“Đi massage”ở Little Saigon

baotreonline.com

Huy Phương

Post on 3rd Oct 2019

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

Trong vài  năm trở lại đây tại Little Saigon, Nam Cali rộ lên dịch vụ foot massage, mọc ra như nấm sau mưa. Gần như khu phố nào tại vùng Bolsa cũng có một vài căn phố dựng bảng hiệu “foot massage” với giá $15/1 giờ. Trước đây có nơi ghi giá $20.00, nhưng nay không còn thấy foot massage mà đã trở thành “body massage” hầu hết. Đến nay đồng loạt khách phải trả $30.00 cho một giờ “body massage.”

Theo chỗ tìm hiểu của chúng tôi, hiện nay chỉ riêng tại thành phố Westminster đã có đến hằng trăm cửa tiệm “body massage” xin giấy hành nghề. Không đơn giản như những tiệm ăn hay dịch vụ buôn bán của người Việt trong cộng đồng của chúng ta, dịch vụ massage này đến từ Trung Cộng, Thái Lan nhưng đã phát triển khá nhanh ngay tại trong vùng mà đa số người Việt sinh sống. Câu hỏi của chúng tôi là họ đến đây với visa nào, tổ chức nào đưa họ đến, vì sao họ nhắm vào cộng đồng Việt Nam. Ở quận Los Angeles, nơi có đông người Tàu cư ngụ, lại ít thấy có dịch vụ này!

Với số lương khá ít ỏi, khiêm nhường vất vả hơn nghề nails của người Việt nhiều, làm sao người thợ massage có thể sinh sống tại Mỹ và trả tiền cho món nợ đã đưa họ sang đây hành nghề. Phải chăng đây là chuyện đưa người vào Mỹ dưới dạng di dân: chuyên viên “có tay nghề.”

Trong mùa Hè này, nhân có một người bạn từ Ðức Quốc sang thăm Little Saigon, muốn tìm hiểu nghề “body massage” ở đây, nhân dịp này chúng tôi cũng xâm nhập vào thế giới này để có thể giới thiệu đôi điều với bạn đọc. Diện tích, bảng hiệu, cách xếp đặt, trang trí và ánh sáng của tất cả tiệm massage hầu như theo một khuôn mẫu cố định cho chúng ta có cảm tưởng, mỗi tiệm là một chi nhánh của một đại công ty, mặc dầu cô quản lý người Tàu mang tên Jenny ở một tiệm trên lầu Bolsa vẫn quả quyết tiệm massage này của ông chủ cô là một tiệm độc lập, không dính líu gì đến những tiệm massage khác.

Diện tích dành cho tiệm massage ở Bolsa chỉ là một căn phố nhỏ hẹp, diện tích chỉ bằng một tiệm dịch vụ bán vé máy bay hay một tiệm vải. Cửa tiệm luôn luôn khép kín, buông màn. Trước cửa vào một tiệm massage ở trên lầu, có để mấy chiếc ghế cho những người thợ ngồi nghỉ chờ khách, lúc ấy là vào buổi trưa, chúng thấy một cô đang ngồi ăn mì gói. Bạn gõ cửa và có người sẽ mở cửa cho bạn, đôi khi người này đứng thơ thẩn bên ngoài để chờ bạn đến và mời bạn vào. Sau cánh cửa là chiếc  quầy nhỏ của người quản lý, hầu như tiệm nào cũng giống nhau, trưng bày một bình hoa giả, một ông Ðịa bằng đất nung, một cuốn sổ ghi chép và một ly nước đang uống dở chẳng hạn.

Việc đầu tiên là bạn cho người quản lý biết bạn  muốn thợ massage nam hay nữ, anh ta sẽ dẫn khách qua một tấm rèm và một bức tường ngăn, khách sẽ bước vào trong một khu vực khá tối, phải một hồi lâu bạn mới nhìn rõ cảnh vật. Trên vách treo một dây đèn màu xanh đỏ chỉ đủ tỏa ra một thứ ánh sáng mờ mờ. Trong một căn phòng chật hẹp, để khoảng 9 chiếc giường thấp nhỏ, mà người ở giường này có thể với tay sang giường bên cạnh, kiểu giường trong phòng mạch của ông bác sĩ chỉnh xương, dưới chân giường còn thêm một chiếc ghế nhỏ cho khách ngồi ngâm chân. Trong phòng, trên 9 chiếc giường đã có 5 người khách, trong đó có hai phụ nữ. Ánh sáng trong căn phòng massage này không cho phép chúng ta thấy rõ mặt người bên cạnh, ngay cả khách và người thợ massage cũng không thấy rõ  nhau. Ai cũng nói nho nhỏ với nhau trong tiếng nhạc nhè nhẹ phát ra từ chiếc máy cassette nhỏ.

Người phục vụ sẽ hướng dẫn khách đến chiếc giường còn trống, nói khẽ hay ra dấu (!) cho khách cởi kính mát, bỏ đồng hồ vào một chiếc khay nhỏ, cởi hết áo, vớ, quần dài treo lên vách, và đưa cho khách một cái quần “xà lỏn” có lẽ đã qua nhiều người dùng. Ánh sáng không đủ cho khách nhận ra quần, khăn lông và vải trải giường sạch dơ thế nào! Người phục vụ sẽ vào buồng tắm bưng ra một chậu nước nóng để cho khách ngâm chân, trong khi người phục vụ đứng đằng sau bạn, bắt đầu massage hai vai và lưng của bạn. Hỏi về nước ngâm chân, người phục vụ cho biết đó là nước “lá thơm”. Xong phần ngâm chân và đấm bóp lưng, bạn bắt đầu nằm xuống chiếc giường nhỏ, thoạt đầu là nằm ngửa rồi sấp. Bạn sẽ được massage đầu, cổ vai, bụng, lưng, hai tay, hai chân, bấm các huyệt chân, trừ phần “nhạy cảm” từ rún đến hai đầu gối. Như vậy, phải hiểu rằng bạn đến đây không chỉ được phục vụ hai bàn chân như mấy chữ “foot massage” treo ở cái biển to tướng ngoài cửa.

Trước khi vào công việc, tôi thấy người thợ liếc nhìn đồng hồ, và “công đoạn” massage này kéo dài đúng một tiếng đồng hồ, với giá là $30.00. Có những công đoạn rất nặng nhọc, làm cho chúng ta có cảm tưởng nhân viên phục vụ làm việc này một cách bắt buộc không mấy hứng thú.  Xong việc, bạn mặc lại áo quần, lấy kính, cell phone, đồng hồ, mang vớ, giày, lịch sự cám ơn người thợ một tiếng rồi có thể ra cửa đi thẳng, nhưng tôi thấy phần đông khách để lại cho người phục vụ $5.00 tiền tip.

Anh Ngữ và Tay Nghề

Một người muốn nhập  cư vào Mỹ làm việc theo bảo lãnh của một công ty, phải có đủ trình độ Anh Ngữ và tay nghề, sát hạch và phỏng vấn bởi viên chức di trú Hoa Kỳ tại Tòa Ðại Sứ sở tại. Trái lại đây, khi tôi hỏi bất ngờ, cô gái mang tên Liu, nói là cô đã học Anh Ngữ và nghề massage sau khi đến Mỹ. Nói tiếng Anh khá sõi, cô cho biết, cô quê ở Jiangxi, đang đi học, mới sang Mỹ hai năm để làm nghề này, không biết lái xe, buổi sáng người đưa đi làm và đón về.

Thợ “foot massage” tuổi từ 20 đến 40, đàn ông trông có vẻ cục mịch, đàn bà nhan sắc hầu hết dưới trung bình, có người nói được tiếng Anh nhưng cũng nhiều người chỉ nói những câu ngắn như “more”, “less”, “up”, “down”, “Thank You”… Họ không có đồng phục và ăn mặc kín đáo, khá xoàng xĩnh kiểu nông dân Tàu lục địa.

Bạn tôi là người đã đi Việt Nam nhiều lần, đã du lịch Thái Lan, nhận xét rằng massage ở Bolsa chỉ là thứ “gãi ngứa, chọc tức người ta, làm mất thời giờ.” Nếu chỉ so với những ông già mù “tẩm quất” ở Việt Nam ngày trước, kỹ thuật “lăn”, “chặt”, “chém”… còn điệu nghệ hơn nhiều. Người tẩm quất giỏi sẽ làm cho khách ngủ quên lúc nào không hay cho đến khi xong.

Ở Việt Nam, chỉ vào một tiệm hớt tóc, gội đầu, người thợ làm massage đầu cũng làm cho bạn đi vào giấc ngủ (người viết không có ý quảng cáo cho du lịch Việt Nam.) So với massage Thái Lan thì massage Bolsa kỹ thuật rất sơ sài, sử dụng một bài tập cố định, thời điểm giống nhau, khi có hai người khách vào một lúc, người thợ ở giường này đang làm gì thì bên giường kia cũng đến lúc làm như vậy. Một giờ massage không đủ cường độ và bài bản để đánh thức các tế bào da thức dậy, đem sự sảng khoái cho khách. Người bạn có kinh nghiệm về “massage” kết luận: “trước và sau khi massage, cơ thể phải cảm nhận sự thay đổi, khỏe khoắn, sảng khoái hơn, nếu không chỉ làm mất thời giờ.”

Vì sao một công ty Trung Cộng lại đưa người sang Mỹ, chọn Little Saigon để phát triển ngành nghề “foot massage” với 95% khách là người Việt trong cộng đồng chúng ta, trong khi chính người Việt lại không biết khai thác nghề này để kiếm tiền trong lúc kinh tế suy thoái. Nhưng nếu nghề này do người Việt khai thác sẽ đưa đến chuyện mãi dâm trá hình như chuyện đã xảy ra năm ngoái khi cảnh sát lục soát một tiệm massage, bắt quả tang nhiều cô gái Việt đang hành nghề theo những quảng cáo trên các nhật báo: “phục vụ tới bến”, “thư giãn cùng các em trẻ đẹp.”

Ai biết chuyện gì giữa hai người, một khách nam giới và một nữ hành nghề “massage” trong phòng kín riêng biệt, đèn mờ. Những năm gần đây, khi phong trào massage nở rộ tại California, thì cảnh sát tại nhiều thành phố ở đây cũng đã khám phá ra nhiều địa điểm massage trá hình, nghĩa là bán dâm. Nhiều đường dây buôn người từ một vài nước Châu Á… đưa người đến Mỹ hành nghề massage nhưng thực tế là họ ở trong một đường dây đưa người đến Mỹ hành nghề mãi dâm.

Cách đây vài năm, bốn chủ tiệm massage, trong đó có ba người gốc Việt, đã bị bắt về tội kinh doanh mại dâm trá hình dưới vỏ bọc tiệm massage tại các thành phố Midway, Anaheim và Westminster thuộc vùng Little Saigon. Theo văn phòng Biện Lý Orange County, có bảy phụ nữ hành nghề bán dâm dưới quyền của bốn bị cáo này tại các tiệm massage.

Một người Việt Nam chủ hai tiệm massage thẩm mỹ tại tiểu bang Maryland là Star Foot Spa và Sun Foot Spa – bị bắt giữ sau 3 tháng điều tra, vì có dính líu đến hoạt động mại dâm. Người này cũng bị cáo buộc 4 tội danh buôn người.

Với hằng trăm tiệm “foot massage” đang hành nghề tại Westminster, mà chuyện cấp giấy phép chưa có dấu hiệu ngưng, trong tương lai Little Saigon sẽ tràn ngập những tiệm massage kiểu này. Với một dịch vụ mà số thu không cao, người thợ massage trong một ngày đắt khách may lắm là kiếm được 5,6 người khách, giá $30/một giờ, chia với chủ, lo chuyện ăn ở và cả chuyện tốn kém đưa họ đến đây, nhưng đây là một ngành nghề nhằm đưa người vào Mỹ.

Bài báo này chỉ có một mục đích nói đến một hiện tượng bất bình thường đang xảy ra tại Little Saigon: đó là dịch vụ “body massage”, xin bạn đọc có thời giờ “nghiên cứu tại chỗ” thêm.

HP

“Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già” của Huy Phương

hung-viet.org

Trần Vấn Lệ

Post on 6 Tháng Tám 2013

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

Huy Phương, tôi giới thiệu với bạn, Huy Phương là Nhà Thơ. Nhà Thơ Huy Phương. Bạn có thể gọi anh ấy là Thi Sĩ, Thi Nhân, Thi Gia…gì, thì cũng được. Huy Phương là một người-làm-thơ và có hơn một tập thơ được xuất bản rồi…
Tôi thích hai chữ Nhà Thơ vì tôi liên tưởng đến Nhà Nông – người làm ra lúa gạo. Lúa gạo người này làm ra “ngon” hơn lúa gạo người khác, nhưng đều là lúa gạo để làm no con người. Huy Phương, nhà thơ, vì anh làm Thơ. Theo tôi, Thơ Huy Phương hay! Thơ Huy Phương làm tôi bâng khuâng, thao thức, trăn trở…và thấy mình khỏi cần phải tâm tình thêm với ai bằng những lời mình phải uốn lưỡi, qua thơ của Huy Phương…tôi thấy trái tim mình đang đập và tôi cảm thấy ấm áp.
Người ta biết Huy Phuơng nhiều ở tư cách Nhà Văn của anh ấy. Năm 1960, tại Sài Gòn, Huy Phương là nhà thơ với tác phẩm Mắt Đêm Dài. Có thể trong hoàn cảnh đất nước chiến tranh, chế độ Cộng Hòa chưa vững vàng, thơ văn chỉ là tiếng vọng trong sa mạc. Tập thơ Mắt Đêm Dài, tác phẩm thơ đầu tiên (chắc không phải đầu tay) không được “đắt hàng”, Huy Phương chưa là một tên tuổi. Cũng có thể hồi năm đó, tác giả còn quá trẻ và có một “đời sống” thầm lặng? Tôi nghĩ thế và biết có nhiều tác giả như anh – chưa được mặn mòi của dư luận.
Hồi đó, người làm văn học nghệ thuật tuy có nhiều nhưng bè phái cũng nhiều. Ai không có “băng, nhóm” thì không có tiếng vỗ tay…Hồi đó xuất hiện trên văn đàn, rải rác, là Hiện Tượng. Và những Hiện Tượng thì nổi ở Sài Gòn chớ không nổi ở các Tỉnh Lẻ. Nếu như nhà văn Nguyễn Thị Hoàng không “bị” Bộ Quốc Gia Giáo Dục thuyên chuyển từ Đà Lạt về Sài Gòn dạy học và không được Tạp Chí Bách Khoa đăng tải nhiều kỳ tiểu thuyết Vòng Tay Học Trò…thì không ai biết có một Nhà Văn Nữ…rất là Nữ! Năm 1960, tôi đã “lớn”, đã vào đời, đã mua nhiều sách báo đọc bằng tiền mình làm ra, Huy Phương tôi không thấy, hay có thấy thì không quan tâm đặc biệt.
Hồi đó rộn ràng, ồn ào các trường hợp Phạm Công Thiện, Nguyễn Văn Trung, Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Hoài Khanh, Viên Linh, Thanh Tâm Tuyền, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Kim Tuấn, Phan Bá Thụy Dương…
Huy Phương có sách xuất bản mà sao lại im lìm? Tôi, bây giờ, thấy mình có lỗi phần nào. Ờ nhỉ, tôi chỉ là người đọc sách báo thôi, tôi đâu phải nhà phê bình! Quá nhiều năm đã trôi qua…Khi đến Mỹ, kể từ sau năm 1989 nhiều năm, tôi mới đọc Huy Phương…mà không phải đọc Thơ, chỉ đọc Văn của anh! Trong lòng tôi, quá khứ kể từ cái mốc 30 – 4 – 1975 về trước, tôi không biết gì về Huy Phương! Cái lỗi của tôi là không biết Huy Phương trong một quãng thời gian dài. Chắc chuyện này không riêng mình tôi, ông Võ Phiến, Nguyễn Đình Tuyến, Trần Tuấn Kiệt, Phạm Thế Ngũ…những nhà bình phẩm văn chương, có sách “biên khảo”, cũng đâu có “đá động” gì tới tác giả Huy Phương!

Nhưng…
Tôi đang nói về Huy Phương đây! Trước mặt tôi là tập thơ mới toanh của ông: Thơ Huy Phương “Chúc Thư Của Một Người Lính Chết Già” do nhà Nam Việt ở Irvine California xuất bản năm 2013.
Tôi nâng niu cuốn sách. Cuốn sách không nặng tay lắm sao nặng quá cả lòng tôi! Cả tập thơ chỉ dày 120 trang, 36 bài thơ, đa số thì dài, nội dung có đầu có đuôi, không “cô đọng”, chẳng “triết lý”, bình thường như hơi thở ra rồi hít vào, rồi lại thở, đôi lúc cũng nghẹn ngào. Thơ Huy Phương là thơ Huế, cho người Huế ngậm ngùi, cho người Huế rưng rưng…Tôi không thấy anh “nổ” hay “trầm lặng” làm duyên làm dáng chút nào…
Thơ…thường là Thơ Tình. Tình, không tình nào thắm thiết và “nhiều chuyện” cho bằng Tình Trai Gái. Huy Phương có thể là nhà thơ không được quan tâm hay được nhớ đến vì anh làm Thơ Tình…không giống ai! Xin dẫn ra đây một bài, không đọc thì cũng chẳng sao mà ngó mắt tới, đố ai không…tư lự. Một mối tình rất hiếm để gọi là “điển hình”, để nhân nó lên hằng hà sa số. Cũng có thể vì đây là Tình Sửng Sốt trong một cảnh ngộ hơn là một cảnh tình. Tôi muốn nói về Tình Thầy Trò. Huy Phương một thời dạy học trong thời chiến, học trò của Huy Phương đương nhiên là nhỏ tuổi hơn Thầy. Một hôm nào đó, Thầy “bị động viên”, Thầy xa trường, xa lớp, xa học trò…Học trò rồi khôn lớn lần theo từng niên học, tới tuổi Lính chưa có việc làm để hoãn dịch thì phải nhập ngũ theo yêu cầu của quốc gia.
Cuộc chiến Việt Nam là cuộc chiến dai dẳng nhất thế giới. Cuộc chiến phân tranh ngày xưa giữa Trịnh Nguyễn kéo dài những sáu trăm năm… Cuộc chiến chống Pháp kéo dài gần hơn nửa Thế Kỷ. Cuộc chiến phân tranh Quốc Cộng gần nhất, 1954 – 1975 cũng kéo dài hai mươi năm! Quy định tại ngũ, chế độ quân dịch ban đầu thì mười hai tháng, lên mười tám tháng, lên ba mươi sáu tháng, lên hoài thôi, sau 30 tháng Tư bảy lăm cũng không cho giải ngũ. Nay ai tự nhận mình là Cựu Quân Nhân, nghĩ lại đi, kỳ cục vô cùng! Người Lính, căn bản / cơ bản là người Trẻ Tuổi. Chiến đấu và chết trận ở tuổi trẻ. Phải sống thì quá nhiệm kỳ là phải được Chính Phủ cho lệnh giải ngũ. Thế mà nào ai giải ngũ đâu! Tàn cuộc binh đao phải cam phận tù binh rồi ra khỏi trại tù…phải sống tiếp tục với cái danh là Lính Chế Độ Cũ, lúc nào cũng bị “dòm chừng”.. Và tuổi già, tất yếu là…Đương Nhiên, khỏi cãi cọ, thành Người Lính Già, tủi ơi là tủi! Không quốc gia nào sử dụng Lính Già! Chỉ có cái nước mình, gọi Cái-Nước-Mình muốn khóc, nó bắt mình làm Lính Già.
Thầy trò ở Lính gặp nhau, đã lạ. Rồi vào tù cũng gặp nhau. Rồi tha hương tránh mấy cũng chạm mặt! Tất cả đều tàn tạ, suýt soát nhau chẳng bao nhiêu. Ngay như tôi với Huy Phương, đi lính cách nhau tám khóa, năm năm mưa nắng hai mùa, vậy mà bây giờ…không ngờ ngó nhau buồn hiu! Cả hai đều còn Lính! Cả hai chưa có một ngày xếp áo quần thấy mình là người thong dong…
Bài thơ dưới đây, Huy Phương làm cho học trò của anh thưởng thức, tôi cũng có phần chia sẻ nỗi niềm, nghĩ chẳng sướng sao! Mời bạn đọc nhen:
“Dạ Thưa Thầy Thầy Còn Nhớ Em Không?”
Quê Hương xưa từ những ngày chinh chiến
Thầy trò ta vội từ giã ngôi trường
Thầy từ đây đã rời xa bục giảng
Trò làm thân chiến sĩ của mười phương!
Rồi Thầy Trò cùng chung màu áo trận
Đời chiến binh ai ngỡ buổi tương phùng!
Từ thế nghiêm trò dơ tay chào kính:
“Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”.
Gặp vận nước buổi rã rời tan nát
Thân tù đày nơi nước đục rừng thiêng
Bó nứa nặng trên đường qua suối cạn
“Dạ thưa Thầy, Thầy còn nhớ em không?”
Giờ lận đận ở quê người phiêu bạt
Tóc bạc phơ ngày tháng nặng lưng còng
Buổi hội ngộ nghe muốn trào nước mắt
“Dạ thưa Thầy còn nhớ em không?”

*
Dẫn ra được bài thơ Thầy-Với-Trò trên đây của Huy Phương, tôi thật tình cám cảnh mình không ít. Tôi dạy học trò, năm cuối cùng 1974-1975 ở trường con gái, mười hai niên khóa trước có gái có trai. Ngày tôi vào “cải tạo” thì có nhiều em cũng ở chung với tôi, Thầy Trò một cấp bậc, một lán trại, một thèm thuồng trời xanh bao la… Học trò gái không bị tù nhưng gặp ở cổng trại thăm nuôi, các em đi thăm người thân, tôi cũng được tình cờ nghe tiếng “Ô Thầy!” Tôi ngoái nhìn, bàn tay dễ thương ai vẫy kia kìa. Cây rừng um tùm, gai góc lung tung, tóc học trò tôi bay vướng lá này cành nọ. Thương quá mấy em ơi! Phật nói rất đúng: “Thế Giới Chúng Sinh là Cõi Ta Bà!”
“Tóc bạc phơ, ngày tháng nặng lưng còng…”, nghe sao mà xót xa! Học trò và Thầy ba mươi tám năm rồi, đầu ai cũng bạc “Dạ thưa Thầy…”, như một giấc mơ, vậy mà Trời ơi lại rất hiện thực!

*

Ở phần trên tôi có nói Huy Phương là người Huế. Anh sinh trưởng ở Huế. Đầu đời Huy Phương dạy học ở Quảng Trị, tỉnh địa đầu giới tuyến, giáp ranh phía Bắc của Huế, đường đi lại cũng gần… Anh xa Huế khi anh vào lính rồi làm những công việc của người phóng viên tại Sài Gòn, nhưng lòng anh là lòng Huế, xa Huế là anh nhớ, xa Huế là anh thương. Những năm anh ở quê người, Huế như từng khúc ruột quặn trong lòng anh. Tôi không rõ gia cảnh anh ra sao, nhưng đọc thơ anh thấy anh nặng tình với Huế lắm, chắc chị cũng là người Huế…nên anh lãng mạn nhân đôi?
Đây một bài thơ “đặc trưng” Huế của Huy Phương, ai đọc mà không cảm, ai đọc mà không nao nao lòng…thì “tui chết liền” à nha!

Nhớ Huế
Mùa này nước Hương Giang có mặn
Muối đại dương có thấm vào sông?
Từ ngày anh đoạn tình bỏ Huế
Nguồn xa đã lạc mấy trăm dòng!
Mùa này Huế còn mưa tầm tã
Thương quê xưa vẫn nỗi đói nghèo
Anh ở nơi này vùng nắng ấm
Vẫn nhớ hoài đời Mẹ gieo neo.
Mùa này quê có còn bão lụt
Chén cơm em còn độn sắn khoai?
Trên tiệc rượu người con xa xứ
Men nồng nào lẫn nước mắt cay.
Mùa này Huế có còn phượng đỏ
Tiếng ve nào gọi nỗi buồn xa
Nơi này cả một trời hoa tím
Nhớ em xưa tiếng guốc học trò.
Mùa này Huế có còn áo trắng
Em hiện thân làm bướm tan trường
Thương ngày tháng một thời niên thiếu
Huế bây giờ – Huế đã mù sương!
Huế của tôi giờ đâu còn nữa
Cảnh vô hồn khuất nẻo người xưa
Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế
Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ…

Hai câu cuối của bài thơ trên…tôi cứ chép sai hoài. Mắt tôi mờ. Mờ thiệt rồi sao? Một nước non cẩm tú thì dẫu tang thương vẫn cứ còn cẩm tú, nhìn theo kiểu mình, nhìn theo kiểu người, khó có cái nhìn chung…Mỗi người nhìn riêng với một tấm lòng riêng, biết sao bây giờ! Có thể khi thành một Trung Tâm Du Lịch, nhiều năm nay, Huế thay đổi bộ mặt âu sầu, nhưng trong gan ruột của Huế vẫn còn cái mầm bệnh ung thư lịch sử! Bề ngoài là son phấn. Bề ngoài là phồn vinh! Cái giả tạo chửi cha cái thật tình. Cái thật lòng thì câm nín thiên thu! Phương Xích Lô là một thi sĩ ở Huế, chuyên đạp xich lô kiếm sống, đã từng đạp xe ra Đồng Hà, phía Bắc Huế không xa, cảm ứng chứng minh cho chúng ta một thời đại rất ngộ nghĩnh: Cơ quan chức năng nào cũng treo câu biểu ngữ của “Bác Hồ” Không-Có-Gì-Quý-Hơn-Độc-Lập-Tự-Do mà đều mang cái bản mặt hướng ngoại. Độc Lập Tự Do chỉ là nụ cười méo mó. Một cái-gì-đó dị hợm, trêu ngươi, xứng đáng cho sự xấu hỗ!. Tất cả sự sống nằm trên sự lệ thuộc nước ngoài. Ngọn gió cũng từ Ai Lao thổi qua…
Thị trấn của tôi dùng toàn đồ ngoại
Đến gió kia cũng…vay của nước Lào!
Huy Phương mãi mãi nghĩ về Huế, hướng về Huế với tấm lòng chung thủy. Tôi lau mắt lần nữa chép lại hai câu cuối của bài thơ Nhớ Huế của anh: “Hồn cổ tích Hoàng Thành hoang phế, Tiếng chim khuya gọi bóng trăng mờ!”. Ôi, câu đó sao giống câu thơ mở đầu bài Tần Hoài Dạ Bạc quá chừng ri: “Yên Lung Hàn Thủy Nguyệt Lung Sa”, khói bay nước lạnh bóng trăng mờ…
Tôi suy nghĩ lung lắm: Mình viết một bài “luận” về tập thơ của Huy Phương CHÚC THƯ CỦA MỘT NGƯỜI LÍNH GIÀ mà sao bài này, bài Chúc Thư in ở các trang 6,7 và 8, tôi không dẫn vào đây, coi như một điểm tựa cho những lời tôi bàn, tôi bình về thơ Huy Phương? Tôi suy nghĩ thế để thành câu hỏi cho việc tôi làm là tự thấy mình chỉ làm cái việc cỡi ngựa xem hoa không hơn không kém, phải không? Chắc chắn là tôi hết còn sức để nói về thơ Huy Phương. Chỉ cần hai bài, tôi quặn thắt lòng mình, thêm nữa thì chắc lòng tôi đau đớn vô cùng. Thơ Huy Phương hay kỳ lạ! Thơ Huy Phương vừa vuốt ve người đọc nó vừa nghiến răng cào xé người đọc. Vậy mới “đã đời” chớ nhỉ! Tôi cất dành đọc thơ Huy Phương từng ngày, từng ngày.
Và tôi xin dừng bút ở đây. Mong bạn đọc nào thương thơ, nghĩ tới người làm thơ, tìm mua tập thơ ấy mà đọc…

Trần Vấn Lệ
6/2013
Theo Người Việt



Nhàn

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 05/01/2017  

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

Nhàn nhỏ người, thích mặc áo dài trắng. Nhàn đến trường bằng chiếc xe đạp mini cân xứng với thể hình. Học dưới tôi một lớp, chẳng có gì nổi bật nhưng nam sinh lớp nào hầu như cũng để tâm ưa tìm cớ lân la. Nhàn giỏi cư xử, thân thiện với mọi người mà chẳng gây điều tiếng; cũng không thấy anh này ghen ghét anh kia, đố kỵ, tị hiềm.

Hình như do có khiếu văn chương, mười bốn người trong lớp Nhàn đã giao việc cho Phạm Thị Phương Nhàn đứng ra thực hiện tờ bích báo chào đón năm mới. Mỗi lớp có một tờ và treo ở hành lang gió lùa, rung động tờ báo tường nổi trội của người mang tên Nhàn nhỏ bé làm “chủ biên”. Thầy cô khen, mấy anh lớp trên khen và như vậy Nhàn trở thành một đoá hoa duy nhất toả hương trong ngôi trường có vẻ kín cổng cao tường này.
Năm tôi tốt nghiệp, chuẩn bị đi xa nhận nhiệm sở, bất ngờ Nhàn trao tay một món quà. Một bài thơ vẽ cảnh sân ga cùng tâm cảm kẻ lữ thứ phải rời xa chốn chôn nhiều kỷ niệm. Chúng tôi đứng trốn nắng bên một thân cây, phượng đỏ trên đầu và gió hè hiếm muộn thổi ngang. Vẫn tà áo dài trắng, vẫn dáng dấp rất đỗi học trò, vẫn chiếc xe đạp thấp nhỏ, nhưng hôm đó Nhàn đã gây cho tôi thứ nỗi niềm quá lớn lao, quá nặng nề, quá choáng ngợp. Hoa nắng làm chữ nhảy múa trên trang giấy màu xanh. Xanh thứ da trời một chiều vắng mây và thơ Nhàn trong vắt không tìm ra tì vết. Để đáp trả món quà nằm mộng cũng chẳng ngờ và nhân danh một đứa sắp thành nhân đi phương xa lập nghiệp, tôi ngỏ lời mời Nhàn đến quán ven sông tìm thứ giải khát. Tôi đùa: Hãy tạo cho tôi một nỗi nhớ, không chừng cô đơn ở chốn kia tôi sẽ làm được thơ. Nhàn, thoạt trông như một nữ sinh chỉ học ngang lớp 11 trung học, có nghĩa là Nhàn đã “ăn gian” khi làm sinh viên năm thứ ba. Học lớp đệ nhị hẳn đắn đo trước lời mời nhưng cô sinh viên Nhàn đã gật đầu đồng thuận.

Tôi chở Nhàn trên chiếc xe của khổ chủ, đạp mỏi chân mà tuồng như nó chẳng đi xa. Tôi nghĩ tới con đường mà mình sắp phải đơn thân bước xuống, xa lạ và đơn độc tựa hình ảnh một vị tỳ khưu đâm sầm vào cảnh khổ. Cánh cửa cuộc đời có lớn rộng không? Tôi đang ngờ vực mở nó ra, bên kia là điều gì đang chờ chực? Hai đứa chẳng trao đổi chuyện trò cho tới hồi quán cà phê kín đáo kia chận lối. Nửa thân quán nằm nhô ra, đóng cọc trên con sông đang hao hụt nước. Đoạn sông này đã từng đi vào văn chương bằng bốn chữ “nắng đục mưa trong” và hiện tại nó giam giữ thứ sắc màu khó cắt nghĩa. Lòng tôi là nắng mà lòng Nhàn là mưa.

Bốn mùa trôi quá mau, anh có lường trước buổi lên đường? Nhàn hỏi. Tôi nhìn vạt nắng đang từ bỏ, thôi liếm vào tà áo trắng của Nhàn. Sang năm Nhàn sẽ ra trường. Ừ mau thật, mới ngồi bên quán vắng đó mà giờ này… Thế nào mai hậu có lúc tôi sẽ than thầm tựa thế. Bài thơ Nhàn tặng đã gấp làm tư nằm trong túi áo, có nghe không tiếng đập nhịp trái tim tôi? Rất ý tứ, ghi cuối bài thơ là tên họ cùng cái địa chỉ của Nhàn. Ổn định chốn đó rồi, siêng viết thư về kể chuyện cho Nhàn nghe, nhớ không? Tôi dùng chữ mới, nghe kỳ cục: Sẽ tranh thủ.

Tôi viết thư, tổng cộng bốn bức, thường tràng giang đại hải. Tôi gò cái tên Nhàn, nắn nót ngoài bì, dán đủ tiền tem theo quy định, gửi đi. Không một hồi âm đáp trả. Xuân Hạ Thu Đông, chỉ bốn mùa, tôi chẳng đủ dũng lược để viết thêm bức thứ năm. Công ăn việc làm khiến tôi mụ người, đồng thời nó buộc tôi phải thở than. Và lời than van đã không đến được tai Nhàn. Tôi tin là đã có điều bất thường xẩy tới.

Nhân dịp nghỉ Tết tôi “tranh thủ” mua vé xe đò chạy về lại chốn xưa. Mưa suốt trên con đường dẫn tới vùng đất đang làm mặt lạ với tôi. Điểm dừng đầu tiên là quán cà phê hôm nào ngồi bên Nhàn, hôm nay mưa tôi sẽ chứng thực “vũ vô kiềm toả năng lưu khách” để thử dòm con nước có thay màu. Mực nước có lên bởi mưa chuyên cần trút xuống, lạ gì, nó trong vì nó mỗi lúc một cách xa mặt bùn bên dưới. Phát hiện thêm, uống cà phê ngày nắng chẳng ngon bằng dưới tí tách mưa giọt bên thềm. Nhàn ngồi đó, chỗ ấy, vạt áo vén ý tứ có bị mưa xâm thực không, làm bẩn màu trắng hồn nhiên thuở học trò.

Tôi bắt xe ôm vào thăm trường cũ, cảnh vật lướt thướt chạy đuổi dưới hai hàng cây sầu đông. Người thầy già nua chẳng mừng vui khi nhìn ra tôi, giọng hao hụt cho hay cô Nhàn thôi học đã lâu, cô ấy lấy chồng, chỉ biết vậy. Một người vượt quá tuổi tri thiên mệnh chẳng nên quan tâm đến chuyện khác, nhiêu đó đủ rồi, trí óc không phải là nơi giam chật mọi thị phi, muốn sống lâu phải học cách giản lược bớt, cố gạt bỏ cho nhẹ gánh hành trang. Theo địa chỉ Nhàn cho tôi tìm tới, đi vào một vuông sân sũng ngập nước. Cậu thanh niên nhìn tôi, nhìn dị dạng một con gà mắc mưa: Lý ra chị Nhàn sẽ về ăn Tết, nhưng có lẽ vì cấn thai bầu bì nên gây trở ngại chăng? Anh là ai? Làm sao tôi có thể nói cho anh biết chỗ chị Nhàn cư trú, đặt trường hợp anh là tôi thì cũng thế thôi, có đúng không?

Tôi về tạm trú trong căn nhà lạnh lẽo giam đầy bóng tối của anh chị tôi. Lì xì mừng tuổi hai đứa cháu và ba ngày xuân trôi đi dưới sụt sùi một trần mây thấp ưa nhỏ lệ. Chị tôi hỏi em lao động chốn đó thấy ra sao? Tôi thành thật: Dạ cũng vừa đủ sống. Đủ mua vé xe đò về thăm nhà thắp nhang dịp Tết. Đủ tự lực cánh sinh. Đủ để thấy hoàn cảnh mình còn hơn lắm kẻ khác. Trời ngưng mưa khi tôi nói lời tạm biệt, chị tôi bỏ vào hành lý đứa em đủ lông đủ cánh một đòn bánh tét và hủ dưa món chính tay chị làm. Ngoài chợ thì ngon hơn nhưng dơ bẩn lắm. Chị nói. Người anh rồ máy xe: Xong chưa, mở hàng thồ mày đi có khi lại hên suốt năm trong việc sinh nhai.

Mồng sáu tết tôi nhận thư Nhàn, một món quà không trông đợi. Tôi dằn lòng chưa bóc vội phong thư. Tôi khui một chai bia ngoại, uống trước khi nhấm nháp những mẫu tự xinh đẹp ấy. Giả có say, hãy đổ thừa vào nồng độ 6% chất rượu do lúa mạch từ Hoà Lan tác động. “Em ghét phân trần khi lỡ quên bổn phận. Vắn tắc thế này: Em đang ở một nơi gần kề chỗ anh. Đưa chân lạc đến nơi đây trước tiên với mục đích là phá thai chốn này không ai hay biết, thứ đến lỡ bề gì cũng còn cơ hội nhìn thấy lại anh. Em thực mảy may không có được hạnh phúc, khi trục cái thai vô duyên ra khỏi người em nhớ tới lời Lão Tử: “Chẳng làm gì cả tốt hơn là bận rộn mà không được tích sự gì”. Em từng bận rộn, từng lu bu, từng đầu tắt mặt tối và càng lúc càng sa chân vào lầm lạc. Hồi nào nghe lại sức em sẽ tới nhìn mặt anh, hẳn xác xơ, hẳn phong sương hơn ngày cũ; và em tin anh chẳng hề giận ghét em”.

Những ngày đầu năm tôi nhác việc cơ quan, đầu óc tôi đi hoang hoặc đôi khi tập trung về câu nói của ông Lão Tử mà Nhàn trích dẫn. Có phải lời ấy nhằm xúi giục đến sự buông thả, đề cao một chữ nhàn? Hãy nên thong dong? Nhàn ơi, lòng anh đang chìm trôi, bận bịu trong lời của Bùi Giáng giăng bủa:

“Đời dại khờ như một giấc chiêm bao”.

Hồ Đình Nghiêm
3.1.2017

Mới nên con người

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 17/09/2018 

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

Xa xứ đã lâu, mãi túi bụi lùng bùng ở trường đời, vậy bạn còn nhớ câu tục ngữ bằng tiếng mẹ đẻ này không?

“Ăn được ngủ được là tiên
không ăn không ngủ mất tiền thêm lo”.

Hỏi cho có lệ bởi tôi tin là bạn nhớ, vì ai trong chúng ta mà chẳng từng trải qua thứ chuyển biến tâm sinh lý ấy ở mỗi “nấc thang” mà đời sống tác động, bày ra cung bậc “lên voi xuống chó”. Lúc ăn được hai ba bát cơm, lúc đắng miệng không buồn đụng đũa. Khi ngủ ngon đầy giấc, khi trắng dã hai con mắt suốt năm canh.

Thi sĩ Bùi Giáng có viết hai câu, theo cách bỡn cợt riêng tây thường hằng:

“Suốt đời phải thức suốt đêm
Suốt ngày ngủ nướng mới nên con người”.

Thức, có nghĩa là không ngủ. Mặt trời luôn khác với ánh trăng. Sáng, tối. Chói loà, nhợt nhạt.

Ngày trước, thời tao loạn, có kẻ nói: Đêm nay bác không ngủ, đêm mai bác ngủ bù. Lớn chuyện hơn, già mồm hơn thì lộng ngôn: Cuba ngủ thì Việt Nam thức, hòng canh giữ hoà bình nhân loại!

Hôm nay, hình như cu-ba đã thực sự tỉnh thức, dụi mắt ngồi dậy, vỡ mộng; riêng anh cu-con vẫn mãi chìm sâu giấc tăm tối, bóng đè. Các bác cũng thế, do việc ngủ bù vượt quá mức quy định nên cứ nướng thân vào chăn ấm nệm êm. Ai lay bác dậy thì kẻ đó ắt bị nhập kho hoá thân thành rệp. Long sàng có rệp! Quả không ngoa ngôn. Can tội phá rối dám đánh thức bậc bề trên. Bề trên đang thiếp giấc nồng, mày dám cà khịa tồng ngồng mọt gông.

Việt Nam là xứ sở liên hệ thắm thiết, chỉ biết tới chuyện ăn, chuyện ngủ. Nó dẫn tới phạm trù của sinh tử, sống chết. Chí thú ăn tới cành hông vẫn thấy đói. Muốn ngủ ngon phải an giấc mộng vàng trong biệt phủ lầu son gác tía. Thời tao loạn gần đây đẻ ra ông Hoàng Kiều, chỉ mang quân hàm tới Thiếu tướng thôi, đã cùng vợ dựng xây nên một biệt phủ ở tỉnh Nam Định có diện tích lớn tới 6000 mét vuông, cơ ngơi và cách trang hoàng nội thất chẳng khác giang sơn khủng khiếp của cựu Tổng bí thư đảng CSVN Nông Đức Mạnh. Để tránh dư luận bức xúc, vợ chồng ông Hoàng Kiều đã dựng nên tấm biển trá hình bằng bốn chữ “Bảo Tàng Đồng Quê”. Ông bà nầy có thuộc thơ Bút Tre chăng? Nghe rất “tâm tư”:

“Hôm nay về viện bảo tàng
Cũng là sứ mạng cách màng giao cho”.

Cách mạng luôn giao việc cho mấy triệu đảng viên, mới đây báo chí giật tít không khoan nhượng về trường hợp một kẻ trung với đảng hiếu với dân (nguyên văn): “Nguyễn Văn Thương, người bị CIA cưa chân tới 6 lần nhưng vẫn chạy thoát”. Quả là một siêu phẩm đề cao anh hùng xứ Việt. Và gián tiếp khinh miệt cơ quan CIA, nếu “tội phạm” Nguyễn Văn Thương mà giao cho công an ta xử lý thì cần gì phải cưa chân cho nhọc xác, có mọc cánh cũng đừng hòng thoát khỏi, bọn tớ có cách làm cho hắn tự té, dẫn tới tử vong.

Báo chí với lại tin tức xẩy ra trong nước, vạn bất đắc dĩ khi đọc phải, nó tựa như cái dằm nằm trong con ngươi. Một mặt gây xốn xang, mặt khác như muốn trắc nghiệm về tâm cảm bạn mang, về cường độ rung, về sự vô cảm khi phát hiện mọi thứ trở nên khôi hài một cách quá đáng. Bạn vẫn còn ra đứng ngõ sau để nghe nỗi đau từng chiều? Hay bạn dìm chết phút yếu lòng: Ta nào phải hạng nước mắt cá sấu!

