Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

Chương 23 – Đập đá vá trời

Hai mươi lăm năm trước, vào đúng ngày 1 tháng 5 năm 1950, Tổng Thống Henry Truman của Hoa Kỳ đã ký những văn kiện chánh thức “cho phép” một viện trợ quân sự đầu tiên cho các quốc gia Đông Dương.

Năm tháng sau đó, vào tháng 9 năm 1950, một phái đoàn cố vấn quân sự Hoa Kỳ đến Sài Gòn.

Từ 4 giờ sáng ngày 1 tháng 5 năm 1975, đúng hai mươi lăm năm sau, người dân Sài Gòn tập họp, hay bị tập họp, ở trước dinh Độc Lập. Chánh quyền mới đã quyết định tổ chức “ngày chiến thắng của nhân dân Việt Nam”

Nhà văn Duyên Anh tản bộ đi dạo. Ở chỗ này các bộ đội Bắc Việt nói chuyện nhã nhặn với dân chúng. Ở xa xa, tại trụ sở của Hội Nhà Văn Việt Nam trên đường Đoàn thị Điểm, một tấm biểu ngữ được giăng ngang đường mang giòng chử: “Hội Các Nhà Văn Yêu Nước”. Tại nghiệp đoàn báo chí Việt Nam nằm trên đường Tự Do, một đại lộ Champ Élysée của Sài Gòn, lại có một biểu ngữ “Nghiệp Đoàn các Nhà Báo Yêu Nước” nữa. Ông Duyên Anh tự hỏi không biết có bao nhiêu nhà văn và bao nhiêu nhà báo sẽ đi qua phía bên kia? Còn có những ai sẽ thích chuyển nghề, để trở thành thợ hồ hay phu đạp xe xích lô, còn hơn là viết cho báo chí mới? Ở chỗ nọ, ông Duyên Anh thấy có trên một chục chiếc quan tài của bộ đội.

Chánh quyền mới không có mời giục các công chức đi dự lễ 1 tháng 5. Kỹ sư Văn đến văn phòng của mình. Có một sự thay đổi duy nhất được nhận thấy, với quá nhiều sự vắng mặt, có sự hiện diện của bộ đội mang súng AK.47 và nhất là cán bộ của Bắc Việt .Một anh cán bộ và nhiều bộ đội kèm hai bên mỗi anh trưởng nhiệm sở hay giám đốc trong Bộ Công Chánh.. Các anh cán bộ nói giọng Bắc, họ tự giới thiệu họ là kỹ sư hay tiến sĩ của một ngành chuyên môn. Có một số đã ra Hà Nội sau Hiệp Định Genève 1954.. Họ hỏi xem Bộ Công Chánh cũ hoạt động ra sao?

Người ta bắt đầu làm việc lại.

Kỹ sư Văn rất ngạc nhiên vì các anh cán bộ không có chút khả năng nào hết, nếu không muốn nói là quá dốt, vì ngay cả một vài công thức về toán học họ cũng không biết. Khi ông Văn nói về những kim loại của Miền Bắc , các cán bộ kể ra toàn là những mỏ chưa ai từng biết tới ở Việt Nam.

Có một số cán bộ đi đến chùa Quan thế Âm. Họ bảo với những người tỵ nạn đang ở đó:

_ “Các anh hãy về nhà đi.”

Hòa thượng Thích Thiện Huê ghi nhận được những nét đặc biệt giữa những người kháng chiến của CPLTCHMN và bộ đội chánh quy Bắc Việt . Những kháng chiến quân thì mặc đủ thứ quần áo, còn bộ đội thì ăn mặc khá hơn. Họ có vẻ lễ phép hơn. Đối với những người có tuổi, họ xưng con, còn các anh kháng chiến thì họ giữ khoảng cách, đôi khi còn hống hách nữa.

Trung sĩ Thưởng dùng xe đạp để đi đến Vũng Tàu. Trời nóng như thiêu đốt, anh gặp rất nhiều xe và chiến xa bị cháy, và cả những thi hài của người chết nữa. Đó đây la liệt đủ loại vũ khí, quân phục của binh sĩ Miền Nam. Anh Thưởng đèo phía sau xe đạp của anh một cô gái và một đứa trẻ, cả hai anh đều không quen biết. Cứ mỗi chặn đường 10 cây số là anh phải ngừng lại. Các “cọp 30” dựng lên rào cảng để kiểm soát người qua lại. Trung sĩ Thưởng tự hỏi mình khi đã rời khỏi Sài Gòn rồi thì mình sẽ làm gì đây? Uống một tách cà phê anh phải trả tới 500 đồng và cho em bé uống một tách sửa anh cũng phải trả 500 đồng. Trung sĩ đã được lãnh tháng lương cuối cùng của anh, 18.000 đồng. Một chiếc phà tạm đưa họ qua một cây cầu sập. Anh chia tay với cô gái và em bé, họ tiếp tục lên xe Lam đi nữa.

Đại tá Hòa trở lại đài truyền thanh và truyền hình ở Sài Gòn, ở đó đã tập trung lại một số nhân viên chừng 50 người. Nhiều người còn mặc đồng phục màu xanh dương. Ngoài cổng thì có người gác, mặc thường phục. Ngay trong văn phòng của mình, anh cựu giám đốc đài truyền hình gặp một người dân sự và ông cựu Tư lệnh phó Vùng 2 Chiến Thuật, tướng Phạm đình Thứ (tướng Lam Sơn). Ông này làm đại tá Hòa sửng sốt khi ông nói:

_ “Tôi ở trong Ủy Ban Cách mạng của Sài Gòn.

Có nhiều bộ đội Bắc Việt chạy khắp nơi trên lầu. Đại tá Hòa mặc thường phục tự trình diện với các sĩ quan Bắc Việt làm họ cũng thấy ngạc nhiên:

_ “Tôi là đại tá Hòa, Giám đốc đài truyền thanh truyền hình và kỹ thuật điện ảnh. Tôi đến đây để bàn giao trách vụ.

_ Tốt lắm, Có thể cho phát thanh được không? những người đối diện trả lời

_ “Tôi sẽ coi lại, tôi xem lại máy móc đã. Tất cả thiết bị đều còn tốt hết. Có đầy đủ nhân viên kỹ thuật, như vậy là chúng ta có thể cho phát thanh được.”

Đại tá Hòa đến đây để bảo vệ cho nhân viên của ông . Những người chiến thắng có thể cũng tỏ ra là người hiểu biết, tại sao không thử hợp tác với họ?

Ở Bộ Tổng Tư Lệnh Bắc Việt, tướng Dũng và Bộ Tham Mưu của ông cùng một lúc làm lễ mầng Giải Phóng Miền Nam và cả ngày lễ Quốc Tế Lao Động.. Người ta dọn lên một số thức ăn trên bàn tiệc, có cả bánh ngọt, mứt, kẹo rượu ngọt và sô đa… Phạm Hùng thấy có một chai rượu. Một cộng sự viên của viên Tổng Tư Lệnh giải thích:

_ Chúng tôi đồng thời cũng mừng sinh nhật của Tướng Văn tiến Dũng.

Ở góc rừng này thật là yên tĩnh, không có một tiếng súng nào. Phạm Hùng đề nghị nâng ly:

_ “Tôi xin nâng ly mầng cho tất cả những người đã mang lại chiến thắng ngày hôm nay cho chúng ta. Hồ chí Minh muôn năm, đảng cộng sản Việt Nam anh hùng muôn năm, Bộ chánh trị đảng muôn năm.”

Viên Tổng Tư Lệnh lên xe đi xuống Sài Gòn. Ông ta thích thú vì biểu ngữ ở cổng các trại lính của Miền Nam: “Danh dự – Trách nhiệm – Tổ Quốc”. Ở Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Cảnh sát ông ghi nhận là: “chúng ta đã tìm thấy còn nguyên vẹn tất cả các hồ sơ tối mật” Máy điện toán vốn đã ghi lại tất cả căn cước, và sơ yếu lý lịch của trên một triệu quân nhân , vẫn còn chạy tốt. Đối diện với sự thông minh và năng lực của dân tộc Việt Nam ta, các máy điện toán không có lời nói cuối cùng”. Sau đó tướng Dũng đến trại Davis.. nơi đây, trong phòng họp báo, ông tập họp các cấp và các chánh trị viên của các quân đoàn lại.

Ở Bộ Chỉ Huy của mình, tướng Trần Văn Trà” tiếp tục điều khiển các cuộc hành quân tảo thanh các đơn vị cuối cùng của Miền Nam Việt Nam, đang tập họp lại từng đại đội, có nhiều chỗ cả tiểu đoàn, trong vùng rừng bụi chung quanh Sài Gòn.

Tướng Trà nhận được mộc điện tín của “anh Ba”, đồng chí Lê Duẫn, báo tin tướng Trà sẽ là Chủ Tịch Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn- Gia Định và Trà phải đến ngay Thủ đô Sài Gòn.

Vừa đến thành phố Hồ chí Minh là tướng Trà đến ngay dinh Độc Lập. Nhưng trước khi làm việc ông đi một vòng trong thủ đô. Trở về dinh Độc Lập, tướng Trà theo lệnh của Bộ Chánh trị đã cho lệnh trả tự do cho các người có trách nhiệm trong chính phủ bù nhìn cuối cùng của Miền Nam Việt Nam gồm có Tổng Thống Dương Văn Minh, Phó Tổng Thống Nguyễn văn Huyền, Thủ Tướng Vũ văn Mẫu. Sau khi có vài lời giáo hóa với những người này về đường lối chánh trị “đúng đắn, ôn hòa và khoan hồng của cách mạng ” , và rằng “Cách mạng dùng công lý tranh đấu với bạo lực, dùng nhân đạo thay cho tàn bạo” …v.v.. Quá khứ là quá khứ. Theo tướng Trà thì những người đối thoại với ông có vẻ “cảm động” lắm! Ông Dương Văn Minh nói:

_ “Tôi rất sung sướng được là một công dân của một nước Việt Nam độc lập.

Và ông Nguyễn văn Huyền xác nhận:

_ “Với tư cách là một công dân Việt Nam, tôi rất hãnh diện về những thắng lợi oai hùng với chiến thắng của đất nước.”

Vân vân và vân vân……

Trong hồi ký của mình, tướng Trà còn thêm: Một người như ông Huyền, không bao giờ xử dụng được những danh từ như ” chiến thắng oai hùng”. Trong sự mong muốn bình thường hóa Lịch Sử, những người có trách nhiệm của Miền Bắc không quá chú trọng đến một chút thực tế nào. Trên thực tế, tướng Minh chỉ có nói:

_ “Mặt Trận rất xứng đáng với chiến thắng của mình. Chúng tôi tất cả đều có tranh đấu cho một lý tưởng, đó là sự hòa hợp và sự hòa giải của dân tộc Việt Nam và hòa bình cho Việt Nam.”

Chánh quyền mới không bao giờ tin ở những trạng thái vui vẻ tốt đẹp của vị cựu Tổng Thống. Ông này bị “quản thúc tại gia” ở nhà ông ta. Không một nhà báo nào được phép vào thăm ông ta. Các ông Nguyễn văn Huyền và Vũ văn Mẫu cũng vậy, đều bị quản thúc tại gia.

Lúc 19 giờ, đài truyền hình phát hình lần đầu tiên: có một vài hình ảnh của những kháng chiến quân thuộc CPLTCHMN làm cảnh cho một bản quốc ca, và một vài mẫu tin tức. Người ta không nhận các xướng ngôn viên mà đại tá Hòa đã cố gắng xin giữ lại. Người ta tuyên bố:

_ Bây giờ anh là cố vấn kỹ thuật, mỗi ngày anh đến đây.

Về sau trong tuần, ông Hòa thấy có một người đến, với nhiều anh cận vệ, một người mà người ta gọi là “anh chín”. Đó là nhà thơ Tố Hữu, một thành viên trong Bộ Chánh trị Trung Ương cộng sản . Ông nói chuyện chơi với ông cựu giám đốc đài truyền hình, đi một vòng xem các phòng thâu hình , và hỏi đại tá Hòa:

_ “Anh nghĩ gì về các bản nhạc mà đài Hà Nội đã cho phát thanh?

_ Nhạc của quý vị giống nhạc Tàu quá!

Một người phó của ông Tố Hữu nhảy dựng lên; một người khác đến chiếc đàn dương cầm và chơi một bản:

_ Đây có phải là Tàu không?

_ Vâng đúng là Tàu

Anh kia lại đàn môt bản khác:

_ Còn bản này không, bản này thì không.

Tố Hữu bỏ đi…

Các anh bộ đội đi khắp thành phố, họ mua viết Bic, đồng hồ, máy thu thanh và khám phá ra đây là một xã hội tiêu thụ. Dân chúng Sài Gòn cũng hơi yên tâm, các bộ đội cũng dễ thương và chất phác đấy chứ ?. Các viên chức từ Hà Nội vào thì ghi các công ty vào danh mục và xếp loại họ, Các vườn trồng cây thì được xếp vào loại K1, các nhà máy thì loại K9. v.v…

Một sĩ quan Bắc Việt đến gặp đại tá bác sĩ Fourré ở bệnh viện Grall.

_ Tôi là thiếu tướng Hùng. Ông có nhận săn sóc các bệnh binh của tôi không?

_ Dĩ nhiên rồi.

_ Vỉệc đó chúng tôi phải trả bao nhiêu?

_ Đối với các ông thì miển phí.

Rất bằng lòng, tướng Hùng yêu cầu là các bệnh binh của ông phải được nằm riêng, trong một dãy nhà đặc biệt. Người ta sẽ biệt phái đến một bác sĩ để săn sóc họ. Trong nhà xác của bệnh viện hiện đang còn xác của tướng Phạm văn Phú.

Có rất nhiều người dân Miền Nam không có bệnh hay bị thương gì hết, và cả một số không ít cảnh sát đều bám cứng vườn của bệnh viện Grall.

Hai ông Lê Duẫn và Võ nguyên Giáp đáp xuống Tân Sơn Nhất. Họ ôm chặt ông Lê đức Thọ, người chiến thắng vế chánh trị và tướng Dũng, người chiến thắng về quân sự.

Đài phát thanh loan báo là thành phố “phải là một thành phố cách mạng , văn minh, sạch sẽ, vui tươi và mát mẻ. Theo nguyên tắc tình nguyện bắt buộc, thì các sinh viên sẽ làm việc đó, họ được trang bị xẻng, thùng và chổi. Các biểu ngữ cũ được thay thế bằng các biểu ngữ mới: “Sài Gòn giải phóng muôn năm”, “Hòa bình, Độc Lập, Dân Chủ, Phú Cường” “Nhân Dân và Quân đội đoàn kết để xây dựng xã hội chủ nghĩa muôn năm”.

Trong niềm hân hoan quân sự của cuộc giải phóng này, rất khó mà tính được con số dân chúng Sài Gòn đã coi đây chỉ là một sự chiếm đóng; còn đối với chuyện người Miền Bắc đến dây, những người Bắc Kỳ (nguyên văn của tác giả: “Tonkinois”), thì người ta chưa thấy được một triệu chứng đầu tiên nào của những ai có trách nhiệm nào cả. Do đó mà có một số lớn thành viên của lực lượng thứ ba bị gạt ra ngoài, như linh mục Chân Tín, người đã gởi cho cơ quan Ân Xá Quốc Tế các hồ sơ về những nhà tù ở Miền Nam Việt Nam. Một nhà báo người Ý, ông Tiziano Terzani, đã tìm thấy được một nữ sinh viên 22 tuổi, Nguyễn thị Mẫn, vốn đã bị đày ra Côn Sơn. Cô đang theo các “lớp huấn luyện”. Thật ra những người được trả tự do thuộc lực lượng thứ ba, đều không được tự do như họ tưởng.

Lần hồi, một cách chậm chạp, tỉ mỉ và quan liêu, các quận của Sài Gòn được chia ra xuống thành nhiều khu vực, nhiều khu phố, nhiều khóm, phường, và tổ (gia đình). Ở mỗi một cấp như vậy người ta đều có chỉ định một người trách nhiệm. Một anh công an có nhiệm vụ theo dõi, coi chừng. Dân chúng được phân chia ra thành nhiều loại, từ 9 đến 12 tuổi, từ 13 đến 17 tuổi, từ 17 đến 33, từ 34 đến 60, từ 61 đến 88. Tất cả những ai đến thành phố Hồ chí Minh đều phải được khai báo. Nếu họ ở qua đêm thì họ phải có giấy phép. Sự thanh lọc của chế độ công an trị được đặt trên thành phố cũng giống như một cái khuôn được đặt trên một cái bánh vậy.

Các “gia đình của giải phóng” đến nhập vào với cán bộ, từ Hà Nội vào, họ chiếm các khách sạn, các biệt thự, treo quần áo đầy chung quanh các hồ bơi của Câu lạc bộ Thể Thao. Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời (CPLTCHMN) đã xóa đi hai chữ “lâm thời”, nhưng hình như họ không phải là thành phần cai trị . Ở khắp mọi nơi, từ nhà đèn cho tới bưu điện, các anh đại diện của CPLTCHMN đều có một hoặc có nơi hai người Bắc Việt chánh thức kèm một bên. Dân chúng đang thiếu tiền. Không một người nào được quyền rút trên 10.000 đồng ở ngân hàng của mình. Giá của một kí lô đường lên đến 2.000 đồng .. Những người Bắc Việt khám phá ra 4 kho vàng: xe đạp, máy truyền hình, quạt máy, và tủ lạnh. Những chiếc tàu đậu ở bến cảng Sài Gòn chở đầy bàn ghế, máy móc, xe xích lô máy, mô tô, máy điều hòa không khí….

Một cô đào hát nổi danh, cô Kim Cương, xuất hiện với cấp bậc thượng tá. Ông Trần xuân Ẩn, một nhà báo của tờ Time, rất tự nhiên, đã đứng vào hàng ngũ của những người đáng kính trong Ban Quân Quản của thành phố.

Những người ngoại quốc, các nhà ngoại giao, nhà báo, các thành viên cơ quan cứu trợ… đã tìm kiếm nhưng không gặp được người nào trong CPLTCHMN , một chính phủ cách mạng ma. Chánh quyền quân sự đóng ở Bộ Tư Lệnh Cảnh sát cũ, có những nhân viên an ninh mặc quân phục màu hường canh gát. Trên căn bản các anh này thì không dễ thương bằng các anh bộ đội. Tư thất của đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin được đổi thành Bộ Chỉ Huy của Ủy Ban Cách mạng quận nhứt và khách sạn Star được chuyển thành nhà thổ cho quân nhân, mặc dầu có lời kêu gọi về đạo đức ra rã suốt ngày trên các loa phóng thanh.

Một vài người dân Sài Gòn kiên nhẫn chờ đợi. Dù sao thì những người mới có trách nhiệm cũng đang có nhiều bài toán phải giải quyết. Đồng bạc của Bắc Việt đã bắt đầu xuống giá., sau nhiều ngày cao giá hơn đồng bạc của Miền Nam và đồng Mỹ kim. Đồng Mỹ kim đứng giá, chánh thức 1 Mỹ kim đổi được 18,5 đồng Bắc Việt nhưng giá chợ đen là 20 đồng Bắc Việt.

Nhiều người dân Sài Gòn khác thì phát hiện được nhiều dấu hiệu cho thấy sắp có một cuộc chuyển đổi qua chánh thể cộng sản. Người ta loan báo nhiều cuộc quốc hữu hóa, và người ta ban bố nhiều quy định nghiêm khắc liên quan tới chuyện để tóc dài.. Không một ai cưỡng lại được những chuyện quốc hữu hóa, nhưng người dân Sài Gòn nhanh chóng từ chối áp dụng những quy định về tóc của họ.

Rõ ràng là Miền Bắc đã chiếm Miền Nam. Miền Nam đã chống lại và một cách êm thấm sẽ làm cho Miền Bắc ô nhiễm….

Ngày 7 tháng 5, vào buổi sáng, chiếc tàu Pionner Commander đến hải cảng của đảo Guam. Trên đường đi, đã có 3 trẻ em chết và có 3 đứa bé chào đời. Trên tàu có một cô bé tên là Vũ Lệ Thu, 11 tuổi là gái mồ côi và bị tật nguyền được Thủy Quân Lục Chiến nhận làm con nuôi.

Đứng nhìn 4.670 người tỵ nạn đang bước lên bờ, đại úy Moyer kiểm điểm lại tình hình. Chỉ có những cái chết của 3 trẻ nhỏ, ngoài ra không có gì tệ hại đã xảy ra trên tàu. Chiếc tàu bị một luồng bệnh nhặm mắt làm cho cả nhiều người lính Thủy Quân Lục Chiến cũng bị lây theo.

Các người tỵ nạn đã trao cho biệt đội “India” một số đĩa sơn mài kèm theo một bức thơ:

_ “Ngày 7 tháng 5, năm 1975,

Kính gởi Tiểu Đoàn 7 Thủy Quân Lục Chiến,

Của những người dân Miền Nam Việt Nam tỵ nạn trên tàu Pionner Commander,

Đây là một món quà tượng trưng rất khiêm nhường để nói lên lòng biết ơn sâu xa về hành động anh hùng mã thượng của tiểu đoàn này khi có cơ hội được nghe một tiếng kêu gọi khẩn cấp. Không có một lời nào để chúng tôi có thể nói lên sự cám ơn của chúng tôi ….. Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến luôn luôn có mặt để bồng bế trẻ con giúp cho cha mẹ chúng nó lên tàu… Họ luôn luôn có mặt khi có một người nào đó ngã bệnh, và cần có được sự chăm sóc của bác sĩ… Và trên hết tất cả, họ vẫn có nét mặt tươi cười dù là họ đã mệt nhọc làm việc suốt 24 giờ liền. Không bao giờ có một vấn đề gì gọi là kỳ thị giống dân hay tự tôn mặc cảm…. Chúng tôi rất thích thú được xem họ là bạn… Xin hãy nhận lấy món quà nhỏ mọn này như là một vật kỷ niệm của những người bạn của các anh trong một thời điểm chủ yếu nhất của tình bằng hữu….”

Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến lên xe buýt. Họ sẽ đi về Okinawa ba ngày sau.

Trong một cuộc phỏng vấn được thâu băng trước của chương trình “Ngày hôm nay” thuộc đài NBC ngày 8 tháng 5, ông Henry Kissinger tuyên bố là ông không có từ chức.

_ “Trong những điều kiện hiện tại, ra đi vào một thời điểm lo âu trong lúc ai cũng tìm một lối xử sự cho mình, tôi nghĩ rằng đó không phải là một công tác cho đất nước nếu tôi ra đi khi mà Tổng Thống đang tín nhiệm tôi và yêu cầu tôi ở lại nhiệm sở của mình …. Nếu chúng ta nhìn lại những gì đã được thực hiện trong những năm sau cùng này với Trung Quốc, với Liên Xô, trong lãnh vực năng lượng… vừa rút được các đơn vị của chúng ta về từ Việt Nam, vừa đưa được các tù binh của chúng ta về nước và vừa đưa ra một công thức có thể dẫn đến hòa bình ở Trung Đông…, tôi không nghĩ là phải nói một cách công bằng là đường lối chánh trị quốc ngoại của chúng ta đã thất bại…. Có một số thất bại, nhưng hầu hết những thất bại của chúng ta đều do những vấn đề chánh trị nội bộ….”

Dù cho có những thất bại nào đi nữa thì các cường quốc tiên tiến cũng vẫn tiếp tục sống, vẫn tiếp tục đứng vững với những thất bại đó. Ngày mai này ông Philip Habib sẽ thảo ra cho ông Tổng Trưởng Ngoại Giao một giác thư “Hành Động”. Hoa Kỳ đã yêu cầu nước Pháp đại diện cho chúng ta ở Việt Nam. Người Pháp đã chấp thuận nhưng còn đợi sự đồng ý của chánh quyền Sài Gòn trước khi có quyết định chánh thức. Chánh quyền của thành phố Hồ chí Minh đã nhờ quốc gia Algérie coi giùm tài sản của Miền Nam Việt Nam ở Hoa Kỳ.

Ông Habib đã phân định được 3 loại vấn đề trong hiện tại:

1)- Chín trăm quân nhân được coi là mất tích và 1.400 người Mỹ chết trận chưa tìm được hài cốt.

2)- Có khoảng 50 người Mỹ đã ở lại Miền Nam Việt Nam: 9 thường dân Mỹ bị bắt ở Ban Mê Thuột và Phan Rang; và có những người đi giảng đạo, nhà báo, các bác sĩ và y tá đã tình nguyện ở lại Việt Nam.

3)- Chánh Phủ Hoa Kỳ và các Hiệp Hội của Hoa Kỳ ở Miền Nam Việt Nam đã có một số tài sản ước lượng chừng 100 triệu Mỹ kim.

Ngoài ra còn có từ 50 đến 100 triệu Mỹ kim đã được ký thác vào các ngân hàng Hoa Kỳ qua các ngân hàng Việt Nam. Có những ký thác khác của Miền Nam Việt Nam ở các ngân hàng ngoại quốc, khoảng chừng 40 triệu Mỹ kim. Tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa ở Hoa Thạnh Đốn và các lãnh sự quán ở Nhiêu Do và Cựu kim Sơn, kể cả chương mục của họ trong ngân hàng, được trị giá khoảng 3 triệu Mỹ kim.

Liệu có nên cho Algérie nhận trách nhiệm quản trị những tài sản của Việt Nam Cộng Hòa ở Hoa Kỳ hay không? Một trong các lý do bênh vực cho cuộc dàn xếp này: Người Mỹ còn giữ một phương tiện liên lạc với cựu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, Người Algérie sẽ được thỏa mản, Người Mỹ giữ tất cả những sự chọn lựa cho mình “nhằm vào sự tổ chức giao tế trong tương lai”

Đi ngược lại với sự dàn xếp này: Hoa Kỳ sẽ công nhận ngầm chánh quyền cũ của Việt Nam Cộng Hòalà đại diện chánh thức cho Miền Nam Việt Nam. Ở Hoa Kỳ cũng như ở ngoại quốc, điều này có thể là một quyết định quá hấp tấp và không đúng.

Dù muốn dù không, từ ngày 9 tháng 5, Bộ Ngoại Giao, qua ông Philip Habib, không loại trừ một sự bình thường hóa giao dịch với một nước Việt Nam mới bất kỳ trong kỳ hạn nào. Trong số các nước tiên tiến, các quốc gia khổng lồ và lạnh nhạt, thì Hoa Kỳ là quốc gia ít có hận thù nhất.

Ngày 15 tháng 5 là ngày sinh nhật thứ 85 của Hồ chí Minh. Đã bắt đầu có những buổi lễ mầng thành phố Hồ chí Minh được giải phóng. Các buổi lễ này được tổ chức trong nhiều ngày. Một khán đài danh dự được dựng lên ngay trước dinh Độc Lập, có cờ xí và cây kiểng chung quanh.

Trong một ngày nắng tốt, từ 8 giờ sáng, người ta nhận thấy đã có mặt ở khán đài ông già Tôn đức Thắng, có dù che, chủ tịch danh dự của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một kẻ nổi loạn hồi xưa ở Biển Đen (Nga la Tư). Ngồi hai bên cạnh ông ta là Thủ Tướng CPLTCHMN Huỳnh tấn Phát, tóc ngắn màu xám tro, ông Nguyễn hữu Thọ, Chủ Tịch Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng, và bà Nguyễn thị Bình, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao. Ông Lê đức Thọ tươi cười như tướng Trần Văn Trà ngồi bên cạnh các sĩ quan mặc quân phục dạo phố màu xám nhạt, đội mũ cát kết có băng đỏ, ngực đeo đầy huy chương theo kiểu Liên Xô. Đức Giám Mục Sài Gòn được thấy bên cạnh vài nhà sư Phật Giáo. Ông Pierre Brochand ngồi hàng dưới cùng của khán đài. Lúc ông dùng xe đạp đi dạo, ông ta đã thấy chủ tịch Mặt Trận Nguyễn hữu Thọ đi một vòng thành phố như một khách du lịch nhưng trong một xe du lịch của chánh quyền.

Trước giờ diễn hành, ông Huỳnh tấn Phát, Chủ tịch CPLTCHMN, đọc một bài diễn văn, trong đó ông cho biết là Chánh Phủ mới của Miền Nam sẽ là Chánh Phủ Dân Chủ, rằng ông đã thắt chặt giao hữu với tất cả các quốc gia , và rằng mọi ý kiến và tín ngưỡng sẽ được tôn trọng.

Sau đó là một cuộc diễn hành quân sự rất đẹp mắt. Có một vài đơn vị du kích quân đi đầu với vũ khí hổn tạp. Họ không được nhiều. Trên khán đài, ông Trương như Tảng, Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp của CPLTCHMN ngạc nhiên:

_ Ủa, các sư đoàn của chúng ta đâu hết không thấy?

Chung quanh tướng Trà người ta cười rộ lên:

_ Đã thống nhất rồi, binh sĩ của Mặt Trận đã được chánh quy hoá hết rồi.

Các chiến xa T.54 và T.56 , các chiến xa lội nước PT.76, các hỏa tiển Sam, có xe kéo rất bóng láng, và các binh sĩ và lính Hải Quân đều mang găng tay trắng.

Có vài người còn tiếp tục nói:

_ “Mấy người Việt Nam từ Hà Nội và hơn nữa những người của CPLTCHMN cũng đều là đồng bào của chúng ta, rồi thì chúng ta cũng đi đến chỗ hiểu nhau thôi!

_ Họ sẽ có lợi nhiều hơn khi họ chấp nhận một Miền Nam đa nguyên và trung lập.

Có những người khác thì cẩn thận hơn:

_ “Phải chờ xem đã. Phải thấy mới được. Không ai rán trứng mà không đập trứng ra đâu?.

Cũng có người nói:

_ “Xã hội chủ nghĩa hả? đó là con dường cộng sản hóa bắt đầu đó!

Vì có nhiều lý do mà chánh quyền không giải thích, buổi lễ mầng giải phóng được thu ngắn gọn lại.

Có nhiều người dù không thích hay ghét ông Thiệu, cũng đã nhớ lại câu nói của ông

_ “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”

Có rất nhiều người dân Miền Nam nhất là dân Sài Gòn cảm thấy ” nỗi đau của một người mẹ khi thình lình đứa con của họ chết vì tai nạn”

Một vài anh bộ đội bị ám sát ở vùng ngoại ô, thường thì bị đâm bằng dao. Các toán tuần tiểu Bắc Việt đã tăng cường hoạt động. Các nhân viên kiểm soát an ninh và trật tự đi cùng khắp nơi với máy bộ đàm , các máy 500 và máy truyền tin lấy được của Miền Nam. Đôi khi họ bắt được kẻ trộm, họ hành quyết ngay và để tử thi tại chỗ cho người ta thấy để làm gương.

Sách báo Tây Phương thường được bày bán ngoài dường hay trong các tiệm sách, đều biến mất hết. Người ta tìm đốt hết. Lần lần xuất hiện các cuốn sách của Mác, của Các Mác, của Ăn Ghen, của Lê Nin và của Sít ta Lin nữa. Và các tác phẩm của các nhà tư tưởng ở Hà Nội, mà của Lê Duẫn là hàng đầu. Các trường học được mở cửa lại. Trong mỗi lớp học đều có dán năm điều răn của “Bác Hồ cho trẻ con: “yêu Tổ Quốc, yêu Dân Tộc,”Học giỏi. Lao động giỏi”, “Đoàn kết và kỷ luật”. “Biết giữ vệ sinh”.“Khiêm nhường, Thành thật, và Cảnh giác”

Cảnh Giác là thường phải tố giác cha mẹ, người hàng xóm và bạn bè.

Các công chức thuộc chế độ cũ, cảnh sát , quân nhân bị gọi đến trình diện. Họ phải đi “học tập” ở các trại cải tạo. Người ta thông báo chánh thức là binh sĩ đi học tập 3 ngày, hạ sĩ quan thì hai tuần, sĩ quan cấp úy hay cấp tá là 3 tháng; các nhân viên thuộc cơ quan an ninh, những người thường tra khảo người ta, và một vài sĩ quan cấp tướng, có thể phải học tập lâu hơn, người ta nói là có thể đến 3 năm.

Đối với những người tỵ nạn đã đi ra ngoại quốc, chánh quyền của thành phố Hồ chí Minh vừa thấy thích thú vì đã đương nhiên loại được một số lớn người tiềm tàng chống đối, lại vừa có ý muốn cho gọi về Việt Nam“dân chủ và đa nguyên” những người công dân đã coi như đi lạc đường. Người ta cố gắng thu hồi một số người tỵ nạn về Việt Nam. Ngày 25 tháng 5, ông Huỳnh công Tâm giám đốc liên lạc của CPLTCHMN bên cạnh Liên Hiệp Quốc ở Genève, đã viết thơ cho Cao Uy Tỵ Nạn Subraddin Aga Khan:

“Thưa Ngài Cao Ủy,

Chắc Ngài cũng biết sự kiện là có hằng chục ngàn người Việt Nam đã rời khỏi Miền Nam Việt Nam vào thời gian trước ngày giải phóng hoàn toàn ở nước tôi.

Trong số những người Việt Nam đó, đã có rất nhiều người bị di tản trái với ý muốn của họ, hoặc đã bị tuyên truyền láo khoét nhằm cho họ phải bỏ đất nước của họ . Mặt khác có hằng trăm trẻ con Việt Nam đã bị bốc đi khỏi quê hương của chúng và điều này vi phạm những luật lệ quốc tế hiện hành….”

Trong một số trung tâm như ở đảo Guam, có một vài trăm người tỵ nạn, yêu cầu được trở về nước . Hoa Kỳ đã sẳn sàng cho họ hồi hương. Nhưng thình lình chánh quyền thành phố Hồ chí Minh từ chối không nhận họ. Những người của Hà Nội có lẽ đã mất một dịp may lịch sử để bình tường hóa lại quan hệ với Hoa Kỳ.

Điều này không cấm được ông Phạm văn Đồng ngày 3 tháng 6 đã kêu gọi việc bình thường hóa này, với những điều kiện mà ông đã đưa ra: Hoa Kỳ phải viện trợ kinh tế cho cả hai miền Nam Bắc Việt Nam. Với một thái độ vô liêm sĩ quá hài hước, ông Thủ Tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hống hách tuyên bố là Hoa Kỳ phải hoàn toàn tôn trọng Hiệp Định Ba Lê về ngừng bắn năm 1973.

Lịch sử đã nuốt trửng hay đã phân tán hết những kẻ chiến bại. Tại Việt Nam, kẻ chiến thắng biết đánh giặc nhưng không đạt được phương thức tổ chức cho hòa bình. Chế độ được gọi là dân chủ ở Việt Nam được rập khuôn theo kiểu Liên Xô, và được Liên Xô ủng hộ. Bây giờ Việt Nam là một trong ba quốc gia nghèo đói nhất trên thế giới và là một trong những nước có chế độ công an trị nhất ở Á Châu.

Sống trong một không khí phân tán chia rẽ nhau, những người trẻ nghi kỵ các người lớn tuổi, và những người lớn tuổi thay vì hợp tác như thường lệ thì lại lên án mạnh mẽ, cho “nó là người của cộng sản”, “cô ta làm việc cho Thiệu”, “bọn này là Phật Giáo cánh tả”, “bọn kia bênh vực cho công giáo chính thống”, “nó là bộ trưởng của CPLTCHMN”. v.v..

Cũng giống như các cộng đồng lưu vong khác, người Việt Nam phải biết làm lại từ đầu, hay là ít ra phải biết thực hiện đoàn kết quốc gia và thực hiện dân chủ…

Ông Nguyễn văn Thiệu sống một cách đế vương ở Luân Đôn, mà vẫn có một thẻ cư trú ở Mỹ từ năm 1985. Người Mỹ nói ông giữ một “lối sống có vẻ bình dân” . Lúc ông mới đến Anh quốc, một nhân viên người Anh thuộc cơ quan đặc biệt chuyên về điều tra tài sản của ông Thiệu, đã thấy được khoảng 200.000 Mỹ kim và nhiều nữ trang của bà Thiệu.. Ông Thiệu đi du lịch, qua Mỹ, Pháp và theo dõi tiến trình chia rẽ chánh trị của Việt Nam. Ông đặc biệt quan sát chiến dịch khá không thực tế của một nhóm luật gia Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Vũ quốc Thúc ” để đặt lại vấn đề Hiệp Định Ba Lê 1973″. Nếu “rủi ro” mà người ta lại nói đến nhiều về Hiệp Định thì ông Thiệu đương nhiên sẽ trở lại thành vị Tổng Thống của một nửa nước Việt Nam, dĩ nhiên hoàn toàn trên phương diện lý thuyết mà thôi. Có một số người đã quên đi một cách dễ dàng là ông Thiệu đã từ chức rồi. Sự chia rẽ của những người Việt Nam, vốn còn chưa chế ngự được các sư đoàn của mình, đôi lúc họ lại bàn tính đến các dự án có hơi phi lý, nhưng cũng có dự án nghiêm túc hơn.

Cuộc “tắm máu” được loan truyền trước khi Sài Gòn bị thất thủ thì không có trong khi cộng sản lên nắm chánh quyền nhưng sau đó thì có tắm máu thật. Hai nhà sưu tầm là ông Jacqueline Desbarats và Karl Jackson đã chứng minh là đã có tối thiểu 65.000 người bị hành quyết. Chưa nói đến những người đàn ông và cả đàn bà coi như đương nhiên bị lên án tử hình khi người ta đẩy họ vào những vùng “rừng thiêng nước độc” kinh khủng, hoặc đưa họ đi gở mìn mà không có máy dò mìn…

Các cộng sự viên của ông Thiệu được phân tán ra ở khắp năm châu khi họ còn sống được hay không bị chết trong những trại lao động tập trung kiểu Goulag của Liên Xô.

Ông Hoàng Đức Nhã làm việc cho một công ty Mỹ ở thành phố Chicago. Ông có nhiệm vụ trao đổi mậu dịch hiện đại trên một quy mô rộng lớn, một hoạt động thường giúp ông được dịp đi Trung Quốc. Hầu hết các cựu tướng lãnh của Miền Nam Việt Nam đều cư trú ở Hoa Kỳ. Cựu Thủ Tướng Trần thiện Khiêm và cựu Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao văn Viên không có ưu tư về vấn đề vật chất. Trái lại, trường hợp của phần lớn các tướng lãnh và các sĩ quan cao cấp thì lại thật sự không phải như vậy. Chẳng hạn như Đô Đốc Chung tần Cang vị Tư Lệnh sau cùng của Hải Quân và tướng Lê quang Lưỡng, vị chỉ huy xuất sắc của Lực lượng Nhảy Dù, đều sống rất khiêm nhường ở thành phố Bakersfiel, California. Họ làm việc 8 tiếng một ngày trong nhiệm vụ đốc công trong kỹ nghệ dầu hỏa. Ông Nguyễn cao Kỳ nóng tính thì giờ đây lại yên lặng hơn trước , tuy không thành công trong công việc làm ăn nhưng lại có được một vài người bạn á rạp châm chỉ.. Vị chủ tịch cuối cùng của Thượng Viện, ông Trần văn Lắm có một nhà hàng ở Úc Châu. Ông Bùi Diễm, cựu đại sứ lưu động, vừa mới cho xuất bản tập Hồi Ký của ông. Ở tiểu bang Virginia, vị toàn quyền quân sự cuối cùng của Thủ Đô Sài Gòn, sau 7 năm ở trại cải tạo, đang nghiền ngẫm lại chuyện hợp tác của ông ta với đại tá Phạm ngọc Thảo, người được Hà Nội truy tặng “anh hùng giải phóng”, vì đã thường có những cố gắng làm cho chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa mất thăng bằng….

Dù là quân nhân hay là dân thường, có chút tên tuổi hay vô danh, tất cả nam hay nữ đều chấp nhận số phận của mình với đầy đủ phẩm cách như một ông đại tá quan trọng nào đó là người gác cổng ban đêm . Đã có những vấn đề riêng tư, thường rất là đau khổ vô tình hay cố ý được trói buộc vào với vấn đề chánh trị : Rất nhiều người của Miền Nam Việt Nam được trả tự do sau mười năm đi tù cải tạo lúc trở về lại thấy vợ mình đã đơn phương và chánh thức ly dị với mình!

Sau khi đầu hàng cộng sản, tướng Dương Văn Minh không bị đưa đi “học tập cải tạo ” Chánh quyền cộng sản đã cho phép ông di cư năm1981. Ông thường được cáo buộc là đã có nhiều Mỹ kim kín đáo để ờ Pháp, ông Dương Văn Minh sống rất kín đáo ở một khu ngoại ô của Ba Lê, Đúng là một sự công bằng nên thơ, không biết có phải vì ngại ngùng, hay có thể là đắn đo, mà ông tướng Minh hay do dự này đã chọn “con đường của Người Liều Lĩnh” để ở (nguyên tác: rue du Téméraire”, một tên đường có thật ở Ba Lê)

Cho tới tháng 7 năm 1975, kỹ sư Văn đi ngược với trào lưu sì ta li nít, và các lượng sóng mac xít, vẫn ước mong là những người trung lập sẽ nắm chánh quyền ở thành phố Hồ chí Minh. Người ta đưa ông vào trại tù lao động cải tạo, như tất cả các công chức khác. Năm 1977, ông sang Paris.

Nhà văn Duyên Anh, bi cộng sản coi như ” một trong mười tác giả nguy hiểm nhất” nên bị cấm mọi chuyện xuất bản, sau đó bị bắt và vào tù, dĩ nhiên là không có án lệnh. Với số tù là 239 D. TH 6, TCT CTXM. Ông được thả ra vào năm 1981, nhờ hội nhà văn Pen Club và Hội Ân Xá Quốc tế mạnh mẽ can thiệp. Đến được bên Pháp rồi ông Duyên Anh cho xuất bản năm 1986 cuốn sách: “Một người Nga ở Sài Gòn”, cuốn sách đầu tiên này được Tây Phương dịch. Một áng văn Việt Nam tuyệt tác – trong bao nhiêu năm?- sẽ trở thành một áng văn lưu đày. Sách của ông được linh mục Mais chuyển ngữ. Vị linh mục này bị cầm tù 9 tháng với lý do: “đi trên đường mà không có giấy phép”. Sau đó rồi cũng như tất cả các vị tu sĩ ngoại quốc khác, ông bị người ta trục xuất ra khỏi Việt Nam.

Vào giờ này, đã có hơn 1 triệu người Việt Nam đã chọn con đường “vượt biển” hết sức là gian truân. Đã có một thời, Hà Nội khẳng định đó là những người trưởng giả, những kẻ tham nhũng, ăn hối lộ…thuộc giai cấp tư sản mại bản. Thật ra, ở Miền Nam cũng như ở Miền Bắc có những người nông dân, những người buôn bán nhỏ, các thợ thầy … ai cũng chạy trốn, thật là một cuộc di cư không tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt Nam, một đất nước mà ở đó ai cũng muốn sống bám vào mảnh đất, vào làng xã, vào “lũy tre xanh” của mình như là một tài sản căn bản của gia đình…. Trung sĩ Thưởng cũng là một “người vượt biển” (nguyên tác: tác giả dùng danh từ của thế kỷ “boat people”). Ông đến Vũng Tàu học nghề đánh cá, rồi cưới vợ, xuống tàu ra đi một cách bất hợp pháp năm1976, gia đình bị lạc ngoài biển khơi, nhưng sau cùng được gặp lại bên Thụy Sĩ. Còn ông Phạm Thìn, đại úy cảnh sát, mang thông hành số 112517 THI , từ 65 kí lô xuống còn có 49 kí khi ông được thả ra từ trại lao động cải tạo, hiện là quản lý hay là đầu bếp trong một quán ăn nhỏ ở Pierrefitte , bên Pháp.

Hai trong số 3 người ngự lâm pháo thủ, ông Cao Giao, tỵ nạn ở Bỉ sau khi đi tù, và ông Vượng thì ở Mỹ, tất cả đều đã chết. Người thứ ba, ông Trần xuân Ẩn, không có hành động gì cả khi cộng sản đến bắt ông Cao Giao. Ông Trần xuân Ẩn này, là một trong “ba người ngự lâm pháo thủ”, từng làm việc rất đắc lực cho tờ báo Time của Mỹ, đã lộ diện là một đại tá tình báo Bắc Việt được rất nhiều người xác nhận (chú thích của dịch giả: vào thập niên 80 được Hà Nội phong hàm thiếu tướng trong Quân đội Bắc Việt)

Tuy vậy ông Cao Giao vẫn giữ tình bạn với ông Ẩn, ông chỉ thấy Ẩn là “một người bị lừa về ý thức hệ và bị vỡ mộng”. Mặc dầu bị phản bội và bị tổn thương, nhưng tình bạn hữu thường vượt qua sự chia rẽ về chánh trị: “Chúng tôi đều là người Việt Nam”, ông Cao Giao vừa vuốt râu vừa nói….

Tờ báo Time lại cho bà Trần thị Nga vào làm việc lại ở Nhiêu Do. Vào năm 1986 bà cùng với Wendy Winder Laesen cùng xuất bản một tập thơ với hai giòng đời, rất rõ ràng và ngao ngán, làm cho tất cả những người cũ của Việt Nam từ những người chủ hòa cũng như người chủ chiến ai cũng cảm động. Bà Ngà thuật lại hai cuộc đời của bà, một ở Việt Nam và một ở Hoa Kỳ:

Chúng tôi không nệ hà, có việc là nhận làm nga. Con rể tôi, tốt ngiệp trường Luật, cũng hay

Phải đi bán Élextrolux là một loại máy hút bụi Phải đi quảng cáo từ nhà này sang nhà khác Người Mỹ lại sợ dân Á Đông ta. Nên họ không cho vô nhà, thật quái ác!

Bà Nga viết thư về cho Mẹ:

– “Mẹ vẫn thích mùa thu ở Hà Nội. Mẹ thích không khí lạnh ở đó, nhưng chúng con thì không . Chúng con vừa qua một trong những mùa đông khắc nghiệt nhất trong cả trăm năm gần đây… Cháu ngoại của Mẹ đã được 3 tuổi. Nó nói rất giỏi tiếng Anh làm cho chúng con buồn . Chúng con có một lệ là chúng con phải nói tiếng Việt ở trong nhà để các cháu đừng quên tiếng mẹ đẻ.

Chúng con đã có một bàn thờ cho Cha con. Chúng con cố giữ các truyền thống của quê hương mình…

Ở đây chúng con rất thoải mái, nhưng về tinh thần thì chúng con đói lắm. Chúng con thiếu nước Việt Nam của chúng con. Và nhất là Mẹ, hơn tất cả mọi thứ, chúng con thiếu Mẹ. Nếu Đức Phật hiện hữu thì chúng con sẽ cầu nguyện, cầu nguyện cho chúng ta được đoàn tụ với nhau…”

Hầu hết những người Việt Nam sống lưu vong đều được ổn định, hơn hẳn người Cam Bốt hay người Lào. Họ hội nhập được với mọi nghề nghiệp, nhưng không hội nhập với xã hội .Cũng như bà Nga, tất cả đều bị ngày về với đất mẹ ám ảnh.

Vào tháng 6 năm 1987, ông Phạm văn Đồng, 81 tuổi, từ bỏ chức Thủ Tướng. Ông ta đã đảm nhiệm chức vụ này trong suốt 31 năm. Ông Lê đức Thọ cũng rời khỏi Bộ Chánh trị như ông Đồng vào năm 1986, lúc ông được 75 tuổi. Hai người đều trở thành cố vấn cho Ủy Ban Trung Ương Đảng. Khi ông Lê Duẫn chết, Lê đức Thọ không có lên thay ông này trong chức vụ Tổng bí thư đảng. Nhưng em ông là Mai chí Thọ, sau một thời gian “trị vì” ở Sài Gòn ngay sau ngày 30 tháng 4 1975, bây giờ đã trở thành một thành viên trong Chánh trị Bộ. Cộng sản Việt Nam đã có nhiều nét bại hoại vay mượn từ cộng sản quốc tế. Vừa gia đình trị, họ vừa bám chặt chánh quyền cho đến già giống như các đảng cộng sản Albany, Lỗ ma Ni, hay Bắc Hàn. Ở Hà Nội người ta có thể tìm thấy nhiều đại gia đình ôm cứng chánh quyền dưới nhiều tên và nhiều bí danh khác nhau. Các nhà lãnh đạo đảng theo mác xít nguyên thủy, tự cô lập với thế giới bên ngoài, và phủ nhận hết sự kiện. Ông Youri Jivago hay đúng hơn là ông Boris Pasternak đã viết.

“Thuyết mác xít rất là không tự chủ để trở thành một khoa học. Thuyết Mác xít và tính khách quan ? Tôi không thấy thuyết nào hay tự thu mình lại và rời xa thực tế hơn thuyết Mác xít .”Những người như Phạm văn Đồng, Lê đức Thọ, Lê Duẫn sống thu mình lại với chính họ, với những lược đồ của họ và hãnh diện trên sự ngu dốt của họ. Anh bộ đội dốt nhất trong đoàn quân tiến vào Sài Gòn đã nhanh chóng khám phá ra là Tây Phương và hệ thống tự do kinh doanh của tư bản đã giúp ích rất nhiều cho những người kém may mắm hơn là xã hội chủ nghĩa cứng ngắt của Miền Bắc. Và các anh bộ đội trở về gia đình ở Miền Bắc, đã thấy mình bị lừa gạt, đồng thời du nhập vào Miền Bắc một sự nghi ngờ đến tận các cơ quan của đảng. Người ta không còn có thể thuyết phục “khối quần chúng” được nữa rằng tất cả những sự khổ đau của đất nước giờ này đều do sự “thối nát” của “chủ nghĩa đế quốc”. Sau cái ngày mà cộng sản gọi là “giải phóng” có một sự vô tổ chức trong xã hội Việt Nam đến mức độ mà ở ngay tại Sài Gòn đôi khi không có một cọng rau nào (nguyên tác: liseron d’eau: bông súng hay rau muống nước, hay rau mát) hay một con cá nào để mà ăn.. Rau thì có khối gì ờ nông thôn, còn cá thì dẫy đầy khắp các ao, những thứ mà trong thời kỳ chiến tranh không bao giờ thiếu.. Chế độ xã hội chủ nghĩa, theo công thức của Lê Nin, không phải là “điện khí hóa cộng với những người Sô Viết”, nhưng là sự sản xuất và sự phân phối bị ngưng trệ vì thuyết tập trung quyền hành ngu xuẩn và chế độ quan liêu không hữu hiệu. Đâu có cần phải ra nghị định quốc hữu hóa hay hợp tác hóa nông nghiệp một ngày nào đó để vài năm sau lại phải bãi bỏ mới đi đến thành công?

Đến giờ này, nước Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một quốc gia ăn mày, lệ thuộc hoàn toàn vào một người bảo trợ duy nhất là Liên Xô và mọi công trình của họ.

Ở nước Việt Nam thống nhất, “có một sự thiếu thốn trầm trọng về vật chất loại tối cần thiết, và thuốc men….. Sư thiếu khả năng để giải quyết một số mục tiêu hàng đầu trong chương trình 5 năm sau cùng đã ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh của mọi hoạt động kinh tế. Thông thường thì họ không xử dụng đến năm chục phần trăm khả năng của các công ty. Tài nguyên thiên nhiên bị lãng phí….Môi trường đang trên đường bị phá hủy. Có nhiều triệu công nhân bị thất nghiệp hay bị thừa nhân công…..

Những nhận xét này không phải do những người dân của Miền Nam Việt Nam ở xa quê hương nhớ nhà hay do những nhà báo “tư bản”. Mà được Trường Chinh, cựu tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam chánh thức đưa ra, và cũng đã được các dân biểu Quốc Hội báo cáo vào tháng 12 năm 1986. Những sự cải cách kinh tế bị thất bại được quy trách trên hết cho “Ủy Ban Trung Ương Đảng, cho Chánh trị Bộ, và cho Chánh Phủ”

Những lãnh đạo đảng đã có chủ trương thống nhất, chủ trương xăm lăng và cả dân chúng Việt Namđều là những nạn nhân đương nhiên của chủ nghĩa giáo điều. Chương trình của đảng cộng sản Đông Dương trong thập niên 30 đã dự kiến một sự thống nhất của cả ba nước ở Đông Dương . Và họ đã thực hiện. Đối với tất cả các Chánh Phủ vùng Đông Nam Á Châu, lãnh đạo Hà Nội đã trở thành những người Phổ trong vùng. Chiến xa cộng sản vẫn luôn luôn biết gây ra chiến tranh. Các chiến xa sô viết đã hoạt động ở Ba Linh (Đức), ở Prague (Tiệp Khắc) và Budapest (Hung gia Lợi). Người ta dự đoán đây là những cuộc hành quân cảnh sát để đàn áp với một quy mô rộng lớn. Không còn có thể chối cãi gì được nữa, đảng cộng sản Việt Nam là một đảng cộng sản nguyên thủy cộng thêm với một sức chịu đựng dẻo dai đến điên cuồng, họ là những người cộng sản đầu tiên với lực lượng bộ binh , thiết giáp và pháo binh nặng của họ, có cả phi cơ và trực thăng dùng võ lực quân sự xăm lăng những đảng cộng sản khác: ở Cam Bốt dùng gậy ông đập lưng ông, các đơn vị chánh quy Việt Nam giờ đây chạm trán với lực lượng du kích Khmer Đỏ, với lực lượng thân binh của Sihanouk và lực lượng của Son Sann.

