Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

Post on January 21st, 2022

Post by Sơn râu 4 May 2024

(Kỳ 49)

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Yamato ra lịnh gia tăng khoảng cách các chiến hạm lên 5,000m, một khoảng cách căn bản để chống không kích. Yahagi và 7 khu trục hạm khác gia tăng tốc lực, và các xạ thủ vào vị trí chiến đấu.

6 khẩu pháo 150 ly, 4 khẩu phòng không 80 ly và 40 khẩu đại liên của Yahagi đều chĩa thẳng lên trời. Trưa đến, không có một dấu hiệu nào cho thấy sắp xảy ra một cuộc tấn công, đầu bếp mang bữa trưa đến các vị trí chiến đấu. Mọi người ăn uống vội vã. Tôi rất hài lòng khi nhìn thấy sự chuẩn bị chu đáo này. Sự lo lắng của tôi biến mất và tôi biết chiếc Yahagi sẽ ghi điểm thắng đầu tiên.

Vào lúc 12g20, radar của Yamato phát hiện “rất nhiều phi cơ địch còn cách 30 km ở hướng 35 độ mạn trái,” và ra lịnh cho tất cả các chiến hạm hướng về phía trước với tốc độ tối đa và chuẩn bị chống phi cơ.

Mệnh lịnh được thi hành nhanh chóng. Tất cả chiến hạm đều đạt tốc độ 30 hải lý. Với Komura và các sỹ quan khác, tôi leo lên đài chỉ huy tác xạ nằm phía sau đài chỉ huy chính. Những cuộn sóng khổng lồ nổi lên sau khi soái hạm Yamato lướt ào ạt trên mặt biển với tốc lực tối đa. Ðại thiết giáp hạm 72,400 tấn này đã thu hút muôn ngàn cặp mắt đổ dồn vào nó.

Yamato đã trở thành niềm tin thần thánh với toàn thể binh chủng Hải quân. Niềm tin này càng dâng cao khi Yamato trở về an toàn sau trận đánh ở vịnh Leyte mà không bị một vết sướt nào, trong khi thiết giáp hạm cùng lớp Musashi bị đánh chìm. Ðề đốc Morishita, từng chỉ huy Yamato trong trận Leyte, hiện là tham mưu trưởng của Ito, nên tôi nghĩ ông sẽ đem may mắn cho chiếc tàu này một lần nữa. Không ai có thể tưởng tượng chiếc thiết giáp hạm vĩ đại này sẽ chìm trong hai giờ nữa.

Ngay cả đứng trên đài chỉ huy, chúng tôi vẫn không thể thấy phi cơ bay đến. Mây sà thấp trên mặt biển ở cao độ 1,500m, và một cơn mưa luồng thình lình trút xuống bao phủ mọi cảnh vật. Thời tiết tồi tệ như thế là cùng. Hiện thời phi cơ địch chắc chắn đã ở trên đầu, nhưng vì mây che phủ nên chúng tôi không nhìn thấy. Mặc dù hỏa lực của Yahagi được loại radar mới hướng dẫn, nhưng chỉ hữu hiệu với các mục tiêu trên biển mà bất lực trước các mục tiêu trên không. Nếu phi cơ địch bất thần chui ra khỏi mây, tôi biết rằng mọi loại súng thông thường của chúng tôi bó tay, ngay cả thời gian nhắm bắn cũng không đủ.

Một quan sát viên la lớn: “Hai phi cơ địch trước mũi tàu! Mạn trái!”

Tôi nhìn lên. Không phải hai mà là hai mươi, bốn mươi và có thể nhiều phi cơ hơn nữa thình lình chui ra khỏi mây. Tôi ra lịnh khai hỏa, đồng hồ chỉ đúng 12g32.

Thay vì chúi xuống tấn công ngay lập tức, các phi cơ bay vòng tròn theo chiều kim đồng hồ, ngay phía dưới những cụm mây. Sau đó, một trong ba nhóm phi cơ này tách ra, bay vòng tròn ngược lại chiều kim đồng hồ. Diễn biến lạ lùng đã gây rối loạn cho chúng tôi. Các xạ thủ cố gắng điều chỉnh tầm súng, nhưng không thể nào khai hỏa kịp.

Ðịch đang ngắm nghía nạn nhân của họ. Một vài chiến hạm khai hỏa lẻ tẻ và sau đó bắt đầu khai hỏa toàn diện. 9 đại pháo 460 ly của Yamato bắn 9 trái đạn loại số 3 – tức loại đạn nổ trên không – nhưng còn cách mục tiêu quá xa. Thình lình, tất cả các phi cơ đảo cánh và chúi xuống như sấm sét, nhắm vào các mục tiêu đã chọn lựa, trong lúc đa số súng trên các chiến hạm Nhựt vẫn còn loay hoay định hướng.

Nhóm phi cơ đầu tiên chúi xuống tuần dương hạm Yahagi là 4 oanh tạc cơ Avenger. Tất cả mọi loại súng trên tàu đều khai hỏa, cùng lúc với loạt bom được thả xuống. Tôi ra lịnh bẻ hết tay lái về phía phải. Chiếc Yahagi đáp ứng lịnh này một cách hoàn mỹ. Mấy quả bom rơi xuống cách tàu 500m, tạo ra những cột nước thực cao.

Nhóm phi cơ thứ hai đâm đầu thực sát vào chiếc Yahagi là các khu trục cơ Hellcat. Tôi nhìn thấy cả gương mặt của viên phi công khi hắn ta cho phi cơ lên cao trở lại, vượt ngang qua phía trước. Ðạn đại liên máy bay bắn như vãi trấu, chạm trổ dọc theo thân tàu, nhưng rất may là không có thủy thủ nào trúng đạn. Các xạ thủ vẫn giữ vững vị trí và bắn không ngừng nghỉ, nhưng đều phí công vô ích.

Tôi liếc mắt một vòng, nhận thấy tất cả các chiến hạm đều chạy với tốc lực tối đa, gây những làn sóng trắng xóa trên đại dương đồng thời mọi loại hỏa lực đều lên tiếng. Nhìn xuống mặt nước, tôi phát hiện nhiều làn bọt sủi lên một cách bất thường. Tôi hiểu ngay đó là ngư lôi do phi cơ địch thả xuống đang lướt tới.

“Xoay phải lập tức! Tốc độ tối đa!” Tiếng hét của tôi cùng lúc với hàng chục chiếc phi cơ đang chúi đầu xuống. Những quả bom màu đen tạo nên những tháp nước màu trắng vượt cao lên không cả trăm mét. Sau loạt bom, các chiến đấu cơ quày lại và sà thấp xuống quạt đại liên vào chúng tôi. Mọi loại súng giăng một tấm màn lửa lên không trung. Cả hai phía vẫn chưa ai ghi điểm.

Một quan sát viên la chói lói: “Thêm nhiều oanh tạc cơ mới!” Tôi hét: “Bẻ lái sang phải lập tức!” Xoay gấp rút, chiếc tuần dương hạm 8,500 tấn hơi lảo đảo, khiến cho hướng nhắm của tất cả súng trên tàu đều sai lệch, nhưng phi cơ địch cũng phải điều chỉnh lại góc độ oanh tạc.

Khi nhóm phi cơ thứ tư đã đến trên đầu, phòng truyền tin báo chiếc Asashimo đang bị tấn công. Không có thời gian để nghĩ đến chiếc tàu hỏng máy đơn độc này, chúng tôi còn mắc bận lo bảo vệ lấy thân. Cho Yahagi lướt xuyên qua tấm màn bom đạn, và một lần nữa, chúng tôi thoát khỏi. Bây giờ tôi mới nghĩ đến chiếc Asashimo. Với máy móc trục trặc, chiếc tàu này khó có thể sống sót. Ðối phương đã dồn hết nỗ lực để đánh hải lực chính của chúng tôi trong khi vẫn còn thừa một số phi cơ để truy đuổi một kẻ chạy lang thang ở cách xa hơn 20 dặm, là một việc kỳ dị không thể tưởng.

Thiết giáp hạm Yamato vẫn lao hết tốc lực về phía trước. Các khu trục hạm chạy quanh, thoạt ẩn thoạt hiện trong làn sóng bủa cao trên mặt đại dương, tô điểm thêm bằng những chiếc nấm khổng lồ do những quả bom tạo nên. Nhiều quả bom lạc xa, gần trúng hoặc trúng mục tiêu, khiến quang cảnh thay đổi liền liền, từ ngoạn mục sang hồi hộp, đến khủng khiếp.

Nhiều phi cơ khác lại ùa đến quyết nhận chìm chiếc Yahagi, nhưng nó vẫn thoát khỏi. Ðiều này khiến tôi yên tâm, vì nhận thấy lối chạy uốn éo và xoay trở nhanh chóng không ngờ lại tránh né phi cơ địch một cách hữu hiệu. Nếu có đầy đủ thời gian cân nhắc, tôi sẽ không cho tàu chạy theo lối này.

Một vạch nước trắng xóa chĩa thẳng vào chiếc tàu. Ngư lôi địch! Tôi ra lịnh bẻ lái, nhìn xuống, và thở hổn hển. Ba quả ngư lôi lao xé tới cách tàu vài mươi mét. Ðó là ngư lôi do các oanh tạc cơ địch vừa thả xuống. Không theo dõi những kẻ tấn công đang vượt qua như sấm động trên đầu, tôi nhìn chăm chăm theo những vạch nước sủi bọt. Một lần nữa, chiếc Yahagi vẫn đứng vững trong cơn bão tố. Nhưng ngay lúc đó, chiếc tàu bỗng rùng mình. Một quả ngư lôi đánh trúng mạn trái, chính giữa thân tàu, ngay dưới mực nước.

Và một biến cố kế tiếp mà ngày nay tôi không sao tin được. Chiếc Yahagi chạy một cách lừ đừ, chậm chạp đâu khoảng vài phút rồi khựng lại thình lình và dừng hẳn. Một chiến hạm to lớn như thế này mà bỗng nhiên chết đứng chỉ vì một quả ngư lôi duy nhứt chạm phải là điều khó chấp nhận. Nỗi ngẩn ngơ của tôi càng gia tăng khi tôi nhìn xuống đồng hồ: 12g46. Nghĩa là chúng tôi mới chiến đấu có được 12 phút.

Tôi yêu cầu phòng máy báo cáo tình trạng hư hại. Không ai trả lời. Tôi gọi lại, nhưng vẫn như lần trước. Bây giờ tôi hiểu ngay là quả ngư lôi đã trúng ngay phòng máy. Tôi than trời, nhưng đối phương không cho phép than thở. 6 chiếc phi cơ khác chúi xuống thả bom. Tôi nhìn thấy rõ ràng một quả bom trúng ngay sàn giữa và nổ tung, đốn ngã ít nhứt 10 thủy thủ, có 6 cái xác bay tung lên không. Tiếp theo một tiếng nổ ở phía sau đuôi khiến toàn thân chiếc Yahagi rung chuyển dữ dội.

Một thoáng, tôi nhớ lại hình ảnh chìm dần của chiếc tàu hải vận Tokyo Maru, nạn nhân của một quả ngư lôi duy nhứt trúng ngay buồng máy. Cùng lúc, tôi nhớ lại hình ảnh 2 thiết giáp hạm khổng lồ Repulse và Prince of Wales của Anh, cả hai đã bị đánh chìm bởi một số phi cơ Nhựt ít hơn số phi cơ đang đối đầu với chúng tôi rất nhiều. Niềm tin trong lòng tôi bỗng tiêu tan.

Một thủy thủ hối hả leo lên tháp báo cáo: “Ngư lôi phá vỡ buồng máy và nước đã tràn vào đầy cả rồi!”

Tôi hỏi: “Ðóng các vách ngăn chưa?”

“Ðang làm công việc này, thưa Ðại tá.”

Chiếc tàu nghiêng về mạn phải ở một mức độ đáng ngại. Tôi nghe Komura nói: “Hamakaze tiêu rồi!” Tôi nhìn sang phía trái, về phía Komura đang nhìn trừng trừng, tôi chỉ kịp thấy cái bụng sơn màu đỏ chói của chiếc Hamakaze trước khi nó biến mất giữa những lượn sóng.

Chúng tôi chưa kịp đắp điếm vết thương thì một cuộc tấn công mới lại ùa đến. Uchino chạy xuống cầu thang để ra lịnh cho các xạ thủ. Ðó là lần cuối cùng tôi thấy viên hạm phó xuất sắc của mình. Tất cả mọi loại súng đều khai hỏa, và lần đầu tiên trong trận đánh này, Yahagi bắn hạ hai phi cơ địch.

Chiếc tàu, đã chết đứng trên mặt nước, nhận lãnh bom đạn của hết loạt phi cơ này đến loạt phi cơ khác. Phi công địch can trường đâm thẳng vào hàng rào hỏa lực của chúng tôi. Ðuôi chiếc tàu lại trúng bom và rung chuyển dữ dội. Tôi nhìn ngoái lại, và thấy 3 xác người tung lên cao có gần 20m. Cùng lúc, Yahagi lĩnh thêm một quả ngư lôi nữa vào đằng mũi.

Chiếc tàu rung như một tờ giấy căng trước gió. Bám chặt vào chấn song của tháp chỉ huy, tôi thấy rõ lỗ thủng vĩ đại ở mũi Yahagi do quả ngư lôi gây ra. Ðộ nghiêng gia tăng nhanh chóng. Một nhóm oanh tạc cơ và chiến đấu cơ khác lại ùa đến, và tất cả đều dồn hết hỏa lực vào chiếc mũi đã bị vỡ. Những tràng đại liên đinh tai nhức óc của phi cơ địch được chấm câu bằng tiếng nổ dữ dội của một quả bom trúng thẳng vào pháo tháp số 1, thổi bay toàn thể pháo thủ và nghiền nát những người đứng ở sàn giữa. Một điều lạ lùng là không có quả bom nào trúng đài chỉ huy chính hoặc tháp chỉ huy tác xạ. Nhưng tất cả đinh tán đều long ra hết, khiến hai nơi đây rung động liên hồi, không biết sụp xuống lúc nào. Sườn của pháo tháp số 1 vẫn còn nguyên nhưng áp lực của quả bom 250 cân Anh thổi bay tất cả vách thép dày bao chung quanh. Khói màu vàng cay nồng len lỏi qua các lỗ thủng bay lên. Giữa cảnh tàn phá, tôi sửng sốt khi nghe một tiếng la to của sỹ quan pháo thuật, Ðại úy Hatta, ra lịnh tháo nước vào kho chứa đạn của pháo tháp số 1. Khói màu vàng tan dần vì lửa bị dập tắt. Nếu kho đạn này nổ, chiếc tàu sẽ vỡ vụn, những kẻ còn lại không mong gì sống sót. Nhưng kho chứa đạn đầy nước sẽ khiến cho độ nghiêng của chiếc tàu càng trầm trọng thêm.

Phi cơ địch vẫn tấn công không ngừng nghỉ, và nhóm kế tiếp đã oanh tạc trúng đích nhiều đến nỗi tôi không thể nào đếm xuể. Khi chuỗi tiếng nổ chấm dứt, tôi rùng mình nhận thấy nhiều ụ súng và các xạ thủ đều biến mất. Một cấp chỉ huy có thể chịu đựng bao lâu trước cảnh thuộc cấp của mình lần lượt bị xé nát? Vẫn chưa trái bom nào trúng đài chỉ huy chính hoặc đài chỉ huy tác xạ.

Tôi bừng tỉnh khi phòng ngư lôi gọi tên tôi. Ðó là Thiếu Tá Takeshi Kameyama, yêu cầu cho phép phóng tất cả ngư lôi trong ống. Ông ta nói: “Nếu các quả ngư lôi này nổ, tàu sẽ bị phá tung.”

Tôi chấp thuận. Lập tức, một loạt 16 quả ngư lôi được phóng ra. Tôi tưởng tượng đến cảnh hư hại mà những quả ngư lôi này có thể gây ra cho hạm đội địch. Ðó là tưởng tượng ở giây phút cuối cùng của định mệnh.

Hành động của Thiếu tá Kameyama không sớm quá một giây. Quả ngư lôi cuối cùng vừa thoát ra mặt nước, nhiều quả bom rơi xuống phá tung các ống phóng và đốn ngã tháp sau của Yahagi. Vẫn an toàn trên đài chỉ huy, tôi nhìn về phía cuối tàu và nhận thấy chiếc máy phóng phi cơ của chúng tôi đã tan ra từng mảnh. Chiếc phi cơ duy nhứt, một phút trước đây vẫn còn toàn vẹn, hiện tại là một đống sắt vụn. Một vài khẩu súng vẫn còn lên tiếng và nhiều thủy thủ mình mẩy đẫm máu vẫn chưa chịu rời bỏ vị trí chiến đấu.

Hàng loạt oanh tạc cơ Avenger tiếp tục ùa đến như những làn sóng, và hàng loạt ngư lôi ném xuống. Tôi không thể nào biết rõ bao nhiêu quả đã trúng vào chiếc tàu. Tiếng nổ hàng loạt khiến cho con tàu đang hấp hối của chúng tôi rung lên từng cơn. Cuối cùng tiếng nổ chấm dứt, nhưng độ nghiêng vẫn tiếp tục gia tăng trong lúc sóng biển bắt đầu tẩy sạch những vũng máu trên sàn tàu và những xác chết lần lượt lăn xuống mặt biển.

Và bây giờ làn sóng cuối cùng của khoảng 100 phi cơ địch đã thi hành xong nhiệm vụ và bay đi. Tôi nhìn quanh. Tất cả pháo tháp đều bị thiêu rụi. Chiếc tuần dương hạm đầy kiêu hãnh của tôi bây giờ chỉ còn là một đống sắt nổi trên mặt nước, nhưng lạ lùng thay, tôi nghĩ, không hề có một đốm lửa nào. Nhìn cảnh tượng kỳ quái này, tôi chực nhớ lại hình ảnh tuần dương hạm San Francisco của Hoa Kỳ, chiếc tàu giống như ma quỷ đó đã khiến cho chiếc Amatsukaze suýt tan tành trong đêm tối bưng ở gần Santa Cruz. Hiện thời Yahagi cũng là một chiếc tàu ma. Không vật gì còn động đậy trên sàn tàu. Ða số thủy thủ đã bị tiêu diệt.

Nhưng trên đài chỉ huy mọi người đều lành lặn. Ðề đốc Komura nói: “Hara, tôi đề nghị tốt hơn là chúng ta nên rời khỏi đây ngay bây giờ, nếu không tôi sợ sẽ lỡ dịp. 250 phi cơ địch hình như đã làm xong nhiệm vụ của chúng.”

Tôi không biết nói sao. Tôi cúi đầu và sau đó ấp úng: “Thực đáng tiếc, thưa Ðề đốc.”

“Chúng ta hãy chuyển soái kỳ sang một trong những khu trục hạm, và cố gắng tiến đến mục tiêu của chúng ta ở Okinawa. Anh nghĩ thế nào?”

Tôi nghĩ thế nào? Ðể mất chiếc tàu và thủy thủ đoàn. Gánh nặng đang oằn xuống vai.

“Hãy nhìn kìa, Hara, khu trục hạm Isokaze vẫn còn hoạt động!” Thực đáng kinh ngạc khi tôi nhận thấy Isokaze vẫn còn nằm đúng vị trí của đội hình vòng tròn trước đây, cách phía trái chúng tôi khoảng 3,000m. Chiếc tàu hình như không bị hư hại gì và đang hướng mũi chạy về phía chúng tôi. Ðó là một vài giây hy vọng trong trận đánh.

“Phải rồi, thưa Ðề đốc, chúng ta đành bỏ rơi Yahagi.” Và tôi gọi: “Truyền tin, yêu cầu Isokaze tiếp cứu khẩn cấp!”

Sau lịnh của tôi, đèn hiệu cực mạnh được chớp lên và đồng thời một nhân viên truyền tin cũng sử dụng tín hiệu bằng cờ. Chúng tôi truyền miệng cho các thủy thủ sống sót chuẩn bị bỏ tàu, Isokaze đáp lại tín hiệu của chúng tôi, và xả hết tốc lực chạy về phía Yahagi. Còn cách khoảng 1,000m, Isokaze giảm tốc lực và từ từ tiến sát vào chúng tôi. Tôi ra lịnh bỏ tàu.

Nhưng một quan sát viên la lên: “Phi cơ địch!” Một phút sau, một làn sóng oanh tạc cơ và chiến đấu cơ Mỹ ùa đến. Chiếc Isokaze chỉ còn cách chiếc Yahagi 200m. Nhiều phi cơ đang tấn công soái hạm Yamato đã tách ra một số để đuổi theo chiếc khu trục hạm di chuyển chậm chạp này. Isokaze đã xả hết tốc lực để lẩn tránh, nhưng phi cơ địch xuất hiện mọi lúc mọi nơi, cùng với bom rơi xuống như mưa. Tiếng nổ rền rền cho đến khi chiếc Isokaze biến mất trong một cột khói màu đen.

Yahagi đã gây họa cho Isokaze. Trường hợp vừa xảy ra không khác với trường hợp chiếc Shigure của tôi khi tuần dương hạm Sendai bị tấn công ở vịnh Nữ hoàng trước đây, nhưng lúc ấy tôi đã từ chối lời yêu cầu tiếp cứu của chiếc tàu này.

Sau khi thanh toán xong Isokaze, phi cơ địch quay lại Yahagi, những gì còn lại trên tuần dương hạm này lại bị đạn đại liên cày thêm một lượt nữa. Tôi chỉ biết bám vào song sắt của đài chỉ huy một cách tuyệt vọng.

Khi cơn quằn quại của Yahagi hạ xuống, tôi ngẩng đầu lên, và kinh ngạc nhìn thấy chiếc Isokaze nhô ra khỏi bức tường khói dày đặc bao quanh. Mang thương tích, nhưng vẫn còn sống, chiếc tàu đang cố gắng tháo chạy. Phi cơ địch quay lại, chúi mũi xuống, và một lần nữa, chiếc tàu biến mất trong màn khói.

Sau khi đảo cánh rời khỏi khu trục hạm Isokaze, phi cơ địch cảm thấy cần phải chào từ giã chiếc tuần dương hạm đang hấp hối của tôi. Chúng tôi không còn biết làm gì khác hơn là bám vào song sắt để chịu trận. Nhưng hiện thời bom đạn không làm chúng tôi sợ hãi bằng những cơn giật nẩy mình trước khi tắt thở của chiếc tàu.

Trung úy Yukio Matsuda, sỹ quan hoa tiêu, đã gom được hơn một chục thủy thủ bị thương và đang cố gắng mang họ xuống một xuồng cấp cứu. Hành động này đã chọc tức 3 máy bay địch. Cả ba đã tập trung hỏa lực, đập tan chiếc xuồng ra thành từng mảnh và dìm 13 xác chết xuống khoảng biển đẫm máu.

Các thủy thủ còn lại trên tàu đều nhảy xuống nước. Ðịch quân không cho họ kịp thở. Một làn sóng khác của khoảng 100 phi cơ ào đến dội bom và bắn vào tất cả những gì còn động đậy. Kỳ lạ thay, Komura cùng một vài sỹ quan khác và tôi đứng trên đài chỉ huy tác xạ, giữa cảnh đổ nát của chiếc tàu mà vẫn không hề hấn gì. Nhìn ra xa, tôi nhận thấy chiếc Isokaze gần như bất động, và mặc dù không bốc cháy, chiếc tàu lắc lư không khác gì say rượu. Cách đó không xa, chiếc Suzutsuki đang bốc cháy, tuôn ra từng cuồn khói đen mù mịt. Và chiếc Kasumi chạy xiêu vẹo, tín hiệu bằng cờ cho biết bánh lái của nó bị trục trặc.

Thiết giáp hạm Yamato thoạt nhìn có vẻ như vẫn còn trong tình trạng an toàn. Ở một khoảng cách 3 dặm, tôi không làm sao biết được đại chiến hạm từng là niềm kiêu hãnh của Hải quân này đang lâm vào tình trạng tồi tệ không kém gì tuần dương hạm Yahagi. Hai khu trục hạm Yukikaze và Fuyutsuki chạy lướt qua lướt lại nhanh như thoi đưa trong nỗ lực can đảm nhằm bảo vệ soái hạm khổng lồ.

Vẫn chưa hài lòng với một Yahagi trong cơn hấp hối, làn sóng thứ 5 với hơn 100 phi cơ nữa lại ùa đến. Ðạn bay veo véo quanh tôi. Không còn biết sợ là gì nữa, tôi nghiến chặt răng: “Phải rồi, mấy tên Yankee quỷ quái này, tụi bay hãy dứt điểm đi.”

Như để đáp lại lời tôi, tiếng rít của một viên đạn bay đến trúng vào cánh tay trái và đẩy tôi ngã chúi. Lúc ngã xuống, tôi lại càng kinh ngạc hơn khi nhận thấy những lượn sóng đã mấp mé đến đài chỉ huy, nơi mà hiện tại chỉ còn mình tôi và Ðề đốc Komura.

“Bây giờ, Hara, chúng ta nên đi chưa?” Komura hỏi một cách bình tĩnh.

“Ði!”

