Tìm Nghĩa trong Chữ

baotreonline.com

Trần Vũ

August 24th, 2019

Post by Sơn râu 23 May 2024

Một yêu câu hát truyện Kiều…

Lẳng lơ như tiếng sáo diều làng ta

Và yêu cô gái bên nhà

Miệng xinh ăn nói mặn mà có duyên

Khi yêu “cô gái bên nhà”, có lẽ thanh niên trong ảnh minh họa đã kinh ngạc nhận ra thiếu nữ “trắng ngần” ấy… nói một ngôn ngữ mà từ vựng gốc Hán chiếm 70%. Nhưng đã thành tiếng của cha mà dân Trung Hoa không còn hiểu được nữa và tất cả chúng ta cùng yêu thương ngôn ngữ ấy. Cảm ơn những giảng giải của trung tâm Ngày Ngày Viết Chữ. [Trần Vũ]

Kỳ 4

Ngang tàng

Gốc Hán, chữ Hán viết là phiên âm là /ángcáng/, trong đó:

– Ngang là giơ cao, ngẩng lên, như ngang thủ là ngẩng đầu;

– Tàng là chứa giữ, trữ, giấu, nghĩa rộng là giữ trong lòng, hoài bão.…

“Ngang tàng” vốn là từ để chỉ người có chí khí cao, lòng mang hoài bão. “Trường Ca Hành” của Lý Tất (nhà Ðường) viết “ngang tàng nhất trượng phu” nghĩa là người đàn ông chí khí dọc ngang trong đất trời. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du thì viết: “Năm năm trời bể ngang tàng, Ðem mình đi bỏ chiến trường như không”. “Trời bể ngang tàng” là để nói về người anh hùng áo vải Từ Hải. Ngày nay “ngang tàng” được hiểu là tính bất chấp không sợ ai.

Thân thích

Gốc Hán, viết là  trong đó: Thân là gần, họ hàng gần, thường dùng chỉ họ bên nội; Thích là bà con khác họ, thường dùng chỉ họ bên ngoại.… Người ta vẫn nói “nội thân ngoại thích” dùng để chỉ họ hàng hai bên nội ngoại. Ngày nay, chữ “thân” thì còn dùng nhiều, khi nói “người thân”, người ta cũng không phân biệt bên nội hay bên ngoại. Nhưng chữ “thích” này ít khi dùng riêng biệt nữa.

Mọi rợ

Thường thì chúng ta đều hiểu “mọi rợ” nghĩa là dùng để chỉ những người còn hoang dã, mông muội, kém văn minh. Như Ðại Nam Quốc âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của thì giảng “mọi” là “người rừng không biết lễ phép”, ở đây, phải hiểu “lễ phép” là lễ và phép (tức pháp), là những thói ứng xử lễ nghĩa, chứ không nên hiểu cạn “không biết lễ phép” là hỗn hào hay không ngoan ngoãn.

Vậy còn “rợ”?…

“Rợ” là chữ Nôm, viết là  với ý nghĩa tương tự như “mọi”, dùng để chỉ giống người hoang dã, không được ánh sáng văn minh chiếu rọi, cũng là tiếng gọi miệt thị những dân tộc bị khinh khi. Trong Sử ký Tư Mã Thiên, bản dịch của học giả Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hiến Lê có dùng “rợ Hung Nô” (“Mối lo lớn nhất của nhà Hán là rợ Hung Nô”) để chỉ cách gọi của người Hán với người Hung Nô.

Ngày nay, chữ “rợ” gần như đã mờ nghĩa và ít khi dùng một mình mà hay đi kèm với “mọi” thành tổ hợp “mọi rợ”. Không liên quan nhưng có bạn nào gặp trường hợp bạn mình, đồng nghiệp mình hoặc sếp mình cấm nói “mọi người” vì lý lẽ: “thế ai là mọi, ai là người không?”

Tuyệt cú mèo

Tại sao nói “tuyệt cú mèo”, cái gì đó tuyệt vời thì liên quan gì đến con cú mèo?

– “Tuyệt cú mèo” nghĩa là “tuyệt vời, rất tuyệt, đạt đến mức coi như lý tưởng, không còn chê chỗ nào được nữa” (theo Từ điển Từ ngữ Nam Bộ của Huỳnh Công Tín, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009).

– Nguồn gốc của quán ngữ này là danh ngữ “tuyệt cú”  của tiếng Hán. Theo đó, “tuyệt cú” (còn gọi là tiệt cú, đoản cú), vốn là tên một thể thơ mà mỗi bài có bốn câu.

– Từ này dùng trong dân gian, thay vì tên một thể thơ thì thường hiểu sai thành “câu (thơ) hay”, rồi hiểu rộng ra là “hay”, là “tuyệt”. Và khi nó đã được mặc nhiên hiểu như thế này rồi thì người ta lại đánh đồng chữ “cú” nghĩa là “câu” với “cú” trong tên một loài chim là “cú mèo”. Thế là ta có ba tiếng “tuyệt cú mèo”. Ðây là một hiện tượng thường gặp trong tiếng Việt, người ta thường mượn một từ đồng âm để thêm thắt từ ngữ, kiểu “lý do (gio/tro) lý trấu”, “văn nghệ văn gừng”.

Bùng binh

Ðôi khi, mọi người hay dùng từ “bùng binh” để chỉ nơi giao lộ, vòng xoay hay còn gọi là vòng xuyến. Nguồn gốc của từ “bùng binh” này là gì? “Bùng binh” vốn không phải là giao lộ. Ðây là phương ngữ Nam bộ, vốn dùng để chỉ một địa hình sông nước. Cụ thể, “bùng binh” là chỗ phình rộng giữa sông rạch, đôi khi có cù lao ở giữa, ghe thuyền có thể quay đầu (“bùng” nghĩa là “nở ra”,… “nới ra”).

Ðầu thế kỷ 20, từ “bùng binh” mới được dùng để chỉ nơi giao lộ trong thành phố. Hiện nay, Sàigòn vẫn còn một con đường mang tên Rạch Bùng Binh ở quận 3. Mới nghe qua thấy bùng binh và con rạch chẳng có gì liên quan, nhưng vào thời xa xưa ấy, chúng rất liên quan. (Theo Từ điển Địa danh Sàigòn, Lê Trung Hoa, 2003.)

Ảnh hưởng

Mọi người hay nói việc này ảnh hưởng đến việc kia, người này ảnh hưởng đến người kia, vậy “ảnh hưởng” về mặt nguồn gốc là gì? Ảnh hưởng là từ gốc Hán. Tiếng Hán giản thể viết là  Trong đó:

– Ảnh là cái bóng của vật;…

– Hưởng là âm vang của tiếng.

Ảnh hưởng là từ dùng để chỉ kết quả tất yếu và khách quan, về sau còn được dùng như động từ, chỉ sự tác động của cái này đến cái khác.

Trắng ngần

Ta hay nói nước da trắng ngần,  trắng thì hiểu rồi, vậy “ngần” là gì?

“Ngần” là một loại cá mình nhỏ chừng bằng đầu đũa ăn, toàn thân cá màu trắng sữa, mềm, vị ngon, có thể chiên giòn, chiên bột, nấu canh, tất thảy đều ngon.

“Trắng ngần” là trắng như con cá ngần. Thường có câu “trong như giá, trắng như ngần” là vậy. Truyện Kiều của Nguyễn Du viết:

Buồng riêng riêng những sụt sùi/ Nghĩ thân mà lại ngậm ngùi cho thân/

“Tiếc thay trong giá trắng ngần,

Ðến phong trần, cũng phong trần như ai!”

Tẻ vui cũng một kiếp người/ Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru/ Kiếp xưa đã vụng đường tu…

Mình từng nói khá là nhiều lần rồi nhỉ, hầu hết mọi ví dụ về nét đẹp tính giàu của tiếng Việt đều có thể tìm thấy trong Truyện Kiều. Hôm nay, mọi người đọc Truyện Kiều chưa?

Hàn huyên

Gốc Hán, viết là  Hàn là lạnh; Huyên là ấm. Xưa con cái trước khi ngủ phải hỏi thăm cha mẹ có lạnh không, sáng hôm sau thức dậy phải hỏi cha mẹ đêm qua ngủ có đủ ấm không. Do đó sau này “hàn huyên” được dùng để chỉ việc hỏi thăm, tâm tình cùng nhau.…

Giải quyết

Gốc Hán, viết là  Giải là cởi các nút thắt; Quyết là khơi chỗ nước đọng. “Giải quyết” là cởi bỏ những nút thắt và khơi thông những chỗ đọng nước làm cản trở bước đi. Do đó “giải quyết” được dùng để chỉ hành động “xử lý” những điều còn vướng mắc, tồn đọng.

Khang trang

Gốc Hán, viết là  trong đó:

– Khang là chỗ ngã năm;

– Trang là chỗ ngã sáu.

“Khang trang” ban đầu dùng để chỉ đường sá to lớn rộng rãi, sau đó mở rộng thêm nghĩa nhà cửa, công trình kiến trúc bề thế đẹp đẽ.

Ngầu

Từ gốc Quảng Ðông, viết là  nghĩa gốc là “trâu” hoặc “bò”.

Có bạn hỏi mình, khi xem một số chương trình Trung Hoa, thấy khen ai đó giỏi thì thường dùng chữ , khi dịch là “ngầu”, cũng có khi để hẳn là “trâu”, kiểu “cậu ta rất trâu”. Theo mình thì nên dịch là “ngầu”. Chữ “ngầu” này vốn là phương ngữ Nam Bộ mà nghĩa gốc là “trâu” hoặc “bò” như đã nói, còn nghĩa phát… sinh của nó là nóng nảy, cộc cằn, dã man, sau này phát sinh thêm nghĩa giỏi, mạnh mẽ, rất “đàn ông”. Chữ “ngầu” như đã nói là từ gốc Quảng Ðông, nghĩa là người Quảng Ðông phát âm chữ 牛 là “ngầu” mà âm Hán Việt đọc là “ngưu”.

Tang thương

Gốc Hán, mà gốc Hán vốn là “thương tang”, viết là  trong đó: Tang là cây dâu; Thương là biển khơi.… “Tang thương” vốn xuất phát từ câu “thương hải biến vi tang điền” tức biển xanh biến thành ruộng dâu, dùng để chỉ sự biến đổi của cuộc sống, cũng dùng để chỉ sự đổi thay của đời người.
Trong tiếng Việt, “tang thương” thường mang ý nghĩa biến đổi xấu đi, kiểu “khung cảnh tang thương”, có lẽ vì bị ảnh hưởng của các từ tang tóc đau thương, nhưng về nguồn gốc “tang thương” hay “thương tang” chẳng qua chỉ để sự thay đổi, không hàm ý xấu tốt, chỉ là có ít nhiều cảm giác mất mát vì những điều xưa cũ không còn. Tiếng Việt còn có một từ Việt hoá “tang thương” là “bể dâu” (đôi khi dùng là “dâu bể”).

Đề bạt

Từ gốc Hán, viết là  trong đó:

– Ðề là nâng đỡ, nâng lên, dẫn dắt cho lên trên, kéo cho tiến lên đều gọi là đề;

– Bạt là chọn trong cả bọn lấy riêng ra một người (để nâng lên).

“Ðề bạt” về mặt nguồn gốc mang ý nghĩa đưa người tài giỏi lên để được dùng, nhưng mà ngày nay không phải cứ có tài là được “đề bạt”, đôi khi còn phải …”hiểu chuyện” nữa.

Trác tuyệt

Từ gốc Hán, viết là  đọc là /Zhuójué/, trong đó:

– trác là cao chót vót;

– tuyệt là có một không hai (tuyệt sắc là đẹp không giống ai, hay đẹp lạ).…

«Trác tuyệt» là xuất sắc nhất, vượt hẳn lên, không giống với người thường, như «hạc giữa bầy gà» là một kiểu «trác tuyệt».

Khôi ngô

Từ gốc Hán, viết là  trong đó:

– Khôi là cao lớn;

– Ngô là vạm vỡ. …

Chữ 梧 này có hai âm đọc, một âm là “ngô” (trong “ngô đồng”), một âm là “ngộ” mà lẽ ra, chữ “khôi ngô” này phải đọc là “khôi ngộ”. Mà thôi, bách tính thiên hạ đều dùng “khôi ngô” rồi thì mình cũng đừng nên làm chuyện gì phản xã hội. Lại nói, theo nghĩa gốc thì “khôi ngô” là cao lớn, vạm vỡ chứ không phải mặt mũi đẹp trai sáng láng. Nghĩa là kiểu Người khổng lồ Xanh Hulk thì chính là người khôi ngô đó ạ. Còn các soái ca thư sinh phi giới tính, thậm chí là còn đẹp gái hơn khối đứa con gái (như mình) thì không được gọi là khôi ngô đâu ạ.

Cừ khôi

Gốc Hán, viết là  đọc là /qú kuí/, trong đó: cừ là to lớn; khôi là đầu sỏ, kẻ cầm đầu, cũng có nghĩa là cao lớn.

Mạch lạc

Từ gốc Hán, viết là  đọc là /màiluò/, trong đó:

– mạch là những vật có ngánh thớ mà liền với nhau như mạch nước, mạch núi. Các đường gân trên lá cây gọi là diệp mạch. Trong “mạch lạc” thì mạch chính là “mạch máu”;

– lạc là các (dây) thần kinh và mạch máu ngang trong cơ thể.…

“Mạch lạc” vốn dùng để chỉ các loại mạch máu trong cơ thể người, sau dùng để chỉ những thứ (như văn chương, cách nói chuyện) trôi chảy, có lớp lang suôn sẻ.

Cố chấp

Từ gốc Hán, viết là đọc là /gùzhí/, trong đó:

– cố là bền, chắc;

– chấp là cầm, giữ.…

«Cố chấp» về nguồn gốc có nghĩa là một kiểu tính cách chắc chắn, không thay đổi. Bản thân «cố chấp» không mang nghĩa tốt hay xấu, ví dụ thủy chung yêu một người là một loại «cố chấp». Tuy nhiên, về sau «cố chấp» thường mang nghĩa tiêu cực, là một kiểu tính cách khăng khăng, giữ nguyên ý kiến không chịu thay đổi kể cả khi mình sai, hoặc là kiểu tính cách hay để bụng những sơ suất của người khác.

Tìm Nghĩa trong Chữ

baotreonline.com

Trần Vũ

August 17th, 2019

Post by Sơn râu 23 May 2024

Tôi yêu tiếng nước tôi

Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…

Tiếp theo kỳ trước, là sưu khảo về các từ Hán-Việt của Trung tâm Ngày Ngày Viết Chữ, dạy Hán văn và nghiên cứu tiếng Việt, ở lầu 3, số 319-B13 Lý Thường Kiệt, Phường 15, Quận 11, Sàigòn. [Trần Vũ]

Kỳ 3

Kiêu xa

Từ gốc Hán, viết là  giản thể viết  phiên âm là  trong đó:

– Kiêu là cao ngạo, tự mãn, các bạn biết tiếng Hán sẽ thấy chữ  có bộ mã  hàm ý con ngựa lồng lên đầy kiêu hãnh, nên chữ “kiêu” này cũng dùng để chỉ con ngựa cao lớn mạnh mẽ;

– Xa là phung phí quá đỗi, như xa xỉ là hoang phí thái quá, không biết tiết kiệm.…

“Kiêu xa” vốn là từ dùng để chỉ kẻ kiêu ngạo, hợm mình và hoang phí. Trong bài “Ðế kinh thiên” của Lạc Tân Vương (nhà Ðường) có viết:

“Đương thời nhất đán thiện hào hoa

Tự ngôn thiên tải trường kiêu xa

Thúc hốt đoàn phong sinh vũ dực

Tu du thất lãng ủy nê sa”.

Ðại khái là thuở ấy tài hoa bộc lộ sớm, tưởng đâu ngàn năm có thể kiêu ngạo xa xỉ mãi, ai ngờ cũng có lúc thất thế.

Ái chà, cái nghĩa của từ “kiêu xa” này coi bộ khác từ “kiêu sa” của chúng ta quá mọi người nhỉ? “Kiêu sa” trong tiếng Việt chỉ người phụ nữ đẹp và quý phái cơ. Có hề gì, căn bản người Việt xưa giờ dùng từ gốc Hán có rập khuôn đâu. Người Việt có một sức sáng tạo vô kể đối với ngôn ngữ, nên bao biện đã không còn nghĩa của bao biện, phương phi đã không còn nghĩa của phương phi, biểu tình đã không còn nghĩa của biểu tình. Có lẽ, từ gốc của “kiêu sa” chính là “kiêu xa” thật nhưng đã dần dần biến nghĩa đi, như “cứu cánh” đang dần biến nghĩa lúc này vậy.

Còn về từ “sa” mà các bạn cho rằng là từ “chim sa cá lặn”, thì từ “sa” này lại càng không quý phái gì hết. Nó chẳng qua chỉ có nghĩa là “rơi xuống” mà một âm bình dân hơn là “sà” (sà xuống, sà vào mâm). Mình nhớ nhân vật “thị” trong “Vợ nhặt” của Kim Lân cũng có động tác “sà” xuống ăn vì đói quá này.

Sẵn đây nói về cụm “chim sa cá lặn”, đây là thành ngữ mà âm Hán Việt là “lạc nhạn trầm ngư”. “Lạc nhạn” là Vương Chiêu Quân (thời Tây Hán), một trong tứ đại mỹ nhân cổ đại của Trung Hoa. Nói ngắn gọn thì Vương Chiêu Quân bị gả đi Hung Nô, giữa đường buồn quá lấy đàn ra đàn, chim nhạn nghe tiếng đàn ai oán quá nên sa xuống đất. Cũng có thuyết nói nàng đẹp quá đến chim cũng quên bay lượn mà rơi xuống. (Còn “trầm ngư” là Tây Thi (thời Xuân Thu). Hai người còn lại là “bế nguyệt” Ðiêu Thuyền (thời Tam Quốc) và “tu hoa” Dương Ngọc Hoàn – Dương Quý Phi của Ðường Minh Hoàng.)

Khấu

Bữa mình phát hiện, hóa ra tiếng Việt cũng có lắm chữ “khấu” các bạn ạ.

– Khấu đầu: Chữ “khấu” này là động từ, có nghĩa là gõ, đập, dập, lạy. Chữ Hán viết là  “Khấu đầu” là cúi lạy, quỳ lạy. Ðây chính là chữ “khấu” trong khấu tạ, khấu môn (gõ cửa), khấu quan (gõ cửa quan, cửa công), bách khấu (trăm lạy).

– Thảo khấu: Chữ “khấu” này có nghĩa là kẻ cướp, giặc, kẻ thù. Chữ Hán viết là (ngoài ra còn mấy cách viết nữa). “Thảo khấu” là kẻ cướp ở nơi hẻo lánh như rừng núi mà ta còn gọi là “giặc cỏ”. Ðây cũng là chữ “khấu” trong tặc khấu, ngoại khấu, biên khấu, địch khấu. Mấy chữ này ít dùng, đều chỉ kẻ thù, giặc cướp các kiểu.

– Chiết khấu: Chữ “khấu” này nghĩa là bắt lại, giằng lại, trừ bớt. Chữ Hán viết là  (Chữ  và chữ  nhiều khi dùng như nhau, thế cho nhau được.) “Chiết khấu” là chia ra rồi trừ đi, bớt đi, xén đi một ít. Ðây chính là chữ “khấu” trong khấu lưu (bắt giam, ta quen dùng “câu lưu”), khấu trừ.