Do đâu mà phát sinh ra thành ngữ “nước mắt cá sấu”? Không biết. Chỉ biết là mấy năm trước ở Sài Gòn có nhà hàng đặc sản đã không ngần ngại treo biểu ngữ thật lớn: “Không có phụ nữ xấu, chỉ sợ không đủ thịt cá sấu cho phụ nữ ăn”. Chữ viết thật đáng sợ! Quán thu hút lắm thực khách thay phiên vào ra. Thần kỳ ở chỗ nó ca ngợi phụ nữ rất mực, mặt khác biểu dương cái rù quến êm tai về tiết điệu vần vè phụ nữ xấu sánh đôi với thịt cá sấu. Thường thì phụ nữ nhẹ dạ, chóng rơi nước mắt, người Huế kêu bằng mu khóc. Nhưng cá sấu? Đừng hòng tao chảy cho một giọt! Có đúng là như thế?

Khóc là một động từ của người đang thức, bị giáp mặt với niềm đau nỗi khổ chợt ùa đến. Đứa đang ngủ chỉ lảm nhảm nói mớ, đổ mồ hôi trộm là cùng, tuyệt chẳng ai khóc khi ngủ say. Và phụ nữ, dù dung mạo có xấu đi chăng nữa, khi khóc, họ đánh rơi những giọt lệ, tôi nghĩ là đẹp. Tôi nhớ lại là mình đã từng ngợi ca “không có phụ nữ xấu”, lần lượt gửi bài trên trang Sáng Tạo chia sẻ hành động đẹp đẽ của họ:

Viết về Huỳnh Thục Vy, đăng ngày 26/7/2012.

Viết về Nguyễn Hoàng Vy, đăng ngày 9/5/2013.

Viết về Nguyễn Phương Uyên, đăng ngày 30/9/2013.

Viết về Phạm Thanh Nghiên, đăng ngày 1/4/2016.

Viết nhiều bài về Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm), bài gần nhất đăng ngày 3/7/2017.

Viết về Phạm Đoan Trang, đăng ngày 13/3/2018.

Cũng trên diễn đàn Sáng Tạo, đọc thấy và tôi thích hầu hết thơ của Bùi Chí Vinh, khẩu khí thật cá biệt, nhớ bài thơ mới của anh có bốn câu:

“Viết về những nỗi buồn
Thấy mình thêm kiệt sức
Nhưng nếu cứ lặng câm
Cũng đâu tăng thể lực”.

Bạn có kiệt sức? Khi bị chứng mất ngủ kéo dài, thế nào bạn cũng sút giảm thể lực. Tôi cũng ngủ không tròn giấc, chập chờn chừng năm tiếng mỗi đêm. Bác sĩ nói, người ta nên ngủ đủ tám tiếng mỗi ngày, ghi toa cho thuốc ngủ có nhắc nhở: Khi đã uống vào, chớ điều khiển máy móc và không được lái xe. Tôi chẳng ưa đụng tới thuốc men, nghĩ là dược liệu ấy sẽ khiến mình thêm ngầy ngật, vì thế “suốt ngày ngủ nướng mới nên con người”. Rồi nghiệm ra muốn nên người là điều không dễ. Nằm lơ mơ với hai câu thơ quá hay của Joseph Huỳnh Văn:

“Khuya nức nở những cõi lòng không ngủ
Đợi vì sao dậy sớm tiễn người đi”.

Tô Thuỳ Yên cũng có dăm câu ngắn, từa tựa:

“Thức cho xong bài thơ
mai sớm ra đi
cài hờ lên cửa tặng”.

Không ngủ đồng nghĩa với thức. Ở Việt Nam giờ này có một người nguyện tỉnh thức “canh giữ hoà bình cho đất nước”. Người mang tên hay, như một định mệnh buộc phải thế: Trần Huỳnh Duy Thức. Anh thức vì lỡ làm chứng nhân trước bao điều ngược ngạo, để rồi ngủ không xuống với lũ ác mộng vây quanh, những thứ mà “cách màng giao cho” chỉ nhằm đàn áp dân lành, chà đạp dân chủ, khiếp sợ ngoại bang. Anh thức để dóng lên tiếng chuông cảnh tỉnh, tự nguyện ở lại, nào sợ lao tù, tuyệt thực nhịn ăn, chính nghĩa làm chân cứng tà giáo khiến đá mềm.

Tôi luôn mong “thức cho xong bài thơ” nhưng mãi vụng về. Bởi sẽ dư thừa khi nhận biết, giai đoạn này riêng “Duy Thức” tự thân đã là một bài thơ hay, sừng sững, bất khuất, vô uý. Một hình ảnh đẹp còn lưu giữ dài lâu trong tâm tưởng những đứa bị chứng mất ngủ như tôi. Mất ngủ xúi tôi buồn chẳng biết thở than. Tôi quen nhiều văn hữu nhưng tuồng như giờ này họ đã đi ngủ. Thơ văn họ dàn trải đi ngoài mộng tưởng tôi mong đợi. Đồ chừng họ không đứng về phe của nước mắt. Tôi đành gạt lệ thua buồn. Mình ên trong bóng tối quạnh quẽ có mùa Thu lặng thầm bước ngoài song thưa, sương giăng lá rụng.

Hồ Đình Nghiêm

Bọc nhẹ túi không

sangtao.org

Hồ Đình Nghiêm

Posted on 04/05/2018  

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

 tặng độc giả thầm lặng N. Nguyen

Tôi đeo sac à dos sau lưng. Ra đi phải mang ba-lô, quần áo cứ thế chêm vô. Tôi mua một vé đi métro lắc lư chạy tới bến xe đò, tự hỏi mình về nguồn gốc chữ ba-lô. Vì sao lại Tây ba-lô nhỉ? Có Việt ba-lô chăng? Lắc lư con tàu đi. Tàu ấy là tàu hoả, tàu điện hay tàu thuỷ? Trên đất hay dưới nước? Chắc chẳng phải là tàu bay lượn trên không trồi sụt những mây chập chờn.

Đi về những địa phận khác thì có lắm người sắp hàng, riêng quầy bán vé Québec thì tôi là người đứng thứ ba, sau một bà già và sát cái va-li to tướng của một trung niên râu ria xồm xoàm. Khứ hồi hay sao? Người ngồi sau tấm kính hỏi tôi. Không, vé lẻ. Tôi trả lời và đút ba tờ 20 vào cái vòm cung khoét dưới tấm kính ngăn chia. Số bạc lẻ mà người mặc đồng phục màu xanh vừa thối cho tôi không chắc sẽ mua được một ly cà phê. Dầu gì thì chất nước không dùng để giải khát ấy là thứ mà tôi cần dung nạp. Bạn thấy đó, ở sân ga, ở bến tàu, ở sân xe đò, ở phi trường, kẻ lữ thứ thường dùng cà phê để đè nén bao bồi hồi, lắm xúc cảm.
Lại phải đối mặt với cô hàng cà phê: Lớn? Trung bình? Nhỏ? Tôi nhìn mặt hoa da phấn đang được tẩm hương thơm không phải cứt chồn. Trung bình, xin vui lòng. Và phụ chú thêm: Loại dark, strong. Plus fort possible. Đắt đỏ quá. Cà phê ở bến xe thường không mấy ngon, nhưng họ có lý do chính đáng để bán giá khác thiên hạ. Sắp lên đường mà, chín bỏ làm mười đi mà, phân bì kiện tụng đưa ý kiến làm gì cho ngày mất vui, sir!

Mông-xừ lạ mặt ôm ly cà phê đi ra ngoài trời. Trời nắng, thứ nõn nà của dương quang vừa thức giấc. Lá cây xanh biếc cũng bừng tỉnh, đêm qua hình như sương có về. Không gian dựng đặt một hình khối hư ảo, nó khiến tôi nhớ Hàn Mặc Tử: Sao anh không về chơi thôn Vỹ? Xa xứ lạc bước đến nơi này, tôi vẫn xem Québec là một thôn Vỹ tưởng tượng dù có thắp đuốc hai hàng cũng chẳng tài nào ngó ra một ngọn cây cau, một hoa bắp lay bên sông có dáng con đò sẵn lòng chở ánh trăng về đúng với hẹn thề.

Đây về thôn Vỹ mất hơn ba tiếng, chưa kể dọc đường phải dừng ba nơi để đổ người xuống đón khách lên. Liên tỉnh lộ thênh thang, hút mắt những cánh đồng không biên giới ẩn hiện những căn nhà tạo ra từng vệt màu nóng trên bức tranh thẫm xanh làm trôi bớt sự buồn tẻ điệp trùng. Một đàn bò ơ hờ gặm cỏ, đôi ba con ngựa chạy loanh quanh. Những chiếc máy cày được phủ bạt và đàn chim đậu trên dây chùng trông như những nốt nhạc chưa hoàn thiện, khó trỗi nên cung bậc du dương. Tất cả câm lặng vì xe đò dường như có trang bị hệ thống cách âm. Ngay cả khi lao thân dềnh dàng đi, tiếng động cơ cũng không việc gì phải gầm rú. Êm ái, rù rì, dễ làm mắt ríu lại.

Tôi đứng lên với tay moi bọc hành lý để nhặt ra cuốn sách nhàu cũ mang tựa “L’ile d’espérance”. Một kỷ niệm vàng úa Diane trao tay trước hôm từ giã Québec. Diane là cô giáo dạy Pháp văn ở ngôi trường COFI, cánh cổng học đường đầu tiên dành cho bọn di dân đa chủng tộc trọ trẹ ú ớ tấp vào. Cô tận tuỵ, chí tình chỉ bày và hơn bốn năm chia lìa tôi chưa ngốn xong cuốn tiểu thuyết của Erich Maria Remarque. Tôi đọc nhát gừng, chắp vá với cuốn từ điển Pháp-Việt tuy vậy vẫn cảm được cái không khí tan vỡ, đố kỵ, lạc lõng, mất niềm tin mà tác giả bày ra qua nhân vật Ernst Grâber, người lính trẻ được về phép từ mặt trận bên Nga. Diane đã rào đầu tuy cùng một tác giả nhưng cuốn “A l’Ouest rien de nouveau” hay hơn. Tôi thưa, hình như hồi còn ở quê hương, bậc trung học tôi đã từng xem qua, dưới tựa “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”. Và tôi đã chết mê chết mệt. Ở xứ tôi chiến tranh liên miên, ác liệt, gà cùng một mẹ đá nhau chết bỏ nhưng chưa có ai đủ nội công để vẽ nên một cảnh sắc bạc tình vô lý đớn đau kèm chút thơ mộng tựa Remarque. Xe đò mỗi lúc một thu ngắn dặm trường, Québec miền Tây Bắc biết có yên tĩnh như ngày xưa?

Tôi không là một quân nhân Đức được hai tuần phép về lại thành phố tan hoang bom đạn, tôi chỉ là một di dân mà Québec ngày đó đã mở ra cánh cửa đầu tiên, rộng lòng đón nhận, dạy dỗ nuôi nấng. Cho cơm ăn, cho áo mặc và cho tấm lòng vàng son của Diane thiết thân chia sẻ. Khác biệt không gian thời gian hoàn cảnh, khác tất. Nhưng lạ lùng là tôi đang mang tâm trạng gần giống như Grâber, hoài nghi chen lẫn bồi hồi. Nhân vật ấy về căn nhà cũ bị đánh sập, tìm bố mẹ thất lạc ở trung tâm tiếp cư, ở nhà thương, ở trường học, thậm chí chạy ra ngoài nghĩa trang để nhìn mặt từng tử thi. Còn tôi tự lục soạn trong đầu ra từng địa chỉ, bốn năm hẳn đủ dài để Diane thay đổi số phận trên chính quê hương mình? Tóc nâu luôn bối lên, cái ót nhiều lông măng, sợi dây chuyền đánh rất nhuyễn để đeo một mặt ngọc xanh hình thể như một giọt nước. Nước rơi lưng chừng giữa đường khe chia lìa đôi vú không mấy lớn, áo nịt ngực mang số A-34. Tiếng Pháp mang nặng thổ âm, luôn nói chậm rãi cho các “trò” bắt kịp, thông hiểu. Tôi mê đắm lời thơ Jacques Prévert khi Diane cất tiếng giảng về một bài học nằm ngoài giờ. Alicante:

Une orange sur la table
Ta robe sur le tapis
Et toi dans mon lit
Doux présent de la présent
Fraicheur de la nuit
Chaleur de ma vie.

Bến xe đò ở Québec có nới rộng, sửa sang, nâng cấp. Một khách sạn 3 sao nằm kề còn mới màu vôi, cờ tỉnh bang màu xanh nước biển in hình 4 bông huệ trắng phập phồng ở đỉnh cột vắng gió. Việt ba-lô đứng với thân chao khi cảnh cũ ập tới mang nhiều đổi thay. Từ đây về trung tâm thành phố nếu không dùng taxi thì băng qua bên kia đường, vào lồng kiếng đợi chuyến buýt mang số 11 ghé ngang, và tội gì phải gọi taxi. Xe buýt sẽ chạy vòng vo lắc léo ở các con đường, mất thời gian một cách vô lối, phí phạm để đánh đổi một lộ trình bình thường chẳng quá bốn lăm phút. Nhưng đã có hành khách là tôi đang mềm lòng hoài niệm, tôi muốn nhìn lại đủ mọi góc cạnh về nơi chốn tôi dầm mình trong hơn hai năm. Dịu dàng tươi mát trong đêm và cuộc sống tôi từng đón nhận sự ấm áp không diễn tả được bằng lời.

Ngôi trường đã đổi thay bảng hiệu, Mái ngói bạc màu như ngân sách tỉnh bang hết hào phóng nuôi dạy bọn người tứ xứ. Tốn kém cả trăm điều, bạn nên hiểu cho. Hỏi về một cô giáo tên Diane, tầm 40 tuổi, cao 1m 70 nặng 52 ký là chuyện bất khả. Chúng tôi không phải cảnh sát và nếu là police thì họ đề nghị bạn nên mang theo một tấm ảnh, mất chừng non tháng, hy vọng thế, chúng tôi sẽ tìm ra một bóng chim tăm cá. Cây xăng nằm ở góc đường vẫn chưa di dời. Tiệm tạp hoá gần bên cũng mang diện mạo loè loẹt như cũ. Một nhà giữ trẻ đối mặt với “kẻ thù” muôn đời có sức thu hút những đứa đầu xanh vô tội: McDonald’s. Tôi từng được nhận vào đó làm người phục vụ đồ ăn nhanh có mặc đồng phục tươm tất. Chỉ đúng một tuần vì trình độ giao tiếp với khách hàng của tôi quá thấp. Đang học tiếng Pháp và tiếng Anh thì đi đong kể từ hôm người bạn đồng minh nhẫn tâm tháo chạy. Nghe tôi bị đuổi, Diane an ủi theo cách của cô: Toi bị từ khước tới 10 lần thì đến lúc đó mới có cảm nhận đúng đắn về một cuộc sống xa lạ. Đừng nản, niềm tin là thứ chúng ta không thể để vuột trôi. Yêu một người cũng thế. Đam mê hoặc niềm tin đôi khi là hai chân phải trái mỗi ngày bạn cất bước xuống đường. Dọ dẫm rồi sẽ có lúc vững chải.

Tôi chẳng thích quan điểm của Diane, tôi không trang bị niềm tin nào cả. Cái tôi cần là một công việc và được trả lương mỗi thứ năm hàng tuần. Ba ngày sau tôi vào xin việc ở quán ăn có tên gọi lạ thường: “Con Mèo Bị Cảm”. Chủ quán người Ý, đã ba đời cắm dùi mưu sinh ở đây. Ông nheo mắt ngắm tôi: Ông nội tao khởi nghiệp bằng nghề rửa chén lúc 19 tuổi, 25 thì phụ bếp. 32 thành bếp trưởng và 45 tuổi ổng mở ra cái nhà hàng này. Mày tin không? Rửa chén thời buổi này sướng thấy mồ, có máy phụ đỡ một tay…Tuần lương đầu tiên tôi nhận được trong đôi tay bắt đầu biến dạng. Hai bàn tay đã tự nó đoạn tuyệt với giấy bút. Nước nóng, dầu mỡ, xà phòng, thuốc khử trùng, bùi nhùi, lọ nồi mãi bày binh bố trận để tôi ngập đầu vật lộn trong ma mị. Tôi bắt đầu quen miệng chửi thề, những từ ngữ mà chính Diane cũng không thông hiểu về nghĩa đen, nghĩa bóng. Tabarnak, chữ ấy làm gì có trong tự điển Larousse. Và dường như nó dễ phát âm hơn chữ Je t’aime.

Chân mỏi dừng đứng ở một ngả tư, lòng đang phân vân tôi chợt ngó ra một tấm bảng hiệu. Tấm bảng thật xấu, từ màu sắc cho đến cách đặt để những con chữ lộn xộn. Nhưng vì xấu, nó phô bày một sự gợi mời. “Quán Đồng Hương. Đặt Biệc PHỠ”. Một thương hiệu lạc loài, nó chẳng màng lỗi chính tả. Miễn bà con cô bác hiểu điều chúng tôi muốn nhắn nhe là vui rồi. Tôi vui chân băng qua đường. Dạo tôi còn ở đây, thành phố chỉ có duy một cái chợ thực phẩm Á Châu nhỏ xíu, điều này gây khó khăn không ít cho ai kia nuôi mộng mở quán ăn đậm đà bản sắc dân tộc. Phỡ này chẳng biết có giống món Phở đặc thù của người Việt? Không cứ là ban đêm, đôi lúc ban ngày nhà ngói cũng giống như nhà tranh vậy! Và bạn tin không, vàng thiệt gặp lửa cũng phải sợ. Thứ gì mà chẳng ngán bà hoả. Ba má tôi mất sau 75, ông bà nói: Thà mà bị cháy nhà cho cam! Chiến tranh ròng rã mấy chục năm không sứt mẻ, đợi hoà bình tới mấy ổng ngang nhiên vào soán đoạt căn nhà dấu yêu kia. Khi không mà mình trở thành kẻ đầu đường xó chợ, và quy luật khách quan đã diễn ra, song thân tôi chết không nhắm mắt dưới tấm khẩu hiệu “độc lập, tự do, hạnh phúc”. Tôi hằng tin những kẻ “Việt ba-lô” như tôi sống tản mác ở bốn phương trời cũng do 6 chữ vàng ấy xua đuổi đi (một đêm không trăng sao).

Quán không có thực khách, có hai cô gái ngồi cuốn chả giò, vừa làm việc họ vừa trao đổi về một cơn lụt lịch sử đang tác hại ở quê nhà. Giọng họ thật thản nhiên khi nói tới sự tổn thất quá lớn, nhân mạng, trâu bò gà vịt, mùa màng cũng như nhà cửa bị nhấn chìm trong mưa lũ. Tôi hiểu điều gì đã khiến lòng họ nguội lạnh khi nhắc về chốn xưa. Họ sẽ giỏi tiếng Pháp hơn tiếng mẹ đẻ, họ sẽ “merde” nếu tôi bảo chữ phở nên là dấu hỏi hơn dấu ngã. Lớp người họ thuộc loại thịt ba rọi. Đành vậy, nửa nạc nửa mỡ.

Ai đã đan tâm lấy đi một nửa thịt nạc của họ vậy? Và tôi, xương thịt này cũng là một thứ tái nạm gầu đó thôi.

Mấy người ạ? Một cô đứng lên khi thấy tôi bước vào. Chao ơi, phải mà tìm ra cô Diane nhỉ? Hai người. Chưa khi nào tôi nói được chữ đó. Tôi đã đánh rơi lời thề, rằng có ngày sẽ tự mình nấu cho cô ăn món bún bò. Tôi không trông mong đâu. Diane nói, rửa chén ở đó thì bất quá bạn chỉ nấu được món spaghetti là cùng. Dạ, chú thích ngồi ở đâu cũng được ạ. Tôi nhìn quanh và tôi đến ngồi dưới một bức tranh vẽ cảnh đò trôi trên sông với bóng chiều tà. Một bức tranh thuộc dạng “bờ hồ”, có nghĩa là chẳng mang chút nghệ thuật nào ở đấy cả. Vẽ là vẽ vậy thôi, bất biết những điều cơ bản cần có khi gia công. Mặt bàn có vuông kính dày, tấm thực đơn được ép mình bên dưới. Chú ăn gì ạ? Tấm màn sáo ngăn chia được vén mở, một người đàn bà từ sau bếp hiện ra ở đó, có lẽ vì nghe tiếng chào hỏi khách. Tôi nhìn bà ấy, mường tượng chính bà là người chèo đò trên giòng sông trôi xuôi về hoàng hôn. Đò chưa tấp bờ đã vội xắn quần leo vào triền cỏ. Cỏ lưa thưa, mọc cao thấp chút nhớ chút quên. Chút hoài nghi chút xác tín. Tôi đang tự giận mình khi nghĩ mãi vẫn chưa nhớ được một danh xưng. Soan, đúng là Soan, S chứ không phải X. Hoa Soan chớ không là hoa Xoan. Học chung lớp với tôi và theo như cách đánh giá của Diane: Một học trò kém!

Soan trông có già đi, bằng chứng là gương mặt ấy đã nương nhờ vào lắm mỹ phẩm, hoặc thời mới sang chưa có tiền để “nâng cấp” mặt mày? Soan đang vận dụng bộ nhớ, một học trò kém không hẳn là kẻ luôn nhớ trước quên sau. Cách Soan biểu lộ sự ngạc nhiên khiến hai cô gái phải sớn sác chú mục tới vị khách không mời. Săm soi, dọ hỏi, hoài nghi. Tôi ngồi ở cái bàn có hai ghế, một ghế tôi đặt đít và ghế đối diện chễm chệ cái ba-lô. “Ra đi không mang ba-lô, quần áo cứ thế cắp nách”, đó là ngày tháng cũ của một thằng người vượt biên, thậm chí nó chẳng có gì để cắp nách ngoài một nỗi sợ hãi về canh bạc cầm chắc sự thua lỗ, từ chết tới bị thương đếm không xuể, canh cánh bên lòng. Đến được bờ bãi tự do, chí ít hắn phải nên sắm một cái ba-lô để đi đây đi đó (ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn!). Muốn ngồi chung bàn với tôi Soan phải kéo lê một chiếc ghế lại gần. Ôi, lâu ngày quá! Bấy chầy phiêu bạt nơi đâu? Đã lập nên công trạng gì chưa?

Tôi nhìn Soan, thầm nghĩ là mình yêu cái tên ấy quá. Tôi cũng yêu khuôn mặt trái soan của Diane. Chẳng biết hoa soan có đẹp không? Và hương mùi nó mang có đằm thắm?

Tôi vui lòng trả lời tất cả những vấn an của Soan, để đáp lại tấm thịnh tình tôi chỉ hỏi duy một câu: Có phải bà là chủ nhân quán này không? Giọng cười của Soan vỡ ra, phải nhiều nội lực mới tạo được một chất lượng tựa thế. Giọng cười quyền uy của một bà chủ. Gọi thức ăn chưa? Uống bia nhé? Mình đón mừng cuộc hội ngộ. Tôi ngắm người thiếu phụ học chung khoá Pháp văn kéo dài trong bốn tháng. Chỉ cần quen biết trong ngần ấy tháng ngày, tình cờ khi gặp lại, người đó sẵn lòng khao đãi bạn và gọi “đón mừng cuộc hội ngộ”. Tôi cảm động: Hồi nào quán cần người rửa chén đổ rác nhặt rau thì nhớ gọi tôi nhé. Tôi giàu kinh nghiệm việc ấy, nhớ không?

Soan đánh vào vai tôi: Mình không biết đùa, ghi số điện thoại trước rồi sẽ ưu tiên giải quyết cho. Quán đang cần sự góp tay của đàn ông.

Tôi đùa, được làm việc ở đây thì xem như lập được công trạng rồi, “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Nhạc trong quán vừa trỗi bài hát ấy và tôi bè theo. Soan sửa thế ngồi: Tin được mấy phần? Lặn lội về đây có mục đích chi không? Tôi nắm lấy chai bia ướp lạnh mà cô tiếp viên vừa mang ra: Uống nước nhớ nguồn, tôi về thăm trường cũ, thăm cô Diane. Họ tốt với mình quá. Soan vẫy tay làm hiệu, người con gái đang cuốn chả giò ngưng công việc để tiến lại gần. Ngồi tiếp chuyện với chú này đi, tao lui sau lo ninh nồi phở cái đã. Con Trúc này là học sinh sau cùng của ngôi trường vắn số ấy.

Soan đứng lên Trúc ngồi xuống. Tóc che nửa mặt khi Trúc chùi những ngón vào cái tạp dề ca-rô xanh trắng. Tôi hỏi: Trúc có học với cô Diane không? Không, khi cháu vào học thì cô ấy vừa thôi dạy. Trường có tổ chức một buổi tiệc nhỏ với sự đóng góp của các học viên, tự mang lại, giới thiệu những món ăn đặc sản của quốc gia mình chung vui làm bữa tiễn đưa cô Diane. Trúc có biết lý do cô ấy nghỉ dạy? Nghe nói cô bị bệnh nặng, cô muốn về sống gần gia đình. Là rời khỏi Québec? Dạ, ba má cô ở phía cực bắc. Họ mang hai giòng máu, một nửa của thổ dân giống như người Esquimau vậy. Bộ chú không biết sao?

Tôi uống hết chai bia, hèn gì gương mặt Diane luôn thu giữ một nỗi buồn trầm lắng, lôi cuốn. Chút hoang dại cọng với niềm u ẩn ta thường nhìn thấy đọng chiếu trong những cặp mắt của những người không thích hoà mình vào văn minh thành phố. Họ khép kín, họ sẽ hân hoan chừng nào họ bắt gặp một khoảng trời rộng cho dầu trắng toát bạt ngàn giá băng. Tôi hiểu do đâu Diane luôn rộng lòng với những người di dân, những kẻ tị nạn như tôi. Cô hạnh phúc khi còn có chốn quay về, cô thương tôi vì tôi từng là đứa vô tổ quốc. Hắn đang ngồi trong quán Phỡ sai lạc dấu và hắn biết đã thực sự vuột mất cô. Hắn chưa đọc xong cuốn “Một thời để yêu một thời để chết” mà cô trao tặng nhưng hắn ngầm hiểu cái kết thúc bi thảm buộc phải tới của tác phẩm đó.

Không ăn phở vì nghĩ là món ấy dở, tôi gọi dĩa cơm sườn bì chả do đích thân Soan động dao động thớt. Tôi thương những giọt mồ hôi rịn ướt ở chân tóc Soan khi cô mang ra cái đĩa lớn một cách cực đoan. Tôi đùa: Món Sà Bì Chưởng của Soan thâm hậu quá, ăn tới mai vẫn không vơi bớt sáu phần hoả hầu. Cho mình gửi tiền. Tầm bậy. Soan nạt. Biết có còn nhìn thấy nhau bận sau mà vẽ vời. Chúng tôi ôm nhau một lát như ngày cuối kết trúc khoá học để mỗi người một hướng lìa xa. Ngày ấy Soan có hôn bên má tôi nhưng hôm nay thì không. Cô hỏi: Bây giờ vác ba-lô đi đâu? Phía Bắc mênh mông chi xứ biết đâu mà tìm. Thôi cứ thu cất một kỷ niệm đẹp, gặp lại người xưa thêm buồn vì người xưa đang thập tử nhất sinh. Tôi đánh liều hôn vào môi Soan, chỉ để ngăn Soan đừng nói. Soan xô tôi ra: Bậy bạ quá! Hồi nào hết đường đi thì trở lại đây, chắc chắn là không cần người rửa chén đâu.

Tôi cúi đầu. Thấy cái ba-lô không dưng nặng quá. Tôi sẽ trở lại một ngày xấu trời nào đó, việc đầu tiên tôi sẽ bắt thang lên nhúng cọ vào lon sơn để viết lại chữ Đặc Biệt Phở kẻo chúng bạn cười, khi dễ Việt ba-lô. Tôi sẽ lùng sục vào internet, đăng tải một lời cầu mong: Muốn gặp lại cô Diane bất kể cô ở ngàn trùng cách biệt. Quý vị nào hay tin xin chỉ bày, thành thật cảm ơn.

Tôi ra bến xa đò. Đi Montréal. Một vé lẻ. Xin vui lòng. Tôi mua một cốc cà phê. Hoàng hôn đổ xuống trên Québec nhiều bóng tối. Tôi sẽ về tới chốn tôi nương náu lúc nửa khuya. Mùa hè vẫn có từng cơn gió lạnh chạy vụt qua. Qua nhanh hơn cả mộng mị. Nhức buốt. Québec, Je me souviens.

Hồ Đình Nghiêm

Một cánh hoa Dù

Trương Dưỡng

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

12. Đại Đội Trưởng Công Vụ Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù
Đầu năm 1970, tôi gặp Trung úy Thu, sĩ quan ban 4 của Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, trước cùng học khóa Tác Chiến Trong Rừng tại Mã Lai. Anh nói lữ đoàn đang cần chức Đại Đội Trưởng Chỉ Huy Công Vụ. Thu thấy tôi từng làm Đại đội trưởng tác chiến nên bảo về Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù với nó cho vui. Tôi làm đơn vị trưởng có quân trong tay đã quen, sĩ quan tham mưu chỉ một thân một mình thì hơi chán, hơn nữa Đại tá Nam còn độc thân nên cứ tình nguyện đi hành quân hoài. Thấy tôi bằng lòng, Thu về trình với Trung tá Lê Quang Lưỡng.

Thu trước kia ở TĐ5ND làm y tá cho Đại đội 54 của Đại Úy Lê Quang Lưỡng. Thấy anh có bằng cấp, siêng năng, và tánh tình ngay thẳng dễ thương, nên ông cho đi học khóa sĩ quan ở Thủ Đức. Sau khi ra trường, anh được Đại úy Lưỡng kéo về TĐ2ND; vì Thu có tướng lộ xỉ, hai mắt lồi dễ bị chết yểu, nên ông ngầm che chở, cho ở Đại đội Chỉ huy, đỡ nguy hiểm hơn. Nhưng khi Đại úy Lưỡng đi du học ở Mỹ, Thu theo đơn vị ra hành quân và bị pháo kích thủng ruột tại đỉnh cao 1416 tên Ngok Wan ở Dakto, Kontum! Vì vậy khi làm LĐT/LĐ1ND Trung tá Lưỡng cố tình kéo Thu theo. Ông thương Thu ở tánh tình ngay thẳng và làm việc rất năng động. Thu không biết nịnh bợ, anh dám chỉnh (riêng) LĐT nếu ông phạm sai lầm, chính Trung tá Lưỡng thương anh nhất ở điểm dám ăn nói và không ỷ thế làm bậy.

Trong trận Hạ Lào, vì Đại tá Lưỡng ở lại sau để giúp đỡ điều động yểm trợ TĐ2ND và TĐ7ND rút ra an toàn. Lúc ấy địch chỉ có khả năng bắn vói theo máy bay, nên mọi người đều đi đường bộ, chỉ có Thu dám leo lên phi cơ trực thăng để theo bảo vệ chủ mình. Vừa cất cánh chưa được 5 phút, máy bay lập tức bị bắn, phải đáp khẩn cấp xuống gần căn cứ Bravo. Trong khi chờ đợi phi công người Mỹ gọi đồng bạn xuống cứu, Thu cứ lấy mình che chở sợ đạn lạc trúng đại tá Lưỡng. Vị Lữ Đoàn Trưởng thấy anh trong cơn nguy biến mà vẫn một lòng trung thành, lòng ông an ủi và rất thương người sĩ quan thuộc cấp trung cang nghĩa dũng nầy. May thay các phi công Mỹ khác nhận được tín hiệu, nên không đầy 5 phút đã bay tới liều mạng đáp xuống cứu!

Nếu trễ chừng 10 phút thì địch, thấy trực thăng rớt, sẽ tới nơi tìm chiến lợi phẩm; chắc chắn những người trên máy bay nầy sẽ bị bu như kiến gặp viên đường ngon ngọt!

Khi qua Mỹ, Thu ở Atlanta, đứa con trai hay đi tiểu bậy ngoài sân; nên hàng xóm người Mỹ qua nói nhiều lần, anh tức giận lấy roi đánh đứa con trai cưng nhất của mình. Vì nó được nuông chiều quá, nên dạy bảo hoài không nghe. Thật là rủi ro, trong khi đánh, cháu lại né tránh, nên roi trúng nhầm chỗ hiểm, làm cháu chết ngay. Do đó Thu bị cảnh sát bắt giam; vừa hối hận vì lỡ tay đánh đứa con cưng mình chết, vừa không được ở nhà để ngó mặt con lần cuối cùng; tối hôm đó, Thu lấy áo thắt cổ tự vận trong tù! Thật là một thảm cảnh đau lòng!

Khi tôi về làm Đại Đội Trưởng Đại đội Chỉ Huy Công vụ thấy có một số hạ sĩ quan a dua với anh phục vụ của Lữ đoàn trưởng, họ hoành hành lập bè kết đảng (giống như bọn thái giám loạn quyền trong các phim Hồng Kông). Tôi lập tức cho Thượng sĩ Luông làm Thường Vụ thay thế một trung sĩ nhứt. Anh nầy nhờ phe đảng, miệng lưỡi nên lâu nay nắm quyền sinh sát, chỉ huy luôn cả vị thượng sĩ hiền lành có nhiều kinh nghiệm và khả năng. Thế là chúng nó phản đối nói tôi dám “Đảo chánh” và đâm thọc đàm tiếu, rỉ tai gây lung lạc lòng tin của Trung tá Lữ đoàn Trưởng.

Một hôm ông xuống thăm doanh trại đại đội và hỏi:

– Tụi nó đồn anh ăn tiền thằng thủ kho (Trung sĩ Vui) 50 ngàn có đúng không?

Không ngờ có chuyện dựng đứng động trời như vậy, tôi giận đỏ mặt chỉ ngực nói:

– Tôi xuất thân trường VBĐL, Trung tá cứ cho điều tra, nếu có ăn hối lộ của thằng Vui một đồng hoặc một cắc, thì trung tá cứ lột lon, mấy đứa cận vệ của trung tá thuộc quân số Đại đội Công Vụ, nếu tôi sợ họ gièm pha đâm thọc thì không thể nào chỉ huy được.

Trung tá vỗ vai tôi cười giả lã nói:

– Tôi nói chơi với anh thôi, không có gì đâu!

Tôi trình bày rõ với ông, việc nhà kho thiếu hụt nhiều là sự sơ xuất của thủ kho, hậu cứ và sĩ quan đại đội trưởng tiền nhiệm, tôi thấy vậy nên tới đại đội cũ lấy về bù đắp. Từ nay kiểm soát thường xuyên nhà kho, nếu có gì sơ sót chính là trung sĩ Vui sẽ chịu trách nhiệm.

Từ đó bọn gièm pha thấy tôi làm việc thẳng thắn, minh bạch, những tên đệ tử cũng sợ tánh cứng cỏi của tôi; chúng mà vi phạm tôi phạt nặng hơn người khác. Vì tôi rất ghét những ai đâm thọc, nịnh bợ xỏ lá. Những người khác sợ đi tác chiến chớ tôi đâu có sợ. Có lần ở trại biên phòng Kàtum, tôi nạt thằng Miên, bạn cùng khóa, trước mặt Trung tá Lê văn Ngọc, Lữ đoàn Phó, ông ta nói đùa:

– Tụi mầy đừng có chọc thằng Dưỡng, nó bị thương ở đầu nên “Mát” đó!

Trung tá Lưỡng là người giỏi về đánh trận (những sĩ quan xuất thân khóa 4 Võ Khoa Thủ Đức như Tướng Trưởng, Tướng Lân, Tướng Hậu, Tướng Điềm, Đại tá Phước, Đại tá Lương,…đều có tài hành binh), ông thích nghiên cứu tình hình địch, bạn rồi dùng mưu lược tấn công bất ngờ, khiến địch không trở tay kịp. Nhiều khi hằng đêm ông ngồi thảo ba, bốn lệnh hành quân, sau cùng ông quyết định chọn kế sách nào thật hữu hiệu cho quân ta thành công mà ít bị thiệt hại nhất. Nhiều năm tác chiến ở TĐ5ND, ông học được kinh nghiệm của các Tiểu Đoàn Trưởng Viên, Nguyễn Chánh Thi, Ngô Xuân Soạn, Hồ Tiêu, và Ngô Quang Trưởng. Nhờ vậy lúc về nắm TĐ2ND, ông giống như diều gặp gió, có cờ tới tay, sẵn sàng thi thố tài năng ấp ủ bấy lâu nay.

Lúc tôi mới về Dù thì ông là Đại úy Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù. Khóa 20 ở đó cũng nhiều, ông đã tận dụng tài năng của Hạnh, Phương, Hòa, Thọ, Điệp, Toàn,…và những sĩ quan giỏi như Bằng, Phú đen, Mạnh,…đưa tiểu đoàn hết thắng chỗ nầy lại chiến thắng chỗ khác, đặc biệt ông đã cho dùng kèn thúc quân mỗi khi xung phong, binh sĩ hăng say chiến đấu, công hiệu hơn thuốc Hùng Binh của VC, khiến tiểu đoàn nổi danh như cồn. Ông và các sĩ quan cũng lên chức nhanh như gió. Trận Mậu Thân ở Huế, trận Hạ Lào, trận Mỏ vẹt, Lưỡi Câu ở Cục R Campuchia, trận An Lộc, Bình Long mùa hè đỏ lửa, Trận Vĩnh Hạnh ở ven đô,…. đã đưa ông lên hàng Tướng lãnh, chỉ huy Sư đoàn Nhảy Dù cho tới ngày mất nước. Cuộc đời binh nghiệp của ông vô cùng gian khổ, nhưng ông rất mưu lược, bình tỉnh, và gan dạ. Nhà văn Phan Nhật Nam đã tặng ông danh hiệu: “Con Beo Gấm Của Chiến Trường”.

Tôi theo LĐ1ND đi Phước Long, đóng chung căn cứ với Lữ Đoàn 2 Không Kỵ Hoa Kỳ tại căn cứ Phước Bình. Trung úy Công Binh Nguyễn Thanh Nhàn, Miên, và tôi đi trước nửa tháng để làm hầm hố, chỗ ngủ kiên cố cho Trung tá Lưỡng, Trung tá Lê Văn Ngọc, Thiếu tá Ninh, các sĩ quan tham mưu, và binh sĩ. Đại đội Công vụ và Công binh cũng lo làm Trung tâm Hành quân. Căn cứ nầy thường bị địch đặt pháo từ Mật khu Bù Gia Mập và núi Bà Rá bắn vào.

Những ngày rảnh rỗi, ba đứa đi tham quan thị xã Phước Long, và được Đại tá Lưu Yểm, Tỉnh trưởng, cho tiền tiêu xài thỏa chí. Ở đây có làng người Thượng, gần con suối chảy qua thị xã, có cầu treo lắt lẻo gập gềnh khó đi, phong cảnh rất nên thơ, ba đứa thường ra suối tắm, nước rất trong và mát mẽ.

Nửa tháng sau bộ chỉ huy Lữ đoàn và các tiểu đoàn tác chiến tổ chức hành quân phối hợp Việt-Mỹ, vào các khu rừng rậm ở xung quanh núi Bà Rá và thị xã Phước Long. Ngày nào địch cũng từ mật khu Bù Gia Mập pháo vào căn cứ, mỗi khi di chuyển đều phải đội nón sắt và mặc áo giáp. Có một trái hỏa tiễn 122 ly rơi ngay trước hầm của tôi nghe tiếng “Ầm” thật lớn, làm lòng ngực như bi nghẹt, chạy ra coi thấy miệng hố vô cùng to lớn! Đường kính gần 2 thước, sâu hơn một thước.

Hạ sĩ nhứt Cổn bị một quả rơi trúng hầm, bay văng banh ống cống nhưng anh không hề hấn gì, thật là kỳ diệu khó tưởng! Lúc đó Trung tá Lưỡng vừa được thăng cấp Đại tá, tôi lấy trực thăng C.N.C về Sàigòn, mua rượu Champagne, Olive, xúc xích, và thịt nguội tại tiệm Đô Chính, cạnh rạp cinéma Eden. Ông tổ chức tiệc rửa lon có mời vị Lữ Đoàn Trưởng và sĩ quan tham mưu của Không Kỵ Hoa Kỳ qua dự.

Vài hôm sau đi phép vợ sanh (Cháu Thành), trước khi về tôi ghé thăm Thiếu tá Tư. Anh có người bạn làm Phó Tỉnh và nhắn ông ta kiếm con đuông Chà Là cho Tổng Thống. Vị phó Tỉnh Vĩnh Bình nghe tôi chuyển lời, hôm sau đã chở lại nhà mấy quài đuông, ông cho riêng tôi một phần. Đại tá Lưỡng cũng rất thích đuông Chà Là, ông ngâm nước mắm cho nhả nhớt dơ, rồi đích thân đứng chiên từng con. Trong khi chiên, Việt Cộng (có lẽ ngửi thấy mùi thơm chăng!) pháo kích rầm rầm, làm ông hoảng hồn, phóng nhanh vào hầm!

Tôi từng theo Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn đóng ở trại biên phòng Thiện Ngôn, phía Bắc tỉnh Tây Ninh. Nơi đây, Lữ Đoàn trực tiếp chỉ huy các tiểu đoàn đánh qua căn cứ an toàn của địch ở bên kia biên giới thuộc Campuchia, tại các đồn điền cao su Snuol, Chup, Damber, Krek. Một hôm, Trung tá Ngọc rủ anh Lạc và tôi, lấy trực thăng chỉ huy của Lữ Đoàn Trưởng, bay qua Chup, ghé vào bộ chỉ huy liên đoàn Biệt Động Quân, xin tiền Miên của ông Liên Đoàn trưởng, bạn của Trung tá. Trực thăng bay qua phi trường Nam Vang, rồi có xe Jeep đưa chúng tôi vô Thành Phố, chạy vòng vòng qua Hoàng Cung, nhà hàng nổi Maxim, và Chợ Lớn Mới rất khang trang. Nhà phố ở đây bề ngang thường rộng hơn nhà phố ở Sàigòn, Chợ Lớn. Tôi mua trái vải, trái nhản, và trái hồng dòn ở trong chợ Mới (tiền do Trung tá Ngọc chia và của Nguyễn văn Tới, Đại đội trưởng 82 cho mấy hôm trước).

Vài tháng sau, Bộ chỉ huy Lữ đoàn tới đóng ở Katum, để trực tiếp chỉ huy các tiểu đoàn Dù đánh qua biên giới, ngay Tổng hành dinh của Trung ương cục Miền Nam. Tại đây, các đơn vị tịch thu hàng ngàn xe đạp thồ do Trung Cộng sản xuất và mấy trăm tấn gạo, cùng nhiều quân dụng quân trang.

