Thiếu Tướng Lê Minh Đảo & Sư Đoàn 18 Bộ Binh – Cuộc chiến đấu cuối cùng ở Xuân Lộc

dongsongcu.wordpress.com

Phạm Phong Dinh

Posted on April 27, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 28 Apr 2024

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo

Phần 2

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo cố gắng tái chiếm lại những cao điểm chung quanh Xuân Lộc. Ông biết sớm muộn gì rồi thì Xuân Lộc cũng là một bãi chiến trường lớn, rất lớn, quyết định số phận của Việt Nam Cộng Hòa. Gánh nặng của cuộc chiến tranh hai mươi năm bây giờ đang đè nặng lên vai ông, một trong nhũng cây cột trụ cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Với sự ra đi của Sư Đoàn 7 BV, Sư Đoàn 18 Bộ Binh của chúng ta có được những khoảnh khắc quí báu để tái tổ chức, bổ sung quân số và tái trang bị cho một cuộc thư hùng mà sẽ rất đẫm máu. Bộ Chính Trị Cộng Sản nhận định đã đến lúc giáng một đòn quyết định đánh gục Việt Nam Cộng Hòa. Bại tướng Võ Nguyên Giáp trong hai cuộc chiến Mậu Thân 1968 và Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 làm báo cáo gửi lên Lê Duẫn, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản với những nhận xét của ông ta như sau: “Vì sự chiến đấu “yếu kém”, sự thiệt hại nặng nề và tinh thần suy sụp của QLVNCH, thay vì chờ đợi sự tập hợp các quân đoàn, một cuộc cường kích của B 2 (tức các đơn vị cao nguyên) sẽ hủy diệt được Thiệu. Khi quân đội VNCH “sợ hãi” bỏ chạy, thì các đơn vị đặc công và cảm tử đã đột nhập được vào Sài Gòn, sẽ dậy lên một cuộc “tổng… nổi dậy”, kết hợp với các lực lượng bên ngoài đánh vào”. Dường như ông Giáp vẫn chưa học được bài học và cơn ác mộng “tổng nổi dậy” của ông ta. Ông ta cứ mơ tưởng ngày đêm một cuộc tổng nổi dậy hoang tưởng, ít nhất hai lần đã chôn vùi tên tuổi huyền thoại của mình trong năm 1968 và 1972. Khi dân chúng miền Nam không chịu tổng nổi dậy với binh đội miền Bắc, thì Giáp đã ra lệnh cho quân ông ta dội pháo làm cho nhiều chục ngàn dân chúng các thành thị năm 1968 và người dân ba tỉnh Quảng Trị, Kontum, An Lộc năm 1972 phải tổng… nằm xuống vĩnh viễn một cách oan khuất.

Thiếu Tướng Hoàng Cầm trong ngày 3.4.1975 trở lại bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4 Bắc Việt đóng về phía Đông-Nam cầu La Ngà bắt đầu chiến dịch Xuân Lộc. Sư Đoàn 7 BV đang hành quân trên QL20 tiến về Đà Lạt nhận lệnh quày trở lại. Sư Đoàn 341 chịu trách nhiệm mở những cuộc thám sát địa hình địa vật. Sư Trưởng 341 (cách gọi Tư Lệnh sư đoàn của phía Cộng) Trần Văn Trấn, Sư Phó, các Trung Đoàn Trưởng vượt sông La Ngà gặp các cán binh địa phương nhờ dẫn đường. Ngày 5.4.1975, công cuộc nghiên cứu địa thế, binh tình Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Tiểu Khu Long Khánh kết thúc, trong đó, theo quân sử phía Cộng thì chỉ huy trinh sát là Lê Anh Thiện đã đột nhập vào đến chỗ cư ngụ của Tỉnh Trưởng Long Khánh, Đại Tá Phạm Văn Phúc. Ngày 6.4.1975 Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 341BV gửi phúc trình và kế hoạch tấn công. Quân Đoàn 4 Bắc Việt chấp nhận. Trận thế chiến tranh hình thành như sau: Trung Đoàn 266 sẽ đánh chiếm các mục tiêu trong thành phố. Trung Đoàn 270 tấn kích Gia Tân (vùng Kiệm Tân) và Núi Thị, mà trên đó trấn đóng một tiểu đoàn Pháo Binh của SĐ18BB, một trung tâm Truyền Tin và Tiểu Đoàn 2/43 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế. Trung Đoàn 273 BV làm lực lượng trừ bị, trong khi đó Trung Đoàn Pháo Binh 55 BV phụ trách yễm trợ hỏa lực, Tiểu Đoàn Phòng Không 12 trách nhiệm khống chế vùng trời. Hai Trung Đoàn 33 và 274 của Sư Đoàn 6 BV sẽ bao vây Xuân Lộc ở phía Nam và chận đánh quân ta ở Ngã Ba Dầu Giây trên Quốc Lộ 1. Sư Đoàn 7 BV làm nỗ lực chính nhận lệnh đánh hủy diệt Trung Đoàn 48 của Đại Tá Trần Minh Công, Sư Đoàn 18 Bộ Binh, từ đó chiếm lấy khu vực Tân Phong ở mặt Nam Xuân Lộc. Tuy nhiên sau đó kế hoạch thay đổi. Trung Đoàn 165 của SĐ 7BV sẽ đánh các đơn vị hậu cứ và Bộ Tư Lệnh của SĐ18BB, cũng như chiến tuyến phía Đông-Bắc Xuân Lộc do Trung Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng trấn giữ. Trung Đoàn 209 Bắc Việt phải đánh chiếm con đường QL 1 từ Suối Cát đến Tân Phong, và Trung Đoàn 141 BV làm trừ bị. Như vậy trận thế bao vây và tấn công của Quân Đoàn 4 địch đã hình thành, giống như cái miệng túi đang dần thắt chặt lại. Chúng ta hãy xem Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh sẽ vạch kế hoạch chiến đấu và phòng thủ ở Xuân Lộc như thế nào, mà sử gia Mỹ Jay Veith đã gọi đó là một nghệ thuật.

Mạnh Hải/Flickr

Nghệ thuật bố trí trận liệt của Bộ Tham Mưu Sư Đoàn 18 Bộ Binh

Trong lúc Hoàng Cầm đang ráo riết chuẩn bị kế hoạch đánh Xuân Lộc, thì Thiếu Tướng Đảo và Bộ Tư Lệnh của ông cũng rất bận rộn thiết trí trận liệt phòng thủ những cao điểm, yếu điểm chung quanh Xuân Lộc và thị xã Xuân Lộc. Thiếu Tướng Lê Minh Đảo sinh ngày 5.3.1933 tại Sài Gòn, nhưng các cụ thân sinh thì gốc gác ở tỉnh Long An. Tốt nghiệp Khóa 10 Trường Võ Vị Quốc Gia Đà Lạt khi ông vừa đúng hai mươi tuổi. Là một chiến sĩ rất dũng cảm, chẳng mấy chốc mà số lượng huy chương tưởng thưởng cho ông đã đầy hết ngực áo. Nhưng với bản tính khiêm tốn, hiếm khi người ta thấy ông đeo những chiếc huy chương đó. Thiếu Tướng Đảo là một trong những vị tướng đi lên chức vụ của mình bằng những chiến công ngoài chiến trường. Ông đã từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong quân đội, từng làm Tỉnh Trưởng Chương Thiện và Định Tường. Đỉnh cao nhất trong đời quân ngũ của ông khi ông làm Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh từ tháng 4.1972, vinh thăng Chuẩn Tướng tháng 11.1972. Ngày 23.4.1975, Tổng Thống Trần Văn Hương gắn Bảo Quốc Huân Chương và vinh thăng ông lên Thiếu Tướng.

Thiếu Tướng Đảo nổi tiếng là một vị Tướng thanh liêm, cần mẫn, năng động, kiên quyết và trí dũng song toàn. Sĩ quan và binh sĩ dưới quyền rất thương mến vị Tư Lệnh của họ, vì Thiếu Tướng Đảo luôn quan tâm chăm sóc đời sống thuộc cấp và gia đình họ. Ông luôn có mặt ở những vị trí tiền tuyến của sư đoàn để nâng cao tinh thần chiến binh. Nguyên tắc làm việc của ông mà ông đòi hỏi các cộng sự viên phải tuân thủ là liên lạc xuống dưới ít nhất hai cấp. Thí dụ, một Trung Đoàn Trưởng phải nắm được tình hình tận cấp Đại Đội, hay thấp hơn nữa. Với hệ thống làm việc sát cánh này, tinh thần binh sĩ lên rất cao, vì lúc nào họ cũng nghe thấy cấp trên đang có mặt bên cạnh. Họ đền đáp sự quan tâm ấy bằng những chiến thắng vang dội và lòng trung thành tuyệt đối.

Phụ tá cho Tư lệnh là một giàn sĩ quan xuất sắc. Đại Tá Hứa Yến Lến, Tham Mưu Phó kiêm Tham Mưu Trưởng/Hành Quân/ SĐ18BB, cánh tay phải của Thiếu Tướng Đảo, cùng chia xẻ gánh nặng chiến cuộc trong những ngày tàn khốc. Đại Tá Lến trong suốt đêm 20.4.1975 triệt thoái ra khỏi Xuân Lộc đã đảm nhận trọng trách bảo toàn đoàn cơ giới cồng kềnh của Sư Đoàn, trong đó có hai khẩu đại bác 175 ly của Quân Đoàn III, và ông đã đem toàn bộ đoàn cơ giới ấy nguyện vẹn về được căn cứ Long Bình, Biên Hòa. Trấn đóng ở những điểm trọng yếu bảo vệ Xuân Lộc, là những cấp chỉ huy trẻ tài giỏi của QLVNCH, với Đại Tá Lê Xuân Hiếu, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43; Trung Tá Trần Minh Công, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 48 và Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 52. Thiếu Tướng Đảo đặc biệt để ý nâng đỡ các sĩ quan cấp thấp và trao gắn cấp bậc vinh thăng lên nắm những tiểu đoàn. Với giàn sĩ quan trung đoàn, tiểu đoàn đầy tài năng, Thiếu Tướng Đảo có thể yên tâm nghênh chiến quân Cộng. Vị chỉ huy lực lượng Địa Phương Quân & Nghĩa Quân Long Khánh cùng hợp tác phòng thủ Xuân Lộc là Đại Tá Phạm Văn Phúc. Đại Tá Phúc xuất thân từ binh chủng Biệt Động Quân, nổi tiếng là một sĩ quan xuất sắc và rất dũng cảm. Ông được điều về làm Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Long Khánh từ ngày 1.4.1975. Một thời điểm đã quá muộn để ông có thể chấn chỉnh nâng cao tinh thần và khả năng chiến đấu của các chiến sĩ diện địa. Vị tỉnh trưởng tiền nhiệm đã không chăm sóc đúng mức đời sống binh sĩ và tìm hiểu tâm tư cùng giúp đỡ ít nhiều gia đình của họ. Nhưng được chiến đấu dưới quyền của một Đại Tá Mũ Nâu trẻ, tận tụy trong tinh thần huynh đệ chi binh, các chiến sĩ diện địa đã đánh những trận long trời, bắn cháy nhiều chiến xa địch và giữ vững Xuân Lộc trong vòng mười hai ngày đêm. Trong ngày di tản ra khỏi Xuân Lộc, chiếc xe Jeep của Đại Tá Phúc bị trúng một trái B 40, ông bị thương nặng và rơi vào tay giặc. Được phóng thích từ trại tù Cộng Sản sau năm 1975, Đại Tá Phúc hiện vẫn còn sinh sống ở Việt Nam. 

Cần phải kể thêm sự đóng góp quan trọng và quyết định của Đại Tá Hưng, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Đoàn 18 Bộ Binh, một sĩ quan Pháo Binh ngoại hạng. Thiếu Tướng Đảo đặc biệt dành cho Tướng Hoàng Cầm một cái bẫy mà ông gọi là “máy nghiền thịt”, với kế hoạch hỏa lực kinh khủng trông cậy vào tài năng của Đại Tá Hưng. Thiếu Tướng Đảo bố trí các khẩu pháo của ông như sau. Một khu vực “chết” nằm ở bìa hướng Tây Xuân Lộc mà sẽ bị 24 khẩu 105 ly và 12 khẩu 155 ly dội bão lửa xuống. Mười khẩu 105 ly được di chuyển lên Núi Thị dưới sự bảo vệ của Tiểu Đoàn 2/43 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế. Hai khẩu 105 ly tăng cường cho Trung Đoàn 43 của Đại Tá Hiếu nằm trong Xuân Lộc. Hai khẩu khác qua tăng cường cho Tiểu Khu Long Khánh. Mười hai khẩu 105 ly được điều cho Trung Đoàn 48 trấn đóng Đồi 300. Chưa kể hai khẩu 175 ly của Quân Đoàn III tăng phái sẵn sàng bắn xa đến ít nhất 30 cây số để làm câm họng các khẩu 130 ly của địch được đặt gần Bộ Chỉ Huy của Tư Lệnh sư đoàn tại ngã ba Tân Phong. Đại Tá Hưng đích thân điều chỉnh tất cả những khẩu đại pháo. Ông cho các xe bulldozer ủi những hố sâu đặt những khẩu pháo để che dấu. Những hố pháo này ăn thông với những hầm tránh pháo kích do Công Binh thiết kế, để bảo vệ các chiến sĩ Pháo Binh và kéo những khẩu pháo vào ẩn trú bên trong. Với sáng kiến này, quân Cộng khó có thể phát giác vị trí Pháo Binh của quân ta để dội đạn xuống hủy diệt, trong khi đó thì những vị trí pháo của chúng bị Pháo Binh SĐ18BB pháo kích dữ dội, nhờ các điểm cao quan sát của ta báo cáo về khi phát giác được. Để có thể dự trữ khối lượng đạn pháo dành cho kế hoạch, Tướng Đảo đã phải giảm mức tiêu thụ hàng ngày xuống còn 20%. Với sự phân tán các khẩu trọng pháo của quân ta vào những vị trí bí mật, đến ngày Cộng quân nổ súng tấn công, chúng đã không hủy diệt được pháo của quân ta, và Đại Tá Hưng đã dội lửa xuống những con sóng tấn công biển người của địch, gây thiệt hại rất nặng cho chúng. Song song đó, Thiếu Tướng Đảo cũng cho di chuyển bộ binh ra nằm ngoài rìa thị trấn, cho nên thiệt hại vì pháo địch rất nhẹ khi chúng dồn hỏa lực bắn vào trung tâm. Rồi khi quân giặc ào ạt tràn vào thành phố, lập túc bị quân ta từ bên ngoài siết chặt vòng vây tấn công ngược vào làm bọn chúng hoảng loạn bỏ chạy ra khỏi thành phố. Bản thân Thiếu Tướng Đảo cũng di chuyển liên tục trong ba bộ chỉ huy sư đoàn khác nhau, Cộng quân cứ bắn dò mãi mà không tìm thấy ông. Trong khi đó thì Thiếu Tướng Đảo đang ung dung đứng dưới chiến hào với chiến sĩ của mình. Thiếu Tướng Đảo đã cho thiết lập ba Bộ Chỉ Huy ở ba vị trí khác nhau, một đặt ngay trong tư dinh Tư Lệnh trong Xuân Lộc, một tại Tân Phong và một khác trong rừng cao su. Để làm cho binh sĩ yên tâm chiến đấu và tránh cảnh hỗn loạn, Thiếu Tướng Đảo trước ngày 9.4.1975 đã cho máy bay trực thăng di tản tất cả gia đình binh sĩ và thương bệnh binh về căn cứ Long Bình.

Để nghênh chiến với trận liệt bố trí bộ của địch, Thiếu Tướng Đảo thiết trí chiến tuyến của Sư Đoàn 18 Bộ Binh như sau. Trung Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng giữ khu vực Túc Trưng và Núi Trản gần sông La Ngà và khu vực Ngã ba Dầu Giây, với sự yễm trợ của Chi Đoàn 3, Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh. Một đại đội dưới quyền chỉ huy của Trung Úy Mại Mạnh Liêu thuộc Tiểu Đoàn 3/52 của Thiếu Tá Phan Tấn Mỹ, lên trấn giữ Đồi Móng Ngựa nằm về phía Đông Quốc Lộ 20. Chỉ với một đại đội này, Trung Úy Liêu và chiến sĩ SĐ18BB đã giữ vững vị trí mặc dù địch tổ chức nhiều cuộc tấn công biển người cấp tiểu đoàn, đánh cho giặc những trận thất điên bát đảo và bị thiệt hại nặng. Về hướng Đông Xuân Lộc, cao điểm Núi Thị được trao cho Tiểu Đoàn 2/43 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế. Tiểu Đoàn 1/43 của Đại Úy Đỗ Trung Chu và Tiểu Đoàn 3/43 của Thiếu Tá Nguyễn Văn Du trấn giữ các yếu điểm dẫn vào thành phố từ hướng Đông. Đại Đội 18 Trinh Sát dưới quyền của Đại Úy Phạm Hữu Đa nổi tiếng húc như điên phòng thủ trường trung học ở hướng Tây-Bắc Xuân Lộc. Trung Đoàn 43 quyết tâm tử thủ Xuân Lộc, quân ta đánh quá dữ và gây tổn thất lớn cho Sư Đoàn 341. Cộng quân ghi nhớ mối hận này, chỉ vài ngày sau QLVNCH bị buộc buông súng ngừng chiến đấu, Thiếu Tá Du bị giặc bắt tại nhà riêng ở Vũng Tàu rồi đem đi hành quyết ngay sau đó. Đại úy Chu may mắn sống sót, hiện nay ông đang sinh sống tại Úc Đại Lợi. Tiểu Đoàn 1/48 thuộc Trung Đoàn 48 của Trung Tá Trần Minh Công cùng hai chi đoàn của Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh của Trung Tá Nô được giữ làm lực lượng trừ bị, trong khi đó thì Tiểu Đoàn 3/48 nằm giữ Quốc Lộ 1 ở hướng Đông Xuân Lộc, Tiểu Đoàn 2/48 vẫn còn bị kẹt nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho thị xã Hàm Tân, Bình Tuy, không về tham chiến được trong những ngày đầu. Hai Đại Đội Địa Phương Quân 353 và 367 dưới quyền Đại Tá Phúc phòng thủ thành phố. 

Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh với các Tiểu Đoàn 1, 2, 8 và 9 Nhảy Dù, khoảng 2.000 chiến sĩ, cùng với Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù là một tấm lá chắn cứng ngắt ở phần phía Nam Xuân Lộc, đã giao chiến dữ dội với quân Sư Đoàn 7 BV trong khu vực đồn điền của Thống Tướng Tỵ, còn gọi là Vườn Ông Tỵ, sau khi được trực thăng vận xuống trong ngày 11.4.1975. Nhân dịp 100 chiếc UH này trở về, các phi công thuộc Sư Đoàn 3 và 4 Không Quân đã giúp di tản thật nhiều thương binh và đồng bào ra khỏi mặt trận đang lên đến cơn đỏ lửa nhất. Trưa ngày 6.4.1975, Thiếu Tướng Đảo được báo tin có một đơn vị lạ của quân ta đang hành quân về hướng Xuân Lộc. Khi liên lạc với nhau, ông được biết đó là Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân, thuộc Liên Đoàn 24 Mũ Nâu. Thiếu Tá Vương Mộng Long, Tiểu Đoàn Trưởng đã dẫn dắt tiểu đoàn của ông băng rừng từ quận Kiến Đức tìm về miền Đông, sau khi Ban Mê Thuột thất thủ và Quân Đoàn II triệt thoái từ ngày 16.3.1975. Liên Đoàn 24 Mũ Nâu với ba Tiểu Đoàn 63, 81 và 82 BĐQ đã bị kẹt trên miền cao tỉnh Quảng Đức, đã phải lội bộ trong những cánh rừng Trường Sơn bạt ngàn, thậm chí đi xuyên qua những mật khu của Cộng quân, lấy thực phẩm trong những kho hậu cần của chúng, đến hai mươi ngày sau mới về đến miền Đông. Tiểu Đoàn 63 và 81 Mũ Nâu lại nhận lệnh ra tăng phái cho mặt trận Phan Rang. Tiểu Đoàn 82 Mũ Nâu quân số hao hụt chỉ còn có 200 chiến binh sau khi về đến được thị xã Bảo Lộc, Lâm Đồng, rồi từ đó hành quân xuống tăng phái cho SĐ18BB. Thiếu Tá Long là một trong những sĩ quan trẻ xuất sắc của binh chủng Biệt Động Quân, nên trong khu vực trách nhiệm của mình là phòng thủ phi trường, ông và 200 chiến sĩ Mũ Nâu đã đánh quân giặc thua xiểng liểng và bị thiệt hại nặng. Với trận liệt mà Thiếu Tướng Đảo đã bố trí, với những cấp chỉ huy tài năng và anh dũng như vậy, dù quân ta quân số thiếu kém, hỏa lực yếu nhưng đã đánh một trận cuối cùng làm rúng động thế giới và làm cho quân giặc cúi mặt kinh hoàng. 

Ngày 8.4.1975 Thiếu Tướng Đảo bàng hoàng được Quân Đoàn III báo tin cho hay người bạn của mình là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn III đã chết một cách bí mật ngay trong văn phòng của ông, nên Thiếu Tướng Đảo vội lên trực thăng trở về Biên Hòa thăm hỏi. Cũng trong thời điểm đó thì Thiếu Tướng Đảo nhận được một tin khó chịu khác nữa. Tên nằm vùng Cộng Sản Đại Úy phi công Nguyễn Thành Trung lái một chiếc F5E bỏ bom Dinh Độc Lập, với ý định giết chết Tổng Thống Thiệu, nhưng Tổng Thống Thiệu không hề hấn gì. Rồi sau khi đào tẩu ra phía Cộng quân Trung đã lái và dẫn nhiều chiếc A-37 trở vào oanh kích phi trường Tân Sơn Nhất ngày 29.4.1975. Sau nhiều cuộc thảo luận với Quân Đoàn III, Thiếu Tướng Đảo vào căn cứ Long Bình điều hợp công tác tiếp vận cho SĐ18BB và ông ngủ đêm tại đây. Đến 5G 40 sáng thì Quân Đoàn 4 BV cho nổ phát đại bác đầu tiên bắn vào Xuân Lộc mở màn cho cuộc chiến. Quả nhiên quân Cộng đã nghiên cứu rất tỉ mỉ địa hình Xuân Lộc, nên những trái đạn pháo đã dội trúng Bộ Chỉ Huy 1 của Tương Đảo. Đại Tá Hứa Yến Lến gọi điện báo tin cho Tướng Đảo, rằng tư dinh của ông đã bị phá hủy. Thật may mắn cho đất nước chúng ta, nếu Tướng Đảo về sớm hơn và vào Bộ Chỉ Huy 1, thì sự mất mát quá lớn đó sẽ là nhát chém chí mạng cuối cùng lên QLVNCH. Thiếu Tướng đảo lập tức lên trực thăng lao vào Xuân Lộc, tham dự cuộc chiến đấu cuối cùng và lừng lẫy nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông.

Cuộc quyết chiến Xuân Lộc

Trung Đoàn 165 của Sư Đoàn 7 Cộng quân được chọn làm mũi nhọn tấn công chính trong giây phút đầu tiên công phá vị trí Sư Đoàn 18 Bộ Binh từ hướng Đông. Có 8 chiếc T54 được tăng cường cho cánh quân này, với ý đồ dùng những con ngoáo ộp này đè bẹp quân ta. Bộ binh và thiết giáp giặc ầm ầm xông tới với một khí thế mạnh mẽ và tự tin, chúng có ảo tưởng rằng chiến sĩ Sư Đoàn 18 cũng sẽ không đánh mà tan và sẽ vỡ chạy như các đơn vị ngoài Quân Khu I và Quân Khu II. Nhưng sự chuẩn bị thế trận và tinh thần rất tỉ mỉ của Bộ Tham Mưu Sư Đoàn 18 Bộ Binh đâu phải để chạy mà là dành cho quân giặc một sự ngạc nhiên đớn đau. Nên nhớ là Xuân Lộc không phải là Pleiku, Huế hay Đà Nẵng. Mà là chiến tuyến được đốt lên bằng thứ lửa thịnh nộ của người lính Quân Khu III. 

Sư Trưởng Nam Lửa của Sư Đoàn 7 Bắc Việt đã phạm một lỗi lầm rất lớn không thể tha thứ được, là ông ta đã bỏ qua giai đoạn trinh sát thực địa thực lực đối phương trước khi ban lệnh tấn công. Cuộc gọi là “chiến thắng” dễ dàng trong những ngày tháng 3.1975 đã làm tăng thêm sự kiêu ngạo đến ngỗ ngáo của bọn tướng tá Cộng Sản. Lẽ ra Nam Lửa phải đích thân tìm hiểu xem ông ta đang đối đầu với những ai mới phải. Nam Lửa đã mắc sai lầm lớn mà có thể sẽ đưa ông ta về Bộ Tư Lệnh Miền để trình diện cấp trên, và sẽ phải trả lời ông ta đánh giá Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Tư Lệnh Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo ra làm sao mà Sư Đoàn 7 của ông ta đã bị thiệt hại đến 2,000 bộ đội, một con số có thể trả giá bằng cái đầu của ông ta. 

Với tư tưởng chắc thắng đó Trung Đoàn 165 Bắc Việt từ lúc 5 giờ 40 sáng đã dùng chiến thuật biển người tràn lên hung hăng xông qua tám lớp hàng rào kẽm gai chằng chịt của quân Nam. Nhưng ngay trong giờ đầu tiên, binh đội Cộng Sản đã bị các chiến sĩ Tiểu Đoàn 1 và 3 của Trung Đoàn 43, dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Lê Xuân Hiếu đánh gục ngay tại chỗ. Một ngạc nhiên đẫm máu đang chờ đón tám chiếc xe tăng của giặc. Chiến sĩ Trung Đoàn 43 đã phát minh một sáng kiến “tân kỳ” diệt tăng địch từ một khoảng cách rất an toàn. Những khẩu M 72 “Bà Già Giết Giặc” được giương ra sẵn và đặt trên một cái giá cố định đã được ngắm trước, bộ phận kích hỏa được nối với những bình điện. Người bấm dây diện sẽ nấp trong chiến hào ở một chỗ rất kín đáo và an toàn, chờ xe tăng địch đến đúng tầm, a lê hấp bấm mạch điện. Chiếc hỏa tiễn đen nhánh với 2 in 75 (khoảng 3 phân rưỡi) xịt một cái xẹt đúng vào pháo tháp địch, sức nóng trên 2,000 độ C của nó xoáy sâu vào lớp thép dầy chui vào bên trong và nổ bùng lên. Trong khoảnh khắc 4 chiếc T54 bị bắn cháy ngay trước vòng rào chiến tuyến, lính thiết giáp địch có chết cũng không nhắm mắt, vì chúng không thấy đối phương nào nhú đầu lên bắn cả. Vậy thì cái gì đã bắn chúng chứ hả. Khi ánh bình minh lên, đoàn khu trục cơ A 1, A 37 và F 5 từ Biên Hòa gầm rú xuất trận làm cho tinh thần quân ta càng bốc cao ngất trời. Trong những ngày Long Khánh đỏ lửa, Không Quân Việt Nam đã góp phần tích cực và quyết định trong nhiều trận đánh khốc liệt, mà nếu không có những người phi công dũng cảm đến phi thường đó, anh em bộ binh dưới đất còn gặp nhiều vất vả và tổn thất thêm nhiều máu xương. Mũi dùi thứ hai, binh đội Trung Đoàn 209 Cộng Sản ào ào ôm AK, B40, B41 chạy vào chiến tuyến của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân mới vừa từ mặt trận Quảng Đức về đến Long Khánh chỉ có mấy ngày. Một trung đoàn địch tưởng có thể áp đảo 200 chiến sĩ Mũ Nâu. Nhưng đụng phải Thiếu Tá Vương Mộng Long, một hào kiệt Biệt Động Quân và những ngườ lính Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân đang bừng bừng cơn uất hận triệt thoái Quân Khu II, Trung Đoàn 209 bị đánh văng ra khỏi trục Quốc Lộ 1 với thiệt hại rất nặng. Thiếu Tướng Hoàng Cầm, Tư Lệnh Mặt Trận đã phải kêu lên trong cuốn Lịch Sử Quân Đội Nhân Dân (Quân Bắc cộng): “Không có đợt tấn công nào của sư đoàn (7) vào Bộ Tư Lệnh Hành Quân Sư Đoàn 18 ngụy (sic) và hậu trận của Trung Đoàn 52 đạt thành quả. Bộ đội chúng ta đã chật vật đánh nhau với địch để giành quyền kiểm soát từng đoạn chiến hào, từng căn nhà, từng góc phố. Giải thích tinh thần chiến đấu can cường của Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Chuẩn Tướng Đảo cho biết: “Tất cả chiến sĩ đều quyết chiến đấu. Thậm chí những sĩ quan tham mưu, binh sĩ hậu cứ đều vào tuyến đánh địch. Còn nữa, tất cả những thành phần chiến thương hay lao công đào binh đều được phép cầm súng tử chiến. Tất cả chiến sĩ đều rất dũng cảm và giết nhiều quân địch”.

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo & Sư Đoàn 18 Bộ Binh – Cuộc chiến đấu cuối cùng ở Xuân Lộc

dongsongcu.wordpress.com

Phạm Phong Dinh

Posted on April 27, 2024 by dongsongcu

Post by Sơn râu 28 Apr 2024

Thiếu Tướng Lê Minh Đảo

Phần 1

Ba mươi năm, kể từ ngày 30.4.1975, Việt Nam Cộng Hòa ngừng tồn tại, những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bị buộc phải buông súng một cách ngỡ ngàng, phải đi vào những trại tù của phía được gọi là “chiến thắng” một cách uất hận. Kể từ cái khoảnh khắc đau thương đó, cho mãi đến tận hơn một phần tư thế kỷ sau, những nhà viết sử Cộng Sản vẫn ra rả lăng mạ và sỉ nhục những người lính tạm gọi là “bại trận” của QLVNCH, bằng tất cả những phương tiện mà có thể giúp họ phun nọc đầu độc thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam sau chiến tranh. Truyền thông, sách báo, nhà văn (văn nô “phản kháng” lẫn “phản tỉnh”), là những công cụ cực tốt để làm cái loa tuyên truyền, bôi nhọ và bóp méo lịch sử. Cộng vào đó, phải kể đến một khối lượng cực nhiều sách báo của thế giới phương Tây, qua lăng kính và tài liệu của khối Cộng, thân Cộng, thiên Cộng, phản chiến và trở cờ, cũng tàn nhẫn tham gia vào cái trò chơi nhục mạ một quân đội bị bức tử một cách oan ức là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Quân lực ấy, và những người lính ấy chỉ có mỗi một lỗi lầm duy nhất, là đã dám anh dũng đương đầu với hai thế lực cực lớn để bảo vệ một nửa nước Việt Nam, mà đã bị hai thế lực ấy chia cắt ngày 20.7.1954 tại hội nghị Geneva. Sau ba mươi năm, người ta đã thấy rõ ràng, là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải nỗ lực chống trả đại khối Cộng Sản quốc tế mười ba nước, trong đó Cộng Sản và quân đội Bắc Việt được dùng làm những tên lính tiền phong xung sát, thực hiện sách lược “Dùng người Việt giết người Việt” của đại khối ấy. Trong ròng rã hơn hai mươi năm, từ năm 1954 đến năm 1975, những người lính quá đỗi khổ ải của chúng ta không những đem xương máu ngăn chống những cơn sóng bão lửa của chiến tranh ngoài tiền tuyến, mà còn phải đau đớn hứng chịu những nhát đâm chí mạng từ phía sau lưng từ phía những người gọi là bạn và bọn nội thù thân Cộng, phản chiến và theo Cộng. Rồi khi đã gục ngã một cách không mong muốn, thì những bầy quạ đen, những con kên kên từ khắp mọi nẽo đường thế giới xúm nhau vào làm cái việc an táng cuối cùng quân lực một thời kiêu hùng ấy. Bằng những cái mỏ khoằm khoằm, từ đó vang vọng những lời lăng mạ thật kinh tởm. Và bằng những cái móng vuốt nhọn bén như dao, muốn chôn vùi những chiến tích lừng lẫy của những người lính chúng ta vĩnh viễn vào quá khứ. Nhưng có phải là người lính Việt Nam Cộng Hòa đã thực chết hay không? Và những người gọi là “chiến thắng”, dành quyền sĩ nhục người bại trận, có phải thực sự chiến thắng hay không? 

Cộng Sản Hà Nội nên nhớ lại cơn ác mộng chiến bại Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 và cuộc không tập mười hai ngày đêm trên lãnh thổ Bắc Việt trong mùa Giáng Sinh cuối năm ấy. Ngày cuối cùng Cộng quân chỉ còn đúng sáu chiếc hỏa tiễn Sam, lãnh đạo Hà Nội với những anh Ba anh Tư, và những ông tướng huyền thoại đang chuẩn bị trói mình đầu hàng vô điều kiện, thì người ta đã dễ dàng dành cho họ một con đường sống bằng Hiệp Định Paris ký với nhau ngày 27.1.1973. Như vậy, chỉ trong vòng có mười hai ngày thôi, quân đội Hoa Kỳ đã có thể nhanh chóng tống táng chế độ Cộng Sản cùng hung cực ác Hà Nội xuống tận đáy địa ngục nếu muốn. Thì có vinh dự gì mà bọn Cộng Sản Bắc Việt còn có can đảm vỗ ngực chiến thắng và nguyền rủa những người lính Việt Nam Cộng Hòa kém may mắn. Cái “chiến thắng” mà chúng cứ ra rả ngày đêm chưa thấy mỏi mệt, thực chất chỉ là một màn trình diễn của những con người chiến bại tinh thần, luôn luôn cảm thấy xấu hổ và mặc cảm thua kém mọi bề từ tận đáy thâm tâm của họ. Nhưng dù sao thì sau ba mươi năm, gió cũng đã đổi chiều. Bên cạnh hàng ngàn cuốn sách mà chúng ta vừa nhắc đến ở trên, đã xuất hiện ngày càng nhiều những cuốn sách mới được viết từ những sử gia Tây phương, với cái nhìn vô tư hơn và ít thiên kiến hơn để thẩm định lại những sự thực lịch sử trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhờ vào những tài liệu khổng lồ đã được giải mật trong các văn khố của Hoa Kỳ, cũng như của Nga, mà trước năm 1990 là Liên Xô, những nhà viết sử đã được đi thẳng, hay nói thật đúng là đã bới móc sâu vào tận cùng những bí mật hiểm hóc nhất, để trưng ra cho công luận thế giới những khía cạnh đứng đắn nhất của lịch sử. Những sử gia Hoa Kỳ, mà trong những thập niên trước đây đã cho ấn hành những cuốn sách đầy dẫy thiên kiến, lệch lạc, chưa nói đến sự ấu trĩ. Có lẽ là vì lúc đó người ta cần phải bào chữa cho những điều mà chính phủ của họ đã theo đuổi. Hoặc biện hộ cho sự nhượng bộ khối Cộng. Hay tàn nhẫn hơn, trút mọi lỗi lầm và sự hèn nhát của họ vào một đối tượng tế thần là nước Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng dần dần rồi cũng có những sử gia có lương tâm và tỉnh táo hơn, đã tận tụy tìm kiếm tài liệu từ cả hai phía, đã phân tích và gạt ra ngoài những định kiến, chỉ chắt lọc những dữ kiện. Từ những dữ kiện đó, chúng đủ nói lên được nhiều điều chưa từng được nói. 

