than trời trách đất thì tội cho trời đất. Từ nhiều năm nay tao chưa bao giờ đói, nghe thấy tụi bay than đói hoài tao lấy làm lạ. Miền Nam đầy lúa gạo này quyết không xó một kẻ nào phải chết vì đói. 
Lý luận của Sơn thật hùng hồn. Tôi có cảm tưởng như anh ta là một nhà hùng biện lỗi lạc. Tôi nói: 
– Tớ cứ tưởng hôm nay cậu có tiền đãi tớ bữa cơm chứ. 
– Thì đó, cậu cũng vừa ăn môt bữa cơm, đồ ăn cho mặn miệng là muối và nước tương, ta ăn để mà sống. tớ đangnghiên cứu về lối ăn gạo lức muối mè. Bữa cơm này không phải tớ đãi cậu do tiền bạc mà do rút kinh nghiệm phương pháp chống đói. Con heo mất một miếng cơm cháy cũng chẳng thể đói hơn được, nó đói thì nó la, chủ nó phải lo cám cho nó. người dưng nước lã không bỗng dưng phải lo cho nhau, con heo gầy bán mất giá, chủ nó phải vỗ cho béo để bán được nhiều tiền hơn. Mi, tao béo gầy thì đời cũng mặc mẹ, chết mặc xác….Nhưng tau hôm nay, tao đến lớp đòi tiền, nó không trả cho tau. Nó còn bắt tau chờ đến hết tháng, không có cái vụ dậy học xong đòi tiền, cái nguyên tắc làm chết con người đấy. 
Tôi không dám để cho Sơn nói nhiều hơn nữa, nhất là lý luận: 
– Chịu thầy rồi, còn bây giờ đi đâu? 
– Đi chơi, nơi nào đó để thư giãn đầu óc một chút, tau căng thẳng rồi….. 
Tôi và Sơn tới vườn Tao Đàn, tôi cứ nghĩ rằng chúng tôi sẽ nằm ngủ dưới một gốc cây mát mẻ nào đó. Nhưng Sơn rủ tôi ra ngồi một đầu cái bập bênh, ngồi đầu bên kia, đồ chơi của con nít. Hai thằng dập dình cả tiếng đồng hồ, chán rồi lăn ra ngủ dưới gốc cây. 
Chiều đến, Sơn đánh thức tôi: 
– Dậy, đi ăn cơm chiều mày…. 
– À, đúng rồi ta quyết không chịu chết đói giữa vực lúa gạo miền Nam. Trời đất bao la đâu cũng là nhà. 
Tôi nói lên như hát, như vừa sáng tác một bài ca. 
Chiều rồi đó, thành phố chưa lên đèn, nhưng cũng sắp lên đèn. 
Tôi vào quán cắm một chiếc tăm lên miệng và đi xuống bếp. Tôi không quên bữa sớm mai. 
Nhất quyết phải no bụng, nếu để bụng đói mà chết là là làm nhục miền Nam no ấm tự do. 
Dưới sự lãnh đạo anh minh của chí sĩ NĐDiệm. người ta từng nói thế nhiều rồi. tôi bực bội. Toàn một lũ kinh doanh khẩu hiệu tuyên truyền. Chính nghĩa và tà thuyết là vàng thau lẫn lộn, ở cả miền Nam lẫn miền Bắc. Một số người có quyền lực sống bằng mấy thứ lặt vặt đó.

