This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Giả định a và b luôn có mặt trong những phương trình toán học, trên biểu đồ từ trục tung sang đến hoành. Bình phương luỹ thừa tới vô cực. Và định đề từ một điểm ở ngoài đường thẳng ta chỉ có thể… Thỉnh thoảng a, b gặp gỡ x, y rồi dẫn theo sau bao hệ luỵ khó chứng minh về một sự tráo trở, hội ngộ, nằm kề, trên dưới, cộng trừ nhân chia, ngoặc kép ngoặc đơn định phận.
A và B là đôi bạn thân thuở trung học, cả hai dốt môn toán nên chọn ban C. Lên văn khoa thì chia lìa tuyệt tích bặt vô âm tín bởi thời cuộc xúi thế. Thứ thời cuộc xoá đi tất cả những giá trị, niềm tin. Người ta già cỗi trong tuyệt vọng chẳng nhìn ra bến bờ. Một loài cây úa héo bị vặt hết giây mơ rễ má không có đất chôn bám. Lạc loài, bạc tình và thất điên bát đảo khi ánh dương quang bị che bít, tù mù một cảnh giới đầy chật tiếng than van.
A đi xa, nghìn trùng biệt cố hương, hun hút thứ đề toán chẳng có cách giải. Đôi khi một cộng một kết quả không giản dị là hai. Ám số A mang thay đổi theo thời gian, chốt ở chặng cuối bằng hai chữ Việt kiều. Nôm na là vậy chứ chẳng sáng tỏ một định hình bởi A chưa từng đặt lại bàn chân trên đất mẹ lắm tai ương. Nhớ nhà, A thử tìm khuây trong chữ viết, làm con ong cái kiến cần mẫn thu nhặt những nỗi niềm đa phần là ảo mộng. Phương xa B cũng đơm đặt những suy tưởng lên mặt báo, chừng mực, hạn chế bởi phương ấy con chữ cũng có thể gây phương hại cho chính kẻ nương nhờ sự tỏ bày. Và như thế A và B nhìn ra nhau, bất ngờ đoàn tụ giữa một bối cảnh mà cả hai tự dàn dựng theo cách riêng của họ.
Không nghe ra tiếng nói ngày cũ, chỉ đọc email để giữa hai hàng chữ bồi đắp thêm kỷ niệm thấy hoang đường, cổ tích của vụng dại. Thư đi tin lại, bên canh khuya bên đứng ngọ, bên mưa rơi bên tuyết đổ, bên giáo viên đói kém bên cu ly tối mắt tắt đèn; nhưng đôi bên vẫn sáng tối gầm mặt vào trang giấy tìm khuây một giải hạn, một lối đi thoát ra những bức bối tầm thường. Cơ bản, cả A lẫn B đều nhìn thấy tâm tưởng người này không giống người kia. Thức khuya dậy sớm bên nhau vùi đầu gạo bài học thi, những chia cơm sẻ áo đầy ý tứ, bao biểu lộ lòng thương nhau đã chôn sâu với quá khứ. Thì đã đành, sông cạn đá mòn vì trôi theo thứ định luật bất biến: Sự đổi thay. A đổi mà B cũng thay! Trông nhau, thoáng ngỡ ngàng, ngờ vực nhớ câu thơ của Đinh Hùng: “Người đi bạt dấu chân hài xảo, vạt áo chàm xưa có nhạt mầu!”.
B mang một ước ao: Sau bao thất lạc, sau những chặng đời đã vắt kiệt tuổi xanh, chúng ta đang đối mặt với tàn phai, vậy thì bằng mọi giá hai ta phải nên chung lưng đấu cật bên nhau lần cuối. Chúng ta ngăn phên dậu cho căn nhà chung bằng những trang sách, chúng ta sum vầy để đẻ ra một đứa con tinh thần. Hãy sàng lọc bớt nhũng gì căng thẳng không hợp tạng người sống bên đây, hãy gửi về khoảng năm bảy truyện ngắn rất mực vô tư, mình sẽ tìm người tin cậy nhờ họ xuất bản tuyển tập của hai đứa. A+B = Số Trang Thất Lạc. Bốn chữ ấy dùng làm nhan sách, bạn thấy sao? Lại mơ hồ nhớ Vũ Hoàng Chương: “Riêng có mình ta phai áo lục, còn em sau trước vẫn hồng nhan?”
Viễn ảnh đẹp quá. Kết hợp happy ending quá. Đường về La Mã rạng ngời quá. Cái gì của César thì nên trả lại César. Hãy cho chúng tôi dệt mộng khi nhắc lại một quá vãng vàng son. Xin âm dương đôi đàng có lúc tích tụ một tương phùng qua chữ viết. A nghe lời B tự mình ngồi kiểm duyệt đục bỏ thêm bớt những trang văn sao cho được lành. Tự nhủ rằng sáng tác rõ là cả một sự dối gạt có sắp đặt, lời thực thường mất lòng nên chìu chuộng o ép lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Mua vui có được một vài trống canh? Nào ai hay!
Sau cả tháng dài đắm đuối trong vô vàn điện thư tô son điểm phấn. Sau lắm chìu lòng cùng dệt một tấm thảm biết bay từ đầu đến cuối sông Tương, B im không xô sóng qua bỉ ngạn. Câm lặng đến khó hiểu. A sợ làm bạn phật lòng chẳng dám gạn hỏi nguyên do. Sợ B hiểu lầm đứa Việt kiều hồi hộp kia ưa tạo tiếng vang qua thành tựu vừa cho ra đời một cuốn sách ngay tại cố hương. A nghi ngờ những trang chữ của mình gây dị ứng cho bạn, làm B đổ bệnh ngặt nghèo hung hiểm. Áo chàm xưa đã bạt nhàu, chân hài xảo đã ngại thềm rêu cản lối. Và A cùng B một lần nữa lại lạc mất nhau. Văn chương rẻ như bèo là một lượng định đầy sai lạc, muôn đời nó mang thứ giá trị đắt đến phỏng tay, đắt tới mức có thể táng gia bại sản. B câm nín và A tôn trọng cái vô ngôn kia. Tình bạn là gì? Không là gì cả. Không cần một giải thích. Chỉ nên cô lại trong sự hiểu. Hiểu về một đoá hoa vừa tàn rụng trong vườn khuya. Hương mùi lẩn đi giữa sương đọng. Một chút mùi cũng đủ làm dằn vặt bóng tối phủ che.
***
A, B, C giống như ba chàng ngự lâm quân. Họ thân nhau, vượt qua lằn ranh của bằng hữu, trên cả tình bạn theo nghĩa thường. Chứng minh, C đã đổi họ mình để mượn họ bạn dùng làm bút danh. Người ta không biết C nếu C mang đủ đầy tên tuổi y như bản thế vì khai sanh có đóng mộc cầu chứng. Sắc son và đáng quý, tình bạn của ba người chẳng sai biệt nếu mang điển tích trong Tam quốc diễn nghĩa ra đối chiếu: Lưu Quan Trương kết nghĩa vườn đào. Nôm na tình bạn ấy hơi bị hiếm giữa cuộc đời đang nhạt phai những giá trị căn bản, kể cả phẩm chất của loài thú hai chân có tên gọi là con người.
Cả ba đều mộng cuồng vui vầy cùng cõi giới khác thường: Nghệ sĩ. Ngay cả bọn ngoại đạo cũng lấy làm nể nang khi nhìn ra sự tương quan khắn khít của ba chàng.
Họ tự hỏi, liệu rời xa nhau, khi ấy ba người kia có còn một dạ thuỷ chung, xem nhau như tay chân, như y phục, như một bát nước đầy sóng sánh chẳng vơi cạn?
Hoài nghi mọc chẳng lâu thì “quần chúng” có ngay “đáp án”. A mất, dân ngoại đạo đổ xuống bao giòng lệ tưởng tiếc về một tài năng bạc mệnh. Khác chúng sinh, C tự mình hô phong hoán vũ bằng bài viết lê thê, nhân danh một hiền hữu vạch trần những “chuyện không phải” mà hai người bạn tâm giao kia từng mắc lỗi lầm.
Báo nào đăng chuyện rùng rợn, kiểu “Con Ma Vú Dài” báo ấy bán đắt như tôm tươi. Báo nào đăng chuyện “Thầm Kín Phòng The” báo ấy “cháy” do lượng độc giả hỏi mua tới tấp. Bài C viết cũng thuộc dạng na ná, bằng chứng đó là bài thu hút số đông cập nhật truy đọc không ngưng nghỉ. Ai nói tớ chẳng tin, chứ C nói, hà hà, đứa ở trong chăn ắt phải kinh qua cảnh rệp cắn.
A khuất núi, chẳng thể phản biện hồi âm. B còn đó nhưng bản tính hiền hoà, ưa xa lánh đám đông, chuyện buồn bắn tới, chui tai này lọt qua tai kia để tâm lành cất tiếng, vỏn vẹn hai chữ: Thây kệ! Rồi một ngày ảm đạm, B lặng lẽ đi tìm A. Trang báo kia vẫn còn tồn đọng một vết mực nhoè chưa ai ra tay tẩy xoá.
Những người chơi thân cùng A và B, hiểu lòng B và A dường như tâm đắc chữ “thây kệ” rất đỗi dung dị mà súc tích B từng nhún vai. Họ chờ đợi hành động C đóng cửa ngồi diện bích để tìm gặp chút ăn năn hối muộn, qua đó người ở tuổi cổ lai hy sẽ viết được bức tâm thư “lỗi tại tôi mọi đàng”. Chuyện ấy đã không xẩy ra, một người nghệ sĩ lắm khi rất đặt nặng vấn đề sĩ diện và cũng đôi khi họ giữ sĩ diện bằng cách chẳng dại gi cải chính. Con gà nực nội nhau vì tiếng gáy, lỡ ó o o trong bóng chiều mớ sảng thì đợi mai kia bình minh hẳn gáy tiếp. Cảnh quang nơi này chập choạng không phân biệt được hư thực sáng chiều.
Nơi đây người ta ưa nói: “I’ll always be here for you” they said… Then they left.
Nơi đây người ta in poster: “You think you know me? Think again.”
Nơi đây người ta nhắc tới ngạn ngữ của Phi châu: “Cá tính cũng tựa như người mang thai, sẽ không tài nào dấu nó mãi được!”
Nơi đây, ngày đầu đến làm thường trú nhân sáng mắt đọc thấy câu châm ngôn: “Tình yêu chân thật và người bạn tâm giao là hai thứ chẳng có mấy ai tìm thấy”.
Bây giờ C có an ổn sống với tuổi già cô quạnh? Niềm tin giống như một cục tẩy, nó sẽ mòn hao dần, thu bé lại sau mỗi một lỗi lầm. Có những đốm màu mà cục tẩy chẳng đủ tài cán để xoá sạch thì biết tính làm răng? Vua Duy Tân từng than: “Tay dơ thì lấy nước mà rửa. Nước dơ thì lấy gì để kỳ cọ đây!”
Là một sĩ quan hải quân nên hồi ký của Hara, tập trung vào thủy chiến, không cho thấy những trận đánh khốc liệt trên bộ trong vùng quần đảo New Georgia. Phải mất 5 tuần lễ để 32 ngàn lính bộ binh cùng với 1,700 Thủy quân Lục chiến Mỹ chiếm đảo Munda, là vị trí tiền tiêu phía trước đảo Vella, do 5 ngàn tinh binh Nhật phòng thủ. Hoa Kỳ chết 1,200 và gấp đôi số bị thương. Đô đốc Halsey, tục danh Big Bull (bò mộng) với phương châm “hit hard, hit fast, hit often” (đục mạnh, đục nhanh, đục liên tục) ta thán: “We must be wary of the prospect of another tussle!” (Phải coi chừng trước khi đục nữa!)
Là chiến lược của Nhật, bắt Hoa Kỳ trả giá máu trên từng mỏm đá để công chúng Mỹ chán nản buộc Roosevelt thương thuyết. Vì huyết chiến đến giọt máu cuối cùng không mang lợi ích gì cho hai bên. Để thực thi chiến lược này, các khu trục hạm bé nhỏ như chiếc Shigure của Hara phải đảm trách nhiệm vụ hy sinh, tiếp tế và đoạn hậu. Đô đốc Nimitz sẽ tìm ra chiến pháp “Nhảy đảo” (Island hopping) để đối phó. [Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương 39
Lực lượng của Ðại tá Frank R. Walker nhanh chóng tiến sát đến các khu trục hạm Nhựt trong khi Ðề đốc Ijuin đánh đi công điện kế tiếp của ông, ra lịnh cho hai chiếc tàu của tôi kết hợp với ông “càng nhanh càng tốt.” Tôi nhận công điện này vào lúc 20g10 và cấp tốc đáp ứng lịnh đưa ra bằng cách xả hết tốc lực 30 hải lý, trực chỉ về hướng nhóm tàu của Ijuin.
Ijuin vẫn chưa biết gì về vị trí và động tĩnh của đối phương. Mối đe dọa này đã bị sương mù của đêm che khuất. Nhưng, trong cố gắng nhằm để các khu trục hạm của tôi gặp ông dễ dàng, Ijuin đã xoay hướng nhóm tàu của ông về phía Tây vào lúc 20g29. Sáu phút sau, tôi đánh đi một công điện kêu cứu: “Không thể nào tìm thấy anh, bởi lẽ sương mù quá dày đặc. Yêu cầu khu trục hạm Yugumo bật đèn lái màu xanh.” Ngay lúc đó, 20g35, Ijuin lại xoay hẳn hướng các chiến hạm của ông sang trái trong khi chiếc Yugumo (Mây Hoàng Hôn) cho biết đã bật đèn lái theo lời yêu cầu của tôi. Nhóm tàu của Ijuin lại nhanh chóng xoay trái hai lần nữa, lần xoay sau cùng thực hiện vào lúc 20g38, khi tôi đã nhìn thấy đèn hiệu màu xanh của chiếc Yugumo. Một phút sau đó, Ijuin phát hiện hải lực địch đang tiến đến từ hướng Ðông. Cấp tốc 4 khu trục hạm Nhựt tăng gia tốc lên 35 hải lý chạy về hướng Nam. Hơi nước lúc ấy bốc lên mù mịt, che khuất hẳn tầm nhìn. Ijuin đăm đăm nhìn về phía địch quân, nhưng ông vẫn chỉ thấy lờ mờ và vẫn tin rằng hải lực địch bao gồm 4 tuần dương hạm và 3 khu trục hạm theo như báo cáo của thám thính cơ. Xuyên qua màn hơi nước, ông ước lượng khoảng cách của các chiến hạm ẩn hiện như bóng ma của địch quân độ chừng 10,000m, và ông quyết định lặp lại chiến thuật mà ông đã từng sử dụng vào ngày 17 tháng 8.
Theo đó, Ijuin dự định quay về hướng Tây-Tây Nam với tốc độ cao để vừa chạy vừa phóng ngư lôi. Nhưng, một việc thường thấy ở biển, mục tiêu xuất hiện thường thấy gần hơn là khoảng cách thực sự. Vì vậy, Ijuin đã sai lầm khi ước lượng khoảng cách giữa ông và địch quân. Ông cho tàu vung nhẹ sang hướng Nam-Ðông Nam, và vào lúc 20g40 ông xoay về hướng Tây-Tây Nam. Chỉ huy trưởng 4 chiếc tàu săn ngầm, Ðại tá Nakayama gửi công điện báo cáo đoàn chuyển vận hạm đã hướng thẳng đến Horaniu, cách 20 dặm. Tin này khiến Ijuin vui mừng, vì như vậy là đoàn tàu sẽ di chuyển an toàn ngang qua phía sau đối phương.
Vào lúc 20h45, Ðề đốc Ijuin khám phá ra sai lầm của mình. Lực lượng địch vẫn duy trì hướng tiến cũ, nhưng khoảng cách giữa ông và họ xa hơn ông tưởng. Ông lập tức xoay về hướng Nam-Ðông Nam trở lại và, sau đó, khi đã điều chỉnh lại sự ước lượng khoảng cách sai lầm và sắp xếp một kế hoạch tấn công bằng ngư lôi, vào lúc 20g48, ông ra lịnh cho tất cả các chiến hạm của ông đồng loạt xoay về bên phải 45 độ. Tới đây, Ijuin lại tạo ra một lỗi lầm khác. Ðồng loạt xoay hướng là một hành động vô cùng khó khăn. Việc này đòi hỏi sự chính xác của thời gian, đó là không nói đến sự rắc rối khi thi hành, bởi lý do các khu trục hạm đang chạy trong một đội hình hàng dọc khít khao. Muốn thi hành sự xoay hướng này, điều kiện tuyệt đối là soái hạm phải biết đầy đủ tình trạng và vị trí chính xác của từng chiếc tàu một trong đội hình. Nhưng ở hiện tại, các đường liên lạc vô tuyến của soái hạm chỉ liên lạc được với 3 khu trục hạm, còn liên lạc với 2 chiếc Shigure (Mưa Phùn) và Samidare (Mưa Hạ) của tôi, bị cắt đứt hoàn toàn.
Sau sai lầm ước lượng khoảng cách của địch, đến sai lầm trong lịnh xoay hướng đồng loạt, Ijuin cho nhóm chiến hạm của ông kết hợp thành đội hình hàng dọc tạm thời tiến về hướng Nam. Nhìn qua tình hình này, Ijuin có vẻ lo ngại, vì ông hiểu rằng các chiến hạm của ông hiện thời đã trở thành mục tiêu lộ liễu. Ông nhớ lại hình ảnh xoay hướng về bên phải khéo léo và thần tốc của 4 khu trục hạm Hoa Kỳ trong trận đánh ngày 17 tháng 8 trước đây. Nếu lúc này địch cũng làm như vậy, hải đoàn của ông sẽ lãnh một cú đấm tàn khốc, để rồi tiếp sau đó, chiến hạm địch sẽ đổ xô về phía Nam và dọn sạch đoàn tàu hải vận. Ám ảnh mạnh mẽ bởi mối đe dọa này, cộng thêm với thể xác mệt mỏi vì chiến trận, và thói quen không chịu lưu ý hoặc nghe theo khuyến cáo của các thuộc cấp đầy kinh nghiệm, Ðề đốc Ijuin đã tạo nên một sai lầm thứ ba, một sai lầm vĩ đại nhứt trong cuộc đời ông. Ông ra lịnh cho tất cả chiến hạm của ông đồng loạt xoay hướng một lần nữa, lần này xoay về bên trái. Bây giờ các chiến hạm Nhựt nằm trong đội hình hàng ngang so le, từ phía Nam tiến về phía Ðông, và như vậy càng khiến cho hải đoàn của Ijuin trở thành mục tiêu dễ nuốt hơn đối với địch.
Ijuin không bao giờ đưa ra bất kỳ lý lẽ nào khác để bào chữa cho hành động này ngoài việc thừa nhận lỗi lầm của mình. Nhưng theo tôi tin, sở dĩ ông đưa ra hành động này là cố ý nhử địch bỏ hướng tiến về phía Nam của họ, nhằm để cứu đoàn chuyển vận hạm thoát khỏi một cuộc tấn công.
Lúc 20g56 nhóm tàu 4 chiếc của Ijuin lại đồng loạt xoay hướng qua phải, để chạy về phía Nam, với đội hình hàng dọc như cũ, nghĩa là quay lái vào mạn tàu địch. Do đó, chiếc Yugumo, chạy cuối cùng, chỉ cách các họng súng điều khiển bằng radar của địch có 3,000m.
Ngay khi 4 khu trục hạm vừa xoay hướng xong, các chiến hạm địch lập tức khai hỏa và phóng ngư lôi. Trúng một loạt 5 quả pháo, chiếc Yugumo liền lách qua trái để tách rời khỏi đội hình, các pháo khẩu bắn trả địch và đồng thời phóng 8 quả ngư lôi. Chiếc Kazegumo (Phong Mây), chạy kế phía trước, cũng khai hỏa nhưng không dám phóng ngư lôi vì sợ trúng đồng đội đã bị hư hại của mình. Xạ trường bị 2 khu trục hạm đang lâm chiến án mất, 2 chiếc Isokaze (Phong Hải) và Akigumo (Mây Thu) không bắn được phát nào. Khu trục hạm Yugumo lĩnh thêm nhiều quả đạn nữa, tay lái hoàn toàn tê liệt, trôi dạt dần về hướng Ðông-Nam. Lúc 21g03, mạn trái của chiếc tàu này hứng trọn một quả ngư lôi địch, lảo đảo nhiều phút rồi sau đó biến mất trên đại dương. Toàn thể thủy thủ đoàn 241 người của Yugumo không một ai sống sót. Ba chiếc tàu còn lại của Ijuin tháo chạy tán loạn, mất 10 phút sau mới vầy đoàn, và sắp xếp lại đội ngũ di chuyển về hướng Tây.
Ba khu trục hạm Hoa Kỳ, được điều động một cách tài tình, hiện tại có vẻ như đã hả hê với chiến thắng, nên vội bỏ rơi các nạn nhân còn tồn tại. Lúc 20g56, sau khi khai hỏa và phóng ngư lôi đánh chìm chiếc Yugumo, các chiến hạm Hoa Kỳ vung sang bên phải.
Nếu các chiến hạm này cứ chạy theo đúng hướng mới này thì niềm vui chiến thắng của chúng sẽ được trọn vẹn. Nhưng sau khi chạy được một phút rưỡi, 3 chiến hạm địch phát hiện 2 khu trục hạm khác của Nhựt (tức hai chiếc Samidare và Shigure của tôi) chạy ngay phía trước, cách 13,000m. Chiến hạm địch vội vã xoay hướng để chạy song song với hai mục tiêu mới này, và chuẩn bị tấn công. Cách điều binh của địch như vậy là rất đúng, nhưng khi làm như vậy, địch lại không chịu để ý đến cú đấm ngư lôi cuối cùng trước khi giãy chết của chiếc Yugumo. Phấn kích với dịp may hiếm có, 3 chiến hạm Hoa Kỳ đã cấp tốc vung sang phải và tất cả trọng pháo được nâng lên nhắm thẳng vào hai nạn nhân mới mà không hề hay biết các quả ngư lôi vô hình vô ảnh của Nhựt đang lướt về phía chúng.
Lúc 21g, một trong các quả ngư lôi do chiếc Yugumo phóng đi trúng thẳng vào buồng chứa đạn của khu trục hạm Chevalier của Hoa Kỳ. Chiếc tàu này nổ tung và chìm trước chiếc Yugumo hai phút. Nhiều tin tức loan đi trên báo chí Hoa Kỳ nói rằng chiếc Chevalier bị trúng ngư lôi trong lúc đang chuẩn bị “đấu súng” với một số ngư lôi đĩnh Nhựt. Các tin tức này hoàn toàn tưởng tượng hoặc có tính cách câu độc giả. Không hề có một ngư lôi đĩnh nào của Nhựt trong khu vực này vào thời gian đó.
Vào lúc 21g5, đúng ngay lúc chiếc Yugumo biến mất trên mặt đại dương, hải lực Hoa Kỳ nhận lĩnh thảm họa thứ hai. Khu trục hạm O’Bannon đụng dữ dội vào chính giữa mạn tàu của chiếc Chevalier đang giãy chết. Sự đụng chạm này có lẽ là do tín hiệu cấp cứu sai lầm của chiếc Chevalier. Cũng có thể giải thích là do màn khói dày đặc giữa 2 chiến hạm hoặc sự xoay hướng bất thình lình của chiếc tàu khi bị trúng ngư lôi, nên sự va đụng không sao tránh khỏi.
Selfridge, khu trục hạm thứ ba của Hoa Kỳ, chiếc tàu duy nhứt còn nguyên vẹn, vẫn tiếp tục thẳng tiến đến 2 chiến hạm Nhựt Samidare và Shigure. Tất cả các họng súng trên chiếc tàu này đều rực lửa, nhưng không hiệu quả. Cảnh tượng này chỉ kéo dài hai phút rưỡi. Chiếc Selfridge nhận lĩnh một quả ngư lôi ngay mũi. Ðây là một trong số 16 quả ngư lôi tầm xa do Shigure và Samidare phóng đi.
Ðó là tất cả những chi tiết thực sự đã xảy ra cho 4 chiếc tàu của Ijuin trong trận đánh này. Bây giờ tôi xin thuật những chi tiết này dưới mắt nhìn riêng của tôi khi đứng trên đài chỉ huy của chiếc Shigure.
Vào lúc 20g38, ba phút sau khi chiếc Yugumo báo cho biết đã bật đèn tín hiệu theo lời yêu cầu của tôi, tôi nhìn thấy một ánh đèn xanh lờ mờ cách trước mặt khoảng 15,000m nên ra lịnh xả hết tốc lực chạy về đó.
Một khối màu đen bỗng xuất hiện ở mạn trái, giống như một hòn đảo nhỏ. Nhưng trong khu vực này không có đảo gì cả. Trong lúc tôi còn đang tự hỏi khối màu đen đó là cái gì, quan sát viên Yamashita la to: “Nhiều vật không nhận diện được, ở 50 độ mạn trái! Hình như là các tuần dương hạm địch, đang tiến tới!”
Tôi dùng ống nhòm khổng lồ 20 tấc để quan sát. Chúng kia kìa, các chiến hạm! Tôi không thể nào đếm được, vì chúng chạy theo đội hình hàng dọc thực thẳng, tiến về phía chúng tôi. Một ánh đèn chớp lên từ phía Samidare vào lúc 20g40, cho biết chiếc tàu này cũng đang theo dõi các mục tiêu: “Chiến hạm địch, ở hướng 30 độ”.
Tàu địch tiến sát thực nhanh chóng. Tôi vẫn quan sát qua ống nhòm và tính xem phải phản ứng ra sao. Khoảng cách đôi bên ở hiện tại là 13,000m. Tôi quyết định tốt nhứt là nên tấn công bằng ngư lôi tầm xa. Hướng tiến của chúng tôi là Nam-Tây Nam, trong lúc hướng tiến của địch là Tây-Nam, nghĩa là từ hướng Ðông tiến đến, bây giờ khoảng cách còn chừng 11,000m. Như vậy, hai bên gần như chạy cùng hướng, chỉ xê xích khoảng 10 độ. Mục tiêu ở một góc độ phóng ngư lôi khó trúng. Do đó, để thích hợp, tôi ra lịnh xoay hướng từ từ về phía trái. Vào 20g55, khoảng cách của đôi bên chỉ còn 10,000m và hiện tại chúng tôi đang nằm trong tầm súng điều khiển bằng radar của đối phương. Tôi không còn nhìn thấy ánh đèn màu xanh của chiếc Yugumo. Khi khoảng cách sinh tử thâu ngắn lại còn 9,000m, cho thấy một cách rõ ràng ý định của địch là cố đẩy một cái chốt vào giữa 4 chiếc tàu của Ijuin và 2 chiếc tàu của tôi. Lúc 20g56, tôi ra lịnh xoay hướng cấp tốc sang phải. Chiếc Samidare cũng xoay hướng giống như chúng tôi. Sở dĩ tôi phải làm như vậy là nhằm để tránh sự đe dọa của các mũi súng địch, đồng thời cải đổi góc độ phóng ngư lôi khác thích hợp hơn.
Khi Shigure và Samidare đang bận xoay hướng, chúng tôi không nhìn thấy các quả ngư lôi trao đổi giữa chiếc Yugumo và đối phương. Hơn nữa, thời tiết quá xấu, chúng tôi khó thể quan sát rõ từng chi tiết một của cuộc đụng độ này.
Hai khu trục hạm của tôi bị áp lực nặng nề. Làm sao chúng tôi có thể chống trả nổi lực lượng địch “mạnh mẽ” (mà lúc ấy chúng tôi vẫn tin tưởng bao gồm 4 tuần dương hạm và 3 khu trục hạm, theo như báo cáo của trinh sát cơ). Nếu để địch nắm phần chủ động, họ có thể đập tan chúng tôi. Nhưng làm sao để chúng tôi giựt lấy sự chủ động? Hơi thở tôi dồn dập vì hồi hộp.
Vào lúc 20g58, nhìn thấy tàu địch xoay sang phải, tôi cũng ra lịnh cho chiếc tàu của tôi xoay nhanh sang phải. Các mục tiêu bây giờ ở khoảng cách 8,500m như dự trù của tôi. Lối chạy song song cùng hướng và chếch lên phía trước mũi tàu của đối phương là một trong những công thức nằm trong lý thuyết phóng ngư lôi của tôi. Lối chạy này làm dự tính tung ra một cuộc tấn công bằng ngư lôi của địch trở nên khó khăn và cho phép tôi chọn lựa thời gian, góc độ để ra tay.
Tôi ra lịnh cho chiếc Samidare bằng đèn hiệu và vô tuyến: “Chuẩn bị pháo khẩu và ngư lôi nhắm vào mục tiêu mạn phải.” Trong lúc đó, mạn trái của tàu địch hướng về phía chúng tôi, do đó tất cả súng ống của họ đều chĩa vào chúng tôi. Biết được điều này, tôi ra lịnh xoay phải một lần nữa vào lúc 20g59, để tiến sát vào địch càng nhanh càng tốt, nhằm loại bỏ điểm nhắm và thời gian đã chuẩn bị của họ. Tôi phát khùng khi hạm trưởng của chiếc Samidare đã ngu dại sử dụng vô tuyến hỏi tôi xem có phải lần xoay hướng này chúng tôi sẽ tấn công đối phương hay không? Cố dằn cơn nóng giận xuống, tôi ra lịnh cho truyền tin: “Nói với ông ấy là chúng ta sẽ lại xoay sang trái trước khi khai hỏa.”
Tiến sát vào hải lực Hoa Kỳ thêm 500m nữa, tôi ra lịnh xoay sang trái và phóng ngư lôi. Lúc ấy là 21g30. Ðịch ở ngay 50 độ và cách 7,000m mạn phải chúng tôi, một góc độ phóng ngư lôi lý tưởng. Từ hai khu trục hạm Nhựt, 16 con cá chạy xuyên dưới mặt nước, và các thủy thủ lập tức đưa vào ống những con cá khác.
Ngay khi loạt ngư lôi đầu tiên của chúng tôi đang trên đường hướng đến mục tiêu, nhiều cột nước mọc lên hai bên tàu của chúng tôi. Ðó là loạt pháo đầu tiên của địch. Những quả đạn bắn “dang chân” này hiển nhiên là do các pháo khẩu có radar điều khiển nên trông rất đẹp mắt, nhưng không trúng chiếc tàu nào của chúng tôi. Lối bắn “dang chân” này vẫn tiếp tục trong lúc các thủy thủ của tôi đang nạp các quả ngư lôi khác vào ống phóng, làm họ trở nên vụng về bối rối. Khi công việc này hoàn tất, tôi nhận thấy loạt phóng thứ hai đã mất đi thời gian tính, nên ra lịnh cho các pháo khẩu khai hỏa.
