Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

Post on June 3rd, 2021

Post by Sơn râu 17 Apr 2024

(Kỳ 15)

Hải quân Đồng Minh trên biển Java dưới quyền Đề đốc Hòa Lan Karel Doorman bao gồm 2 tuần dương hạm nặng Houston (US) & Exeter (GB), 3 tuần dương hạm nhẹ (De Ruyter, Java (Hòa Lan), Perth (Úc)) và 11 khu trục hạm (2 Úc, 3 Hoa Kỳ, 3 Anh, 3 Hòa Lan).

Đệ Nhị Hạm Đội Nhật dưới quyền chỉ huy của Phó Đô đốc Nobutake Kondo chia làm hai đạo.

Hải đoàn Hộ tống phía Tây dưới quyền Đề đốc Takeo Kurita gồm:

4 tuần dương hạm nặng Mogami, Mikuma, Kumano, Suzuya

3 tuần dương hạm nhẹ Sendai, Natori, Yura

23 khu trục hạm thuộc Phân Hải đoàn 3 và 5

56 dương vận hạm (Đề đốc Akisaburo Hara chỉ huy nhóm tàu vận tải).

Hải đoàn Hộ tống phía Đông dưới quyền Đề đốc Takeo Takagi gồm:

2 tuần dương hạm nặng Nachi, Haguro.

Phân Hải đoàn 2 của Đề đốc Raizo Tanaka:

1 tuần dương hạm nhẹ Jintsu

7 khu trục hạm.

Phân Hải đoàn 4 của Đề đốc Shoji Nishimura:

1 tuần dương hạm nhẹ Naka

7 Khu trục hạm

4 tàu dò mìn

2 tiểu đĩnh

41 dương vận hạm.

Trung tá Tameichi Hara với khu trục hạm Amatsukaze thuộc Phân Hải đoàn 2. Ngoài ra còn Đệ Tam Hạm Đội yểm trợ từ xa của Phó Đô đốc Takahashi với 2 tuần dương hạm nặng Ashigara, Myoko và 2 khu trục hạm. (Xem Bernard Millot, Le Déferlement Japonais, trang 104, Nxb Robert Laffont 1968)

Nhìn chung lực lượng Nhật đông gấp bội Đồng Minh, tuy nhiên trận chiến ban đầu đã diễn ra giữa Hải đoàn Hộ tống phía Đông của Đề đốc Takagi với Hải lực của Đề đốc Doorman, tương quan khá cân bằng. Chương 15 cho thấy thủy chiến thường vô cùng rối rắm đầy bấp bênh, làm liên tưởng đến khó khăn của hải quân VNCH trong hải chiến Hoàng Sa 1974. [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương XV

Mười phút sau cuộc oanh tạc của pháo đài bay B17, đoàn tàu xoay 90 độ tiến đến Surabaya và chỉ còn cách 60 dặm. Từ đầu chúng tôi đã tiến thẳng về hướng Tây, có tánh cách nghi binh. Không lâu sau, một thám thính cơ Nhựt xuất phát từ Balikpapan báo cáo: “5 tuần dương hạm và 6 khu trục hạm địch đã rời Surabaya 63 dặm, hướng 310 độ, lúc 12 giờ trưa. Hiện thời lực lượng này xoay hướng 80 độ, tốc lực 12 hải lý.”

Chiếc Nachi 12,374 tấn, một trong hai tuần dương hạm nặng theo phía sau chúng tôi, lập tức phóng thủy phi cơ thám thính theo dõi nhóm tàu của địch. Một việc đáng kinh ngạc theo báo cáo của phi cơ, là nhóm tàu này đã tiến gần và hiển nhiên nhắm vào hải đoàn chuyển vận của chúng tôi. Có phải địch quân mưu định tấn công? Chúng tôi chờ đợi báo cáo tiếp theo.

Hai giờ dài dằng dặc trôi qua. Lúc 2 giờ 5, thủy phi cơ của Nachi báo cáo một hạm đội gồm 5 tuần dương hạm và 10 khu trục hạm (thay vì 6 như báo cáo đầu tiên) đang tiếp tục hướng đến. Kể cả 2 tuần dương hạm của chúng tôi ở phía sau, lực lượng của địch vẫn còn trên chân chúng tôi. Ðề đốc Takagi ra lịnh cho hải đoàn xoay về hướng Bắc. Cơn nóng miền nhiệt đới không gây cho tôi cảm giác khô ran nào. Ngược lại mồ hôi lạnh chảy ướt lưng. Nếu địch gia tăng đà tiến, họ dễ dàng xé đoàn tàu của chúng tôi ra từng mảnh và nhận chìm các dương vận hạm, chẳng khác nào đập những con bồ câu bằng đất. Tôi cảm thấy nao núng. Tôi tự hỏi tại sao hạm đội địch lại không tăng gia tốc tiến đến nhanh hơn? Lúc 3 giờ 10, thám thính cơ gởi về một báo cáo đáng ngạc nhiên: “Hạm đội địch xoay hướng trở về Surabaya.”

Ðề đốc Takagi đứng trên đài chỉ huy của soái hạm Nachi đã cười to: “Chẳng là tàu chiến địch rời khỏi Surabaya để tránh bị các cuộc không tập của chúng ta dọn sạch. Ðịch không còn lòng dạ nào mưu đánh chúng ta. Kế hoạch và thời biểu của chúng ta vẫn tiếp tục. Hải đoàn trực chỉ hướng Nam!”

Lúc 4 giờ 30 chiều, một báo cáo gây kinh ngạc khác của thám thính cơ: “Tàu địch lại xoay về hướng cũ, đội hình phân tán trước đó bây giờ nhập chung làm một, gia tăng tốc lực và chạy về hướng 20 độ.” Mười phút sau lại một báo cáo khác: “Tốc độ của tàu địch là 22 hải lý, hướng thẳng về hải đoàn chúng ta!”

Ý định của địch quân không còn ngờ vực gì nữa. Tôi xem hải đồ và nhận thấy tàu địch còn cách chúng tôi 60 dặm. Nếu cả hai bên chạy với tốc độ 20 hải lý thì chỉ trong một giờ rưỡi nữa sẽ gặp nhau.

Takagi, thình lình gắt gỏng và giận dữ, đã ra lịnh cho hải đoàn chuyển hướng một lần nữa. Ông cũng ra lịnh 2 tuần dương hạm phía sau tung hết phi cơ thám thính lên và các chiến hạm hộ tống dàn đội hình chiến đấu. Ðồng thời 2 tuần dương hạm nặng Nachi và Haguro gia tăng tốc lực để bắt kịp đoàn tàu đi trước. Trận thư hùng sắp diễn ra.

Phân Hải đoàn 2 Khu trục hạm của chúng tôi lập tức kết hợp thành một nhóm và chạy theo đội hình hàng dọc, dẫn đầu là tuần dương hạm nhẹ Jintsu. Các dương vận hạm cũng đổi hướng, chạy theo đội hình cánh quạt, nhưng vẫn với tốc độ chậm chạp. Hầu hết các dương vận hạm này là tàu buôn bị trưng thu và thủy thủ không được huấn luyện nên nhìn cách di chuyển lộn xộn của họ mà bực mình. Nhiều chiếc tỏ ra ngơ ngác trước các lịnh lạc thay đi đổi lại và không thể thi hành một cách nhanh chóng được.

Nhưng đáng giận hơn cả là việc 2 tuần dương hạm hạng nặng Nachi và Haguro đến chậm, vì chạy cách 150 dặm phía sau. Mỗi chiếc tàu này võ trang mạnh mẽ gấp mười chiếc khu trục hạm. Hai chiếc Nachi và Haguro mỗi chiếc trang bị 10 hải pháo 203 ly trong lúc tuần dương hạm nhẹ Jintsu chỉ có 7 hải pháo 140 ly và mỗi khu trục hạm chúng tôi chỉ có 6 hải pháo 127 ly. Nếu không có chúng, tôi thấy không có cách nào chống chọi lại lực lượng hùng hậu của địch quân. Nếu tàu địch tăng gia tốc 30 hải lý, chúng sẽ đến trong nháy mắt. Nếu việc này xảy ra thì chúng tôi sẽ làm gì?

Vào 5 giờ chiều, tình trạng lộn xộn giảm bớt khi các tàu chuyển vận đã kết hợp xong đội hình và được các tiểu đĩnh và ngư lôi đĩnh hộ tống. Phía sau hải đội của tôi, 4 khu trục hạm khác cũng lập đội hình chiến đấu. Phân Hải đoàn 4 của Ðề đốc Shoji Nishimura, gồm tuần dương hạm nhẹ Naka và 7 khu trục hạm, được dàn ở phía sau. Các tàu chiến Nhựt hiện tại chạy với tốc độ 24 hải lý sẵn sàng chiến đấu. Tôi nhìn về phía chân trời, không thấy bóng dáng 2 tuần dương hạm nặng của chúng tôi ló dạng. Tôi bực tức rủa thầm.

“Tàu địch!”, tiếng la của Chuẩn úy Shigaru Iwata, trưởng canh trên đài chỉ huy. Iwata có nhãn lực cực tốt. Nhìn theo hướng anh ta chỉ, tôi thấy nhiều cột buồm nhô lên ở phía Nam và trong nháy mắt mọi người đều nhìn thấy rõ rệt.

Qua hình dáng cột buồm này, tôi biết đó là tuần dương hạm De Ruyter của Hòa Lan. “De Ruyter cách xa 28,000 thước. Ðang tiến nhanh đến chúng ta!” Iwata xổ một câu có vần điệu theo nghề nghiệp.

Chiến pháp Crossing the T

Tôi xoay nhìn lại phía sau. Nachi và Haguro vẫn biệt tăm, chỉ có các tàu chuyển vận chạy như rùa bò. Tôi ra lịnh: “Xạ thủ và ngư lôi sẵn sàng! Mục tiêu là tuần dương hạm dẫn đầu của địch!”

Mọi tiếng động trên khu trục hạm của tôi thình lình im bặt. Chúng tôi đang đâu mặt với trận hải chiến quan trọng đầu tiên. Tiếng kêu của Iwata phá vỡ im lặng: “Hạm Trưởng! Nhìn kìa… Nachi và Haguro!” Tôi xoay lại và thấy bóng dáng được trông đợi mỏi mòn hiện lên ở chân trời phía Ðông. Cả 2 tuần dương hạm nặng của chúng tôi đều còn cách thật xa, nhưng có thể chưa muộn. Tốt! Tôi gật đầu. Lúc ấy là 5 giờ 30 chiều.

Các chiến hạm địch thình lình xoay về hướng Tây và bắt đầu chạy song song với chúng tôi. Ðây là một biến cố khó giải đoán khác. Ðịch quân chắc chắn đã nhìn thấy hải đoàn của chúng tôi, nhưng tại sao không đâm thẳng vào? Qua hướng tiến trước đó, các chiến hạm địch có thể áp dụng đội hình chữ T vô cùng thuận lợi, giúp địch chọn lựa các mục tiêu một cách rộng rãi hơn trong khi chỉ nhận lại hỏa lực phản pháo một cách giới hạn từ vị trí của chúng tôi. Chiến pháp này hải quân Ðồng Minh gọi là “Crossing the T”.

Với sự chuyển hướng vừa rồi, địch quân cho phép chúng tôi mua thời gian. Lúc ấy khoảng cách giữa hai hải lực là 36,000 thước. Khi nhìn thấy cảnh tượng này Ðề đốc Takagi vui mừng: “Bây giờ các chiến hạm của chúng ta có thể tóm lấy các chiến hạm của địch!” Lúc 5 giờ 46, lịnh chiến đấu của Takagi ban ra: “Khai triển 3 hàng dọc! Hướng 170 độ! Chuẩn bị khai hỏa!”, tức hướng Nam. Lịnh tiếp theo: “Khai hỏa tự do!”

Một phút sau đó, tuần dương hạm nhẹ Naka pháo vào địch quân với khoảng cách 22,000 thước, quá xa đối với các trọng pháo 140 ly mà tầm bắn hiệu quả là 16 ngàn thước, với đầu đạn 38 ký và nhịp bắn 5 quả mỗi phút. Tôi càu nhàu vì bực mình. Làm sao Takagi không am hiểu chuyện đó?

Chứng tỏ sự bối rối, Takagi thay đổi lịnh nhanh chóng: “Giữ hướng song song với địch”. Tuần dương hạm nhẹ Jintsu và các khu trục hạm cùng nhóm được lịnh tách ra và di chuyển dọc theo lực lượng chánh về hướng Tây, cách khoảng 10,000 thước. Các khẩu pháo 140 ly của Jintsu khai hỏa vào chiếc De Ruyter khi còn cách mục tiêu 18,000 thước. Phí đạn vô ích! Vẫn quá xa! 4 khu trục hạm có vẻ nôn nóng và vẫn với khoảng cách đó các khẩu 127 ly của chúng lên tiếng, nhưng cũng vô hiệu. Các trọng pháo 203 ly của Nachi và Haguro xuất trận, trong khoảng cách 25,000 thước, nhưng chẳng hơn gì các đàn em. Tầm xa tối đa của hải pháo 203 ly là 18 cây số, hiệu quả chính xác là 15 ngàn thước với nhịp bắn 2 phát mỗi phút ở khẩu độ 30°. Làm sao các “huynh trưởng” các khóa đàn anh của tôi không biết? Vì quá nóng nảy!

Nhóm chiến hạm của Ðồng Minh lập tức chạy lảng ra xa về hướng Tây Nam, gia tăng khoảng cách với các chiến hạm của chúng tôi. Trọng pháo địch bây giờ mới lên tiếng, nhưng chúng cũng không bắn xa hơn trọng pháo của chúng tôi. Lúc 6 giờ 5, Ðề đốc Shoji Nishimura, Tư lịnh Phân Hải đoàn 4 Khu Trục hạm có vẻ như không còn kiên nhẫn trước cuộc đấu súng vô bổ giữa đôi bên. Tuần dương hạm nhẹ Naka, soái hạm của Nishimura và 7 khu trục hạm khác của ông cùng phóng một lượt 43 quả ngư lôi vào các chiến hạm địch, ở khoảng cách 15,000 thước.

Các ngư lôi lao đi như mũi tên, chạy bằng khí đặc, vũ khí kiêu hãnh của Hải quân Hoàng gia Nhựt mà Hoa Kỳ gọi là “Lưỡi giáo dài”, có thể hướng đến mục tiêu cách xa 40,000 thước với tốc độ 36 hải lý. Nhưng với khoảng cách xa như thế, loại ngư lôi này khó thể hy vọng trúng các mục tiêu di động. Những ngư lôi của Nishimura bỗng nhiên nổ tung khi lướt đi một vài ngàn thước. Không giải thích được tại sao chúng lại nổ? Có thể là do trục trặc kỹ thuật hoặc một số này va chạm vào một số khác gây ra tiếng nổ dây chuyền? Lại hoang phí thêm. Nhưng ít ra tầm xa và tốc độ của những trái ngư lôi loại mới này cũng đã gây kinh ngạc cho các sĩ quan Ðồng Minh khiến cho tinh thần của họ sút giảm trầm trọng.

Sau các đợt tấn công ngư lôi của chúng tôi, các chiến hạm Ðồng Minh lại xoay về hướng Nam. Vào lúc 6 giờ 27, 8 phi cơ Ðồng Minh xuất hiện, ở độ xa 20 dặm, hướng về phía các dương vận hạm của chúng tôi. Nhưng 12 chiến đấu cơ của Nhựt được chúng tôi gọi từ khi các chiến hạm tách rời khỏi đoàn tàu chuyển vận, cất cánh từ phi trường Balikpapan, đến kịp lúc để chận đầu 8 oanh tạc cơ địch. Cả 8 oanh tạc cơ Hòa Lan đều bị chiến đấu cơ Nhựt bắn hạ mà không kịp nhả một trái bom nào. Trời u ám, chỉ thỉnh thoảng vài tia nắng xuyên qua các đám mây. Hoàng hôn xuống thật nhanh và mặt trời khuất dạng hẳn vào lúc 7 giờ 50. Vào lúc 6 giờ 33, Ðề đốc Takagi quyết định phải tiết kiệm đạn dược và ông cũng đoán có thể địch quân lợi dụng đêm tối để tẩu thoát nếu trận chiến cứ tiếp tục trong tình trạng này. Ông ra lịnh cho tất cả chiến hạm: “Áp sát và đánh dàn mặt với địch!”

Hạm đội địch lại xoay ngược về phía trái và bây giờ chạy theo hướng chánh Tây. Trên soái hạm Nachi của Takegi lá cờ “Mắt đổi mắt – Răng đổi răng” đã kéo lên. Các chiến hạm Nhựt đồng loạt xoay theo hướng Tây, càng lúc càng gần thêm rồi các trọng pháo bắn không ngừng nghỉ. Bốn phút sau, tuần dương hạm nặng Exeter của Anh phát hỏa, gây hỗn loạn trong hàng ngũ địch. Các chiến hạm Ðồng Minh phun khói che cho chiếc Exeter. (Sau này chúng tôi biết một quả 203 ly của chiếc Nachi hoặc Haguro đã trúng hầm chứa đạn của Exeter). Exeter ở vị trí thứ hai trong đoàn tàu của Ðồng Minh giảm hẳn tốc độ và chậm chạp lê thân ra khỏi nhóm tàu bạn, hiển nhiên là để tránh va chạm với tuần dương hạm nặng Houston của Hoa Kỳ đang ngay phía sau.

Một hiện tượng gây ngạc nhiên là khi chiếc Houston xoay mũi về phía trái, để rời đội hình, tất cả các chiến hạm khác của địch cũng làm theo nhưng soái hạm De Ruyter của Ðề đốc Doorman vẫn tiếp tục chạy thẳng về phía trước. Một vài phút sau, chiếc De Ruyter mới biết là đã chạy đơn độc nên quay lại, và lúc xả hết tốc lực để kết hợp với các tàu bạn, chiếc tàu này đã suýt đụng phải một khu trục hạm của phía họ.

Diễn biến bất ngờ này gây rối loạn hàng ngũ địch quân và cho phép chúng tôi tiến đến gần hơn. 8 khu trục hạm Nhựt, trong đó có tàu của tôi, đổ xô về phía nhóm tàu Ðồng Minh với tốc độ 30 hải lý. Ðịch quân tổ chức lại hàng ngũ, bỏ mặc chiếc Exeter chạy khập khễnh ở phía sau, tất cả các miệng súng đều khai hỏa đồng loạt về phía chúng tôi.

Còn cách hạm đội địch 7,000 thước, khu trục hạm Tokitsukaze (Thuận Thiên), chạy phía trước Amatsukaze một chút, đã lãnh một quả đại bác. Khói trắng từ chiếc Tokitsukaze bốc lên bao phủ hoàn toàn chiếc Amatsukaze của tôi. Ðạn rơi chung quanh như mưa, những cột nước mọc lên mọi phía tựa các trụ trời khổng lồ nhưng không quả nào trúng tàu của tôi. Tôi nghiến răng và ra lịnh hướng thẳng Amatsukaze vào tầm súng của địch. Tôi phải tiến sát hơn, vì như vậy mới mong các quả ngư lôi của tôi hữu hiệu. Tôi quát: “Hết tốc lực!”

52,000 mã lực của chiếc Amatsukaze gầm lên, tạo ra những đợt sóng trắng xóa xẻ dọc hai bên mạn tàu. Các làn nước từ các cột nước do hải pháo của địch gây ra dập xuống khoang trước khi bắn tung lên. Tôi thét: “Công suất tối đa!” Chiếc Amatsukaze lao tới với vận tốc 35 hải lý.

Hạm đội địch lúc đó vẫn chạy hướng Tây Bắc, tức đâm thẳng vào chúng tôi. Ðây là hành động có tánh cách tấn công đầu tiên trong ngày của địch quân. Bây giờ tôi chỉ còn cách mục tiêu 6,000 thước, tay vịn chặt chấn song đài chỉ huy, sóng biển ướt đẫm mặt tôi. Chưa được, phải gần thêm nữa, phải cách mục tiêu ít nhứt 5,000 thước. Tàu của tôi lúc ấy đã áp sát tầm súng của địch quân và không biết bị bắn trúng lúc nào.

Lúc 7 giờ 27 tối, Ðề đốc Raizo Tanaka ra lịnh cho tuần dương hạm Jintsu của ông phóng 8 ngư lôi. Khi các con cá của Jintsu thoát ra khỏi ống, tôi đã cố gắng lắm mới không ra lịnh phóng. Một quả đạn địch nổ gần đã chạt nước khắp mặt tôi. Tôi cảm thấy hoàn toàn bất an, ngay cả hiện tại tôi vẫn còn mang cảm giác này. Sự bất an không giống thái độ hèn nhát, nhưng giống như máu lạnh trong tôi tự nhiên tan loãng dưới hỏa lực của các tàu chiến địch quân.

Tôi nhìn thấy 16 ngư lôi của 2 khu trục hạm Yukikaze và Tokitsukaze lướt trên mặt nước. Tôi bị kích thích cực độ và hét to: “Ngư lôi! Phóng!”. 4 khu trục hạm khác cũng bắt chước theo Amatsukaze. Tôi đã tính toán điều kiện chính xác của ngư lôi và nhận thấy ở 6,000 thước rất khó trúng một trăm phần trăm, nhưng theo tôi chỉ sai chạy dưới 5 phần trăm là cùng, nghĩa là 72 trái ngư lôi chỉ có khoảng 3 quả ra ngoài mục tiêu. Nhưng tính toán này của tôi đã sai lầm biết bao.

Các ngư lôi lao như tên bắn nhưng hạm đội địch đã nhanh nhẹn xoay về hướng Tây, và tôi nhận thấy ít ra hết phân nửa số ngư lôi do tàu của tôi phóng ra đã xuyên qua khoảng trống giữa các chiến hạm địch đang lướt qua. Các quả còn lại đến mục tiêu, nhưng chỉ có một quả phát nổ. Quả này trúng khu trục hạm Kortenaer của Hòa Lan. Chiếc tàu chìm cấp kỳ. Như vậy 72 quả ngư lôi của chúng tôi chỉ có một quả của tôi là chính xác. Phóng tệ như thế là cùng. Chiến thuật tránh né của tàu địch quả là tuyệt vời.

Tuần dương hạm nhẹ Naka và 7 khu trục hạm của Ðề đốc Shoji Nishimura hiện đã đến và đồng loạt phóng 64 quả ngư lôi. Hạm đội địch lại xoay hướng 90 độ về phía Bắc, một lối di động kỳ dị và không đúng quy tắc, nhưng khiến cho tất cả 64 ngư lôi đều lạc hướng. Bây giờ địch quân lại xoay thêm 90 độ nữa và cả hạm đội của họ đều ẩn trong một màn khói nhân tạo dày. Chiến pháp này của địch không hề nghe nói đến trong sách vở. Tôi đứng bất động và sững sờ.

Một quả trọng pháo của địch trúng khu trục hạm Asagumo (Mây Sáng) khiến 5 thủy thủ thiệt mạng và 19 người bị thương, chiếc tàu này bị loại khỏi vòng chiến một thời gian.

Sau khi phóng ngư lôi, Phân Hải đoàn 2 của chúng tôi dưới quyền Ðề đốc Tanaka và Phân Hải đoàn 4 của Ðề đốc Nishimura, mỗi phân đội tẽ ra mỗi hướng, chạy theo hình vòng cung. Khoảng cách giữa chúng tôi và địch quân nới rộng. Tuy nhiên hành vi của Ðồng Minh đêm nay đã gây khó hiểu cho chúng tôi. Sau khi đã xoay hẳn 360 độ, tàu địch bây giờ gia tăng tốc lực và chạy dưới sự bao che của các màn khói nhân tạo mù mịt, nhưng sau đó lại xoay thêm hai lần 90 độ nữa và chạy thẳng về phía Bắc. Ý định của hạm đội Ðồng Minh không thể nào đoán nổi. Có lẽ họ vẫn còn mưu định tấn công hải đoàn vận tải của Nhựt Bản.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

Post on May 27th, 2021

Post by Sơn râu 17 Apr 2024

(Kỳ 14)

“Chà Và” là biến âm trong tiếng Việt của chữ Java, một đảo lớn ở cực Nam Indonesia. Cũng là tên của trận thủy chiến quan trọng đầu tiên mở màn chiến tranh Thái Bình Dương. Vì sao Java? Vì cùng với bán đảo Malacca kéo dài xuống chuỗi đảo Sumatra rồi kết hợp với dãy đảo Timor làm nên Rào Chắn Mã Lai – The Malay Barrier (còn gọi East Indies Barrier). Với Bộ Tư Lệnh Liên quân Đồng Minh (The American-British-Dutch-Australian (ABDA) Command), việc giữ Rào Chắn Đông Ấn trở nên bắt buộc nếu muốn ngăn Nhật tràn sang Ấn Độ Dương và xuống Úc châu. Với Tổng Hành Dinh Nhật, việc chiếm Java là phá mắt xích quan trọng nhất nằm chính giữa rào chắn đó. Java cũng còn là thủ phủ của xứ Nam Dương với trữ lượng dầu hỏa to lớn. Cuộc tấn công của Nhật chia làm hai hướng chính: Hải đoàn phía Tây (Groupe Occidental) xuất phát từ Cam Ranh đi xuyên qua Sumatra tiến xuống Batavia và Hải đoàn phía Đông (Groupe Oriental) đi xuyên qua Phi Luật Tân xuống Surabaya. Trung tá Tameichi Hara thuộc Hải đoàn phía Đông. [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương XIV

Vào ngày 27 và 28 tháng 2 năm 1942, tôi tham dự trận đánh ở biển Java. Ðây là một trong vài trận hải chiến quan trọng hồi đệ nhị thế chiến, được xem là vang danh, nhưng không hề có một chiến đấu cơ nào tham chiến. Vì vậy, trận hải chiến này đáng được mô tả và phân tích đầy đủ.

Ðã có nhiều sách viết về trận này. Hầu hết các quyển sách của Ðồng Minh viết gấp rút ngay sau khi chiến tranh kết thúc, nên các tác giả hình như đã vượt quá giới hạn của chứng liệu lịch sử và sự trung tính. Nguyên nhân là vì hầu hết các sỹ quan Ðồng Minh ở biển Java đều đã chết trận nên khó thâu thập chi tiết. Về phía Nhựt, cũng chẳng hơn gì. Các quyển sách được viết ra đều gây cảm giác thiếu trung thực và chính xác. Do các cấp chỉ huy sau bại trận đã thối chí, nên không đủ can đảm cung cấp những dữ liệu khách quan của trận đánh mà họ tham dự. Ðề đốc Takeo Takagi, tư lịnh Nhựt trong cuộc hải chiến này đã thiệt mạng ở Saipan vào năm 1944. Hai sỹ quan cao cấp còn sống, là Ðại tá Nagasawa tham mưu trưởng của Takagi, hiện là Tổng Tư lịnh Tân Hải quân Nhựt, và phụ tá của Nagasawa là Thiếu tá Kotaro Ishikawa từng là sỹ quan tình báo của Takagi. Tôi đã đến gặp và thảo luận khá lâu với họ, cũng như với một số người liên quan còn sống sót trước khi viết chương này.

Trong thủy chiến Java, thoạt đầu lực lượng Ðồng Minh bao gồm 3 tuần dương hạm nặng, 2 tuần dương hạm nhẹ và 11 khu trục hạm cố gắng bao vây và tiêu diệt 41 dương vận hạm chạy chậm chạp vì chở cả một sư đoàn bộ binh và các tàu hộ tống của chúng tôi (gồm 10 khu trục hạm và 2 tuần dương hạm nhẹ). Ngoài ra Nhựt còn có 2 tuần dương hạm nặng được cắt đặt trong cuộc chuyển vận này nhưng cả hai cách phía sau 150 dặm.

Với tất cả lợi thế và lực lượng vượt trội nhưng Ðồng Minh đã không đánh chìm được một tàu chiến nào của Nhựt. Theo thiển ý của tôi thì tinh thần là yếu tố thực sự quyết định cuộc đụng độ này, và có thể lấy yếu tố đó để so với cuộc đụng độ ở vịnh Leyte vào năm 1944 sau này; Phó Ðô đốc Takeo Kurita đã đóng một vai trò giống hệt như Ðề đốc Hòa Lan Doorman đã đóng trong trận đánh ở biển Java.

Ở vịnh Leyte Phi Luật Tân, Phó Ðô đốc Kurita đã dồn hẳn 4 hàng không mẫu hạm Mỹ vào rọ và ông chỉ còn giơ tay đấm xuống nữa là xong. Nhưng chỉ vì một chút ngần ngừ, ông đã mất dịp may bằng vàng. Ðó là những gì mà hạm đội Ðồng Minh vấp phải ở Java. Kurita đến Leyte với sự quyết tâm, nhưng đồng thời cũng ý thức là ông không hề có một cơ may chiến thắng nào trước lực lượng quá đông của Hoa Kỳ. Ðó là nguyên nhân gây ra sự ngần ngừ khi ông giơ cú đấm để giáng xuống.

Vào tháng 2 năm 1942, một không khí tuyệt vọng bao trùm lấy Ðồng Minh ở Surabaya. Họ thấy ít dịp may chiến thắng. Mười lăm tàu chiến Ðồng Minh vá víu lại các vết thương và tất cả đều biết số phận sẽ định đoạt trong vòng một tuần lễ, khi quả đấm cuối cùng của Nhựt tung ra. Các vị chỉ huy Ðồng Minh nhớ lại cuộc tấn công Trân Châu Cảng và hai thiết giáp hạm Prince of Wales và Repulse bị đánh chìm hai tháng trước đó. Thoạt đầu họ không tin những gì nghe được. Nhưng sự thực vẫn là sự thực. Tân Gia Ba rơi vào tay Nhựt và cuộc xâm chiếm toàn thể lãnh thổ Phi chỉ còn ngày một ngày hai. Lực lượng Nhựt cuồn cuộn lướt về phía Nam. Ðồng Minh bỏ hết tiền đồn này đến tiền đồn khác. Họ biết Lực lượng Ðặc nhiệm hùng hậu của Hải quân Nhựt, dưới quyền Phó Ðô đốc Chuichi Nagumo, đã di chuyển đến các hải vực Nam Thái Bình Dương. Trước mặt họ, lực lượng này chẳng khác nào một siêu hạm đội khổng lồ. Họ không có cách nào để biết sứ mạng đích thực của Nagumo, và Nhựt có bao nhiêu hàng không mẫu hạm cả thảy? Phần lớn sự bối rối lan tràn trong hàng ngũ sỹ quan địch có lẽ do việc không thể đoán được phi cơ Nhựt đã xuất phát từ đâu.

Các cuộc không tập ồ ạt ở Phi Luật Tân, xảy ra vài giờ sau cuộc tấn công Trân Châu Cảng, được địch quân tin tưởng đã xuất phát từ hàng không mẫu hạm. Sự thực, phi cơ Nhựt cất cánh từ Ðài Loan. Một loạt oanh tạc trên đảo Java là do phi cơ ở các sân bay Jolo, Balikpapan và Kendari nhưng các sỹ quan Ðồng Minh ở Surabaya lại cho rằng những phi cơ này xuất phát từ các tàu sân bay.

Vào ngày 1 tháng 12, một Task Force nhỏ của Hoa Kỳ đã tấn công quần đảo Marshall phía Ðông Nam- Dương. Từ Truk, Nagumo cấp tốc vượt 1,500 dặm hướng về Marshall. Ðồng Minh nghe tin này đã cho rằng con đường tấn công vào lãnh thổ Nhựt đang quang đãng, vì vậy 4 tuần dương hạm và 7 khu trục hạm của họ tiến đến Balikpapan phía Ðông Bắc Java, hy vọng gây “sửng sốt” cho Nhựt Bản.

Thời gian này Nhựt không ngủ quên. Vào ngày 4 tháng 2-1942, từ Ðài Loan, 60 oanh tạc cơ Nhựt cất cánh chận đường và nhào xuống xâu xé các chiếm hạm Ðồng Minh ở Kendari. Các chiến hạm này lê lết trở về Surabaya. Ðồng Minh choáng váng và tin rằng những phi cơ tấn công đã xuất phát từ hàng không mẫu hạm.

Một  biến cố khác, khó tiên liệu đối với xét đoán của Tổng Hành Dinh Ðồng Minh ở Surabaya, nhưng vẫn diễn ra. Là vào ngày 19 tháng 2, tin tình báo của Ðồng Minh cho biết Nagumo đang tiến về Marshall, bỗng nhiên xoay hướng về Úc Ðại Lợi. Sáng hôm đó, Nagumo đã tung 188 phi cơ tấn công ồ ạt hải cảng Darwin. Vào buổi trưa cùng ngày, 23 chiến đấu cơ Zéro của Nhựt gầm thét trên không phận Surabaya và bắn rơi 40 chiến đấu cơ của Ðồng Minh, hầu hết là loại P36 Hawk, trong một trận không chiến ngắn ngủi. Cho dù tình báo của Ðồng  Minh ở Balikpapan đã báo cáo chính xác rằng các phi cơ Nhựt đã vượt 450 dặm từ các sân bay ở Ðài Loan đến Nam Dương, sỹ quan Ðồng Minh ở đây vẫn không tin. Vẫn nghĩ phi cơ Nhựt cất cánh từ tàu sân bay.

Buổi chiều cùng ngày, một số oanh tạc cơ Nhựt lại cất cánh từ Kendari (Ðông Nam đảo Sulawesi) bay đến giội bom một phi trường bí mật của địch ở Djombang, gần Surabaya, hủy diệt hàng chục oanh tạc cơ và khu trục cơ Curtiss P40, cả những con trâu cổ Brewster Buffalo của Hoa Kỳ và chiến đấu cơ Hurricane của Anh. Các chiếc Zéro của Nhựt đã nhanh chóng gặt hái sự “ngưỡng mộ kính nể” của địch quân. Khi phi cơ Nhựt đã ra tay thì không nạn nhân nào thoát khỏi, ngay cả các chiến hạm “kiêu hãnh nhứt” của đế chế Anh. Và, như các chiến hạm Anh, số phận thuyền chiến Úc-Mỹ-Hòa Lan ở Surabaya không biết sẽ định đoạt lúc nào.

Rút kinh nghiệm này, các cấp chỉ huy Ðồng Minh đã đắn đo trên các tin tình báo mới nhứt của họ vào ngày 20 tháng 2, cho biết hai hải đoàn vận tải khổng lồ của Nhựt đang hướng về Java. Sự thực, ngày trước đó, 41 dương vận hạm với 20 hộ tống hạm Nhựt rời Jolo tiến đến Surabaya. Hai ngày trước nữa, một đoàn tàu khác gồm 56 dương vận hạm với 15 hộ tống hạm rời Cam Ranh trực chỉ Tây Java.

Như vậy, Ðồng Minh ở Surabaya đang trong cơn hấp hối. Nếu các chiến hạm Ðồng Minh xuất phát tấn công một trong hai hải đoàn này thì họ có thể đạt kết quả. Nhưng họ không đủ lực ngăn hai đoàn tàu cùng một lúc. Tuy nhiên, yếu tố rắc rối nhứt đối với họ là làm cách nào để đoán đúng sức mạnh của Lực lượng Ðặc nhiệm Nagumo. Trước hạm đội Ðồng Minh thiếu bao che của không quân, Nagumo có thể vung búa đập xuống bất cứ lúc nào, đồng thời phi cơ Nhựt đến và đi như vào chỗ không người. Nhưng vào ngày 17 tháng 2, tại Bộ Tư Lịnh Tối Cao, Ðô đốc Isoruku Yamamoto đã mở một phiên họp với bộ tham mưu của ông trên soái hạm Nagato (Trường Môn) đậu ở Hashira-jima, gần Kuré (Ngô Thị), miền Trung nước Nhựt. Kết quả phiên họp là Yamamoto đã ra lịnh cho Nagumo xoay hướng tiến về Úc châu, không truy đuổi lực lượng nhỏ bé của Hoa Kỳ nữa. Yamamoto huấn thị: “Phải giữ các mỏ dầu và các nguồn tài nguyên khác ở Nam Dương vừa bị Nhựt chiếm giữ.

Việc này ưu tiên hơn việc truy đuổi hải lực Hoa Kỳ.”

Chắc chắn kế hoạch Midway đã nằm sẵn trong trí của Yamamoto vào lúc ấy. Bộ tham mưu của ông đã nghiên cứu các dữ kiện, Yamamoto kết luận rằng hạm đội của Ðồng Minh ở Surabaya “không đe dọa trầm trọng” các hoạt động của Nhựt và ra lệnh cho hai đoàn tàu mỗi đoàn chuyển vận một sư đoàn bộ binh nhổ neo. Yamamoto chủ trương “Hành quân đổ bộ không đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của một hạm đội mạnh.” Do đó, vào ngày 19 tháng 2, Nagumo đã vượt thủy trình 220 dặm tiến về phía Bắc Darwin và oanh kích hải cảng này.

Vào ngày 20, Yamamoto lại mở một phiên họp khác, và đưa ra quyết định: “Hạm đội Ðồng Minh hoàn toàn mất tinh thần sẽ không có một động thái quan trọng nào”. Yamamoto bỏ hẳn kế hoạch sử dụng phi cơ trên đất liền làm cây dù bao che cho những cuộc hải vận của Nhựt, như đã từng trù tính. Nagumo lại được lịnh sang Ấn Ðộ Dương để “nhận chìm chiến hạm của Ðồng Minh từ Surabaya thoát ra.”

Sự khinh thường đối thủ này đã khiến cho đoàn tàu chuyển vận, với khu trục hạm của tôi nằm trong thành phần hộ tống, lâm vào tình cảnh ngặt nghèo.

Ðoàn tàu 41 chiếc chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm cách nhau 2,000 thước, và mỗi chiếc cách nhau 600 thước di chuyển với tốc độ 10 hải lý theo hình chữ chi. Cách 3,000 thước phía trước là 4 tàu dò mìn giăng ngang. Cách 3,000 thước phía sau, cũng giăng hàng ngang là 3 khu trục hạm. Kế đến là tuần dương hạm nhẹ Naka, nặng 5,600 tấn, võ trang 7 hải pháo 140 ly và cũng là soái hạm, được hộ vệ bởi hai tiểu đĩnh. Hai khu trục hạm chạy ở tả mạn và hữu mạn, canh chừng khoảng giữa đoàn hải vận dài dằng dặc này. Nhóm tàu này thuộc Phân Hải đoàn 4 Khu Trục hạm của Ðề đốc Nishimura. Một nhóm tàu hộ tống khác, thuộc Phân Hải đoàn 2 Khu Trục hạm, bao gồm 4 chiếc, trong đó có chiếc Amatsukaze của tôi, cầm đầu là soái hạm Jintsu (Thần Ðạo) của Ðề đốc Raizo Tanaka. Chiếc Jintsu cũng là một tuần dương hạm nhẹ cùng trọng tải và hỏa lực tương đương với chiếc Naka. Tất cả di chuyển ở tả ngạn, tách biệt hẳn đoàn tàu chuyển vận.

Phân Hải đoàn 2 trước đó đã tham dự vào cuộc hành quân đổ bộ ở đảo Timor, kế cuộc hành quân Ambon, và sau đó ngày 25 tháng Giêng kết hợp với đoàn chuyển vận này ở Macassar. Ngoài số tàu hộ tống vừa nói, còn 2 tuần dương hạm nặng Nachi và Haguro, mỗi chiếc trọng tải 13 ngàn tấn, với 10 hải pháo 203 ly nhưng cả hai chạy cách 200 dặm phía sau chúng tôi. Chiếc Nachi là soái hạm của Ðề đốc Takeo Takagi, chỉ huy cuộc hành quân.

Ðoàn tàu dài 20 dặm là một hình ảnh đẹp mắt nhưng có một việc thấy rõ là đội hình của đoàn tàu không mấy ngay ngắn. Ðiều này dễ hiểu, vì thủy thủ của các tàu hải vận không được huấn luyện đầy đủ. Nhiều chiếc tàu nhả từng bụm khói đen và nhiều chiếc khác còn sử dụng cả vô tuyến để chuyển tin tức, thay vì dùng cờ hoặc đèn, và thỉnh thoảng lại còn vi phạm lệnh cấm bật đèn đêm. Là những việc cấm kỵ trong lúc hải hành.

Tuy nhiên điều lo lắng hơn hết là việc các tuần dương hạm nặng ở quá xa phía sau, khó thể can thiệp kịp thời trong trường hợp địch tấn công mạnh, vì chỉ có 2 chiến hạm này mới đủ sức đương đầu. Thời tiết tốt đẹp, ban ngày nắng chói chang, và ban đêm trăng sáng vằng vặc trên mặt biển đến nỗi có thể dùng mắt thường theo dõi đoàn tàu đang di chuyển. Các phi cơ thám thính của Nhựt phát hiện 5 tiềm thủy đĩnh của Ðồng Minh, nhưng các tàu ngầm này không tìm cách tấn công chúng tôi.

Sáng ngày 16, mặt biển phía Nam Bornéo yên tĩnh. Tôi thức dậy sau một giấc ngủ ngắn hồi đêm và chăm chú đọc báo cáo mới nhứt. Các phi cơ thám thính và tình báo của chúng tôi cho biết một bãi mìn thủy lôi được địch thiết lập dọc bờ biển Surabaya, rất nguy hiểm cho các tàu chở khẳm. Tin tức cũng cho biết: “Một số pháo đài bay B17 và chiến đấu cơ của Ðồng Minh vẫn tiếp tục được đưa đến Mã Lạng và nhiều nơi khác.”

Tình hình cho thấy sự lạc quan của chúng tôi không có gì là vững chắc. Lúc 8 giờ cùng ngày, một thủy phi cơ Catalina thình lình rời khỏi các đám mây từ hướng Ðông và đâm bổ về phía tàu của tôi.

“Phi cơ địch phía trước! Khai hỏa!” Tôi la lên.

Một khẩu phòng không nhả đạn ngay khi chiếc Catalina thả một trái bom, nhưng quá sớm, và trái bom chỉ tạo ra một cột nước cao khoảng 500 thước phía trước mũi tàu của tôi. Chiếc Catalina đảo cánh, gia tăng tốc lực và biến mất trong mây. Diễn tiến nhanh đến nỗi chúng tôi không kịp hồi hộp.

Cuộc tấn công có vẻ vội vã bắt tôi phải suy nghĩ. Nếu chiếc phi cơ này chỉ có nhiệm vụ thám thính, thì nó không ngu dại gì xuất đầu lộ diện, và nhứt là lại nhắm thả bom vào một chiếc khu trục hạm thay vì chọn một tàu vận tải chậm dễ đạt kết quả hơn. Nhưng dù thế nào, cuộc tấn công chớp nhoáng này cho thấy địch đã biết sự có mặt của chúng tôi.

Không lâu sau, chúng tôi phát hiện một chiếc tàu lớn sơn trắng ở tả mạn của đoàn tàu. Dùng viễn vọng kính, tôi nhận thấy đó là một tàu bịnh viện khoảng 4,000 tấn.

Chúng tôi trương cờ ra lịnh cho chiếc tàu dừng lại để khám xét. Qua ống viễn kính, tôi nhìn thấy một người đàn ông lớn tuổi đứng trên sàn tàu, có lẽ là thuyền trưởng đang vội vã mặc đồng phục. Ðôi tay ông ta run rẩy và dáng điệu bồn chồn. Khi tàu của tôi đến gần, tôi mới biết đó là một tàu bịnh viện của Hòa Lan mang tên Opten Noort.

Ðại úy Goro Iwabuchi cùng sáu sỹ quan khác nhảy xuống một xuồng máy và leo lên chiếc Opten Noort. Một giờ sau họ quay lại báo cáo trên tàu có 15 bác sỹ và y tá cùng với thủy thủ đoàn. Tôi xin chỉ thị, Ðề đốc Tanaka đáp: “Ngay cả một tàu bịnh viện cũng đáng nghi ngờ trong khu vực này. Bắt giữ chiếc tàu và mang ra phía sau nhập chung với những tàu tiếp liệu của chúng ta.”

Tôi phải bỏ cả buổi sáng để đi kèm chiếc tàu này. Sau khi cẩn thận trao nó cho vị chỉ huy hải đội tiếp liệu, tôi gia tăng tốc lực 26 hải lý, quày lại với nhiệm vụ hộ tống vào lúc 2 giờ 15. Một vài chiến đấu cơ Nhựt cất cánh từ Balikpapan Bay che trên hải đoàn cho đến 7 giờ chiều. Mặt biển bỗng nhiên trở lạnh. Tôi rít một hơi thuốc lá và hỏi viên hoa tiêu khi nào mặt trời lặn. Trung úy Toshio Koyama cho biết mặt trời sẽ lặn lúc 7 giờ 48 phút.

Tôi quăng điếu thuốc vì đột nhiên súng cao xạ nổ vang. Tuần dương hạm Jintsu đang khai hỏa. Tôi ra lịnh: “Vào vị trí chiến đấu! Không kích!” Nhìn lên, tôi thấy hai oanh tạc cơ B17 bay trong mây, cao độ khoảng 4,000 thước. “Khai hỏa!” Tôi hét lớn.