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Chương 10

Theo tôi nhận xét, thuở đó lính không quân có mấy dạng người khác nhau, tôi nói là trái ngược nhau. Có loại người hãnh tiến với binh chủng mình mang sắc áo và có loại ngưòi, ăn chơi hết mình để được tiếng là hào hoa. Đồng thời có người không thất vọng mà nghĩ đến một tương lai khác ngoài binh nghiệp. những người này cắm đầu học hành. Tôi đã nhìn thấy sự thành công ở nhiều người sau này. 
Lính không quân thuở đó có quyền xin lãnh đủ số lương để tự mình lo đời sống. Cấp binh nhì lương 916$50 một tháng. Năm hào cắc lẻ không bao giờ được lãnh. Tôi không biết nó đi đâu, nhưng vì ăn tiêu nhiều nên chẳng một ai đặt vấn đề. Lính trong phi đoàn tôi hầu hết lãnh trọn số lưong, không ăn cơm quân đội. Họ đi làm như công chức, sáng đi, chiều về. Có người thì hẳn pở trong trại tự nấu nướng lấy ăn, chắt bóp dành dụm số lương ít ỏi. 
Không hẳn là trại gia binh, nhưng lính độc thân đều có nơi riêng ở. Tôi có nhà một bà dì ở ngoài cổng trại một khúc đường, con đường Chi Lăng thuở ấy; xóm Cống Bà Xếp, nên góp gạo nấu cơm chung cũng tiện. Buổi tối tôi đi học tư, hy vọng mình giật lấy mảnh bằng cấp sau những năm bỏ dở dang. Tôi không còn hy vọng vào binh nghiệp. Tôi vẫn mang chỉ số tạm 4 số 9. Nghĩa là muốn đưa đến đâu cũng được. Tôi bị điều về kho nhiên liệu ở phi đoàn, hằng tháng lái xe tracteur đi lãnh đồ bên kho nhiên liệu bên bộ tư lệnh. Chủ yếu là xăng, dầu, nhớt, cả xi măng, sơn, mọi thứ văn phòng dành cho phòng hành chánh, cho các ban ngành khác. Công việc chán ngấy trong những bản báo cáo dài dằng dặc mỗi tháng, sự hao hụt hơi quá đáng, vì xăng dùng cho máy bay thì ít mà phục vụ cấp trên thì nhiều. Lệnh của cấp trên cứ ” thi hành trước, khiếu nại sau “. Cấp trên của tôi tìm cách vẽ ra những bản báo cáo hợp tình hợp lý. Vô tình tôi tiếp tay cho kẻ ăn cắp, hàng vài chục tấm tôn, hàng tấn xi măng, hàng trăm lít xăng bay đi, nếu chuyện đổ bể tôi là người chịu trách nhiệm. Tôi trở thành con chốt thí. 
Tội tham những không phải là nhẹ, điều đó có ghi trong quân luật. 
Điều này tôi mang than phiền với trung sĩ Hạnh, trưởng phòng phi trang. Trung sĩ Hạnh là em của đại uý Hân mà tôi quen biết từ hồi tản cư lên vùng Vĩnh Phúc yên ở miền bắc. Tôi là học trò của thầy giáo bố của anh Hân anh Hạnh. Anh Hân hơn tôi chừng gần chục tuổi, trai Hà Nội, đàn giỏi hát hay. Anh dậy tôi những nốt nhạc đầu tiên, anh Hạnh còn chạy dong chơi với tôi những đồi sim cạnh cổng đồn huyện Đa Phúc. Khi tôi gia nhập không quân, về phi đoàn này tôi gặp lại anh Hạnh. Anh Hạnh đùa tôi: 
_Nhà binh không có chuyện thân tình, ê thằng lính ghẻ kia nghiêm chỉnh chào thầy đội đi, hà cớ gì mày được hỏi đến bố của quan ba Hân. Quân này hỗn quá, làm thân với tao để móc nối làm chuyện bậy bạ phải không ? Khai thật đi, đọc số quân đàng hoàng thầy đội tha cho. Có tiền không, xuống câu lạc bộ mua cho thầy đội mấy điếu thuốc Ruby hút cho đỡ vã. Được, cái giống anh quyền chú bếp ( binh nhất ) như mày còn biết đến tình nghĩa thì thầy đội sẽ cất nhắc cho. Có gì thì cứ lên đây thầy sẽ chỉ vẽ đường đi nước bước. 
Anh Hạnh nói hệt giọng điệu của loại lính khố xanh khố đỏ hồi xưa. Nhưng rồi anh cười ngay, vỗ vai tôi thân mật: 
– Chiều nay tớ chở cậu về thăm thầy, anh Hân không ở SG, anh ấy làm huấn luyện viên ở Nha Trang, chừng nào có dịp, có chuyến máy bay tớ sẽ đưa cậu ra thăm anh Hân. Anh ấy cứ nhắc đến thằng Long thuở nào ở phố Nỉ, thời tản cư, cũng mười mâý năm rồi đó, chóng thật….Bao nhiêu là thay đổi. 
– Sao anh không đi học sĩ quan như anh Hân? 
– Tao ấy hả? Không đâu, sức khoẻ tao không bình thường. 
– Em thấy anh có gì đâu…. 
– Vậy mà tao có bệnh đó, bệnh điên, không nặng lắm nhưng man mát. Cái này thì mày thấy rõ rồi…. 
Tôi cười với anh: 
– Thôi đúng rồi, bởi vậy người ta không cho anh đụng vào cái máy bay. 
– Không cho tao coi kho bom đạn mà đưa tao về phòng phi trang này, nhớ nhé mày phục vụ quân đội có điều gì bất mãn cứ lên tao, tao giải quyết cho. Một chai bia thôi, tao giải quyết bằng cách ngồi nghe mày nói điều bất mãn thoải mái. Tao như cái thùng rác, muốn đổ bao nhiêu rác cũng được. 
Ngày hôm nay tôi lại mang những điểu bực bội đó lên nói với trung sĩ Hạnh. Anh ngồi nghe tôi nói, dáng người lười biếng trên cái ghế của phi công, tháo ra từ máy bay hỏng của chiếc trực thăng H 19, từ thời Tây để lại. Trước mặt anh là cái bàn rộng cực dài để xếp dù. Xung quanh chỗ anh ngồi lỉnh kỉnh đồ phi trang, những áo phao, những pháo cứu sinh cho phi cống, những bộ combinaison de vol, mũ phi công. Chỉ mình anh trong phòng rộng rãi ấy, không có một phụ tá nào khác. Anh có vẻ cô đơn trong phòng phi trang dài bằng một dẫy nhà. 
Anh nói: 
– Tao xin một thằng lính phụ tá, sai vặt mãi không được. Tao có lần xin đích tên mày, thằng lính không số, mà họ không cho. Ở phòng này không có gì bán được hết, xuất kho phải có lênh đàng hoàng chứ không phải ” thi hành trước, khiếu nại sau ” như kho nhiên liệu của mày. Đâu vào đấy hết, không có nhập nhèm. Tao hiểu mày, ở đây chẳng có gì xái được, như xăng dầu, xi măng, tôn….Thôi đừng than phiền nữa. Một là mày đồng loã ăn cắp, hai là mày câm họng, cứ thi hành lệnh cấp trên cho được việc. Ba là mày tạo ra một giấc mơ thấy mày là đại tướng ký giấy giải ngũ cho mình, từ bỏ lý tưởng nếu mày có. Hồi trước tao cũng mang một đầu lý tưởng như mày, chả ra làm sao hết. 
Trung sĩ Hạnh cười ruồi: 
– Tao chỉ là cái thùng rác, tao chứa hết, tao không thể có lời khuyên nào được coi là chính đáng cho mày. Tao khuyên mày không nên ăn cơm lính nữa, cứ xin lãnh trọn lương ra ngoài thuê nhà và ăn cơm tiệm, chịu khó mà học hành nếu mày coi là đời mày chưa hết. Còn mày cờ bạc hoặc ăn chơi tự tàn phá đời mình là chuyêncụa mày. Lính không quân là lính hào hoa, cứ việc đánh bạc, nhẩy đầm, cầm cạc lương như nhiều đứa đã làm, có chỗ để mày cầm cạc lương đấy, chắc mày biết rồi, tao khỏi phải chỉ. 
Tôi nghe trung sĩ Hạnh nói mà thấy lạnh cả người. Thì ra lời tuyên truyền tốt đẹp nào cũng giả đối, có che đậy sự xáo trá và âm mưu. như thế này thì tôi chung thân bất mãn mất thôi, mà đời thì còn dài dài…Nếu tôi còn một gia đình để trở về ? tôi không có gì cả. cả ăn cả ở trọ tôi mới hết phân nửa số lương. Nơi ấy lại gần nhà các bạn tôi ở trên đường Chi Lăng có thể tôi gần gũi với những người bạn văn nghệ. 
Căn nhà của các bạn tôi thuê ở góc đường nguyễn Huệ giáp với đường Chi Lăng. Trần Dạ Từ ( hoài nam ) và Nhã Ca ở nhà đó chung với Viên Linh, nguyễn Khắc Giảng, Phạm Hoán em ruột của họa sĩ Phạm Tăng cũng lui tới đó thường ngày. Tất cả số anh em đó đều là những người chưa có công việc làm chính thức, mà chỉ cầm chừng trong nghiệp văn nghiệp báo. Sự thiếu thốn theo đưởi họ ngày đêm, tôi cũng chẳng hơn gì. Đời sống của vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhã Ca trong sự thiếu thốn đó rất là can đảm, thỉnh thoảng có sự gấu ó nhau vì htiếu thốn. Nhất là Nhã Ca, những cơn nổi điên của cô ta đang từ đời sống bình thường của một nữ sinh thành một người thiếu thốn trăm bề. Phía trước nhà có một bụi tre gai, nhưng cơn điên của Nhã ca, cô ta nhẩy lao đầu vào bụi tre, Viên Linh là người phải gỡ bụi tre lôi Nhã Ca ra. 
Tôi phải nói thật rằng đời sống chúng tôi hồi đó thê thảm. Tôi không thể quên được suốt mấy chục năm trời. Trước căn riêng của vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhã ca, một người bạn nào đó nghịch ngợm viết một hàng chữ ” Porte de l’enfer “. Tôi không rõ người bạn có ác ý hay vì htời thượng thuở đó SG đang chiếu phim nổi tiếng của Nhật là ” địa ngục môn “. Nếu là sự đùa cợt thì là sự đùa cợt hơi quá đáng trong hoàn cảnh thê lương, chẳng ai có thể cười được. 
Hằng ngày tôi vẫn đi làm đều đặn ở phi đoàn. bên kia hàng rào dây thép gai của phi đoàn giáp với trại nhảy dù Hoàng Hoa Thám. Có một con đường mở để lính dù có thể sang bên phi đoàn trực thăng rất gần. Mặt trạn giải phóng miền Nam lúc này hoạt động hơi mạnh, đã có vài ba trận đánh lớn, lính Dù và bộ binh thường mở những cuộc hành quân. những nhà tù mà hồi đó gọi là trung Tâm cải Huấn, chật cứng tù VC và tù chính trị đối lập với chính sách gia đình trị của ông NĐD. Miệng bà Trần Lệ Xuân vợ của cố vấn Ngô Đình Nhu quang quác ở quốc hội và cái gọi là Phụ Nữ Liên Đới của bà. Tham nhũng, mua quan bán tước khắp mọi nơi, cơ quan mật vụ là nỗi kinh hoàng với mọi người dân. Bắt bớ giam cầm con người vô tội vạ, thật có tội và không có tội cũng có. Lính đào ngũ nhiều, và nhiều thanh niên tự huỷ hoại thân thể mình để trốn lính. Trong khi chính phủ đang cần đến quân đội. người dân miền nam chán ngán chính quyền. Kẻ có tham vọng cướp chính quyền để thay đổi chính thể, nhưng đã bị bắt ở tù hoặc đầy ra côn đảo. ông NĐD lại có tham vọng nếu không là tổng thống trọn đời thì cũng nhiều nhiệm kỳ. Tập đoàn cầm quyền coi dân như loài hạ đẳng, lính tráng coi như tôi tớ, kẻ nịnh bợ nhiều hơn có liêm sĩ trong cái triều đình thối nát, sau khi hạ được một cái triều đình khác tồn tại hàng trăm năm. 
Miền Bắc chắc cũng không khá gì hơn, một vụ Nhân Văn Giai Phẩm đã nói lên tất cả. Vả lại thỉnh thoảng tại miền Bắc vẫn có người vượt biển hoặc qua sông Bến hải trốn vào miền nam. Miền Bắc lại phát động chiến tranh. Miền Bắc thỉ hô hào giải phóng miền nam. miền Nam kêu gọi Bắc tiến để nhân loại thoát khỏi gông cùm CS, trống đánh xuôi, kèn thổi ngược. Chuyện chính trị của cả hai miền Bắc nam chẳng hơi sức đâu phân tích hoặc tìm hiểu chính nghĩa. Chiến tranh ở miền nam ngày càng trở nên ác liệt hơn, quân đội quốc gia non trẻ tăng quân số, trang bị chiến tranh được viện trợ. không quân được viện trợ những chiếc oanh tạc cơ Skyraider, phi đoàn trực thăng sửa soạn nhận lãnh những chiếc H-34 thay thế cho mấy chiếcH-19 cũ rích từ thời Tây còn sót lại. Lớp lớp sĩ quan, lính không quân được đưa ra nước ngoài học lái máy bay, hoặc chuyên viên. Tôi vẫn là anh lính ghẻ, chỉ số tạm dưới đất, suốt ngày buồn thiu ở kho nhiên liệu đằng sau hangar. 
Sáng ngày thứ hai, theo như thông lệ sau khi tập họp chào cờ xong, tôi phải tới trình diện sĩ quan trưởng phòng tiếp liệu. Ngồi sau bàn giấy, ông có vẻ tử tế với tôi, ông hỏi tôi: 
– Anh đã ăn sáng ở câu lạc bộ rồi chứ hả? 
– Tôi trả lời rồi ạ, ông tiếp luôn: 
– Vạy thì tốt, anh sẽ nhận công tác. 
Ông không nói là công tác gì, ông có vẻ quan tâm với tôi, ông hỏi chuyẹn gia đình tôi, nhất là mẹ tôi có thường guỉu thư về không, tôi cảm động vì cấp trên có vẻ quan tâm nhiều về mình; ngoài chuyện gia đình ông lại nói về binh nghiệp của tôi: 
– Tôi giúp anh, anh sẽ có chỉ số ngành tiếp liệu, anh sẽ được đi học tiếp liêu ở Mỹ. Trước hết tôi sẽ cho anh học một khoá Anh ngữ bên bộ tư lệnh. Đầu năm nay anh sẽ học một khoá ba tháng, khoảng giữa năm anh sẽ được đi du học. Tôi là cấp trên của anh, tôi quan tâm đến tương lại binh nghiệp của anh. Những hạ sĩ quan ngành tiếp liệu đã học ở Pháp đều phải tu nghiệp theo ngành tiếp liêu của Mỹ. Anh chịu khó cố gắng để rồi vươn lên. không lẽ mãi làm lính ghẻ sao? 
– Cám ơn trung uý! 
– Khỏi phải cám ơn, đó là bổn phận của tôi, cấp trên anh, bây giờ anh nhận công tác nhé! 
Tôi đứng nghiêm: 
– Chấp hành! 
– Tốt, anh biết nhà tôi rồi chứ? 
– Báo cáo, biết! 
– Anh xuất kho mười bao xi măng, năm chục tấm tôn, bốn galons sơn màu xanh, thứ thượng hạng chở về đó cho tôi. 
– Xin trung uý cho tôi một bông lệnh xuất kho. 
– Anh cứ mang đi, lấy xe tractuer mà chở, bông tôi sẽ ghi sau. 
– Báo cáo trung uý, tôi biết điều đó, nhưng tính tôi hay quên, trung uý cứ ghi cho tôi vào một mảnh giấy nào cũng được để tôi làm cho đúng. 
Ông trung uý hừ một tiếng: 
– Có thế mà cũng quên, thôi được, mày nhớ đi phải trông chừng, đừng la cà ở đâu rồi bọn an ninh hỏi lôi thôi. 
Tôi gấp mảnh giấy đút túi: 
– Báo cáo rõ. 
Ông trung uý nói cho tôi yên lòng: 
– Sẽ có người ký nhận ở nhà tôi, anh an tâm, thằng trưởng toán sửa nhà cho tôi ấy mà. Khi về anh cứ ký vào sổ rồi tôi ký nhận là xong. 
Nhà ông trung uý ở gần ngoài hàng rào trại, có cửa mở ra đường, cũng gần gũi với nhà dân ngoài Lăng Cha Cả. 
Tôi chuyển hàng lên xe, chở đi, yên tâm sẽ không có chuyện gì xảy ra rắc rối cho mình. nhưng sao tôi nghi quá, nhà ông trung uý do quân đội cấp phát, làm sao mà phải sửa chữa. Mà lần này là lần thứ mấy rồi ông ta xin đồ về sữa chữa. Tôi lại nghĩ đến phía ngoài đường cạnh nhà ông trung uý, nơi ấy buôn bán sầm uất. Tôi thấy những thùng sơn, những bao xi măng, tôn của quân đội bầy bán ở khắp cửa hàng. Kể cả các bộ quân phục của các binh chủng mới tinh. 
Buổi sáng trời nắng hanh, tôi lái chiếc xe tractuer ra khỏi cổng phi đoàn an toàn, chiếc xe tôi đi một khúc đường dài ghẹo trái sang bộ tư lệnh cải hối thất nhốt lính phạm kỷ luật ngay trên lối đi. Trước khi đến bộ tư lệnh. Hàng toán lính kỷ luật đang phải làm ” cỏ vê ” bên rìa đường. Anh hạ sị ” cai ngục ‘ la hét om sòm, tay cầm cái cây sẵn sàng quất bất cứ anh nào ra vẻ chây lười. 
Một anh, coi có vẻ lớn tuổi hơn cả bọn tù quân quăng cái xẻng xuống đường hét lên: 
– Này cái thằng cai ngục kia, mày dám đánh trung sĩ không thì đến đây. Tao trung sĩ Dương Hùng Cường, ba gai số một đây, giỏi thì đụng ông. 
Anh cai ngục không vừa, xách cây hầm hầm đi đến: 
– Ở tù rồi thì thằng nào cũng như thằng nào, bất kể quan quyền. Ở đây tao là người có quyền, cấp bậc trung dĩ của mày không phải là to đâu, anh đánh hết….. 
Trung sĩ Dương Hùng Cường đứng chống nạnh: 
– Giỏi thì cứ việc 
Đám tù đứng xổng người lên, một tay coi có vẻ ngang bướng: 
– Mày mà đụng vào trung sĩ Cường hay bất cứ thằng nào ở đây nữa, chúng tao làm thịt mày liền. 
Trung sĩ Ngự từ trong văn phòng cải hối thất đi ra, ô hay sao bây giờ ông ta lại ở đây, ông ta là xếp xòng ở cổng Phi Long kia mà, hắc búa số một, chuyên bắt ne bắt nét những thằng lính khi ra cổng trại, tôi từng bị ông ta phạt kỷ luật vài lần vì quân phục không nghiêm chỉnh. những bộ quân phục nhà kho phát ra thế nào thì tôi mặc thế, không sửa chữa cho vừa vặn. Đôi giầy ” săng đá ” của Tây để lại tôi không thể đánh bóng soi gương được, hay con kiến bò lên phải trượt ngã. Khoá thắt lưng rỉ sét tôi cũng không đánh bóng nổi. cái mũ tiêu đội trên đầu rúm ró, không đội ” kêpi ” mũ không quân. Tôi luôn luôn là hiện của chú lính ghẻ. 
Trung sĩ Ngự hôm nay tù đến cải hối thất. Ông ta can thiệp liền: 
– Thằng hạ sĩ còi kia, dù sao anh Cường cũng là hạ sĩ quan, mày không nên quá đáng. Thôi được, làm việc đi, anh Cường, tôi với anh là bạn, anh cứ cho nó thi hành nhiệm vụ, riêng với anh hưởng quy chế đặt biêt. 
– Mày cói chừng, ông tướng kia tao cìn không sợ, ” mó dái ngựa ” đều đều nên mới vô đây, chúng mày chưa là giống gì….. 
– Thôi mà đừng nóng! 
Trung sĩ Ngự nói bằng nụ cười. Chiếc xe tôi cũng vừa tới, đám tù quân nhao nhao xin thuốc lá tôi. Tôi quăng cho chúng cả bao thuốc lá Boston đang hút giở: 
– Chia nhau mà hút, lát trở về tôi mua một bao nữa cho các anh. 
Trung sĩ ngự thốt nhiên quay nhìn chiếc xe tôi đang lái, ông ra oai liền: 
– Ê, thằng lính ghẻ kia, mày lái xe chở hàng đi đâu? 
Tôi vẫn ngồi trên xe, đưa tay chào: 
– Báo cáo trung sĩ, tôi sang phía bộ tư lệnh 
– Báo cáo chính xác mày chở đến đơn vị nào bên bộ tư lệnh. Xuống khỏi xe. 
Tôi nhảy xuống xe, đứng nghiêm trước mặt trung sĩ Ngự: 
– Báo cáo, tôi chở những thứ này theo lệnh của trung uý Hiền, trưởng phòng tiếp liệu. 
– Đi đâu? 
– Dạ về nhà ổng, cũng ở trong phi trường thôi. 
– Giấy tờ xuất kho. 
– Dạ chỉ khẩu lệnh. 
Trung sĩ Ngự hừ một tiếng: 
– Lái xe vào bên đường rồi vào văn phòng khai cho thật. 
Bỏ mẹ tôi rồi, an ninh bộ tư lệnh mó đến tôi. nhưng tôi vẫn phải theo chân trung sĩ Ngự vào văn phòng. Một ông thiếu ngồi lầm lì sau cái bàn rộng nghe trung sĩ Ngự báo cáo. ông nắm nắt vấn đề rất nhanh, nhìn thẳng vào mặt tôi: 
– Xuất kho mà không có giấy tờ hả? 
– Dạ khẩu lênh cấp trên. 
Ông thiếu uý ra lệnh cho trung sĩ Ngự: 
– Nhốt thằng này vào cải hối thất, để tôi điều tra sau, tôi sẽ gọi điện thoại hỏi trung sĩ Hiền. 
Tôi ăn liền một cái bạt tai của trung sĩ Ngự, tống cổ vào cải hối thất, cửa khoá tách. Tôi nghe tiếng nói chuyện qua điện thoại của ông thiếu uý ở phòng ngoài, những câu nói ngắt quãng nên tôi không rõ nội dung, tiếng nói của ông thiếu uý mỗi lúc một nhỏ. Một lát sau, một gã binh nhất tới cửa cải hối thất ra lệnh cho tôi: 
– Đưa chìa khoá xe. 
Tôi trao lại chìa khoá xe. rồi tôi nghe tiếng tractuer đi về phía bộ tư lệnh. 
Tiếng động cơ xe máy chạy ngoài đường, tôi biết giờ tan sở đã đến. Bọn tù quân phạm đã vào cải hối thất, mỗi thằng có một ga men cơm với miếng cá mối nấu nát rưới trên cơm. Trung sĩ Dương Hùng Cường cũng vậy, anh nói với tôi: 
– Mày tù mới nên chưa có cơm, may ăn chung với tao. 
Tô uể oải ăn từng miếng cơm. Trung sĩ Cường nói: 
– Mày to gan thật, dám ăn cắp cả một xe đồ, tội nặng đấy, có thể ra toà án binh, rồi tống vào khám chí hoà, ở đó có mấy phòng dành cho quân phạm, tao nghe nói vẫn còn rộng. 
Tôi la lên: 
– Tôi có ăn cắp bao giờ, tôi làm theo lệnh cấp trên. 
– Không tin được, đã xuất kho ít ra phải có giấy tờ gì, nếu không thì mày sẽ kẹt như hôm nay, mày sẽ là thằng ăn cắp, tao nghe ông thiếu uý nói chuyện với xếp mày. Xếp mày không biết chuyện này, cho là thật đi mày vẫn là con chốt thí. Mày chẳng ra gì cả trong quân đội, một hạt bụi, không được bằng hạt cát, thân phận tối đen, tao đã trải qua rồi, tao nổi khùng, tao nói tao chửi toáng lên, sức mạnh của tao là ngòi bút, tao là văn sĩ mày biết không ? Tao chống bất công ở bất cứ đâu. 