Về Sàigòn tôi được đi học khóa Đại đội trưỏng và Miên xử lý Đại Đội Công Vụ. Khi học xong, đại tá Lưỡng muốn tôi làm sĩ quan ban Ba với Phạm Như Đà Lạc, Bảo làm Đại đội trưởng Công Vụ (lúc tôi rời Tiểu đoàn 9, Bảo cũng thế tôi làm Đại đội trưởng 91, Bảo là người lót đường phải không bạn?) Tôi không thích làm tham mưu, sẵn Biệt Đội Tác chiến Điện Tử có lệnh sắp thành lập (nhờ Phúc, Đại đội Phó, cho biết và bảo tôi lên gặp Trung tá Lân, Trưởng Phòng 1). Ông nói về hỏi ý kiến đại tá lữ đoàn trưởng và tôi được toại nguyện.
13. Biệt Đội Trưởng BĐ Tác Chiến Điện Tử
Năm 1970, mỗi Sư Đoàn đều thành lập một Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử. Nhằm mục đích gài các thiết bị điện tử (gọi là Sensor) trong khu vực trách nhiệm; để kịp thời phát hiện sự di chuyển, sự xâm nhập của địch; bằng sự gây chấn động (Seismic Device) bởi các bước chân; nhiễu loạn điện từ (Magneticfield); hoặc Nghe được âm thanh (Acoustic Device), Nhìn bằng tia hồng ngoại tuyến (Infa-Red).

Khi địch di chuyển sẽ tạo ra chấn động nhỏ trên mặt đất, vũ khí đi ngang qua máy sẽ gây ra sự nhiễu loạn từ trường, địch nói chuyện hoặc tiếng động gần nơi đặt máy, sẽ được chuyển tín hiệu về đài kiểm báo. Tầm hoạt động trong vòng 25 cây số với ăng ten Định Hướng, nếu đài kiểm báo đặt trên đỉnh núi, thì tầm hoạt động rất xa. Các máy Điện tử như Minicid thường được chôn trên đường xâm nhập, mỗi máy cách nhau khoảng một trăm thước, để thâu nhận tiếng động do bước chân của địch. Có những loại máy được thả xuống từ phi cơ, máy nầy hình dạng giống như trái bom tên là Asid, bề dài khoảng nửa thước, sau đuôi có cần “Ăng ten” màu xanh lá cây. Khi phóng xuống máy sẽ ngập sâu dưới đất chỉ ló đầu antenna lên thôi.

Ở đường mòn Hồ chí Minh, người ta thả máy Asid và những máy phát hiện kim khí đi ngang qua (gây nhiễu loạn từ trường), loại máy nầy hình dạng và màu sắc giống như viên đá nhỏ. Máy Acousboy, Acoustic(?), được treo dấu ngụy trang trên những cành cây, thân cây để thu nhận âm thanh. Hàng rào điện tử Mac Namara dọc theo vùng giới tuyến được thiết bị bằng những loại máy trên.

Có lần tại một vùng địch thường di chuyển, ở phía Tây Đồi 50 (La Sơn) 5 cây số, cách phi trường Phú Bài Huế khoảng 14 cây số về hướng Nam, Đại úy Hà Thúc Mẫn, khóa 20 ĐL, tiểu đoàn phó 4/54, chỉ huy lực lượng Action Force phối hợp với Lữ Đoàn 2/101 Không Kỵ Hoa Kỳ, Mẫn đã tổ chức phục kích bằng mìn định hướng Claymore.

Anh đề nghị toán TCĐT đặt máy điện tử Minicid (sensor) và mìn Claymore dọc theo đường (mà tin tức tình báo nói địch thường hay di chuyển). Khi VC đi ngang qua, đài kiểm báo phát hiện tín hiệu, Mẫn ra lệnh bấm nổ (bằng remote control) hàng loạt mấy chục quả mìn. Ngay sau đó đơn vị đổ bộ bằng 6 trực thăng vào lục soát và thu lượm được thành quả vô cùng rực rỡ, hơn 30 vũ khí đủ loại nằm rải rác dọc theo bãi phục kích bằng mìn định hướng nầy.

BĐ/TCĐT gồm có 11 Sĩ quan, 50 Hạ sĩ quan và 10 binh sĩ.

Biệt Đội trưỡng: Đại úy Trương Dưỡng

Biệt đội Phó : Trung úy Trương Ngọc Ẩn

Các Trưởng Toán TCĐT: Trung úy Lâm Vỹ, Thiếu úy An,

Tường, Tám, Ân, Trốn, Liên, Việt, và chuẩn úy Chinh.

Kế Toán Trưởng: Thượng sĩ Cầu

Thường Vụ : Thượng sĩ nhứt Khánh

Thủ Kho: Trung sĩ Hùng

Thơ ký : Hạ sĩ Nguyễn văn Hòa

Biệt đội trực thuộc Đại tá Nguyễn Thu Lương, Trưởng P3

Sau khi thành lập xong Biệt đội, tôi và 3 Sĩ quan Trưởng toán là An, Ân, và Liên được đi thụ huấn chuyên môn tại Trường Truyền Tin ở Vũng Tàu. Khóa nầy quy tụ hầu hết Biệt đội trưởng của các Sư Đoàn. Mỗi ngày chúng tôi ăn cơm chung với Nghiêm và Vinh “Con” ở doanh trại TĐ6ND.

Có lần nhằm ngày thi cuối khóa, Phạm Cảng, Tiểu đoàn phó Thủy Quân Lục Chiến, là bạn cùng Đại đội F khi còn trong trường Võ Bị Đà Lạt, lấy xe Jeep chở tôi ra Bãi Trước nhậu tôm càng tới gần say hắn mới chịu đưa về lại trường Truyền Tin để thi Tổng Kết cuối khóa. Lúc ấy tôi đã ngà ngà, đầu óc còn nhớ loáng thoáng. Thi xong trở ra cổng, thấy vị Tiểu đoàn phó TQLC (Cảng làm Tiểu Đoàn Trưởng sớm nhất trong 25 bạn cùng khóa ở TQLC) đang ngồi ngủ gục trên tay lái xe Jeep! Cảng chờ tôi ra để chở đi nhậu tiếp.

Lúc ở trường Đà Lạt, mỗi sáng thứ hai chào cờ, tôi đi kiếm, Cảng cầm cờ đại đội. Hai đứa cùng cao 1.72 thước như nhau, có lẽ vì “Cờ kiếm hợp nhất”, nên khi ra trường lâu ngày gặp lại, ý hợp tâm đầu, nhậu hoài không chán. Sau khi qua Mỹ, mặc dù ở xa Florida, Cảng vẫn làm bài luận Anh Văn (essay) nói về sự phấn đấu, khắc phục dầu thể xác bị thương tật của tôi, làm cô giáo Mỹ hỏi thăm lia lịa.

Ngày mãn khóa, tôi lên đọc đôi lời phi lộ, có lẽ vì họ nể nang đơn vị Nhảy Dù, nên cho đậu Thủ khoa của khóa Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử đầu tiên nầy. Về Sàigòn, tôi mời mấy anh Biệt Đội Trưởng tới nhà ăn cơm canh chua cá Bông Lau. Mọi người đều tỏ ý khen tài nấu ăn của bà xã.

Biệt đội theo Bộ Tư Lệnh Sư đoàn tới đóng quân ở căn cứ Trảng Lớn, Tây Ninh, để chuẩn bị mở cuộc hành quân quy mô tấn công vào đầu não của Trung Ương Cục Miền Nam tại bên kia biên giới Miên-Việt.

Lúc ấy Lonol nổi dậy cướp chánh quyền. Tại làng Mimốt, lính Khmer tập trung dân Việt Nam giết hại, thanh niên thì đập đầu thả trôi sông, thiếu nữ thì hãm hiếp xong bắt làm người hầu như nô lệ. Có một thanh niên sau khi bị đập đầu, thẩy xuống nước được một lúc thì tỉnh lại. Nhờ làm nghề chài lưới, nên anh lặn rất giỏi; anh dùng hơi tàn cố lội vào bờ bên kia và chạy trốn về biên giới Việt Nam. Gặp lúc TĐ1ND đang hành quân phía Bắc trại biên phòng Kàtum, anh tới xin họ đem quân đi giải cứu mấy ngàn đồng bào, sắp bị lính Khmer “Cáp duồn” sát hại hết! Tiểu đoàn vội báo về BCH/LĐ1ND. Nhằm lúc Trung tướng Đỗ Cao Trí đang họp với Đại tá Lữ Đoàn Trưởng và có sự hiện diện tướng Đống, Đại tá Lương, Trưởng Phòng 3 SĐND. Mọi người đều đề nghị tướng Trí tìm cách cứu giúp đồng bào mình.

Lúc ấy chưa có lệnh qua Miên, nên tướng Trí chỉ thị TĐ2ND lập tức lợi dụng đêm tối, lấy trực thăng của VN tại QĐIII chở quân (vì trực thăng Mỹ không dám thi hành khi chưa có lệnh Tổng Thống của họ). Khi hai đại đội đầu tiên của TĐ2ND vừa đáp xuống sân banh Mimốt, thì Trung tướng Trí cũng đáp trực thăng xuống theo, làm thiếu tá TĐP/TĐ2ND giật mình, sợ ông bị nguy hiểm, nên báo cáo về LĐ1ND.

Tướng Đống thấy Trung tướng Trí vì nóng lòng muốn cứu đồng bào mình mà không nề nguy hiểm, ông vội đốc thúc các đơn vị lên tiếp ứng. Ông cùng Đại tá Lương cũng bay trực thăng tới với tướng Trí tại mặt trận luôn. Lính Khmer là loại ô hợp, chỉ một thời gian ngắn đã bị bắt gọn. Lập tức LĐ1ND cho một Tiểu đoàn tiến từ Thiện Ngôn lên Smac, lo giữ đường cho xe vận tải chở hằng ngàn đồng bào ta về bên nầy biên giới, để tránh bị họ sát hại một cách quá dã man (điều đáng nói là Mimốt cũng gần căn cứ địa an toàn của tướng Trần văn Trà ở cục R, nhưng vì không muốn mất lòng lính Khmer, nên VC nhắm mắt rút đầu để cho đồng bào bị Cáp duồn, miễn sao cho họ được yên thân thôi). Vài tháng sau, Tổng Thống VNCH ra lệnh tấn công qua biên giới Việt Nam-Campuchia phối hợp với Đồng Minh (sau khi đã được Tổng Thống Nixon cho phép).

LD1ND được lệnh nhảy vào giải tỏa Kam Pong Cham, phối hợp với tướng Intam, Tổng Trấn kiêm Tư Lệnh Đệ Nhất Quân Khu, Kiêm Phó Chủ Tịch Quốc Hội. Các tiểu đoàn Dù tung quân ra đánh chiếm Peam Chikong, Pretotung, và Trà Ơn (năm 1970). Có một bà lão kể cho Đại tá Lương nghe là chính tên đầy tớ giúp việc cho bà đã rủ lính Miên tới hãm hiếp con gái và bắt làm người hầu cơm nước, thật là nhục nhã vô cùng!

Giống như cuộc đấu tố ngoài Bắc, trong chiến dịch ngụy tạo là Cải Cách Ruộng Đất, nông dân vùng lên! Các tá điền tố điền chủ, học trò tố thầy. Chính Trường Chinh, Tổng Bí Thư đảng CS đã đích thân đứng ra tố cha mình, để dâng công với đảng!(Đảng viên CS cha mẹ còn tố huống gì người dân xa lạ)

Trận nầy sào huyệt an toàn của Việt Cộng bị phá tan tành; dùng chiến thuật diều hâu di động chớp nhoáng, khiến địch chạy phân tán tứ tung, không nơi trú ẩn, các tiểu đoàn Dù tịch thu rất nhiều chiến lợi phẩm; trong đó có đủ thứ kho chứa quân trang, quân dụng, và hàng ngàn vũ khí, nhiều chưa từng thấy trong cuộc chiến chống du kích tại Miền Nam Việt Nam. Đây là một trận địa chiến quy mô, tập hợp các đơn vị thiện chiến nhứt quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh.

Sư đoàn chia nhiều mũi dùi, tiến vô vùng địch tại bên kia biên giới. Những mục tiêu quan yếu như Lò gò, Xóm Giữa, Smac,Krek, Snoul, Chup, Mimot, Damber,……lần lượt bị các tiểu đoàn Dù và đơn vị Bạn (BĐQ,BB,…) tấn chiếm. Tin tức tịch thu chiến lợi phẩm được báo về tới tấp. Những vùng lâu nay gọi là bất khả xâm phạm, bây giờ đã trở thành bình địa bởi pháo binh, B-52, Khu trục, và cuối cùng các Tiểu đoàn Nhảy Dù, TQLC, Biệt Động Quân, SĐ25BB vào làm chủ tình hình. Trận nầy mất một vị Tướng có tài đánh trận địa chiến. Cố Đại Tướng Đỗ Cao Trí đã bị tai nạn phi cơ, trực thăng chở ông vừa cất cánh tại phi trường Trảng Lớn, đã bị nổ. Dân chúng ở Mimốt nhớ ơn vị tướng anh hùng, cứu hàng vạn nhân mạng, nên đã tạc tượng thờ tướng Đỗ Cao Trí tại Đồn Điền Mimốt.
14. Trận Hạ Lào
Tôi theo Bộ Tư Lệnh sư đoàn Dù tới Đông Hà, đóng quân nghỉ vài hôm, chờ lãnh tiếp tế. Tại đây tôi gặp mấy thằng bạn cùng khóa như Hoàng xuân Đạm, Nguyễn văn Thao, Nguyễn Thiện Sanh đang làm sĩ quan tham mưu ở Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân đoàn I. Nhờ đó mới biết là Sư Đoàn Dù sẽ tham dự cuộc hành quân tên Lam Sơn 719 (tức 1971 tiến quân theo trục Quốc Lộ 9). Mục đích nhằm phá các cơ sở tiếp vận, các kho tàng của quân Bắc Việt vùng phía Đông Thị Trấn Tchépone thuộc Hạ Lào. Bộ Tư Lịnh Tiền Phương SĐND đóng tại phía Bắc Lao Bảo, nằm trên trục lộ kéo dài từ Đông Hà, Khe Sanh, Lao Bảo, và Tchépone (Quốc Lộ 9). Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn ở phía Đông chúng tôi khoảng 1 cây số.

Về tình hình địch, Sư đoàn 308, Sư đoàn 320, Sư đoàn 986 (sau nầy còn thêm nhiều Sư đoàn kéo vào tham chiến), Trung đoàn Chiến Xa, và nhiều tiểu đoàn Pháo binh cùng Hỏa tiễn 122 ly với mức độ tiếp tế đạn dược dư thừa.

Lúc nầy đài V.O.A. và B.B.C. đã nói trước một cách rõ ràng là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ xử dụng các đơn vị Tổng Trừ Bị và SĐ1BB tấn công sang Hạ Lào.

Ngày N-1, Thiếu tá Lạc, Tiểu đoàn trưởng Pháo binh Dù, ngồi trên phi cơ quan sát Hoa Kỳ, bay trên vùng trách nhiệm, thấy những đường đất mới chằng chịt (màu ngà ngà chứ không như bên Khe Sanh, Lao Bảo). Bụi bay mù mịt chứng tỏ có xe đang xử dụng. Anh đếm được 6 đám bụi nhỏ (một hoặc hai xe), nhưng khi máy bay tới gần thì tất cả đã chui vào các lùm cây rậm rạp mất hút, không để lại dấu vết. Bay đến gần Thị Trấn, thấy một cây cầu bắc ngang sông Sépone.

Quan sát kỹ ở độ cao 1000 bộ, anh nhìn rõ không phải là cây cầu, mà là đoàn xe đang băng qua sông. Vì gặp máy bay, chúng đậu sát gần và bất động, trên cao nhìn xuống giống như cây cầu đúc. Địch thường đắp đập đá ngầm (làm cầu ngầm), để xe băng qua sông, vì cầu nổi sẽ bị máy bay oanh tạc ngay.

Tình hình bạn gồm Sư đoàn Nhảy Dù, Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư đoàn 1 Bộ Binh, Liên đoàn 12 Biệt Động Quân, các Thiết đoàn 4, 8, 11, 17, Chiến xa (khoảng 200 chiến xa), Liên Đoàn 1 Không Quân, 8 Tiểu đoàn pháo binh, Lữ đoàn 5 Cơ Giới Mỹ (khai hoang Quốc Lộ 9). Sư đoàn TQLC có nhiệm vụ lừa địch giả như chuẩn bị Bắc tiến, kiểu dương Đông kích Tây rồi làm thành phần trừ bị trong giai đoạn đầu.

Theo kế hoạch dự trù thì giai đoạn đầu Sư đoàn Dù, Liên Đoàn Biệt Động Quân, và Liên Đoàn Thiết Giáp thọc mũi nhọn vào thẳng Hạ Lào. Hành quân lập căn cứ hỏa lực từ Quốc Lộ 9 lên về hướng Bắc nhằm nhử địch nhả Tchépone để Sư Đoàn 1 BB nhảy vào thị trấn nầy (vì Phạm Văn Đồng có tuyên bố ai vào Tchépone tức làm chủ vùng Hạ Lào), sau đó TQLC vào án ngữ cho các đơn vị rút ra.

Ngày N, ngày khởi đầu cuộc hành quân, theo lịnh Tổng Thống VNCH, được đài Phát Thanh Sàigòn truyền đi nguyên văn như sau: “Giờ phút nầy tôi cho lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tấn công qua phần đất Lào”. Vừa nghe xong, các đơn vị bắt đầu xuất phát, qua khỏi biên giới chừng 2 cây số, các Tiểu đoàn Dù gặp sự kháng cự mạnh mẽ của địch.

Nhờ pháo binh và chiến xa cùng sự chiến đấu hăng hái của binh sĩ nhảy dù, khoảng 12 giờ trưa TĐ5ND đã tới địa điểm chỉ định để thiết lập và bảo vệ Căn cứ pháo binh Bravo. Các TĐ1ND, TĐ8, và TĐ9 tiếp tục tiến về hướng Tây, mở đường cho Bộ chỉ huy LĐ1ND tới Bản Đông (BanDong) để thiết lập căn cứ hỏa lực A Lưới (Xem bản đồ phối trí đính kèm). Đến 7 giờ tối, đêm đầu tiên, các đơn vị báo cáo như sau:

TĐ8ND do Trung tá Văn Bá Ninh, Tiểu đoàn trưởng, Thiếu tá Phú, Tiểu đoàn Phó, báo cáo khám phá một kho chứa chừng 2000 xe đạp thồ còn mới, một xưởng sửa chữa trong đó có 1000 xe đạp cũ còn xử dụng được. Một kho nhiên liệu khoảng 50 thùng phuy nhớt và 100 phuy dầu cặn, xác nhận đã đụng độ với đơn vị thuộc Sư đoàn 320 (do khai thác tù binh và tử thi).

TĐ1ND do Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Phan, và Thiếu tá TĐP Sáng, đã khám phá một kho quân trang quân dụng, và xác nhận đã đụng độ với đơn vị của Công trường 308 CSBV.

TĐ9ND do Trung tá Trí (vài ngày sau bị thương cùng bác sĩ do trúng hỏa tiễn địch, Trung tá Ngọc xử lý), Tiểu đoàn trưởng, và Thiếu tá Đồng làm Tiểu đoàn Phó, báo cáo gặp một Trung Tâm Huấn Luyện rất quy mô được ngụy trang trong khu rừng giả nhưng khổng lồ.

LĐ3ND do Đại tá Thọ chỉ huy, được trực thăng vận vào vùng hành quân, thuộc phía Bắc LĐIND của Đại tá Lưỡng chừng 5 cây số. TĐ2ND đi đầu chiếm một ngọn đồi trọc lập căn cứ hỏa Lực mang tên là Căn cứ 30, và chĩa súng đại bác yểm trợ cho Bộ chỉ huy Lữ Đoàn cùng 2 tiểu đoàn trực thuộc tiến về hướng Tây, lập căn cứ hỏa lực mang tên là Căn cứ 31.

Các đơn vị Lữ đoàn 3 ND cũng chạm địch khi vừa đáp xuống, ngay ngày đầu họ đã gặt hái nhiều kết quả không thua vì cánh LĐ1ND (Lúc đầu, theo lời Đại tá Lương, Trưởng Phòng Ba SĐND nói, các đơn vị thắng thế dễ dàng và tịch thâu nhiều kho chứa vì địch tưởng ta đổ bộ hoặc tiến quân bằng trục Quốc Lộ 9 để tấn công Thị Trấn Tchépone, nên dàn sẵn 2 sư đoàn 320 và 308 tại Tchepone chờ đợi, vài ngày sau thấy Thị Trấn yên lặng, nên chúng mới tung ra phản công các căn cứ đóng rải rác lẻ tẻ của ta).

BCH/Lữ đoàn 2 ND đóng ở căn cứ hỏa lực Tàbạt, Lao Bảo, Tiểu Đoàn 7 và hai đại đội của TĐ6ND hoạt động phía Bắc căn cứ Alpha và Bravo.

Gần căn cứ Alpha, có địa danh rùng rợn là “Đồi Ma, Suối Máu”. Vì nơi suối máu, Thiếu tá Phan, TĐT/TĐ1ND, đã bị phục kích và hy sinh, Đại úy Triệu bị phỏng cấp 3. Chính nơi đây đã xảy ra nhiều trận đánh đẫm máu giữa quân Dù và CSBV. Đồi ma là một đỉnh cao, từ trên đây có thể quan sát toàn vùng Nam Lào, trên đỉnh có đồn cũ kiên cố do quân Pháp để lại. Địch quân cố thủ đồi nầy để làm đài quan sát, hướng dẫn pháo binh bắn vào những căn cứ hỏa lực và các vị trí trú quân của ta. Các đơn vị Dù nhiều lần muốn thanh toán ổ chốt nầy nhưng vì địa thế quá hiểm trở (chỉ có một sườn hơi thoai thoải, còn 3 mặt đều dốc đứng). Ngay hướng đường đỉnh là những lô cốt kiên cố.

Vì thế Đại tá Lịch phải chỉ Thiếu tá La Tịnh Tường dẫn hai đại đội thanh toán cho bằng được mục tiêu nầy. Tường cho binh sĩ ăn uống trước sáu giờ chiều, rồi lợi dụng trời sáng trăng, ngầm kéo quân đi đến chân đồi. Khoảng 2 giờ khuya, anh cho Hùng “Móm” dẫn Đại Đội 113 dàn quân làm nghi binh tại sườn thoai thoải. Thiếu tá Tường đích thân chỉ huy cánh còn lại (Đại đội 114 của Hùng “Mập”) leo dốc đứng phía sau núi. Khoảng 5 giờ sáng thì Hùng Móm cho binh sĩ khai hỏa nhưng vẫn nằm tại chỗ, địch quân nhào ra lô cốt để bắn xuống dưới sườn đồi. Lúc ấy cánh Hùng Mập đã leo tới đỉnh mà quân CS vẫn không hay. Tường, Hùng, và toàn thể toán cảm tử xông vào các lô cốt thanh toán gọn từng tên một, bắt sống nhiều địch quân và thu nhiều vũ khí, chỉ có một ít địch nhanh chân tẩu thoát.

Các Đơn vị như Đại đội Tổng Hành Dinh, Công Binh, Quân Cảnh, Truyền Tin, Biệt Đội Tác Chiến Điện Tử, Tiểu Đoàn Yểm Trợ,…đóng vòng đai bảo vệ Bộ Tư BTL Sư Đoàn Dù. Các đơn vị trừ bị bố trí theo trục lộ từ Lao Bảo tới Khe Sanh, và tung ra hoạt động sâu đến bên nây biên giới.

Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến sau đó nhảy trực thăng vào hoạt động vùng phía Nam Sư đoàn Dù và yểm trợ Sư đoàn 1 Bộ Binh đổ bộ trực thăng vào lập căn cứ hỏa lực phía Đông Nam Tchépone.

Trung đoàn 3 cho 2 Tiểu đoàn 2 và 4 của thiếu tá Hoàng Mão, K20ĐL và thiếu tá Tôn thất Việt, k16ĐL, nhảy xuống rặng Kurock thiết lập căn cứ hỏa lực bảo vệ cho 2 Tiểu đoàn 1 của Thiếu tá Thuật Xáng, và Tiểu Đoàn 3 của NT Nguyễn Xuân Phong, K10ĐL, vào phía Đông Nam Tchépone. Tiểu đoàn 2 của Hoàng Mão bị tổn thất nặng và được Tiểu đoàn 3 tiếp ứng kịp thời.

Tiểu đoàn 5 thuộc Trung đoàn 2 của Trung tá Giám và Thiếu tá Huỳnh bá An khám phá nhiều ống dẫn dầu và nhiều kho chứa vĩ đại; Tiểu đoàn 3/2 do Trung tá Nguyễn tri Tấn (hậu duệ của Nguyễn Tri Phương) làm Tiểu đoàn trưởng và Thiếu tá Nguyễn văn Tuấn, Tiểu đoàn phó nhảy đầu tiên. Kế tiếp là Tiểu đoàn 2/2 trong đó có Trung tá Huế, K18 ĐL, làm Tiểu đoàn trưởng và Thiếu tá Nguyễn hữu Cước, Khóa 21 ĐL, Tiểu đoàn phó, nhảy trực thăng vào thị trấn Tchépone (lúc đầu dự trù nhảy xuống phi trường nhưng máy bay quan sát thấy địch phục chờ sẵn, nên đổi bãi đáp giờ chót cách phi trường khoảng 2 cây số về phía Nam) phá tan sào huyệt địch, băng qua đường chiếm nhà thờ rồi cấp tốc rút ra hướng Tây Nam và bị địch chận đánh tại rồi Furaton, Trung tá Quế bị thương và bị bắt tại đây. Thiếu tá Cước dẫn 340 người còn lại của Tiểu Đoàn 2/2 băng qua đường 914 (nhánh của Đường mòn Hồ Chí Minh) về vùng an toàn tại căn cứ hỏa lực Delta 1 của Trung đoàn 3, để được trực thăng bóc ra! Riêng Tiểu Đoàn 3/2 sau khi phá hủy nhiều kho tàn của địch, lúc rút ra cũng bị chận đánh. Vì địch đã tập trung nhiều hỏa tập tại đây để chờ đợi quân ta; do đó đơn vị nầy đã bị tổn thất nặng nề gần nguyên một tiểu đoàn. Trận nầy Sư Đoàn 1 BB bị tổn thất khá nhiều, trong đó có vị sĩ quan nổi tiếng là Trung tá Lê Huấn bị hy sinh ngay từ đợt đầu!

Tội nghiệp Liên đoàn 12 Biệt Động Quân nằm tiền đồn phía cực Bắc; vì vậy chỉ chịu đựng được 7 ngày thì Tiểu đoàn 21 do Thiếu tá Hiệp làm Tiểu đoàn trưởng, và Quách Thưởng, Tiểu đoàn phó; cùng Tiểu đoàn 39 do Thiếu tá Khang, TĐT, và Đỗ Đức Chiến làm Tiểu Đoàn Phó bị tràn ngập (overrun). Họ phải rút về căn cứ 31 cho trực thăng bốc ra; riêng Tiểu đoàn 37 của Lại Thế Thiết đóng với BCH Liên đoàn bên nầy biên giới làm lực lượng trừ bị (lẽ ra TĐ39 làm trừ bị, nhưng vì phi cơ đổ lầm nên lãnh đủ dùm cho TĐ37). Thiết và Măng, là bạn cùng khóa 20 Đà Lạt, sau nầy được thăng cấp Trung tá, làm Liên Đoàn Phó Liên Đoàn BĐQ.

Bộ đội Bắc Việt đã ngang nhiên đổ quân bằng xe dưới chân đồi, rồi uống thuốc kích thích tố tên “Hùng Binh” của Trung Cộng chế tạo. Chúng dùng chiến thuật biển người nhào lên không sợ chết, giống như người máy rô bô.

Những ngày kế tiếp, các tiểu đoàn Dù bung ra lục soát, họ liên tiếp khám phá rất nhiều kho tàng, đủ các loại quân dụng và đạn dược, các vật dụng trong kho quân trang còn mới toanh, TĐ1ND sau đó khám phá thấy một kho thực phẩm trong đó có các loại đồ hộp của Nga và Trung Cộng, chưa từng thấy xuất hiện trên chiến trường Miền Nam.

Nhiều Pass B-52 đánh vào các thung lũng (những vùng nghi ngờ địch quân trú đóng), lần nào cũng có tiếng nổ phụ, chứng tỏ đó là kho đạn. Hoặc những cột khói cao, chỉ dấu đánh trúng vào kho nhiên liệu (đặc biệt kho xăng dưới chân đồi 1500, đã cháy liên tục 2 ngày 2 đêm).

Ở Bộ Tư Lệnh SĐND, ngày nào tôi cũng lên phòng Trung Tâm Hành Quân họp, thấy các đơn vị báo cáo chạm địch và xin tản thương liên tục. Địch quân thường bắn hỏa tiễn 122 ly vào đây, có lần vừa đi gần tới Phòng Hành Quân, thì nghe tiếng hú xé gió của hỏa tiễn, tôi vội nằm xuống, thì “Ầm” một tiếng, quả đạn rơi cách chỗ tôi nằm khoảng 5 thước, cát bụi văng dính cùng mình (không biết tại sao hỏa tiễn cứ theo tôi hoài, có lần tôi và Đại úy Công Binh Nguyễn Thanh Nhàn đang đứng ở gần cầu Mỹ Chánh, khi nghe tiếng hú xé gió của hỏa tiễn, tôi nhanh chân phóng vô hầm; Nhàn đứng khơi khơi cười chọc: “Ông thần Dưỡng trốn đâu mất rồi?”. Nhà tôi ở gần phi trường, mỗi lần nghe pháo kích, tôi phản ứng phóng nhanh xuống dưới cầu thang, vợ con tôi đứng cười ngất, có lẽ tại bị thương nhiều phen, trong mình tôi còn nhiều mảnh quá nên giống như gà bị nhát đèn!)

Đến gần hố đạn, thấy cỏ sậy làm giảm độ xuyên phá (chỉ sâu chừng 10 phân), nhưng bề ngang rất rộng, đường kính khoảng 2 thước, rút từ kinh nghiệm nầy nếu dùng cây dừa nhiều chất sơ, có thể cản độ xuyên phá của bom, hỏa tiễn.

Càng ngày trận chiến càng ác liệt, sau khi thấy ta không có ý định vào Tchépone, 2 Sư đoàn Bắc Việt tại đây bắt đầu phản công, địch điều quân tới các căn cứ hỏa lực để mong đè bẹp chúng ta. Chẳng hạn như cánh quân Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù và chi đoàn Thiết giáp bị nguyên một Trung đoàn của Sư đoàn 320 chận đánh tập kích. Cánh quân TĐ1ND sau đó được TĐ7ND của Thiếu tá Ngọc vào tiếp ứng để đương cự với Sư đoàn 308 Bắc Việt. Lúc đó B-52 được xử dụng như máy bay chiến thuật để yểm trợ các cánh quân bạn (vì địch quân tập trung đông quá, khu trục, pháo binh làm không xuể). Nhiều quả bom rơi cách đơn vị bạn chỉ có 500 thước!

Một hôm, trong cuộc họp của Bộ Tư Lệnh, thấy Lữ đoàn III Nhảy Dù đang bị áp lực quá nặng; Trung tướng Dư Quốc Đống ra lệnh tập trung yểm trợ hỏa lực mạnh thêm. Ngoài ra ông còn cho lệnh phái một toán Tác Chiến Điện Tử vào Căn cứ 31, tăng cường cho Đại tá Thọ.

Tôi chỉ định Trung úy Lâm Vỹ, Trưởng toán 1, dẫn binh sĩ chuyên viên và đem máy Sensor theo. Thấy tình hình lúc đó thật sôi động, Căn cứ hỏa lực 31 của Đại tá Thọ như chỉ mành treo chuông. Chẳng lẽ bỏ anh em đi một mình vào tử địa, tôi quyết định theo trực thăng đưa Toán 1 vào đồi 31.

Khi đoàn trực thăng 4 chiếc bay vào vùng Hạ Lào, tôi ngồi trên máy bay nhìn xuống thấy con sông Sépone chạy dài từ Lao Bảo tới Thị Trấn mút tận bờ Tây. Lúc bay ngang qua căn cứ hỏa lực Bravo của TĐ5ND, thấy những khẩu pháo đang tác xạ liên hồi, khoảng 2 phút sau thì tới Bản Đong, Căn cứ hỏa lực A Lưới, trong đó có BCH/LĐIND, nơi thằng bạn cùng khoá Nguyễn Tấn Kiệt đang làm sĩ quan Hành quân.

Các trực thăng bay rất thấp để tránh đạn phòng không, vậy mà chạy cũng không thoát khỏi! Khi vừa tới đồi 31 thì chiếc đi đầu, trong đó có toán của Trung úy Lâm Vỹ bị bắn trúng, nó bay lảo đảo mất thăng bằng, vội đáp khẩn cấp xuống sườn thoai thoải của Căn cứ 31. Trung úy Vỹ bị bắn bể xương đầu gối! Ba chiếc còn lại sợ quá (vì phòng không xung quanh Căn cứ bắn lên như rừng pháo bông), vội bay trở về Bộ Tư Lệnh.

Ngay chiều hôm đó đồi 31 bị tràn ngập, tôi nghe tiếng Nguyễn Quốc Trụ, bạn cùng khóa, gọi Kiệt bên Căn Cứ A Lưới là: “Xe tăng Việt Cộng đang trên hầm chỉ huy, mầy nói pháo binh bắn lên đầu tao, chờ tụi nó xuống tao sẽ tự tử, vĩnh biệt mầy, Kiệt ơi!”. Trụ là em ruột của Thủ Khoa Khóa 18 Đà Lạt, Nguyễn Anh Vũ, Niên trưởng nầy đã hy sinh mấy năm trước, khi đang làm trung đội trưởng ở Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù.

Căn cứ hỏa lực 31 thất thủ, bên trong gồm BCH Lữ đoàn III Nhảy Dù, Tiểu đoàn 3 trừ, BCH TĐ3PB, Pháo đội 33 của “Anh hùng Mũ Đỏ Tên Đương!”. Thấy tên nhiều đơn vị như vậy, nhưng quân số lúc đó đã hao hụt chỉ còn trên 400 người. Đại tá Thọ,Trung tá Châu,…bị bắt. Đại úy Đương tuẫn tiết!

Những Đại Đội Trinh Sát của các đơn vị thường rất thiện chiến, như TS9 do NT Nguyễn Đình Hạnh, K19 ĐL, chỉ huy. Đơn vị gồm đa số lính thuộc Liên Đoàn Phòng vệ Phủ Tổng Thổng (bị đày, có lẽ không chống đảo chánh). Đơn vị nầy xung trận rất dũng mãnh, đôi khi được thả ngay trong lòng địch. Mỗi lần lâm trận, chị Hạnh cũng nhảy theo xung phong ào ào, khiến binh sĩ đại đội Trinh Sát phục sát đất. Nhưng khi thấy xác địch nhiều quá, chị sợ tới mất ngủ.

Sau nầy chị chỉ lãnh phần gác tù binh, và trực tổng đài để binh sĩ rảnh tay truy kích địch. Ở Vùng IV có nhiều “Nữ quân nhân lậu” nầy và đôi khi họ còn chì hơn đức lang quân, chẳng hạn như bà Tiểu đoàn Trưởng Tiểu đoàn “Cọp Ba Đầu Rằng” BĐQ có thể gan lì giống như Bà Triệu thời xưa.

Đơn vị Trinh Sát Sư Đoàn 9 Bộ Binh của anh Nguyễn Đình Hạnh nổi tiếng sát quân, thường không ai thoát khỏi 6 tháng, riêng đại đội trưởng Hạnh đã bị thương 7 lần và bị giải phẫu hơn chục phen. Nhưng mạng anh rất lớn đã lọt khỏi sổ phong thần. Còn chị lại càng rất chì, đã theo anh hành quân từ ngày chưa cưới, mà vẫn dám tiếp tục theo anh chàng lãng tử bạt mạng nầy tới ngày nay. Hiện anh chị sống tha hương tại thủ phủ Sacramento thuộc tiểu bang California.

Còn các đơn vị Trinh Sát SĐND thì khỏi nói, Út Bạch Lan của Đại Đội 2 Trinh Sát nổi tiếng như cồn, hai đại đội TS1 và TS3 cũng rất là dũng cảm thiện chiến. Chẳng hạn như ĐĐ3 Trinh Sát dưới sự điều động của Đại úy Thanh và Trung úy Bảo đã chiến đấu rất kiên cường khi theo TĐ8ND đi tiếp ứng LĐ3ND, và bị trung đoàn địch phục kích gần chân đồi 31. Binh sĩ toàn đại đội đã dùng lựu đạn để tiêu diệt nhiều chiến xa, họ đã bắn tới hết đạn nhưng vẫn dành 1 viên cuối cùng giống như anh hùng Nguyễn Văn Đương.

Theo lời Vũ Hùng, một chiến sĩ thuộc ĐĐ3TS, kể lại thì cái chết của Đại úy Thanh và Trung úy Bảo cùng nhiều anh em tại gần đồi 31 thật vô cùng dũng cảm, những hình ảnh kiên cường của đồng đội đã ghi đậm vào tâm tư mà 27 năm sau, trên bước đường lưu vong ở Seattle, mỗi lần nghĩ đến anh rất hãnh diện và cảm phục chí can cường bất khuất của đồng đội .

Căn Cứ Hỏa Lực 31 thất thủ là một tin buồn nhất cho Sư đoàn Nhảy Dù chúng tôi từ trước tới nay!

Ngay ngày hôm sau, LĐT/LĐ1ND cho một Tiểu đoàn Dù tới tiếp đón những binh sĩ chạy thoát được từ Căn cứ 31. Thiếu tá Phú, Tiểu đoàn phó TĐ8ND dẫn 2 đại đội tùng thiết, hai chi đoàn Thiết giáp, và ĐĐ3 Trinh Sát đi còn cách Căn cứ 31 khoảng 2 cây số thì bị phục kích bởi quân số đông đảo của Bắc Việt, tưởng chừng sắp sữa bị overrun, nhưng may quá nhờ 2 Pass B-52 đến kịp lúc, bom thả kẹp sát hai bên đường, làm im ngay tiếng súng địch (TĐ1ND và TĐ7ND cũng phải dùng B-52 tương tự để giải vây. Một năm sau, Đại tá Lưỡng cũng lấy kinh nghiệm nầy để giải cứu An Lộc,Bình Long).

Trung úy Vỹ bị thương chân không vô được căn cứ, vừa bò vừa lết xuống chân đồi. Anh đã nhịn ăn uống cả ngày, dùng hơi sức cuối cùng bò lại nơi chiến địa, vừa thấy anh em TĐ8ND, vội la lên cho họ tới cứu, đôi mắt lờ mờ nhìn binh sĩ bạn đến gần, anh kiệt sức, ngất xỉu trên tay họ!

Vỹ kể lại trong đêm đó, sau khi lấy băng cá nhân bó tạm vết thương, anh bị hành sốt, áo quần rách rưới, nên càng lạnh thêm! Lúc đang nằm trốn trong bụi rậm, anh nghe thấy xe địch, thiết giáp và vận tải, chạy qua lại dập dìu, bộ binh địch di chuyển rầm rộ, nói chuyện huênh hoang. Dù quá mệt mỏi, đói khát, Lâm Vỹ cũng cố gắng bò về hướng Nam, nơi BCH/LĐ1ND đang đóng quân tại căn cứ hỏa lực A Lưới. Vỹ nghe rõ tiếng đề ba của pháo đội bắn liên tục suốt đêm, bò được 2 cây số thì trời sáng, anh lo kiếm bụi núp,sợ địch bắt gặp thì coi như đời tàn!

Một tuần sau khi Căn cứ 31 bị thất thủ, địch tập trung dùng chiến thuật tiền pháo hậu binh. Ngày nào chúng cũng bắn vào đồi 30 của TĐ2ND hằng ngàn quả đạn pháo, rồi dùng Thiết giáp và biển người định tràn ngập căn cứ hỏa lực nầy, trong đó có mấy thằng bạn cùng khóa tôi là Hạnh, Phương, Điệp,…cùng Mạnh Thu, Thơm,…hợp sức với các chiến sĩ đồng lòng sát cánh chiến đấu kiên cường, chống đỡ nhiều đợt xung phong biển người của quân chánh quy Bắc Việt. Pháo binh 105 ly của Bành Minh Trí và pháo đội 155 ly của Phạm văn Hy đã quay nòng bắn trực xạ.

Địch quân như đàn kiến bu quanh đồi 30, nhờ bốn pháo đội bắn yểm trợ thật hữu hiệu, những loạt đạn C.V.T. làm đàn kiến im một chút. Trần công Hạnh rà được tần số khu trục Mỹ, điều chỉnh các đợt oanh tạc thật hữu hiệu, làm phi công Mỹ đánh trúng mục tiêu, thầm khen phục anh chàng nào đang bị bao vây mà vẫn còn bình tỉnh tìm cách cựa quậy.

Địch quân hết đợt nầy tới đợt khác dùng biển người nhào lên định overrun như căn cứ 31, nhưng các chiến sĩ can cường TĐ2ND và các pháo đội thề quyết không để cho chúng khuất phục, pháo binh trực xạ bắn cháy nhiều chiếc thiết giáp địch, các binh sĩ dùng lưỡi lê lựu đạn đẩy lui các đợt xung phong. Sau khi cầm cự được hai tuần, BTL Sư Đoàn cho lệnh TĐ2ND để lại vài cảm tử quân cầm cự cho đơn vị lợi dụng đêm tối từ từ rút khỏi đồi 30, chờ khi toán cảm tử rút hết, Lữ đoàn dùng B-52 rải thảm tiêu diệt toàn bộ địch chung quanh Đồi 30 nầy.

Mặc dầu quân số (kể cả pháo binh) trong căn cứ hỏa lực không quá 300 người, mà có thế cầm cự với 2 trung đoàn địch và một trung đoàn Thiết giáp với pháo binh, hỏa tiễn yểm trợ hùng hậu, vậy mà hai tuần lễ tấn công bằng mọi cách, có lúc chiến xa PT76 địch đã vào sát hàng rào; nhưng súng M-72, mìn chống chiến xa, pháo binh trực xạ, và ngay cả lựu đạn tay, đã tiêu diệt các con rùa nầy ngay trước hố chiến đấu của chiến sĩ Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù.

