Dòng chuyển của Âm Thanh chương trình khơi niềm hy vọng

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

April 12th, 2024

Post by Sơn râu 15 Apr 2024

Bài “Việt Nam Việt Nam” của Phạm Duy được mọi người Việt và Mỹ đồng ca trong phần đệm của dàn giao hưởng (Bảo huân/Trẻ)       

Những tràng pháo tay kéo dài sau mỗi màn trình diễn của các nghệ sĩ, cả khán phòng gần một ngàn khán giả im lặng, thả cảm xúc vào từng mỗi bản nhạc. Khó có thể diễn tả hết những cảm xúc lẫn lộn của mỗi khán giả đã theo dõi trọn vẹn một chương trình nhạc thính phòng dài hơn 3 tiếng đồng hồ cho đến tận phút chót, mà theo lời Nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã phát biểu trên sân khấu là “lần đầu tiên trên thế giới” có một chương trình âm nhạc Việt Nam như vậy.

Ðó là không khí chung của đêm nhạc thính phòng “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” (A Legacy of Sounds) được tổ chức tại trung tâm nghệ thuật Allen HS Performing Art Center vào tối thứ Bảy ngày 6 tháng Tư năm 2024 vừa qua, với sự trình diễn của những nghệ sĩ tài năng gốc Việt cùng dàn đại hoà tấu và hợp xướng The Allen Philharmonic Orchestra & Symphony Chorus của thành phố Allen thuộc khu vực Dallas, Texas. Theo lời Ban Tổ  Chức, “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” là sự kết hợp Đông-Tây độc đáo, mang những thang âm mới mẻ, chưa từng được công diễn bất cứ nơi nào qua những tiếng đàn bầu, đàn kìm, đàn tranh, đàn T’rưng hoà quyện cùng dàn nhạc giao hưởng và ban hợp xướng Tây phương. Từ vọng cổ Cao Văn Lầu cho đến Opera, từ các nhạc sĩ qua nhiều thế hệ như Lê Thương, Phạm Duy, Cung Tiến, Trịnh Công Sơn cho đến nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Từ những tài danh Việt- Mỹ từng giành được giải thưởng âm nhạc Grammy danh giá cho đến các nhà soạn nhạc trẻ tài năng gốc Việt đang tạo tiếng vang tại hải ngoại, chương trình là câu chuyện về chiến tranh và ước vọng hoà bình, về những mất mát trong hành trình tìm tự do

Dạ Cổ Hoài Lang rất độc đáo của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu qua giọng ca và tiếng đàn kìm của nghệ sĩ Chí Tâm, tiếng đàn bầu Lily Nguyễn, đàn tranh Hải Yến và tiếng trống Ian Bùi hòa chung với dàn giao hưởng Tây phương. (Bảo huân/Trẻ)

Thật vậy, “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” là cuộc hội ngộ văn hóa hiếm hoi tại Mỹ, không chỉ giới thiệu nhạc Việt và những tài năng trình diễn và sáng tác nhạc cổ điển gốc Việt đến các khán giả Mỹ mà còn mang đến cho khán giả Việt một hành trình âm nhạc Việt Nam, những hoài niệm về những ngày quê hương thanh bình, niềm tự hào và hy vọng về một thế hệ trẻ gốc Việt đang bước vào lãnh vực nghệ thuật chưa mấy được phổ biến trong cộng đồng.

Nghệ sĩ Phạm Hà

Có thể xem đây như một chương trình nhạc Lê Văn Khoa với phần lớn các tác phẩm được trình diễn là do ông soạn nhạc. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa sinh năm 1933, có  thiên khiếu âm nhạc từ rất sớm. Là một nhạc sĩ đa tài, ông sáng tác ca khúc, viết đại hợp ca-hoà tấu, được nhiều dàn giao hưởng và hợp xướng Mỹ và thế giới trình diễn. Ông còn là một nhiếp ảnh gia có giải thưởng, được trưng bày nhiều nơi trên thế giới. Niềm đam mê về âm nhạc của ông từng được ông diễn bày rằng, “Âm nhạc là tấu khúc của vũ trụ, nhà soạn nhạc chỉ có khả năng nghe và ghi lại một vài điểm nhỏ của tấu khúc vĩ đại ấy để chia sẻ với đồng loại” (Lê Văn Khoa).

Với khoảng gần 20 tiết mục, mỗi tiết mục đều có một sắc thái và phong cách riêng biệt đã mang lại sự bất ngờ, thú vị lẫn cảm kích cho khán giả hiện diện.

Mở màn chương trình là tiết mục Dạ Cổ Hoài Lang rất độc đáo của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu qua giọng ca và tiếng đàn kìm của nghệ sĩ Chí Tâm, tiếng đàn bầu Lily Nguyễn, đàn tranh Hải Yến và tiếng trống Ian Bùi hòa chung với dàn giao hưởng Tây phương. Đó là giọng nam cao tenor cuồn cuộn, âm vang của nghệ sĩ Phạm Hà trong các ca khúc Ca Ngợi Tự Do, Mơ Về Quê Tôi của nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Đó là tiếng hát thánh thót của nghệ sĩ Ngọc Hà, phu nhân của nhạc sĩ Lê Văn Khoa cũng qua các ca khúc của ông như Chiều Thu và Sài Gòn Của Tôi của nhạc sĩ Ian Bùi.

Nghệ sĩ Hải Yến

Đó là ca khúc rất cảm động Đừng Đứng Bên Mộ Tôi mà Khóc (Do Not Stand at My Grave and Weep) của thi sĩ Clare Harner, được nhạc sĩ Patrick Vũ soạn hòa âm và ban hợp xướng Dallas Chamber Choir trình diễn dưới sự điều khiển của nhạc trưởng gốc Việt Jon Lê Culpepper để tưởng niệm các nạn nhân trong vụ xả súng tại Allen. Đó là ngón đàn guitar độc tấu điêu luyện của nghệ sĩ Nguyễn Đức Đạt hay tiếng cello sâu lắng của Sumo, tức Liaminh Bùi hay tiếng đàn tranh réo rắt, vui nhộn diễn tả qua tác phẩm Trăng Rằm của Hải Yến.

Và chắc chắn là các tiết mục độc đáo trong giọng hát lẫn diễn xuất tuyệt vời của 2 nghệ sĩ giọng soprano là Teresa Mai và Hila Plitmann trong ca khúc Diễm Xưa của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được nhạc sĩ Duy Trần soạn nhạc và bản Opera Andromeda  trong album nhạc Mythologies II chuẩn bị được phát hành. Ca sĩ tài sắc Teresa Mai với nghệ danh Sangeeta Kaur, tạm dịch là  “Nàng công chúa âm nhạc và khúc thanh âm” là người Việt đầu tiên giành giải Grammy vào năm 2022 và ca sĩ Hila Plitmann gốc Do Thái đã 2 lần chiếm được giải Grammy.

Nghệ sĩ Ngọc Hà

3 ca khúc trong trường ca Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương được ban hợp xướng Allen trình bày dưới sự phụ họa các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam từ các nghệ sĩ Chí Tâm, Hải Yến và các giọng ca Ngọc Hà, Phạm Hà là một tiết mục thật xuất sắc, vang vọng và hào hùng, cũng như bài hát kết thúc chương trình Việt Nam, Việt Nam của nhạc sĩ Phạm Duy đã được khán giả đồng loạt đứng dậy vỗ tay hát theo thật cảm động.

Trên trang facebook cá nhân của mình, nhạc trưởng Jon Lê Culpepper có viết rằng anh lớn lên và theo đuổi đam mê trong môi trường không có nhiều nhạc sĩ cổ điển người Việt như anh thì chương trình “Dòng Chuyển Của Âm Thanh” có lẽ đã mang lại cho anh và khán giả người Việt cơ hội được gặp gỡ không chỉ nhạc sĩ Lê Văn Khoa mà cả những tài năng gốc Việt thuộc thế hệ thứ nhì trong lãnh vực âm nhạc cổ điển này.

Đừng Đứng Bên Mộ Tôi mà Khóc của thi sĩ Clare Harner, được nhạc sĩ Patrick Vũ soạn hòa âm và ban hợp xướng Dallas Chamber Choir trình diễn dưới sự điều khiển của nhạc trưởng gốc Việt Jon Lê Culpepper (Bảo huân/Trẻ)

Đó là nhạc sĩ Patrick Vũ, sẽ tốt nghiệp cao học âm nhạc trong năm nay nhưng nhiều tác phẩm của anh đã được các dàn hợp xướng Mỹ trình diễn nhiều nơi và đã được National Concerts mời sáng tác một bản hợp xướng sẽ được trình diễn tại Carnegie Hall tại New York, là một trong những trung tâm trình diễn âm nhạc cổ điển uy tín và danh giá nhất thế giới. Đó là Dylan Trần từ Louisiana, nhà soạn nhạc và từng được nhiều giải thưởng sáng tác và có tác phẩm được trình diễn ra ngoài nước Mỹ, như Úc, Anh, Pháp, Áo, Phần Lan… Đó là Duy Trần, một cựu sinh viên cao học âm nhạc tại USC và là nhà soạn nhạc cho các hãng lớn như Sony, Samsung … có các tác phẩm từng xuất hiện trong các liên hoan phim như Sundance, Hollyshorts.

Được chuẩn bị từ tháng Hai năm nay, dưới sự chấp thuận và ủng hộ của Chủ Tịch cùng ban quản trị The Allen Phiharmonic tại thành phố Allen, Texas, anh Ian Bùi và cô Diễm Tú cũng là hai thành viên thuộc ban giám đốc của tổ chức này, đã dành nhiều công sức và thời gian để thực hiện cho chương trình công phu và quy mô này. Từ việc mời các nghệ sĩ tham dự, tổ chức, tìm bảo trợ tài chính cho đến việc chuyển ngữ Anh-Việt, Việt-Anh các ca khúc được trình bày và phóng lên màn ảnh trong đêm diễn.

Cũng nói thêm, Ian Bùi là dịch giả cuốn Hồi Ký Kiều Chinh, An Artist in Exile của nữ tài tử Kiều Chinh sang Anh ngữ. Trên các trang facebook cá nhân, không ít khán giả đã bày tỏ sự cảm ơn của họ gởi đến BTC, những nhạc trưởng, các nhạc công dàn giao hưởng cùng các ca sĩ ban hợp xướng, các nhân viên hậu trường và những nhà bảo trợ đã góp phần mang lại một chương trình quá ý nghĩa và thành công cùng nhiều cảm xúc đến như vậy.

Teresa Mai và Hila Plitmann trong ca khúc Diễm Xưa của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (Bảo huân/Trẻ)

Khi được hỏi cảm nghĩ về chương trình, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã trả lời cùng tác giả rằng, điều vui nhất là chúng ta đã đưa nhạc Việt âm vang, hoà vào với nhạc giao hưởng Tây Phương, các nhạc sĩ Mỹ trong chương trình đều bày tỏ sự thích thú và cảm ơn ông đã soạn nhạc cho họ và khán giả Việt lần đầu được nghe ban hợp ca Mỹ trình bày một số ca khúc Việt quen thuộc. Còn với ca sĩ Teresa Mai, cô cho biết cô rất vui không chỉ tham gia trình diễn trong chương trình mang lại những cảm xúc lạc quan cho khán giả mà còn vui hơn khi lần đầu gặp một thế hệ gốc Việt thứ nhì đầy hy vọng, đang mang tài năng và đam mê của mình đến một cung bậc cao hơn trong âm nhạc Hoa Kỳ và thế giới.

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa sau cánh gà. (photo diễm cơ)

Dallas 04/2024

ĐYT

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Chương 9
Post by Sơn râu 14 Apr 2024