Mạnh Hải/Flickr

Từ những ký ức đau buồn của một lần gọi là bại trận của một người lính, từ những hoài cảm về những trang chiến sử chói lọi của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi đã may mắn nhận được vài chục trang biên khảo của sử gia Hoa Kỳ, ông George Jay Veith viết về Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn trong cuộc chiến đấu cuối cùng tháng 4.1975 mà ông đã đặt tựa là “Fighting is an Art: The ARVN Defense of Xuan Loc, April 9- 21, 1975″ (Chiến Đấu Là Một Nghệ Thuật: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Phòng Thủ Xuân Lộc, từ 9 – 21.4.1975). Sử gia Jay Veith đã không gặp phải khó khăn lắm trong vấn đề nghiên cứu các tài liệu viết bằng tiếng Việt từ hai phía, vì nhờ có một sử gia Hoa Kỳ cộng tác, ông Merla L. Pribbenow, rất thông thạo Việt ngữ. Ông Pribbenow là một nhân viên Tòa Đại sứ Hoa Kỳ từ năm 1970 đến năm 1975, từng dịch sang Anh ngữ nhiều tài liệu và sách Việt ngữ viết về chiến tranh Việt Nam. Trong thư mục tham khảo nguồn tài liệu hay trực tiếp phỏng vấn phía Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi ghi nhận các tác giả: Đại Tướng Cao Văn Viên, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Đại Tá Hứa Yến Lến, Phạm Huấn, Hồ Đinh, Nguyễn Đức Phương và Phạm Phong Dinh. Về phía nguồn tài liệu Bắc Việt, hầu hết các nhân vật cao cấp từng viết sách về chiến tranh Việt Nam như Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Hoàng Cầm, Đào Đình Luyện, Nam Hà, v.v…

Trong bài biên khảo khá dài này, sử gia Jay Veith đã diễn tả lại rất tỉ mỉ những chuẩn bị chiến tranh từ hai phía. Một bên là Quân Đoàn 4 Cộng Sản Bắc Việt, với các Sư Đoàn 6, 7 và 341 dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng Hoàng Cầm, một danh tướng của Cộng quân, với sự giám sát và hỗ trợ của Tướng Trần Văn Trà, Tư Lệnh Lực Lượng Quân Giải Phóng Miền Nam, thuộc Trung Ương Cục Miền Nam. Cấp cao hơn nữa là Bộ Tư Lệnh Chiến Dịch Nguyễn Huệ (trong tháng 4.1975 đổi thành chiến dịch Hồ Chí Minh) do Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy. Rồi cao hơn hết là Bộ Chính Trị tại Hà Nội do “anh Ba” Lê Duẫn chỉ đạo nghệ thuật. Một bên là Sư Đoàn 18 Bộ Binh thiếu thốn quân số vì những trận đánh liên miên từ đầu năm 1975, với Thiếu Tướng Tư Lệnh Lê Minh Đảo cùng các đơn vị tăng phái như Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Đại Tá Nguyễn Văn Đỉnh; Địa Phương Quân và Nghĩa Quân Long Khánh dưới quyền của Đại Tá Tỉnh Trưởng Phạm Văn Phúc, Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân của Thiếu Tá Vương Mộng Long mới vừa từ tỉnh Quảng Đức băng rừng về đến. Cấp chỉ huy trực tiếp của Thiếu Tướng Đảo là Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III & Quân Khu III, sau khi đồng ý trả Trung Đoàn 48 của Trung Tá Tá Trần Minh Công từ Tây Ninh về cho Sư Đoàn 18 Bộ Binh, thì ông đã phải rất bận rộn với những điều động và bố trí khác, đã mặc nhiên giao phó mặt trận Long Khánh cho Thiếu Tướng Đảo. Cấp chỉ huy cao hơn nữa là Bộ Tổng Tham Mưu thì cũng đang bù đầu tái tổ chức các đơn vị di tản từ Quân Khu I và Quân Khu II về. Vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao QLVNCH là Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng chẳng ra một lệnh cần thiết nào cho Thiếu Tướng Đảo.

Như vậy, ở cương vị Tư Lệnh Sư Đoàn, Thiếu Tướng Đảo đã gánh vác sức nặng của cuộc chiến cuối cùng, đương đầu với một quân đoàn hùng hổ quân Cộng cùng một hệ thống chỉ huy chằng chịt và hung hãn. Thiếu Tướng Đảo đã nói với ông Jay Veith: “Tướng Toàn đang rất bận rộn tổ chức phòng thủ Sài Gòn, trông cậy tôi lo liệu chuyện Sư Đoàn 18 Bộ Binh và khu vực trách nhiệm. Tôi không nhận được lệnh nào từ Tổng Thống Thiệu và Bộ Tổng Tham Mưu trong việc phòng thủ Xuân Lộc. Đối với tôi thì chuyện này cũng dễ hiểu, vì tính linh động mềm dẽo của QLVNCH, trong khi phía Cộng Sản, không một cá nhân nào có thể thực hiện mọi quyết định tự ý được”. Điều mà Jay Veith muốn nhấn mạnh ở đây là nghệ thuật phối trí và chỉ huy chiến trận của cả hai phía. Một phía là những tập hợp gọi là “đỉnh cao của trí tuệ”. Còn một phía, chỉ duy nhất một danh tướng của VNCH là Thiếu Tướng Lê Minh Đảo. Một cuộc đọ sức đọ trí giữa các cấp chỉ huy Cộng quân và cấp chỉ huy một sư đoàn QLVNCH trong vòng mười hai ngày đêm, mà chiến thắng vang dội của phía số ít đã làm rúng động thế giới và làm cho các quân đoàn Cộng quân phải xáo trộn, Tướng Hoàng Cầm bị thay thế bằng chính Tướng Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam Trần Văn Trà. Rồi Trần Văn Trà cũng chẳng làm nên được cơm cháo gì, buộc phải rời bỏ chiến trường Xuân Lộc đi vòng xuống Biên Hòa tiến đánh Sài gòn. Như vậy có vinh quang gì không, khi tướng lãnh Cộng Sản viết sách ngợi ca chiến thắng (giả tạo và được người Mỹ ban tặng).

Trong những ngày Quân Đoàn I và Quân Đoàn II di tản về miền duyên hải và cố gắng tìm về khu vực Quân Khu III, thì các Sư Đoàn 5, 18 và 25 của Quân Đoàn III đã có những trận đánh với Cộng quân và chịu nhiều thiệt hại. Nhưng những trận đánh này đã rất mờ nhạt trong những tin tức chiến sự hàng ngày, vì hậu phương và giới truyền thông báo chí đang chú tâm theo dõi cuộc di tản của quân dân từ miền cao nguyên và miền Trung vào. Cho nên khi mặt trận Long Khánh nổ lớn tại thành phố Xuân Lộc, thì người ta mới lại chú ý đến Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Người ta không được biết rằng, quân số của sư đoàn đã sụt xuống mức báo động. Nhiều tiểu đoàn quân số 450 người, khi trận Xuân Lộc bắt đầu, chỉ có không quá 350 chiến binh. Một tiểu đoàn gồm bốn đại đội, mỗi đại đội quân số đầy đủ phải trên 150 người. Giờ đây mỗi đại đội chỉ có không quá 100 chiến binh, nhưng phải cáng cáng công việc gấp rưỡi. Có nghĩa là người lính QLVNCH phải đổ máu xương gấp rưỡi để giữ vững Xuân Lộc. Nếu diễn tả lại diễn tiến trận đánh kéo dài từ những ngày Sư Đoàn 18 Bộ Binh giao chiến với các Sư Đoàn 6 và 7 BV trong lãnh thổ tỉnh Long Khánh cho đến ngày nổ ra trận Xuân Lộc từ ngày 9.4.1975 thì có lẽ phải cần một cuốn sách dày vài trăm trang. Chúng tôi chỉ xin được lược diễn lại những giai đoạn quan trọng nhất và xin được chú trọng vào những diễn biến nổi bật, cũng như những con người và những yếu tố làm nên thành chiến thắng Xuân Lộc.

Cấp chỉ huy chiến trường của quân Cộng

Để biết Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã đánh cho bọn tướng tá Hà Nội thua xiểng liểng đến như thế nào, chúng ta hãy cùng điểm một vài khuôn mặt cấp chỉ huy của địch quân trực tiếp hay gián tiếp trong trận đánh Xuân Lộc. Người chịu trách nhiệm mặt trận Long Khánh là Thiếu Tướng Hoàng Cầm. Tướng Cầm, bí danh Nam Thạch, từng tham dự trận Điện Biên Phủ năm 1954, lúc đó ông làm Tiểu Đoàn Trưởng, trực thuộc trung đoàn mà đã xông vào trung tâm và bắt sống được tướng Tư Lệnh De Castries. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Tướng Cầm làm Tư Lệnh Sư Đoàn 312 nổi tiếng thiện chiến, rồi được điều làm Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bắc Việt, khi sư đoàn này thành lập ngày 2.9.1965. Trong mùa hè 1973, Tướng Cầm được đề bạt lên làm Tham Mưu Trưởng Trung Ương Cục Miền Nam, và chức vụ cuối cùng là Tư Lệnh Quân Đoàn 4 Cộng Sản BV nhận lệnh tấn công Xuân Lộc để mở toang cánh cửa tiến xuống Sài Gòn. Quân Đoàn 4 của Tướng Hoàng Cầm gồm các Sư Đoàn 6, 7 và 341.

Mạnh Hải/Flickr

Sư Đoàn 341 là một trong những sư đoàn non tuổi đời nhất so với các sư đoàn kỳ cựu như Sư Đoàn 2, 3, 304, 308, 324, 325, v.v.. Đại Tá Trần Văn Trấn được gọi nắm sư đoàn cuối năm 1973. Trước đó Trấn làm Tư Lệnh Sư Đoàn 1BV và bị quân ta bắt làm tù binh trong năm 1970. Trấn đã khôn khéo dấu tung tích, chỉ khai là nhân viên quân y. Khi Hiệp Định Paris ký kết, hai bên trao trả tù binh, Trấn trở về Bắc và nhanh chóng được giao cho nắm Sư Đoàn 341. Thông thường thì một cán bộ tù binh được trả về Bắc, rất có nhiều triển vọng được các đồng chí Hà Nội cho vô nằm nhà đá đếm lịch, nhưng trường hợp của Trấn lại là ngoại lệ. Tháng 2.1975, Đại Tá Trấn nhận lệnh đưa SĐ 341 vào Nam. Binh đội sư đoàn được 500 chiếc xe vận tải theo đường Hồ Chí Minh vào đến khu vực Quân Khu 7 của Cộng quân, bao gồm hầu hết lãnh thổ Quân Khu III của Việt Nam Cộng Hòa. Ở đây, Đại Tá Trấn cùng ban tham mưu của ông ta được lệnh điều nghiên chiến trường Long Khánh, đặc biệt thám sát địa thế thành phố Xuân Lộc, để chờ Sư Đoàn 7 CSBV từ miền Lâm Đồng đổ xuống làm nỗ lực chính cường tập.

Viên phụ tá Tư Lệnh Mặt Trận Long Khánh là Tướng Bùi Cát Vũ chịu trách nhiệm các kế hoạch hành quân của Sư Đoàn 7 Cộng Sản Bắc Việt. Tư Lệnh sư đoàn là Lê Nam Phong, biệt danh “Nam Lửa” (Fiery Nam), vì tính khí nóng nảy, người gốc Nghệ An. Sư Đoàn 7 Bắc Việt là một sư đoàn cứng của Cộng quân, từng tham dự những trận đánh lớn ở An Lộc, Phước Long. Cho nên nó được chọn làm nỗ lực chính công phá chiến tuyến Xuân Lộc của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo. Sau khi tỉnh Ban Mê Thuột của Quân Khu II rơi vào tay địch quân trong đầu tháng 3.1975, thì Tướng Hoàng Cầm đề nghị cho quân đoàn của ông ta đánh tràn xuống Quân Khu III của Việt Nam Cộng Hòa, với sự hỗ trợ của Tư Lệnh Quân Giải Phóng Trần Văn Trà. Nhưng Lê Duẫn, tán đồng ý kiến của Tướng Văn Tiến Dũng, đã ra lệnh cho Sư Đoàn 7 hành quân lên đánh chiếm tỉnh Lâm Đồng, chờ các quân đoàn khác đánh chiếm miền duyên hải Quân Khu II, rồi cùng vào đánh Xuân Lộc. Nhưng sau này, khi Lê Duẫn nhận thấy tình hình quá suy sụp của VNCH, liền lệnh cho Phạm Hùng, Ủy Viên Chính Trị Trung Ương Cục Miền Nam lợi dụng sự hỗn loạn ấy để đánh xuống phía Nam. Vì vậy Sư Đoàn 7 Bắc Việt đang hành quân lên Lâm Đồng nhận lệnh trở xuống Long Khánh. Sư Đoàn 6 Cộng quân hình thành từ tháng 8.1974, là sư đoàn nhẹ chỉ có hai trung đoàn được cấu thành từ các đơn vị độc lập trong Quân Khu 7, hoạt động trong quân khu. Tướng Tư Lệnh là Đặng Ngọc Sĩ, từng làm Tư Lệnh Sư Đoàn Đặc Công 27.

Những trận đánh đầu năm 1975

Các đơn vị của Sư Đoàn 6 và 7 Cộng quân đã từng giao tranh ác liệt với Sư Đoàn 18 Bộ Binh, Địa Phương Quân & Nghĩa Quân trong khu vực Long Khánh, trong lúc quân dân Quân Khu I và II đang ùn ùn đổ về Quân Khu III, và trước khi nổ ra chiến cuộc Xuân Lộc. Một buổi họp quan trọng giữa Tướng Bùi Cát Vũ, Tướng Lê Đức Anh, Tư Lệnh Phó B2 (Cao Nguyên) và Tướng Lê Nam Phong, Sư Đoàn 7 BV được giao trách nhiệm đánh thông Quốc Lộ 20 từ hướng Bắc quận Túc Trưng đến Phương Lâm. Để làm được điều này, Tướng Nam Lửa phải đánh chiếm cho được quận Định Quán và tiêu diệt Chi Khu. Ngày 17.3.1975 tiếng súng của giặc bắt đầu nổ rền trời Định Quán. Quân Cộng đụng phải chiến tuyến rất cứng của các chiến sĩ Địa Phương Quân & Nghĩa Quân trong Chi Khu, với hỗ trợ vòng ngoài của Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 43, thuộc SĐ18BB, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế. Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đã cẩn thận gửi tiểu đoàn thiện chiến nhất của ông lên giữ con lộ 20 huyết mạch này. Các chiến sĩ Đại Đội 377 Địa Phương Quân, dù quân số và vũ khí ở thế hạ phong, vì quân giặc quá đông cộng với chiến xa yễm trợ, nhưng đã anh dũng giữ vững được cao điểm bảo vệ Chi Khu trong vòng hai ngày. Chiến sĩ Tiểu Đoàn 2/43 cũng bận rộn chống trả những làn sóng tấn công điên cuồng của địch, nhưng cuối cùng buộc phải rút về một cụm đồi không cao lắm ở hướng tây, cách thị trấn lối vài cây số, một điểm cao nhìn xuống con sông La Ngà. Trung Đoàn 209 BV tiếp tục tấn kích Tiểu Đoàn 2/43. Thiếu Tá Chế cùng chiến hữu giữ vững cao điểm dưới áp lực rất nặng của quân Cộng. Thiếu Tá Chế cho hai khẩu pháo 105 ly chúc mũi bắn trực xạ bằng đầu đạn Beehive chống biển người. Trong vòng vây trùng điệp của giặc, tiểu đoàn hao mòn dần.

Vận rủi lại giáng thêm một đòn chí mạng lên chiến sĩ SĐ18BB, khi một chiếc F-5 ném bom lầm lên đầu quân ta. Con số thương vong của tiểu đoàn qua những ngày giao tranh đã lên đến 80 người, Thiếu Tá Chế nghiến răng quyết không nhường một tấc đất cho giặc dù ông có hy sinh trên cao điểm này, nhưng Thiếu Tướng Đảo đã lệnh cho Thiếu Tá Chế dẫn quân về Núi Thị, cao điểm bảo vệ phía Tây Xuân Lộc. Trung Đoàn 209 BV thúc quân đánh tới cầu La Ngà. Thiếu Tá Lầu Vĩnh Quay, chỉ huy Địa Phương Quân gọi pháo binh bắn ngay lên vị trí của ông, giết chết nhiều địch quân, nhưng chiếc cầu La Ngà vẫn lọt vào tay địch. Gần như cùng thời điểm đó, Tiểu Đoàn 3/43 của quân ta trấn giữ quận Hoài Đức bảo vệ Tỉnh Lộ 303 trong tỉnh Bình Tuy cũng bị quân Cộng bức thoái. Trong tình hình khẩn trương đó, với Trung Đoàn 48 còn đang hành quân ở Tây Ninh, Trung Đoàn 52 không thể rời khỏi Xuân Lộc, nhận thấy quân ta bị căng mỏng quá mức, Thiếu Tướng Đảo quyết định gọi hai Tiểu Đoàn 1/43 và 4/43 rút quân về bảo vệ Xuân Lộc. Như vậy phần phía Bắc của tỉnh Long Khánh đã lọt vào tay giặc. Sư Đoàn 18 Bộ Binh, từ ngày Thiếu Tướng Đảo về làm Tư Lệnh tháng 4.1972, là một trong hai lực lượng cơ động của Quân Đoàn III (cùng với Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi) Đông xông Tây đụt, Nam bình Bắc phạt trong phạm vi những tỉnh Long Khánh, Bình Tuy, Phước Tuy, Tây Ninh và tăng viện liên miên cho các sư đoàn bạn. Sức người chiến sĩ có hạn mà cường độ chiến tranh ngày càng nóng đỏ, đến sắt thép cũng phải chảy mềm. Hầu hết các sử gia Hoa Kỳ và phương Tây không hiểu, không biết hoặc không muốn biết người lính QLVNCH đã chiến đấu đến tận cùng khổ ải như thế nào. Thiên kiến trong sách của họ là, quân ta “nhởn nhơ” trong lúc quân Mỹ thiệt mất đến 58.000 người. Hình như họ không dám đưa ra con số 250.000 chiến sĩ QLVNCH tử trận và trên nửa triệu chiến sĩ thương phế, để biện minh cho sự tháo chạy của người Mỹ. Ít nhất thì sử gia Jay Veith đã dành những hàng trân trọng ngợi ca người lính của chúng ta và dành cho các anh một chỗ đứng xứng đáng trong lịch sử.

Song song với hoạt động của Sư Đoàn 7 Bắc Việt, Sư Đoàn 6 BV cũng tấn công các vị trí khác của quân ta dọc theo khu vực Liên Tỉnh Lộ 2 dẫn về phía Nam đến Bà Rịa, đồng thời tấn chiếm các đồn Địa Phương Quân & Nghĩa Quân tại Ngã Ba Ông Đồn và Gia Ray. Vị trí ĐPQ trên Núi Chứa Chan sau hai ngày chiến đấu khốc liệt cũng chịu rút bỏ. Sư Đoàn 6 Bắc Việt tiếp tục áp lực một khu vực dài 50 cây số phía Đông Xuân Lộc theo Quốc Lộ 1 về Bình Tuy. Như vậy, ý đồ của Tướng Hoàng Cầm là cô lập Xuân Lộc với cao nguyên từ hướng Quốc Lộ 20, với tiếp vận và tăng viện từ Sài Gòn trên Quốc Lộ 1 ở phía Nam, và với miền duyên hải Quân Khu II cũng trên QL1 ở phía Đông. Đến ngày 28.3.1975, Sư Đoàn 7 Cộng quân quặt lên hướng Bắc tấn công tỉnh Lâm Đồng. Sai lầm chiến thuật này đã buộc quân địch phải trả một cái giá, sau những ngày tháng 3.1975 thắng lợi. Thiếu Tướng Đảo lệnh cho Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 52, dưới quyền của Đại Úy Huỳnh Văn Út và Đại Đội 52 Trinh Sát tấn công và tái chiếm được Núi Chứa Chan. Khi quân của Đại Úy Út tiến đánh một địa danh gọi là Ngã Ba Cua Heo gây thiệt hại rất nặng cho các đơn vị của Trung Đoàn 270, thuộc Sư Đoàn 341BV, thì dân chúng vùng Kiệm Tân hân hoan đem tặng chiến sĩ SĐ18BB hai con bò và 200.000 đồng để khao quân. Khi nhận được tù binh gửi về, Thiếu Tướng Đảo hết sức sững sốt nhìn những người bộ đội với khuôn mặt sợ hãi, non choẹt ở tuổi thiếu niên. Họ chỉ trong độ tuổi 16, 17, là những học sinh bị bắt vào quân đội huấn luyện qua loa trong vòng hai tuần lễ rồi bị dồn vào Sư Đoàn 341. Qua hai mươi năm chiến tranh, bọn lãnh đạo cùng hung cực ác Hà Nội đã vét tới những người thiếu niên cuối cùng ngoài miền Bắc ném vào lò lửa miền Nam, để thỏa mãn tham vọng điên rồ, là làm cho máu dân tộc chảy láng lênh thành cả một đại dương thảm sầu, xương trắng chất chồng cao dầy như dãy Trường Sơn. Tiếng kêu khóc hai miền vang vọng lên đến chín cõi trời, đến quỷ thần cũng phải rùng mình.

Thủy thủ tàu Gateway City ‘mong ước’ tìm gặp thuyền nhân Việt ông cứu 44 năm trước

http://www.nguoi-viet.com

Đằng-Giao/Người Việt

Post on July 8, 2022

Post by Sơn râu 27 Apr 2024

SEATTLE, Washington (NV) – Ông Georg Pedersen, một cựu thủy thủ gốc Đan Mạch ở tuổi 88, vẫn đang nóng lòng tìm kiếm những người Việt Nam vượt biển được ông cứu sống ngày 13 Tháng Bảy, 1978, rồi đưa vào Hồng Kông.

Ông Georg Pedersen (ngồi ghế) cùng vợ và những người ông cứu sống và gia đình họ trong buổi họp mặt tại Palm Spring, California. (Hình: Lan Trương cung cấp)

Một ngày để nhớ một đời

Ông Georg Pedersen lúc ấy 44 tuổi và là chỉ huy thủy thủ tàu Gateway City đang thực hiện chuyến đi biển lần cuối. Tình cờ, ông và thủy thủ đoàn tàu Gateway City gặp một chiếc ghe mong manh vượt biên gương cờ trắng, chật cứng 51 người, trong đó có 18 trẻ em.

“Cả 51 người này ngồi như cá mòi trên ghe trong tình trạng mệt lả và thiếu vệ sinh,” ông Georg nói với nhật báo Người Việt.

Giữa giờ tuyệt vọng

Những thuyền nhân trên chếc ghe nhỏ bé này dự định tiến về Malaysia nhưng bị dông bão xô dạt làm mất phương hướng, trôi lênh đênh không định hướng.

Ông kể: “Thuyền trưởng ra lệnh cho chúng tôi là cung cấp nước uống và lương thực cho họ rồi để mặc họ đi tiếp, nhưng tôi nhất định thuyết phục ông nên cứu họ. Họ mệt lắm và trên ghe có nhiều em bé. Không cứu, họ sẽ chết.”

Ông Georg từng cập bến Việt Nam nhiều lần nhưng không hề biết gì về đời sống người dân cũng như tình hình chính trị tại Việt Nam. Thế nhưng hôm ấy, một mãnh lực nào đó thôi thúc ông phải cưu mang cho sinh mạng 51 thuyền nhân ấy.

Ông nói: “Tôi nghĩ rằng ra đại dương, tất cả đều là anh em.”

Sau cùng, thuyền trưởng đồng ý đưa cả 51 người đến Hồng Kông.

“Chuyện xảy ra 44 năm rồi nhưng tôi nghĩ mới như hôm qua thôi. Tôi không thể quên những ánh mắt hân hoan tràn đầy hy vọng khi được chúng tôi đưa tới Hồng Kông,” ông Georg kể tiếp.

Chiếc ghe đánh cá mong manh chở 51 người Việt Nam, lênh đênh trên biển ngày 13 Tháng Bảy, 1978. (Hình: Lan Trương cung cấp)

Bà Lan Trương, một trong 51 thuyền nhân ngày ấy, kể với nhật báo Người Việt: “Lúc đó tôi mới 8 tuổi nhưng tôi nhớ rõ ngày ông Georg cứu sống gia đình tôi, gồm cha tôi, tôi, anh, và em tôi.”

Từ đó, gia đình bà Lan không bao giờ quên ơn này.

Bà nói: “Chúng tôi tìm đủ mọi cách để liên lạc với ông Georg. Cha và anh tôi gởi không biết bao nhiêu thư tìm ông nhưng đều thất bại. Nguyện vọng của cha tôi trước khi qua đời là được gặp lại ông Georg.”

Mọi người trên ghe cùng biết ơn cứu sống của ông Georg trong cơn tuyệt vọng.

Ông Georg Pedersen, người thuyết phục thuyền trưởng phải cứu mạng 51 thuyền nhân Việt Nam năm 1978. (Hình: Chụp từ màn hình NBC)

Bà Lisa Đàm, hiện là nhân viên phòng thử nghiệm đại học Johns Hopkins ở Maryland, nói: “Lúc đó ghe hết dầu, hết nước, hết lương thực và mọi người vô cùng tuyệt vọng nên tôi coi ông Georg trên tàu Gateway City như một Thiên Thần Chúa đưa xuống để cứu vớt chúng tôi.”

Thế nhưng trong một thời gian hơn 40 năm, không ai liên lạc được ai cả.

Trong thời gian này, ông Georg cũng không quên 51 người ông cứu.

Ông kể: “Tôi không có cách nào liên lạc với ai được. Hồi đó họ ở trại tị nạn Hồng Kông một thời gian rồi định cư trong lúc chúng tôi không được vô thăm họ.”

Thế rồi, do tình cờ, một số người liên lạc được với ân nhân của họ, một phần nhờ cuốn sách nhan đề “My 48 Years at Sea – From Deck Boy in Denmark to Captain in America” của ông Georg trên Amazon, mà trong đó có viết về 51 thuyền nhân này, và một phần nhờ người láng giềng của vợ chồng ông Georg tìm được tông tích ông Minh Nguyễn, một thuyền nhân khi được cứu chỉ mới 2 tuổi.

Ông Minh Nguyễn (trái) và ông Georg Pedersen. (Hình: Chụp từ màn hình NBC)

Vui, nhưng chưa trọn vẹn

Cuộc hội ngộ của ông Georg và nhóm thuyền nhân 11 người tại Palm Spring, California, hôm 23 Tháng Tư vừa qua là một ngày tưng bừng nỗi vui và chan hòa nước mắt. Vị anh hùng mắt xanh mới ngày nào 44 tuổi, to cao, rắn chắc nay đã là ông cụ 88 tuổi.

“Và những đứa bé gầy guộc ngày nào nay đã là những người chững chạc, thành công, có địa vị trong xã hôi,” ông Georg tiếp. “Minh Nguyễn hồi đó 2 tuổi, giờ đã 46 rồi.”

Ông kể: “Gặp lại họ, tôi mừng khôn xiết và hãnh diện vì họ đã tạo cho mình một cuộc sống vững chắc trên xứ sở tự do này.”

Hôm hội ngộ tại Palm Spring, ông Georg và bà Nina, vợ ông, rất mừng rỡ, nhưng trong lòng ông vẫn canh cánh ước ao được gặp tất cả 51 người trên chiếc ghe có lá cờ trắng 44 năm về trước.

Ông nói: “Hôm ấy có 55 người dự tiệc nhưng chỉ có 11 thuyền nhân thôi, còn lại là gia đình và con cháu họ.”

Ông thêm: “Tôi mong được gặp những người còn lại. Tôi coi tất cả là người nhà.”

Bà Nina nói với nhật báo Người Việt: “Chồng tôi coi việc gặp lại tất cả mọi người trên chiếc ghe ấy là quan trọng. Lời lẽ ông viết về họ trong cuốn ‘My 48 Years at Sea…’ đã làm tôi bật khóc.”

Cao Ủy Liên Hiệp Quốc ước tính từ 200,000 đến 400,000 người Việt Nam chết trên đường vượt biên tìm tự do.

Bà Lan trở thành cố vấn đại học ở San Jose, California, vì muốn giúp người khác như ông Georg.

Nhiều người khác cũng trở nên hữu ích cho xã hội.

Bà Lisa nói: “Tôi biết những đứa bé cùng ghe, có một số thành công, thành dược sĩ, luật sư, kỹ sư, chủ nhà hàng…”

Một nhóm trong số 51 thuyền nhân được cứu. (Hình: Lan Trương cung cấp)

Một điểm lý thú đáng nhớ là ông Georg cứu sống 51 thuyền nhân này trong chuyến đi biển cuối cùng trước khi tàu Gateway City ngưng hoạt động vĩnh viễn.

Ông Georg Pedersen vẫn ước ao được gặp tất cả những người còn lại.

“Tôi muốn biết họ ra sao và làm gì bây giờ. Tôi 88 tuổi rồi, không còn thời gian,” ông thở dài. “Chỉ 11 người trong số 51 thì quá ít. Tôi muốn gặp hết họ.” [đ.d.]

—–
Liên lạc tác giả: ngo.giao@nguoi-viet.com

Tạ từ nhà văn Nguyên Vũ / Vũ Ngự Chiêu (1942 – 2024)

http://www.nguoi-viet.com/sai-gon-nho

Post on April 20, 2024

Như Hồ/SGN

Post by Sơn râu 27 Apr 2024

Nhà văn, nhà nghiên cứu sử học Nguyên Vũ (Vũ Ngự Chiêu / Chính Đạo) vừa qua đời vào lúc 5 giờ 5 phút chiều ngày 19 Tháng Tư- năm 2024 tại tư gia ở Houston, Texas.

Tiến Sĩ Vũ Ngự Chiêu có hai bút danh Chính Đạo và Nguyên Vũ, có lẽ bút danh Nguyên Vũ được nhiều người biết hơn. Ông là một cây bút rất nổi tiếng ở Miền Nam VNCH.

Nhà văn Nguyên Vũ trước năm 1975. (Hình: chụp lại)

Trước 1975, Vũ Ngự Chiêu phục vụ trong binh chủng Pháo Binh Dù, QLVNCH, và đã có hơn 20 tác phẩm xuất bản. Sau khi ra hải ngoại, ông vừa tiếp tục cầm bút vừa đeo đuổi việc học. Tốt nghiệp Tiến Sĩ Sử tại Đại Học Wisconsin-Madison năm 1984, sau khi cùng gia đình di chuyển về Houston, ông là Giám Đốc nhà xuất bản Văn Hóa và tốt nghiệp Tiến Sĩ Luật tại Đại Học Houston năm 1999.

Những tác phẩm của Vũ Ngự Chiêu xuất hiện trước năm 1975 dưới bút danh Nguyên Vũ gồm có  Đời Pháo Thủ (bút ký), Những Cái Chết Vô Danh (tập truyện), Trở Về Từ Cõi Chết (truyện), Vòng Tay Lửa (trường thiên), Thềm Địa Ngục (truyện), Đêm Hưu Chiến (truyện), Sau Bảy Năm Ở Lính (bút ký), Đêm Da Vàng (trường thiên), v.v.  Tại hải ngoại, Vũ Ngự Chiêu đã in thêm các tập Xuân buồn thảm: Cuộc Sụp Đổ của Nam Việt Nam (bút ký), Trận Chiến Chưa Tàn (truyện), Giặc Cờ Đỏ (trường thiên), cùng hai tâm bút Paris: Xuân 1996, và Ngàn Năm Soi Mặt.

Về nghiên cứu sử học, ông đã in ba tác phẩm bằng tiếng Anh dưới tên thực, và 10 biên khảo bằng Việt ngữ với bút danh Chính Đạo. Biên khảo duy nhất bằng Việt ngữ ký tên thực của ông là bộ Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945, gồm ba tập. Những tác phẩm ký tên Chính Đạo thường được viết cho độc giả không chuyên môn, dễ đọc hơn, không quá khô khan như các biên khảo đúng yêu sách bác học.

Các tác phẩm của nhà văn Nguyên Vũ.

Đôi điều về nhà văn Nguyên Vũ

Đầu thập niên 1960s, khi chiến sự bắt đầu lan tràn, chính quyền miền Nam VN, đã ban bố chính sách động viên, quân dịch. Vì thế, hầu hết thanh niên thời đó, phải nhập ngũ. Cũng chính vì thế mà, số lượng những người cầm bút cũ cũng như mới mặc áo lính, được ghi nhận là một con số đáng kể.

Sinh hoạt quân đội, chiến tranh, dù muốn hay không cũng là môi trường phong phú, giàu có chất liệu cho những người làm công việc sáng tác ở tất cả mọi lãnh vực; từ thơ, văn tới âm nhạc, kịch nghệ, điện ảnh…

Những cây bút chọn khía cạnh quân đội, chiến tranh làm đề tài chính hoặc, nghiêng nặng về lãnh vực này, được dư luận xếp vào hàng ngũ “những nhà văn quân đội”.

Nhưng không phải nhà văn quân đội nào cũng được người đọc đón nhận, như một tác giả nổi tiếng; có số lượng sách tiêu thụ lớn.

Về những nhà văn quân đội nổi tiếng với những tác phẩm (thơ cũng như văn) của họ, có thể kể những tên tuổi về thơ, như có Tường Linh, Phạm văn Bình, hay Linh Phương… Cả hai nhà thơ sau, đều nổi tiếng nhờ có thơ được cố nhạc sĩ Phạm Duy soạn thành ca khúc. (Phạm Văn Bình với ca khúc “Chuyện tình buồn,” và “Mười hai tháng anh đi”; Linh Phương với “Kỷ vật cho em”) (1). Về văn có thể kể Văn Quang (lớp trước). Lớp sau vài năm, có thể kể tới Trần Hoài Thư, Đào Vũ Anh Hùng, Huỳnh Văn Phú… Nhưng, nổi bật hơn cả, theo tôi vẫn là Nguyên Vũ (truyện) và, Phan Nhật Nam (bút ký, phóng sự).

Theo nhà báo Ngọc Hoài Phương, hiện cư ngụ tại miền nam California thì, những bài viết đầu tiên của Nguyên Vũ xuất hiện trên báo Thời Luận của cụ Nghiêm Xuân Thiện, năm 1965.

Thời gian đó, nhà báo Ngọc Hoài Phương, tuy còn rất trẻ nhưng được chủ nhiệm Nghiêm Xuân Thiện chọn vào vai trò Phụ tá Tổng thư ký tòa soạn, kiêm nhiệm trang văn nghệ; sau khi các nhà báo đàn anh như Sao Biển, Tâm Chung từ chối nhận lãnh trách nhiệm này.
Theo lời kể của nhà báo Ngọc Hoài Phương thì, thời gian đó, Nguyên Vũ / Vũ Ngự Chiêu là sĩ quan pháo binh, trú đóng ở miền Tây.
Thoạt đầu, Ngọc Hoài Phương khuyến khích họ Vũ viết về đời pháo thủ của mình, để Ngọc Hoài Phương lấy tiền nhuận bút, cho bạn tiêu vặt trong những lần về phép Saigòn

Không ngờ, loạt bài của Nguyên Vũ / Vũ Ngự Chiêu được độc giả, nhất là giới quân nhân đón nhận nồng nhiệt.

“Được cái Nguyên Vũ viết rất nhanh”, Ngọc Hoài Phương kể.

“Buổi tối anh em đi chơi, ăn nhậu với nhau tới khuya mới giải tán. Về nhà, họ Vũ có thể viết tới sáng. Vì thế, sau mỗi tuần về phép Saigon, trước khi trở lại đơn vị, bao giờ Nguyên Vũ cũng gửi lại tòa soạn Thời Luận số bài đủ để ‘đi’ cả một tháng. Nhờ thế mà tòa soạn rất yên tâm về loạt bài của Nguyên Vũ. Nghĩa là người phụ trách là tôi, không phải lâu lâu lại nhắn tin ‘…Hết bài rồi. Gửi bài gấp…’ như từng xẩy ra với nhiều nhà văn viết feuilleton khác”. Nhà báo Ngọc Hoài Phương nhấn mạnh.

Vẫn theo lời kể của Ngọc Hoài Phương thì ông không nhớ nhà văn Nguyên Vũ / Vũ Ngự Chiêu cộng tác với báo Thời Luận bao lâu? Ông chỉ biết sau một thời gian ngắn, tên tuổi họ Vũ nổi tiếng khắp nơi, nên Nguyên Vũ được nhiều báo Saigon thời đó, mời viết feuilleton cho họ. Và, cũng vì thế mà Nguyên Vũ không còn thì giờ viết cho Thời Luận nữa.

Nhà văn Nguyên Vũ (Hình: Uyên Nguyên)

Trong loạt bài chủ đề “Văn học miền Nam”, nhà văn Nhị Linh đã viết về Nguyên Vũ, một đoạn ngắn, với các chi tiết, như sau:

“Trước 1975, Nguyên Vũ là tác giả của nhiều tác phẩm về cuộc đời lính.

“Sinh năm 1942 ở Hải Dương, Nguyên Vũ (tên thật Vũ Ngự Chiêu) học khóa 16 Thủ Đức, sau khi tốt nghiệp trở thành lính pháo binh.

“Sau 1975, Vũ Ngự Chiêu học tiếp ở Mỹ, lấy bằng tiến sĩ sử học, viết nhiều công trình sử học bằng tên thật và bút danh Chính Đạo”.