Ở Hà Nội có nhiều người xác nhận là tướng Võ nguyên Giáp đã chống đối với chuyện phiêu lưu trong vũng lầy Cam Bốt. Đó là một trong những lý do để cộng sản cho ông ra rìa. Lúc đầu thì tướng Giáp đau nặng. Người kế vị ông là tướng Văn tiến Dũng, người hùng của chiến dịch Hồ chí Minh, leo lên trong hệ thống, sau đó thì ông tự rút lui – hay bị đẩy xuống theo lối Việt Nam nhẹ nhàng không có tiếng động – sau khi cho xuất bản quyển hồi ký nên thơ của mình về sự tiến chiếm Sài Gòn. Người phụ tá của ông, tướng Trần Văn Trà cũng về hưu sớm. Ông này cũng cho xuất bản một quyển hồi ký – quyển 5 trước những quyển khác, đến 10 ngàn quyển vào năm 1982, nhưng không bao giờ được tái bản ở Sài Gòn bởi vì, với một tinh thần tương đối độc lập, tướng Trà là thành viên của CPLTCHMN và ông đặt nhiều câu hỏi về một vài lý thuyết của tướng Dũng, đến cả hình ảnh hoa sen nở của ông này. Tướng Trà sống trong một chung cư với cán bộ gần Sài Gòn. Người ta còn thấy ông trong những buổi lễ kỷ niệm năm thứ mười của “chiến thắng” vào năm 1985 và ông không “có thì giờ” để cho người ta phỏng vấn ông.

Ông Phạm Hùng một chánh trị gia đã từng làm việc với tướng Trà ở Miền Nam Việt Nam trong những tháng cuối cùng trước ngày Sài Gòn bị thất thủ, bây giờ là nhân vật số 2 trong Chánh trị Bộ và là Thủ Tướng. Người số 1 là vị tân tổng bí thư Nguyễn văn Linh mà những người thân của ông gọi ông ta là Mười Cúc.

Sau 17 năm ở trại cải tạo, Nguyễn Ky về Sài Gòn và cũng như mọi người ông vượt biển. Là một người thợ sắp chữ, ông sống rất chật vật tại Westminster thuộc thành phố Orange County, tiểu bang Caligfornia. Ông ta còn mơ một “xã hội chủ nghĩa với một bộ mặt của con người”. Anh Tiến, con người trẻ thích cinê, đã trở thành cận vệ của anh mình, một cực cán bộ của CPLTCHMN. Từ năm 1977, anh bạn trẻ này cũng sống ở Westmimster. Như vậy là trong sự tan rã của người Việt Nam, có một số người quốc gia cũng như những người cựu cộng sản và những người phi chánh trị . Có một số thân nhân của những người có máu mặt trong chế độ cộng sản đã rời khỏi nước Việt Nam như: các cháu gái của Trường Chinh đã tỵ nạn ở bên Pháp, con gái của Nguyễn hữu Thọ, Chủ tịch MTGPMN thì ở Gia nã Đại…Có quá nhiều người chối bỏ ….

21 năm trong 29 năm sau cùng, nhà thơ Nguyễn chí Thiện đã sống trong ngục tù hay trong các trại cải tạo. Đến tháng 6 năm 1978, ông được ân xá. Ông gom hết các tác phẩm của ông đem gởi cho tòa đại sứ Anh quốc ở Hà Nội và vì chuyện đó ông lại bị bắt và bị giam vào “Hỏa Lò” ở Hà Nội , từng được mang danh là khách sạn “Hilton Hà Nội” nơi đã từng giam giữ và tra tấn các tù binh chiến tranh Mỹ.

Thượng tá Trần bá Đoài, sau khi sửa chữa các xe vận tải để hoàn trả cho Liên Xô và Tiệp Khắc, đã bị hạ tầng công tác, vì tội “thiếu thiện chí”, bị xuống cấp thiếu úy và bị cho ra khỏi đảng. Ông trở về Trung Quốc. Ở đây ông từ khước không chịu vào Quân đội cách mạng Việt Nam, một tổ chức cách mạng Việt Nam mới do Trung Quốc dựng lên. Và từ năm 1981 ông đến được Hong Kong sau đó qua Anh Quốc.

Trong tất cả các cộng đồng người Việt trên toàn thế giới, cộng đồng người Việt ở Anh quốc hình như là một trong những cộng đồng – nói sao đây?- buồn nhất. Người ta khó mà quên được cái nhìn say đắm của những người nông dân hai dòng máu Việt Hoa ngồi uống trà trong những căn phòng thiếu cả bàn ghế, mắt nhìn chăm chăm lên màn ảnh truyền hình mà không hiểu họ nói gì. Các nhà xã hội học đều công nhận là tất cả những người Việt Nam nhiều hay ít đều hội nhập được với dời sống mới. Hình như ở Anh quốc người ta nghĩ tới nắng ấm của mặt trời ở California và cả đến ánh mặt trời leo lét của mùa đông ở Vịnh Hạ Long!

Bây giờ thì ông Gerald Ford ít xum xoe hơn ông Richard Nixon. Một người thì nhìn thấy Sài Gòn bị thất thủ, đau khổ mà bước ra khỏi lịch sử, một người thì bám chặt lấy nhiệm vụ của một chánh trị gia quá tuổi. Lịch sử không có trả lợi tức tinh thần cho các nguyên thủ quốc gia.

Khi người ta gặp ông Kissinger ở hội quán của ông ở đường Park , thì ông Kissinger có vẻ hình như chưa được hoàn toàn trở về lại với ánh hào quang của một Bộ mà đối với ông nhìệm vụ không bao giờ có chút Ngoại Giao nào. Có một lần ông đã nói rằng “chánh quyền là viên thuốc kích thích dục vọng ghê gớm lắm.” Ông Kissinger đã được phỏng vấn, đăng báo, tham khảo và được cả ông Gorbachev tiếp đón nồng hậu ở Mạc tư Khoa; Ông đã nói về Việt Nam một cách trịnh trọng nhưng đôi khi trong thâm tâm cũng thấy bối rối.

Ông Graham Martin thì dường như còn cay đắng. Người ta không có cho ông một nhiệm sở nào sau khi ông rời khỏi Việt Nam. Dĩ nhiên là ông đã đến tuổi về hưu, nhưng, để có thể nhận một tòa đại sứ khác thì ông phải qua một phiên điều trần ở Thượng Viện. Người ta muốn tránh việc đó với bất cứ giá nào vì còn quá sớm.. Ở Winston-Salem, ông Martin ôm ấp những kỷ niệm của mình, lúc nào cũng vẫn đinh ninh rằng mình có lý. Sau vụ việc ở Sài Gòn ông chỉ gặp ông Kissinger có mỗi một lần, được nửa giờ. Và ông nói với một giọng khôi hài gần như chua cay: “trong 30 phút đó Henry đã nói chuyện điện thoại với nhà xuất bản James Reston hết 25 phút!”

Vào ngày lễ Giáng Sinh năm 1983, điện thoại reo ở nhà ông Martin : Ông Nguyễn văn Thiệu chúc mầng Giáng Sinh, và cam kết luôn giữ tình bạn của ông.

Ông Martin không có giao du tốt với Thomas Polgar. Ông này làm việc ở La Mã (Ý), Bonn (Tây Đức), Mễ tây Cơ và Hoa Thạnh Đốn, nơi đây ông kết thúc 38 năm trong nghề tình báo của mình ở CIA với chức vụ Giám đốc nha Nhân Viên. Ông Polgar không bao giờ đánh giá cao cách làm việc của ông William Casey, người được ông Ronald Regan ưa thích và trở thành Trưởng Cơ quan Tình Báo CIA. Ông Polgar chọn nghề tham vấn ở Hoa Thạnh Đốn . Năm 1987 ông được chọn để điều tra vụ “nghe lén Iran (nguyên tác tiếng Mỹ:”Irangate”). Còn ông Lehmann thì đã trở thành Lãnh Sự ở Tây Đức.

Trung Ương Tình Báo CIA lên án ông Frank Snepp khi ông cho xuất bản cuốn sách“Decent Interval”

Ông Frank Snepp đã vi phạm bổn phận của người trừ bị và đưa ra nhiều cáo buộc chống lại chánh quyền Hoa Kỳ. Với một hành động bủn xỉn gương mẩu và qua những vận động pháp lý, Trung Ương Tình Báo CIA đã sắp xếp để Snepp không lãnh được tiền nhuận bút của một tác giả.. Ông là giáo sư trong một trường đại học nhỏ ở California. Ông đã từng đối đầu đôi khi, rất lịch sự, với ông William Colby, trưởng cơ quan Tình Báo CIA vào năm 1975, trong những phiên điều trần mâu thuẩn nhau.

Những cựu nhân viên của tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn kéo dài một sự tranh cãi lớn.

Tất cả những người Mỹ dính dấp vào sự thất thủ của Sài Gòn đều có quyền được thêm 2 tuần lễ nghỉ phép. Hầu hết đều tiếp tục nghề nghiệp ngoại giao của họ. Có một số đã được bổ nhiệm đại sứ. Rất nhiều người đã có những liên lạc với người Việt Namở ngoại quốc.. Có nhiều người vẫn còn cố gắng giúp bạn bè hay người quen biết được chánh thức đi ra khỏi nước Việt Nam cộng sản.

Ông Philippe Richer ở lại Hà Nội cho đến năm 1976. Ông không được ông Valéry Giscard d’Estaing ưa thích, vị Tổng Thống hay hỏi:“Anh chàng đó là ai vậy? cái anh mà lúc nào cũng nói đi nói lại mãi có một chuyện?” Cánh hữu đã để ông Richer vào tủ rồi. Ông qua Ủy Ban Quốc Gia và cho xuất bản nhiều tác phẩm quan trọng liên quan đến Á Châu. Đồng nghiệp của ông ở Sài Gòn, ông Jean-Marie Mérillon, rời khỏi Việt Nam vào tháng 5 năm 1975, mơ tưởng sẽ gặp lại ông Pierre Brochand vốn đã trở thành cố vấn Bộ Ngoại Giao, đại diện và hoạt động rất hăng say trong phái đoàn Pháp bên cạnh Liên Hiệp Quốc.

Từ Tân gia Ba, ông Patrick Hays bây giờ đang đảm nhận việc tiếp liệu cao su cho nhóm Michelin. Ông đã về chơi Sài Gòn vào năm 1987 và viếng Hà Nội lần đầu tiên.

Tất cả các nhân vật này đều nghe nói về nhau hết, hay ít nhiều đều biết nhau hay đã gặp lại nhau. Có một số đã lâu lắm rồi, đã có gặp lại anh kháng chiến quân Trần văn Bá.

Ông Anatol Dobrynine đã về Mạc tư Khoa từ tháng 4 năm 1986, hiện là thơ ký của Ủy Ban Trung Ương, đặc trách về giao dịch với Tây Phương. Các nhà quan sát đã khám phá ra bàn tay của ông trong đường lối chánh trị của ông Gorbatchev, và trước tiên là sự trình bày của Đổi Mới (nguyên tác: “Glasnot”) . Là người biết tin tức rất đầy đủ, ông Dobrtnine vẫn là bậc thầy trong nghệ thuật “phản tin tức”

Ai là người có trách nhiệm trong sự thất thủ Sài Gòn? trách nhiệm trong chuyện sụp đổ quá nhanh chóng chỉ trong có 4 tháng đầu năm 1975? trách nhiệm của một sự thảm bại còn nặng hơn sự thảm bại ở Diện Biên Phủ nữa?, bởi vì lần này, cả nước Việt Nam bị nằm gọn trong tay của những người cộng sản, hậu duệ của Hồ chí Minh. Những biến cố lịch sử quan trọng thường là sản phẩm của nhiều quyền lực, của vô số nguyên nhân hợp lại. Từ 45 năm qua, cộng sản Việt Nam đã có một mục tiêu, và một mục tiêu duy nhất . Đó là: Kiểm soát toàn bộ Đông Dương cũ. Trong cuộc chiến tranh lần thứ hai của nước Việt Nam, họ đã dùng tấm bình phong chánh trị của Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng, kế đó là của Chánh Phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam (CPLTCHMN). Tấm bình phong này đã thường giúp họ tự che giấu bộ mặt thật của chính mình: chống đế quốc. Họ được Liên Xô và Trung Quốc võ trang và võ trang thật hùng hậu. Mặc dầu có những sự bất đồng, đôi lúc thật căng thẳng, giữa Mạc tư Khoa Bắc Kinh và Hà Nội , nhưng mục tiêu vẫn không thay đổi: cộng sản hóa tất cả nước Việt Nam, Cam Bốt và Lào. Đó là ý đồ to lớn mà Hồ đã rấp tâm theo duổi từ năm 1930.

Lạc lõng trong vòng tranh chấp nội bộ, bị chia rẽ vì tham vọng cá nhân, lại thường bị các cố vấn Hoa Kỳ dẫn dắt, nên cấp lãnh đạo Miền Nam Việt Nam không thực hiện được sự đoàn kết giữa dân chúng và Quân đội nhắm vào chính nghĩa quốc gia dân chủ.

Người Mỹ đã thúc đẩy Miền Nam thành lập một Quân đội chánh quy cổ truyền khi cần thiết, từ 1954 đến 1960 để chống lại du kích chiến. Trái lại, sau đó, cũng những quân nhân đó chạy theo cuộc chiến, lại đi thành lập những đơn vị chống du kích trong khi càng ngày họ càng phải đối đầu với những sư đoàn chánh quy Bắc Việt. Hơn nữa, Quân đội Miền Nam không bao giờ được độc lập. Ngay khi Quân đội chiến đấu anh dũng, họ cũng chưa được tự chủ. Họ không tin tưởng ở chính mình. Và thường thì họ không có đủ tinh thần.

Ông Clausewitz đã có nói: Chúng ta cần nhấn mạnh rõ ràng khi nói tới sức mạnh trong chiến đấu với địch, không có gì bắt buộc ta phải hạn chế sức mạnh vật chất. Trái lại rất cần phải có sức mạnh tinh thần,  vì trên thực tế hai sức mạnh đó phải được kết chặt lại với nhau, không được rời nhau cho đến từng chi tiết nhỏ nhặt cũng vậy.”

Để trở lại lời phát biểu quá nổi tiếng này, ngay trong những năm 1973 và 1975 các đơn vị Miền Nam Việt Nam bị cột chặt với những cơ quan của Tùy Viên Quân Lực Hoa Kỳ nên không bao giờ thấy mình thật sự được “Việt Nam hóa”

Về phần mình, các Bộ chỉ huy quân sự Hoa Kỳ ở Sài Gòn, ở Thái Lan, ở Honolulu, hay ở Ngũ Giác Đài dương nhiên bị các nhà chánh trị ở Hoa Thạnh Đốn kềm chế và giữ chặt trong việc xử dụng vũ khí cổ truyền của mình. Quyền lực quân sự không thoát ra được sự chỉ huy của quyền lực chánh trị. Đó là một điều không thể chối cãi được. Nhưng có thể nào quyền lực chánh trị đòi hỏi quân lực thực hiện những chuyện không thể làm được hay không? Có thể nào người ta đòi hỏi phải đạt được chiến thắng với những phương tiện bị hạn chế, mà hoàn toàn không được mang chiến tranh đến tận đất địch hay không? Lại cũng ông Clausewitz đã nói: “Người ta không biết đem một nguyên tắc dung hòa vào triết lý của chính chiến tranh mà không phạm phải một điều phi lý nào”

Ở Hoa Thạnh Đốn, một Quốc Hội hay tránh né, làm tê liệt hay làm hư Hành Pháp. Mạng lưới truyền thông mô tả sai bét những gì họ nhận thấy từ cuộc chiến… đã làm chán nản dư luận quần chúng Hoa Kỳ vốn rất thuận lợi lúc ban đầu cho sự can thiệp vào cuộc chiến chống cộng ở Việt Nam. Tự cho mình như một anh David bé nhỏ mà phải đối đầu một anh khổng lồ Goliath, Hà Nội vận dụng hết sức ngoạn mục dư luận quốc tế và thường xuyên chiến đấu trên 3 mặt trận chánh trị, quân sự và ngoại giao. Cộng sản Việt Nam có quá nhiều nhân viên, tình nguyện hay vô ý thức, điều mà Sài Gòn không bao giờ có được. Hà Nội biết cách gieo rắc sự bất hòa trong hàng ngũ địch. Trái lại bên phía những người dân chủ không được trang bị để thực hiện và theo đuổi loại chiến tranh này. Các chánh thể độc tài lúc nào cũng sẳn sàng trong công tác này, dù có bị thiệt hại về nhân mạng. Ở đất nước cộng sản, không có một dư luận của dân chúng nào bắt buộc được những nhà lãnh đạo phải có sự cân nhắc vấn đề nhân ái, nhân quyền gì cả trong tiến trình lấy quyết định của họ.

Lại cũng vẫn của Clausewitz :”tai nạn và cơ may ….với sự ngẫu nhiên, đều có một vai trò quan trọng trong chiến tranh “Vào năm 1974, tai nạn là vụ tai tiếng Watergate (nghe lén) đã truất hết quyền hành của Tổng Thống Hoa Kỳ, và đánh sập công trình của Kissinger ở Đông Nam Á. Sự kiện Wategate là lổ mũi của bà Cléopâtre. Nếu ông Nixon, vốn là một nhân vật ít hấp dẫn nhưng là một nguyên thủ có tầm cở, còn ở lại chánh quyền, thì Liên Xô đương nhiên phải theo chủ trương hòa hoãn, trái hẳn với quyền lợi hiện hữu của Bắc Việt, dù không làm cho Bắc Việt phải từ bỏ mục tiêu tối hậu của họ , nhưng ít nhất Sài Gòn cũng không thể bị thất thủ năm 1975. Đến bây giờ người ta mới thấy rõ là cả Mạc tư Khoa và Bắc Kinh đều chưa sẳn sàng để vì Hà Nội mà phải mạo hiểm nhảy vào cuộc thế chiến thứ ba!

Về phía dân chủ, cuộc chiến Việt Nam không được phân tách kỹ lưỡng trên bình diện địa phương cũng như trong những viễn cảnh về chánh trị và địa dư, để bây giờ cả Lào, Cam Bốt và Việt Nam đều là cộng sản.

Liêu Hoa Kỳ có nên thay thế người Pháp ở Việt Nam sau 1954 hay không? Hẳn nhiên là không rồi, và chắc chắn không phải một mình Hoa Kỳ. Các quốc gia dân chủ khác không có gì giúp Hoa Kỳ hết. Trước khi Sài Gòn bị thất thủ vào năm 1975, các nước dân chủ như Pháp vá Anh quốc, vốn đã ký tên để bảo đảm cho Hiệp Định Ba Lê năm 1973, vẫn không yểm trợ gì cho Hoa Kỳ và cho đất nước dân chủ nửa vời là Việt Nam Cộng Hòa.

Hoa Kỳ đã phải tiếp tục cuộc chiến của họ một cách riêng lẽ. Tự không cho ném bom Hà Nội, từ chối không chịu đổ bộ ngoài Bắc, tuyên bố đơn phương ngưng chiến, chấm dứt xử dụng phi cơ ném bom, chính Hoa Kỳ đã tự cột mình vào sự thất bại. Từ năm 1965 đến 1968, Tổng Thống Lyndon Johnson đã 9 lần ra lệnh đơn phương ngưng bắn, và 10 lần ngưng ném bom.

Lãnh đạo cộng sản Hà Nội đã tuyên bố là họ đã đánh bại Hoa Kỳ. Trong một ý nghĩa nào đó, Hoa Kỳ đã tự mình làm cho mình thất trận. Không có vấn đề để đề nghị là họ phải dùng đến bom nguyên tử chiến thuật. Tuy nhiên người ta phải ghi nhận là Hoa Kỳ không bao giờ đã xử dụng toàn bộ vũ khí thông thường của họ trong một cuộc chiến không có tuyên bố, một cuộc chiến dài nhất, một cuộc chiến khó hiểu trong lịch sử Hoa Kỳ, và một cuộc chiến được giới truyền thông quá “bao che” – ở phía Nam -.

Đường lối chánh trị quân sự hạn chế của Hoa Thạnh Đốn một phần được thiết lập trên những sự phân tách sai lầm về chánh trị. Trước hết các nhà chánh trị Hoa Kỳ tin rằng Hà Nội chỉ là một thứ Bắc Kinh nối dài. Sau đó, họ đinh ninh rằng nếu quân lực Hoa Kỳ và quân lực Việt Nam Cộng Hòa can thiệp vào Bắc Việt thì Trung Quốc và Liên Xô sẽ có phản ứng mạnh. Do đó không nên mạo hiểm vì Việt Nam mà phải nhảy vào thế chiến thứ ba.

Đã từ lâu rồi, có một số phân tích gia Hoa Kỳ xác nhận là Hồ chí Minh và những hậu duệ của ông ta trước tiên là những người quốc gia. Thiếu tá Archimedes Patti, đại diện cho OSS, tiền thân của CIA, đã võ trang cho một vài người trong số 300 du kích quân đầu tiên của Hồ chí Minh. Một nhóm người Mỹ mặc quân phục, thành viên của OSS, đã vào Hà Nội ngày 25 tháng 8 năm 1945, bên cạnh của các binh sĩ Việt Minh. Trong các bản phúc trình của mình, ông Patti xác nhận rằng thân binh của Hồ chí Minh “trước tiên là người quốc gia, sau đó mới trở thành cộng sản”. Vào thời điểm đó, người Mỹ xem Hồ chí Minh như một người liên lạc khả kính để tổ chức OSS liên lạc, có tên được mã hóa là “Lucius”.

Trong suốt 19 năm chiến cuộc Việt Nam lần thứ hai, người ta trình bày kẻ địch của Sài Gòn như là một tập họp của quân du kích.. Không phải những du kích quân chân đất hay mang dép râu Hồ chí Minh đã vào chiếm Sài Gòn, mà là những sư đoàn chánh quy Bắc Việt võ trang hùng hậu và hàng trăm chiến xa.

Người ta nói Quân lực Việt Nam Cộng Hòa cứ thường bỏ đất vì thiếu sự can đảm. Nhưng trận chiến ở Xuân Lộc đã chứng minh cho đến phút chót là thật sự không phải như vậy.

Người ta xác nhận là đối đầu với Miền Bắc quá đạo đức, Miền Nam cứ mãi lội trong sự tham nhũng. Dĩ nhiên cũng có trong giới Quân đội cũng như trong giới dân sự, nhưng nó không nằm trong sự giáo dục hay trong cấu trúc căn bản như ở Miền Bắc.

Người ta lập đi lập lại là Việt Nam Cộng Hòa là một chế độ độc tài. Nhưng nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam ở Miền Bắc mới là một chế độ độc tài. Ở Miền Nam chỉ 4 tháng đầu năm 1975 cũng đã đủ để chứng minh như một bức tranh là vẫn có báo chí, có Quốc Hội, có Tối cao Pháp Viện, một hệ thống Pháp lý tuy chưa hoàn hảo lắm nhưng không còn ai nghi ngờ gì là nó trên hẳn những gì người ta có thể tìm thấy được ở Bắc Việt . Những chánh trị gia ở Sài Gòn, như ông Trần văn Lắm, Chủ Tịch Thượng Viện, đã từng tuyên bố là Việt Nam Cộng Hòa còn có khả năng và cơ hội phát triển các cơ chế dân chủ. Dân chủ nửa vời hay độc tài nửa vời? chắc là chế độ chuyên quyền thì phải hơn, nhưng chế độ Miền Nam Việt Nam này vừa không có thì giờ, vừa cũng ít có thiện chí để chứng minh khả năng của mình.. Lịch sử hiện tại và lịch sử của một nước Việt Nam thống nhất, trước hết đã cho thấy là không có một chế độ cộng sản nào không tiếp tục tồn tại, không bao giờ dân chủ hóa, trừ khi tạm thời từng đoạn ngắn, có “đổi mới” hay không cũng vậy. Trái lại các chế độ chuyên quyền cánh hữu không bị mất phẩm chất. Như các nước Bồ đào Nha của ông Salaxar, Tây ban Nha của ông Franco, Hy Lạp của các tướng lãnh, và gần đây nhất gần hết các quốc gia thuộc châu Mỹ La tinh đã chuyển hay đang chuyển từ Chuyên Quyền sang Dân Chủ Tự Do. Và sự trị vì của Tổng Thống Pinochet cũng được tính từng ngày.. Đó là một trong những khác biệt căn bản giữa chế độ độc tài cộng sản và chế độ chuyên quyền “cánh hữu”. Trong biến cố sụp đổ của Sài Gòn, ông Soljenitsyne đã chạm nặng cánh tả khi ông tuyên bố là người ta sẽ được tự do hơn dưới chế độ của ông Franco (Tây ban Nha) hơn là ở Liên Bang Sô Viết. Thế nhưng đó là sự thật. Một trong những sự thật mà cánh tả không cộng sản chưa chấp nhận hay không chịu đưa vào các bản phân tích của họ. Trong số cánh tả đó có cả những người Mỹ với tính hào phóng và thiện ý của họ đã chống đến ngày 30tháng 4 1975 giùm cho Bộ Chánh trị Hà Nội, mà lúc nào cũng tưởng rằng họ bênh vực cho CPLTCHMN vốn đòi hỏi một chế độ đa nguyên. Cũng có nhiều người Việt Nam nữa, những nhà chánh trị sa lông, vốn mê say vì tiếng đờn của cộng sản (nguyên tác: sirènes communistes) và những ý định thường được CPLTCHMN phô trương, như giáo sư Trần văn Dĩnh đã khéo trình bày. (giáo sư này dạy học rất lâu ở Hoa Kỳ, bỏ về Việt Nam theo CPLTCHM , nhưng sau 30/4/75 mới vỡ mộng vì hai chữ “giải phóng”, nên rời bỏ hẳn đảng cộng sản Việt Nam.)

Lịch sử bắt buộc phải xét lại, nhìn thẳng vào cuộc chiến ở Việt Nam và nhìn thẳng vào giai đoạn cuối cùng về sự thất thủ của Sài Gòn .Không phải chỉ có việc chọn lựa giữa độc tài và chuyên quyền, cả hai đều không được chấp nhận. Cũng không được phủ nhận các lỗi lầm, kể cả những tội ác .. của Hoa Kỳ hay những chính phủ nối tiếp nhau ở Sài Gòn, nhưng phải bóc trần ra hết sự kiện thiếu thông tin đã khiến cho lịch sử Đông Nam Á bị bưng bít trong suốt cả hậu bán thế kỷ thứ 20.

Sự chống trả của người dân Miền Nam Việt Nam cho đến ngày 30 tháng 4 1975 đã không đến nỗi vô ích.. Không có nó, nhiều quốc gia ở Đông Nam Á trong đó có Thái Lan, Mã lai Á, Tân Gia Ba… sẽ không có thì giờ để cất cánh trên phương diện kinh tế, và do đó hạn chế được những cơ may bị cộng sản cướp chánh quyền. Bây giờ thì ở Đông Nam Á Châu, không có một người dân nào dù là ở thành thị hay ở thôn quê xa xôi hẻo lánh nhất… ai ai cũng biết là chế độ cầm quyền ở Việt Nam là một chế độ công an trị, với một nền kinh tế không hữu hiệu, nhất là đối những người không được ưu đãi.

Người ta có thể biện hộ, người ta có thể đặt ra nhiều câu hỏi mà sẽ không có ai trả lời được. Điều gì sẽ xảy ra nếu Tổng Thống Woodrow Wilson tiếp ở Versailles vào năm 1919 một người dân Đông Dương mặc áo dắc-kết đến đòi độc lập cho nước Việt Nam? Đó chính là ông Hồ chí Minh, lúc bấy giờ ông ta có thể là một người quốc gia trước khi ông ngửi được mùi cộng sản. Trên một chục năm sau, được thuyết lê- nin-nít nhào nặn, dĩ nhiên Hồ luôn luôn và trước nhất hành động như một người cộng sản. Lương tâm của những dân tộc dân chủ hình như thay đổi theo hình học. Người ta đã phải mất 40 năm mới thấy được “ốc đảo” (nguyên tác: Goulac) ở Liên Xô, và người ta phải mất 30 năm mới nhận ra được “ốc đảo” ở Trung Cộng. Nhưng chỉ có 3 năm thôi cũng đủ để nhận ra được hiện tượng ‘tập trung cải tạo” (ốc đảo) trên toàn cõi nước Việt Nam.

Xuyên qua cuộc chiến thứ hai này ở Việt Nam, cả hai dân tộc Hoa Kỳ và Việt Nam đã gặp nhau trong những hoàn cảnh bi đát nhất của lịch sử. Mặc dầu họ có thiện chí, dù ngây thơ hay hung bạo, người Mỹ cũng không hiểu biết gì nhiều về Việt Nam và nền văn hóa của quốc gia này. Về phần mình , người dân Miền Nam Việt Nam cũng không biết tý gì về văn hóa và thể chế của Hoa Kỳ . Trước tiên người Mỹ xuất hiện như một đạo quân chống cộng. Nhưng xuyên qua những bài diễn văn kiểu dân chủ tự do, họ đã không được dân chúng hiểu nổi. Tổng Thống John Kennedy đã có những quyết tâm quá lý tưởng và bao che cho cái chết của Tổng Thống Ngô đình Diệm. Dưới nhãn quan của nhiều người dân Miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ trước hết là đại diện cho bổng lộc của Trời, một loại viện trợ theo kế hoạch Marshall vô tận, về Mỹ kim, về coca cola, về quần jeans, về học bổng,……

Rồi cũng phải kể đến những sự kinh hoàng của chiến tranh, một cuộc chiến được tiến hành trước hết với một niềm vui, sau đó với một sự hoài nghi ngày càng tăng cao, đôi khi với một sự vô liêm sỉ khi đối diện với những sự đau khổ và những sự tàn ác. Có rất nhiều người Việt Nam đã nhớ tới những phương thức truyền thống của chiến tranh, từ những lời khoa trương hay hùng biện của một sĩ quan sau một trận đánh, hay từ lời nói đùa đến ra nước mắt và những biểu ngữ của lực lượng đặc biệt Mỹ như: “Nếu anh giết địch để kiếm tiền thì anh là một người lính đánh thuê, nếu anh giết địch để lấy đó làm vui thì anh là một người lính tàn ác, nếu anh giết địch vì cả hai mục đích thì anh là một người lính mũ xanh của lực lượng đặc biệt”

Tổng Thống Richard Nixon đã viết là: “Việt Nam là một thảm kịch đối với người Mỹ”. Dĩ nhiên rồi, những trước hết đó là một thảm kịch và mãi mãi là một thảm kịch của người Việt Nam. Vào lúc mà Sài Gòn sắp bị cộng sản chiếm, đại sứ Graham Martin đã có nói là: “không có dễ gì để được là một người Mỹ ở Sài Gòn” Nhưng nhất là không dễ gì được là một người dân Miền Nam Việt Nam. Đối với dân tộc Việt Nam tuyệt vời này, chiến tranh vẫn còn là một vết thương nhức nhối, một chất thuốc độc còn âm ỉ mãi mãi còn có hiệu lực ….

Đối với những người còn sống và được sống sót, cuộc chiến này là những kỷ niệm, là những chuyện lừa dối, là cay đắng. Người ta không thể nào quên những lời khoác lác của những người làm chánh trị , cũng không bao giờ quên sự can đảm của những chiến sĩ vô danh. Đã có quá nhiều người Việt Nam không có sống được trọn vẹn thời ấu thơ và thời niên thiếu của mình. Về nền văn minh của Hoa Kỳ, có rất nhiều người Việt còn ở Việt Nam nhất là ở vùng nông thôn, chỉ còn ghi nhớ được một vài dấu hiệu của các chiến binh Mỹ, một cây súng M.16, chất nỗ C.4, hay một vài tiếng Mỹ bình dân như mama papa v.v.. mà thôi. Đầy hối hận và thất vọng, các quân nhân Mỹ hiện dịch hay trừ bị đều rất ít khi muốn nói tới vấn đề “chiến tranh nhân dân” của kẻ thù cộng sản .Có nhiều người bị giết , đôi khi bị tàn sát, kể cả đàn bà, trẻ con và người già. Đối với cộng sản thì tất cả những người này đều là tiềm năng chiến đấu của họ hết. Đã có nhiều người lính Mỹ vì gan lì hay vì tức giận đã hạ sát thường dân. Họ thường tự vấn lương tâm của họ: anh bắn chết họ, điều đó sẽ làm anh bực mình. Nhưng anh sẽ càng bị bực mình gấp bội nếu anh không bắn chết họ, khi mà quả lựu đạn để trong rổ của một chị đàn bà phát nổ vào mặt anh, hay khi người bạn thân của anh giẫm lên phải một trái mìn!

Ở phương Tây, chiến tranh của cộng sản được anh hùng hóa. Người ta ít khi nói tới những cuộc tàn sát của cộng sản nhất là những cuộc tàn sát hằng loạt dân thường ở Huế hồi Tết Mậu Thân 1968, hay những cuộc tra tấn và các cuộc hành quyết trong làng, mà dĩ nhiên không có một nhân chứng Tây Phương nào; trong lúc các nhà báo Mỹ, Pháp, Anh, Ý, Đức với máy quay phim chụp ảnh sẵn sàng, bất chấp hiểm nguy nghề nghiệp lại làm chứng cho những chuyện sai trái của binh sĩ Miền Nam Việt Nam và của Hoa Kỳ .Cộng sản Bắc Việt thường khoe khoang về sự “khoan hồng” của họ. Nhưng phải đợi đến lúc các tù binh Mỹ được trở về rồi người ta mới biết được họ đã bị tra tấn về vật chất lẫn tinh thần đến như thế nào. thế những lời chứng của họ lại không được báo chí Âu Châu đăng tải. Và phải đợi đến khi cuốn phim “Trung Đội” (nguyên tác: “Platoon”) được trình chiếu năm 1987 thì người ta mới cho thấy được hình ảnh của người lính chiến Hoa Kỳ đã bị các bộ đội cộng sản đóng đinh lên thập tự giá, với đúng nghĩa của nó, như thế nào.

Ngay ở trung tâm thủ đô Hoa Thạnh Đốn, cách dòng sông Patomac không bao xa, bằng khoảng cách từ Bộ Ngoại Giao đến đài kỷ niệm của Tổng Thống Lincoln, là một trong những đài chiến sĩ trận vong gây nhiều xúc động nhất. Đài này không cao lắm, không hiên ngang , hùng vĩ, gần phân nửa được chôn xuống một bải cỏ xanh rộng lớn. Vào mùa xuân thì chung quanh toàn hoa tu líp, lại thêm có hoa thủy tiên và anh đào Nhật Bản. Trên 70 miếng cẩm thạch đen, có khắc 58.022 tên người Mỹ bị tử trận hay bị mất tích ở Việt Nam. Rất giản dị, gần như kín đáo, “bức tường cẩm thạch đen” này không vinh danh chiến tranh.. Nó nhắc nhở người ta về “chiến tranh”, trước tiên là nó nhấn mạnh rằng chiến tranh giết người. Xa xa hơn kiệt tác rất tân thời và giản dị này một chút, chánh quyền đã cho dựng lên một tác phẩm điêu khắc cổ điển hơn, thể hiện ba người lính mà một người là da màu, mặc áo giáp chắn đạn và mang súng liên thanh.

Khi người ta đi dạo trước “bức tường cẩm thạch đen” này, người ta nghe liên tục tiếng phi cơ bay lên hay đáp xuống. Phi trường quốc gia của Hoa Thạnh Đốn ở gần đây , ngay trung tâm thủ đô Hoa Kỳ, và người ta không thể không liên tưởng tới hình ảnh của vũ điệu trên không trung của các phi cơ và trực thăng ở Tân Sơn Nhất, nơi mà giờ này đang chờ đón các phi cơ Bear, những phi cơ ném bom chiến lược của Liên Xô.

Người ta hãy còn tiếp tục khắc vào “bức tường đen” các tên mới. Trên tấm cẩm thạch số 11 W người ta thấy tên của thiếu úy Richard Van de Geer. Chiếc trực thăng của anh bị Khmer Đỏ bắn rơi ngày 15 tháng 5 năm 1975, khi họ tấn công chiếc tàu Mataguez của Hoa Kỳ.

Tại Sài Gòn (nay là thành phố Hồ chí Minh) tượng đài “chiến sĩ Việt Nam”, nằm gần Quốc Hội đã bị cộng sản phá sập. Chánh quyền cộng sản đã thiết lập các đài chiến sĩ trận vong của họ ở chỗ khác.

Không còn một tượng đài nào của người lính chiến Miền Nam Việt Nam và dĩ nhiên cũng không có tượng đài nào nhắc nhở sự có mặt của người kháng chiến mới……

Sau một thời gian 5 năm suy nghĩ và chuẩn bị, anh Trần văn Bá, cựu chủ tịch Hội Sinh Viên Việt Nam ở Ba Lê, quá chán vì những cuộc bàn cãi suông của cộng đồng người Việt ở Ba Lê, ở Hoa Thạnh Đốn hay ở những nơi khác, anh quyết định dấn thân xa hơn, tức là về ngay Việt Nam để kháng chiến.

Ngày 6 tháng 6 năm 1980, anh bay sang Thái Lan. Từ Băng Cốc, anh đi sâu vào hoạt động bí mật,

vào Cam Bốt và sau đó vào Việt Nam. Anh Trần văn Bá không phải là một nhà trí thức, nhưng anh đã soạn ra một triết lý chánh trị. Triết lý này nói lên được khát vọng của hầu hết người Việt Nam lúc này. Anh tự nhủ thầm rằng anh là một thành viên của chủ nghĩa “xã hội tự do kiểu Thụy Điển”. Thơ mộng và quá tự tin và liều lĩnh, anh gởi về Ba Lê một bức thơ từ thành phố Hồ chí Minh ngày 6 tháng 6 năm 1982, trong đó anh viết:

_ “Tôi vẫn mạnh khỏe, cũng cực lắm. Thật tình là quá cực, quá khổ và đói..”

Đối với anh Trần văn Bá, tương lai của người Việt Nam “sẽ phải do kháng chiến từ trong nước… chớ không phải từ những người chánh trị lưu vong.” Trong một bức thư khác , anh yêu cầu người ta gởi cho anh một quyển sách của ông Gérard Chaliand, nói về “chiến lược du kích chiến”… Anh không nhớ rõ tên quyển sách, nhưng bìa quyển sách có in hình của một anh Goya, “có một người bị xử bắn”.

Anh Bá đánh cuộc vào sự tan rã trong dài hạn của đảng cộng sản Việt Nam và danh xưng của đảng này. Anh tỏ ra lo lắng về sự chệch hướng có thể xảy ra của mọi cuộc kháng chiến, những nguy cơ về khủng bố, dù có hay không có đổ máu. Làm sao tay không dính máu được? Anh thường nói với những người bạn đường của anh, một nhóm gọi là du kích rất nhỏ:

_ “Kháng chiến không cho phép ta giải quyết được hết mọi chuyện. Nó giúp mình dối diện chớ không phải quỳ gối xuống. Mình phải cố chơi trò đốt pháo bông mà chỉ với những cây nến nhỏ bé mà thôi.

Anh đã nói với Tòng, người anh của mình khi Tòng đến gặp anh tại biên giới Thái Lan nửa cười nửa sầu muộn:

_ “Tôi đang đập các hòn sỏi ra để vá Trời….

Mặc dầu có một cái bớt màu rượu chát đỏ trên màng tang làm cho người ta dễ nhận ra mình, nhưng anh vẫn cứ đi khắp Miền Nam Việt Nam đang bị cộng sản chiếm đóng, có đôi khi anh còn quá giang trên xe Jeep của Quân đội cộng sản nữa.

Không biết vì khinh suất hay vì bị phản bội, anh bị bắt với những đồng đội của mình vào tháng 9 năm 1984, có thể là vào ngày 11.

Ra tòa, Trần văn Bá bị ghép vào tội phản bội tổ quốc, cùng với anh Mai văn Hạnh, người cựu phi công, một trong hai người đã đến Sài Gòn vào những ngày sau cùng trước khi Sài Gòn bị thất thủ, để cố thuyết phục Tổng Thống Dương Văn Minh nên trao quyền lại cho cựu Thủ Tướng Trần văn Hữu.

Chánh quyền cộng sản muốn có một tiếng vang lớn nên mời các nhà báo ngoại quốc đến dự phiên tòa . Phiên tòa được xử ở nhà hát Tây, trước khách sạn Continental, ngay trung tâm thành phố. Biên bản được đọc lên ngày 18 tháng 12, gồm có 29 mục hơi rời rạc, nhất là phần cáo giác chánh quyền, nêu lên những khó khăn ở Miền Nam Việt Nam đầy rẩy công an khắp nơi, nhồi nhét ý thức hệ, tra tấn và hành hạ người ở các trại tù lao động khổ sai nhưng không cải tạo được ai. Các lãnh đạo đảng cộng sản đã rập khuôn theo các phiên xử kiểu sít ta lin nít, tức là không cho các bị cáo có quyền lên tiếng, các cuộc tranh cãi không có chút gì mâu thuẩn với nhau và cả 21 bị cáo đều có luật sư do chánh quyền chỉ định, rất lạ lùng, vì họ xác nhận là tội trạng đã quá rõ ràng với những bằng chứng không thể chối cải được. Các luật sư cũng có giải thích là các bị cáo không biết chính xác tình hình ở nước Việt Nam cách mạng và yêu cầu Tòa hảy có một bản án khoan hồng. Có một đoạn nào đó của phiên tòa được đưa lên truyền hình.

Bị cáo Mai văn Hạnh, hốc hác và kiệt sức, khai rằng:

_ “Tôi hiểu những hoạt động của tôi là tiêu cực …. Tôi là một đồng lõa với Trung Quốc và Thái Lan….Tôi thành thật hối lỗi…Tất cả những sự thú tội bị cưỡng ép, được đọc đi đọc lại cho bị cáo viết, được cái lưỡi gỗ phát ầm lên lại từ đầu đến cuối. Mạc tư Khoa (Liên Xô), Prague (Tiệp Khắc), BudaPest (Hung gia Lợi), Tirana, Sài Gòn: sai trái, giết người, công lý, khủng bố đều giống nhau hết, người ta còn ở quá xa đối với chuyện hòa hợp và hòa giải đã được mồ ma CPLTCHMN từng hô hào.

Anh Trần văn Bá là một bị cáo thứ hai trong vở kịch được dàn dựng quá dở này, một vở kịch chánh trị hơn là một màn pháp lý. Các bị cáo bị buộc tội là đã “chuẩn bị bắt cóc các nhân viên lãnh sự quán và những kỹ thuật gia người Pháp”, một việc quá đỗi phi lý, vị tất sẽ xảy ra vì không thế nào họ thực hiện được.

Tòa đã khoan hồng theo lời yêu cầu của các luật sư, với 5 án tử hình, trong đó có anh Trần văn Bá. Anh đã từ chối không ký tên vào đơn xin ân xá.

Hào phóng một cách rất tự nhiên, anh Bá đã nói với quan tòa:

_ “Tôi rất tiếc là đã gặp ông trong những hoàn cảnh quá khó khăn này!

Và đây là lời nói cuối cùng rất nặng của anh Bá trước phiên tòa:

_ “Một người bạn ngoại quốc đã có nói: Khi người ta mất niềm tin rồi, thì người ta sẽ mất tất cả..”

Một chiến dịch của thế giới xuất phát từ Ba Lê có lợi cho các bị can, đã làm cho Hà Nội cáu lên trong bối rối. Tánh cách lố lăng về pháp lý của phiên tòa được chiếu trên truyền hình và phổ biến khắp Tây Phương cũng như Đông Phương… đã làm rơi bộ mặt của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống nhất. Xuyên qua phiên tòa, đã có một hậu quả tai hại không lường được; có những người cộng sản Việt Nam đã tung ra một ý kiến:

_ “Ở Việt Nam đã có một cuộc kháng chiến đầu tiên, chống Pháp, sau đó là một cuộc kháng chiến thứ

hai, chống Mỹ, bây giờ hơn 10 năm sau khi Sài Gòn bị thất thủ, lại có một cuộc kháng chiến thứ ba nổi lên, – khó mà phân tích và định lượng được – lần thứ ba này thì chống cộng sản”.

Bản án chắc chắn là sẽ làm cho những người Việt Nam chỗ khiếp đảm. Nhất là nó cũng báo động cho dư luận quốc tế vốn đang cố quên Việt Nam. Cuộc kháng chiến thứ ba này không thể ghép vào với những hoạt động ba hoa và hỗn độn của các nhóm người tỵ nạn trong các cộng đồng Việt Nam ở Pháp hay ở Hoa Kỳ.

Ở phía trước cửa nhà hát – tòa án thành phố Hồ chí Minh (nguyên tác: “théâtre-tribunal”), chánh quyền chất đống một số vũ khí đã tịch thu được, để cáo buộc một sự phản bội cao độ của các bị cáo.. Do đó có một câu hỏi được nêu lên: “Nếu Trần văn Bá và những bị cáo khác chuyên chở xuyên qua Miền Nam Việt Nam quá nhiều súng trường, súng lục, súng liên thanh và lựu đạn .. như thế này, thì tất nhiên họ phải có nhiều sự ủng hộ, và nhiều hệ thống.”

Bà mẹ của anh Trần văn Bá đến nước Pháp, yêu cầu được tòa đại sứ của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tiếp. Đại sứ là đại tá Hà văn Lâu, một trong những nhân vật đầu não của phái đoàn Bắc Việt ở Ba Lê tháng 5 năm 1968 và của “chi bộ tấn công ngoại giao” ở Hà Nội năm 1975, đã từ chối không chịu tiếp người đàn bà già nua này.

Chánh Phủ Pháp xin ân xá được ông Mai văn Hạnh, vốn là người đã có một giấy thông hành Pháp, điều mà anh Trần văn Bá không có.

Ngày 8 tháng 1 năm 1985, dựa trên một bài báo xuất bản ở Sài Gòn , một điện tín đã loan báo là anh Trần văn Bá đã bị hành quyết. Tuyệt đối không thấy có một bằng chứng cụ thể nào của sự hành quyết này. Chánh quyền cộng sản không chấp nhận hoàn trả lại thi hài. Các nhân chứng đã tham dự vào cuộc hành quyết ngày 9 tháng giêng ở nghĩa trang Quân đội Thủ Đức, cách thành phố Hồ chí Minh 15 cây số. Các nạn nhân bị trùm kín mặt bằng một mũ trùm đầu. Theo một số người thì anh Trần văn Bá đã chết vì bị tra tấn. Với những người khác, thì anh Bá có thể sẽ không đến đỗi phải bị xử bắn.

Do đó, cộng sản Bắc Việt đã đưa Trần văn Bá đi vào một truyền thuyết gần như luôn luôn đơn giản và có tính phi nhân. Có một số người Việt Nam còn trẻ thuộc thế hệ mới, xuyên qua nước Việt Nam và xuyên qua sự ly tán của dân tộc, đã biết ơn anh Trần văn Bá. Có những bài báo Việt Nam ở ngoại quốc đã cho anh Bá đứng bên cạnh ông Kinh Kha của nước Tàu. Hai ngàn năm về trước, ông tráng sĩ này đã đi trừ khử một bạo chúa, người đã cho dựng lên Vạn Lý Trường Thành, người đã đốt sách, người đã giết hết trí thức và các quan lại. Người ta cũng đã ví anh Trần văn Bá với một chiến sĩ chống thực dân, đã bị người Pháp xử tử hình mà nhất quyết đòi cho anh được nằm ngửa, khi anh tuyên bố: “Tôi muốn được nhìn Trời.” nhưng thực ra là để có thể nhìn thấy máy chém rơi xuống cổ mình. Điều càng gây thêm bực tức cho những người lãnh đạo ở Hà Nội là có nhiều bình luận gia người Việt Nam đã không ngần ngại xem anh Trần văn Bá như “một ông Hồ chí Minh mới, một ông Hồ chống cộng.”

Anh Trần văn Bá, cũng như một số kháng chiến vô danh khác, có phải là một người theo chủ nghĩa thực tế, hay theo một lý tưởng chủ nghĩa? Có phải anh là một vị anh hùng, hay một người đã chịu hy sinh vì lý tưởng một cách vô ích? Anh rất tin tưởng ở giá trị của dân chủ Tây Phương. Các sự tự do mà những người mác xít lê ni nít, sít ta li nít của Hà Nội đã cho đó chỉ là hình thức, nhưng anh Trần văn Bá đã tin tưởng chính đó mới là thực tế nhất. Cuộc tranh đấu mà anh đã dấn thân vào và những người khác đang tiếp tục, liệu có phải là một ảo ảnh vô vọng hay la một sự đánh cuộc đáng kính, đáng lĩnh hội và đáng được giúp đỡ?

Khi người ta lưu ý những nhà tranh đấu người Việt Nam rằng cho tới giờ này khi đã trở thành cộng sản rồi không một quốc gia nào chịu buông bỏ con đường cộng sản của mình, thì những người này trả lời ngay rằng:

_ “Chúng tôi cũng biết. Nhưng về địa dư thì nước Việt Nam bây giờ ở quá xa với Liên Xô. Về phía Bắc thì Việt Nam phải đối đầu với một kẻ thù truyền kiếp là Trung Quốc. Cánh dân sự và cánh quân sự đều chán nản, bại hoại, bi quan. Đối với chúng tôi , không phải chỉ bằng chiến đấu quân sự. Nhất là chúng tôi tranh đấu về chánh trị. Sớm hay muộn gì dân tộc Việt Nam cũng sẽ nổi dậy. Năm năm, mười năm, có lâu gì đâu trong lịch sử Việt Nam. Không có gì không thể lật ngược lại được hết, kể cả chủ nghĩa cộng sản.

Trước cũng như sau ngày Sài Gòn bị thất thủ, trong suốt tháng tư nghiệt ngã năm 1975, và ngay bây giờ đây, hy vọng của người Việt Nam, dù là cộng sản hay quốc gia, dù theo cánh tả hay cánh hữu … đều tìm cách dấu kín số phận của mình, nhưng không bao giờ thiếu kiên trì và tự tin, đầy hy vọng và anh hùng tính.

Trong tất cả các chế độ cộng sản, liệu chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ là chế độ đầu tiên cầu xin được tha thứ ??

Tháng 11 năm 1987,

Olivier Tood

Dịch xong tháng 4 năm 2004

Dương hiếu Nghĩa

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

Chương 22 – 30 tháng tư: Hoa Sen Cuối Cùng

Ở Ngũ Giác Đài, ở Bộ Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Lan, cũng như ở Bộ Tư Lệnh Lực lượng Đặc Nhiệm ngoài biển, người ta đang sốt ruột. Có bao nhiêu người phải di tản còn sót lại ở tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn? Đã có quá nhiều trò chơi cút bắt và có những con số đã hứa với ông Martin!

2 giờ 30, giờ Sài Gòn:

Ông Đại sứ cho biết là có 726 người ở tòa đại sứ gồm có 500 người Việt Nam, 53 người Mỹ dân sự và 173 Thủy Quân Lục Chiến. Bên phía quân nhân, họ làm một bài toán. Chỉ cần có 9 chuyến bay loại CH.53 nữa là bốc sạch hết số người ở tòa đại sứ.

Sau đó, ông Martin gọi Nhà Trắng để nói lại con số chính xác hơn:

_ “Có con số gấp đôi người tỵ nạn Việt Nam đã được dự trù.

Trên thật tế, có 1100 người đang chờ, hầu hết là người Việt Nam, một linh mục người Đức, khoảng 12 nhân viên ngoại giao người Đại Hàn trong đó có tướng Lee Đai Yong, cựu Tư Lệnh Phó của 40.000 quân nhân Đại Hàn đã phục vụ ở Việt Nam. Tại Hoa Thạnh Đốn và ở Honolulu, người ta cáu lên:

_ “Ông Martin đã cho di tản quá trễ rồi và bây giờ ông còn không muốn chấm dứt nữa! Người ta đã chơi chúng tôi một vố ở phi trường rồi. Tại Tân Sơn Nhất, trước hết người ta nói có 500 người tỵ nạn, rồi 1000, rồi 2.000.

Đã có nhiều sự cân nhắc chánh trị được xen vào. Ở Hoa Thạnh Đốn , người ta muốn nói là tất cả những người Mỹ phải được di tản càng nhanh càng tốt. Ông Kissinger đã có hứa sẽ họp báo vào lúc 14 giờ, giờ Hoa Thạnh Đốn tức là 2 giờ, giờ Sài Gòn . Bây giờ ông ta phải dời cuộc họp báo lại 16 giờ, giờ Hoa Thạnh Đốn.

Nhất định phải chấm dứt. Lúc 3 giờ 15, giờ Sài Gòn một chiếc CH.46 đáp xuống sân thượng tòa đại sứ. Người phi công trao một công điện viết tay của vị Tổng Tư Lệnh Thái Bình Dương:

_ “Căn cứ trên một phúc trình di tản, tổng số còn phải di tản là 726 người, Tổng Tư Lệnh Thái Bình Dương đã cho phép gởi đi 9 trực thăng, nhưng không thể hơn nữa được. Các chữ “không thể hơn nữa được” được gạch đích 2 lần. Tổng Thống muốn thấy Đại sứ Martin phải có mặt trên chiếc trực thăng cuối cùng. Thân mến.”

Ông Tổng Trưởng Ngoại Giao mong rằng chiếc trực thăng cuối cùng đó sẽ cất cánh vào lúc 3 gờ 45. Ông Martin được yêu cầu là phải “đáp nhận” bức điện tín này của Tổng Thống Ford.

Người ta cố gắng làm yên lòng những người tỵ nạn Việt Nam đang ở trong sân của tòa đại sứ . Ông Polgar dự trù là ông ta sẽ chấm dứt mọi liên lạc vào lúc 3 giờ 20. Lạ lùng là ngay lúc này và vào giờ này, người trưởng cơ quan CIA lại bị lôi cuốn vào những nhận xét tổng quát. Ông gởi bức điện tín:

_ “Kinh nghiệm duy nhất này trong lịch sử Hoa Kỳ không có nghĩa là Hoa Kỳ không còn là một cường quốc trên thế giới nữa. Tuy nhiên, với sự thất bại nghiêm trọng này và những điều kiện mà Hoa Kỳ đã vướng phải, bắt buộc Hoa Kỳ phải tái xét lại đường lối chánh trị của mình” Để đánh dấu thời điểm này, ông Polgar qui trách cho tánh bần tiện của Quốc Hội:

_ “Những người không chịu rút ra được từ những bài học lịch sử này bắt buộc phải xét lại. Hy vọng là chúng ta không còn một kinh nghiệm kiểu Việt Nam nào khác và chúng ta phải học được bài học này của chúng ta …. ”

  • giờ 30 phút:

Chiếc phi cơ được dùng như Bộ Chỉ Huy nhẹ trên Không phận Sài Gòn là một chiếc C.130, chiếc này đã truyền đi một điện tín được mã hóa. Kể từ giờ này, người ta chỉ có di tản người Mỹ mà thôi, ông đại sứ Martin phải lên chiếc trực thăng đầu tiên được xử dụng. Khi đã cất cánh rồi thì chiếc phi cơ này phải đánh đi một mật hiệu rất đơn giản: cọp, cọp, cọp (nguyên tác: tiger)

Ông Kissinger nói với ông Martin qua điện thoại:

_ “Ông và các vị anh hùng của ông bây giờ là phải trở về nhà.”