Chương 9

Khi tôi không chờ đợi nữa thì chuyện lại xảy ra. Tôi nộp đơn gia nhập Không Quân từ ba tháng trước, nay Không Quân gọi nhập ngũ. Tôi tưởng rằng đơn tôi đã bị bác, như nghành Không Quân từng bác cả ngàn đơn khác. Con số được chọn có trăm mạng. Theo người ta nói lính Không Quân phải có học lực khá. Có thể hôm nay anh chỉ là lính trơn, ngày mai anh trở thành sĩ quan trong mọi nghành nghề. Thời Pháp, một hạ sĩ thôi cũng có thể là phi công. không thuần chỉ sĩ quan. nhưng nay quân đội VNCH nâng lên cho bảnh. Điều đó được tuyên truyền rộng rãi trong giới sinh viên học sinh. Không Quân thu hút người gia nhập rất đông đảo. 
Tôi mang chuyện này hỏi ý kiến Hoài Nam. Hoài Nam góp ý liền: 
– Vào đi, ít ra cũng đỡ cho một thằng. 
– Mày nói sao? 
Không nói đến chuyện lý tưởng mà cái thân mày đỡ, biết chắc chắn rằng mày có cơm ăn, không bị đói như những ngày qua nữa. 
Thực tế là chúng tôi bị đói thường xuyên, thường gây ra những bữa no dồn đói góp. Nghề văn nghề thơ chưa tên nào sống nổi. Chính Dương Nghiễm mậu nhờ vả bà chị. Anh kiếm được bằng nghề văn nghề báo chỉ là tiền còm. 
Hoài Nam đã được làm công tác viên cho báo Cách Mạng Quốc Gia, hắn làm thơ và viết lung tung đủ thứ. Anh tổng thư ký tờ báo là anh Tế Xuyên rất nể Hoài Nam, anh cũng thường xuyên xuống thăm anh em tôi tại Bình Thới. Thỉnh thoảng anh mời chúng tôi ăn những bữa ăn, anh khá hào sảng…..Anh nói tôi cần phải cố gắng hơn nữa trong nghiệp văn, khai thác những đề tài nào đó phải khác những đề tài mà người ta nhai đi nahi lại quá nhiều lần. 
Tôi biết anh Tế Xuyên còn là một nhà phê bình văn học, tầm cỡ học giả. Anh là tác giả nhiều cuốn sách ” học làm người ” do nhà Khai Trí xuất bản. Anh Tế Xuyuên đang bước vào tuổi già, nhưng bắt anh em chúng tôi phải gọi anh là anh, danh từ chú với bác không được dùng với anh. 
Hoài Nam nói như trong cơn mê sảng: 
– Mày ra đi cũng phải có một bữa tiệc với anh em chứ! 
– Mày có điên không, tao lấy gì để mời? 
Hoài Nam thủng thẳng trả lời: 
– Tao tính cả rồi. 
– mày tính thế nào? 
– Mạnh thường Quân chúng mình chỉ có anh Tế Xương chứ còn ai nữa. 
– Phiền anh ấy quá! 
– mày định ra đi không từ giã anh Tế Xuyên hả? 
– Có chứ, nhưng mình từ ggiã xuông cũng được rồi. 
– Anh Tế Xuyên nhất định sẽ không bằng lòng như thế đâu, anh sẽ bỏ tiền ra, một bữa thường thôi mà. Mày ngồi nhà để tao đi, còn tí tiền còm đây mày có thể ra cà phê Con Nhạn của mày ngồi nhìn trời nhìn đất. 
Tôi ra quán cà phê Con Nhạn ngồi một mình. Trời đất sau bão rớt trời thật đẹp, nắng chỉ ửng vàng trên ruộng hoa lài bát ngát. con bé của bà chủ chơi thơ thẩn dưới ruộng hoa, nó sâu những đoá hoa thành vòng tròn, đội lên đầu con búp bê. Cái đầu con búp bê bây giờ bằng trái cam. Ai đó khoét giùm mắt mũi miệng cho cái đầu, cái miệng vểnh lên hình vòng cung thành nụ cười. 
Tôi lan man nghĩ tới tương lai của mình, những ngày sắp tới trong quân đội. Mình sẽ ra sao nhỉ. 
Điều này không thể biết được, dù tôi đã có ngày sống đời sống quân ngũ hồi học thiếu sinh quân. Nhưng đó chỉ là nghiệp binh lỡ. 
Tôi đi chơi lang thang một mình ở khu Phú Thọ. Mình ra đi rồi đây mình sẽ nhớ mãi nơi này. Nhớ căn gác thuê, bà cụ Chắt và những bát cơm của cụ. Tiếng ru hời của bà con dâu mỗi đêm, ru con bé con, em thằng Phan Tri nghịch như quỷ sứ, suốt ngày ngồi trên cây trứng cá trước nhà, nhìn vào căn gác thuê chúng tôi. Có những lần đói, tôi nhận từ thằng bé nắm trái cây trứng cá, nhưng chỉ là những bữa ăn giả, đánh lứa cái miệng. Ruột tôi càng cồn cào hơn. Còn đâu nữa những bữa cơm canh cua rau đay, cà pháo chấm mắm tôm. Tất cả đều đã xa, thật xa. Dĩ vãng chẳng bao giờ trở lại. 
Buổi trưa tôi tới nhà Trần Cang, người bạn học Cao Đẳng Mỹ Thuật với tôi, anh đeo bám hội hoạ, anh đang học năm thứ nhất. Bá bằng cũng học ở đó, nghe đâu Bằng đang xin chuyển ra Huế theo bà chi lấy chồng ngoài đó. Ông anh ruột của Bằng là anh Bảng, đang làm giáo sư, chẳng nhìn nhõ gì đến bầy em mồ côi. Ngày hai bác Hài tử nạn thê thảm, anh Bảng cũng chẳng về nhìn bố mẹ, việc ma chay anh Kỳ và con rể và chị Tuyết đứng lên lo. đám ma đó phải cưới chạy tang. Bằng tỏ ra đau khổ thường tâm sự với tôi. Tôi không rõ Bằng mang bệnh gì mà bị từ chối gia nhập Không Quân cùng với tôi. 
Trần Cang phải sống nhờ ông anh ruột là sĩ quan cấp tá, sống ngay trong trại lính ở cạnh trường đua Phú Thọ. Tôi quý Trần Cang bởi tại anh có máu văn nghệ, là cháu ruột của nhà văn Khái Hưng bị dìm sông chết ở bến đò Cựa Gà, Hải Dương, ngày ông bị tù ở trại Lý bá Sơ. 
Trần Cang ngừng tay, anh đang làm một bài tập một bức tranh lụa: 
– Cậu ăn cơm chưa? 
– Chưa, nhưng tớ đến để giã từ cậu, mai tớ đi lính rồi, lính Không Quân. 
– Tốt, vậy thì tớ phải mời cậu một bữa, cậu biết tớ không có nhiều tiền, một bữa bánh cuốn đủ chứ hả? 
– Thế nào cũng được, mai tớ đi rồi, tiếc là không đi chung với thằng Bằng. tớ với thằng Bằng thân nhau lắm, từ hồi nhỏ xíu ở Hà Nội. 
Hàng bánh cuốn ngay ở đầu trường đua, dưới hàng cây cao bóng mát. Suốt buổi trưa hai đứa tôi ngồi ở đó, nói chuyện đến Bằng, người bạn vắng mặt. Cang nói: 
– Thằng Bằng không biết bệnh gì, người nó cứ xanh lướt đi thôi. Nó hay chảy máu cam….Nó đeo đuổi nghề vẽ như bố. Thân bệnh hoạn đó rồi đây không biết sẽ ra sao? 
– Hình như người nghệ sĩ nào cũng khổ, có người khổ thảm khốc. 
– Như ông bác Trần Khánh Gzư của tớ, phải chết dưới bàn tay bạo tàn. Ngày nghe tin ông bác bị dìm chết, tớ còn nhỏ lắm, đang ở quê nhà. Bố tớ quyết định phải ra đi thôi và bây giờ tớ mới ở miền Nam này. Chúc cậu lên đường may mắn bình an…Được, tớ sẽ liên lạc với thằng Bằng. Đi nhớ liên lạc về với anh em. 
Tôi nắm chặt bàn tay Cang, từ biệt nhau ngay đầu Bình Thới. Sao lại buồn nhỉ? Sao lại muốn khóc? 
Về đến căn gác thuê tôi đã thấy Hoài Nam và anh Tế Xyên. Anh Tế Xuyên đùa tôi, anh chào thoe kểu nhà binh: 
– Chào chú lính mới tò te. 
– Chào anh! 
– Anh em mình làm một bữa tiệc chia tay chứ? 
– Dạ…em có nghĩ đến…nhưng. 
– không nhưng nhị gì hết, anh đã lo cả rồi. Cậu cứ đi với bọn này, cậu là nhân vật chính mà. Tiếc rằng hôm nay không đông anh em của cậu, chỉ có ba anh em mình, mình phải uống rượu say một bữa. Mình uống chén rượu tràng đình, tiễn chân tráng sĩ lên đường….. 
– Em không biết uống rượu, vì chưa uống bao giờ…. 
– vậy thì sẽ biết. đừng lo ngại, vạy mới là người lính…. 
Quán cà phê Thuỷ ở khoảng giữa đường Phạm Ngũ Lão, một trong những quán cà phê ngon có tiếng ở SG hồi đó. Nhưng tối nay có lẽ anh Tế Xuyên đã đặt trước nên quán làm thêm những món nhạu và bia. Chúng tôi có một bàn tròn riêng. Đã từ lâu rồi tôi mới dự một bữa ăn đàng hoàng. 
Mấy chị em nhà Thuỷ thay phiên nhau phục vụ, bà chị lớn đẹp nhất trong mấy chị em ngồi cạnh một cái nôi, trong đó có một bé gái rất xinh, y như mẹ. nghe đâu cô chị lớn bị lỡ làng trong một mối tình nên mang con về nuôi. Bé Kim. Bây giờ Thuỷ thay chị đứng ra quán cùng với bố mẹ. 
Bữa nhậu chóng tàn, lần đầu tiên trong đời tôi biết thế nào là rượu bia, tôi say là đà. Anh Tế Xuuyên đưa chúng tôi về tận nhà ở Bình Thới và anh ngủ lại đêm hôm đó, nói chuyện đời, anh như một người anh thực sự đối với những đứa em. Buổi sáng anh nhét vào túi tôi một mớ tiền: mớ tiền khá lớn đối với tôi khi đó, vì lương lính quân dịch chỉ có 120$ một tháng. Tôi hỏi anh: 
– Sao nhiều thế anh? 
– Cậu còn phải ra quân trường, phải tiêu pha, không phải chia cho ai cả. 
Sáng hôm ấy là ngày mùng 1 tháng 7 năm 1957. Tôi từ giã vườn hoa Bình Thới khi bãi tập bắn Bình Thới vang tiếng súng. 
Tôi trình diện nhập ngũ tại cổng Phi Long của phi trường TSNhất. Tôi ngạc nhiên vì gặp nhiều bạn bè từng là bạn học với tôi. Buổi trưa ăn cơm lính đầu tiên rồi đi lãnh quân trang quân dụng. 
Những bộ quần áo từ thời Tây để lại rộng thùng thình. Chúng tôi nhận số quân và số chỉ tạm, chưa có thằng nào có chỉ số chính thức. nhưng chúng tôi vẫn bàn tán đến nghề nghiệp mà mình sẽ theo đuổi, hầu hết thằng nào cũng mơ ước mình lái phi cơ. Mắt tôi kém, tôi hy vọng sẽ được sang chiến tranh tâm lý để làm báo Lý tưởng. nhưng điều đó tôi không nói ra với ai. Tôi vẫn mơ làm văn sĩ. Không Quân hồi đó có mấy nhà văn nhà thơ nổi tiếng, thứ nhất là toàn Phong, Cung Trầm Tưởng, và Dương Hùng Cường. Dương Hùng Cường mới chỉ là trung sĩ. Sau khi đi học ở bên Tây về…. 
Tôi thằng lính mới tò te….chưa là cái gì cả. 
Một tuần lễ sau chúng tôi được đưa lên quân trường học quân sự. Chúng tôi học chung với bộ binh ở trung tâm 3. Tại đây tôi gặp nhạc sĩ Lam Phương, anh đi quân dịch. Bài hát anh sáng tác hồi đó được hát vang trại tôi nhớ những câu lõm bõm Xuyên lá cành trăng soi lều vải…. Gặp anh, anh nói với tôi: 
– Hy vọng tớ sẽ được chciến tranh tâm lý. 
Đời lính quân trường gian khổ, với thể hình trâu nước như tôi nhiều khi tưởng không chịu đựng nổi, kỷ luật kinh khủng. Tôi nhớ những câu khẩu hiệu sơn trên tường: Thi hành trước, khiếu nại sau. Quân trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu…v.v…… 
Cơm ăn no, tuy rằng chẳng ngon lành gì. Tôi viết thư cho Hoài Nam. Tôi nhận được thư hồi âm của bạn: Dù sao thì mày còn được bữa cơm, không như tao mỗi ngày vẫn phải chạy ăn từng bữa. Có lẽ tao sẽ ra Huế với Thu, muốn ra sao thì ra… 
Mỗi chủ nhật chúng tôi được ra nhà thăm nuôi để gặp thân nhân lên thăm. nhưng nào tôi có ai. Thơ thẩn chơi một mình. Có tiền thì vào câu lạc bộ uống cà phê, nhìn thân nhân người khác. Lương tân binh của chúng tôi hồi đó chỉ có 516$50, trừ tiền cơm. Số tiền này không thấm tháp gì, nhưng cũng còn hơn lương lính quân dịch. 
Sau ba tháng học quân sự, chúng tôi mãn khoá. Cái gì có thể quên được chứ cái số quân không bao giờ quên, đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ. Tôi về SG và được ở lại TSNhất. Việc đầu tiên là đi tìm bạn bè. Hoài Nam đã đi Huế, anh ta ở lì ngoài đó. Bãn bè ở SG giúp đỡ anh tiền bạc để anh sống. Vẫn là cái lãng mạn thơ mộng của tuổi trẻ….. 
Tôi đi tìm thằng em ruột, bây giờ nó không ở với chú tôi, mà về với một ông chú khác có bà thím kinh khủng hồi tôi đã sống với bà ở Vũng Tàu. Em tôi ốm, nó mắc bệnh ho lao. Thằng bé mới có 10 tuổi, học những năm đầu bậc trung học. nhưng học rất kém. Vẫn luận điệu xưa, bây giờ tôi là quyền huynh thế phụ. bà thím mách mỗi lần tôi ra thăm em. 
– Thằng em mày hư lắm, nó chẳng chịu học hành gì hết, lười chẩy thây ra, lại cứng đầu, tao đến khổ phải nuôi con lại thêm cháu bệnh hoạn. Mày phải dạy bảo nó….. 
Tôi nghị ngờ lòng tốt của bà thím. Tôi mang chuyện này nói với Lê Đình Điểu. Điểu nói với tôi: 
– Cậu phải giải quyết thôi, không thể để tình trạng này được 
– Tớ làm sao đây, nhà cửa thì không có, còn sống ở trong trại. 
– Được, rồi cậu phải giải quyết khi tình trạng cấp bách quá. 
Lê Đình Điểu đã đậu tú tài I, năm nay học đệ nhất, anh nói: 
– Tớ sẽ kèm cho thằng em cậu, nó phải học khá, còn thằng Đỗ Quý Toàn nữa, nó cũng thương em cậu lắm. 
Gia đình ông chú bà thím tôi đã về SG ở Tân Định. Bà thím buôn bán ở chợ Tân Định. Tôi không thể nào quên được những chiếc xe ” bò ệt ” toôi phải đẩy hàng ra chợ mỗi sáng và mỗi chiều, đến ngày chủ nhật cũng không được nghỉ ngơi hồi ở VTàu. Tôi nghi ngờ lời của bà thím cũng đúng thôi. Tôi nghĩ đến những tập truyện của Nguyễn công Hoan, tôi đã đọc về thân phận những đưa cháu mồ côi phải sống nhờ họ hàng. Tội nghiệp lắm, em tôi là ruột thịt của tôi, tôi có thưa kinh nghiệm trong hoàn cảnh này. 
Tôi được điều về phi đoàn trực thăng với chỉ số tạm, làm mọi việc linh tinh trong phi đoàn. Buổi tối tôi đóng tiền đi học thêm, như truyền thống của lính không quân chịu khó học hành. nhiều tay khi còn trong quân ngũ đã trở thành luật sư hoặc tốt nghiệp văn khoa. Tôi mua thật nhiều sách về đọc, vẫn mơ ước trở thành văn sĩ…Báo chí cũng đọc nhiều, nắm vững thời thế và biết rằng ông ngô Đình Diệm theo chủ trương gia đình trị. 
Lòng dân bất mãn trăm bề. Chiến tranh bắt đầu nổ ra ở Miền Nam. Mặt trận giải phóng miền nam của CS bắc việt dựng nên. Một vài trận đánh, phục kích rai lai của du kích giải phóng quân bằng những vũ khí thô sơ. Chính phủ ông NĐDiệm càng ngày càng trở nên khắc nghiệt. bà Trần Lệ Xuân, vợ của cố vấn ngô Đình Nhu lộng quyền. Tham nhũng ở khắp nơi. Ngay ở trong quân đội. nguời ta hò hét chống cộng và Bắc tiến. Thành phố SG vẫn êm ả, nhưng tôi biết đó chỉ là bề mặt. những chuyến xe lửa bị cắt, rồi cắt hẳn. những chuyến máy bay trực thăng bí mạt đi ban đêm, có chuyến lại trở về và có chuyến không về….Tôi thường thấy có bà mẹ già, người vợ trẻ, có khi là người yêu vào phòng chỉ huy trưởng phi đoàn ngồi khóc cho những đứa con, người chồng hoặc người yêu. Cuối cùng nhận tin mất tích hoặc rõ ràng hơn là ” hy sinh vì tổ quốc. Tôi là anh ” lính ghẻ ” sống lang thang trong phi trường, cố gắng tìm cho mình tương lai trong cái bát nháo của đời sống. Tôi thấy mình chẳng thể tin được điều gì qua những lời tuyên truyền tốt lành. nhưng cứ an phận mà sống torng kho nhiên liệu. Cung cấp ” xăng chùa ” cho các sỉ quan đàn anh. những thùng sơn máy bay, cả những bao xi măng không một ai chịu ký nhạn phiếu. người ta biến tôi thành một thằng ăn cắp. Bắt buộc toôi phải chấp hành, như câu khẩu hiệu tôi được học trong quân trường” thi hành trước, khiếu nại sau. ” 
Những buổi chiều tan sở, tôi lấy xe đạp ra khỏi trại, hoặc đi học thêm, hoặc gặp bạn bè. Những người bạn văn nghệ thuở nào, có người đã vào hẳn nghề, có người còn đi học. Hoài Nam từ Huế trở về SG. Có lẽ chuyến xe lửa cuối cùng trước khi đường xe lửa Huế – SG bị cắt đứt. Tiếng súng từ rất xa vọng về SG. và ngày tháng thì buồn hơn. Hoài Nam đổi but hiệu là Trần Dạ Từ, Thu vân có bút hiệu mới là trần Thy Nhã Ca. bài vở, thơ đăng nhiều trên các báo, tôi vẫn còn nao nức về nghiệp viết. Tôi yêu thích những bài thơ của Cung Trầm Tưởng, cuốn phóng sự ” buồn vui phi trường ” của Dương Hùng Cường và vẫn hy vọng được tiếp xúc với anh, góp phần vào tờ báo Lý Tưởng của đơn vị. 
Trong phi đoàn trực thăng có nhiều anh mơ mộng lắm, hy vọng thơ văn mình sẽ được đóng góp vào tập san Lý Tưởng. Anh hạ sĩ làm việc dưới sân bay Lưu Văn Giỏi, làm thơ ca tụng nghiệp bay ” nghiêng đôi cánh sắt ” đăng trên báo Lý Tưởng, anh trang trọng cắt bài thơ dán vào tập vở, trình bày hoa lá cành thật đẹp, dĩ nhiên có cả hình chiếc máy bay. Anh hy vọng sẽ thu góp thành một tập thơ rồi ấn hành. 
Anh ngồi trên thùng đồ nghề sửa chửa máy bay ở ngay phi đạo huýt gió một bài rất hay. Anh có tài huýt gió tuyệt vời mà ai cũng biết. Tôi biết những bài thơ đó không thật, chỉ là điều mơ mộng. Thực tế không phải như vậy. nhưng buổi tối mùa mưa, những con cá cuống từ khu lau sậy của phi trường bay đầy ra đường. Đám lính chúng tôi chụp bắt bỏ vào thùng sắt tây, buổi sáng sớm mang ra Lăng Cha cả bán cho mấy người Bắc di cư để nhổ lấy dầu cà cuống. mặc dầu cà cuống thơm chỉ cần chấm bằng cái tăm nhúng vào chén nước mắm ăn bắt mùi đáo để. Nếu ăn với một đĩa bánh cuốn, hoặc tô bún thang cao cấp thì tuyệt diệu vô cùng. Dầu cà cuống đắt như vàng. những chú lính nghèo, không chỉ số như tôi gia nhập nghề bắt cà cuống mỗi ngày một đông. Mới đầu còn bắt bằng tay rồi bằng vợt. Ban đêm cả đám lính nhảy choi choi vồ bắt cà cuống ở dọc đường có ánh đèn sáng. Việc này bôi bác quân đội quá. An ninh phi trường ra lệnh cấm tuyệt, thằng nào vi phạm bị bắt nhốt liền vào cải hối thất. Một số lính khác thì quay ra cờ bạc, ăn chơi. Để được tiếng là lính không quân hào hoa. Ăn chơi, chắc chắn phải cần đến tiền bạc. Nay vay nợ ” xanh xít đít đui ” ở ngay trong trại, đồ cầm thế là ngay tấm thẻ lương lính. người trừ nợ chính là ông đại uý, trưởng ban quân lương. Anh phải ký rồi mới được vay tiếp. ít khi có tình trạng được vay quá số lượng ấn định trong sổ lương. Lính trở thành con nợ kinh niên. Chủ nợ thu lời lãi đủ. 
Thật tình mà nói, tôi mất cả tin tưởng vào quân đội, lý tưởng cũng chỉ là con số không. Tôi chán ngán khi nhìn những tốp lính mới nhập ngũ. Tôi không còn ham thích gì qua những tác phẩm của nhà văn Toàn Phong. Vì bây giờ tôi nhận ra những chuyẹn ấy không có thật….chuyện có thật phải như ” Buồn vui phi trường ” của Dương Hùng Cường kia. tôi vẫn mơ ước một ngày nào đó cầm bút tôi viết nên được những sự thật. Dù là sự thật nhiều đụng chạm, tôi sẽ chấp nhận…. 
Một buổi chiều tôi từ trong doanh trại đạp xe ra ngoài. Tôi nhìn thấy một xe đạp đi trước mắt, porte bagagge sau của chiếc xe đạp ấy chở một thùng guốc cao nghệu. 
Không thấy người đạp xe phía trước, vì thùng guốc quá cao che khuất, chỉ thấy đôi chân nhỏ bé khẳng khiu nhấn trên bàn đạp. Nơi đó tôi nhớ con đường từ TSNhất về ngã tư Phú Nhuận. Tôi vượt lên và nhận ra người chở hàng đó đúng là thằng em trai bé nhỏ của tôi. Dáng đạp xe của nó xiêu vẹo giữa giòng xe cộ đông đảo. Anh em tôi trao đổi được với nhau vài câu, nó cho biết nó phải làm việc cho nhà chú thím từ 5 giờ sáng, thì giờ để học hành rất ít, tuy vẫn được đến trường. Ốm đau thuốc thang không có. bà thím áp dụng lại đúng sách bà đã đối xử với tôi 10 năm trước. 
Khi đó tuổi tôi còn trẻ, uất ức mà chẳng làm gì được. không một người lớn nào thuộc bậc bề trên tin lời tôi nói và cho tôi là kẻ xảo trá. Không lẽ bây giờ tôi cũng lại dẫm bước chân của họ. Tôi quyết không lầm lẫn như họ. Tôi xin thề là nói sự thât, dù là độc ác hay tàn nhẫn. Tôi không phải mang ơn những bậc bề trên như thế. Dù tôi có phải mang tiếng, nhưng không nhằm nhò gì. Nhưng tôi phải bình tĩnh. Tôi nói nhỏ với thằng em: 
– Chủ nhật này anh ra rồi tính 
Ngáy thứ bảy là ngày tôi lãnh lương lính, số tiền ít ỏi chẳng đáng bao nhiêu. Tôi đến nhà họ hàng nơi em tôi ăn nhờ ở đậu vào lúc 6 giờ chiều. Cả nhà đang ăn cơm, tôi không thấy mặt thằng em trai tôi. Bà thím chỉ tôi xuống bếp. Tôi thấy thằng em tôi một mình ăn dưới đất, bên cạnh một rãnh nước đang chảy róc rách. Nó ăn cơm bằng cái bát đếch, đồ ăn chẳng có gì, hình như một con cá khô nướng với tí rau chấm nước tương. Còn khổ hơn cơm lính tôi ăn mỗi ngày. 
Tôi nghẹn lại ở cổ họng, bao nhiêu năm rồi tôi không quên bữa ăn được bố thí của em tôi. Tôi nói với nó: 
– Sao lại ngồi đây ăn? 
– Thím bảo em có bệnh truyền nhiễm nên phải ăn riêng. 
– Bệnh gì mà truyền nhiễm? 
– Ho lao 
– Nứt mắt ra mà đã ho lao rồi sao, thời kỳ thứ mấy? Thôi bỏ đi, đi ăn với anh. 
– Anh có tiền? 
Tôi gật đầu, quay mặt giấu đi nước mắt lăn dài trên má. Buổi chiểu chủ nhật ấy mưa, mưa như mưa xuân ngoài miền Bắc. Anh em tôi đi ăn uống, xem hát ở khu tân Định. Tôi nhớ hôm ấy xem phim ” cuộc đời bão táp ” của họa sĩ Van Gogh do Kirk Douglas đóng vai chính, ở rạp Moderne. 
Về khuya tan hát và nghe em tôi kể về nỗi khổ của nó. Tôi xúc động, nhưng cũng không đưa tay vuốt được mái tóc em hay ôm em vào lòng. Như là một người chị gái thương em, mà tôi chỉ là người anh, đầu óc thì dễ xúc động, nhưng thái độ làm ra cứng rắn của môt thanh niên đã vào đời. Tôi nói với em: 
– Thôi, em thu xếp dời nhà này ngay bây giờ. 
– Đi ngay bây giờ ? Mình về đâu đêm nay? 
– Nơi anh có thể nhờ cạy được, không phải ở trong trại lính nơi anh đang ở. 
Dù muốn dù không, tôi cũng phải ngỏ lời cám ơn và xin phép người bà con cho toôi mang em đi. Không qi giữ lại hết, họ bằng lòng ngay vì đã trút được môt gánh nặng. Tôi nghe một tiếng nói: ” Để đó đi, nó lăn đùng ra chết ở đây, nhà mình mang tiếng, chiều như chiều vong vậy mà cũng không vừa lòng, nhà này luôn luôn làm ơn mắc oán ” Gián tiếp tôi bị chửi là kẻ vong ân bội nghĩa. Cũng chẳng sao, tôi phủ nhận thứ công ơn ấy. Hình như tôi đã bướng bỉnh ngay từ những cú đánh đạp đầu tiên của cuộc đời. 
12 giờ đêm, chiếc xe xích lô máy đưa em tôi và chiếc vali nhỏ bé về nhà Lê Đình Điểu. Điểu đón em tôi, hai bác bố mẹ Điểu cũng vui lòng đón đứa em trẻ tội nghiệp vào gia đình. Chẳng phải gia đình ấy neo ngưòi nên mới có lòng thương người. tôi khẳng định một điều rằng gia đình ấy có lòng nhân đạo, có tình người. Điểu kèm em tôi học hành, hai bác chăm sóc cho đứa trẻ bệnh hoạn ốm đau như con cái ruột thịt. Tôi yên tâm phần nào và viết thư cho mẹ ở bên Lào. Đương nhiên mẹ tôi có thư cám ơn lòng tốt của hai bác. Gia đình tôi, gia đình Lê Đình Điểu trở nên thân thiết nhiều năm. Tôi quý mến bạn tưởng chừng như không quý mến ai bằng. Sự nghiệp chúng tôi, niềm mơ ước của chúng tôi, nửa đường đút gánh, tưởng như không tiếp nối lại được vì thời thế có nhiều thay đổi. Mỗi người bận xây dựng sự nghiệp của mình theo cách riêng, mà nói chung đều tốt cả. Thuở đầu đời có nhiều gian nan vất vả, có lẽ tôi là người vất vả nhất trong số anh em cùng theo đuổi sự nghiệp cầm bút. Tôi trở thành người cầm bút muộn màng nhất trong đám anh em.