Về một số tác phẩm đã xuất bản của nhà văn Nguyên Vũ, được Nhị Linh liệt kê gồm có:

“Đời pháo thủ (ký sự chiến trường) do Chọn Lọc in năm 1967 là một tác phẩm thuộc giai đoạn sớm của nhà văn Nguyên Vũ. “Thềm địa ngục do Đại Ngã in năm 1969, cũng có nhiều chi tiết liên quan đến pháo binh, mặc dù nhân vật chính thuộc biệt động quân đang chịu án do tội ‘đào binh’ phải đi làm ‘lao công’…”

Phần tư liệu trong bài viết của mình, nhà văn Nhị Linh cũng chụp lại bìa một số tiểu thuyết của Nguyên Vũ, như “Uyên Buồn, Nguyệt Thực, Bóng Tối Tiếng Cười Môi Hôn Và Nghĩa Trang, Sau Cơn Mộng Dữ, Lửa Mù, Đêm Hưu Chiến, Mồ Hôi Mũ Đỏ, Vòng Tay Lửa (tập một)”…

Mặt khác, vì trên mạng có quá ít tư liệu về nhà văn Nguyên Vũ / Vũ Ngự Chiêu, nên một độc giả đã gửi câu hỏi đại ý “Nguyên Vũ là ai” cho trang mạng Wikipedia-Mở. Và trang mạng này chọn một câu trả lời tương đối đầy đủ nhất của độc giả Tường Vi Trắng, cách đây 7 năm, nguyên văn như sau: “Câu trả lời hay nhất: Chính Đạo là một trong hai bút danh của Vũ Ngự Chiêu. Bút danh kia là Nguyên Vũ, rất nổi tiếng ở Miền Nam trước năm 1975. Trước 1975, Vũ Ngự Chiêu phục vụ trong binh chủng Pháo Binh Dù, QLVNCH, và đã có hơn 20 tác phẩm xuất bản. Sau khi ra hải ngoại, ông vừa tiếp tục cầm bút vừa đeo đuổi việc học. Tốt nghiệp Tiến Sĩ Sử tại Đại Học Wisconsin – Madison năm 1984, sau khi cùng gia đình di chuyển về Houston, ông là Giám Đốc nhà xuất bản Văn Hóa và tốt nghiệp Tiến Sĩ Luật tại Đại Học Houston năm 1999.

“Những tác phẩm của Vũ Ngự Chiêu xuất hiện trước năm 1975 dưới bút danh Nguyên Vũ gồm có “Đời Pháo Thủ (bút ký), Những Cái Chết Vô Danh (tập truyện), Trở Về Từ Cõi Chết (truyện), Vòng Tay Lửa (trường thiên), Thềm Địa Ngục (truyện), Đêm Hưu Chiến (truyện), Sau Bảy Năm Ở Lính (bút ký), Đêm Da Vàng (trường thiên), v.v. Tại hải ngoại, Vũ Ngự Chiêu đã in thêm các tập Xuân buồn thảm: Cuộc Sụp Đổ của Nam Việt Nam (bút ký), Trận Chiến Chưa Tàn (truyện), Giặc Cờ Đỏ (trường thiên), cùng hai tâm bút Paris: Xuân 1996, và Ngàn Năm Soi Mặt.

“Về nghiên cứu sử học, ông đã in ba tác phẩm bằng tiếng Anh dưới tên thực, và 10 biên khảo bằng Việt ngữ với bút danh Chính Đạo. Biên khảo duy nhất bằng Việt ngữ ký tên thực của ông là bộ Các Vua Cuối Nhà Nguyễn (1883-1945) gồm ba tập. Những tác phẩm ký tên Chính Đạo thường được viết cho độc giả không chuyên môn, dễ đọc hơn, không quá khô khan như các biên khảo đúng yêu sách bác học.

“Ông vừa xuất bản tác phẩm mới nhất với tựa đề Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (1945-1975) tập I, gồm 5 phần: Sơ lược tiểu sử Tổng thống Jean Baptiste Ngô Đình Diệm (1897-1963); Từ Điện Biên Phủ tới Geneva; Cuộc truất phế Bảo Đại; Mùa Phật Đản đẫm máu (1963); và “Phiến Cộng” trong Dinh Gia Long.

“Sau năm 1975 ở hải ngoại, có những dòng thác ngụy tạo ngụy biện nhằm vặn méo sử kiện để chạy tội và biện minh cho sự vô minh của một số người. Vũ Ngự Chiêu đã dần dần xuất hiện như một nhà sử học khai sáng và can trường. Giá trị tinh thần của người trí thức không chỉ là tôn trọng sự thật mà còn nói lên sự thật và chấp nhận hậu quả của quyết định can trường đó. Đó là một sự đổi đời tâm linh có ý nghĩa đã hình thành nơi Vũ Ngự Chiêu. Huyền thoại và huyễn mị lịch sử đã làm cho người Việt xa nhau, chỉ có sự thật mới làm cho người Việt gần lại với nhau, trong tình dân tộc, nghĩa đồng bào. Những tác phẩm mới của Vũ Ngự Chiêu là một đóng góp sáng giá và có ý nghĩa trong chiều hướng đó.”

________

Chú thích:

(1) Được biết, cũng như bài “Còn chút gì để nhớ” của Vũ Hữu Định, bài thơ “Kỷ vật cho em” của Linh Phương do thi sĩ Trần Dạ Từ đưa cho cố nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc, sau khi hai bài thơ vừa kể, đã được đăng trên một tờ báo do ông phụ trách.

Ryvid, mô tô điện của 3 thanh niên gốc Việt ‘ra lò’ tại Irvine

http://www.nguoi-viet.com

Đằng-Giao/Người Việt

Post on March 26, 2023

Post by Sơn râu 27 Apr 2024

IRVINE, California (NV) – Ryvid Anthem là một hiệu xe mô tô điện sản xuất tại Irvine vừa được ba thanh niên gốc Việt tại Orange County giới thiệu vào thị trường Mỹ.

Ba sáng lập viên công ty Ryvid Anthem, từ trái, Trần Lập Đồng, Vincent Nguyễn Khánh-Vũ và Trần Thanh Vinh. (Hình: Vincent Nguyễn Khánh-Vũ cung cấp)

Chưa ồn ào xuất hiện trên đường mà Ryvid đã gây xôn xao trong giới “chơi xe” rồi. Ba sáng lập viên trẻ tuổi của hãng Ryvid Anthem cùng hãnh diện vì đứa con đầu lòng của họ có “trái tim của một xe điện và linh hồn của một chiếc mô tô.”

Ryvid là hiện thân của thiết kế thế kỷ 21, tối giản tinh tế với sườn xe đặc chế bằng thép nhẹ mà cứng cáp và kỹ thuật tốc độ tối ưu.

An toàn trên hết

Ryvid đạt đủ mọi điều kiện của Nha Lộ Vận Mỹ (DMV), có số VIN và cần bằng lái cũng như thuế lưu hành để sử dụng.

Ryvid được chế tạo cho tốc độ nhưng không phải loại tốc độ “tự sát” mà là tốc độ an toàn.

“Với 250 phân khối, với kỹ thuật cơ giới độc quyền và với kiểu dáng ‘lướt gió,’ Ryvid sẵn sàng ‘xé gió’ nhưng không quá tốc độ 75 dặm một giờ là tốc độ tối đa cho phép ở California,” anh Vincent Nguyễn Khánh-Vũ, sáng lập viên kiêm giám đốc điều hành, nói. “Phải lái thử mới cảm nhận được sự khác biệt của Ryvid.”

“Tên Ryvid nói lên một sự cân bình hoàn hảo cho người lái xe,” anh thêm.

Ryvid, theo anh Vincent, được ghép từ “rhytm” là nhịp điệu và “avid” là sự hăng say, cuồng nhiệt.

“Hai yếu tố trên của sự chuyển động (motion) và cảm xúc (emotion) là tâm trạng chúng tôi muốn dành cho tài xế Ryvid,” anh Vincent tiếp. “Ryvid mang lại cảm giác thú vị và vui thích.”

Ryvid là một tổng hợp những phát minh độc quyền về tốc độ và an toàn của xe mô tô.

“Kiểu dáng Ryvid trẻ trung, khỏe mạnh cộng với những thiết kế sáng tạo và nguyên liệu thường thấy trong kỹ thuật không gian, chúng tôi tin chắc là mọi người sẽ vô cùng hài lòng với Ryvid ngay từ đợt sản xuất đầu tiên,” anh Vincent Nguyễn Khánh-Vũ khẳng định.

Mô tô điện Ryvid trẻ trung, sáng tạo, dễ nhìn và dễ điều khiển. (Hình: Vincent Nguyễn Khánh-Vũ cung cấp)

Ngôn ngữ không thể diễn tả được cảm giác khi ngồi lên Ryvid. “Chưa lái, khách đã thấy sự khác biệt về thiết kế cũng như trang bị của Ryvid rồi. Màn hình tinh thể lỏng lớn, rõ ràng kể cả khi nắng chói chang,” anh Vincent tự tin nói.

Ryvid cho phép thay đổi độ cao của ghế từ 30 đến 34 inch.

Anh Vincent nói: “Việc này rất thoải mái cho mọi người, từ người dáng vóc nhỏ đến người to cao.”

Ngoài ra, nếu muốn, người ta có thể tháo bình điện ra một cách dễ dàng để “charge.”

Ryvid, theo anh Vincent, rất “lanh lẹ” vì có khung xe nhẹ (dưới 5.4 kg) và trọng lượng rất thấp này làm cho xe còn “nhạy bén” với sự điều khiển hơn.

Trong đợt “launch edition,” công ty Ryvid sản xuất đúng 1,000 mô tô có màu trắng (rapid white), vàng (atomic gold) và xám (carbon grey), khung xe có số “serial” và một số ưu tiên khác.

“Từ khi công ty nhận đơn đặt hàng ngày 14 Tháng Tám, 2022, chúng tôi thu vô hơn $700,000,” anh Vincent nói. “Đến cuối năm 2023, theo dự kiến công ty sẽ bán được 6,000 xe.”

Nhẹ nhàng, thanh cảnh nhưng Ryvid là xe mô tô. (Hình: Vincent Nguyễn Khánh-Vũ cung cấp)

Ryvid có thể “charge” bằng diện 110 V hay 220 V.

Anh Vincent nói: “‘Charge’ bằng điện 110 V thì tốn sáu tiếng, còn điện 220 V chỉ ba tiếng. Một bình điện đầy chạy được 75 dặm, nhưng còn tùy theo trọng lượng và cách lái xe của tài xế nữa.”

Tự hào là người Việt

Ba sáng lập viên hãng Ryvid Anthem đều là cư dân Little Saigon, Orange County, Nam California, và cả ba cùng hãnh diện về nguồn gốc Việt Nam cũng như gia đình mình.

Anh Trần Lập Đông, tổng giám đốc, sinh ra tại Đà Lạt và di cư đến New York năm 10 tuổi.
Tốt nghiệp đại học, anh làm việc tại Los Angeles, California, và hiện sống tại Huntington Beach.

Anh Đồng có kiến thức vững chắc về kỹ thuật và thiết kế giao thông vận tải, từng là thiết kế hàng đầu cho một số công ty mô tô và hàng không vũ trụ nhiều sáng tạo nhất, trong đó có cả công ty thiết kế của riêng anh.

Ngoài ra, anh còn là một doanh nhân thiên về máy móc. Điều này thấm nhuần trong huyết quản của anh vì cha anh là phi công trực thăng và một người đam mê mô tô, còn mẹ anh thì luôn cải thiện bản thân và sự nghiệp của mình ở Mỹ.

Anh Vincent Nguyễn Khánh-Vũ là giám đốc điều hành, sinh ra và lớn lên tại Santa Ana nhưng nguyên quán của anh là Sài Gòn.

Anh Vincent có nhiều kinh nghiệm đáng kể về quản lý và hậu cần trong công nghiệp hàng không và quốc phòng.

Niềm đam mê hoạt động ngoài trời của anh bắt đầu từ khi còn nhỏ theo cha là ông Nguyễn Khanh, đồng sáng lập viên Liên Đoàn Hướng Đạo Bạch Đằng năm 1979.

Điều này kết hợp với tinh thần kinh doanh mạnh mẽ của mẹ anh là bà Nguyễn Kim Nga đã dẫn dắt anh đồng sáng lập công ty Ryvid Anthem.

Ryvid như sắp đi “đóng phim” khoa học giả tưởng. (Hình: Vincent Nguyễn Khánh-Vũ cung cấp)

Sáng lập viên thứ ba là anh Trần Thanh Vinh (chỉ cùng họ với anh Đồng), giám đốc kỹ thuật, sinh ra tại Sài Gòn nhưng di cư sang Hawaii năm 14 tuổi và hiện sống ở Garden Grove.

Anh Vinh có nền tảng về kỹ thuật cơ khí hàng không và đã quản lý các nhóm có chức năng đa dạng trong các ngành bán dẫn (semiconductors), hàng không vũ trụ và thiết bị chẩn đoán y tế.

Là con ông Trần Cẩm Tựu nguyên chánh án Tối Cao Pháp Viện trước 1975, anh cố trở thành người con xứng đáng.

Anh Vinh đã thành công trong việc này khi nhận bằng đồng sáng chế chất kháng thể SARS-CoV-2 IgG II đầu tiên được Cơ Quan Quản Trị Thực Phẩm và Dược Phẩm Mỹ (FDA) chấp thuận.

Ryvid sẽ lớn mạnh

Anh Vincent Khánh-Vũ nhận xét rằng tuy mô tô điện đang phổ biến hơn bao giờ hết nhưng hầu hết các phương tiện giao thông trên thế giới vẫn là xe hai bánh chạy bằng xăng.

Công ty Ryvid tin tưởng sẽ chiếm một phần thị trường tại Mỹ rồi mới lan ra thế giới.

“Ít nhất là 80% gia đình ở Đông Nam Á sở hữu xe hai bánh. Riêng ở Mỹ, chúng ta bắt đầu thấy sự gia tăng của các loại xe điện, đặc biệt là xe đạp,” anh Vincent nói.

Ryvid không xả khói nhưng dư sức “đốt lốp.” (Hình: Vincent Nguyễn Khánh-Vũ cung cấp)

Xe Ryvid giá $7,800.

“Vì khách đặt hàng quá đông, thời gian chờ đợi kéo dài thêm chút. Đặt cọc $500 bây giờ thì Hè 2023 sẽ được giao xe tại nhà,” anh Vincent cho biết.

Muốn coi xe hay lái thử, liên lạc hello@ryvid.com.

Muốn biết thêm thông tin, vào ryvid.com.

Ryvid là một công ty sản xuất công cụ “thể thao di động” chạy hoàn toàn bằng điện với sản phẩm ra mắt là chiếc Ryvid có nhiều phát minh sáng tạo mới lạ độc đáo và độc quyền.

“Mô tô Ryvid là thành quả của bao nhiêu năm kinh nghiệm cũng như kiến thức, sáng tạo và tim óc của ba anh em chúng tôi,” anh Vincent hãnh diện tuyên bố. [qd]

—–
Liên lạc tác giả: ngo.giao@nguoi-viet.com


California tài trợ $20 triệu mở nhà máy

Hãng Ryvid vừa được tiểu bang California cấp tài trợ $20 triệu để mở nhà máy.

Theo ước tính của văn phòng Thống Đốc Gavin Newsom, Ryvid sẽ tạo thêm 900 công việc mới tại California.

Đây chính là tin “số độc đắc” mà cả nhóm sáng lập viên của Ryvid hằng mong đợi.

“Nhóm Ryvid rất biết ơn Thống Đốc Newsom và chương trình ‘California Competes Program’ về khoản tài trợ này. Chúng tôi hoan nghênh cơ hội phục vụ cộng đồng California, quốc gia và toàn cầu thông qua sản xuất xe điện bền vững,” anh Trần Lập Đồng cho biết.

“Những người sáng lập Ryvid là những người nhập cư và con cái của những người nhập cư đến California để có một cuộc sống tốt đẹp hơn và chúng tôi cam kết cung cấp các công việc sản xuất được trả lương cao cho tiểu bang quê hương của chúng tôi trong nhiều năm tới, một trong những lĩnh vực phát triển nhanh nhất của phương tiện di chuyển bằng điện,” anh Đồng nói thêm.

Ông Scott Dosick, phó giám đốc CalCompetes, tuyên bố: “Khoản tài trợ này sẽ cho phép Ryvid không chỉ thiết lập các hoạt động kinh doanh ở California mà còn củng cố sự hiện diện của công ty ở đây trong tương lai lâu dài.”

Một cánh hoa Dù

Trương Dưỡng

Post by Sơn râu 27 Apr 2024

d). Kinh Doanh Thu Hẹp Lo Thủ Tục Xuất Ngoại
Lúc ấy gia đình Dì Sáu cũng được đi diện đoàn tụ (con lãnh cha mẹ). Vợ tôi có nhờ bà kêu mấy em họ ở Mỹ làm cho giấy USCC, khoảng một năm sau thì tôi được một lượt tới 3 giấy USCC của Tuấn Anh, con bà Dì; Hồng Nhàn, bạn học trước ở Đại đội Tiếp Liệu Dù; và Lê Tấn Huỳnh Long, Bác sĩ TQLC (đã mòn mỏi trông đợi gần 2 năm, bây giờ lại có một lúc ba người sẵn lòng bảo lãnh, khiến mọi người trong nhà đều mừng rỡ, hy vọng một ngày mai trời sẽ ngó lại. Giống như những lần trước, từ nguồn tuyệt vọng, gia đình tôi cũng đã tìm được những điều mỹ mãn ngoài tầm tưởng tượng).

Bấy giờ có một số sĩ quan ở tù được thả về, Lã quý Trang (3 năm), Nguyễn Thanh Nhàn (5 năm), Bác sĩ Tường, rồi tới Nguyễn văn Khen, Nguyễn Hiền Triết, Phạm Thái Hóa, Nguyễn văn Triệu, Ngô văn Nhị (em rể tôi), và đại tá Nguyễn thu Lương,…Những người sau nầy tù từ 8, 9 năm trở lên; như anh sáu Lương đã bị biệt giam và bị hăm dọa lên án tử hình nhiều lần vì tánh khẳng khái, bất khuất mà các bạn tù chung đều khâm phục, thương mến. Bạn cùng khóa Trần Phi Cơ kể lúc ở trong tù tại trại K3, anh rất phục hai cử chỉ hào hùng của 2 sĩ quan Dù : Thiếu úy Quỳnh lúc đẩy xe đất vô bị tên cán bộ Việt Cộng rầy nói sao chở ít quá. Lập tức anh Quỳnh hất ngã xe đất và vạch ngực ra nói:

– Cho ăn bao nhiêu thì làm bấy nhiêu, nếu không bằng lòng thì bắn đi!

Còn đại úy Dù tên Minh “Đen” khi học tập, cán bộ bảo anh tố chửi Mỹ xâm lược; thì anh dám đứng lên nói:

– Chúng tôi thấy Mỹ qua giúp miền Nam cũng giống các anh qua Campuchia.

Hai anh đều bị cùm 6 ngày. Còn Đỗ Ngọc Nuôi, Khóa 20 ĐL, ở trong tù mà dám tổ chức chống phá VC, anh đã cùng nhiều người, trong đó có anh sĩ quan truyền tin, đã lợi dụng sửa Radio cho cán bộ Việt Cộng. Rồi bảo họ mua các điện trở, tụ điện, transistors,…nói là để sửa radio, nhưng anh đã tự chế ra máy thu thanh, và bắt liên lạc được các đơn vị kháng chiến bên ngoài. Cuối cùng bị bại lộ, anh SQ truyền tin bị tử hình và Nuôi bị 16 năm tù. Tội nghiệp chị Nuôi, vì nghe lời tán bùi tai của SVSQ lanh lợi Đỗ ngọc Nuôi khi còn ở Đà Lạt, nên phải lo cho ông chồng tù tội: Một năm ở Quân Lao vì vụ Tour D’Ivor và 16 năm tù tập trung của CS, cùng nuôi dưỡng 6 đứa con nên người, thật đáng khâm phục.

Anh Võ văn Huệ, bạn cùng khóa, lúc ở tù tại Đà Nẳng, tên cán bộ hỏi:

– Ở trận Thường Đức lính bận đồ rằn ri là lính gì mà sao hăng quá vậy? Họ cứ xung phong nhào lên, không sợ chết thiệt là gan quá chừng!

– Họ là lính Nhảy Dù đó.

Khi những người bạn vừa ra tù tới chơi, tôi thường bảo bà xã nấu bò nhúng giấm, hoặc bò tái để như bù đấp tượng trưng phần nào những ngày thiếu thốn ở trong tù. Riêng Nhị vừa về là lo đi chui và bị bắt nhốt tại Bến Giá Trà Vinh hơn một năm, đến khi bị ung thư ruột già mới được thả về chừng một tháng thì chết, bỏ lại 4 đứa con còn nhỏ dại và vợ là em gái duy nhất của tôi phải chịu cảnh gà mái nuôi con, trong xã hội :

Nước trong leo lẻo cá đớp cá!

Trời nắng chan chan người trói người!

Anh Triệu thường đến thăm tôi, mỗi lần tới ưa dẫn theo đứa con trai út mà anh thương yêu nhứt, nhưng một thời gian sau anh bị trắc trở gia đình, cuối cùng người tốt hiền lành như anh mà trời cũng khiến cho chịu thêm nhiều phiền não! Chị đã ôm thuyền khác, con theo mẹ khiến anh lâm cảnh bơ vơ! Ôi Quốc hận đã gây bao cảnh tù tội, ly tán cho nhiều chiến sĩ anh hùng đã dùng hết tuổi xuân để bảo vệ nền tự do, nhưng bất thành đành phải ôm hận triền miên!

Lúc còn đi kiếm mối bán bột, tôi có qua khu cư xá Lữ Gia và gặp anh bạn cùng khóa Quách Vĩnh Trường. Anh nầy có một quá khứ rất hào hùng. Hôm đó, đơn vị đang tập họp chuẩn bị hành quân, bỗng bị một tên nội tuyến ném lựu đạn vào hàng quân. Thay vì lo nhảy tránh, Trường muốn cứu binh sĩ thuộc cấp, nên vội nhào tới để cầm trái lựu đạn quăng ra xa; nhưng vừa tung ra khỏi tay thì lựu đạn nổ, cả thân mình hứng chịu đầy mảnh. Binh sĩ an toàn nhưng anh trả một giá rất đắt: một chân một tay bị cưa, bàn tay còn lại bị mất vài ngón, mặt anh bị xẹo phải chịu đựng nhiều lần giải phẫu mới giữ được mạng sống.

Điều anh tự hào và hãnh diện là cái miệng còn nguyên vẹn, nhờ đó mới nẩy sinh ra tình sử chẳng thua gì chuyện tình “Romeo And Juliet”. Tuy cơ thể tật nguyền nhưng anh vẫn ngày hai bữa cắp sách đến trường Luật. Có một lần trên xe bus, một cô nữ sinh viên mỹ miều duyên dáng dễ thương. Thấy anh không có chỗ ngồi, người lắc lư không vững, nên cô đứng dậy nhường ghế, chừng xuống xe mới biết hai người cùng học chung trường Luật (mỗi lớp thường cả ngàn sinh viên nên ít biết mặt nhau). Trường cám ơn rối rít, cô Kiều thì cảm thấy làm được điều thiện nên tinh thần cũng thoải mái! Hôm khác cô đi xe đạp tới ngang trạm xe bus, thấy Trường đang bước lên xe và bị trợt chân té (có thể anh thấy cô Kiều liền giả bộ té, đúng không Trường?); cô chạy tới đỡ dậy. Từ đó hằng ngày cô lấy xe tới chở Trường đi học, vừa ngồi xe vừa trổ tài miệng lưỡi thực tập hùng biện của con nhà Luật; khiến cô Kiều xiêu lòng, cuộc tình càng ngày càng sinh sôi nẩy nở. Các em cô Kiều cũng đều tốt nghiệp Đại Học, họ là những người trí thức nên cũng ủng hộ và tán thành cuộc tình duyên mà đã chống lại ý của ba má họ, là người giàu có nổi tiếng ở Long An. Ông bà đều phản đối, nhưng thiểu số phục tùng đa số và phục luôn tài hùng biện của hai nhà cử nhân Luật.

Mấy chục mảnh lựu đạn tránh cái miệng của Trường, để giúp anh yêu đời và với tài thuyết phục ấy còn làm hàng chục chủ lò bánh mì thùng phuy ủng hộ mua bột áo của vợ chồng Trường. Chị một chiếc xe đạp, anh một chiếc xe đạp cải tiến (có hai bánh phía sau), mỗi ngày hai luật gia “Lao động vinh quang” từ sáng tới chiều!

Mỗi khi tới nhà tôi, cháu Vinh liền mau lẹ dọn cơm để tranh thủ nghe chú Trường vừa ăn vừa trổ tài hùng biện; còn chị Trường thì cứ cười hả hả (ý bảo anh Trường nói vừa vừa thôi, coi chừng lộ tẩy!). Hai người có một cháu trai khôi ngô tuấn tú mà ba của Trường rất hãnh diện, đi đâu cũng đều tuyên bố là “Cháu đích tôn của bác và vợ chánh thức của thằng Trường”; làm bạn bè cùng khóa nghe một cách thích thú, thật vui vẻ vô cùng. Khi qua tới Mỹ, anh chị vẫn cố gắng vươn lên, hằng ngày cấp sách vô trường Đại học. Hơn 2 năm sau, chị Kiều lấy được ngành Kế Toán, còn Trường thì tốt nghiệp ngành Hội Họa với số điểm ưu hạng, được thầy cô mến phục người có tài và chí đáng khen. Chị Trường cũng là một người dâu con hiếu thảo, hết lòng phục vụ ba chồng bị mù lòa và tăng áp huyết. Báo chí ca tụng chị là “Quan Âm Bồ Tát” cứu độ Trường và gương tốt cho mọi phụ nữ Việt Nam.

Bán bột mì một thời gian thì các chủ lò xuất ngoại dần, nên việc thu nhập chỉ còn một phần nhỏ, chúng tôi lại có thêm nghề mới: làm bột năng. Mua khoai mì từ Hố Nai, Tây Ninh,…Vợ tôi mướn người lột vỏ, xay nhuyễn, bỏ vô bồng bột (bao vải), nhúng vào thau nước nhồi cho bột hòa tan trong nước. Còn bã mì thì đổ ra thùng bán cho heo ăn, hoặc phơi khô xay nhuyễn làm bột áo. Sáng ra đổ bỏ nước, lấy muỗng vớt lớp bột vàng (bột mủ) để riêng, còn lại bột trắng tinh thì đổ ra phơi. Lúc trời mưa, tôi sợ bột bị ướt thường la oé lên để mấy đứa bưng các nia bột vô nhà. Nhờ làm nghề nầy tôi có thể nhìn mây đoán được trời sẽ mưa hay không!

Tôi cũng làm đại lý thâu mua bột năng của bạn hàng từ Tây Ninh và Hố Nai. Các bạn hàng thật khôn lanh, lúc bột hiếm phải ra bến xe đón giành mua. Lúc vô mùa bột ối động, họ đổ đại vô nhà mỗi ngày hàng tấn; làm tôi phải lo tìm mối tiêu thụ trong Chợ Lớn, hoặc tới các lò làm bún tàu, bột bán,..ở Cầu Tre. Nếu để lâu bột sẽ bị nổi mốc, coi như lỗ vốn. Tôi cũng cho xay bột năng nhiễn và vô bao từng 10 ký lô, hằng ngày có ông Si, chú Biện đem xe đạp tới chở giao cho các sạp tạp hóa ở chợ, lò làm bánh Da Lợn, hoặc các hãng dệt để họ hồ bột.

Ông Si là người Khmer gốc Hoa Kiều, lúc ở Miên ông đã nghe lời ngọt ngào của tụi du kích, nên có ủng hộ tiền của. Tới khi cướp được miền Nam, vợ chồng tới gặp, chúng làm bộ như xa lạ. Ông và những người Khmer tị nạn chửi rủa Việt Cộng vô ơn bội nghĩa! Ông người ốm yếu (vì tiết giảm để có ăn lâu dài) nhưng nhờ là người Tàu, làm ăn đàng hoàng nên cũng bỏ bột được nhiều mối. Ông lấy hàng trước chờ thu được tiền mới đưa tôi.

Một hôm, vào năm 1982, ông và gia đình định trở về Miên để tìm đường đi chui qua đường Thái Lan. Họ là dân bản xứ biết tiếng Khmer, nên cứ sống như dân du mục, đi dần tới gần biên giới. Rồi một ngày đẹp trời, cả gia đình bắt đầu thực hiện kế hoạch. Họ ngày đêm băng rừng lội suối chạy vượt biên giới qua Thái Lan. Trước khi ra đi, bà vợ ngần ngại không muốn cho ông qua từ giả chúng tôi; vì còn kẹt một số bột chưa thâu tiền được để trả cho tôi. Nhưng ông là người khẳng khái, tín nghĩa, chẳng lẽ bỏ đi không từ giả người đã đem công ăn việc làm cho mình bấy lâu nay. Cuối cùng ông Si quyết định nói cho biết (thật ra nếu không nói tôi cũng thông hiểu vì vượt biên quan hệ tới nhiều sinh mạng,cần phải giữ bí mật tối đa).

Vợ tôi làm tiệc tiễn đưa, trước khi đi ông ôm cứng tôi như cảm động không muốn rời, rồi nhét vào túi cho tôi một cọc tiền như để trả nợ; nhưng vợ chồng tôi không lấy, vì biết ông rất cần số tiền nầy. Ông Si quả thật là một người biết trọng chữ tín, mấy năm trước, đang ở California, ông viết thơ về Việt Nam cho những người Khmer còn kẹt lại và hỏi thăm được số điện thoại. Ông mừng quá, vội gọi tôi và nói muốn qua thăm, vài hôm sau ông bà mua ngay vé máy bay. Khi gặp tôi, mừng rỡ như tìm lại được bạn cố tri, bây giờ ông mập mạp giống xì thẩu (ông chủ) như lúc còn bán tạp hóa ở Campuchia.

Sau ngày 30/4/75 khoảng hai năm, anh cận vệ cũ của tôi lúc còn ở Đại đội 91 Nhảy Dù là Nguyễn văn Năm, từ vùng Kinh Tế Mới xa xăm về thăm tôi. Thầy trò lâu ngày gặp nhau mừng mừng tủi tủi, Năm kể lại sinh hoạt của gia đình và anh em Tiểu đoàn 9 ở vùng kinh tế mới trong thời gian qua. Năm và một vài bạn đã rủ nhau vô rừng cưa cây, cắt ra từng khúc để đun thành than, rồi dùng xe đạp thồ (chở) mỗi người trên trăm ký; vừa đạp trên đường nhựa, vừa dắt bộ trên đường đê để tránh trạm kiểm soát; đoạn đường dài từ Tây Ninh tới sàigòn (gần 100 cây số!). Đứa con trai đầu của Năm mới 12 tuổi mà cũng theo cha chở than đem lên Sàigòn, trên một khoảng đường thật xa xăm, vất vả và đầy nguy hiểm. Nguy hiểm vì du kích thường chận đường tịch thu bắt bớ hăm dọa đánh đập giống như những tên cướp cạn.

Lúc bấy giờ chẳng khác nào chế độ sứ quân thời xưa, du kích mỗi làng xã thường sách súng ra đường đón xe đò cướp bóc, xét chận lấy những đồ bạn hàng dấu (đem về Sàigòn bán chui) như thịt heo, gà, vịt, gạo,…để đưa về cho vợ con chúng và chia nhau nhậu nhẹt hả hê! Mặc cho những người dân vì muốn kiếm tiền nuôi sống gia đình, nên phải độn đồ lậu vào đùi, vào bụng giả đàn bà có thai, nhưng không qua được những tay cướp bóc chuyên nghiệp lừa dân phản bạn nầy.

Chỉ vì muốn bảo vệ 2 bao than xương máu, nên khi đi gặp du kích gọi lại bất ngờ, Năm biết tránh không khỏi, cũng ráng chạy trong tuyệt vọng, để mong giữ được gia tài sống chết vô cùng cần thiết cho vợ yếu con thơ, đang chờ tiền để mua thuốc men và sữa cho đứa bé sơ sinh nhỏ dại. Lúc đó dù biết không chạy nhanh bằng đạn bay, nhưng anh đã quẩn trí, chỉ nghĩ đến vợ con, nếu không có tiền thì họ sẽ nguy khốn, anh không còn nghĩ tới bản thân mình nữa, chỉ cần họ được bình an thì anh có chết cũng không màng!

Rồi một viên đạn thù xuyên qua vai anh, do tên du kích cướp cạn chỉ vì bao than mà coi sinh mạng người dân như cỏ rác! Sau hơn một tháng trị thương, gia đình bị sạch vốn; vợ anh là con của Trung sĩ Chu cũng là thuộc cấp cũ của tôi, đã khuyên Năm bỏ nghề nguy hiểm nầy và thử lên Sàigòn kiếm tôi cầu cứu. Nhưng Năm ngần ngại vì ông thầy mình đang bệnh tật, dưới chế độ cướp bóc nầy không biết có tồn tại được hay không. Sẵn dịp còn yếu chưa làm gì được, anh định đi thăm xếp cũ một chuyến, còn việc nhờ cậy chắc không có hy vọng gì.

Cha con dùng hai chiếc xe đạp, đem theo mấy củ khoai mì, khoai lang, và cặp gà định đem lên Sài gòn cứu đói thầy mình. Năm không ngờ tôi như vậy mà cũng còn kiếm ăn được, suốt hai ngày ăn uống chuyện trò mà không dám mở miệng, cuối cùng anh bạo dạn nói:

– Anh Tư, tôi muốn mượn anh chị 150 ngàn (lúc đó tương đương nửa lượng vàng) để làm vốn buôn bán, nếu anh kẹt vốn thì để tôi xoay sở cách khác.

Gia đình tôi lúc đó cũng mới bắt đầu kiếm ăn được, mặc dù chưa có dư nhiều, nhưng ở chung lâu ngày, biết Năm là người tự trọng, cần cù chịu khó; chỉ vì hoàn cảnh đặc biệt mới mở miệng nhờ mình, ở thời buổi khó khăn chung của cả dân chúng miền Nam, và của gia đình binh sĩ trong chế độ cũ nói riêng.

Tôi bàn với bà xã nhín chút tiền cho anh mượn, vợ tôi bằng lòng, Năm vô cùng mừng rỡ. Chỉ một năm sau, anh đã hoàn trả đủ số tiền và còn đem cho tôi một quài chuối to lớn, do chính tay anh trồng được. Bây giờ vợ Năm buôn bán gạo lẻ ở chợ trong khu kinh tế mới, Năm lo trồng trọt và thỉnh thoảng ra chợ Gò Dầu Hạ chở gạo và hàng tạp hóa về cho vợ bán. Mỗi khi đi Sàigòn, Năm đều ghé nhà thăm, tôi thường theo dõi và rất hài lòng vì với sự chịu khó cần cù, gia đình anh mỗi ngày mỗi ổn định hơn.

Sau khi nộp đơn xin xuất ngoại chữa bệnh,khoảng hai năm thì được gọi bổ túc hồ sơ, tôi và cháu Thành tới Nguyển Du, vì bục tam cấp cao nên họ cho Thành (mới 10 tuổi) vô đại diện. Chúng bảo tôi về làm tờ tường trình bản thân. Trong một trang giấy đầy tôi cố viết các năm học từ bậc Tiểu học, tên đường, và nói bị động viên tới Đại úy rồi bị pháo kích về làm việc hậu cần (danh từ VC). Tôi dấu chuyện tình nguyện vào Võ Bị Đà Lạt, và cấp bậc thực thụ, vì hồ sơ từ Thiếu tá trở lên sẽ ra ngoài Bắc. Chúng bắt khai lại lần thứ nhì, tôi chỉ thêm phần học các trường võ thuật và các việc buôn bán nhỏ. Họ kêu tới kêu lui nhiều lần ý muốn làm khó dễ đủ điều, nhưng tôi vẫn kiên trì; rồi họ bác đơn, tôi khiếu nại. Chúng làm khó dễ, bảo chỉ cho một mình tôi đi chữa bệnh thôi. Tôi ưng chịu, VC không ngờ tôi quá quyết tâm.

Quách Vĩnh Trường và tôi qua sở Ngoại Vụ khiếu nại, ở đây gặp cô thơ ký (có lẽ là nhân viên chế độ cũ) rất tử tế và nhân hậu, lúc nào cũng ưu tiên cho người tàn phế. Thấy tôi và Trường đến đưa đơn khiếu nại, cô từ trong phòng bước ra ngoài nhận đơn và vui vẻ trả lời những câu thắc mắc của hai đứa. Một tháng sau chỗ làm thủ tục xuất cảnh thông báo gia đình tôi đã được chấp thuận và đợi ngày gọi đi phỏng vấn.