Trong lúc chúng tôi tháo bỏ giày vớ, tôi vẫn kịp nhận ra lúc ấy là 14g06. Phi cơ địch lại gầm thét trên đầu. Sóng bủa lên đầu gối lúc chúng tôi nhảy ra khỏi đài chỉ huy. Bơi đâu được khoảng một vài thước, tôi cảm thấy một sức mạnh khổng lồ lôi tôi mạnh xuống đáy biển. Tôi chòi đạp, vùng vẫy, nhưng vực nước xoáy do một chiếc tàu chìm tạo ra có một hấp lực không thể nào chống trả nổi. Tôi chịu thua, không vùng vẫy nữa, chấp nhận cái chết…

Đồi Charlie. Thiên Sử Ca bi hùng

baotreonline.com

Tim Nguyễn

Post on August 25th, 2022

Post by Sơn râu 3 May 2024

Vừa qua, khi hoa hải đào còn đỏ rực thành phố, Nguyễn được Lê Khắc Ngọc Quỳnh gởi cho một video clip mang tựa đề ‘Ðồi Charlie. Hát Cho Những Người Nằm Lại’. Ðó là cuộc chiến Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972 trên vùng núi đồi Dakto Tân Cảnh. Video quay lại hình ảnh cây rừng bao la trùng điệp, con đường đi lên đỉnh ngọn Charlie. Tất cả gợi dậy trong lòng Nguyễn nhiều cảm xúc. Ðỉnh đồi Charlie, đây là nơi nằm lại của Trung tá Nguyễn Ðình Bảo và đồng đội thuộc Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù trấn giữ biên cương. Với Nguyễn hình ảnh Trung tá Nguyễn Ðình Bảo là rất đỗi thân thương. Trung tá là anh của Nguyễn Ðình Tín, bạn cùng dạy học với Nguyễn ngày xưa ở Nguyễn Ðình Chiểu, Mỹ Tho. Ôi, Trung tá Nguyễn Ðình Bảo và các chiến sĩ  Dù trấn giữ đồi Charlie. Công sự phòng thủ còn đó. Qua năm mươi năm vẫn còn nhắc lại thiên sử ca của một thời. Những tấc đất, những ngọn cỏ dãi dầu sao trông thân yêu, gần gũi đến thế. Cách ngọn đồi Charlie chừng 30 cây số ở về phía đông là Eo Gió, tức vùng Tam Biên mà Nguyễn và Kim Tuấn cùng các phóng viên đã đến thăm nơi các chiến sĩ Thiết Giáp trấn đóng vào mùa hè 1973. Ôi đâu rồi những bông cỏ hồng ngày xưa trong nắng gió ngút trời.

Như thế đó… Vừa xem xong những thước phim về vùng đồi nơi chiến sự mùa hè 1972 thì đọc thấy trên trang báo Thời Luận của Ðỗ Tiến Ðức ở Cali bài về người chiến sĩ cuối cùng của Charlie: Thiếu tá John Duffy. Theo ghi nhận trong bài viết ngày 8 tháng 8 vừa qua của Tôn Thất Hùng thì Thiếu tá John Duffy và Thiếu tá Lê Văn Mễ là 2 chiến binh cuối cùng lên trực thăng Cobra giữa vòng vây máu lửa của địch quân sau khi Trung tá Nguyễn Ðình Bảo đã ở lại cùng với gần 3/4 tiểu đoàn 11 Nhảy Dù. John Duffy là cố vấn cho Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù được Trung uý Y sĩ Tô Phạm Liệu mệnh danh là Ðỗ Phủ, thi hào nổi tiếng đời Ðường, do đọc trại chữ Duffy. Quả không sai. Ðầu tháng 7 /2022 được TT Joe Biden tưởng thưởng huân chương cao quý nhất “Medal of Honor” ông đã cho xuất bản tập thơ “The battle for Charlie”: ca ngợi tinh thần chiến đấu can trường của Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù để cho những người Mỹ và những ai kia biết tiếng Anh biết rõ về chiến tranh VN mà đã từ rất lâu đã bị báo chí Mỹ bôi bác viết sai sự thật.

Tập Thơ diễn tả sống động từng giây phút sinh tử giữa vòng vây lửa đạn của quân thù, những anh hùng Tiểu đoàn11 Nhảy Dù vị quốc vong thân làm nên thiên anh hùng ca quyết tử lưu lại ngàn thu. Bên cạnh bản chính tiếng Anh có bản dịch sang tiếng Việt: Người Khinh Binh Cuối Cùng Tại Căn Cứ Charlie. Và Amazon đã giới thiệu The Battle for “Charlie” của John Duffy là “A battalion of South Vietnamese paratroopers made a stand reminiscent of the Spartans at Thermopylae in 480 BC.” (Một tiểu đoàn Nhảy Dù của Nam Việt Nam đã giữ vững một vị trí làm nhắc nhớ đến các dũng sĩ Spartan tại Thermopylae vào năm 480 trước Công nguyên.)

Bìa tờ nhạc “Anh ở Lại Charlie” 

Người viết là Phó Quận trưởng Dakto, cựu sinh viên Quốc gia Hành chánh, vào tháng 10/1969 và tháng 3/1970 đã có dịp lên cao điểm nổi tiếng Charlie này. Ðó là lần ông John Paul Vann, Cố vấn quân đoàn II lên Dakto vào tháng 10/1969. Không có Trung tá Quận trưởng, ông ta yêu cầu Hùng cùng bay trực thăng thị sát Charlie với ông.

Tác giả Tôn Thất Hùng cảm khái: Chúng ta những người Việt Nam yêu tổ quốc kính gửi lời tri ân đến TÐ11 Nhảy Dù, những anh hùng đã vị quốc vong thân. Nay sau hơn 50 năm đã được chính Thiếu tá Duffy can trường nhân hậu coi thường mạng sống chính mình đã đưa được các đồng đội còn sót lại của Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù về được nơi an toàn.

Chúng ta lại một lần nữa tri ân Thiếu tá John Duffy đã viết lại thiên anh hùng ca về những anh hùng Tiểu Ðoàn 11 Nhảy Dù đã công khai minh chứng cho dư luận Mỹ và thế giới biết rõ về chiến tranh VN và Quân lực VNCH. Trung úy Y sĩ Tô Phạm Liệu nay đã về cùng với đồng đội Nhảy Dù của ông nơi cõi vĩnh hằng, chắc ông Bác sĩ tay cầm súng cũng quen như cầm ống nghe hẳn mỉm cười thán phục thi hào “Ðỗ Phủ”  thân thương của mình.

Cũng về tác giả thiên sử thi ‘Ðồi Charlie’, mới đây Ðài truyền hình CBS News ghi nhận thêm: Chưa bao giờ một người nhận huy chương Medal of Honor đồng thời là một thi sĩ. Nhưng Thiếu tá hồi hưu John Duffy đã biến những ngày lửa đạn của mình thành một thiên sử ca. Nhà báo David Martin của CBS News hỏi Thiếu tá John Duffy: Nhiều người lính đã viết văn kể lại cuộc đời chiến binh của mình. Tại sao ông lại chọn viết bằng thơ? Và Thiếu tá John Duffy trả lời: Tôi muốn vẽ lại bức tranh của cuộc chiến đấu và toàn cảnh của trận chiến nơi ấy. Tên gọi Trận Chiến Ðồi Charlie là tên của căn cứ hỏa lực nhằm ngăn chặn cuộc tiến quân của Cộng Sản Bắc Việt Nam vào xâm chiếm vùng trọng tâm của Cao nguyên. Duffy là vị cố vấn của lực lượng Dù được cử trấn giữ căn cứ hỏa lực Charlie.

Hãy dũng cảm, các đồng đội ơi,

Chúng ta còn biết làm gì hơn

Hoặc giết kẻ thù hoặc bị chúng giết.

Thơ của John Duffy còn vang lời kêu gọi thống thiết:

Trận chiến giằng co khốc liệt

Những chiến sĩ đang hấp hối và các thương binh

với lời than trong gió

Phải chăng đây là vinh quang

Cựu Thiếu Tá John Duffy nhận huân chương “Medal of Honor” từ TT Biden – nguồn CBS News

Martin hỏi lại Duffy: Phải chăng đây là vinh quang? Duffy trả lời: Không. Ðây là chiến trận.

Cựu Thiếu tá John Duffy, như chúng ta biết, từng theo chân tiểu đoàn Dù của Trung tá Nguyễn Ðình Bảo, bám sát bước tiến của quân Bắc Việt.

Qua suốt cuốn thơ, dường như ông không tỏ ra thù hận kẻ thù. Ðó là câu hỏi Martin đặt ra cho Duffy. “Không đâu. Không đâu. Họ chiến đấu cho những gì họ tin tưởng. Chúng tôi chiến đấu cho những giá trị chúng tôi tin. Tính chất của cuộc chiến tranh là như thế”. Ðó là câu trả lời của Duffy. Và ông cảm thấy sung sướng được sống sót để viết tập thơ này.

Gần 50 năm đã trôi qua. Ðồi Charlie còn đó qua thời gian mưa nắng. Trong thiên sử ca của một thời. Hình ảnh Trung tá Nguyễn Ðình Bảo và các chiến sĩ Dù còn đó. Vâng. Ðúng thế. Giờ đây tất cả cùng sống lại trong những câu thơ của cựu Thiếu tá John Duffy. Và trong tâm tưởng người dân Việt.

TN – Tổng Hợp

Cha sẽ trở về

baotreonline.com

Tim Nguyễn

Post on June 9th, 2022

Post by Sơn râu 3 May 2024

Nhân lễ Father’s Day, xin mời các bạn cùng với Tim trở lại với hai bộ phim ngắn nổi tiếng về mối tình cha con. Cả hai đều là phim hoạt hình được giải thưởng lớn về điện ảnh.

Xin bắt đầu với phim thứ nhất.

Một hôm tình cờ vào trang blog của một cô gái có nick là Carie, Nguyễn tôi được xem bộ phim Father and Daughter. Kịch bản và đạo diễn là Michael Dudok de Wit. Nhạc nền của cuốn phim là bản ‘Les Flots du Danube’ tức The Danube Waves (Sóng Danube) của Iosif Ivanovici.

‘Father and Daughter’, kiệt tác của đạo diễn người Hòa Lan, từng đọat giải Oscar phim ngắn hay nhất năm 2001. Nó kể lại với chúng ta bằng những nét vẽ hoạt hình đơn giản về mối tình cảm động giữa cha và con gái. Trong 8 phút ngắn ngủi ta được thấy hình ảnh hai cha con đi dạo chơi bằng xe đạp tới một bờ sông thơ mộng. Dựng xe bên một gốc cây, hai cha con chạy nhảy, cười đùa với nhau thật hạnh phúc. Thế rồi bỗng một hôm người cha chia tay với con gái ra đi, có lẽ là theo mộng hải hồ. Phải rồi, như lời một nhà thơ Pháp: Le vent se lève / il faut tenter de vivre – Gió lên rồi / hãy thử sống xem sao… Ta tin ông đi để sống những giấc mơ của mình. Trước khi bơi thuyền ra khơi, người cha nhấc bổng con gái lên quay tròn trong vòng tay. Và dường như chính lúc ấy, ông đã ghé tai con thì thầm: Cha sẽ trở về. Thời gian trôi qua. Mùa xuân rồi mùa hạ, chim bay hoa nở. Thu và đông, lá rụng để trơ những cành khô trong tuyết trắng. Cô bé vẫn ngày ngày trở lại bến sông xưa tìm cha. Vòng bánh xe lăn đều, quay quay, đi và về trên con đường ngày nào. Cô bé lớn lên trong nỗi đợi chờ mòn mỏi. Và rồi, một hôm kiệt sức, cô nằm xuống chiếc thuyền mục trên bờ sóng, nhắm mắt lại. Và mơ… Cô thấy cha cô trở về mà không hẹn trước. Bước ra khỏi thuyền, người cha chạy nhanh qua hàng dương, tới ôm con gái trong tay quay vòng trên bờ cát. Phải chăng ông đã giữ lời hứa trở về với con gái thương yêu. Tất nhiên là cô bé đã khóc và kêu lên những tiếng kêu hạnh phúc. Kết thúc như vậy là mở ra một bầu trời đầy sao lấp lánh, trong khi nhạc phim ‘Sóng Danube’ vút lên cao rồi tỏa dần.

Father and Daughter. Kịch bản và đạo diễn Michael Dudok de Wit. 

Một phim khác. Chuyện xảy ra ngày 9 tháng 11. 2001

Cũng trong ngày hôm ấy một bé gái mới 5-6 tuổi đang chơi với cái yo-yo đã ngừng lại tiễn cha đi làm ở khu Tòa Tháp Ðôi. Ðây là đoạn nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh viết trong bài Cây Cô Ðộc, in trong tập Bóng Bay Gió Ơi.

Ðêm qua, 15.6, trên TV, tường thuật một phim họat hình về cha và con gái, giọng nghẹn nghẹn, với âm thanh biểu cảm nhất của xướng ngôn viên Tuyết Lê tôi đã từng nghe. Phim có tên Will của đạo diễn Eusong Lee, đã đoạt giải tại The Student Academy Award vào ngày 8 tháng 6.2013 (shortoftheweek.com /2012/05/02/will/). Mở đầu và kết phim là lời của người cha được đọc bằng một giọng nam cảm động, con gái, cha sẽ không sao đâu, cha sẽ trở về, phim kể, ông là một trong hàng ngàn nạn nhân của thảm họa khủng bố ngày 11 tháng 9.2001 tại World Trade Center, buổi sáng ông chia tay con gái đi làm và rồi không về nữa, cô bé với nỗi nhớ thương cùng ý muốn mãnh liệt đã cố gắng với món đồ chơi yo-yo (mà cha cho cô trước khi đi làm) để quay ngược thời gian về lại thời điểm lúc sáng cha chia tay, và cái chết đã không xảy ra. Phim dài chỉ 4 phút, hình ảnh được thể hiện bằng những nét cắt kim cương như những vết buồn sắc nhọn cứa vào cảm xúc…

Cả hai phim đều gây xúc động. Nói lên tình của con gái đối với cha mình. Ôi, thương biết bao những người con bé bỏng ấy.

Will của đạo diễn Eusong Lee

TN

The Red Pony

vanchuongviet.rf

Tuệ Chương
Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 3 May 2024

Cách nay khoảng 25 năm, khi còn ở trong trại cải tạo, anh Trần Nguyên Bình đưa cho tôi mượn cuốn “English For Today”, tập 5, giảng về các nhà văn lớn của Mỹ. Tôi đọc bài nói về John Steinbeck, giới thiệu một cuốn tiểu thuyết hay của ông ta, cuốn “The Red Pony”.

John Steinbeck sinh năm 1902, qua đời năm 1968. Năm 1962, ông được giả Nobel về văn chương.  

Nhân vật chính trong cuốn truyện nói trên là một thằng bé, tên Jody. Thằng bé sống với cha mẹ trong một nông trại nhỏ. Trại nằm bên cạnh dãy núi đá cao. Mỗi ngày, thằng bé nằm trong bãi cỏ sau nhà, nhìn lên dãy núi, những ngọn núi phản chiếu ánh sáng mỗi sáng mỗi chiều thay đổi màu sắc khá đẹp. Tuy nhiên, điều quan trọng mà thằng bé thắc mắc là trong những ngọn núi đá cao ngất đó có những cái gì.

  “Tò mò về những điều bí mật của những ngọn núi ấy, nó nghĩ rằng nó cần biết chút ít về những ngọn núi ấy.  

– “Bên kia núi là gì vậy ba?” – Một hôm nó hỏi bố.  

– “Ba nghĩ cũng là núi. Mà sao?”  

-“Rồi bên kia nữa những núi ấy là gì?”  

– “Lại núi nữa. Sao?”  

– “Cứ núi tiếp núi?”  

– “Không. Cuối cùng chúng ta tới biển.”  

– “Nhưng trong núi ấy có gì?”  

– “Chỉ là những vách đá, bụi cây và đá và khô hạn.”  

– “Có khi nào ba tới đó chưa?”  

– “Không.”  

– “Có người nào ở trên đó không?”  

– “Chỉ có vài người thôi, ba đoán vậy. Ở đó rất nguy hiểm, vách đá cao. Mà sao? Theo ba biết, quận Monterey, hơn bất cứ nơi nào khác ở Mỹ, có nhiều ngọn núi chưa từng được thám hiểm.” – Bố thằng bé có vẻ tự hào về những điều ấy.  

 – “Và cuối cùng là biển? Nhưng!” – Thằng bé nài nỉ “giữa núi ấy, không ai biết gì cả sao?”  

– “Ồ! Có vài người biết. Ba đoán vậy. Nhưng chẳng được cái gì hết. Nước chẳng có nhiều. Chỉ có đá và vách núi và gỗ láng. Sao?”  

– “Chẳng có gì mà đi lên đó?”  

– “Để làm gì? Chẳng có gì trên đó cả.”    

Jody nghĩ có gì trên đó. Có gì đó rất kỳ diệu bởi vì những cái ấy chưa được người ta biết tới. Có cái gì đó bí mật và huyền diệu. Thằng bé tự nó cảm nhận rằng điều đó là có thật. Thằng bé nói với mẹ: “Mẹ có biết có gì trên những ngọn núi lớn ấy không?” – Mẹ nó nhìn nó rồi quay lên ngó những ngọn núi lởm chởm đó. Bà nói: “Mẹ nghĩ chỉ có gấu mà thôi.”  

– “Gấu gì?” – Thằng bé hỏi.  

– “Sao? Người ta có đi lên núi mới thấy những gì có thể thấy mà thôi.”  

(The Red Pony, trang 40, 41)    

Điều thắc mắc đó đeo đuổi thằng bé. Nó hỏi Bill Buck, người giúp việc của bố nó. Ông nầy chẳng giúp gì thêm. Một hôm, nó gặp một ông già từ hướng núi đi ra. Ông già xin nghỉ lại nhà nó một đêm. Tối lại, nó lẻn xuống phòng ông già để hỏi những gì nó thắc mắc. Ông già chỉ là người sống trong thung lũng Salinas, chẳng cho thằng bé biết thêm được gì.    

Một hôm, ông ngoại thằng bé đến thăm. Nó khoái ông ngoại hơn ba nó vì ông có rất nhiều chuyện để kể cho nó nghe, thỏa chí tò mò. Ông ta là một “Leader of the people”, nghĩa là một người từng lãnh đạo đoàn người di dân đi về miền viễn tây Hoa Kỳ, từng chống chỏi với thiên nhiên khắc nghiệt và những cuộc tấn công của mọi da đỏ. Ông là người tìm ra chiến thuật chống lại những cuộc tấn công của chúng.    

“Vâng, khi bọn da đỏ tấn công, chúng tôi thường cho xe ngựa quây thành vòng tròn và núp phía sau bánh xe để chống lại. Ông nghĩ ra rằng nếu mỗi chiếc xe ngựa mang theo một tấm sắt có lỗ châu mai để chỉa súng ra ngoài, người ta có thể đứng ngoài bánh xe quây vòng tròn, phía sau những tấm sắt đó…  

(Sđd –trang 93)    

“Và khi chúng tôi tới biển thì công cuộc đi về miền viễn tây coi như chấm dứt.”  

“Ông già ngừng nói và đưa tay chụi mắt đến nỗi làm cho khóe mắt đỏ lên.”  

“Ấy là điều ông kể với cháu thay vì ông kể chuyện.”  

“Khi Jody nói, ông nội nhìn nó chằm chằm. Jody nói: “Có thể một ngày nào đó, cháu sẽ lãnh đạo dân chúng đi nữa.”  

“Ông già cười: “Chẳng còn nơi nào để mà đi. Biển sẽ ngăn cháu lại. Nhiều người tới biển rồi thấy tức vì biển đã ngăn họ lại.”  

“Ông ơi! Cháu sẽ dùng thuyền mà đi nữa.”  

(Sđd trang 100)      

       Hồi ấy, vì đọc một bài viết trong sách, lại đọc lén cán bộ, nên tôi không nhớ tên cuốn tiểu thuyết đó là gì. Tôi muốn đọc lại, toàn bộ cuốn sách và phải mất mấy năm tôi mới tìm được tại thư viện thành phố tôi ở, sau khi nhờ một giáo sư dạy môn văn chương Anh Mỹ làm việc thiện nguyện ở đây.        

     Một cuốn sách nhỏ bàn tới ba thế hệ người Mỹ: Thế hệ thứ nhứt (Ông ngoại thằng bé Jody) là thế hệ quay về với dĩ vãng, tự hào về con đường viễn tây, chống chỏi thiên nhiên khắc nghiệt, chiến đấu chống lại người da đỏ, giành đất của họ và chỉ dừng lại khi đã tới bờ biển Thái Bình Dương.        

     Thế hệ thứ hai thỏa mãn với lãnh thổ hiện có, chăm chỉ xây dựng nông nghiệp, công nghiệp, giao thông… Đó là thế hệ cha mẹ thằng bé Jody, ít khi muốn như ông nội thằng bé, quay lại dĩ vãng.    

         Thế hệ thứ ba là thế hệ thằng Jody. Nó vẫn chưa thỏa mãn tò mò, trên núi đó có gì, sau núi đó có gì? Nếu sau núi đó là biển, cha ông nó dừng lại ở đó thì nó muốn đi nữa, không đi được bằng ngựa bằng xe như cha ông nó thì nó sẽ đóng thuyền vượt biển, tiếp nối sự nghiệp Kha Luân Bố, để, nói như Nguyễn Bá Học “đấu sức với ba đào, thi gan cùng sương tuyết để tìm những đất mới những báu lạ…” Người Mỹ vẫn chưa hết tinh thần mạo hiểm của họ sau khi họ đã tới bờ biển Thái Bình Dương.           

  Ý chí của thằng bé là muốn tiếp nối con đường đi về miền viễn tây Hoa Kỳ mà tổ tiên nó từng thực hiện hàng trăm năm trước. Biển cũng không ngăn cản ý chí nó được. Thay vì người xưa vượt qua lục địa thì nó sẽ vượt đại dương bằng thuyền.        

     Ở Mỹ, biên giới giữa Mỹ và Cananda hay Mexico thì gọi là boundary còn vùng “biên giới” miền viễn tây thì gọi là frontier. Cái frontier đó, tới bờ biển Thái Bình Dương thì chấm dứt nhưng thằng bé còn muốn đóng thuyền đi nữa, qua bên kia bờ đại dương.         

    Trước khi làm tổng thống, anh em tổng thống Kennedy cùng bạn bè thành lập ra nhóm “New Frontier” (nhà Dziên Hồng dịch là “Tân Biên Cương”). Tân biên cương nầy là ở đâu, có phải là đi xa hơn frontier cũ, tức là tiếp nối những gì cậu bé Jody nghĩ ra, mong muốn? Khi ông Kennedy làm tổng thống, các phòng thông tin Hoa Kỳ ở Việt Nam – Có lẽ phòng thông tin Hoa Kỳ ở các nước khác cũng vậy, – quảng bá rầm rộ về chương trình của nhóm “Tân Biên Cương”. Đã có lúc họ gọi Thái Bình Dương là “Biển Nội Địa” của Mỹ. Tôi không nghĩ anh em nhà Kennedy chết rồi thì chương trình nầy cũng chấm dứt. Việc hình thành khối Châu Á Thái Bình Dương hiện nay có phải là tiếp nối công trình của nhóm Tân Biên Cương, chỉ khác là người ta không dùng lại danh từ của nhóm Kennedy mà thôi.           Còn như TPP là cái gì? Nó không là “tiếp nối” Tân Biên Cương hay sao? Việc Trump rút ra khỏi TPP có đi “ngược chiều” với “con đường” Tân Biên Cương hay không?       

      Nhìn lại lịch sử, việc hình thành nhóm Tân Biên Cương cũng không phải là điều mới lạ. Tại sao sau hội nghị Yalta tháng 2-1945, thủ tướng Anh, Sir Winston thề không bao giờ nhìn vào tượng Nữ Thần Tự Do ở cảng New-York. Tại vì, trong hội nghị đó, Stalin “đi đêm” với tổng thống Mỹ Roosevelt. Mỹ sẽ làm ngơ để Liên Xô chiếm Đông Âu, ngược lại Liên Xô làm ngơ để Mỹ có ảnh hưởng ở châu Á. Hai bên lén lút làm ăn với nhau, không cho Churchill biết, gây nên một mối hận cho thủ tướng Anh.          

   Nhìn chung, những biến cố lớn kéo dài từ hội nghị Yalta cho tới nhóm “Tân Biên Cương” và việc hình thành khối Châu Á – Thái Bình Dương như hiện nay là tiếp nối công việc đóng thuyền ra biển của thằng bé Jody. Jody là nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết The Red Pony, nó là biểu tượng của thế hệ trẻ, lớn lên sau Thế Giới Đại Chiến Thứ Nhứt. Có thể tính các thế hệ đó bằng năm sinh: John Steinbeck sinh năm 1902, Kennedy sinh năm 1917, sau Steinbeck 15 năm. Những gì Steinbeck “gởi gắm” vào thằng bé Jody là điều sau nầy Roosevelt chuẩn bị để thế hệ Kennedy thực hiện.         Có thể như thế là tại vì sao?        

   Trong cuốn “English For Today”, tập 5 nói trên, các tác giả giới thiệu những nhà văn Mỹ được giải Nobel. Khi giới thiệu về William Faulkner, tác giả trích dẫn bài diễn văn ông ta đọc khi nhận giải thưởng ấy. Khi giới thiệu về tác giả đoạt giải Nobel Steinbeck, tác giả lại trích dẫn “The Red Pony”. Đó chỉ là một cuốn tiểu thuyết dày hơn một trăm trang, một câu chuyện về một thằng bé tò mò, nhưng nó là tượng trưng cho sức sống nước Mỹ, cho ý chí thế hệ trẻ của Mỹ. Người Mỹ đã không dừng lại ở bờ biển phía tây, với những mỏ vàng khổng lồ ở California, mà họ còn muốn đi nữa, để biến Thái Bình Dương thành “biển nội địa” của Mỹ. Những nhà chấm giải Nobel ở Stockhom thấy được những gì đặc sắc trong cuốn sách đó, về tác giả, về người Mỹ, mới trao giải Nobel văn chương cho ông ta. Thế giới đổi thay quá nhiều, nước Mỹ cũng vậy. Chủ thuyết của Monroe đã lỗi thời. (1)           

  Chính vì những suy nghĩ như thế mà thằng bé Jody cứ ở mãi trong tâm hồn tôi đã một phần tư thế kỷ nay.          