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 14 Apr 2024

Chương 8

Con đường Nguyễn Văn Thoại, tôi có cảm tưởng xa và dài tít tắp, thật ra con đường xuyên rừng cao su ấy chỉ giới hạn từ đầu trường đua Phú Thọ đến ngã tư bảy Hiền. Từ trường đua Phú Thọ, đi xuyên rừng có nhiều ngách rẽ, qua một khoảng ruộng có những cột truyền tin của quân đội có thể sang khu ông Tạ rồi từ khu Ông Tạ sang đường Trương Minh Giảng, cổng xe lửa số 6. 
Thuở đó, vùng này hồi giữa thế kỷ 20, trong thời buổi tân tiến nhưng vẫn còn hoang vu lắm, nhà cửa lèo tèo, ruộng nương và ao hồ, mồ mả nhấp nhô. Nói tóm lại nơi đó chỉ những người nghèo hoặc người Bắc mới di cư mới tìm đến ở. những con đường đi xuyên ngang khu cư xá sĩ quan đường Bắc hải hoặc Tô Hiến Thành ra chợ Hoà Hưng còn là những con đường gập ghềnh sỏi đá. Vượt qua đó còn rất nhiều lùm cây, bụi cỏ, vũng nước tù, ao rau muống, mồ mả nhấp nhô. Bên cạnh cư xá sĩ quan mới xây là nghĩa địa Đô Thành. Tôi và Hoài Nam tối đèo nhau bằng xe đạp từ vườn hoa lài Bình Thới sang khu cư xá bình dân ở đường Trương Minh Giảng kiếm ăn. Có thằng nào có nghề ngỗng gì mà kiếm ăn hoặc kiếm ra tiền đâu. Kiếm ăn đây có nghĩa là ăn bám, là ” bấu xấu ” bạn bè, xem thằng nào có ăn thì xin xỏ để nhét vào cái dạ dầy thường xuyên lép kẹp, có khi hai ngáy không có gì ăn. Nằm lã người trên căn gác gỗ ọp ẹp. Muốn có cảnh cơm hàng cháo chợ cũng phải có tí tiền còm. Thơ thì không nhai được mà văn cũng không gặm được. đói đầu gối phải bò. Tôi nằm goác gác bên này thều thào hỏi Hoài Nam: 
– Mình đã nhịn đói mấy ngày rồi nhỉ? 
– Chính xác là hai ngày, tức là bốn bữa, không kể hai bữa sáng điểm tâm. 
– Sư mày thế là sáu bữa, tao chết mất, vô lý thật, không lẽ mình lại chết đói, người ta nói miền Nam là vựa lúa gạo cho cả nước kia mà…. 
– À, chuyện đó của người ta, mày và tao có chết đói thì đất nước này cũng chẳng xấu mặt đi tí nào….Sư mày, cũng tại mày… 
– Tại tao cái gì? 
– Hai ngày trước đáng lẽ thì no rồi, mày có tính sĩ diện hão nên mới ra nông nỗi này….. 
Tôi yếu ớt xua tay: 
– Thôi, đừng nhắc đến chuyện đó nữa, đúng rồi tao ngu, tao dại, cũng vì liêm sĩ của mình. nhai nhải như chó nhai giẻ rách….. 
Buổi chiều hai ngày trước, đúng vào chiều thứ bảy. Tôi nói với Hoài Nam rằng bà nội tôi có thể đã về bà cô tôi chơi. bà nội tôi có lương hưu của ông nội, thế nào bà nội cũng cho tiền. 
Tôi hí hửng đạp xe chở Hoài Nam tới. Hoài Nam đứng chờ xe ngoài đường để tôi vào bà cô một mình. Bà nội tôi hôm ấy lại không có mặt ở nhà cô. nhưng cô tôi đang làm cơm dưới bếp, đương nhiên là những món ngon không chê được, vì ông chú dượng tôi là một tay ăn nhậu quý tộc, luôn luôn cơm gà cá gỏi, phải chính bàn tay khéo léo của cô tôi làm mới ngon miệng ông. trên lò nướng một con gà quay thơm lừng, nhỏ mỡ tong tong. Bụng tôi thì đang đói, nếu tôi được một bát cơm và một miếng thịt gà bây giờ thì hạnh phúc biết bao. Tôi chờ cô mời ở lại ăn cơm. Tôi nghe cô hỏi: 
– Cháu đến thăm bà nội, còn việc gì nữa không? 
– Dạ thưa không. 
– Đáng lẽ hôm nay thì cô mời cháu ở lại ăn cơm với cô, nhưng vì chú có mời khách….. 
– Không sao đâu cô, cháu về, bạn cháu còn đứng chờ ngoài đường. 
– Ờ cháu về đi, hôm khác lại cô chơi. 
Tôi ra khỏi nhà cô, bụng đói cồn cào, thèm miếng thịt nhỏ dãi. Hoài Nam vẫn đứng đó, hắn hì hửng: 
– Mày ăn no một bụng rồi phải không? có mang phần ra cho tao không, mùi gà quay thơm điếc cả mũi. 
– nếu tao có ăn tao đã nhớ đến mày rồi. 
– Đâu đưa đây? 
– Nhưng tao không ăn! 
– Sao kỳ ” dzậy “, sao không ăn, gà quay thì nhất định phải ăn với bánh mì rồi, mày thủ ra một miếng là gọn nhẹ thôi. 
– Tao không thể làm việc ấy được, còn liêm sĩ còn sĩ diện tao. 
– Mình đang đói, đồ ngu. 
Đúng rồi, sự thật là như thế, nhưng tôi không thể làm được. Hai đứa chúng tôi suýt nữa cãi nhau to. bây giờ đành nằm đây, đói đã hai ngày rồi. Đầu óc mờ mịt đến độ không tả nổi con gà quay nó ngon như thế nào….khi đó thì chịu thật. 
Hoài Nam đã lổm ngổn bò dậy: 
– Bây giờ mình phải tính chứ! 
– Tính gì? 
– Kiếm ăn, ô hay cái thằng này bắt đầu mê sảng rồi hả? 
– Kiếm ăn ở đâu? 
– Đến nhà Dương Nghiễm Mậu, may ra nhà chị nó còn chén cơm nguội. 
– Thì đi, nhưng đường xa quá.
– Mình đi tắt. ngay đầu trường đua mình băng ngang khu truyền tin, qua cống bà Xếp là tới nó ngay.
– Chắc tao đạp không nổi rồi.
– Mỗi thằng sẽ đạp một quãng. 
– Vậy cũng được. 
Hai đứa chúng tôi lết xuống nhà, phải nói là cố gắng lết. Tôi nhìn cái xe đạp, thất vọng liền: 
– Mày coi, xe xẹp lốp rồi. 
– Mình ra mượn bơm cuẩong già sửa xe ngoài đầu đường, sửa xe ế quá khách đã về hết rồi. vả lại mấy lần bơm nhờ ông ta, ông ta cằn nhằn: 
– Tao mở tiệm để kiếm ăn, ngày nào cũng mượn bơm thì cả nhà tao đến chết đói mất thôi. Ruột xe của mày bị lủng rồi, kiếm tiền vá đi thôi. Có bơm cũng vô ích, chỉ đi được một quãng thôi. 
Cả tuần lễ nay tôi vá nổi chiếc xe. Hoài Nam lại hỏi: 
– Quanh đây mình không mượn ai được cái bơm à? 
– Không vì chẳng có ai có, xe bò của người ta có bánh gỗ, đai sắt đâu có cần bơm. Vài chiếc xe thổ mộ cũng đâu cần bơm. 
– Khốn nạn thật, nhưng mình cũng phải đi, mình không thể chết đói được. 
Cuối cùng chúng tôi cũng kiếm một cái ống cao su, mở đầu van, cắm ống cao su vào thổi, có chút hơi vào bánh xe. Hai thằng tiếp hơi nhau. Cái bánh xe có thể đi được, nhưng chở nhau thì không được. 
Tôi đề nghị: 
– Thằng ngồi thằng đẩy vậy, mỗi thằng ngồi một quãng. 
– Đành vậy 
Tôi cuộn sợi cao su bỏ vào túi: 
– Nếu hết hơi mình lại bơm nữa. 
Đến gần 9 giờ đến nhà Dương Nghiễm Mậu. Hoài Nam ra đời sớm, anh không ngoan khi phải ứng phó. Anh vào thẳng vấn đề với Dương Nghiễm Mậu: 
– Bọn tớ đói, nhà cậu có cơm nguội cho chúng tớ ăn đỡ, không cần thức ăn, muối hay nước tương là được rồi…. 
– Còn cơm đó, nhưng ít quá sợ các cậu không đủ no. 
– Cũng được mà, bọn tớ sắp sỉu, xe đạp hai thằng chở nhau lại xịt lốp tới được đây mệt quá là mệt. 
Dương Nghiễm Mậu mau mắn chia đều phần cơm trong nồi cho hai thằng: 
– Ăn đỡ đi, mình ra ngoài quán uống cà phê rồi mua thêm cái gì ăn. này mang chiếc xe vá đi, đừng lo, tớ trả tiền cho. 

Dương Nghiễm Mậu với tay lên tủ sách, anh lấy xuống một quyển sách dầy, giở trang ra, anh lấy một số tiền, những tờ giấy bạc phẳng phiu: 
– Chẳng nhiều nhặn gì, đây là những đồng bạc tớ để dành để giúp đỡ bạn bè. các cậu thiếu thốn cứ đến tớ, đừng để đoói quá như hôm nay. 
Tôi thực sự cảm động và chẳng bao giờ quên được hình ảnh nghĩa cử này. 
Chúng tôi đi bộ ra nhà anh Lý Hoàng Phong uống cà phê. Nhà hai bên dẫy phố đều còn là nhà chệt, có nhà còn làm bằng ván lợp tôn, giống như những căn nhà ở khu ông Tạ. Từ Lăng Cha cả phi trường Tân Sơn Nhất ra đây, cổng xe lửa số 6 là đường Trương Minh Ký, hai bên đường còn đất bỏ hoang ao mọc rau muống. 
Uống xong ly cà phê đen đậm đặc và hút hết mấy điếu thuốc lá Ruby. Dương Nghiễm Mậu giục chúng tôi: 
– Thôi về đi, tháng bảy ta này là tháng mưa ngâu, trời dễ mưa lắm. 
Thế là chúng tôi chưa kịp nói chuyện văn nghệ gì với Dương nghiễm Mậu. Chúng tôi dừng ở đầu đường mua hai ổ bánh mì dài to, bánh mì xẻ ra rắc muối tiêu và xịt xì dầu, chị bán bánh mì phải kêu lên: 
– Thôi các bố ơi! Xịt xì dầu ít thôi, hết mẹ nó cả chai rồi. 
Chúng tôi cười trừ, nghèo mà, không mua được bánh mì thịt, ăn ổ bánh mì không xịt nước tương cho đỡi vã thôi. Bánh mì nóng bỏ vào ngực áo, ấm cả bụng. tôi nói với Hoài Nam: 
– Về nhà, mình ngồi trên gác ăn bánh mì nghe mưa rơi thì thật thơ mộng. 
– Cha ơi cha đạp xe mau lên, trời sắp mưa đên nơi rồi. 
Tôi rạp mình xuống đạp xe. Qua khỏi ông Tạ, qua khỏi xóm đạo cùng tiếng cầu kinh ran ran buổi tối, trời chuyển mưa, hạt mưa mỗi lúc một nặng hạt, rồi trận mưa rào đổ xuống. Nơi này đồng không mông quạnh. không thể có một nơi nào để trú ẩn. trước mặt tôi lại có một vũng nước lớn như cái ao. Sấm chớp nhoang nhoáng. Tôi hét lên để Hoài Nam nghe thấy: 
– Xuống đây thôi. 
Hoài Nam cũng kêu lên: 
– Ổ bánh mì của tao. 
– Làm sao? 
– Ướt mẹ hết cả rồi, giải quyết ngay thôi. 
Cái bánh mì của tôicũng ướt mèm, nắm trên tay bây giờ như nắm một cục đất sét, nó nguyên dạng trở lại cục bột: 
– Giải quyết liền. 
Chúng tôi không cần nhai ổ bánh mì, mà tự nó có thể chui vào miệng và chảy qua cổ họng. Chỉ một loáng khi trời còn mưa to, sấm chớp nhoang nhoáng chúng tôi đã gải quyết xong hai ổ bánh mì, hình như vẫn còn thòm thèm. 
Chúng tôi dắt xe đi vòng, men theo vũng lội, mồ mả ngổn ngang. nhưng rồi cũng ra đến đường cái, không phải đường nguyễn Văn Thoại mà đường Tô Hiến Thành, tôi đã nhìn thấy khu trường đua. 
Tôi có cảm tưởng tất cả nước của bốn phương trời đều dồn về đây, đổ ập xuống một khu phú Thọ nhỏ bé này. người tôi lạnh run, răng đập vào nhau lập cập: 
– Mình tới Phú Thọ rồi. 
– Tới Bình Thới còn mệt, thôi để tao chở mày. 
Hai đứa chúng tôi đến căn thuê trời đã khuya, mưa dút, nhưng chúng tôi vẫn còn ướt như chuột lột. ngưòi tôi khó chịu và tự nhiên cổ khản đặc. Hoài Nam nói: 
– Mày đi ngủ thôi, ngủ được một giấc thì đỡ. 
Tôi nằm xuống sàn gác và mê man đi trong giấc ngủ nặng nề…. 
Hình ảnh mẹ tôi sao mà cô đơn thế trong sân bay. Bà như một người đi xe đò chứ không phải đi máy bay. Giữa những người sang trọng, mẹ toôi chỉ mặc cái áo bà ba, quần thâm. Tay xách cái bị quần áo và cái chiếu cuốn lại xỏ tay. Con em gái bé bỏng tôi mặc cái áo và cái quần lủng đít. Không có cái váy đầm cho nó, xung quanh những người sang trọng quần nọ áo kia. tôi gào lên trong nước mắt. 
– Mẹ ơi ! thê thảm quá mẹ ơi! 
Một bàn tay ai đó lay vai tôi. Tôi nửa mê nửa tỉnh mắt vẫn còn nhoà nước. Tôi nhận ra khuôn mặt của Hoài Nam, tôi nói như vẫn còn torng cơn mê sảng: 
– Không quên….tao không bao giờ quên….. 
Tiếng Hoài Nam bên tai tôi: 
– Mày sốt suốt đêm qua, mày la to quá, mê sảng gì đó. Bà chủ nhà cho mượn lọ dầu con hổ, mày bị cảm mưa rồi. 
Người tôi vẫn nóng hừng hực, cổ khát khô và môi khô ran. Tôi xin một hớp nước. Hoài Nam nói với tôi: 
– Tao phải tìm cái gì cho mày ăn đỡ, còn tiền, ăn rồi mày cứ nằm nhà, tao đi chạy, mày cầm mấy viên thuốc. 
Bà cụ Chắt, mẹ chủ nhà đi lên, cụ bưng hai tô cơm, có chút đồ ăn, hình như mỗi tô có một miếng trứng chiên: 
– Hai cậu ăn đi, đừng có ngại. Cậu Long đêm qua sốt quá, đánh gió kiểu Bắc Kỳ, tóc rối với gừng nóng. 
Tôi cảm động, lối đánh gió này mẹ từng làm cho tôi khi tôi cảm sốt. Sao bây giờ nhìn bà cụ Chắt tôi nhớ mẹ vô vàn, đôi mắt cụ Chắt sắp loà, trước mặt cụ, trên vành khăn dây thả xuống một mảnh khăn vải mùng để che bụi. Bàn tay xương xẩu của bà cụ sờ trên trán tôi như bàn tay của người mẹ Tội nghiệp ngưòi nóng quá, tôi đánh gió xong nhẹ đi ngay ấy mà Sao câu nói ấy giống câu nói của mẹ tôi đến thế. tôi muốn khóc. Đêm hôm qua về hai cậu gặp mưa đây mà, cậu Nam cũng phải coi chừng để ý đến sức khoẻ, ăn cơm đi để lấy sức. 
Miệng tôi nhạt nhẽo, tôi không thể nuốt nổi, tôi nhường cho Hoài nam. Cụ Chắt lại nói. Được rồi, nhát nữa tôi nấu cho cậu Long bát cháo hành, ra được mồ hôi là khoẻ ngay. Đừng có ngại, mình giúp đỡ nhau là chuyẹn thường. Cậu Nam bận công việc cứ đi, ở nhà tôi lo cho cậu Long, bạn bè có ai gọi đến, may mà người ta giúp đỡ gì được chăng. 
Bà cụ Chắt nói bằng lời chí tình. Hoài Nam đi, tôi dặn với: 
– Nếu tiện mày sang nhắn Duật tới chơi. 
– Được, mày đừng lo, càng đông bạn bè càng tốt. 
Tôi ngẫm nghĩ hoài đến câu nói của bạn. Câu nói vô tình có thể bạn tôi đã quên rồi, nhưng cũng thật đúng với hoàn cảnh chúng tôi hồi ấy. Thuở của bát cơm Phiếu Mẫu, thuở tình nghĩa bạn bè keo sơn như kết nghĩa vườn đào. Thật tình tôi nuối tiếc thời gian ấy. Thuở có những vị thuốc thần diệu thoa bóp chữa lành những vết roi cuộc đời. Có những lúc chán đời, tôi nghĩ chẳng bao giờ còn nữa, trong một đời sống lắm bon chen. Điều tôi nghĩ có thể đúng và cũng có thể sai. nhưng tôi thì đủ tư cách để nói lên điều như thế. Có những điều phải nhớ không bao giờ quên, không viện dẫn bất cứ lý do gì để quên đi những điều ấy. Trừ khi bạn mắc cơn bệnh quên Alzheimer. 
Tôi bình phục mau chóng sau lần đánh gió bằng phương pháp dân tộc. 
Buổi trưa Nguyễn Nhật Duật đến cùng với Nguyễn Minh Thành, người bạn mới quen ở khu xóm đạo Nam Hải. Thành còn trẻ, kém tôi một tuổi nhưng rất là ” ông cụ non “. Anh thường nói câu của Lão Tử: ” Phải tốn cho đời một sợi lôngchân cũng không được ” và anh thường nói đến thuyết vô vi. 
Chúng tôi gọi Minh thành là Lão Tử. Nhưng đời sống thực của Minh Thành không phải thế. Anh có lòng bác ái của người TCGiáo. Vì chính anh là người đạo gốc. Tôi nhận thấy mấy viên thuốc cảm của nguyễn Minh Thành cùng với tâm trạng nhận bát cháo hành của bà cụ Chắt. 
Tôi tuy còn váng vất lao đao, nhưng vẫn nói với bạn: 
– Sức trâu nước của tôi. dễ gì mà cơn cảm xoàng này vật ngã được. 
– Mình đi cà phê Con Nhạn được chứ? 
– Được thôi. 
– Duật có xe đạp, tôi cũng có xe đạp, tôi đèo cậu. 
Cà phê Con Nhạn ở trong khu vườn Lài, bốn phía trống lúc nào cũng lộng gió. Quán cà phê bình dân, không tên, chúng tôi đặt cho quán là cà phê Con Nhạn, vì trên vách nhà bằng tôn, có đục hình bầy chim nhạn, hình đục vụng về của một người nào đó không phải nghệ nhân, nhưng cũng nhận ra đó là con chim nhạn. Quán lại có một đặc biệt khác là pha phin, cái phin nhôm méo mó, chứ không pha vợt như các quán bình dân khác. 
Bà chủ quán có đứa con gái nhỏ lúc nào cũng thấy ôm một con búp bê lem luốc nhồi bông, con búp bê quái dị bị cụt đầu, được ráp cái đầu giả bằng trái cóc, trái ổi. Suốt ngày đứa bé ôm búp bê ra vườn lài hái hoa kết thành xâu đeo quanh cái đầu giả. Có lần tôi hỏi bà chủ quán. Bà chủ quán, mẹ đứa bé trả lời, giọng nam Kỳ: 
– Ối, cháu nó không có đồ chơi, nhặt đâu được con búp bê của ai đó liệng đi, nó mang về ” nuôi “. Con khùng, có lần tôi đã liệng đi, nó lại lượm về, mặc nó vậy. Nuôi một con búp bê cụt đầu thiệt xui xẻo, tôi mới bị giật hụi nè….. 
– Nhưng đầu nó có kết vòng hoa. 
– Ối chuyện con nít hơi sức đâu….. 
Câu chuyện bị bỏ lửng. 
Tôi nói với Nguyễn Nhật Duật, mà tôi gọi là ” nhà phê bình văn học ” vì anh đang học triết rằng tôi sẽ viết thêm một truyện ngắn về con búp bê cụt đầu, cái đầu giả được kết hoa. Duật nói, ừ hay lắm, viết đi. nhưng rồi tôi quên mất suốt nhiều năm trời, quên cho tới bây giờ mới nhớ lại, khi bạn bè mỗi thằng lưu lạc một phương trời. Nguyễn Phương Thành muốn thành con cá hồi bơi ngược dòng thác để trở lại quê hương, nơi đã sinh trưởng ra anh. Nguyễn Nhật Duật thì sau 30 năm dạy học bị cắt đi một bên lá phổi và đã chết đầu năm 2000, sau tết Canh Thìn 11 ngày, tôi là một lão già lẩm cẩm bệnh tai biến mạch máu não, khó tính ưa chửi sảng.