Trong cuộc di tản của TĐ2ND có một chuyện cần kể là khi đang bay thị sát mặt trận, trên trực thăng Trung tá Nguyễn thu Lương, Tham Mưu Phó Hành Quân SĐND, đã vô tình nghe được trong máy tiếng kêu cầu cứu:

– Em là Hạ Sĩ Hứa thuộc TĐ2ND, tụi em còn 6 người với em là 7; tụi em đang ở lưng chừng đồi, em còn súng và hai quả khói, và em có gương soi; vị nào đang bay trên đó nếu nhận được tin xin xuống cứu tụi em!!!

Tiếng kêu cứ lập đi lập lại! Trung tá Lương nói viên cố vấn Mỹ tên Vichy bảo phi công thử bay vòng trở lại coi có phải cầu cứu thật hay địch bắt buộc tù binh dụ máy bay xuống?

Trung tá Lương nói với Hứa:

– Anh nhìn về đồi 30 coi mặt trời hiện đang ở bên trái hay bên phải?

– Dạ bên trái.

Sau khi coi lại giờ giấc, Trung tá Lương tự nói thầm: “Như vậy họ đang ở hướng Tây Nam của đồi 30”.

– Em khoan thả khói, chưa nhận vị trí mà hết khói thì không xuống được .

– Em còn một trái khói màu xanh và một trái màu tím!

– Tôi sẽ bay thấp và thẳng khi nào thấy máy bay đúng hướng thì chiếu gương ngay.

Trực thăng bay qua lại mấy lần, và Hứa bên dưới điều chỉnh:

– Không! Bên trái em .

Trở lại vòng thứ nhì thì nghe Hứa nói:

– Không! Bên phải em .

Lần thứ 3 thì nghe tiếng la mừng rỡ của Hứa:

– Dạ đúng! Đúng! Đang bay thẳng vào mặt tụi em!

Hứa chiếu gương và nói :

– Em đang ở dưới bụng máy bay!

Trung tá Lương nhìn dưới sườn đồi thấy 5, 6 người đang mình trần tay cầm áo phất qua phất lại, ông bảo:

– Thả trái khói xanh!

Hứa làm theo, trực thăng thấy khói bay là sát nhìn kỹ coi có gì khả nghi không? Rồi ông bảo thả khói tím và sẵn sàn chờ trực thăng đáp xuống sẽ phóng nhanh lên. Sau khi bóc lên, Trung tá Lương lấy bi đông nước cho họ uống giải khát; còn Đại tá Vichy vừa đưa bao thuốc thơm vừa đưa ngón tay cái lên ngụ ý khen ngợi toán binh sĩ Dù biết cách thoát hiểm mưu sinh! Còn 7 chiến sĩ TĐ2ND thì mừng rỡ và gật đầu cám ơn mọi người trên máy bay đã không sợ nguy hiểm dám liều đáp xuống vùng sôi động để cứu 7 người !

TĐ1ND do Thiếu tá Nguyễn quang Sáng cho hai đại đội đột kích vào BTL Sư Đoàn 308. Trận đánh xáp lá cà một cách tuyệt vời nầy đã tiêu diệt được viên Tư lệnh Sư đoàn, Thượng tá Nguyễn xuân Rục, với đầy đủ bản đồ và gậy chỉ huy của y.

Trên đường rút về bên nây biên giới, xe thiết giáp chở Thiếu tá Phan, Tiểu đoàn trưởng TĐ1ND, bị bắn B-40, ông đã bị tử thương, Đại úy Triệu bị phỏng nặng (cấp ba), anh phải chịu đau đớn vì giải phẫu ghép da hằng chục lần, vô nhà thương thấy anh treo tay chân, băng bó cùng mình, thật tội nghiệp vô cùng.

Đại úy Nguyễn đức Tâm, đại đội trưởng Đại đội 91 Nhảy Dù được chỉ định dẫn đầu đoàn quân rút lui, anh thấy dọc theo Quốc Lộ 9, địch dàn quân phục kích sẵn, nên bẻ về hướng Nam khoảng 1 cây số, rồi đổi hướng Đông tiến về biên giới, nhờ vậy đưa toàn bộ các đơn vị rút ra an toàn. Riêng chiếc phi cơ chở Đại tá Lưỡng và Đại úy Thu vừa ra khỏi A lưới chừng 5 phút thì bị bắn rớt, may nhờ chiếc trực thăng của Mỹ nhào xuống bốc nhanh lên,nếu chậm chừng 10 phút, có thể vị Lữ đoàn Trưởng tài ba của chúng ta sẽ bị quân Việt Cộng tới bu như kiến (Đại tá Lê quang Lưỡng vì lo cho pháo binh yểm trợ hai Tiểu đoàn Dù rút lui an toàn nên mới kẹt lại sau cùng)

Nếu kỷ thuật tác chiến của những sư đoàn Chánh Qui CSBV khá như sư đoàn Dù và TQLC thì chúng ta sẽ bị thảm hại rất nhiều. Nhưng chúng chỉ quen đánh những trận thư hùng với quân đội Pháp, không có huấn luyện tới trình độ để đương đầu với những đơn vị có khả năng kỷ thuật cao. Nếu 2 tiểu đoàn chính qui Bắc Việt mà gặp một tiểu đoàn Nhảy Dù, TQLC, hoặc BĐQ thì coi như họ bị tiêu ngay.

Trận Hạ Lào, quân VC đã cố gắng dùng biển người và biển lửa, cùng cua sắt để mong đè bẹp ta, nhưng chúng hoàn toàn bị thất vọng. Bằng cớ khi chúng ta rút khỏi Hạ Lào, địch không có lực lượng nào khả dĩ có thể làm tổn thất hoặc rối loạn hàng ngũ ta, lúc đó chúng chỉ có thể bắn vói theo trực thăng để mong gỡ gạc phần nào, mặc dù hai đài phản bội Đồng Minh, VOA và BBC đã cho chúng biết trước.

Chúng ta vào Hạ Lào và chúng ta đã rút ra khỏi Hạ Lào khi nhiệm vụ phá tan căn cứ tiếp liệu hậu cần của địch đã hoàn tất. Hành quân tấn công thì không khó, nhưng hành quân rút lui, trong lúc khó khăn, mà thành công được là điều chắc chắn tinh thần kỷ luật binh sĩ thật cao. Cộng thêm sự gan dạ và tài điều binh của các sĩ quan chỉ huy, một phần cũng nhờ địch quân mất tinh thần và tổn thất quá nặng nề.

Một cánh hoa Dù

Trương Dưỡng

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

d). Giải vây trại Bến Sỏi

Về tới Sàigòn, Đại úy Vị, vừa chuyển đến tiểu đoàn mấy tháng, nay lại đổi đi làm Liên đoàn trưởng Địa phương quân. Tôi nói anh bán lại miếng đất ở Cổng C, do Sư Đoàn cấp cho những sĩ quan thâm niên trên 10 năm. Anh Vị bảo:

__ Bán gì, mầy dẫn tụi tao đi nhậu một chầu là xong.

Thế là ngay trong buổi chiều hôm đó, chúng tôi (Bảo, Tâm, Thành, Phước, Vị, Dưỡng) đưa nhau ra Chợ Cũ, vào quán Nam Việt, thưởng thức món Dê Hà Nàm. Ăn xong, tất cả kéo đi tắm hơi tại đường Bùi Hữu Nghĩa, Chợ Lớn.

Ở hậu cứ được một tháng, tiểu đoàn lại di chuyển lên Tây Ninh (Sư đoàn Dù lúc đó có 8 Tiểu Đoàn tác chiến và ba Tiểu đoàn Pháo binh, sau nầy có thêm TĐ11ND, và 3 đại đội Trinh Sát. Cuối cùng còn thành lập cấp tốc thêm Lữ đoàn IV. Các đơn vị thay phiên nhau ra vùng I, Vùng II, và Vùng III, thường cứ đi hành quân 2 tháng thì về Sàigòn 1, 2 tháng tùy theo tình hình). Mấy ngày nay địch tung quân tấn công và bao vây trại Lực lượng Đặc Biệt Bến Sỏi. Tiểu Đoàn 8 Dù của Trung tá Thọ (người sau nầy bị bắt tại căn cứ 31 ở Hạ Lào), hôm qua vừa đổ bộ trực thăng xuống tiếp viện, thì địch phục kích sẵn tại bãi đáp, và bị tổn thất nặng (trên 100 vừa chết và bị thương!).

Chúng tôi được lịnh cấp tốc nhảy vào tiếp ứng Tiểu đoàn 8, và giải vây trại bến Sỏi. Bãi đổ trực thăng là đồng trống (bãi đổ của Tiểu đoàn 8 xung quanh toàn lau sậy), ở mặt phía Tây chòm nhà thuộc khu Bến Sỏi. ĐĐ 91 nhảy xuống đầu tiên, vừa rời khỏi trực thăng chúng tôi đồng loạt hô xung phong, vừa bắn vừa chạy vào làng (dân chúng đã bỏ nhà khi địch đến). Thật may, không có ai thủ mặt nầy, chúng đang bận cầm cự với Tiểu Đoàn 8 ở mặt phía Đông, sát bờ sông Vàm Cỏ, và một số đang bám vào xung quanh trại Bến Sỏi.

Địch quân không ngờ chúng tôi được điều động tăng viện nhanh như vậy, nên thu dọn rút chạy. Các Trung đội tiếp tục tiến nhanh về hướng trại lính, chúng tôi truy quét xung quanh, thấy có những nồi cơm còn đang nấu chưa chín. Tới cạnh bờ Tây Bắc của Trại thì gặp địch kháng cự, binh sĩ dùng hỏa lực hùng hậu bắn trả. Thấy tiếng súng địch thưa thớt, Tường, Phấn, Trọng, và Trứ cho từng tổ bắn yểm trợ, chiếm từng nhà một, vì trong làng khó đánh, cần cẩn thận tối đa để tránh thương vong.

Mãi tới chiều mới bắt tay được với anh em Biệt Kích trong trại Bến Sỏi, tôi thấy anh Trưởng Trại đang ngồi ngã ngửa trên ghế cao coi chúng tôi đánh giặc. Có lẽ vì trại quá kiên cố và thường bị bao vây, lúc nào cũng có các đơn vị Nhảy Dù thiện chiến đến cứu thì làm sao anh ta chẳng yên tâm được. Sau khi bắt tay xong, chúng tôi chuẩn bị kiếm chút gì bỏ bụng, bây giờ mới biết đói. Cả ngày cứ lo đánh giặc đâu nghĩ tới bao tử còn trống rỗng. Nhưng vì lệnh tiếp viện khẩn cấp (cứu binh như cứu lửa), binh sĩ đâu kịp nhận tiếp tế lương thực, may còn có nồi cháo trắng của địch, Hạ sĩ Năm nhanh tay múc cho tôi một chén cháo của VC để lại, binh sĩ cũng lục lạo kiếm gì bỏ bụng cho qua đêm nay, vì ngày mai sẽ có tiếp tế.

Đang chuẩn bị cởi giày nằm nghỉ, thì tiểu đoàn lại truyền lệnh chuẩn bị di chuyển đêm. Lúc đó vào khoảng 11 giờ khuya, tất cả bắt đầu xuất phát, Đại đội tôi được lệnh dẫn đầu (lại đi đầu, giữa đêm khuya dễ bị phục kích, nguy hiểm lắm! Không biết tại Đại đội mang số 1 hay tại tôi có khả năng địa hình?). Tôi tức giận vì cả ngày đánh nhau mệt mỏi và đói meo do chưa kịp tiếp tế, chỉ một chén cháo mà thấm vào đâu, nếu địch bỏ độc vào cháo thì kẹt rồi (vì thấy lửa còn đang cháy dưới nồi, chắc họ không kịp bỏ độc, nếu có thuốc)! Định nằm ngủ cho quên đói, bây giờ lại phải đi đêm khuya, vào chỗ vô cùng nguy hiểm, nơi Tiểu Đoàn 8 vừa bị địch độn thổ phục kích trong bãi sậy hôm qua! Tôi cho Trung đội 1 của Tường đi đầu, vì khinh binh Võ rất giỏi địa bàn, anh sẽ dùng vạch lân tinh để định hướng đêm. Tôi phải lên đi kế bên Võ để kiểm soát phụ hướng đi, chúng tôi đi quẹo qua lại theo đồng trống, không dám vô sát bìa rừng, sợ địch phục quân ở trong đó. Anh Bảo đi mút đàng sau, cứ gọi máy hỏi nầy nọ, tôi chỉ bấm ống liên hợp hoặc thổi gió như để trả lời. Suốt 2 tiếng đồng hồ, chúng tôi đi trong lặng lẽ, sợ gây tiếng động, lỡ bị địch biết rồi từ hai bên rừng cây bắn ra thì thật là nguy hiểm.

Lúc nầy ai nấy đều quá kiệt sức, chỉ cần một trung đội địch, là có thể làm điêu đứng cả tiểu đoàn quá uể oải nầy rồi! Sau khi băng qua con suối, thì đồng hồ đã chỉ 4 giờ sáng, nơi đây cách mục tiêu khoảng 1 cây số, có lẽ Tiểu đoàn trưởng cũng đã quá đừ, nên cho lệnh dừng quân. Tôi mệt quá không thèm nghĩ đến bố trí phòng thủ hay canh gác gì hết, nằm đại xuống đất ngủ một cách say sưa.

Vừa chợp mắt chưa được 15 phút, bỗng nghe tiếng súng nổ dưới bờ suối, thì ra Thượng sĩ Sơn Bum đã dẫn toán An ninh xuống lấy nước và gặp mấy tên VC cũng đang tới bờ suối, hai bên đụng nhau, anh Bum lấy được vài cây súng địch, có lẽ tại địch không may, bất ngờ gặp phải vị thượng sĩ già, kinh nghiệm từ chiến trường Điện Biên ngoài Bắc.

Đến 7 giờ sáng (nếu ở nhà thì chắc ngủ bù tới trưa) tiểu đoàn chuẩn bị đi tiếp ra hướng Bến Gò Nổi, Đại đội tôi bọc hậu, đi tới xế chiều, Trung tá Nhã gọi tôi qua máy truyền tin:

– Duy Tân đây Sơn Thủy!

– Duy Tân tôi nghe Đích thân.

– Tôi để dành cho anh nón sắt nước ở trên miệng giếng.

– Duy Tân nhận rõ, cám ơn đích thân.

Đi được một đoạn đường, thấy cái giếng, bên trên có một nón nhựa, tôi mừng quá thầm cám ơn vị Tiểu đoàn trưởng tốt bụng; biết tôi bị khát nước từ đêm qua tới giờ, vội chạy tới giếng, định bưng nón nhựa lên uống thì giựt mình khựng lại, vì ở trong đó là nước sình đục ngầu; nhìn xuống giếng thì toàn đất sình không! Nhưng khát quá nên cũng hớp đại, binh sĩ mỗi người uống một hớp đỡ khát. Có người lấy nước dưới hố bom, khi uống xong nhìn kỹ thấy có xác chết sình ở sâu dưới đáy, nên ói ra mật xanh mà cũng còn thấy gớm.

Tới 4 giờ chiều thì đến bến Gò Nổi, Trung sĩ Phượng chở tiếp tế bằng tàu thủy. Đặc biệt kỳ nầy mỗi đại đội được một cây nước đá, lúc đang khát mà ngậm được cục nước đá thì thật là mát thấu ruột gan. Sau khi nhận tiếp tế và các binh sĩ nấu ăn xong, Đại đội 91 qua nằm tiền đồn bên kia con rạch nhỏ, phía Bắc và cách bộ chỉ huy Tiểu đoàn khoảng 2 cây số, ĐĐ92ND thì nằm tiền đồn hướng Tây, ĐĐ93ND ở hướng Nam, ĐĐ90ND, và ĐĐ94ND thì đóng tại bến Gò Nổi .

Vị trí đóng quân của tôi là một đám rừng rậm, gần chỗ Tiểu đoàn 8 Dù bị phục kích hôm qua. Vì đây là nơi hung hiểm, nên tôi đích thân phân chia phòng thủ, kiểm soát các vị trí đại liên, dặn các trung đội gài mìn claymore, mìn chiếu sáng, và bẫy lựu đạn. Rồi cùng với sĩ quan tiền sát điều chỉnh các hỏa tập cận phòng.

Đang bận rộn thì viên Trung úy cố vấn đại đội tới hỏi: “Tại sao tôi đóng quá rộng (quá phân tán) như vậy?” Thấy anh ta chết nhát muốn đóng dồn cục cho đỡ sợ, sống chết mặc bây, miễn sao bảo vệ cho mình an toàn; cứ trông mong ngày tháng hết hạn mau để rút về nước tránh nguy hiểm.

Tôi tức giận bảo nó: “Mầy mới ra trường chưa kinh nghiệm chiến trận, về bảo thầy mầy qua học tao nè”. Hắn thấy tôi giận dữ, một phần vì sợ đi theo đại đội nằm tiền đồn nguy hiểm, nên báo về Cố Vấn Trưởng ở Bộ chỉ huy Tiểu đoàn, sáng hôm sau anh ta được rút về ở chung với Tiểu đoàn.

Nửa tháng sau, Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn vào đóng ở Trảng Lớn, Đại đội tôi đi nằm tiền đồn sâu trong Quận Thanh Điền, gần Bến Gò Nổi, phía Đông sông Vàm Cỏ. Binh sĩ biết khu nầy đầy VC (Việt Cộng), họ bắt chước địch, ai nấy đều đào hố chiến đấu có nắp che chở mảnh B-40. Đêm đó chúng tôi bị địch bắn B-40, Ak-47,… vào vị trí đóng quân, mọi người ra hố chống trả mãnh liệt, tiểu đoàn cho bắn soi sáng khắp vùng, sĩ quan Tiền sát gọi pháo binh bắn các hỏa tập cận phòng. Cũng may nhờ hầm có nắp che nên chỉ một vài binh sĩ bị thương. Trong đó khinh binh Võ bị viên đạn xuyên ngực khá nặng, sau khi địch thấy chúng tôi phòng thủ kiên trì, lại bị pháo binh bắn hiệu quả quá, chúng rút lui qua bên kia sông.

Tôi gọi tiểu đoàn xin trực thăng tản thương, nhưng nghe tiếng anh Bảo nói trong máy:

– Mầy đuổi Mỹ, bây giờ năn nỉ nó cho máy bay đi ?

– Chết bỏ, tôi không năn nỉ ai hết!

Khoảng 1 giờ khuya, Thiếu tá Bảo đích thân theo trực thăng vào bốc thương binh ra. Gặp mặt tôi, anh cự nự:

– Mầy cứng đầu làm liên lụy tới tao đây nè!

Tôi mỉm cười :

– Xin lỗi đích thân! Tôi đâu có muốn như vây.

Cố Vấn Mỹ, chỉ một vài người có đầu óc bảo thủ, lo an toàn cho bản thân mình, như anh Trung úy vừa nói trên. Đa số người khác đều biết hòa mình với chúng ta, chẳng hạn như Trung úy Smith ở trận vườn trầu vùng Ven Đô. Các anh Sanchez, Sinkovitz, và Takata là những người rất tốt. Sinkovitz mỗi lúc dừng quân trong xóm, thường nói tôi mời các sĩ quan Trung Đội Trưởng tới nhậu. Anh bỏ tiền mua rượu đế, tôi lo đồ nhậu, thật là vui vẻ, nhưng khi chạm địch thì anh tự động xin máy bay tới yểm trợ thật kịp thờ, anh ta đã bị thương nhiều lần. Lúc về hậu cứ, hắn thường rủ Thượng Sĩ Sơn Bum đi nhậu mút mùa.

Takata là người Mỹ gốc Nhật, sinh trưởng ở Hawaii, anh đi quân đội lâu năm leo lên tới cấp bậc Thượng sĩ Nhứt, lúc mới về làm Cố Vấn Biệt Đội Tác chiến Điện Tử (Sensor Detachment), anh đã giúp đỡ rất nhiều. Vì Sư đoàn Dù ủy nhiệm cho tôi đứng ra tổ chức đơn vị nầy, mọi vật dụng đều thiếu thốn. Takata cứ theo hỏi có cần gì không anh sẽ giúp đỡ, tôi nói cần văn phòng phẩm, nhưng anh hỏi cá nhân tôi cần gì, chẳng hạn Tivi, Radio, đồ trong PX,…Thấy tôi cứ lắc đầu từ chối, anh thắc mắc nói khi làm cố vấn các nơi khác, đơn vị trưởng thường nhờ mua đồ lắm, sao tôi không chịu đòi hỏi gì hết vậy. Tôi nói tao cũng rất thích, nhưng vì thể diện dân tộc, không muốn người Mỹ coi thường người Việt Nam, nếu mầy có tốt thì kiếm gì giúp đỡ cho gia đình binh sĩ đi.

Tôi chỉ vui miệng nói chơi, tại vì hắn cứ theo hỏi hoài. Thấy anh cười chúm chím bỏ đi, tôi vội lên Phòng 4 để nộp bản nhu cầu cần thiết về vũ khí, quân dụng, và quân trang của đơn vị tân lập cho Trung tá Huy. Bất ngờ ngày hôm sau, Takata đã lên căn cứ Long Bình ở Biên hòa chở về mấy xe GMC tủ sắt và giường sắt, mọi gia đình quân nhân trong biệt đội đều có. Thấy tôi, anh ta cứ cười mím chi cọp như còn dấu một điều bí mật gì. Khi về nhà mới biết anh đã lén chở ra cho tôi một giường sắt và một tủ sắt như các anh em binh sĩ trong Biệt đội.

Anh có mời tôi lại nhà chơi, thấy chị là người gốc Hoa Kiều, dân Cần Thơ, có học thức, tánh tình hiền lành, ăn nói lễ phép, săn sóc chồng con giống như người Nhựt. Anh là Cố Vấn mà đi đâu cũng hỏi qua tôi, nhằm lễ Giáng Sinh, Takata mua mấy két bia, tôi mua vài con vịt, lấy trực thăng đem lên cho toán coi đài kiểm báo trên đỉnh núi Bà Đen.

Nhân dịp Thanksgiving, anh có rủ tôi và Thiếu úy Tường đến dự lễ của người Mỹ gốc Hawaii tại một Vila rộng lớn ở góc đường Trần Quí Cáp và Trương Minh Giảng, Sàigòn. Họ tổ chức theo tục lệ của người dân bản xứ, những cục than đá to được nung đỏ, nhét vào bụng các con heo đã làm sạch, họ đem chôn heo dưới hầm sâu, rồi lấy lá chuối đậy lên, trước khi lấp đất, heo được phủ kín bằng vải lều. Đúng 12 giờ trưa hôm sau, tức ngày lễ Tạ Ơn, Takata kéo tôi và Tường cùng mọi người cổ đeo vòng hoa, quây quần xung quanh hầm, choàng vai nhau vừa cầu nguyện, ca hát, và nhảy múa, giống như dân tộc Thượng. Sau đó họ cuốc đất và kéo lều vải, lá chuối ra. Heo bị than đá làm chín rục, giống như thịt hầm. Takata đưa cho tôi một dĩa thịt heo mềm, nóng bốc hơi, đụng vào muốn phỏng môi. Thức ăn, rượu, nước ngọt, bom, nho,…thì tự do.

Một hôm nọ, tôi theo máy bay của Thiếu tá Nguyễn Đình Bảo đi thả các máy Sensor ở vùng Damber bên Cam Bốt; trực thăng bị phòng không bắn trúng mấy viên đạn. Takata đang ở trại B-16 hết sức lo lắng và bồn chồn. Lúc máy bay vừa đáp xuống, anh đã chờ sẵn tại phi đạo và vội chạy tới ôm xiết chặt, tỏ ý mừng tôi vừa thoát hiểm, thật là có tình có nghĩa.

Takata rất dễ dãi, có lần ra thăm toán Tác Chiến Điện Tử của Thiếu úy Chinh trên căn cứ Charlie ở Tân Cảnh; chiều về Kontum tôi dẫn anh tới nhà thằng bạn học cũ tên Sủng để ăn món bún nước lèo; vậy mà hắn cũng ăn ngon lành và tối thay vì vô trại ngủ, anh đã cùng tôi nghỉ đêm tại đây nữa chứ! Sủng “Lùn” là thằng bạn thân cùng quê Vĩnh Bình, nó kinh doanh nổi tiếng và giao thiệp rộng rãi tại thị trấn Kontum nầy.

Có lần hắn dẫn tôi và Trung úy Duối, sĩ quan Quân Cảnh 204 Sư Đoàn Nhảy Dù, cùng 2 anh Trưởng Ty vô một buông Thượng nhậu rượu cần với 2 người con vị Tù Trưởng. Người con trai thì hát và đờn Tây Ban Cầm rất hay, giống như Chế Linh; còn cô con gái tên Nhân thì có nét đẹp tuyệt trần, mủi cao, đôi mắt bồ câu đen huyền. Tuy là dân tộc Thượng nhưng cô có nước da trắng mịn màng và đôi bàn tay thon đẹp, giống như sơn nữ Phà Ca hoặc Châu Pha trong các bài hát mà Phương Hồng Quế thường trình diễn. Cô Nhân học lớp Đệ Nhị trường Dòng và nói tiếng Pháp như người Tây rặc. Ngoài nét đẹp sắc sảo, cô còn hát và uống rượu cần rất hay; tánh tình cô thật thà chất phát. Lúc rượu vào và ngà say, Duối và các anh trưởng ty méo mó tay chân khiến cô ta bực mình nói :

– Ông trưởng ty nầy xấu quá! Anh nầy dễ ghét quá!

Cô thấy tôi đàng hoàng nên cứ lại ngồi gần kề sát bên và cứ bảo tôi phụ uống phần rượu của cô (mỗi người tới phiên thì phải núp hết một “Can” bằng ống hút dài tới đáy bình rượu cần). Vì đang hứng chí và được người đẹp nhờ vả, nên tôi cũng tỏ vẻ “Ga lăng”, sẵn sàng “Chở” luôn phần của nàng sơn nử tên Nhân mỹ miều nầy. Rượu cần làm bằng bo bo, vị ngọt nhưng say ngầm; khiến tôi khi về trại tối đó bị say suốt đêm, trong giấc mơ thấy mình cùng nàng sơn nữ đang bay lơ lửng trên mấy tầng mây xanh, vân du khắp non bồng nhược thủy!

Sau khi mất nước, ở Hawaii, Takata tìm kiếm tôi khắp nơi, mãi tới đầu năm nay, nhờ anh Hà cho biết mới liên lạc được, (tôi cũng có hỏi anh Bùi Đức Lạc và nhiều người khác để tìm Takata). Được tin tôi, anh mừng hớn hở, vội gởi quà đặc sản Hawaii. Mặc dù bị suyển nặng, đi đâu cũng mang theo bình dưỡng khí, vậy mà anh cũng định đi xa thăm tôi và gởi cho trước quà kỷ niệm. Trong đó có Poncho Light mà ngày xưa tôi đi hành quân lúc nào cũng mang theo, và mũ Dù cùng nhiều đặc sản Hawaii, anh thật là người chí tình, bây giờ anh đã hưu trí.

Những ngày đóng quân trong căn cứ B-16 ở Tây Ninh, khi nào rảnh rỗi, Nhan thường rủ tôi, Tới, và Minh đi nghe bản nhạc “Qua Cơn Me”â mà 4 đứa đều thích, tại quán cà phê phía sau lưng Tòa Hành Chánh tỉnh.

Trở lại chuyện hành quân, tiểu đoàn hoạt động vùng Tây Ninh được hai tháng thì về nghỉ ở Hậu cứ. Lúc nầy vào cuối năm 1968, nhân dịp lễ Quốc Khánh 1-11-68, anh Thiện, anh Tâm và tôi được thăng cấp Đại úy Đặc Cách. Phấn được thăng lên Trung úy, Trứ thăng cấp Thiếu úy.


e). Mặt trận rừng Long Giang

Nghỉ ở hậu cứ hơn 3 tuần lễ, tiểu đoàn ra Ven Đô một tháng, rồi đi hành quân tại Huế hai tháng trong các vùng Phú Thứ, Hương Điền, Quảng Điền,… chúng tôi chỉ chạm địch lẻ tẻ không đáng kể.

Sau khi về trại Hoàng Hoa Thám nghỉ quân 1 tháng, tiểu đoàn lại chuẩn bị ra quân vùng Tây Ninh. Căn cứ địa của Bắc Việt càng ngày càng bành trướng, có tới 400 ngàn địch thường xuyên trú đóng trên lãnh thổ Căm Bốt. Khiến chánh quyền Lon Nol bị dân chúng nổi lên chống đối. Ông ta cầu cứu Mỹ can thiệp giúp đỡ. Tổng thống Nixon lên đài giãi thích với dân chúng là “Miền Bắc đã tập trung các lực lượng chính quy tại các khu căn cứ có tính cách bất khả xâm phạm ở Căm Bốt, để mở các cuộc tấn công vào lực lượng Hoa Kỳ và Đồng Minh…… Tôi thà làm Tổng Thống một nhiệm kỳ, còn hơn là làm Tổng Thống hai nhiệm kỳ để nhìn thấy sự thất trận đầu tiên của Hoa Kỳ trong vòng 190 năm lịch sử này”.

Rồi ông ta cho lịnh oanh tạc B-52 và mở các cuộc hành quân phối hợp Việt-Mỹ vào Cục R ở trên lãnh thổ Căm Bốt. Nhằm mục đích thanh toán Bộ Chỉ Huy đầu não, đã điều hành tất cả mọi hoạt động quân sự của Cộng sản tại miền Nam Việt Nam. Vì thế quân Việt Cộng như kiến bị động ổ, chạy tràn lan qua các vùng rừng rậm ở Tây Ninh và Bình Long.

Lúc chúng tôi đến thị xã Tây Ninh, thì Tiểu Đoàn 9 được lịnh đi tuần tiểu lục soát địch tại đồn điền cao su ở hướng Đông làng Long Hoa. Đại đội 91 có nhiệm vụ bảo vệ pháo binh. Họ đang yểm trợ Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù hành quân trong đồn điền cao su Bến Đá, phía Đông Bắc quận Khiêm Hạnh. Chiều hôm đó Tiểu đoàn 1 chạm khá nặng, địch quân làm chòi canh trên ngọn cây và bắn tỉa vào các khinh binh, đại đội của Phạm Thái Hóa, bạn cùng khóa, bị chúng cắt làm đôi. Lúc đó Trung tá Phạm Hi Mai, tiểu đoàn trưởng, đang ở pháo đội, gọi máy điều động các đại đội khác lên tiếp ứng; tôi nghe trong máy tiếng Hóa la:

– Tụi nó đông lắm, cứ cho bắn pháo ngay trên đầu chúng tôi, mau lên!

Các đại đội nhanh lẹ tiến lên cố chọc thủng vòng vây, tới mờ tối thì bắt tay được cánh quân của Hóa. Sáng hôm sau, Tiểu đoàn 9 vào Bến Đá tăng cường, cùng Tiểu đoàn 1 tràn lên đánh đuổi địch ra khỏi khu vực. Tiểu Đoàn 1 rút ra thị trấn, chúng tôi tiếp tục truy kích địch tại vùng Bến đá. Hai ngày sau, không còn tung tích địch, Tiểu Đoàn 9 bọc về đồn điền cao su gần Long Hoa và đóng quân lập căn cứ tuần thám tại khu vực nầy. Đại Đội tôi hành quân lục soát và chạm du kích lẻ tẻ tại khu vườn cao su gần bờ làng. Tối đó chúng tôi vào xóm nghỉ, Bộ chỉ huy đại đội vô tình đóng đúng ngay nhà một người đàn em, K21 ĐL.

Trong Long Hoa, nhà được chia từng lô, đường xá chằng chịt, cây cối rậm rạp, rất dễ bị lạc. Chúng tôi có đụng du kích khi họ vào làng nầy phá rối (đạo Cao Đài cũng chống Cộng như Thiên Chúa). Khi đóng quân xong, các sĩ quan trong đại đội cùng họp nhau nhậu rượu đế với Sinkovitz, anh nầy có tật ngủ mặc nguyên đồ trận, không mùng mền gì hết, vì con người khổng lồ nầy toàn mùi rượu, chắc muỗi hút máu sẽ bị say luôn. Sinkovitz rất gan lỳ, khi chạm địch anh gọi máy bay tới rất nhanh.

Khi hoạt động xong khu vực Long Hoa, tiểu đoàn được điều động qua bên kia sông Vàm Cỏ Đông, bộ chỉ huy lập căn cứ ở Bến Gò Nổi, các đại đội tổ chức tuần tiểu về hướng Tây, Nam, và Bắc; còn hướng Đông giáp với bờ sông.

Một hôm Thiếu tá Bảo chỉ huy hai Đại đội 91 và 92 của tôi và anh Thành, vào lục soát rừng Long Giang, ở phía Tây và cách Gò Nổi độ 5 cây số (phía Tây của Rừng nầy chừng 10 cây số, bên kia biên giới Miên-Việt, là nơi VC đặt căn cứ an toàn do Tướng VC Trần Văn Trà chỉ huy, đây còn gọi là Cục R, căn cứ nầy chạy dài từ Nam lên Bắc, qua Kiến Tường, Lò Gò, Xóm Giữa, Thiện Ngôn, có tên là Lưởi Câu, Mỏ Vẹt) .

Rừng Long Giang bỏ hoang lâu ngày nên cây mây và gai gốc chằng chịt, các khinh binh chỉ phá độc đạo, đi hàng một, Đại đội tôi đi một mạch từ Đông qua Tây không gặp gì hết, Đại đội 92 bên cánh phải của tôi, gần bìa rừng nên chạm địch (vì địch đào hố sát bờ rừng phía Bắc), hai bên bắn nhau dữ dội, một chập sau có tin anh Thành bị thương. Tôi được lịnh bọc lại để nghênh chiến cho Đại đội 92 tìm cách rút ra.

Sau khi ĐĐ92ND rút ra xong, chúng tôi dàn ngang ngoài bờ rừng, nả súng bắn vào điểm đóng quân của địch. Cầm cự một lúc, tôi nghĩ rừng nầy đầy cây mây và gai gốc, dù phi pháo bắn vào, chỉ chạm nổ trên ngọn, địch quân có thân cây và nắp hầm che chở kiên cố, rất khó đánh bật họ ra. Tôi cho lịnh đeo mặt nạ và dùng súng phóng lựu bắn hơi cay, Thiếu úy Trứ, Trọng, và Phấn cho bày “Thùng cà rem” E8 (binh sĩ thường gọi là “Ơ quít”) và đồng loạt phóng vào mục tiêu. Địch bị động ổ nên bắn bậy bạ để rút chạy, lúc đó tôi đang đứng ở một chòm cây, vì hơi cay nhiều quá nên cởi nón sắt ra chuẩn bị đeo mặt nạ.

Bỗng nghe “Ầm” một tiếng, đầu như bị ai cầm búa tạ đập một cái rầm, cả thân hình tôi té nằm úp xuống đất. Đưa tay rờ đầu, thấy máu chảy dài từ bàn tay tới cùi chỏ, thì ra địch đã bắn B-40 trúng ngọn cây, hai mảnh bay tới ghim trúng vào đầu, sức hơi phụt mạnh của đạn làm cho tôi té nguyên con.

Nghe tôi bị trúng đầu, Tiểu đoàn lập tức đem trực thăng C34 tới bốc chở thẳng về bệnh Viện Đỗ Vinh, trong trại Hoàng Hoa Thám SĐND, Hạ sĩ Năm nhanh nhẹn nhảy theo để chăm lo cho tôi. Tội nghiệp đêm đó Bác sĩ Thiện thức suốt đêm, cứ cách một giờ tới canh chừng, vì anh sợ bị nứt giáp sọ, hoặc chấn thương não bộ (Thiếu tá Công Tiểu đoàn 1 pháo binh Dù bị lật xe trúng đầu ở Phong Điền, Huế; gần chỗ tôi và Miên bị tai nạn, anh Công tưởng bị nhẹ nên vẫn trực làm việc như thường, sáng hôm sau chết vì giáp sọ bị nứt!)

Lúc đó Chú Út tiệm Phước An Nguyên đang ở SàiGòn, vô tình biết được tin tôi bị thương, và nghe nói tới trúng đầu ai cũng tưởng nặng lắm. Ông vội về Vĩnh Bình báo cho má tôi và bà xã biết. Khi gặp vợ tôi, bà bụng đánh lô tô mà miệng thì cứ nói cho nàng yên tâm:

– Không có sao đâu, bị chút xíu hà!

Hai người đàn bà, kẻ lo sợ cho con, người lo sợ cho chồng, tay run run, tim hồi hộp, xách khăn gói vội vã ra đón chuyến xe chiều cấp tốc lên Sàigòn. Tới nơi gặp hạ sĩ Năm đang ở nhà một mình và nói:

– Đại úy vừa mới đi chơi.

Cả hai thở phì ra, như trút hết mọi lo âu, suốt 4 giờ ngồi xe mà lòng họ lúc nào cũng bồn chồn, đầu óc cứ nghĩ vẫn vơ. Khi tôi về nhà nghe nói hai người xuống sở Chăn Nuôi ở Ngã Tư Bảy Hiền. Mặc dù đầu băng bó tùm lum và đau nhức kêu tăng tăng, nhưng thương mẹ và nhớ vợ quá, nên cũng ráng chạy đi rước họ về nhà. Một tháng sau Bác sĩ Thiện đích thân lấy mảnh ra, vì chỉ chích thuốc tê xung quanh vết thương, nên tôi nghe tiếng cây dao rạch cái “Rẹt”, rồi tiếng cây kềm kéo qua kéo lại kêu “Rạo rạo”, khi tìm đúng mảnh, liền nhổ ra cái “Bựt”! Thấy mảnh thứ nhứt vừa lấy ra, hai tay tôi buông thòng xuống, anh Thiện giựt mình hỏi tôi có sao không? Anh thấy máu da đầu ra nhiều quá vì thời gian dò tìm mảnh hơi lâu, nên vội may lại, để chừa một mảnh tháng sau mổ tiếp.

Người phụ trách mổ lần thứ nhì là Bác sĩ Trần Đông A. Rút kinh nghiệm kỳ trước, Bác sĩ A lấy kim tìm mảnh đạn, rồi để cây kim làm dấu, anh rạch một đường, lẹ tay đút cái kềm ngay chỗ cây kim, giựt mạnh cả kim lẫn mảnh ra luôn, xong may vết thương lại, hành động thật mau lẹ và hiệu quả.

11. Về Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù (Trận Gò Nổi)

Mọi người trong gia đình thấy tôi từ Tết Mậu Thân tới giờ, chưa đầy 3 năm, mà đã bị thương nhiều chỗ (lỗ tai, bắp đùi, nhiều mảnh lựu đạn còn trong lưng, và 2 mảnh B-40 ghim trên đầu). Họ khuyên tôi làm đơn về đơn vị nào bớt nguy hiểm, để gia đình cứ phập phòng lo sợ mỗi khi đi hành quân.

Riêng tôi cũng hơi mệt mỏi, nhìn lại mười sáu bạn cùng khóa đã bổ sung về TĐ9ND, chỉ mới 5 năm chiến đấu, mà đã mất đi sáu đứa (Phương, Chàng, Lộc, Hổ, Đại, Thành), những người còn sống ai cũng bị lãnh thẹo ít nhất vài lần. Ôi chiến tranh thật là tàn khốc! Tôi cầm đơn vô văn phòng Trung tá Nhã, đọc xong ông nhìn tôi hồi lâu, rồi nói:

– Mầy định đi bỏ tao hả Dưỡng?

Thấy ông có cử chỉ bịn rịn, tôi muốn lấy đơn trở lại ngay, vì gần 5 năm sống ở đây, chung quanh toàn bạn cùng hoạn nạn, tôi thật tình không nỡ rời xa những bạn tốt: Thành, Tâm, Bảo, BS Thiện, Hiền,..Nơi đó có những cấp chỉ huy khả kính như: Trung tá Nhã, Thiếu tá Nguyễn Đình Bảo.

Hòe, Trọng, Tường, Trứ, Phấn, Minh, Dậu, Trường, Quảng, Cứ, Tám, Học, Ngọc, Nhường, Lương, Ninh, Võ, Thiện, Hồi, Năm, Nhàn,..là những quân nhân tài giỏi, rất dũng cảm khi lâm trận. Lúc nào tôi cũng thương mến các anh em tốt trong Đại đội 90, 91, 92 Nhảy Dù, đã giúp tôi gặt hái được nhiều thành tích trong quân ngũ, thăng cấp đặc cách nhanh chóng.

Nhìn tôi đứng ngẩn người, Trung tá Nhã như đọc thấu tâm trạng, nhưng trước kia ông đã giữ không cho tôi đi làm Quận Trưởng, chẳng lẽ bây giờ ông lại nỡ từ chối người thuộc cấp đã nhiều lần vào sanh ra tử cho ông. Cuối cùng ông đặt bút ký, mà gương mặt buồn, làm lòng tôi bồi hồi xao xuyến, thương mến, và kính phục lòng rộng rãi của vị chỉ huy tốt bụng!

Sư đoàn chấp thuận đơn thỉnh nguyện và thuyên chuyển về Bộ chỉ huy Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù. Tôi được cử làm Sĩ quan Phụ tá hành quân; nhưng không khí ở đây hơi khác, anh đại úy Trưởng ban Ba tánh tình khó khăn, không đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau như các sĩ quan trong Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù. Vì vậy tôi nói với Đại tá Nguyễn Khoa Nam, xin về lại Tiểu đoàn cũ.

Đại tá Lữ đoàn trưởng biết tôi rất nhiều, qua hai lần trực tiếp gắn huy chương. Ông muốn giữ lại nên cho tôi làm Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Hành Quân (không có trong cấp số Lữ Đoàn); trực tiếp báo cáo và nhận lệnh của ông, không qua Trưởng ban Ba và Tham Mưu Trưởng. Hầu hết những sĩ quan khác trong Lữ đoàn như Đại úy Phích, Vinh, Trường, Trung úy Chính và Phan Xuân Hiệp, thấy tôi thẳng tính, không nịnh bợ. Họ mến thương và từ đó tôi có thêm được nhiều bạn tốt mới. Bộ chỉ huy Lữ đoàn đang đóng tại hãng Khải Vinh, nên đơn vị Hoa Kỳ ở trong Đài Phát Tuyến Phú Lâm mời Đại tá Nam tới tham quan. Khi ông và tôi mới vào cổng thì còi hụ hú lên, mọi nhân viên và quân nhân canh phòng đều mang súng đạn mũ sắt chạy ra hố chiến đấu tập báo động giả cho đại tá coi.