Các khẩu cao xạ 12 ly 7 xoay nòng lên 75 độ, và khạc lửa nhưng đạn không chạm tới các pháo đài bay. Các loại súng nhỏ hoàn toàn vô hiệu nhưng tiếng nổ rền vang của chúng cũng làm cho phi cơ địch khiếp đảm. Các oanh tạc cơ này chắc đến từ Java, đã thả 6 trái bom 500 cân Anh, 4 trái rớt cách hữu mạn chiếc Amatsukaze (Thiên Phong) của tôi khoảng 1,500 thước, và 2 trái cách tả mạn khu trục hạm Hatsukaze (Nhất Phong) 500 thước. Thả tệ như thế là cùng.

Các oanh tạc cơ chỉ nhắm vào chiến hạm thay vì tàu vận tải, điều này chứng tỏ chúng chỉ quyết ăn thua đủ với các khu trục hạm của chúng tôi. Có lẽ các phi cơ này đã dành phần các tàu vận tải cho hạm đội của chúng. Ðó là một việc đáng lưu tâm. Tôi tăng cường canh phòng.

Buổi sáng ngày hôm sau, 27 tháng 2, hoàn toàn yên tĩnh. Ðoàn tàu vẫn tiến tới. Nhưng vào lúc 11 giờ 50, ngay khi thủy thủ sửa soạn ăn trưa, 4 trái bom bất ngờ rơi xuống. Những cột nước khổng lồ mọc lên phía trước mũi khu trục hạm Yukikaze (Tuyết Phong) khoảng 200 thước và cách chiếc tàu của tôi khoảng 300 thước.

Ngày hôm qua. Chúng tôi đã thấy các oanh tạc cơ địch trước khi chúng tấn công nhưng hôm nay thì chúng tôi hoàn toàn không hay biết. Tôi khám phá quá trễ 2 chiếc B17 đang bay đúng trên đầu mình ở cao độ 4,000 thước. Các pháo đài bay đã gây kinh ngạc cho chúng tôi nhưng vì quá vụng về nên chúng làm hỏng cơ hội.

Một lần nữa pháo đài bay địch chỉ nhắm vào các tàu chiến và điều này khiến tôi suy nghĩ. Tại sao chúng không giội bom các dương vận hạm? Chỉ cần một quả bom 500 cân Anh là có thể đánh đắm một tàu vận tải dễ dàng và gây rối loạn cho cả hải đoàn. Những năm sau chiến tranh tôi vẫn tin đó là một lỗi lầm to tát của Ðồng Minh. Nhựt cũng vấp phải sai lầm trong việc tung ra cuộc hành quân mà không có sự bao che hữu hiệu của phi cơ nhưng sai lầm ấy đã không gây ra thiệt hại đáng kể bởi chiến thuật của không quân Ðồng Minh không hiệu quả và thiếu khôn ngoan.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

May 20th, 2021

Post by Sơn râu 17 Apr 2024

(Kỳ 13)

Nhật khai màn chiến tranh với 4,600 máy bay. 1/3 thuộc Lục quân đóng trên đất Trung Hoa và Mãn Châu. 2/3 còn lại thuộc Hải quân thì 1/3 phòng thủ chính quốc. Thực sự tham chiến chỉ vỏn vẹn 1,498 phi cơ (tính luôn máy bay trên các hàng không mẫu hạm và Liên Phi đoàn Đông Dương đồn trú tại Việt Nam).  

Câu hỏi đặt ra là vì sao Nhật dành cho Bắc-Á 1/3 máy bay? Vì công cuộc bình định Trung Hoa chưa hoàn tất và đã xảy ra chiến tranh Nga-Nhật trên đất Mông Cổ vào năm 1939 ngay trước thế chiến. Nga, là kẻ thù tiềm năng.

Câu hỏi khác: Vì sao để lại 1/3 máy bay trên đất Nhật? Vì cứ 3 phi cơ thì 1 đang bảo trì, 1 dành cho huấn luyện nên chỉ còn 1 có thể nghinh chiến. Trong số 1,500 máy bay đậu trên 4 đảo lớn Hokkaido (Bắc Hải Đạo), Honshu (Bản Châu), Shikoku (Tứ Quốc) và Kyushu (Cửu Châu), không có hơn 300 chiến đấu cơ và oanh tạc cơ cho nhiệm vụ bảo vệ bầu trời tổ quốc sau khi trừ đi các phi đoàn quan sát và vận tải. Chưa kể phải canh phòng quần đảo Aleutian thuộc Hoa Kỳ ngay sát phía Bắc Nhật.  

Như thế 1,498 máy bay là tổng số phi cơ Nhật tung vào Thái Bình Dương, một mặt trận khổng lồ với kích thước chiếm 1/3 diện tích trái đất. Để thiết lập “Khối Đại Đông Á”, Nhật Bản phải kiểm soát một chu vi tam giác mà đường kính dài 6,852 cây số từ Tokyo xuống đảo Tích Lan (Sri Lanka) và dài 5,431 cây số từ Tokyo xuống hải cảng Darwin ở Úc châu, với đáy dài 6,810 cây số từ Tích Lan sang Úc. Trên thực tế mặt trận dài gấp đôi, vì từ Tích Lan đến Hạ Uy Di là 13 ngàn cây số. Với vỏn vẹn 1,498 máy bay…

Những con số, nói lên mầm mống thất bại. Quá ít và quá thưa thớt. Vì Hoa Kỳ sẽ sản xuất ba trăm ngàn máy bay trong thế chiến mà 2/3 cho chiến trường Á châu. Là chưa tính đến máy bay Liên Hiệp Anh.   

Bộ Tham mưu Nhật đã tin: với 236 thuyền chiến có thể thắng 378 thuyền chiến Hoa Kỳ và 318 thuyền chiến Anh, vì hải quân Anh-Mỹ phải phân đôi sang Đại Tây Dương chống Đức. Một tính toán sai, vì thủy chiến lệ thuộc vào không yểm. Tameichi Hara còn cho thấy những khiếm khuyết trong vận hành của một đạo quân được xem tinh nhuệ. [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 13

Vào tháng Giêng năm 1942, tôi tham dự cuộc tấn công Nam Dương (khi đó Indonesia thuộc Hòa Lan), để yểm trợ cho các cuộc hành quân ở Manado và Kendari, phía Ðông Bornéo. Cả hai cuộc đổ bộ đều không gặp chống đối quan trọng nào của quân phòng thủ, nhưng khả năng không yểm nghèo nàn của chúng tôi là một điềm xấu báo trước tương lai, hải quân Nhựt không đủ phi cơ để bao che hết các cuộc hành binh, và tôi nhận thấy một số phi cơ được lái bởi những tay mơ. Không được huấn luyện đúng mức, những phi công kém khả năng này thường phát hiện những chiếc “tàu ma” rồi oanh tạc mấy con cá voi mà họ tưởng lầm là tiềm thủy đĩnh, và còn bắn rơi cả vận tải cơ Nhựt trong lúc hỗn chiến.

Tôi lại gặp thêm một vố không hài lòng nữa trong việc săn đuổi một tiềm thủy đĩnh. Vào đêm 31 tháng Giêng, trong khi hộ tống đoàn tàu chuyển vận quân đổ bộ lên đảo Kota Ambon ở vịnh Bill, dùng đèn pha, tôi phát hiện dấu vết một tàu ngầm trên biển. Tôi ra lệnh khai hỏa ba loạt hải pháo 127 ly nhưng không trúng, và chiếc tàu ngầm cao bay xa chạy!

Tiếc rẻ, tôi báo thất bại của chúng tôi cho các chiến hạm khác, cho biết chiếc tàu ngầm có thể chưa bị tổn hại, và vì đó, không chừng nó sẽ quay trở lại. Mồ hôi tôi tươm suốt hai tiếng đồng hồ. Tôi lo ngại tiềm thủy đĩnh địch sẽ chọn mục tiêu dễ dàng nhất là các dương vận hạm chở quân nặng nề chậm chạp để tấn công. Chúng tôi tăng cường thêm máy sonar để theo dõi, nhưng không còn phát hiện dấu vết của chiếc tàu lặn đâu nữa. Tuy vậy sự bồn chồn lo lắng của tôi cho đến 1 giờ khuya mới hết, tức là lúc đoàn tàu của chúng tôi đã đến điểm đổ bộ. Cuộc đổ bộ bắt đầu lúc 1 giờ 20 khuya ngày 1 tháng Hai, và không hề có bất kỳ một cuộc pháo kích nào từ các chiến hạm Nhựt để dọn đường. Việc này không theo đúng sự sắp xếp. Sau khi chúng tôi tấn công chiếc tàu ngầm thì thế nào địch quân cũng biết và đã báo động toàn thể. Tôi nghĩ trong tình trạng đó, nếu cuộc đổ bộ không được hỏa tập dọn bãi trước là một việc vô lý.

Tuy nhiên, không có lịnh pháo kích nào được soái hạm ban ra. Sau này Ðề đốc Tanaka có giải thích với tôi sở dĩ ông bỏ qua không dọn đường cho cuộc đổ bộ là vì ông đo lường sự yếu kém của địch quân, cho dù họ có chuẩn bị trước đi nữa. Tanaka cũng cho biết một lý do khác đó là việc “tiết kiệm đạn càng nhiều càng tốt”. Lý do này chắc khiến người Mỹ buồn cười, nhưng đó là một sự thật không thể chối cãi. Trong cuộc chiến vĩ đại này, hai chữ “tiết kiệm” luôn luôn được nhắc nhở bên tai chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi đã lấy làm “khó hiểu” khi biết Hoa Kỳ đã dội bom xối xả và pháo kích như mưa để dọn đường cho các cuộc đổ quân của họ. Các xạ thủ hải quân Nhựt được huấn luyện tác xạ với các quả đạn pháo thông thường và phải bắn trúng ngay loạt đạn đầu. Cách tác xạ tầm hướng, tức là rào khung dần dần mục tiêu rồi điều chỉnh cự ly như Hoa Kỳ áp dụng, chúng tôi hoàn toàn không được phép, chính việc này là lý do thiếu chính xác của chúng tôi khi tấn công tiềm thủy đĩnh đêm trước.

Lực lượng đổ bộ, như tôi dự liệu, đã bị hỏa lực từ đất liền của địch quân chận đứng ngay trên bãi biển. Hải quân Trung tá Konosuké Iéki, chỉ huy cuộc đổ bộ, đã báo cáo vào lúc 2 giờ khuya: “chúng tôi bị chận đứng hẳn và cuộc đổ bộ khó xúc tiến.” Nhưng ông không yêu cầu oanh kích dọn đường.

Trên đài chỉ huy của chiếc Amatsukaze, tôi lồng lộn với nỗi bực tức. Tình thế tồi tệ mọi phương diện. Cuối cùng, lúc 3 giờ 20, lực lượng đổ bộ cho biết đầu cầu đã được thiết lập an toàn. Nhưng lại thêm rắc rối đang chờ họ phía trước. Lúc 5 giờ sáng: “Hỏa lực địch quân từ các công sự kiên cố chụp lên hai bên cạnh sườn chúng tôi.”

Và liền ngay đó, báo cáo cho biết Trung tá Iéki đã đền nợ nước. Thực đáng buồn. Tại sao ông lại chết như vậy? Một cuộc oanh kích và hỏa lực yểm trợ sơ khởi từ các tàu chiến Nhựt sẽ tiết kiệm được mạng sống của ông và nhiều người khác nữa. Ngu dốt! Ngu dốt! Tiếp theo sau tin này là lịnh của Ðề đốc Raizo Tanaka: “Tất cả các tàu hộ tống tiến vào bờ để nhặt thương vong”. Amatsukaze “lãnh được” 30 xác chết và 90 lính bị thương. Cuộc chiến trên bộ vẫn không có lối thoát. Hiện thời chiến hạm Nhựt không thể nào khai hỏa vì tình trạng hỗn đấu của đôi bên. Cuối cùng, khi trời sáng, thủy phi cơ từ hàng không mẫu hạm nhẹ Chitose (Thiên Tuế) cất cánh đến tấn công các công sự kiên cố của địch. Không có một chiến đấu cơ hoặc oanh tạc cơ nào của các hàng không mẫu hạm nặng Hiryu (Phi Long) và Soryu (Thanh Long) xuất hiện. Tôi không thể nào hiểu nổi tại sao lại có sự khiếm khuyết phối hợp hành động như vậy.

Các thủy phi cơ cất cánh mỗi lần 6 chiếc, do các phi công giỏi lái, đã tấn công chính xác các vị trí đặt súng của địch quân. Sau đó, thủy phi cơ Nakajima A6M2-N (phe Ðồng Minh đặt tên mã là Rufe) của chúng tôi nghinh chiến với các oanh tạc cơ của địch bay đến từ Sulawesi và bắn hạ được hai chiếc. Nhựt không thiệt hại chiếc nào. Hai trăm quân phòng thủ Úc Ðại Lợi – Hòa Lan, đã đầu hàng vào buổi chiều đầu tiên của cuộc đổ bộ, tức ngày 1 tháng 2 năm 1942, và tất cả đều bị bắt làm tù binh. Quân trú phòng bị bắt cho biết họ có gài 70 quả thủy lôi tại hải cảng chánh ở phía Bắc của đảo Kota Ambon. Suốt một tuần, các trục lôi hạm của chúng tôi đã lãnh nhiệm vụ vớt những quả thủy lôi nầy. Ba chiếc đã chạm phải thủy lôi và chìm chung với toàn thể thủy thủ đoàn.

Hai ngày sau cuộc đầu hàng, một dương vận hạm Nhựt chạy gần hải khẩu đã báo hiệu: “Tàu đang bị tấn công bằng ngư lôi từ hướng biển”. Nhưng rất may là không có trái ngư lôi nào trúng mục tiêu, dù vậy chúng tôi vẫn náo động, và khu trục hạm của tôi được phái đi lập tức. Tôi đoán các trái ngư lôi có lẽ do chiếc tiềm thủy đĩnh đã thoát khỏi tay tôi ba ngày trước đây phóng ra. Tôi quyết tìm cho ra và đánh chìm chiếc tàu này.

Năm tiếng đồng hồ, Amatsukaze đã lướt trên mặt biển với tốc độ 11 hải lý. Nếu tàu chạy nhanh hơn, các máy sonar của chúng tôi sẽ vô hiệu, nhưng chạy chậm như thế này thì lại là miếng mồi ngon đối với tiềm thủy đĩnh, cho dù là một chiếc khu trục hạm được võ trang mọi loại vũ khí chống tàu ngầm hữu hiệu nhứt. Tôi nghĩ đó là lý do khu trục hạm Sagiri (Sương Mù) bị một tiềm thủy đĩnh đánh chìm gần Bornéo vào tháng 12 vừa qua.

Nhưng một khi chạy chậm chạp để theo dấu đối thủ, một khu trục hạm luôn luôn đề phòng. Vì vậy, nếu bất kỳ một tiềm thủy đĩnh nào bị hấp dẫn bởi tốc độ đầy quyến rũ của Amatsukaze, tôi sẵn sàng tiếp đón. Nhưng chúng tôi không tìm thấy dấu vết nào cho đến khi giờ thứ năm chậm chạp trôi qua, tình thế bỗng nhiên sôi động bất ngờ.

Lúc 9 giờ 34 tối, một nhân viên sonar mừng quýnh la lên: “Tàu ngầm! Cách 2,400 thước, ở 10 độ tả mạn!”

Tôi ra lịnh: “Tất cả vào vị trí chiến đấu! Chuẩn bị thủy lôi nổ ngầm! Tám trái! Ðộ sâu 50 thước!”

Sỹ quan sonar hét:

“Tiềm thủy đĩnh địch cách 1,800 thước, 40 độ tả mạn!”

“Tiềm thủy đĩnh địch cách 1,300 thước, 50 độ tả mạn!”

Hướng tiến của Amatsukaze được điều chỉnh theo mỗi góc độ mới. Ðến 9 giờ 53, viên sỹ quan sonar kêu lên thất vọng: “Mất dấu tàu ngầm!”

Tin này gây ra một sự yên lặng kỳ lạ. Tôi đoán ngay là chiếc tàu ngầm đã biến vào một góc mù, và hai chiếc tàu đã cùng chạy một hướng.

Trong thời gian này, các máy dò tàu ngầm của Nhựt hoạt động dựa trên nguyên tắc phát ra các luồng sóng âm thanh và tính ra khoảng cách của mục tiêu qua các luồng sóng dội lại. Phương cách này không đủ bén nhạy để bắt tiếng động do các máy móc tàu ngầm tạo ra.

Trong đầu tôi lúc ấy tràn ngập các bài toán về trắc giác và khoảng cách. Tôi ngẫm nghĩ: “Chiếc tàu ngầm bây giờ phải ở 180 độ, di chuyển 9 hải lý, cách 1,000 thước và sâu khoảng 30 thước”. Tôi ra lịnh gia tăng tốc độ của Amatsukaze lên 21 hải lý và liếc nhìn đồng hồ đeo tay. Tôi vẽ ngay đường cong di chuyển của hai chiếc tàu trong trí. Lúc 9 giờ 58 phút, 8 trái thủy lôi nổ ngầm được phóng ra khi tôi tin chiếc tiềm thủy đĩnh đang nằm ngay phía dưới.

Chiếc Amatsukaze giảm tốc độ và xoay lại, và một loạt thủy lôi khác được thả xuống. Trong đêm tối, mùi dầu diesel bỗng bốc lên nồng nặc, nhưng chúng tôi không thể nhìn thấy một vật gì cả.

Mùi dầu bốc lên mạnh mẽ hơn. Chúng tôi biết rõ chiến thuật xông hương của các tiềm thủy đĩnh khi bị tấn công. Trong khi lẩn tránh, các tàu ngầm thường xả dầu ra, nhằm đánh lừa những kẻ săn đuổi ngỡ rằng chúng đã bị đánh chìm. Suốt hai tiếng đồng hồ, chúng tôi quần nát khu vực, nhưng chẳng tìm thấy dấu vết nào.

Bốn ngày trôi qua, không hề có một tin tức nào khác về chiếc tàu ngầm này. Hiển nhiên là tôi đã ghi được một “điểm thắng”. Tôi đã học hỏi khá nhiều trong cuộc hành quân Ambon.

Vào ngày 9 tháng 2, với nhiệm vụ hộ tống chuyển vận hạm Kirishima Maru di tản một số thương vong của các trận đánh trên đảo Kota Ambon, tôi trở lại Davao, chuyến đi êm ả.

Davao hoàn toàn yên tĩnh. Các trận đánh ở Phi Luật Tân hiện tại thu hẹp trên bán đảo Bataan và pháo đài Corregidor. Các mặt trận khác kéo xa về hướng Nam. Hơn một tháng, Davao chẳng thấy bóng dáng phi cơ địch nào.

Hàng đống thơ từ của gia đình đang chờ đợi chúng tôi. Trong số cũng có nhiều kiện hàng và những “món quà êm ái” của một số thân thuộc và bạn bè dân sự ở quê hương gởi đến.

Khi về đến Davao, lần đầu tiên trong suốt 20 ngày, tôi được tắm rửa một bữa thỏa thích. Khi một khu trục hạm đang thi hành nhiệm vụ, kể cả hạm trưởng cũng không dám xài phí nước nôi. Sau khi ra lịnh cho thủy thủ tự do tắm rửa, tôi trở vào cabin nằm một cách thoải mái. Gian hàng quân tiếp vụ trên tàu cũng được mở cửa để bán rượu, bánh kẹo và vật dụng linh tinh khác cho thủy thủ. Thủy thủ chỉ được phép mua và uống rượu mạnh trên tàu với sự ưng thuận của hạm trưởng.

Cho dù phòng ngủ của tôi nhỏ bé, nhưng vẫn là chỗ tốt nhứt trên tàu. Gian phòng không quá 4 thước vuông , trám đầy một cái giường ngủ, một bàn tròn nhỏ, một bàn rửa mặt, một tủ quần áo, một ghế bành và một ghế đẩu. Trên bàn đặt một tấm ảnh toàn thể gia đình tôi.

Murata, anh thủy thủ trẻ đến giao thơ cho tôi kèm theo nhiều gói hàng nhỏ khác. Tôi hỏi: “Anh có nhận được thơ không, Murata?”. “Dạ có, thưa hạm trưởng.” Hắn hớn hở chào tôi và quay bước.

Tôi xem một lá thơ do vợ tôi gởi đề ngày 4 tháng Giêng. Chizu cho tôi biết các con và nàng vẫn vui mạnh. Tuy nhiên, câu tái bút nàng báo cho tôi một tin khá phiền: “Hôm kia, em dẫn các con lên Ðông Kinh để thăm bà con, khi em trở về nhà ở Kamakura thì thấy cửa đóng, và người tớ gái đã biến mất với một số đồ đạc có giá trị của chúng ta.”

Thơ của người anh báo một tin buồn khác. Con trai trưởng của anh tôi, Shigeyoshi Hashimoto, 25 tuổi, một sỹ quan phục vụ trong Sư đoàn 4 Bộ binh, đã chết vì bịnh lao vào tháng 12. Ðứa cháu này được tôi đặt nhiều hy vọng. Tôi nhắm mắt và cầu nguyện cho linh hồn của nó. Xúc động sâu xa, tôi không xem thơ nữa, sau khi uống thêm vài ly rượu, tôi thả bước lên đài chỉ huy. Hôm nay là một ngày đẹp trời.

Hải cảng đẹp mắt dưới ánh nắng rực rỡ của miền nhiệt đới. Sỹ quan trực phiên đang ngồi nhìn lên bờ biển mơ màng. Hắn đứng dậy chào tôi. Tôi nói: “Hãy bảo cho mọi người biết là tôi “xả tàu” ngày mai. Thủy thủ sẽ lên bờ mỗi nhóm 3 người và có ba giờ tự do.”

Ðôi mắt viên sỹ quan trực ánh lên nỗi thích thú và lập tức loan truyền tin vui này. Suốt 50 ngày qua, không một ai trong số 300 thủy thủ của tôi được lên bờ, thành thử lịnh của tôi đã được đón nhận một cách ồn ào.

Tôi trở về cabin và mở một lá thơ khác. Bức thơ nầy đến từ Kuré, nhưng tên người ngoài phong bì hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Thơ viết: “Tôi là Hinagiku, một trong những vũ nữ hành nghề tại hộp đêm mà trước chiến tranh trung tá thường lui tới.” Tôi kêu trời. Tôi, một người cha của ba đứa trẻ, chắc chắn không bao giờ liệu trước một bức thơ tình của một vũ nữ như thế này. Bức thơ tràn ngập những lời lẽ yêu thương nhớ nhung tầm thường, chỉ có câu kết thúc đáng lưu ý: “Bà chủ hộp đêm luôn luôn nhắc với tôi về việc trung tá, vì ra đi bất thình lình, nên đã quên thanh toán khoản tiền thiếu. Lúc nào thấy thuận tiện, xin trung tá gởi trả số tiền này, chúng tôi rất lấy làm hân hạnh.” Dĩ nhiên câu này khiến tôi đỏ mặt. Tôi chán tôi vô cùng. Bỗng nhiên tôi muốn say, và tôi hạ gục thêm một chai sakê nữa.

Gói hàng cuối cùng từ Hiroshima gởi đến, tôi đoán biết là một “món quà êm ái” do chữ viết non nót của người gởi. Học sinh Nhựt thường gởi những món quà nhỏ và một vài dòng chữ cho các quân nhân ở tiền tuyến mà chúng chưa hề quen biết. Món quà của tôi gồm một bức ảnh chụp thắng cảnh ở Hiroshima, một bức họa do chính tay người gởi vẽ, một số phong bì và giấy viết thơ, và kèm theo mấy dòng chữ: “Em là một nữ sinh 9 tuổi ở Hiroshima. Tất cả chúng em ở đây đều chăm học. Vì lợi ích của tổ quốc, chúng em thành tâm cầu chúc ông sẽ cố gắng chiến đấu.”

Ðây là bức thơ duy nhất gây cho tôi sự xúc động thật sự. Tôi thôi uống rượu và bắt đầu viết thơ trả lời cho cô bé không quen biết ở Hiroshima: “Cô bé thân mến của tôi. Tôi cảm ơn em rất nhiều về món quà mà em đã gởi tới cho tôi. Tôi là hạm trưởng của một khu trục hạm. Tôi hân hoan và sung sướng nhận lời cầu chúc của em.”

Ngày hôm sau tôi lên bờ cùng với nhóm thủy thủ được tự do ba tiếng đồng hồ đầu tiên. Thật dễ chịu khi nhìn thấy phố xá Davao không bị chiến tranh tàn phá. Thủy thủ của tôi vầy đoàn với những thủy thủ của các tàu khác đang buông neo trong hải cảng. Các bà nội trợ Nhựt trong thành phố đã lập ra nhiều địa điểm tiếp đãi binh sĩ đồng hương với hàng chữ: “Xin tự tiện dùng trà và café. Quà mọn của những kiều bào của các anh.”

Người Phi Luật Tân cũng dạo chơi nhàn nhã trên các đường phố. Trai thanh gái lịch ăn mặc chải chuốt đi lại dập dìu. Tuy nhiên, tôi đã chú ý và ngạc nhiên khi thấy tất cả đều đi chưn không. Trên đường phố Nhựt Bản không người nào đi chưn không cả, dù giàu hay nghèo ai ai cũng mang giày hoặc guốc. Cảnh trước mắt lạ lùng đối với tôi.

Các rạp hát đều chiếu mấy cuốn phim mới nhứt của Hồ Ly Vọng. Tôi chú ý hàng chữ trên tấm biển treo trước một vài căn nhà dọc theo phố chính: “Trung tâm Giải trí của Quân đội Nhựt Bản”. Nhiều thủy thủ và binh sỹ đứng nối đuôi phía dưới những tấm biển này. Ðây là những ổ điếm của phụ nữ Nhựt, Cao Ly, Ðài Loan và Okinawa đã di chuyển theo chưn quân đội Nhựt.

Tôi nhận thấy đám đông đang xếp hàng có vẻ hơi ngượng nghịu, hiển nhiên là do sự hiện diện của tôi. Tôi nói với viên trung úy tháp tùng: “Anh cứ tự tiện ở đây. Tôi phải đến Tổng hành dinh. Trưa tôi sẽ gặp lại anh. Hãy thận trọng, mấy ông sếp lớn của chúng ta đang có mặt ở bến tàu. Nhớ nói các hạ sỹ quan kiểm lính đầy đủ khi quay về.”

“Dạ, dạ… thưa Trung tá!” viên trung úy cười sung sướng.

Khi tôi bỏ đi, nhóm lính phía sau la to: “Hoan hô! Hoan hô! Hạm trưởng của chúng ta muôn năm!”

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 17 Apr 2024

Chương 15

Tôi gặp lại hầu hết anh em bạn thời niên thiếu, những người bạn như tôi thuở đam mê văn nghệ. Một số khác đã có danh, công tác ở những tờ báo khác như Chu Tử, Hoàng Hải Thuỷ, Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn. Lê Xuyên. Các anh viết cho tờ báo trong đó có tôi hợp tác, vì tình cảm chứ không vì tiền nhuận bút. những người làm việc cật lực để hoàn tất số báo là vợ chồng TDTừ, Nhã Ca, Tú Kếu và tôi. 


Tờ tuần báo Ngàn Khơi nghèo nàn đến thảm hại. Toàn là do sự góp công góp sức của các anh em văn nghệ sĩ nghèo. Riêng tôi chưa dám xài danh từ ấy, dẫu là có mơ ước. Tú Kếu và tôi được nôi cơm ngày hai bữa, buổi sáng có gói xôi đồng bạc, ly cà phê đen nhỏ, điếu thuốc. Nhưng chúng tôi làm việc từ A đến Z, không nề hà bất cứ một công việc gì. Tuy thiếu thốn, nhưng tôi lại có một thể hình trâu nước, không ốm đau bệnh tật, nên anh em goọi tôi là thằng trâu nước, những công việc nào nặng nhọc quá tôi gánh thay cho Tú Kếu. Như chạy lên chạy xống bộ thông tin, đi lấy bài vở anh em, có khi chở xe đạp theo Tú Kếu, để nâng cao uy tín lấy bài được chóng vánh, vì khi đó tôi chưa là gì cả, một anh loong toong, tuỳ phái, sai vặt…Đôi khi đi đường đánh lộn để bênh vực Tú Kếu vì hắn ta có tính láo ưa chửi bậy, cà khịa lung tung, bởi cái tính hắc xì xằng kiểu lý tưởng nhà quê. Phần phải về Tú Kếu đôi khi chỉ có 30%, nhưng không lẽ vì vậy mà bỏ bạn sao. Anh em vì vậy cũng gọi tôi là ” nhà văn du đãng “. Cũng được, chẳng sao. Tú Kếu chỉ nặng hơn 30 ký lô, có phải chở đi từ đầu SG đến Vò Gấp nhà Đằng Giao để lấy hình vẽ đi làm cliché cũng chẳng nhằm nhò gì. 
Công việc mà tôi coi là mệt nhọc nhất là đi xin bài cho báo, các ông nhà văn vốn tính lười biếng, hứa hẹn cho đã miệng rồi khi nước đến chân mới nhảy. Có hôm hai giờ sáng tôi còn phải ngồi chờ bài ở nhà người viết cuối thành phố. Cà phê thuốc lá cho đàn anh viết bài, ban cho những câu văn thơ quí như châu ngọc. Nhà văn đặt bút xuống bàn, ngáp dài, nói torng nụ cười mệt mỏi: 
– Cậu thông cảm nhé, không phải vì viết không tiền tôi lười biếng đâu, có tiền cũng vậy thôi, tính tôi thế, anh em mình mà…Mà này, đừng coi này tầm thường, tác phẩm lớn đấy. Nếu thấy còn thiếu thì thêm cái ” vi nhét ” chậu bông chạu hoa gì vào cũng được. 
Thuở đó in báo còn dùng kỹ thuât ti pô, chưa có vi tính như bây giờ nên cực vô cùng, mà tôi với những anh em đam mê. Làm thế nào cho có chữ nghĩa thì thôi. 
Tôi giao bài cho Tú Kếu đưa sắp chữ, tôi lăn ra ngủ trên những ram giấy in. Tiếng máy in chạy không làm rộn giấc ngủ của tôi, nói thật tình tôi coi cái âm thanh đó êm ái như tiếng ru của mẹ thuở ấu thơ. Lại mơ mộng rồi thăng hoa tầm bậy. Thực tế không phải như thế, vì thói quen bạ đâu ngủ đó thôi. 
Tôi bắt buộc phải thôi nghề cu li đổ bê tông, ống cống, cọc hàng rào ấp chiến lược. Vì chủ thầu lỗ lã quá nặng, nhà nước không thanh toán tiền bạc lấy cớ là thời cuộc đang rối ren. Chủ thầu và các cu li uống với nhau những chén rượu tạm chia tay, hẹn ngay tái ngộ rồi đường ai nấy đi. 
Mãi 20 năm sau, khi tôi ngã ngựa, phải buông cây bút, hết thời, tôi và một vài anh embạn đồng nghiệp trở lai làm nghề cu li nay không còn gọi là cu li nữa mà là công nhân. Danh từ nghe cũng hay hay, dân chủ lắm. 
Sau bỏ nghề cu li, tôi đi một lèo sang Tú Kếu, TDTừ. Anh em đón tiếp tôi nói rõ điều kiện hợp tác và hoàn cảnh tờ báo hiện tại, kể cả sự nguy hiểm. Tôi chấp nhận. Nụ cười của Tú Kếu thoải mái dễ thương…. 
– vậy là thêm một thằng nhập bọn ” vác ngà voi “. 
Tú Kếu vẫn thường có giọng điệu khôi hài như vậy, từ khi anh chuyển sang làm thơ tráo phúng, thơ anh mang bút hiệu Tú Kếu, nghe tếu, châm chọc đủ thứ, đủ mọi loại người không ra gì trong xã hội, bất chấp quan quyền đương thời, bọn đạo đức giả. 
Chúng tôi cần cù chăm lo tờ báo. Nhưng báo đã đuối sức quá rồ, bị ngăn chặn phát hành, bị bộ tông tin đục đẽo nham nhở, tờ báo có cơ chết non. Vợ chồng Bạch Ngọc chỉ có nhiệm vụ chạy giấy in và lo khất nợ tiền in với ông nguyễn Đình Vượng. 
Thi sĩ Sa Giang Trần Tuấn Kiệt, một nhà thơ tài năng người miền Nam, dĩ nhiên thi sĩ thì nghèo rồi. Anh thỉnh thoảng đăng thơ trên báo Ngàn Khơi, anh em thấy không trả nhuận bút thì tội anh quá, bèn giao anh mỗi tuần mười số báo để anh tự bán lấy tiền tiêu, giúp đỡ cho vợ con anh phần nào. Nhà anh trong ngõ hẻm lấy lội đường Nguyễn Cư Trinh, cũng gần toà soạn. 
Một hôm thấy anh chạy sang rủ tôi đi uống cà phê, tôi hỏi: 
– Mày không bán báo à? 
– Bán rồi! 
– Sao nhanh thế? 
– Tao bán mão! 
– Bán mão là sao? 
– Bán lần một! 
– Mày để lại cho người khác? 
– Bán cho con mẹ ve chai về làm bao gói đồ. 
– Trời, còn độc giả thì sao đây! 
– Độc giả cái con mẹ gì, còn chữ nghĩa đâu mà đọc. Bộ thông tin làm láng rồi…… 
– Theo đúng ra báo bán ve chai thì phải nhúng mực xanh mới bán vì đó là báo ế, báo tồn kho. 
– Không sao, chẳng luật lệ mẹ gì hết, chuyện ” chẳng đặng đừng ” tao bán được tiền mua ký gạo cho mẹ con nó, còn tiền dư rủ máy đi uống cà phê đne nhỏ, hít điếu thuốc cho đời lên hương, mày lại viết văn còn tao thì mần thơ….. 
Tiền bạc chẳng có bao nhiêu, nhưng Trần Tuấn Kiệt cũng đòi sang nhà in Nguyễn Đình Vượng rủ Tú Kếu đi uống cà phê. Nhà in NĐVượng là một nhà in nhỏ, nhưng tay nghề cao, ở đường Phạm Ngũ Lão chợ Thái Bình. Ông chủ nhà in là người yêu văn nghệ nên chịu đựng được bọn Ngàn Khơi. Con đường qui tụ nhiều tờ báo lớn nhỏ, cả những nhà xuất bản loại ” bỏ túi ” nhưng sẵn sàng ” ăn to nói lớn “. Những anh nhà báo, nhà thơ, nhà văn qui tụ dài dài cả ở đấy, cả những tay đầu nậu xuất bản. Lần đầu tiên tôi đích thực tiếp xúc với các nhà văn, nhà báo, hoà nhập với họ. Biết cả những cái tốt và cái xấu mà nghề nghiệp mình theo đuổi hay đam mê, biết nổi giận khi nghề nghiệp của mình bị đàn áp, những bất công trong xã hội bị quyền lực giấu nhẹm hoặc bị bắt nói khác. Biết phẫn nộ khi quyền thứ tư bị chà đạp Giấy bút tôi ai lấy mất đi, tôi sẽ dùng dao khắc trên đá….Câu thơ ấy như châm ngôn dùng cho người viết văn làm báo thuở ấy. Ngược lại cũng có câu: Nhà báo nói láo ăn tiền. Cho những kẻ lợi dụng ngòi bút để làm mất phẩm chất cao quý của nghề nghiêp. Một chốn vàng thau lẫn lộn. Và biết thế vàng có đãi mới thấy, chất ngọc đích thực ở trong đá, phải tìm mới ra. Chuyện đó không phải không gian nan vất vả. Còn chuyện nói thì dễ thôi, ai nói không được. 
Những việc làm quá quắc của nhà nước với báo chí gây thành phong trào chống đối mỡi lúc một rộng lớn, đánh thức lương tâm của mọi hạng người. Những bắt bớ, những đàn áp, những thiệt hại cho dân được nhà nước nhân danh thượng tôn pháp luật, chính trị bị dân coi thường và coi là những biện minh xảo quyệt. 
Những bài thơ trào phúng của Tú Kếu bây giờ trở thành món ăn tinh thần của độc giả, cả ông chủ nhà in NĐVượng, ông thường đòi thợ in phải ” vỗ phông ” ra một bản riêng cho ông đọc, trước khi đem đi kiểm duyệt để chịu sự đục đẽo. Vì sự thông cảm đó mà ông Vượng cho thiếu tiền in chồng chất. 
Ông còn đề nghị: 
– kệ nó, cứ in nguyên bản một vài chục số, sau này còn phải giữ lấy nó làm tài liệu chứ….. 
Với lòng háo thắng của đám anh em chúng tôi, những tờ báo nửa nọ nửa kia đó trở thành báo lậu. Tờ báo được sự bí mật trợ giúp của một số độc giả nên vẫn ngắc ngoải sống được. Mật vụ đánh hơi thấy, dĩ nhiên cũng cho người len lỏi vào để nhận diện, từng tên một, được đánh giá, rồi sẽ giăng môt mẻ lưới….Chúng tôi là một đám người điếc không sợ súng. Sợ đã sợ quá mất rồi nên không còn biết sợ là gì nữa. Và chẳng còn biết an phận là gì, dù thân phận thường xuyên đói rách. Những bài thơ củ Tú Kếu, nay gọi là thơ đen ngày càng kinh khủng hơn, như những phát đạn bắn vào thành trì độc tài, bất công. Nhã Ca làm một bài thơ tha thiết cho xứ Huế. Bài ” tiếng chuông thiên mụ “. Đỗ Quý Toàn với bài thơ ” Lửa “, bừng bừng khí thế đấu tranh, ngày ngọn lửa thiêu của hoà thượng Thích Quảng Đức ngút cao, đánh thức lương tâm loài ngưòi. Lilêm sĩ của con người được thể hiên trung thực qua ngòi bút, ngòi bút mảng mai và nền bỉ. Tất cả những xấu xa lừa gạt từ bất cứ đâu đến cũng sẽ được phơi bầy. Cái công tâm của người cầm cây bút có liêm sỉ phải đúng như vậy. Tôi mơ ước được mang nó đến trọn đời…Tôi yêu quí nghề ngiệp tôi đeo đuổi. Mộng thành văn sĩ đã đến chưa? Với tôi là muộn màng rồi đấy. 
Chúng tôoi sống với nhau thường xuyên đói rách, thiếu thốn đủ mọi thứ nhưng vui. Lúc nào cũng vang tiếng cười, những chuyện vui dí dỏm thường xuyên giữa chúng tôi. 
Chị vợ anh chủ nhiệm mặt méo sẹo, buổi sáng khi phải phát tiền ăn xôi, uống cà phê cho chúng tôi, mắt chị cận thị cứ nặng lên phải soi mãi đồng tiền nhôm lên xem có đưalộn đồng một đồng thành đồng hai đồng không. Có hôm tôi phải la lên: 
– Đúng đồng một tì rồi, bà ơi, soi hoài thủng mẹ nó mất tôi làm sao mua sôi được nữa. 
Chị Bạch Ngọc phì cười, chữa thẹn: 
– Thì đây, các ông cầm lấy, nếu lộn thì trả lại cho tôi, tôi còn chia cho người khác, hai thằng con tôi còn chưa có kìa….. 
Những ly cà phê đen nhỏ, điếu thuốc Bastos và nắm xôi làm chúng tôi tỉnh táo cả người sau những đêm thức trắng vàng cả mắt, nhìn gì cũng thấy màu vàng. Tú Kếu còn yếu hơn nữa, có những lúc anh gục đầu vì kiệt sức. Niềm đam mê làm việc bùng lên trong chúng tôi như những con bạc đến hồi khát nước. Làm việc và sáng tác như điên, bất kể thì giờ và sức khoẻ. Tay nghề viết của tôi cũng bắt đầu đi vào nhuần nhuyễn. Tôi không còn làm thơ được dù rất yêu thơ, tôi biết mình không có khiếu trong lãnh vực đó. Tôi thu gom một mớ truyện ngắn của mình cũng kha khá, những đề tài xã hội, đất nước, cuộc chiến….nhưng tôi vẫn chưa lấy làm hài lòng, vẫn còn những nét vụng về khi nhìn lại tác phẩm của mình. Như người hoạ sĩ nhìn lại những bức tranh mình sáng tác….. 
Thời gian này tôi quen và thích đọc những truyện ngắn của Duyên Anh, nhất là những truyện viết về tuổi thơ, không biết có phải phản ảnh chính tuổi thơ của Duyên Anh hay không ? Sao nó bất hạnh và gian truân và mộng mơ đến thế: ” Dưới giàn hoa thiên lý ; Con sáo của em tôi ” Duyên Anh đã có vợ và con, vợ anh là con nhà đại dịa chủ ở Long Xuyên. Anh là Bắc Kỳ di cư, người xứ Thái Bình. Tô thấy trong truyện của anh nhắc đến cầu Bo ở Thái Bình hơi nhiều và trận chết đói năm Ất Dậu 1945, người xứ anh là nạn nhân chính trong vụ chết đói ấy. Anh tuổi hợi, nghĩa là hơn tôi ba tuổi, nhưng cũng dễ thông cảm nhau. Khi ấy Duyên Anh làm công chức, cán bộ gì đó ở Thanh Niên Cộng Hoà. Anh hay đến nhà in Nguuyễn Đình Vượngin sách báo gì đó trong bộ quần áo xanh cán bộ TNCH trên chiếc vespa Italic. Con người lúc náo cũng bảnh bao, mặt trắng và chải tóc mướt. Chúng tôi dễ thân nhau và cũng dễ mày tao chi tớ loan cào cào những lúc ngồi với nhau uống ly cà phê. Khi anh mua cho tôi khúc bánh mì thât dài thật to: 
– Mày phải ăn thế này mới đủ được, cái thằng du đãng Trâu Nước. 
– Nhưng…. 
– Không nhưng nhị gì hết, mày biết tao có vợ giầu mà, ở nhà vợ tao xào cho tao nguyên một chảo tim gan phèo phổi, ngày nào cũng vậy, tao ngán lên tận cổ, trong khi chúng mày lại thiếu thốn cả miếng ăn no bụng…. 
Con người Duyên Anh Vũ Mộng Long như vậy, pha chất kiêu, tếu khi nói chuyện, nên rất bị ngộ nhận. Điều đó tồn tại mãi trong anh cho đến khi anh qua đời. Cái tính huênh hoang không thay đổi và bất cần cải chính có lẽ vì thế đã hại anh. tìm môt con người đích thực ở Duuyên Anh là chuyện khó chứ không phải dễ. Nhưng mấy ai có thân tình và thì giờ để ngồi phân tích một con người. Tôi còn nhớ hai mươi mấy năm sau, sau khi đi học tập cải tạo về. Vợ con anh sau đó được bảo lãnh ra nước ngoài đi trước. Duyuên Anh gặp tôi ngồi ăn với nhau một bữa ban đêm ở chợ Thái Bình, trước nhà in Nguyễn Đình Vượng xưa. Anh đưa tôi xem mọi thứ giấy tờ ra đi theo diện ODP, nhưng rồi anh gấp lại: 
– Tao đầy đủ giấy tờ ra đi hợp pháp, nhưng tao không làm chuyện này. tao vượt biên, đi vậy mới đáng mặt, tao lo chuyện này rồi, tao mới bán căn nhà ở Công Lý được mấy chục cây, tao sẵn sàng chi cho mày ba cây để ra đi…. 
Tôi chần chờ vì còn nhiều lý do. Duyên Anh nói thẳng vào mặt tôi: 
– Tao ít khi tốt với ai lắm, sau này mày đừng hối hận tao đã nói với mày như thế đêm nay. 
Lần đó là lần cuối cùng tôi gặp Duuyên Anh, cho đến lúc anh qua đời, qua tin trên đài phát thanh ngoại quốc. Thế là tôi lại mất thêm một người bạn nữa ở nơi xa xôi…Tôi thắp cho anh một nén nhang sau khi nghe tin, hôm đó là một ngày giáp tết nguyên đán. 
Không biết có phải là tình yêu? Hình như là tình yêu, sau những ngáy tháng tôi có một đời sống dạc dài, trôi nổi. Con ngưòi tôi không còn gì là thơ mộng nữa và không thể có cái lãng mạn sướt mướt của một người viết văn tình cảm. Tuổi trẻ, tuổi yêu đương của tôi đã ném vào sọt rác rồi. Tôi làm sao có được các vuốt ve trữ tình, tôi ném vào tình yêu toàn chuyện kinh khủng, tàn bạo qua lối viết văn cộc cằn, đôi khi thô lỗ. Mà tôi cho đó là sự thât cần được nói lên. Có thể tôi đã sai, nhưng đó là lối của tôi. Tôi có thể cười hộc lên một cách bất lịch sự khi nghe lời tỏ tình êm dịu của một cặp tình nhân nào đó ở công viên hay một nơi phong cảnh hữu tình đẹp như thơ….. 
Nói tóm lại tôi vụng về trong chuyện ấy. Nếu tôi không thể là một nhà văn có khiếu viết truyện tình yêu. Ngoài bìa sách không thể in được dòng chữ tâm lý ái tình tiểu thuyết. Chưa bao giờ tôi viết được một cuốn tiểu thuyết như thế suốt mấy chục năm cầm bút. Tôi không thể làm đệ tử hoặc theo bén gót được những bậc trưởng thượng Song An Hoàng Ngọc Phách viết Tố Tâm, hoặc Tuyết Hồng Lệ Sử của Tầu. 
Nhưng bây giờ viết ký ức, tôi nghĩ mình cũng có tí quyền viết về mình một chút chứ. Một chút hình như là tình yêu. nhưng mơ ước, những lãng mạn còm của tôi, một thời đã xa xôi. Xin ai đó thứ lỗi. Nàng, bà lão ở nơi xa xôi cách tôi nữa vòng trái đất…Chính vì đã đọc bài thơ Tình Già của Phan Khôi nên tôi cũng có chút ngậm ngùi và lòng cũng rung lên, không phải cơn sốt rét, mà thật đấy, văn nghệ đấy. 40 năm trước, một hôm tôi ngồi một mình ở toà soạn tuần báo Ngàn Khơi. Tôi cắm cúi viết truyện ngắn có tựa đề là Vác Ngà Voi. Trong khi phật Giáo đang đấu tranh tưng bừng. Chính chúng tôi cũng không biết bị vồ bắt lúc nào. 
Tôi vừa viết, vừa gom góp một số truyện ngắn đã đăng báo để làm thành một tập. phải là một tuuyển tập truyện ngắn, như điều toôi mơ ước. những truyện này tôi chọn lựa và sẽ sửa chữa liên tục rồi gửi thằng em. Một ngày nào đó tôi sẽ mang ra trình làng những mẩu chuyện có đề tài quái gở. Không biết tôi có được chấp nhận hay không, chuyện ấy hạ hồi phân giải. Anh em thì nói tôi viết được, có những cái lạ mà nhà văn có đôi tay sạch sẽ không rớ tới. Và tôi cũng tin mình có chút tài năng để được làm nhà văn, điều mà tôi mơ ước từ tuổi hoa niên. 
Tú Kếu thì hăng hái hơn, hắn động viên tôi: 
– Cứ sáng tác đi, chẳng có gì đáng nản, cả tao cũng vậy, thơ của tao đâu có giống thơ “Lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính, mình sẽ lập nên một nhà xuất bản, nghề in ở tay mình. Mày biết không mình sẽ lập nhà xuất bản lấy tên là Tiếng Nói. 
Thế là tôi quên béng đi mọi chuyện thực tế vây quanh. tôi say sưa với Tú Kếu về nhà xuất bản Tiếng Nói chưa thành hình. Cứ nói cho sướng miệng rồi hạ hồi phân giải. tôi hùng hục viết, sáng tác. Nhà thường cúp điện, tôi tìm được cây đèn dầu cũ, đốt lên vửa đập mũi vừa sáng tác suốt đêm. tôi trở thành anh cận thị hơi nặng….. 
Lúc rảnh rang tôi lại lấy giấy bút ra, viết những điều mình từng suy nghhĩ…Không biết nên gọi là nguồn văn lai láng hay lênh láng đây. Tôi không nghiêm chỉnh ở được một việc gì. Tôi biết mình cà chớn trong đời sống, vì vậy tôi thưòng hay thất bại. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng…như câu xưng tội. 
Nàng hiện ra lúc đó, khi tôi không chờ không đợi. Mái tóc dài bỏ xoã, mặt hiền lành trắng hơi chút xanh xao, chiếc áo dài lụa nâu, quần đen và một đôi quốc sơn đen, quai nỉ lông trắng, một người con gái giản dị, không một chút xe xua kiểu cách ở tuổi mới lớn. Nàng như một nữ tu, có lẽ một ni cô là hợp thời nhất. Tiếng nói nàng thât nhỏ nhẹ: 
– Xin cậu cho cháu hỏi cậu Nhiên. 
Tôi ngẩng lên khỏi đống giấy tờ bừa bộn: 
– Cậu Nhiên nào, ở đây không có ai là cậu Nhiên hết. 
– Cậu Nhiên cháu làm thơ, viết báo ở tờ Ngàn Khơi này mà. 
– Vậy thì càng không thể có được. Tôi biết tất cả mọi thằng nhà văn, nhà thơ, nhà báo ở đây., có nhiều nhặn gì đâu, đếm trên đầu ngón tay, chỉ có mấy mạng thôi. Tôi kể ra cho nghe này….. 
Cô bé rối rít: 
– Dạ đúng rồi, cậu Tú Kếu chính là cậu Nhiên, cậu của cháu. Ở nhà thường hay gọi tên ấy, từ khi ở nhà quê xứ Sơn Tây kia. Cậu cháu đi viết báo, làm cách mạng nên nhiêu tên lắm, ngoài tên nguyễn Huy Nhiên ra còn tên Hoàng Bình Sơn, Trần Đức Uyển và bây giờ thì Tú Kếu….. 
Tôi cười thoải mái: 
– À ra thế, tôi không biết cái tên cúng cơm của nó, chắc cái tên này hồi còn ở nàh quê Tây Sơn nó đã dùng mua chức lý trưởng để gọi là quan lý, nên nó giấu tôi. 
Không chừng nó đã cưới vợ tảo hôn rồi, nên bây giờ nó mới biết làm thơ. 
– Không phải đâu cậu ơi. Cậu Nhiên cháu chưa bao giờ lấy vợ và cũng chưa mua lý trưởng. 
Tôi cười vui vẻ, ngay lần gặp đầu tiên, trêu chọc thêm: 
– Hoặc là chức trương tuần, tôi gọi nó là thằng trương tuần Nhiên, tôi cho nó vào tiểu thuyết. Thôi được rồi, ngồi chờ cậu Nhiên đi, nó ở bên nhà in cũng sắp về bây giờ. 
Trong khi chờ đợi Tú Kếu, tôi hỏi cô bé: 
– Tôi quen Tú Kếu lâu rồi, từng ăn một mâm nằm một chiếu với nó. Sao không nghe nói đến cô và cũng không thấy cô đến thăm? 
Cô bé bẽn lẽn: 
– Cậu ấy chỉ đến thăm ở nhà cháu thôi, cậu ấy hay thuê nhà ở những nơi ghê quá à, ai mà dám đến. Cả tháng nay không thấy cậu ấy đến, mẹ cháu sai cháu đi chợ, cháu tạt qua xme cậu ấy làm ăn làm sao mà biền biệt….. 
– Đơn giản thế thôi hả? 
Cô bé gật đầu thật thà: 
– Dạ thế thôi, và xem cậu ây thiếu thốn gì…. 
– Thiếu thốn thì nhiều lắm kể không ra hết. Nhưng Tú Kếu còn có người nghĩ đến, chứ tôi thì bạc phước. 
– Cậu…cậu…? 
– Chính vậy, tôi mồ côi, không nguyên vẹn hai đấng song thân, mẹ ở xa, không ngưòi thân thích, nói ra mủi lòng lắm. 
– Thế hả, cậu nói thật đấy chứ…nàng nhìn vào mặt tôi: 
– Ấy, cậu đừng thề, cháu tin rồi, coi như cháu của cậu, cháu là Mai Kha, còn cậu là cậu Long phải không. Nhìn người là biết ngay, cháu có đọc mà. 
Tôi xuýt nữa thì phì cười vì sự ngây ngô vô tội của cô bé. Tú Kếu lửng thững đi về. Mặt hắn ta lạnh như băng khi nhìn thấy cô cháu ngồi đó: 
– Sao cháu lại đến đây? 
– Cháu tới thăm cậu mà, sao lâu quá cậu không đến thăm nhà cháu, cháu nghe nói mật vụ nó bắt mấy nhà báo nên lo quá. 
– À chuyện đó có, nhưng cậu thì chưa, cháu thấy đó, chẳng biết lúc nào đâu mà nói trước….
– Dạ không nên nói trước, nó vận vào người thì khổ. Cậu Thu ở tù lâu rồi mà vẫn chưa ra. 
– Ông ấy ra sao được nếu chế độ này chưa sụp đổ. Nó dụ ông ấy vào đảng Cần Lao Nhân Vị thì nó thả liền, nhưng có đồi nào….. 
Tôi biết hai cậu cháu nói chuyện đến ai. Cái mặt anh chàng Tú Kếu có vẻ cau có, không biết có phải cau có vì tôi có mặt hay không. Nhưng thây kệ hắn, việc tôi tôi cứ làm. Hai người nói một tí chuyện gia đình, họ hàng bà con, Tú Kếu nhắc nhở cô cháu: 
– Này cậu bảo cho mà biết, mày không đi biểu tình xuống đường nghe chưa, bọn chúng dã man lắm, chúng đáng cho bỏ mẹ….Mày cũng về bảo mẹ mày như vậy, bà ấy là tín đồ Phật Giáo cũng hăng tiết vịt lắm. Bọn cảnh sát dẹp biểu tình không chừa một ai đâu, ni cô phật tử nó đánh ráo đấy, bất kể già nua hay còn trẻ. 
– Còn cậu thì sao, chửi chúng nó vừa thôi, cạu chửi cả bà Trần Lệ Xuân nữa. 
– Con mẹ, không bà nào ở đây cả, nó sang Tây giải độc mà nói ngu như bò. 
– Cậu nên giữ gìn sức khoẻ. 
– Có sức khoẻ chó đâu mà phải giữ gìn, đói rách thường xuyên, làm việc như trâu mà vẫn thiếu ăn. Ngoài việc hỏi thăm cậu thì đã xong rồi đấy, cậu cám ơn, cháu có thể về, ở khúc đường đằng kia nó mới dẹp xuống đường đấy…… 
– Cháu không sợ, cháu phải mời cậu đi ăn uống gì chứ. 
– Việc đó tốt thôi. 
– Tú Kếu nhìn tôi. Cả Mai Kha cũng nhìn tôi cười cười. Tú Kếu hỏi: 
– Hai đứa mày quen nhau chưa? Hay phải để tao giới thiệu? 
Tôi trả lời liền: 
– Mới quen nhau tức thì. 
Tú Kếu lẩm bẩm: 
– Mẹ sao mà nhanh thế, trông mặt thằng này tao thấy gian gian. Thôi được dù sao nó cũng là bạn tao, chúng tao hạt gao cắn đôi, nếu mày mời tao cũng phải mời nó. 
Quả thật chúng tôi có chỗ thân tình như thế thật, như sáng nay hai đứa chúng tôi phải ăn chung một gói xôi, chia ra mỗi thằng được một véo, chẳng thấm tháp vào đâu. Được mời như cởi tấm lòng, dĩ nhiên tôi bằng lòng ngay. Ba cậu cháu cùng đi sang chợ Thái Bình. Cô cháu Mai Kha: 
– Được rồi hai cậu ngồi ăn gì, cháu ngồi coi không, cháu chỉ uống môt ly chanh nóng thôi vì cháu ăn sáng rồi, lát cháu còn đi chợ rồi mới về…. 
Tú Kếu hình như quen với chuyện này, anh ta vào ngay hàng hủ tíu, chắc ăn hỏi: 
– Thoải mái chứ? 
– Dạ ăn thì phải thoải mái rồi. 
Có lẽ cô cháu Mai Kha vì thực thà không hiểu nổi câu hỏi của ông cậu, nên mới trả lời như thế. Tú Kếu nói với tôi: 
– Mày thấy không, gọi luôn cà phê đi cho tiện việc sổ sách, hôm nay mình uống cà phê sữa một phen, đừng có khách sáo mà làm mất tinh thần đi. Sao cái mặt mày coi khó ưa quá vậy, chẳng thấy mày phát ngôn được một câu nào. 
– Tôi có tính xâu, chưa ăn thì chưa nói. 
– Thì ăn đi, như tao, đừng khách sáo nữa coi rởm lắm, mất chỗ thân tình đi, cháu tao cũng như cháu mày. Cuộc ăn uống ” bấu xấu ” diễn ra ác liệt và rất tận tình. Mỗi thằng ăn tới ba tô hủ tíu vị chi là sáu tô, hai ly cà phê sữa, một ấm trà, hút hết một gói thuuốc lá Ruby. Cô cháu chỉ uống một ly trà chanh nóng mà còn bỏ giở. Cô bé khi trả tiền thì mặt biến sắc, nàng hết nhẵn cả tiền đi chợ. Đúng là gặp ngay hai thằng cậu ” ma đói “. Chắc là cạch tới già…Tôi tự trách mình sao mà tôi vô tình đến vậy? nàng có thể oà khóc như trẻ thơ khi bị ăn dỗ. Lại là tiền chợ mẹ giao cho mới mệt. 
Tú Kếu vẫn vô tâm vô tính: 
– Chợ đây, mày đi chợ đi, hai cậu xách giỏ cho. 
Giọng Mai Kha hơi run: 
– Thôi mà cậu, cháu hết cả tiền đi chợ rồi, để cháu về chợ Nancy gần nhà, có hàng quen. 
– Mẹ mày thì đánh chết, mày cứ nói đi chợ bị móc túi hết tiền rồi. 
Cô bé bây giờ mới rơm rớm nước mắt, có thể oà khóc: 
– Không, cháu không nío dối, nói dối là có tội. 
– Thôi thì kệ mày…. 
Tự nhiên tôi ân hận, thấy khó xử trong hoàn cảnh này và có ấn tuơng tốt về một cô bé, mặc cảm xấu xa về chính mình cũng dậy lên trong lòng tôi. Sao tôi lạ thế nhỉ, mới lần đầu tiên gặp cô bé, chẳng biết giới hạn mình. Nhiều năm trời trôi qua, Mai Kha có thể quên, nhưng tôi thì nhớ mãi….Khi nhìn cô cháu từ giã hai ông cậu ôn dịch, tôi đứng nhìn theo chiếc áo dài màu nâu non của nàng, tôi nói một mình, nhưng Tú Kếu cũng nghe thấy: 
– Một nàng tiên nâu. 
– Con bé đó là một nàng tiên nâu, mày nghiện thì bỏ mẹ. 
Hai đứa đành cười xoà, vì biết làm gì hơn được. Tôi nói cho đỡ ngượng: ” Lần sau thì cạch mặt hai ông cậu ! ” Tú Kếu nói: ” Không đâu, nó rất tốt và thông cảm, nó biết cậu nó là con ma đói thì bạn của nó cũng vậy, một tuồng như nhau “. 
Hình như là tình yêu, tôi chỉ dám lãng mạn ngầm. Nói ra thằng bạn tôi cười chết. tô thầm mong Mai Kha không cạch mặt tôi. Tôi cứ dính lấy Tú Kếu thì có cớ ăn theo. 
Nắng SG vẫn rực rỡ.