Chiếc Shigure chao đi chao lại khi các pháo khẩu 127 ly gầm thét dữ dội. Các họng súng không ngớt rực lửa khiến đôi mắt của mọi người hầu như mù lòa, hiện tượng này rất quen thuộc trong những trận dạ chiến xảy ra trong bóng đêm mù mịt của đại dương. Các cột khói đã che hẳn tầm quan sát trên đài chỉ huy của tôi trong chốc lát. Tiếng la đầu tiên vang lên trong cảnh náo động và âm u khét lẹt khói là tiếng kêu to của quan sát viên Yamashita. Hắn cho biết ngư lôi của chúng tôi đã trúng mục tiêu!
Khi mắt tôi quen với quang cảnh hiện tại, tôi nhìn thấy lửa cháy bùng từ lườn tàu dẫn đầu của địch, nhưng ngoài chiếc tàu này ra không còn chiếc tàu nào khác. Hai chiếc tàu địch còn chạy theo sau chiếc dẫn đầu chỉ một vài phút trước đây không còn thấy đâu nữa. Hỏi lại các quan sát viên, họ xác nhận chỉ còn nhìn thấy một chiến hạm địch duy nhứt mà thôi. Việc này khiến chúng tôi tin rằng cả 3 chiếc tàu đều trở thành nạn nhân của các quả ngư lôi của chúng tôi. Ðây là ý kiến của tàu bạn Samidare đưa ra. Nhưng chúng tôi không thể nào tưởng tượng được hai khu trục hạm địch bị mất tích này, tức hai chiếc Chevalier và O’Bannon, đang thả trôi lênh đênh cách 6,000m phía sau chiếc tàu dẫn đầu. Lý do quan sát kém cỏi của chúng tôi vào lúc ấy là bởi hỏa lực và khói súng che phủ tầm mắt.
Vẫn còn tin tưởng có sự hiện diện của các tuần dương hạm địch theo như báo cáo của phi cơ, tôi đã tự hỏi hiện tại chúng lảng vảng ở đâu? Tôi ra lịnh cho tất cả súng ống đều hướng về mạn phải và đưa ống nhòm lên, mở to mắt ra tìm kiếm mấy tuần dương hạm không có thực này. Cuối cùng, xuyên qua bóng đêm và sương mù, tôi thấy hai chấm đen nhỏ bé. Tôi vội cho ngay đó là các tuần dương hạm địch chứ không còn gì khác. Hai chấm đen này không tiến đến chúng tôi vì vậy tôi cho rằng tàu địch đang bỏ chạy. Thực ra, đây là hai khu trục hạm địch: Chiếc O’Bannon đã què quặt và chiếc Chevalier sắp chìm.
Nhằm kiểm soát kết quả của cuộc tấn công ngư lôi của chúng tôi vừa qua, tôi ra lịnh cho 2 khu trục hạm Shigure và Samidare quay sang phải. Sự quan sát hiện thời rất khó khăn, chúng tôi không thể nhìn thấy vật gì hết. Khoảng 10 phút tìm kiếm vô hiệu quả, tôi ra lịnh xoay 90 độ tả mạn và trực chỉ căn cứ.
Thư hùng giữa Task Unit 61.3.4 của Đại tá Frank R. Walker với Hải đoàn 3 của Đề đốc Matsuji Ijuin giống một trận đấu giữa một võ sĩ quyền Anh hạng nặng với một võ sĩ hạng lông. Càng chênh lệch khi đấu thủ da trắng trang bị mắt thần Radar nhìn thấu suốt địch thủ, trong lúc samurai Nhật giống một hiệp sĩ mù nghe gió kiếm mà không trông thấy gì hết. [Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương 38
Ngay sau khi Ðề đốc Ijuin đọc bản phúc trình của tôi về chuyến đi Tuluvu, ông ra lịnh xem xét lại chiếc Shigure. Là một chuyên viên hoa tiêu, ông lo ngại những hậu quả gây ra từ việc gia tăng tốc lực cấp tốc mà chiếc tàu phải chịu đựng.
Sau khi đã chạy thử và xem xét cẩn thận, các kỹ sư bảo trì đã đệ lên Ijuin một báo cáo hoàn toàn đúng với điều lo ngại của ông. Theo đó, chiếc Shigure không còn đủ khả năng để dự trận được nữa. Bản báo cáo ghi nhận rằng chiếc Shigure bỏ qua kỳ hạn tu bổ quá lâu, máy móc đã đến mức tồi tệ, bánh lái và tay lái sai lệch. Thân tàu đóng đầy vỏ sò hến, và các cơ quan cần phải có sự chính xác khác đều không thể sửa chữa hoặc điều chỉnh được. Bản báo cáo kết luận: “Xin cho phép sửa chữa tạm thời tại Rabaul để khu trục hạm Shigure có thể di chuyển sớm chừng nào hay chừng ấy về Sasebo hoàn tất công việc tu bổ.”
Khi một phó bản của báo cáo được gửi đến chiếc Shigure, mọi người đã chuyền tay nhau để xem. Phản ứng của thủy thủ đoàn mỗi người mỗi khác, nhưng đều giống nhau trên căn bản: Không người nào muốn trở về Nhựt.
Sau khi tham dự nhiều trận đánh mà không một ai thương vong, tinh thần thủy thủ đoàn Shigure lên cao tột đỉnh. Tất cả đều la lên giận dữ khi đọc qua bản báo cáo. Họ văng tục phản đối, hết lời thóa mạ và có người còn vung tay đe dọa đấm “mấy tên thợ máy to đầu” ám chỉ mấy viên kỹ sư. Tất nhiên, Ðề đốc Ijuin chấp thuận khuyến cáo của các kỹ sư.
Khi những chuyên viên sửa chữa lên tàu, thái độ của thủy thủ đoàn thay đổi mau chóng. Họ tỏ ra thân thiện và vui vẻ, vui lòng hợp tác trên mọi phương diện. Ðại úy Hiroshi Kayanuma, cơ khí trưởng của Shigure, còn tỏ ra một cách thân mật đặc biệt hơn.
Với bộ râu dài, Kayanuma giống như một người tiền sử, nhưng trái lại anh ta là một người khôn khéo và thông minh, và cũng là một tay uống rượu cừ khôi nhứt trên tàu. Kayanuma bắt bồ ngay với mấy viên cai trông coi toán sửa chữa, lôi họ đi nhậu nhẹt mỗi chiều, cố gắng tán tỉnh để họ xúc tiến công việc sửa chữa nhanh chóng. Anh ta nói với họ: “Rabaul đang thiếu tàu chiến. Ngay cái chậu cũ kỹ xộc xệch này xem ra còn xài được hơn mấy cái chậu mới, chỉ biết đưa lưng ra đỡ đạn. Chúng tôi muốn chiến đấu. Xin giúp chúng tôi cơ hội nhận chìm tàu địch càng sớm càng tốt.”
Thái độ đó cũng là thái độ chung của thủy thủ đoàn Shigure. Chỉ trong vòng 6 tháng mà họ đã thay đổi biết bao! Hiện thời họ đã khiến cho tôi kiêu hãnh. Với tinh thần cao như vậy, tôi biết nếu tham dự bất kỳ trận đánh nào họ cũng đều có thể gặt hái thành công. Công việc sửa chữa mất nhiều ngày giờ hơn dự tính của chúng tôi. Vì có thêm nhiều chỗ hư hỏng cần phải sửa chữa thực cẩn thận.
Trong tuần lễ đầu tiên ăn không ngồi rồi tôi ngã bệnh. Suốt tháng 8 đầy sôi động, tôi không bao giờ được nghỉ ngơi lâu dài sau các trận đánh dữ dội. Qua các trận đánh kéo dài nhiều ngày này, cộng thêm nhiều đêm không chợp mắt, khiến bao nhiêu sức lực của tôi đều tiêu tán. Trong giai đoạn nghỉ ngơi như thế này tôi lại uống quá nhiều rượu. Vào cuối tháng 8, tôi đã tiêu thụ cả thùng sakê mỗi đêm trước khi ngủ. Sau một tuần nhàn rỗi và quen thói tật nhậu nhẹt, tôi sợ mình trở thành một con sâu rượu nên cố gắng giảm xuống. Nhưng sức khỏe tôi giảm sút khủng khiếp, không đủ trầm trọng để tôi nằm liệt giường, nhưng nó đủ sức gây cho tôi tính khí thất thường và hay tức bực.
Tôi ngẫm nghĩ về tình thế của cuộc chiến. Tại sao Nhựt Bổn không chịu thương lượng hòa bình trước khi việc này quá trễ tràng? Tôi không thể nào ngủ yên giấc. Mỗi khi tôi chợp mắt, những cơn ác mộng ùa đến và tôi bừng dậy, mồ hôi lạnh toát đầy thân.
Nghĩ lại, tôi nhớ ơn Ðề đốc Ijuin. Ông biết tôi cần phải nghỉ ngơi, nên ông đã dành cho tôi thời gian này. Nhiệm vụ chỉ huy một chiếc tàu trong thời chiến là một nhiệm vụ đầy mệt mỏi, đó là không nói giữa lúc tôi còn khỏe mạnh, tuổi mới trên 40. Chỉ cần tưởng tượng tôi cũng thấy các sỹ quan cao cấp hơn đã gặp phải biết bao khó khăn. Các sử gia, những người thường hay chỉ trích những sỹ quan chỉ huy, phải nhìn một cách thích đáng những căng thẳng và những trách nhiệm nặng nề của một vị chỉ huy chiến đấu.
Thời gian nghỉ ngơi ngắn ngủi giúp tôi hồi sinh. Hai tuần lễ này đã khôi phục đầy đủ năng lực của tôi. Vào giữa tháng 9, khi công việc sửa chữa chiếc tàu xong xuôi, tôi mạnh hẳn về cả thể xác lẫn tinh thần.
Trong khi đó, tình thế cuộc chiến về phía Nhựt trở nên tồi tệ. Do đó, Bộ Tư Lệnh Tối Cao quyết định một cuộc hành quân triệt thoái khác. Di tản bộ binh Nhựt ở Kolombangara.
Tôi trở lại nhiệm sở đúng vào thời gian có cuộc tiếp tế Buka. Hòn đảo thuộc quần đảo Solomon này nằm gần Rabaul nhứt. Ðề đốc Ijuin cho rằng cuộc hành quân dễ dàng này sẽ lấy lại phong độ cho tôi.
Cuộc di tản khỏi khu vực Kolombangara bắt đầu vào ngày 21 tháng 9. Tất cả binh sỹ Nhựt trấn đóng trên hai đảo Arundel và Gizo, ở mạn phía Nam và Ðông-Nam của Kolombangara, được rút hết cùng ngày. Vào ngày 27, cuộc hành quân tiếp vận Buka hoàn tất, tôi gia nhập vào cuộc di tản gần 10,000 binh sỹ trú phòng ngay trên đảo chính là Kolombangara. Cuộc di tản này thành công hoàn toàn vào đầu tháng 10, chỉ có 66 binh sỹ thương vong. Chương trình triệt thoái kế tiếp là Vella Lavella. Từ đây giống như từ các địa điểm khác, binh sỹ được rút đi đều mang hết về Bougainville. Ijuin được lịnh điều khiển thêm cuộc di tản 600 binh sĩ ở đảo Horaniu, thuộc Vella Lavella. Ðể thực hiện cuộc hành quân triệt thoái này, Ijuin đã vạch một kế hoạch công phu, đòi hỏi 3 nhóm hộ tống gồm 9 khu trục hạm. Nếu so sánh với tổng số 25 khu trục hạm được sử dụng trong cuộc di tản 10,000 binh sĩ ở Kolombangara, cuộc di tản nhỏ bé này đã quy tụ một hải lực hộ tống vượt mức.
Ijuin giải thích rằng mặc dù các cuộc hành quân ở Kolombangara không gặp phải sự ngăn trở nào đáng kể, nhưng với các cuộc hành quân sau này, địch đã hiểu chiến lược của Nhựt, nên phải chuẩn bị sẵn sàng để đương đầu với sự ngăn cản mạnh mẽ hơn. Ðiều khôi hài có lẽ là đặc tính nổi bật nhất của cuộc hành quân quá tỉ mỉ này, bởi sự thực, 600 binh sĩ ở Horaniu không rời đi đâu xa hơn là Buin, nằm ở phía Nam Bougainville, nghĩa là cách xa địa điểm di tản không quá 50 dặm. Hơn nữa, và là một sự mỉa mai, 400 trong số 600 binh sĩ di tản lại do chính Ijuin hộ tống đổ bộ lên Horaniu mới một tháng trước đó.
Trận đánh xảy ra vào hai ngày 6 và 7 tháng 10 là một trong những trận đánh hỗn loạn nhất của cuộc chiến Thái Bình Dương. Ngay khởi đầu, cuộc xung đột do những người khư khư ôm lấy ảo tưởng điều động đã vấp phải những sai lầm trong tính toán. Nhưng có một điểm chính xác: Hoa Kỳ đã đánh giá đúng sức mạnh của Nhựt ở Horaniu, và họ biết Nhựt sắp đưa ra một nỗ lực để triệt thoái bộ binh bị cô lập trên hòn đảo này. Hoa Kỳ cũng biết rằng sau một năm của cuộc chiến tiêu hao, sức mạnh trên mặt biển của Nhựt đã sút giảm nghiêm trọng, nhưng họ không ngờ Hải quân Nhựt đã tung đến 9 khu trục hạm, 4 tàu săn tiềm thủy đĩnh và 20 dương vận hạm vào một cuộc hành quân nhỏ bé như vậy.
Ðề đốc Ijuin đã đảm trách quá nhiều nhiệm vụ trong những tháng vừa qua, vì vậy ông đã mỏi mệt. Trong khi sức khỏe của tôi có dịp phục hồi, tinh thần và thể xác của ông thêm căng thẳng sau các trận chiến liên miên không có một dịp nào để nghỉ ngơi. Vấn đề này là một yếu tố quan trọng trong cuộc đụng độ sắp xảy ra.
Hải đoàn 3 đảm trách cuộc di tản khỏi Vella Lavella của Ðề đốc Ijuin, xuất phát từ Rabaul vào sáng sớm ngày 6 tháng 10-1943, tổ chức như sau:
I. Phân Hải đoàn Hộ tống, Ðề đốc Matsuji Ijuin trực tiếp chỉ huy, gồm 2 hải đội:
Hải đội 17: Khu trục hạm Akigumo (Mây Thu), Isokaze (Phong Hải), Kazagumo (Phong Mây), Yugumo (Mây Hoàng Hôn) do Ðại tá Toshio Miyazaki chỉ huy.
Hải đội 27: Khu trục hạm Shigure (Mưa Phùn), Samidare (Mưa Hạ) do Ðại tá Tameichi Hara chỉ huy.
II. Phân Hải đoàn Khu Trục Vận tải do Ðại tá Kunizo Kanaoka chỉ huy bao gồm 3 khu trục hạm Fumizuki (Tháng 7), Matsukaze (Gió Thông) và Yunagi (Chiều Yên).
III. Phân Hải đoàn Chuyển vận do Ðại tá Shigoroku Nakayama chỉ huy bao gồm 4 tàu chống tàu ngầm và 20 hải vận hạm.
Tất cả đều dưới quyền tổng chỉ huy của Ijuin, soái hạm của ông là chiếc Akigumo, kế đó là Ðại tá Miyazaki đầy đủ kinh nghiệm với chiếc Isokaze của ông, và thành phần còn lại tiếp theo sau. Chọn chiếc Akigumo làm soái hạm, có lẽ Ijuin không muốn Miyazaki mó tay vào các quyết định mặt trận quan trọng của ông. Trên chiếc Akigumo, với vị hạm trưởng và các sĩ quan ít kinh nghiệm, Ijuin sẽ mạnh miệng hơn khi lấy các quyết định riêng.
Trái hẳn ý kiến của một số người Mỹ từng tham dự vào trận đánh sắp xảy ra – họ cho rằng Ijuin không muốn chạm trán với họ. Sự thật, Ijuin mong muốn và rất sẵn sàng để đánh. Số lượng chiến hạm mà ông mang theo đã chứng tỏ điều này. Từng là một chuyên viên hoa tiêu, ông tránh dàn binh theo đội hình phức tạp, và sự thành công của đội hình từng gây bối rối cho đối phương trong cùng một khu vực 7 tuần lễ trước đây vẫn còn trong ký ức ông. Hiện tại ông lại mệt mỏi, nên ý niệm điều quân mới mẻ khó thể có nơi ông.
Bốn chiến hạm thuộc nhóm đầu tiên của ông đều có khả năng đạt vận tốc lên đến 35 hải lý. Do đó, trong một phiên họp chiến thuật, Ijuin có nói với chúng tôi rằng ông sẽ điều quân để nhử địch vào vị trí chọn lựa, nơi đây 2 khu trục hạm của tôi có thể tung ra một cú đấm gây sửng sốt cho địch quân, để nhờ vậy, nhóm khu trục hạm thứ ba của chúng tôi có thể tiến đến đoàn tàu chuyển vận suôn sẻ. Chín khu trục hạm của chúng tôi cũng triển khai thành nhiều nhóm riêng rẽ để địch quân không thể đoán nổi sức mạnh thực sự của chúng tôi. Quả thực, địch quân đã khinh thường lực lượng của chúng tôi, nhưng họ lại không đánh theo sự sắp xếp của Ijuin. Ngày đó trời đầy mây và mưa sa từng chặp. Lướt vào những cơn mưa, chúng tôi tìm thấy chốn ẩn thân tuyệt hảo. Khi chạy men theo bờ biển phía Ðông Bougainville vào buổi trưa hôm đó, truyền tin của chúng tôi chặn bắt được một công điện mã hóa bằng những con số của địch quân. Công điện này do trinh sát cơ hoặc một số quan sát viên bí mật được địch cài trong rừng rậm Bougainville gửi đi. Chúng tôi không có cách nào để biết có phải công điện này đã báo cáo đầy đủ hay chỉ từng nhóm tàu chiến riêng rẽ của chúng tôi. Nên biết, hiện tại các chiến hạm của chúng tôi chia ra làm 3 nhóm chạy riêng rẽ và cách xa nhiều dặm. Nhưng dù thế nào, bức điện này cũng chứng tỏ sự hiện diện của chúng tôi đã bị địch sớm phát hiện.
Sau khi bắt được bức điện, khoảng cách giữa các khu trục hạm của chúng tôi được nới rộng thêm từ 500m ra 1000m, nhằm chuẩn bị đón nhận một cuộc tấn công của phi cơ địch.
Khoảng 15g, đúng ngay lúc chúng tôi đang chống trả với một cơn mưa ào ạt, nhiều phi cơ địch từ hướng Choiseul bay đến. Cơn mưa bão đã bảo vệ chúng tôi hữu hiệu. Bầu trời tối mịt trong nửa giờ, phi cơ địch không biết chúng tôi ở đâu mà mò, nên đành bỏ cuộc săn lùng.
Lúc mặt trời lặn, chúng tôi nhận được một công điện của Ðề đốc Ijuin cho biết nhóm tàu của ông đang tiến thẳng đến Vella, và chỉ thị thành phần còn lại “hãy giảm tốc độ xuống còn 9 hải lý, và chờ ở phía Ðông đảo Shortland để gặp đoàn tàu chuyển vận”, mà ông hy vọng sẽ đến sớm. Sau khi gửi chỉ thị, nhóm tàu gồm 4 chiếc của Ijuin chạy với tốc độ 26 hải lý, hướng mũi vào eo biển Bougainville. Eo biển này ban ngày di chuyển đã khó khăn, trong đêm tối còn khó khăn hơn nữa, nhưng các chiến hạm của ông không gặp tai nạn nào. Một hoa tiêu xuất sắc, tiếng tăm của Ijuin không có gì quá đáng.
Hai khu trục hạm của tôi chạy chầm chậm ngang qua eo biển và đã gặp các hải vận hạm ở phía Ðông Shortland theo như sự sắp xếp. Sau đó, chúng tôi tiếp tục chạy về hướng Ðông-Nam, với vận tốc nhàn nhã 9 hải lý.
Giữa lúc hầu như đã đặt chân đến Horaniu, Ijuin phát hiện 4 khu trục hạm địch xuyên qua đêm tối.
Một cơn bão ập bất thình lình che phủ mọi vật. Lần này cơn mưa nghiêng phần lợi thế về phía địch, lúc ấy vẫn chưa phát hiện các khu trục hạm của Ijuin. Mò mẫm trong bóng tối như bưng, và chợt nghĩ đến các khẩu trọng pháo có radar hướng dẫn của đối phương, Ijuin đã lưỡng lự. Ngay lúc đó, phòng truyền tin trao ông một công điện: “Một thám thính cơ Nhựt phát hiện 4 tuần dương hạm và 3 khu trục hạm địch từ hướng Tây tiến về phía Bắc Vella Lavella.”
Ijuin gật mạnh đầu, và bình thản ra lệnh cho nhóm tàu của ông xoay hướng. Báo cáo này hoàn toàn sai lầm, và đã dẫn đến hầu hết những sai lầm tiếp theo khác của Nhựt trong trận đánh này. Làm sao báo cáo này đáng tin cậy và được phổ biến? Câu hỏi chưa bao giờ có giải đáp dứt khoát. Theo tôi phỏng đoán, viên phi công của thám thính cơ là một tay mới vào nghề. Hắn ta có thể đã nhìn thấy nhóm 3 khu trục hạm Hoa Kỳ thấp thoáng qua các cụm mây, hắn ta bay qua vị trí khác và hướng khác, rồi lại quan sát. Cứ như vậy, hắn ta đã nhìn một nhóm tàu địch thành hai hoặc thành ba, và nhắm mắt báo cáo bừa. Ðó là một sai lầm nghiêm trọng và tai hại thật sự.
Nếu báo cáo quan sát đầu tiên này chính xác, toàn thể quang cảnh của trận đánh sẽ khác biệt hẳn. Theo báo cáo, lực lượng đối phương gồm 4 tuần dương hạm. Một tuần dương hạm mang hỏa lực gấp 10 lần một khu trục hạm và loại tàu này còn được trang bị những pháo khẩu điều khiển bằng radar rất hữu hiệu. Mặc dù Ijuin biết trong tình trạng đêm tối và mưa gió radar sẽ hoàn toàn vô dụng, nhưng các chiến hạm của ông không thể nào đương đầu nổi với lực lượng đối phương hùng hậu như vậy. Do đó, ông chỉ còn một cách lựa chọn mà thôi: Xoay hướng.
Khi công điện chuẩn bị đổi hướng đến chiếc Shigure, tôi đã rất kinh ngạc về sự xuất hiện quá sớm của địch quân, nhưng tôi không có lý do nào để ngờ vực sự chính xác của báo cáo do thám thính cơ cung cấp. Tôi chỉ thoáng hình dung vẻ mặt u sầu của Ijuin khi bỏ ngang kế hoạch đã được sắp xếp của ông. Ông đang ở vào một tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Ông chỉ có 2 đường để chọn, đình chỉ hẳn hoặc cố gắng tiếp tục nhiệm vụ. Lực lượng hùng hậu hiện thời của ông không tương xứng chút nào với nhiệm vụ di tản nhỏ bé được giao phó. Do đó, bỏ ngang nhiệm vụ, ông sẽ không còn mặt mũi nào mà nhìn thiên hạ. Hơn nữa, không có lý lẽ nào để tin tưởng cuộc hành quân di tản này một khi hoãn lại để thực hiện lần sau sẽ gặp một lực lượng địch yếu kém hơn.
Trong khi Ijuin bị giày vò với muôn ngàn ý nghĩ và nhóm tàu của ông tiếp tục chạy về hướng Nam với vận tốc 26 hải lý, Ðại tá Frank R. Walker trên soái hạm Selfridge, dẫn đầu một nhóm 3 khu trục hạm Hoa Kỳ Ralph Talbot, Taylor và La Valette thuộc Task Unit 61.3.4 (Hải đội 4, Hải đoàn 3, Hải lực 61), đã phát hiện những gì mà ông ta đoán quyết là một đoàn hải vận hạm của Nhựt. Lúc đó là 23g31 (giờ địa phương). Và trong khi Walker ra lệnh cho các chiến hạm thuộc quyền của ông gia tăng tốc lực lên 23 hải lý để chạy đua với “đoàn hải vận hạm” Nhựt, ông đã gọi thêm một nhóm 3 khu trục hạm Hoa Kỳ khác, hiện đậu ở cạnh bờ biển phía Bắc New Georgia, cách 20 dặm phía Tây vị trí của ông.
Có thể đêm đẹp trời này là đêm của biến cố, đêm của định mạng. Thời tiết bỗng vụt trong sáng đến nỗi có thể nhìn thấy các mục tiêu cách xa trên 15,000m, nhưng thỉnh thoảng các đám sương mờ và hơi nước bốc lên che khuất hẳn tầm nhìn. Ðại tá Walker, qua radar, đã nhìn thấy các chiến hạm Nhựt, trong khi Ijuin không hay biết gì đến sự có mặt của các khu trục hạm Hoa Kỳ.
Tháng 11-1943 Bộ trưởng Hải quân Frank Knox tuyên bố kể từ đánh úp Trân Châu Cảng, US Navy tăng thêm 419 chiến hạm các loại, trong số có 40 hàng không mẫu hạm. Trong suốt chiến tranh Hoa Kỳ sẽ hạ thủy 26 mẫu hạm nặng và 64 mẫu hạm nhẹ, cứ mỗi 6 tuần xuất xưởng 1 hàng không mẫu hạm nặng, mỗi 3 tuần 1 hàng không mẫu hạm nhẹ và mỗi tuần 1 khu trục hạm, chưa tính các loại tàu khác. Khác biệt giữa hàng không mẫu hạm nặng (Attack Aircraft Carrier) với hàng không mẫu hạm nhẹ (Light Aircraft Carrier) là hạng đầu nặng 25 ngàn tấn và chứa 90 máy bay, còn hạng sau nặng 13 ngàn tấn mang 45 máy bay.
Chỉ riêng trong năm 1943, Frank Knox liên tiếp đưa vào hoạt động các hàng không mẫu hạm mới tinh Essex, Intrepid, Bunker Hill, Independence, Belleau Wood, Cowpens, Monterey, Cabot, Bataan, San Jacinto, Princeton, Langley, Wasp, Lexington, Yorktown và Hornet. 5 chiếc sau mang cùng tên với 5 chiếc đã chìm trong năm 1942, để tưởng niệm. US Navy giống một khủng long chín đầu mà các võ sĩ Nhật dùng kiếm samurai chặt đầu này đi, liền mọc ra đầu khác.
Trong cùng năm 1943, Nhật cải tiến hai tàu chở thủy phi cơ Chitose và Chiyoda thành hai tàu sân bay hộ tống. Riêng hàng không mẫu hạm nặng Taiho (Đại Phụng) 37 ngàn tấn, đóng lườn tháng 7-1941, hạ thủy tháng 4-1943, mãi đến tháng 3-1944 mới ra khơi. [Trần Vũ]
Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm
Chương 37
Hai ngày sau đó, chúng tôi lại được lệnh đến căn cứ Rekata một lần nữa. Lần đi này, chúng tôi gặp may mắn, vì thời tiết ảm đạm, có nhiều mây mù, do đó phi cơ địch không phát giác ra chúng tôi. Mưa trút xuống từng cơn trên hải trình tiến về hướng Nam, khiến cho chúng tôi chỉ nhìn thấy cách xa chừng vài trăm mét vào ban đêm.
Tình trạng thời tiết vẫn không thay đổi khi tàu chúng tôi tiến đến Santa Isabel. Không có dấu hiệu nào cho thấy chiến hạm địch lảng vảng xung quanh, chúng tôi mong ước bầu trời trong sáng trở lại. Chúng tôi hạ tốc độ xuống còn 6 hải lý để len lỏi qua các khoảng nông dẫn vào hải cảng Rekata, và cứ mỗi một trăm mét phải dừng lại để thăm dò lại đáy biển. Ðây cũng là một điều làm điên đầu chẳng khác nào bị địch quân quấy phá. Chúng tôi cứ dò dẫm như vậy suốt gần 2 giờ, cho đến lúc một ánh đèn lờ mờ xuất hiện. Ðó là đèn hiệu của một binh sỹ thuộc lực lượng đồn trú báo cho chúng tôi biết đã đến cửa khẩu. Cả 3 chiến hạm của chúng tôi đều băng qua vùng biển cạn nguy hiểm một cách an toàn. Tôi cảm thấy nhẹ hẳn người khi tàu lướt vào hải cảng nhỏ bé này.
Lúc 1g đêm ngày 25 tháng 8, chúng tôi bắt đầu cho đồ tiếp tế lên bờ, trong khi trên cầu cảng hàng trăm binh sỹ xếp hàng chờ đợi xuống tàu. Nhưng màn đêm yên tĩnh chợt bị phá tan một cách cuồng bạo. Hai oanh tạc cơ của địch gào thét trên các tháp, và biến mất vào những đám mây sà thấp trên nền trời, sau khi thả xuống một loạt bom. Những cột nước dâng cao quanh chúng tôi. Không một thiệt hại nào được ghi nhận, nhưng chính những quả bom không trúng đích này đã thúc đẩy chúng tôi xúc tiến nhanh chóng công việc chuyển hàng và nhận binh sỹ.
Khi đồ tiếp liệu đã dọn sạch. Binh sỹ chờ đợi chạy như bay xuống tàu. Chớp mắt, các khu trục hạm của chúng tôi đầy nghẹt đám lính nhốn nháo. Chúng tôi lập tức quay tàu ra khơi. Tuy trời vẫn còn tối đen như mực, nhưng bây giờ chúng tôi có thể điều khiển chiếc tàu băng qua những vùng biển cạn mà không cần phải dừng lại để mò mẫm như trước đây. Ngay lúc nhìn thấy đèn báo hiệu ở cửa khẩu, chúng tôi gia tăng tốc độ. Vào lúc 2g30 phút, tốc lực của chúng tôi lên đến 30 hải lý. Chắc chắn phi cơ địch sẽ quay lại tìm chúng tôi với số lượng nhiều hơn. Chúng tôi hy vọng rời khỏi hải cảng càng xa càng tốt trước khi trời sáng. Trước bình minh một giờ, chúng tôi đã thoát ra đại dương bao la. Sau đó, chúng tôi cho tàu chạy dọc theo bờ biển Choiseul. Một giờ nữa trôi qua, chúng tôi tiến vào eo biển Bougainville, và cũng là lúc phi cơ địch xuất hiện.
May mắn cho chúng tôi là sớm trông thấy phi cơ địch bay đến nên tạo ngay một màn khói bao che và phân tán mỏng. Khu trục hạm Hamakaze và Minazuki tăng tốc độ tối đa 35 hải lý. Chiếc Shigure già nua mệt mỏi chỉ đủ sức chạy đến 30 hải lý là cùng. Phi cơ địch ít ra là hàng chục chiếc, dường như xuất hiện mọi nơi trên vòm trời. Chúng bay xuống bắn phá xung quanh chúng tôi. Tất cả mọi loại súng của chúng tôi đều chĩa lên trời bắn liên hồi nhưng không trúng mục tiêu nào cả. Lúc phi cơ trút bom, chúng tôi cho 3 chiến hạm xả hết tốc lực, chạy theo hình chữ chi và đan chéo nhau. Lúc đó, bánh lái của chiếc Shigure lại không sử dụng được như ý muốn.