– Tôi có đọc ” buồn vui phi trường ” của trung sĩ. Và cũng đọccả những sách của ông Toàn Phong. 
– Trái ngược hẳn nhau đấy mày ạ! Giữa sách tao với sách ông toàn Phong! Nhưng tại sao mày lại đọc. 
– Tôi yêu vă nghệ, trước đây tôi cũng có vài ba bài được đăng báo 
Trung sĩ Dương Hùng Cường cười, đưa tay bắt tôi: 
– Thì ra mày là thằng ” mơ làm văn sĩ “, không biết giấc mơ của mày có bền không. riêng tao có lẽ suốt đời. 
Tô nắm chặt bàn tay Dương Hùng Cường: 
– Tôi cũng muốn như vậy trung sĩ ạ! 
Dương Hùng Cường lắc tay tôi: 
– Cú gọi tôi là Dương Hùng Cường hay Dê Húc càn cũng được, d8ừng gọi tao là trung sĩ, khi nào ” ra khỏi tù ” tao với mày sẽ gặp nhau, liên lạc vớinhau qua báo Lý Tưởng. Mà cũng không biết được, có thể người ta sẽ tống tao đi nơi khác, ngồi như khỉ ở đài kiểm soát, như hồi nào tao ở Pleiku. Mày phải tìm cách thoát khỏi cái tội ăn cắp này đi, có bằng chưang gì không, rằng mày không ăn cắp. 
Tôi chợt nhớ ra có một mảnh giấy viết tay của trung uý trưởng phòng. Rất may là tôi không vo viên vất đi, nó vẫn còn ở trong túi áo tôi. Tôi lấy ra đưa cho Cường coi: 
– Thôi cũng được, đáng lẽ là cái phiếu xuất kho. nhưng đồ ăn cắp mà, đúng chữ của xếp mày chứ! 
– cam đoan! 
– Tao sẽ làm chứng cho mày rằng mày đã đưa trình tài liệu này cho ban an ninh phi trường. Mình phải làm ngay. 
Trung sĩ Dương Hùng Cường đứng dậy đập cửa tù, một thằng lính an ninh thò cổ trước song sắt hỏi: 
– Chuyện gì đó? 
– Tao cần gặp thiếu uý trưởng phòng. 
– Ổng đi nghỉ rồi, ổng nằm võng ngoài hành lang. 
– Kêu ổng dậy, nói có Dê Húc Càn cần nói chuyện. 
Tôi không biết cái uy của trung sĩ Dương Hùng Cường to đến đâu. Ông thiếu uý đi vào, ông nhận mảnh giấy của Dương Hùng Cường đưa, quay sang nói với tôi: 
– Sao không đưa ngay mảnh giấy này, thôi được, không cần điều tra nữa, mai anh sẽ ra về nhớ trình diện xếp của anh. Xếp anh còn nói giam anh vài ba ngày, nhưng nể tình anh Cường, mai tôi thả. Nhưng dù sao tôi vẫn phải ghi tội anh vào quân bạ, đó là nguyên tắc….. 
Trung sĩ Dương Hùng Cường hăng hái: 
– Tôi làm chứng cho binh nhì Long, rằng đã đưa mảnh giấy này cho thiếu uý. 
Ông thiếu uý cười: 
– Tôi không thủ tiêu đâu, nếu có thủ tiêu thì Dê Húc càn có đưa lên báo đơn vị không? 
– Có chứ sao không, còn những bao bến ngoài đơn vị nữa kìa, tôi chống đối tất cả mọi chuyên hiếp đáp con người. Thiếu uý thấy tôi đã sợ ai chưa?
– Bởi vậy anh mới vô đây. 
Tuy nói vậy, nhưng ông thiếu uý vẫn đưa ra điếu thuốc mời DHCường. nhưng Cường túm lấy cả gói: 
– Cám ơn thiếu uý, thiếu uý có thể đi mua gói thuốc khác, bọn này ở đây vả thuốc lắm. 
Ông thiếu uý lắc đầu đi ra. Tôi nghe tiếng ông thiếu uý loáng thoáng nói chuyện trong điện thoại, sao lại sơ xuất thế….mai tớ phải thả nó ra thôi. không hkép tội được…cậu thông cảm cho tớ…tớ đã lo cho cậu cả rồi. Được rồi, tớ không bắt nó đi làm cỏ vê đâu, để nó không lộ mặt…..
DHCường kéo tôi về chỗ nằm, anh chia đều những điếu thuốc cho tất cả các bạn. Trong khói thuốc mù mịt ở cải hối thất, DHCường nói với tôi: 
Chúng nó âm mưu với nhau ăn cắp đấy, chuyện này chưa bị lộ nên chúng nuốt trôi cả rồi. Mày là lính mấy năm rồ, có chỉ số chưa? 
– Chưa gì cả, chưa lên nổi cái binh nhất, vẫn lính ghẻ! 
Vậy thì đường binh nghiệp của mày coi như tắc nghẽn, đen như miệng cống vì mày đã phạm kỷ luật, mày ở tù, dù là chỉ một ngày tù oan uổng. Sẽ không đi học ở bất cứ đâu, nói chi đi Mỹ. Tao gia nhập không quân từ thời Tây, ở ngoài Bắc, rồi đi học Marakech. sang chính phủ quốc gia tao lên được trung sĩ rồi đứng nhuyên ở đó đến bây giờ. Bạn bè tao lên quan cả rồi. Tao ngành không lưu khí tượng, nhưng tao lại làm nghề viết văn làm báo, thỉnh thoảng tao nóng máu làm thịt bậy một ông xếp của tao, tao được vào cải hối thất nằm nghỉ ngơi. Trong quân bạ của tao ghi đầy tội danh, nhưng cần quái gì, binh nghiệp của tao, coi như plafond rồi….Chúng nó vẫn ngán tao vì tao có sách có báo in ngoài quân đội. Kỷ luật quân đội không bịt được miệng tao. Mọi chuyện bất công ở bất cứ đâu là đề tài cho mình viết dài dài, không sợ cạn nguồn. 
Tôi cũng kể cho DHCường nghe về những người bạn làm văn nghệ của mình còn ở ngoài quân đội, họ đến tuổi nhập ngũ cả rồi nhưng không ai chịu đi quân dịch, có lẽ họ trốn llính. 
DHCường phang luôn một câu: 
– Chính nghĩa quốc gia hay giải phóng miền Nam chỉ là chuyện bố láo. Chiến tranh dân mình khổ thôi. 
Tôi không ngờ lần gặp DHCường ấy, sau đó chúng tôi trở nên thân tình trong tình đồng nghiệp kéo dài mấy chục năm trời, đến khi nghe tin anh chết trong trại tù, lúc tôi đang là anh thợ sửa xe đạp ngồi ngoài lề đường. Tôi nhớ mãi hình ảnh nghênh ngang của anh, chẳng biết sợ chi ai. Cái sĩ khí của anh ở đó trong giấc mơ làm văn sĩ lỡ làng và ngắn ngủi. Ly rượu ” nước mắt quê hương ” tràn đầy cụng nhau ở quán 12 bến nước đường Trương Minh Giảng khi chúng tôi là kẻ ngã ngựa. 
Tôi trở về phi đoàn ngay sáng hôm sau. Tôi trình diện trung uý trưởng phòng, ông nói: 
– Lần sau thì cậu phải cẩn thận, đừng có la cà để an ninh nó tóm được, may mà lần này dàn xếp cũng xong. 
– Báo cáo trung uý, sẽ không có lần sau với tôi, xuất kho phải có chứng từ, nếu không tôi lại thằng ăn cắp. 
Ông trung uý nhìn sững tôi. Mâý ngày sau tôi đi khỏi kho nhiên liệu để làm thứ lính tạp dịch trong phi đoàn. Tay hạ sĩ thay thế chỗ tôi có vẻ ăn nên làm ra, hắn cvó tiền cho vay lời ” xanh xít đít đui “. Kho nhiên liệu trở thành một cây xăng, giá một lít có hai đồng bạc, rẻ hơn xăng ngoài cổng trại. Hắn biết kinh doanh và và biết điều với những xếp cấp trên. Trông cái mặt gà mái của nó tôi không ưa. Tôi đập một trận với nó bằng cây bù loong, khi nó gọi tôi là thằng lính ghẻ. Tôi ba lô lên vai vào cải hối thất đi làm cỏ vê, còn thằng hạ sĩ sang bệnh xá vá da đầu. Kỳ thi năm đó tôi không đi thi được vì tôi bận làm cỏ vê do cái hối thất giao phó. Tôi nổi tiếng với biệt hiệu ” Long bù loong. Quân bạ của tôi ghi đầy những ngày tù quân, vi phạm quân phong quân kỷ, ưa đập sảng vì đầu óc không bình thường. Lý tưởng tôi về quân đội bị tiêu diệt thảm hại. Tôi chỉ là một thằng lính hạng bét, thừa thãi trong quân đội. Tôi nổi khùng nhiều khi đến độ liều lĩnh. Tôi thuần tuý là một thằng lính ba gai….. 
Phải chăng tôi đã làm hỏng đường binh nghiệp của mình ? Tôi biết uống rượu, nổi nóng dễ đập lộn. nhưng chưa, tôi chưa mất hẳn, tôi vẫn thường gặp những người bạn văn nghệ của tôi, các anh đủ tuổi lớn để vào nghiệp cầm bút, tuy rằng có ngưòi vẫn còn sống với nghiệp văn thơ nhưng tạm bợ. 
Tôi vẫn còn long đong và thấy rằng mình vẫn chưa sống thật, sống hẳn để có đầy đủ tư liệu khi cầm bút. 
Một ngày kia, tô nhận được thư của Trần Cang, mấy chữ vắn tắt báo tin Nguyễn Bá Bằng bạn của chúng tôi hồi học ở Mỹ Thuật, bị bệnh nặng từ ngoài Huế vào nằm bệnh viện Chợ Rẫy chờ chết. Sao lại thế ? Có lẽ đúng, vì Bẳng khi nộp đơn vào lính không quân với tôi đã bị loại vì lý do không đủ sức khoẻ. Ngày chủ nhật tuần đó tôi và Trần Cang vào bệnh viện thăm Bá bằng anh nằm trên giường bệnh không nói được nữa, anh nhìn chúng tôi khóc, anh viết nguệch ngoạc trên một mảnh giấy: tao chết mất, chúc chúng mày ở lại tốt lành. Tao bị bệnh hoại huyết, ung thư máu, tao loại máu O nên không có máu tiếp. Tao cũng chả có ai thăm non, chết vô thừa nhận 
Tôi bật khóc, không hiểu tại sao nữa. Tôi ôm lấy bạn, người bạn từ hồi còn ấu thơ. Hơi thở của bạn bây giờ tanh tưởi mùi máu, vì máu của bạn chảy ri rỉ không ngừng từ mủi, tai, kẽ răng, có thể cả lỗ chân lông: 
– Không Bằng ơi ! Mày không thể chết được còn tao, tao loại máu O như mày, tao sẽ tiếp máu cho mày. Nhìn tấm thẻ bài đeo ở cổ tay này, có phải loại máu O không? 
Tôi theo cô ý tá đến ngân hàng máu của bệnh viện. Ở đây rút máu tôi ra, tôi thấy trên kệ xếp nhiều loại máu, có cả loại máu O trong bao ni lông ướp lạnh. Tôi hỏi: 
– Tại sao có máu O đó không tiếp cho bạn tôi? 
– Máu nào cũng có hết, nhưng không thể cho không những bệnh nhân thí. Máu phải mua, mà anh cũng không thể cho mãi được, anh sẽ kiệt sức mà chết. 
Đúng vậy, tôi không được hưởng bưẵ ăn cho lại sức. khi người ta tiếp máu cho Bá Bằng, tôi với Trần Cang yên tâm rủ nhau ra về. Trần Cang nói với tôi: 
– Tớ còn đủ tiền cho cậu ăn miếng bí tết, húp quả trứng gà và uống ly sữa cho lại sức. 
Tôi cay đắng nghĩ đến thân phận bạn, nếu anh phải chết thì anh chế trẻ quá. Tôi tiếp máu cho Bằng được ba lần rồi nghe tin anh chết. ngưòi tôi suy nhược trông thấy. người anh ruột của Bằng là giáo sư dậy học ở Long Xuyên không một lần về thăm em. 
Có lẽ thân xác Bằng bị đưa xuống nhà xác, nằm trong chiếc áo quan đóng đơn sơ bằng 6 tấm ván mỏng vênh hở mà tôi đã thấy. không một nén nhang cho kẻ chết vô thừa nhận. Tôi cũng không biết anh được chôn ở đâu…..Lần đầu tiên tôi mất một người bạn. Nếu có linh hồn thì nhiều năm liền anh là cô hồn vất vưởng. Cuộc đời sao mà bạc bẽo thế ? Tôi ghi nhận vào trong đầu. 
Tôi chán đời, bao nhiêu là chuyện bất hạnh ở đời. Tôi thầm nguyện một ngày nào đó tôi cầm lại cây bút, tôi phải viết lên những điều đó, như một tên có máu du đảng, thề một ngày náo đó cầm nổi con dao nó sẽ làm gì với con dao ấy. Trả thù đời không? Không đúng, tôi làm khác, cách của tôi. Thì giờ rảnh rang tôi vùi đầu vào đọc sách, sách đủ loại. Tôi chán ngấy chủ nghĩa Nhân Vị của ông NĐDiệm, thuyết cần lao…Toàn chuyện bố láo, đất nước này đâu thiếu gì những kẽ hoạt đầu. Những buổi chiều, sau giờ tan sở, nếu tôi không đi thăm thằng em ở nhà LĐĐiểu thì cũng đi tìm bạn bè. Thằng bé mới ngày nào nhỏ xíu, nay đã là một thanh niên, học những năm cuối bậc trung học. Mẹ tôi sợ phiền gia đình Điểu nên có dự tính mang em tôi về ở trọ bên ngoại, bà dì bà mợ nào đó, hoặc ông chú ruột tôi từng nuôi tôi ngáy nào. Bệnh tật em tôi cũng đã hết, bây giờ nó trở thành một thanh niên cường tráng. Mẹ tôi cũng mấp mé viết thư về nà nói bà sẽ trở về, nhưng chuyện đó chưa biết bao giờ mới thực hiện được. 
Tôi vũng không ở trọ nhà bà dì nữa, tôi trở vào trại ở một căn phòng chung với một thằng bạn, trước kia hắn là học sinh Chu Văn An. Thằng Phúc, tướng tá nó trông có vẻ hào hoa phong nhã, oai phong như một sĩ quan cấp tá, không có vẻ gì một anh ” lính ghẻ “. Đàn giỏi, hát hay, nhẩy đầm giỏi, lắm đào, nên mọi ngưòi đạt cho hắn một cái tên là ” thiếu tá bình dân ” tức ( commandant popolaire ) Hắn có một cô nhân tình bán hàng thịt ở chợ Trương Minh Giảng, hắn lôi thôi là ăn dao mổ heo. Hắn đành trốn vào trại ở chung với tôi, khi ra ngoài trại hắn thường nhờ tôi ra dò đường, xem có bóng ” nàng ” thấp thoáng không rồi mới dám ra. vậy mà cũng có lần không thoát, hắn lãnh một nhát dao vào trán, mang thẹo suốt đời. Dù sau này hắn làm tài tử ” xi la ma “. 
Trong đơn vị tôi, xung quanh tôi biết bao nhiêu chuyện bồn cười. Tôi không hiểu vì sao DHCường viết được ” buồn vui phi trường ” bối cảnh là phi trường Biên Hoà và xóm chơi bời dốc Sỏi ở đó. những tiếng cười dậy lên trong nỗi buồn. Tôi đọc nhiều hồi ký, phóng sự, truyện ngắn, truyện dài của những người không quân viết mà tôi thấy không bằng bút pháp của DHCường, cái được, cái thực ở đó. 
Tôi vẫn sống, vẫn rong chơi và vẫn suy nghĩ đến sống xã hội diễn ra xung quanh mình. Tôi hy vọng tìm riêng cho mình môt lối viết. Những buổi chiều tôi đạp xe đi chơi lang thang, hang cùng ngõ hẻm nào cũng nên vào. Đời sống có nhiều điều lạ lẫm quá. Tôi giống như một con nai đã có sừng và ngứa sừng húc vong mạng. Trong trại tôi tự nấu cơm lấy ăn, nhưng vẫn thích cảnh cơm hàng cháo chợ. khi dủng dỉnh tí tiền thế nào tôi cũng xà vào hàng cơm bình dân ở bất cứ con đường nào tôi đi qua. 
Tôi gặp lại Hoàng Bình Sơn, nhà thơ trữ tình thuở nào, là người bạn ở trại học sinh Phú Thọ. Anh ta gầy yếu hom hem, mặc dù chưa lớn tuổi lắm. Trước đây tôi đã từng đến căn gác gỗ anh ta thuê ở đường Bắc Hải trông sang nghĩa địa Đô Thành, nhấp nhô mồ mả. Anh ta thích thơ Quang Dũng và thường đọc thơ Quang Dũng cho tôi nghe, người xứ Sơn Tây cùng quê hương với anh. Anh luôn sống một mình, bằng nghề dạy học tư gia. Hình như anh cũng có anh chị ở SG, người anh ruột anh theo đảng phái nào đó nên đã bị chính quyền NĐDiệm bắt bỏ tù nhiều năm, đến nay vẫn chưa thả. 
Tôi bưng dĩa cơm sang ngồi chung với bàn Hoàng Bình Sơn. Tôi hỏi: 
– Hồi này cậu ra sao? 
– Vẫn sống bằng nghề dạy học…. 
– Có làm thơ không? 
– Vẫn làm, nhưng thấy chẳng ra gì, tớ phải chuyển hướng thôi, tớ thấy mình hợp với loại htơ trào phúng như Tú Xương, Tú Mỡ. Mà thôi, mình sẽ về nhà nói chuyện văn nghệ, chuyện thơ…. 
HBSơn gầy mà ăn rất khoẻ, anh gọi thêm chén cơm không để ăn nốt phần thức ăn còn dư. Tôi hỏi: 
– Cạu thuê nhà gần đây à? 
– Bên kia đường, vào trong hẻm, con hẻm trông sang đường tàu hoả nguyễn Thông, ngay cạnh ga Hoà Hưng. 
Tôi không lạ gì xóm này, nơi đây là một xóm đĩ điếm trước mặt quân khu thủ đô, bên cạnh là quân vụ thị trấn. Trước hàng chục con hẻm dẫn vào xóm có cắm bảng ” cấm hành quân ” mà như lời mời gọi. Trong đó dẫy đầy quân nhân chơi bời hoặc bảo kê cho các ổ điếm. 
HBSơn nhìn tôi bằng đôi mắt tinh quái: 
– Cậu cũng là lính phải không, nếu sống ở đó cậu có nhiều đồng đội, có thể sống được đấy. 
– Nhưng sao cậu lại thuê nhà ở trong đó? 
– Gần trường học, nơi tớ phải dậy học mỗi ngày. Lương lậu có báo nhiêu, thuê nhà bên ấy rẻ…. 
Chúng tôi đã ăn xong, vào đầu xóm ngồi uống cà phê túi, gái và khách làng chơi lượn đầy như đèn cù trước mặt. Trường học nơi HBSơn dậy gồm hai giáo viên, một làm hiệu trưởng, một làm hiệu phó. HBSơn làm hiệu phó. Hiệu trưởng là ông giáo già chủ nhà. Học trò nhiều khi lắm có được vài ba chục mạng, đủ mọi trình độ, hiệu trưởng hiệu phó thầu hết. Chú yếu là trẻ biết chữ, sau này lớn lên có thể đọc thông được cái căn cước ccủa mình. 
Cái lầu gỗ HBSơn thuê ở khoảng đầu hẻm. Căn gác gỗ đó đã hẹp lại còn chia ra làm hai phần, lối cầu thang gỗ phía ngoài hẻm đi lên và phòng ngoài dành cho mấy cô gái làng chơi thuê làm chỗ ngủ. Phần trong là chỗ ngủ của HBSơn, kê được một cái bàn nhìn ra cửa sổ, một chỗ nằm ngay trên sàn gỗ. Gia đình chủ nhà ở tầng fưới, anh chủ nhà có lẽ là một tay đạo đức giả, nuôi điếm hành nghề ở điểm khác. Trên lầu nhà anh ta chỉ là điểm tập kết. Buổi tối anh ngồi trước bàn thờ Phật tụng kinh gõ mõ. Mở miệng nói ra toàn lời đạo đức, nhưng trì triết từng đồng với những tay em đi khứa, nghe nói anh còn là chủ nợ cho vay tiền lãi cắt cổ. 
Tôi đến với HBSơn khi anh ta đang ê a tụng niệm, trên mình khoát một cái áo đạo màu xám tro. 
HBSơn nói với tôi: 
– Đấy cậu xem, tớ sống giữa cái cảnh như thế này thì làm thơ trữ tình thế chó nào được. Đời sống chúng ta cứ lộn tùng phèo, không có gì là thật. Một đời sống ảo….. 
Tôi cười: 
– Như những tấm bảng đề ” khu cấm quân nhân ” ngoài đầu hẻm. 
Ngồi trên căn gác HBSơn, tôi còn ngửi thấy mùi son phấn và những tiếng chửi thề vang rân. Tiếng tay ma cô nào đó giới thiệu “món hàng ” 
– Ngon hết xẩy thầy ơi, bảo đảm hàng ” olidin ” nữ sinh nhẩy dù. 
Tiếng mời chào co kéo khách tìm hoa. Rồi tiếng hô báo động: 
– Lính, lính tụi bay ơi! Chạy đi. 
Tiếng chạy rần rần dưới hẻm. Có mấy cô gái chạy rầm rầm lên gác: 
– Thầy giáo ơi, cho em trốn với. 
Một cô xà luôn vào lòng tôi: 
– Ủa, có một anh lính nè, nếu lính vô đây hỏi, anh nói em là vợ anh nhé, em tên là Nguyễn Thị Lan, 19 tuổi. Vợ chồng anh mới tới thăm thầy giáo…. 
Hai cô gái khác nói với HBSơn: 
– Kìa thầy, bầy sách ra cho em học, em xin đền ơn đáp nghĩa 
HBSơn gắt lên: 
– Thôi đừng nói nữa, lấy phấn bảng ra đây. 
Đang lúc đó dưới hẻm báo hiệu cho biết tình hình đã yên: 
– Ai về chỗ nấy tiếp tục ” lao động ” 
ba có gái ùa vào phòng HBS đứng dậy: 
– May quá anh Ba đã dàn xếp xong với lính kiểm tục, số dách. 
– Tao đang kẹt, thằng hkứa mới vô phòng, không biết thằng chả có chạy mất tiêu không, tao phải xuống coi….. 
Phút chốc, cả ba cô gái biến mất. Tôi nhìn HBSơn cười: 
– Vui nhỉ ! bộ thế này hoài sao? 
– Ngày nào cũng như ngày nấy, vui mà cũng thê thảm lắm, người ta phải bật ra tiếng cười thôi… 
– Cậu còn dạy học cho cả mấy em này? 
– Dạy chứ để họ biết chữ ghi số ” dù ” mỗi ngày đi được. chép hoặc học hát mấy bài ca cải lương nghêu ngao cho đỡ sầu đời. 
– Họ có trả công cậu không? 
– Trả hay không không thành vấn đề, tao cứ dạy. Mày đừng hỏi tới nữa, mày đừng hỏi trả bằng cách nào…..Tao không lạ gì lối hỏi móc họng của bọn lính tráng chúng mày. 
Hai chúng tôi cười rũ. Bưổi tối trở nên vui vẻ dưới nhà lại vang lên tiếng tụng kinh gõ mõ của ông chủ nhà, HBSơn than phiền: 
– Tội nghiệp thằng cha đó, vê hoài mà vẫn chưa tròn được chữ phúc. Mẹ, sao mà đạo đức giả thế. 
Qua câu nói của HBSơn, tôi thấy anh có giọng chửi đời. 
Trời đã muộn, tôi từ giã HBSơn. Anh tiễn tôi ra tận cầu thang: 
– Tưởng cậu rảnh rang thì ở lại đây với tớ. rảnh thì ra đây chơi, bất cứ lúc nào…..Tớ ở một mình cũng buồn lắm, giữa cái cảnh thế này. mình vẫn là anh giáo xóm giáo làng chán bỏ mẹ, vậy mà cũng còn nặng nợ văn chương. Lại sắp hết một năm nữa rồi. 
– Ừ nhỉ, chỉ còn vài tháng nữa là tết. 
– Nhớ nhé, rảnh thỉ ra đây chơi, tết này mày có thể ăn tết với tao, chỉ có hai đứa mình. 
Cũng sắp đến giờ gác phi đạo của tôi. Tôi về đến trại đi lãng súng là vừa. Tôi nghĩ đến cảnh cô đơn ban đêm ngồi một mình ở phi đạo lộng gió. Tôi sẽ nhớ nhung nhiều lắm, những kỷ niệm xưa reo lên trong đầu như tiếng lau sậy rậm rạp mọc quanh phi trường reo cùng với gió vi vu. 
Tội gặp lại HBSơn sau hai năm, anh không mang bút hiệu là HBSơn hay Trần Đức Uyển nữa, mà là nhà thơ trào phúng Tú Kếu.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Chương 9 – “Đầu teo đít to”