Họ đưa vào phòng phát tuyến để cho Đại tá Nam thử nói chuyện trực tiếp với nhân viên bên Hoa Kỳ. Tôi thấy mặt ông rất vui và thích thú vì lần đầu tiên được nói máy vô tuyến có tầm xa một nửa quả địa cầu như vậy. Tôi hay theo ông đi thăm các tiểu đoàn hành quân trực thuộc bằng trực thăng hoặc bằng xe Jeep. Ông ít khi nói máy và ban chỉ thị lẻ tẻ, nên thường ủy quyền cho tôi trực tiếp làm việc với các Tiểu đoàn.

Có lần Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù bị địch tấn công tại căn cứ Bến Gò Nổi, lúc đó Trung tâm hành quân của Lữ đoàn 3 đặt tại Toà Hành Chánh tỉnh Tây Ninh. Khoảng 1 giờ khuya, Đại Úy Nguyễn Văn Triệu, Ban 3 tiểu đoàn, báo cáo địch quân từ Cục R bên kia biên giới, đã cho đơn vị chánh qui hùng hậu tấn công và đã chọc thủng tuyến phòng thủ vào sâu tới BCH.

Họ đã lợi dụng khoảng trống của tuyến giữa hai đại đội của Ngoạc Lùn và Hóa Đen nên chọc mũi dùi vào đó, chúng thấy đống ba lô chất chung quanh khẩu súng cối (Ngoạc đã cho xếp ba lô tại đây để đưa đại đội đi tuần tiểu đêm bằng tàu thủy trên sông Vàm Cỏ, Ngoạc bị trúng mảnh B-40 từ trên bờ bắn vào đùi nên được trực thăng tới bốc tản thương trong đêm).

Bộ đội Cộng sản xuất thân từ bần cố nông, thấy chiến lợi phẩm là nhào lên giành giựt những chiếc ba lô đựng quân trang quân dụng. Anh Triệu thấy một tên đeo 4 sao (có lẽ là Thượng tá), rút súng K-54 bắn chỉ thiên bảo:

– Các Đồng Chí phải lo đánh giặc, đừng có giành giựt chiến lợi phẩm!

Lúc ấy binh sĩ Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù đang núp dưới hố thấy vậy, vội ném lựu đạn tiêu diệt toàn bộ. Vì địch vào lẫn lộn, nên binh sĩ được lệnh núp kỹ dưới hầm, thấy ai không đội nón sắt là bắn. Đại úy Triệu xin soi sáng và pháo binh bắn các hỏa tập cận phòng. Tôi nghe trong máy Triệu la hoảng:

– Nó sắp tới hầm chỉ huy của tao rồi, mầy cứ cho pháo binh bắn lên đầu tao luôn đi, mau lên!!!

Hai mươi phút sau, máy bay C-130 từ Sàigòn lên thả trái sáng. Đánh nhau tới gần 3 giờ khuya thì Tiểu đoàn 1 Dù, nhờ soi sáng, nên binh sĩ từ dưới hố bắn tỉa từng tên một, dẹp sạch địch trong căn cứ. Các mìn claymore, bãi lựu đạn, pháo binh, khu trục, và Gunship lần lượt đẩy lui địch ở vòng ngoài. Đại đội của Minh đánh xáp lá cà rất ngoạn mục, Hóa đã trám lại lỗ hổng bằng cách dùng lựu đạn thanh toán khu vực trách nhiệm và nhào vào hố phòng thủ xả đạn bắn chận các đợt xung phong biển người của bộ đội chánh qui Bắc Việt. Đại đội chỉ huy nhảy ra trám chỗ trống nơi tuyến phòng thủ của đại đội Ngoạc.

Ngay từ lúc Tiểu đoàn 1 báo cáo bị địch tràn ngập (overrun), Đại tá Nam đã có mặt tại Trung tâm Hành quân để canh chừng nhắc nhở tôi điều động hỏa lực yểm trợ. Suốt đêm chỉ có tôi với ông ngồi theo dõi diễn biến trận phản công anh dũng của Tiểu đoàn số 1 kỳ cựu và thiện chiến của sư đoàn Nhảy Dù, còn binh sĩ truyền tin thì ngủ gật tại chỗ.

Những Đại đội trưởng tài giỏi như Minh, Nam Râu, Ngoạc Lùn, Hóa Đen đều là những người sĩ quan từng xông pha chiến đấu trong trận mạc, lập nhiều chiến công hiển hách và có rất nhiều huy chương anh dũng bội tinh. Vì thế mặc dù bị địch tấn công bất ngờ, họ cũng vẫn bình tỉnh điều động binh sĩ chống trả một cách thứ tự không hoảng hốt, không sợ sệt.

Các quân nhân TĐ1ND thật là anh dũng thiện chiến đáng khen. Đặc biệt nhất là La Tịnh Tường, cách nay vài tháng, anh đã điều động đơn vị dùng lựu đạn đánh xáp lá cà, tiêu diệt gọn một đại đội địch ở Cầu Khởi. Ba tháng trước, Tiểu Đoàn 1 cũng vừa cùng Tiểu Đoàn 9 phối hợp với chi đoàn thiết vận xa 1/10 của Đào Đàn, đánh dẹp đơn vị chủ lực địch tại Bến Đá (lúc đó tôi còn là Đại đội trưởng Đại đội 91 Nhảy Dù).

Sáng ra Tiểu đoàn 1 Dù thu dọn chiến trường, tịch thu được hơn một trăm ba mươi súng đủ loại, đơn vị cũng bị hy sinh 4 chiến sĩ và bị thương hơn mười người. Chuẩn tướng Hinh,Tư lệnh phó Sư đoàn 25 Bộ binh từ trên trực thăng quan sát thấy có nhiều súng ống địch bỏ rải rác bên ngoài xa, có lẽ do phi pháo bắn truy kích.

Trung tướng Đống hết lời khen ngợi Đại tá Nam và Trung tá Mai cùng toàn thể binh sĩ TĐ1ND tại căn cứ B-16. Có rất nhiều tưởng thưởng cho Tiểu đoàn 1, trong đó Phạm Thái Hóa được lên Đại úy. Thiếu tá Tường và các Đại úy Minh, Nam, Triệu được Bảo Quốc huân chương, còn anh Nhỏ thì được thăng chức thiếu tá đặc cách mặt trận.

Đại Úy Triệu có kể lại việc anh suýt chết vì bị nội tuyến. TĐ1ND có một binh sĩ trẻ tuổi khờ dại, lúc về phép tại quê nhà, bị VC móc nối. Chúng lừa gạt anh lính trẻ nầy là hãy tìm cách lập công lớn cho cách mạng sẽ được lên chức sĩ quan khỏi cần phải đi quân trường cực khổ. Anh lính trẻ, có nhiều bà con đi theo du kích, nghe nói được lên chức mau nên hỏi:

– Thế nào mới gọi là lập công lớn?

Tên Việt Cộng nằm vùng nói:

– Anh giết chết vài sĩ quan Dù, thì coi như có công .

Anh lính, nhiều tham vọng nầy, còn thắc mắc:

– Nếu tôi lập công thì ai chấm công?

Tên nằm vùng nói gạt:

– Anh đừng lo, ở đó chúng tôi đã cài nhiều người lắm!

– Khi thành công rồi làm sao mới gặp mấy người bên anh?

Thấy cá sắp mắc câu, tên VC nói:

– Khi nào ra trận, nếu gặp người bên chúng tôi thì cứ đứng dậy dơ tay la lớn nói tôi xin đầu hàng, rồi anh được tiếp nhận, chừng đó anh khai là đã có công với cách mạng. Lập tức họ sẽ cho anh làm sĩ quan, rất oai phong, tha hồ về làng hãnh diện với bà con, xóm giềng!

Chuyện thật vô lý như vậy mà anh lính trẻ dại thuộc dân miền quê ít học trong vùng xôi đậu nầy cũng tin thiệt! Một hôm, anh ta thấy Đại úy Triệu cùng Thượng sĩ Chiêm ra ngoài vòng rào kẽm gai để kiểm soát mìn bẫy. Hắn lén đến chỗ để cục pin (con cóc) và bấm nổ mìn định hướng claymore, nơi anh Triệu đang đi. Rất may số Triệu còn đỏ, vì mìn đặt hơi nghiên lên nên các mảnh claymore chỉ bay ngang qua đầu, vừa lúc Trung tá Mai đi tới thấy hắn đang thực hiện âm mưu. Trung tá Tiểu đoàn trưởng đá nó vài đá và nói:

– Mầy bấm mìn làm gì, có Đại úy Triệu đang ở ngoài, bộ muốn hại chết người hả con!

– Dạ em định thử cục Pin!

Thực sự lúc đó Trung tá Mai đâu có ngờ hắn đang định âm mưu, ông tưởng hắn chỉ vô ý thôi. Nhưng tên nầy sợ bị nghi ngờ, nên tìm cách chuồn sớm. Một hôm tổ hắn ba người được lịnh đi nằm tiền đồn ở Cầu Khởi, nửa đêm thấy có mấy tên du kích đi tới, hắn nhớ lời tên nằm vùng căn dặn, nên vội đứng lên hai tay dơ cao, miệng la lớn:

– Tôi xin hàng, tôi xin hàng!

Mấy tên du kích thấy động, giật mình ria súng bắn tên ngu dại, dễ tin lời xúi bậy nầy, chết không kịp ngáp. Hai đồng đội tưởng tên nầy nhát gan, định can nhưng không kịp, nhờ phản ứng nhanh, họ bắn ào ạt vào đám du kích. Kết quả hạ được hai tên, số còn lại chạy hoảng vô rừng mất dạng. Sáng ra nghe kể lại, Tr/tá Mai và Triệu mới vỡ lẽ, biết hắn đúng là nội tuyến!

Lúc đó Chỉ huy Hậu Cứ Lữ đoàn 3 Dù là Đại úy Thành, bạn cùng Khóa 20. Thành đẹp trai, khuôn mặt giống hệt như tài tử điện ảnh Hồng Kông Châu Nhuận Phát; vì bị thương tay cà quẹo cà quơ nên mới làm việc nhẹ và an toàn nầy.

Hắn có cô vợ vì rất trẻ nên nhỏng nhẻo vô cùng. Mỗi khi về Sàigòn, Thành rủ tôi và Bảo (cũng quẹo tay và chỉ huy hậu cứ Lữ đoàn 1) qua trạm Y tế của Mỹ ở khu Không Quân, trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Thành nói với anh Y tá người Hoa kỳ là 3 đứa bị bịnh ….(!), cần thuốc Trụ sinh để chữa trị. Anh Y tá thấy 3 chàng đại úy trẻ tuổi, mặt mày sáng sủa nên tin thiệt, liền lấy cho mấy hộp trụ sinh. Thành đem thuốc ra bán cho Thượng sĩ Doanh nhà ở Tân Việt. Có tiền 3 đứa kéo nhau đi tìm quán nhậu thỏa thích. Thành có nhiều cách kiếm tiền để đi chơi, lúc thì khai bịnh, khi thì lấy súng K-54 đổi, nhờ vậy chúng tôi có tiền đi nhậu lai rai hoài. Năm 1971, Bảo về sở Cảnh Sát Đô Thành, còn Thành thì về làm Cảnh Sát Trưởng Phú Quốc. Nhưng chẳng may đám buôn lậu bị Cảnh sát Đặc Biệt ở Trung Ương bắt, chúng cho là Thành phản phé báo cáo, nên đã tổ chức ám sát!

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

Chương 20 – Cùng là anh em một nhà

Ông Eric von Marbod đi một vòng quanh Việt Nam với một chủ đích, cứu vãn chiến cụ được bấy nhiêu hay bấy nhiêu, và phá hủy những gì không thể di tản được . Ông đến căn cứ lớn nhất của Biên Hòa sáng ngày 27 tháng 4. Không có một hoạt động nào hết hoặc đang ở trong tình trạng bối rối, các hạ sĩ quan và binh sĩ Miền Nam đi lang thang ngoài phi đạo. Không thấy có một sĩ quan nào ở đâu hết.

Dụng cụ điện tử của Bộ Chỉ Huy Không Quân Việt Nam, các cơ xưởng sửa chữa máy móc và điện, các thiết bị vô tuyến, các dụng cụ đo đạc tối tân nhất…, tất cả đều còn nguyên vẹn. Muốn thu nhặt hết cũng phải tốn vài ngày. Tức giận quá, ông Eric trở lại Sài Gòn. Ông cực lực phản đối với tướng Đồng văn Khuyên đang thay thế tướng Cao văn Viên trong chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng vốn đã xin Tổng Thống Hương được từ chức. Sợ bị ám sát, ông thay đồ dân sự để kín đáo ra đi. Ông von Marbod nói chuyện với các phi công, trong số đó có tướng Kỳ để biết xem liệu họ có thể phá hủy được các chiến cụ đã được bỏ lại hay không? Họ trả lời rằng hệ thống phòng không của Bắc Việt , nhất là các hỏa tiễn Strella, rất là chình xác và rất là nguy hiểm, nếu muốn phá hủy mục tiêu thì phi cơ phải bay thật thấp, rất là nguy hiểm vì sẽ bị bắn rớt ngay.

Ngày hôm sau, ông Von Marbod đến gặp đại sứ Martin. Ông này coi thường những hoạt động của Von Marbod. Ông cho rằng lại có thêm một người đến làm tăng thêm sự hoảng loạn nữa đây. Ông Martin chưa có hủy bỏ một trong những lệnh của ông, nhằm cấm di tản tất cả mọi phi cơ hay trực thăng của Miền Nam Việt Nam. Cũng giống như những người có trách nhiệm ở Ngũ Giác Đài, ông Von Marbod vốn là một người bi quan ; nhưng ông Martin thì không . Ông Martin cho ông Von Marbod biết là người ta đang hướng đến một cuộc “hưu chiến tại chỗ” và một Chánh Phủ Liên Hiệp của tướng Dương Văn Minh. Ông Martin tin chắc là người Mỹ còn thì giờ, ít nhất là một tháng, để kiểm kê, phân loại, dán nhãn, và chở đi các chiến cụ quân sự, trong an toàn sau lằn ranh ngừng bắn.

Ông Von Marbod không chú ý đến những cảm tưởng của ông đại sứ. Ông ta yêu cầu Bộ Chỉ Huy của Không Lực Hoa Kỳ ở Thái Lan hãy chuẩn bị để tiếp đón tại phi trường một số lớn trực thăng hay phi cơ của Miền Nam Việt Nam. Khoảng 200 chiếc sẽ đến các phi đạo ở Thái Lan.

Càng ngày lệnh lạc càng mâu thuẫn nhau, giữa người Mỹ và người Việt Nam. Ở phi trường Tân Sơn Nhất , hai ngàn dân tỵ nạn người Việt Nam đang sẵn sàng để được bốc đi. Trong số này có cả các công chức và quân nhân mặc thường phục. Tuy nhiên Tổng Thống Trần văn Hương chẳng những cấm không cho họ đi mà còn bắt buộc các quân nhân và công chức ở ngoại quốc phải trở về Việt Nam trong vòng 30 ngày. Tỉ mỉ hơn, ông còn cho biết là nếu họ không thi hành lệnh này thì những người Việt Nam đó sẽ mất hết quốc tịch Việt Nam và tài sản của họ sẽ bị tịch thu. Tổng Thống Hương còn cho bắt đầu thiết quân luật lúc 6 giờ thay vì 7 giờ như trước.

Qua đài truyền thanh và truyền hình, ông Tổng Trưởng Quốc Phòng Trần văn Đôn đã cùng các tướng lãnh thuộc Bộ Tổng Tham Mưu và thuộc Vùng III Chiến Thuật ở Sài Gòn đã lên tiếng triệu tập một buổi họp của các nghị sĩ và dân biểu.

Trước một trăm ba mươi tám thành viên của Lưỡng Viện Quốc Hội , ông Đôn trình bày tình hình quân sự rất là chi tiết. Các tin tức đã quá chính xác đến độ người ta phải tự hỏi xem liệu Bộ Tham Mưu Bắc Việt có cố ý gởi các điện tín bằng bạch văn hay không , để gây hoang mang cho Bộ Tham Mưu của Miền Nam Việt Nam?:

– Ở đây, về phía Đông Nam của Tây Ninh, chỉ để đối diện với sư đoàn 25 của chúng ta thôi, Bắc Việt đã có tới 4 sư đoàn, các sư đoàn 320, 316, 70 và 968.

…………Và cứ lần lượt đến các mặt trận khác chung quanh Sài Gòn. Tổng kết quá thảm: 5 sư đoàn phải chống cự với ít nhất 18 sư đoàn. Đường đến Vũng Tàu bị cắt đứt. Người ta không thể điều động binh sĩ ở đó được. Ngay như các đoàn xe của dân tỵ nạn cũng không qua được Đêm hôm qua, các hỏa tiễn 122 ly đã rơi vào vùng ngoại ô của Sài Gòn.

Ông Chủ Tịch Thượng Viện chấp nhận là ông Dương Văn Minh có thể nắm lấy quyền hành, tất cả quyền hành. Lại bàn cãi thêm nữa ở Quốc Hội . Vẫn luôn luôn có mặt ông Brochand ở đó. Ông ta giúp ông Lý quý Chung, cố vấn của ông Minh, để hoàn chỉnh một vài phương thức. Đưa ra lấy biểu quyết ở Quốc Hội cũng là một điều rất có ích. Người ta biểu quyết lúc 20 giờ 30.

Câu hỏi được đặt ra là: Liệu các nghị sĩ và dân biểu có đồng ý cho Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa chuyển giao tất cả quyền hành cho tướng Dương Văn Minh để ông này tìm phương tiện lập lại hòa bình ở Việt Nam hay không?

Có 136 phiếu thuận và 2 phiếu trắng, như vậy là nghị quyết được chấp thuận. Chỉ có một chút khó khăn đó mà đã tốn quá nhiều thì giờ. Tổng Thống Hương mong rằng buổi lễ bàn giao quyền hành sẽ được tiến hành ngay ngày mai, chớ không phải ngay bây giờ. Lúc đó thì thời gian ngồi ở ghế Tổng Thống của ông sẽ được đúng một tuần tròn.

Thế là đường lối ngoại giao của Pháp đã đạt được mục đích. Ông Martin điện về ông Kissinger:

-“Cũng như người Ba Lan và người Hung gia Lợi, người Pháp đã chuyển tiếp tất cả những tin tức cần thiết cho cộng sản để “phía bên kia” ngừng tấn công”

Để chứng tỏ rằng ông không phải là người Mỹ lạc quan duy nhất, ông Martin còn viết thêm:

– “Tất cả mọi nhân viên cấp cao của tòa đại sứ đồng nghĩ rằng Sài Gòn sẽ không bị tấn công”

Điều này mặc nhiên cho thấy là các nhà ngoại giao cấp thấp không có ý nghĩ khích lệ như vậy Hơn nữa các cơ quan tình báo từ Honolulu đã cho biết là họ đã bắt được nhiều điện tín bằng bạch văn của Bắc Việt, nhiều tiêu lệnh liên quan đến tác xạ của pháo binh nhằm vào sân bay Tân Sơn Nhất . Chuyện đó không gây xúc động cho ông Martin chút nào. Các chuyên viên về kiểm thính truyền tin đã giải thích cho ông Martin rằng trong vòng 15 năm cuối cùng, chưa bao giờ các lệnh lại rất quan trọng như thế này lại được chuyển thẳng bằng bạch văn. Từ đó ông Martin cho rằng đây là một đòn đe dọa của Bộ Tham Mưu Bắc Việt.

Đại sứ Martin báo cáo về sự tiến triển của kế hoạch di tản:

“Nhìn chung diễn tiến rất tốt. Đến trưa ngày 27 tháng 4, đã có 35 ngàn 425 người đã được di tản, Chỉ còn chờ lễ nhận chức của ông Dương Văn Minh mà thôi.”

Ông Kissinger cho phép liên lạc với những người trong trại Davis, nhưng chỉ duy nhất để giải quyết “tình hình ở địa phương” mà thôi. Những người của trại Davis họ rất là giữ kẽ. Không có việc gì quan trọng hết, tất cả chuyện đó sẽ phải được giải quyết ở cấp cao. Tại Ngũ Giác Đài ở Hoa Thạnh Đốn cũng như ở Bộ Tư Lệnh Lực lượng Thái bình Dương ở Honolulu, người ta không hề bị ý định của Hà Nội ru ngủ. Chỉ có những người làm chánh trị , những người như ông Martin mới tin vào cuộc hưu chiến. Không cần phải hỏi ý tòa đại sứ, Ngũ Giác Đài lấy một quyết định căn bản:

_ “Ngay sau khi sân bay Tân Sơn Nhất bị tấn công, tất cả mọi cuộc di tản bằng phi cơ đều được đình hoãn. Trực thăng sẽ bốc những người tỵ nạn ra các tàu ở ngoài khơi. Và chính tướng Homer Smith – chớ không phải người chỉ huy trực tiếp của ông là đại sứ Martin- sẽ là người ra lệnh di tản các nhân viên quân sự Hoa Kỳ ra khỏi Sài Gòn”.

Trong một vài ngày nào đó, những quân nhân có trách nhiệm ở Honolulu đã tưởng rằng sẽ có một cuộc hưu chiến. Nhưng một bức điện tín gởi cho ông Martin ngày 27 tháng 4 đã cho thấy rõ là không hề có chuyện đó:

_ “Lực lượng cộng sản đã bắt đầu một cuộc hành quân có thể được xem là cuộc tấn kích cuối cùng vào Sài Gòn”

Đối với tướng Homer Smith thì thật là tế nhị, bởi vì theo hệ thống quân giai ông cũng phải trực thuộc với Bộ Tư Lệnh quân sự ở Honolulu.

Ông Martin ngồi suy luận về một bức điện tín dài của ông Kissinger:

_ “Về diễn tiến chánh trị ở Sài Gòn tôi nghĩ rằng sau khi ông Minh thành lập Chính Phủ, thì không chóng thì chầy sẽ có những cuộc thương lượng có thể dẫn đến một thỏa hiệp cho một Chánh Phủ Liên Hiệp 3 thành phần…. mà hai phần ba là cộng sản và một phần ba còn lại do cộng sản giật dây…. Như vậy, câu hỏi được đặt ra là phải cần biết xem tòa đại sứ của chúng ta sẽ làm cái gì? Có thể sau đó Bắc Việt sẽ cố gắng ngăn cản mọi cuộc di tản của người Việt Nam. Khi chuyện đó xảy ra, tôi tin rằng chúng ta phải giảm xuống tối đa nhân số, chỉ cần giữ lại một số người thật sự tối cần thiết ở tòa đại sứ mà thôi. Lúc bấy giờ câu hỏi được đặt ra là: phải biết xem liệu chúng ta phải rút đi hoàn toàn, hay phải ở lại, để giữ sự có mặt tượng trưng với một vài nhân viên của tòa đại sứ…?. ”

Hoa Kỳ có quyền lợi gì để giữ lại một tòa đại sứ? Trong hiện tại chỉ duy nhất có một, đó là: sự giao hoàn hài cốt của quân nhân Mỹ và tìm người Mỹ còn bị xem là mất tích.

Ông Martin không chấp nhận ý kiến cho rằng Việt Nam Cộng Hòa bị hoàn toàn sụp đổ trên cả hai phương diện chánh trị và quân sự . Người Pháp thì sẽ ở lại. Tại sao những Mỹ sẽ không ở lại tại chỗ ? Ông Martin không thấy có gì mà phải đánh bóng sự ra đi khỏi Phnom Penh của ông bạn đồng nghiệp của mình là Đại sứ John Dean. Ông Martin tin tưởng – hay giả bộ tin tưởng- vào giải pháp Dương Văn Minh.

Trong buổi tối ngày 27 tháng 4, ông Eric von Marbod ngồi uống trà xanh và rượu mạnh ở nhà tướng Kỳ. Xa xa có tiếng nổ của đạn pháo và có tiếng còi hụ trong thành phố. Tướng Kỳ cho rằng người ta đang lo gom các đơn vị quân sự lạ:

_ “Chúng tôi có thể chiến đấu ở đồng bằng sông Cửu Long, và có thể giữ vững một vài tháng. Liệu Chánh Phủ Hoa Kỳ có yểm trợ cho chúng tôi được hay không ? không phải về nhân sự mà chỉ là về súng đạn?

_ Rất tiếc là không,” ông Marbod trả lời

Ông khuyên tướng Kỳ nên rời khỏi Việt Nam với ông ta trong hai hay ba ngày nữa. Tướng Kỳ có thể định cư ở Hoa Kỳ. Nhưng gia đình của Kỳ là phải nên cho đi tức khắc.

Ông Trần văn Hữu, cựu Thủ Tướng, người đã đến Bộ Ngoại Giao Pháp hôm tháng giêng, đã có gởi đại diện đến Sài Gòn trong số này có ông Lê quốc Túy và viên cựu phi công Hành . Họ đến tiếp xúc với Đô đốc Chung tấn Cang, Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam. Không thông báo cho Bộ Tổng Tham Mưu, Đô đốc Cang chuẩn bị cuộc triệt thoái của các đơn vị khả dụng để ra biển. Ông cho chở dầu, lương thực, đạn dược và gia đình của sĩ quan, binh sĩ Hải Quân. Ông nghĩ là phải tạm đổ đàn bà, trẻ con và người lớn tuổi lên đảo Phú Quốc trong vịnh Thái Lan. Ở đó có một căn cứ Hải Quân Việt Nam hoàn toàn dễ phòng thủ. Sau đó ông Cang sẽ đưa đoàn tàu và các thủy thủ về đồng bằng sông Cữu Long. Ông sẽ đặt bản doanh trên một trong những chiếc tàu tuần duyên, chiếc HQ.03, một loại hộ tống hạm cũ của Hải Quân Pháp.

Đô đốc Cang và hai sứ giả của ông Hữu cùng đi đến nhà ông Dương Văn Minh.

“Ở Ba Lê chúng tôi đã có gặp người của Hà Nội và của CPLTCHMN . Họ đồng ý để thành lập một Chánh Phủ chuyển tiếp. Lê quốc Túy còn nói thêm:

_ “Phải mời ông Trần văn Hữu trở về nước và trao quyền cho ông ta để ông ta thương lượng với cộng sản.

Ông Minh thấy dự án này không hấp dẫn. Đô đốc Cang hỏi:

_ “Có được một tiến triển nào trong vấn đề bàn thảo với “phía bên kia” không?

Ông Dương Văn Minh đáp:

_ “Những người đại diện ở trại Davis không có muốn thương thuyết đâu. Họ nói họ chỉ làm một nhiệm vụ quân sự của phái đoàn quân sự mà thôi và họ không có quyền thương lượng những vấn đề chánh trị.

_ “Như vậy tại sao ông đã nhận lấy quyền hành, mà không có một bảo đảm nào không chắc chắn là Bắc Việt họ muốn gì? Bây giờ phải mời ông Trần văn Hữu về để tìm một giải pháp, ông Túy nói.

_ “Đó là vì Chánh Phủ Pháp đã thúc đẩy việc này và họ đã chuẩn bị tất cả. Hai ông Mérillon và Trần văn Đôn luôn luôn nói với tôi là đã có sẵn một kế hoạch, và rằng tôi sẽ có sáu tháng để dàn xếp. Và bây giờ thì không có gì hết ! Tôi biết các ông đại diện cho ông Trần văn Hữu, và tôi tin rằng ông ta có thể làm được một vài việc…. Tôi kính trọng ông ta…. Làm thế nào để yêu cầu ông giúp chúng ta bây giờ?

Đô Đốc Cang:

_ “Ông khỏi cần lo gì hết, tôi sẽ lãnh làm việc này cho. Tôi có nhân viên. Trong khi chờ đợi, dù có chuyện gì xảy ra, mình cũng phải cầm cự đến cùng. Trường hợp tình hình quá nghiêm trọng, tôi đề nghị với Tổng Thống phải rời Sài Gòn và lui về ở Cần Thơ, là thủ đô của vùng đồng bằng. Tướng Nguyễn khoa Nam, Tư Lệnh Vùng 4, đã vừa điện thoại cho tôi chiều hôm qua để nói với tôi là tình hình ở đó rất là bình thường. Ông có trong tay 3 sư đoàn tốt, một Không lực và tất cả lực lượng hải quân. Ngoài ra còn có lực lượng Phật Giáo Hòa Hào và Cao Đài, và Nhân Dân Tự Vệ nữa Chúng ta có thể kháng chiến và bàn thảo ở vị thế mạnh. Tướng Minh:

_ “Bây giờ thì các ông hãy về đi. Khi các sự bố trí kỹ thuật đã hoàn tất, thì tôi sẽ tuyên bố trên đài phát thanh, trong một giờ nữa đây.

Đô Đốc Cang:

_ “Vậy là kế hoạch của ông như thế nào?

Tướng Minh:

_ “Tôi không có kế hoạch nào hết.

Đô Đốc Cang cố nhấn mạnh:

_ Lúc nào mà chúng ta còn ở Sài Gòn, thì chúng ta sẽ bị bao vây. Chúng tôi …. Ông có dự trù một cuộc điều động nào hay không trong lúc Hải Quân chúng tôi còn ở lại đây. Phải tuyên bố bỏ ngỏ Sài Gòn và sau đó chuyển Chánh Phủ về Cần Thơ. Ở đó, vị thế của ông không mạnh lắm, nhưng ít nhất cũng là một vị thế. Và mình có thể tận dụng được truyền thanh truyền hình để cho lệnh tất cả các đơn vị hãy tập họp nhau lại ở thủ đô lâm thời.

Tướng Minh đáp lời một cách mệt mỏi:

_ “Chiến tranh! Lúc nào cũng chiến tranh! Với chiến tranh thì chừng nào người ta mới chấm dứt được nó đây?

Thật quá rõ ràng là ông Dương văn Minh không thích dự án này. Đô Đốc Cang đặt một câu hỏi chót:

_ “Như vậy thì mỗi người chúng ta đều chuẩn bị cho kế hoạch riêng của mình?

_ “Ông muốn làm gì đó thì làm.

Tính kiên trì của giới hành chánh thật đáng khen. và đây là bằng chứng: nền hành chánh vẫn tiếp tục chạy đều, ông tổng thơ ký Tổng Thống Phủ loan báo là “các cơ quan công cộng sẽ làm việc ngày 1 tháng 5”.

Đồng mỹ kim hiện có giá là 4000 đồng.

Các cộng sự viên của tướng Kỳ khuyên ông ta nên liên lạc với tướng Dương Văn Minh. Ông Kỳ điện thoại cho trung tá Đẩu, tùy viên của tướng Minh. Trung tá Đẩu trả lời:

_ “Xin cám ơn thiếu tướng đã gọi, nhưng bây giờ thì Tổng Thống không thể nói chuyện với ông được. Ông đang bận lo thành lập Chánh Phủ. Chúng tôi sẽ gọi lại ông sau.

Từ giã tướng Minh, Đô đốc Cang và hai đại diện của ông Trần văn Hữu trở về Bộ Tư Lệnh Hải Quân.. Giải pháp Trần văn Hữu xem ra cũng hay hay. Ông này không thể bị Hà Nội cáo buộc là nằm trong “tập đoàn của ông Thiệu” được. Và ở Sài Gòn hồi xưa người ta nhắc lại là ông suýt trở thành Chủ Tịch của MTGPMN. Ông cũng từng là ứng viên đắc ý của Lê Duẫn, tổng bí thư đảng CSVN.

Đô Đốc Cang và hai người của ông Hữu chờ ông Minh. Ông không đến và Đô Đốc cũng không thể đến ông Minh được . Đô Đốc gọi thử ông Mérillon để nhờ ông gởi về Ba Lê một điện tín của ông Minh, nhưng vô ích. Ông đành phải nhận xét:

_ “Tôi đã làm tất cả những gì tôi có thể làm được, nhưng hiện giờ chúng ta không còn có một nhân vật chánh trị nào có giá nữa hết. Ngay như người ta lật đổ ông Minh xuống, cũng là một chuyện dễ thôi vì tướng Minh không còn chỉ huy ai nữa cả, thì tôi thấy cũng không có giải pháp nào. Tôi còn một nhiệm vụ phải làm : di tàn và cứu vãn ba chục ngàn người với các tàu chiến của tôi.

Do đó giải pháp Trần văn Hữu bị chết trong trứng nước.

Đến gần nửa đêm, gần 20 người có trách nhiệm ở tòa đại sứ họp nhau lại. Người ta phải xem lại các danh sách của người Việt Nam bắt buộc phải cho di tản, nhất là những người sẽ gặp nhiều nguy cơ trong trường hợp cộng sản Bắc Việt chiếm được Sài Gòn. Phải di tản ít nhất mười ngàn người ngày mai. Không thể được ư? Vậy thì là hai ngàn…

Trong lúc đó, ở Hoa Thạnh Đốn, ông đại sứ Liên Xô, Dobrybine xem xét các câu hỏi mà ông Kissinger đã yêu cầu ông chuyển cho Hà Nội:

1.- Bắc Việt có sẳn sàng thương thảo với tướng Dương Văn Minh không?

2.- Bắc Việt có sẳn sàng chấp nhận sự hiện diện tối thiểu của người Mỹ ở Sài Gòn không?

3.- Bắc Việt có sẳn sàng để cho cuộc di tản của người Mỹ được dễ dàng không?

a)- một hành lang không phận đến Sài Gòn

b)- quốc lộ từ Sài Gòn đến Vũng Tàu phải được lưu thông tự do.

Những câu trả lời thẳng thắng và trực tiếp đã được nghe. Sau đó không lâu Đài phát thanh giải phóng xác nhận trong một bản tin là: “Giữ lại tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, dù là với nhân số tối thiểu, không có nghĩa là một sự bất can thiệp của Hoa Kỳ” Nói như vậy là có ý nghĩa gì đây?

Ở Hoa Thạnh Đốn cũng như ở Sài Gòn người ta gợi lên một sự “tắm máu” trong tương lai. Dường như ở Đà Nẵng các cảnh sát đã bị chặt đầu, ở Ban Mê Thuột thì các công chức bị xử bắn. Còn các chỗ khác nữa, các sĩ quan của Miền Nam bị trói tay và bị hành quyết bằng lựu đạn.

. Các công chức cao cấp nhận xét là trong thập niên 50, sau khi làm chủ được Miền Bắc, cộng sản đã hành quyết trên năm chục ngàn người. Ông Wolfgang Lehmann thì nghĩ rằng các cuộc hành quyết hay thanh toán đó sẽ được cộng sản thi hành trong dài hạn.

Trong những ngày sau cùng này, tòa đại sứ đã nặng tay đối với báo chí. Các ký giả của tờ Newsweek đã phỏng vấn nhiều người dân tỵ nạn và đã đi đến một kết luận rằng người ta thấy rất ít nhân chứng trực tiếp của những hành động tàn bạo này. Để cho họ thấy sự thật, ông Martin ra lệnh cho họ xem những công điện trong đó có nêu rõ các cuộc hành quyết ở Đà Nẵng, ở Ban Mê Thuột và ở các nơi khác. Các nhà ngoại giao thú thật với các nhà báo là người ta đã chọn cho họ những điện tín có tính gây lo sợ. Có người lại còn nói họ có hơi nghi ngờ đề tài của các bức điện tín đó. Dù sao thì hiển nhiên là phải di tản những người Việt Namđã từng làm việc với người Mỹ ở Sài Gòn và ở Cần Thơ và nhất là những cộng tác viên của Trung Ương Tình. Báo CIA. Hình như không có gì dự trù cho nhân viên ngành Thông Tin. Ông Alan Carter tỏ ra rất lo ngại cho 50 nhân viên người Việt Nam của ông.

Trừ tòa đại sứ Pháp, các tòa đại sứ khác đã dọn trống, hầu hết đều dùng phi cơ. Ông John Bushell, đại sứ Anh Quốc, muốn ở lại tại chỗ, sau khi đã di tản hết nhân viên và khoảng 12 binh sĩ hoàng gia đã từng giữ an ninh cho tòa đại sứ của mình. Thủ Tướng Anh, ông James Callaghan đã thân mật bảo ông phải chuồn đi. Ông John yêu cầu cho ông một tàu phóng ngư lôi. Thật là quá phù phiếm!. Nhưng nếu người ta đánh chìm chiếc tàu này trên sông Sài Gòn thì hậu quả sẽ rất là tai hại. Người ta gởi cho ông 4 phi cơ Hercules của Không Lực Hoàng Gia Anh, được quá cảnh ở Tân gia Ba. Được bỏ trống, tòa đại sứ Anh được xử dụng như chỗ trú của các công chức Miền Nam và cảnh sát. Có một số tòa đại sứ đã bỏ quên nhân viên người Việt Nam của họ lúc nào cũng mong muốn được ra đi, họ đã xử sự không tốt như một số công ty tư nhân ngoại quốc. Những công ty này đã tỏ ra lo lắng cho nhân viên người Việt của mình, đó là các cơ quan báo chí, truyền hình và truyền thanh, các nhật báo và các tuần báo. Những người có trách nhiệm đã có biện pháp thận trọng, từ tháng 2 /75. Có nhiều người đã thuê bao phi cơ của công ty công Eckes, Hảng Dịch Vụ Hàng Không Continental. Các công ty thuộc giới thông tin rất cần phi cơ chẳng những để thu hình hay gởi ra ngoài những hình ảnh đã rửa hoặc chưa rửa, mà cũng còn để di tản nhân viên của mình vào giờ chót. Họ không hề bỏ nhân viên của mình hay gia đình của nhân viên ở lại. Các hãng CBS, ABC, NBC đã dự trù một cầu không vận để đưa họ về Tân Gia Ba hay Hong Kong. Hãng Associated Press đã gởi một phi cơ loại nhỏ đến Phnom Penh, để bốc các phóng viên người Cam Bốt của họ, lúc Cam Bốt bị thất thủ. Một vị Phó Chủ tịch của hãng NBC đã đích thân lo lắng cho một anh tài xế và cả gia đình đông con của anh ta.

Tại phi trường, tất cả các người có thiện chí đều được hoan nghênh. Những người tình nguyện như ông Jim Eckes, đã lên danh sách, đưa những người tỵ nạn ra tận phi cơ vốn phải cất cánh từng 45 phút một. Khi những người tỵ nạn không có đủ giấy tờ hợp lệ thì có những người tình nguyện và ngay những công chức hộ tống họ đến các phi cơ bay đi Guam hay đi bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Hoa Kỳ . Như vậy một khi được đến nơi rồi thì họ không thể nào bị đuổi về lại Việt Nam được. Thí dụ như khi đến Phi luật Tân, người tỵ nạn sẽ gặp nhiều nguy cơ sẽ có nhiều vấn đề mới được vào nước Mỹ.

Trong ngày 28 tháng 4, các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ có nhiệm vụ phải bảo vệ cuộc di tản, đã có cảm tưởng là đã bị tòa đại sứ quan trọng hóa vấn đề .Một toán Thủy Quân Lục Chiến gồm có một trung úy, một hạ sĩ quan , 36 binh sĩ và 2 y tá đến Tân Sơn Nhất theo lệnh của Ngũ Giác Đài.. Từ lúc đến phi trường, các Thủy Quân Lục Chiến này rất lấy làm thất vọng. Mấy ngày trước đó, 4 sĩ quan và 1 hạ sĩ quan thuộc nhóm tiền đạo đã thấy tại chỗ là những sự chuẩn bị cho cuộc di tản rất là “mù mờ”. Thủy Quân Lục Chiến thì chỉ biết có một việc di tản thôi, và họ trực thuộc thẳng Bộ Tư Lệnh của họ về mặt quân sự . Nhưng tòa đại sứ thì phải chịu trách nhiệm về sự di tản nhân viên của họ. Ông Martin lại không muốn tạo ra một cảm tưởng triệt thoái để tránh tình trạng hoãng loạn cho dân chúng Việt Nam. Có rất nhiều cuộc bàn thảo giữa tòa đại sứ và các sĩ quan này, rất là cần thiết, để Thủy Quân Lục Chiến có thể chuẩn bị những bãi đáp trực thăng ở Tân Sơn Nhất , như phá bỏ các sân quần vợt, và bố trí lại các hàng rào kẽm gai. Ông Martin thì lại ngăn cản. Từ lâu rồi, Bộ Tư Lệnh tối cao ở Honolulu đã soạn sẳn nhiều đường lối hành động.(1)

Lệnh di tản ồ ạt những người Mỹ bằng phi cơ đã được ban hành ngày 22 tháng 4. Thủy Quân Lục Chiến phải dự trù một cuộc di tản, căn cứ duy nhất trên việc xử dụng trực thăng mà thôi: đó là phương thức có tên là “Cánh Thông Thường”. Tên mật mã cũ “Như Gót Chân” đã được thay đổi vì đã bị tiết lộ. Kế hoạch khuyến cáo nên có 13 điểm tập trung trong thành phố, để bốc đi những người Mỹ cuối cùng và đưa họ ra phi trường. Là những người chuyên môn nên Thủy Quân Lục Chiến họ muốn gắn những cọc tiêu chiếu sáng trên các nóc nhà liên quan đến 13 điểm bốc đó. Tòa đại sứ phản đối cũng luôn luôn chỉ vì vấn đề sợ dân chúng hoãng loạn. Trong một bản phúc trình cuối cùng của mình, tướng Richard Carey, chỉ huy trưởng toán lực lượng Thủy Quân Lục Chiến này đã viết:

“Có nhiều việc đã được thực hiện mà không có sự phê chuẩn chánh thức” (nguyên tác: được diễn dịch ra là không có phép của ông Graham Martin). Có một chi tiết quan trọng, đó là kế hoạch di tản không lúc nào có dự trù là các trực thăng loại lớn sẽ đáp xuống nóc tòa đại sứ. Người ta dự trù tiến hành cuộc di tản như thể các đường bay ở phi trường còn xử dụng được trong dài hạn, tức là xử dụng phi cơ.”

Người ta có cảm tưởng rằng ông Martin, bị dính cứng vào ý nghĩ của một cuộc hưu chiến, nên ông ta tưởng rằng cuộc di tản sẽ được bảo vệ, do lực lượng an ninh trật tự chung gồm có Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ , binh sĩ của Miền Nam Việt Nam và  tại sao không, luôn cả cảnh sát và bộ đội Bắc Việt?