Năm phút căng thẳng trôi qua. Tất cả các oanh tạc cơ của địch bay mất. May mắn thay, chiếc Shigure không bị trúng bom. Các bộ phận trên tàu báo cáo không thiệt hại cũng không có thương vong. Các quả bom đều rơi nổ cách xa chiếc Shigure.
Khi màn khói do Shigure tạo ra tan dần. Chúng tôi nhận thấy 2 khu trục hạm bạn chạy phía trước chừng 3,000m. Và khi màn khói của tất cả các chiến hạm khác biến mất, tôi mới biết chiếc Hamakaze đang lâm nạn. Sàn tàu của khu trục hạm này bốc cháy và đang di chuyển với một tốc độ giảm sút rõ rệt. Chiếc Minazuki vô hại, và đang chạy cặp kè chiếc Hamakaze để bảo vệ. Trong lúc chiếc Shigure tiến đến gần hai đồng đội, chiếc Hamakaze sử dụng tín hiệu bằng cờ báo tin: “Một quả bom rơi trúng sàn tàu, 36 thủy thủ thương vong. Tốc độ giới hạn 20 hải lý. Tôi muốn tiến về Shortland. Miyazaki.”
Ðảo Shortland là căn cứ gần chúng tôi nhất, cách khu vực này không đầy 30 dặm. Nhưng tôi biết rằng Shortland không phải là nơi an toàn cho tàu chiến, vì không có sự bao che trên không.
Tức khắc, tôi ra lệnh cho nhân viên truyền tin vẫy một công điện bằng kỳ hiệu: “Ðại tá Hara chống lại ý định. Căn cứ Shortland thiếu an toàn. Hãy cứ quay về Rabaul, với tốc độ 20 hải lý. Nếu có rắc rối xảy ra, Shigure sẵn sàng kéo anh. Yêu cầu phúc đáp.”
Miyazaki lập tức chấp nhận lời đề nghị của tôi. Ngọn lửa trên chiếc Hamakaze được dập tắt. Chúng tôi vầy đoàn tiếp tục chạy về hướng Bắc. Hải trình còn lại thâu ngắn chậm chạp một cách thảm thương, nhưng may mắn là không có một phi cơ địch nào bay đến tấn công nữa. Sau đó, chúng tôi tiến vào quân cảng Rabaul. Mọi người đứng trên cầu tàu đã sững sờ khi nhìn thấy khu trục hạm Shigure chạy dẫn đầu, theo sau là các chiếc Hamakaze và Minazuki. Bởi vì, đối với họ, nếu bất kỳ một trong số ba khu trục hạm này lâm nạn, chắc chắn phải là chiếc Shigure cũ kỹ và yếu ớt, không thể nào là chiếc tàu mới tinh và chạy nhanh như chiếc Hamakaze được. Thủy thủ đoàn Shigure cảm thấy kiêu hãnh. Chúng tôi không sao quên được những lời đàm tiếu và khinh thị ác miệng mà họ đã nhắm vào chiếc Shigure trước đây.
Ngày hôm sau, khi gặp nhau tại Tổng Hành Dinh, tôi ngỏ lời chia buồn cùng Miyazaki. Một vị chỉ huy trưởng khu trục hạm lỗi lạc và tài giỏi như ông ta, một người đang được đề nghị thăng cấp đề đốc, trong khi mới 40 tuổi, bây giờ trở thành một vị chỉ huy trưởng bất hạnh của một hải đội khu trục hạm với tất cả chiến hạm dưới quyền (Yukikaze, Isokaze, Hamakaze) đều bị hư hại nặng cần phải sửa chữa. Việc thăng cấp của ông hiện tại đã thành xa vời. Lúc gặp Miyazaki, tôi nhận thấy ông có vẻ buồn bã và hổ thẹn.
Ðề đốc Ijuin đã đưa cho Miyazaki một bản tin và nói: “Ðừng ủ rũ nữa, Miyazaki. Hãy đọc mảnh giấy này và vui vẻ lên.”
Ðôi tay Miyazaki run run khi lướt mắt qua các dòng chữ, và sau đó trao cho tôi với nụ cười thoáng buồn. Ðây là công điện gửi từ Shortland, cho biết phi cơ địch đã ồ ạt tấn công gây thiệt hại nặng nề cho căn cứ này. Miyazaki bắt tay tôi và nói: “Hara, anh đã cứu tôi cùng chiếc Hamakaze và thủy thủ đoàn cùng hàng trăm binh sỹ trên tàu. Nếu tôi không nghe lời anh, cứ cho tàu chạy đến Shortland, chắc chắn giờ này chúng tôi tan thành mảnh vụn rồi.”
Bốn ngày sau đó, Ðề đốc Ijuin cho mời tôi và hạm trưởng khu trục hạm Shigure đến văn phòng của ông. Vị tư lệnh của chúng tôi tỏ ra lo âu và có vẻ ngần ngừ trước khi nói: “Khu trục hạm Shigure phải đơn độc đảm nhận một công tác chuyển vận đến Tuluvu. Tôi không muốn giao cho hai anh nhiệm vụ này. Nhưng tôi đã ra lệnh cho toàn thể các khu trục hạm khác cùng đi với tôi đến Rekata để di tản hết binh sỹ. Shigure đã được chọn để đảm nhận công tác này một mình, bởi vì, Hara, tôi tin rằng nếu một người nào có thể đảm đương công tác này, với một chiến hạm duy nhất, thì người đó phải là anh. Ðây là một công tác khó khăn, và tôi hứa rằng ít nhất sẽ có hơn một chiếc khu trục hạm nữa gia nhập vào Hải đội 27 của anh, khi anh trở về.”
“Thưa Ðề đốc, tôi sung sướng được Ðề đốc giao phó nhiệm vụ. Ðược chỉ huy chiếc Shigure trong chuyến đi đơn độc này, đó là một vinh dự to lớn đối với hạm trưởng Yamagami và tôi.”
Gương mặt của Ijuin trở nên tươi tắn hẳn ra, ông tiếp, bằng một giọng đầy khôi hài: “Hara, anh đã tạo ra nhiều kinh ngạc với chiếc Shigure. Nó đáng mang danh hiệu “Khu trục hạm kiên cố” trong hàng ngũ hạm đội Nhựt. Chiếc tàu này lại nằm trong Hải đoàn 3 của tôi, đó là một điều đáng cho tôi hãnh diện. Tôi hy vọng chúng ta sẽ cùng đi chung với nhau trong một chuyến công tác khác.” Trên đảo Tuluvu, nằm ở cực bắc mũi Gloucester thuộc chuỗi đảo New Britain, Nhựt có thiết lập một căn cứ không quân nhỏ. Mặc dầu địch đã nắm ưu thế trên không trong các vùng phụ cận, Tuluvu vẫn được xem là cứ điểm quan trọng, một tiền đồn quan sát của Rabaul. Không có một con đường nào nối liền Rabaul và Tuluvu ngoài đường biển. Do đó, tất cả đồ tiếp tế cho đảo này đều được vận chuyển bằng tàu thủy. Trong khoảng thời gian ngắn vừa qua, căn cứ nhỏ bé này thiếu thốn thực phẩm và đạn dược, những lời yêu cầu tiếp tế lặp đi lặp lại vẫn không được đáp ứng, vì lúc ấy gặp phải áp lực nặng nề của địch tại quần đảo Solomon.
Bây giờ đã đến lúc Tuluvu không thể bị quên lãng được nữa, nếu Nhựt muốn giữ quyền kiểm soát hòn đảo này.
Tuluvu, cái tên âm vang như một lời đe dọa đối với tôi. Nó nằm tại cửa khẩu phía Tây vùng biển Bismarck, nơi mà đầu tháng Ba vừa qua địch quân đã phóng ra những cuộc “oanh tạc nhảy”, nhận chìm 4 trong số 8 khu trục hạm và toàn thể 8 chiếc hải vận hạm, trong đoàn tiếp vận 16 chiếc của chúng tôi. Cũng chính cạnh bờ biển Tuluvu, chiếc Ariake thuộc Hải đội 27 của tôi cũng bị đánh chìm bằng phương pháp oanh tạc nhảy, cùng với chiếc Mikazuki, vào ngày 28 tháng 7. Hai chiếc khu trục hạm này đã chạy rướn lên đá ngầm trong lúc cố né tránh cuộc oanh kích của phi cơ địch và sau đó mắc cạn và bị triệt hạ luôn. Tuy không đích thân chỉ huy vì Ariake tăng phái cho hải đội khác, tôi vẫn đau đớn tột bực.
Tuluvu là một căn cứ nằm trong các cuộc tuần thám hàng ngày của phi cơ Ðồng Minh. Bất cứ chiếc tàu nào của Nhựt bén mảng đến đây đều có thể hy vọng được oanh tạc cơ Ðồng Minh tiếp đón nồng hậu, có khi bằng những trận “oanh tạc nhảy”. Tôi phải cố gắng bằng mọi cách tìm cho ra một giải pháp chống lại hình thức tấn công này, mà chắc chắn chúng tôi phải đối diện. Nhưng, cho đến hiện tại, đầu óc tôi vẫn mù mịt, nếu không nói là bó tay.
Những người sống sót trong trận đánh ở biển Bismarck đã kể lại rằng chiến thuật tránh né theo lối xưa cũ của các chiến hạm Nhựt đã thất bại như thế nào. Tôi nghĩ có lẽ lúc bị oanh tạc nên quay mũi hướng thẳng về phía phi cơ địch, như vậy mức độ chính xác về thời gian được tính toán để thả bom sẽ bị sai lạc hẳn. Nhưng không có cách gì để kiểm chứng xem ý niệm này có đúng không, ngoài cách thử nghiệm ngay trong trận đánh. Nhưng thử thách như vậy có khác nào đùa giỡn với mạng sống của chiếc tàu và hơn 200 thủy thủ của tôi.
Vào trưa ngày 1 tháng 9, khu trục hạm Shigure rời căn cứ Rabaul trực chỉ Tuluvu. Chúng tôi cho tàu chạy dọc theo bờ biển phía Bắc đảo New Britain với tốc độ 18 hải lý. Hải vực tại đây cũng nguy hiểm không thua gì tại quần đảo Solomon, đầy rẫy đá ngầm, và nhiều nơi đáy biển rất nông không được ghi chú trên hải đồ. Ðêm xuống khi chúng tôi tiến gần mũi Hollmann, nằm ở cực Bắc của bán đảo Willaumez, khoảng nửa đường giữa Rabaul và Tuluvu. Khu trục hạm Shigure đang tiến vào vùng nguy hiểm.
Phòng truyền tin cho biết bắt được sóng vô tuyến của một phi cơ địch lảng vảng đâu đây. Tin tức này đã đến sớm hơn dự trù của tôi. Tôi ra lệnh cho các quan sát viên trông chừng phi cơ địch, cho dù mây mù và trời tối đen, khiến thị độ quan sát rất yếu kém.
Một giờ sau, nhân viên truyền tin báo cáo: “Phi cơ địch đang gửi công điện. Ngay trên đầu. Không thể giải mã, nhưng hình như máy bay địch báo cáo vị trí, hướng đi và tốc độ của chúng ta.”
Chúng tôi tiếp tục chạy về hướng Tây. Thời tiết đột nhiên xấu hơn không thể nào nhìn thấy vật gì trước mặt được nữa. Không khí trở nên oi bức. Mồ hôi rịn đọng trên mặt tôi. Vài phút trôi qua, phòng truyền tin lại báo: “Phi cơ địch tiếp tục theo dõi hướng tiến của chúng ta.”
Lặng yên và căng thẳng gia tăng trên đài chỉ huy. Tôi lấy khăn tay ra lau mặt. Chưa lần nào không khí lại ngột ngạt như thế này. Ðại úy Tsukihara, sỹ quan hoa tiêu cho biết sắp có một trận mưa. Anh ta đã tiên đoán đúng. Lúc 20g, cơn mưa trút xuống, ngăn hẳn tầm nhìn trong vòng một hai mét. Tôi cho tàu giảm tốc độ, quay mũi về hướng Tây-Nam và tiến vào bờ biển đầy đá tảng.
Ðài quan sát báo cáo không còn bóng dáng một phi cơ nào của đối phương. Ðại úy Tsukihara nói: “Thời tiết quỷ quái này làm cho địch nản chí.” Bầu không khí căng thẳng giảm bớt. Sỹ quan và thủy thủ bắt đầu nói chuyện lao xao. Họ ngáp dài và duỗi tay chân, sau khi mươi phút trôi qua mà không có liên lạc vô tuyến nào của địch được ghi nhận trong vùng lân cận. Tuy nhiên, những cánh tay bỗng hóa tê cứng, những cái miệng chợt há hốc sững sờ trước tiếng cánh quạt đinh tai nhức óc của các oanh tạc cơ ở đâu lao xuống trút bom. Mọi người đều bò càng. Trong tiếng rít lạnh xương sống, một máy bay địch chúi thẳng xuống đài chỉ huy và tiếp theo đó là tiếng nổ đồng loạt của nhiều quả bom. Một phi cơ khác đang gầm thét trên cột buồm.
Tôi lảo đảo đứng dậy, tự hỏi phi cơ địch ở hướng nào? Tôi nhìn thấy Yamagami đang sờ soạng tìm nút báo động và ấn mạnh. Tiếng còi hụ vang lên muộn màng. Chiếc Shigure xoay hẳn về tả mạn. Một cột nước mọc lên ngay trong nửa vòng tròn của chiếc tàu vừa xoay, cách không đầy 10m. Cột nước chụp lên tháp canh và đổ ập xuống đài chỉ huy. Tôi vừa rũ nước vừa hét: “Bẻ lái qua hữu mạn! Tốc độ tối đa! Gia tốc tức khắc!”
Ðại úy Tsukihara nhìn tôi một cách sửng sốt, và hỏi lại: “Gia tăng tốc lực tối đa tức khắc?”
“Tức khắc!” Tôi gào lên. Tsukihara, mặt tái xanh và tay run lẩy bẩy, ấn mạnh nút liên lạc phòng máy, và nhắm nghiền mắt lại. Cùng lúc, Yamagami gọi phòng máy ra lệnh tăng gia tốc tối đa cấp kỳ, và kêu lên nho nhỏ: “Trời ơi!”
Phản ứng của họ hoàn toàn tự nhiên. Trước đây, tôi chưa bao giờ ra một mệnh lịnh như vậy, và cũng có thể nói hầu hết sỹ quan hải quân trong suốt cuộc đời binh nghiệp của họ cũng chưa ai từng ra mệnh lịnh này. Dưới các điều kiện thông thường, một chiếc tàu muốn gia tăng vận tốc từ 12 hải lý lên vận tốc tối đa 30 hải lý phải mất nửa giờ. Bằng cách tăng từ từ. Trong điều kiện tác chiến, việc gia tăng vận tốc như vậy cũng mất ít nhất 16 phút. Lịnh tăng tốc lực “tức khắc” của tôi đã vượt quá tiến trình thông thường, và có thể làm nổ turbin cùng guồng máy chiếc Shigure. Lịnh này đã gây ra sự náo động dưới hầm tàu. Mối lo âu lớn của toán phòng máy là làm sao thi hành được mệnh lịnh này mà tránh cho các sợi dây của turbin khỏi bị đứt tung khi những cái van trong máy nở hết ra. Tất cả đều thi hành mệnh lịnh một cách khẩn cấp nhưng trong thâm tâm đều nghĩ tai họa chắc chắn xảy ra.
Những người đứng trên đài chỉ huy chờ đợi phi cơ địch tái xuất hiện không biết phút giây nào. Yamagami, đang hướng mặt về phía sau buồng lái bỗng la to và đưa tay chỉ ống khói tàu. Từ miệng ống khói đang phun ra những cuồng lửa cuồn cuộn có ngọn kéo dài theo chiều gió. Nhiên liệu dư quá nhiều, máy đốt không kịp nên tuôn ra ống khói và bốc cháy. Ngọn lửa phừng phừng sáng rực cả nửa sau chiếc tàu.
Các oanh tạc cơ địch không bao giờ bỏ bom trật một mục tiêu như thế này. Sự lo âu chỉ kéo dài trong vài phút, nhưng đối với mọi người như kéo dài hàng nhiều giờ, và ngay lúc đó, phòng truyền tin báo cáo: “Phi cơ địch báo cáo – mã hóa – đã oanh tạc vào ngay chính giữa một khu trục hạm. Chiếc tàu bốc cháy và đang chìm.”
Tôi sợ tai mình nghe lầm, tôi yêu cầu đọc lại một lần nữa. Khi nghe xong bản tin đáng kinh ngạc này, Yamagami và Tsukihara reo lên vui mừng. Không khí háo hức bị phá tan, một tiếng nói từ phòng máy vọng lên, hỏi xem có cần phải tiếp tục thi hành lịnh gia tăng vận tốc cấp tốc nữa không? Tôi sung sướng trả lời rằng lịnh này không còn cần thiết nữa, và bây giờ có thể giảm xuống 12 hải lý trở lại. Ngọn lửa ở miệng ống khói hạ xuống mau chóng, và chúng tôi tiếp tục di chuyển trong bóng đêm một cách bình yên.
Không còn chiếc phi cơ nào theo đuổi chúng tôi nữa. Ðối phương tin đã xóa tên chiếc Shigure trên biển cả. Ðoạn hải trình còn lại của chúng tôi thông suốt và thoải mái sau những phút giây dựng tóc gáy. Chúng tôi đổ hàng tiếp tế xuống Tuluvu và quay ra khơi trong không khí vui mừng náo nức của binh sỹ đồn trú trên đảo.
Một lần nữa, chúng tôi trở về căn cứ Rabaul bình an. Ngày hôm sau, tôi trình diện Ðề đốc Ijuin. Ông cũng trở về bình an và thành công trong chuyến đi Rekata của ông. Lúc tôi kể chuyện với ông về những việc đã xảy ra, ông cười muốn đứt hơi, và nói: “Xem ra bây giờ chúng tôi có thể gọi anh là ‘Ðại tá Huyền diệu’. Hara, ngoài anh, không ai có thể nghĩ ra chiến pháp kỳ dị đến như vậy trong những phút nguy nan đó.”
Tôi sung sướng trước lời khen tặng của ông. Tôi nói: “Chiến tranh dường như có liên quan đến thế giới huyền nhiệm. May mắn cũng là một phần lớn trong sự huyền nhiệm này. Tôi nghĩ rằng sử dụng cùng mưu mẹo đó sẽ khó thành công trong kỳ khác.”
Thay Lời Kết 12 năm trong quân ngũ với nhiều vất vã gian nan, nhất là những lúc trèo đèo vượt suối. Ngoài ra những lần chạm địch, đạn thù không kiên nể một ai, lúc đó người chiến sĩ đem sinh mạng ra thử thách với tử thần! Người chinh phụ ở hậu phương lúc nào cũng phập phòng lo sợ.
9 năm còn kẹt lại ở Việt Nam, sống dưới chế độ phe đảng, công an, và cảnh sát. Bọn cầm quyền độc tài chuyên chế, lúc nào cũng muốn áp bức người dân, nhất là dân Miền Nam. Chúng muốn đưa gia đình của những người liên hệ chế độ cũ đến đường cùng. Một chế độ kiểm soát bằng lý lịch, những người cựu quân, cán, chính lành mạnh mà còn phải “Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi!”.
Còn gia đình tác giả thì chồng bịnh tật, vợ ốm yếu, ba đứa con còn quá dại khờ (1, 3, và 5 tuổi). Tiền mặt sau khi đổi chỉ còn hai trăm đồng, không của cải quý giá (Honda, chiếc nhẫn truyền thống Đà Lạt bằng vàng 18,…đều bán sạch), vậy mà gia đình đã cố gắng ngoi từ đáy parapole để lên gần tới đỉnh.
13 năm sống tha hương, lúc mới qua Mỹ, trong nhà có hai lao động: trưởng nam mới vừa 16 tuổi, và mẹ đi làm nhà hàng, dành dụm tiền mua sách vở. Tối đi làm tới gần nửa đêm, sáng sớm cả nhà năm người đều cấp sách đến trường để rồi 9 năm sau, 4 cha con đều tốt nghiệp Kỹ Sư (1 cháu đổ bằng Master).
24 năm ngồi trên xe lăn, với nhiều biến chứng do bịnh tê liệt gây ra, khiến tác giả ngày đêm phấn đấu với những cơn đau nhức, khó chịu, nhất là ở vùng ranh giới thắt lưng, nơi đốt xương sống bị gãy. Đầu óc lúc nào cũng lo lắng trăm bề, nhiều khi cầm quyển sách mà trong óc nghĩ chuyện đâu đâu, tinh thần kém minh mẫn, chậm chạm, khó hấp thụ như tuổi thanh xuân. Vì vậy cần phải cố gắng gấp bội, mới có thể theo kịp bạn học, còn muốn điểm cao để đem lại vinh dự cho gia đình, cho sinh viên Việt Nam, thì khỏi nói quí vị cũng hiểu tác giả đã phải phấn đấu đến bực nào? Không được than van mệt mỏi, không được nghĩ đến những cơn đau do bịnh trạng gây ra. Phải tranh thủ từng giờ từng phút, kể cả những lúc các cháu ẵm lên bàn nằm nghỉ trưa tại phòng học, vừa cầm khúc bánh mì ăn, vừa đọc sách, ôn bài.
Đoạn trường ai có qua cầu mới hay! Mỗi lần tác giả nghĩ đến giai đoạn dài đã trải qua mà thấy rùn mình ớn sợ ! Không ngờ mình có thể chịu được cảnh đó trong suốt 24 năm! Cộng thêm mười năm ở quân trường và đơn vị tác chiến! Thì tuổi xuân nầy chẳng hưởng thụ được bao nhiêu, cán cân giữa vui và buồn, sướng và khổ, quả thật là quá chênh lệch!
Hôm nay ngồi đây viết lại hồi ký nầy để mong quí vị nào có phần số tốt hơn, đừng bao giờ buông xuôi, chán nản, mỗi khi gặp bất cứ trở ngại nào cũng cần phấn đấu ngoi lên.
Florida ngày 1/8/1997
Trương Dưỡng
HẾT Cám Ơn Các Anh
(Mến tặng anh Quách Vĩnh Trường và Trương Dưỡng)
Tôi vẫn gọi các anh là “Người Mẫu”
Lời nôm na mà ý rất tự hào
Để dạy thằng con Phải Sống Làm Sao?
Mang thương tật, cháu thẩn thờ sống gượng!
Cảm ơn anh Quách vĩnh Trường và Trương Dưỡng
Hai tấm gương Tự Thắng tuyệt vời!
Hai tấm gương làm hãnh diện với đời
Trai Võ Bị rạng ngời lòng Tự Thắng*
Thương các anh trải trăm cay, nghìn đắng
Vẫn vươn lên với thân thể tật nguyền.
Cụt tay chân rồi mộng ước ngả nghiên!
Lại nước mất, cả đất trời như sụp đổ!
Thân tàn phế xứ người bao bỡ ngỡ
Khi lòng trai đã lắm nỗi dập vùi!!!
Thế mà các anh, bạn cùng khóa của chồng tôi,
Giờ gặp lại là Kỹ sư, Họa sĩ
Tôi hãnh diện cùng gia đình Võ Bị,
Có gương anh rọi con cháu ngày ngày
Cảm ơn các anh cho con cháu hậu lai
Hai cuộc sống sáng ngời gương Tự Thắng*.
Bửu Hiền Thê
(Florida tháng 4/1997)
** Tự Thắng Để Chỉ Huy Gương Sáng
N gày 12-12-92, trường Đại Học Florida Atlantic University đã long trọng tổ chức lễ mãn khóa cho 1068 Sinh viên tốt nghiệp các chuyên khoa trong đó có một cựu SVSQ Khóa 20 TVBQGVN và trưởng nam, hiện cư ngụ tại Broward, Florida tốt nghiệp Kỹ Sư Điện. Ra trường Khóa 20 TVBQGVN năm 1965, anh Trương Dưỡng đã đầu quân vào đơn vị lẩy lừng chiến tích nhứt của QLVNCH trong suốt cuộc chiến chống Cộng. Sư Đoàn Nhảy Dù, một đơn vị đã từng nổi tiếng gây khiếp đảm cho quân thù trên khắp các chiến trường và thu phục được sự cảm mến của mọi từng lớp đồng bào hậu phương.
Anh đã có mặt trên hầu hết các chiến trường Bồng Sơn, Tam Quan (Bình Định), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Cửa Việt (Quảng Trị) và Hạ Lào năm 1971, Gio Linh, Làng Vây (Quảng Trị), đường Trường Sơn, Phong Điền (Thừa Thiên) năm 1967; Cổ Thành Quảng Trị, Thành Nội Huế và mặt trận Ven Đô Thành Sàigòn Tết Mậu Thân năm 1968.
Cùng với các chiến tích kể trên của đơn vị, anh hùng Mũ Đỏ họ Trương đã được tưởng thưởng nhiều huy chương đủ loại kể cả huy chương cao quý nhất của Quân Lực VNCH và Hoa Kỳ. Anh cũng đã chứng minh hùng hồn nhứt về lòng yêu nước của mình bằng 4 lần bị thương trên chiến trường mà hiện nay một số đạn thù vẫn còn nằm lại trong thân thể anh.
Một tai nạn xe oan nghiệt và cuộc cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam của tập đoàn Cộng Sản Bắc Việt 30/4/1975 đã chấm dứt cuộc đời binh nghiệp của anh và mang lại cho anh một thân thể bất toàn. Hai biến cố nầy đã đưa anh đến một tình thế khó khăn tuyệt đỉnh. Nhưng người sĩ quan quả cảm nầy đã vươn lên không ngừng để sống còn trong suốt gần mười năm trên quê hương điêu tàn, rách nát. Anh cùng vợ và các con đã phải làm đủ thứ nghề để sống qua ngày và mong chờ một tia sáng ở cuối đường hầm.
Niềm hy vọng nhỏ nhoi đó đã trở thành sự thật khi anh được người bà con họ bảo lãnh và cả gia đình anh đã đến được vùng đất Tự do nầy vào năm 1984.
Đến nay anh vừa tròn 50 tuổi, cái tuổi mà đáng lẽ đang chuẩn bị để “Vui thú điền viên” nhưng anh đã luôn luôn nêu cao khẩu hiệu “Tự thắng để chỉ huy” và cái “Đa năng đa hiệu” của người trai Võ Bị gần 30 năm trước.
Người chiến binh quả cảm đó không ngừng hăng say xông xáo trên chiến trường lửa đạn mà còn tung hoành ngang dọc không kém trên mặt trận văn hóa. Anh lúc nào cũng an lạc yêu đời, vẫn hằng ngày ngồi xe lăn đến trường để “Dồi mài kinh sử” cùng 3 con trai:
– Trương vũ Tâm 25 tuổi
– Trương Vũ Thành 22 tuổi
– Trương Vũ Thiện 20 tuổi
Theo lời phát ngôn viên của Viện Đại Học thì đây là lần đầu tiên một gia đình gồm 4 cha con học cùng ngành và cùng trường mà lần nầy hai cha con cùng tốt nghiệp với số điểm trung bình :
– Trương Dưỡng 3.64
– Trương Vũ Tâm 3.3
Hai em Thành và Thiện hiện đang noi bước cha anh và cũng sẽ tốt nghiệp năm 1993. Đằng sau cái gương hiếu học và những nổ lực không ngừng của anh Dưỡng và các cháu, tôi không thể không nêu lên tấm gương của một phụ nữ mà từ gần 10 năm ròng rã sống trên xứ lạ quê người, nơi đầy dẫy những cám dỗ xa hoa vật chất, vẫn một lòng một dạ yêu thương chồng con, hằng ngày vui vẻ cặm cụi đi làm để nuôi chồng con an tâm đèn sách: Chị Dưỡng.
Chị không những là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy chồng con mau đến thành công trên đường học vấn mà còn là một gương sáng chói về tiết hạnh đảm đang của người phụ nữ Việt Nam truyền thống.
Tóm lại gia đình Người Hùng Mủ Đỏ Trương Dưỡng vô cùng xứng đáng là một gia đình Việt Nam mẫu mực để cho tất cả người Việt chúng ta noi theo, đặc biệt những ai đang sống trên quê hương nầy vậy.
Lê Chí Thiện, K14 ĐL
Florida, 1992
Tiểu Sử Tác Giả Trương Dưỡng sinh năm 1942 tại Phương Thạnh, Trà Vinh.
Gia Cảnh : Vợ và 3 Con Trai; Cấp bậc sau cùng: Thiếu tá
Năm 1973 bị tai nạn lật xe tại Huế gây liệt hai chân!
Giáo Dục :
Trường Trung Học Bán Công Trần Trung Tiên Vĩnh Bình
Trường Trung học Âu Lạc, đường Trần Quý Cáp, Sàigòn
Trường Pétrus Trương Vĩnh Ký (Đệ Nhất B1), Sàigòn
Đại Học Khoa học và Đại Học Luật
Tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam,Khóa 20 Đà Lạt
Khóa Điều Không Tiền Tuyến, Trường Pháo Binh Dục Mỹ
Khóa Tác chiến Trong rừng tại Mã lai năm 1966
Khóa Tham Mưu Trung Cấp tại Trường Võ khoa Thủ Đức
Khóa Tác Chiến Điện Tử tại trường Truyền Tin Vũng Tàu
E-mail: galactus@flite.net Cảm nghĩ của độc giả về ĐCB
Nhận được bao thơ “King Size” của Dưỡng, tôi đã biết bên trong là “Báu vật tinh thần” của chuyên viên sưu tầm quân sử “Non-profit”.
Cuốn sách dựa vào chuyện thật 100% của những chiến sĩ QLVNCH, ở giai đoạn đất nước ngập chìm trong cuộc chiến “Xúi giục” của ngoại bang (Cộng Sản và Tư Bản).
Dưỡng, 25 năm trụ trì tại gia, đúng nghĩa câu:
“Tu đâu chẳng bằng tu nhà,
Thờ cha, kính mẹ, thương con, yêu vợ mới là chân tu”
Qua những lần giao duyên, tâm tình vụn vặt, Dưỡng đã dí dỏm:
– Tôi nay đã từ bỏ những cám dỗ tắm hơi, dê Hà Nàm, “Đêm Màu Hồng”,…và trở thành “Thượng tọa Thích Không Được”.
Thượng tọa, ý của Dưỡng muốn nói về bị thương cột sống từ năm 1973, không đi được, hãm mình trên xe lăn suốt 25 năm trường! Quá thương cho bạn già, nếu có dịp gặp lại các em gái hậu phương xa xưa, Dưỡng sẽ được tràn ngập vòng hoa và những nụ hôn khích lệ ngọt ngào!
Thân thể của Dưỡng giới hạn trên chiếc xe lăn, nhưng tấm lòng cho người chiến sĩ QLVNCH, cho tình bạn, cho quê hương đọa đày,…đã vượt thời gian và không gian.