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 17 Apr 2024

Chương 14

Trời nóng như đổ lửa, công trường mênh mông, chói chang nắng. Hình như không khí chuyển động làm cho hơi nóng cũng lung linh. Mồ hôi trên đầu, trên tóc, trên từng phân vuông cơ thể tôi vẫn tươm ra ướt đẫm người cay xè mắt mũi. Cái mũ nan chỉ che được nắng gay gắt trên đầu, không phải là một bóng râm thật cần thiết. 
Hai cánh tay tôi mỏi rã rời, vì từ sáng đến giờ phải trộn bao nhiêu là mẻ hồ với cát đá sạn xanh. Những cái ki xúc hồ đến ngay lượt khác nườm nượp hốt hết. Cả công trường không chỉ mình tôi trộn hồ mà hàng chục người làm công việc ấy không xuể, những mẻ cốt pha đổ khuôn xi măng cột hàng rào ấp chiến lược nuốt chửng như những con vật khổng lồ tham lam. Những rừng cột xi măng chỉ kịp se mặt đã có xe tải tới chở đi liền. Họ chở đi đâu? không cần biết. Nhưng ai cũng biết rằng họ chở đi làm ấp chiến lược, hoặc đồn bóp nào đó, cung cấp trong tình trạng chiến tranh. Từ ngoài xa vọng về ầm ì tiếng súng, đã nhiều trận đánh lớn xảy ra trên khắp bốn vùng chến thuật, giữa hai khối chủ thuyết đối nghịch nhau. Mỹ lăm le đổ quân vào cứu tiền đồn chống cộng sản của gia đình ông tổng thống NĐDiệm. mà ông Diệm đang muốn giữ thể diện quốc gia nên chưa ngã ngũ điều kiện. Phong tráo Phật Giáo đấu tranh cũng đã bắt đầu nổ ra ở Huế và đang lan rộng. Chính quyền ra tay. Phật Giáo nói là đàn áp tôn giáo. Cơ quan mật vụ làm việc cật lực, nhà tù lại chật cứng người. 
Tôi nghĩ mình chẳng nên quan tâm đến chuyện đó, tôi hiền lành an tâm làm thân cu li như mọi thân phận cu li khác. Tôi thấy mình lương thiện và thoải mái trong công việc đổ mồ hôi này. Miếng cơm tuy đạm bạc mà ngon miệng, buổi chiều ra bờ sông uống một chai bia mát lòng mát dạ. Tối ngủ khì ở căn nhà trọ, không nghĩ ngợi gì hết. 
Tôi làm việc ở đây hơn một tháng do con trai bác nhưng cu li giới thiệu. Buổi tối hôm ấy tôi đến nhà bác. bác đồng ý tìm một lối thoát danh dự cho tôi. Có nhiều nơi cần người làm việc điều kiện phải xa dời ngay chốn chôi bời giang hồ này, những con ngưòi lòng tốt và nết xấu có cơn. Tôi nói với bác tôi không có gì để luyến tiếc. Làm bất cứ nghề gì miễn là nghề lương thiện. Vậy thì tốt, bác nói thế. Mờ sáng hôm sau bác sai anh con trai đưa tôi đi ngay. 
Điều không ngờ nhất, một trong những chủ thầu công trường là họ hàng xa lắc xa lơ với mẹ tôi. Ông chú tốt bụng, có lẽ cũng thương xót hoàn cảnh tôi, ông nói: 
– Được rồi, chú sẽ thu xếp cho cháu làm công việc bàn giấy, lám cu li với mấy người này chú e cháu làm không nổi đâu. 
– Cám ơn chú, cháu lao động được như anh bạn cháu và như mọi người khác. Rồi cũng quen cả thôi. 
– Thôi được, tuỳ cháu, cháu muốn thử thách là do cháu. 
Rồi cái gì cũng quen, bây giờ tôi như một người lao động chân chính. Da đen nhẻm, người gân guốc, ăn khoẻ như trâu và có lẽ mặt mũi cũng bậm trợn ra. 
Biết ăn to noi lớn dù chẳng là cái thá gì. Tôi thấy mình tự tin. Mỗi tuần tôi đến thăm em ở nơi trọ học, có chút tiền vặt giúp đỡ nó dù chẳng đáng vào đâu, bõ những khi xách giỏ quà nghèo nàn thăm nuôi tôi, khi tôi còn ở trong tù. Tôi nhận được những bức thư của mẹ, bà buôn bán, không phải còn làm vú em u già cho một gia đình ông quan năm Lào nào đó. Cũng là môt tin vui báo hiệu cho ngày sum họp gia đình. Mẹ tôi viết trong thư khuyên tôi sống cho đôn hậu có trước có sau. Vì bà vẫn nghi ngờ tôi sống đầy ắp những thù hận do những gian truân tôi đã phải trải qua trong suốt tuổi trẻ. Nhưng tôi nghĩ khác, đó là chất liệu quý giá cho tôi mà ít người có được. Để làm gì nhỉ! Chỉ biết tôi phải làm gì, giấc mơ ” thuở làm văn sĩ ” vẫn ở trong lòng tôi đang ngún ngói và tôi muốn gầy cho ngọn lửa cháy bùng…Trong hoàn cảnh này nói ra tôi thấy ngường ngượng, nhưng tôi vẫn theo dõi văn nghệ, những đêm ở nhà trọ chong đèn nằm đọc, gối đầu trên những cuốn sách, những tờ báo xếp chồng rồi ngủ thiếp đi trong mộng lành.
Thời gian này tôi sống yên ổn, hiền lành bên những nguờì bạn lao động lương thiện, nhưng tôi cô đơn. Tôi thấy thiếu một cái gì? Chất văn nghệ, như ly nước chanh mát lạnhđược uống trong trời nóng đang khát. 
Tôi chẳng gặp ai cả, không bí mật mà như kẻ bí mật theo dõi hoạt động văn nghệ tôi ngưỡng mộ nhà văn Nhất Linh lấy cái chết ra để phản đối chế độ Ngô Đình Diêm toan mang ông ra tòa xét xử. Sĩ khí tuyệt vời. Tôi làm gì? chẳng làm gì, chỉ chơi, chỉ thăng hoa cho mình. 
Đang nghĩ ngợi lẩn thẩn thì tiếng kẻng tan rung lên. Tất cả các công nhân, mà họ quen gọi là cu li giạt vào bóng râm nghỉ ngơi, uống nước như trâu, kẻ lấy lon cơm hộp ra ăn, người ra hàng cơm gánh rong ngồi. Tôi không có gia đình làm cơm theo nên ra hàng cơm bán rong: 
– Cho tôi một đĩa cơm trứng kho, rưới tí nước sốt. 
Bà hàng cơm xúc cho tôi một cái dĩa nhôm to: 
– Ối dào ngày nào cũng trứng kho, cậu không ăn sườn nướng đổi bữa hả, chưa vợ chưa con mà kẹo thế, hay dễ nuôi đây? 
– Không dễ nuôi đâu bà, vậy thì hôm nay tôi đổi món, cho tôi miếng trứng chiên rưới nước mắn chanh ớt vậy? 
Bà hàng cơm làm một cách dằn dỗi: 
– Chán bỏ mẹ, cả tháng không dám ăn lấy một miếng thịt, cục xương. 
Con trai ông già Nhưng, chú Nhớ nói: 
– Không phải anh kẹo đâu bà ơi, anh ấy là thầy tu phá giới nên không biết ăn thịt. Ăn nước mắm với nước sốt là qúa lắm rồi….. 
Bữa cơm trong tiếng cười hồn nhiên, bà quán cơm gắp vào dĩa tôi một gắp rau muống xào: 
– Thêm không tính tiền, nhà chùa không chê chứ, cũng đồ chay đây. Ăn đi lấy sức còn đi đấu tranh. 
Bên ngoài cuộc đấu tranh trở nên dữ dội, dù tôi không mấy quan tâm, nhưng vẫn lót vào tai, vào mắt và vào cả lương tâm, ngấm vào đó lúc nào không biết. 
Tôi uống cạn một ly trà đá và đổ thêm nước lạnh. Nước đổ vào trong miệng biến thành mồ hôi tươm ra khắp mình. Cái nóng trên công trường mới kinh khủng làm sao. Tôi chui vào một cái ống cống to nằm ngủ cho lại sức. Tôi lại mơ thấy mẹ, thấy một gia đình. Tôi đón bà ở phi trường. Con em gái út nhẩy cẫng lên ôm lấy cổ anh. Khi tỉnh dậy, trong hồi kẻng báo giờ làm việc, tôi biết đó chỉ là giấc mơ. Mà giấc mơ nào chẳng đẹp, tiếc nuối làm chi. 
Có tiếc nuối chăng, tôi mang đi vào những buổi chiều đạp xe đi lang thang ở thành phố, hoặc tạt vào sạp sách báo, nhà sách tàng tàng nào đó, coi cọp báo hoặc có tiền thì mua một tờ báo bị đẽo đục lem nhem của bộ thông tin. 
Tôi dừng mắt lại ở một cuốn sách in. Sách mà in ronéo trên những trang đánh máy. Đóng thành tập bằng dây kẽm. Tên tác giả Thế Phong. Nhà xuất bản Đại Nam Văn Hiến. những cuốn sách viết về những vấn đề văn nghệ, từ lớn đến nhỏ. Đôi khi là tiểu thuyết hay truyện gắn, truyện dài. những cuốn sách “không giống ai” và lạ. Nhưng tôi thấy người chủ trương nhà xuất bản này chính là một tay ngông và kiêu. Việc in ấn như một ” con thuyền tải đạo “. Trong một lúc tôi nghĩ là hay, là can đảm lắm. 
Thế Phong tôi biết, tôi đã đọc anh từ những bài báo thể phóng sự từ báo Giang Sơn ở Hà Nội. Thế có nghĩa là anh vào nghề, nỗi đam mê rất sớm, cùng thời gian với nhà báo Phan Nghị chuyên viết phóng sự “Bờ Lờ” ở những tờ báo Hà Nội. Các anh ấy chắn chắn là lớn tuổi hơn tôi rồi. Họ đã là nhà văn chưa ? Nhưng họ vẫn đeo đuổi nghề đã chọn. Thế nào họ không có một ” thuở mơ làm văn sĩ “. 
Tôi quen biết Thế Phong thuở mới lớn, thuở tôi mơ làm văn sĩ, tại nhà anh nhà văn Văn Nhân ở hẻm đường Công Lý, ở Đàm Trường Viễn Kiến của cụ Nguyễn Đức Quỳnh, ở căn nhà thuê nào đó của Thế Phong ở xóm chùa Tân Định. Những lúc xme anh cử tạ, người anh to lớn và dắn dõi như một lực sĩ thể hình. Khi đó những nhà văn nhà thơ thường ẻo lả gầy ốm, có thể vì thiếu ăn hoặc ghiền thuốc phiện. Thế Phong đặc biệt ghét người ghiện hút, dù là bất cứ ai. tôi đã đọc một bài viết của anh về một kỷ niẹm nghiệm hút, gây tai hại và mất niềm tin nơi anh. Anh phải từ bỏ quê hương Nghĩa Lộ của anh lên đường đi giang hồ, khi tuổi anh còn rất nhỏ. 
Tôi gặp lại Thế Phong 20 năm sau, cũng là thời gian thân tình nhất, khi hai thằng đã tạm thời buông bút, l;àm nghề cu li ở tít tận Cà Mau để kiếm cơm nuôi mình và vợ con, thuở chúng tôi là kẻ ngã ngựa. Hai thằng đứng ở mõm tạn cùng của đất nước nhìn hau cười ngu ngơ: 
– Thân cu li lại hoàn cu li. 
Nhưng đó là chuyện sau này, khi tôi, bạn bè tôi đã được gọi là nhà văn nhà thơ. Một đoạn đời thê thảm cho một đời người có thấm tháp gì. Ta biết cúi mặt thì cũng biết ngẩng đầu vậy. 
Tôi trở về văn nghệ, với mớ hành lý kềnh càng, hình như không còn chút gì mơ mộng nữa, đó là những kinh nghiệm sống của tôi suốt những năm qua. Từ khi bỏ học đi bụi đời, kiếm sống bằng đủ mị thứ nghề, một lần mắc vòng tù tội lãng hách. Cuối cùng là nghề phu phen cu li. Bây giờ tôi đã vào lứa tuổi trưởng thành nhưng chưa thể gọi là ” tam thập nhị lập “. Tôi có dịp hiểu biết nhiều thêm những gì tôi chưa biết về đời sống trong giới lao động, những lớp người ở tận cùng ngoài xã hội. Tôi từng bị sĩ nhục, bị hạ thấp nhân phẩm. Tôi nghĩ mình chẳng cần gì phải che đậy. Tôi cứ bóc mình ra như cái bánh. Một thời gian tôi tự lánh xa tất cả mọi người, bạn bè, bà con. Chẳng phải tôi mặc cảm, tôi chỉ ích kỷ ôm lấy những đau thương một mình để gậm nhấm thi vị hoá nó. tôi ra đời không làm ông nọ ông kia, cũng chẳng đậu đạt được gì cho ra hồn, mớ kiến thức còn nông cạn, ngoại ngữ dốt nát. những đưa em họ, bạn bè cùng học với tôi thuở nào thì bây giờ bằng cấp đầy mình. có kẻ đã làm quan nhà binh. Ngoại trừ thằng em ruột tôi. còn đi học, tôi vẫn thường xuyên tới nó và viết thư cho mẹ. Nếu bây giờ mẹ tôi về đây, tôi có thể góp sức với mẹ, làm lại một gia đình của chúng tôi. Bây giờ tôi là một công nhân bình thườngnhư mọi công nhân khác biết ăn no vác nặng. Chẳng rắc động não gì cả. Tô có động não chỉ coi như là giải trí. Đọc một bài viết bài thơ hay thì thấy thú vị. 
Tôi trở về văn nghệ như chuyện tình cờ. 
Như thường lệ, anh Bảy già, anh thợ hồ có tay nghề cao nhất rủ tôi sau buổi làm việc: 
– Sao, chiều nay mình có ra ngoài bến tàu làm vài chai bia nhậu tôm hùm nướng chớ? 
– Dạ, hôm nay tôi có việc. tôi phải về bên nhà cho tiền thằng em đóng tiền gạo và tiền học. 
Anh Bảy già dễ dãi, gật đầu: 
– Phải đó, chú lo cho thằng em đến nơi đến chốn. 
Tôi đạp xe đạp về nhà trọ của em tôi, thằng em bây giờ đã lớn như một thanh niên cường tráng. Nó đang ngồi học môt mình ngoài đầu hè. Tôi trao số tiền dành riêng cho nó, rồi rủ nó đi chơi với tôi. Nhưng chú em tôi từ chối: 
– Năm nay em thi, chỉ còn ít ngày nữa nên phải học ôn gấp rút, thôi anh đi chơi một mình co khuây khoả. 
Chú em không quên mang cho tôi một số sách văn học, báo chí mà nó tìm mua ở tiệm bán sách cũ. Ở những trang sách báo đó, tôi thấy nhiều tên tuổi bạn bè tôi lúc đó nào Nguyễn Nhật Duật vừa là một giáo sư triết vừ là một tay phê bình văn học, Dương Nghễm Mậu một nhà văn đíich thực, có sách xuất bản. Lê Đình Điểu một giáo sưvăn chương, triết, theo nghành báo chí. Vợ chồng Trần Dạ Từ và Nhã Ca theo đuổi nghề nghiệp văn thơ và đã có tiếng. Trần Dạ Từ làm chủ bút tờ tuần báo Ngàn Khơi. Tú Kếu Trần Đức Uyển là một nhà thơ trào phúng có tiếng là tổng thơ ký với tờ báo ấy, tôi còn thấy rất nhiều tên tuổi khác. Toàn anh em cả tụ nhau trên một tờ báo. Đằng Giao, người bạn học thuở nào nhưng khác trường có kgiếu hội hoạ, nay đã là hoạ sĩ vẽ rất nhiều tranh biếm hoạ trên báo và trình bày báo như những hoạ sĩ nhà nghề khác. Tôi biết anh ta không xuất thân ở một trường hội hoạ nào ra. Tờ báo Ngàn Khơi rất đẹp, đúng như mộng ước chúng tôi thuở nào….nhìn vào tờ báo,đọc những bài viết thơ văn của anh em, tự nhiên tôi lại có ao ước, tôi nghĩ đến những bài viết của tôi thuở nào, có lẽ đã xa rồi. nhưng vẫn có gì đó vẫy gọi….. 
Tô dời chú em, khi thấy nó ôm cây đàn guitar, nay cây đàn đã vừa tầm tay của nó không còn quá to như thuở nào, tiếng đàn thư giãn sau những lúc miệt mài. 
Tôi đạp xe đi vòng vòng trong thành phố, ghé nhìn vào những tờ báo bán đầy ở sạp. những tờ báo bị đục đẽo nham nhở, cả những bài bị bỏ trắng. Tệ hại và giả dối hơn, có những chữ ghi ” toà soạn tự ý đục bỏ “. Độc giả phải hiểu ngầm rằng bài bị bộ thông tin duyệt có viết mà không cho đăng tải. 

Hiểu theo rất VN thì đó chính là câu có hơi gướm xỏ lá cả anh nhà báo, như một câu bỏ lửng, không kết luận của chuyện tiếu lâm, rồi xặc lên một tràng cườì thay cho câu chửi thề. Chuyện tiếu lâm VN có cái thâm thuý của nó. Trong đời tôi nghe nhiều chuện tiếu lâm từ thời thơ ấu cho đến tuổi già. Nó phản ảnh thâm thuý và vẹn toàn đó. Cái cười làm cho con người ta sống lâu mà không chết được vì đau buồn…. 
20 năm sau tôi còn thấy nhà văn Vũ bằng, bậc đàn anh trên văn đàn, lọm khọn đi thu gom những mẩu chuyện tiếu lâm ở chợ trời trong thành phố được tái chiếm. Những mẩu chuyện tiếi lâm ở khắp VN, phản ảnh đời sống con người VN trong một cuộc chiến dài đau thương mà con người phải bật ra thành tiếng cười thay vì tiếng khóc qua những mẫ chuyện tiếu lâm, những câu vè…Tôi hỏi ông làm gì vậy ? Ông trả lời đồ ngu, tao làm việc này như tao viết ” miếng ngon Hà Nội ” thuở nào, cứ gom lại đã không cần xuất bản. Cho đến nay hơn 20 năm sau nữa tôi vẫn chưa thấy tạp truyện tiếu lâm của Vũ Bằng gom góp xuất bản. Mất rồi chăng ? Vũ Bằng đã ra người thiên cổ. Tôi tiếc! 
Trở lại với hồi ức chiều hôm ấy, tôi gặp lại Tú Kếu, Trần Đức Uyển. Chiều hôm thứ bảy đó khi tôi đang đạp xe đi lang thang trong thành phố quen thuộc. Vẫn dáng gầy cồm ốm yếu như thuở nào, vẫn cặp kính trắng dầy cộm luôn luôn trên mắt. Anh ngồi cắm cuí bên bàn rộng đặt trê hàng hiên nhà in Tương Lai ở đường Võ Tánh, bản in thử rải trước mặt anh, anh đang làm công việc sửa bài cho báo. Anh ngẩng lên nhìn tôi khi nghe tôi gọi tên, phía trong nhà tiếng máy in chạy rầm rập. Thái độ không mấy vồn vã vì quá bận, anh hỏi tôi: 
– Sao lâu quá bây giờ mới thấy mày xuất hiện, chờ tao chút, sắp xong rồi, sang quán bên kia đường chờ tao. 
Chỉ một lát sau, tôi chưa hút hết một điếu thuốc lá, Tú Kếu đã sang quán với tôi, anh ngồi xuống có vẻ mệt mỏi: 
– Đáng nhẽ xong trang này tao về, nhưng gặp mày tao ngồi lại uống cà phê hỏi mày đã biến đi đâu mà lâu quá vậy, nhiều khi anh em nghĩ mày đi lính ” ngỏm cù đèo ” rồi. 
Tôi cười với Tú Kếu, nhìn anh ta, đôi máy anh ta sau cặp kính trắng hấp háy, trông đáng yêu như thuở nào. 
– Táo còn đây, chưa tử trận được, bom đạn vô tình nhưng vẫn tránh tao. khám Chí Hoà đã bao bọc che chở cho tao suốt một thời gian, nhưng thôi chuyện còn dài lắm, bây giờ mày cùng tao ra bờ sông SG nhậu một chầu cho đời lên hương. 
Tú Kếu cười hì hì: 
– Mày có tiền? 
– Dĩ nhiên rồi, tao mời, tiền lương làm cu li của tao đó, chuyên viên đổ bê tông, sản xuất ống cống và cọc hàng rào ấp chiến lược. 
– bảnh nhỉ, thôi được, đã lâu tao không có chất thịt. Mẹ, thiếu cả ăn mới khốn nạn chứ, làm báo thời buổi này chán quá, chúng nó đục đẽo nham nhở không còn ra sao nữa, báo bán đếch được, tiền đâu mà chủ báo trả mình. Mày có biết Phật Giáo đang đấu tranh không? 
– Biết! 
Tôi trả lời cộc lốc và chở Tú Kếu ra bờ sông, ngồi quán lộ thiên để Phá Kếu mặc sức phá mồi, hai cha ibia đưa cay. Câu chuyện của chúng tôi càng lúc càng trở nên rôm rả. Tô kể cho Tú Kếu những ngày tôi sống lưu lạc, những nghề nghiệp tôi đã làm kiếm sống, những ngày tù tội và đời sống của những người tù, đời sống hạ lưu ở tận cùng xã hội, ở những xóm chơi bời. Tú Kếu trở nên sảng khoái khi anh ta uống hết một chai bia, tôi gọ thêm chai nữa. Tú Kếu uống bia ít mà phá mồi nhiều, khoái chí tử trong câu chuyện 
– Chất liệu, chất liệu của mày phong phú thật, tao chán ngấy những truyện bây giờ, toàn là thứ tình yêu lẩm cẩm, chẳng ra đâu hết, nghèo nàn, dốt nát, rẻ tiền. Còn không thì bắt chước Tây Phưong với mớ triết lý vụn, làm mè làm dáng, chẳng giống một con giáp nào. 
Câu chuyện của chúng tôi sau mấy năm không gặp nhau, có men bia tự sức xoay quanh chuyện văn nghệ. Tôi không ngờ sau những năm không dính dáng gì đến chuyện văn nghệ, mà nay nói tới tôi lại đam mê. Chúng tôi ngồi nhắc đến những kỷ niệm, như đã lâu lắm rồi. Tú Kếu nói về hoàn cảnh hiện tại, anh đã htôi day học về làm báo, đúng ra làm văn nghệ với bạn bè, vợ chồng Trần Dạ Từ – Nhã Ca. 
Giọng anh buồn bã: 
– Tờ tuần báo văn nghệ này nghèo lắm, vợ chồng Bạch Ngọc bỏ tiền làm, nhưng họ cũng nghèo quá, nội cái chạy tiền in giấy đã thấy mệt rồi, báo đôi khi bị tịch thu, kiểm duyệt cấm phát hành, nói chi đến chuyện lương lậu cho mình. Chẳng qua vì mình yêu văn nghệ và đam mê nghề nghiêp nên phải hy sih, bọn này cực khổ lắm. Một mình Trần Dạ Từ làm việc ở nhật báo Dân Việt còn có tiền, nhưng cũng eo hẹp và chậm trễ lắm, hắn còn phải lo cho vợ con hắn chứ, hắn mới có một đứa con gái, bé Sớm Mai, cái tên đẹp chứ nhỉ, như tên con gái Hoàng Anh Tuấn đặt là Hoàng Tôn thắm. 
Tú Kếu xoay ra ca tụng những cái tên đẹpmà quên mất chuyện đang nói. Một lát trở lại: 
– Nói đúng ra là mình làm báo người ta chỉ nuôi cơm, mình cũng chẳng còn thì giờ để đi học thêm, nên đời sống rất là thiếu thốn. 
Tú Kếu chẳng cần thanh minh, cứ nhìn cách hắn ăn uống phá mồi cật lực cũng đủ biết rồi. Tôi nhìn Tú Kếu cười: 
– Nghĩa là hy sinh vì sự nghiệp văn nghệ. 
– Hiểu sao cũng được, cứ cho là như vậy đi, làm văn nghệ kiểu này như kẻ vác ngà voi vậy, cái ngà voi quí thì càng nặng, càng dài. Thằng làm cái công việc ấy mất nhiều công sức lắm, chưa chắc đã đi đến đâu, có khi nửa đường đứt gánh. 
Buổi tối hôm đó tôi và Tú Kếu uống hơi nhiều bia, Tú Kếu vẫn không quên bổn phận, anh than phiền làm báo vào đúng thời gian Phật Giáo đấu tranh chống NĐD nên bài vở bị bộ thông tin kiểm duyệt nhiều quá, chiều nay bị bỏ trắng môt truyện ngắn, anh phải viết trám, nhưng bây giờ thì chưa có chữ nào, anh hứa liều: 
– Thôi được, mình về ngủ một giấc, đêm dậy viết, sáng mai mang đi kiểm duyệt sớm mang về sắp chữ còn kịp. 
Tôi chở Tú Kếu về căn gác thuê trong một xóm lao động nghèo nàn, cửa sổ nhìn xuống con hẻm nhỏ, có lẽ xóm này còn có những ổ chơi bời nữa, như xóm cũ Tú Kếu đã ở. Tôi thấy khách chơi ra vào tấp nập, mùi son phấn và những tiếng gọi nhau ơi ới, những câu chửi thề, những lời trao đổi tục tĩu. Tú Kếu nói: 
– Ít hôm nữa mình về nhà Bạch Ngọc, ăn cơm với vợ chồng Trần Dạ Từ mình sẽ đỡ lo hơn, nếu thấy còn ham vác ngà voi thì về với tao, một mình tao gánh mêt quá. Căn nhà đó ở đường Bùi Viên, một gian của trường Thăng Long cũ. Một căn nhỏ bên cạnh cầu thang làm tòa soạn. 
Tú Kếu nói thế rồi lăn ra sàn ngủ liền, trong cơn mơ anh vẫn lèm bèm nói anh phải viết bài điền vào khoảng trống. Chỉ còn mình tôi thức trên căn gác. Tự nhiên, như có gì vô hinhthồi thúc tôi ngồi vào bàn. Giống như bị ma nhập, tôi cầm bút lên, như thuở nào, những ngày bắt đầu có nỗi đam mê, tôi suy nghĩ, sắp xếp bố cục và nắn nót ghi cái tựa đề: ” Bà Chúa Tám cửa Ngục “. Tôi viết, hình như chẳng khó khăn gì, đến gần sáng nhiều trang giấy đã đặc kín chữ. 
Tôi đọc lại những gì đã viết, hình như không đến nỗi tồi. Tôi viết về đời sống những người tù, những điều dị đoan mê tín của họ trong hoàn cảnh cùng khổ, như những điều tôi đã sống và đã kể cho Tú Kếu nghe chiều nay. Vẫn có một quyền lực gì đó siêu linh che chở cho những linh hồn cô đơn giữa chợ đời. 
Trời gần sáng, dưới con hẻm bớt lao xao. Tú Kếu vẫn ngủ say dưới sàn gác. Tôi ngồi chống tay lên bàn nhìn ra cửa sổ, phía dưới là những mái nhà cao thấp, những mái tôn chen mái lá. Tôi chợt nhớ đến căn xép nhà tôi thuở nào, bao nhiêu là những người anh em nằm ngủ qua đêm, chẳng biết đến bao giờ tôi mới gây dựng lại được. Hình ảnh một gia đình với tất cả tình yêu thương trong trí nhớ làm tôi thấy buồn. 
Tôi sửa chữa xấp bản thảo rồi dằn dưới cái gạt tàn thuốc lá. Tú Kếu vẫn ngủ say. Để anh ngủ, tôi viết lại mấy chữ, tôi ra khỏi căn gác. Xuống hẻm và đi ra đường. Một quán cà phê mở cửa sớm, giờ giới nghiêm đã hết, một quán cà pgê Tầu, bán hủ tíu và bánh mì xíu mại, với tiếng gị hàng lảnh lót của phô ki, như những quán cà phê bán sớm ở khắp SG Chợ Lớn thuở đó. Xung quanh tôi những lhuôn mặt mệt mỏi, những tiếng nói chuyện lao xao, họ đang nói chuyện Phật Giáo đấu tranh đòi lật đổ chính quyền NĐDiệm. 
Không phải riêng một gia đìng ông ta mới biết chống cộng, một lời phản bác nào đó. Họ nói đến những côcbiểu tùnh bão táp xảy ra trên toàn quoấc 

Tôi chờ Tú Kếu ở quán cà phê khá lâu, anh không ra hay đã đi lối khác, những ngõ hẻm trong những xóm như thế này chằng chịt, khó mà gặp được nhau nếu không hẹn trước. Tôi đạp xe lên ngã sáu SG và kẹt vào một đám biểu tình xuống đường. Sư sãi, sinh viên học sinh, nhiều thành phần xã hội. Dây thép gai giăng ra khắp ngã đường, cảnh sát, công an, cảnh sát chiến đấu đàn áp thẳng tay. Tiếng tụng kinh, tiếng đả đảo, tiếng gào khóc, lời rủa sả chế độ độc tài. Từ xa phía ngã tư đường Phan Đình Phùng, Lê Văn Duyệt lửa bốc lên. Chuyện gì đó, tôi không biết, người ta chạy rần rần, tôi bị xô đẩy theo hướng đó, tôi bị lãnh không biết một cái dùi cui hay cây gậy, tôi gục xuống. Có cánh tay ai đỡ tôi dậy dìu chạy, không, đây là một vòng tay thân ái, không phải vòng tay thù địch. Tôi hiểu như thế trước khi không biết gì nữa. 
Nắng SG vẫn rực rỡ.

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Chương 13

Lần đầu tiên tôi nhìn thấy một khám đường, phía bên trong nơi đó là khám Chí Hoà nổi tiếng. Khu khám đường ba tầng, kể cả tầng trệt. Khám đường xây theo hình bát quái, tám khu riêng biệt. người ta nói khám này do người Nhật xây sau khám lớn SG do Tây, theo yểm triệt kiểu bùa chú Đông Phương, vào khám là cửa sinh, ra là cửa tử. Ngay giữa khám là một bồn nước lớn, hình dáng của cái chuôi kiếm cắm ngược. Hình dạng khám đường chính là một lá bùa huyền bí ghim bằng một mũi kiếm ngạp đến chuôi. 
Tám khu khám đường ồn ào, vo ve như một tổ ong vĩ đại, tiếng mở cửa sắt âm vang ghê rợn cướp hồn những phạm nhân yếu bóng vía. Những đoàn xe tù vào khám chạy quanh đến ba vòng tường cao rồi mới vào phòng can nhơn, từ phòng can nhơn nhận hồ sơ, điểm danh từng tên tù, giam ở phòng tạm giam tầng trệt trước khi phi phân phối di các phòng giam theo tội trạng. Tôi bỗng nhiên bị lãnh đến hai số thẻ bài, một thẻ bài thường phạm và một thẻ bài quân phạm. Cũng có người lãnh đến ba thẻ bài đeo trước ngực áo như đeo huy chương. Tôi hai thẻ bài cũng được sự kêng nể trong đám tù nhân. 
Ngoài những giám thị trại giam. các tù công vụ mặc quần áo trắng, tù lao dịch quần áo xanh làm việc tất bật ngoài song cửa. Có những tù nhân hầu như đã quá quen thuộc với nơi chốn tù tội này hỏi thăm nhau, gọi tên nhau: 

– Đức ơi, mày được đi làm theo dịch rồi hả, cho tao tán đường coi? 

