Tạ Tỵ
Post by Sơn râu 18 May 2024

Chương IV: Suối độc rừng thiêng
Phần 2
Sáng nay, tôi trực, lo phần ăn cho anh em. Tay cầm chiếc rổ đi xuống nhà bếp, lãnh xong đem về chia cho Tổ. Cầm 1/4 miếng bánh mì nhỏ xíu đưa vô miệng, chỉ mấy phút sau, miếng bánh đã theo nước miếng vô bao tử. Từ hôm đến, chúng tôi chưa được ăn miếng cơm nào. Anh em nhà bếp nói trong kho hậu cần, bột mì đầy nhóc, không thấy gạo đâu! Có lẽ, phải ăn bánh mì luộc dài dài! Ăn gì cũng không bằng ăn cơm. Cơm ăn mát ruột, dù no hay đói, chứ ăn bánh mì luộc mãi chịu sao nổi? Nhưng chịu hay không cũng vậy thôi, tù làm gì có quyền đòi hỏi?
Một hồi kẻng dài báo giờ lao động. Tôi theo Tổ bước lên đồi phát quang. Tổ trực đã đi lãnh dao, cuốc ở kho vật dụng, nơi bên kia dòng suối nhỏ. Trong lúc chờ dụng cụ phát quanh, tôi ngồi dưới tàng cây có những bông hoa vàng nhỏ li ti như hạt kê, chẳng hiểu nó thuộc loại cây gì? Mỗi lần có gió thổi, những hạt kê vàng rơi lả tả như phấn rắc, tỏa mùi hương hăng hắc. Tia nắng đầu tiên chiếu trên ngọn cây cao phía xa. Ánh nắng lấp lánh nhảy múa qua cành lá còn đẫm sương buổi sớm, rung rung như những chiếc bóng đèn nhỏ treo giữa nền nhung xanh thẫm.
Dụng cụ phát quang đã được mang về và phân phối. Dụng cụ ít, anh em nhiều, nên thay phiên nhau làm. Những nhát dạo chặt đôm đốp vào thân cây, những nhát cuốc bổ ào ào xuống những bụi nhỏ. Khoảng nửa tiếng, xung quanh chỗ tôi ngồi đã quang hẳn. Một vùng ánh nắng đổ xuống chói chang. Mùi lá tươi xông lên ngai ngái. Chúng tôi cứ thay nhau làm đến trưa, một góc đồi đã trơ trụi. Chiếc Lán tôi ở, ngang tầm mắt nhìn và con suối uốn mình vòng theo chân đồi rồi mất hút sau bờ cây thấp. Vài người cởi áo vì trời bắt đầu nóng. Bỗng có tiếng kêu:
– Ong, ong, …anh em coi chừng!
Tôi nhìn ra xa, đám ong vò vẽ đang cất cánh. Tôi vơ vội một cành lá đề phòng. Mọi người đều chạy dạt, vừa chạy vừa mặc áo. Những cành lá khua vung vít để đuổi ong. Một anh nhanh trí bật lửa châm vào đống lá khô gần đấy. Ngọn lửa bén dần, nhờ gió bốc to, tỏa khói mù mịt một khoảng đồi. Đàn ong không dám bén mảng đến nơi có khói, chúng bay cao rồi biến mất. Một anh tiến đến chỗ có tổ ong, leo lên cây giựt xuống, cười hô hố:
– Đù mẹ, không có mật, nhưng nhiều ong sáp quá, nhậu cũng được một bữa!
Nói xong anh cho tay cạy từng con bỏ vào miệng.
Đội Trưởng không phải lao động. Nhiệm vụ của Đội Trưởng là nhận lệnh của cán bộ rồi xỉa lại cho anh em. Do đó các Đội Trưởng đều nhàn rỗi. Tôi nhìn thấy Hà, Đội Trưởng đội của tôi đang “cải thiện” gần bờ suối. Chẳng biết anh đun nấu gì, mùi thơm bay lên đến trên đồi!
Tiếng kẻng tan tầm khua vang. Tiếng vọng âm âm luồn qua khe núi một lát mới tắt. Chúng tôi ùa xuống suối, rửa tay chân, chờ lãnh chiếc bánh luộc! Buổi chiều vẫn ngần ấy công việc, nhưng anh em làm có vẻ uể oải vì quá nắng. Một tên bộ đội, cấp sĩ quan, đeo súng ngắn, đi kiểm soát công việc. Hắn dừng lại chỗ chúng tôi làm.
– Mấy anh, phát quang phải chặt sát gốc, nếu chừa gốc nhiều quá, cây có thể sống “nại” được, lúc đó phải đánh rễ “nôi” thôi “nắm”! Các anh rõ chứ?
Chúng tôi dạ cho êm chuyện! Tự nhiên, hắn nói thêm:
– Các anh “nà” may “nắm”. Khí hậu ở đây hiền hơn ở nơi các anh vừa rời khỏi. Dù sao cũng gần tỉnh.
Một anh nhanh nhẩu:
– Thưa cán bộ, anh em hết thuốc lào, cán bộ có đi Yên Bái làm ơn mua dùm!
– Được, tôi không đi, nhưng cán bộ hậu cần thường đi, có gì tôi bảo mua giúp!
Nói xong, hắn đi nhanh vòng qua phía bên kia đồi.
– Đây gần Yên Bái, anh em ơi! Tôi hỏi mánh, biết ngay!
Chúng tôi đều phục vì anh nhanh trí, nên biết được địa điểm mình đang có mặt.