   Đứa bé Mỹ thì như thế, còn đứa bé Việt Nam cùng thời gian ấy thì sao? Xin độc giả đọc bài thơ sau đây:  

Ngắm Non Hồng

                    Non hồng chín mươi chín ngọn
                  Ngọn cao thứ nhất trước nhà tôi
                  Năm tuổi tôi đã biết yêu núi
                  Cách nay năm chục ngoại năm rồi

                    Thuở nhỏ vì sao tôi yêu núi
                  Yêu vì có cái dáng sợ hãi
                  Lần lần tôi biết cái đáng yêu
                  Nghe gió tung reo lòng mát rợi

                    Năm mười hai tuổi lên chùa Hương
                  Mây xô suối dắt dốc đưa đường
                  Một cảnh thanh u trên cao rộng
                  Lòng thơ lay động giữa mênh mang

                    Hái hoa ăn quả uống nước suối
                  Nước mát lòng tôi càng đắm đuối
                  Nguyện đời ở lại với non Hồng
                  Trong đám chăn bò cùng đốn củi

                    Ông thầy áo thụng ngồi giường cao
                  Sân Trình cửa Khổng đã ra vào
                  Bảo tôi trong những đống sách cổ,
                  Thiếu gì non nước để tiêu dao

                    Non Hồng từ đó càng xa cách
                  Tôi ngày chôn đầu trong đống sách
                  Bức tranh sơn thủy trong đầu tôi
                  Khuyên điểm ông đồ đà xóa sạch

                    Đường đời kế đó vạch tung ra
                  Thách tôi nếm thử bước sơn hà
                  Non Hồng ở lại không thay đổi
                  Tôi cứ đi đi mãi đến già

                    Phen nầy trở về vì việc nước
                  Ngắm lại non Hồng không khác trước
                  Ngổn ngang trăm mối chất bên lòng
                  Muốn tỏ cùng non không tỏ được

                    Đầu non mây bạc bóng tờ mờ
                  Đầu tôi tóc bạc dáng bơ phờ
                  Ngọn gì cao ngất bên non dó
                  Có phải mồ tôi đang đọi chờ

                    Chờ có một ngày tôi trở bước
                  Sang cõi vô sinh như kiếm trước
                  Linh hồn dù với xác trầm tang
                  Vẫn cứ đinh ninh lời nguyện ước

                    Bên mồ có mọc một cây thông
                  Để cho xương thịt máu vun trồng
                  Theo gió reo lên một khúc nhạc
                  Kêu vang chín chín ngọn non Hồng

                   
 Võ Liêm Sơn (1949)        

     Đứa bé trong bài thơ “Ngắm Non Hồng” ở tuổi ấu thơ cũng là một đứa bé bình thường như bao nhiêu đứa khác. Nó yêu cảnh thiên nhiên đẹp, yêu núi, yêu sông và muốn sống trọn đời trong quang cảnh đẹp đẽ nơi quê hương mình.        

     Rồi nó phải cắp sách đi học. Cái lối học từ chương của người Việt (Cho tới bây giờ vẫn còn hiện hữu một cách nặng nề), làm cho đứa bé xa dần khung cảnh đẹp đẽ nơi quê hương. Người Việt học theo cách người Tàu cứ cho rằng cái chi cũng có trong sách cả, “Thư trung hữu nữ nhan như ngọc” nên không cần tìm cái gì ở ngoài đời thực. Tuy nhiên cái học đó đã nung nấu cho cậu bé lòng yêu nước. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” huống gì với giới có học đã được người đời gọi một cách kính trọng là “Sĩ Phu”. Rồi đứa bé trở thành một nhà cách mạng, dĩ nhiên là phải chịu tù đầy. Đến khi nước nhà có cái gọi là “độc lập” rồi, tác giả bỗng sinh ra bi quan. Có phải có một cái bóng đen to lớn ghê rợn nào đó đang đe dọa tương lai của người Việt Nam.           

  Có thể điều đó là có thật và bóng đen đó chính là đảng Cộng Sản Việt Nam vì chính cậu bé đó là tác giả bài thơ: Ông Võ Liêm Sơn. Ông đã dùng bài thơ để gởi gắm tâm sự của ông vào đó. Võ Liêm Sơn đã tham gia cách mạng chống Pháp, bị tù, bị đày ra Côn Đảo. Sau khi từ Côn Đảo về, ông làm giáo sư Văn Chương Việt Nam tại trường Khải Định Huế (Nay là trường Quốc Học). Khi chiến tranh Việt Nam bùng nổ, ông về lại quê hương của ông, Hà Tĩnh. Sau một thời gian ngắn tham gia chính quyền mới (mệnh danh là cách mạng), ông xin cáo lui về sống ẩn ở nhà và qua đời năm 1949, sau khi sáng tác bài thơ nầy.           

  Đứa bé Việt Nam không có cái ước vọng gì lớn, chỉ muốn được lên chơi trên núi, trên 99 ngọn núi Hồng Lĩnh. Có lẽ trong tất cả 99 ngọn núi ấy, không có ngọn núi nào là không in dấu chân Nguyễn Du sau khi triều đình vua Lê chúa Trịnh sụp đổ, ông cũng về ở ẩn nơi quê hương của ông mà cũng là quê hương tác giả Võ Liêm Sơn.            

Thằng bé Mỹ nằm ở bãi cỏ sau nhà, nhìn lên những ngọn núi trong rặng Rocky Mountain hùng vĩ mà thắc mắc: Có gì trong những ngọn núi cao ngất ấy? Tại sao con đường Tây Tiến của người Mỹ khi gặp bờ biển Thái Bình Dương thì ngừng lại? Tại sao không đóng thuyền đi tiếp như nó đã nghĩ ra? Thằng bé, như đã nói, nó là một biểu tượng cho tinh thần người Mỹ, tuổi trẻ của Mỹ.           

  Đứa bé Việt Nam có khác đi. Nó không thắc mắc có gì trong 99 ngọn Hồng Lĩnh, nó không nghĩ tới việc mở rộng biên giới về phía Tây, phía Trấn Ninh như cha ông nó đã từng mở rộng biên giới về phía ấy sau khi đánh bại Bồn Man và Lão Qua (2). Nó chỉ muốn sống bình thường cùng với “đám chăn bò và đốn củi”.            

Đứa bé Mỹ khi chưa đi học, nó đã có tinh thần “viễn Tây”, muốn thám hiểm những ngọn núi hùng vĩ và bí mật, và muốn tiếp nối con đường viễn Tây của cha ông. Chưa đi học mà đã có cái tinh thần ấy, có phải đó là tính truyền thống, là tinh thần di truyền từ những thế hệ trước. Đứa bé Việt Nam không có cái tinh thần ấy, nó chỉ muốn “trọn đời ở lại với non Hồng” để ngao du sơn thủy. Nó yêu quê hương nó nhưng cái ý thức về dân tộc, về chủ quyền đất nước chỉ có được sau khi “Sân Trình cửa Khổng đã ra vào”. Có phải đó là sự khác biệt căn bản từ trong cá tính của mỗi dân tộc?          

   Tiếc là cuốn truyện “The Red Pony” của Steinbeck chỉ nói đến đứa bé khi nó còn bé. Còn về sau, khi nó đã lớn thì sao? Cuộc đời nó sau nhiều nỗi đoạn trường thì sao? Nó suy nghĩ như thế nào, ước muốn gì sau nhiều “bầm dập”? Không biết nó có bi quan như đứa bé Việt Nam khi tuổi đã về già? Tại sao bi quan khi về già, không tìm ra hạnh phúc của dân tộc dưới chế độ của Hồ Chí Minh hay sao?          

   Chịu ảnh hưởng triết lý đạo Phật và Lão, người Việt khi về già thường nhận chân rằng đời là hư vô, chết là đi vào cõi vô sinh. Không sinh thì không diệt, không có sự sống và cái chết, không có sướng, không có khổ. Những bi quan đó thường do thất vọng trong đời sống mà sinh ra. Nhưng linh hồn thì vẫn còn đó, trong cái mênh mông của vũ trụ cũng như trong cái nhỏ bé của ngọn cỏ lá cây.         

    Đứa bé Việt Nam rất yêu nước. Nó hy sinh cuộc đời cho tổ quốc, không ngại gian khổ, không sợ tù đầy. Và ngay khi đã đi vào cõi vô sinh, nó vẫn ước muốn có một cái gì đó tồn tại với quê hương. Đó là máu xương vun trồng cây thông, để cho thông cao lớn rườm rà, để thông đón ngọn gió trời, để “Theo gió reo lên một khúc nhạc, Kêu vang chín mưoi chín ngọn núi Hồng (Lĩnh).        

     Trong khi Nguyễn Công Trứ thì chán nản, than thở, từ chối làm người:            Kiếp sau xin chớ làm người
                  Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
                  Giữa trời vách đá cheo leo
                  Ai mà chịu rét thì trèo với thông
          

   Đúng là tiếng thông reo của Nguyễn Công Trứ (mà reo) xem ra lạnh lẽo và buồn tẻ hơn tiếng “Kêu vang chín chín ngọn non Hồng” của Võ Liêm Sơn. Tuy vậy, xem ra cuộc đời của một đứa bé Việt Nam không có gì vui vẻ tươi sáng so với một đứa bé Mỹ.           

  Những thế hệ trẻ Việt Nam, từ khi Pháp xâm lăng Việt Nam, thiếu nhiều may mắn. Nếu như đứa bé Mỹ thừa hưởng một gia tài giàu có và vững mạnh, nó chỉ có việc tiếp nối tinh thần mở mang bờ cõi, mạo hiểm tìm ra của cải đất đai mới làm giàu cho đất nước nó, thì xem ra đứa bé Việt Nam không có cái may mắn ấy.        

     Đứa bé Việt Nam thừa hưởng cái gì?        

   Ngay từ nửa đầu thế kỷ 20, Tản Đà đã nói tới cái gia tài cha ông ấy:   

                  Nọ bức dư đồ đứng thử coi
                  Sông sông núi núi khéo bia cười
                  Biết bao lúc mới công vờn vẽ
                  Sao đến bây giờ rach tả tơi!
                  Ấy trước ông cha mua để lại
                  Mà sau con cháu lấy làm chơi
                  Thôi thôi chớ trách chi đàn trẻ
                  Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi!

  
(Bức Dư Đồ Rách – Tản Đà)          

   Không bàn tới những chữ đúng ở nghĩa đen mà không đúng ở nghĩa bóng, như chữ “mua” (Ấy trước ông cha mua để lại). Trong nghĩa bóng, không phải mua mà chiến đấu và xây dựng với nhiều máu và nước mắt.  Tản Đà biểu “thôi để rồi ta sẽ liệu bồi”. Bồi là dán lại hay tài bồi (vun xén). Nghĩa nào cũng có thể được nhưng xem ra sức thư sinh trói gà không chặt như Tản Đà thì ông chẳng tài nào làm được gì hết! Bao nhiêu thế hệ rồi, bao nhiêu đấu tranh và xương máu rồi, nào ai làm được gì dâu! Dân tộc vẫn điêu linh, vẫn sống trong vòng nô lệ, vẫn dựa dẫm và tuân lệnh các cường quốc… để người Việt cai trị người Việt, đàn áp và bóc lột người Việt.       Một bên nước Mỹ với một tinh thần trẻ, tháo vát, mạo hiểm, xây dựng và mở mang, họ đang nắm vai trò hàng đầu thế giới còn Việt Nam với tinh thần như Võ Liêm Sơn, Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Lý Tống, Nguyễn Lô, Phan Nhật Nam, v.v… lại đang cầm đèn đỏ. Lỗi tại ai?!    

Biết bao nhiêu hy sinh, bao nhiêu xương máu thành núi thành sông! Đáng thương nhất vẫn là những người trẻ. Họ đã chôn vùi tuổi trẻ đâu đó, trong rặng Trường Sơn, ngoài biển rộng, trên đồng hoang, trên những thành thị điêu tàn vì chiến tranh.    

Càng nghĩ tới tuổi xuân của bao nhiêu người chôn vùi trong lửa đạn, dĩ nhiên trong đó có cả tuổi xuân anh em tôi nữa, (3), để ngày nay tổ quốc, dân tộc ta được gì! Chắc chắn đó là những nỗi ngậm ngùi của ông cha ta ngày trước, của chúng ta ngày hôm nay và cả con cháu chúng ta ngày sau nữa!  
  Giữa mùa tuyết
(1) Monroe, tổng thống Hoa Kỳ. Đế quốc Tây Ban Nha tan rã khiến nhiều nước Mỹ Châu La Tinh giành được độc lập. Hoa Kỳ thương thuyết để mua lại vùng Florida. Tổng thống James Monroe của Mỹ công nhận những quốc gia Mỹ Châu La Tinh vừa giành độc lập.
Từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19, tình hình châu Âu diễn biến rất phức tạp vì những mâu thuẫn giữa các nước lớn châu Âu như Pháp, Anh và Nga khiến người Mỹ không muốn can thiệp vào những vấn đề rắc rối ở cựu lục địa. Thông điệp của tổng thống James Monroe gởi quốc hội hôm 2 tháng 12/1823, đặc biệt đề cập đến thái độ bất can thiệp nầy. Đó là điều sau nầy người ta gọi là “Học thuyết Monroe”
Sau thế giới chiến tranh lần thứ nhất (1914-1918), chính quyền Hoa Kỳ quay trở lại với “học thuyết Monroe”, không muốn can thiệp vào các vấn đề quốc tế, đặc biệt là châu Âu. Học thuyết nầy ngày nay đã lỗi thời. (2) Năm 1479, Lê Thánh Tôn cho quân đi đánh Bồn Man và Lão Qua, thu nhận lãnh thổ hai nước nầy vào lãnh thổ Việt Nam.
(3) Mẹ tôi sinh bốn người con trai: Anh cả tôi bị Pháp thủ tiêu ở Huế năm 1950, khi anh ấy làm chủ tờ báo Ý Dân, chống Pháp. Em út tôi là Hoàng Ngọc Hùng (Hùng móm) hy sinh ngày 14-7-1972 khi chỉ huy một đại đội Dù về chiếm lại cổ thành Quảng Trị. Người anh kế tôi qua đời sau khi đi “tù cải tạo” về. Nay chỉ còn lại một mình tôi đang tỵ nạn Cộng Sản ở Mỹ.  

Võ Liêm Sơn
     V
õ Liêm Sơn (1888-1949): Hiệu Ngạc Am sinh năm Mậu tý (1888) tại xã Hữu Ngoại nay là xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh trong một gia đình nho học có truyền thống yêu nước lâu đời.
     Từ nhỏ Võ Liêm Sơn đã theo đuổi Hán học, rồi học tiếp chữ Pháp, năm 1911 ông đỗ Thành Chung ở trường Quốc học Huế được bổ làm giáo học ở đạo Ninh Thuận, năm 1912 ông đỗ cử nhân Hán học khoa Nhâm Tý ở trường thi Quy Nhơn. Sau một thời gian học hậu bổ, ông được bổ tri huyện Duy Xuyên – Quảng Nam nhưng không đầy một năm ông bị huyền chức chuyển về Huế làm Thừa Biện. Trong thời gian này ông bắt đầu đọc sách của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, từ năm 1915-1918 ông lại được bổ làm giáo thụ rồi Kiểm học ở Phú Yên, năm 1919 chế độ học quan của Nam Triều bị bỏ, ông lại được điều ra Huế dạy Hán văn và Việt văn ở trường Quốc học.
     Khi Tân Việt cách mạng Đảng thành lập, ông được kết nạp và nhà ông trở thành nơi đi lại và hội họp của các đảng viên. Năm 1930 ông và người con trai đầu là Võ Bỉnh Sơn bị bắt và đưa về giam ở nhà lao Hà Tĩnh gần một năm, sau khi được tha ông lại vào Huế, tại đây Khâm sứ Trung Kỳ Y-vơ Sa-ten (Yvé Châtel) đã nhiều lần mua chuộc ông nhưng ông không chịu ra làm quan. Năm 1934, ông sáng lập Tân Văn Nghệ Tùng thư nhưng mới xuất bản được 2 cuốn sách thì bị khám nhà tịch thu sách vở và bị bắt giam mấy ngày. Sau cách mạng tháng Tám, năm 1947 Võ Liêm Sơn được chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hò bổ nhiệm làm Trưởng ban tuyên truyền kháng chiến, Uỷ viên uỷ ban kháng chiến hành chính đồng thời được cử làm Chủ tịch Mặt trận Liên việt Hà Tĩnh. Năm 1948, ông lại được bổ nhiệm làm Uỷ viên Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu IV và trong Đại hội mặt trận Liên việt liên khu ông được bầu làm Chủ tịch. Trong năm này ông được cử đi dự Hội nghị văn hoá toàn quốc tổ chức ở Việt bắc, trong dịp này ông được tiếp kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh và cùng với “Bác” chuyện trò xướng hoạ, nhưng cuối năm đó ông bị bệnh và mất vào đầu năm 1949.
     Võ Liêm Sơn là một nhà khoa cử Hán học đồng thời là một trí thức Tân học, ông đã từng làm quan làm nhà giáo nhà văn nhưng bao trùm hơn cả là một nhà nho xứ Nghệ, một chiến sĩ yêu nước, trên mọi cương vị tính cách ông đồ Nghệ và khí tiết nhà ái quốc đều bộc lộ rõ nét. Dạy học không chỉ là truyền thụ kiến thức cho học trò mà quan trọng hơn là tấm gương của mình truyền thụ cho học trò lòng yêu nước thiết tha và nhân cách cao đẹp, nhiều học trò của ông đã trở thành những nhà cách mạng xuất sắc như: Trần Phú, Hà Huy Tập, Trương Tấn Bửu, Võ Nguyên Giáp.  

Ta Lắng Nghe Muôn Cung Đàn

vietvanmoi.fr

Tuệ Chương
Hoàng Long Hải

Post by Sơn râu 3 may 2024

Tại Việt Nam, mỗi vùng có những thú vui âm nhạc khác nhau. Có thứ âm nhạc dành cho giới trí thức, có thứ cho giới bình dân. Ngoài Bắc thì có ca trù, hát chèo; miền Trung thì có ca Huế và hò Huế; dĩ nhiên Nam Bộ có cải lương. Các loại âm nhạc nầy, ban đầu phổ biến trong giới thượng lưu, trung lưu… dần dần phát triển trong giới bình dân. Ca trù, hát chèo đã vậy, cải lương, ở phía Nam cũng có tính chất chuyển biến như vậy.

Huế thì khác! Ca Huế là thú chơi của giới trung lưu hay vua, quan, còn hò Huế như hò giả gạo, mái nhì, mái đẩy phổ biến trong giới bình dân.

Nói chung, âm thanh Huế có nhiều hình thức đặc biệt khiến người Huế đi xa cũng khó quên.

Tuy nhiên, trước hết, âm thanh quyện lấy tâm hồn người Huế là những tiếng chuông chùa. Người Việt Nam ai chẳng ít nhiều lần nghe tiếng chuông chùa. Làng nào chẳng có chùa. Người Việt Nam khi lập làng là lập chùa nên bên cạnh đình làng có chùa làng. Tiếng chuông chùa làng âm vang mỗi sáng sớm, mỗi chiều hôm, lắng đọng trong tâm hồn người dân làng. Do vậy, trong hành trang tâm hồn viễn xứ của người Việt Nam, bao giờ họ cũng mang theo tiếng chuông chùa.

Ở Huế có nhiều chùa. Phía tây bắc Huế là một vùng đồi núi mênh mông, trãi dài bên bờ hữu sông Hương. Và trên những ngọn đồi đó, trong một khu vườn âm u, là những ngôi chùa vắng lặng bên cạnh lăng tẩm vua chúa và quan lại: Chùa Trà Am bên cạnh lăng cụ Kinh Tế, chùa Tường Vân bên cạnh lăng Tự Đức, v.v… Tiếng chuông chùa không chỉ ru hồn các bậc vua chúa nay còn lẩn khuất đâu đó trong lăng tẩm âm u, trong vườn nhãn sum suê hoa quả. Tiếng chuông chùa cũng đọng lại đó, trong tâm hồn người dân Huế.

Những đêm thanh vắng, trời êm, không gió lộng, không mưa dầm rỉ rả hay mưa dông ầm ì, người dân Huế có thể nghe tiếng chuông chùa Linh Mụ từ trên đồi Hà Khê vọng về. Tiếng chuông ngân dài, tưởng chừng như cái đuôi của âm thanh kéo đi rất xa, tới cuối thiên nhai mù mịt, hay tận đáy tâm hồn của mỗi người.

Tiếng chuông Linh Mụ không chỉ là tiếng nói “sắc không”, mà còn là tiếng gọi của hồn dân tộc. Nếu mai đây có mất đi tiếng chuông chùa Linh Mụ thì chính là mất đi tiếng hồn dân tộc đấy.

Không, tôi không cường điệu khi viết như thế. Câu văn sau đây của linh mục Sảng Đình Nguyễn Văn Thích đã để lại trong tôi những ấn tượng sâu xa về một tiếng chuông chùa mang hồn dân tộc:

“Tổ quốc ta, ta phải nghe trong tiếng chuông Linh Mụ”

Đây là câu vỡ lòng cho bọn học sinh khi học những “Bài tập đọc” đầu tiên trong đời.

Cả hàng trăm năm nay, tiếng chuông Linh Mụ vẫn âm vang mỗi sáng mỗi chiều, nhưng ca Huế thì hình như mỗi ngày bị lãng quên, cũng giống như tiếng ca của các cô đầu ở phố Khâm Thiên, Hà Nội.

Một chế độ sụp đổ là kéo theo nhiều cảnh suy vi. Khi vị vua cuối cùng triều Nguyễn đọc chiếu thoái vị là một trang sử mới bắt đầu, với nhiều đau thương và máu lửa. Huế không còn cảnh thanh bình. Tiếng đàn, tiếng hát vang dậy mỗi đêm trên giòng sông Hương không còn nữa. Cảnh đó, người đó, tâm sự đó, có còn chăng cũng chỉ là tiếng than ngậm ngùi trong bài hát “Đêm Tàn Bến Ngự” của Dương Thiệu Tước. Triều đại đó, tiếng ca, tiếng đàn đó, còn lại chăng cũng chỉ trong cảnh “Đêm tàn”.

Có lẽ tư tưởng trong các bài hát chèo, ca trù của Hà Nội, cải lương của Saigon, không sâu sắc lắng đọng trong tâm hồn người nghe bằng những lời ca trong Nam bình, Nam ai, Bình bán, Sa mạc, v.v… của ca Huế. Nó mang mác tính chất vô vi của Lão Trang, sắc không của nhà Phật, và nỗi đoạn trường của Huyền Trân Công Chúa trên bước đường lưu lạc hay trong cảnh lưu đày của vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân…

Nếu Huyền Trân than thở “Cái tình chi đượm mùi son phấn, đền nợ Ô-Ly” thì vua Thành Thái đau lòng khi đặt câu ca Nam bình tả cảnh đi đày “Kéo neo tàu chạy…”

Tàu chạy là tàu ra biển bắc, đưa vị vua bị truất ngôi đày qua châu Phi.

Đó là khúc ca Nam ai, Nam bình sầu than, là tiếng khóc của biết bao nhiêu Thúy Kiều thời đại chỉ thấy “Đời vui chi trong sương gió”, là bến Tiêu Tương ly biệt, hay “Bên Cô Liêu” trên bờ sông Dịch Thủy, là “Tình đã lạt phai” khi đêm tàn, là tâm trạng bơ vơ của những người Việt mất nước, không định hướng, than rằng “Thuyền ơi! Đưa ta tới đâu?”

Người ta hiểu tất cả những lời than của Dương Thiệu Tước viết ra trong bài hát của ông, nhưng tại sao các đấng vua quan trong triều, ngoài tỉnh vẫn nghe, vẫn hát khúc Bạc Tần Hoài mỗi đêm trên giòng sông Hương. Người ta vẫn biết, vẫn hát, vẫn than cho một triều đại suy tàn, cho vận nước điêu linh, cho một trăm năm Pháp đô hộ mà vẫn vô tình như “Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa”.

Ai theo gương Lê Lợi, Quang Trung, ai vẫn mê con hát như vua Trần Hậu Chủ khi giặc đã tới bên lưng, khi giặc đè đầu cưởi cổ dân tộc. “Than ôi! Nhân tâm ly tán, thế sự đảo điên”, người ta không còn “phân biệt đâu là chính, đâu là tà” nữa chăng? Người ta vẫn phê phán vua Trần Hậu Chủ và vẫn cứ mê khúc hát Hậu Đình. Tâm tình người Huế thật phức tạp.

Điều đáng buồn!!! Ca Huế, nhạc cung đình, những âm thanh đặc biệt và đặc sắc của Huế, ngày nay, tại Việt Nam, ngay tại Huế, trở thành một thứ hàng buôn bán, biến thành một thứ vật chất tầm thường, đem rao bán cho kẻ “người trần mắt thịt”, “trưởng giả học làm sang”. Cái được gọi là “cung đình” nay bị đem ra nơi “chợ búa”. Có thể đó là một cuộc “cách mạng văn hóa Huế” hay chăng?

Có hàng trăm năm, Huế là thủ đô chính trị, văn hóa toàn quốc. Do đó, Huế là nơi sinh hoạt của vua, hoàng thân quốc thích và quan quyền các giới. Cũng thời kỳ đó, kinh tế Huế cũng có tính tự túc. Nhu cầu sinh hoạt của vua quan được các làng, xứ chung quanh cung cấp. Sinh hoạt đó thể hiện một cách sơ lược qua vài câu ca dao như “Mua vôi chợ Quán, chợ Cầu, Mua cau Nam Phổ, mua trầu chợ Dinh” hoặc “Triều Sơn bán nón, Mậu Tài bán kim.” Ngoại trừ chợ Cầu là nơi xa nhứt, thuộc phủ Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, các địa danh khác là những vùng rải rác quanh Huế. Việc chuyên chở hàng hóa đem về bán cho Huế hoặc ngược lại, thường bằng đò dọc. Từ Vĩnh Linh đến cầu Hai, ngang qua Huế hay không cũng được, có thể di chuyển bằng đò trên sông mà không phải ra biển. Thuyền đò chỉ phải qua phá Tam Giang là nơi to rộng nhất và chỉ đôi khi mới có sóng lớn.