(1)Tướng Văn tiến Dũng, Tổng tư lệnh quân đội Bắc Việt chọn một lùm cây xanh rậm rạp kế cận một đám rừng kè để đặt Bộ Chỉ Huy của mình, cách 35 cây số về hướng Tây của thành phố Ban Mê Thuột, và chỉ cách biên giới Cam Bốt có 10 cây số.

Ở vùng Cao nguyên này, người ta che dấu dễ dàng một đội tuần tiễu, một trung đoàn và ngay cả một sư đoàn nữa. Cảnh vật tưởng chừng như man rợ, bát ngát dọc theo một bình nguyên rộng lớn cao từ 400 đến 1200 thước, có nơi cao đến 2598 thước với ngọn núi Ngọc Ninh, gần tỉnh Kontum, nơi đó quân lực Hoa Kỳ đang chờ một cuộc tấn công.

(2) Sông rạch, hồ, thác nước được thấy rải rác khắp Cao Nguyên, còn đường sá thì chạy dọc theo các thung lũng.. Nếu không chiếm giữ thì cũng phải kiểm soát các con đường cũ này của Pháp vì đây là những trục lộ chiến lược. Vùng này tuyệt đối không có dân cư, nhưng rất giàu về gỗ, về tre nứa, một vùng rất thơ mộng và cũng rất hùng vĩ..Từ nhiều thế kỷ rồi, người dân ở đây được gọi là dân Thượng (3) . Họ đã từ vùng đồng bằng chạy lên đây trồng bắp trồng khoai, sắn, họ không có cùng ngôn ngữ quốc gia với người dân Việt Nam. Khi đã ổn định rồi thì họ trồng lúa, chăn nuôi và săn bắn, nhưng sống từng cộng đồng riêng lẻ xa lạ đối với đất nước.. Người Việt Nam dù là Nam hay Bắc đều có “vấn đề” với đồng bào Thượng này.

Tướng Dũng rất thích phong cảnh quá thơ mộng ở đây. Ông thích nghe tiếng lá vàng khô xào xạt dưới chân ông. Các lá vàng này đẹp thiệt nhưng rất nhạy lửa.. Các anh bộ đội thì không như ông tướng của mình, vì mỗi lần có cháy ở đâu đó, là các nhân viên truyền tin lại phải đi thiết lập các đường dây điện thoại lại.

Trong cánh rừng này thường có nhiều đoàn voi đi, nên người ta phải đi dây thật cao. Đoàn voi thường lôi các đường dây xa đến vài trăm thước. Trong khu rừng này người ta cũng gặp vài con cọp. Để dấu kín 3 sư đoàn không cho ai dò tìm được, tướng Dũng đã cho lệnh liên lạc với nhau toàn bằng điện thoại, tuyệt đối không dùng máy vô tuyến.

Ông ta so sánh thử tương quan lực lượng của chiến trường. Bộ binh của ông không có ưu thế tuyệt đối. Nhưng nếu ông tập trung được tất cả vào một điểm chính thì ưu thế không thể chối cãi được:

  • bộ binh thì 5,5 chống 1,
  • chiến xa thì 1,2 chống 1;
  • pháo binh nặng thì 2,1 chống 1.

Trong quyển nhật ký của ông, tướng Dũng không thấy nghĩ đến những khó khăn của mình như : chiến xa và pháo binh sẽ bị lầy, thiếu thợ máy lành nghề, vài đại đội đi lạc mà không được dùng vô tuyến của họ. Ông phàn nàn về một vài khuyết điểm : khả năng hợp đồng tác chiến không đồng đều của các sư đoàn . Bộ đội chánh quy Miền Bắc lại không có kinh nghiệm “tác chiến trong thành phố” và đối với một vài nhóm sự “hợp đồng binh chủng” trong một bình diện lớn là một chuyện quá mới mẻ.

Tướng Dũng rút được kinh nghiệm trong hai cuộc tấn kích năm 1968 và 1972.

Năm 1968, mặc dầu có thừa can đảm, bộ đội, nhất là Việt Cộng, không có giữ được thị trấn mà họ đã chiếm được ..

Năm 1972, không có sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ binh, chiến xa và pháo binh.

Cộng sản thường hay tự phê bình, nên trong suốt 3 năm qua Bộ Tổng Tham Mưu Bắc Việt đã tiến hành phê bình và tự phê bình các trận hành quân vừa qua.

Trong năm 1972 và nhất là năm 1968 các đơn vị cộng sản gặp những khó khăn về định hướng. Họ đến từ Miền Bắc và thường đi lạc trong những thành phố xa lạ đối với họ. Còn các tân binh Việt Cộng phần lớn là nông dân nên không quen với địa hình địa vật của các thành phố.

Trong năm 1975 này, dù là Sài Gòn hay Ban Mê Thuột, Bộ Tham Mưu Bắc Việt chỉ có nhiều chiến cụ tối tân của Liên Xô nhưng không có được bản đồ tham mưu. Để biết rõ hơn về Ban Mê Thuột, tướng Dũng đã gởi một cán bộ, sĩ quan mặc thường phục và vài người với nhiệm vụ trà trộn vào thành phố. Họ đã trở ra với một nét mặt kinh hoàng. Người cán bộ sĩ quan có vẻ hoa mắt, nói:

_ “Thành phố quá lớn, lớn như Hải Phòng vậy.”

Các anh bộ đội trong toán tiền sát bị xúc động khi nhìn thấy các tòa nhà lầu cao ngất trời sáng rực với ánh đèn nê-ông ở ngoại ô. Ở ngay Bộ Tham Mưu tại Hà Nội, người ta đã nói sai hết. Sự phân biệt không đứng vững. Ban Mê Thuột có nhiều nhất 150.000 dân. Hải Phòng có ít nhất 1 triệu dân. Những tin tức này được các báo cáo của các nhân viên thuộc hệ thống nhân dân cách mạng bổ túc, đôi khi cũng do phỏng vấn tù binh.

Đã có ưu thế về nhân số, tướng Dũng muốn thêm vào yếu tố “bất ngờ” nữa. Ông giới hạn số lượng các toán tuần tiễu để không ai có thể nhận ra sự hiện diện của quân đội của mình. Tướng Dũng cũng ghi nhận là địch quân ở Ban Mê Thuột dù yếu và lẽ loi, nhưng đã chiếm một vùng rộng lớn gồm các nhà cửa ở ngoại ô, và đó là một trở ngại lớn cho bộ đội Bắc Việt vì đâu đâu họ cũng đã có tổ chức phòng ngự. Cộng sản đã chiếm và giữ Phước Bình. Bây giờ ở Ban Mê Thuột một thành phố lớn hơn nhiều chắc rồi họ cũng phải làm như vậy.

Tướng Dũng chấp nhận là: “tấn công một thành phố lớn và hợp đồng tác chiến trong một phạm vi rộng lớn .. đều là những điều quá mới mẻ đối với bộ đội cộng sản” và ông tạm quên là trong năm 1972, bộ đội Bắc Việt đã từng tiến chiếm các thành phố lớn mà chưa từng giữ được bao giờ. Tướng Dũng cũng lo ngại về con số quá nhiều chướng ngại vật, những sông rạch hay những vị trí phòng thủ mà pháo binh nặng và các đơn vị chiến xa phải vượt qua.