Buổi chiều tôi ra suối lớn tắm. Dòng suối khá rộng, nước chảy cuồn cuộn. Chúng tôi chỉ được tắm ở phía dưới. Phía trên dành cho nhà bếp. Tôi đi men theo dòng nước, nhảy qua từng tảng đá lớn để đến nơi ít người. Tôi nhìn lên vách núi, cây cỏ mọc rậm rì, từng từng lớp lớp. Nơi bên kia bờ có nhiều thân cây đổ ngang, tạo nên một rào chắn tự nhiên. Tôi ngâm mình dưới lòng suối, nước chảy rào rạt bên trên như mơn trớn vỗ về. Do kinh nghiệm, tôi biết, sống trong nhà tù Cộng Sản có thể làm gì có ích cho bản thân cứ làm, vì không ai lường trước những gì sẽ xẩy ra tới cho mình trong giờ sắp tới.
Tôi trở về vừa kịp giờ lãnh bánh. Đàm cho tôi cục đường thẻ. Bánh mì luộc ăn với đường thẻ ngon tuyệt. Tôi cắn từng miếng nhỏ, tính toán sao cho miếng bánh cuối cùng vẫn còn đường. Ai đã ở tù, mới biết đường là quý! Tôi cảm ơn Đàm nhiều.
Buổi chiều nay, khoảng 6 giờ, chúng tôi phải tập họp để điểm số trước khi vào Lán chứ không muộn như đêm qua. Như tối trước, lần lượt mỗi Đội Trưởng báo cáo số người, rồi mỗi người đọc số thứ tự của mình. Sau khi điểm số xong, tên cán bộ trực sinh hoạt giao công tác ngày mai. Từ đó trở đi, chúng tôi cứ như những chiếc máy: lao động, lãnh bánh, điểm số, thức ngủ theo đúng giờ giấc quy định.
Sau một tuần, công tác phát quang ngọn đồi đã xong, chúng tôi gom cây, cành vào một góc chờ khô, đưa xuống nhà bếp. Công tác làm hố xí do đội 5 phụ trách cũng xong. Anh em mỗi sáng đi cầu phải trèo lên con dốc cao khoảng 6 thước. Hố xí có chừng 20 căn, dành cho 300 người nên vẫn còn có người chờ, nhưng sự chờ đợi này không thê thảm như hồi ở Suối Máu.
Chiều nay, Tổ tôi được phân công đào giếng nước.
Đường kính miệng giếng rộng 4 thước, sâu 10 thước. Đó là chỉ tiêu, phải thực hiện xong trong một tuần.
Sớm hôm sau, chúng tôi khởi đầu công tác. Mười người hì hục làm, thay phiên nhau cuốc và bốc đất. Khu đào giếng ở gần con suối nhỏ, dưới chân đồi, nơi chúng tôi vừa phát quang, cả đất lẫn đá. Chúng tôi đào hết sức từ sáng đến chiều cũng chưa lấy được một lưỡi mai. Như vậy làm cách nào xong được chỉ tiêu đã ấn định? Thời gian cứ qua đi lạnh lùng. Một tuần lễ đã gần hết, chiếc giếng đào sâu độ 2 thước. Mỗi ngày tên cán bộ trực đi kiểm soát lắc đầu, chê “nao” động kém!
Hôm nay, ngày cuối cùng của công tác, chúng tôi hết sức đào tới giờ chót, đo lại được chừng 2 thước rưỡi. Lòng giếng khô ran, chưa một giọt nước!
Tuần sau, chúng tôi được thay công tác vì bị phê bình là “nề mề”, bầy nhầy, không chịu triển khai công tác, “nao” động tiêu cực, không đảm bảo chất lượng v.v… Chúng tôi được giao công tác trồng dứa trên quả đồi vừa phát quang bữa nọ. Tên cán bộ phụ trách trông nom và hướng dẫn cách trồng, luôn luôn có mặt. Hắn cuốc và trồng vài cây làm mẫu, chúng tôi cứ thế thi hành!

mạnh hải flickr
– Các anh trồng rồi các anh hưởng, chứ ai ăn vào đấy?
Hắn nói như muốn chúng tôi hiểu, mình làm cho mình, do đó, phải cố gắng thực hiện công tác! Nhưng hắn muốn nói gì thì nói, anh em vẫn “nề mề”, “bầy nhầy” vì mỗi bữa có một chiếc bánh mì luộc vô bụng làm sao có đủ sức để tích cực?
Nhưng rồi công tác trồng dứa cũng hoàn tất. Chúng tôi lại thay công tác, đi san nền nhà cho tụi Việt Cộng, ở rải rác trên đồi. Từ trên đỉnh đồi, tôi có thể nhìn bao quát khắp vùng. Tôi nhận ra con đường khi mới đến, cả cái Trại có Tính ở. Từ xa, nó trông giống khu nhà bình thường, không có vẻ nhà tù.
Phong cảnh buổi sáng thật đẹp, những dẫy đồi núi xen kẽ nhau, tạo nên một vòng đai muôn mầu rực rỡ dưới ánh nắng. Những làn mây trắng như bông gòn rải rác trong các khe núi. Tôi làm ít, ngắm cảnh nhiều. Mỗi nhát cuốc bổ xuống chỉ để che mắt chứ không đạt năng xuất. Nhưng công tác này cũng không kéo dài được bao lâu. Ít bữa sau, Tổ tôi lại thay công việc khổ sai.