– Phượng khấu: Chữ “khấu” này có nghĩa là cái khuy áo, cái nút áo, ngoài ra còn có nghĩa là bịt vàng, nạm vàng lên trang sức. Chữ Hán viết là . (Ðôi khi cũng dùng là  nhưng cá nhân mình thấy dùng  đúng hơn.) Chữ “khấu” này tiếng Việt hiện đại ít dùng lắm. Gần đây nó xuất hiện trong tên phim “Phượng Khấu”, nghĩa là cái cúc áo hình chim phượng, một biểu tượng quyền lực chốn cung đình.
Tất cả những chữ “khấu” này và còn vài chữ “khấu” hiếm dùng khác nữa đều đọc là “khấu” nhưng về mặt nghĩa của từ thì hoàn toàn không giống nhau.

Chuyện là vầy các bạn ạ, hồi 1/6, mình có được mời đi dự lễ công bố dự án điện ảnh Phượng Khấu. Ðây là một dự án phim sử dụng chất liệu lịch sử, (các bạn có thể quen gọi là phim cổ trang hay là phim cung đấu), nói về cuộc đời thăng trầm của Nghi Thiên Chương Hoàng hậu Phạm Thị Hằng, tức đức Từ Dụ Hoàng thái hậu. Người mà chúng ta hay gọi sai thành Từ Dũ, và tệ hơn, mình từng nghe có người gọi là Từ Vũ..!!!

Khảng khái

Từ gốc Hán, viết là  phiên âm là

– Từ điển Thiều Chửu giảng “khảng khái” nghĩa là hăng hái (có ý khí hăng hái vì nghĩa). Tục bảo tiêu tiền không cò kè là khảng khái (cũng như hào hiệp).

– Từ điển Trần Văn Chánh giảng “khảng khái” là mạnh mẽ, hùng hồn, hăng hái (vì việc nghĩa). “Khảng khái trần từ” là lời nói mạnh mẽ, lời lẽ hùng hồn; Ngoài ra, “khảng khái” còn có nghĩa là hào hiệp, hào phóng, rộng rãi.

– Ðại Nam Quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giảng “khảng khái” là bộ mạnh mẽ, gan dạ, hết lòng.

Các từ điển, tự vị trên đều không có từ “khẳng khái”. Có thể hiểu, “khẳng khái” là từ sinh sau này.

[Hiện tượng lưỡng khả của tiếng Việt]

Từ đúng là “khảng khái”, nhưng tiếng Việt có một hiện tượng gọi là “lưỡng khả”. Hiện tượng lưỡng khả nghĩa là người dùng chấp nhận cả hai khả năng, hai biến thể ngữ âm cho cùng một từ. Và từ đó sẽ có hai cách viết chính tả khác nhau. Ví dụ: dông tố và giông tố, sum sê và sum suê… Ðôi khi, không phải hai mà là ba luôn quý vị ạ.

Cô độc

Là từ gốc Hán, viết là , trong đó:

– Cô là lúc nhỏ không có cha mẹ, mồ côi;

– Ðộc là về già không con cái.

Người cô độc là người trải qua sinh lão bệnh tử một mình. Sau này, cô độc thường dùng để chỉ trạng thái tâm lý của con người.…

Manh nha

Từ gốc Hán, viết là 

cả manh và nha đều có nghĩa là mầm cây cỏ mới nảy, mới mọc. Do đó “manh nha” được dùng để chỉ sự vật, sự việc mới có ý định, sắp hoặc mới phát sinh. Ví dụ: Manh nha làm cách mạng.

Tìm Nghĩa trong Chữ

baotreonline.com

Trần Vũ

August 10th, 2019

Post by Sơn râu 23 May 2024

Kỳ 2

Tôi yêu tiếng nước tôi

Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui

Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi…

Tiếp theo kỳ trước, là sưu khảo về các từ Hán-Việt của Trung tâm Ngày Ngày Viết Chữ, dạy Hán văn và nghiên cứu tiếng Việt, ở lầu 3, số 319-B13 Lý Thường Kiệt, Phường 15, Quận 11, Sàigòn. Thay lời phi lộ, ban biên soạn đã viết: “Chúng tôi không dám đi sâu biện giải về nguồn gốc tiếng Việt, rằng thoạt kỳ thủy ngôn ngữ của chúng ta từ đâu ra, vì sao mà hình thành. Chúng tôi chỉ mạo muội bày tỏ rằng, bằng những kinh nghiệm trong quá trình ngày ngày viết chữ, chúng tôi nhận thấy một người có hiểu biết về tiếng Trung sẽ dễ dàng am tường về tiếng Việt hơn hẳn. Tỉ như người biết tiếng Trung sẽ dễ dàng biết “nhân loại”, “nhân ái” và “nguyên nhân” là ba chữ “nhân” khác nhau với ý nghĩa khác nhau vậy. Nếu chỉ biết mỗi chữ quốc ngữ, e rằng đến một lúc nào đó, tất cả chúng ta sẽ có nhiều ngộ nhận về tiếng Việt, không biết rằng có những con chữ diện mạo giống nhau nhưng hàm nghĩa của mỗi chữ hoàn toàn khác nhau. Trong một tương lai xa hơn, chúng tôi kỳ vọng vào việc tiếp cận sát sườn hơn nữa với chữ Nôm – một tử ngữ của tiếng Việt.”

Đồng tình hay không, việc hiểu thêm nghĩa gốc mà cách dùng hôm nay đã biến đổi ít nhiều, là cần thiết. Giúp chúng ta biết thêm ngôn ngữ của người xưa cùng những phát sinh trong đời sống, tuy cũng làm chúng ta băn khoăn thêm về chính tả, như Kiêu Xa hay Kiêu Sa, Cổ Xúy hay Cổ Súy? [Trần Vũ]

Kỳ 2

Tú tài

Từ ghép, chữ Hán viết là , phiên âm là /xiùcái/, trong đó:

– Tú là cây lúa trổ bông, cây cỏ ra hoa, nở hoa thì gọi là tú;

– Tài là năng lực, cũng là cái gì đó vừa xảy ra, mới bắt đầu.…

Tầm nguyên từ điển của Lê Văn Hòe giảng “tú tài là cái tài đang thời nẩy nở như lúa, cỏ đang lúc nẩy hoa”. “Tú tài” là cách gọi người đỗ khoa thi hương (dưới cử nhân), bằng tốt nghiệp trung học cũng gọi là bằng tú tài, vì người đỗ cấp này thường ở lứa tuổi vừa xuân xanh và năng lực cũng dần triển lộ.

Căn cước

Là từ gốc Hán, viết là  trong đó:

– Căn (âm Hán Việt hiện đại là “cân”) là cái gót chân;

– Cước là cái bàn chân (hoặc cẳng chân, nói chung là cái chân).

Khi đi người ta đặt gót chân xuống trước, nên “căn” hàm nghĩa là gốc rễ, lai lịch, khi bước người ta nhấn bàn chân xuống trước, nên cước dùng để chỉ hoạt động, tình trạng đi lại. “Căn cước” vì thế được dùng chỉ quê quán lai lịch, tiểu sử hành tung của một người. Nói thêm cho các bạn dễ hình dung là so với “đi” thì động tác “bước” nhấc chân cao hơn, “đi” và “bước” đều chỉ hành động đưa chân về phía trước nhưng đi thì gót chạm đất trước còn bước thì bàn chân chạm đất trước.

Sa thải

Tại sao đuổi việc lại gọi là “sa thải”? “Sa thải” là một từ gốc Hán, (viết là ). Từ này vốn có nghĩa là “đãi cát” (sa nghĩa là cát), nghĩa bóng là “bỏ cái xấu, giữ cái tốt”. Do cái nghĩa bóng này mà “sa thải” thường dùng trong các trường hợp đuổi việc (Từ điển Ðào Duy Anh, 2005, trang 662).

Lưu manh

«Lưu manh» là gì? Có phải người xấu không? Thật ra, nguồn gốc hai chữ «lưu manh» không phải dùng để chỉ người xấu.

– Lưu có nghĩa gốc là trôi, chảy, rồi nghĩa phát sinh là rày đây mai đó.…

– Manh có hai nghĩa, một là “người dân”, xưa dùng để chỉ trăm họ; hai là “dân quê”. Âm xưa của “manh” đọc là “mống” (ví dụ: chết không còn một mống).

– Hai chữ “lưu manh” ghép lại vốn dùng để chỉ người dân không nghề nghiệp, rày đây mai đó, không có công việc làm ăn, rồi dần dần chuyển sang nghĩa là đứa du côn, bất lương. Nói chung, ngày xưa chỉ là “người lưu manh”, trung hoà không tốt không xấu, giờ nghe từ “thằng lưu manh” là thấy không tốt rồi.

Cổ xúy

“Cổ xúy” là gì? “Cổ” nghĩa là cái trống  Xúy (còn có âm khác là xuy) nghĩa là thổi  “Cổ xúy” vốn có nghĩa là “đánh trống thổi sáo”, sau này dùng theo nghĩa là hô hào, vận động, cổ vũ cho một việc gì đó. Hiện nay, “cổ xúy” thường dùng khi phê phán việc hô hào, vận động chuyện gì đó xấu, ví dụ: cổ xúy lối sống hưởng thụ.… Thỉnh thoảng, mình bắt gặp từ “cổ súy”. Ðây là cách viết sai chính tả của từ “cổ xúy”.

Hở hang

Từ ghép, trong đó:

– Hở là không kín, không liền nhau;

– Hang là thông suốt, mà chữ Hán hay chữ Nôm đều ghi nhận là  âm Hán Việt hiện đại là “hanh”, tức thông suốt, là chữ “hanh” trong từ “hanh thông”.…

Cụ thể thì “hang” là một dạng biến thể của “hanh”, ngoài ra còn có một dạng nữa là “hênh” trong “hớ hênh”, nghĩa là hở ra, hớ ra, không kín đáo. Về mối quan hệ của -anh và -ang có thể tìm thấy trong mành – màng, mảnh – mảng, canh/cánh – càng (càng lúc càng…).

Như rất nhiều lần khác, không phải khơi khơi mà ông bà nói một từ, hở hang hay hớ hênh cũng đều có lý do cả. Chỉ vì chúng ta không biết nghĩa của chúng nên mới tưởng lầm chúng là từ láy. Kỳ thực, ở thời xa xưa ấy, chúng không vô nghĩa.

Thằng Tí

Có bao giờ mọi người nghĩ tại sao người xưa hay gọi mấy đứa bé trai là “Tí” không? Nhiều người cho rằng “Tí” là “chuột”, liên tưởng đến hình ảnh mấy đứa con trai nhỏ nhỏ, loắt choắt, linh lợi như chuột chăng?
Thực ra thì, ông bà ta thường không tuỳ tiện mà nói, mà dùng một tiếng, một từ, một ngữ nào đó. Mỗi thứ đem ra dùng âu cũng đều có nguyên nhân cả.… Chẳng nói đâu xa, như cái tên “Tí” này, thực ra là một từ gốc Hán, lại còn là một từ rất phổ biến, tiếng Hán viết là  mà âm Hán Việt hiện đại là “Tử”, nghĩa là đứa con trai.

Tí

“Tí” (cũng viết là Tý) là âm Hán Việt xưa của “Tử”, nên “Tí” thường được dùng để gọi mấy đứa bé trai. Mà truy cho xa về trước đó nữa, thì Tí – Tử –  được dùng chung cho cả con trai lẫn con gái. Còn về lý do vì sao sau này Tí – Tử  chỉ dùng cho con trai thì mình chưa rõ lắm, có lẽ là bởi vì chế độ phụ hệ lên ngôi chăng? Ðương nhiên, cũng có trường hợp “Tí” là “Chuột” thật, nhất là khi đứa bé được sinh vào năm Tí, như cái Tí trong “Tắt đèn” (Ngô Tất Tố) dù là con gái nhưng vẫn theo truyền thống cha Dậu chú Hợi mà gọi tên là Tí.

Tía

Ở miền Tây Nam Bộ, người ta thường gọi cha là “tía”. Từ này, cũng như “cha”, “ba” hay “bố” đều là những từ Việt gốc Hán. Mà cụ thể thì “tía” bắt nguồn từ gốc Triều Châu, viết là  Nghĩa là cha, phụ thân. Lại nói, từ “ba” có thể khá dễ dàng để truy ra gốc Hán của nó thông qua từ  (phát âm là /Bà/). Nhưng “cha” hay “tía” nghe thuần nông như vậy mà có gốc Hán thì cũng bất ngờ thật. Còn “bố”,… từ này vốn là âm xưa của  mà âm Hán Việt hiện đại là “phụ”. Nói tóm lại thì cha ba bố tía gì cũng là từ gốc Hán hết.

Anh hùng

“Anh hùng” về nguồn gốc có nghĩa là gì?

– “Anh” là hoa của cây;

– «Hùng» là con đực của các loài muông thú;

«Anh hùng» vốn là tinh hoa của cây cỏ loài vật, hay là tinh hoa của vạn vật, cho nên dùng để chỉ người xuất chúng.

Do dự

Từ ghép gốc Hán, viết là  phiên âm là /yóuyù/, Thiều Chửu giải thích từ nguyên của hai chữ này như sau:

– do là con do, giống như con khỉ, tính hay ngờ (tức nghi ngờ – NNVC), nghe tiếng người leo ngay lên cây, không thấy người mới lại xuống;

– dự là con dự, một loài thú có tính đa nghi.…

Mặc dù mình không biết con do và con dự trông như thế nào, nhưng các từ điển tiếng Hán cũng thường giải thích đây là hai con thú có tính đa nghi, nên “do dự” thường dùng để chỉ người thiếu quyết đoán, hay đa nghi, hay trù trừ.

Đặc biệt

“Ðặc biệt” là từ gốc Hán, viết là  trong đó:

– “đặc” là con bò (trâu) đực. Các bạn học tiếng Hán sẽ biết chữ “đặc” là bộ ngưu  Trong nghi lễ thời vua Thuấn (một vị vua “điển hình tiêu biểu” của Trung Hoa cổ đại) có một lễ tế chỉ giết một con bò. Nhấn mạnh là CHỈ giết một con bò. Lễ này gọi là lễ Ðặc.

– “biệt” là riêng biệt, tách ra.

“Ðặc biệt” lúc đầu dùng chỉ những hiện tượng, sự vật đơn nhất, độc đáo nhất, chỉ có một. Về sau từ này được mở rộng ý nghĩa, dùng để nhấn mạnh một hiện tượng, sự vật nào đó.

(Theo nhà nghiên cứu Hán Nôm Cao Tự Thanh).

Thiết tha

Từ gốc Hán (tôi thật sự không thể tin nổi một từ có vẻ thuần Việt như này mà cũng có gốc Hán), viết là  trong đó:

– Thiết là cắt;

– Tha là mài.…

Từ này xuất phát từ bài thơ «Kỳ úc 1» trong Kinh Thi, viết rằng:

“…Như thiết như tha

Như trác như ma.

Sắt hề! Hạn hề!

Hách hề! Hoán hề!

Hữu phỉ quân tử,

Chung bất khả huyên hề!”

Về nguồn gốc, “thiết tha” trong bài này vốn dùng để ca ngợi Vệ Vũ Công (vị vua thứ 11 của nước Vệ – chư hầu nhà Chu trong lịch sử Trung Hoa) là người biết trau dồi tài đức nên được nhân dân yêu mến nhớ nhung đến mức trong lòng đau như cắt như mài.

Nhưng khi gia nhập tiếng Việt, từ này lại có nghĩa khác với ở Trung Hoa. “Thiết tha” trong tiếng Việt chỉ sự gắn bó hết lòng, luôn luôn nghĩ đến, quan tâm đến ai đó hay việc gì đó, ngoài ra còn mang nghĩa mong mỏi, mong được đáp ứng, cho nên mới có cách nói “tôi tha thiết mong anh”, hoặc là “tôi chả thiết tha gì nữa”. Nói chung hầu như chẳng còn cắt hay mài gì hết. Ðôi khi “thiết tha” bị đảo thành “tha thiết” và có một biến âm là “da diết”.

Nhuận bút

Tiền “nhuận bút” là tiền trả cho tác giả viết sách viết báo. Từ này có gốc Hán, viết là  trong đó:

– Nhuận là làm ướt, làm thấm;

– Bút là cây bút lông.…

Nhuận bút là làm ướt phần lông bút. Ngày xưa người ta viết bằng bút lông, nếu lâu ngày ngòi bút không được thấm ướt lông sẽ khô, giòn và gãy rụng. Lúc đó nhiều người không biết chữ, có việc cậy nhờ cần đến chữ nghĩa thì người đi xin chữ sẽ trả thù lao cho người viết. Tiền thù lao người ta không nói thẳng là tiền công vì như thế có vẻ khiếm nhã, thiếu tôn trọng, do đó người ta nhã nhặn bảo có chút ít gọi là nhuận bút.

Về sau các nhà xuất bản, tòa soạn trả tiền sách tiền bài báo cho tác giả cũng dùng từ này, dù rằng cả thế kỷ nay người viết đã không dùng bút lông nữa, thậm chí là không dùng bút nữa mà dùng bàn phím. Tuy nhiên, không thể nói tiền “nhuận bàn phím”, vì như thế nghĩa là làm ướt bàn phím, sẽ hỏng đó! Nhưng mà, tiền trả cho ảnh đăng sách đăng báo người ta vẫn dùng tiền “nhuận ảnh”, nghĩa là làm ướt máy ảnh chăng? Ðùa thôi chứ dùng “nhuận ảnh” quen rồi thì cứ dùng. Ngôn ngữ là thứ hễ cứ quen là đúng!!

The Tears of My Soul 

1993 by Kim Huyn Hee

Post by Sơn râu 23 May 2024

Chương 15
Tôi cảm thấy mình trống rỗng!
Sau khi khai, tôi chỉ nằm, đầu óc đờ đẫn. Tôi tê liệt cả về thể xác lẫn tinh thần. Với những gì đã khai, tôi như trút được gánh nặng ghê gớm trên vai, nhưng giờ đây tôi lơ lửng trong chân không và không tìm được nơi bấu víu. Nửa tỉnh nửa mê, tôi uể oải và chán nản. Tôi đã tính rằng tôi chẳng còn được sống bao lâu nữa, nhưng điều đó cũng không khiến tôi tỉnh táo hơn. Tôi không cảm thấy và không quan tâm đến bất cứ điều gì xảy ra với tôi.
Tôi đã khai một mạch, tất cả, trong tám tiếng ròng rã. Hầu như người ta đã biết hết về tôi. Nhìn đồng hồ của người nhân viên hỏi cung, tôi biết rằng tôi đã khai liền tới tận 3 giờ sáng. Giờ đây, bầu không khí trong phòng đã dễ chịu hơn rất nhiều và tôi thoải mái vì cuối cùng cũng được nói tiếng Hàn. Có điều niềm vui này thật hời hợt vì có một giọng thì thầm vào tai tôi: thế này, tôi và gia đình hết đời!
Hai ngày sau khi cung khai, tôi mới hơi cảm thấy trở lại bình thường. Các nhân viên hỏi cung đóng vai trò lớn trong điều này. Họ trò chuyện với tôi, chúng tôi kể cho nhau nghe những nhìn nhận về cuộc đời từng người. Điệp viên điển trai hỏi cung tôi bằng tiếng Trung tên là Nak Yong và cùng ông là một thanh niên tên là Sengju. Còn cô nữ điệp viên xinh đẹp thì tên là Li Ok.
Hán Thành đã chiến thắng, nhưng trong tôi vẫn còn chút hồ nghi. Tôi đã thấy nhiều nhà cửa tuyệt đẹp, nhiều thứ khiến tôi có thể suy ra là niềm hạnh phúc ở đâu đây. Nhưng thực sự người Hán Thành thế nào? Phải chăng họ sống hạnh phúc sau những tòa nhà mỹ lệ và những hàng hóa đắt đỏ?
Trong hôm ấy, tôi hỏi Li Ok:
– Tôi có thể được thấy thường dân ở đây sống ra sao không?
Trong các chuyến sang Châu Âu, tôi không thể có được cái nhìn toàn diện về đời sống tại đó. Trước khi lên đường, các điệp viên được chỉ thị rằng họ chỉ được trò chuyện với người lạ nếu nhất thiết phải như thế.
Gánh nặng của nhiệm vụ luôn đè nặng lên vai chúng tôi, không thể thực sự cảm nhận những xứ sở mà chúng tôi đã qua. Giờ đây, tôi muốn làm điều này ở Hán Thành. Trước đây, tôi chỉ nhận định một quốc gia trên cơ sở những quan sát hời hợt. Nếu tôi ra chợ và thấy hàng hóa đầy rẫy, tôi lập tức rút ra kết luận rằng dân ở đó sống phong lưu hơn tại Bắc Triều Tiên. Nếu thấy nhiều quán rượu và những nơi tiêu khiển mở đêm, lập tức tôi nhận định là xứ sở ấy đồi bại và vô đạo đức. Còn nếu hễ cứ thấy người hành khất ngoài đường, tôi nghĩ ngay rằng đất nước đó nghèo khổ cùng cực, vì không có khả năng chu cấp cho công dân của họ.
Quá trình chuẩn bị chỉ kéo dài vài phút. Li Ok hỏi: có cái gì mà tôi nhất thiết muốn xem hay không?
– Không… không nhất thiết… – tôi đáp. – Cứ cho tôi đi đâu cũng được. Đến chỗ nào mà… đặc trưng cho Hán Thành ấy.
Ra ngoài phố, Li Ok đi cạnh tôi, còn Nak Yong đi sau và Sengju đi trước tôi. Tôi được nhận 25 ngàn Won (tương đương 20 USD) để tiêu và tôi cảm thấy đó là một khoản tiền thật lớn.