Dưỡng mang hết tâm trí, liên lạc bạn bè, sưu tầm sách vở,….để cho ra đời một đứa con tinh thần thứ hai mang tên “Đời Chiến Binh” (sau hồi ký “Một Cánh Hoa Dù”). Mong rằng Dưỡng sẽ sản xuất “ Ra phan” (đồng loạt) như đại liên M60 khi đụng trận để độc giả coi mệt nghỉ!
Dưỡng đã nói lên sự hy sinh, gian lao, và oai hùng của chiến sĩ Nhảy Dù nói riêng, Quân lực VNCH nói chung.
Rất khâm phục Dưỡng đã thổi lên ngọn lửa tri ân cho “Đời Chiến Binh”, những người còn sống cũng như những người đã nằm xuống.
Hình ảnh Dưỡng làm tôi nhớ lại hình ảnh võ sĩ vô địch Quyền Anh, Muhammad Ali thắp đuốc Thế Vận Hội năm 1996 tại Atlanta. Tôi ước mong những con người nào còn mang mặc cảm thua chạy một cách lệch lạc hãy hòa nhập vào giá trị vô hình bất diệt của những anh hùng liệt sĩ.
Xin hãy cùng Trương Dưỡng thắp lên lòng tri ân những chiến sĩ vô danh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Thế thắng của quân đội miền Nam là thế thắng “Không thành”, bỏ ngõ, để Cộng sản Bắc Việt (CSBV) vào miền Nam nhìn thấy một nền văn minh “Vĩ đại, đỉnh cao trí tuệ của loài người (!)” thực sự, để họ ngước mặt nhìn những nhà cao tầng đến rơi nón cối lộp cộp xuống đất, để cho các chú “Mán” vào thành ngơ ngơ ngác ngác, cho dân miền Nam thấy rõ bộ mặt giả nhân, giả nghĩa, và cũng cho dân miền Bắc biết được sự tuyên truyền láo khoét “giải phóng cứu đói miền Nam ruột thịt”, mà chúng đã lợi dụng xương máu từ trẻ con 16 tuổi cho đến lão già đã 60 để lót đường cho chủ nghĩa Mác Lê ngoại lai mà chính người Nga đã phải từ bỏ!
Quân đội VNCH mất đi khiến dân chúng miền Nam ngậm ngùi tiếc thương, họ đã tức tưởi như mất đi một niềm tin, một người tình chung thủy!
Dưỡng ơi, chúng mình đâu có bao giờ mơ ước cao sang cho Đời Chiến Binh đầy gian lao nguy hiểm, mà chỉ một lòng vì:
“Danh Dự – Tổ Quốc – Trách Nhiệm”
Đời Chiến Binh chúng mình
Gồm Không, Hải, Bộ Binh.
Nào áo xanh, áo trắng, áo rằn ri
Chúng ta chẳng ước mơ gì quá to
Khi dứt gánh quân hành
Chúng mình chỉ cần
Một “Mái ấm” nho nhỏ
Nguyễn văn Thành, k19ĐL
Tiểu đoàn trưởng TĐ11ND
Cuốn “Đời Chiến Binh” vẫn sống động hấp dẫn như cuốn trước (Một Cánh Hoa Dù) nhờ niên trưởng là người đã từng dày dạn trận mạc, nên những nhận xét và hành văn đúng là “Soldier”, không phải là “Người ngoài” khi viết về chiến trận thường hay bị lỏn chỏn như thế nào ấy. Đây là một điểm “ăn khách” của niên trưởng. Cộng thêm văn phong của niên trưởng rất thật, không màu mè trau chuốt.
Niên trưởng đã có công thu thập những tài liệu “sống” từ những người đã trực tiếp dự phần nên tạo được nét sinh động cho cuốn sách rất nhiều. Những tài liệu thu thập đó là xi măng và cát đá để niên trưởng ra công khuấy trộn xây thành cái nhà.
Niên trưởng có “cái duyên” và cảm tình của nhiều người để những vị nầy đặc biệt sẵn lòng tâm sự, cung cấp cho NT những chi tiết quí giá làm lôi cuốn người đọc. Đây cũng là một ưu điểm của “nhà văn” Trương Dưỡng nhờ tình nghĩa sẵn có từ bao nhiêu chiến hữu từng biết hoặc từng nghe tên NT.
Đoạn cuối cùng đọc quá cảm động: lúc niên trưởng Thành “Râu” đạp xe về La Vang nhìn lại cảnh cũ mà hồi tưởng lại anh em đồng đội ly tán; đoạn ông “khủng Long”, đoạn B2 Báu,… Tôi vừa đọc, vừa sửa, mà vừa….. trào nước mắt! Chuyện ký vãng của anh em mình sao quá nhiều cái bi thương!
Cuốn Đời Chiến Binh nầy lại thêm một nét son cho người chiến binh tàn phế Trương Dưỡng nữa.
Nguyễn văn Minh, k27ĐL, Canada
Tôi đã đọc hầu hết các sách viết về trận chiến do những tác giả tên tuổi. Những tác giả đó chỉ nói đại khái tổng quát nhưng không nói rõ từng chi tiết như sách Đời Chiến Binh.
Những trận chiến đã được kể trong Đời Chiến Binh là chuyện thật vì tác giả đã được các cấp: Sư đoàn, Lữ đoàn, Tiểu đoàn, Đại đội, Trung đội, và ngay cả binh sĩ trực tiếp tham chiến tường thuật lại. Trương Dưỡng là người lính chiến, xuất thân từ trường Võ Bị Đà Lạt, từng làm trung đội trưởng, đại đội trưởng, sĩ quan tham mưu Lữ đoàn,…nên anh thông hiểu từng khía cạnh trận đánh khiến cho chuyện kể của anh thật sôi nổi, hồi hợp, và hấp dẫn.
Qua “Đời Chiến Binh” và “Một Cánh Hoa Dù”, tôi mới thực sự thấy thương lính, thông cảm sự cực khổ, nguy hiểm, và hào hùng của lính. Tôi tin rằng thế hệ sau nầy khi đọc xong sẽ thấy được sự can trường hy sinh vô bờ bến để bảo vệ đồng bào miền Nam sống an lành trong suốt 20 năm qua của các binh sĩ, các trung đội trưởng, và các đại đội trưởng,…những người đã trực tiếp đối đầu với địch trên chiến trường.
Nguyễn Trị, South Carolina
Tôi đã nhận 4 quyển “Đời Chiến Binh”. Nay gởi niên trưởng cái check $100 để ủng hộ. Tôi vừa đọc xong đêm qua. NT viết hay quá! Các chi tiết thật dồi dào, sống động; lời lẽ bình dị đơn sơ nhưng diễn tả quá chính xác làm người đọc tưởng như chuyện đang xảy ra trước mắt. Những dữ kiện có thật 100% do chính những nhân chứng cung cấp, dưới ngòi bút của niên trưởng đã nói lên được khí phách hiên ngang của chiến sĩ VNCH. Tinh thần chiến đấu hào hùng của Nhảy Dù làm tôi cảm thấy vô cùng hởi dạ, vì có người đã nói lên được sự chiến đấu cam go gian khổ của QLVNCH, mà các phóng viên ngoại quốc đã cố tình bóp méo sự thật để bôi nhọ chúng ta. Tôi lấy làm hãnh diện vì niên trưởng đã vinh danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có tôi. Ước mong niên trưởng hãy viết thêm nữa.
Lưu Xuân Phước, K24ĐL, Texas
Một Cánh Hoa Dù, tác giả đã kể chuyện về mình, kể về một cuộc đời đã qua trong cuộc chiến, và bây giờ qua tác phẩm thứ hai “Đời Chiến Binh”, người đọc cảm thấy đâu đó như anh đang hát những đoản khúc anh hùng trong bản trường ca để ca ngợi những người con Việt Nam, với những trận đánh như thiên thần tung hoành ngang dọc.
Anh kể chuyện thực như nó là thế nào thì anh viết như vậy. Người đọc say mê như xem một phim trên màn ảnh. Đọc xong vẫn còn nghĩ là nó chưa kết thúc. Có thể người đọc sẽ yêu lối viết của anh, vì nó mô tả về chiến tranh với tất cả tâm tình của con người, những con người có đạo đức và nhân tính. Tác phẩm của anh thật sự đã đưa ra hình ảnh trung thực của người quân nhân QLVNCH chiến đấu có ý thức vì tuổi trẻ, vì quê hương và vì tổ quốc. Đó là ý thức thức trách nhiệm của tuổi trẻ trong tình tự dân tộc: bảo vệ quê hương. Đó không phải là ý thức hệ trong hệ thống tư bản chủ nghĩa như nhiều người đã gán ghép.
Qua 2 tác phẩm, tác giả đã công phu sưu tầm tài liệu và nhân chứng đang sống. Tác giả đã bị thôi thúc vì nghe và thấy những nhức nhối của quê hương, vì những sự hiểu biết không đúng về giá trị người quân nhân QLVNCH, và về sự chiến đấu hào hùng của quân dân miền Nam chống Cộng Sản. Vì thế tác giả đã viết không phải để hãnh diện hay giữ lại hình ảnh đã qua trong cuộc chiến mà tác giả đã tham gia.
Tác giả đã viết để nói lên những ẩn ức của những tuổi trẻ thế hệ tác giả bị tan tác sau cuộc chiến muốn nói mà chưa nói được, và cất lên tiếng nói cho những người đã đổ xương máu và cả xác thân xuống để bảo vệ quê hương cho đến nay đã không hề uổng phí. Ngày xưa thế hệ tác giả cầm súng chống Cộng Sản bảo vệ quê hương, giá trị ấy vẫn luôn luôn tỏa sáng.
Qua Một Cánh Hoa Dù và Đời Chiến Binh, tác giả đã nói lên rất nhiều cho những người đang sống và đã chết, và bây giờ trên một bình diện nào đó, tác giả không thể ngồi yên, anh lại tham gia một trận chiến mới. Anh cùng bạn hữu và toàn dân, tay trong tay, cùng nhau thấp sáng thêm ngọn lửa đấu tranh truyền thống của dân tộc cho tới chừng nào dân tộc Việt Nam hết bị đọa đày đau khổ! Tuổi trẻ thế hệ trước đã chọn con đường chống CS như thế đó, còn tuổi trẻ hôm nay thì sao ??? Các bạn đã làm gì cho quê hương mình ?
Cuối cùng, trong Đời Chiến Binh, tác giả cho chúng ta thấy thực tế của một cuộc rút quân bi thảm! Đó là một sự thực chua chát, một sự phản bội lý tưởng của quân dân miền Nam. Sự tan hàng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) nói lên một điều: quân ta đã thua cuộc, thua một “cuộc chơi” chứ không phải thua trận!
Cuộc chơi nầy rồi thế nào cũng có lúc bị bắt buộc thua vì thân phận nhược tiểu làm con cờ đã được áp đặt và định sẵn giữa những siêu cường. Đây chính là một kinh nghiệm đau thương mà với nhiệt huyết, với lý tưởng của tuổi trẻ vẫn chưa đủ. Tuổi trẻ hôm nay cũng nên nhìn thấy điều đó trong cuộc chiến đã qua.
Tác giả muốn chúng ta hiểu thêm và hiểu rõ hơn về giá trị, về sức chiến đấu dũng mãnh chống Cộng sản của QLVNCH. Hai tác phẩm cũng là những tài liệu, những chứng tích để lại cho thế hệ trẻ ở hải ngoại cũng như ở trong nước một mai muốn tìm hiểu về cuộc chiến nầy.
Cuộc chiến đó không phải là cuộc chiến của ý thức hệ như nhiều người đã nói, cũng không phải là cuộc nội chiến QuốcốCộng, mà thực sự cuộc chiến nầy là một cuộc chiến của những người miền Nam nỗ lực bảo vệ Tự Do, bảo vệ cuộc sống của người dân trước những đọa đày và họa diệt chủng do CS gây ra.
Giá trị tuổi trẻ thế hệ tác giả là sự ý thức trong chiến loạn:
“Chúng tôi không tìm an lạc dễ dàng
Mà chỉ khát khao gió mưa và nguy hiểm”
Tuổi trẻ nào mà không căm ghét cảnh đọa đày, đấu tố trong vụ “Cải Cách Ruộng Đất” năm 1954? Tuổi trẻ nào mà không đau xót khi nhìn thấy triệu người dân bỏ quê hương để xuôi về mảnh đất Tự Do miền Nam VN! Tuổi trẻ nào mà không uất hận trước những mồ chôn tập thể ở Huế do Cộng sản tàn sát dân lành! Và còn nữa: Đại lộ kinh hoàng trên quốc lộ I, Cộng sản Bắc Việt đã tàn sát dân di tản trong đó có người già, phụ nữ, và trẻ em. Sau ngày 30/4/1975, tuổi trẻ nào mà không thấy được bao cảnh đau thương tang tóc trên quê hương Việt Nam.
Tập đoàn CS của Hồ chí Minh và bọn đầu não cũng giống như bọn diệt chủng Pol Pot, Khờ Me đỏ. Chúng đã thực thi một chủ nghĩa vô nhân đạo: diệt và hại những người đồng chủng tộc, cùng một tiếng nói, cùng một dòng máu, và cùng một quê hương. Chúng ta thử hỏi còn sự tàn bạo nào lớn hơn nữa không?
Cuốn sách Đời Chiến Binh đã nói lên chính nghĩa của QLVNCH, với những trận đánh nẩy lửa, hấp dẫn, và liên tục như bản trường ca anh hùng của quân dân miền Nam!
Hoàng Đặng, WPB, Florida
Niên trưởng và sách của NT thực sự đã “Gieo khắp đó đây những mầm sống vui”! Đọc Một Cánh Hoa Dù, tôi cứ như chú bé thèm kẹo, vừa muốn ngấu cho hết vừa sợ hết kẹo chẳng còn chi để mút. Đọc Đời Chiến Binh cũng cùng tâm trạng như MCHD. Kính mong NT gieo khắp đó đây những mầm sống vui qua những tác phẩm kế tiếp.
Hoàng Văn Thức, k28ĐL
Hôm 6/9/98, Nguyễn trọng Nhi có đem đến 20 quyển Đời Chiến Binh, và giới thiệu rất nhiệt tình khiến 15 đứa hiện diện tại nhà tao đều sẵn sàng ủng hộ mầy mỗi đứa một cuốn. Riêng Phạm Tuấn sẽ gởi tiền trực tiếp cho mầy. Sách đọc rất hấp dẫn, mặc dù tao bận rộn nhưng cũng đọc hết một mạch. Năm cuốn còn lại tao sẽ gọi mấy thằng vắng mặt để thanh toán hết. Chúc mầy và gia đình vui vẻ.
Trần hữu Bảo, k20, Milpitas, CA
Tôi rất thích thú khi đọc quyển Một Cánh Hoa Dù, vì những bài của chiến hữu viết rất giản dị và trung thực. Nó nhắc lại tôi những buồn vui, những thăng trầm của cuộc sống người chiến binh trong quân ngũ, dù bất cứ trong binh chủng nào.
Tôi chưa đọc hết quyển “Đời Chiến Binh”, nhưng đã xem qua tới hai lần phần Phụ Lục, về những Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân. Tôi đã nghe và biết rất nhiều về các vị ấy, đặc biệt nhất là Tướng Trần văn Hai, bạn cùng khóa với tôi, và tôi đã có trên một năm làm việc dưới quyền ông ấy. Ngoài ra, tôi cũng đã từng làm việc rất gần các vị Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Nguyễn Viết Thanh, Lê Văn Hưng. Tôi rất kính phục các vị ấy về sự hăng say trong nhiệm vụ, và đặc biệt là Đức Tính cao quý của họ. Các vị ấy đã thực hiện được câu:
“SINH VI TƯỚNG TỬ VI THẦN”
Phan văn Cao, K7ĐL
Dù sao cũng đã ăn cơm Phạn xá và ở Trường Mẹ hơn 3 năm nên tôi rất thích chuyện đời lính và nghe nhạc lính. Nhiều khi đọc chuyện lính mà tuôn trào nước mắt! Tôi lúc nào cũng cảm phục sức đấu tranh mạnh mẽ của niên trưởng khi còn trong quân ngũ cũng như lúc giải ngũ. Sẽ bán giùm NT 20 cuốn.
Nguyễn Minh Thu, K28 ĐL, Cali
Rất xúc động và rất hãnh diện về những trang hồi ký, những diễn tiến các trận chiến ác liệt giữa ta và địch, những chiến công hiển hách, cùng với sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ QLVNCH. Mong em tiếp tục làm sống lại hào khí của QLVNCH thuở nào, hầu đánh tan những ngộ nhận phi lý của một số người về kỹ thuật và tinh thần chiến đấu có phương hại đến danh dự QLVNCH.
Lê Văn Ngôn, K10 ĐL
Thay mặt anh tôi là cố Trung tá Nguyễn Bình Thuận, K14ĐL, cựu sĩ quan Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù tại Vũng Tàu, đã hy sinh tại tỉnh Chương Thiện vào năm 1972, anh trai tôi là cố Thiếu tá Nguyễn Trường, K8TĐ, và những người đã nằm xuống trong lúc chiến đấu chống CSBV trong suốt cuộc chiến tại miền Nam VN quí yêu. Tôi trân trọng cám ơn anh Trương Dưỡng, SVSQ trường VBQGĐL và là Thiếu tá “Mũ Đỏ”, đã thay mặt cho những người ngã xuống và những người còn đang sống, sáng tác cuốn sách “Đời Chiến Binh” kể lại những sự hy sinh cao cả của QLVNCH nói chung và binh chủng Nhảy Dù nói riêng, trong suốt bao nhiêu năm chiến đấu can trường để bảo vệ tài sản của chính phủ và tài sản cũng như sinh mạng của đồng bào miền Nam trong đó có tôi.
Nhưng vì một số đã làm tay sai cỡ lớn cho Cộng sản Bắc Việt như Tôn Đức Thắng, Lê Duẫn, Võ văn Kiệt, Trần văn Trà, Nguyễn thị Bình, Nguyễn thị Định,…không những đã rước “voi” về dày mồ ông cha, cõng “rắn” về cắn gà nhà, mà còn vẽ đường cho “hươu” chạy để cướp trọn miền Nam, cướp đi công lao quí báu của QLVNCH và Tự Do nhân dân miền Nam. Để đẩy hàng triệu người phải xa quê hương, những hận thù nầy không bao giờ quên được!
Đọc sách trong dịp nghĩ lễ Thanksgiving rất thú. Sách “Đời Chiến Binh” viết rất thực và hay lắm, tôi cứ tưởng là đang sống thực trong các trận đánh trước đây của đời binh nghiệp của mình tại Vùng II và nhất là tại vùng hỏa tuyến.
Phan Văn Bàng, K18 ĐL
Đây là một quyển sách có giá trị lịch sử với những trang quân sử hào hùng của QLVNCH. Mặc dù niên trưởng tự nhận là Thượng tọa “Thích Không Được” nhưng NT đã làm được một việc mà nhiều người không làm được, vì vậy xin đề nghị đổi lại là Thượng tọa “Thích Làm Được”.
Kính phục! Kính phục!
Võ Thành Trung, K24ĐL
Xin chân thành cám ơn quyển sách “Một Cánh Hoa Dù” và “Đời Chiến Binh” của anh Trương Dưỡng. Tôi đã đọc và rất lấy làm xót xa vì mình đã không hiểu được hết tình hình chiến sự trong lúc chiến cuộc lan tràn trên khắp vùng đất nước. Bây giờ đã đọc và hiểu được rất nhiều về cuộc chiến cùng sự đổ vỡ của đất nước mình. Nhất là sự hy sinh tuẫn tiết của các vị Tướng Lãnh trong Quân Đội VNCH. Xin cám ơn anh rất nhiều…
Trần Cẩm Hồng
Anh của tôi là Nguyễn thiện Sanh, K20ĐL, đã giới thiệu với nhiều cảm tình về anh. Bản thân tôi là cựu quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, rất vui mừng được biết có người còn cương quyết khẳng định lý tưởng chiến đấu của các chiến sĩ Quốc Gia. Khi nào anh có viết cuốn mới xin gởi cho theo địa chỉ nầy. Tôi sẵn sàng mua ủng hộ và giới thiệu giùm cho anh.
Nguyễn Sơn, Ohio
Đã đọc 2 cuốn của Dưỡng. Thành thật khen ngợi Dưỡng, không dè Dưỡng có tài viết văn lôi cuốn được mọi người, trong đó có tôi và gia đình tôi. Cuộc đời của Dưỡng, bà xã, và các cháu là kim chỉ nam cho những gia đình Việt Nam ở hải ngoại.
Một lần nữa, tôi hy vọng Dưỡng sẽ tiếp tục sáng tác……
Nguyễn Văn Đấu, K19ĐL
Phải xác định một điều chúng mình không phải là nhà văn chuyên nghiệp, chuyện chúng mình không phải cường điệu hoặc hư cấu, nhưng là những chuyện thật, trong đó có máu, thịt, xương,…của mình và bạn bè, thành thử trên phương diện văn chương có thể chưa đạt tới hoàn hảo, nhưng sự sống động của tác phẩm phải nói khó có một sách nào đạt hơn.
Nguyễn Văn Phương, K19ĐL
Mới nhận được 2 quyển sách của anh ngày 3/3/99, vì cày overtime liên tục nên chưa có thời giờ đọc, nhưng tôi được một vài người bạn làm chung hãng có hỏi tôi đã đọc quyển Đời Chiến Binh chưa ? Họ hỏi tôi câu đó tức là họ có ý khen ngợi đứa con tinh thần thứ 2 của anh. Tôi xin gởi anh chi phiếu và sẽ giới thiệu với một số bạn bè về 2 quyển sách nầy .
Tôi rất cảm phục ý chí phấn đấu của anh và sự chung thủy của chị Dưỡng và gia đình anh có thể nói là một mẫu mực cho các gia đình khác trong cộng đồng VN ở hải ngoại noi theo.
Trương Văn Lộc, K28ĐL
Truyện viết rất hay, lôi cuốn, hấp dẫn, và có giá trị về thời cuộc-lịch sử. rất khâm phục ý chí làm việc và tinh thần binh chủng của Dưỡng. Dưỡng đúng là mẫu người có ích cho xã hội, người cha gương mẫu của gia đình, và người chồng lý tưởng của bà xã đã lựa chọn.
Chu Văn Hải, k19ĐL, WA
Hồi Ký MỘT CÁNH HOA DÙ
Của Trương Dưỡng
Hồi Ký
Một Cánh Hoa Dù Tác giả xuất bản và giữ bản quyền.
Tôi và Tâm sau khi học xong ở trường Vocational, liền thi vào Broward Community College (BCC). Khi coi kết quả bài test, họ chấp thuận cho ghi tên nhập học và được cấp học bổng Pell Grants, nhưng các lớp Anh văn phải bắt đầu từ lớp ESL (English as Second Language).
Hãng thấy Tâm chịu khó học hành, nên dễ dãi cho làm bù mỗi khi kẹt giờ ở trường. Nhờ vậy chúng tôi có thế lấy 3 lớp (courses) trong một khóa học (semeter). Term đầu học Pre- Calculus I, English ESL, và Direct Current (DC Circuits). Có điều buồn cười là, vì không phân biệt các tiền xu của nước Mỹ như đồng Dime, Nickel, và Penny, nên tôi bị trật hết một câu trong bài thi test đầu tiên. Tánh tôi thích đơn giản, không muốn bận bịu về tiền bạc (trái lại bà xã thì rất khoái đếm và xếp tiền; ở Việt Nam mặc dù cả ngày làm vất vả, nhưng tối nào bả cũng ngồi xếp tiền ngay ngắn không thua vì nhân viên ngân hàng!). Kể cả đồng hồ, cà rá, nhẫn,… tôi cũng không thích đeo. Có lần đi hành quân ở Quảng Trị, Hạ Sĩ Thương, đệ tử của tôi, bị tử thương tại ngã Tư nhà Thờ La Vang vào ngày mùng Một Tết năm Mậu Thân, tay của Thương có đeo chiếc đồng hồ Seiko vàng của tôi, vì lúc đó chiến đấu liên miên, nên phải nhờ ông Thượng sĩ thường vụ đi hỏi hậu cứ kiếm dùm hơn một tháng mới thu lại được!
Lúc nầy hai mẹ con làm việc dành dụm được chút đỉnh, nên mua thêm một chiếc xe còn mới giá $6000. Chiếc Stations Wagon tuy đã tám năm cũ, nhưng cuối tuần chúng tôi cũng dám chạy đi xa như Tampa, Orlando,..để họp mặt gia đình Võ Bị (cứ hai ba tháng luân phiên tổ chức gặp nhau để nhắc lại những chuyện buồn vui quân trường). Thỉnh thoảng chúng tôi đi lên khu nhà anh Hiền, anh Huấn để câu cá, bắt cua, bắt sò,…cũng rất vui vẻ. Riêng Thiện thì đi cho có lệ, hắn chỉ thích ở nhà coi hoạt họa Comic thôi!
Lúc nầy tôi có thể đọc mỗi ngày ba, bốn chục trang vì đã rành hết các danh từ chuyên môn của điện và toán. Các lớp Hóa học và Vật lý thì hơi khó và nỗ lực rất nhiều mới mong được điểm cao, đặc biệt ông thầy Vật lý rất giỏi và tốt, còn độc thân, nghe nói sau nầy chết vì mang bịnh Aids!
Sáu credits của môn Khoa Học Nhân Văn (môn chọn lựa) thì thật là buồn ngủ và nhàm chán, tôi đã chọn hai môn Nhân Chủng học (Anthropology) và Tôn Giáo (Religion). Môn Triết học thích thú hơn, nhưng không đủ từ ngữ để theo lớp nầy.
Cuối năm 1988, tôi và cháu Tâm xong chương trình 2 năm (AS Degree), điểm tổng kết khá cao GPA: 3.8/4.0, mảnh bằng Technician nầy có giá trị hơn ở Vocational. Vì thế Tâm xin được vào hãng điện lớn tại khu nầy, Bendix trả lương nhiều hơn, mới vô là $9/hr. Vợ tôi lúc nầy cũng được $7/hr, chẳng mấy chốc (khoảng hai năm sau) là có tiền Down (đặt cọc) vay tiền ngân hàng, mua nhà giá $60,000 trả góp mỗi tháng $600.
Ngôi nhà vừa mua nằm trong vùng Pompano Beach, mới xây cất, gồm ba phòng ngủ, hai phòng tắm. Xung quanh toàn người da màu, nên giá tương đối rẻ, mình cũng là người da vàng, chỉ cần có chỗ nào vừa túi tiền và khang trang là quí lắm rồi. Vừa có nhà đẹp vừa được tiết kiệm, vì cuối năm, Tâm sẽ được trừ bớt tiền thuế.
Nhà có đất tương đối rộng, vợ tôi và cháu Tâm cuối tuần lo trồng rau sống và cây ăn trái như: nhản, mít, mảng cầu dai, bưởi, quít, bơ, chùm ruột,…
Các cháu còn mua một con chó con giống Đức về nuôi, chó nầy càng lớn càng khôn, biết hiểu ý người, ba đứa thương và coi nó như là member of Trương ’s family (người trong nhà).
Hôm có cơn bão lớn Andrew, gió tại nhà (cách trung tâm bão 30 miles) là 75 miles/hr, chó được đem vô garage; đêm đó nó sợ run quá muốn sổ bầu tâm sự mà cũng ráng nín; đợi tới khi Tâm cho phép, nó mới dám ỉa đái ngay trong garage. Các cháu thấy vậy vừa thương vừa tội nghiệp!
Lúc nầy Thành đã xong High school, nó thường rủ bạn là Sơn tới nhà làm bài tập homework về Calculus, để nếu có phần nào không hiểu nhờ tôi chỉ dùm. Thành sáng đi học tối làm nhà hàng Wangfu để phụ giúp gia đình (chúng tôi quen sống đùm bọc lẫn nhau, cũng như ở Việt Nam, năm người cùng ngủ chung một giường, vừa ấm cúng, vừa tiện lợi, và cũng vừa là một khối đoàn kết không ai có thể tách rời).
Mỗi lần có sinh nhựt một người nào, cả nhà thường kéo nhau ra nhà hàng để ăn mừng, tiện thể cho me chúng nó rảnh tay đỡ mất công nấu bếp một bữa. Vấn đề ẩm thực hằng ngày thật đơn giản, sáng sớm sách cơm theo, hoặc đem mì ly, mì gói vô trường, để trưa đến đổ nước sôi tranh thủ ăn nhanh. Cháu Tâm hoặc cháu Thành kiếm phòng học trống, đỡ tôi lên bàn giáo sư nằm ngửa cho thẳng người, vì ngồi lâu máu tụ một chỗ rất khó chịu và thật mỏi lưng nhất là nơi đốt xương gãy!
Ngày nào ở nhà rảnh rỗi, tôi nấu nồi cơm vì bà xã đi làm xa, cách nhà nửa giờ xe chạy. Có hôm tôi làm đồ ăn luôn, nhưng khi ngồi vào bàn, thấy chúng nó (nhất là Thành) cứ nhăn mặt, như khó nuốt lắm vậy! Có lẽ ba đứa đã quen ăn đồ ngon, nhiều gia vị, của đầu bếp chánh!
Mỗi năm khai thuế, cháu Tâm đều nhờ anh Lâm làm dùm, mặc dù cháu nói đã đi làm có tiền và mua được nhà mới, nhưng anh nói:
– Làm dùm cho nhà anh Dưỡng mà tôi lấy tiền sao ?
Anh, chị, và gia đình (anh Tòng, chị Oai) đã giúp đỡ thật nhiều trong bước đầu tha hương, chẳng những riêng chúng tôi, mà đối với những đồng bào mới qua, họ cũng đều sẵn lòng giúp đỡ, thật là một gia đình đạo đức! b). Florida Atlantic University. Tôi và Tâm tiếp tục chuyển trường học tiếp. Tại Florida Atlantic University không chấp nhận một số Credits cho bằng AS (nếu biết trước như Thành và Thiện sau nầy thì học AA sẽ không bị mất Credit nào). Vì vậy hai cha con mất hơn 20 Credits (khoảng 7 courses)!
Bắt đầu vào Florida Atlantic University, thông thường phải chọn các môn của năm thứ ba trước, nhưng vì kẹt giờ làm của Tâm, nên tôi nói với Doctor Gajulian, counselor, cho lấy thử course Linear Systems của năm thứ tư. Ông ta hỏi:
– Are you sure? (anh có chắc không)
– Yes, I would like to try! (vâng, tôi muốn học thử)
Ông ta ký giấy cho tôi ghi danh lớp mà ông sẽ phụ trách giảng dạy, để coi tôi làm sao có thể học nổi môn được nổi tiếng hóc búa nhất của năm thứ tư nầy?