Buổi chiều nay, tên cán bộ sinh hoạt cho biết:
– Từ ngày mai, các anh đi lấy dang trên đồi, để làm hàng rào! Ngọn đồi trước mặt các anh đó!
Chúng tôi nhìn lên, ngọn đồi cao ngất, ngay trên đỉnh có hàng cây xanh rì!
– Chỉ tiêu cho mỗi anh, 10 cây một ngày, mỗi cây có đường kính 6 phân, dài 4 thước. Các anh nghe rõ chứ! Vấn đề làm hàng rào không phải để kềm chế các anh đâu! Ở đây nhiều thú dữ, chúng tôi phải bảo vệ các anh, và ít nhất, để giữa chúng tôi với các anh có một chút phân biệt. Chứ cứ như thế này, không tiện! Có đúng không các anh?
– Dạ đúng!
Chẳng hiểu sao, chúng tôi lại đồng thanh cùng thốt ra tiếng nói đó.
Buổi tối, vẫn không có đèn, trong lòng chiếc Lán đen thui. Đó đây, tiếng “kéo pháo” nghe ròn rã. Giọng nói rì rầm trôi dần vào vắng lặng.
Từ sớm, mọi người đã thức, tuy kẻng chưa gõ. Đây, công tác đi xa Trại lần thứ nhất nên anh em có phần nào sốt sắng. Tiếng kẻng vừa gõ, tất cả đã ồ ra sân đi lãnh bánh và nước chứa đầy bi-đông. Miếng bánh luộc nhỏ bằng 2 đầu ngón tay. Nhiều người lo xa chưa ăn, cất trong túi áo, để dành lúc leo đồi vì con dốc khá cao!
Tên cán bộ quản giáo người Hà Tĩnh, đeo súng ngắn, đến dẫn các đội leo đồi. Tôi cùng mấy anh em băng qua con suối lớn, tiến dọc theo triền núi kiếm dang. Tôi leo con dốc thấp, chắc nơi đây đã có nhiều người qua lại nên thành lối mòn. Lên tới đầu dốc, tôi thấy mấy bụi dang. Mừng quá, vung dao chặt lia lịa. Con dao quá cùn, chặt mười mấy nhát chưa đứt một cây. Mồ hôi đã ướt đẫm áo. Nản quá, tôi vứt dao ngồi thở. Vừa lúc đó, có tiếng nói phía sau:
– Thôi, anh nghỉ đi. Tôi đã chặt sẵn mấy cây, lát nữa buộc lại để anh mang về!
Nghe nói, tôi vội nhìn xem ai, nhưng cố nhớ mà không ra.
– Anh không nhớ tôi sao?
Tôi nói ngượng ngùng:
– Xin lỗi, không nhớ!
– Anh không nhớ cũng phải vì tôi mới chỉ gặp anh một lần ở nơi làm việc. Tôi tên Tài!
– A, Tài, bạn ở vùng 4 phải không?
– Đúng!
– Cảm ơn bạn nhiều. Con dao của tôi cùn quá, chặt không nổi.
Tài cười, đi đến nơi đã chặt, rút dang ra khỏi bụi. Vấn đề rút dang cũng khá vất vả vì bị vướng cành, có khi chặt rồi, không tài nào lôi ra được, đành bỏ!
Tài rút ra 6 cây, lấy dao vát hết cành nhỏ, chặt ngọn dùng dây rừng buộc chặt. Theo tiêu chuẩn, mỗi người phải lấy 10 cây, nhưng vì sức yếu, tôi chỉ vác 6 cây. Mang về nếu tụi nó hỏi, tôi sẽ trả lời theo đúng chính sách: Lao động tùy sức!
Tôi cảm ơn Tài lần nữa, rồi vác bó dang lên vai đi đến đầu con dốc. Tôi hạ bó dang, tìm cách đưa xuống. Sau khi suy nghĩ, không tìm ra cách nào hơn là thả cho bó dang tự do lao xuống, muốn rơi vào đâu cũng được.
Nhưng nghĩ lại, trong lúc bó dang đang lao, nhỡ có người từ dưới leo lên, chắc chắn không tránh được tai nạn! Không biết sao hơn, tôi khum hai bàn tay đưa lên miệng làm loa, hét to: nguy hiểm, tránh xa! Sau khi la mấy tiếng, tôi đẩy bó dang xuống. Bó dang lăn nhanh, va vào đá, sợ dây buộc đứt tung, mỗi cây văng một ngả. Báo hại, tôi bò xuống đi nhặt từng cây rải rác, tìm dây khác bó lại. Công việc tìm dây không dễ dàng vì ở dưới thấp khó có dây rừng. Tìm mãi không ra, tôi đành đi nhặt các sợi dây bị đứt nối liền, buộc tạm.
Tôi vác bó dang lên vai, men theo sườn núi đi về. Đường đi cũng không dễ dàng, vì gập ghềnh, có khi phải lội qua những vũng nước rộng, bên dưới lổn nhổn đá lớn, nhỏ, rêu bám trơn như mỡ. Các cây dang trên vai, vì buộc không chặt nên mỗi cây choãi một ngả, rất khó đi. Cuối cùng, tôi cũng mang về tới nơi. Mồ hôi ướt đẫm áo quần. Tôi cứ để nguyên, nằm lăn ra đất.
Đội Trưởng đang ngồi uống nước, thấy tôi về, chạy ra hỏi:
– Sao, có 6 cây, chỉ tiêu 10 cơ mà?
Tuy mệt, nhưng tôi cố nhỏm dậy:
– Lao động tùy sức! Anh khoẻ mạnh sao không đi lấy, lại ở nhà?