Chúng tôi đi lòng vòng trên những con phố nhỏ và chật chội ở quận Myongjong. Chả mấy chốc, tôi thấy một cửa hàng tên là Lotte và được giải thích rằng nó được đặt theo tên một thi hào Đức là Goethe. Chúng tôi vào cửa hàng. Tôi tò mò muốn biết người ta có bán đồ ngoại ở đây không. Tất cả mọi mặt hàng đều có chất lượng tuyệt hảo, nhưng đều có tên nước ngoài, và tôi đã nhắc điều này cho Li Ok.
– Không, các sản phẩm này đều làm ở Hàn Quốc cả – cô ta đáp. – Nhưng đa số được xuất khẩu ra ngoại quốc, vì vậy chúng mang tên ngoại. Nhưng sao cô không mua một cái gì đó?
Hơi rụt rè, tôi đến quầy bán mỹ phẩm. Cô bán hàng tại đó rất thân thiện, tôi chưa hề được thấy thái độ ấy bao giờ. Ở miền Bắc, người bán hàng thường cục cằn vì đằng nào cũng chả có gì để bán. Ở đây, dân chúng thực sự rất sẵn lòng giúp đỡ người khác.
– Có thể giúp gì chị không ạ? – cô bán hàng hỏi.
Tôi chỉ một hộp kem bôi mặt, cố gắng để khỏi bị ấp úng.
– Đây là hàng nhập ngoại?
Cô bán hàng đưa tôi xem hộp kem.
– Không, đây là sản phẩm của hãng Lucky của Hán Thành. Chỉ 6.500 Won thôi.
Tôi cứ nghĩ là hộp kem phải đắt đỏ lắm và rất vui vì có đủ tiền để mua được nó. Tôi không thể ước chừng được sức mua của số tiền tôi đang có, nhưng tôi cảm thấy các điệp viên đã cho tôi quá nhiều tiền. Nhưng vì rụt rè, cuối cùng tôi lại không mua kem. Thật khó làm quen với bầu không khí tự do và nhẹ nhõm này.
Li Ok mua cho một một khăn quàng cổ. Quá nhiều hàng hóa nên tôi lại đâm mất tinh thần và không dám mua gì cho mình. Rồi chúng tôi đi tiếp. Đường phố đông nghịt, nhưng dễ thấy là cư dân ở đây không vội vã. Từng nhóm nam, nữ vãng lai cười nói vui vẻ. Chúng tôi thấy một người mặc đồng phục kỳ quặc; tôi nghĩ anh ta đi ăn xin nhưng Li Ok giải thích rằng đó là một thành viên Đạo quân Hồng phúc, chuyên đi quyên góp giúp người nghèo.
– Sắp tới Giáng sinh rồi – Li Ok động viên tôi cũng cho anh ta một chút. – Những dịp thế này nên tỏ ra hào phóng.
Tâm trạng hào hứng của mọi người cũng lan sang tôi, nhưng tôi vẫn thấy bối rối. Miền Bắc không kỷ niệm Giáng sinh và đại đa số các gia đình còn chưa nghe về nó. Tại sao miền Nam có phải là một nước phương Tây đâu mà lại ăn mừng Noel? Cố nhiên, hẳn là vì cư dân ở đây là bù nhìn của đế quốc Mỹ. Nhưng mà, tôi thấy ai nấy đều hạnh phúc thực sự. Họ mua, mang vác quà cáp, có người còn hát “Thánh ca”. Bất chợt tôi thấy buồn vì cảm giác bị ra rìa.
Tôi bất ngờ khi thấy các chủ hiệu ra ngoài phố, đứng trước cửa hàng của họ và mời chào khách. Phải mất thời gian, tôi mới hiểu rằng ở đây, cạnh tranh là động lực thúc đẩy thương mại, vì thế Hán Thành mới phát triển đến vậy.
– Tôi đói rồi – tôi bảo mọi người. – Mình có thể ăn cái gì không?
– Tất nhiên rồi – Li Ok đáp. Cô dẫn chúng tôi vào một khu phố nhỏ, chi chít hàng quán. Những món ăn bày trong tủ kính thật ngon lành: cơm nướng, tempura, giò thủ, dồi, và cả món ăn chop-chiao của Triều Tiên làm từ mỳ, các loại rau xanh và thịt – tôi chợt nhận ra là từ mười năm nay, ở miền Bắc không hề có giò thủ. Và rằng mẹ tôi đã mừng rỡ biết chừng nào khi có bận bà mua được một trái dưa hấu đã thối đến một nửa…

Giá tôi đưa được gia đình sang đây… Khi trước mặt tôi có bao nhiêu đồ ăn thức uống thế này, thật đau lòng khi nghĩ đến những khó khăn mà cha mẹ, các em tôi phải chịu đựng.
– Cô muốn ăn gì? – Li Ok hỏi tôi. – Chúng ta có thể vào bất cứ hiệu nào mà cô muốn.
Tôi rất mê món dồi nên tôi chỉ một tiệm ăn nhỏ là dồi là món đặc sản của họ. Quán ăn này chật những khách là khách và đa số đều nhâm nhi sojut, loại rượu mạnh làm từ gạo của Triều Tiên. Chúng tôi đặt món rồi ngồi xuống bàn. Cạnh chúng tôi, vài thương gia trung niên đang tranh luận về kỳ bầu cử gần nhất.
– Chúng ta không thể chỉ bắt lỗi chính phủ – một người nói. – Không thể chờ đợi gì nhiều, nếu ai cũng chỉ nghĩ đến bản thân.
– Theo tôi, nếu các đảng nhỏ liên minh với nhau thì họ đã có thể thắng trong kỳ bầu cử vừa rồi…
Tôi nhìn sang những người đang canh giữ tôi, chờ xem bao giờ mấy vị kia bị bắt vì họ dám công khai phê phán chính phủ. Có điều, các điệp viên, nếu có nghe thấy cuộc tranh luận đi nữa, cũng không có vẻ gì là quan tâm cả. Họ ăn uống khoái khẩu, chả để ý gì đến những việc khác.
Trên đường trở về Nam Sơn, càng ngày tôi càng thấy mất bình tĩnh; rồi tôi phải lên tiếng hỏi các điệp viên rằng tạo sao ở đây cư dân lại có thể phê bình chính phủ thẳng thừng như thế. Họ phá lên cười.
– Đây là một xứ dân chủ – Li Ok giải thích cho tôi, sau khi đã nhịn được cười. – Ở đây có tự do ngôn luận. Không luật nào cấm chúng tôi phê bình chính phủ cả.
– Không thể hiểu nổi – tôi nói, vì câu trả lời của Li Ok không làm tôi thỏa mãn. – Tôi chỉ ngạc nhiên rằng ở đất nước này, như thế mà vẫn có thể làm được bất cứ cái gì. Nhưng tôi cũng nhận ra thêm vài điều khác nữa. Khi đi ngang qua một công trường xây dựng, tôi thấy rất ít công nhân. Họ đi đâu hết rồi? Hay họ làm việc buổi tối?
– Tại sao vậy? – Nak Yong ngạc nhiên vì câu hỏi của tôi -, thế ở miền Bắc người ta xây dựng như thế nào?
– Tất cả đều được huy động – tôi đáp. – Bộ đội, thanh thiếu niên ở độ tuổi đến trường và thành viên các hội đồng nhân dân, tất cả cùng nhau đào đất, trộn xi-măng, khuân vác gạch, rất nhịp nhàng. – Tôi tự hào kể, tôi luôn thấy dễ chịu nếu được tham gia xây dựng một tòa nhà và những lúc ấy, người dân Bắc Triều Tiên làm việc rất cần mẫn.
– Tôi hiểu rồi – Nak Yong đáp. – Ở đây thì không có chuyện ấy. Đại đa số công việc đều do máy thực hiện hết.
Khi đó, tôi mới hiểu được rằng sự phát triển kỹ thuật của đất nước này đã ở mức mà tôi không thể mường tượng nổi. Như thể họ ở một hành tinh khác. Chả hiểu sao miền Bắc chúng tôi lại không hiện đại hóa công nghiệp xây dựng như thế?
Tôi có biết bao điều muốn hỏi. Chỉ không biết được, tôi còn sống ngần ấy thời gian để có được lời đáp cho tất cả những gì tôi muốn?
Vài bữa sau, chúng tôi đi xe ngao du một vùng quê, tới thăm cung Duksu. Tôi được học là người Mỹ đã hủy diệt hoàn toàn văn hóa Nam Hàn, nhưng cung điện này chính là một di tích được gìn giữ vô cùng hoàn hảo của nền văn hóa Triều Tiên. Ở đó, tôi được thấy pho tượng vị vua Sedjong, người làm ra bảng chữ cái Triều Tiên. Tôi vui vì được ra khỏi bốn bức tường, nhưng từ khi chấp nhận khai báo, nỗi sợ hãi và cảm giác mệt mỏi luôn hành hạ tôi. Vậy mà bức tượng vẫn khiến tôi thích thú vì tôi chả biết gì về lịch sử bảng chữ cái Triều Tiên.
Chúng tôi đi tiếp đến một làng nhỏ, coi bộ cũng không khác gì mấy những làng bản ở miền Bắc, mặc dầu cảnh vật mùa đông khiến nó có vẻ hoang vu.
– Đây là Vondang – Li Ok bảo tôi. – Ngày càng nhiều người lao động thích đến đây vì không khí ở đây rất trong lành.
Chúng tôi dừng lại trước một khu lán trại xiêu vẹo. Vườn không có cổng nên chúng tôi đi thẳng tới cửa ra vào để xem có ai trong nhà hay không. Không có ai cả, cứ thế chúng tôi vào nhà. Thật ngạc nhiên là trong nhà có hai tủ lạnh và một điện thoại. Ở miền Bắc, ở làng xã chả bao giờ có tiện nghi như thế.
Khu lán trại hoàn toàn thu hút sự để tâm của những người đi cùng tôi, họ trò chuyện với nhau.
– Thú vị thật! – Sengju nói. – Ngay ở đây mà cũng có đầy đủ tiện nghi: điện, tivi. Theo tôi, chỗ này cũng không còn là lán trại thực sự nữa rồi.
– Đúng vậy! – Nak Yong đồng tình. – Ở đây cũng chả còn lãng mạn nữa rồi! Ngồi bên bếp lửa và nướng khoai mới thật là sướng.
– Các anh có thấy là cửa không khóa? – Li Ok hỏi. – Thử hỏi Hán Thành có bao nhiêu người không khóa cửa nhà mình?
Chúng tôi ở lại làng một lát rồi trở lại Hán Thành. Li Ok bảo, hay chúng tôi ra khu chợ ở Cửa quan phía Đông. Đây là nơi có nhiều cửa hiệu và tiệm ăn. Chúng tôi vào một cửa hàng dệt may và lập tức, được các cô bán hàng ra mời chào. Họ vui vẻ, ăn mặc quần áo màu sắc và khiến tôi hơi bối rối vì quá tận tình. Rồi một cô nói một câu khiến tôi đứng tim:
– Chờ chút nào, cô là Kim Hyun Hee phải không?
Im lặng kéo dài. Tôi chết đứng, trong khi đó mọi khách hàng bao quanh chúng tôi và thì thào.
– Là ai vậy?
– Kim Hyun Hee. Chị không biết à, cái con làm nổ máy bay ấy!
Đám khách hàng hưng phấn, chen lấn nhau để nhìn rõ tôi. Tức thì, các điệp viên bao quanh tôi và dẫn tôi khỏi cửa hàng trước khi xảy ra rắc rối. Khi ra đến cửa, một cô bán hàng còn nói với theo:
– Hyun Hee à, khi nào muốn cô cứ trở lại đây. Tôi sẽ tặng cô một bộ quần áo!

Mặc dầu hoảng sợ, nhưng chưa muốn trở về Nam Sơn nên tôi đề nghị được ở lại chợ một lúc nữa. Vừa đi, tôi vừa hỏi Li Ok:
– Chả hiểu sao, tôi chưa thấy có cửa hiệu nào ở đây bán quần áo pha ni-lông. Không có loại hàng ấy à?
Tôi nghĩ rằng Nam Hàn vẫn chưa đạt đến tầm có thể sản xuất hàng ni-lông, vốn là đồ sang trọng ở Bắc Triều Tiên.
– Chúng tôi ít dùng đồ pha ni-lông lắm – Li Ok đáp trong khi chúng tôi len lỏi trong đám đông buổi chiều hôm ấy. – Gần đây, người ta phát hiện ra rằng quần áo có ni-lông có hại cho sức khỏe. Chúng tôi thích dùng đồ làm từ vật liệu len hơn, những thứ này ít nhất cũng bền như ni-lông. Ngày nay, ni-lông bị coi là vật liệu chất lượng tồi.
Tôi muốn bật cười mà không được.
– Không thể tưởng tượng được! Tất cả mọi thứ đều trái ngược với Bắc Triều Tiên. Ở nước tôi, người dân không có điều kiện quan tâm đến sức khỏe của họ. Chúng tôi mà có quần áo ni-lông thì mừng phải biết!
Chúng tôi đến chợ Jungbu, nơi chủ yếu bán cá khô. Cá mực, cá biển, tảo biển… được xếp thành đống tướng. Cuối chợ, có một tiệm ăn ngoài trời với một chiếc bàn dài duy nhất, hai bên có nhiều ghế dài. Tôi tò mò đến gần.
– Những ai đến ăn ở đây?
– Đa phần là công nhân – Li Ok đáp. – Dân bán hàng rong, công nhân xưởng đóng tàu, tài xế xe tải…, đại loại thế.
– Thế thì họ còn ăn sướng hơn gia đình tôi – tôi nhìn qua những món cơm, mỳ, giò thủ và canh mỳ. – Chúng ta có thể ăn ở đây được không?
Li Ok nhìn những người còn lại, ai nấy đều lắc đầu.
– Chúng ta mà ăn ở đây thì quá lộ liễu, dễ trở thành đối tượng tấn công. Người ta dễ nhận ra lắm. Tốt nhất là mình đến một tiệm nangmyon đi.
Chúng tôi quay lại bên kia chợ và Li Ok giải thích cho tôi hiểu rằng các tiệm nangmyong (đây là tên một loại xúp mỳ lạnh) nổi tiếng khắp Hán Thành. Tiệm đầu tiên chúng tôi đến quả thực có lẽ khá nổi tiếng: những chiếc xe đắt tiền nối đuôi nhau trước tiệm và hàng thực khách cũng rồng rắn như vậy. Chúng tôi cũng đứng vào hàng và nhích khá chậm chạp. Một lần nữa, tôi có ấn tượng bởi sự giản dị và nhẹ nhõm của Hán Thành. Ngược lại, miền Bắc thì rất “vô khuẩn”. Người ít, ô tô hầu như không có, người lạ chả bao giờ bắt chuyện với nhau ngoài phố. Về căn bản, cuộc sống thường nhật rất thiếu sự hóm hỉnh. Nhưng Hán Thành thì rất sống động và đầy năng lượng.
Vài phút sau, chúng tôi vào được trong tiệm và người giúp việc đưa chúng tôi vào một bàn ở góc. Tôi chỉ còn biết nhìn và ngạc nhiên. Không có chuyện tương tự như thế ở miền Bắc. Tiệm ăn chật ních thực khách, ai nấy trò chuyện vui vẻ, bồi bàn nhanh thoăn thoắt với vô số đĩa thức ăn trên tay. Tất cả chúng tôi đều đặt nangmyon và khi món này được đưa ra, chúng tôi đã “chiếu cố” rất tận tình!
Ở bàn cạnh chúng tôi, một nhóm đàn ông ăn vận sang trọng nói chuyện khá to. Không thể không nghe những gì họ nói, vì vậy trong khi ăn, tôi bất giác để ý câu chuyện của họ.
– Các cậu thử nghĩ đến Lee Vungpyong mà xem! – một người bảo. – Hắn giàu sụ chỉ vì đã di tản.
– Thực ra thì cái máy bay Liên Xô mà hắn bay sang đây cũng có chút giá trị gì đó chứ. Nhưng đúng là chính phủ có lẽ đã bỏ ra hàng núi tiền cho hội di tản này.
– Đã nói đến dân miền Bắc, các cậu thấy ảnh Kim Hyun Hee chưa?
– À, ừ. Có thể là loại con gái lăng nhăng hám thực sự đấy, nhìn cái mặt là biết. Hình như cô ta “chơi” ghê lắm, với cả tá đàn ông một lúc.
– Sở dĩ lắm người đồng cảm với cô ta vì cô ta thật xinh. Chứ nếu ma chê quỷ hờn, hẳn cô ta bị bắn từ lâu rồi.
– Theo các cậu, cô ta còn trinh không?
– Giời biết! Xinh thế, tớ cũng thèm!
Tôi đang giơ tay và thức ăn lên miệng, thì bắt đầu run lên vì tức giận. Những sợi mì nhảy nhót một cách nực cười trên đôi đũa tôi đang cầm. Các điệp viên nhận thấy tôi nổi khùng, họ cố gắng trấn an tôi.
– Thôi mà, không sao đâu. Lẽ ra mình không nên vào đây – Li OK cố làm tôi dịu đi. – Đi thôi, mình rời đây thôi.
Nhưng không thể dễ dàng khiến tôi nguôi giận. Chầm chậm, tôi đặt đũa xuống bàn và nâng đĩa canh lên. Tôi đứng dậy, quay lại và hắt cả chỗ canh còn lại vào nhóm đàn ông nọ. Họ sững sờ ôm đầu! Tôi điên tiết đến nỗi không còn tự chủ nổi.
– Đồ chó chết! – tôi nói, giọng lạnh lùng. – Chúng mày nói ai thế hả?
– Trời ơi! – một người ngạc nhiên nhìn chằm chằm vào tôi. – Cô ta đấy!
– Đúng vậy, tao đây! – tôi nhảy dựng lên. – Và chúng mày có thể mừng là tao còn chưa cho chúng mày vãi đái ra!
Nhóm đàn ông sững người im lặng nhìn tôi. Lúc đó đã nhiều người để ý đến chúng tôi và Li Ok đẩy tôi ra phía cửa. Hai điệp viên khác che cho tôi, còn Sengju thì để lại chút tiền “boa” ở bàn ăn. Tôi bối rối vì bị nhìn ngó và bàn tán, và mừng rỡ khi thoát ra đến đường.