Khi ngồi ở văn phòng đợi phái đoàn Hoa kỳ kêu vào, các cô thơ ký coi hồ sơ nói:

– Chú không ở diện tứ thân phụ mẩu trực thuộc (vì người bảo lãnh là em bạn dì bên vợ!), chắc không đi được đâu!

Vợ chồng tôi nghe vậy thì vô cùng chán nản! (kể cả ông Dượng bên Mỹ cũng bảo đừng bán nhà, chắc không hy vọng đâu!) Lúc vào bên trong, sau khi hỏi lung tung, viên Trưởng Phái Đoàn Phỏng vấn Mỹ lật danh sách hồ sơ lớn bằng cái bàn, tìm luôn hai cuốn cũng không thấy tên trong sổ. Ông ta lắc đầu, nhân dịp cô thông dịch ra ngoài lấy đồ gì đó, nhanh tay tôi đưa cho ông tờ tường trình về thành tích 12 năm ở quân ngũ, trong đó có ghi hai huy chương Mỹ và huy chương Việt Nam như Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, chiến thương bội tinh, nhành dương liễu, sao vàng, sao bạc,…cùng hình ảnh sĩ quan Cố Vấn Hoa Kỳ mà Đại tá Nguyễn Thu Lương đã cho tôi. Đọc xong, ông bảo chúng tôi ra ngoài, chờ gọi về Thái Lan kêu họ dùng “Số quân”, hỏi ban hồ sơ ở Mỹ coi tôi có những huy chương Hoa Kỳ như đã ghi trong tờ giấy mà tôi vừa mới đưa không? Chừng một tiếng đồng hồ sau ông gọi trở vô và hỏi:

– Anh bị thương lật xe có được quy trách công vụ không?

– Thưa có!

Rồi tôi đưa ông ta tờ copy giấy chứng thực (khi hành quân dù bị tai nạn cũng được quy trách công vụ). Chắc ông ta đã nhận được điện thoại xác nhận cái huy chương rất cao quý của họ tức Commandation With “V” Devive kèm nhành lá liễu mà Cố Vấn Trưởng TĐ9ND đã gắn cho tôi trong trận chiến vùng Ven Đô (đối với người Mỹ, Tướng Collin Power có ngôi sao bạc họ đã cho là anh hùng rồi, còn Việt Nam thì rất nhiều người có huy chương cao quí vì họ đã ngày đêm chạm trán với địch trong nhiều năm trường). Ông đích thân đứng dậy bắt tay và rót trà mời tôi, uống ly nước trà mà lòng tôi cảm thấy mát dạ làm sao, vì từ đây tương lai ba đứa con tôi sẽ sáng sủa, bản thân tôi sẽ không còn nghe những luận điệu điêu ngoa trên đài truyền thanh, truyền hình, và nhất là những cô búi tóc Phường thỉnh thoảng cứ lại nhà dạy đời, nói móc họng:

– Hai chân anh không đi được chứ đầu óc còn vướng nhiều tư tưởng Mỹ Ngụy lắm!

Khi đi khám sức khỏe bác sĩ thấy phim quang tuyến có nhiều mảnh đạn còn trong mình tôi, ông ta hỏi:

– Trong nầy có nhiều mảnh đạn, lúc trước anh đã đi quân đội phải không?

Tôi sợ bị làm khó dễ nên nói dối:

– Đây là những mảnh bị pháo kích từ Tết Mậu Thân!

Nhìn tướng tôi một lúc, ông ta hỏi gằn:

– Anh cứ nói thiệt tình đi.

– Phải, lúc trước tôi có đi lính.

– Lính gì, nhìn tướng anh có vẻ không phải lính trơn?

– Tôi là cựu Thiếu tá Nhảy Dù.

– Như vậy mới được chứ, anh đừng lo tôi sẽ phê tốt cho.

– Cám ơn Bác sĩ!

Sở nhà đất nói sĩ quan Dù nhiều nợ máu không được bán, tôi đành ký giấy hiến nhà và phải đưa cho chúng một ngàn đồng; mới có giấy xác thực để không bị khó dễ tại phi trường! Trong khi diện ưu tiên cao như chồng vợ thì đợi tới 4 tháng, còn tôi được xếp vào diện “Nhân đạo đặc biệt”, chỉ một tháng là đã có chuyến bay! Khi đã biết chắc ngày lên đường, tôi bao một chiếc Taxi quen chở cả nhà về quê thăm gia đình hai họ.

Một tuần lễ thăm quê mẹ lần chót ở Vĩnh Bình; bà con, bạn bè thay phiên đãi tiệc tiễn đưa, trong số bạn thân, có anh Nguyễn Thành Chiến “Vừa là tri kỷ vừa là tri âm”. Lúc còn học Đệ Thất trường tỉnh, Trần Trung Tiên, thấy Chiến mồ côi cha mẹ sớm, ngày nào cũng đem cơm theo từ quê đạp xe tới trường, đoạn đường dài 9 cây số dưới trời nắng chan chan.

Lúc đó ảnh hưởng Pháp, các trường đều dạy 2 buổi. Tôi bảo anh mỗi ngày tới nhà nghỉ trưa và cùng nấu cơm nóng ăn với tôi. Vì má tôi có sạp bán guốc ở chợ, nên hai đứa phụ trách nấu ăn, Chiến lãnh phần làm cá, lột tép, rửa rau; còn tôi nấu cơm và nêm nếm (chơi gác bạn rồi!) Mỗi lần nấu xong tôi nếm tới no bụng luôn!

Chiến tánh tình hiền lành và tốt bụng, bạn bè ai cũng thương mến. Sau khi xong Đệ Nhứt Cấp, Chiến vào Sư Phạm còn tôi lên Sàigòn ở nhà trọ để tiếp tục học. Lúc mới ra trường làm thầy giáo với lương chỉ 4 ngàn đồng một tháng, vậy mà anh cũng tự động gởi cho tôi 1 ngàn/tháng. Má tôi cho 1500$/tháng mà tiền trọ chỉ có 800$/tháng, nên tôi lúc ấy cũng không thua kém vì anh Thống, công tử Bạc Liêu, ở trọ chung nhà. Trong đám cùng ở trọ, đứa nào cũng trượt một vài keo mới lấy được mảnh bằng Tú Tài Toàn Phần, còn tôi vì thấy má buôn bán cực khổ và tấm thạnh tình của Chiến, nên ráng học và thi keo nào trúng keo nấy.

Sau nầy Chiến bị Động Viên đi khóa Hạ Sĩ quan ở Quang Trung, tôi có chở bà xã, đang mang bụng bầu to lớn, lên thăm Chiến, nhưng vì đợi chờ lâu quá, vợ tôi xỉu nên phải đi về. Lúc đó tôi có gởi tiền lại cho Chiến, anh nhận được vài lần rồi bảo ngưng. Sau ngày mất nước, Chiến làm ăn thất bại, lên nhà tôi mượn một lượng vàng làm vốn buôn bán, bà xã rất sẵn lòng vì nghe tôi thường kể về người bạn tâm giao nầy. Vài năm sau Chiến làm ăn được, vội đem 5 chỉ tới trả nợ trước, phần còn lại sẽ trả sau. Chúng tôi nói phần nầy khỏi đưa nữa, vì lúc trước còn nợ bạn thanh toán chưa hết.

Chiến từng viết trong lưu bút ca ngợi tôi tốt với bạn bè, nhưng sự thực so với anh thì tôi còn thua rất xa. Tôi rất quý bạn bè, trên quảng đường đời, gặp rất nhiều bạn tốt, nếu mình vì mọi người thì mọi người cũng vì mình. Đó là phương châm mà tôi hằng noi theo để cư xử với bè bạn và mọi người xung quanh.

Ở Trà vinh một tuần lễ, gia đình tôi đi cúng mộ Ba tôi và Má vợ; rồi nhiều bà con và bạn bè cùng đưa lên Sàigòn. Nhạc gia cho một cặp dê, bà con hai bên đem nào là cua, tôm, gà, vịt,…và đích thân hai tay nấu ăn giỏi là Cô Hai Néo và anh Hai Sang đứng bếp nấu đãi bạn bè lối xóm hơn một trăm người. Trong đó có anh Sáu Lương, anh Triệu, cò Thu, anh Nhàn, ông cụ Hiếu,… Bà tổ trưởng hỏi sao không mời những người bên Phường, tôi mỉm cười ngụ ý cho bà biết là:

Đồ ăn ngon

Chỗ ngồi ăn ngon

“Người ngồi ăn không ngon”

…..Không ngon!!!

(Tản Đà)


Những tên bị nhiễm chủ thuyết lừa thầy phản bạn, đã hùa nhau hành hạ các chiến hữu của mình mà lại mời họ dự tiệc tiễn hành ư ? Như vậy thì cari dê, rượu dê, heo quay, ếch sào lăn, tôm càng, và cua rang muối,…sẽ làm cho bà con, bạn bè, xóm giềng,.. nuốt không trôi khi bị ngồi ăn chung với họ.

Sáng hôm sau ba xe bus mà tôi đã thuê đến chở bà con, lối xóm, bạn bè (trong đó dĩ nhiên có Chiến) để đưa tiễn gia đình tôi ra phi trường. Bà cụ nhà đối diện, má của cựu Trung tá Tôn thất Hiếu Truyền Tin SĐND, và bà Sáu đã ôm vợ tôi khóc một cách ngon lành. Mười bốn năm ở đây, chúng tôi đã gây được thiện cảm với bà con lối xóm, lúc làm ăn phát đạt, chúng tôi thường giúp đỡ những người bị khó khăn.

Như trường hợp anh Trịnh Hữu Ân, khi ở tù về, phải chạy ăn thật vất vả để nuôi vợ con, dù mệt nhọc cực khổ, nhưng ngày nào anh cũng không quên mua quà bánh về cho các con. Vì những ngày đói khổ ở trong tù, mỗi khi chán nản, anh thường nghĩ đến Tí Chị, Đức, Tí Em, Tí Hon. Vì chúng là niềm an ủi mà anh đã hết lòng yêu mến trong suốt cuộc đời đầy bảo táp, phong ba nầy! Tôi thấy nhạc gia anh già yếu nên thường giúp tiền cho ông bồi bổ, những người xóm giềng kẹt tiền thì chúng tôi lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ. Ông cụ Tôn Thất Hoàng rất thương gia đình tôi; mỗi lần đi thâu tiền về trễ, ông thường đứng trước cửa trông ngóng vì xe tôi ưa hư vặt (chạy tới gãy cốt xe mấy lần, thật nguy hiểm!). Cụ đích thân qua sửa dùm, mặc dù tuổi đã trên bảy mươi mà vẫn còn mạnh mẽ.

Lúc từ giả mọi người, từ trong phòng kiếng tôi thấy một bàn tay thiếu ngón đang cố nhón lên vẫy chào; biết đó là bạn thân Quách V Trường, khiến tôi ứa nước mắt, nguyện khi tới Mỹ, sẽ lòng dùng hết khả năng vận động giúp bạn toại chí (tôi thường tin tưởng quyết tâm của mình, hễ mà hứa thì phải cố gắng làm cho được). Ngồi trên máy bay mà tôi vẫn còn liên tưởng đến ngày nào hai đứa cùng dầm mưa đứng trước Sở Ngoại Vụ, Nguyễn Du, và Nguyễn Trải. Trường đã chịu bao nhiêu gian khổ, gánh nhiều nỗi đắng cay! Có những buổi trưa hè nắng gắt, hoặc những ngày mưa gió bão bùng, anh phải cầm đơn chầu chực bọn cầm quyền để mưu cầu một tờ giấy xuất cảnh.

Khi tôi bắt đầu nộp đơn thì Trường đã có giấy nầy, anh đã mòn mỏi trông chờ ba đứa em ruột ở Pháp và Mỹ. Chờ tới dài cổ, mà chẳng có một tia sáng ở cuối đường hầm. Nhìn bàn tay thân thương của anh, tôi có quyết tâm tự nhủ: “Yên chí đi Trường, hãy tin tưởng thằng bạn nầy, có thể làm lai chuyển lòng nguội lạnh của các đứa em. Hơn bốn năm qua, đã không đáp ứng lời kêu gọi của người anh đang kẹt lại quê nhà”!

Lòng đã quyết, tâm chẳng sờn, gót chẳng lui! Người ta chỉ sợ lòng người ngại núi e sông! Nhưng khi núi sông đã không còn là chướng ngại nữa, em gái của Trường sau khi nghe tôi trổ tài thuyết phục (nhờ ảnh hưởng nhà hùng biện của Trường), bằng lòng làm giấy bảo lãnh.

Thế là khi núi sông không còn là những chướng ngại nữa thì Trường và vợ con không khác gì con chim xổ lồng, tung cánh giữa sự đùm bọc, che chở của thân quyến và bạn bè!

Đối với một người lính, cuộc chiến đấu bằng súng đạn mới chỉ là một phần đời. Khi đã đánh trận thì không ai đám bảo đảm sinh mạng mình an toàn trước viên đạn thù, hoặc ít nhất cũng bị thương tật. Trường hợp những người lính bị thương tật như Nguyễn Văn Tuân, Trường, Sơn, Lạc, Linh, và tôi, thì cuộc chiến đấu chính bản thân mình, với sự tuyệt vọng ở tinh thần, niềm đau đớn nơi thể xác,..sẽ là phần đời thứ hai, khó khăn hơn và cam go hơn mọi người khác rất nhiều!

Chương 5
Những Ngày Trên Đất Mỹ
1. Bước Đầu Tha Hương.

Chiếc máy bay của hãng hàng không Air France vừa cất cánh, tôi cố nhìn qua cửa kiếng ngó lại Quê hương lần chót: kìa đám nhà tôi, nhà thằng Nhàn, và nhà Cụ Hiếu ở Cổng C, trại Hoàng Hoa Thám, mà lúc trước mỗi lần mang dù lên bãi nhảy, tôi thường liếc mắt nhìn xuống cho tới quen thuộc luôn. Giờ đây vĩnh viễn xa nó, bỏ lại biết bao nhiêu bạn bè thân thuộc, những kỷ niệm êm đẹp từ thuở học trò, và bao cơn ác mộng khi sống dưới chế độ Cộng Sản!

Phi cơ cất cánh hơn 15 phút mà tôi vẫn còn lo sợ hảo huyền, có thể nào họ gọi quay trở lại vì mình còn thiếu giấy tờ nầy nọ không? Suốt 9 năm sống với bọn vô thần, tôi cũng như những người dân khác lúc nào cũng lo sợ phập phồng. Tới khi phi cơ đáp xuống phi trường Thái Lan thì tôi mới yên chí là mình đã được tự do hoàn toàn, được thoát khỏi cảnh địa ngục đen tối; tia sáng cuối đường hầm đang lóe lên phía trước!

Tôi hít một hơi thật dài khoan khoái và bắt đầu quan sát xung quanh; thấy xứ nầy chỉ cách nước ta vài tiếng đường bay, mà sao họ phồn thịnh và văn minh xa hơn Việt Nam nhiều quá vậy? Họ có xa lộ cao tốc, xe cộ đầy phố; người phu quét đường, những cô y tá cũng có xe hơi làm phương tiện di chuyển đó đây. Sau khi làm thủ tục, họ chở tôi và cháu Tâm cùng những người già yếu bệnh tật đi tới một Bệnh Viện cách Phi trường khoảng 1 giờ xe. Ngồi trên chiếc Bus sạch sẻ đầy tiện nghi, thấy tài xế chạy trên xa lộ nhanh vùn vụt và cứ giữ theo lề trái, khác với hệ thống giao thông ở Việt Nam. Tôi sợ hãi, cứ nhắm mắt không dám ngó, tưởng xe sắp đụng đến nơi!

Ở bệnh viện vài ngày thì phái đoàn Mỹ đến làm thủ tục bổ túc hồ sơ, đặc biệt họ có trả lại các hình ảnh quân đội quí báu mà trước kia tôi đã gởi qua Thái Lan theo đường bưu điện. Thực đơn Thái Lan thường để thêm nước cốt dừa và ớt, ăn rất ngon, vì trước kia ở Huế tôi đã quen ăn ớt trấy với món tôm chua, thịt luộc, và trái vả. Nhưng lúc đó tôi bị trở ngại về đường đại tiện, chỉ có vô mà không đường thoát thì thật khổ sở vô cùng!(vì thường khi hai ba ngày vợ tôi giúp rửa ruột một lần), bây giờ đã gần một tuần mà không ra được cục “Thuốc tể” nào, nên bụng lình bình no hơi không muốn ăn gì hết! Hai hôm sau, phi cơ vận tải phản lực 747 đưa gia đình đến San Francisco. Tại đây tôi vô cùng ngạc nhiên vì phi trường quá to lớn vĩ đại, máy bay lên xuống liên tục, ngoài đường xe cộ đông nghẹt. So với Thái Lan thì xứ Mỹ còn phồn vinh gấp bội. Chúng tôi giống như chú mán về thành, gặp gì cũng muốn nhìn. Phái đoàn đại diện ICM chở mọi người về nghỉ đêm tại Motel, riêng gia đình tôi đợi sáng đổi máy bay đi Florida, nơi Tuấn Anh, con bà Dì, là người đứng tên bảo lãnh. Tối hôm đó Tâm, Thành, và Thiện mở TV coi chương trình hoạt họa suốt đêm, nhất là Thiện thích coi hoạt họa và comic tới bây giờ hai mươi mấy tuổi đầu mà vẫn còn đam mê!

Khi đến phi trường Fort Lauderdale ở Florida thì được gia đình Dì Sáu ra đón, Tuấn Việt chở chúng tôi về tới nhà, nhìn đồng hồ đã điểm 11 giờ đêm. Dượng Sáu biết ngồi máy bay lâu mệt nên đãi ăn cháo gà cho nhẹ bụng, mọi người đều hết lòng chỉ dẫn. Nhất là Mợ Dõng thấy tôi ngồi cặm cụi viết hết lá thơ nầy tới lá thơ khác vì còn quyến luyến bạn bè thân thuộc, nên mua tem để sẵn thật nhiều. Việt và Dõng chở đi làm thủ tục xin trợ cấp và khám sức khỏe, ai nấy đều tận tình giúp đỡ cho gia đình tôi trong lúc khó khăn của thuở ban đầu trên xứ lạ quê người nầy.

Nghe tin tôi đến Mỹ, ngay hôm sau, hai anh Lý Hải Vinh và Phạm Ngọc Thạnh, Khóa 22 ĐL, đã sách xe chạy ngược từ West Palm Beach tới North Lauderdale, để chở tôi lên Orlando họp mặt cựu sinh viên sĩ quan Võ Bị Đà Lạt tại nhà anh Vàng Huy Liễu, cùng khóa với Vinh và Thạnh. Tại đây Niên Trưởng Long và bạn cùng khóa Nguyễn văn Hơn đã đề nghị hội viên giúp đỡ để gia đình tôi được sớm ổn định trong giai đoạn đầu. Hai hôm sau, Việt chở cả gia đình xuống Miami để lãnh tiền USCC cho mỗi đầu người 300 đô, tôi hỏi anh đại diện hội Thiện Nguyện về vụ bảo lãnh. Anh Hồ Kim Sanh nói muốn lãnh bao nhiêu người cũng được, ngoài tứ thân phụ mẩu, như vợ chồng, mẹ cha, anh em, con cái, những người khác phải là quân nhân (sĩ quan tù cải tạo).

Ngay đêm đó, tôi tranh thủ điền các mẫu USCC cho thân nhân và bạn bè như Lâm Sanh Kim, Nguyễn văn Triệu, Vũ văn Luông, hơn 40 người,…và điền sẵn mẫu bảo lãnh cho Quách Vĩnh Trường, chờ vận động giải thích cho em rể Trường. Tôi đã copy các giấy tờ chứng nhận lãnh trợ cấp gởi cho em gái ruột của Trường hiện đang ở Delaware, một Tiểu bang thuộc miền Bắc nước Mỹ. Tôi rất thông cảm họ, vì ít ai dám lãnh của nợ (lúc còn tại Việt Nam tôi rất ao ước và chờ đợi tới 2 năm mới được tờ USCC nầy để bổ túc hồ sơ). Trường đã có giấy xuất cảnh đi Pháp, nhưng đứa em bên đó đổi ý, nên khi có giấy USCC, anh xin chuyển cảnh và qua được mau vì khỏi cần làm lại từ đầu. Khi Kim và Triệu gần qua, vì tôi không tự lái xe được, nên đùn về California cho anh Bùi Đức Lạc, Chủ tịch Hội Gia Đình Mũ Đỏ. Anh Lạc là người rất tốt, khi nghe tôi qua anh đã giúp đỡ, những hồ sơ bảo lãnh tôi nhờ, anh đều sốt sắng nhận lời (có rất nhiều người miệng cứ ba hoa nói chính trị nầy nọ, nhưng nghe tới giúp đỡ hoặc bảo lãnh người khác thì co cổ rút đầu!). Anh giúp đỡ rất nhiều người, một phần cũng nhờ sự ủng hộ của chị Lạc.

Sau khi có đủ tiền đóng tháng đầu tháng cuối cho Apartment, tôi quyết định tự mướn nhà, vì không muốn lợi dụng lòng tốt của anh Các quá lâu, mong trả lại nếp sống riêng tư của người chiến hữu Không quân tốt bụng nầy.

Ngoài ra anh Tòng nghe gia đình tôi vì lãnh sớm tiền USCC nên bị cúp trợ cấp An Sinh Xã Hội (Welfare và Food Stamps) ba tháng đầu. Anh đã vận động các đồng hương giúp đỡ tiền nhà mấy tháng đầu. Một tuần sau, ở Miami cộng đồng có tổ chức ngày Quốc Hận, gia đình Dượng Sáu chở tôi đi dự. Sẵn dịp ban tổ chức mời tôi lên khán đài cho anh Cường phỏng vấn về tình trạng ở quê nhà. Ở nhà Dì Sáu được hai tuần thì anh Dương Văn Các chia cho hai căn phòng với giá tượng trưng thật rẻ, khoảng 1 tháng sau tôi mua được chiếc xe cũ hiệu Dodge, đời 1976 (tôi qua Mỹ ngày 14/4/84). Tâm lúc đó 16 tuổi nên cùng me nó tập lái xe, thỉnh thoảng tôi lên ngồi ghế trưởng xa cho họ tập dượt . Bà xã tôi hơi nhát gan, mỗi khi thấy xe cảnh sát là quýnh lên muốn lái xe leo lề luôn. Hai tháng sau cả hai đều có bằng lái. Lúc đầu đi học Anh Văn, có ông Mỹ ở gần nhà anh Các, mỗi đêm tới đưa rước đi học tại trường Middle School ở Margate.

Ba tháng sau, nhờ Đệ, em của Thạnh, ghi tên học trường nghề cho vợ chồng tôi và cháu Tâm vào buổi tối. Thành, 14 tuổi, và Thiện, 12 tuổi, mỗi buổi sáng có xe bus đưa tới Pompano Beach học ở trường Middle School; còn Tâm thì học High school.

Lúc đó tôi lật sổ điện thoại hỏi việc làm tại nhà hàng Tàu thì gặp bà chủ tên Nữ, có chồng là anh Minh, biết là đồng hương vừa mới qua, nên mời tới đãi ăn cơm tôm hùm rang muối, rồi mới cho vợ tôi làm; hằng ngày chị đích thân đưa rước, anh chị thật là người tử tế và phúc hậu. Còn cháu Tâm cũng được chủ nhà hàng Wangfu cho làm bus boy.

Những ngày đầu vợ tôi hơi tủi thân khóc thầm, vì dù sao ở Việt Nam từng là bà chủ, tiền bạc vô ra như nước (mấy năm gần đi, VC quá khôn ngoan quỷ quyệt, nắm gọn tất cả nên không làm ăn gì được, chúng tôi cứ bán vàng ra xài gần tiêu vốn, chỉ còn một ít mua được mấy bộ sơn mài đem qua Mỹ). Tôi làm cha làm chồng mà ngày nào cũng ngồi xe lăn nhìn cảnh vợ yếu con thơ đi làm đêm khuya cực khổ! Lòng cảm thấy khó chịu vô cùng!

Sau ba tháng học xong lớp Assembly tại trường Florida Atlantic Vocational, chúng tôi tiếp tục học lớp Technician. Bà xã học nghề Upholstery (may đóng ghế salon), tôi và cháu Tâm thì học lớp Electronic Industrial (Tâm học lớp nầy cũng được tính vào chương trình High School).

Lúc đầu coi một trang của cuốn DC test book, tôi phải cặm cụi tra tự điển, rồi lấy viết chì ghi hết ba phần tư tờ giấy. Thầy giảng thầy nghe, tôi ngồi như phỗng đá, như đờn khảy tai trâu, không hiểu gì hết; vì họ nói quá nhanh, toàn danh từ chuyên môn. Nhờ ngày nào cũng tra tự điển và ghi chú, dần dần những chữ đã tra hai ba lần thì thuộc; ban đầu mỗi ngày chỉ coi được một trang sách. Rồi tăng lên hai trang, ba trang,…sau hai tháng thì tôi có thể đọc được 10 trang. Bây giờ thì mỗi trang chỉ cần tra tự điển chừng năm mười chữ, tôi thường căn cứ những thí dụ trong bài giảng hoặc trong các sách họ, để tập làm exercises, experiments, và home works. Tâm còn trẻ nên hấp thụ nhanh hơn cha, trong khi cháu đi làm đêm, tôi ở nhà soạn bài, để sáng vô trường tôi giảng lại những gì đã biết, còn Tâm thì nghe hiểu được lời thầy giảng và hỏi thêm bạn Mỹ cùng lớp rồi nói lại cho tôi.

Hai cha con biết mình còn thua kém về sinh ngữ, nên cố gắng siêng năng sao cho theo kịp bạn học. Hai tháng đầu học xong cuốn DC (Điện một chiều). Tuy ở Việt Nam có học qua, nhưng ngành điện tử ngày càng phát triển, Transistor từ dạng vacuum tub (bóng đèn chân không) bây giờ thì chế bằng chất bán dẫn như silicon. Tiếp theo là điện hai chiều AC (Alternative Current); phần nầy tương đối khó hơn dòng điện một chiều. Nó giải thích tại sao điện xoay chiều mà có thể đi qua hai cực bằng kim loại bị ngăn cách bởi khoảng không cực nhỏ như Capacitor (Tụ điện). Dựa theo “Nguyên lý hai cực cùng tên đẩy nhau”, khi điện tích âm (electrons) trong đầu kim loại của Tụ điện bị đẩy qua cực bên kia và lập tức được điện dương hút đưa tới dây dẫn điện, và cứ thế lập lại từng chu kỳ, thế là ta có dòng điện chạy liên tục.

Trong khi đó bà xã học bên lớp bọc nệm, gặp ông thầy tốt bụng và học trò siêng năng cùng khéo tay, nên chỗ nào không hiểu thì ông ra dấu (vì có nhiều học trò Nam Mỹ cũng kém Anh ngữ). Học được hơn sáu tháng thì ông giới thiệu cho đi làm, coi như thực tập, khi đủ giờ nhà trường sẽ phát bằng Technician về ngành Upholstery.

Mỗi buổi trưa chúng tôi ra xe ăn cơm (mang theo), tôi tranh thủ vừa nằm vừa ăn, vì ngồi lâu không đi đứng dãn gân cho máu chạy điều hoà như người thường, nên máu dồn rất khó chịu. Hai mẹ con nhường cho tôi nguyên băng sau để ngã lưng, cả ba vừa nghỉ vừa tranh thủ lấy bài ra học.

Tới môn thứ ba là Semiconductor, lúc nầy hai cha con tôi đã thuộc nhiều từ ngữ Anh văn, mỗi ngày có thể đọc được vài chục trang. Đầu óc tôi cứng ngắc, nên phải đọc đi đọc lại nhiều lần gần thuộc luôn, để từ từ (chứ không nhanh lẹ như tuổi trẻ) nhớ lại và dùng tới khi cần. Trong những ngày theo lớp điện tử, ông thầy có đề nghị nhà trường cắt cử một cô giáo dạy thêm, Văn phạm Anh Văn và nghe thính thị Anh ngữ, mỗi ngày một giờ. Nhờ vậy sau nầy lên Đại học chúng tôi bớt bỡ ngỡ về các lớp Essay (cách đặt câu và tập làm Văn). Khoảng sáu tháng thì xong quyển thứ tư là Communication, lúc nầy thực tập rất nhiều, mỗi lần học hết sách thì ông thầy cho thi test, nếu trên điểm trung bình thì mới được học cuốn tiếp.

Học hết môn thứ năm là Microprocessor, giáo sư thấy điểm test của tôi càng ngày càng cao, không biết ông báo cáo thế nào mà một hôm nọ có phóng viên truyền hình tới lớp học quay phim và phỏng vấn. Hôm sau trên đài số 10 có chiếu cuộc thâu ảnh nầy. Thầy thấy chúng tôi siêng năng tiến bộ vượt bực, nên mấy môn sau, ông tặng sách còn mới tinh, nhờ đó tiết kiệm được một ít tiền.

Sau khi học xong cuốn Linear systems, Digital, và Communication thì được dự lễ phát bằng. Ông thầy đích thân đưa tôi lên khán đài nhận văn bằng, trong danh sách tốt nghiệp có đánh dấu cho tôi hạng Danh Dự. Gia đình tôi đã chụp chung hình với người thầy tốt bụng, lúc nào cũng nâng đỡ khuyến khích tôi trong giai đoạn khó khăn mò mẫm Anh ngữ từ những ngày đầu!

Sau khi lãnh bằng Technician ở trường Vocational, tôi và Tâm theo danh sách các hãng điện mà thầy đã copy cho, chúng tôi thức dậy sớm khởi hành từ 7 giờ sáng, chạy xe vòng vòng ghé hỏi vài hãng điện nhưng chưa có kết quả, đến trưa thì tới hãng Computer Product. Họ phỏng vấn Tâm tại chỗ và nói lương bắt đầu là $4.50/giờ, chờ đủ hai tháng sẽ cho lên $6/hr. Vì cần việc làm nên Tâm nhận chịu. Còn tôi họ chê handicap (tôi nghĩ vậy thôi) nên không ai ngó tới.

Lúc nầy thì Thành và Thiện vì học nhảy theo tuổi nên hơi chới với trong 6 tháng đầu; nhưng rồi giống như cuộc chạy đua, hai đứa đã rượt kịp toán cuối cùng (Điểm D), và tăng vận tốc dần lên bắt gần kịp toán thứ nhì (điểm B). Qua năm sau, ba đứa nói tiếng Anh trôi chảy, và bắt đầu có nhiều điểm A. Thành thì nhảy lớp và học bốn năm thì tốt nghiệp, nên điểm B nhiều hơn A, không có điểm C hoặc D. Còn Thiện nhờ có thời gian, nó đã lấy mấy lớp Honors và Advances nên tốt nghiệp High school top ten percent.

Một cánh hoa Dù

Trương Dưỡng

Post by Sơn râu 27 Apr 2024

b). Xuất Viện Về Nhà.
Sau khi về nhà được một tháng thì có Tý, chồng của cô Tánh, là em họ của bà xã đến thăm. Tý ở Chợ Lớn là tay buôn bán lành nghề, chú chỉ tôi cách sinh lợi là thu mua sắt vụn rồi sẽ đưa người tới chở đi bán cho hãng nấu thép. Lúc đó nhờ mới trúng số nên có tiền mở địa điểm mua sắt vụn tại nhà.

Gia đình binh sĩ nghe tin, vội đem mấy thùng phuy lủng, vỉ sắt mục sét, đồ sắt vụn,… đến cân bán ào ào, chẳng mấy chốc sân bên hông nhà chất cao ngất toàn là sắt phế thải. Tý gọi người đem xe tới chở được vài chuyến thì sắt vụn trong trại gia binh hết sạch, đành phải kiếm nghề khác. Lúc đầu An Ninh định cản trở họ mót sắt vụn ra kiếm thêm chút cháo, may nhờ Thiếu tá Triệu (sau khi chữa hết phỏng về làm Chỉ Huy Tổng Hành Dinh) can thiệp nên tôi cũng kiếm được chút ít (cám ơn nhiều nhe anh Triệu). Lúc đó Đại Úy Võ Tính, sĩ quan truyền tin, cho tôi một cuộn dây và Thiếu tá Ngọc, Tiểu đoàn trưởng TĐ2ND, cho người kéo dây điện thoại xuyên qua doanh trại tiểu đoàn, nhờ vậy tôi ở nhà mà cũng có thể liên lạc được bạn bè. Có một phế binh đã giải ngũ chạy xích lô, thay vì đem xe vào nhà ở trong trại Hoàng Hoa Thám, anh đã đem gởi tại nhà tôi, để buổi chiều cậu em vợ, chở đi vòng vòng giải khuây.

Một hôm tôi đem cán dao đi hàn ở tiệm trên Hương Lộ 14, gần chợ Tân Bình. Bác thợ hàn cũng là chủ nhà, đang hàn mà mắt đỏ ngầu, thỉnh thoảng có vài giọt nước mắt chảy xuống ướt hai gò má. Tôi tò mò hỏi thăm.

Lấy tay vội lau nước mắt, ông nói:

– Tôi đang nhớ đến thằng con đang đánh giặc ở Thường Đức. Mấy đứa bạn của nó về nói ở đó đang đánh lớn lắm, có rất nhiều thương vong! Tôi sợ nó bị điều gì thì cả nhà sẽ khổ lắm!

– Bây giờ thời chiến loạn, ai cũng phải đi linh?

– Nhà tôi mở tiệm hàn; nó là thợ chánh, còn tôi thì mắt đã loà; từ ngày nó đi lính, mọi chuyện điều bế tắc.

– Con bác đi lính gì?

– Nó đi Nhảy Dù.

– Như vậy là tại nó tình nguyện chứ đâu có ai bắt buộc?

– Nó tới tuổi Quân Dịch, nên đăng lính Nhảy Dù vì hậu cứ ở Sàigòn, gần nhà; vả lại nó cũng thích lính Nhảy Dù nữa.

Tôi trả tiền hàn xong, định bảo Cậu Bảy (em vợ) lái xích lô về. Bỗng tôi chợt nghĩ có thể giúp bác thợ hàn được, nên nói bác thử ghi tên họ và số quân, may ra có thể lo được. Ông lão nghe nói mừng rỡ, như gặp tia sáng dưới đường hầm, nhanh chân vô nhà ghi vội vã. Rồi mặt mày hớn hở, hai tay cầm mảnh giấy đưa cho tôi và nói:

– Nhờ ông giúp đỡ xin cho cháu được về Sài gòn tôi thật biết ơn vô cùng!

Tôi cầm mảnh giấy bỏ túi; vài ngày sau đi lên hướng Bà Quẹo, thấy Tướng Lưỡng đang đứng trò chuyện với các sĩ quan đệ tử ở trước sân. Tôi ghé vô chào, ông hỏi thăm đủ điều, có vẻ rất quan tâm, tôi lúc đó rất cảm động, cuối cùng ông hỏi:

– Dưỡng ở nhà có cần gì cứ gọi thằng Nhu (bạn cùng khóa, hiện làm Trưởng Phòng 1).

Sẵn đó tôi xin Sư Đoàn cấp cho một xe Jeep và một tài xế để chở đi đây đó. Tướng Lưỡng là thầy cũ, ông rất thương yêu thuộc cấp, vì vậy vị Tư Lệnh gật đầu chấp thuận mau mắn:

– Tôi sẽ bảo thằng Nhu lo cho.

Sau khi từ giã mọi người, tôi tiếp tục đi lên hướng Bà Quẹo. Hai hôm sau, tôi gọi điện thoại cho Nguyễn Thành Nhu xin đích danh tên Đặng Văn Y, con của bác thợ hàn.

– Mầy yên chí tao sẽ lo cho, cần gì cứ gọi vào đây.

Nhu là thằng bạn tốt, vì bị thương nhiều lần nên được về làm chỗ không nguy hiểm như lúc còn ở đơn vị tác chiến. Sau ngày mất nước nó đã vượt biển tìm tự do, nhưng chẳng may bị mất tích để lại vợ con còn kẹt lại tại quê nhà!

Một tháng sau, binh nhì Y được về Sàigòn, anh dẫn bố lại và mang theo quà định đền ơn; nhưng tôi từ chối. Sau ngày mất nước, Y thấy cổng nhà bị hở hang, sợ trẻ nhỏ hoặc kẻ trộm vô nhà phá phách; bố anh bảo chở giàn máy đến hàn vá thật chắc chắn. Mặc dù không còn liên hệ thầy trò, nhưng Y thỉnh thoảng vẫn đến thăm tôi, thật có tình có nghĩa!

