Nguồn: Instagram
Post by Sơn râu 22 Apr 2024
Nghị lực thắng nghịch cảnh, xin ngã nón chào người thanh niên này!
Nguồn: Instagram
Post by Sơn râu 22 Apr 2024
Nghị lực thắng nghịch cảnh, xin ngã nón chào người thanh niên này!
baotreonline.com
January 5th, 2023
Post by Sơn râu 22 Apr 2024
Nga và Trung Quốc là hai mối đe dọa triền miên nền an ninh, hòa bình của Mỹ và thế giới tự do, họ đã phát triển và thành công vũ khí siêu thanh. Mỹ cũng đã và đang phát triển, xây dựng hệ thống vũ khí siêu âm của mình.

Minh họa hỏa tiễn siêu thanh AGM-183A của Không Quân Mỹ Nguồn. http://www.thedrive.com
Các loại vũ khí siêu thanh khác nhau chỗ nào?
“Vũ khí siêu thanh” dùng để chỉ hai loại công nghệ hỏa tiễn khác nhau: Hỏa tiễn lực đẩy siêu thanh và hỏa tiễn hành trình siêu thanh. Các công nghệ này khác nhau ở kỹ thuật tạo ra lực đẩy cần thiết để bay tới mục tiêu xa.
Hỏa tiễn lực đẩy siêu thanh là loại được gắn bộ phận vận chuyển ngay trước đầu, như loại hỏa tiễn mang các phi thuyền bay vô không gian. Loại này, chứa một số lượng lớn nhiên liệu đẩy, gồm nhiên liệu và oxy hóa học. Phản ứng giữa các chất này tạo ra nguồn lực đẩy, đưa hỏa tiễn tới tốc độ siêu thanh. Khi đốt hết nhiên liệu (thường sau vài phút bay), hỏa tiễn này tách ra và rơi trở lại trái đất.

Tác giả Cameron Tracy Nguồn. allthingsnuclear.org
Do hỏa tiễn đẩy này chỉ dùng trong thời gian ngắn, nên rất lớn và nặng, có khả năng bay với tốc độ rất nhanh (nhanh hơn tiếng động 20 lần) và trở thành loại vũ khí hỏa tiễn siêu thanh.
Không giống như hỏa tiễn lực đẩy siêu thanh, hỏa tiễn hành trình siêu thanh mang động cơ đẩy trong suốt thời gian bay nên động cơ này phải nhỏ, nhẹ với một tốc độ tối đa của siêu thanh. Vì vậy, hỏa tiễn hành trình siêu thanh bay nhanh gấp 10 lần âm thanh, chậm hơn tốc độ của hỏa tiễn lực đẩy siêu thanh. Ðộng cơ dùng trong hỏa tiễn hành trình siêu thanh được biết là “Phản lực siêu thanh”. Ðây là động cơ phản lực hút không khí vô tạo phản ứng với nhiên liệu trong buồng nổ, tạo sức đẩy, tống ra khỏi động cơ. Ðộng cơ siêu thanh này tạo ra sức đẩy cho toàn bộ đường bay của hỏa tiễn hành trình siêu thanh.

Hỏa tiễn AGM-183A của Không Quân Mỹ. Nguồn. US Air Force
So sánh hai loại hỏa tiễn
Hỏa tiễn lực đẩy siêu thanh, tăng tốc độ ở phần trước đầu của hỏa tiễn, phần này sẽ tách rời khi đốt hết nhiên liệu. Hỏa tiễn hành trình siêu thanh mang theo đầu đạn nguyên tử trong thân và bay như một tàu lượn siêu thanh trong phần còn lại của hành trình để tới mục tiêu xa.
Vì hỏa tiễn hành trình siêu thanh và hỏa tiễn lực đẩy siêu thanh được phóng đi bằng hỏa tiễn giống nhau, nên có tốc độ bay như nhau, nhưng hai loại này có cao độ bay khác nhau. Sau khi hỏa tiễn lực đẩy hết nhiên liệu, tách rời và bốc cháy, phần hỏa tiễn lại tiếp tục bay và điều khiển vô vũ trụ bằng trọng lực và có thể lên tới cao độ 3,850 mph để bay xuyên lục địa.

Hỏa tiễn siêu thanh boeing-x-51-waverider. Nguồn. http://www.ainonline.com
Vũ khí siêu thanh có thể mang đầu đạn nguyên tử?
Ðể mang một đầu đạn nguyên tử, một hỏa tiễn phải lớn để có thể chứa thiết bị nổ và đủ mạnh để mang chất nổ tới mục tiêu xa.
Ðầu đạn nguyên tử loại mới nhỏ hơn nhiều, cỡ 100 kilograms. Với loại hỏa tiễn hành trình siêu thanh, đầu đạn nặng cỡ 1,000 kilograms.

Một hỏa tiễn siêu thanh của Mỹ đang thử nghiệm. Nguồn. http://www.defencetalk.com
Hỏa tiễn hành trình siêu thanh không chỉ có khả năng mang đầu đạn nguyên tử mà còn sử dụng chúng trong những mục đích chiến tranh khác. Theo các quan chức quốc phòng Mỹ, hỏa tiễn Avangard của Nga là một hỏa tiễn siêu thanh liên lục địa được sử dụng trong hệ thống vũ trang nguyên tử. Hỏa tiễn siêu thanh DF-17 của Trung Quốc, mang theo đầu siêu thanh DF-ZF, được thiết kế để mang chất nổ thông thường hoặc vũ khí nguyên tử. Bộ Quốc Phòng Mỹ thông báo, tất cả các chương trình siêu thanh của Mỹ không có vũ khí nguyên tử.

Thử nghiệm hỏa tiễn siêu thanh AGM 183A của Không Quân Mỹ. Nguồn. http://www.thedrive
Vũ khí siêu thanh được hướng dẫn tới mục tiêu như thế nào
Cũng như các loại hỏa tiễn khác, vũ khí siêu thanh sử dụng những kỹ thuật khác nhau để xác định vị trí, chuyển động và được dẫn đường chính xác. Một phương pháp phổ biến là dẫn đường quán tính. Bộ phận đo lường gia tốc trên bảng điện tử ghi lại tất cả những chuyển động và tốc độ của hỏa tiễn siêu thanh suốt hành trình bay và theo dõi đường bay, hướng bay mà không cần dữ kiện nào từ bên ngoài. Ðường bay chính xác có thể đạt được bằng cách xác định vị trí của hỏa tiễn với các điểm bên ngoài như vùng đất gần mục tiêu, các vì sao trên trời, các vệ tinh của hệ thống GPS, kể cả những tín hiệu vô tuyến điều khiển bên ngoài.
Các kiểu liên lạc hướng dẫn này là phương pháp duy nhất dùng cho các đường bay của hỏa tiễn siêu thanh.

Hỏa tiễn siêu thanh được phóng từ máy bay. Nguồn. nationalinterest.org
Vũ khí siêu thanh chính xác hơn hỏa tiễn thường?
Vũ khí siêu thanh không có thuận lợi về độ chính xác như các hỏa tiễn thường.
Hỏa tiễn lực đẩy siêu thanh, hỏa tiễn hành trình siêu thanh đã đụng phải các trở ngại làm kém chính xác như: lực gió, sự thay đổi mật độ không khí, sự ảnh hưởng của khí động học (hỏa tiễn siêu thanh khi bay nhanh đã gây nhiệt trong khí quyển). Thật thế, hỏa tiễn siêu thanh đụng độ những trở ngại này trong thời gian dài hơn hỏa tiễn thường, bởi vì nó ở trong bầu khí quyển trong suốt chuyến bay.
Hỏa tiễn hành trình siêu thanh là loại bay nhanh hơn loại hỏa tiễn hành trình hiện nay, nhưng nhanh hơn không có nghĩa là chính xác hơn. Loại này cũng bị những trở ngại như hỏa tiễn lực đẩy siêu thanh. Hơn nữa, một trở ngại chính trong việc phát triển động cơ siêu thanh để đẩy hỏa tiễn này là ổn định các luồng không khí cho động cơ khi bay ở tốc độ siêu thanh. Ðiều này làm giảm khả năng điều động và chỉnh sửa đường bay vì khi có sự điều động, sửa hướng bay lớn sẽ làm gián đoạn luồng khí thoát này.

Minh họa hỏa tiễn siêu thanh Raytheon. Nguồn. aviationweek.com
HĐV
(Nguồn: Cameron Tracy. allthingsnuclear.org)
baotreonline.com
Post on November 3rd, 2022
Post by Sơn râu 22 Apr 2024

Chiến đấu cơ thế hệ mới F15EX. Nguồn. Photo by Ethan Wagner
Phát triển vũ khí hiện đại để chống lại những cuộc chạy đua vũ trang của các quốc gia thù địch là chiến lược quốc phòng của chính phủ Mỹ. Trong đó, chiến đấu cơ thế hệ tương lai F-15EX là một trong những kế hoạch được sản xuất để bảo vệ nước Mỹ và các đồng minh.
Boeing và F-15EX
F-15EX đang được Boeing sản xuất cho không lực Mỹ (USAF). Ðây là phiên bản thứ 4, biến thể tân tiến nhất với nhiều năng lực khác nhau, bất chấp mọi điều kiện thời tiết và thời gian. F-15EX có thể mang nhiều hỏa tiễn hỗ trợ cho F-35, bay theo phía sau, để tăng cường hỏa lực tấn công và tàn phá mục tiêu mà F-35 tìm thấy.
Chương trình mua máy bay F-15EX bắt đầu từ năm 2019, được Bộ Quốc Phòng chấp thuận và ký hợp đồng vào tháng 12-2019. Không lực Mỹ dự định mua 144 chiếc F-15EX của Boeing. Phi đoàn 142 tại Portland sẽ là đơn vị đầu tiên sử dụng máy bay này để thay thế những chiếc F-14 C/D cũ kỹ. Trong khi đó, phi đoàn chiến đấu 173 trở thành đơn vị huấn luyện chính thức của F-15EX trong năm 2024.

F-15EX nhìn từ dưới. Nguồn nationalinterest.org
Boeing bắt đầu sản xuất loạt đầu tiên 8 máy bay chiến đấu F-15EX vào tháng 7-2020. Công ty chịu trách nhiệm về thiết kế, phát triển, sản xuất, thử nghiệm, xác minh, chứng nhận phẩm chất, giao hàng, duy trì sửa chữa cho máy bay. Cơ xưởng ở Saint Louis, Missouri, Mỹ.
Ðộng cơ đầu tiên F110-GE-129 dùng cho F-15EX đã được giao cho Không lực Mỹ vào tháng 9-2020. Chuyến bay đầu tiên biểu diễn vào tháng 2-2021 và đã được Bộ Quốc Phòng chấp thuận F-15EX vào tháng 3-2021. Chiếc máy bay thứ 2 giao hàng trong tháng 4-2021 và 6 chiếc còn lại của đợt đầu tiên sẽ giao vào năm 2023.
Ngoài ra, vào tháng 1-2021, Boeing cũng được chính phủ Mỹ ký cho phép cung cấp chiến đấu cơ F-15EX cho Không lực Ấn Ðộ (IAF).

Không lực Mỹ nhận chiếc F-15EX đầu tiên. Nguồn. httpwww.israelsmessenger.com
Vài nét về F-15EX
Chiến đấu cơ tân tiến 2 chỗ ngồi F-15EX có chiều dài 19.45m, sải cánh rộng 13.05m, chiều cao là 18.54m. Máy bay nặng 14,500kg, trọng lượng có vũ khí tối đa là 37,000kg và có thể gia tăng trọng tải, có khả năng phóng vũ khí siêu âm dài 22ft, rất thuận lợi trong các trận tác chiến gần. Máy bay được gắn hệ thống tác chiến điện tử (EW) mới nhất, hệ thống phòng lái hiện đại, ra đa và hệ cảm biến mới. F-15EX cũng được trang bị hệ thống điều khiển tác chiến (ABMS), cho phép máy bay phân tích nhiều loại máy bay đối phương khác nhau, để tác chiến nhanh và hiệu quả. Máy bay được trang bị hệ thống tự điều hành và liên lạc (OMS) trong trường hợp bị cô lập và kết nối lại với mạng lưới toàn cầu sau đó. Hệ thống ra đa cung cấp khả năng tìm, xác minh, truy lùng các mục tiêu trên không và dưới nước, giúp phi công quyết định nhanh và chính xác khi tác chiến.
F-15EX còn có hệ thống tự động bay, tác chiến, truy tìm mục tiêu nhanh, rất chính xác, và mở rộng phạm vi hoạt động.

F-15EX bay thực tập. Nguồn. nationalinterest.org
F-15EX có 2 động cơ F110-GE-129, mỗi động cơ có sức đẩy 29,000 lbs, có thể bay tới tốc độ Mach 2.5, đây là chiến đấu cơ nhanh nhất thế giới, phạm vi hoạt động 2,200 km, nên có thể truy tìm mục tiêu rất xa.
Ðược biết, hãng GE đã nhận được nhiều hợp đồng sản xuất động cơ F110-GE-129 từ Trung tâm Quản lý Không lực Mỹ dùng cho chiến đấu cơ F-15EX trong tháng 6-2020. Hợp đồng bao gồm lắp ráp, cung cấp phụ tùng và hệ thống vi tính giám sát động cơ. Boeing đã chọn Hệ thống Thông minh & Không gian Raytheon (RI&S) để cung cấp ra đa APG-82(V)1 AESA cho F-15EX.

Ngày ra mắt F-15EX. Nguồn. photo by Samuel King Jr.
Mục đích sản xuất F-15EX
Có phải Mỹ chế tạo F-15EX để đập Trung Quốc? Ðó là câu hỏi của các chiến lược gia thế giới. Vì là chiến đấu cơ được chế tạo để trợ lực cho phi cơ chiến đấu tàng hình, thế hệ thứ 5 của Mỹ, F-15EX có nhiều đặc điểm phù hợp. Thời điểm sử dụng chiến đấu cơ thế hệ 4,5 F-15EX đã cận kề. Nhưng, không lực Mỹ không phải là khách hàng duy nhất của F-15EX.
Ðầu tháng 2-2022, Bộ Ngoại giao Mỹ đã chấp thuận bán F-25EX cho Nam Dương, ngay sau khi được tin Nam Dương chọn mua phi cơ chiến đấu của Pháp, Dassault Rafale. Tuy nhiên, các quan chức quân đội Nam Dương cho biết, phi cơ Pháp sẽ tham gia chung với F-15EX vì các nước ở Ðông Nam Á đang tăng cao chi phí quân sự để đối phó sự xâm lược của Trung Quốc ở Thái Bình Dương.

F-35 (trên) bay cùng với F-15EX. Nguồn. http://www.thedrive
Chính phủ Nam Dương yêu cầu mua 36 chiếc chiến đấu cơ F-15EX (dưới tên là F-15ID). Ngoài ra họ yêu cầu cung cấp toàn bộ phụ tùng, các hệ thống tân tiến của máy bay, từ ra đa cho đến những thiết bị định vị toàn cầu. Hợp đồng mua bán này có giá trị lên tới 13.9 tỉ đô.
“Việc hợp đồng mua bán này đã hỗ trợ những chiến lược đối ngoại và nền an ninh quốc gia Mỹ bằng sự phát triển an ninh của những quốc gia quan trọng (chống Trung Quốc) có động lực chính trị và kinh tế ổn định trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương. Ðiều quan trọng, là để củng cố thêm những lợi ích về an ninh cho Mỹ, hỗ trợ Nam Dương phát triển và duy trì khả năng tự vệ mạnh mẽ để đối kháng với Trung Quốc”, Bộ Ngoại Giao Mỹ công bố trong cuộc họp báo.

F-15EX đang được lắp ráp. Nguồn. Photo U.S. Air Force
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng cho biết: “Kế hoạch mua bán này sẽ tăng cường khả năng phòng không trên đất liền và vùng biển của Nam Dương trước những đe dọa hiện nay và trong tương lai. Nam Dương sẽ không gặp khó khăn gì khi tiếp nhận chiến đấu cơ F-15EX và các trang thiết bị cho quân đội của mình”.
Tóm lại, chiến đấu cơ F-15EX Eagle 2 là một máy bay có quá nhiều ưu việt, được sản xuất vì sự cần thiết. F-15EX sẽ thực hiện các phi vụ một cách chu đáo, hoàn thành trách nhiệm ngon lành.

F-15EX trực chiến. Nguồn. formulaf1results.blogspot
HĐV
Nguồn. Stavros Atlamazoglou
baotreonline.com
Post on December 22nd, 2022
Post by Sơn râu 22 Apr 2024

Tranh Hồ Đắc Vũ
Ðức, sinh viên Việt Nam du học tại Boston, có máu kinh doanh, thấy ở đây dễ làm ra tiền, anh rủ người bạn:
– Xứ này buôn bán cái gì cũng đẻ ra tiền, tụi mình tìm cái gì làm sau giờ học.
Hai tháng sau, tại phố đi bộ Boston, trong một góc cao ốc cho thuê, xuất hiện quầy bán món ăn Việt Nam khá ngon.
“Bánh Mì Saigon”
Món ăn lạ, ngon, rẻ, gọn gàng cho sinh viên các khu đại học, những người làm việc, bán buôn chung quanh đó nên quầy bánh mì đông khách nhất trong khu phố đi bộ, kể luôn khu ăn uống to lớn sát bên.
Quầy bánh mì có một số khách thường xuyên, có nghĩa là mỗi ngày họ đều mua, trừ ngày nghỉ. Ðó là cô Phi Luật Tân và người em làm ở ngân hàng TD; Jesse cùng 4 người bạn đồng nghiệp ngành Ðồ họa; anh chàng người Ba Tây bán nữ trang; anh thợ điện ốm nhách của Macy; một số sinh viên Việt Nam du học; cô Nancy, quản lý nhà hàng Pháp, lúc nào cũng nói: “Tui nhớ Paris với ổ bánh mì này”. Riêng có một ông khách rất đặc biệt, thường tới lúc 4 giờ chiều, khi vắng khách, sắp đóng cửa. Ông luôn đi với con chó Terrier, lông đen, ngực nâu vàng, nhỏ bằng bắp chân.
– Tôi là Joe bụi đời. Tôi ở khu nhà xe gần đây.
Ông cúi xuống con chó:
– Ðây là Tiger.
Con chó sủa mấy tiếng, gừ gừ.
Ông Joe nhún vai, cười:
– Nó cứ tưởng mình là tiger (cọp) thiệt.
Ðó là lần đầu tiên ông Joe nói chuyện với Ðức.
Hôm sau ông tới mua bánh mì, tiếp tục câu chuyện:
– Cho một ổ thịt nguội, một thịt gà.
Ðức hỏi:
– Cay?
– Dĩ nhiên, nhưng thịt gà không cay.
– Ông ăn 2 ổ?
– Gà là của con Tiger. Nó chỉ ăn gà, mấy bữa nay khi ăn bánh mì ở tiệm này, nó không ăn món gì, ngoài bánh mì gà của anh.
Ðức cười:
– Cám ơn ông và con cọp!
Hôm sau, ông Joe tới:
– Cho tôi như cũ.
Ông Joe ngồi dựa lưng vào bức tường trước mặt, con chó Tiger đứng sát bên nhấm nháp ổ bánh mì gà đã được Ðức cắt làm 4.
Ðức nghe ông Joe thường dạy dỗ và nói chuyện với Tiger như đứa con trai của mình.
– Tôi là sĩ quan Thủy quân Lục chiến, đóng Ðà Nẵng năm 1967.
Ông Joe bắt đầu ăn ổ bánh mì:
– Anh biết không! Tôi đã ăn bánh mì này tại chợ Cồn, ngon quá luôn.
Ðức đưa ông lon Coke:
– Tặng ông.
– Cám ơn.
Khách buổi chiều tan việc bắt đầu tới, thường thì họ mua về nhà ăn tối, hoặc cho bạn bè.
– Cho 6 ổ!
– Cho 4 ổ, cay.
– Cho 10 ổ, cay hết ga.
Cô gái Việt, học đại học gần đây, nói:
– Mai em tới nhà bạn, mang theo ăn.
Một nhóm sinh viên VN nói tiếng Việt rùm beng:
– Em 2 ổ bò, một bún đậu hủ.
– Em 2 cà phê, 2 gà nướng…
Ðức và người bạn giúp việc thường bận rộn như vậy vào buổi chiều, trước khi đóng cửa lúc 5 giờ.
Ông Joe cũng mua thêm 4 ổ bánh mì cho buổi tối và ngày cuối tuần.
– Bye Ðức! Cuối tuần vui vẻ.
Con Tiger chạy tới cửa, nhìn ra ngoài kiểm soát, trước khi ông Joe bước ra. Ðức chưa bao giờ thấy con chó nào khôn như vậy. Anh gói cái đùi gà:
– Hello ông Joe!
– Gì?
– Có cái đùi gà cho con Tiger ăn cuối tuần.
Ông Joe cám ơn, ông đi trước con Tiger lẽo đẽo theo sau.
Ðức dọn tiệm.
Hai ngày cuối tuần trời tối thui, lạnh và mưa đá.
Thứ hai, Ðức tới tiệm 8 giờ sáng, đang chuẩn bị mọi thứ. “Chắc bữa nay ế, trời như bão lụt miền Trung”, Ðức nghĩ vậy, anh nhanh tay sắp bánh mì vô thùng, rửa rau. Bỗng kétttt! Cánh cửa sắt mở mạnh, Ðức ngẩng đầu. Ông Joe ào vô, đưa hai tay run rẩy:
– Mẹ, tôi khỏi mua bánh mì gà rồi!
Ðức mở điện nồi súp, hỏi:
– Sao vậy?
Vốn là sĩ quan tác chiến, ông chửi thề một cách nhà nghề:
– F..@*! Con Tiger f..@* mẹ nó, biến mất!
– Hồi nào?
– Chiều thứ bảy! f..@*Tao đoán vậy f..@*Chết thằng con tôi!
Ðức thấy có chuyện, anh cắm điện bình cà phê, lấy ly trà nóng, bước tới ông Joe:
– Bình tĩnh, uống trà, kể cho tôi chuyện gì xảy ra.
Ông Joe, làm ngụm trà, xuống giọng:
– Thì chiều thứ Sáu, trời trở lạnh, tôi từ đây ra về, như mọi ngày, con Tiger theo sau.
– Có khi nào ông quay lại nhìn nó không?
– Không! Nó theo như vậy đã bao năm, nếu có ai tới gần tôi, thì nó trở thành con cọp.
Ông Joe chống tay vô quầy, ôm đầu:
– Nó sủa cho tới khi tôi nói ok. Tôi về nhà. À, quên nói là tôi trú trong một nhà xe gần đường Washington, tôi ở luôn hết thứ Bảy, không đi đâu.
Ðức đổ lớp thịt nguội, chả lụa vô hộp:
– Và ông thấy con Tiger?
– Tức nhiên, còn ai nữa?
– Nó nằm đó cho tới sáng hôm sau, Chúa Nhật, như thường lệ, 9 giờ sáng, tôi dắt Tiger đi nhà thờ gần đó, ngay ngã tư Macy.
Ðức lấy miếng gà nướng, đưa ông Joe:
– Mời!
Ông cắn.
– Khi đi nhà thờ, Tiger đi trước hay sau ông?
– Sau, Tiger không bao giờ đi trước, lúc nào cũng đi sau, như người bảo vệ, đi ngủ nó cũng nằm sau lưng.
Ông Joe bắt đầu sụt sùi khóc:
– Ăn miếng thịt gà, tôi càng nhớ nó.
Ông lau nước mắt.
– Ðang đi, trời bỗng đổ mưa đá lộp độp, hột to như ngón tay, còn cách nhà thờ chừng 50 thước, tôi chạy nhanh vô nhà thờ, quay lại.
Ông Joe nghẹn lời, đập tay xuống quầy:
– … F..@*! Sh#*t… Con Tiger biến mất!
Ông ôm đầu:
– Chúa ơi!
Ông đấm ngực:
– Lỗi tại tui mọi đàng!
– Sao?
– Vì tôi chạy vô nhà thờ lúc mưa đá, con Tiger có thể sợ, hoảng lên, chạy lung tung, bị lạc.
– Chắc không?
– Tôi chạy ngược lại tìm, không nghe sủa, không thấy tăm hơi.
Có khách tới:
– Cho 2 ổ bánh mì thịt nguội và ly cà phê đá.
Ðức đưa bao giấy cho khách hàng:
– Cám ơn.
Anh quay qua ông Joe:
– Ông có gọi tên nó không?
– Có! Tôi gọi cả Chúa và tên nó!
Ðức tiu nghỉu, ông Joe ngồi dựa tường, ôm mặt.
Bà khách quen gốc Mễ, làm nhà băng Santander bước vào:
– Hello! Cho 2 ổ bánh mì gà, 2 ly cà phê VN.
Ðức hỏi:
– Bà làm gần đây, có khi nào thấy con chó Terrier nhỏ, lông đen bị lạc?
– Hôm nay không thấy.
Ðức chỉ vô ông Joe.
– Ông ấy bị mất con chó, đang khổ sở.
– À! Tôi biết, con chó đi theo ông ta mỗi ngày ở đường Winter này!
Ông Joe ngước mặt.
– Bà thấy nó?
– Không! Tôi thấy nó với ông trước đây, bây giờ thì không.
Nói xong, bà khách bước đi.
Ðức nói:
– Hay nhờ cảnh sát? Khu này cảnh sát chìm nổi canh tụi ăn cắp đồ của du khách nhiều lắm, chắc họ có thể tìm ra con chó.
Ông Joe cười méo miệng, nhún vai:
– Anh nghĩ là cảnh sát có thì giờ rảnh đi tìm con Tiger?
Có ba người khách bước tới:
– 2 gà, 1 chanh dây.
– 1 bò nướng, cà phê đá.
– 3 bánh mì đậu hủ chiên, 3 cà phê đen nóng.
Ðức làm mọi chuyện, người bạn lo thức uống. Ðức giao bánh, lấy tiền, rồi hỏi:
– Hello! Anh có thấy con chó Terrier lông đen đi lạc?
– Không!
– Hello! Chị có thấy con chó Terrier lông đen đi lạc?
– Mèo thì thấy!
– Hello! Em có thấy con chó Terrier lông đen đi lạc?
– Chưa bao giờ.
– Hello! Bà có thấy con chó Terrier lông đen đi lạc?
Bà bán mỹ phẩm ở Macy cười:
– Ha! Nếu thấy là tôi tóm về nhà nuôi ngay, còn khuya mới cho anh biết!
Ðức lặp lại câu hỏi với tất cả khách hàng.
Trưa, anh ra trạm cảnh sát ngay phố đi bộ.
– Xin lỗi, Anh nói với người cảnh sát lớn tuổi, ông có thấy một con chó…
Ông cảnh sát chống tay xuống bàn, đưa cái mặt nung núc thịt, tới sát mặt Ðức:
– Tôi ở đây canh mấy thằng cắp vặt, bọn thuốc men, bụi đời… Ðâu rảnh mà coi tới con chó hoặc con sư tử của anh!
Ðức về tiệm, sau buổi ăn trưa, vắng khách.
Ông Joe mua ổ bánh mì thịt, ông sụt sùi:
– Mua thêm ổ mì gà cho Tiger.
Ðức ái ngại nhìn:
– Nó đâu có đây?
– Không! Nó vẫn còn đây, suốt đời.
Ông Joe lầm bầm.
Ðã 4 giờ chiều, hôm nay vắng, có thể do những cơn gió lạnh của mùa đông.
Ðức dọn tiệm:
– Bữa nay nghỉ sớm, tôi và ông ra đường tìm Tiger.
– Cám ơn anh.
Vậy là tìm, Ðức đi bên lề đường phải, ông Joe bên lề trái, mỗi người cầm một đùi gà nướng, vừa đi vừa gọi.
– Tiger! Tiger! Ra đây!
Hai người tìm cả buổi chiều quanh khu phố đi bộ, không một tiếng sủa, không một dấu vết của con chó Tiger.
Ðức an ủi ông Joe:
– Hy vọng ngày mai có người tìm ra nó.
Ông Joe lặng thinh nhìn chiếc đùi gà nướng trong tay:
– Nếu tôi không chạy trốn mưa đá Tiger đã không mất!
Ông dựa vô tường của Macy, đưa hai tay bứt tóc trên cái đầu hói:
– Ngốc! Thằng ngốc Joe! Joe điên! Joe như cứt!
Ðức buồn rầu bước tới:
– Ông Joe, sự nguyền rủa không mang được con Tiger về. Ông nghỉ đi, mai tiếp tục đi tìm, tối nay tôi sẽ in giấy, ngày mai dán lòng vòng khu này cho tới phố Tàu, biết đâu!
Mùa Ðông năm nay tới sớm, tối đó trời đổ cơn tuyết lớn, trắng cả thành phố, lạnh run. Sáng sớm, Ðức làm một vòng, dán giấy báo mất con chó Tiger từ khu đi bộ cho tới phố Tàu. Anh về tiệm, chuẩn bị mọi thứ, cho một ngày buôn bán thường lệ.
Khách đầu tiên là ba anh sinh viên VN du học, dân Sài Gòn:
– Anh cho em 4 ổ: 2 gà, 2 bò.
– Em 2 ổ thịt nguội.
– Em ăn chay, 3 đậu hủ.
Bán đến 1 giờ trưa, khu phố đi bộ vắng vì tuyết và lạnh, hơn nữa mọi người đang đổ xô đi shop mua quà Giáng sinh hạ giá ngày cuối. Anh lấy áo lạnh, quấn khăn đi một vòng với xấp giấy tìm Tiger trong túi.
– Xin lỗi anh có thấy con chó đi lạc này?
– Không!
– Cám ơn, chúc mừng Giáng sinh.
Anh lảng vảng ngay cổng chính Macy, đứng gần ông già Nô En rung chuông xin tiền từ thiện.
– Mất chó?
Ông Nô En hỏi.
– Ừ! Hôm qua.
Ðức trả lời.
– Chậc! Mùa Ðông nó sẽ lạnh lắm.
– Tất nhiên.
– Dám chết cóng.
Ðức nhìn cái miệng vô duyên của cha này, anh bỏ đi. “Nhưng đúng! Thằng chả nói đúng, dám chết cóng lắm!”
Ðức lắc đầu, xua đi cái ý nghĩ quỷ ma, anh tiếp tục phát giấy, và hỏi mọi người.
3 giờ chiều, anh trở về tiệm, bán cú chót trong ngày.
5 giờ chiều, chuyện xảy ra.
Ðức đang dọn, chuẩn bị về sớm. Một bà da trắng chừng 50 tuổi ngần ngại bước tới quầy.
– Xin lỗi, tôi có thể giúp bà?
Bà rút trong xách tay tờ giấy báo mất con Tiger, để trên quầy:
– Cái này của ông?
– Dạ đúng.
Bà bước sát quầy, xuống giọng:
– Tôi có thể nói chuyện?
– Dạ!
Bà lo lắng nhìn chung quanh, quay lại nói với Ðức:
– Tôi đang có con chó Tiger này.
Ðức giật người như đút tay vô ổ điện.
– Cái gì?
– Tôi đang có con chó này!
– …!?
– Nó ở nhà tôi.
– Con Tiger đang ở nhà bà?
Bà nhún vai:
– Thì tôi mới nói vậy.
Ðức mừng như rút tay khỏi ổ điện.
– Bà tìm thấy?
– Không.
– Nó tìm thấy tôi.
– Ô, sao cũng được, Bà ơi, Chúa ơi, cám ơn! Mình đi mang nó về!
– Nhưng anh cho tôi giải thích.
– Khỏi, có con Tiger là được rồi.
Ðức phone cho ông Joe. Joe đang nằm xìu trong nhà xe như ổ bánh mì nhúng nước.
– Hello Ðức?
– Ông Joe, có Tiger rồi.
Bên kia cúp máy. 10 phút sau, ông Joe nhào vô quầy bánh mì như cơn lốc tuyết:
– Tiger! Cám ơn Ðức, Tiger đâu?
Ðức vỗ vai ông Joe:
– Bình tĩnh, có Tiger rồi, mình đi mang nó về nhà.
Anh quay qua bà da trắng:
– Dạ, đội ơn bà. Bà tên gì?
– Joane.
– Hê! Ông Joe, bà Joane – Ðức chỉ bà Mỹ trắng – con Tiger ở nhà bà này, mình tới rước về.
Ông Joe quỳ xuống:
– Rất cám ơn bà!
Bà Mỹ cầm tay ông Joe:
– Tôi phải cám ơn hai ông!
Ðức và ông Joe nhìn nhau.
– Cho phép tôi kể…
– Dạ, bà kể.
– Hôm thứ 7, tôi đi nhà thờ gần đây…
Ông Joe cắt lời:
– Tôi cũng vậy.
– Không! tôi khác.
Bà chậm rãi:
– … Lúc mưa đá, tôi và Nicky ra xe, đi về.
Joe hỏi:
– Con gái bà?
– Không! Con chó Terrier của tôi. Ðúng lúc tôi mở cửa sau, thả Nicky vô xe thì Tiger của ông không biết từ thiên đàng nào, cũng nhảy vô theo.
Ðức nói:
– Chắc nó sợ mưa đá.
Ông Joe cười ha hả, vỗ vai Ðức:
– Không, tôi biết chắc là nó mê gái. Khoái con Nicky nên nhảy lên xe, mới lớn mà. Giống tôi hồi thanh niên, cũng bỏ nhà theo con nhỏ hàng xóm…
Bà Joane cười:
– Vì đang mưa đá, tôi không có thì giờ tìm hiểu con chó đi lạc, nên chạy thẳng về nhà.
– Với con Tiger?
– Dĩ nhiên.
– Về nhà, tôi mới biết là chó Terrier đực, rất đẹp trai, ngon lành.
Ông Joe nổi nóng:
– Vậy là bà bắt cóc con Tiger của tôi?
Bà Joane, nhẹ nhàng:
– Tôi biết, nhưng lúc đó làm sao trả lại, biết của ai?
Ðức nói:
– Ðúng vậy!
Bà Joane cười.
– Ông biết không, chàng trai bảnh bao Tiger gặp em gái Nicky của tôi là chết ngắc.
Joe chồm lên, mặt đỏ kè:
– Chết?
Bà Joane cười:
– Trai đẹp đụng gái sắc, chết là cái chắc!
Ðức hiểu ra, nói với Joe:
– Chết tình! Love story! Sao bà không mang Tiger ra đây luôn?
Joane lắc đầu:
– Tụi nó dính cứng nhau, không gỡ được.
Joe, Ðức:
– Hả!
– Tôi đợi tới thứ Hai, đi lòng vòng nhà thờ và thấy giấy báo mất này, xin lỗi hai anh.
Hai cái miệng Ðức, Joe, như song ca:
– Không sao! Có Tiger là tụi tôi mừng rồi.
Ðức vô quầy làm 2 ổ bánh mì thịt nguội, mang ra:
– Tặng bà! Chúng tôi rất cám ơn chuyện Tiger, bây giờ mình có thể đi lấy Tiger về.
Bà Joane tử tế:
– Tôi đưa hai anh đi, nhà cũng gần đây, cái condo đường Washington.
Tới nhà, đến thang máy, bấm code, thang máy ngừng ngay cửa căn condo sang trọng. Cửa mở. Chúng tôi bước vô, nhạc nổi lên cùng với ánh sáng dịu mắt.
Bà Joane gọi:
– Hello Nicky!
– N-i-c-k-yyy!
Vắng tanh, không Nicky, không Tiger, không một tiếng động.
– H-e-l-l-ooooo!
Tiếng của bà Joane vang vang.
Bà quay lại nhìn Ðức và ông Joe, nhún vai phân trần, rồi bước nhẹ, một bước, hai bước, ba bước, rồi bốn bước. Bà ngừng lại trước cửa phòng, bàn tay xòe ra, nắm lấy tay cầm, xoay và đẩy cửa.
Tiger chạy xuống nhảy vô Joe, Nicky, nhảy vô bà Joane.
Tối đó tuyết rơi lất phất, cây thông lớn bên nhà thờ nhấp nháy ánh đèn xanh huyền hoặc của đêm Thánh, khu Macy thật vắng, trời lạnh hơn mọi năm.
Trong căn nhà xe, ông Joe trùm mền, nằm trên tấm nệm gòn bọc vải dày, lò sưởi điện trong góc tường kêu rè rè, ngọn đèn hắt ánh sáng vàng, soi mặt con Tiger đang nằm ngủ.
Phone kêu:
– Hello! Ðức… Ok, Cám ơn.
10 phút Ðức tới, anh đặt trên chiếc bàn gỗ 4 ổ bánh mì thịt, 2 ổ mì gà.
– Xong, mời ông Joe, Tiger. Chúc mừng Giáng Sinh. À, còn cái này.
Ðức lấy chai Johnnie Walker đen nhỏ trong túi áo lạnh, rót ra hai ly nhựa.
Bữa tiệc Giáng Sinh của một người Việt xa nhà, một ông cựu chiến binh Mỹ bụi đời và con chó hết xíu quách ấm cúng vô cùng.
– Cheer!
– Cheer!
Ðức lay con Tiger:
– Cheer! Tiger.
Ngoài nhà thờ, chuông bắt đầu báo lễ đêm.
HĐV
Trương Dưỡng
Post by Sơn râu 22 Apr 2024