Người tổng chỉ huy phải có một mục tiêu chiến thuật: “Trong một trận chiến, điều hay nhất để chấm dứt trận đánh nhanh chóng là phải giải quyết và bắt ngay Bộ Chỉ Huy địch” Do vậy tướng Dũng muốn đưa ngay các đơn vị xung kích cơ giới tiến tới thật nhanh. Trong một bình diện (đẳng cấp) khiêm nhường, đây là lần đầu tiên, chiến lược của Blitzkrieg được đem ra áp dụng ở Việt Nam. Là thành viên của Bộ Chánh Trị, tướng Dũng suy nghĩ đến những bài toán của “Giải Phóng” hay đúng hơn là “Chiếm Đóng”: Ban Mê Thuột là một trung tâm chánh trị, kinh tế quốc gia và tôn giáo của Cao Nguyên. Sự hiện diện của dân tộc thiểu số người Thượng, của những người Ky Tô giáo, Tin Lành, Phật Giáo, của gia đình đại tư bản, của những nhà trồng tỉa, của ngoại kiều. .. đã từng sống nhiều chục năm trong cái khí hậu bán thuộc địa này, tất cả đều là những bài toán rất phức tạp. Bộ đội Bắc Việt phải “có một thái độ đứng đắn” mới được. Và người ta cho lệnh hướng dẫn tất cả mọi cấp trong mọi đơn vị. Tướng Dũng dự kiến là “đối với tài sản của giới tư bản” sẽ cho áp dụng đúng đắn “chương trình của mình”. Ở điểm này tướng Dũng cũng còn mơ hồ lắm. Trái lại, ông dự kiến phải “xử dụng ngay những tù binh chiến tranh cho dịch vụ chiến trường” . Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chưa bao giờ ký văn kiện quốc tế nào có liên quan đến lãnh vực này.

Ban Mê Thuột là thủ phủ của một trong 12 tỉnh thuộc Vùng II Chiến Thuật của Miền Nam Việt Nam, một vùng tương đối rộng bằng cả 3 Vùng khác nhập lại. Nhưng cũng là một Vùng có ít dân cư nhất. Sự tùng phục của dân chúng với Sài Gòn không được vững chắc lắm. Ở Phước Bình các đơn vị Địa Phương Quân có đồng bào Thượng, Trong cuộc chiến ở Việt Nam gần như có một cái lệ: càng xa thủ đô hay các đô thị lớn bao nhiêu thì dân chúng càng ít trung thành với Chánh Phủ bấy nhiêu. Những người nông dân chất phác thường “bị đưa đi” đào đường ban đêm dưới sự giám sát của Việt Cộng, và ban ngày thì lại “phải đi” lắp lại theo lệnh của binh sỉ Miền Nam.

Tất cả những chuyện sau đây đều xem ra có lợi cho tướng Dũng: địa thế hiểm trở, với những ngọn núi dựng đứng, những thung lũng hẹp, với những hố trũng ăn sâu khắp nơi trong rừng.. tất cả không giúp gì được cho công cuộc phòng ngự của địch, hay các cuộc phản công yểm trợ của Không Quân địch. Người ta có thể ẩn nấp dễ dàng và thoải mái ở đây hơn là ở vùng đồng ruộng ở Miền Nam.

Thật là một lợi thế quân sự cho Dũng! trước mặt ông ta là sư đoàn 23 bộ binh và 6 liên đoàn Biệt Động Quân của Miền Nam. Còn phía ông ta có cả 3 sư đoàn: sư đoàn 320, 316 và sư đoàn 10, dàn trận đánh thẳng vào Ban Mê Thuột theo thế gọng kềm. Tướng Dũng rất mến sư đoàn cũ của ông ta, sư đoàn 320. Với sư đoàn này hồi năm 1952, ít người hơn, ông ta cũng đã hành quân giống như hôm nay, tấn chiếm thị trấn công giáo Phát Diệm, ở Bắc Việt. Ông đã len lỏi xuyên qua các đồn của người Pháp, đi vào tận trung tâm của thành phố và làm nổ tung Bộ Chỉ Huy của địch, chiếm giữ thị trấn trong 24 tiếng đồng hồ. Trên đường rút lui các đơn vị của ông ta đã quấy rối các đồn Pháp chung quanh thành phố trong suốt 20 cây số. Lần này, ông ta không có ý định phải rút lui, nhưng ông ta sẽ tái diễn lại kiểu hành quân mà ông gọi là “theo lối nở của hoa sen”

Cũng như mọi tổng tư lệnh đều phải để lại một cái gì đó cho đời sau, trước khi trận chiến bắt đầu, tướng Dũng có một bài diễn văn lịch sử ngắn cho sĩ quan và binh sĩ thuộc sư đoàn 316:

_ “Tôi muốn đọc lại mấy câu thơ mà tôi không nhớ là của thi sĩ nào, những vần thơ nói lên một sự cay đắng trong lòng người Việt Nam chúng ta mà chúng ta phải vứt bỏ:

Từ 30 năm rồi khi chúng ta biết cầm súng Vành trăng đã bị cắt làm đôi

Nửa trên đất Bắc, nửa ngồi phía Nam!

Để cho địch tin chắc rằng ông ta sẽ tấn công Pleiku, nơi đặt Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật, tướng Dũng có 3 cuộc hành quân “Dương Đông Kích Tây” để đánh lạc hướng địch.

_ Thứ nhất là Cảnh sát Miền Nam nhận được tin tức sai lạc do CPLTCHMN tung ra, theo đó thì quân kháng chiến đang chuẩn bị những cuộc biểu tình ở Pleiku và Kontum để đón mừng “giải phóng quân”

_ Thứ hai là tướng Dũng muốn cho địch biết là sư đoàn 968 từ Lào đang tiến về Pleiku, nên đã cho lệnh làm ồn ào tối đa để cho địch phải “chú ý”.

_ Thứ ba là ông ta tổ chức hành quân trên làn sóng vô tuyến: cho người ta có cảm tưởng rằng sư đoàn tinh nhuệ 320 đang đóng quân gần đâu đây, ém quân trong một góc nào đó. Chỉ cần có một đài phát tuyến, một máy phát điện và vài người là quá đủ để bày ra một hệ thống liên lạc vô tuyến quan trọng giữa các đơn vị rồi!

Ở Sài Gòn cơ quan tình bào CIA cũng biết được nhiều tin tức lắm. Phân tích gia Frank Snepp theo sát tình hình, ông ta biết rõ là có một sự điều quân quan trọng của Bắc Việt ở phía Tây và phía Bắc của Ban Mê Thuột. Ông ta chỉ dự kiến là cộng sản sẽ cô lập thành phố Ban Mê Thuột.

Trong lúc này cơ quan tình báo CIA có rất ít tin tức liên quan đến các cuộc điều quân ở vùng Cao Nguyên. Trước đó hơn một năm rưởi, nhân viên đặc trách vùng này phạm lỗi về ngân quỹ nên giờ này họ không có đủ tiền trả cho các điệp viên. Hơn thế nữa vì muốn tiết kiệm nên họ đã bỏ cơ quan ở Ban Mê Thuột và người ta chỉ còn trông cậy vào những người Việt ở cơ quan tình báo của Miền Nam . Trong vùng Cao Nguyên này có rất nhiều nhân viên tình báo nhị trùng, nhưng cuối cùng thì họ chỉ phục vụ cho Hà Nội và CPLTCHMN. Chính Frank Snepp nhìn nhận là phúc trình của ông ta ngày 7/3 là một “sai lầm to lớn”. Không phải chỉ có một Frank Snepp mà còn có những người khác nữa, không ai để ý hay chịu tin vào những tin tức của một bộ đội Bắc Việt đào ngũ, hắn ta xác quyết là sư đoàn 320 thật sự đã di chuyển từ Pleiku đến Ban Mê Thuột.

Trong số các nhân viên CIA ở Việt Nam, Snepp là một nhân vật quan trọng. Cũng giống như ông Martin, Frank Snepp là dân của tiểu bang Bắc Carolina. Anh ta theo học ở Đại học Columbia, khoa bang giao quốc tế. Năm 1968, một trong những giáo sư của anh ta, ông Philip Mosley thuộc khoa Nga ngữ, đã nói với Snepp rằng:

“Con ơi, con thiếu sự linh hoạt để có thể làm việc ở Bộ Ngoại Giao, Cơ quan tình báo CIA hợp với con hơn.”.

Giáo sư Mosley đã nhận thấy như vậy trong khi chính anh ta lại nghĩ rằng cách hay nhất để khỏi phải sang phục vụ ở Việt Namlà nên cột chặc số phận của mình với CIA. Ngay buổi chiều khi anh ta được thu nhận vào CIA, anh đi xem phim James Bond (007 chống bác sĩ No) thì anh tự nhũ: “rồi thì ta cũng sẽ lái những xe kiểu thể thao như vậy thôi!” Sự tình cờ trong vấn đề bổ nhiệm đã đưa anh ta sang Việt Nam sống nhiều năm ở Sài Gòn.

Trẻ, đẹp trai, có một trí nhớ tốt, nói cũng hay mà viết lách cũng giỏi, anh là người mà cả ông Polgar và ông Martin đều rất thích. Họ thườg dùng anh ta trong các buổi thuyết trình. Ông Martin cũng thấy đôi khi anh có vẻ hài hước, nhưng từ lâu rồi ông rất tin tưởng anh ta. Ông Martin thường mời Snepp dùng cơm với ông. Snepp chơi thân với một người con gái của Martin, cô Ginette, đã ly dị rồi nhưng còn đẹp. Snepp không mấy thiên về chánh trị nhưng anh vẫn biết rằng trong lãnh vực tình báo, con người càng có tinh thần đạo đức bao nhiêu càng nguy hiểm bấy nhiêu. Snepp không chống đối đường lối chánh trị chánh đáng của Hoa Kỳ đối với Việt Nam.

Trước sự điều quân của cộng sản Bắc Việt, các nhà quân sự của Miền Nam Việt Namrất hoang mang và không có cùng một nhận định. Cũng như người Mỹ ở Sài Gòn, tướng Phú (tư lệnh Vùng II) nghĩ rằng mục tiêu chính của Bắc Việt là Pleiku. Tin tức từ Sài Gòn cho biết là nổ lực chính của Miền Bắc sẽ nhằm vào Ban Mê Thuột. Tin tức thu lượm được từ cơ quan tình báo, từ kiểm thính, từ các tài liệu tịch thu được, từ các lời khai của tù hàng binh quá nhiều nhưng không giống nhau. Cuối cùng tướng Phú sau khi phân tích lần chót đã khẳng định là Bắc Việt sẽ tấn công vào Pleiku. Hơn nữa một số công điện của Sài Gòn đã khuyến cáo rằng: “cuộc tấn công vào Ban Mê Thuột chỉ là một khả năng có thể xảy ra mà thôi”. Do đó tướng Phú nói với các sĩ quan tham mưu của ông:

_ “Có quá nhiều mục tiêu Ban Mê Thuột rồi Pleiku, rồi Kontum!”

Theo ông, thường thì thì địch tập trung nổ lực chính vào điểm trọng yếu nhất. Mà điểm trọng yếu ở đây là Pleiku. Tại đây quân lực Miền Nam có sẳn cơ sở Tổng hành dinh của người Mỹ đã để lại. Trước kia người Pháp đã chọn Ban Mê Thuột, một vị trí trung tâm của vùng Cao Nguyên để đặt Tổng hành dinh. Còn người Mỹ không đặt nặng vấn đề địa lý, họ thích Pleiku hơn, dù đó là một thành phố nằm ở chệch xa về hướng Bắc. Nhưng họ có quá nhiều trực thăng, họ có khả năng di động cao, nên xa hay gần không còn là vấn đề đối với họ nữa.

Tướng Phú là Tư lệnh Vùng II từ năm 1994. Lúc bấy giờ ông Thiệu đã thay đổi một số tướng tá, trong đó có 3 vị Tư Lệnh Vùng. Tướng Phú xuất thân từ Quân Đội Pháp. Ông đã từng là tù binh của cộng sản Bắc Việt ở Điện Biên Phủ, cho nên ý nghĩ sẽ bị cộng sản bắt lại một lần nữa đã luôn ám ảnh ông. Lúc nào ông cũng tự xem mình là một sĩ quan tham mưu. Trong trường hợp này, người sĩ quan tham mưu lại một lần nữa có vẻ do dự. Ông không muốn vì Ban Mê Thuột mà phải rút bớt lực lượng phòng ngự của Pleiku. Trên phương diện quân sự, Pleiku là một vùng bằng phẳng, rất có lợi cho chiến xa địch. Trên phương diện chánh trị, mất Pleiku là một điều tai hại khủng khiếp. Vì tướng Dũng đã cho lệnh tấn công một số đồn bót chung quanh Pleiku và Kontum, nên tướng Phú càng tin chắc là Pleiku sẽ là mục tiêu chính của Bắc Việt . Nếu Ban Mê Thuột có bị đánh thì ông ta sẽ xin không trợ và sẽ dùng trực thăng gởi quân đến đó tăng cường, tướng Phú luôn luôn nghĩ đến chiến thuật trong khuôn khổ hành quân theo kiểu của người Mỹ ,là người ta có thể điều động một số đơn vị quan trọng đi xa bằng trực thăng.

Nhưng thong thả nghĩ lại, tướng Phú có cảm giác là địch đang đánh lạc hướng mình. Nhưng ở đâu đây?

Trưa ngày 9/3, tướng Dũng tin cho Chánh Trị Bộ, Quân Ủy Trung Ương, và tướng Giáp, bộ trưởng Quốc Phòng: “chúng tôi sẽ tấn công Ban Mê Thuột ngày 10/3”.

Ông ta nói là từ quân số, tiếp liệu, chiến cụ, súng ống đạn dược của ông ta tất cả đều rất là khả quan . Tinh thần binh sĩ theo ông cũng là tuyệt hảo. Cũng trong ngày đó lúc 19.00 giờ, ông đã dùng điện thoại liên lạc với các chỉ huy trưởng đơn vị chính của ông để được biết chắc chắn là họ đang nằm ở tuyến xuất phát. Người ta đã giải quyết xong các bài toán cuối cùng về tiếp liệu. Họ đã dùng các bè tre lớn để đưa pháo binh vượt qua sông Sre Pok. Trong sự yên tĩnh của đêm tối trùm khắp núi đồi, hàng chục ngàn bộ đội tiến tới mục tiêu của họ. Các đơn vị trưởng mà nhiều người tóc đã bạc, duyệt lại lần chót kế hoạch hành quân của đơn vị trên bản đồ.

Trước hết tướng Dũng cho cắt hết các trục lộ chính dẫn đến Ban Mê Thuột và nhất là đường 14 nối liền giữa Ban Mê Thuột và Pleiku. Để tránh một cuộc không trợ hữu hiệu của Không Lực VNCH, và tận dụng đêm tối có lợi cho bộ đội tấn công hơn quân phòng ngự, tướng Dũng cho lệnh tấn kích lúc 2 giờ sáng. Nhờ có pháo binh bắn dọn đường yểm trợ, bộ binh và chiến xa thuộc sư đoàn 10 tiến quân rất thoải mái.

Tướng Dũng có 25.000 quân, còn quân trú phòng Ban Mê Thuột chỉ có 1200.

Đến 7g. 30 sáng các chiến xa đầu tiên của Bắc Việt đã xuất hiện ở vùng phía Bắc và Tây Bắc của thành phố. Họ đã nhanh chóng chiếm và phá hủy ngay một phần của kho đạn dược và một nhà xe của đơn vị thiết giáp, để bọc vòng qua đài phát thanh. Bốn mươi lăm phút sau đó, các chiến xa bắn trực xạ vào Bộ Tư Lệnh sư đoàn 23 bộ binh . Các toán quân thuộc trung đoàn 53 (QLVNCH) đã giữ vững phi đạo chính nằm về phía Tây của thị trấn. Tướng Dũng cho áp dụng chiến thuật “hoa sen nở”, bọc vòng phi đạo chính này và tiến chiếm phi đạo nhỏ hơn nằm về hướng Bắc của thị trấn.