Li Ok vẫy chiếc taxi đầu tiên và chúng tôi vào xe. Sengju còn ngoái lại sau xem có ai theo chúng tôi không.

– Báo chí cũng có thể viết về vụ này đây! – anh nhận xét khi nhìn ngó phố phường.

– Thây kệ! – tôi giận dữ đáp. – Làm sao các vị lại cho phép chúng nó ăn nói bỉ ổi như thế?

Li Ok cố gắng làm tôi dịu đi.

– Hyun Hee, có phải chúng ta đang ở miền Bắc đâu? Chúng tôi không thể bắt bớ cho dù người ta có nói năng giời biển gì đi nữa. Chúng tôi đâu có làm được gì đâu? Nhưng mà cô thì chỉ thiếu chút nữa, đã gây bê bối lớn!

Taxi để chúng tôi xuống ở khu chợ ở Cửa quan phía Đông, nơi chúng tôi để xe. Trên đường về Nam Sơn, Li Ok hỏi tôi:

– Đi dã ngoại hôm nay cô có thấy thích không? Ngoại trừ đụng độ vừa rồi thì cũng dễ chịu, phải không?

– Không bao giờ tôi đi nữa! – tôi nói, rất tức giận và gần như phát khóc.

– Tại sao? Cô sợ sẽ bị nhận ra? Cô sợ người ta xì xào về cô?

– Có thể – tôi lau mắt -, nhưng không chỉ vì vậy. Cứ mỗi lần ra ngoài này, thật tuyệt vời khi tôi cảm nhận bầu không khí tự do và được dạo chơi thành phố. Nhưng cái thế giới này – tôi chỉ ra cửa sổ – chả có chút gì liên quan đến tôi cả. Ý tôi nói rằng, đằng nào tôi cũng sắp chết rồi, mọi thứ này có nghĩa lý gì đâu? – Và tôi bắt đầu nức nở.

Li Ok tìm cách an ủi tôi.

– Hyun Hee, chúng ta có làm chủ được đời mình đâu. Cái đó nằm trong tay tòa án rồi. Nhưng từ giờ đến lúc ấy, chúng tôi sẽ cố để cô được vui vẻ.

– Tôi không muốn vui! – tôi đáp. – Tôi muốn chết càng nhanh càng tốt!

Sau đó là những ngày tồi tệ hơn. Sáng 15 tháng Giêng, Li Ok bảo tôi rằng tôi phải đưa ra những lời khai của mình trong một cuộc họp báo. Tôi như muốn khuỵu xuống.

– Tôi chả khai tất cả rồi đấy ư? Chán chê rồi! Sao cứ phải làm đi làm lại mãi thế này? Giết tôi đi còn hơn!

– Cô nghe tôi nói này – Nak Yong bảo tôi. – Chuyện cô sống hay chết không phụ thuộc vào cô, mà cũng chả phụ thuộc vào chúng tôi. Cô hiểu chưa? Cô chỉ có khả năng hối lỗi. Nếu cô thương thân nhân những nạn nhân, cô hãy cố gắng cộng tác với chúng tôi càng mật thiết càng tốt. Và tôi không muốn nghe thêm cái câu “giết tôi đi!” một lần nữa. Nó quá thảm hại!

Tự nhiên ông ta phát khùng và thái độ không mấy đặc trưng này của ông khiến tôi im bặt. Nak Yong luôn thân thiện với tôi, cũng như Li Ok và Sengju. Thành thử sự tức giận của ông giờ lại càng có hiệu quả.

– Vâng, tôi sai – tôi đáp khẽ. – Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể.

Ngày 15 tháng Giêng 1988.

Nhóm hỏi cung đã làm việc nhiều ngày liền để đưa ra một tuyên bố tổng kết mọi kết quả của đợt điều tra. Cuộc họp báo được tổ chức tại đại sảnh của Cục An ninh; đại diện báo chí quốc tế cũng được mời tới dự.

Đó là một buổi sáng mưa tầm tã và lạnh lẽo – chúng tôi đi ngang thành phố mà tôi vẫn không thấy có chút hứng gì. Khi chúng tôi dừng lại trước tòa nhà, một nhóm phóng viên nhiếp ảnh vây ngay lấy chiếc xe. Ngoài ba điệp viên, còn hai vệ sĩ đi kèm tôi và cảnh sát cũng biểu dương lực lượng khá hùng hậu.

Cửa xe mở, tôi được dẫn đi giữa đám đông. Ai nấy xô đẩy, thiếu chút nữa tôi ngã nhào, tên tôi bị kêu gào. Đèn máy ánh nhấp nháy như điên. Được những người đi kèm “dọn đường”, tôi vào được trong tòa nhà. Li Ok và một nữ điệp viên khác khoác tay tôi, còn Nak Yong đi ngay sau tôi.

Vừa bước vào đại sảnh, chúng tôi lóa mắt vì ánh đèn của vô vàn máy chụp. Tôi hoa mày chóng mắt, lại phải được dìu đi. Rồi tôi được đưa tới một chiếc ghế và người ta bảo tôi nhìn lên. Đèn chụp ảnh lại lóe lên, rồi tôi lại phải nhìn xuống.

Toi không thể nhắc lại từng chi tiết của cuộc họp báo. Người ta liên hồi đặt những câu hỏi, và tôi cố gắng trả lời thật tốt theo những gì tôi biết. Tôi không giấu giếm gì cả, cho dù trong tôi luôn đè nặng suy nghĩ rằng với lời khai được đưa ra trước thanh thiên bạch nhật thế này, tôi đã vĩnh viễn khiến gia đình tôi tan nát. Khi họp báo chấm dứt, tôi mệt mỏi và chỉ muốn được trở về Nam Sơn.

Vài ngày sau, những người giam giữ tôi muốn làm tôi vui bằng cách đưa tôi đến một công viên kiểu Anh ở Nam Hàn, tại đó có đủ thứ máy chuyển động và quay tròn, và khi những máy móc này quẳng tôi lên hay xô đẩy tôi, tôi lại phá lên cười, hoặc rú lên vì thích thú. Sự mệt mỏi, rã rời của tôi biến mất hoàn toàn, trong vài giờ ngắn ngủi tôi chỉ sống với hiện tại. Có lẽ tôi trẻ con lắm khi gào rú lên, nhưng cũng có lẽ – cả đời tôi – đến giờ tôi mới được một lần tham gia một trò vui như thế.

Sự thay đổi tâm trạng ấy của tôi khiến những người bắt giữ tôi hứng chí. Từ buổi họp báo, họ còn lịch sự và sẵn sàng với tôi hơn nữa, cả TV cũng được đua vào phòng tôi. Tôi sửng sốt vì bản tin thời sự ở đây rất đa dạng và sâu sắc, và tôi rất để ý theo dõi vì thông thường chương trình này cũng nói về tôi. Đôi lúc, những người đưa tin lại nói một điều gì đó, hoặc là hoàn toàn sai sự thật, hoặc là những chi tiết không đáng kể lại bị phóng đại một cách quá trớn. Những khi ấy, tôi bực dọc than phiền với Li Ok và cô thì luôn tìm cách trấn an tôi.
– Hyun Hee, không cần để tâm đến điều đó – cô nói. – Cô phải trấn tĩnh trước những gì mà người ta nói về cô. Ở miền Bắc báo chí còn tệ hơn, phải không?
– Có thể – tôi đáp. – Nhưng miền Bắc không có lệ vu cáo ai đó, rằng anh ta hành hung kẻ khác.
– Chắc chắn là không rồi – Nak Yong nói chen vào. – Ở đấy, người ta chỉ bắt và tử hình thôi.
– Bắn chết ấy – Sengju nói thêm.
Trước những khẳng định như thế, theo bản năng, tôi tìm cách bào chữa. Hán Thành đã chinh phục tôi, nhưng không thể tẩy xóa sự giáo dục mà tôi được nhận suốt phần đời đã qua. Những nhận xét của họ khiến tôi nổi khùng.
– Cô này, cô có thấy Kim Nhật Thành là tay thế nào không? – một lần, Sengju bảo tôi. – Già cóc đế rồi mà vẫn ham quyền.
– Thì người ta chả nói những kẻ xấu thường sống lâu là gì? – Nak Yong bồi thêm.
– Có phải ông ấy có lỗi đâu! – tôi bật dậy. – Ông ấy bị thủ hạ đánh lạc hướng, hoặc là người ta không thực hiện đúng những chỉ thị của ông.
Tất cả đều ôm bụng cười rộ lên, còn tôi thì uất ức. Nhưng tồi tệ nhất là khi những điệp viên Nam Hàn bêu xấu cả dân tộc Bắc Triều Tiên. Điều này làm tôi cay đắng vô cùng. Tôi muốn giải thích rằng dân miền Bắc cũng là những con người thực sự, có tâm tư tình cảm. Tôi có cảm giác khủng khiếp khi nhận thấy, cả hai phía đều biết rất ít về bên kia, khiến một dân tộc có chung nền văn hóa bị chia cắt đến thế. Có cùng tiếng nói, cùng phong tục tập quán, cùng lịch sử, ấy thế mà chúng tôi vẫn xâu xé lẫn nhau.
Tuy nhiên, tất cả mọi sự gắn bó của tôi với miền Bắc đều tiêu tan một lần, khi sáng hôm ấy, tôi xem thời sự. Trong những ngày qua, người ta kể rằng thời nhỏ, tôi từng được tặng hoa một phái đoàn Nam Hàn và tôi còn nhớ rõ một số tấm ảnh chụp cảnh ấy. Nhưng rồi giờ đây, Bắc Triều Tiên đưa ra một đoạn băng video về một phụ nữ tên là Chhung Hisun, cô này khẳng định rằng chính cô ta là người thời trước đã tặng hoa phái đoàn miền Nam. Rồi cô ta vung vẩy tuyên bố: chuyện bảo tôi là cháu bé trong ảnh chỉ là trò tuyên truyền của Nam Hàn! Nhưng đây cũng chưa phải điều tồi tệ nhất. Nam Hàn có lý khi họ khẳng định rằng đứa bé trong ảnh, khi lớn lên, đã làm nổ một chiếc máy bay. Xuất phát từ một giả thiết sai trái rằng điều này là sự thật, Hisun cáo buộc Nam Hàn rằng, Nam Hàn đang buộc tội cô ta đã tiêu hủy chiếc máy bay. Nói cách khác: vì cháu bé trong ảnh là cô ta, và vì cháu bé với tên khủng bố là một, như thế làm sao cô ta có thể đặt bom làm nổ máy bay, trong khi cô ta chỉ là một giáo viên trung học bình thường ở Bình Nhưỡng? Và thế là người dân miền Bác, với tầm hiểu biết trung bình, xem tấn kịch đã được nhào nặn nhuần nhuyễn này và tin tường rằng Tổ quốc họ quả thực không hề liên quan gì đến vụ nổ, và Nam Hàn lại một lần nữa vu cáo miền Bắc. Và vì tên tôi không bao giờ được nhắc đến, tôi biến thành một nhân vật bịa đặt, chỉ do miền Nam bày ra để thực hiện mưu đồ của họ.
Tôi sững sờ xem TV. Vì Tổ quốc, tôi đã giết 115 con người và chỉ thiếu chút nữa tôi đã thiệt mạng, vậy mà nay Tổ quốc ấy đã quay mặt với tôi. Thoạt tiên, họ lợi dụng tôi, để rồi vứt bỏ. Tôi cảm thấy trống rỗng ghê gớm, chỉ ngồi thừ ra trước màn hình và lắc đầu quầy quậy. Đến giận dữ tôi cũng không còm hơi nữa.
– Cô thấy chuyện này thế nào? – tôi hỏi, nhưng là một lời tự nhủ thì đúng hơn.
– Chuyện gì cơ? – Li OK hỏi lại.
– Con mụ kia ấy…
– À! Chiến thuật điển hình của Bắc Hàn thôi mà.
– Nó có giống tôi không?
– Giống cô bé trong ảnh, nhưng không mấy giống cô bây giờ. Nhưng cô chớ quên rằng người ta đã lựa chọn một cách kỹ lưỡng để cho giống cô mà. Hoàn toàn chỉ là trò tuyên truyền!
– Lũ khốn nạn! – dán mắt vào TV, tôi gằn giọng trong họng. – Chúng ta có cần công bố một lời phản bác không?
– Không được đâu! Họ tính đến điều này mà. Họ muốn đánh lạc hướng về vụ nổ, bằng cách hướng sự chú ý vào một chuyện vô nghĩa gì đó. Giờ họ đang bị dồn vào góc tường và phải tìm lối thoát. Tốt nhất là kệ xác họ. Rồi cô sẽ thấy…
Tôi không thể ghi lại cảm giác khi con người nhận ra mình bị phản bội. Như thể tôi đã sống hai mươi sáu năm chẳng để làm gì. Và tại Bắc Triều Tiên, quả thực tôi đã không tồn tại. Tôi trở thành một-kẻ-không-tồn-tại. Và cùng với tôi là các thành viên trong gia đình tôi!
Không bao giờ tôi quên họ, không bao giờ tôi từ bỏ hy vọng có lẽ người ta sẽ tha tính mạng cho họ. Đồng thời, tôi không thể tiếp tục coi mình là người miền Bắc vì khi đưa độc dược vào miệng tại phi trường Bahrein, tôi đã được tái sinh. Tôi phải thanh toán với thời thơ ấu, những năm tháng đi học, và cả đời tôi cho đến khoảnh khắc khi tôi lịm đi tại sân bay Bahrein. Và, cho dù điều này khiến tôi đau lòng khôn tả, tôi vẫn tuyên bố với sự hồi hộp dâng tràn:
– Tôi, Kim Hyun Hee, Nam Hàn!