10. Mặt Trận Tây Ninh (1968-1969)
Trong trận chiến tại Việt Nam, vị trí địa dư của vùng bán đảo Đông Dương đã khác hẳn với vị trí vùng bán đảo Triều Tiên. Cả hai quốc gia cùng bị chia cắt, nhưng Nam Hàn nhờ biển bao bọc nên sự xâm nhập và phá hoại không dễ dàng như ở Miền Nam Việt Nam, mà rừng núi trùng điệp chạy dài suốt dãy Trường Sơn là nơi có đường mòn Hồ chí Minh xuyên qua hai lân bang Lào và Khmer.
Hai nước nầy là loại trung lập thiên tả. Lào thì mặc nhiên bất lực, còn Khmer thì công khai dung dưỡng bọn Trung ương cục Miền Nam trên nội địa của họ để làm căn cứ xuất phát các cuộc tấn công vào Miền Nam, rồi sau đó rút về cứ địa an toàn Cam Bốt. Sihanouk đã cho quân đội Bắc Việt và VC trú quân trên lãnh thổ Khmer, khiến quốc gia nầy gần như bị mất chủ quyền. Vì thế dân chúng Căm Bốt vốn dĩ đã từng có mối hận thù truyền kiếp, nay họ nhân cơ hội nầy nổi dậy để chống đối và biểu tình đòi hỏi phải có thái độ dứt khoát đối với việc đóng quân của Cộng Sản.
Cuối cùng họ tổ chức biểu tình rầm rộ với sự ủng hộ của Sư sãi, sinh viên, quân đội,… đột nhập vào sứ quán Cộng Sản Bắc Việt đập đồ, cướp phá, và nổi lửa thiêu sạch hồ sơ giấy tờ. Sihanouk vận động Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa dùng áp lực buộc VC rút quân, nhưng không thành. Vì thế Lon Nol và Quốc Hội đồng thanh truất phế vị Quốc Trưởng đã điều hành quốc gia nầy hơn 15 năm. Chính vì sự dung dưỡng của Sihanouk bấy giờ, nên Bắc Việt mới xử dụng được đất đai của Campuchia làm căn cứ địa để chuyển vận vũ khí, tập trung lực lượng tổ chức các cuộc Tổng công kích Tết Mậu Thân năm 1968. Vì thế chiến trường Tây Ninh trở nên sôi động vào các năm 68,69,70.
Sau khi phản công đẩy lui địch ra khỏi thành phố Sài gòn và vùng Ven Đô, TĐ9ND được chỉ định trấn giữ các trọng điểm trong Sàigòn. Đại đội 91 của tôi đóng ở kho đạn Gò Vấp, Đại đội 94 của anh Tâm trấn giữ khu vực ở kho Năm Khánh Hội. Lúc bấy giờ có một số sĩ quan mới về như Chuẩn úy Tường và Chuẩn úy Phúc làm Trung đội trưởng cho tôi, Lê Mạnh Đường ở ĐĐ90 rồi về ĐĐ92 của Thành Râu. Trạch thuyên chuyển đi Tiểu đoàn 3, Chí “Bệu” đi Tiểu đoàn 6, Bảo bị thương ở vai nên về chỉ huy tân binh ở trại Vương Mộng Hồng.
Các đại đội nghỉ tại đây khoảng nửa tháng thì có tin tức địch đã rút về hướng Tây Ninh, nơi tiếp cận căn cứ địa Trung ương Cục miền Nam (Cục R) của Việt Cộng.
a).Trận Đồn Điền Vên Vên
Tiểu Đoàn được về hậu cứ nghỉ một tháng, rồi được xe GMC chở lên Đồn điền cao su Vên Vên để tăng phái cho Quân Đoàn III. Vừa bố trí quân xong, trực thăng chở Tướng Đống và Tướng Đỗ Cao Trí đáp xuống Bộ chỉ huy Tiểu đoàn.
Tôi thấy tướng Trí cầm cây “Can” chỉ vào bản đồ hành quân như ban lệnh cho Trung tá Nhã, trong khi tướng Đống đứng kế bên chăm chú lắng tai nghe một cách nghiêm cẩn (Tướng Đống rất tôn trọng vị Cựu Tư lệnh Sư Đoàn Dù cũ của mình). Tướng Trí là một sĩ quan kỳ cựu và tài ba trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ông từng lãnh đạo Sư Đoàn Nhảy Dùø và Quân Đoàn III gặt hái nhiều thành quả trong các cuộc hành quân quy mô nổi tiếng. Đặc biệt ông đã cho dùng chiến thuật “Diều Hâu”, lưu động và thần tốc, trong mặt trận vùng Tây Ninh và Căm Bốt rất hữu hiệu. Như trận càn quét địch ở kamPong cham, thay vì điều động cả Chiến đoàn dàn quân trận địa, mới có thể kiểm soát bao quát toàn khu vực, ông chỉ cho 2 đại đội đổ bộ bằng trực thăng đánh mục tiêu nầy, rồi bốc lên bỏ vào khu vực khác.
Suốt ngày đơn vị Dù nầy được trực thăng vận đi khắp tỉnh KamPong Cham, giống như diều hâu đáp xuống xớt cá. Khiến các tổ trú ẩn của Việt Cộng trong địa phận nầy không kịp tránh né, không kịp trở tay, đâu đâu cũng báo cáo bị quân Dù tập kích. Do đó địch bị rối loạn hàng ngũ, bỏ chạy tứ tán, làm mồi cho những khẩu đại liên của các trực thăng võ trang.
Trung tướng Đỗ Cao Trí rất có uy quyền, oai phong của một cấp chỉ huy. Một sáng thứ hai nọ, tôi ôm bản đồ theo Đại tá Nguyễn Khoa Nam vào họp hàng tuần tại Phòng Hành Quân của Biệt Khu Thủ Đô (Lúc đó Bộ Chỉ Huy Lữ đoàn III đóng ở hãng Khải Vinh, Phú Lâm, trực thuộc Quân Đoàn III đang hành quân vùng Lê Minh Xuân, bảo vệ Vòng Đai Sàigòn). Tướng Trí chủ tọa buổi họp, người thuyết trình đầu tiên là Trung tướng Nguyễn văn Minh, Tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô :
– Kính thưa Trung tướng, thưa quí vị, hôm nay tình hình Biệt Khu Thủ đô…
Sau khi thuyết trình xong, Tướng Trí, vẫn ngồi ở ghế bành, miệng ngặm ống điếu, tay cầm cây “Can”, chỉ thị và hỏi nầy nọ, Tướng Minh nghiêm chỉnh trả lời rành mạch, xong tướng Trí khẽ nghiêng đầu (chứ không nhìn thẳng mặt) qua bên viên tướng Cố Vấn Mỹ, chỉ chỉ này nọ. Trong khi tướng Mỹ cung kính chồm người tới vừa gật gật cái đầu như tỏ ý lắng nghe vừa ghi chú lia lịa. Tôi nhìn cảnh đó thấy ông thật là oai phong chẳng những với người mình mà cả luôn người Mỹ nữa. Tới phiên Đại tá Nam, tôi vội đem bản đồ treo lên bảng, trong khi ông thuyết trình, thì tôi lấy que chỉ theo trên khu vực hành quân của Lữ đoàn. Tôi cố gắng giữ cho đừng khớp vì trong phòng thuyết trình toàn là tướng, tá, chỉ có mình tôi là cấp đại úy nhỏ nhất!
Tướng Trí sau nầy bị tử nạn trực thăng tại phi trường Trảng Lớn, Tây Ninh. Cái chết của ông có nhiều nghi vấn, vì ông chủ trương đánh chiếm Căm Bốt, điều nầy trái với ý của người Mỹ. Họ cho ông quá hiếu chiến, trong khi đó với chiến thuật diều hâu của ông, chỉ cần dùng sư đoàn Dù và TQLC trong một tháng là có thể chiếm được toàn cõi Căm Bốt. Vì ông tức giận họ đã để cho Việt Cộng làm căn cứ an toàn trên đất Khmer, từ đó chúng đưa quân vào phá hoại Miền Nam VN.
Trở lại trận đánh ở đồn điền cao su Vên Vên, Trà Võ. Tiểu đoàn vừa đóng quân xong, ngay đêm đó địch đã pháo kích nhiều quả vào đơn vị, như thách thức đoàn quân Dù. Sáng hôm sau, Đại Đội 91 được chỉ định đi “Tùng thiết” làm mũi dùi tấn công, mục tiêu là một ngôi làng bỏ hoang, chính nơi đây đêm qua địch đã đặt hỏa tiễn 122 ly và súng cối pháo vào vị trí đóng quân của tiểu đoàn. Khi gần tới bờ làng thì bị địch quân bắn ra ào ạt, chúng tôi nhảy nhanh khỏi Thiết vận Xa M-113 tìm các mô đất hoặc dựa theo chiến xa bắn trả lại. Các xạ thủ đại liên trên M-113 bắn quạt vào mục tiêu; sĩ quan tiền sát lập tức điều chỉnh pháo binh; Cố Vấn Mỹ gọi Khu trục và gunship tới bắn dập vào mục tiêu. Sau khi hỏa lực yểm trợ vừa ngưng, chúng tôi cùng chiến xa vừa bắn vừa chạy ào vô mục tiêu. Nhưng có lẽ địch đã kịp thời bổ sung toán trừ bị trám vào chỗ giao thông hào đã bị pháo dập, nên họ vẫn tiếp tục bắn trả mạnh mẽ, khiến chúng tôi phải khựng lại.
Bỗng một chiếc M-113 bị B-40 địch bắn đứt dây xích, tôi đưa Trung đội 2 của Phấn tới bắn yểm trợ cho xạ thủ và tài xế nhảy ra khỏi xe. Địch thật kiên trì, chúng tôi phải dùng mọi hỏa lực yểm trợ mà họ vẫn chưa chịu chém vè. Đánh nhau tới trời ngả bóng, chúng mới lợi dụng đêm tối di tản thương binh và rút lui dưới những loạt mưa pháo bắn rải truy kích của pháo đội Dù. Đêm đó Thiếu úy Phấn la chí choé vì Trung đội anh nằm giữ chiến xa đứt xích, bị pháo cận phòng của ta bắn gần quá, sợ các mảnh văng trúng nguy hiểm cho binh sĩ!
Sáng ra Đại đội tôi thận trọng tiến vào mục tiêu, thấy hầm hố kiên cố của địch thật nhiều! Các lò Hoàng cầm, chõng tre, và những giao thông hào có nắp che, chứng tỏ địch ở đây nhiều cỡ cấp tiểu đoàn, thảo nào hôm qua chúng có đại bác bắn đứt dây xích và coi thường chi đoàn thiết vận xa. Nếu không có hỏa lực hùng hậu của phi pháo thì TĐ9ND với chi đoàn Thiết vận xa phải trầy da tróc vảy và chưa chắc đã đánh bật được địch ra khỏi những hầm hố quá kiên cố nầy. Sau khi lục soát, chúng tôi tịch thu được một số vũ khí và đạn dược do địch lo chém vè thủ thân nên không kịp thu lượm tàn cuộc.
Tiểu đoàn phân bố lục soát xong dừng quân tại đây một đêm. Sáng hôm sau, Thiếu tá Bảo chỉ huy hai Đại đội 91 Dù và Đại đội 92 Dù đi cánh phải, thành phần còn lại do Trung tá Nhã chỉ huy đi cánh trái. Tất cả tiến về các mục tiêu đã chỉ định, nơi nghi ngờ địch đã rút quân về đó. Đại đội 92 của anh Thành đi đầu được khoảng hai cây số đường rừng cao su thì chạm địch lẻ tẻ, Thiếu tá Bảo điều động Đại đội tôi lên chận cánh phải để hốt các tên tẩu thoát do Thành phá ổ.
Bên cánh trái của Trung tá Tiểu đoàn trưởng cũng gặp nhiều chốt cầm chân, có lẽ để cho chủ lực quân của địch kịp thời rút sâu về mật khu an toàn. Họ không ngờ quân Dù của chúng ta dám đuổi chúng tới cùng đường như vậy. Từ lâu nay họ làm chủ khu vực nầy, gây khó dể cho các cuộc hành quân của SĐ25BB, ĐPQ, và Dân Vệ các xã xung quanh.
Đây là lần đầu tiên chạm trán với hỏa lực mạnh và đơn vị thiện chiến, khiến Cộng quân hoang mang, chưa đánh đã lo chạy. Các chốt địch lần lượt được bứng sạch. Tiểu đoàn tiếp tục bung rộng, rồi đóng đồn lập căn cứ, tổ chức các cuộc hành quân tuần thám, đột kích cấp đại đội vào trong những nơi gọi là mật khu an toàn của địch. Các đơn vị chỉ chạm lẻ tẻ, địch thấy chúng tôi ở lì trong vùng nầy nên quyết định bỏ đi. Đem quân về ẩn trú tại mật khu Bời Lời và Dương Minh Châu.
Tiểu đoàn bàn giao khu vực nầy lại cho Địa Phương quân trấn giữ, chúng tôi được đưa vào thị trấn Tây Ninh nghỉ xả hơi, tại đây tôi và các bạn đi tham quan Toà thánh Cao Đài ở trong khu vực chợ Long Hoa. Các Cửu Trùng Đài, Hiệp Thiên Đài, được xây cất hết sức uy nghi tráng lệ. Tôi thấy các tín đồ Cao Đài thờ cả Phật lẫn Chúa, cùng Văn Hào Victor Hugo, và Giáo chủ của họ là Đức Ông Phạm Công Tắc. Họ cũng đặt ra những chức sắc như Lễ Sanh, Thượng Sanh,…
Từ chợ Long Hoa, họ có mở con đường rất rộng hướng về Nam Vang, nơi Giáo Chủ Phạm Công Tắc đã từng sống lưu vong. Chúng tôi đi tới núi Bà Đen, tại đây có lăng mộ của tướng Cao Đài nổi danh thời TT Ngô Đình Diệm, ông đã bị bắn chết tại giữa cầu bắc ngang qua Khánh Hội, mà sau nầy đặt tên cầu Trịnh Minh Thế.
b). Trong Mật Khu Bời Lời
Nghỉ dưỡng quân một tuần lễ, Tiểu đoàn được trực thăng vận vào mật khu Bời Lời, nằm khu vực phía Đông Nam Thị xã Tây Ninh. Đại đội tôi vừa nhảy khỏi máy bay đã bị địch từ trong chòm cây bắn vài tràng AK, một binh sĩ bị trúng đạn tử thương ngay tại chỗ. Cả đơn vị lập tức vừa hô “Xung phong” vừa bắn và chạy vào bờ rừng, khiến địch sợ hãi, trở tay không kịp, kẻ lo chém vè, người nào chần chờ thì giơ tay đầu hàng.
Bây giờ mới lo kiểm điểm lại đơn vị, thì thấy có một tử trận và 5 binh sĩ bị thương. Y tá đại đội băng bó vết thương, tất cả được trực thăng di tản về bệnh viện Đỗ Vinh ở hậu cứ Hoàng Hoa Thám. Chúng tôi tiếp tục tiến sâu vào mục tiêu, khám phá rất nhiều hầm hố kiên cố, trong đó có Trung Tâm Hành Quân rộng lớn và nằm sâu dưới mặt đất. Đây là nhờ trực thăng đổ bộ chớp nhoáng, nên địch không kịp ra giao thông hào nghênh chiến, chỉ có những tên lính gác và các tên ở gần hướng bãi đổ quân chống trả yếu ớt, do đó chúng tôi chỉ bị tổn thất nhẹ và chiếm được mục tiêu mà không cần phi pháo yểm trợ (chúng tôi lúc đó giống như những con chim diều hâu nhào xuống từ trực thăng để chụp bắt những con cá đang bơi lơ đễnh).
Sau khi thu dọn chiến trường, trực thăng lại đáp xuống bốc chúng tôi thả xuống một khu rừng khác, cách đấy 5 cây số về hướng Bắc. Vì phi cơ quan sát L-19 thấy địch đã chạy về chòm rừng nầy. Lợi dụng địch chưa kịp đào hầm hố, tiểu đoàn cho phi pháo dập trước, rồi nhào trực thăng xuống hốt thêm một mớ. “Chiến thuật Diều hâu” tuy rất mệt nhưng kết quả vô cùng khả quan, địch không kịp trở tay và ta đỡ tốn hao sinh mạng, mà vẫn thu hái được nhiều thành quả không ngờ.
Bốc chỗ nọ, thả xuống chỗ kia, làm suốt một tuần thì mật khu rộng lớn nầy coi như bị các đơn vị Dù cày nát. Tiểu đoàn lại được đưa về Thị Xã dưỡng quân và nhận tiếp tế lương thực, đạn dược, bổ sung quân số, để chuẩn bị cho cuộc hành quân diều hâu kế tiếp vào một mật khu khác. Ra thị xã kỳ nầy, lúc rảnh rỗi chúng tôi thường ra chợ ăn hủ tiếu gà ở Quán Cây Me, đường đi lên Thiện Ngôn. Hủ tiếu tại đây không thua gì phở gà Hiền Vương ở Tân Định. Đặc biệt họ đựng hủ tiếu trong những tô to lớn và thịt gà thật nhiều, nước lèo rất ngon.
Sau đó tiểu đoàn được xe chở vào Quận Khiêm Hạnh, nằm ở hướng Đông Nam của Tỉnh lỵ. Tại đây mỗi ngày các đại đội thay phiên nhau vô tuần tiểu lục soát tại các khu rừng xung quanh quận lỵ, thỉnh thoảng thọc sâu vào mật khu Bời Lời coi chúng có còn dám trở lại lập căn cứ để đưa quân vào phá quấy quận Khiêm Hạnh như trước kia không?
C). Hành Quân Tại Mật Khu Dương Minh Châu
Tại quận Khiêm Hạnh khoảng nửa tháng, Chúng tôi được về Sàigòn nghỉ xả trại một tuần, các sĩ quan vẫn được mời ăn ở nhà hàng Bồng Lai như thường lệ.
Một hôm tôi rủ anh Bảo, Thành, Tâm, Phước, và bác sĩ Thiện vào nhà Chế Ký, chị họ của bà xã, nhà ở gần cầu Chà Và; để cho anh Sây, chồng chế Ký, trổ tài nấu các món ăn tàu với bào ngư, vi cá, và nấm đông cô ngon chẳng thua gì ở nhà hàng. Anh Thành, anh Bảo thích nhất là cách uống trà tàu đặc biệt của anh Sây. Những chun nhỏ, trước khi châm trà, được anh dùng nước sôi tráng nóng. Trà đựng đầy trong một ấm bằng đất đỏ (giống như chun), dùng nước sôi tráng bỏ nước đầu, rồi mới rót vào chun còn nóng, mọi người cầm lên ngửi thấy mùi trà thơm rất đặc biệt (khác với trà ướp Sói Lâm Đồng). Khi mỗi người uống chừng ba chun thì cảm thấy bụng nhẹ nhàng vì đồ ăn dầu mỡ đã bị tiêu hoá hết. Anh Tâm, anh Thiện khoái chí cứ cười mím chi cọp hoài!
Nghỉ tại hậu cứ 1 tháng, tiểu đoàn nhận lệnh ra hành quân tuần tiểu tại vùng Ven Đô, nhằm ngăn ngừa địch xâm nhập phá rối Thủ Đô. Giống như lần trước, khu vực trách nhiệm là Ấp Đồn, Nhị Bình, Tân Thới Nhứt,…thuộc quận Hốc Môn.
Tại đây chỉ có một chuyện đáng nói là đêm hôm nọ khi Trung sĩ Ký đi gọi Binh nhứt Đông thức dậy để canh gác. Khinh binh Đông hôm qua mới lãnh lương, đã cùng với Trung sĩ Trình đi nhậu, vì trong người còn hơi men, nên Đông đưa súng bắn dọa mấy loạt, làm cả đại đội tưởng bị địch tấn công, vội nhào ra hố chiến đấu. Đây không phải là lần đầu, ĐĐ91 nầy cách nay mấy tháng, lúc còn đóng quân ở An Lỗ, Huế. Trung sĩ Trình đã uống say rồi nổ súng bắn dọa vào hướng lều ngủ của vị Đại đội Trưởng tiền nhiệm.
Trình nguyên là họa sĩ, tốt nghiệp trường Mỹ Nghệ, anh là người thông minh, tài giỏi. Nhưng tánh tình rất đặc biệt, hễ mỗi lần lãnh lương là rủ anh em đi nhậu cho sạch hết tiền ngay hôm đó, vì chịu chơi nên anh em trong đại đội rất thích Trình. Do một sự hiểu lầm trong cái chết của Binh nhứt Kỳ, khi đi hành quân vùng rừng núi Trường Sơn, Trình quy trách nhiệm cho đại đội trưởng, nên trong cơn say nghĩ đến bạn Kỳ, anh ria súng bắn bậy. Do đó tôi mới cấp tốc đổi về nhận chức vụ nầy.
Vì sợ kỷ luật bị lỏng lẻo, tôi quyết định thử bắt chước dùng biện pháp kiểu như “Cây gậy và củ cà rốt”. Tôi bảo Thượng sĩ Thường Vụ đại đội, sáng hôm sau đem khinh binh Đông treo giữa sân rồi cho Trung sĩ Ký lấy roi đánh, trước đó tôi có dặn Ký đưa roi cao nhưng đánh nhẹ và vừa đánh vừa xin tha cho Đông, còn tôi thì giả bộ lớn tiếng đòi đưa khinh binh Đông ra Toà án Quân sự. Đông, Trình và binh sĩ trong đại đội thấy tôi là người nổi tiếng thương lính, mà hôm nay lại giận dữ như vậy. Trình đích thân vào xin tha cho Đông và hứa sẽ bảo chúng nó không được bắn bậy nữa. Tôi hỏi :
– Còn Đông, có hứa không?
Đông gật đầu lia lịa:
– Em xin hứa, Trung úy !
Sau đó, Trình được người biết thưởng thức tài, đại đội thường giao phó nhiều nhiệm vụ quan trọng. Anh thấy tôi biết dùng người, nên hăng hái làm việc, và để làm gương tốt, Trình không còn say rượu và la cà các quán trong những ngày lãnh lương nữa. Từ đó Đại đội 91 Nhảy Dù trở nên thái bình, Đông là một khinh binh rất giỏi và can đảm.
Ngựa chứng nếu biết điều khiển sẽ trở thành ngựa giỏi, Trình chẳng những thông minh, nhanh lẹ, có nhiều tài xuất chúng, và rất dũng cảm khi lâm trận. Lúc về hậu cứ, còn giúp bạn anh là Trung sĩ Dậu lo trang trí lại văn phòng đại đội, thật ngăn nắp và mỹ thuật. Nhơn dịp được ăn Tết đầu tiên ở hậu cứ, Trình (không phải tên thật, anh hiện là họa sĩ kiêm văn sĩ nổi tiếng ở Mỹ) lấy giỏ đựng dưa hấu và giấy màu dán thành một đầu lân đẹp không thua gì lân mua ở Chợ Lớn.
Vào những ngày đầu năm, anh cùng các binh sĩ trong đại đội đem lân ra múa tại chợ Bà Quẹo, chợ Tân Việt, và ngay cả nhà tôi nữa. Có được tiền, anh và Dậu ra nhà hàng Thanh Bạch đặt trên 150 khẩu phần, (mỗi hộp có nửa con gà Rôti, bánh Baté Sô, bánh mì Sanwich kèm thịt ham và cheese bên trong), cùng trái cây tráng miệng. Anh cho treo đèn, kết bông giấy tổ chức “Đêm Màu Hồng” dã chiến, mời quan khách gồm Trung tá Nhã, Thiếu tá Bảo, Đại úy Thành, Trung úy Phước, anh chị Tâm, và các sĩ quan cùng đến chung vui với quân nhân trong Đại đội 91 Nhảy Dù.
Mỗi binh sĩ có một hộp Coca, và một hộp khẩu phần bảo đảm ăn no. Ngoài ra còn có văn nghệ “Lính hát cho lính nghe” nữa chứ. Hôm đó nhìn thấy mọi người đều vui vẻ, sau khi cụng với anh Tâm, Thành, và Phước được vài ly Martell, tôi nổi hứng cùng Trình tới Micro song ca bài “Tình Nhớ”. Chị Tâm là ca sĩ giỏi nghe hát cứ ôm bụng cười:
– Ối giời ơi! Anh Dưỡng mà cũng biết hát nữa kìa!
Mọi người đều cười khoái chí, các anh em trong đại đội vỗ tay tán thưởng, khuyến khích, thật là vui quá vui! Đông là người xứ Huế lên trình diễn hai bài ca mà Duy Khánh thường hát ở Đài Phát Thanh Sàigòn nghe cũng hơi giống ca sĩ thứ thiệt! Lần đầu tiên Tiểu Đoàn 9 được ăn Tết tại hậu cứ, các anh em trong đại đội thật vui. Phước cũng bắt chước dựng cây nêu cao như của chúng tôi và cũng tổ chức tiệc tân niên có mời quan khách đầy đủ đến Đại Đội 93 của anh.
Phước người xứ Huế mà tánh tình rất hào phóng, tốt bụng, và rộng rãi. Mỗi lần nghỉ quân ở một làng xã nào, anh thường gọi máy rủ Tâm, Thành, và tôi tới nhậu dã chiến tại chỗ đóng quân của anh. Chúng tôi hay thay phiên hễ ai có món gì thì hú nhau qua lại, để giải sầu trong lúc xa nhà.
Phước là bạn thân của ca sĩ Nhật Trường, hôm sinh nhựt của chị Trường, Phước rủ tôi và anh Tâm tới dự tiệc gia đình, nhậu xong Nhật Trường nhét vào túi Phước 5 ngàn để có tiền dằn túi, đi chơi vòng vòng.
Chúng tôi cũng có đến nhà hàng Ritz để nghe Nhật Trường và Jo Marcel. Khi hát xong, Trường xuống bàn cụng ly, và anh mời chúng tôi đến dự lễ khai trương tiệm bán nhạc “Tiếng Hát Đôi Mươi” tại đường Lê Lợi.
Giống như anh Tâm, Phước cũng rất đẹp trai, hào hoa phong nhã. Hôm dự đám cưới, mọi người đều khen hai vợ chồng thật xứng đôi vừa lứa, trai tài gái sắc, nhưng trớ trêu thay không đầy một tháng sau họ lại tan rã! Tình duyên của Phước, giống như cuộc đời của anh, thật là ngắn ngủi! Anh đã bị hy sinh tại chiến trường Tây Ninh vào năm 1970. Anh Lạc, Phúc và tôi có đến chùa Xá Lợi tiễn đưa Phước ra phi trường Tân Sơn Nhứt, chúng tôi đích thân khiêng linh cữu tới tận phi cơ để chào vĩnh biệt anh, một người bạn tốt, dễ thương! Anh ra đi để lại bao nhiêu tiếc thương cho bạn bè Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù.
Sau ngày mất nước, tôi bị thương tật nằm nhà, Trình, lúc đó là họa sĩ giỏi, cổ thắt cà vạt tay sách cập da, cùng Thượng Sĩ Dậu, cựu kế toán trưởng Đại đội 91, đã đến thăm tôi, thật là an ủi vô cùng.
Ở đây được vài tuần, tiểu đoàn trở lại thị xã Tây Ninh, chờ nhận lương thực sẽ được trực thăng vận vào mật khu Dương Minh Châu, còn gọi là Chiến khu C. Địch quân thường đưa quân từ căn cứ an toàn thuộc khu Mỏ Vẹt bên kia biên giới Căm Bốt, xâm nhập vào lãnh thổ nước ta. Họ đặt bản doanh tại đây, rồi tung quân qua Tây Ninh, Lộc Ninh, Bình Dương,…
Mục tiêu cuối cùng của họ là Thủ Đô Sàigòn. Tin tức tình báo cho biết, hai hôm trước, địch đã từ vùng Mỏ Vẹt tiến quân qua Mật khu Dương minh Châu. Vì thế TĐ9ND được đổ bộ vào đây để truy lùng địch.
Khi chúng tôi tới nơi, bố trí lục soát khắp khu rừng rậm, chỉ thấy dấu vết hầm hố, chứ không gặp sự kháng cự nào của địch. Rừng Dương minh Châu rất rậm, có nhiều muỗi và vắt. Những con vắt tại đây cũng nhiều và to như ở Dakto và Mã Lai! Rừng rậm nhiều gai gốc làm cản trở cuộc tiến quân. Di chuyển tới 7 giờ tối mà vẫn chưa được lệnh dừng quân, đi được thêm nửa giờ, chúng tôi bị chận ngang bởi con suối nước sâu ngập đầu, bề ngang gần 2 thước, binh sĩ vượt qua thật vất vả. Vài ba người bị rớt mất súng và ai nấy đều bị ướt như chuột lột.
Mãi tới 9 giờ đêm, tiểu đoàn mới cho lệnh đóng quân. Tôi chia chỗ cho các trung đội bố trí xong, lập tức trèo lên võng thay bộ đồ khô, kéo vớ cao, xịt thuốc muỗi ở bàn tay, lấy mũ lưới trùm đầu, đợi Hạ sĩ Năm đem chén cơm ngụi tới ăn, thì đồng hồ cũng chỉ 11 giờ khuya, thật là một ngày đầy vất vả! Bảy giờ sáng hôm sau, trong khi tôi lên bộ chỉ huy tiểu đoàn họp để nhận lệnh trong ngày, thì binh sĩ lo nấu nướng, dọn dẹp lều chõng, sẵn sàng xuất phát vào 7:30. Đại đội tôi được chỉ định đi đầu, tìm cách ra khỏi rừng, để về phía Tây sông Vàm Cỏ, vì tin tức cho biết địch đã chuyển về hướng nầy.
Đại đội 91 đi được 2 cây số thì anh thợ hớt tóc bắt được một con kỳ đà khổng lồ dài khoảng 1 thước, Trung tá Nhã nghe tin, gọi tôi bảo anh ta thả nó ra, vì đi hành quân mà gặp con đỏ (mãng) hoặc kỳ đà thì xui lắm.
Anh thợ hớt tóc của đại đội không chịu nghe lệnh, lén dấu kín chờ chiều làm thịt, để có một buổi ăn ngon. Nhưng nghe nói nó cũng đã cựa quậy sút dây và nhảy trốn vào rừng. Đi tới trưa gặp được đường lớn, nối giữa Tây Ninh và Lộc Ninh, nơi đây có xe chờ sẵn, chúng tôi được đưa qua bên kia sông Vàm Cỏ, vì phi cơ quan sát thấy có địch xuất hiện trong vùng nầy.
Vừa qua sông, đi về hướng Nam khoảng 800 thước, đại đội tôi đi đầu và chạm địch mạnh, Thiếu tá Bảo vội đưa Đại đội 92 tiến về hướng Tây để giúp bên cánh phải. Anh Bảo đi sát bên tôi (đại đội nào chạm địch là lập tức anh Bảo tới ngay tuyến đầu liền), phụ báo cáo tình hình về tiểu đoàn. Tôi điều động các trung đội nghênh địch và lo điều chỉnh phi pháo bắn yểm trợ. Lực lượng địch rất mạnh, chúng có phòng không bắn lên máy bay và nả súng cối, hỏa tiễn liên tục vào đơn vị tôi. Vì địa thế hiểm trở và địch bắn trả rất mạnh, các khinh binh không thể xung phong lên chiếm bờ rừng, làm đầu cầu cho đơn vị tiến qua khoảng trống để xông vào mục tiêu, chúng tôi chỉ có phi pháo bắn phủ đầu, để mong địch chịu đựng không nổi, mà rời bỏ địa đạo. Lúc đó Thiếu tá Nguyễn Đình Bảo đang ngồi cách tôi khoảng 20 thước, đột nhiên anh đứng dậy tới chỗ tôi, thì bỗng nghe “Ầm” một tiếng, một quả đạn súng cối (hoặc đạn pháo) rơi đúng ngay chỗ anh vừa ngồi, nhìn thấy anh nhún vai lắc đầu hàm ý như may mắn quá!
Nếu anh trễ chừng 30 giây thì đâu có dịp sau nầy về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù, gặt hái nhiều chiến thắng làm vẻ vang Binh Chủng. Nhưng cuối cùng anh đã nằm xuống tại căn cứ Charlie, để lại bao nhiêu thương tiếc cho gia đình, bạn bè đã nhiều phen cùng anh vào sanh ra tử, đồng cam cộng khổ như anh em chúng tôi!
Chiều đến, bỗng nhiên như quỷ thần xui giục, anh thợ hớt tóc nhào lên, vừa bắn vừa hô xung phong chạy ào qua bên kia khoảng đất trống, khiến anh em không ngăn cản kịp. Lập tức anh bị địch bắt trói tại chỗ, đêm đến hai bên đều ngồi dưới hố chiến đấu ghìm nhau, trong khi pháo binh ta liên tục dập đều đặn vào vị trí địch. Từ 8 giờ tới 12 giờ khuya, anh thợ hớt tóc của đại đội cứ kêu cầu cứu, tiếng anh văng vẳng trong đêm tối, nghe thật ai oán, bi thảm vô cùng!
Nhiều khi tôi cầm lòng không được, muốn liều mạng chạy qua tiếp cứu, nhưng anh Bảo nói tụi nó đã gài sẵn đợi mình trúng kế, tới 1 giờ khuya không còn nghe tiếng anh nữa. Có một binh sĩ bắt được đài VC, nghe chúng bêu rêu phóng đại láo khoét rằng đã tiêu diệt toàn bộ tiểu đoàn Dù mang số 9 (có lẽ chúng khai thác anh thợ hớt tóc, làm gia đình binh sĩ ở hậu cứ sợ hết hồn). Suốt đêm tôi trằn trọc không ngủ được vì vô dụng và bất lực không cứu được thuộc cấp của mình!
Sáng lại binh sĩ thụt đại bác 75 ly và bắn đại liên, rồi tôi cho ba khinh binh chọc mũi dùi vào một bờ rừng, thấy không phản ứng, hạ sĩ Võ vội nhào vô một gốc cây, trong bờ rừng, trông ngóng kỹ không có gì động tĩnh, lúc đó cả trung đội của Tường mới bắt đầu xung phong vừa bắn vừa tiến vào mục tiêu. Khi toàn bộ đại đội vào xong, tôi nhìn thấy hầm hố kiên cố của họ mà rợn xương sống, nếu không có pháo binh bắn đuổi và nếu họ không “Nể mặt” binh chủng Nhảy Dù thiện chiến, thì tôi nghĩ, muốn chiếm được mục tiêu nầy phải chịu tổn thất rất nhiều. Trung tá Nhã tới nơi thấy chúng cất nhà sàn, xây địa đạo chằng chịt, hầm chỉ huy hành quân rộng lớn, địch lại có súng phòng không và hỏa tiễn, chứng tỏ quân số cỡ cấp trung đoàn.
Không biết tiểu đoàn báo cáo ra sao, mà chiều hôm đó Trung tướng Dư Quốc Đống, Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù, đáp trực thăng xuống coi các hầm hố, địa đạo, và lò hoàng cầm (lò nấu cơm không bị khói bay mù mịt như lò thường) của địch nữa. Ông cho lệnh chúng tôi theo dấu chân để truy sát địch. Tiểu đoàn đặt bản doanh tại Bến Gò Nổi và cho các đại đội tổ chức hành quân tuần tiểu lục soát, nếu phát hiện địch thì cho phi pháo dập và tiểu đoàn sẽ đưa trừ bị tới tiếp ứng kịp thời. Đóng đồn ở đây hơn một tháng thì được Tiểu đoàn Dù bạn ra thay thế, chúng tôi được về hậu cứ nghỉ dưỡng quân.
Trương Dưỡng
Post by Sơn râu 22 Apr 2024