Hết nghề thu mua sắt vụn, bà xã tôi xoay qua nghề bán gạo, anh chị Hiền có lại ủng hộ dùm một bao gạo thơm. Khi còn ở TĐ9NDø, bác sĩ Hiền là người chịu chơi nhứt trong các bác sĩ Dù mà tôi đã gặp. Lúc mới về đơn vị thay thế bác sĩ Thiện, anh đã hòa mình ngay với sĩ quan trong tiểu đoàn; những buổi nhậu của chúng tôi đều có anh tham gia và tửu lượng khá cao, mọi người đều rất mến anh. Khi nghe gia đình tôi mới qua Mỹ, từ California xa xăm anh cũng gởi tiền giúp và chúc tôi sớm ổn định trong những ngày chân ướt chân ráo tại đất khách quê người. Mặc dù bây giờ anh chị đã khá giả, nhưng nghe nói hễ gặp đám TĐ9 cũ như Mễ, Tâm, Thành là cố mời tới nhà nhậu để hồi tưởng lại những ngày cùng ngồi bên nhau uống rượu đế với khô mực, khô cá khoai, và soài sống chấm mắm ruốc!

Bán gạo được vài tháng thì thua lỗ gần hết vốn, vì không có địa thế tốt, tôi lại chuyển qua nghề bán củi bìa. Một hôm đi ngang qua Tổng Tham Mưu, thấy ngôi biệt thự đối diện có những bó ván nẹp chất đầy sân, tôi ghé vào thấy bên trong họ đang đóng thùng để đựng đồ sành, đồ sứ như ghế đôn, chậu, con voi. Tôi hỏi ông quản lý về việc cung cấp ván nẹp, ông Hai ghi địa chỉ và nói khi nào rảnh sẽ tới bàn chi tiết, vì ông nói củi bìa có thể mót cưa thành những miếng nẹp bản nhỏ mà ông đang dùng và giá thành lại rẻ, như vậy hai bên đều có lợi.

Vài ngày sau ông tìm đến nhà, thấy gia cảnh như vậy, nên khuyến khích tôi làm bàn cưa tròn để xẻ củi bìa thành các miếng nẹp theo thước tấc chỉ định, còn phần vạc bỏ thì để bán củi vụn. Tôi hứa với ông Hai sẽ làm một đợt cho coi thử, nhưng không ai rành nghề thợ mộc! Tôi điện thoại nói Phạm Thái Hóa Khối Bổ Sung, cho mượn thợ mộc tới chỉ những cậu trẻ tay ngang mà tôi thuê như “Thợ vịn”, vì đâu biết có làm được lâu dài không mà kiếm thợ giỏi. Hóa, K20ĐL, cho binh nhì Ninh ra giúp vài ngày, chỉ cho Chương và Thanh cưa ván nẹp. Giao hàng đợt đầu tuy không hoàn hảo nhưng bà chủ và ông Hai đều là người phúc hậu, họ nhận hàng và đặt tiếp.

Sau đó tôi đi tới hai chỗ bán đồ sứ ở đường Võ Di Nguy, Phú Nhuận và đưa hàng mẫu, ở đây chỉ mua thùng chứ không mua ván nẹp. Sau khi thương lượng giá cả xong, tôi về huy động những người lối xóm đang thất nghiệp. Trong đó có anh Bộ, thương binh Dù bị cụt hai chân, và con của Trung sĩ nhứt Lớn, thuộc cấp của tôi, xúm nhau ngồi đóng gia công (làm nhiều ăn nhiều làm ít ăn ít). Rồi từ tay ngang, tôi ngồi trên xe lăn mà vẫn có thể điều động quản lý mọi việc, bà xã tôi lo đếm tiền, phát lương, và nấu ăn.

Bây giờ làm ăn cũng kha khá, từ việc bán củi bìa, nay đã có hai giàn cưa máy chạy ngày đêm; từ việc bán nẹp giờ đây có thể đóng thùng và nhận vô bao bì xuất khẩu. Thợ đóng thùng từ hai người lên mười hai người, ai cũng cố đóng nhanh để chiều nhận nhiều tiền, phụ giúp gia đình được thêm sung túc. Tôi thì lo kiếm cách làm cho sản phẩm ngày càng tốt đẹp, giá thành phải chăng, và nhất là giữ uy tín, giao hàng đúng hẹn. Cái nào vì di chuyển làm bị hư méo, tôi cho đem về đổi ngay. Nhờ vậy các chủ tiệm đồ sứ đều hài lòng; tiền bạc vô ra, các con có dư đủ; làm tôi quên hẳn mình là người tàn phế, tinh thần vợ chồng tôi lúc đó rất sảng khoái và yêu đời.Nhưng! Ngày Quốc Hận đến, tôi lại bị Gãy gánh giữa đường!

2. Sau Ngày Quốc Hận
a). Tiêu tan sự nghiệp!

Những ngày cuối “Tháng tư đen”, máy bay của tên nội tuyến đã oanh tạc phi trường; vì sợ liên lụy các con, tôi tản cư qua nhà anh Ba ở Tân Định, thế là:

“Sự nghiệp đang công đeo đuổi

“Nay cũng đành gián đoạn giữa đường!

Toàn dân Miền Nam nói chung, gia đình binh sĩ và quân cán chính đang bị chôn vùi trong biển hận. Con xa cha, vợ xa chồng, loài quỷ đỏ đã gieo rắc bao tang thương, bao khổ hận cho mọi người. Công lao sự nghiệp đã gầy dựng, mới làm lại cuộc đời, sau những ngày bi quan tưởng mình đã vứt bỏ như đồ phế thải. Nhưng chỉ một phút bị tụi Cộng Đỏ cướp giựt sạch. Chúng cho đổi tiền, mọi người đều trở thành vô sản. Mọi người đều chỉ còn 200 đồng, của cải bị tịch thu vào “Quĩ chung” (Cộng sản) để cho các tên đầu sỏ từ Bộ Chóp bu tới những đảng viên thuộc loại “Ba Mươi” từ từ xài thỏa thích.

Dân đen bần cố nông thì “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi” còn các ngài thì lúc nào cũng nhân sâm bồi bổ, vì thế lũ ngu dốt nầy sống thật dai để hưởng mọi lạc thú. Người nào cũng quá tẩm bổ, nên đa số chết vì bị tai biến mạch máu não; nhìn mặt tên nào cũng chành bành bóng loáng to tròn như trái bong bóng sắp nổ, so với những người nông dân, thợ thuyền gầy ốm thì thật khác xa như hai thái cực.

Họ ngu dốt vô học thức, nhưng dùng bạo quyền như những chúa trùm Mafia sai khiến đàn em là công an, bộ đội, và cảnh sát đàn áp, đè đầu đè cổ dân đen; mà miệng thì cứ lập đi lập lại như con két về lý thuyết ngoại lai của tên Lenin, người đã bị chính dân Nga hạ bệ. Vì Lenin chủ trương buộc bụng bỏ đói dân đen để dễ cai trị (đói quá còn sức đâu mà phản đối, mấy người tù trong những trại gọi là cải tạo đều đã nếm mùi đau khổ nầy). Còn đảng viên là những tên “Ăn như tu, ở như tù, nói chuyện như lãnh tụ, tới chừng về hưu, mới biết mình ngu”; chúng đã lỡ lầm, mà làm hại dân hại nước!

Sau ngày Quốc Hận, người dân miền Nam đa số bị đuổi đi vùng đèo heo hút gió được gọi là Kinh Tế Mới; những vùng đất đai màu mỡ như khu trồng trà và cà phê ở Lâm Đồng thì dành cho dân miền Bắc, bà con thân thuộc đảng phái vào khai khẩn (đúng là phe đảng). Những người thương mãi giàu có thì bị ghép (chụp mũ) là Tư Sản Mại Bản để có cớ tịch thu tài sản (nhà cửa, cơ sở, vàng bạc,…) đem hết về cho bọn đầu não ngoài Bắc xài. Nhà tôi gần khu Bà Quẹo, thấy rõ tận mắt là họ đã tháo gỡ các máy móc của hãng Dệt Vinatex Co., hãng Bột Ngọt Vị Hương Tố, hãng Mì Ba Cua ViFon, máy móc, tủ lạnh, máy lạnh,…tất cả chở hàng đoàn xe đủ loại để đem ra miền Bắc (đúng là giải phóng miền Bắc). Họ đã tiêu diệt một cách êm đẹp những người mà họ từng gọi là “Vừa là Đồng chí vừa là Anh em” như đám Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, đám Thành Phần Thứ Ba. Chính tên thiếu tá công an quận Tân Bình đã khóc nức nở vì thấy bọn Đảng viên miền Bắc quá tham lam, tàn bạo vơ vét của cải giống như quân Mông Cổ .

Tên nào tiếc rẻ đòi chia phần thì bị vô tù hoặc quản thúc như Nguyễn Hộ, Dương Quỳnh Hoa, Ngô Công Đức, Chân Tín,…Những tên tham quyền cố vị chịu làm bù nhìn như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát, Nguyễn thị Bình,..thì được cho ngồi chơi xơi nước; để mặc nhân dân miền Nam, đồng bào ruột thịt của họ, bị những tên “Mông Cổ” đè đầu bóc lột .

Đoạn nầy viết hơi gay gắt vì thật sự tôi là người trong cuộc, đã nếm mùi chế độ nầy gần 9 năm, chứng kiến và tiếp xúc với nhiều tên Cộng Sản mà bản chất từ trong xương tủy của họ chỉ có thể nói gọn bốn chữ là “Lừa thầy phản bạn”. Tôi không thích bàn về chính trị, chỉ muốn nói lên sự thật thôi. Một lãnh tụ mà dốt nát thì hại hằng triệu người.

Trong cuốn Hồi Ký của Lý Phục Huy, vị Bác sĩ riêng theo Mao Trạch Đông suốt 22 năm trường. Ông ta kể lại cách mạng “Bước Nhảy Vọt” làm chết trên 30 chục triệu dân đen. Nguyên nhân vì nghe lời báo cáo láo của cán bộ địa phương là có thể xây lò đất luyện kim (luyện thép) tại nhà, và sẽ sản xuất nhảy vọt hơn các lò luyện thép quy mô tối tân của người Anh, thế là Mao Chủ tịch nhà ta cổ động xây lò tại dân gian, khiến nhà nông bỏ trồng trọt mà chuyên lo luyện sắt.

Rồi lũ quan quyền địa phương, muốn lập công thi đua đạt năng xuất, bắt dân chúng lấy cả nồi niêu son chảo ra nấu luôn. Hết củi thì lấy cánh cửa cột nhà ra xài để nộp đủ số chỉ tiêu cho Trung Ương. Họ đã cổ võ, đốc thúc, và hô hào thi đua tăng năng xuất. Bắt dân đen làm ngày đêm không nghỉ, ai chần chừ thì bị gán tội phản động, xét lại,…! Họ còn phát động phong trào diệt chim; nơi nơi đều đồng loạt khua chiên đánh trống, khiến chim không dám đậu, bay hoài tới gãy cánh, rớt xuống đất bị dân chúng bắt xỏ xâu chất thành đống cao như núi. Thế rồi sâu bọ hoành hành, không còn chim ăn sâu nên mùa màng thất thoát, dân chúng chết đói đầy đường!

Nhưng mấy tên Tỉnh ủy thì lên chức như diều (như Hoa Quốc Phong từ Tỉnh ủy lên làm Thủ Tướng), rồi vì lúa gạo không trồng trọt nên dân phải ăn vỏ cây, kết quả chỉ vì một tên ngu dốt mà hại chết hằng chục triệu nhân mạng.

Ở Việt Nam Chủ Tịch Đảng chưa có bằng Tiểu Học, nhưng miệng thì nói thuộc lòng nói trơn tru như con vẹt:

– Tiến nhanh, tiến mạnh tiến vững chắc lên chủ nghĩa…. xã hội (đói rách! ). Hoặc là:

– Đỉnh cao trí tuệ của loài…… người (hay loài vật ?)

Thành tích của những người lãnh đạo được đánh giá bằng những năm tù. Ở tù lâu là coi như có công nhiều với cách mạng. Trong Thép Đen có kể lại chuyện một người Cộng sản già 65 tuổi đang bị tù chung với tác giả, ông Tiến có đưa cho tác giả coi tấm hình chụp chung với Phạm văn Đồng, Võ nguyên Giáp, và Hoàng quốc Việt. Đây là hình cắt trong báo đặc san Đỏ xuất bản tại Pháp, có ghi chú: Bác Tiến là chủ nhiệm còn 3 người kia là nhân viên. Sau nầy ông ta thấy đảng Cộng Sản làm hại dân, hại nước, nên đề nghị sửa sai. Thế là ông bị ba tên thuộc cấp gán tội “Thành phần xét lại” và nhốt mười mấy năm mà vẫn chưa thả. Tình nghĩa thầy trò, chủ tớ, bè bạn, anh em,…. của họ là vậy đó! Sau khi đưa một đống tiền để đổi lấy hai trăm đồng Việt Cộng, như vậy từ nay phải làm gì để sống? Những người mạnh mẽ còn chịu không kham, huống chi gia đình tôi, cháu lớn mới 7 tuổi, mỗi ngày cứ đọc sách giáo khoa tuyên truyền toàn chuyện vót chông diệt ngụy, bắn máy bay, và râu bác dài như…. khiến mỗi lần nghe tới là nổi sùng. Còn Thiện mới một tuổi thì làm gì có tiền mua sữa, đành cho uống nước lạnh pha chút đường mà chúng tôi thường gọi đùa là “Sữa bộ đội”. Uống riết cháu mặt mày xanh lét, me nó thì phải về quê mua heo con lên Sàigòn bán.

Đồ đạc trong nhà tiêu dần, đồng hồ, Honda, ngay cả nhẫn Truyền Thống Võ Bị (của thằng Măng, bạn cùng khóa, tặng cho lúc gặp nhau ở bờ sông Mỹ Chánh) cũng đem ra bán sạch.

Nhà nhà đều sạch, người người đều xẹp, chính sách của họ đã đi “Đúng hướng”, dân miền Nam càng lầm than thì chúng càng khoái chí!

Hết buôn lợn rồi lại lo quấn thuốc lá để 5 giờ sáng leo xe đò Hốc Môn ra Chợ Lớn dành chỗ trải dưới đất bán chui, hôm nào xui xẻo bị bọn “Mafia con” (cảnh sát hay đám cách mạng 30) ra tịch thu thì sữa bộ đội của cháu Thiện chỉ còn nước lã, chứ tiền đâu mà mua đường! Ngày nào cũng ráng ăn bo bo độn khoai mì với nước mắm (tiêu chuẩn gần giống như cơm tù, vì họ chỉ có nước muối thay vì được nước mắm như dân ở ngoài), nhà là nhà tù, người là kẻ tội, cả miền Nam đang sống như tù tội! Bán thuốc lá cũng không xong, tương lai mù mịt, tôi không giúp được gì cho gia đình, lúc nầy tư tưởng đầy bi quan, tinh thần xuống dốc đến cùng cực!!!

Một hôm Dì Sáu từ tỉnh lên thăm, bà là người phúc hậu tử tế, bị đánh tư sản. Chúng ụp vào nhà lấy hết vàng bạc (mấy trăm lượng), vì bà có tiệm bán vàng và cầm đồ và bị kết tội “Tư sản mại bản”,…Dì Sáu thấy tôi ngồi chiếc xe lăn đã mục nát, nệm lót đã rách nên cho tiền mua một chiếc xe khác làm chân (anh bạn Lê Tấn Huỳnh Long, nguyên bác sĩ TQLC, làm ở bệnh viện Quốc Gia Phục Hồi, định cấp cho tôi một chiếc khác, vì trong kho có mấy trăm chiếc; nhưng tên Sáu Châu không chịu, nói để dành chở ra Bắc (cái gì cũng chở về Bắc!). BS Long tức giận từ chức. Anh cũng bị pháo kích trúng xương sống, nhưng phục hồi được chút đỉnh nên đi nạng được. Qua Mỹ anh đã đổ bằng bác sĩ lại, nhưng ngồi lâu sợ lở mông, nên đi làm bất tiện. Khi qua đây anh chị cũng có làm giấy bảo lãnh USCC cho gia đình tôi, không sợ gánh nặng của nợ, thật là tử tế vô cùng).
b) Làm Lại Cuộc Đời.

Thay vì sắm xe lăn, tôi đã mua một chiếc xe lắc bằng tay. Từ ngày mất nước không có ra ngoài, vì xe xích lô và xe Jeep đâu còn nữa! Hôm nay có xe lắc tay, giống như được tháp đôi chân, như chim sổ lòng. Tôi cùng với cháu Thành (lúc đó được 6 tuổi) quyết định đi dạo một chuyến thật xa. Hai cha con hè nhau lắc xe từ nhà, qua ngang Bà Quẹo, theo lộ đá sỏi tới trường đua Phú Thọ; đoạn đường dài gần năm cây số! Tôi muốn đến thăm thằng bạn già Trịnh Xuân Tiểu, cùng học Trần Trung Tiên ở tỉnh. Hai đứa rất thân từ mấy chục năm trước. Tiểu học sĩ quan Hải Quân khóa 14, vì tánh quật cường không chịu khuất phục nội quy kỷ luật, nên phải trở lại khóa 16 mới được ra Thiếu úy thật sự. Tánh nó rất tốt, lúc tôi còn đang ở trọ tại Phú Nhuận, hắn đến rủ cùng đi lựa mua xe gắn máy hiệu Pusch. Sẵn dịp, Tiểu nói mẹ cho tôi mượn tiền mua luôn xe Mobilet loại tự động mới ra đợt đầu; mặc dù lúc đó tôi chỉ là học sinh đâu có tiền để trả nợ (má Tiểu chuyên cho vay lấy lời, nhưng nó đâu có cho tính phân lãi với tôi xu nào!).

Tiểu biết địa chỉ, nên một hôm đi xích lô tới thăm tôi; nó mượn xe lắc tay để về nhà má ở trước rạp hát Trương Minh Giảng (Tiểu bị phục kích trên giang thuyền và trúng đạn bể xương đầu gối). Nhưng mới lắc tới Ngã Tư Bảy Hiền thì bị xỉu, may nhờ những người đi đường đè xuống cạo gió làm nó hoảng sợ mỗi khi nhìn thấy chiếc xe lắc nầy.Biết xe nầy không ổn, tôi quyết định bán và tự vẽ kiểu cho anh Học, thợ hàn gió đá, cựu hạ sĩ quan Nhảy Dù, làm một chiếc khác với khung được uốn cong bằng ống nước loại thép tốt. Vì thế xe thật vững chắc, có gắn máy PC-50 và sức chịu đựng cao. Với xe có gắn máy, hằng ngày tôi, cháu Thành, và cháu Vinh ra chợ Tân Bình mua bo bo, đổi mì sợi tại các Hợp Tác Xã, hoặc đến hỏi mua từng nhà. Từ đó có đồng tiền vô ra giúp đỡ phần nào cho gia đình, tôi hết tự ti mặc cảm. Có lần vô Tân Phú mua bo bo, khi đủ bao thì chở ra Chợ Lớn, qua đường Cầu Tre gập ghềnh khó đi. Hôm đó, vì mua được nhiều, tôi hăng hái chạy tới chạy lui vô Chợ Lớn bán hàng nhiều chuyến. Đến 8 giờ tối về tới nhà, tôi mới phát hiện gót chân phỏng sưng to nặng tới thấu xương (thịt gần như bị chín luôn)! Vì đường gồ ghề nên bao bo bo bị tuột ra sau, đẩy gót chân tôi chạm vào ống bô (ống khói) nóng hực cả buổi, mà cứ tỉnh bơ chạy hoài.

Mặc dù không có cảm giác, nhưng lúc đó trong người tôi cảm thấy rất bứt rứt, khó chịu. Có lẽ vì ống bô quá nóng, khiến máu trong cơ thể cũng bị ảnh hưởng nóng theo; nhưng vì nghĩ đến hôm nay được đắc lợi, lòng cảm thấy phấn khởi, đâu còn để ý đến bản thân mình, miễn sao làm ra tiền nhiều để gia đình được đầy đủ là cảm thấy vui rồi.

Nhờ ngày nào cũng ngâm nước lá me (đâu có tiền mua “Bô Mát” loại tốt như của BS Niệm đã cho!) để làm tái thịt chỗ vết phỏng, nên một năm (tới một năm lận) mới lành hẳn.

Từ đó tôi lấy miếng ván chận chân cho cách biệt với bô xe. Tuy bị phỏng nặng, nhưng vì sinh kế, nên vợ tôi băng bó gót chân kỹ lưỡng và hằng ngày vẫn tiếp tục đi mua bán bo bo như thường lệ.

Có lần bị nhiễm trùng đường tiểu hơi nặng, phải vào nằm phòng cấp cứu tại bệnh viện Trưng Vương; nhưng suốt đêm đó tôi cứ cảm thấy người bứt rứt, trằn trọc không ngủ được. Sáng ra mới biết chân mình đã bị kiến lửa bu đen nghẹt tới không nhìn thấy mười ngón, chúng cắn nát bấy hai bàn chân suốt cả đêm mà cũng không hay biết! Tôi phải xin xuất viện gấp; lại phải ngâm chân bằng nước lá me thêm vài tháng!

Lúc ở bệnh viện Trưng Vương, nằm cạnh giường có một bịnh nhân người vùng Cát Lái, Thủ Đức; ông bị vết mổ làm độc vì chỉ khâu bị đứt, nên phải nhập viện xin giải phẫu lại. Để có tiền mua chỉ may vết thương, con ông là em Toàn phải nhịn ăn tới mặt mày xanh xao, tay chân run rẫy, đi đứng không vững! Toàn cứ nằm co ro, cố ngủ để cho qua cơn đói. Tôi thấy em tới giờ ăn trưa mà sao cứ nằm hoài, nên hỏi thăm thì biết Toàn là đứa con hiếu thảo, vì tiền túi mang theo đóng cho nhà thương hết, mà không thể bỏ cha ở lại một mình; nền đành ráng nhịn ăn đợi bác sĩ giải phẫu may lại vết thương cho cha. Lúc ấy bà xã tôi có đem theo bánh ú cúng mùng 5 tháng 5, tôi lấy chia cho Toàn ăn. Em mừng rỡ, cám ơn rối rít, tay run run lột lá bánh ít bỏ vào miệng ăn ngấu nghiến trông thật ngon lành. Hôm sau vì bị kiến cắn bàn chân nên tôi xin xuất viện, vợ tôi lấy một ít tiền cho Toàn để làm lộ phí. Tuy số tiền và bánh ú nhỏ nhoi gọi là chia sẻ miếng khi đói bằng gói khi no, nhưng nửa tháng sau, Toàn đã dò được tới nhà để cám ơn và báo tin ba Toàn đã qua đời vì nhập viện trễ quá (tại nhà nghèo cần phải xoay tiền nhập viện, thuốc men thiếu nên vết thương làm độc!).

Chính vì nghĩ đến trường hợp nầy, nên khi mới qua Mỹ, mặc dù tôi lãnh trợ cấp SSI và bà xã cùng cháu lớn đi làm nhà hàng, mỗi đêm được $20.00; nhưng cứ vài tháng là chúng tôi gởi về cho những người nghèo ở Việt Nam (mỗi lần $300 chia cho 10 nhà, chính anh Quách Vĩnh Trường, anh Triệu, và Lâm Sanh Kim đã đem phân phối dùm). Có lần anh Triệu cũng được 1 phần là $30, vợ anh dùng làm vốn nhỏ và ra chợ Tân Bình mua bán áo quần cũ; nhưng bị bọn Cách mạng 30 tìm cớ tịch thu, còn nhốt 2 mẹ con vào tù (con anh Triệu mới sanh cần sửa mẹ nên cũng nếm mùi ở tù!!)

Ra ngoài tôi mới biết có rất nhiều cách để làm ra tiền, khi mua bo bo ở một nhà nọ, thấy có một cái máy xay bột (hoặc bo bo) đang trùm kỹ. Tôi hỏi mua với giá rẻ, vì họ muốn trống chỗ nên bán đổ bán tháo cho xong. Khi đem máy về nhà, bà xã nói không có thợ làm sao sử dụng được; tôi trùm mền bỏ đó, chờ thời cơ sẽ có dịp dùng.

Thấy mấy người Tàu từ Kampuchia tị nạn ở xóm Tân Việt gần nhà, hằng ngày họ chở từng bao bo bo đi xay thành bột, bán cho các lò bánh mì thùng phuy. Tôi liền mướn cháu Đại, khoảng 15 tuổi, đứng máy để xay bo bo gia công. May quá, máy nầy xay ra bột nhiễn nên được người ta thích, từ đó máy chạy suốt ngày đêm, bà xã tôi rất phấn khởi. Từ việc xay gia công, tôi nghĩ ra ý mua bo bo về xay để bán bột trực tiếp cho các lò thùng phuy như lò Tám Cảnh ở Ngã Tư Bảy Hiền, Chú Thanh ở Bà Quẹo. Cháu Vinh phụ trách lo thu mua bo bo và liên lạc với những người Khmer tị nạn như ông Si, thằng Hòa, A hắc,…

Cháu Vinh là con của Thượng Sĩ Luông, Thường Vụ của tôi khi còn ở Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù. Sau ngày mất nước, thấy không ai săn sóc và gia đình đơn chiếc, cháu Hảo đã đi vùng Kinh Tế Mới, ông cho con gái 15 tuổi là cháu Vinh qua phụ vợ tôi mà không đòi hỏi lương bổng (nhưng chúng tôi vẫn trả tiền và tăng dần mỗi khi làm ăn thăng tiến). Thượng sĩ Luông là người rất trung thành, ông đã bị thương lủng mấy khúc ruột rất tội nghiệp. Các con ông người nào cũng ngoan và giỏi.

Một hôm ba của Tiêu Anh, bạn học Trần Trung Tiên, đến chơi. Ông là chủ lò bánh mì ở Trung Chánh, trước kia chuyên cung cấp bánh mì cho Trung tâm Huấn luyện Quang Trung. Ông thấy có máy xay bột nên đưa ý kiến, mua xác khoai mì về xay nhiễn cung cấp cho các lò bánh mì làm bột áo thoa tay.

Thấy thị trường bo bo hơi hạn chế, người Khmer tị nạn cũng làm máy xay gia công. Do đó tôi đi Hố Nai mua xác mì về xay bán cho các lò thùng phuy; Rồi tôi đem mẫu cho các lò bánh mì lớn. Lúc đầu thật khó khăn, vì họ có người bỏ mối sẵn. Nhưng tôi không nản chí, cố gắng tìm xác mì trắng, rồi cứ đi vòng vòng từ các lò Nguyễn Huệ,… ở Phú Nhuận, tới lò Đồng Khánh ở Chợ Lớn. Lúc đầu được một lò, rồi hai, ba, bốn,…dần dần hầu hết các lò ở Sàigòn đều là khách hàng của tôi.
c). Kinh Doanh phát triển.
Vì máy ở nhà quá nhỏ, nên tôi phải vô Cầu Tre bao luôn nhà máy Quốc Doanh của ông Tám, họ lãnh xay ngày đêm mới kịp giao đúng hẹn cho khách hàng. Nhà máy nầy khá lớn, nhưng vì mới nên chỉ có hai người đặt xay gia công.

Anh Hào thì xay xương bò và trấu trộn cám cung cấp cho các tiệm bán thực phẩm gia súc; tôi thì cho chở từng xe vận tải xác mì cung cấp bởi anh Hùng, chủ thầu xác và bột khoai mì ở làng công giáo Hố Nai. Công nhân trong nhà máy ưa nói đùa:

“Xay xác ông Dưỡng xay xương ông Hào”!

Ngày nào tôi cũng chạy theo xe Lam của chú Hoàng đi giao hàng khắp nơi. Còn Cháu Vinh thì đi theo xe ba bánh gắn máy của chú Hiền chở bột áo đi giao vùng khác (hai xe nầy bao chở mối thường xuyên cho tôi). Lúc nầy khách hàng nhiều mà bọn nhà máy quốc doanh làm việc không đàng hoàng, đôi khi sai hẹn, và chúng còn định xay lén dành mối, đâm sau lưng khách hàng mình (vì chủ trương Cộng Sản là bất chấp mọi thủ đoạn, miễn mình có lợi là được rồi). Các nhà máy do người Hoa Kiều ở Chợ lớn thì làm ăn rất có uy tín, nhưng họ đã có khách hàng sẵn nên không nhận thêm của tôi được.

Vì thế để tự xay xác mì tại nhà, tôi vô Chợ Lớn đặt cái máy xay to lớn, đường kính khoảng 8 tấc, mua Motor 25 Ngựa, dùng thùng phuy chẻ và tôn cũ làm vách để ngụy trang (vì làm rùm beng sẽ bị thuế nặng và bên Phường qua làm tiền hoặc gây nhiều khó dễ. Lúc mới mất nước bên Phường có cho Công An qua nhà điều tra đủ thứ, tên nầy thấy tôi còn băng bó đầy mình nên mới để yên).

Nhà tôi có sân rộng, bên cạnh là một lô đất trống (mỗi lô là 8×20 do SĐND cung cấp, trước kia đã mua được 1 lô, chỗ tôi đang ở là xây cất trên lô của Đại úy Vị, đã nói ở Chương Ba). Vợ tôi trồng cây ăn trái như ổi, mít, dừa, mảng cầu, đào lộn hột,..Sau ngày Quốc hận, có lần bên Phường mượn sân trống đặt bàn làm thẻ cử tri; lúc đó tên Mừng, Trưởng Ban An ninh, thấy bà Bảy là cô của hắn đang ở nhà tôi, nên sau nầy dễ chịu không cho người dòm ngó kiểm tra ngầm nữa.

Bà Bảy là chủ nhà cũ của tôi, bà rất thương tụi nầy, sau ngày mất nước bà hay lên thăm và ở chơi vài ngày; chúng tôi thường cho tiền bà tiêu vặt. Lúc nầy hơi khá, con cháu của bà kẹt tiền, chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ. Còn bà thượng sĩ Bạc vì mấy đứa con trai đi nghĩa vụ, nên lúc kẹt cũng qua hỏi mượn, chúng tôi không bao giờ do dự; vì họ từng giúp đỡ gia đình tôi nhiều phen. Ở Sàigòn chúng tôi coi gia đình bà Bạc, Bà Bảy, cụ Hoàng, anh Nhàn, Thượng sĩ Luông là những người bà con tốt. Vợ tôi rất nể trọng những người nầy.

Nhà máy xay bột được dựng lên do những tay ngang, bà xã thì lo tráng nền; Tâm, Thành, Thiện, và cháu Vinh phụ trách khiêng và trộn hồ. Nhằm đúng ngày chú Hùng ở Hố Nai tới thâu tiền xác mì, thấy thợ nhà làm lồi lõm nên ngứa mắt; anh xăn quần áo nhào vô phụ tráng nền. Thế là nhà máy cũng xong, điện ba dây thì câu nhờ với chị Hai (vợ của cố Trung tá Vinh, cựu Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Nhảy Dù). Vợ tôi may cái mùng chứa hơi bằng vải kaki trắng to giống như khinh khí cầu, rồi đóng thùng chứa bột bằng ván ép, không thua vì thợ mộc…. mới học nghề! Cháu Vinh, Đại, Nhân, Tâm, và bà xã,…là những công nhân thường trực của “Nhà máy xay bột tư doanh” vừa mới dựng bảng hiệu Phát Lợi và khai trương nầy.

Mọi việc đều êm đẹp, vợ tôi vừa làm thợ mộc, thợ máy, thợ điện, và kiêm luôn thợ nấu ăn cùng quản lý tài chánh. Đàn bà mà, thấy tiền vô như nước, đếm hoài không biết chán, nên làm

việc rất hăng, còn muốn mọc thêm nhiều cánh tay để tăng gia sản xuất. Vì khách hàng tới hối thường xuyên, nhiều khi phải làm suốt đêm để giữ đúng hẹn! Xay bột dính đầy đầu mà cũng ham. Có lần vì mưa dột ướt áo quần; Nhi, đang xay bột, đứng lên vén tóc, thì tay ướt chạm nhằm dây điện, nàng bị giật té cái rầm, ngã nguyên con trên sàn bột, thật nguy hiểm vô cùng!

Tôi thì lo chạy vòng ngoài, lúc đi xa lộ đón mua bột và xác mì, chẳng may xe bị gãy cốt gần rơi bánh sau. Cháu Thành (lúc đó được 8 tuổi) phải hì hục đẩy xe từ bên kia dốc cầu xa lộ. Cầu nầy dài khoảng 1000 thước và dốc rất cao! Tội nghiệp cháu nhỏ tuổi ốm yếu mà phải đẩy chiếc xe cọc cạch nặng nề, tôi thì không thể xuống để xe nhẹ bớt phần nào! Đã vậy lại còn gặp thêm chuyện xui xẻo nữa chứ.

Số là khi Thành đang lo cặm cụi đẩy xe lên dốc, tới gần giữa cầu có cục đá to; tôi vừa lo lách tránh, chưa kịp kêu thì chân cháu đã vấp vào, làm ngón cái bị trúng chảy máu ròng ròng; mà Thành vẫn phải bậm môi, cắn răng nhịn đau tiếp tục đẩy. Vì nếu ngừng thì xe tuột dốc càng nguy hiểm thêm. Lòng tôi lúc ấy đau đớn đứt ruột! Cháu cứ để cho máu chảy và tiếp tục đẩy thêm gần 1 cây số tới phía bên nầy dốc cầu mới có chỗ sửa xe,và kiếm thuốc băng tạm vết thương!!!

Thật là tội nghiệp con hết sức, mới từng ấy tuổi đầu mà đã chịu nhiều đắng cay! Ở cái tuổi đó, đáng lẽ chỉ lo đi học và vui đùa, còn cháu thì phải ngày đêm dầm mưa phơi nắng theo phụ giúp người cha tàn phế trôi nổi đó đây!

Lúc tôi ra ngoài, bên lưng lúc nào cũng dấu một cái bóp nhét đầy tiền. Mỗi lần đi đâu đều có Thành theo phụ đẩy cho máy nổ khi xe khởi hành. Hai bố cháu ăn uống ngoài đường ngoài xá, có bữa đi từ sáng tới chiều tối mới về tới nhà; vì ngồi lâu nên một trái thận bị hư, coi như ngưng hoạt động.

Yên, em trai của Sơn, tốt nghiệp đại học, vì muốn tự chữa bệnh cho mẹ và anh, nên đã đi thụ huấn về châm cứu và bắt mạch định bệnh ngành Đông y. Lúc đó thuốc Tây rất hiếm và rất mắc tiền, chính quyền Cộng Sản toàn cổ động dùng cây cỏ trị bịnh như cây Xuyên Tâm Liên, cây Sống Đời, lá Tía Tô,…

Một hôm Yên đến thăm và thử bắt mạch cho tôi, chú hỏi:

– Anh đã cắt bỏ một quả thận bên trái rồi phải không?

– Anh đâu có giải phẫu thận!

– Như vậy là anh đã bị hư một trái thận rồi!

Yên chỉ tôi cách bắt mạch, lấy ngón tay trỏ rờ vị trí tượng trưng cho mạch thận, trầm sâu dưới cổ tay; nhưng không thấy nhịp đập chút nào hết. Nguyễn Trọng Nhi, bạn cùng khóa, trước ở TĐ8ND, cùng với Bác sĩ Nhiếp, cả hai vừa ra tù, đến thăm và bắt mạch cũng nói y như Yên. Bác sĩ Nhiếp lúc trong tù cũng nghiên cứu về Đông Y Châm Cứu như Nhi, anh và bác sĩ Dũng (bác sĩ chữa bịnh cho gia đình tôi, phòng mạch ở Hương lộ 14) là những bác sĩ Dù tài giỏi và chịu chơi như Bác sĩ Hiền và BS Thiện ở TĐ9ND lúc trước.

Từ đó, mỗi ngày tôi có mời chú Tuyển tới châm cứu, vì thận hư làm chân sưng và lở loét thật khó chịu, tối nằm ngủ chỉ nghiêng được một bên. Tuyển thấy vậy mời ông thầy của chú, đang làm Lương Y cho Quận Tân Bình.

Ông ta đã bắt mạch xong liền nói:

– Tôi bổ một “Đại Thang” lúc uống phải từ từ coi có bị phản ứng không; thuốc nầy rất mắc tiền, anh ráng thử coi?