Ông Dương Văn Minh cho người gọi điện thoại báo cho tướng Kỳ.

_ “Đại tướng Minh muốn gặp Thiếu tướng vào sáng ngày mai ở Dinh Tổng Thống.”

Tướng Kỳ đã đổi ý. Hầu hết các sĩ quan của ông đều khuyên ông không nên đến Dinh Độc Lập theo lời mời đó. Vì nếu họ muốn bắt giữ để cô lập ông thì sao? Hay nếu họ muốn trao ông cho Bắc Việt thì sao? Thật ra, tâm địa của tướng Minh và tướng Kỳ hoàn toàn khác nhau để hai người có thể nghe lẫn nhau. Bốc đồng và sôi sục, tướng Kỳ luôn nghĩ về một sự chiến đấu hơn là một sự thương thảo mà ông không bao giờ tin. Còn ông Minh thì huởn đãi và hay tránh né, nên nhắm vào một cuộc hưu chiến. Trong giới có nhiều thủ đoạn chánh trị ở Sài Gòn, hai ông Minh và Kỳ nương nhau, người trẻ thì kính nể người lớn tuổi hơn mình, nhưng không người nào ưa người nào. Họ còn nghi ngờ nhau đến tuyệt đỉnh. Do vậy ông Kỳ sẽ không có đến gặp ông Dương Văn Minh.

Lễ bàn giao quyền hành giữa Ông Trần văn Hương và ông Dương Văn Minh được dự trù vào 9 giờ sáng. Nhưng theo lời yêu cầu của Tổng Thống Hương, buổi lễ được dời lại vào buổi trưa. Ông muốn buổi lể được tổ chức một cách trọng thể, nên ông đã nói là gần như hai người còn có nhiều tuần lễ trước mặt họ vậy:

_ “Người ta không thể bàn giao trách nhiệm và quyền hạn như trao một khăn tay được” (nguyên tác: pas comme un mouchoir)

Ở các vùng ngoại ô của Sài Gòn, binh sĩ còn dựng lên những bức tường phòng thủ bằng bao cát, và bố trí các ổ súng liên thanh và bách kích pháo. Dân tỵ nạn tràn vào thành phố ngàn này sang ngàn khác. Trên quốc lộ Sài Gòn- Biên Hòa các đoàn xe quân sự và dân sự lẫn lộn với các xe bò, đã làm tê liệt lưu thông. Các đơn vị quân cảnh, vốn chưa hề hấn gì, nhận được quá nhiều lệnh, lệnh này mâu thuẩn với lệnh kia..

Các tiệm buôn bán nữ trang ở đường Tự Do đã đóng cửa. Vàng lá càng ngày càng khó tìm. Ở phi trường, những Mỹ đi dạo chơi, tay lo le cầm hằng xấp tiền và mỹ kim để tán tỉnh các lính gác và cảnh sát. Việc phân phát thư từ vẫn còn rất bình thường.

Ở tư thất của ông Dương Văn Minh, điện thoại cứ reo không dứt. Hồi 15 giờ, ông Minh nói với tướng Timmes rằng ông nghĩ là cộng sản sẽ thương thảo với ông ta. Sau đó không lâu, ông Minh nhận được điện thoại từ Băng Cốc của Ngô công Đức, chủ nhiệm báo Tia Sáng, cho biết là anh ta từ Ba Lê về mà không đến Sài Gòn được:

_ “Ông đừng nên nhận ghế Tổng Thống, đã quá trễ rồi. Cộng sản không có một ý định nào về chuyện thương thảo đâu.”

Buổi lễ bàn giao được tổ chức vào lúc 17 giờ. Cổng rào của Dinh Độc Lập được mở rộng, và gần như không có lính gác. Các dân biểu, nghị sĩ, các quân nhân, nhà báo vào thong thả, không có bị kiểm soát . Trên hàng ghế đặt trước khán đài người ta thấy sự có mặt của các sĩ quan , các cựu Tổng Trưởng và công chức cao cấp, hàng giáo phẩm Công Giáo, và các lãnh đạo Phật Giáo, với đồng phục rất chỉnh tề đầy màu sắc… Đại tá Hòa đích thân coi về công tác thu hình của các toán nhân viên truyền hình.. Trời đang nóng bức bắt đầu có vẻ ẩm ướt. Cơn gió mạnh thường thổi trước khi có giông bão làm lay chuyển các cây dừa nước ngoài bãi cỏ và những tấm màn trắng treo ở cửa sổ của phòng tiếp tân ..

Ông Trần văn Hương, tay chống gậy, được một cộng sự viên dìu ra, lên tiếng đầu tiên lác 17 giờ 15 phút. Ông nói:

_ “Tuổi tác và sự bệnh hoạn của tôi không cho phép tôi điều khiển được đất nước trong giờ phút khó khăn này…

Trời đã bắt đầu mưa. Hướng về ông Dương Văn Minh, ông nói tiếp:

_ “Thưa Đại tướng, nhiệm vụ của ông rất nặng..

Sau đó là một sự yên lặng kéo dài. Khán đài vẫn trống, Không một ai nhúc nhích. Mọi việc diễn tiến gần như không có dự trù trong nghi thức của buổi lễ. Ông Dương Văn Minh thì vẫn ngồi yên tại chỗ. Tất cả cử tọa nhìn nhau. Một nhân sĩ người của ông Minh đứng dậy và đi đến khán đài. Một người lính trẻ gỡ cờ hiệu cũ của nền đê nhị Cộng Hòa xuống, thay vào đó một tấm biển trên đó có khắc tượng trưng một hoa mai nở trên hai cánh âm dương kiểu Tàu -hai lực đối trọng nhau của Trời Đất- , với ý nghĩa là 2 lực lượng chống đối nhau của Việt Nam trên con đường hòa hợp hòa giải chăng?

Ông Dương Văn Minh đứng dậy, và với một giọng cứng cỏi hơn của ông Hương, ông nói:

_ Chúng ta không hề có một ý định trả thù, và không có một lý do nào cấm cản những anh em cùng trong một nhà hòa giải với nhau…. Tôi có trách nhiệm tìm kiếm một sự hưu chiến…. Luật sư Nguyễn văn Huyền trong chức vụ Phó Tổng Thống là người đã chấp nhận sẽ giúp tôi trong công tác thương lượng. Ông Vũ văn Mẫu sẽ giữ ghế Thủ Tướng… Thưa đồng bào và anh chị em, trong những ngày cuối cùng này tình hình quá trầm trọng nên đã có nhiều nhóm Tôn Giáo và nhiều tướng lãnh đã yêu cầu tôi đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống …. Một trong những quyết định chánh trị cấp thiết là trả tự do cho tất cả các tù nhân chánh trị và ngừng tất cả mọi kỳ thị phân biệt ngay trong giới truyền thông báo chí.

Ông Minh cất cao giọng lên để át tiếng sấm sét và tiếng mưa rơi nặng hột bên ngoài cửa sổ đang được mở rộng:

_ “Sự thành công của Chánh Phủ sẽ tùy thuộc vào sự bình tĩnh và sự ủng hộ của đồng bào. Tôi kêu gọi tất cả những đảng phái chánh trị và tất cả các Giáo Hội Tôn Giáo. Hãy quên đi sự hận thù và sự nghi kỵ….Anh em binh sĩ, tôi đã dâng gần hết cuộc đời của tôi cho Quân đội . Hơn tất cả mọi người, tôi biết rõ những khó khăn của các anh trong những tuần lễ sau cùng này. Bây giờ thì trang sử cũ đã được lật qua. Các anh có một bổn phận mới, gìn giữ lãnh thổ để bảo vệ hòa bình… Đừng buông bỏ vũ khí của mình và hãy tuyệt đối tuân lịnh cấp chỉ huy của mình. Mọi hành động vô kỷ luật sẽ bị trừng phạt ngay tức khắc.

Bây giờ một vài câu nói với các bạn ở “phía bên kia”, CPLTCHMN:

Ông Minh tránh nói tới Hà Nội hay những sư đoàn Bắc Việt bởi vì cộng sản Việt Nam chưa bao giờ công nhận sự có mặt của họ ở Miền Nam. Không nên làm mất lòng họ.

_ “…. Thật tình, chúng tôi muốn hòa giải. Các anh cũng biết là hòa giải đòi hỏi mỗi người chúng ta trong đất nước này đều phải tôn trọng quyền lợi của nhau…

Thưa đồng bào, thưa các bạn, trong những ngày sau cùng này, chúng ta tự hỏi tại sao có quá nhiều người đã lặng lẽ bỏ nước ra đi . Tôi muốn nói với các bạn là đừng bỏ đất nước thân yêu của chúng ta . Tôi van xin các bạn hãy can đảm lên. Hãy ở lại đây và hãy chấp nhận định mệnh đã được Thượng Đế an bài. Tôi yêu cầu các bạn hãy ở lại và sống đoàn kết với nhau. Hãy cùng nhau xây dựng một Miền Nam Việt Namđộc lập, dân chủ và thạnh vượng để người Việt Nam có thể sống cùng chung với nhau trong tình anh em huynh đệ.”

Tổng Thống Dương Văn Minh đã nói trong vòng 20 phút.

Đối với nhiều khán thính giả Việt Nam của đài truyền thanh và truyền hình, cơn mưa và sấm sét trước gió mùa, là những điềm bất tường.

Cũng có một số người cố lấy lại sự can đảm. Kỹ sư Văn tự nhủ: về phương diện quân sự thì chúng ta đang ở thế yếu, nhưng cộng sản mà chiến thắng thì biết đâu họ sẽ tỏ ra nhân đạo hơn.

Ông Minh chấm dứt diễn văn của ông hồi 17 giờ 48 phút.

Một giờ sau đó, trong khi các nhà ngoại giao, các chánh trị gia và các nhà báo còn đang phân tích bài nói chuyện của ông thì đài Giải Phóng đã bình luận về buổi lễ bàn giao này như sau:

_ “Sau khi tên phản quốc Nguyễn văn Thiệu ra đi, thì những người lên thay ông ta, được biết là tập đoàn Dương Văn Minh, Nguyễn văn Huyền và Vũ văn Mẫu, vẫn khăng khăng muốn vừa tiếp tục chiến tranh để giữ lãnh thổ hiện có, vừa hô hào thương thuyết. Rõ ràng là tập đoàn này tiếp tục ngoan cố muốn kéo dài chiến tranh để duy trì chế độ thực dân mới của Mỹ. Nhưng tập đoàn này không gạt được ai hết. Chiến trận chỉ sẽ chấm dứt khi nào tất cả binh sĩ của Sài Gòn buông súng xuống hết và các tàu chiến của Mỹ đã rời hết khỏi lãnh hải của Miền Nam Việt Nam. Hai điều kiện này của chúng tôi phải được thi hành thì mới có được ngừng bắn.”

Con trai của Dương Văn Minh cố gắng liên hệ với tòa đại sứ của CPLTCHMN ở Ba Lê, nhưng vô ích.

Lần đầu tiên, đài gải phóng đã tuyên bố rất rõ ràng là Dương Văn Minh và các cộng sự viên của ông ta không phải là những người lãnh đạo được lực lượng thứ ba chấp nhận:

_ “Các thành viên thuộc lực lượng thứ ba phải suy nghĩ kỹ lại lời kêu gọi của CPLTCHMN

… và tìm ra mưu mô của các tay sai của đế quốc Mỹ… Họ phải gia nhập vào lực lượng cách mạng …”Diễn dịch, và mọi người đều hiểu: không có một người nào ở Miền Nam Việt Nam ủng hộ Dương Văn Minh như là kẻ được CPLTCHMN hay Hà Nội nhìn nhận như một người đối thoại.

Ông Trần văn Hương gọi điện thoại cho tướng Kỳ:

_ “Chúng nó buộc tôi phải ra đi. Bây giờ thì ông muốn làm gì đó thì làm.”

Như vậy những đề nghị chua chát này có ý nghĩa gì đây? Một người như ông già Hương, hay bắt bẻ có thể nào lại chính là người đi xúi giục một cuộc đảo chánh?

Vào lúc 18 giờ 15, sau buổi lễ trao quyền Tổng Thống cho Dương Văn Minh, có 5 chiếc phi cơ loại A.37 (của Miền Nam) được phát hiện trên trục các đường bay chánh của Tân Sơn Nhất. Đài kiểm soát không lưu hỏi:

_ “Các anh thuộc phi đội nào đây?

Một phi công trả lời lạ lùng:

– Các phi cơ này đều được sản xuất ở nước Mỹ.”

Các phi cơ bổ nhào xuống và thả bom gần khu thể thao và những văn phòng của tướng Homer Smith, nơi có 3000 người tỵ nạn Việt Nam đang chờ để được xe đưa lên phi cơ di tản, gây một phen hoảng sợ.

Ông Jim Eckes lúc đó đang dứng gần dảy hăng-ga của hãng Dịch Vụ Hàng Không Continental. Ông đã gọi một phi cơ loại nhỏ từ Băng Cốc đến, chiếc Baron, và đang sửa soạn ra đi. Ông phải nhảy xuống một hầm trú ẩn đầy nước. Ở đâu cũng có tiếng súng nổ, có những tràng đại liên ròn rã. Từ Dinh Độc Lập và từ các chiến hạm đậu ở bến Bạch Đằng, các cao xạ phòng không đang bắn lên. Phi công của chiếc Baron giục ông Eckes lên phi cơ.

– “Jim, ta đi thôi!

Ngoài phi trường, có nhiều thiệt hại quan trọng. Có cả những trực thăng và phi cơ quân sự, 3 chiếc AC-119 và 4 chiếc C.47 bị phá hủy. Chiếc Baron đang đậu trên một đường bay nhỏ gần hăng-ga của hãng Hàng Không Air America. Ông Eckes và viên phi công lên xe chạy thẳng đến chiếc Baron. Có nhiều binh sĩ Việt Nambắn vào họ. Họ tưởng rằng bộ đội Bắc Việt tấn công phi trường. Các phi cơ địch bay trở lại. Chiếc Baron cất cánh bay lên cao, đạn phòng không nổ chung quanh họ. Phi cơ bay vút lên cao và lấy hướng trường đua ngựa để vào Chợ Lớn.

Hai phi công Việt Nam đã bay lên với 2 chiếc F.5A để săn đuổi các phi cơ địch, nhưng họ đã bay đi mất hút. Ông Dương Văn Minh vừa mới yêu cầu ngừng bắn, là Bắc Việt đã leo lên thêm một nấc thang chiến tranh, vì giờ đây họ đang xử dụng phi cơ. Phi tuần tấn công được một phi công Miền Nam Việt Nam đào ngũ hướng dẫn, người phi công này đã bay vào thả bom xuống dinh Độc Lập cách đây mấy ngày. Tướng Văn Tiến Dũng nói:

_ “Một cuộc tấn công được phối hợp rất tốt, một cuộc hành quân liên quân rất là hoàn hảo do tất cả các lực lượng của chúng ta thực hiện”.

Tướng Tư Lệnh quân Bắc Việt đã nói quá lời. Có rất nhiều trái bom đã rơi trên đồng ruộng. Nhưng người trung úy phi công đào ngũ cũng đã dạy các phi công lái những chiếc MIG của Bắc Việt cách xử dụng các chiếc phi cơ A.37. Cuộc hành quân này được đặt tên là “Quyết định để thắng”, có cả 2 mục tiêu chánh trị và quân sự . Rất rõ ràng cho những ai còn nghi ngờ: đó là không bao giờ có chuyện thương thuyết. Bây giờ thì tướng Tư Lệnh Không Quân Miền Nam Việt Nam đã đồng ý với ông Eric Von Marbod, ra lệnh cho tất cả phi cơ của Việt Nam Cộng Hòa bay hết sang Thái Lan.

Vài giờ sau bài diễn văn của ông Dương Văn Minh, đại diện của CPLTCHMN ở Ba Lê loan báo rằng “dân chúng ở Sài Gòn đã đồng loạt nổi dậy…. Binh sĩ Sài Gòn đã buông súng xuống và đã đầu hàng…”

Phịa và Phịa lại gặp nhau: ở Sài Gòn đã có nhiều người quả quyết là binh sĩ người Pháp đã đổ bộ.

Tại thủ đô nước Pháp, đại sứ Bắc Việt Võ văn Sung và đại diện của CPLTCHMN Phạm văn Ba được ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Jean Sauvagnargues tiếp. Vừa ra khỏi Thủ Tướng Phủ, người ta hỏi đại sứ Bắc Việt tại sao ông Dương Văn Minh không được xem là một người đối thoại có giá. Một nhà báo ghi nhận là ông Minh đã thỏa mãn hai điều kiện tiên quyết đã được CPLTCHMN đưa ra từ 48 giờ trước , “thi hành đúng theo Hiệp Định Balê, và bãi bỏ chánh quyền Sài Gòn”.

_ “Không phải là trường hợp đó”, đại sứ trả lời cụt ngủn, vô nghĩa Ông TổngTrưởng Ngoại Giao Pháp buộc miệng phát biểu:

_ “Tất cả các điều kiện cho một giải pháp chánh trị hình như đã được thực hiện. Chúng tôi rất ngạc nhiên là giải pháp đó không được tiến hành…

Các đơn vị thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở chung quanh Sài Gòn và ở Đồng Bằng sông Cửu Long đã liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn để yêu cầu được đặt trực tiếp dưới sự chỉ huy cùa Bộ. Trong các đơn vị này người ta nhận thấy họ thuộc các binh chủng Thiết Giáp Biệt động Quân, Nhảy Dù.

Về phía Bắc của thủ đô, các kho đạn và kho xăng đang bốc cháy với những ngọn lửa cao màu đỏ và tím…

Bộ máy hành chánh còn đang chạy. Các sĩ quan thuộc cơ quan hành chánh tài chánh của tướng Homer Smith đang họp. Để thanh toán hết các chương mục, vị sĩ quan tài chánh cần có 300 triệu đồng bạc Việt Nam. Phải đến nhận số tiền này ở tòa đại sứ. Biết rằng phải cho các nhân viên Việt Nam thuộc các cơ quan của tướng Smith nghỉ việc, người ta đã sẳn sàng mọi thủ tục hành chánh về chuyện bồi thường cho nghỉ việc. Nhưng một phần của sở tài chánh đã được chuyển về Honolulu năm ngày trước rồi với một số hóa đơn chưa được thanh toán và những giao kèo đang thực hiện. Hóa đơn chót nhất ký ngày 17 tháng 4 về 45 ngàn chiếc áo mưa với trị giá là 220.500 Mỹ kim.

Vào buổi chiều, ông Martin quyết định là “ngày mai sẽ di tản mười ngàn người. Ông ta đã nhận được một công điện từ Hoa Thạnh Đốn của ông Kissinger:”

_ “Sáng nay, trong buổi họp của toán “hành động đặc biệt” (2), tất cả các đại diện của các cơ quan, ngành đều nghĩ rằng chúng ta chỉ còn tối đa từ một đến 3 ngày trước sự sụp đổ hoàn toàn về quân sự và trước khi phi trường Tân Sơn Nhất không còn xử dụng được nữa.”

Ông Kissinger mong muốn đích thân ông Martin phải rời khỏi Sài Gòn trên chuyến bay cuối cùng “chuyến 130 chót”. Ông Tổng Trưởng lo lắng cho số phận của các nhân viên tòa đại sứ Hoa Kỳ. Ông không phải là người thích giữ lại một sự hiện diện quan trọng dưới một chính phủ bị cộng sản thống trị. Các nhà ngoại giao và các nhân viên nào bị kẹt ở lại đều có thể “biến thành con tin”. Phải hết sức thận trọng:Tôi nghĩ là chúng ta không thể phí thì giờ khi mà Sài Gòn sắp rơi từ một thể chế trung lập vào tay của người cộng sản…. Đến lúc đó, chúng ta sẽ không còn một nghĩa vụ nào nữa hết, và chúng ta phải nhìn tất cả sự việc với một nhãn quan mới.”

Tối hôm đó, cũng hơi khuya, có nhiều chiếc phi cơ vận tải C.130 chở đầy vũ khí đạn dược đáp xuống Tân Sơn Nhất. Trên đường về mỗi chiếc chở theo 180 hành khách, tất cả đều là dân tỵ nạn người Việt Nam.

Tại Băng Cốc ông Jim Eckes cùng đến với những người Mỹ khác, sau khi đã tránh không bay qua ngang không phận Cam Bốt. Ông sực nhớ tới tất cả những người Việt Nam, hằng trăm người , mà ông không thể giúp cho di tản được. Nhất là ông nhớ đến Tân Sơn Nhất là một trong những sân bay có nhiều hoạt động tích cực nhất trên thế giới, nhớ tới những công trường mà thợ thuyền còn đang làm việc cách đó vài phút trước cuộc tấn công của các phi công Bắc Việt, nhớ tới những dãy nhà và những công trình đang được xây, nhớ tới những cảnh sát viên, những nhân viên hải quan luôn tươi cười nhưng lãnh đạm, nhớ đến những hồ sơ đầy bụi, nhớ cái điện thoại và cả cuộc đời mấy tháng dài sống ở đó.

Cũng giống như hằng ngàn, hằng trăm ngàn người Mỹ khác, cả dân sự và quân sự đã từng đến ở Việt Nam, ông Jim Eckes tự hỏi bây giờ làm thế nào để ông có thể đưa đi một người bạn này hay một người bạn Việt Nam khác, những người đã không kịp trốn đi khỏi đất nước Việt Nam?

Tháng 4 nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

Chương 19 – Bán hạ giá 50 phần trăm

Ông Phạm văn Ba, đại diện của CPLTCHMN tại Ba Lê, thông báo cho Tổng Thống Phủ Pháp:

_ một giải pháp chánh trị đưa ông Dương Văn Minh lên làm nguyên thủ quốc gia có thể được chấp nhận, với điều kiện là ông phải trình diện một chính phủ có tinh thần hòa hợp hòa giải dân tộc. Chỉ cần chọn các nhân vật có thể chấp nhận được. “Được CPLTCHMN chấp nhận” liệu có nghĩa là “được Hà Nội chấp nhận hay không”?

Tổng Thống Phủ Pháp chuyển tin tức này cho tòa đại sứ Mỹ ở Ba Lê để họ chuyển tiếp về Hoa Thạnh Đốn và từ đó chính ông Kissinger sẽ gửi đến cho tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn . Cũng theo lời của chính ông Phạm văn Ba này, “Hoa Kỳ phải giải quyết các vấn đề của Miền Nam Việt Nam với CPLTCHMN chớ không phải với Hà Nội. Về phần mình CPLTCHMN sẳn sàng mở ra một cuộc đối thoại.”

Theo những người đã gặp ông Phạm văn Ba này thì ông ta có vẻ cởi mở. Người ta xì xào rằng Ông là một người “ôn hòa”. Tại Ba Lê, ông thường trò chuyện với ông Bùi kiến Thành, phó bí thư đặc trách về các vấn đề quốc tế của một đảng nhỏ, ít được người ta nhắc tới, gắn liền với Đệ Nhị Quốc tế , đó là đảng Xã Hội Việt Nam. Các đảng Xã Hội ở Âu Châu không bao giờ để ý đến ông Thành này. Ông Thành đề nghị với CPLTCHMN một thành phần Chánh Phủ có đủ mặt các vị lãnh đạo Tôn Giáo chính. Ông Thành nói:

_ “Riêng những nhân vật Tôn Giáo này đã đại diện cho phần lớn dân chúng Việt Nam. Không có một chánh trị gia nào, không một nguyên thủ quốc gia nào, cũng không phải ông Dương Văn Minh hay những người khác, không thật sự đại diện cho ai hết. Chỉ có những đại diện của các Tôn Giáo lớn mới có thể đại diện cho dân chúng để nói chuyện với CPLTCHMN, những người thuộc đảng Xã Hội Việt Nam đã xác nhận như vậy.

Hình như ở Ba Lê ông Thành cho ý kiến này rất là hay. Do vậy, các đảng viên đảng Xã Hội Việt Nam rất cảm động với buổi lễ cầu nguyện mấy ngày trước ở Nhà Thờ Chánh Tòa ở Sài Gòn nên đã gởi một điện tín cho Đức Cha Nguyễn văn Bình. Nhưng ông này không nhận được. Họ cũng đã gởi cho tòa đại sứ Mỹ ở Ba Lê: ở đây có thể nào thiết lập liên lạc được với các vị lãnh đạo Tôn Giáo hay không?

Các đại diện của CPLTCHMN ở Ba Lê khuyến khích họ, nhưng đã bắn tiếng cho biết là họ không thể hứa là có ngừng bắn, ngay cả nếu có một Chánh Phủ được chấp nhận được thành lập tại Sài Gòn.

Trong một số trung tâm chánh trị ở Ba Lê, người ta cho biết là có nhiều bất đồng giữa CPLTCHMN và Hà Nội và ngay trong nội bộ CPLTCHMN cũng vậy.

Trước hết ông Mérillon tưởng là một trò đùa. Từ trung tâm điện thoại của Sài Gòn nữ xướng ngôn nói:

_ Tổng Thống muốn nói chuyện với ông. Không phải Tổng Thống của chúng tôi mà là Tổng Thống của ông.

Ông Valéry Giscard d’Estaing khuyến khích ông Mérillon:

  • Việc ông đã làm rất tốt. Tôi khen ngợi ông. Nhưng đừng có lãnh lấy quá nhiều nguy hiểm đó!

Ông Giscard thân mật nói thêm:

  • “Tất cả những sáng kiến của ông đều là sáng kiến tốt.
  • Tôi không có sáng kiến đâu, tôi làm theo các sự chỉ dẫn của ông thôi.

Đúng là chánh trị trung gian: ở Ba Lê cũng như ở Sài Gòn người ta chánh thức công bố câu chuyện trao đổi trên điện thoại trên đây của Tổng Thống Pháp để cho thấy là Ba Lê đã chọn quân bài Dương Văn Minh. Đường lối ngoại giao của Pháp là cố gắng trồi lên hàng đầu. Ông Jean Sauvagnargues bảo đảm rằng “hành động của nước Pháp hoàn toàn vô tư.”

Ông Mérillon được ông Tổng Thống Hương tiếp kiến và ông ta khuyên ông Hương nên nhường chỗ cho Dương Văn Minh. Miền Nam Việt Nam đang hấp hối, cần phải mổ xẻ ngay. Vị Tổng Thống già nua cố bám, viện cớ có nhiều khó khăn về mặt Hiến Pháp. Ông Hương tiếp ông Trần văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện. Ông này tuyên bố sẵn sàng lèo lái con thuyền quốc gia đúng như Hiến Pháp đã qui định, trong trường hợp ông Hương từ nhiệm. Ông Lắm nói với báo chí:

_ “Ông Tổng Thống Hương có thể từ chức. Ông không thể trao quyền hành lại cho bất cứ người nào hết. Nếu ông trao quyền lại cho ông Dương Văn Minh là ông đã xem thường Hiến Pháp.

Người ta hỏi ông về vai trò của nước Pháp. Ông Lắm trả lời một cách ỡm ờ:

_ “Tôi hy vọng rằng nước Pháp có thể ảnh hưởng được với phía bên kia…. Vai trò của họ là có thể can thiệp với các cường quốc và đặc biệt hơn hết là các cường quốc cộng sản.

Ông Lắm đã từng là Tổng Trưởng Ngoại Giao năm 1973 và là thương thuyết gia của Hiệp Định Ba Lê. Cũng giống như các chánh trị gia ở Sài Gòn ông tin vào những sự can thiệp của Mạc tư Khoa hơn là thiện chí của Hà Nội.

Tại Hoa Thạnh Đốn, Hạ Viện khi tranh cãi lại về vấn đề Việt Nam, đã chấp thuận ngân khoản 327 triệu mỹ kim viện trợ nhân đạo, nhiều hơn 77 triệu của bên Thượng Viện. Cả hai viện đều cho phép Tổng Thống Ford xử dụng quân lực Hoa Kỳ để bảo vệ cuộc di tản.

Tại Nhà Trắng, trước sự hiện diện của các doanh gia bảo trợ cho những chiến dịch quảng cáo về quyền lợi của dân chúng, ông Ford tuyên bố:

_ “Hoa Kỳ sẽ bắt đầu một bước đi mới. Hoa Kỳ sẽ tiến tới phía trước.”

Phi công Nguyễn cao Kỳ và linh mục Thanh nói chuyện với khoảng mười ngàn người trong một cuộc mết tinh ở một vùng ngoại ô Sài Gòn. Các diễn giả nói đủ thứ chuyện : họ kêu gọi thành lập một Chánh Phủ mới, kêu gọi kháng chiến, kêu gọi ngừng bắn và kêu gọi thương thuyết…

Ở tòa đại sứ Hoa Kỳ, trong khi ông Martin thì chọn quân bài Trần văn Hương thì ông Polgar lại chọn ông Dương Văn Minh. Cố vấn Lehmann thì làm yên lòng khách khứa: Tất cả rồi cũng sẽ tốt thôi. Khi tiếp ông Lucien Hébert, vị xử lý thường vụ Gia nã đại, khi ông này đến từ giã đề về nước ngày mai thì ông Lehmann phản đối:

_ “Không, đừng có đi. Chúng tôi đây, chúng tôi ở lại. Bắc Việt không có chiếm Sài Gòn đâu, sẽ có một cuộc dàn xếp…

Sau đó, sau một lúc lưỡng lự, ông nói tiếp:

_ “Dù sao đi nữa, nếu xảy ra chuyện gì thì vẫn có chỗ cho ông kia mà.” Có nghĩa là, trong phi cơ Hoa Kỳ của chúng tôi.

Ông Polgar tự thấy mình được khích lệ, khi ông lại gặp được đại tá Hung gia Lợi thân thích của ông tại nhà của mình. Đại tá Toth bảo đảm với ông Polgar là tất cả các điện tín của tòa đại sứ Hoa Kỳ đã được nhanh chóng chuyển tiếp đến “phía bên kia và cả thủ đô Budapest của Hung gia Lợi, và – ông giả thuyết- đến cả những người khác nữa”.

Theo ông Toth, thì những người của CPLTCHMN và của Bắc Việt ở trại Davis, đã cho rằng diễn tiến chánh trị trong mấy ngày qua đã có một “tính chất xây dựng”. Họ rất lạc quan, và ước tính rằng người ta có thể sẽ tìm được những giải pháp “tốt cho cả đôi bên”. Còn dè dặt, Toth đã nhấn mạnh: ông ta không phải là phát ngôn viên của Chánh Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay của CPLTCHMN . Tuy nhiên, ông cũng có thể cung cấp cho ông Polgar những mẩu tin tức từ “phía bên kia”. Vì ông có gặp khó khăn về các tên của người Việt Nam nên ông đã có ghi chú. Ông ta lấy cuốn sổ tay ra.

Theo “phía bên kia” thì không có một nhân vật nào được xem là chính yếu trong triển vọng của một cuộc diễn tiến hòa bình. Có nhiều nhân vật của Miền Nam sẽ được chấp nhận. Tướng Dương Văn Minh là một trong số những người đó. Ông cũng không phải là người duy nhất. Nhất là CPLTCHMN muốn rằng những người không đáng được chấp nhận không nên có một vai trò nào nữa ở Miền Nam Việt Nam. Ông Toth nói tiếp:

_ “Không dính dáng gì đến người sẽ lãnh đạo Tân Chánh Phủ, cũng là một chuyện tốt nên để cho họ vào cuộc – thí dụ như – bà Ngô bá Thành, linh mục Chơn Tín.

CPLTCHMN có thể hợp tác với rất nhiều người. Ông Toth còn đọc ngay tên của Thủ Tướng xử lý thường vụ Nguyễn bá Cẩn, người rõ ràng đã ở trong “tập đoàn Nguyễn văn Thiệu”. Nhất là CPLTCHMN muốn có một lời tuyên bố của Hoa Kỳ. Tuyên bố này phải nói rõ là Hoa Kỳ không xen vào chuyện nội bộ của Miền Nam Việt Nam nữa và chấm dứt mọi viện trợ quân sự cho Chính Phủ Sài Gòn.

Hai bản nhạc khác nhau của CPLTCHMN: ở Ba Lê thì các đại diện của họ không bảo đảm sẽ có ngừng bắn. Và ở trại Davis thì các đại diện của họ lại nói là sẵn sàng chấp nhận ngừng bắn nếu có một sự “tiến bộ tốt của quá trình chánh trị ” Ít ra, đây là một truyền đạt không chánh thức đã được ông Toth chuyển tiếp cho ông Polgar. Ông nói là những người đối thoại ở trong trại Davis cũng muốn biết có phải là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã đổ bộ ở Vũng Tàu hay không? Nếu có thì tại sao? ông Polgar đính chánh ngay.

_ “Tại sao còn có quá nhiều tàu chiến Hoa Kỳ, trong khi người ta đã di tản một số lớn người Việt Nam từ hơn hai tuần lễ? ông Toth hỏi.

  • Ông Polgar trả lời rằng các tàu chiến đó chỉ duy nhất dùng cho các cuộc hành quân di tảÔng Polgar muốn ông Toth nói cho “bên kia” hiểu rằng Chánh Phủ của ông Hương, cũng như Chánh Phủ sẽ thay thế ông ta, có nhiều “bài toán tâm lý dễ xúc cảm”. Không nên tiến tới nhanh quá. Phải nghĩ tới tất cả những người của Miền Nam Việt Nam, nhất là các binh sĩ, họ đang nhìn những diễn biến chánh trị mới với con mắt không tốt.
  • “Chúng tôi không muốn thấy các phi công của những chiếc F.5 bỏ bom vào Dinh Độc Lập để phản đối lại những gì mà dưới nhãn quan của họ sẽ là một sự phản bội lại chánh nghĩa quốc gia.

“Thật là kỳ lạ! “Chúng tôi”! Chúng tôi, những người Mỹ, những người Hung gia Lợi, Hà Nội và CPLTCHMN. Ông Polgar tiếp tục nói, dựa trên chủ đề thường được hai ông Martin và Mérillon nhắc đi nhắc lại nhiều lần.

_ ‘Chúng tôi không muốn thấy luật lệ và trật tự ở Sài Gòn bị sụp đổ. Phải cố tránh những sự bạo động cá nhân và những vận động của quần chúng.”

Ông Polgar không còn nghi ngờ gì nữa là Cảnh sát sẽ áp dụng những chỉ thị của Tân Chánh Phủ. Người ta không biết đến bao giờ Chánh Phủ mới này được thành lập xong, Dù sao thì trước đó Chánh Phủ của ông Hương đã công bố những biện pháp cốt “chỉ rõ là vấn đề hòa giải dân tộc đã là chương trình nghị sự rồi”. Bằng chứng là vài giờ trước đây, Thủ Tướng Xử Lý Thường Vụ Nguyễn bá Cẩn, đã tuyên bố là có vài trăm tù nhân chánh trị sẽ được thả ra. Các cơ quan an ninh của Miền Nam lợi dụng chuyện này để thanh toán nhiều cán bộ quan trọng của Bắc Việt mà họ đang giữ. Do đó Nguyễn văn Tài, một trong những tay gộc bị các cơ quan này tóm được, sẽ được thả xuống từ trực thăng.

Với sự thỏa thuận của ông Martin, ông Polgar yêu cầu ông Toth cho những người ở trại Davis biết là tòa đại sứ muốn bàn cãi một vài vấn đề với một đại diện của CPLTCHMN một cách chánh thức nhưng bí mật. Ông Toth ghi nhận, mong sẽ nhanh chóng cung cấp câu trả lời. Có thể ngay chiều hôm nay.

Được báo cáo đầy đủ về cuộc gặp gỡ này, ông Kissinger vẫn ghi nhận những lời này, nhưng không bao giờ tin. Thật vậy, một cuộc ngừng bắn với những người cộng sản Việt Nam không thể tùy thuộc vào những sự vận động của một ông đại tá Hung Gia Lợi. Ông Kissinger ra lệnh cho ông Martin rằng tất cả những cuộc thương thuyết với CPLTCHMN phải được thực hiện ở Ba Lê chớ không phải ở Sài Gòn.

Đối với một số người, trong đó có ông Mérillon. thì vấn đề của ông Minh đang tiến triển tốt. Ông Martin cũng bắt đầu “o bế” giải pháp này. Tòa đại sứ Mỹ tự nhiên nghĩ rằng người Pháp muốn có mặt lại ở Đông Dương nhưng họ có vẻ tin tưởng ông Mérillon. Tại sao không chơi lá bài Dương Văn Minh? Theo chỗ ông Martin biết thì ông Minh này vẫn là một tướng hồi hưu, làm việc rất ít. Ông ta đã làm được gì trong những năm qua? Ông ta chơi quần vợt, chăm sóc vườn lan và nuôi cá.. Ô hay! muốn thành công về chánh trị, không cần thiết phải quá thông minh. Nhưng phải cần có đức tính lẫn nghị lực. Ông Minh có tánh tốt, nhưng ông ta tính tình ra sao? Nhiều người nói ông Minh là “một con voi với bộ óc của chim se sẽ”. Hai ông Martin và Mérillon đồng ý trên một điểm: giải pháp hoàn toàn (100 %) của cộng sản sẽ là một giải pháp tệ hại nhất trong các giải pháp. Nếu Quân đội Bắc Việt chiếm Sài Gòn , thì tiếp tục chiến tranh sẽ đưa đến việc Bắc Việt sẽ chiếm toàn thể lãnh thổ của Miền Nam.

Người Pháp nhất là ông Pierre Brochand thật tình rất thích ông Dương Văn Minh. Không giống như nhiều tướng lãnh khác được đào tạo thời Mỹ, ông Minh là người thân Pháp như những người thân cận của mình. Là một tướng lãnh, ông Minh có thể được binh sĩ nghe lời.

Còn ông Hương thì không được như vậy. Miền Nam Việt Nam còn khiển dụng được 4 hay 5 sư đoàn . Trong trò chơi chánh trị, ông Minh cũng còn một ít chủ bài. Phải cho ông ta một dịp may để đoàn kết hai lực lượng chánh trị và tôn giáo lại. Nếu CPLTCHMN nghĩ rằng ông ta có thể được chấp nhận thì tại sao chúng ta không yểm trợ tối đa cho ông? Các nhà ngoại giao người Pháp cảm thấy thích thú khi nhận thấy rằng ông Polgar và ngay cả con diều hâu Martin cũng lần lần đi theo giải pháp của người Pháp. Trường hợp xấu nhất, một Chánh Phủ liên hiệp lâm thời sẳn sàng thương thuyết cũng có thể tránh được cuộc chiến trong thủ đô Sài Gòn, một thủ đô mà tướng Kỳ kêu gọi phải cố thủ. Những nhà ngoại giao Pháp không quá ngây ngô như người Mỹ đã tưởng, họ không có quá nhiều ảo tưởng trong dài hạn. Họ thừa biết là từ 30 năm nay, cộng sản Việt Nam đã có ý muốn thống nhất nước Việt Nam và từ 45 năm nay đã từng muốn thống nhất Đông Dương .. Người Pháp ngày hôm nay cũng như ông Kissinger ngày hôm qua, đều nghĩ đến tính cách hợp lý của quốc gia Việt Nam: Hà Nội lúc nào cũng muốn, ít nhất trong một giai đoạn chuyển tiếp từ một đến năm năm, chấp nhận một Chánh Phủ dưới màu cờ của lực lượng thứ ba mà người cộng sản chưa hoàn toàn thống trị được. Một chế độ “dễ coi” ở Sài Gòn , dân chủ hơn chế độ ở Miền Bắc có thể làm cho Hà Nội có điểm tốt ở Á Châu, lại có thể giúp họ giữ được khoảng cách đối với Mạc tư Khoa và Bắc Kinh . Người Pháp còn nghĩ tới những sự cạnh tranh cố hữu giữa Miền Nam và Miền Bắc. Ông Dương Văn Minh sẽ thật sự là người của tình thế này. Cộng sản Hà Nội đến một lúc nào đó sẽ được độc lập đối với cộng sản Mạc tư Khoa. Như vậy tại sao Miền Nam Việt Namsẽ không được như vậy đối với Hà Nội, ít nhất trong một thời gian nào đó?.

Nghị sĩ Paul d’Ornano đến Sài Gòn. Ông nói cho những người này và những người kia về tiêu lệnh của Tổng Thống Pháp: ở lại tại chỗ! Gần như nhờ đó mà cộng đồng người Pháp ở Sài Gòn loan truyền ra một niềm lạc quan nào đó. Người Mỹ, trong đó có ông Snepp, có cảm nghĩ là thái độ đó gây ảnh hưởng rất nhiều cho người Việt Nam. Nếu người Pháp không đi, điều đó có nghĩa là sẽ có một cuộc dàn xếp nào đó, có thể là một mầm móng của một quốc gia không cộng sản ở Miền Nam Việt Nam. Một loại giải pháp Nam Kỳ. Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn hoạt động trong chiều hướng này. Tòa đại sứ Pháp ở Hà Nội thì không tin như vậy.

Ngày 25 tháng 4

Tại trại Davis tướng Hoàng anh Tuấn biết là sẽ không có thương thuyết, và biết là thời điểm chót của “sức mạnh cách mạng” đã đến. Trong trận chiến cuối cùng đó, phi trường Tân Sơn Nhất sẽ bị pháo kích.

Tướng Tuấn gởi cho Hà Nội một công điện ngày hôm nay, theo đúng “mốt” anh hùng tính của những phim ảnh Bắc Việt:

_ “Xin Bộ Tham Mưu đừng nghĩ gì đến sự hiện diện của cá nhân tôi và những người của tôi ở trại Davis. Chúng tôi sẽ đào hầm núp để giữ vị trí của chúng tôi đã chiếm đóng. Nếu quân địch phản ứng mạnh, xin pháo binh của chúng ta cứ tăng cường pháo mạnh, đừng lo nghĩ gì đến chúng tôi. Đây là một danh dự cho chúng tôi khi được hy sinh cho chiến thắng của chiến dịch và cho chiến thắng của cách mạng”

Danh dự hay không khi tự hiến mình cho sự hy sinh, các sĩ quan, hạ sĩ quan và bộ đội Bắc Việt hay Việt Cộng ở trại Davis đều không thấy bao giờ được an toàn trong những dãy nhà bằng cây lợp tôn. Họ dùng xẻng, cuốc hoặc đôi khi dao găm và cọc sắt để đào hầm núp, với những bao mà họ làm để đựng đất. Các biện pháp này không thể che chở họ được khi mà trái đạn pháo rơi ngay vào hầm núp, nhưng có thể giúp họ tránh được những mảnh đạn pháo.