B). Mặt Trận Trong Thành Nội Huế.
Sáng hôm sau tiểu đoàn được chở cấp tốc bằng trực thăng Chinook vào giải tỏa thành nội Huế. Để tránh phòng không địch, phi công chỉ bay là đà sát ngọn cây, vậy mà cũng có một số bị thương vì đạn AK từ dưới bắn lên!
Bãi đổ quân là một sân trống, trước bệnh viện Nguyễn Tri Phương, trong đồn Mang Cá. Lúc nầy tình hình Huế vô cùng bi đát! Địch đã làm chủ hết các cổng thành và bờ cao kiên cố, chỉ còn lại một góc nhỏ là đồn Mang Cá.
Tại đây, Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Sư Đoàn 1, đang chỉ huy cố thủ bằng những “Lính kiểng” cơ hữu. Mặc dù hằng ngày chịu đựng nhiều loạt pháo, họ vẫn bảo vệ được đồn, trong đó chứa hàng ngàn thương binh.
Trước khi kể đến cuộc quần thảo của Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù với sư đoàn chính qui của Việt Cộng trong Thành Nội, tôi muốn nói qua về Tướng Ngô Quang Trưởng, một vị tướng mà toàn quân hết sức khâm phục. Ngoài đức tính liêm khiết (nhứt Thắng, nhì Chinh, tam Thanh, tứ Trưởng). Ông còn là người đầy mưu lược, lễ độ, và vô cùng dũng cảm.
Trong trận tái chiếm Quảng Trị năm 1972, ông đã dùng kế hoạch “Phong Lôi” rất tài tình. Do biết rõ địch đã gài nhiều nội tuyến trong các đơn vị, nhất là Bộ Binh và Địa Phương Quân. Ông lừa địch bằng cách phổ biến ngày N, sẽ cho quân Dù và Thủy Quân Lục Chiến vượt sông Mỹ Chánh tái chiếm Quảng Trị. Đối phương được tin, vội dàn quân tăng cường dầy đặc, gồm bộ binh chủ lực, hỏa tiễn 122 ly, chiến xa T-54, phòng không 30 ly,…dọc theo bờ Bắc sông Mỹ Chánh, để chuẩn bị nghênh chiến.
Nhưng vào ngày N, Tướng Trưởng đã cho B-52 rải thảm suốt đêm, dọc theo tuyến án ngữ của địch. Ban ngày thì pháo binh, phản lực, và hải pháo luân phiên nã vào vị trí đối phương, khiến địch không có một phút nào yên ổn, để ngốc đầu trốn chạy. Thật đúng như là bị “Thiên lôi đánh”!
Chờ vài ngày sau, biết địch không còn dám dàn quân như thế nữa. Họ phòng thủ hời hợt, vì tưởng ta chỉ pháo dọa chứ không dám làm thiệt. Đúng lúc đó, Tướng Trưởng đích thân dùng trực thăng ban khẩu lệnh cho từng đơn vị trưởng. Các Chiến đoàn Dù lập tức vượt sông vào lúc 1 giờ khuya, bên phải Quốc lộ I có Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến, tất cả đồng loạt khởi binh!
Mới 8 giờ sáng đã nghe Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù tịch thâu tới 11 khẩu phòng không 30 ly! Đây là chiến lợi phẩm lớn nhất từ trước tới giờ. Trong vòng một thời gian ngắn, Tiểu đoàn 11 Dù đã bắn cháy hơn mười chiến xa T-54, và Thủy Quân Lục Chiến đã chiếm được cổ thành Quảng Trị.
Ngũ Giác Đài và các tướng lãnh Mỹ và Pháp hết sức ngạc nhiên. Trước đây họ chỉ đánh giá cao tướng VC Võ Nguyên Giáp ở trận Điện Biên Phủ, nhưng tướng Giáp đã dùng chiến thuật biển người, phải nướng hơn trăm ngàn bộ đội. Cộng Sản đã bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được mục đích theo chủ thuyết Duy Vật: “Cứu cánh biện minh cho phương tiện”.
Tướng Giáp quả đúng là “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”. Tướng Trưởng trái lại, ông quý trọng và giữ gìn sinh mạng của từng người lính. Ông cũng khuyến khích, kiểm soát và chỉ dẫn cho từng sĩ quan, dù là sĩ quan cấp trung đội.
Tướng Trưởng còn là người biết trọng lễ nghĩa, khi nghe Tướng Đống ra Huế, ông đã đến phi trường sớm, và ra tận cầu thang máy bay tiếp đón người thầy cũ của mình. Mặc dù lúc đó hai người cùng cấp bậc, nhưng SĐND thì trực thuộc quyền chỉ huy của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Vùng I Chiến Thuật. Tướng Đống cũng rất biết điều, mỗi lần họp hoặc nhận lịnh Quân Đoàn, ông thường cho Tư Lệnh Phó ra mặt. Riêng ông có mặt ở Huế để đốc thúc và trấn an các quân nhân trong SĐND (Vì các đơn vị trưởng rất nể trọng Tướng Tư Lệnh; có mặt ông, họ sẽ làm việc siêng năng hơn).
Tướng Trưởng còn là người rất can đảm, mặc dù địch đã làm chủ hầu hết thành nội Huế, Đồn Mang Cá như chỉ mành treo chuông, nhưng ông vẫn cùng các lính kiểng ở lại cố thủ một diện tích nhỏ hẹp, ngày đêm chịu đựng mưa pháo, để bảo vệ an toàn cho hàng ngàn thương binh. Ông còn là người rất năng động nhiệt thành trong mọi công việc. Khi còn là Tiểu đoàn Trưởng TĐ5ND, lúc chạm địch, ông xung phong trước hàng quân. Ông đã chỉ huy linh động tài giỏi giành thế chủ động chiến trường, dù trong những tình thế khó khăn,…Trận Đỗ Xá ở Quảng Ngải năm 1965, trận Liên Kết năm 1966 đã đưa Tiểu đoàn nầy được hơn 6 lần tuyên dương trước quân đội và tiểu đoàn được đeo dây biểu chương màu Đỏ.
Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, đơn vị xuất sắc đã cung hiến cho QLVNCH tám vị Tướng lãnh tài ba: Nguyễn Chánh Thi, Ngô Quang Trưởng, Trương Quang Ân, Hồ Trung Hậu, Đỗ Kế Giai, Lê Quang Lưỡng, và hai vị tướng đã hiển danh “Vị quốc vong thân”: Tướng Phạm Văn Phú và Nguyễn Khoa Nam.
Sư Đoàn 1 rồi Quân Đoàn I, dưới tay ông, đã làm khiếp vía địch quân ở vùng Hỏa Tuyến.
Bây giờ xin trở lại trận chiến Tết Mậu Thân tại thành nội Huế. Về tình hình địch, bộ đội Bắc Việt từ hướng Tây Bắc, vùng thung lũng A Shau, A Lưới vừa xâm nhập, phối hợp với du kích địa phương, chĩa nhiều mũi dùi tiến vào cố đô Huế. Hướng Tây từ quận Nam Hòa, Nam Giao băng qua cầu Bạch Hổ chiếm cửa Chánh Tây. Hướng Bắc từ rặng Trường Sơn, qua chùa Thiên Mụ, Kim Long. Hướng Đông từ Đồng Xuyên, Mỹ Xá, dọc theo La Vân Thượng tới An Hoà chiếm cửa Đông Ba. Cánh cuối cùng từ Phú Thứ, Đập Đá, qua cầu Trường Tiền chiếm cửa Thượng Tứ.
Về tình hình bạn, đại đội Hắc Báo của anh bạn cùng khóa Phan Gia Lâm đang bị bao vây trong Đại Nội. Tiểu đoàn 2 Nhảy Dù và Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù sáng Mùng 1 Tết, chạy băng đồng marathon gần 20 cây số từ Sịa, Quảng Điền, và cây số 17, An Lỗ về giải cứu cố đô (Hai tiểu đoàn bị chận lại ở An Hoà mãi tới mùng 3 mới vào được BTL Sư đoàn 1 BB). Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù chúng tôi ở mặt trận Quảng Trị đã hao hơn trăm chiến sĩ, tới Huế vào trưa mùng 4 Tết, tạm bố trí trong đồn Mang Cá.
Sáng Mùng 5 Tết, chúng tôi xuất phát để tái chiếm phi trường Tây Lộc và Cửa Chánh Tây. Vừa mới ra khỏi đồn được 200 thước, tôi gặp Thiếu tá Lê Minh Ngọc, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù đang dẫn binh đi ngang qua. Hỏi thăm thì biết lúc nầy quân số của Tiểu Đoàn 2 và 7 Nhảy Dù chỉ còn phân nửa! Họ bị thiệt hại nặng từ đêm Giao Thừa khi chiếm đầu cầu An Hòa, và đã giao tranh với địch trong Thành Nội mấy ngày qua. Chỉ 3 ngày mà đơn vị bạn đã hao quá nhiều. Chúng tôi ai nấy mặt mày bí xị, vì mình sắp sửa tiến vào vùng tử địa! Không biết ai còn, ai mất, đúng là:
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo thái sơn nhẹ tựa hồng mao
(Chinh Phụ Ngâm)
Khi vào tới gần tường thành Đại Nội, chúng tôi thấy phía trước có nhiều bóng đen thấp thoáng và nghe vài tiếng súng lẻ tẻ. Cả đại đội dàn quân xung phong, gặp một số người mặc áo đen giơ tay đầu hàng. Hỏi ra mới biết đó là binh sĩ của đại đội Hắc Báo. Gặp lại bạn đồng khoá Phan Gia Lâm, hai đứa bắt tay mừng mừng lo lo. Lâm nói giọng Huế:
__ Lính mi sao còn nhiều quá vậy? Lính của tao chuồn về nhà ăn Tết gần hết!
Hỏi thăm Lâm về tình hình phía trước, rồi chúng tôi thận trọng tiến dọc theo bờ kinh, thẳng về hướng phi trường L-19 ở Tây Lộc. Khu nầy nhờ Tiểu đoàn 2 và 7 Nhảy Dù đã dọn sẵn, nên chỉ chạm địch lẻ tẻ, thỉnh thoảng có vài binh sĩ bị bắn tỉa từ phía bên kia bờ kinh. Sau khi chiếm phi trường, tiểu đoàn tiến về cửa Chánh Tây. Đánh trong thành phố thật không dễ, chúng tôi phải phá tường, leo cửa sổ để di chuyển. Các ngõ hẻm, cao ốc, đường cái, và ngả tư, đều có thượng liên địch chực sẵn.
Khi đến gần cửa Chánh Tây, tôi thấy có rất nhiều địch đội nón cối, tay đang cầm súng Ak-47, B-40, đi qua lại trên bờ thành. Chúng tôi chờ trời tối cho khinh binh lén leo lên dùng lưỡi lê đánh cận chiến, chiếm được một góc thành làm đầu cầu cho đại đội nhào lên bắn ào ạt khiến địch trở tay không kịp. Dùng cách nầy tuy tổn thất nhiều, nhưng vì địch quân đã có lợi thế bờ thành cao trên 5 thước, nếu không liều mạng vào hang cọp thì làm sao bắt được cọp con. Càng dây dưa trì hoãn thì càng tổn thất tiêu hao dần dần, rốt cuộc không có thành quả gì. Trong hai ngày tiểu đoàn chiếm lại được cửa Chánh Tây và bàn giao lại cho Sư đoàn 1 BB trấn giữ. Chúng tôi bọc ngược trở lại để chiếm cửa Đông Ba .
Tại đây có cây thượng liên đặt nơi cửa thành cao và rất kiên cố, chúng tôi thử xung phong nhiều lần mà không lên được cửa. Trung đội tôi lúc ấy còn 21 người, nhưng do khí thế chiến thắng từ Quảng Trị và cửa Chánh Tây vừa rồi, nên binh sĩ rất tự tin. Đợi ngay khi điều chỉnh pháo binh dập nát khẩu thượng liên, cả trung đội vừa bắn vừa hô xung phong tiến nhanh lên và chiếm được cửa thành. Thấy tên xạ thủ thượng liên chết nằm trên súng, hai chân bị khoá bằng dây xích.
Kiểm điểm quân số lại thấy chỉ còn mười người nguyên vẹn. Mười một mạng người chết và bị thương, để đổi lấy cửa thành nầy đây. Lính Nhảy Dù trả nợ máu cho quê hương miền Nam, lấy lại sự thanh bình cho đồng bào xứ Huế. “Chúng tôi không cầu an lạc dễ dàng mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm”. Gần ba mươi năm qua, trên đất Mỹ, tôi vẫn nhớ cảm giác cay cay đau đớn khi đứng trên cổng thành đổ nát của mùa xuân năm xưa! Mùa Xuân rây máu của xứ Huế mù trời sương đục, tang tóc đau thương!
Mấy ngày sau, tiểu đoàn tiếp tục mở rộng kiểm soát các khu vực bên trong Thành Nội. Sáng Mùng 10, chúng tôi chuẩn bị vượt qua hồ Tỉnh Tâm để tìm cách đánh lấy lại cửa Thượng Tứ, cửa chính Nam, đi thẳng vào Đại Nội. Suốt tuần lễ, người không tắm rửa, chân không rời đôi giày trận, sống giữa màn trời chiếu đất, lót dạ bằng những chén cháo trắng. Tuy lương thực không được tiếp tế, nhưng lúc đó không ai ăn vô nổi, vì hằng ngày nhìn thấy xác chết đầy đường, không có người thu dọn. Chúng tôi sống với và giữa những người chết, họ là những người dân đã sống trong chịu đựng và chết trong oan khiên. Họ đã chết cho ai, vì ai?.. Bao nhiêu năm câu hỏi vẫn còn, không được ai đứng ra lãnh trách nhiệm trả lời.
Trung đội vượt qua hồ Tỉnh Tâm phía ngoài Cầu Kho, tiến vào lục soát ngôi biệt thự khá sang trọng. Khi vừa rút ra khỏi nhà, thì nghe “Đùng” một tiếng, một quả lựu đạn hay súng cối gì đó rơi đúng vào giữa đội hình trung đội tôi! Mọi người đều ngã lăn vì trúng mảnh đạn. Lưng tôi bị đầy mảnh, máu ướt đẩm cả áo trong lẫn áo ngoài.
Tôi đang kiệt sức dần, thì bỗng nhiên thấy một tên lính địch chạy qua nhà tôi đang nằm. Trong khi tên bộ đội chưa phát giác, do từ một phép lạ hoặc bản năng sinh tồn, tôi đứng dậy, chạy băng về bộ chỉ huy đại đội, các anh em binh sĩ cũng nhanh chân rút theo. Mắt loáng thoáng nhìn thấy Đại đội trưởng Thành Râu từ xa, tôi kiệt sức ngã lăn nằm bất tỉnh trước sân đất trước nhà.
Lúc tỉnh dậy, thấy mình đang nằm trên lầu của một biệt thự sang trọng. Anh bạn tốt là bác sĩ Thiện mượn mền để đắp cho tôi nhưng chủ nhà không chịu. Tối đến thấy trên mình có cái mền mới tinh, nhưng nó bị trượt qua một bên, vết thương bắt đầu hành sốt, người run lập cập. Tôi định kéo mền lên đắp, nhưng dở tay không nổi, đành nằm chịu trận! Nhìn xung quanh thấy có vài thương binh bị nặng quá đã hy sinh, còn những người khác thì mê man. Sáng ra mới biết anh Thiện đã lén “Mượn tạm” mền để đắp cho tôi. Sau đó nghe nói chủ nhà nầy là kinh tài (hãng xe bus vàng) của Việt Cộng. Hắn ta cùng bọn nằm vùng đã làm nội tuyến hướng dẫn bộ đội vào thành, quấy nhiễu dân chúng, gây bao nhiêu cảnh chết chóc, lầm than cho những kẻ vô tội trong ba ngày Xuân.
Hơn một tuần quần thảo trong thành nội, Tiểu đoàn 9 Dù còn thảm hơn hai Tiểu đoàn Dù bạn. Quân số còn lại những người nguyên vẹn không quá một trăm!
Lúc chuyển quân ra Vùng I Chiến Thuật, Tiểu đoàn cần tới 5 chiếc vận tải cơ C-130, nhưng trở về với một chiếc mà còn thấy rộng. Riêng Trung đội 1 của tôi thì coi như báo cáo tổn thất “ Nằm, ngồi ”(chết, bị thương) là 100%.
Để diễn tả về trận chiến Tết Mậu Thân tại Vùng Giới Tuyến nầy, tôi xin phỏng theo hai câu thơ bất hủ ở mặt trận An Lộc, Bình Long :
Cố đô Huế Mậu Thân chiến tích
Chiến sĩ Dù vị quốc vong thân!
9.Trận Chiến Vùng Ven Đô
hay
Tết Mậu Thân Đợt II
Sau khi về hậu cứ ở trong trại Hoàng Hoa Thám, cả tiểu đoàn được xả trại một tuần, lúc đó tôi đang nằm chữa trị tại bệnh viện Đỗ Vinh thì Thiếu tá Bảo, Tiểu Đoàn Phó, gọi về tiểu đoàn để nhận bàn giao chức vụ đại đội trưởng Đại đội 91 Nhảy Dù. Rồi ra nhà hàng Bồng Lai dự tiệc khao quân của Tiểu đoàn trưởng.
Trung Tá Nhã, Đại uý Thành,…đã được thăng cấp đặc cách mặt trận, riêng tôi vì mới lên Trung uý vài tháng nên được Nhành Dương Liễu (anh dũng bội tinh tuyên dương trước quân đội) và hai chiến thương bội tinh (bị thương ba chỗ: lỗ tai trái, đùi phải, tại trận Quảng Trị, và lưng mang đầy mảnh cắm sâu vào nhiều nơi hiểm quá nên không dám mổ!).
Lợi dụng tiểu đoàn xả trại, tôi vội lên xe đò về quê thăm vợ con. Nhưng phải ghé qua Cần Thơ lo tìm máy bay, vì đường về Vĩnh Bình bị phá đứt nhiều đoạn và chưa được an ninh.
Tối hôm đó, tôi vào ngủ tạm nhà Vãng Lai của Quân Đoàn IV. Tại đây gặp một Thiếu tá khoá 4 Thủ Đức, anh nầy đưa tôi ra phi trường Trà Nốc kiếm được phi công L-19 chở về Trà Vinh. Sau nầy tôi có ghé thăm anh ở đường Nguyễn Minh Chiếu, Phú Nhuận; anh dẫn tôi vô Phòng Ba Tổng Tham Mưu để gặp bạn cùng khoá là Trưởng Phòng (hoặc phụ tá Trưởng Phòng gì đó?). Lúc ấy tôi đang mang cấp bậc đại uý, đủ tiêu chuẩn, nên anh ghi tên trong danh sách khoá 4 Quân Chánh để học xong sẽ làm Quận Trưởng. Vì cứ đi đánh giặc triền miên, tôi cũng muốn an nhàn một lúc để được sống gần vợ con. Nhưng Sư Đoàn Dù hỏi vị tiểu đoàn trưởng có chịu cho đi không và tôi thất vọng vì họ không muốn mất đi con gà chọi cứng cựa nầy!
Về tới Vĩnh Bình, người Dì Sáu của bà xã bảo chúng tôi lại ở chung, vì xung quanh tỉnh lỵ vẫn còn du kích, mỗi tối chúng cứ bắt loa tuyên truyền từ bên kia bờ sông. Lúc đó tôi còn vết thương đầy lưng chưa lành, mỗi ngày nhờ bà xã thay băng. Nằm trên lầu mà xung quanh giường ngủ chứa toàn là đồng hồ, máy may, radio, cassette,….cũ (Vì đây là tiệm cầm đồ và bán vàng).
Khoảng nửa tháng sau thì tiểu đoàn di chuyển ra Trung Tâm Huấn Luyện Vạn Kiếp để “Trui rèn” lại. Vì lần nầy hao tổn quá nhiều, tân binh bổ sung cần được huấn luyện giống y tiểu đoàn mới tân lập như hai năm về trước (trong vòng có hai năm mà có quá nhiều thay đổi, không biết rồi đây hai năm tới nữa sẽ ra sao?). Cuộc hành quân thao dượt cuối khoá kỳ nầy đặc biệt hơn lần trước, toàn bộ TĐ9ND sẽ thực tập nhảy dù trận, tất cả quân nhân, xe Jeep, GMC, và cả các khẩu pháo 105 ly cũng được thả dù từ phi cơ C-123 xuống một khu rừng, cách thị xã Bà Rịa khoảng 10 cây số. Sau khi nhảy xuống, các đại đội tác chiến bỏ dù tại chỗ và lập tức nhào lên tấn công mục tiêu chỉ định. Toán tiếp liệu lo thu nhặt dù, pháo binh lo bãi để kịp thời làm màn khói cho cuộc thao dượt.
Trước khi vào đề về trận chiến Mậu Thân Đợt II, tôi muốn nói sơ về “Người ở lại Charlie” Nguyễn Đình Bảo. Anh xuất thân trường VBQG Khóa 14 Đà Lạt. Từng là võ sĩ huyền đai nhu đạo, nhưng anh rất khiêm tốn hiền hòa, thường giúp đỡ đàn em; khi lâm trận, anh lúc nào cũng có mặt ở tuyến đầu .
Có lần Đại đội tôi được chỉ định đi tiền phong và chạm nặng tại rừng Long Giang, Tây Ninh, gần Bộ Chỉ Huy Cục R. Căn cứ vào hầm hố và vũ khí, thì quân số địch ước lượng cỡ cấp trung đoàn. Với phòng không và hỏa tiễn 122 ly liên tiếp dội đúng vào đội hình của chúng tôi. Lúc đó anh Bảo chỉ ngồi cách tôi khoảng 20 thước, đột nhiên đứng dậy đi về phía tôi, thì bỗng nghe “Ầm” một tiếng. Một quả pháo rơi đúng ngay chỗ anh vừa ngồi. Thật là hú vía, nếu quả đạn sớm chừng 30 giây thì Nhật Trường sẽ không có thể đặt ra bài ca nổi tiếng “Người ở lại Charlie” sắp kể sau đây :
Chuyện xảy ra vào lúc mùa hè đỏ lửa, khi đó Trung tá Bảo là Tiểu Đoàn Trưởng TĐ11ND. Đơn vị anh đóng quân trên trục ngã ba (trục nhánh, nối tiếp của đường mòn Hồ chí Minh từ Lào, để chở quân, vũ khí tại Tân Cảnh, Kontum) nhằm ngăn chận các tuyến tiếp tế của địch từ Bắc vào Nam. Vì vậy đỉnh Charlie là cái gai mà VC phải nhổ bằng mọi giá. Họ đã pháo kích thường xuyên và tung nhiều đợt tấn công trận địa, với sự yểm trợ hùng hậu của chiến xa T-54, hỏa tiễn 155ly, và 122ly. Anh Bảo, anh Mễ, và ngay cả bác sĩ, truyền tin, cùng y tá tiểu đoàn cũng phải ôm súng ra hố chiến đấu, để chống trả lại các đợt tấn công tiền pháo hậu xung vô cùng ác liệt của địch.
Một hôm, Lữ Đoàn Trưởng đáp trực thăng xuống Charlie để thị sát, tôi cũng tháp tùng để vào thăm toán Tác Chiến Điện Tử (lúc đó tôi làm Biệt Đội Trưởng trực thuộc Phòng Hành Quân Sư Đoàn), do thiếu uý Chinh làm Trưởng Toán.
Anh Bảo chỉ cho phái đoàn thấy con đường đất to lớn (ăn thông với đường mòn Hồ Chí Minh ở bên Lào), nằm cheo leo giữa sườn đồi, chính nơi đây xe vận tải địch đã từng chạy qua lại suốt đêm, giống như “Xa lộ không đèn”.
Bác sĩ tiểu đoàn chỉ vào các dãy đồi xung quanh, nơi địch thường đặt súng từ bên kia núi bắn thẳng vào Charlie. Tôi thấy Chinh và các chiến sĩ Tiểu Đoàn 11 ND, mặt mày bơ phờ hốc hác, có lẽ vì hôm qua phải thức suốt đêm, để chống trả lại các đợt tấn kích của địch. Khi tôi vừa về tới căn cứ Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn khoảng vài tiếng đồng hồ, thì bỗng nghe báo cáo trong máy truyền tin rằng địch bắt đầu pháo kích Căn Cứ Charlie dữ dội. Ngay sáng hôm sau, chúng tấn công ồ ạt và đã xung phong tràn ngập căn cứ.
Bất ngờ, một tin như sét đánh ngang tai: Trung Tá Nguyễn Đình Bảo đã hy sinh vì một trái pháo loại xuyên phá nổ chậm rơi trúng ngay hầm của anh!! Lúc đó tôi đứng trong phòng Trung Tâm Hành Quân Tiền Phương Sư Đoàn, thấy Tướng Dư Quốc Đống, Tư Lệnh SĐND và các Sĩ Quan Tham Mưu, ai nấy đều bàng hoàng xúc động!…
Tôi nghe trong máy truyền tin, tiếng anh Mễ báo cáo là địch đã vào tới BCH Tiểu Đoàn, chúng tràn ngập căn cứ. Anh xin phi pháo oanh tạc ngay đỉnh Charlie, đồng thời mở đường máu rút lui. Đại tá Lương (đang xử lý Lữ Đoàn II) bảo Mễ cố gắng lấy xác anh Bảo. Lúc đó anh Mễ, anh Hải đã bó sẵn vào poncho định khiêng về; nhưng địch đã tấn công ồ ạt quá, nên hai người đành cắn răng bỏ lại! Hơn nữa hôm đó Thiếu tá Mễ còn phải điều động và dẫn dắt cả đơn vị vượt núi, băng rừng đồng thời tìm cách tránh phục binh truy kích của địch.
Căn Cứ Charlie chẳng những chôn vùi xác anh hùng Nguyễn Đình Bảo mà còn nhiều chiến sĩ dũng cảm khác, trong đó có Thiếu úy Chinh của Biệt Đội chúng tôi! Chị Bảo với cảnh vợ góa con côi, đã vận động các nơi lập hội giúp đỡ cô nhi quả phụ. Sau ngày mất nước, trước khi qua Mỹ, tôi có đến từ giả Chị, trông thấy cảnh nhà thật tiêu điều, đồ đạc bán sạch, để lấy tiền trang trải cho con trai cưng của anh Bảo, tên Bảo Tường, đang theo Đại Học Y Khoa. Qua lời anh Có, trung tá Quân Cảnh, ở nhà đối diện, nói chị là người đức hạnh, hiền thục trong cư xá sĩ quan Chí Hoà, khiến ai nấy đều khâm phục.
Bây giờ xin bắt đầu câu chuyện “Tôi tham dự các trận đánh vùng Ven Đô”. Lúc tiểu đoàn đang tập nhảy dù trận, thì được lịnh khẩn cấp về Sàigòn để chống trả cuộc Tổng Tấn Công Đợt II. Khi các phi cơ C-47 đưa chúng tôi về tới phi trường Tân Sơn Nhứt, Đại Đội 91 của tôi được điều động thẳng đi bảo vệ Dinh Độc Lập. Các đại đội khác ở tại Hậu Cứ tiểu đoàn, ứng chiến 100%.
Để bảo vệ vòng ngoài Phủ, tôi bố trí các trung đội tại vườn Tao Đàn, trường JJ Rousseau, trường Đại Học Văn Khoa, Bộ Ngoại Giao, và Ban Chỉ Huy Đại Đội cùng Trung Đội 4 đóng ở cao ốc Nguyễn Du, cạnh nhà báo Thời Luận của Tướng Tôn Thất Đính. Lúc mới vừa đóng quân xong, Tướng Đính cho anh sĩ quan cận vệ tới gọi tôi qua văn phòng gặp ông. Có lẽ với tình hình đang hỗn độn mà được đơn vị Nhảy Dù tới ở bên cạnh, thì thật là yên tâm. Tướng Đính vỗ vai tôi và nói:
__ Em có cần gì qua giúp đỡ hay không?
__ Dạ thưa không, cám ơn Trung Tướng.
Sau khi xuề xòa đôi câu, ông bảo anh cận vệ đưa tôi đi ăn một bữa cơm xã giao thịnh soạn.
Tối đến, khoảng 2 giờ khuya, chợt nghe nhiều tiếng súng nổ hướng trường Đại Học Văn Khoa, tôi vội bắt máy truyền tin, nghe Chuẩn uý Trứ báo cáo có nhiều bóng đen mang súng, xuất hiện ở đường Gia Long. Tôi vội dẫn Trung Đội Chỉ Huy tới ngay hiện trường; đến nơi thấy binh sĩ của Trứ đã tước súng của mấy anh cảnh sát trước nhà hàng Thanh Thế. Ngay sau đó, trong phủ Tổng Thống, nghe có tiếng súng nổ, Đại tá Trưởng Phòng Cận Vệ Nhan Văn Thiệt, Thiếu Tá Tư (khoá 13 ĐL), và một số sĩ quan cận vệ chạy xe Jeep có gắn đại liên đến. Tiếp đó bên cảnh sát Đô Thành có các ông Cò Quận Nhì, Cò Long bót Lê Văn Ken, Cò He bót Tao Đàn cũng đều có mặt. Đây chỉ là một sự hiểu lầm, vì nửa đêm khuya vắng, binh sĩ của Trứ thấy bóng người mang súng, không biết đó là cảnh sát. Lúc ấy trùng hợp với sự pháo kích bằng nhiều loạt đạn hỏa tiễn 122 ly, phát xuất từ bên kia Thủ Thiêm.
Trước mặt Đại tá Thiệt và mấy ông Cò, các Cảnh sát viên mặt mày hãy còn ngơ ngác nói :
– Lính Nhảy Dù bộ mình đồng da sắt, sao không sợ chết gì hết vậy? Vừa nghe tiếng súng là đã thấy họ hô xung phong và nhào tới như chớp, khiến chúng tôi hết hồn chưa kịp trở tay, thì đã bị họ tước súng rồi!
Đại tá Thiệt, Thiếu tá Tư, người nào cũng có đeo bằng Dù trước ngực, nghe nói cũng hãnh diện lây, nên cứ cười hỉ hả khoái chí. Sáng hôm sau, không biết các anh báo cáo với Tổng Thống thế nào, mà họ đã chở vào vườn Tao Đàn cho một xe vận tải chất đầy những thùng đồ hộp Ration C và còn có thêm mấy chục ngàn tiền thưởng để ủy lạo binh sĩ.
Thật ra trong những lúc tập dượt đội hình chiến đấu và phản ứng cấp thời khi chạm địch. Tôi thường giải thích với binh sĩ là khi bị địch bắn, dù mình có quay lưng chạy, cũng không thể nào nhanh hơn tầm đạn bay và dễ dàng làm mục tiêu cho địch từ từ ngấm bắn. Nếu ta cứ liều mạng hô xung phong (để áp đảo tinh thần) và nhào tới bắn trả, địch sẽ khiếp sợ quíu tay, do đó có thể từ đường tử, tìm đường sanh. Đơn vị tôi đã dùng chiến thuật nầy nhiều lần và rất hữu hiệu, chẳng hạn như trận vừa rồi ở ngã tư nhà thờ La Vang đã kể ở phần trên. Lúc ấy dân chúng có nói lại: vì chúng tôi xung phong thần tốc quá, nên có một số địch còn kẹt lại, trốn kỹ trong hầm trú ẩn của nhà dân, chờ rút đi họ mới dám ló đầu ra.
Từ đó về sau, mỗi buổi sáng, Thiếu tá Đỗ Quang Tư và các sĩ quan trong Phủ thường tới rủ tôi đi ăn điểm tâm. Cò Long bót Lê văn Ken cũng thường dẫn đi ăn ở các nơi sang trọng trong Thủ Đô như khách sạn Lê Văn, Nam Đô, tôm cá Phù Tang ở Cầu Kho. Lần nào tôi cũng có gọi máy rủ anh Bảo đi chung. Cò Long biết sĩ quan Dù không có tiền, anh thường lén đút vào túi tôi và có lần khi hành quân ở Tây Ninh, anh đã gởi cho cặp rượu Martell, đang ở trong rừng mà có rượu ngon, thật là quí vô cùng.
Lúc đó tại chợ Cây Quéo, Gò Vấp, Tiểu đoàn 9 Dù đang chạm địch mạnh. Liên Đoàn 81 Biệt Cách được lịnh tăng cường 2 đại đội(trong đó có một Đại đội trưởng là Bùi Cao Thăng, K20ĐL,hiện định cư tại Nam Cali) để làm thành phần tấn công đột kích càn quét đám du kích. Nơi đây chúng đang bám trụ trong Tịnh Xá Trung Tâm, cạnh chuồng ngựa. Tiểu đoàn trưởng, Trung tá Nhã, đề nghị rút đại đội tôi từ phủ Tổng Thống về tăng cường. Sư đoàn đã đánh đi nhiều công điện, nhưng có lẽ vì anh Tư, anh Thiệt cố tình giữ lại, nên chần chờ hết vài hôm.
Mãi tới khi có tin đại đội trưởng Tèo tử trận, họ mới chịu buông cho đại đội đi. Cũng vì sự chần chừ trì hoãn nầy, khiến vị Tiểu đoàn trưởng nổi giận. Khi đại đội vừa xuống tới Cây Quéo, trong một ngày mà ông bắt đánh hết mặt Nam rồi lại qua mặt Tây. Dẹp xong mặt Tây rồi lại tới mặt Bắc.
Đánh trong Thành phố thật khó khăn vô cùng, thường phải leo cửa sổ, chui qua tường, vì các ngõ hẻm đều có súng thượng liên địch chực sẵn. Lúc đó có nhiều Phóng viên Chiến trường đi theo chụp ảnh phỏng vấn, họ cũng rất gan dạ, đi theo sát cuộc tiến quân. Khi đến mặt Bắc thuộc khu vực chuồng ngựa, tại đây địch kiên trì cố thủ, chúng tôi phải dùng thật nhiều lựu đạn cay và thùng “Cà rem” E8 hơi ngộp. Khói cay bay mịt mù khắp khu vực, địch chịu không nổi phải chạy bỏ điểm cố thủ, nhờ vậy mới chiếm được tịnh xá của Ni sư Huỳnh Liên. Ngược lại binh sĩ cũng bị cay mắt tơi bời, dù có đeo mặt nạ mà cũng chịu không nổi. Tôi bị cay mắt quá, phải chạy đi tìm lu nước, úp mặt một thời gian mới đỡ được phần nào.
Đụng trận suốt ngày, Đại đội tôi bị tổn thất khoảng năm người, thật là một ngày dài trong đời binh nghiệp! Chỉ một ngày mà dẹp yên được vùng Cây Quéo; đây cũng nhờ địch đã thấm mệt vì bị thiệt hại nhiều khi chạm trán với các Đại đội Dù tới trước, và đã chịu các trận đột kích tài tình của các chiến sĩ Biệt Cách 81. Nhất là nhờ sự dũng cảm của anh em Đại đội 91 Dù cùng với loạt hơi cay mù mịt, khiến chúng dù có ngoan cố bám trụ (danh từ VC) tới đâu cũng giống như chuột trốn kín trong hang, cũng đành phải chịu chui ra khỏi ổ. Trận nầy tuy toàn thắng, nhưng địch không theo lời kêu gọi đầu hàng. Họ đã nghe đồn tin vịt là lính Nhảy Dù dữ tợn, nếu đầu hàng sẽ bị móc mắt cắt lỗ tai, nhờ vậy TQLC hưởng trọn chiến quả, vì địch đã đầu thú toàn bộ với họ.
Sau khi dẹp yên chợ Cây Quéo, thay vì được về hậu cứ nghỉ dưỡng quân, nhưng BTL Sư đoàn lại điều động Tiểu đoàn 9 ND ra thẳng vùng Ven Đô. Chúng tôi bố trí quân gần Ấp Đồn, thuộc quận Hốc Môn. Tại đây, Chiến Đoàn II ND do Trung tá Hùng chỉ huy. Họ đã giáp trận với đối phương nhiều lần, ở phía Tây Bắc hãng bột ngọt Vị Hương Tố. Địch quân đang dấu mình trong các vườn trầu thuộc xã Tân Thới Hiệp, cách phi trường Tân Sơn Nhứt khoảng 5 cây số.
Một sáng chủ nhật nọ, Đại đội 91 được lệnh đi tuần tiểu lục soát khu vực phía Nam Ấp Đồn. Khi toán khinh binh vừa băng qua đường đất đỏ, nối giữa Nhị Bình và Ấp Đồn, thì bị một tràng AK-47 từ trong rừng rậm phía trước bắn ra. Chuẩn uý Trọng, trung đội trưởng, vội dàn quân hàng ngang, vừa bắn vừa hô “Xung phong”, đuổi địch tới tận bờ sông (nhánh sông Sàigòn).
Tại đây, chúng tôi phát hiện ra rất nhiều thùng đạn còn mới tinh (có lẽ địch chuyên chở tới bằng ghe thuyền, hoặc buộc vào những khúc gỗ, thả trôi theo dòng nước từ vùng thượng lưu). Tôi cho lệnh lục soát và bố trí xung quanh “Kho đạn nổi” khổng lồ nầy! Với hàng trăm thùng đạn có thể chở bằng nhiều xe GMC. Đặc biệt nhất là Hỏa tiễn 122 ly, 175 ly, ngoài ra còn rất nhiều đạn B-40, AK-47,… Khoảng một giờ sau, phi cơ trực thăng chở các vị tướng Westmoreland, Cao Văn Viên, Dư Quốc Đống cùng nhiều Sĩ quan Tham mưu cao cấp. Tháp tùng trực thăng còn có Phóng viên, Ký giả của các Nhật Báo lớn ở Thủ Đô. Họ tới nhanh và đông đủ như vậy, vì đây là lần đầu tiên trong cuộc chiến, quân ta đã tịch thu được nhiều hỏa tiễn 122 ly, ở một nơi rất gần phi trường Tân Sơn Nhứt, bộ Tổng Chỉ Huy Quân Lực Hoa Kỳ, Bộ TTM, và Thủ Đô Sàigòn.
Với số hỏa tiễn nầy mà bắn vào thành phố, thì không thể nào tưởng tượng nổi sự thiệt hại về nhân mạng, nhà cửa. Nhất là vấn đề tâm lý, sẽ ảnh hưởng rất lớn lao đến tình hình chính trị lúc bấy giờ. Các báo chí đều có đăng trang đầu, hình tôi đứng cạnh hỏa tiễn 122 ly cao quá tầm đầu. Sáng hôm sau, anh Bảo gọi tôi lên xem công điện của Tướng Mỹ, trong đó có lời khen thưởng toàn thể quân nhân các cấp ĐĐ91ND.
Đúng một tuần lễ sau, cũng lại vào ngày chủ nhật (trên tờ huy chương Oak Leaf With “V” Device đính kèm ghi ngày 24/3/68), ngày mà ai nấy đều nghỉ học nghỉ việc để xả hơi. Lúc đó tôi định lên tiểu đoàn, nói với anh Bảo để xin về Phú Lâm, dự đám cưới của cô bạn gái, là em họ của Kiệt, một bạn thân cùng khóa. Nhưng anh Bảo nói, tiểu đoàn vừa mới nhận được lệnh khẩn là cho các đại đội tung ra tuần tiểu, vì có tin địch đang tăng cường xâm nhập để chuẩn bị cuộc Tổng Công Kích đợt II. Đại Đội 91 được chỉ định đi lục soát vườn cau, phía bên kia bờ rạch. Tôi cho các trung đội đi theo đội hình quả trám: Trung đội 3 của Chuẩn uý Trứ đi đầu, tiếp theo là Ban Chỉ Huy đại đội. Bên sườn phải có Thiếu úy Phấn, cánh trái có Thiếu úy Hoè (Khóa 22 ĐL), bọc hậu có Chuẩn úy Trọng. Mặc dù gọi là đi tuần tiểu lục soát, nhưng các khinh binh lúc nào cũng giữ đúng đội hình. Nhờ vậy khi khinh binh Học vừa qua tới giữa cầu khỉ thì bỗng nghe tiếng súng AK bắn từ bờ bên kia, nhờ phản xạ tự nhiên, Học nhảy đại xuống con rạch cạn, Trung đội cánh phải vội dàn ngang bờ rạch bắn yểm trợ cho Trung sĩ Lương dẫn tiểu đội đi đầu chiếm bờ bên kia để làm đầu cầu.
Vừa qua khỏi cầu khỉ, tôi thấy thấp thoáng tổ báo động của địch đang chạy dọc theo bờ rạch (thẳng góc với con rạch chúng tôi vừa băng qua). Chuẩn úy Trứ cho khinh binh vừa bắn vừa rượt theo tới vườn cau, khi cách chòm nhà có vườn cau bỏ hoang chừng 100 thước, thì bị địch từ trong bắn ra nhiều loạt đạn. Trứ cho toàn thể trung đội dàn trận tựa vào bờ ruộng bắn xối xả vào. Tiểu đội 1 bắn yểm trợ cho 3 khinh binh Võ, Học, và Đông dùng đội hình chân vẹt tiến chiếm bờ làng làm đầu cầu. Nhưng Học mới lên vài bước thì bị bắn trúng bụng, Trứ điều động Tiểu Đội 2 lên tiếp ứng, mặc dù đạn bắn như mưa, nhưng Võ và Đông cùng vài chiến sĩ cũng can đảm liều mạng nhào lên kéo Học ra phía sau để kịp di tản vì máu ra rất nhiều. Do quyết tâm cứu đồng bạn, 2 binh sĩ khác bị hy sinh ngay tại chỗ! Tôi gọi về Tiểu đoàn xin Nguyễn Tống Hiến (bạn cùng khóa) bắn súng cối 81 ly yểm trợ sơ khởi, đồng thời xin một đại đội yểm trợ sườn phải. Vì bên đó có nhiều địch, chúng đang núp trong bờ rạch bắn vào chúng tôi.
Trung úy Fix, cố vấn đại đội, lập tức xin phi cơ lên yểm trợ. Không đầy 1 giờ sau, Thiếu tá Bảo đã tới ngay bên cạnh tôi. Ban Chỉ Huy ở phía sau lưng Trứ, nơi có bờ ruộng và chòm cây che phủ, đối diện với vườn cau. Tôi điều chỉnh phi cơ, pháo binh, và súng cối luân phiên dập vào vị trí địch, để họ không thể ngửng đầu dậy bắn vào binh sĩ của Trung đội 3.
Lúc ấy Trứ và anh em binh sĩ đều đang kẹt ngoài đồng trống, họ chỉ tựa vào những bờ đê nên thật là nguy hiểm. Trứ báo cáo có một số binh sĩ đang bị kẹt ngay trong vườn cau! Khoảng 2 giờ sau thì Đại đội 94 của Tâm mới tới, nhìn thấy anh đang đứng hỏi chỉ thị của anh Bảo để bố trí quân, tôi vội la lên bảo ngồi thấp xuống. Anh vừa nhích người thì đã bị một viên đạn bắn trúng ngay cánh tay, máu phun ra từ vết thương như vòi nước (Có lẽ đạn đã xuyên qua động mạch), nếu anh trể chừng 1 giây, viên đạn có thể trúng ngực. Anh phải mang ơn cứu mạng của tôi, nghe anh Tâm!.
Nơi chỗ tôi ngồi có nhiều cần “Ăng ten” máy truyền tin, địch thường dùng súng trường CKC nhắm bắn vào. Suốt cả ngày, tôi chỉ có thể điều chỉnh pháo binh, phi cơ, mà không thể điều động đơn vị vượt lên chiếm vườn cau được; vì địch có lợi thế núp trong hầm hố kiên cố và chống trả mãnh liệt.
Khoảng 6 giờ chiều, trời bắt đầu chợp tối; Thiếu tá Bảo cho lệnh rút ra bên nầy bờ suối, để tái võ trang và kiếm chút gì ăn lót bụng (trong những lần chạm địch, nhiều khi cả ngày không ăn gì mà chẳng cảm thấy đói). Khi tôi gặp Tiểu đoàn trưởng, thấy mặt ông buồn vì đại đội đã bị kẹt lại 4 người không thể lấy xác được. Trung tá Nhã, mặt nghiêm nghị hỏi:
__ Mầy còn dám vô trở lại nữa, hay để cho thằng Thành?
Đang bực vì chưa lần nào bị thảm thiết như lần nầy! nên tôi trả lời:
__ Để tôi tiếp tục!
Rồi tôi đưa đại đội trở qua bên kia cầu, đóng quân xung quanh bờ ao làm tiền đồn. Binh sĩ không còn sức để đào hầm hố, nơi đây cách chỗ địch khoảng 800 thước. Chúng tôi cả ngày giáp trận, giày không kịp cởi, cơm chẳng muốn ăn, không tắm rửa, không nghỉ ngơi; nhưng không ai chợp ngủ được vì sợ địch phản công bất ngờ. Thấy Fix nằm ngó trời trăng, mặt mày tư lự nhưng có vẻ bình tỉnh, không sợ chết như một số người khác. Tôi vỗ vai anh như an ủi, Fix nhìn tôi mỉm cười khuyến khích, khiến lòng tôi nguôi bớt cơn phiền muộn! Nghĩ đến trách nhiệm của người chỉ huy, nhớ đến xác các chiến hữu còn kẹt lại ở trận địa, và nhất là nhớ đến gương mặt nghiêm nghị của vị Tiểu đoàn trưởng, lòng tôi thấy bùi ngùi như bị kim châm!
Sáng sớm hôm sau, tiểu đoàn cho Đại đội 93 của Trung úy Phước đến yểm trợ cánh phải. Chúng tôi thận trọng tiến về vườn cau, bây giờ thì phía bên Phước đang chạm địch, còn Đại đội tôi sau khi thụt đại bác 75 ly, quạt đại liên tới tấp vào mục tiêu, các khinh binh đi đầu thận trọng chạy theo kiểu chân vạc. Lúc họ chiếm được bờ vườn cau làm đầu cầu, thì 2 trung đội dàn ngang tiến lên. Sau khi chiếm được mục tiêu, tôi cho binh sĩ thu dọn xác anh em và chia nhau lục soát toàn bộ vườn cau.
Bỗng tin mừng đưa đến tới tấp, Chuẩn úy Trứ báo:
__ Trình đích thân, Duy Tân 3 thu được 1 súng cối, 1 thượng liên, 2 B-40, 3 CKC, và 12 Ak-47.
Chuẩn úy Trọng nói trong máy:
__ Duy Tân, đây Duy Tân 1, chúng tôi thu được 1 súng cối 61 ly, 2 Thượng liên, 3 B-40, 2 CKC, và 8 Ak-47 .
__ Duy Tân (biệt hiệu truyền tin của tôi) nghe rõ, khá lắm!
Bên Thiếu úy Phấn và Thiếu úy Hoè cũng báo về tới tấp. Nhìn thấy hầm hố có nắp kiên cố xung quanh vườn cau, căn cứ vào 2 súng cối và hố chiến đấu thì quân số địch ước lượng cấp tiểu đoàn. Nghe tin, Trung tá Nhã lập tức băng ruộng tới nơi, mặt ông hớn hở, vội báo cáo chiến lợi phẩm về Chiến đoàn. Ông vừa cười vừa bắt tay tôi :
__ Thành thật chia buồn và chúc mừng mày, Dưỡng !
(Chia buồn vì một số binh sĩ đã hy sinh, còn chúc mừng vì dựa vào vị trí kiên cố của địch mà Đại đội 91 lại có thể đánh bật họ ra và thu lượm được quá nhiều chiến lợi phẩm).
Thông thường thì lực lượng tấn công phải cần gấp ba lần lực lượng phòng thủ, nhưng các đơn vị Dù có thể dùng quân số ít hơn và hỏa lực yểm trợ hùng hậu, cũng có thể thành công và thu lượm nhiều chiến quả, đem lại vinh dự cho màu cờ binh chủng. Nhờ có 3 phi tuần khu trục và 3 phi tuần Gunship, cùng pháo binh và súng cối của Hiến yểm trợ liên tục. Số hỏa tập đều rất gần chúng tôi, đôi khi còn nằm trong tầm sát hại; nhất là của khu trục phản lực. Tôi phải điều chỉnh hướng thả của phi cơ bằng đường ngang hông, nếu thả hướng dọc sẽ rất nguy hiểm, vì đà của các mảnh bom có thể tạt trúng đơn vị bạn. Tầm văng xa của mảnh bom tới 500 thước mà Ban Chỉ huy Đại đội ở cách địch khoảng 200 thước, Trung đội của Trứ thì còn gần hơn nữa (Đây một phần cũng nhờ học khóa Điều Không Tiền Tuyến ở Trường Pháo Binh, cùng học lý thuyết ở VB Đà Lạt).
Trận nầy có thể nói là do ở sự dũng cảm của anh em Đại đội 91 Nhảy Dù và sự yểm trợ hữu hiệu của phi pháo mà chúng tôi đã chuyển bại thành thắng. Đơn vị Nhảy Dù thường chạm trán với lực lượng chính qui địch, ngoại trừ trận Tết Mậu Thân đợt I, lúc nào chúng tôi cũng có hỏa lực yểm trợ hùng hậu. Vì thế trận địa có khó khăn, hung hiểm cách nào, chiến sĩ Dù vẫn có thể hoàn thành nhiệm vụ cấp trên giao phó.
Trung tá Nhã (sau nầy tử trận ở Vùng I) là vị sĩ quan gương mẫu, mặt lúc nào cũng nghiêm nghị, nhưng ông thưởng phạt rất công minh. Chẳng hạn như trận nầy, căn cứ vào số chiến lợi phẩm thu được, chiến đoàn phân phối cho Tiểu đoàn 9 Dù:
. 2 Anh dũng Bội tinh với nhành Dương liễu.
. 10 ngôi Sao vàng.
. 20 ngôi Sao bạc.
. 50 ngôi Sao đồng.
. và nhiều Cấp bậc được đề nghị tân thăng.
Trung tá Nhã đã dồn hết cho Đại đội 91 Dù và để tôi toàn quyền phân phối định đoạt. Chính đích thân Đại tá Nguyễn Khoa Nam, Lữ Đoàn Trưởng LĐ III ND, đã đến hậu cứ để trao gắn huy chương và các cấp bậc tân thăng. (Tôi và anh Tâm được nhành dương liễu, anh Bảo và các Trung đội trưởng của tôi cùng khinh binh được ngôi sao vàng,..). Một tháng sau, Đại tá Nam lại đích thân đến Ấp Đồn, chứng kiến viên Cố Vấn gắn riêng cho tôi một huy chương US với “V” Device kèm Nhành Dương Liễu của quân lực Mỹ. Trong buổi tiệc tiếp tân dã chiến đãi ở dịp gắn huy chương nầy, Trung tá Nhã đã nói đùa chọc Đại tá Nam :
__ Dưỡng, mầy nói Đại tá cho 50 ngàn tiền thưởng đi, lúc trước Đại tá có nói, hễ ai bắt được cán bộ nằm vùng của VC thì Quận trưởng Hốc Môn sẽ thưởng tiền.
Tôi thấy Đại tá Nam đỏ mặt, vì ông nổi tiếng liêm khiết làm gì có tiền mà thưởng cho tôi! Mặc dù Đại đội 91 vừa bắt được một cán bộ địch, với súng K-54 tại bờ rạch, trong khu 18 Thôn Vườn Trầu. Đại tá Nguyễn Khoa Nam sau làm Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn IV ở Cần Thơ, ông đã anh dũng tuẫn tiết khi Miền Nam bị rơi vào tay Cộng Sản ngày 30/4/1975!
Ông là một sĩ quan rất thanh liêm, tận tụy, và luôn luôn thương yêu chăm sóc cho từng binh sĩ trực thuộc. Tuy tuổi đã quá tứ tuần mà vẫn còn độc thân. Năm 1970, sau khi bị thương nhiều lần, tôi được thuyên chuyển về làm việc tham mưu dưới quyền của ông, lúc đó BCH LĐIIIND đang đóng ở hãng Khải Vinh, Phú Lâm. Dịp nầy tôi được gần gũi ông nhiều nhất; bản tánh rất sợ đàn bà, như trường hợp Dược sĩ L. rất mến ông, bà thường vận động giúp đỡ bệnh viện Đỗ Vinh (Bệnh Viện của Sư Đoàn Dù) đến bạc triệu. Vậy mà khi bà tới hãng Khải Vinh thăm, ông không ra tiếp và bảo là đã đi vắng.
Tôi thường theo ông bay trực thăng vòng vòng khắp vùng hành quân, nhiều khi máy bay hết xăng, về đổ tiếp rồi bay nữa, khiến bao tử tôi bị nhồi quá nên khó chịu hết sức! (có lẽ ảnh hưởng của mười mấy mảnh đạn còn ghim sâu trong mình). Một hôm tôi theo ông tới thăm Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù, lúc đó Tiểu đoàn Trưởng về thăm vợ sanh, nên chỉ có Thiếu tá Nguyễn Chí Hiếu, Tiểu đoàn phó, đón tiếp.
Thấy Trung tá Vỹ, TĐT/TĐ5ND, đi vắng, Đại tá Nam nói :
__Vợ sanh mà cần gì phải về thăm, có bà mụ lo được mà.
Thiếu tá Hiếu cười cười :
__ Đại tá chưa có vợ nên không biết, thật ra sự hiện diện của người chồng rất an ủi khích lệ cho người vợ lúc lâm bồn!
Đại tá Nam nghe nói xong, hai lỗ tai đỏ ửng hình như nghe đến chuyện vợ con thì mắc cỡ vậy. Bởi còn độc thân, nên ông cứ xung phong đi hành quân hoài, do đó các sĩ quan Tham mưu Lữ Đoàn cũng mệt theo !
Đổi về làm công tác tham mưu nhưng tôi vẫn nhớ đến những ngày còn ở đơn vị Tác chiến, nhớ đến các chiến sĩ Đại đội 91 Nhảy Dù, nhất là những lần đơn vị được điều động đến tiếp viện và giải vây các trại LLĐB ở vùng biên phòng như trại Bến Sỏi, Phước Tân, Thiện Ngôn, Kà Tum,………….ở vùng mật khu Dương Minh Châu, Bời Lời, đồn điền Vên Vên, bến Gò Nổi, Rừng Long Giang, Lò Gò, Xóm Giữa,… thuộc mặt trận Tây Ninh, mà tôi sắp kể tiếp theo đây:
Trương Dưỡng
Post by Sơn râu 22 Apr 2024