Tôi gật đầu ưng chịu và đưa tiền (tương đương năm chỉ vàng) để bổ thuốc. Thang thuốc nầy chỉ gồm có hai thứ dược thảo, đó là “Nửa ký” Thục Địa và nửa ký thuốc gì mà tôi không nhớ rõ tên, đem sao thủy thổ; rồi nấu 4 chén còn lại một chén. Khi uống thuốc có lẽ bị ám ảnh sợ phản ứng (vì tôi đã từng bị phản ứng khi chích Pénicilin và uống Ambicilin) nên tim hơi hồi hộp. Uống hết chén thuốc thì người tôi hơi nóng, đầu óc lâng lâng; vài ngày sau rờ thử mạch thận thì thấy nó đập trở lại, chân bớt sưng và vết lở cũng kéo mặt lành dần. Ông thầy bắt mạch hớn hở ra mặt, quả thật là thang thuốc hay, nếu Tây Y thì chỉ đợi thay ghép thận thôi, biết mình yếu thận nên tôi cữ ăn mặn và uống nước nhiều. Mỗi lần nước tiểu bị nhiễm trùng là vội uống trụ sinh để tránh hại tới thận.

Bây giờ bán bột áo và bo bo cũng khá, nhưng thấy các lò thùng phuy tiêu thụ bột mì rất nhiều; nên tôi liên lạc với một vài chủ lò để trao đổi bột bo bo với bột mì. Giai đoạn mua bán bột mì lúc đầu cũng gặp nhiều khó khăn, sau nhờ giữ uy tín nên các chủ lò giới thiệu cho nhau nên tôi làm ăn càng ngày càng phát đạt.

Nhớ lại lần đầu muốn mua hai bao bột, 5 giờ khuya, tôi và cháu Vinh chạy lên Phú Nhuận canh lò vừa mở cửa để chồng tiền mua 2 bao bột (mỗi bao giá 2 ngàn đồng tương đương một lượng vàng). Lúc đó bà chủ tăng giá bất ngờ nên thiếu 100 đồng, tôi đòi thế chiếc xe đạp của cháu Vinh đang cỡi để về nhà lấy thêm tiền. Bà chủ lò không chịu, chỉ bán cho một bao, tôi vừa chở bột về vừa tiếc rẻ và tủi hổ; nhưng chỉ nửa năm sau, chính bà chủ đó và nhiều chủ khác dám bán chịu cho tôi mỗi lần một tấn (20 bao tương đương 20 cây vàng!).

Dần dần tôi đã tạo được uy tín, lúc đầu có ông chủ vì kẹt bột dư trong lò lâu ngày chưa đem ra được (các lò thường làm bánh nhỏ hơn chút đỉnh hòng có bột dư bán lén cho các lò thùng phuy, để kiếm chút cháo. Vì lò nào cũng bị quốc doanh, họ tức mình là chủ mà bị nhà nước quản lý, đúng là cướp cạn!). Sắp tới ngày kiểm kho, ông ta đang lính quýnh, thì vừa đúng lúc tôi đến giao bột áo; ông bảo đút xe Lam vô chở đám bột thặng dư đi bán dùm, giá bao nhiêu cũng được. Tôi làm theo, chở bột đem giao cho vựa ở Chợ Vườn Chuối, và đợi vựa bán ra chút đỉnh mới đủ tiền trả tới 20 chục cây lận!

Mãi tới gần 11 giờ đêm tôi mới đi tới nhà, để đem tiền tới giao lại cho chủ lò. Nửa đêm nghe tiếng gõ cửa, ông ta giật mình kinh sợ (Công An thường tới bắt người nửa đêm), chừng thấy hai chú cháu mới an tâm, đếm tiền xong ông ta nói:

– Tại sao anh không để sáng đem lại cũng được?

– Đây là số hàng lớn, tôi sợ ông lo suốt đêm.

Thấy tôi hiểu thấu tâm can, mặt ông vui vẻ và nói:

– Anh làm ăn rất có uy tín, tôi sẽ giới thiệu các chủ lò khác. Vì thấy tôi không bắt chẹt và trả tiền bột cao giá hơn những người khác, nên lần nào có bột dư ông cũng đích thân lái Honda tới nhà gọi; rồi các chủ lò khác nghe tiếng cũng lần lượt đến kiếm (trước kia tôi phải đến từng lò bánh mì, bây giờ thì các chủ lò đích thân đến nhà tôi). Thế là việc bán bột còn thu lợi khá nhanh hơn xay xác mì nữa. Tiền vô ào ào, tháng nào tiêu chuẩn cũng phải sắm một cây vàng. Có tiền thì nghĩ tới đi chui, tôi cho cháu Tâm theo cậu Hai Lâm Ái; người lái tàu là Trịnh xuân Tiểu. Ra khơi được 3 ngày thì gặp bão nên tấp vô và bị tóm ở Hòn Khoai, Cà Mau.

Cháu Tâm trên thuyền cùng với cháu Vũ, con anh Hai Ái, rảnh rỗi ra be thuyền nhìn nước biển và kể lúc ra khơi thì gặp nước màu vàng, màu xanh, màu đen. Rồi đột nhiên thấy ngược lại màu đen, màu xanh, màu vàng, và đụng bờ bị Việt Cộng bắt cả đám, tịch thu hết vàng bạc và đồ quí đem theo. Tội nghiệp Tâm lúc đó mới 10 tuổi đầu mà cũng nếm mùi tù, ăn cơm muối hơn một tháng (con nít ở chế độ Cộng Sản cũng bị tù như thường). Tiểu bị tù vài năm và bị tịch thu nhà cửa! Sau nầy anh Hai Ái làm thêm một chuyến nữa, tôi lại bị mất hơn chục cây mà cũng không xong, thôi đành tìm cách khác.

Lúc ấy nhân dịp năm Quốc tế người tàn tật, có diện cho xuất cảnh chữa bịnh, tôi nhờ anh bạn tốt là cựu Thiếu tá Phòng Ba SĐND tên Lâm sanh Kim nộp đơn thử. Mặt khác vận động bạn bè ngoại quốc nhờ làm giấy bảo lãnh USCC. Tiến hành như vậy giống như là nước lã mà khuấy nên hồ; vì không có ai thân thuộc trong diện tứ thân phụ mẫu đang ở ngoại quốc như những người khác! Nhưng không hiểu sao ý chí tôi tin tưởng và quyết tâm lo vụ nầy một cách tích cực!

Một cánh hoa Dù

Trương Dưỡng

Post by Sơn râu 27 Apr 2024

15. Trận An Lộc Bình Long (Mùa Hè Đỏ Lửa 1972)

Năm 1972, phải chăng để dò dẫm, Bắc Việt đã tung ra một cuộc tổng tấn công được coi là có tính toán rất kỹ lưỡng về mặt chiến lược. Cũng rất quan trọng, vì lần đầu tiên họ dùng chiến xa của Nga Sô tập trung tấn công một cách ào ạt.

Bất chấp hiệp ước Genève và không cần biết đến vùng phi quân sự giữa hai miền Nam và Bắc, địch tung mũi dùi tấn công đánh thẳng từ phía Bắc xuống Nam, và gặp phải sự kháng cự mãnh liệt. Một mũi dùi tấn công khác từ biên giới Campuchia đánh qua phía Kontum, Pleiku, làm cho các tiền đồn đều lâm vào tình trạng bị động. Áp lực đè nặng vùng nầy đến độ phải đưa sư đoàn bộ binh từ Ban Mê Thuột lên để tiếp viện.

Ở mặt trận phía Bắc, địa phương thành lập từng bộ phận lưu động nhỏ để dễ điều động, nhưng cũng vì thế mà trở thành khó chỉ huy và hậu quả là tuyến phòng thủ bị vỡ. Thành phố Quảng Trị thất thủ ngay sau đó, các đơn vị tranh nhau chạy về Huế. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn IV, được gởi ngay ra Huế với nhiệm vụ tái lập trật tự tại đây.

Hai sư đoàn tổng trừ bị, SĐND và SĐ/TQLC, đến giờ nầy vẫn còn ở Sàigòn, được đặt dưới quyền xử dụng của tướng Trưởng. Sư Đoàn 21 Bộ Binh ở Vùng Đồng Bằng Cửu Long được đặt trong tình trạng báo động, dự trù sẽ được bốc ra Huế.

Bất thình lình địch quân tấn công vào An Lộc, bao vây thị trấn nầy, đe dọa SàiGòn vốn chỉ cách đó khoảng 100 cây số. Tình hình lúc bấy giờ hết sức căng thẳng, chỉ cần trể nửa giờ nữa là không kịp ngưng chuyến đi ra Huế của SĐ21BB để chuyển hướng cho sư đoàn nầy tới thẳng An Lộc, nhằm bảo vệ vòng ngoài cho thủ đô SàiGòn.

Tôi theo BTL tiền phương sư đoàn đến đóng quân ở Căn cứ Lai Khê, sư đoàn thiết lập Trung tâm Hành quân để trực tiếp chỉ huy các đơn vị Dù đang tham chiến tại Bình Long.

Vào Mùa Hè đỏ lửa năm 1972, chiếm xong quận Lộc Ninh, Việt Cộng đã mở cuộc tấn công biển người, với chiến xa T-64 lần đầu tiên xuất hiện tại vùng nầy. Chúng bao vây và cô lập Thị trấn An Lộc thuộc tỉnh Bình Long, trong đó có Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh.

Đại tá Lê quang Lưỡng, Lữ đoàn trưởng LĐIND, điều động các Tiểu đoàn Dù đánh từ Lai Khê lên Chơn Thành. Tại đây Tổng Thống và Trung Tướng Đống đáp trực thăng xuống, ra lệnh Chiến Đoàn Dù nhảy vào tiếp ứng An Lộc. Sau khi được lệnh, Đại tá Lưỡng thay vì nhảy trực thăng thẳng vào Thị Trấn, (theo lời ông kể lại qua điện thoại) Đại tá cho trực thăng vận xuống Đồi Gió ở phía Đông của Thị Xã An Lộc.

TĐ6ND đã dùng chiến thuật thần tốc bất ngờ đánh trúng ngay đầu não chỉ huy (hay đài quan sát), Thiếu tá TĐP Bằng, K16, dẫn 2 Đại đội do Trung úy Ngô Xuân Vinh tự Vinh “Con”, và Tuấn nhảy xuống đầu tiên. Trung úy Tuấn và Vinh điều động binh sĩ xung phong thần tốc tiêu diệt địch trong một “Lô cốt” duy nhất mà chúng đã đặt Bộ Chỉ huy, khiến chúng chạy tán loạn. Nơi đây có rất nhiều hầm hố bằng những tản đá xếp lại; vì đất rất cứng, toàn đá sạn, rất khó dùng sẻng đào hầm. Sau đó 2 Tiểu đoàn 5 và 8 cùng Pháo binh được đổ trực thăng xuống cùng với BCH Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù. Chiến đoàn Trưởng Lê Quang Lưỡng quyết định cho TĐ6ND ở lại giữ cao điểm nầy, đích thân đại tá dẫn 2 tiểu đoàn 5 và 8 cấp tốc đi ngay đêm đó để vào An Lộc, trấn an các đơn vị đang bị bao vây lâu ngày.

Tiểu Đoàn 8 dẫn đầu hướng về Thị Trấn An Lộc; TĐ5ND của Trung tá Nguyễn Chí Hiếu, TĐT và Thiếu tá Lê Hồng, TĐP (sau bị thương Ngoạc Lùn lên thay), cho tiểu đoàn đi theo đội hình quả trám bảo vệ phía sau. ĐĐ51 của Sĩ (sau bị thương Trung úy Nguyễn Tiến Việt lên thay) đi trước, tiếp theo là ĐĐ50 của Đ/U Từ Khánh Sinh; bọc hậu có ĐĐ52 của Lê Hữu Chí, K20ĐL; cánh trái là ĐĐ53 của Dũng, K22ĐL ( vài ngày sau Dũng bị thương, Hồ Tường lên thay); bảo vệ sườn phải ĐĐ54 của Nguyễn Văn Dũng (sau bị thương Trung úy Dương lên xử lý). Khi vào gần tới Thị trấn thì địch chận đánh đại đội đi chót của Chí Bệu. Trung tá Hiếu điều động ĐĐ53 bọc lại tăng cường giúp Chí đánh bật địch ra. Kế đó Tiểu đoàn tiếp tục đi về hướng Đông Nam An Lộc thanh toán các ổ chốt và bảo vệ an ninh tại phía Bắc Xa Cam. TĐ8ND lo thanh toán các ổ chốt và bảo vệ an ninh ở phía Nam thị xã An Lộc.

TĐ6ND ở lại Đồi Gió để vừa làm lực lượng tiếp ứng bên ngoài, vừa ngăn chận địch chiếm lợi thế cao có thể dùng làm đài quan sát hay bộ chỉ huy trực tiếp nhắm vào Thị Xã.

Lúc bấy giờ các đơn vị bị bao vây đã lấy lại tinh thần vì có đơn vị thiện chiến Nhảy Dù vào yểm trợ. Sáng hôm sau, Đại tá Lưỡng cho TĐ8ND bung ra lục soát về phía Tây Thị Trấn, nhưng địch quân pháo kích nhiều quá nên TĐ8ND chuyển về hướng Nam. TĐ5ND cũng ra tiếp ứng nhằm mở rộng vòng vây, để có bãi tiếp tế bằng thả dù. Nhờ có tiếp tế đầy đủ nên tinh thần các đơn vị bị vây vẫn còn vững chắc.

Vào đêm 30/4/72, để kỷ niệm ăn mừng lễ Lao Động 1/5, địch bắt đầu tập trung tổng tấn công vào An Lộc, chúng hạ quyết tâm nuốt gọn các đơn vị đang kẹt bên trong: Như LĐ1ND Nhảy Dù, Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù, SĐ5BB, SĐ21BB,…nhưng các đơn vị bên trong An Lộc đã kiên cường chống trả mãnh liệt. Tuyến của BCH/SĐ5BB của Tướng Lê Văn Hưng bị lung lay, Đại tá Lưỡng điều động cấp tốc ĐĐ/TS1ND lên lấp chỗ; sau đó, ông tăng cường thêm TĐ5ND để đẩy lui bảo vệ Tướng Hưng.

Ngoài ra ông còn dùng 4 khẩu súng cối 81 ly (xạ thủ là những chuyên viên của TĐ1PB) bắn yểm trợ rất hữu hiệu. Ngay đêm đó, 2 trung đoàn địch đang hung hăn xung phong vào thì bị mấy loạt bom B52 xóa sạch, sáng hôm sau có mười mấy tên sống xót quờ quạng chạy bậy vào khu TĐ8ND và bị đẩy lui; chúng hốt hoảng chạy đâm đầu vào khu vực TĐ5ND, một anh thượng sĩ thường vụ đại đội hăng máu dẫn lính ra thanh toán, nhưng anh đã hy sinh sau khi tiêu diệt toàn bộ địch. Các đơn vị trong An lộc đều rất kiên cường. Nhất là các chiến sĩ Biệt kích, theo lời Hùng, K21ĐL, TĐP thuộc SĐ5BB kể lại, thì chính anh đã mục kích sự gan dạ và tài điều khiển của Đại tá Phan Văn Huấn, Khóa 10 ĐL làm Liên Đoàn trưởng, và Tr/T Lân, LĐP. Họ đã tổ chức các cuộc đột kích đêm, từng tổ 3 người lợi dụng đêm tối len vào ổ địch, đặt chất nổ hoặc phá các kho địch. Đôi khi còn tiến sâu vào vòng trong để sát hại cấp chỉ huy địch bằng cận chiến. Những cái can đảm, hào hùng của họ đã lọt vào mắt của một cô giáo còn kẹt lại An Lộc. Chính cô đã làm nên hai câu thơ lịch sử để ghi nhớ công xả thân vì nước của chiến sĩ Biệt Kích Dù:

An Lộc địa sử ghi chiến tích

Biệt Kích Dù vị Quốc vong thân!

Thấy địch tập trung quân số bao vây thị trấn đông quá, Đại tá Lưỡng đã phải dùng 15 phi tuần B-52 đánh vào các khe suối, mà khi đi vào An Lộc, ông thấy rất nhiều hầm hố dọc theo hai bên bờ, các vị trí pháo của địch, và ngay tuyến cận phòng (cách quân bạn không quá một ngàn thước, thật hết sức táo bạo và liều lĩnh, giống như trường hợp B-52 đã giải vây cho các TĐ 7 và 8 tại Hạ Lào). Khiến địch gần như tịch ngòi, các phi cơ quan sát Mỹ báo cáo địch chỉ có một phần ba lực lượng còn khả năng chiến đấu, sau khi hứng chịu 15 phi tuần B-52. Đánh thêm 8 phi tuần thì An Lộc gần như được yên tỉnh.

Trước khi Chiến Đoàn Dù vào An Lộc, các đơn vị thuộc Sư Đoàn 21 BB của tướng Hồ Trung Hậu đã ngày đêm hứng chịu những đạn pháo liên tục của địch. Phía Tây Quốc lộ 13 gần Tàu Ô là Tiểu đoàn của Võ Công Danh, phía Đông Chơn Thành có Trung đoàn của Đ/T Nguyễn viết Cần, SĐ21BB, đang ở phía Bắc Chơn Thành, ông đã điều động các binh sĩ trực thuộc cố gắng chọc mũi dùi vào giải vây An Lộc. Nhưng Đại tá Cần đã hy sinh vì một viên đạn pháo cay nghiệt! Ông nguyên là TĐT TĐ11ND, một sĩ quan tài giỏi, tánh tình hiền hậu, biết lo cho kẻ dưới, nên thuộc cấp ai nấy đều mến phục.

Có lần khi TĐ11ND đóng quân ở vườn Tao Đàn, bảo vệ an ninh vòng ngoài phủ Tổng Thống. Một đêm nọ, ông cùng 2 ĐĐT Bạch và Nuôi đến ăn uống tại nhà hàng Tour D’Ivor.

Bỗng có hai Quân cảnh Mỹ đến hỏi giấy, vì thấy ông cao ráo, trắng trẽo, mũi lỏ giống hệt người Hoa Kỳ. Ông tự ái không đưa, chỉ nói mình là TĐT/TĐ11ND và bảo hai người ngồi chung là đại đội trưởng thuộc cấp. Họ không tin còn có cử chỉ hỗn láo, định còng tay, Nuôi và Bạch thấy TĐT mình bị hạ nhục, nên tức giận đứng lên tính can thiệp, Hai Quân cảnh hiểu lầm rút súng ra, Bạch nhanh tay hơn, rút súng bắn chết hai quân cảnh Mỹ để tự vệ! Ba người vội xuống xe Jeep chạy về vườn Tao Đàn và ra lệnh báo động, các xe Quân cảnh Mỹ có gắn súng đại liên rượt theo bao vây. Sợ động tới dinh Độc Lập, nên các anh chạy về Trại Hoàng Hoa Thám, đoàn xe Jeep có gắn đại liên của Mỹ rượt theo tới trước cổng trại. Tướng Đống biết chuyện nên ra lệnh hễ Mỹ xông vô thì cứ bắn, lính Tổng Hành Dinh đem súng ra dàn trước cổng. Sau đó cấp trên của Mỹ gọi họ rút về để điều tra kỹ lưỡng rồi sẽ tính.

Khi nhân chứng nói tại Quân Cảnh Mỹ hỗn láo và rút súng ra trước, mọi việc được dàn xếp ổn thỏa: Trung tá Cần bị ra bộ binh, Nuôi và Bạch bị phạt một năm nhốt ở Quân Lao.

Trở lại trận đánh An Lộc,dân và lính đã thụ động co rút dưới hỏa ngục do từ trên trời xuống trong hơn 2 tháng; pháo kích không phải từng cơn, từng giờ, từng loạt; pháo đầy trời như mưa; pháo ào ạt như gió; pháo kín mít như mây. Pháo không vạch từng đường như Mậu Thân, pháo không đi từng luồng như hạ Lào. Pháo và trời chan hòa trộn lẫn như mây bay giăng giăng che kín cả bầu trời An Lộc. Nhờ Đại tá Lưỡng rút kinh nghiệm trận Hạ Lào, canh giờ địch thường hay dùng biển người tấn công, ông xin mấy Pass B-52 rải thảm cách vòng rào phòng thủ không quá 1000 thước, cả Trung đoàn địch đang hung hăng tấn công, bỗng bị cuốn mất trong đám bụi mù, nhờ vậy Bình Long được yên tỉnh mấy ngày.

TĐ6ND, sau khi bị tổn thất nặng tại Đồi Gió (chỉ còn 180 người) rút về Lai Khê tái bổ sung và huấn luyện cấp tốc tại chỗ, được trực thăng đổ hai đại đội của Ngô xuân Vinh (tự Vinh Con) và Nguyễn văn Nghiêm, trưởng ban 3 kiêm nhiệm xử lý chức vụ Tiểu đoàn phó thay thế Thiếu tá Bằng (bị thương mắt tại Đồi Gió), nhảy xuống Tân Khai, phía Nam Thị Trấn, đánh bật lên Xa Cát, Xa Cam, các bộ đội địch lâm vào cảnh lưỡng đầu thọ địch (trong đánh ra, ngoài đánh vào), nên trở tay không kịp, bị lính Dù hốt sạch. Tiểu Đoàn 6 Dù bắt tay được với TĐ8ND tại cửa ngõ vào An Lộc, như vậy coi như Bình Long đã được thoát hiểm.

Cũng nên kể lại trường hợp của trại Tống lê Chân, vì pháo binh trong An Lộc bị tê liệt do các cuộc pháo kích dữ dội của quân Bắc Việt, Quân đoàn III đã thả pháo binh 155 vào trại để từ đây bắn yểm trợ cho Bình Long. Tiểu Đoàn 92/BĐQ/Biên Phòng của Đại úy Ngôn (Ngôn, Khóa 21 Đà Lạt, là người hùng ở Tống lê Chân, trong 1 năm anh được thăng cấp 2 lần, chính Tổng Thống ra lệnh thả lon Trung tá bằng máy bay xuống tưởng thưởng cho anh) đã tuần tiểu lục soát tiêu diệt toán nghiên cứu chiến trường của Cục R, họ đã bắn chết một Thượng tá có trách nhiệm tìm lý do tại sao cuộc tấn công hỗn hợp chiến xa và Bộ binh của chúng vào An Lộc bị thất bại nặng nề.

CSBV bại trận, không chiếm được An Lộc bằng những chủ lực vô cùng hùng hậu, vì vậy Hiệp Định Ba Lê được chúng bằng lòng ký kết (Ngôn sau nầy bị chết trong trại tù VC). Khi đóng tại căn cứ Sư đoàn 5 BB ở Lai Khê, tôi có gặp Biệt đội Tác Chiến Điện Tử Sư đoàn 21 Bộ binh, họ rủ nhậu bia với rắn “Ri Cá”! Tôi thấy anh em Sư Đoàn 21 ôm ra từng bao cát, trong đó đựng những con rắn ngọ nguậy trông thật ghê khiếp. Họ làm thịt tại chỗ; vì sợ mất mặt màu áo binh chủng, tôi cố uống nhiều bia để lấy can đảm, rồi mới dám ăn, lúc tài xế chở về doanh trại bên SĐND, nhớ tới động tác ngọ nguậyï của rắn ri cá, nên buồn nôn, khiến bụng sạch bóc luôn!

Anh em Biệt Đội TCĐT/SĐ21BB thật là hào sảng chịu chơi, họ mới gặp tôi lần đầu mà đã mua từng chồng két bia để đãi, nhất là những con rắn, đã vất vả đem từ Bạc Liêu xa xăm lên. Có lẽ họ thích nét hào hùng của lính Nhảy Dù, cũng có thể trong đó có anh tài xế của vị Biệt đội trưởng tiền nhiệm đã kể lại, lúc trước tôi đã mời lại nhà đãi cơm canh chua cá bông lau và còn cho anh 40 lít xăng để lái xe về Bạc Liêu.

16. Trận Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị

Khi hay tin Quảng Trị bị thất thủ, dân quân tranh nhau chạy về Huế, Tướng Trưởng phải bỏ bữa cơm trưa tại dinh Tổng Thống để cấp tốc bay ra ngay nhiệm sở mới, cố đô Huế lúc nầy đang ở trong tình trạng hỗn loạn vô trật tự. Trung tướng Trưởng, với một sự bình tỉnh đáng kính phục, không có một trách phạt hay quy lỗi cho một ai. Ông đã vãn hồi được trật tự trong hàng ngũ quân sĩ và đặt lại ngay hệ thống an ninh phòng thủ trên bờ sông Mỹ Chánh, sẵn sàn chờ đón một cuộc tấn công mới của địch. Vì họ đã chiếm được một phần đất khá sâu và đang muốn tiến xa xuống phía Nam khai thác thành quả chiến thắng vừa đạt được.

Tướng Trưởng biết lợi dụng sự già nua của cán bộ VC. Tướng Bắc Việt chỉ huy mặt trận lúc đó thay vì thừa thắng xong lên, ông ta cho dừng quân chờ báo cáo chiến thắng và nhận chỉ thị mới. Hà Nội tức giận việc nầy, ra lệnh sa thải ngay viên tướng nhát gan và gởi một thượng tướng Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng vào thay thế.

Tướng nầy đến nơi phải mất gần một tháng mới nắm được quân tình để hòng tiếp tục khai thác thêm chiến quả. Một thời gian quá đủ cho tướng Trưởng kiện toàn xong hệ thống phòng thủ. Ông chẳng những chận đứng được đợt tấn công của địch mà còn phản công dò dẫm ở một vài điểm, làm địch quân phải lúng túng và chùng bước tiến quân của họ lại. Ông đã nhận được lệnh phải tiêu diệt 4 sư đoàn chánh qui Bắc Việt đang đối diện ở bờ Bắc sông Mỹ Chánh, bằng 2 sư đoàn tổng trừ bị là Sư Đoàn Dù và Sư Đoàn TQLC mà hiện ông đã có sẵn trong tay.

Biệt đội tôi theo Bộ Tư Lệnh ra Huế và đóng quân tại Cây Số 17 gần cầu An Lỗ. LĐ1ND do Đại tá Lê Văn Ngọc làm Lữ Đoàn Trưởng, đóng ở bờ Nam gần cầu Mỹ Chánh. LĐ2ND do Đại tá Trần Quốc Lịch (rồi Đại tá Nguyễn Thu Lương thế chức LĐT), đóng ở căn cứ Hòa Mỹ, Phong Điền. Các Tiểu đoàn Dù hoạt động phía Tây Quốc lộ 1; từ Phong điền tới bờ Nam sông Mỹ Chánh, sẵn sàng đợi lệnh ào qua sông tiến về Bắc để tái chiếm Quảng Trị và Cổ Thành Đinh Công Tráng.

Sau Trận Bình Long, Hiệp Định Đình Chiến Paris đang được tạm thời (vì Việt Cộng đâu bao giờ giữ lời hứa) áp dụng, hai bên lo chiếm đất dành dân kiểu da beo. Các đơn vị cũng được một thời gian an ổn thoải mái.

Bấy giờ khí hậu ở đây thật là nóng bức, nắng lửa mưa dầu. Mỗi buổi trưa, Thiếu tá Hồng Thu, đại đội trưởng Quân Cảnh Dù, Thiếu tá Đàn, Tâm Lý Chiến, Thiếu tá Bằng, đại đội trưởng Tổng Hành Dinh, Thiếu Tá Tôn Thất Hiếu, đại đội trưởng Truyền Tin, Đại Úy Nguyễn Thanh Nhàn, Tiểu đoàn Công Binh, và tôi,….thường rủ nhau ra sông An Lỗ tắm.

“Sông An Lỗ nắng đục mưa trong” (phỏng theo câu ca dao nói về sông An Cựu). Bấy giờ là mùa mưa, nước sông trong leo lẻo, chúng tôi thường bơi ra giữa dòng, rồi nắm tay nhau lặn thi, ai nổi lên trước thì thua chầu đãi nhậu tại chỗ. Trên bờ sông có quán bán cua luộc và hột vịt lộn, chúng tôi lặn xong rồi lên uống bia với cua cũng vui vẻ lắm. Thiếu tá Đàn rất rộng rãi, anh thường đãi chúng tôi đi ăn bún bò Mụ Rớt ở Gia Hội, hoặc Cơm Âm Phủ ở gần Đập Đá, anh nguyên là Cảnh sát trưởng một Quận trong Thành Phố Sàigòn.

Một hôm Thiếu tá Hiếu lái trực thăng C&C của Tướng Lưỡng, chở chúng tôi ra cửa Thuận An tắm biển, rồi tới nhậu mực tươi của Thiếu tá Chỉ huy Trưởng căn cứ Hải Quân tại đây, anh nầy cùng khóa 16 Đà Lạt với Thiếu Tá Bằng. Mực tươi luộc đựng đầy trong thau to trông thấy ớn! Vì anh phi công trưởng nầy khóa 21 Đà Lạt nên rất chịu chơi; một hôm khác, anh cho Thiếu tá Hiếu lái chở chúng tôi ra Đà Nẵng nhậu xong rồi về trong ngày, để mọi người kịp dự thuyết trình trong phiên họp tham mưu mỗi buổi chiều của Sư đoàn.

Trong cuộc chiến Việt Nam, chiến sĩ Dù thường phải đi khắp nơi để đánh dẹp quân thù, chúng tôi ngoài việc thường xuyên xa nhà, sống trong rừng thiêng nước độc, ngày đêm chạm mặt quân thù. Những ngày dừng quân tiếp tế hoặc đợi lệnh hành quân kế tiếp, mọi người thường đi tham quan thắng cảnh hoặc rủ nhau chè chén cho đỡ lòng nhung nhớ vợ con, thân thuộc.

Rồi ngày tái chiếm Quảng Trị sắp đến, Bộ Tư Lệnh họp các Lữ Đoàn Trưởng, các phòng ban lia lịa; và cho tổ chức buổi thuyết trình hành quân mời các đơn vị tăng phái, phổ biến rộng rãi ngày chuẩn bị vượt sông Mỹ Chánh tấn công tái chiếm Quảng Trị. Nội tuyến và tình báo địch nhận được tin, chúng cho dàn trận chờ đưa các đơn vị ta vào rọ, nào xe tăng T-54, T-64, PT-76, Phòng Không 30 ly, đại bác 130 ly,…cùng các Sư đoàn chánh qui của quân Bắc Việt. Thật là một lực lượng hùng hậu chưa từng thấy, một con kiến cũng khó qua, một con ruồi cũng bay không lọt! Nhưng…..

Ngày N đã điểm các đơn vị quân Nam chuẩn bị như sẵn sàng xuất quân nhưng không thực sự tiến quân (chỉ dùng kế nghi binh), đêm trước đó các Pass B-52 trải thảm liên tục bên bờ Bắc sông Mỹ Chánh; các Phi tuần Khu Trục, Pháo binh 105 ly, thay nhau nả vào các tuyến án ngữ suốt ngày, khiến địch bị tơi bời. Quân CSBV giống như bị thiên lôi đánh, không thể ngóc đầu dậy tháo chạy được !

Rồi vài hôm sau, ngày 7 tháng 5 năm 1972 (lại một mùa hè đỏ lửa) trong khi địch quân không còn dám tập trung gần bờ sông Mỹ chánh, trong khi họ chưa hồi sức bởi trận thiên lôi giáng; các đơn vị sau khi đã trực tiếp nhận khẩu lệnh (để giữ bí mật tuyệt đối), bắt đầu xuất quân. Sư đoàn Dù phụ trách phía Tây Quốc lộ 1, bên cánh phải có Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

Một giờ khuya, TĐ1ND vượt sông Mỹ Chánh đánh bất ngờ, khiến địch trở tay không kịp, mới mờ sáng đã nghe họ báo cáo tịch thu tới 11 khẩu đại bác Phòng Không 30 ly!

Cánh TĐ11ND do Thiếu tá Mễ làm TĐT và Thành Râu, TĐP, từ Phong Điền tiến về hướng Tây Bắc, đuổi địch chạy qua bên kia sông. Vào nửa đêm 14/5, chúng trở lại phản công, pháo dữ dội vào tiểu đoàn, rồi các chiến xa địch lù lù tiến vào vị trí phòng thủ. Lúc ấy TĐT Mễ đã bị thương, Thành Râu (xử lý TĐT) đứng trên đỉnh đồi dùng ống dòm Hồng Ngoại Tuyến thấy bóng nhấp nhô như bầy “Cua đinh” lấp loé ánh đèn của đoàn xe tăng giống một đàn đom đóm, Thành vội gọi pháo binh bắn chận. Đại úy Triệu cho bắn đạn CVT để tiêu diệt đám bộ binh tùng thiết, nếu mảnh đạn mà trúng vào thùng xăng thì những con cua đinh sẽ trở thành “Cua rang muối” ngay lập tức. Một chiếc bị pháo cháy, nhưng chiến xa và tùng thiết địch vẫn tiến, đại bác 76 ly và đại liên 12.8 ly từ trên pháo tháp nả vào TĐ11ND. Chờ tới gần, binh sĩ dùng súng chống chiến xa M-72 và Hỏa tiễn lân tinh 4 nòng MX202 bắn hạ hết 8 chiến xa địch, ngoài ra binh sĩ còn dùng lưỡi lê, lựu đạn để tiêu diệt những tên tùng thiết ngoan lỳ dám xong vào tuyến phòng thủ của tiểu đoàn.

Ở xung quanh đồi Trần Văn Lý (tên của một Thiếu úy thuộc TĐ11ND đã hy sinh tại đây), các đơn vị đã dùng hỏa tiễn Tow diệt thêm 7 chiến xa địch. TĐ11ND sau đó tiến lên diệt 3 nút chận quan trọng khác là nhà thờ La Vang, căn cứ Trung Đoàn 3 BB cũ, và Chi Khu Mai Lĩnh để trợ giúp cho TĐ5ND và TQLC tiến đánh Cổ Thành. “Tinh thần” TĐ11ND lúc bấy giờ rất hăng hái vì nhân dịp giỗ thất tuần của cố Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Đình Bảo, toàn thể chiến sĩ quyết tâm “Rửa hận” trận Charlie và họ đã chiến thắng nhờ ba yếu tố:

1. Đơn vị đã xử dụng 24 phản lực cơ yểm trợ một lúc, phi cơ bay rợp trời, dùng “Smart Bomb” để tiêu diệt chiến xa.

2. Ngay cả một sĩ quan tâm lý chiến của Tiểu đoàn với độ cận thị rất nặng, vậy mà đã xử dụng và chỉ huy toán “Hỏa Tiễn Tow” tiêu diệt nhiều chiến xa địch.

3. Thả bom B-52 cách tuyến phòng thủ chỉ có 700 thước, để tiêu diệt Chiến xa và Bộ binh địch (đây không phải là khoảng cách an toàn tối thiểu cho loại phi cơ chiến lược nầy)

LĐ2ND chiếm các căn cứ ở đỉnh cao dãy Trường sơn như Barbara, Động Ông Đô (những tên nầy được đặt sau hiệp ước đình chiến), và chiếm đỉnh cao (căn cứ Ann sau nầy) đặt các khẩu pháo 155 ly ở hướng Tây Ái Tử. Các tiểu đoàn thuộc LĐ2ND, báo cáo tịch thu trên 2000 khẩu súng, trong đó có phòng không 30 ly, đại bác, và hỏa tiễn đủ loại. Ngoài ra các đơn vị còn tiêu diệt nhiều chiến xa của địch. Thiếu tá Đào Thiện Tuyển, TĐP/TĐ8ND, báo cáo thấy nhiều đồ lót phụ nữ và nghe nhiều tiếng chửi chí chóe của các cô hộ lý tại căn cứ 18 (Đại tá LĐT Nguyễn Thu Lương định đặt tên Căn cứ 81, nhưng Trung tá Tuyển sợ kỵ húy ảnh hưởng không tốt cho ĐĐ81 của ông, nên đổi ngược là cô gái 18):

– Đ.M. các ông chạy bỏ chúng tôi lại không kịp dẹp nồi niêu, son, chảo,… như vậy thì còn bố chi mà nấu nướng đây?

Cánh quân các tiểu đoàn khác, trong đó có Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù cùng nhau Bắc tiến đánh đuổi địch ra khỏi các quận Triệu Phong, Hải Lăng khi tới Ngã Ba Long Hưng thì bị khựng lại. Tại đây địch đã làm tuyến án ngữ từ Ngã Ba tới cầu Thạch Hãn, TĐ5ND và đơn vị bạn phải dùng cận chiến, đôi bên đều tổn thất nặng nề. Nhờ vậy địch quân lùi vào tử thủ cổ thành Đinh Công Tráng. Một đại đội của Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù đã lên được Cổ Thành, nhưng bị một trái bom của Mỹ thả gần quá làm tổn thiệt một số chiến sĩ dũng cảm ở trên bờ thành. Sau khi TĐ5ND rút ra đi về mục tiêu kế tiếp ở phía Tây Quốc Lộ I, phi cơ tiếp tục dội bom làm tan nát cổ thành, một đơn vị của TQLC đã nhào lên chiếm được vị trí quá kiên cố đó, và địch quân chịu không nổi phi pháo, nên rút chạy về phương Bắc (nhưng sau trận nầy, cổ thành sụp đổ tan tành, mất tiêu dấu vết cổ kính của một di tích lịch sử!)