Ông Kissinger đã phải dời giờ họp báo của ông lại thêm một giờ nữa.

3 giờ 45

Sau khi nhìn qua một vòng đám đông người tỵ nạn trong sân của tòa đại sứ, Ông Martin mới nói:

_ “Kể từ giờ này các trực thăng trên sân thượng chỉ dành cho người Mỹ.”

Tất cả những người Việt Nam trong các dãy nhà của tòa đại sứ phải xuống sân hết. Ở đó, ông Martin tuyên bố là họ sẽ được các CH53 bốc đi.

Ở Nhà Trắng, tướng Brent Scowcroft nhận được một công điện tối khẩn của ông Martin.

_ “Chúng tôi đề nghị đóng cửa tòa đại sứ lúc 4 giờ 30 ngày 30 tháng 4, giờ địa phương. Vì có nhu cầu phải phá hủy hết máy móc truyền thông. Đây là công điện cuối cùng của tòa đại sứ Sài Gòn”

4 giờ 42 phút

Một chiếc CH.46 có tên là “Lady Ace 09” viết bằng sơn hai bên hông, đáp xuống sân thượng của tòa đại sứ. Phi công trình lệnh viết tay của Tổng Thống:

_ “Chỉ có những người Mỹ mới được lên trực thăng này với phi hành đoàn. Ông đại sứ phải lên chiếc Lady Ace 09 này”

Ông Martin bước lên trực thăng với tùy viên báo chí của mình, ông John Hogan, ông Polgar và đại tá Jacobson. Trên trực thăng, ông gặp lại các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến đến từ phi trường. Nếu đại sứ từ chối không chịu đi trong lúc này thì đã có một lịnh được dự trù: Đó là Lệnh bắt giữ ông Martin do Tổng Tư Lệnh Lực lượng Thái bình Dương, Đô Đốc Gayler ký tên. Ở tòa đại sứ vẫn còn nhiều người Mỹ trong số đó có ông Wolfgang Lehmann. Hai sĩ quan đang cãi nhau. Đại tá John Madison tưởng rằng tất cả người Việt Nam sẽ được di tản. Thiếu tá Jim Kean, trưởng toán Thủy Quân Lục Chiến trả lời là ông ta đã nhận được lệnh phải đi. Ông sẽ ra lệnh binh sĩ của ông phải rút lên sân thượng.

Ngoài bức tường của tòa đại sứ , người Việt Nam xô đẩy nhau, dẫm chân lên nhau la ó om sòm:

_ Làm ơn cho tôi đi.

_ Cho con tôi đi với tôi giùm

_ Tôi có vàng và mỹ kim …

_ Vợ con tôi đã đi rồi, Xin cho tôi đi luôn theo.

Họ kêu van, họ khóc lóc. Đối với một số người Mỹ sự chia ly này thật là não ruột. Nếu người ta cho những người Việt Nam đó vào tòa đại sứ thì những người còn ở lại đây không khi nào rời khỏi đây được đâu. Các anh Thủy Quân Lục Chiến dùng tới báng súng mà cũng khó khăn lắm mới giữ được một chu vi luôn bị thu hẹp, không xa bức tường được bao nhiêu. Có nhiều người leo qua tường. Có một số muốn dùng xe vận tải để ủi sập cửa tòa đại sứ. Đại tá Madison lấy làm rụng rời. Bây giờ vẫn còn khoảng bốn năm trăm người, nhất là người Việt Namvà phần đông là nhân viên của tòa đại sứ trong đó có nhân viên cứu hỏa, một linh mục người Đức và người Đại Hàn. Tất cả đều bỏ hết hành lý của họ, những nhân viên cứu hỏa đều là những người tình nguyện. Các người tỵ nạn được chia ra làm 6 nhóm, Hai sĩ quan là đại tá Madison và đại tá Harry Summers , thành viên của Ủy Ban quân sự 4 Bên và 2 Bên của Hiệp Định Ba Lê, đều cảm thấy bất lực. Những người Việt Nam biết là họ sẽ bị bỏ rơi. Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến rút lên lầu của tòa đại sứ.

Sau đó khi đáp được xuống mẫu hạm Okinawa, đại tá Madison yêu cầu người ta gởi cho 6 chiếc trực thăng đến bốc giùm 6 toán tỵ nạn trong khuôn viên tòa đại sứ . Người ta từ chối. Những nhân viên ngoại giao đầu tiên đã đến mẫu hạm trước đó đã quên nói là vẫn còn 420 người tỵ nạn trong sân của tòa đại sứ trước khi nơi này bị đám đông người Việt Nam ở ngoài tràn vào.

5 giờ 10 phút:

Hai trăm người Mỹ, trong số này có 170 lính Thủy Quân Lục Chiến đang chờ ở tòa đại sứ . Thời gian sao mà quá dài! Các binh sĩ cuối cùng dưới quyền thiếu tá Kean, đã leo lên cầu thang. Họ đã không quên khóa hết các cửa sau lưng họ bằng các thanh thép.Trong các cầu thang và cả trong thang máy họ vất đầy hết nào là tủ, bàn ghế, và tất cả những gì họ túm được. Các binh sĩ này phải mất 2 tiếng đồng hồ mới đi được từ tầng trệt lên đến tầng chót. Họ ném lựu đạn cay. Và có một người còn ném một trái lựu đạn miểng nữa. Và người Việt Nam không còn cách nào để lên đến sân thượng được nữa.

Chung quanh tòa đại sứ là các binh sĩ Việt Nam đi lang thang với vũ khí của họ. Trên sân thượng có bố trí một khẩu đại liên để canh chừng chung quanh. Các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến tuân hành “lệnh D” tức là  cấm bắn bừa bải, chỉ được bắn theo lệnh của một sĩ quan hay một hạ sĩ quan thượng cấp nào đó mà thôi.

5 giờ 47 phút:

Trên chiếc trực thăng mang tên Lady Ace 09, ông Martin quá mệt mỏi, có một cảm tưởng nhẹ nhõm. Sau cùng mọi việc cũng đều tốt…nếu không có thể là quá tốt…. Một số cộng sự viên của ông nghĩ là ông đã có nhiều quyết định hơi trể. Ông Martin ước tính là ông đã tránh được một sự hoãng loạn và rằng ông đã bịp được Bắc Việt. Tất cả những người Mỹ đều đã được di tản, các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến không cần phải đánh nhau. Ông Martin cũng có thể ở lại tại chỗ lâu hơn nữa được nhưng ông tỏ ra là một người có kỷ luật trong vòng 45 năm nay.

Đối với ông, lệnh của Tổng Thống rất là khắc nghiệt. Ông tự nghĩ là Tổng Thống đã bị Tổng Trưởng Quốc Phòng gạt. Ở các Bộ Tư Lệnh quân sự người ta đã nhận thấy là ông Martin đã tìm cách gạt gẩm tất cả những người đối thoại với ông. Còn ông Martin thì lại nhận thấy là người ta đã gạt ông ta.

Như vậy là cuộc chiến đã qua, và tất cả sự tan vỡ cũng đã qua!

Ông Martin nghĩ rằng ở Hoa Thạnh Đốn người ta không có chuẩn bị gì hết. Người ta chỉ sống với ý nghĩ của một sự di tản thành công ở Phnom Penh. Nhưng hãy xem lại coi. Ở đó người ta chỉ di tản có ba trăm người, hầu hết là người Mỹ. Còn tại Việt Nam, ở Sài Gòn với tất cả các chiến hạm, phi cơ, trực thăng, người ta đã di tản được 130 ngàn người Việt Nam, còn hơn thế nữa là khác, nhờ vào các chuyến bay không chánh thức.

Trên sân thượng của tòa đại sứ, hạ sĩ Stephen Bauer tự hỏi là ông ta và các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến khác có phải sẽ đến xin tỵ nạn ở tòa đại sứ Pháp hay không? Các tiếng nổ của đạn bách kích pháo càng ngày càng đến gần hơn. Trời đã bắt đầu sáng dần, và không có sương mù. Cuối cùng chiếc trực thăng rồi cũng đến. Nó đáp xuống, các cánh quạt vẫn chạy đều làm sạch phần nào không khí nhất là làm tan bớt khói của lựu đạn cay mà binh sĩ đã ném trong cầu thang đang làm họ không thấy đường và muốn nghẹt thở. Còn 10 binh sĩ nữa đang bước lên trực thăng. Người cuối cùng là trung sĩ nhất Juan Valdez đang đẩy binh sĩ của ông lên, với cảm tưởng là binh sĩ của mình chỉ muốn bước lên trực thăng sau ông để có thể nói “Tôi là người cuối cùng ” điều mà chính ông ta mới là người có thể làm được . .

7 giờ 53 phút:

Chiếc trực thăng cuối cùng này cất cánh, có mấy chiếc trực thăng võ trang Cobra hộ tống. Đây là lần đầu tiên trong 10 năm nay, không còn người lính Mỹ nào ở Việt Nam. Có vài chú đào ngũ thì họ đã nằm kín trong vùng ngoại ô.

Khi đến được bờ biển, các Thủy Quân Lục Chiến trên trực thăng vỗ tay reo hò, và chụp một bức ảnh.

Trong sân của tòa đại sứ những người Việt Namvà ông tướng Đại Hàn chạy vòng tròn. Các bản báo cáo chánh thức của Mỹ nói là ” khoảng 420 người ”

Đám đông tràn vào tòa đại sứ la hét om sòm.

Những tay tuyên truyền cho cộng sản hô to những khẩu hiệu:

_ “Mỹ đã đi hết rồi, đất nước ta được tự do, độc lập, dân chủ rồi….

Người ta bắt đầu cướp bóc trong các tầng lầu. Thình lình đám đông lui ra hết, có người la lên:

-“Chạy ra chạy ra, tòa đại sứ sắp nổ rồi!

Khi ông Martin đã đến được trên soái hạm Blue Ridge rồi, thì ông đi qua thật nhanh phòng báo chí, nơi đó ông Polgar đang nói chuyện với các nhà báo. Ông Martin nói nhanh:

_ “Nếu chúng ta giữ được những cam kết của quốc gia Hoa Kỳ xứng đáng với danh xưng của nó, thì không có xảy ra chuyện ngày hôm nay.”

Câu nói này đã chạy khắp nơi trên các máy điện báo của các cơ quan báo chí quốc tế. Ông đại sứ nhận một công điện của ông Kussinger, cứng rắn khuyên ông nên giữ cảm nghĩ riêng của mình cho Tổng Thống Hoa Kỳ . Sau khi dùng một bữa điểm tâm nhẹ với trứng và xúc xích. Ông Martin đi khám sức khỏe. Qua chiếu điện, người ta khám phá ra nhiều sung huyết trong cả hai buồng phổi của ông. Khi ông nhìn lại kỹ cuộc di tản, đại sứ Graham Martin nói rằng:

_ “Tôi không thấy việc đó là một niềm danh dự của Hoa Kỳ”

Trên soái hạm Blue Ridge, người ta trao cho ông một lượt cả ba công điện. Những người gởi các công điện này đã nói với ông với một giọng điệu khác nhau hết:

(1)- của Tổng Thống Ford gởi cho ông Martin:

_ “Tôi bày tỏ một sự hài lòng sâu xa của tôi, đối với ông và đối với tất cả các cộng sự viên của ông,

về sự thành công trong cuộc di tản người Mỹ và người Việt Nam ở Sài Gòn . Sự tận tâm không mệt mỏi trong nhiệm vụ của ông và việc thực hiện trong những điều kiện cực kỳ khó khăn là tối cần thiết cho sự hoàn chỉnh của cuộc hành quân rất khó khăn và tế nhị này. Xin ông vui lòng nhận những lời khen thành thật và cá nhân của chính tôi. Lòng can đảm và sự bình tĩnh của ông trong thời điểm khó khăn này đã giúp di tản được chính những công dân của chúng ta và một số lớn người Việt Nam trong cơn nguy khổn. Tôi ước mong là ông sẽ chuyển đến tất cả các cộng sự viên của ông lòng biết ơn sâu xa của tôi và của dân chúng Hoa Kỳ về một công việc đã được hoàn tất tốt đẹp. Thành thực,”

(2)- của ông Tổng Trưởng Ngoại Giao, thân mật hơn:

– “Gởi ông Graham Martin, của Henry Kissinger,

Tôi chắc chắn là ông biết những cảm nghĩ sâu xa của tôi về thành tích của ông trong những điều kiện

thật không gì khó khăn hơn. Hãy nhận những lời cám ơn nồng nhiệt nhất của tôi. Nghĩ về ông.

Tái bút: Sẽ chấp nhận mọi tin tức về các dự tính du lịch tức thời của ông để chuyển cho gia đình ông”

(3)- của tướng Brent Scowcroft từ Nhà Trắng, một công điện rất giản dị:

_ “Graham, ông thật là tuyệt diệu.”

Các trực thăng, với những Thủy Quân Lục Chiến của thiếu tá Melton bị phân tán ra hết. Trực thăng của thiếu tá thì đáp ở mẫu hạm Midway, còn trực thăng của người phó của ông thì đáp trên chiếc Vancouver.

Các trực thăng Việt Nam, hết nửa còn trống hay chở đầy binh sĩ và dân sự gồm đàn bà, bô lão, trẻ con, thúng rổ đựng trái cây, đạn dược súng ống lẫn lộn bay đến. Thiếu tá Melton còn thấy cả những hành khách ra khỏi trực thăng với những con gà chân cột lại.

Thật là rất đúng, có thể là tượng trưng, là chiến tranh của người Mỹ, quá cơ giới hóa, đã kết thúc với những chiếc trực thăng. Từ năm 1965, đối với các Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ, trực thăng được xem như là một vũ khí tấn công quyết định. Bây giờ thì trực thăng là phương tiện triệt thoái.

Di động, dễ điều động, trực thăng được ghi nhận là đã tiến xa trên bốn điểm – mà cũng là bốn nhược điểm? về đặc tính của Hoa Kỳ: sự lạc quan, sự háo chiến, sự mất kiên nhẫn và lòng tin ở cơ giới tối tân. Ngày 30 tháng 4 này, trong lúc hình ảnh cuối cùng của các vũ điệu trên không đang diễn ra trên các chiến hạm thì người ta bỗng ghi nhận là trực thăng đã trở thành phương tiện tiêu biểu của một sự triệt thối.

Chiếc Midway đang di chuyển. Các sĩ quan đã cho ông thiếu tá Melton biết là chiếc mẫu hạm này sẽ đến bờ biển Thái Lan để chở các phi cơ tiềm kích của Miền Nam Việt Nam. Có một chiếc phi cơ nhỏ xuất hiện trên vùng trời và qua truyền tin gởi một công điện:

_ “Tôi là một thiếu tá Việt Nam Cộng Hòa, tôi có chở theo vợ và mấy đứa con của tôi. Tôi xin phép được đáp xuống.

Trả lời:

_“Không thể được. Chúng tôi không có sẵn sàng. Chúng tôi không có lưới an toàn để chận phi cơ loại này của anh.

_“Tôi đáp xuống đây”

Chiếc phi cơ được phi công Việt Nam đặt trên trục tiến của mẫu hạm, đáp xuống, thắng lại, và thành công. Cà binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến và Hải Quân trên mẫu hạm đều nhiệt liệt hoan hô phi công, cả ông thiếu tá Melton cũng vậy.

Thiếu tá Melton rất bằng lòng. Không có một người nào của ông bị thương hay tử thương. Thủy Quân Lục Chiến được thành lập để tấn công, đổ bộ, và chiếm vị trí. Trong những ngày sau cùng này, họ đã bảo vệ cho một cuộc triệt thối. Thiếu tá Melton là một quân nhân hiện dịch, đã làm đúng theo lệnh. Đứng tựa vào lan can, ông ngắm nhìn các chiếc thuyền nhỏ chung quanh mẫu hạm, quan sát các binh sĩ Hải Quân dưa những người tỵ nạn lên mẫu hạm.

Tướng Richard Carey tổng kết 3 ngày làm việc của mình, ngày 28, 29 và 30 tháng 4. Kết quả tốt cho cuộc di tản bằng đường biển : 8 chiếc tàu đã chở được 29. 783 người tỵ nạn, hầu hết từ Vũng Tàu; 2500 người được bốc đi từ hai đảo Phú Quốc và Côn Sơn.. Chiếc Pionner Commander đã cứu được 4669 người ở vàm sông Sài Gòn.

Các phi công Hải Quân đã bay đổ đồng 13 giờ một ngày. Có nhiều anh đã bay trực thăng của mình suốt 18 giờ liên tục. Riêng cho những trực thăng di tản đã có 689 chuyến bay trong đó có 160 chuyến bay đêm . Có hai Thủy Quân Lục Chiến bị tử thương ở phi trường. Và hai phi công, một của chiếc CH46 cố đáp xuống mẫu hạm Hancock đã bị lật úp xuống biển, không có hành khách, hai phi công chánh và phụ bị chết chìm, người ta đã cứu được hai xạ thủ đại liên. Một chiếc AH.1J, trực thăng võ trang, bị khó khăn về nhiên liệu, đã bị phi công cho xuống biển cách chiếc Okinawa bốn dậm. Phi hành đoàn bình yên. Như vậy có tất cả là 4 quân nhân bị tử thương.

Từ các bãi đáp gần các dãy nhà của Phòng Tùy Viên quân sự ở phi trường Tân Sơn Nhất , Thủy Quân Lục Chiến đã bốc đi được 5.600 người . Không có một người nào nghĩ rằng mình đã di tản được 2206 người trong đó có 1375 công dân Hoa Kỳ, từ trong sân và trên sân thượng của tòa đại sứ.

Có đôi lúc trên tàu, binh sĩ Hải Quân nhất là trong lúc họ phát lương thực, đã bị chửi, đôi khi còn bị người tỵ nạn xô đẩy nữa. Những mầm nổi loạn? Không … Có vài người tỵ nạn bị đè bẹp. Trên một số chiến hạm, các binh sĩ Miền Nam mặc quân phục có, mặc thường phục có, có võ trang đã tạo ra tình hình căng thẳng, nhưng binh sĩ Hải Quân đã giải giới được họ và lập lại trật tự có qui củ bình thường.

Cũng có vấn đề khó khăn về vệ sinh . Đôi khi người ta thiếu nước. Dưới hầm tàu thì có mùi nôn mữa và phân người. Đúng ra đây là một vấn đề quá khó vì người Việt Nam được chở trên tàu quá đông.

Điều ngạc nhiên, là không phải không có điều gì xảy ra, mà đã không có có xảy ra nhiều.

Đại tá Lê vĩnh Hòa không muốn rời khỏi Sài Gòn . Vào lúc 6 giờ, ông ta còn ở trong văn phòng giám đốc đài truyền hình. Ông định lái xe đi ra. Cảnh sát đã ngăn ông lại:

_ “Ông bị bắt.

_ “Ai bắt tôi?

_Theo lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh.

Ra đi, là trốn chạy, là đào ngũ. Tổng Thống đã ngăn cấm các sĩ quan không được rời khỏi Sài Gòn.

Ở căn cứ Tân Sơn Nhất, nơi mà tất cả binh sĩ đều ôm chặt máy thu thanh, trung sĩ Thương, đang chờ đợi tin tức của Chánh Phủ mới.

Đang có một buổi họp ở văn phòng của Thủ Tướng, ở một ngôi nhà cổ của người Pháp trên đại lộ Thống Nhất. Chung quanh Tổng Thống có Thủ Tướng Vũ văn Mẫu, một vài quân nhân và công chức cao cấp.. Một cố vấn của Tổng Thống, ông Lý quý Chung, từ trại Davis trở về. Người của CPLTCHMN không chấp nhận thương thuyết với tân Tổng Thống . Họ không sẵn sàng cho bất cứ một sự nhượng bộ nào, quân sự cũng như chánh trị.

_“Họ đòi hỏi “phải giải tán Quân đội và cảnh sát bù nhìn” Họ sẵn sàng cung cấp giấy thông hành cho Tổng Thống và người của ông.

Các cố vấn của ông Minh chia thành phe phái. Có nên lấy một vị thế cứng rắn hay không ? Nhưng muốn vậy thì phải dựa vào ai? Các sư đoàn ở mặt trận, các sư đoàn 5, 18, 22 và 25 cũng như thành phần còn lại của các lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến hay Dù, theo tin tức quân sự giờ chót đều tan rã hết. Vài vị khuyên nên đầu hàng. Ông Minh còn lưỡng lự. Người ta gởi một đại diện mới nữa vào trại Davis. Người ta điện thoại. Các ông Phật Giáo, các vị Công Giáo, và các nhà ngoại giao Pháp họ đều thú thật là họ không biết cộng sản muốn gì nữa . Đùng một cái, tướng người Pháp, ông Francois Vanuxem xuất hiện, mặc thường phục.. Ông này là người chủ trương đánh tới cùng ở chiến trường Algérie thuộc Pháp, thạc sĩ triết học. Ông đã cho khá nhiều dự án. Ông đề nghị một đề án khác: mình phải yêu cầu Trung Quốc tấn chiếm Miền Bắc Việt Nam. Lúc bấy giờ nước Pháp sẽ làm trung gian hòa giải. Ta có thể nhờ đó giữ được một Miền Nam trung lập hay được trung lập hóa.

Ông Minh soạn một văn bản và trao cho Thủ Tướng của ông, sau đó ông trở về Phủ Tổng Thống để thu băng. Đài phát thanh sẽ cho phổ biến văn bản này vào lúc 10 giờ 24 phút.

Đường lối chánh trị của chúng tôi là hòa giải. Tôi tin tưởng mạnh mẽ vào sự hòa giải của người Việt Nam để tránh khỏi đổ máu thêm một cách vô ích. Tôi yêu cầu binh sĩ của Việt Nam Cộng Hòa hãy chấm dứt chiến sự và nằm yên tại chỗ. Tôi yêu cầu binh sĩ anh em của CPLTCHMN cũng nên chấm dứt chiến sự. Chúng tôi đợi ở đây để gặp CPLTCHMN để cùng nhau bàn thảo về một buổi lễ bàn giao quyền bính và tránh đổ máu của dân chúng vô ích. ”

Trong bản tuyên bố này, tướng Minh không bao giờ nhắc tới quân đội Bắc Việt. Ông chấp nhận tổ chức hư cấu thường được gọi là CPLTCHMN , ông cũng cho thấy rõ ràng là ông không nghĩ tới chuyện nắm giữ lại một phần nào dù là bề ngoài của chánh quyền .Ông ta sẽ “chuyển giao”. Ngay sau đó, đài phát thanh cũng phát đi một thông cáo của Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hòa:

_ “Binh sĩ, trung đoàn trưởng, lực lượng bảo an, dân vệ..Tôi, tướng Nguyễn hữu Hạnh, Tổng Tham

Mưu Phó thay mặt trung tướng Vĩnh Lộc Tổng Tham Mưu Trưởng, tôi yêu cầu các tướng lãnh và binh

sĩ các cấp, phải triệt để tuân lệnh Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa liên quan đến chuyện ngừng bắn.

Bộ Chỉ Huy Quân sự của chúng ta đã sẵn sàng liên lạc với Bộ Chỉ Huy Quân sự của CPLTCHMN để thực hiện một cuộc ngưng bắn mà không đổ máu”

Thủ Tướng cũng có một bản tuyên bố ngắn:

_ “Trong một tinh thần hòa giải và hòa hợp, tôi, giáo sư Vũ văn Mẫu, Thủ Tướng, xin kêu gọi tất cả các tầng lớp dân chúng hãy hân hoan chào mừng ngày hòa bình cho dân tộc Việt Nam. Tôi kêu gọi tất cả công viên chức của Chánh Phủ hãy trở về nhiệm sở và hoạt động lại như cũ .”

Tại phi trường trung sĩ Thương khóc.

Ngay tại nhà mình, ông kỹ sư Văn kết luận là những cuộc thương thuyết của ông Minh đã không đi đến đâu hết. Ông nghĩ rằng người cộng sản không bao giờ chấp nhận một chế độ trung lập. Nhưng rồi ông nghĩ lại. Dù sao ông cũng muốn tin ở sự khoan hồng của kẻ thắng trận. Ông đi vào văn phòng của ông. Phần đông các bạn đồng nghiệp của ông đều nghe theo lời kêu gọi của Thủ Tướng, nhưng họ vẫn sợ.

Hầu hết các Phật Tử ở trong chùa của hòa thượng Thiện Hoa đều nói:

_ “Hết rồi, chúng ta có thể đi về nhà rồi.

Tại Hoa Thạnh Đốn Tổng Thống Gerald Ford vừa ăn tối xong với quốc vương Hussein của nước Jordanie. Người ta cho ông biết về tuyên bố của ông Dương Văn Minh. Không có người nào gợi lên chuyện đầu hàng này và cả nước Việt Nam nữa.

Bộ Tổng Tư Lệnh Quân đội Bắc Việt đã nghe lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh trên đài phát thanh. Tướng Dũng nói:

_“Làm gì có vấn đề tước đoạt chiến thắng của mình bằng “trò chơi cút bắt” này được?

Bộ Chánh trị cho lệnh:

_“Tiếp tục tấn công vào Sài Gòn theo kế hoạch đã dự trù” Tăng tốc độ và tăng cường tối đa sự tiến quân của chúng ta. Phải giải phóng cả thành phố, giải giới địch quân. Phá vỡ bộ máy hành chánh của địch trên tất cả mọi cấp. Đập tan hết mọi mưu toan kháng cự.”

Ngay tức khắc tướng Dũng phổ biến lệnh cho tất cả các đơn vị:

_ “Gởi tất cả các quân đoàn, các khu quân sự , tất cả các đơn vị: thứ nhất, tiếp tục tiến càng nhanh càng tốt đến các mục tiêu đã được chỉ định ở trung tâm thành phố và ở các tỉnh. Thứ hai, kêu gọi địch quân phải đầu hàng và giao nộp tất cả vũ khí. Bắt giữ và tập trung tất cả các sĩ quan địch từ cấp tá trở lên. Thứ ba: Đập tan ngay tại chỗ tất cả mọi mầm móng kháng cự.”

Một vài nơi ở Sài Gòn nhất là trong các văn phòng và các biệt thư bỏ trống của người Mỹ, đã thấy người ta cướp bóc. Đàn ông, đàn bà, con nít gỡ và khiêng đi nào là đèn, máy thu thanh, vòi nước trong bồn rửa mặt, máy đánh chữ, bàn ghế đủ loại, đi văn, nệm, giường. Trong các sân và cầu thang của tòa đại sứ rải rác đầy những giấy tờ, sách báo, và hồ sơ báo cáo…. Trong các tầng lầu, người ta đua nhau gỡ các máy điều hòa không khí, các tủ lạnh được mở tung tóe. Có nhiều người cố thử mở các tủ sắt . Chỗ nào cũng có các ghế phô tơi bị tháo tung ra, các khuôn hình và các bức tranh bị đập nát. Có nhiều người Việt Nam còn trẻ, mặc sọt, ở trần trùng trục, đang di tản mấy chiếc ghế tràng kỷ dài. Từ 30 năm qua, người Việt Namvới tánh kiên nhẫn và khéo tay, đã thu nhặt và sửa chữa, đóng hay dán lại mọi loại vật dụng. Bây giờ thì họ lại tiếp tục. Các ông chủ củ đã ra đi, các ông chủ mới còn chưa thấy có mặt.

Tại dinh Tổng Thống , điện thoại reo tới tấp và liên tục. Ông Nguyễn văn Hảo, cựu Tổng Trưởng Kinh Tế nói to lên:

_ “Những người nào đã có một trách nhiệm nào đó đối với đất nước không thể ra đi được. Dù có gì xảy ra cũng phải ở lại. Bắc Việt biết rõ họ muốn gì. Họ đã tranh đấu từ ba chục năm rồi, họ xứng đáng để lãnh đạo Việt Nam… một đất nước thống nhất và độc lập, tương lai được bảo đảm. Miền Nam giàu về nông nghiệp và dầu hỏa, Miền Nam có thể giúp đỡ cho Miền Bắc.

Vị tân Thủ Tướng đã chỉ định ông Lý quý Chung trong chức vụ Tổng Trưởng Thông Tin, ông này tuyên bố:

_“Chúng ta không có một mặc cảm nào về sự đầu hàng… Đừng bao giờ nói tới lực lượng thứ ba nữa. Lực lượng này không có chỗ đứng chánh trị của nó. Nhất là nó chỉ đại diện cho một dân tộc thống nhất và không đánh nhau.

Ngoài thành phố, cờ xí treo rộp trời. Dân chúng treo cờ xanh và đỏ của CPLTCHMN ở cửa sổ. Trên các công sở thường thường người ta chỉ treo môt miếng vải trắng hay một tấm vải trải giường trắng. Có nhiều người treo cờ Pháp, nghĩ rằng để thay thế cho một loại đặc miển ngoại giao. Trời rất tốt.

Ông Patrick Hays đi một vòng Sài Gòn . Có nhiều đường vắng teo, có đường cũng đông nghẹt. Ông gặp những người lính Dù, có võ trang, rất có kỹ luật ở đường Công Lý và Pasteur. Ông đến bệnh viện Grall. Ờ đây chung quanh các dãy nhà có nhiều người dân sự và rất nhiều quân nhân mặc thường phục.

Đại úy Phạm Thình làm việc ở Bộ Tư Lệnh Cảnh sát. Thượng cấp của ông, trong đó có tướng Nguyễn khắc Bình Tư Lệnh cảnh sát và Giám Đốc Trung Ương Tình Báo, cùng với 3 tướng lãnh khác và 4 đại tá và một số sĩ quan khác đã ra đi. Phạm Thình ở lại với nhiệm vụ “giữ gìn trật tự và danh dự”. Hai ngày trước ông Thình đã gởi vợ con đi Pháp. Ông đã từng giúp hãng hàng không Air France ở văn phòng nên người ta đã giảm giá vé cho ông đến 50 %. Ông Thình đã yêu cầu người ta đốt hết tất cả hồ sơ. không một ai đả đụng tới. Ông quyết định đến tỵ nạn ở tòa đại sứ Anh, đang được người gát cổng. ông Sam, dân Ân độ, coi sóc. Nơi đây ông thấy có một đại tá và khoảng 12 sĩ quan cảnh sát . Họ lên xe đi đến bệnh viện Grall. Họ tin tưởng rằng ở đây có treo một lá quốc kỳ Pháp và họ sẽ được bảo vệ. Đại úy bỏ khẩu súng của ông. Ông nghĩ nhiều tới những hồ sơ vẫn còn ở Bộ Tư Lệnh, từ những tờ giấy đã ngả vàng và bụi bậm với những lời phê bằng mực tím, từ hồi còn người Pháp… cho đến những tờ giấy đánh máy, các bản sao của cơ quan CIA. Đại úy này thù ghét cộng sản nhưng ông tự nhủ là có thể họ sẽ tỏ ra hiểu biết. Họ sẽ nói về hòa hợp và hòa giải. Tất cả mọi chế độ đều cần cảnh sát Có thể người ta sẽ hạ cấp bậc ông xuống một ít. Và ông sẽ lấy lại cấp bậc cũ của ông trong tương lai.

Nhiều toán quân nhân Miền Nam Việt Nam đi lang thang trong thành phố. Có một số lớn đã vứt hết vũ khí và cả quân phục của họ. Trên lề đường vương vãi đầy quần áo trận, giày cao cổ đi rừng, nón sắt, mũ nhựa, băng đạn v.v.. Có những lời đồn đoán được loan đi một lần nữa. Một vài người dân Sài Gòn quả quyết là cộng sản sẽ trừng phạt thành phố bằng bom đạn. Người khác thì tin chắc và xác nhận là chiến xa Bắc Việt sẽ không vào thành phố. Sài Gòn sẽ là một thành phố tự do như Hong Kong vậy, vì Hà Nội cũng cần có một cửa mở ra cho vùng Á Đông.

Ở công trường Lam Sơn, dưới chân tượng đài “chiến sĩ Việt Nam” có một tử thi nằm dài giữa hai chậu bông. Một ông trung tá cảnh sát, sau khi nghe lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, đã đến đây. Ông đứng nghiêm chào tượng đài, đứng nguyên vị thế nghiêm một lúc lâu rồi ông ta tự bắn vào đầu một phát sùng lục. Có một số lớn sĩ quan đã tự tử trong ngày 30 tháng 4, trong đó có tướng Trần văn Phú, cựu Tư Lệnh Vùng 2 Chiến Thuật. Hồi xưa những người có trách nhiệm mà không làm tròn nhiệm vụ quan trọng thì phải tự sát.

Người ta ghi nhận có nhiều đơn vị Bắc Việt trong vùng ngoại ô. Có một số thành phần của quân đoàn 3 Bắc Việt đã tiến đến gần phi trường. Tướng Văn Tiến Dũng đã cho 150.000 người tiến sát vào Sài Gòn . Một vài đơn vị của Miền Nam Việt Nam vẫn còn kháng cự ở vùng cầu Tân Cảng trên sông Sài Gòn. Người ta thấy cả bộ binh và chiến xa Bắc Việt đi qua cầu. Bộ binh thì được xe Quân đội chở, theo sau là các khẩu đại bác của Pháo Binh có xe kéo, và các khẩu đại bác cao xạ phòng không . Các xa đoàn trên chiến xa thì khó thấy được. Đôi khi, họ hòi thăm đường giống như khách du lịch đi lạc vậy.

11 giờ :

Ở phi trường, trung sĩ Thương và hai chục binh sĩ nhận lệnh của cấp trên, ông Lê xuân Huyến:

_ “Hết rồi, các anh hãy bỏ súng xuống và về nhà hết đi, còn tôi, tôi phải ở lại để bàn giao… Không có một người nào chịu đi. Tại dinh Tổng Thống, ông Dương Văn Minh mệt mỏi, đang có mặt với Thủ Tướng của ông và một vài nhà báo. Ông nói:

_ “Tôi đợi anh em ở “phía bên kia”

Ông cũng tâm sự với anh Jean Louis, trưởng phòng của cơ quan truyền thông AFP:

_ “ Tôi không biết là phải đợi họ hôm nay hay ngày mai… Phải có người nào đó….

Khi các bộ đội Bắc Việt xuất hiện, các nhân viên người Việt đã bị CIA bỏ quên ở khách sạn Duc, bắn mấy tiếng súng lục và liên thanh. Mấy tràng liên thanh nặng và hỏa tiển đã làm cho họ im ngay. Phía sau lưng nhà thờ Chánh Tòa, một trung đội Dù cố ngăn các chiến xa địch. Tất cả đều bị thương hay tử thương.

Người dân Sài Gòn quan sát đoàn quân chiến thắng Bắc Việt với một sự nhẹ nhõm, sợ hãi và ngạc nhiên lẫn lộn. Hầu hết các bộ đội hình như còn quá trẻ hơn là có kỹ luật. Sĩ quan thì hình như đã quá tuổi 40. Các pháo tháp của chiến xa thường được mở toang, chiến xa thì được nghi trang bằng lá dừa nước .

11 giờ 45:

Trung sĩ Thương của Việt Nam thấy bộ đội Bắc Việt trang bị súng AK. Họ nói lớn tiếng và mạnh dạn, toàn nói tiếng Bắc:

  • “Ai chỉ huy ở đây ?

Thiếu tá Lê xuân Huyến tiến tới và nói:

  • “Tôi”

Bộ đội Bắc Việt ra lệnh cho tất cả đều phải cởi bỏ hết quân phục. Các binh sĩ nghe theo lệnh, và mặc quần cụt đứng chờ. Người ta nói là tất cả, người thắng trận cũng như người thua trận đều có vẻ sợ. Người thắng trận thì sợ mắc bẩy, người thua thì sợ bị hành quyết. Bộ đội Bắc Việt cho lệnh họ trở về nhà, trừ thiếu tá Huyến. Trung sĩ Thương cùng ra về với các đồng đội.

Có nhiều xe jeep chạy quanh trong thành phố, chở đầy sinh viên mang súng M.16 nhưng đeo băng đỏ.

Anh Tiên, một người trẻ thích xi nê, đã từ Hà Nội vào, đi trên 6 chiến xa Bắc Việt đến trước Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hòa. Chiến xa xếp thành hàng trong sân , súng chĩa thẳng vào Bộ Tổng Tham Mưu. Vào giờ chót toán chiến xa này được lệnh đến khám Chí Hòa, rồi lại được lệnh trở về Bộ Tổng Tham Mưu vì các tù nhân đã được thả hết rồi.

Anh Tiến này thấy bằng lòng, chiến tranh đã chấm dứt, anh ta sẽ về gặp mẹ anh và ông anh.

Chiến xa mang số 879, thuộc lữ đoàn 203, do Bùi đức Mai chỉ huy, đã vào đại lộ Thống Nhứt, qua khỏi tòa đại sứ Hoa Kỳ để tiến tới. Người trưởng xa nhận thấy mình đã đi quá xa, nên lui lại và hướng về Dinh Độc Lập tiến tới . Chiến xa này chạy tới trước hàng rào và những bồn cỏ. và với một hành động cố ý hay tượng trưng, vì không có một ai ngăn cản và lính gát đã chờ để mở cổng dễ dàng, chiến xa mang số 879 ủi sập hàng rào sắt và tiến tới tòa nhà lớn. Chi đoàn trưởng Bùi quang Thuận bước xuống chiến xa , bước lên cầu thang, lên đứng tại bao lơn. Một anh bộ đội đi lại lan can để hạ cờ Việt Nam Cộng Hòa xuống và kéo cờ xanh đỏ của CPLTCHMN lên. Bây giờ là đúng 12 giờ 15 phút, giờ Sài Gòn, 11 giờ 15 phút giờ Hà Nội, lá cờ của CPLTCHMN đã phất phơ trên dinh Độc Lập. Các chiến xa khác cày nát bải cỏ vào bố trí thành hàng…Các bộ đội cũng chia ra nằm rải rác trên bãi cỏ. Xa xa, về hướng tòa đô chính, người ta nghe được một vài tiếng súng nỗ lẻ tẻ và cũng có một vài tiếng lựu đạn nỗ. Dân chúng, trong đó rất nhiều trẻ con và nhà báo bu quanh các chiến xa và các bộ đội Bắc Việt. Sĩ quan và bộ đội Bắc Việt phân tán ở tầng trệt nhưng sau đó tràn lên lầu một, và ở đó họ gặp Tổng Thống Dương Văn Minh và những người trong chính phủ của ông. Ông Tô văn Quang, một nhân viên Điện Lực hình như cũng có mặt để làm trung gian. Một anh Bắc Việt có lẽ quá sốt ruột đã hỏi xem có ai có vũ khí gì không:

_ “Nếu có vũ khí thì vất xuống đất hết đi.

Có hai người nói với ông Dương Văn Minh, với 2 cách đối xử hoàn toàn khác nhau. Một người thì có vẻ ôn hòa hơn, là đại tá Bùi Tín, một nhà báo, từng là sĩ quan báo chí thuộc phái đoàn quân sự Bắc Việt trong Ban Liên Hợp Quân sự 4 Bên Trung ương ở trại Davis, là sĩ quan cao cấp nhất lúc bấy giờ , đến để chấp nhận sự đầu hàng:

_ “Các ông không có gì để phải sợ sệt, Giữa người Việt Nam với nhau, không có người thắng không có người thua. Chỉ có người Mỹ mới là kẻ bại trận. Nếu các ông là những người yêu nước thì hãy xem đây là phút giây vui sướng. Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc rồi.

Ông Dương Văn Minh trả lời:

_ “Chúng tôi chờ các ông để giao quyền bính.

Một sĩ quan cấp úy khác có lẽ tên Tùng, thẳng thừng nạt lại:

_ “Các ông không có gì để mà giao nộp. Các ông chỉ có đầu hàng vô điều kiện thôi. Các ông hãy đến đài phát thanh để tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

Ông Minh cúi mặt xuống, ríu ríu bước xuống cầu thang của dinh Độc Lập và đi đến đài phát thanh đọc một văn bản do một sĩ quan Bắc Việt thảo ra:

_ “Tôi tuyên bố là nền hành chánh của Sài Gòn hoàn toàn được giải tán từ trung ương đến địa phương. Từ cấp trung ương đến địa phương, đâu đâu cũng đều đầu hàng CPLTCHMN.

Ông Dương Văn Minh trở về dinh, nơi đây đã có gần 40 chiến xa Bắc Việt đại bác và liên thanh chỉa ra ngoài như để phòng thủ nơi này vậy. Một vài tù binh đang ngồi dưới đất, đứng dậy và được mấy bộ đội Bắc Việt dẫn đi gia nhập vào các hàng tù binh khác trong thành phố.

Còn bộ đội Bắc Việt thì lớp đứng, lớp ngồi chồm hổm, người thì đội nón cối người để đầu trần, đang ba hoa với dân chúng. Ông Minh và những người của ông ăn trưa. Bữa cơm của một Tổng Thống , cua biển chiên và mì ống đã sẳn sàng. Người ta cho Tổng Thống một khẩu phần của bộ đội gồm có cơm và thịt hộp.

Có nhiều thanh niên -được gọi là “cọp 30/4”, mới nhảy ra tham chiến vào giờ chót – một số có võ trang, chạy khắp thành phố trên những chiếc xe sung công.

Trung sĩ Thương, mặc thường phục, trở về nhà ở đường Lăng Cha Cả. Nhà anh trống vắng. Anh lấy một chiếc xe đạp và đạp đi. Trên đường Trương minh Giản, anh thấy một số binh sĩ Việt Nam Cộng Hòachết nằm dài dưới đất. Anh đi đến gần chợ, thấy toàn là chiến xa và xe vận tải Molotova. Các “cọp 30” mang băng đỏ, ồn ào cho lệnh đám đông:

_ Vỗ tay đi

Đàn bà và trẻ con chạy vào tiệm mang đi các băng ghi âm, đèn, máy thu thanh. Mấy ông “cọp 30” vội la lên:

_ “Đừng có cướp phá, đó là tài sản của nhân dân!”

Một vài anh Việt Cộng , mặc bà ba đen đội nón vải đi rừng, với khăn rằn choàng cổ mang súng AK.47 và súng phóng hỏa tiển, được thấy lẫn lộn trong đám bộ đội Bắc Việt.

Tại Bộ Tổng Tư Lệnh, tướng Dũng hớn hở:

_ “Trên bản đồ của chúng ta, 5 cánh quân của chúng ta vừa nở ra như những tai của một hoa sen. Quân đoàn 1 chiếm Bộ Tổng Tham Mưu và các Bộ Chỉ Huy của các binh chủng. Quân đoàn 3 chiếm phi trường Tân Sơn Nhất , ở đó họ bắt tay với phái đoàn quân sự của ta ở trại Davis. Nhiều pha gặp lại nhau cũng cảm động và nên thơ lắm. Quân đoàn 4 đã đóng quân ở bộ Quốc Phòng , bến Bạch Đằng và đài phát thanh. Toán đặc nhiệm 232 kiểm soát Bộ Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô và Bộ Tư Lệnh Cảnh sát.”

Nơi đây các đơn vị đặc biệt đã khám phá được hằng ngàn hồ sơ và các máy điện toán, làm cho họ phải suy nghĩ. Tướng Dũng tiếp tục:

_ “Quân đoàn 2 chiếm Dinh Độc Lập, chỗ mà những người Mỹ làm đủ mọi trò để bán đấu giá nền độc

lập của chúng ta.”

Ở Bộ Tư Lệnh Bắc Việt, có cuộc họp của những người chỉ huy. Họ ôm nhau và khen lẫn nhau. Ông Lê đức Thọ, Phạm Hùng và tướng Văn Tiến Dũng đã ôm hôn nhau. Trong phút giây sung sướng đó, tướng Tổng Tư Lệnh Bắc Việt đốt một điếu xi gà và kéo vài hơi thích thú.

_ “Một mùa xuân lạ thường vừa mới nở ra thình lình trong một khúc nhạc vui không thể tả được” tướng Dũng viết. Tướng Dũng này, một quân nhân có tuổi, luôn chiến đấu, 36 năm trước vốn đã có lúc phải tỵ nạn trong một ngôi chùa Phật Giáo , ám chỉ cho một công thức lạ lùng trong chu kỳ sanh và tái sanh trong Phật Giáo: “Giây phút này, người ta chỉ sống được có một lần trong cả cuộc đời , hay có thể trong nhiều cuộc đời. Dù sao thì cũng chắc chắn là không có hai lần như vầy trong một đời người.”

Một trong số sĩ quan của ông nói:

“Kể từ giờ này người ta có thể đưa vũ khí qua bên trái, lòng thấy đã thỏa mản.”

Tướng Dũng đã tìm thấy lại được hình ảnh cũ của hoa sen, cái hoa đầu tiên, mới xuất hiện lần đầu tiên của cuộc đời trên dòng nước đục, cái hoa đẹp và trong trắng. Tướng Dũng đã từ những dòng nước bẩn đó của chiến tranh đi ra, từ các chiến khu, từ những cuộc tấn công thất bại và sau đó thành công. Một trong những người cận vệ của ông ta, anh Võ xuân Sang đã chụp được những giây phút hoan hỷ này. Dĩ nhiên là các hệ thống dân sự và quân sự của người cộng sản đều tỏ vẻ hân hoan. Tướng Dũng trong hồi ký của mình, đã rơi nhanh vào giòng thơ trử tình lẫn lộn với các hình ảnh loại tình cảm chánh trị mà Hà Nội cho phép:

_ “Phải, chúng tôi đã khóc vì mừng trong ngày chiến thắng này… Ý nghĩ đầu tiên của chúng tôi là dành cho Bác Hồ, sau giây phút loan báo chiến thắng hoàn toàn đó. Chúng tôi hình như nghe được tiếng chuông reo ở nhà sàn của Người , để báo cho Người chiến thắng mới. Chúng tôi hình dung được Người đang đứng sau các bức màng, đang viết một bài thơ để mầng chiến thắng..”

Bác Hồ đã nói rằng Người chờ 10, hai chục hay ba chục năm nếu cần. Quân đội là Đảng, và đảng như một hoa sen, với bốn, sáu, hai mươi và ngàn tai. Hoa sen với một ngàn tai, đó là cả một sự phát hiện và đảng là sự thật. Chỉ còn có việc làm cho người dân Miền Nam vốn thường hay lãnh đạm hay cười và hay bị mua chuộc, để cho họ hiểu và chấp nhận . Tướng Dũng nghĩ rằng Sài Gòn và Miền Nam cũng như Hà Nội và Miền Bắc xứng đáng được biết “cuối cùng là hòa bình và hạnh phúc “. Rất giản dị là họ không được biết loại hạnh phúc nào mà họ rất cần. Còn người dân ở Hà Nội thì họ đã biết rồi. Hạnh phúc rất xứng đáng phải được tổ chức. Trong thành phố loạn ly và đầy nghi ngờ này, có nhiều người dân và quân nhân cần phải đền tội trước hết. Ngoài một vài quyền lợi hay nhiều đau khổ cá nhân, mới có nẩy ra được hạnh phúc tập thể trên tất cả những khát vọng nhỏ nhoi cá nhân, ích kỷ và tư sản đáng khinh.

Tại Sài Gòn trên bãi cỏ có bóng mát trong dinh Độc Lập hiện có gần 2000 bộ đội Bắc Việt cười nói vui vẻ. Lúc họ tới họ không nhận thấy được những biểu hiện vui mừng ồ ạt như họ đã dự kiến . Có nhiều khẩu súng được cài hoa trên đó. Các bộ đội ăn cơm nếp với đồ hộp.

Bệnh viện Grall đầy ấp người dân tỵ nạn, trong đó có những người Đại Hàn, người Đài Loan, Cả đàn ông đàn bà và trẻ nít đã chiếm hết các bãi cỏ và họ cấm lều giữa các dãy nhà tiền chế. Có nhiều người thấy xa hơn nên đã xin nhập viện từ mấy tuần trước . Một ông già buôn bán đồ cổ, nghiện thuốc phiện, ông Thanh An, đã thuê một căn gác xép của bệnh viện, được gọi nôm na là “chuồng bồ câu” gồm có một phòng ở đầu dãy nhà có nhiều hành lang. Ở đây hồi xưa, các đô đốc toàn quyền Pháp đã từng được săn sóc ở “chuồng bồ câu ” này. Nằm dài trên chiếu rơm, ông lão thong dong đưa ống tẩu lên hút thuốc phiện …

Ông Patrick Hays không bao giờ dùng đến vũ khí của mình.Người phụ tá của ông , ông Hamieux, chở vũ khí của họ trên một chiếc xe Jeep mui trần để đến bệnh viện Grall xuyên qua thành phố đầy bộ đội Bắc Việt. Ở bệnh viện, các vũ khí này sẽ nhập vào với đống vũ khí mà những ai muốn vào tỵ nạn ở đây dưới lá quốc kỳ Pháp đều bắt buộc phải vứt bỏ hết. Ông Hays đã nghe được những tiêu lệnh đầu tiên đã được đài phát thanh Giải Phóng phổ biến. Kể từ giờ này thành phố Sài Gòn sẽ được gọi là hành phố Hồ chí Minh. Các bà các cô phải ăn mặc chỉnh tề, mặc quần áo khiêm tốn của người nông dân, màu đen hay màu nâu. Màu xám là màu hạnh phúc của người cộng sản . Đài phát thanh của thành phố Hồ chí Minh đã loan báo là đã có một cuộc nổi dậy của dân chúng để vui mừng chào đón đoàn quân giải phóng.

Sự thật là cũng có một vài người dân phần lớn là trẻ con ở Sài Gòn đã có vỗ tay, và những người khác thì im lặng. Các xe vận tải chạy khắp các đường phố phóng loa kêu gọi:

_ “Lực lượng của MTGPMN đã làm chủ Sài Gòn. Hãy yên tâm đừng có lo sợ. Bà con sẽ được đối xử đàng hoàng nếu biết tôn trọng trật tự và kỷ luật.”

Đài phát thanh Giải phóng được đài phát thanh Sài Gòn lập lại ngay sau đó, đã phổ biến 10 điểm trong chương trình của CPLTCHMN:

Lần lần, các bộ đội Bắc Việt điều hành sự lưu thông. Xa xa, các kho đạn vẫn tiếp tục nổ.

Có nhiều cột khói đen lên cao ngất trời ở về hướng Chợ Lớn.

Linh mục Jean Mais đã nghe được tin Sài Gòn bị thất thủ do những người giữ ông cho biết: Họ còn nói:

_ “Trường hợp của Anh nặng lắm, Anh là một gián điệp quốc tế. Anh sẽ bị giữ lâu lắm.

Linh mục mua một tập vở học trò, một cây bút máy và bao thuốc lá Bastos, loại thượng hạng. Ông giết thì giờ bằng cách soạn một bài mới cho lớp của ông về phép ẩn dụ hay chế ra cách nói lái.

_ “Tôi có tội gì? đôi khi ông thường hỏi

_ “Anh không biết thiệt sao?

_ Không biết.

_ Sao? Anh dám nói là anh không có tội gì, trong khi cách mạng đã bỏ tù ông?

Linh mục chờ đợi, chỗ nhốt ông bị dời đổi luôn, từ nhà này đến lều khác. Ở đây người ta trao cho ông áo choàng, ở chỗ khác người ta cùm chân ông lại. Một ngày kia, một người giữ ông đọc cho ông nghe một số điều lệ:

_ Anh, từ giờ này anh được gọi là “số 32”. Anh không được nói tên anh ra cho ai biết hết, Cấm không được nói anh là ai. Cấm không được nói về dĩ vãng của anh. Cấm không được nói gì về vấn đề chánh trị . Cấm không được nói chuyện về đạo giáo.

Hà Nội nhanh chóng đặt chánh quyền của họ lên Sài Gòn nhưng rất kín đáo, và chậm hơn ở các tỉnh của vùng đồng bằng vì ở đó có ít lực lượng cộng sản , chỉ có vài trung đoàn Việt Cộng và một ít bộ đội Bắc Việt về phía Nam của Vùng 4 Chiến Thuật. Cho đến đầu tháng 3, các lực lượng này bị phân tán nhỏ ra để mang “tên ma” cấp đại đội và trung đội. Tướng Trần Văn Trà đã cho lệnh tập trung lại thành “sư đoàn” của CPLTCHMN nhưng thật sự chỉ có tên trên giấy tờ. Phải “hù dọa”Chánh Phủ Sài Gòn, cho họ tin là  CPLTCHMN có nhiều quân.

Trong vùng Đồng Bằng, chiến trận thường chỉ là chiến tranh du kích, bên nào cũng có thiệt hại., có đổ máu. Tướng Trà gậm nhấm hạ tầng cơ sở của chính phủ Miền Nam Việt Nam. Việt Cộng đột kích vào các vụ mùa lúa gạo. Trong Vùng 4 này, chiến trận mạnh nhất thường diễn ra ở về phía Bắc, nơi đó Việt Cộng và bộ đội Bắc Việt có thể tựa lưng vào hậu cứ ở Cam Bốt. Các tướng cộng sản Bắc Việt dự định chiếm Cần Thơ vào cuối tháng 3 năm 75. Nhưng với sư đoàn 21 bộ binh có Thiết Giáp yểm trợ, thành phố này khó mà chiếm được. Các nhánh sông Cửu Long lại còn có thể được xử dụng như tuyến phòng thủ thiên nhiên của Miền Nam.