7. Trở Lại Vùng Phi Quân Sự (1967)
Khi về Sài gòn thì Tiểu đoàn xả trại 1 tuần lễ, riêng các sĩ quan trong đó có Thiếu tá Nguyễn Đình Bảo, Đại úy Mễ,…(vừa được thăng cấp đặc cách mặt trận trong cuộc hành quân Lam Sơn 60 vừa rồi) được Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng mời đi ăn tiệc ở nhà hàng Bồng Lai nằm trên đường Lê Lợi, gần chợ Bến Thành. Tại đây có ban tam ca Sao Băng, và ai nấy đều thích thú khi nghe giọng trầm ấm trong các bài hát về lính của ca sĩ Thanh Phong .
Sau khi hết phép, các đại đội lo báo cáo phúc trình tổn thất và được bổ sung kịp thời, để chuẩn bị cho cuộc hành quân tới. Lúc nầy tôi được chuyển qua làm trung đội trưởng ở Đại đội 92, dưới quyền của Trung uý Nguyễn Văn Thành.
Lợi dụng mấy ngày rảnh rỗi, tôi tập họp binh sĩ để huấn luyện bổ túc về cá nhân chiến đấu, và phản ứng cấp thời khi bị địch tấn công hay phục kích bất ngờ. Tôi cũng đem những lý thuyết học tại quân trường và kinh nghiệm đã học hỏi hơn một năm rưởi ở tiểu đoàn, chỉ cho các hạ sĩ quan và khinh binh thêm về bản đồ, kỷ thuật hành quân cấp tiểu đội, trung đội. Một tháng trôi qua thật nhanh, chúng tôi lại được bốc ra Huế và đóng quân tạm tại làng An Hoà để chờ nhận tiếp tế lương thực. Sau đó tiểu đoàn được đưa vào khu vực hành quân tại quận Quảng Điền, còn được gọi là Sịa (nhứt Huế nhì Sịa). Quận nầy ở gần biển và rất trù phú, nhưng du kích địa phương ưa gài mìn ở dưới ruộng nước, nếu không may đạp nhầm thì nhẹ nhất cũng bị cưa chân.
Mục đích của cuộc hành quân là làm chỗ an toàn cho bãi nhảy dù dã chiến. Vì mỗi năm ai cũng phải nhảy dù bồi dưỡng đủ 4 “Sô” mới được tiếp tục ăn lương không vụ (tương đương tiền bay của phi công bên không quân). Vì đa số ai cũng bận đi hành quân triền miên, nên sư đoàn chở dù ra để giúp cho những người còn thiếu Saut được nhảy dù bổ túc từ trên phi cơ trực thăng, vì bãi nhảy hơi chật hẹp.
Khoảng hai tuần sau, xe GMC chở tiểu đoàn đến Đông Hà, một quận nằm phía Nam Gio Linh, ở gần cực Bắc tỉnh Quảng Trị, để chuẩn bị cho cuộc hành quân lớn cấp chiến đoàn, vào vùng Phi Quân Sự một lần nữa!
Chúng tôi vừa tới chỗ đóng quân vào lúc trời mờ tối, thì được địch pháo hỏa tiễn 122 ly chào đón. Có lẽ bọn nằm vùng thấy chuyển quân rầm rộ quá, nên gọi pháo kích cảnh cáo. Vì ở đây cũng gần sông Bến Hải, có thể trong tầm của loại pháo binh nòng dài. Mặc dù trời đã tối, chưa kịp tắm rửa, nấu nướng, ai cũng lo ưu tiên đào hố chiến đấu, để có nơi trú ẩn vì địch thường pháo khuấy rối để mọi người bị mất ngủ.
Cuộc hành quân kỳ nầy cũng nhằm yểm trợ cho việc thiết lập hàng rào Mac Namara về phía Đông của Quốc Lộ 1. Đây là vùng trống trải, toàn động cát và đám rừng thông già trồng dọc theo bờ biển, do đó địch ở bên kia bờ sông Bến Hải, có thể nhìn thấy cuộc tiến quân một cách dễ dàng.
Tiểu đoàn định lừa địch, bằng cách chọn điểm xuất phát từ chợ Đông Hà, thay vì đi bờ Bắc, chúng tôi đi dọc theo bờ Nam của sông Đông Hà, để vào căn cứ hải quân ở Cửa Việt.
Đúng 1 giờ khuya (phải đi trong bóng đêm để tránh đài quan sát và pháo binh địch), chúng tôi được tàu lội nước của hải quân Mỹ (gọi là M. Track) đưa qua bờ Bắc của Cửa Việt.
Vậy mà cũng không dấu được hành tung, địch vẫn rải pháo đều đều, làm cuộc tiến quân thỉnh thoảng phải dừng lại, mỗi khi nghe tiếng pháo đề ba (départ) từ bên kia bờ Bắc.
Dù bị pháo liên tục vào đội hình, nhưng đơn vị vẫn cố gắng tiếp tục tiến tới bờ sông Bến Hải để yểm trợ cho nhân viên gài các dụng cụ khám phá địch bằng các cơ phận điện tử.
Tôi thấy các anh Phan Nhật Nam, Lê Văn Mễ, và đa số anh em binh sĩ, mỗi khi dừng quân 5, 10 phút là vội lấy nón sắt ra đào cát lên để ngồi trốn đạn pháo. Còn tôi thì nhờ đi theo hàng cây thông, nên khi nào nghe pháo thì nhảy vô gốc cây núp, nếu đạn pháo trúng ngọn cây sẽ nổ tung ra nhiều mảnh, tôi có nón sắt và áo giáp hy vọng sẽ bớt phần nào nguy hiểm! Thà đánh bằng đạn thẳng ít sợ hơn, chứ pháo rải rác kiểu nầy hoài thì khó mà tránh, đúng là trời bảo ai nấy dạ!
Khoảng 7 giờ sáng thì chúng tôi đã thấy bờ sông Bến Hải, nhìn về hướng Mục tiêu 4, là cái đồi cát cao nhất trong vùng (Căn cứ A1 sau nầy và còn có tên là Ocean view), tôi thấy các bóng đen của binh sĩ Tiểu Đoàn 6 Dù, mỗi lần bị pháo kích là họ vội nằm xuống; Rồi lo đào vội hố cá nhân. Cử động của họ hấp tấp vội vàng dưới làng mưa pháo của địch quân, họ lúc ấy thật tội nghiệp, như những con thú bị săn đuổi!
Sau khi dứt tiếng pháo họ lại đứng lên và tiếp tục tiến về hướng sông Bến Hải. Hình bóng họ hiện rõ trên đồi cát, di động giống như xem cinéma sống thực vậy!
Nghe giọng nói của Trung úy Tèo trong máy:
__ Bây giờ nó đã vượt lằn ranh khu phi quân sự, trình Sơn Thủy tôi bị …(Xếp bấm chặt combiné im lặng)..Tèo hiểu ý nói tiếp :
__ Trình đích thân, nó ném đá trước mặt tôi 3 thước .
Có lẽ Việt Cộng đang theo dõi máy nên tưởng là trúng đích; và từ đó trở đi đạn đại bác từ bờ Bắc cứ nả đều trước mặt đoàn quân khoảng 3 cây số (mà Tèo đã ngụy tạo là 3 thước).
Vì tiểu đoàn đi sát bờ biển, nên tôi thấy có một chiếc phản lực quây lảo đảo như bị trúng đạn phòng không, nó từ miền Bắc bay trở về và rớt đâm đầu xuống biển. Cuộc hành quân nầy nhờ hải pháo từ các tuần dương hạm yểm trợ mạnh mẽ vào các ổ pháo địch; nếu không, có thể chúng tôi phải bị tổn thất rất nhiều. Sau khi xong nhiệm vụ, mọi đơn vị vội vã rút nhanh về hướng Nam, càng xa càng đỡ thiệt hại!
Khi về tới Đông Hà, tiểu đoàn được xe chở tới đóng quân tại bờ sông Thạch Hản, gần thị xã Quảng Trị. Trong mấy ngày nghỉ quân chờ bổ sung và tiếp tế lương thực, tôi đi thăm phố và cổ thành Đinh Công Tráng, ở ngay cạnh chợ. Cổ thành nầy rất kiên cố, xung quanh có hào sâu bao bọc, các bờ thành cao chừng 5 thước, dầy 5 thước, được xây bằng gạch rất kiên cố. Diện tích của thành nầy thì nhỏ bằng Hoàng cung Đại Nội ở Huế (hình vuông mỗi cạnh khoảng 500 thước).
Mấy ngày sau, tiểu đoàn được lệnh đi lục soát tìm và tiêu diệt địch (nếu có), ở dọc theo bờ biển phía Đông của thành phố. Sau 4 ngày lại được nghỉ quân 3 hôm, rồi tiếp tục cuộc hành quân kế tiếp, vào khu rừng núi, nằm phía Tây của thị trấn Quảng Trị. Khi đã càn quét xong 4 hướng trong đó có các quận Triều Phong, Hải Lăng của tỉnh lỵ Quảng Trị, đơn vị lại được điều động đi xuống phía Nam, ranh giới giữa 2 thành phố Huế và Quảng Trị.
Chúng tôi cứ đi dọc theo sông Mỹ Chánh về hướng Tây, vào sâu trong dãy Trường sơn, trèo đèo vượt suối, đủ 4 ngày ra lãnh lương thực, rồi trực thăng vận trở vô và tiếp tục leo những ngọn núi khác để tìm và diệt địch.
Sau đó tiểu đoàn trở về An Lỗ chờ tiếp tế và coi như được nghỉ dưỡng quân 4 ngày. Tại đây đại uý Mễ đã gọi các sĩ quan cấp đại đội trưởng và trung đội trưởng tới nhậu lai rai, rồi nghe anh ngâm bài thơ ruột tựa đề là Mòn Mỏi, như tôi đã kể ở phần trước.
Hôm sau trung đội tôi được chỉ định mở cuộc đột kích đêm, tại một làng xôi đậu, nằm trong khu vực xa xôi, ngoài tầm kiểm soát của địa phương quân. Ngôi làng ở về hướng Đông Bắc, cách chỗ tiểu đoàn đóng quân khoảng 5 cây số.
Chiều hôm đó tôi chỉ rõ cho binh sỉ trung đội về các chi tiết của cuộc hành quân đột kích đêm, và phân phối nhiệm vụ cho từng tổ một. Đúng 4 giờ khuya, trung đội bắt đầu xuất phát. Chúng tôi lặng lẽ và thận trọng đi xuyên qua đồng ruộng trống trải, dưới ánh trăng mờ ảo. Dạ hành mãi tới gần 5 giờ mới thấy ngôi làng hiện ra phía trước (tôi chọn giờ nầy vì đó là lúc gần hết phiên gác của địch, nếu có, và lúc ai cũng đang say sưa chập chờn trong giấc ngủ).
Đến cách bờ làng chừng 100 thước, trung đội dàn ngang theo bờ ruộng để yểm trợ cho 3 khinh binh, chạy zít zắt theo đội hình chân vạc, tiến vào bờ làng làm đầu cầu. Khi thấy các khinh binh vô được bờ làng, cả trung đội cùng tiến vào một cách lặng lẽ. Mọi người nhẹ nhàng đi qua từng căn nhà, xem có động tịnh gì không? Rồi trung đội tiếp tục lần lượt lục soát hết ngôi làng. Nhưng chúng tôi không thấy dấu vết gì về địch, nên lặng lẽ rút lui, trả lại sự yên tỉnh cho thôn xóm. Họ vẫn tiếp tục say sưa trong giấc điệp, để rồi sáng ra, không ngờ trong đêm có một đoàn quân Dù đã từng rình mò từng căn nhà của họ. Sau vụ đột kích đêm, Tiểu đoàn trưởng thưởng cho chai rượu Black & White, tôi tập họp trung đội và chia cho mỗi người uống một nắp, để thưởng công vất vả, và để họ được nếm mùi rượu ngoại quốc tuy thơm ngon, nhưng không đậm đà bằng rượu đế mà họ quen dùng. Riêng các khinh binh thì được uống gấp đôi, vì họ vừa cực khổ vừa lãnh phần nguy hiểm hơn đồng đội.
Có lần trung đội được lệnh đi đầu mở đường cho đoàn quân hơn 500 người, trong dãy Trường sơn, đầy những cây rừng rậm rạp cản đường tiến quân. Lúc đó tôi phải đích thân lên đi đầu để vừa đôn đốc các khinh binh Quảng, Cứ,.. phá đường vượt rừng băng suối, vừa để định đúng hướng mục tiêu bằng bản đồ và địa bàn. Đây là một trách nhiệm nặng nề, vì nếu tính sai tọa độ, pháo binh có thể bắn lầm lên đầu quân bạn. Tôi thấy các khinh binh người nào cũng mồ hôi chảy ướt đẫm cả áo, tay chân và cổ họ bị những gai và lá sậy sắc bén khứa đứt nhiều lằng rướm máu, nhìn họ mà tôi ứa nước mắt.
Khinh binh Cứ ngồi bẹp xuống và nói:
– Mệt quá Thiếu uý ơi, cho em nghỉ một chút đi!
Tôi quay ra sau quẹt vội nước mắt, sợ họ thấy rồi làm nư, sẽ làm chậm bước tiến của đoàn quân:
– Ráng chút nữa đi, tiểu đoàn đang trông cậy vào chúng ta đó.
Cứ và các khinh binh cũng ý thức trách nhiệm nặng nề, nên đứng lên tiếp tục dùng dao đi rừng dẹp các chướng ngại vật. Tôi rất thương mến họ, nên thường dành mọi ưu tiên về thăng cấp, huy chương, và đi phép thăm nhà cho họ (các khinh binh: Cứ, Quảng, Võ, Học,… quí mến của tôi)
Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh (các Tiểu đoàn Dù khi tăng phái thường được đặt dưới quyền điều động của vị Tư lênh Sư đoàn địa phương) thấy chúng tôi leo núi đã chán, lại điều động tiểu đoàn xuống hành quân tìm địch trong vùng bờ biển nổi tiếng nhiều du kích, thuộc huyện Phú Thứ, nằm ở phía Nam thành phố Huế. Tại đây tiểu đoàn chạm địch nhiều phen và bắt được một số du kích.
Xong miệt đồng bằng lại đổi qua vùng đồi hoa sim Nam Hoà, nơi đây tiểu đoàn lần đầu tiên tổ chức hành quân đột kích đêm với sự tham chiến của toàn đơn vị. Lúc ấy là đêm trăng rằm, toàn bộ tiểu đoàn chia quân làm hai cánh. Thiếu tá Bảo chỉ huy 2 đại đội đi theo đường đất đỏ tiến sâu vào hướng Tây chừng 3 cây số, rồi rải hàng ngang, bọc về hướng Nam chừng 1 cây số, làm tuyến án ngữ trong một làng thuộc quận Nam Hoà.
Tiểu đoàn trừ do Thiếu tá Nhã chỉ huy, cho hai đại đội dàn quân xuất phát từ chân núi Ngự Bình, tiến dọc về hướng Tây, thẳng vào các ngọn đồi trọc, nơi có tin tức tình báo là địch sẽ về đây tiếp thu lúa ruộng do các du kích địa phương từ các thôn xóm đưa ra. Khoảng một giờ khuya, các du kích địch như những con chuột, bắt đầu ló mặt ra, chúng không ngờ, toán quân Dù đã phục sẵn, cứ nghênh ngang đi giữa đường nên bị bắt gọn. Một số chạy ra hướng khu đồi trọc, định báo động cho toán bên ngoài. Nhưng ở đây chúng bị cùng chung số phận, vì đại đội của trung uý Tèo đã tóm sạch hết. Giữa đêm khuya tiếng nói của Tèo vang rền trong quảng không vô tận:
– Trình Sơn Thủy (mật hiệu truyền tin của tiểu đoàn trưởng), tôi tóm được khá nhiều chuột.
Thiếu tá Nhã nói giọng hớn hỡ:
– Anh giỏi lắm, bên Bắc Bình (Thiếu tá Bảo) cũng thu hoạch khá lắm.
– Tư Tưởng đây Thành Thái(Thành, Đại đội trưởng ĐĐ92).
– Tư Tưởng (Tèo, đại đội trưởng Đại Đội 93) tôi nghe!
– Có vài con chạy về hướng của bạn đó, trả lời.
– Tôi sẽ ân cần tiếp đón chúng nó, trả lời.
(ước hiệu truyền tin của Tướng Đống là Bạch Long, Trưởng Phòng Ba là Hắc Long, Đại tá Nguyễn Khoa Nam là 601,…)
Sáng hôm sau, chúng tôi vào nghỉ quân tại các xóm gần dốc Nam Giao, cạnh chùa Từ Đàm, để chuẩn bị đợi máy bay đưa về Sàigòn. Chuyến ra Vùng I kỳ nầy thiệt là vô cùng cực khổ! Vì mọi người đã đi gần hết các nơi rừng núi đồng lầy: từ miền giới tuyến ở khu Phi Quân Sự, tới các khu vực xung quanh hai thị xã Quảng Trị và Huế.
Thấm thoát đã hơn 3 tháng rồi, mà vẫn chưa được gặp mặt vợ con. Do đó ai cũng mong ngày về Sàigòn, mọi người đều chuẩn bị mua sắm quà xứ Huế cho thân nhân. Tôi có mua mấy nón lá bài thơ, mè xửng, và kẹo gương để đem về Vĩnh Bình cho Nhi và bà con hai họ. Khi ra phi trường Phú Bài, có binh sĩ vì mua quà nhiều quá, nên đập bỏ hết các nồi niêu, son chảo để có chỗ chứa trong ba lô. Họ mừng quá vì sắp gặp được thân nhân, cần phải đem quà về thật nhiều cho vợ con, để bù đắp lại chuyến hành quân kỳ nầy quá lâu.
Mỗi lần đi xa về, tôi thường hát khẻ bên tai cho Nhi nghe bài “Sau Ngày Hành Quân” như để vuốt ve an ủi và như để xin lỗi vì bắt nàng phải đợi chờ quá lâu:
* Sau ngày hành quân, anh về mang theo chiến thắng….
* Súng còn đeo vai, đã viết thư cho người yêu!
*… Hay thôi anh đền em,..đền em anh dũng bội tinh, hay
anh đền em, bằng chữ yêu……. Mình….
Chiếc C-130 (loại bán phản lực, chở trên 100 người) bay được gần nửa giờ, thì đáp xuống phi trường, đa số binh sĩ đều tưởng đã tới SàiGòn nên hớn hở chờ cửa hậu mở để nhanh chân đi ra, tôi đang thắc mắc tại sao kỳ nầy bay mau quá vậy?
Nhưng khi ra khỏi máy bay thì ai cũng bật ngửa! Vì đây không phải là Thủ đô yêu dấu, mà là phi trường Phượng Hoàng ở Tân Cảnh, thuộc quận Dakto, tỉnh Kontum. Nhìn xung quanh toàn núi cao bao bọc.
Thì ra Tổng Tham Mưu vừa nhận được công điện khẩn của Quân Khu II, báo cáo Sư đoàn Chính qui (Công trường 320 ?) địch vừa xuất hiện đêm qua trong vùng núi Ngọc Long (Ngok Wan hay đỉnh cao nhứt vùng 1416) và dự định tấn công vào Dakto, Tân Cảnh, và tỉnh lỵ Kontum. Trong khi chờ đợi các Tiểu đoàn Dù ra nghênh chiến, chúng tôi được lệnh đáp xuống đây để kịp thời ngăn chặn ý đồ xâm lược của địch.
Đêm đó cả tiểu đoàn tạm trú quân trên đồi cao trong phi trường Tân Cảnh. Thấy các quân nhân tức giận vì bị lừa dối, Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng bảo Đại uý Mễ tập hợp binh sĩ giải thích và nói rõ là chỉ hành quân 1 tuần rồi sẽ về Sàigòn.
Sáng hôm sau, tiểu đoàn xuất phát từ quận Dakto, chia quân làm hai cánh, tiến vào lục soát các đỉnh núi cao. Đây là khu rừng rậm, đầy muỗi và đỉa vắt cựa quậy giống như đỉa trâu, trông thật là kinh khiếp! Tôi vừa làm rớt địa bàn và lượm lên thì thấy mấy con vắt ngọ ngoậy đeo dính trên địa bàn, làm sợ hết hồn!
Tôi vội lấy lọ thuốc muỗi ra, thoa khắp tay chân và đầu cổ. Vì chỗ nào có da thịt, vắt sẽ bám vào để hút máu! Ở nơi rừng thiên nước độc nầy chẳng những có nhiều muỗi, vắt, mà còn lạnh kinh khủng, lạnh nhất là trên đỉnh núi Ngọc Long, cao 1416 thước. Đêm đó mọi người phải đốt lửa ở dưới hố cá nhân để sưởi, mà cũng không thể chợp mắt được, vì trên đỉnh cao thấu mây xanh nầy có nhiều sương mù lạnh lẽo bao phủ!
Chúng tôi đi vòng vòng tìm địch trong các khu rừng rậm, núi non trùng điệp được 1 tuần thì rút về Tân Cảnh, đợi sáng mai phi cơ đưa các tiểu đoàn khác ra thay thế.
Khoảng 6 giờ chiều hôm đó, anh Nhật, anh Phan Nhật Nam, Nguyễn Đức Tâm, Đỗ Ngọc Nuôi, Nguyễn Tống Hiến và tôi cùng rủ nhau đi xin tiền ông quận trưởng Dakto để mua rượu nhậu. Lúc đó tình hình tuy hơi căng thẳng, nhưng địch chắc chưa chuẩn bị đầy đủ, nên không động tĩnh gì.
Anh Tâm làm tài xế lái xe Jeep, các người còn lại thì súng AR-15 lên đạn cầm tay sẵn sàng tư thế chiến đấu. Tâm nhấn hết ga, khoảng 20 phút thì đến quận đường. Chúng tôi vào gặp vị Quận trưởng khoá đàn anh (khoá 10 ĐL), và ca bài “Con cá sống nhờ nước”. Anh Quận trưởng thấy mấy thằng đàn em nầy quá gan lỳ, dám xách xe chạy cà rỡn trên đoạn đường đầy nguy hiểm, chỉ vì ham vui. Anh vội móc túi đưa 10 ngàn và hối chúng tôi ra về sớm, kẻo trời tối, địch phát giác rồi phục binh chận đường, thì thập phần nguy hiểm.
Có tiền rồi, mọi người hớn hở chạy một mạch từ Dakto về tới Tân Cảnh, nhìn lại đồng hồ thì đã quá 7 giờ rưởi tối. Tất cả vội tìm một quán bar, rồi gọi rượu thịt ra nhậu tới hết tiền thì trời cũng đã khuya. Tôi và mọi người ra về, nhưng chỉ có Nhật vì đã nhậu quá say nên muốn ở lại lê la “Làm thơ con cóc”. Sáng hôm sau trong khi ai nấy đều chuẩn bị ra phi trường thì Nhật mới lót tót leo dốc về, thấy anh thở hổn hển, mặt mày xanh lét vì “Trèo đèo leo dốc”, Tâm và Mễ ôm bụng cười lăn lóc!
Trước khi lên phi cơ, Thiếu tá Nhã tổ chức lễ gắn cấp bậc Trung úy đặc cách cho Nuôi, Hiến, Miên,….và tôi ngay tại phi đạo. Chiếc C-130 chở tôi vừa cất cánh, thì địch bắt đầu khai chiến, chúng pháo kích bằng hỏa tiễn 122 ly (để chào mừng mấy Trung úy vừa tân thăng chăng?) vào phi trường, khiến một số binh sĩ, chưa lên kịp máy bay, bị trúng mảnh đạn rocket. Thiếu tá Nhã cũng bị một mảnh xuyên qua gan, phải giải phẫu cấp tốc mới bảo tồn được sinh mạng, lúc đó Thiếu tá Phạm Hy Mai về tạm thay thế. Mấy ngày sau cả chiến đoàn Dù đều đụng trận ác liệt tại đỉnh 1416 (có bài ca nói về trận nổi tiếng nầy), hai bên đều tổn thất rất nhiều!
Về tới Sàigòn, sau khi dự tiệc ở nhà hàng Bồng Lai xong, tôi vội cấp tốc ra bến xe đò Miền Tây, mua vé về Vĩnh Bình thăm vợ con, vì kỳ nầy đi quá lâu nên tôi sốt ruột, nóng lòng ước chi mình có cánh, để bay mau về gặp Nhi. Ở Vĩnh Bình 4 ngày, tôi đi thăm mấy thằng bạn học cũ. Chiến tổ chức tiệc mời tôi, Lộc, Chánh, và Hiền tới nhậu vui vẻ. Anh em lâu ngày gặp nhau nên uống thật nhiều vì “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu”, uống rượu với những thằng bạn tốt nầy thì:
Đồ ăn ngon
Người ngồi ăn ngon
Chỗ ngồi ăn ngon
…………………Ngon!
(Tản Đà)
Sau khi Tiểu đoàn nghỉ dưỡng quân 1 tháng, chúng tôi lại chuẩn bị khăn gói lên 5 chiếc C-130 ra Huế, để bảo vệ cho đồng bào ăn tết Mậu Thân. Lúc đó tôi được thăng cấp Trung uý đặc cách mặt trận, nhân dịp lễ Quốc Khánh 1 tháng 11 năm 1967. Và vẫn là Trung đội Trưởng Trung đội 1, Đại đội 92, của Trung uý Đại đội trưởng Nguyễn Văn Thành (Khoá19).
8. Trận Tết Mậu Thân Tại Vùng I Năm 1968
a). Mặt trận tại Quảng Trị .
Sau nhiều ngày Đơn vị hành quân tìm và tiêu diệt địch dọc theo dãy Trường Sơn, phía Bắc sông Thạch Hãn, từ Đông Hà đến Đèo Ba Dốc thuộc tỉnh Quảng Trị, rồi vào Huế ở Nam Hoà, Phú Thứ, La Vân, Đồng Xuyên Mỹ Xá.
Chiến Đoàn Nhảy Dù được ngừng hành quân nghỉ ngơi ăn Tết tại những điểm quan yếu trong các Thị trấn. Tiểu Đoàn 2 và TĐ7ND đóng ở An Lỗ và Quảng Điền; Tiểu Đoàn 5 ND được điều động về Đà Nẳng. Tiểu đoàn 9 chúng tôi bố trí quân chung quanh thị trấn bảo vệ thành phố Quảng Trị.
Đại đội 92 ở phía Đông Nam, Đại đội 94 bảo vệ làng Tri Bưu. Dọc bờ sông Thạch Hãn, phía Tây thành phố là Đại đội 93. Riêng Đại đội 91 của Đại uý Mễ, đóng chung với Đại đội Chỉ Huy Tiểu đoàn, làm thành phần trừ bị.
Ngay ngày 30 Tết, Tiểu đoàn được “Mật lệnh” của Chiến đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng, nghi ngờ rằng địch sẽ tấn công. Nên mặc dù hưu chiến, các đại đội cũng bung ra tuần tiểu, lục soát. Ban đêm lo đặt mìn định hướng Claymore, mìn chiếu sáng, và đào hầm hố chiến đấu phòng thủ cẩn thận. Trong khi Địa Phương quân, Nghĩa quân, Sư Đoàn 1 Bộ binh, hầu như xả trại (hoặc trốn trại) về nhà ăn Tết, chúng tôi được lệnh cấm trại chặc chẻ, đề phòng địch tấn công bất ngờ vào thị xã.
Mồng Một Tết, khoảng 3 giờ khuya, nhằm lúc mọi người đang ngon giấc vì mệt mỏi bởi đêm qua say sưa chè chén trong các buổi tiệc dã chiến, đón Giao Thừa truyền thống đầu năm. Bỗng nhiên mọi người đều tỉnh giấc, vì súng địch đồng loạt khai hỏa khắp mọi nơi.
Chúng tôi vội nhào ra hố chiến đấu và bắn trả mãnh liệt. Đại đội 92 phòng thủ dọc theo bờ làng, lúc đó sương mù dầy đặc, binh sĩ cứ bắn bừa ra ngoài đồng ruộng phía trước mặt.
Qua máy truyền tin, tôi vô cùng sững sờ xúc động: Đại đội 94 đang bị địch tràn ngập. Ban Chỉ Huy Đại đội, trong khuôn viên nhà thờ Tri Bưu, bị tấn chiếm. Đại uý Thừa, Đại đội trưởng, viên Cố vấn Mỹ, Trung uý Lê Phát Lộc, và Nguyễn Văn Hổ, bạn đồng khoá 20 ĐL của tôi, đều bị hy sinh ngay từ đợt tấn công tràn ngập nầy! Chuẩn úy Trần Ngọc Chỉ thấy địch quân quá đông, nên vừa chống trả vừa tìm cách hướng dẫn binh sĩ còn lại rút lui, tránh sự truy kích của địch quân.
Đại uý Thừa, tốt nghiệp khoá 9 Võ Khoa Thủ Đức, là một sĩ quan trẻ tuổi dũng cảm của sư đoàn Dù, đã lập rất nhiều chiến công hiển hách. Đặc biệt trong trận Đại Bàng 800 ở Vùng II Chiến Thuật, anh đã chỉ huy đại đội tấn công và truy sát địch, tịch thu được rất nhiều chiến lợi phẩm, vì thế Tướng tư lệnh Vùng đáp trực thăng tới gắn cấp bậc Đại úy đặc cách cho anh ngay tại chiến trường. Nguyễn văn Hổ rất tốt với bạn bè, chính anh lúc ở quân trường đã dạy tôi đờn vọng cổ bằng Tây Ban Cầm. Còn bạn Lê Phát Lộc thì rất hiền lành, tướng phúc hậu, hai trái tai dài thòng xuống như lỗ tai Phật, bạn bè ai cũng nghĩ anh có phúc tướng, sẽ sống rất thọ, không ngờ chiến tranh thật tàn nhẫn, nó không nể vì một ai!
Thấy Đại đội 94 như vậy, chúng tôi hết sức cẩn trọng, dùng hỏa lực cá nhân và chỉ được yểm trợ bằng súng cối 60 ly cơ hữu. Không có pháo binh, hải pháo, hoặc không trợ hùng hậu, mà bất cứ cuộc hành quân thường lệ của các đơn vị nhảy dù nào cũng phải có.
Sau nầy tôi mới biết, lúc đó anh Đồng Minh Mỹ định giả vờ làm ngơ, để xem tài hai con gà chọi nhau. Thử coi Miền Nam có đủ sức tự lực tự cường, cho đàn anh dễ bề rút tay ra khỏi cuộc chiến đầy tốn kém. Tiện thể vồ anh Việt Cộng một vố lớn, chẳng biết mấy anh Bộ Chính Trị ngoài Bắc và Cục R trong Nam có biết không?
Hừng Đông vừa ló dạng, các trung đội tung ra lục soát và bắt sống hơn 10 tù binh. Chúng toàn trẻ măng, khoảng 16, 17 tuổi; nói giọng Quảng Bình, mặt mày đỏ ngây, ngơ ngơ ngác ngác, thì ra họ đã dùng thuốc “Hùng Binh” của Trung Cộng chế. Thuốc nầy là loại kích thích; khi uống vào thì hăng máu và không hề sợ chết.
Đến 8 giờ sáng, tại Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn đang bị địch đe dọa tấn công, tôi nghe tiếng the thé của Đại úy Đỉnh, sĩ quan ban 3, gọi Thành “Râu” kéo binh về tiếp viện.
Thành Râu ra lệnh tôi dẫn nhanh trung đội, dọc theo Quốc Lộ I, từ Ngã Ba Long Hưng, hướng về Bộ chỉ huy Tiểu đoàn, gần cầu Thạch Hãn, tiếp theo là trung đội của Thiếu uý Minh, và Chuẩn uý Khải.
Chúng tôi đang đi trên Quốc lộ I, vừa tới ngã tư đường về nhà thờ La Vang, gần BCH Trung đoàn 1 BB, thì địch bắn hàng loạt đạn, từ xóm nhà bên trái, tôi vội hô to:
– Địch phục kích trái!
Cả trung đội liền la:
– “Xung phong”!
Và lập tức nhào về hướng phát ra tiếng súng. Chúng tôi vừa bắn vừa hô xung phong vang rền cả khu vực, hai trung đội của Khải và Minh cũng bị lôi cuốn và hành động theo. Binh sĩ chạy vượt qua chòm nhà, vừa xả đạn vừa hô xung phong liên hồi. Chúng tôi tiến mãi tới gò mả, giữa BCH Trung Đoàn 3 BB và bờ làng, thì gặp phải sức kháng cự mãnh liệt!
Tôi và hạ sĩ Đình, mang máy truyền tin, vội nhào nhanh tới hố lõm để tránh đạn. Áo field jacket bị bắn rách tung toé, tôi hoảng hốt vì không biết mình có bị thương hay không? (theo kinh nghiệm: vì đạn vô ngọt xớt nên khi bị thương, không có đau liền). Sau khi lấy lại bình tỉnh, tôi bắn yểm trợ cho Đình nhảy tới sau phên vách đất, rồi Đình bắn yểm trợ lại cho tôi.
Quan sát lại thấy hơn mười binh sĩ bị hy sinh! Có anh vừa bò tới nắm chân tôi vừa nói: “Trung uý ơi em bị thương!”, miệng lẩm bẩm niệm kinh rồi từ từ lịm dần, khiến lòng tôi se thắt!! Đáng thương nhất là hạ sĩ Lực, nhà ở làng Tri Bưu, mới cưới vợ ăn Tết hơn hai tuần lễ, và binh nhất Thương, hằng ngày giúp tôi nấu cơm nhà binh tuy đạm bạc nhưng đầy hương vị đậm đà!!!
Lúc đó từ trong máy truyền tin, tiếng Thành Râu rồi anh Đỉnh, gọi thúc hối tôi dẫn 3 trung đội về BCH Tiểu đoàn. Nhìn lại xác anh em và súng chưa kịp lấy lại được, số thương binh nằm rải rác chung quanh. Hơn nữa danh dự binh chủng Nhảy Dù không thể nào để cho mất súng và mất xác; nhất là xác của các chiến hữu đã hằng ngày tíu tít quấn quít rất dễ thương. Họ đã nhiều phen cùng hoạn nạn, cùng sinh tử, nên tôi quyết định cãi lại quân lệnh.
Tôi nói trong máy với anh Thành Râu:
– Thà là ra toà án quân sự, tôi nhất định không rút, vì binh sĩ và xác chết còn kẹt ở đây.
Rồi bảo Đình phụ nạp đạn, tôi đứng nơi vách đất, vừa nhắm bắn vừa điều động cả 3 trung đội. Minh và Khải thấy tôi la hét “Xung phong” cũng phụ giúp điều động đốc thúc binh sĩ mình. Dựa vào vách đất, tôi có thể quan sát rõ địch đang núp từng chòm mả một; hễ tên nào ló đầu lên thì tôi bắn ngay, khiến chúng hụp xuống. Nhờ vậy anh em ba trung đội cứ nhích lên dần.
Có thể nói đây là trận để đời của tôi, vì hầu như đánh xáp lá cà với lực lượng chính qui và đông đảo quân số của địch. Tôi vừa thúc hối ba trung đội, bằng cách bắn dọa trên đầu họ, vừa hô xung phong, mà mỗi lần chỉ lên được vài bước.
Tôi và Đình cách cây thượng liên của địch khoảng mười lăm thước (chỉ 15 thước nên thấy đầu nòng súng địch rõ mồn một), trong khi đó binh sĩ 3 trung đội dàn dài bên trái, phía sau tôi khoảng 10 thước.
Các binh sĩ đang còn e ngại hỏa lực địch, thì đột nhiên Binh nhứt Nguyễn văn Ba, y tá đại đội, bò sát lên trước và hạ được tên xạ thủ thượng liên. Ba dơ cao súng địch, khiến đồng đội phấn khởi, đứng lên vừa bắn vừa hô xung phong, đuổi địch ra khỏi nghĩa địa. Ba kể lại, khi xạ thủ thượng liên thấy anh chĩa súng bất ngờ, vội đưa hai tay lên, Ba vì súng bị kẹt đạn (lại là y tá nên hơi lạng quạng), anh lính quýnh không dám cho y đầu hàng, sợ hắn biết rồi bóp cò thượng liên, vì thế mới ném lựu đạn để tự vệ.
Binh sĩ đại đội lo thu lượm súng và xác của bạn cùng rất nhiều súng địch. Tám lọ, anh hề của đại đội, ôm một bó súng to, toàn AK-47 và B-40. Đột nhiên một tên bên kia đường tựa gò mả bắn qua, tôi nghe một tiếng “Rẹt”, đáy quần bị bắn rách, rờ thấy “Hắn” còn nguyên vẹn nên mừng hú vía. Đùi bị rướm máu, nhưng chỉ trầy da. Tôi vừa bắn trả cầm chân vừa ra lệnh rút về BCH Tiểu đoàn. Thật là hú hồn, giằng co suốt buổi, tôi đã đứng bắn hàng trăm viên đạn AR-15, áo quần rách tả tơi, mà chỉ bị thương rách một chút xíu ở vành tai trái và bắp đùi phải!
Lúc về BCH, gặp Thiếu tá Nhã, Tiểu đoàn trưởng, ông vẫn giữ vẻ mặt nghiêm, nhưng không trách phạt vi lệnh mà còn bảo anh lính phục vụ kiếm khúc bánh mì cho tôi lót bụng. Còn anh Thành và anh Đỉnh thì cười kín đáo, tỏ ý hân hoan khuyến khích. Nhưng cũng nhờ cú “Bốc đồng” này, nên sau khi về Sàigòn, mặc dù thương tích đầy mình (bị thêm lần nữa tại Hồ Tỉnh Tâm, trong thành nội Huế, vào mùng mười Tết). Nghe tiếng điện thoại của anh Bảo gọi :
– Tiểu đoàn định cho ông làm Đại đội trưởng Đại đội 91, thay thế thằng Mễ, vậy vô đây gấp để nhận bàn giao!
Tôi mừng rỡ trả lời : – Tôi sẽ vô ngay, đích thân!
Vì còn trẻ háo thắng, nên tôi rất vui mừng và chịu bỏ phép nghỉ bịnh, để nhận cái nhiệm vụ làm đại đội trưởng thực thụ của một binh chủng thiện chiến nầy.
Cũng nên nhắc lại một câu chuyện nhỏ về trường hợp đặc biệt của anh Nguyễn Văn Thiện, bác sĩ tiểu đoàn. Đêm ba mươi Tết, anh được mấy bác sĩ bạn, làm ở bệnh viện Tiểu khu, mời tới nhà, để đón giao thừa cho có không khí đầm ấm của gia đình.
Thấy anh nhậu đã say mèm, nên tài xế vội lấy xe Jeep cứu thương, chở về Bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Dọc đường có đầy địch nằm phục kích sẵn hai bên, nhưng rất may là lúc đó họ chưa có lệnh đồng loạt tổng công kích, nên chúng không dám khai hỏa, sợ hỏng kế hoạch chung. Thật là hú vía nếu anh ở trể chừng một tiếng đồng hồ, thì chắc lãnh đủ!!
Sáng Mùng 3 Tết, thị xã Quảng Trị tổ chức tuyên dương công trạng bảo vệ thành phố của Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù, dân chúng đa số là người công giáo di cư năm 1954. Tinh thần chống Cộng rất cao, họ đem nhiều quà tặng cho chúng tôi, nào bánh chưng, bánh tét, dưa món,…còn có cả vòng hoa nữa. Nhưng quý giá nhất là ở tấm lòng chân thật và lời cám ơn giản dị : … “Nhờ các ‘En’ mà thành phố Quảng Trị không bị chi cả”…Phải, chúng tôi chiến đấu chỉ vì thế thôi:
“Sự Bình An của dân chúng
Olivier Todd
Dương Hiếu Nghĩa dịch
Post by Sơn râu 22 Apr 2024