Những chiếc đò di chuyển trên sông, trong cảnh chiều hôm man mác, trong sương lam lạnh lùng mờ ảo, trong tâm trạng nhung nhớ những chuyến đi dài ngày, làm cho tâm hồn khách thương hồ ít nhiều xúc cảm. Tức cảnh sinh tình, những người chèo đò cất lên tiếng hò lanh lảnh, ít khi vui tươi và cũng không kém phần buồn bã. Có khi một chiếc thuyền đi trước, một chiếc thuyền đi sau, khoảng cách không quá gần để không thấy nhau rõ ràng, không quá xa để tiếng hò không nghe rõ. Tiếng hò đuổi bắt qua lại, trước sau trên sông tạo nên những niềm hứng khởi, những tình cảm lãng mạn, tha thiết của những nghệ sĩ nam nữ sông nước mênh mông:

“Thuyền ai đi trước,
Cho tôi lướt đến củng
Chiều đã về trời đất mông lung
Phải duyên thì xích lại
Cho đỡ não nùng tiếng sương.

Cách dùng chữ trong các câu hò nhiều khi súc tích, bóng bẩy, không thua kém gì văn chương bác học. “Não nùng tiếng sương”. Não nùng là tiếng thường thấy trong văn chương bác học. “Tiếng sương” cũng như “tiếng nhạn kêu sương” (Con nhạn lạc bầy kêu sương) chưa hẵn trong văn chương bác học đã có. Còn khung cảnh mênh mông sông nước trên sông dài trời rộng là một hình ảnh không kém chất trữ tình.

Tôi từng cố tìm kiếm xem thử trong giới ca sĩ hiện tại có ai có thể thể hiện những câu hò mái nhì mái đẩy tôi đã từng được nghe khi còn trẻ. Người nghệ sĩ thuộc loại nầy cần có hai khả năng đặc biệt: Một là giọng, hai là hơi. Giọng hò thường trong, êm và thánh thót. Hơi phải mạnh khỏe và dài. Tài năng đó, vượt trội khả năng “Thằng mõ” của Lê Thánh Tôn: “Cả tiếng và dài hơi” (Mõ nầy cả tiếng lại dài hơi). Tiếng hay giọng và hơi và hai khả năng căn bản mà một ca sĩ cần có. Cả hai điều nầy, bây giờ, trong giới ca sĩ lại ít thấy!

Phần thứ hai của dân ca Huế là hò giả gạo. Hò giả gạo xuất hiện ở những vùng quanh Huế, gần nhứt là An Cựu hay An Hòa, Bao Vinh, không phải ngay Huế nên xin khỏi bàn.

Tuy phân biệt thành hai thứ âm nhạc cho giới vua quan và hàng dân dã, nhưng không phải không có sự tác động qua lại giữa hai hình thái âm nhạc nầy. Trong những đêm chơi đàn trên sông Hương, các ca kỹ Nam ai, Nam bình, cũng đôi khi cất cao giọng hò mái nhì mái đẩy. Ngược lại, trong giới bình dân, người ta cũng có khi tụ họp chơi đàn bầu, đàn nguyệt, tỳ bà và ca Nam ai, Nam bình, âm nhạc cung đình. Triều đình không độc quyền, không ngăn cấm thú chơi văn nghệ đó trong hàng dân dã.

Bây giờ, xa Huế đã lâu, và tóc cũng đã nhiều sương muối, có lẽ không ít người quên rằng, mình, một thời từng là “khách hàng trung thành” (giống như độc giả trung thành của quí báo) của một chị, một o, một dì bán bún dạo, bán chè hay trứng vịt lộn nào đó.

Các thành phố lớn đều có người đi bán dạo. Do đó, người Saigon khó quên tiếng “xực tắc” của chiếc xe hủ tiếu, và người Huế cũng khó quên tiếng rao “bún bò”, rao “chè đậu xanh đậu ván” hay “trứng lộn đây” (1) của những người bán dạo.

Khi đã là “khách hàng trung thành”, chỉ nghe tiếng rao, người ta có thể hình dung ra gánh bún bò, rổ chén bát và xách chè của người bán, và cả hình ảnh quen thuộc của họ. Hình ảnh ấy, thường là những người đàn bà mặc áo vá vai.

Áo vá vai là một hình ảnh đặc biệt, chỉ ở Quảng Trị, Huế mới có. Tôi đã “thường đi đó đây” trên khắp bốn vùng chiến thuật, không thấy đâu có hình ảnh người đán bà mặc áo vá vai như Trị-Thiên và Huế. Hình ảnh các mẹ, các o, các chị mặc áo vá vai đó gây cho tôi không ít xúc động về “quê hương tôi nghèo lắm ai ơi” nên tôi đã từng viết về chiếc áo vá vai nầy.

Buổi sáng mùa hè, dậy muộn, bụng đói, nhưng chưa chịu ăn sáng, còn chờ tiếng rao “bún bò” của người bán hàng quen thuộc. Hoặc khi học bài thi vào khuya, bụng trống đi đã nhiều, các cô chú học trò còn chờ tiếng rao chè, rao trứng vịt lộn của “người quen.” Người Huế cầu kỳ, phải chờ cho đúng người nấu hợp khẩu vị của mình mới chịu ăn. Ít ai “thực bất tri kỳ vị.”

Trong một khung cảnh sinh hoạt như thế, Huế không thiếu những tiếng rao hàng vào buổi sáng hoặc vào buổi khuya. Có tiếng rao lanh lãnh, từ đầu xóm vang tới cuối xóm. Người rao đang ở bên đường Bộ Thị, khách ở bên đường Bộ Tham hoặc trên “Thượng Thành” nghe vẫn rõ lắm.

Rồi bất chợt, một hôm nào đó, đang ngồi nhớ Huế, kể chuyện Huế, không ít người nhớ lại tiếng rao hàng mình đã nghe mấy chục năm trước. Âm thanh ấy, không phải là bài hát, không phải tiếng hò, không phải tiếng ca mà nghe như tiếng hò, tiếng hát, tiếng ca, “cũng khó mà quên được.”

Tiếng rao phát ra từ miệng, có ai đã từng nghe tiếng rao ấy phát ra từ những sợi giây đồng. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba đứng giữa lớp, đưa cây vĩ cầm lên kẹp vào hàm, đặt archet lên mấy sợi giây đồng. Và tay ông thầy dạy nhạc kéo qua lại một cách nhẹ nhàng, thoải mái. Bỗng cả lớp phì cười vì tiếng đàn phát ra, y hệt như tiếng rao: “chè đậu xanh đậu ván.” Kỷ niệm ấy, dù muốn quên cũng không tài nào quên được.

Bài nầy viết ra, không nhằm mục đích khảo cứu âm nhạc, nhất là ca Huế, nét đặc sắc nhất của âm thanh Huế, nhưng có lẽ người viết cũng không quên thưa với độc giả rằng, ca Huế không phải tự dưng mà có.

Trong hành trang “Về phương nam” của các lưu dân thời chúa Nguyễn, trước hay sau năm 1558, là năm Nguyễn Hoàng mở cuộc Nam tiến vĩ đại của người Đại Việt về phương Nam, không thiếu những nét nhạc của người dân sinh sống lâu đời ở lưu vực sông Nhị. Có người căn cứ vào tên gọi như điệu “Sa Mạc” mà cho rằng ca Huế mang âm hưởng của nhạc Mông Cổ; hoặc căn cứ vào những âm thanh não nuột, rên rỉ, than oán của Nam ai, Nam bình, để cho rằng, nhạc ấy chịu ảnh hưởng thanh âm của một dân tộc, người Chàm, trên đường diệt vong.

Vì vậy, khi nghe ca Huế, ít khi người ta thấy vui. Có phải đó là tiếng than của những người mất nước, là khúc Tây Thiên (2) của người Chiêm Thành, là khúc Hậu Đình (3) của các thương nữ trên sông Hoài, khi vua Trần Hậu Chủ sắp mất ngôi, hay tiếng than của một dân tộc đang bị dày xéo dưới gót chân người Pháp xâm lược, của bốn ông vua chịu kiếp lưu đày (4)

(1) Người Huế gọi “trứng vịt lộn”; người Nam gọi là “hột vịt lộn”
(2) Năm 1044, vua Lý Thái Tông đánh vào kinh đô Phật Thệ, bắt cung nữ Chiêm biết múa hát khúc Tây Thiên đưa về Bắc.
(3) Bạc Tần Hoài
             Yên lung hàn thủy nguyệt lung sa
             Dạ bạc Tần Hoài cận tửu gia
             Thương nữ bất tri vương quốc hận
             Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa
              (Đỗ Mục)
             Khói nhòa trên sông lạnh
             Bãi cát phủ trăng vàng
             Tần Hoài thuyền cập bến
             Đêm về quán rượu gần
             Thương nữ nào hay vong quốc hận
             Hậu Đình Hoa khúc cứ ngâm vang
             (THINH QUANG Dịch)
(4) Kể từ Gia Long, triều Nguyễn có 14 đời vua (Kể cả Cường Để). Bốn vua lưu vong là: Hàm Nghi, Thành Thái (cha) Duy Tân (con) và Cường Để.

Tuệ Chương Hoàng Long Hải

Nhà giáo một thời nhếch nhác

vietmessenger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 3 May 2024

Nắng Sài Gòn ai đi mà thấy mát

Phần 11

Trải qua mấy kỳ, trường tôi họp để công bố danh sách Giáo viên được biên chế, vậy mà cái tên của tôi vẫn biền biệt.

Cứ mỗi lần ông Hiệu trưởng gấp cuốn sổ lại để kết thúc danh sách đợt này, ông lại nói:

– Các đồng chí chưa có tên thì cứ yên tâm chờ đợt sau. Nhưng phải cố gắng phấn đấu hơn nữa thì rồi thế nào cũng tới lượt.

Lúc giải tán, mọi người xô ghế đứng dậy, kẻ thì vui vẻ ồn ào vì vừa được biên chế, kẻ thì ca cẩm sao mức lương của mình không đạt tới con số mình đã ước tính, đã thấp thỏm chờ đợi. Nó là sáu mươi lăm, hay sáu mươi, cùng lắm là năm mươi tám chứ không phải thứ bốn mươi hai đồng lãng xẹt như vừa công bố.

Sở dĩ mấy con số này được lấy ra làm thước đo là vì nó là những mức lương của người đã được biên chế từ những kỳ trước, căn cứ vào trình độ chuyên môn, vào số năm thâm niên trong ngành và tinh thần phấn đấu phục vụ.

Riêng những vị không được gọi đến tên thì có người cố giữ vẻ mặt thản nhiên, không nói năng gì, có người lại bật cười ngạo nghễ, biểu lộ sự chẳng có gì đáng phải quan tâm. Nhưng phải nói thêm tới cái ấn tượng bứt rứt khó quên nhất trong đầu óc của tôi, đó là phải chứng kiến những nụ cười gượng gạo, đậm vẻ cay đắng, thất vọng thay cho lời phân vua: “Phấn đấu đến thế mà vẫn chưa đạt tiêu chuẩn sao ?”

Riêng trường hợp của tôi thì tôi hiểu rõ lý do tại sao mình chưa được biên chế. Nó bắt nguồn từ cái vụ năm ngoái, nhà trường bắt các Tổ chuyên môn, mỗi tổ cho ra một tờ bích báo để treo trong hội trường nhân dịp chào mừng một Ngày Lễ Lớn.

Tổ của tôi sau khi nhận được chỉ thị thì cũng họp hành, bàn thảo và phân công viết bài. Nói là viết cho oai vậy thôi, chứ tụi tôi bảo nhau đi cóp nhặt trên báo Nhân Dân, báo Sài Gòn Giải Phóng chỗ này một đoạn, chỗ kia một khúc rồi xào nấu lại cho đủ đầu đuôi, xuông xẻ là xong. Phần bài của ai thì người ấy chép sạch sẽ trên giấy trắng đã cắt đo theo khuôn khổ của cột báo. Tôi chỉ việc gom lại rồi dán lên, tô vẽ kẻ biển thêm vài bông hoa, cánh bướm bằng bút mầu là xong tờ báo.

Một vài cô giáo không có khả năng “bình luận” theo kiểu cóp nhặt kể trên (mà thật ra cũng phải có khiếu mới làm được!) thì viết bài theo kiến thức chuyên môn mình đang dạy, như cô giáo môn Sinh vật thì góp bài “Kinh nghiệm mổ con Cá Chép”, Cô dạy môn Hóa đúng vào dịp đang giảng ở lớp bài chất khí Acêtylen thì góp bài “Đêm đêm thắp đèn Gió Đá đi bán Cháo Sườn – Vậy đèn đó hoạt động ra sao?” . Tờ báo vì thế cũng có mầu sắc muôn mầu muôn vẻ.

Riêng tôi, vì là Tổ trưởng nên ngoài việc thu gom bài vở lại còn phải lo chuyện trình bầy.

Gay go nhất là phần trên cùng của tờ bích báo. Nó vừa mang tên tờ báo, vừa có tính cách phơi bầy trình độ mỹ thuật cũng như biểu lộ giá trị nội dung của tờ báo.

Tên báo thì chúng tôi đã chọn rồi, trong hàng chục cái tên mà các Tổ viên đề nghị: nào Phấn Đấu, nào Kiên Cường, nào Xung Phong, nào Chiến Thắng….v…v…

Trong khi thảo luận, có vị đã kêu lên:

– Báo dán trong nhà trường mà tên gọi chẳng thấy có tí giáo dục nào. Mỹ thì đã cuốn gói từ lâu, vậy thì đòi Xung Phong hay Chiến Thắng với ai…

Ai nấy chợt ngẩn người ra vì cái điều vị ấy nêu ra rất có lý. Hóa ra trong ngần ấy năm tháng sống trong bầu không khí luôn luôn có dịp vang động tiếng trống tiếng kèn, tiếng hoan hô, đả đảo để biểu dương khí thế hay phát động đủ thứ chiến dịch, trong đầu óc của chúng tôi cũng nhiễm phải cái bệnh thích lên gân hùng dũng. Mà bất cứ cái gì cũng đem ra gào to lên thì coi sao được.Thế là một loạt tên mới lại được nêu ra, đậm vẻ nhà trường như: Nhà Giáo, Sân Trường, Bảng Đen, Bục Giảng..v.v…

Nhưng rồi chính tôi lại thấy băn khoăn:

– Sao nghe nó chẳng khác kiểu Tiểu tư sản ngày xưa bao nhiêu. Thời buổi bây giờ nếu thêm được tí mầu sắc lao động thì chắc phù hợp hơn nhiều.

Một cô giáo nghe chừng đã sốt ruột vì phải về sớm trông con, nấu bếp, liền buông ngay một câu:

– Thế thì cứ lấy mẹ nó cái tên là Nguồn Vui, Niềm Vui gì đó cho xong…Chả hay ho gì nhưng khó bắt bẻ.

Tôi vớ ngay được cái ý hay đó liền reo lên:

– Niềm Vui Mới! Niềm Vui Mới…nghe được không?

Dĩ nhiên là mọi người đều nhất loạt tán thành. Niềm Vui như cô giáo đề nghị thì chưa đủ. Phải “mới” nữa thì mới đúng quan điểm, lập trường. Cái sự cứ phải che chắn, rào đón này tôi cũng không rõ đã nẩy sinh ra tự bao giờ, nhưng rõ ra là cái nếp suy nghĩ hàng ngày của tôi cũng như của mọi người cứ ngày một thấy khác đi.

Tên đã chọn được rồi, nhưng minh họa được cái “niềm vui mới’ này thì cũng không phải chuyện dễ. Sau có anh bạn góp ý:

– Cần gì cứ phải cầu kỳ bắt buộc minh họa cái vui. Lấy đại hình các vị lãnh tụ đem lên trang trí tờ báo thì nào có ai dám bắt bẻ!

Tôi băn khoăn:

– Đây là một ý kiến hay, nhưng ta chọn các lãnh tụ nào đây ? Bác Hồ, bác Tôn, ông Đồng, ông Duẩn thì đi một nhẽ rồi, nhưng còn ông Trần Văn Trà, ông Văn Tiến Dũng, ông Lê Đức Thọ, ông Võ Nguyên Giáp, biết chọn ai, bỏ ai?

– Quý hồ tinh bất quý hồ đa! Đem hết cả những khuôn mặt đó vẽ lên thì hết mẹ nó trang báo. Mình lấy mấy vị “quốc tế” thôi.

– Vậy là những ai?

– Thì Các Mác này, Lê Nin này, Xít Ta Lin này….Bên Á đông thì có Bác Hồ, lão Mao.

– Dẹp mẹ thằng cha Mao đi. Nó đang dọa cho nước ta một bài học. Tương hình hắn lên có mà Thành Ủy nó cho đoàn viên Thanh Niên tới đốt trường.

Một vị khác cười ngỏn ngoẻn:

– Thôi, cứ đè mấy anh ngỏm rồi cho lên báo là ổn. Các Mác – Lê Nin- Xít Ta Lin, toàn cỡ trùm Cộng sản mà cũng đều ngủ với giun cả rồi đấy.

Nhưng tôi lại thắc mắc:

– Vẽ cái đám ấy thì dễ. Cứ phệt chòm râu xồm vào là nom ai cũng giống hết. Nhưng còn vẽ Bác Hồ thì sai một ly đi một dặm đấy.

Mọi người ngẩn ra nhìn nhau vì mối lo này không phải là không có lý. Mới xẩy ra trong thời gian gần đây là vụ một công ty ấn loát Hợp Doanh in năm chục ngàn tấm chân dung Bác Hồ để phân phối đi các nơi. Nào dè khi đóng gói, công nhân mới phát hiện ra là đã in sai cái tên: “Chân dung Bác Hố Chí Minh” thay vì “Chân dung Bác Hồ Chí Minh”. Hồ mà thành Hố thì chết cả đám rồi !Thế là công ty phải đem hủy bỏ hết, mà cũng không dám in lại tấm hình khác. Lý do:

– Chỉ cần lọt một vài tấm in sai vào cái mớ đã in lại thì tội danh gian dối để phá hoại còn tầy trời hơn nữa. Thôi thà hủy bỏ sáng kiến in ấy đi cho rồi!

Chính vì cái kinh nghiệm này mà tôi thấy rất ngần ngại phải vẽ hình Bác Hồ lên trang báo. Nhưng sau nhiều phút bàn thảo, chúng tôi cũng tìm ra cách giải quyết. Đó là : hình 3 ông Tây kia với những chòm râu xồm xoàm thì cứ vẽ, còn hình Bác thì đặt riêng ở một nơi khác trịnh trọng hơn, lại không phải hình vẽ mà là hình chụp. Chọn hình chụp từ cơ sở nhà in báo Nhân Dân là chắc ăn nhất, sẽ không lo bị bắt bẻ, xuyên tạc.

Thế là tờ báo của Tổ chúng tôi được hoàn tất đúng kỳ hạn và được treo trịnh trọng bên cạnh những tờ của tổ khác, nom chẳng khác một vườn hoa khoe sắc, rất đúng với câu ” Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” (bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh !)

Vậy mà chỉ nội trong ngày hôm sau, tôi đã được nghe lời xì xào:

– Tờ báo có vấn đề!

Tôi vội vã chạy đi tìm hiểu thì mới phát giác ra rằng, bài vở, nội dung tờ báo thì không sao, nhưng hình vẽ trang trí thì quả là mang tai họa. Lại là thứ tai họa tầy trời!

Tôi nhớ lại những giờ cặm cụi trình bầy trang báo. Ở phần quan trọng nhất là phía trên cái tên của tờ báo, tôi đã thận trọng lót giấy than can nguyên con hình của ba ông Các-Mác, Lê Nin, Xít-ta-Lin mà tôi tìm thấy đầy dẫy trên báo chí, tài liệu trong thời kỳ đó. Sau khi can xong, tôi mới lấy bút nỉ tô lên cho đậm nét, khiến nét mặt của cả ba ông đều nom rất nổi. Chẳng hiểu đã nghĩ sao, tôi lại còn đặt cả ba cái chân dung này lên trên một cái nền mầu đỏ tươi, gọi là tô điểm cho ba vị thêm sống động trên mầu sắc của lá cờ Cộng sản, với ngụ ý cả ba ông đều là những lãnh tụ của phong trào Cộng sản trên Thế giới.

Lập trường chính trị “vững chắc” đến thế rồi còn gì! Ấy thế mà khi tờ báo trưng lên, chẳng bao lâu sau đã có kẻ buông một một câu xanh rờn:

– Tờ báo đã vẽ ba cái đầu lâu trôi trên biển máu!

Ôi trời ôi là trời! Độc địa quá, mà cũng …đúng quá!!

Quả nhiên bây giờ ngắm lại, tôi thấy rõ ràng mấy cái đầu ông Mác, Ông Lê, Ông Xít đang trôi lềnh bềnh trên biển máu mà trước đây tôi chỉ nghĩ đơn sơ như nó là cái nền đỏ của lá cờ Cộng sản Quốc tế!

Dĩ nhiên là tờ báo cấp tốc bị triệt hạ và tôi bị Ban Giám Hiệu gọi lên chất vấn:

– Thầy cho là các vị lãnh tụ của phong trào Cộng sản quốc tế đã gây nên biển máu à?

Tôi cãi lại:

– Đó không phải là biển máu mà là nền cờ. Cờ của Đảng CS cũng mang mầu đỏ vậy.

– Nhưng tờ báo có ý thâm hiểm, mượn cái này để nói cái kia.

– Đó là một sự xuyên tạc. Tôi là nhà giáo, không có thói quen dùng thủ đoạn lá mặt lá trái.

– Vậy thầy hãy làm tờ tường trình đi. Trên sẽ xem xét chuyện này cẩn thận.

Thế là tôi đã phải dành ra gần hai tiếng đồng hồ để viết lời khai, kể từ khâu khởi sự cho tới khi tờ báo thành hình. Đặc biệt là về những ý kiến mà Tổ của tôi đã bàn thảo về việc đem những bức chân dung của các lãnh tụ lên trang báo. May quá, vì biết lo xa nên chuyện này chỉ liên hệ tới ba ông ngoại quốc, chứ không dính dáng gì tới nhân vật lãnh tụ Hồ Chí Minh.

Có lẽ các cấp trên của Ban Giám Hiệu cũng thấy sự sai sót của tôi chỉ là vô tình mà không có ý đồ phản động, nên hình như tôi chỉ phải lãnh một hình phạt nhẹ nhàng, không có sự công bố chính thức: “Hoãn biên chế !”

° ° °

Mang cái án treo từ dạo ấy, tôi không còn chờ đợi có tên của mình trong những đợt biên chế kế tiếp. Vả chăng, ở bên ngoài xã hội thì tình thế có vẻ như ngày càng chộn rộn hơn, khiến những chuyện xẩy ra trong nhà trường cũng trở thành thứ yếu đi.

Sau một thời gian thử lửa tại những vùng cỏ khô, nắng cháy, dân đi Kinh Tế Mới bỏ trốn về nằm ngổn ngang trên khắp các công viên, hay mái hiên vỉa hè thành phố.

Ở trong Chợ Lớn, đám người Việt gốc Hoa ngày càng ra mặt ủng hộ chính phủ Trung Quốc bằng cách chỉ trưng cờ Tầu Cộng và ảnh Mao Trạch Đông trên các cửa tiệm. Đã thế, khi được thông báo phải khai lại lý lịch để nhà nước dễ bề kiểm soát thì họ khai mình là công dân Tầu. Mục đích của họ thì cũng dễ hiểu thôi. Họ muốn tránh né khai báo tài sản để khỏi bị dính vào công cuộc “cải tạo Tư sản” vẫn đang tiến hành ở khắp miền Nam. Ý đồ lộ liễu này đã tạo nên một làn sóng bài Hoa do nhiều cơ quan, đoàn thể của nhà nước phát động, nhất là vào cái lúc Trung Quốc đưa ra lời hăm dọa sẽ cho VN một bài học để đời.

Phong trào vượt biên “chính thức” rồi “bán chính thức” đã khai mào từ chủ trương bài Hoa kể trên. Ở ngoài Bắc thì mọi người Hoa phải rời khỏi VN trên những con thuyền ọp ẹp và được tầu của hải quân VN hướng dẫn ra hải phận quốc tế. Ở trong Nam thì muốn ra đi phải góp vàng đóng cho nhà nước. Như thế được coi là ra đi hợp pháp, khỏi lo mua bến bãi, khỏi lo bị lừa lọc khi vừa ra khơi đã bị công an ùa tới, bắt bớ đem về giam cầm trong khi của cải, tiền bạc mang theo cũng bị lột sạch.

Nhà trường trong những biến chuyển của thời cuộc như thế tất cũng dao động theo. Sĩ số trong nhiều lớp đã sút giảm đi. Có thể vì gia cảnh quá eo hẹp nên học sinh phải bỏ học đi kiếm tiền phụ giúp gia đình. Nhưng phần đông, học trò bỏ học vì đi theo gia đình vượt biên. Thầy Cô giáo, lâu lâu cũng thấy vắng mặt một người. Nhóm bạn quen xì xào với nhau : “Nó đi rồi! Chắc đang xuống Rạch Giá”.