Chánh quyền cách mạng vào Cần Thơ trưa ngày 30 tháng 4, vì sự tự tan hàng của bên hành chánh và của Quân đội Miền Nam hơn là sự tiến quân ồ ạt của Việt Cộng và Bắc Việt.

MTGPMN và CPLTCHMN không bao giờ đủ mạnh trong Vùng 4 này. Anh Wilfrid Burchett, một nhà báo người Úc, thân cộng sản, đã vô tình tiết lộ như thế. Bà Nguyễn thị Mười Bé, chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân An Nghiệp, một trong 12 khu của thành phố, đã mô tả cho anh Burchett về sự gải phóng của Cần Thơ. Trong khu của bà có 19.000 dân , bà ngây thơ thú thật là vào ngày 28 tháng tư, “hạt nhân cách mạng” chỉ có khoảng 15 người yêu nước . Bà có thêm 4 người dân quân bí mật và 40 lính dân vệ của Miền Nam “sẳn sàng ngả về phe ta, khi có lệnh”. Người ta có thể suy diễn là ở Cần Thơ chỉ có nhiều lắm là vài trăm người cốt cán đã làm việc cho CPLTCHMN . Ngày 30 tháng 4 đến 9 giờ sáng rồi mà họ còn đi phát truyền đơn, còn đi dán biểu ngữ trên tường và trên các gốc cây. Sau đó một lúc, họ phát truyền đơn của họ cho binh sĩ Miền Nam Việt Nam ở nhà kho tiếp vận số 4, trong khu An Nghiệp. Hầu hết binh sĩ đều cởi bỏ quân phục của họ và mặc thường phục đi về nhà.

Cộng sản chiếm đài phát thanh. Lúc 15 giờ, tướng Nguyễn khoa Nam nhận thấy là binh sĩ của CPLTCHMN gần như không có võ trang, nên ông cho một số binh sĩ đến chiếm lại đài phát thanh. Ông xin thêm lực lượng tiếp viện nhưng không có. Sau đó ông với tướng Tư Lệnh Phó Nguyễn văn Hưng của ông mới tự tử.

Ông Nguyễn hà Văn, một thành viên của Ủy Ban cộng sản địa phương, một người tóc đã hoa râm và mặt nhăn nheo, đã giải thích cho ông Burchett như sau:

_“Về sau, trong đêm, lực lượng chánh quy của chúng tôi mới đến. Họ đến trễ vì bị đụng độ dài dài trên quốc lộ số 4.”

Chuyện chiếm giữ đài phát thanh là hành động quyết định. Trong các làng và các ấp ở chung quanh, người dân và binh sĩ nhận thấy là đài phát thanh đã ở trong tay cộng sản , nên họ cho rằng kháng cự nữa cũng vô ích. Từng toán hai ba chục người, cả sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ của Miền Nam Việt Nam kéo nhau đi về phía Nam. Nhiều người hy vọng nhập vào các ổ kháng chiến. Nhiều người khác thì nghĩ rằng có thể đến được vùng sình lầy của mũi Cà Mau . Những người khác nữa thì tìm thuyền, tàu, ghe chài để ra khơi tìm hạm đội Mỹ hay của Việt Nam. Có một số toán này đi vòng qua các tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ, Vĩnh Long , Bến Tre hay Mỹ Tho để ra biển.

Tại Mỹ Tho, quân lính thuộc tiểu khu này buông súng xuống lúc 18 giờ.

Các đơn vị Hải Quân quốc gia bắn nhiều tràng súng rồi kéo nhau theo sông Cửu Long chạy ra biển. Binh sĩ Miền Nam kháng cự lại ở một số điểm tựa, ở Bộ Chỉ Huy Bình Định Nông Thôn. Ở đây một đại đội cán bộ bình định không chịu đầu hàng. Cửa ra vào được khóa chặt bằng 2 hàng rào kẽm gai. Theo ông Burchett thì lực lượng cách mạng phải dùng mẹo. Họ nghi trang với quân phục binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa để đến gần trại rồi hạ sát người lính gác để vào trại.

Cũng vào giờ này, trên đảo Côn Sơn, có 75 tù nhân nổi loạn. Từ thời Pháp, Côn Sơn và nhà tù ở đây đã là hiện thân của cả một lịch sử và một biểu tượng. Những phòng giam kiểu song sắt như chuồng cọp vẫn còn đó. Đại sứ Graham Martin đã nói rằng các phòng giam này cũng sạch sẽ. Các phòng giam được gọi là chuồng cọp này là những phòng ở dưới tầng hầm mà người kiểm soát đi lại ở trên. Không có nóc, chỉ có một tấm vỉ song sắt để người ta dở lên cho người tù xuống và để phát thức ăn nước uống cho tù nhân. Có rất nhiều người cộng sản đã đi qua Côn đảo. Hầu hết là tù chánh trị. Các cai tù đã bỏ đi hay đã được vô hiệu hóa. Chiều hôm đó, đài phát thanh Gải phóng loan báo là các tù nhân ở Côn đảo đã thành lập một Ủy Ban gồm 11 thành viên “dưới quyền lãnh đạo của đồng chí Lê Cầu”.

Đài phát thanh Gải phóng cũng tuyên bố là “27 tàu chiến của Hải Quân bù nhìn” đã bị khám xét ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam. Họ bị các đơn vị của Hải Quân Bắc Việt bao vây ở hải phận Đà Nẵng , nơi đây không còn có tàu chiến Hoa Kỳ nữa.

Sự thật là Hải Quân Bắc Việt không bao giờ có mặt trong vùng biển dù là hạm đội Hoa Kỳ đang có mặt hay không có mặt…..

Dọc theo tất cả bờ biển thuộc Miền Nam Việt Nam, có quá nhiều dân tỵ nạn đã dùng đủ loại tàu thuyền lớn nhỏ để “vượt biển”, đó là những người vượt biển đầu tiên! (nguyên tác: “boat people”)

Tại Sài Gòn, tòa đại sứ Pháp thảo một điện tín cho Chánh Phủ Pháp. Ông Mérillon giải thích là “buổi trưa ở đây rất nóng bức. Việt Cộng đã chế ngự hết các hệ thống phòng thủ cuối cùng”

Để mô tả cảnh các dơn vị Bắc Việt tảo thanh thành phố, đại sứ dùng danh từ “Việt Cộng” để xác nhận dù gì thì hành động tiến chiếm Sài Gòn cũng chỉ là một hư cấu về phía CPLTCHMN. Ông Mérillon viết tiếp:

_ “Bọn Việt Cộng vào Sài Gòn vào giữa trưa, nghĩa là đúng 2 giờ sau lời kêu gọi đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Thật là vô phước cho ông Dương Văn Minh vì tên ông cũng không được ghi chú như là một Tổng Thống ngay trong các công hàm chánh thức cũng vậy. Thật ra không thấy có đánh đấm một trận nào. Trở ngại duy nhất là những tay bắn tỉa lẻ loi, nhưng nhanh chóng bị triệt hạ…. Thường thường vì thiếu tin tức, các binh sĩ Dù và Biệt động Quân đang đánh nhau không chấp nhận tư cách của các công hàm ngoại giao… Về phía bên kia của khuôn viên tòa đại sứ Hoa Kỳ súng liên thanh vẫn không ngừng tác xạ.”

Có ít nhất một mục tiêu mà tòa đại sứ Pháp và Đại sứ Mérillon đã đạt được Ông Mérillon viết:

_ “người ta không có chứng kiến tại Sài Gòn những cảnh giết chóc não lòng như đã diễn ra ở Đà Nẵng. Trong vòng gần 48 tiếng đồng hồ, Sài Gòn đã biết được sự hỗn độn, một sự hỗn độn tương đối thôi, nếu người ta không muốn nói đến những pha cướp bóc…”.

Có trách nhiệm về an ninh, ông đại sứ lúc nào cũng phải nghĩ tới các công dân của mình:

_ “Tôi tin tưởng là có thể nói cộng đồng người Pháp của chúng ta không có bị thiệt hại gì….Hình như

họ còn nguyên vẹn.”

Ông Mérillon cầm điện thoại trực tiếp nối liền với tòa đại sứ Hoa Kỳ lên. Đường dây đã chết rồi.

Thượng úy Bắc Việt Trần bá Đoài đang ở Bộ Tư Lệnh Vùng 4 cộng sản , ở Quảng Bình khi ông nghe được ông Dương Văn Minh đã đầu hàng qua đài phát thanh. Thượng úy này thuộc thành phần tiểu đoàn 28 của đơn vị vận tải số 559. Ông chỉ huy một đoàn xe 70 chiếc chở đạn dược, cá khô và gạo. Như vậy là chiến tranh đã chấm dứt, sự thống nhất đã bắt đầu…

Cuộc chiến này đã quá dài.. .Ông Đoài đã vào bộ đội mười sáu năm nay. Ông từng mong muốn trở thành bác sĩ. Trước khi được chuyển sang ngành vận tải, ông thuộc lữ đoàn 305 Nhảy Dù và đã nhảy được 25 lần, do Trung quốc và Liên Xô huấn luyện. Lúc bấy giờ ông hết lòng phục vụ , để giải phóng và thống nhất đất nước . Đầu óc của ông bị nhét đầy biểu ngữ: “Việt Nam là đất nước của chúng ta”, “Người Việt Nam là một dân tộc thống nhất”, “Không có gì quí hơn Độc Lập, Tự Do”… Các khẩu hiệu này được gắn liền với ông ta như vết mực xâm trên tay ông ta vậy. Ông ta đã ngày đêm chạy trên đường số 1 , nối liền Hải Phòng đến Hà Nội , sau đó đi vào trong Nam. Ngồi trong buồng lái của chiếc Molotowa, ông dẫn đầu đoàn xe từ 50 đến 80 chiếc xe vận tải. Khi mà mọi việc đều tốt thì ông đi suốt 700 cây số trong hai ngày và một đêm. Nhiều khi một phần ba người của ông bị thương hay tử thương.

Đã từ lâu rồi, ông tự hỏi rồi chiến tranh sẽ đi về đâu? Vào tháng 12 năm 1974, cấp trên của ông đã nói là chiến tranh còn dài lắm, rằng người ta không thể giải phóng nhanh chóng cho cả nước Việt Nam được . Phải có những “viễn ảnh đúng đắn”, người ta không thể tấn công mạnh bạo vào Sài Gòn được , sẽ có nhiều tổn thất cho cả 2 bên. Sài Gòn là một hòn ngọc, Không thể phá hủy nó được bằng một cuộc tấn chiếm. Vào tháng giêng, thượng úy đã dự một buổi họp với 700 sĩ quan đủ mọi binh chủng. tại Hà Nội, gần Ba Đình. Anh ta đã sửng sờ. Người ta loan báo cho hội nghị là có một cơ may đã đến, cơ may này ngàn năm mới có một lần.

Cơ may đó đã nắm được. Chiến tranh đã chấm dứt….

Ở Hà Nội, dân chúng cũng như Lãnh đạo đảng đã nghe ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng qua đài phát thanh. Có nhiều cơ quan của chính phủ đã điện thoại đến cho ông Jean Thoraval, phóng viên của cơ quan truyền thông AFP, để có được bản văn chính xác, đầy đủ về lời tuyên bố của ông Minh. Người ta đang sửa soạn ăn lễ 1 tháng 5 . Đối với công đoàn lao động, đề tài của buỗi lễ Lao Động sẽ phải là: “viễn ảnh vô địch và sáng chói của cách mạng Việt Nam”. Ngày lễ Lao Động 1 tháng 5 đã trở thành ngày của chiến thắng.

15 giờ chiều:

Đến khoảng 15 giờ , giờ địa phương, người ta được biết chánh thức là thủ đô Sài Gòn của Miền Nam Việt Nam đã thất thủ. Mọi việc làm được tiếp tục nhưng sau đó được ngưng lại. Tất cả đều ra đường. Buổi chiều hôm đó là cả một niềm vui được nổ bùng. Nhiều người ngoại quốc cũng ăn mừng sự kiện to lớn này với số đông dân chúng Bắc Việt. Các nhân viên hợp tác xã và nhân viên ngoại giao người Cuba đi dạo với một dàn kèn ở phố hàng Lụa, trong cổ thành Hà Nội. Đại sứ Thụy Điển mở một cuộc tiếp tân, ăn mừng ngày sinh nhật của Hoàng Đế Thụy Điển, cũng là một buổi lễ quốc gia của nước này. Tất cả các tòa đại sứ của các nước Đông Âu đều treo cờ ăn mừng. Một viên chức của Bộ Ngoại Giao Bắc Việt trách tòa đại sứ Pháp là tại sao không làm như các tòa đại sứ khác. Ông Philippe Richer trả lời:

_ “Đúng theo phong tục, tôi chỉ treo cờ cho các ngày lễ quốc gia của nước tôi mà thôi.”

Tại trại tù Phong Quang, các tù hình sự cũng như tù chánh trị đều ngưng làm việc. Trời quá nóng bức. Cũng như mọi người tù khác, anh Nguyễn Ky đinh ninh rằng một ngày nào đó quân lực Miền Nam Việt Nam sẽ đến giải phóng cho họ. Ông không bao giờ tin là Ban Mê Thuột, rồi Đà Nẵng, rồi Huế đã bị thất thủ. Các loa truyền thanh của trại tù đã loan báo Sài Gòn đã thất thủ. Toàn là chuyện tuyên truyền ! Láo khoét ! Toàn là tin thất thiệt ! Người ta muốn làm cho tù nhân mất tinh thần, đập tan hết mọi hy vọng của người tù. Một binh sĩ của Miền Nam Việt Nam, một anh Biệt động Quân không thua gì các anh tù khác, cũng không chấp nhận “tin tức” này.

Còn nhà thơ Nguyễn chí Thiện trong trại này có phản ứng gì ? Người ta chỉ biết là ông tiếp tục nghiền ngẩm lại bài thơ mà ông đã sáng tác:

ĐAU ĐỚN LẮM

(xin xem nguyên tác của tác giả Todd Olivier ở dưới)

Đau đớn lắm, cái lầm to của thế kỷ Sử sách ngàn đời còn mãi khắc ghi! Mấy chục năm trời xương máu đổ đi Thử hỏi dân đen thu được những gì Ngoài một số từ lừa mị kẻ ngu si?Người “Công Nhân” trước gọi “Cu Li” “Người Lính” cũ, nay gọi là “Chiến Sĩ”

Song vẫn “Vác” vẫn “Khuân”, vẫn đói nghèo, vẫn bị Đẩy ra chiến trường, chết hoài, chết phí.

Cho một lũ Trung Ương lợn ĩ! Còn cuộc sống ngày xưa thì tắc tị Nay vạn lần thêm tắc tị, đen sì! Đau đớn lắm cái lầm to thế kỹ

Sử sách ngàn đời còn mãi khắc ghi!

1970

(nguyên văn dịch giả trích từ tập thơ: Tiếng Vọng Từ Đáy Vực” của nhà thơ Nguyễn chí Thiện)

(nguyên tác bằng tiếng Pháp của tác giả Olivier Todd)

Douloureuse, la grande erreur du siècle Dans mille ans

L’Histoire n’en finira pas d’en parler De multiple décennies de sang et de larmes

Qu’as obtenu le peuple?

– Rien qu’un vocabulaire leurre à idiots Douloureuse, la grande erreur du siècle Dans mille ans

L’Histoire n’en finira d’en parler “Coolie” promu “Travailleur” “Bidasse” promu “Combattant” Porteur ou débardeur

Ils restent sous la même faix À jamais famétiques

À jamais misérables

Toujours prêts aux sacrifices dur le champ de bataille

Tù binh Nguyễn Ky sáu tháng về sau mới công nhận là Sài Gòn đã trở thành “thành phố Hồ chí Minh”. Tin này được các tù binh Miền Nam xác nhận , trong đó có một trung tá, cùng làng với anh ta.

Tại Hoa Thạnh Đốn, các cơ quan trực thuộc đại sứ Bill Brouwn, người giám sát toán đặc nhiệm phụ trách về tất cả các vấn đề của những người tỵ nạn, đã cho gắn một tổng đài điện thoại để ai cũng có thể gọi được không mất tiền: số (800) 368- 1180 . Điện thoại reo liên tục không ngớt.

Tại Bộ Ngoại Giao, có một trung tâm đặc biệt được mở ra trong nhiều ngày qua. Các viên chức ngủ qua đêm trên các giường bố được cấp tốc dựng lên. Giống như các đồng nghiệp của mình, ông Douglas Pike rất bực mình, theo nghĩa hẹp của danh từ này. Tất cả việc này đã đi ra ngoài lý trí hết.

Tại Ngũ Giác Đài, các quân nhân hiện dịch đều im lặng hay đưa các nhà báo qua cho phát ngôn viên của Bộ Quốc Phòng tiếp, hay thường thì của Bộ Ngoại Giao. Hầu hết các sĩ quan nghĩ rằng những người có trách nhiệm quan trọng trong việc kết thúc chiến tranh là các nhà chánh trị , không phải các quân nhân . Các chánh trị gia thường thường hay gán trách nhiệm của sự đổ vỡ lại cho báo chí.

Sở báo chí của Nhà Trắng xác nhận là trong khi đợt trực thăng chót di tản những người Mỹ cuối cùng thì Tổng Thống Ford lại nói chuyện với các đại diện của những nhà nuôi trừu và gà lôi. Những con chó sói đã đặt cho họ rất nhiều vấn đề.

_“Đề tài này có vẻ như đã làm cho ông Tổng Thống được thư giãn rất nhiều”

các cộng sự viên của Tổng Thống đã nói như vậy khi thấy Tổng Thống đã trò chuyện với những nhà chăn nuôi đến gần 70 phút.

Tổng Thống Ford đã trao cho các nhà báo một bản văn vô thưởng vô phạt:

_ “Cuộc di tản đã chấm dứt, Hải Quân Hoa Kỳ và đại sứ Martin đã làm xong phận sự của họ, và rất hoàn hảo, trong những điền kiện thật khó khăn. “Tôi yêu cầu tất cả dân chúng Hoa Kỳ hãy siết chặt hàng ngũ, và tránh những lời đả kích về quá khứ….”

Qua đài truyền hình, ông Henry Kissinger họp báo trong văn phòng của tòa nhà Hành Pháp., ở cạnh Nhà Trắng. Trong 4 tháng sau cùng này và nhất là trong 48 giờ cuối cùng, bộ mặt chánh trị của ông về Việt Nam đã sụp đổ hoàn toàn. Ông nói:

_ “Cho tới chiều chúa nhật 27 tháng 4, tôi nghĩ là một giải pháp thương thuyết có khả năng cao. Nhưng đến một lúc nào đó, chiều chúa nhật, Bắc Việt rõ ràng đã thay đổi tín hiệu của họ. Lúc bấy giờ họ tìm một giải pháp quân sự nhanh chóng….Chúng ta đã thành công trong việc di tản 55.000 người Việt Nam”

Ông Tổng Trưởng Ngoại Giao cho thấy là Bắc Việt đã liên tiếp thay đổi vị trí của họ trên địa bàn ngoại giao:

_ “Những sự đòi hỏi của cộng sản cứ mỗi ngày mỗi leo thang hoàn toàn.

Thoạt tiên, theo cộng sản thì người ta không thể thương thuyết nếu ông Thiệu chưa ra đi. Sau đó họ lại đòi hỏi ông Hương cũng phải ra đi. Về sau thì ông Dương Văn Minh có vẻ như được họ nhận, nhưng cuối cùng ông Minh cũng bị từ chối nốt….

“Chi bộ tấn công ngoại giao” của Hà Nội làm việc rất đắc lực.”

Một nhà báo nêu câu hỏi với ông Kissinger:

_ “Ông có chủ trương về một sự giúp đở của Hoa Kỳ trong vấn đề tái thiết nước Việt Nam hay không?

Ông Kissinger không thích câu hỏi này nên ông trả lời vòng vo.

_ Còn về Miền Nam Việt Nam?

_ Còn phải xem lại coi chính phủ mới đó thuộc loại nào? nếu thực tế sẽ có một quốc gia Việt Nam ở Miền Nam”.

Cũng trong ngày 30 tháng 4 này, ông Kissinger viết thư cho bà Lionnaes, thơ ký của Giải Nobel về Hòa Bình. Ông mong muốn được trả lại cả giải thưởng và số tiền. Nhưng Ủy Ban ở Na Uy từ khước. Những biến cố đã xảy ra “không làm giảm sự quý trọng của ông chút nào hết, về những cố gắng thành khẩn mà ông Kissinger đã dàn xếp để tái lập một cuộc ngừng bắn hồi năm1973”

Đối với ông Kissinger, với tư cách là con người, và một người của chánh quyền, sự kiện Sài Gòn bị thất thủ đã thể hiện một sự thất bại thật to lớn, thật rõ ràng và thật là nặng nề cho sự nghiệp của ông ta.

Từ tháng 5 năm 1968, CPLTCHMN đã có một biệt thự ở vùng Verrière-le-Buisson, gần Ba Lê. Nơi đây, bà Nguyễn thị Bình, trong cương vị của những người kháng chiến, đã gây được xúc cảm hay quyến rũ các nhà báo thuộc giới truyền thông quốc tế. Với tư cách là Bộ Trưởng Ngoại Giao của CPLTCHMN, bà thường tiếp báo chí. Một người Pháp đã nêu lên vấn đề thanh toán ở Miền Nam Việt Nam. Bà Bình đã trả lời:

_ “Không có chuyện đó. Chúng tôi biết là ở Pháp và trong các quốc gia Âu Châu khác, đã có những chuyện thanh toán các cộng sự viên của Đức Quốc xã . Đó là phản ứng tự nhiên, của con người . Kẻ địch của chúng tôi đã phạm nhiều tội ác đẫm máu. Họ đã tra tấn, giết chóc và đã cướp gia đình của các nạn nhân của họ. Những người có nợ máu cần thanh toán với họ sẽ là những người cách mạng . Chúng tôi đã dạy dân tộc chúng tôi là không nên trả thù..”

Đối với những người còn hoài nghi, bà nói tiếp:

_ “Trong 30 năm qua, chúng tôi đã chịu nhiều hy sinh hơn, nếu đem so sánh thì chuyện không trả thù chỉ là một chuyện nhỏ thôi, nhất là chuyên hòa hợp quốc gia mới là có giá trị. Chúng tôi gạch bỏ quá khứ.”

Anh Trần văn Bá, với các bạn trong Hội Sinh viên Việt Namở Ba Lê, đến tòa đại sứ Việt Nam Cộng Hòa cũ ở đường Villiers

Đại sứ Nguyễn duy Quang sắp từ chúc ra đi. anh Bá nói:

_ Chúng tôi tiếp tục cuộc chiến đấu với các bạn sinh viên. Ông hãy giúp chúng tôi.

Đại sứ trao cho anh một ngân phiếu- của một chương mục không còn được tiếp tế- Anh Bá biết là tòa đại sứ sớm muộn gì cũng phải được giao lại cho chánh quyền Hà Nội. Anh đi khắp nơi trong tòa đại sứ với các sinh viên, lấy hết hồ sơ lưu trữ ra đốt hết. Anh nói là phải tranh đấu, không chấp nhận sự thất trận.

Đó là cử chỉ đầu tiên của một người tranh đấu. Mẹ anh còn ở Sài Gòn, em của anh là Trần văn Tòng, khuyên anh em nên cẩn thận, ở Ba Lê này:

_ Bọn cộng sản sẽ hành hạ bà mẹ chúng ta.

Từ ngày đó trở đi, giữa căn phòng rách nát ở Bourg-la-Reine là nơi anh đang ở, và trụ sở của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam ở đường Monge tại Ba Lê, anh Bá bắt liên lạc, viết thư, hy vọng, suy nghĩ, rồi thất vọng…

Anh Bá muốn thúc đẩy người Việt Nam ở Pháp và tất cả các cộng đồng trên thế giới chống lại cộng sản . Một anh bạn học cũ của anh ở trường trung học Yersin đã mạnh mẽ khuyên anh:

_ “Làm sao anh có thể chống lại cả một bộ máy của một chế độ quân sự – công an đã có 50 năm kinh nghiệm?

Người anh em của Bá cải ráo nước miếng:

_ Có phải đây là thời điểm để chống như vậy hay sao? Coi như Anh sẽ lội qua cả một đại dương đó!

Bá cười:

_ “Đó không phải là con đường khó đi. Lúc Hồ, Giáp và Đồng bắt đầu tranh đấu, họ chỉ có bốn năm người. Lúc đó đảng cộng sản còn quá yếu. Dân tộc đã khuyến khích họ.

Anh Bá không chấp nhận mất Sài Gòn. Anh không muốn tương lai của anh bị tước đoạt. Nếu người Việt Nam không tự lo cho mình thì ai sẽ giúp cho họ đây  Ở hải ngoại trong hiện tại, cũng như ở Việt Nam trong quá khứ, người Việt Nam sống chia rẽ. Thường thì họ không chịu đoàn kết với nhau. Tranh đấu là một chuyện hay đó, nhưng làm sao đây? Phải cầm súng trở lại chăng? và bắt dân tộc Việt Nam phải chịu đau khổ nữa hay sao? anh Bá tự hỏi như vậy…..

Tháng tư nghiệt ngã

Olivier Todd

Dương Hiếu Nghĩa dịch

Post by Sơn râu 24 Apr 2024

Chương 21 – Ngày 29/4: Hãy Tắt Hết Đèn

Ngày 29 tháng 4 1975

Vào lúc 4 giờ chiều, pháo binh Bắc Việt càng bắn càng chính xác, tác xạ tập trung phần lớn vào các đường bay của phi trường Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu Miền Nam Việt Nam và Bộ Tư Lệnh Hải Quân . Ở phi trường thì các kho xăng kho đạn, xe vận tải, xe nhỏ quân sự hay dân sự bị trúng đạn đang bốc cháy khắp nơi. Bộ binh Bắc Việt không thể ở quá xa vì các quả đạn bách kích pháo và những hỏa tiễn phát nổ với ngọn lửa còn đỏ, và xanh lục. Có hai Thủy Quân Lục Chiến là Charlie McMahon và Darwin Judge bị tử thương ở vòng đai phòng thủ. Tướng Homer Smith và những sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ bị hất tung lên khỏi giường ngủ. Có một số người trong số 1500 người Việt tỵ nạn đang ở trong nhà thể thao, đã bị thương. Một chiếc vận tải cơ C.130 bị trúng đạn khi vừa đáp xuống sân bay.

Trời sáng dần… Các phi công của những phi cơ F.5 và A.37 cuối cùng cất cánh lên được và bay đi luôn không trở lại. Các phi công này giống như những phi công còn muốn chiến đấu đều không điều động được phi cơ vì vướng hằng trăm binh sĩ Miền Nam đang nằm rải rác khắp các đường bay. Nhân viên của trạm kiểm soát không lưu không thể làm việc được. Một phi công của chiếc AC.119 đặc biệt bướng bỉnh vì không đúng nhiệm vụ mà cứ cất cánh bay lên đánh vào các vị trí cộng sản mà anh thấy rõ chung quanh Sài Gòn, trở lại lấy thêm bom đạn, bay lên nữa, và đến 6 giờ 46 thì anh bị một hỏa tiễn SA.7 bắn rơi.

Đại tá Không Quân Hoa Kỳ John Madison, một trong những sĩ quan trong Ban Giám Sát Hiệp Định Ba Lê đã gởi một diện tín cho phái đoàn quân sự cộng sản ở trại Davis đang ẩn núp dưới hầm trú ẩn. Đại tá phản kháng về cuộc bắn phá phi trường, mà ông mô tả như là một vi phạm đến quyền miễn trừ ngoại giao của các thành viên Ủy Hội Quốc Tế và các phái đoàn quân sự 2 Bên và 4 Bên. Các đại diện của hai phái đoàn Bắc Việt và CPLTCHMN ở trại Davis đã trả lời mỉa mai và ngọt ngào rằng họ không biết chuyện gì đã xảy ra. Ngoài ra, họ đã thấy không cần phải báo trước cho hai phái đoàn Ba Lan và Hung gia Lợi ở Tân Sơn Nhất nên những người này phải hỏi tin tức với người Mỹ. Những người Hung gia Lợi đã liên lạc với ông Polgar vốn đã đến phòng hành quân của tòa đại sứ trong đêm. Tại đây các thành viên của CIA rất lo sợ cho số phận của các cộng sự viên người Việt Nam của mình.

Tác xạ của đại pháo 30 ly được các quan sát viên Bắc Việt điều chỉnh, đều rơi vào khoảng 4 cây số ở hướng Bắc của phi trường. Đối với tướng Văn Tiến Dũng và ông Lê đức Thọ, tình hình rất là tế nhị. Một mặt, phải để cho người Mỹ ra đi, do đó không nên làm trở ngại cho các cuộc hành quân di tản. Mặt khác, cả hai người cộng sản có trách nhiệm , theo chỉ thị của Hà Nội, đều muốn giữ áp lực để người Mỹ ở Sài Gòn cũng như ở Hoa Thạnh Đốn đều phải hiểu rằng “không bao giờ có chuyện thương thuyết”. Bộ đội Bắc Việt nhận được lệnh không được đụng đến phi cơ và trực thăng của Hoa Kỳ, trừ trường hợp bị họ tấn công. Ngoại lệ có một vài trường hợp, còn thì bộ đội thi hành lệnh đúng đắn. Tướng Dũng có thể luôn luôn sợ một sự can thiệp của Không Lực Mỹ từ Thái Lan. Trong giai đoạn này, nếu có nhiều người Mỹ bị thương hay tử thương thì có thể bắt buộc Ngũ Giác Đài phải can thiệp ồ ạt. Các nhà lãnh đạo Bắc Việt không ý thức được là quyền hành quân sự ở Hoa Kỳ phải tùy thuộc vào quyền uy dân sự đến mức độ nào. Song song đó, người Mỹ cứ mãi đi tìm hiểu những phe phái hay rạn nứt trong ban lãnh đạo Hà Nội mà vẫn không bao giờ thấy được sự đồng tâm nhất trí giữa hai cánh quân sự và chánh trị trong thủ đô Bắc Việt.

Tướng Nguyễn cao Kỳ lái chiếc trực thăng của ông ta lên, bay chung quanh Sài Gòn, ông thấy một pháo đội Bắc Việt đang tác xạ, mỗi phút một phát. Ông bắt liên lạc được với một đội Skyriders đang bay từ Cần Thơ về:

_ “Đây Nguyễn cao Kỳ đây, phải tiêu diệt các pháo đội địch này.

_ Nhận rõ, nhưng tôi chỉ còn có một quả bom, sĩ quan chỉ huy trả lời. Đúng là giờ đã điểm, đối với những chiến trận danh dự không đáng kể!

5 giờ 45 giờ Sài Gòn.

Ông Martin đến tòa đại sứ. Lệnh cuối cùng của Tư Lệnh Không Quân Miền Nam Việt Nam: Tất cả các phi cơ còn trong tình trạng khiển dụng đều phải rời khỏi lãnh thổ Miền Nam Việt Nam.

6 giờ, giờ Sài Gòn (5 giờ, giờ Hà Nội):

Tại Bộ Tư Lệnh ở Bến Cát, cách thủ đô Sài Gòn 40 cây số về hướng Bắc, tướng Dũng nhận được một công điện của Chánh trị Bộ, khen ngợi bộ đội của ông ta về sự tiến quân trong những ngày cuối cùng vừa qua. Chánh trị Bộ ra lệnh: tiến nhanh để “chiếm lấy sào huyệt cuối cùng của địch”

Có rất nhiều công điện và điện thoại tiếp nối nhau giữa Nhà Trắng, Bộ Ngoại Giao, Ngũ Giác Đài (Bộ Quốc Phòng) ở Hoa Thạnh Đốn, Bộ Tư Lệnh Á Châu Thái bình Dương ở Honolulu, tòa đại sứ và các cơ quan trực thuộc của Phòng Tùy Viên Quân Lực ở Sài Gòn . Các sự việc còn đi nhanh hơn là công điện. Một bức điện tín của Bộ Ngoại Giao xác định rõ:

“Kiểm thính truyền tin được giữa các cấp chỉ huy Bắc Việt nói rõ tấn công ba mặt vào Sài Gòn, ngày giờ không rõ. Với khả năng chủ động của các đơn vị, nếu có cơ may xảy đến.”

Các tin tức này đã được Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ phối kiểm. Một xác định khác: Bắc Việt dự trù phải chiếm Sài Gòn cho ngày sinh nhật của Hồ chí Minh, 19 tháng 5 “với khả năng bắt đầu tấn công vào những ngày cuối của tháng 4.” Hôm qua, kiểm thính cũng xác định là sư đoàn 7 Bắc Việt có nhiệm vụ phải chiếm lấy đài truyền hình Sài Gòn.

7 giờ, giờ Sài Gòn (19 giờ, giờ Hoa Thạnh Đốn):

Hội đồng An Ninh Quốc gia Hoa Kỳ nhóm họp, dưới quyền chủ tọa của Tổng Thống Ford, với sự hiện diện của ông Henry Kissinger (Ngoại Giao), ông Janes Schlesinger (Quốc Phòng) và các phụ tá của họ, Chủ Tịch các Tham Mưu liên Quân, tướng George Browne, và ông William Colby, Giám đốc CIA. Ông Colby xác nhận là trong 3 ngày nay không có một hy vọng nào để quân bình lại tình hình quân sự. Cuối cùng giờ này mọi người đều đồng ý. Nhưng mà sẽ ra lệnh gì cho Sài Gòn đây? Ông Kissinger lưỡng lự. Theo ông ta thì trong giờ phút này là phải tiếp tục di tản người Mỹ và người Việt Nambằng phi cơ. Ông Schlesinger và tướng Browne ước tính là phải cấp bách di tản bằng trực thăng. Tướng Browne đề nghị dùng phi cơ săn giặc hộ tống các vận tải cơ C.130. Ông Kissinger chống lại việc này vì cho là Bắc Việt có thể hiểu lầm.

Và còn nhân viên của tòa đại sứ thì sao? Phải đưa họ đi với tốc độ 150 người trong ngày, trong đó có 1/3 nhân viên và viên chức của cơ quan CIA. Ông Frank Snepp biết rằng ông ta phải là người đi sau cùng.

Từ Honolulu, Đô Đốc Noel Gayler vốn biết rõ tính tự ái của ông Martin nên đã có điện tín như sau:

–“Tôi đề nghị là ông nên quyết định di tản bây giờ tất cả nhân viên người Mỹ, trừ các thành viên nào mà ông muốn giữ lại thường trực tại tòa đại sứ với ông …” .

Tướng Homer Smith thì được phép của Đô Đốc Gayler đi theo các phi cơ của người Việt Namvà người Mỹ. Bằng mọi giá, ông không muốn các tướng lãnh hay sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ bị rơi vào tay của cộng sản . Ông ra lệnh cho họ phải rời ngay Sài Gòn. Ông nhấn mạnh là tình hình quân sự rất là nghiêm trọng. Ông đã đọc được các điện tín của ông Polgar liên quan đến khả năng của một cuộc dàn xếp chánh trị: “Các tin tức mà tôi đã có hoàn toàn không phù hợp với quan điểm sảng khoái của ông Polgar”

Về ông Polgar, Đô Đốc dùng một từ ngữ cũ kỹ và khinh khỉnh hết sức thanh lịch:“Tôi có cảm tưởng là ông ta không thực tế”, ông ta không thực sự ở trong sự kiện, hoàn toàn không phải là người trong cuộc. Theo tin tức của Đô Đốc thì các anh bộ đội Bắc Việt đã ở cách phi trường Tân Sơn Nhất không đến 2 cây số. Họ xử dụng hỏa tiễn của họ rất có hiệu quả. “Họ đã bắn hạ 3 chiếc phi cơ trong hai giờ sau cùng.”

Pháo binh Bắc Việt tiếp tục bắn vào vùng phi trường.

Một sứ giả của Tổng Thống Dương Văn Minh trao một bức thơ cho tòa đại sứ Hoa Kỳ:

_ “Thưa ông Đại sứ thân mến,

Tôi kính cẩn yêu cầu ông ra lệnh cho các nhân viên văn phòng của tướng Smith phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ bắt đầu từ ngày 29 tháng 4 1975 để cho vấn đề hòa bình ở Việt Nam có thể được giải quyết nhanh chóng.”

Ông Martin đang đau vì những dị chứng viêm phế quản. Với một giọng khàn khàn ông đọc cho thơ ký một bức công hàm trả lời:

_ “Thưa Tổng Thống thân mến,

Tôi đã nhận được thơ của Ngài và xin báo cho Ngài rõ là tôi đã cho lệnh theo đúng công hàm vừa qua của Ngài”

Các tin tức từ Tân Sơn Nhất cho biết là đâu đó đã có một vài quân nhân Miền Nam Việt Nambắn bừa bãi vào người Mỹ. Do đó ông Martin cho viết thêm:

_ “Tôi tin là Ngài đã cho lệnh quân lực của Chánh Phủ bằng mọi cách sẽ hợp tác để cho sự ra đi của nhân viên của phòng Tùy Viên quân sự được dễ dàng, và hoàn toàn được an ninh.

Tôi cũng hy vọng là Ngài sẽ can thiệp với “phía bên kia” để giúp cho vị Tùy Viên Quân sự và cho nhân viên của ông ta được ra đi trong trật tự và an toàn tuyệt đối.

Kính chúc Ngài,

Graham Martin, Đại sứ Hoa Kỳ

Ngay sau khi được biết tin này, có nhiều người xác nhận là việc này là một cuộc dàn xếp lòng vòng giữa hai ông Dương Văn Minh và Martin: tức là do tòa đại sứ yêu cầu ông Minh.

Ông Marton ra lệnh cho tướng Homer Smith có những biện pháp để di tản tất cả nhân viên của ông ta. Đây là lần đầu tiên mà tướng Smith nhận một lệnh tương tự từ hai cấp chỉ huy thuộc hai hệ thống quân giai của mình, Đại sứ Martin và Đô Đốc Gayler. Như vậy là chỉ có Thủy Quân Lục Chiến còn ở phi trường với nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho cuộc hành quân di tản mà thôi. Ông Martin khẩn cầu ông Kissinger cho ông được ở lại Sài Gòn “ít nhất trong một hai ngày để cho sự ra đi của chúng ta có một phẩm cách nào đó. “Ông đại sứ giữ lại hai trực thăng của Hàng không Air América để có thể đi nhanh, khi cần thiết. Sau đó tòa đại sứ Pháp sẽ là người đại diện cho quyền lợi của Hoa Kỳ. Ông Martin thích có được một sự “chuẩn y nhanh chóng”.

Trong yêu cầu của ông Dương Văn Minh, ông Martin đã thấy được một lợi thế chánh trị- ngoại giao: người ta loan báo sự triệt thoái của người Mỹ  “theo thỉnh cầu của dân chúng Miền Nam Việt Nam” Do vậy ông tin rằng, cuộc hành quân di tản sẽ không tạo ra một sự hoảng loạn.

Ông Kissinger nhờ phụ tá đặc biệt của Bộ Ngoại giao, ông Lawrence Eigleburger, nghiên cứu tình hình. Ông này thảo ra một báo cáo không có nhặp nhằng. Nếu người ta để nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ ở lại Sài Gòn thì dù muốn dù không cũng có vẻ như là chúng ta nhìn nhận Chánh Phủ tương lai ở đó. Và vì thế ông Kissinger quyết định ngay: đóng cửa tòa đại sứ.

8 giờ 30, giờ Sài Gòn:

Ông Martin họp tất cả các cộng sự viên chính lại, trong đó có ông Wolfgang Lehmann, Thomas Polgar, Alan Carter, và đại tá George Jacobson, một phụ tá của tòa đại sứ.

Ông Polgar nghĩ rằng trên kế hoạch chánh trị chưa có gì mất mát hết. Ông nói với ông Snepp là cuộc dội bom ở phi trường là một “chỉ dấu quan trọng” thuận lợi. Một vài viên chức của cơ quan CIA cũng như ông Snepp đều nghĩ rằng “một chỉ dấu vừa quan trọng vừa có ý nghĩa là một viên đạn bắn vào đầu”

Người ta xem xét tình hình nhất là trên phương diện quân sự . Hôm qua, người ta dư trù là ngày hôm nay phải di tản được 10 ngàn người với trên 50 chuyến bay của vận tải cơ C.130. Làm sao thực hiện đây?

Pháo binh Bắc Việt đã giảm tác xạ trên phi trường. Người ta thấy có thể tiếp tục các chuyến bay được. Các viên chức Hoa Kỳ đã khám phá ra là người ta còn khiển dụng được một số xà lan có máy đang đậu ở bến cảng Sài Gòn, nhất là ở Tân Cảng.

Từ Tân Sơn Nhất, ông Homer Smith cho biết là bắt đầu từ giờ này các phi đạo không còn xử dụng được nữa cho các loại phi cơ cánh quạt, hay phản lực. Do đó ông ta đã cho nhiều đoàn xe buýt và trực thăng đi gom người Mỹ đến phi trường và tập trung người tỵ nạn Việt Nam ở nhiều điểm khác nhau. Ông Martin không chấp nhận những lời giải thích của người Tùy viên quân sự của mình. Các anh quân nhân hiện dịch này lúc nào cũng bi quan! Đâu có phải đây là lần đầu tiên mà người ta đáp xuống hay cất cánh lên dưới lằng đạn của pháo binh hay của bách kích pháo? Do đó ông Martin quyết tâm đi xem lại các đường bay. Ông xin một chiếc trực thăng của CIA. Không có chiếc nào khiển dụng được cả, vì vào giờ này tất cả trực thăng của Air America đều bận chuyên chở nhân viên CIA từ Cần Thơ đến các chiến hạm đang bỏ neo ngoài biển. Tại Tân Sơn Nhất các trực thăng không dự vào cuộc di tản trong thành phố đều bị trúng đạn pháo của Bắc Việt. Ông Polgar thú thật:

_ Chúng tôi không còn chiếc trực thăng nào, thưa Đại sứ.

Ông Martin lạnh lùng nhìn ông Polgar:

_ “Vậy là tôi sẽ đi ra phi trường bằng đường bộ. Nó có thể cho tôi thở được một ít không khí của thành phố. Nhờ gọi giùm tài xế và chiếc xe của tôi.

Đại tá Jacobson can thiệp vào:

_ “Thưa Đại sứ, rất là nguy hiểm. Theo một vài nguồn tin thì có vài đơn vị cộng sản đã đột nhập được vào Sài Gòn.

Chiếc xe Chevrolet (có chắn đạn) màu đen của Đại sứ đã sẵn sàng. Ngay như những người không thích ông Martin, những người đã biết ông là người có trách nhiệm đối với những người trể nải trong di chuyển, cũng phải tự nhủ: ông già này ngon thật!”

Chiếc Chevrolet chạy đi, không có mang cờ hiệu, có 2 chiếc xe hộ tống chở đầy Thủy Quân Lục Chiến súng cầm tay sẵn sàng nhả đạn. Xe phải ngừng lại ở bên ngoài Tân Sơn Nhất . Một ông đại sứ Hoa Kỳ mà cũng phải chờ đợi!. Các sĩ quan và hạ sĩ quan của Miền Nam xin lệnh thượng cấp bằng máy truyền tin cầm tay… Đoàn xe chạy qua.

Tưóng Trần văn Minh, Tư Lệnh Không Quân và một bộ phận Tham Mưu Không Quân Miền Nam Việt Namđang ở trong một căn nhà gạch. Gần 30 sĩ quan chạy đến tướng Homer Smith, súng lục cầm tay, yêu cầu được di tản. Trung tá Richard Mitchell, phó trưởng phòng Tùy viên quân lực đã giải giới họ một cách dễ dàng vì họ đã biết trung tá này từ lâu. Ông ta đã cho di tản gia đình của họ trước đây cả mấy tuần rồi.

Ở Honolulu, Đô Đốc Gayler sốt ruột, điện thoại về Hoa Thạnh Đốn.

_ “Sao đây? các phản lực tiềm kích hộ tống đâu? Có gởi tới hay không? Tướng Browne Chủ Tịch các ban Tham Mưu trả lời ngay:

_ Không có.

9 giờ 30, giờ Sài Gòn:

Một nhóm sĩ quan thuộc cơ quan tình báo Việt Nam trong đó có đại tá William le Gro và đại tá Lê văn Hưởng, đã làm một bản tổng kết tình hình cho ông Martin. Phi trường ngổn ngang đầy xác phi cơ và xe tải. Một nhóm binh sĩ Miền Nam đang làm lộn xộn trên đó. Ông Martin nói với đại tá Hưởng:

_ “Ông hãy điện thoại về Bộ Tổng Tham Mưu. Họ phải có biện pháp cần thiết để vãn hồi trật tự cho phi trường.

Tại Bộ Tổng Tham Mưu lại không có ai trả lời. Ông Eric Von Marbod xuất hiện, mặc bộ đồ bay, súng liên thanh trên vai, một quân phục không bình thường cho một ông phụ tá của Tổng Trưởng Quốc Phòng . Ông Martin hỏi:

_ “Eric, anh có nhiều bạn bè ở Bộ Tư Lệnh Không Đoàn số 7 ở Thái Lan phải không? Anh có thể xin cho vợ tôi một chiếc phi cơ hay không?

Ông Eric nổi giận:

_ “Không còn có vấn đề phi cơ nữa đâu. Vã lại, nếu bây giờ mà phi cơ có đáp xuống được thì tất cả người Việt Nam trên phi trường sẽ ùa lại ngay.

Ông Martin đi vào văn phòng của tướng Smith. Dùng chiếc điện thoại đặc biệt, ông gọi Nhà Trắng, nói chuyện với ông Kissinger và với tướng Brent Scowcroft. Sau đó ông trở lại nói với tướng Smith:

_ “Hoa Thạnh Đốn đã đồng ý. Nếu chúng ta có thể vãn hồi trật tự ở phi trường và giải tỏa được các phi đạo, thì chúng ta tiếp tục cho di tản bằng phi cơ. Còn nếu không được thì cứ mặc kệ. Bây giờ, anh phải biết là mọi người ở Ngũ Giác Đài, ông Schlesinger, các Tham Mưu Trưởng và Bộ Tổng Tư Lệnh Lực lượng Á Châu Thái bình Dương đều sắp đòi hỏi chúng ta phải cho đi nhanh chóng những người Mỹ và bỏ lại những người Việt Nam. Chúng ta có nhiều người Việt Nam có độ nguy cơ khá cao, hằng ngàn ở đây, chúng ta phải di tản họ tối đa, càng nhiều càng tốt..

Ngoài thành phố, các cuộc “bốc đi” bằng trực thăng không được trôi chảy lắm vì trực thăng phải tìm các địa điểm tập trung ở Sài Gòn. Các trực thăng lại không hoàn toàn sẵn sàng. Có 4 chiếc được phái cho lực lượng Dù Việt Nam. Còn lại 16 chiếc để làm con thoi thì bị trở ngại, vì các bãi đáp trên phi trường bị trúng bom đạn. Các xe buýt cũng bị trở ngại. Có nhiều chiếc không có tài xế, phải nằm bất khiển dụng tại ga ra của tòa đại sứ. Các chiếc khác thì di chuyển chậm trong thành phố để tìm các điểm tập trung.

Trên sân bay rộng lớn, cảnh sát và quân nhân Việt Nam nhìn vào sự hoạt động lăng xăng của trực thăng và các xe buýt vì tính tò mò hơn là cà khịa. Có một toán quân nhân đang sắp sửa lo phòng thủ phi trường. Viên hạ sĩ quan Lê văn Thường, 24 tuổi, da ngâm đen, thợ sửa chữa truyền tin từ 3 năm nay, đã không rời khòi phi trường được từ ngày 1 tháng 4 đến bây giờ. Các sĩ quan của anh đã cho biết là anh ta sắp phải chiến đấu đến nơi. Người ta trao cho anh một khẩu súng lục 45 ly, và sau đó một súng trường M.16 và cuối cùng là một vũ khí chống chiến xa M.72. Các sĩ quan giải thích cho binh sĩ của họ là vòng đai phòng thủ đã được lực lượng Dù bố trí chung quanh phi trường. Hạ sĩ quan Thường chỉ canh gác thôi.

Ở tòa đại sứ Hoa Kỳ, các nhà ngoại giao và các nhân viên lo đốt hồ sơ sau khi đã cho vào máy nghiền, phá hủy các máy đánh chữ, các máy thu thanh,, các máy thu và phát thanh. Cơ quan CIA có những hồ sơ lưu trữ trong văn phòng của ông Snepp, trong phòng kiểm thính truyền tin, và trong một căn nhà tiền chế ở ngoài. Không có một người nào nghĩ tới phải có bản thứ hai cho những hồ sơ này, trong những nơi làm việc của sở tình báo Việt Nam, hay ở Bộ Tư Lệnh Cảnh sát Quốc gia.

Ông Snepp tiếp tục tìm kiếm tin tức mới đến và làm một bản phân tích. Một sự thật hiển nhiên: cộng sản có ý định phải chiếm Sài Gòn, và chiếm nhanh. Trong các sân của tòa đại sứ, có nhiều người Việt Nam đi lang thang quanh hồ tắm, thành từng nhóm. Trong số này có nhiều nhân vật có tiếng tăm, nhưng cũng có gia đình của họ, và một số gia nhân như tài xế, đầu bếp, vú em, và giữ trẻ…

Ông Martin đã ra lệnh cho tất cả các chủ nhiệm phòng sở phải trở về tòa đại sứ. Ông Alan Carter không muốn hay không dám trở lại sở Thông Tin Hoa Kỳ. Ở đó, các nhân viên người Việt của ông đang chờ đợi các danh sách di tản mà chúng vẫn không thấy tới. Bây giờ thì những người Việt đó không còn thì giờ để đi bộ xuống bến tàu, nơi có những chiếc xà-lan đang tách bến, mà còn nhiều chỗ trống. Một không khí vô trật tự và quá tự do lạ lùng, bất lực và hèn nhát bao trùm khu này. Đây là sự hoảng loạn mà tòa đại sứ từng quá lo sợ trong mấy tuần nay.

Ông Martin có đường dây điện thoại trực tiếp với đồng nghiệp người Pháp của mình hoặc qua bức tường ngăn cách giữa hai tòa đại sứ. Ông gặp ông Mérillon. Ông này đang tiếp chuyện với ông Dương Văn Minh. Ông Minh có đem tin gì tốt đến không đó?

_ “Không có gì mới cả, ông Mérillon nói. Ông Minh đã thăm dò CPLTCHMN nhưng họ chưa có trả lời.

Ông Martin hỏi ông Mérillon xem ông ta, trong cương vị đại sứ Hoa Kỳ , có thể đến gặp người của CPLTCHMN được không?

_ Để tôi xem lại coi.

Ông Martin định cho ông Mérillon hay gởi cho ông này một món quà: một ngôi miếu bằng sành của Tàu. nhưng hai người hình như không hiểu nhau lắm.

  1. giờ, giờ Sài Gòn:

Đồng mỹ kim lên giá từ 4500 đồng đến 5000 đồng trong vòng 2 tiếng đồng hồ. Dân chúng ở thủ đô Sài Gòn đã nghe được ông Thủ Tướng Vũ văn Mẫu lên tiếng đòi hỏi tất cả những người Mỹ phải ra đi, như ông Dương Văn Minh đã yêu cầu.

Sự hiện diện của Đại sứ Hoa Kỳ ngoài phi trường đã được báo cáo . Người ta tưởng rằng ông đã ra đi. Đám đông người chung quanh tòa đại sứ càng ngày càng đông thêm lên.

10 giờ 40:

Từ phi trường tướng Homer Smith điện thoại cho Đô Đốc Gayler ở Honolulu:

_ “Phi cơ không còn xử dụng các phi đạo ở phi trường được nữa.

_ “Việc này tôi đã tin chắc như vậy từ lâu rồi, Tôi sẽ gọi các trưởng ban Tham Mưu ở Ngũ Giác Đài để nói cho họ biết là phải qua “khả năng 4” Đô Đốc Gayler trả lời.

Khả năng 4, đó là kế hoạch di tản bằng trực thăng.

Một cuộc bàn cãi sôi nổi, phi lý và quá nghi thức đã diễn ra trên đường dây điện thoại trong Sài Gòn cũng như ở Thái bình Dương và Bắc Mỹ. Rất lễ độ, tướng Homer Smith cho ông Martin biết là mình được khuyên nên áp dụng “khả năng 4”. Bây giờ ông đại sứ mới chịu tin là khó tránh được vì sự mất trật tự sẽ ngăn cản mọi công tác bốc người đúng phương pháp.

_ “Không phải Chủ Tịch các Ủy Ban Tham Mưu quyết định về “Khả năng 4”, ông Martin xác nhận.

10 giờ 48, giờ Sài Gòn: (22 giờ 51 , giờ Hoa Thạnh Đốn:

Lệnh phát ra từ ông Kissinger: “thi hành kế hoạch Frequent Wind lúc 11 giờ 51”

Ngoài khơi Việt Nam, trên chiến hạm Blue Ridge, đề đốc Donald Whitemire, chỉ huy trưởng “lực lượng đặc nhiệm 76” cũng có nhiều vấn đề. Người ta có cả thảy là 85 chiếc trực thăng. Người ta phải tiến hành các cuộc kiểm tra thường lệ và vì các trực thăng không cùng ở trên một chiến hạm, nên người ta phải đưa Thủy Quân Lục Chiến qua trực thăng hay đưa trực thăng qua cho Thủy Quân Lục Chiến. Rồi phải phối hợp giờ cất cánh cho trực thăng và giờ cất cánh của các phi cơ tiềm kích hộ tống từ Thái Lan cho được đồng bộ.