Nhưng muốn theo course Linear Systems thì phải học các lớp toán cao cấp như Calculus III về số phức tạp (complex number) như a+jb chẳng hạn. Tôi chưa từng biết qua về phần nầy, may nhờ có anh sinh viên người Mỹ gốc Phi Châu ngồi gần và anh Hồ Văn Kỳ Tháo cũng tận tình chỉ dẫn những gì tôi thắc mắc, nhưng thi thử lần đầu bị điểm D! (thường mỗi course thi test ba, bốn lần tùy theo thầy giảng dạy). Tôi phải vô thư viện mượn sách các lớp năm thứ ba có liên quan đến môn nầy, hằng ngày đọc tới mờ mắt mới theo kịp thầy giảng bài và từ từ làm được home work. Tới midterm tôi đạt được điểm B, mừng quá vì càng ngày càng hiểu thấu triệt (nhờ tham khảo rất nhiều sách). Đến khi thi Final (cuối khóa) chỉ có tôi được điểm cao nhứt lớp. Ông thầy khen ngợi trước mặt các bạn sinh viên cùng lớp và nói từ nay tôi muốn chọn course nào cũng được; nếu ai cản trở cứ lại văn phòng Counselor, ông sẽ ký giấy giới thiệu ghi danh cho!
Florida Atlantic University nằm trên một khu vực rất rộng lớn, thuộc thành phố Boca Raton. Hằng năm có trên mười ngàn sinh viên ghi danh học. Trường gồm nhiều Phân khoa: Kỹ Sư Điện, Cơ Khí, Computer Sciences, Cử Nhân Kinh Tế, Xã hội,…và các lớp Cao học (MS, MA), Tiến sĩ (Doctor).
Trường có một thư viện cao bốn tầng chứa rất nhiều sách, các lầu hai, ba, bốn có những phòng riêng biệt dành cho những sinh viên muốn học từng nhóm chung với nhau. Mấy cha con tôi ưa vào đây để làm homeworks và học bài, thỉnh thoảng tôi được ngả lưng trên những chiếc ghế đâu lại. Tôi ngồi lâu thì mỏi, cứ lo chống chỏi với cơn nhức mỏi thì không thu thập được nhiều, ngược lại nếu được nằm thoải mái thì đọc hiểu rất nhanh. Giống như “Vua ngọa triều” Lê long Đĩnh thời xưa!
Lúc mới vào học ở F.A.U., Tâm làm ca sáng, nên chỉ chọn được những lớp chiều. Vì thế buổi sáng tôi ở nhà học bài còn cháu Tâm phải tranh thủ học trong giờ ăn trưa và giờ break time. Tối về cháu thức tới khuya để học và làm bài; cuối tuần mấy cha con vô thư viện học bài cho yên tỉnh và dễ tập trung hơn, còn me chúng nó ở nhà lo làm món ăn ngon như bò nhúng dấm, bánh xèo, gỏi cuốn, bì cuốn, nem nướng, bún nước lèo, chờ mấy cha con về thưởng công siêng năng chăm học.
Nhờ sự nhắc nhở khuyến khích nên các học trò đều cố gắng chuyên cần, để mong lấy được điểm cao về khoe và được bù bằng những nụ cười sung sướng hãnh diện của người mẹ hiền, người vợ ngoan! Quả là:
Gia đình phấn đấu vượt lên,
Chàng lo đọc sách, nàng quên hưởng nhàn!
Ba con cần kiệm siêng năng,
Chăm lo đèn sách rạng phần công danh.
Thắm thoát Thiện đã học xong High School, ngày lễ tốt nghiệp, cả nhà đều đi dự; và hãnh diện nhìn thấy cháu được choàng cổ đeo sợi dây danh dự của những học sinh Top Ten percent. Nhờ vậy nên Thiện được học bổng của một cơ quan cho suốt 4 năm, cùng với học bổng của nhà trường thì cháu đủ sức đóng tiền học phí và sách vở. Trong khi tôi và Tâm học tới 5 năm, Thiện chỉ 3 năm rưởi là tốt nghiệp Kỹ sư và hai năm sau xong luôn MS (Master Degree: Cao học). Thành thì tốt nghiệp BS trong vòng 4 năm.
Các courses đáng chú ý trong năm thứ ba là Networks Analysis I và II, Electronic I, Electronic Lab I và II, Calculus III, và Microprocessor,… Vào năm thứ tư có vài lớp hơi khó chẳng hạn như Physis III và Matrix. Đặc biệt ông thầy dạy Electronic Lab thấy những ngày lễ July 4 mà tôi vẫn vô trường thực tập trong phòng Computer, nên để ý và cho điểm rất cao (trước đó chỉ được B trong mấy bài phúc trình thực tập đầu tiên).
Những năm học ở FAU, ngày lễ hoặc cuối tuần, bốn cha con đều sách xe chở nhau vô thư viện hoặc vào các phòng Lab học, các cháu không đi chơi giải trí hoặc giao du bạn bè, chỉ cố lo học để sớm ra trường, làm việc giúp đỡ gia đình.
Môn Senior Project ở năm cuối thì hơi gay cấn, mỗi nhóm chọn đề tài sáng chế một thứ gì về điện tử, có hai giáo sư cố vấn. Ngoài ra còn phải thi Clast Test mới được phát bằng.
Thi Clast test (College Level Test) gồm 4 môn: Đại số, Hình học, Reading, và Writing. Thiện thi một lần thì đậu liền; Tâm, và Thành kẹt môn Writing tới hai hai lần. Còn riêng tôi thì phải thi lại tới lần thứ ba mới qua được môn Essay nầy! (Đa số sinh viên Việt Nam và Ngoại quốc đều bị thi lại nhiều lần, có vài người kẹt hoài phải làm đơn xin miễn trừ để được cấp bằng tốt nghiệp).
Lần đầu bị rớt có lẽ vì viết ít hơn năm trăm chữ trong một giờ thi hoặc bị nhiều lỗi chánh tả. Lần thứ nhì tôi viết về Tướng Nguyễn Khoa Nam, phần nhập đề chửi Mỹ bỏ rơi Đồng Minh trung thành là Miền Nam Việt Nam, trong khi Trung Cộng và Liên Sô tăng cường viện trợ, khiến gây ra bao cảnh tang thương như tù tội, kinh tế mới, và Thuyền nhân bị chết chìm hoặc bị hải tặc. Đến khi thi môn Essay (Luận văn) lần thứ ba, họ cho đề tài: “Tập tục cần phải biết để giữ”, tôi đã tả về tục lệ mấy ngày Tết ở Việt Nam. Phần nhập đề nói tổng quát về tục lệ ở Nhật vào nhà phải cởi giày dép, ở Tàu thì phải tôn kính bề trên, rồi vô đề viết trong phần Thesis statement (giới thiệu Luận thuyết): tục lệ Tết ở Việt Nam chia ra làm ba giai đoạn: Lễ Đưa Ông Táo, Lễ Giao Thừa, và Ba ngày Xuân. Thân đề chia ra ba đoạn, mỗi phần chừng hơn trăm chữ nói về việc cúng Táo quân (dịch đại là Saints of Kitchen) để họ về trời báo cáo tốt (good report!) với God (Ngọc hoàng). Và tả tục lệ “Lì Xì” khiến người chấm bài thi thấy lạ và cho đậu môn Anh văn quá khó khăn đối với người chân ướt chân ráo, mới hội nhập trên đất Mỹ nầy!
Về Senior Project, nhóm tôi ba người mua parts ở tiệm về ráp máy đo điện trở, rồi mời hai giáo sư phụ trách lên phòng họp, chiếu phóng đồ các mạch điện lên màn ảnh. Mỗi người thay phiên nhau lên thuyết trình chi tiết, và trả lời các câu thắc mắc của họ. Cuối cùng hai ông lấy điện trở 100 ohms để vô máy đo thử, các Giảng sư thấy kim chỉ số 101 ohms, sai số không đáng kể, thế là họ cho môn nầy thông qua, như vậy phần khó khăn cũng đã xong.
Sau khi đã hoàn tất đủ 130 Credits (mỗi course tương đương 2 hoặc 3 credits) tiêu chuẩn, Ông Counselor dò đúng thì cấp giấy chứng nhận tốt nghiệp. Phòng Quản trị Nhân Viên kiểm tra coi đã đậu xong môn thi trắc nghiệm Sinh Viên (clast Test), rồi họ mới chịu cấp bằng tốt nghiệp.
Trước ngày Mãn khóa, nhà trường đã giới thiệu Phóng viên Báo chí đến nhà tôi để Phỏng vấn và đăng lên báo vào dịp lễ Tốt Nghiệp của các Tân Kỹ sư, Cao Học, và Tiến sĩ. Vì hai cha con tốt nghiệp cùng ngày và số điểm ra trường hơi khá(Tâm có GPA: 3.3, tôi được GPA: 3.64). Hệ thống tính điểm ở đây như sau: A:4.0, B+:3.5, B:3.0, C:2.0, D:1.0, F:0.0. Điểm C trở lên coi như được cho tốt nghiệp. Trong lễ Tốt Nghiệp nầy có ba người được quan khách vỗ tay tán thưởng nhiều nhất là một ông già 80 tuổi mà vẫn còn cầu tiến và tốt nghiệp Master Degree, một cô sinh viên trẻ tốt nghiệp bằng Tiến sĩ, và tới phiên cháu Tâm đẩy tôi lên khán đài thì xướng ngôn viên đọc lớn lên “Cha và con cùng tốt nghiệp ngành Kỹ Sư Điện….”
Chúng tôi đã nhận được những tràng pháo tay liên tục, toàn hội trường, kể luôn cả những Giảng sư, đều đồng loạt đứng lên vỗ tay (có lẽ họ thấy tôi là người Á Đông ngồi xe lăn mà chịu khó đi học). Lúc đó tôi thật cảm động vừa sung sướng vừa vui mừng vì mình đã đem lại niềm hãnh diện, danh dự cho gia đình và một phần nhỏ nào cho dân tộc và xứ sở (Trên báo có nói về chế độ tù tập trung và sự độc tài tàn bạo của chế độ CS đã áp bức nhân dân miền Nam, sau ngày Quốc Hận).
Trong lễ phát bằng, vì bục khán đài cao, mà chỉ có mình tôi ngồi xe lăn, nhưng họ vẫn làm đường ramp bằng ván để cháu Tâm đẩy lên chỗ nhận bằng và bắt tay President của trường.
Nhờ có bằng cấp, vài tháng sau Tâm được nâng lên chức Kỹ sư và lương tăng từ $12/hr tới khoảng gần $18/hr (tính lương hằng năm). Riêng tôi thì không hy vọng được ai mướn, nhưng cũng gởi đơn đại tại ba hãng cầu may (đơn gởi thẳng cho President của hãng, có kèm theo hai tờ huy chương Hoa Kỳ và tờ báo đăng trong ngày lễ Mãn khóa). Thật bất ngờ có tới hai hãng gọi đi phỏng vấn (có lẽ họ thấy điểm GPA cao). Hãng Motorola ở Boynton Beach, cách nhà khoảng nửa giờ xe, gọi vào phỏng vấn từ 8:30 sáng tới 4:30 chiều, mỗi manager của một group hỏi hơn 1 giờ.
Người đầu tiên xuống văn phòng nhân viên dẫn tôi lên lầu hai, tới phòng riêng ông ta rồi đóng cửa lại. Sau khi bắt tay nói vài câu xã giao là vào đề hỏi ngay. Các lý thuyết ngành Điện tử, trong đó có phần hơi khó trả lời là Microprocessor. Tôi viết programing về Assembly Language hơi kém; vì để cho ông ta khỏi kêu viết Program, tôi lanh lẹ tả về sự cấu trúc của hệ thống microprocessor, nào là CPU (center processor unit), nào là ALU (Arithmetic logic unit), tôi vẽ sơ đồ cấu trúc của Microprocessor, trong đó có Accummulator, Index Register, Program counter, Address Register, Stack Point, Control, Data Register, Memory,..Anh ta thấy vẽ đúng và nhanh nên bảo ngừng vì tưởng tôi thuộc rành về môn nầy. Nhưng sự thật thì khác hẳn và rất may mắn; vì tôi đã đem hết sự hiểu biết ít ỏi ra hù trước, nếu hỏi thêm thì sẽ không còn biết gì nữa (giống như Trình Giảo Kim trong chuyện Tàu chỉ có tài ba búa đầu, búa thứ tư thì yếu không còn hữu hiệu nữa).
Người thứ nhì là ông tiến sĩ, thầy dạy cũ của tôi ở trường Florida Atlantic University, vì vậy ông ta hỏi rất dễ, cuối cùng ông lật tờ thành tích biểu và hỏi :
– Anh qua Mỹ được bao lâu?
– Tôi tới Hoa kỳ ngày 14 tháng 4 năm 1984!
Ông nhìn tôi và trợn mắt nói:
– Sinh viên Người Mỹ, rành Anh ngữ mà muốn có điểm GPA: 3.0 còn khó, anh mới qua có mấy năm, trở ngại sinh ngữ mà GPA: 3.64 thì thật đáng khâm phục, tôi sẽ phê tốt cho anh.
– Thank you, sir!
Người thứ ba hỏi cũng không khó mấy, sau khi khảo hạch đủ thứ về các hệ thống truyền thông (Communication) vì hãng nầy chuyên sản xuất máy pager (hay Beeper). Tôi vẽ hình Antennna dẫn vào Radio Frequency (RF: cao tần), tới Mixer (trộn sóng), Mondulator (Tách sóng) và cuối cùng là Audio Frequency (Hạ tần) tức phần lỗ tai người có thê thu nhận được. Nhưng tôi bị khựng ở một câu hỏi hơi hóc búa, đó là sự phân biệt giữa Điện trường (electrical) và Từ trường (magneticfield) của hai loại Antennas.
Thấy tôi hơi ngập ngừng, anh manager vội giãi thích: Dipole antenna chịu ảnh hưởng của Điện trường còn Loop Antenna thì chịu ảnh hưởng của Từ trường. Ông ta bảo không sao; vì tôi đã trả lời được tám phần mười những câu hỏi, và điểm tốt nghiệp cao là đủ tiêu chuẩn rồi.
Đến cửa ải thứ tư, bấy giờ đã 3 giờ chiều, bị hạch hỏi và ngồi suốt ngày, tôi cảm thấy quá mệt mỏi. Nhưng thật may mắn, người thứ tư hỏi rất dễ và ông Manager nầy chính là người xếp của tôi sau nầy. Sau khi hỏi xong, ông kêu một Kỹ Sư người Việt tên Tống Chung vô nói về công việc đang làm của nhóm nầy, Chung giải thích bằng tiếng Anh vì xung quanh toàn người Hoa Kỳ. Chung làm việc ở đầy 7, 8 năm, trước khi về Việt Nam, anh cho biết là tôi đã được ông Manager đó nhận rồi. Vì nhận được tin mẹ bịnh nặng, nên Chung mới về thăm nhà và nhờ vậy nên gặp được bà lần cuối!
Khoảng một tháng sau tôi được hãng gọi điện thoại thương lượng về giá cả, đây chỉ là thủ tục vì với tiền lương kỹ sư đối với một người tưởng mình đã vô dụng như tôi là nhiều quá rồi. Tôi nhận lời một cách không do dự, mọi người trong nhà đều vừa mừng vì tìm được việc làm, vừa lo vì không biết tôi có chịu đựng ngồi mỗi ngày tám tiếng trong hãng hay không?
Tâm lo mua thuốc đau bụng, nhức đầu để đem theo phòng ngừa; Thành mua nệm thông hơi cho ngồi lâu khỏi bị hầm, sợ lở mông; Thiện thì mua tập ghi chú và giấy bút; vợ tôi lo mua cà vạt áo quần cùng hộp nhựa, bình thủy để đem cơm, nước nóng theo. Tất cả người trong nhà đều ủng hộ, khuyến khích giống như chuẩn bị đưa em bé lần đầu tiên đến trường để theo học mẫu giáo vậy! Ngày đầu tiên Thành chở tới hãng Motorola, tôi vô cùng hồi hộp! Vì thường ngày rất ít tiếp xúc với bạn Mỹ, sợ bị trở ngại trong việc xã giao. Khi vô tới cổng, thấy họ đã làm thêm một cánh cửa tự động và đường dốc thoai thoải dành riêng cho một nhân viên đi xe lăn độc nhất là tôi. Quả là xứ văn minh, những người tàn phế vẫn được tôn trọng và dành nhiều ưu đãi.
Hãng nầy là một trong rất nhiều chi nhánh trên khắp thế giới, nhân viên tại đây khoảng 3000 trong đó kỹ sư có trên 2500 (toàn thế giới có mấy trăm ngàn nhân viên). Trụ sở chánh đặt ở Schaumburg, Illinois. Riêng Florida có hai chi nhánh, một ở Plantation, Fort Lauderdale, chuyên sản xuất về điện thoại cầm tay loại không dây (Wireless cellular Phones). Còn hãng tôi làm ở Boynton Beach, thì chuyên môn chế các máy Pager (Beeper); riêng nhóm tôi mới thành lập có nhiệm vụ phải đạt chỉ tiêu trong vòng hai năm nghiên cứu, chế tạo, và sản xuất loại máy Pager mới, có thể nhận và phát tín hiệu (Two way). Vì từ trước tới giờ các loại máy Pager, đang xử dụng ở thị trường, chỉ thâu (Receiver) tín hiệu rồi hiện số (thường là số điện thoại của người nhắn tin) và chữ lên cho người đang mang máy nhận biết ai đã gọi mình.
Toán chúng tôi có tên là Tango Group gồm hai nhóm kỹ sư, nhóm software và nhóm hardware. Nhóm software bao gồm 3 kỹ sư cơ khí (mechanical) và các kỹ sư chuyên về Computer Sciences. Nhóm tôi do Kevin làm Section Manager chuyên về điện tử được chia ra thành hai tiểu tổ : tổ Transmitter (phát thanh hay phát tín hiệu) và tổ Receiver (Thâu nhận tín hiệu) .
Tôi ở trong tổ Receiver gồm khoảng mười lăm Kỹ sư chuyên viên, mỗi kỹ sư lo một phần vụ riêng biệt như: antenna, R.F Amplifier, Mixer, Oscillator, Mondulator, Audio Frequency,….
Lúc đầu anh Chung coi tổng quát phần nầy, anh đã chỉ tôi cách hàn mấy parts (Transistor, capacitor, resistor,…), nhưng sau đó anh đổi qua toán khác. Tại chi nhánh Boynton nầy có nhiều kỹ sư Việt Nam làm lâu năm và rất giỏi như: Anh, Dũng, Khang, Long, Chung, Nha, Phong, Lâm, Khanh,…Lúc tôi mới vào thường học hỏi những kinh nghiệm quí báu của họ.
Tôi là RF Engineer, đặc trách phần Radio Frequency, phần nầy được chỉ định thâu làn sóng cao tần có frequency là 940 MHz (tức 940 triệu chu kỳ trong một giây đồng hồ). Tôi có nhiệm vụ dùng Computer để phát họa và chạy hệ thống gọi là RF Stage sao cho khuếch đại tín hiệu (thu nhận từ antenna) được hơn gấp trăm ngàn lần tin hiệu thu trong không gian, mà danh từ chuyên môn toán học gọi là 15 db (decibel) gain và giữ Noise Figure nhỏ hơn 2.8 db. Tức là khuếch đại thật nhiều mà vẫn giữ sự nhiễu loạn làn sóng thật ít. Sau khi dùng MDS (Microwave Design System) trên máy computer do hảng H.P. sản xuất để phác họa các mạch điện cho RF stage, rồi design bằng cách simulation bởi software viết sẵn cho máy Suns, tôi bắt đầu hàn gần ba mươi parts gồm: Transistor, resistor, capacitor, inductor,…trên một vùng diện tích nhỏ bằng hột nút áo, trên PC Board bề mặt bằng cái hộp quẹt (nó chứa hằng ngàn parts trong đó có cả phần Receiver, Transmitter, và IC,..)
Tôi đã học và nghiên cứu nhiều sách vở mãi tới 2, 3 tháng mới hiểu rõ cách design bằng MDS trên Computer. Còn vấn đề hàn các parts nhỏ li ti như sợi tóc là cả một vấn đề; mặc dù đã đeo kiếng tốt và đã học lớp Assembly (hàn PC Board), nhưng đây là một lãnh vực khác, thật khó khăn vô cùng.
Các Resistors, capacitor, Inductors, Transistors,…đều làm bằng những miếng hình chữ nhựt nhỏ cỡ hai sợi tóc nhập lại! Phải cần kính lúp mới thấy được các số trên các components (parts) nầy. Hàn board nầy rất khó, chỉ cần để mũi hàn hơi lâu một chút là coi như board và part đều bị hư, tôi mang mắt kiếng mà chỉ nhìn thấy lờ mờ, rồi chấm nhẹ mỏ hàn vào hai đầu; sau đó, dùng kiếng lúp kiểm lại coi có đúng ngay chỗ không?
Lúc đầu tôi xin vài Boards hư tập thử nhiều lần, tới hơn một tháng mới không còn hư nữa! Sau đó bắt đầu hàn thực sự các parts đúng như mạch điện (Circuit) đã có sẵn trên Computer, xong rồi làm các đầu nối để gắn vào máy đo như Network Analyzer, Nosie Figure Meter, Generators,….Rồi thay tới đổi lui sao cho đạt đúng mục tiêu chỉ định. Công việc nói thì đơn giản, nhưng trên thực tế thật khó vô cùng, vì vậy họ mới hạn định ký contract với các hãng thầu trong vòng hai năm cung cấp, nếu giao hẹn trễ phải bồi thường 20 triệu đô la cho hãng thầu Mtel. Trong hai năm, ngoài việc design RF Stage, tôi cũng được chỉ định làm về phần Mixer, thay cho anh Kỹ sư phụ trách phần nầy lúc đi phép thường niên.
Mỗi ngày ngồi chừng 4 giờ là tôi bắt đầu mệt đừ, vì máu dồn một chỗ, không lưu thông như người khác vì họ đi tới đi lui, đứng lên ngồi xuống. Cứ 2 giờ làm việc thì có 15 phút nghỉ break time, họ xuống lầu vào cafeteria ngồi tán dốc xả hơi. Còn tôi thì cứ ngồi kiểu số 4 trên xe lăn, may nhờ ông trưởng Group thông cảm mua tặng cho chiếc xe lăn có thể điều chỉnh ngửa 120 độ, nên mỗi buổi trưa tôi tranh thủ ăn nhanh rồi ngã người ra một chút tại phòng (thường mỗi Kỹ sư có một phòng riêng). Phòng tôi có 4, 5 máy đo, máy hàn, máy computer, kệ tủ đựng sách và dụng cụ, mỗi ngày trước khi về bỏ các vật dụng quan trọng vào hộc tủ và khóa lại.
Khoảng 2 giờ chiều thì mệt đừ người, tôi có đem theo trà sâm để uống vài hớp cho khỏe chút đỉnh; và thường tự nhủ ráng lên đi bạn, mỗi giờ là hai chục đô đó, bằng một tháng lương công nhân ở Việt Nam, có thể mua được 3, 4 con gà,…Mỗi lần nhắc tới tiền thì mắt tôi sáng lên, khiến mọi mỏi mệt đều tiêu tan, đúng là tham tiền! Vì tôi nghĩ nếu làm việc có tiền sẽ mua căn nhà tiện nghi cho handicap (tàn phế); rồi trồng cây ăn trái, mỗi ngày ngó từng đọt non tăng trưởng, vui thú cảnh điền viên (chỉ coi vợ con trồng thôi!).
Một năm sau, tôi có tiền down mua căn nhà mới xây, ở gần hãng. Nhà lợp ngói, có đất phía sau rộng để trồng vài cây ăn trái, rau sống, và nhất là phía trước có trồng ba cây mai vàng và một cây bông mai tứ quí!
Trong hãng, tôi thường học thêm của một người Nhật tên Eshi Yashu, anh đậu bằng tiến sĩ, tuy nói tiếng Mỹ không trôi chảy, nhưng rất thông minh và sáng chế ra một transistor loại IC mà có thể làm cho Noise Figure rất thấp 2.0 db và Gain (khuếch đại) đạt tiêu chuẩn là 15 db. Ngoài ra có anh Wang Phang rất tử tế, thường giúp tôi khiêng những máy cần thiết về phòng tôi. Mỗi lần có gì thắc mắc thường điện thoại hỏi anh Khang hoặc Phạm Long (em Phạm Ngọc Thạnh, K22 ĐL).
Nhưng ráng ngồi làm việc được hai năm rưởi thì group đã sản xuất xong loại máy mới nầy, sau khi cho làm hàng loạt để tung ra thị trường khắp thế giới, mọi người trong group đều nhận được giấy khen. Tưởng đâu đã thu hoạch mỹ mãn thì được nghỉ xả hơi một thời gian, ai dè cấp trên định tái phối trí, toán tôi và toán của Wang Phang được chỉ định dời qua Texas và hãng định cho nghỉ hưu non (tình nguyện và bắt buộc)1200 kỹ sư để bớt chi phí hòng cạnh tranh với các hãng Nhật. Tôi không thể đi xa một mình được, các người trong gia đình đều có việc tại đây, nên các con tôi bảo tôi nghỉ hưu non, hãng cho một ít tiền và lãnh thất nghiệp được sáu tháng. Bây giờ được hưởng trợ cấp tàn phế mỗi tháng $490, hằng ngày ngồi trước bàn computer, để hồi tưởng và ghi lại những thăng trầm buồn vui đời lính và cuộc sống phấn đấu bằng nghị lực, đã xảy ra cho đời tôi, từ ngày bước chân vào trường VBQG, ngày xảy ra tai nạn thảm khốc gây cho cơ thể bất toàn.
Sự phấn đấu đã xảy ra thường xuyên và mãnh liệt với chính bản thân. Sống trong nỗi tuyệt vọng, mất niềm tin, cuộc phấn đấu nội tâm thật là cam go, nó còn khó gấp bội lần so với những giờ phút quyết liệt nơi chiến trường!
War veteran John Murphy poses for a photograph at the Shrine of Remembrance during the dawn service in Melbourne. Photograph: Diego Fedele/Getty Images
Across cities and towns in both countries, crowds gathered at Anzac Day dawn services to remember fallen soldiers and servicepeople
Surf boats perform a burial at sea for Anzac Day in Currumbin.
Photograph: Chris Hyde/Getty Images
An Australian soldier lit by the glow of a red light during the dawn service in Hobart.
Photograph: Tamati Smith/Getty Images
A man plays a didgeridoo as dawn service is held at the Australian War Memorial in Canberra.
Photograph: Tracey Nearmy/Getty Images
People lay poppies on the cenotaph during the Anzac Day dawn service at Auckland Museum.
Photograph: Fiona Goodall/Getty Images for Auckland War Memorial Museum
A child stands close to the Eternal Flame at the Shrine of Remembrance during the Anzac Day dawn service in Melbourne.
Photograph: Diego Fedele/Getty Images
Crowds are bathed in pink light as they take part in the Anzac dawn service in Currumbin.
Photograph: Chris Hyde/Getty Images
Military personnel wearing their medals attend the Anzac Day dawn service at Auckland War Memorial Museum.
Photograph: Fiona Goodall/Getty Images for Auckland War Memorial Museum
A child’s face is illuminated by the Eternal Flame at the Shrine of Remembrance during the Anzac Day dawn service in Melbourne.
Photograph: Diego Fedele/Getty Images
A member of the Catafalque party participates in the annual Anzac Day service at the Martin Place Cenotaph in Sydney.
Photograph: Saeed Khan/AFP/Getty Images
People pay their respects during the Anzac Day dawn service at the Shrine of Remembrance in Melbourne.
Photograph: Martin Keep/AFP/Getty Images
A veteran wearing his medals looks on at the Anzac Day dawn service at the Shrine of Remembrance in Melbourne.
Photograph: Martin Keep/AFP/Getty Images
A member of the ADF plays the last post at the Shrine of Remembrance in Melbourne.
Photograph: Con Chronis/AAP
Private Mali Djarrbal from the Arnhem Squadron at the Aboriginal and Torres Strait Islander memorial, after the ATSIVSA ceremony and the dawn service in Canberra.
Photograph: Tracey Nearmy/Getty Images
Bagpipers play during the Anzac Day dawn service at Melbourne’s Shrine of Remembrance.
Photograph: Martin Keep/AFP/Getty Images
A servicewoman watches the proceedings during the Anzac Day dawn service at Coogee beach in Sydney. Photograph: Jaimi Joy/Reuters
A serviceman raises the Australian flag during the City of Newcastle RSL Sub Branch dawn service.
Photograph: Roni Bintang/Getty Images
Crowds gathered at the Anzac Day dawn service at the Shrine of Remembrance in Melbourne.
Photograph: Martin Keep/AFP/Getty Images
A man wearing a military beret bows his head during a dawn service in Melbourne.
Cuộc quyết chiến giữa Quân Đoàn 4 Bắc Việt và Sư Đoàn 18 Bộ Binh diễn ra thật đẫm máu từ ngày 10.4.1975 đến ngày 13.4.1975, với phần thắng nghiêng về phía chiến sĩ Cung Tên Miền Đông. Nhưng Quân Đoàn 4 giặc vẫn tiếp tục dùng pháo binh quấy rối quân ta ngày đêm. Từ ngày đó, quân dân Xuân Lộc không còn đương đầu với bộ binh địch nữa, mà chỉ nằm chịu pháo. Một tuần tiếp theo sau là trận đánh giữa Lữ Đoàn 1 Dù và Tiểu Đoàn 8 Bắc Việt. Quân Dù đã dần dần thắt chặt vòng vây kẹp tiểu đoàn địch trong khu vực đồn điền Đại Tướng Tỵ để dứt điểm nó.