Rạch Giá, Cần Thơ, Vũng Tầu, Phước Lễ, Phước Tỉnh …là những địa danh quen thuộc mà nhiều người hay nhắc nhở tới khi nói chuyện vượt biên. Nhưng với nhiều người, kể cả tôi thì chuyện đóng góp mỗi chỗ từ 4, 5 cây đến 9, 10 cây là những chuyện nằm mơ. Một chỉ vàng lận lưng còn không có, nói chi tới chuyện cây cọ. Cho nên trong khi mọi người xầm xì, mách bảo nhau đường dây nọ, đầu mối kia hay bàn tán tin tức chuyện vượt biên, thì tôi vẫn hằng ngày đạp xe dưới cái nắng chói chang đi từ nhà tới trường.

Tuy nhiên chuyện Sài Gòn với những toan tính âm thầm để vượt biên là cả một trường thiên tiểu thuyết bao gồm nhiều chuyện cười đau khóc hận. Nhiều người muốn ra đi nhưng không có điều kiện để ra đi, thế mà rồi cũng không ít kẻ bị lôi cuốn trực tiếp hay gián tiếp vào những toan tính âm thầm kể trên. Vì thế, đây là một lãnh vực có nhiều chuyện kể và hẳn sẽ không ít người kể lại, bao gồm cả chính tôi, khi tôi có dịp.

Nhưng vào lúc này thì Sài Gòn vẫn ngự trị trong tôi như một nơi chốn mà cho đến mãn đời tôi sẽ vẫn chỉ ở đó. Tôi cũng chẳng có mơ ước gì xa xôi sau tất cả những gì mà tôi đã chứng kiến ở nơi trường học. Khi bước ra đường phố để hòa nhập với những người đi lại chung quanh, tôi nhận ra rằng hầu như mỗi ngày thành phố này lại mang thêm một mầu u buồn, ảm đạm hơn. Tôi không diễn tả được cái mầu sắc ấy nó hình dung cụ thể ra sao, nhưng hầu như nó đã làm lộ ra cái vẻ xám xịt mang tính chất nghèo nàn của phố xá. Các cửa hàng trang trí lộng lẫy nay không còn nữa. Quanh tôi chỉ đầy dẫy những gánh hàng bán rong đèo đẹt mấy củ khoai, củ sắn hay vài mớ rau, con cá. Rồi trên hè phố lại thấy xuất hiện nhiều tấm vải bạt trên bầy bán những đồ linh tinh như búa, kìm, bật lửa, đồng hồ hỏng, kính gẫy. Đặc biệt là dưới những gốc cây hay trên hè phố còn xuất hiện mấy hàng sản xuất dép râu bộ đội mà người bán trình bầy công việc sản xuất ngay tại chỗ bằng cách xả thịt những cái vỏ xe hơi cũ kỹ và những cái săm xe đạp. Còn dòng người đông đúc chen chúc nhau hối hả đi lại thì hình như ai cũng mang trong đầu một toan tính gì đó. Có vẻ như họ sẵn sàng đổi thay cái đang có bây giờ lấy một điều nào đó mơ hồ nhưng ắt là phải khác hơn cái hiện tại. Nếp sống, nếp suy nghĩ của dân Sài Gòn bây giờ không còn thiết tha hay gắn bó như trước nữa mà nẩy sinh cái tâm trạng sống qua ngày, sống tạm bợ. Cái nét u buồn, ảm đạm của thành phố phải chăng cũng bắt nguồn từ đó mà ra?

Một đôi khi đạp xe dưới nắng trong đường phố Sài Gòn tôi chợt nghĩ đến mấy câu của nhà thơ Nguyên Sa:

Nắng Sài Gòn, anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Nhưng niềm xúc cảm, bồi hồi vì ý nghĩa hay ho của câu thơ bây giờ không còn gợi lên được điều gì trong tôi nữa. Hóa ra khi thành phố đổi chủ thì nó không chỉ đổi trong luật lệ, trong nếp sống, trong các ngôn ngữ ứng xử hàng ngày mà sẽ còn nhiều thứ khác lụi tàn do chính mình tự đánh mất đi.

Khi hết còn cảm xúc lúc gợi lại một câu thơ hay thì cũng là một sự mất mát chứ sao. Đó là những mất mát khó diễn tả nên thành lời cụ thể. Nó rất mong manh. Nó rất mơ hồ. Nó lại biến đi rất lặng lẽ, mà chỉ trong một khoảnh khắc nào đó mình mới chợt nhận ra là mình đã đánh mất.

Rồi người ta lại thường nói: mất cái này, thì được cái kia.

Nhưng luật bù trừ ấy cũng không áp dụng được ở đây. Tôi nào tìm thấy được đôi chút cảm xúc gì trong những câu thơ đang được ca tụng là rất hay, như câu thơ này:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời Chân lý chói qua tim…..

Có thật cái Chân lý mà ông Tố Hữu ca tụng đã là thứ Chân lý của mọi người chăng?

Chắc chắn là không!

Bởi Chân lý gì mà lại nẩy nòi những cuộc đấu tố long trời lở đất khiến con tố cha, vợ tố chồng, đạo lý luân thường bị đảo ngược hết.

Mà không nói gì xa xôi, chính ngay ở đây, bây giờ, vào cái thời mà chính ông tác giả vốn đã ca tụng cái thứ Chân lý ấy, nay đang cầm trong tay sinh mạng của biết bao nhiêu con người. Ông ra lệnh triệt hạ biết bao nhiêu cơ sở vật chất cũng như tài sản của miền Nam. Chính sách kinh tế của ông đã đầy đọa biết bao nhiêu gia đình, bao nhiêu con người vào vòng khổ ải.

Như vậy cái thứ mặt trời Chân lý của ông chỉ là một thư sản phẩm dối trá như đủ thứ dối trá đang diễn ra trong cái thành phố này và ở ngay cả trong những ngôi trường như ngôi trường tôi đang giảng dạy này.

Niềm ước ao nhen nhúm trong lòng tôi là làm sao mình đi được cho thoát cho dù trong túi chẳng có lấy một chỉ vàng để mà lận lưng mỗi khi gặp lúc ngặt nghèo.

Nhà giáo một thời nhếch nhác

vietmessenger.com

Nhật Tiến
Post by Sơn râu 3 May 2024

Đò cùng một chuyến

Phần 10

Quá độ là qua đò!

Thời kỳ quá độ là thời kỳ đang qua đò, do đó phải chấp nhận gian khổ, chớ vội vã đòi hưởng thụ. Nếu hiểu là như thế, thì chuyến đò chúng tôi đang đi đã chất lên đủ mọi hạng người, bất kể thuộc chế độ cũ hay chế độ mới, tàn dư phản động hay cách mạng tiên tiến…..Cái sự qua đò này có phân biệt đối xử với ai đâu?

Cho nên khi nhìn thấy mấy cô cán bộ lui cui lục tìm cái ấm đun nước, cái quạt để bàn hay cái bàn ủi ở chợ cóc ven đường, hoặc thấy mấy anh bộ đội lếch thếch vác cái khung xe đạp, tay còn đèo thêm vài ổ bánh mì hay con búp bê nhựa, lòng tôi rất ngậm ngùi. Thân phận của họ cũng đâu có hơn gì mọi người trong này. Có khi còn tệ mạt hơn vì tôi đã được nghe kể lại nhiều chuyện khó tin mà có thật trong đời sống của dân chúng miền Bắc, lại ở ngay thủ đô Hà Nội chứ không phải xa xôi gì. Ở đó đã có thời con người sống quá chen chúc chật chội đến nỗi công viên về đêm trở thành nơi hú hí của nhiều đôi nam nữ. Chuyện đó thật ra là bình thường và nó chỉ trở thành bất bình thường khi một cặp đang làm tình bị công an bắt về đồn, lúc khai ra thì họ là hai vợ chồng vì nhà cửa quá chật chội đành phải lấy công viên làm ngôi nhà hạnh phúc.

Những chuyện như thế, dân chúng miền Nam không bao giờ có thể tưởng tượng nổi. Cũng như nhiều người có dịp ra Hà Nội vào những năm cuối thập niên 70 đã không thể tưởng tượng được rằng, khi vào một tiệm cà phê, các chiếc muỗng để khuấy đều có móc xích gắn vào rìa bàn và bất cứ cái muỗng nào cũng đều bị đục cho thủng lỗ. Hỏi ra mới biết đó là cung cách nhà hàng đề phòng thực khách múc một lần quá nhiều đường hay thậm chí còn thủ cái muỗng cho vào túi áo, đem về xài. Như vậy, tôi như giảm thiểu được nhiều nỗi bực dọc trong lòng mỗi khi thiếu thốn. Thôi, tất cả thì cũng đồng hội, đồng thuyền như nhau cả.

Có lần tôi đem những ý nghĩ ấy ra trao đổi với vài bạn đồng nghiệp, người thì cho là cứ dễ tính như thế lại hóa hay, còn hơn là cứ hậm hực, kèn cựa với kẻ có chút lợi lộc hơn mình, vừa không ăn cái giải gì lại có khi mua vạ vào thân. Nhưng một anh bạn đồng nghiệp khác, khá thân thiết của tôi thì lại sâu độc hơn. Anh ta nghe xong thì cười nhếch mép đầy vẻ dè bỉu rồi phán:

– Đúng là lối suy nghĩ của kẻ thấp cơ! Đã thua thiệt lại còn sĩ diện, muốn quơ lấy lẽ phải để che giấu sự yếu kém của mình.

Tôi cãi :

– Phải trái nỗi gì! Đó chẳng qua chỉ là chấp nhận một sự thực.

Anh bạn hỏi lại:

– Vậy thì cái sự thực ấy của ông hình thù nó ra làm sao?

– Thì quá độ là qua đò đó! Mới đang qua đò thì đời sống còn khó khăn, vất vả. Ai chẳng vậy. Mai mốt sang sông rồi hẳn sẽ khá hơn.

Thế là anh bạn đồng nghiệp của tôi lại ré lên cười. Cười đã, anh ấy mới nói tiếp:

– Ông mà cũng tin cái thứ đò nát sang sông ấy à? Ái chà chà…thế thì quả thật những cái bánh vẽ kiểu này hãy còn có khối người tin. Mà nói cho ngay, ai cứng đầu không tin thì cứ dí súng vào lưng là cũng xong hết.

Tôi cãi lại:

– Lời hứa hẹn nào chả có tính cách của bánh vẽ. Nhưng hình ảnh “qua đò sang sông” nghe cũng hợp tình, hợp lý đấy chớ! Đất nước vừa hết chiến tranh, đòi có ngay nhà máy với nông trường sao được.

– Đồng ý hoàn toàn! Nhưng đánh Tư sản, tịch thu hết nhà cửa, cơ xưởng của người ta rồi bắt đi Kinh tế mới thì sẽ đẻ ra được nhà máy à? Rồi chủ trương ngăn sông cấm chợ thì đẻ ra được các nông trường sao? Ông ơi, ông nhá bo bo nhiều quá nên lú lẫn hết rồi!

Tôi ngẫm nghĩ câu nói của anh bạn rồi chợt mỉm cười:

– Cậu đúng, nhưng cũng sai một phần!

Anh bạn ngớ người hỏi:

– Sai? Sai chỗ nào, chỉ ra coi!

Tôi nói thủng thẳng:

– Đánh Tư sản là đường lối của Lê Duẩn, Lê Đức Thọ. Ngăn sông cấm chợ là lệnh của Đỗ Mười. Mấy ổng đâu có nhá bo bo!

Thế là chúng tôi cùng cười xòa, xí xóa, cảm thông chuyện tranh luận rồi quay qua bàn tán chuyện “ngăn sông cấm chợ”.

Vào hồi đó, để tiêu diệt mầm mống tư sản, lệnh ban ra là nhà nông không được tự ý đem bán sản phẩm của mình như thóc gạo, gà vịt, rau trái..v..v…mà phải để cho Nhà Nước thu mua, tất nhiên là với giá rẻ hơn rất nhiều so với giá cả ở ngoài thị trường. Dân thấy thiệt thòi nên phải lén lút chuyên chở ít gạo, ít thóc, vài kí thịt, dăm chục trứng hay con gà con vịt ra tỉnh bán.

Thế là hàng rào “ngăn sông, cấm chợ” gồm toàn những trạm kiểm soát được dựng lên, nhất là ở những vùng giáp ranh nông thôn với thành thị. Tại các trạm này, Du kích xã, nhân viên thuế vụ tha hồ hống hách, biểu lộ uy quyền. Nhiều bà, nhiều cô bị tốc cả áo, tụt cả quần để khám thịt lậu bó trên người. Bị khám oan cũng có mà bị bắt quả tang cũng nhiều. Lắm bà, lắm cô nom bụng chửa vượt mặt nhưng đè xuống, moi ra cũng chỉ thấy là những tảng thịt độn quanh người. Rồi khi bị phát giác, tịch thu, các bà lăn cả ra đường khóc than thảm thiết, tưởng như bị xẩy thai thứ thiệt thì cũng thảm thê đến thế là cùng.

Trên các sông rạch ở miền Hậu Giang, việc chặn bắt các ghe thuyền chở lúa, gạo lậu cũng hết sức gay gắt, đến nỗi các hộ dân chung nhau chở vài chục kí thóc đi thuê xay cũng phải có giấy chứng nhận của Hợp tác xã hay cơ quan chính quyền. Du kích ở các làng, các xã nhầu nhầu như một lũ ruồi xanh, thoáng thấy bóng ghe thuyền là xách súng kêu lại khám xét. Trên ghe có gạo, dù chỉ là gạo mang đi ăn dài ngày mà không có giấy chứng nhận thì cũng coi như hàng lậu và bị tịch thu.

Chính sách ngăn sông cấm chợ này ảnh hưởng sâu xa đến đời sống của mọi người, mọi tầng lớp dân chúng. Nhiều căn nhà ở Sài Gòn đã thấy biến phòng tắm ngày xưa thành chỗ nuôi gà, nuôi heo. Nhưng nói cho ngay, dân Sài Gòn thì chưa quen thuộc lối chăn nuôi kiểu đó. Hầu hết chủ nhân các nhà này đều là cán bộ miền Bắc mới được điều vào ở. Họ tận dụng không gian, phương tiện để gia tăng thu nhập. Sau nhà thì trồng rau. Bếp núc hay buồng tắm thì co cụm lại để lấy chỗ cho vài con heo nái. Nghĩ cho cùng, như thế cũng còn khá hơn là nhiều nhà ở ngoài Bắc, người ta còn nuôi cả lợn dưới gậm giường.

Nhưng mặc dầu vậy, dân Sài Gòn vẫn chưa quen thuộc được với mùi phân heo tỏa nồng nặc. Chính bà Tổ trưởng dân phố chỗ tôi ở cũng có lần lắc đầu lè lưỡi nói với bà con lối xóm:

– Báo hại cái cửa sổ phòng tắm bên đó lại chĩa qua phía nhà tôi. Ui chao, hôi quá là hôi.

Nhưng dù có kêu ca thì cũng chỉ nói suông vậy thôi. Ai dám đụng đến những công việc “lao động làm ra của cải vật chất”!

Miếng thịt heo vào thời đó thật đã trở nên hiếm hoi, quý giá, chỉ dân nhiều tiền thì mới dám đụng tới. Ở trường tôi đang dạy, tuy số lần lãnh cá thay thế thịt đã nhiều hơn trước, nhưng trong tháng ít ra cũng một, hai lần có thịt heo về. Đấy là do tài ngoại giao, móc nối của Ban Tiếp Liệu nhà trường. Mà một khi đã nói tới chuyện ngoại giao, móc nối thì không có chuyện phân phối đồng đều theo tiêu chuẩn. Nghĩa là chớ đem chuyện công bằng ra để phân bì ai hơn, ai kém, ai có, ai không. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tôi đã phải chứng kiến một cảnh tượng hết sức bất ngờ, tưởng chẳng bao giờ có thể xẩy ra được ở trong một ngôi trường.

Buổi sáng hôm đó là một sáng Chủ Nhật. Học sinh không tới trường nhưng Chi Đội, Chi Đoàn vẫn sinh hoạt. Trong phòng nghỉ của giáo viên lác đác có vài ba thầy cô tới làm việc theo lịch trình của Tổ Lao Động. Riêng tôi thì cần xem lại điểm tổng kết của học sinh trong vài cuốn sổ được lưu giữ tại trường nên sáng hôm ấy cũng có mặt. Qua vài câu chuyện trao đổi với mấy thầy, tôi được biết dưới khu nhà sau, Ban Tiếp Liệu cũng đang bận rộn chia thịt cho các Tổ, ngoài tiêu chuẩn. Tiếng chặt thịt, tiếng bàn tán xôn xao xen lẫn với tiếng cười nói ồn ào khiến cho dù là ngày Chủ Nhật nhưng ngôi trường cũng mang vẻ ồn ào, rộn rã như đang chuẩn bị liên hoan, tiệc tùng.

Bỗng tôi nghe thấy tiếng quát lên thật to:

– Cái đó của tôi….Cái đó của tôi..

Rồi lại có tiếng chân huỳnh huỵch chạy. Tôi vội vã tiến lại phía cửa sổ để nhìn ra sân trường. Phía cuối dẫy hành lang, tôi trông thấy một Thầy đang xách một túi nylon hãy còn dây máu đỏ lòm chạy vội vã lại phía bờ tường, chỗ để xe. Hớt hải chạy theo phía sau là một thầy khác, hai tay vị này vừa khua lên trời và miệng vừa quát tháo:

– Cái đó của tôi… Cái đó của tôi ….Tôi đăng ký rồi…

Để đáp lại tiếng gào thét này, Thầy chạy trước đã phóng lên được yên xe, ném túi thịt vào cái giỏ xe phía trước và cong cổ đạp qua bề ngang của sân trường.

Cũng nhanh nhẹn không kém, thầy chạy sau nhẩy lên một cái xe đạp của ai dựng gần đó và phóng đuổi theo, miệng còn la bải hải:

“Tốp! Tốp lại! Tốp lại ngay!”.

Vì cổng trường luôn luôn khóa vào ngày Chủ Nhật, việc ra vô phải đi ngách phía sau, nên người đạp xe đằng trước không có lối phóng ra. Thầy đành quành lại phía trong sân trường, cố giữ khoảng cách thật xa với người đuổi theo sau. Cuộc đuổi bắt biến thành một cuộc chạy đua đường vòng. Mà nguyên nhân của cuộc rượt đuổi là khẩu phần của một cuộc chia chác nhu yếu phẩm.

Bây giờ thì tôi nom thấy rõ món gì đang chứa trong túi nylon để ở cái giỏ xe phía trước. Nó là một cái thủ lợn, không to gì lắm nhưng vì túi nhỏ nên lộ hẳn ra bên ngoài một bên vành tai và nửa cái má đã cạo sạch lông nom trắng hếu.

Ngay lúc ấy, mấy học sinh trong Chi đội đang họp cũng túa hết ra ngoài hành lang để nhìn ra sân. Có đứa nói:

– Hai Thầy dạy lớp Sáu tranh nhau cái đầu heo tụi bay ơi!

Nhưng chúng đã bị cô giáo phụ trách bắt quay ngay trở vào. Hầu như không thầy cô nào muốn chứng kiến cái cảnh đau lòng đang xẩy ra. Tôi thì vớ lấy chồng sổ điểm, cố dán mắt vào những con số mà lúc này chúng cứ như nhẩy múa trước mặt. Bên tai tôi như còn vẳng lên tiếng ồn ào ở trong sân. Hình như nhân viên bảo vệ cũng đã bắt đầu can thiệp vào chuyện này.

Họ can thiệp thế nào, tôi không rõ, mà cũng chẳng muốn rõ. Chỉ biết hình ảnh hai người đạp xe đuổi nhau trong sân trường đã ám ảnh tôi rất mạnh mẽ khó có thể nguôi ngoai vì tôi biết cả hai Thầy. Biết không chỉ trong khía cạnh giảng dạy mà tôi còn khá rõ hoàn cảnh riêng tư của mỗi người.

Một thầy tính tình nóng nẩy, dễ dàng to tiếng mỗi khi có chuyện bất bình. Thầy cũng là người ngay thẳng, không ưa khuất tất của ai nhưng cũng không chịu để cho ai qua mặt mình. Trong vụ đáng tiếc này, tôi nghĩ Thầy chính là người đã đăng ký cái thủ lợn trước, đúng như lời Thầy la bải hải lúc chạy theo sau ông bạn đồng nghiệp: “Cái đó của tôi…Cái đó của tôi…Tôi đăng ký rồi…”.

Cứ lý lẽ mà nói, thì thái độ quyết liệt của Thầy không có gì khó hiểu. Trong thời buổi khó khăn này, ai có thì người ấy hưởng! Đã đăng ký và được chấp thuận mua rồi, tức là đã làm mọi thủ tục theo đúng quy định thì đâu có phải là chuyện con phe giữa chợ mà đi xé rào!

Người xé rào, tôi ước đoán rằng Thầy ấy chắc cũng biết là mình sai trái. Chưa làm xong thủ tục giấy tờ thì không thể cứ chen vào mà lấy càn. Nhưng chắc là gặp chuyện ngặt nghèo sao đó nên thầy mới cho bừa cái thủ lợn vào túi rồi rút nhanh, không ngờ bị phát giác nên mới phải bỏ chạy. Trong nhiều năm dạy ở đây, tôi thấy thầy ấy là một con người nhỏ nhẹ, tính tình hơi nhút nhát nhưng cung cách ứng xử với bạn bè thì đâu ra đấy. Chả bao giờ gây chuyện nhố nhăng hay lấn lướt để làm mất lòng ai. Cho nên đầu óc của tôi cứ bị lởn vởn mãi câu “Sao lại ra cái nông nỗi này?”.

Mấy ngày sau tôi được nghe một cô giáo nói lại:

– Vợ Thầy ấy bị sản hậu. Rồi lại nghe ông lang nói phải có cái đầu heo nấu cháo tẩm bổ cho người bệnh.

Ngừng một chút, cô giáo lại nói tiếp:

– Tôi nghe nói, bà Hai trong ban Tiếp Liệu đã nháy nhó, đồng ý cho Thầy ấy đem cái thủ lợn đi rồi mà. Chỉ có điều bà ta không rõ là cái thủ này đã có người đăng ký, trả tiền trước rồi. Đến lúc phát hiện ra, bả lại cứ êm rơ, chẳng cải chính cho con người ta lấy một lời. Ngậm miệng ăn tiền nó khổ vậy đó.

Qua ít ngày sau, Thầy chạy theo đòi cái thủ lợn bỗng nhiên vắng mặt. Nghỉ dạy một vài ngày là chuyện bình thường, nhưng trong Tổ chuyên môn, các giáo viên lại có chỉ thị chia nhau giờ dạy thay thế. Mọi người qua đó mới đoán chắc là thầy đã bỏ việc.

Thầy đi đâu, làm gì, gia đình ra sao chẳng ai hay biết, mà Ban Giám Hiệu cũng chẳng nêu thắc mắc. Nhưng các giáo viên thì vẫn xì xào lúc rảnh rỗi. Có tin đồn là thầy bỏ dạy học để theo xe tải buôn bán chui dọc theo con đường xuyên Bắc Nam. Lại cũng có tin cho rằng Thầy đã xuống miền Hậu Giang để tìm đường đi vượt biên. Đặc biệt là chẳng thấy ai bàn tán gì về cái nguyên do tại sao thầy tự nhiên lại bỏ trường mà ra đi mau chóng như thế. Cứ theo lời xì xào của mọi người thì hầu như ai cũng mặc nhiên đồng tình chia sẻ cái quyết định vội vã bỏ trường mà đi của thầy, sau vụ đầu heo xẩy ra. Dù ai phải hay ai trái thì riêng cái sự rượt nhau trong sân trường vì cái thủ lợn cũng đủ làm cho con người nhà giáo của cả hai bên đều phải đột quỵ mất rồi.

Còn về bà vợ thầy giáo bị bệnh sản hậu, cũng chỉ vài tuần sau thì có tin bà qua đời. Chúng tôi có ngấm ngầm quyên góp nhau giúp thầy làm đám tang đơn giản, nhưng chẳng ai giúp gì được cho thầy về mặt tâm thần. Một đứa con còn đỏ hỏn trong nôi, một con bé mới chập chững biết đi và đang bi bô tập nói, đó là trách nhiệm mà thầy còn phải gánh vác. Nhưng sao mặt mũi của thầy bây giờ cứ ngu ngơ như người mắc bệnh tâm thần. Thầy cũng không còn tới lớp dạy học nữa. Còn dạy gì được khi mà đứng cúng cơm trước tấm ảnh vợ đặt trên sạp gỗ, có lúc thầy tự nhiên cười nói vu vơ. Nghe đâu bên nhà vợ của thầy ở dưới tỉnh đã lên tìm, nhận trông nom hai đứa nhỏ. Còn sau này chính thầy ra sao, thật tình chúng tôi không hề hay biết.

Nếp sinh hoạt trong trường cứ tiếp diễn theo ngày tháng trôi qua, cho dù đời sống bên ngoài cứ mỗi lúc một thêm khó khăn hơn. Hóa ra chuyện vào biên chế, đồng lương có tăng nhưng nào có giúp được gì khi vật giá ngoài thị trường cứ tăng vùn vụt, trong khi nhu yếu phẩm dành cho công nhân viên thì cứ ngày một nhỏ giọt, teo tóp đi.

Đời sống khó khăn, lại không thấy có ánh sáng cuối đường hầm, tất tinh thần sinh dao động. Chuyện “phấn đấu” để thành đối tượng trước hiện ra ráo riết, nay cũng trở nên lơi là . Bằng cớ là mỗi khi họp, nhà trường kêu gọi thầy cô tình nguyện làm thêm việc gì đó, chẳng còn ai chịu giơ tay sốt sắng như trước. Tệ đến nỗi chuyện tình nguyện trở thành nhiệm vụ phải phân công, để rồi lại bốc thăm coi anh nào xui xẻo.

Cái sự bốc thăm, nghĩ cũng có nhiều kỷ niệm đáng ghi nhớ. Lần đầu tiên Tổ chuyên môn của tôi phải bốc thăm là để xem ai bị rơi vào giờ phụ đạo nhằm đúng chiều Thứ Bẩy.