Lúc ông Tổng Trưởng Ngoại giao ra lệnh bước sang kế hoạch của “Khả Năng Bốn” vào hồi 11 giờ 51, thì ông nghĩ đó là giờ Sài Gòn. Các vị chỉ huy quân sự khác nhau, Bộ Tư Lệnh Thái bình Dương, Bộ Tư Lệnh của đô đốc Whitmire, của Không Lực ở Thái Lan, của Tùy viên Quân sự ở Tân Sơn Nhất , của tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn ..v.v.. đều tự hỏi đó là giờ nào: giờ của Hoa Thạnh Đốn theo kinh tuyến Greenwich hay giờ Sài Gòn? Các câu hỏi, các lệnh, rồi phản lệnh, chạy suốt trên điện thoại, trên điện báo và trên hệ thống truyền tin các đài phát tin.

11 giờ 30, giờ Sài Gòn:

Đài phát thanh Hoa Kỳ như đã dự trù, chơi liên tục bản nhạc “Tôi đang mơ về một Giáng Sinh trắng”

Giám đốc đài truyền hình Việt Nam, đại tá Hòa, thấy tất cả các nhân viên người Mỹ của mình ra đi cùng với các chỉ huy nhiệm sở người Việt. Đại tá thì quyết định ở lại tại chỗ. Có một đại đội Dù đóng chung quanh đài truyền hình.

11 giờ 30:

Ông Polgar không tin là có một giải pháp chánh trị. Ông đã nhận được nhiều cú điện thoại tất có ý nghĩa, trong đó có một là của Tổng Thống Dương Văn Minh:

_ “Tôi muốn yêu cầu Anh một ân huệ cuối cùng: di tản giùm một vài người thuộc gia đình

Tôi.

_ “Rất đồng ý”, Polgar trả lời.

Một cú điện thoại khác, của nhóm Hung gia Lợi thuộc Ủy Hội Kiểm soát Ngừng Bắn (CICS). Đã có rất nhiều tá người của họ bị kẹt ở phi trường Tân Sơn Nhất . Đạn pháo của Bắc Việt đã phá hỏng một số xe của họ. Một số xe khác đã bị binh sĩ Miền Nam đánh cắp. Còn lại một số thì lại không có xăng.

_ “Chúng tôi không có phương tiện chuyên chở. Chúng tôi muốn đi ra khách sạn ở Sài Gòn, họ nói.

Trong tòa đại sứ, người ta gặp nhan nhản các nhân vật người Việt. Cựu Cố vấn quân sự của Tổng Thống Thiệu, ông Đặng văn Quang, đang đi tới đi lui trên tầng thượng, trong chiếc áo mưa rộng thùng thình. Ông ngồi cách đại tá Toth của Hung gia Lợi chừng vài thước, vốn đến đây để yêu cầu di tản người của ông ta ở phi trường. Hoàng tử à?, ông Polgar áp dụng một nguyên tắ: Người nào yêu cầu tôi giúp đỡ thì đáng được giúp. Và sau đó, có qua có lại, người ta không bao giờ biết anh chàng Hung gia Lợi nào đó sẽ có gì hữu ích cho chúng tôi hay không trong một giờ, một tuần lễ hay một tháng nữa đây? Còn ông Lehmann thì có tâm hồn ít nhạy cảm hay thấy xa hơn ông trưởng cơ quan CIA. Nhân vật số 2 của tòa đại sứ từ chối không can thiệp có lợi cho những người Ba Lan cuối cùng vốn muốn được rời nhanh chóng khỏi Sài Gòn nên đến cầu cứu với ông. Ông Polgar tổ chức một đoàn 3 chiếc xe buýt đi bốc những người Ba Lan và Hung gia Lợi từ phi trường đưa họ về khách sạn Majestic ở thành phố.

Một phát súng ân huệ đối với ông Polgar: nhà báo Malcolm Browne, người chơi thân với các thành viên của CPLTCHMN ở trại Davis mà anh ta cứ điện thoại cách 2 hay 3 giờ một lần, đã cho ông chủ nhiệm cơ quan CIA biết là bọn Việt Cộng lần lần bớt đi sự “nhạy cảm”. Từ lịch sự, họ trở thành quạo quọ đến ủ ê. Đó cũng là ý nghĩ của 4 vị cố vấn do ông Dương Văn Minh gởi tới trại Davis. Các đại diện của ông Dương Văn Minh đề nghị với người của CPLTCHMN hai loại thương thảo. Một là vấn đề liên quan đến các bài toán quân sự, sẽ được giải quyết tại Sài Gòn . Hai là các bài toán về chánh trị nói chung sẽ được xem xét ở một cấp cao tại Ba Lê. Các đại diện của CPLTCHMN tránh né, tuyên bố một lần nữa là họ không có thẩm quyền để giải quyết các câu hỏi đó. Họ mời 4 vị khách uống trà và ăn chuối, còn nhấn mạnh là đây là chuối của họ đích thân trồng bên cạnh các dãy nhà.

Ông Snepp túc trực bên máy thu thanh, và kiểm thính được một lệnh của Bắc Việt mà hình như họ sẽ bắn vào dinh Độc Lập chiều nay, vào lúc 17 giờ, giờ Hà Nội , tức là 18 giờ giờ Sài Gòn . Hai trăm tràng ! Quá đủ để phá hủy tất cả ở trung tâm Sài Gòn, với các tòa đại sứ Hoa Kỳ và Pháp. Ông Snepp nhào tới ông Polgar:

_ “Đưa cái này ngay cho ông Martin.”

Ông đại sứ chuyển ngay điện tín đó cho tướng Timmes để ông này điện thoại cho ông Dương Văn Minh.. Liệu Tổng Thống có thể can thiệp với cộng sản để họ đừng có pháo vào Sài Gòn hay không?

Về chuyện này, ông Kissinger điện thoại ngay cho ông Martin:

_ “Ông phải di tản hết, hết tất cả. Đây là lệnh của đích thân Tổng Thống Ford, và phải di tản xong trước khi trời tối.”

Vị Tư lệnh phó của Hải Quân Việt Nam là đề đốc Diệp quang Thủy, đến gặp tướng Trần văn Minh Không Quân, không có điện ở các dãy nhà ở phi trường.

_ “Chúng ta đi thôi, tướng Homer quyết định như thế.

Ông ta đang chuẩn bị lên trực thăng thì có một toán người tỵ nạn cuối cùng xuất hiện. Họ lên chiếc trực thăng của tướng Smith và ông tướng này phải chờ đi chuyến khác.

Người ta rất cần được tăng cường ở tòa đại sứ. Sẽ lấy những người của thiếu tá Melton. Một trung đội của trung úy Jay Roach, được trực thăng vận đến tòa đại sứ.

12 giờ, giờ Sài Gòn:

Chưa thấy bóng dáng một trực thăng nào của cuộc hành quân di tản.

Xe buýt Mỹ cứ chạy khắp thành phố để bốc khách di tản. Muốn có được sự cộng tác của cảnh sát và công chức ở phi trường, người ta đã hứa là sẽ di tản họ luôn cả với gia đình.. Các xe buýt đầu tiên thuộc kế hoạch “đêm Giáng Sinh trắng” chở người tỵ nạn đến Tân Sơn Nhất hồi 12 giờ 10. Không khí ở phi trường còn quá căng thẳng hơn ở chung quanh các bến tàu vắng người. Có một vài vị thuyền trưởng Việt Nam bán vé lên tàu với giá từ 4 đến 12 ngàn mỹ kim một người.

12 giờ 15:

Tin tức quân sự hình như càng ngày càng xấu. Hai sĩ quan Bắc Việt, sư đoàn 70 và 968 đã đè bẹp sư đoàn 25 bộ binh ở gần Cũ Chi, chỉ cách Sài Gòn có 30 cây số về hướng Tây. Ba sư đoàn Bắc Việt , sư đoàn 3, 9 và 16 đã cô lập sư đoàn 22 bộ binh . Sư đoàn này giữ vững được vị trí nhưng không thể rút về thủ đô được . Chiến lược của tướng Dũng rất rõ ràng và linh động. Ông ta để các sư đoàn cầm chân bao quanh các đơn vị Miền Nam, nhưng dồn hết các sư đoàn khác tiến về Sài Gòn.

12 giờ 30

Ba mươi sáu (36) chiếc trực thăng vận tải loại lớn cất cánh từ chiến hạm Hancock, có trực thăng võ trang Cobra hộ tống.

Các trực thăng di tản này bay tới Sài Gòn làm 3 đợt, mỗi đợt 12 chiếc. Chúng bay ngang qua Biên Hòa ở hướng Đông Bắc. Mỗi đợt đều bay thành đội ngũ mỗi 3 chiếc hình chử V. Các phi công được lệnh trước tiên là làm con thoi giữa hạm đội và phi trường để chuyên chở Thủy Quân Lục Chiến thuộc toán an ninh bảo vệ. Tướng Richard Carey, chỉ huy trưởng Thủy Quân Lục Chiến đã đồng ý với tướng Homer Smith là phải tranh thủ thời gian, Tất cả các trực thăng đều bốc người tỵ nạn trên đường về hạm đội. Từ 3 căn cứ Không Quân ở Thái Lan, các phi cơ tiềm kích Phantom chuẩn bị để nhập vào các đợt trực thăng trong một hành lang giữa Sài Gòn và hạm đội. Tất cả các chiến hạm của Hải Quân Hoa Kỳ đều nằm ở bên ngoài lãnh hải của Việt Nam, cách xa bờ biển 12 dậm. Cả một đại hạm đội được bố trí nằm thành vòng cung trên 160 cây số ngoài biển khơi.. Soái hạm neo ở cách bờ biển 17 dậm. Người ta chưa từng thấy một cuộc hành quân nào như thế từ sau trận triệt thoái khỏi Dunkerque vào năm 1940! 35 chiến hạm lớn có các tàu tiếp vận bao quanh với những tàu thám thính nhỏ. Có nhiều chiến hạm đã có mặt tại chỗ từ nhiều ngày trước, các tàu khác đến từ Okinawa (Nhật), từ Trân Châu cảng (Hawai), và các chiếc khác nữa từ cảng San Diego (California, Hoa Kỳ)

Từ Bộ Tư Lệnh này đến Bộ Tư Lệnh khác, từ chiến hạm này đến các phi cơ hay trực thăng… hệ thống truyền tin hết sức dày đặc, các điện thoại và điện báo hoạt động không ngừng nghỉ. Đô đốc Whitmire, Tư Lệnh lực lượng đặc nhiệm có một danh hiệu truyền tin được mã hóa rất bình dân là Jehovah.Tại Tân Sơn Nhất danh hiệu của tướng Homer Smith là Jacksonville Bravo. Danh hiệu của Thủy Quân Lục Chiến chung quanh tướng Smith là Baritone. Danh hiệu của Không lực số 7 ở Thái Lan là Blue Chip .Những nhân viên dân chính trong tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn có danh hiệu bình dị là Embassy.

Có nhiều tàu chiến của Miền Nam như tàu vớt mìn, tàu tuần, thuyền võ trang… theo dòng sông Cửu Long đi ra biển nên thường làm nhiễu các làn sóng điện truyền tin.

Một sự lộn xộn khác về giờ giấc: Các trực thăng do Thủy Quân Lục Chiến lái, muốn điều động họ thì phải dùng “giờ L” (giờ đáp). Đó là giờ mà chiếc trực thăng nào đó phải có mặt ở bãi đáp. Đối với Không Lực thì “giờ L” là giờ cất cánh. Công thức này đã được dùng trong cuộc di tản ở Phnom Penh. Người ta phải áp dụng một vài sự điều chỉnh cần thiết sau khi có một vài sự cãi vã.

Các phi công lái trực thăng gặp phải nhiều khó khăn bất ngờ. Người ta đã thông báo cho họ là thời tiết tốt, nhưng thời giờ làm hỏng hết. Từ 3 ngày qua, tầm nhìn xa bị thu ngắn lại. Người ta đã dự kiến di tản ban ngày, nhưng thực tế thì lại phải bay đêm, do đó đòi hỏi phải lanh lẹ, đối với chiến cụ.

Ít nhất có 2 hành lang trên không phận Sài Gòn: hành lang Michigan cho chuyến bay đi, với độ cao 6500 bộ Anh, và hành lang Ohio cho chuyến bay về với độ cao 5,500 bộ Anh. Hai hành lang này đều được đánh dấu bằng cọc tiêu. Người ta đã báo là có rất nhiều dơn vị Bắc Việt võ trang với súng liên thanh cao xạ cực mạnh và hỏa tiễn tầm nhiệt SA.7 được bố trí dưới hai hành lang này. Các phi cơ tiềm kích Hoa Kỳ phải bảo vệ hành lang. Vào giờ chót, người ta mới nhận thấy là các trái “bom 200 cân Anh có tia la-dze hướng dẫn” vốn được các phi cơ bảo vệ này mang theo, thì rất là hữu hiệu đối với các pháo đội 130 ly, nhưng không hữu hiệu đối với các súng liên thanh và hỏa tiễn. Các loại bom 500 cân Anh cũng vậy, chỉ để phá các lô cốt mà thôi. Do đó tốt hơn hết là nên dùng trực thăng chiến đấu AH-1J để xử dụng các hỏa tiễn và các khẩu đại bác 20 ly và để đánh dấu mục tiêu bằng đạn chiếu sáng cho phi cơ A.37. Rất may mắn là tất cả các phi công của trực thăng võ trang Cobra đều cũng là những kiểm soát viên Không lưu rất lành nghề, điều này giúp cho họ trong nhiệm vụ tuần tiểu, và giúp hướng dẫn các trực thăng vận tải.

Các phi công trực thăng đã được báo trước: từ đêm qua có nhiều trực thăng của Miền Nam chở đầy cứng gia đình để dư trù sẽ bay đến hạm đội ồ ạt một các vô trật tự.. Một chiếc trực thăng vận tải Chinook CH.47 đã đáp xuống bãi đáp phía sau của soái hạm Blue Ridge. Phi công trực thăng này là trung úy Trương mã Quới, đã tuyên bố với một phóng viên của tờ báo Newsweek là anh Ron Moreau:

_ “Các tướng lãnh, đại tá, thiếu tá, đại úy đã ra đi hết rồi. Tôi nghĩ là đến lượt các trung úy như chúng tôi cũng phải làm như vậy thôi.”

Các trực thăng lượn vòng chung quanh hạm đội. Đôi khi, mặc cho người ta cho lệnh phải chờ, các phi công Việt Nam vẫn cứ đáp để cho những người tỵ nạn xuống. Người ta yêu cầu họ bay ra bỏ trực thăng ngoài biển. Có nhiều người không chịu thi hành. Có một số khác đã trở thành chuyên viên cho loại hành quân này. Họ đáp trực thăng xuống mặt biển, nhanh chân nhảy ra và leo lên tàu cấp cứu. Các phi hành đoàn người Mỹ vỗ tay tán thưởng các phi công Việt Nam đã bất thần trở thành vô địch về môn thao diễn này. Có 2 chiếc đâm vào nhau trên soái hạm Blue Ridge, chiếc thứ ba đáp hụt, cấm đầu luôn xuống sàn tàu.

Theo dự tính của những nhà soạn thảo kế hoạch thì hầu hết các người tỵ nạn phải được bốc đi từ phi trường Tân Sơn Nhất. Lần lần tướng Carey mới hiểu ra là cần phải giải tỏa ngay số người đang ở tòa đại sứ từ 1000 đến 2000 người. Trước đó người ta bảo đảm là con số này không quá 200 người. Chỉ cần có 3 hay 4 chiếc trực thăng nhẹ, loại UH.1E thuộc Hàng Không Air America cũng đã là quá đủ cho con số này rồi. Bây giờ người ta phải xử dụng đến trực thăng nặng loại CH.53 ở tòa đại sứ như là ở phi trường vậy. Và tướng Carey cũng còn phải tăng cường thêm toán Thủy Quân Lục Chiến phụ trách về an ninh ở tòa đại sứ

13 giờ 12:

Tướng Không Quân Nguyễn cao Kỳ và trung tướng Lê Quang Trưởng, vốn đã về được Sài Gòn sau khi Đà Nẵng thất thủ, đã đáp trực thăng xuống chiến hạm Midway. Ông Martin sau đó cũng đáp xuống chiến hạm Denver.

14 giờ:

Điện tín của ông Kissinger gởi cho ông Martin xác nhận trao đổi cuối cùng giữa hai người qua điện thoại:

-“Chúng tôi đã nghiên cứu thỉnh cầu của ông nhằm giữ lại một toán nhỏ ở tòa đại sứ . Tổng Thống nhấn mạnh là phải di tản hết. Thân mến”

15 giờ:

Tại phi trường, Thủy Quân Lục Chiến bảo vệ cho 3 bãi đáp được chỉnh đốn rất hoàn chỉnh trên sân dã cầu, sân quần vợt và trên một bãi đậu xe trước dãy nhà phụ của Phòng Tùy viên Quân Lực. Có khoảng 3000 người dân tỵ nạn. Thủy Quân Lục Chiến đã chia họ ra từng toán rất có phương pháp, mỗi toán có từ 50 đến 70 người.

Thiếu tá William Melton đến phi trường với 3 trung đội của đại đội 3 tiểu đoàn 2 thuộc sư đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến và các trực thăng vận tải đầu tiên lúc 15 giờ 6 phút. Họ bay theo con sông Sài Gòn với cao độ 9000 bộ. Vì trên 10.000 bộ là người ta phải cần có dưỡng khí. Binh sĩ nhìn xuống dòng sông đều thấy có hằng trăm ghe , tàu, chiến thuyền… đang đổ về phía biển. Chiếc trực thăng đầu tiên bay đi với hành khách của mình. Các sự luân chuyển của trực thăng CH.46 và CH. 53 được tiến hành rất tốt. Người ta rất lo ngại về những tin tức từ tòa đại sứ. Để giữ an ninh cho tòa đại sứ, chỉ có một nhóm 44 Thủy Quân Lục Chiến mà thôi. Do đó tướng Carey mới quyết định rút ra ngay 130 binh sĩ từ nhân số 840 binh sĩ đang giữ an ninh tại phi trường.

Thiếu tá William Melton, sĩ quan lên từ hàng binh sĩ, 38 tuổi, 5 con, trên tay có xâm hình một con bướm với đầu lâu, ở tiểu bang California, 20 năm thuộc binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, là một trong những quân nhân Mỹ đầu tiên đã đổ bộ lên Đà Nẵng mười năm trước. Đối với ông,các chánh trị gia phải chịu trách nhiệm của cả “chuyện rối rắm này” Binh sĩ của ông nằm ở vị trí gần các dãy nhà thuộc văn phòng của tướng Homer Smith. Hầu hết họ là những người mới đặt chân lên Việt Nam lần đầu và cũng là lần chót. Họ là những người rất hoạt bát, rất có kỷ luật và dĩ nhiên cũng thông thường thôi là họ có vẻ sợ sệt. Thỉnh thoảng người ta nghe tiếng súng và tiếng nổ của đạn bách kích pháo. Lệnh rất là nghiêm: không được bắn trả lại, trừ trường hợp tối cần, bất khả kháng. Thiếu tá Melton nhìn những quân nhân và các người dân Việt Nam chạy đi chạy lại chung quanh châu vi thuộc vòng bố trí của binh sĩ. Ông Melton nghĩ:chúng ta đến đây chỉ với nhiệm vụ đóng hết cửa, tắt hết đèn, và trở về nhà. Và ông nói như vậy to lên cho các sĩ quan và binh sĩ của ông nghe. Ông nhìn lại hai lần ông đã đến Việt Nam năm 1965 và năm 1968 . Một đại tá Việt Nam đến gần ông, chào ông và trao cho ông khẩu súng lục 25 ly: và nói:

_ “Thiếu tá, đây là khẩu súng cá nhân của tôi…. Việc gì đã xảy ra? Không thể được, đây là chuyện có thật ư? Cách đây 20 năm, lúc còn là thiếu úy, tôi đã đánh nhau trong vùng ngoại ô Hà Nội .

Phải trả lời cho ông ra sao đây? ông đại tá này mặc đồ dân sự trước khi leo lên một chiếc trực thăng. Thiếu tá Melton nhìn cảnh binh sĩ của ông kiểm soát người tỵ nạn và hành lý của họ. Một nhóm các bà còn trẻ nói với ông:

_ Chúng tôi phải di hay sao?

_ Mấy chị có thân nhân ở Hoa Kỳ hay không?

_ Tôi có một “bạn trai” ở Chicago, một bà còn trẻ nói.

Ông Melton nghĩ không biết tại sao các bà lại đem chuyên đó ra hỏi ông? Không còn nghi ngờ gì nữa, ở đây có nhiều người muốn chạy trốn mà không thể ra đi như thế này được, nhưng trong số những người phải ở lại tại chỗ, có một số lớn phải đến với chúng tôi.

Việt Nam, Nước Việt Nam của ông, đã trở lại với ông với hằng tá kỷ niệm. Ông Melton không bao giờ có ý thù ghét những người Bắc Việt đang tràn đến Sài Gòn. Địch quân? bộ đội? Đối với ông, bọn Việt Cộng thì khác hẳn. Chung quanh Đà Nẵng các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến cứ đạp vào lựu đạn do Việt Cộng gài bẫy. Người ta cứ đạp bẫy mà người ta không làm gì được hết vì người ta không thấy đâu là địch.. Còn bộ đội Bắc Việt, trên một nghĩa nào đó hay nói cho đủ nghĩa, họ là Quân đội chánh quy hơn. Cũng là binh sĩ như chúng ta. Cùng có những chuyện chung giống như chúng ta . Cả chúng ta và họ đều xa nhà. Còn Việt Cộng thì có đôi khi họ chỉ ở cách làng của họ chừng 100 thước thôi. Thủy Quân Lục Chiến cũng như các bộ đội Bắc Việt đã từng sống trong đất sình, các ruộng lầy lội vì nước mưa, với đàn kiến đen và đĩa. Ông Melton đã bắt được một tù binh là sĩ quan Bắc Việt bị thương, và ông đã bắt tay tù binh này. Chung quanh họ là binh sĩ Việt Nam đều tỏ ra công phẫn. Tại sao? người sĩ quan Bắc Việt này đã chiến đấu tốt, ông Melton không có gì tiếc rẻ về cái bắt tay của mình. Cũng như đã được đưa qua Việt Nam nhiều lần. Cũng như phải triệt thối về nước. Ông chỉ biết làm công việc của mình và chung quanh ông, các người lính trẻ đã xoay sở tốt lắm.

Với một số Thủy Quân Lục Chiến ông Martin đi về tư thất của mình, lấy một vài hồ sơ ra từ tủ sắt. Thủy Quân Lục Chiến đốt các hồ sơ này bằng một trái lựu đạn lửa. Ông Martin trở lại tòa đại sứ , đi bộ qua tòa đại sứ Pháp. Ông Mérillon nói với ông ta là CPLTCHMN không muốn gặp ông.

Tướng Timmes đến gặp ông Dương Văn Minh và ông ta luôn có cảm tưởng là ông Tổng Thống tin là có thể bàn cãi, thương thảo với những người cộng sản . Tuy nhiên vào giờ này ông ta đã mất hết ảo tưởng đó rồi. Cho đến cuối cùng, lịch sử của chiến tranh thứ hai của Việt Nam tựu trung chỉ là một sự chất chứa toàn là những chuyện hiểu lầm và những chuyện đau đầu.

  1. giờ 30:

Để di tản những người Mỹ và những người Việt Nam còn trong vòng rào của tòa đại sứ , ông Martin quyết định người ta sẽ ra đi theo một nguyên tắc giản dị:

_Ai tới trước thì được đi trước.

Tướng Carey nhận thấy là phương tiện di tản cũng như an ninh không được đầy đủ. Ông hiện có một bãi đáp trên sân thượng, một bãi khác trên bãi đậu xe vốn đã được dọn trống. Nếu số người quá đông ở trước cổng tòa đại sứ mà vào được bên trong, thì công tác di tản sẽ bị lộn xộn ngay. Cũng như người ta đã nói một cách lễ độ trong báo cáo quân sự là  “các thông số đã thay đổi”. Các trực thăng sẽ tiếp tục làm con thoi trong đêm. Và đáp trên nóc của tòa đại sứ là có nhiều nguy hiểm. Có cả ba người , ông Wolfgang Lehmann, đại tá John Madison thuộc Ban Liên Hợp Quân sự 4 Bên, và một mục sư, ông Thomas Steddins, đang lọc và gom các người tỵ nạn lại gần bãi đậu xe và hồ bơi. Trong các dãy nhà thì các người tỵ nạn, các nhà ngoại giao, các nhà báo.. cũng không chịu ngồi yên.

Một vài viên chức uống rượu mạnh như wuýt-ky và cỏ nhác, có một số lấy ra từ tủ lạnh … y tế.. Các nhà ngoại giao Ba Tư thuộc Ủy Hội Giám Sát đến bắng cách đi băng qua tòa đại sứ Pháp. Họ không còn nhớ số mật mã của họ nữa.

Điện thoại reo khắp nơi trong các từng lầu. Lại có nhiều tin đồn được tung ra: các đoàn xe buýt đã bị tấn công trong thành phố; còn quá nhiều chỗ trống trong các xà-lan và các tàu trên bến cảng. Lúc 16 giờ, có từ năm đến sáu ngàn người tỵ nạn bao vây tòa đại sứ .Họ đứng dồn cứng khoảng 30 thước bề ngang, sát từ hàng rào với những bao bị, những va ly, và những gói hàng ít nhiều được cột lại cẩn thận . Trong đám quá đông này, nhà văn Duyên Anh và gia đình ông ta đến từ sở Thông Tin Hoa Kỳ . Ông ta nhìn đồng bào đang hốt hoãng của mình , nhận biết được các tướng lãnh, nghị sĩ và dân biểu, thấy các binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Mỹ xô đẩy những người tỵ nạn đang muốn leo qua rào, có đôi khi họ phải đánh nữa. Người ta cũng thấy có cả những người Nhật và Đại Hàn.. Nếu là người da trắng thì họ có thể được người ta đưa cao để qua khỏi rào. Các cảnh sát viên Việt Namthuộc quận cảnh sát kế cận cũng leo rào vô khuôn viên. Đã nhiều ngày qua, người ta đã thỏa thuận với nhau rằng; các cảnh sát viên phải duy trì trật tự và rồi họ sẽ được di tản. Người Mỹ có mặt ở đây đều biết rằng dù thế nào thì họ cũng sẽ ra đi. Ngoài đường các bạn trẻ ngồi trên mô tô hay xe xì cút tơ nhìn cảnh trực thăng bay lượn (nhảy múa) trên không. Đôi khi cũng có một người Việt Namcũng tìm cách vào được trong tòa đại sứ . Thường thì cha mẹ vợ con của anh chàng này còn ở ngoài. Người này kêu, người kia khóc van xin các anh Thủy Quân Lục Chiến và các viên chức Mỹ để cho họ vào theo.

Khoảng vài chục ngàn người Việt đã được di tản. Nhiều người khác cũng sẽ tự nguyên ra đi nhưng họ không thể nghĩ tới chuyện đó. Họ còn phải lo chuyên chú vào việc làm. Trong nhiều khu, trẻ em vẫn tiếp tục chơi trên vĩa hè, ngoài đường, còn có mấy cụ già ngồi tán gẫu.

  1. giờ 30:

Những người có trách nhiệm trong cơ quan CIA chợt thấy là 250 nhân viên người Việt của họ bị bỏ quên trong một trung tâm tiếp vận ở xa, và khoảng 100 ở khách sạn Đức. Bảy chục thông dịch viên không thể nào tới tòa đại sứ được. Một số trực thăng của hãng Air América không thể bay lên được vì bình điện của trực thăng bị mất cắp, Người ta cũng không tìm được xe buýt nữa. Do đó, các thông dịch viên và gia đình họ không có phương tiện và cũng không còn có thì giờ để đến bến cảng được.

Ở về hướng Đông Bắc của Sài Gòn , bộ dội Bắc Việt bắn một số hỏa tiễn tầm nhiệt SA.7 lên các phi cơ Phantom của Hoa Kỳ. Các phi cơ này có bắn trả lại bằng hỏa tiễn.

Nói chung thì bộ đội Bắc Việt vẫn tiếp tục tuân lệnh của tướng Văn Tiến Dũng– không được đụng tới các phi cơ Hoa Kỳ.

  1. giờ 15

Lúc này trời đã bắt đầu tối. Tướng Homer Smith ở phi trường và tướng Carey ở Bộ Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến ngoài biển, cùng xem xét lại tình hình. Còn chừng 1300 người phải di tản từ Tân Sơn Nhất . Người ta cần phải có 3 tiếng đồng hồ để đưa ra hết số người này, kể cả các toán Thủy Quân Lục Chiến đang giữ an ninh. Trong vòng có một giờ, giá một mỹ kim từ 6000 đồng vọt lên đến 7.000 đồng.

Tại tòa đại sứ công việc quá lờ mờ. Ông Martin đã trả lời cho đề đốc Whitmire về con số chính xác như sau:

_ “Còn đến từ 1.500 tới 2000 người”

Tướng Timmes lại điện thoại cho Tổng Thống Dương Văn Minh:

_ “Cộng sản đã có trả lời gì cho Ngài chưa? Liệu họ có sẵn sàng ngưng không bắn vào dinh Độc Lập lúc 18 giờ hay không? Không có câu trả lời nào.

17 giờ 30:

Tổng Thống Dương Văn Minh lại gởi một phái đoàn đến trại Davis , luật sư Trần ngọc Liễng, giáo sư Châu tâm Luân và linh mục Chân Tín, một người tranh đấu cho trung lập, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế. Sau buổi gặp phái đoàn này, người của CPLTCHMN gởi một bức điện cho Bộ Tư Lệnh Bắc Việt:

– “Đồng chí Võ đông Giang đã tiếp những người này. Một lần nữa đại tá đã nói rõ những điểm trong bản tuyên bố của chúng tôi ngày 26 tháng 4, nghĩa là: xoá bỏ hoàn toàn chính phủ Sài Gòn . Sau cuộc nói chuyện họ đã xin phép rời trại Davis. Nhưng khi chúng tôi đã nói với họ là pháo binh chúng tôi bắn vào Tân Sơn Nhất thì họ lại muốn tốt hơn là sẽ ở lại đêm với chúng tôi, họ đồng ý như vậy.”

Chung quanh các dãy nhà của tướng Smith ở phi trường, một số binh sĩ Miền Nam bắn súng. Thủy Quân Lục Chiến bắn trả lại ngay. Có một số đột nhập vào phạm vi trách nhiệm của Thủy Quân Lục Chiến đang giữ an ninh an ninh, làm cản trở sự di tản. Họ bị duổi ra ngay.

Cũng vào lúc đó ở trước tòa đại sứ Hoa Kỳ có các đám cháy bùng lên. Người ta tin là một trái đạn pháo binh đã rơi trên đường. Sự thật là có một người Việt Nam nào đó đã vất một cây diêm quẹt đang cháy vào bình xăng của một chiếc Wolkwagen làm cho xe phát nổ.

Cạnh văn phòng của tướng Smith ở phi trường, có những công chức Hoa Kỳ đang đốt hàng bó người triệu Mỹ kim.

Làn sóng người tỵ nạn tiếp tục tràn vào sát tường của tòa đại sứ . Có nhiều người Mỹ khóc, trong số đó ông Polgar . Ông không tìm thấy người Út, người tài xế của ông ở đâu. Các trực thăng của hãng Air America đã chở được hằng ngàn người trong ngày trong gần cả trăm chuyến bay. Các quân nhân Hoa Kỳ nhận thấy là càng ngày càng có nhiều người tỵ nạn phải bốc đi từ tòa đại sứ.

19 giờ:

Tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân trên bờ sông Sài Gòn, Đô Đốc Cang canh chừng cho các tàu chiến của mình tuần tự ra đi. Ông nhận được diện thoại từ Tổng Thống Phủ. Người ta muốn gặp đề đốc Than mưu trưởng Hải Quân ở nhà ông Dương Văn Minh. Ông Minh yêu cầu hộ tống đại tá Nguyễn hồng Đài, rể của ông, và tướng Mai hữu Xuân, người đã có công trong việc đảo chánh ông Diệm năm 1963.

– Phần tôi, tôi không thể đi được, ông Tổng Thống thở dài….

Tại Tổng Thống Phủ, ông Dương Văn Minh cứ ngồi chờ mãi tin tức của phái đoàn mà ông đã gởi sang để gặp CPLTCHMN. Các cố vấn của ông và nhất là Thủ Tướng của ông khuyên ông nên ra một bản tuyên bố đơn phương. Phải đầu hàng vô điều kiện mà thôi. Ông Minh từ chối. Chuyện đó sẽ không đi đến đâu cả, trên phương diện tinh thần, quân sự lẫn chánh trị. Đó là tự mình cho người ta thấy chỗ yếu của mình.

Rại tòa đại sứ Mỹ, các trực thăng được các đèn pha xe hơi rọi sáng, đã bốc đi mỗi chuyến khoảng từ 60 đến 80 người tỵ nạn. Trong công tác chuyển vận, người Việt Nam xếp thành hàng từ các cầu thang lên cho đến tận sân thượng. Máy điều hòa không khí không còn hoạt động nữa nên nóng nực kinh khủng và có một mùi hôi nước tiểu và giấy tờ bị đốt. Các Thủy Quân Lục Chiến đi tới đi lui, khá ngạc nhiên mà thấy là tất cả những người trẻ chỉ mặc sơ mi, thường có võ trang, đi dạo trong các hành lang, có vẻ thong dong và quyết tâm lắm, đó là các nhân viên tình báo của CIA , thường được gọi là nhóm “ma quỉ” (nguyên tác tiếng Anh: spooks).

Đoàn tàu chiến của Đô Đốc Cang xuôi theo Sông Sài Gòn . Đứng trên boong tàu các sĩ quan và binh sĩ đều thấy trực thăng Hoa Kỳ – hay của Việt Nam?- dùng hỏa tiễn đánh xuống các kho đạn.

19 giờ 15:

Tất cả dãy nhà trong phi trường đều không có điện: tai nạn hay bị phá hoại? – “Thôi chúng ta đi, tướng Smith quyết định.

Ông ta sửa soạn đi đến một trực thăng khi có một nhóm người tỵ nạn nữ vừa mới tới. Họ được phép lên trực thăng của thiếu tướng Smith, còn thiếu tướng thì ông ta đợi một chiếc khác.

Người ta cần tăng cường ở tòa đại sứ . Toán tăng cường được dự trù lấy ra từ những người của thiếu tá Melton. Một trung đội của trung úy Jay Roach đi đến tòa đại sứ bằng trực thăng. Thiếu tá Melton gọi người sĩ quan của ông:

_ “Jay, anh đến gặp đại tá, ông ấy sẽ hướng dẫn cho anh. Trong khi chờ đợi thì trung đội của anh hãy tập họp lại.”

Trung úy Jay đi tìm đại tá, khi anh trở lại thì trung đội của anh đã bay đi rồi.

_ “Vậy là tôi làm sao đi tới tòa đại sứ đây? trung úy la lên.

Không có một trực thăng nào hết, làm trung uy Roach cáu lên. Có nhiều sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến ấp u cơn nóng giận của mình một cách lạnh lùng, cố nén nó xuống ở phi trường, cũng như ở tòa đại sứ .. và trên 4 chiến hạm của hạm đội ở ngoài biển: lộn xộn như một nhà thổ. Những người dân chính không có một sự thận trọng nào. Mọi việc bắt đầu quá trể. Trung úy Thủy Quân Lục Chiến Alan Broussard đã tham dự cuộc di tản ở Phnom Penh, có nhận xét là ở đó được tổ chức hoàn hảo hơn. Ở đó những người tỵ nạn được đeo thẻ màu khác nhau để phân biệt người nào đi trước người nào đi sau. Các sĩ quan đã quen những chuyện mất trật tự trong chiến tranh rồi, nhưng các cuộc hành quân loại này phải được chuẩn bị kỹ hơn.

_ “Vậy thì tôi phải làm gì bây giờ? trung úy Roach hỏi

_ “Làm sao anh có thể đi bộ lại tòa đại sứ được? Thiếu tá Melton nhún vai trả lời

Ngoài khơi Vũng Tàu, đại úy Cyril Moyer và 52 Thủy Quân Lục Chiến người của ông ta trong toán India đã bốc những người tỵ nạn đến chiếc Pionner Commander, một chiếc tàu vận tải dân sự thuê mướn. Các binh sĩ đã đặt các nhà vệ sinh và các thùng nước ngọt trên tàu. Trung úy đã cho tiêu lệnh cho binh sĩ của mình:

_ “Các anh sẽ giúp đỡ những người tỵ nạn, nhưng không có sự quá thân mật. Các anh phải kính trọng người lớn tuổi. Các anh phải giữ khoảng cách với họ. Các anh không được yêu thương tỏ tình với ai hết. Các anh là Thủy Quân Lục Chiến, là một loại kem hảo hạng đó.

Các anh Thủy Quân Lục Chiến được huấn luyện để phòng thủ cho chiếc Pionner Commander, trong trường hợp mà có các binh sĩ khác, bất cứ là của Bắc Việt hay Miền Nam mà có ý muốn chiếm chiếc tàu này. Dưới hầm tàu chất đầy gạo, bột sữa, cá mòi và cá ngừ đóng hộp.

Đứng ngay cầu thang, có 2 binh sĩ kiểm soát những người tỵ nạn bước lên tàu. Các Thủy Quân Lục Chiến này đều biết rõ các quân lệnh. Cái gì được cái gì không được . Để giữ trật tự cho những người tỵ nạn nên lúc nào cũng phải quan tâm đến vấn đề anh ninh. Phải báo cáo cho biết những ai nói được tiếng Anh và bất cứ người tình nghi nào. Không được sờ vào đầu người tỵ nạn, không được chấp nhận bất cứ một cử chỉ khiêu khích nào, không được để cho họ đánh nhau. Phải tịch thu hết tất cả vũ khí và chất nổ.

Những người tỵ nạn đã được khám xét rồi mà các Thủy Quân Lục Chiến còn khám phá ra những súng lục và dao găm. Hành khách được đưa đến các boong tàu. Có người thì đến từ Vũng Tàu, có người thì đến từ rds . Có người thì đã đi qua nhiều chặng nguy hiểm từ Đà Nẵng, hết tàu này đến tàu khác. Binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến thấy được trong đám đông tỵ nạn 3 bác sĩ, 7 người đầu bếp và một cấp tướng trong quân chủng Hải Quân, Và một nghị sĩ. Hai người này không muốn nhận bất cứ một trách vụ nào mặc dấu có yêu cầu của đại úy Moyer, người phải coi sóc nhiều ngàn người tỵ nạn.

Chung quanh chiếc Pionner Commander, có nhiều chiếc tàu, thuyền đang đến, có một số đang cháy.

Người Mỹ cũng đang di tản lãnh sự quán cuối cùng Hoa Kỳ ở Cần Thơ. Lãnh sự Francis McManara từ chối không nhận trực thăng . ông quyết định cho nhân viên của ông đi tàu. Cơ quan tình báo xác nhận là có nhiều toán Bắc Việt và Việt Cộng võ trang súng không giật đã có mặt ở dọc theo sông. Ông Mc Namara tập trung người của ông trên bến cảng. Ông đội một chiếc cát kết lớn có hàng chữ: “Hội Trưởng Hội Du Thuyền Cần Thơ”. Khi đến cảng ông không thấy tài công mà cũng không thấy nhân viên nào của CIA hết. Những người này đã được trực thăng của Air America bốc đi mặc dầu có bị một vài binh sĩ Miền Nam tấn công.

Khởi hành từ giữa trưa, đội chiến thuyền Mỹ bị một số tàu tuần Việt Namcập theo. Họ hỏi ông lãnh sự xem có thể chở giùm một số người Việt Nam đã đến tuổi quân dịch hay không ? Ông chấp thuận chở 298 người trong số đó có một số sĩ quan mặc thường phục.. Không đợi trả lời, sĩ quan chỉ huy đội tàu tuần cười nói:

_ “Tôi thấy là tất cả đều tốt hết rồi. Thôi hãy tiếp tục đi đi. Chúc ông thượng lộ bình an và may mắn.

Một vài ngày trước đó, ông Mc Namara đã có giúp di tản gia đình của đại úy tuần duyên này

Trong một phút cảm động, còn hình ảnh được lưu lại, một ông già đứng cạnh ông lãnh sự, đã nhận ra con trai của mình trong đội tuần duyên. Họ ôm nhau: một người đi một người ở lại.

21 giờ:

Từ sân thượng của tòa đại sứ được chiếu sáng rực, người ta thấy xa xa có những đường đạn chiếu sáng bắn thẳng lên trời, và những đám cháy trong cơn bão, và nghe được những tiếng súng đại bác. Các trực thăng lớn Cộng Hòa.53 đáp xuống sân, các trực thăng Cộng Hòa.46 nhỏ hơn thì đáp ở sân thượng. Mội hành khách được phép mang theo một va ly hành trang. Các phi công đội nón nhựa có dây nhợ lòng thòng giống như nhân vật của sao Hỏa trong tranh vẽ. Ông Allen Carter, vốn không di tản được nhân viên thuộc các cơ quan Thông Tin của mình, cùng cô thơ ký tòa đại sứ Eva Kim và nhà báo George Mc Arthur cả ba bước lên trực thăng. Bây giờ thì ở tòa đại sứ chỉ còn khoảng 12 nhân viên CIA. Họ đang còn phải phá hủy thiết bị truyền tin cuối cùng.

– “Người ta mất 4 triệu mỹ kim thiết bị, ông Polgar nói khẽ trong lúc ông đi tới đi lui, súng mang choàng ngang trên vai.

Ông FrankSnepp đi cùng với tướng Timmes trên một trực thăng khác. Và họ bay đi.. Lúc bay trên không phận Sài Gòn ông Snepp thấy một kho đạn đang nổ. Ông bàng hoàng khi thấy trên đường từ Xuân Lộc tới hàng ngàn đèn pha chiếu sáng: đó là đoàn xe vận tải quân sự và chiến xa chiến thắng của Bắc Việt.

22 giờ, giờ Sài Gòn, 10 giờ giờ Hoa Thạnh Đốn:

Tại Ngũ Giác Đài, người ta đang làm bản tổng kết về cuộc được tản. Ở Vũng Tàu, đã tiến triển khả quan, ở Cần Thơ cũng vậy. Ông Tổng Trưởng Quốc Phòng tưởng là ở Sài Gòn người ta đi đến một thảm họa. Trước hết là người ta đã cho di tản quá nhiều người Việt Nam. Đối với ông Schlesinger thì cần nhất phải chấm dứt sự có mặt của người Mỹ, để ngừng di tản vào 12 giờ khuya giờ Sài Gòn , để ta vẫn có thể di tản tiếp người Việt Nam vào sáng ngày mai? Ông Schlesinger điện thoại Sài Gòn ra lệnh cuối cùng của ông ta. Ông yêu cầu Nhà Trắng và nhất là tướng Brent Sowcroft, vốn đã gởi cho ông Martin một bức điện tín trước đó 15 phút:

_ “Được biết là vẫn còn khoảng 400 người Mỹ trong tòa đại sứ. Ông phải bảo đảm là tất cả, tôi nhắc lại “là tất cả” những người Mỹ phải được di tản”

Ông Martin trả lời ngay tức khắc một cách giận dữ:

_ “Có thể nào ông nói cho tôi biết làm cách nào để tôi bắt buộc người Mỹ để họ bỏ những đứa con có nửa dòng máu Việt Nam? Hay Tổng Thống đã nghĩ gì khi ông cho lệnh tôi như thế?”

Ông Martin than phiền: Đã hơn 50 phút rồi, chúng tôi ở đây không có trực thăng CH.53. Chỉ có mỗi một chiếc CH.46.”

Khi nhận được công điện của Đô Đốc Whitemire, vốn muốn chấm dứt cuộc di tản vào lúc 23 giờ, giờ Sài Gòn và lại tiếp tục vào hồi 8 giờ sáng ngày hôm sau, ông Martin viết thêm:

_ “Tôi đã trả lời là tôi không muốn ở đây thêm một đêm nữa. Cách đây 4 giờ tôi đã cho Đô Dốc Gayler ở Honolulu biết là chúng tôi cần bao nhiêu chuyến trực thăng nữa. Bây giờ thì chỉ cần có 30 chuyến CH.53 nữa mà thôi.”.

Có nhiều công ty đã yêu cầu Bộ Ngoại Giao hay Nhà Trắng can thiệp cho các nhân viên của họ ở Sài Gòn.

22 giờ:

Vẫn ông Martin báo là bên cạnh ông có một vị linh mục, người đứng đầu các cơ quan viện trợ công giáo Hoa Kỳ. Linh mục này không muốn đi nếu không có người Việt Nam của ông cùng đi với ông. Ông Martin tự hỏi về những sự liên hệ của Tổng Thống Ford với các Giám mục Hoa Kỳ , nếu ông ta bỏ linh mục này ở lại.

Ông Pierre Brochand đã yêu cầu ông Dương Văn Minh qua điện thoại để cho ngưng các cuộc chiến. Ông Minh trả lời là ông sẽ suy nghĩ lại.

Ông Bronchard nhớ lại là dự trử xăng cho máy điện được chất đống dưới bức tường của tòa đại sứ Mỹ. Ông đánh thức nhóm trẻ đang ở trong khuôn viên tòa đại sứ Pháp ( nơi các nhân viên đang tạm sống với con cái của họ cùng với một số gà vịt):

_ “Đi, đi lại chuyển hết các thùng dầu vào giữa vườn giùm và lấy tấm bạt ướt đậy lại. Ông giục to lên.

Thế là ông cùng nhóm trẻ lo dời các thùng dầu.

23 giờ 6 phút

Từ Nhà Trắng, ông Don Rumsfeld báo cho ông Martin biết là ông phải lo cho 150 nhân viên của hãng IBM đang ở đâu đó trong thành phố với gia đình họ.

_ “Mặc họ muốn đi đâu thì đi! ông Martin nói,

22 giờ 30 phút

Ở phi trường, Thủy Quân Lục Chiến đang phá hủy các dãy nhà và nhất là dụng cụ truyền tin, hai trăm máy truyền tin, 60 máy điện toán, một trữ lượng lớn dữ kiện, một đài dò tìm vệ tinh, một máy điện toán thật lớn của Quân đội Việt Nam được thiết trí ở trong dãy nhà thuộc trách nhiệm của Quân đội Mỹ . Người ta cũng đốt một số lớn hồ sơ. Tất cả đều diễn tiến đều rất tốt. Viên sĩ quan được chỉ định lo việc này đã đặt chất nổ từ sáu ngày trước. Và hôm nay là công việc cuối cùng. Người ta dùng ba thùng hỗn hợp nhiệt nhôm, một trăm trái lựu đạn và khoảng 20 dụng cụ dẫn hỏa. Người ta đã cho ngòi nỗ chậm, sau đó Thủy Quân Lục Chiến chạy ra sân quần vợt, ở đó trực thăng cuối cùng đang chờ họ..

Đây là nơi từ mười năm qua đã nổi lên một trung tâm, một trái tim, một bộ máy của quyền lực quân sự Hoa Kỳ tại Đông Dương. Nơi đây một Tổng Tư Lệnh Hoa Kỳ, tướng William Westmoreland, tiên liệu chiến thắng , đã công bố là “ánh sáng đã ló dạng ở cuối đường hầm”. Ánh sáng duy nhất ở cuối đường hầm của cuộc chiến quá dài này, là đám cháy lớn này, đám cháy của các dãy nhà đang đổ sụp xuống vì chất nổ, một đám cháy thật lâu với ngọn lửa trắng xanh của chất hóa học trộn lẫn với bột nhôm.

23 giờ 45:

Bức điện tín từ ông Martin gởi về Nhà Trắng:

_ “Từ sau điện tín sau cùng của tôi, mười chín, tôi nhắc lại 19 chiếc CH-46 đã đến và đi. Tôi đã nói là tôi cần một số tương đương với 30 chuyến CH.53. Tôi vẫn còn cần. Có thể cho tôi biết được không?”

Mười lăm phút sau, ông gởi cho tướng Gayler:

_ “… Không có gì trong vòng 20 phút qua.. Hình như là tôi phải bước qua một phần của ngày 30 tháng 4 ở đây rồi, tôi mong đây chỉ là một phần thật nhỏ. Chắc chắn là tôi không qua ngày 1 tháng 5 đâu.”

Ông Martin đã nói với ông Kissinger hơi khôi hài, là nếu tình hình trở nên xấu thì ông ta sẽ phóng xuyên qua tường đến tòa đại sứ Pháp để xin tá túc với ông Mérillon. Dĩ nhiên là ông sẽ không từ chối và ông Martin sẽ ngủ ở phòng bà Mérillon, “nếu bà còn ở đó chớ không phải ở Ba Lê”

Các Thủy Quân Lục Chiến cuối cùng đã rời khỏi Tân Sơn Nhất vào khoảng gần nửa đêm. Khi họ phá hủy trung tâm truyền thông ở phi trường thì tòa đại sứ không còn có phương tiện truyền tin hết sức tối tân nữa

Bà Claudia Krich, một thành viên quắc-kơ, đã viết trong nhật ký vào buổi chiều ngày 29.

Vào trước nửa đêm, có hai người ở cạnh bên nhà đã đến thăm bà:

_ “Đó là 2 ông bà bác sĩ ở Đà Nẵng. Họ đã trốn khỏi Đà Nẵng, quá sửng sờ khi nghe được lịch sử liên quan đến những người cộng sản. Họ hỏi chúng tôi là chúng tôi có biết làm sao để họ có thể làm cho trực thăng chú ý đến họ được? Họ nghĩ cách vẽ 3 chữ SOS trên nóc nhà của họ. Chúng tôi đã bảo họ đừng nên làm gì cả, vì nếu có một trực thăng đáp xuống đường của chúng tôi thì có thể chúng tôi sẽ bị binh sĩ Việt Nam bắn chết ngay. Chúng tôi đã mời ông bác sĩ đến nhà nói chuyện chơi với chúng tôi một ít lâu. Chúng tôi đã an ủi ông, làm cho ông bình tĩnh trở lại và cuối cùng cũng giống như bao nhiêu người khách của chúng tôi trước đó, ông ta đã đi về với nhiều ý nghĩ mới trong đầu.”

Đại tá Hòa cho lệnh ngưng tất cả các chương trình truyền hình Việt Nam vào đúng nửa đêm. Các binh sĩ Dù giữ đài truyền hình cũng đi về luôn. Thủ Tướng đã nói với Giám đốc đài truyền thanh và truyền hình:

_ “Ngày mai là tướng Dương Văn Minh đầu hàng. Chúng tôi không muốn thấy binh sĩ Dù trong thành phố Sài Gòn nữa.

Bộ Tư Lệnh Bắc Việt cho lệnh tất cả các pháo đội của họ ngưng tác xạ. Tướng Dũng viết: “Vào nửa đêm ngày 29 tháng 4, tất cả lực lượng tấn công của chúng tôi đã sẵn sàng tiến vào Sài Gòn . “Không khí thật căng thẳng cũng như người ta đã đưa một lưỡi rìu thần diệu lên vậy.”

Thật là những ngày mệt nhọc cho các phi công trực thăng! Bộ máy quân sự tuyệt vời của Hoa Kỳ vốn tiên liệu hết tất cả, đã bỏ sót một điểm: mỗi chiếc trực thăng xử dụng đều có phi hành đoàn của nó. Không có một người nào nghĩ đến việc luân phiên cho họ hay ít nhất cho 3 trong 8 người của phi hành đoàn, nên các phi công và các xạ thủ súng máy đều làm việc suốt, không ngừng nghỉ.

Thiếu úy Richard Van de Geer thuộc “phi đoàn 217 hành quân đặc biệt”, ở căn cứ Nakhon Phanom tại Thái Lan. Anh ta đã tham gia vào cuộc di tản ở Phnom Penh. Anh viết cho Dick môt người của anh. Trước tiên thiếu úy đến căn cứ Utapao nằm về phía Nam 500 dậm. Ở đó người ta thuyết trình cho anh:

_ “Người ta nói là tôi phải đưa trực thăng của tôi… đến một hàng không mẫu hạm. Được rồi, đây không phải thật sự là một chuyện bất ngờ, và chúng tôi biết là ở đó hạm đội 7 làm nhiều chuyện kỳ lạ lắm. Nhưng tôi không biết là chiếc hàng không mẫu hạm quỉ đó nó neo ở 8oo cây số ngoài khơi bờ biển Miền Nam Việt Nam. Được rồi, dĩ nhiên là tôi đã tìm thấy được hàng không mẫu hạm Midway. Tôi bảo đảm với anh là các chiến hạm đó trên biển cả không quá lớn như lúc chúng đậu ở bến đâu. Tôi đã đáp xuống trên chiếc hàng không mẫu hạm và Thủy Quân Lục Chiến đã nhanh chóng tuyên truyền cho tôi. Tôi không thấy thích chuyện đó chút nào.”