Ngày 19.4.1975, Sư Đoàn 7 Bắc Việt trong cố gắng giải cứu Tiểu Đoàn 8, đã gấp rút tung vào chiến trường Trung Đoàn 141 trừ bị. Bộ phận dò sóng của chuyên viên Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu báo lên Chuẩn Tướng Đảo nội dung nghe được rất thú vị như sau: “Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 141 đích thân lên máy vô tuyến thúc giục bô đội xông lên đánh quân Dù, nhưng cán binh Trung Đoàn 141 nghe nói đánh Nhảy Dù, đã sợ hãi không dám lên. Trung Đoàn Trưởng 141 khuyến dụ cán binh, rằng quân Nhảy Dù bây giờ đánh không còn “ngon” như hồi trước nữa”. Biết được nỗi dao động của cán binh Trung Đoàn 141 Cộng quân khi đối đầu với chiến sĩ Dù, Chuẩn Tướng Đảo thông báo cho Trung Tá Đỉnh, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Dù biết trước cuộc tấn công này. Nên khi quân 141 xuất hiện trước chiến tuyến, chiến sĩ Mũ Đỏ chuẩn bị sẵn trận thế, đã xác minh lời của Trung Đoàn Trưởng 141 khuyến dụ cán binh, rằng lính Dù đánh không còn “ngon” là hoàn toàn dối trá. Cuộc giao tranh giữa Lữ Đoàn 1 Dù và Sư Đoàn 7 còn đang dằng dai, thì Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhận được tin Quân Đoàn 2 Bắc Việt và Sư Đoàn 325 đã vào tới Rừng Lá, cách Xuân Lộc 20 cây số về hướng Tây. Như vậy Biên Hòa rồi đến Sài Gòn sẽ nằm dưới áp lực rất nặng của quân Cộng. Lúc 9 giờ sáng ngày 20.4.1975, Trung Tướng Toàn và Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng Phòng 3 Bộ Tổng Tham Mưu bay vào Xuân Lộc ban lệnh rút quân về chống giữ Biên Hòa. Con đường được chọn lựa triệt thoái sẽ là Liên Tỉnh Lộ 2 ở phía Nam Xuân Lộc. Theo kế hoạch của Trung Tướng Toàn, một khi Sư Đoàn rút ra khỏi Xuân Lộc an toàn, thì đoàn GMC sẽ đưa toàn quân số về Căn Cứ Long Bình để nghỉ ngơi vài ngày, bổ sung quân số và tái trang bị. Cuộc quyết chiến giữa Quân Đoàn 4 BV và Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã diễn ra khốc liệt từ ngày 9 đến 21.4.975, hai bên đều bị tổn thất nặng, nhưng phần thắng cuối cùng đã nghiêng về phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Theo ước lượng của Thiếu Tướng Đảo về sau này, thì phía Cộng quân bị giết chết đến 10,000 người, một con số quá cay đắng chưa từng thấy trong một thời gian quá ngắn. Cơn chiến bại này coi như là một vết hằn trong cuộc đời binh nghiệp của Thiếu Tướng Hoàng Cầm. Đích thân Tướng Trần Văn Trà xuống “chi viện” cho Hoàng Cầm. Nhưng chính Trà sau khi suy tính nát nước, không thấy một chút le lói hy vọng chiến thắng nào, dù Trung Đoàn 52 của quân ta đã bị tổn thất rất nặng phải rút về Biên Hòa trước, đã không dám đánh SĐ18BB. Trà buộc lòng cho lệnh Quân Đoàn 4 bỏ Xuân Lộc đi vòng về Biên Hòa theo hướng Quốc Lộ 15, chỉ để các đơn vị của Sư Đoàn 7 ở lại bao vây và quấy rối Xuân Lộc. Sau này khi viết hồi ký, thì Trà lại tự cho là mình đã “phát huy sáng kiến” đánh bọc vòng xuống Biên Hòa, nhưng chúng ta nhớ lại trước khi mặt trận Xuân Lộc nổ, cũng chính Trà đã thúc giục “anh Ba” Lê Duẫn cho quân giải phóng đánh Xuân Lộc trước. Cả Trà và Cầm đều là bại tướng, nếu cách chức thì phải cách chức cả hai tướng này, chứ không phải riêng trách nhiệm của Cầm.
Mạnh Hải Flickr
Vì các quân đoàn của địch tránh né Sư Đoàn 18 Bộ Binh đi vòng theo hướng Quốc Lộ 20 và Quốc Lộ 15 xuống đánh Biên Hòa, nên nhiệm vụ bảo vệ Xuân Lộc của sư đoàn cũng chấm dứt. Đồng thời Chiến Đoàn 3 Xung Kích của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi đang đánh địch tại Ngã Ba Dầu Giây cũng được lệnh kéo quân về bảo vệ thành phố này. Với hai lực lượng rất mạnh tử thủ Biên Hòa, một lần nữa tướng tá giặc lại kéo nhau đi vòng, bỏ Biên Hòa và tiến thẳng về Sài Gòn. Để đem được toàn bộ sư đoàn và các đơn vị biệt phái ra khỏi Xuân Lộc, là một công tác cực khó khăn, đòi hỏi một kế hoạch tỉ mỉ và kiên quyết. Một lần nữa, người ta lại thấy tài năng lãnh đạo và chỉ huy của những vị tướng trẻ QLVNCH trong những trường hợp dầu sôi lửa cháy như thế này. Để đánh lạc hướng Sư Đoàn 7 BV, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù nhận nhiệm vụ đánh cầm chân chúng để cho toàn bộ SĐ18BB rút đi trước. Kể từ 8 giờ tối đêm 20.4.1975, Trung Đoàn 48 của Trung Tá Trần Minh Công và Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh của Trung Tá Nô chịu trách nhiệm mở đường theo Liên Tỉnh Lộ 2 về hướng tỉnh Phước Tuy. Rồi đến đoàn cơ giới gồm Pháo Binh, Quân Vận, Công Binh, các đơn vị Tiếp Vận khác, hai khẩu 175 ly, dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Hứa Yến Lến, Tham Mưu Trưởng sư đoàn. Khi đoàn Pháo Binh di chuyển đến Long Giao, một căn cứ cũ của Hoa Kỳ, thì Đại Tá Hưng, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh sư đoàn sẽ thiết trí một căn cứ hỏa lực tạm thời để yễm trợ hỏa lực cho toàn cuộc di tản, với sự bảo vệ cương quyết của Đại Đội 18 Trinh Sát dũng mãnh. Ở khoảng giữa sẽ là các đơn vị Địa Phương Quân & Nghĩa Quân Long Khánh dưới quyền Đại Tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh Trưởng, cùng với số đồng bào còn kẹt lại trong thị xã. Các đơn vị thuộc Trung Đoàn 43 của Đại Tá lê Xuân Hiếu và Tiểu Đoàn 82 của Thiếu Tá Vương Mộng Long chịu trách nhiệm đoạn hậu. Tất cả đơn vị đều di chuyển trong đêm 20.4.1975. Đó là chưa kể Tiểu Đoàn 2/43 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế vẫn còn đang trấn giữ trên Núi Thị và phải rút sau cùng. Khi Lữ Đoàn 1 Dù của Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh rút lui, thì Tiểu Đoàn 2/43 là tiểu đoàn đơn độc còn sót lại, Chuẩn Tướng Đảo phải bay trên trực thăng hướng dẫn hướng hành quân cho tiểu đoàn này rút theo sư đoàn trong ngày hôm sau. Trong suốt cuộc hành quân triệt thoái, Chuẩn Tướng Đảo và các sĩ quan thuộc Bộ Tư Lệnh đều cùng di chuyển bộ với binh sĩ, đặc biệt Tướng Đảo đi lên đi xuống dọc hàng quân để khích lệ và nhắc nhở chiến sĩ luôn cố gắng bảo vệ đồng bào trong đoàn. Một chiếc trực thăng chỉ huy C&C bay trên bầu trời với Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, để giúp Tướng Đảo liên lạc và điều hợp đoàn di tản. Lữ Đoàn 1 Dù và Tiểu Đoàn 2/43 ở vào một tình thế cực kỳ nguy hiểm, rất giống như cuộc di tản Hạ Lào 719 năm 1971. Sư Đoàn 7 BV khám phá dù muộn màng cuộc triệt thoái, Trung Đoàn 141 đã hành quân đuổi theo chận đánh và phục kích quân Mũ Đõ dữ dội. Lữ Đoàn 1 Nhày Dù nhận nhiệm vụ chận hậu cho đoàn quân triệt thoái đã đụng độ nặng với Trung Đoàn 141 Cộng Sản tại Bảo Định và chịu tổn thất. Thật đau lòng, tất cả tử sĩ và chiến sĩ bị thương nặng đều không thể cáng theo được. Con đường dài đến 40 cây số xuyên qua những cánh rừng cao su thâm u dầy đặc quân Cộng, giống như một cuộc hành trình đi qua cửa địa ngục. Những tấn thảm kịch đầy máu và nướ c mắt sao cứ mãi đeo đẳng lên đôi vai còm cõi của người lính chúng ta như một định mệnh tàn nhẫn. Vẫn chưa hết, khi đoàn Mũ Đỏ ra đến Quốc Lộ 1 lúc 9 giờ đêm, thì một cảnh tưởng xúc động đến nát lòng đang chờ đón các anh. Hàng ngàn gia đình đồng bào ở những ấp Bảo Định, Bảo Toàn, Bảo Hòa lển mển hành trang, tay bồng tay bế tập trung hai bên đường xin được đi theo quân ta. Nhiệm vụ đánh hậu còn oằn nặng chưa xong, giờ đây chiến sĩ Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù phải bảo vệ sinh mạng của những đồng bào ruột thịt của các anh. Đồng bào không bao giờ chấp nhận Cộng Sản, dù có phải bỏ hết nhà cửa, tài sản khó nhọc chắt chiu từ nhiều chục năm, nhưng để được tự do, thì người dân sẵn sàng cùng dấn thân với người lính Việt Nam Cộng Hòa trên bất cứ con đường khổ ải nào.
Đoàn quân và dân lẫn lộn xen kẻ nhau kéo đi lầm lũi trong đêm tối hãi hùng. Từ Tân Phong, đoàn người khốn khổ đến được Đức Thành. Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù được Đại Đội 1 Trinh Sát Dù bảo vệ là đơn vị duy nhất đi trên con lộ 2 hoang phế. Các Tiểu Đoàn 1, 2, 8 và 9 Dù rải quân đi sâu vào hai rừng cao su bể bảo vệ đoàn quân dân trên mặt lộ. Khoảng 4 giờ sáng rạng ngày 21.4.1975, Pháo Đội C của Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh và một Trung Đội Trinh Sát lọt vào ổ phúc kích của hai tiểu đoàn giặc tại ấp Qui Ca gần ranh giới hai tỉnh Long Khánh – Phước Tuy. Quân giặc đã hò hét xung phong biển người lên tràn ngập cánh quân này. Quân ta đã tận lực chống trả đến người cuối cùng. Nhưng nhờ sự hy sinh cao cả này mà đoàn quân dân lọt đến được khu vực núi Cấm Tiên, để ở đây, Tiểu Đoàn 9 Dù đánh một trận lừng lẫy cuối cùng cho trang chiến sữ đẫm máu và lệ của binh chủng Dù, chịu chết chóc để đưa được đoàn quân dân về đến được Phước Tuy bình yên.
Mạnh Hải Flickr
Hồi tưởng lại những ngày chiến đấu ở Xuân Lộc và cuộc triệt thoái trên Liên Tỉnh Lộ 2, Đại Úy Nhảy Dù Hoàng Văn Tuất, một Trung Đội Trưởng thuộc Tiểu Đoàn 9 Nhảy Dù đã kể lại trong bài viết Trận Chiến Cuối Cùng Của Tiểu Đoàn 9 Dù như sau. Đại Úy Hoàng Văn Tuất xuất thân Khóa 9/68, tốt nghiệp Khóa 5 Huấn Luyện Viên, Tổng Cục Quân Huấn. Khi lên cấp Trung Úy một thời gian, anh xin thuyên chuyển về Sư Đoàn Nhảy Dù để thỏa chí trai bốn phương ngang dọc,Trung Úy Tuất nhận một trung đội và bắt đầu cuộc đời chiến trường đỏ lửa của anh. Theo Đại Úy Tuất, một sĩ quan cấp Trung Úy trở xuống thuộc đơn vị khác không phải xuất thân từ binh chủng Dù, chỉ được nhận trung đội để quen dần với hệ thống chỉ huy và kỹ thuật tác chiến của binh chủng Mũ Đỏ.
Nhớ về các bạn Thiếu Úy Mỹ, Sơn và Đông.
Hồi tưởng lại mùa xuân 1975 tại Đà Nẵng. Sau những tháng năm dài đóng quân ngoài miền hỏa tuyến, Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù hậu cứ đặt tại Đà Nẵng lệnh cho Tiểu Đoàn 9 Dù hàng ngày tung những cánh quân nhỏ cấp Trung Đội hành quân lục soát thường xuyên trên các đỉnh đồi ( 400 hay 500 thước). Thật là bực bội và khó chịu cho chúng tôi, nhưng phải tuân hành. Cánh quân vũ bão hàng đầu, sau trận chiến Thường Đức 1062, Quảng Nam, không còn được dùng đúng chỉ số nữa. Sáng sớm đi lục soát, đến chiều tối mới mò về, y hệt như những chiến hữu Địa Phương Quân của Tiểu Khu Quảng Nam vậy. Đôi lúc chúng tôi gặp nhau trên đường hành quân, sau vụ Việt cộng pháo kích vào thành phố và phi trường Đà Nẵng.
Vào một ngày nắng đẹp, sau hai tuần lễ thay phiên nhau trèo đèo lội suối, chúng tôi thay đồ đẹp tính đi dạo phố, không ngờ lịnh trên cho chuẩn bị hành trang gọn gàng và chờ đợi. Đổi vùng. Lịnh chỉ có thế. Chúng tôi thực sự mừng rỡ, ở một chỗ quá lâu không tốt và cũng là mục tiêu cho bọn Cộng Sản nằm vùng dòm ngó. Tin một chiến đoàn Thủy Quân Lục Chiến ra trám chỗ cho chúng tôi. Chúng tôi khăn gói cuốc bộ đến phi trường. Nơi đây không khí nhộn nhịp hẳn lên, những vận tải cơ C130 lên xuống không ngừng, cố gắng hoàn tất nhiệm vụ là vận chuyển cả Lữ Đoàn Dù xuôi Nam. Nghe tin tình hình vô cùng xáo trộn và bi đát, rồi sẽ có đảo chánh nữa, vì thế Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mới ra lịnh cho đơn vị Dù về phòng thủ vòng đai an ninh thủ đô. Vì không đủ máy bay nên Lữ Đoàn 1 Dù phải chia làm đôi. Phân nửa về bằng tàu, nửa kia về bằng máy bay. Tiểu Đoàn 8 và 9 Nhày Dù lên máy bay thẳng một lèo về Sài Gòn, còn Tiểu Đoàn 1 Dù về bằng tàu Hải Quân đến Khánh Hòa, thì có lịnh tấp vô bờ phụ với Lữ Đoàn 2 Dù ở Khánh Dương. Sài Gòn thành phố thân yêu, dân chúng vẫn tấp nập buôn bán, làm ăn sinh hoạt bình thường hơn so với các nơi khác. Đơn vị rảnh rang gửi binh sĩ qua học bổ túc chiến thuật, cũng như những ai chưa có bằng Dù đều được về Trại Hoàng Hoa Thám thụ huấn khóa Dù ngay. Chỉ vài ngày sau thì Đà Nẵng mất, Thủy Quân Lục Chiến gặp nguy, cố vùng vẫy và chiến đấu lẻ loi vì không được đơn vị nào đến tiếp cứu, đành mở đường máu cố gắng về Đà Nẵng rồi tìm phương tiện xuôi Nam. Chợt nhớ đến Chiến, người bạn cùng khóa, cùng trung đội, đã tình nguyện về Thủy Quân Lục Chiến, mà trước khi mãn khóa một tuần đã tự sắm bộ đồ bông xanh mặc vào đi khoe khắp Đại Đội. Cầu nguyện cho nó được bình an. Học bổ túc cũng chỉ được vài ngày. Lúc bấy giờ mặt trận Long Khánh đã bùng nổ rất ác liệt, Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo của Sư Đoàn 18 và các đơn vị dưới quyền của ông quyết không để một tấc đất nào rơi vào tay bọn Cộng Sản. Tướng Cộng Sản giận dữ tung thêm các sư đoàn thiện chiến vào định giải quyết chiến trường mau lẹ, để rồi tiến thẳng vào Sài Gòn càng sớm càng tốt như ý họ mong muốn. Nhưng Bộ Tổng Tham Mưu của ta không để cho chúng được toại nguyện, lịnh tung quân Dù vào trận chiến. Tiểu Đoàn 9 Dù có tên trong danh sách nhập trận. Chúng tôi đành bỏ khóa học Dù nửa chùng. Đoàn GMC chở chúng tôi qua phi trường Tân Sơn Nhứt, để rồi từ đó lại được các trực thăng Chinook đưa vào Long Khánh. Nhìn vào bản đồ mới lảnh sau khi họp với Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn, sao chấm đỏ (Cộng Sản) ở đâu mà nhiều thế.
Mạnh Hải Flickr
. Thiếu Úy Khánh phụ tá cho Đại Úy Chỉ, sĩ quan Ban 3 kêu nhỏ chúng tôi lại một góc và dặn dò:
– Chúng mày cẩn thận, trận chiến này ác liệt lắm đó nghe. Ráng giữ mình để rồi còn về nhậu với tao!
Thiếu Úy Mỹ, Sơn của Đại Đội 92, Thiếu Úy Đông và tôi của Đại Đội 93 hiện rõ nét ưu tư trên khuôn mặt. Chúng tôi lặng lẽ lui ra và căn dặn thuộc hạ thận trọng trong cuộc hành quân này. Chinook thả chúng tôi vào trận chiến, trực thăng đậu ngay trên quốc lộ. Chúng tôi ào ra và thật ngỡ ngàng. Dân chúng kẻ bồng người bế, lần lượt di tản. Cạnh quốc lộ xác chết vô số kể, dân thì không nói chi, còn lính thì được bạn bè phủ cho tấm poncho, rồi vội vàng cất bước, phần đông bị trúng đạn pháo của địch. Chúng tôi dàn quân và tiến một cách thận trọng. Đầu tiên băng qua vườn trái cây, vườn mít. Ngày đầu chúng tôi ăn mít trừ cơm, ôi, những múi mít vàng thơm ngon lạ thường. Đêm đó tôi mắc võng ngủ dưới tàng cây và hương thơm của mít đã ru chúng tôi vào giấc ngủ đầy mộng mị. Đêm bình yên đã qua, sáng sớm được lịnh di chuyển, gần cả ngày vẫn không thấy động tịnh gì. Chúng tôi bắt đầu lo, hễ vào vùng rồi mà yên tĩnh như thế là biết bọn Cộng Sản ở phía trước đang chờ đón chúng tôi. Tuy nhiên, trên bầu trời Không Quân bạn đủ loại từ A1 Skyraider đến A 37, rồi trực thăng võ trang không ngừng xuất hiện thay phiên oanh kích và bắn phá xung quanh chúng tôi đẻ yểm trợ.
Đến ngày thứ hai, bọn Cộng Sản bắt đầu lộ diện và giao tranh cầm chừng cốt nhữ chúng tôi vào bẫy mà chúng đang giăng. Chúng tôi tiến chậm. lục soát kỹ vài giao thông hào còn mới toanh, bọn chúng nhữ chúng tôi vào sâu hơn. Qua khỏi những vườn trái cây, sâu vào phía trong, chúng tôi đụng phải vườn cao su bao la ngút ngàn rộng cả trăm mẫu. Việt cộng xuất hiện mọi nơi, giờ thì chúng tôi thực sự chạm địch. Một vài tên Cộng Sản khôn ngoan núp trên cây cao su nhắm bắn chúng tôi tùng thiết sau thiết giáp M113, cỏ mọc cao ngang bụng. Thiết Giáp khai hỏa trước, sau đó chúng tôi xung phong tấn công mục tiêu, mà hễ lên bao nhiêu là bị đốn ngã bấy nhiêu. Một chiếc thiết giáp bị trúng B40 nữa, Dù và Thiết Giáp mới vỡ lẽ, cùng đồng loạt hướng mũi súng lên các ngọn cây cao su mà khai hỏa. Từ xa chúng tôi thấy xác chúng rơi xuống như mít rụng. Tổng kết trong ngày, Tiểu Đoàn 9 Dù thiệt hại nhẹ, tuy nhiên có một sĩ quan Dù tử trận. Được biết anh ấy nhận lịnh chiếm mục tiêu, thấy binh sĩ bị thương anh nóng ruột tiến hàng đầu trong lúc binh sĩ chưa chuẩn bị kịp thì anh đã bị đốn ngã.
Trận chiến cứ tiếp diễn từ ngày này qua ngày khác, ban ngày tiến chiếm mục tiêu, nửa khuya lặng lẽ rời bỏ vị trí, có lúc 9, 10 giờ đêm vẫn còn đánh. Xác chiến hữu hồi chiều đến giờ vẫn còn nằm bên miệng hố địch mà không làm sao đem ra được. Đại Úy Tường, Đại Đội Trưởng Đại Đội 93 ra lịnh trung đội tôi bằng mọi cách phải đem xác về. Đợi đến khuya chúng tôi lấy dây dù cột võng nối hai, ba sợi lại làm một im lặng bò lên dùng đầu dây cột vào chân xác chết kéo nhẹ về. Việt cộng nghe động liền nổ súng. Khi kéo được xác bạn mình về thì thân thể anh nhận thêm một số vết đạn nữa. Đêm đó chúng tôi chôn xác anh tại chỗ. Khoảng 2 giờ sáng, đang ngủ ngon sau một ngày vất vả, chúng tôi được lịnh bỏ vị trí và dời quân. Cứ như thế cho đến suốt cả tuần. Lương thực và đạn dược bắt đầu cạn dần, tiếp tế rời rạc khó khăn. Đôi lúc chúng tôi xin thực phẩm của dân để bù dắp.
Trở ngại đến với chúng tôi mỗi lúc một nhiều hơn. Như hôm nay đang di chuyển bỗng gặp một nhánh sông trước mặt mà nhìn vào bản đồ lại không có tên. Chúng tôi cố gắng vượt qua. Nhảy Dù mà, cố gắng hết mình. Nhưng Nhảy Dù dở ở chỗ là nhân tài biết lội lại không nhiều, hành trang cồng kềnh, chưa kể súng đạn, nên khi qua kiểm điểm lại có vài binh sĩ bất khiển dụng vì uống nước sông quá nhiều, cũng như có hai binh sĩ bị nước cuốn trôi vì dòng sông nước chảy siết. Thật vô lý, sau đó chúng tôi tự nguyện mỗi lần về hậu cứ, sau giờ học Thái Cực Đạo là xin cấp trên cho đi học bơi. Ra khỏi vùng bàn giao cho đơn vị bạn, chúng tôi được nghỉ xả hơi một ngày cạnh quốc lộ và cũng nhận được tin vui từ Bộ Tư Lệnh Dù là đã được Bộ Tổng Tham Mưu tưởng thưởng bằng cách thăng cấp tại mặt trận cho các quân nhân từ cấp Trung Đội Trưởng trở xuống hàng khinh binh lên một cấp. Thêm vào đó, chúng tôi được bổ sung vài sĩ quan hiện dịch về Tiểu Đoàn. Họ đã ra trường sớm hơn ngày mãn khóa, và đồng thời lúc đó cũng là ngày buồn cho Cộng Sản đã được lãnh hai quả CBU do Không Quân ta gởi tặng.
Mạnh Hải Flickr
Sau một ngày ngơi nghỉ lại tiếp tục di chuyển, tiến men theo quốc lộ Sài Gòn – Vũng Tàu về hướng Bà Rịa. Vừa đến gần Tiểu Khu Phước Tuy, chúng tôi bị pháo kích, đoàn quân hỗn loạn. Trung Tá Nguyễn Văn Nhỏ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 9 Dù của chúng tôi bị thương đầu tiên. Thiếu Tá Đường Tiểu Đoàn Phó lên thay. Tại Tiểu Khu Phước Tuy, chúng tôi được Tiểu Khu Trưởng (một cựu sĩ quan Dù) tiếp đón ân cần và tiếp tế lương thực. Dân chúng Bà Rịa hay tin có mặt đơn vị Dù ở đây, họ vui mừng khôn xiết đem đồ ăn và tặng phẩm tới tấp. Chúng tôi có được hai ngày ở Phước Tuy thật thoải mái, hàng quán chỉ còn thưa thớt nhưng được chúng tôi chiếu cố thật kỹ. Đến ngày thứ ba, binh sĩ gác cầu Long Hương phát giác tăng địch xuất hiện nhưng họ tưởng là chiến xa bạn nên không báo cáo. Lúc ấy Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn Dù đóng trong dinh Tỉnh Trưởng được thiết vận xa nằm ngoài làm an ninh. Những trung đội chúng tôi nằm rải rác dọc theo hai bên phố ngoài thị xã. Chiến xa địch sau khi điều chỉnh tác xạ, chúng bắt đầu nã đại liên cùng đại bác về phía Dù. Thấy việc lạ, chúng tôi báo cáo về Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn và xin lịnh. Khi được tin đúng là tăng địch, Dù và Thiết Giáp thêm một lần vất vả, vì không ngờ đó là T54, trong khi Thiết Giáp tăng phái chỉ toàn M113 và 2 chiếc M 48. Binh sĩ Dù nằm dọc theo hai bên phố lấy lại bình tĩnh và bắt đầu sử dụng M72 bắn cầm chân chiến xa địch để Thiết Giáp hộ tống Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 9 Dù rút về hướng Vũng Tàu. Chiến xa địch cũng không dám tiến lên, chúng đang đợi bộ binh tùng thiết đến tấn công, chúng tôi lợi dụng khoảnh khắc ngắn ngủi ấy đưa toàn Bộ Chỉ Huy thoát khỏi tầm đạn tăng địch. Tuy nhiên địch vẫn bám theo sát. Đến cầu Cỏ May, địch lại càng gần ta hơn vì quân ta gặp một trung đội Thủy Quân Lục Chiến đang giữ cầu không cho chúng tôi qua. Sau một hồi thảo luận họ mới kéo hàng rào cản, và không hiểu sao họ lại theo chúng tôi luôn. Thực sự lúc đó địch đã gần kề. Lịnh trên cho toán Công Binh Dù nổ mìn giựt sập cầu. Nhưng mìn mang theo lúc đó không còn nhiều, nên sức công phá chỉ đủ sập một nhịp mà thôi. Như thế cũng khá lắm rồi. Tăng địch bắt buộc dừng lại, nhưng chúng cũng không để yên, luôn bắn đạn tầm xa với theo chúng tôi làm một số binh sĩ theo những chiếc M113 sau cùng bị thương.
Phần 6
Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo (Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh) Chiến trường Xuân Lộc 1975
Gần đến thị xã Vũng Tàu, qua khỏi một khúc quanh không xa Trường Thiếu Sinh Quân cho lắm, cả một đại đội địch ở đâu không biết ào ra bao vây chiếc M113 do tôi dẫn đầu và mở đường cho Tiểu Đoàn Dù phía sau. Tuổi chúng còn thật trẻ, vài đứa mặc quần áo của ta trông thật không giống ai. Tôi lấy khẩu T38 nhét dưới đùi, trường hợp bất trắc có thể sử dụng ngay. Nhanh trí tôi liền đứng dậy đưa hai tay tỏ dấu thân thiện và la lớn:
– Bạn đây, bạn đây, đừng bắn!
– Một tên tiến đến gần có vẻ là cấp chỉ huy đã hỏi tôi: – Bạn hả? Mới lấy được tăng ngụy phải không? Còn chúng nó đâu?
Mạnh Hải Flickr
Tôi vẫn tiếp tục cứng với nó, mặc dù trong bụng hơi run, không biết có qua mặt nỗi bọn ác ôn này không. Tôi chỉ đại ra phía sau, bỗng dưng hắn tưởng thiệt, ra lịnh cho đám lính lui và dạt ra hai bên nhường đường cho xe tôi qua Như đã nói trên là đang ở khúc quanh, xe tôi và chiếc thứ hai khá xa nên không thấy gì hết. Tôi cầm khúc cây nhỏ khỏ vào đầu nón sắt của anh lính Thiết Giáp ra lịnh tống hết ga chạy về phía trước, rồi nói với anh hiệu thính viên liên lạc với chiếc thứ hai rằng bọn chúng đang phục kích trước mặt, hãy đề phòng. Như chuẩn bị trước, những chiếc kế tiếp tiến lên và khai hỏa vào hai bên đường. Bọn Việt cộng chết vô số kể và lẩn trốn để đoàn xe tiếp tục triệt thoái về hướng Vũng Tàu.
Tới Bến Đá, giờ đây đủ các quân binh chủng của ta thuộc Quân Khu III, chưa kể một số đơn vị thuộc Quân Khu II và còn dân chúng nữa. Không thể tưởng tượng được, Thiết Giáp không còn đất sử dụng và cũng cùng đường rồi. Những tài xế lái thiết xa cho máy nổ, sang số cho xe chạy sát bờ biển, ra lịnh mọi người nhảy ra ngoài, xe tiếp tục lăn xích đi xuống lòng đại dương. Trung Sĩ Hai đứng chết lặng, hai hàng nước mắt tuôn rơi nhìn lần cuối chiếc M113 từ từ mất dạng trong biển nước mênh mông. Giờ thì Thiết Giáp theo lính Dù luôn, chúng tôi đi đâu họ theo đó. Hậu cứ Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù ở Vũng Tàu đem thuyền nhỏ đến rước chúng tôi, vì không còn phương tiện hiện hữu nào có thể sử dụng vào lúc này. Lênh đênh ngoài khơi cả buổi, liên lạc nghe ngóng, tình thế hoàn toàn tuyệt vọng. Rồi bản tin nghe được từ máy radio bỏ túi, lịnh Tướng Minh tuyên bố buông súng đầu hàng. Thôi hết rồi. Tiểu Đoàn 9 thuộc Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù quăng tất cả vũ khí đạn dược, quân trang, quân dụng xuống biển và tự ý tan hàng sau lời nhắn nhủ đầy xúc động của Thiếu Tá Đường Tiểu Đoàn Trưởng. Chúng tôi giã từ vũ khí một cách bất đắc dĩ ngoài khơi Vũng Tàu, không đầy hai hải lý cách đất liền. Ngoại trừ một số chết và bị thương, quân số Tiểu Đoàn còn 80%.
Viết để hồi tưởng lại, người sống cũng như người chết, bạn hữu, thân bằng quyến thuộc đã hy sinh cho Chính Nghĩa Quốc Gia và Dân Tộc. Tin vào ngày mai, tất cả sẽ đổi thay như luật trời đã định. Đoàn quân ta sẽ trở về trong danh dự và bọn Cộng Sản không còn hiện hiện trên đất nước thân yêu của chúng ta nữa.
Ngày 25.4.1975, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù được xuất phái ra khỏi Sư Đoàn 18 Bộ Binh, di chuyển về bảo vệ Vũng Tàu. Trước đó, trưa ngày 22.4.1975, một chiếc C 130 chở một trái bom CBU 55 bay lên vùng trời Long Khánh và đã thả nó lên chỗ tình nghi là Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 341, mà đang đóng ngay ngoại ô tỉnh lỵ Xuân Lộc. Tấm thảm lửa phosphor từ trái bom vỡ bùng lên và ngay lập tức, một khoảng không gian bị hút lấy dưỡng khí từ đám lửa, đã làm cho binh đội Việt cộng bên dưới ngã lăn ra chết vì ngạt thở. Tổn thất của Sư Đoàn 341 thật khủng khiếp, 250 cán binh Cộng quân chết trong những tư thế đau đớn. Sau GBU 7 tấn, thì CBU 55 là loại bom sát thương chống người, trong nỗ lực ngăn chống làn sóng Cộng Sản quốc tế. Nhưng một vài trái bom đó không đủ làm thay đổi tình thế, mà chỉ kéo dài thêm thời gian hấp hối của Việt Nam Cộng Hòa. Cũng trong ngày 22.4.1975, Trung Đoàn 8 Bộ Binh và Chiến Đoàn 322 của Đại Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng đã chiếm được Hưng Nghĩa, nhưng được lệnh rút quân ngay về bảo vệ Biên Hòa.