Những tán đường đen to bằng nửa bàn tay từ ngoài song sắt ném vào rơi lộp bộp trong phòng tạm giam. Một thằng ngồi cạnh tôi nhặt một tán, bẻ chia tôi một nửa: 

– Ăn đi buồn quái gì, mà mày tới hai số thẻ bài lận, mày băng nhóm nào? 

Tôi cầm nửa tán đướng nhấm nháp: 

– Tao không hiểu, quân phạm thì đúng đấy, tao lính phạm kỷ luật. 

– Còn tội thường phạm của mày, đừng nói tội, tao chỉ hỏi mày bị bắt ở đâu? 

– A, phải rồi, nếu mày không giựt dọc ở bến xe Nguyễn Hoàng thì cũng dân môi ở chợ cá Trần Quốc Toản. Tao quen hết những tay đầu nậu ở hai nơi đó…mà mày mang thẻ bài quân phạm nữa, chắc chắn là cướp rồi, chứ mày ” già ” thế này đâu còn đi môi. Tao biết mấy thằng môi, toàn nhóc tì không hà, chúng thuộc loại tù nhi đồng. Tao tù nhi đồng bây giờ mới lên thường phạm đấy chứ. 

– Bộ mày vào nơi này thường sao? 

– Hoài, có năm vô đến ba lần lận. 

– Tội gì? 

– Đừng hỏi, tao có hỏi tội mày đâu, nhưng ở đây kiêng. Mày mà hỏi, bà chúa tám cửa ngục bả ghét bả ban cho mày cái án lưu thì thấy con đĩ mụ nội. Mày tù ” con so ” phải không? 

– Tù con so là sao? 

– Đồ ngu, tù con so là lần đầu tiên vào tù, vậy mà mày dám mang đến hai thẻ bài, hai thẻ bài là hai tội, sẽ phải ra toà hai lần, mang hai bản án chồng lên nhau. Mày mà phải ra toà áo đỏ thì ở tù mọt gông ra đảo hoặc làm tù tử hình. 

– Tao không ăn cắp cũng không ăn trộm, móc túi ai hết. 

– Vậy thì mày ra tòa áo đỏ rồi, mày phải phòng dự thẩm chứ không biện lý như tao. Đại hình, đại hình đó mày ơi. lại còn ra toà án quân sự nữa. Mèng đéc ơi, mới là tù con somà mày đã ” dện ” đến hai thẻ bài tổ bố thế này thì có bỏ mẹ không, mày bắn hay liệng lựu đạn? 

Tôi phắt bực mình: 

– Đừng hỏi nữa. 

– Ừ thì không hỏi, tao mà thanh toán ai thì có chém có lụi nhát dao con chó chứ bọn lính tụi bay là chơi súng, lưu đạn…Tao có quen mấy thằng. thôi chào đaị ca. 

Thằng tù mới quen bèn pohng tôi làm đại ca. Theo suy luận của nó chắc tôi phải là một tay giang hồ ghê ghớm lắm, liều tận mạng 

Hôm đó ngày 29 tết. Tôi bị phân phối sang phòng giam C2, nhốt thường phạm. 

Buổi thăm nuôi cuối năm của những người tù chắc chắn là hậu hĩnh do những người thân. Tôi ngồi buồn xo, tôi có một người bạn thân nào đâu, có thể không kịp thông báo, cũng có thể họ khinh miệt tôi là hạng cặn bã của xã hội. Có chết đi cũng chẳng ai thương tiếc, nói chi đến món quà thăm nuôi. 

Ở giữa phòng giam để một cái giỏ cần xé không để hai chữ HẢO TÂM. Mỗi người được thăm nuôi từ phòng can nhơn lên đều bỏ vào đó một món đồ, cái bánh chưng, cái bánh tét, kẹo bánh hoặc hoa quả. Chuyện đó hoàn toàn mới mẻ với tôi vì tôi mới thấy lần đầu. Giỏ cần xé gần như đầy đủ cả hương vị xuân đón tết năm mới, buổi tối sau giờ vào phòng giam những tên tù mồ côi ( như tôi chẳng hạn ) không có người thân thăm nuôi được gọi ra chia phần, hảo tâm của anh em. 

Tôi chán đời không nhận gì cả, chuyện đó cũng xong thôi. Anh em để trong giỏ ăn chung, những thằng tù mồ côi cũng ấm lòng những ngày tết. Ít ra cũng không bị bỏ rơi, như ngoài xã hội bỏ rơi: Sống chết mặc bay. 

Một anh tù già, tôi coi bộ anh ta cũng là người trí thức, nói với tôi một câu: 

– Nhiều năm rồi tôi đi tìm tình người, vào đến đây tôi mới thấy tình người ở những thành phần cặn bã nhất trong xã hôi sống. 

Đúng thế, ở đây tôi mới thấy con ngưòi chia sẻ cho nhau từ nỗi bất hạnh đến miếng ăn uống của cuộc đời thường. Biết xót xa cho hoàn cảnh của nhau, những con người. 

Một chốn bình sản và sòng phẳng. Sự bạo tàn để trừng phạt, để đền ơn đáp nghĩa hay thù oán cũng có vậy, nhưng nó không phức tạp như đời sống ngoài kia. những điều đó không ai dạy mà tự nó có, anh là con người anh phải có, đơn giản thế thôi. 

Tôi không được giam vào phòng quân phạm, mà tôi gặp họ hoài. Đủ thứ tội phạm của quân phạm. Tôi gặp thiếu dù Phan Trọng Trinh, tội phạm của cuộc chính biến 11/11. Ông nhỏ con, đeo kính trắng như một thư sinh. nhưng tính nết của ông thật can trường như một quan nhân chuyên nghiệp. ông sang khu thường phạmđể cắt tóc. Tôi nghe ông chửi thẳng cánh một ông trung tá tên Dung can tội ăn cắp, tham nhũng: 

– Xin lỗi, tao không đồng đội với mày vì tao không là thằng ăn cắp như mày. Đừng đền gần tao…. 

Khi đó tôi thầm nghĩ sao tôi không được dưới quyền của những sĩ quan có tư cách như thế…… 

Tôi gặp cả đại tá Hiếu, trưởng ban quân lương của đơn vị tôi, một người tận tình bóc lột lương lính đến tận xương tuỷ. Trung sĩ Phan Thành Thiệt. người gây án ở quán kem Kim Điệp vì bênh cấp trên. Rất nhiều bộ mặt, tốt co, xấu có, vô liêm sĩ cũng có….. 

Tầm mắt tôi mở rộng, không hạn hẹp và không theo một chiều được chỉ định. tôi nằm chung với ba thằng tù đại hình, đều can tôi giết người. Thằng hùng mặt mụn can tội đâm chết tay cao bồi nổi tiếng hồi đó Lâm thợ điện. Thằng Năm Lửa, tính nóng như Trương Phi, động gì cũng dám động thủ giết người, xếp xòng xóm chơi bời, thằng Ẩn trọc, thằng có tính điên nên rất dễ gây án. 

Tôi ốm dề dề, bạn trong khám nói rằng tôi bị hồn oan của những kẻ gây án ám tôi. 

sau này trong bọn chúng tôi thêm môt thằng nữa mang tội đại hình, thằng Đỗ Quý Kiệt, bất nhân đại ác giết cả nhà người chủ nhân của hắn. Sau này hắn bị tuyên án tử hình. Bị xử bắn tại chợ Bến Thành, khi tôi đã là phóng viên nhà báo, buổi sáng đô thành trời chưa sáng rõ mặt người, tôi gặp hắn khi hắn thọ hình. Hắn nói với tôi, khi ở phòng giam cứu. 

– Mày viết làm sao cho tao được một tờ biện minh trạng để ra tòa áo đỏ giảm án cho tao, bị đày ra đảo một vài chục năm cũng được, thời gian ấy tao lại lại cuộc đời cho hữu ích. Mày thấy không, tao đã học, tao thuộc được cả mấy cuốn English for today. Có muộn lắm không hả mày ? 

Tôi biết làm sao trả lời cho được. tội ác hắn trót gây ra nặng quá, vả lại tôi đâu có là toà áo đỏ. Số là thời gian đó ở trong khám tôi cũng làm một vài chuyện giúp anh em bạn tù. Tôi viết dùm những tờ biện minh trạng cho một số người, hoặc oan ức, hoặc biết tội mà xin khoan hồng. Chính điều này cũng giúp cho tôi, tôi thoát được tội nhục nhã mà người ta khép cho tôi. Tôi trần xì là anh lính đào ngũ, lãnh 12 tháng tù. Buổi tuyên án đến mấy chục quân phạm, tội đào ngũ. Đồng loạt 12 tháng tù. Tấm lịch trên tường thay đổi từng ngày, tôi thành án rồi vẫn ở phòng thường phạm, vì còn ít ngày quá, tôi đếm từng ngày. 

Rằm tháng 7, cúng cô hồn các đảng. nhưng khám Chí Hoà cúng bà Chúa Tám cửa ngục. Vì những người ở khám tin rằng tám cửa ngục ở cái lò bát quái này có một bà chúa cai quản tất cả các cô hồn uổng tử, những đêm mưa dầm ảm đạm trong không khí bí ẩn. Đèn nhang thắp đầy trên những thềm các cửa phòng giam của cả 8 khu. Sau đó bà chúa phù hộ, có người được giảm tội, có người được tha tội chết. Tin hay không tin nhưng đó là tín ngưỡng của những người cùng khổ. 

Tôi may mắn, bỗng dưng được nể vì, được nhiều anh em bạn tù nhờ vả làm ” biện minh trạng “, kể cả các anh em bạn tù ở phòng giam khác. Vì tôi viết biện minh trạng ” mát tay “. Chuyện đó có trời mà hiểu được. 

Cùng năm đó trong khám chí Hoà, mà nhà nước họi là Trung Tâm Cải Huấn Chí Hoà mở khoa thi trung học đệ I cấp. Tôi thi một cú đậu liền. Đến năm tới, khám chí Hoà mở thi tú tài, nhưng tôi không còn ở đó nữa. người giám thị nói với tôi: 

– Bằng cấp ở Chí Hoà hay ở ngoài cũng giá trị ngang nhau thôi. Của bộ quốc gia giáo dục cấp hết. 

Tôi được điều xuống khu làm việc giấy tờ và được coi là tù công vụ tha hồ lục lọi sách vở ở thư viện khám đường, đêm về đọc vùi. Tôi xin ở lại phòng giam cứu, vì thời gian còn quá ngắn. 28 tết tôi mới mãn án. Coi như đúng một năm tù. Buổi tối hôm ấy tôi liên hoan với mấy người bạn tù thân thiết. Hùng mặn mụn có giọng hát hay, hắn hát tặng tôi bài Thiên Thai của Văn cao. 

Năm Lửa hỏi tôi câu thực tế hơn: 

– Ra khỏi tù mày về đâu? Tao biết mày không nhà cửa cũng không người thân. 

– Ngưòi thân thì có đó, nhưng ngưòi ta có chứa tao hay không thì không biết. 

Năm Lửa khẳng định: 

– Được, nếu mày kẹt, tao giúp mày….cơm no bò cưỡi được chứ? 

Năm Lửa loay hoay viết một bức thư rồi dán kín trao cho tôi: 

– Không còn nơi nào để về thì mày về địa chỉ đề ở trong thư. Tao bảo đảm mày sẽ sống cả mùa xuân này, nếu muốn cứ việc sống. 

Tôi không để ý đến điều đó, tôi cũng không nghĩ rằng đó là nghĩa giang hồ Đơn Hùng Tín kiểu Nam kỳ 

Đỗ Quý Điệt nắm chặt tay tôi: 

– Mình có thể gặp lại nhau, khi mày là nhà báo hay nhà văn gì đó. Có thể ở ngoài đảo….. 

Nhưng thực tế sau này tôi không gặp ĐQĐiệt ở ngoài đảo mà gặp ở sân…bắn bao cát ngày Điệt thọ hình. Hắn mặc cái áo len cụt tay của tôi để lại cho hắn hôm tôi dời khám đường. Đôi mắt đẹp của tên tử tội đẹp trai bị bịt lại bằng miếng băng đen. 

Tôi không viết nổi một biện minh trạng cho ĐQĐiệt khi còn sống, vì tội hắn quá nặng mà chỉ viết được một truyện ngắn nhan đề ” Chỗ gối đầu “. Tôi lấy ra từ câu kinh thánh ” Chồn cáo có hang, chim chóc có tổ mà loài người thì không có chỗ gối đầu ” 

Buổi sáng tinh mơ ngày 29 tết, tôi được gọi trả tự do. Tôi phải xuống phòng can nhơn làm thủ tục. Tôi lãnh lại những đồ bị giữ khi bị bắt. Còn mấy đồng bạc lẻ, tấm vé xem hát bóng ở rạp Đại Đồng đường cao Thắng. Tự nhiên tôi thấy buồn. Sáng 29 tết, như năm ngoái, người ta đi thăm nuôi nhộn nhịp. Mới hôm nào đây mà đã một năm qua rồi. Tôi mới là thằng tù ” con so “. nay là thằng tù được tha. Hôm qua còn lãnh bữa cơm tù, hôm nay không gì cả. người giám thị phòng can nhơn nói với tôi: 

– Chúng tôi không thể giữ anh lại một ngày, rán chờ đi, đơn vị anh sẽ cho người đến đón. Phần ăn của anh đã bị cắt. 

Buổi trưa người bạn tù công vụ mang cho tôi một tô cơm thịt kho: 

– Ăn đi, của anh em trên phòng giam xớt cho anh đó, trên ấy họ biết anh chưa về….. 

Ôi tình nghĩa…Tôi chẳng biết nói gì đây với những người bạn bị coi là cặn bã của xã hội. Tôi cũng là cặn bã vậy của những ngày qua và những ngày sắp tới….Một tương lai mù mịt đang đợi chờ tôi. Mãi 4 giờ chiều, anh thượng sĩ không quân, ban an ninh mới đến nhận tôi. Anh lái một chiếc xe Dodge 4X4 quá rộng đối với tôi: 

– Mẹ, ra ngày nào không ra, đúng vào ngày 29 tết, mày có biết năm nay tết chỉ có 29 ngày không? 

– Tôi không biết gì hết! 

Ký kết bàn giao người xong, tôi leo lên xe ngồi. Ngưòi thượng sĩ qua khỏi cửa khám đường đề nghị tôi: 

– Này, thế này nhé, hay là mày xuống đây rồi về nhà ăn tết, đến mồng 4 tết mày vào trại lấy giấy tha. Hoặc là mày xin ở lại không quân hoặc mày xin giải ngũ luôn cũng được. 

– Tô không đi lính nữa đâu. 

– Chuyện đó tuỳ mày. 

– Ông không sợ tôi trốn nữa sao? 

– Trốn đi đâu được, mày điên à, mày có trốn đàng trời. 

Tôi đi lêu bêu trên con đường Hoà Hưng nghĩ ngợi vẩn vơ, mình về đâu nhỉ, ôi trời đất bao la! Tôi biết mình không có một mái nhà, người thân họ hàng đầy dẫy nhưng cũng như không. À, nhớ ra rồi, may rathì được, tôi phải nhà một bà mợ, mà thằng em ruột tôi đang trọ học. Từ Khám Chí Hoà đến cư xá Công Lý có quán phở bà Dậu không xa. nhưng nếu gặp một dịp may khác cũng tốt thôi. những dịp may tôi cũng có gặp chứ không phải không bao giờ gặp. 

Ngày cuối năm, đường xá vắng vẻ dần, những hàng quán đã dẹp để ăn tết. Xe cộ chạy vội vã về nhà. Đi ra đường Lê Văn Duyệt, tôi gặp Hoàng Bình Sơn, vì HBSơn có ông anh ruột cũng ở tù trong khám Chí Hoà, nhưng ông ta ở bên tù chính trị, tôi không gặp ông lần nào mà chỉ nghe nói đến thôi. 

Những quán cơm bình dân đóng cửa. Tôi cũng không quẹo vào ngõ hẻm mà HBSơn trước đây đã thuê nhà cư ngụ tạm thời. Chắc anh ta về nhà bà chị dâu ăn tết với mấy đứa cháu. Bà chị dâu nghèo, gánh hai thúng trái cây khi là những trái cam, khi trái soài nuôi môt ông chồng ở tù lâu năm, những đứa con còn nhỏ dại. Thằng Thấu mới tuổi lên 10 thường hay lẵng nhẵng the ông chú, sống giang hồ ở những nơi chú ngồi dây học. người đầu tiên tôi gặp khi ra khám là Viên Linh, anh cưỡi chiếc Vélo Solex chạy vội vã từ hướng SG về, nhà mẹ anh ở Tô Hiến Thành, có lẽ cuối năm anh về nhà ăn tết. Viên Linh không dừng xe chỉ hếch đầu ra hiệu cho tôi rồi chạy thẳng, tết nhất đến nơi ai cũng bận rộn và vội vã. Tôi băng qua con hẻm sang đường Nguyễn Thông, qua một khúc đường Yên Đỗ sang cư xá Công Lý đến nhà bà mợ, thằng em ruột tôi ở đó. bà mợ tôi từ chối không chứa tôi, dù chỉ qua mấy ngày tết – Một sự quay lưng lại – Thằng em ruột tôi tiễn tôi ra cửa, nó đưa tôi mấy đồng bạc mà nó có: 

– Anh giữ lấy ăn tết 

– Không đâu, tết nhất ai mua bán gì đâu? mà anh cũng không cần tiêu, thôi giữ lấy….. 

Tôi quay lưng đi và tự hiểu lấy thân phận mình. Có thể tối nay tôi nằm dưới mái hiên nào đó, nghe tiếng pháo nổ đón xuân rộn ràng. Cùng mấy người bạn giang hồ không quen biết, đầu đường xó chợ. Thân phận tôi như thế sao, tôi nhớ không hkí tết trong khám Chí Hoà. Mùa xuân ở ngoài kia phía ngoài song sắt. linh hồn bà chúa tám cửa ngục đi lang thang trên hành lang dài, sâu hun hút, âm vang tiếng xích sắt. Tất cả những hình ảnh đó dậy lên trong đầu tôi, tan như làn khói thuuốc lào. 

Tôi xách cái giỏ thăm nuôi đựng ít bộ quần áo đi lẵng nhẵng buổi chiều cuối năm, thưa thớt dần người qua lại. Tôi chợt nhớ đến thư của Năm Lửa nhờ tôi đưa về địa chỉ nhà hắn ở bến xe Nguyễn Hoàng. 

Tôi đi bộ một quãng đường dài ra Ngã bẩy tới bến xe nguyễn Hoàng. những chiếc xe đò nằm im lìm quay mũi ra đường, những mâm cúng trước mũi xe khói nhang nghi ngút. Tất cả các tài xế, xe lơ đã nghỉ ngơi, ngồi nhạu nhẹt ngay trên lề đường hoặc chúi mũi vào sòng bầu cua sát phạt nhau tận tình. những cô gái điếm son phấn loè loẹt cũng đã nghỉ ngơi ngồi đánh bài cào với nhau. 

May quá còn một quán cà phê mở cửa, mà cũng đang thu dọn bàn ghế. Có lẽ tôi là người khách cuối cùng bước chân vào quán. Anh chủ quán nhìn bộ dạng tôi từ đầu tới chân, quan sát tôi hút thuốc lào. Tôi gọi một ly cà phê đen nhỏ. 

– Này anh, tôi kêu cà phê đen nhỏ mà, anh bán lộn cho tôi rồi. 

Anh nhoẻn cười với tôi: 

– Không, tôi không tính lộn đâu, đây là tôi mời không tính tiền. 

– Sao lạ vậy? 

Nhìn anh tôi biết anh mới ở trong khám Chí Hoà ra có phải vậy không? 

– Đúng vậy, sao anh biết ? 

Da anh trắng nõn, nếu không nói là xanh lượt. Cái điếu thuốc lào của anh, cái lò nấu đèn cầy và cái giỏ thăm nuôi. Anh không về nhà mà tới đây thì nhất định là dân giang hồ, bụi đời rồi. Quán tôi có nhiệm vụ đón khách như quán của Chu Quí dưới chân núi Lương Sơn Bạc ở truyẹn Thuỷ Hử. Miễn phí, tất cả đều miễn phí nhất là buổi chiều cuối năm quán đón một khách giang hồ phiêu bạt…Cửa giang hồ rộng mở cho tất cả mọi người thất cơ lỡ vân. 

Tôi cảm động quá, tôi không thể nói nên lời, nhưng cũng phải cám ơn. 

– Có phiền gì anh không? 

– Không phiền gì hết, anh ghé đây tất nhiên anh có quen anh em nào đó đang ở tù Chí Hoà mà đã ở đây. 

– Năm Lửa, tôi có cầm một bức thư về để đưa cho vợ anh ta. 

– Đại ca Năm Lửa? 

Anh chủ quán kêu lên thảng thốt: 

– Đâu, thư anh ấy đâu đưa tôi mang tới cho chị ấy, chị ấy cũng là xếp xòng xóm chơi bời trong hẻm này. Anh ngồi uống cà phê đi hoặc uống thêm gì nữa cũng được, có thể thêm chai 33 đĩa dồ mồi trong khi chờ đợi. 

– Không tôi không ăn uống gì nữa đâu. 

Chờ đợi không lâu, chỉ một loáng vợ Năm Lửa xuất hiện. Chị ta còn trẻ, khoảng trên hai mươi, một thiếu nữ khá coi là có nhan sắc, nhưng nhìn cũng thấy là một gái làng chơi chuyên nghiệp. Những lân la đi theo chị ta là những tay đầu trâu mặt ngựa, những tay sống có lẽ không phải đâm thuê chém mướn thì cũng lưu manh côn đồ. 

Vợ Năm lửa nhìn tôi với cái nhìn ” bắt giò bắt cẳng “. những đàn em của chị ta cũng vậy, cả anh chủ quán cà phê. Sau này tôi biết có tên là Năm căn, quê anh ta ở tít xứ Năm Căn ở Cà Mâu. Vợ Năm Lửa lên tiếng: 

– Tôi là Tuyết, vợ của đại ca Năm Lửa, không may anh Năm vướng vào vòng lao lý. Anh khỏi giới thiệu, anh là bạn thân với chồng tôi, tôi biết anh là ai rồi. Chồng tôi có viết trong thư. Anh về đây với chúng tôi vào ngày 29 tết là tốt rồi. Đời ruồng bỏ với ai kia chớ với chúng ta thì không đâu, chúng ta sống có nghĩa giang hồ. Anh hùng chỉ có sa cơ chứ không mạt vận, chúng ta có anh em, rồi đây gây dựng lại cho anh mấy hồi. Anh Năm Lửa đã viết thư cho tôi nói vậy….nơi này như của anh rồi…. 

Chị ta giới thiệu từng người, tất cả đều là những tay chơi có máu mặt trong giới giang hồ. Những kẻ có thành tích, không từng tù tội thì cũng đi ra từ trại Tế Bần. 

– Sáu nhỏ, mày sang quán Bảy Lươn Um biểu khoan nghỉ tết làm tao ít đồ mồi, kéo mấy két bia 33 về đây, cả rượu đế nữa nghe. Nhớ làm tô canh chua có đầu cá lóc cho đại ca nhé. 

Tôi chưa được giới thiệu một đại ca nào trong đây hết. Nhưng khi ăn nhậu thì tôi biết chính tôi đã trở thành đại ca, đại ca “ăn theo ” đại ca Năm Lửa. Tôi cải chính, không ai tin, có lẽ cái mặt của tôi có nét cô hồn chăng ? Thây kệ, tôi tự nhủ như vậy. Hiện giờ tôi là kẻ vô gia cư không có lấy một người thân, tôi nói với những người ở đây như vậy. Bữa rượu xôm trò, tô say tít mù, và không biết mình đã phát ngôn những gì. Có lẽ lại phéc lác gì đây về chuyện giang hồ, những chuyẹn tôi từng được nghe lại trong phòng giam thường phạm. Tôi nói về bà chúa 8 của ngục. Tôi như bị ma nhập…Tôi được chiêu đãi nhồi ăn nhồi uống đến ói mửa tùm lum. 

Tôi loáng thoáng nghe tiếng ai đó nói: 

– Tội cho đại ca, có lẽ lâu lắm rồi không được ăn nhậu. Đợt ở tù trước đại ca Năm Lửa cũng một lần như vậy, chớ các tay này mà uống rượu bình thường thì tỉnh như ruồi, cao thủ như Bảy Lươn Um cũng thua. 

Tôi không còn biết gì, thật tình tôi không biết thật. Tôi tỉnh dậy vào buổi sáng, trời còn tối nhưng tôi biết đã sáng rồi. Tôi không phải nằm gục trên bàn nhậu và nằm ngủ đàng hoàng, hình như ở một căn phòng gác cây. 

Căn phòng vắng vẻ, hình như chỉ có mình tôi, tôi toan tìm cái công tắc bật đèn, nhưng nhìn ra cửa đã thấy trời sáng. Tôi mở rộng cửa, trước mặt tôi là cái bao lơn gỗ nhìn xuống đường, những hàng xe đò đậu san sát. những xác pháo hồng rải rác trên lối đi, như xác những cánh hoa đào. tôi đã ngủ qua một đêm, đêm giao thừa trong một tết nguyên đán cổ truyền. Tôi thêm một tuổi, 25 tuổi, tròn hai con giáp. Hình như tôi chẳng có ưu tư gì cho tương lai của mình. Trong một khoảng khắc tôi đã quên tất cả, vô tư như một sinh vật. 

Dưới đường loáng thóng người qua lại, những đứa trẻ mặc quần áo mới, cũng có chút son phấn loè loẹt cho những đứa con gái còn quá bé, tôi hiểu điều đó là hợm hĩnh trong một xóm phường của người bình dân. 

Tôi hiện sống ở nơi ấy, không phải ở một nơi đầu đường xó chợ. Đáng lẽ tôi sống đón giao thừa ở một nơi như thế, khi quanh tôi không còn có gì. Vòng tay nào đón nhạn tôi trong hoàn cảnh cay nghiệt vậy ? 

Anh Năm Căn lên căn gác ọp ẹp, một cái bắt tay chặt chẽ: 

– Chúc mừng năm mới, em xin chúc mừng anh môt năm mới tốt lành, đại ca Năm Lửa đã có lời gởi gấm, chúng em phải có bổn phận. 

Tôi xửng sốt: 

– Anh Năm nói gì lạ vậy, tôi nhờ vả các anh các chị ở đây một đêm đã là quá lắm rồi. 

– Chính anh mới nói lạ, anh không phải đi đâu hết, anh ở đây, có thể anh giúp cho nhiều người đấy. Anh Năm Lửa nói anh là người giang hồ trí thức. Anh biết rành luật pháp, anh từng giúp cho nhiều anh em làm biện trạng. ” Dzăng ” anh hay lắm, từng làm cảm động những ông toà, những dự thẩm, biện lý….chúng tôi cần anh, anh cũng thừa biết nơi này là nơi tội lỗi mà, bao nhiêu là kẻ phạm pháp cần được cứu giúp. 

Tôi sững sờ, anh Năm Căn ấn vào tay tôi một bộ áo pi da ma trắng viền nẹp đỏ đến tận cổ áo cao giặt ủi hồ cứng thẳng nếp: 

– Anh thay bộ quần áo này đi rồi xuống nhà ăn bánh tét, lì xì cho các tay em….Anh rửa mặt, chải đầu có ” bi ăng tin ” ba số 5 kìa. 

Tôi thảng thốt: 

– Tôi lì xì cho các tay em? 

Anh Năm Căn cười, cái cười lộ những chiếc răng vàng lấp lánh: 

– Dạ chị Năm Tuyết lo cả rồi…… 

Anh Năm Căn nhét vào túi áo pi da ma vừa đưa cho tôi một xấp bao lì xì đỏ. Anh quay đi và dặn tôi: 

– Em chờ anh ở dưới nhà, hôm nay không mở cửa hàng cũng như mở cửa hàng vậy. 

Tôi thay xong bộ quần áo, chải đầu bi ăng tin bóng lưỡng. tóc vắt gọng kiếng. Tôi đứng ngắm mình trong gương. Tôi thấy mình chẳng giống ai, chẳng giống một con gáip nào. Thế mà rồi đây mỗi ngày tôi phải ngồi ở cà phê Năm Căn, hai chân co lên ghế ngồi chồm hổm, húp cà phê sữa đổ ra đĩa suỵt soạt đúng điệu một tay anh chị lưu manh mở miệng ra là chửi thề thì tôi sẽ ra sao đây? 

Không giống ai, thật vậy chẳng giống ai hết. Tôi phải sống thế này sao? Tôi không thể sống trong cái luân lý kiểu giang hồ này được. Không thể làm những tờ biện minh trạng, một tờ biện minh trạng cho chính tôi cũng không còn được nữa là cho ai khác. Cuộc đời kinh khủng quá. Nếu tôi có một cây bút trong tay tôi sẽ viết nên chứ không phải để bào chữa, để thăng hoa, để thần tượng hoá, một tay lưu manh nào đó. Không, ngòi bút của tôi không thể dùng vào việc đó được. Chỉ tình người là cần thiết thôi. hình như điều đó tôi đã mơ ước đến từ lâu rồi, từ thuở đầu đời, thuở mơ làm văn sĩ. Vậy sao tôi lại sống như thế này? 

Điều suy nghĩ ấy lẩn quẩn trong đầu tôi. Bên kia đường, ngay khu bến xe hỗn tạp, tôi thấy một nóc nhà thờ mọc cao, ở đó có các con chiên ngoan đạo đi lễ, cầu nguyện dưới quyền cai quản của một cha xứ còn rất trẻ. Nhà thờ cứu rỗi được gì trong cái khu hỗn tạp này, cờ bạc rượu chè, đĩ điếm trộm cắp ? lại một câu hỏi khác hiện ra trong đầu. 

Đám anh chị lưu manh ở khu bến xe Nguyễn Hoàng từ đầu Ngã Bẩy đến cuối, ráp với đường Nguyễn Trãi có vẻ nể vì tôi, những nhà cho thuê ghế bố quen mặt tôi. những cô gái làng cũng biết mặt tôi, nhưng không một cô nào dám xáp gần. 

Tôi loáng thoáng nghe họ nói: 

– Đại ca là người có ” dzăng học ” sắp làm chồng nhỏ của chi Năm Tuyết đó, đại ca là anh em kết nghĩa với đại ca Năm Lửa, chuyện ấy thường thôi mà, không lẽ để chị Năm Lửa hoài tuổi xuân đi, ở đây đâu có ai xứng…. 

Bỏ mẹ tôi rồi, tôi phải tìm cách nào chứ, tôi không thể là một cục bột trong tay người khác uốn nặn thành hình dạng gì cũng được. Cục bột tôi vào tay những người này chắc chắn hình dạng tôi trở thành một ác nhân. Một mặt quỷ, một kẻ lòng lang dạ thú. 

Tôi được gọi là một đại ca, nhưng không hpải những công việc tàn bạo của những tay anh chị chuyên gác sòng bài hay trấn lột ai, những kẻ say rượu hay những ta ychơi lạc vào xóm chơi bời. Công việc của tôi là làm đơn từ cho những kẻ phạm pháp, đưa hối lộ cho cảnh sát bóp Nguyễn Tri Phương. 

Anh cảnh sát mâp cách nay hơn một năm bắt bỏ tù tôi, giờ thành bạn: 

– Tao biết mày là thằng lưu manh mà, nhưng giờ chúng ta là bạn, tình bạn cũng phải bánh sáp đi bánh quy lại mới bền vững. Việc này là công việc làm ăn, biết thông cảm nhau, nương nhau để mà sống thì tốt cả thôi. Tất cả những điều bầy đặt ra chỉ là chuyêngiạ vờ. Toàn đồ lưu manh cả, sự thật đó mày ạ. mày tính coi cái lương cảnh sát của tao có là bao, vậy mà tao phải bám lấy….hì hì… 

Anh ta bỏ lửng câu nói, nhưng tôi hiểu anh ta muốn nói gì. Một sự thực torng hàng triệu sự thực khác ở bên trong một xã hội băng hoại. Tô đang sống ở đó. Từ một cái xấu này tìm đến một cái xấu khác cũng thế thôi….Tôi hận đời, bất mãn đời vậy thì tôi đang hận gì đây, bất mãn gì đây? Suy nghhĩ của tôi đúng hay sai? tôi thường tự hỏi điều đó. 

Tôi ngồi cà phê Năm Căn, nhìn sang bên kia đường. Nhìn nóc chuông nhà thờ, nhìn tượng vị thánh nào đó tay chống thánh gươm, tay cầm cuốn sách. Tại sao ngôi nhà thờ tượng trưng cho một tôn giáo cao quý lại mọc lên giữa nơi này, không sợ bị ô nhễm sao ? Vị linh mục tuổi trẻ kia có trụ vững ở nơi này không ? Những buổi thánh lễ ngày chúa nhật ông đứng rao giảng trên bục trước tượng thanh giá Chúa sao mà vững vàng vậy ? Những con chiên đủ mọi hạng ngưòi già trẻ lớn bé nghe ông và hình như họ nuốt từng lời… 

Buổi chiều nay ngồi ở cà phê năm căn, tôi lại thấy một ông già, có lẽ chưa phải già lắm, chỉ khoảng năm mươi, hoặc trên 50 tuổi một chút ngồi ở lề đường, mặt hướng vào nhà thờ lần chuỗi hạt mân côi, miệng lâm râm cầu kinh. Hình ảnh này hình như tôi thấy hàng ngày, trước khi trời sụp tối. Ông già cũng là người xóm này, hình như đi làm đâu đó suốt ngày, gần tối ông ta mới trở về, cái xe đạp dựng ngay bên cạnh và ông ngồi cầu kinh. Chiếc xe đạp hôm nay ông ta khóa cẩn thận. Ông ta là một con chiên ngoan đạo, hình như lễ ngày chủ nhật ông mặc quần áo tươm tất mới bước chân vào nhà thờ…. 

Ông già đã đọc kinh xong, ra mở khoá xe đạp, tôi tới làm quen: 

– Xe đạp bác để ngay cạnh, khoá làm chi cho mất công? 

Ông già ngước lên nhìn tôi, đôi mắt lờ đờ, ông cười khẽ nói với tôi vì nhận ra tôi cũng quen mặt: 

– Cẩn thận vẫn hơn, ăn cắp nó vồ được đẩy chạy, mình mắc công đưổi bắt, cò bóp làm lôi thôi, kẻ ăn cắp cũng tôi…..Không kể mình sơ xẩy còn bị ốm đòn hôi chợ. 

– bác đã lần nào bị mất chưa? 

– Ông già lắc đầu: 

– Chưa, nhà thờ bên kia thì bị mất hoài đó. 

– Có chuyện đó sao? 

Giê Su ma, tôi đâu có dám nói dối, tội chết. Mới ngày hôm qua thôi, thùng tiền trong nhà thờ do các con hiên đóng góp bị quân gian bê đi mất. 

– Có thưa gởi gì không? 

Ông già lắc đầu: 

– Không, cha không cho thưa gởi gì hết, cầu Chúa tha tội cho họ…. 

Tôi mời ông già vào quán uống cà phê, nhưng ông ta từ chối. Thú thật rằng đã lâu rồi tôi chưa được nói chuyện với một người tử tế, tôi thèm nói chuyện với một người như bác này. Tôi cố hỏi: 

– Vậy muốn gặp bác thì phải làm sao? 

– Dễ thôi mà, nhà tôi ở con hẻm bên kia đường, cứ hỏi nhà Nhưng cu li bến tàu ai cũng biết. Tô đi làm sớm lắm, mãi tối mới về…Nhà tôi cũng dễ tìm, có cây trứng cá ngay trước cửa. 

Tôi nhìn theo ông già nhảy lên xe đạp, chỉ một loáng ông già biến vào con hẻm. Trong con hẻm đó không nhiều nhà mà lại là hẻm cụt, nhà ông Nhưng cu li có thể tìm thấy không khó, đặc điểm có cây trứng cá trước cửa nhà như ông đã nói. Có dịp tôi sẽ đến ông tađể nói chuyện tử tế. Tôi đang sống trong một xã hội mà không hoà đồng cũng không hoà nhập được. Tôi nghĩ đến một chuyến ra đi khác nhưng vẫn còn nấn ná không biết bây giờ Nguyễn Đức Sơn ở đâu ? Coi như hơn một năm nay tôi không gặp anh ta. Có lẽ có thay đổi, tôi đọc được một bài thơ ” điên điên ” của anh in trong tạp chí Văn Nghệ, nơi đó ở Di Linh, anh đi thăm một bà bạn đẻ…Ôi rừng núi, niềm mơ ước lánh đời, xa chốn bon chen của Sơn, tôi vẫn phải sống, mục đích chỉ vì miếng cơm manh áo. Đồ hèn ! Một dịp nào đó tôi lại vô tình gặp Sơn. Tôi sẽ theo anh ngay lên miền rừng núi xa xôi nào đó, để chỉ xa chốn bụi hồng. 

Tôi vào quán Năm Căn, nơi đó mỗi chiều tụ tập những tay bụi đời, lưu manh, cướp giật, móc túi. Tính tiền ” dù ” của gái điếm. Năm Tuyết ngồi ở đó như một bà Hoàng, một đàn chị tối cao. 

Những tay em đang ba hoa qua thành tích cướp giật, những chiếc đồng hồ đứt dây, những chiếc dây chuyền bị giựt đứt thảm hại, những xấp tiền bán đồ ăn cắp được cũng xếp trên bàn mộ cách lương thiện không sơ sót. Chia tứ lục, sòng phẳng hay không sòng phẳng còn tuỳ. Một tay đàn anh mặt ngầu, nhìn thẳng mặt một thằng nhóc: 

– không phải chỉ có chừng này, hồi chiều mày còn làm ăn được cả một chiếc dây chuyền ở bến xe, chính thằng Tảo cản địa cho mày…. 

– Dạ dạ có nhưng em nuốt rồi. 

– Sao không lấy ra đi. 

– Em bón quá nên chưa lấy ra được. 

– Hạn cho mày một tiếng nữa, không lấy ra được tao đá lòi phèo ra. muốn sống làm nghề lưu manh ở đây phải biết điều. ĐM tụi bay không biết sợ đầu nậu này là gì mà. 

Đàn chị Năm Tuyết đang èo xèo với đám em gái làng chơi. 

– Con Thu, mày có bẩy dù thôi, sao ghi mười dù. 

– Dạ 10 dù thiêt mà, ba dù chị chưa kịp ký tên vì lúc ấy chị bạn tiếp ” khứa ” đặc biệt….. 

– Tao không cần biết, cái nào tao ký nhận thì tao chi, tứ lục còn đòi chi nữa, tao lỗ sở hụi ai đền cho tao đây? 

– Vậy thì em chịu lỗ, mấy lần trước cũng vậy. 

– Mày vốn là lỗ rồi, đừng nói nữa. Không muốn làm thì đi….chẳng ai cản mày đâu…. 

– Bởi tại em còn thiếu tiền mấy cha noội ở khu này đó thôi. 

– Đừng nói láo, lần trước mày bị bắt, không hpải tình chị em tao đứng lên lãnh ra thì mày còn tù mọt gông. Bộ tao không mất tiền cho kiểm tục hả, hay vì lòng nhân đạo mà người ta thả mày? Công sức của đại ca Hai Bù Loong đây, phải giao thiệp, phải cứu mày, mày đã được một lời cám ơn nào chưa hả con đĩ thúi kia, bây giờ mà còn tính dù nọ dù kia với tao….. 

Mụ Năm Tuyết chỉ tay tôi. Biệt hiệu của tôi là Hai Bù Loong, bởi tại có lần tôi vui miệng, cũng có thể là phét lác để cho bọn giang hồ này nghe, tôi đập một thằng bằng cây bù loong nó không chết nhưng cũng ngất ngư. Rồi người ta đồn rằng lúc nào tôi cũng thủ một cây bù loong trong người, kẻ nào lôi thôi tôi đập thấy mẹ. Sự thật là tiếng mà không có miếng. Như suốt cuộc đời tôi sau này. Tôi là du đãng mà không phải là du đãng. Nhà văn du đãng vì tôi hay viết truyệngiang hồ du đãng, những kẻ du thủ du thực… 

Tôi chán ngán quá chừng, chẳng qua là do vạ miệng. 

Đám giang hồ lần lượt tản hàng, chỉ còn tôi với Năm Tuyết. Anh Năm Căn thì lui cui trong bếp lửa để lo bữa nhậu đêm cho đám ” anh hùng ” bến xe. Anh ta cũng là một tay giang hồ, nhưng bây giờ anh ta yên phận với cửa hàng miếng ăn, tương đối là lương thiện. đối với người thân, Anh Năm Căn cho biết tên anh ta thạt ra không phải là Năm Căn, mà chính là tên quê hương anh ở vùng Cà Mâu, anh lưu lạc giang hồ từ nhỏ, qua nhiều bến xe, cuồi cùng thì đứng bến ở bến xe này, rồi thành anh chủ quán. đến bây giờ không còn phải sử dụng đến thanh ” đoản ” thanh ” mã ” nữa. Anh được nể vì. Anh chỉ căn nhà của anh: 

Đầu tiên nơi này là một túp lều, tôi mua lại của một tay ” kỹ bẽo “. Bây giờ thì nó thành một cửa hàng rồi đó đú nuôi sống vợ con, có đồng ra đồng vào, vợ tôi không bao giờ còn phải đi ” dù ” nữa, thành một hiền phụ chồng con đàng hoàng. 

Lời tâm sự của anh thành thật và có hướng đi lên, đi lần đến con đường lương thiện. Xứ sở Nam Kỳ này từng sản sinh ra nhiều anh hùng, có người xuất thân từ chốn giang hồ, chọc trời khuấy nước. Như tướng Bảy Viễn của Bình Xuyên, như Năm Lửa ở Cái Vồn của Hoà Hảo. Nhưng Năm Càn chỉ mang mộng ước bình thường. 

Anh Năm Căn chiêu đãi tôi, dành riêng một căn gác cho tôi cư ngụ. tôi thường mang về căn gác ấy những tờ báo, những cuốn sách để nghiền ngẫm và để suy nghhĩ, để biết tình hình xã hội. Thì ra tôi vẫn còn mê thứ nghề nghiệp mà tôi mơ ước từ thuở nhỏ. Mơ làm văn sĩ. Nhưng bây giờ tôi viết gì đây? Chắc chắn không phải là những bài viết hoa mộng. Đây đã đích thực là đường hướng để tôi đeo đuổi hay chưa ? Còn nhiều năm, nhiều thời gian để tôi luyện. Những đời sống quanh tôi, những tình huống, thân phận và những con ngưòi. Điều trước hết là mình lưong thiện, tôi muốn nói là cầm cây bút 

Vậy mà tôi đang sống ở nơi này, giữa những chiếc răng nanh cắn xé con người và đời sống. Anh Năm Căn thấy tôi ham đọc sách báo, anh bèn thuê cho tôi cả bộ truyện Tàu về đọc chơi, sợ tôi không đủ kiến thức để nói đến những nhân vạt giang hồ anh hùng Tàu với anh. những buổi đam bàn như thế anh gọi là ” luận anh hùng “. Anh có chiều hướng tốt để xây dựng đời sống cho mình và cho gia đình, những đứa con của anh. Tôi chỉ bên nhà thờ kia có lớp học miễn phí cho trẻ nhỏ. Anh ngưỡng mộ bức tượng của vị thánh nào đó, đúng ra là thánh Phao lồ, dựng trên nóc nhà thờ. 

– Đúng vậy, nhà thờ dựng ở nơi bến xe này, ông thánh gì đó bảo vệ nhà thờ phải cầm ” mã ” và tay thì cầm sách. Tốt lắm, ý nghĩa lắm. Không chê vào đâu được. Cái nhà này, đại ca biết đó, tôi mua với giá rẻ mạt của một tay kỹ bẽo ( cờ bạc ) như đồ ăn cướp. Nay vẫn chưa có bằng khóan, dù rằng nhà tôi có sổ gia đình đàng hoàng, vì mình dốt quá không biết làm giấy tờ nên coi như nhà không có chủ quyền. 

Tôi hỏi lại: 

– Khi mua có giấy của người bán không? 