Trong một thời gian hạn định, Tướng Ngô Quang Trưởng đã điều động 2 đơn vị Tổng Trừ Bị tái chiếm lại được Quảng trị, nơi địch quân đã dồn hết lực lượng chủ chốt để thách đố quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Tướng Trưởng đã diệt địch không phải bằng một cuộc phản công đại quy mô, mà bằng những cuộc tấn kích nho nhỏ và liên tục, mỗi ngày một khác và ở những địa điểm không giống nhau, nhằm mục đích tiêu hao để rồi diệt gọn địch. Ông tiếp tục cho hành quân phản công lấn đất lần về đến thị xã Quảng Trị. Sau đó chiếm lại thành phố và bao vây cổ thành Quảng Trị, rồi trương cờ lên cổ thành Đinh Công Tráng. Ông cho lệnh bố trí quân phòng thủ phía Nam sông Thạch Hãn, dùng phía Bắc bờ sông như vùng trái độn để củng cố và tổ chức các tuyến phòng ngự, xử dụng trọng pháo tối đa để ngăn chận địch quân tiến gần bờ sông (nói thêm là sau trận chiến thắng nầy, tướng Trưởng có được một cháu trai, ông đặt tên là Trị). Ngũ Giác Đài và các danh tướng ngoại quốc hết sức khâm phục sự chiến đấu dũng cảm của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung, Sư Đoàn Dù và Sư Đoàn TQLC nói riêng.

Sau trận nầy, địch quân hoàn toàn mất khả năng chiếm giữ Thị Trấn Quảng Trị, vì cổ thành đổ nát, Thị Xã tan tành bởi bom, đạn pháo; nên chánh quyền lập thị trấn mới tại Quận Triệu Phong, Phía Bắc sông Mỹ Chánh. Địch quân núp vào dãy núi Trường sơn ở phía Tây, thỉnh thoảng pháo vài quả khuấy rối, như để chứng tỏ còn hiện diện tại đây. Vì vậy các đơn vị Dù thay phiên nhau lên các đỉnh núi cao trong dãy Trường Sơn, lập căn cứ đóng đồn giống như Địa Phương Quân.

Điều đáng buồn là Đại tá Nguyễn Trọng Bảo, Tham mưu trưởng SĐND, đi quan sát bằng trực thăng, chẳng may máy bay bị địch bắn trúng và rớt xuống vùng phía Đông Bắc cầu Mỹ Chánh, ông bị tử thương cùng Trung tá Huỳnh Long Phi, pháo binh. Đại úy Lang bị thương chân và phỏng nặng cấp ba, còn Đại úy Công binh Nguyễn Thanh Nhàn thì thật may thoát khỏi nạn vì vợ ra thăm nên đại úy Lang đi thế. Tin nầy làm Tướng Đống nằm bịnh liệt giường hết mấy ngày, vì ông rất thương vị Tham Mưu Trưởng đã từng giúp ông rất đắc lực trong nhiều năm qua.

Tháng 3 năm 1973, xe Jeep chở tôi chạy tới cua quẹo gần cầu Phong Điền thì bỗng bị lạc tay lái, xe lật nhào xuống lề đường sâu thoai thoải; tôi đang ngồi ở ghế trưởng xa, bị văng ra ngoài, lưng chạm vào viên đá, gây chấn thương cột sống, hai chân bị tê liệt, mất cảm giác và không thể cử động từ thắt lưng trở xuống! Thế là đời binh nghiệp chấm dứt từ đây!

Chương 4
Gãy Gánh Giữa Đường

1. Tai Nạn Thảm Khốc
Năm 1973 tôi ra thăm toán Tác chiến điện tử tại LĐ1ND, ở bờ Nam sông Mỹ Chánh thuộc tỉnh Quảng Trị. Trên đường về xe Jeep bị lật ở khúc cua quẹo ngay chân cầu Phong Điền khiến lưng tôi chạm nhằm viên đá, gây chấn thương cột sống! Thế là cuộc đời gãy gánh giữa đường !!!

Sau khi tỉnh dậy chờ xe cứu thương di tản, tôi bi quan nằm ngó trời đất mênh mông. Nghĩ đến số phận tàn phế của mình, chẳng lẽ phải tiếp tục kéo dài cuộc sống không lạc thú nầy hay sao? Nghĩ đến người vợ còn trẻ tuổi (chưa đầy ba mươi!), tôi muốn tự giải thoát để không liên lụy cuộc đời son trẻ của nàng. Nhưng khi nhớ đến ba đứa con còn nhỏ dại rồi đây sẽ ra sao ? Chỉ trong mấy phút mà đầu óc suy nghĩ đủ thứ. Cuối cùng tôi quyết định không buông xuôi, phải cố gắng tồn tại, dùng bộ óc và kiến thức sẵn có để dìu dắt các con cho nên người rồi sẽ tính sau.
a). Tại Bệnh Viện Cộng Hòa

Khi được chở về tới Trạm xá ở bộ Tư Lệnh Sư đoàn Nhảy Dù, nhìn thấy Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh SĐND, Đại tá Phước, Tư Lệnh Phó, tới thăm; nhưng tôi cứ nhắm mắt buông xuôi. Lúc đó tôi không muốn gặp ai, chỉ mong được yên lặng để tiếp tục suy nghĩ về số phận tương lai của mình.

Sáng hôm sau, đích thân Bác sĩ Trần Khắc Niệm, Y Sĩ Trưởng, kiểm soát lại bệnh tình rồi gọi về Hậu cứ nói Bác sĩ Tường cho người đón và đưa tôi thẳng vô Bệnh viện Cộng Hòa để kịp giải phẫu lấy máu bầm sớm, may ra cứu vãn được phần nào hệ thần kinh tủy sống. Bác sĩ Niệm, Bác sĩ Tường, y sĩ trưởng bệnh viện Đỗ Vinh, là những người bạn rất tốt. Lúc bình thường Cò Thu, tôi, và anh Niệm thích chơi bóng chuyền với nhau, tại sân Trạm xá Quân y. Chúng tôi cũng ưa rủ nhau ra thành phố Huế du ngoạn nơi các Lăng Miếu cổ xưa, vào Hoàng Cung Đại Nội xem các di tích lịch sử và ăn bún bò nổi tiếng ở Gia Hội,…nhưng từ đây tôi sẽ không còn những ngày huy hoàng đó nữa!

Vô Bệnh Viện Cộng Hòa, họ chụp quang tuyến và đưa đi mổ ngay. Đây là cuộc giải phẫu lớn, gần một buổi sáng mới xong. Khoảng nửa ngày thì tôi tỉnh dậy, thấy miệng khô và khát nước vô cùng! Nhưng họ không cho uống, chỉ lấy bông gòn thấm nước thỉnh thoảng để trên môi cho thấm xuống chút xíu, vì mới mổ mà uống nước sẽ nguy hiểm. Lúc ấy tôi bị hành sốt và lạnh run, miệng đánh bồ cạp liên tục! Y tá đấp mền và lấy đèn sưởi mà không đỡ chút nào, thân nhân đứng ngoài phòng kiến nhìn cảnh như vậy mà đau lòng xót ruột.

Vợ tôi sau nầy kể lại là thường ngày tôi rất kỹ, trước khi ăn đều rửa tay, vậy mà hôm đó cục bông gòn ướt rớt xuống nệm dơ bẩn, tôi vẫn cứ lượm lên liếm một cách ngon lành, giống như những em bé thèm kẹo cục vậy!

Ở Hậu giải phẫu một thời gian, họ đưa tôi tới phòng điều trị, tại đây có một số sĩ quan bị thương cột sống như :

* Thiếu Úy Nguyễn Văn Tuân, khóa 24 ĐL, còn độc thân. Anh mới ra trường 6 tháng thì bị bắn trúng ngay xương sống, chỉ có bà mẹ già gần 70 tuổi vào nuôi bịnh. Tuân bị lở nhìn thấy cả xương khu, vết to bằng bàn tay, hằng ngày phải rửa nước biển, chữa trị suốt cả năm vẫn chưa lành.

* Chuẩn úy Linh, vừa mới cưới vợ một tháng, bị thương giống Tuân; tội nghiệp vợ Linh còn trẻ đẹp mà sớm chịu cảnh nầy! Hằng ngày chị chăm sóc Linh rất chu đáo và tận tình.

* Chuẩn úy Sơn, xương sống không vỡ; nhưng bị chấn thương, làm ảnh hưởng thần kinh tủy. Sơn bị loại liệt mềm, đôi chân thường co giựt. Ba má và em trai hằng ngày thay phiên vào chăm sóc. Sau ngày mất nước, vì sinh kế, gia đình về quê làm ruộng; nhưng dân ở đó nghèo quá làm bậy. Họ vào nhà Sơn ăn trộm; má Sơn thấy la lên, bị họ đánh trúng cổ, gây chấn thương cột sống và tê liệt 2 chân giống con! Gia đình Sơn phải trở về Phú Nhuận sống lây lất qua ngày. Tội nghiệp ba và em trai của Sơn phải làm việc vô cùng vất vả, để đùm bọc, chăm sóc hai mẹ con bị bịnh hiểm nghèo nầy. Má Sơn chịu đựng được mười năm và vừa mới mất hai năm trước.

* Thiếu úy Lạc cũng còn độc thân như Sơn và Tuân, bà mẹ ở Bến Tre lên chăm sóc anh rất kỹ. Lạc có tiến triển, vài dây thần kinh phục hồi dần, đôi chân cựa quậy chút chút. Sau nầy trước khi xuất viện về Bến Tre, anh đứng được tập đi bằng cách vịn trong hai thanh paralel.

* Đại úy Bếp, Đại đội trưởng công vụ Liên đoàn Biệt Động Quân, căn cứ ở gần cầu Bình Lợi, anh bị thương vì pháo kích. Trung tá Hồng, Liên Đoàn Trưởng, cũng bị thương chân trong ngày đó, nằm ở trại sĩ quan cao cấp (sau nầy họ chuyển tôi xuống nằm cạnh phòng Trung tá Hồng). Gia đình anh Bếp coi bộ khá giả, chị nói cho ăn ổ yến, nên có tiến triển và phục hồi đôi chút, anh thường đi ngâm đôi chân vào hồ nước xoáy.

Cũng từng là Đại đội trưởng Chỉ huy Công vụ như anh, nhưng bà xã tôi, những ngày cuối tháng chưa kịp lãnh lương, phải qua bà Thượng sĩ Bạc (Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù) mượn tiền đi xe Lam vô thăm nuôi!

Thật ra làm Đại Đội Trưởng muốn giàu có thì không được, nhưng muốn có chút ít xài vặt cũng không khó. Lúc còn ở Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù, Trung sĩ Dậu, kế toán trưởng, thấy gia cảnh tôi quá đơn sơ đạm bạc, ở nhà lợp “Tôn” nóng bức. Đích thân Dậu và anh thợ hớt tóc kiêm thợ mộc tên Tám đi kiếm thùng đạn pháo binh về đóng “La phông”, để có thể nằm nghỉ trưa; anh và Tám còn đóng một cái giường, tuy thô sơ nhưng lòng tôi rất ấm cúng, vì đó là tình nghĩa, là tấm lòng tốt của Dậu và Tám, nhưng lòng tôi vẫn ái ngại mỗi khi nghĩ đến chuyện nầy.

Có lần má của binh nhì Dũng, một người giàu có, nhà thầu khai thác trục Đa Sa (đường dẫn vào trường Võ bị Đà Lạt), đến văn phòng đại đội nhờ Dậu giúp đỡ dùm. Vì Dũng thích Nhảy Dù quá nên bỏ học, chưa đủ 18 tuổi mà đã trốn nhà đi lính; khiến ai nấy đều lo âu sợ sệt. Bà tìm đến nhà tôi nhờ giúp đỡ và hứa sẽ hậu tạ, thấy Dũng còn vị thành niên, tôi cho em ở Trung đội Chỉ huy, bớt nguy hiểm phần nào, nhưng không nhận thù lao, chỉ lấy bó hoa hồng Đà Lạt thôi.

Dậu rất tốt và hiểu tôi nhiều nhứt, hôm Tết tôi treo tiền cho đội lân nhà, sau khi kiểm điểm, thấy dư thừa cho buổi tiệc Tân Niên. Dậu bàn với Trường đem hoàn lại số tiền; nhưng vợ tôi không nhận, coi như ủng hộ phần nhỏ mọn nầy cho anh em binh sĩ vui chơi trong ba ngày Xuân. Dậu và Trường thật chí tình và trung tín, dầu đi đâu hay ngay khi ngồi viết bài nầy, tôi vẫn hồi tưởng lại và thương mến họ, cùng các anh em từng sống chết có nhau, ở Đại đội 91 Nhảy Dù.

Một trong những bịnh bi đát và khổ sở nhất là bịnh chấn thương cột sống; hệ thống bài tiết bị đình trệ, gần như không còn hoạt động tốt và gây rất nhiều biến chứng. Họ để ống “Xông” vào bọng đái thường trực gây ra nhiểm trùng, chuyền lên tới hai quả thận. Riêng tôi còn bị ống xông loại cứng quá làm lủng từ bọng đái xuyên qua ruột già, khiến nước tiểu chảy qua đường hậu môn! Lúc đó họ định mổ tách ra, nhưng thấy tôi còn yếu nên tìm loại ống xông đặc biệt đặt thường trực và bơm nhiều thuốc trụ sinh vào chai nước biển diệt vi trùng để bảo vệ thận. Họ cho trụ sinh nhiều quá đến đổi cơ thể tôi không còn tiếp nhận được Pénicilin, hễ chích vào sẽ bị phản ứng, ngay cả uống Ampicilin cũng vậy.

Còn việc đại tiện thật là bế tắc, mỗi ngày tôi nhìn thấy ra ba cục “Thuốc tể” thì mừng rỡ, nhưng nếu lớn bằng ba cục “Cứt dê” thì trong người thật khó chịu! Cứ ôm cái bụng chình bình; không còn muốn ăn uống gì nữa; lúc đó tôi ốm yếu cân mất hơn 50 pounds (gần 25 kí lô!).

Cháu Thành bấy giờ đã hơn 3 tuổi, ngày nào cũng theo má vào thăm tôi. Nó ưa leo lên giường nằm cạnh bên, khiến mọi cơn đau đớn về thể xác như tiêu tan mất hết. Có lần đi ngang qua hai chân, thấy tôi đang lót báo, nó vội lật đật nhảy xuống cái rột, thật là đáng “Ghét” vô cùng.

Trước đó, mỗi khi Biệt Đội được ở hậu cứ, sáng nào nó cũng canh thức sớm, leo lên xe Jeep theo tôi vào văn phòng làm việc. Thành thường trèo lên bàn lấy viết vẽ lung tung; nó thích cho chú tài xế chở đi chơi vòng vòng. Các sĩ quan và quân nhân trong Biệt Đội đều thương nó. Mỗi lúc đi hành quân xa, tôi thường lén thức dậy một cách nhẹ nhàng để trốn ra phi trường, nhưng lần nào cũng không gạt được, tôi vừa ngồi dậy là nó liền mở mắt đen thui, làm như đã canh sẵn hồi nào tới giờ.

Khi máy bay bắt đầu lăn bánh ra phi đạo, tôi nhìn nó mà ứa nước mắt, thật sự không muốn rời xa con chút nào; nếu đào ngũ được tôi cũng muốn làm. Có lần Huy lúc ở Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù đã đào ngũ; vậy mà ra Quảng Trị, hắn cũng dám lại thăm tôi như thường (đơn vị Nhảy Dù chỉ cần người tình nguyện. Những ai quá nặng nợ, không kềm giữ được bản thân thì không giúp gì cho đơn vị thiện chiến nầy). Vì vậy khi có con cái đùm đề, nặng nợ gia đình, chần chừ mỗi khi đi hành quân xa, lúc đó tôi cảm thấy không xứng đáng mang danh binh chủng nầy chút nào!

Nhà thương của Việt Nam đâu có máy lạnh nhiều như ở Mỹ, chúng tôi ai cũng bị lở (mông hoặc xương khu) vì hầm hơi, mặc dù thỉnh thoảng cũng nhờ thân nhân giúp trở mình qua lại. Tôi chỉ bị nhẹ, trong khi Tuân và Sơn thì lở rất nặng; nhưng vết mổ của mọi người đều lành thật chậm. Hằng ngày vợ tôi phải rửa bằng nước biển và băng bó kỹ lưỡng nhưng cũng không gom mặt. Sau nầy khi hành quân về, bác sĩ Niệm có tới thăm và cho hộp “Bô Mát” làm bằng một loại nấm gì ở Phi châu, do Pháp sản xuất. Khi thoa vài lần, thấy vết thương có tiến triển, tuy đắt tiền nhưng bà xã tôi vẫn kiếm mua, xức trong vài tháng thì lành hẳn.

Vết lở của tôi bằng đồng bạc mà cũng nửa năm và tốn rất nhiều típ bô mát mới hết, đây đúng là bịnh nhà giàu! Vì mỗi lần lở lâu lành nên tôi giữ gìn rất kỹ; ngày nào cũng tắm rửa sạch sẽ; tối nào cũng thức giấc nhiều lần để trở mình (thói nầy tập quen từ năm 1973 và đi theo tôi tới giờ đã gần 25 năm!).

Không khí sinh hoạt ở đây cũng dễ chịu, đồng cảnh thường thương mến giúp đỡ lẫn nhau. Thân nhân được đôi chút an ủi vì những người xung quanh ai cũng nồng nhiệt; lúc rảnh rỗi mấy bà thường tụ họp chuyện trò thăm hỏi nhau, trong đó đề tài chánh thường bàn về vết lở và táo bón của người thân họ.

Một tháng sau, Sĩ quan Đại diện SĐND vào bệnh viện gắn cho tôi cấp bậc Thiếu tá và chuyển xuống trại sĩ quan cao cấp. Tại đây, cấp Trung và Thiếu tá thì hai người một phòng, Đại tá ở phòng có máy lạnh, cấp Tướng thì rộng rãi và tiện nghi hơn. Trưởng trại sĩ quan cao cấp là Trung úy Hai, sau ngày mất nước, nghe nói anh là nội tuyến nằm vùng (chỉ nghe nói chứ chưa xác định rõ). Dãy nhà cấp Tướng, lúc đó có Ngô Quang Trưởng,Tư Lệnh Quân Đoàn I và Phó Tổng Thống Trần Văn Hương,…Cụ Hương chỉ thích nằm võng chứ không chịu nằm giường. Nghe nói Tướng Trưởng đã bất mãn vụ gì đó nên khai bịnh như để phản đối một cách tiêu cực.

Tôi nằm cùng phòng với Thiếu tá Anh, là Phi công lái F-5 đầu tiên của ngành không quân. Anh ra ngoài Bắc oanh tạc, máy bay trúng đạn, bị thương ở chân. Mỗi tối có một binh sĩ Biệt đội thay phiên đến trông nom, vì vợ tôi lo ở nhà coi sóc 3 đứa con còn nhỏ dại. Tội nghiệp cháu Thiện lúc đó mới sanh 7, 8 tháng, ở nhà với anh Tâm (mới 6 tuổi) và chị Hảo, người giúp việc cho gia đình mấy năm nay.

Cháu Hảo là con của một Trung sĩ Dù, nhà trong trại Hoàng Hoa Thám, tánh tình cương trực không tham lam. Có lần bà xã tôi mua giấy số, cầu mong có chút đỉnh tiền lo cho chồng, con. Nhưng vì đầu óc bối rối lo lắng đủ điều, tiền lương cố định; mà phải nào là thuốc men, nào là cơm gạo và nhất là phải có tiền mua sữa cho cháu Thiện nữa. Mắt thì dò giấy số mà đầu óc cứ nghĩ đâu đâu, như Tú Xương đã nói về vợ:

….Nuôi nấng ba con với một chồng (đang bịnh)

Lặn lội thân cò khi quãng vắng….

Hảo lượm giấy số đã quăng bỏ lên coi lại, bỗng la lớn:

__ Trúng cặp 7 một trăm ngàn rồi cô ơi!

Vợ tôi không tin, nhưng cũng miễn cưỡng coi, bỗng mắt nàng sáng lên vì quả thật là trời đã ngó lại!

Ở trại sĩ quan cao cấp, mỗi ngày tôi mang giày nẹp tập đi trong hai thanh paralel; ngoài ra còn lo vô nước biển, trong đó có thuốc trụ sinh, để chữa bệnh nhiễm trùng đường tiểu gây ra do đặt ống xông lâu ngày. Điều trị hơn một năm thì sức khỏe tôi hồi phục dần, hằng ngày có thể tự lăn xe đi vòng vòng trong khu trại nầy, và mỗi buổi sáng thường ra phơi nắng. Chiều tới, khoảng năm giờ là bắt đầu thấy buồn, vì hai mẹ con sửa soạn ra về, nhất là cháu Thành cứ quay lại vẫy tay chào làm tôi ứa nước mắt.

Không hiểu tại sao lúc đó tôi dễ nhạy cảm và con người quá yếu đuối? Có lần Thành nghịch ngợm, mẹ nói hoài không nghe, nên giận quăng đôi giày của nó ra sân; chỉ có vậy mà tôi cũng chảy nước mắt. Có lẽ trước kia tôi còn nghĩ đến quyền quý danh vọng, bây giờ thì mất tất cả. Chỉ còn lại bốn mẹ con yêu thương trong tầm tay, tôi muốn họ lúc nào cũng được yên vui hạnh phúc mãi mãi, không ai được động tới họ.

Những ngày ở bệnh viện buồn chán, may nhờ có mấy đứa con vô chơi nên tôi cảm thấy yêu đời dần dần và tự nhủ thầm: hãy bỏ mọi ước mơ ảo tưởng qua một bên, không nhìn về quá khứ để ngồi than thở, hối tiếc; mà nên bằng lòng với định mệnh để nắm giữ cái hiện hữu thực tại, và cố ngoi lên trong khả năng hạn chế của mình (Thực sự nếu cứ ngồi một chỗ để cằn nhằn so bì tại sao mình không đi đứng được như người ta, tại sao mình không có nầy không có nọ như người ta? Tại sao và tại sao,….thì thà xuống địa ngục còn sướng hơn)

Thân thể tuy bất toàn nhưng không có nghĩa là cuộc đời đã chấm dứt; đôi chân không đi được nhưng khối óc vẫn còn nguyên vẹn. Nước chảy đá mòn, thời gian dài chịu đựng sự dày vò về thể xác lẫn tâm hồn suốt năm qua; vẫn không bào mòn được ý chí phấn đấu sẵn có trong con người từng xong pha vào làng tên mũi đạn quân thù như tôi. Mấy tháng nay tôi luôn tranh đấu với bản thân, quyết tâm hướng về tương lai, bỏ lại những quá khứ đau buồn từ ngày bị tai ương tàn khốc!

Sau khi nghĩ thông suốt, tôi thường tự an ủi bằng cách so sánh với những người có cảnh ngộ khó khăn hơn mình. Như những người bị liệt tứ chi chẳng hạn, họ còn khổ sở hơn rất nhiều: hai tay cử động yếu ớt, khó thở vì phổi không được bình thường. Hoặc so với những người bị ung thư bất trị, hoặc những người già yếu lụm khụm. Ôi thế gian nầy còn biết bao nhiêu người đau khổ hơn mình; tại sao họ chịu đựng được, còn mình đường đường là một nam nhi, đã từng tôi luyện trong lò luyện thép tại Đà Lạt, đã từng “Nhảy Dù Cố Gắng”, chỉ huy binh sĩ trong các mặt trận thập phần nguy hiểm như Tết Mậu Thân ở Quảng Trị, Huế, và Vùng Ven Đô Sàigòn. Nào là mặt trận Tây Ninh, nào là Bình Long Anh Dũng, nào là vùng Phi Quân Sự, Hạ Lào,Campuchia,… Rồi tôi nghĩ đến những nhà tu hành đạo đức; họ đâu chú trọng về hưởng thụ bản thân, đã một lòng hướng thiện và cứu rỗi chúng sanh đang đau khổ vì cái vòng lẩn quẩn: sinh, lảo, bịnh, tử.

Bây giờ đã thấu triệt, nhờ vậy tôi cảm thấy thoải mái và xin xuất viện về nhà để gia đình tránh khỏi một kiểng hai quê, hòng có dư chút đỉnh mua sữa cho cháu Thiện hiện còn quá thơ dại.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

October 22nd, 2021

Post by Sơn râu 27 Apr 2024

(Kỳ 36)

Từ mùa Hè 1943 tên tuổi của Hara bắt đầu vang danh: được xem là hạm trưởng của phép lạ. Vào thời điểm đó một khu trục hạm khó sống sót sau hai trận thủy chiến nhưng chiếc Shigure của Hara vẫn trở về lành lặn và lập chiến công. Rất khác các trận đánh trên bộ có sự phối hợp hỗ tương giữa các đơn vị, trên mặt biển đội hình của một hải đoàn vỡ tan ngay tức khắc một khi lâm trận. Mỗi chiến hạm phải tự lực chiến đấu. Đặc điểm này cho thấy Hara là một thuyền trưởng giỏi giang, biết lấy những quyết định đúng lúc và phù hợp với tình thế. Huyền thoại “The Unsinkable Captain” chỉ mới bắt đầu. [Trần Vũ] 

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 36

Trong lúc 20 hải vận hạm tiến chậm chạp dọc theo bờ biển, các khu trục hạm Nhựt đã lừa các chiến hạm Mỹ chạy theo ra hướng đại dương. Ðó là 4 khu trục hạm Nicholas, O’Bannon, Taylor và Chevalier.

Trước khi trời tối một vài giờ, 400 binh sỹ Nhựt phải nằm lại trên các hải vận hạm ẩn núp dọc theo sườn đảo. Khi màn đêm buông xuống, tất cả đã đổ bộ lên Horaniu. Như thế, cuộc hành quân đã thành công trọn vẹn. Và như vậy, có thể kết luận rằng các khu trục hạm của Ðại tá Thomas J. Ryan đã thất bại, và trong thất bại này có nhiều khúc mắc.

Các chiến hạm của Ryan chạy cùng một hướng với các chiến hạm của chúng tôi mãi cho đến 23g32, và sau đó bỗng xoay hai lần 90 độ để hướng về các hải vận hạm Nhựt. Một vài báo cáo cho biết sở dĩ Ryan đã từ bỏ cuộc săn đuổi các khu trục hạm chạy với vận tốc 35 hải lý của chúng tôi bởi lẽ các khu trục hạm của ông ta chỉ có thể chạy với tốc độ 30 hải lý mà thôi.

Nhưng sự thực lúc ấy tốc lực tối đa của chiếc Shigure chỉ đạt đến 30 hải lý là cùng. Hơn nữa bánh lái của Shigure lại không được chính xác nên chắc chắn tàu này của tôi và Isokaze chạy không quá 28 hải lý. Mặt khác, hướng tiến của các chiến hạm Hoa Kỳ và hai chiến hạm Nhựt, tôi kiểm chứng lại qua các tài liệu của hai bên sau này, cho thấy Ðại tá Ryan không hề săn đuổi chúng tôi.

Ryan cũng không chủ tâm săn đuổi các hải vận hạm Nhựt. Theo báo cáo, tất cả các khu trục hạm của ông ta đã bắn hết đạn nhưng vẫn còn nhiều đạn cao xạ Bofors 40 ly và đại liên, đủ sức tấn công vào đoàn chuyển vận không võ trang của chúng tôi.

Qua những sự kiện này, cho thấy Ðại tá Ryan có lẽ đã nghĩ đây là một trong các chuyến tiếp tế quen thuộc mà khu trục hạm Nhựt thường đảm trách vai trò chính trong việc chuyên chở lính tăng viện, vì vậy khi các khu trục hạm Nhựt rút lui thì ông ta đã mãn nguyện, cho rằng cuộc đổ bộ của chúng tôi đã bị bẻ gãy, không cần phải truy đuổi xa hơn nữa.

Trong suốt trận đánh vừa qua, tôi cũng như tất cả các đồng đội khác không hề nhìn thấy một quả ngư lôi Mỹ nào được phóng đi. Ðiều này cũng gây thắc mắc, bởi vì cuộc đụng độ này xảy ra, chỉ cách có 10 ngày sau chiến thắng oanh liệt bằng ngư lôi của US Navy tại cùng một khu vực. Sau này, Ðề đốc Ijuin đã nói với tôi là ông “tin rằng các chiến hạm địch phải là tuần dương hạm chứ không phải khu trục hạm, bởi vì các chiến hạm này chỉ tham chiến bằng trọng pháo từ đầu chí cuối ở khoảng cách xa.”

Ghi nhận của một quan sát viên trên khu trục hạm Shigure về việc một trong những quả ngư lôi của tôi đã trúng tàu địch không bao giờ được kiểm chứng. Ðó có thể là do quan sát lầm lẫn. Hoặc quả ngư lôi phát nổ là do chạm phải các làn sóng dội mạnh từ một tàu địch gây ra. Lối điều động không mấy hăng hái của địch sau báo cáo của quan sát viên, khiến cho tôi nghĩ nhận xét sau của tôi có lẽ đúng. Như vậy, có thể nói không có quả ngư lôi nào của Nhựt chạm mục tiêu, nhưng một số đã gây rối loạn trong hàng ngũ đối phương.

Ijuin, sanh ra trong một dòng họ quý tộc và có những thói quen gia hệ, luôn luôn giữ trạng thái lạc quan. Ông ta không hề để tai đến những ngờ vực có tính cách bi quan của tôi. Do đó, trong bản báo cáo gửi cho Bộ Tư Lịnh Tối Cao Hoàng gia, ông viết: “Khu trục hạm xuất sắc nhất thuộc hải đoàn của tôi là chiếc Shigure đã phóng ngư lôi đánh chìm một tuần dương hạm của địch.”

Ðiều đáng chê trách nhứt của toàn bộ trận đánh là việc Nhựt bất thình lình ngưng hướng tiến để xoay hướng Tây-Nam. Lý do là radar của chiếc Hamakaze đã khám phá ra một hải lực địch hùng hậu trong khu vực phụ cận. Ðây là một sự sai lầm, và chỉ có một cách giải thích: radar của Nhựt vào lúc đó chưa đáng tin cậy. “Hạm đội” địch mà radar của chiếc Hamakaze phát hiện, thực ra là các tàu vận tải thuộc hải đoàn tiếp vận của chúng tôi.

Sau khi thế chiến chấm dứt, tôi đọc tất cả những lời đả kích mạnh mẽ của Hoa Kỳ nhắm vào hành động rút lui của Ijuin, bỏ mặc đoàn chuyển vận mà ông có trách nhiệm bảo vệ. Tuy nhiên, một điều hơi lạ là dường như không có một lời chỉ trích nào nhắm vào vị chỉ huy Hoa Kỳ về việc ông ta không xúc tiến truy đuổi và không đạt một kết quả nào trong việc ngăn tàu Nhựt tiếp tế cho Vella.

Theo tôi nghĩ, các vị chỉ huy của cả hai bên đều có sự bận tâm cùng bối rối riêng trong khi điều động. Thảm bại ngày 7 tháng 8 tại vịnh Vella hiển nhiên đã ám ảnh nặng nề Ijuin, giống như trận Kolombangara vào ngày 12 tháng 7 đối với Ryan. Trong trận Kolombangara, Ryan chỉ huy một hải đội khu trục hạm khi một trong 4 chiếc tàu của ông bị đánh chìm, 3 chiếc kia đã xoay hướng bỏ chạy một cách hỗn loạn, nhưng vẫn bị các hải đội Nhựt đông hơn rượt theo và giáng cho các đòn chí tử. Tuy nhiên, các sử gia thường không chú ý đến trạng thái tinh thần của các vị tư lịnh trong việc phê phán một trận đánh trên bộ hoặc trên biển.

Bốn khu trục hạm của chúng tôi trở về Rabaul vào ngày 18 tháng 8. Qua ngày sau, thủy thủ đoàn sung sướng và hãnh diện của chiếc Shigure được nghỉ ngơi. Trong giai đoạn tiêu hao khá cao của cả cuộc chiến, một khu trục hạm trải qua 2 trận đánh liên tiếp mà không mang một vết thương nào là một điều đáng ngạc nhiên. Trong chuyến trở về trước đó của chúng tôi, thiên hạ đã nhìn một cách điềm nhiên bởi vì họ cho rằng Shigure là tàu duy nhất của Nhựt còn sống sót sau trận đánh, chỉ là do may mắn. Bây giờ thì không còn ai tỏ vẻ nghi ngờ về tài năng và sự kiêu hùng của nó.

Ðề đốc Ijuin dùng cơm trưa với Ðại tá Miyazaki và tôi tại Câu Lạc bộ sỹ quan. Cả hai đều hết lời ca tụng chiến công của chiếc Shigure đến nỗi tôi cảm thấy bối rối nhưng pha chút sung sướng. Ijuin ghi nhận rằng từ ngày được tôi chỉ huy, khu trục hạm Shigure có nhiều thay đổi lớn lao, và ông kết luận:

“Tôi rất tiếc, Hara, mang tiếng là chỉ huy trưởng hải đội mà anh chỉ có trong tay một chiếc tàu duy nhứt, và chiếc tàu này lại còn già hơn chiếc Amatsukaze trước đây của anh. Nhưng hãy kiên nhẫn, không lâu nữa số tàu dưới quyền sẽ có đầy đủ cho anh.”

Ðề đốc Ijuin là một mẫu người rất dễ thân cận và hòa hợp. Mặc dù ông thuộc giai cấp quý tộc, sanh ra trong nhung lụa, nhưng ông đã tạo được một tiếng tăm lừng lẫy trong hải quân như là một hoa tiêu xuất sắc.Thực đáng hài lòng khi thấy một người có khả năng và giai cấp như vậy lại chú tâm đến sự an vui của người khác.

Căn cứ Rabaul tương đối yên tĩnh vì không có những trận oanh kích xảy ra, do đó sau khi dùng cơm trưa xong, chúng tôi thả bộ quanh một vòng. Từng cơn gió nhẹ, từ hướng Ðông-Nam lướt đến, lay động hàng dừa rợp bóng trên đầu. Căn cứ vùng xích đới này nhộn nhịp rộn ràng chút ít ở bề ngoài. Chúng tôi đều mặc áo ngắn, vận quần ngắn và đội nón rơm. Ăn mặc như vầy thích thú hơn vì không ai chú ý và khỏi phải phiền phức đáp trả những nghiêm chào của thủy thủ đi ngang qua.

Các cửa hàng trên hòn đảo vẫn mở cửa buôn bán như thường lệ, và hầu hết do người Hoa làm chủ. Một dân tộc nhẫn nại và cần cù biết bao. Trong lúc Ðồng Minh và Nhựt đang đụng độ tàn khốc thì họ, những Hoa kiều bình thản này, chỉ tìm cách kiểm soát kinh tế địa phương.

Khi băng qua một ngõ hẹp, chúng tôi bị một đám đông tụ tập trước sân một lữ quán lôi cuốn. Ðó là đám khán giả của một nhóm vũ công bản xứ khoảng chừng 40 người. Bốn mươi vũ công này không trang điểm gì khác hơn là giắt những lông chim trĩ lên tóc, vận xà rông màu sắc sặc sỡ và thân thể nhễ nhại trần trùi trụi, rám nắng của họ được tô vẽ lòe loẹt. Họ múa may cuồng nhiệt đến nỗi cơ thể ướt đầm mồ hôi. Tiếng trống là âm điệu duy nhất phụ họa. Một số khán giả phụ nữ lâu lâu ném vài quả chuối vào nhóm vũ công, và họ chụp lấy vừa ăn vừa nhảy múa. Thỉnh thoảng họ la lên, âm thanh giống như tiếng vịt kêu. Chúng tôi không hiểu nguyên nhân nào mà dân bản xứ tổ chức buổi múa này, nhưng phải công nhận đây là một màn rất thu hút. Gần nửa giờ, chúng tôi đứng quan sát nhóm vũ công trẻ tuổi hoa chân múa tay trong khi đầu lắc qua lắc lại liên hồi. Chỉ chừng bấy nhiêu động tác, nhưng hấp dẫn kỳ lạ.