– Tôi là Đội Trưởng, cán bộ cho phép không phải lao động! Tôi chỉ kiểm soát sự lao động của anh em trong Đội thôi!
– Kiểm soát cái con c….! Tù cả mà! Lại còn chức sắc!
Thấy tôi nổi nóng, anh không nói gì, quay vào. Anh em cũng lục tục mang dang về. Người nào quần áo cũng ướt sũng như ngâm nước, mặt mũi bơ phờ như vừa trải qua cuộc chạy đua quá mức.
Tôi đã lấy lại sức, đứng lên định ra suối tắm giặt, chợt nhìn lên trên đồi. Một đoàn người đông đảo kéo dài từ đỉnh đồi xuống đến lưng chừng, trên vai mỗi người đều có bó dang dài thượt dưới ánh nắng chang chang trông giống như con rắn khổng lồ đang trườn mình bắt mồi.
Tôi vắt chiếc khăn mặt lên vai, lững thững đến bờ suối. Tôi tắm ở con suối nhỏ sau nhà. Vừa tắm, vừa nhìn lên ngọn đồi trồng dứa, trông khá vui mắt.
Vào xế trưa, mọi người đều về đến nơi. Đàm vừa quăng bó dang xuống đã chửi thề:
– Đù mẹ, lao động dài dài kiểu này chắc chết quá!

mạnh hải flickr
Hữu cùng đi với Đàm, nhưng vốn hiền lành, có tinh thần chịu đựng, tuy trước kia là ông Toà của Toà Án Mặt Trận Vùng 8. Còn Cung ở đội khác, nên trong công tác ít gặp nhau, ngoại trừ lúc rảnh rỗi, thường nói chuyện tâm tình. Vốn dòng dõi quan liêu phong kiến, chắc Cung cũng đã nhìn ra cái thế của mình, nên lúc này hắn thường buồn hon vui. Những tư tưởng trong thơ đã nghiêng về giải bầy nỗi u uất thầm kín!
Những bó dang chất đầy khoảng sân. Cứ như vậy, trong một tuần lễ, dang chất kín mặt sân với bề cao trên 1 thước. Buổi chiều anh em được tự do.
Qua tuần sau, Đội 1 và 3 làm hàng rào. Những cây dang được vạt nhọn một đầu, chặt ngắn còn độ trên 3 thước, đan chéo cánh sẻ kín xung quanh khu vực. Công tác làm hàng rào cũng mất cả một tuần mới xong. Có lẽ, chiếc hàng rào chỉ nhằm phân cách giữa chúng tôi và khu vực của tụi Cộng Sản ở, nên vẫn còn ba nơi để chừa lại không rào. Nó như ba chiếc cổng. Chiếc thứ nhất thông ra con suối lớn. Chiếc thứ hai qua con suối nhỏ đến khu nhà bếp của tụi cán bộ và kho dụng cụ. Chiếc thứ ba ngay vọng gác, lối đi ra bên ngoài. Trong khi các đội khác làm hàng rào, Đội tôi làm công tác phát quang những bụi lá dong mọc dầy đặc xung quanh khu nhà bếp của tụi cán bộ. Trong khi chúng tôi ăn bánh mì luộc dài dài, tụi cán bộ Cộng Sản ăn cơm. Tôi nhìn thấy cả đống cơm thừa đổ giữa lòng suối, trong khi mình đói thắt họng. Không phải một chỗ, nhiều nơi như vậy, chứng tỏ bữa nào tụi nó ăn cũng dư. Tôi chưa thấy lá dong ở đâu nhiều như ở đây. Nhìn những tầu lá to như lá chuối ngã gục dưới lưỡi dao, tôi chợt nhớ, mỗi dịp Tết vợ tôi thường đi mua lá dong để gói bánh chưng, làm sao tìm được những chiếc lá tốt như thế này.
Mỗi tối, tên cán bộ quản giáo đều sinh hoạt kiểm thảo công tác. Tụi Cộng Sản hay thiệt, dù ở đâu chúng cũng đều nói chung một luận điệu, không thấy ngượng. Lúc vào đầu, bao giờ cũng khen. Sau câu khen giả dối, mới phê bình xây dựng, đập tan nát. Nào lười biếng, tránh né lao động, không hăng say tích cực!… Nào chỉ tiêu, nào đánh giá, nào học tập tốt, lao động tốt sẽ sớm được về! Câu này nghe mãi trở thành trò hề. Không ai muốn nghe, nhưng bắt buộc vẫn phải làm ra vẻ chú ý để tiếp thu những lời giáo huấn! Công tác của Trại thay đổi luôn luôn. Nay làm việc này, mai việc khác. Việc nào cũng khổ sai cả.
Đã hơn hai tháng nay, chúng tôi không được ăn miếng thịt nào. Lao động mỗi ngày 8 tiếng, toàn việc nặng. Cơm không có mỗi ngày lãnh hai chiếc bánh mì luộc, mỗi cái khoảng 200 gram và 1/4 chiếc bánh buổi sáng 50 gram. Như vậy chúng tôi chỉ được ăn 450 chất bột với muối, không có chất béo, chất rau, chất đạm nào! Do đó, ai nấy đều gầy dộc hẳn, da khô khốc. Trên nguyên tắc, theo giấy tờ, chúng tôi được ăn 18kilo chất bột, 300 gram thịt mỗi tháng. Nhưng thực tế chúng tôi chỉ được ăn 13kí500 chất bột. Số bột dư và chất đạm, chất béo, chúng tôi hoàn toàn không có quyền được biết.