Thuở mơ làm văn sĩ

vietmessenger.com

Nguyễn Thụy Long

Post by Sơn râu 14 Apr 2024

Chương 7

Tin Hương Việt Hương vào SG sống làm việc, gây hào hứng cho đám văn thi sĩ choai choai của chúng tôi hứng khởi. Hương Việt Hương hơn tôi hai tuổi, anh có vẻ chín chắn, trước đây anh sống và học ở Nha Trang. Anh thường xuyên viết truyện ngắn cho một vài tờ tuần báo ở SG. những tờ báo văn nghệ đối với chúng tôi hồi đó là những tờ báo có giá trị, có tầm vóc, nên người viết ở những tờ báo đó tất nhiên cũng được nể vì. Hương Việt Hương viết những truyện gắn có vẻ người lớn, những người đã trưởng thành, không còn cái vẻ văn nghệ học sinh như chúng tôi. 
Tôi báo tin Hương Việt Hương cho một số anh em, chúng tôi ngồi chờ anh ở căn gác xép, một lần Hương Việt Hương ở Nha Trang vào, anh đã tới nhà tôi nên không lạ gì căn gác này. Đúng giờ Hương Viêt Hương tới. Anh tươi cười, anh luôn có nụ cười trên môi, vui vẻ với mọi người. 
Việc đầu tiên là anh chào mẹ tôi, mang quà từ Nha Trang vào biếu bà, anh cũng gọi mẹ tôi bằng mẹ như hầu hết bạn bè tôi, nên bà rất vui vẻ: 
– Dù thế nào chăng nữa thì hôm nay con cũng ở lại nhà ăn bữa bún riêu cua, em nó có nói với mẹ hồi sáng. 
– Thưa vâng, con xin nghe lời mẹ, riêng các anh em hôm nay con không có quà riêng cho từng ngưòi thì con xin mời tất cả đi uống cà phê. 
Anh em chúng tôi vui mừng, mời Hương Việt Hương lên gác nói chuyện văn nghệ. Chúng tôi nói về truyện dài của anh đăng từng kỳ trên tờ văn nghệ tuần san, ghê chưa, Hương Việt Hương sắp thành nhà văn thực thụ rồi, anh được tờ báo mời viết và có trả nhuân bút đàng hoàng, và từ nay anh làm việc thường xuyên cho tờ báo đó. anh đã là văn sĩ rồi, không chỉ mơ làm văn sĩ như chúng tôi. Anh đổi bút hệu là Dương Nghiễm Mậu, nhiều năm liền anh thành công trong nghiệp văn với bút hiệu này. 
Trong những truyện ngắn truyện dài của anh đề cập tới những đề tài lớn, không phải những chuyện lặt vặt trong đời sống của tuổi trẻ. tôi nhớ một truyện ngắn có vách mặt một tay văn phiệt về cái Đàm Trường Viễn kiến của ông ta, nơi quy tụ đông những mầm non văn nghệ mỗi tối ngồi nghe ông nói chuyện văn chương, tâng bốc các học thức uyên bác của mình, nghe mà phát mệt. 
Tôi khoái chí truyện ngắn ” người đội mũ ” của anh. Buổi họp mặt bạn bè tại quán cà phê Gió Bắc thêm hào hứng, Dương Nghiễm Mậu nói với anh em: 
– Lần này vào đây tôi ở lại SG luôn, không hẳn bỏ học, có thể vừa đi làm vừa đi học, có cái bằng tú tài mà trượt lên trươt xuống hoài. không lý gì tôi cứ phải nhờ mãi vào đồng lương công chức ít oi của ông bố, mình lớn rồi phải không các câu. Vì nghĩ thế, lại yêu nghề văn nên mình mới đánh bạo viết thư xin việc nhà báo, không ngờ đơn của mình lại được chấp thuận, nên mình mới quyết định vào đây, hiện giờ mình ở nhờ bà chị ruột ở đường Trương Minh Giảng. 
Có ai đó hỏi: 
– Có phải chủ nhiệm của tờ báo cậu làm là Lý Hoàng Phong không? 
– Đúng, Lý Hoàng Phong là Đoàn Trường, anh ruột của thi sĩ Quách Thoại mới chết cách đây ít lâu. Anh ta ở Trương Minh Giảng, cổng xe lửa, cũng gần nhà bà chị tôi. 
Tình yêu giữa Hoài Nam và Thu hình như mỗi ngày một đậm đà. Hoài Nam nói nhiều về nàng và ao ước một chuyến đi Huế. Bên ly cà phê và khói thuốc mù mịt. Hoài Nam hy vọng sẽ vaò làm việc ở một tờ báo nào đó, như thế cuộc đời đỡ lông bông. 
Hoàng Bình Sơn, anh chàng thi sĩ gâỳ nhom, sống không nhờ vả ai, anh sống bằng nghề dạy học ở một trường tiểu học tư trong xóm, hẻm Lê Văn Duyệt, anh và một ông giáo già cùng nhau chia day một đám học trò nhem nhuốc. Mỗi ngày anh vẫn có tiền ra ngoài đầu xóm ăn cơm bình dân. 
Đời sống của Dương Nghiễm Mậu khác hẳn chúng tôi, anh làm ăn cần cù, đời sống mực thước. Tiền bạc anh kiếm được do việc viết lách anh ăn xài rất là tiện tặn. Anh có điều đặc biệt là chưa bao giờ biết đi xe đạp, trong túi anh lúc nào cũng có tấm thẻ xe buýt thường trực. Tất cả anh em chúng tôi đều quý mến anh, anh sống chín chắn, nhưng không thiếu hào hiệp khi bạn bè gặp cùng cảnh khổ. 
Tôi nhớ hoài hình ảnh anh khi đứng với tay lên tủ sách, giở cuốn sách kẹp những đồng bạc phẳng phiu anh dành dụm trao cho tôi và Hoài nam. Khi chúng tôi đói, vì hoàn cảnh bắt buộc phải đi bụi đời. 
Cũng như tôi không thể quên được anh bạn Phan của tôi, một anh bạn học, yêu văn nghệ, đồng thời cũng là võ sĩ quyền anh. Nhà anh nghèo, bố mẹ làm ăn thất bại, đông anh em. Một thời gian Phan phải thường xuyên lên đài, gia đình anh và bạn bè đến cổ võ, lần đó có tôi. Tiếng vỗ tay quanh đài vang dậy, những cú đấm toé lửa của Phan, những miếng trả đòn của đối thủ kinh khủng. những đứa em Phan dưới đài nhảy choi choi ” nhắc tồng “. Bà mẹ thì niệm Phật luôn miệng đuổi theo những cú đấm. Cuộc đấu võ đài kết thúc. Phan giựt giải. Anh mời tất cả đi ăn mì, lúc này không còn nhai nổi sợi mì vì răng cỏ trệu trạo hết rồi, thật tình lúc ấy tôi cũng không nuốt được. Tôi thương bạn quá, tinh thần mã thượng của anh đối với gia đình và những đứa em vô tư. Khi đó tôi nghĩ đến truyện ngắn của Jack London ” Miếng thịt bò ” tả đời một võ sĩ, nếu anh có miếng thịt bò bồi dưỡng trước khi lên đài có lẽ anh không thảm bại. Nhà văn Vũ Trọng Phụng cũng cần miếng thịt bò trong cơn ngặt nghèo, có lẽ nếu có, Vũ Trọng Phụng còn để lại nhiều tác phẩm cho đời. Tôi biết bạn tôi giờ đây không còn muốn nhắc lại chuyện cũ đó nữa, nhưng tôi nghĩ khác nên cứ làm, vì đó là chất liệu, sự thật cần được phơi bày để thấy tuổi trẻ chúng tôi đã sống như thế nào, nói lên không phải để bêu rếu xấu xa. 
Tôi vẫn vui vẻ với bạn bè, nhưng trong sự vui vẻ ấy có những ưu tư của tôi. Ưu tư về đời sống gia đình tôi. Hiệu tạp hoá này gia đình tôi còn giữ được bao lâu nữa, có lẽ không lâu, tôi đã thấy những dấu hiệu. 
Tuổi vô tư của tôi đã chấm dứt. Tôi nộp đơn xin vào Không Quân. Tôi chưa tròn 20 tuổi, mẹ tôi phải làm giấy cho phép. Tôo cùng nộp đơn với một thằng bạn. Nguyễn Bá Bằng, bạn với tôi từ hồi nhỏ, vì bố mẹ Bằng là bạn của bố mẹ tôi từ xưa. Bác Hài là bạn của bố tôi khi còn học Cao Đẳng Mỹ Thuật. Bằng mồ côi cả cha lẫn mẹ vì tai nạn xảy ra cho ông bà. Bây giờ Bằng cũng vào lính với tôi, tôi đủ sức khoẻ, Bằng yếu bị từ chối sau lần khám sức khoẻ. Tôi chỉ hơi yếu mắt, nhưng không sao, có thể là chuyên viên dưới đất. 
Tôi hơi buồn một chút. Lại là những ngày chờ đợi, nhưng có sao đâu, tôi mong thời gian ấy càng dài càng tốt, tô còn được ở bên mẹ bên em. 
Một hôm tôi trở về nhà, tôi thấy nhà cửa tôi hầu như tan hoang, hàng họ trong cửa hàng trống tuềnh toang. Mẹ tôi ngồi ở quầy hàng trống với hai đứa em nhỏ của tôi, mắt bà như mất thần, nhìn tận đâu đâu, bà noí khẽ, vắn tắt nhưng tôi đủ hiểu: 
– Thế là hết rồi ocn ạ. Nhà mình đã bị người ta xiết nợ, cả đồ đạc trong nhà cũng vậy, lần này mẹ phải đi làm thật xa, tận bên Lào. Mẹ đã noói với chú, con và em con về bên nhà chú ở tiếp tục đi học, còn mẹ, dì và em đi. Một thời gian sau làm ăn khá mẹ con mình lại sum họp. 
Người tôi lạnh đi, dù rằng biết trước chuyện này phải xảy ra, anh em tôi sẽ phải chịu đựng, mẹ tôi đã phải hy sinh cho con cái quá nhiều, bà đã kiệt sức, bà đang gắng gượng một lần nữa. Tôi đứng nhìn hình ảnh mình in trên tấm kính vỡ ở cái tủ còn sót lại trong nhà. Trên tấm kính rạn nứt thân thể tôi hiện r, tôi đã cao lớn, tôi trở thành một thanh niên rồi. Bao nhiêu người bạn của tôi sống không cần một sự trợ giúp nào.
Tôi quay sang nói với mẹ: 
– Vâng, hoàn cảnh gia đình mình phải thế thôi, em có thể về chú, còn riêng con tự lực sống được rồi, mẹ không phải nghĩ ngợi về con.
– Con bỏ học sao? 
Tôi im lặng một lát: 
– Chuyện đó còn tuỳ, có thể không Quân sẽ gọi con. 
Thế rồi…… 
Một ngày vào giữa tháng năm, tôi tiễn mẹ và đưa em gái nhỏ ra phi trường. Hình ảnh mẹ tôi và đứa em gái bồng bế lếch thếch với bị quần áo. Chiếc chiếu cuộn lại ở bên nách mẹ qua cửa kính phòng cách ly, đậm nét mãi trong lòng tôi, tôi khua khua bàn tay bên này cửa kính từ giã mẹ và em. Tôi quay đi, tôi không trở về thành phố, tôi tìm một bóng cây râm mát ngay ngoài phi trường nằm gối đầu nhìn mảng trời xanh bao la. 
Những chuyến máy bay cất cánh, chẳng biết chuyến nào đưa mẹ và đứa em gái bé bỏng của tôi ra đi. Dì tôi đã đi trước mấy ngày để dò đường, sắp sẵn công việc làm ăn. Hôm nay tôi không dám đưa chú em nhỏ của tôi đi tiễn mẹ, tôi sợ nó khóc, vì lúc nào tôi cũng thấy mặt nó buồn thiu. tôi nghĩ đến tiếng đàn chập chững mới tập gảy của nó, cây đàn guitar hình như quáto so với thân hình nhỏ bé, còm cõi của thằng em, lặng lẽ và cô đơn. Tôi nao nao thương cảm. 
Tôi cứ nằm như thế trên bãi cỏ xanh, dưới gốc cây. Bao nhiêu chuyến máy bay lên xuống rồi, tôi vẫn nhìn trời nghĩ ngợi lan man. những kỷ niệm thật xa xôi, thật gần gũi về những người thân trong gia đình. ngày thằng em tôi ra đời. Đêm mưa bão, tôi ở nhà một mình chờ tin vui bố mang về. Trang trại ở Láng, ngoại thành Hà Nội buồn bã làm sao. Chị sen cố dỗ tôi ngủ mà không thể nào tôi ngủ được, tôi nao nức về em bé. Buổi sáng bố tôi về đón, đưa tôi lên thăm mẹ và em bé ở nhà bảo sanh Phú Doãn ngoài Hà Nội. Tôi ngạc nhiên khi thấy mắt em bé mở thao láo, không nhắm tịt như con chó mới đẻ, chờ đủ ngay mới mở mắt. Tôi hỏi bố tôi điều đó, bố tôi phì cười. Mẹ tôi nói rằng chó con tuổi con chó, lại sinh vào ban đêm, số nó vất vả đây. Câu nói tôi còn nhớ mãi cho đến bây giờ. Những ngày chạy giặc lên miền thượng du bắc Việt, lưng tôi cõng em, phóng chạy như bay trên những triền đồi cỏ giuột. Còn đứa em gái bé bỏng của tôi nữa, dì tôi sinh nó, mẹ tôi thương nhất nhà, khi nó tập nói chưa biết gọi tiếng ” bố ơi ” thì cha tôi nằm xuống. cảnh gia đình thương yêu nhau thế mà nay bỗng chốc tan vỡ như bọt nước…..tự nhiên tôi thấy cay cay ở mắt. 
Trời về trưa đã lâu, tôi dời bãi cỏ, gốc cây, lấy xe đâp đi loanh quanh trong thành phố, tôi vô tình đi qua trường học của tôi, có lẽ giờ này bạn bè tôi đã vào lớp, chúng nó hỏi nhau khi không thấy mặt tôi. Vĩnh biệt, tạm biệt tất cả các bạn, tôi nói thầm như vậy. 
Chiều đến tôi đạp xe trên con đường rợp bóng cây cạnh trường đua Phú Thọ. Tôi rẽ vào con đường Bình Thới hoang vu, nơi có gia đình một người bạn vă nghệ của tôi, anh Nguyễn Nhật Duật, gia đình anh nghèo với một lũ em nheo nhóc, nhưng tất cả đều được đi học do sự cố gắng của bố mẹ anh. Bố mẹ anh nuôi con bằng nghề nấu rượu, bà mẹ suốt ngày gánh hai chiếc bong bóng heo đựng đầy rượu đi bỏ mối cho các quán nhậu. những ngày tháng nhẫn nại của cả một gia đình với bầy con đông đảo. 
Tôi đến nhà Nguyễn Nhật Duật khi trời sẩm tối, bữa cơm chiều đã xong. Nguyễn Nhật Duật mời tôi miếng cơm cháy, tôi ăn lót dạ cho đỡ đói. Một lát sau Hoài Nam cũng từ trại học sinh Phú Thọ mò đến, vì tôi có hẹn trước. 
Câu đầu tiên Hoài Nam hỏi tôi: 
– Mẹ đã đi rồi phải không? 
Tôi khẽ gật đầu: 
Có lẽ giờ này bà đã ở bên Lào rồi. Tôi, Nguyễn nhật Duật và Hoài Nam rủ nhau đi ngắm trăng gần đó ngoài vườn hoa lài thơm ngát. Khu ruộng hoa lài bát ngát có thể nhìn thấy khóm làng xa. Con đường Lạc Long Quân Bình Thới xa, dài, tôi có cảm tưởng đến vô tận, đoàn xe bò lục cục đi trên đường, ánh đèn dầu treo dưới gầm xe đong đưa theo từng vòng bánh xe lăn chậm chạp. Tôi không biết đoàn xe bò đi đến đâu, nó cứ đi như thế thâu đêm, mặc cho thời gain chậm chạp trôi. 
Nguyễn Nhật Duật chỉ ra phía đường cái, một căn nhà thắp đèn tù mù: 
– Tôi có thể thuê cho hai cậu một căn gác gỗ, rẻ thôi, mai có thể dọn đến ở ngay. 
Chúng tôi lặng thinh nhìn căn nhà, cùng đồng ý giải pháp đó. Nhưng còn tiền, tôi nhìn xuống chiếc đồng hồ được thưởng thi đậu trên tay. 
Tiếng tiêu của Hoài Nam trổi lên trong khoảng trời đất bao la, trăng càng về khuya càng sáng, hương hoa lài thơm dìu dịu. Đầu óc tôi trở nên êm dịu hơn. Tôi lại nghĩ đến những kỷ niệm, đến những cái roi chú tôi đét vào mông đít thuở đầu tiên tôi mơ làm văn sĩ. Lúc này tôi mới nghĩ rằng tôi nhận cái roi đích thực đầu tiên của cuộc đời ban cho. Trời đất bao la quá hỡi đêm trăng huyền diệu, chúng tôi thì nhỏ bé, nhỏ bé như hạt bụi, nhẹ đến nỗi gió đưa bay đến đâu cũng được, hoặc rạp xuống trên một quãng đường nào đó. 
Tôi ngủ thiếp đi, ngủ thiếp đi thực tình trong cái nôi bao la cuộc đời chưa đầy mộng mị.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