Hằng ngày, trung úy đều có tham dự vào một buổi thuyết trình về tin tức:

_ “Chúng ta ở đây là để di tản các công dân Hoa Kỳ. Những người Việt Nam được chọn lọc rất kỹ và những người của các nước thứ ba khác, vào giờ chót, nếu tình hình tồi tệ đến độ người ta không còn xử dụng được phi trường Tân Sơn Nhất … Tôi đã bốn lần bay đến Sài Gòn . Tình hình với 150 ngàn quân Bắc Việt chung quanh thành phố, dĩ nhiên không được là những nơi sạch sẽ để bay một trực thăng to lớn cồng kềnh, và di tản những người chỉ có vũ khí để tự vệ… Tôi có thể nói với anh về nỗi lo sợ thật sự mà tôi cảm thấy, bởi vì sau khi chúng tôi đã đi qua vùng Đồng Bằng để đáp xuống Sài Gòn là chúng tôi đang ở trên đất địch. Súng cao xạ bắn lên chúng tôi. Những tên Việt Cộng đã lấy được các trực thăng Huey của hãng Air America để bay đi chỗ này chỗ nọ, họ bắt chúng tôi phải chơi một ván cờ thật là lý thú. Tôi muốn nói là chuyện đó thật sự không tốt đâu. Chúng tôi nghĩ là họ muốn phá hủy toàn bộ cuộc hành quân của chúng ta vào ban đêm, bởi vì chúng ta không thể đợi cho họ đưa chúng ta vào một tình hình được xem là quá xấu, ngay cả ban ngày. Nhưng như anh đã có thể thấy đó, nhiệm vụ đã được tiếp tục mãi cho đến 5 giờ sáng, Các chuyến bay về đêm thật là xấu bởi vì chúng tôi bay không đèn. Các lằn đạn chiếu sáng đã làm cho mọi người thêm kích động. Nhìn thấy một thành phố đang cháy đã cho mình một cảm giác lạ lắm về vấn đề không có an ninh. Phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo liên tục không ngừng và khi nào tôi gặp anh tôi sẽ đưa ảnh cho anh xem. Bây giờ để tôi cho anh một vài sự kiện có thể mâu thuẩn với những gì mà anh đã đọc được qua báo chí. Tôi gọi đó là những sự kiện, bởi vì tôi đã thấy tất cả… Sáng ngày.. một chiếc trực thăng Huey của Việt Nam đã bay là là trên biển, tìm thấy được một mẫu hạm. Anh ta gần như đã hết xăng rồi nên đáp đại xuống mẫu hạm . Bất cứ người nào biết lái biết bay đều tìm khắp nơi để lấy trục thăng, rồi họ chở gia đình con cái của họ… Trực thăng của anh ta đáp xuống cách trực thăng của tôi có 15 thước, và người bước xuống khỏi trực thăng đó đã nói trong tuần trước là người Việt Nam nào rời khỏi đất nước là hèn nhát, và tất cả mọi người đều phải ở lại Miền Nam để chiến đấu đến cùng. Người đó bây giờ lại là người đầu tiên đáp xuống mẫu hạm Midway, và theo tôi được biết, là người đầu tiên được hạm đội 7 cứu. Người đó là tướng Nguyễn cao Kỳ. Như vậy cá nhân tôi không có một cảm nghĩ gì về cuộc chiến ở đây hết. Còn ai đúng ai sai, đối với tôi sao cũng được, nghĩ làm chi cho mất thì giờ… Nhưng tôi tự nhủ thầm là muốn cho ông ta bị bắt Miền Nam rơi… Chúng tôi đã di tản ra khỏi Việt Nam được gần 2000 người. Và không thể di tản hơn được bởi vì như vậy là đã quá sức chịu đựng của một con người, nếu muốn bay đi nữa….” .

Mảnh vỡ

Hồ Minh Dũng

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

(Riêng cho giọt nước mắt màu sen trắng.)

Quê hương của anh chàng họ Đào nầy là Việt Nam.

Cha mẹ sinh anh trên miền đất hẻo lánh, nghèo xơ, hứng chịu hết những thảm họa do thiên tai và cuộc chiến tương tàn. Anh lại còn bị thêm cái ách vô phương cứu chữa mà người đời gọi là đại-họa-nhân-quần.

Thời thơ ấu, Đào Tường đói quá phải ra giữa chợ kiếm ăn. Em kiếm ăn trong một tình cảnh thương tâm. Trong các hàng quán, thực khách ăn xong vất đồ thừa xuống đất, em cùng chó vui vẻ chia. Ăn xong, thú với người nhìn nhau, nghẹn ngào. Thời nào cũng có chợ búa, thời nào cũng có người ăn không hết. Em lớn lên từ những vật rơi vãi đó. Thượng Đế coi như tạm thời hoàn tất một công trình, rồi bỏ xó.

Lớn khôn, khi ý thức được những điều làm cho mình đau, thì anh lại bị liên tiếp những vố đau khác.

Cũng như những người đàn ông trên đời, trước hết sa vào chiếc bẫy ái tình. Cuộc tình của anh, tưởng chừng lay chuyển được cả sông núi. Ngờ đâu!

Người anh yêu là một thiếu phụ bị chồng ruồng bỏ. Giữa lúc hoang mang, không hiểu ngọn nguồn phụ bạc, thì gặp anh trong một chòi hoang bên đường, hai người cùng đụt một cơn mưa bất ngờ.

Điều làm anh run lên từng cơn hôn mê khủng khiếp ngày ấy không phải những giọt mưa buốt thấu xương, mà chính là lò luyện hương phù chú ở thân thể người đàn bà rạn, bốc hơi. Nàng là ai mà dễ sợ thế? Nàng từ đâu đến mà chưa vói tay đã thu tóm cả vạn vật về?

Cơn mưa vẫn tầm tã bên ngoài. Trong, không ai nói với ai một lời. Họ lặng lẽ soi vào cõi tận cùng của cơ ngơi đang cuồn cuộn xây đắp. Cho đến khi đêm xuống, bóng tối đẩy anh chui vào chiếc kén lộng lẫy, hóa tằm.

Đến đây, Thượng Đế lại can thiệp, vá thêm một miếng vào mảnh đời rách nát của một người, cho anh một ân huệ tựa như ngày xưa giữa chợ, vui vẻ, náo nức hưởng hết cái thừa mứa dưới gầm bàn. Đó là đêm kinh thiên động địa. Trăng sao tỏa ướt đầm đầm. Sáng hôm sau, cùng với đất trời thức giấc, họ dắt nhau về. Cha mẹ anh đón nhận con dâu trong sự ngỡ ngàng.

Cha nói:

“Lấp sông, xẻ núi, làm được, không khó. Lấy vợ có nhan sắc như con nầy khó. Con mình coi ra có phúc.”

Mẹ thêm:

“Chồng làm quần quật suốt ngày mà vợ chỉ đứng trước tấm gương tô son điểm phấn. Con nhà bần đinh đi rước công chúa về.”

Khi có vợ, Đào Tường xin làm nghề khuân vác ở bến sông. Những bao lương thực chở từ nông thôn về hay những lô hàng hóa từ thành thị chở đi, anh đều xê vai vào vác. Anh làm việc suốt ngày, hăng say, bền bĩ, không mong ai giúp sức, lòng vui như mình đã được in đâu đó một vết son.

Con người bình dị như thế, ai ngờ được, bỗng nhiên trở thành một nhà sưu tầm độc đáo, anh kiên nhẫn truy tìm cái thế giới vô cùng tận ấy, chất thành đống cao vút trong vũng ước mơ của đời mình. Còn biết bao điều anh chưa khám phá hết, thì một ngày kia, người đàn bà ấy bỏ đi.

Ra đi công khai không sợ hãi, dấu diếm. Lại kêu xích lô vào tận cửa, dọn hết đồ đạc có giá trong nhà mang ra chợ trời. Cũng như những cuộc tình khác lúc tan, nàng cũng có nói đôi câu tạ từ. Còn anh, ngồi lặng câm đá tảng, bao nhiêu cột chống trời chắt chiu từ thuở nào khi không sụm xuống.

Cuối cùng anh đi trên mặt đất rung rinh để tiễn đưa nàng ra đầu ngõ. Dường như có tiếng nàng:

“Quay về đi, về đi thôi, anh. Kiếp sau lại gặp nhau. Anh không tìm em, thì em tìm anh!”

Không chỉ mất vợ, một thời gian sau, cha mẹ anh nối nhau vĩnh biệt. Cả hai người đều mang một căn bệnh: buồn, thấm đòn đời, mất ăn mất ngủ, thường xuyên co hai cánh tay ép về phía ngực để tự vệ, như lúc nhìn thấy lưỡi dao găm nhọn hoắt của tên đạp xích lô vào chở đồ đạc nhà mình. Cả hai người chết đều không nhắm mắt. Khi bàn tay anh vuốt cho bốn con mắt của đấng sinh thành xuôi xuống, ấy là lúc anh nở được một nụ cười.

Khi nụ cười tắt, một chuỗi âm thanh phát ra từ cổ họng, nghe ấm ức như nước chun qua ống cống nghẹt.Nhà tan nát không lâu, anh nhận giấy lên đường nhập ngũ.

Chiến trường khốc liệt, máu đổ xương rơi đang đợi anh ngoài chiến địa. Kẻ vô danh tiểu tốt nầy vẫn biết mình còn có một quê hương đang lâm nguy. Thế là anh xông lên, không cần tiếng kèn thúc quân, không một mảy may nghĩ tới huy chương đeo ngực, vòng hoa quàng cổ.

Đất nước mênh mông, tử địa mênh mông, anh lao tới phía trước. Cái lao tỉnh táo nhẹ tưng, như ngày xưa lao vào vú mẹ khi đói. Một chân anh bị đạn thù cắt ngang.

Người thương binh không còn ai thân thuộc để trở về, nên cấp trên lưu lại trong quân ngũ để chăn mấy con bò cho đại đội công vụ. Họ đặt cho anh một chiếc chân giả bằng nhôm nguyên chất tận Sài gòn để anh theo kịp những con bò trên đồi.

Cỏ non xanh, lông bò vàng cùng với chân trời tím màu lửa khói ở phía xa hơn, vẽ nên một bức tranh mà chân dung anh ở giữa, trong thế đứng hiên ngang, chịu chơi. Anh coi bò như bạn, đặt cho chúng những cái tên mang địa danh mà đơn vị anh đã từng cố thủ một mất một còn.

Không ngờ, một ngày đẹp trời, chú A-Sao đến lúc động tình, ngửng mỏ lên cao, hít cái mùi hoa tràm đậm đặc bay la đà, rồi tung một cú đá hậu tóe lửa vào cái chân còn lại của anh.

Địch bắn đã đau, bò đá không thua. Cái đau cha mẹ chết, tình yêu tan bọt bèo, cộng với thân thể không giống ai. Đó là lúc anh thành người vô dụng, trở về trên con hẽm mùa đông.

***

Con hẽm chạy men theo bờ ao bao quanh Thành Nội. Dân ở đây đã bao đời sống bằng nghề cắt cổ nhổ lông gà vịt, mang ra các chợ bỏ mối hay đem giao tận các nhà hàng ăn uống. Từ sáng tinh sương, tiếng kêu thất thanh của đám gia cầm bị lôi cổ ra khỏi chuồng trở thành một bản hợp xướng xốn xang. Chính những bàn tay dính máu ấy, khi chiều xuống, giữa mênh mang sương khói, họ uốn lượn mái chèo, lách chiếc ghe đan len qua hằng hà búp sen non đang cố trồi lên mặt váng bèo.

Rêu phong lớp lớp không ngừng phủ đắp lên thành quách lở. Biết bao triều đại đã đi qua mà cảnh sắc vẫn còn lơ lửng bên người.

Kẻ tật nguyền phờ phạc đến đây, nương náu dưới mái miếu âm hồn từ lâu không người hương khói. Công việc đầu tiên của anh là lấy mẻ sành khắc lên vách tên mấy chục đồng đội cùng chiến đấu ngày nào đã chết. Anh trở thành một nhà điêu khắc khéo tay, cẩn trọng, thành khẩn. Máu ứ trong tim óc đã lâu, nay chạy rần rật, chuyền qua đường khắc, tưởng như hồn thiêng sông núi rủ nhau lục tục kéo về.

Miếu âm hồn, nơi chuột bọ, nhện gián tung hoành lâu lắm, bỗng một sớm vang lời kinh nguyện và trầm hương nghi ngút. Không biết góp nhặt từ đâu, con người ngu ngơ, ít học ấy đã dệt được một bài kinh dài nghe ra não nùng, ai oán. Có lẽ, ngoài người sáng tạo ra, không ai hiểu hết ý nghĩa của kinh, chỉ biết khi nghe lòng rộn lên, hoài tưởng, một cảm giác an nhàn như mình đang sống trong thời bình, chưa có gì mất, không ai uy hiếp, bóng tối bị đẩy lùi không kèn không trống. Cùng với tiếng kinh ngun ngút tỏa, thời gian ngừng trôi, gió hết thổi, cây cối lặng yên, lũ chim bói cá mới thay bộ ngực màu cánh gián bằng lụa hoàng hoa bay về từng đàn đậu trên những nhánh sầu đông trụi lá. Bọn trẻ con bu tới chật ních sân am, người lớn đứng xa chỏng tai nghe. Tất cả đều bị bàn tay hộ pháp vô hình khống chế, ném vào thế bị động.

Người trong hẽm, từ lúc lọt lòng mẹ đã từng nghe quen tiếng gà vịt quang quác lúc bị chọc tiết hòa với tiếng sóng bì bõm chạm vào bờ ao lở, nay còn phải đối đầu với một thứ âm thanh quái đản.

Có người buột miệng, hỏi:

“Để đuổi cô hồn gà, vịt chết oan à?”

“Không phải.”

“Đuổi ai?”

“Không đuổi ai hết.”

“Làm chi mất công. Nhổ lông gà vịt có tiền, được no.”

Đào Tường cười xòa, không hiểu người ta muốn nói gì. Từ ngày vào đây, anh chưa bao giờ đói. Bởi ngoài giờ kinh cầu cho đồng đội, anh còn huy động được một lực lượng toàn trẻ mồ côi nhặt lông quấn thành chổi đem đi bán dạo kiếm được tiền. Không biết học ở đâu, anh làm ra những chiếc chổi khá ngoạn mục. Có cái đơn giản như hoa xương rồng mới nở ngoài động cát, có cái mượt mà như đuôi chú sóc leo trên cành nhãn ló lên khỏi tường mốc bên kia, có cái rũ rượi cành liễu sang thu, có cái ăm ắp vui vẫy chào như hoa lau đồi xuân. Thiên nhiên đã vẽ sẵn nhiều màu sặc sỡ lên lông rồi, anh chỉ việc kết lại theo ý nghĩ của mình.

Chán kẻ cho anh là tên ma đầu làm đảo ngược trật tự xã hội. Đất nầy không phải là nơi dung thân của kẻ đầu đường xó chợ. Nếu không ra tay trừ khử trước đi, một ngày không xa, bọn trẻ mồ côi kia, sẽ công kênh hắn đi nghênh ngang trong phố phường như hảo hán, thì trở tay không kịp nữa.

“Trở tay không kịp” ở đây, đối với họ là, tiểu thương chợ Đông Ba ngưng buôn bán. Những con đò từ thượng nguồn đến hạ lưu sông Hương tụ họp về để cho bọn gái giang hồ lộ diện. Rồi phố nọ phường kia chống cửa lên nhìn đứa con rơi của trời ngất ngưởng lên ngôi.

Thế là anh bị tóm cổ vào ngục thất.

Luật pháp nương theo những lời tố cáo vu vơ trong thư nặc danh, kết tội anh vi phạm thuần phong mỹ tục, phóng uế bừa bãi trên con ao toàn liên hoa nở và xúc phạm trầm trọng đến những nơi thờ tự tôn nghiêm bởi những chiếc chổi lông gà do anh sản xuất có lông vịt lẫn lộn vào. Vịt là loài bản chất thích lặn hụp trong chốn bùn lầy, lông chúng tất phải dính cặn bã nhơ nhớp. Xưa nay, lũ quân tử tự xưng vốn cho vịt đạo đức giả, lừa đời, cố giữ mình thanh thản bơi trên mặt nước mà đôi chân thì chọi chí tử phía dưới.

Với một bản án lạ lùng như thế, nếu không phải là Đào Tường, thì sẽ té ngữa ra mà oán trời đất. Chỉ có anh là không. Trong nhà tù tối tăm, trong am miếu hoang vu, trong quán xiêu đụt mưa, trên chiến địa thắm máu hay trên đồi cỏ theo bò hâm hấp nắng nôi, cũng thế thôi. Đời! Xưa nay vẫn thế rồi!

Ở tù được bốn năm thì nước mất.

Vừa mới ra khỏi nhà lao, không biết đi đâu, thì người “phế binh chế độ cũ” bị một toán người xưa kia hoạt động nội thành cho kẻ thù xúm lại đánh một trận đòn nhừ tử.

Họ không dùng báng súng, gậy gộc, mà dùng toàn cành cây long não bẻ bên đường đánh anh. Cho đến khi những chiếc lá tơi tả lìa cành đắp un lên mình anh một lớp dày, rồi bỏ đi.

Kẻ đánh cũng như người qua đường tưởng anh chết rồi. Nhưng anh không chết, anh nằm dưới mộ lá, một ngón tay còn cựa quậy được, anh vạch lá nhìn trời. Trời vẫn xanh biếc, có những áng mây rực rỡ bay qua.

Khoảnh khắc dưới mộ lá, anh nghe quanh mình có tiếng dế mèn vọc đất. Thêm mấy chú chuồn chuồn rôm rả gọi nhau, cả những cô bướm đêm đi tìm cuộc tình mới mất ghé qua… Một thế giới mới rộn ràng, đang chuyển mình bôi xóa mọi thứ để chuẩn bị bước vào đêm đen.

Trong mộ lá, anh nghe thì thào lời mẹ ru thuở còn nằm nôi. Mẹ ở đâu dưới tầng tầng đất dày nầy? Thịt xương mẹ đang trên đà huỷ hoại phát ra âm thanh như sấm rền.

Và, một cuộc tình đã trôi đi lâu, mà con đò chở nó vẫn còn cắm neo gần bên.

***

Trong đám người ngơ ngác tới Mỹ những năm đầu tiên, ai ngờ có cả Đào Tường.

Không biết bằng cách nào kẻ tật nguyền như thế lại vượt đại dương bao la để đến được đây. Thật quả không nhầm. Chính hắn. Một chân bị đạn cắt, chân còn lại móng bò cứa mấy đường gân làm cho cơ bắp co rút dị dạng. Bản mặt kia, chưa lặn phai vết đánh dập bầm của bọn nổi dậy. Cái nắm xương thịt bơ vơ kia vẫn đeo tòng teng theo một mớ bòng bong dĩ vãng. Hắn vẫn thế, vẫn mang nét mặt không buồn, không vui, từng ngày lê đôi nạng gỗ chênh vênh trên phố lạ.

Không it người phương đông xưa nay vẫn quen thói, hai tay luôn bận rộn, một chuẩn bị bưng bô cho kẻ có thể nhờ được đái, tay còn lại thủ sẵn ngọn lưỡi lê chực đâm vào mạng mỡ kẻ khốn cùng. Cả hai tư thế đều nhập nhằng, ba láp.

Người ta lại hội họp nhau để lý giải về hiện tượng nầy. Có kẻ đã khàn cổ trước đám đông để định nghĩa hai chữ tự do và kết luận, con người như thế cũng đi tìm tự do chăng? Có kẻ sửng sốt hốt hoảng, muốn xô đẩy người cùng chủng tộc vào bước đường cùng, đưa cao hai tay lên trời khấn rất lâu, không biết họ xin gì với đấng vô hình?

Một ngày kia, có người ngồi trong quán rượu, lòng nhức nhối khi nghe tiếng nạng gỗ âm vang dưới hàng cây phong bên vệ đường, bỗng biến thành nhà văn, vội vàng trở về thư phòng thức suốt năm canh, nhiều đêm như thế, để viết về cuộc đời của một kẻ trôi sông lạc chợ không đủ can đảm kết liễu mạng sống, còn đến đây bêu xấu giống nòi.

Đoạn cuối tác phẩm vĩ đại ấy, nhà văn hô hào, phải tìm mọi cách nắm chặt tay nhau hạ sát nhân vật chính trong truyện, thả xác hắn xuống biển. Trước khi thả, phải cột đá nặng vào thân, đừng cho trôi về cố hương. Rồi bọn họ họp nhau ở một quán cà phê, hí hửng ký vào biên bản thề không đội trời chung với hắn.

Như khi xưa dưới mái âm hồn, đang ngủ có người đột ngột dựng cổ dậy hỏi những câu vu vơ, nay có người chận ngang đường, gay gắt:

“Ê, biết con rận có mấy chân không?”

Anh trả lời liền:

“Không.”

“Mầy dám mang rận từ Việt Nam qua đây, hả?”

Anh chưa kịp trả lời thì người hỏi đã bỏ đi. Y không nhổ nước bọt, nhưng quăng lui cái nhìn căm gan còn nặng ký hơn cả Lê Quýnh khi nhìn bọn Tàu đè đầu gọt tóc đám đồng liêu trên bước đường theo phò Lê Chiêu Thống.

Tự do, có rồi. Người ta quay sang phục vụ cho bao tử. Điều nầy xem ra cực kỳ cấp bách, không châm chước. Men theo lối qủy đi, họ len lỏi rất thành thạo, bài bản.

Đó là lúc, Đào Tường khám phá ra rằng, chính mình đã đem điều không vui cho kẻ lưu lạc cùng màu da. Anh không biết con rận có mấy chân, nhưng biết nó hút máu người để sống. Và, “con rận” mà người ta cho là anh mang theo ấy chỉ là chú bọ dừa vui tính, vừa mới từ cành phong đỏ ối phóc qua, bám vào cổ áo anh.

Một con cá sợ chết đuối. Đám bồ nông còn lượn vòng quanh.

Thế là anh bỏ đi.

Ngày đi, trời đất nặng chĩu. Anh buồn lắm, mắt rân rấn chực khóc. Thêm một lần nữa, bất đắc dĩ phải xa nơi mình muốn sống, còn phảng phất một chút hơi hám quê nhà.

Người Mỹ không vô tâm như ta tưởng. Cha ông họ khi đến đây, trên vai đã cồng kềnh mớ hành trang đầy hoài nghi và khát vọng tìm kiếm.

Họ hăng hái khai quật những gì chưa phơi bày. Khi giấc mộng chinh phục vũ trụ đã có, họ chuyển hướng sang lục lọi những điều bí ẩn trong con người. Họ đánh mùi rất nhạy trước những hiềm khích của đám dân thiểu số bị nghịch cảnh lùa đuổi tấp dạt đến đây.

Trường hợp một người Việt Nam mình mang đầy thương tích, bị đồng hương đòi cột đá ném xuống biển đã làm cho họ chú ý.

Cuối cùng họ tìm ra manh mối.

Hắn là ai? Câu trả lời vô cùng kinh ngạc. Lòng họ chùng xuống, vội vã cám ơn Thượng Đế đã cứu vớt nhân loại qua hình ảnh một con người từ chóp núi bị xô té lăn cù xuống vực. Trên đường rơi, bị xóc biết bao mũi đá, hốc cây, vẫn còn được sống, tâm hồn yên ổn.

Họ vui mừng khôn xiết, sau khi khám phá ra rằng, bầy người có thể tồn tại khi thân xác bị liên tiếp những vết thương trong chiến tranh, mà đất nước họ kéo cái đuôi lê thê trong nỗi khiếp đảm từ thế hệ nầy qua thế hệ khác. Anh, là một câu giải đáp cho toàn bộ những thắc mắc về hội chứng sau cuộc chiến bỏ cuộc giữa đường, mà lâu nay tốn kém không biết bao thì giờ, giấy mực, tiền bạc và tệ hại hơn, mầm mống tranh chấp quyền lực từ đó nẩy sinh.

Đào Tường khi không nổi tiếng như cồn.

Từ nơi trốn đồng hương ở thị trấn hẻo lánh miền Bắc, nhiều cơ quan từ thiện, hội đoàn, hội thánh, trường học, trại huấn luyện quân sự, nhà săn sóc kẻ bị bệnh tâm thần… đã đưa anh lên xe không mui, chạy chậm qua những phố xá chật ních. Có người mất chồng, mất con ở sông núi xa xôi kia, không kềm được cơn xúc động, nhảy lên xe, ôm hôn anh, như hôn một người thân từ cõi chết về.

“Thượng Đế còn làm phép lạ”. Đó là câu thuyết minh dưới tấm hình anh đang nở nụ cười tươi đăng trên trang nhất báo chí, mở màng cho chiến dịch rộng lớn, mang anh đi diễn thuyết khắp nơi.

Chỉ nhìn con người ấy, trí óc người khác nẩy sinh ra trăm ngàn đề tài lạ. Dưới mái trường đào tạo mầm non của đất nước, các vị giáo sư không cần phải lên bục giảng. Nhìn thấy anh, đám học trò cũng hiểu rằng, ý chí con người sẽ thắng vượt tất cả, thân bại mà tâm không liệt, là anh hùng thứ thiệt, học lấy. Trong các giáo đường, nhà nguyện, các vị chủ chiên không cần phải đọc Thánh Kinh. Nhìn anh, bổn đạo đã thành tâm hối cải, bởi tội lỗi của thiên hạ không chỉ đóng đinh một mình Chúa Cứu Thế, mà đóng đinh nhiều người.

Sau cùng người ta dẫn anh đến thủ đô Hoa Thịnh Đốn, đứng thật lâu dưới bức tường tưởng niệm. Anh cúi đầu xuống thấp, xòe năm ngón tay vuốt lớp bụi phủ nhòa tên tuổi chiến sĩ tận vong.

Cử chỉ anh thận trọng, đẫm buồn thương, y như ngày nào vuốt mắt cha mẹ, y như mới đây nhẹ nhàng phủi chú bọ dừa trên cổ áo. Chú bọ dừa bị “chụp mũ” kia bay quanh quanh giữa trời một lúc rồi chìm trong màn sương.

Qua thông dịch viên, anh nói với đám đông:

“Chỉ có những người nầy, không bỏ nước tôi mà đi…!”

Anh muốn nói thêm điều gì nữa nhưng cổ đã nghẹn.

Những người chung quanh cho anh nói chừng đó đủ rồi.

Đủ rồi, một đám mây ùn ùn chở đầy hồn vía tả tơi của hơn năm vạn sinh linh chết bờ chết bụi trên đất nước Việt Nam nhỏ bé bay về.

Với đầu óc thực tế, người Mỹ không chỉ đối với một nhân vật mà họ coi như tấm gương soi chung có thế. Cứ mỗi lần họ mời anh ra giữa đám đông là mặc cho anh một chiếc áo mới nhiều túi, có tua ren vàng, thêu hình cánh chim đại bàng bằng kim tuyến đang tung bay. Nếu người ta tặng anh cành hoa hồng thì thế nào cũng có những tờ Mỹ kim quấn vào đó. Thế là chẳng bao lâu, anh trở thành một người giàu to. Cơ trời lại một lần nữa biến hóa khôn lường, không ngờ.

***

Con đường leo lên đồi đến nhà Đào Tường ngày nay mòn nhẵn dấu chân người. Không biết ai đến với anh và đến làm gì nhiều thế? Năm tháng đi qua, tuổi đời chồng chất. Từng buổi chiều Đào Tường ngồi đưa đôi mắt lạc loài nhìn xuống đồi, lòng tan nát.

Một bức tường vô hình xuất hiện bốn phía, chỉ trổ cho anh một cánh cửa tò vò để nhìn về quê nhà. Tổ quốc ngàn dặm xa, không biết ở hướng nào?

HỒ MINH DŨNG

Câu Nam Ai Thất Lạc

Hồ Minh Dũng

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

Ðêm nội thành một mình em xõa tóc

Thương câu nam ai thất lạc bên đường

Thiều Dung và Thiều Hoa là hai chị em sinh đôi. Khi mới sinh, bà mụ gọi là hai hạt ngọc.

Ông Bửu Bình phải thuê người chèo thuyền lên tận đầu nguồn sông Bồ tìm cho được cây lồ ô già có sinhchín cây con (hoặc còn măng) mọc chung quanh về đan nôi cho con.

Lớn lên cả hai chị em đều xinh đẹp lạ thường.

Thiều Hoa có đôi mắt nhìn vào ai thì người đó phải bồn chồn, lo lắng như mình sắp bước vào đường lao đao. Các chàng thanh niên yếu bóng vía chỉ nhìn đôi mắt ấy một lần vội vã về nhà trùm chăn mơ tưởng tới, có khi cả mấy ngày không cần ăn. Còn Thiều Dung có mái tóc khác đời, nếu nàng đi một mình trên vệ cỏ ven sông Hương thì mây phủ trên dòng sông đó đều kéo dồn về phía nàng. Nơi có mái tóc chập chùng ảo ảnh.

Các cụ nhà nho thấy hai cô gái nhà tôn thất, nói với nhau:

– Tổ chim sinh một lần hai chim phượng quý, là điềm sắp đến ngày suy.

Mẹ nghe được câu đó, ghi lòng, chờ đến khi hai con tóc chớm ngang vai, cho trang hoàng hoa lá chiếc thuyền, ban đêm chở lên điện Hòn Chén cúng gửi cho nữ thần và múc nước khúc sông đó cho hai cô tắm gội trừ quỷ tà xâm nhập vào châu thân. Người nam chèo thuyền thấy được hai cô lúc tắm, về đến nhà nổi cơn sốt nằm liệt mấy ngày, người ta gọi là bệnh tương tư cấp tính. Một thanh niên khác nhà gần sông, trèo cây cao nhìn trộm, chân tay bủn rủn rớt xuống đất, may nhờ có lá vàng rụng trải dày phía dưới mà không hề gì. Ðó là thời hai cô gái mới lớn, nhan sắc chưa đến hồi phát tiết toàn bích.

Khi hai cô ngồi bên nhau thì trời đất tụ lại thành một khối tinh anh muôn sợi nghìn nhánh vấn vít vào đời. Khi tách ra, tự mỗi cô là một cù lao vời vợi, mặt trời, mặt trăng, ngàn sao chỉ mọc, lặn ở đó.

Mẹ hai cô tên Ánh Thiều, quê ở làng Xuân Ổ thuộc huyện Phú Vang. Cả mấy trăm năm nhà Nguyễn, xứ nầy không ai được tuyển vào cung, nhờ thế mà dân tình yên vui trong những gì họ có. Ðến khi Ánh Thiều sinh ra vì đẹp quá nên phải gửi cho bà ngoại ở làng Dương Nỗ nuôi, để tránh cái họa “một ngày dựa mạn thuyền rồng…”.

Từ khi có bé về, đội đua ghe làng phát triển. Bé càng lớn lên, tay đua càng khí thế. Lúa ngoài đồng năm nào cũng chĩu hạt. Cam quýt trong vườn không một trái sâu.

Về sau, ông Bửu Bình trong những buổi nhàn cư thường về cầm chầu cho đội ghe nầy. Nghe có người đẹp ẩn thân, tiếng trống ông vang lên rộn ràng như thúc quân khởi nghĩa. Hết đua, ông ngồi giữa sân đình làng đánh trống, tiếng trống vang như sấm rền, làm cho chim chóc không dám đến đậu chung quanh. Người hoàng phái, chẳng ai phàn nàn ông. Mỗi khi ông đến, đều có thắp nhang, cúng hoa quả trong đình như lời cầu xin trước với đấng thiêng liêng. Nhang ông thuộc loại quý dùng để thắp trong lăng miếu thơm bay phảng phất cả làng. Ông cũng không nói đụng đến ai. Có ông, mọi người đều vui. Ðường làng, trường xuân hoa mọc đầy. Màu hồng thắm của hoa làm cho những buổi chiều tà bớt vàng vọt.

Ðêm đêm ông trải chiếu dưới mái hiên đình uống rượu, rôm rả ngâm thơ, kể chuyện đời. Người già, con nít kéo đến vui vẻ với ông cho đến khuya. Các cụ già khoái ông vì có rượu ngon, đồ nhắm toàn là thịt bồ câu non nướng, tôm chua kẹp thịt heo cỏ Giạ Lê luộc, cá hấp sông Truồi đang lúc có trứng, chiều nào cũng có người từ Dinh ruổi ngựa mang về còn nóng hổi. Bọn trẻ không biết uống rượu thì nghe ông kể chuyện, chuyện ông kể toàn là trên trời dưới đất, nhưng đoạn kết lúc nào cũng vui, lạ, thấm. Ngoài kể chuyện, chúng còn được nhìn thấy nơi chiếc áo ông mặc in nhiều hình lạ, chuồn chuồn, bướm, mây bay và chi chít hình thạch nhũ treo. Ở ông, một con người gần với vua, thái tử hay hoàng tử mà dễ gì chúng thấy được. Ông rất tốt bụng, tôn trọng người già, thương yêu trẻ thơ, có khi gắp thức ăn đút cho các cụ già, trẻ con. Các cụ nhai lâu vì không còn răng, các em nhai lâu vì tiếc không chịu nuốt. Thấy hai thế hệ đều cơ cực, hồ hởi với miếng ăn cõi phàm, ông rơm rớm nước mắt.

Khi hết người đến, ông mới chịu gối lên mấy quyển sách thánh hiền ngủ. Còn một người cuộc vui vẫn chưa tàn.

Ðến mùa đông, ông khăn gói lên. Mùa xuân, chờ nắng ấm lại về, như chim én.

Khi vắng ông, người ta không quét rác nơi chỗ ông nằm, cứ để thế cho gió lùa bay. Thằng mõ cùng đinh của làng đeo toòng teng chiếc mõ tre bụi bặm lảng vảng quanh chỗ ấy cũng không dám đuổi đàn ruồi hay xua lũ kiến đi.

Bỗng một năm, mùa xuân qua lâu không thấy ông trở lại. Vắng ông, không biết tai vạ từ đâu đổ lên đầu dân làng, mùa màng có trồng không có gặt, cây cối trong vườn và đường cái ủ rũ, buồn tênh. Ðội ghe không có tiếng trống chầu, thua luôn mấy trận. Cây đa đầu làng chỉ một ngọn gió nhẹ lướt qua đã gẫy mất mấy nhánh to. Ðám táo quân dưới gốc cây ấy chim chóc ỉa lên đầu trắng xóa. Trâu bò ra đến cổng làng cong đuôi chạy, lũ mục đồng đuổi theo nửa buổi mới ngồi được lên lưng. Gà nổi lên gáy trưa inh ỏi. Ðình làng vắng hoe, hương khói ngày mỗi thưa. Cú đứng nóc đình gào lên từng cơn. Con hói chảy qua phía trước dâng nước lên cao, cóc nhái kêu vang.

Các vị bô lão trong làng họp nhau cố tìm nguyên do. Người nầy nói:

– Mạch đất làng ta xưa nay không có gái đẹp. Nay có, sinh họa chăng?

Người kia nói:

– Ðàn bà đẹp như tiên như thánh, đi đến đâu ma quỷ lánh xa. Ngày xưa nhờ bắt được các nàng thục nữ nước Chàm dẫn về Thăng Long mà nhà Trần yên mấy chục năm liền. Tinh hoa các cô ấy còn xóa được uất khí loạn luân trong hoàng cung.

Lý trưởng nói:

– Hay là Bửu tiên sinh, giọt máu vua, bỏ làng ta mà đi?

Lời người chức sắc nói ra coi như kết luận. Họ xúm nhau bàn về vị hảo hán cầm chầu nầy:

– Ðúng thế, bất luận giá nào cũng mời ông ấy về.

– Mời về không khó. Khó là cột chân ông ấy lại.

– Phải, tính chuyện cột chân.

– Người cột chân ông ấy không ai làm nổi, ngoài Hoàng Thị Ánh Thiều.

Mọi người thở ra nhẹ nhõm, về nhà. Hôm sau, làng mổ trâu, giết lợn mở tiệc lớn, cái đầu lợn to nhất mang tới nhà bà ngoại Ánh Thiều.

Ánh Thiều trở thành vợ Bửu Bình khó khăn đến thế. Người mai mối là cả làng, đưa dâu cũng cả làng. Sau khi Bửu Bình lập kế lấy được vợ đẹp, hằng tháng ông về thăm lại làng nầy, cúng tiền bạc cho họ làng, thăm hỏi người cao niên, thân mật vỗ vai trẻ con, nhưng thần sắc ông như lạc lõng vào chốn hoang tàn, chẳng bao giờ cầm chầu cho đội đua ghe nữa. Vợ ông nói:

“Ðàn ông cầm chầu vừa tổn thọ, vừa tổn đức. Hai bàn tay con dòng của giống không phải để cầm dùi. Nay có tôi rồi, anh không nên cầm cái gì khác hơn.”

Ông cười, chỉ ngón tay vào ngực vợ:

“Khi xưa, cầm cái dùi là để giục vào lòng nầy. Nhờ tiếng giục động đến trời mà tôi có bà. Cả hai bàn tay tôi nắm chặt cái đang có, không nắm cái khác.”

Lấy nhau hơn ba năm, không có con. Ánh Thiều nói:

– Tuyệt tự là tội nặng, anh nên lấy thêm người vợ lẽ để kiếm mụn con.

Bửu Bình ngơ ngác:

– Biết lấy ai?

– Tôi có người em họ sinh bọc điều. Trên mặt có đến ba đồng tiền, hai ở má, một ở cằm.

– Ðàn bà có đồng tiền là tướng quý, nhưng sinh trong bọc điều thì khôn, không nên cưới người quá khôn làm vợ. Người vừa phải ít phản bội nhau.

Bà Ánh Thiều nguýt chồng:

– Thế em hạng người nào?

Ông Bình cười tươi:

– Em dại ngoài đời, khôn trong anh. Người ta thường “khôn nhà dại chợ”, em ngược lại.

– Phải. Ở đời khôn quá thì dễ bị tai họa. Thói đời, ai cũng thích người khác ngù ngờ.

Thời gian sau, Ánh Thiều lại đề nghị:

– Hay là em ra ngoại ô tìm mối cho anh, nghe ở làng Kim thời nào cũng có gái đẹp.

Bửu Bình ngần ngừ chưa quyết thì Ánh Thiều đã mang mấy thoi bạc đi. Gái làng Kim có thói tục thích làm vợ bé người giàu hơn làm vợ chính kẻ nghèo. Chỉ đi một vòng có hơn mười người xin theo, bà Thiều chọn hai, đưa lên xe kéo về cho chồng chọn. Thấy người nào cũng cao to, nõn nà, thắt đáy lưng ong, lông mày rậm, mắt lá răm, da bánh mật, là hạng gái đa tình, dễ sinh con, ông muốn cả hai. Bà Thiều không chịu. Sợ vuột mất cái đã nắm được trong tay, ông nghe theo, lấy một.

Tục làng Kim, đêm tân hôn, cô dâu chú rể phải đem nhau lên một ngọn đồi nhỏ có cây cối rậm, cả hai cùng chỉ vào mặt trăng (nếu không có mặt trăng thì một vì sao lớn nhất) mà đọc lời khấn nguyện “ngọn đèn hoa chúc do trời thắp nầy cả đời không tắt”, rồi trải chiếu, làm việc gieo giống. Ông Bửu Bình không chịu vì dòng họ rồng mây, làm như vậy, nếu sinh con sẽ hóa rắn rết chui vào gia thế. Cơ đồ nhà Nguyễn không khéo lẫn lộn với đám lông đuôi của chúa Trịnh mất. Trên mái nhà lợp ngói lưu ly của ông cũng có trăng sao, cần thì chỉ lên đó. Thế là cô gái khóc đòi về. Cô về, bị bọn hào lý trong làng phạt vạ hai thùng rượu lớn, ba con lợn, một mâm trầu cau vì cái tội trở về tay không. Số tiền ấy gia đình ông Bình chịu hết.

Mùa đông năm đó lụt to, nước thượng nguồn đổ về lên đến kèo nhà, dân làng Kim chạy lên núi không kịp trôi mất tám mạng. Bọn hào lý lại đổ tội cho cô gái làm vợ hụt người khác xứ mang con ma ế về làm hại làng xóm. Chờ khi nước rút, họ nọc cô ra đánh đòn trên bãi đất bờ sông, nơi nhìn qua bên kia điện Hòn Chén, ngày đó cũng lắm người đến lên đồng, nhảy múa chầu văn để xin thánh nữ phù trì che chở. Tiếng khóc của cô gái chao trên mặt sông, có đến trộn vào đám thanh âm đó.

Số người làng Kim kéo đến xem trận đánh không nhiều, họ tin xem đàn bà trần truồng nơi thanh thiên bạch nhật là điều không phải. Ðàn bà bị phơi bày ra đã đền tội rồi, cần gì phải đánh bằng đòn gánh củi, than.

Cọc gỗ trói cô gái sau không ai nhổ đi, không ai dám đến gần. Nghe đâu đêm khuya đom đóm tụ về trên vạt đất đó như bè lưỡi lửa và cọc trói cô có phát ra mùi thơm bồ kết và ánh lân tinh.

Mùa lụt năm sau, nước lên, cuốn cọc gỗ trôi ra giữa dòng. Trong làng có chàng đàn ông mạnh khỏe, góa vợ, chạy đuổi theo, nhưng nước lũ trôi nhanh, không tài nào đuổi kịp.

Chuyện ông Bửu Bình cưới vợ lẽ để sinh con nối dòng bất thành còn kéo theo nhiều hậu quả không hay. Ít năm sau, bà Ánh Thiều nghĩ ra kế khác:

– Anh để em về quê một thời gian, chúng ta tạm chia tay, rồi sẽ về làm vợ anh như lúc đầu, biết đâu mình lại có con với nhau. Sự đời xưa nay vẫn thế, lúc đầu tròn vẹn hơn.

Chí lý, ông Bình nghe. Vợ ông về làng Dương Nỗ một tuần, nhớ quá, ông mò về. Hai người đem nhau ra cồn cỏ ngồi dưới gốc vông vang.

Ông nói:

– Xa em, chẳng mấy ngày mà tôi thấy lâu. Ðêm năm canh trằn trọc, nghe thằn lằn kêu trên mái nhà, buồn da diết.

Bà nói:

– Mình buồn một, em mười. Ðêm khuya nghe tiếng dế kêu ngoài vườn, nước mắt chảy lúc nào không hay.

Rồi họ ân ái với nhau nồng nàn như ngày mới cưới. Lá hoa vông hình trái tim cùng với màu hoa vàng nhạt đang toát ra mùi xạ hương giúp họ chìm đắm. Ánh Thiều nhớ đến cô gái làng Kim, nhìn lên trăng mà xin lời cầu tự. Lâu lắm, ở quê bà mới có được một vầng trăng không mây che.

Bà mang thai, sinh ra hai chị em Thiều Dung, Thiều Hoa, một lần.

*

Hai chị em giống nhau như hai giọt nước. Chỉ khác nhau mái tóc và đôi mắt. Cả hai cô đều ít nói, khi nói ra toàn những lời không thừa. Càng lớn hai cô càng khác đời, từ lúc vào tiểu học đã có người lẽo đẽo dòm ngó. Ðến tuổi dậy thì, cha mẹ phải nuôi một người đi theo gìn giữ, canh chừng. Người nầy không ai khác là người đàn ông làng Kim hồi trước chạy đuổi theo cột trên dòng nước lũ, tên Bùi Thìn.

Ngôi nhà hai cô ở không bao giờ được yên. Lúc nào cũng có đủ hạng người, đủ thành phần lai vãng. Ông bảo vệ hai cô buộc phải lên tiếng:

– Bọn ngươi nên ai về nhà nấy. Tao đây hồi xưa, cũng mê sắc, nhưng có mức độ, việc dòm ngó chẳng đem lợi ích chi. Nay mới biết mình làm như thế là ngu. Chỉ cái việc lũ chó trong xóm sủa ầm lên thì ai ngủ nghê gì được.

Có người cãi bướng:

– Ông sướng hơn chúng tôi, được thấy gần. Chúng tôi đây, thấy xa. Xa lúc nào cũng thua gần. Ai ngu chứ chúng tôi đây thì không. Còn cái bọn cẩu kia, chỉ quăng cho vắt cơm có trộn thuốc chuột là xong.

Bùi Thìn bặm môi trợn mắt:

– Không nghe lời tao thì có cái đòn gánh nầy.

Bọn người thấy đòn gánh ở cái thế trảm đao ngang mặt nên giải tán. Ðòn gánh ấy là loại tre già lên nước bóng, ông mua lại của người ngày trước dùng để đánh cô gái làng Kim. Ông quý nó như gươm báu, dùng làm vật hộ thân, khi ngủ để sát bên mình.

Về già bà Ánh Thiều càng đẹp trong sự mệt mỏi bơ phờ níu kéo tuổi xuân. Cái đẹp của xế chiều lại lộng lẫy như ráng hoàng hôn. Có hôm chồng đi vắng, bà nói với người bảo vệ con:

– Ông là người hoài công chạy đuổi theo cọc gỗ trói người, thế có biết bây giờ cái cọc ấy ở đâu không?

Bùi Thìn trả lời:

– Có lẽ theo dòng nước trôi về biển đông.

Bà Thiều cười, hai hàm răng còn trắng đều, xinh như hồi con gái:

– Nó ở trong nhà nầy.

Bùi Thìn trố mắt ngạc nhiên:

– Bà không đùa?

– Không. Chồng tôi đẽo làm gối, gối đầu.

Bùi Thìn lặng người, nghe thêm:

– Số là nó tấp vô làng ngoại tôi. Có người vớt lên thấy gỗ cứng định đẽo làm mái dầm đua ghe, chồng tôi biết được gốc tích, mua lại với giá cao.

– Thì ra ông chủ cũng là người đa tình.

Bà Thiều cười:

– Không đa tình thì không lấy được tôi.

Thuận đà, Bùi Thìn hỏi:

– Bà là người đẹp không có tì vết mà tôi thấy được. Hai con bà không bằng, bằng chăng sau nầy có chồng, có con… may ra.

Bà Thiều sung sướng:

– Chồng tôi cũng có lần nói như ông. Có tôi, ông ấy trở thành người ích kỷ, vụng về khi đối phó với nghịch cảnh và sơ hở trong cách giao tiếp, kể cả những người mang nặng lễ giáo trong hoàng tộc. Ông ấy là người đàn ông hoàn hảo, chỉ có cái tội đeo dĩ vãng không chịu buông, mà suốt đời chẳng mấy yên vui. Lúc nào ông cũng nhớ đến người vợ hụt làng Kim. Gối cái gối ấy làm chi cho mỏi cổ. Gỗ vô hồn, có gì mà ôm ấp.

– Ðàn ông ai cũng thế, bà câu chấp làm chi.

Xét về mặt nội dung thì Thiều Dung giống mẹ hơn. Cô cũng thích những gì viển vông. Mái tóc cô hằng chải chuốt không mong gì hơn là để cho người đời nhìn thấy. Khi mới lớn, cô đã biết con gái Huế có mái tóc thề thường gây cho lòng người bất an. Tóc không lạ, ai cũng có, từ cổ kim đã có, nhưng tóc nàng nhiều quá, mượt, từng sợi óng ánh, rực rỡ. Gió vi vu thổi vào, tức là làm cho lòng người lay động, cuốn theo.

Còn Thiều Hoa, giống cha, thích đi trên những con đường gập ghềnh. Sự chuyển động làm cho hai cha con thấy hiện diện trên cuộc đời phù du nầy có ý nghĩa. Mặt trời đứng yên một chỗ mà người ta vẫn cho là nó đi, bởi vì người ta thích nó đi hơn đứng một chỗ, cứ vận hành mãi trong cõi vô cùng thì mặt đất bớt phần tiêu điều.

Nhà của họ ở bên hồ trồng sen hái để cúng Phật. Sen bao lần mọc rồi tàn. Nơi nhà nàng ngó lên đền Xã Tắc thấy được cả những con cắc kè bò. Em nói với chị:

– Ðền một khi hoang thì loài gì lên đó cũng được, không cứ là người.

Chị:

– Phải rồi, lòng em với chị cũng như đền.

Thiều Hoa bùi ngùi:

– Ðền không người đến thì thành hoang. Em thương nhất là mấy cây mù u.

– Màu trắng của hoa đẹp quá em à.

Mùa thu năm Sửu, ông Bửu Bình lâm trọng bệnh. Lúc hấp hối ông chỉ trối lại với vợ con là khi tẩm liệm phải nhớ bỏ vào quan tài cho ông chiếc gối gỗ lúc sống kê đầu. Bà Ánh Thiều túc trực suốt ngày đêm bên cạnh chồng trong những ngày cuối, cố gợi cho ông nên xét lại việc làm không phải mà ông đã từng làm khi còn sống, nhưng không thấy chồng đả động đến, nên coi như ông không vướng mắc điều gì, được thong dong ra đi. Khi sờ hai chân chồng ít còn hơi ấm, bà hỏi:

– Mình đi, có cần gì nữa không?

Tiếng ông như từ cõi xa vọng về:

– Em cho ta xin mang theo vài sợi tóc.

Bà Thiều cầm tay chồng, nấc lên:

– Em sẽ cắt một lọn to gửi theo mình.

Ðến khi sắp chia lìa, ông Bình ngỏng cổ cao nhìn quanh, thì thào:

– Chiếc nôi hai con treo ở đâu? Gìn giữ nó sau nầy ru cháu ngoại. Tre lồ ô sinh được chín con là thành quế trầm.

Rồi ông dồn hết sức bình sinh, rướn cong người, gào lên:

– Mở cửa trước ra cho ta đi.

Và ông đi.

Ông Bửu Bình chết không bao lâu thì Bùi Thìn xin nghỉ việc. Bà Thiều hỏi nguyên do, ông nói:

– Ngày còn sống, ông anh không hề nghi tấc lòng tôi, nay ông anh đi rồi, thiên hạ có thể nghi.

– Ông đừng ngại, không có ông ai đón đưa hai cháu đi về?

– Không cần đến tôi nữa, tuổi ấy không cần đến ai giữ gìn.

Biết không cầm chân được, bà Thiều nói:

– Tôi biếu ông một ít tiền để về quê bớt khổ.

Làng Kim với đây không xa, thỉnh thoảng ông nhớ đến thăm mẹ con tôi. Vắng chồng, vắng ông thì ngôi nhà nầy thành miếu.

Bùi Thìn buồn bã:

– Tôi đơn lẻ một đời, chịu đựng quen rồi. Nếu còn chân cứng đá mềm, tôi không quên ngôi nhà nầy. Tiền tôi xin gửi lại, chỉ cho tôi xin cái gối ông anh gối đầu.

Bà Thiều lấy dao rựa chặt đôi cái gối, gói một nửa vào tấm lụa điều đưa cho ông. Nửa còn lại, bà cũng bọc lụa điều, đặt lên bàn thờ chồng. Hôm liệm, bà không cho theo, sợ rằng có gối ấy, linh hồn chồng bị luẩn quẩn, khó siêu thoát. Ðó là lần duy nhất trong đời làm vợ, bà không nghe lời chồng. Khi chặt đôi khúc gỗ, những đường vân sáng bừng, cựa quậy, muốn bay lên.

Ngày ông Thìn đi, hai cô gái khóc tiễn ra tận cửa Ngăn, Thiều Dung nói:

– Bác đi, hai cháu sợ gặp điều không may.

Ông Thìn bùi ngùi:

– Không sợ gì, cứ đường đường mà sống. Ngày nào hai cháu lấy chồng, bác về. Vườn nhà bác có nhiều thanh trà, đến mùa chín bác hái mang về thăm.

Thiều Hoa nói thêm:

– Nay mai hai cháu cũng lên thăm bác thôi.

Từ độ cha chết, không người đưa đón, hai chị em Công Tằng Tôn Nữ đi về một mình. Con đường nào ở nội thành cũng buồn bã, đầy lá vàng rơi.

Cả hai nàng trong tang chế càng đẹp hơn, không ai dám đến gần. Có trên đầu hai mảnh khăn tang, cả hai cô u tịch như tháp cổ.

Người bàng quan qua đường thấy hai cô chặc lưỡi: “Ðẹp như trong tranh.” Người đứng trong cửa nhìn ra nói: “Hoa nầy bẻ cắm vào bình thì bình vỡ.” Ngày theo mẹ lên chùa, đại đức nói: “Lần sau nữ tín hữu không nên đem hai con gái theo.” Chủ Nhật hai cô đi dạo phố, có nhạc sĩ tài hoa xứ Huế, ngồi trong quán cà phê, bỏ uống, lên xe xích lô về căn gác nhỏ, đặt nhạc:

…

Chiều một mình qua phố.

Âm thầm nhớ, nhớ tên em

Có khi nắng khuya chưa lên

Mà một loài hoa chợt tím…

Lời ca nầy có một anh chàng sinh viên nắn nót chép lại, gửi qua đường dây bưu điện tặng Thiều Dung, kèm theo dòng chữ: “Tự thân, văn chương không đủ diễn đạt, mượn lời nầy để tặng người”.

Dung đưa cho em xem, em nói:

– Anh chàng nầy liều mạng.

Thiều Dung đùa vui:

– Thế là mình phải đương đầu, có khi cần phải mượn đòn gánh bác Thìn.

Một tháng sau, người gửi thư nầy đến nhà. Anh tên Hoài Khanh, đẹp trai, học giỏi, con nhà gia giáo. Luôn đeo lòng kiêu hãnh về dòng họ nhà mình có công nâng cao lịch sử dân gian lên một nấc. Ông cố anh, không sợ nguy hiểm tính mạng tự nguyện xin nhặt từng rẻo thịt của nữ tướng Bùi Thị Xuân bị Gia Long trả thù. Ông nội anh, trèo lên cây gạo lởm chởm gai, mở dây thòng lọng và dùng hết sức lực để bồng xác Hoàng Diệu xuống, khi thành Hà Nội thất thủ. Ðến phiên cha anh, thời bình, cũng nhanh chóng giữ lại được một chàng công tử thất tình nhảy xuống sông An Cựu quyên sinh. Nương theo cơ nghiệp vẻ vang như thế, anh mạnh dạn đến thăm một người mà chưa ai dám đến.

Hoài Khanh dùng lời văn hoa nói với Thiều Dung:

– Tôi là kẻ chiều nào cũng đứng dưới gốc sung để nhìn trộm cô về trên con đò Thừa Phủ và phân biệt rất rõ giữa cô và người khác, ở xa. Khi đò chở cô qua bên kia bờ, tôi mới thấy phía bên nầy, cuộc đời chẳng có nghĩa gì nữa. Nếu cứ như vậy, năm tháng trôi qua, không chừng tôi trở thành kẻ hèn nhát mất. Nên tôi đường đột đến đây, mong cô giúp tôi làm người không hèn nhát.

Thiều Dung nghe không bỏ một lời nào, rồi nói:

– Tôi cũng như những người con gái Huế khác thôi, có gì phiền anh đến thế?

– Thời đại nào sản sinh được một mỹ nhân là cả thiên hạ đều mừng.

– Tôi không dám nhận điều ấy. Có thể là anh cố ý tô bồi thêm.