Buổi sinh hoạt chiều nay sau khi điểm số xong, tên cán bộ quản giáo hỏi:
– Ngày mai Đội nào trực?
Một cánh tay giơ lên:
– Dạ, Đội tôi!
– Sáng mai, anh cắt bốn người đi mua “nợn” cách xa Trại khoảng 15 cây. Những anh này phải mang theo dây, đòn khiêng và lương thực ăn bữa trưa. Nghe rõ chứ?
– Dạ rõ!
Nghe nói mua heo, ai nấy mặt mày tươi rói! Sau khi tan hàng, vào trong Lán, Đội Trưởng sinh hoạt chỉ định Tổ trực phải cắt bốn người ngày mai đi khiêng heo. Tổ Trưởng của Tổ trực lại sinh hoạt, tính toán số người đã và chưa thi hành công tác “đột xuất” để cử đi. Bốn người tới phiên, mặt mũi buồn xo vì biết đây là loại công tác vất vả.
Sáng sớm, khi anh em còn ngủ vùi, bốn anh đã nai nịt gọn ghẽ. Mỗi anh giắt theo chiếc bánh mì luộc, phần ăn trưa. Tên cán bộ hậu cần, đeo súng ngắn đứng ngoài Lán gọi vào:
– Đâu, những anh nào đi mua “nợn”?
– Chúng tôi đây, cán bộ!
Tiếng đáp từ trong vọng ra . Những tiếng chân đi ra ngoài, theo ánh sáng của chiếc bật lửa.
Anh em vẫn ngủ. Tiếng ngáy đều đều cất lên như thường lệ. Thật vô phúc cho anh nào khó ngủ lại nằm kế bên các ông “vua ngáy”. Nằm mãi cũng chán, tôi vùng dậy đi ra sân. Những vì sao chưa lặn hết nhấp nháy trên cao như những ngọn đèn sắp lụn. Cảnh vật vô cùng vắng lặng. Từ xa, tiếng chim “bắt cô trói cột” kêu ra rả như xé ruột. Hồi khuya, lúc thức giấc, tôi có nghe thấy tiếng rú thảm thiết, hình như tiếng rú của đàn vượn đang gặp cơn nguy hiểm. Tiếng rú chạy dài theo triền núi hồi lâu mới dứt. Núi rừng luôn luôn chứa trong nó niềm bí mật của đêm sâu. Khi ánh mặt trời đã tắt, không khí của núi rừng cũng thay đổi. Con người dù can đảm cách mấy cũng không có gan di hành một mình giữa cảnh thâm u của núi rừng ban đêm. Do đó, việc trốn Trại cũng khó thực hiện. Tôi nhớ đến Khắc, chẳng hiểu lúc này hắn ở Trại nào? Hắn còn nuôi ý định trốn Trại không? Trại ở đây không có kẽm gai và mìn, sự canh gác cũng lơ là chứ không kỹ như ở Long Giao hoặc Suối Máu, mà sao coi bộ khó lòng vượt qua được cái vòng đai thiên nhiên của núi rừng miền Bắc!
Trời sáng dần. Phía nhà bếp, ánh lửa cháy đỏ rực. Có tiếng vỗ cánh của bầy gà con bị nhốt trong chuồng. Cái chuồng gà nhỏ có tre dang, đã được làm lại kín đáo, không còn sợ rắn! Tuy không quen biết anh chủ gà, nhưng tôi vô cùng cảm phục tinh thần chịu khó, biết lo xa. Trong khi anh em ăn bánh mì luộc chấm muối, anh vẫn có trứng gà ăn đều đều.
Sáng nay, chúng tôi đi phát quang một khu vực ngoài Trại. Từ hôm đến, bữa nay, tôi mới được bước ra khỏi chiếc cổng gác. Phong cảnh nhìn theo mặt phẳng không đẹp bằng nhìn từ trên cao. Mặt trời chiếu chói chang trên những ngọn đồi trà phía xa trông tươi mát. Cảnh vật yên tĩnh, không có cả tiếng chim kêu. Chúng tôi, người vác dao, kẻ vác cuốc đi thành hàng dài theo lối mòn có sẵn, leo qua hai quả đồi trước khi đi vào địa điểm lao động.
Đây, một khu hoang, cây cối chằng chịt. hơn 200 con người phải làm sạch trong buổi sáng, để lấy chỗ trồng trọt.
Buổi sinh hoạt chiều qua, tên quản giáo nói:
– Hiện nay, Trại thiếu rau cỏ và thực phẩm. Các anh “Cải Tạo” phải giúp Trại tạo ra của cải vật chất để nuôi sống mình và người khác!
Một Đội được phân công phát quang từng mảng. Những tên cảnh vệ làm nút chặn trên các lối rẽ đề phòng việc trốn Trại. Có những tên đứng trên bờ đất cao để quan sát cho rõ.
Một hồi còi rúc lên, tất cả ào xuống khu đất đầy cây dại, cỏ gianh cao ngập đầu người. Từng nhát dao lia tới tấp, từng nhát cuốc bổ liên hồi. Khu đất quang dần. Các cây cao từ từ ngã xuống như những tên tử tội sau giờ hành quyết, được cởi dây trói, xác lìa khỏi cọc.