Không quân Miền Nam Việt Nam bắt đàu đến can thiệp. Bắc Việt vẫn không bao giờ xử dụng không quân của họ. Lực lượng Phòng Không Bắc Việt hoạt động rất mạnh. Các phi công Miền Nam vẫn còn bay thật cao và họa vô đơn chí bom họ lại thả lầm xuống trung tâm truyền tin của Bộ Tư Lệnh sư đoàn 23 bộ binh . Và do đó đã làm xáo trộn hết công tác phòng thủ thị trấn Ban Mê Thuột, mất hẳn liên lạc vô tuyến với Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật. Lúc bấy giờ Pleiku mới biết đâu là mục tiêu chính của Bắc Việt . Tướng Phú quyết định gởi quân tiếp viện đến Ban Mê Thuột, trước hết là trung đoàn 44 là trung đoàn trực thuộc của sư đoàn 23 bộ binh . Để chuyển 2 tiểu đoàn, tướng Phú mới biết được là mình chỉ còn có 7 chiếc trực thăng Chinooks. Mỗi chiếc chỉ chở được 40 người, nhưng sau đó có 2 rồi 3 rồi 5 chiếc bị trục trặc kỹ thuật không thể xử dụng được.

Tại sứ quán Hoa Kỳ ở Sài Gòn, không khí quá căng thẳng, người ta dự trù cho tướng Phú mượn 2 chiếc trực thăng của CIA, thuộc Hàng Không Air America. Nhưng đó là một hành động vi phạm rõ rệt Hiệp Định Paris. Dĩ nhiên không thể nào gởi viện quân đến Ban Mê Thuột bằng đường bộ rồi. Mà chuyển quân với 2 trực thăng cũng là điều rất khó khăn. Bài toán tiếp vận này xem ra tướng Phú không thể giải quyết được.

Hầu hết các đơn vị chánh quy của Miền Nam Việt Nam từ sĩ quan đến binh sĩ thường có thói quen là đem gia đình theo sống gần họ, ở hậu cứ của đơn vị. Từ lâu rồi Ban Mê Thuột là hậu cứ của sư đoàn 23 bộ binh , nhất là các đơn vị có nhiệm vụ phòng thủ thị trấn như trung đoàn 53, và các đơn vị ở Pleiku như trung đoàn 44. Chỉ trừ những đơn vị thuộc binh chủng Nhảy Dù, Biệt Động Quân và Thủy Quân Lục Chiến thì họ không mang theo gia đình lúc họ có nhiệm vụ từ tỉnh này sang tỉnh khác hay từ Vùng này sang Vùng khác. Các cố vấn Hoa Kỳ đã chấp nhận sự có mặt của gia đình quân nhân, trước hết vì lương bổng của họ quá thấp. Một binh sĩ Miền Nam chỉ lãnh 25.000/ tháng (khoản trên dưới 400 quan Pháp, hay trên dưới 25 mỹ kim), nên gia đình họ phải sống gần họ thì họ mới nuôi được.

Viện quân từ Pleiku được trực thăng đổ xuống chung quanh thị trấn Ban Mê Thuột. Một số binh sĩ chỉ lo chạy đi tìm cha mẹ vợ con và những người thân của họ. Khi họ gặp được rồi thì có khi họ vứt cả súng ống quân phục và tìm cách rời khỏi thị trấn. Chỉ có các đơn vị Biệt Động Quân là còn giữ được kỷ luật và còn chiến đấu.

Tướng tư lệnh sư đoàn 23 bộ binh Lê Trung Tường quen lối chỉ huy kiểu Mỹ, nên đã ngồi trên một chiếc trực thăng để điều động các đơn vị. Kỹ thuật này chỉ giúp người chỉ huy nhìn thấy rõ chiến trường, nhưng không giúp ông ta gần gũi binh sĩ của mình. Vợ con của tướng Tường đang đợi ông ta ở trung tâm huấn luyện, nằm về phía Đông Nam của thị trấn. Ông cho lệnh cho tiểu đội Biệt Động Quân chuẩn bị bãi đáp cho ông ở gần trung tâm huấn luyện. Và như vậy là chính ông tướng này cũng lo cho gia đình hơn là lo cho các đơn vị đang chiến đấu với cộng sản. Một tràng tiểu liên đã bắn trúng chiếc trực thăng. Ông Tường bị thương nhẹ ở gò má. Và ông tự tản thương về nằm luôn ở bệnh viện. Viên Tổng tư lệnh Bắc Việt đã dự trù là ông sẽ phải tốn cả tuần lễ mới hoàn toàn chiếm được Ban Mê Thuột. Nhưng đại khái thì ông coi như ngày 10/3 lúc 17g.30 là bộ đội Bắc Việt đã chiếm xong thành phố Ban Mê Thuột.

Ngày đầu tiên, các đơn vị Bắc Việt đã phải chịu gần 200 cuộc không tập của Không Lực VNCH. Và những ngày kế tiếp cứ mỗi ngày khoản 60 lần. Một vài đại đội và nhất là Biệt Động Quân, vẫn còn tiếp tục chiến đấu. Các phi công Miền Nam không có tin tức đày đủ nên không biết vị trí các đơn vị Bắc Việt ở đâu nên không thể yểm trợ được, vì quân hai Bên đối diện nhau rất gần. Hoặc là họ rụt rè không dám thả bom vào thành phố hay những vùng ngoại ô đang có quá nhiều thường dân lánh nạn. Các đơn vị Địa Phương Quân người Thượng ít tham gia vào công tác phòng thủ thị trấn. Một vài người thuộc tổ chức FULRO, một phong trào trung lập đòi tự trị, không mạnh như Hà Nội đã tưởng, đã được Bắc Việt dùng như trinh sát dẫn đường cho các đơn vị. Trong vùng Ban Mê Thuột cũng như ở Cao Nguyên, các đơn vị chánh quy Miền Nam Việt Nam coi thường người Thượng, có dùng trong các đơn vị phụ lực thì cũng không tin cẩn họ lắm.

Tổng thống Thiệu cho lệnh tướng Phú chiếm lại Ban Mê Thuột. Ông còn cho lệnh cho Lê vĩnh Hòa, Giám đốc đài truyền hình gởi một toán quay phim lên Ban Mê Thuột để thu hình trận tái chiếm thị trấn này. Trong lúc tướng Phú lại có kế hoạch khác.

Tại Ban Mê Thuột, bộ đội Bắc Việt bắt giữ 8 nam nữ mục sư người Mỹ, 1 người Úc, 1 người Phi luật Tân, và một nhân viên thuộc Lãnh Sự quán Hoa Kỳ là ông Paul Struharik. Tuy họ được đối xử tử tế nhưng họ được đưa ngay về Miền Bắc.

AFP là cơ quan truyền thông duy nhất có một văn phòng tại Sài Gòn và một tại Hà Nội. Tại thủ đô Sài Gòn trưởng văn phòng là ông Jean Louis Arnaud. Trong thời gian trận chiến xảy ra ở Ban Mê Thuộtthì ông Arnaud đang ở Bangkok. Một điện tín do Paul Léandri gởi đi từ Sài Gòn giải thích rằng một số người Thượng thuộc lực lượng Fulro đã dẫn đường cho các đơn vị Bắc Việt. Báo chí quốc tế đã cho đăng lại bản tin này, nên bức điện tín của Léandri làm cho cả Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm không vừa lòng. Dưới nhãn quan của họ, bức điện tín này coi như gợi ý cho lực lượng đối lập ở Cao Nguyên Trung Phần hợp tác với lực lượng xâm lăng Bắc Việt.

Ở Việt Nam đã hơn một năm rồi, ông Léandri thường hay chỉ trích Chánh Phủ VNCH. Léandri săn tin từ một phóng viên được yêu cầu dấu tên. Hai ông cảnh sát trưởng đến văn phòng của AFP. Họ muốn biết tên của người linh mục đã đưa tin cho Léandri. Ông này từ chối. Cảnh sát khẻ cho lịnh Léandri trình diện ở Sở Di Trú. Léandri báo cho sứ quán Pháp và bạn bè của anh ta biết việc này.

Anh Léandri là một người Pháp gốc Corse, 38 tuổi, mặt mày cũng dễ coi, nhưng cứng đầu, dễ nổi giận. Chiều hôm đó, anh lái chiếc Peugeot của hảng thông tấn AFP, cùng với người tài xế, anh đi vào sở Di Trú ở Chợ Lớn. Chỗ mà anh đến trình diện và Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia nằm đối diện nhau. Một người cảnh sát trưởng mà anh đã gặp ban sáng vẫn còn đòi hỏi Léandri phải cho ông ta biết tên của “nguồn tin”. Leandri phản đối và đòi cho gặp một cấp trên. Đại tá Phạm kim Quy, Chánh sở Cảnh Sát Tư Pháp? Dĩ nhiên là có thể lắm, tại sao không? Ông đại tá không có mặt ở văn phòng trong Bộ Tham Mưu Cảnh Sát, ở ngay phía bên kia đường. Không biết ông ta có ở trong Sở Di Trú hay không? Leandri không biết mình phải đi đâu, lòng vòng quá, anh trở về văn phòng AFP của mình, xong trở lại sở Di Trú. Cũng chưa gặp được đại tá Quy. Leandri lái qua lộ, vào đậu xe trên một con đường nhỏ trong Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát. Vào lúc 19 giờ, Lảnh sự Pháp, ông Patrice Le Carruyer Deuvais đến sở Di Trú. Người ta không có nói cho ông này biết là Léandri đang còn đợi cách đó chỉ vài trăm thước, ở ngay Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát.

Léandri lúc đầu còn bình tỉnh đi đi lại lại trong sân, rồi không bình tỉnh được nữa, đâm ra cáu kỉnh: 21 giờ rồi. Người ta sẽ giữ anh suốt đêm ở đây chăng?. Anh leo lên xe, đóng cửa lại, cho nổ máy, lui lại và chạy ra cổng. Trong đêm tối, có tiếng kêu báo động của cảnh sát, có vẽ náo động. Léandri nhấn ga. Ngay tại cổng, một cảnh sát bắn một phát vào xe Peugeot, xe lủi vào tường. Léandri chạy được 300 thước, đạn trúng ngay màng tang, chết tại chỗ. Sau đó, các luận cứ của người Pháp, của người Mỹ và của Việt Nam đều không giống nhau. Dưới con mắt của người Việt Nam anh Leandri là một Việt lai Pháp. Cảnh sát có thật dám bắn anh ta hay không khi nghĩ rằng Leandri là một người da trắng? Thà là anh Leandri có cảm tình với chánh quyền Miền Nam.

Tin anh Leandri chết được loan đi thật nhanh. Tất cả các nhân viên của sứ quán Hoa Kỳ đều được lệnh không nên xen vào việc đáng tiếc này. Dù vậy, Thomas Polgar cũng phải có một công hàm cho Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Việt Nam để được giải thích rõ hơn nội vụ. Cảnh Sát thì thề rằng họ đã có lên tiếng cảnh cáo trước và người lính gác đã bắn vào lốp xe. Cái chết của anh Léandri gây mất cảm tình ở Hoa Thạnh Đốn , Ba lê và ngay cả Sài Gòn. Nhiều người coi đó là một sự thanh toán của cảnh sát đối với anh Léandri. Hoặc đối với báo chí nói chung, hay đối với nước Pháp.

Mối giao hảo của ông Thiệu và những người quốc gia với nước Pháp hay với cộng đồng người Pháp ở Việt Nam không được tốt đẹp lắm. Những người quốc gia cùng thế hệ với Tổng thống thì thân Pháp hơn là thân Mỹ. Nhưng trên phương diện chánh trị thì ông Thiệu không có thân Pháp. Các vị Tổng Thống Pháp theo sự ước tính của ông đã không nâng đỡ ông. De Gaulle thì quá chống Mỹ, gần như thù nghịch. Ông Pompidou thì đã gởi trả lại quân đội trước kia một vị đại sứ đương nhiệm ở Sài Gòn. Còn bây giờ Tổng Thống Valery Giscard d’Estaing và các nhà ngoại giao của ông ta rõ ràng đang chơi lá bài “lực lượng thứ ba”, mà theo ông là một lực lượng thân cộng trá hình. Ông Thiệu và những công chức trong guồng máy hành chánh và quân sự của ông không hiểu được cái nhìn thù nghịch của các nhà báo trong vùng. Các phóng viên thật ra nếu không phải là cộng sản thì vô Việt Nam rất dễ dàng, muốn đi đâu thì đi rất là tự do. Các đơn vị thuộc QLVNCH còn giúp chuyên chở họ trong khả năng phương tiện mà họ có được tuy ít hơn quân đội Mỹ trước kia. Đối với báo chí ngoại quốc thì không có kiểm duyệt, vậy mà các nhà báo này cứ chỉ trích chế độ Miền Nam trong khi họ hết sức khoan dung đối với Hà Nội. Họ ca tụng nào là sự can đảm, nào là sự bền chí của Việt Cộng mà họ quên rằng những người đó chính là bộ đội chánh quy của Bắc Việt. Họ không bỏ lở một cơ hội nào để nêu lên những sự yếu kém và hơn thế nữa còn bình luận về sự nhát gan của binh sĩ Miền Nam Việt Nam. Họ luôn luôn nêu lên những sự đào ngũ ở Miền Nam mà không bao giờ nói đến hành động này ở Miền Bắc. Tuy nhiên ông Thiệu rất hãnh diện về quân đội của ông, họ thường đánh rất hăng. Có mấy ai đã từng tỏ lòng kính trọng binh sĩ của Miền Nam? Năm 1972, họ đã từng tái chiếm Quảng Trị sau 45 ngày chiến đấu. Hoàng Đức Nhã thường khuyến khích ông Thiệu nên có hành động lấy lòng báo chí quốc tế, nhất là báo chí Pháp. Thường thì ông Thiệu rất là thất vọng với giới báo chí..

Mối giao hảo với những người Pháp cư ngụ tại Việt Nam tốt hơn là với giới báo chí ở Pháp, tuy nhiên cũng vẫn còn phức tạp lắm. Các chủ hãng xưởng, như ông Patrick Hays của hãng Michelin, đều là những người chống cộng. Nhưng phần đông thường tỏ thái độ không thích chánh trị khi nói đến tình hình nội bộ của Việt Nam. Tuy vậy vẫn có một vài người Pháp còn có thái độ chống Mỹ khi họ nhấn mạnh đến các phúc trình của tướng Quang trình lên cho ông Thiệu. Kẻ thù của bạn tôi là kẻ thù của tôi! Tất cả đều qua đi giống như những người Pháp chống cộng đó đã từng nói: “chúng tôi không thắng được Việt Minh thì không có lý nào người

Mỹ lại thắng được Việt Cộng và bộ đội Miền Bắc . Ông Thiệu tự cho mình là một người chống thực dân và ông ta nghi ngờ người Pháp muốn trở lại đô hộ Việt Nam. Những người khờ dại đó tưởng rằng họ có thể tính toán được với cái gọi là CPLTCHMN và với Hà Nội!!

Sự việc Léandri đương nhiên tạo ra một sự đoàn kết công khai rộng lớn trong giới truyền thông, và điều này đã gây bối rối cho ông Thiệu. Đã từng có nhiều phóng viên ngoại quốc chết ở Việt Nam rồi, nhưng đây là lần đầu tiên cảnh sát Miền Nam bắn chết một nhà báo Pháp.