April 22nd, 2021

Post by Sơn râu 14 Apr 2024

(Kỳ 9)

Protectionism và Isolationism là phương thức truyền thống của Hoa Kỳ trước những cuộc chiến lớn hoặc khi có tranh giành giữa các đế quốc. Tổng thống Woodrow Wilson đã bế môn tỏa cảng trước thế chiến thứ nhất cho đến 1917. Tổng thống Franklin Roosevelt không làm khác trước thế chiến thứ nhì, cho đến 1941.

Từ 1937 Nhật xâm chiếm Thành Đô, Bắc Kinh, Thượng Hải, Vũ Hán, Uyển Thành, Thẩm Quyến, Hán Khẩu rồi Nam Kinh nhưng Roosevelt không can thiệp, như đã không can thiệp trước những van nài khẩn thiết xin giúp đỡ của Âu châu đang bị Đức uy hiếp. Áo, Hung, Tiệp, Ba Lan, Đan Mạch, Hòa Lan, Bỉ, Pháp, Nam Tư, Hy Lạp lần lượt gục ngã và Phần Lan bị Nga chiếm đất. Roosevelt dửng dưng vì chiến lược của Roosevelt là tách rời ra khỏi những xung đột thế giới để có thể làm ngư ông hưởng lợi phút cuối. Trong mục đích sâu thẳm là Âu châu phải suy yếu để Hoa Kỳ giành lấy vị trí của Anh-Pháp. Trong phối cảnh to lớn ấy, Nhật Bản là một cái gai.

Nếu Roosevelt tương nhượng cho Nhật hùng cứ Bắc Á, với hy vọng Nga-sô kềm chế, như đã xảy ra trận chiến Nga-Nhật vào tháng 5-1939 trên đất Mông Cổ, thì việc Nhật tiến xuống Nam Á là một thách thức.

Chính việc quân Nhật tiến vào Đông Dương tháng 8-1940 đã đưa đến lệnh phong tỏa quyết liệt của Roosevelt. Embargo luôn là đối sách của Hoa Kỳ. Vì sao embargo Nhật khi ấy? Vì Nhật thiết lập căn cứ quân sự ở Gia Lâm, Cát Bì, Cam Ranh và Tân Sơn Nhất; Việt Nam trở nên đầu cầu tấn công của Nhật xuống bán đảo Mã Lai uy hiếp trực tiếp Nam Dương, Tân Gia Ba và Phi Luật Tân. Từ 1941 Hoa Kỳ phong tỏa gắt gao Nhật Bản. Trong suốt nhiều tháng các nỗ lực hòa đàm của Nhật đều thất bại vì Roosevelt vụt cứng rắn: Nhật phải rút quân. Mùa thu 1941 Nhật đứng trước chọn lựa: Hoặc lui binh nhục nhã, hoặc đầu hàng khi trữ lượng dầu hỏa cạn kiệt.

Vài tháng trước khi chết, vào tháng 1-1945, Roosevelt tuyên bố: “I will do nothing to liberate Indochina from Japanese hold” (Tôi sẽ không làm gì để giải thoát Đông Dương khỏi ách Nhật). Lịch sử đầy bí ẩn.  [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Phần 2: 

Từ Trân Châu Cảng đến Guadalcanal

Isoroku Yamamoto

Chương IX

Ngày 9 tháng 10 năm 1941 là một ngày mà tôi không thể nào quên được. Ngày đó, có khoảng 200 tàu chiến của Hạm đội Hỗn hợp quy tụ về vịnh Hiroshima. Toàn thể Hạm đội Hỗn hợp Nhựt (Kido Butai/ Combined Fleet) tập trung vào một nơi như thế được xem là hiện tượng bất thường.

Tôi đang là hạm trưởng của khu trục hạm Amatsukaze (Thiên Phong), một trong bốn tàu cùng loại thuộc Hải đoàn 16, Phân Hải đoàn 2 Khu Trục hạm – Ðệ Nhị Hạm đội. Amatsukaze hạ thủy cách đấy hai năm, bố trí 6 pháo 127 ly với 8 ống phóng ngư lôi là một tàu khu trục tối tân.

Hôm đó, một sáng tiết thu êm đềm, các tàu chiến buông neo bất động trên mặt vịnh. Mặt nước trong suốt như gương, phản chiếu dãy núi xanh rì ở chân trời xa xa. Lũ hải âu bay lượn quanh quẩn bên trên các cột tàu. Vạn vật êm ả và bình lặng.

9 giờ sáng, một hồi còi hiệu rúc lên từ soái hạm Nagato (Trường Môn), khiến muôn mắt hướng về phía chiếc thiết giáp hạm nặng 42 ngàn tấn với dàn đại bác 410 ly này. Cờ hiệu kéo lên thông báo: “W.Y.Z”. Ám hiệu này là một bất thường, có nghĩa: “Tất cả sỹ quan chỉ huy trình diện soái hạm”. Hoạt động rộn rịp trên mỗi tàu diễn ra. Vài phút sau, một ca-nô đưa tôi đến chiếc Nagato. Trên sân tàu rộng lớn của soái hạm, hàng trăm sỹ quan đã tề tựu, già trẻ lẫn lộn.

Giữa những đồng ngũ hiện diện, tôi thấy các thượng cấp của mình: Ðề đốc Raizo Tanaka, Tư lịnh Phân Hải đoàn 2 Khu Trục hạm và Phó Ðô đốc Nobutaké Kondo, Tư lịnh Ðệ Nhị Hạm đội. Mọi người mang dáng vẻ nghiêm trọng. Mặc dù tiết thu mát mẻ, không khí vẫn ngột ngạt oi bức.

9 giờ 30, ba tiếng chuông réo vang. Tất cả thủy thủ đều biến dạng, chỉ còn cấp thiếu tá trở lên. Sự bất thường này làm căng thẳng gia tăng.

Trung tá Hajime Yamaguchi, sỹ quan của Tổng Hành Dinh, đứng trên một bục cao, nói lớn:

“Quân nhân lưu ý! Tổng tư lịnh đến!” … “Nghiêm!”

Tất cả chúng tôi lập tức chập gót chân, đứng thẳng và im phăng phắc khi Thủy sư Ðô đốc Isoroku Yamamoto bước ra. Trong Hải quân Hoàng gia, quân kỷ là điều cứng rắn nhứt, không cho phép bất kỳ một lả lơi nào. Ngay cả khi Yamamoto không nói gì hết thì chúng tôi vẫn phải đứng nghiêm như thế suốt buổi cho đến khi gục chết, nếu Yamamoto vẫn đứng đó. Nhưng Yamamoto tiến lên bục. Trong khung cảnh im lìm, bước chân ông vang vang. Ðại Ðô đốc chào chúng tôi và bắt đầu lên tiếng:

“Tôi hân hoan gặp gỡ tất cả sỹ quan các cấp. Hạm đội Hỗn hợp của chúng ta đã hoàn tất mọi chuẩn bị để sẵn sàng lâm chiến. Trong thời gian chờ đợi, chúng ta tiếp tục trui rèn trên căn bản đó.

“Tình hình gần đây cho thấy Nhựt Bản có thể bắt buộc phải ra tay chống lại Anh, Mỹ, Úc và Hòa Lan, thay vì để cho cuộc phong tỏa kinh tế của bọn họ bóp nghẹt chúng ta. “Mâu thuẫn lên đến mức độ trầm trọng, điều này đã nhìn thấy rõ ràng. Một khi tổ quốc quyết định lâm chiến chống lại Ðồng Minh, thì bổn phận của chúng ta, Hạm đội Hỗn hợp, là bảo vệ quê hương và đánh bại kẻ thù. Nhiệm vụ sẽ đạt thành quả, nếu mỗi cá nhân các anh dốc hết nỗ lực của mình.

“Tôi yêu cầu các anh chu toàn bổn phận, và cùng với tôi, thực hiện mọi công tác giao phó, có như vầy chúng ta mới đền nợ nước.”

Yamamoto nói thật vắn tắt, và qua một giọng thật trầm, nhưng chẳng khác nào tiếng sấm động. Mọi sỹ quan choáng váng. Tôi như bị chôn chân.

Khi ngừng nói, Yamamoto nghiến chặt hai hàm răng và nhìn quanh, như tìm đôi mắt của từng người một. Ông có vẻ hòa dịu hơn khi chậm rãi rời khỏi bục.

Phó Ðô đốc Matome Ugaki, tham mưu trưởng của Yamamoto lên tiếng kế đó. Ông đưa ra một phân tách tình hình, về các hậu quả do việc phong tỏa tàu bè đi lại của Ðồng Minh. Nhựt Bản đang lâm vào cảnh thiếu hụt trầm trọng dầu hỏa, quặng sắt, cao su, nhôm, thiếc, kẽm, kền và đất thiết phàn (Bô-xít), vì gặp Hoa Kỳ ngưng bán và ngăn cấm mọi giao dịch của Nhựt. Ông cho biết, theo tính toán, Nhựt sẽ sụp đổ trong vòng một hoặc hai năm nữa nếu tình thế hiện tại vẫn tiếp tục. Trữ lượng dầu chỉ còn đúng 18 tháng. Có nghĩa là không cần Hoa Kỳ tuyên chiến, Nhựt vẫn phải đầu hàng một khi các tàu chiến của chúng tôi thành những khối sắt vô dụng. Ông nói rằng Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã tiến đến quyết định cuối cùng là đưa ra một tấn công trả đũa, nhằm chống lại sự bóp nghẹt của Ðồng Minh.

“Có thể cuộc họp tất cả sĩ quan hôm nay…”, tới đây Ugaki hơi ngần ngừ, và sau đó tiếp: “… là cuộc họp cuối cùng thời bình…”

“Kể từ bây giờ các anh sẽ đảm nhiệm trọng trách khó khăn nhứt… Ðây không phải là sự cố gắng tập luyện thông thường, mà cho mục đích chiến đấu thực sự. Các anh phải chuẩn bị cho binh sỹ lâm chiến. Tôi có lời khuyên: trong bất cứ trường hợp nào thì các anh cũng phải trông chừng sự nghỉ ngơi thích hợp cho họ, phải luôn luôn theo dõi việc này, là không để tiêu hao một thủy thủ nào… Mỗi người chúng ta phải sẵn sàng… Luôn luôn sẵn sàng! Ngay cả đối đầu với cái chết!”

Một nỗi yên lặng trùm lấp khi Ugaki dứt lời. Trung tá Yamaguchi tuyên bố buổi họp chấm dứt, tan hàng và Ðô đốc Yamamoto bắt đầu cuộc họp riêng với Bộ Tham Mưu.

Tôi vẫn đứng bất động, những câu nói của Yamamoto và Ugaki vẫn còn vang vang trong tai. Tôi phải chờ ca-nô đem tôi trở về chiếc Amatsukaze. Thình lình tôi như lâm vào trạng thái mộng du và dần dần hướng bước về đài chỉ huy. Tôi nhứt quyết đến gặp riêng Phó Ðô đốc Ugaki.

Khi tôi đang bước, một vị đô đốc xuất hiện và tôi đưa tay chào như máy. Ðó là thượng cấp cũ của tôi. Phó Ðô đốc Chuichi Nagumo, Tư lịnh Ðệ Nhứt Không Hạm đội. Nagumo đang chỉ huy sáu hàng không mẫu hạm hùng mạnh nhứt. Ông chào đáp lễ và cười khi gọi tên tôi. Chúng tôi trao đổi một vài câu. Khi ông bước đi, đôi vai rộng của ông như nghiêng về phía trước, trạng thái này khiến tôi nghĩ ra nụ cười của ông vừa rồi là một nụ cười gượng gạo. Tôi kinh ngạc. Nagumo từ trước đến nay là một người vồn vã, gặp thuộc cấp cũ là ông nhảy xô đến với những cử chỉ, lời nói thật thân thiết và ồn ào. Trạng thái kỳ lạ không mấy hăng hái của Nagumo đã khiến tôi hoang mang khi bước xuống cầu thang tiến về phía phòng của Phó Ðô đốc Ugaki.

Tôi gõ cửa và bước vào, sau tiếng nói rổn rảng cho phép của Ugaki.

Tôi hỏi thẳng:

“Thưa Ðô đốc, Ðô đốc có thể dành cho tôi một vài phút không?”

“Ðược Hara,” ông đáp. “Hãy ngồi đi.”

Tôi ngần ngừ, và sau một giây yên lặng, tôi tiếp “Thưa Ðô đốc, hành vi của tôi có thể khiến Ðô đốc cho là quá vô lễ, nhưng khi đến gặp Ðô đốc, tôi đã đắn đo cân nhắc. Tôi hy vọng Ðô đốc sẽ hiểu cho tôi. Tôi cũng hy vọng Ðô đốc không xem tôi như là một kẻ chống đối hoặc nhút nhát trước… những mạng lịnh hoàng gia…”

“Tôi hiểu anh, Hara. Ðừng rào đón nữa. Hãy nói thẳng những gì anh muốn nói. Có phải anh muốn thảo luận với tôi về cuộc chiến sắp được phát động chống lại Ðồng Minh?”

Matome Ugaki

“Dạ đúng, thưa Ðô đốc. Tôi chỉ là một chuyên viên khu trục hạm, kiến thức hạn hẹp, và chắc chắn tôi không đủ tư cách thảo luận một quyết định đã được thượng cấp đưa ra. Xin Ðô đốc tha thứ những lời thẳng thắn của tôi, nhưng thực sự tôi hoàn toàn bi quan trước tình thế. Chúng ta có thể tránh né cuộc chiến toàn diện bằng cách chọn một lối khác hơn là tấn công vào Phi Luật Tân? Và nếu nói là vì nguồn tài nguyên mà chúng ta bắt buộc phải tấn công, chúng ta nhắm cả vào Hòa Lan là có thích đáng hay không?”

Ugaki cười gượng gạo, giống như Nagumo. Sau đó ông hắn giọng: “Tôi nói anh nghe Hara. Ý kiến của anh được chia sẻ bởi một số sỹ quan cấp cao khác, nhưng tất cả đều bị gạt ra ngoài. Quyết định đã được ban bố. Một việc mà tôi cần nhấn mạnh: Chúng ta lấy quyết định là chỉ để chuẩn bị đối phó với tình thế tệ nhứt mà thôi. Như anh biết, Ðô đốc Kichisaburo Nomura, đại sứ của chúng ta ở Hoa Thạnh Ðốn đang cố gắng mở các cuộc thương thuyết dàn xếp cuối cùng. Nhà ngoại giao chuyên nghiệp Saburo Kurusu cũng sẽ sang Hoa Kỳ giữ nhiệm vụ cố vấn đặc biệt cho Nomura, và cả hai sẽ nỗ lực gấp đôi trong cuộc đàm phán này. Chúng ta không gây chiến tranh, nhưng nếu không còn cách nào khác, chúng ta phải đánh, và phải đánh nhanh và mạnh! Là giải pháp sau cùng mà Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã chọn.”

Tôi ngồi bất động, biết rằng không còn gì để thảo luận thêm nữa. Tôi kiếu từ, và Ugaki nói: “Anh hãy cẩn trọng. Anh là sỹ quan khu trục hạm tài ba nhứt của hải quân. Chúng tôi trông chờ nhiều vào tài năng của anh. Nhưng tài năng không thay thế kỷ luật! Anh nhớ chớ? Mong gặp lại anh, Hara!”

Cuộc gặp gỡ đó là cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa tôi và Ugaki. Ông sống sót khi 2 oanh tạc cơ hai máy Mitsubishi G4M Betty chở Yamamoto và bộ tham mưu bị 18 chiến đấu cơ P38 Lightning của Hoa Kỳ tấn công vào ngày 18 tháng 4-1943. Cuộc ám sát xảy ra gần Bougainville, ở Solomon. Cả hai oanh tạc cơ đều bốc cháy, và Yamamoto thiệt mạng. Nhưng Ugaki sống sót cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến và tử trận khi dẫn đầu một nhóm các phi công không chấp nhận lệnh đầu hàng và tất cả đều lao ra biển trên máy bay của mình. Ðó là cuộc tấn công Kamikaze cuối cùng trong cuộc chiến Thái Bình Dương.