Tiểu Đoàn 2/43 của Thiếu Tá Chế nhận lệnh Chuẩn Tướng Đảo đang bay chỉ huy trên C&C rời bỏ con đương Liên Tỉnh Lộ 2 chia thành nhiều nhóm nhỏ cắt đường rừng mà đi. Cộng quân cứ ra rả gọi loa kêu đích danh Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế bó tay qui hàng. Các chiến sĩ Tiểu Đoàn 2/43 cực nhọc chiến đấu liên tục đến ngày 23.4 mới về đến được Phước Tuy, quân số hao hụt đến hơn 50%. Một con số hết sức đau xót cho số thân nhân của các tử sĩ đang ngóng trông các anh ở hậu cứ Long Bình. Cuộc hành quân hoàn tất buổi chiều ngày 21.4.1975. Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã phải bỏ ra ba ngày để tái trang bị, bổ sung quân số tại Long Bình. Ngày 24.4.1974, chiến sĩ Sư Đoàn nhận được tin vui. Tổng Thống Trần Văn Hương đến Long Bình vinh thăng đặc cách Thiếu Tướng cho Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và thăng thưởng nhiều chiến sĩ hữu công khác.
Mạnh Hải Flickr
Nhớ lại mười hai ngày đêm chiến đấu tại Long Khánh, các chiến sĩ bộ binh dưới sự hỗ trợ của trên 600 phi xuất Không Quân, Pháo Binh và Kỵ Binh, đã bắn cháy hơn 30 xe tăng địch quân, tiêu diệt 10,000 quân giặc. Sư đoàn di chuyển về khu vực Sài Gòn để chuẩn bị đánh những trận đẫm máu cuối cùng bảo vệ thủ đô. Sáng ngày 30.4.1975, các đơn vị sư đoàn đang trấn giữ khu vực Nghĩa Trang Quân Đội trên xa lộ Biên Hòa, thì Thiếu Tướng Đảo nhận được điện gọi của Đại Tá Lê Xuân Hiếu báo tin Tướng Dương Văn Minh đã đầu hàng giặc và lệnh cho toàn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải buông súng “ai ở đâu thì ở đó chờ quân giải phóng đến bàn giao”. Trong một nỗ lực cuối cùng, Thiếu Tướng Đảo cố gắng liên lạc với các Trung Đoàn Trưởng, nhưng các đơn vị đều đã tan rã. Vẫn không chịu khuất phục và bỏ cuộc, trong bộ quần áo dân sự, Thiếu Tướng Đảo tìm cách về đến được Cần Thơ, với hy vọng Quân Đoàn IV của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam và Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng tiếp tục chiến đấu. Nhưng người anh hùng thất cơ lỡ vận của chúng ta chỉ có thể tìm thấy một thành phố ngơ ngác, hoảng loạn và tin tức về cái chết anh dũng của hai vị Tướng. Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh bảo vệ Cần Thơ cố gắng liên lạc với Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, với một hy vọng mỏng manh nào đó. Nhưng Chuẩn Tướng Hai cũng đã uống thuốc độc tử tiết chiều cùng ngày. Sư Đoàn 9 Bộ Binh của Chuẩn Tướng Huỳnh Văn Lạc hãy còn đang đánh nhau với Cộng quân tại chiến trường biên giới Mộc Hóa, rồi cũng tan hàng trong cay đắng. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc đánh dấu chấm hết một cách oan khuất và tức uất kể từ giây phút đó. Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, người anh hùng cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam trở về Sài Gòn. Ngày 9.5.1975 Thiếu Tướng Đảo bị gửi vào trại tù Cộng Sản. Người anh hùng của đất nước phải trả một cái giá quá đắt cho chiến thắng Xuân Lộc với mười bảy năm tù dài đăng đẵng. Tháng 4.1993, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo đặt chân lên mảnh đất tự do Hoa Kỳ. Một trong những công việc trước nhất mà ông nghĩ tới, là đi tìm thăm lại tất cả những chiến sĩ thuộc cấp từng sát cánh chiến đấu với ông từ ngày ông về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Câu hỏi đầu tiên của ông lúc nào cũng là:”Các anh em có phiền trách gì tôi không?”. Đã một phần tư thế kỷ trôi qua rồi mà Thiếu Tướng Đảo vẫn hãy còn rất băn khoăn, rằng ông đã có lỗi để cho chiến hữu của ông phải rơi vào cơn bão xoáy tang tương của đất nước đến như vậy. Nhưng câu trả lời bao giờ cũng là:”Anh em vẫn luôn kính yêu Hằng Minh (danh xưng chiến trường của Thiếu tướng) như ngày nào. Hằng Minh không có lỗi gì hết”. Thiếu Tướng Đảo đã dùng danh xưng chiến trường Hằng Minh để tưởng nhớ đến sự hy sinh dũng liệt của cố Trung Tá Lê Hằng Minh, là bào đệ của ông, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên Thủy Quân Lục Chiến, tại vùng Phong Điền, Thừa Thiên, trong một cuộc phản phục kích đẫm máu với quân giặc.
Trong trại tù, Thiếu Tướng Đảo đã khảng khái nói với các cai ngục Cộng Sản:“Nếu các ông còn đang giam giữ nhiều chiến hữu sư đoàn của tôi, thì tôi mong là tôi sẽ là người sau chót bước ra khỏi đây. Nếu khác đi thì tôi không còn mặt mũi nào nhìn họ nữa”. Khi được hỏi về những ký ức ở Xuân Lộc,Thiếu Tướng Đảo đã trầm ngâm đôi giây phút:”Chiến đấu là một nghệ thuật.Chúng ta không phải dùng tay và chân thôi, mà còn trí óc nữa. Cho dù biết đang thua cuộc chiến tranh, tôi vẫn chiến đấu“. Với bản tính khiêm tốn,lời nhắn nhủ với tác giả sử gia Jay Veith, người đã bỏ công phục hiện lại diễn tiến Xuân Lộc, của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh, được dùng làm lời kết cho thiên anh hùng ca này: “Xin đừng gọi tôi là anh hùng. Những chiến hữu của tôi đã hy sinh tại Xuân Lộc và những chiến trường khác mới chính là những anh hung”. Không cần thiết phải ngợi caThiếu Tướng Lê Minh Đảo là một anh hùng. Những dữ kiện của sự thật đã nói lên được điều đó.
Tướng Đảo đặt vòng hoa: Lễ đặt vòng hoa tại đài tưởng niệm ở Phoenix. Thiếu Tướng Lê Minh Đảo và Trung Tướng Edison đang nghiêm chào tượng đài chiến sĩ trận vong.
(Trích trong
Thiên Hùng Ca Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa)
Tài liệu tham khảo:
• George J.Veith, Fighting is an Art: “The ARVN Defense of Xuan Loc, April 9 – 21, 1975″.
• Đại Tá Hứa Yến Lến, Tuyến Thép Xuân Lộc, 12 Ngày Đêm Ác Chiến Với Cộng Sản Bắc Việt.
Thị sát chán chê những đơn vị tả tơi của Quân Đoàn 4 Cộng Sản, Trần Văn Trà nhanh chóng đi đến một quyết định mà Hoàng Cầm và Bùi Cát Vũ đã nghĩ đến nhưng không dám trình lên, là rút quân. Nhưng để cho cuộc thối lui đó được tô vẽ bằng một thứ nước sơn giả dối khác, Trà đề nghị kế hoạch cho Quân Đoàn 4 đi vòng tránh Sư Đoàn 18 Bộ Binh và tiến thẳng về Sài Gòn. Về sau này, Trà đã rất tự đắc huênh hoang viết hồi ký khoe “sáng kiến” bỏ chạy ấy là của mình, tranh công với Văn Tiến Dũng, cũng vỗ ngực nói là “chiến lược” của ông ta. Dũng, Trà và cả bộ chính trị Hà Nội thực sự đã dự định đánh tan tành Sư Đoàn 18 Bộ Binh tại Xuân Lộc để gọi là làm nhục Quân Đoàn III vàQuân Lực Việt Nam Cộng Hòa trên trường quốc tế, điều mà chúng may mắn có được với Quân Đoàn I và Quân Đoàn II của quân ta trong tháng 3.1975, từ đó sẽ nghênh ngang kéo quân trên Quốc Lộ 1 về Sài Gòn. Dù sau này trong tất cả cuốn sử hay hồi ký của tướng tá Việt cộng có nói khéo thế nào, thì người đời sau cũng hiểu rõ rằng, trận đánh tại Xuân Lộc là một cuộc chiến bại nhục nhã của Cộng Sản. Muốn làm nhục một quân đội anh dũng là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng Hà Nội đã nhận được một bài học cay đắng tại Xuân Lộc, mà bài học đó sẽ còn lưu lại trong sách sử đến ngàn đời sau.
Chiến thắng cuối cùng
Khi tổ chức bao vây Xuân Lộc, Quân Đoàn 4 Cộng Sản đã để rất nhiều thời gian nghiên cứu, thì khi muốn rút lui ra khỏi mặt trận, cấp chỉ huy địch cũng phải vạch kế hoạch tỉ mỉ không kém để làm sao cho Bộ Tư Lệnh Hành Quân Sư Đoàn 18 Bộ Binh không giải đoán được ý định của chúng. Quân Đoàn 4 sẽ rút quân dần dần, các đơn vị còn ở lại vẫn tiếp tục mở những cuộc tấn công làm ra vẻ chúng còn quyết chiếm Xuân Lộc. Theo kế hoạch này, Văn Tiến Dũng đã đích thân ra lệnh miệng cho Hoàng Cầm, từ đó Cầm điều động Trung Đoàn 165 và Trung Đoàn 266 cứ ở yên tại vị trí. Trong khi đó thì Trung Đoàn 209 vẫn cứ tạo áp lực lên cạnh sườn các đơn vị của Lữ Đoàn 1 Dù. Trung Đoàn 270 Cộng Sản rút dần về phía Núi Thị và tổ chức tấn công lên cứ điểm này. Như vậy dưới mắt cấp chỉ huy Sư Đoàn 18 Bộ Binh, lực lượng Cộng quân vẫn có vẻ tiếp tục kéo dài cuộc tấn chiếm Xuân Lộc. Tin tức tình báo cũng báo động cho biết Trung Đoàn 95B của Sư Đoàn 325 thiện chiến Bắc Việt đang có mặt trên cao nguyên Darlac, là thành phần tham gia chiến dịch tấn chiếm tỉnh lỵ Ban Mê Thuột, đã được gọi xuống tăng cường cho mặt trận Long Khánh. Trung Đoàn 95B, mệnh danh là Trung Đoàn Sông Hương, sau một ngày bôn tập, ngày 13.4.1975 đã có mặt trên chiến trường miền Đông. Một cuộc họp quan trọng diễn ra tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4 Bắc Việt, Tướng Trần Văn Trà và các cấp chỉ huy ở đó đi đến quyết định: “Xuân Lộc là một trọng điểm trên tuyến phòng thủ của địch, chúng đã tập trung nhiều đơn vị lớn để bảo vệ. Chúng ta không còn giữ được yếu tố bất ngờ nữa. Vì vậy chúng ta không còn lợi thế để tiếp tục cuộc tấn công Xuân Lộc. Nếu chúng ta chiếm giữ Ngã Ba Dầu Giây thì Xuân Lộc không còn là một trọng điểm nữa, vì nó đã nằm ngoài chu vi phòng thủ. Từ đó, chúng ta có thể thực hiện hai cuộc chuyển quân: Một là, tập trung sức tấn công vào Dầu Giây từ hai hướng. Hai là, chúng ta rút quân ra khỏi Xuân Lộc”. Rất ngán sợ hỏa lực của Không Quân Việt Nam, Trà lệnh cho các đơn vị pháo 130 ly âm thầm di chuyển vào sát phi trường Biên Hòa trong tầm với tới của pháo, với ý đồ phá hủy phi trường Biên Hòa hay ít nhất quấy rối bằng pháo kích đến tối đa để ngăn chận đoàn phi cơ của quân ta cất cánh yểm trợ cho mặt trận Long Khánh và Dầu Giây. Sau cuộc họp, các đơn vị Cộng quân lục tục rút quân dần dần ra khỏi vị trí hiện tại. Dĩ nhiên những cuộc di chuyển đó không qua khỏi sự quan sát chặt chẽ của những toán Viễn Thám nằm sâu trong lòng địch báo về. Quân Đoàn 4 rút ra khỏi Xuân Lộc thì Chuẩn Tướng Đảo điều động các đơn vị bám sát theo sau, đồng thời nhân cơ hội đó 8 chiếc trực thăng Chinook đã đem vào Xuân Lộc 93 tấn đạn pháo, 100 tấn lương thực thuốc men và đạn súng nhỏ. Trong vòng năm ngày Sư Đoàn 18 Bộ Binh đánh thắng được sáu cuộc tấn công cường kích của Quân Đoàn 4 Bắc Việt, Đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Graham Martin hân hoan gọi về Washington báo tin Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã đánh thắng hai trận đầu tiên, một tại Xuân Lộc và một tại Thủ Thừa, Long An, sau những ngày triệt thoái. Sự kiện đó đã trả lời hùng hồn câu hỏi từ chính giới Hoa Kỳ, rằng liệu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có chịu chiến đấu hay không. Với báo cáo này, ông Martin hy vọng Tổng Thống Gerald Ford có được yếu tố thuận lợi để yêu cầu Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận khoản quân viện bổ sung 722 triệu mỹ kim cho năm 1975. Tổng Thống Ford đã xác nhận mạnh mẽ trước Lưỡng Viện Quốc Hội:”Quân Đội Nam Việt Nam rất muốn chiến đấu. Tại Xuân Lộc, mặc dù quân số ít hơn, nhưng Quân Đội Nam Việt Nam đã chiến đấu rất anh dũng, đã giữ vững vùng đất của họ và đã gây thiệt hại nặng nề lên quân địch…” Những minh chứng rõ ràng đó đã không thuyết phục được những nhà chính trị Hoa Kỳ đã quá mỏi mệt, thiếu kiên nhẫn và không áp đảo được khuynh hướng phản chiến lẫn chủ bại trong Quốc Hội, mà Thượng Nghị Sĩ Jacob Javits là đại diện cho tất cả những cái đó, với câu trả lời rất lạnh lùng, trịch thượng và tàn nhẫn ngày 14.4.1975:”Tôi sẽ thuận cho quý ngài một ngân khoản lớn để tổ chức cuộc di tản, nhưng không một xu quân viện nào cho Thiệu”. Số phận Việt Nam Cộng Hòa coi như đã được những nhà chính trị kiêu ngạo ấy đánh dấu chấm hết từ ngày 14.4.1975. Hành động phủi tay đó rồi nhiều năm sau sẽ bị công luận thế giới phân tích và phê phán nặng nề, đến nỗi người ta đã đi đến kết luận không lấy gì làm vinh dự và đẹp đẽ lắm dành cho chính giới Hoa Kỳ, rằng kết đồng minh với Hoa Kỳ có nghĩa là chắc chắn sớm hay muộn sẽ bị bỏ rơi.
Mạnh Hải Flickr
Nhưng đó là việc của người Mỹ. Dù có nhận được quân viện hay không thì quân dân Việt Nam Cộng Hòa vẫn xác quyết: chiến đấu đến cùng. Mặt trận Long Khánh tiếp tục nổ lớn.
Trong những ngày tình hình tạm lắng dịu, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa muốn cho thế giới hiểu rõ tường tận hơn ý chí quyết chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và bối cảnh chiến thắng ở Xuân Lộc của Sư Đoàn 18 Bộ Binh, đã tổ chức một cuộc thăm viếng tỉnh lỵ này dành cho giới báo chí truyền thông trong và ngoài nước. Buổi sáng rất đẹp trời ngày 13.4.1975, nhiều chiếc Chinook đã chở những ký giả ngoại quốc vào Xuân Lộc. Phái đoàn được thả xuống tại Tân Phong, một vị trí dùng làm Bộ Chỉ Huy Hành Quân của Chuẩn Tướng Đảo. Tại đây, giới báo chí được mời ngồi nghe người dũng tướng nước Nam, cây cột trụ chống đỡ đất nước giữa cơn nghiêng ngã, thuyết trình diễn tiến trận đánh. Người hùng Xuân Lộc đã quả quyết tuyên bố:”Sư Đoàn 18 Bộ Binh sẽ giữ vững Xuân Lộc, dù Cộng Sản có ném vào đây bao nhiêu sư đoàn đi nữa”. Lời xác quyết can cường đó đã được chứng minh bằng cuộc thối quân của toàn Quân Đoàn 4 Bắc Việt trong những ngày tiếp theo. Theo Quốc Lộ 1, đoàn ký giả tiến vào thành phố. Họ đã chứng kiến và chụp hình, quay phim cảnh đổ nát của phần phía Bắc Xuân Lộc. Sau khi Đại Tá Phạm Văn Phúc thuyết trình diễn biến chiến sự trong năm ngày qua, Đại Tá Lê Xuân Hiếu, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43 hướng dẫn phái đoàn đi bộ vào khu chợ Xuân Lộc và đến địa điểm triễn lãm vũ khí tịch thu được từ quân Cộng Sản. Cuộc thăm viếng của đoàn nhà báo quốc tế đã đem lại nhiều thuận lợi cho Việt Nam Cộng Hòa trong sự chú ý của dư luận quốc tế. Tuy nhiên trong những ngày ảm đạm cuối cùng của tháng 4.1975 ấy, những bài báo ngợi ca chiến thắng của Sư Đoàn 18 Bộ Binh chỉ còn là những ánh hào quang lẻ loi trước khi toàn quân lực bị bức tử trong sự ngoảnh mặt làm ngơ của thế giới.
Đánh Xuân Lộc không được, giờ đây Quân Đoàn 4 Bắc cộng tập trung quân đánh vào khu vực Ngã Ba Dầu Giây, là vị trí trách nhiệm trấn giữ thuộc Trung Đoàn 52 Bộ Binh của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng. Muốn đi vòng Xuân Lộc để tiến về Biên Hòa và Sài Gòn, thì Quân Đoàn 4 Cộng quân phải đánh bứt các vị trí của Trung Đoàn 52, để từ đó theo Quốc Lộ 20 tuôn xuống phía Nam.
Mạnh Hải Flickr
. Đại Tá Dũng và chiến sĩ của ông ở trong một tình thế thật hung hiểm, số ít đối đầu với số đông đã đành, mà địa thế khá là bằng phẳng và trống trải khu vực trách nhiệm rất không thuận lợi cho một cuộc phòng thủ lâu dài. Phía Cộng Sản, với giá nào chúng cũng phải đánh thủng chiến tuyến, dù có phải thí quân tàn bạo đến như thế nào đi nữa. Ngày 13.4, trận đại chiến giữa Trung Đoàn 52 và quân Cộng bắt đầu tái diễn. Vẫn một trận bão pháo kinh khủng trút vô giới hạn xuống vị trí của Tiểu Đoàn 1/52. Dứt pháo, Trung Đoàn 33 Cộng quân thuộc Sư Đoàn 6 Bắc Việt hò hét xung phong biển người lên giao thông hào của chiến sĩ Tiểu Đoàn 1/52 đang trấn giữ ấp Phan Bội Châu. Quân ta vừa chống trả vừa lùi dần về phía Ngã Ba Dầu Giây. Đại Tá Dũng lệnh cho Tiểu Đoàn 3/52 của Thiếu Tá Mỹ cấp tốc hành quân đến giải vây cho Tiểu Đoàn 1/52, rồi cùng kéo về ấp Nguyễn Thái Học. Nóng lòng cuộc tử sinh của chiến hữu, hai đại đội còn lại của Tiểu Đoàn 3/52 suốt đêm lầm lũi xuyên qua những cánh rừng lá thấp bụi rậm giăng mắc, để cuối cùng bắt tay được với 1/52. Hai tiểu đoàn quân số đã sụt xuống con số đau lòng, chỉ còn 1/3 số tay súng khỏe mạnh, cùng bảo vệ nhau kéo ra khỏi Ngã Ba Dầu Giây, trong khi đó thì Tiểu Đoàn 2/52 đã tách ra khỏi Trung Đoàn để về trấn giữ tỉnh lỵ từ mấy ngày trước theo lệnh của Chuẩn Tướng Đảo. Như vậy, Đại Tá Dũng chỉ có thể xoay sở với hai tiểu đoàn thiếu của ông để chống ngăn cơn sóng hung bạo của cả một sư đoàn lên đến 9 tiểu đoàn.
Hoạt động của Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III
Lực Lượng Xung Kich Quân Đoàn III của Chuẩn Tướng Khôi vẫn còn dậm chân tại Hưng Lộc, vì những chiến xa M48 của Kỵ Binh không thể dàn được đội hình đột phá trên con lộ độc đạo. Nếu đánh thủng Hưng Lộc, thì Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh của ông mới có thể tiếp cứu được Trung Đoàn 52 Bộ Binh. Chuẩn Tướng Khôi quyết định đánh bọc hông Sư Đoàn 6 bằng cách điều động Chiến Đoàn 315 và 322 lên phía Bắc Hưng Lộc. Chiến Đoàn 325 được tổ chức thành hai cánh quân như sau. Cánh A vẫn tiến quân trên Quốc Lộ 1 thu hút sự chú ý của quân Cộng ở mặt Nam. Cánh B gồm Tiểu Đoàn 64 thuộc Liên Đoàn 33 Biệt Động Quân và Chi Đoàn 1/15 dưới quyền chỉ huy của Đại Úy Phạm Văn Bản, với nhiệm vụ húc qua chốt cộng và bắt tay với Trung Đoàn 52 tại ấp Nguyễn Thái Học. Đến giữa trưa ngày 14.4.1975, cánh quân của Đại Úy Bản đã xông lên tiến chiếm được Đồi 122, cao điểm phía Bắc Hưng Lộc, và sẵn sàng tiến tới nữa. Thật không may, nhiều con suối đã chận ngang đường đi, Đại Úy Bản buộc phải cho con cái tạm dừng chờ Công Binh lên bắc cầu. Sự chậm trễ này đã hiến cho Sư Đoàn 6 Cộng Sản cơ hội phát hiện được cuộc tiến quân bí mật của Chuẩn Tướng Khôi, chúng vội điều quân tới chận đánh Cánh B từ ba hướng Bắc, Đông và Tây. Chiến sĩ Tiểu Đoàn 64 Mũ Nâu dàn quân kháng cự ác liệt để bảo vệ đoàn chiến xa của quân ta. Quân giặc trùng điệp tràn lên như những bầy kiến đỏ hung dữ. Cuộc chiến đấu của quân ta càng lúc càng khó khăn, sức nặng của hỏa lực và biển người càng lúc càng chồng chất lên vai chiến sĩ Biệt Động Quân và Kỵ Binh. Đại Úy Bản đã kể lại:”Địch quân tiến tới đông nghẹt như một bầy kiến, phóng ra nhiều đợt biển người lên đồi từ ba hướng. Trong tình thế nguy ngập đó, tôi đã gọi Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn yểm trợ hỏa lực phi pháo. Nhưng tất cả hỏa lực gửi đến chỉ là một vài chiếc trực thăng võ trang bắn vài loạt hỏa tiễn rồi bay đi…
Cường độ tấn công của Cộng quân càng mãnh liệt dần lên. Tôi tưởng rằng quân ta sẽ bị tràn ngập trên Đồi 122, hay bị bao vây và bị cô lập hoàn toàn… Bỗng nhiên Việt cộng rút lui, cuộc giao tranh chấm dứt… Phía chúng tôi có 20 chiến sĩ bị thương, Biệt Động Quân gần 40… Còn xác Việt cộng nằm la liệt khắp cánh đồng lúa “. Mặc dù Cộng quân đã thôi tấn công Đồi 122, nhưng ý định đánh vào mạn sườn Bắc quân địch của Chuẩn Tướng Khôi đã không thành công và bị khựng lại, phần lớn là do địa hình ngăn trở.
Những chuyên viên Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu Trong cuộc chiến đấu bảo vệ Xuân Lộc, còn có những đóng góp rất âm thầm của nhóm công tác gồm 20 nhân viên đặc biệt từ Phòng 7 Bộ Tổng Tham Mưu đến Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Các chiến sĩ này làm việc suốt ngày đêm để dò sóng truyền tin địch và giải mã những bức điện văn. Nhờ đó quân ta biết được ý định hành quân, nơi tập trung bộ đội và báo cáo tình hình quân số của địch trên khắp chiến trường. Nhờ những dữ kiện đó mà Bộ Tổng Tham Mưu có được chi tiết chính xác để gửi một chiếc C130 chở một trái bom 15,000 cân Anh (tương đương 7.000 kí) có tên là Daisy Cutter bỏ xuống vị trí nghi ngờ là Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn 4 Bắc Việt cùng với một trung đoàn bảo vệ đóng quân gần đó. Cũng nhóm Phòng 7 sau đó đã bắt được sóng địch báo cáo 75% Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn 4 Bắc Việt đã bị hủy diệt. Vẫn chưa hết, hàng ngày từ 8 đến 12 chiếc C130 trong chiến dịch Flame Wafare (Hỏa Chiến) do sáng kiến của Không Quân Việt Nam, đã chở những cái bè gỗ trên đó chất những thùng cỡ 200 lít dầu và hơi cháy trút xuống các đơn vị địch, tạo nên những cơn sóng chấn động và lửa nóng chẳng kém gì bom lửa Napalm. Tiếng nổ liên hồi ầm ầm của những loạt bom đó rất giống tiếng bom B52, đã làm cho Hà Nội phải la làng inh ỏi, rằng Không Quân Hoa Kỳ “chơi” bom sát thương hàng loạt loại mới. Còn phía quân dân tử thủ Xuân Lộc thì hò reo hân hoan cho là B52 đã nhập cuộc. Khi biết rõ những cuộc dội bom ấy xuất phát từ Không Quân Việt Nam, chiến sĩ dưới đất đã gọi đó là những “B 52 Việt Nam”.
Mạnh Hải Flickr
Trung Đoàn 52 Bộ Binh đánh địch
Dù bị Không Quân Việt Nam dội bom Daisy Cutter và bom “B-52 Việt Nam”, nhưng quân Cộng vẫn bám cứng khu vực Trung Đoàn 52 Bộ Binh, đồng thời gấp rút điều động Liên Đoàn 75 Pháo Binh pháo kích phi trường Biên Hòa liên tục nhằm vô hiệu quá sức mạnh của Không Quân. Đồng thời đặc công địch đã bò vào phá hủy được kho đạn trong phi trường. Hai sự kiện đó quả thật đã gây trở ngại lớn cho Sư Đoàn 18 Bộ Binh, đặc biệt tại tuyến Dầu Giây. Rạng sáng ngày 15.4.1975, Trung Đoàn 33 và Trung Đoàn 95B Sông Hương còn nguyên vẹn sinh lực của Sư Đoàn 6 Cộng Sản mở cuộc tấn công vào ấp Nguyễn Thái Học và Đồi Móng Ngựa. Trên Đồi Móng Ngựa Đại Úy Mạch Mạnh Liêu và đại đội của ông vẫn xác định quyết tâm giữ vững vị trí, mặc dù quân số đại đội đã hao hụt quá nhiều mà không có bổ sung.
Trung Đoàn 33 và 95B là hai trung đoàn thiện chiến rất kỳ cựu của địch, chúng hoạt động thường xuyên trên vùng Tây Nguyên và đã giao tranh nhiều trận rất lớn với Quân Đoàn II của ta nhiều năm trước đây. Trung Đoàn 33 Bắc Việt được dùng làm thành phần chủ yếu cấu thành Sư Đoàn 6 tân lập của Cộng Sản trong chiến dịch tấn công của năm 1975. Nhiều ngàn trái đạn đủ loại dội ùng oàng ác liệt xuống khắp vị trí của Trung Đoàn 52 Bộ Binh. Sau cơn pháo, Trung Đoàn 33 Bắc Việt tiến chiếm được Ngã Ba Dầu Giây và định đánh bứt ấp Nguyễn Thái Học. Nhưng với sự có mặt của Cánh B Chiến Đoàn 315 trên Đồi 122, Trung Đoàn 33 Cộng quân buộc phải chuyển sang đối phó với lực lượng này. Trung Đoàn 95B tổ chức ba cuộc tấn công lên Đồi Móng Ngựa. Với một đại đội mà quân số đã dần hao mòn, nhưng chiến sĩ Trung Đoàn 52 Bộ Binh đã dũng liệt đánh văng xuống đội trung đoàn thiện chiến nhất của địch. Dù vậy, Đại Tá Ngô Kỳ Dũng vẫn cẩn thận gửi tăng viện Đồi Móng Ngựa một đại đội nữa. Đại đội trấn giữ Đồi Móng Ngựa đã được đại đội bạn mang vác tiếp liệu đến bổ sung và tiếp tay di tản các chiến thương. Những sĩ quan cùng chung trong Trung Đoàn cảm khích siết chặt tay nhau thề cùng sống chết trên ngọn đồi thấp này.
Chẳng lâu la gì, Tiểu Đoàn 2 của Trung Đoàn 95B Việt cộng xua quân biển người tràn lên đồi. Một đại đội tử thủ chúng còn không lên nổi, giờ đây thêm một đại đội nữa, chiến sĩ Trung Đoàn 52 dễ dàng đánh Tiểu Đoàn 2/95B địch lăn lộn xuống chân đồi. Một tiểu đoàn thứ hai âm thầm men theo Quốc Lộ 20 định đánh vào sườn quân ta trên đồi, thì đã bị Pháo Binh dội những tràng đạn tập trung chết chóc xuống làm chúng phải thối lui.
Khi Chiến Đoàn 315 của Lữ Đoàn 3 Xung Kích đã bị khựng lại, thì Cộng quân bắt đầu mở cuộc đột phá vào ấp Nguyễn Thái Học do các đại đội còn lại của Tiểu Đoàn 3/52, Chi Đoàn 3/5 Kỵ Binh và các thành phần khác của Trung Đoàn 52 Bộ Binh. Cộng quân đánh quá dữ, bằng mọi giá chúng phải bứng được quân ta ra khỏi khu vực Ngã Ba Túc Trưng nằm chặn trên Quốc Lộ 20 và Ngã Ba Dầu Giây trên Quốc Lộ để Quân Đoàn 4 Bắc Việt tiến về Sài Gòn. Quân ta cũng không chịu rút, dù càng lúc quân số càng hao hụt. Nhiều chiến sĩ bị thương hai ba lần, nhưng người nào còn cầm súng được vẫn cứ nghiến răng tựa lưng vào chiến hào tử chiến với giặc Cuộc giao tranh quá đỗi khốc liệt ấy kéo dài liên tục trong mười tiếng đồng hồ, tiếng đạn pháo hai bên nổ rền trời. Đến lúc mà quân số của toàn Trung Đoàn đã sụt xuống con số đau thương là chỉ còn 20% tay súng, Đại Tá Dũng đành phải ra lệnh cho chiến sĩ trên Đồi Móng Ngựa ngay trong đêm phải rút xuống và trở về với Tiểu Đoàn 3/52. Khoảng 6 giờ rưỡi chiều, Đại Tá Dũng chia lực lượng rách nát của ông thành hai nhóm. Đích thân Đại Tá Dũng dẫn một nhóm bộ binh và Kỵ Binh thoát ra khỏi rừng cao su. Nhóm thứ hai là Tiểu Đoàn 3/52 theo một hướng thoát thân. Với kinh nghiệm hành quân nhiều năm trong khu vực tỉnh Long Khánh, cả hai nhóm quân của Trung Đoàn 52 len lỏi giữa những vị trí đóng quân của địch và đã về đến được Trảng Bom an toàn.