Hãy còn quen cái thói phong lưu hồi trước, chúng tôi thường coi các buổi chiều Thứ Bẩy là chiều đi dạo phố, đi coi ciné, đi giải trí sau suốt một tuần miệt mài với sách vở. Thế mà nay cái thú thần tiên ấy bị xâm phạm. Đành là phải …bốc thăm thôi ! Tôi còn nhớ hình ảnh cô giáo môn Sinh Vật cứ cười ngặt nghẽo khi xé trang giấy trắng ở tập vở để ghi tên từng người. Cô có ý nghĩ như mình chỉ đang tham dự một trò chơi của con nít, na ná như kiểu chúng nó hay chơi “oẳn tù tì”, bởi cả đời đi dạy, có bao giờ phải …bốc thăm!

Ấy thế mà riết rồi, chuyện bốc thăm đã trở thành quen thuộc như cơm bữa.

Đi họp nghe phổ biến về chuyên môn ở Phòng Giáo Dục Quận, bốc thăm coi ai phải đi để đại diện cho Tổ của mình.

Có mít tinh biểu tình để biểu dương một ngày lễ lớn do Quận hay Thành tổ chức, lại bốc thăm coi ai phụ trách việc dẫn học sinh đi tham dự.

Rồi chai xì dầu, chai nước mắm, thậm chí đến cả chai bia có khi cũng chung nhau cứ hai người một chai. Vậy phải bốc thăm chứ biết làm sao, chả lẽ đem chai nước mắm ra mái hiên trường san xẻ vào chai, lóng ngóng có khi mùi khắm sẽ bay theo vào tận lớp ! Hoặc ngửa cổ tu nửa chai bia thuộc phần mình rồi ngất ngưởng vào lớp thì coi sao tiện. Mà nếu đem xẻ ra ca nhựa chờ về nhà nhâm nhi thì bia đi hết gaz, hết bọt uống còn thú vị gì nữa. Vậy thì lại bốc thăm thôi.

Ấy thế mà cũng có một năm Ban Tiếp Liệu thuộc Công đoàn nhà trường đoan chắc với các thầy cô là “Tết năm nay phân phối đồng đều, khỏi có chuyện bốc thăm !”. Cũng là một chuyện lạ để thành một đề tài bàn tán, có người thì tán dương ban Tiếp Liệu móc ngoặc giỏi, có người thì lại cho rằng bên đằng vợ ông Hiệu trưởng có người vừa được đề bạt một chức vụ gì cao cấp bên Thành Ủy. Nhưng dù thế nào thì khi nghe tin, ai nấy cũng đều hoan hỉ.

Tết năm ấy tuy chưa gọi là sung túc gì nhưng phần chia nào cũng có nào là bánh tét, bánh quy, kẹo cứng, đậu xanh, bột ngọt, hạt tiêu, nấm mèo, miến…lại có cả thuốc lá Tam Đảo, với chè gói Ba Đình nữa. Các Tổ phải cử người đến tăng cường công tác đong đếm, cân kiếc sao cho được chính xác. Bột ngọt thì 20 gam, hạt tiêu thì 10 gam, miến thì 100 gam. Kẻ cân xong lại hỏi người khác kiểm tra giùm để không thừa không thiếu. Cân xong rồi thì đùn đẩy qua khâu gói ghém. Việc này cũng cần kỹ lưỡng để bảo đảm an toàn lúc mang đi phân phối. Căn phòng được ban Tiếp Liệu chiếm dụng để phân chia nhu yếu phẩm vì thế lúc nào cũng ồn ào tiếng cười nói rộn ràng. Thật đúng là vui như Tết !

Thì ra cái gì thừa mứa, cứ khi cần là có ngay thì không ai thấy quý. Như ngày xưa thì có ai để tâm đến chuyện gói bột ngọt, chai dầu, lon mỡ, hũ đường…nhất là các thầy quanh năm chẳng mấy khi chịu nhón chân bước vào khu bếp núc. Ấy thế mà bây giờ lòng ai cũng thấy vui buồn nổi trôi theo mấy món liệt kê trong bảng “nhu yếu phẩm kỳ này”.

Có thế thì mới hỏi nhau : “Kỳ này có thịt không hay lại chỉ cá?”, hoặc nghiêm trọng hơn : “Nghe nói có 8 cái lốp xe sắp về, thế mà Công đoàn lại đề nghị lấy ra một cặp làm phần thưởng thi đua thì có chết không ! Thế là mất mẹ nó 2 chỉ còn 6!”.

Cái mối băn khoăn kiểu ấy, bọn chúng tôi đều đã nồng nhiệt chia sẻ, có khi lại còn góp phần bàn tán, chê trách, phàn nàn hay suýt soa tiếc sót.

Nghĩ cho cùng, những tâm tình tủn mủn đó nếu có nẩy sinh thì cũng là chuyện bình thường. Vì chúng tôi đang sống những cuộc đời thường, như tất cả mọi người chung quanh.

Đã thế, chúng tôi còn đang ở chung trên một chuyến đò để cùng sang sông, trong cái thời kỳ mà sách vở cũng như cán bộ vẫn thường gọi là “thời kỳ Quá Độ”!

Nhà giáo một thời nhếch nhác

vietmessenger.com

Nhật Tiến

Post by Sơn râu 3 May 2024

Vật vã theo học kỳ

Phần 9

Vẫn theo như cung cách từ xưa, nhà trường bây giờ cũng chia mỗi niên học thành hai học kỳ, nhưng gọi là Học Kỳ 1 và Học Kỳ 2 thay vì tên cũ là Đệ Nhất và Đệ Nhị Lục Cá Nguyệt. Ở cuối mỗi học kỳ, học sinh các lớp cũng phải làm bài thi cho tất cả các bộ môn để lấy điểm trung bình toàn năm, sau đó sẽ được xét cho lên lớp hay phải học lại.

Ngày trước, việc ra bài, chấm bài của các học sinh thi hai Lục Cá Nguyệt đều do các thầy cô đảm trách, nhà trường không lý tới. Miễn là có thi, có chấm bài và giao bảng điểm cho vị Giám thị là xong việc.

Còn bây giờ, tuy tính cách của kỳ thi thì vẫn thế, nhưng nó lại được rầm rộ thổi phồng lên, nào họp hành, nào thông cáo, nào quy trình, nào ôn tập, nào phụ đạo…cứ rối tinh lên, tạo nên một bầu không khí khẩn trương đối với cả thầy lẫn trò. Nhưng cũng vì thế mà nó cũng làm tăng thêm ấn tượng tốt đẹp của mọi người về sự quan tâm hết mức của Ban Giám Hiệu đối với học sinh.

Cho nên, cả tháng trước khi tới ngày thi, các thầy các cô đã đôn đáo hết buổi họp này đến buổi họp khác. Họ phải trình lên ban Giám Hiệu kế hoạch ôn tập trước khi thi, kế hoạch dạy thêm giờ phụ đạo cho các học sinh kém, rồi lại phải mở tung sổ điểm các tháng trước đó để lấy điểm trung bình trên các bài vở của học sinh. Sau đó là lập bảng phân loại, đứa nào thuộc con em chế độ cũ, đứa nào ở A vào hay ở Rừng ra, điểm trung bình nửa năm học của mỗi đứa bao nhiêu để dựa theo đó mà phân biệt: loại giỏi, loại trung bình, loại kém.

Những đứa còn kém thì lên lịch dạy “phụ đạo”. Những đứa từ miền Bắc tức ở A vào, mà lại thuộc loại kém thì phải lập danh sách riêng để Ban Giám Hiệu tính toán việc nâng điểm sao cho kết quả kỳ thi nom đừng tệ hại quá. Và nhất là việc xét điểm lên lớp thì tuyệt đối không thể có đứa nào ở A vô mà bị tụt lại.

Trong giờ ôn tập, thầy cô phải soạn trước các đề thi thử để cho học trò làm quen với các câu hỏi trong đề. Rồi ở mỗi câu hỏi, người soạn cũng phải viết đầy đủ đáp án đi kèm để Ban Giám Hiệu xem xét, đánh giá hoặc uốn nắn sao cho câu hỏi phù hợp với trình độ học sinh cũng như đáp ứng nhu cầu về lập trường chính trị.

Lắm lúc bị nhồi vào đầu nhiều thứ việc quá, một anh bạn đồng nghiệp của tôi bỗng nổi cáu, văng tục:

– Thi Học kỳ trình độ Phổ thông Cơ sở chứ có phải Cử nhân, Tiến sĩ đ. đâu mà cứ ngậu sị cả lên.

Một cô giáo đáp lại:

– Chẳng Cử nhân, Tiến sĩ gì nhưng nghe nói có đại diện Phòng Giáo Dục Quận xuống thanh tra các buổi thi nên ông Hiệu trưởng nhà ta mới ngậu sị lên thế.

Người văng tục lúc nãy lại lên tiếng hậm hực:

– Mấy thằng Quận thì biết cái đếch gì mà thanh tra.

Rồi anh kể:

– Bữa nọ một tay ở đó xuống đây, cắp đít đi đi lại lại trên hành lang, vừa lúc tôi xớ rớ đi qua nên tôi mới bị kêu lại hỏi là: “Thầy dạy môn gì?” Tôi đáp tôi dạy môn Lý, cấp 2. Hắn lại hỏi: “Chương trình Thầy dạy tới đâu rồi, có bị trễ tiết nào không?”. Tôi đáp là tôi theo đúng giáo án, trong giáo án có ghi cả ngày dạy, lẫn đề bài. Đó là bài “Ảnh thật và Ảnh ảo trong Thấu kính Hội tụ”. Xin cứ mở ra coi.

Đến đây anh cười hề hề:

– Chắc hắn nghe thấy tiếng ..tụ…tụ .. nên hắn giật mình tưởng tôi nói bóng gió lãnh tụ gì đó bèn nghiêm mặt mà nói: “Thầy nói cái gì ? Ảnh nào chả là ảnh, sao lại có chuyện thực với ảo ở đây?”

Mọi người cứ ré lên cười, sau lại có người hỏi :

– Rồi thầy trả lời ra làm sao?

– Ông nội tôi ơi! Lại còn phải trả lời nữa kia à? Tôi thì tôi ngả ngay cái nón ra, vái hắn ta một vái rồi tìm cớ chuồn một mạch!

Những mẩu đối đáp như thế cũng làm cho chúng tôi quên mệt và thì giờ qua mau.

Nhưng công việc thì chẳng vơi thêm chút nào. Trong những lúc thảo luận hào hứng, Ban Giám Hiệu nhà trường lại còn chấp thuận cho Chi Đoàn được phát động phong trào thúc đẩy học sinh tham gia cuộc thi “Đố Vui Để Học” dành cho các lớp Cấp 2. Đây là sáng kiến của mấy Thầy trong Chi hội Nhà Giáo Yêu Nước ‘cọp giê” nguyên văn chương trình “Đố Vui Để Học” của đài truyền hình số 9 VNCH mà người sáng tạo ra nó là anh Đinh Ngọc Mô, người đã sớm qua đời mấy năm trước đây.

“Dĩ nhiên hình thức học tập nào hay ho, có ích lợi cho việc học của học trò thì rất nên phục hồi và gìn giữ.”

Ông Hiệu trưởng đã nói thế và chỉ tiếc là ông chỉ tuyên bố câu nói ấy trong có mỗi dịp này.

Tổ chức một cuộc thi Đố Vui, nghe thì đơn giản, nhưng cũng nẩy nòi ra đủ thứ linh tinh.

Trước hết là về việc soạn câu hỏi cho các thí sinh dự thi. Ông Hiệu trưởng đã ra rất nhiều chỉ thị theo kiểu dặn dò về việc này. Nào các thầy cô phải bám sát lập trường chính trị, phải theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước cũng như quy chế của ngành giáo dục. Rồi nội dung các câu hỏi cũng phải có tính cách nâng cao tinh thần giác ngộ cách mạng, phù hợp với trình độ kiến thức của học sinh, và không ra ngoài phạm vi sách vở đã được Bộ Giáo Dục chuẩn y …vân vân ..và …vân vân..

Khi ngồi soạn những câu hỏi sao cho phù hợp với các yêu cầu đó, hẳn cũng đã có nhiều thầy cô oán thán mấy ông trong Chi hội Nhà Giáo Yêu Nước lắm. Trong khi mọi sự cũng đã rối bời lại cứ đẻ thêm chuyện để làm gì không biết nữa. Một vị chợt lên tiếng an ủi và giải thích:

– Mình bận thì các cha ấy cũng bận theo, chứ có ngồi không chỉ tay năm ngón đâu. Nhưng họ đang phấn đấu để được vào biên chế đấy. Lương đang ba chục lên ngay sáu chục, mấy hồi.

Ôi ! Cái vụ Biên Chế này mới chính là mối quan tâm của các thầy cô. Bởi nó là đầu mối chấm dứt giai đoạn “tạm dung”. Được biên chế là được chính thức công nhận vào hàng ngũ của các nhà giáo trong nhà trường XHCN. Chẳng thế mà trong trường đã có tiếng xì xào bàn tán với nhau, kỳ này những ai thuộc diện biên chế, những ai còn đang được xem xét, chưa quyết định xong. Người có tin sắp được biên chế thì lại phấp phỏng không biết sẽ ở bậc lương mấy chục đồng ? Đang ba chục mà lên bốn chục, bốn mươi lăm thì chẳng ăn nhằm gì. Giá lên được bậc năm mươi, sáu mươi thì tốt hơn. Nhưng có người lại tỏ ra thành thạo phát biểu :

– Làm gì ra có chuyện “sáu mươi”! “Năm mươi hai” là hết cỡ. Bên mấy trường kia đã như thế rồi.

Thế là lại có tiếng chép miệng:

– Thôi mấy thì mấy, miễn là cứ biên chế cho chắc ăn cái đã!

Phải trình bầy sơ qua như vậy để ta thấy các Thầy Cô quan tâm việc biên chế tới mức nào. Bởi vào “biên chế’ tức là vừa được lên lương, lại vừa chính thức được Bộ Giáo Dục tuyển mộ vào hàng ngũ các nhà giáo. Người chưa được biên chế thì chỉ là chân tạm bợ, có thể bị sa thải bất cứ lúc nào. Mà khi bị sa thải thì Phường Khóm tới nhà mời đi Kinh Tế Mới mấy hồi.

Cho nên, trong những sinh hoạt ngấm ngầm ở trường, ngoài chuyện xì xào về kỳ này ai được biên chế, ai chưa được xét tới, lại còn xuất hiện tình trạng “phấn đấu” để được vào biên chế.

Hai chữ “phấn đấu” vào thời kỳ này quả là ẩn tàng nhiều ý nghĩa. Nó chất chứa nhiều sự việc, mang nhiều hình thái, chứa đựng nhiều mánh khóe, lắm mưu mô và tất nhiên sẽ phát sinh nhiều bi kịch có thể nhớ đời.

Cho nên sẽ không có gì là khó hiểu khi nhu cầu biên chế làm nẩy sinh tệ nạn. Vài vị khả kính có thể đã lén lút gặp cán bộ, xầm xì báo cáo việc này việc kia. Nhưng đa số thì biểu lộ bằng hình thức bớt tệ hại hơn, tức là chỉ cứ cong cổ, gồng sức lên làm việc để “trên” nhìn thấy trình độ giác ngộ cách mạng của mình. Như vậy, trách làm chi mấy vị bên Chi Hội Nhà Giáo Yêu Nước đẻ chuyện, gây rối cho bà con. Họ cũng cần biên chế như ai vậy, vì nếu không cần thì họ đâu có vội chui vào cái Chi Hội mang tên là Nhà Giáo Yêu Nước này!

Được cái là đối với các giáo viên thuộc bộ môn Khoa học như Toán, Sinh Vật, Vật Lý, Hóa Học…thì việc soạn câu hỏi cho các cuộc thi Đố Vui Để Học tương đối là dễ. Kiểu như:

– Bộ phận hô hấp của con Cá là gì ?” (đáp án : Là Mang con cá, dùng để trao đổi không khí).

– Muốn 1 gam nước đang sôi bốc thành hơi thì phải cần thêm bao nhiêu nhiệt ?” (đáp án: 539 calo)

– Hóa trị của Nhôm, và cho biết hóa trị gam của nó ?”( đáp án : Hóa trị của Nhôm là 3- Hóa trị gam của nó là :A/n=27/3=9)

Cứ theo cái kiểu câu hỏi và đáp án như thế thì người soạn chẳng phải lo toan gì đến chuyện đường lối, chính sách hay lập trường chính trị gì cả.

Nhưng với môn Văn hay môn Sử thì có khác đấy! Tôi đã thấy các giáo viên thuộc hai Tổ ấy cứ đôn đáo chạy tới chạy lui hỏi nhau, trao đổi từng câu, từng chữ để hoàn tất các câu hỏi như:

– “Bác Hồ đi ra nước ngoài tại đâu, năm nào?”

Họ cãi nhau ỏm tỏi vì cái đáp án. Người thì cho là ở Nhà máy Ba Son, người thì cho là bến Nhà Rồng. Sau phải hỏi anh Bí thư Chi đoàn thì mới được xác định là bến Nhà Rồng. Còn câu hỏi thì cũng không được nói “đi ra nước ngoài” trống không, mà phải sửa là “đi ra nước ngoài tìm đường cứu nước” mới đầy đủ. Cho nên đáp án hoàn chỉnh sẽ phải là: “Bác đi ra nước ngoài tìm đường cứu nước ở bến Nhà Rồng, năm 1911”.

Mấy thầy soạn câu hỏi được một phen toát mồ hôi hột. Đúng là có đi hỏi thì vẫn có hơn, chứ nếu chỉ nói khơi khơi “Bác đi ra nước ngoài” không thôi, thì chả hóa ra Bác…. đi du lịch à???

Tuy nhiên những câu hỏi không dính gì tới Bác Hồ thì xuông xẻ và mọi người cảm thấy yên tâm hơn. Thí dụ như:

– Đọc câu tiếp theo của câu thơ sau đây : “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ…” và cho biết tác giả là ai ? (đáp án : Câu tiếp theo là “mặt trời chân lý chói qua tim” – tác giả là Tố Hữu)

– “Mặt trận Điện Biên Phủ trên không xẩy ra ở đâu? năm nào ?” (đáp án: Ở Hà Nội và Hải Phòng – năm 1972)

Ngoài kiến thức lấy từ bài học ra, Ban tổ chức cũng phải chêm vào những câu hỏi có tính cách khẩu hiệu, nghĩa là cần nhắc đi nhắc lại trong bất kỳ tình huống nào. Thí dụ như:

– Ai đã lãnh đạo nhân dân ta đánh bại hai Đế quốc sừng sỏ thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ ?(đáp án: Đó là Đảng CSVN quang vinh!). Phải nhớ dặn học trò là đừng quên hai chữ “quang vinh”.

Gặp những câu kiểu này thì vấn đề thắng-thua chỉ còn là thuộc toán nào nhanh tay bấm nút cho cái đèn bật sáng trước!

Vì thế, việc bấm nút các Toán viên dự thi cũng phải thực tập. Phải vừa nhanh tay, lại vừa chính xác, nghĩa là chộp xong được cái nút rồi thì phải nhấn mạnh tay để bảo đảm mạch điện được nối thì chuông mới kêu, đèn mới nháy. Vốn là những dụng cụ chỉ do chế biến, nên chuông, đèn không được nhậy lắm, mặc dù cũng phải kể đó là một công trình vận dụng óc sáng tạo của các Tổ viên Tổ Đồng Hồ. Vào thời điểm đó, lại chỉ là một trường trung học cấp Quận trong Thành Phố thì ai lấy đâu ra được những bộ phận tinh vi như đã từng có ở Đài truyền hình số 9 trước đây. Cho nên các Thầy đã sáng chế ra một hệ thống bấm nút cho các nhóm dự thi, mỗi nhóm 4 người bằng những cái chuông đồng hồ báo thức nối mạch với 4 cái bóng đèn, thông qua 4 cái nút chuông điện thường có ở cổng các ngôi biệt thự. Đồ tuy han gỉ, xộc xệch, nhưng được mài giũa, chùi rửa kỹ lưỡng thì cũng đủ xài.

Chính ông Hiệu trưởng trường tôi đã đích thân xuống xem xét cái hệ thống nhấn chuông dự thi này. Ông xăm xoi từng mạch điện, ngắm nghía từng cái đồng hồ còn có khả năng reng chuông, rồi lại thử bấm đi bấm lại nhiều lần từng cái nút nhấn. Mà lần bấm nào thì đèn cũng nháy nháy, chuông cũng kêu reng reng, làm ông toét miệng ra cười. Xem ra ông rất hài lòng mà cũng khâm phục lắm! Đây là một sự kiện hiếm thấy ở nơi ông khi ông công khai bầy tỏ các thầy giáo ở miền Nam cũng có nhiều khả năng và kiến thức.

Cuộc thi Đố Vui Để Học đã diễn ra rất xuông xẻ. Trong hội trường, tiếng vỗ tay cổ võ, tiếng la hét biểu lộ sự vui mừng chen lẫn với tiếng chuông kêu rèn rẹt, rèn rẹt sau khi mỗi câu hỏi được đọc lên làm bầu không khí trở nên rất vui nhộn. Thật hiếm khi nào mà Ban Tổ chức và người tới tham dự lại cùng chia sẻ với nhau niềm vui một cách chân tình như thế. Mấy vị cán bộ ở Phòng Giáo Dục trên Quận cũng xuống tham quan, khen ngợi, lại còn hứa viết phúc trình lên Thành Ủy để xin “nhân” cái hình thức tổ chức này ra tới nhiều trường khác nữa. Mặt mũi ông Hiệu Trưởng vì thế cứ tươi rói, và đây cũng là một điều rất họa hoằn, ít khi ông chịu biểu lộ ra.

Các Toán dự thi tất nhiên là được ban thưởng. Ở Toán thắng giải, mỗi người đều được một tờ giấy khen. Hai Toán Nhất và Nhì lại có thêm một gói to tướng, bao giấy bóng kính đỏ chói, bên trong có đủ thứ để mang về chia nhau nữa. Một cô giáo tò mò hỏi cô bạn trong Ban Tiếp Liệu:

– Các gói ấy có gì bên trong thế?

Cô bạn nhẩn nha trả lời:

– Bút chì, tập vở, sổ ghi, kẹo cứng, …cả mì gói nữa!

– Vậy Nhất, Nhì như nhau à?

– Đâu có! Giải Nhất còn thêm bột ngọt.

– Ui cha! Có cả bột ngọt thì ngon quá cỡ rồi!

° ° °

Tới hôm tổng kết điểm thi của học trò tại Tổ Chủ Nhiệm Lớp, một cô giáo nói rụt rè:

– Lớp em chỉ có trên 60% đạt điểm trung bình. Còn thì toàn điểm 4 với điểm 3 thôi.

Một vị khác nói:

– Thế còn ngon chán. Cái lớp của tôi có đến hơn 10 tên thuộc loại cá biệt, chúng nó tạo ảnh hưởng xấu trong việc học nên chỉ có trên 30% là đủ điểm lên lớp thôi.

Có người kêu lên:

– Chết! Như thế thì ‘vớt” làm sao?

Tôi mỉm cười:

– Đừng có lo. Cứ theo chỉ thị của Ban Giám Hiệu mà làm.

Một cô chép miệng:

– Tình huống này thì phải nâng điểm đến cả nửa lớp mất thôi.

Những băn khoăn, thắc mắc của mọi người chỉ kéo dài có vài hôm. Qua tuần lễ được coi là kỳ hạn các giáo viên phải nộp bảng tổng kết sĩ số học trò được lên lớp, thì ngay đầu tuần, tôi được gọi lên văn phòng Ban Giám Hiệu để gặp ông Hiệu Trưởng cùng bà Hiệu Phó. Bà Phó lên tiếng trước:

– Tình hình các lớp của thầy tới đâu rồi. Đã có bảng tổng kết chưa?

Tôi đáp:

– Về điểm chính thức thì chúng tôi đã cộng xong hết rồi, nhưng chưa vào sổ vì còn chờ coi chủ trương của nhà trường lấy vớt là bao nhiêu?

– Lớp mà thầy làm Chủ nhiệm có tỷ lệ bao nhiêu đứa được lên lớp?

– Năm mươi lăm phần trăm.

Ông Hiệu Trưởng bây giờ mới lên tiếng:

– Sao ít thế? Thầy dạy dỗ ra sao mà kết quả ra nông nỗi ấy? Có giáo án đầy đủ không? Có dạy phụ đạo không? Trước ngày thi có ôn tập không? Có nghỉ ốm ngày nào không?

Bị hỏi dồn một thôi một hồi, tôi chỉ nhún vai không trả lời. Hình như bà Phó lãnh công việc kiểm tra giáo án cũng như việc dạy dỗ của các giáo viên, nên bà biết tôi chẳng hề vi phạm một cái lỗi gì. Vì thế bà lại ôn tồn nói:

– Tình hình chính trị, xã hội bên ngoài chưa ổn định ắt có tác động vào việc học của học sinh nên mới ra nông nỗi ấy. Nhưng sĩ số học sinh bị tụt lại mà lên quá cao thì trường ta còn có cái uy tín gì, nhất lại vừa gây thành quả tốt đẹp sau cuộc thi Đố Vui Để Học vừa rồi.

Ngưng một chút, bà nói tiếp:

– Cho nên trước tình hình này, tôi đề nghị ta không xét điểm trung bình nữa. Cứ ấn định xong tỷ số học sinh được lên lớp rồi theo đó mà đôn lên. Còn điểm học bạ ta sẽ điều chỉnh sau.

Tôi hỏi:

– Vậy là bỏ qua chuyện trình độ học sinh kém à?

– Ừ! Cái đó giải quyết bằng dạy phụ đạo sau.