22. Chương 17 – Lượm đá lấp biển
Ở Phủ Tổng Thống Pháp, người ta nhấn mạnh là tất cả những chuyện quan trọng không thể thực hiện một cách công khai ở nơi thanh thiên bạch nhật được . Đó là lề lối ngoại giao của người Pháp, kín đáo nhưng không có bí mật.
Tại Sài Gòn thì không được kín đáo lắm. Có quá nhiều trung gian, toàn là những người tốt, nhưng cũng có những sứ giả thật mà cũng có những sứ giả tưởng tượng nữa, những điệp viên hai ba mang, mờ ám.. hay ra vào các các trung tâm chánh trị và quân sự.
Bị châm biếm hay không thì vị trí của người Pháp ở đây ai cũng biết cả rồi: đại sứ Mérillon đã có quyết tâm xử dụng tới cùng lá bài của “lực lượng thứ ba” và của tướng Dương văn Minh.
Đối với người Pháp thì Miền Nam Việt Nam coi như đã thua trận rồi, nhưng chế độ Sài Gòn cũng chưa đến đỗi phải sụp đổ trong những tuần lễ sắp tới.. Cần phải thử bảo đảm cho sự tồn tại của một Miền Nam Việt Namthu hẹp, một loại Nam Kỳ quốc. (nguyên tác: Cochinchine) Bắc Việt hình như chưa có gì gấp gáp lắm, họ sẽ chấp nhận một Chánh Phủ trung lập với lãnh đạo là ông Minh Dương.
Đó là những gì mà ông Pierre Brochand đã giải thích cho ông Polgar ngày 13 tháng 4 tại hồ bơi của Câu Lạc Bộ Thể Thao Sài Gòn. Ông Brochand là đệ nhị Cố Vấn của Tòa Đại Sứ Pháp, chuyên viên về các vấn đề Đông Dương, người có một vẻ đẹp ngâm đen của người Miền Nam nước Pháp, thực sự ông ta là người phụ tá chánh về chánh trị của đại sứ Mérillon. Ông đệ nhất Cố Vấn lo về vấn đề văn hóa và cơ quan của ông ta ở cách tòa đại sứ đến gần 2 cây số. Thời gian gần đây hai ông Brochand và Polgar gặp nhau rất thường.
Đã từ lâu rồi, ông Brochand có trách khéo ông Mérillon là không chịu khó đi gặp thường các người của lực lượng thứ ba. Ông Mérillon biết vậy nhưng ông nghĩ rằng nếu mình lui tới với ông Minh Dương thì ông Thiệu sẽ không được vừa lòng.
Bây giờ thì ông Polgar ngả về một giải pháp chánh trị, từ sự ra đi của ông Thiệu để cho có được người kế vị cho ông ta. Tại sao không phải là ông Minh Dương? Hơn nữa, ông Cố Vấn Brochand đã chứng minh rất thực tế là nước Pháp sẵn sàng đón nhận 50 ngàn tỵ nạn chánh trị người Việt Nam. Như thế là ông ta đã áp dụng đường lối chánh trị của vị Đại Sứ của ông rồi.
Ông Mérillon người không lớn lắm, hơi cận thị, xuất thân từ trường Đại Học Quốc Gia Hành Chánh, có họ xa với Tổng Thống Giscard d’Estaing, đã được ông Georges Pompidou bổ nhiệm qua Sài Gòn và khi trình ủy nhiệm thư ông được Tổng Thống Thiệu đón tiếp bằng bản quốc thiều Pháp, một bản nhạc mà người ta mới được nghe lần đầu tiên từ 10 măm nay ở Miền Nam Việt Nam. Theo ông Mérillon thì đó là người ta cho người Pháp nhiều hơn những gì mà họ đang có. Cũng theo ông, thì có nhiều người Việt Namnhìn ông ta như là một phó vương trong tư cách đại diện cho nước Pháp. Ông Mérillon có nhiều mục tiêu phải làm:
_ Lo vấn đề an ninh cho người Pháp ở Việt Nam (gần 10.000 công dân Pháp), và ông đã đưa được về Sài Gòn hơn 300 người từ Cao Nguyên bằng các chuyến bay riêng..
_ Trong viễn ảnh Sài Gòn bị Bắc Việt chiếm thì phải bảo vệ cộng đồng người Pháp, nhất là trong giai đoạn bàn giao, tranh tối tranh sáng.
Ông Mérillon nghĩ tới năm 1945, lúc người Nhật ra đi thì ở Sài Gòn trong một cư xá, người Pháp đã bị tàn sát trong những điều kiện thật đau thương tàn bạo , với trẻ con liệng vào lửa, phụ nữ bị hãm hiếp, đàn ông bị tra tấn hành hạ… Ông Mérillon cũng không nuốn thấy số phận Sài Gòn giống như Đà Nẵng.
_ Phải làm sao cho nước Pháp càng có lợi bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.. Trong hai Miền Nam Bắc Việt Nam, đường lối chánh trị của Pháp nếu có, thì sẽ là một sự pha trộn giữa những kỷ niệm và những lời chúc tụng không chính xác….
Đới với chánh quyền Pháp, nước Việt Namkhông có gì ưu tiên hết. Sau phong trào chống Mỹ thời Tổng Thống De Gaulle thì chánh quyền của ông Pompidou dịu dàng hơn đã mở đường cho Chánh Phủ hiện tại của ông Giscard d’Estaing căn cứ trên giả thuyết dễ dãi của Hà Nội . Có rất nhiều người Việt Nam ở Sài Gòn , ít nhất là những người ở lứa tuổi trên 40, đã nhắc đi nhắc lại là họ thấy gần người Pháp hơn là người Mỹ. Các người Mỹ thì thô lỗ và thẳng tánh, còn người Pháp thì nặng về tình cảm hơn. Về lịch sử thì họ đã có mặt ở cả Đông Dương. sự kiện ngoại giao quan trọng là Hiệp Định 1973 đã được ký kết ở Ba Lê.
Khi ông Mérillon rời Ba Lê để qua Sài Gòn thì ông có xin chỉ thị của ông Tổng Trưởng Michel Jobert thì ông này nói:
_ “Người Đại Sứ không cần có chỉ thị. Ông ta phải tự tìm lấy cho mình”. Và ông còn nói tiếp
_ “Tòa đại sứ bên đó ra làm sao rồi? Hãy làm thế nào để phải có một tòa đại sứ cho ra hồn!
Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn rất đẹp. Trong dinh thự của mình, ông Mérillon đã cho người ta ngắm thỏa thích thang lầu hình khu ốc lấy kiểu ở các chiếc tàu chiến thời các Đô đốc Toàn quyền. Trên tường quét vôi trắng tinh, ông có nhiều sưu tầm quý giá màu xanh, nổi bật lên như các thác nước, như các vũ khí của thời Đệ Nhị Cộng Hòa, hay của Phủ Toàn Quyền… rất đẹp.
Trong tòa đại sứ của mình, ông Mérillon lúc nào cũng muốn tỏ ra mình là một nhà chánh trị có tầm cỡ. Ông tiếp khách nhiều, chịu khó nghe, và khuyến khích người nói.
Với ông Hoàng Đức Nhã, ông nói:
_ “Ông cần phải nói với ông Anh của ông là ông ta phải biết chịu khó dàn xếp, đưa “lực lượng thứ ba” vào quỹ đạo, hay phải tiếp xúc với CPLTCHMN. (Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam)
Ông Nhã đã trả lời:
_ “Ông nghĩ rằng Hà Nội sẽ để cho ông ấy nói chuyện với CPCMLTMN hay sao?
Ông Mérillon cũng đã to nhỏ với ông Nhã rằng:
_ “Về phần ông, ông có thể có một vai trò quan trọng trong Chánh Phủ mới đó!
_ “Chuyện đó không làm cho tôi quan tâm chút nào. Tôi không hề có một chút tin tưởng nào về cái gọi là Chánh Phủ Liên Hiệp đó bao giờ.”
Những người của ông Thiệu thất là quá thiển cận!
Ông Mérillon là một trong những người đại sứ hiếm hoi được ông Martin mời cơm. Hai người đều biết giá trị của nhau. Theo lời khuyên của Polgar, Đại sứ Martin không mấy tin tưởng vào tin tức quân sự hay chánh trị của người Pháp. Dĩ nhiên người Pháp là chủ đồn điền, là nhà thầu, là các tu sĩ sống rải rác khắp nơi ở các tỉnh, nhưng không có gì qua được hệ thống hữu hiệu của Trung Ương Tình Báo Mỹ (CIA). Trái lại, ông Martin sẳn sàng nghe ông Mérillon trên lãnh vực ngoại giao. Tối thiểu người ta cũng có thể nhờ người Pháp. Hai người đều ở cạnh nhau trên đại lộ Thống Nhất. Hai ông đại sứ đã cho đục một cánh cửa xuyên qua bức tường chung của hai tòa đại sứ. Trong trường hợp hệ thống điện thoại của Sài Gòn bị hư hay bị trục trặc thì hai người sẽ dùng một đường giây trực tiếp nối liền hai điện thoại màu đỏ được đặt ở ngay văn phòng của mỗi người . Về phía người Pháp, điện thoại này được đặt ở trong một hầm trú ẩn nằm ở sát cạnh văn phòng của ông Mérillon. Do đó mà có một lần khi vị sứ thần của Tòa Thánh đến thăm ông Mérillon, thấy ông này lật đật chạy ra khỏi văn phòng, vị sứ thần này lấy làm ngao ngán tưởng ông đại sứ này đang bị tháo dạ.
Ông Martin đang tìm một lối thoát chánh trị và càng ngày ông càng nghe nhà ngoại giao của Pháp. Vào giữa tháng 4, hai ông Martin và Mérillon đều đồng ý là: ông Thiệu thật sự là một chướng ngại.
Ông Martin cũng mân mê một số giải pháp khác. Một trong số đó có vẻ hấp dẫn trong giai đoạn này: (viện trợ quân sự bổ túc + thương thuyết chánh trị ) Nhưng không may, vào ngày 16 tháng 4 Kissinger báo tin không vui về cuộc chạy đua của các Tiểu Ban trong Quốc Hội và những sự bàn cãi của Quốc Hội:
_ “Chúng ta phải thấy trước là chúng ta đang chờ đợi môt cuộc bỏ phiếu chống”
Theo ông Tổng Trưởng Ngoại Giao thì các cuộc tranh luận ở Thượng Viện và Hạ Viện đều tập trung vào một bài toán hoàn toàn giả tạo (nguyên tác: tiếng Anh totally phoney). Ông Kissinger này biết cách động viên ông Martin của mình, khen ông Martin và xác nhận là ông này ở Sài Gòn hành sử tuyệt diệu như là một ông tướng ngoài mặt trận vậy. Và ông lợi dụng cơ hội này để hỏi ông Martin xem bằng cách nào ông có thể đưa về nước nhanh chóng con số 2000 công dân Hoa Kỳ?
Không biết có phải là hớ hênh hay vô ý khi cũng trong ngày 16 tháng 4 này, Tổng Thống Ford tuyên bố là ông ta đã cho lệnh di tản hết tất cả những người Mỹ nào ” xét thấy không cần thiết” ? Do vậy ông Kissinger phải xin lỗi ngay sau đó với ông Martin:
_ “Tôi biết là điều này đã làm cho công việc của ông càng thêm khó khăn hơn.”
Đại sứ Martin buộc lòng phải chấp nhận ý kiến “chỉ di tản khi tình hình tương đối được ổn định và với sự hợp tác của QLVNCH”. Theo một vài tờ trình mới nhất thì các sĩ quan Miền Nam Việt Nam cho biết là nếu người Mỹ bỏ họ để rút đi thì họ sẽ ngăn không cho phi cơ cất cánh. Họ cũng còn sẵn sàng bắn vào các phi cơ đó nữa.
Cũng trong ngày 16 tháng 4 này ông Martin đã cùng đô đốc Hugh Benton đặc phái viên của Tổng Tư Lệnh Vùng Thái bình Dương, nghiên cứu một kế hoạch di tản 200.000 người Việt Nam. Đô đốc đề nghị cho họ đi bằng ngả Vũng Tàu và từ đó họ sẽ được đưa về Thái Lan, Phi Luật Tân hay Tân gia Ba. Ông Martin vì hoài nghi nên đã trình bày những sự nghi ngờ của ông trong một công điện gởi thẳng cho tướng Brent Scowcroft ở Tòa Bạch Ốc. Theo hệ thống hành chánh, ông Martin phải trực thuộc ông Kissinger, nhưng ông cũng thích chứng tỏ cho mọi người đều biết ông là người đại diện cho Tổng Thống Hoa Kỳ . Ông Martin là sĩ quan tình báo trong thời Đệ Nhị Thế chiến, nên ông tự xem mình giỏi hơn bất cứ ông tướng hay Đô Đốc nào khác.
Cũng còn giỏi hơn bất cứ ai khi đụng vào những bài toán di tản: vì ở Ba Lê, ông đã từng lập kế hoạch di tản người Mỹ nếu có xảy ra một cuộc tấn công của Liên Xô vào Tây Âu . Ông Martin đã từng đưa nhân viên của ông lên thủ đô Bruxelles của nước Bỉ, đi ngược chiều với dòng người tản cư xuống phía Nam.
Chắc ông Martin không bao giờ dự trù đưa người Mỹ của ông hay những người Việt Namđi ngược ra Hà Nội. Nhưng theo ông thì kế hoạch của Đô đốc không đứng vững và quá tốn kém. Kế hoạch này cần phải trả tiền thuê 16 chiếc tàu với giá 250.000 mỹ kim một ngày.
Điều bớt lo cho một số lớn cộng sự viên của ông Martin là ít ra ông cũng đã bắt đầu chú ý tới những bài toán về cuộc di tản.
Cuối cùng trong khi ông đổi ý về một cuộc rút đi với một sự chết lặng trong tâm hồn, thì ông lại nhận được một công điện của ông Kissinger ngày 17 tháng 4, một công điện quá bối rối, chỉ riêng một mình ông Martin mới được đọc mà thôi. Ông Kissinger đã thảo bức công điện này sau một buổi họp gồm toàn nhân viên cao cấp quan trọng thuộc các Bộ và cơ quan khác:
_ “Ông phải biết là gần như không có một người nào hỗ trợ cho ý kiến phải di tản người Việt Nam, hoặc dùng quân lực Hoa Kỳ để bảo vệ cuộc di tản. Các quân nhân thuộc Bộ Quốc Phòng và ở Trung Ương Tình Báo, có cảm nghĩ chính là phải đi nhanh và ngay bây giờ (nguyên tác: to go out fast and now)”
Ông Kissinger đồng ý với ông Martin là phải tránh các phản ứng giây chuyền vì sự hoảng lọan, nhưng ông Tổng trưởng đòi hỏi là đến ngày 22 tháng 4 không được còn quá 2000 người Mỹ ở Việt Nam.
Sau khi đi một vòng ở ngoại quốc trở về, ông đại sứ lưu động Bùi Diễm xin gặp Tổng Thống Thiệu. Một đại tá đã trả lời:
_ “Tổng Thống đang lo buồn vì tỉnh nhà của ông bị chiếm mất. Thủ tướng sẽ tiếp ông.”
Ông Bùi Diễm không hề muốn gặp ông Thủ tướng lạ này, một người hơi nhu nhược về chánh trị . Ngoài ra ở Việt Nam chỉ có Tổng Thống mới là người quan trọng. Điện thoại ở nhà ông Bùi Diễm reo. Đích thân ông Thủ tướng Cẩn ở đầu giây:
_ “Tổng Thống muốn là tôi phải tiếp ông.”
Ông Bùi Diễm ngần ngừ. Ngay lúc đó thì tướng Đôn tới.. Ông Tổng Trưởng Quốc Phòng cố nhấn mạnh: Dù sao thì ông Cẩn cũng là Thủ Tướng. Ông Bùi Diễm hơi khó chịu.
_“Tôi không muốn mất thì giờ.
Ông Đôn ra về, xong trở lại và cuối cùng đưa Bùi Diễm đến nhà ông Cẩn. Ở đó họ lại gặp đệ nhị Phó Thủ Tướng, ông Nguyễn văn Hảo. Nhận định một vòng về tin tức bi thảm. Hơn nữa những người này không ai có quyền quyết định.
Bùi Diễm nói:
_ “Sự thật cho ta thấy là không còn gì để làm được nữa.
Cả Thủ tướng và vị phó Thủ tướng đều bàng hoàng. Cả hai ông đều biết là ông Bùi Diễm biết rất rõ người Mỹ và bộ máy của thể chế ở Hoa Kỳ. Ông Đôn thì tỏ ra ít ngạc nhiên hơn. Ông Hảo nói lên ngay:
_ “Như vậy là phải tổ chức phòng thủ ở Đồng bằng sông Cửu Long.!”
Ông Đôn trình bày các khó khăn trong vấn đề ông Hảo vừa nói: “Người Mỹ ở Sài Gòn sẽ nghĩ gì về việc đó?”
Ông Bùi Diễm đi lại tòa đại sứ Hoa Kỳ . Hai ông Martin và Bùi Diễm đều biết giá trị của nhau, nhưng giờ này thì giữa hai người không có sự thành thật. Ông Martin nói:
_ “Ông sẽ đến gặp Tổng Thống Thiệu? Ông sẽ nói với ông Thiệu tất cả sự thật?
_ Vâng, sự thật đó là đối với người Mỹ chiến tranh đã chấm dứt từ lâu rồi.”
Ông Martin không bình luận gì về câu nói này. Ông tiếc gì một vài khuyến khích mơ hồ đối với ông Bùi Diễm? Ông không nói với ông Bùi Diễm rằng chính ông ta, đại sứ Hoa Kỳ, đại diện cho cá nhân Tổng Thống Hoa Kỳ, đang nghĩ tới sự ra đi của Tổng Thống nước Việt Nam Cộng Hòa! Ông Martin sẵn sàng thổ lộ là một nhà ngoại giao thì phải biết đóng kịch.
Tin tức nghiêm trọng nhất trong ngày đã đến: Quân Khmer Đỏ đã kiểm soát Phnom Penh , cách Sài Gòn 190 cây số.
Tướng Minh Dương biết được tin này trong khi ông đang dùng bữa nhẹ với vài người bạn ở quán nhậu của tướng Mai hữu Xuân, gần một đồn điền cao su ở Thử Đức, không xa Sài Gòn bao nhiêu. Ông Minh không có gì tỏ ra ngạc nhiên hay lo âu. Một trong những người bạn của ông, ông Tôn thất Thiện buột miệng nói:
_ “Bây giờ thì cộng sản sẽ dồn toàn lực đánh vào Sài Gòn.”
Ông Minh phản đối ngay:
_ “Phải mất 6 tháng nữa họ mới tới Sài Gòn được Các anh không biết gì cả. Các anh không phải là quân nhân.”
Theo ông Minh, cộng sản phải dừng quân lại thôi, ông nói với một giọng sành đời, vì họ không có đủ cán bộ cần thiết để kiểm soát và chỉ huy cả thành phố. Tướng Minh đang tìm sự hỗ trợ để cho hai đại sứ Pháp và Hoa Kỳ biết đúng lúc . Sự liên lạc với tòa đại sứ Mỹ được thực hiện qua tướng Charles Timmes, một tướng hồi hưu và đang phục vụ cho Trung Ương Tình Báo (CIA), và với tòa đại sứ Pháp thì qua ông Brochand. Ông đại sứ Mérillon có lệnh cho ông Brochand nối lại liên lạc với tướng Minh. Một cộng sự viên thân cận với tướng Minh là ông Vũ văn Mẫu muốn gởi 6 hay 7 sứ giả thuộc “lực lượng Hòa Giải ” của ông đến vùng tạm chiếm của cộng sản . Ở đó các đại biểu này có thể tiếp xúc với người của CPCMLTMN.
Tướng Minh nhắc lại là cộng sản không có ý định tiến chiếm thủ đô, mà họ chỉ muốn cô lập Sài Gòn thôi. Nếu với một số đơn vị đầy đủ người ta giữ vòng đai Sài Gòn nhất là về hướng Đông đến Xuân Lộc, và nếu người ta đi tới chuyện thương thuyết nhanh chóng, thì người ta có thể tránh được việc thành lập một “Chánh Phủ Liên Hiệp không thể chấp nhận được” Phải đi đến một thỏa hiệp nào đó để giữ được một lãnh thổ nhỏ của Miền Nam Việt Nam. Sau đó mới xét tới một “Chánh Phủ Liên Hiệp” .
_ Nhưng tại sao cộng sản lại chấp nhận dự án này?
_ Bởi vì họ không có đủ phương tiện để quản lý cả một Miền Nam Việt Nam” tướng Minh nhắc lại một lần nữa như vậy.
Các giới chức của CPCMLTMN ở Hà Nội tổ chức một chuyến viếng thăm Đà Nẵng mà họ cho là đã được họ “giải phóng” ngày 17 tháng 4. Họ mời ông Alexandre Casella, một tham vấn trong Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc, cùng đi với phái đoàn các nhà báo ngoại quốc. Họ nói với ông này:
Phái đoàn gồm có các nhà báo của tờ Le Monde (Pháp), của thông tấn xã AFP, của tờ Pravda (Liên Xô), của thông tấn “Tân Trung Hoa”, các toán truyền hình của Thụy Điển và Pháp. Chiếc Yak 40 chở phái đoàn đáp xuống phi trường lớn ở Đà Nẵng. Có một buổi tiếp tân có thức ăn ngay tại phi trường, nơi có treo một tấm hình lớn của Hồ chí Minh.
Thành phố có vẻ yên tĩnh. Có rất ít bộ đội Miền Bắc trên đường phố. Người của CPCMLTMN điều chỉnh sự lưu thông. Các hàng quán của người Tàu treo cờ của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, điều này gây thích thú cho người phóng viên của thông tấn xã “Tân Trung Hoa” một cách kỳ lạ. Đây là một cuộc thăm viếng có hướng dẫn.. Nói chung là tốt. Họ có đến viếng một nhà nuôi trẻ mồ côi do các dì phước đảm trách. Một bà nói:
-“Không thấy có chạm súng ở Đà Nẵng . Chúng tôi được bộ đội Bắc Việt giải phóng. Chúng tôi chỉ lo cho các em mồ côi thôi.”
Lúc trở về Hà Nội, Ông Casella gởi về Liên Hiệp Quốc một bản phúc trình được ông Tổng Thơ Ký công khai hóa. Phúc trình này xác nhận là “tình hình thực phẩm hình như bình thường, dân chúng đã lần lượt trở về nhà, các khu cư dân nghèo được phát hiện trống vắng… Người ta cần một vài công tác cứu thương khẩn cấp nhưng chỉ trung hạn, dĩ nhiên nên có một sự giúp đỡ nào đó để cho dân chúng trở về làng mạc của họ”.
Báo chí Hà Nội tung tin: “Một công chức của Liên Hiệp Quốc đã đi đến Đà Nẵng . Tình hình đã trở nên bình thường.”
Thật là một sự lật ngược lối nói quá trơ trẽn nhưng quá đẹp:
Đối với người dân Miền Bắc lúc bấy giờ là ông Casella đã đi đến Đà Nẵng trong cương vị đại diện cho Cao Ủy Tỵ Nạn của Liên Hiệp Quốc!
Ông Casella không ghi nhận được một không khí thắng trận nào trong thủ đô Bắc Việt có liên quan đến những sự tiến triển về quân sự ở trong Miền Nam.
Trong ngày đầu của cuộc đi tham quan của ông Casella ở Đà Nẵng, ở một nơi nào đó thuộc vùng ngoại ô Sài Gòn, ông Frank Snepp gặp người nhân viên của mình đã gài vào bên trong, được coi là một người điệp viên giỏi của ông ta. Người nhân viên này khẳng định: Bắc Việt đã có quyết tâm phải tiến đến chiến thắng cuối cùng, không bao giờ có giải pháp ngoại giao – chánh trị nào hết.
Cả hai ông Martin và Polgar đều không chú ý tới tầm quan trọng của tờ trình này của Frank Snepp. Tờ trình này cuối cùng cũng đến được trên bàn giấy của ông Tổng Trưởng Ngoại Giao ở Hoa Thạnh Đốn trong lúc ông Kissinger đang bắt đầu làm áp lực Liên Xô trở lại. Đây là một chiến lược làm cho ông Martin vui thích. Ông đã gởi một công điện cho Kissinger:
_ “Tôi thấy họ cần phải trả một giá nào đó cho sự hòa hoãn của chúng ta . Có thể nào chúng ta tìm cách nào đó để cho cả Liên Xô và Trung Quốc hiểu rằng điều rất có lợi cho họ trong mối quan hệ với chúng ta trong tương lai là phải mạnh mẽ can thiệp với Hà Nội để họ phải lui lại trước Sài Gòn và bắt đầu đi lại con đường thương thảo.”
Ngày 18 tháng 4,
Vào lúc 12 giờ trưa ở Hoa Thạnh Đốn , ông Kissinger gặp đại sứ Liên Xô Anatol Dobrynine, người biết quá nhiều về Hoa Kỳ và quá quen thuộc với sân khấu chánh trị của Hoa Thạnh Đốn. Kissinger trao cho ông này một bức thơ của Tổng Thống Ford gởi cho ông Brejnev:
_ “Sự lo âu chánh yếu của chúng tôi là vấn đề di tản người Mỹ và một số người Việt Nam quan trọng phải được tiến hành trong trật tự.” Tổng Thống Hoa Kỳ muốn thấy cuộc “di tản này phải được kiểm soát”, để tránh sự đối đầu giữa binh sĩ của Bắc Việt và bộ phận bảo vệ của Hoa Kỳ . Ông yêu cầu phải được trả lời nhanh chóng. Nếu Bắc Việt ngưng tiếng súng thì Hoa Kỳ sẽ ngưng viện trợ chiến cụ cho Sài Gòn và sẵn sàng tiếp tục lại các cuộc đàm phán chánh trị”.
Đối với ông Dobrynine, ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ nói rõ là quân Bắc Việt không được đụng tới phi trường Sài Gòn. Nếu không thì Hà Nội sẽ có nhiều hậu quả rất là tai hại. . Kissinger cho thấy là Hoa Thạnh Đốn giải quyết trực tiếp với Mạc tư Khoa , chớ không phải với Hà Nội và cũng không phải với Bắc Kinh . Tóm lại, ông Tổng Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ đe dọa ngay Hà Nội và ngầm đặt vấn đề hòa hoãn bằng cách chỉ nói thằng với Liên Xô. Âu cũng là một sự vận động cần thiết nhưng chẳng có kết quả gì, nếu không muốn nói là phù phiếm. Kinh nghiệm cho thấy là ông Kissinger vẫn biết là muốn bàn cãi với cộng sản ở Mạc tư Khoa hay Hà Nội cũng vậy, thì phải bắt đầu trong một tư thế mạnh. Hình như ông ta đặt giả thuyết hay giả bộ tin là ông Brejnev có thể ra lệnh cho các sư đoàn của Bắc Việt.
Ông không biết và ngay như ông Dobrynine cũng vậy, là trước đó 4 ngày, tức là vào ngày 14 tháng 4, từ Bộ Tư Lệnh Lộc Ninh, vị Tổng Tư Lệnh Bắc Việt đã chuẩn bị cho cuộc tấn kích cuối cùng vào Sài Gòn.
Ở chỗ này, các trung tâm chánh trị thường được tin tức không chính xác trên bình diện chánh trị, nên không loại bỏ ước tính thủ đô Sài Gòn sẽ phải bị bao vây và cô lập.
Đại sứ Pháp, ông Mérillon có chiến lược chánh trị của ông: phải làm áp lực cả tướng Minh và ông Martin.
Nhà ngoại giao Pháp gặp tướng Minh lần đầu tiên ngày 17 tháng 4, đã xin lỗi là đã không thể đến thăm ông trước đó được. Ông bảo đảm rằng Ông Minh sẽ được hậu thuẫn của nước Pháp. Ở Việt Nam nước Pháp có bổn phận, có quyền và có quyền lợi. Hơi liếng thoắng ông Mérillon phác thảo cuộc dàn dựng cho một cuộc hành quân lớn về chánh trị, mà tướng Minh là trung tâm điểm. Dĩ nhiên người ta cũng phải tránh cho Sài Gòn không bị đổ máu dưới làn lửa đạn. Nếu cộng sản chiếm được thủ đô thì điều chắc chắn là một lối sống nào đó sẽ biến mất. Hai người đều dùng tiếng Pháp để trò chuyện. Cả hai đều rất cảm động, nhất là tướng Minh, nắm chặt tay ông Mérillon và siết chặt một hồi lâu, hai mắt đẫm lệ:
_ “Vâng, phải như vậy mới đúng. Ông thật là một người có lòng, thưa ông đại sứ. Tôi sẽ thử, tôi sẽ coi lại..”
Ông Mérillon thi hành đúng chị thị đã nhận .Ông đã nhận một công điện lạ lùng nếu không muốn nói là quá đáng từ Phủ Tổng Thống Pháp. Đại để:
_ “Cho Tổng Thống Thiệu đi, đặt ông Minh vào Phủ Tổng Thống.’
Ông Mérillon nghĩ là có thể đạt được một sự “chuyển tiếp đứng đắng” . Không còn có một giải pháp nào khác hơn, ngoài sự thương lượng.
Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam cho phổ biến trên cả các báo Việt ngữ và Anh ngữ một bản tin theo đó : “Đẩy lui được các cuộc tấn công qui mô của cộng sản Bắc Việt ở Xuân Lộc và Long An, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã chứng minh được quyết tâm gìn giữ đất nước và khả năng của mình trong việc chiến thắng lực lượng xâm lăng cộng sản.”
Tất nhiên không tin tưởng lắm vào “khả năng chiến thắng được quân thù” như đã loan tin, Chánh Phủ Miền Nam đang chuẩn bị gởi số vàng dự trữ dằn kho sang Hoa Kỳ . Nếu Quốc Hội Mỹ không bỏ phiếu thuận cho ngân khoản viện trợ bổ túc cho Việt Nam thì Tổng Thống Thiệu nói là sẽ dùng số vàng này để mua vũ khí và đạn dược.
Có quá nhiều tin đồn về hòa bình cũng như về chiến tranh như là:
_ Bắc Việt sẽ không bao giờ tấn công vào Sài Gòn,
_ các đơn vị nhỏ Bắc Việt, những đặc công giả dạng thường dân đang xâm nhập thủ đô,
_ có đảo chánh ở Sài Gòn
_ có đảo chánh ở Hà Nội
……..
Hầu hết những người Mỹ còn lại ở Việt Nam đều chống Cộng, nhưng người ta cũng thấy có vài người có thiện cảm với CPCMLTMN và cả Bắc Việt , đặc biệt trong những tổ chức nhân đạo hay cơ quan từ thiện công giáo, thường ngày tiếp xúc với những người nghèo khó và các nạn nhân chiến tranh. Đối với những người Mỹ đó, sự tiến quân của Bắc Việt không phải là một cuộc xăm lăng, cũng không phải là một sự chiếm đóng.. mà là một cuộc giải phóng, một sự bảo đảm là cuối cùng chiến trận sẽ chấm dứt. Đối với họ, hòa bình là một sự cần thiết.
Bà Claudia Krich là một thành viên của một tổ chức nhân đạo thuộc giáo phái ” Quây Cơ” (Quaker). Bà tiêu xài không tiếc tiền cho dân chúng. Bà nói rành tiếng Việt Nam, và đã có làm việc trong một trung tâm chỉnh hình và giải phẫu ở Quảng Ngãi, nằm về phía Bắc của Sài Gòn. Ở đó người ta cung cấp chân tay giả, nạng gỗ, và xe lăn cho các người tàn tật. Nghĩ rằng Quảng Ngãi sẽ bị dội bom nên bà đã về Sài Gòn từ tháng 3. Đây là nhật ký của Bà Claudia Krich:
Sài Gòn ngày thứ năm, 17 tháng 4 1975
“Lại có những tin đồn nữa: thứ bảy sẽ thấy được giải phóng, hay ít nhất cũng là một cuộc tấn công vào Sài Gòn. Các mẩu tin tức nhặt được ngày hôm qua: “mật mã bí mật” mà tòa đại sứ Hoa Kỳ xử dụng sẽ được phổ biến trên đài phát thanh khi nào Hoa Kỳ có quyết định di tản. Có người sẽ nói : “Nhiệt độ ở Sài Gòn là 105 độ và còn lên cao nữa.” Sau đó là bản nhạc “Tôi mơ một ngày lễ Giáng Sinh trắng” (I’m dreaming of a white Christmas)
Tất cả những người Mỹ ở Sài Gòn đều biết mật mã này.”
Bà Krich viết:
Thủy Quân Lục Chiến và lực lượng Hải Quân của Đô Đốc Cang và các đơn vị Địa Phương Quân đã chận đứng được sư đoàn 5 và sư đoàn 7 Bắc Việt ở Bến Lức, trên sông Sài Gòn . Tổn thất của Bắc Việt rất nặng, lực lượng Hải Quân của Miền Nam đã tác xạ bằng đại bác 20, 40 và 105 ly . Tuy nhiên tinh thần của Bộ Tham Mưu Miền Nam Việt Namcàng ngày càng xuống thấp. Trong một bức thư gởi cho Đại sứ của mình, tướng Homer Smith thấy là ngay cả tướng Tham mưu trưởng Cao văn Viên cũng không nghiêng về việc Tổng ThốngThiệu phải ra đi – một điều đã được xác nhận qua cảm tưởng của ông Wolfgang Lehmann –
Tinh thần của ông Thiệu xuống quá thấp. Trước hết là ông rút vào tư phòng của ông, sau đó vào hầm trú ẩn bằng bê tông ở tầng dưới cùng của Dinh Độc Lập. Ông đã được biết là Thủy Quân Lục Chiến và Biệt Động Quân trước khi rút lui đã san bằng mồ mả của tổ tiên ông ở một làng nằm ở gần bờ biển Phan Rang. Tinh thần nặng triễu vì điềm báo trước thật là kinh khủng
… ông Thiệu từ khước cả những cú điện thoại của tòa đại sứ Hoa Kỳ.
Ý thức được nỗi lo âu của người dân Sài Gòn , ông Martin ra lệnh cho thuộc cấp là phải trấn an dân chúng. Ông chỉ thỉ cho Alan Carter, chủ nhiệm sở thông tin phải đến nói chuyện ở đài truyền hình. Phải khó khăn lắm ông Martin mới giải quyết được việc này; ông không mấy thích cái anh chàng râu xồm này, một người không cùng quan điểm thông tin với ông đại sứ của mình. Cũng có thể ông Martin cảm thấy có một thích thú nào đó khi ông giao cho Carter nhiệm vụ khó khăn này. Ông Carter cảm thấy không được thoải mái lắm trước ống kính truyền hình, khi được một người Việt Nam phỏng vấn ông ta:
Hỏi: “Có một tin đồn nói rằng nếu ngân khoản viện trợ bổ túc không được chấp thuận thì người Mỹ sẽ được di tản hết từ ngày 19 tháng 4?
Đáp: “Tin đồn này không có gì làm nền tảng. Nếu ông đến thăm biệt thự của vợ chồng ông đại sứ Martin, ông có thể nhận xét là không có món gì đã được di tản, Nhà tôi cũng vậy.
Hỏi : “Cũng theo một tin đồn khác, thì Lãnh sự của Hoa Kỳ cấp phát giấy phép di tản cho một số người Việt Nam .Người ta đang sắp hàng dài trước cơ quan dịch vụ của tòa Lãnh Sự….
Ông Carter phản đối:
_ “Lại một tin đồn nữa! Tòa Lãnh sự chỉ giải quyết công việc bình thường mà thôi. Người ta điền vào hồ sơ cưới xin, làm khai sanh, và phát chiếu khán..”
Nghe ông Carter nói, người ta có thể tin rằng tỷ suất sanh sản trong cộng đồng người Mỹ ở Việt Namđang tăng mạnh.
Ông Carter biết rõ là có nhiều khán thính giả đã thấy người ta xếp hàng chờ đợi ở tòa lãnh sự. Ông nói tiếp:
_ “Sự thật là có vài người Mỹ đã ra đi. Trong hoàn cảnh này, họ có đi sớm hơn dự tính thì cũng là chuyện bình thường thôi. Tóm lại những người Mỹ đó chỉ có về sớm hơn trước ngày dự trù trong dịp nghỉ hè của họ mà thôi.”
Lối giải thích của người trưởng cơ quan thông tin này không thuyết phục được ai hết. Ngay như khán thính giả ở các tỉnh cũng cảm thấy hình như một cuộc di tản đang bắt đầu. Ông Carter đã làm hết sức mình. Để cho thấy là ông Đại sứ của ông ta đã hết lòng trong công tác phản tuyên truyền.. Ông Martin gởi về cho ông Kissinger bản văn cuộc phỏng vấn truyền hình này và còn nhấn mạnh thêm:
“Nếu Quốc Hội có bỏ phiếu chống viện trợ, tôi ước mong rằng ông và Tổng Thống sẽ công bố hết sức bình tĩnh rằng các ông đã làm hết sức mình để đạt được thắng lợi cho ngân sách năm 1976”
Ông Martin nghĩ rằng ông đã đi hơi xa:
_ “Ông có thể cho rằng chuyện đó không thực tế lắm, nhưng ở đây chuyện đó lại có nhiều kết quả. Người ta sẽ nói với chính phủ ở Sài Gòn là năm 1975 thì không có một mỹ kim nào, nhưng các ông sẽ thấy vào năm 1976, nó sẽ có trở lại!
Ông Martin sợ sẽ có những phản ứng không tốt từ phía dân chúng và binh sĩ ở Miền Nam:
_ “Hoa Thạnh Đốn không nên hoảng hốt. Một cái lệnh di tản bất thần và táo bạo có thể gây ra (ở đây) nhiều sự loạn động.”
Theo ông Martin thì quân lực VNCH có thể ngăn chận sức tiến quân của Bắc Việt đến Sài Gòn trong một thời gian nào đó. Ông không tin là Hà Nội “muốn tấn công trực diện vào Sài Gòn” Đại sứ lo ngại về những suy luận mà người ta có thể tung ra trên thế giới về những quyết định của Hoa Thạnh Đốn . Danh từ “phản bội” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong bức công điện này.
_ “Không thể để cho người ta tưởng rằng Hoa Kỳ đã phản bội lại người Việt Nam.”
Nhất là ông muốn thuyết phục ông Kissinger đừng gởi Thủy Quân Lục Chiến đến Việt Nam trước khi ông đích thân yêu cầu trong cương vị của một Đại Sứ.
_ “Tôi sẽ không ngần ngại yêu cầu ngay, nếu trật tự công cộng bị suy sụp.”
Sau đó, lần đầu tiên, ông Martin viết trong công điện:
_ “Tôi nghĩ rằng giải pháp thương thuyết không thể bắt đầu được nếu ông Thiệu vẫn còn ở chánh quyền. Trừ phi người ta ấn định cho ông những chỉ thị khác, nếu không thì ông Martin
sẽ đến bàn cãi với ông Thiệu. Ông Martin không muốn có môt cuộc độc thoại lúc đối diện với Tổng Thống Thiệu: ông sẽ nói với ông ta như một người bạn. Vị trí của ông Thiệu trong lịch sử sẽ được bảo đảm. Nếu ông không tự ý từ nhiệm thì các tướng lãnh của ông sẽ cưỡng bức ông vào con đường đó. Về mặt pháp lý thì phải giữ cho đúng theo Hiến Pháp của Việt Nam Cộng Hòa. Phải có can đảm để thực hiện việc này. Ông Thiệu sẽ đặt quyền lợi của đất nước lên trên hết. Ông Martin sẽ khuyên ông Thiệu với tư cách cá nhân, không theo một chỉ thị nào của Tổng Thống Ford hay của ông Tổng Trưởng của mình.
Đây là một hành động ngoại giao khéo léo và ngoạn mục được mô tả trong đoạn 9 của bức điện tín mà ông Martin gởi cho Tổng Trưởng Ngoại Giao của mình, với yêu cầu “nếu không có lịnh nào khác” thì xin cho phép ông thúc đẩy Tổng Thống Thiệu sớm ra đi, nhưng phần trách nhiệm không hề dính đến ông Kissinger hay Tổng Thống Ford.
Không biết đây là đạo đức giả hay là một sự hy sinh?
Bức điện tín số 710 này được ông Martin thảo ra trong một trạng thái căng thẳng thật ra không phải viết ra như một bài nghị luận. Ông trở lại vấn đề di tản người Mỹ:
_ “Nếu quân lực Hoa Kỳ đến đây ồ ạt trong hoàn cảnh hiện tại, thì khi rút đi không chừng họ phải chiến đấu với lực lượng quân sự của Miền Nam Việt Nam.” Ngược lại, nếu Hoa Thạnh Đốn cứ giữ sự bình tĩnh, thì Martin tôi có thể cho di tản người của mình “một cách không gây thêm một lỗi lầm nào, tôi xin nhắc lại một cách không gây thêm một lỗi lầm nào tai hại khác trong số hàng ngàn lỗi lầm mà người Mỹ đã vấp phải ở Việt Nam. Thân kính.”
Bức điện tín này vẫn giữ độ “Mật- Kín”. Tại Sài Gòn thì chỉ có thơ ký và nhân viên mật mã của ông Martin đọc được mà thôi. Ông Kissinger trả lời như sau:
_ “Tôi đã có bàn thảo với Tổng Thống Ford về bức điện tín số 710 của ông. Không có gì phản đối về những gì ông đã tiến hành như ông đã cho biết trong đoạn 9.”
Thật đúng là một bài kinh cầu nguyện ngắn gọn và kín đáo cho ông Thiệu!
Trong một bức điện tín được phổ biến rộng rãi từ Hoa Thạnh Đốn được gởi cho Honolulu và Sài Gòn, ông Kissinger nói:
Ngày 18 tháng 4, ông Kissinger lại cho một số chỉ thị khác:
_ “Mặc dầu có những sự toan tính của các ông và cả năng khiếu của riêng tôi, theo lối nhận định của Hoa Thạnh Đốn về tình hình quân sự chung quanh Sài Gòn và những ý định của Hà Nội , tôi buộc lòng phải đòi hỏi các ông giảm thiểu sự hiện diện của người Mỹ đến con số 1.100 người, tính đến chiều ngày thứ năm 24 tháng 4. Đó là con số nhân viên mà theo chúng tôi có thể được di tản trong một cuộc hành quân trực thăng vận”
Ông Kissinger sợ người ta cáo giác cả ông ta và ông Martin là đã “dậm chân tại chỗ”
Quốc Hội suýt cho lệnh di tản ngay tức khắc tất cả những người Mỹ ở Sài Gòn:
_ “Tôi biết là quyết định đó sẽ làm ông bực mình, cả với tôi cũng vậy. Tôi bảo đảm với ông rằng… tôi không đòi hỏi ông phải giảm con số người đó xuống nữa cho đến một ngày nào đó mà ông nhận được lệnh đóng cửa tòa đại sứ. Xin Chúa gìn giữ chúng ta! Thân mến”
Với ít nhiều sự đồng ý của ông Martin, ít thì đúng hơn, các quân nhân đã xem xét cấu trúc của sân bay Tân Sơn Nhứt. Vấn đề được đặt ra là sẽ có một lực lượng an ninh khoản 350 người được gởi tới để bảo vệ các cơ quan thuộc Phòng Tùy Viên Quân sự Hoa Kỳ. Một toán tiền sát đã gởi một công điện cho vị Tổng Tư Lệnh ở Honolulu và cho Tư lệnh lực lượng xe lội nước của Hải Quân ở Okinawa. Bức công điện nói rõ là “phải cần có ít nhất 1 tiểu đoàn bộ binh cho nhiệm vụ được dự trù.”
Ông Martin đã có một phản ứng mỉa mai đối với bức điện tín sau cùng của ông Kissinger mà nguyên văn như sau:
_ “Chúng tôi sung sướng mà nhận thấy là buổi họp rất giản dị. Tối thiểu cũng phải như vậy. Cần phải tránh chiều hướng giả dụ cho trường hợp “xấu nhất” sẽ xảy ra . Chúng ta cũng thấy nó sẽ xảy ra, nhưng chúng ta phải sẵn sàng có kế hoạch đối phó.”
Tinh thần bi quan và lo sợ của nhóm hành chánh ở Hoa Thạnh Đốn đã làm cho ông Martin cáu lên.
Ngày 18 tháng 4
Ở Hà Nội, Thủ tướng Phạm văn Đồng tiếp một nhân vật người Pháp, ông bác sĩ Roussel.
Ông này sẽ trình bày cho tòa đại sứ Pháp ở Hà Nội những lời tuyên bố của Phạm văn Đồng.
Ông Thủ tướng Bắc Việt đã tuyên bố:
_ “Có rất ít cơ may để có được một lối thoát chánh trị.
Có nhiều mâu thuẫn khắp nơi với người Mỹ. Không thấy có một người nào nghiêm chỉnh nói là phải di tản một triệu người Việt Nam. Ông Kissinger chỉ ước tính chung quanh con số hai trăm ngàn. Một tổ chức được thành lập ở Hoa Thạnh Đốn với thành phần là đại diện của các cơ quan trong Chánh Phủ, và mọi phối hợp hoạt động đều do một đại sứ hồi hưu, ông Bill Brown, một người bạn thân của ông Martin.
Người ta phải dự trù di tản 50 ngàn người tị nạn Việt Nam trong vòng 80 ngày sắp tới. Để tiếp đón họ, vị chỉ huy trưởng căn cứ Pendleton ở tiểu bang California phải sẵn sàng cho điều hành từ ngày 29 tháng 4. Mọi sự chuẩn bị phải được tiến hành với sự phối hợp của tất cả các tổ chức từ thiện và các cơ quan của Chánh Phủ. Ông Martin nói ngay là ông ta không thể cho từng ấy người ra đi từ Sài Gòn được. Ông nghĩ tới con số 200 ngàn mà Tổng Thống Ford đã đưa ra. Đối với nhân viên làm việc cho các các cơ quan Hoa Kỳ, ông sẽ chỉ định thật sự cho họ vài điểm bốc dọc theo bờ biển: “nhiều người có thể sẽ không đến đó được”
Đơn thỉnh nguyện từ các công ty xí nghiệp tràn ngập Bộ Ngoại Giao và một số Bộ khác trong Chánh Phủ Hoa Kỳ để yêu cầu di tản các nhân viên người Việt của họ. Các đơn này lại được chuyển ngược lại Sài Gòn làm cho ông Martin bực tức. Theo ông, nếu đà này cứ tiếp tục thì nó sẽ gây “hỗn loạn”. Ông Martin yêu cầu Kissinger nên dùng uy tín của mình đối với các bạn đồng nghiệp ở các Bộ khác để cho những chuyện này êm đi, hay ít ra cũng không làm quá ồn ào “trong vòng 10 ngày sắp tới, thời gian mà sự bình tĩnh hoàn toàn phải là điều chính yếu.”
Ông Martin muốn kiểm soát chặt chẽ sân khấu chánh trị của Sài Gòn .Người ta lại nói đến tướng Kỳ và sự tiếp xúc không ngừng của ông ta với các tướng lãnh khác như tướng Tư Lệnh Không quân Trần văn Minh, tướng Lê quang Lưỡng, Tư lệnh sư đoàn Dù, Đô đốc Bùi thế Lân của Hải Quân, và những sĩ quan khác như chỉ huy trưởng các đơn vị thiết giáp của Biệt Khu Thủ Đô và Vùng 3 Chiến Thuật. Người ta cũng biết rõ họ đã bàn bạc với nhau về vấn đề gì: “Tổng ThốngThiệu phải ra đi.”
Tướng Kỳ đã có kế hoạch: Chỉ cần chiếm được Dinh Độc Lập, nha bưu điện, Bộ Tổng Tham Mưu, đài phát thanh và Truyền hình. Tất cả các tướng lãnh đều đồng ý rằng nếu không làm gì hết thì Miền Nam sẽ thua. Nhưng mọi người đều thối thoát:
_ “Tôi hả, tôi không làm gì được hết
_ Ông có thể làm được đó, ông Kỳ
Tướng Viên Tổng Tham Mưu trưởng nói với tướng Kỳ:
_ “Hãy làm đi. Cho tôi biết ngày giờ, tôi sẽ cho mở cửa Bộ Tổng Tham Mưu.
Tướng Tư Lệnh Không quân cũng tâm sự:
_ “Hãy làm đi, nếu ông muốn giữ tôi như một tù binh, tôi sẽ không có một chút phản kháng nào. Ông biết không , Tổng Thống Thiệu đã biết hết rồi. Sau khi chúng ta gặp nhau lần chót, người Mỹ đã gởi đến tôi một sứ giả. Họ nói với tôi là đừng có nhúc nhích. Họ đã bảo đảm với tôi là nếu có xảy ra chuyện gì, họ sẽ cho đưa tôi sang Hoa Kỳ và sẽ lo lắng hết cho tôi.
Ngồi kế bên tướng Kỳ, vị Tư Lệnh Hải Quân nói với ông:
_ “Tôi thì không có lính, nhưng nếu ông hành sự thì người của tôi không chống trả đâu.”
Tướng Kỳ bực lắm. Ngay những người thân cận với ông, những tướng lãnh người Bắc, họ cũng nghe theo luận điệu của người Mỹ. Không biết họ muốn gì đây? Chắc họ muốn tướng Kỳ này phải đơn thân độc mã đi vào Dinh Độc Lập với một nhúm nhỏ binh sĩ rồi bắt Tổng Thống Thiệu chỉ với khẩu súng lục cầm tay sao? Tướng Kỳ này làm sao làm công việc của một tiểu đoàn cho được?
Ngày 18 tháng 4, ông Charles Timmes điện thoại cho tướng Kỳ tại tư dinh của ông ở Tân sơn Nhứt. Ông xin một cái hẹn để cùng với một nhân vật rất quan trọng của tòa đại sứ đến gặp tướng Kỳ. Ông Timmes đến đúng hẹn vào buổi trưa nay, trên một chiếc xe Volkswagen cũ kỹ, và người cùng đến với ông lại chính là ông đại sứ Martin.
Ông Martin đã tỏ ra lo lắng vì những hoạt động lăng xăng chung quanh tướng Kỳ. Người ta trình với ông là nếu người Mỹ rút đi, thì các phi công Việt Nam sẽ thật sự sẵn sàng bắn vào các phi cơ di tản. Ông ta phải đi thăm dò tướng Kỳ và nếu cần sẽ làm cho ông bình tĩnh lại.
Người Việt Nam dù là ở Miền Nam hay Miền Bắc, khi bắt đầu trò chuyện, ít khi người ta đi thẳng vào đề tài. Phải có một vài câu trao đổi xã giao….Là một người lịch lãm, ông Martin hỏi thăm về bà Mai, một cựu tiếp viên hàng không, người vợ rất đẹp của tướng Kỳ.
Sau đó hai Mỹ và một Việt cùng nhau lượng định về tình hình quân sự trên bản đồ.. Cho tới giờ này cả 3 người đều đồng ý nội dung của cuộc gặp gỡ này. Nhưng sau đó họ lại đánh trống lảng. Ông Timmes có mang theo một máy thu âm, nhưng máy hư không chạy. Tướng Kỳ và ông Martin trao đổi với nhau bằng tiếng Anh, do đó có thể có hiểu lầm vì ngôn ngữ. Tướng Timmes dường như thấy rằng ông Martin không nói rõ ràng cho lắm những gì ông cần phải nói với tướng Kỳ trong buổi gặp gỡ này. Ông Martin xác nhận là buổi viếng thăm không có nghi thức này của ông chỉ nhằm vào một việc: cho tướng Kỳ hiểu rõ rằng ông ta không nên phiêu lưu với một cuộc đảo chánh. Theo ông Kỳ thì ông Martin có hỏi ông:
_ “Nếu ông lập Chánh Phủ thì ông sẽ làm gì ông Thiệu?
Trả lời:
_ “Chúng tôi không thanh toán ông Thiệu đâu. Dân chúng Việt Nam sẽ có quyết định của họ.
Chỉ cùng một việc mà mỗi người hiểu một cách.
Sau đó cả 3 người trở lại những vấn đề quân sự . Cúi xuống bản đồ, ông Kỳ vẽ một vòng đai phòng thủ mà các đơn vị của Miền Nam được gom lại để có thể giữ được thủ đô, dựa vào Châu thổ sông Cửu Long. Khả năng khác: Cố gắng giữ vững mặt trận từ Tây Ninh sát biên giới Cam Bốt cho đến bờ biển nếu có thể, dựa vào Phan Thiết.
Ông Martin có vẻ mệt mỏi. Còn ông Kỳ thì cảm thấy những lời nói của mình quá mơ hồ và vô nghĩa. Ông đại sứ sẽ xem mình làm được gì, ông cần có thời gian, tình hình có vẻ cực kỳ rối rắm ….
Khi hai người chia tay nhau, ông Martin có cảm tưởng là ông Kỳ sẽ không có hành động nào. Còn ông Kỳ thì có cảm nghĩ rằng người ta chỉ muốn ông gác qua một bên dự tính nắm lấy chánh quyền của mình. Ông Martin dĩ nhiên không thể nói cho ông Kỳ biết là Hoa Kỳ đang có ý định khuyên ông Thiệu từ nhiệm. Và do vậy mà mọi người có thể tự hạn chế mình trong mưu đồ đảo chánh.
Để làm nản lòng những người có mưu đồ phiêu lưu này, cũng trong ngày hôm nay, ông Tổng trưởng Quốc Phòng đã cho lệnh phạt giam hoặc bắt giữ trên một chục tướng lãnh và tỉnh trưởng.
Nhật ký của bà Claude Krich.
Ngày 18 tháng 4, 1975 (thứ sáu)
“Tôi tìm cách xin 2 đứa con nuôi, hai đứa bạn trẻ Văn và Tư. Một đứa 4 tuổi và một đứa 6 tuổi. Mẹ của hai cháu này là chị Yến là một người giúp việc cho tôi. Chị xin tôi mang giùm 2 đứa trẻ qua Lào để từ đó chúng có thể được gởi về Hà Nội cho ông bà của chúng để chúng có thể đi học. Đã hai tuần rồi, tôi có nói với một viên chức ở tòa đại sứ là tôi muốn xin 2 đứa trẻ này làm con nuôi, nhưng người ta nói là đã quá muộn rồi.
Hôm nay tôi trở lại tòa đại sứ, và lần này tôi quyết định sẽ nói hết sự thật. “Tôi không muốn đem hai đứa trẻ này về Hoa Kỳ, tôi chỉ muốn cho chúng nó về với ông bà chúng nó ở ngoài Bắc.” Viên chức tòa đại sứ trả lời cho tôi là: “Nói như vậy còn nghe được đó. Tôi rất chán ngấy về cái chuyện “xuất cảng bọn con nít” này lắm rồi đến độ tôi phải hét lên đó!”
Thông báo trên tờ Sài Gòn Post ngày 18 tháng 4:
“Nữ sinh trung học trẻ khá đẹp, 18 tuổi, có bằng tú tài đôi, biết chơi đàn dương cầm, con nhà đàng hoàng, muốn tìm một ông chồng người ngoại quốc, quốc tịch Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Đức hay nước nào khác cũng được. Để đưa tôi đi ra ngoại quốc một cách hợp pháp, để tôi có thể tiếp tục con đường học vấn, bậc đại học, ở ngoài nước Việt Nam với học phí hoàn toàn của mình.
Xin điện thoại cho tôi ở số: 45 470”
Tất cả mọi người không ai có thể hình dung được đời sống của mình ở ngoại quốc bằng chính phương tiện của mình.
Cùng ngày 18 tháng 4 , cùng trên một tờ báo:
“Tìm việc làm: đầu bếp chính người Việt Nam, chuyên môn các món ăn Mỹ và làm bánh.
Tình nguyện đi ở đâu cũng được, miễn là ra khỏi nơi đây”
Chánh quyền Hoa Kỳ tiếp tục cho di tản trẻ con. Có nhiều đứa là trẻ mồ côi, nhưng có những đứa khác thuộc gia đình công chức Việt Nam muốn tìm nơi lánh nạn. Ngày 18 tháng 4 này ở Genève có 121 quốc gia đang bàn cãi về phương tiện cải tiến các công ước của Hồng Thập Tự. Có hai nước Việt Nam đang chạm trán nhau, Hà Nội thì tố cáo cầu không vận đang bốc những trẻ con ra khỏi đất nước của chúng, cái mà họ gọi là “một sự nhân đạo hoàn toàn giả tạo”, còn đại diện của Sài Gòn đả kích lại, dựa vào những cuộc “hành quyết bằng võ khí thô sơ” và những cuộc “tàn sát tập thể” ở các khu do CPLTCHMN tạm kiểm soát.
Bộ máy Lập Pháp của Hoa Kỳ đang chạy. Ông Henry Kissinger trình diện ở phòng số 2172 của tòa nhà Quốc Hội, trước 34 thành viên của Tiểu Ban Quốc Tế Vụ thuộc Hạ Viện Hoa Kỳ. Không có lời tuyên bố mở đầu. Tổng Trưởng Ngoại Giao ước tính là các thành viên đáng kính trong Tiểu Ban dĩ nhiên thích đặt câu hỏi cho ông ta hơn.
Ông Chủ tịch Tiểu Ban mở đầu:
_ “Liệu chúng ta có thể rút tỉa được gì từ những bài học ở Cam Bốt để áp dụng cho sự tiến chiếm Miền Nam Việt Nam hay không?”
Kissinger:
_ “Trước hết, giờ này chúng tôi không muốn lợi dụng sự kiện cộng sản Bắc Việt tiến chiếm Miền Nam Việt Nam. Nhưng tất cả mọi bài học đều chứng tỏ rằng không có gì thay thế được một sự quân bình về quân sự. Không có nó thì không thể nào có những sự thương thảo hữu hiệu được…. Trong một số tình huống nào đó, có thể cộng sản đặt nặng quyền lợi hơn là thương thuyết.
Ông Kissinger không muốn đặt Cam Bốt ngang hàng với Việt Nam. Ở Việt Nam có nhiều vũ khí hơn. Một vị dân biểu tán dương Chánh Phủ về cách thức di tản ở Phnom Penh. Ông ta ước mong rằng nếu cần thiết thì cuộc hành quân di tản ra khỏi Sài Gòn cũng được thành công như vậy. Ông Kissinger lợi dụng cơ hội này ca một bài “đoàn kết” để hàn gắn Hành Pháp với Lập Pháp. Ông Tổng Trưởng Ngoại Giao dùng lại một trong những danh từ được ông Martin ưa dùng: “hoảng loạn” mà ai ai cũng muốn tránh nó với bất cứ giá nào.. Trong thủ đô Hoa Kỳ, có nhiều người đề nghị là hãy nên di tản chậm rãi từ từ, Chánh Phủ muốn để lại vài người Mỹ làm con tin cho cộng sản Bắc Việt. Những mẩu chuyện này không xứng đáng để đem ra bàn cãi.