Đại sứ Pháp xin được vào gặp Tổng Thống. Ông Thiệu tiếp ông Jean Marie Mérillon. Ông có vẽ buồn, ông thấy đây là một sự hiểu lầm đến ghê sợ. Đối với ông Mérillon, ông Thiệu gần như nói lên lời xin lỗi. Ông không có lợi lộc gì để mà có hành động không tốt với nước Pháp. Ông Mérillon ghi nhận là ông ta có một trái tim nhạy cảm. Bằng cớ là không bao giờ ông giải quyết việc cho lệnh hành quyết các tử tội.

Báo chí và đài phát thanh Hà Nội bình luận về cái chết của anh Léandri rằng; “những người Miền Nam Việt Nam là bọn phát xít!”

Tờ “Nhân Dân” của Hà Nội cho đăng một bài phóng sự về “cuộc giải phóng Ban Mê Thuột”:

_ “Cờ xí, biểu ngữ, hình ảnh và thông cáo được treo, dán khắp các đường phố trong thị trấn. Khắp các dường phố, dân chúng tiếp đón chánh quyền mới, giáo sư và học sinh các trường trung học, sinh viên trường kỹ thuật và sư phạm tập họp vui vẻ trong trường. Họ nói với nhau: “Không còn vui nào bằng!!” Thật vậy, sự tuyên truyền của Sài Gòn khác hẳn với thực tế như ngày với đêm! Có nhiều học sinh và dân chúng ra quét đường phố, gở bỏ hết các tàn tích văn hóa Mỹ và đi lùng sục địch quân còn ngoan cố phá rối trật tự, Ở trường trung học Bồ Đề hàng ngàn sĩ quan, binh sĩ và công chức của bộ máy bù nhìn ra trình diện.” (20/3)

Ngày 11/3, trong bữa ăn sáng, ông Thiệu có một phiên họp với 3 tướng lãnh, tướng Khiêm, Thủ tướng, tướng Viên, Tổng Tham mưu trưởng và tướng Quang, cố vấn an ninh. Bữa ăn sáng được dọn ra ở lầu 3 Dinh Độc Lập. Theo ông Thiệu thì nơi đây tránh được sự kiểm thính hay nghe lén của Hoa Kỳ . Ông Thiệu hình như không mấy xúc động đối với diễn tiến trận tấn công của Bắc Việt vào Ban Mê Thuột:

_ “Với lực lượng mà chúng tôi đang có, chúng ta không thể phòng thủ hết lãnh thổ của chúng ta được. Nếu chúng ta cứ khăng khăng muốn giữ từng đồn lẻ tẻ thì lãnh thổ của chúng ta sẽ bị gậm nhấm hết.”

Trên một bản đồ Việt Nam, ông Thiệu phác họa một chiến lược mới: Cần phải giữ và tăng cường một “Việt Nam hữu ích”, đại cương là Vùng IV Chiến Thuật ở Đồng bằng sông Cữu Long, và Vùng III Chiến Thuật, chung quanh Sài Gòn. Ở đây có đủ tài nguyên của đất nước, như lúa gạo và các mỏ dầu ở ngoài biển. Tổng thống giải thích:

_ “Phải ấn định lại trận tuyến, ở hướng Bắc, nhất là ở Vùng 2. Chúng ta sẽ bỏ phần đất phía trên cao , cũng rộng lắm. Nhưng chúng ta giữ lại một số cứ điểm thật mạnh như Huế, Đà Nẵng, Chu Lai. Những cứ điểm này có một giá trị tượng trưng hơn là chiến lược. Cứ điểm Đà Nẳng sẽ là một cứ điểm quan trọng. Ở đó quân đội Hoa Kỳ đã đổ bộ hồi năm 1965. Nếu họ có trở lại trong một tháng hay một năm nữa, thì họ cũng phải tính đến căn cứ này.

Lạ lùng chưa? ông Thiệu so sánh các cứ điểm nói trên với những đầu cầu mà Hoa Kỳ đã dùng để đổ bộ trong trận chiến ở Normandie (Thế chiến 2 ở Pháp). Không biết ông có lẫn lộn giữa kẻ xâm lăng với người bị xăm lăng hay không?

Ông Thiệu yêu cầu Thủ Tướng Khiêm và Tổng Tham mưu Trưởng Viên nghiên cứu một kế hoạch phòng thủ: tuyến phòng ngự mới mà ông đã chọn, đi từ Tây Ninh và Đà Lạt, xuống đến bờ biển Nha Trang.

Thủ tướng Khiêm không còn lạ gì với điều này. Ý định “tái phối trí” này Tổng thống Thiệu đã có nói qua mấy ngày trước rồi, thoáng qua thôi, cho tướng Ngôi Quang Trưởng, Tư lệnh Vùng 1 Chiến Thuật. Trước đó 3 tháng, tướng Charles Timmes và Đề đốc Chung Tấn Cang cũng đã nghĩ tới giải pháp này rồi. Bây giờ để thay đổi một chút, Tổng thống gợi ý lại khả năng hành động mới này, một “chiến lược mới” trong khuôn khổ một cuộc “duyệt xét lại chiến lược” với các tướng lãnh của ông. Một trong những cố vấn bất ngờ của ông là tướng hồi hưu người Úc, Ted Sarong, một người mà nhơn viên sứ quán Hoa Kỳ cho là không đáng tin cậy, đã đề nghị một ít thay đổi trong kế hoạch rút quân tái phối trí này.

Để trung thực gọi đây là một cuộc “tái phối trí”, ông Thiệu đưa ra những chứng minh về mặt ngân sách. Ông đã tính toán với Thủ Tướng và Tổng Tham mưu trưởng của ông: Trước kia với 1, tỷ rưởi mỹ kim chúng ta có thể phòng thủ được 4 Vùng Chiến Thuật. Như vậy với 700 triệu chúng ta chỉ có thể giữ được 2 Vùng mà thôi là Vùng III và Vùng IV. Ông cũng giã thiết hay hy vọng rằng khi phải bỏ đi một nửa lãnh thổ cho cộng sản, ông có thể tạo ra hai xúc động tâm lý. Bị báo động, người Mỹ sẽ sẳn sàng bỏ phiếu thuận để viện trợ bổ túc cho Miền Nam Việt Nam. Tổng trưởng kế hoạch Nguyễn Tiến Hưng bảo đảm với ông Thiệu là Hoa Kỳ có một số tiền khá lớn thuộc “quỹ đen” còn chưa xài tới, như Ngũ Giác Đài còn dự trử 850 triệu.

Ở Sài Gòn có nhiều người lẫn lộn giữa ngân sách quốc gia của Việt Nam với kế toán công khai của Hoa Kỳ. Dư luận của người dân Mỹ có thể thay đổi. Phải có một loại biến cố như Trân Châu Cảng mới có thể lật ngược được thế cờ. Một cú sốc cần thiết khác: Miền Nam Việt Nam có mất hồn thì phải trấn tỉnh lại. Hậu quả lớn lao là bỏ đất, trái ngược với nguyên tắc “bốn không” của chính mình: “không nhượng một tấc đất nào cho cộng sản”

Theo dự kiến mới này, ông Thiệu nghĩ là phải rút các đơn vị ưu tú về Sài Gòn. Đó là sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến và sư đoàn Dù, cả hai đang trấn giữ phần đất phía Nam vĩ tuyến 17, ở Vùng I Chiến Thuật.

Binh chủng Dù được người Pháp thành lập và binh chủng Thủy Quân Lục Chiến được người Mỹ thành lập.

Ý định này được nhen nhúm trong đầu các tướng lãnh Việt Nam ở Sài Gòn , nhưng người Mỹ thì không biết gì cả. Nhiều tướng tá nghĩ là ông Thiệu muốn có sẳn trong tay, tại thủ đô, các đơn vị tinh nhuệ của ông để làm nản lòng những ai có ý muốn đảo chánh ông ta. Ông Thiệu muốn có một sự ổn định cả về chánh trị lẫn quân sự, Trên phương diện quân sự, kế hoạch của ông cũng không có gì gọi là vô lý. Ông sẽ có lợi thế là có thể tập trung lực lượng đối phó với các sư đoàn Bắc Việt càng ngày càng đông. Dài hạn thì kế hoạch này cũng có lý. Còn ngắn hạn, cấp bách hơn là có thể tiến chiếm lại Ban Mê Thuột, vì Ban Mê Thuột nằm trong phần lãnh thổ của một “Việt Nam hữu ích”

Ý kiến hay chiến thuật “cứ điểm” này đã từng được tướng Hoa Kỳ là James Gavin tung ra từ lâu. Ông dùng cứ điểm như là nơi đồn trú cho binh sĩ Mỹ để tránh rải các đơn vị ra quá rộng.

Ông Thiệu không có nói ra cho người Mỹ biết kế hoạch này. Cũng có thể ông cho ông Martin biết nếu ông này có mặt ở Sài Gòn. Đại sứ là người duy nhất mà ông Thiệu thường hay trao đổi và thích trao đổi vì ông gần như không có chút tin tưởng nào đối với những người khác trong sứ quán Hoa Kỳ. Ở đó có quá nhiều người chống lại ông. Hơn nữa ông không muốn kế hoạch của ông bị tiết lộ ra ngoài.

Ông Dan Ellerman, cố vấn kinh tế của sứ quán Hoa Kỳ phân tích tình hình với ông Nguyễn văn Hảo, Phó Thủ Tướng đặc trách về kinh tế. Ông Hảo trong một thoáng đã nói qua về kế hoạch thu hẹp hệ thống bố phòng của Miền Nam Việt Nam. Ông Ellerman đã từng làm việc ở Việt Namtrong các cơ quan tình báo Hải Quân, cho nên những sự tiết lộ của ông Hảo có liên hệ đến tình hình chánh trị và quân sự không lọt khỏi ông được (9/3). Lập tức ông báo cáo mọi việc cho ông Wolfgang Lehmann. ÔngPhó Đại Sứ xin một phúc trình chi tiết của Dan Ellerman và gởi thẳng cho ông Martin ở Hoa Kỳ . Rất tiếc là ông Đại sứ Martin lại không chú ý chút nào đến sự kiện này (4)

Ngày 12 tháng 3, ông Thiệu gọi ông Nguyễn bá Cẩn đến gặp ông. Ông Cẩn thuộc đảng Dân Chủ của ông Thiệu và hiện là Chủ tịch Quốc Hội. Ông Thiệu muốn lưỡng viện Quốc Hội tuyên bố “tình trạng khẩn cấp” trên toàn quốc để khích động mạnh vào dư luận quần chúng ở Miền Nam.

Rồi ông Thiệu trở lại biến cố quân sự tối khẩn của Miền Nam. Ông sẽ đi ngay đến Bộ Tư Lệnh Vùng II Chiến Thuật ở Pleiku. Cố vấn an ninh của ông can ngăn ông: Phòng không của Bắc Việt rất nguy hiểm , chúng ta không biết hết vị trí của chúng ở đâu, Và ai mà biết được là phi cơ của Tổng Thống có thể bị chiến đãu cơ của Bắc Việt tấn công, xuất phát từ căn cứ Không Quân nằm ngay phía Bắc của vĩ tuyến 17 ? Do vậy ông Thiệu đi gặp tướng Phú ở Cam Ranh, nằm trên bờ biển giữa Pleiku và Sài Gòn.

Sáng ngày 14 tháng 3, ông Thiệu lên chíếc phi cơ DC 6 cùng với Thủ tướng Khiêm, tướng Viên, Tổng Tham mưu trưởng và tướng Quang, cố vấn an ninh của ông. Ông gặp Tướng Phú tại Cam Ranh, không có sự hiện diện của bất cứ một sĩ quan nào khác. Phiên họp được diễn ra trong một ngôi nhà trắng mà người ta đã từng sửa soạn, dự trù để đón tiếp ông Lyndon Johnson năm 1966.

Ở Cam Ranh, người ta cảm thấy xa được không khí chánh trị ồn ào của Sài Gòn và không khí xôn xao của Pleiku. Cam Ranh đã từng là một căn cứ Hải Quân và Không Quân quan trọng của Hoa Kỳ, là một vị trí chiến lược hai chìu. Với Cam Ranh, người ta kiểm soát được một phần lãnh thổ của nước Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, tuần tự Nhật Bản, Hoa Kỳ và Liên Xô ai cũng ngấp nghé Cam Ranh. Hải cảng Cam Ranh có bến nước sâu cho tàu bè vào đậu. Ở Việt Nam, người Mỹ đã xây cấy 55 phi cảng quan trọng, mà phi cảng Cam Ranh là một trong những phi cảng được trang bị tốt nhất. Trong hiện tại, một phần của Cam Ranh không còn được hệ thống ra đa bảo vệ: hệ thống này bắt đầu từ Ban Mê Thuột. Đây là một vị trí hùng vĩ nhưng rất yên tịnh, tuyệt đẹp với những bãi cát trắng dài hàng cây số và san hô dưới biển. Người Mỹ đã có một trung tâm nghĩ mát và giải trí cho binh sĩ của họ tại đây. Họ có thể trượt nước, xem chiếu bóng, thưởng thức món bít tết ngon tuyệt có khi nặng cả nửa kí lô, và các món ăn hải sản như tôm hùm, cua bể, sò huyết v.v.. và sau đó nghỉ ngơi thoải mái trong những phòng ngũ sang trọng trang bị đày đủ tiện nghi, từ máy điều hòa không khí đến hệ thống truyền thanh truyền hình, phòng tắm, nhà vệ sinh,.. Từ sau ngày Hoa Kỳ rút quân về nước, các trung tâm này đã không còn như xưa nếu không muốn nói là đã gần như hoang tàn, nhưng nhìn chung Cam Ranh vẫn còn có một không khí yên tĩnh tuyệt diệu! Trước hết tướng Phú có vẽ mất tinh thần, nóng nảy, trình bày trên bản đồ, vị trí đóng quân của các đơn vị thuộc Vùng II Chiến Thuật của ông. Ông nói:

_ “Tình hình rất xấu trên khắp vùng Cao Nguyên. Tất cả các trục giao thông chính đều bị cắt đứt. Ban Mê Thuột thì đã bị mất rồi. Bây giờ thì Pleiku coi như đang bị bao vây và uy hiếp. Được thấy có thêm nhiều sư đoàn Bắc Việt khác đang xuất hiện. Chúng tôi không có khả năng giữ được Pleiku trong vòng một tháng hay 6 tuần lể nữa.”

Ông Thiệu nghĩ ngay đến chiến lược mới của ông, chiến lược mà ông gọi là “ đầu teo đít to” . người Mỹ dịch lại là “Nhẹ ở trên, Nặng ở dưới”. Ông Thiệu hỏi tướng Phú:

_ “Giờ này chúng ta có thể tái chiếm Ban Mê Thuột được không?

Tướng Phú trả lời quanh co, đòi viện binh, phương tiện chuyển vận và đạn dược. ông Thiệu quay sang tướng Viên. Tổng Tham mưu trưởng không có quân trừ bị, và thiếu trực thăng. Trên giấy tờ, ông có 430 trực thăng, nhưng đã có hơn phân nửa bất khiển dụng, vì thiếu phụ tùng thay thế. Phần còn lại thì có một số bị hỏa tiển Strella, một loại hỏa tiển mới của Liên Xô, bắn hạ hay bị hư hại trong trận chiến ở Phúc Long , Ban Mê Thuột và một vài chỗ khác.