– Vậy nhà trường ấn định tỷ lệ lên lớp là bao nhiêu?

Bà Phó hỏi ngược lại:

– Theo thầy thì ta nên bao nhiêu?

Tôi trả lời:

– Dù có đôn những đứa dốt lên cũng chẳng giúp được gì cho chúng vì càng học sẽ càng đuối, có khi làm hại nó không chừng. Tôi vẫn nghĩ là nếu có vớt thì cũng vớt in ít thôi, tùy theo số điểm trung bình…

Bà Phó nghiêm giọng:

– Thôi khỏi bàn cãi nữa. Uy tín của nhà trường là điều cần thiết. Phô ra những con số lết bết thì đẹp mặt cả đám, kể cả các thầy. Mà trách nhiệm của các thầy là chính!

Ông Hiệu Trưởng lại xen vào. Giọng ông khàn khàn, ông nói như ra lệnh nhưng lại không muốn nói to để bên ngoài có thể nghe thấy:

– Thôi cho chúng nó lên lớp 95% đi. Trường ta đang ở diện tiên tiến, thế là hợp lý rồi.

Tôi như bị con số 95% ghim vào trong đầu khiến người thấy choáng váng và tôi đã phải nắm chặt lấy tay ghế để tự trấn tĩnh lại mình. Rồi tôi lại nghe thấy ông Hiệu Trưởng dặn dò thêm:

– Thầy cứ về phổ biến lại trong Tổ của mình. Nhưng cấm không đuợc ghi con số ấy vào biên bản đó nghe!

Lúc trở về làm việc, nghĩ đến trình độ sa sút của học sinh do đủ thứ công tác mầu mè, rềnh rang trong suốt niên học lại được cho lên lớp tới 95%, tôi bỗng nhận chân ra được thực chất nền giáo dục của cái xã hội mới này. Nó được che giấu bằng chủ trương “Hồng hơn Chuyên”, có nghĩa là học dốt cũng được, miễn là tinh thần phục vụ phải cao, lập trường chính trị phải vững, lý lịch cá nhân phải sạch, được Đoàn, được Đảng phê chuẩn về đạo đức cách mạng cá nhân…

Như thế thì tương lai của cái đất nước này sẽ ra cái gì, khi chỉ toàn một thứ dốt, lại thiển cận, cực đoan nắm giữ những địa vị then chốt lèo lái.

Một nỗi chán chường bỗng ùa tới khiến tôi mệt mỏi như muốn khụyu xuống. Là người đã từng dạy học từ nhiều chục năm qua, lại cũng đã kinh qua nhiều lớp học có đủ loại học trò, lòng yêu nghề trong tôi chỉ có tăng chứ không hề giảm.

Ấy thế mà trong giây phút này tôi bỗng thấy chán Trường, chán Lớp, chán cả việc dạy dỗ ngay cả với những đứa học trò rất thân mến của tôi. Cứ như thể giờ đây tôi không phải là một ông Thầy đúng nghĩa nữa.

Tôi tự hỏi không lẽ ở đây, chung quanh toàn là bà con thân thiết hay xa cách lắm thì cũng là đồng bào ruột thịt, vậy mà lại không có một chỗ cho những người như mình!

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

Post on January 13th, 2022

Post by Sơn râu 3 May 2024

(Kỳ 48)

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 48

Ngày hôm sau là thứ Bảy, 6 tháng 4, tôi thức dậy vào lúc 6g sáng. Thời tiết trong sáng. Tôi bước lên sàn tàu, hít một hơi thở thực dài. Tôi lắc mạnh đầu và ngạc nhiên thấy cơn say tối qua không để lại dấu vết. Một cơn gió nhẹ lướt qua, sóng gợn lăn tăn trên mặt biển êm đềm. Xa xa, dọc theo bờ biển, hoa anh đào ánh lên một màu rực rỡ, và sau quang cảnh này là những rặng núi nổi bật dưới bầu trời sáng chói. Sự hy sinh của chúng tôi cho quê hương tuyệt mỹ này không có gì đáng tiếc.

Uchino bước lên chào tôi. Tôi chào lại anh ta và nói: “Một ngày đẹp trời, phải không Uchino?”

“Quá đẹp, thưa Ðại tá. Một chiếc B29 bay phía trên chúng ta vào lúc 1g khuya, 2 chiếc khác vào lúc 4g sáng. Ðịch bám sát động tĩnh của chúng ta.”

Tôi im lặng gật đầu. Việc này đúng với dự đoán của tôi. Sau một vài phút đứng nhìn quê hương lần cuối, tôi quay vào phòng. Lúc 10g, một thủy thủ giúp việc bước vào: “Thưa Ðại tá, 15 phút nữa tàu đưa thư cuối cùng sẽ rời khỏi đây để chạy đến Tokuyama. Ðại tá có gì để gửi đi không?”

“Không, không có gì cả.” Khi tên thủy thủ biến dạng, tôi lại cảm thấy cần phải gửi một bức thư vĩnh biệt cho vợ tôi. Chỉ cần một vài hàng, vì thời gian gấp rút quá rồi, tôi viết vội vã:

“Trong vòng hai năm qua, kích thước của Hạm đội Hỗn hợp đã rút nhỏ lại một cách không thể tưởng tượng được. Hiện tại, anh là hạm trưởng của tuần dương hạm duy nhứt còn lại của hạm đội này – chiếc Yahagi 8,500 tấn. Anh sắp thi hành một nhiệm vụ đặc biệt ở Okinawa. Ðó là trách nhiệm và cũng là một vinh dự to lớn. Em chỉ cần hiểu rằng anh rất hãnh diện. Vĩnh biệt em!”

Tôi bỏ bức thư vào phong bì và dán lại, đoạn cầm chạy ra cầu thang, ngay lúc chiếc tàu đưa thư sắp sửa rời. Trở vào phòng, tâm hồn tôi cảm thấy thanh thản. Tôi nhìn 8 khu trục hạm đậu gần đó, nghĩ đến thời gian qua và những gì xảy ra quanh các chiến hạm này.

Yukikaze (Tuyết Phong) đã tham dự nhiều trận đánh dữ dội nhưng vẫn sống sót. Chiếc tàu này cũng nổi tiếng không thua gì chiếc Shigure của tôi. Tôi nhớ lại bài hát đã từng phổ biến ở Truk và Rabaul trước đây:

Shigure của Sasebo, Yukikaze của Kurê

Hai khu trục hạm kiên cố và bất diệt

Phép lạ trong mơ của muôn vàn thủy thủ

Luôn trở về sau chiến trận vinh quang

Ca khúc đã từng là một thúc đẩy tinh thần mạnh mẽ cho thủy thủ của tôi. Bây giờ Shigure đã ra đi vĩnh viễn, nhưng Yukikaze chắc chắn sẽ tiếp tục phép lạ. Tôi nhìn sang khu trục hạm Suzutsuki (Lãnh Nguyệt) 3,470 tấn, và nghĩ đến thành tích đáng ngạc nhiên của tàu này. Hạ thủy vào cuối 1912, Suzutsuki đã từng bị một tàu ngầm địch phóng 2 quả ngư lôi vào ngày 16 tháng Giêng năm 1944, gần Shikoku, eo biển Bungo. Mũi và lái bị vỡ, nhưng “Lãnh Nguyệt” không chìm và tìm mọi cách lết về Kurê. Chín tháng sau, “Lãnh Nguyệt” lại lĩnh thêm một quả ngư lôi nữa của địch ở mũi, cũng gần Shikoku, và giống như lần trước, chiếc tàu này vẫn ráng lết về Kurê. “Việc gì đã xảy ra hai lần thì thế nào cũng xảy ra lần thứ ba,” tôi nghĩ, nhưng lần này không hiểu số phận của Suzutsuki sẽ như thế nào.

Còn chiếc Hibiki (Âm Vang), lẽ ra phải có mặt trong hải lực này, nhưng nó bị trúng một trái mìn vào sáng sớm ngày 5 tháng 4, và đã khập khễnh về Kurê. Tôi cảm tình đặc biệt với chiếc khu trục hạm nhỏ bé 1,980 tấn này. Sự vắng mặt của Hibiki thực đáng tiếc. Khi nghe tai nạn xảy ra, tất cả chúng tôi đều tức bực. Một khu trục hạm Nhựt bị hư hại vì trúng một quả mìn ngay trên biển Nhựt là một điều nhục nhã. Thời gian đó, các pháo đài bay B29 của Hoa Kỳ đã rải rất nhiều mìn trên mặt biển và ngay các thủy phận khác của Nhựt cũng không an toàn. Vấn đề này đã ảnh hưởng rất nhiều trong quyết định tung tất cả chiến hạm còn lại của chúng tôi vào Okinawa.

Nhìn đến chiếc Hatsushimo (Làn sương thứ nhất), tôi không thể tin là nó sẽ tồn tại trong chuyến đi không có lượt về này. Sự thực lại trái ngược nhưng chiếc Hatsushimo trở về chỉ để nhận một quả thủy lôi trong biển Nhựt vào ngày 30 tháng 7 và trở thành chiến hạm thứ 129, cũng là khu trục hạm cuối cùng của Nhựt bị đánh chìm trong thế chiến.

Lịnh nhổ neo ban ra vào lúc 16g. Hải xuất “tấn công đặc biệt” của 10 chiến hạm thuộc Hạm đội Hỗn hợp đã phát động. Tuần dương hạm Yahagi chạy dẫn đầu, kế đó là 3 khu trục hạm Isokaze, Hamakaze, Yukikaze và tiếp theo là thiết giáp hạm Yamato, các khu trục hạm Asashimo, Kasumi và Hatsushimo chạy nối đuôi phía sau. Chúng tôi tiến với tốc độ 12 hải lý chậm chạp, nhằm để tránh mìn. Tôi liếc qua đội hình khiêm nhường hiểu rằng đây quả thực là hải xuất cuối cùng, đồng thời cảm thấy hãnh diện khi dẫn đầu chuyến đi định mệnh này.

Hai giờ sau, chúng tôi tiến vào eo biển Bungo, nằm giữa Kyushu và Shikoku. Bên trái chúng tôi, bờ biển chạy dài ở phía Bắc Shikoku chỉ còn lờ mờ trước tầm mắt. Tôi đứng lặng yên để chào vĩnh biệt hòn đảo sanh quán này.

Qua khỏi eo biển nhỏ hẹp, hải vực đầy mìn đã nằm phía sau lưng, chúng tôi gia tăng tốc độ. Nhanh chóng những rắc rối xuất hiện. Hai chiếc B29, bay cao khỏi tầm cao xạ, thả một loạt bom xuống ngay đoàn tàu của chúng tôi. Không một quả nào trúng mục tiêu, nhưng thách thức này báo trước hiểm nguy đang chờ đón. Tôi thấy bất an khi nghĩ đến 10 chiến hạm, chỉ một chiếc Yamato và 2 khu trục hạm là có trang bị radar phòng không. Radar của chiếc Yahagi chỉ hữu dụng trong việc chống lại các mục tiêu trên biển mà thôi. Nhưng hiện thời không có thời gian nhiều để quan tâm đến những vấn đề như vậy. Mỗi chiến hạm đều tập họp thủy thủ trên sàn tàu. Trên chiếc Yahagi, giữa sàn tàu rộng bao la, 1,000 thủy thủ đứng im phăng phắc để nghe tôi trình bày tóm lược nhiệm vụ và đọc một thông điệp đặc biệt của Ðô đốc Toyoda: “Hải quân Hoàng Gia đang phát động một cuộc tổng phản công ở Okinawa, với sự phối hợp của tất cả Không Hải Lục, dồn hết nỗ lực nhằm lật ngược tình thế. Mọi đơn vị và mọi binh sỹ phải nêu cao tinh thần chiến đấu, có thế, quốc gia mới mong trường tồn, vì vận mạng của tổ quốc chúng ta nằm trong cuộc hành quân này.”

Không một tiếng động nào khác ngoài tiếng chạy rì rầm của máy tàu, tiếng vỗ của sóng và tiếng phần phật của quốc kỳ. Tôi tiếp tục: “Các anh vừa nghe thông điệp của Tổng Tư Lịnh. Tôi muốn thêm một đôi lời về nhiệm vụ tấn công đặc biệt của chúng ta.”

“Như các anh đã biết, hàng ngàn đồng đội của chúng ta đã thực hiện những chuyến bay không trở về để chống lại đối phương. Hàng ngàn phi công Thần Phong đang chờ đợi trên khắp các sân bay. Nhiều trăm đồng đội khác đã sẵn sàng trên các tàu ngầm tự sát. Hàng nhiều ngàn đồng đội khác nữa sẽ lái tàu chứa chất nổ hoặc đích thân mang chất nổ lặn sâu xuống đáy biển để hủy diệt chiến hạm địch.”

“Trách nhiệm của chúng ta là san sẻ sự can đảm của các đồng đội đó. Nhiệm vụ của chúng ta có vẻ như là tự sát, và sự thực nó là như vậy. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng đó không phải là mục đích. Mục đích của chúng ta là chiến thắng.”

“Ðừng ngần ngại trong việc bảo vệ mạng sống của mình. Chúng ta bắt buộc phải chống trả bất kỳ nỗ lực nào của địch nhằm ngăn trở nhiệm vụ của chúng ta, nhưng không vì vậy mà chúng ta xem thường mạng sống của mình. Chúng ta không phải là những con cừu dùng để tế thần. Chúng ta là những con sư tử được thả ra đấu trường để nuốt tươi đấu thủ. Chúng ta không phàn nàn hối tiếc khi phải hy sinh cho quốc gia.”

“Lập tức, khi chiếc tàu này bị hư hại nặng hay bị chìm, các anh đừng lưỡng lự trong việc tự cứu mình, bởi lẽ thua keo này sẽ bày keo khác. Tôi nhắc lại, nhiệm vụ giao cho các anh không phải là tự sát, mà là đánh bại đối phương.”

Thấp thoáng qua mây, ánh trăng xuân phủ một màu nhợt nhạt lên thủy thủ đoàn yên lặng và bất động như những pho tượng. Sự im lặng đầy căng thẳng này kéo dài cho đến khi một sỹ quan đứng ở hàng đầu lên tiếng:

“Thưa Ðại tá, xin Ðại tá cho phép tôi hỏi một câu?”

Tôi gật đầu đồng ý cho Ðại úy Kenji Hatta hỏi. Anh ta tiếp tục: “Trong suốt 4 năm theo học ở Hàn Lâm Viện, chúng tôi được dạy dỗ rằng phải sống chết với chiếc tàu, có nghĩa là chúng tôi không được bỏ tàu của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Ðại tá có thể giải thích rõ hơn về những lưu ý của Ðại tá, theo tôi, hình như phủ nhận những gì mà chúng tôi được dạy.”

Câu hỏi này hiển nhiên nằm trong đầu của các sỹ quan hiện diện. Tôi đáp: “Câu hỏi rất có lý. Tôi sẽ giải đáp. Nếu tàu sắp chìm các anh phải lập tức bỏ tàu, không chần chờ một giây phút nào. Việc này có vẻ trái ngược với những gì các anh đã từng được dạy trong quá khứ, nhưng tôi sẽ giải thích.”

“Chúng ta đã đến điểm khốc liệt nhứt của cuộc chiến này. Vật lực của địch đã đành là ghê gớm nhưng điều quan trọng hơn hết với chúng ta là vấn đề thiếu nhân sự giỏi, bởi vì chúng ta đã thiệt mất quá nhiều ngoài mặt trận. Phải mất 5 năm mới đào tạo ra một sỹ quan, do đó sự mất mát này không thể thay thế mau lẹ được. Nhiều thủy thủ rành nghề đã thiệt mạng vì họ xem rẻ mạng sống của họ. Nếu nhiệm vụ của chúng ta là chiến thắng cuộc chiến này, chúng ta phải kiên nhẫn.”

“Trong thời phong kiến, mạng sống của con người bị phí phạm một cách vô ích, nhưng chúng ta là những con người của thế kỷ 20, chúng ta không thể làm như vậy. Giáo điều Bushido, tâm niệm của võ sỹ đạo, dạy rằng một Samurai phải sống một đời sống như thể hắn luôn luôn chuẩn bị để chết. Câu này thường bị lạm dụng và diễn giải sai lầm. Nó không có nghĩa là một Samurai phải tự sát, nếu hắn vấp phải những sai lầm không đáng kể. Ðúng ra, nó có nghĩa là một Samurai đã chọn một đời sống như vậy, hắn sẽ không hối tiếc khi phải chết. Bushido chỉ kêu gọi tự sát khi chúng ta vấp phải những sai lầm to lớn. Cái chết đến với một người bất kỳ lúc nào, không cần biết đến người đó đã sống một đời sống ra sao. Cái chết chỉ khác nhau ở ý nghĩa mà thôi. Câu hỏi của anh được giải đáp như vậy có ổn chưa, Hatta?”

“Ổn lắm, thưa Ðại tá!” Anh ta nói lớn. “Tôi đồng ý với Ðại tá hoàn toàn. Cám ơn Ðại tá rất nhiều.” Và anh ta đưa tay chào tôi.

Tôi lớn tiếng: “Tất cả chúng ta hãy tận lực để xoay dòng thủy triều của cuộc chiến.”

Cuộc họp chấm dứt bằng những tiếng “Vạn tuế Nhựt hoàng!” đồng loạt như sấm dậy của toàn thể thủy thủ đoàn.

Trên hải trình, truyền tin của chúng tôi bắt được một công điện chuyển đi từ một tàu ngầm địch quanh quẩn đâu đó. Yamato ra lịnh xoay về hướng phải để tiến sát vào Kyushu nương tựa bờ biển phía Ðông của hòn đảo này. Trăng lên, đại dương đen thẫm, và thời tiết đột nhiên trở xấu. Các quan sát viên mở hết mắt nhưng cũng không nhìn thấy gì. Mọi người căng thẳng, nhưng tàu ngầm địch không tấn công.

Tôi không biết vào ngày hôm đó khu trục hạm cũ của tôi là chiếc Amatsukaze bị phi cơ địch oanh tạc tan tành ở phía Bắc Hoàng Sa, thảm họa nhỏ này mở màn cho thảm họa lớn hơn giáng xuống hạm đội của chúng tôi. Nhưng cho dù biết được tin tức không tốt lành của chiếc Amatsukaze, tôi cũng không cho đây là một điềm dữ báo trước.

Hạm đội của chúng tôi tiến dọc theo bờ biển phía Nam Kyushu với tốc độ 20 hải lý, chạy theo hình chữ chi. Lúc 7g sáng ngày 7 tháng 4, một lần nữa, chúng tôi xoay hướng 210 độ, giả vờ tiến tới Sasebo, nằm ở phía Tây-Nam Kyushu. Trên đoạn hải trình nghi binh này, 10 chiến hạm từ từ tạo một đội hình vòng tròn bao quanh soái hạm Yamato, với một đường bán kính 2,000m.

Vị trí của chiếc Yahagi ở ngay trước mũi Yamato. Tính theo chiều kim đồng hồ, vị trí của 8 khu trục hạm nằm trong phần vòng tròn còn lại như sau: Asashimo ở hướng 7 phút rưỡi, Kasumi 15 phút, Fuyutsuki 21 phút, Hatsushimo 27 phút, Yukikaze 39 phút, Hamakaze 45 phút và Isokaze ở hướng 52 phút rưỡi.

Ngay sau khi vòng tròn này lập xong, các chiến hạm gia tăng tốc độ lên 24 hải lý và chạy theo hình chữ chi trở lại. Nét đầu tiên của chữ chi xoay hướng tiến của đoàn tàu 45 độ, Asashimo trở thành chiếc tàu dẫn đầu. Nét thứ hai mang chiếc Isokaze về phía trước, và cứ tiếp tục như vậy. Ðội hình di chuyển này đòi hỏi sự điều động phải tuyệt đối chuẩn xác, rất hữu hiệu trong việc chống lại các cuộc tấn công của tàu ngầm, nhưng lại khó đương đầu với phi cơ nhanh nhẹn, có thể nhắm vào bất kỳ góc tấn công nào cũng được.

Ðội hình và lối chạy vừa nói đã được quyết định trong một cuộc họp cuối cùng của Ito trên soái hạm Yamato. Quyết định này sẽ sớm chứng tỏ sự sai lầm.

Thời tiết tốt đẹp suốt ngày hôm đó và cho đến sớm hôm sau thì hoàn toàn thay đổi. Mây che kín bầu trời và bay là đà trên mặt biển. Không một tia nắng nào xuyên nổi qua những lớp mây dày đặc này. Mưa không biết đến lúc nào. Một ngày đáng lo ngại.

Bờ biển Kyushu biến mất nhanh chóng khi chúng tôi xoay sang hướng Nam để chạy ra Ðông Hải. Từ khi khởi hành, lần đầu tiên tôi cảm thấy bất an. Thời tiết hiện tại đầy bất lợi cho một cuộc đi biển. Giữa ban ngày, tầm nhìn giới hạn còn 2,000m. Ðược trang bị radar tối tân, với khoảng cách quan sát này, lợi thế sẽ nghiêng hẳn về phía địch. Một cơn mưa bão mù mịt sẽ che chở chúng tôi rất nhiều, nhưng đó chỉ là hy vọng hão huyền mà thôi. Tôi tự hỏi tại sao chúng tôi không chọn một ngày thời tiết thuận lợi hơn cho nhiệm vụ tuyệt vọng này.

Các quan sát viên của Yahagi hớn hở báo tin 20 chiến đấu cơ Zéro bay đến từ hướng Bắc. Chúng lướt ngang thực thấp trên đầu chúng tôi và quay lại một lần nữa, lần này ẩn hiện trong những lớp mây dày đặc. Uchino hỏi có phải những chiến đấu cơ này đến để bao che cho lực lượng của chúng tôi hay không?

Komura bình thản đáp: “không, Uchino, mấy chiếc Zéro này không dính dáng gì đến hạm đội chúng ta. Chúng ta không được bao che trên không. Ðây là một phi xuất huấn luyện thường lệ. Có lẽ Kusaka ra lịnh cho mấy tên phi công này bay trên đầu chúng ta để nói lời vĩnh biệt!”

Sự im lặng kéo dài trên đài chỉ huy của tuần dương hạm Yahagi cho đến khi Yamato báo tin một trong hai thám thính cơ còn lại trên soái hạm này sẽ cất cánh bay về căn cứ Ibusuki, và đồng thời ra lịnh cho Yahagi gửi đi một trong hai thám thính cơ của mình. Yamato thường mang theo 7 chiếc, nhưng 5 chiếc đã được bỏ lại ở Kurê. Chiếc thứ sáu vừa cho cất cánh, cùng lúc với chiếc của Yahagi, bởi lẽ Ito không muốn chúng bị phí phạm vô ích trong chuyến đi cầm chắc cái chết trong tay của chúng tôi.

Trước khi cất cánh, viên phi công của Yahagi đã đến trình diện tôi. Anh ta đứng nghiêm và nói: “Tuân lịnh! Tôi sẽ về Ibusuki ngay bây giờ, nhưng ở đó tôi sẽ tình nguyện thực hiện một phi vụ tự sát và sẽ sớm gặp lại Ðại tá!”

Khi đã ở trên không, anh ta bay tuần trên đầu chúng tôi ba vòng và sau đó trực chỉ Kyushu.

Trong khi Yamato và Yahagi chuẩn bị cho cất cánh hai thám thính cơ cuối cùng, chúng tôi phát hiện hai phi cơ không rõ lai lịch ở phía Bắc, nên công việc này được đình chỉ.

Uchino càu nhàu: “Tại sao các chiếc Zéro hồi nãy của chúng ta không được giữ lại để chống với phi cơ địch?”

Komura đáp một cách điềm tĩnh: “Hãy bình tĩnh, Uchino, anh cũng biết mấy viên phi công non nớt của chúng ta làm sao chống nổi với mấy tên Yankee kinh nghiệm của đối phương.”

Mây sà thấp hơn, thời tiết càng tồi tệ, và vào lúc 8g, mưa phùn bắt đầu rơi. Các chiến hạm của chúng tôi, vẫn trong đội hình vòng tròn, tiến thẳng về hướng định mệnh, dưới sự dòm ngó liên tục của các phi cơ quan sát của địch. Trong lúc đó, các chiến đấu cơ Nhựt vẫn bình thản tiếp tục bay huấn luyện ở xa. Tôi đã gặp nhiều loại hành quân, nhưng chưa có loại nào kỳ quái như vậy.

Lúc 9g, khu trục hạm Asashimo, chạy phía phải Yahagi, bỗng nhiên giảm tốc độ. Xuyên qua ống dòm, tôi nhận thấy rõ khuôn mặt ông bạn Sugihara của tôi, hạm trưởng của chiếc Asashimo đang đứng trên đài chỉ huy, lộ vẻ bối rối. Tín hiệu bằng cờ của chiếc tàu này cho biết nó bị trục trặc máy móc. Nhìn Asashimo rơi dần lại phía sau, tách rời khỏi đội hình, tôi lo lắng, nên gửi ngay một thông điệp yêu cầu cho biết tin tức rõ hơn.

Asashimo đáp: “Ðang nỗ lực sửa chữa. Hy vọng bắt kịp sớm.” Nhưng chiếc tàu càng lúc càng tụt lại, vào lúc 10g thì không còn thấy tăm dạng đâu nữa. Komura ra lịnh cho khu trục hạm Kasumi điền vào khoảng trống và 4 khu trục hạm kế tiếp đôn lên. Việc điều chỉnh này khá dễ dàng cho dù đoàn tàu vẫn tiếp tục chạy theo hình chữ chi.

Nhưng đối với tôi không dễ chịu, khi tôi biết rằng vị trí của chiếc Asashimo, che cạnh sườn phải của tôi, hiện thời do một tàu nhỏ nhứt thay thế. Ðó là một điều bất lợi.