– Tôi dốt, nhưng cũng khôn chớ, tôi bắt hắn ta phải làm cái giấy tay, có cả số thẻ căn cước nữa. Hắn còn sống, ở quanh đây thôi… 

– Vậy thì được, tôi sẽ làm đơn cho anh ra hội đồng xã. Hai bên ký tên, anh sẽ có bằng khoán của căn nhà. Vĩnh viễn căn nhà đó của anh sẽ truyền lại cho con cháu. 

– Vậy hả? Đại ca giúp tôi, ít ra mình phải có mảnh giấy tờ hợp pháp gì để ăn noói chứ, có điều mình cũng phải mất cho cha kia tí tiền, còn người nhà nước nữa cũng phải có cái gì, sống ở đây tôi biết mà…. 

– Trà nước, chế độ nào cũng vậy! 

Cả hai chúng tôi cùng cười xoà. không đầy một tuần lễ, căn nhà của năm Căn thành căn nhà hợp pháp hoàn toàn. Anh ta trở nên rất quí mến tôi. Tôi có thể nói với Năm Căn những điều giấu kín ở trong lòng mà không chút ngại ngùng. 

Năm Tuyết đã đếm xong tiền và số vàng bạc, những thứ lỉnh kỉnh mà các tay em cướp giât được. Cô ta cười với tôi: 

– Em thấy vẫn còn thiếu chưa mua nổi chiếc Vespa Italic mới toanh để đi chơi, lâu lâu đi coi cải lương, ăn tiệm ở chợ Lớn. 

– Xe thì thiếu gì, đám vồ xế của cô ngày nào không đưa về vài ba chiếc. 

Tôi nói vậy, Năm Tuyết xua tay: 

– Ậy không được, mình đúng là lưu manh đó, nhưng không xài đồ lưu manh, mình phải là người hợp pháp từ đầu đến chân. Mình mua xe ở tiêm, giấy tờ đàng hoàng, cà vẹc hợp pháp. 

Mụ nhìn tôi đĩ thoã: 

– Mua xe để tên anh, anh chở em đi chơi chịu không? 

Bỏ mẹ tôi rồi, điều này tôi nhất định không thể nhận được, tôi đang muốn rút chân ra khỏi nơi này, tôi không thể lún sâu thêm nữa. Đầu tiên thì mụ Năm Tuyết nhìn tôi kiểu mắt nai rất cải lương: ” Sao vậy anh? ” sau khi nghe tôi giải thích một hồi, mụ nổi giận, đáo để kiểu đáo để của loại người đíêm đàng: 

– Nói cho anh biết anh đừng lên mặt, 29 tết anh về đây, không ai cứu vớt anh, tôi vì bức thư của đại ca nên cứu anh. Nuôi anh, quý mến anh bấy lâu nay, cung phụng anh đủ thứ mà anh lại giở quẻ, có phải anh khinh bọn này không, chưa hết đâu, tôi biết hôm trước tôi dụ mãi mới được môt con bé vào đây làm gái, anh xúi nó trốn đi, tôi bỏ qua không nói vậy mà anh còn làm tới….Bỏ cái tính quân tử Tầu đó đi thì sống được ở đây, còn không thì kệ anh. Cơm no bò cưỡi, quần áo anh mặc, cà phê anh uống, bia để anh nhậu nhẹt anh biết là tiền ở đâu không, những đồng tiền anh khi rẻ đó. Anh điếm còn hơn những thằng điếm tổ sư ở đây. Năm Lửa không biết nhìn người thế nào mà giới thiệu anh, lại muốn nhường vợ nó cho bạn chớ, ngu ơi là ngu, không biết ăn phải bùa mê thuốc lú gì. Anh lại còn lên giọng khuyên nhủ không nên sang bên nhà thờ kia ăn cắp ăn trộm, đểu giả như thế là cùng. Ăn cắp ăn trộm không chừa một ai, không tránh nơi nào hết, thánh thần cũng không tha. Nghề mà, hở ra là ăn cắp thôi, cũng cực cái thân, không may bị bỏ tù rồi tù tôi ai ở đây thay cho đây…..Đám thuê chém mướn, tạt át xít cũng ở đây. không làm vây lấy gì mà sống. người ta khi rẻ thì đã khi rẻ rồi, vậy thì anh đừng có đạo đức giả….nếu muốn anh đi đi, đừng ở lại đây. Rõ thật tôi là con đĩ mà còn thua anh, một thằng điếm, thằng tổ sư lưu manh. 

Tôi như bị dội cả thùng nước lạnh từ đầu tới chân. Tô tức run người, mà tôi làm gì đây, đánh nhau với một con mụ đàn bà à ? Tôi câm họng, tại sao thế kia nhỉ! Có những d0iều đúng chứ không sai. Đời sống của riêng tôi không thể hợp với bước giang hồ này được. Nó chỉ có giá trị ở chất liệu tôi ném thêm vào trong đầu, một lúc nào đó tôi sẽ bung ra. 

Mụ Năm Tuyết nói xong bỏ đi, tôi nói với: 

– Tôi sẽ đi, có thể ngay bây giờ, tôi trả lại tất cả những gì của các người. 

Nhưng mụ Năm Tuyết vẫn không quay lại. Anh Năm Căn lên tiếng khuyên tôi: 

Tính chị Năm nóng nảy vậy đó, anh đi theo nói với chị ấy một câu là xong ngay. 

– không, tôi không thể như thế được….. 

Tôi cởi nút áo ngay giữa nhà, chạy lên cầu thang đổi bộ quần áo trước khi tôi đến đây. Xách cái giỏ 29 tết rakhỏi tù. Bộ quần áo đang mặc tôi xếp lại gọn ghẽ trả lại cho Năm Căn: 

– Cám ơn anh tôi phải đi ngay bây giờ, chuyện này ở đây thường mà, thiệt ra tôi và những người ở đây mang ơn anh nhiều. Ở lại đây đêm nay đi, mai anh đi tôi không cản nữa. Chúng ta thân với nhau ly rượu ” quan hà “, rồi tôi tiễn anh tới chốn ” tràng đình ” cho trọn tình. 

– Cám ơn anh Năm, nhưng không tiện cho anh đâu…. 

Tóc tai Năm Căn dựng đứng: 

– Đứa nào dám đụng vào tôi, anh là bạn tôi. Tôi bảo vệ anh, đứa nào đụng vào anh, tôi còn cầm nổi cây ” mã “, tôi đã hết thời đâu. 

Tôi cười, không biết có phải cười gượng không, đẩy Năm Căn sang một bên, từ chối món tiền Năm Căn dúi vào tay tôi: 

– Cám ơn anh Năm, tôi không cần gì cả, không sợ ai cả. Tôi đã từng sống những tháng ngày rài rạc. Hẹn gặp lại anh sau, một ngày nào đó….. 

Tôi nghe anh năm Căn nói như nói một mình: 

– Cha này cũng chì thật, xứng đáng làm một tay giang hồ, ra đi không cần một xu dính túi…. 

Vẫn còn là tháng đầu xuân. Bến xe lam đêm vẫn tấp nập. Tôi đi loanh quanh một lúc rồi quay trở lại nhà ông Nhưng cu li. Tôi nghe tiếng cầu kinh của ông ta và gia đình từ trong con hẻm hẹp. Đúng là căn nhà có cây trứng cá. Tôi có thể gặp ông ta một lần để nói câu chuyện tử tế. Rồi tôi đi vào chốn mù sương của đời sống.

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 17 Apr 2024

Chương 10

Con đường 7B

Ngày 8 tháng 3, trước ngày Ban Mê Thuột bị tấn công, ông Kissinger đang ở tại Bruxelles, thủ đô của nước Bỉ, để cùng ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Dimitrios Bitsios của Hy Lạp, xem xét vấn đề của đảo Chypre.

Ngày 15 tháng 3, tại Damas (thủ đô của Ai Cập) Hoa Kỳ đã biết là trận chiến đã kết thúc khi Tổng Thống Assad nói với Kissinger:

_ “Các ông đã bỏ rơi Cam Bốt, các ông đã chọn Bắc Kinh và buông Đài Loan, Các ông đã nhượng bộ trước Do Thái….

Chuyến du thuyết của ngoại trưởng Kissinger coi như đã thất bại hoàn toàn. Trên chiếc phi cơ “Không Lực 1” của Tổng Thống Hoa Kỳ, mà ông Kissinger đã dùng nó để đi Caire (Ai cập) và Tel-Aviv ( Do Thái), các nhà báo đã nói tới số phận của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ. Ông ta đã không còn là một người của “phép lạ” nữa rồi. Người ta xầm xì với nhau rằng người có nhiều triển vọng thay thế ông ở Bộ Ngoại Giao sẽ là ông Elliot Richarson, Đại sứ Mỹ ở Anh Quốc. Trong suốt chuyến công du này, ông Kissinger không hề để tâm đến những biến cố đang xảy ra ở Việt Nam:

Ban Mê Thuột ư? Một giai đoạn đã nằm ở ngoài lề rồi!

Để củng cố vị trí của ngoại trưởng Mỹ, Tổng Thống Ford tuyên bố là ông ta còn lưu giữ Kissinger cho tới tháng giêng năm 1976.

Ở Sài Gòn ông Polgar chờ kết quả tranh luận của Quốc Hội. Ông rất tin tưởng ông Kissinger.

Ông Thomas Polgar có một tước hiệu kêu lắm, “Phụ Tá đặc biệt của Đại Sứ”. Mọi người đều biết và nhận ra ông trưởng cơ quan CIA này ngay khi ông ta đến chơi ở Câu Lạc Bộ Thể Thao Sài Gòn , hay đến Trụ sở của Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến (CICS) hay khi ông đi dự các cuộc tiếp tân. Một nhà báo Hung Gia Lợi, thành viên chánh thức của Ủy Ban này đã nói:

– “Ông Polgar là người Mỹ mà chúng tôi thích….”

Năm nay ông Polgar được 53 tuổi, có thân hình béo tròn, trán hói, thường hay đeo kiếng đen gọng đồi mồi. Ông là người sanh trưởng ở Budapest, thủ đô Hung Gia Lợi, nên còn giữ được vài giọng nói của người Hung trong tiếng Anh trau chuốt của mình. Người ta có cảm tưởng, dù là không đúng lắm, rằng ông cố giữ giọng riêng của mình cũng như ông Kissinger giữ giọng Do Thái của ông ta vậy.

Là một giám đốc ngân hàng ở Budapest, người cha của ông đã cho ông đi Hoa Kỳ lúc ông được 16 tuổi. Ở đó ông vào một trường đại học nhỏ, nơi đào tạo các sinh viên trong giới “áp phe”. Nhờ đi giao hàng cho một ông chú chuyên nghề đóng sách, ông Thomas Polgar học được địa hình của New York. Chiến tranh không cho ông tiếp tục học hành. Và ông trở thành người lính bộ binh trong quân đội Hoa Kỳ lúc ông được 20 tuổi. Ông nói tiếng Đức nên cũng giống như trung sĩ Kissinger, nên người ta hướng anh vào Dịch Vụ Tin Tức Tình Báo, lúc bấy giờ là cơ quan O S S (Office of Special Services: Văn phòng Dịch Vụ Đặc Biệt) tiền thân của CIA trong tương lai. Nhiệm vụ có phần vui thích hơn là ở trung đoàn 310 bộ binh. Đến khi quân Đồng Minh chiếm nước Đức, thì Polgar lùng sục tài sản và chương mục ngân hàng của nhà kỹ nghệ IG. Farben. Tại Bá Linh, Polgar làm việc với những người mà ông ta thường ngưỡng mộ, như Allen Dulles, trưởng cơ quan tình báo CIA Hoa Kỳ tại Đức và ông Helms, trưởng toán CIA tại Bá Linh.

Được giải ngũ năm 1946, Polgar nghĩ tới việc làm báo, một nghề khá bận rộn. Nhưng anh vẫn ở trong ngành tình báo trong suốt những năm thích thú nhất của chiến tranh lạnh vào lúc Bá Linh bị phong tỏa. Chưa đến tuổi 30, anh đã thuộc các cơ quan tình báo bí mật, với cấp bậc tương đương của một đại tá.

Ở Sài Gòn anh thường hay gặp đại tá Toth, thành viên Hung Gia Lợi thích nhất của anh. Ông Polgar đã biết nói chuyện với những “người đối diện” từ lâu rồi. Trong thời gian căng thẳng ở Bá Linh, anh đã mời trưởng cơ quan Mật Vụ Liên Xô đến và đã thỏa thuận thẳng với ông này:

-“Nếu có gì xảy ra thì chúng ta không nên đụng tới đàn bà và trẻ con nhé” – “Đồng ý”, người bạn Liên Xô trả lời.

Trong giới tình báo quốc tế, trên một đẳng cấp nào đó, nghề nghiệp trở thành một trò chơi.

Họ ấn định với nhau một vài luật lệ và tuân thủ với nhau, trừ trường hợp ngoại lệ không kể.

Ở Hoa Kỳ trong nghề này mọi thành công thường được tưởng thưởng. Polgar đã theo đuổi nghề này một cách tốt đẹp cả ở Đức và Áo Quốc. Sang Á Căn Đình anh rất thân với trưởng cơ quan của anh. Có một lần bọn không tặc cướp một phi cơ ở sân bay Buenos Aires. Ở xứ này Cảnh sát đã có một nguyên tắc: không thương lượng với kẻ cướp. Khi được hỏi ý kiến, Polgar đề nghị cho anh ta điện thoại cho Tổng Thống Á Căn Đình. Đến 3 giờ sáng, Tổng Thống đành phải chấp nhận đề nghị của anh thôi:

_ “Chúng tôi không muốn thương lượng, nhưng ông, Polgar, ông là người Mỹ, ông có thể làm được chuyện đó. Hãy làm đi”

Polgar leo lên chiếc phi cơ và mời mấy anh không tặc uống Coca Cola có bỏ thuốc ngủ trong đó. Không tặc ngủ mê man và ngày hôm sau Polgar thức dậy, trở thành một người nổi tiếng.

Anh tự hào rằng anh rất thực tế, không có chút nào mơ hồ đối với bản chất của con người , và thích nói về Kipling: “Những người độc thân trong trại lính ít khi sống như những ông thánh lắm.”

Đến khi ông Helms được Hoa Thạnh Đốn đề bạt lên làm trưởng cơ quan tình báo trung ương CIA thì ông này gởi ngay cho Polgar một công điện vào tháng 7/ 1971. Khi trao bức công điện cho Polgar người nhân viên mật mã nói đùa:

“Vì ông đang ngồi, nên tôi trao cho ông công điện này mà không cần phải giải thích” .

Nội dung công điện: “Trừ trường hợp mà tôi không được biết, anh có thể thay Ted Schakley giử chức vụ trưởng toán của cơ quan CIA ở Việt Namhay không? , từ ngày 1 tháng10 này? ”

Bà Polgar có vẻ không vui lắm, trong 3 đứa con trai của họ, đứa lớn phải vào đại học ở Hoa Kỳ. Hơi lưỡng lự, Polgar điện trả lời: “Tốt nhất là ông cho tôi đến nói chuyện với ông.”

Gặp Helms, Polgar nói thẳng:

“Đối với Đông Nam Á Châu tôi không thành thạo lắm đâu.”

_ “Nó sẽ giúp anh có một tầm nhìn mới “ Helms trả lời và nói thêm: “Anh đừng lo, anh không có thì giờ đâu mà để tâm vào chi tiết của công việc. Anh còn phải lo chú ý tới những gì xảy ra ở Quốc Hội, ở giới truyền thông, ở Bộ Ngoại giao, và trong Quân lực Hoa Kỳ . Anh còn phải bận tâm nhiều về những nơi đó.”

Vào tháng 3 năm 1975, với diễn biến tình hình quân sự ở mặt trận như thế mà mối bận tâm lo lắng hàng đầu của Polgar là Quốc Hội. Ông trưởng lưới tình báo CIA này ước tính rằng Hoa Kỳ bị dính sâu vào tình hình trầm trọng ở Việt Nam. Việt Nam đang quá yếu và là một gánh quá nặng cho Hoa Kỳ . Theo Polgar, không thể nào có vấn đề một chiến thắng hoàn toàn bằng quân sự đối với Hà Nội. Trong hiện tại, trận chiến chắc chắn không ở một mức độ “có thể chấp nhận được”. Rõ ràng là Tổng Thống Gerald Ford cũng như Richard Nixon hay Lyndon Johnson, ông không hề rung động vì vấn đề Việt Nam. Polgar có dự vào những cuộc gặp gở ở San Clemente, nơi đó anh đã gặp được Graham Martin lần đầu.

Ông Nixon thật đã có tuyên bố với ông Thiệu rằng: “Cho tới khi nào tôi còn là Tổng Thống, ông có thể tin chắc là Việt Nam sẽ có 1 tỷ 600 triệu đô la viện trợ quân sự hàng năm, và viện trợ kinh tế sẽ từ 600 triệu đến 1 tỷ đô la.”

Từ ngày ông Martin đến Sài Gòn, sự liên lạc giữa Đại sứ và ông Polgar rất tốt. Ông Graham Martin thuộc khối người da trắng gốc Anh Cát Lợi lại theo đạo Tin Lành, nên có thiện cảm với người trưởng lưới, di cư gốc Do Thái, vô thần này. Polgar đã chứng tỏ năng lực của mình.. Trong hệ thống công chức cao cấp, Polgar nằm ở đẳng cấp GS 17, tương đương với cấp tướng tư lệnh Quân đoàn.

Bây giờ thì đại tá Janos Toth, người Hung Gia Lợi của Polgar và cố vấn chánh trị của Anton Tolgyes không có một tin tức nào mới để trao cho Polgar. Anh bạn Ba Lan cũng vậy. Có một lần vào một ngày nào đó, sau một chiến thắng của QLVNCH, Polgar chọc người bạn Ba Lan của mình:

-“Các bạn VNCH của tôi đánh đấm cũng không tệ lắm hả bạn?”

Người bạn Ba Lan phản ứng lại ngay:

_ “ Đúng vậy, nhưng mà các bạn sẽ bị thua to ở Hoa Thạnh Đốn kia!

Ở Hoa Thạnh Đốn tài khoản cho những dự án của Chánh Phủ Hoa Kỳ liên quan đến Việt Nam đều không được một ai chú ý tới. Hai tuần lễ đầu của tháng 3 / 75 là thời gian thất vọng nhất của những người chủ trương viện trợ cho VNCH. Dư luận dân chúng Mỹ không có gì lạc quan hết. Cuộc thăm dò của viện Gallup cho thấy 78 % công dân Hoa Kỳ chống lại mọi viện trợ bổ túc cho Việt Nam và Cam Bốt. Cử tri của đảng Cộng Hòa cũng chống đối như cử tri thuộc đảng Dân Chủ.

Thơ phản đối chồng chất ở văn phòng các nghị sĩ và dân biểu. Người ta hết điện thoại đến viết thơ để thăm dò từ phiên họp này đến phiên họp khác. Không ai muốn bỏ rơi đồng minh Việt Nam của mình ở Đông Dương, nhưng cũng không ai muốn sẽ bị cử tri bỏ rơi mình!

Đối với Cam Bốt cũng như Việt Nam, người ta có một số “khả năng hành động” như sau: 1.- Chấp thuận cho Tổng Thống Ford toàn bộ hay một phần ngân khoản mà ông này xin.

2.- Chấp thuận yêu cầu của Tổng Thống Ford về khoản viện trợ quân sự và viện trợ nhân đạo, nhưng có điều kiện kèm theo.

3,- Chỉ chấp thuận viện trợ nhân đạo mà không chấp nhận viện trợ quân sự.

4.- Chỉ chấp nhận viện trợ quân sự bổ túc.

5.- Bác bỏ hết yêu cầu viện trợ của Chánh Phủ.

Rất có phương pháp và rất thận trọng, các nghị sĩ và dân biểu tách rời vấn đề Cam Bốt ra khỏi bài toán Việt Nam. Thông thường ở Sài Gòn cũng như ở các nơi khác, người ta không biết là các vị dân cử đang trở về khuynh hướng tự nhiên của họ: đó là chủ trương “biệt lập”.

Chủ trương chống lại đường lối chánh trị của Tổng Thống Ford thể hiện rõ ràng ở Hạ Viện. Các đơn xin viện trợ của Chánh Phủ phải qua sự duyệt xét của các ủy ban hay các tiểu ban. Ông Philip Habib, Phụ tá Tổng trưởng Ngoại Giao đặc trách về Đông Nam Á, bị chất vấn khi ra điều trần ở Quốc Hội. Ông này hết giải thích với nhóm này tới nhóm nọ rằng cả Hoa Kỳ và Cam Bốt đều không mưu tìm một chiến thắng bằng quân sự. Vã lại đây là một chuyện quá khó. Trên giấy tờ, quân đội Cam Bốt có 240.000 người . Tuy nhiên có chăng chỉ là trên 50.000 quân tham chiến mà thôi. Vấn đề chỉ là cầm cự trong vài tháng nữa thôi đến tháng 9. Lúc đó nước sông Cửu Long sẽ dâng lên thì Phnom Penh sẽ không còn bị vây hảm nữa. Lực lượng Khmer Đỏ sẽ không còn phục kích dễ dàng trên các trục lộ cũng như trên sông rạch được nữa.

Đối với giới chánh trị ở Hoa Thạnh Đốn , dân biểu Don Fraser, một thành viên của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ vừa viếng thăm Sài Gòn đã xác nhận là chiến tranh ở Cam Bốt coi như đã chấm dứt rồi. Hoa Kỳ chỉ còn một cách để rút chân ra khỏi nơi đó: đó là phải liên lạc với Chánh Phủ Pháp và Tổng Thơ Ký Liên Hiệp Quốc và hỏi Khmer Đỏ xem họ muốn chấm dứt cuộc chiến với điều kiện nào ? Có thể chấp nhận cho Cam Bốt một khoản viện trợ nhân đạo. Dân biểu Paul McCloskey cũng là một thành viên của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ đến Sài Gòn nói rằng quan điểm của ông đã thay đổi hẳn sau chuyến viếng thăm Phnom Penh. Ông ta chống mọi viện trợ quân sự. Không còn trường hợp đó nữa. Ông ta nói:

_ “Ở Cam Bốt, bên nào cũng giết tù binh hết. Nếu phía Chánh Phủ Phnom Penh hết đạn, thì sẽ có những sự trả thù ghê gớm lắm. Những người tỵ nạn đã xác nhận với ông là bọn Khmer Đỏ đã dùng toàn là phương tiện thô sơ để hành quyết dân làng khi họ chiếm được làng mạc. Đó là sự thật hay là tuyên truyền?”

Ông Mc Closkey đứng về phía những người muốn có một viện trợ quân sự nhưng phải có giới hạn.

Đơn xin viện trợ của Tổng Thống Ford đi theo hệ thống thông thường. Muốn cho một dự án của Chánh Phủ được chấp thuận thì dự án đó phải đến Hạ Viện trước, qua các ủy ban và các tiểu ban. Ở Thượng Viện cũng vậy. Nếu Hạ Viện và Thượng Viện bất đồng ý kiến thì một ủy ban hổn hợp sẽ tìm một biện pháp dung hòa.

Ngày 10 tháng 3, ông William Colby, Giám Đốc CIA đã điều trần ở Hạ Viện rằng:

_ “Tôi không nghĩ rằng Cam Bốt sẽ tồn tại được dù có được viện trợ quân sự bổ túc.”

Một số dân biểu sẳn sàng bỏ phiếu thuận, nếu Chánh Phủ chịu tiến tới một giải pháp ngoại giao. Bằng cách nào? Ở Hạ Viện người ta nói tới kế hoạch Manac’h.

Étienne Manac’h lúc còn là Đại sứ Pháp ở Bắc Kinh đã từng giúp đỡ Hoa Kỳ, VNCH, Bắc Việt và Việt Cộng trong thời gian thương thuyết Hiệp Định Paris1973. Ông đã từng có sáng kiến đề nghị một kiểu bàn hội nghị để cho các phe ngồi lại với nhau. Theo Hoa Thạnh Đốn thì kế hoạch của ông ta là: Hoa Kỳ phải đưa ông Lon Nol đi và để cho ông Sihanouk trở về Phnom Penh lại. Về chấp chánh ở Pnom Penh, ông Sihanouk sẽ lập một Chánh Phủ Liên Hiệp, có cả Khmer Đỏ trong đó . Chỉ có một điều hơi khó: Theo người ta biết được thì Khmer Đỏ không có một ý định nào để thương lượng hết. Chiến thắng đã ở ngay mũi súng và họng bách kích pháo của họ rồi..Ngoài ra, ông Sihanouk không có nuôi một ảo tưởng nào về ảnh hưởng hay uy tín của ông đối với phía Khmer Đỏ. Kế hoạch giả tưởng này đã chết trong trứng nước từ lâu rồi nên chỉ còn có những người dốt hay ngây thơ mới chú ý tới nó. Ở Quốc Hội Hoa Kỳ vẫn còn vài người như vậy. Ý kiến thành lâp một Chánh Phủ Liên Hiệp đã được nghĩ tới cho Miền Nam Việt Nam, vì đó là do Việt Cộng gợi ý. Còn ở Cam Bốt thì khái niệm về Liên Hiệp không có dựa vào nền tảng nào hết, vì phía Khmer Đỏ chưa bao giờ nói tới danh từ này. Ông Đại Sứ Hoa Kỳ ở Phnom Penh từ lâu rồi đã tuyên bố là mọi giải pháp tìm được cần phải có “biện pháp kiểm soát”. Các nghị sĩ và dân biểu Mỹ đều có cảm tưởng rằng ở Cam Bốt Hoa Kỳ chẳng có kiểm soát được bao nhiêu. Đó không phải là trường hợp ở Việt Nam.

Sáng ngày 12 tháng 3, nhóm Caucus, gồm các dân biểu thuộc đảng Dân Chủ ở Hạ Viện bỏ phiếu cho một nghị quyết do 5 dân biểu Dân Chủ đệ trình, trong số này có bà Bella Abzug, người mà vài ngày trước đây đã đả kích ông Martin và ông Thiệu. Nhóm Caucus này tuyên bố “chống lại tất cả mọi viện trợ quân sự cho Việt Nam và Cam Bốt trong năm tài chánh 1975”, nghị quyết này được chấp thuận với 189 phiếu thuận và 49 phiếu chống.

Ở Thượng Viện người ta cũng muốn “vứt bỏ” Cam Bốt, nhưng người ta tự hỏi làm sao dung hòa được danh dự của Hoa Kỳ với sự chán ngán của cử tri và số phận của một đồng minh. Tiểu ban ngoại giao của Thượng Viện đặc trách về viện trợ cho ngoại quốc và chánh trị kinh doanh đã bỏ phiếu thuận cho một ngân khoản tối đa là 25 triệu đô la viện trợ vũ khí đạn dược cho Cam Bốt. Kết quả bỏ phiếu rất khít khao 4 phiếu thuận và 3 phiếu chống.

Ngoài những vấn đề về Đông Dương, trong các cuộc thảo luận và các tu chính án, rất nhiều vị dân cử tìm mọi cách để giới hạn quyền hạn của tất cả các vị Tổng Thống về chánh trị quốc ngoại và về quân sự. Không cần biết vì lý do gì, miễn là người ta lấy lại được quyền hành đã mất.

Người ta chưa có nói tới vấn đề Việt Nam khi giải quyết xong bài toán Cam Bốt bằng cách bỏ phiếu triển hạn, theo cách nói của Quốc Hội. Những người quyết tâm chống đối đã tìm được một phương cách mà họ cho là một chiến thuật tuyệt diệu: cứ chiếu theo lịch trình của Quốc Hội . Quốc Hội nghỉ lễ Phục Sinh từ ngày 27 tháng 3. Tiểu ban phải bỏ phiếu quyết định bài toán quan trọng này có 33 thành viên. Bỏ phiếu “triển hạn bàn cãi”: 18 phiếu thuận và 15 phiếu chống. Trong số các vị bỏ phiếu thuận – hay tạm ngâm lại (nguyên tác: chôn) bài toán Cam Bốt có 8 vị thuộc đảng Cộng Hòa. Đối với một vị Tổng Thống thuộc đảng Cộng Hòa như ông Ford thì quả là một đòn quá nặng. Tám vị thuộc đảng Dân Chủ đã bỏ phiếu chống triển hạn. Các vị dân cử không hành động theo đảng chánh trị của họ mà theo “linh hồn” và lương tâm của họ, trong sự nghi ngờ và lo âu. Trong giai đoạn quan trọng này mà các vị dân cử thuộc đảng Cộng Hòa không ủng hộ cho Tổng Thống của đảng họ về một dự án mà ông này cho là tối quan trọng, đó là điều cần nói ở đây!

Trong lúc đó thì trong Chánh Phủ người ta đổ trách nhiệm lẫn cho nhau. Ở Bộ Ngoại Giao người ta xác nhận là những người thân cận của Tổng Thống ở Nhà Trắng không đo được tinh thần của Quốc Hội. Còn ở Nhà Trắng thì người ta than phiền Bộ Ngoại Giao quá quan liêu, không dứt khoát trình lên cho Quốc Hội những đề nghị và đòi hỏi của Tổng Thống một cách mạnh dạn.

Là một người quá quen về thể thức của Lập Pháp, ông Ford biết hết các phương thức vận động nên ông lại tiếp tục tấn công. Những người của Bộ Ngoại Giao đã cho các nghị sĩ và dân biểu thấy cảm tưỏng dường như Chánh Phủ đã hết lối đi rồi. Nhưng ông Ford cho biết thật sự không phải như vậy, hoàn toàn không phải như vậy. Ông chủ trương “được cả hay ngã về không ” . Ông tình nguyện chấp nhận cho CamBốt một ngân khoản viện trợ quân sự cấp thời là 82 triệu 500 ngàn đô la. Để cho công việc được dễ dàng , vũ khí và đạn dược sẽ được trích ra từ kho dự trử, như vậy ngân sách trong năm tài chánh 75 sẽ không bị thặng chi.

Ngày 15 tháng 3, hai ông Charles Percy và Jacob Jacits đề nghị với tiểu ban ngoại giao của họ, một tiểu ban mạnh nhất của Thượng Viện, nên chấp thuận một ngân khoản viện trợ cho Cam Bốt là 82 triệu rưởi đô la. Đề nghị được chấp thuận với 9 phiếu thuận / 7 phiếu chống. Nhưng tiểu ban này xác định là mọi viện trợ quân sự phải được chấm dứt sau ngày 30 tháng 6 /1975.

Cũng trong ngày 15 tháng 3 này, ở Hoa Thạnh Đốn người ta biết được là VNCH đang sửa soạn cho những cuộc hành quân lạ lùng lắm ở Cao Nguyên Trung Phần, chính xác hơn là trên con đường tỉnh lộ 7 B.

Tại Sài Gòn, một thời gian sau kỹ sư Văn mới biết được là quân Bắc Việt đã tấn công và chiếm Ban Mê Thuột.

Ở Bộ Giao Thông Công Chánh, ông bộ trưởng không họp các cộng sự viên lại nữa. Các quân nhân bạn của kỹ sư Văn quả quyết với ông rằng các chiến sĩ đang thiếu cả vũ khí, đạn dược và lương thực. Ông không nghi ngờ gì về lòng can đảm của các bạn của ông, họ cũng có nói về các cuộc hành quyết ở Ban Mê Thuột. Kỷ niệm các vụ hành quyết ở Huế hồi Tết Mậu Thân năm1968 hảy còn sờ sờ đây. Sĩ quan và binh sĩ chạy về Sài Gòn trách dân chúng ở đây đã có một đời sống quá đẹp. Ông Thiệu đã cho lệnh đóng cửa các “nhà tắm hơi”, âu cũng là một niềm an ủi tối thiểu cho các chiến binh.

Kỹ sư Văn tin rằng sẽ có một giải pháp chánh trị . “Người ta” sẽ đưa ra một giải pháp “Trung Lập.” Kỹ sư Văn nghĩ rằng đứng trước thử thách mới này, người Mỹ sẽ không “khoanh tay đứng nhìn ” đâu. Cả người Liên Xô và Trung Quốc cũng vậy nữa. Dù sao năm 1973 người Mỹ đã ép ông Thiệu nhượng bộ, bắt buộc ông Thiệu phải ký vào Hiệp Định Paris. Bây giờ năm 1975 thì đến lượt Liên Xô và Trung Quốc phải ép Hà Nội mới là đúng . Ở Sài Gòn có nhiều người đã nhớ rằng hồi 1956, Liên Xô đã từng muốn cho hai nước Việt Nam được vào Liên Hiệp Quốc, nhưng lúc đó Hoa Kỳ lại chống đối. Không phải chỉ có ở Sài Gòn người ta mới thường đánh giá cao sức ép của Liên Xô đối với Hà Nội.

Hòa Thượng Thích Thiện Hoa không thấy ưu tư gì khi được nghe tin trên báo chí và đài phát thanh về việc các tỉnh và thị trấn bị thất thủ, dù tin tức có hơi muộn. Từ lâu rồi người ta đã quen nghe nói về các trận đánh lớn. Chắc cũng giống như các trận đánh hồi năm 1972, rồi thì quân lực Miền Nam phải tái chiếm phần đất vừa bị mất thôi. Không còn nghi ngờ gì nữa chắc việc Ban Mê Thuột và Phước Long phải di tản cũng chỉ là một phần của chiến lược chung mà thôi. Quân đội quốc gia Miền Nam chắc phải tái chiếm lại tất cả các tỉnh và thị trấn đó lại.

Cũng gìống như kỹ sư Văn, nhà văn Duyên Anh nghĩ rằng Sài Gòn sẽ có một thỏa hiệp với Hà Nội . Và cộng sản Bắc Việt phải dừng quân lại ở đâu đó, có thể ở Qui Nhơn chẳng hạn . Rồi người ta sẽ thiết lập một “khu trái độn” giữa phần đất đã bị Bắc Việt chiếm cứ và phần lãnh thổ Miền Nam còn lại. Sau đó người ta sẽ thiết lập một Chánh Phủ “Hòa Hợp Hòa Giải” đúng theo tinh thần của Hiệp Định Paris 1973. Người Việt Nam dù là ở Miền Nam hay ở Miền Bắc đều đã thường nghe nói tới Hiệp Định này.

Nhà văn tự tin chắc rằng người Mỹ đã bỏ quá nhiều tiền để đầu tư ở Việt Nam nên chắc chắn họ không muốn mà cũng không thể bỏ Việt Nam được . Khi tin Ban Mê Thuột bị Bắc Việt chiếm được xác nhận ở Sài Gòn thì nhà văn rất phân vân khó nghĩ. Và nếu Miền Nam Việt Nam của chúng ta bị mất thì sao đây? Chúng ta đã tùy thuộc quá nhiều vào Hoa Kỳ. Dĩ nhiên ở một vài tỉnh cũng có chuyện bất công do tham nhũng gây ra. Vì nghĩ tới đó nên dân chúng mới bị đẩy vào thế phải dựa vào cộng sản. Chánh Phủ bỏ quên dân chúng quá. Lớp thanh niên thì chỉ được dùng để bổ sung cho hàng ngũ quân lực mà thôi.

Tập san “Cách Mạng Xanh” mà nhà văn đã tốn bao nhiêu công sức vào đó sẽ không có dịp được xuất bản nữa, đó là một tin không mấy vui cho nhà văn Duyên Anh. Rồi ngày tổ chức kỹ niệm “Người Cày Có Ruộng” cũng phải bị bỏ luôn. Có nhiều tin đồn đải là quân lực của ta sắp rút khỏi Vùng II Chiến Thuật. Người ta nói đến một sự rút lui. Một cuộc rút lui tức là một sự tháo chạy. Tháo chạy tức là mất đất… Hồi năm 1954 trước khi ký Hiệp Ước Genève, lúc quân đội Pháp rút quân thì người ta đã nói đó là cuộc rút lui chiến lược. Để rồi sau đó có sự kiện Điện Biên Phủ, một lòng chảo trong đó đã có gần một phần mười quân đội viễn chinh của Pháp.

Nhà văn cho thế là cũng đủ quá rồi…. Một sự thất trận không ra gì trên bình diện quân sự đôi khi sẽ trở thành một tai họa về chánh trị . Và Tổng Thống Thiệu thì giải thích là cần phải có hàng trăm triệu mỹ kim viện trợ. Nhà văn cảm thấy tức giận lắm, ông làm việc cho Chánh Phủ nhưng không mấy thích ông Thiệu. Ông cũng không ưa gì người Mỹ và những người Nga Sô Viết những người đang tích cực hổ trợ cho Bắc Việt. Nhà văn hy vọng…. rồi lại đâm ra thất vọng…

Ở về phía Bắc Sài Gòn khoản 300 cây số là thành phố Đà Lạt. Ở đó hầu hết dân chúng không có vẻ gì lo âu hết. Ngay trung tâm thành phố trên đỉnh một ngọn đồi, các hàng cà phê, các quán ăn và rạp chiếu bóng Hòa Bình lúc nào cũng đầy người. Học sinh và sinh viên sau giờ học thì hấp tấp bu quanh các bàn bi da và các bàn bóng đá. Có rất nhiều thanh niên nam nữ của Sài Gòn sống ở đây trong niên khóa cả trung học và đại học. Người ta nhận ra các nữ sinh của trường nhà Dòng với củn màu xanh đậm của nước biển và sơ mi xanh nhạt. Còn đây là những cậu thanh niên thuộc giới khá giả của thủ đô Sài Gòn, nội trú của trường trung học Yersin thường ra chơi ở đây vào cuối tuần, với các sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Liên Quân và trường Chiến Tranh Chánh Trị. Họ đi dạo chơi quanh bờ hồ, chơi quần vợt, hay mướn thuyền đạp trên mặt hồ. Đến chiều thì họ lại gom về lại các quán cóc, ở đó họ say sưa thưởng thức ca nhạc, có cả thơ phổ nhạc của Trịnh công Sơn. Các hàng quán thường bán đến tối, cả một vùng nực mùi gia vị của thức ăn, và cả mùi thơm của trái cây Đà Lạt. Lúc nào cũng có người nhất là về đêm ở các gian hàng của người Ấn, bán các loại nước hoa và tơ lụa đủ màu sặc sở.

Vốn là một người có vóc dáng nhỏ thó như người Việt Nam, Linh mục Jean Mais thuộc Dòng Truyền Giáo ngoại quốc, khoản 40 tuổi, là giáo sư dạy ở trường Đại Học Công Giáo mà đứng ở khu chợ người ta có thể nhìn thấy rõ trên đỉnh đồi. Khoa Kinh Tế Chánh trị ở Đà Lạt có rất nhiều sinh viên đến học từ khắp nơi trong nước. Đến Việt Nam từ 7 năm rồi, nói thông thạo tiếng Việt, đang dạy tiếng Pháp, Linh mục đã có nhiều mối giao hảo với các sinh viên đủ mọi tôn giáo và tiếp xúc thân tình với họ. Đã là giáo sư thì phải biết khuyên bảo, mà một giáo sư người ngoại quốc phải là người không có định kiến. Cho nên các sinh viên rất nghe theo Cha Mais, dù có nhiều em tự hỏi không biết làm sao giáo sư người Pháp này có thể hiểu nỗi mình.

Một số không ít các em chú ý tới Phong Trào chống tham nhũng của cha Thanh, một phong trào đã nói nhiều về cá nhân linh mục này. Một số các em khác thường là con cháu của các công chức hay quân nhân thì nói với giáo sư Mais rằng cha Thanh là con cờ của cộng sản. Linh mục Mais nghĩ rằng những cảm tình viên của cha Thanh đều thuộc các gia đình có liên quan đến Mặt Trận Giải Phóng, hay với cái CPLTCHMN của cộng sản. Người Việt Nam thường nói tới Mặt Trận Giải Phóng hơn là cái CPLTCHMN này. Linh mục Mais không phân biệt được những người nào thuộc “lực lượng thứ ba” mà không thích Mặt Trận Giải Phóng với những người có liên hệ mật thiết với Mặt Trận này. Ông nghĩ rằng ông nên tránh không nên theo bên nào cả. Nhưng làm sao được khi ông kể chuyện có tánh cách lịch sử về những năm của thập niên 50 ngoài Bắc, nói về cuộc di cư vào Nam của những người công giáo, về chuyện “cải cách ruộng đất”….Ông cố tìm hiểu những sự lo âu và những sự não lòng của các em sinh viên. Nhưng theo ông thì dường như về phương diện chánh trị sự chọn lựa của cha mẹ các em mới là phần quyết định. Ông nghĩ rằng tình cảm gia đình phải luôn luôn được đặt trên tinh thần ý thức hệ. Linh mục cũng có đặt vấn đề với các đồng nghiệp của ông. Người phụ tá dạy Pháp văn của ông là anh Ngữ đã cho ông biết là gia đình anh có cảm tình với Mặt Trận Giải Phóng.

Sau kỳ nghỉ Tết, các sinh viên ngoan ngoản trở lại Đà Lạt. Nhưng từ lúc đó, phụ huynh các em nhất là những người ở Sài Gòn gởi điện tín lên thúc hối các em trở về Sài Gòn . Đối với các em thuộc gia đình dư ăn dư để thì ý nghĩ đi ra ngoại quốc càng ngày càng lảng vãng trong đầu. Có nhiều sinh viên đến từ giã linh mục Mais. Cô sinh viên cuối cùng đến từ biệt Linh Mục là một cô gái con của một dược sĩ ở Nha Trang. Ngày 1 tháng 3 Linh mục Jean Mais giảng về thuật ẩn dụ trong một lớp vắng chỉ còn môt nửa sinh viên. Ông nghĩ rằng Ban Mê Thuột chỉ cách Đà Lạt hơn trăm cây số đường đèo chắc rồi cũng sẽ được tái chiếm.

Cha Darricault, người linh mục có trách nhiệm của Dòng Truyền Giáo, tập hợp các linh mục lại ở nhà giảng. Gần đây ở Việt Nam có hai giáo sĩ đã được lệnh trở về Pháp. Những vị giáo sĩ khác được tự do hành động theo ý riêng của mình. Nhưng phần đông đều sẽ rời Việt Nam.

Những người quan trọng trong bộ máy hành chánh lần lần biến mất khỏi Đà Lạt. Một vài vị giáo sư đến Trung Tâm Văn Hóa Hoa Kỳ . Người Mỹ lảng tránh và lần lần cũng biến mất lúc nào không ai biết cả. Khi Viện trưởng Đại học đến gặp ông tỉnh trưởng để xin phép đóng cửa trường đại học thì sau vài ngày lần lựa ông được câu trả lời:

_ Ông cứ làm những gì ông muốn.

Thấy chánh quyền không muốn nhận trách nhiệm, Viện trưởng quyết định: “tạm thời” cho đóng cửa trường. Ông cho gọi Linh mục Mais vào và nói:

_ “Cha là người Pháp. Nước Pháp của Cha đang có nhiều giao hảo tốt với Hà Nội. Vậy nếu được thì Cha nên ở lại đây để duy trì sự hiện diện của Cha, của một người Pháp ở viện đại học này.”

Các sinh viên ai cũng sửa soạn hành trang. Những em có thế lực hay chạy chọt được thì đi nhờ các chuyến bay quân sự. Phi trường quân sự chỉ ở cách trung tâm thành phố khoản 15 phút. Có nhiều em mua vé của hảng Hàng Không Việt Nam và đi ở phi trường dân sự ở cách Đà Lạt 30 phút. Các em khác thì dồn lên các xe đò và chạy ra bờ biển. Chiếc xe Citroen 3 ngựa của Cha Mais lúc nào cũng đầy người. Ông phụ tá của Cha không đi. Cô Chủ Tịch sinh viên Pháp cũng là người đứng đầu Hiệp Hội Sinh Viên Phật Tử cũng không đi. Hầu hết những người nào không thuộc giai cấp trung lưu hay khá giả, không thuộc gia đình công viên chức hành chánh, những người làm thuê hay công nhân, thợ thuyền.. ở Đà Lạt hay ở các nơi khác đều ở lại tại chỗ. Từ lâu rồi, ba mươi năm nay họ có thói quen chờ đợi…

Và họ vẫn tiếp tục chờ…..

Ngày 15 tháng 3, thứ bảy, vào lúc 10 giờ sáng, ông Polgar đang ở trong phòng làm việc tại sứ quán Hoa Kỳ . Ông nhận được điện thoại của một người nhân viên từ Pleiku gọi về, báo cho ông:

_ “Quân Đoàn 2 đang rút đi.”

Người trưởng lưới CIA lúc nào cũng tự hào rằng mình luôn luôn biết trước những cuộc điều quân của Quân Lực VNCH. Thế mà hôm nay ông bàng hoàng hoảng hốt gởi ngay một trong những người phụ tá của ông đến ngay Dinh Độc Lập, và một anh khác đến Bộ Tổng Tham Mưu.

Ở Dinh Độc Lập, tướng Quang tuyên bố:

_ “Không có gì xảy ra ở Pleiku hết.”

Tướng Quang hé lộ cho người này người khác nghe rằng ông Thiệu không hơn không kém đã lệnh cho tướng Phú soạn kế hoạch.