Cho đến bây giờ, tôi vẫn không biết có phải Ugaki nằm trong nhóm đô đốc chống đối phương thức tấn công Trân Châu Cảng hay không. Tuy nhiên, tôi luôn có cảm giác là Ugaki và Nagumo chống đối. Yamamoto đã chứng tỏ sự cương quyết qua việc lựa chọn phương thức ấy, nhưng bên trong, Yamamoto có vẻ như chống đối khi xét đoán: “Hải quân chỉ đủ sức chiến đấu hai năm”. Yamamoto cũng từng ngỏ ý mong muốn giới ngoại giao Nhựt sẽ tìm kiếm một nền hòa bình danh dự trước khi thảm kịch xảy ra.

Sau hội kiến Ugaki, tôi trở lên sân tàu, vẫn trong trạng thái bàng hoàng. Các sỹ quan trẻ đứng tụ tập và tôi nghe một thiếu tá lên giọng khoác lác: “Khu trục hạm chúng ta phải đi tiên phong và đánh cho địch quân không còn manh giáp. Cả cuộc chiến sẽ dựa vào sức chiến đấu của chúng ta!”

Tôi tự nhủ “hắn nói vậy mà đúng”, rồi tôi trở về Amatsukaze, vào phòng riêng và quơ lấy cuốn sách Tôn Tử Binh Pháp trên giá sách. Ðây là quyển sách chứa đựng chiến lược của Trung Hoa thời cổ, được xem là Thánh Kinh của các nhà quân sự Ðông phương hơn 2500 năm nay.

“Nghệ thuật lãnh đạo cuộc chiến là một vấn đề sống còn của quốc gia, một con đường đưa đến sự hủy diệt hay tồn tại. Vì thế, nghệ thuật này đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách tỉ mỉ dưới mọi khía cạnh.”

Chương thứ ba của quyển sách kết luận: “Khi chiến tranh phát khởi, điều quan trọng duy nhứt là phải bảo toàn quốc gia hơn là đánh bại một quốc gia khác. Bảo vệ đơn vị của mình quan trọng hơn là khuất phục đơn vị của địch. Một vị chỉ huy trăm trận trăm thắng chưa hẳn là một vị chỉ huy giỏi. Một vị chỉ huy vĩ đại thực sự là một vị chỉ huy chiến thắng địch mà không cần dụng binh.

“Không kinh sợ dầu phải đánh hàng trăm trận, nếu biết tri bỉ, tri kỷ. Nếu biết rõ mình mà không biết rõ địch, thì có ngày phải trả giá cho mọi chiến công đã gặt hái được. Nếu không biết mình và cũng không biết người thì chắc chắn đánh đâu thua đó.”

Các lời khuyên này cũng chẳng làm tôi vơi bớt phiền muộn. Tôi cho rằng quyển sách triết lý thái quá và quăng sang một bên. “Cái túi khôn” này chỉ có thể thích hợp cho một vị vua hoặc một vị tổng tư lịnh, nhưng vô bổ với một sỹ quan cấp bậc nhỏ nhoi như tôi. Niềm bi quan trong tôi vẫn không ngớt.

Theo dõi các biến cố đang xảy ra, tôi càng thêm thất vọng, xem như chiến tranh đã được quyết định. Cuộc họp lịch sử trên soái hạm Nagato trùng hợp với việc từ chức cùng lúc của Thủ tướng Konoye và toàn thể nội các. Người kế nhiệm là Ðại tướng Hideki Tojo (Ðông Ðiều Tú Thụ) thuộc Phái Chủ Chiến. Tôi hiểu rằng, sự thay đổi vào ngay lúc đầy khủng hoảng này là một điềm xấu.

Trải qua nhiều ngày, tôi dò dẫm tìm cách chuẩn bị bản thân sẵn sàng đón nhận cuộc chiến toàn diện. Sau binh thơ Tôn Tử, tôi đọc thêm nhiều binh pháp của Hải quân Hoàng gia, nhưng cũng chẳng có quyển nào soi đường. Tôi tự hỏi: “Tôi đã biết năng lực của địch và năng lực của chính tôi chưa?”.

Tôi được cho là một sỹ quan khu trục hạm tài ba nhứt. Tôi luôn luôn chiến thắng trong các diễn tập; “kẻ thù” luôn luôn bị “dứt điểm” bởi những trái thủy lôi chính xác của tôi. Thông thường, tôi chỉ cần sử dụng phân nửa trong tổng số tám trái thủy lôi trang bị đầu phóng là mục tiêu đã được thanh toán. Ðiều này đã chứng tỏ năng lực của tôi, nhưng còn năng lực của kẻ thù?

Tôi chỉ hiểu mù mờ. Là nếu các giới hạn của Hội nghị Giải trang Luân Ðôn vẫn còn hiệu lực (việc này đáng nghi ngờ sau khi Nhựt Bản xé bỏ thỏa hiệp năm 1934), thì tính ra nếu hải lực Hoa Kỳ và Anh quốc phối hợp thì cứ 10 tàu của họ chống lại 3 hoặc 3.5 của Nhựt. Như vậy có nghĩa là tôi phải đánh chìm ít nhứt 4 tàu chiến của địch mới mong duy trì một lần sống sót. Nếu mỗi hạm trưởng Nhựt đều làm được như thế, chúng tôi có thể ngang ngửa với địch quân. Nhưng đây chỉ là ảo tưởng. Như Nagumo từng nói với tôi nhiều lần rằng tiềm năng kỹ nghệ đáng sợ của Hoa Kỳ là một yếu tố bất lợi không thể đo lường đối với Nhựt Bản. Tất cả những ưu tư này khiến tôi đắm chìm vào u ám và bi quan.

Nỗi dằn vặt kéo dài thêm nhiều ngày nữa cho đến cuối cùng khi tôi nhận thức vị trí thực sự của mình: Tôi là một quân nhân, một thuộc cấp thừa hành, không phải một sỹ quan cao cấp, điều này có ý nghĩa dứt khoát rằng nhiệm vụ của tôi là phải chuẩn bị chiến đấu để bảo toàn binh sỹ và giữ gìn khu trục hạm của mình. Tôi không thể cho phép mình chui đầu vào guồng chỉ rối của cuộc chiến sắp tới, mà phải sẵn sàng tác chiến với tất cả năng lực trong vai trò của mình.

Có vẻ lạ lùng khi tôi nói rằng vào lúc ấy, tháng 10 năm 1941, chính quyển tự truyện cổ xưa Ngũ Luân Thư (Go Rin Sho) của Miyamoto Musashi (Cung Bản Vũ Tàng) viết cách đây ba thế kỷ là quyển sách đã soi sáng mọi thắc mắc và phục hồi sự trấn tĩnh của tôi. Nội dung sách chứa lời tự thuật của một kiếm khách phi thường, đã chiến thắng 66 trận quyết đấu, và sau đó trở thành nhà văn kiêm triết gia vĩ đại nhứt của Nhựt Bản. So với binh thơ Tôn Tử, tự truyện của Miyamoto hoàn toàn khó hiểu. Nếu dịch nguyên văn quyển sách này, chắc độc giả Tây phương cũng khó mà lãnh hội. Miyamoto sanh năm 1584 và sống trong một thời đại đầy loạn lạc. Vào thời đó một kiếm sỹ mới xuất thân muốn gây tên tuổi, phải thách đấu những kiếm sỹ đã nổi danh khác so tài. Cuộc so tài này không phải là một môn thể thao đơn giản, mà cả hai tay kiếm đều đấu với nhau chí mạng. Kiếm của họ thường làm bằng thép hoặc gỗ. Ðối với một cao thủ về kiếm thuật, thanh kiếm gỗ trong tay họ hữu hiệu không khác mấy so với kiếm thép.

Chiến thắng 66 lần liên tiếp của Miyamoto, một kỷ lục chưa từng thấy, được ông kể lại tỉ mỉ trong quyển tự truyện này. Ông đã đánh bại các đối thủ qua yếu quyết: “Xoay sở tùy tình thế, không để bị trói buộc vào bất kỳ công thức hoặc nguyên tắc nào.” Bí quyết này chỉ có những cao thủ thượng thừa mới dám áp dụng trong các cuộc so tài thí thân, vì chỉ sơ sẩy một đường tơ là có thể mất mạng ngay.

Quyển sách đó đã thức tỉnh tôi, đã giải đáp tất cả những gì mà tôi đang dò dẫm. “Xoay sở tùy theo tình thế..” có thể giúp tôi vượt qua sức mạnh số đông của Ðồng Minh. Tôi đọc thêm Ðộc Hành Ðạo (Dokkodo) cũng của kiếm khách này. Về sau, tôi tin rằng những thành tích rực rỡ và sống sót qua suốt cuộc chiến của tôi, là nhờ đã áp dụng quyết sách của Miyamoto Musashi.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

April 16th, 2021

Post by Sơn râu 14 Apr 2024

(Kỳ 8)

Hải quân Nhật chia làm hai phái: Phái Hiệp Ước (Faction du Traité) hay còn gọi Phái Dĩ Hòa hoặc Phái Thỏa Hiệp chủ trương phát triển quốc gia trong phạm vi các hòa ước và tôn trọng hiến pháp, các động thái quan trọng phải do chính phủ dân sự quyết định với chuẩn y của Thiên hoàng. Phái Chủ Chiến, còn gọi Phái Viễn Dương (Faction de la Flotte) tin Thiên hoàng bị đám chủ bại thao túng, cần đánh đổ giai cấp kỷ trị hèn mạt vì sứ mạng của Hải quân là mở rộng “Con đường Đế quốc”. 

Lục quân Nhật cũng chia hai: Phái Ôn Hòa “Toseiha”, còn gọi Phái Tự Kềm Chế (Faction du Contrôle), tin cần nghị hòa với Anh-Mỹ vì yếu tố phát triển kinh tế là ưu tiên do Nhật Bản không đủ sức thư hùng với nhiều đế quốc cùng một lúc. Ngược lại Phái Diều Hâu “Kodoha”, còn gọi Phái Vọng Đế Quốc (Faction de la Voie Impériale), chủ trương mở mang biên cương lên Bắc Á và nếu cần, sống mái với các cường quốc phương Tây. Tinh thần võ sĩ đạo xem cái chết nhẹ tựa lông hồng thì vì sao phải sợ hãi?

Trong hai thập niên 20 và 30, hàng loạt ám sát và đảo chánh nhắm vào sinh mạng các thủ tướng cũng như các bộ trưởng dân sự Nhật liên tiếp diễn ra. Ngày 4 tháng 11-1930 Thủ tướng Hamaguchi vì thất bại trong thương thuyết Hội nghị Giải trang Luân Đôn bị bắn trên sân ga Đông Kinh. Ngày 15 tháng 5-1932, 11 khóa sinh sĩ quan đột nhập vào tư thất của Thủ tướng Tsuyoshi Inukai. Ngay khi bước vào, hét lớn: “Không thể cải cách mà không đổ máu!” Vị thủ tướng già 77 tuổi van lơn: “Hãy cho tôi giải thích chính sách quốc gia, các anh sẽ hiểu phối cảnh thế giới.” Các khóa sinh ngắt lời: “Đối thoại vô ích!” rồi rút kiếm chém chết thủ tướng Tsuyoshi. Ngày 26 tháng 2-1936 hàng trăm sĩ quan trẻ của Lục quân tiến hành ám sát hàng loạt các viên chức chính phủ: Bộ trưởng Tài chánh, Tổng Thanh tra Giáo huấn Quân sự, Bộ trưởng Công lý đều bị chặt đầu. Thủ tướng đương nhiệm thoát hiểm vì nhóm phiến quân sát hại nhầm anh rể. Dân chúng Nhật không kết án những động thủ này vì tin chúng được thực thi trên tinh thần Yamato-Damashii  nhằm phục hưng các giá trị của quốc gia cùng linh hồn Nhật. Yamato-Damashii là tâm thức cổ xưa của Nhật Bản.

Những biến cố trên giúp Phái Chủ Chiến dần chiếm lĩnh các vị trí quan trọng trong hệ thống cầm quyền, loại đi Phái Chủ Hòa và giai cấp kỹ trị dân sự. Xã hội Nhật trở nên quân phiệt hóa và chiến tranh chỉ còn là thùng thuốc súng đợi châm lửa.

Ngòi nổ đầu tiên phát cháy dưới chân cầu Marco Polo (Lư Câu Kiều), khi quân Nhật chạm súng với Tự Vệ Thành Bắc Kinh. Ngòi nổ thứ nhì phát hỏa ở Thượng Hải khi một sĩ quan Nhật bị Nghĩa Dõng Đoàn Trung Hoa sát hại. Quân đội Thiên hoàng lập tức đổ bộ lên Thiên Tân, Thanh Đảo, Phúc Châu và Quảng Đông.

Hải quân Thiếu tá Tameichi Hara lĩnh nhiệm vụ chuyển quân đến Thượng Hải. Hồi ký của Hara ghi lại biến động này, trên nền thảm sát Nam Kinh sắp xảy ra.  [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Kỳ 8

Chương VIII

Giai đoạn từ năm 1931 đến 1937, nước Nhựt đã gặp phải hàng loạt xáo trộn trong nội bộ và ngoại bộ đáng lưu ý. Những xáo trộn này lúc bấy giờ được xem có hại hơn là có lợi và đưa đến hậu quả lớn nhứt là cuộc chiến Thái Bình Dương. Trong suốt giai đoạn này tôi đã không đo lường đúng mức có phải những xáo trộn là bước sơ khởi gây ra chiến tranh hay không, bởi vì tôi đang bận tâm với công việc nghiên cứu riêng và nhiệm vụ trên tàu của tôi. Nhưng nhìn lại một dọc biến cố quan trọng của những năm này cho thấy Nhựt Bản đang vội vã đi trên con đường thẳng đến chiến tranh.

Vào ngày 18 tháng 9 năm 1931, quân đội Nhựt đụng độ với quân đội của Thiếu soái Trương Học Lương (Chang Hsueh Liang), là con trưởng của Trương Tác Lâm (Chang Tso-lin),  gần Phụng Thiên (Mukden) phía Nam Mãn Châu. Ngọn lửa chiến tranh lan rộng nhanh chóng trên khắp lãnh thổ xứ này. Lực lượng Nhựt tiêu diệt các lực lượng đối kháng của Trung Hoa và thiết lập một đế chế bù nhìn ở đây, với Hoàng đế Phổ Nghi.

Ngày 15 tháng 5 năm 1932, một nhóm sỹ quan bộ binh và hải quân Nhựt ùa vào văn phòng của Thủ tướng Nhựt Tsuyoshi Inukai và sát hại vị thủ tướng bảo thủ này.

Tháng 3 năm 1933, Nhựt Bản rút khỏi Hội Quốc Liên sau khi tổ chức này lên tiếng tố cáo Nhựt xâm lăng Mãn Châu.

Tháng 12 năm 1934, Nhựt lưu ý Hoa Kỳ và Anh Quốc là Nhựt xem như thỏa hiệp giải trang hải quân không còn giá trị nữa.

Tháng 8 năm 1935, Trung tá Saburo Aizawa, một tay cực hữu cuồng tín, đột nhập văn phòng Ðại tướng Tetsuzan Nagata, Giám đốc Văn Phòng Sự Vụ của Bộ Quốc Phòng, và dùng gươm đâm chết ông này.

Vào ngày 26 tháng 2 năm 1936, các sỹ quan cuồng tín thuộc Ðệ Nhứt Sư đoàn âm mưu đảo chánh. Chia ra là nhiều tốp nhỏ, họ tràn vào nhà một chánh trị gia cao cấp Nhựt và sát hại 4 người. Biến cố này được xem là biến cố nội bộ dữ dội nhứt của Nhựt, nhưng chỉ gây rối loạn quốc gia một thời gian ngắn.

Với cấp bậc Thiếu tá, lần đầu tiên tôi được bổ nhiệm vào chức hạm trưởng của một khu trục hạm vào ngày 1 tháng 11 năm 1934. Hai năm, 1934 và 1935, tôi còn giữ thêm một nhiệm vụ trong một tòa án quân sự hải quân với tư cách dự thẩm, do đó tôi đã thâu thập được một số kiến thức về luật pháp.

Âm mưu đảo chánh năm 1936 gây cho tôi sự xúc động mạnh mẽ. Khu trục hạm của tôi, chiếc Nagatsuki (Nguyệt Thu), được sáp nhập Hạm đội Hỗn hợp, và lúc ấy đang hoạt động quanh phía Nam Kyushu. Thiên hoàng Chiêu Hòa Hiro Hito ra lịnh hạm đội tiến sát vào vịnh Ðông Kinh. Một cuộc đảo chánh đang hình thành và Ngài ra lịnh cho hải quân và lục quân đập tan nhóm người âm mưu, tức các sỹ quan của Ðệ Nhứt Sư đoàn. Thật may, nhóm phản loạn đã đầu hàng trước khi chúng tôi nổ súng. Nhưng tình thế đen tối này đã gây cho tôi sự chán nản. Tôi không thể sống tách rời với tình thế và chuyên tâm vào các công việc nghiên cứu riêng như mong muốn.

Cái gọi là “Nạn Trung Hoa” bắt đầu vào ngày 7 tháng 7 năm 1937, ở cầu Marco Polo, gần Bắc Kinh. Quân đội Nhựt đã dập tắt những rắc rối xảy ra tại các vùng phụ cận của thành phố này, nhưng phong trào bài Nhựt ở Trung Hoa dâng cao dữ dội, gây hỗn loạn tại nhiều nơi khác.

Vào ngày 23 tháng 8 cùng năm, tôi nhận lễ rửa tội theo Thần đạo Shinto trong một buổi lễ ít người tham dự nhứt từ trước đến nay. Trong tháng đó, nhiều nhóm quân vô kỷ luật thuộc lực lượng của Tưởng Giới Thạch bắt đầu tấn công các kiều dân Nhựt ở Thượng Hải. Lực lượng phòng thủ của Nhựt ở thành phố này có khoảng một sư đoàn thủy binh gồm toàn binh sỹ hải quân được huấn luyện cho các cuộc hành quân trên bộ. Sư đoàn Thủy binh Nhựt đã can thiệp và chống trả mạnh mẽ các nhóm quân Trung Hoa quá đông đảo này. Tuy nhiên quân Nhựt dần thất thế, và họ yêu cầu phái một hải đội gồm 4 chiếc khu trục hạm để đưa quân tăng viện từ Nagoya đến Thượng Hải.

Một trong bốn khu trục hạm này là một loại tàu mới nhứt, chiếc Amagiri (Thiên Sương). Và mặc dù lúc ấy tôi được thừa nhận là chuyên viên ngư lôi giỏi nhứt của Nhựt, tôi vẫn được chỉ định làm hạm trưởng của chiếc tàu này. Ðó là một nhiệm vụ gây cho tôi sự thích thú và kinh ngạc to tát.

Amagiri nặng 2,370 tấn, được võ trang tận răng, đã chở 300 binh sỹ Nhựt ngồi chen chúc như cá mòi, cùng với ba khu trục hạm khác âm thầm rời khỏi Nagoya, một thương cảng lớn của Nhựt, vào lúc nửa đêm, vượt 1,000 dặm đường biển với tốc độ 20 hải lý đến Thượng Hải hai ngày sau đó. Chiếc Amagiri có thể lên đến 38 hải lý là 70 cây số giờ nhưng tôi cho hải hành chậm để đến đúng vào lúc khuya.