Truyền tin của chúng tôi vừa chặn bắt thêm một công điện của địch, lần này do phi cơ bay rất gần chuyển đi. Việc này chứng tỏ hướng tiến giả vờ của chúng tôi không ích lợi gì cả. Ðịch đã biết người biết ta rồi.

Lúc ấy, có 3 tàu buôn 2,000 tấn lướt qua, tạo một không khí vui vẻ phần nào. Có nhiều thủy thủ nói rằng họ không ngờ Nhựt còn có những tàu buôn to lớn đến như vậy.

Vào lúc 11g30, một thủy phi cơ được phát hiện cách 20,000m ở phía Ðông. Chiếc phi cơ bay ngoài tầm súng, xoay vòng tròn quanh đoàn tàu, và gửi đi báo cáo chi tiết về hoạt động của chúng tôi. Ðiều đáng tức giận là chúng tôi không có một chiến đấu cơ nào để cho cất cánh và bắn kẻ đang đe dọa đến sự an toàn của hạm đội. Trong khi tôi đang nhìn chiếc thủy phi cơ bay ngoài tầm cao xạ một cách thèm thuồng, phòng truyền tin báo cáo: “Căn cứ quan sát ở Amami Oshima cho biết 250 phi cơ địch đang hướng về phía Bắc.”

“Chúng đến rồi!” Komura nói với một nụ cười méo mó.

Amami Oshima là hòn đảo nằm giữa Kyushu và Okinawa. Không cần nhìn hải đồ, mọi sỹ quan trên đài chỉ huy đều biết rằng các phi cơ này sẽ đến trên đầu chúng tôi trong vòng một giờ nữa.

Tameichi Hara – Khu Trục Hạm Xứ Mặt Trời Mọc

Trần Vũ

Post on January 6th, 2022

Post by Sơn râu 3 May 2024

(Kỳ 47)

Bản dịch Nguyễn Nhược Nghiễm

Chương 47

Ngày 20 tháng 12 năm 1944, Miyazaki thay thế tôi điều khiển quân trường đáng chán Kawatana, và tôi về tuần dương hạm nhẹ Yahagi. Trung tá Shinichi Uchino, hạm phó, tuyên bố đầy hứng khởi: “Khi biết tân hạm trưởng là Ðại tá, thủy thủ đoàn đã vô cùng mừng rỡ. ‘Hạm trưởng kỳ diệu’, các thủy thủ gọi Ðại tá một cách hãnh diện như vậy.”

Ngày 1 tháng 4-1945, Hoa Kỳ đổ bộ lên  Okinawa. Vào buổi sáng đầy sương mù đó, Ðệ Nhị Hạm Ðội buông neo gần Tokuyama trong biển Nhựt Bản. Trên đài chỉ huy của tuần dương hạm Yahagi, tôi thẫn thờ nhìn thiết giáp hạm khổng lồ Yamato với 8 khu trục hạm đang buông neo. Ðệ Nhị Hạm Ðội hùng hậu vào những ngày đầu cuộc chiến còn lại bấy nhiêu:

Đệ Nhị Hạm Đội – Tư lịnh: Phó Ðô đốc Seiichi Ito†, Tham mưu trưởng: Ðề đốc Nobuei Morishita.

Thiết giáp hạm Yamato† (cũng là soái hạm của Ito) hạm trưởng là Ðề đốc Kosaku Aruga†.

Phân Hải đoàn 2 Khu trục hạm, Ðề đốc Keizo Komura, chỉ huy trên tuần dương hạm Yahagi†.

Hải đội 17 (Ðại tá Kiichi Shintani†), bao gồm các khu trục hạm Isokaze† (Trung tá Saneo Maeda), Hamakaze† (Trung tá Isami Mukoi), Yukikaze† (Trung tá Masamichi Terauchi).

Hải đội 21 (Ðại tá Hisao Kotaki†), bao gồm các khu trục hạm Asashimo† (Trung tá Yoshiro Sugihara), Kasumi (Trung tá Hiroo Yamana), Hatsushimo† (Trung tá Masazo Sato).

Hải đội 41 (Ðại tá Masayoshi Yoshida), bao gồm các khu trục hạm Fuyutsuki (Trung tá Hidechika Sakuma), Suzutsuki (Trung tá Shigetaka Amano).

(†) Sẽ tử trận hoặc chìm trong hải xuất cuối cùng. 

Soái hạm phất tín hiệu bằng cờ: “Ten-go hiệu lực từ lúc này.”

Lập tức, hoạt động trên các chiến hạm trở nên rộn rịp, vì Ten-go là cuộc tổng phản công của Nhựt. Ðề đốc Keizo Komura, vừa thay thế Kimura, đặt soái kỳ trên tuần dương hạm Yahagi của tôi, được triệu tập đến soái hạm Yamato. Ông vội vã xuống ca-nô.

Tôi nhìn đăm đăm chiếc thiết giáp hạm trong nỗi lo âu, và vào lúc 11g30, Yamato phát tín hiệu: “Ðề đốc Komura gửi tất cả các hải đội trưởng và hạm trưởng. Ðến họp lập tức trên Yahagi.”

Cùng lúc đó, Komura trở về Yahagi, trông có vẻ căng thẳng, nhưng ông không nói với tôi điều gì. Khi tôi dọ hỏi, ông chận lời: “Ðừng có bồn chồn, Hara. Hãy chờ cho mọi người đến đầy đủ đã.”

Lời nói của ông khiến tôi giật mình, bởi vì Komura là một người vô tư lự, ít khi giấu những cảm xúc của mình. Tôi đưa mắt nhìn 8 ca-nô đang lướt về phía Yahagi.

Phiên họp mở ngay vào giữa trưa. Komura nói, “Chắc các anh đã nhìn thấy tín hiệu cho biết cuộc hành quân Ten-go có hiệu lực ngay từ bây giờ. Phó Ðô đốc Ryunosuke Kusaka, Tham mưu trưởng của Hạm đội Hỗn hợp vừa từ Kanoya đến để họp với thượng cấp của chúng ta.”

Ngưng một lúc, Komura tiếp: “Kế hoạch Phó Ðô đốc Kusaka mang đến là một kế hoạch không bình thường. Bộ Tư Lịnh Tối Cao muốn Ðệ Nhị Hạm Ðội tiến đến Okinawa, không có phi cơ bao che và với nhiên liệu vừa đủ cho lượt đi. Tóm lại, là muốn chúng ta thực hiện một nhiệm vụ không khứ hồi…”

“Tôi đã nói với Kusaka rằng hạm đội yếu kém của chúng ta không có một cơ may nào chống nổi với hải lực hùng hậu của đối phương, và hành quân như vậy là tự sát hoàn toàn! Hai Ðề đốc Agura và Morishita đồng ý với tôi. Phó Ðô đốc Ito im lặng, nên tôi không biết suy nghĩ của ông.”

“Tất cả các anh đều biết, tôi từng làmtham mưu trưởng cho Phó Ðô đốc Ozawa khi ông nhử địch ở Phi Luật Tân và thiệt mất 4 hàng không mẫu hạm. Tôi nhận thấy việc sát hại binh sỹ của chúng ta là đã quá đủ. Tôi không quan tâm đến mạng sống của tôi, nhưng tôi muốn chấm dứt sự khinh thường sanh mạng thuộc cấp. Do đó, tôi đã yêu cầu Ito và Kusaka tạm ngưng phiên họp để tôi trở về hội ý với các anh.”

Sau những lời này, Komura nghiến chặt răng và nhắm chặt hai mắt mọng nước mắt. Sự im lặng nặng nề bị phá vỡ khi Ðại tá Kiichi Shintani, chỉ huy Hải đội 17, cất tiếng: “Ðô đốc Kusaka đến đây để cắm những lịnh này vào cổ họng chúng ta?”

Komura đáp: “Không ai có thể ra lịnh cho người khác tự sát được. Kusaka không liên quan gì đến mấy lịnh lạc này. Nếu có đi nữa, ông ta cũng không thể ra lịnh cho chúng ta như vầy.”

Shintani đỏ mặt tía tai, hít sâu, và lớn tiếng: “Tôi đã theo Kurita tham dự trận đánh ở Leyte sau ngày quân Mỹ đổ bộ. Bộ Tư Lịnh Tối Cao muốn chúng ta đẩy địch quân ra khỏi đầu cầu đã được củng cố của họ ở Okinawa nhưng lại tiếp tục theo đuổi phương thức cùng quẫn ở Leyte. Kurita còn có chút hy vọng, vì ít ra ông ta còn có Ozawa làm nhiệm vụ nhử địch. Còn chúng ta, không hải lực chim mồi, chúng ta sẽ không có bất kỳ cơ hội nào để áp sát. Nếu chúng ta cố làm một việc như vậy, tất cả chúng ta sẽ bị tiêu diệt, rồi ai sẽ bảo vệ quê hương? Tôi chống đối cuộc hành quân này.”

Ðại tá Hisao Kotaki, chỉ huy Hải đội 21 tiếp lời: “Tôi đồng ý với Shintani. Bộ Tư Lịnh Tối Cao đang lặp lại sai lầm của nhiều tháng trước. Tại sao chúng ta, đã từng trải qua biết bao chiến trận, lại để cho một bọn ngu xuẩn và bất tài dẫn dắt như kẻ đui mù? Tại sao chúng ta không cất tiếng nói dựa trên kinh nghiệm thiết thực của chúng ta?”

Các hạm trưởng dưới quyền Shintani và Kotaki lần lượt lên tiếng và tán thành ý kiến của hai hải đội trưởng của họ. Việc này nhanh chóng biến phiên họp trở nên sôi động chưa từng thấy. Nhưng Komura hoàn toàn bất động.

Tôi cảm thấy đến lúc phải lên tiếng, tôi nói: “Vấn đề thực tế mà chúng ta cần làm là tấn công các hải trình tiếp vận của địch. Vào ban đêm. Hiện thời chiếc Yahagi đã được trang bị radar và sonar, tôi tin có thể hải hành đơn độc, và ít ra sẽ đánh chìm vài chiến hạm địch trước khi bị hạ. Làm như vậy có thể đối phó và tránh né kẻ thù, còn mang toàn thể hạm đội đến Okinawa chẳng khác nào trứng chọi đá.”

Ðại tá Masayoshi Yoshida, chỉ huy Hải đội 41 lên tiếng kế đó: “Ý kiến của Hara phù hợp với ý kiến của tôi. Hai khu trục hạm Fuyutsuki và Suzutsuki của tôi là những khu trục hạm được trang bị cao xạ tối tân nhứt. Hai khu trục hạm này được tạo nên bằng máu, nước mắt và thuế má của quốc gia nghèo khổ của chúng ta, nhưng cả hai chưa từng được giao phó một công việc có giá trị nào. Tôi tin chắc có thể thi hành nhiệm vụ riêng rẽ một cách tốt đẹp, như Hara vừa nói.”

Trung tá Yoshiro Sugihara, nguyên hạm trưởng khu trục hạm Samidare bị đánh chìm vào tháng 8 vừa qua và hiện thời là hạm trưởng khu trục hạm Asashimo, nhiệt liệt ủng hộ ý kiến của Yoshida. “Tôi đã sống an nhàn quá lâu,” hắn nói, “nên tôi chuẩn bị chết bất kỳ lúc nào, nhưng không chết một cách vô nghĩa. Chiếc Asashimo của tôi là một chiến hạm 2,520 tấn, tôi muốn có cơ hội để chứng tỏ chiếc tàu này có lợi ích cho quốc gia.”

Phiên họp dừng lại khi đầu bếp dọn bữa trưa nhưng thức ăn không có mùi vị gì với mọi người. Trong suốt bữa ăn, các hạm trưởng bàn bạc mấy ý kiến vừa qua. Lúc 13g, Komura quay lại soái hạm Yamato. Các sỹ quan vẫn ở lại trên chiếc Yahagi chờ đợi một cách nôn nóng. Lúc 16g, Komura quay về.

Ông bước chậm chạp vào phòng khách, gương mặt đầy khổ não. Ông nói một cách mệt mỏi và chán nản: “Tôi chấp nhận lịnh của thượng cấp. Lịnh này có hiệu lực từ 15g30.”

Sau câu này ông như trút được gánh nặng. Ông lướt mắt quanh phòng, nhìn từng người một, sau đó tiếp tục nói: “Tôi mất một giờ để trình bày ý kiến của các anh và sự đồng tình của tôi. Kusaka và những người khác lắng nghe một cách chăm chú. Khi tôi dứt lời, Kusaka giải thích rằng chuyến đi này là một nhiệm vụ nhử địch. Kusaka nhấn mạnh đây không phải là kế hoạch của ông, mà đã được sắp xếp trong lúc ông thị sát Kanoya. Theo kế hoạch này, trong khi các hàng không mẫu hạm của địch mắc bận đối phó với hạm đội của chúng ta, Kanoya – phi trường nằm ở cực nam Kyushu – sẽ cho nhiều trăm phi cơ Thần Phong tấn công hạm đội địch ở Okinawa. Kusaka bảo đảm với tôi rằng hải xuất chim mồi này sẽ không kết thúc một cách vô ích như hải xuất ở vịnh Leyte.”

“Sau đó, Kusaka đã xoay sang Morishita và giải thích rằng Bộ Tư Lịnh Tối Cao và đặc biệt là Lục quân, đã chán nản về sự bất lực của đại thiết giáp hạm Yamato.”

“Kế đó, Kusaka nói với Aruga rằng cả nước Nhựt sẽ oán ghét Hải quân nếu cuộc chiến này chấm dứt mà chiếc Yamato không bị một vết trầy nào. Từ trước đến nay Aruga (hạm trưởng hiện hành của Yamato) không vấp phải lỗi lầm nào, do đó ông ta tin rằng chiếc Yamato sẽ không bỏ chạy như trong chuyến ra quân đầu tiên ở Leyte, và thiết giáp hạm khổng lồ này sẽ không còn bị mang danh là “khách sạn nổi cho các vị Ðô đốc vụng về và lười biếng”.

“Tới đây, Ito phá vỡ sự im lặng quá lâu của ông: ‘Tôi nghĩ là chúng ta được trao cơ hội để chết một cách thích đáng. Một Samurai phải sống một đời sống như vậy, hắn luôn chuẩn bị để chết.’ Sau lời nói của Ito, cuộc tranh luận hoàn toàn chấm dứt. Morishita và Aruga đều nhượng bộ. Tôi không thể làm khác hơn.”

Komura cúi đầu thực thấp sau câu nói cuối cùng này, như để thay lời tạ lỗi. Chúng tôi ngồi bất động. Sau những giây phút lê thê như hàng giờ trôi qua, tôi quyết định đấu mặt với thực tế. Tôi nói: “Thưa Ðề đốc, việc Ðề đốc vẫn giữ vững quan điểm của chúng ta, tôi rất tán thành. Nhưng lịnh vẫn là lịnh. Hiện thời chúng ta chỉ còn biết cố gắng hết sức của chúng ta để cải thiện tình thế.”

Ðề đốc Komura nhìn tôi với đôi mắt biết ơn: “Cảm ơn anh, Hara!”

Ba chỉ huy trưởng hải đội – Kotaki, Shintani, Yoshida – chấp nhận, và xoay sang hỏi ý kiến các hạm trưởng dưới quyền. Cả 8 trung tá đều đồng lòng.

Việc thay đổi ý kiến một cách nhanh chóng như vậy chắc khiến cho các độc giả ngoại quốc lấy làm khó hiểu. Sở dĩ Kusaka cố gắng thuyết phục các sỹ quan cao cấp, bởi lẽ một mệnh lịnh chỉ hữu hiệu một khi có sự chấp nhận của kẻ thi hành. Nhưng trên nguyên tắc, chúng tôi không có quyền phản kháng bất kỳ lịnh nào do thượng cấp đưa ra, hơn nữa chúng tôi đều biết lịnh của Hải quân Hoàng Gia là tuyệt đối. Do đó, muốn hay không, vẫn phải thi hành nhiệm vụ.

Sau chiến tranh, Kusaka đã nói với tôi rằng đó có lẽ là lần đối phó khó khăn nhứt trong đời ông. Ông giải thích thêm: “Khi nhận chức Tổng Tư Lịnh Hạm Ðội, một hạm đội hữu danh vô thực, Ito đã chuẩn bị chết. Từng giữ chức tham mưu trưởng khá lâu, ông ta cảm thấy có trách nhiệm về những thảm bại liên tục. Vào thời gian ít người giữ được tâm trí quân bình, và tinh thần Kamikaze đã thâm nhập vào Hải quân.”

Sau khi chấp nhận, sỹ quan các cấp đều tề tựu về thiết giáp hạm Yamato để tham dự một buổi thuyết trình. Phó Ðô đốc Ito kết thúc buổi họp bằng lưu ý: “Các hạm trưởng nên cho xuống tàu tất cả các sỹ quan thực tập, những thủy thủ đau ốm và bất kỳ người nào xét thấy không cần thiết.”

Trở về Yahagi, tôi cho sỹ quan và hạ sỹ quan tụ họp khẩn cấp. Tôi giải thích mệnh lịnh và nhìn chăm chú vào từng khuôn mặt để xem phản ứng. Không khí căng thẳng, nhưng không một ai tỏ vẻ phản đối. Ðể kết luận, tôi nói: “Ðây là một sứ mạng không bình thường, tôi cần phải nói cho các anh biết, nếu bất cứ ai trong các anh thấy mình còn cần thiết cho đất nước, người đó sẽ rời tàu cùng với các sỹ quan thực tập, những thủy thủ đau yếu và những ai tự xét thấy không thích hợp cho công tác. Tôi yêu cầu ai muốn rời tàu, hãy đến phòng báo cho tôi biết sau cuộc họp này.”

Tôi đã diễn dịch rộng rãi hơn các chỉ thị của Phó Ðô đốc Ito, nhưng tôi cảm thấy sự diễn dịch này nằm trong ý định của ông. Trong phòng riêng, tôi nhìn tấm ảnh chụp chung toàn thể gia đình mình như nói lời vĩnh biệt, và nghĩ đến hầu hết thủy thủ đoàn Yahagi đều là những người đã có gia đình, tôi tự hỏi có bao nhiêu người sẽ nêu ra lý do này để ở lại trên đất liền? Hơn 1,000 người chắc chắn sẽ thiệt mạng nếu họ không đáp ứng lời kêu gọi của tôi. Tôi chờ đợi tiếng gõ cửa, nhưng tôi đã kinh ngạc khi hạm phó của tôi là Trung tá Uchino bước vào:

“Thưa Ðại tá, chỉ có 22 sỹ quan thực tập, và 15 thủy thủ đau yếu.”

“Chỉ có bao nhiêu đó thôi sao, Uchino? Không còn ai khác muốn rời khỏi tàu?”

“Dạ không, thưa Ðại tá. Mọi người khác đều bằng lòng thi hành nhiệm vụ.”

Tôi bước ra sàn tàu, đến trước mặt 37 người đang chờ đợi, tôi nói với họ: “Các anh rời khỏi chiếc tàu này ngay bây giờ. Tôi biết rằng tất cả các anh sẽ có một cơ hội tốt đẹp hơn để chiến đấu cho quê hương.”

Khi tôi quay lưng, một thanh niên nhảy ra khỏi hàng và la to: “Thưa Ðại tá, xin Ðại tá cho phép tôi ở lại. Tôi xét mình vô dụng, nhưng nếu Ðại tá để tôi ở lại, bất kỳ việc gì tôi cũng làm hết.”

Một gã khác bật khóc: “Tại sao lại dựa vào lý do chúng tôi là những người vừa mới ra khỏi Hàn Lâm Viện để loại bỏ chúng tôi? Chúng tôi có thể làm công việc vệ sinh không đến nỗi mà?”

Tôi than thầm khi một số khác làm dữ hơn. Ðể dập tắt sự ồn ào này, tôi hắng giọng, và nói: “Các anh bước chân lên tàu này chỉ mới hai ngày. Ngay cả một vòng thực tập sơ khởi các anh cũng chưa hoàn tất. Các anh là những hạm trưởng tương lai, sanh mạng của các anh không được phí phạm. Các anh phải lên bờ, là lịnh của tôi.”

Tôi dứt lời, quay lưng và rảo bước một vòng để xem qua các hoạt động hối hả trên chiếc Yahagi. Mọi người bận rộn kiểm soát vũ khí và dụng cụ. Khoảng 100 thủy thủ được trang bị lưỡi lê để sử dụng sau khi đổ bộ lên Okinawa.

Ðại thiết giáp hạm Yamato 72,400 tấn tiến sát vào bờ để nhận nhiên liệu tại các ống dẫn dầu chuyển từ kho dầu Tokuyama. Các bồn chứa của kho dầu trung ương khổng lồ này bị hút cạn trong nháy mắt. Trong lúc 3 xà-lan cập dọc theo chiếc Yahagi để cung cấp nước uống, tôi hỏi Uchino về tình trạng thực phẩm.

Hắn đáp: “Chúng ta đã nhận đầy đủ ở Kurê, hiện thời thực phẩm trên tàu có thể dùng ít nhứt 20 ngày cho 1,000 thủy thủ.”

Tôi hỏi: “Trong nước hiện đang lâm vào tình trạng thiếu thốn thực phẩm, tại sao chúng ta không chuyển hết lên bờ, chỉ chừa lại 5 ngày? Ðối với chuyến hải xuất chỉ một lượt đi của chúng ta, không cần phải mang theo một số lượng thực phẩm quá thừa thãi như vầy.”

Uchino nói: “Tôi đồng ý với Ðại tá! Ðể tôi yêu cầu các xà-lan mang những vật dụng thừa thãi đi hết cho rồi.”

Viên chỉ huy xà-lan ngơ ngác trước yêu cầu nhận khối hàng hóa khổng lồ của chúng tôi. Tôi và Uchino không thể giải thích rõ các lý do cho hắn hiểu, do đó chúng tôi phải tìm hết cách để nói và dỗ dành cho đến khi hắn đồng ý mới thôi. Khi đồ dư đã được chuyển đi hết, chiếc Yahagi đến đậu cạnh soái hạm Yamato để lấy nhiên liệu lần cuối cùng. Sau đó, chúng tôi chạy ra xa để buông neo. Ba chỉ huy trưởng hải đội và 8 hạm trưởng được mời lên chiếc Yahagi để tham dự một buổi tiệc rượu vĩnh biệt.

Ðề đốc Komura, chủ nhân của buổi tiệc này, không thể ngồi ủ rũ lâu hơn sau khi khối lượng sakê vĩ đại được tiêu thụ. Mọi người cố vui vẻ. Những câu pha trò cũ kỹ nhàm chán vẫn gây được tiếng cười. Một số sỹ quan ca hát hoặc biểu diễn các trò kỹ xảo nhanh tay lẹ chân, hay dở gì cũng được tung hô vang dậy. Kho rượu sakê giảm sút nhanh, nhưng chưa có ai say khướt. Chất rượu không công hiệu. Ai ai cũng đều cố gắng chứng tỏ dũng khí của mình, nhưng vẫn có một cái gì không được tự nhiên trong giọng nói tiếng cười. Buổi họp mặt tan trước nửa đêm một vài giờ, bỏ lại 30 chai sakê loại lớn không còn một giọt nào. Khi bước xuống cầu thang và leo lên ca-nô đang đợi để trở về tàu, mọi người đều tỏ ra tỉnh táo và vững vàng.

Khi khách đã đi hết, Trung tá Uchino mời Ðề đốc Komura và tôi tham dự một bữa tiệc khác trong phòng ăn của chiếc Yahagi. Ở đây đã có khoảng 20 sỹ quan trung cấp tụ tập. Chúng tôi mời rượu, chúc tụng lẫn nhau, cất tiếng hát những ca khúc của Hải quân và cười đùa với những sỹ quan trẻ này. Không giống như mấy viên hạm trưởng lớn tuổi, lớp sỹ quan trẻ vui đùa buông thả.

Sau đó, Komura, Uchino và tôi bước sang phòng kế bên. Nơi đây cũng có một bữa tiệc cuối cùng dành cho các sỹ quan cấp thấp. Chúng tôi lại uống rượu và ca hát với họ. Các bữa tiệc vĩnh biệt trên soái hạm Yahagi chấm dứt vào lúc 23g30. Khi chỉ còn lại Komura, Uchino và tôi, tôi biết họ đã cùng chia sẻ mối ưu tư của tôi. Ðó là vấn đề chiếc Yahagi sẽ tìm cách đối phó với nhiệm vụ trước mặt như thế nào. Về phần các sỹ quan thì có thể tạm yên, nhưng còn hàng binh sỹ thì sao? Chúng tôi quyết định đi một vòng qua các nơi nghỉ ngơi của họ. Trong những khoảng trống nhỏ hẹp trên chiếc tàu, hàng ngàn chiếc võng giăng mắc tứ phía. Ngoại trừ tiếng ngáy của những người nằm trên võng, không còn một tiếng động nào khác. Họ đều ngủ một cách bình thản.

Chúng tôi trở lên tầng giữa, và Uchino lên tiếng: “Họ ngủ như những đứa trẻ. Sở dĩ họ bình tĩnh được như vậy là vì họ đặt sự tin tưởng vào Ðại tá. Họ biết rằng Ðại tá sẽ bảo vệ họ, dù cho nhiệm vụ hiểm nghèo như thế nào.”

Vinh dự tràn ngập, đồng thời khối lượng rượu quá mức trong thân thể tôi bắt đầu công phạt. Tôi cảm thấy mặt mày choáng váng, đôi chân lảo đảo, và cơn say ùa đến thình lình. Những giọt nước mắt trào ra và chảy xuống đôi má khi tôi bám vào một cây cột trên tàu và hét to: “Nhựt Bản bất diệt! Yahagi bất diệt! Thiên hoàng vạn tuế! Banzai! Banzai!…”

Tiếng hét này là những gì cuối cùng mà tôi còn nhớ được của cái đêm khó quên đó. Uchino đỡ tôi vào phòng, và tôi rũ xuống trên giường.