Miyazaki nói: “Sắc dân này bằng lòng với đời sống sơ khai, ăn uống đạm bạc, ở trong những căn nhà tồi tàn, ăn vận thô sơ và không mơ ước gì hơn nữa. Ðối với cuộc sống hiện đại của chúng ta, xem ra họ có vẻ biếng nhác. Nhưng thực ra ai là kẻ hạnh phúc hơn?”

Cuối cùng, Ijuin đề nghị đi chỗ khác, ông nói: “Tôi thích màn nhảy múa này, nhưng tôi lại muốn viếng nơi tắm suối nước nóng mà hồi nãy chúng ta nhìn thấy. Các anh theo tôi không?”

Lời đề nghị của Ijuin làm Miyazaki và tôi sửng sốt. Hồi nãy khi đi ngang qua suối nước nóng, chúng tôi có nói với Ðề đốc về sự tuyệt diệu của chỗ tắm này. Bây giờ, khi nghe Ijuin nói, tôi định lên tiếng thì Miyazaki đã cướp ngang: “Xin lỗi Ðề đốc, suối nước nóng đó ở ngay ngoài trời. Tôi chưa thấy một vị Ðề đốc nào tắm công cộng bao giờ.”

Ijuin đáp: “Nhưng mà anh đã từng tắm ở đó rồi, phải không? Và một khi anh có thể tận hưởng bồn tắm ngoài trời sảng khoái như vậy, tại sao tôi lại phải bằng lòng với cái buồng tắm chật hẹp và thiếu tiện nghi của tôi ở trên tàu?” Không ai dám cãi lý với một vị Ðề đốc, nhứt là khi ông ta nói rất hữu lý. Hải quân Nhựt đã cho xây nhiều nhà tắm lộ thiên bên các suối nước nóng do núi lửa tạo ra. Ở đấy có đặt những thùng bằng kim khí rộng lớn dùng để chứa nước. Ai muốn tắm thì đổ đầy nước ấm vào thùng, rồi tắm theo lối Nhựt, nghĩa là ngâm cả thân thể vào chiếc thùng đầy nước này. Tắm theo kiểu này thân thể sẽ đỏ hồng và cảm thấy khỏe khoắn hoàn toàn.

Bất cứ thủy thủ nào từng ghé Rabaul đều biết đến địa điểm tắm nước nóng ở đây. Nếu có giấy phép lên bờ, thủy thủ có thể đến tắm tự do, khỏi phải trả xu nào. Sau những ngày lênh đênh, không hề biết đến tắm rửa là gì, đây là một địa điểm mà họ không thể nào quên. Nhưng các sỹ quan cao cấp thì đã có nơi tắm riêng trên tàu, do đó, thực là đáng ngạc nhiên, khi nhìn thấy một vị Ðề đốc, cũng là một vị Nam tước ngoài đời, lại lần mò đến những nơi tắm công cộng thế này.

Khi chúng tôi bắt đầu hứng nước nóng vào thùng, hai thủy thủ trẻ tuổi nhảy ra khỏi thùng của họ, chào chúng tôi và dành lấy công việc này. Phản ứng tự nhiên, chúng tôi chào trả lại họ, nhưng Ijuin nhanh miệng: “Ðược rồi, các chú, việc này có khó khăn gì đâu, chúng tôi có thể tự làm mà. Trần truồng như thế này thì phân biệt giai cấp quái gì nữa? Ðừng nghiêm chào tồng ngồng như vậy.”

Nhưng hai chàng thủy thủ trẻ dường như không nghe. Sau đổ nước đầy mấy cái thùng của chúng tôi xong, họ lặn ngay lập tức. Ðề đốc Ijuin thở dài: “Dường như chúng ta đã quấy rầy cuộc vui của họ. Từ rày tôi sẽ không đến đây nữa.”

Buổi tắm tuyệt thú. Sau khi tắm xong, chúng tôi kỳ lưng cho nhau và xếp hàng giống ba con khỉ đột. Thực ra, đây là trò không lấy gì làm đứng đắn lắm đối với các sỹ quan, nhưng chúng tôi cũng không để ý đến điều đó. Trong lúc đang hưởng sự thoải mái, Ijuin nói: “Sư tổ phóng lôi Hara, tôi muốn anh cho tôi biết ý kiến về hành động của tôi trong trận chiến vừa qua. Tám con cá của khu trục hạm Sazanami đã phí phạm một cách vô ích. Sao chúng ta không thể làm tốt hơn?”

“Thưa Ðề đốc, theo tôi nghĩ, các ngư lôi đó thực sự không phí phạm một chút nào hết. Loạt phóng đầu tiên của chúng ta bị đối phương phát giác kịp thời, bởi lẽ có một quả ngư lôi đi sai hướng và bị sóng lật ngược trở lại. Nếu điều đó không xảy ra thì tôi tin rằng thế nào chúng ta cũng bắn trúng tàu địch.”

Ijuin đồng ý lý luận của tôi, và ông nêu ý kiến thêm rằng khoảng cách của mục tiêu quá xa, nên dầu cho các ngư lôi có tầm xa cũng không thể nào trúng đích được. Tôi tiếp lời: “Ðúng vậy, thưa Ðề đốc, với sự tiến bộ về tầm phát hiện của radar địch, họ có thể bắn chúng ta từ xa, trong khi chúng ta khó mà có thể đến gần họ trong tầm ba ngàn mét.”

Ijuin nói: “Ðúng vậy. Ðịch quân hiện thời đã trên chân chúng ta. Ðiều khôn ngoan nhất cho chúng ta là cố gắng làm sao đừng gắng công đạt cho được chiến thắng mà phải chịu hao tổn quá nhiều. Không nên trả giá đắt về người và chiến hạm chỉ để đánh đổi một chiếc tàu địch.”

Các cuộc tấn công của Ðồng Minh ngày càng gia tăng mạnh mẽ, khiến Nhựt xoay trở khó khăn. Ngay chính vào ngày chúng tôi quay về nghỉ ngơi tại Rabaul, bộ binh Nhựt bắt đầu triệt thoái khỏi căn cứ Santa Isabel, một hòn đảo có chiều dài nhưng không có chiều ngang thuộc quần đảo Solomon, nằm song song phía chính Ðông của các đảo Vella Lavella, Kolombangara và New Georgia.

Sau 3 ngày nghỉ ở Rabaul, Miyazaki và tôi được lịnh dùng 3 khu trục hạm di tản càng nhiều càng tốt số binh sỹ đồn trú trên đảo Rekata nằm ở phía Ðông-Bắc Santa Isabel. Trước đó, 600 trong số 3,400 binh sỹ trú đóng trên đảo Rekata đã được một số khu trục hạm khác di tản.

Thêm một lần nữa, chiếc Shigure lại ra khơi với chiếc Hamakaze. Khu trục hạm hư hại Isokaze được chiếc Minazuki thay thế. Cả 3 khu trục hạm lên đường vào sáng ngày 22 tháng 8. Tàu của chúng tôi chất đầy đồ tiếp tế cho số binh sỹ còn kẹt lại trên đảo không di tản hết trong chuyến đi này vì tàu của chúng tôi mỗi chiếc chỉ có thể chở 250 lính là cùng.

Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, nhiệm vụ giao phó cho chúng tôi đều gian nan vất vả. Cuộc di tản trước được thực hiện cách nay đúng 4 hôm, khiến cho công tác của chúng tôi trở nên khó khăn thêm. Ðịch đã đặt trong tình trạng báo động. Chúng tôi phải chuẩn bị sẵn sàng để đối phó nguy cơ trước mắt.

Hành trình đến căn cứ Rekata thực nguy hiểm với hằng hà sa số đá ngầm và nhiều nơi đáy biển không được đánh dấu. Hải đồ của chúng tôi sao y hải đồ của Anh, vẽ năm 1939 kèm theo lời ghi chú như sau: “Những hòn đảo này mới được nghiên cứu có một phần, và phần lớn còn lại vẫn chưa biết hết. Tốt hơn nên cẩn thận khi di chuyển trong khu vực này.”

Lúc chúng tôi rời khỏi Rabaul chưa đầy 100 dặm thì 3 phi cơ địch xuất hiện ở độ cao 7,000m. Súng cao xạ khai hỏa tức khắc, nhưng ở cao độ này làm sao với nổi. Quả thực đáng lo.

Phi cơ địch không bỏ một quả bom nào, nhưng cứ quấy phá bằng cách bay vòng tròn trên đầu chúng tôi. Lối chọc tức này thực đáng chửi thề. Khoảng chừng 10 phút sau, 6 chiến đấu cơ Zéro cất cánh từ căn cứ Buka xuất hiện trên không phận của khu vực. Sáu chiến đấu cơ Nhựt đâm thẳng vào các oanh tạc cơ địch và khai hỏa. Nhưng phi cơ địch, dường như là loại oanh tạc cơ B24 Liberator, vẫn tiếp tục bay, hoàn toàn không có vẻ gì là rối loạn cả. Mọi loại súng của chúng tôi đều quay mũi lên trời sẵn sàng tiếp ứng, nếu phi cơ địch bay vào tầm.

Quấy phá chừng 20 phút, các phi cơ địch bỏ đi. Sáu chiến đấu cơ Nhựt tiếp tục bay che trên các chiến hạm của chúng tôi, cho đến chiều tối mới quay về. Nhưng chúng tôi vẫn sống trong bất an, vì vậy vẫn phải duy trì tình trạng báo động. May mắn là không còn chiếc phi cơ nào đến quấy rầy nữa. Chúng tôi tiến một cách chậm chạp dọc theo bờ biển Bougainville và luôn luôn phải đề phòng bất trắc trên đoạn hải trình nguy hiểm này.

Chúng tôi len lỏi tiến vào khu vực đầy đá nhọn và đáy biển nông, bao quanh đảo Choiseul. Ngay lúc đó, một mật điện hỏa tốc gửi đến từ căn cứ Rekata. Không một ai trong chúng tôi quên được nội dung khi đọc mật điện này: “Bốn tuần dương hạm và rất nhiều khu trục hạm địch được nhìn thấy lảng vảng gần cửa khẩu vào hải cảng Rekata.”

Tôi la trời. Tất cả các chiến hạm của chúng tôi đều chạy một cách nặng nề và chậm chạp, với vận tốc tối đa 10 hải lý. Như vậy chúng tôi sẽ trở thành mấy con vịt bằng đất sét vĩ đại, làm mồi cho phi pháo và ngư lôi của địch. Trong khi tôi rối trí trong tình cảnh tiến thoái lưỡng nan, đèn trên chiếc Hamakaze nhấp nháy tín hiệu: “Xoay hướng tức khắc, chạy trở ra biển với tốc độ 24 hải lý cho đến khi nào chúng ta hiểu rõ địch tình.”

Rời bờ biển để chạy ra khơi như vầy chúng tôi sẽ trở thành mục tiêu rất rõ cho radar của địch. Chúng tôi chạy theo hướng mới chưa đầy 10 phút, truyền tin của chúng tôi bắt được một công điện xuất phát từ một trinh sát cơ địch, báo cáo về sự xoay hướng của chúng tôi. Chúng tôi phải làm gì để kháng cự lại với một đối thủ đầy đủ tai mắt như thế?

Sau khi xem xét hải đồ, chúng tôi biết rằng địch chỉ cách chúng tôi 30 dặm. Có thể nào chúng tôi tiến vào bờ để đánh lạc hướng radar địch hay không? Chạy trốn? Tấn công? Tấn công chắc chắn chúng tôi sẽ chỉ hạ gục một hay hai chiến hạm địch là cùng, và sau đó, những chiến hạm còn lại của địch chắc chắn sẽ nuốt sống chúng tôi. Ðèn hiệu màu xanh sau đuôi của chiếc Hamakaze lại nhấp nháy: “Rabaul ra lệnh trở về căn cứ ngay lập tức, tránh chạm trán với địch. Vận tốc rút lui 30 hải lý.”

Tôi thở phào nhẹ nhõm và cúi nhìn đồng hồ, lúc đó gần nửa đêm. Chúng tôi xoay hướng chạy thẳng về Rabaul và đến nơi vào trưa ngày 23 tháng 8. Nhưng chúng tôi chỉ có chút ít thời gian để hồi sức sau mấy đêm mất ngủ.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

October 15th, 2021

Post by Sơn râu 27 Apr 2024

(Kỳ 35)

Hai thủy trận Vella tháng 8-1943 đến nay vẫn được xem là mô phỏng chính xác nhất, trong các cuộc đụng độ nhỏ giữa Nhật và Mỹ. Chính nhờ vào hồi ký của Hara với hải đồ do chính tay Hara vẽ lại, với từng giờ giấc và tọa độ của các tàu chiến. Các sử gia vẫn dùng tập hồi ký này làm tài liệu. Qua các chương sách, người đọc sống từng phút gian nguy nhìn từ phía Nhật.

[Trần Vũ]

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 35

Tôi bước ra boong tàu để nghỉ xả hơi. Toán thủy thủ lên bờ đầu tiên đang lần lượt trở về. Tôi thấy Trung sĩ Yamashita đứng riêng rẽ, quần áo nhàu nát, mặt sưng vù và đôi mắt bầm tím. Tôi gọi Yamashita hỏi xem chuyện gì đã xảy ra. Anh ta ấp úng nói: “Thưa Ðại tá, Không có gì cả. Tôi trượt chân và té nhào xuống đất.”

“Anh đã nói với tôi sáng nay rằng anh chưa hề nói dối, vậy thì đừng làm tôi giận dữ.”

“Xin lỗi Ðại tá, đây là lần đầu tiên tôi nói dối. Tôi gây lộn với một vài người ở trên bờ, nhưng không ai hạ được tôi.”

“Anh vào phòng tôi ngay.” Tôi nghiêm giọng.

Gã trẻ tuổi lòng đầy tự phụ này bước theo tôi như một con cừu non. Vào phòng, tôi yêu cầu anh ta giải thích đầy đủ chuyện vừa xảy ra.

“Thưa Ðại tá, tôi uống đâu vài ly và có lẽ đã chuếnh choáng nên tôi khoe chiếc đồng hồ Ðại tá vừa thưởng cho tôi. Lúc đó, có mấy thằng chó đẻ bảo rằng chiếc Shigure đã rút lui một cách nhục nhã và hành động này làm mất thể diện binh chủng. Lại có thằng vào hùa nói rằng Hải đội 27 gồm toàn một lũ biếng nhác không làm nên trò trống gì cả. Tôi giận run lên và tôi đã dần chúng một trận nên thân. Bọn đẻ hoang.”

“Thực tội cho anh, Yamashita. Anh không nghĩ những gì mà chiếc Shigure làm là sai lầm sao?”

“Không, thưa Ðại tá. Tôi luôn luôn tin rằng những quyết định của Ðại tá là hoàn toàn đúng. Ðó chính là lý do tại sao mấy thằng chó đẻ đó đã làm tôi điên tiết lên.”

“Anh phải lờ đi, đừng để ý đến họ. Nhiệm vụ của chúng ta đến đây là để đánh kẻ thù chứ không phải đánh người cùng xứ sở. Ðừng bận tâm đến việc này nữa. Hãy lo săn sóc vết thương của anh đi. Lần sau anh sẽ hiểu biết hơn.”

Từ sau trận Vella, bầu không khí trên chiếc Shigure hoàn toàn thay đổi. Tinh thần thủy thủ đoàn lên cao, họ tỏ ra kiêu hãnh và đoàn kết. Trên mọi khuôn mặt không còn thấy những nét khờ khạo và ngu đần nữa. Họ đã chứng tỏ có đầy đủ đảm lược và sẵn sàng lâm chiến nữa. Trận kế tiếp xảy ra không lâu sau.

Người Mỹ tiếp tục bước tiến của họ, thực hiện một cuộc đổ bộ vào ngày 15 tháng 8 tại Biloa, nằm gần cực Nam vịnh Vella. Cuộc đổ bộ mới này xảy ra cùng với một cuộc đổ bộ khác tại Munda trước đó đã tạo thành gọng kềm siết chặt 12 ngàn quân trú phòng Nhựt ở Kolombangara. Bộ Tư Lịnh Tối Cao đã phản ứng bằng cách tung toàn bộ không lực vào vùng Biloa, đồng thời tăng cường trên bộ tại Horaniu, trên đảo Vella, để phản công cuộc đổ bộ mới của địch.

Vào sáng sớm ngày 16 tháng 8-1943, Yamagami và tôi dự phiên họp trên khu trục hạm Sazanami, dưới quyền chủ tọa của Ðề đốc Matsuji Ijuin, Tư lịnh Hải đoàn 3 Khu Trục hạm. Trong phiên họp này, Ijuin tuyên bố sẽ đích thân chỉ huy cuộc hành quân Horaniu.

Ðề đốc nói: “Tôi đã yêu cầu Bộ Tư Lịnh đình chỉ sử dụng các khu trục hạm vào công tác vận tải. Các khu trục hạm sẽ làm nhiệm vụ hộ tống đơn thuần mà thôi. Cách đây một năm nhóm hộ tống không bao giờ dưới 8 khu trục hạm, nhưng hiện tại chúng ta phải chấp nhận giảm phân nửa, bởi vì những cuộc đụng độ vừa qua đã làm hao hụt số tàu chiến. Do vậy tôi chọn 4 khu trục hạm này, vì tôi biết khả năng dạ chiến xuất sắc của các anh.”

Ijuin yêu cầu tôi kết thúc phiên họp bằng cách trình bày sơ lược các diễn biến đã xảy ra 10 ngày trước. Ông và các sỹ quan khác ngồi nghe chăm chú. Khi tôi dứt lời, ông tiếp:

“Tôi sẽ hết sức lưu ý những nhận xét của Ðại tá Hara vừa nêu ra, và tôi cũng mong toàn thể quý vị ở đây hãy học hỏi những kinh nghiệm quý báu mà Ðại tá Hara đã thu thập được qua trận vừa rồi, và ghi nhớ sự thận trọng vừa linh hoạt ứng phó của Ðại tá Hara, khi thi hành công tác. Trong cuộc hành quân sắp phát động, nhiệm vụ của chúng ta là phải bảo vệ đoàn tàu chở tiếp liệu chứ không phải đi tìm tàu địch để đánh. Tôi không chấp nhận sự cứng ngắc đã từng gây ra những thiệt hại to tát.”

Không ai dám bàn ra tán vào khi Ðề đốc Ijuin cho rằng 4 khu trục hạm sắp tham dự hành quân là những chiếc tốt nhứt tại Rabaul. Chiếc Shigure của tôi là chiếc tàu duy nhứt thuộc lớp cũ. Còn chiếc Hamakaze, người hùng của trận chiến ngày 13 tháng 7 tại vịnh Kula, là một trong những tàu hiếm hoi của Nhựt trang bị radar. Hamakaze (Gió Biển) cùng với chiếc song sinh Isokaze (Gió Trên Bãi Biển) họp thành Hải đội 17 do Ðại tá Toshio Miyazaki chỉ huy. Cả 3 khu trục hạm vừa nói và soái hạm của Ðề đốc Ijuin, chiếc Sazanami (Sóng Gợn), là thành phần hộ tống. Hải đoàn nhỏ bé này có thể hãnh diện vì có cả một vị đề đốc tài giỏi và 2 vị đại tá điều động. Hơn nữa, Ðề đốc Ijuin đã mềm dẻo trao toàn quyền hành động cho các đại tá của ông, để họ tự do sắp xếp. Ðề đốc Ijuin cũng được Bộ Tư Lịnh cho phép tự do quyết định, việc này chứng tỏ rằng thượng cấp của chúng tôi đã rúng động sau thảm bại vịnh Vella.

Bốn khu trục hạm rời khỏi Rabaul vào lúc 3 giờ sáng ngày 17 tháng 8 chạy về hướng Nam, tiến đến điểm hẹn với đoàn hải vận gồm 20 chiếc cỡ nhỏ. Những tàu vận tải này đã khởi hành cùng ngày, lúc 10g27, từ căn cứ Buin và Bougainville, mang theo 400 lính tăng cường cho căn cứ Horaniu.

Khi chúng tôi rời khỏi Rabaul khoảng 100 dặm thì truyền tin của chúng tôi bắt được một công điện phát sóng từ một phi cơ bay gần đó. Như vậy là địch đã biết động tĩnh của chúng tôi, Ijuin tức khắc liên lạc với căn cứ không quân tại Buin yêu cầu tăng gấp đôi số phi cơ tuần thám.

Lúc 11g30, khi chúng tôi nhìn thấy Bougainville thấp thoáng ở chân trời, một trong những máy bay tuần tra gửi báo cáo đầu tiên: “Ba khu trục hạm lớn của địch rời khỏi eo biển Gizo trực chỉ Biloa.”

Tin này gây cho chúng tôi nhiều cảm nghĩ lẫn lộn. Riêng tôi thấy nhẹ nhõm, vì ít ra chúng tôi cũng biết chút ít địch tình. Như vậy là khá hơn lần trước. Trong cuộc hành quân vừa rồi, chúng tôi đâm đầu mà không biết một chút gì về thế trận của địch.

Cả 4 chiến hạm đều tăng tốc lực lên 28 hải lý, hướng về Bougainville. Chúng tôi cố tiến mau, vì e rằng địch sẽ làm thịt đoàn tàu vận tải chưa có hộ tống đang tiến chậm chạp dọc theo đảo Choiseul. Mặt trời lặn đúng lúc chúng tôi vượt qua eo biển Bougainville. Thời tiết xấu che khuất vầng trăng tròn. Mây sà thấp ở cao độ 500m, cách ba dặm không nhìn thấy gì hết. Thời tiết này nghiêng phần lợi cho phía đối phương, vì họ có hệ thống radar tối tân. Chúng tôi đã từng nếm qua khả năng siêu việt của loại radar này.

Lúc 21g, vịnh Vella Lavella hiện ra lờ mờ ngay phía trước. Chúng tôi đang tiến gần đến đích. Sự im lặng đầy căng thẳng chợt bị phá vỡ bởi tiếng hét của quan sát viên Yamashita: “Phi cơ địch!” Bóng dáng của chiếc phi cơ vượt ngang qua nền trời vần vũ và mất hút ngay trong những đám mây tầm thấp. Thình lình, một chiếc khác, hình như là loại Avenger, chui ra khỏi cụm mây và nhả một trái hỏa châu ngay bên trên chiếc Shigure.

Shigure lập tức tách khỏi đội hình và mọi loại súng đều nhả đạn lên trời. Tôi cho tàu chạy chữ chi với vận tốc 30 hải lý, ngoặt trái phải liên tục, đồng thời tạo màn khói che. Các khu trục hạm chạy sau cũng làm giống như vậy.

Hải đồ thủy trận Vella đêm 17 tháng 8-1943

Một oanh tạc cơ khác của địch lại chồi ra khỏi đám mây, chúi thẳng xuống chiếc Sazanami, sát gần như đụng khi lướt ngang qua. Nhiều trái bom rơi xuống. “Oanh tạc nhảy”, tôi nghĩ thầm trong bụng, và nắm chặt tay một cách bối rối. Trong suốt 5 tháng vừa rồi, kể từ ngày tôi nghe đến phương thức tấn công mới này bằng “bom nhảy”, tôi sống thường xuyên trong những cơn ác mộng. Tôi moi óc tìm phương cách chế ngự nhưng đã phí công vô ích.

Tuy nhiên, những quả bom nhắm vào chiếc Sazanami không nhảy. Chúng rơi xuống theo lối thông thường, nghĩa là giữ nguyên vị trí được thả xuống chứ không nhảy đến mục tiêu. Nhiều cột nước trắng xóa tung lên quanh Sazanami. Cao xạ trên chiến hạm này phản ứng tức thời, nhắm vào chiếc oanh tạc cơ nhưng không trúng. Tôi thở phào khi thấy không chiến hạm nào của chúng tôi bị thiệt hại. Phi cơ địch bay đi mất. Nhưng biết đâu nhóm phi cơ khác không bay đến tấn công chúng tôi lát nữa?

Xa phía trước, tôi nhìn thấy đoàn tàu mà chúng tôi phải bảo vệ. Có lẽ phải mất chừng một giờ nữa mới tới gần đoàn tàu đó. Tôi cố nghĩ cách chống lại nếu một khi các phi cơ địch đến nhiều hơn. Nhưng những ý nghĩ này bị đứt đoạn bởi tiếng la khác của quan sát viên Yamashita. Lần này hai phi cơ địch xuất hiện.

Một oanh tạc cơ hai cánh quạt chúi mũi xuống soái hạm Sazanami chạy dẫn đầu, và chiếc còn lại nhắm vào Shigure chạy sau cùng. Tất cả mọi loại súng đồng loạt chào đón viên phi công gan dạ khi hắn bay qua pháo tháp của chiếc Shigure để thả những “quả trứng giết người”. Một số đạn phòng không đã trúng phi cơ này. Cánh trái của chiếc phi cơ tóe lửa và không thấy xuất hiện lại nữa.

Các quả bom đều tránh chiếc Shigure, tôi quay nhìn về phía soái hạm Sazanami. Chiếc tàu này đã tạo một màn khói che dầy. Sazanami cũng đã thoát khỏi cú đấm của mấy tên phi công gan lì. Tính ra, trên đoạn hải trình vừa chạy vừa đánh này, chúng tôi đã phải chịu đựng tất cả 8 phi vụ tấn công, kéo dài cho đến lúc tiến vào vịnh Vella. Sau khi chiếc oanh tạc cơ địch cuối cùng bay khỏi, bóng dáng đen thẫm khác thường của đảo Kolombangara hiện ra ở phía Ðông, ngay trước mặt chúng tôi. Mọi vật lại chìm trong màn đêm kỳ dị. Chúng tôi đang bước vào một bẫy rập chăng?

Phòng truyền tin thông báo: “Soái hạm Sazanami ra lịnh xoay 180 độ về hướng Tây, vì hướng hiện thời không thấy rõ Kolombangara.”

Tôi hài lòng tuân lịnh, cho chiếc Shigure xoay hướng tức khắc. Chúng tôi chạy sát nhau, cùng tiến về hướng Tây. Di chuyển thêm 30 dặm thì chiếc Sazanami báo hiệu: “Bốn chiến hạm địch đang di chuyển ở hướng 190 độ, cách 15 ngàn thước.” Lịnh xoay hướng của Ðề đốc Ijuin đã cứu chúng tôi thoát khỏi cuộc phục kích của địch!

Soái hạm Sazanami vẫn tiếp tục ra lịnh bằng đèn hiệu: “Lập đội hình chiến đấu. Nạp ngư lôi mạn trái.”

Sau này Ðề đốc Ijuin đã nói với tôi rằng ông rất mừng lúc biết địch truy đuổi chúng tôi. “Sau chiến thắng ngày 6 tháng 8, tôi chắc chắn địch đã quá tự tin nên không ngó đến những tàu vận tải không có hộ tống của chúng ta. Họ muốn so tài tay đôi với các chiến hạm Nhựt. Tôi ra lịnh tiến về hướng Bắc là nhằm lừa địch phải chấp nhận một trận đấu cách xa các tàu tiếp tế của chúng ta.”

22g32, chúng tôi xoay 45 độ, hướng Tây-Bắc, mọi cặp mắt đều chăm chú quan sát động tĩnh của địch. Lịnh đổi sang “đội hình tấn công” khiến cho vị trí của các khu trục hạm cũng thay đổi. Bây giờ chiếc Hamakaze có trang bị radar chạy ở vị trí gần địch nhất, che cho soái hạm Sazanami, chiếc Shigure của tôi che mạn Bắc, cách 1,000m. Chiếc Isokaze hậu vệ.

Ðịch vẫn tiến về phía Ðông-Bắc, chứng tỏ họ chưa phát giác việc đổi hướng bất ngờ của chúng tôi. Khoảng cách giữa đôi bên càng lúc càng rút ngắn lại. Lúc 22g40, một trái pháo sáng rực treo lơ lửng trên đoàn tàu địch. Là ám hiệu của một trong những thám thính cơ của chúng tôi, hàm ý: “Tàu địch là loại khu trục hạm.”

Ðoàn tàu của đối phương đổi hướng mau lẹ để chạy về hướng Tây. Ðiều này khiến cho Ijuin kinh ngạc, vì ông biết như vậy là địch đã hủy bỏ cuộc truy đuổi các khu trục hạm của ông. Ðiều này có nghĩa là địch đổi ý xoay sang tấn công những hải vận hạm không được bảo vệ của chúng tôi.

Lập tức, Ijuin ra lịnh cho tất cả các chiến hạm của ông xoay 90 độ về hướng Tây-Nam và thi đua tốc lực với chiến hạm địch. Vài phút sau, mọi người đều hiểu ra rằng các khu trục hạm Nhựt không tài nào bắt kịp chiến hạm địch trước khi chúng phóng hỏa đốt những tàu vận tải không có hộ tống.

Ijuin ra lịnh: “Nạp ngư lôi tầm xa.” Ông ước định khoảng cách giữa soái hạm Sanazami với đối phương chừng 8,000m. (Theo tôi, khoảng cách lúc đó xa hơn 10,000m. Cách xa như vầy, rất khó trúng đích.) Chiến hạm Hoa Kỳ gần như chạy song song với tốc độ 30 hải lý có hơn, Ijuin vẫn quyết định phóng ngư lôi vì lo ngại tai họa sẽ xảy đến một khi địch bắt kịp đoàn chuyển vận.

“Phóng!”

Là 22g52. Các “con cá” lao cắt xuống biển hướng vào mục tiêu với tốc độ kinh hồn. Lũ kình ngư lao thẳng tắp với độ sâu 2m. Chúng tôi nín thở. Nhưng một trong 23 quả ngư lôi ôxy được phóng ra trên nửa đường bỗng nhảy vọt lên cao khỏi mặt nước, làm tung lên những cuộn sóng trắng xóa có thể nhìn thấy rõ trong màn đêm, giống tia sáng của đèn hiệu trên boong tàu. Nhóm chiến hạm địch cũng đã trông thấy nên vội vàng xoay qua mạn phải. Do đó, tất cả ngư lôi của chúng tôi đều sai đích.

Qua ống nhòm, Ðề đốc Ijuin bình thản nói: “Tránh né tài tình! Nhưng dù hoang phí, ít ra chúng ta cũng đã lôi địch ra xa khỏi đoàn tiếp vận.”

22g55, soái hạm Sazanami phóng 8 quả ngư lôi còn lại. Bảy ngàn mét vẫn còn là khoảng cách khó trúng đích, nhưng Ðề đốc đâu cần để ý chuyện trúng trật. Ðịch phản ứng bằng cách xoay nhanh về phía phải lần nữa, và một lần nữa, các ngư lôi của chúng tôi thành hoang phí.

Ijuin ra lịnh: “Khai hỏa mọi loại súng.”

Hai khu trục hạm Sazanami và Hamakaze tiến về phía trước như vũ bão và đồng loạt khạc đạn. Nhưng vì không sử dụng đèn rọi tìm địch, nên không thể nào nhắm trúng. Hơn nữa khoảng cách quá xa đối với loại hải pháo nhẹ 127 ly.

Isokaze và Shigure cũng tiến về phía trước, nhưng không khai hỏa. Hai phía đối nghịch càng lúc càng sáp gần lại nhau. Lúc 22g59, tôi ra lịnh: “Sẵn sàng 4 ngư lôi, mục tiêu mạn trái.” Ngay lúc đó, chiếc Shigure bị trọng pháo của địch bao vây, rơi nổ cách chừng 20 đến 40m. Những cột nước tung cao và trải rộng. Vài giây sau đó, vòng rào hỏa lực thứ hai của địch siết chặt hơn, và tới vòng rào thứ ba thì hầu như sát vách tàu của chúng tôi.

Tôi cố nhướng cổ, mở to mắt tìm kiếm các họng súng rực lửa của đối phương nhưng không thấy đâu. Lúc đó tôi mới biết rằng chúng tôi đang nhận lãnh những quả pháo loại mới, không phát ra tia lửa khi bắn. Loại đạn này tôi từng nghe đồn đãi nhưng chưa thấy tận mắt. Ðạn này cộng với pháo điều khiển bằng radar là một mối lo ngại lớn lao. Bỏ lịnh tấn công bằng ngư lôi mà tôi vừa ban, tôi ra lịnh tạo màn khói che cho tàu chạy theo hình chữ chi.

Shigure chạy tới chạy lui trong màn khói dày đặc với tốc độ tối đa 30 hải lý. Nhưng dù chạy như vậy, chúng tôi vẫn không thể nào tránh xa những quả pháo rơi xuống chung quanh cứ cách mỗi sáu bảy giây như trống nhịp. Sự căng thẳng tăng lên cực độ, vì tôi biết rằng bất cứ lúc nào chiếc tàu cũng có thể trúng đạn.

Sỹ quan ngư lôi và pháo thuật đều xin phép được khai hỏa, nhưng tôi biết cần phải chờ đợi cho đến khi nào có cơ hội thuận tiện nhứt. Chúng tôi vẫn không khai hỏa khi đạn địch tiếp tục rơi xuống. Các chiến hạm địch đang tiến tới ở hướng 60 độ. Tôi muốn phóng ngư lôi trước, rồi mới cho khai hỏa các loại súng trên tàu, vì nếu không làm như vậy, sức giật của chúng sẽ làm sai lạc sự chính xác của ngư lôi.

Pháo địch càng lúc càng sát đến nỗi nước tung xối lên đài chỉ huy. Khi các chiến hạm đối phương còn cách chừng 5,000m, tôi cho lịnh phóng ngư lôi và xoay hướng tàu ngay để chạy ra xa. Tôi nhìn theo những “con cá” lao vun vút sau tiếng động “phụt”.. “phụt”.. và đồng thời chờ cho chiếc tàu xoay đúng hướng. Một loạt pháo của địch rơi xuống cách xa tàu, nhưng loạt kế tiếp lại nhích gần hơn. Một ăn hai thua…

Tôi ra lịnh khai hỏa mọi loại súng. Chiếc tàu rung lên như một chiếc lá khi loạt đạn đầu tiên bắn đi. Tiếng nổ đinh tai nhức óc. Từ lúc chúng tôi và đối phương khởi diễn cuộc đấu súng, không có quả đạn nào của họ trúng tàu chúng tôi. Khi đôi tai làm quen được với tiếng nổ chát chúa của mọi họng súng , tôi nghe tiếng hét của quan sát viên đứng trên cột buồm: “Một ngư lôi của chúng ta trúng tàu địch thứ nhì! Pháo của chúng ta trúng tàu địch thứ ba!”

Trong khói lửa mù mịt của trận chiến đang tiếp diễn, tôi chưa dám vội kiêu hãnh nhưng tin tức đó gây phấn chấn cho các thủy thủ trên boong. Trong một khắc, tiếng reo hò dậy tàu! Thiếu tá Toshio Niwa, chỉ huy đoàn tàu tiếp tế, kể cho tôi nghe sau đó là các thủy thủ và lính bộ binh trên tàu ông đã vỗ tay reo mừng lúc chiếc Shigure đánh trúng tàu Mỹ. Các nháng lửa nhìn thấy rõ rệt từ chỗ của Niwa.

Một tin khác, bất ngờ và kinh ngạc nhứt trong ngày, do khu trục hạm Hamakaze gửi đi: Radar trên chiếc tàu này vừa phát hiện một hải lực hùng hậu của đối phương đang tiến thẳng về phía chúng tôi. Ðại tá Toshio Miyazaki đề nghị rút lui về Tây-Bắc. Ðề đốc Ijuin chấp nhận ngay. Tôi cũng tức tốc chuyển lời hoàn toàn đồng ý với Ðại tá Miyazaki.

Lúc 23g, chiếc Shigure của tôi xoay qua hướng Tây-Bắc, theo sau là các khu trục hạm Isokaze, Sazanami và Hamakaze. Cả 4 chiến hạm đều chạy tốc lực rút lui. Ðạn trọng pháo vẫn rơi quanh chúng tôi, kéo dài chừng 10 phút. Không có trái đạn nào trúng chiếc Shigure, nhưng chiếc Isokaze kém may mắn hơn. Sau khi trúng đạn, khu trục hạm này vội vã phóng 8 quả ngư lôi vào chiến hạm địch đang truy đuổi. Tàu địch vung sang trái để tránh né rồi tiếp tục truy đuổi. Lúc 23g12, trên chiếc Isokaze gần như hỗn loạn. Một đám cháy và một số thủy thủ của tàu này bị thương. Khu trục hạm Hamakaze cũng bị thiệt hại nhẹ, riêng hai chiếc Sazanami và Shigure là còn nguyên vẹn. Ðây là trận đụng độ dàn mặt lần thứ hai mà chiếc Shigure và toàn thể thủy thủ đoàn không hề bị một thương tích nào.