Ở Bộ Tổng Tham Mưu thì các Phòng đều vắng tanh. Nhân viên của ông Polgar chỉ tìm được Thiếu Tướng Thọ, trưởng phòng 3, hỏi ngay:

_ “Chuyện gì đang xảy ra ở Pleiku đó Thiếu tướng?

_ “Chẳng có gì xảy ra cả” tướng Thọ trả lời.

Ông Polgar đang có những ý nghĩ đen tối trong đầu.. Sự vắng mặt của Tổng Tham Mưu Trưởng có nghĩa là gì đây? Chẳng lẽ tướng Cao Văn Viên vắng mặt cả ngày ở văn phòng chỉ để ngồi thiền hay sao?

Trong thời gian ông Martin đi vắng, ông Wolfgang Lehmann xử lý thường vụ sứ quán. Người ta đi tìm ông khắp nơi. Ông đang ở phòng mạch của nha sĩ. Phải nói gì với Hoa Thạnh Đốn đây? Nơi mà từ đầu năm tới nay không có người nào chịu chú ý tới tình hình nghiêm trọng của Việt Nam. Trên Vùng II Chiến Thuật vẫn còn một số người Mỹ. Không thể phí phạm đến độ phải để cho những công dân này rơi vào tay cộng sản?. Ông Polgar chỉ là người chịu trách nhiệm đối với các nhân viên và người làm việc cho CIA mà thôi, không có trách nhiệm đối với các công chức người Mỹ khác.

Đà Lạt là một danh từ có một âm thanh nghe dịu dàng. Còn danh từ Pleiku dù nói bằng tiếng Việt, tiếng Pháp hay tiếng Anh nó cũng nghe cứng ngắt và nó gợi lại nhiều kỹ niệm không hay. Mười năm về trước, trên đó bộ đội Bắc Việt đã tấn công vào cư xá của các cố vấn Mỹ gây cho 76 người vừa chết vừa bị thương. Từ đó Không Lực Hoa Kỳ đã mở các cuộc oanh tạc vào cơ sở của Bắc Việt nằm về phía Bắc của vĩ tuyến 17. Và sau đó mới có những cuộc đổ bộ hàng trăm ngàn binh sĩ Mỹ vào Miền Nam Việt Nam.

Ở Pleiku, tướng Phú soạn thảo kế hoạch triệt thoái kéo dài trong 4 ngày:

Ngày 16 tháng 3: các đơn vị Công Binh; Đạn dược, Xăng Dầu; một số pháo đội đầu tiên của Pháo Binh; 200 xe vận tải và Thiết Giáp Binh (hộ tống)

_ Ngày 17 tháng 3: các pháo đội còn lại của Pháo Binh; Công Binh; các toán quân y lưu động; 250 xe vận tải, và Thiết Giáp.

_ Ngày 18 tháng 3: Bộ Tham Mưu Vùng II Chiến Thuật và Tiểu Khu / Tỉnh; Quân Cảnh: 200 binh sĩ thuộc Trung Đoàn 44 bộ binh, và Thiết Giáp.

_ Ngày 19 tháng 3: Bộ phận hậu tập, một Liên Đoàn Biệt Động Quân và phần còn lại của Thiết Giáp Binh.

Nhưng từ ngày 15 tháng 3, đã có vài chiếc xe Jeep và xe vận tải rời Pleiku từng toán 5 chiếc một. Tin triệt thoái không dấu ai được từ đó.

Ở Sài Gòn Hội Đồng Nội Các nhóm họp dưới sự chủ tọa của Thủ Tướng Khiêm. Một vị Bộ Trưởng nói về biến cố ở Pleiku với một giọng trách móc:

_ “Tôi biết được tin này nhờ tôi nghe các đài phát thanh ngoại quốc loan báo, đài BBC và đài “Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA)”

Phó Thủ Tuớng, Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên ngồi bên cạnh Thủ Tướng Khiêm, nghe ông này nói nho nhỏ:_ _ “Tôi cũng vậy”

_ “Sao? Ông cũng vậy à?

_ “Đúng vậy, Thủ Tướng Khiêm thở dài…, tôi không được thông báo trước”.

_ “Như vậy thì ai là người quyết định tất cả việc này?

_ “Người ta quyết định ở trên đó,” Thủ Tướng vừa trả lời vừa đưa ngón tay chỉ về hướng Dinh Độc Lập.” Chỉ có 3 người biết việc này thôi.”

_ “Ai vậy thưa Thủ Tướng.

_“Tổng Thống, đại tướng Cao Văn Viên và tướng Phú.

Tổng Thống Thiệu tiếp ông Bùi Diễm, cựu Đại sứ ở Hoa Thạnh Đốn và Đại Sứ Lưu Động từ hai năm nay. Xuất thân từ Đại Học Hà Nội ông là một người trí thức có tài, từng là giáo sư về toán học khi xưa ở trong vùng Việt Minh. Ông chạy khỏi cộng sản vô Sài Gòn, và đứng về phía những người quốc gia chống cộng, đã tham dự vào các cuộc thương thuyết ở Genève năm 1954. Ông đã từng giữ chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao, là thành viên của nhiều phái đoàn Việt Nam, từng giao dịch với các Tổng Thống Johnson, Nixon ở Honolulu, Manila, Guam, Midway và San Clemente. Ở Hoa Thạnh Đốn ông Bùi Diễm biết gần hết mọi người và mọi người đều biết ông. Không mệt mỏi ông cố gắng đi giải thích cương vị của Chánh Phủ VNCH khắp mọi nơi, ở Mã Lai Á, ở Tân Gia Ba, ở Nam Dương, Nhật Bản. ở Ấn Độ và nhất là ở Pháp và ở Hoa Kỳ. Ông và ông Hoàng Đức Nhã là hai trong số rất hiếm những người Việt Nam đã hiểu rõ được bộ máy Hành Pháp và Lập Pháp của Hoa Kỳ. Tại Hoa Thạnh Đốn trong lúc người ta dè dặt đối với ông Nhã thì trái lại người ta rất tin tưởng ông Bùi Diễm dù bề ngoài ông có vẻ là một người công chức cao cấp và khoa bảng hơn là một chánh trị gia.

Ông Bùi Diễm đến trình diện Tổng Thống Thiệu có cả ông cựu Tổng trưởng Ngoại Giao Trần Văn Đỗ và ông Chủ Tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động Trần Quốc Bữu cùng đi theo.

_ “Đã đến giờ rất nghiêm trọng rồi, chúng ta phải tập họp thành phần “quốc gia” lại thôi!

Ông Thiệu lắng nghe và trả lời với phái đoàn đã đến đây mật cách bất thình lình:

_ “Xin các anh viết hết ra cho tôi và trở lại gặp tôi với danh sách tên tuổi chính xác..”

Đây không phải là lần đầu tiên mà người ta đề nghị với ông vấn đề hết sức tế nhị này: cải tổ Chánh Phủ . Nhưng Tổng Thống hình như không bao giờ bị thuyết phục. Vì hai vấn đề thường trực: Ông Thiệu phải mở rộng nền tảng chánh trị của ông, nhưng dưới nhãn quan của ông mọi sự mở rộng, mọi sự dung hòa với phía đối lập đều là một sự nhượng bộ cho cộng sản. Tuy nhiên ông tự nhủ là ông vẫn sẵn sàng đối thoại.

Du thuyết mãi có một vấn đề mà không bao giờ được toại nguyện , ông Bùi Diễm đành phải trở về Ba Lê và Hoa Thạnh Đốn . Ông Thiệu còn dặn vói theo:

_ “Chuyện chánh yếu là Anh nên cố “giật” cho được viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam”

Ngày hôm sau ông Bùi Diễm đến thăm tướng Cao Văn Viên, một người bạn cũ. Ở thủ đô nước nào ông Bùi Diễm cũng có bạn. Ông Tổng Tham Mưu Trưởng có vẻ lo âu:

_ “Chúng tôi chỉ còn hơn một tháng đạn dược. Sau đó khó mà bắt các binh sĩ của mình phải chiến đấu được.”

Ông Bùi Diễm biết là có rất ít cơ may để có được viện trợ quân sự bổ túc của Hoa Kỳ . Ở Sài Gòn người ta nghĩ tới những nguồn tài trợ khác, hay đúng hơn là một sự giúp đỡ từ các quốc gia Á Rập ôn hòa. Có thể vay tiền trả dài hạn để mua vũ khí đạn dược. Trong hệ thống dân sự cũng như quân sự ở Miền Nam Việt Nam, người ta chỉ cho là thiếu vũ khí và đạn dược mà người ta không bao giờ nghĩ đến tầm quan trọng của yếu tố tinh thần.

Ngày đó, không biết vì không ý thức được hay vì đóng kịch giỏi mà Tổng Thống Thiệu có vẻ rất là tự tin. Ông nhìn thấy tướng Võ Nguyên Giáp “không phải là một Nã phá Luân thật sự” vì thế ông tin rằng thực ra mình lui binh như tướng Koutouzov người Nga, để địch quân phải mở rộng hệ thống giao thông rồi họ sẽ bị sa lầy không phải sa lầy vì mùa đông tuyết lạnh như ở Nga sô, mà sa lầy vì gió mùa và bùn sình của Việt Nam. Quân lực Miền Nam sẽ gom lại cố thủ và bộ đội Miền Bắc sẽ không sao giải quyết nỗi tất cả các bài toán về tiếp vận của họ.

Ông Wolfgang Lehmann cố nắm chặt lại sứ quán Hoa Kỳ . Ông điện về Tổng Trưởng Ngoại Giao ở Hoa Thạnh Đốn:

_ “Tôi đã cho lệnh tòa Lãnh Sự Nha Trang phải rút tất cả nhân viên người Mỹ từ KonTum, Pleiku và Quảng Đức. Tất cả sẽ đến Nha Trang sau buổi trưa này.”

Mọi tin tức đã chính xác: Đặc công Bắc Việt đã phá nổ một kho đạn dược ở KonTum. Bắc Việt đã bắn hỏa tiển vào phi trường của tỉnh và phi trường không còn xử dụng được nữa.

Cùng ngày hôm đó tại Hà Nội Chánh Trị Bộ và Quân Ủy Trung Ương chấp thuận một đề nghị của tướng Văn tiến Dũng: Vị Tổng Tư Lệnh Chiến Trường đề nghị tiếp tục cuộc tiến quân.

Có được Hà Nội bật đèn xanh rồi, tướng Dũng cho lệnh các đơn vị:

_“Lúc trước vào những năm 1968 và 1972, Quân Đội Nhân Dân ta cũng đã có nhiều trận tấn công trong vùng. Nhưng theo tôi (tướng Dũng), những chiến thắng của chúng ta không bao giờ nhanh chóng mà cũng không oanh liệt, không quyết định như năm nay. Sau những cuộc tấn công quy mô đó cuối cùng rồi quân lực Miền Nam vẫn nắm phần chiến thắng. Giờ đây, trong tháng 3 năm1975 này, các căn cứ tiếp vận, hệ thống đường xá, các ống dẫn dầu của quân đội ta v.v.. tất cả đều đã hoàn bị hơn và quan trọng hơn….”

_ “Phải làm sao hoàn thành sự nghiệp trước mùa mưa”

Dũng nhắc lại..

Tại Pleiku, trong 3 ngày liền từ ngày 15 đến 18 tháng 3, cuộc triệt thoái của Quân Đoàn II dĩ nhiên vấp phải nhiều khó khăn, nhưng nói chung cũng được diễn tiến khá tốt. Di chuyển cả một Quân Đoàn đâu có phải là chuyện nhỏ đâu? Nào là nhân sự, nào là quân xa và thiết giáp, nào là 20 tấn đạn pháo binh, nào là một tháng rưởi xăng dầu và 2 tháng lương thực… Tất cả đều phải được đưa xuống tận bờ biển Nha Trang. Ở đó người ta đang chuẩn bị cho kế hoạch phản công tái chiếm Ban Mê Thuột. Bấy giờ người ta mới vỡ lẻ ra tại sao tướng Phú nằng nặc xin thăng cấp chuẩn tướng cho đại tá Lê văn Tất. Vừa mới nhận được “một sao” là tướng Tất được tướng Phú giao ngay trọng trách chỉ huy cuộc hành quân triệt thoái này. Một ông tướng khác thâm niên hơn phải giám sát toàn thể cuộc hành quân. Do đó mà lệnh lạc rất mơ hồ, lộn xộn khó hiểu, gây ra “nhiều hiểu lầm ” lệnh này chỏi lại lệnh kia.

Bộ Tham Mưu Quân Đoàn không có gởi thám sát có khả năng để dò trước con đường 7B vốn đã hư vì các ổ sình lầy, xe thường không thể đi được. Các đơn vị đầu tiên rời khỏi Pleiku với Liên Đoàn 20 Công Binh dẫn đầu. Tức khắc họ bị đoàn người tỵ nạn từ Pleiku và Kontum bám vào, vì Kontum chỉ cách Pleiku có khoản 40 cây số về hướng Bắc. Trên một con đường mà từ bao nhiêu năm qua không được tu bổ, các chiến xa M48 nặng 47 tấn di chuyển rất khó khăn. Lực lượng Địa Phương Quân nhận được nhiều lệnh trái ngược và mâu thuẩn nhau. Tướng Phú thì nói: “Thôi thì cho các binh sĩ đồng bào Thượng trở về buôn làng của họ cho rồi, không cần phải cho họ biết làm gì.” Trong lúc các sĩ quan khác thì yêu cầu họ giữ vài đoạn trên con đường liên tỉnh 7 B. Nhưng biết là mình bị bỏ rơi, các binh sĩ người Thượng thường “rã ngũ” . Có một số cầu đã bị phá sập từ lâu cần phải được bắt lại. Công tác này tốn rất nhiều thời gian, nhưng dù muốn dù không tất cả đoàn xe đều tiếp tục tiến tới.

Ở Bộ Tổng Tư Lệnh Chiến Trường của Bắc Việt, cho tới ngày 16 tháng 3, người ta phân tách sai tình hình. Các đài phát thanh Tây Phương đã vô tình cung cấp tin tức mà theo tướng Dũng thì dù là từng đoạn tin không đầy đủ lắm nhưng thật sự có một giá trị “tối ư quan trọng”. Có nhiều chi tiết “báo động” quân đội Bắc Việt . Đây nhé, thông tấn xã UPI của Hoa Kỳ loan tin là “giá vé máy bay từ Pleiku đi Sài Gòn lên đến 40.000 đồng.” Tại sao lại có chuyện đua nhau chạy ra phi trường như thế ? Tại sao giá vé lại bất thần tăng vọt lên vùn vụt vậy?

Trưa ngày 16 tháng 3, Bắc Việt lại bắt được những câu trao đổi giữa những phi công của Không Lực Miền Nam. Họ cất cánh từ Pleiku và đáp xuống luôn ở phi trường Nha Trang luôn mà không trở về căn cứ Pleiku nữa dù phi trường này chưa bị Bắc Việt pháo kích. Tại sao vậy? Văn Tiến Dũng hiểu ngay: tướng Phú về đóng ở Nha Trang. Tướng Dũng cũng biết được là 450 người Mỹ và nhân viên người Việt của họ tất cả đều rời khỏi Pleiku. Một cầu không vận bằng trực thăng được thiết lập từ trung tâm thành phố đến phi trường. Từ đó phi cơ vận tải C- 47 và C-46 nối tiếp cầu không vận đến Nha Trang. Đối với người dân thường ở Pleiku cũng như đối với các điệp viên của tướng Dũng thì không còn nghi ngờ gì nữa : “người ta đang triệt thoái hết”. Ở Pleiku, nhân viên CIA không mấy bình tỉnh. Họ bỏ quên một số nhân viên người Việt, trong số đó có một trong những nhân viên tình báo chinh thức của họ. Và nhất là họ quên không đốt hết được các hồ sơ.

Các thành viên của một tổ Ủy Ban Quốc Tế cũng được rời khỏi Pleiku trong những điều kiện thật lạ lùng. Người Mỹ tự coi mình có bổn phận đối với các thành viên người Nam Dương và người Ba Tư, những người này không có ai ở chung với toán người Hung Gia Lợi và Ba Lan. Những người Ba Lan, “những người    chó má này”

(1) đã liên lạc vô tuyến với CPLTCHMN và Bắc Việt , theo mật văn đã ấn định trước: “Trời tốt…bầu trời sáng sủa.. Bạn của chúng tôi thức dây sớm.”(2) Thành viên Nam Dương hiện đang là Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Tế ở Sài Gòn (nguyên tắc luân phiên Chủ Tịch giữa 4 thánh viên). Ông này được người Mỹ cho biết nội vụ và ông chỉ thông báo cho hai toán Nam Dương và Ba Tư mà thôi. Nhưng cuối cùng rồi hai toán Ba Lan và Hung Gia Lợi cũng được CIA dùng phi cơ của hảng Hàng Không Air America bốc đi, vì họ không muốn ở lại chờ các đồng chí Bắc Việt của họ. Hoan nghênh CIA!

Ngày 16 tháng 3, vào lúc 19 giờ. một cuộc tranh cải dử dội đã xảy ra tại Bộ Tham Mưu Hành Quân Bắc Việt . Người ta có cảm tưởng rằng “địch quân đang toan tính chuyện gì đó trên Vùng Cao Nguyên, sau khi quân Bắc Việt chiếm xong Phước Bình và Ban Mê Thuột. Bộ Tham Mưu của tướng Dũng hơi bối rối. Tướng Dũng tự hỏi : Phải chăng tất cả Quân Đoàn II ở Pleiku đang tìm cách rút đi ? Nếu họ rút đi thì họ phải hành quân ra sao? Đi bằng con đường nào? Khởi thủy lúc đầu ông ta định có 2 ưu tiên trong hành động:

1.- “trước hết là phải diệt mọi lực lượng phản công của địch  “Cũng như tướng Thiệu, tướng Dũng nghĩ là phải có phản công.

2.- “Mặt khác phải nhanh chóng chuẩn bị tái phối trì lực lượng để tiến về hướng Bắc và thanh toán Pleiku”

Thành phố càng về lâu càng trống vắng… Tướng Dũng đã cắt hết các con đường chiến lược trong vùng này, từ quốc lộ 19, 14 đến quốc lộ 21. Ông không hề nghĩ tới con đường liên tỉnh 7 B. Nó không còn xử dụng được nữa, người ta bảo đảm rằng các cây cầu trên đường này đều hư sập hết rồi và dọc đường cũng không có phà. Thình lình, vào lúc 21 giờ Tổng Tư Lệnh Bắc Việt biết được là lịnh triệt thoái khỏi Pleiku được ban ra cho tất cả các đơn vị. Tin tức đã xác nhận rồi. Như vậy là không có thành lập cứ điểm ở thành phố Pleiku để tử thủ như tin tức tình báo từ Hà Nội đã tiên liệu. Bây giờ tướng Dũng cũng đã biết được rằng hầu hết Quân Đoàn II của Miền Nam đã rời khỏi Pleiku được 48 tiếng đồng hồ rồi trên con dường liên tỉnh 7 B mà người ta đã quả quyết với ông là không còn xử dụng được . Giận quá, tướng Dũng đã sỉ vả thậm tệ tướng Kim Tuấn Sư trưởng sư đoàn danh tiếng 320. Ông sư trưởng này cũng đã từng khẳng định là không có một đơn vị nào dù là của Miền Nam hay Miền Bắc có thể dùng con đường này được với cả pháo binh và chiến xa của họ. Tướng Dũng nói qua điện thoại:

_ “Sơ suất và xao lảng này không thể tha thứ được. Trong giờ phút này, mỗi một sự dè dặt tối thiểu nào, mỗi một sự lơ đểnh tối thiểu nào, mỗi một sự đánh giá các khó khăn nào, mỗi một sự chậm trể nào… tất cả sẽ hỏng hết. Nếu địch vuột khỏi đây, thì đó là một trọng tội mà bản thân ông sẽ hoàn toàn gánh chịu hết trách nhiệm”.

Đây là lần đầu tiên cả một Quân Đoàn của VNCH rời bỏ một vị trí chiến lược trong lúc tình hình đánh nhau đang nóng bỏng và rút đi trong những điều kiện thật là xấu.Là một chiến binh lâu đời, tướng Dũng ngày hôm đó sực nhớ lại kỷ niệm 30 năm chiến trận của mình. Cũng như tướng Tổng Tham Mưu Trưởng của Miền Nam ông nghĩ tới cuộc triệt thoái của quân đội Pháp. Và cuộc rút lui ra khỏi Khe Sanh của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ năm 1968. Cuộc rút lui này không phải một thảm trạng mà chắc chắn cũng không phải là một chiến thắng đối với người Mỹ. Gần đây hơn là cuộc lui binh của quân lực Miền Nam trên Quốc lộ 19, ở Lào năm 1971, một thảm họa đối với quân lực Miền Nam . Và cuộc rút lui của Sư Đoàn 3 bộ binh của QLVNCH ở Quảng Trị năm 1972. Nhưng ở đây Miền Nam lại trở lại tái chiếm thành phố . Tướng Dũng ghi nhận: “mỗi lần mà địch quân rút đi vội vàng để tránh các cuộc tấn công của chúng ta là y như rằng họ đều có mưu lược để đảm bảo an toàn cho người của họ”. Lần này cái bẩy ở chỗ nào đây? Mưu lược của ông Thiệu ra sao đây? Chắc chắn phải có một mưu lược gì đây.

Trong đêm 16 và 17 tháng 3, sư đoàn 320 Bắc Việt tiến quân. Các đơn vị đi tắt đường rừng, Họ chuẩn bị đánh thẳng vào đoàn quân đang triệt thoái. Chiến xa và pháo binh của sư đoàn tới ngày 18. Trong lúc đó sư đoàn 968 được lệnh của tướng Dũng đi về hướng Pleiku, vượt qua khỏi thành phố Pleiku đi xuống phía Nam để đánh từ phía sau của Quân Đoàn 2 đang rút đi.

Bầu trời Pleiku đang có đầy những cột lửa màu xanh và màu cam. Quân đoàn 2 lúc rút đi đã bỏ lại và đốt đi một sớ lớn xăng dầu dự trử.

Trên con đường 7 B, xe tư nhân và xe vận tải dân sự chen lẩn lộn vào đoàn xe quân sự, chiếc này dính sát chiếc kia, chẻ đoàn xe của quân đội ra làm nhiều đoạn, nhiều mảnh. Các quân xa chở đầy binh sĩ và gia đình của họ với bàn tủ ghế, thúng mủng, gà vịt …Các chiến xa và xe thiết giáp thì trợt lên trợt xuống, chiếc xe cứu thương thì lại chạy theo mấy khẩu pháo binh. Các tiểu đoàn, các đại đội thì kéo dài lê thê rồi tan dần…Các sĩ quan thì mất liên lạc hẳn với binh sĩ của họ, các ông đại úy thì gọi các thiếu tá của họ đòi quyền ưu tiên, các ông thiếu tá thì không nghe lịnh các ông trung tá, đại tá. Các công điện thường không thể hiểu nổi, rất khó nghe được vì tiếng kêu của xích xe đang tiến thật chậm. Các máy vô tuyến bắt đầu hư không còn làm việc được nữa. Người ta nghe đâu đây những tràng súng tự động, những tiếng bắn bách kích pháo, tiếng réo của đạn đi và tiếng chạm nổ lúc rơi xuống…Ngày 18 tháng 3, qua đài phát thanh các sĩ quan nghe được tin mất An Lộc, một thị trấn chỉ cách Sài Gòn khoản 100 cây số về hướng Bắc cách tỉnh lộ 7 B khoản 300 cây số về hướng Đông Nam. Và nhiều tin không tốt từ Vùng I Chiến Thuật ở xa về hướng Bắc. Cuộc hành quân rút lui biến thành một cuộc tháo chạy, một sự tản cư, tan rã…trong hổn loạn. Ban ngày thì dân chúng đi trong một lớp bụi đỏ và dưới một sức nóng khô gay gắt. Ban đêm thì họ lại bị một khí lạnh ẩm ướt, một mùi mốc meo của rừng rậm trong đó các bộ đội Bắc Việt luôn luôn rình rập họ. Các ông thì mệt đừ, các bà thì quá chán nản, trẻ con và người già thì khờ khạo hết. Người ta thiếu thức ăn và nước uống. Người ta từ từ bước qua khỏi trạng thái “sắp chết” và biến thành các thây ma với cặp mắt ruồi bu kiến đậu . Còn những ai còn sống thì làm mồi cho muỗi.

Lúc rời khỏi Pleiku và Kontum thì quân nhân còn có kỷ luật, sau đó thì họ mất hết tinh thần. Tuy nhiên họ vẫn còn giữ vũ khí. Binh sĩ và dân chúng bị vây hảm trong tình trạng nghi ngờ sợ hải, hồ đồ và hỗn loạn. Một vị sĩ quan bị lạc hết binh sĩ của mình trong sự lộn xộn của đêm hôm tâm tối lại bị nghi ngờ và bị cáo buộc là ông ta bỏ binh sĩ của mình để mà đào ngũ. Dọc hai bên lề đường người ta thấy những tấm ni lông bọc xác người nhơ nhớp vì mưa và bụi, bùn đất. Có những mùi khét do sắt thép bị cháy, mùi mỡ, mùi xăng bao trùm cả đoàn di tản. Ai cũng trông cho mau sáng để trực thăng có thể đáp xuống tản thương hay bốc những bà mẹ có con nhỏ, và trông cho mặt trời chóng lên để các oanh tạc cơ có thể oanh kích các đơn vị bộ đội Bắc Việt . Nhưng thường buỗi sáng chỉ giúp phá tan sương mù xám xịt mà thôi. Người ta khám phá ra các cây cầu, chùa, miễu tan hoang trong hư, sập, đổ nát. Người ta gặp các người bị thương, người ta bước qua các xác chết mà không một ai có thì giờ chôn cất hay mang ra xa xa khỏi con lộ.

Thường thường thân thể người chết bị co quắp lại trong nhiều tư thế lạ lùng và thiểu não lắm . Nhìn cảnh tượng bi thảm đó ai mà không sửng sờ muốn vụt chạy xa thật nhanh ra khỏi nơi này?

Tuy nhiên, ngày hay đêm cũng có nhiều lúc có một sự yên tĩnh bất thường lạ lùng phủ chụp xuống đoàn người di tản. Người ta không còn nghe tiếng pháo binh tác xạ từ xa nữa, người ta không còn thấy những cột khói của các hỏa châu nữa, tai không còn nghe những tiếng ơi ới gọi nhau, cả những tiếng dơi kêu, hay chim chóc nữa… Những rể cây lòng thòng từ trên cao có thể cho vài giọt nước ấm lòng…những tiếng rì rào xào xạt của côn trùng trên lá khô…Ở chỗ này người ta nhóm tý lửa để hâm nóng cơm nếp, ở các chỗ khác các sĩ quan chạy đi tắt lửa và ra dấu nên che bớt ánh đèn.. Không thể để cho người ta dò thấy mình. Tuy nhiên người ta cũng thấy được một vài ánh đèn pin và một và anh tài xế quên không tắt đèn xe của mình. Tất cả các khuôn mặt đều hốc hác vì mệt mỏi, vì đói, vì khát. Tất cả đều hy vọng đi tới được bờ biển. Và sau đó ? đến được Sài Gòn. Và sau đó nữa thì sao?

Có những hạ sĩ quan đi ngược lại để tìm trung đội của họ hay tìm gia đình. Đoàn xe cứ tiến tới, ở chỗ này phải đi vòng qua một chiếc xe vận tải, một xe Jeep hay một chiếc xe Citroen cũ kỹ nào đó đang bốc cháy , ở chỗ kia những chiếc mô tô, Vespa, Lambretta hoặc đang cháy hoặc bị chủ vứt bỏ vì hết xăng. Pháo binh và bách kích pháo của Bắc Việt lại tiếp tục nả tới càng lúc càng gần. Họ đặt quan sát viên ở ngay cạnh đường để điều chỉnh tác xạ. Nếu một đoạn nào đó nằm giữa hai đoạn đang bị tấn công, thì đó là chiến thuật của Bắc Việt muốn tạo ra nhiều đoạn ngổn ngang từng chặn cốt làm nghẽn đường tiến của đoàn xe. Đoàn xe, đoàn người càng bị ùn tắt càng bị dồn lại thì họ càng dễ tàn sát, và tàn sát được số đông hơn, càng nhiều càng tốt..

Đi trong đoàn di tản này phần đông dân chúng đều là dân ở thành phố, nhưng cũng có một số nông dân. Tại sao họ lại phải chạy đi như vậy? Họ rất sợ, họ kinh sợ kỷ luật của cộng sản. Người dân ở vùng Cao Nguyên Trung Phần này không ưa người Bắc Kỳ (3), họ biết là những người ở Miền Bắc tàn nhẫn lắm. Những người chạy đi tỵ nạn này nghi ngờ Chánh Phủ VNCH không còn giữ đúng đường lối chánh trị trước kia nữa. Từ hai chục năm nay, Chánh Phủ VNCH chủ trương giữ từng tấc đất của lãnh thổ. Các công chức thì đinh ninh rằng họ sẽ bị trừng trị, bị hành hạ vì dầu muốn dầu không họ cũng đã có một sự hợp tác với người Mỹ. Còn các người buôn bán thì họ thấy trước cảnh hàng hóa của họ sẽ bị tịch thu, các kho hàng của họ sẽ bị quốc hữu hóa. Những người khác thì vì họ nghe nói tài sản sẽ bị tịch thu, đất điền sẽ bị cưỡng đoạt, những cuộc nỗi dậy của nông dân sẽ bị đàn áp, những tòa án nhân dân và những cuộc hành quyết dân chúng bằng phương tiện thô sơ (4). Người này người kia đều e rằng tỉnh của họ bị quân Bắc Việt chiếm rồi lại còn có thể sẽ bị Không Lực VNCH oanh tạc, hoặc nếu Hoa Kỳ cho B.52 dội bom xuống thì sẽ ra sao? Một số dân là người Ki Tô giáo trong số đó phần lớn đều đã bõ Miền Bắc bỏ các họ đạo thuộc các địa phương có nhiều giáo dân như Phát Diệm, Bùi Chu .. chạy cộng sản, di cư vào Miền Nam, giờ đây họ lại phải di cư lần thứ hai. Những người khác là các Phật tử, họ tin chắc rằng cộng sản không bao giờ cho họ được tự do trong việc hành đạo (5).

Hồi năm 1954, nói về những người đã bỏ Miền Bắc chạy vào Miền Nam , không biết thành thật hay vô liêm sỉ, Thủ Tướng Phạm văn Đồng trưởng phái đoàn thương thuyết của Chánh Phủ Hà Nội ở Genève đã tuyên bố rằng:

_ “Chúng tôi đến, đem hạnh phúc lại cho họ mà họ chạy đi! Các ông có hiểu chuyện đó không?” Năm 1954, các chuyến di cư vào Miền Nam được tổ chức hẳn hòi, có các tàu thủy của Pháp và Mỹ tham gia giúp đỡ đưa người di cư vào tận Miền Nam an toàn. Bây giờ trong năm 1975 này, Chánh Phủ VNCH bất cập không có dự trù được gì hết để giúp cho người dân trên con đường liên tỉnh 7 B này.

Ngày 20 tháng 3, các xe vận tải chở quá sức và các chiến xa đã làm cho con đường vượt qua Sông Ba không còn xử dụng được nữa. Đoạn đầu của đoàn xe đứng khựng lại, không thể tiến lên được . Tất cả đều phải chờ. Trực thăng chở những tấm vỉ sắt đến để thiết lập một chỗ qua sông mới. Trong lúc đó từng tốp 3 tốp 5 các xe vận tải ùn lên sát nhau chiếc này cạnh chiếc kia gây hoàn toàn tắt nghẻn không thể kiểm soát nỗi.

Để bảo vệ con đường, người ta xin Không trợ. Bộ đội Bắc Việt thì cứ bắn cả đại liên hạng nặng và đại bác vào đoàn xe và vào dân chúng. Các phi công Việt Nam trong tư thế chúi xuống để oanh kích và tác xạ lại nhầm mục tiêu và gây thiệt hại rất nặng nề cho tiểu đoàn 7 Biệt Động Quân. Các tài xế chiến xa muốn đi cho nhanh , không muốn vượt Sông Ba ngay ở địa điểm vừa mới đặt các vỉ sắt, nên các chiến xa này bị sa lầy trong một vùng cát di động, tạo ra một cảnh vô trật tự khủng khiếp khắp nơi. Còn các binh sỉ thì cố lội thử qua sông nên có một số bị chết đuối.

Tại Sài Gòn ông Polgar không biết diễn tiến cuộc hành quân trên đường 7 B ra sao hết. Không có một tin tức nào của phía VNCH. Mà cũng không thể nào có được tin tức từ các vệ tinh: những người kiểm soát vệ tinh ở Hoa Thạnh Đốn từ lâu rồi không còn coi VNCH là một ưu tiên hàng đầu nữa. Mà ông Polgar cũng không thể đòi hỏi một phi cơ SR 71, một loại phi cơ thám thính bay thật cao giống như loại U.2 cải tiến vậy. Một tấm ảnh chụp từ SR 71 có thể cho thấy một chiến xa bị hỏng đang bít hết lối đi qua một chiếc cầu. Chỉ thấy được như vậy thôi chớ không như nhiều người dám quả quyết là thấy được nhân viên của chiến xa đó đang hút thuốc lá Winston hay thuốc lá Điện Biên Phủ. Mà nếu toán CIA ở Việt Nam có được những phi cơ thám sát loại đó thì cũng phải đợi đến mấy tuần lễ họ mới nhận được không ảnh. Và hơn nữa vị Tùy Viên Quân sự Hoa Kỳ của sứ quán cũng không thể gởi một trong những phi cơ loại đó được vì Hiệp Định Paris cấm mọi can dự như vậy. Riêng cơ quan CIA thì lại có được đặc quyền, một quyền có sáng kiến trong phạm vi pháp lý mà quốc tế cho phép, có ghi rõ trong Hiệp Định Paris. Cho nên ông Polgar phái một chiếc phi cơ của hãng Hàng Không Hoa Kỳ lên chụp ảnh trên đường liên tỉnh 7 B. Các không ảnh cho thấy là diễn tiến của cuộc triệt thoái không còn gì xấu hơn nữa. Ông Polgar nói với các cộng sự viên rằng:

_ “Người ta có thể nói đó là một cuộc diễn hành của đoàn xiếc đang lên cơn điên. Các con voi thì giành nhau đi trước và những con thú khác thì đang dậm chân trên đóng phân của chúng ở đằng sau!”

Ông Polgar đi gặp Thủ Tướng Khiêm. Ông vừa nhờ Thủ Tướng chuyển các tấm Không Ảnh cho Tổng Thống xem vừa nói:

_ “Nói về các đơn vị hành quân và trên phương diện chiến cụ thì Quân Đoàn 2 coi như không còn nữa rồi.”

Ngay như trong các cuộc tấn công quy mô của Bắc Việt hồi năm 1968 hay 1972, người ta cũng không thấy thảm cảnh như vậy. Trên con đường 7 B, các quân xa thì bốc cháy, bên cạnh đó thì các tử thi đầy rẩy, chồng chất lên nhau. Trời nóng như thiêu đốt làm nám cả mặt mày tay chân nhưng tiếp theo đó lại có những cây mưa lạnh buốt làm cho cả binh sĩ và dân di tản run lên cầm cập. Bây giờ thì trời quá xấu làm cho Không lực không thể can thiệp gì được nữa. Có nhiều đơn vị phải vứt bỏ vũ khí nặng để xài vũ khí nhẹ.. rồi đến lượt vũ khí nhẹ cũng phải vứt luôn. Những đơn vị hậu tập có nhiệm vụ giữ hai bên sườn của đoàn xe thì vẫn còn tiếp tục hăng say chiến đấu; nhưng rồi họ cũng không thấy được rõ đâu là phần cuối và đâu là hai bên sườn của đoàn xe. Ngày 21 tháng 3, hầu hết đoàn xe tập trung chung quanh các bãi vượt sông và các cây cầu ở về phía đông của Cung Sơn. Các tiểu đoàn thuộc sư đoàn 320 Bắc Việt ngắt đoàn xe ra từng đoạn, chẻ các tiểu đoàn 6, 7 và 22 Biệt Động Quân ra, những đơn vị mà binh sĩ chiến đấu rất hăng say mãnh liệt.. Bộ đội Bắc Việt tiến nhanh hơn và chận đoàn xe lại ở một điểm khoản 40 cây số cách bờ biển. Hai tiểu đoàn 35 và 51 Biệt Động Quân được 15 chiến xa nhẹ M 41 và 8 chiến xa hạng trung M 48 yễm trợ, đã đẩy lui mấy trận tấn công ác liệt của trung đoàn 64 Bắc Việt đêm 23 tháng 3. Trời lại sáng sủa nên 2 chiếc trực thăng CH.47 tiếp tế được một số lương thực và đạn dược cho các đơn vị Biệt Động Quân. Họ phải bay vượt qua chiến tuyến của địch quân. Rồi trời lại âm u trở lại. Biệt Động Quân lần lượt tiến chiếm vị trí của quân Bắc Việt phía trước mặt, từng cái một , vị trí sau cùng chiếm xong ngày 15 tháng 3. Và từ đó dẫn đầu đoàn xe đi luôn đến Tuy Hòa ở sát bờ biền.

Có khoản 200 ngàn dân chúng đi theo đoàn xe. Chỉ còn khoản 60 ngàn đến được Tuy Hòa. Đại tá Lê khắc Lý Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2 ước tính rằng trong số binh sĩ rời khỏi Pleiku yễm trợ cho đoàn xe đã có 5000 đến được mục tiêu cuối cùng của cuộc triệt thoái. Có một số đơn vị đã bị mất khoản phân nữa quân số, chết hay bị thương.

Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn tổng kết : bị thiệt hại nặng, mất đi gần một lữ đoàn Thiết Giáp và 7 tiểu đoàn bộ binh . Tổng Thống Thiệu đổ cho tướng Phú. Ông xác nhận rằng tướng Phú không có nhận được lệnh di tản. Về sau, ông lại nói rằng lẽ ra vị Tư Lệnh Quân Đoàn 2 phải sửa soạn kỹ lưỡng hơn cho cuộc hành quân triệt thoái. Tướng Tham mưu Trưởng ở Sài Gòn có một bản phân tách hợp lý hơn: tướng Phú chỉ có 48 tiếng đồng hồ để sắp xếp các đơn vị, người ta cũng thiếu sót không dự liệu được khối quá đông dân chúng lại chạy theo bám vào binh sĩ và chiến cụ làm tê liệt hết mọi cuộc hành quân phản công. Nhất là có thể người ta không ước tính được hay ước tính thấp khả năng ứng phó của Tư Lệnh quân Bắc Việt . Người ta tưởng ông này đắn đo, không có khả năng ứng biến khi phải điều động một số lớn đơn vị chánh quy, trong một trận chiến tranh quy tắc.

Một số binh sĩ và sĩ quan cấp úy của QLVNCH đã có nhiều hành động rất ngoạn mục, thật là xứng đáng, mặc dầu họ không được chỉ huy đúng mức. Ngoài ra nhiều tin tức và một số lệnh lạc không bao giờ được truyền đến cho đơn vị . Hơn nữa hồi năm 1973, quân đội viễn chinh Đại Hàn đã có gài một số mìn ở một vài đoạn dọc theo hai bên đường 7 B mà người ta không bao giờ gỡ đi.

Một cuộc thất trận đôi khi cũng vì lý do không may mắn hay vì tinh cờ may rủi, nhưng trước hết phải nói là do cấp chỉ hu , vì nhiệm vụ vượt quá sức mình hay vì không đủ khả năng.

Các đơn vị còn sống sót về quy tụ ở Tuy Hòa. Họ thuật lại cho nhau nghe từng chiến công của họ và an ủi lẩn nhau. Trong chiến trận dù thắng hay bại, các quân nhân thường sống với nhau trong tình thương huynh đệ, còn đau khổ là những người chết và bị thương, thường họ bị coi như bị lãng quên, vì họ đã bị liệt vào thành phần bất khiển dụng rồi. Ở Tuy Hòa, các nhóm binh sĩ lẻ loi cố đi tìm lại đơn vị gốc của họ nhưng làm gì còn nữa mà tìm! Cuộc triệt thoái đã trở thành một cuộc tháo chạy, tán loan.., như một chuyến mộng du…

Tôn Tử có nói: Trật tự hay hổn loạn tùy thuộc vào cách tổ chức, tùy theo tình hình và trạng huống, có lòng can đảm hay không , tùy theo sức mạnh và sự yếu thế, tùy theo phẩm chất của con người . Khi con ó đánh bắt con mồi, thì hay dỡ ở chỗ chọn được đúng thời cơ và thật đúng lúc”

Còn Clausewitz thì có nhận xét: Tất cả mọi cuộc thất trận đều tạo ra yếu tố suy yếu và tan rả . Nhu cầu cấp thiết nhất là phải tập trung nỗ lực để vãn hồi lại trật tự, gầy lại lòng tin, lòng can đảm và sức mạnh đã mất”

Chú Thích của Dịch Giả

  • nguyên văn tiếng Pháp của tác giả “ces salauds”
  • Từ lâu rồi (theo tác giả) thì: “cơ quan CIA có nhận xét rằng khi nào các toán Ba Lan và Hung Gia Lợi thuộc Ủy Ban Kiểm Soát Quốc Tế đóng ở thị trấn nào mà vừa bỏ đi là y như rằng Bắc Việt sẽ tấn công chiếm thị trấn đó ngay. Vì thế nên mới có câu mà các nhân viên Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ thường hay nói : “Ba Lan đi là Việt Cộng tới” (The Poles are leaving, the VC arriving). Trong trận tấn công vào Cao Nguyên, các bạn Bắc Việt không thông báo gì cho các đồng chí Ba Lan và Hung Gia Lợi hết nên các toán này bị kẹt lại…
  • nguyên văn của tác giả: “Tonkinois”
  • sự thật đã xảy ra ở Miền Nam Việt Nam đúng như vậy từ 30/4/75 cho đến cuối năm 86 với các chiến dịch tịch thu “chiến lợi phẩm” của đoàn quân chiến thắng (như tịch thu nhà cửa đất đai ruộng vườn, tài sản, vàng bạc, nhất là ở khắp các tỉnh) với đủ các chiến dịch cốt làm cho mức sống của dân chúng Miền Nam xuống ngang bằng mức sống đói nghèo khổ sở của nhân dân Miền Bắc (như đổi tiền, lập hộ khẩu và cấp phát tem phiếu lương thực thực phẩm và ngăn sông cấm chợ, đánh tư thương, công thương nghiệp, hợp tác hóa nông nghiệp, đánh tư sản tư doanh, đánh tư sản mại bản, lùa dân chùng đi vùng Kinh Tế Mới, bắt cả triệu quân cán chính và đảng phái đi tù khổ sai, v.v…)
  • tất cả những gì tác giả ghi nhận ở đây đều rất đúng với tâm trạng của người dân trong Miền Nam lúc bấy giờ. Mà sự thật đã cho thấy rõ ràng là cho tới giờ này (2001) cộng sản vẫn tìm đủ mọi cách để bóp nghẹt hay tiêu diệt các Tôn Giáo, bất kể là Kitô Giáo, Tin Lành, Phật Giáo, Cao đài hay Phật Giáo Hòa Hảo.

Chuyện Tù Cải Tạo Của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH

thoibao.com

Trần Đỗ Cung
Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Một bạn thân ở Montréal Canada vừa gửi cho tôi cuốn Pháp Ngữ Souvenirs et Pensées, viết bởi Bà Bác Sỹ Nguyễn Thị Đảnh và được Bác Sỹ Từ Uyên chuyển qua Việt Ngữ. Bạn lại khuyến khích tôi nếu có thì giờ thì chuyển qua Anh Ngữ theo sự mong muốn của tác giả. Sau khi đọc tôi thấy đặc biệt ở chỗ tù cải tạo này là một chuyên viên tài chính ngân hàng, khác hẳn trường hợp thường thấy của các sỹ quan trong quân lực. Ông Thảo bị đầy đọa sáu năm rưỡi trời để hy vọng moi các hiểu biết của ông về tài sản Ngân Hàng Quốc Gia.

Bà Bác Sỹ Đảnh nay định cư tại Oslo Na Uy là một phụ nữ miền Nam, Tây học. Phu quân Đỗ Văn Thảo cũng là người Nam, sinh ngày 21 tháng 8 năm 1927 tại Gò Công. Sau khi tốt nghiệp Đại Học tại Pháp ông Thảo đã về làm việc tại Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam từ tháng Tư năm 1955. Ông đã giữ chức Giám Đốc Nha Ngoại Viện rồi Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia cho đến ngày 30 tháng Tư năm 1975. Ông bị đi tù cải tạo tháng 6 năm 1975 rồi bị lưu đầy ra Bắc cho đến tháng 9 năm 1980. Đến tỵ nạn chính trị tại Bergen, Na Uy tháng 12 năm 1981, ông tạ thế tháng Giêng năm 2001 tại Oslo, Na Uy vì trụy tim.