Người ta bước qua chuyện của ông Tổng Thống của Miền Nam Việt Nam. Câu hỏi:
_ “… Thưa ông Tổng Trưởng, có nhiều thành viên trong Quốc Hội – trong đó phải nói là không có tôi – ngả về ý muốn ông Thiệu nên từ chức… Ông nghĩ thế nào về việc này?
Ông Kissinger muốn rằng người ta nên dành những vấn đề này cho một phiên họp kín. Tuy nhiên ông cũng nói:
_ “… Hoa Kỳ ủng hộ Chánh Phủ ở Miền Nam Việt Nam nhưng không ủng hộ cá nhân nào.
Tuy vậy đã quá rõ ràng là ông Kissinger buông ông Thiệu trong khi ông bênh vực Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam:
_ “Tại Sài Gòn bây giờ, người ta sẵn sàng thương thuyết với một sự linh động đáng kể.
Ông Kissinger không dưa ra một bằng chứng nào về vấn đề ông vừa nói. Ở Sài Gòn thực ra có nhiều người mong cho có được một sự thương thảo, nhưng chắc chắn không phải là ông Thiệu.
Tất cả những biên bản của các phiên họp của mọi Tiểu Ban đều một lần nữa theo đường dây chạy thẳng ra cho báo chí, và như thế đã nhanh chóng đến Hà Nội và từ đó chạy thẳng đến Tổng hành dinh của chiến dịch Tổng Tấn Công ở Miền Nam ngay.
Úc Châu là quốc gia đã công nhận Sihanouk và Khmer Đỏ. Các nước khác cũng sắp làm như vậy. Về phía Hoa Kỳ thì sao? Ông Kissinger không thấy có một lý do nào để mà phải hấp tấp. Việc công nhận về mặt ngoại giao sẽ còn là quá sớm. Liệu ông Sihanouk có phải là Thủ Tướng của cái Chánh Phủ mới này hay không?
Kissinger:
_ “Tôi chắc chắn là chính ông ta cũng muốn biết việc này.
_ “Theo một số báo chí, thì Khmer Đỏ đã được dân chúng hoan nghênh khi họ vào thủ đô Phnom Penh. Người ta có chờ đón như vậy không?
Ông Kissinger:
_ “Đối diện với một quân đội chiến thắng, phản ứng của dân chúng gần như có một thái độ nào đó giống nhau…
_ “Cái gọi là CPLTCHMN có được Chánh Phủ Bắc Việt công nhận là một Chánh Phủ chánh thức của Miền Nam Việt Nam hay không?
Ông Kissinger:
_ “Không … Thật là một điều lý thú để chờ xem những mối liên hệ đó sẽ tiến triển tới đâu.
Ông dân biểu Donald Fraser, người vừa mới là thành viên của phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ đến Việt Nam cách đây vài tuần lễ:
_ “Cảm tưởng chung… là Việt Nam Cộng Hòa coi như đã mất rồi…
Kissinger:
_ “.. Giữa một chiến thắng quân sự với một sự sụp đổ hoàn toàn, vẫn có nhiều giai đoạn trung gian… Đối với những giai đoạn trung gian đó, muốn có được một kết cuộc có kiểm soát, thì một cuộc bỏ phiếu dành cho một viện trợ quân sự nào đó sẽ là điều rất cần thiết.”
Ông Fraser rất đồng ý, nhưng ông không nhận thấy được một sự linh động nào ở Sài Gòn cả. Ngay như ông Valéry Giscard d’Estaing, Tổng Thống của nước Pháp, ông cũng đòi hỏi một vị lãnh đạo khác cho Sài Gòn.
Người ta nói đến nhiệm vụ của ông Martin. Ông Kissinger nhận xét là một ông đại sứ không thể công khai chỉ trích Chánh Phủ mà ông ta được ủy nhiệm đến.
Ông Fraser đặt thẳng vấn đề:
_ “Có nhiều người trong chúng ta đã không tín nhiệm ông đại sứ của mình. Điều này là vì chúng ta đã có kinh nghiệm với ông ta.
Ông Kissinger bênh vực ông Martin ngay:
_ “Dĩ nhiên, đây không phải là một ý kiến mà chúng ta chia xẻ, nếu không thì ông ta đâu còn là đại sứ của chúng ta nữa … Trong những điều kiện hiện tại, rõ ràng là nếu Hoa Kỳ thay đổi đại sứ ngay trong lúc này, và cùng lúc với sự thay đổi lãnh đạo ở Miền Nam Việt Nam… thì thật tình không phải là một phương cách tốt để kiểm soát được tình hình…. Ông đại sứ Martin là một nhà ngoại giao có kỷ luật, đang thi hành hết sức hoàn hảo những chỉ thị mà ông ta đã nhận được.
Ông Fraser là người đã được gặp một đại diện của CPLTMNVN ở Genève:
_ “Tôi có cảm tưởng là phía họ có một sự leo thang trong những sự đòi hỏi. Người ta nói với tôi rằng quan trọng nhất là phải làm sao cho ông Thiệu ra đi. Người ta cũng có nói với tôi về sự chấm dứt hết mọi viện trợ quân sự.”
Ông Kissinger:
_ “Và trước đó rất lâu, Bắc Việt họ đã nói nhiều về vấn đề chấm dứt mọi viện trợ…..
Trong một phiên họp kín, ông Kissinger cho biết về sự vận động của Tổng Thống Ford với ông Brejnev (Liên Xô)
Ông Kissinger, quá cô đơn, có cảm nghĩ rằng phải đối đầu với cả một nước đang bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa cấp tiến và hòa bình của ông Mc Govern. Tổng Thống lại không phải do dân bầu lên. Ông Kissinger nghĩ rằng tại Quốc Hội, những người bảo thủ cũng như ôn hòa “đang ôm ấp một lý thuyết theo đó sự hòa hoãn là một ân huệ lớn của người Mỹ dành cho Liên Xô, và vì thế chúng ta có thể đòi hỏi họ phải trả lại cho chúng ta một cái giá nào đó. Tại sao chúng ta không bắt họ phải cho khoảng một trăm ngàn người Do thái được phép rời khỏi Liên Xô? Tại sao họ không làm thế này, tại sao họ không chịu làm như thế kia …? Thật là một phép lạ khi người Liên Xô không lợi dụng được sự sụp đổ của ông Nixon để theo đuổi một đường lối chánh trị gây hấn hơn?… Chúng ta không thể nhận được gì hơn khi chúng ta đe dọa họ.”
Người ta đã tập trung cả một đại hạm đội ngoài khơi Cam Bốt. Chúng ta sẽ phải làm như vậy dọc theo bờ biển Việt Nam. Tuy nhiên ông Kissinger biết là ông không thể xử dụng hạm đội đó trong mục đích quân sự được . Liên Xô họ cũng hiểu rõ như vậy. Khi ông Kissinger gọi ông Dubrynine (đại sứ Liên xô) đến Bộ Ngoại Giao, thì ông đã bịp trước một viên chức ngoại giao loại nhà nghề đáng gờm này. Chung quanh Tổng Thống Ford, là những người như Rumsfield và Nessen đã có sẵn một lý thuyết “điên rồ” loại “quẫn trí” như ông Kissinger đã nói: người ta sẽ gán cho ông Ford một sự hãnh diện là đã “rút” được người Mỹ ra khỏi Việt Nam”.
Ngủ Giác Đài muốn có một bản đánh giá nhanh chóng, còn ông Martin thì lại muốn có một cuộc di tản thật chậm rãi. Ông Kissinger thì khẳng định rằng cách tốt nhất để di tản người Việt Nam ra khỏi Việt Nam là phải giữ người Mỹ lại tại chỗ trong một thời gian nào đó. Nếu di tản hết người Mỹ, như những người ở Bộ Quốc Phòng và Bộ Ngoại Giao đang mong muốn, thì chẳng những người ta sẽ không cứu được bao nhiêu người Việt Nam, mà còn có nguy cơ là binh sĩ Việt Nam sẽ bắn lại người Mỹ nữa. Và do vậy mà người ta sẽ không có thể di tản được người Mỹ nữa. Đây là một vấn đề nói không cùng.
Để làm cho tình hình trở nên rắc rối thêm, có hai nghị sĩ loại nặng ký, ông Jacob Javits và Redmund Muskie, trong hai buổi phát hình rất được dân chúng đón nghe là “chương trình đối diên với đất nước ” và “Gặp gỡ báo chí” (Face the Nation, và Meet the Press) đã tuyên bố rằng: “nếu cần thì Tổng Thống có quyền xử dụng một số nhỏ Thủy Quân Lục Chiến để di tản người Mỹ, nhưng Tổng Thống Ford phải được Quốc Hội cho phép trước khi di tản hai trăm ngàn người Việt Nam”.
Từ Sài Gòn ông đại sứ Martin phản đối:
_ “Như vậy thì không phải là một chuyện dễ dàng cho những người Mỹ đang còn ở Sài Gòn”
Ngày 18 tháng 4, đài phát thanh Hoa Kỳ đã thông báo trước cả đài truyền hình Mỹ rằng:
_ “Tiểu Ban Quân Lực Thượng Viện Hoa Kỳ đã bác bỏ đơn xin viện trợ quân sự bổ túc cho Việt Nam Cộng Hòa. Tiểu Ban Quốc Tế Vụ của Hạ Viện Hoa Kỳ đã chấp thuận cho Tổng Thống Ford xử dụng quân lực Hoa Kỳ một cách hạn chế và dè dặt trong việc di tản người Mỹ.
Như thế là mọi trò chơi đã được an bài.
Ông Henry Kissinger đã rút tỉa được kết luận từ những quyết định của Lập Pháp:
Sau này, tại trường Đại Học Tulane, Tổng Thống Ford nâng lên thêm:
_ “Bây giờ thì chúng ta có thể tìm thấy lại được sự hãnh diện mà Hoa Kỳ đã có từ trước sự kiện Việt Nammột sự hãnh diện mà Hoa Kỳ sẽ không bao giờ tìm lại được, nếu còn tham gia vào một cuộc chiến coi như đã hoàn toàn chấm dứt đối với chúng ta.”!
o O o
Tại trại Davis (Tân sơn Nhứt), đại tá Võ đông Giang, trưởng phái đoàn MTGPMN, trong một buổi họp báo thường lệ vào mỗi sáng thứ bảy, lần đầu tiên đã nói thẳng về đại sứ Hoa Kỳ là ông Martin. Ông ta nói:
_ “Ông đại sứ Hoa Kỳ “Là một nhà ngoại giao Mỹ” nhưng “điều khiển các cuộc hành quân quân sự , chánh trị và kinh tế. Ông ta là người phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi hành vi tội ác của ông Thiệu”
Chi bộ đặc trách về cuộc tấn công chánh trị ở Hà Nội làm việc quá đắc lực . Đại tá Giang chấp nhận sự có mặt của hàng ngàn người “Mỹ dân sự”, nhưng theo ông ta thì chỉ một người cố vấn quân sự Mỹ cũng thể hiện một sự vi phạm trắng trợn Hiệp Định Ba Lẻ!
Cách trại Davis chừng vài trăm thước, trong những dãy nhà thuộc Tùy Viên Quân sự Hoa Kỳ , một phòng chiếu bóng được chỉnh trang lại thành một trung tâm thanh lọc người tỵ nạn Việt Namvà vì thế người ta đã hủy bỏ hẳn buổi chiếu bóng cuối cùng trong ngày. Chương trình quảng cáo cuốn phim dự trù “Giai Đoạn 4″ cho thấy một con nhện đang bò trên một bàn tay đầy máu đỏ, ” ngày mà trái đất sẽ biến thành nghĩa trang”.
Các viên chức Hoa Kỳ đang xem xét chứng từ của những di dân sắp lên đường đi tỵ nạn. Để hợp thức hóa tình trạng của vài trăm người Việt Nam, người ta không tiến hành các lễ cưới cấp thời , người ta thực hiện và đóng dấu các “giấy hứa hôn”. Những vị hôn phu tương lai người Mỹ phải ký vào lời khai “có ý định cưới vợ”. Trong những hàng dài đang đứng chờ đợi, người ta nói chuyện hay đọc báo.
Thông báo trên tờ Sài GònPost:
“Các bạn Mỹ thân mến,
Các bạn là những người Mỹ bình thường, không có việc gì làm trong hiện tại. Nếu bạn nào muốn có một nghề đúng sở thích, xin hãy đến gặp chúng tôi ngay, chúng tôi sẵn sàng giúp các bạn tiền bạc, nếu cần. Lương bổng hậu.
Xin làm ơn liên lạc với Cô Lan. điện thoại số 96 052.”
Ngoài thủ đô, giá của một người chồng hay vị hôn phu người Mỹ, người Pháp hay Đức.. đang lên cao. Người ta nói rằng gia đình của một số thiếu nữ trẻ, bằng lòng chịu trả hằng trăm ngàn mỹ kim tiền mặt.
Ông đại sứ Mỹ không biết chính xác hiện có bao nhiêu công dân Hoa Kỳ đang ở Việt Nam. Ông ta muốn tất cả những người này phải đi hết, và đúng lúc. Các nhà kinh doanh, các kỹ sư, các nhà thầu … đều phải tuân theo lệnh. Nhưng các người ờ ngoài lề, kể cả những người đào ngũ không liên lạc được với tòa lãnh sự Hoa Kỳ và tất cả những người mà ông Martin gọi là “những người ăn bông sen”…Theo ông Martin, có quá nhiều người Mỹ dân sự đã coi thường vấn đề, tưởng rằng đây chỉ là một cuộc tấn công như mọi cuộc tấn công bình thường khác. Ông Martin sẽ vừa chiều họ và vừa đe dọa họ, những người ăn bông sen này. Ông ta làm việc, vừa gởi điện về cho ông Kissinger, vừa nghĩ là ông Tổng Trưởng “mong muốn tòa đại sứ còn mở cửa dài dài cho tới khi nào ông ta có được một sự dàn xếp về thương lượng”.
Ông Martin sẽ di tản khoảng 750 công dân Hoa Kỳ trong vòng 3 tuần lễ. Dĩ nhiên ông sẽ giữ lại các phi công thuộc Hàng Không Hoa Kỳ. Ông ta sẽ đóng cửa tòa Lãnh sự ở Biên Hòa ở cách Sài Gòn 25 cây số ngàn. Nhất là, người ta làm ơn đừng nói gì hết ở Hoa Thạnh Đốn.
_ “Tôi muốn tránh những rủi ro như đã xảy ra ở Đà Nẵng”
Theo ông Martin thì ở đây chưa có gì gọi là nguy hiểm cho người Mỹ. Người ta còn “một tháng hay ít nhất 6 tuần lễ nữa”. Phải chờ khi nào ông ta gặp được ông Thiệu đã, trước khi có một quyết định quan trọng. Nếu ông Martin thấy ông Thiệu vẫn còn “cứng đầu và trong một tinh thần tử thủ”, thì ông đại sứ mới tăng tốc độ cho cuộc di tản. Ông Martin biết là quân Bắc Việt có thể sẽ pháo kích vào Tân Sơn Nhứt với pháo binh nặng, hoặc xử dụng hỏa tiễn SAM 7 chung quanh phi trường. Họ không phải chọn lựa gì hết để thực hiện chuyện này. Tính ảo thuật của nhà ngoại giao vốn đang ngủ say trong người ông Martin chợt bừng tỉnh dậy. Ông giải thích cho ông Kissinger là ông sắp đi gặp đại sứ Ba Lan ở Ủy Hội Quốc Tế.
_ “Nếu có hỏa tiễn được pháo vào vùng phụ cận Sài Gòn thì chắc chắn là Bắc Việt muốn bảo vệ Tổng hành dinh của họ mà thôi”, ông Martin nói với ông Kissinger như vậy. Ông ta cũng nói luôn với ông Kissinger rằng chính ông ta, đại sứ Martin, hy vọng quân cộng sản Bắc Việt sẽ thử bắn hạ một phi cơ Mỹ “bởi vì không có gì cung cấp được một lời xin lỗi tốt nhất để Không Lực Hoa Kỳ trả đũa xuống Hà Nội” ….
Nhật ký của bà Claudia Krich:
Ngày 19 tháng 4, 1975 (thứ bảy)
CPLTCHMN mong muốn có được một dàn xếp nào đó để thương thuyết. Điều này bao hàm là ông Thiệu phải từ chức. Ông Thiệu hình như không có ý định đó. Như vậy , người ta tiên đoán là sẽ có một cuộc tấn công vào Sài Gòn …. Keith (một nhân viên Quaker khác) đã cho tôi biết là có rất nhiều binh sĩ trong Sài Gòn chưa từng có đánh trận bao giờ. Họ đã trả tiền để được trốn ở nhà. Với một ít may mắn nào đó…. họ sẽ đầu hàng mà không cần chiến đấu.”
Ông Martin họp Bộ Tham mưu của ông lại để có được một nhận định tình hình mới nhất. Hà Nội sẽ cố gắng chiếm Sài Gòn để kỷ niệm sinh nhật Hồ chí Minh ngày 19 tháng 5. Nhưng có thể để loại trừ Thiệu, Hà Nội sẽ cố gắng đặt ở Sài Gòn một Chánh Phủ trung lập không mạnh lắm để dễ loại bỏ sau đó. Ông đại sứ đã gặp lại ông Bùi Diễm, người vừa mới dự một buổi họp của các tướng lãnh ở nhà của tướng Kỳ. Người ta đã khóc với nhau nhiều khi họ nghĩ tới tương lai. Ông Martin có đòi hỏi ông Bùi Diễm phải thắng các ông bạn quân nhân của ông ta lại. Và nhất là không nên có bất cứ một cuộc đảo chánh nào. Ông Martin tự hỏi về những lời tuyên bố của đại tá Võ đông Giang. Người đại diện của CPLTCHMN có nói rõ về con số cả ngàn người Mỹ sẽ có thể còn ở lại tại chỗ. Như vậy là có thể có thương thuyết . Chuyện này ông Tổng Truởng Quốc Phòng Trần văn Đôn cũng có nói. Như vậy là mình phải tận dụng các lá bài này.
Cũng như ông Martin, mặc dầu có những lời cảnh cáo của thuộc viên phân tích gia Frank Snepp, ông Polgar cũng nghĩ rằng lần lần thấy có nhiều khả năng có được những cuộc thương thuyết. Người chủ nhiệm sở Trung Ương Tình Báo CIA có nhận được một cú điện thoại từ đại tá Toth của Hung gia Lợi để họ gặp nhau. Họ dùng cơm ở nhà ông Polgar. Ông Toth hỏi:
_ “Anh có chấp nhận ý kiến là Miền Nam Việt Nam đã thua rồi không? và không thể tránh khỏi việc này sẽ kéo theo nhiều hậu quả chánh trị?
Đại tá Toth muốn đánh tiếng là những tin tức của ông ta đến từ Hà Nội chớ không phải chỉ từ CPLTCHMN đâu. Ông ta cũng thừa biết là đối với ông Polgar CPLTCHMN chỉ là một “hư cấu” mà thôi.. Đại tá Toth muốn chuyển những điều kiện tiên quyết cho một cuộc thương lượng. Danh từ “tiên quyết” này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ông Polgar không tin lắm. vì ông biết có thể đây là chuyện phản tin tức. Nhưng trên bình diện quân sự thì coi như đã hoàn toàn hỏng hết rồi. Phải tìm một đường lối chánh trị thôi. Những nhà quan sát như ông Malcolm Browne, phóng viên của tờ Nữu Ước Thời Báo mà ông Polgar thường gặp, cũng xác nhận là CPLTCHMN muốn thương lượng. Một cuộc hợp ca phấn khởi ! Ông Polgar nói:
_ “OK, Đi từ chỗ đó, bây giờ chúng ta phải làm gì đây? Ai làm cái gì và làm cho ai?”
Đại tá Toth kể ra các điều kiện tiên quyết.
_ Ông Thiệu phải từ chức, không điều kiện. Phải lập một Chánh Phủ gồm những nhân vật mới được Bắc Việt chấp thuận. Hoa Kỳ sẽ ngừng cung cấp mọi viện trợ quân sự cho Chánh Phủ mới này. Ông đại sứ Hoa Kỳ phải giới hạn những hoạt động của ông lại.”
Tất cả đều không có gì mới mẻ hết, nếu có (nếu Toth thật sự nhân danh họ) thì địch quân chỉ cho phép ông đại sứ Mỹ còn ở lại Sài Gòn mà thôi.. Liệu Đại tá Toth có thể hỏi những người phía bên kia danh sách những nhân vật Miền Nam Việt Nam nào mà họ chấp nhận được?
Đại tá Hung gia Lợi sẽ thử hỏi, nhưng ông ta nhấn mạnh là “thời gian đã cấp bách lắm rồi.
Đây là một vấn đề của từng ngày chớ không phải từng tuần nữa”.
Ông Polgar, quá bị kích động đã phúc trình ngay cho ông Martin, và ông đại sứ đã điện về cho ông Kissinger cùng ngày 19 tháng 4 lúc 18 giờ 10. Tất cả mọi việc hình như rất là thú vị. Có thể nào ông Kissinger được soi sáng thêm khi ông ta gởi ngay một “công điện cho Lê đức Thọ”? Bất chấp những lý do thật hay giả của đại tá Toth, đại sứ Martin cũng thấy như vừa cắn phải miếng mồi ngon, qua ý kiến cho tòa đại sứ của ông được duy trì ở Sài Gòn.
Trong công điện của ông, đại sứ Martin than phiền hết người này đến người khác. Các sĩ quan có trách nhiệm soạn thảo kế hoạch di tản thì vừa đòi hỏi nhu cầu phải có đến 800 Thủy Quân Lục Chiến .Ông Martin thì không muốn quá 300 . Ông bị chế độ hành chánh ở Hoa Thạnh Đốn ám ảnh. Mọi người ai cũng chạy theo một định hướng “hồn ai nấy giữ” (nguyên tác của tác giả : CYA: “Cover Your Arse”) tức là hãy thu xếp thế nào để khỏi bị trách nhiệm và không bị khiển trách). Theo ông Martin thì các trung tâm tình báo “chỉ ước tính chuyện xấu nhất. Thật là không thực tế, nhưng chuyện đó sẽ che chở cho họ”. Các quân nhân thuộc Bộ Quốc Phòng lúc nào cũng nói là họ đã sẵn sàng với phi cơ của họ. “Như vậy, nếu có chuyện không hay xảy ra thì người ta sẽ nói là Bộ Quốc Phòng đã làm tất cả những gì mà họ có thể làm được, và nếu có chuyện gì xảy đến cho những người Mỹ thì đó không phải là lỗi ở họ…. Người duy nhất có cái đầu không được ai che chở là tôi (đại sứ Martin). Bất cứ có xảy ra điều gì, thì tôi cũng sẽ lãnh đủ: không chạy khỏi bị chỉ trích.”
Hơn nữa, nghệ thuật thảo công điện ngoại giao đòi hỏi phải có tính bi kịch vừa có tính khôi hài trong đó nữa. Nên ông Martin gởi về một tin tức mà ông vừa thu lượm được qua kiểm thính được từ các đơn vị Bắc Việt:
“80 % bộ đội thuộc đại đội 6 đang bị nhậm mắt. Tất cả tiểu đoàn có thể bị lây hết không chừng. Hảy gởi y tá đến để săn sóc tức thời.”
Ông Martin cho lệnh ông Polgar giữ liên lạc chặt chẽ với viên đại tá Hung gia Lợi. Mặc kệ ý kiến của thuộc cấp như Snepp.
Ông Kissinger không quan tâm lắm về chuyện gặp gỡ bí mật của viên trưởng cơ quan tình báo CIA với một ông đại tá Hung gia Lợi. Người cộng sản không có thói quen tiến hành những chuyện thương thảo nghiêm trang qua những nhân vật hàng thứ yếu như vậy.
Chiến cuộc ở Xuân Lộc cuối cùng đã không được tốt lắm cho quân Miền Nam và tình hình quân sự hình như đã trở nên thảm hại trở lại.
Sáng chúa nhật 20 tháng 4:
Ông Kissinger trả lời: “Cái đầu của tôi cũng không được ai che chở ! Cuối cùng rồi những chỉ trích sẽ rơi vào tôi hơn là vào ông, ông Kissinger yêu cầu ông Martin hãy thăm dò thử xem ông Thiệu có định từ nhiệm hay không ? Thời điểm chọn lựa cho việc này rất là quan trọng. Ông Kissinger có liên lạc với phía Liên Xô. Ông khuyên ông Martin không nên nói gì với ông Thiệu hết: “người ta có thể dùng ông Thiệu trong vấn đề mặc cả.”
Những người có trách nhiệm ở Ngũ Giác Đài đang lo âu về chiến cụ và đạn dược của VNCH có nguy cơ bị rơi vào tay của Bắc Việt.
Ở Hoa Thạnh Đốn, trong những buổi họp có đủ mặt đại diện các ngành, ông Kissinger buông ra một câu:
_ “Tôi biết rằng nếu người Mỹ bị chết, thì đó là lỗi ở tôi. Tôi biết rằng, nếu chỉ còn một người Mỹ nào đó còn sót lại ở Việt Nam, thì đó cũng là lỗi ở tôi. Thưa các ông, bây giờ quý vị ai cũng đã tự lo đề phòng cho mình cả rồi. Chúng ta hãy bắt đầu làm lại đi”
Tại Bộ Ngoại Giao ở Mạc tư Khoa, người ta tiếp rất nhiều nhà ngoại giao ngoại quốc, nhất là từ Đông Phương. Dựa trên những sự trao đổi với các đại diện Bắc Việt và của CPLTCHMN, các viên chức ngoại giao cao cấp Liên Xô nhắc đi nhắc lại rất ngọt ngào rằng “cộng sản Việt Nam không có ý định chiếm Sài Gòn hay đi tới chiến thắng quân sự với cuộc tổng tấn công hiện tại.” Họ nói rằng Bắc Việt nhìn nhận rằng họ cũng có nhiều bài toán về tiếp vận, cùng có nhiều khó khăn về tiếp tế lương thực. Bằng chứng là khẩu phần trong vùng Hà Nội đã bị giảm thiểu…
Đây là luận cứ mới nhất của Liên Xô: Quá bất ngờ vì các đơn vị tiến quá nhanh, Bộ Tư Lệnh Bắc Việt đã gặp khó khăn trong việc đối phó với các sư đoàn cuối cùng được trang bị quá đầy đủ của Sài Gòn. Cuối cùng CPLTCHMN không muốn tiếp thu một thủ đô Sài Gòn bị tàn phá.
Cũng vẫn những tin tức tương tự được tung ra từ Ba Lê (Pháp). Tại đây phái đoàn VNCH đòi hỏi Bắc Việt và CPLTCHMN phải trở lại bàn Hội Nghị “mà không có điều kiện tiên quyết”. Đại diện CPLTCHMN trả lời rằng: “Bao lâu mà ông Nguyễn văn Thiệu còn ở chánh quyền thì chừng đó không bao giờ có tiến triển về chánh trị được”.
Trước đây vài tháng theo đề nghị của đại sứ Martin, Tổng Thống Thiệu đã cử tướng Nguyễn văn Toàn – một người to con, một người lính thật giỏi nhưng hư hỏng – đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Vùng 3 Chiến Thuật, bao gồm Sài Gòn và Xuân Lộc.
Tướng Toàn trình cho Tổng Thống là Xuân Lộc chắc sẽ bị thất thủ. Quân Bắc Việt có thể tràn ngập các đơn vị phòng thủ cuối cùng ở đây và sẽ đánh bọc hậu vào thành phố. Ở phía Bắc Sài Gòn, Bắc Việt không phải tập trung các sư đoàn mà là tập trung các quân đoàn của họ. Lần lần họ sẽ có mặt ở vùng Đồng Bằng. Đứng trước tướng Viên Tổng Tham Mưu Trưởng, tướng Toàn, người được Tổng Thống Thiệu tin cậy, đã có nhận định:
_ “Chúng ta không còn lực lượng trừ bị. Chúng ta không có thể tiếp tục chiến đấu được nữa. Trên phương diện quân sự, coi như chiến tranh đã chấm dứt. Phải thương thảo với cộng sản mà thôi.
Trong một vài trung tâm chánh trị tại Sài Gòn, những nơi mà ai cũng biết khá rõ về lịch sử nước Pháp, thì người ta giải thích là phải có một cuộc chuyển giao quyền hành hợp pháp giống như tướng De Gaulle đã nhận lấy chánh quyền hồi tháng 5 năm 1958 vậy mới được . Một vài người như ông Bùi Diễm ước tính rằng tất cả những cuộc vận động của những người này hay người khác đều vô ích thôi. Ông Martin có điện thoại cho ông Bùi Diễm. Ông Martin hỏi:
_ “Ông có gặp được Tổng Thống Thiệu chưa?
_ “Chưa, khó mà vô được lắm.
Ông Thiệu tự cô lập mình trong tư phòng, tinh thần bị đè nặng.
_ “Có lẽ bắt buộc tôi phải đích thân đến đó mới được, ông Martin vừa nói vừa thở dài. Ngày 20 tháng 4, vào buổi sáng, Ông Martin và người tùy viên là ông Brunson Mc Kinley.
đến dinh Độc Lập. Trước đó ông đã đọc qua các bản phúc trình sau cùng của các cơ quan tình báo.
Đại sứ Hoa Kỳ giải thích cho Tổng Thống Thiệu biết là “phân tích bản trận liệt và so sánh tương quan lực lượng hiện hữu đã dẫn đến một kết luận hết sức bi quan, nếu không muốn nói là thảm não .. Nếu Hà Nội muốn tiêu diệt QLVNCH thì Sài Gòn không thể cầm cự quá một tháng, hay có thể là không quá 3 tuần lễ, ngay như có được một sự phòng ngự vững chắc. Hà Nội mong muốn chiếm được Sài Gòn còn nguyên vẹn. Nếu những cuộc thương thảo không tiến hành được , người ta cũng không thể loại ra ngoài ý muốn của Bắc Việt là họ vẫn muốn chiếm một thủ đô Sài Gòn bị tàn phá hay không cũng vậy.
_ “Vậy thì triển vọng viện trợ như thế nào?
Ông Thiệu lên tiếng hỏi
_ “Mù mờ lắm” ông Martin trả lời.
Xem chừng như ông Thiệu rất bình tĩnh, đáng kính nể lắm trong khi ông Martin mô tả những nét chánh của một thất bại ê chề. Ông nói với ông Thiệu là tất cả những người nào ở vào vị thế
so với vị thế của ông ta ở tại Sài Gòn này, ở Thủ tướng Phủ bên Anh, ở Tổng Thống Phủ bên Pháp, ở điện Kremlin ở Liên Xô hay ở ngay Nhà Trắng bên Mỹ, đều có một bài toán chung giống nhau: họ không bao giờ biết được là người ta có nói hết sự thực cho mình hay không ? Người ta có thể nói dối với họ, trang điểm các phúc trình để được lợi ích cho cá nhân hay cho phòng sở của mình, để mà không làm phương hại đến người nắm giữ quyền hành tối thượng. Hay là vì người ta sợ và không muốn đưa tin quá xấu đến cho người đó.
Ông Thiệu ngồi nghe một cách kiên nhẫn.
Ông Martin tuyên bố là ông nói với tư cách cá nhân, không phải trong tư thế của một đại sứ Hoa Kỳ, với tư cách của một người từ lâu đã có quan sát được những biến cố ở Đông Nam Á Châu, của một người trong hai năm dài vừa qua đã làm việc cật lực để tìm hiểu sự phức tạp của những bài toán Việt Nam….. ông cứ tiếp tục nói…:
Càng về già, ông càng thấy mình không sao biết hết được .Người ta có thể nghi ngờ. Lúc nào cũng vậy. Đó là điều rất là có lý. Nhưng trong những thời điểm đau khổ này, những sự quan sát của ông có giá trị như của bất cứ người Đông Phương nào. Tình hình quân sự xấu kinh khủng, và người dân Việt Namcho đó là trách nhiệm của Tổng Thống Thiệu. Trong giới chánh trị, về phía bạn cũng như về phía quân thù, không có một ai dám tin rằng ông Thiệu có thể đưa đất nước của ông ra khỏi cuộc khủng khoảng này được. Các tướng lãnh của ông có thể tiếp tục chiến đấu, nhưng cũng phải đạt tới một sự ngơi nghỉ qua miếng mồi thương thuyết. Ông Martin ước tính rằng nếu ông Thiệu không sớm có hành động thì các tướng lãnh của ông sẽ đòi hỏi ông phải ra đi.
Thật là một cảnh lạ lùng, ngoài sự yên lặng của hai người đang đối thoại. Ông Thiệu đặt nhiều câu hỏi chứng tỏ rằng ít nhất tới một điểm nào đó ông mất hẳn sự tiếp xúc với thực tế, cũng giống như đại sứ Martin đôi khi vậy. Ông hỏi:
_ “Đơn từ chức của tôi có ảnh hưởng gì đến Quốc Hội Hoa Kỳ và sự bỏ phiếu của họ hay không?
_ “Vài tháng trước thì có thể có” ông Martin trả lời.
Còn bây giiờ thì ông tỏ ra nghi ngờ. Điều quan trọng là sự ra đi của ông Thiệu sẽ có ảnh hưởng đến “phía bên kia” hay không?. Ông Martin không biết….. Ông đại sứ tưởng rằng Hà Nội sẽ chống đối bất cứ người nào có nghị lực. Tất cả những người của ông Thiệu, tất cả Chánh Phủ của ông đều có cảm nghĩ rằng sự ra đi của ông sẽ giúp mua được thời gian. Ông Martin ước tính rằng hy vọng đó rất là thấp nhưng người ta có thể căn cứ vào sự sống còn của một nước Việt Nam độc lập.
Ông Thiệu trả lời là ông sẽ có một quyết định tốt, đúng theo quyền lợi của đất nước ông. Ông Martin thấy không còn chờ đợi gì hơn nữa được ở Tổng Thống Thiệu. Ông Thiệu sẽ phải suy tính lại.
Cuộc đối thoại kéo dài một tiếng rưỡi đồng hồ.
Khi trở về tòa đại sứ, ông Martin phúc trình ngay với ông Kissinger:
_ “Ông Thiệu có thể sẽ còn thử có một hành động nào đó để giúp ông ta qua mặt được kẻ thù của ông. Chắc không còn bao nhiêu thời gian nữa đâu. Xét kỹ lại thì tôi nghĩ rằng ông ta sẽ ra đi gần đây thôi…. Nếu các tướng lãnh của ông cho ông được vài ngày nữa thì có thể ông ta sẽ dàn dựng một màn từ nhiệm cảm động lắm. Tôi sẽ về nhà để đọc qua những phúc trình từ Hoa Thạnh Đốn … rồi mới đi tắm gội được . Tôi nhức đầu lắm rồi đây.
Kính,
Martin”
Vào buổi trưa cùng ngày 20 tháng 4 này, ông đại sứ Pháp đi một mình tới dinh Độc Lập. Được ông Thiệu tiếp ông cũng một mình. ông Mérillon cảm thấy sự vận động của ông có vẻ kỳ quặc nhưng thân mật.
_ “Thưa Tổng Thống, tôi đến tìm ông vì tình hình đã hết sức nghiêm trọng rồi. Không còn một lối thoát nào bằng hành động quân sự hết.
Ông Thiệu không trả lời, ông Mérillon lại tiếp:
_ “Tôi chỉ thấy được có một con đường chánh trị …. Phải để cho một tiến trình chánh trị nó phát triển.
Vốn ít nói, ông Thiệu vẫn lặng thinh. Nên cuộc nói chuyện trở thành một cuộc độc thoại dài của đại sứ Pháp. Ông điểm qua những sự kiện mà ông Thiệu mới bắt đầu biết. Ba phần tư đất nước coi như đã mất rồi. Có được bao nhiêu thành phố còn được ở trong tay của Chánh Phủ?- Sài Gòn, Cần Thơ. Nếu tình thế không nghiêm trọng thì không bao giờ Mérillon này dám tự cho phép mình… Căn cứ theo những gì Tổng Thống đang nắm được, điều rất rõ là…..
Đại sứ Pháp nhắc lại những quan hệ cá nhân giữa 2 người , nhắc lại lịch sử, danh dự, những mối liên lạc giữa bà Thiệu và bà Mérillon. Tổng Thống có thể giúp cứu vãn được dân tộc của mình . Xuyên qua một cuộc thương thảo không thể tránh né được, người ta có thể hy vọng sẽ cứu vãn một số đặc thù nào đó của Miền Nam Việt Nam được.
Tổng Thống Thiệu nói về những sự tập trung quân lực cần thiết, nói về sự phản bội của đồng minh Hoa Kỳ, về sự chủ bại của một vài tướng lãnh. Ông tỏ ra rất bình tĩnh nhưng ông Mérillon khi điện về Tổng Thống Phủ bên Pháp đã có nhận xét là: “thỉnh thoảng cái nhìn của ông Thiệu có vẻ ngơ ngác”.
Đại sứ Pháp thấy mình cần phải nêu lên những hành động chống Pháp trong những ngày gần đây ở Sài Gòn. Ông thấy cần phải lên án thái độ rất có lễ độ được dùng để làm rõ nét những sự vận động của người Pháp là “can dự vào những công việc nội bộ”. Và cuối cùng là Hiệp Định Ba Lê đã được long trọng bảo đảm ngay tại thủ đô nước Pháp.
Ông Thiệu lắng nghe mà không phản đối.
Cuộc nói chuyện kết thúc bằng một nhận xét rất là vô vị của Tổng Thống Thiệu:
_ “Rồi sẽ ra sao thì ra!”
Cũng giống như ông Martin, ông Mérillon từ giã Tổng ThốngThiệu, in trí rằng ông này rồi cũng phải ra đi.. May phước là ông Thiệu không có hỏi xem nước Pháp có chấp nhận cho ông ta tỵ nạn chánh trị ở Pháp hay không?
Ông Mérillon trở về tòa đại sứ của mình một cách bình thản. Ở Thủ tướng Phủ Pháp, có một số người sợ rằng ông Thiệu sẽ trục xuất đại sứ Pháp, hay hơn thế nữa sẽ cho người ám sát ông này.
Ngay buổi chiều hôm đó, ông Thiệu trích đọc những bức thư của ông Nixon cho các thành viên của Chánh Phủ và một số Nghị sĩ, Dân biểu Quốc Hội nghe. Trong các tiệm ăn, các quán nhậu ở Chợ Lớn, người ta đánh cá sự ra đi của Tổng Thống Thiệu, một ăn ba, rồi một ăn mười. Nội trong tuần này hay trong mười ngày tới thôi.
Ngày 21 tháng 4,
Lúc 8 giờ 20, ông Polgar lại đi gặp đại tá Toth. Viên chức Mỹ này nói với viên chức Hung gia Lợi là người ta đã lắng nghe những nhận định của ông ta. Trước khi phê phán nội dung đó, người Mỹ muốn được nghe rõ ràng hơn về vị trí của “phía bên kia”. Nhất là cộng sản sẽ muốn nghe Hoa Kỳ tuyên bố những gì?
Hai người Mỹ và Hung gia Lợi điểm qua tình hình quân sự trong 48 giờ sau cùng. Những chuyện đổ máu thêm thấy không có ý nghĩa gì hết. Đứng về quyền lợi chung của tất cả mà nói thì cần phải tránh sự hỗn độn. Ông Polgar thắc mắc là những cuộc thương thảo chừng nào mới sẽ bắt đầu và sẽ diễn ra ở đâu?
Trong khi hai ông Polgar và Toth đang xây dựng lại nước Việt Nam, thì đại tá Võ văn Cầm thuộc võ phòng của ông Thiệu đi đến đài truyền hình Việt Nam ở số 9 đường Hồng Thập Tự để xin đại tá Lê vĩnh Hòa Giám Đốc đài Truyền Hình Việt Nam tổ chức một buổi trực tiếp truyền hình. Đại tá Giám đốc đi ngay đến dinh Độc Lập mang theo dụng cụ lưu động và 20 chuyên viên. Có một đài tiếp vận trên xe để bảo đảm chuyển tiếp hình ảnh và âm thanh đến thẳng Đài Truyền Hình trung ương.
Trong một phiên họp nội các ngắn, Tổng Thống Thiệu báo cho các Tổng Bộ Trưởng của ông về quyết định của mình. Đến 2 giờ trưa Tổng Thống gặp Giám Đốc đài Truyền thanh truyền hình, lúc ông này đang đặt dụng cụ:
_ “Anh có thể cho phát hình vào lúc 6 giờ chiều được không? Để chỉnh các máy quay hình, anh hãy chọn một người nào đó có vóc dáng như tôi vậy được rồi.
Đến 3 giờ chiều, ông Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia loan báo là chiều nay Tổng Thống sẽ ngỏ lời với quốc dân đồng bào trên đài. Đến 5 giờ chiều, Tổng Thống cho gọi Giám Đốc đài truyền hình vào văn phòng của ông. Ông nói:
_ “Trong lúc chuyển giao quyền hành, anh quay luôn cả tôi và ông Hương nghe.
Ông Thiệu muốn được trực tiếp truyền hình để nói chuyện tự do hơn. Nếu ông cho thâu bài nói chuyện của ông trước thì người Mỹ có thể tạo ra những biến cố kỹ thuật được. Vì giây trời (ăn ten) phát hình nằm ngay trên đài truyền thanh của Mỹ.
Tổng Thống Thiệu chỉ thị cho Giám đốc truyền hình lần chót:
_ “Tôi sẽ nói vào đúng 19 giờ 30. Cuối cùng anh cứ giữ một máy quay trên hình của tôi.
Và cứ cách hai giờ anh lại cho phát lại một lần.”
Được biết là trước cuộc tổng tấn công của cộng sản về truyền hình đã có 5 đài chuyển tiếp, ở Sài Gòn, Cần Thơ, Nha Trang, Qui Nhơn và Huế. Trong tổng số bốn trăm ngàn máy thu hình ở Miền Nam Việt Nam, đã có hơn phân nửa ở ngay trong vùng thủ đô Sài Gòn. Bài diễn văn cũng sẽ được trực tiếp truyền thanh qua đài phát thanh trên nguyên tắc nghe được khắp cả nước Việt Nam.
Được biết ý định của Tổng Thống Thiệu, ông Martin cho ông Kissinger biết:
_ “Ông có thể cho đại sứ Liên Xô Dobrynine biết để biến chuyện này thành lợi thế là ông đã cố gắng sắp xếp chuyện này với Hà Nội qua Mạc tư Khoa. Mặc dầu tôi không biết được ông Thiệu sẽ nói gì chiều nay, nhưng tôi cũng không chờ đợi là ông sẽ quá cứng rắn đối với Hoa Kỳ.”
Ông Kissinger trả lời ngay cho ông Martin:
_ “Nếu ông Thiệu muốn rời khỏi Việt Nam, chắc chắn là ông phải lo cho ông ta mọi sự giúp đỡ cần thiết. Bất luận điều gì mà ông có thể nói về tôi, tôi vẫn có một sự kính trọng rất lớn đối với ông ta”
Ông Thiệu đã mời tất cả những Dân biểu và Nghị sĩ vào Hội trường lớn ở tầng dưới của Dinh Độc Lập, trên bục danh dự có thiết trí hai máy thu hình. Trong phòng có vài quân nhân, trong số này có đại tướng Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu trưởng. Mọi người tuy có vẻ lo âu, bối rối nhưng có phần nào nhẹ nhõm. Ông Thiệu đã nắm chánh quyền từ cả chục năm nay. Ông ta đã chịu đựng và có quá nhiều kẻ thù. Giờ thì ông sắp ra đi. Liệu người ta có thể thay thế nhau ngay lúc đang ở giữa dòng hay không ? (tác giả dùng danh từ cộng sản là “thay ngựa giữa dòng”).
Ông Tổng Thống Thiệu lên tiếng:
_ “Thưa quý bà, thưa quý ông, Thưa đồng bào, Anh Chị em thân mến, đây là chiến lược của cộng sản: Quá mạnh về mặt quân sự, họ hăng say chiến đấu và các cuộc thương thuyết là phụ thuộc. Còn nếu họ thấy quá yếu về quân sự thì họ trở lại rất mạnh trên bàn thương thảo…”
Ông Thiệu vẽ lại một biến cố lịch sử. Ông lên cao giọng. Đôi khi ông khoa tay làm như bị trật khớp vậy. Ông xin lỗi vì địa điểm nói chuyện hôm nay thiếu hẳn sự long trọng… :
_ “Đã có một sự thông đồng giữa cộng sản và Hoa Kỳ để đi đến Hiệp Định từ ngày 26 tháng 10 năm 1972. Vào lúc đó tôi can đảm nói thẳng với Tổng Trưởng Ngoại Giao Mỹ ông Kissinger rằng “Nếu ông chấp nhận bản Hiệp Định này tức là ông chấp nhận bán Miền Nam Việt Nam cho cộng sản Bắc Việt . Còn tôi, nếu tôi chấp nhận nó tức là tôi là một kẻ phản bội lại đất nước và dân tộc tôi….
Ông Thiệu đã từ chối không chịu ký tên vào Bản Hiệp Định trong suốt 3 tháng. Lần đầu tiên Tổng Thống Thiệu công khai nói rằng để ép ông ký, vào năm 1973 Tổng Thống Nixon của Hoa Kỳ đã phải đe dọa cúp hết tất cả mọi viện trợ cho Miền Nam Việt Nam.
Bài diễn văn này không được ông Hoàng Đức Nhã phụ ông soạn thảo, giống như những lần trước . Tổng Thống vừa đọc vừa thêm bớt tùy hứng, rất dài, và rất khúc chiết. Đôi khi cử tọa thấy bực mình vì nghe được tính cách quá nghiêm trọng của diễn tiến lịch sử này.
Thỉnh thoảng Tổng Thống đã tỏ ra rất giận dữ, quá xúc động, nên ông phải ngưng lại một lúc để tìm lại đoạn nối tiếp cho đúng chỗ trong bài diễn văn của mình. Chỉ có vài giây yên lặng mà sao thật là quá dài… Ông Thiệu đã tỏ ra rất là cứng rắn đối với người Mỹ, điều mà ông Martin không bao giờ mong đợi:
_ “Tôi đã nói với họ (người Mỹ) rằng: Các ông đã bắt chúng tôi phải làm những gì mà các ông đã thất bại không làm được với nửa triệu binh sĩ võ trang quá đầy đủ… Các ông không có thua cộng sản thật nhưng các ông cũng không thắng họ được. Và các ông lại tìm được một lối thoát trong danh dự. Bây giờ, trong lúc quân đội chúng tôi thiếu vũ khí, thiếu đạn dược, thiếu trực thăng, phi cơ và B.52, thì các ông lại đòi hỏi chúng tôi phải thực hiện một việc không thể nào làm được, là lượm từ viên đá để lấp cả một đại dương! Thật giống như các ông chỉ cho chúng tôi có 3 mỹ kim thôi mà buộc chúng tôi phải mua vé máy bay thượng hạng, hoặc buộc chúng tôi phải thuê một phòng ở khách sạn mà thường giá phải là 30 mỹ kim một ngày. .rồi phải ăn 4 hay 5 miếng bò bít tết, phải uống 6 hay 7 ly rượu vang…. Thật là vô lý, không thể nào thực hiện được!
Các khán thính giả đài truyền hình – người Việt Nam thì theo dõi bài nói chuyện trong nhà họ, và những cơ quan truyền thông báo chí thì ở tòa đại sứ Mỹ có người dịch ngay ra tiếng Anh tại chỗ – đều cảm thấy đây không phải là một bài diễn văn của một nhà ngoại giao, mà thật sự là một lá chúc thư.
Quá khích động, mồ hôi nhễ nhãi trên trán, ông Thiệu đã tỏ ra là một người thành thật khi ông thóa mạ người Mỹ:
_ “Các ông bỏ mặc binh sĩ chúng tôi dưới cơn mưa pháo của cộng sản, thật là một hành động vô nhân đạo của một đồng minh vô nhân đạo!
Ông gằn mạnh từng tiếng và lập lại:
_ “Từ chối giúp đỡ một đồng minh, bỏ mặc cho họ chết, thật là vô nhân đạo.
Sau đó ông trở về với bài diễn văn:
_ “Hoa Kỳ đã tỏ ra rất hãnh diện là một quốc gia tranh đấu không mệt mỏi cho chánh nghĩa và lý tưởng Tự Do trên thế giới này. Năm tới Hoa Kỳ sẽ tổ chức lễ kỷ niệm 200 năm lập quốc…. Liệu người ta còn có ai tin vào những lời tuyên bố của Hoa Kỳ nữa hay không?
Ông Thiệu tự nhủ là ông sẵn sàng chấp nhận mọi chỉ trích của cả thế giới, của những đồng minh của ông , và của cả dân tộc Việt Nam.
_ “Tôi công nhận là có một số cấp chỉ huy quân sự của tôi đã tỏ ra hèn nhát trong những chiến trận gần đây, nhưng không phải tất cả đều như vậy. Trong nhiều Vùng, các chiến sĩ của ta đã chiến đấu một cách anh dũng…. Tôi có thể tiếp tục nhiệm vụ của tôi trong chức vụ Tổng Thống để cầm đầu cuộc kháng chiến.. Nhưng tôi không thể cung cấp được cho quân đội đầy đủ phương tiện để chiến đấu…. Đồng bào có thể hiểu lầm tôi, cho tôi là một chướng ngại trên con đường đi đến hòa bình. Tôi chọn giải pháp thứ hai, là tôi xin từ nhiệm. Sự từ chức của tôi chỉ là một sự hy sinh rất nhỏ.”
Ông xin tất cả hãy giúp đỡ Phó Tổng Thống Trần văn Hương, người sẽ kế vị ông theo đúng Hiến Pháp vào chức vụ Tổng Thống.
Ngồi bên cạnh ông Thiệu, ông Trần văn Hương rất cảm động sau cặp kính đen lớn của ông.
Ông Thiệu nói tiếp:
_ “Không phải vì những áp lực của Đồng Minh chúng ta, cũng không phải vì cuộc chiến đấu khó khăn vối với quân đội cộng sản Bắc Việt mà tôi bỏ cuộc. Có những vị Tổng Thống của một vài quốc gia lớn cũng đã từng trải qua sáu hay bảy cuộc khủng khoảng. Họ đã viết sách, tự giới thiệu như những vị anh hùng, những chánh trị gia lỗi lạc. Còn tôi, trong mười năm qua, tất cả những năm, tháng, ngày, giờ của đời tôi đều gặp khó khăn, như tử vi của tôi đã tiên đoán.”
Trong hàng cử tọa người ta muốn ông Thiệu chấm dứt. Nhưng ông cứ tiếp tục, trở lại những đề tài đã nói:
_ Tôi sẵn sàng chấp nhận những phê phán và những cáo buộc của quốc dân đồng bào… Đời sống của cả một dân tộc không thể nào được trả giá như người ta trả giá một con cá ngoài chợ được
Cuối cùng ông Thiệu tuyên bố:
_ “Tôi xin từ nhiệm, tôi không đào ngũ”
Như vậy là ông Thiệu đã nói suốt một tiếng rưỡi đồng hồ.
Vị tân Tổng Thống Trần văn Hương sẽ lên tiếng tiếp theo đây. Người ta phải dìu ông lên đến tận ống nói. Sáu mươi hai tuổi đầu, lưng hơi còng hình như bị thấp khớp, ông nói với binh sĩ:
_ “Bao lâu mà các anh em còn chiến đấu, ngày đó tôi vẫn còn đứng bên cạnh các anh em. Tai họa đã giáng xuống đất nước chúng ta, hài cốt tôi sẽ nằm chung với hài cốt của các bạn chiến binh. Đó là nguyện vọng thiết tha của tôi.
Đối với đồng bào ông Hương tuyên bố:
_ “Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết”.
Sau buổi lễ tuyên thệ của Tân Tổng Thống, Tướng Tổng Tham mưu Trưởng và Tổng Giám Đốc Nha Cảnh Sát đứng lên bảo đảm là quân đội tiếp tục chiến đấu và an ninh trật tự sẽ được vãn hồi.
Nhà văn Duyên Anh đã nghe ông Thiệu nói. Ông tự nhủ: Ông Thiệu không phải tài giỏi gì nhưng người Mỹ tin cậy ông ta. Nếu họ bỏ ông ta, thì cuộc diện coi như đã xong rồi.
Đã từ mấy ngày nay, tên của nhà văn Duyên Anh đã được ghi vào danh sách rồi nên ông chỉ còn chờ còn chờ có một cú điện thoại nữa mà thôi, để được bốc đi Hoa Kỳ. Người ta yêu cầu ông đừng có xử dụng đường giây điện thoại để bất cứ lúc nào cũng có thể nhận được điện thoại khẩn cấp . Giữa cú điện thoại và lúc ra đến điểm hẹn để được bốc đi, chỉ có vỏn vẹn 5 phút mà thôi.
Hòa thượng Thích Thiện Huê đã ngồi ở ngay chùa với môt số dân lánh nạn để nghe bài nói chuyện của ông Thiệu. Mọi người đều vui vẻ. Ông Thiệu đã mất hết vừa đồng minh vừa lòng tin của đồng bào. Ông ra đi là phải lắm rồi. Với một người lãnh đạo khác, tình hình may ra có thể khả quan hơn.
Ông kỹ sư Văn thì không thấy vui một chút nào. Làm sao những người quốc gia có thể thương thuyết được khi họ ở trong thế quá yếu? Còn ông Tân Tổng Thống Hương vốn là một người chống Cộng đến cùng thì làm sao mà thương thuyết được? muốn vậy là phải có một nhân vật nào đó mềm dẻo hơn.
Ở Đà Lạt, cha Jean Marie phải vào nhà ăn của trường Đại Học đóng kín tất cả cửa lại để nghe Tổng Thống nói chuyện. Ông cảm thấy tức giận. Tổng Thống Thiệu đã loan báo là ông sẽ trở lại quân đội như một tướng lãnh. Nhưng mà Cha nghĩ là chắc chắn ông Thiệu đã có trong túi một vé máy bay để đi ra ngoại quốc rồi.
Chỉ hai giờ đồng hồ sau lễ bàn giao quyền hành ở Dinh Độc Lập, thì đài giải phóng và đài Hà Nội đã tuyên bố là: “Đó vẫn là chế độ Thiệu mà không có Thiệu… Chỉ là một chế độ bù nhìn mà thôi.”
Ông Thiệu gặp ông Hoàng Đức Nhã, người em bà con của ông ở nhà riêng của ông này.
Ông cựu Tổng Thống hình như đã thanh thản hơn, không còn quá căng thẳng như lúc ông đọc diễn văn nữa. Đến độ ông đã nở được một nụ cười….. – hay là ông đã nhăn mặt đây? – để nói:
_ “Xong rồi. Nếu họ tưởng rằng họ có thể giải quyết được những bài toán này thì OK, xin cứ tìm giải pháp đi ….”
Sau đó ông thở dài:
_ “Phần tôi, tôi đã làm được tất cả những gì mà tôi có thể làm được cho đất nước tôi rồi”.
Ông ta không còn ở tay lái nữa, nhưng ông chưa rời bỏ con thuyền. Ông chưa có ý định rời khỏi quê hương Việt Nam.
_ “Tôi sẵn sàng giúp ý kiến, nhưng bây giờ tôi không phải là người chỉ huy nữa.”
Trong khi ông Thiệu từ chức, các đơn vị cuối cùng của sư đoàn 18 bộ binh đang rút ra khỏi Xuân Lộc . Tướng Tư Lệnh sư đoàn Lê minh Đảo đã đặt cho cuộc triệt thoái này một cái tên là ” cuộc hành quân bất ngờ, và đánh lạc hướng”. Tướng Đảo đã có được một sự giúp đỡ ngắn – do một trái bom được gọi là ” cắt hết bông cúc” được thả xuống đêm rồi ở 6 cây số về hướng Tây Bắc Xuân Lộc, gần Bộ Tư Lệnh của sư đoàn 341 Bắc Việt. Bom nổ làm chấn động cả thành phố như một cuộc động đất. Tin được loan đi hoảng loạn: Miền Nam Việt Nam có bom nguyên tử loại chiến thuật. Hàng ngàn bộ đội và sĩ quan Bắc Việt bị tử thương do trái bom “hút hết dưỡng khí” này đã đốt hết dưỡng khí trong một đường bán kính 250 thước, làm chết ngay tại chỗ, nghẹt thở, mà không có một thương tích nào trên người.
Ông Eric von Marbod đã có hứa cho Miền Nam 27 trái bom loại “cắt hết bông cúc” này. Đã có 3 trái được giao cho Không Quân hôm 16 tháng 4, kèm theo đầy đủ mỗi trái một ngòi nổ của Hoa Kỳ. Ông ta đã chỉ cho Miền Nam kỹ thuật làm nổ trái bom và cách thức ràng rịt trái bom trên phi cơ vận tải cơ C.130. Muốn thả trái bom đầu tiên này, người ta gặp nhiều khó khăn lắm mới tìm được một phi công của Miền Nam có đủ kinh nghiệm. Vì người phi công Mỹ đã có hứa đến mà không thấy đến. Và người ta cũng không còn thả thêm được một trái bom nào loại này nữa.
Cuộc triệt thoái khỏi Xuân Lộc được tính toán rất kỹ và được thực hiện rất chu đáo. Những đơn vị cuối cùng của sư đoàn 18 bộ binh, của lữ đoàn 1 Dù, vài đơn vị Bảo An và Dân Vệ, đã rời khỏi vị trí đêm 23 tháng 4. Sư đoàn 18 tính tới giờ này đã bị thiệt 30 % quân số, đã tập trung được với pháo binh cơ hữu chung quanh các căn cứ Long Bình và Biên Hòa. Lực lượng Dù ít thiệt hại hơn, đã về thiết lập vị trí trên đường 15, bảo vệ trục lộ Sài Gòn ra Vũng Tàu.
Tổng Tư Lệnh quân đội Bắc Việt đã có quyết định bọc hậu thành phố để tiến về Biên Hòa , nằm ở giữa Xuân Lộc và Sài Gòn. Trong trận tấn công vào Xuân Lộc tướng Dũng đã mất hết 37 chiến xa T. 54.
Ở Sài Gòn, các nhà ngoại giao Pháp đang hăng say hoạt động. Họ muốn cho thủ đô không bị nằm trong lửa đạn, và chìa cho cộng sản Bắc Việt lá bài Dương văn Minh. Nhưng liệu Hà Nội có chấp nhận lá bài này hay không? Sài Gòn, một thành phố đang hấp hối, đang tuyệt vọng, hình như đang bị rơi vào khoảng không … Hai ông Mérillon và Brochand đều nghĩ rằng cần phải có cả một sự ổn định về mặt tâm lý lẫn chánh trị . Người Pháp thấy rõ là người Mỹ chỉ muốn cứu lấy đồ đạc của họ mà thôi.
Olivier Todd
Dương Hiếu Nghĩa dịch
Post by Sơn râu 22 Apr 2024