Hoài Khanh nói:

– Ðến thăm cô, không có nghĩa là mong cho mình được tình yêu đáp lại. Nhưng tôi muốn, dù một lần gần để thấy được người đẹp mình thầm nhớ, xem nó động lòng như thế nào, chỉ mong chừng đó thôi.

Ðăm chiêu giây lát, Thiều Dung hỏi:

– Giả dụ như tôi có được điều anh vừa nói. Nay thấy rồi, anh về đã yên lòng chưa?

– Yên rồi.

Tình yêu của họ đến với nhau như thế.

*

Hoài Khanh và Thiều Dung yêu nhau. Người bạn thân của Hoài Khanh biết được, nói:

– Người sinh đôi chỉ có một nửa, lênh đênh giữa đời một nửa. Trói người ấy tức là trói một nửa, nửa còn lại làm sao biết dạt trôi về đâu. Hai người sinh đôi ruột nối ruột, tim nối tim, đường nối ấy chạy dài xuyên trong cõi vô hình.

Khi đang yêu, Hoài Khanh thiết gì những lời như thế.

Hoài Khanh cưới được Thiều Dung, hai người đem nhau lên Ðà Lạt, trốn xa cái thành phố mà lúc nào cũng có người tiếc rẻ một bóng hồng sa vào chốn cá chậu chim lồng.

Ðêm tân hôn, Hoài Khanh vừa hôn lên mái tóc thì Thiều Dung kêu đau, ôm bụng la:

– Anh đem em đi bác sĩ ngay, đau không chịu nổi nữa rồi.

– Có thể là lạ nước. Em uống viên thuốc chống nước độc là êm.

Ðưa thuốc cho vợ uống, anh ôm vợ. Thiều Dung lại oằn người lên kêu đau. Sau cùng phải gọi xe xích lô chở đi bác sĩ. Bằng phương pháp hiện đại khám nghiệm cũng không thấy gì. Bộ máy tiêu hóa hoàn chỉnh đang trên đà thuận lợi xay thức ăn. Bác sĩ chỉ cho thuốc an thần.

Về nhà uống thuốc thấy dịu, nhưng mỗi lần Hoài Khanh đụng đến nơi nào trên cơ thể, nàng cũng kêu đau. Mà nàng đau thật.

Sợ chết không gặp mẹ, sáng hôm sau, hai người phải tức tốc ra xe đò về Huế.

Ðến nhà, Thiều Dung được mẹ báo cho biết Thiều Hoa mới xuống tóc, vào chùa.

Ngày xưa, vị đại đức khuyên mẹ không nên đem con gái đẹp vào chùa, thì nay chính vị ấy vui vẻ tiếp nhận cô gái nầy khi sa vào bước lỡ lầm. Thiều Hoa quyết tâm đi tu vì bị người tình lường. Cô là một trong nhiều người bị hắn xóa thời vàng son. Không ai xa lạ, chính là họa sĩ dạy vẽ cho cô ở trường trung học. Hắn đã bỏ ra hơn một năm trời để vẽ mấy trăm bức tranh thiếu nữ có tầm cỡ, vóc dáng, màu sắc khác nhau. Nhưng cô nào cũng có đôi mắt tuyệt đối giống Thiều Hoa. Phải công nhận hắn là một thiên tài. Ðường vẽ hắn bao trùm mơ ước cấp bách của giới mày râu. Khi đem số tranh ấy ra bán, thiên hạ đến mua nườm nượp đắt hơn tôm tươi. Thiều Hoa yêu và thất thân vì nằm trong sự hâm mộ đó.

Khi thấy Thiều Dung thất thểu về, bà mẹ biết ngay sự việc xẩy ra, hỏi:

– Tuyệt vọng lắm phải không?

– Dạ.

– Mẹ ở đây cũng biết, khi em con xuống tóc thì gốc tóc con cũng không còn gốc dính đầu nữa. Lòng em quặn thắt thì con làm sao yên.

Thiều Dung đau đớn:

– Biết làm sao, hở mẹ?

Người mẹ không biết trả lời làm sao, lòng tan nát. Mấy ngày sau, ông Bùi Thìn nghe tin về thăm, gánh theo hai thúng thanh trà mới chín. Thiều Dung thấy đòn gánh ngày nào ông cầm để canh chừng chị em, nay bụi bặm bám đầy, òa lên khóc.

Trên đường về, ông Bùi Thìn tạt qua chùa thăm Thiều Hoa.

Chiều xuống, mây trên núi kéo về, sương dưới sông đùn lên nhiều quá làm cho ông đi chậm lại. Ðến cổng chùa trời tối hẳn, ông chợt nhớ ra cửa thiền không nên cầm đòn gánh vào theo. Bỏ lại ở ngoài chắc chi không có người lấy, ông quay lại về nhà.

Mái chùa, nơi Thiều Hoa nương thân, ở bên con suối nhỏ, hai bên bờ thông già, thông non cùng với bòn bọt, bời lời chen nhau mọc đầy. Dòng suối xuất phát từ một khu rừng thấp tịch lặng quanh năm.

HỒ MINH DŨNG

California – Georgia 1997 – 2005

Bên Trời Hoa Chẩu Nở

Hồ Minh Dũng

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

Trong tù, anh Hoàng Vân chỉ làm một việc duy nhất: đổ phân người.

Tuy công viêc gọi là thấp hèn, cũng qua một cuộc họp bình chọn cam go của anh em đồng cảnh ngộ, có sự phê chuẩn của cán bộ quản giáo.

Với anh em, anh là người đàng hoàng, mạnh khỏe, nỗ lực trong mọi công tác, không nề hà lánh nặng tìm nhẹ, nín thở qua sông. Với quản giáo, anh là phạm nhân chưa có một biểu hiện đáng ngờ vực, trong những lá thư gửi về thăm vợ con ở Sài Gịn, khi kiểm duyệt, vẫn thấy anh có quyết tâm học tập, tha thiết một ngày về đoàn viên. Hơn thế, anh có một người cô ruột là cán bộ cao cấp trong ngành nông nghiệp. Giao cho anh công việc “tự giác” nầy là tạm… ổn.

Trại giam Vĩnh Quang do bộ Nội Vụ quản lý, nằm nép mình dưới sườn đồi hẻo lánh. Quanh năm có sương mù bao phủ. Cảnh sắc lúc nào cũng tiêu điều, buồn bã. Ngoài chính trị phạm tiếp nhận từ các trại quân đội sau năm 1975, còn giam giữ hàng trăm tội phạm hình sự nhiều nơi gom về. Họ toàn là những con người xác xơ, ngơ ngáo bị hoàn cảnh lùa vào con đường hoạn nạn, sống khắc khoải, lưng chừng giữa biên giới thiện ác, không biết đời mình rồi sẽ kết thúc ra sao. Nhưng họ bày tỏ mối thân thiện ngay khi đám sĩ quan chế độ cũ lúc sa cơ đến đây, có thể là rước bớt hay chia bớt cho họ những địn hiểm nghèo, ác liệt, lại có thêm những người bạn đồng hành hào phóng, đa tài. Cục diện đã thay đổi, nhưng âm hưởng hào quang ngày nào vẫn còn đó. 

Khi Hoàng Vân đẩy thùng phi phân người ngang qua trước cửa khu giam biệt lập, có hàng chục người già trẻ, ló đầu ra đón mừng hồ hởi, có kẻ quăng ra cho anh một bao thuốc lào Vĩnh Bảo, có kẻ liệng cho anh vài điếu thuốc lá Sông Cầu… gọi là chút tình nghĩa bất phân ly lúc chim lồng cá chậu. Có kẻ, không kềm được nỗi ấm ức lâu ngày, cất tiếng:

“Đại bàng miền Nam ơi, cánh mới sụm thôi, chưa gãy lìa đâu nhé. To gan lên, sau cơn mưa trời lại sáng choang đó.”

Người khác, mái tóc đã hoa râm, nồng nhiệt chen vào:

“Một mai kia, trời có lật, đất có nghiêng về phía mình, các anh đi trước, có chúng tôi theo sau, nhé.”

Về sau, khi có lệnh ban giám thị cấm không cho ra đứng cửa liên hệ nữa, bọn họ lại đục thủng bức tường gạch một lỗ vừa cái đầu người chui ra, chờ anh đi qua, thập thò bắn tiếng:

“May tạm cái khẩu trang bịt mũi miệng. Ở đây tọa bệnh, chỉ có ông trời cứu.”

Một đứa khác, mặt còn non choẹt, đứng tên vai bạn, nhú đầu lên khỏi bức tường, nói theo:

“Hôm nào chị trong ra, nhớ cho bọn bên nầy gửi lời thăm và có chi cho hưởng chút xái, đừng quên nghe anh.”

Công việc của anh làm không lấy gì phức tạp. Chiều hôm trước đã có trực buồng các đội lấy phân trong cầu tiêu ra đổ vào thùng để bên hông hội trường, chỉ cần cán bộ an ninh trại khám qua coi có kẻ nào liều mạng chui vào đó để trốn trại không, là giao cho anh, anh chỉ việc cầm hai cái cần xe cải tiến có bốn bánh bằng gỗ đẩy đi.

Phân người tù, trong một chế độ ăn uống khắc nghiệt, chia sẻ rất mật thiết với “hoàn cảnh đất nước đang gặp nhiều khó khăn vì tàn dư của chế độ cũ để lại” không lấy gì phức tạp, không gây vất vả nhiều cho anh, chỉ có cái việc hủy nó đi mới nan giải.

Trước đây, khi người tù hình sự đảm trách, chỉ việc đẩy xe ra khỏi đồi chè trục xuống là xong, vài giờ sau  từng bầy chim mỏ nhọn lông đen, không biết từ đâu kéo về cắn xé, giành giật kêu chí chóe. Từ khi phái đoàn công an tỉnh sở tại về điều nghiên, thấy khu ruộng lúa phía trước trại còi cọt, không đủ thóc gạo cải thiện bữa ăn cho đám vợ con cán bộ ở khu gia binh bên hông trại, nên đưa ra nhiều kế hoạch cụ thể, trong ấy có phương pháp cổ điển, đốt phân người thành tro rải xuống ruộng. Hoàng Vân là  người  tù  duy  nhất  được  mang  theo  hộp quẹt trong túi để làm nhiệm vụ đó.

Công việc nầy về sau gây cho anh nhiều vất vả, vốn tính kiên nhẫn, chịu đựng bền bỉ anh cũng lắm phen chùn bước. Nếu phân người được phơi phóng vài ba hôm thì khỏi mất thì giờ nhen nhóm. Nhưng phơi như thế lại mất hai người tù canh chim, biết đâu họ lợi dụng kẽ hở nầy để “khước từ” cải tạo. Mà đâu có phải chỉ có chim ban ngày, ban đêm còn có biết bao sinh vật cần đến cặn bã nầy, lớn như chồn cáo, nhỏ như bọ hung, bọ rầy…

Hôm nhóm bếp đầu tiên, cán bộ quản giáo ân cần nói với anh:

“Điều cốt nhất là phải ngồi trên gió, nghe anh Vân. Hơi độc của khói nầy được ban nghiên cứu nông nghiệp trung ương đánh giá là, có tác dụng làm tổn thương hệ thống thần kinh động vật khi tiếp cận, giống như chất hóa học màu da cam mà đế quốc Mỹ đã sử dụng ở chiến trường. Phân người, xét cho cùng, không có gì đáng ngại, ngoài chất độc hữu cơ của nó. Xã hội mới, không đánh giá hồ đồ việc làm của từng cá nhân, coi trọng thực chất hơn là từ ngữ bề ngoài. Ráng lên anh Vân, mùa đông đến, trời năng mưa, khí hậu ẩm ướt lại cần thiện chí của anh. Kỳ họp đến, tôi sẽ đạo đạt lên ban giám thị cho anh hưởng mức ăn A, lại bồi dưỡng thêm cho anh mỗi tuần nửa ký sắn tươi đã vạt sạch đầu đuôi, hay hai trăm gam sắn khô chưa ngâm nước. Lúc nào vợ ra, tôi sẽ trình lên ‘khung’ cho anh ra thăm bốn mươi tám tiếng, nhé.”

Khi nhận số sắn thêm nầy, Hoàng Vân đem hết cho anh em trong đội đang đói kiệt sức. Còn anh, một cơ thể to lớn, làm việc cực nhọc cũng cần yểm trợ, thì đã có bếp lửa bên cạnh, chỉ đi một vòng giữa đồi núi trung du nầy là có củ mài, gốc chuối rừng, rau dệu, rau tàu bay, bắc gô lên là xong.        

Điều làm cho anh khó xử bộc phát sau nầy là, phải tìm ra một phương cách hợp tình hợp lý để đối xử với đám vợ con trong khu gia đình tập thể, thường ra đây la cà, vòi vĩnh xin một ít tro phân về bón hoa màu.

Lúc nào ra, họ cũng vác bộ mặt rầu rầu như vừa rời khỏi đám tang, kèm theo những lời thành khẩn, dịu ngọt, o bế. Có chị mang biếu anh vài viên thuốc ky ninh phòng khi sốt rét, có bác nhân dịp lên lễ đền Hùng đem về tặng anh một vài viên cuội nhẵn bóng gọi là món quà tưởng nhớ tiền nhân. Có anh, trước đây trong đội phòng không, nay điều về coi tù mang đến tặng một miếng inox bằng bàn tay lấy từ thân máy bay B52 bắn rớt, để anh chạm khắc làm vật kỷ niệm ở tù. Đáng nhớ nhất là có mấy em bé bỏ học đến mách nhỏ vào tai anh, nghe thiên hạ bàn tán xôn xao về các lực lượng Phục Quốc trong Nam nổi lên như kiến cỏ và tình nguyện mang thư anh ra tận huyện lỵ bỏ vào thùng thư bưu điện, anh muốn viết gì cho vợ con thì tha hồ.

Khu gia đình cán bộ nầy có riêng một mảnh đất nằm thoai thoải bên bờ suối. Họ trồng đủ các thứ cây: mướp, cà, xu hào, đậu, ớt, gừng, giềng, sả, hành tỏi… Sở dĩ được tốt tươi quanh năm là nhờ anh du di trong một mức độ vừa phải, nếu cán bộ nào phát hiện ra thì anh cũng có lý do biện bạch.

Không phải ai cũng đem theo vợ con đến ở  đây, nên chuyện chia rẽ trong nội bộ xẩy ra thường ngày, có khi ngờ vực đến sự cống hiến hy sinh của những người đã có bốn, năm mươi năm tuổi đảng. Nghiệt thay, có những mất mát vô lý mà lực lượng vệ binh rình hoài không bắt gặp được. Thân sắn chưa trỗ nạng ba, khoai lang chưa ra hoa đã đào trốc gốc, cuốc xẻng để ngoài “lô” không cánh mà bay, mấy cái thùng gánh nước tưới cây đội hàn gò chưa làm xong cũng không còn, thậm chí mấy chĩnh nước mắm, mấy thùng mỡ lợn dành cho bếp tù, đêm khuya cũng có kẻ leo tường vào cạy cửa lấy hết.

Trong một xã hội chưa xây dựng lại “bằng mười ngày xưa” thì những hiện tượng ấy có thể xí xóa bỏ qua. Đằng này, khu vực trại giam, trên danh nghĩa cải tà quy chánh, thì chuyện ấy khó coi, tựa hồ như vạch áo cho người xem lưng, nên ban giám thị phải tập trung toàn trại viên lên hội trường làm việc.

Ông giám thị vận dụng hết sở trường nghề nghiệp, nói:

“Gần đây, có những sự vụ việc xẩy ra ngoài ý muốn, chúng tôi đã cho mời chuyên viên trên về điều tra và có kết luận rằng, những dấu chân của những kẻ bất chính đó luôn đi về phía mặt trời lặn, rồi mất tích trong dãy núi đá vôi. Rất có thể, không ai khác hơn là cháu chắt mấy đời của bọn ngụy quân, ngụy quyền trước năm l954 còn lại chưa gột bỏ hết cái thói ăn bám xã hội đấy. Nhưng, với sự cảnh giác cao độ của quần chng, với quyền lực sắt thép của đảng, trước sau gì chúng tôi cũng tóm cổ thôi.”

Chờ cho hết tiếng vỗ tay của  đám  vệ  binh cò mồi ngồi phía sau, ông giám thị tiếp:

“Tôi nói thật với các anh, chỉ riêng tù chính trị thôi nhé, các anh còn nhớ gì trong lịch sử cổ đại Trung Quốc không, chính cái thằng cha Lưu Bang nước mắt cá sấu kia, trên đường bôn ba lập nên nhà Hán, cũng có lần chui vô nhà một người con gái tên Thích Cơ định trộm gà ăn thịt. Kẻ mà sử sách thường gọi là tráng sĩ thề qua sông Dịch không về, cũng ăn cắp của người hàng xóm cái… mái chèo. Các anh có biết ai không? Kinh Kha đấy.”

Ngừng lại, ngó quanh hội trường, thấy đám hình sự đứa ngủ gật, đứa ngáp, đứa gãi ghẻ ngứa, ông giám thị vỗ bàn:

“Ê, chỏng tai lên mà nghe nào. Trưa nay tất cả các anh được ăn nguyên con trâu nặng gần hai trăm rưỡi ký. Lần nầy, trại không bán bộ da cho dân phơi khô làm mặt trống, mà hầm nhừ cho các anh ăn luôn.”

Đem miếng ăn ra nhử, nhưng đám người phờ phạc vẫn ngồi im như tượng, giám thị lắc đầu, tiếp:

“Tôi biết các anh đang cần gì, tiêu chuẩn đảng nuôi cũng không đến nỗi nào, hiềm vì lòng dạ con người thường có khuynh hướng ngả về phía tiêu cực, là nguyên nhân chính phát sinh ra những túi tham vô đáy, khi bộ não không nhận thức được thì hệ thống tiêu hóa hùa theo mà khống chế, từ đó mọc ra những gai, rễ níu kéo trì trệ, khó tiến bộ để về với gia đình được. Các anh có biết con rùa treo trên ngọn cây cao, không ăn uống chi mà bao nhiêu lâu mới chịu chết không?”

Một câu hỏi như thế, dĩ  nhiên  phía  dưới  không  có tiếng đáp lại. Thân thể họ đã kiệt, lượng máu trong người chỉ bơm thấu được một phần cơ bắp, mắt mờ, tai lãng, nghe lời ông giám thị cũng như vịt nghe sấm. Cuối cùng, ông giám thị cũng không chờ câu trả lời ấy nữa, kết thúc buổi nói chuyện bằng cách động viên:

“Bắt đầu từ nay cho đến khi cĩ lệnh mới, mỗi tuần, trưa chủ nhật, các anh được ăn mỗi người một bát cơm trắng. Khi có sự chiếu cố nầy, tuyệt đối cấm không được chụm năm chụm ba đánh cờ tướng ăn thua bằng cách bôi lọ nồi vào mặt đấy. Mặt tù, bôi thêm thứ đen điu ấy vào, trông không giống ai. Kẻ bất tuân sẽ biệt giam vô hạn định, nhớ chưa. Hết.”

Sau buổi lên hội trường, cán bộ quản giáo gọi riêng Hoàng Vân ra đầu hồi, dặn nhỏ: “Dù thế nào đi nữa, anh cũng kín miệng để bảo vệ danh dự chúng tôi. Vạn sự bất như bần, giai do đều phát xuất từ sự thiếu thốn. Không ai muốn bôi tro trát trấu vào mặt. Công tâm mà nói, nếu anh không khôn khéo cho ít nhiều tro phân thì cái rẫy bên bờ suối kia, cây cỏ cú cũng không trồi đầu lên nổi, đừng nói chi chuyện hoa với màu. Tôi đại diện những người anh giúp, cám ơn anh nhiều, nhiều lắm nhé.”

Cũng nhờ anh Vân mà nội quy trong đội được nới lỏng đôi chút, hàng tháng những lá thư gửi về gia đình cũng kiểm duyệt qua loa, ngày chủ nhật hay ngày lễ được nổi lửa “cải thiện” sớm hơn năm mười phút. Có ai đó, trong nỗi nhớ thương không dằn được, cất lên vài câu “nhạc vàng” cũng không sao. Đi thu hoạch, có ai nhai trộm một mẩu sắn sống chỉ rầy rà vài tiếng. Khi ra ngoài chặt tre về đan đát có ai trúng gió cũng được phép vào nhà dân xin dầu hôi bôi để cạo. Tóm lại, như lời một vị đại tá, cựu tỉnh trưởng đã nói vui: một người đổ phân cả đội được nhờ.    

Một hôm Hoàng Vân đang lúi húi nhóm lửa để đốt phân thì một cô gái đến, vui vẻ nói chuyện, như đã từng quen biết:

“Anh tù miền Nam nè, em nghe đâu trong đó các anh thèm chất ngọt quá, khi đánh răng nuốt luôn cả kem, phải không?”

Câu hỏi khởi đầu trên đôi môi chúm chím, hiền từ, làm Vân bật cười:

“Phải.”

Cô gái ngồi xuống cạnh anh, buông tiếp một tràng câu hỏi:

“Nghe các anh cạo râu bằng mẻ chai, phải không?”

“Phải.”

“Giường chiếu các anh ngủ, rệp bò lổm ngổm, không tài nào đếm xuể à?”

“Phải.”

“Móng tay dài, các anh dùng răng cắn phải không?”

“Không dùng răng thì dùng gì?”

“Còn móng chân?”

“Cũng thế.”

“Nghe người ta kể, khi ăn bắp, các anh cẩn thận  đếm từng hột mới bỏ vo miệng nhai, làm chi  thế  cho  mất  thì giờ?”

“Để ko di bữa ăn.”

Cô gái không còn giữ nét vui tươi nữa, tỏ vẻ ngao ngán:

“Em còn nghe các anh ăn cả ốc sên, cóc, ễnh ương, chàng hiu, bọ cạp, bọ xít, cào cào, cuốn chiếu, đuông, rắn mai, thằn lằn, mối, kiến, sâu róm nữa, phải không?”

“Con gì ăn được thì ăn, trừ bọ hung.”

“Phải, bọ hung nhớp, đừng thèm ăn. Thế có ai ăn rít?”

“Không.”

“Vì sao thế anh?”

“Vì tìm không ra.”

Cô gái lại cười bày hai hàm trắng ngà. Nụ cười làm nét mặt cô ngây thơ thêm. Lát sau cô hỏi tiếp:

“Vì sao lại lạ đời thế anh nhỉ?”

“Vì chúng tôi là tù, tù bỏ đói.”

Cô gái như chợt tỉnh, đưa đôi mắt buồn thiu nhìn qua mấy ngọn đồi đầy hoa chẩu nở. Màu hoa trắng xóa bít kín chân trời. Những áng mây phía sau hoa cũng trắng xóa. Rồi cô chặc lưỡi:

“Hèn gì ai cũng ngán ở tù. Em ở tận ngoài mỏ than Quảng Ninh kia, vào đây thăm người chị lấy chồng công an coi tù đây. Trong làng em, cũng có mấy người đi tù, họ đi luôn, không thấy về. Hồi còn đi học, em học môn vạn vật, được biết không phải loài vật nào cũng ăn được, như gan cóc tía, mật kỳ đà chẳng hạn, các anh đừng xem thường mà bỏ mạng. Cũng may mà ở núi đồi, con cá nóc không bơi lên được,  không  thì  các  anh  ăn  phải, chết hết còn gì?”

“Cô em đừng lo,  anh còn sống nhăn đây. Có chết, thì không phải chết vì… ăn bậy.”

Cô gái hiểu ý:

“Biết thế rồi, nhưng cũng phải ráng mà sống chứ. Em nghe họ đồn, vợ các anh trong Nam đi lấy chồng hết phải không?”

“Có ít thôi, bằng chứng là ngày nào cũng có những người lặn lội ra đây thăm chồng.”

“Con cái các anh có người đi bươi những đống rác?

“Con không cha, đói thì đi đâu cũng đi, miễn là không đi giết người, cướp của.”

Đăm chiêu một hồi lâu, cô gái lại hỏi, giọng buồn bã:

“Khi anh chị yêu nhau, có nghĩ đến ngày xa nhau, khi anh đã xa lâu như thế nầy rồi, có thương chị ấy không?”

Hoàng Vân khẽ cười:

“Đã gọi là yêu nhau, lúc gần cũng như lúc xa, đều như nhau.”

“Thế mà người ta cứ nói, các anh và cả các chị nữa, đều là hạng bạc tình. À, anh nè, bây giờ thì người ta nói con dơi sinh chuột, chuột đẻ ra trứng, trứng nở ra chồn hương còn được nữa là. Riêng bản thân em, dù có đem xuống vịnh Hạ Long trấn nước, cũng không tin con vượn sinh ra người. Tổ tiên mình hẳn phải cao sang, sao nhăn nhó như khỉ được, tính chi nước cờ, buồn quá, phải không anh? Thôi em vào, chị em cho em mang lon đỗ lạc rang nầy ra biếu anh ăn đỡ buồn.  Mai em về quê rồi. Chắc là tết nầy lại lên. Hẹn gặp anh lần sau nhé.”

Đi một quãng, cô lại quay lui, nói:

“Chuyến sau, thế nào em cũng biếu anh cây dao nhíp để cắt móng tay, móng chân. Mỗi lần cúi xuống cắn móng chân coi chừng gãy cổ, nghe anh.”      

*

Cuối mùa đông năm ấy, Hoàng Vân lâm bệnh. Cán bộ trại cũng như anh em cùng cảnh ngộ không ai biết anh bệnh gì. Khi không còn sức để gánh vác công việc nữa thì mức ăn của anh trụt xuống hạng B tức khắc, dù ban giám thị trại biết anh có nhiều cố gắng, nay đau ốm, đối xử như thế là bất nhẫn, nhưng điều quan trọng hơn là,  cảnh tỉnh cho người khác biết, trong xã hội mới, dứt khoát có làm có ăn, không làm thì nhịn, chẳng thiên vị, ưu đãi cho bất cứ ai.

Trong những ngày ấy thì bà cô từ Hà Nội lên thăm. Nhờ sự chiếu cố đặc biệt của ban giám thị trại, anh được ngồi lên chiếc xe cải tiến trước dùng riêng cho anh chở phân, để hai người tù hình sự đẩy ra thăm cô.

Vừa trông thấy người đàn bà ngồi trong phòng tiếp tân, anh cố ngẩng đầu cao, cất tiếng gọi:

“Cô!”

Người đàn bà quay lại, hỏi cán bộ phụ trách thăm nuôi:

“Người ngồi trên xe là thân nhân của tôi?”

Cán bộ chưa kịp trả lời, từ ngoài hành lang, anh lại ráng sức:

“Cháu đây, cô ơi!”

Rời khỏi chỗ ngồi,  người  đàn  bà  châm  chạp  đi  về phía anh, tỏ vẻ ngạc nhiên:

“Cậu là Nguyễn Hoàng Vân đây à. Sao nhận ra tôi?”

“Thấy cô giống bố cháu như đúc.”

Vừa nói hết câu, anh khóc rống lên. Một hồi, anh nín bặt, rồi lại khóc thút thít như đứa trẻ thất lạc lâu ngày được gặp mẹ.

Đây là lần đầu tiên kể từ khi vào tù anh khóc.

Năm 1954, anh mới lên sáu tuổi theo cha anh di cư vào Nam, cô đi chiến khu.

Khi anh còn trong quân ngũ, mỗi lần về phép thăm cha, ông đều nhắc, đại khái, sau nầy nếu giải phóng được miền Bắc, nhớ ghé số nhà nầy…, phố nầy…, đó là nơi tổ tiên trú ngụ đ bao đời. Anh chị em bố người nào nét mặt cũng hao hao giống nhau, dễ nhận ra thôi. Nay cha đã ra người thiên cổ, không ngờ gặp cô ở chốn nầy. Anh khóc vì chuyện đời trớ trêu.

Vốn là người từng trải, rất hiểu nỗi lòng tù nhân lúc nầy, người cô an ủi:

“Đừng khóc, cháu. Gặp được cô là điều may. Ít ra, cháu cũng có một người cùng máu mủ đến thăm trong tình cảnh nầy. Nếu cô đoán không nhầm, chắc có một lúc nào đó, thâm tâm cháu cũng nghĩ rằng, đời cháu với một quá khứ của mình, coi như đã hết, chẳng còn ai ngó ngàng đến. Người ta nói, một giọt máu đào hơn ao nước lã, đối với cô, không phải ao, mà… hồ, đầm.  Cha cháu qua đời, cô không gặp mặt. Cô còn nhớ, hồi thơ ấu, hai anh em thường dắt nhau ra con đê Yên Phụ ngắm chiều xuống bên kia sông Hồng. Bầu trời trước mắt ngày ấy mây quấn quít bên nhau, đẹp làm sao cháu ơi. Trong mấy anh chị em, cha cháu thương cô nhất. Cháu cũng có nét giống cha, có điều gầy rạc, xanh xao quá. Hồi mới giải phóng, cô vào tiếp thu cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh có ghé nhà, lúc đó cháu đã tập trung cải tạo rồi. Tội nghiệp vợ cháu, đặt hết niềm tin nơi cô, nhờ cô đứng ra bảo lãnh cho cháu được sớm về. Cháu dâu có ngờ đâu rằng, đối với cách mạng, ai gieo thì nấy gặt, một mình. Vợ cháu cũng có tặng cô một cái đài ba băng, loại Nhật Bản ít hao pin, nay cô còn nghe tốt. Vừa mới đây, vợ cháu có viết thư ra thăm cô và gửi kèm theo tấm ngân phiếu, nhờ cô mua một vài thứ cho cháu ăn tết. Ra năm rộng tháng dài, vợ cháu sẽ ra thăm, chắc là đem theo cả mấy đứa con.”

Hoàng Vân bối rối nhìn cô, lúc lâu mới nói được:

“Thuở sinh thời cha cháu thường nhắc đến cô. Cha cháu nói hồi học tiểu học, cô có khiếu vẽ, vẽ hoa sữa, trái sấu giống như đúc.”

“Ừ, lớn lên cô chẳng vẽ vời gì được, mà có theo nghề hội họa chăng nữa, suốt đời cũng chỉ ra góc đường ăn cơm tấm và ở nhà tập thể với chuột đó thôi. Thế cháu bệnh gì mà phải có hai người dìu. Bại hả?”

“Cháu cũng chẳng biết bệnh gì.”

“Chắc thiếu thốn dồn dập rồi sinh bệnh, có quà nầy cháu cứ bồi dưỡng một thời gian sẽ bình phục. Các vị lãnh đạo cao cấp trong đảng ai cũng có một thời bị tù, lâm trọng bệnh mà về sau không hề hấn gì. Riêng cô đây, hồi đi kháng chiến, khi không xáng xuống bệnh, hai chân sưng vù  như  cột nhà,  tưởng  liệt  suốt  đời,  thế  mà cũng lành ráo.”

Rồi bà ghé vào tai anh, khẽ nói:

“Như thế nầy cũng là may rồi đó cháu. Nhổ cỏ mà không nhổ tận gốc là người ta mong có ngày để cho mặt đất bớt vẻ tiêu điều. Lịch sử nhân loại còn sờ sờ đó, chắc cháu cũng đã nắm, bất cứ một phe thua nào cũng bị phe thắng tàn sát, Tây Sơn với Chúa Trịnh, nhà Nguyễn với Tây Sơn cũng thế thôi, có người bị xẻo từng miếng thịt, lóc từng khúc xương, có người bị cột vào bốn chân voi xé xác, có người bị xẻo mũi, cắt tai, đâm thủng mắt dắt đi bêu ngoài đường. Nay đảng không làm thế, nhưng dĩ nhiên là chịu chế độ uốn nắn khắt khe, thậm chí có khi vô cùng khắc bạc. Cháu nên xác định vị trí của mình, nghe đâu, trước cháu ở trong binh chủng gì ghê gớm lắm, chỗ nào có đối phương thì xông ào tới, coi cái chết nhẹ như lông. Vậy thì nay chiến bại, như thế nầy, cũng không oan ức gì. Cháu nghe lời cô nói có lý không?”

Suy nghĩ một hồi, Hoàng Vân nói:

“Nhưng cháu có cái lý của cháu. Cháu không buồn vì chuyện mình bị tù, nhưng buồn vì cháu không giữ được nơi mình phải giữ. Cháu phải ở vào cái thế chịu bó tay đầu hàng, rồi đâm đầu vô tù, trong khi cháu và đồng đội còn sức và nhiệt huyết để chiến đấu, thế thôi.”

“Cô hiểu. Nhưng sự việc đã xẩy ra rồi, chấp nhận nó là điều tối cần. Coi như ách giữa đàng quàng vào cổ.”

Không muốn đả động đến chuyện chính  trị  nữa, người cô quay lại gọi cán bộ đang đứng nhìn trời nhìn đất ngoài hành lang vào, hỏi:“Thế đồng chí quản lý phạm nhân, có biết cháu tôi bệnh gì không?”

“Thưa, tôi không phải quản giáo, chỉ thuần phụ trách thăm nuôi.”

Sau, Hoàng Vân hỏi thêm:

“Dượng và các em có khỏe không. Cô lên thăm cháu bằng phương tiện gì?”

“Dượng về hưu rồi, các em đã thành gia thất. Cô đi xe đò lên Bến Phà Trang, từ đó vào đây bằng xe trâu. Ngồi trên xe trâu mệt, nhưng có cái thú là được lắc lư, thấy mình chông chênh giữa núi đồi cũng vui, lại giúp mình có dịp hồi tưởng lại thời xuân xanh bay nhảy đã qua. Mỗi lần đi công tác bằng xe con, nhanh, sướng hơn, nhưng cũng có cái giá phải trả: tiếng động cơ ồn ào làm liên tưởng đến những ngày Hà Nội bị rải thảm bom, lòng không yên. Cháu biết năm nay cô mấy tuổi không? Sáu mươi hai rồi đấy, thua cha cháu ba tuổi. Nếu cha cháu ở lại, giác ngộ đi theo tiếng gọi của bác Hồ thì cũng làm ông nầy ông nọ như ai. Số mạng cháu lại khác đi, có khi ngược lại, ngược một trăm tám chục độ với hoàn cảnh nầy, nghĩa là bản thân cô lại nương tựa vào cháu không chừng.”

“Sao tóc cô không có sợi nào bạc hết?”

Giữa tình huống nầy, một câu hỏi như thế làm bà cô bật cười:

“Còn làm việc, còn đi đây đi đó, chứ cháu. Đàn bà mà tóc bạc coi như hết thời. Cổ nhân nói, bất hứa nhân gian kiến bạc đầu (*), đúng lắm. Nên cô phải nhuộm, dù tốn kém, mất thì giờ, không hợp với trào lưu về nguồn, nhưng thà thế còn hơn. Đây là những thứ cô mua đúng trong thư vợ cháu dặn, vừa vặn số tiền vợ cháu gửi ra. Còn gói nầy, cô tặng riêng cháu, gần hai ký cám lứt loại tốt trộn với đường đen, chính tay cô thức gần suốt đêm rang cho cháu đấy, nhớ giữ cẩn thận mà ăn dần. Có thể nói, đây là thứ thuốc tiên chữa bá bệnh. Sau nầy cháu được tha, cô có ý kiến, không nên ở thành phố, đem vợ con lên Định Quán mà sinh sống, cô nghe miệt ấy có rất nhiều gỗ qúy, vợ chồng cô gần hết đời, trong nhà không có nổi một bộ bàn ghế bằng cẩm lai, gụ, để nở mặt mày với thiên hạ.”

Ngừng lại để lấy thêm hơi, bà cô tiếp:

“Khi nào nhận được giấy tha, cháu nhớ về Hà Nội thăm cô, địa chỉ cô ghi sẵn đây. Đây không phải nhà cô mà nhà một người bạn, cô sẽ dặn họ trước. Cô với cháu là tình thâm ruột thịt, chính kiến có thể châm chước san bằng được, nhưng dượng là người dưng, biết cháu không đồng lý tưởng, sợ không niềm nở hay hai bên có những lời lẽ khiêu khích nhau, mất đoàn kết.”

“Cám ơn cô, cháu hiểu rồi.”

“Thế trong trại cháu làm gì?”

“Thưa cô, cháu chuyên khâu hủy phân…”

Bà cô quắc mắt, ngạc nhiên:

“Phân gì thế?”

“Dạ… bò.”

“Bò của trại hay dân?”

“Trại nuôi mấy con, vỗ béo, tết nầy làm thịt.”

“Ừ, tốt thôi. Bò là loài ăn cỏ nhai lại, phân của chúng không ngại. Chỉ sợ phân người. Ở trong ngành nông nghiệp lâu, cô biết rất rõ. Trong các động vật, phân người và loài khỉ vượn là đáng sợ nhất, vì cơ cấu đường ruột non, ruột già cầu kỳ, khúc chiết, làm cho chất cặn bã thoát chậm và xử lý qua nhiều dạng phức tạp trước khi thành phân thuần túy. Thôi, hết giờ thăm cháu rồi. Cô về. Cháu nhớ lấy mấy miếng đường lẻ cho hai em tù dìu cháu nhé. Ra năm, vợ con cháu ra thăm, nếu rảnh, cô cùng lên thăm luôn, bằng không cô cũng làm cho cháu vài ký cám rang nữa. Ngày về ghé thăm cô, ở lại chơi vài bữa, cô sẽ đem cháu ra hồ Hoàn Kiếm chơi, thuê thợ chụp chung vài tấm ảnh màu. À, cháu Vân nầy, khi nãy cô nói với cháu mà chưa hết ý, cô nhuộm tóc không phải là cưa sừng làm nghé đâu nhé. Cưa, là một động tác thời nào cũng… đau, cô không ngu gì.”

Rồi người cô nắm lấy bàn tay lạnh buốt của anh:

“Cô đi đây. Cháu ho nhiều thế, coi chừng hai lá phổi.”

Chờ bóng cô khất sau màn hoa chẩu trắng đục, Hoàng Vân quay lại, nhờ hai bạn tù hình sự dìu lên xe. Anh lại bật khóc, lần nầy khóc vì trong đời, anh đã có lần nói dối, mà lại nói dối với cô ruột mình.*

Mấy ngày sau bệnh tình Hoàng Vân đã đến hồi nguy kịch, hết cơ cứu vãn, ban giám thị trại mới điều xe hơi quân đội chở ra bệnh viện thị xã Vĩnh Yên. Từ đó anh đi biệt không về nữa!…

Midway City, 11.1994 – Lawrenceville, 11. 2003

    (*) Đừng để cho người đời thấy lúc đầu bạc.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

Post on August 5th, 2021

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

(Kỳ 24)

“Tokyo Express” là danh hiệu phía Hoa Kỳ đặt cho những khu trục hạm Nhật vận chuyển binh lính lên đảo Guadalcanal, hằng đêm và hằng đêm… Không thật sự là một giải pháp tối ưu, vì tuy các khu trục hạm Nhật hải hành với vận tốc 30 hải lý có thể tránh né các tấn công của máy bay và tàu ngầm Mỹ (so với các hải vận hạm không võ trang di chuyển chậm chạp không quá 10 hải lý), thì sức chứa tối đa của một tàu khu trục không quá một tiểu đoàn; trong lúc một dương vận hạm nặng vận tải một trung đoàn với ba tiểu đoàn chỉ trong một chuyến.

Yếu kém khác, Nhật không có loại tàu há mồm Landing Ship Tank (LST) với đáy bằng phẳng, để có thể cặp sát và thải khí cụ lên bãi cát. Các khu trục hạm Nhật phải ném những kiện hàng bọc kín buộc phao xuống biển với hy vọng thủy triều sẽ đẩy vào bờ cho bộ binh thâu nhặt. Một process hãy còn thủ công và là lý do khiến bộ binh Nhật thiếu vũ khí nặng. “Những chuyến tàu tốc hành Đông Kinh” còn bị giới hạn thời gian: chỉ có thể tiếp tế ban đêm và phải rời khỏi Guadalcanal trước 3 giờ sáng để thoát ra ngoài chu vi oanh kích của máy bay Mỹ sẽ cất cánh khi mặt trời lên. Là một trong những nguyên nhân làm trận đánh dằng dai.

[Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 24

Các “Chuyến tàu tốc hành Ðông Kinh” của Ðề đốc Gunichi Mikawa, qua 8 chuyến chuyên chở vào những ngày từ 2 đến 11 tháng 10-1942, đã đổ 10 ngàn binh sỹ của Sư đoàn 2 Bộ chiến Sendai lên Guadalcanal một cách suôn sẻ và thành công đến nỗi gây kinh ngạc cho Ðồng Minh bắt đầu nhìn thấy “xà trận”.

Thời gian này chỉ có một cuộc đụng độ nhỏ vào ngày 11 giữa Hải đoàn 6 Tuần Dương hạm của Ðề đốc Aritomo Goto và Task Force 64 của Ðề đốc Norman Scott. Nhóm chiến hạm hộ tống Nhựt bị lực lượng của Scott phục kích ở eo biển nằm giữa đảo Savo và đảo Guadalcanal, trận đánh đi vào lịch sử dưới tên thủy chiến Mũi Hy Vọng (Cap Espérance). Hải lực Hoa Kỳ gồm 4 tuần dương hạm và 5 khu trục hạm trong khi Nhựt chỉ có 3 tuần dương hạm và 2 khu trục hạm. Cuộc quần thảo dữ dội kết thúc với 2 chiến hạm Nhựt là Furutaka bị đánh chìm và tuần dương hạm Aoba bị hư hại nặng, phía Hoa Kỳ có khu trục hạm Duncan chìm, khu trục hạm Farenholt và 2 tuần dương hạm Salt Lake City và Boise hư hại nặng. Sự thiệt hại to tát của Nhựt trong trận đánh này là cái chết của Ðề đốc Goto, nhưng cũng có cái lợi là đuổi sạch tàu Mỹ trong hải vực. Do đó, Phó Ðô đốc Takeo Kurita có thể đưa 2 thiết giáp hạm Kongo (Kim Cương) và Haruna (Ðỉnh núi Haruna) của ông áp sát bờ biển Guadalcanal vào đêm 13 tháng 10 để pháo kích vào cạnh sườn địch.

Ðây là bước đầu phế bỏ chánh sách “cất giữ” thiết giáp hạm do Yamamoto chủ trương trước đây. Trong các cuộc hành quân đã qua, ông luôn từ chối đưa các thiết giáp hạm “quý giá” đến gần các khu vực chiến đấu. Và trong cuộc hành quân này, Yamamoto cũng tận dụng không yểm, phát xuất từ một sân bay ở Bougainville, cho thấy lá bài quyết định đã được đánh xuống.

Lúc 23 giờ ngày 13 tháng 10, hai thiết giáp hạm Kongo và Haruna, mỗi chiếc 37 ngàn tấn, tiến sát bờ biển trong vòng một dặm, với vận tốc trung bình 18 hải lý, và cả 16 khẩu trọng pháo 356 ly đồng loạt nả 918 quả đạn lửa vào căn cứ Henderson Field của địch quân. Sân bay bốc cháy suốt 24 tiếng đồng hồ. Trước màn ngoạn mục này, các binh sỹ đã đổ bộ lên Guadalcanal đều phấn kích và thúc giục Yamamoto “trình diễn” thêm một lần nữa. Yamamoto đồng ý, và đêm sau 2 tuần dương hạm Chokai và Kinugasa của Ðề đốc Mikawa chạy dọc theo bờ biển, dập phi trường địch thêm 753 trái pháo 203 ly nữa.

(Thiết Giáp Hạm Kongo và Haruna hạ thủy năm 1915, cùng lớp thiết giáp hạm Hiei và Kirishima, trang bị 8 đại bác 356 ly, 16 pháo 150 ly, đạt tốc độ 30 hải lý với 1,437 thủy thủ đoàn, cả 4 chiếc đều bị đánh chìm trong cuộc chiến Thái Bình Dương. Hiei và Kirishima chìm ở Guadalcanal, Kongo chìm trong trận Leyte còn Haruna sau khi đào thoát về quân cảng Kure cũng không thoát khỏi các phi cơ của Task Force 58, bị đánh chìm vào ngày 28 tháng 7 năm 1945, chưa đầy một tháng trước khi Nhựt đầu hàng).

Trong các ngày này Hải quân đảm trách những công tác nhẹ nhàng, chỉ có một nhiệm vụ được xem là quan trọng là tải võ khí nặng cho quân đổ bộ. Vào lúc đó, Task Force của Hoa Kỳ bắt đầu quay trở lại. Ngày 15 tháng 10, phi cơ Mỹ đã đánh chìm 6 hải vận hạm Nhựt. Vào sáng sớm ngày 17, hai khu trục hạm của US Navy đã bắn cháy nhiều tàu tiếp tế của Nhựt, và buổi trưa cùng ngày, 7 oanh tạc cơ Hoa Kỳ trở lại “dọn dẹp” thêm một lần nữa. Vì thiếu phương tiện cơ động để nhanh chóng chuyển đồ tiếp tế từ tàu lên bờ, cất vào những chỗ an toàn nên Nhựt phải chịu đựng thiệt hại nặng nề. Chúng tôi chỉ biết nhìn ngọn lửa bốc cao mà lắc đầu.

Task Force Hoa Kỳ sau hoàn tất nhiệm vụ đã rút lui và chỉ bị phát hiện cách phía Nam Guadalcanal 110 dặm nhưng Ðệ Nhị Hạm đội của Ðề đốc Kakuta lại nằm cách phía Bắc hòn đảo 200 dặm, thành thử không thể nào đuổi kịp.

Khi Yamamoto tăng cường hải lực Nhựt trong khu vực, Hoa Kỳ đã hành động đúng theo chương VII của Binh Pháp Tôn Tử: “Ðương đầu với một địch quân mạnh mẽ, phải chờ lúc tinh thần đối phương suy vi để đánh… Một kẻ địch vừa phất cờ giống trống ra quân bao giờ cũng hăng hái, nên tránh né. Ðối thủ sẽ mệt mỏi và biếng nhác hẳn trên đường trở về điểm xuất phát, là lúc đánh.”

Hai hạm đội Nhựt đã ở trên hải vực phía Nam quần đảo Solomon hơn một tuần lễ mà không hề đụng một trận nào gọi là dữ dội, thành thử đã bắt đầu uể oải, tinh thần hăng hái trước đó tan biến dần. Ðồng thời, đến ngày 20 tháng 10, chúng tôi cũng đã hết kiên nhẫn trong việc chờ đợi các đơn vị đổ bộ lên Guadalcanal mở một cuộc tấn công toàn diện. Sư đoàn 2 Bộ chiến Sendai, hiện có mặt trên đảo Guadalcanal, chính là sư đoàn chiếm đóng Nam Kinh trong cuộc chiến Hoa-Nhựt trước đây, đã gây nhiều tai tiếng không tốt cho Nhựt qua các hành động dã man và hãm hiếp của họ trong thành phố này. Mới đây, sư đoàn này cũng đã đánh chiếm Java một cách dễ dàng. Nhưng ở Guadalcanal, cho dù thâm niên nhứt Lục quân Nhựt, thành lập từ 1871, Sư đoàn Sendai đành bó tay một cách không ngờ trước khí hậu độc địa và địa thế hóc búa trên hòn đảo này. Hiện tại, với hơn phân nửa trang bị vừa mới đưa đến đã bị chiến hạm và phi cơ Mỹ thiêu rụi, sư đoàn này đang chiến đấu trong tình cảnh nguy ngập thực sự.

Nhưng mặc dù tình thế của bộ binh nguy biến như vầy, cuộc tổng phản công dự định vào ngày 20 tháng 10 lại đình hoãn, trong lúc Hải quân đã thấy chán nản vì bị chôn chân một chỗ. Và không may hơn nữa, hàng không mẫu hạm Hiyo (Phi Ưng), soái hạm của Ðề đốc Kakuta, bị trục trặc máy móc vào ngày 22 tháng 10, sửa chữa cách nào cũng không được. Hiyo nguyên thủy sử dụng máy của tàu vận tải, vì vậy trước đó cũng không đầy đủ khả năng của một hàng không mẫu hạm. Kakuta phải dời bộ chỉ huy sang mẫu hạm Junyo (Chuẩn Ưng) và ra lịnh cho chiếc Hiyo trở về Truk. Trên hải trình trở về, chiếc Hiyo không thể nào chạy quá 6 hải lý một giờ. Kakuta vừa bị chặt một cánh tay.

Cùng lúc Hoa Kỳ sắp xếp một cuộc tấn công dữ dội nhắm vào Hải quân Nhựt hơn là vào Bộ binh Nhựt đã đổ bộ lên đảo Guadalcanal. Hiện thời Ðệ Nhị Hạm đội của Kakuta chỉ còn một hàng không mẫu hạm. Chiếc Zuiho (Thụy Phụng) đã tăng phái cho Lực lượng Ðặc nhiệm Nagumo trước đó. Kakuta bị chặt nốt cánh tay còn lại, ông chỉ còn hai chân là chiếc Junyo và các khu trục hạm. Như thế, khúc đuôi của “con rắn” trong “xà trận” của Tôn Tử đã mất hết 2/3 sức lực. Trong lúc các Task Force mạnh mẽ của Hoa Kỳ đã vào thế sẵn sàng khai hỏa.

Quá trưa ngày 24 tháng 10, Phó Ðô đốc Chuichi Nagumo ngồi trầm ngâm trong cabin trên hàng không mẫu hạm Shokaku (Tường Hạc). Sau thảm bại Midway, Nagumo trở nên cằn cỗi, tóc ngả sang muối tiêu, gương mặt hốc hác và luôn cau có. Ông liếc nhìn hai mảnh giấy trên bàn. Ông đã đọc hàng trăm lần để cố gắng hiểu ý nghĩa của những dòng chữ chứa trong hai mảnh giấy ấy. Một mảnh trích United Press, đề ngày 20 tháng 10, cho biết Hải quân Hoa Kỳ đang chuẩn bị một trận đánh phối hợp quan trọng ở Nam Thái Bình Dương. Nagumo tự hỏi không hiểu có đúng hay không, hay là tin đánh lừa và là một chiếc bẫy gài?

Mảnh giấy thứ hai là con số những chiến hạm địch do phi cơ thám thính của Nagumo phát hiện, theo đó từ 12 đến 24 tháng 10, hàng không mẫu hạm của địch vắng bóng, ngoại trừ hai chiếc Enterprise và Hornet kết hợp một lần duy nhứt vào ngày 13. Thiết giáp hạm nặng của địch cũng ít ỏi, vài ba chiếc và nhiều nhứt là 5 chiếc vào ngày 24. Con số tuần dương hạm nhiều hơn, nhưng nhiều nhứt là 8 chiếc vào ngày 16. Riêng khu trục hạm của địch có con số đáng kể, 15 chiếc vào ngày 16 và 19 chiếc vào ngày 24.

“Như vậy các hàng không mẫu hạm địch vắng bóng trong khu vực suốt một tuần lễ.” Nagumo lẩm nhẩm. “Sự vắng mặt này là ý gì?”

Nagumo bật dậy bước qua lại trong phòng. Ông chợt dừng lại và nghĩ đến lời khuyên của Tôn Tử: “Trước một kẻ địch hăng hái nên né tránh, hãy chờ cho kẻ này chán nản và trễ biếng rồi hẳn đánh.”

Tiếng gõ cửa, một trong những sỹ quan tham mưu của Nagumo bước vào phòng. Là Trung tá Toshitane Takada. Sau khi chào, Takada lên tiếng: “Thưa Ðô đốc, bên Truyền tin báo cáo là thình lình họ bắt được một số công điện dồn dập không thể giải mã, nhưng rõ ràng là những mật điện trao đổi giữa tiềm thủy đĩnh và phi cơ địch lai vãng gần đây.”

Nagumo gật đầu: “Tốt! Hãy gọi Tham mưu trưởng Kusaka lập tức.”

Ðề đốc Ryunosuke Kusaka, một sỹ quan năng động và to con, ba chân bốn cẳng chạy đến.

Nagumo hỏi: “Việc tiếp tế cho tàu bè chúng ta đến đâu?”

Kusaka đáp: “Thưa Ðô đốc, tất cả đang nhận nhiên liệu từ các tàu chở dầu.”

Nagumo gật đầu: “Tốt! Báo cho tất cả các hạm trưởng biết họ sắp sửa nhận nhiệm vụ quan trọng. Các tàu đã lấy dầu xong thì phải trở về đội hình ngay.”

Cũng khoảng thời gian này, trên hàng không mẫu hạm Junyo, Ðề đốc Kakuji Kakuta, đang nghe tin tức của đài phát thanh Hạ Uy Di. Theo đó, một trận đánh quan yếu sắp xảy ra gần Solomon được xướng ngôn viên địch xác nhận. Kakuta cũng đã xem qua hai mảnh báo cáo giống y như của Nagumo. Kakuta khịt mũi và day lại sỹ quan điều không của mình, Thiếu tá Masatake Okumiya: “Tốt! Masatake, anh nghĩ gì?”

Viên sỹ quan thông minh và hoạt bát, đôi mắt long lanh trên khuôn mặt bị nám đen do một tai nạn rớt phi cơ gây ra trước đây, hắng giọng và nói một cách nhỏ nhẹ: “Thưa Ðề đốc, ngày 27 tháng 10 là ngày sáng lập Hải quân Hoa Kỳ.”

Kakuta, một tay chiến đấu không biết mệt, nhảy dựng lên và cất tiếng cười ha hả: “Tuyệt hảo! Tuyệt hảo! Hãy chuẩn bị gấp món quà Navy Day hậu hỉ cho mấy tên Yankee tự phụ này! Cho chúng một bài học!”

Trên soái hạm Shokaku, Nagumo vẫn họp với Kusaka. “Thế trận của chúng ta hiện tại đã dàn như thế nào?” Nagumo hỏi. Kusaka đáp: “Hai thiết giáp hạm Hiei và Kirishima, tuần dương hạm Chikuma và 7 khu trục hạm của Ðề đốc Koki Abê, cách phía trước chúng ta 60 đến 80 dặm hướng Nam. Tuần dương hạm Tone và khu trục hạm Terutsuki (Nguyệt Rạng) của Ðề đốc Chuichi Hara ở hướng Ðông cách đây 200 dặm. Ðệ Nhị Hạm đội của Ðề đốc Kakuta cách 300 dặm hướng Tây.”