Câu chuyện Bà Bác Sỹ Đảnh kể lại về sự tù tội Việt Cộng của đức lang quân cho thấy đặc biệt có ba khía cạnh. Là người Nam thuần túy, là chuyên viên được huấn luyện công phu và chưa bao giờ liên quan đến quân đội. Nhưng Việt Cộng cưỡng chiếm miền Nam đã hành xử như quân xâm lăng, cầm tù những chuyên viên rồi vơ vét của cải đem về như Phát Xít Đức Quốc Xã khi tiến vào Paris. Sự thiển cận của họ đã đưa đến sự kiệt quệ tột cùng cho đến bây giờ vẫn chưa ngóc đầu lên ngang hàng với các nước lân bang. Nay mở miệng mời chào người Việt nước ngoài trở về đem chất xám giúp nước thì thử hỏi có nghe được không?

Câu chuyện do bà Đảnh kể lại trong thời kỳ gia đình bị kẹt vì lỡ chuyến ra đi của tầu Việt Nam Thương Tín. Những ôn tưởng chỉ được ông Thảo thỉnh thoảng nhắc đến vì ông không muốn trải qua một lần nữa những hình ảnh dã man mà ông đã trải qua. Bà hết sức căm nước Pháp đã hùa theo Việt Cộng chỉ vì thù Mỹ đã không giúp họ xâm chiếm lại xứ Việt Nam trù phú sau khi Thế Chiến II chấm dứt. Bất hạnh cho Việt Nam, trong khi cộng sản Nga Hoa chỉ ngầm giúp Hà Nội thì Mỹ ồn ào đổ quân vào làm mất chính nghĩa của chúng ta đã bị nhóm thiên tả và CS cơ hội bóp méo thành chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Bà viết để vinh danh những ai đã trải qua địa ngục trần gian tù cải tạo Việt Cộng. Và cũng để nói lên lời an ủi tới những ai đã bị phân tán ra bốn phương trời, làm cho không những mất gốc mà còn mất cả cá tính nữa.

Bà cùng gia đình bị kẹt lại trong cư xá sang trọng của Ngân Hàng nằm trên đường nhỏ hướng ra cầu xa lộ mới. Bà thấy rõ sự chiến đấu dũng cảm của một Trung Đội Nhẩy Dù với 20 binh sĩ chỉ huy bởi một Thiếu Úy trẻ măng có vẻ mới ra trường. Nhìn các quân nhân rắn chắc, nét mặt kiêu hùng và người chỉ huy Thiếu Úy trẻ nhưng chững chạc, bà đã chia xẻ đồ ăn với họ và có cảm tưởng đã cùng họ chiến đấu. Cuối cùng tất cả quân sỹ đã bị hy sinh một cách tức tưởi. Bà nói: “Ai dám bảo là quân ta không chịu chiến đấu”? Trong khi ấy những phát súng lẻ tẻ của du kích Mặt Trận Giải Phóng quấy rối giữa những tiếng nổ đại pháo. Ngoài đường một sự hỗn loạn không tưởng tượng được khi bọn hôi của nhào vào các nhà vắng chủ và du kích Việt Cộng ngày càng hung hăng tàn ác.

Rồi ông Thảo phải ra trình diện theo lệnh của quân quản Sài Gòn. Ông thật thà nghĩ rằng vì vợ chồng ông là các chuyên gia thuần túy nên chính thể mới sẽ cần đến những bàn tay xây dựng lại quốc gia. Ông nói với vợ rằng, “Nếu họ không ưa chúng ta thì họ cũng không thể xử tệ với chúng ta. Họ không thể giết hết tất cả”. Một Pol Pot đã làm như vậy, nhưng họ đã thấy là không có lợi gì hết. Tuy nhiên Việt Cộng đã làm những việc tệ hại hơn nhiều. “Chúng tôi không hiểu rõ cái thực tế của cộng sản. Chúng tôi đã nuôi ảo tưởng rằng cộng sản là một xác tín cao đẹp. Song đem cái xác tín ấy vào đời sống con người bằng võ lực đã làm mất hào quang lý tưởng và thơ mộng. Và như vậy nó trở nên tầm thường, bẩn thỉu, ích kỷ vàman rợ”.

Ngày 15 tháng Sáu năm 1975 bà Đảnh đã chở ông Thảo và các con trên chiếc xe VW Variant đến một ngôi trường bỏ không gần Sở Thú. Ông gập một bạn cũ cùng đi trình diện nên thấy đỡ cô đơn hơn. “Khi chia tay tôi nhìn thấy trong ánh mắt anh ấy sự tiếc nuối, lo âu và tình yêu đằm thắm. Anh chưa biết rằng sự chia tay này kéo giài cả hơn sáu năm rưỡi trời. Ánh mắt sâu thẳm ấy theo tôi mãi mãi ngày đêm và không bao giờ tôi quên được. Hầu hết các gia đình đều chịu hoàn cảnh như vậy, không cha, không chồng. Tôi may mắn thuộc thành phần không làm điều gì sai quấy và được đồng sự mến, không phải loại có nợ máu lớn với nhân dân, nên được gọi đi cải tạo trong một tuần lễ”.

Rồi xẩy ra việc vơ vét toàn diện. Tại Bộ Giáo Dục cũ không một cái gì là bị bỏ sót, cục tẩy, cái bút BIC, giấy, tập vở đều bị thu gom chở về Bắc trên các xe vận tải nhà binh đầy ắp. Những cán bộ miền Nam thấy bất bình, “Chúng ta bây giờ thống nhất vậy của cải miền Nam phải được để lại miền Nam vì ở đây cũng cần các phương tiện để xây dựng lại chớ”? Bà nói: “Khi tôi nghĩ dến những đứa con miền Nam đã gia nhập MTGPMN tôi không khỏi khinh bỉ và tội nghiệp. Một số ít có thể là những người yêu nước thật sự tuy nuôi một lý tưởng ngu đần để bị VC xập bẫy. Họ đã làm gì để giúp đỡ quê cha đất tổ? Hay là giúp tay xa lìa sự trù phú, sự phồn thịnh và cả tự do nữa”?

Các cán bộ cộng sản thường vào tư gia mượn những thứ cần dùng. Họ được đối xử tử tế nhã nhặn. Nhưng một hôm một cấp chỉ huy vào nhà. Bà lịch sự rót một cốc nước mát mời thì ông ta túm lấy vai đứa con trai nhỏ bắt húp một ngụm trước. “Tôi đâu có ngu gì mà đầu độc họ ngay tại nhà tôi? Họ ra vào nhiều lần và tôi cảm thấy họ muốn cái gì, có lẽ muốn cái nhà của tôi? Ý tưởng đào thoát manh nha trong đầu tôi. Với sự hiện diện của báo chí và những quan sát viên, nên VC còn tỏ ra dè dặt, không dám ra mặt tham lam áp chế dân chúng. Cũng may là chẳng bao lâu sau cả đoàn quân CS bị chuyển qua Cao Mên”.

Một tháng sau khi trình diện học tập cải tạo không thấy một ai được về nhà. Cậu con trai lớn luôn luôn đạp xe quanh ngôi trường mà cha cậu trình diện thì thấy vắng tanh. Khi đem người trưởng gia đình đi thì tạo ra một không khí bất an và đạt được hai mục đích, vô hiệu hóa người chồng người cha và cùng một lúc kiểm soát được mọi người trong gia đình. Nhiều gia đình chỉ trông cậy vào đồng lương cha chồng đem về hàng tháng thì bây giờ túng quẫn. Và sau hai lần đổi tiền, những người giầu có nay thành nghèo và những ai đã nghèo nay lại càng xơ xác. Sau một tháng quy định chẳng ai được trở về. Thỉnh thoảng có một vài người có lẽ thuộc loại có móc nối hay không nợ máu thấy lẻ tẻ trở về. Một người quen cho biết là chồng bà bị chuyển tới trại Long Thành.

Một loạt xe vận tải nhà binh đến chở các tù nhân đi. Họ không biết là đi tới đâu. Trong đêm tối đến một khu rừng mà họ không biết là Long Thành và bị lùa vào mấy gian trại bằng tre lá và lèn chặt như cá hộp. Ngay sáng hôm sau tù phải bắt tay xây cất các trại giam khác cho những người tới sau. Có cảm tưởng là Việt Cộng không có kế hoạch gì cả, chỉ thực hiện theo nhu cầu xẩy đến và tù nhân phải dựng lấy trại giam cho mình. Mục tiêu quan trọng lúc đó là gom lại và vô hiệu hóa các thành viên của chế độ cũ. Mục đích thứ hai là cách ly quân đội với hành chính. Các cấp hành chính do cán bộ canh giữ còn các quân nhân bị đặt dưới bộ đội và các sỹ quan Việt Cộng canh chừng. Chỗ nào cũng là rừng nên không ai biết được bao nhiêu trại tù rải rác ở đâu.

Mỗi nhà giam có thể lèn chừng 50 tù, mỗi người có được chừng 80 phân để nằm ngủ ngay trên mặt đất. Về đêm phải chịu hơi lạnh của núi rừng và khi mưa phải chịu ướt át. Bà hỏi chồng có nhớ đến cái mùng mà anh cẩn thận gói theo.

Anh nói, “Trong hoàn cảnh ấy mùng đâu có ích gì và một anh bạn khéo tay đã giúp cắt ra may thành một áo trấn thủ dầy dặn với nhiều lớp vải mùng khiến cho anh qua được cảnh rét mướt”! Mỗi đêm có điểm danh trước khi cho vào đi ngủ sau khi cán bộ đã khóa chặt nhà tù.

Đồ ăn thật đơn sơ nhưng còn có gạo nên không bị đói. Cơm được nấu trong các chảo to nên có nhiều cháy là một món ngon mà đứa bé con cô cán bộ nhà bếp luôn luôn chầu chực. “Nhà tôi sực nhớ đến đứa con nhỏ ở nhà mà lòng bồi hồi xúc động”! Vấn đề nước khó khăn hơn vì chỉ có mỗi một cái giếng và khi lao động về phải sắp hàng tắm rửa. Những người lớn tuổi chậm chân nên đến lượt mình thì đã tới giờ điểm danh trở về phòng nên không bao giờ được dùng nước.

Tù phải viết bản báo cáo mỗi ngày, nói rõ những gì bản thân họ đã phạm trước kia và những gì cha hay thân nhân họ đã làm. Nay mới thấy sự ích lợi của các cây bút BIC. Các bản báo cáo trở thành ác mộng của tù nhân. Viết ít chừng nào tốt chừng ấy và phải nhớ những gì đã viết để có thể viết lại những báo cáo sau. Ý đồ của quản trại là bắt tù từ bỏ niềm tin, chối bỏ lý tưởng và gia đình, khinh rẻ chế độ cũ và chửi rủa các cấp lãnh đạo cũ. Thật là khó khăn cho những ai thẳng thắn với những nguyên tắc có sẵn hay những người bản chất hiền hòa không biết chửi bậy. Song viết ngắn quá cũng bị nghi ngờ là thiếu thành thật và tù bị gọi lên hạch hỏi đủ điều, chữa đi chữa lại. Kết quả là tù phạm tội nặng hơn để rơi vào bẫy sửa sai không ra thoát.

Có lệnh cho đi thăm tù. Những người như bà Đảnh là công nhân viên phải có giấy phép của cơ quan ghi rõ lý do nghỉ phép. Và chỉ được đem theo tối đa 5 kí thực phẩm và mỗi gia đình chỉ có ba người được đi thăm. Với bốn đứa con, đem đứa nào đi, để đứa nào lại? Trong khi thăm chồng phải ngồi hai bên bàn dài cùng những người khác, có cán bộ đứng đàu bàn lắng nghe. Phải nói to, không được dùng ngoại ngữ. Vợ chồng trao đổi những vấn đề sức khỏe và kinh tế gia đình, bán chác quần áo cho các bà miền Bắc bây giờ ham chưng diện lắm. Khi hết giờ thăm, tù đứng dậy nhặt gói quà trở về nhà giam. Có người còn bị mắng vì ôm hôn người thân hay căn dặn thêm vài điều. Trong phòng những tiếng òa khóc nổi lên như sóng gió trong cơn mưa bão. “Tôi cố nhịn khóc nhưng khi về đến nhà vào phòng tôi bật khóc lệ tràn như suối”.

Từ tháng 10/11, 1976 bà Đảnh không nhận được thư nào của chồng nữa và biết là chồng không còn ở Long Thành. Từ nay gửi thư cho anh phải qua một địa chỉ mới tại hòm thư A-40 khám Chí Hòa. Thư từ quà bánh tối đa 3-5 kí phải gửi qua một địa điểm ở một ngôi trường không xử dụng nữa. Hai đứa con lớn phải đi thi hành các nghĩa vụ công ích không lương, tối phải tạm trú tại những chỗ nào tạm che mưa nắng. Đã có dấu hiệu chống đối ngầm trong giới trẻ. Nhưng chúng bị răn đe, phải cố gắng theo chỉ thị thì cha anh mới được mau chóng tha về. Thật là xảo trá, lợi dụng lòng thương xót cha anh để ép chúng phục vụ.

Một ngày đen tối nhất của tháng 10 năm 1976, các tù được lệnh đổi trại giam. Đây là lúc cán bộ lục lọi khám xét thủ tiêu mọi chuyện. “Chồng tôi ghi chép nhật ký trong một cuốn sổ tay nhỏ hầu mong kể lại cho con những điều đã trải qua. Anh đã vội vã thủ tiêu cuốn sổ”. Tù đươc chất trên các xe vận tải, tay xích người nọ với người kia. Sau hàng giờ đi vòng vo họ bi lùa xuống hầm tầu thủy và chân bắt đầu bị khóa.Tầu đi ngang qua một khu mà nhìn qua lỗ hổng hầm tầu anh nhận ra cây cầu gần nhà, nơi đây vợ con đang ở, rất gần anh nhưng xa, xa lắm. Nước mắt anh dâng trào, không biết đang đi về đâu, xa Sài Gòn vì đây là Tân Cảng.

Chừng 7 tháng sau cái địa chỉ kỳ quái Chí Hòa, có một người tới gập bà Đảnh nhưng không dám vào nhà. Ngó trước ngó sau, phải trái, rồi anh vội nói, “Chồng chị đang bị giam tại miền cực Bắc. Tôi cũng bị giam ở đó nhưng vì vợ tôi là người Đức nên đã nhờ tòa Đại Sứ Tây Đức can thiệp”. Mắt tràn lệ, anh nói tiếp, “Chị biết chúng bắt tôi và anh làm gì không? Ngày ngày gánh phân bón rau và đó là việc nhẹ dành cho người yếu sức”! Bà bật khóc thảm thiết, ngồi bệt xuống vệ đường rồi anh bạn bỏ đi thật nhanh để khỏi bị nhòm ngó.

“Chồng tôi chẳng phải là một ông lớn tại miền Nam mà cũng không phải là các Tướng Lãnh uy quyền. Nhưng anh thuộc loại có thể khai thác được. Họ muốn biết vàng, đô la hay các kho tàng của miền Nam chôn dấu ở đâu. Họ hạch hỏi khai thác bắt làm việc đều đều, nhưng cho là không thành khẩn khai báo nên đầy ra miền Bắc cộng sản”. Hầm tầu chật chội với các chất thải vệ sinh của tù nên tạo ra một mùi hôi hám khủng khiếp không tả nổi. Hành trình rất dài không ai nhớ rõ. Sau cùng cũng tới hình như Hải Phòng và chuyển lên các xe tải, chân vẫn xiềng xích. Xe chạy qua một số làng xóm, dân làng đua nhau la ó chửi bới và mọi người biết đây là đất địch. Có các bà chửi, “Đồ Tàu Phù khốn kiếp”! Thì ra họ tưởng là tù binh Trung Quốc.

Cán bộ la to, “Đây không phải là tù binh Trung Quốc”. Nhưng họ cũng không dám bảo là tù miến Nam vì họ sợ phản ứng của dân quê thật thà, thương hại hay cùng chia xẻ nỗi đau buồn. Đêm tới thì đến một ven rừng bát ngát. Tù được tháo cùm và lùa sâu vào rừng rậm, đi bộ dăm bẩy cây số và đến một hàng rào bao quanh một số trại. Các cán bộ vào trại, để mặc tù lo liệu chỗ ngủ qua đêm. Sáng hôm sau tù bỏ tay vào xây cất lấy trại tù cho chính mình.

Đúng 31 tháng Chạp Dương Lịch các gia đình tù nhận được một món quà chính thức cuối năm, một lá thư của thân nhân đang bị giam tại trại Bắc Thái. Ông Thảo không gập lại những bạn tù Long Thành và phải bắt đầu làm quen với các bạn tù mới. Tù được lệnh trao cho một cán bộ gái tất cả tài sản, đồng hồ, bút máy, nhẫn vòng tay, dây chuyền và tiền mặt để được liệt vào một cuốn sổ ghi tên sở hữu. Ông Thảo nhất định không đưa chiếc nhẫn cưới với lý do vì lâu ngày không kéo ra được. Sau khi dùng xà bông mà cũng không xong thì họ văng tục và thôi không thử tháo nữa. Ông nói dù họ có cố rút ra nhưng nếu ông cố ý giữ thì cũng vô hiệu vì ông nhất định không rời cái nhẫn cưới mà ông coi là tượng trưng quý báu.

Ban quản trại đều là người Bắc khắc nghiệt và khó tính. Tù thấy luôn luôn bị theo rõi sát nút. Báo cáo hằng ngày bị phân tách kỹ lưỡng, thảo luận và bị phê bình. Các cán bộ hung dữ và lộng quyền, không ngớt tỏ ra là người chiến thắng. Nhưng đừng lầm tưởng họ thèm muốn những gì chúng ta có, họ thấy chúng ta giỏi hơn họ trên mọi phương diện. Họ luôn khiêu khích, nói xiên nói xỏ, đả kích chê bai và phê bình. Và đây là tình trạng khủng bố tinh thần kinh khủng.

Về phương diện vật chất vì quá đông người nên trong phòng một tiếng động nhỏ cũng vang âm. Một tiếng ho, một cái hắt xì cũng khiến một số tù nhân thức giấc. Nhiều bạn tù trong cơn ác mộng đã rên la, gào khóc. Không ai quên được một bạn già cỡ sáu chục, góa vợ với đứa con thơ dại nên đêm đêm nức nở khi đi ngủ thương xót đứa con bỏ lại miền Nam không ai săn sóc. Giếng nước duy nhất rất gần trại nên phải nấu sôi để uống. “Chồng tôi làm công tác hôi thối gánh phân nên cần tắm rửa mỗi chiều tối. Nhưng nước lạnh cóng khi xối lên người thi da đỏ ửng. Anh còn đùa rằng, “thật may là da và phổi còn tốt”.

Nhưng cái đói thật là kinh khủng. Khi còn ở miền Nam thì nắm cơm còn thực là nắm cơm đầy đủ gạo. Ở đây, cơm phải trộn những hạt bo bo vỏ thật cứng thường phải xay ra để cho súc vật ăn. Một số lớn không muốn hy sinh bộ răng cấm nên phải ngồi nhặt các hột bo bo ra để chỉ còn lại được một muỗng cơm trong bát cơm độn. Nhiều người bị lủng củng tiêu hóa và bị tháo dạ. Cái đói thật khủng khiếp ngày đêm làm cho con người bớt sáng suốt, dảm ý chí và mất óc phán đoán.

“May mắn là cả bốn đội trưởng đều là bạn thân của em tôi. Nếu không nhờ các bạn đó và các y sĩ đồng nghiệp của tôi giúp đỡ thì chắc gì anh đã sống đến ngày được thả”!

“Tôi cố tìm hiểu vì sao mà anh bị giam giữ lâu thế? Phải chăng anh được nhiều bạn tù cảm mến nên anh bị giữ lâu? Anh luôn luôn được gọi lên yêu cầu hợp tác để giúp trại sinh hoạt tốt. Nếu nhận lời thì sẽ được cấp phần ăn như cán bộ, được miễn lao động và hưởng nhiều ưu đãi. Nhưng anh đã từ chối và bịgiam giữ lâu hơn”.

Đầu tháng 9 năm 1978 ông Thảo gửi thư về cho biết quản trại đã phổ biến tin cho thân nhân đi thăm và tù được nhận thực phẩm. Ông cũng dặn nếu muốn ra Bắc thì liên lạc với một bà gốc Bắc có chồng cùng bị giam giữ với ông. Bà này biết rành Hà Nội và biết rõ manh mối chạy chọt giấy tờ di chuyển và cũng biết cách xoay xở vé xe lửa khứ hồi. Và từ nay bà Thảo biết các mánh khóe luồn lọt thật mất thì giờ, khó khăn và tế nhị. Tất cả các sự việc đều có thể mua bằng tiền, chạy đúng chỗ và không để lộ ra vì hối lộ là một trọng tội. Đối với bà lại còn khó khăn hơn vì trước kia đã phục vụ ngụy quyền và chồng đang bị tù cải tạo.

Mãi mới xin được giấy phép nghỉ nhưng chưa biết cách nào đi. May thay có một ông bạn có cô em trước làm tiếp viên phi hành cho Air Vietnam cũ và nay còn được lưu dụng bởi hãng Vietnam Airlines mới chưa có ai đủ khả năng thay thế. Cô này rất tháo vát và đã kiếm cho bà một vé máy bay vào tháng 11. Khi ra máy bay với xách đồ ăn khô cô ta đã giới thiệu là dì ruột và đưa bà lên máy bay, căn dặn là đừng tỏ ra sợ sệt quá. “Khi đã lên máy bay, không ai biết được là mình không có quyền xử dụng máy bay và khi về thì đã có người cho phép đi nên không có ai dám cản trở về”.

Khi đến phi trường Gia Lâm nhỏ xíu bà lên xe quân sự chờ đón khách. Bà gọi một xe xích lô đạp về nhà cán bộ giáo dục trẻ Sơn mà bà được bà thủ trưởng Sâm giới thiệu. Cha mẹ Sơn đều là giáo sư Đại Học tiếp bà ân cần và thông cảm. Họ được ở ngôi biệt thự cũ gần hồ Hoàn Kiếm tuy chỉ dược xử dụng có một căn phòng với một cầu tiêu lối cổ. Ông đã cơi lên một gác xép làm chỗ ngủ cho ông và con trai. “Tối đến họ dẹp bàn ghế vào tường và trải một chiếc chiếu rộng dưới sàn cho bà mẹ, cô chị dâu, cháu gái nhỏ và tôi nằm. Trong khi tôi thao thức vì sắp gặp chồng sau hơn hai năm xa cách thì ai cũng ngủ ngon lành”.

Khi đợi người hướng dẫn đến bằng xe lửa phải mất ba tuần lễ, bà Đảnh ra phố quan sát thấy các nhóm người bán đồ lậu. Cái gì họ cũng có, phần nhiều là các gói nhỏ đường, trà, cà phê, bao thuốc lá và các thỏi chocolat nhỏ đựng trong các túi xách. Bà mua các gói kẹo chocolat vì mang từ Sài Gòn ra không tiện. Họ nói mua gì cũng có trữ tại nhà vả trả tiền xong là hôm sau họ sẽ giao. Người hướng dẫn cho bà đến nhập bọn ngủ dêm để sáng hôm sau ra ga lúc 5 giờ cho kịp chuyến xe lửa Đông Bắc. Người đông như kiến, chen lấn lộn xộn và “tôi cùng bà chiếm được hai chỗ trên bực ngoài toa cho đến sau khi qua nhiều ga xép mới mò vào được bên trong để ngồi xệp xuống sàn tầu đầy rác, đỡ nạn bụi khói và mưa phùn giá lạnh”. 

Từ trạm xe lửa đi đến vùng Bắc Thái phải dùng xe bò. May thay bà hướng dẫn đã nhanh nhẩu quá giang được một xe chở dầu nhà binh với tiền thù lao nhỏ 20 đồng. Đến ven rừng phải thuê một xe bò tới trại giam qua một con đường gập ghềnh với giá 15 đ một người. Tới cổng trại, một căn nhà lợp tranh thì cán bộ xét giấy và cho hai người một vào ngồi đợi ở một cái bàn nhỏ chữ nhật. Hai mưoi phút sau thân nhân được dẫn ra, yếu ớt, thân hình tiều tụy xác xơ trông thật đau lòng. Cán bộ đứng ở đầu bàn và phải nói to cũng như không được dùng ngoại ngữ. “Tôi không biết được gặp anh bao lâu nhưng mục đích tôi là xin phép anh đưa các con trốn khỏi nước. Tôi có bổn phận báo cho anh biết là phải liều lĩnh như tự sát vì chừng 50% đến được bến tự do”. Nhưng làm sao để không cho cán bộ biết?

“Tôi nghĩ cách nói là mẹ con muốn đi vùng kinh tế mới”, thi anh xúc động hỏi lại, “Bộ chúng không đủ ăn sao”? Bà chậm rãi trả lời, “Chúng muốn làm lại cuộc đời mới và gặp lại hai bà dì đã đến đó trước rồi”. Ông Thảo suy nghĩ rồi chợt hiểu là chị và em tôi đã định cư ở Âu Châu từ lâu và dặn dò, “Đừng để cho các con bơ vơ, em phải đi với các con còn quá nhỏ”! “Chúng tôi chuyện trò đủ chuyện Sài Gòn trước đây, nhà cửa, tình trạng gia đình thân nhân nội ngoại và anh không thổ lộ gì về hoàn cảnh của anh và số phận hiện tại”.

Sau một giờ thì cán bộ thổi còi chấm dứt thăm nuôi. Các tù nhân đứng lên lượm gói quà và sắp hàng về phòng giam. “Chồng tôi ôm tôi và thì thầm, em phải đi với các con và như vậy trong tương lai có thể dễ tìm lại nhau”. Lần thăm nuôi chỉ có bốn người đi thăm khốn khổ. Không một lời phản kháng hay thất vọng. Nước mắt có chảy cũng trong thầm lặng. Nơi đây hy vọng còn ít hơn ở Long Thành. “Rã rời tôi có cảm tưởng như sống những giây phút cuối cùng và tôi không còn biết tôi là ai nữa. Nếu tôi ra đi cùng các con thì rồi đây ai săn sóc anh, và biết có gặp lại nữa không”?

Chiều về tới Hà Nội, tôi e họ sẽ không cho tôi ghi vé trở về. Cha anh Sơn chở tôi bằng xe đạp ra trạm hàng không. Họ hỏi tôi đủ điều, lý do đi thăm, trú ngụ ở đâu, thấy thủ đô ra sao và đã đi thăm lăng Hồ Chủ Tịch chưa? “Tôi phải vui vẻ tỏ ra mãn nguyện và phải chấp nhận bất cứ cách giả dối nào để về với các con tôi. Tôi đã thành công và được về trên chuyến bay hai ngày sau”. Còn hơn một ngày tôi mướn một xe xích lô đi một vòng quanh Hồ Gươm. Hồ quá nhỏ, nước đen ngòm mà mùi hôi thối xông lên nồng nặc. Không thấy dấu hiệu hư hại vì oanh tạc chỉ có cây cầu Doumer và đôi chút ở một bệnh viện mặc dầu họ tuyên truyền ầm ĩ là bị phi cơ hủy hoại. Tôi đã nói dối ở trạm hàng không. Tôi đã không đi thăm lăng chủ tịch mà chỉ đi xích lô phớt qua. Không có gì đặc sắc, chỉ là một kiến trúc lạc loài bê tông cốt sắt với các cột lạnh lẽo như trong thời cổ. Nhưng nếu tôi vào trong để nhìn thấy con người mà họ cho là thần thánh thì tôi đã ớn lạnh về sự lọc lừa phản bội của ông ta đã đưa nước nhà vào một cuộc chiến tàn khốc, tạo nên mối chia rẽ toàn dân và cả nước”!

Hà Nội một thành phố cổ kính thì nay đã tiều tụy, không được coi như một bà già mà là một đứa con nít thiếu dinh dưỡng lâu ngày, bụng ỏng, đít eo, chân tay khẳng khiu mang chứng bệnh còm cõi và già nua sớm không phương cứu chữa. “Tôi không muốn những ai đã rời Hà Nội năm 1954 trở lại để thấy sự điêu tàn khắc nghiệt vì tiền của nhân lực đều xung vào chiến tranh. Cha mẹ Sơn cũng như người hướng dẫn tôi đều hình như thổ lộ là họ đã sống qua ngày hướng về miền Nam. Nhưng nay miền Nam đã xụp đổ, thế là hết cả. Cuôc viếng thăm rất có kết quả vì tôi đã nói được với nhà tôi một điều cần thiết. Và tinh thần nhà tôi hình như đã vững hơn, bắt đầu yêu đời hơn và thấy hy vọng”.

Bà Đảnh đã đưa bốn đứa con vượt biển ngày 1 tháng 5 năm 1979 lợi dụng sơ hở vì mải liên hoan ngày lễ. Cả gia đình lênh đênh trên biển cả thì gặp một chiếc tầu chờ dầu Na Uy vớt. Vì vậy khi ông Thảo được thả về thì nhà đã mất và phải tạm trú nhà bà chị. Ông bị các đè ép từ các cơ quan công an phường, quận. Không có hộ khẩu nghĩa là không được phiếu mua thực phẩm và các đồ lặt vặt như thuốc đánh răng. Phải luôn luôn trình diện và đẩy đi vùng kinh tế mới. Nhưng nếu xa Sài Gòn thì làm sao có được tin tức nên ông đã chán nản nghĩ liều đi trốn. Bà Đảnh phải nhắn về xin yên tâm đừng liều mạng vì đã có chương trình bảo lãnh và Cao Ủy tị nạn đã đặt thêm một văn phòng ở Sài Gòn. Bà gửi về các giấy tờ cho nhiều nơi để khỏi thất lạc.

Cuối cùng, sau nhiều lần chạy chọt khó khăn và nhiêu khê, ông Thảo đã được giấy phép xuất cảnh. Bà Đảnh nói, “Không chối cãi việc Việt Cộng đã trả lại người thân cho chúng tôi. Nhưng họ đã ra sao khi được thả? Một số đông đã chết như anh đội trưởng giúp đỡ tận tình bạn tù. Anh chết tức tưởi trong tuổi hoa niên của cuộc đời. Qua hành hạ thể xác độc địa nhằm triệt tiêu nhân phẩm, Việt Cộng không tàn phá nổi thể xác nhưng đã để lại trong tâm hồn tù nhân nhiều rạn nứt in hằn. Lập trường chính trị, tín ngưỡng, lòng yêu nước không bao giờ xóa tẩy được”. Bà Đảnh kết luận, “Tôi chấm dứt bằng một câu xúc tích của chồng tôi khi anh đặt chân xuống đất Na Uy”: “Chúng tôi vẫn sống, hy vọng của chúng tôi đã đạt được. Tôi đã có vợ con quanh tôi, hạnh phúc tôi tràn đầy. Từ nay các con tôi được bảo đảm tương lai trên một đất nước cao đẹp, tự do như Na Uy mà chúng tôi coi là miền đất hứa”.

Vài cảm nghĩ.- Cộng sản Việt Nam sùng bái Hồ Chí Minh như thánh sống. Ai cũng biết là họ Hồ mạo danh nhóm ái quốc ở Paris khi viết báo Le Paria đã dùng tên chung Nguyễn Ái Quốc (Nguyen le Patriot). Hồ đã từng nộp đơn xin làm việc với Bộ Thuộc Địa rồi đi theo cộng sản Nga để được huấn luyện thành cán bộ Đông Dương Cộng Sản. Khi qua Tầu lại lấy danh tính một người chết để thành Hồ Chí Minh. Không có lấy cái bằng sơ học, chỉ lặp lại những danh từ Sô Viết rồi Tầu Mao, lợi dụng khí thế ái quốc chống Pháp để đổi Việt Minh thành đảng Lao Động Cộng Sản và hãm hại các người yêu nước cũng như nhiều người trong vụ đấu tố.

Ông ta đã học thuộc lòng câu “Hồng hơn Chuyên” của Mao nên cũng nói “Trí Thức là Cục Phân” cho nên khi chiếm Sài Gòn chính trị bộ Hà Nội đã bỏ tù các chuyên viên của miền Nam mà huấn luyện mất bao nhiêu thời gian và công của. Hệt như “bước nhẩy vọt” của Tầu Mao trong kế hoạch sản xuất thép tiểu công trong các làng xã phí phạm bao nhiêu nhân lực đưa đến phá sản kinh tế và môi trường. Cho nên ta thấy các Y Khoa Bác Sỹ phải đi quét chợ và chuyên viên kinh tài như ông Đỗ Văn Thảo bị giam cầm trong nhiều năm. Phí phạm chất xám như vậy để cho ba chục năm thống nhất đất nước vẫn lạc hậu. Bây giờ kêu gọi trí thức và chất xám trở về xây dựng lại nước thì thật khôi hài và có tin được chăng?

 Trần Đỗ Cung

Chim Ơi… Vĩnh Biệt Sao Đành

baovecovang2012.wordpress.com

Ngô Viết Trọng

Posted on May 10, 2023 by Lê Thy

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Lời tác giả: Ở đời có những chuyện nói ra nghe khó tin nhưng lại là chuyện rất thật. Khi viết lại (2001), tôi vẫn thấy chuyện này như mới xảy ra, mặc dầu nó đã qua đi 25 năm rồi. Nó có những hình ảnh khiến người ta liên tưởng đến thời nô lệ thượng cổ trung cổ rất xa xưa nào đó: Hai người đàn bà trẻ cầm hai cây roi, xông xáo giữa một đám đàn ông trần truồng, tay chân khẳng khiu lòng khòng với dáng vẻ những con kanguru… Nhân chứng biết chuyện giờ vẫn còn nhiều. Tôi có gọi điện thoại đến một số người trong cuộc để nhờ xác định lại một vài chi tiết. Chuyện xảy ra ở trại giam B5 Tân Hiệp, Biên Hoà, vào năm 1976.

 Khoảng cuối năm Ất Mão, không biết bệnh ghẻ phát xuất từ đâu, lan tràn nhiều nơi ở miền Nam Việt Nam và đặc biệt phát triển mạnh trong các trại tù. Ghẻ lan đi như một trận dịch. Người ta nói ghẻ theo chân mấy anh bộ đội từ rừng sâu về đồng bằng nên cũng gọi là ghẻ bộ đội. Nó không chỉ phát triển ở người mà còn ở các loài khác như chó, mèo và cả đến các loài sống dưới nước nữa. Những ai sống gần đồng gần suối lúc bấy giờ hẳn đã thấy những con cá da bị lở loét gớm ghiếc bơi lờ đờ, có con tưởng chừng như chỉ còn cái đầu với bộ xương…

Khoảng tháng 7 tháng 8/75, tôi bị đưa vào trại giam B5 Tân Hiệp Biên Hoà. Trại này có mười bốn phòng, chứa ngót ngàn người. Mỗi phòng đều có cầu tiêu và bể lớn chứa nước. Tuy vòi nước chảy mạnh, mở tự do, nhưng lượng người quá đông nên việc tắm rửa rất khó khăn. Bị nhốt chừng một tháng thì một số tù bắt đầu bị ghẻ, khởi đầu bằng những nốt nhỏ ngoài da làm cho người ta ngứa ngáy khó chịu. Trại không có thuốc trừ ghẻ nên bạn tù đã “sáng tạo” ra cách lấy nước đắng trong các ống thuốc lào để xức. Mặc dầu thứ nước đen đó có một mùi hôi rất khó chịu nhưng nhiều người vẫn tranh nhau xin để dùng. Kết quả nhiều hay ít không rõ, chỉ biết rằng, ghẻ vẫn lan ra.

Rất tội cho những người bị ghẻ “tiền phong”! Ghẻ hành hạ họ đã đành, cái lòng, cái đầu họ cũng muốn lộn tung lên vì bị bạn bè xa lánh có khi đến độ phũ phàng! Người bị ghẻ tiếp theo sau cứ trách người bị ghẻ trước “Vì mày lây sang cho tao đấy!” Trong hoàn cảnh từ chỗ nằm đến chỗ để đồ đạc đều ở trong thế ép buộc “chen vai sát cánh”, vậy mà cũng phải cắt chiếu phân ranh! Cái dây mùng, cái chéo áo bên này vướng qua bên kia một chút đôi khi cũng sinh chuyện. Những cái miệng nhỏ nhen cứ mở ra là “Ở dơ thì sinh ghẻ chứ có gì lạ!” hoặc “Ghê tởm quá! Thế mà không biết chút lịch sự, cứ chung lộn với người ta!” Thậm chí khi chia đồ ăn, có cả chuyện người lành hất chén của người bị ghẻ khi người này vô tình đặt chén gần chén mình. Không thiếu những toán “người lành” ngồi với nhau rỉa rói những người bị ghẻ. Nói không quá đáng, họ hất hủi những người bị ghẻ thiệt tình như “con chó ghẻ”. Có anh còn lên mặt giảng giải về phép vệ sinh, về phép xã giao, lịch sự nọ kia… tưởng chừng như mình là kẻ hoàn toàn tốt. Một số sợ ghẻ đến nỗi phải nhịn phần ăn quá đạm bạc của mình để thuê những người sáng mắt bắt con ghẻ trong các mụn ghẻ. Người ta dùng cái kim khều khều trong mụn ghẻ rồi khươi ra những sinh vật cực nhỏ, mắt thường rất khó thấy, quệt lên một cái gì đó. Chính mắt tôi đã thấy những sinh vật li ti này nhúc nhích. Trông con ghẻ hơi giống con nhện, nhỏ hơn cả con “mạc” gà. Tuỳ người ghẻ nhiều hay ít, người ta linh động ấn định số lượng con ghẻ bắt ra được để lấy một phần ăn hay nửa phần ăn. Nhưng bắt mãi ghẻ vẫn lan nên nghề này rốt rồi cũng không thọ.

Dịch ghẻ lan thật nhanh. Nhiều người tắm xát xà phòng như điên hàng ngày vẫn không thoát. Rồi những người hay giảng phép giữ vệ sinh cũng không ngăn chận được bệnh ghẻ đến với họ. Chuyện trớ trêu là cái người hay nói chuyện vệ sinh, hay mỉa mai khinh bỉ những người bị ghẻ nhất về sau lại dẫn đầu về ghẻ. Đó là ông Ẩn. Tôi là một trong những người bị ghẻ đầu tiên, ông ta từng nhìn tôi bằng cặp mắt khinh thị như nhìn con quái vật. Mãi tới ngày ông Ẩn được thăng ngạch ghẻ “thượng hạng ngoại hạng” ông mới chịu nở với tôi một nụ cười. Lúc ấy trong phòng không còn ai tránh được ghẻ nữa, còn khác nhau chăng là ghẻ nặng hay nhẹ. Có điều ai cũng nhìn nhận là người da sáng sủa bị ghẻ chiếu cố mạnh mẽ hơn người da tối tăm. Một điều khá tức cười nữa là con ghẻ cũng biết nể “thể diện” con người. Nó mọc khắp chỗ hở, chỗ kín, trên đầu, khắp bàn chân, bàn tay… nhưng nó vẫn chừa ra cái mặt cho bất cứ ai. Phong trào “gảy đàn” trong phòng phát triển sôi nổi. Càng gãi càng ngứa! Càng ngứa càng gãi! Lúc này hết còn ai đổ thừa cho ai vì tất cả đều đã bị nhiễm ghẻ. Nhưng nhìn chung, những người có thăm nuôi được bồi dưỡng ghẻ vẫn ít phát triển hơn. Ngược lại, những người thiếu thốn lại còn dễ mang thêm môt chứng bệnh khác: bệnh tê bại. Dần dần có một số người phải bò lết thay vì đi đứng bình thường.

Có người bị ghẻ chay, mọc nốt trên da, tuy ngứa nhưng không làm mủ, loại này tương đối ít dơ dáy. Có người lại bị ghẻ mủ, chỗ nào cũng mưng lên từng cục mủ, lớn thì bằng hạt bắp, mọc nhiều ở lòng bàn tay, bàn chân, nhỏ thì bằng mũi kim mọc khắp mình mẩy, đụng đến thì vỡ ra nhầy nhụa tanh tưởi không ai chịu được. Cũng có người bị mang cả hai loại. Tôi thuộc dạng chay, mủ kiêm toàn này. Về sau có một số người bị ghẻ nặng đến độ kiệt quệ.

Ghẻ mủ làm người bệnh khổ sở hơn ghẻ chay rất nhiều. Người bị ghẻ nặng luôn đau đớn theo từng cử động. Nằm ngửa, nằm nghiêng, nằm sấp đều đau đớn theo từng cái trở mình. Ngồi không yên nằm cũng không ổn, thức chẳng xong ngủ cũng chẳng xuôi. Tôi đã lâm cảnh đau đớn, đờ đẫn, mê mê mệt mệt, ngày cũng như đêm. May lắm khi nào trời mát lạnh tôi mới thực sự ngủ được chút ít. Tôi chỉ tỉnh hẳn người mỗi khi được mở cửa cho ra sân trại tắm nước phèn và phơi nắng.

Sân trại giam hình chữ nhật, đất pha cát, có một số giếng đào không sâu lắm, nước đầy phèn. Sân cũng có trồng vài cây trứng cá để lấy bóng mát. Ban đầu trại ấn định hằng ngày cán bộ trực từng đợt mở cửa một hai phòng cho tù ra sân hít thở, phơi nắng một hai tiếng. Những lúc được ra chơi như thế, hầu hết tù nhân chỉ mặc quần xà lỏn và ở trần. Trong dịp này, một số tù cũng đem áo quần ra giặt phơi, tắm táp. Cũng có người thèm thuốc quá nhưng không có thuốc, họ phải hái lá trứng cá khô vấn hút cho đỡ ghiền. Đây là những dịp tốt cho tù khác phòng chuyện vãn, trao đổi gởi gắm quà cáp cho nhau.

Về sau, thấy người bị ghẻ và tê bại ngày càng nhiều, trại đặc ân cho những tù bệnh nặng ở tất cả các phòng đều được ra sân suốt ngày. Họ được tắm giặt, phơi phong thoải mái. Đó là cái ân huệ mà chẳng người tù nào muốn từ chối. Dù không làm được gì họ cũng dựa cây dựa tường để hít thở thoải mái, tránh bớt được cái ngột ngạt hôi hám trong phòng. Nghiễm nhiên họ cũng trở thành những tay liên lạc tốt giữa các phòng tù.

Nhưng dù cho tù bệnh ra sân thường ngày mà khan hiếm thuốc chữa và thiếu bổ dưỡng thì bệnh đâu có giảm! Thấy được điều đó, trại phải lo tìm một biện pháp mới.

Một buổi sáng, viên cán bộ tới mở cửa cho bọn tôi ra ngoài dặn:

“Mấy anh bị ghẻ mủ đem tất cả áo quần theo ra ngoài hết!”

Dặn xong anh ta bỏ đi mở cửa các phòng khác. Chúng tôi bắt đầu phỏng đoán nọ kia. Có thể là đổi phòng. Dám lần này họ dồn những tù ghẻ nặng về một hay hai phòng để cách ly cho ghẻ khỏi lây lan lắm. Thật sự số tù bị ghẻ và tê bại nặng được cho ra ngoài lúc bấy giờ chắc đã cao hơn con số một trăm. Người nào cũng trơ bộ xương cách trí, bụng thóp lại, hai tay do chứng tê bại tạo cho họ thói quen co gập cổ khuỷu lại trước ngực, hướng lòng bàn tay và các ngón ra phía trước, bước đi lựng khựng trông chẳng khác gì những con kanguru. Viên cán bộ mở các cửa phòng xong, bỏ đó mặc ai làm gì thì làm, đi mất tiêu.

Chừng nửa giờ sau, tôi thấy hai người đàn bà trẻ, một khá mập, một mảnh khảnh đều mặc áo bà ba đi vào, mỗi người cầm một cây roi. Cả hai đều khoảng hăm lăm hăm bảy tuổi. Đi gần đến chỗ bọn tôi đứng thì họ ngừng lại. Hai bà lặng lẽ nhìn người này rồi người khác như xoi bói điều gì. Chốc sau lại có hai người tù khỏe mạnh từ phía nhà bếp vác hai cái bao nhỏ nhưng khá nặng đến quăng xuống gần thềm một cái giếng. Đó là hai bao muối hột. Tiếp đó là bác sĩ tù Lê Công Hùng tay xách hai cái xô chứa nước bước đến. Ông vốn người Bắc, cựu thượng uý, vào Nam dự chiến dịch Mậu Thân và bị bắt trong dịp này, sau đó xin cải danh thành chiêu hồi. Ông được trại chọn làm bác sĩ khám bệnh cho tù. Chúng tôi chưa hiểu họ định làm gì thì người đàn bà mảnh khảnh đến trước mặt tôi, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi nghiêm nghị nói:

“Cởi quần ra!”

Tôi ngạc nhiên như trên trời rớt xuống. Lúc ấy trên thân tôi chỉ có độc một cái quần đùi. Thế nghĩa là gì? Tôi ngẩn ngơ nhìn lại bà ta dò hỏi. Những bạn tù chung quanh cũng ngơ ngác nhìn bà ta và tôi. Bà ta lặp lại pha một chút cười:

“Tôi biểu anh cởi quần ra, anh nghe rõ không?”

Tôi hỏi lại:

“Cán bộ bảo cởi quần đùi này?”

Bà ta gằn giọng:

“Chứ còn cái gì nữa!”