Trong kế hoạch tấn công, tướng Dũng rất chú ý đến sự hiện diện của các phái đoàn cộng sản ở trại Davis. Tướng Tổng Tư Lệnh Bắc Việt này viết:

_ “Trong tiến trình soạn thảo kế hoạch tác xạ vào căn cứ Tân Sơn Nhất, chúng tôi nhiều lần nhấn mạnh với những người có trách nhiệm để họ nhớ đến sự hiện diện của phái đoàn chúng ta để tránh tổn thất cho chúng ta.”

Các binh sĩ của Miền Nam thường xuyên và lặng lẽ canh gác cho các phái đoàn Bắc Việt và Việt Cộng ở trại Davis. Hai phái đoàn cộng sản này có vũ khí cá nhân và một vài khẩu liên thanh. Không đủ để chống trả được một cuộc tấn công nghiêm trọng. Một vài đại đội Dù của Miền Nam cũng có thể chiếm trại Davis một cách nhanh chóng.

Tổng Thống Hương cho gọi đại sứ Martin. Ông giải thích rằng ông Thiệu làm cho cuộc sống của ông không được thoải mái. Ông Thiệu cứ tiếp tục cố vấn cho ông quá nhiều. Ông có cảm nghĩ là sự hiện diện của ông Thiệu ngăn cản ông trong việc thương thuyết. Ông thích được thấy ông Thiệu ra đi.

_ Hoa Kỳ có nhận ông ta hay không?

_ Có, tôi chắc chắn như vậy, ông Martin đáp.

Cũng như phần đông các tướng lãnh, ông Thiệu cũng có một tư dinh ở phi trường Tân Sơn Nhất. Ông ta có thể đến đó ở. Ông Martin nghĩ rằng ít nhất ở đó ông sẽ được an toàn hơn chỗ khác. Sau khi ông Thiệu đã từ chức, ông Martin không muốn thấy một ông Thiệu bị ám sát.

Ông Martin cho gọi một phi cơ từ Băng Cốc đến, một phi cơ cánh quạt lúc nào cũng được đặt dưới quyền xử dụng của ông ta. Theo lệnh của ông Martin, tướng Timmes đề nghị ông Thiệu nên rời khỏi Việt Nam. Ông Thiệu chấp thuận. Ông sẽ đến Đài Loan, nơi đó có anh của ông đang là đại sứ. Vào hồi 19 giờ 30, lúc trời vừa tối, ông cựu Tổng Thống rời khỏi Dinh Độc Lập trong chiếc xe Mercédès, và thay vì đến tư dinh của mình, ông lại đến thẳng tư thất của cựu Thủ tướng Khiêm cùng ở căn cứ Tân Sơn Nhất. Ông Martin giao cho ông Polgar phải cho các người đi theo ông Thiệu điền vào những tài liệu được Tổng Trưởng Tư Pháp Hoa Kỳ chứng thực, được phát ra theo lệnh của Tổng Thống Ford. Những tờ khai này sẽ cho các đương sự quyền được ở trên nước Mỹ với tư cách là người tỵ nạn. Trong lúc hấp tấp, ông Polgar quên những tài liệu đó. Bà Thiệu cũng như bà Khiêm đã đi trước mấy ngày rồi. Ông Thiệu ra đi với 15 người. Lúc 20 giờ 30, tướng Timmes, Frank Snepp và hai viên chức khác đi đến nhà ông Khiêm. Ông Timmes giới thiệu Snepp cho ông Thiệu:

_ “Đây là một phân tích gia của Trung Ương Tình Báo (CIA). Ông ta là một tài xế lành nghề.

Mọi người đều cười. Ông Thiệu, ông Khiêm và ông Polgar cả ba đều lên xe. Trước khi đi qua phi trường quân sự ông Timmes khuyên ông Thiệu nên cúi xuống:

_ “Thưa Tổng Thống, chỉ để giữ an toàn cho Tổng Thống.

Ông Timmes hỏi ông Thiệu về tin tức của bà Thiệu và con gái của ông

_ “Họ đang ở Luân Đôn, chắc đang đi mua đồ cổ.

Các bản ngoại giao giúp cho xe qua hàng rào cản dễ dàng. Ông Martin đứng chờ ông Thiệu cạnh phi cơ. Ông đại sứ ghi nhận là chung quanh hai ông cựu Tổng Thống và cựu Thủ Tướng, chỉ có vài người sĩ quan mà ông ít biết. Quý vị hành khách này không có nhiều hành lý, chỉ có vài chiếc va ly, vài xách tay, các máy ảnh. Ông Martin cho lệnh phi công tắt hết đèn trên phi cơ.

Lúc bấy giờ ông mới nói cho phi công biết là phải đi đến đâu: Đài Bắc, ở Đài Loan. Ông Thiệu thân mật vỗ vai cám ơn ông Snepp và bước lên phi cơ. Ông Martin bước theo ông Thiệu.

Rất bình tĩnh, ông Thiệu nói:

_ “Cám ơn”

_ “God speed, xin Thượng Đế giữ gìn ông, ông Martin dùng một thành ngữ rất đẹp và rất cổ nói với ông Thiệu.

Chiếc phi cơ cất cánh. Ông Martin lên xe, không còn lo lắng gì nữa. Ông đã làm xong một việc rất tốt. Ông Thiệu vẫn được bình yên vô sự. Bây giờ làm sao để các đứa con của Hà Nội cho ông Martin một chút ngơi nghỉ đây? Để cho ông hoàn tất được cuộc di tản. Cũng như ông Polgar, ông Martin đi đến một khu cư xá ở phía Tây của Sài Gòn, ở đó trong một biệt thự, người Ba lan đang đãi rượu. Đại sứ Ryssard Fijalkowski gặp riêng ông Martin. Ông Martin hỏi đại sứ Ba Lan câu hỏi với một trăm ngàn Mỹ kim:

_ “Sau ông Hương, Hà Nội có chấp nhận ông Dương Văn Minh không?

Đại sứ Ba Lan phải đi hỏi lại. Nhưng ông hỏi lại một câu mà cộng sản Việt Nam đang lo lắng:

_ “Tất cả chúng ta đều nhắm vào chuyện thương thuyết để làm việc. Ông cho tôi biết coi tại sao có quá nhiều tàu chiến Hoa Kỳ ở phía Nam của biển Trung Quốc?

_ “Tôi hết sức hy vọng là cả ông và tôi đểu phải hiểu tại sao, ông Martin trả lời.

Trên thực tế ông có thể nói cho tôi biết, ông đây, tại sao có quá nhiều dàn hỏa tiễn Bắc Việt được đặt quá gần Sài Gòn? Nhờ ông cho các bạn của ông ở Hà Nội biết là nếu họ muốn chống lại cuộc di tản của chúng tôi thì tức khắc họ sẽ biết tại sao có hạm đội của chúng tôi ở đó.

Ông Martin nghĩ rằng vị đồng nghiệp Ba Lan của ông sẽ mau chóng chuyển ngay về Hà Nội tin tức này. Ông Martin không thích cái thú ăn chơi kiểu thượng lưu ở đây và ông ra về ngay. Tóm lại ông đã có được một ngày khá tốt. Đã có trên một ngàn người Mỹ, cùng vợ con, bè bạn của họ đã được ra đi, dù có hay không có đầy đủ giấy tờ.

Và cả một ông Tổng Thống.

Để thực hiện tốt cuộc hành quân di tản của mình, ông thấy cần nhất là ông phải có thì giờ Bị nhốt trong một căn nhà, linh mục Jean Mais nghe một phụ nữ trẻ thét lên:

_ “Ngày nào như ngày nấy, bà ta tắm rửa trong một bồn tắm đầy bia 33. Ông ta đã đi ra ngoại quốc rồi với nhiều tấn vàng. Bọn họ hay lắm, người này cứ thay thế cho người kia, chúng tôi phải chiếm Sài Gòn thôi.”

Người đàn bà trẻ này nói về bà Thiệu. và về ông Tổng Thống , về những người thay thế ông ta. Linh mục Mais và người đệ tử của ông được đưa đi từ nhà này đến nhà khác. Bây giờ thì người ta đã gọi linh mục là “anh” để chứng tỏ rằng ông không có gì cao hơn người đối thoại với mình.

_ “Anh, tôi phải trói tay anh lại.

_ “Tại sao?”

Người ta không trả lời cho ông. Người đệ tử của ông thì không bị trói tay. Trên sàn nhà cạnh linh mục có hai người ngồi. Một người thì bị trói tay, người kia thì không bị trói. Không còn chiếc chiếu nào nữa, cũng như giọng nói cũng đã thay đổi.. Tất cả đều chờ. Một ngày, hai đêm…. Họ nghe tiếng xích của chiến xa trên đường. Xuyên qua kẻ ván, linh mục quan sát cuộc di chuyển. Ông thấy nhiều hỏa tiễn SAMM được xe Molotova kéo. Đối với linh mục, ông thấy Miền Nam Việt Nam không có phản công nữa, và không phải CPLTCHMN nắm lấy chánh quyền ở Miền Nam.

Bắc Việt sẽ chiếm Miền Nam

Mặc dù tiếng đồn khắp Sài Gòn cũng như ở các vùng của cộng sản, nhưng thực sự ông Thiệu không phải ra đi với số vàng của Ngân Hàng Việt Nam.

Dĩ nhiên là mọi người đều quan tâm, chánh quyền ở Sài Gòn cũng như chánh quyền ở Hoa Thạnh Đốn . Nếu cộng sản chiếm được thủ đô Sài Gòn, người ta muốn thấy rằng họ sẽ không chiếm được số vàng này. Có hai người theo dõi vấn đề này rất sát ngày 26 tháng 4. Đó là ông Nguyễn văn Hảo, cựu Phó Thủ Tướng đặc trách về Kinh Tế, và một cố vấn của tòa đại sứ Hoa Kỳ, ông Dan Ellerman. Số vàng này có thể sẽ được ký thác ở Thụy Sĩ, vào Ngân Hàng Quốc Tế, hay ký thác ở Hoa Kỳ ở Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang. Ông Hảo không muốn gởi số vàng này ở Hoa Kỳ dưới sự kiểm soát của người Mỹ. Ông Martin nhấn mạnh để các thỏi vàng này phải được di tản. Ông đến dinh Tổng Thống. Ông Hương dường như lãng trí.

Ông Martin ra về với sự tin tưởng là ông Hương chấp thuận chuyện di tản số vàng này.

Cùng ngày, ông Kissinger điện qua: Chuyện “gởi đi” này – (người ta không hề nói đến vàng) – có thể phải được bảo hiểm cho nhiều tỷ mỹ kim., phải lên đến hai trăm bốn mươi triệu mỹ kim (240 triệu) . Bảo hiểm chỉ có giá trị khi nào sự “gởi đi” phải trước ngày 27 tháng 4. Ông Hảo lo việc chuyển đi, nhưng có nhiều nghi vấn và ông phải cho Tổng Thống biết. Hoặc ông Hương còn là Tổng Thống hoặc ông Dương Văn Minh lên cầm quyền. Nếu số vàng được gởi đi, những người này hay người kia có thể sẽ bị cáo buộc là phản bội. Cần phải suy nghĩ lại. Người Mỹ dự trù là sẽ chuyển đi những thùng đựng các thỏi vàng trên một phi cơ quân sự , như thế sẽ giải quyết được vấn đề bảo hiểm. Các quân nhân không cần thiết phải có nhiều biện pháp phòng ngừa. Công tác chuyển hàng này được dự trù ngay đêm nay.

Tòa đại sứ nhận được điện thoại của ông Hảo: Ông Hảo tuyên bố là Tổng Thống Hương không cho phép chuyển vàng đi. Như vậy là số vàng đã đóng thùng vẫn còn được cất giữ ở ngay chỗ cũ, dưới hầm của Ngân Hàng Quốc gia.

Bị giao động vì quá nhiều lời khuyên của những người này người khác, Tổng Thống Hương, người luôn luôn tôn trọng Hiến Pháp, đã triệu tập Lưỡng Viện Quốc Hội Việt Nam Thượng Viện. Ông đặt với họ một câu hỏi rất nghiêm trọng:

“Liệu tôi có thể từ chức và giao quyền hành lại cho tướng Dương Văn Minh được không?

Để ông ta bắt đầu các cuộc thương thuyết với địch?”

Các nghị sĩ và dân biểu tranh luận với nhau suốt 10 tiếng đồng hồ.

Trong lúc ở ngoài hành lang, ông Pierre Brochand của tòa đại sứ Pháp theo dõi cuộc tranh luận. Buổi họp bị ngưng nhiều lần với những pha cãi cọ qua lại và những bài diễn văn bi thảm, buồn cười và giật gân.

Cuối cùng các nghị sĩ và dân biểu cũng bỏ phiếu cho một quyết nghị:

_ “Họ tái xác nhận lòng tin của họ đối với Tổng Thống Hương. Họ để cho vị Tổng Thống này được trọn quyền quyết định, kể cả quyết định trao quyền lại cho “một nhân vật nào đó được ông lựa chọn”.

Quyết nghị này vi hiến, nhưng nhìn chung, nó cũng giữ được một hơi hướng bàn bạc của pháp chế.

Vào buổi trưa, trong lúc cuộc thảo luận còn đang tiếp tục ở Thượng Viện, đại tá Võ đông Giang họp báo ở trại Davis. Không có gì khích lệ cho lắm về triển vọng thương thuyết. Ông ta chỉ nói:

_ “Các đơn vị của chúng tôi tiếp tục tiến quân, sẽ không có ngừng bắn.”

Ông ta nêu ra 9 điều kiện mà người Mỹ phải thi hành. Trong số đó đại tá Giang bắt buộc:

_ Tất cả các thành viên của CIA phải ra đi hết,

_ Rút hết tất cả các tàu chiến Hoa Kỳ đang lảng vảng trong vùng lãnh hải của Việt Nam cũng như 6000 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trên hạm đội đó.

_ Rút hết tất cả 200 phi cơ Hoa Kỳ mà theo ông ta đang sẵn sàng can thiệp,

Ông ta còn nêu thêm 7 điều kiện tiên quyết cho Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa. Bảy điều kiện này chung quy chỉ nhằm triệt tiêu hoàn toàn Chánh Phủ này.

Trong khi đại diện của cộng sản đang thao thao bất tuyệt ở trại Davis, thì ông Pierre Brochand điện thoại cho ông Polgar. Theo ông thì các chánh trị gia của Sài Gòn chậm chạp và viển vông đã làm mất quá nhiều thì giờ:

_ “không còn nghi ngờ gì nữa, đã quá trễ cho việc thương thuyết.”

Những người Ba Lan trong Ủy Hội Quốc Tế cũng nghĩ như vậy. Cơ quan CIA biết rằng một chiếc phi cơ Ilyouchine sẽ đáp xuống Tân Sơn Nhất trong vài giờ nữa để bốc 280 nhân viên Ba Lan về Varsovie (Ba Lan) qua ngả Băng Cốc. Chuyện di tản này chỉ có một ý nghĩa: người Ba Lan thấy trước một cuộc tiến chiếm Sài Gòn của Bắc Việt và họ không có một hứng thú nào ở lại tại chỗ để chờ đón giải phóng quân. Đây là lần duy nhất người Ba Lan không hề trao đổi tin tức của họ cho ông Snepp hay ông Polgar.

Cuộc di tản đang được tiếp tục rất có tổ chức và trong vòng trật tự. Vị Tổng Tư Lệnh Thái Bình Dương đã cho ông Martin biết về những cảm tưởng của ông ta:

  • “Tinh thần của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã xuống thấp vì gia đình của họ không được di tản cùng với những người tỵ nạn khác..Tại Đà Nẵng mười thành viên thuộc cơ quan tình báo của sư đoàn 1 Không quân của Miền Nam Việt Nam đã bị hành quyết… Người Việt Nam tin rằng họ sẽ bị hành quyết nếu người ta không giúp cho họ trốn thoát.”

Ông Martin giận lắm: các cơ quan tình báo ở Honolulu đã có hoạt động, nhưng ông ta, đại sứ Martin, thì có cần gì đến những tin tức mãi từ xa, tận Honolulu như vậy đâu, về những chuyện đang xảy ra ngay cạnh ông ta, ở Việt Nam.

Ông Kissinger lo âu. Làm gì mà ông Martin cấp giấy phép đi như vậy? Có phải thật sự các phi công Miền Nam Việt Namđang chuẩn bị bắn hạ các phi cơ di tản của Hoa Kỳ hay sao? Từ đâu mà họ biết là cộng sản đã có danh sách những người phải hành quyết, đến hàng triệu người?

Ông Martin trả lời ngay. Rất tự tin, đại sứ Martin nói rõ:

_ “Phải biết lọc kỹ các tin đồn”. Càng ngày càng có nhiều bằng chứng là Hà Nội “mặc nhiên đồng ý sự di tản… trong khi sự di tản chánh trị ở Sài Gòn tiếp tục theo một đường hướng thuận lợi cho họ.” Bằng chứng thiện chí khác của Hà Nội: Họ có thể chiếm cảng Vũng Tàu, cách thủ đô Sài Gòn 80 cây số về phía Nam, nhưng họ không chiếm. Tướng Homer Smith có đi thám sát Vũng Tàu. Người ta sẽ cho 2 chiếc phi cơ vận tải C.130 để di tản gia đình của 250 Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam theo yêu cầu của vị Tư Lệnh của họ. Tất cả các thủ tục đều đã làm xong và rất đầy đủ. Các phi cơ sẽ đáp xuống và sẽ cất cánh trong vòng vài phút. Không có phi cơ nào của Miền Nam Việt Nam ở khu vực đó. Như vậy là sẽ không có một nguy cơ nào từ một sự can thiệp bắn phá của các phi công Việt Nam. Cuộc di tản này coi như một cuộc hành quân thí nghiệm. Người ta sẽ thấy đề đốc Bùi thế Lân thật sự có thể bảo vệ được phi trường ở Vũng Tàu hay không”.

Các nhà ngoại giao Pháp bám sát Tổng Thống Hương suốt ngày. Riêng hai ông Mérillon và Brochand thì lộ rõ vẻ lo lắng. Họ bắt đầu nghi ngờ rằng người ta có thể nhận cả một sự đầu hàng trong thương thuyết. Họ tỏ vẻ tin tưởng một cách công khai. Bây giờ thì ông Polgar có thể tin tưởng hơn người bạn đồng nghiệp Brochand của ông về giải pháp Dương Văn Minh.

Tờ báo Tin Tức Viễn Đông, gần như là tờ báo bán chánh thức của tòa đại sứ Pháp, đưa lên hàng đầu 4 tin tức, ngày thứ bảy 26 tháng 4:

“(1).-Tổng Thống Giscard d’Estaing đã nói chuyện với đại sứ Pháp ở Sài Gòn qua điện thoại.

“(2).- Ông Jean- Marie Mérillon đã được Tổng Thống Trần văn Hương tiếp kiến lần thứ ba.

“(3).- Nghị sĩ M. Paul d’Onano đã đến Sài Gòn , mang theo một thông điệp của Tổng Thống Pháp cho các công dân Pháp ở Việt Nam“(4).- Sẽ có một cuộc hưu chiến…”

Diễn dịch: những cuộc vận động của người Pháp đang tạo dựng tình hình cho một cuộc ngừng bắn, để đi tới một giải pháp chánh trị qua thương thuyết.

Tờ báo này cũng cho biết nhiều tin đồn ở Sài Gòn: 5 sư đoàn Bắc Việt trở về Hà Nội , và một lần nữa, một cuộc đảo chánh đã nổ ra trong thủ đô Bắc Việt.

Báo chí Việt Nam thay đổi danh từ. Họ dùng chử “đối phương” hay “anh em” thay vì “quân cộng sản” như họ đã thường dùng.

Các công ty hàng không ngoại quốc như Pan Am, Hàng Không Singapore, Thái International, Hàng Không Trung Hoa, Cathay Pacific … không còn ghé lại Sài Gòn nữa. Trái lại hàng không Air France và hàng không UTA nghiên cứu khả năng để tăng thêm các chuyến bay phụ trội cho ngày chúa nhật 27 và thứ hai 28 tháng 4. Hai Ngân Hàng Mỹ là Chase Manhattan và First National City Bank, đóng cửa mà không báo trước cho khách hàng của họ. Người ta nghĩ rằng Ngân Hàng “Bank of America” cũng sẽ đóng cửa theo. Tướng Không quân Nguyễn cao Kỳ cho biết ý định của ông là ủng hộ Dương Văn Minh, nếu ông này thay thế Tổng Thống Hương. Có nhiều tin trái ngược mâu thuẩn nhau về tình hình ở tỉnh, nhất là ở phía Nam của thủ đô Sài Gòn.

Thông báo trong tờ “Tin Tức Viễn Đông” “Đính Chánh”

Trong những ngày gần đây, có nhiều tin đồn có ác ý do một vài người xấu miệng loan truyền, nhằm làm hại thanh danh và danh dự của gia đình chúng tôi, về những chuyện gọi là “cướp bóc và hiếp dâm” đã xảy ra tại quán trọ Roches Noires, ở Bãi Dứa, Vũng Tàu.

Để trả lời cho những chuyện bép xép này vốn chỉ là những chuyện ngồi lê đôi mách đốn mạt không đáng của những người đứng đắn, nhân danh gia đình của mình, tôi cực lực đính chánh và tuyên bố là không hề có xảy ra chuyện cướp bóc hay hiếp dâm nào trong quán trọ. Chúng tôi vẫn còn ở tại đây trong hiện tại như bao nhiêu người khác trong quý vị, trong an ninh và hoàn toàn an ninh đúng nghĩa của danh từ này.

Dù trong tình huống nào, dù có sự dàn dựng kể trên, quán trọ của chúng tôi vẫn hoạt động bình thường và vẫn tiếp tục phục vụ cho khách hàng thân mến của chúng tôi.

Là một người đứng đắn, tôi tha thứ hết những luận cứ không xác thật được tung ra trong thời điểm lệch lạc và yêu cầu tác giả (hay những tác giả) của chúng hãy có một chút lương tri và nhất là liêm sĩ để rút lại những lời xảo trá đó vốn nhằm hãm hại gia đình chúng tôi và phá hoại việc làm ăn của chúng tôi.

Lâm văn Hỗ Gustave

Vũng Tàu (Cap Saint Jacques)

Một chỉ dấu quá rõ ràng cho dân chúng Sài Gòn: đó là siêu thị P.X (Post Exchange) một siêu thị rộng lớn không đánh thuế của người Mỹ, đã loan tin là sẽ đóng cửa. Người ta dọn trống hết các kệ, đóng thùng hết các loại rượu mạnh. Tất cả các thứ còn lại như thuốc lá, thức ăn đóng hộp, các bọc khoai tây chiên dòn, máy thu băng.. v.v. đều được bán đại hạ giá năm chục phần trăm (50 %).

Ngoài thành phố, người ta bắt đầu biết được là có rất nhiều binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vốn không phải là binh sĩ từng canh gác tòa đại sứ trước đây, đã đến từ tối hôm qua tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Một vài chánh trị gia người Việt Nam không hề tin có giải pháp thương thuyết. Ông Bùi Diễm điện thoại cho ông Martin:

_ “Tôi không còn có thể làm được gì cho đất nước tôi nữa. Tôi đã quyết định phải rời khỏi Việt Nam. Ông có thể giúp được tôi gì không? Tôi muốn đi với bà mẹ già của tôi.

Một nhà ngoại giao (ông Phó đại sứ Josiah Bennett) đến tìm ông Bùi Diễm. Ông Martin cho xử dụng một chiếc phi cơ nhỏ loại 8 chỗ ngồi của Hải Quân Hoa Kỳ . Đài kiểm soát Không Lưu không cho phép cất cánh. Một ông đại tá Mỹ sốt ruột:

_Phải liều thôi. Cất cánh đi!

Và phi cơ bay đến Băng Cốc (Thái Lan)

Các tướng Văn Tiến Dũng và Trần Văn Trà cho lệnh các người có trách nhiệm ở trại Davis hãy đào hầm núp. Tướng Trà đã nghĩ là phải gởi các đơn vị đến để đem người của họ ra khỏi trại này. Nhưng rồi ông phải bỏ ngay ý định đó, sợ rằng sẽ có nhiều “tổn thất đáng tiếc”. Những người ở trại Davis lo tăng cường các hầm núp của họ nhằm tự bảo vệ, tránh đạn pháo của địch và cả pháo nặng 130 ly của họ nữa. Tại Tân Sơn Nhất, trong trại Davis này vốn có 12 chòi canh được binh sĩ Miền Nam dựng lên chung quanh, đại tá Bắc Việt Ngô văn Sương lo tăng cường hệ thống trú phòng. Binh sĩ và sĩ quan lo đào sâu thêm nữa, dùng những tủ thiếc đổ đầy đất đặt trên nấp hầm. Họ có một bệnh xá nhỏ ở dưới hầm và có một hệ thống giao thông hào nối liền các dãy nhà của hai phái đoàn của họ.

Tướng Trà sẽ đưa các sư đoàn của ông ta tiến chiếm Sài Gòn .cuộc dàn quân đã hoàn tất: về phía Tây Bắc thì có quân đoàn 3 Bắc Việt, về phía Bắc thì có quân đoàn 1, về phía Đông thì có quân doàn 4 và quân đoàn 2, về phía Tây Nam thì có lực lượng chiến thuật 232 (xem bản đồ đính kèm). Tất cả là 18 sư đoàn.

Cũng vô ích như chuyện đóng cửa các ngân hàng ở Sài Gòn , đó là thông điệp của Tổng Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ ngày 26 tháng 4.

Ông Tổng Trưởng James Schlesinger gởi một vài lời trấn an đến các nam nữ quân nhân thuộc quân lực Hoa Kỳ,

_ “Trong lúc thực hiện cuộc triệt thoái cuối cùng các quân nhân Hoa Kỳ khỏi nước Việt Nam, đối với nhiều người trong các bạn, tấn thảm kịch ở Đông Nam Á đã là một biến cố xa xôi và vô nghĩa. Các bạn đã từng chiến đấu ở đó. Các bạn đã từng mất đi bè bạn ở đó, các bạn đã từng đau khổ ở đó. Trong chiến trận, các bạn đã từng chiến thắng và các bạn rời chiến trường trong danh dự… Người ta sẽ nói chiến tranh quá phù phiếm. Trong một khía cạnh nào đó, người ta có thể nói chuyện đó như là nỗ lực quốc gia nào cuối cùng cũng không thành công. Nhưng việc tham chiến của chúng ta có một mục đích…. Tôi xin ngả mũ chào các bạn. Dù thế nào thì các bạn có quyền được kính trọng, được hoan nghênh, và được biết ơn…”

Gần như một lời cầu nguyện! Quân dội Hoa Kỳ luôn luôn được đặt dưới quyền lãnh đạo dân sự. Vào năm 1975 cũng không hơn gì năm 1973 đã có một phản ứng dữ dội trong nội bộ Quân đội . Không có chuyện nổi dậy nếu so sánh với cuộc nổi dậy của Quân đội Pháp ở Algérie. Một số lớn các sĩ quan hiện dịch Mỹ đã khẳng định là họ bị quyền lực dân sự trói tay. Có nhiều quân nhân hiện dịch đã giải ngũ một cách lặng lẽ.

Cả thế giới đều biết là sẽ không còn có một quân nhân Hoa Kỳ nào nữa ở Việt Nam. Nhiều người Mỹ có quan điểm khác nhau về chánh trị cũng không nghĩ rằng Quân đội Hoa Kỳ đã “chiến thắng”! Hay là họ đã ra đi “trong danh dự”!

Với một ít may mắn nào đó, tốt nhất là cuộc ra đi cuối cùng sẽ đúng phương pháp và xứng đáng!

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

Chương 18 – Giờ của Dương Văn Minh

Sau khi Tổng Thống Thiệu tuyên bố từ chức, thì nước Pháp đưa ra đề nghị giúp đỡ của họ. Tổng Thống Valéry Giscard s’Estaing ngả mũ chào “tinh thần trách nhiệm” của vị cựu Tổng Thống VNCH. Đối với tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn công tác cũng giản dị thôi: chỉ cần giới thiệu tướng Dương văn Minh vào vòng đua chánh trị để có thể tiến tới những cuộc thương thảo.

Theo Thượng Nghị Sĩ Sam Nunn thuộc đảng Dân Chủ của tiểu bang Georgia thì sự ra đi của Tổng Thống Thiệu chưa phải là đạt được ngay việc thương thảo, mà chỉ mới là một khả năng có thể đưa đến những sự thương thảo mà thôi. Còn Nhà Trắng thì bình tĩnh xác nhận là người ta (Hoa Kỳ) không có đòi hỏi Tổng Thống Thiệu phải ra đi. Dĩ nhiên là có thể một người nào đó ở Sài Gòn đã đề nghị với Tổng ThốngThiệu…. Trong khi tiếp xúc với dân chúng, ông Tổng Thống Ford vẫn cố đổ hết trách nhiệm về mọi biến cố ở Việt Nam cho Quốc Hội.

Ngày 21 tháng 4, ông nói chuyện với các ông Walter Cronkite, Bob Schieffer và Eric Sevareid ở trên đài truyền hình. Luận cứ của Tổng Thống Ford rất là đơn giản: Quân Lực VNCH vừa đánh vừa triệt thối là vì Quốc Hội không chấp thuận viện trở quân sự đầy đủ cho Miền Nam Việt Nam. Nếu không có những sự triệt thối đó thì làm sao có hiểm họa như ngày nay?

Ông Ford còn đi xa hơn nữa, ông còn lo lắng về hiểm họa chiến tranh ở Trung Đông . Và sợ còn có một cuộc phong tỏa dầu hỏa nữa. Trên bình diện kinh tế trong nước có nhiều yếu tố phấn khởi như vấn đề lạm phát đã ổn định, chỉ số bán lẻ đang tăng. Nhưng Sài Gòn thì quá xa xôi….Tuy nhiên vẫn còn vấn đề di tản. Hiển nhiên vẫn còn sự bất đồng giữa Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng . Người ta chống nhau vì có quá nhiều tiết lộ qua báo chí. Ông Bộ Trưởng Quốc Phòng cho biết là giờ này khó có thể xử dụng các phi cơ dân sự hay quân sự, mà bắt buộc phải dự trù một cuộc di tản bằng trực thăng, một cuộc hành quân rất là tế nhị. Vấn đề di tản người Việt Nam chưa được giải quyết. Ngoài ra ở Sài Gòn chánh thức thì các đơn xin di tản được tạm thời đình hoãn. Những người Việt Nam nào đến tòa đại sứ Hoa Kỳ cũng đọc được một thông cáo:

_ “Những yêu cầu có liên quan đến Cha Mẹ.

Vì có quá nhiều việc quan trọng phải giải quyết, nên tạm thời chúng tôi xin ngưng nhận đơn từ liên quan đến Cha Mẹ, Anh , Chị. Xin đừng xếp hàng ở đây nếu quý vị có nhu cầu về vấn đề này.

Hy vọng gần đây chúng tôi có thể nhận đơn xin liên quan đến Cha Mẹ, Anh Chi em…” Ông Kissinger gởi điện thư qua cho ông Martin:

_ “Khi nào sân bay Tân Sơn Nhứt nằm trong tầm hỏa lực của địch quân, thì các cơ sở thuộc Phòng Tùy Viên Quân Lực phải được di tản bằng phi cơ… Không nên, tôi nhắc lại , không nên ỷ lại vào sự di tản bằng trực thăng…..”

Ông Kissinger nhấn mạnh là không nên can dự vào những hoạt động ngoại giao mà người Pháp đang tiến hành. Còn về vấn đề can thiệp của Liên Xô?

_ “Chúng tôi có đề nghị một cuộc ngưng bắn tạm thời chừng hai tuần lễ … để di tản người Mỹ và vài người Việt Nam … “Đối diện, người ta hình như ngỏ ý” đó là một quyền lợi nghiêm trọng….nhưng cho đến giờ này vẫn chưa có trả lời”.

Tại Honolulu, Đô Đốc Noel Gayler, Tư Lệnh Chiến trường Thái bình Dương, đã quyết định lập một cầu không vận tới Sài Gòn. Các phi cơ vận tải C.141 làm con thoi ban ngày và các phi cơ vận tải C 130 vào ban đêm. Tại Quốc Hội, một cuộc tranh đấu mới về ngân khoản đã được tiến hành và Chánh Phủ cuối cùng đã được chấp thuận 160 triệu mỹ kim viện trợ kinh tế và nhân đạo. Ông Ron Nessen ở Nhà Trắng xác nhận là Tổng Thống tin tưởng rằng còn có khả năng và nhất thiết cần phải có được một tỷ mỹ kim cho Miền Nam Việt Nam.

Ngày 22 tháng 4:

Tổng bí thư Lê Duẫn nhân danh Chánh trị Bộ đã diện cho Văn Tiến Dũng và Lê đứcThọ như sau:

_ “Chúng ta phải tranh thủ, tính từng ngày…. Phải tấn công đúng lúc trên tất cả mọi hướng. Mọi chậm trễ sẽ có nguy cơ kéo theo nhiều hậu quả tai hại, trên cả phương diện chánh trị cũng như trên kế hoạch quân sự.”

Tổng bí thư đảng sợ rằng giải pháp chánh trị sẽ làm Bắc Việt mất đi một chiến thắng hoàn toàn quân sự. Không có người lãnh tụ nào quên được lịch sử của năn 1954, với một biên giới được áp đặt ở vĩ tuyến 17 cho hai nước Việt Nam.

Để tấn công vào Sài Gòn, tướng Trần văn Trà cho tập trung quân đội Bắc Việt trong những vùng tạm chiếm cho đến giờ này vẫn còn được bảo đảm an toàn: Chiến khu C ở Tây Bắc Sài Gòn, chiến khu D ở Đông Bắc, Khu Tam Giác Sắt ở phía Bắc, khu rừng U minh ở phía Nam, và các đơn vị thuộc CPLTCHMN ở trong bán đảo Cà Mau.

Tại Lộc Ninh, Lê đức Thọ, Văn Tiến Dũng với tư cách là Tổng Tư Lệnh, và Phạm Hùng như người chánh thức có trách nhiệm về chánh trị ở Miền Nam long trọng ký tên vào tấm bản đồ, trên đó đường tiến quân tới Sài Gòn của các Quân Đoàn Bắc Việt được vẽ màu đỏ. Hai ông Lê đức Thọ và Phạm Hùng là chánh trị viên, thì ở lại Lộc Ninh, Văn Tiến Dũng và Trần văn Trà, là quân nhân, thì đóng Bộ Tư Lệnh Tiền Phương tại Bến Cát, ở phía Bắc Sài Gòn.

Tại Lộc Ninh, một anh chàng say mê chiếu bóng tên là Tiến còn nhìn thấy Lê đức Thọ. Anh biết nhân vật này lắm, anh rất bằng lòng. Anh nhận thấy là chung quanh Lê đức Thọ co rất nhiều nhân vật quan trọng. Nhìn thấy cách họ nói chuyện là biết ngay. Một sĩ quan đã nói cho anh ta biết nhiệm vụ của mình:

_ “Tôi phải điều khiển một toán chiến xa, phải dắt dẫn họ, nhất là khi chúng ta vào Sài Gòn.”

Tại Sài Gòn, ông Hương đang là Tổng Thống …. chậm chạp. Ông chỉ còn thấy lờ mờ. Ông bị chứng cao huyết áp và rối loạn nhịp tim. Ông quá lừng khừng trong nhiệm vụ Phó Tổng Thống, một nhiệm vụ rất là danh dự, thường ít lộ diện. Là một cựu giáo viên, ông đã từng là Thị trưởng Sài Gòn, Thủ Tướng trong một thời gian ngắn, và ứng cử viên Tổng Thống năm 1967. Năm 1968 ông Thiệu đã chỉ định ông làm Phó Tổng Thống để rồi một năm sau đó cho ông nghĩ việc và hai năm sau lại đưa ông trở lại đứng chung một liên danh.. Nặng về nghi thức, theo đúng Hiến Pháp, khi đã trở thành Tổng Thống rồi thì việc đầu tiên ông chú trọng đến là chỉ định và bầu bán trong Quốc Hội Lưỡng Viện. Tất cả đâu đó phải được an bài xong rồi ông mới chọn một vị Thủ Tướng. Ông Hương lộ vẻ bằng lòng vì một ngày ngay sau khi ông nhận chức Tổng Thống thì dân biểu Phạm văn Út, thủ lãnh khối Cộng Hòa, được bầu lên làm Chủ tịch Hạ Viện. Hạ Viện đã không có đầu từ khi ông cựu Chủ Tịch đã trở thành Thủ Tướng. Tổng Thống Hương lo lắng: tại sao người ta không đưa ra được một ứng cử viên vào chức vụ Tổng Thư Ký của Hạ Viện ? Thật là phiền hà, ứng cử viên duy nhất đứng đắn lại ở tận Cần Thơ. Ồ! mà vị tân Tổng Thống lại rất chú trọng đến việc Vương quốc Ô Man đã chấp thuận gởi một đại sứ đến Sài Gòn kể từ ngày 26 tháng 4. Mình phải gởi người nào đến Ô Man đây? Dường như ông Hương quan tâm về vấn đề hình thức của chính phủ của ông hơn là bản thân ông, cũng như chương trình tương lai của ông hơn là những viễn ảnh của đời ông.

Pháo Binh cộng sản đang bắn vào Long Bình. Cho tới giờ này, chưa bao giờ những khẩu đại bác 130 ly Bắc Việt được bắn vào căn cứ này, một trong những căn cứ quan trọng nhất vào thời của người Mỹ còn ở đây.

Một buỗi lễ cầu nguyện đã quy tụ những đại diện của bốn Tôn Giáo lớn là Công Giáo, Phật Giáo, Phật Giáo Hòa Hảo và Cao Đài ở tại nhà thờ Chánh Tòa. Thật là một cảnh tượng đẹp mắt, vì các vị lãnh đạo Phật Giáo Hòa Hảo mặc toàn đen đứng chung quanh Giám mục mặc toàn trắng và các nhà Sư Phật Giáo đắp toàn y vàng. Vị Đại diện chánh thức của Cao Đài không thể đi đến thủ đô được vì đường 22 nối liền Tây Ninh và Sài Gòn đã bị cắt đứt .Ở tỉnh Tây Ninh, các đơn vị của Miền Nam đã đẩy lui nhiều trận tấn công của Bắc Việt, điều này chứng tỏ rằng sự ra đi của Tổng Thống Thiệu không có ảnh hưởng gì đến binh sĩ của Miền Nam Việt Nam.

Về sự từ chức của Tổng Thống Thiệu, người ta ghi nhận là có nhiều bình luận mâu thuẫn kỳ lạ. Có nhiều người từng không ưa ông Thiệu, giờ đây lại khâm phục ông sau khi ông chửi Mỹ. Có những người khác thù ghét chế độ chuyên chế của ông Thiệu, tự hỏi rằng ông Hương sẽ có quyền hành tối thiểu nào? ông Thiệu vẫn ở trong Dinh Độc Lập, sẽ cố vấn giúp cho ông tân Tổng Thống , vị này sẽ có thái độ ra sao?

Quen nghề dạy học, ông Hương dường như hay lẫn lộn lời nói và hành động. Đọc một bài diễn văn trên đài truyền hình, ông Tân Tổng Thống chỉ cho phép phụ nữ và trẻ em được phép rời khỏi đất nước nếu họ muốn. Còn đàn ông thì họ phải ở lại Việt Nam và chiến đấu.

Tại phi trường Tân Sơn Nhất các phi cơ vận tải nối đuôi nhau. Các viên chức Hoa Kỳ lo về di tản làm việc ngay tại phòng thể dục để kiểm soát người tỵ nạn. Ngày 22 tháng 4, chánh thức có ba ngàn ba trăm người đã ra đi từ Sài Gòn trên các phi cơ quân sự Hoa Kỳ.

Ở Hoa Thạnh Đốn ông Kissinger đã đạt được một đạo luật giải tỏa hết chướng ngại cho vấn đề nhập cư áp dụng cho hơn 300 ngàn người Đông Dương , trong đó có 50 ngàn người Việt Nam xét thấy “có bị nguy hiểm đến tánh mạng”. Đây là một sự nhượng bộ quá tốt: vì theo chánh sách cô-ta, không một nước nào được quyền có trên 20 ngàn chiếu khán nhập cư trong một năm. Chỉ sau thời điểm của Vịnh Con Heo, đặt biệt các cơ quan di trú Hoa Kỳ mới chấp thuận 60 ngàn chiếu khán cho người Cuba.

Bây giờ thì ông Kissinger thấy rằng ông đại sứ Martin đã quá trì hoãn trong vấn đề di tản. Liệu có thể tin được một con số quá lớn người Miền Nam sẽ có thể thoát thân hay được di tản chăng? Liên quan đến những vấn đề được đặt ra theo đó gia đình người Việt Nam quá đông, ông Tổng Thống Ford đã thuật lại một câu chuyện vui trong một cuộc thảo luận ở Nhà Trắng:

_ “Một người Việt Nam đến trình diện ở tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn với 4 bà vợ. Người ta hỏi ” ông muốn bà nào đi với ông?” – Trả lời : – “Bà trẻ nhất ”.

Ở Sài Gòn người ta không tìm kiếm gì hơn ngoài một tờ chiếu khán của Hoa Kỳ

Thông báo trong tờ Sài Gòn Post:

“Tìm cha mẹ nuôi. Sinh viên nghèo, biết lao động:

_ Chu thị Mỹ Hồ, sanh ngày 2 tháng 10 năm 1954 ở Nam Định, căn cước số 00113070

_ Chu thị Tuấn Hòa, sanh ngày 12 tháng 10 năm 1958 ở Khánh Hòa, căn cước số 10796374”

Báo chí đăng thông báo tìm người đầy rẫy. Những người Việt Nam cố gắng tìm người Mỹ dân sự cũng như binh sĩ mà họ có quen biết. Vì những người này có thể bảo đảm, hay có thể đưa thoát họ ra khỏi Sài Gòn:

  • Muốn tìm lại J.T. Slotberg ….”
  • Ông Tom Westerling, ông hiện ở đâu?

Bất thình lình, người ta tưởng rằng có một sự ngừng tiếng súng. Điều kiện ông Thiệu phải ra đi đã được thực hiện, một điều kiện mà phía cộng sản đã từng đòi hỏi, như vậy là họ phải có một sự ngưng hoạt động về quân sự.