Trong khi mọi người đang làm, bỗng có tiếng hò reo vang dội từ mé trái. Tôi ngừng tay ngó nhìn. Một đám người đông đảo vừa reo hò, vừa khua dao, đập túi bụi từ góc nọ tới góc kia. Chừng 15 phút sau, tiếng reo hò lắng xuống. Một người giơ cao lên khỏi đầu một con vật mầu xám tro, có chiếc đuôi dài xù to như bông lúa. Nhìn thấy Quang, Đội Trưởng Đội 5, từ phía đó đi lại, tôi hỏi:
– Cái gì vậy?
– Anh em bắt được một con chồn.
– To không?

mạnh hải flickr
– Bằng bắp chân!
Nói xong anh đi thẳng về phía tên quản giáo, hình như để trình bầy chuyện vừa qua. Từ xa, tôi thấy tên quản giáo gật đầu. Chờ Quang qua mặt, tôi hỏi nữa:
– Cán bộ nói sao?
– Cho anh em ăn!
Tôi vừa làm vừa ngẫm nghĩ, mấy chục người ăn một con chồn bằng bắp chân, cũng chẳng khác gì 180 người ăn một con gà chết khi còn ở Long Giao năm ngoái! Trong lúc đang chống cuốc đứng nghỉ mệt, bỗng có người từ một bụi rậm bước ra, đến gần tôi, nói:
– Uổng quá, đáng lẽ anh đâu phải có mặt ở nơi này. Sáng ngày 29-4, Đại tá Anderson lái xe tìm anh để đưa đi di tản, rất tiếc, ông ta không biết nhà anh, tôi cũng không biết mà chỉ. Chắc cái số của anh đi tù nên bỏ lỡ dịp may!
Nghe xong, tôi cười. Đại tá Anderson mến tôi qua hội họa. Tên thực tế, tôi và ông ta không liên hệ gì với nhau nhiều trên công tác.
Sau mấy câu chuyện tầm phào, người bạn tù quay trở về Đội mình, còn tôi lại cúi gập người bổ từng nhát cuốc xuống bãi đất như trút tất cả sự giận hờn vào cây cỏ vô tri.
Sau 6 tiếng đồng hồ lao động liên tục, khu đất phát quang đã trống trơn. Cây cối nằm rạp ngổn ngang như bãi chiến trường sau giờ quyết chiến. Trời nắng gắt, nhưng trên đỉnh núi mây phủ mù mịt, một góc trời tối sầm. Có thể, chiều nay sẽ mưa. Từ hôm đến Trại, chưa mưa lần nào. Suối lớn cũng khô cạn, để lộ những tảng đá mầu xám chì mốc thếch.
Chúng tôi đi về, quần áo ướt nhèm, lấm bê bết, thất thểu như đoàn quân bại trận trước họng súng của những tên cảnh vệ áo quần khô ran sạch sẽ!
Vừa về đến Lán, mọi người quẳng nhanh vật dụng vào một góc, chạy ào ra suối. Ai thích nhiều nước ra suối lớn, ai ngại đi, tắm suối nhỏ. Có lẽ chất nước làm con người tỉnh táo, sau những giờ mệt nhọc, nên tiếng nói cười lại cất lên ầm ĩ. Sống trong cảnh lao tù, anh em cũng cố tạo ra niềm vui khi có dịp để khỏa lấp những giây phút buồn tủi! Dẫy núi cao bao quanh chúng tôi như bức tường thành không cách nào kinh qua được.
Tôi nghe nói, con chồn bắt được hồi sáng, đưa xuống nhà bếp làm thịt. Vì không có mỡ và gia vị nên sau khi làm lông, cho vào lửa thui vàng, chặt nhỏ kho muối.
– Thịt chồn kho muối, bố ai ăn được?
– Đù mẹ, thèm thịt quá, có cũng tốt!
– Chết thì thôi, nhất định tôi không ăn thịt chồn, tanh ngòm!
Những câu đối thoại trôi đến tai, dù không muốn nghe. Trên con suối nhỏ hàng trăm người tắm, nên tuy vẫn chảy mà dòng nước đục ngầu vì bị khuấy từ phía trên.
Trời bỗng tắt nắng. Mầu sắc chìm xuống, lắng đọng. Tôi nhìn lên. Từng tảng mây đen trôi cuồn cuộn như bị xô đẩy bởi luồng gió cực kỳ mạnh. Trên đỉnh núi hàng cây nghiêng ngã. Một đàn sáo xoải cánh bay vội về hướng núi, chỉ một thoáng chúng đã chìm khuất vào mầu xanh âm u của rừng rậm. Gió bắt đầu thổi dữ dội. Những quần áo phơi đây đó, bị gió hất tung vương vãi. Một cơn lốc bụi đỏ bay mù trời.
Giờ phát bánh đã tới. Những chiếc bánh nguội ngắt vì nấu từ sáng. Tôi đưa chiếc bánh lên miệng cắn từng miếng lớn. Có lẽ, vì quá đói nên tôi nhai rất nhanh. Chiếc bánh biến hết vào dạ dầy, cứ tưởng như chưa ăn!
Tôi nằm chờ mưa, nhưng gió đã đẩy cơn mưa về phía khác. Mầu trời sáng lại. Những tia nắng lại chiếu xuống cảnh vật là không khí oi bức hơn lúc chưa chuyển mưa.
Chiều nay chúng tôi được nghỉ vì đã đạt mức khoán. Anh em lợi dụng thời gian này để làm công tác riêng như vá quần áo, xếp lại túi hành trang. Toán đi mua heo giờ này vẫn chưa về. Ánh nắng chiều đã trải rợp 1/3 sân. Tôi ngồi trong bóng mát nói chuyện với Hữu và Đàm. Nói cho đúng, những câu câu chuyện nói mãi với nhau cũng chán, còn ước đoán về ý đồ của kẻ thù lại nản hơn, vì không bao giờ đúng. Do đó, nhiều khi chúng tôi ngồi với nhau, chẳng ai nói câu nào!