Tôi đâu hiểu ý bà ta muốn gì. Mọi người đàn ông gần đàn bà lạ, lại là đàn bà trẻ trung láng lẩy, đều có cái xốn xang gió bão trúc gốc gẫy cành là chuyện thường tình. Cái lệnh “cởi quần ra” của người nữ cán bộ này khiến tôi vô cùng lúng túng. Tôi lo sợ sự nhạy cảm của mình. Nhưng liền đó, tôi chợt nhớ rằng, “hài nhi” của tôi đã bệnh liệt giường qua bao nhiêu ngày rồi…

Trong khi tôi đang dùng dằng thì người đàn bà hơi mập kia cũng chỉ một loạt nhiều anh tù khác ra lệnh:

“Tất cả mấy anh này cũng cởi quần ra hết!”

Qua mấy phút nhìn nhau, cả trăm người tù đàn ông đều tồng ngồng trước mặt hai người đàn bà trẻ. Thật là một cảnh tượng khác thường tôi chưa hề tưởng tượng tới bao giờ. Người đàn bà khá mập nói với bác sĩ Hùng:

“Anh lựa cho tôi mấy người mạnh khỏe!”

Bác sĩ Hùng lựa được sáu anh trong đám. Chốc sau chúng tôi mới biết mấy bà lựa những người này để múc nước tắm cho chúng tôi. Tôi và ba anh bạn khác được gọi lại đứng gần giếng để mấy anh kia dội nước và kỳ cọ cho. Hai cán bộ nữ đứng quan sát và đưa roi chỉ nặn mụt ghẻ này, gỡ mụt ghẻ nọ. Tuy có đau rát nhưng cái đau rát chịu đựng được có pha chút sảng khoái. Từ khi lên mười, tôi có bao giờ được ai tắm cho như vậy đâu!

“Xách xô nước kia lại đây!”

Người đàn bà khá mập ra lệnh. Một anh tù ì ạch xách xô nước đầy lại, trong đó có sẵn một cái lon gô. Xô nước đã được một người tù quậy hoà tan vào cả lon muối hột. Người đàn bà khá mập nói tiếp:

“Anh hãy múc nước trong xô dội cho anh này!”

Gô nước vừa dội lên mình là tôi nhảy dựng người và hét lên. Rát ơi là rát! Không khác gì xát ớt hiểm vào da bị thương! Tôi phải gập người lại, hai tay bụm lấy hạ bộ mà rên rỉ trong khi tiếng cười chung quanh vang rân. Anh tù dội nước ngưng lại. Người nữ cán bộ thét lên:

“Anh cứ dội cho nó! Không dội làm sao mà lành!”

Mấy gô nước muối nữa dội xuống làm cho tôi rát đến thấu xương tưởng chừng muốn ngất đi.

“Thôi, được rồi! Lấy nước lạnh dội lại cho anh ta!”

Khoảng nửa giờ sau tôi mới trở lại bình thường. Tôi thấy nhiều cặp mắt nhìn tôi mỉm cười, trong đó có cả bà cán bộ mập. Bấy giờ lại tới phiên tôi đứng vừa phơi nắng vừa chứng kiến những người bạn khác chịu trận. Bị dội nước muối sau khi các mày ghẻ bị tróc nó rát không tưởng tượng được. Không một ai bị dội vào mà khỏi phải rên la nhảy tưng tưng lên! Tới phiên anh tù người Đại Hàn bị dội, anh hét tướng lên như bò rống rồi vùng chạy bươn bả gặp ai xô vẹt ra nấy. Mấy người tù khỏe phải chạy theo bắt anh ta lại dội nước muối tiếp mặc cho anh vùng vẫy la hét. Trong khi người ta tắm cho anh, tôi lẳng lặng đưa mắt quan sát. Tôi chợt nhận ra một điều khác thường. Cái thân hình khẳng khiu vì thiếu ăn, bệnh hoạn của anh ta lại mang cái “hạ bộ” hết sức kỳ dị. Nó rất lớn, hơi đỏ, cương láng lên không khác gì hạ bộ của trâu bò thời kỳ sung sức. Hèn gì bình thường tôi thấy anh ta chỉ mặc quần đùi một ống! Tên anh ta không biết viết thế nào nhưng mọi người vẫn gọi là Chung Goam. Anh là một kỹ sư, can tội làm việc giúp Việt Nam Cộng Hoà. Lần tắm ghẻ bằng nước muối đầu tiên đã làm cho những người bị ghẻ vô cùng khiếp sợ.

Hôm sau Chung Goam và một số anh không dám ra ngoài tắm nữa.

Cũng bắt đầu từ hôm đó, ngày nào hai nữ cán bộ cũng cầm roi trên tay, xông xáo giữa đám tù đàn ông trần truồng, khẳng khiu, đi lựng khựng hay ngồi ủ rũ. Tôi cứ tưởng tượng ra đó là hai nữ chủ nhân và đám nô lệ của một thuở xa xưa nào. Hai nữ cán bộ ấy bấy giờ chúng tôi đã biết tên, bà mập có bầu tên Phấn, bà mảnh khảnh tên Hồng, đều là người miền Nam.

Cũng kể từ hôm hai cán bộ nữ bắt những người tù bị ghẻ cởi truồng thì vấn đề tù nhân cởi truồng trong trại trở nên bình thường. Nhiều anh chưa bị ghẻ bao nhiêu cũng ở truồng ké cho thoải mái. Bất cứ khi nào, trước bất cứ cán bộ trại nào, kể cả trưởng trại, không ai quan tâm đến chuyện tù mặc quần hay cởi truồng nữa. Dĩ nhiên là ngoại trừ khi đi làm việc.

Ngày kế tiếp thì trại xảy ra một biến cố lớn: Chung Goam qua đời. Có lẽ anh là người đầu tiên chết vì bệnh ghẻ trong tù!

Mãi sau này, khi tôi bị giam ở khám đường Bà Rịa, nơi có đến mấy chục người chết vì bệnh ghẻ, tôi mới rút được kinh nghiệm tất cả những ai bị ghẻ mà đến độ bộ dái sưng lên như dái trâu, mặc quần không được nữa, thì chỉ một hai ngày sau nhất định phải chết. Chính hai người bạn nằm bên trái cũng như bên phải của tôi ở khám đường Bà Rịa, một anh tên Liên, một anh tên Đày, đều chết vì chứng đó. Tôi vẫn còn xúc động mỗi lần nhớ lại việc vài hôm trước khi chết, hai anh này còn dùng muỗng ăn cơm, thay phiên cạo ghẻ cho nhau đến chảy nước vàng và cứ khen “Đã quá! Đã quá!”…

Thấy Chung Goam chết, trại không còn để tự do ai muốn ra tắm thì ra nữa mà bắt buộc các phòng phải đưa những người bị ghẻ nặng ra “tắm muối”. Tắm muối như một cực hình ai cũng khiếp sợ. Ngày nào cũng có cảnh la hét tơi bời ở giếng tắm. Cho nên rất nhiều anh hễ có cơ hội thuận tiện là trốn tránh. Ngày kia, một anh Tàu Chợ Lớn tên là Lý Tường, bị lôi ra tắm nhưng anh cứ mặc quần dài và nhất quyết không chịu cởi. Cán bộ Phấn nổi giận ra lệnh:

“Mấy anh cứ đè nó xuống mà cởi ra!”

Lý Tường phát khùng lên quay nhìn cán bộ Phấn trừng mắt nạt lại:

“N… l… hay sao mà bắt người ta cởi quần để coi c…?”

Mọi người ngẩn tò te ra hết. Gã cán bộ trực đứng gần đó quay mặt giả lơ, miệng tủm tỉm cười. Còn Lý Tường nạt lại cán bộ xong, liền vùng chạy. Cán bộ Phấn hét lên:

“Bắt nó lại! Bắt nó lại!”

Thế là mấy anh khỏe mạnh đuổi bắt Lý Tường lại, đè xuống cởi đồ ra mà tắm cho hắn. Cán bộ Phấn cũng cười khi thấy Tường vùng vẫy la hét vì bị dội nước muối. Nhiều người tưởng hắn sẽ bị phạt hay ít nhất cũng bị rày một trận cảnh cáo nhưng rồi chẳng có chuyện gì xảy ra hết…

Kế hoạch chữa ghẻ bằng cách tắm muối trong trại B5 Tân Hiệp Biên Hoà đã trải qua nhiều tháng sau tết Bính Thìn. Những người ghẻ chúng tôi thành quen lệ cứ sáng ra là loã lồ trăm phần trăm ngồi đợi mở cửa. Một số lớn người bị ghẻ nặng dần thuyên giảm thật sự. Trại cho đây như là một thành công trong kế hoạch chữa bệnh do sáng kiến của trại. Riêng tôi thì không hẳn tin như thế. Tôi thấy những người bệnh đang phát triển mà được gia đình tới thăm, ăn uống đầy đủ thường thuyên giảm rất nhanh. Một anh ghẻ mủ đang đầy người, cầm chén cầm đũa không được, thế mà chỉ sau một tuần được thăm thì ghẻ lặn bớt và nhiều vết lở mím miệng đâm da. Hiệu quả nhất là có vitamin B1 trợ sức. Thuốc tây bấy giờ quá đắt, quá hiếm cho nên người được gia đình cung cấp vẫn hay giấu kín để phòng thân. Những gia đình không kiếm ra được thuốc B1 thì gởi cám trộn đường cho thân nhân. Những gói cám đường tù trao cho nhau cũng là một thứ quà quí. Chỉ tội nghiệp những người không được thăm nuôi bệnh vẫn kéo dài. Dù sau, tắm nước muối riết rồi sự đau rát cũng dần quen phần nào.

Lúc bấy giờ tôi nghĩ rằng hiệu quả của sự tắm nước muối này chỉ là ở chỗ ngăn ngừa sự lây lan của ghẻ. Sau này khi bị đưa vào khám đường Bà Rịa tôi mới có thêm một nhận định khác. Khám đường Bà Rịa số người bị ghẻ ít hơn nhiều so với số lượng người bị ghẻ tại trại B5 nhưng lại chết trên hai mươi người, trong khi trại B5 chỉ chết một viên kỹ sư Đại Hàn Chung Goam. Phải chăng là nhờ trại B5 cho tù tắm nước muối hàng ngày trong khi khám đường Bà Rịa cả tuần tù mới được tắm sơ sài một lần, đó là chưa kể trường hợp tù biệt giam có người cả năm không được tắm? Phải chăng người bị chết là do nhiễm trùng?

Chung Goam từ khi vào tù cho đến khi chết không hề có ai thăm viếng. Anh lại là người ngoại quốc không thạo tiếng Việt nên khó bày tỏ với ai những khó khăn của mình. Cái chết của anh đã làm tôi giật mình. Người tôi yếu đuối và nhỏ con hơn anh ta nhiều. Tôi cũng bị ghẻ trước anh ta khá lâu. Phải nói đúng vào dịp tết Bính Thìn tôi đã đạt mức quán quân về ghẻ ở trại B5 Biên Hoà. Toàn thân tôi chỗ nào cũng nổi nhọt mủ, chỉ chừa mặt. Hai bàn tay chạm nhau một cái là mủ chảy tèm lem. Lại thêm chứng tê bại phụ vào, tay tôi không còn sử dụng chính xác nữa. Khi ăn, tôi phải dùng cả hai tay đưa cái chén lên rồi cố gắng dùng tay trái ép chén vào ngực để giữ. Tay phải lại đưa xuống cầm muỗng bằng cách dùng hai ngón tay chỉ và trỏ để kẹp cán muỗng. Rất nhiều lần tôi đã làm đổ mất phần ăn của mình. Người tôi càng ngày càng luội, lúc nào cũng chỉ ưa nằm. Mà nằm thì cứ mê thiếp từng cơn, đầu óc thì cứ bị ám ảnh chuyện chết chóc.

Nhưng cũng may, vận tôi chưa đến ngày cùng! Một hôm tôi ra phơi nắng thì gặp ba vị cứu tinh. Đó là ông Võ Huyến, cựu Chỉ huy trưởng Cảnh sát Quốc gia Quảng Trị, ông Cái Viết Pháp, cựu Chỉ huy phó Trung tâm huấn luyện Cảnh sát Dã chiến Đà Lạt và anh Lưu Phát. Lưu Phát có thời gian cùng làm việc một chỗ với tôi, cũng lại là anh ruột Lưu Khánh Vân, bạn học của tôi. Cả ba người đều mới được thăm nuôi nên đều tiếp tế thức ăn cho tôi. Riêng ông Võ Huyến, thấy tình trạng tôi kiệt quệ như thế, đã không ngần ngại đưa cho tôi cả gói thuốc B1. Kỳ diệu như phép màu, chỉ mấy ngày sau tôi đã giảm bệnh nhiều, nhất là chứng tê bại. Từ đó về sau, mỗi lần được thăm nuôi, mấy ông ấy vẫn tìm cách chia sẻ cho tôi. Có một ông đại tá tên Cát, người cao lớn, tôi chưa hề quen biết, cũng có lần cho tôi một gói đồ toàn thức ăn tốt như đường, cá và bột mình tinh. Ông lại an ủi tôi:

“Qua thấy cặp mắt em còn ‘thần’ lắm, không thể chết đâu mà sợ!”

Không biết ông coi tướng được thật hay là chỉ trấn an tôi, nhưng nhờ đó tôi cũng an tâm rất nhiều. Nếu không gặp được những người ấy, nhất là ông Võ Huyến, có thể tôi đã tranh đi theo Chung Goam rồi.

Qua thời gian được cho ở truồng ra ngoài tắm muối, đầu óc tôi cũng dần bình thường. Ông Võ Huyến biết tôi ngoài đời hay ngâm thơ nên mỗi lần gặp phòng ông được ra chơi, ông lại gọi tôi. Ông khuyên tôi nên ngâm thơ để giải buồn cùng luyện lại giọng. Trong thời gian bị ghẻ phát triển nặng, giọng tôi bị tắt, chỉ nói được khào khào. Tôi nghe lời, bắt đầu ngâm thơ trở lại. Bất cứ bài thơ nào tôi cũng nói là của Tố Hữu hết. “Hồ trường” cũng của Tố Hữu, “Nhớ rừng” cũng của Tố Hữu, “Hai sắc hoa tygon” cũng của Tố Hữu nốt… Mà đã ngâm thơ Tố Hữu thì cán bộ không bao giờ thắc mắc. Tôi vốn thuộc một số bài thơ nổi danh như “Đêm liên hoan”, “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Đôi bờ” của Quang Dũng, “Nhà tôi” của Yên Thao, “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan, bốn bài thơ của T.T. K.H., một số của Tản Đà, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Thế Lữ… nên nhiều người thích nghe tôi ngâm. Một số kiếm giấy bút lén nhờ tôi đọc cho chép lại những bài họ thích. Tôi không thể chép giúp vì chứng tê bại đã làm tôi không sử dụng viết được. Ngày nào tôi cũng được thính giả người thưởng táng đường, kẻ cho trái chanh, cái bánh… Chính chút nghề mọn này đã giúp tôi mau hồi phục sức khoẻ thêm. Mỗi lần nhớ lại chuyện cũ, tôi không khỏi tức cười vì cái việc hi hữu mình đã làm: ở truồng ngâm thơ mà vẫn được đông thính giả ái mộ như thường! Có lúc có cả cán bộ đến nghe nữa. Những lúc đó, tôi vẫn tiếp tục ngâm, nhưng hay dùng thơ thứ thiệt của Tố Hữu. Cán bộ nghe cũng khoái chí vỗ tay khuyến khích.

Có một lần tôi trần truồng ngâm thơ cho một nhóm thính giả cũng trần truồng kẻ đứng người ngồi thưởng thức như thế thì cán bộ Phấn đến. Bà ta cũng ngồi xuống nghe. Anh Tám, một bạn tù cùng phòng với tôi vẫn rất thích nghe thơ, đang ngồi bên tôi bỗng cười khục khặc cụi tay vào người tôi rồi bỏ đi nơi khác. Tôi không hiểu anh muốn nói gì, vẫn tiếp tục ngâm nga. Khi về phòng tôi thấy anh cứ nhìn tôi mà cười ngặt nghẽo. Mấy người chung quanh xúm lại hỏi chuyện gì. Anh kể không ra hơi:

“Tôi đang nghe thằng này ngâm thơ thì mụ mập tới ngồi gần tôi. Nhìn thấy mụ nây nây cái bầu ba bốn tháng, thằng nhỏ của tôi ngủ mê đã mấy tháng nay thình lình nhảy nhổm dậy khiến tôi hoảng hồn phải chạy đi chỗ khác! Nghĩ mà cứ tức cười!”

Mọi người nghe Tám nói đều cười nghiêng cười ngả. Một anh hỏi tôi:

“Nếu ‘ngâm sĩ’ gặp trường hợp đó thì mần răng hè? Không lý đang ngâm mà cán bộ tới thưởng thức lại bỏ chạy! Nặng tội lắm, biệt giam như chơi đấy!”

Một người khác đùa:

“Ngâm sĩ lúc này lấy cả hai tay mà vò nó cũng không nhúc nhích được chứ đừng nói là nó nhảy nhổm dậy!”

Anh này nằm gần tôi nên biết rõ về tôi. Quả thật, mặc dầu bệnh ghẻ và bệnh tê bại của tôi có giảm nhiều nhưng hài nhi của tôi vẫn còn thiêm thiếp liệt giường. Một anh khác lại cười ngặt nghẽo nói:

“Ngâm sĩ bây giờ đã thành ‘công công’ rồi. Để tôi ngâm thế ngâm sĩ đôi lời gọi là thương tiếc thằng bé đã qua rồi một thời quá khứ liệt liệt oanh oanh nhé:

Trời đất từ nay xa cách mãi!

Cửa động, đầu non, đường lối cũ!

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!

(thơ Tản Đà)

Các bạn thấy mấy câu thơ có hợp cảnh hợp tình không?”

Mọi người lại tiếp tục cười ó khen hay. Lôi ra được những câu như thế thì thật tuyệt diệu. Nhưng chết cha! Như vậy là lạm dụng và bất kính đối với nhà thơ tiền bối đáng yêu rồi! Hi vọng rằng người xưa cũng thông cảm cho lũ hậu bối tìm chút vui nhỏ trong bước đường cùng chăng? Một người lại hỏi:

“Công công là cái gì?”

“Công công là từ dành riêng xưng gọi mấy anh thái giám ngày xưa.”

Sau buổi vui đùa trên của các bạn tù, tôi càng lo nghĩ về mình. Quả thật đã khá lâu, tôi không nghĩ tới chuyện gì ngoài sự hành hạ của bệnh hoạn. Bây giờ bệnh đã giảm nhưng hài nhi của tôi vẫn cứ co ro gầm mặt. Phải chăng đời nó đã tàn?

Lợi dụng lúc mọi người yên ngủ, tôi thử mân mê vuốt ve nó nhiều lần, đủ cách, đủ kiểu nhưng nó vẫn vật và vật vượi vô hồn. Nó có thể bình phục không đây? Qua một thời gian cố gắng không kết quả, tôi đã nghĩ đến cuộc sống gia đình sau này với một viễn tượng tối tăm. Sống đây cũng như chết rồi ư!

Cửa động, đầu non, đường lối cũ,

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!

Ôi, lời thơ buồn thúi ruột! Từ đó, hằng ngày tôi thẫn thờ ra sân nhưng không còn hứng thú gì để ngâm nga nữa. Lòng tôi đang trĩu nặng nên tôi cứ tìm chỗ vắng mà ngồi. Dù vậy, đêm về tôi vẫn thử kiểm tra vốn riêng và vẫn hoàn toàn thất vọng!

Thời gian cứ thế trôi qua. Những người chung quanh ngạc nhiên về thái độ của tôi nên bắt đầu hỏi thăm. Chẳng đặng đừng, tôi phải tâm tình với một người bạn thân. Không ngờ anh ta hở ra với người khác để rồi cuối cùng ai cũng biết hết. Chẳng bao lâu sau, mọi người đều chú ý đến tôi làm cho tôi càng khó chịu. Có người thật tình khuyên giải an ủi, nhưng cũng có người lấy đó để trêu chọc làm trò cười. Mấy câu thơ của Tản Đà bỗng được nhiều người ngâm nga.

Lại một chuyện tức cười nữa xảy ra, một anh tù vốn chẳng hề màng đến thơ phú, một hôm cũng ồ ề ngâm Cửa động, đầu non, đường lối cũ. Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi! Gặp lúc viên quản giáo đi ngang, nghe anh ta ngâm, viên quản giáo hỏi:

“Anh đang ngâm thơ gì đó?”

Anh tù ghẻ trả lời tỉnh bơ:

“Thơ Tố Hữu đấy cán bộ!”

Viên quản giáo hỏi lại:

“Có thiệt thơ Tố Hữu không? Thơ Tố Hữu làm gì mà có ‘ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!’ à? Anh liệu hồn mà ngâm thơ phản động!”

Nói xong viên quản giáo bỏ đi thẳng. Anh em tù nhìn nhau cười. Không ngờ sau này khi ra tù, tôi có gặp một bạn tù cũ, nhắc lại chuyện xưa thì anh này cũng tưởng mấy câu thơ đó là của Tố Hữu thiệt.

Một hôm, tôi đang ngồi một mình thì anh Khởi bước lại ngồi xuống bên cạnh. Trước đây anh cũng là tù ở truồng, nhưng gần đây anh đã mặc quần trở lại. Khởi nhỏ nhẹ hỏi:

“Thằng cháu anh nó đã ngồi dậy được chưa?”

Tôi cười méo mó khôi hài:

“Nó đành tâm vĩnh biệt tôi rồi anh ạ! Tôi đã cố làm nhiều cách mà đều vô hiệu.”

Anh Khởi tủm tỉm cười:

“Tôi bày cho anh một cách, anh hãy cố gắng thử xem sao nhé! Nói thiệt với anh, trước đây tôi cũng bị như anh, sau nhờ nhìn lén cán bộ Phấn mấy lần mà nó hoạt động trở lại đấy anh. Anh cứ ráng vừa ‘chiêm ngưỡng’ vừa tưởng tượng nhiều pha gây cấn thử xem sao. ‘Chiêm ngưỡng liệu pháp’ có thể là cách trị liệu thần diệu đấy!”

Tôi chỉ nhìn Khởi cười buồn. Khởi lại hài hước tiếp:

“Nhưng nhớ hễ kết quả sơ sơ là lo chuồn liền chứ đừng chờ nó khỏe mạnh mà hung hăng lên là mang họa đấy nhé!”

Cán bộ Phấn có bầu cỡ ba bốn tháng chi đó. Bà ta có thói quen cẩu thả, hay bạ đâu ngồi đấy. Anh em tù nhiều người dù gần chết nhưng vẫn hay “bình phẩm” nọ kia để vớt vát tinh thần. Tôi vốn nhút nhát nên bình thường không dám đấu tranh trực diện như thế mà chỉ âm thầm luyện công thôi. Hôm ấy, sau khi nghe Khởi mách nước, tôi quyết định thử ứng dụng “chiêm ngưỡng liệu pháp” xem sao. Biết đâu nó chữa trị được căn bệnh của tôi! Thế là tôi cứ ngong ngóng cán bộ Phấn đến. Vừa trông đợi vừa cố tưởng tượng những đòn “hồi mã tấn thương” thật tuyệt vời. Nhưng thể chất đã quá tàn lụi, dù cố gắng tưởng tượng thế nào cũng vô ích. Suốt ngày đó, cán bộ Phấn vẫn bặt tăm hơi, chỉ có cán bộ Hồng mảnh khảnh “ít gợi cảm” vào điều hành việc tắm rửa. Hôm sau cũng chỉ một mình cán bộ Hồng vào lo công việc. Lòng tôi cảm thấy buồn buồn như mất mát một cái gì. Phải nói thành thật, cả ngày tôi không ngớt theo dõi những cán bộ vào ra cổng trại. Tôi quên luôn cả mục tiêu cần đạt là để chữa bệnh mà lại ngỡ như mình đang mong đợi một người tình, một người bạn thiết xa cách lâu ngày. Mong ngày không được lại mong đêm. Quả đúng là liên tưởng củng cố đam mê, thời gian ấy gần như lúc nào tôi cũng nghĩ tới người đàn bà đó…

Cũng may, bà Phấn không đi hẳn. Một buổi sáng kia, với cái dáng nâng náo hơn, bà Phấn lại xuất hiện để chỉ huy việc tắm xát chữa bệnh. Sau một hồi xông xáo làm việc, bà Phấn lại gốc cây trứng cá chảng chân ngồi. Tôi thấy cơ hội thuận lợi đã đến, bèn giả vô tình, mon men lại gần làm như núp nắng dưới bóng cây. Lúc này trại nới việc thăm nuôi, gia đình tiếp tế thuốc men cho tù khá thoải mái. Những người bị ghẻ nặng nguy ngập phần lớn đã được bắn tin cho gia đình thăm nuôi tiếp thuốc, bệnh cũng giảm lần. Một số tù ở truồng đã mặc quần trở lại. Những người bị xếp vào hàng tanh tưởi nhất, trong đó có tôi, bây giờ đã ít bị người khác né tránh. Tôi đã có thể lẫn lộn giữa đám đông một cách bình thường để hành động không lộ liễu. Hễ có cơ hội là tôi tận tình vận dụng phương thức “ba mặt giáp công”: mắt thì liếc chiêm ngưỡng, đầu óc thì tưởng tượng những đòn phép thần sầu, tay thì lén mân mê “nó” để hà hơi tiếp sức. Nhưng than ôi! Tôi cố thử đi thử lại rất nhiều lần mà hài nhi vẫn thiêm thiếp giấc nồng…

Đêm này qua đêm khác, tôi cứ nghĩ về tương lai tối tăm của mình:

Trời đất từ nay xa cách mãi,

Cửa động, đầu non, đường lối cũ,

Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!

Thế là hết rồi. Trước kia tôi đã nghe nhiều người nói về cái bệnh khốn kiếp kia. Nó đã làm cho bao nhiêu người thấy mất hết ý nghĩa của cuộc sống. Nhiều gia đình đã ly tan vì nó. Tôi cứ hay nghĩ về mấy con gà trống thiến béo nung núc thui thủi kiếm ăn một mình không bầu bạn mà thương. Thôi thì cứ mặc dòng đời đưa đẩy. Cả ngày về tôi cũng chẳng còn thiết tha mong đợi nữa. Dù sức khỏe có phần vãn hồi nhưng tôi không còn chút nào hứng thú ngâm nga như trước. Tôi chỉ muốn được tĩnh lặng, không ai quấy rầy. Cái danh công công của tôi đã dần thành thông dụng. Tôi cũng thản nhiên chấp nhận, không vui, không buồn…

Thấy tình hình chữa ghẻ cho tù khả quan, hai cán bộ nữ cũng thưa tới điều khiển việc tắm rửa lần. Những người ra ngoài lúc này dần mặc quần đùi trở lại càng nhiều. Riêng tôi, tuy không còn tin tưởng mấy, nhưng nhớ lời người xưa “còn nước còn tát”, tôi vẫn tiếp tục luyện công cầu may.

Một hôm, lựa lúc mọi người đã tắm xong cả tôi mới ra giếng. Lúc đó trời nắng hơi gắt, mọi người đều tìm chỗ tránh nắng. Tôi muốn được một mình một chiếu tôi tìm một chỗ vắng để dễ luyện công hơn. Không ngờ “cao nhân tất hữu cao nhân trị”, một vài anh đã đoán biết ý tôi. Tôi đang tập trung thần lực truyền sức cho hài nhi thình lình một toán bốn năm người vừa cười vừa chạy nhanh đến chỗ tôi:

“Chào công công! Công công luyện chưởng thành công tới đâu rồi?”

Tôi ngượng ngùng chỉ hài nhi cười:

“Nó vẫn mê mê muội muội vậy thôi!”

Anh Bằng, người bạn tù tuổi cỡ năm mươi, ít nói, luôn tỏ ra đàng hoàng chững chạc, nhìn tôi thương hại:

“Được rồi, để mai tôi cố giúp anh thử sao! Ngày mai cũng vào giờ này, tôi ra đây tắm cho anh!”

Mấy người khác đều cười nửa tin nửa ngờ:

“Phải đấy, ngày mai tụi tôi sẽ ra đây chứng kiến sư phụ làm phép cho công công!”

Một anh cười hô hố:

“Mấy con mẹ y tá chữa được bệnh ghẻ mà lại không chữa bệnh này cho chả luôn, thiệt là bất nhân!”

Một anh khác nhìn anh Bằng dò hỏi:

“Anh không trêu gạt công công đó chớ!”

Anh Bằng cũng cười:

“Tôi nói thật mà! Biết đâu cách làm của tôi lại hiệu quả thì sao!”

Tư cách ăn ở hàng ngày của anh Bằng đã làm tôi có chút tin tưởng. Mà cũng có thể do tôi đã hết đường xoay xở, nên cố bám víu vào lời nói đó. Tôi nhìn anh biết ơn:

“Tôi rất hi vọng ở sự giúp đỡ của anh. Tôi sẽ nhớ ơn anh suốt đời!”

Anh Bằng nhìn tôi nói có vẻ thành thật:

“Tôi cũng hi vọng giúp được anh. Nhưng trước hết, nhất là trong đêm nay, anh hãy cố gắng tập trung trí tưởng tượng vào những pha cụp lạc nhất mà anh đã gặp trong đời. Nó sẽ giúp anh rất nhiều. Mong anh chuyến này toại nguyện!”

Suốt đêm đó, phải nói là tôi đã lạm dụng quá đáng. Tôi không thành công trong việc thức tỉnh hài nhi mà lại làm cho hài nhi nôn mửa tả tơi. Tôi lại càng tràn trề thất vọng vì nghĩ như thế chỉ làm cho nó đuối sức thêm.

Hôm sau, đến giờ hẹn, tôi ra giếng thì anh Bằng và rất nhiều người cùng theo ra. Tôi để ý thấy anh Bằng cầm một cái hũ Péniciline. Sau khi tắm rửa và đợi khô người xong, tôi ngồi bên miệng giếng đợi anh Bằng làm phép. Phải nói là tôi cũng khá hồi hộp. Những người khác có lẽ cũng như tôi, đều chăm chú theo dõi hành động của anh Bằng. Anh mỉm cười mở hũ péniciline: chỉ có một ít thuốc nước gì trong trong dưới đáy hũ. Anh nhìn mọi người rồi nhìn tôi:

“Công công hãy ra sức tưởng tượng đi! Bà Phấn, bà Hồng hay nàng tiên nào đó cũng được!”

Anh bảo tôi chấm ngón tay vào hũ thuốc rồi quệt lên hài nhi. Tôi quệt nhiều lần cho đến khi hết thuốc trong hũ. Ban đầu tôi cảm thấy mát mát nhưng sau đó nó nóng lên như bôi dầu nhị thiên đường. Tôi cũng cảm thấy có cả mùi dầu nhị thiên đường. Anh Bằng nói:

“Anh xoa bóp đều cho hài nhi đi! Thuốc trợ sức ngày trước xuất ngoại đem về còn chừa đó!”

Tôi làm theo lời anh, dùng cả hai bàn tay để xoa như người ta dùng tro để tẩy nhớt khi làm thịt con cá chạch hay con lươn. Mọi người chung quanh chăm chú theo dõi. Một vài người lên tiếng hỗ trợ cổ võ:

“Hậy, hậy, dô, dô!”

Lần đầu tiên từ sau trận bệnh ghẻ, tôi thật sự thấy hài nhi cựa quậy. Mọi người cùng cười rôm rả:

“Nó chuẩn bị ngồi dậy đó! Nó chuẩn bị ngồi dậy đó! Chúc mừng! Chúc mừng!”

Và quả thật nó chuyển gồng mình rồi ngóc đầu lên. Tôi sung sướng quá chừng. Trông nó cũng còn đẹp trai như thuở nào. Nó gật gật như thể cám ơn những người chung quanh đang thật tình chúc mừng cho nó. Một anh khen:

“Nó nghễu nghện trông chẳng khác gì một nhân vật quyền uy đang hiểu dụ dân chúng về một kế hoạch kinh tế nhảy vọt sắp thực hiện hỉ!”

Người bên cạnh thúc cùi chỏ vào người mới phát biểu, nói khoả lấp:

“Thôi, đừng đi quá lạc đường! Thế mới phải chớ! Tôi đã biết nó đâu nỡ để cho ngâm sĩ chịu cảnh ‘Cửa động đầu non, đường lối cũ, Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi’ sao đành?”

Ngô Viết Trọng

Tháng Sáu… nhớ về

baotreonline.com

Đặng Hiếu Sinh

June 22nd, 2023

Post by Sơn râu 16 Apr 2024

Mỗi năm vào tháng 6, chúng tôi – nhóm bạn bè cũ – thường họp mặt để cùng nhau nhìn ngắm lại hình ảnh các chàng trai trẻ rạng rỡ trong bộ đại lễ oai phong với những bước chân nhịp nhàng, hùng dũng giữa tiếng quân nhạc rền vang trong ngày diễn hành Quân Lực 19 tháng 6 năm xưa. Một chút vui vì cảm thấy hùng khí ngày tuổi trẻ như bừng bừng sống dậy. Một chút buồn vì sự mất mát khó nguôi ngoai. Anh Thành, một người luôn có nụ cười mang ít nhiều nét hóm hỉnh thường nhật như biến mất, chỉ còn lại giọng nói thoáng chút bùi ngùi khi nhắc lại chuyện mấy mươi năm.

– Tụi mình ra trường tháng 4 năm 1973. Vì hiệp định Paris nên ước mơ vào Thủy quân lục chiến của tao không thành. Ðến trình diện Tham mưu trưởng tiểu khu Châu Ðốc với sự vụ lệnh trong đó có câu rất ngầu “Bổ nhiệm thiếu úy Nguyễn Thành thay thế sĩ quan thiếu năng lực thuộc phòng an ninh hay đại đội CTCT tiểu khu”. Ông Trung tá Tham mưu trưởng tiếp tao với nụ cười nửa miệng. Ông nói “Rất tiếc, đơn vị chúng tôi ở đây không có sĩ quan nào thiếu năng lực. Tôi sẽ đưa thiếu úy ra tiểu đoàn tác chiến đang thiếu sĩ quan. Nếu không đồng ý, thiếu úy có thể trở về trình diện Tổng Cục”.

– Rồi mầy đi đâu?

– Ði đâu?… Buồn quá tao dzọt về Sài Gòn một tháng, đi chơi với bồ cho đời bớt khổ rồi trở lại trình diện tiểu đoàn Ðịa phương quân đang tăng phái hành quân với sư đoàn 21 ở Bạc Liêu. Sau sáu tháng tăng phái, tiểu đoàn trở về hậu cứ biên phòng tại vùng biên giới Thất Sơn với nhiệm vụ Trưởng ban 5 và  sĩ quan an ninh tiểu đoàn. Hầu hết các quân nhân tiểu đoàn là người Việt gốc Campuchia trong đơn vị dân sự chiến đấu, gọi nôm na là Biệt kích Mỹ tại Việt Nam. Lực lượng Dân sự Chiến đấu đã được chuyển đổi từ CIA sang Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV) từ năm 1963. Nhiệm vụ chủ yếu là kiểm soát biên giới Việt-Campuchia. Sau năm 1973, lực lượng nầy đã được đồng hóa sang Biệt động quân biên phòng và các tiểu đoàn Ðịa phương quân. Ông Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng và nhiều sĩ quan đều là người gốc Campuchia, không có trình độ học vấn bao nhiêu. Khi nhận tao về với lý lịch là sĩ quan hiện dịch từ ÐHCTCT-Ðà Lạt, họ nghi ngờ có điều gì đó sẽ gây thiệt hại cho họ nên tìm cách đì tao. Họ dùng lệnh hành quân, giao cho tao một tiểu đội đi phục kích các chốt đêm trên đường biên giới. Nếu không thi hành thì tiểu đoàn trưởng kết tội chống lệnh hành quân. Ðúng là họ muốn diệt tao. Tức quá, tao lặng lẽ điều tra những tệ nạn về quản trị, tài chánh, lính kiểng rồi làm một bản cáo trạng và mang ra Phòng An ninh Tiểu khu do một đại úy khóa đàn anh làm trưởng phòng, xin một cuộc họp với Tham mưu trưởng để tố cáo. Trong cuộc họp, các sĩ quan tham mưu đều xanh mặt, chắc ái ngại cho thân phận tên thiếu úy mặt mày non choẹt mà dám chơi trò châu chấu đá xe.

– Rồi tiểu khu giải quyết ra sao?

– Ông Trung tá Tham mưu trưởng khen tao là sĩ quan trẻ có năng lực và can đảm. Ông bảo tao trở về đơn vị rồi ông sẽ cho điều tra. Ðại úy -Niên trưởng- nói, tao mà trở về tiểu đoàn chỉ có nước đi nhà ma nên ông giúp tao thuyên chuyển về Bạc Liêu và làm đại đội trưởng ở một tiểu đoàn địa phương quân cho đến ngày đi tù.

Với lon bia trên tay, Khánh chỉ sang tôi, huyên thuyên kể.

– Còn tôi với thằng này có một cuộc hội ngộ bất ngờ tại Chương Thiện. Hôm đó, tiểu đoàn đang đóng ở Vĩnh Viễn thì tôi được lệnh về nhận nhiệm vụ mới ở Quân khu 4. Vừa ra đến hậu cứ tiền trạm, chưa kịp nghỉ thì một người hạ sĩ chạy vào hớt hải báo tin “Lính của mình đang đánh nhau với nhóm lính khác ngoài quán nhậu. Ông Thầy ra gấp đi, chúng nó sắp sửa bắn nhau”.

Tôi gật gù:

– Tôi cũng vậy. Nghe tin, vội vàng chạy ra đó không ngờ gặp ông. Hai thằng tay bắt mặt mừng làm hai nhóm lính đang cầm súng hăm he nhau ngơ ngác. Ông nhớ không, mình bắt chúng nó huề nhau rồi hai thằng kéo nhau vào quán, chưa uống hết chai bia thì đại đội tôi có lệnh hành quân. Tụi mình biệt tin từ đó. Ông về quân khu làm gì?

– Tôi được biệt phái vào đoàn Thanh tra Giám sát an ninh lãnh thổ Quân khu 4 cho đến ngày mất nước.

Ðối diện với tôi là Bá, anh chàng có cái miệng tía lia, vui tính hay nói chuyện trên trời dưới đất để làm vui cho bạn bè nên có biệt danh là Bá Láp. Tôi gặp hắn tại mặt trận tái chiếm Núi Dài Châu Ðốc năm 1973. Với vẻ trầm ngâm, Bá kể lại câu chuyện thật thương tâm:

– Còn nhớ, trong trận tái chiếm Núi Dài, tiểu đoàn tôi có nhiệm vụ giữ đường tiếp vận và tải thương, vì sau hiệp định Paris quân đội chúng ta bị cắt giảm không vận, không kích. Ðịch ở trên cao, quân ta phải tiến lên từng tấc đường núi trong đêm tối nên tổn thất nhân mạng rất cao. Tôi không cầm lòng được khi thấy những người lính trẻ Biệt động quân khệ nệ khiêng “poncho” bó xác đồng đội mang xuống chân núi, vừa đi vừa khóc như trẻ con. Ðược một ngày yên tĩnh, anh em đang ngồi ăn lương khô gạo sấy thì có một anh lính trẻ đang tải đạn tiếp tế dừng lại nghỉ chân. Thấy cây đàn guitar bên cạnh tôi, anh hỏi với nụ cười tươi “Thiếu úy cho em hát một bản nhạc được không?”. Tôi nói “Ừ, tốt lắm. Chúng ta cũng cần một chút thư giãn”. Anh lính tên Tuấn ôm đàn hát bài “Ngàn Thu Áo Tím” thật hay làm cả đám ngẩn ngơ trong niềm cảm xúc. Tôi hỏi về thân thế, biết em mới mười tám tuổi, gia cảnh nghèo với mẹ và hai em gái. Tuấn cho biết, vừa đi học, vừa giúp mẹ buôn bán nên thi rớt tú tài. Sau đó, Tuấn xin vào lính địa phương để được gần nhà. Quý mến tài năng của Tuấn, tôi ngỏ ý “Xong trận nầy, anh sẽ xin em về Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn, thành lập toán văn nghệ để không lãng phí một tay đàn guitar tuyệt vời”. Mừng rỡ, Tuấn từ giã và vác đạn lên núi. Chừng năm phút sau tôi nghe một tiếng nổ kinh hoàng và tiếng kêu cứu thương trong máy. Tôi và y sĩ chạy về hướng tiếng nổ. Một cảnh tượng khủng khiếp trước mắt. Máu vương vãi khắp nơi. Hai người lính trong nhóm tải đạn bị thương nặng. Tuấn chết ngay tại chỗ với cái xác bị mất đầu. Tôi chết lặng trong nước mắt. Mấy ngày sau, trung đội thám báo bắt được bốn tên lính Bắc Việt mặt còn non sữa. Chúng nói, vì đói quá nên đêm lẻn về tìm nhà dân để kiếm ăn. Vài người lính đòi xử tử mấy tên nầy để trả thù cho Tuấn. Chúng tôi không cho phép, vì thấy chúng quá sợ hãi và luôn miệng “Lạy ông, lạy ông” rất tội nghiệp. Sau đó tôi cho chúng ăn lương khô, hút thuốc lá và chợt nghĩ, có lẽ mẹ nó ở tận miền Bắc nghèo nàn cũng đang vật vã nhớ thương con như bao người mẹ khác trong miền Nam này.

Khánh tiếp lời:

– Cuộc đời chúng ta đã trải qua biết bao thăng trầm trong chiến tranh, tù tội và những ngày sống vất vưởng tại quê nhà, đồng thời chứng kiến, chịu đựng biết bao sự hành hạ tàn bạo của đám cai tù, những con người được đảng nhồi nhét vào đầu óc sự hận thù. Bọn chúng có thể cầm súng bắn giết những người tù một cách hả hê như tôi đã chứng kiến hai lần tại trại tù. Nay, anh em mình ai cũng già nhưng may mắn hơn hằng triệu người vẫn đói nghèo giữa Việt Nam khi tầng lớp thống trị đang sống xa hoa ngất ngưởng. Tôi cảm thấy xót xa khi nghĩ rằng bao nhiêu xương máu của đồng đội nằm xuống trong cuộc chiến hai mươi năm để bảo vệ miền Nam tự do trở thành vô nghĩa. Buồn!


Bạn thân mến,

Trong một lần họp mặt, người lính già Biệt động quân nhìn khi thấy những chàng trai trẻ -thế hệ thứ hai- oai nghi trong bộ quân phục của quân đội Hoa Kỳ đã nghẹn ngào ghi lại bốn câu thơ:

Cha có đôi lời gửi đến con

Đời cha nợ nước vẫn chưa tròn

Thì xin trao cả giang san ấy

Con gánh giùm cha những nỗi buồn!  

(Thảo Nguyên)

“… Bao nhiêu xương máu của đồng đội nằm xuống trong cuộc chiến hai mươi năm để bảo vệ miền Nam tự do rồi trở thành vô nghĩa”. Không đâu anh Khánh, chúng ta là bên thua cuộc trong cuộc chiến Bảo Vệ Chính Nghĩa nhưng giá trị tinh thần của một Miền Nam Tự Do mà những chiến sĩ VNCH đã đổ máu bảo vệ sẽ không là vô nghĩa. Bốn mươi tám năm qua, tinh thần đó đã thắng. Dân miền Bắc đã học hỏi và đang thay đổi dần theo văn hóa Miền Nam từ bước.

Người viết vừa tham dự một buổi hội thảo “Từ Lịch Sử Hướng Ðến Tương Lai”, mới biết rằng hiện nay có những người trẻ sinh ra và trưởng thành tại Việt Nam, điển hình là Tiến sĩ Nguyễn Lương Hải Khôi và Tiến sĩ Thủy Nguyễn, vẫn không bị đầu độc vì nền chính trị độc tài. Họ đã nhận ra cái giá trị nền dân chủ, tự do mà chúng ta đã từng bảo vệ. Họ là một trong 12 tác giả của quyển sách sử giáo khoa đầu tiên viết về Việt Nam Cộng Hòa, đã đủ tiêu chuẩn để đưa vào các trường trung và đại học Hoa Kỳ để giảng dạy.

Người viết xin mượn đoạn văn trong bài nói của danh tướng MacArthur để kết thúc tâm sự nầy:

“Thế giới đã biến chuyển nhiều lần từ khi tôi tuyên thệ nhậm chức trên vũ đình trường West Point. Những hy vọng và ước mơ từ lâu đã biến mất nhưng tôi vẫn nhớ điệp khúc của một trong những bản ballad trong trại binh phổ biến nhất của ngày đó với lời tuyên bố rất hào hùng “Những người lính già không bao giờ chết, họ chỉ dần dần tan biến”. Và cũng giống như người lính già của bản ballad đó, giờ đây tôi khép lại cuộc đời binh nghiệp của tôi và chỉ dần dần tan biến. Một người lính già đã cố gắng làm nhiệm vụ của mình như Chúa đã ban cho người ấy ánh sáng để thấy nhiệm vụ đó”.

ĐHS