The Tears of My Soul 

1993 by Kim Huyn Hee

Post by Sơn râu 23 May 2024

Chương 14

Tôi đã chịu thua cuộc.
Hai tuần liền, tôi chịu đựng những cuộc hỏi cung bất tận ở Bahrein, và còn tàn nhẫn hơn thế nữa trong tám ngày sau ở Hán Thành. Tôi tập trung hết trí óc và dối trá để trung thành với Lãnh tụ Vĩ đại của chúng tôi. Và tôi phải nói dối để che lấp những sự dối trá khác. Nhất là, tôi đã nói dối để cứu vãn gia đình tôi khỏi kết cục không thể tránh khỏi đang chờ họ.
Nhưng tất cả đã kết thúc. Tôi không còn chống cự nổi nữa. Các điệp viên Nam Hàn đã chiến thắng! Không phải bằng vũ lực như tôi từng tính đến, mà bằng sự kiên nhẫn và tỉnh táo vô hạn. Tôi bảo họ rằng tôi là một cô gái người Hoa mồ côi. Rằng ông bác Hachiya Shinchi tốt bụng đã nhận tôi làm con nuôi một cách không chính thức, và hai chúng tôi du ngoạn khắp Châu Âu. Nhưng tôi đã không đánh lừa được họ. Ngay từ khi chưa khai báo, họ đã biết tôi là gián điệp Bắc Triều Tiên. Họ cũng biết tôi phải chịu trách nhiệm về cái chết của 115 con người vô tội và vì thế, sẽ không bao giờ tôi được tha thứ.
Đúng vậy, họ đã thắng. Và cuối cùng, thành phố Hán Thành đã hoàn toàn khiến mọi sự kháng cự của tôi tan tành. Tôi được nuôi dạy với suy nghĩ rằng dân Nam Hàn là thứ bù nhìn khốn cùng, là nô lệ cho thể chế tư bản không kìm hãm. Và khi mới đặt chân tới Hán Thành, tôi cố tìm cách tin tưởng một cách mù quáng vào những gì được dạy dỗ.
Nhưng, tôi đã phục sinh! Đứa trẻ trưởng thành như một đệ tử của Kim Nhật Thành, đã chết ở phi trường Bahrein. Dần dà, từng bước, một con người khác đã thay thế nó. Và trước hết, Hán Thành là cái nôi của đứa trẻ này. Trước ngày tôi khai báo, những nhân viên hỏi cung tôi cho biết hôm ấy, sẽ không có thẩm vấn: họ đưa tôi đi dạo và ngắm thành phố. Tôi được nhận một bộ vét hai phần màu đen. Mặc nó vào, tôi có cảm tưởng mình như một cô trò nhỏ lần đầu tới trường và tôi không hiểu người ta tử tế với tôi như thế làm gì.
Khi ra khỏi căn cứ cảnh sát, chúng tôi đi lên một quả đồi. Cỏ cây đều thân thuộc với tôi, những vách đá hoa cương, đất đỏ… tất cả đều thật hài hòa. Trên đầu tôi là bầu trời xanh đậm với những áng mây hệt như bầu trời của chúng tôi ở Bình Nhưỡng. Nhưng khi đó chúng tôi lên tới đỉnh đồi và trung tâm Hán Thành tọa lạc ở phía dưới như một điều kỳ diệu thực sự! Tôi không còn cảm thấy tôi ở trên xứ Hàn đã quá quen thuộc.
Trên những con lộ rộng rãi, xe hơi chạy như mắc cửi. Ngay ở Tây Âu tôi cũng không thấy có lắm xe như ở đây. Tôi sững sờ nhìn các tài-xế: họ đều là dân Hàn, không phải người ngoại quốc.
Một phút liền, tôi không nói nên lời. Cảnh tượng này khác hẳn những gì tôi hình dung, khiến tôi không biết nói sao.
– Không thể tin được! – rốt cục, tôi cũng thì thầm.
Một điệp viên chỉ làn xe đang chạy.
– Tất cả những xe hơi này đều sản xuất tại Đại Hàn – anh ta nói. – Thời nay, đa số các gia đình đều có xe rồi. Người ta hay nói rằng đến ăn mày cũng đi xe hơi để xin tiền. Tất nhiên, như thế thì hay tắc đường và khó tìm chỗ đậu xe. Đây là những vấn đề xã hội nan giải.
Chiếc xe chúng tôi len lỏi giữa biết bao xe cộ. Tôi vừa kịp hiểu nội dung câu nói cuối cùng của người điệp viên, nhưng những câu trước đó cũng ăn sâu vào óc tôi. Ở Bắc Triều Tiên, chỉ các cán bộ đảng cao cấp và các bộ trưởng mới được đi xe; chúng tôi, lũ học sinh, luôn phải cúi đầu chào mỗi khi xe họ đi ngang qua. Đối với giới trẻ, đặc biệt là con trai, thì nghề lái xe là được chuộng nhất. Phụ nữ chả bao giờ dám mơ đến lái xe. Lái tàu cần thì may ra, nhưng không thể hơn thế!
Còn ở Hán Thành, tôi thấy có nhiều phụ nữ lái xe. Cảnh ấy hấp dẫn tôi đến mức tôi cứ dựa đầu vào cửa xe và ngắm nhìn…Chúng tôi đi ngang qua cửa quan, tôi được thấy tòa thị chính, khu nhà của chính phủ, Làng Thế vận và trung tâm thương mại. Cách cư xử tự nhiên của người dân, gương mặt tươi tắn biểu cảm cũng như trang phục màu sắc của họ đã rất hấp dẫn tôi.
Nhưng, những người bán hàng ven đường lại khiến tôi sững sờ nhất. Ở miền Bắc, người ta bảo chúng tôi rằng tại Nam Triều Tiên, dân bán rong ở vệ đường là những kẻ cực khổ nhất. Có điều, những gì họ bán không hề là thứ hàng tồi: tôi được thấy ở đây đồng hồ đeo tay loại đắt tiền, những dụng cụ chất lượng tuyệt hảo, quần áo và giày dép lịch sự. Không thể tưởng tượng ra tất cả những mặt hàng này ở Bắc Triều Tiên, nơi mà muốn mua một chiếc đồng hồ đeo tay, một gia đình phải nhịn ăn nhịn thở suốt dăm bảy tháng liền! Tôi mới nghĩ rằng những người bán hàng này phải kiếm được bạc triệu, làm gì có chuyện họ nghèo khó?
Khi trời sẩm tối, chúng tôi lên đỉnh Nam Sơn (Namsan) để tôi được chiêm ngưỡng ánh đèn thành phố phía dưới. Tuyệt vời đến mức tôi đã yêu đô thị này ngay lập tức!
Khi đồng ý đi thăm thú Hán Thành, tôi đã phạm phải sai lầm cuối cùng, nhưng đây đồng thời cũng là sự giải phóng đối với tôi. Những người bắt giữ tôi hẳn đã đoán trước được tác động của ngày hôm ấy đến tôi. Tôi không làm sao thoát khỏi cái cảm giác hai mươi sáu năm đầu của đời tôi chỉ là sự lừa dối!
Đột ngột, tôi thấy căm thù Kim Nhật Thành trong lòng, khi tôi hiểu trong một khoảnh khắc, rằng tất cả nhiệm vụ của tôi, mọi kế hoạch và sự học hỏi của tôi, và quả thực là cả cuộc đời tôi đều dựa trên những sự dối trá…
Sáng hôm sau, tôi lại ngồi bên chiếc bàn làm việc của người điệp viên trước đây hai ngày từng cho tôi một bài học. Ông ta lịch thiệp hỏi tôi: tôi có thích chuyến đi “dã ngoại” hôm trước không, và ông mỉm cười khi tôi lúng túng không biết trả lời ra sao.
– Tôi sẽ vạch trần từng lời khai dối trá của cô. Hãy để ý những lời tôi nói, hãy suy nghĩ và chớ nói dối nữa. Chỉ có một sự thật duy nhất và chúng tôi biết sự thật ấy. Cô hiểu không?
Ông ta ngừng lại, châm thuốc rồi nói tiếp.
– Cô hoàn toàn không phải người Hoa? Vì sao ư? Cô bảo cô sống ở Vuchang 15 năm, nhưng làm gì có địa danh nào là Vuchang, chỉ có Vuchang-hsien thôi. Và nếu quả thực cô trưởng thành ở miền Bắc Trung Quốc như cô khẳng định, ắt cô phải biết là từ tungsu (trưởng thành) chỉ dùng ở miền Nam. Nhưng cô lại hay dùng từ này. Cô hay gọi cháo ngũ cốc là vuyimei, cho dù từ này cũng chỉ được dùng ở miền Nam. Miền Bắc gọi nó là paomei, nhưng cô lại không dùng từ này bao giờ.
Cô còn kể rằng cô là một đứa trẻ mồ côi lang thang, và đa phần chỉ có bánh mỳ hoppang để ăn. Có điều, loại bánh mỳ này chỉ là món ăn của nhà giàu. Và khi cô thuật lại rằng bà dì của cô bán rong báo và bánh bột mỳ trên đường phố Vuchang, hắn cô không biết rằng ở tỉnh này, người ta không bán báo ngoài phố.
Ông ta lại ngừng đôi chút để tôi có thời gian “tiêu hóa”.
– Nhưng còn nhiều mâu thuẫn khác – ông ta nói tiếp. – Tất cả đều chứng tỏ một điều duy nhất: cô không phải người Hoa. Thành thử, chớ cố đấm ăn xôi làm gì!
Rồi ông ta lại châm thuốc, nhưng không rời mắt khỏi tôi. Thổi khói thuốc, ông tiếp tục.
– Cô bảo rằng cô sống tại Nhật một năm với ông Hachiya. Nhưng khi được ăn món rong biển nướng, quốc hồn quốc túy của Nhật, cô còn giễu cợt hỏi rằng, không lẽ cô phải ăn giấy cháy? – Cô còn nhớ cô vẽ ngôi nhà ở Nhật của ông Shinichi như thế nào chứ? Cái hình vẽ ấy chẳng hề giống nhà cửa bên Nhật, mà phố xá cô vẽ cũng đâu có giống phố xá Nhật?
Cô khẳng định là cô hay xem TV, nhưng khi chúng tôi hỏi ông Shinichi có TV mác gì, cô bảo “Azalea”. Vô tình, Azalea là một nhãn hiệu TV của Bắc Hàn, hẳn cô cũng biết điều này trong lòng. Hơn nữa, dạo đó, khi cô ở Nhật (như lời cô nói), vô tuyến truyền trực tiếp Á vận hội tại Hán Thành, nhưng cô cũng không biết nước nào thắng cuộc.
Cô nói trong xe taxi của Nhật, chỗ ngồi của tài-xế là ở bên trái, nhưng kỳ thực nó ở bên phải. Cuối cùng, nếu quả thực ngày 14 tháng Mười một cô và Shinichi rời Nhật Bản, cô phải biết rằng thủ tướng đã bị bãi chức. Nhưng thay vì Takeshita, cô vẫn nghĩ Nakasone là thủ tướng. Đây là một sai lầm lớn.
Sau tất cả những khẳng định mâu thuẫn này – ông dụi điếu thuốc -, và tôi có thể bảo đảm rằng còn nhiều mâu thuẫn hơn thế nhiều, cô có còn dám khai rằng cô đã từng sống ở Nhật?
Tôi cảm giác như đang có sợi dây thòng lọng thắt ở cổ. Không sao dối trá được nữa, tôi đành cúi đầu. Nhưng người hỏi cung tôi vẫn chưa ngừng.
– Cô bảo rằng cô không hiểu tiếng Hàn. Nhưng khi nhận thấy trong các buổi khảo cung, cô hay gõ gõ ngón tay, chúng tôi đã nói bằng tiếng Hàn: “Gõ ngón tay như thế là lo lắng lắm đấy”. Lập tức cô ngừng, không gõ nữa. Nếu chúng tôi bảo nhau bằng tiếng Hàn: “Mình để ý xem, cô ta lại nói dối đấy”, thế là cô lại càng tìm cách thuyết phục chúng tôi rằng cô khai thực. Và khi chúng tôi kể chuyện tiếu lâm tiếng Hàn, cô đã phải chạy vào buồng tắm để khỏi bật cười trước chúng tôi.
Rồi đến thử thách cuối cùng. – Gương mặt ông ta đanh lại, ông cúi đầu và nhìn thẳng vào mắt tôi. – Khi tôi đưa vào tay cô tờ giấy có dòng chữ tiếng Hàn “Cô là gián điệp Bắc Hàn”, tức thì cô lộ rõ vẻ sợ hãi trên mặt. Có cần tôi nói tiếp không?

Tôi cảm thấy như mình dần dần bị lột quần áo. Không, không cần nữa, tôi nghe đủ lắm rồi! Tôi hổ thẹn và cảm thấy vừa giận dữ, vừa bị hạ nhục, vừa phát khùng… tóm lại tôi đã thất bại hoàn toàn và tôi biết, tôi không còn thể cưỡng lại được nữa.
Nhưng nếu khai ra điều bí mật thì điều gì sẽ xảy ra? Tôi, vì là kẻ sát nhân, sẽ phải chết. Thế còn gia đình tôi? Tôi nhớ lại về Ku Yahyung, một cô bạn học cùng lớp hồi trung học; gia đình có có một chiếc vô tuyến đen trắng và hầu như bao giờ cũng có kẹo. Nhiều lần tôi ở nhà cô suốt tối vì chúng tôi được xem TV và giữa chừng thì ngậm kẹo. Các em trai của cô bạn ấy đều học rất giỏi và là lãnh đạo thanh niên tại trường của họ.
Một ngày nọ năm 1974, Ku Yahyang không tới trường. Người ta đồn đại là một cậu em trai đã báo cho Cục An ninh Quốc gia biết, mẹ cậu là gián điệp. Một cuộc điều tra được tiến hành và dẫn đến kết quả là cha mẹ bọn trẻ và một người bác của chúng cũng là gián điệp. Chẳng mấy chốc, cả nhà bị đưa đi trại tập trung, nhưng hàng xóm cũng phát hoảng và lo ngại là họ cũng sẽ bị bắt bớ vì tội có quan hệ với gia đình này.
Tôi có được nghe về những trại tập trung: lao động khổ sai ngày nọ sang ngày kia, năm nọ sang năm kia. Tôi không muốn cha mẹ và các em tôi cũng chịu số phận như thế.
Ở Bắc Triều Tiên, nếu chồng uống rượu, người vợ không lo lắng cho sức khỏe chồng như tại các quốc gia khác. Sợ nhất là anh chồng say xỉn và nói ra điều gì ngu xuẩn để những kẻ khác có thể tố giác. Chỉ một lời tệ hại duy nhất cũng đủ làm tan nát một gia đình!
Cuộc sống ở Bắc Hàn là như thế, thành thử nếu tôi khai, nhãn tiền là gia đình tôi sẽ phải chịu hậu quả thế nào. Tôi hình dung trước mắt cảnh mật vụ đến bắt cha mẹ tôi, Hyonso và Hyonok. Những nỗi nghi ngại cứ dày vò tôi. Quả thực nhiệm vụ của tôi có nghĩa lý gì không? Quả thực hành động tội lỗi của tôi và cái chết của vô số mạng người do nó gây ra có góp phần cho sự nghiệp thống nhất hai miền? Có phải cho dù Hán Thành không được tổ chức Thế vận hội di nữa, thì Triều Tiên cũng vẫn bị chia cắt? Và thử hỏi, làm nổ một chuyến bay duy nhất là đủ để ngăn chặn kỳ Olympic này? Dần dần tôi hiểu được rằng nếu một người không bị thần kinh, thì phải biết ai thực sự có lý trong những câu hỏi trên…
Từ điểm ấy, chỉ còn một điều duy nhất ngăn tôi khai tất cả, đó là số phận gia đình tôi. Nếu tôi im lặng cho đến chết, gia đình tôi có thể sống trong danh dự. Bằng không…
Nhưng phải chăng họ có thể được sống yên ổn? Dù tôi khai hay không, người Nam Hàn cũng đã biết khá nhiều, tự họ cũng đã có thể lắp ghép được phần còn lại của câu chuyện. Tôi sẽ không thể mặc cả được với họ: họ sẽ không chịu lặng lẽ tử hình tôi để gia đình tôi khỏi bị hành hạ: thế nào họ cũng sẽ làm ầm mọi chuyện lên khi nào họ muốn.
Và, còn một điều nữa khiến tôi đau khổ. Tôi có nợ gia đình các nạn nhân một lời khai này không? Tôi có cần phải thú nhận những hành động kinh tởm của tôi, hoàn toàn chân thành và hối lỗi, để đừng bị họ coi là loài quỷ dữ? Vâng, những con người ấy đáng được hưởng điều đó! Tôi ngẩng lên nhìn người nhân viên hỏi cung. Chầm chậm, tôi ép mình phải mở miệng.
– Xin lỗi ông, tôi thật tiếc vì những gì đã xảy ra. Và tôi sẽ khai tất cả với ông!



The Tears of My Soul 

1993 by Kim Huyn Hee

Post by Sơn râu 23 May 2024

Chương 13

Chiếc máy bay xóc mạnh khi tiếp đất. Khi nó giảm vận tốc, một điệp viên đến chỗ tôi, tay cầm chiếc áo lông.

– Ngoài kia trời lạnh – anh ta nói. – Mặc vào đi cô.

Tôi được phép đứng dậy, người ta cởi chiếc còng trên tay tôi. Sau khi mặc xong áo, tôi lại bị còng.

Máy bay dừng lại. Một cánh cửa được mở ra, không khí lạnh tràn vào. Sau vùng đất Bahrein nhiệt đới, sự khác biệt thật lớn. Có một cái gì đó trong bầu khí quyển khiến tôi liên tưởng đến Bình Nhưỡng, và trong một nháy mắt tôi cứ ngỡ chúng tôi vừa hạ cánh Sân bay Sunan. Nhưng khi vừa đến cửa, nhìn ra ngoài, không phải là Sunan rồi!

Kích thước của phi trường này thật là bề thế. Có hàng chục chiếc máy bay xung quanh chúng tôi, cứ mỗi phút lại có bao máy bay cất và hạ cánh. Phi trường rộng lớn không kém gì ở Châu Âu!

Tôi liếc thấy một đám đông các ký giả chờ đợi phía dưới, tay cầm máy ảnh. Một chiếc thang được lăn tới cửa ra. Tôi nhắm nghiền mắt, như thể nếu làm vậy tôi có thể biến khỏi cái nơi khủng khiếp này.

Tôi được giải ra cầu thang. Đèn máy ảnh chớp lia lịa, nhóm phóng viên hồi hộp thì thào với nhau.

– Cô gái này thật tuyệt! – ai đó kêu lên. – Người đẹp thế mà sao lại đi khủng bố?

Các điệp viên đang đưa tôi ra dừng lại một chút để tốp phóng viên nhiếp ảnh làm việc. Ai cũng hò hét bảo tôi nhìn về phía họ và tôi bối rối đến mức lại òa khóc. Đây không phải lần đầu, khi tôi cảm thấy mình như một món hàng đựng trong tủ kính.

– Ơ kìa, cô em, bình tĩnh nào! – một người khác kêu lên. – Đang ở Hán Thành đấy nhá!

Cuối cùng, tôi được đẩy vào chiếc li-mu-din và xe tôi phóng đi. Tôi đờ đẫn ngồi, đầu cúi gằm, mắt nhắm nghiền, và không làm sao nín được khóc.

– Sao cô không nhìn ngó đó đây? – một điệp viên hỏi. – Cô không tò mò xem Hán Thành thế nào à?

Sao lại không, tôi rất tò mò là đằng khác! Dân Bắc Triều Tiên nghĩ đến Hán Thành với vẻ kính phục sâu sắc, cho dù chúng tôi được nghe là thành phố này nghèo khó, trụy lạc và đầy rẫy tội phạm. Nếu hai miền Nam – Bắc được thống nhất, Hán Thành sẽ là viên kim cương của cả nước. Có điều, tôi mệt mỏi và chua xót đến mức không còn đầu óc đâu mà nhìn ngó nữa.

– Còn ai đi sau chúng ta không nhỉ? – một điệp viên hỏi người lái xe.

– Không, mình vượt hết bọn họ rồi.

– Tuyệt vời! Phóng thẳng tới Namsan nhé!

Mặc dù xe chạy rất nhanh, nhưng cũng có lúc phải dừng. Trong cả khoảng thời gian ấy, tôi nghe thấy tiếng của vô số xe hơi xung quanh chúng tôi. Giả thử nhìn ra ngoài, tôi sẽ phải sững sờ khi thấy tài-xế đều là dân Nam Hàn. Nhưng vì cúi đầu và nhắm nghiền mắt, khi ấy tôi cứ ngỡ sở dĩ tôi nghe thấy tiếng nhiều xe cộ như thế, vì Hán Thành đang bị nước ngoài chiếm đóng.

Tôi cảm thấy mình như con bò bị đưa vào lò sát sinh. Tôi chỉ chờ đợi khi nào đến nơi. Quá mỏi mệt với cuộc đời này, tôi thành thực muốn từ giã nó để vào cõi chết. Và khi đó, có cái gì khiến tôi đau nhói. Người điệp viên vừa nhắc đến cái tên “Namsan”. Đó chỉ có thể là trung tâm hỏi cung khét tiếng, một huyền thoại của giới điệp viên Bắc Triều Tiên. Người ta truyền tụng rằng ở tầng hầm luôn diễn ra những cuộc tra tấn, nhục hình ghê tởm. Không một người Bắc Triều Tiên nào có thể trở về từ Namsan.

Tôi kiệt sức, hình như tôi còn ngất lịm đi. Chỉ khi xe dừng bánh và cửa được mở, tôi mới tỉnh lại.

“Trời ơi, đừng, mình ở đây rồi sao? Rồi mình sẽ thế nào? Trò tra tấn nước, khi dạ dày nạn nhân bị nhồi nước cho đến khi vỡ tung. Hoặc hành hạ tình dục, người ta dùng cái cọc…”

– Đến nơi rồi – người nữ điệp viên ngồi cạnh tôi bảo. – Giờ cô có thể được nghỉ ngơi.

Tôi được đưa vào một căn phòng và họ bảo tôi nằm lên giường. Một bác sĩ khám cho tôi rồi tuyên bố:

– Cô ấy hoàn toàn bình thường, chỉ mệt mỏi quá thôi. Sẽ để cô ấy ngủ một thời gian.

– Phải! Những trước hết anh tiêm cho cô ta một chút đường nho đi. Chắc chắn mức đường trong máu cô ta bị tụt đấy.

Tôi nhắm nghiền mắt khi người bác sĩ chọc mũi kim vào tôi. Chắc chắn đây là loại thuốc bắt tôi phải khai sự thật! Tôi hơi mất bình tĩnh, nhưng rồi chìm vào giấc ngủ chập chờn.

Khi tỉnh dậy, tôi nghe những tiếng nói lọt vào buồng qua cửa ra vào. Cửa đóng nhưng tôi vẫn nghe rõ mồn một.

– Thế này chỉ tổ mất thời gian thôi! – một giọng nam gào to. – Phải bỏ cái “rọ” trong miệng cô ta ra và bắt đầu ngay cuộc hỏi cung!

– Nguy hiểm đấy! – một giọng nữ kêu lên. – Sếp vẫn chưa cho phép chúng ta mà!

– Cậu ạ, tôi chịu trách nhiệm đấy! – người đàn ông vạc lại. – Thế nào thì cũng phải bắt đầu vào một lúc nào đó chứ.

Tất cả im lặng rồi vài phút sau, một nam sĩ quan thẩm vấn bước vào phòng và lấy chiếc “rọ” bằng nhựa khỏi miệng tôi. Miệng tôi khô khốc, họng đau rát nhưng đau đớn nhất vẫn là chỗ dán băng dính. Khi người sĩ quan tước nó ra, một mẩu da tôi cũng theo kèm, nhưng tôi cố để không kêu lên. Kể từ khi rời Bahrein, tôi hoàn toàn sụp đổ và giờ thì tôi nghĩ rằng, đã đến lúc phải tỏ ra can trường một chút.

Từ lúc ở phi trường đến giờ tôi mới mở mắt lần đầu. Căn phòng quét vôi trắng này không có cửa sổ. Ngoài chiếc giường, còn hai bàn làm việc, một đi-văng và vài chiếc ghế. Da tôi tím tái khi tôi nhìn quanh và thầm nghĩ, không biết bao nhiêu người ái quốc, bao nhiêu nhà cách mạng Bắc Triều Tiên đã bị sát hại trong căn phòng này.

Ba người bước vào, như thế trong phòng đã có hai đàn ông và hai phụ nữ. Tôi lấy hết nghị lực để bước vào cuốc chiến tâm lý mà tôi đã tính đến. Các điệp viên này đều lịch sự, nhưng không gì qua khỏi con mắt của họ. Đó là những kẻ rất nhà nghề, kiểu như nhân viên KGB hay CIA, của Nam Hàn.

Họ cho tôi uống một thứ nước gì như sữa và chẳng mấy chốc, tôi lại lăn ra ngủ li bì. Khi tôi thức dậy, cả ba người vẫn ở đó như thể không hề động đậy. Bên hai chiếc bàn làm việc là một người đàn ông và một phụ nữ, họ theo dõi tôi và ghi ghi chép chép. Một người phụ nữ khác đứng bên chân giường tôi, còn người thứ tư dựa vào tường cạnh cửa ra vào. Bên ngoài, có những tiếng ồn ào khiến tôi nghĩ rằng có lẽ đang là buổi sáng. Một lúc sau, người phụ nữ đứng bên giường tôi bảo tôi dậy. Tôi cố gắng làm theo lời cô ta, nhưng trong người yếu đến mức phải để cô ta giúp đỡ. Vịn vào cô, tôi ra nhà tắm và tại đó, cô cởi hết quần áo của tôi và tắm rất kỹ cho tôi. Tôi ngượng ngùng vì bị lột truồng như thế, nhưng nước nóng khiến tôi vô cùng dễ chịu. Những kẻ đang giam giữ tôi xử sự với tôi rất tế nhị, nhưng tôi đoán rằng đây chỉ là mẹo để họ chiếm được sự tin tưởng của tôi. Với con mắt soi mói, tôi nhận ra ngay bánh xà phòng là của ngoại. Ở miền Bắc, chúng tôi chỉ dùng đồ nội, cho dù chất lượng không thật tốt.