Bỗng có tiếng reo:
– A, heo đã về!
Tôi nhìn ra cổng, thấy bốn người cởi trần, trông rõ từng chiếc xương sườn, đang ì ạch khiêng con heo khá lớn. Vừa vào qua hàng rào, bốn người đặt mạnh con heo xuống đất, nhưng lạ quá con heo không kêu. Tên cán bộ hậu cần, bước vô đến ngay chỗ con heo, nói:
– Mấy anh không được việc gì hết, có mười mấy cây số mà để heo chết! Không khiêng xuống nhà bếp làm thịt, còn chờ gì nữa?
Bốn người uể oải đứng lên, đưa cây đòn vào vai. Tám bàn chân lảo đảo khiêng con heo chết xuống nhà bếp. Sau khi thi hành xong nhiệm vụ, bốn anh trở về Lán, nằm vật ra thở dốc như sắp chết theo con heo.
Tuy không quen thân, nhưng tôi biết một anh là Đại Úy, hai anh là Thiếu Tá, còn một anh là Chánh sở Quan Thuế Sàigòn. Lát sau, chắc đỡ mệt, anh Quan Thuế nói với người bạn nằm kế bên:
– Ối cha, từ thuở có mặt trên cõi đời, chưa bao giờ cực như bữa nay. Đi xa quá, nó kêu 15 cây mà đi hoài có lẽ tới 20 cây. Đi và về tổng cộng 40 cây. Đù má, mình đã mệt bỏ cha, con heo cứ quẫy. Mỗi lần nó quẫy chiếc đòn nghiến vào vai, đau chịu không thấu. Tôi bảo nó: “Thôi heo ơi! Một là mày chết, hai là tao chết. Nếu mày cứ quẫy hoài thế này có lẽ tao chết trước mày.” Bốn thằng chia phiên khiêng. Mỗi cây số lại nặng thêm. Sau bàn nhau, hai thằng khiêng, còn hai thằng coi chừng tên hậu cần. Nếu nó lơ là, thoi vào bụng heo, thoi liên tục kỹ cho chết, chứ nó quẫy như vầy, sao khiêng nổi. Từ lúc ấy, chúng tôi vừa khiêng, vừa thoi vào mạng mỡ heo. Mỗi lần thoi, con heo lại rống lên như bị thọc huyết. Sau thoi mãi vừa đau tay vừa mỏi, chúng tôi đá. Tên hậu cần đi cách xa chừng 20 bước chân, đến chỗ nào khuất, đá đấm heo thoải mái. Á, heo nó cũng khoẻ lắm đa. Đấm đá như vậy, khi về gần đến Trại nó mới tử đấy. Đường xa mệt quá, hai đứa khiêng không nổi, phải dùng chiếc đòn dài, bốn đứa cùng khiêng con heo khoảng 60 kí. Vái trời đừng bao giờ ăn heo nữa!
Anh ta nói một hồi, xong vùng dậy, ra suối tắm rửa! Mấy anh kia, không ai nói gì. Chắc cuộc đời chiến đấu đã quen chịu đựng gian khổ, hay vì một lý do nào đó, không ai hay biết!
Bữa bánh chiều nay ăn muộn vì còn chờ thịt heo. Đến tối mịt, anh em mới được phát mỗi Tổ một chén thịt cả nạc, mỡ lẫn xương chia ra mỗi người được một miếng to bằng hai ngón tay và chút nước muối!
– Ủa, con heo to thế, sao anh em mỗi người được có miếng nhỏ như vậy?
– Đù má, tụi cán bộ ăn mẹ nó hết bộ lòng và gần nửa con, còn lại bao nhiêu chia cho 300 người lấy đâu cho nhiều?
– Tiên sư cuộc đời, khiêng mấy chục cây số gần chết, cũng chỉ được miếng mỡ mỏng dính thế này, có đau không?
Tiếng chửi bới chìm dần vào bóng tối. Dù chê bai, nhưng miếng thịt và nước muối cũng hết vèo trong nháy mắt.

mạnh hải flickr
Vì ăn trễ nên sinh hoạt cũng muộn. Chúng tôi tập họp giữa đêm tối. Ánh đèn bão cầm trong tay tên cán bộ quản giáo chỉ đủ rọi sáng chỗ hắn đứng. Sau khi điểm số xong, đến phê bình kiểm thảo rồi giao công tác mới. Ngày mai, Đội tôi phải đi kiếm củi cho nhà bếp, cứ hai người 1 thước khối. Tôi nghĩ ngay đến những khúc cây rải rác trên triền núi, chỗ lấy dang.
Sáng hôm sau, tôi giắt 1/4 miếng bánh vào túi, vác dao cùng với Kiểm, người bạn nằm kế bên, đi lấy củi. Kiểm, nguyên Trung Tá Trung đoàn Phó, Trung đoàn K. Anh vốn hiền lành, ít nói. Tôi không hiểu với tính tình ấy làm sao anh chỉ huy? Chúng tôi leo theo lối cũ. Khi tới nơi, tôi choáng váng vì đã có cả chục người đang gom các cây củi khi trước đây không ai để ý. Tôi và Kiểm đành đi tìm nơi khác. Chúng tôi leo qua triền núi phía bên kia chặt cây tươi vậy. Chúng tôi chặt hoài, tuy đã mỏi, nhưng vẫn chưa được bao nhiêu. Trong lúc tôi chặt, Kiểm nhặt gom vào một chỗ, đến gần trưa, chuyển dần xuống con dốc để đưa về Trại. Chúng tôi phải khuân làm mấy chuyến, xếp củi vào chiếc ô vuông quy định có chằng dây. Hai người làm quần quật cả buổi sáng mới được 1/3 ô. Tôi nói với Kiểm:
– Trưa nay tụi mình khỏi ngủ, ăn xong đi kiếm ngay mới đủ.