Ông Kisinger gởi cho ông Martin công hàm trả lời của Liên Xô, (có phần lưu ý qua cho vị đại sứ của mình rằng đây thật sự là lần đầu tiên mà ông ta thông báo chi tiết về các cuộc thương thảo cho một trong các thuộc cấp của mình):

_ “Sau khi nhận được công điện của Tổng Thống Hoa Kỳ đề ngày 19 tháng 4, gởi cho ông Leonid I Brejnev, Liên Xô đã có “những biện pháp cần thiết để liên lạc với phía Bắc Việt. Lập trường của phía Bắc Việt đối với sự di tản các công dân Hoa Kỳ ở Miền Nam Việt Nam được coi như hoàn toàn thuận lợi. Trong khi mở cuộc hành quân, phía Bắc Việt không có ý định làm trở ngại cho sự di tản đó.”

Bây giờ là các điều kiện thuận lợi đã có cho một cuộc di tản như thế rồi “Liên Xô đã nói rõ là phía Bắc Việt sẽ căn cứ trên Hiệp Định Ba Lê cho mọi dàn xếp chánh trị. Hà Nội không có ý định làm nhục Hoa Kỳ”.

Người ta tin tưởng là ông Ford không làm cho tình hình ở Đông Dương thêm quá căng thẳng. Hình như ông Kissinger đang bối rối. Ông ta đòi ông Martin phải cho ông biết xem ông Martin “nghĩ thế nào về sự trà lời của Liên Xô.” Ông Tổng trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ ước tính rằng người Mỹ có thể tiến hành cuộc di tản của họ và cả “cuộc di tản người Việt Nam” mà không gặp một trở ngại nào.

Ông Kissinger còn nói thêm là: Thư trả lời chỉ rõ là “CPLTCHMN sẵn sàng tiến tới các cuộc thương thảo theo công thức ba Bên”

Liệu ông Kissinger cũng bị đầu độc chăng ? Những tin tức đến từ Mạc tư Khoa xuyên qua ông Kissinger, và từ Hà Nội xuyên qua đại tá Hung gia Lợi đã trùng hợp nhau. Ông Kissinger yêu cầu ông đại sứ phải giảm thiểu con số người Mỹ ở Miền Nam Việt Nam đến con số 800 người trong vòng 4 ngày tới.

Chung quanh Tổng Thống Hương và đại sứ Martin. người ta bàn tán về hoạt động chánh trị của Chánh Phủ Pháp. Ông Jean-Marie Mérillon là thành viên duy nhất thuộc ngoại giao đoàn ở Sài Gòn đi dự buổi lễ cầu nguyện ở Nhà Thờ Chánh Tòa. Ở Ba Lê, Tổng Thống Valéry Giscard d’Estaing đã tiếp ông Jean Sauvagnargues, Tổng Trưởng Ngoại Giao, để bàn về tình hình ở Đông Dương. Rồi đến lượt ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Pháp tiếp kiến ông Võ văn Sung, đại sứ của Hà Nội, và Phan văn Ba, đại diện cho CPLTCHMN. Và tất cả những chuyện này đã diễn ra thật là ồn ào.

Ở Tổng Thống Phủ Pháp, có nhiều người muốn nhìn nhận ngay CPLTCHMN nhằm bảo đảm sự hiện hữu của một Chánh Phủ. Thật là tế nhị. Thủ Tướng Jacques Chirac là một trong những người chống lại việc này, vì muốn tránh những phản ứng của Việt Nam Cộng Hòa đối với người Pháp còn ở Miền Nam Việt Nam. Đó là điều khôn ngoan. Trong tất cả thủ đô của các quốc gia ở Tây Phương các nhà ngoại giao Miền Nam Việt Nam cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết. Các phái đoàn cộng sản không muốn gặp họ ở La Celle-Saint Cloud. Họ và các nhà báo giải thích là :”Ông Hương cũng vẫn là Thiệu mà không có Thiệu”.

Tại nhà riêng của mình ở tòa đại sứ Mỹ, vào buổi tối, ông Martin thảo một bức công điện cho ông Kissinger :

_ “1.- Tướng Trần văn Đôn, Tổng trưởng quốc phòng, đã đến gặp tôi hôm qua. Ông ta nổi tiếng là một tay chuyên môn nhảy đầm…nên khi ông ta kết thúc một bản nào rồi thì không ai còn biết được ông đang ở đâu hết, nhưng người ta cũng thấy vui vui….

Mấy ngày trước ông Đôn đã giải thích ở tòa đại sứ rằng một khi mà Tổng Thống Thiệu ra đi và được ông Hương thay thế rồi, thì ông ta, Trần văn Đôn, sẽ là một Thủ Tướng xuất sắc!

2.- Chiều hôm qua, ông Đôn lại đã đề nghị một kịch bản khác: Tướng Dương văn Minh, người mà Hà Nội mong muốn, dĩ nhiên với tướng Đôn là cố vấn. Xuất xứ: từ tướng Minh và Đại sứ Pháp. Ông Đôn đã thừa hưởng cái áo khoác đẹp đẽ đó của ai vậy? Làm sao người ta có thể dàn xếp một chuyện giao quyền hành như thế được? Ông Minh có thể được chỉ định làm Thủ Tướng… với toàn quyền hành động về quân sự và chánh trị do ông Hương trao cho ông ta… Hoặc một giải pháp khác : ông Hương có thể giao hết chánh quyền lại cho ông Dương văn Minh để ông này bắt đầu ngay việc thương lượng để thành lập một Hội Đồng Hòa Giải… Theo tướng Đôn thì những người Công Giáo, Phật Giáo và các Giáo Phái khác đều sẵn sàng yểm trợ cho giải pháp này. Câu hỏi chủ yếu được đạt ra là: tướng Đôn đã chắc chắn là Hà Nội đã chấp nhận Dương văn Minh rồi …. nhưng ông ta không thể đưa ra được một bằng chứng nào. ” Người Mỹ sẽ nghĩ thế nào đây? Ông Martin viết tiếp: “Tôi đã trả lời rằng Quốc Hội Hoa Kỳ đã cho thấy là họ không quan tâm lắm về nhân vật nào sẽ ở chánh quyền … và tôi không có một quyền nào để chấp thuận hay không chấp thuận những gì được cọi là thỏa thuận chủ yếu giữa người Việt Nam.” Ông Martin đã giải thích cho ông Tổng Trưởng quốc phòng Việt Nam rằng đây không phải là một bài toán của Hoa Kỳ nữa. Có thể ông Đôn sẽ gặp người Pháp vì họ khẳng định là họ có một ảnh hưởng nào đó đối với Hà Nội.

3.- Tôi đã gặp ông Mérillon hồi trưa này, sau khi ông ta đến gặp Tổng Thống Hương, ông Martin viết tiếp. Đại sứ Pháp nói rằng ông ta đã có lưu ý ông Hương là phải hành động nhanh. Tổng Thống Hương có vẻ hơi chậm chạp, bệnh hoạn và quá già. Ông ta không có phản ứng gì đặc biệt. Ông Mérillon xác nhận là Tổng Thống Pháp có thúc đẩy ông đưa ông Minh lên. Tôi có hỏi ông ta có nhận được tín hiệu chính xác của Hà Nội chứng nhận rằng Hà Nội sẽ chấp thuận ông Minh chưa? Tôi đã không nhận được câu trả lời trực tiếp nào.

Tôi có cảm tưởng rằng người Pháp đã đề nghị tên của ông Minh cho Hà Nội mà không nhận được một câu trả lời chính xác nào, nhưng họ giải đoán sự im lặng này đương nhiên là một sự thỏa thuận ngầm. Người Pháp cũng có nói là họ đã yêu cầu một sự ngừng bắn sau khi ông Thiệu

đã ra đi, để có thể đặt những thể thức chánh trị mới , và chuyện Bắc Việt tạm ngưng các hoạt động quân sự bây giờ là một trong những kết quả của những sáng kiến của họ. Tin tưởng rằng họ có thể ảnh hưởng được ông Dương văn Minh nên họ hấp tấp tìm cách đưa ông ra nắm chánh quyền, hy vọng là một khi đã ngồi được ở ghế Tổng Thống rồi thì Hà Nội khó mà không thừa nhận được … Về phần tôi, “tôi nghĩ rằng Hà Nội khuyến khích những áp lực của người Pháp cốt để triệt tiêu tính cách hợp pháp của chế độ, bằng cách tạo ra một cuộc chuyển giao quyền hành một cách bất hợp hiến, có thể họ sẽ chấp nhận ông Dương văn Minh trong một thời gian nào đó như kiểu một chánh quyền thiên tả, và sau đó họ sẽ hành động thật nhanh để giành lấy thắng lợi không thể lật ngược được cho phía cách mạng .”

Ông Dương văn Minh đã có tiếp xúc với tướng Timmes. Ông Kỳ có vẻ muốn động thủ trở lại.

4.- Ông Dương văn Minh đã cho Tướng Timmes biết là có một số tướng lãnh người Bắc (những người ở chung quanh tướng Kỳ) đang chuẩn bị có hành động chống lại ông ta. Như tôi đã từng mong muốn là Sài Gòn phải được yên tịnh từ ngày mai cho đến cuối tuần, nên tôi đã có gởi một đặc phái viên đến gặp tướng Kỳ để cho ông biết rằng, nếu nguồn tin đó đúng thì chúng tôi thấy rằng chuyện đó chẳng đi đến đâu. “Ông Martin còn lắt léo: “giả sử như ông Kỳ chối, thì tôi cũng cho ông biết là chúng tôi chấp nhận lời nói danh dự của ông, nhưng mà không một người nào khác tin ông đâu. Do vậy, điều tốt hơn hết cho ông là sẽ không có gì xảy ra”. Thật ông Martin biết mình quá là Việt Nam hơn là một người Việt Nam.

Ông Hương đã yêu cầu vị Tân Thủ Tướng vừa được Tổng Thống Thiệu chỉ định hãy tạm thời giữ chức vụ đó. Vì ông Nguyễn bá Cẩn muốn rời khỏi đây. Ông Hương đã nói với ông Martin: “Tôi đã nói là tôi vẫn giữ nguyên trạng không có một thay đổi nào cho đến cuối tuần”. Ông Martin viết rõ như vậy. Cần phải tránh sao cho tình trạng chánh trị ở Sài Gòn đừng bị xáo trộn.

Ông Mérillon đã thúc ông Tổng Thống Hương. Ông hấp tấp cho biết là ông Hương đã cho gọi ông. Trong lúc văn phòng của Tổng Thống thì nói rằng ông Mérillon đã xin được tiếp kiến. Ông Martin biết rất rõ những chuyện vận động kiểu này:

“6.- Ông Mérillon đã trở lại gặp Tổng Thống lúc 16 giờ chiều. Sau đó, qua điện thoại, ông ta nói với tôi là vẫn không có gì mới mẻ hết. Tổng Thống Hương đã mời tôi lúc 17 giờ chiều. Mặc dù có một sự ngơi nghỉ trong hoạt động quân sự… nhưng ông không biết được chuyện đó sẽ kéo dài bao lâu.”

Ông Mérillon yêu cầu ông Martin thúc dục ông Hương từ nhiệm.

Ông Hương né tránh. Lúc ông tiếp đại sứ Mỹ, ông nói chuyện với ông này như một người bạn. Ông Martin giải thích rằng theo ông thì cộng sản cho ông Hương là hình bóng của ông Thiệu. “một ông Thiệu mà không có Thiệu”? Ông Hương nói:

_ Nếu tôi phải làm một ông Pétain của Việt Nam, thì ít nhất tôi cũng sẽ làm được trong danh dự và trong nhân cách đó.

Ông Tổng Thống mong muốn biết ông Martin nghĩ gì về ông Dương văn Minh. Đại sứ Mỹ chưa bao giờ gặp ông Minh. Có quá nhiều tin đồn về những tham vọng của ông ta. Có nhiều người khẳng định rằng nếu ông Minh được chỉ định làm Thủ Tuớng theo một thể thức thông thường thì đó là một điều rất tốt.. Có nhiều người khác thì nói rằng ông ta muốn được Quốc Hội và dân chúng lựa chọn, Có nhiều người lại nói ông ta đòi hỏi phải có toàn quyền hành động.

Ông Hương thì nhắc lại tình bạn cũ với ông Minh. Tướng Dương văn Minh luôn gọi ông Hương bằng “Thầy”. Hồi xưa ông Hương đã từng khuyên ông Minh nên đi ra ngoại quốc. Ông Hương cũng đã cho gọi ông Minh trở về từ Băng Cốc (Thái Lan) vào năm 1968. “Có nhiều mối liên quan giữa chúng tôi”.

Ông Martin gợi ý là các nhóm thuộc lực lượng thứ ba và một số tướng lãnh đã thấy có thể chấp nhận ông Minh. Cảm tưởng của ông Martin về ông Hương dường như có phần đúng. Câu hỏi chủ yếu là liệu Hà Nội có chấp nhận ông Minh hay không? Ông Hương không biết gì hết. Ông yêu cầu ông Martin hỏi đại sứ Ba Lan thuộc phái đoàn quốc tế kiểm soát ngừng bắn về vấn đề này.

Ông Hương thấy không có gì mà phải gấp. Trong buổi tiếp kiến, thình lình ông Tổng Thống già nua nói chuyện thơ phú với ông Bruson McKinlet, người đi theo ông Martin. Ông Martin tận hưởng được phút thoải mái này.

Ông Martin viết tiếp:

“8. – Ông đại sứ Ba Lan đã đến gặp tôi lúc 20 giờ tối. Đó là một người cộng sản cứng rắn và là một nhà ngoại giao loại “nhà nghề”. Chúng tôi hiểu nhau. Tôi cho ông ta biết cảm tưởng của tôi, khi biết rằng vị tân nguyên thủ quốc gia phải đối đầu với những sự thật, và nghĩ rằng định mệnh bắt ông ta phải chịu lãnh vai trò của một ông Pétain…. Không có cách nào để biết được liệu Hà Nội có chấp nhận ông Dương văn Minh trong vai trò tạm thời của một ông Laval hay không… ? Ông đại sứ Ba Lan sẽ thử tìm hiểu tin tức này. Ông ta là một người rất thận trọng và Varsovie phải cho phép ông hành động. Tôi nghi rằng rồi sẽ có một câu trả lời đúng lúc. Tôi tin chắc rằng vào sáng ngày mai thế nào ông ta cũng sẽ cho tôi biết là ông ta không nhận được câu trả lời. Tôi có thể cho Tổng Thống Hương câu trả lời đó và sẽ chấm dứt tại đây…”Ông Martin nghĩ rằng “vào ngay lúc này ông Dương văn Minh có giá trị của một người khác rồi”, nhưng người Mỹ không nên có một vai trò nào trong câu chuyện này. “Tại Hoa Thạnh Đốn, liệu chúng ta có một chỉ dấu tối thiểu nào cho thấy là ông Dương văn Minh được Hà Nội chấp nhận?”

Trong trò chơi lớn đầy kiên nhẫn đang diễn ra , vẫn còn thiếu một quân cờ. Người ta biết là ông Dương văn Minh sẽ đóng được vai tuồng gì, nhưng người ta không biết được Bắc Việt có chấp nhận dàn dựng vở tuồng này hay không?

Tại Ba Lê, Tổng Thống Giscard d’Estaing cho gọi ông Paul d’Ornano, nghị sĩ của những người Pháp ở ngoại quốc, từng là một nhà trồng tỉa ở Đông Dương, vì ông này sắp sửa đi qua Sài Gòn. Ông Tổng Thống Pháp nghĩ rằng CPLTCHMN có nhiều may mắn. Dù thế nào đi nữa thì cũng phải giữ sự có mặt của người Pháp. Ông d’Ornano nhất định phải bảo người Pháp phải ở lại tại chỗ.

Tổng Thống Pháp có thể sẽ có lệnh cho các viên chức, và lời khuyên cho những công dân Pháp.

Hai ông Kissinger và Martin thường xuyên liên lạc với nhau.. Ngày 23 tháng 4, ông Kissinger giải thích cho ông Martin là ” đối với tình hình chánh trị ở Sài Gòn, có hai cách giải quyết:

_ Chúng ta có thể thử cố giữ một cấu trúc vững chắc của Chánh Phủ, có nghĩa là người ta không để cho Chánh Phủ hiện hữu bị sứt mẻ thêm nữa..

  • Chúng ta có thể tìm để đạt những gì cụ thể chính yếu mà người Pháp đang mò mẫm tiến hành : thử thực hiện một vài thay đổi cho đến khi nào chúng ta tìm ra được một cơ cấu cho một Chánh Phủ khả dĩ được Bắc Việt chấp nhận …

Trên thực tế , hy vọng duy nhất cho một sự cải thiện không thể tránh được, là phải đi qua đường dây Liên Xô.”. Phải chờ câu trả lời từ Mạc tư Khoa , và từ đây đến đó phải giữ nguyên trạng cơ cấu chánh trị hiện thời. “Nếu trong hai ngày mà chúng ta không nhận được câu trả lời, hoặc có nhận được câu trả lời phủ định, thì chúng ta có thể xem lại vị thế của chúng ta . Trong khi chờ đợi, tôi đề nghị là ông có thể làm tất cả những gì ông có thể làm được để yểm trợ cho Tổng Thống Hương và Chánh Phủ của ông ta mà không cần nói gì cho ông biết về sáng kiến của chúng ta liên quan đến Liên Xô.

Bây giờ lại đến lượt ông Hương sẽ trở thành một món tiền để trao đổi! Liên quan đến vấn đề di tản, ông Martin cũng như ông Kissinger vẫn đứng trước một ngã ba đường: Ngũ Giác Đài thì tỏ vẽ hối thúc. Trong trường hợp Sài Gòn bị tấn công, người ta không muốn thấy quân chiến cụ và đạn dược bị rơi vào tay cộng sản . Nhưng nếu người ta đưa quân chiến cụ đi thì Miền Nam Việt Nam sẽ hốt hoảng ngay.

Những người của ông Thiệu sửa soạn ra đi. Cựu Thủ Tướng Trần thiện Khiêm gởi nhiều tấn hành lý ra ngoại quốc. Tân Tổng Thống Hương tiếp tướng Đặng văn Quang, Phụ tá đặc biệt về an ninh của ông Thiệu và nói với ông này rằng ông phải từ chức vì ông liên hệ quá chặt chẻ với ông Thiệu. Ông Quang tuân hành ngay và sau đó yêu cầu ông Hương coi sóc giùm mấy người đệ tử của ông Thiệu. Ông Hương sẽ coi lại…, ông ta nói với ông Thiệu trong những ngày tới. Chuyện quan trọng bây giờ phải là vấn đề thương thuyết với kẻ địch:

_ “Vấn đề an toàn của đất nước phải được ưu tiên hơn là an toàn của cá nhân”

Vài giờ sau đó, khoảng giữa trưa ngày 23 tháng 4, tướng Kỳ đáp trực thăng xuống nóc Dinh Độc Lập, ở đó có Tổng Thống Hương đón ông ta. Ông Kỳ nói:

_ “Quân cộng sản Bắc Việt có thể tiến đến Sài Gòn trong vài ngày, hay trong vài giờ sắp tới…

Ông Hương đáp:

_ “Phải thương thuyết thôi. Ông Mérillon và nhiều người khác thúc giục tôi trao quyền cho tướng Dương văn Minh. Quân đội không thể kháng cự được. Có phải thật sự là họ đã hết đạn rồi phải không?

Tướng Kỳ nghĩ rằng Quân đội cần phải có một lãnh đạo có nghị lực:

_ Với những gì chúng ta đang có, chúng ta có thể cầm cự được một hai năm. Ông hãy bổ nhiệm tôi làm Tham Mưu Trưởng Liên Quân đi.

Ông Hương thoái thác:

_ “Một người như ông, đã từng là Thủ Tướng và Phó Tổng Thống, không thể chỉ trở thành một Tham mưu trưởng thường được. Ít lâu nữa đây tôi sẽ chỉ định ông làm cố vấn quân sự đặc biệt cho Chánh Phủ.

  • Nhưng thưa Tổng Thống , thời gian còn quá ít.

Ông Kỳ ra đi. Toàn là những người yếu đuối, toàn là những người chần chờ Người Mỹ và người Pháp đang dùng con bài Dương văn Minh là một người yếu đuối khác nữa. Nếu ông ta lấy được quyền hành hay được người ta giao cho quyền hành (vì Minh không tự mình chiếm lấy quyền hành bao giờ) thì tất cả sẽ còn yếu nữa. Tướng Kỳ tiếc là mình không chịu tiến hành một cuộc đảo chánh.. Chỉ vài ngày trước khi Tổng ThốngThiệu ra đi, một phi đội trưởng đã đề nghị ném một trái bom “gặt hết bông” (bom hút hết dưỡng khí) xuống Dinh Độc Lập.

Người Pháp khuyến khích ông Dương văn Minh hãy nhận ghế Thủ Tướng, ít nhất trong thời gian đầu. Chiều lại ông Minh họp các cố vấn của ông lại. Ông nói:

_ “Nếu được chỉ định là Thủ Tướng một cách “hợp hiến” như vậy, thì quá yếu: Tôi muốn nhận ghế đó trực tiếp từ dân chúng. Thí dụ như qua sự tán thành của những nhóm Tôn Giáo chánh hay các nhóm khác.

Ông Minh tưởng tượng là nhiều nhóm khác nhau đồng thỏa thuận cho ông một loại ủy nhiệm của dân chúng. Ông yêu cầu dân biểu Nguyễn văn Binh liên lạc giùm với các hội chuyên viên như luật sư, giáo sư, các doanh gia, và nhà báo. Về phía Quân đội Ông Minh rất tự tin. Vài giờ trước đó, các tướng lãnh đã họp ở Bộ Tổng Tham Mưu, có mặt cả tướng Cao văn Viên. Ông này ước tính rằng phải bỏ qua Hiến Pháp để tướng Minh được chỉ định là nguyên thủ quốc gia. Ai sẽ chỉ định ông ? Ông Minh trả lời là dân chúng. Ủy nhiệm của dân chúng, của các vị lãnh đạo Tôn Giáo, của các Hội đoàn chuyên nghiệp, của Thượng Đế. Ông Minh biết ít nhất là Tướng Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, đã sẵn sàng đi với ông ta.. Nếu người ta trao cho ông toàn quyền, thì sẽ có nhiều tướng lãnh và sĩ quan cao cấp sẽ ở lại tại chỗ và nghe lệnh ông ta thay vì sửa soạn chạy ra ngoại quốc. Ông nói:

_ “Muốn thương thuyết, thì cũng phải có một vài đơn vị có kỷ luật.

Ở Đà Lạt, linh mục Mais đã có được một giấy phép đi lại của Ủy ban hành chánh Phường cấp cho. Ông và một người đệ tử của ông dùng một chiếc Honda đỏ chạy theo Quốc lộ 1 theo dòng người tản cư và theo các đoàn xe của Bắc Việt. Vào giữa trưa tại một làng cách Xuân Lộc khoảng 20 cây số, xe ông bị một toán dân chính mang ba sao đỏ chận lại.

_ “Ông đi đâu?

_ Tôi đi Gia Kiệm thăm một linh mục bị thương, cha Mais trả lời bằng tiếng Việt Nam. Dưới con mắt lưu tâm của một vài người có mang súng lục, và hai anh bộ đội Bắc Việt, người ta xem kỹ giấy căn cước Pháp và thẻ cư trú của linh mục… Một người mời cả hai vào một căn nhà gần đó. Người ta mời ông dùng trà và ăn chuối. Một giờ trôi qua… Người ta dẫn hai người đến một căn nhà khác và người ta để cho họ đứng đó. Một người dân sự khoảng 50 tuổi tự giới thiệu là người có trách nhiệm an ninh xẵng giọng hạch hỏi hai người. Anh ta giữ một khoảng cách với linh mục và gọi linh mục bằng “ông”:

_ “Ông là ai? Từ đâu đi đến đây? Và ông đi đâu? Ông không cần phải đi như vậy. Tôi không thể bảo đảm an ninh cho ông đâu.

Một người nữa tới. Ông này hướng về linh mục và gọi bằng “giáo sư”. Cả linh mục và người đệ tử của ông đều chờ đợi. Họ ngồi trên ghế đẩu. Một người thứ ba lại đến, người này lễ độ và có vẻ cung kính hơn, Anh ta gọi Linh mục là “cha”. Người ta tịch thu hết giấy căn cước của hai người. Người ta cho hai người lên lầu của căn nhà này, ở đó họ gặp một ông cựu xã trưởng, một người nông dân và một người dạy giáo lý. Trời đã tối. Người ta đem cho họ cơm nguội, canh rau, và chiếu. Có những người còn trẻ, khoảng 15 tuổi, mặc ka ki hay đồ đen đến gát căn nhà này. Nghe giọng nói linh mục Mais biết là họ đến từ miền Trung. Người ta thả một vài người , rồi nhanh chóng lại có những người khác vào. Linh mục Jean Main hỏi về chuyện của mình. Người ta đáp:

_ “Trường hợp của ông chưa được giải quyết.

Ngày 24 tháng 4.

Từ căn cứ Plessetsk, Liên Xô phóng một vệ tinh có độ chụp ảnh cao, có thể dò thấy các đơn vị đến cấp trung đội, và phân biệt được rõ ràng loại chiến xa. Độ nghiêng của vệ tinh này là 81 độ. Tám ngày trước đó, Liên Xô cũng đã có phóng lên một vệ tinh ở độ nghiêng là 65 độ. Hai vệ tinh này phối hợp lại thì sẽ giúp cho Liên Xô thấy được một hình ảnh rất rõ ràng của nước Việt Nam trong 6 ngày, tức là cho đến ngày 30 tháng 4. Các vệ tinh thuộc thế hệ 2 này gởi hình ảnh có thể rửa thật nhanh được. Và kết quả sẽ được chuyển tiếp đến Hà Nội trong vài giờ. Và từ thủ đô Bắc Việt đến tổng hành dinh của Văn Tiến Dũng ngay tức khắc. Do đó, vị Tổng tư Lệnh Bắc Việt sẽ biết ngay được trước mặt quân mình có những đơn vị cấp nào của Miền Nam Việt Nam.

Ở Sài Gòn, dân chúng hy vọng sẽ có một cuộc ngừng bắn sắp tới. Một hình ảnh , đúng hơn là một ảo ảnh .. đang bàng bạc trong không khí : 3 người Việt Nam, một Bắc Việt cộng sản, một Trung Việt với một chế độ hòa giải, một Nam Việt với một Chánh Phủ mở rộng để thương thuyết với Hà Nội ….

Sáng sớm ngày 24 này, Tổng Thống Hương và ông Dương văn Minh kín đáo gặp nhau ở nhà riêng của cựu Thủ Tướng Khiêm trong căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất. Bí mật ? Rồi đây trong vài giờ nữa, tất cả Sài Gòn cũng sẽ biết rõ việc này.

Vị Tân Tổng Thống muốn mặt đối mặt bàn cãi với ông Dương văn Minh, nhưng ông này chỉ muốn cuộc nói chuyện kéo dài trong hai giờ này phải có sự hiện diện của ông cựu Chủ Tịch Thượng Viện Nguyễn văn Huyền.

Ông Hương vẽ lên một bức tranh đen tối của tình hình quân sự . Nhiều lắm là Chánh Phủ chỉ còn có 5 sư đoàn để chống lại 5 Quân đoàn Bắc Việt. Giỏi lắm ta chỉ còn đủ đánh một trận danh dự ! Ông Hương cố thuyết phục ông Minh hãy nhận ghế Thủ Tướng, điều này hoàn toàn hợp hiến. Rất bình tĩnh ông Minh từ chối. Vì việc này sẽ tự mình làm hại thanh danh của mình. Cộng sản Bắc Việt sẽ cáo buộc ông là người nắm giữ chánh quyền hợp pháp từ một thành viên của “tập đoàn Nguyễn văn Thiệu”. Như vậy ông Minh sẽ ở trong thế quá yếu, khó mà thương thuyết được. Ông Minh đề nghị ông Hương cho ông một ân huệ là hãy từ chức đi . Thật là kỳ lạ cho ông này! Thường thường, trong những cuộc khủng khoảng nghiêm trọng thì những kẻ huênh hoang thì nín lặng, những kẻ ẩn dật mới lên tiếng tự xác nhận, và những người khiêm nhường có thể sẽ trở thành khó tính. Ông Minh biết là những người Công giáo, Phật Giáo đang sửa soạn ra thông cáo, riêng lẻ hay chung nhau nhưng cùng có một nội dung : ông Dương văn Minh cần có được quyền tối thượng. Ngay hôm nay, thượng tọa Thích trí Quang, vị sư hoạt động hăng say nhất của chùa Ấn Quang, sẽ họp báo để xác định vị trí của mình trong chiều hướng này.

Vị nguyên thủ già ngồi nghe ông Minh nói mà không hề chấp nhận.. Vị cựu Chủ tịch Thượng Viện ủng hộ ông Minh. Ông Hương nhất định không nhượng bộ. Ông còn nói đùa:

_ “Đơn giản nhất để loại tôi ra, là chỉ cần làm một cuộc đảo chánh thôi.. Như vậy nó tự nhiên hơn!

Người ta dự tính một số biện pháp để làm dịu những người cộng sản , nhất là việc thả các tù chánh trị . Ngày hôm qua, tướng Minh có nói với tướng Nguyễn khắc Bình, Tổng Giám Đốc Nha Cảnh sát. Cả ông Bình và ông Hương dường như tuần tự vừa khó chịu vừa nhẹ lo vì những sự liên lạc của tướng Minh. Thật khó mà nghi ngờ được ai ai và đâu đâu cũng chấp nhận ông Minh, kể cả Cảnh sát . Ông Dương văn Minh trước kia đã cứu tướng Bình, sau khi ông Diệm bị lật đổ. Vì tướng Bình là người trung thành với ông Diệm, sau này ông mới theo ông Thiệu. Mà nếu cần thì ông ta lại theo ông Dương văn Minh.

Khi di chuyển thì ông Hương thường chống gậy, và ông hơi run rẩy, nhưng ông không có chọn một quyết định nào hết.

Các nhà chánh trị và quân sự vô ra nhà ông Dương văn Minh bao nhiêu thì vô ra Dinh Độc Lập bấy nhiêu. Hoặc là ông Minh quá tự tin rằng chỉ có một mình ông là có thể gặp được CPLTCHMN hay Hà Nội, hoặc là ông quá tự kiêu không đúng chỗ, ông Minh điềm tĩnh đó nhưng không có vẻ gì là một nhà hòa giải. Ông không chịu hiểu câu châm ngôn Việt Nam: “Nếu có người nào đó đến trước, thì tôi sẽ là người thứ nhì, nếu đã có người thứ nhì rồi thì tôi vui vẻ chấp nhận chỗ thứ ba vậy”

Ông Minh phác thảo một Hiến Pháp tạm thời hoặc một Hiến Chương mà ông đề nghị công bố ngay khi Hiến Pháp hiện thời sẽ được bãi bỏ khi ông Hương từ nhiệm, không còn là Tổng Thống nữa. Ông Minh lên danh sách một Chánh Phủ lâm thời. Tổng Thống: Dương văn Minh, ông cũng coi luôn những vấn đề quân sự. Phó Tổng Thống của ông sẽ là nghị sĩ Nguyễn văn Huyền, người đã giúp ông ta trong cuộc gặp gỡ với ông Hương. Trước hết, ông sẽ lo việc thương thuyết với địch. Ông sắp xếp người trong Chánh Phủ rất là khôn khéo. Ông Huyền, người Miền Nam là Công Giáo, ôn hòa, sẽ làm yên lòng phe quốc gia . Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Ngoại Giao: nghị sĩ Vũ văn Mẫu với một phó Thủ Tướng: dân biểu Hồ văn Minh. Hai người này sẽ tập hợp được các thành viên của Lưỡng Viện Quốc Hội . Một chủ ngân hàng, ông Nguyễn võ Điểu sẽ là Tổng Trưởng Tài Chánh. Ông Minh cũng đưa những nhân vật mà cộng sản chắc chắn sẽ chấp nhận : Bà Ngô bá Thành, Tổng Trưởng Tư Pháp, người mà ông Thiệu đã biết là trung lập và quản chế tại gia.; dân biểu Hồ ngọc Nhuận, một người công giáo thuộc cánh tả sẽ là Tổng Trưởng xã hội và Tỵ nạn. Dĩ nhiên, danh sách này có thể còn thay đổi, nhưng đầy hứa hẹn, đã chứng minh được thiện ý của ông Minh. Sự phối hợp này còn quá khéo léo hơn một Chánh Phủ dưới thời đệ tứ Cộng Hòa Pháp nữa! Nhưng vấn đề là làm sao thuyết phục được cộng sản Bắc Việt đây?

Cả Tổng Thống Hương và ông Dương văn Minh đều có gởi sứ giả riêng rẽ đến trại Davis. Những người này được đại diện của CPLTCHMN tiếp đón rất là lịch sự, nhưng họ không chịu hứa hẹn gì cả. Cùng ngày nay ở Ba Lê và Hà Nội CPLTCHMN cho đăng một bản tuyên bố:

  • “…. Phải thành lập một nền hành chánh mới ở Sài Gòn (và) trong đó không được có một bộ mặt nào đã ở trong tập đoàn Nguyễn văn Thiệu….”

Như thế là thông cáo này nhắm thẳng vào ông Hương và cũng nhằm vào một số đông nhân vật dân sự hay quân sự của Miền Nam Việt Nam.

Ông Tổng Trưởng Quốc Phòng Trần văn Đôn rất khôn khéo đã làm trung gian để Tổng Thống Hương và tướng Minh đạt được một thỏa hiệp. Và nếu ông Tổng Thống đề nghị với tướng Minh chiếc ghế Thủ Tướng với đầy đủ quyền hành, cả hành chánh lẫn quân sự thì sao ? Khi mà có những sự kiện chống lại ông thì mỗi chữ nói ra đều nặng ký. Khi một người Việt Nam càng là công dân Pháp bao nhiêu (ông Đôn là một công dân Pháp cực đoan) thì ông ta càng đầu tư từng chữ một về pháp lý bấy nhiêu. Theo sơ đồ của ông Đôn, thì vị tân Tổng Thống Trần văn Hương chỉ có một vai trò mới , một chức vụ danh dự, như một quốc vương ở vùng Bắc Âu vậy thôi. Ông ta không được can thiệp vào công việc của Chánh Phủ . Ông sẽ có một nhiệm vụ như Hoàng Đế Bảo Đại khi ông trao hết quyền hành lại cho Tổng Thống Diêm. Danh dự của ông Hương vẫn còn và người ta có thể bắt đầu thương thuyết. Tướng Đôn đã cố thử thời vận của mình khi ông tuyên bố với đại sứ Mérillon là ông ta có thể là “người số một” trong cuộc vận động chánh trị này và ngoài ra ông ta cũng còn được người Mỹ ủng hộ nữa. Ông ta cũng đã đưa đề nghị này cho ông Martin và xác nhận rằng ông ta đã được người Pháp khuyến khích. Hai ông đại sứ trao đổi tin tức với nhau, và họ chỉ có cười thôi!

Bây giờ thì ông Đôn sẵn sàng chiếu cố đến lá bài Dương văn Minh, nhưng ông ta nghĩ rằng ông Minh có nhiều ảo vọng khi ông tưởng rằng ông sẽ được dân chúng hoan hô và đẩy ông vào Tổng Thống Phủ.

Những lời tuyên bố của một vài nhân vật lãnh đạo Tôn Giáo dù có lỗi lạc, cũng chưa đủ để đánh bóng tính cách hợp pháp được. Hơn nữa, ông Tổng Trưởng Quốc Phòng Trần văn Đôn có cảm giác là các tướng lãnh và sĩ quan cao cấp còn ở vị trí chỉ huy, không dễ dàng chấp nhận Dương văn Minh lắm đâu. Họ nghĩ rằng ông Minh chỉ muốn nắm được quyền hành trong tay để đưa lá cờ trắng lên mà thôi. Dưới nhãn quan của một số quân nhân, chuyện thương thuyết mà ông Minh đang nói đến sẽ giống như một chuyện đầu hàng.

Làm sao mà những chánh trị gia và những quân nhân ở Sài Gòn có thể thỏa mãn những đòi hỏi quá mức của CPLTCHMN được? Tất cả các tướng lãnh, các đại tá, trung tá thiếu tá, các nghị sĩ, dân biểu đều nằm trong guồng máy hành chánh của Sài Gòn. Thật ra, cái gọi là CPLTCHMN này trước hết tìm cách phá tan quyền lực của nền hành chánh và của Quân đội mà thôi.

Vào hồi 16 giờ chiều, nội các Nguyễn bá Cẩn chánh thức từ nhiệm. Như thế, Chánh thể Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam chỉ còn có một ông Tổng Thống và một vài vị Tổng Trưởng xử lý thường vụ và vỏn vẹn chỉ còn có Vùng Sài Gòn và một phần lớn của Đồng bằng Sông Cửu Long. Theo yêu cầu của ông Tổng Trưởng Quốc Phòng , tướng Tổng Tham Mưu Trưởng cho lệnh các đơn vị chiếm các vị trí phòng thủ.. Họ được lệnh phải tránh không được tấn công bộ đội Bắc Việt và Việt Cộng . Còn một bằng chứng để tỏ thiện chí nữa là tiêu lệnh được truyền đi đến nhân viên của đài phát thanh: “Trong tất cả các bản tin tức, phải có một chiều hướng hòa giải hơn.” Các nhân viên thuộc Bộ Thông Tin phải tháo gỡ hết các bản thông cáo, các biểu ngữ chống cộng khắp nơi trong thủ đô và vùng ngoại ô. Tổng Thống Hương đang xét duyệt các danh sách tù nhân chánh trị để nhanh chóng được thả ra.

Vào hồi 17 giờ, ông Dương văn Minh họp vài nhà báo:

_ “Tôi đã từ chối không nhận ghế Thủ Tướng mà Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa đã đề nghị. Nếu tôi nhận thì tôi không thể nào thương thuyết được với phía bên kia, vì họ đòi ông Hương cũng phải ra đi.

Những cộng sự viên của ông Minh phụ nhĩ với các nhà báo:

_ “Ông già Hương sẽ từ chức, đó là giải pháp duy nhất.

Tại tòa đại sứ Mỹ, ông Martin và ông Polgar quan sát từng giờ một con đường ngoằn ngoèo của các cuộc vận động này. Khác hơn ông Martin, ông Polgar thì nhắm vào ông Dương văn Minh.

Ngày 24 tháng 4:

Cuối cùng, ngày hôm nay ông Martin chánh thức cho lệnh di tản nhân viên Việt Nam thuộc tòa đại sứ Mỹ. Người ta cũng dự trù di tản một số lớn người Việt Nam từ Vũng Tàu. Ông Polgar giữ liên lạc thường trực với đề đốc Bùi thế Lân ở Bộ Chỉ Huy Hải Quân Việt Nam. Ông này hứa sẽ lo cho một cuộc di tản khoảng từ 40 ngàn đến 250 người dân tỵ nạn. Ông Polgar thông báo cho Hoa Thạnh Đốn:

_ “Nếu Sài Gòn thất thủ, Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam sẽ cho nổ sập hết các cầu để cắt đứt quốc lộ dẫn đến Vũng Tàu. Người ta sẽ ngăn chận bớt làn sóng người tỵ nạn có thể tràn ngập cả Vũng Tàu. Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam sẽ hợp tác với người Mỹ. Để duy trì trật tự, quân lực Việt Nam Cộng Hòa có thể sẽ động thủ, nếu cần. Ông Polgar kín đáo điện cho Hoa Thạnh Đốn:

_ “Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ không thể nào có biện pháp cần thiết được. Thủy Quân Lục Chiến của đề đốc Bùi thế Lân được rộng đường hành động.” Tóm lại, nếu cần phải giải quyết những người dân tỵ nạn thì tốt hơn là phải do Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam. Đề đốc Bùi thế Lân không có yêu cầu phải di tản người của ông ta, nhưng đương nhiên là những người này cũng thích được di tản.”

Ông Jim Eckes được tự do vô ra phi trường Tân Sơn Nhất rất thong thả. Đã từ lâu cả quân nhân và cảnh sát giữ an ninh ở đây đều biết chiếc xe Volkswagen trắng của ông Giám Đốc hãng Continental Air Services.

Các phi cơ cứ là tiếp tục cất cánh từng nửa giờ một, chở người dân tỵ nạn có đầy đủ hay không có giấy tờ hợp pháp. Trên một đường bay, một chuyến chót của hãng Pan Am phải chở 600 người, toàn là nhân viên của công ty hàng không và gia đình họ. Ông Eckes thấy một nhóm người Việt Nam, tất cả đều mặc đồng phục tiếp viên hàng không của hãng Pan Am. Có nhiều người mặc cũn, đi giầy cao gót muốn trẹo chân. Họ có vẻ sợ sệt, nhất là khi họ đi qua hàng rào cảnh sát. Thình lình, ở chân cầu thang có một bà lột giầy ra và ba chân bốn cẳng bò lên phi cơ. Ông Eckes hiểu ngay: một tiếp viên người Việt Nam của hãng Pan Am đã phát đồng phục tiếp viên ít nhất cho chị em, bạn bè của mình để họ được rời khỏi Sài Gòn. Sáu trăm hành khách trên một phi cơ chỉ có ba trăm năm chục ghế ngồi: trên phi cơ, một thanh tra người Mỹ thuộc Hàng Không Liên Bang không nói gì hết. Người ta đóng cửa lại. Ông Al Topping, giám đốc Pan Am ở Sài Gòn thấy là còn hai tiếp viên người Mỹ còn bị bỏ quên trong phi cảng. Người ta chạy đi tìm họ.

Chiếc phi cơ phải chờ ở phi đạo. Đài kiểm soát không lưu không cho chiếc phi cơ này cất cánh. Ông Jim Eckes chợt thấy một sĩ quan Việt Nam chiếc máy radio liên lạc cầm ở tay. Ông Jim chìa ra hai trăm mỹ kim:

_ Ông hãy bảo đài không lưu cho chiếc phi cơ đó cất cánh đi. Ông trao cho họ số tiền này để họ nhậu với nhau. Hay họ muốn làm gì đó thì làm.”

Vị sĩ quan kia nói với đài kiểm soát không lưu, và chiếc phi cơ nhận được phép cất cánh. “Bây giờ thì tất cả các bè bạn của tôi đều đã được đi rồi”

Ông Eckes vừa lẩm bẩm…., vừa cảm động rơi nước mắt …..