“Có tin tức gì về các hàng không mẫu hạm địch không?” Nagumo chau mày.

“Dạ không!”

Một khoảng im lặng ngắn ngủi bị Nagumo phá vỡ bằng câu nói có hơi lưỡng lự và nghĩ ngợi: “Ở Midway, địch đã chọn đúng thời gian đánh chúng ta. Hiện tại chắc họ cũng làm như vậy, những mục tiêu mà họ nhắm vào chúng ta đã rõ như ban ngày, nhưng chúng ta vẫn đui mù.”

Thiếu tá Takada, một sỹ quan tham mưu, lên tiếng: “Xin lỗi Ðô đốc, tôi có thể mạn phép đề nghị gởi một công điện cho Yamato (tức soái hạm của Yamamoto lúc đó ở Truk) để xin huấn thị?”

Nagumo im lặng. Kusaka nhắm mắt một lát, sau đó mở bừng ra nói: “Phải, Takada, hãy chuyển một công điện như sau: Kusaka, Tham mưu trưởng Ðệ Nhứt Không Hạm đội gởi Phó Ðô đốc Matome Ugaki, Tham mưu trưởng Hạm đội Hỗn hợp. Tôi xin mạn phép đề nghị ngừng bước tiến về phía Nam của chúng ta cho đến khi nào chúng ta nhận được tin tức dứt khoát cho biết Lục quân đã chiếm các phi trường ở Guadalcanal. Hình như chúng ta càng lúc càng chui đầu vào rọ nếu chúng ta cứ tiếp tục dấn bước thêm.”
Nagumo chăm chú lắng nghe và gật đầu để chứng tỏ sự đồng ý của ông. Công điện được gởi đi và cabin chìm trong nỗi im lặng nặng trĩu. Nagumo với bộ tham mưu quyết định bất động để chờ hồi đáp.
Khu trục hạm Amatsukaze của tôi lúc đó đang chạy cách tả mạn soái hạm Shokaku của Nagumo 2,000 thước. Tàu của tôi, thêm một tuần dương hạm và 9 khu trục hạm là nhóm hộ tống bao quanh chiếc Shokaku và 2 hàng không mẫu hạm Zuikaku và Zuiho thuộc Ðệ Nhứt Không Hạm đội. Nagumo và Kusaka cùng học bài học cay đắng và đắt giá ở Midway, nên cả hai không dám khinh suất lần này.

Quá nửa đêm, phúc đáp đến từ Truk: “Ugaki gởi Kusaka: Lực lượng của ông tiếp tục tiến nhanh về phía Nam. Các lịnh hành quân vẫn duy trì.”

Kusaka bặm môi. Takada kêu trời. Nagumo khịt mũi, và sau đó nói một cách trầm tĩnh: “Ðược, ra lịnh cho các hàng không mẫu hạm lấy thêm nhiên liệu.”

Ba hàng không mẫu hạm chạy chầm chậm để lấy dầu trong bóng đêm. Bình minh ngày 25 tháng 10, mọi việc đang xúc tiến đều đặn thì một báo cáo bay đến cabin của Nagumo làm đảo lộn tất cả. Nagumo lúc đó còn đang ngủ. Là báo cáo của phi cơ tuần phòng trên đầu chúng tôi.

“Vừa bắn hạ một máy bay thám thính của địch!”

Nagumo chồm ngay dậy: “Ngưng tiếp dầu! Quay đầu! Quay đầu! Hướng chánh Bắc!”

5 giờ 30 sáng, hai hạm đội của Nagumo và Kakuta tháo lui, vận tốc 20 hải lý, hướng Bắc-Ðông Bắc. Khi tiếp nhận báo cáo, Nagumo hiểu ngay là địch đã biết rõ vị trí, đội hình của chúng tôi. Ðô đốc Halsey không đoán ra việc thối lui bất ngờ của Nagumo (điều mà Nagumo không làm ở Midway) – nên khi các đội tấn công của Halsey lao đến, vài giờ sau, hạm đội của chúng tôi không còn ở đó.

Mọi người đều bàng hoàng, và hiểu là chúng tôi đã thoát bẫy của địch quân chỉ trong gang tấc. Nếu chúng tôi tiếp tục tiến về hướng Nam mà không xoay hai lần để chạy về hướng Bắc, Task Force Hoa Kỳ đã đánh tập hậu chúng tôi, và chúng tôi sẽ rước thêm thảm bại nhục nhã. Trên đài chỉ huy của soái hạm Shokaku, Phó Ðô đốc Nagumo bớt căng thẳng lần đầu tiên sau nhiều giờ lo âu. Ông ra lịnh cho phi cơ cất cánh. Mọi người đã học được bài học ở Midway, nếu vì ngần ngừ một phút thì thảm họa có thể ập xuống. Hai hàng không mẫu hạm Shokaku và Zuikaku tung 40 oanh tạc cơ và 27 chiến đấu cơ lên trong vòng 15 phút. Sự nhậm lẹ này trái ngược hẳn với sự chậm chạp như rùa của chiếc Ryujo cách hai tháng trước đây cũng trong khu vực này.

Hai phi cơ thám thính của Hoa Kỳ bỗng xuất hiện, bay vượt qua đầu chúng tôi và bỏ vài trái bom xuống ngay hàng không mẫu hạm Zuiho. Một trái bom nổ tung trên sàn phi đạo và phát hỏa. Ngọn lửa được dập tắt ngay nhưng sân bay của Zuiho bị hư hại nặng.

Hạm trưởng của Zuiho cho biết phi cơ của ông vẫn còn cất cánh được nhưng không thể trở về. Sau khi cho cất cánh tất cả các chiến đấu cơ, Nagumo ra lịnh cho chiếc Zuiho thối lui.

Những chất dẫn hỏa trên sàn tàu của tất cả chiến hạm được lịnh dọn dẹp, và mọi thùng đựng nước để chữa cháy đều mở nắp. Ðịch quân đã biết vị trí của hạm đội chúng tôi và sẽ ồ ạt xuất hiện không biết lúc nào. Chúng tôi căng thẳng cực độ.

Vào lúc 6 giờ sáng, Nagumo tung làn sóng tấn công thứ nhì bao gồm 16 chiếc Zéro của chiếc Zuiho và các máy bay của hai chiếc Shokaku và Zuikaku. Hiện tại, tất cả các hàng không mẫu hạm Nhựt không còn một chiến đấu cơ nào bao che. Nhưng chúng tôi phải ra tay trước, đánh phủ đầu địch quân. Các đám mây dầy bay chập chờn trước mắt tôi chứa đầy nguy hiểm. Trận đấu sắp bùng nổ.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

Post on July 29th, 2021

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

(Kỳ 23)

Tameichi Hara là sĩ quan cấp tá đầu tiên sau chiến tranh phê phán kịch liệt Thủy sư Đô đốc quá cố Yamamoto. Tuy nhiên bên cạnh những thất bại cá nhân của Yamamoto còn có yếu tố kỹ thuật: Kể từ trận Guadalcanal, các chiến hạm Hoa Kỳ trang bị radar SG (Microwave Surface and Low Air Search Radar) xoay vòng phát sóng và tiếp nhận trên màn hình PPI (Plan Position Indicator), xác định hướng và khoảng cách của đối phương trên không cũng như trên biển. Cùng lúc US NAVY sáng chế thành công hệ thống vô tuyến TBS Talk Between Ships: Đàm thoại giữa các chiến hạm Mỹ bằng phát sóng VHF (Very High Frequency). Thông điệp chuyển đi chỉ đến những tàu nhìn thấy trực tiếp trong tầm mắt qua viễn vọng kính, với đường kính tối đa là 40 cây số. Khoảng cách này khiến các tàu Nhật ở xa không thể nghe được các trao đổi giữa các tàu Mỹ. Là một lợi thế vượt bực. Vì để tránh bị nghe lén, các tàu Nhật khi hải hành vẫn còn phải dùng kỳ hiệu hoặc đèn là một phương pháp cổ lỗ sĩ. Ưu thế dạ chiến từ huấn luyện thủy thủ tinh nhuệ của Nhật giảm dần rồi mất hẳn. Phải lâu về sau, Trung tá Hara mới biết đến những tiến bộ khoa học này.

[Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 23

Khu trục hạm Amatsukaze, chở đầy những người còn sống sót, lặng lẽ tiến vào hải cảng Truk vào ngày 25 tháng 8-1942. Tôi chắc chắn sẽ sớm nhận lịnh trở lại nhiệm vụ ngay khi đổ xong người, nhưng không một ai trong chúng tôi ngờ rằng Amatsukaze phải đậu ở Truk một tháng trời, giữa lúc trận chiến bước vào giai đoạn ác liệt nhứt. Ở đây, tôi đã thâu thập được nhiều chi tiết về trận hải chiến ở biển San Hô ngày 7 và 8 tháng 5 trước đây, tức là trong thời gian tôi đi phép.

Trận hải chiến này bùng nổ là do hậu quả kế hoạch đổ bộ của Nhựt nhằm chiếm giữ hải cảng Moresby, một cứ điểm then chốt của Ðồng Minh nằm trên bờ phía Nam New Guinea, sát Úc châu. Trận đánh đã làm Nhựt chìm một hàng không mẫu hạm nhẹ Shoho (Triển Phụng: nghĩa là phượng hoàng tốt lành), và 2 hàng không mẫu hạm hạng nặng là Shokaku (Tường Hạc: chim hạc bay liệng) và Zuikaku (Thụy Hạc: chim hạc may mắn) bị hư hại đến nỗi không thể tham dự vào trận đánh ở Midway xảy ra một tháng sau đó. Qua công bố, Hải quân Hoàng gia không đề cập đến sự thiệt hại của Nhựt, chỉ cho biết là Nhựt đã đạt chiến thắng qua việc đánh chìm được 3 hàng không mẫu hạm địch trong trận này. Nhưng mất mát thật sự của địch gồm có: hàng không mẫu hạm Lexington 48,000 tấn, hàng không mẫu hạm Yorktown 26 ngàn tấn bị thiệt hại nhẹ, tàu dầu Neosho và khu trục hạm Soins bị đánh chìm. Mặc dầu các công bố đều nói đến hai tiếng chiến thắng, nhưng rõ ràng Nhựt đang bắt đầu thoái bộ.

Một tháng sau, Nhựt bị đánh tơi bời ở Midway, thiệt mất các hàng không mẫu hạm Akagi (Xích Thành), Kaga (Gia Hạ), Hiryu (Phi Long) và Soryu (Thanh Long) cùng với tuần dương hạm nặng Mikuma (Sông Mikuma), và với sự tham chiến của hàng không mẫu hạm Yorktown của Hoa Kỳ (hư hại trong trận biển San Hô được sửa chữa lại) đã khiến cho Nhựt ngẩn ngơ, nhưng cuối cùng chiếc Yorktown cùng với khu trục hạm USS Hammann cũng bị Nhựt đánh chìm trong trận này.

Vào tháng 7, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Nhựt lại vấp thêm một lỗi lầm nữa qua cuộc đổ bộ một sư đoàn bộ binh lên Buna, nằm ở bờ biển Ðông Papua. Sư đoàn này sau khi đổ bộ đã vượt qua dãy núi Owen Stanley, mưu tấn công hải cảng Moresby. Nhưng con số binh sỹ thiệt mạng do núi non, rừng rậm hiểm trở và khí hậu độc địa gây ra dọc lộ trình di chuyển nhiều hơn là do địch gây ra.

Một sự việc quan trọng là Ðồng Minh đã đổ bộ lên đảo Guadalcanal vào ngày 7 tháng 8, đúng ngày lực lượng Nhựt sa lầy ở Papua. Yamamoto đã đánh giá một cách sai lầm các cuộc hành quân ở Papua và Guadalcanal. Hồi ở Midway ông đã phân chia lực lượng của ông để tấn công cùng một lượt vào các hòn đảo vô giá trị ở Aleutian, đến Guadalcanal ông cũng chia hai lực lượng, một tấn công hòn đảo này và một vào bán đảo Papua. Các cuộc tấn công phân tán đã không kết quả mà còn đưa đến hậu quả tàn khốc.

Vào đêm 24 tháng 8 trong lúc chiếc Amatsukaze đang giải cứu 2 phi công, 7 khu trục hạm Nhựt đã đột kích Guadalcanal một cách gần như phí công. Vào hai ngày kế, các phi cơ Nhựt lại tấn công hòn đảo này, nhưng cũng không đạt kết quả là bao. Trong khi đó thành phần chánh của Hạm đội Hỗn hợp dàn quanh các đảo Solomon, nhưng lại không nhắm vào một mục đích rõ rệt nào. Sự do dự của Yamamoto hiển nhiên ai cũng thấy.

Bốn ngày sau đó, đoàn tàu chuyển quân của Ðại tá Ichiki một lần nữa cố gắng tiến về Guadalcanal. 20 khu trục hạm hộ tống đoàn tàu này bị phi cơ Ðồng Minh tấn công, đánh chìm chiếc Asagiri (Sương Mù Bình Minh) và gây thiệt hại nặng cho 3 khu trục hạm khác là Shirakumo (Bạch Mây), Yugiri (Dạ Sương), Amagiri (Mây Tầng). Yamamoto chần chờ khá lâu mới tung 30 chiến đấu cơ và 30 oanh tạc cơ của 2 hàng không mẫu hạm Shokaku và Zuikaku để yểm trợ đoàn tàu. Nhưng khi các phi cơ này đến nơi thì đoàn tàu đã xuôi hướng trở về quần đảo Shortland. Trong khi đó, tiền quân thuộc Chiến đoàn Sendai của Ichiki, nằm kẹt cứng ở một góc đảo Guadalcanal đã lên tiếng kêu cứu. Do đó, sáng ngày 29 tháng 8, binh sỹ lại được đưa xuống 6 khu trục hạm để lên đường tăng viện. Lực lượng 1,000 người này đã đổ bộ thành công lên mũi Taivu, nằm chính giữa bờ biển phía Bắc Guadalcanal, ngay trong đêm.

Lữ đoàn của Chuẩn tướng Kawaguchi, thoạt đầu dự định đổ bộ lên Papua, đã khởi hành từ Truk để tăng cường thêm cho cánh quân của Ichiki. Trên đường, lữ đoàn ghé Bougainville, và ngày 30, tiểu đoàn đầu tiên thuộc lữ đoàn này được 3 khu trục hạm vận chuyển đến đảo Guadalcanal. Tiếp theo đó, vào ngày 31, tám khu trục hạm khác đã vận chuyển thêm 1,200 quân nữa. Và vào ngày 1 tháng 9, đơn vị thứ ba của lữ đoàn xuống 4 khu trục hạm và sau đó đổ bộ lên phía Nam hòn đảo. Ngày kế, 20 chiến đấu cơ và 18 oanh tạc cơ Nhựt tấn công Guadalcanal. Cuộc đổ bộ của toàn thể Lữ đoàn Kawaguchi hoàn tất vào ngày 4 và 7 tháng 9-1942.

Trong suốt giai đoạn xảy ra các hoạt động tăng viện này, chiếc Amatsukaze của tôi nằm bất động ở Truk, nhưng tôi hình dung được mọi diễn tiến. Tôi biết binh lính được các khu trục hạm đổ lên bờ chỉ có thể mang theo vũ khí nhẹ, và điều này khiến tôi lo ngại. Bởi vì, cho dù lực lượng Nhựt đông đảo đi nữa, cũng không thể nào chịu đựng nổi trước sức đề kháng của nguyên 2 sư đoàn Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ trang bị vũ khí nặng, đã nằm sẵn trên đảo. Sư đoàn 1 TQLC của Thiếu tướng Alexander Vandegrift với 4 trung đoàn 1, 5, 7, 11 và Sư đoàn 2 TQLC của Chuẩn tướng Alphonse Decarre với 2 trung đoàn 2 và 10 (tăng cường trung đoàn 6 và 8 sau đó). Vào thời điểm đó TQLC Mỹ đã lên đến 22 ngàn binh sỹ. Trong lúc Lữ đoàn 35 Bộ chiến Nhựt của Chuẩn tướng Kiyotaki Kawaguchi chỉ có 3 tiểu đoàn của Trung đoàn 124 Bộ binh, tăng cường thêm 1 tiểu đoàn của Chiến đoàn Sendai của Ðại tá Ichiki, với 2 tiểu đoàn trọng liên miền núi và 1 trung đoàn pháo binh dã chiến. Chênh lệch quá lớn.

Tấn công ban đêm của Lữ đoàn Kagawuchi

Truk hoàn toàn yên tĩnh sau khi đoàn tàu chở Lữ đoàn Kawaguchi ra đi. Mặt nước hải cảng lặng lờ. Khung cảnh an bình làm tiêu tan cơn mệt mỏi của thủy thủ đoàn Amatsukaze. Quanh hòn đảo san hô này đầy dẫy mọi loại hải sản. Mỗi ngày thuyền chài đều mang cá tươi về. Ðó là một cơ hội tốt để đổi món ăn cho những kẻ quanh năm chỉ biết đồ hộp như chúng tôi. Sushi và Sashimi tươi là thức ăn hàng ngày của chúng tôi, nhưng tâm trí tôi vướng bận với các trận đánh.

Chính vì vào lúc đó, thành phần chánh của Hạm đội Hỗn hợp chấm dứt 10 ngày “lang thang” vô ích và tiến vào quân cảng Truk ngày 5 tháng 9. Hải cảng rộng lớn này bỗng nhiên hẹp lại khi 50 chiến hạm, với thiết giáp hạm Yamato, 72 ngàn tấn trí 9 đại bác 460 ly dẫn đầu, lần lượt ùa vào.

Suốt ba ngày liền thay phiên trên các soái hạm, toàn thể các hạm trưởng và sỹ quan chỉ huy luân phiên hội họp để bàn thảo các chi tiết chiến thuật. Cuộc họp cuối cùng mở ra trên đại soái hạm Yamato, dưới sự chủ tọa của Yamamoto. Các cuộc bàn thảo sơ khởi trước đó đều xoay quanh các phương cách đối phó với những vấn đề không quan trọng. Không thấy ai đề cập đến những khiếm khuyết đã gặp phải trong các cuộc hành binh trước đây. Sự thực, nếu ai mang các vấn đề này ra bàn thì khó tránh đụng chạm đến thượng cấp. Do đó, các cuộc bàn thảo sơ khởi không đi đến đâu.

Chủ tọa buổi họp cuối cùng này, Ðô đốc Yamamoto ngồi im lặng nghe, và sau cùng để kết thúc, ông lên tiếng cảnh cáo sự khinh thường khả năng chiến đấu của Hoa Kỳ và đưa ra chỉ thị đơn giản:

1- Phải che đậy hành tung của các hàng không mẫu hạm Nhựt.

2- Ưu tiên tận dụng sức mạnh không lực để chống lại địch quân.

Tôi trở về tàu với tâm trạng trống rỗng, cảm thấy các buổi họp hoàn toàn vô bổ. Gặp Ðại úy Shimizu, thấy mặt ông bí xị tôi hỏi: “Gặp rắc rối gì rồi, phải không?”

“Chúng tôi vừa để sẩy một con cá. Ba ngày nay, hạm đội siêu đẳng của chúng ta đã làm lũ cá quanh hòn đảo san hô này khiếp đảm!”

Một hôm, tiếng động ồn ào lôi tôi ra khỏi buồng. Các thủy thủ đang xúm quanh một chiếc lồng nan nhốt một con ó đã đến đậu trên cột buồm hôm trước mà họ bắt được. Tiến đến gần, tôi thấy đám thủy thủ bỏ một con chuột bên trong. Con ó đứng yên, dửng dưng, hai mắt khép hờ như ngủ gật trong lúc con chuột khiếp hãi tìm cách thoát thân. Bất thình lình con ó phóng tới mổ vào mắt con chuột. Ðám đông reo hò. Con ó đi vòng trong lồng với thái độ tự tin rồi mổ tiếp vào mắt kia của con chuột đã trở nên mù lòa. Tất cả diễn ra bằng những động tác khéo léo vừa chính xác vừa nhanh nhẹn cùng cực. Nhóm thủy thủ vỗ tay trong lúc con ó lại trở lại trạng thái bất động, vô cảm và ngạo mạn. Tôi quay về buồng, không muốn xem thêm nữa. Ðoạn kết sẽ là một hành hình đầm đìa máu. Với tôi, chú chuột đáng thương là khu trục hạm, còn con ó là máy bay. Hình ảnh ấy bám theo tôi rất lâu.

Vào ngày 9 tháng 9, Hạm đội Hỗn hợp rời khỏi Truk, và khu trục hạm Amatsukaze gia nhập trở lại Lực lượng Ðặc nhiệm Nagumo. Theo kế hoạch, chúng tôi sẽ tiến công xả láng Guadalcanal vào ngày 12 tháng 9, đồng lúc với cuộc tấn công của Lữ đoàn Kawaguchi trên bộ. Tuy nhiên, chúng tôi phải nằm chờ qua đêm 12 để đợi tin tức dứt khoát xem có phải phi trường Henderson Field ở Guadalcanal hiện nằm trong tay quân Nhựt hay không. Theo kế hoạch, ngay khi không lực Hoa Kỳ, Cactus Air Force tại Henderson Field bị vô hiệu hóa, các thiết giáp hạm Nhựt sẽ áp sát và dùng hải pháo phá hủy tất cả các căn cứ của Thủy quân Lục chiến Mỹ dọc phía Bắc đảo Guadalcanal, cùng lúc tiêu diệt đoàn tàu tiếp tế. Ngày kế đó, chúng tôi tiếp tục kiên nhẫn chờ đợi, cho đến quá nửa đêm, Tổng Hành Dinh ở Rabaul gọi vô tuyến báo tin: “Theo các phi cơ thám thính, phi trường Guadalcanal dường như nằm trong tay chúng ta”.

Sáng sớm ngày hôm sau, 7 phi cơ thám thính của chúng tôi trở về với đầy đủ các báo cáo trái ngược hẳn với tin tức của Rabaul. Cuối cùng, vào ngày 15, công điện mong đợi cũng đã đến tay chúng tôi, do Kawaguchi gởi. Theo đó lực lượng của ông đã gặp sức chống cự ác liệt của địch, chịu đựng thiệt hại nặng nề, và bắt buộc phải thối lui khỏi Henderson Field.

Buổi chiều cùng ngày, phi cơ tuần thám và các tàu ngầm của chúng tôi báo cáo một Task Force hùng hậu của địch quân, gồm nhiều hàng không mẫu hạm và thiết giáp hạm, ở cách Ðông Nam Guadalcanal 260 dặm. Thiếu tá Takaichi Kinashi, hạm trưởng của tiềm thủy đĩnh I-19, qua một “công điện vui vẻ đầu tiên” trong tuần lễ đầy đen tối này, cho biết tàu ngầm của ông đã phóng ngư lôi đánh chìm hàng không mẫu hạm Wasp của Hoa Kỳ và khu trục hạm O’Brian, gây hư hại nặng cho thiết giáp hạm North Carolina. (Wasp bị trúng 3 trái thủy lôi của I-19 vào ngày 16 tháng 9, hư hại trầm trọng, nên sau khi di tản thủy thủ đoàn, chiếc tàu được khu trục hạm Lansdowne của Hoa Kỳ ban thêm phát “ân huệ” để nhận chìm hẳn). Ðây là cú phóng ngư lôi hiệu quả nhứt trong suốt cuộc chiến.

Chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng và nôn nóng chờ đợi thử sức với hạm đội địch. Nhưng sau một tuần chạy lang thang, tất cả chiến hạm Nhựt đều gần cạn nhiên liệu. Chúng tôi phải lấy thêm nhiên liệu từ các tàu chở dầu ở một hải vực cách phía Bắc Guadalcanal 200 dặm. Công việc này đã mất hết 3 ngày, vì vậy hy vọng đụng độ của chúng tôi tiêu tan.

Trong lúc đó, Ðô đốc Yamamoto cuối cùng cũng quyết định cần phải có một sư đoàn đầy đủ quân số để tăng viện cho các đơn vị Nhựt bị kẹt ở Guadalcanal. Do đó, sau khi tiêu thụ một số nhiên liệu khổng lồ mà không thâu hoạch được một lợi lộc gì, Hạm đội Hỗn hợp quay lại Truk để chờ viện binh.

Cũng trong thời gian này, Yamamoto ra lịnh cho Ðề đốc Kakuji Kakuta, hiện đang đảm trách huấn luyện 3 hàng không mẫu hạm mới trong hải phận Nhựt, đem các tàu này đến Truk càng sớm càng tốt. Yamamoto cũng quyết định ngưng các cuộc hành quân để chờ Ðệ Nhị Hạm đội của Kakuta. Cho mãi đến ngày 9 tháng 10, hạm đội này mới đến Truk. Do đó, sau khi địch đổ bộ lên Guadalcanal, Nhựt phải mất 2 tháng tròn mới chuẩn bị được một lực lượng phản công đầy đủ.

Ở chương thứ XI của Binh Pháp, Tôn Tử đã viết: “Một chiến thuật gia khôn khéo có thể ví như một con rắn: đầu bị đánh thì đuôi sẽ quật, còn đuôi bị đánh thì đầu sẽ mổ. Còn nếu bị đánh ở lưng thì đầu và đuôi cùng bật dậy.”

Tháng 10 năm 1942, Hạm đội Hỗn hợp của Ðô đốc Yamamoto lần đầu tiên áp dụng “xà trận” này. Ðầu của con rắn là Lực lượng Ðặc nhiệm của Nagumo, thân con rắn là hạm đội chánh của Yamamoto, và đuôi của con rắn là các chiến hạm mới đến, dưới quyền chỉ huy của Ðề đốc Kakuta. Hàm răng sắt của Nagumo là 2 hàng không mẫu hạm Zuikaku và Shokaku (29,800 tấn và tổng số trang bị và chuyên chở lên đến 40,000 tấn mỗi chiếc). Ðây là 2 hàng không mẫu hạm tối tân nhứt của Nhựt thời ấy, gồm toàn thủy thủ và phi công chọn lọc. Thêm vào đó còn có 3 hàng không mẫu hạm biến cải Hiyo (Phi Ưng), Junyo (Chuẩn Ưng), mỗi chiếc 27,500 tấn và Zuiho (Thụy Phụng) 14,200 tấn của Ðề đốc Kakuta. Các chiếc tàu sau gồm thủy thủ đoàn và phi công mới huấn luyện, nhưng dưới bàn tay trui rèn của Kakuta, sự thiếu kinh nghiệm của họ cũng được bù đắp phần nào. Kakuta là vị Ðề đốc trẻ tuổi nhứt dưới quyền Yamamoto, và là một tay chiến đấu chưa hề biết lùi bước. Ông đến Truk với ý định phục thù cho hàng không mẫu hạm Ryujo, chiếc tàu mà ông từng chỉ huy trước đây. Theo Kakuta, Ryujo sở dĩ bị đánh chìm trong trận hải chiến ở Ðông Solomon là do sự cẩu thả của giới chỉ huy cao cấp của Hải quân Nhựt. Ông cũng tỏ ra tức tối cuộc đại bại ở Midway. Lúc đó ông đang bận chỉ huy Hải lực 2 Xung kích tấn công các đảo Aleutian ở cực Bắc bán cầu, nên không rảnh tay để nhảy vào tham chiến. Lúc đó ông không khác nào cái đuôi con rắn bị kéo đi quá xa, nên không thể nào quật ngược khi cái đầu của nó bị đánh.

Vào tháng 9 năm 1942, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng gia ở Ðông Kinh ý thức được tình thế nghiêm trọng nên đã cho phép Yamamoto tập trung nỗ lực vào cuộc phản công ở Guadalcanal và “bỏ rơi” mặt trận Papua. Do đó, Yamamoto có cơ hội trở thành “một chiến thuật gia khôn khéo” như lời răn của Tôn Tử, nhưng Yamamoto không thực sự tự do hầu khai thác hết cơ hội này. Lục quân vẫn giữ các quyết định tối hậu.

Lục quân Nhựt đã đưa Sư đoàn 2 Bộ chiến Sendai của họ đang đóng ở Java đến Rabaul và đòi hỏi “một cuộc hành quân phối hợp Hải-Lục ở Guadalcanal”. “Hành quân phối hợp Hải-Lục” có nghĩa là Lục quân cung cấp binh sỹ và vũ khí, còn Hải quân chỉ có nhiệm vụ chuyển vận và yểm trợ mà thôi. Lục quân có trong tay phân nửa tổng số phi cơ chiến đấu của Nhựt Bản, nhưng họ không cung cấp một chiếc nào cho cuộc hành quân này. Như vậy, ý niệm về một cuộc “hành quân phối hợp” của Nhựt khác xa của Hoa Kỳ.

Riêng các khu trục hạm mang danh “Những chuyến tàu tốc hành Ðông Kinh” lãnh nhiệm vụ chuyên chở Sư đoàn 2 Sendai. Ðây là các khu trục hạm thuộc Ðệ Bát Hạm đội của Ðề đốc Gunichi Mikawa ở Rabaul.

Ðệ Nhị Hạm đội của Ðề đốc Kakuji Kakuta rời khỏi Truk vào ngày trước đó để bắn phá đảo Ndeni, thuộc nhóm phía Bắc Santa Cruz, vì chúng tôi cho rằng các thủy phi cơ của Hoa Kỳ hiện đóng tại đây. Nhưng khi chúng tôi đến, địch quân đã rút đi hết. Chúng tôi quay lại phía Bắc quần đảo Solomon vào ngày 15 tháng 10, để kết hợp với Lực lượng Ðặc nhiệm Nagumo đã rời Truk ngày 11.

Toàn thể sỹ quan, phi công, binh sỹ và thủy thủ cùng chuẩn bị thư hùng. Kỳ hiệu “Isamu-heidan”  có nghĩa là “Anh Dũng” kéo lên các cột buồm. Chúng tôi biết đây là trận sống mái.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

Post on July 22nd, 2021

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

(Kỳ 22)

Trong Chương 22 Trung tá Tameichi Hara bàn về Lưu Bang và Hàn Tín, là hai nhân vật quen thuộc với dân Việt qua Hán Sở Tranh Hùng. Khác phương Đông xem nghệ thuật chỉ huy còn tùy thuộc thiên mệnh, phương Tây khái quát nghệ thuật này vào ba chữ: Prévoir (Dự trù), Ordonner (Ra lệnh) và Contrôler (Kiểm soát). Dự trù: tức phải có tầm nhìn xa. Ra lệnh: không duy nhất là ban lệnh mà phải biết tổ chức, sắp đặt và thực thi từng bước của kế hoạch. Kiểm soát: Là hiện diện nhưng cần hệ thống hóa để có thể theo dõi xuyên suốt và điều phối vận hành. Ba khái niệm này, về sau được Henri Fayol ứng dụng trong lý thuyết Quản trị Kinh doanh và Frederick Taylor áp dụng trong The Principles of Scientific Management. [Trần Vũ]

Chương 22

Tôi bắt đầu cảm thấy rã rời sau suốt một ngày một đêm chiến đấu không ngừng nghỉ. Tôi định đi nằm thì sỹ quan truyền tin của tôi cho biết hàng không mẫu hạm Shokaku (Tường Hạc), tức soái hạm của Nagumo, gởi một công điện đến Amatsukaze: “Phó Ðô đốc Nagumo chỉ thị cho Trung tá Hara tiếp cứu hai phi công của hàng không mẫu hạm Zuikaku (Thụy Hạc) bắt buộc phải đáp xuống biển. Thi hành lập tức tại vị trí KI. N21.”

Tôi vội vã trả lời: “Trung tá Hara gởi Ðô đốc Nagumo. Amatsukaze cấp cứu ngay các phi công của Zuikaku.”

Quay sang hải đồ, tôi thấy tọa độ KI. N21 cách 98 dặm chánh Nam vị trí hiện thời của tôi, và tọa độ này nằm sâu trong khu vực của US Task Force 60 dặm. Sở dĩ tôi biết được khu vực của địch là do tin tức đưa đến vào lúc chiếc Ryujo đang chìm. Nhưng lịnh là lịnh, và nhiệm vụ quá cấp bách không thể chần chờ. Cơn buồn ngủ tiêu tan, tôi triệu tập ngay bộ tham mưu để bàn thảo.

Chúng tôi không thể để một sai lầm nhỏ nào xảy ra trong nhiệm vụ này. Tôi không dám chắc tọa độ cho có chánh xác hay không, nhưng nếu có một sai chạy nào thì công việc giải cứu của chúng tôi vô vọng.

Phó Ðô đốc Nagumo đã đặc biệt chọn tôi thi hành nhiệm vụ này, tôi biết ông đặt nhiều hy vọng vào tôi. Tôi quyết định không để ông thất vọng. Chúng tôi đang hút đầu vào miệng cọp, nhưng các thuộc cấp của tôi lại tỏ ra hăng hái thích thú, khiến tôi cũng phấn kích.

Chạy với tốc độ 24 hải lý, bốn tiếng đồng hồ sau chúng tôi có mặt trên khu vực phỏng định. Tôi ra lịnh giảm tốc độ xuống chỉ còn 6 hải lý. Ðêm không một vì sao. Chúng tôi hải hành nhắm chừng bằng mắt. Khi Thiếu úy Hideo Shoji báo cáo chúng tôi đang ở ngay trên tọa độ, tôi gọi tất cả thủy thủ nào không bận việc lên boong để quan sát, và tôi tuyên bố là ai phát hiện trước tiên, người đó sẽ được thưởng. Mọi người hưởng ứng nồng nhiệt.

Tôi nghĩ nếu hai phi công Nhựt rơi xuống khu vực này thì phi công địch cũng có thể rơi xuống, và họ cũng đang được đồng bọn tìm kiếm. Do đó, dù trời tối đen như mực tôi cũng không cho sử dụng đèn rọi, vì khu trục hạm lúc đó chỉ chạy có 6 hải lý một giờ, tiềm thủy đĩnh địch có thể phát hiện ánh đèn và tấn công chúng tôi.

Sau hơn một giờ tìm kiếm vô vọng, tôi lo ngại thiếu nhiên liệu. Hơn nữa, chiếc Amatsukaze của tôi đã tiêu thụ quá nhiều nhiên liệu trong nhiệm vụ chim mồi vừa qua và cần phải dự trữ để quay về Rabaul cách xa đây 500 dặm. Ðể cho công tác mau lẹ, tôi ra lịnh bật đèn rọi nhỏ. Vài phút sau, một thủy thủ bỗng la lên: “Một vật nổi ở hữu mạn! Giống một cái chai!” Tôi nghiêng hẳn mình ra ngoài đài chỉ huy và nhìn thấy cái chai loáng thoáng qua ánh đèn, tôi nói: “Ðúng rồi, họ ở gần đây chứ không xa.” Tôi cho bật đèn hiệu tên chiếc tàu của hai viên phi công: “Zuikaku! Zuikaku!” Ðèn rọi lặp lại: “Zuikaku! Zuikaku!”

Nửa giờ trôi qua, bình minh sắp đến, vào lúc hy vọng sắp tan tôi bỗng thấy một đốm sáng thật nhỏ chợt lóe lên ở phía trái mạn tàu cách khoảng 2,000 thước. Ðốm sáng lại lóe lên một lần nữa rồi tắt hẳn, nhưng tôi đã xác định được vị trí. Chiếc tàu tiến thẳng đến, và tôi cho thả một chiếc xuồng xuống khi nhìn thấy hai người đang bám vào một cái phao. Thiếu úy Hideo Shoji cầm đầu xuồng cấp cứu. Khi xuồng còn cách phao 50 thước, Shoji báo cáo rằng hai người bám phao này giống… người Mỹ.

Tôi quan sát bằng ống dòm và thấy đúng như lời Shoji, nhưng tôi ra lịnh: “Người gì cũng mặc, hãy cứu cái đã.”

Tôi nao núng, nếu đây là hai lính Mỹ thì công cuộc tìm kiếm của phe họ cũng quanh quẩn đâu đây. Nhưng tôi đã quyết tâm thi hành nhiệm vụ, cho dù kéo dài đến bình minh đi nữa. Khi xuồng cấp cứu vớt hai người dưới nước lên và báo cáo cho biết đây là hai phi công Nhựt mà chúng tôi tìm kiếm, bấy giờ tôi mới thở phào nhẹ nhõm.

Sau khi tất cả lên tàu, chúng tôi hướng về phía Bắc với tốc độ 24 hải lý, và tôi ngả lưng lần đầu tiên sau nhiều giờ căng thẳng. Công cuộc giải cứu hoàn toàn thành công.

Mặt khác, cuộc hành quân chim mồi của chúng tôi dù gặp vận xấu ở phút cuối cùng, nhưng chưa hẳn là một thất bại. Sự hy sinh của Ryujo đã đánh lạc hướng địch quân, không chú tâm vào lực lượng chánh của Nhựt Bản, và cho phép Phó Ðô đốc Nagumo tập trung đầy đủ sức mạnh không quân của ông để chống lại hàng không mẫu hạm Enterprise và Saratoga của Hoa Kỳ. Nhưng chiếc Enterprise chỉ bị hư hại, nó được sửa chữa và hoạt động lại trong vòng hai tháng, trong khi đó hàng không mẫu hạm nhẹ Ryujo bị đánh chìm hẳn. Nếu có thất bại là thất bại ở điểm này.

Mặt khác, các phi đội hải quân Hoa Kỳ đã oanh tạc các tàu chuyển vận Chiến đoàn Sendai của Ðại tá Ichiki và gây hư hại cho tuần dương hạm nhẹ Jintsu, soái hạm của phân đội khu trục hạm hộ tống. Cùng lúc 6 khu trục hạm Nhựt tiến sát vào Guadalcanal và pháo kích dữ dội lên đảo này suốt đêm, nhưng sáng hôm sau các pháo đài bay B17 của Hoa Kỳ bay đến và gây xáo trộn cho các chiến hạm Nhựt nhiều tiếng đồng hồ. Ðoàn tàu chuyển vận thoát được đến Bougainville, nhưng khu trục hạm Mutsuki và dương vận hạm Kinryu Maru bị đánh chìm. Trong lúc đó, đoàn tàu chuyển quân của tướng Kawaguchi nhận thấy khó đi suôn sẻ nên đã quay về Truk.

Vì vậy, toàn thể cuộc phản công lần thứ nhì của Nhựt ở quần đảo Solomon kết thúc với sự thất bại trên cả hai phương diện chiến thuật và chiến lược. Và việc này đã chứng minh quyết định của Yamamoto là sai lầm.

Hai ngày sau cuộc hành quân, Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng gia đưa ra một thông cáo chung. Theo đó, trong trận đánh kéo dài từ 23 đến 25 tháng 8, Nhựt Bản đã gây thiệt hại nặng nề cho địch, đánh đắm một hàng không mẫu hạm lớn và một hàng không mẫu hạm hạng trung, cùng với một thiết giáp hạm của Hoa Kỳ. Phía Nhựt chỉ bị đánh chìm một khu trục hạm và một hàng không mẫu hạm nhỏ hư hại nặng.

Về phía Hoa Kỳ, một công bố cho biết các phi cơ của họ đánh chìm một hàng không mẫu hạm, gây thiệt hại cho một tuần dương hạm và một khu trục hạm Nhựt. Công bố cũng nói đến việc hàng không mẫu hạm Enterprise bị hư hại, nhưng bù lại phi cơ của hải quân Hoa Kỳ cũng đã đánh chìm một thiết giáp hạm và hai khu trục hạm nhỏ của Nhựt.

Chiếc Ryujo đã chìm ngay trước mắt tôi, nhưng không còn chiếc tàu nào khác thuộc lực lượng chim mồi của chúng tôi bị đánh chìm, ngay cả một vết đạn cũng không. Có lẽ phi công Hoa Kỳ đã báo cáo lầm chiếc tàu chuyển vận Kinryu Maru thành ra một thiết giáp hạm và khu trục hạm Mutsuki thành ra một tuần dương hạm. Từ đó trở về sau tôi không còn tin vào các công bố liên quân đến cuộc chiến, kể cả hai phía Nhựt và Ðồng Minh.

Khi khu trục hạm Amatsukaze kết hợp với Lực lượng Ðặc nhiệm của Nagumo, ngày 25 tháng 8, tôi nhận được một mạng lịnh mới đầy thích thú, gởi đến từ hàng không mẫu hạm Shokaku.

“Ðô đốc Nagumo thành thật ngợi khen Trung tá Hara đã hoàn thành nhiệm vụ một cách hoàn hảo, và lịnh cho Hara di chuyển lập tức đến Truk để đưa những binh sỹ được cứu lên bờ.”

Một lần nữa, Amatsukaze lại tách rời khỏi hạm đội và đơn thân độc mã đến Truk. Ngày hôm sau, chúng tôi tiến vào hòn đảo san hô này.

Những ngày này trong tôi đầy suy gẫm nhưng phải đến sau chiến tranh tôi mới đúc kết hết suy nghĩ của mình.

Hán Cao Tổ Lưu Bang

Xưa, Lưu Bang (Liu Pang) đánh Ðông dẹp Bắc và khai sáng triều đại nhà Hán vào năm 202 trước Thiên Chúa. Sau khi lên ngôi, một hôm Lưu Bang hỏi nguyên soái của ông là Hàn Tín (Han Tsin): “Nhà ngươi nghĩ sức trẫm có thể cầm được bao nhiêu quân?” Hàn Tín đáp: “Theo hạ thần nghĩ, bệ hạ chỉ có thể điều động một đạo quân vài ba chục ngàn người mà thôi.” Lưu Bang hỏi: “Còn sức của nhà ngươi thì sao?” Hàn Tín đáp: “Nhiều quân chừng nào hạ thần càng điều động hữu hiệu nhiều chừng ấy.” Lưu Bang cười: “Vậy tại sao trẫm làm hoàng đế còn nhà ngươi chỉ là một vị tướng dưới trướng?” Hàn Tín đáp: “Ðó là do mạng trời, bệ hạ sanh ra là để chỉ huy những người chỉ huy.”

Lưu Bang là một trong những vị vua vĩ đại nhứt, còn Hàn Tín là một trong những vị tướng tài ba và nổi tiếng nhứt lịch sử Trung Hoa. Trong thời Ðệ Nhị Thế Chiến nhiều vị đô đốc cũng tài ba và gây được tiếng tăm như thế. Ðô đốc Isoroku Yamamoto của Nhựt là một. Ông là nhân vật tài ba, nhưng tôi nhận thấy tiếng tăm của ông có vẻ phóng đại hơn là những gì mà ông đáng được hưởng thực sự. Tôi không có ý so sánh ông với Lưu Bang, nhưng cả hai có nhiều điểm chung.

Mặc dù kết thúc cuộc chiến Thái Bình Dương, tuy bại trận một cách đau đớn, Nhựt vẫn xem Yamamoto như một vị anh hùng. Sau chiến tranh, biết bao nhiêu chỉ trích nhắm vào các tư lịnh hải quân và lục quân  nhưng riêng Yamamoto không hề bị đá động tới. Nếu những nhận xét của tôi về Yamamoto có vẻ nghiêm khắc, thì chẳng qua tôi chỉ nhận xét theo công tâm. Ðây có lẽ là lần đầu tiên một quân nhân Nhựt viết ra sự thật tất cả những gì mà người khác đã tránh né.

Ðối với tôi, Thủy sư Ðô đốc Yamamoto là một người sanh ra để chỉ huy những người chỉ huy, và trên phương diện này sự kính trọng phải được dành cho ông. Nhưng như Lưu Bang, ông không có khả năng điều động hàng mấy ngàn chiếc tàu và hàng mấy trăm ngàn thủy thủ dưới tay một cách hữu hiệu. Chọn ông để cầm đầu Hạm đội Hỗn hợp, nghĩa là cầm đầu toàn thể thủy lực của Nhựt trên mặt trận Thái Bình Dương, là một lựa chọn bi thảm.

Nhiều đồng nghiệp của tôi đều tin rằng Yamamoto sẽ là một vị bộ trưởng hải quân lý tưởng nhứt, và có nhiều cuộc vận động trong hàng ngũ sỹ quan Hải quân Nhựt để đưa ông lên chức vụ này. Và theo ý kiến họ, Ðô đốc Mitsumasa Yonai mới xứng hợp với chức vụ Tổng Tư lịnh Hạm đội Hỗn hợp. Nhưng cuộc vận động này thất bại, vì Mitsumasa Yonai, một nhân vật chống đối chiến tranh mạnh mẽ, đã từ chối. Ông đã nói: “Tôi không phải là một Ðô đốc thời chiến, do đó tôi sẽ gây “nguy hại” cho những gì mà Lục quân đang theo đuổi. Hơn nữa, nếu một người cứng đầu như Yamamoto mà trở thành bộ trưởng hải quân, không sớm thì muộn ông ta sẽ bị nhóm cuồng tín sát hại.”

Lục quân Nhựt là binh chủng gây rắc rối nhiều nhứt. Khi chiến tranh bắt đầu, Nội Các Nhựt dưới quyền của Ðại tướng Lục quân Hideki Tojo, bộ trưởng hải quân là Ðô đốc Shigetaro Shimada chỉ là một anh hề của Tojo. Tổng tham mưu trưởng Hải quân, Ðô đốc Osami Nagano, lại không đủ mạnh để chống đối các kế hoạch của Lục quân. Nếu muốn chỉ trích những gì mà Yamamoto đã làm hoặc không làm, không thể quên hoàn cảnh cùng thời thế khi đó. Nhưng so với các yếu tố vừa nêu, trong sự kính trọng khả năng có thật của họ, tôi bắt buộc phải so sánh.

Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, Yamamoto nổi tiếng là một tay “đỏ đen” vào hàng siêu đẳng. Bất cứ trò chơi nào, ông cũng đều vượt trội, nhứt là đánh xì-phé. Quyết định tấn công Trân Châu Cảng là một ván bài vĩ đại nhứt của ông, gây tối tăm mặt mũi cho một đối thủ tiền rừng bạc biển. Tuy nhiên có một điều lạ, là khác với một tay đỏ đen thật sự, Yamamoto không bao giờ lặp lại “canh bạc xả láng Trân Châu Cảng” một lần nào nữa. Các bài học ở biển San Hô cũng không được ông mang ra áp dụng lại ở trận Midway, trận đánh mà Yamamoto đã hành động một cách sai lầm, là chia lực lượng của ông ra nhiều mục tiêu nhỏ mà không dồn hết nỗ lực vào mục tiêu quyết định. Sau này, Yamamoto lại cứ mãi bận tâm với vấn đề bảo toàn lực lượng. Yamamoto, thực sự không phải là Hàn Tín.

Học chữ để làm gì?

hung-viet.org

Huy Phương

17 Tháng Tư 2017

Post by Sơn râu 23 Apr 2024

Chưa bao giờ cái học trở nên vất vả cho nhiều học sinh như ở Việt Nam ngày nay. Phải đi bộ mất cả nửa ngày đường mới đến được trường để học “cái chữ,” các học sinh ở các vùng cao nguyên của Bình Định vẫn phải đến trường.
Ai cũng mủi lòng khi trời trở lạnh, mà thấy các em đến trường mong manh trong chiếc áo mỏng, chân đất không giày dép, đầy bùn đất, đỏ ửng. Trường thì bốn bề gió lộng, không có vách che chắn. Phần ăn trưa mang theo chỉ có nắm cơm với muối.

Đến trường, học sinh phải tự đu dây kéo bè, ghe tự vượt sông đến trường và về đến nhà khi trời đã tối mịt. Trong một trường hợp “bi thảm,” 19 em học sinh trong 57 em học sinh trường Lãng Khê, Nghệ An, phần lớn là gái, chết không tìm được xác, trong buổi sáng mùa mưa năm 2007, nước sông chảy xiết, thuyền nhỏ, chở nặng chết máy, bị sóng đánh chìm.

Cha mẹ như vậy, ai không khỏi xót xa chạnh lòng vì thương con, không cho con đến trường thì ngu dốt, mà cho con đi học, mạng treo sợi tóc, khốn khổ trăm bề, trong khi việc đồng áng không ai làm phụ, cơm ngày hai bữa không đủ ăn, tiền trường không đóng đủ, không áo quần cho con trẻ, lấy gì ăn để cho các con đi học.

Kỳ Anh là một trong những địa phương chịu thiệt hại nặng nề do thảm họa cá chết và đổ chất thải do công ty Formosa gây ra, cả nghìn học sinh tại địa phương này không đến trường trong năm học mới. Các phụ huynh cho biết nguyên do là họ không đủ tiền đóng học phí cho con. Mức học phí cho mỗi em là 1.7 triệu đồng, chính quyền cho giảm miễn 400,000 đồng, nhưng lấy đâu ra 1.3 triệu đồng để đóng cho con em, vì ngư dân không kiếm ra tiền, ngay hạt muối làm ra cũng không bán được.

Ở những nơi khác thì không thiếu những tệ nạn vô đạo đức của các giới chức trong ngành giáo dục, từ giáo viên đổi điểm lấy tính dục, hiệu trưởng khai gian, lạm thu nhiều khoản ngoài quy định của học sinh nghèo, cắt xén tiền ăn trưa của học sinh…

Trong tình trạng khó khăn của đời sống và hoàn cảnh xã hội như thế, nhiều phụ huynh học sinh nản chí, không muốn cho con đến trường để kiếm “cái chữ” như cách nói của người thiểu số vùng cao.

Vào thời buổi này, học chữ để làm gì?

Hơn 200,000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp đang được Bộ Lao Động xây dựng đề án xuất khẩu lao động kiếm việc làm ở nước ngoài. Hàng chục nghìn thanh niên cần có tiếng Triều Tiên, tiếng Nhật, tiếng Anh… để xuất ngoại kiếm việc làm, liệu có cần học tiếng Việt?

Quyền cao chức trọng trong xã hội này, chỉ cần lươn lẹo, luồn lọt, mềm lưng, phe đảng, hiến vợ, đâu cần đến kiến thức chuyên môn hay văn bằng thích hợp. Hoạn lợn như Đỗ Mười, bẻ ghi đường ray như Lê Duẫn gặp thời cũng là bậc Đế Vương, học luật trong rừng, đọc một tiếng Anh cơ bản “Made” chưa xong, cũng làm được Tể Tướng.

Thời nay có nên dạy con chữ trung tín, thật thà, để con chết đói không, hay nên dạy con mánh mung, luồn lọt! Thời buổi sản sinh ra nhiều bí thư, chủ tịch, đại gia, thì đàn bà con gái, Trời cho có cái nọ, chẳng cần có thêm “cái chữ” làm gì! Ở xứ “địa linh nhân kiệt” như đất Thanh Hóa, cô Trần Quỳnh Anh xuất thân chỉ là nhân viên tạp vụ (lao công tạp dịch) của liên đoàn lao động tỉnh, học vấn cỡ lớp Ba trường làng, nhờ nghệ thuật “lên giường” cũng được bí thư tỉnh ủy bổ nhiệm làm trưởng phòng nhà và bất động sản Sở Xây Dựng Thanh Hóa, một chức vụ dành cho những ứng viên có bằng đại học, tài sản không dưới triệu đô la. Nhờ thân xác Quỳnh Anh lại được ưu ái học thạc sĩ “tại chức,” được cử đi học lớp cao cấp lý luận chính trị để “làm hạt giống đỏ,” “cán bộ nguồn” và sắp sẵn vào vị trí phó rồi giám đốc Sở Xây Dựng Thanh Hóa nay mai, mà chẳng thấy đảng nói gì.

Ngay một tờ báo mang tên là Giáo Dục Việt Nam cũng công nhận: “Dù là do gì đi nữa thì phải thấy rằng, từ khi vòng 1 của các kiều nữ Việt căng tròn và đẫy đà hơn thì tên tuổi của họ cũng lên như ‘diều gặp gió.’ Một nhân vật ‘lừng danh’ của Việt Nam là Ngọc Trinh, xuất thân từ thị trấn Tiểu Cầu, tỉnh Trà Vinh, trong một gia đình nghèo, học hành dở dang, nhưng nhờ cao 1m72, nhờ vòng số 1, số 3 phổng phao, eo thon, da trắng cũng trở thành “Nữ Hoàng Nội Y,” “Hoa Hậu Trang Sức,” “Người Đẹp Ăn Ảnh,” “ Siêu Mẫu Việt Nam.” Dù thiên hạ có ganh ghét gọi cô là” “chân dài não ngắn” hay “hoa hậu ao làng” gì gì đi nữa, giờ đây Ngọc Trinh cũng là chủ nhân khối tài sản hàng trăm tỷ đồng, nghĩa là có trong tay hằng triệu đô la, có đủ mọi thứ mà mỗi cô thiếu nữ Việt Nam lớn lên đều mơ ước.

Có nhan sắc như hoa hậu Lưu Thị Diễm Hương, thì dù trong thời gian ở Đại Học Hoa Sen, học hành quá tệ, bị 7 môn thi với điểm 0 và nhiều điểm 3, bị báo chí “lắm chuyện, ganh tỵ” phanh phui ra, thì cũng có sao đâu? Hoa hậu Thùy Dung chưa tốt nghiệp phổ thông, làm học bạ giả, cũng có sao đâu? Cái dốt không làm cho vòng eo con gái lớn ra, cũng không làm cho vòng ngực nhỏ lại kia mà.

Học chữ để làm gì, rốt cuộc sinh viên cũng… lên giường!

Các cụ ta ngày xưa vẫn khuyến học con cái bằng lời khuyên: “Ấu bất học, lão hà vi?” (nhỏ không học, lớn lên làm gì!). Ngày nay, dưới chế độ này, “Trí thức không bằng cục phân, chẳng bằng năm năm thẻ đảng!”

Xin các cụ đừng lo, ca dao thời đại lại có câu: “Học cho lắm tắm cũng ở truồng, học bình thường cũng cởi truồng rồi mới tắm!” Thời nay nghề ở truồng lại làm ra nhiều tiền hơn nghề mặc quần áo!

Huy Phương
Nguồn Người Việt