Mặt trận Long Khánh đã thiếu vắng một đơn vị thiện chiến, Sư Đoàn 18 Bộ Binh giờ đây phải tự điều chỉnh trận liệt với Trung Đoàn 43 và Trung Đoàn 48, cộng thêm Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù và Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân. Tin Phan Rang thất thủ chẳng mấy chốc đã bay đến Xuân Lộc. Sư Đoàn 341 Cộng quân thôi không đánh Xuân Lộc, chúng di chuyển lên hướng Bắc tấn chiếm được Kiệm Tân và Túc Trưng, song song với những cơn pháo mãnh liệt vào phi trường Biên Hòa. Như vậy ý định cô lập Sư Đoàn 18 Bộ Binh ra khỏi chu vi phòng thủ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa của Quân Đoàn 4 Bắc Việt đã dần dần thành hình. Một tin tức không vui khác đến từ đất nước Hoa Kỳ. Ngày 17.4.1975, Quốc Hội Mỹ đã chính thức bác bỏ khoản quân viện 722 triệu đô la cho Việt Nam Cộng Hòa. Có nghĩa là Việt Nam Cộng Hòa phải tự lực xoay sở cứu lấy mình, Hoa Kỳ đã hoàn toàn phủi tay đứng ngoài cuộc. Thật mỉa mai. Mười hai năm về trước của năm 1975, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị sát hại vì không chấp thuận sự hiện diện của quân đội Mỹ. Mười hai năm về sau của năm 1963, chẳng ai xua đuổi mà quân đội Mỹ vẫn cứ ung dung rút chạy ra khỏi Việt Nam.
Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III & Quân Khu III trong một nỗ lực cuối cùng ngăn chận đoàn quân giặc sắp sửa tràn xuống Sài Gòn, đã điều động Trung Đoàn 8 của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, dưới quyền của Trung Đoàn Trưởng Trung Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng tăng viện Lực Lượng 3 Kỵ Binh Xung Kích. Trung Tá Hùng cùng Trung Đoàn 8 Bộ Binh đang giữ thị trấn Phú Giáo ở phía Bắc căn cứ Lai Khê, bản doanh của Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Trung Tá Hùng từng là Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 43 Bộ Binh, nên ông rất quen thuộc thông thổ Long Khánh. Nhưng khi ông được cử đi học khóa Tham Mưu Cao Cấp tại Hoa Kỳ từ năm 1972 cùng với Chuẩn Tướng Khôi, thì Đại Tá Lê Xuân Hiếu lên thay. Trung Tá Hùng xuất thân từ binh chủng Nhảy Dù, ông từng chỉ huy hai Đại Đội Dù tấn công vào Dinh Độc Lập ngày 1.11.163 để lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Khi được gọi về trình diện Trung Tướng Toàn nhận nhiệm vụ đánh Dầu Giây, Trung Tướng Toàn hỏi Trung Tá Hùng chỉ huy Trung Đoàn 8 được bao lâu rồi. Chuẩn Tướng Đảo và Chuẩn Tướng Khôi cùng có mặt lúc đó đã dành nhiều lời nồng hậu cho Trung Tá Hùng, nên Trung Tướng Toàn vui vẻ thăng cấp ngay lên Đại Tá cho ông. Nhưng vì trong văn phòng Tư Lệnh Quân Đoàn lúc đó chỉ có ba ông Tướng, nên sĩ quan tùy viên phải chạy ra ngoài tìm lon mới cho vị Đại Tá tân thăng. Khi Trung Đoàn 8 đến Hưng Nghĩa trên những chiếc GMC, Đại Tá Hùng nhận lệnh Chuẩn Tướng Khôi chỉ huy luôn Chiến Đoàn 322, với nhiệm vụ đánh thông Quốc Lộ 1. Mặc dù Đại Tá Hùng cùng Chiến Đoàn 322 cố gắng mở cuộc đột phá rất quyết liệt xông qua ấp Hưng Nghĩa và Hưng Lộc, Chiến Đoàn của Đại Úy Bản đánh từ Đồi 122, nhưng Trung Đoàn 95B Cộng Sản kháng cự dữ dội, quân ta không qua được, vì vậy mà Trung Đoàn 95B bị thiệt hại quá nặng, buộc Sư Đoàn 341 phải trở lại thay thế nó.
Sư Trưởng Đại Tá Trần Văn Trấn của Sư Đoàn 341 tân lập non kém mới từ miền Bắc vào Nam thận trọng hơn Nam Lửa nhiều. Biết mình biết người, Trấn đã cất công đi trinh sát tỉ mỉ vị trí và trận thế của quân ta. Khu vực trách nhiệm của Sư Đoàn 341 ở hướng Tây Bắc Xuân Lộc nhờ có địa thế hiểm trở bảo vệ, nên cuộc tấn công của sư đoàn này vào Trung Đoàn 52 Bộ Binh của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng tương đối “dễ thở” hơn từ hướng Đông Bắc khá trống trải của Sư Đoàn 7 Bắc Việt. Trấn cho Trung Đoàn 266 chia nhiều cánh tấn công vào khu trường trung học, chỗ Đại Đội 18 Trinh Sát của Đại Úy Phạm Hữu Đa và vào khoảng đường ngoặt vòng gọi là Ngã Ba C. Các máy bay yểm trợ hỏa lực Hỏa Long C119 của Không Quân đã tức tốc bao vùng và xạ kích dữ dội xuống những chiếc áo màu rêu lổn nhổn ngoài 5 lớp kẽm gai phòng thủ, cộng thêm với quyết tâm của Đại Úy Đa và em út của ông, Trung Đoàn 266 bị đánh bật trở ra ngoài. Những thành phần khác của Trung Đoàn 266 Bắc Việt mở mũi đột phá định xông về hướng Đông xuyên qua vị trí của Tiểu Đoàn 340 và 342 Địa Phương Quân dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Long Khánh. Hai Tiểu Đoàn 5 và 7 của Trung Đoàn 266 Cộng Sản bị quân Trinh Sát và Địa Phương Quân đánh tan nát, tiểu đoàn còn lại với 300 bộ đội buộc phải bỏ trận địa tìm cách đi vòng qua khỏi trường trung học và đã xâm nhập sâu 300 thước vào tỉnh lỵ Xuân Lộc. Khu chợ Xuân Lộc, nhà thờ, bến xe đò, Tiểu Khu Long Khánh tràn ngập địch quân. Đến 7 giờ 40 sáng, quân Trung Đoàn 266 của Sư Đoàn 341 đã bắt đầu quậy phá thành phố, nhưng quân ta vẫn kiểm soát phần lớn Xuân Lộc.
Tại mặt trận phía Tây, Trung Đoàn 270 Bắc Việt tiến đánh căn cứ Núi Thị và Gia Tân, nhưng chạm phải sức kháng sự kiên quyết của Tiểu Đoàn 2, Trung Đoàn 43 Bộ Binh làm nó bị khựng lại. Mới chỉ bị tổn thất có 12 bộ đội mà Trung Đoàn 270 đã vội vã chém vè (rút lui) về vị trí xuất phát chờ lệnh mới. Để đương đầu với tất cả những mũi dùi đột phá và những cánh quân vào sâu trong Xuân Lộc của quân Cộng, Chuẩn Tướng Đảo tung ra một đợt phản công rất quyết liệt. Từ lúc 11 giờ trưa, lực lượng trừ bị của Sư Đoàn 18 là Tiểu Đoàn 1 của Trung Đoàn 48, do Trung Tá Trần Minh Công làm Trung Đoàn Trưởng, cùng với các thiết kỵ của Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh bắt đầu hoạt động càn quét địch. Sư Đoàn 341 liền gọi Trung Đoàn 270 còn nguyên vẹn lực lượng gửi một tiểu đoàn thọc ngang hông Tiểu Đoàn 1/48 để chận bước tiến của quân ta. Nhưng ở trên chiến trường Long Khánh này, phía địch đã mất hết yếu tố bí mật, các đơn vị địch dần dần lộ diện và tập trung đông đảo. Đó là điều mà Chuẩn Tường Đảo và Sư Đoàn 3 Không Quân cùng Pháo Binh chờ đợi từ những ngày đầu thiết kế. Càng tập trung quân phía địch càng lâm vào thế thất lợi và thiệt hại lớn, vì dễ dàng làm mồi cho các loại hỏa lực rất hùng hậu của quân ta. Những dàn đại pháo 130 ly, 122 ly từng gây nhiều sóng gió trên những mặt trận khác đã tỏ ra vô hiệu quả trên chiến trường.
Long Khánh. Những khẩu 105 ly và 155 ly được Đại Tá Hưng, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Đoàn 18 phân tán ở những vị trí được ngụy trang cẩn thận, ông còn cho xe ủi đào những đường sâu rộng trong đất và kéo pháo xuống dấu, chỉ còn ló lên mũi súng. Chiến sĩ Pháo Bnh được đất mẹ bảo vệ chung quanh nên rất ung dung và hăng hái yểm trợ hỏa lực cho chiến hữu Bộ Binh. Chiến thuật rải quân chận địch ngay ngoài chu vi thị xã của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 18 đã ngăn chận hiệu quả thành phần tiền sát viên địch bám sát vào các vị trí pháo của ta để chỉ điểm tọa độ. Cho nên, trong trận Xuân Lộc, pháo binh địch chỉ bắn dò dẫm như những anh mù và pháo bừa bãi vào khu dân cư, gây tội ác lên dân chúng vô tội rất giống thời An Lộc, Quảng Trị và Kontum của mùa hè 1972. Phụ tiếp với Tiểu Đoàn 1/48, Tiểu Đoàn 1/43 và hai Tiểu Đoàn 340, 342 Địa Phương Quân mở cuộc tảo thanh khu trục thành phần Trung Đoàn 266 của Sư Đoàn 341 xâm nhập tỉnh lỵ hồi sáng. Trung Đoàn 266 liều chết cố bám thành phố nên đã cam chịu thiệt mạng đến 600 cán binh.
Tại khu vực trách niệm của Sư Đoàn 6 tân lập Cộng Sản, áp lực của sư đoàn này đè nặng lên các tiểu đoàn Địa Phương Quân về hướng Tây Xuân Lộc. Trung Đoàn 274 Cộng quân tấn công xã Trần Hưng Đạo và chiếm được đoạn Đèo Mẹ Bồng Con. Đây là con đường đèo thấp chạy xuyên qua một khu rừng cao su, địa thế rậm rạp, rất thuận lợi cho địch quân thiết trí chốt từ Ngã Ba Dầu Giây về phía Xuân Lộc. Trung Đoàn 33 của Sư Đoàn 6 hỗ trợ cho Trung Đoàn 274 bằng cuộc tiến đánh làng Hưng Nghĩa và Hưng Lộc trệch về phía Tây Ngã Ba Dầu Giây. Nhưng thật ngạc nhiên và thật ngỡ ngàng cho cánh quân đánh Hưng Lộc, khi đơn vị Nghĩa Quân Long Khánh ở đây người ít, súng kém mà đã đánh quá hăng, làm quân Trung Đoàn 33 không vào được. Ý định khống chế Ngã Ba Dầu Giây cũng không thành vì Tiểu Đoàn 1/52 Bộ Binh của quân ta đã ngăn chận được. Tuy nhiên trận chiến đấu càng kéo dài thì Sư Đoàn 18 Bộ Binh càng không còn đủ quân số để hành quân càn quét những chốt chận trên Quốc Lộ 1 ở khu vực này, quân ta chỉ có thể giữ chắc những chiến tuyến án ngữ hướng tiến của địch.
Mạnh Hải Flickr
Ngày đầu tiên bị thất lợi và thiệt hại trên khắp mọi hướng tấn công, Hoàng Cầm, Tư Lệnh Quân Đoàn 4 Cộng quân kiêm Mặt Trận Long Khánh buộc phải chấp nhận lời thỉnh cầu của Tướng Bùi Cát Vũ, Tư Lệnh Phó, điều động thành phần dự bị là Trung Đoàn 141 nhập cuộc. Các Trung Đoàn 165, 209 đều nhận thêm chiến xa và đơn vị phòng không để khai diễn đợt tấn công kế tiếp. Sư Đoàn 341 lệnh cho Trung Đoàn 270 tìm cách xâm nhập thành phố để “chi viện” (danh từ tăng viện tiếp cứu mặt trận của phía Việt cộng) Trung Đoàn 266 đang rách nát tả tơi. Cũng khoảng 5 giờ 27 sáng ngày 10.4.1975, Quân Đoàn 4 Bắc Việt mở màn cuộc tấn công đợt hai vào Xuân Lộc bằng 1,000 trái đạn pháo đủ loại vào thành phố. Đạn nổ tứ tung và bừa bãi chỉ gây đổ nát thêm cho nhà cửa dân chúng, nhưng không hề hấn gì đối với chiến sĩ Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Vì từ những ngày trước khi mặt trận nổ, Chuẩn Tướng Đảo đã cho di chuyển các đơn vị ra thiết trí ngoài thành phố và di tản tất cả gia đình binh sĩ và thương binh về Biên Hòa. Một số dân chúng cũng được trực thăng Chinook CH 47 bốc về nơi an toàn. Nên hy vọng sẽ tạo nên một bãi máu thịt kinh khiếp như thời An Lộc của Tướng Hoàng Cầm đã không gây được một mức độ đáng kể nào, ngoài những đống gạch, tôn thiếc cháy đổ ngỗn ngang khắp nơi. Chuẩn Tướng Đảo còn chu đáo bố trí những trạm quan sát trên những cao điểm để phát giác các điểm đặt súng đại bác của địch, từ đó dàn nhạc Pháo Binh của Đại Tá Hưng và Không Quân dội xuống tiêu diệt chúng. Hoạt cảnh chiến bại lập lại y hệt một cách lạ lùng như ngày 9.4.1975. Trung Đoàn 209 vẫn bị Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân ghìm chân ở phía phi trường. Trung Đoàn 165 Cộng quân vẫn không qua được Trung Đoàn 43 của Trung Tá Trần Minh Công, mà lại hao tốn thêm 5 chiếc T54 nữa. Thế mới đau.
Cũng giống như ngày hôm trước, đến trưa hai Tiểu Đoàn 1/43 và 1/48 của Sư Đoàn 18 làm thành hai gọng kềm đánh từ ngoại ô vào và từ lòng thành phố ra để dọn dẹp bộ đội Sư Đoàn 341 ẩn náu trong thành phố. Nhiều tù binh trẻ măng, quá trẻ là đằng khác, chỉ khoảng 16, 17 tuổi, bị quân ta bắt được trong trạng thái kinh hoàng tột độ. Đó là những em bé còn ngồi ở ghế nhà trường bị Cộng Sản đem xe đến xúc đi chở vào quân trường. Ở đó những thiếu niên nạn nhan này được huấn luyện qua loa chạy, nằm, trườn, bò, cách bắn súng, thảy lựu đạn trong vòng không quá một tuần lễ, để rồi bị thảy vào lò lửa miền Nam. Rất nhiều cậu bé mặt mũi xanh xám vì chết khiếp nằm núp trong những ống cống mà băng đạn còn nguyên xi trong ổ AK chưa bắn một viên nào. Cuộc trường chinh làm tay sai cho quốc tế Cộng Sản của bọn Cộng Sản khát máu Hà Nội chính là một cuộc trường thiên đại tàn sát thế hệ trẻ và người dân vô tội hai miền Nam Bắc.
Thất bại buổi ban ngày, bọn tướng tá cộng vẫn không chịu cam tâm khuất phục, chúng tiếp tục khuấy phá thành phố suốt đêm với 2,000 trái đạn pháo. Chúng đang áp dụng chiến thuật làm sức lực quân ta tiêu hao, mệt mỏi vì mất ngủ như đã làm ở An Lộc. Nhưng những chiếc C130 trang bị đại bác 20 ly của Sư Đoàn 3 Không Quân Việt Nam đã cất cánh lên vùng trời Long Khánh xạ kích yểm trợ quân bạn. Quân cộng lại thối lui, những trục đường tiếp liệu và tải thương gặp nhiều khó khăn vì phi cơ Không Quân bắn dữ quá.
Mạnh Hải Flickr
Mặt trận Long Khánh bước sang ngày thứ ba 11.4.1975, Hoàng Cầm lệnh cho Sư Đoàn 341 bằng mọi giá phải đánh thủng chiến tuyến của Trung Đoàn 43 Bộ Binh để bắt tay với Sư Đoàn 7. Lúc 5 giờ 30 sáng, pháo binh địch đã dội một cơn bão lửa xuống thành phố Xuân Lộc trong vòng nửa tiếng đồng hồ. Màn lửa đạn của chúng dần dần chuyển về phía Núi Thị và Tân Phong để yểm trợ khu vực tấn công của Sư Đoàn 7 Bắc Việt. Nhưng thật khốn khổ cho lũ cán binh địch, nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì. Hai cánh quân của Sư Đoàn 341 và 7 Cộng quân vẫn bị đánh văng trở ra y hệt như hai ngày trước, trong khi đó chiến sĩ Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã tái chiếm lại được gần hết những vị trí bị giặc xâm nhập trong Xuân Lộc. Sư Đoàn 7 có 300 cán binh bị thương, Sư Đoàn 341 có 1,200 bị thương. Đó là con số của phía Cộng quân công bố, trong thực tế con số này còn cao hơn nhiều. Ngoài ra Hoàng Cầm cũng thừa nhận là tất cả súng không giật 85 ly và 57 ly sau ba ngay giao chiến đều đã bị Sư Đoàn 18 Bộ Binh hủy diệt hết. Hơn 100 chiếc xe vận tải của địch rùng rùng tuôn xuống từ phía Bắc trên Quốc Lộ 20 bị Không Quân Việt Nam chận đánh dữ dội buộc phải quay đầu tháo chạy.
Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh xung trận
Tuy rằng Quân Đoàn 4 Bắc Việt đang bị ghìm chân ở Long Khánh và bị thiệt hại rất nặng, nhưng Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhận định rằng, ý nghĩa của mặt trận Long Khánh không phải chỉ liên quan mỗi vấn đề phòng thủ, mà còn là tinh thần chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nếu quân ta có thể gây tổn thất nặng nề cho quân Cộng, chiến thắng đó sẽ gây tác dụng tốt trong tình thế hiểm nghèo của Việt Nam Cộng Hòa, và có thể lật ngược được cán cân đang rất bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Vì thế, bằng mọi cách phải khai thác chiến thắng Xuân Lộc và củng cố hùng khí chiến đấu của Sư Đoàn 18 bằng cách gửi một lực lượng chia sẻ bớt sức ép của địch trong tỉnh Long Khánh. Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, vừa mới lên nhận chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn III & Quân Khu III thay thế Trung Tướng Dư Quốc Đống chưa được mấy thời gian, đã rất bận rộn đương đầu với vấn đề sinh tử của quốc gia. Tướng Toàn lập tức điều động Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, được tăng cường Biệt Động Quân và Pháo Binh để trở thành Lực Lượng Kỵ Binh Xung Kích Quân Đoàn III, vào mặt trận Long Khánh. Nhiệm vụ tiên khởi của Chuẩn Tướng Khôi sẽ là khai thông trục Quốc Lộ 1 từ xã Hưng Nghĩa cho đến Ngã Ba Dầu Giây. Chuẩn Tướng Khôi đã tổ chức Lực Lượng Xung Kích thành ba chiến đoàn như sau, mỗi chiến đoàn gồm một Chi Đoàn Kỵ Binh, một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân và một Pháo Đội Pháo Binh:
Chiến Đoàn 315, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Đỗ Đức Thảo.
Chiến Đoàn 318, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Đức Dương.
Chiến Đoàn 322, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Văn Liên. Lực Lượng Kỵ Binh Xung Kích Quân Đoàn 3 từng gây kinh hoàng cho giặc trong chiến dịch Toàn Thắng đánh sang các căn cứ ẩn núp và kho hậu cần của Cộng Sản trên đất Kampuchea năm 1970, 1971. Rồi đến những chiến dịch An Điền, Rạch Bắp, Tam Giác Sắt của năm 1973. Được đặt dưới quyền của Chuẩn Tướng Trấn Quang Khôi và những sĩ quan cấp Tá trẻ tuổi đầy tài năng, Lực Lượng 3 Xung Kích thực sự là một quả đấm bằng thép giáng vào bất cứ đội hình cứng nào của giặc và đánh cho nó bể vỡ ra thành nhiều mảnh nhỏ. Sự ra đi của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh khỏi Tây Ninh ít nhiều cũng làm giảm thiểu sức mạnh của Sư Đoàn 25 Bộ Binh, dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá, đang đối đầu với Quân Đoàn 3 Bắc Việt. Chuẩn Tướng Bá chỉ còn có thể trông cậy vào Thiết Đoàn 10 Kỵ Binh cơ hũu của Sư Đoàn. Đoàn chiến xa M 48 của Lực Lượng 3 Xung Kích hành quân nhanh chóng đến Hưng Nghĩa trong ngày 11.4.1975 liền đụng độ ngay với chốt của Sư Đoàn 6 Cộng Sản gần Hưng Lộc. Chiến Đoàn 315 tiếp tục theo con đường số 1 húc tới, Chiến Đoàn 318 rẽ lên phía Bắc để bảo vệ cạnh sườn Lực Lượng Xung Kích, đồng thời tìm con đường bọc vòng qua chốt địch. Chuẩn Tướng Khôi thiết lập Bộ Chỉ Huy Lực Lượng tại Trảng Bom.
Mạnh Hải Flickr
Cuộc tiến quân của Chiến Đoàn 315 chậm chạp vì địa thế rừng núi phức tạp hai bên quốc lộ, chiến xa của Kỵ Binh chỉ có thể tiến hàng một trên con đường nhựa và đã gặp khó khăn vì không thể dàn đội hình xung phong dội hỏa lực tiêu diệt chốt địch. Biệt Động Quân được gọi lên bứng chốt. Con đường Hưng Lộc – Dầu Giây làm gợi nhớ con đường máu Chơn Thành – Tàu Ô của Bình Long 1972. Sư Đoàn 6 Cộng Sản bám chặt Quốc Lộ 1, giống như Sư Đoàn 7 Cộng Sản giữ cứng ngắt Quốc Lộ 13 hồi mùa hè 1972. Cuộc chiến đấu của Biệt Động Quân kéo dài dằng dai qua đến ngày 13.4.1975. Ý định cho Lực Lượng 3 Xung Kích bắt tay với Trung Đoàn 52 Bộ Binh của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng đang bố trí quân gần Quốc Lộ 20 ở đoạn Ngã Ba Túc Trưng và ở phía Tây Bắc Xuân Lộc đã không thực hiện được.
Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù tăng viện mặt trận
Trong lúc Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh cầm chân Sư Đoàn 6 Bắc Việt tại Ngã Ba Dầu Giây, Chuẩn Tướng Đảo vẫn tiếp tục mở những cuộc phản công càn quét quân giặc tại Xuân Lộc. Tiểu Đoàn 2/48 đang giữ an ninh cho thị xã Hàm Tân, Bình Tuy, được gọi về tăng cường cho Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Một tin vui nữa bay đến làm nức lòng quân dân Xuân Lộc. Trung Tướng Toàn quyết định ném Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù vào mặt trận. Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh rút về từ Quân Khu I đang làm nhiệm vụ bảo vệ Sài Gòn và tổng trừ bị cho Bộ Tổng Tham Mưu. Sự ra đi của Lữ Đoàn 1 Dù đã để lại một khoảng trống lớn tại Sài Gòn, nhưng nếu quân Dù có thể đánh thắng Quân Đoàn 4 Bắc Việt tại cửa ngỏ dẫn vào Sài Gòn là Long Khánh để giúp nâng cao tinh thần chiến đấu chung của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thì đó là việc phải làm. Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù với một lực lượng hùng hậu gồm Tiểu Đoàn 1, 2, 8 và 9 Dù, cộng với Tiểu Đoàn 3 Pháo Binh Dù, quân số 2,000 chiến sĩ. Bộ Tổng Tham Mưu đã tận lực giúp Trung Tướng Toàn bằng cách huy động 100 chiếc trực thăng UH 1 và nhiều Chinook CH 47 để câu những khẩu đại bác vào vị trí chiến đấu. Hai Tiểu Đoàn Dù được không vận, một chiến thuật quen thuộc và thần tốc của quân Mũ Đỏ, nhảy ngay lên Quốc Lộ 1 ở phía Nam Xuân Lộc chiếm lĩnh và càn quét những thành phần địch bám giữ ở đó. Một Tiểu Đoàn Dùø khác nhảy xuống thiết lập chiến tuyến trong khoảng rừng cao su gần đồn điền cũ của Đại Tướng Lê Văn Tỵ, hình thành thế bao vây một tiểu đoàn của Sư Đoàn 7 Cộng Sản Bắc Việt. Một Tiểu Đoàn Dù cuối cùng nhảy vào Xuân Lộc tăng viện cho lực lượng của Đại Tá Phúc, Tỉnh Trưởng Long Khánh. Cũng nhân cơ hội quí giá này, dân chúng và thương binh còn bị kẹt trong thành phố đã được bốc ra khỏi chiến trường an toàn.
Trước khi Lực Lượng 3 Xung Kích tiến quân lên Quốc Lộ 1, thì Tiểu Đoàn 1/52 trấn giữ ấp Phan Bội Châu bị áp lực rất nặng của Trung Đoàn 33, Sư Đoàn 6 Bắc Việt, nhưng chiến sĩ Tiểu Đoàn đã giữ chắc vị trí. Mặc dù Trung Đoàn 52 đang gặp nhiều khó khăn, con số chiến thương càng lên cao, nhưng Chuẩn Tướng Đảo vẫn quyết định gọi Tiểu Đoàn 2/52 đang giữ ấp Nguyễn Thái Học trở về tăng viện Xuân Lộc ngày 10.4.1975. Tiểu Đoàn 3/52 của Thiếu Tá Phan Tấn Mỹ ở gần đó nhận lệnh gửi hai đại đội trám chỗ cho Tiểu Đoàn bạn. Cuộc hành quân trở về Bộ Tư Lệnh của Tiểu đoàn 2/52 là cả một chuỗi chiến đấu hào hùng trong vòng vây thắt ngặt của giặc. Trước hết các chiến sĩ Tiểu Đoàn 2/52 len lỏi trên con đường mòn giữa rừng tìm cách bọc vòng qua Trung Đoàn 274 của Sư Đoàn 6 Cộng quân đang chốt chận trên khoảng Đèo Mẹ Bồng Con. Quân ta lầm lũi đi suốt đêm trong cánh rừng cao su gần ấp Núi Tùng. Nhưng đến rạng sáng ngày 11.4.1975 thì Tiểu Đoàn 2/52 chạm phải một đơn vị Cộng Sản đang chiếm giữ ấp. Cuộc tao ngộ chiến diễn ra dữ dội và kéo dài đến 4 giờ chiều, quân địch tháo chạy, quân ta tiếp tục cuộc hành trình ngay trong đêm đó và đã đến được khoảng đường Ngã Cua C. Sáng ngày 12.4.1975, Tiểu Đoàn 2/52 lại va phải một đơn vị địch khác từ phía sau lưng. Dĩ nhiên chiến sĩ ta không bỏ lỡ cơ hội nện lên lưng địch một cú để đời, tống tiễn 60 cán binh xuống địa ngục và tịch thu đúng 60 súng AK. Trận đánh này đã kết thúc đoạn đường máu trong vòng vây giặc để Tiểu Đoàn 2/52 bắt tay được với Trung Đoàn 43 Bộ Binh trấn giữ thành phố. Song song với cuộc chiến đấu của Tiểu Đoàn 2/52, các Tiểu Đoàn Dù của Lữ Đoàn 1 Dù sau nhiều trận giáp chiến đã đi đến giai đoạn bao vây Tiểu Đoàn 8 của Sư Đoàn 7 Bắc Việt tại khu vực xã Bảo Định.
Mạnh Hải Flickr
Cộng Sản Hà Nội rúng động
Sau những ngày tháng 3.1975 thắng lợi một cách giả tạo, tin chiến bại của Quân Đoàn 4 báo cáo về đã làm cho Hà Nội bàng hoàng rúng động. Chỉ mới có ba ngày giao chiến mà bọn chúng đã giật mình kinh hoảng, cho thấy cái lá gan thỏ đế của chúng lớn đến như thế nào. Từ đó người ta có thể rút ra được kết luận rõ rãng, rằng bọn chính trị và tướng tá giặc chỉ giỏi khoác lác mồm miệng khi có được sự may mắn nào đó, và rất nhanh chóng lộ rõ bản chất hèn nhát khi chạm phải thực tế phũ phàng. Mới có ba ngày giao tranh thôi, chưa hẳn Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã hoàn toàn thắng thế, vậy mà những khuôn mặt “lớn” của chiến dịch xâm lăng như Lê Đức Thọ, Chính Ủy, Văn Tiến Dũng, Tư Lệnh, Trần Văn Trà, Tư Lệnh Mặt Trận Miền Đông, đã rối rít kéo nhau về họp để cùng “tái lượng định” tình hình, để cuối cùng nặn ra một kế hoạch nhục nhã như sau. Ngày 13.4.1975, Trần Văn Trà sẽ xuống tận hiện trường để xem bọn Hoàng Cầm, Bùi Cát Vũ làm ăn bết bát thế nào, nếu cần thì Trà đích thân chỉ huy.
Tưởng là Trà sẽ có kế sách gì hay ho lắm để tiếp tục tấn công, bản thân ông ta cũng thấy quá khó khăn khi đối đầu với Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo, những sĩ quan chỉ huy trẻ thao lược và chiến sĩ Sư Đoàn 18 Bộ Binh dũng mãnh. Đến đây đã lộ rõ sự thật về tinh thần và sức mạnh tác chiến của binh đội Bắc Việt. Một quân đội mà chỉ được xây dựng trên sự ép buộc dã man như bắt thanh niên đi lính, nếu trốn tránh thì cứ đè cha mẹ họ ra mà cắt hộ khẩu cho chết đói; trên sự hằn thù giết chóc: bộ đội buộc phải tiến về phía trước, chính trị viên và cấp chỉ huy dí súng đằng sau lưng, nếu bỏ chạy về phía Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa xin hàng là bị chúng bắn, hay bỏ chạy về phía sau cũng bị bắn luôn, thậm chí bị xích vào vị trí chiến đấu. Và trên hết một quân đội được xây dựng hoàn toàn bằng sự nói láo và xô đẩy cán binh vào chỗ chết vì sự dối trá tàn nhẫn ấy, thì làm sao bọn tướng tá giặc có thể hy vọng cán binh của chúng thực tâm chiến đấu cho những tham vọng và ảo vọng khát máu của chúng cho được. Bởi vậy trận đánh Xuân Lộc ba ngày chiến bại chứng minh hoàn toàn quân đội miền Bắc là một đạo quân rời rã mà chỉ được kết dính bằng thứ keo của bạo lực, nhồi sọ, căm thù và láo khoét.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.