21. Chương 16 – Cài hoa trên vành tai
Quốc Hội Hoa Kỳ bắt đầu họp lại từ ngày 7 tháng 4.
Ở quốc gia Hoa Kỳ, nhất là ở các khu vực bầu cử của họ, các nghị sĩ và dân biểu đã nhận thấy là cử tri của họ không nhận định được vị trí của Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam Việt Nam). Rất hiếm công dân Mỹ cảm thấy bị xúc động khi xem các tấm ảnh ở mặt trận Xuân Lộc, cho thấy binh sĩ Miền Nam Việt Namđang ở các vị trí phòng thủ được tổ chức rất chu đáo, hoặc khi họ phất lên những lá cờ cộng sản màu đỏ tịch thu được của quân đội Bắc Việt . Một sự thăm dò của Louis Harris đã đo được cảm tưởng của những người đắc cử. Trong ba người đã có đến 2 người chống lại viện trợ quân sự cho Cam Bốt và Miền Nam Việt Nam, dù nhờ đó mà có thể “tránh được” một sự tắm máu cho dân chúng ở hai quốc gia đó.
Các ban và các tiểu ban trong Quốc Hội cho chuyển động bộ máy dân chủ của họ, tuy chính xác nhưng quá nặng nề . Các nghị sĩ và dân biểu được cho biết tin tức từng giờ một về những sự bất đồng nội bộ ngay trong Chánh Phủ Hoa Kỳ. Nhà Trắng và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ít nhất đã chánh thức hóa đường lối ngoại giao của họ: Miền Nam Việt Nam có thể sẽ được cứu. Ở Ngũ Giác Đài thì một cách không chánh thức người ta cho biết là không còn một hy vọng nào nữa. Tuy nhiên theo lối trình bày công khai thì ông James Schlesinger vẫn trung thành bảo vệ chủ trương của Tổng Thống Ford. Ông Tổng trưởng Quốc Phòng không đi đến mức đoan chắc là một viện trợ quân sự bổ túc có thể sẽ cứu được quân đội Miền Nam Việt Nam. Ông tuyên bố là niềm tin của thế giới đối với Hoa Kỳ đang bị thử thách:
“Chúng ta không thể là một quốc gia có thể buông bỏ bạn bè, phản bội đồng minh của mình, hay nuốt bỏ lời hứa của mình được.”
Ở Hoa Thạnh Đốn càng ngày người ta càng nói tới những mật ước mà ông Nixon đã cam kết với VNCH. Còn hơn thế nữa: có phải người ta cũng đã có những bảo đảm hay cam kết “bằng miệng”? Nghị sĩ Henry Jackson buộc Henry Kissinger phải ra trước Quốc Hội để nói rõ về những bảo đảm do ông ta đã “cam kết mà không báo trước cho Quốc Hội”. Với phong cách “ta đây” của một nghị sĩ bị lăng nhục, ông tự nhủ là phải mở ngay một cuộc điều tra. Cũng như các đồng viện, ông muốn làm sáng tỏ về những cam kết của Hoa Kỳ . Thật ra ông cũng muốn làm giảm uy thế của Tổng Thống Ford khi ông hạch hỏi Kissinger. Họ đã được thấm nhuần đặc tính luôn luôn dị ứng về mọi hành động “đi đêm” từ thời Tổng Thống Wilson, một người đã ca tụng giá trị của những “thỏa thuận công khai được thực hiện công khai”, nên các nhà lập pháp không sẵn sàng để nghe những trình bày của các đại diện Hành Pháp một cách thuận lợi lắm. Hậu quả của sự kiện “nghe lén” (Watergate) chưa tan biến hết. Hơn bao giờ hết, Tổng Thống và Chánh Phủ của ông vẫn bị cáo buộc là “có tội” trước khi họ chứng minh được sự vô tội của họ
Trong các phiên họp công khai hay họp kín, các nghị sĩ và dân biểu hạch hỏi các nhân viên của Bộ Ngoại Giao, của Bộ Quốc Phòng, của Trung Ương Tình Báo hay của tất cả các cơ quan khác của Chánh Phủ gởi tới. Thẳng thừng đến gần như tàn bạo, phiên họp của các tiểu ban thường giống như các cuộc điều tra ; bên trong các phòng vuông bằng đá hoa hay cẩm thạch oai nghiêm thường diễn ra những cuộc đấu trí giữa các đại biểu của Hành Pháp và những người của Lập Pháp . Các công chức ra điều trần ở đây thường khó dấu được sự hoài nghi của họ.
Daniel Parker, trưởng cơ quan phát triển quốc tế đã tuyên bố với các thành viên của Tiểu Ban Quốc Tế của Hạ Viện rằng:
_ “Tôi không thể nói với các ông là số phận của Miền Nam Việt Nam sẽ ra sao trong những tháng sắp tới, nhưng tôi có` thể nói số phận của dân chúng của họ sẽ ra sao…. nếu chúng ta không chấp thuận cho họ những phương tiện cần thiết.”
Các tiểu ban phân biệt rõ ràng sự giúp đỡ quân sự mà họ càng ngày càng chống đối, với sự giúp đỡ nhân đạo. Nghị sĩ Hubert Humphrey, cựu Phó Tổng Thống và cựu ứng cử viên Tổng Thống của đảng Dân Chủ, đã nói trong hành lang rằng:
– “Tất cả mọi người đều đi dạo chơi với cành hoa cài trên vành tai, và nói rằng mọi việc rồi sẽ qua đi. Chuyện này sẽ không qua đi một cách tốt đẹp đâu. Đó là một thảm họa . Tôi là người không sẵn sàng cho thêm “một xu” nào nữa, cho những người không muốn đứng trở lên và chiến đấu cho sự sống còn của mình.”
Tổng Thống Ford ngỏ lời với các nghị sĩ và dân biểu đang họp mặt trong một bầu không khí trang trọng. Có nhiều thành viên trong Quốc Hội, vì một niềm tin cho số đông cử tri của họ, và cũng như có một số dân cử không sợ mất lòng cử tri của mình , đã cho các tùy viên trong Quốc Hội và các đại biểu đặc biệt của Chánh Phủ biết , khi được dò hỏi, là họ sẽ sẵn sàng bỏ phiếu thuận cho viện trợ nhân đạo, và dĩ nhiên cả ngân khoản cần thiết để tiến hành một cuộc di tản, nhưng về viện trợ cho cuộc chiến thì không có một đô la nào thêm nữa.. Do đó ông Ford phải bơi ngược dòng nước….
Hơn một nửa của bài diễn văn được ông dành để nhắc tới Đông Dương.. Về Cam Bốt, Tổng Thống Ford nhắc lại là trước đây 3 tháng ông đã có xin một ngân khoản viện trợ bổ túc. Nhưng ngay chiều nay “có thể là đã quá muộn rồi”. Do đó ông sắp sửa cho đóng cửa tòa đại sứ của ông ở Phnom Penh. Đối với ông, coi như Cam Bốt đã mất rồi, nhưng Việt Nam thì không. Về Việt Nam, ông nhắc lại những luận cứ của Chánh Phủ của ông (một số các vị dân cử cho là ông nhai lại): Hiệp Định Ba Lê có đứng vững được là do Hoa Kỳ đã trợ lực cho Sài Gòn. Những sự từ chối của Quốc Hội không bỏ phiếu cho những ngân khoản viện trợ là sẽ khuyến khích Hà Nội tăng thêm nỗ lực tấn công của họ.
Các vị dân cử không bao giờ chấp nhận luận điệu gán trách nhiệm cho họ về sự tan vỡ của Miền Nam Việt Nam. Tổng Thống Ford dự đoán nhiều giải pháp.
Có hai giải pháp tích cực: Hoặc không làm gì hết, hoặc phải tuyên chiến để thi hành Hiệp Định Ba Lê.
Có hai giải pháp gần như trung dung: Hoặc chấp thuận một ngân khoản 300 triệu mỹ kim viện trợ quân sự như đã xin từ trước, hoặc tăng ngân khoản viện trợ quân sự và kinh tế.
Tổng Thống Ford thì khuyến cáo nên dùng giải pháp thứ hai này.
Trường hợp tốt nhất, giải pháp này sẽ giúp cho Miền Nam Việt Nam ổn định được tình hình quân sự và đạt được một dàn xếp chánh trị. Trường hợp xấu nhất cũng có thể giúp di tản được 6000 người Mỹ đang còn tại chỗ và một số người Việt Nam nào đó.
Đọc bài diễn văn một cách đơn điệu, dựa trên phúc trình của tướng Weyand, Tổng Thống Ford xin Quốc Hội ngân khoản viện trợ quân sự 722 triệu và 250 triệu để giúp đỡ cho những người di cư. Tổng Thống yêu cầu Lưỡng viện Quốc Hội chấp thuận các ngân khoản này và bỏ phiếu trước ngày 19 tháng 4.
Tổng Thống Ford cũng nêu lên một bài toán phức tạp: đâu là quyền hạn của một Tổng Thống về việc xử dụng quân đội để di tản người Mỹ ở Việt Nam“nếu thấy đó là chuyện cần thiết” . Ông Ford phải thủ thế khi ông nghĩ tới hiến chế được thay đổi dưới trào ông Nixon nhằm hạn chế quyền hạn của Tổng Thống . Ông hy vọng là người ta sẽ cho phép ông được gởi quân Mỹ để “bảo vệ và hộ tống” các công dân Hoa Kỳ , ông không muốn trong trường hợp nào đó ông lại bị cáo buộc là đã gây chiến tranh trở lại. Theo Hiến Pháp thì Quốc Hội “có quyền … tuyên chiến” . Không có một Tổng Thống nào từ ông Kennedy, ông Johnson đến ông Nixon đều không có kêu gọi các nhà Lập Pháp làm đúng theo Hiến Pháp, một điều sai trái trầm trọng về tâm lý. Thật tình thì Quốc Hội Hoa Kỳ chưa bao giờ tuyên chiến từ Thế chiến Hai. Điều đó không ngăn cản các Tổng Thống gởi quân đội Mỹ qua Hy Lạp và Đại Hàn, (dưới danh nghĩa của Liên Hiệp Quốc), qua Cộng Hòa Đô mi ni ca, và qua Li băng. Trong một số trường hợp, người ta có thể cho đó là những cuộc hành quân Cảnh Sát đại qui mô. Nhất là từ sau 1965, các nghị sĩ và dân biểu Hoa Kỳ mặc nhiên cho Tổng Thống quyền được tiến hành chiến tranh mà không cần tuyên chiến. Và cứ mỗi năm các nhà Lập Pháp lại tiếp tục bỏ phiếu cho ngân khoản cần thiết.
Cung cách đó đã qua rồi. Vào tháng 7 năm 1973, Quốc Hội đã bỏ phiếu cho một Luật nhằm xóa hết các ngân khoản cho “tất cả các hoạt động tác chiến” ở Đông Dương. Mặc dầu Tổng Thống Nixon đã phủ quyết, nhưng tiếp theo đó vào tháng 11, Quốc Hội đã chấp thuận một Quyết Nghị về Quyền Hạn Chiến Tranh, quyết nghị này đã trở thành Luật (về Quyền Hạn Chiến Tranh). Theo Luật này, người ta đã thấy là mỗi lần Tổng Thống xử dụng quân đội Hoa Kỳ ở ngoại quốc là ông phải phúc trình.. Luật này không dự trù trường hợp nào có dạng như di tản từ Miền Nam Việt Nam. Vậy Tổng Thống sẽ lấy “quyền” nào để đưa quân lực Hoa Kỳ vào vùng chiến sự hay vào những vùng mà tình hình thực tế cho thấy rõ ràng là mình sẽ có thể bị lôi kéo vào chiến sự. Quyết nghị và Luật về Quyền Hạn Chiến Tranh không phải văn kiện quá sáng tỏ về mặt pháp lý. Ông Ford muốn làm sáng tỏ một vài điểm – để tự bảo vệ cho mình.
Một bài toán khác: Bộ Luật không dự trù di tản người Việt Nam vì họ không phải là công dân Hoa Kỳ. Các nhà Lập Pháp chấp thuận giúp đỡ người Mỹ đang gặp khó khăn, điều đó rất đúng, nhưng còn người Việt Nam thì sao? Và bao nhiêu người?
Để chấm dứt chuyện cam kết mật của ông Nixon, ông Tổng Thống Ford đã có một buổi họp với các lãnh tụ đa số của Quốc Hội ở Nhà Trắng vào ngày 11 tháng 4. Trên căn bản thì Tổng Thống Ford tuyên bố là “những trao đổi riêng tư giữa ông Nixon và ông Thiệu không khác những gì mà người ta đã nói lên một cách công khai”. Đúng là một đề tài rất tốt cho luận án tiến sĩ, câu hỏi hoàn toàn được giữ nguyên: ” sự cam kết riêng của một ông cựu Tổng Thống có bắt buộc ông Tổng Thống đương nhiệm phải cam kết hay không? và nhất là Quốc Hội? Tổng Thống và Quốc Hội thấy không có thì giờ cho quý vị làm luận án nữa!
Tổng Thống Ford ra lệnh cho đại sứ Mỹ John Dean ở Phnom Penh đóng cửa tòa đại sứ ở đó Ngày 12 tháng 4 hồi 7 giờ 45, có ba đợt trực thăng cất cánh từ hàng không mẫu hạm Okinawa ở vịnh Thái Lan. Một số khác đi từ mẫu hạm Hancock. Tất cả Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đều được trang bị súng M.16 và súng phóng lựu. Được chuẩn bị từ tháng 2, cuộc hành quân “Ó bay đi” (Eagle Pull) bắt đầu. Ông John Dean, một nhà ngoại giao lão luyện, người đã theo sát mọi sự kiện của Đông Dương ở Ba Lê và ở Vạn Tượng trước khi được chỉ định vào chức vụ Đại Sứ ở Phnom Penh, đã thông báo cho những nhân vật có trách nhiệm chánh trị và quân sự của Cam Bốt: Những ai muốn nhân cơ hội này để được di tản thì sẽ được bốc đi. Ông John Dean đích thân đến tư dinh của Thủ Tướng Long Boret để thông báo vấn đề này. Trừ một người, còn tất cả các Tổng trưởng và vị xử lý thường vụ Chủ Tịch Nước đều từ chối không ai chịu di tản,
Sau khi bay 160 cây số trên lãnh thổ đang nằm trong tay Kmers Đỏ, các trực thăng đầu tiên thuộc nhóm Alpha đáp xuống Phnom Penh , và các Thủy Quân Lục Chiến bố trí ngay chung quanh Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ
Ông John Dean nhận được một bức thư của ông Sirik Matak, Cố vấn Chánh Phủ , nội dung như sau:
_ “Thưa ông Đại sứ và ông bạn thân mến,
Tôi thành thật rất cám ơn ông, về bức thơ và đề nghị của ông nhằm đưa chúng tôi đến nơi Tự Do. Than ôi, tôi không thể đi một cách hèn nhát như thế được.
Về phần ông và quốc gia Hoa Kỳ hùng mạnh của ông, không có một lúc nào tôi tưởng rằng các ông buông bỏ một dân tộc đang chọn và tranh đấu cho Tự Do. Các ông đã từ chối không bảo vệ dân tộc chúng tôi ; chúng tôi không thể làm gì hơn được. Ông ra đi, Tôi xin chúc ông và quốc gia của ông tìm được hạnh phúc dưới gầm trời này.
Nhưng, xin ông ghi rõ điều này, nếu tôi có chết ở đây, chết ở ngay đất nước thân yêu của tôi, xin hãy mặc kệ chúng tôi , vì chúng tôi được sanh ra thì tất nhiên rồi cũng phải có một ngày nào đó chúng tôi phải chết thôi! Nhưng điều đáng tiếc là tôi đã có môt lầm lỗi, đó là tin nơi ông và tin nơi người Mỹ các ông.
Xin ông Đại sứ và là ông bạn thân của tôi nhận nơi đây tình cảm trung thực và thân thiết của tôi .
Surik Matak
Vì tò mò, không hận thù, người dân Cam Bốt đứng quanh tòa đại sứ nhìn cuộc hành quân di tản đang diễn tiến rất tốt đẹp. Đại úy Cyril Moter tham gia cuộc hành quân này với nhóm Thủy Quân Lục Chiến của ông. Trong hai tiếng đồng hồ, trực thăng đã bốc đi 82 người Mỹ, 159 người Cam Bốt, và một số người Phi luật Tân, Đài Loan, Úc, Thái Lan, Pháp, Tây ban Nha, Thụy điển, Anh cát Lợi, Gia nã Đại và Ý đại Lợi. Trong số những người Mỹ thì có các nhà ngoại giao và một số nhà báo. Nhưng Sydney Schanberg của tờ Thời Báo Nhiêu Do và cộng sự viên của ông, Dith Pran, người Cam Bốt, thì không đi, chọn ở lại Phnom Penh.
Đến 10 giờ 15 thì ông John Dean với vẻ mặt nghiêm trọng, nếu không muốn nói là thiểu não, ôm lá quốc kỳ Mỹ trong tay bước lên trực thăng.
Vào lúc 10.giờ 41, tất cả các dân sự đều được bốc đi hết.
Các quả đạn bách kích pháo rơi chung quanh tòa đại sứ trong khi một y tá người Mỹ đang săn sóc 2 thương binh.. Từ dưới đất, Thủy Quân Lục Chiến gởi một công điện truyền tin lên chiếc phi cơ chỉ huy là chiếc C.130 đang bay lượn trên không phận Phnom Penh. Nhưng không có một chiếc phi cơ hay trực thăng nào tìm ra vị trí của mấy khẩu bách kích pháo của Khmer Đỏ. Có hơn 12 chiếc phi cơ tiềm kích đang bay tuần tiễu giữa Phnom Penh và bờ biển, nhưng họ không can thiệp.
Ngoài khơi hải cảng Sihanouk, hạm đội Hoa Kỳ đã dàn ra từ hôm qua. Đó là những chiếc Vancouver, Thomaston, Henry D. Wilson, Knox, và chiếc Kirk. Các phi cơ Mỹ thuộc Không Lực Hoa Kỳ đang đóng trên căn cứ ở Thái Lan đều sẵn sàng có thể đến phối hơp với các chiến hạm này để đẩy lui các cuộc tấn công của Khmer Đỏ, nếu có.
Sau vài giờ tạm nghỉ trên các chiến hạm, những người di tản từ Phnom Penh được đưa về Thái Lan.
Cuộc hành quân “Ó Bay Đi” đã thỏa mãn hoàn toàn các quân nhân Hoa Kỳ . Một công tác được chuẩn bị và thi hành rất chu đáo. Một công trình tiếp vận thành công vì Khmer Đỏ không có phương tiện để chống lại. Trước hết có thể vì dân chúng ở thủ đô Cam Bốt không tìm cách ùa nhau cùng chạy loạn theo các trực thăng.
Tóm lại đây cũng có thể coi như một cuộc thao dượt cho…. Sài Gòn , nếu người ta muốn đi tới đó. Các báo chí trên toàn thế giới đều có “Một đề tài như nhau: Người Mỹ rời khỏi Phnom Penh”, “Vị Xử Lý Thường Vụ Chủ Tịch di tản, chạy theo Đại Sứ Hoa Kỳ”, “Quân đội nắm quyền tại Phnom Penh”, “Ủy Ban Quân sự được thành lập dưới quyền của tướng Sak Suttsakhom”. Tổng Thống Giscard d’Estaing say mê danh từ “thích hợp”. Ngay tức khắc Chánh Phủ Pháp nhìn nhận Quốc Gia mới, nghĩa là chế độ Khmer Đỏ. Việc nhìn nhận quá hấp tấp này thật sự có “thích hợp” hay không đây?
Tòa Đại sứ Pháp ở Phnom Penh chỉ có một lãnh sự là ông Jean Dyrac, tạm thời được nâng lên hàng Phó Lãnh Sự Nước Pháp đi trước xa đối với chế độ.
Ngày 17 tháng 4 hồi 5 giờ, có một số Khmer Đỏ đến trước Tòa Đại sứ. Sau đó, các xe thiết giáp của Chánh Phủ mang cờ trắng chạy khắp thành phố.
Quân Khmer Đỏ giải phóng Phnom Penh trước khi Bắc Việt chiếm được Sài Gòn . Đây là một cuộc chạy đua với thời gian giữa Bạn và Thù; Khmer Đỏ muốn chứng minh rằng họ có đủ khả năng tiến tới một mình, không cần có sự giúp đỡ của Bắc Việt. Sau đó Khmer Đỏ đuổi hết dân chúng ra khỏi thành phố.
Các công điện của người Pháp từ Phnom Penh được chuyển về Paris qua ngả Sài Gòn và thường bị gián đoạn. Bốn ngàn dân tỵ nạn đang cắm trại trong khuôn viên tòa đại sứ. Trong số này có những người Đông Đức và người Nga. Những người KĐ (Khmer Đỏ)
_ Các chuyên viên gọi họ là “KR”, hai chữ đầu của Khmer Rouge – đã bắn sập tường của tòa đại sứ Liên Xô bằng rốc kết. Hoàng thân Sirik Matak và các thành viên thuộc gia đình Quốc Vương Norodom Sihanouk và 3 đức cháu đang tỵ nạn ở trong tòa đại sứ Pháp. Ngày hôm sau, hai sĩ quan KR và một đoàn tùy tùng trang bị súng không giật đến tòa đại sứ Pháp đòi bắt Hoàng Thân, nhưng Lãnh sự Pháp, ông Dyrac từ chối không cho họ vào, để mua thời gian.
_ Ngày hôm sau chúng tôi sẽ đến, viên sĩ quan KĐ nói như vậy.
Ông Dyrac nhờ các linh mục Francois Ponchaud và Bernard Berger tác động giùm tinh thần cho các người dân tỵ nạn. Họ nâng cao tinh thần những người này bằng cách phổ biến các tin tức: liên lạc với Sài Gòn vẫn được duy trì cho tới khi nào điện bị cắt mới thôi.
Lúc 11 giờ, một chiếc phi cơ Hoa Kỳ lượn trên tòa đại sứ Pháp. Có hai nhà báo người Mỹ dùng máy truyền tin cầm tay liên lạc với phi cơ và yêu cầu được bốc đi bằng trực thăng. Người ta nói là Bộ Tư Lệnh Hoa Kỳ ở Thái Lan và cả Ngũ Giác Đài bên Hoa Thạnh Đốn sẽ nghiên cứu vấn đề này. Cuộc hành quân di tản được yêu cầu này có thể sẽ đưa tới một cuộc tàn sát hết tất cả người tỵ nạn ngay ở tòa đại sứ ở đây. Ngày 19 tháng 4, hoàng thân Sirik Matak và những người Cam Bốt khác quyết định ra hàng. Những người của KĐ với một chiếc xe Jeep và 2 xe vận tải đến trước tòa đại sứ. Hoàng thân Matak còn được nhìn thấy ở cách Phnom Penh chừng 20 cây số, sau đó thì không còn ai thấy được ông ta đâu nữa.
Cơn hấp hối của quốc gia Cam Bốt trong tay bọn Khmer Đỏ đang bắt đầu..
Tổng ThốngThiệu nói chuyện với ông Hoàng Đức Nhã về sự thất thủ của Phnom Penh. Nhã xác nhận:
Tổng ThốngThiệu vẫn còn tin chắc là ông sẽ làm cho người Mỹ phải nhảy vào.
Ông Hoàng Đức Nhã tự nguyện sẽ đi Tân gia Ba. Ông rất phục Thủ Tướng Lý quang Diệu, một nhân vật dân chủ xã hội rất có quyền thế đang lãnh đạo một đất nước trên hòn đảo nhỏ bé này . Ông ta đã cho dân chúng Tân gia Ba những gì mà người cộng sản luôn luôn chỉ có hứa suông mà không bao giờ có, như việc làm, học vấn, và nhà ở. Phương thức dân chủ rất mạnh mẽ ở đây đã làm cho Nhã say mê. Cũng vì vậy mà khi có một nhà báo Anh cho ông biết là ông Lý quang Diệu mong ước muốn gặp ông, thì ông tỏ ra rất bằng lòng. Ông Nhã đáp phi cơ đến Tân gia Ba và ở trọ tại Raffles, một khách sạn cũ nhưng rất nổi tiếng và rất đẹp. Sau đó ông đi dùng cơm tối ở nhà hàng Newton Circus. Tân gia Ba là một thành phố rất văn minh, có văn hóa, sạch sẽ, được kiểm soát rất chặt chẽ do một lực lượng gìn giữ trật tự vô hình nhưng hữu hiệu.
Một thanh tra Cảnh Sát mặc thường phục đến gần Nhã:
Ông Nhã rất thích lề lối mà người ta đã nhanh chóng nhận ra ông ngay ở đây.
Đến nơi, ngoài Thủ Tướng ông còn thấy có ông Tổng trưởng Ngoại Giao và một vị Cố vấn chánh trị . Mọi người đều dùng Anh văn để đàm thoại. Nhã được biết qua về một chuyến du hành của Phó Tổng Thống Hoa Kỳ, ông Nelson Rockefeller. Nhơn dịp sang dự tang lễ của ôngTưởng giới Thạch vừa từ trần hôm ngày 5 tháng 4, ông Rockefeller đi một vòng thăm vùng Đông Nam Á Châu. Ông đã tích lũy được một số chuyện phiếm. Khi người ta nói với ông về tình hình ở Việt Nam, ông trả lời dựa theo các cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ vào năm 1976:
Nếu người ta nhắc lại câu hỏi của đảo Chypre, thì ông sẽ đề nghị với những người Hy Lạp là họ phải rất bằng lòng về cuộc xăm lăng của Thổ nhĩ Kỳ, vì nó giúp khôi phục lại được nền Dân Chủ ở Hy Lạp:
_ “Nếu tôi là người Hy Lạp, tôi sẽ quỳ xuống để cầu nguyện – tôi không biết người Hy Lạp sẽ cầu nguyện với ai? với những vị Thánh nào trong trường hợp này….”.
Không biết Tổng Thống Ford thường hay có ý định xử dụng ông Phó của ông trong lãnh vực ngoại giao loại này hay không? “Điều này chắc phải tùy thuộc xem người nào chết,”
Đi thẳng vào đề, Thủ Tướng Lý quang Diệu nói với ông Nhã :
Nhìn thoáng qua theo ý kiến của ông Rockefeller – của ông ta? hay của ông Ford? chắc chắn không phải của Bộ Ngoại giao hay của Trung Ương Tình Báo CIA – thì sẽ phải dựng lên một nhóm đảo chánh ở Sài Gòn. Tham gia vào đó sẽ có thể là cựu Thủ tướng Khiêm, tướng Viên Tổng Tham mưu trưởng, hay tướng Không quân Nguyễn cao Kỳ . Sau đó người ta sẽ thành lập một Chánh Phủ Liên Hiệp do nhóm này tấn phong . Ông Lý quang Diệu không bàn cãi về khía cạnh hữu lý hay hoang đường của kế hoạch này, một kế hoạch mà chỉ có riêng ông Rockefeller là người phải chịu trách nhiệm mà thôi.
Ông Lý quang Diệu nói với ông Nhã:
Không cần nghĩ là có thể bị nghe lén hay không, ông Nhã liền gọi điện thoại ngay về cho Tổng Thống Thiệu. Tất cả tin tức nhận được đều y như thế. Qua bạn bè của ông, qua các sĩ quan cấp tá trẻ, Nhã biết được sự tức giận trong QLVNCH (Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa) trên cấp cao. Ông khuyên Tổng Thống Thiệu nên từ chức.
_Anh đừng chờ người ta lật đổ anh, hay người ta tống cổ anh đi. Hãy đi trước một bước đi, càng nhanh càng tốt.
Nhưng rồi Hoàng Đức Nhã cũng về lại Sài Gòn qua ngả BangKok. Ông điện thoại về Dinh Độc Lập. Một tùy viên xin ông gọi lại sau:
Ông Kissinger hỏi ông đại sứ Martin: Có thể dùng hải cảng Vũng Tàu cho một cuộc di tản qui mô được không? Công điện của Tổng trưởng ngoại giao viết:
Ông Kissinger tỏ ra lo lắng cho số phận của những người Việt Nam đã cộng tác với người Mỹ:
Ông Martin bắt đầu chịu nghe theo ý kiến về một giải pháp thương thuyết. Ông đã từng luôn luôn bênh vực Tổng ThốngThiệu, nhưng bây giờ thì ông nghĩ là ông này phải ra đi. Gần đây có những tin đồn do người Mỹ gán cho tòa đại sứ Pháp, cho rằng Bắc Việt sẽ liệng bom xuống Sài Gòn nếu ông Thiệu không chịu ra đi ngay từ bây giờ. Tại Hoa Thạnh Đốn , ông Kissinger lại lên tiếng. Ông điều trần trước một tiểu ban ở Thượng Viện . Ông nói như một chiến lược gia loại Clausewitz:
Ông ôn lại những biến cố trong 3 tháng sau cùng. Ông chấp nhận là Miền Nam Việt Namcũng không có thi hành đúng đắn tất cả các điều khoản của Hiệp Định Ba Lê. Nhưng ông nhấn mạnh là theo thống kê thì Sài Gòn ít vi phạm hơn nhiều so với Hà Nội. Bây giờ thì đã có một sự mất thăng bằng về quân sự, có lợi cho Bắc Việt nhiều hơn . Sài Gòn đang tìm một giải pháp chánh trị xuyên qua những cuộc bàn cãi với CPCMLTMN tại Ba Lê:
Ông Kissinger chứng minh qua Hiệp Định Paris. Ông nhắc lại là:
Ông Kissinger nói rõ là tất cả đều được thiết lập trên sự mất cân bằng, không còn đồng đẳng về quân sự nữa.
Nghị sĩ Joseph Montoya hỏi ông Kissinger về những lý do thất trận của Miền Nam Việt Nam. Kissinger dùng lại những lập luận của ông và của Chánh Phủ Hoa Kỳ:
Ông Kissinger khen ngợi tinh thần can đảm của Quân Lực VNCH, mặc dầu số tử vong lên đến gần 30.000 người vào năm 1994 (Theo chánh quyền Sài Gòn thì con số tử vong là 21.000 người.)
Đối với những cam kết mật của ông Nixon, nghị sĩ Montoya nêu lên bài toán về những nghĩa vụ của Hoa Kỳ trên phương diện pháp lý và tinh thần đạo đức:
Một nghị sĩ khác thuộc đảng Dân Chủ, ông Henry Bellmon hỏi Kissinger:
-” Đôi khi người ta nói về ông, rằng ông là một nhà sáng tác tài tình nhiều phép lạ trong nghề ngoại giao của ông. Ông đã thiết lập được những liên hệ quá bình thường với Trung Quốc….
Ông Kissinger ngắt lời ông Bellmon nửa đùa nửa thật:
Trong thâm tâm, Kissnger không có ý định phải tái dội bom Bắc Việt. Nhưng nghị sĩ Walter Huddleston, Dân Chủ thốt lên một câu:
Với vẻ cảm động, như một kịch sĩ lành nghề, ông Tổng truởng ngoại giao lẳng lặng đọc cho các nghị sĩ nghe bức thư của ông Sirik Matak. Các vị dân cử đều ngao ngán…Kissinger bèn khai thác ngay:
Ông Tổng trưởng ngoại giao muốn thử làm cao để tự bào chữa, nên chỉ nhắc sơ qua lý do chính yếu đã đẩy Bắc Việt tiến tới một cuộc tổng tấn công toàn diện và cuối cùng.
Khởi đầu thì có vụ việc “nghe lén” (Watergate) mà chỉ một mình ông Nixon là người lãnh trách nhiệm.. Vừa không thể chấp nhận được, vừa là điều phi lý, sự nghe lén đồi bại nhỏ nhoi trong những khu vực của đảng Dân Chủ đó đã kéo theo một thủ tục mà Kissinger không thể dự đoán được trong lúc đang hình thành những đoạn tế nhị của Hiệp Định Ba Lê. Nếu ông Nixon còn ngồi ở chánh quyền thì không còn nghi ngờ gì nữa và còn chắc chắn là ông sẽ gởi ngay các pháo đài bay B.52 ngay sau khi Bắc Việt tấn chiếm Ban Mê Thuột. Khi cho lệnh dội bom lên Cam Bốt hay Hà Nội , ông Nixon đã cho thấy là ông không có chút lưu tâm tới ý kiến của Quốc Hội cũng như tới dư luận dân chúng Hoa Kỳ. Nghị quyết và Luật về Quyền Hạn Chiến Tranh có ngăn cản ông ta đâu? Nếu các phi công Mỹ đã nhận lệnh của Tổng Thống , với tư cách là Tổng Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ, họ có tuân lệnh hay không? Hay là, nếu bất tuân lệnh, thì họ có nhờ luật sư của họ, viện dẫn Quyết Định và Luật đó hay không?
Yêu cầu ngân khoản viện trợ của Tổng Thống Ford đã huy động đến 8 tiểu ban ở Thượng Viện và Hạ Viện. Tổng Trưởng Quốc Phòng Schlesinger và tướng Weyand cũng phải ra điều trần.
Các con số teo dần: 515 triệu, rồi 449, 401, 370 rồi 350 triệu… Người ta tính ra là 165 triệu viện trợ quân sự và 165 triệu cho viện trợ nhân đạo. Các thành viên của Quốc Hội nhất là các nghị sĩ, gần như muốn ngân khoản viện trợ nhân đạo và cho cuộc hành quân di tản phải lên đến 200 triệu. Ông Ford vẫn chưa chịu và ông ta đòi 972 triệu cho tất cả. Chuyện đối đầu giữa Hành Pháp và Lập Pháp được công khai đưa lên truyền hình, truyền thanh, và báo chí, quả thật là mệt nhọc. Trong một cuộc họp báo, Tổng Thống Ford thử đưa ra một so sánh về yêu cầu của mình: ông xin một ngân khoản nhỏ thôi, dưới một tỷ đô la, một con số có đáng kể gì đâu “so với 150 tỷ mà chúng ta đã xài từ trước.?”
Nhưng.. Lãnh đạo ở Hà Nội và Lê đức Thọ ở Miền Nam, và trên mặt trận ai cũng biết rõ hết từng chi tiết.
Điều rõ ràng là mặc dầu có thiện chí và có thiện cảm với ông Ford, hầu hết các thành viên của Quốc Hội không sẳn sàng chấp thuận cho ông ta một ngân khoản viện trợ quân sự nào nữa. Dĩ nhiên là ông vẫn sẽ được tất cả ngân khoản cần thiết để di tản các công dân Hoa Kỳ. Thật sự, có bao nhiêu người? – 5400 hay hơn thế nữa? Người ta cũng chấp thuận cho Tổng Thống những ngân khoản chủ yếu cho viện trợ nhân đạo và để không bỏ lại cho cộng sản những người Việt Nam đã từng cộng tác với Hoa Kỳ.
Tổng Thống Ford đã tiếp tất cả những thành viên thuộc tiểu ban Ngoại giao của Thượng Viện trong suốt 1 giở rưỡi. Cả các vị dân cử thuộc hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đều mong muốn Tổng Thống hứa là sẽ nhanh chóng đưa những người Mỹ ra khỏi nước Việt Nam. Người Việt Nam thì phải ở hàng thứ yếu. Con số được đề nghị bốc đi sẽ là bao nhiêu? Ông Ford đáp lời:
Tổng Thống Ford không muốn cung cấp cho các nghị sĩ một ngày giờ nhứt định. Rút người Mỹ ra khỏi Việt Nam trong lúc này là sẽ tạo ngay một tình trạng hoãng loạn, và như thế sẽ nguy hiểm cho tánh mạng của những người Mỹ hiện đang còn ở Việt Nam.
Ở Hoa Thạnh Đốn , có nhiều người nói là sẽ di tản chừng 1 triệu người Việt Nam bằng cách chở họ bằng tàu thủy từ cảng Vũng Tàu. Như vậy sẽ có bao nhiêu binh sĩ, bao nhiêu Thủy Quân Lục Chiến Mỹ để bảo vệ cuộc hành quân đó? Phải tốn đến nhiều sư đoàn …. Các dân cử Mỹ thích con số chừng 200 ngàn người Việt Nam.
Người ta nói đến trường hợp ông đại sứ Martin. Trước khi đến gặp Tổng Thống Ford, hầu hết các nghị sĩ đều đã có đọc một tờ trình của hai ông Richard Moose và Charles Misner, hai người phụ tá của các đại biểu trong phái đoàn từ Việt Nam về. Theo đó thì ông Martin không bao giờ chấp nhận tính cách không thể đảo ngược của tình hình quân sự.
Từ Sài Gòn, đại sứ Hoa Kỳ theo dõi trận chiến ngay trên mặt trận ở Hoa Thạnh Đốn. Với những ai muốn nghe thì ông sẳn sàng tố cáo ” những cái điếm đàng về ngân khoản của Quốc Hội” . Biết chắc là họ sẽ bỏ phiếu chống mọi viện trợ quân sự , ông Martin đề nghị với ông Kissinger là trong trường hợp đó, thì tốt hơn hết là tìm cách hoản cuộc bỏ phiếu đó lại . Chúng ta không nên làm mất tinh thần Chánh Phủ Miền Nam Việt Nam, ta phải cho họ thời gian để quay trở lại. Cuối cùng Tổng ThốngThiệu cũng đã hiểu: ông đã cùng với Tổng trưởng Nguyễn Tiến Hưng nghĩ ra một kế hoạch khác và một đường lối vận động khác để có thể đạt được viện trợ của Hoa Kỳ . Sài Gòn có thể xin vay Hoa Thạnh Đốn một số tiền chừng 3 tỷ mỹ kim, trả dài hạn trong 3 năm, có thể gia hạn trong 10 năm. Bắt đầu trả nợ từ năm 1985. Quốc Hội Mỹ sẽ ấn định lãi suất. Số nợ vay này sẽ được bảo đảm bằng tài nguyên nông nghiệp và đầu hỏa. Người ta có thể đặt tên rất kêu cho món tiền cho vay này là: “Món nợ vay cho Tự Do”. Cái tên này có vẻ quyến rũ được dư luận dân chúng Hoa Kỳ lắm đó!
Ông Nguyễn Tiến Hưng đưa ý kiến này cho ông Martin, để ông trao cho các chuyên viên kinh tế của ông nghiên cứu. Còn ông thì đi sang Hoa Thạnh Đốn hoạt động ngoài “hành lang” để vận động cho ý kiến “vay món nợ cho Tự Do” này. Qua điện thoại, hình như ông Martin không mấy chú tâm đến vấn đề này, ông Hưng chỉ nhớ thoáng qua một câu của Đại sứ:
-” Thật ra, Tổng Thống của ông sẽ từ nhiệm hay không?”
Trên phương diện quân sự , trong một công điện gởi cho ông Kissinger, ông Martin đã mô tả trân chiến ở Xuân Lộc nằm về phía Tây của Sài Gòn đang diễn tiến tốt đẹp. “Bắc Việt đã có hai ngàn chết và bị thương. Các tù binh còn rất trẻ, có một cán binh nói rằng anh ta được 14 tuổi…” Từ đó chúng tôi nghĩ rằng Hà Nội đã không còn trừ bị. …”
Đại sứ Martin vẫn còn tin tưởng:
Cuối cùng rồi Chánh Phủ mới cũng được thành lập xong ở Sài Gòn . Ông Martin vẫn gởi công điện cho ông Kissinger nhiều lần mỗi ngày, lần này:
Ở Hoa Thạnh Đốn tiểu ban ngoại giao của Thượng Viện đã tạm thời chấp thuận một yêu cầu pháp chế khẩn cấp, cho phép Tổng Thống quyền được xử dụng quân đội cần thiết trong việc di tản người Mỹ và một số người Việt Nam. Các nghị sĩ bắt buộc ông Martin phải nhanh chóng rút người Mỹ ra khỏi Việt Nam. Nghị sĩ Charles Percy, Cộng Hòa, yêu cầu Tổng Thống Ford phải bảo đảm là mọi phi cơ lúc rời khỏi Sài Gòn đều không được có ghế nào trống. Tổng Thống Ford đã xác nhận với ông này rằng Kissinger đã có cho lệnh như thế rồi. Ông Martin nhận thấy là không khí ở thủ đô Hoa Kỳ xấu đến mức độ khó nói.
Ngoài những bài toán trực tiếp, cuộc truy tìm những người có trách nhiệm trong vấn đề tán loạn này cũng đã bắt đầu. Như thế là bộ máy dân chủ đang chạy..
Người ta có thể cho đi bao nhiêu người Việt Namđược ? và di tản bằng cách nào cho hợp với pháp lý của Hoa Kỳ? Người nào muốn rời khỏi nước Mỹ đều không cần phải xuất trình một tờ căn cước nào hết. Nhưng đi vào nước Mỹ thì khó lắm, vì còn phải xét đến luật lệ và cấp khoản di trú được tính cho người Việt Nam giống như những người khác. Bộ ngoại giao đã phải tranh đấu cho vấn đề này. Ngày 14 tháng 4, Bộ này đã cho Tòa Đại sư của mình ở Sài Gòn biết là họ chỉ được một vài nhượng bộ rất hạn chế. Một số người Việt Namnào đó chỉ được nhập cảnh vào Hoa Kỳ với một “lời hứa danh dự” (on parole ). Đây không phải là lòng vị tha suông. Người ta muốn “loại bỏ” một trong những lý do đã thúc đẩy một số người Mỹ từ chối không muốn rời khỏi nước Việt Nam– sự hiện hữu của vợ con họ gốc người Việt Nam– Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ lo về vấn đề di trú đã định nghĩa các tiêu chuẩn như vậy.
Muốn di cư vào Hoa Kỳ thì phải:
1.- Được kết hôn chánh thức với một nam hay nữ công dân Hoa Kỳ 2.- Là con của một nam hay nữ công dân Hoa Kỳ)
3.- Là mẹ hay cha của một công dân Hoa Kỳ (ví dụ một phụ nữ Việt Nam đã trở thành mẹ của một đứa trẻ Mỹ, qua kết hôn)
4.- Là Mẹ hay Cha của người phối ngẫu ngoại quốc của một công dân Hoa Kỳ (ví dụ mẹ hay cha của một người phụ nữ Việt Nam đã kết hôn với một công dân Hoa Kỳ mà chưa trở thành nữ công dân Hoa Kỳ)
5.- Là một trẻ vị thành niên không do sự kết hôn của một phối ngẫu ngoại quốc (ví dụ con riêng của một phụ nữ Việt Nam đã có trước khi thành hôn với một công dân Hoa Kỳ)
Trước khi đi, mỗi người phải có những giấy tờ chứng minh mối liên hệ cha mẹ của mình. và người đó phải điền vào mẫu I-94.
Các công chức ở Hoa Thạnh Đốn có cảm tưởng là đã thiết lập những luật lệ rõ ràng, công bằng, và rất nhân đạo. Nhưng vô phước thay, ho không nghĩ tới những sự thật ở Việt Nam. Có một số dân sự người Mỹ như thợ, đốc công, kỹ sư … đến làm việc cho các hãng tư ở Việt Nam, những người phóng viên, nhiếp ảnh viên … đã sống không chánh thức từ lâu với các phụ nữ Việt Nam và đôi khi họ cũng đã có con với nhau. Có vài người trong số này chỉ giản dị là quên không kết hôn với nhau thôi. Các ông công chức ở Hoa Thạnh Đốn cứ tưởng đến gia đình người Mỹ thời nguyên tử, một chồng một vợ và một hay hai đứa con là cùng, hay họa hoằn còn thêm một hay hai ông bà. Các gia đình Việt Nam đến trình diện ở Tòa Lãnh sự thường có từ 15 đến 30 người ; có nhiều gia đình người Tàu lại Việt ở Chợ Lớn có đến những 50.
Nhờ Trời, tại Sài Gòn các công chức người Mỹ biết cách xử sự và mềm dẻo hơn. Trên các chuyến bay từ Tân Sơn Nhứt mỗi ngày, số ghế được hạn chế. Do đó khó mà quyết định được ai đi ai ở? Thật là đau khổ! Rất khó khăn trong việc chọn lọc, nhất là khi người Việt Nam nói với toà lãnh sự: Tùy các ông lựa chọn giùm đi!
Một viên chức có trách nhiệm trong vấn đề chọn lọc này là ông Ken Moorefield đã quyết định bất chấp hết luật lệ. Khi người ta không thể chấp nhận toàn thể một gia đình nào đó thì người ta đi từ nguyên tắc : đừng để ở lại Sài Gòn những ông bà già nào không còn một con trai hay con gái để lo phục vụ cho đời sống của họ.
Ngoài ra trên nguyên tắc, trước khi cho giấy phép xuất cảnh, tòa Lãnh Sự Hoa Kỳ phải được biết chắc chắn là trước khi rời khỏi Việt Nam người đó có ở trong tình trạng hợp lệ đối với Chánh quyền Việt Nam hay không?. Được một thông hành không phải là một chuyện dễ, đó là chưa nói tới những thủ tục về tiền bạc. Người Mỹ vi phạm luật lệ Việt Nam một cách dễ dàng hơn là đối với luật lệ của Hoa Kỳ. Từ đầu tháng 4, tòa Lãnh sự Hoa Kỳ nhận hết các loại giấy xuất cảnh do Bộ Nội Vụ Việt Nam cấp, thường là giấy giả hay giấy mua được ở đâu đó. Để cho chạy việc, người ta hứa với một vài công chức hay thanh tra là sẽ cho di tản họ và cả gia đình họ, nếu họ tỏ ra biết chịu hợp tác. Vào thời điểm bình thường, ở tại Sài Gòn , ngay như người ta muốn thuê một công chức làm giấy tờ, thì cũng phải đợi đến nhiều tuần lễ hay có khi cả mấy tháng mới có được một giấy tờ chánh thức. Còn bây giờ thì có đến hàng chục ngàn người nộp đơn, thì làm sao mà hy vọng có được thông hành, chiếu khán xuất cảnh, giấy chứng nhận không thiếu thuế, giấy thông hành .. được cấp cho một cách nhanh chóng? Do vậy mới có “kỹ nghệ làm giả giấy tờ” và kỹ nghệ này đang nỡ rộ, với tất cả các loại cần thiết từ bản chữ in đến con dấu. Và người Mỹ ở Sài Gòn đã học được cách “không cần xét kỹ ” giấy tờ.
Tại Hoa Thạnh Đốn người ta nói đến con số 1 triệu người có khả năng di cư., Tổng Thống thì gợi lên con số hai trăm ngàn. Không có một chỉ thị chánh thức nào về “con số” được gởi đến cho tòa đại sứ ở Sài Gòn . Mãi cho đến ngày 26 tháng 4, người ta mới cho phép ông Martin chánh thức cho di tản hai mươi lăm ngàn người Việt Nam.
Bên cạnh con đường di tản chánh thức, lại có những hệ thống song song bán chánh thức được thiết lập, do các công ty, các sĩ quan Không quân Hoa Kỳ, do Cơ Quan Trung Ương Tình Báo CIA hay những nhóm đặc biệt khác đứng ra tổ chức. Do đó có hai công chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại Giao là Larry Johnstone và Lionel Rosenblatt, khoảng 30 tuổi, đang làm việc tại Hoa Thạnh Đốn sau thời gian phục vụ tại Sài Gòn , đã thấy khó chịu về sự chậm lụt hành chánh . Họ tự nghỉ phép và đến Sài Gòn bằng tiền túi của mình mà không báo cho cấp trên biết. Họ đến ở ngay khách sạn Caravelle, và sau đó họ đi thuê trong một căn phòng trống ở ngoài phố. Trong suốt 6 ngày liền họ ngủ rất ít, dùng thì giờ đi khắp Sài Gòn với một chiếc xe Citroen cũ hay với chiếc xe buýt của hãng Pan Am. Họ nhận tất cả giấy tờ giả, rồi đến một vài chỗ hẹn bí mật trước Bưu Điện Sài Gòn hay Nhà Thờ Chánh Tòa để tập trung các người di tản. Ông Johnstone nói:
Cái khó chủ yếu là làm sao đưa những người hành khách lậu này vào phi trường. Cảnh Sát thì họ rất là nghiêm túc, các binh sĩ gát cũng vậy, ngay như đề nghị cho họ tiền cũng vậy. Một vài người chui vào thùng xe Citroen. Ông Rosenblatt giao dịch với ông Jim Eckes thuộc Dịch Vụ hàng không Continental. Nhờ đó hai ông Johnstone và Rosenblatt đã di tản được 200 người Việt Nam, trong số đó có 20 anh trai trẻ mà theo lời của hai ông công chức cao cấp người Mỹ này thì họ sẽ gặp khó khăn to lớn khi bị rơi vào tay của quân cộng sản Bắc Việt.
Trong khi đó thì tu sĩ Thích thiện Huệ đã quyết định là dù có xảy ra điều gì thì ông cũng vẫn ở lại Sài Gòn trong ngôi chùa của ông. Người anh cả của ông là một thiếu úy thường giải các tù binh Bắc Việt bị bắt ở Xuân Lộc về Sài Gòn . Viên thiếu úy này mỗi lần về Sài Gòn đều có khuyên cha mẹ anh nên rời khỏi Việt Nam. Còn cha mẹ anh thì lại khuyên anh nên đào ngũ. Anh đã từ chối. Anh đã thuật cho em của anh nghe về trận chiến ở Xuân Lộc:
Thiếu úy này có cảm tưởng là Bắc Việt đã có một số đạn pháo vô giới hạn. Một vài vị dân biểu của Quốc Hội VNCH thường lui tới với các Thầy trong chùa, đã đoan chắc là Hoa Thạnh Đốn và Bắc Kinh đã thỏa thuận với nhau để thiết lập một vùng trái độn do CPLTCHMN kiểm soát. Do vậy mới có chuyện các đơn vị của Miền Nam Việt Nam được lệnh rút đi. Lại có nhiều chuyện phịa mới được tung ra ở thủ đô như: ở Hà Nội đã có đảo chánh và tướng Võ nguyên Giáp đã bị giết, các sư đoàn Bắc Việt đang rút về Miền Bắc để chống lại quân Trung Cộng đang tấn công vào Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tất cả mọi chuyện đang xảy ra, kể cả trận chiến ở Xuân Lộc, đều nằm trong một kế hoạch chung rất là phức tạp, hết sức tinh tế, do Trung Quốc và Hoa Kỳ xếp đặt, hay do Liên Xô và Hoa Kỳ, hay do Bắc Việt và Hoa Kỳ dàn dựng……
Cộng đồng người Âu Châu và Hoa Kỳ thường lui tới Câu lạc bộ thể thao, nơi được mọi người được yêu cầu nên giữ đúng nội quy: không được mặc áo lá lúc đi dạo, trừ ra ở bên hồ bơi, và lúc nào cũng phải mang giầy bố trắng trên các sân tơ nít. Có người thì đi dạo, tản bộ chậm chậm gần các cây me to, có người thì chơi một ván “boule” .. Các bà thì vắng đi nhiều rồi kể từ vài tuần nay. các anh bồi mang rượu mạnh hay nước ngọt ra cho khách, thường mặc đồ trắng. Thỉnh thoảng có một chú cầm chuông rung lên và báo cáo:
Có một bầu không khí vui chơi giả tạo để dấu kín một sự lo âu thật sự…. Mấy người Mỹ, người Đức, người Pháp và người Úc trao đổi với nhau những tin tức sau cùng hay những chuyệntầm phào thuở xa xưa, họ đọc báo… Có đôi lúc người ta cười đùa rất thoái mái: ông Ed Daly, chủ tịch hãng hàng không Word Airways, đã gọi các nhà báo đến căn phòng ở khách sạn của ông tại Đông Kinh (Nhật Bản) và đọc cho họ nghe một công điện gởi cho Tổng Thống Ford. Ông Daly đã gởi tới Sài Gòn một chiếc phi cơ DC-8 và một chiếc Boeing 727 để giúp chở người tỵ nạn. Nhưng không một người nào được phép bước lên hai chiếc phi cơ đó, do vậy chúng phải bay trở về Đông Kinh, trống rỗng! Ông Daly đoan chắc là tòa đại sứ Mỹ muốn bắn hạ các phi cơ nào của mình muốn cất cánh, nhưng tòa đại sứ đã đính chánh. Người ta không biết liệu Tổng Thống Ford có đọc được bức công điện này của ông Daly hay không:
Cơ quan ở Sài Gòn có thể thấy khó chịu vì những lời lẽ trên đây, nhưng với bản chất bình dị, ông Daly đã nói lên một sự thật: Vì muốn tránh tình trạng hoảng loạn nên ông Graham Martin phải kềm hãm sự di tản.
Gần Câu lạc bộ thể thao, trên các bãi cỏ trong Dinh Độc Lập, binh sĩ bố trí các đại bác phòng không, đào phòng tuyến, dựng lên vị trí phòng thủ bằng bao cát và đặt các khẩu liên thanh nặng. Không biết để phòng chống bộ đội Bắc Việt nếu họ tới đây, hay để đề phòng những đơn vị khác của Miền Nam, phản loạn, trong trường hợp có đảo chánh?
Từ trong dinh Độc Lập phát ra những lời tuyên bố chung chung, như những câu thần chú.. Tổng Thống tuyên bố là Chánh Phủ mới, vừa được thành lập có đầy thiện chí để sẵn sàng thương thuyết với cộng sản . Nhưng Chánh Phủ “sẽ không đầu hàng” Tổng Thống ước mong là phái đoàn cộng sản ở La Celle-Saint-Cloud sẽ trở lại bàn hội nghị để thành lập Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia.
Nội các mới phần lớn gồm có những người dân sự được ông Thủ Tướng Nguyễn bá Cẩn chọn lựa. Trong hàng Tổng trưởng, người ta thấy có nghị sĩ Tôn thất Niệm, một người phật tử ôn hòa. Những người dân sự trong Chánh Phủ nói thẳng ra rằng họ không tin tưởng vào giải pháp quân sự nữa, và cũng như hầu hết đồng bào của mình họ đã quá mệt mỏi với chiến tranh rồi. Nhiều người muốn Tổng Thống Thiệu nên từ nhiệm, nhưng họ không dám nói thẳng với ông .Tướng Trần văn Đôn, Tổng trưởng Quốc Phòng là người rất năng nỗ. Với sự chấp thuận của Tổng Thống, ông ta đã phạt tù một vài sĩ quan cao cấp và tướng lãnh, trong đó có tướng Phú.
Ông Đôn, người đã cho rằng ông đã có nhiều cuộc tiếp xúc với CPLTCHMN, đã chuẩn bị một chương trình hành động: ông sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống VNCH và trong 48 tiếng đồng hồ ông sẽ cho lệnh ngừng bắn. Sau đó ông sẽ thành lập một Chánh Phủ mới. Để đáp lại CPLTCHMN sẽ bảo đảm an toàn cho người Mỹ ở Sài Gòn. Trừ một toán nhỏ ở tòa đại sứ, còn bao nhiêu đều phải được di tản hết. Sau một thời gian xử lý, CPLTCHMN sẽ kiểm soát thủ đô. Ông không làm gì để ngăn cản bất cứ người Việt Namnào muốn ra đi. Ông sẽ cho chiếu khán xuất cảnh dễ dàng. Ai cũng biết là họ sẽ xin ở đâu rồi, ở Huế, ở Đà Nẵng và ở Sài Gòn. Như thế là vừa được thành lập là Chánh Phủ đã lấy khoảng cách với Tổng Thống Thiệu rồi. Trong một cố gắng cuối cùng, để đo thử dư luận dân chúng và giới dân cử Hoa Kỳ , ông Thiệu cho phổ biến một bức thơ của Tổng Thống Nixon, bức thư đề ngày 23 tháng giêng 1973 đã gây náo động cả thủ đô Hoa Thạnh Đốn . Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ ra lệnh cho đại sứ Martin nhấn mạnh là một bức thư không phải trở thành một hiệp ước được. Ông Thiệu không thấy được là việc gợi lên cái tên Nixon không thôi đã là một sự vụng về rồi, kể cả trong giới dân cử hay cử tri của đảng Cộng Hòa.
Tổng Thống Thiệu kêu gọi mọi người phải chiến đấu, để chuẩn bị cho một cuộc phản công, để ổn định cả ở hậu phương cũng như ở tiền tuyến. Để góp phần vào nỗ lực chiến tranh, tòa thị chính Sài Gòn ấn định một số luật lệ mới nhắm vào vấn đề di chuyển: không còn nghi ngờ gì nữa để tránh những cuộc ám sát : tốc độ tối đa cho xe đạp được ấn định là 15 cây số / giờ, cho mô tô, xe vận tải và xe buýt là 25 cây số / giờ, và cho xe du lịch, xe xì cút tơ là 40 cây số / giờ. Nếu có còi báo động thì “dân chúng không nên hốt hoảng”
baotreonline.com
March 9th, 2023
Post by Sơn râu 21 Apr 2024
Là một trong những học viện danh tiếng của Hoa Kỳ, ngôi trường xuất thân của không ít tướng lãnh và chính khách Hoa Kỳ, Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (United States Naval Academy- USNA) hay Học Viện Không Quân và Quân Sự West Point là những đại học mơ ước của nhiều học sinh mang tinh thần phục vụ quốc gia và có ý hướng đi theo binh nghiệp. Việc tuyển chọn huấn luyện những học sinh tài ba và có lý tưởng vào các học viện này có phần khác biệt và khó khăn hơn so với các đại học dân sự, kể cả nhóm Ivy League. Trên số báo hôm nay, qua câu chuyện của em Thomas Võ Gia Bảo tại Texas vừa được nhận vào Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ, chúng ta có thể biết thêm việc tuyển chọn các sĩ quan tinh hoa tương lai cho Hoa Kỳ như thế nào.