Kiểm đồng ý. Chiếc bánh mì luộc bữa trưa lọt thỏm vào bụng, biến mất. Tôi dốc bi-đông vô miệng uống ừng ực, lấy nước làm no rồi ngả lưng nghỉ mệt chừng mươi phút. Trời nắng gắt, toàn Trại ngủ im lìm, chỉ có hai chúng tôi vác dao leo núi. Chặt đến chiều vẫn chưa đủ chỉ tiêu, mới chỉ được 3/4 ô, trong khi các ô khác đầy nhóc. Đã đến giờ tên cán bộ hậu cần đi kiểm củi. Khi đến ô của chúng tôi, hắn hỏi:
– Ô này của anh nào?
– Dạ, của chúng tôi!
– Sao có chừng này?
– Dạ, vì sức yếu, lấy không nổi.
Tên hậu cần nhìn chúng tôi bằng con mắt lạnh lùng:
– Các anh ăn thiếu có được không?
Chúng tôi không trả lời.
– “Nần” này thôi, “nần” sau không được đâu nhá!
Chúng tôi thở đánh phào như trút được gánh nặng, rủ nhau đi suối lớn tắm, trước khi về Lán. Tắm giặt xong, tôi mặc chiếc quần ướt đi về.
Buổi tối, chúng tôi sinh hoạt chính trị toàn Trại. Đề tài thảo luận về 3 cuộc Cách Mạng do Nhà Nước Cộng Sản đề ra. Đêm nay trời có trăng nên không cần đèn. Mỗi đội chúng tôi ngồi quay tròn để sinh hoạt ngay tại chiếc sân lớn. Tên quản giáo đi đi lại lại từ Đội này qua Đội khác để tham gia ý kiến và đôn đốc cho cuộc thảo luận được sôi động.
– Đảng và Nhà Nước đề ra kế hoạch 5 năm để tiến hành 3 cuộc Cách Mạng. Thứ nhất, Cách mạng về sản xuất; thứ nhì: Cách mạng khoa học, kỹ thuật; thứ ba: Cách mạng văn hoá. Tối nay các anh hãy thảo “nuận” về cuộc Cách Mạng thứ nhất. Còn hai cuộc kia để tối khác. Các anh còn ở “nâu” “no” gì? Đây, nằm trong kế hoạch học tập, các anh nên cố gắng “động não” để có những ý kiến sâu sắc, nhằm đưa buổi học tập tới kết quả! Nghe rõ chưa?
Mấy trăm cái mồm cùng nói:
– Rõ!
Cuộc thảo luận bắt đầu. Anh nào nhanh mồm nhanh miệng đưa ra ý kiến, để tên quản giáo chú ý tới mình. Nào sản xuất để cải tiến nông nghiệp, nào sản xuất để hiện đại hoá nền công nghiệp, nào sản xuất về Quốc Phòng! Lời qua tiếng lại, thấm thoát đã 9 giờ đêm. Tên quản giáo cho lệnh nghỉ, tối mai tiếp tục.
Mọi người ùa ra, tìm chỗ khuất nơi bờ rào đi tiểu, xong vô Lán. Tối nay trăng sáng quá. Không ngủ được, tôi cứ đi loanh quanh gần nơi cổng, nhìn ra chiếc cầu gỗ bắc ngang dòng suối, do Đội 1 thực hiện. Tôi đứng nhìn chiếc cầu phơi mình dưới ánh trăng, nổi bật như chiếc cầu trong bức tranh Nhật Bản. Tiếng nước suối róc rách nghe rõ mồn một. Tôi nghĩ thầm, giá lúc này không có chiếc rào ngăn cách, tôi có thể ngồi trên chiếc cầu gỗ nhỏ bé kia, vừa ngắm trăng, vừa nhìn cảnh vật, tai nghe tiếng suối chảy, thú vị biết bao! Vừa nghĩ tới đó, bỗng có tiếng quát:
– Anh nào kia, đứng “nàm” gì đấy?
– Dạ, nóng quá, chưa ngủ được!
– Vào ngay!
Sau tiếng ra lệnh khô và sắc, có tiếng kéo cơ bẩm lạch cạch. Tôi vội vàng đi vào! Anh em còn nhiều người thức, hỏi:
– Sao, chuyện gì vậy?
– À, chưa ngủ đứng ngắm trăng bị đuổi vô!
Có tiếng mỉa mai thốt khẽ trong bóng tối:
– Nghệ sĩ cho lắm vào, có ngày ăn đạn!
Những buổi kế tiếp, chúng tôi vẫn lao động đều đều. Có Đội đi lấy tranh lợp nhà. Có Đội cuốc đất trồng sắn. Có Đội làm nền nhà, phát quang v.v… Công tác lấy tranh lợp nhà có vẻ gay go nhất: vừa đi xa, vừa gánh nặng.
Discover more from Son Rau
Subscribe to get the latest posts sent to your email.