Tôi được phép chải răng, lần đầu tiên kể từ khi ở Bahrein. Rồi, tôi nhận quần áo sạch tinh tươm. Tất cả quần áo tôi nhận được đều có nhãn Nam Hàn và gần như tôi chưa thấy loại đồ lót và bộ thể thao nào chất lượng hơn những thứ này. Chả hiểu, tại sao người ta phải phí phạm những thứ đắt đỏ đến thế cho một tên tội phạm, tôi nghĩ thầm, chắc hẳn là chỉ để tôi cung khai đây mà.

Tôi trở lại về phòng và được nhận một ly cà phê. Từ bao ngày nay tôi đã thèm cà phê rồi. Ly cà phê nóng vô cùng, tôi buộc phải thổi hơi nước nóng bỏng trên miệng ly. Một điệp viên bảo người bên cạnh:

– Tôi chắc chắn cô ta là người Cao Ly. Chỉ có dân Hàn mới thổi hơi nóng như thế.

Trước khi kịp suy nghĩ, tôi đặt ly cà phê xuống bàn.

“Bọn khốn kiếp!”

Tôi đứng dậy, ra nhà tắm và đổ hết ly cà phê. Đang trong khi rửa chiếc cốc, một nữ điệp viên bưóc vào và bảo tôi cứ vứt cốc đi. Tôi sửng sốt. Chiếc cốc nhựa vẫn nguyên vẹn, hoàn toàn có thể dùng lại được. Tôi coi đây là sự phí phạm kinh khủng và càng tin rằng, vì thế Nam Hàn mới bị nghèo đói, nợ nần.

Rồi tôi có một bữa sáng ê hề: trứng, cơm và kim chi, món ăn “quốc hồn quốc túy” mà cả dân tộc Cao Ly ưa thích. Tôi không muốn ăn, nhưng không thể cưỡng lại sự quyến rũ của những mùi vị thơm ngon: chẳng mấy chốc, tôi đã ăn sạch! Sau đó, tôi hỏi bằng tiếng Nhật rằng hôm nay là mùng mấy? Họ bảo, ngày 17 tháng Chạp, nghĩa là đã 17 ngày trôi đi từ sự kiện đáng tiếc tại Bahrein. Tôi cũng ước lượng gần gần như thế và nghĩ thầm chả hiểu mình còn chịu đựng được đến bao giờ.

Tôi lại phạm phải một sai lầm mang tính quyết định nữa khi nghe hai nữ điệp viên bàn bạc về… chu kỳ kinh nguyệt của tôi. Vì cũng phải để ý điều này, tôi viết lên một tờ giấy: “24” – có nghĩa là chừng 24 tháng Chạp tôi sẽ có kinh. Lúc đó, họ không quan tâm lắm đến điều này và tỏ ra háo hức hơn khi trò chuyện về kỳ bầu cử.
– Cậu bầu cho ai?
– Cậu biết không, gia đình tớ không thống nhất đâu: đàn ông thì muốn bầu cho X, phụ nữ lại khoái Y. Thành thử tớ cũng sẽ bỏ phiếu cho Y.
Nghe mà tôi chả hiểu tí gì cả. Tôi xuất thân từ một xứ sở mà cư dân tại đó coi mình may mắn vì chỉ có một ứng cử viên duy nhất – Kim Nhật Thành – để chúng tôi bầu làm chủ tịch trong mọi hoàn cảnh. Sáng kiến “bầu cử tự do” có vẻ là một khái niệm hoàn toàn hỗn loạn, tôi không làm sao hình dung được dân Nam Hàn có thể đồng thuận với nhau trong bất cứ vấn đề gì như thế nào.
Tại Bắc Triều Tiên, cứ bốn năm lại có những kỳ bầu cử. Ở tất cả mọi khu vực, bao giờ cũng chỉ có một ứng cử viên duy nhất do Đảng Công nhân đề cử, và người dân có thể bầu hoặc không cho người đó.
Nhiều tuần trước kỳ bầu cử, người ta đã tổ chức những cuộc họp hành, diễu hành, hội thảo để đến khi bỏ phiếu, tỉ lệ đi bầu phải đạt một trăm phần trăm. Cố nhiên, trên 17 tuổi, luật buộc mọi người đều phải đi bầu, nên tất cả khẩu hiệu và và lễ lạt chỉ mang tính cổ động.
Đến ngày bầu cử, từ bảy giờ sáng, ai nấy đã xếp hàng rồng rắn tại các đơn vị bỏ phiếu. Thông thường, gần các phòng phiếu, bao giờ cũng có một đội nhạc để đảm bảo bầu không khí vui nhộn. Cử tri được kiểm tra, rồi nhận một phiếu bầu, trên đó có đóng sự lựa chọn “đồng ý”. Sau đó, cử tri bước vào phòng, nơi có ba viên chức đang ngồi, rồi tiến tới nơi đặt những tấm ảnh các thành viên gia đình họ Kim, cúi đầu chào. Rồi, cử tri chỉ việc bỏ lá phiếu “đồng ý” vào hòm phiếu đặt dưới loạt ảnh. Ai không muốn “đồng ý”, kẻ đó chỉ việc không bỏ phiếu vào hòm. Cố nhiên, tôi không cần phải nói là trước mặt các viên chức ngồi đó, chả ai dám làm điều đó!
Đến bữa trưa, tôi được ăn cháo và rong biển phơi khô. Tại Cao Ly, món sau này được coi là “sơn hào hải vị”, nhưng vì nhập vai người Hoa, tôi phải hỏi những người canh giữ tôi rằng chả lẽ tôi phải ăn giấy cháy này à? Họ chỉ mỉm cười và không nói năng gì cả. Rồi họ bắt đầu kể truyện tiếu lâm.
– Ai là người cứ nói hoài, dù được để ý hay là không?
– Chính khách à?
– Gần đúng. Giáo viên!
Hoặc:
Quan tòa hỏi một tên trộm tại sao lại… ăn trộm. Tên này trả lời, “vì tôi đói”. Nhưng khi vị quan tòa lưu ý tên đạo chích rằng, lần gần nhất, hắn đã cuỗm một đôi giày, nhân vật của chúng ta phẫn nộ:
– Thế quý tòa nghĩ, không lẽ tôi đi chân đất ăn trộm?
Hay:
Một người Nga bị đày đi Siberia vì tội “có thái độ không yêu nước”. Anh ta nói với quan tòa:
– Giời ạ, quý vị cứ hay bảo ở Mỹ tệ lắm, sao không đày tôi sang đó cho tôi nhờ?
Tôi phải chạy ra phòng tắm để họ khỏi thấy tôi phì cười. Đối với cái tai người Bắc Triều Tiên, những câu chuyện tiếu lâm này thật kinh khủng và dù có ở trong hoàn cảnh đáng lo sợ đến thế nào đi nữa, chúng đã tác động đến tôi. Tôi mở vòi cho nước chảy để lấp đi tiếng cười trong cổ họng. Từ bao tuần nay, tôi mới được cười như thế. Các điệp viên Nam Hàn thực sự nhà nghề, họ đối xử với tôi một cách rất tôn trọng. Họ biết, điều này sẽ mang lại kết quả nhanh hơn là dùng nhục hình hoặc gạn hỏi cụ thể. Chỉ việc cùng sống bên họ, và bản thân tôi cũng là người Hàn, nên tôi đã từng bước đầu hàng!
Một ngày nọ, các nữ điệp viên nảy ra ý kiến: chúng tôi đừng ngồi im lặng như thế, mà hãy hát hò gì đó cho vui. Một cô tên là Pak Lin mở đầu với một bài hát có tựa đề “Chú thỏ con bên núi” mà tôi có nhận ra. Đây là một bài dân ca, đã bị Kim Chính Nhật cấm vì chính quyền muốn chúng tôi hát những ca khúc tuyên truyền ái quốc hơn. Trong khi hồi hộp nghe bài hát, những hồi ức thời thơ ấu lại tràn về trong tôi.
Thời thơ ấu đẹp đẽ, tôi sống trong thung lũng nở hoa,
Ngàn, vạn cành đào trùm lên tôi,
Dạo ấy, tôi coi làng nhỏ bên núi của tôi như một tòa cung điện,
Giá giờ đây, tôi được thấy lại Người, cung điện đầy hoa của tôi!
Trong lòng, tôi nhẩm hát cùng Pak Lin. Tôi nhớ lại căn nhà nhỏ của bà tôi ở Kesong, ngôi nhà mái gỗ xây theo kiểu cổ giữa những ngọn núi tuyệt đẹp, trước của nhà có một con suối. Mùa xuân, cả làng tràn ngập trong biển hoa, hệt như lời bài hát.
Đến lượt tôi phải hát. Tôi chọn “Hoa mận”, một ca khúc Trung Quốc mà ai cũng biết.
Hoa mận, hoa mận, hoa mận ở mọi nơi,
Hồn ta mạnh mẽ như cành mận,
Hoa nở khi giá băng giận giữ, hoặc khi nắng chói chang,
Hoa mận, nhành hoa đẹp đẽ của Trung Hoa.
Vừa kết thúc, một nam điệp viên bảo tôi bằng tiếng Nhật:
– Sao cô không hát một bài tiếng Hàn có hơn không, cô đang ở Hàn Quốc mà. Như thế mới là lịch sự!
Mọi người vỗ tay hưởng ứng và khích lệ. Tôi phản đối, bảo rằng tôi chả thuộc bài hát tiếng Hàn nào cả. Cuối cùng, tôi phải chịu thua và lẩn nhẩm hát một ca khúc mà tôi đã thấy trong TV. Tôi thấy nên hòa mình vào trò chơi này thì hơn.
Rồi, một nữ điệp viên cất giọng hát một ca khúc Hàn vô cùng da diết:
Những gương mặt mỉm cười, đàn chim cất lời hót,
Chuông giáo đường vang tiếng, những nhành hoa hé nở,
Người yêu tôi bỏ tôi, lên Hán Thành tuyệt đẹp,
Và, tôi mong ước được lên Hán Thành với người tôi thương!
Nghe hát, trong tôi nảy ra một suy nghĩ. Tôi bắt đầu ngẫm nghĩ, phải chăng Hán Thành quả thực đẹp đẽ, và qua lời ca của người nữ điệp viên, tôi đoán là chắc hẳn phải như vậy. Nhưng rồi tôi tự nhủ. Tinh thần cách mạng mà tôi được dạy dỗ ròng rã tám năm nay, đâu rồi? Sự trung thành ở mức cao nhất của tôi, với Tổ quốc, biến đâu? Thế mà tôi để mặc cho những con người này cám dỗ và tôi không còn nghị lực chống lại!

Về sau, các nhân viên thẩm vấn đặt cho tôi vài câu hỏi đời thường về tôi, nhưng về mặt hình thức, tôi không bị hỏi cung. Họ trò chuyện với tôi như thể tôi là bạn của họ, còn tôi thì thuật lại câu chuyện cổ tích mà Henderson đã được nghe ở Bahrein. Có vẻ như họ tin tôi, họ không nói câu nào thô bạo hay khiêu khích, chỉ có điều đôi lúc họ có ghi chép. Đúng là có một số câu hỏi của họ khiến tôi khó xử khi trả lời.
– Cô có nhớ một tài tử điện ảnh nào mà cô đã xem trên TV ở Ma Cao không?
– Lý Tiểu Long.
– Sở dĩ cô cắn ống thuốc độc vì Shinichi bảo cô phải như thế?
– Vâng…
– Nếu cô là người Hoa, cô phải gặp nhiều người Hàn. Thế mà cô lại bảo cô không hề biết một câu tiếng Hàn nào?
– Thì… có chứ… ganna (con đĩ).
Một điệp viên giơ tấm ảnh Kim Nhật Thành trước mặt tôi:
– Cô thấy người này bao giờ chưa?
Tôi nhìn rất kỹ.

– Có, hình như là trong TV.
– Tên ông ta là gì?
– Chin Le Chung – tôi đáp, nói theo âm tiếng Trung.
Buổi tối, khi tôi cố chợp mắt, tôi nghe được câu chuyện của họ.
– Sử dụng một cô gái như thế vào mục đích chính trị là điều không thể tha thứ được!
– Tôi biết. Tội ác là tội ác, nhưng thực sự, tôi thương cô ta.
– Phải trừng phạt thằng khốn Kim Nhật Thành!
Tôi rất muốn nhào ra khỏi giường để hét vào tai họ: “Đồ chó chết! Sao chúng mày dám gọi Lãnh tụ Vĩ đại là “thằng khốn”?” Ở đất nước tôi, không thể có tội lỗi nào lớn hơn thế. Kim Nhật Thành đối với người dân Bắc Triều Tiên khác chi Trời đối với Đất. Nhưng, cố nhiên, tôi chẳng làm được gì cả…
Hôm sau, ngày 18 tháng Chạp, tôi mới thực sự bắt đầu bị lấy cung. Các nhân viên thẩm cung lịch sự, nhưng họ làm việc rất tỉ mỉ và đòi hỏi ở tôi những chi tiết mà, mặc dù tôi cố đến thế nào đi nữa, cũng không làm sao đáp ứng được. Họ hỏi tên phố xá ở khu vực mà tôi bảo là nơi tôi trưởng thành. Họ hỏi tên các rạp phim mà tôi từng đi xem. Họ đề nghị tôi vẽ lại ngôi nhà của Shinichi và không ngừng nghỉ, họ gạn hỏi tôi về thời gian tôi ở Nhật. Vì đã bao giờ đặt chân tới Nhật đâu, tôi bất lực, không sao đưa ra được những câu trả lời đáng tin một chút. Và giữa chừng, họ thường xuyên trò chuyện về tôi bằng tiếng Hàn, họ đưa ra những nhận xét này nọ.
– Cô gái này ngu lắm, không làm gián điệp được đâu – một người đàn ông nói và anh ta theo dõi xem tôi phản ứng ra sao.
Ngày hôm sau thật kinh hoàng: một nhân viên mới đến hỏi cung tôi. Đó là một người đàn ông điển trai, chạc ngũ tuần, ăn vận Âu phục màu đen lịch sự, hút thuốc lá Mỹ liên hồi. Bằng tiếng Trung, ông ta bảo tôi làm một bảng theo trình tự thời gian về đời tôi, với đủ những tên tuổi, mốc thời gian và các sự kiện quan trọng nhất.
– Chúng tôi biết cô là người Triều Tiên – giữa chừng, ông ta buông lời nhận xét. – Hay hơn cả là cô hãy thú nhận đi.
Tôi không để tâm tới lời nhận xét ấy. Làm xong bảng, tôi đưa cho ông ta. Liếc mắt nhìn, ông ta nhăn trán rồi vò nát tờ giấy và quẳng vào sọt rác.
– Rõ ràng là cô ta nói dối! – ông ta bảo những người còn lại.
Khi ấy, tôi bật ra, bằng tiếng Trung:
– Tôi nói dối gì nào?
Ông ta nheo mắt giễu cợt như thể muốn nói: “Tôi có cần nói tiếp nữa không nào?” Rồi, châm thêm một điếu thuốc, ông ta nhìn tôi: – Cô nói tôi nghe – ông ta thổi khói thuốc theo đường mũi -, ở Nhật cô xem TV gì? Ý tôi là, TV mác gì?
– Azalea.
Ông ta lại nhăn trán, còn các điệp viên khác thì phá lên cười. Azalea là một thương hiệu của Bắc Triều Tiên, có điều tôi bối rối quá nên chả nghĩ trong đầu được cái gì nữa.
– Thế cô thường xem kênh gì? – lại một câu hỏi mới.
– Trời ạ! – tôi đứng dậy -, tôi đã phát ngán cái trò cứ phải trả lời đi trả lời lại những câu hỏi nhàm chán này rồi. Sao các ông cứ đặt đi đặt lại những câu hỏi này thế? Nếu coi tôi là kẻ có tội, các ông giết quách tôi đi cho rồi có hơn không?
Tôi nhào ra giường khóc nức nở. Tôi không xứng đáng để trở thành một điệp viên bí mật. Tôi thiếu sự quyết tâm trong tinh thần, một phẩm chất không thể thiếu được, và óc phân tích của tôi cũng không đủ khéo léo. Tôi thèm được về nhà, với gia đình, muốn vĩnh viễn quên đi rằng đã được đảng lựa chọn. Tôi thầm nghĩ: giá tôi được chết để thay cho em Bamso…

Ngày qua ngày, tôi càng bị tra hỏi ngặt nghèo hơn. Họ hỏi tôi được Shinichi trả bao nhiêu lương, tôi để dành được bao nhiêu, cất ở ngân hàng nào. Họ gạn hỏi tôi đi taxi ở Nhật bao giờ chưa và khi tôi bảo rồi, họ đề nghị tôi vẽ lại chỗ ngồi dành cho khách. Tòa nhà phi trường Narita màu gì, mấy tầng? Ở Quảng Châu, tôi đã đến một địa danh tên là Shaomen chưa?
Rồi họ bắt tôi viết tên mình ra giấy. Tôi viết bằng tiếng Trung: Pai Chui Hui. Họ mang giấy đi rồi vài phút sau, đã trở lại với một tập giấy, trên đó có chữ ký của tôi với đủ kích thước to nhỏ. Đúng, chữ ký của tôi, mà làm sao họ làm nhỏ lại được như hạt vừng, và phóng to như tấm bảng hiệu? Tôi sững người, không thể hiểu được, khi nhìn tập giấy. Phản ứng của tôi khiến các nhân viên thẩm vấn khoái chí, nhưng họ không nói gì cả. Thay vào đó, họ hỏi tôi một điều khiến tôi lạnh gáy.
– Cô đã gặp ai tại phi trường Baghdad? Không phải chỉ một người, phải không? Cái tên Cho có nhắc cô điều gì không?
Câu hỏi này được đặt bằng tiếng Triều Tiên. Nhưng nó làm tôi bất ngờ quá, đến nỗi tôi không phản ứng được gì cả. Tôi tròn mắt và chắc hẳn là mặt mày nhợt nhạt.
– Cô bắt đầu chán rồi phải không? – người đàn ông hỏi cung tôi hỏi bằng tiếng Trung. – Cô bắt đầu chán rồi phải không? – ông ta nhắc lại bằng tiếng Nhật. – CÔ BẮT ĐẦU CHÁN RỒI PHẢI KHÔNG? – ông ta gầm lên bằng tiếng Triều Tiên, và tôi bắt đầu nức nở.
Ông ta quẳng cuốn hộ chiếu tôi lên bàn.
– Ai đây? – ông ta hỏi.
– Làm sao tôi biết được?! – nắm chặt tay, tôi hét lên.
Người sĩ quan thẩm vấn ấn tôi vào tường. Gương mặt rắn rỏi như đá, ông ta gằn giọng bằng tiếng Triều Tiên, lạnh lẽo:
– Một trăm mười lăm người đi trên chiếc máy bay đó. Đại đa số là công nhân, vô tội, chả dính dáng gì đến chính trị. Họ đã làm việc cực nhọc trong cái nóng khủng khiếp nơi sa mạc để nuôi gia đình, để có tiền cho con cái ăn học. Đã xa nhà bao tháng trời, họ mang ít tiền về cho gia đình – số tiền mà họ đã cật lực làm lụng để có nó. Chúng tôi không biết vì sao cô làm như thế, nhưng cô đáng để sét đánh chết! – Ông hít một hơi thuốc và thổi vào mặt tôi. – Tôi biết không phải cô tự ý làm điều này, tôi đoán có lẽ cô đã phải trả giá bằng tính mạng cô. Nhưng, trời tru đất diệt cô đi! Cô nợ những gia đình có người bị hại, ít nhất là một lời khai, để chúng tôi có thể xử lý những kẻ thực sự phải chịu trách nhiệm vì tội ác này. Nếu đánh mất phẩm giá con người, chúng ta còn lại gì, chúng ta khác gì loài cầm thú, điền cuồng và tàn bạo?
Lúc ấy tôi đã khóc không còn biết trời đất là gì nữa, nhưng ông ta vẫn tiếp tục nói.
– Cô đánh mất tính người rồi, cô bé ạ – dùng ngón tay, ông búng về phía tôi. – Làm sao cô mong chúng tôi đối xử với cô như một con người? Sao chúng tôi lại phải làm thế? Tất cả đều có thời điểm của nó, và chẳng mấy chốc cô sẽ đánh mất khả năng sám hối. Nếu để lỡ cơ hội này, có lẽ cô sẽ không còn lần nào nữa đâu!
Ông ta nhìn rất sâu vào mắt tôi, ở khoảng cách gần như vậy, trông ông ta lại không mấy điển trai.