Thông báo bổ nhiệm tân sinh viên sĩ quan từ Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ
Gặp Võ Gia Bảo bên ngoài, em là một thanh niên khôi ngô, tráng kiện hơn trong các hình ảnh tôi đã thấy hay từng gặp em vài năm trước. Chuẩn bị để đi gym tập thể dục ngay sau cuộc trò chuyện với tôi, trong chiếc áo thun màu xanh lính, trông em đã ra dáng một tân binh hơn là một học sinh trung học. Tất nhiên là vậy, một tay quần vợt và cử tạ có hạng trong đội tuyển trường, cũng như thích chơi trượt tuyết và thể thao, Gia Bảo có đủ thể chất vượt trội như một điều kiện tiên quyết cho sự tuyển mộ vào quân đội, đặc biệt là các học viện quân sự danh tiếng của Hoa Kỳ như Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ (USNA) mà em vừa được thu nhận.
Vẫn mang âm giọng Mỹ như các em gốc Việt sinh ra và lớn lên tại Mỹ, nhưng bằng một tiếng Việt khá lưu loát đủ trong giao tiếp thông thường, Gia Bảo bắt đầu kể tôi nghe về quá trình nộp đơn và tuyển chọn gắt gao của USNA như thế nào.

Gia Bảo trả lời rằng, có nhiều lý do để em muốn gia nhập quân đội bởi đó là một giấc mơ từ nhỏ của em và trở nên xác quyết hơn khi bước vào trung học.
Ðầu tiên là em muốn có sự thách thức bản thân về ý chí và thể lực bởi em tin rằng một cá nhân sẽ không thăng tiến nếu không trải qua thử thách, đớn đau. Mặt khác em muốn tiếp bước cả ông nội lẫn ông ngoại, là những cựu sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã đến Mỹ qua chương trình HO vào đầu thập niên 90s. Em cũng bảo rằng con đường binh nghiệp tại Mỹ là một con đường ổn định và nhiều cơ hội cho em và gia đình trong tương lai. Nhưng trên hết, Gia Bảo mang lý tưởng phục vụ quốc gia khi trở thành một sĩ quan Hoa Kỳ.

Gia Bảo cùng cha mẹ, Võ Thiên Phượng-Trần Phương Nhã trong ngày chị gái vào trường Y.
Có lẽ chính vì vậy mà Gia Bảo đã chuẩn bị và tham gia chương trình huấn luyện quân sự trừ bị học đường của Hải Quân (NJROTC) trong những năm trung học và chơi thể thao, rèn luyện thể lực rất nhiều. Có lẽ tìm hiểu khá kỹ càng về các yêu cầu thể lực rất cao của Học Viện Hải Quân, Gia Bảo thường xuyên đi gym, tập tạ và mang áo vài chục cân nặng để chạy bộ.
Chính nhờ vậy mà Gia Bảo đã vượt qua cuộc sát hạch thể lực, khi các ứng viên phải hít đất, hít xà, chạy tốc độ và mang áo giáp nặng 40 cân để chạy suốt quãng đường 8 dặm đường không nghỉ. Trên một trăm em trong vùng nộp đơn và được đề cử vào các học viện quân sự nói chung tham gia cuộc kiểm tra thể lực này, chỉ hơn 10 em vượt qua được cuộc thi thể lực này.
Khác với các em gia nhập quân đội sau đó nhận học bổng GI để theo học đại học hay những em đã tốt nghiệp đại học và xin học bổng quân đội để tiếp tục theo học chuyên môn rồi phục vụ trong quân đội theo thời gian cam kết, việc tuyển chọn vào các học viện quân sự như USNA hay West Point đưa ra những yêu cầu rất cao như vậy bởi đây là những nơi huấn luyện các sĩ quan ưu tú thực thụ, có chuyên môn và kỹ năng tác chiến hay khả năng trở thành cấp lãnh đạo cho quân lực Hoa Kỳ trong tương lai.
Ðược thành lập năm 1845 tại Annapolis thuộc tiểu bang Maryland, Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ thu nhận các tân sinh viên sĩ quan là công dân Hoa Kỳ trong độ tuổi từ 18 đến 23. Các em phải có thể lực vượt trội, có khả năng toàn diện và tư chất lãnh đạo cao. Các sinh viên được huấn luyện chuyên môn chú trọng về kỹ thuật, toán và khoa học và quân sự trong bốn năm trời. Các sinh viên sĩ quan ra trường với bằng Cử Nhân Khoa Học cùng cấp bậc Thiếu Úy, sẽ phục vụ trong Hải Quân hay Thủy Quân Lục Chiến tối thiểu là 5 năm. Cựu Tổng Thống Jimmy Carter, cố Thượng Nghị Sĩ John McCain cùng một số tướng lãnh, Ðô Ðốc Hải Quân Hoa Kỳ, phi hành gia NASA… cũng đã xuất thân từ học viện này.

Gia Bảo cùng đôi găng tay tỏa nhiệt do mình sáng chế.
Trong hàng chục ngàn em học sinh xuất sắc và tự tin mình có đủ khả năng để nộp đơn vào học viện này thì hàng năm USNA chỉ chấp nhận một tỉ lệ vào khoảng 8.5% hồ sơ. Bởi không chỉ việc sát hạch thể lực và trải qua cuộc kiểm tra y tế gắt gao mà quá trình chọn lọc chung cũng đầy khó khăn không kém.
Ðầu tiên là bộ hồ sơ 30 trang, mà Gia Bảo kể rằng chỉ có hai trang là về học vấn còn lại 28 trang là các câu hỏi và tiểu luận để học viện đánh giá về tính cách, lý tưởng và tinh thần phục vụ cùng tư chất lãnh đạo qua các hoạt động của các học sinh. Thêm vào đó là các thư giới thiệu từ các thầy cô trong trường. Rồi một cuộc kiểm tra về toán và Anh ngữ.
Song song với quá trình xét chọn tại học viện là việc nhận được thư tiến cử từ các vị dân biểu, hay hiếm hoi hơn là từ Phó Tổng Thống Hoa Kỳ. Các học sinh cũng nộp hồ sơ và được xem xét, phỏng vấn. Gia Bảo kể rằng em được Dân Biểu Marc Veasey trong địa hạt cử tri của em, là địa hạt 33rd phỏng vấn. Theo sau là cuộc phỏng vấn do 5 sĩ quan cấp tá xuất thân từ West Point, Học Viện Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ thay phiên đặt câu hỏi trong khoảng 90 phút.
Gia Bảo đã có được một hồ sơ học vấn và hoạt động lý tưởng theo các tiêu chuẩn của học viện. Duy trì điểm học 4.0 trong suốt 4 năm trung học với hầu hết các lớp nâng cao (AP), Gia Bảo là Phó Chủ Tịch hội học sinh trong khóa, Thư Ký Hội Học Sinh toàn trường, là Phó Chủ Tịch DECA, một hiệp hội sinh viên học sinh khuyến khích các kỹ năng thương mại và lãnh đạo, là người duy trì trang mạng, hình ảnh, dữ liệu của National Honor Society và Spirit Team, không kể các hoạt động ngoại khoá như tham gia band, đội tuyển tennis, cử tạ của trường hay phụ giúp các thầy cô giáo, dạy kèm các học sinh khác.

Gia Bảo cùng Dân Biểu Liên Bang Marc Veasey
Gia Bảo còn giành được giải thưởng quốc gia của DECA, một tổ chức quốc tế phi lợi nhuận cung cấp các chương trình giáo dục và huấn luyện việc khởi nghiệp cho sinh viên học sinh qua một dự án mang tên Reheats mà Gia Bảo đã tự chế ra loại găng tay sưởi ấm chưa có trên thị trường. Gia Bảo kể rằng, ý tưởng đó đến từ việc giúp cha em sửa nhà trong mùa Ðông lạnh cóng mà găng tay thông thường không đủ giúp cho người thợ xây dựng đủ ấm tay hầu tiếp tục công việc.
Nhưng điểm mạnh của Gia Bảo không chỉ với các hoạt động và thành tích nói trên mà việc em từng tham gia chương trình quân sự trừ bị học đường đã cho thấy ý nguyện và sự xác quyết muốn gia nhập binh ngũ đã nằm trong em từ rất lâu.
Sau cuộc trò chuyện với Gia Bảo, tôi vào Nha Học Chánh Irving ISD để nghe cuộc trò chuyện về tinh thần và kỹ năng lãnh đạo giữa Giám Ðốc Nha Học Chánh và em, sự tự tin, cách trò chuyện cùng suy nghĩ của em quả xứng đáng và đủ phẩm cách để trở thành một sĩ quan ưu tú tương lai.
Cũng trong cuộc trò chuyện này, Gia Bảo thú nhận rằng dù hoạt bát, hoạt động và giao tiếp rất nhiều, em lại là một con người nội tâm. Em ghi ơn cha mình cùng ông Nội là những người đã tạo ra những ảnh hưởng về vấn đề học vấn và đời sống của mình. Em cảm ơn mẹ đã giúp đỡ trong nhiều việc như mẹ vẫn thường làm. Chính vì vậy mà vài năm qua, kể từ khi mẹ bị đau tay, Gia Bảo đã thay mẹ lau nhà và giúp cha mọi chuyện trong gia đình như một đứa con ngoan. Gia Bảo không chơi game như phần lớn bạn bè đồng lứa. Ðơn giản là em không đủ thời gian.

Gia Bảo đang kể lại quá trình vào học viện cùng tác giả.
Chi phí huấn luyện hay học bổng cho mỗi sinh viên được thu nhận vào Học Viện Hải Quân này là nửa triệu đô la cho mỗi sinh viên. Với Gia Bảo, em còn có thêm một học bổng 250,000 đô la dự phòng khác từ Bộ Hải Quân Hoa Kỳ để theo học tại các đại học dân sự, sau đó phục vụ cho quân đội tối thiểu là 5 năm, trong trường hợp nếu không được thu nhận vào học viện Hải Quân.
Việc được thu nhận vào Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ được xem là một thành tích vượt bực và đáng hãnh diện, không chỉ cho bất cứ học sinh hay gia đình nào mà cả cho trường học, Nha Học Chánh khi tất cả các nơi này đều gởi thông báo hay tin nhắn chúc mừng ra toàn học khu. Kể cả văn phòng dân biểu tiểu bang trong khu vực 103 của em cũng biết tin và gởi thư chúc mừng. Trường Nimitz High School nơi em theo học sẽ tổ chức một bữa tiệc toàn trường để chúc mừng và chia tay Gia Bảo nhập ngũ.
Gia Bảo bảo tôi rằng, ý nguyện của em là sẽ tiếp tục học Cao Học và theo đuổi binh nghiệp ít nhất là 20 năm, thời gian đủ tiêu chuẩn về hưu trong quân đội Hoa Kỳ.
Mọi chuyện chỉ mới bắt đầu và tương lai là điều ở phía trước. Những em gốc Việt thuộc thế hệ tiếp nối như Gia Bảo sẽ góp phần định hình lại một cộng đồng gốc Việt một cách tích cực và mạnh mẽ hơn. Tôi nhìn thấy ở em một khả năng, phẩm cách và ý chí để trở thành một sĩ quan xuất sắc của quân lực Hoa Kỳ trong tương lai.
Xin chúc mừng Thomas Võ Gia Bảo và gia đình, trường học của em.
ĐYT