Theo ông Thiệu thì: nếu Miền Nam tái chiếm được Ban Mê Thuột và nếu ông thực hiện được cuộc lui quân lớn theo chiến lược “tái phối trí” của ông thì chúng ta có thể đóng quân lại ở Pleiku và Kon Tum, tạm thời đang được triệt thối.

Một cuộc bàn cãi bắt đầu , trong mơ hồ và lộn xộn. Ông Thiệu thì có cảm tưởng rằng mình đã cho lệnh tướng Phú tái chiếm Ban Mê Thuột. Tướng Phú thì đinh ninh rằng người ta đã cho lệnh ông rút khỏi Pleiku và Kon Tum.

Các cuộc nói chuyện với ông Thiệu được biết là thiếu sự chính xác. Thông thường ông Thiệu có thói quen hay dùng những câu trả lời mơ hồ như: Sẽ coi lại; Tại sao không? Đâu phải là không được?

Có điều chắc chắn là cuộc triệt thoái khỏi Pleiku đã được quyết định. Cả Thủ Tướng và Tổng Tham mưu trưởng không có ai phản đói. Ông Thiệu chấp nhận phải mất Pleiku để cứu Ban Mê Thuột, tướng Phú thì chấp nhận mất Pleiku để cứu Bộ Tư Lệnh Vùng II mà ông sẽ chuyển đến một nơi khác.

Người ta tìm một con đường để rút quân. Con đường tốt nhất là quốc lộ 19 nối liền Pleiku và bờ biển không còn xử dụng được nữa. Quân Bắc Việt đã cắt đứt nó rồi. Hai bên đường là nơi tập trung pháo binh, các đội phòng không, hỏa tiển, và các toán chống chiến xa . Tướng Phú đề nghị dùng một liên tỉnh lộ cũ, đường 7 B. Con đường này dài 200 cây số ngoằng ngoèo lên núi xuống ghềnh, trước kia được thợ rừng xử dụng để đi đến Tuy Hòa, một thị trấn nằm sát bờ biển. Bắc Việt không có kiểm soát và chưa từng kiểm soát con đường này. Lần này quân lực Miền Nam được yếu tố “bất ngờ”. Người ta sẽ cho công binh đi trước. Họ sẽ sửa chửa hay tăng cường vài chiếc cầu. Một lợi thế khác là vùng này không có bao nhiêu cư dân. Và Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa sẽ không bao giờ gặp khó khăn nào với dân chúng ở đây. Các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân sẽ phải ở lại để tiếp tục nhiệm vụ phòng thủ Pleiku và Kon Tum.

(5) Và sau cùng các công chức cũng phải được giữ lại để tránh một sự hoảng loạn cho dân chúng và kế hoạch không bị tiết lộ.(6)

Trong bộ đồ lớn màu xanh đậm, với sơ mi xanh và chiếc cà vạt màu đỏ mà vợ ông quả quyết đó là màu đem lại may mắn cho ông, Thủ tướng Khiêm không có một phản ứng nào về điều này dù là công chức là những người mà ông phải có bổn phận đối với họ. Như thường lệ, ông có vẻ hờn rỗi, bực tức điều gì đó, trong khi ông rất thận trọng, không thích và không bao giờ muốn nói lên ý kiến của mình, thậm chí đến ra lệnh cũng không . Ông rất chậm chạp trong công việc, hay thoái thác và trầm ngâm bất động đến khó hiểu như đang chờ thời vậy. Người ta gán cho ông có tham vọng làm Tổng Thống. Nhưng ông chỉ thích vai trò của nhân vật thứ hai, núp sau lưng Tổng thống mà thôi. Ở đây thực sự ông là một tướng lãnh với 4 sao trên vai, nhưng ông lại có cái mũ của một ông Thủ Tướng. Hai câu trả lời mà ông thích dùng là: “Anh hảy trình thẳng với Tổng Thống đi hay là “Anh hảy xét việc đó với người Mỹ đi ” Do đó mà cả Dinh Độc Lập và sứ quán Mỹ đều thích ông.

Tướng Tổng Tham mưu trưởng trình bày với những sự dè dặt thường lệ của ông. Ông nhắc lại:

_ “Ở Đông Dương này, người Pháp luôn luôn gặp khó khăn trong các cuộc hành quân triệt thối. Cuộc lui binh ở Lạng Sơn được kết thúc bằng một cuộc tàn sát. Hai cánh quân vừa binh sĩ vừa quân xa dưới quyền của hai đại tá Lepage và Charton đều bị tiêu diệt dưới các ngọn đồi dọc theo quốc lộ số 4. Trên một địa hình gần giống như con đường rừng 7 B, một đơn vị thiện chiến của người Pháp là “chiến đoàn lưu động 100″ (GM 100) cũng đã bị đánh tan. Họ bị tiêu diệt trên quốc lộ 14, ở đèo Chu Drek.”

Tướng Phú bàn cãi:

“Dĩ nhiên là bất cứ một thiếu úy nào cũng biết rằng lui binh là một cuộc hành quân khó khăn nhất. Nhưng địa hình địa vật ở trên con đường 7 B xem chừng như thuận lợi hơn trên con đường 19. Hơn nữa, còn có sự yểm trợ của Không Quân.”

Thật ra, họ không còn sự lựa chọn nào khác, không còn có con đường nào khác.

Phiên họp sắp kết thúc. Tướng Phú khẩn khoản xin cho một trong những sĩ quan phụ tá của ông là đại tá Phạm văn Tất, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Biệt  Động Quân, được thăng cấp thiếu tướng. Người sĩ quan này chưa bao giờ tỏ ra là một sĩ quan có khả năng đảm trách một nhiệm vụ chỉ huy quan trọng nào hết. Tướng Viên không biết anh ta. Ông Thiệu lưỡng lự. Tướng Phú là người được tướng Khiêm che chở, và đại tá Tất thì được tướng Phú đỡ đầu. Cần phải để cho ông tướng Tư Lệnh Vùng II có một chút tự do trong quyết định của ông ta, cho nên cả Tổng Thống và Tổng Tham Mưu trưởng đều đồng ý.

Ngay chiều hôm đó, sau khi rời khỏi Cam Ranh, về đến Sài Gòn ông Thiệu dùng cơm tối với Hoàng Đức Nhã. Ông phác họa chiến lược mới của ông, với những lợi và hại của nó cho ông Nhã nghe. Ông nói:

_ “Tướng Phú có xin tôi một lữ đoàn Dù và một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Về lực lượng trừ bị, chúng ta chỉ có non một lữ đoàn Dù. Tướng Phú phải tự xoay sở lấy với những gì ông ta đang có.”

Hoàng Đức Nhã không thích ông Khiêm và không bao giờ đánh giá cao tướng Phú là người do tướng Khiêm đỡ đầu.

Rất mệt mỏi, ông Thiệu thú nhận:

_ “Phú là một tướng lãnh tốt nhưng chỉ tới cấp sư đoàn thôi, tôi không biết ông ta xoay sở thế nào trong nhiệm vụ chỉ huy trưởng của một quân đoàn.”

Ngày hôm sau, ông Thiệu tiếp ông Wolfgang Lehmann và ông không nói gì tới quyết định trọng đại trong phiên họp ở Cam Ranh. Ông muốn dùng chiến trường Ban Mê Thuộtđể tiêu diệt những đơn vị chủ yếu của địch.

Lehmann hỏi:

_ “Liệu ông có thể tập trung đủ lực lượng cho vùng Ban Mê Thuột mà không để trống các Vùng khác?”

_ “Dĩ nhiên đây là một bài toán thật khó. Phải bỏ trống phần chủ yếu phía Bắc của Cao Nguyên.”

Điều bất ngờ này đã làm cho nhân vật số 2 của sứ quán Mỹ lo ngại.

_ “Chiến trận ở Ban Mê Thuột sẽ rất là ác liệt, nó có thể được kéo dài lâu lắm.”, ông Thiệu nói tiếp.

Từ sau ngày ký Hiệp Định Paris, tất cả những người có trách nhiệm ở Miền Nam đều có xu hướng tiết kiệm đạn dược. Ông Thiệu cho ông Lehmann biết là ông đã ra lệnh cung cấp cho tất cả các đơn vị đang chiến đấu ở Vùng II Chiến Thuật, đầy đủ đạn dược mà họ đang cần. Ông cũng đang chờ đợi một cuộc tấn công trực diện nặng nề của Bắc Việt vào khu vực Huế và Đà Nẵng. Và hình như ông cũng thấy là Bắc Việt sẽ tấn công tỉnh Tây Ninh, cách Sài Gòn khoảng 150 cây số về hướng Tây Bắc.

Về đến sứ quán, ông Lehmann yêu cầu vị sĩ quan tùy viên quân lực Hoa Kỳ đến gặp vị Tổng Tham Müu trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để biết nhu cầu thực sự của Miền Nam.

Trong một công điện gởi cho tướng Brent Scowceroft ở Nhà Trắng, ông Lehmann báo cáo về cuộc hội đàm vừa qua với Tổng Thống Thiệu. Ông cũng đã có dự liệu trước trong báo cáo là: “Kontum có khả năng sẽ thất thủ nếu bị Bắc Việt tấn công, và Pleiku cũng vậy nếu bị 2 sư đoàn Bắc Việt tấn kích. Ông Lehmann nói rõ là tướng Phú đã triệt thoái Bộ Tham Mưu của ông về Nha Trang.

Ông Lehmann đã có biện pháp để tất cả những người Mỹ ở Pleiku và Kontum được đưa về Nha Trang. Một điểm chiến lược chót trong công điện: “Các tù binh Bắc Việt trong đó có một thượng sĩ, đều được nhận diện thuộc sư đoàn 341, một trong những sư đoàn trừ bị chiến lược của Hà Nội”

Về phía mình, ông Thomas Polgar cũng có một công điện cho cơ quan tình báo trung ương CIA ở Hoa Thạnh Đốn:

_ “Miền Nam Việt Nam đang đứng trước một trong những khủng khoản trọng đại về quân sự cũng như về tâm lý. Không thể so sánh được với năm 1972. Vì lúc đó Miền Nam Việt Nam còn được sự yểm trợ của quân lực Hoa Kỳ . Bây giờ thì Bắc Việt có quá nhiều phương tiện hơn trước, nên có thể đạt được nhiều kết quả hơn , Và họ đang đạt được nhiều kết quả hơn, với nhiều phương tiện hơn đây. Sức tiến quân của Bắc Việt nhanh hơn và có ảnh hưởng mạnh hơn lúc nào hết, so với bất cứ thời điểm nào của năm 1972.”

Ông Polgar đã có gặp tướng Nguyễn khắc Bình, Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, kiêm Chỉ Huy Trưởng Cơ Quan Tình Báo Trung Ương CIO, một cơ quan hoàn toàn Việt Nam nhưng tương đương với CIA và FBi của Hoa Kỳ. Tướng Bình xác nhận là không tránh khỏi là Bắc Việt sẽ kiểm soát toàn bộ Vùng Cao Nguyên Trung Phần. Theo tướng Bình thì cả ông Thiệu và Chánh Phủ của ông “dù là đã được cải tổ như trong hiện tại, không ai có thể nuốt nổi sự mất mác này. Một suy sụp tinh thần toàn diện đang ló dạng ở chân trời…”

Ông Polgar nói thêm rằng:

-“Mới có một tuần lể đầu của cuộc tổng tấn công mà kế hoạch tồn trử đạn dược và xăng dầu đã bị xáo trộn rồi. Dự trử đạn dược đã khô cạn trước khi năm tài chánh chấm dứt.”

Năm tài chánh của Hoa Kỳ bắt đàu từ tháng 10 năm nay đến tháng 10 năm tới. Ông Polgar nghĩ tới những cuộc tranh luận và quyết định của Quốc Hội về viện trợ bổ túc cho Việt Nam:

_ “Miền Nam Việt Nam sẽ có những khó khăn lớn lao vì quyết tâm của Bắc Việt muốn tìm một giải pháp quân sự, và vì thái độ của Quốc Hội Hoa Kỳ muốn đơn phương chấm dứt hay hạn chế sự viện trợ cho Miền Nam Việt Nam mà không cần biết tới hành động của cộng sản Bắc Việt”.

Không còn nghi ngờ gì nữa về kết quả cuối cùng bởi vì Miền Nam Việt Nam không thể tồn tại được nếu không có viện trợ quân sự của Hoa Kỳ bao lâu mà khả năng của bộ máy chiến tranh của cộng sản Bắc Việt đã chẳng những không được Liên Xô và Trung Quốc hảm lại mà còn được họ thúc đẩy mạnh tới nữa, Vì họ là cấp trên, là cấp chỉ huy trực tiếp của Bắc Việt”

Tất cả người Mỹ ở Sài Gòn dù là dân chính hay quân nhân, đều không một ai được chánh thức thông báo về quyết định của ông Thiệu. Khi họ thấy mình được đặt trước một việc đã rồi thì tướng Homer Smith than phiền với tướng Viên. Ông Tổng Tham mưu trưởng chỉ còn nước giải thích:

_ “Đó là lệnh của Tổng Thống. Ông ấy muốn giữ kín các cuộc hành quân.

Chú Thích của Dịch Giả:

  • Tác giả dùng chữ Việt không dấu chữ nghiêng, nguyên tác “ dau be dit to”.

Dịch giả xin dịch lại cho đúng hơn: “Đầu teo đít to”

  • Đây là luận điệu của cộng sản Bắc Việt, cho đúng với chiêu bài “Chống Mỹ Cứu Nước” mà họ đã tuyên truyền để khích động người dân Miền Bắc. Tác giả Olivier Todd vẫn dư biết điểm này sai hoàn toàn, nhưng có lẻ tác giã muốn nói lên tư tưởng và quan niệm về cuộc chiến của người cộng sản Miền Bắc lúc bấy giờ. Tác giả vẫn biết rất rõ là quân lực Hoa Kỳ đã rút hết về nước ngay từ sau ngày 28 tháng giêng năm 1973, sau khi Hiệp Định Paris có hiệu lực. Thời điểm mà tướng Dũng đặt Bộ Chỉ Huy tại Cao Nguyên cho chiến dịch 275 để tiến chiếm Miền Nam là tháng 3 năm 1975, tức là thời điểm không còn một binh sĩ Hoa Kỳ nào trên khắp lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa vì họ đã rút hết quân về nước từ hơn 2 năm mấy tháng rồi!
  • Người dân Miền Nam gọi họ là “Đồng Bào Thượng” hay “Dân Tộc Thiểu Số”, trong khi người dân Miền Bắc thì gọi họ là “Dân Tộc Ít Người”
  • Theo tác giả Olivier Todd thì cuộc tiếp xúc giữa Phó Thủ Tuớng Nguyễn văn Hảo và ông Dan Ellerman xảy ra vào ngày 9/3/75, còn ý định “tái phối trí chiến lược” của ông Thiệu chắc chắn phải có từ trước ngày 9/3, nên cả Thủ tướng Khiêm và Phó Thủ tướng Hảo mới biết được. Có nghĩa là trước ngày Ban Mê Thuột bị tấn công (10/3/75)?
  • Bắt các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân (phần lớn là đồng bào Thượng) phải ở lại với trách nhiệm phòng thủ Pleiku và Kontum là một điều đáng bị phê phán, nếu không muốn nói là quá vô trách nhiệm của Vùng II.
  • Bắt buộc các công chức người Việt Nam phải ở lại mới chính là nguyên nhân tạo sự hoảng loạn.