Nương bóng đêm, chúng tôi lẻn vào cảng Thượng Hải, và tàu của tôi lặng lẽ đến đậu dưới một chân cầu xe lửa ở Woosung. Nhanh nhẹn, binh sỹ từ  trong tàu đổ bộ dưới dạ cầu. Nhưng bất ngờ, hàng loạt đại liên từ phía trên bắn rải xuống chúng tôi. Pha với tiếng súng trường và hàng tràng liên thanh. Sáu khẩu pháo 127 ly của Amagiri đáp trả dữ dội, nhưng chỉ có tánh cách phỏng chừng, vì chẳng thấy bóng dáng địch quân ở đâu. Tối đen như mực. Tôi ra lịnh dùng đạn lửa để gây đám cháy giúp quan sát. Ðịch vẫn bắn rát rạt nhưng cũng may là địch quân, hiển nhiên là du kích hoặc thân binh của quân đội Trung Hoa, đã nhắm không trúng mục tiêu, nên không ai trong chúng tôi bị trúng đạn. Tôi ra lịnh cho tàu lui ra xa khỏi chân cầu khi thấy binh sỹ của chúng tôi đổ bộ hết lên bờ, và đang bắt đầu thi hành nhiệm vụ của họ. Chiếc Amagiri tiếp tục yểm hỏa bằng hải pháo.

Chúng tôi thất  bại trong việc tạo ra yếu tố “bất ngờ”, nhưng cuộc đổ quân vẫn xem là thành công. Bốn khu trục hạm tiếp tục chở các cánh quân khác thuộc Ðệ Tam Sư đoàn từ Nagoya. Thêm hai sư đoàn bộ binh nữa được đưa từ Kyushu đến Thượng Hải. Các nỗ lực này đã lật ngược tình thế, quân Trung Hoa bị đánh tan và bị đẩy bật ra khỏi Thượng Hải.

Nếu các lực lượng Nhựt ngừng ở đây, tai họa tiếp liền sau đó đã không xảy ra. Nhưng lúc ấy Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt đã không nắm vững quyền chỉ huy, nên các lực lượng Nhựt vẫn tiến xa hơn về phía Tây và đánh chiếm Nam Kinh vào tháng 12 năm 1937. Trái hẳn với hy vọng của các sỹ quan lục quân, Tưởng Giới Thạch vẫn không đầu hàng khi kinh thành này thất thủ. Ông ta chỉ triệt binh về Hán Khẩu, kế đó là Trùng Khánh, và đề kháng liên tục hơn 8 năm.

Trong khi bộ binh Nhựt tiến về Nam Kinh, hải đội của tôi giữ nhiệm vụ phong tỏa duyên hải Trung Hoa. Công việc này tỏ ra không hợp lý, vì lúc đó các tàu chiến của chúng tôi đi lại dọc ngang trong các hải phận này mà không gặp sự chống đối nào. Mỗi tuần hai lần, chúng tôi chận và khám xét các tàu buôn. Nếu tìm thấy các tàu này mang hàng lậu, chúng tôi cho các thủy thủ rời khỏi tàu và ban một vài quả trọng pháo là xong. Như tôi đã nói, công việc này không làm một ai phấn kích.

Vào tháng 11, tôi đưa chiếc Amagiri về Nhựt, và tháng kế đó, tôi được bổ nhiệm làm hạm trưởng chiếc Yamagumo (Sơn Mây), một khu trục hạm tối tân khác, mới tinh vì vừa hạ thủy. Sau khi bàn giao, tôi và chiếc Yamagumo trở lại hải phận Trung Hoa và tiếp tục công việc phong tỏa như cũ. Trong khi chiến tranh diễn tiến liên tục trên đất liền, tôi vẫn thi hành nhiệm vụ hàng ngày một cách nhàm chán và theo dõi tình hình thế giới trong sự lo âu.

Quân Nhật hạ tượng Tôn Trung Sơn

Hiệp ước Munich diễn ra vào tháng 9 năm 1938. Quyền lực của Hitler đang gia tăng tại Âu châu. Tháng 11, tôi được thăng cấp trung tá, nhưng nhiệm vụ nhàm chán của tôi ở Trung Hoa vẫn phải tiếp tục cho đến cuối tháng 3 năm 1939. Sau đó, tàu của tôi được lịnh đến căn cứ hải quân Nhựt ở Chinhae, Nam Triều Tiên, để tái huấn luyện.

Ðệ Nhị Thế Chiến bùng nổ ở Âu Châu vào ngày 3 tháng 9 năm 1939. Hai tháng sau đó, tôi được chỉ định vào một nhiệm vụ trên đất liền. Tôi trình diện yếu cứ hải quân ở Maizuru, và công việc của tôi nơi đây là huấn luyện các hoạt động chiến đấu cho các thuyền trưởng thương thuyền. Công việc này hiển nhiên là nhằm để chuẩn bị đối phó các “biến cố bất ngờ” có thể xảy ra, và không có nghĩa Hải quân Hoàng gia Nhựt lúc ấy đã sẵn sàng chuẩn bị tấn công Trân Châu Cảng. Các tàu hàng được huấn luyện chẳng qua là để đáp ứng với cuộc chiến đang phát triển ở châu Âu.

Ba nội các Nhựt đổ chỉ trong vòng năm 1939, chứng tỏ những khủng hoảng chính trị của Nhựt đến lúc trầm trọng. Vào tháng Giêng năm 1940, một nội các mới ra đời cầm đầu bởi thượng cấp cũ đáng kính trọng của tôi. Ðó là Ðô đốc Mitsumasa Yonai. Ðô đốc Yonai hiểu rõ Nhựt Bản sẽ dấn thân vào cuộc chiến lập tức nếu liên minh với các cường quốc khối Trục. Ông đã cố gắng hết sức chống đối thỏa ước Tam Phương.

Các tay quá khích thuộc Lục quân Nhựt tin tưởng khối Trục sẽ chiến thắng, và chiến tranh sẽ sớm chấm dứt, lúc đó chỉ có Ðức và Ý chia nhau tất cả “chiến lợi phẩm”. Khi họ nhận thấy không thể thuyết phục Yonai liên kết với phe Trục, họ quyết định quấy rối nội các của ông và kết quả Bộ trưởng Chiến tranh rút lui. Theo hiến pháp cũ, Bộ trưởng Chiến tranh Nhựt phải là một quân nhân lục quân, và khi tướng Shunroku Hata từ chức vào giữa năm 1940, không tướng lãnh nào chấp nhận tham gia nội các của Yonai, chẳng khác nào hòn đá ngăn chặn con đường dẫn đến cuộc chiến Thái Bình Dương đã bị dẹp sang một bên. Trùng hợp với biến cố này, năm đó Franklin Delano Roosevelt tái đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ ba. Không lâu sau, Hoa Kỳ và các cường quốc Ðồng Minh khác bắt đầu gây áp lực với Nhựt Bản. Những áp lực này nhắm vào các nhà lãnh đạo quân sự, đã điều khiển quốc gia từ khi nội các của Yonai sụp đổ, nhưng không có hiệu quả.

Nội các kế đó, dưới quyền lãnh đạo của hoàng thân Fuminaro Konoye, ký thỏa ước Tam Phương với Ðức và Ý vào tháng 9 năm 1940. Trong một năm, Konoye đã cố gắng chống chọi với các tay quân phiệt diều hâu Nhựt và các áp lực kinh tế của Ðồng Minh, nhưng cố gắng này vẫn không đi đến đâu, nên vào tháng 10 năm 1941 ông rút lui.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

April 8th, 2021

Post by Sơn râu 14 Apr 2024

(Kỳ 7)

Các bản dịch thủy chiến trong Nam trước 75 ít khi phân biệt Thủy lôi với Ngư lôi. Thủy lôi (Naval Mine) là mìn đại dương, tức một khối chất nổ trong vỏ bọc sắt thả xuống nước rồi trôi dập dình cho đến khi va vào một vật rắn và phát nổ. Thủy lôi là mìn cố định, dùng phong tỏa một hải cảng hay làm rào ngăn tàu chiến đối phương xâm nhập. Ngư lôi (Torpedo) ngược lại, sau khi phóng đi sẽ tự di chuyển và tìm mục tiêu. Ngư là cá, có nghĩa đây là những khối chất nổ có động cơ với cánh quạt và chân vịt để tự bẻ lái.

Ngư lôi của Đức và Nhật được xem nguy hiểm nhất. Ngư lôi Đức gắn đầu nam-châm (magnet) để có thể tự hút vào lườn tàu sắt khi đến gần và gắn máy thẩm âm (acoustic) tự định hướng theo tiếng động chân vịt phát ra từ tàu đối phương. Tuy nhiên chính hai khí tài này, vì chỉ hiệu quả khi khoảng cách không xa, khiến ngư lôi Đức trên các tàu ngầm U-boot tầm xa lý thuyết không vượt quá 5 km.

Từ cuối 1928 Nhật Bản sáng chế thành công ngư lôi viễn dương kiểu 93 (là năm sản xuất 2593 theo lịch Chiêu Hòa) với mục đích: đánh đắm tàu thép Anh-Mỹ trước khi ngư lôi của Đồng Minh chạm đến tàu Nhật. Đặt tiên đề như trên, nên The Japanese Type 93 Torpedo được chế tạo với tầm xa 40 km khi phóng vận tốc 39 hải lý và tầm xa 22 cây số khi phóng vận tốc 49 hải lý. Gấp 3 đường kính tấn công của ngư lôi Anh-Mỹ.

Đặc điểm khác: Ngư lôi Nhật không chạy bằng bình ắc-quy điện mà bằng Ôxy ép đặc, khi lao chìm dưới biển không sủi bọt. Một vũ khí lợi hại tương đương với tên lửa hành trình phóng đi từ các chiến hạm ngày nay.

Đóng góp của Hara là đã cải tiến lý thuyết phóng ngư lôi của Hải quân Thiên hoàng thành một cẩm nang ứng dụng thực tiễn giúp các khu trục hạm Nhật chiếm ưu thế trong hầu hết các trận thủy chiến vào đầu cuộc chiến. Bản thân Hara cũng sẽ đánh đắm 3 tàu Hoa Kỳ bằng chính lý thuyết của mình.

Ngư lôi 93 đi vào lịch sử dưới tên gọi Long Lance, “Lưỡi giáo dài”.

Xin phép dịch giả Nguyễn Nhược Nghiễm thay các chữ Thủy lôi của ông bằng Ngư lôi như trong bản Pháp văn.

 [Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương VII

Mặc dù hàng ngày được Nagumo khuyến khích và quan tâm đến, tôi đã rớt kỳ thi tuyển vào trường Cao Ðẳng Tham Mưu. Thay vào đó, vào tháng 9 năm 1932, tôi được chỉ định làm một huấn luyện viên. Nhiệm vụ này gây cho tôi sự bối rối, những sự chỉ định như vậy ít thấy xảy ra trong Hải quân Hoàng gia. Tôi được chọn vào nhiệm vụ này có nghĩa là tôi phải từ bỏ hẳn hy vọng trở thành một sỹ quan tham mưu để trở thành một chuyên viên hẳn.

Trong thời gian ba năm sau khi kết hôn, tôi ráo riết theo đuổi một dự án riêng… Biết rõ dự án có vẻ liều lĩnh, tôi không hề thảo luận chi tiết với bất kỳ người nào. Tôi cũng hiểu nếu các đồng nghiệp của tôi biết được công tác tôi đang làm, chắc chắn tôi sẽ gặp sự chế nhạo.

Khi Ðại tá Nagumo khuyến khích tôi chuẩn bị thi vào trường Cao Ðẳng Tham Mưu, tôi đọc mọi sách giới thiệu cũng như các bài bình luận về khả năng di động tính của Hải quân Hoa Kỳ do chính ông viết trong thời gian đi tu nghiệp. Nhưng tâm trí tôi để đâu đâu. Tôi biết các dự án riêng của tôi có tầm quan trọng nên tôi không thể phân tâm để học hỏi những vấn đề khác. Do đó dù được ngay cả Nagumo đích thân yểm trợ, kỳ thi vào trường Cao Ðẳng Tham Mưu vẫn vuột khỏi tay tôi.

Dự án của tôi hoàn thành vào giữa năm 1932. Dự án này liên quan đến hàng trăm bài toán phức tạp. Tóm lại, tôi đã sử dụng toán học để chứng minh những sai lầm của các lý thuyết về ngư lôi được Nhựt áp dụng xưa nay, và tôi đưa ra một lý thuyết khác dùng làm kim chỉ nam mới.

Một lý thuyết mới thật khó xen vào để tìm chỗ đứng trong một tổ chức quân đội. Hầu hết các sỹ quan được huấn luyện theo các lý thuyết quân sự cũ đều bảo thủ và phản ứng không thuận lợi đối với những sáng kiến mới mẻ. Nhưng rất may là lý thuyết mới của tôi không hề gặp sự chống đối quan trọng nào và đã trở thành lý thuyết ứng dụng về ngư lôi chánh thức của Hải quân Hoàng gia. Ðương nhiên lý thuyết cũ được bãi bỏ. Và kết quả, tôi được bổ nhiệm về trường Cao Ðẳng Tham Mưu để giảng dạy về lý thuyết mới này. Thi rớt rồi về làm giảng viên ngay tại chính ngôi trường mình hỏng thi… là trường hợp hy hữu!

Sau này nhìn lại, mặc dầu tôi hoàn thành nhiều lý thuyết khác trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến, nhưng có lẽ lý thuyết về ngư lôi vẫn là lý thuyết sở đắc nhứt của tôi. Giải thích rành mạch về lý thuyết này không phải dễ dàng, vì trong ấy tôi đã sử dụng nhiều bài toán liên quan đến đại số, hình học, lượng giác và tích phân để áp dụng chính xác vào thực hành. Tuy nhiên tôi có thể nói phớt qua: năm 1932, sau khi tốt nghiệp trường chuyên môn Yokosuka, tôi lại được bổ nhiệm phục vụ trên khu trục hạm, và giữ chức vụ ngư lôi trưởng như thường khi. Tôi đã được học hỏi và huấn luyện tỉ mỉ về vấn đề phóng ngư lôi. Có thể nói là hầu hết thời gian trong suốt ba năm, quyển thuật ứng dụng ngư lôi cũ của hải quân là thánh kinh của tôi. Mỗi tuần chiếc khu trục hạm của tôi đều ra khơi để thực tập phóng ngư lôi. Ðể tiết kiệm, các ngư lôi diễn tập đều không có đầu đạn, và mục tiêu giả có khoảng trống phía dưới để ngư lôi chạy xuyên qua. Sau ba năm huấn luyện lý thuyết và thực hành liên tục, tôi bắt đầu nghi ngờ lý thuyết cũ, vì hiếm khi tôi bắn trúng mục tiêu.

Phản ứng đầu tiên khi bắn hụt là tôi tự thóa mạ tôi, và tôi càng cố gắng học hỏi hơn nữa. Tôi luyện tập thuần thục đến nỗi tôi chỉ cần liếc qua ống dòm là có thể cho biết được khoảng cách mục tiêu bao xa, mức độ gió, mực độ sóng biển, hướng chuyển vận và tốc độ di động của mục tiêu đó như thế nào. Sau khi kiểm chứng lại bằng các giác cụ chuyên môn, tôi nhận thấy tôi đã xác định mục tiêu rất đúng nhưng phóng vẫn trật. Do đó, tôi bắt đầu ngờ vực lý thuyết cũ của hải quân.

Theo lý thuyết cũ, một chiếc khu trục hạm, thường có chiều dài khoảng 90 thước, chạy với tốc độ 30 hải lý hoặc hơn, tiến sát đến tàu địch, khai hỏa mọi loại súng và cuối cùng dứt điểm bằng các quả ngư lôi. Một khu trục hạm Nhựt chỉ mang 16 ngư lôi. Từ 4 ống phóng phía trước và 4 phía sau, “8 con cá” vọt ra cách nhau mỗi con hai giây. Tám quả khác được đưa vào tái nạp vào tám ống phải mất khoảng mười phút. Các loại súng nhỏ của một khu trục hạm không có hỏa lực quyết định như những thiết giáp hạm, thành thử nếu loạt ngư lôi đầu vô hiệu, vận mạng của một khu trục hạm như cáo chung. Nó dễ dàng bị đánh chìm trong khoảng 10 phút cần thiết để nạp lại ngư lôi.

Vì đó mà trong khi thực tập, chiếc khu trục hạm của tôi kể như bị “đánh chìm” nhiều lần, giữa lúc tôi đứng bó tay và nghiến răng trên đài chỉ huy sau khi nhìn thấy các “con cá” của tôi lạc mất hút. Tôi quan sát nhận thấy tài phóng ngư lôi của các khu trục hạm khác cũng không hơn gì mình. Tôi đi đến kết luận là phóng ngư lôi thẳng vào mục tiêu ít có hy vọng trúng, và như vậy có nghĩa là lý thuyết cũ đã sai lầm.

Theo lý thuyết cũ, tám trái ngư lôi được phóng thẳng sẽ trải rộng 1 góc 20 độ. Sau khi phân tách cẩn thận tất cả các yếu tố liên quan, tôi kết luận rằng với góc 20 độ như vậy mục tiêu sẽ được phóng trúng nếu chiếc khu trục hạm của tôi chạy nhanh 30 hải lý theo một đường lượn cong, giống như một đường cầu vồng hyperbole, và ngư lôi phải được phóng ra ở ngay đỉnh của đường cong đó vào một mục tiêu cách xa 2,000 thước, và sau khi phóng ngư lôi xong, chiếc tàu sẽ giảm tốc độ xuống còn 20 hải lý. Qua nhiều tuần lễ diễn tập, tôi cũng khám phá ra chiếc tàu đối nghịch đủ thời gian để lảng tránh trước khi tàu của tôi sẵn sàng để khai hỏa. Và tôi cũng khám phá nhiều yếu tố cần thiết cho việc định lại các phương thức khác, bao gồm khoảng trống 2 giây của tám trái ngư lôi được phóng ra.

Công việc nghiên cứu này khiến tôi mở rộng tầm mắt, và mỗi khám phá mới đều được tôi áp dụng ngay vào thực hành, và đạt được mức độ chính xác gần như cố định. Tôi nổi danh, và được xem là sỹ quan phóng ngư lôi chính xác nhất của toàn thể binh chủng hải quân. Vào thời gian này tôi phục vụ dưới quyền của Ðại tá Nagumo. Có lẽ thành tích này đã khiến ông thích tôi, và cũng vì vậy mà lý thuyết của tôi được hải quân chấp nhận vào năm 1932.

Chỉ trong vòng một năm sau khi lý thuyết của tôi được học hỏi, kỹ thuật phóng ngư lôi của hải quân Nhựt đã đạt đến mức độ chính xác vượt bực.