– Chính phủ của cô không mấy để tâm đến tính mạng con người và tôi lấy làm tiếc vì cô đã trở thành công cụ trong tay họ. Giả thử làm được một điều gì cao cả thì cô đáng được trọng. Đằng này, giết hại những người vô tội… Cô không đáng được coi trọng. Đây là một hành động độc ác và ngu xuẩn. Và nếu không hiểu rằng đây là một hành động ngu xuẩn, thì cô cũng là kẻ ngu xuẩn. Cô hiểu tôi chứ? Kẻ nào bỏ qua lẽ phải để kết thân với sự độc ác, kẻ ấy đáng bị gọi là phản bội. Nhưng, nếu ai từ bỏ sự tàn độc đề về với cái tốt lành, đó là người chân chính. Nhồi sọ, tẩy não một thiếu nữ trẻ như cô là một hành động khốn nạn. Nhưng cô vẫn còn thời gian để xin lỗi và sám hối. Tôi chỉ cảnh báo rằng, khoảng thời gian ấy không nhiều! – Ông nhìn trừng trừng vào mắt tôi rồi quay đi. Nhưng đến lúc đó ông ta vẫn chưa chịu thôi. Ra đến cửa, ông còn ngoảnh lại và thêm vài lời với tôi.
– Cô hãy nghĩ mà coi. Nếu cô khai thì đó sẽ là một sự đền bù gì đó đối với những gia đình đã đánh mất người thương của họ. Nhưng nếu muốn, cô sẽ chết một cách bẩn thỉu với máu của một trăm mười lăm con người vô tội, vì một đất nước không hề coi trọng tính mạng cô hơn tính mạng của con nhặng! Nếu vậy, Thượng đế cũng sẽ không rủ lòng nhân từ với cô. – Ông ta đã bước ra hành lang mà tôi vẫn nghe được giọng ông. – Nghĩ về điều này, Chui Hui nhé. Hay phải để tôi nói rằng, Okhva nhé?



Văn học Miền Nam 54-75 

vanviet.info

Duy Lam

1 Tháng Mười, 2020

Kỳ 686

Post by Sơn râu 23 May 2024

Cái Lưới – Kỳ 2

Sau một phút yên lặng, ông Hạ nghe thấy Di và Tô bảo nhau sửa soạn sách vở vì sắp đến giờ đi học.

Bỗng nhiên Tô cười khẽ một tiếng lẩm bẩm như nửa nói với Di, nửa với chính mình:

“Có một đặc điểm của gia đình mình mỗi khi nghĩ tới anh lại buồn cười. Tại sao chúng ta lại sống kỳ khôi như thế? Tại sao chúng ta hành hạ lẫn nhau, làm khổ nhau chẳng khác những nhân vật trong một tấn bi hài kịch? Tại sao không cùng chịu đựng nghèo túng, đau khổ, nụ cười trên môi và coi mọi sự không quan trọng. Thiếu gì gia đình còn nghèo khổ bằng vạn gia đình mình. Sống dễ dãi hơn không chừng chúng ta đạt được hạnh phúc.”

“Anh nói có phần đúng nhưng chỉ đứng với anh! Anh nhớ người ta không phải là gỗ đá.”

“Di đừng hiểu lầm anh. Đâu anh có đòi hỏi Di phải tha thứ tất cả những lỗi lầm của ba! Trường hợp anh chẳng hạn. Di có dám cả quyết một trăm phần trăm là anh không oán ghét ba một chút nào không? Dĩ nhiên anh cũng oán ghét ba; nhưng đối với anh, ba dầu sao cũng chỉ là ‘một người xấu xa’ trong số nhiều người xấu xa khác ở trên đời. Ba không phải tất cả mọi người! Oán ghét ba không có nghĩa anh oán ghét lây cả sang bất cứ người nào anh gặp. Phản đối ba cũng không có nghĩa chống đối với tất cả mọi người trong xã hội một cách điên khùng… Như Di bướng với thằng đội Tây hôm nào chẳng hạn…”

Giọng Di đột nhiên trở nên khô khan và hằn học:

“Thôi! Có lẽ anh đừng nên quan tâm đến những hành động của em làm gì cho mệt!”

“Tuỳ Di!”

Hai đứa con trai ông Hạ rời khỏi nhà đã được một lúc lâu, ông vẫn nằm nghĩ ngợi miên man. Lần đầu tiên trong đời tâm hồn ông xúc động và rối loạn một cách lạ lùng. Cuộc đời dành cho ông thật nhiều bất ngờ.

Sau buổi trưa nghe lỏm được cuộc thảo luận khá sôi nổi giữa hai anh em Tô, Di, thái độ và sự cư xử của ông Hạ đối với vợ con có phần thay đổi. Ông cố tránh đề cập đến chuyện nghèo túng nợ nần. Trong những bữa cơm, ông mang những chuyện vui vui ra nói và gợi mọi người bàn đến tương lai. Đôi khi ông cũng săn sóc hỏi han đến sức khoẻ của vợ, điều trước kia ông không hề quan tâm. Ông khuyên nhủ vợ không nên lo nghĩ quá đáng. Các con trai đều đã lớn, trong vài năm nữa chúng đi làm, vợ chồng ông sẽ sống thoải mái hơn. Ông hỏi han chuyện học hành của Tô và Di và hứa hẹn sẽ may sắm thêm quần áo cho Lan, một khi làm ăn phát đạt hơn.

Nhưng dần dần ông khám phá thấy một sự kiện rất đáng buồn: Mặc dầu ông có thiện chí, khéo kéo mềm mỏng, lấy lại được sự thương yêu và tin cậy của các con và vợ không dễ như ông tưởng. Ông đâm nghi ngờ công cuộc đó có lẽ không thể thực hiện nổi.

Thoạt đầu, trước lề lối cư xử biến đổi của ông, vợ con ông đều ngạc nhiên; nhưng về sau phản ứng của mỗi cá nhân khác nhau.

Bà Hạ thấy bầu không khí trong gia đình nhẹ nhõm và dễ thở hơn, nên lại vui vẻ và tươi tắn. Tuy nhiên sự vui vẻ của bà vẫn thoáng chút gắng gượng và lo âu. Hình như bà nghi ngờ sự thay đổi tâm tính của ông chỉ nhất thời. Nếu ông bộc lộ một sự khoan dung hơi quá đáng và thiếu tự nhiên, bà đôi khi nhìn ông, dò hỏi và e ngại.

Tô vẫn giữ thái độ thản nhiên cách biệt, nhưng không hẳn ra mặt lãnh đạm đối với bố. Tô không bất mãn, nhưng cũng không hề khuyến khích hành động gây tình cảm với mọi người của bố. Tuy Tô sống ngay cạnh ông Hạ, ngồi học, đọc sách cùng một phòng và cũng không tránh trao đổi những câu chuyện thông thường với ông; nhưng nhiều khi ông vẫn cảm thấy thắc mắc về đứa con cả. Ông không hiểu nên xếp Tô vào hạng người nào? Tại sao trẻ tuổi, Tô đã kín đáo và chín chắn như vậy? Trước những câu khôi hài nhạt nhẽo của ông Hạ, Tô chỉ nhìn bố, đôi mắt long lanh sáng không có ác cảm, thoáng ánh chế riễu nhẹ nhàng, và như thầm nói “Ba cứ tiếp tục đi! Chẳng được bao nhiêu lâu đâu. Rồi ba sẽ trở lại thành ba trước kia”.

Ông Hạ hơi cảm thấy ngượng trước cái nhìn sâu sắc thấu vào ruột gan của đứa con cả.

Di không những lộ hẳn vẻ bực trước những cố gắng gây cảm tình của ông Hạ, mà lại còn không để lỡ một cơ hội dù nhỏ nhặt nhất, để chứng tỏ nó khinh miệt và coi thường bố hơn trước. Ông Hạ nói một câu khôi hài, Di cười ầm ĩ như trêu tức: Ông cố gắng nói những câu êm dịu với vợ và Lan, Di đứng dậy ra khỏi phòng; ông hỏi Di việc học hành, hắn chỉ trả lời nhát gừng.

Sau hơn nửa tháng trời gắng gượng đóng vai “người chồng người cha kiểu mẫu”, đến một hôm ông Hạ cảm thấy chán nản tuyệt vọng. Hiển nhiên là ý định của ông thật điên rồ và kịch cỡm. Ông định đánh lừa mình và vợ con mà không nổi.

Ông cũng không hối tiếc những cố gắng vun xới lại hạnh phúc của gia đình. Dầu sao ông cũng đã làm hết sức và dĩ nhiên nếu sau này có xảy ra chuyện gì ông có thể tự bào chữa: Đâu phải lỗi tự ông.

Một buổi sáng chủ nhật trời gây gấy lạnh. Tiết trời bắt đầu ngả sang thu. Ông Hạ ngồi đọc báo ở bàn, Di nằm dài ở divan cạnh cửa sổ nhìn ra ngoài trời mưa, vẻ mặt đăm chiêu. Dạo này Di mãi bận tâm về một vấn đề khúc mắc riêng tư nào đó, nên cũng ít khi cãi lộn hoặc to tiếng với bố. Tô nằm bò ra giường viết lách, cạnh mẹ và Lan đang lúi húi khâu vá và nói chuyện rời rạc.

Trong ít ngày gần đây, tự nhiên ông thấy lời nói trở nên vô ích. Ông cố gắng trao đổi càng ít lời với vợ con càng hay. Nói nhiều mà làm gì, một khi ông đã ý thức dù có nói hàng nghìn lời âu yếm gắng gượng, ông cũng không lôi kéo mọi người gần ông thêm chút nào.

Một bầu không khí nặng nề, uể oải bao trùm lên khung cảnh gia đình. Cơn mưa phùn đầu mùa đánh dấu mùa thu đến.

Bỗng nhiên ông Hạ lên tiếng gọi Tô:

“Tô! Nghe ba đọc bản thông báo này của Phú Thủ Hiến!”

Mọi người – trừ Di – đều ngửng đầu lên, vẻ mặt chăm chú. Thông cáo cho biết chính phủ cần gấp một số thanh niên tình nguyện gia nhập những đoàn Quân thứ lưu động mới thành lập, để đảm nhận những chức vụ cán bộ xã hội và tuyên truyền. Lương bổng khá lại được thêm tiền “feuille de route” hàng ngày.

Đọc xong bản thông báo, ông Hạ đặt tờ báo xuống, với lấy ống thuốc lào chậm rãi nhồi thuốc, hút và thờ khói mù mịt. Ông dình mò, chờ đợi một sự thay đổi trong vẻ mặt Tô, qua làn khói trắng xanh. Dạo này ông thận trọng, khôn ngoan và mềm dẻo hơn trong sự cư xử với đứa con cả. Có lẽ ông nên tránh dùng áp lực để ép buộc Tô.

Tô có vẻ suy nghĩ. Hắn nhờ ông đọc lại kĩ càng những đoạn nói về lương bổng, điều kiện gia nhập, công tác phải thực hiện, v.v. Bà Hạ và Lan kín đáo trao đổi một cái nhìn băn khoăn e ngại, đoạn cùng quay nhìn khuôn mặt Tô.

Tô gõ gõ chiếc bút xuống giường, mặt lơ đãng nhìn mưa đan nhau ngoài trời. Tự nhiên hắn nói bâng quơ:

“Mưa phùn đâm nhớ trại bà ngoại quá nhỉ: Lâu không về quê chẳng hiểu cảnh quê nó ra làm sao nữa.”

Mắt long lanh sáng, Tô ôn lại những kỷ niệm xưa cũ với mẹ và Lan. Bà Hạ và Lan, giọng nói tha thiết cùng Tô góp nhặt từng kỷ niệm hình ảnh nên thơ và mờ ảo của dĩ vãng, cố vẽ lại một quãng đời sống êm đềm đã qua. Tuy nhiên mọi người đều cảm thấy Tô đã có một định ý rõ rệt trong đầu về thông cáo trong báo, song chưa chịu nói thẳng ra.

Quả nhiên khi câu chuyện quê xưa đã tàn, Tô đột ngột nói:

“Được! Ý kiến hay đấy! Sáng mai con đến Phủ Thủ hiến ghi tên tình nguyện gia nhập Quân thứ lưu động. Ờ! Nhân tiện có dịp xem ở quê hiện giờ người ta sống ra làm sao. Chắc lắm chuyện hay.”

Bà Hạ lo ngại hỏi:

“Công việc có nguy hiểm lắm không? Sao thấy ba nói là sẽ phải hoạt động ngay tại những vùng Pháp vừa hành quân qua. Nhỡ Việt Minh lẩn quẩn đâu đấy thì sao?”

Ông Hạ nhìn Tô, nhưng không nói gì. Nguy hiểm có làm con ông ngại ngùng không?

Tô nhún vai đáp:

“Thanh niên công tác xã hội dính dáng gì đến quân sự. Nó giết làm quái gì!”

Di nằm trên đi văng, mắt nhắm, cười khẩy một tiếng và buông một câu hằn học:

“Tụi Pháp! Di ghét tất cả tụi Pháp!”

Bà Hạ, Lan và cả chính ông Hạ hơi ngạc nhiên trước câu nói chẳng ăn nhập gì đến chuyện đang bàn của Di. Tô nhíu cặp lông mày dậm một chút, miệng phảng phất một nụ cười khó hiểu. Hắn nhìn Di, dáng chờ đợi.

Giọng nói nhát gừng của Di lại cất tiếng:

“Và Di khinh bỉ luôn những kẻ nào liếm gót giày tụi Tây, hoặc khờ dại để chúng lợi dụng…”

“Di ghét nhiều người nhỉ?”

Di mở mắt, từ từ ngồi dậy, vòng hai tay ôm hai đầu gối, nhìn thẳng bức tường trước mặt. Một phút im lặng nặng nề trôi qua. Di lại nói:

“Thanh niên công tác xã hội! Hừ! Tây nó hiếp gái, đốt trụi làng đi rồi mình đến công tác, an ủi vỗ về… Rõ thật cao thượng!”

Nghe luận điệu của Di, ông Hạ nhịn không nổi, mắng:

“Cái thằng lẩn thẩn! Mày nói năng gì mà kỳ vậy?”

Tô không nhìn bố, khoác tay ngăn ông đừng can thiệp vào câu chuyện, bắt đầu gay gắt giữa hắn và Di:

“Di cứ nói tiếp đi!”

“Dĩ nhiên là Di sẽ nói tiếp còn nói nhiều là khác. Nôm na Di muốn nói thẳng để anh rõ, anh sẽ bị lợi dụng nếu gia nhập Quân thứ lưu động. Cái thằng giám đốc đoàn Quân thứ lưu động được Tây cho ít tiền đã vội cuống lên làm vừa lòng các quan thầy…”

Tô vặn:

“Ai cho Di biết những chuyện ấy?”

Di lừng khừng đáp mơ hồ:

“Nhiều bạn của Di.”

“Bạn của Di có lẽ biết nhiều chuyện quá đấy!”

“Chắc chắn là họ biết nhiều chuyện hơn những người ngây thơ và dễ tin, như anh chẳng hạn. Nhưng anh cứ gia nhập và đi đi. Di không can đâu.”

Tô không cãi lại em, có vẻ suy nghĩ, một bàn tay đặt lên vai Lan, ngón tay nghịch nghịch với mấy món tóc mềm chảy xõa xuống lưng. Lan rúc rích cười, rút cổ và so vai lại:

“Anh làm em buồn!”

Tô nhẹ nhàng hỏi em gái:

“Ý kiến Lan thế nào?”

“Em ấy hả? Em thấy cả hai anh đều gàn… Ấy! Anh đừng kéo áo em! Áo mạng nhiều chỗ quá, anh đụng mạnh vào đâu đó cũng bục ra.”

Tô hạ tầm mắt xuống, chăm chú ngắm chiếc áo mặc trong nhà đã bạc mày giặt nhiều chất vải mỏng tanh và xơ xác của Lan. Bà Hạ rụt rè hỏi:

“Tô! Con nhất định rồi đấy à? Nếu nguy hiểm thế, con gia nhập làm gì?”

Tô giọng đùa cợt:

“Mẹ đừng lo! Con chết thế quái nào được. Me thường bảo theo số tử vi con sống đến 80 tuổi cơ mà. Vả ở lại nhà có hai đứa con trai lớn, một đứa đi thì một đứa ở lại nhà. Đâu me đã sợ tuyệt tự.”

Thấy môi mẹ hơi run run và mắt nhìn van lơn, Lan trách anh:

“Anh chỉ được cái bạo miệng. Anh làm me sợ rồi đấy!”

“Để rồi lĩnh lương tháng đầu, anh mua cho Lan và me mỗi người một chiếc áo lụa mới là hết sợ ngay ấy mà. Me! Me hài lòng chứ?”

Bà Hạ cúi đầu xuống mắt chớp chớp. Trước sự cương quyết của đứa con trai đầu lòng, bà không biết nói gì hơn.

Tô lấy ngón tay nâng cằm mẹ lên, bắt nhìn vào mắt mình. Bà Hạ mỉm một nụ cười gượng gạo để con yên lòng. Ông Hạ thở ra nhẹ nhõm khi biết chắc Tô sẽ gia nhập Quân thứ lưu động. Tuy không nói ra miệng, ông Hạ cho rằng băn khoăn về vấn đề sẽ bị Pháp lợi dụng hay không thật thiếu thực tế. Mang sức mình ra kiếm tiền có gì đáng xấu hổ. Có ai lại muốn những cảnh giết chóc. Sống trước đã!

Nhưng Tô không quên cuộc thảo luận vừa rồi giữa hắn và Di. Ông Hạ ngạc nhiên không hiểu sao các con trai ông đều để tâm đến những vấn đề, hoặc ông không ngờ tới, hoặc ông biết nhưng không mấy bận tâm. Chúng bàn cãi hăng hái một cách thực tình. Ông không hiểu chúng muốn tìm tòi cái gì nhưng chúng thật khác xa ông xưa kia. Dĩ nhiên, thường thường ông bỏ ngoài tai những sự thảo luận sôi nổi của các con trai. Nhưng, đôi khi chúng làm ông e ngại: Chúng suy nghĩ nhiều quá nên trí óc và tâm hồn thiếu quân bằng.

Ông Hạ ngồi hút thuốc lào theo rõi cuộc đấu khẩu giữa hai anh em. Ông biết có can chúng cũng bằng thừa. Chúng lăn mình vào cuộc thảo luận. Những lời nói quất đi quất lại như những làn roi.