Năm 1933, Ðề đốc Kaneji Kishimoto và Ðại tá Toshihidé Asakuma thuộc Ủy ban Nghiên cứu Ngư lôi Kuré chế tạo một loại ngư lôi được phóng đi bằng sức ép của Ôxy thay vì không khí. Việc phát triển này rất quan trọng đối với chiến pháp ngư lôi của Nhựt. Ưu thế của loại ngư lôi mới này, mà bí mật giữ kín, vượt trội tất cả mọi loại ngư lôi của các quốc gia khác, qua bảng so sánh bên dưới:

Bảng so sánh

Như vậy, ngư lôi Nhựt ngoài khả năng vừa nhanh vừa có tầm xa hơn các loại ngư lôi tốt nhứt của Hoa Kỳ và Anh quốc, đặc biệt mang chất nổ nhiều hơn, còn có thêm những tiến bộ to tát khác. Các loại ngư lôi thông thường khi phóng ra sẽ tạo thành một vệt dài màu trắng nổi trên mặt nước, khiến cho một chiếc tàu chạy nhanh cũng có thể phát hiện và lẫn tránh dễ dàng. Nhưng một trái ngư lôi đẩy bằng sức ép Ôxy khi chạy đến mục tiêu sẽ không thấy dấu vết gì trên mặt nước cả (Loại ngư lôi này Nhựt giữ bí mật tuyệt đối, đến sau chiến tranh hải quân Hoa Kỳ mới học hỏi được đầy đủ các đặc tính của nó).

Lý thuyết của tôi cùng với việc phát minh loại ngư lôi mới đã nâng cao tinh thần của thủy thủ khu trục hạm. Và khi khu trục hạm nhanh chóng trở thành “báu vật” của hạm đội Nhựt, các kiểu tàu mới được đóng đều đều vào thời gian đó. Các sỹ quan khu trục hạm không mấy lưu tâm đến một số thiệt thòi của Nhựt qua thỏa hiệp giải trang cuối cùng. Họ biết khu trục hạm của Nhựt đang nắm ưu thế to tát và tiên đoán loại tàu này sẽ giữ vai trò quan trọng trong cuộc chiến sắp đến.

Họ đã thiếu cân nhắc về sự phát triển kỳ diệu của các loại Radar điện tử và khả năng không quân vượt bực của Hoa Kỳ. Hai lãnh vực này là yếu tố quyết định dứt khoát kết quả của Ðệ Nhị Thế Chiến.

Dù thiếu cân nhắc như vậy, nhưng không thể nói chúng tôi đã tự mãn. Hơn bao giờ hết chúng tôi cố gắng huấn luyện để gia tăng sự thành thục với loại ngư lôi mới. Nhựt lịnh huấn luyện của chúng tôi là chỉ phóng loại ngư lôi có tầm xa này khi nào đã tiến sát vào 500 thước cách mục tiêu. Mọi sỹ quan cũng được lịnh tìm cách thâu hồi ngư lôi, cho dù trong các buổi thực tập không có gắn đầu đạn.

Chúng tôi đã thi hành triệt để, bởi giá một ngư lôi không đầu đạn lúc đó là 5,000 yên (2,500 Mỹ kim). Hơn nữa, chúng tôi không thể để loại ngư lôi mới này rơi vào tay địch quân, vì như vậy bí mật của nó sẽ bị khám phá. Thỉnh thoảng toàn thể hạm đội phải dàn hàng ngang lướt qua một khu vực rộng lớn của đại dương trong nhiều giờ để chỉ thâu hồi một trái ngư lôi phóng lạc xa khỏi mục tiêu. Vào những ngày có bão, chúng tôi đình chỉ tất cả các buổi diễn tập.

Trong suốt cuộc chiến, hướng tiến đến của các chiến hạm địch không thể nào định trước được. Theo lịnh, các khu trục hạm Nhựt phải tiến thẳng vào mục tiêu, khai hỏa cận và đổi hướng nhanh chóng. Nhưng một khu trục hạm có tốc độ cao không thể nào giảm tốc độ một cách mau lẹ để tránh khỏi đụng chạm và ai cũng đoán biết những đụng chạm giữa đại dương gây chết người là thường. Hơn nữa tiến sát vào địch quân trong vòng 500 thước có nghĩa là đưa đầu vào họng súng của họ.

Trong các buổi diễn tập, chúng tôi thường phóng ngư lôi cách mục tiêu 2,000 thước. Và khi đối đầu thực sự với tàu chiến địch, khoảng cách trung bình để phóng ngư lôi có thể từ 4,000 đến 5,000 thước, một khoảng cách mà các ngư lôi Hoa Kỳ vẫn còn ngoài tầm. Sau này tôi đã đánh chìm ba khu trục hạm Hoa Kỳ bằng cách áp dụng phương pháp mới đó, từ lý thuyết do chính tôi đặt ra.

Tôi được thăng cấp thiếu tá vào ngày 15 tháng 11 năm 1933. Tôi đã có hai con gái, và nhìn lại 12 năm đã trôi qua, kể từ khi tôi rời Hàn lâm viện Eta Jima, tôi cảm thấy đã trở thành một sỹ quan hải quân đầy đủ lông cánh, và là một trong những sỹ quan trẻ tuổi nhứt trong Hải quân Hoàng gia, vượt hẳn những bạn đồng khóa của tôi, ngay cả những người đã tốt nghiệp trường Cao Ðẳng Tham Mưu.

Tôi vẫn còn nghĩ đến mối tình đầu của mình là Utamaru. Tôi nhớ đến ánh mắt sáng tươi của nàng mỗi khi bước chân vào căn phòng tôi thuê sát bến cảng Kuré. Nhớ giọng nói dịu êm của nàng “Em đến rồi đây Tamei.” Nhớ những ngón tay của nàng khi tháo đai lưng và quân phục cho tôi với nụ cười trêu ghẹo “Anh thêm rám nắng Tamei. Em thích anh rám và rắn.” Utamaru có lối nói tinh nghịch nhưng duyên dáng và nàng luôn chìu tôi với hết tấm lòng. Một đôi lần nàng đem theo đàn bầu và hát cho tôi nghe ca khúc Hana-kago no uta, là bài hát Lẵng Hoa khá thịnh hành khi ấy nhưng tôi nhớ nhứt vẫn là thân thể ấm của nàng, tan vào thân thể tôi khi tôi ôm nàng và hỏi “Em chọn đất hay biển?” Nàng trả lời “Nơi anh cặp bến” và đè lên tôi làn môi thơm của nàng. Rất nhiều lần tôi tự hỏi có phải tôi đã đánh đổi nàng để lấy những quả ngư lôi? Những quả ngư lôi nặng ba tấn với chiều dài chín thước… Những khi ấy tôi cảm thấy hổ thẹn là đã cư xử không phải với nàng và đã tiếc nuối trước khi tự trấn tĩnh rồi tự an ủi là những quả ngư lôi cũng chính là đời sống và đam mê của tôi. Trong căn buồng dành cho sỹ quan tôi đã vội vã đốt đi những phong thư cũ kỹ rồi vội vã nhớ đến vợ con với nhiều ăn năn cho dù tôi biết, tôi sẽ còn tiếp tục ăn năn vì sẽ còn nhớ đến Utamaru.

Tên thật của nàng là Haruko Takai.

Gởi con yêu dấu!

petruskyaus.net

đoàn xuân thu
(tựa ý thơ: “To our dear child” – tác giả: không rỏ)

Post by Sơn râu 14 Apr 2024

Bởi già yếu, rã rời, ba lụm cụm
nên khi ăn làm vấy bẩn tùm lum!
quần áo, tay run, thể nào tự mặc
nhẫn nại nha con! thấu hiểu cho dùm.

Nghĩ kỹ đi! nhớ lại thời thơ dại
“ai mặc áo quần, ai đút con ăn?”

“Nói tới, nói lui, nói hoài, nói mãi!”
đừng ngắt lời ba, chịu khó lắng nghe
con thơ bé, ba đọc hoài, đọc mãi
truyện, ngàn lẻ một lần, ngủ, mới yên.

Bữa ể mình, sợ nước, ba không tắm
“đừng rầy la hay phát ngượng dùm ba!”
con còn nhớ? chạy quanh nhà kêu khóc
vì ham chơi “chưa muốn tắm ba à!”

Goi con yeu dau 03Vi tính tối tân, tuổi già, nên chậm
chỉ cho ba: cách lên mạng toàn cầu
mấy điều sơ đẳng: như ăn, như mặc
ba dạy con, kiên nhẫn, dạy từ đầuBa già lẫm cẫm! lúc quên, lúc nhớ
đừng càm ràm, đừng cáu kỉnh con ơi!
điều quan trọng không phải điều ba nói
mà được lắng nghe, được ở gần con

Bữa ể mình, nên bụng ba không đói
“lúc cần ăn, ba biết, khỏi ép, la!”

Chân phong thấp, lê dốc đời, run bước
đừng để đi, không gậy chống cầm tay
ba vịn con, con vịn ba lúc trước
tập con đi, chập chững, bước đầu đời.

Goi con yeu dau 04Bịnh rề rề đôi khi không thiết sống
ba cầu mong chết phứt, sống làm chi!
đừng cữi nhữi, một ngày con sẽ hiểu
tuổi già ba lây lất chỉ chờ đi.

Dĩ nhiên có, đời ba, bao lầm lỗi
nhưng bao điều tốt nhất vẫn phần con
lo cho con vào đời không thua kém
không tự ti, không mặc cảm, không buồn!

Hãy cảm thông khi ba còn kề cạnh
như ngày thơ con bé dại bên ba

Đở nâng ba, con thương yêu, trân trọng
ba được niềm vui, trong buổi xế tà
hình ảnh con, ba mang theo về cõi
mãi vô cùng con yêu dấu của ba!

“To our dear child

Poet: unknown.

On the day when you see us old, weak, and weary,
Have patience and try to understand us.
If we get dirty when eating,
If we cannot dress on our own,
Please bear with us and remember the times,
We spent feeding you and dressing you up.
If, when we speak to you,
We repeat the same things over and over again,
Do not interrupt us. Listen to us.
When you were small,
We had to read to you the same story
A thousand and one times until you went to sleep.
When we do not want to have a shower,
Neither shame nor scold us.
Remember when we had to chase you
With your thousand excuses to get you to the shower?
When you see our ignorance of new technologies,
Help us navigate our way through those worldwide webs.
We taught you how to do so many things,
To eat the right foods, to dress appropriately,
To fight for your rights.

When at some moment we lose the memory
Let us have the necessary time to remember.
And if we cannot, do not become nervous,
As the most important thing is not our conversation,
But surely to be with you and to have you listening to us.
If ever we do not feel like eating, do not force us.
We know well when we need to and when not to eat. When our tired legs give way
And do not allow us to walk without a cane,
Lend us your hand. The same way we did
When you tired your first faltering steps.
And when someday we say to you,
That we do not want to live any more, that we want to die,
Do not get angry. Some day you will understand.
Try to understand that our age is not just lived but survived.
Some day you will realize that, despite our mistakes,
We always wanted the best for you
And we tried to prepare the way for you.
You must not feel sad, angry nor ashamed
For having us near you.
Instead, try to understand us and help us
Like we did when you were young.
Help us to walk.
Help us to live the rest of our lives with love and dignity.

We will pay you with a smile and the immense love
We have always had you in our hearts.
We love you, child.

Mom and Dad





Con cái nhà ai?

baotreonline.com

Huy Phương

Post on July 30th, 2020

Post by Sơn râu 14 Apr 2024

Tranh Bảo Huân

Nếu bạn sinh ra và lớn lên ở một quận lỵ hay thành phố nhỏ, hẳn bạn nhớ hết những con đường, những ngôi nhà và đôi khi cả một vài cây cổ thụ cho bạn bóng im thời trẻ, hay những bờ sông tắm mát những trưa Hè. Và lẽ cố nhiên bạn cũng nhớ đến một vài nhân vật đặc biệt như một ông cụ râu dài hay một người đàn bà điên trong thành phố. Sau này lớn lên rồi, tha phương, nhưng những con người trong một thành phố cũ của một thời xa xưa vẫn còn như hiển hiện trong trí nhớ.

Những nhân vật ngày xưa được nhớ lại không chỉ là những nơi ăn chốn ở, mà cả sinh hoạt tính tình, cả đến con cái nhà ai, cha mẹ làm nghề gì, có gì đặc biệt. Bây giờ khi kể chuyện một người xưa, qua câu chuyện người ta còn nhớ đến cô kia là con ông chủ tiệm thuốc Bắc, cậu nọ gia đình là một chủ tiệm vàng.

Giàu nghèo, xuất thân từ một gia đình như thế nào, đứa nào cũng mang theo một cái biệt hiệu cho đến lúc lớn lên, mặc dầu răng bây giờ đã hết sún, tóc giờ này không còn “búp-bê” nữa! Lũ trẻ mất dạy thì luôn luôn nhớ tên cha mẹ hay nghề nghiệp gia đình đứa khác, để lúc tức giận dễ bề chửi bới.

Tôi còn nhớ câu răn đe của ông bố: “Ra đường làm gì thì làm, đừng để chúng nó gọi tên cha mẹ lên mà chửi!” Tục ngữ chúng ta cũng có câu: “Thương cha chớ chọc ăn mày!” Nói chung, nếu biết thương cha mẹ thì ăn ở cho thuận hoà, đừng để ai làm tổn thương đến danh dự của gia đình, nghĩa là đem cha mẹ ra mà chửi. Nếu một nhân vật hư hỏng, người ta không gọi là thằng mất dạy mà còn gọi là “con nhà mất dạy!”

Ông bà ngày xưa cũng đã nói: “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống,” tức là phải tìm biết cái gốc gác ra sao. Gốc chẳng ra gì, thì ngọn không khá được, và tìm hiểu cái nề nếp, ngọn ngành của một con người luôn luôn là điều cần thiết. Chẳng thế mà “ra đi mẹ có dặn rằng, cam chua mua lấy, ngọt bồng chẳng ham!” Bà này kỳ thị, cho rằng cam chua dầu sao đi nữa cũng là giống cam, ngọt lắm cũng là loại bồng vô giá trị!

Lấy lai lịch cha mẹ mà xét đoán tư cách của con là lối dùng người của cổ nhân. Chẳng thế mà chúng ta đã nghe giai thoại về cách dùng người của ông Tổng thống Ngô Ðình Diệm, mỗi khi phê chuẩn việc bổ nhiệm cho một cấp chỉ huy quan trọng, ông Diệm thường hỏi người đề nghị: “Thằng ni con cái nhà ai?” Nếu gia đình thằng ni là người có tiếng tăm, đạo đức thì hẳn hắn không ăn hối lộ, không làm điều xằng bậy, vì người đàng hoàng làm điều xằng bậy thì nhục tới cha ông.

Thời nay dùng người, đứng đắn nhất là dùng người có tài, trong chế độ vô đạo thì người ta dùng người trung thành, cùng băng đảng, trung thành và cùng băng đảng thì dễ sai khiến, và sẵn sàng bảo vệ quyền lợi chung. Cũng không cần biết đến gia thế, cha mẹ là ai, gốc gác từ đâu.

Ngày xưa trong cái thẻ căn cước, người ta ghi cả quê quán, tên cha tên mẹ. Ngày nay, đảng viên không còn nhớ tên cha mẹ đặt, dùng bí danh, nguỵ trang gốc gác nên chẳng ai còn biết ai là ai. Bởi vậy chúng nói ngang nói ngược, tham ô, bóc lột, lấy của đất nước, giang sơn làm của riêng, chẳng hề sợ đến thanh danh của gia đình, cũng không ai biết mà chửi đến cha đến mẹ!

Trong Cổ Học Tinh Hoa có câu chuyện “Tiễn người đi làm quan”. Tiết Tôn Nghĩa người Hà Ðông sắp đi làm quan, ông Liễu Tôn Nguyên làm tiệc tiễn hành ở bờ sông, rót chén rượu mời Tôn Nghĩa và nói về nghĩa vụ làm quan:

-“Giả thử ta đây thuê một người làm việc trong nhà, nó đã lấy tiền thuê mà lười không làm việc, lại còn ăn cắp đồ thập vật trong nhà, thì tất ta phải giận mà trách phạt nó và đuổi nó đi. Bây giờ kẻ làm quan như thế quá nhiều, mà không ai dám nổi giận trách phạt và đuổi đi là tại làm sao?”

Cũng trong sách này, chuyện “Thuyết Uyển” có nói:

“Chức đã cao, ý  càng phải khiêm cung; quan đã to, tâm càng phải tế nhị; lộc đã hậu, càng phải cẩn thận, chớ có lấy xằng, lấy bậy. Ông giữ được ba điều ấy là đủ trị dân vậy!”

Bây giờ, cán bộ đảng Cộng Sản ở Việt Nam năm nào cũng học tập theo lời “bác Hồ dạy” là “cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của Nhân dân. Các cơ quan của Chính phủ đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác chung cho dân chứ không phải đè đầu dân… Việc gì lợi cho dân ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân ta phải hết sức tránh…”

Nhưng sự thật, học một đàng làm một nẻo. Cán bộ cao cấp ngày nay như đàn heo sục mõm vào máng, mạnh ai nấy ăn, còn nghĩ gì đến bác với chú.

Tại Việt Nam hiện nay, vô số viên chức cầm quyền giàu có bất thường, sống giàu có với những ngôi nhà riêng trị giá hàng triệu đô la, sống xa hoa vương giả. Tổng Thanh Tra Chính Phủ là người thanh tra tham nhũng mà cũng tham nhũng để giàu có thì còn trách cứ ai.

Hệ thống thanh tra đã kiểm tra 1,800 cơ quan chính phủ mà chỉ tìm ra 22 cơ quan vi phạm tham nhũng. Tổng số vụ tham nhũng đã được phát giác trong sáu tháng đầu năm 2017 chỉ có 47 vụ, liên quan đến 66 viên chức, mà cuối cùng chính phủ kết luận chỉ có một trường hợp vi phạm. Tất cả các vụ còn lại, các viên chức nhà nước đều trình bày tài sản, cơ ngơi của họ là do việc lao động cần cù như chạy xe ôm, nuôi heo, bện chổi, làm men nấu rượu, làm bánh kẹo, làm giá… mà trở nên giàu có.

Ðiều đáng nói là hệ thống thanh tra của chính quyền, nghĩa là đảng, đã bao che người của đảng, chấp nhận tất cả những giải thích trên và tuyên bố tha bổng, chỉ giữ lại một trường hợp duy nhất để tế thần.

Ngày nay cha mẹ thấy con tham ô, vơ vét để có nhà cao cửa rộng càng cho là nhà có phước, con thấy cha mẹ giàu có nhờ chức phận thì lấy làm vui, mai sau củng cố cho đời mình; còn ai như chuyện xưa có liêm sỉ mà biết hổ thẹn. Vậy thì cũng không nên hỏi chúng là con cái nhà ai? Giấy rách phải giữ lấy lề! Có lề hồi nào đâu mà phải giữ?

Trong cuộc đời thường, chúng ta ai cũng có một gia đình để bảo vệ thanh danh, có một tôn giáo để vững một niềm tin, có một tổ quốc để hết lòng phục vụ, nhưng đối với những người Cộng Sản … thì không!

HP