Tô quay hẳn về phía Di, nói tiếp câu chuyện dở dang:

“Như anh đã có dịp bàn bạc với Di trước đây, thực ra anh ghét rất nhiều điều mà Di không hay biết. Anh ghét tụi Pháp! Hiển nhiên là vậy. Di nên nhớ dạo anh đi buôn anh đã gây sự với mấy thằng Tây đóng đồn và bị chúng lôi vào đồn đánh cho một trận nên thân. Dạo đi làm bên Gia Lâm, vì sơ ý và cả tin, anh đã để bọn phu lấy cắp mất một ít dụng cụ lặt vặt. Thằng đốc công người Pháp mắng anh là “cochon, salaud anamite”. Anh đã tức giận run rẩy cả người. Nhưng anh không thể chửi mắng tay đôi với nó, một phần vì không quen và không thể nói được những câu tục tằn thô bỉ, phần khác anh muốn mỉa mai cay độc nhưng tiếng Pháp kém, cổ họng anh cũng nghẹn, anh chỉ đứng ngẩn ra…”

Tô mỉm một nụ cười nửa buồn bã, nửa như muốn chế riễu chính mình. Thuật lại một câu chuyện nhục nhã, giọng Tô bình tĩnh một cách khác thường, làm như người bị nhục không phải là hắn.

“Lần đầu tiên bị sỉ nhục, anh hình như mất hẳn lý trí. Tất cả chung quanh anh quay cuồng. Anh choáng váng và trong một lúc anh tưởng chừng anh không còn nữa, chỉ là một khối hỗn độn, không đầu không đuôi. Anh đã đứng một mình tại một chỗ khuất vắng, nhìn ra khoảng rỗng của mấy sân bay cũ, và anh khóc lúc nào không hay. Vào giây phút ấy, anh hiểu tại sao người ta có thể giết người được. Ngay buổi sáng hôm đó anh xin nghỉ việc. Và mặc dầu anh đã tìm gặp thằng đốc công Tây, nhìn thẳng vào mặt hắn, với cái vốn liếng Tây giả cầy của anh, anh cố dồn hết tất cả sự khinh bỉ của anh vào một câu chắp nối lủng củng và bảo cho “Monsieur le contre maitre” biết anh không “kính trọng”những hạng người như nó. Anh cũng không thể quên những điều anh khám phá ra được về… anh. Hiện giờ nhớ lại anh thấy anh thật phi lý. Tại sao anh lại đã muốn giết hết bọn Pháp, bất cứ đứa nào và bằng bất cứ cách nào…”

Di ngắt lời anh, giọng đanh lại:

“Anh muốn giết là phải. Di hiểu anh! Tại sao anh lại cho là phi lý?”

Tô hơi do dự một chút đáp:

“Anh không chắc có thể giải thích được rõ ràng tại sao phi lý. Nhưng có điều anh chắc nhất là anh cố gắng chế ngự để anh không nổi điên lên như một con chó dại, và chỉ vì oán hận một thằng đốc công mà oán lây sang tất cả những người Pháp khác.”

Di nóng nảy giơ tay ngăn Tô lại:

“Thôi! Anh nói thế em đã hiểu rồi! Vẫn cái luận điệu cứng nhắc cũ rích của anh. Một người ác đểu giả không có nghĩa tất cả mọi người ác và đểu giả! Nghe anh chướng tai không chịu được… Nghĩ đi nghĩ lại em thấy anh thế nào ấy. Thiếu tự nhiên. Đúng rồi! Anh không dám nhìn thẳng vào sự thật. Anh chỉ tìm cách đánh lừa chính anh. Anh không dám tự công nhận là anh ghét độc ghét địa một người nào! Anh chỉ tìm cách vịn vào cái thuyết giả tạo anh bịa ra, để khỏi hổ thẹn vì đã không dám hành động. Em thì em đánh cho thằng đốc công mấy cái tát rồi ra sao thì ra… Ít nhất em cũng không hèn!”

Khi bị em ám chỉ mình là “hèn” lông mày của Tô hơi nhíu lại. Hắn tỏ vẻ khó chịu như phải nghe một câu nói vô ý thức của trẻ con.

“Di tưởng anh chỉ tìm cách tô xanh đỏ những hành động cũ của anh phải không? Di đâu biết anh đã khổ sở biết bao nhiêu sau những hành động của anh và hiện giờ nghĩ lại sự đau khổ của anh cũng không hề giảm bớt.”

Di cười khẩy mỉa mai:

“Khổ thì kêu lên, đấm đá, đâm chém cho hả dạ. Nghĩ ngợi suy tưởng làm bớt khổ được à?”

Nghe câu nói dữ tợn của Di, bà Hạ vội nói giọng van lơn:

“Thôi hai anh em đừng cãi nhau nữa! Me sợ lắm! Các con làm me nhức cả đầu, chẳng biết nghĩ sao cho phải!”

Di vùng đứng dậy nói gần như quát với anh:

“Nghĩ đi! Anh cứ tiếp tục nghĩ đi! Chẳng đi đến đâu hết!”

“Anh cứ nghĩ, và còn nghĩ ngợi nhiều nữa. Và anh hành động. Di đừng quên điều đó! Anh sẽ nhập đoàn Quân thứ lưu động. Đấy là điều vào giây phút này anh nhất định làm. Đó là quyết định của anh.”

“Quyết định làm thày tớ cho mấy thằng liếm gót giày tụi Pháp!”

Tô há miệng định cãi nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Hắn mím môi hai cạnh miệng chĩu xuống. Trên khuôn mặt thường khi lạnh lùng của Tô, một vẻ kiêu hãnh mới lạ vừa xuất hiện. Di mãi say sưa trong thảo luận nên không lưu ý đến sự thay đổi trong thái độ của anh. Hắn nóng nảy đợi một sự giải thích, đối đáp của anh. Sự rút lui quá sớm của Tô khiến Di ngạc nhiên, bực mình và thất vọng. Mọi người tưởng câu chuyện giữa hai anh em đã kết liễu nhưng rồi Tô lại đột ngột hỏi Di:

“Mày chẳng hãy còn nhớ cái chết của bác Hai không? Và bác Bằng gái, anh Đại bị Vẹm bắt cầm tù đến nay cũng chẳng biết sống chết ra sao? Và chính gia đình mình, Vẹm chẳng theo rõi đuổi bắt, làng ngày qua làng khác? Đến nỗi phải hồi cư về thành mới yên thân? Mày có thấy những người vô tội bị bắt giết cầm tù phi lý không? Bác Hai lành như bụt, suốt đời không dính đến chính trị. Thủ tiêu bác ích gì? …Tại sao hả? Tại bác Hai là anh của bác Bằng trai. Mà bác Bằng trai hoạt động chính trị, đối lập với tụi Vẹm, đánh nhau với Vẹm, giết chúng. Thật buồn cười và vô lý phải không mày? Nhưng những chuyện đó ‘đã’ xảy ra, không ai có thể chối cãi gì được, kể cả mày…!”

“Mặc các bác ! Di không cần biết! Các bác thù Vẹm, đó chuyện riêng của các bác. Mỗi người một hoàn cảnh! Di chỉ cần biết có Di, Di chỉ cần giải quyết những vấn đề của Di theo lối của Di mà thôi!”

Ông Hạ quan sát khuôn mặt có sắc giận của Tô, ngạc nhiên và nghi ngờ. Tại sao Tô lại mang chuyện các bác ngoại nó hoạt động chính trị ra đây nói làm chi? Vấn đề đó liên quan gì đến việc Tô tham dự Quận thứ lưu động? Ông có cảm tưởng không biết có đúng hay không, Tô mang các bác nó ra để biện minh cho hành động của hắn, và đánh đổ mọi lập luận của Di.

Tô nhìn thẳng vào mặt Di, giọng sắc, gay gắt và khinh bỉ:

“Thế thì Di cứ việc tiếp tục lo cho thân Di! Hành động theo ý Di và để mặc anh. Can thiệp vào những hành động của anh làm quái gì…?”

Di hằn học nhìn anh, mặt tái lại vì tức giận. Nó vùng đứng dậy và đầu trần, không khoác áo mưa, hắn rời khỏi nhà đi đâu không biết.

Sự im lặng nặng nề khó thở bao trùm lên mọi người. Tiếng mưa rơi bắt đầu nặng hạt, trên mái ngói văng xuống nghe rõ mồn một. Khuôn mặt Tô trở lại bình thản – một sự bình thản khó hiểu và dày đặc tựa một chiếc mặt nạ. Hắn loay hoay vẽ những hình thù nhằng nhịt lên mặt giấy. Bà Hạ lúi húi khâu, thỉnh thoảng lại liếc nhìn Tô. Bỗng nhiên Lan buông kim khâu kêu “ái” một tiếng, và suýt soa giơ một ngón tay lên trước mặt:

“Me! Kim của me cũ quá vừa khâu đã gãy làm mấy mảnh làm con chảy máu đây này! Có lẽ phải chập hai chiếc kim làm một mới khâu xong chiếc áo của con…”

Giọng nói trong trẻo của Lan khiến bầu không khí nhẹ hẳn đi. Bà Hạ mỉm cười. Tô nhìn em gái cho ngón tay vào miệng mút chùn chụt và cũng mỉm cười. Ông Hạ hỏi Tô:

“Tô à! Con nhớ sắm một chiếc áo mưa mới và bảo Lan đan cho một chiếc áo len. Mùa này khí hậu vùng quê bắt đầu lạnh rồi đấy!”

Tô liếc nhìn bố tủm tỉm cười không nói. Trong một giây ngắn ngủi ông Hạ có cảm tưởng giữa ông và đứa con đầu lòng, một sự cảm thông mặc dầu mong manh, vừa ló hiện.

Khoảng một tuần lễ sau. Từ biệt gia đình lên đường theo đoàn Quân thứ lưu động về hoạt động ở các vùng núi đá vôi, đồng chiêm miền Đông triều. Di vắng mặt tại gia đình vào hôm Tô ra đi.

Tô vắng mặt đã gần được một tháng trời. Cuộc sống trong gia đình ông Hạ trầm hẳn xuống. Tuy không ai bảo ai, mọi người – kể cả ông Hạ – đều mong mỏi một lá thư của Tô, hăm hở tìm kiếm một tin tức dù nhỏ bé, hay bất cứ một bản thông tin nào trên báo liên quan đến những hoạt động của các đoàn Quân thứ lưu động, hay tình hình chiến sự tại khu vực Đông Triều. Mong thư Tô thật vô lý vì Tô đã giao hẹn trước khi đi sẽ không viết thư về nhà. Tính nết Tô trong gia đình ai cũng rõ: Ra đi hắn ghét người đưa tiển, trở về ghét người đón rước và hắn ghét luôn cả những tình cảm dễ dãi, sướt mướt. Hôm hắn đi, bà Hạ muốn khóc lắm, mà cũng không dám. Trước nụ cười thoáng chế diễu và nét mặt thản nhiên cả quyết của Tô, mọi người đều cảm thấy những sự bộc lộ tình cảm hình như đều trở thành khôi hài.

Di vắng nhà luôn luôn, lầm lì và không hề đả động đến anh. Thỉnh thoảng vài thanh niên đến tìm hắn. Không ai rõ Di và những người bạn mới này bàn bạc những gì. Họ đều cố ý hạ thấp giọng thì thầm vào tai nhau, hoặc kéo nhau ra một hàng cà phê nhỏ đầu phố chuyện trò cho kín đáo.

Một hôm tình cờ thấy ảnh Tô trên một tờ báo, ông Hạ mua về đưa mọi người xem. Ảnh chụp Tô đang xay gạo, cởi trần mồ hôi nhễ nhại, mặt xem đen, miệng cười để lộ hàm răng khoẻ mạnh. Một người đàn bà nhà quê dắt mấy đứa con nhỏ, đứng cạnh Tô dưới một tấm biểu ngữ “Quân thứ lưu động là bạn dân”.

Bà Hạ nửa cảm động, nửa vui kêu lên: “Chà! Thằng Tô trông khoẻ hẳn ra! Có xương có thịt hẳn hoi!”Lan tò mò hỏi mẹ: “Me! Anh Tô biết xay gạo thật đấy à? Hay anh giả vờ lấy điệu để chụp ảnh?”Bà Hạ cười đáp “Có chứ! Hồi nhỏ về trại bà anh Tô mày đã xay nổi hơn trăm vòng liên tiếp!”Di ngắm chiếc ảnh chăm chú, một nụ cười mai mỉa thoáng hiện. Hắn lẩm bẩm “Q.T.L.Đ. là bạn dân! Hừ! Giả dối thất! Thật là trò múa rối!” Hắn quăng trả mẹ tờ báo, trở về bàn làm việc. Không dự vào câu chuyện của mọi người. Bà Hạ cúi đầu im lặng không bênh Tô. Sự bất hoà giữa hai con trai trong khoảng thời gian gần đây là một mối lo âu đè nặng thêm lên vai bà. Lan thở dài một tiếng, thốt lên một lời ghen tị “Đàn ông thật sướng! Muốn đi đâu thì đi, làm gì mặc ý…!” Lan gọi giật mẹ, giọng kinh ngạc, làm như tình cảm nẩy nở trong tâm hồn nó rất mới lạ: “Mẹ! Con nhớ anh Tô quá mẹ ạ! Anh ấy đi xa nhà vắng hẳn đi. Ai cũng ngơ ngơ ngẩn ngẩn”. Ông Hạ cầm ảnh Tô lên, lặng lẽ ngắm nghía. Ông tưởng như nhìn thấy hình ảnh ông hồi trẻ tuổi. Tô thật giống ông, cũng khuôn mặt, cặp mắt, nụ cười đó. Tuy nhiên khuôn mặt thoáng một vẻ kiêu hãnh lặng lẽ của Tô, khiến ngay khi cười, hắn cũng vẫn xa cách và không gây được cảm tình với mọi người.

Nhìn thân hình tuổi trẻ, đầy sinh lực, tương phản hẳn với khung cảnh hoang tàn của chiến tranh, ông tự hỏi Tô sung sướng hay khổ sở trong công việc hiện tại. Chắc chắn phải chịu đựng rất nhiều kham khổ và thiếu thốn trong cuộc sống nay đây mai đó của đoàn Quân thứ lưu động. Một cảm giác nửa buồn bã nửa kiêu hãnh khiến ông đăm chiêu. Ông chỉ biết mong Tô trở về và lo ngại biết đâu Tô có thể chết được vì mình và Việt Minh tấn công, nhưng ông đâu ngờ ông vừa nghĩ về đứa con trai cả như là một người có một đời sống biệt lập, không lệ thuộc vào ông trên bất cứ phương diện nào.

Sau hơn hai tháng hoạt động liên tiếp, Tô được về gia đình nghỉ phép mấy ngày. Ngay khi Tô bước chân vào nhà, mọi người đều thấy ngay Tô đã thay đổi khá nhiều. Cử chỉ dáng điệu rắn rỏi hẳn lên, ra dáng một người quen chỉ huy. Hắn cười dễ dàng hơn xưa. Bà Hạ và Lan mừng rỡ cuống quít, bám lấy Tô không rời một bước. Lan khoái trá ra mặt. Lần đầu tiên trong đời nàng được đóng vai trò cô em gái nhở có người anh đi xa về – mặc dầu xa nhà có hai tháng. Lan tò mò lục hết các túi lớn nhỏ của chiếc túi dết của anh. Vật gì cũng khiến Lan ngạc nhiên và hỏi Tô những câu oái oăm và bất ngờ. Có lẽ từ lâu lắm, gia đình ông bà Hạ mới được hưởng những giây phút khoái hoạt đầy kích thích như buổi đó. Di sau khi gật đầu chào anh, vẫn ngồi yên một chỗ, dáng điệu vẻ mặt nóng nảy.

Di cũng để lộ một vẻ lo âu e ngại trên nét mặt. Tô không để lọt qua mắt thái độ của Di.

Sau bữa cơm chiều đầy tiếng cười nói của Tô và Lan, những câu hỏi về những chi tiết ăn uống, ăn mặc của bà Hạ, những câu chuyện hàn huyên, cuộc “thẩm vấn” kẻ đi xa về thực sự bắt đầu.

Trả lời một câu hỏi của ông Hạ, Tô cho biết theo đề nghị của anh em, hắn đã nhận chức trưởng ban Xã hội kiêm Tuyên truyền, điều khiển hơn 20 thanh niên, phần lớn nhiều tuổi hơn hắn. Ông hỏi có tiền phụ cấp chức vụ hay không, Tô trả lời giản dị:

“Con không rõ? Nhưng dĩ nhiên con vẫn nhận làm trưởng ban. Họ sở dĩ bầu con, cũng chỉ vì con khá ngoại ngữ và ăn nói tạm được.”

Câu chuyện kéo dài tưởng không bao giờ dứt. Tô có bao nhiêu chuyện để kể. Khi hắn muốn, Tô có thể trở thành một người kể chuyện rất duyên dáng, dí dỏm và đôi khi châm biếm. Qua những lời nói của Tô, những nhân vật sống liên tiếp theo nhau xuất hiện trước mặt mọi người. Chỉ cần nêu một chi tiết nhỏ nhặt, một tật xấu, một thói quen kỳ khôi, một đặc điểm thể chất, Tô cũng đã miêu tả ngay được rõ rệt, linh động một người bạn hắn: Ông Trưởng đoàn, nhưng sĩ quan Bảo chính chỉ huy đại đội binh sĩ bảo vệ cho đoàn Quân thứ lưu động, v.v.

Tất cả mọi người – kể cả Di – đều bị câu chuyện Tô kể hấp dẫn. Di Ánh mắt long lanh, nhìn anh không rời, nhưng không hỏi anh lấy một câu.

Thoạt tiên, Tô nói đến đời sống du mục của Q.T.L.Đ. nay làng này mai làng khác. Hắn nhắc đến tên những làng xa lạ, ngay đến ông Hạ cũng mới nghe thấy lần đầu; hoặc đã nghe thấy từ trước, nhưng không hề có một ý niệm làng đó thực sự nằm vào vùng nào. Nhìn khuôn mặt đen sạm, đôi mắt lúc mơ màng, lúc nhiệt thành, đôi khi thoáng một ánh thần bí là lạ của Tô, ông tự nhiên cảm thấy đời sống của bọn trẻ bây giờ sôi nổi, xúc tích hơn ông nhiều lắm, và có lẽ chúng nhìn đời cũng với những con mắt khác ông.

Một cánh cửa vừa hé mở đâu đây và ông thấp thoáng thấy những mầu sắc rực rỡ, những ý nghĩa mới mẻ của cuộc đời.

Giọng nói trầm trầm của Tô vẳng lên:

“Bọn này đi qua không biết bao nhiêu làng mà kể. Mới đầu Tô còn chịu khó ghi tên các làng vào một cuốn sổ, nhưng về sau cũng đâm chán. Ghi mãi cũng phải mỏi tay chứ! Vùng Đông triều thật nhiều cảnh lạ. Tô còn nhớ lần đầu tiên bọn này đặt chân tới hoạt động: Thanh hà. Sau mấy giờ đồng hồ trên sà lan nhỏ, đáy phẳng của nhà binh, vượt qua những khoảng đồng lau sậy ngập nước rộng mênh mông, không bóng một người hay một chiếc thuyền, bọn này mới đổ bộ lên làng. Tô không ngờ nước mình lại có những chỗ cảnh vật bao la đến thế! Và sự im lặng bao trùm lên cảnh vật thật lạ lùng… Chỉ nghe thấy tiếng gió thổi qua lau sậy và tiếng quạ kêu.”

Lan giọng háo hức:

“Rộng đến thế kia hở anh? Thú nhỉ! Thế anh có sợ không?”

“Không sợ nhưng cũng rờn rợn. Bọn này cười đùa pha trò ầm ĩ, nhưng chỉ được một vài tiếng đồng hồ đầu. Về sau, một phần mệt, phần thấy vui đùa nó lạc lõng thế nào ấy, nên đều bớt mồm miệng. Một số nói chuyện thì thầm, một số đăm chiêu ngắm cảnh vật. Riêng Tô, không hiểu sao cảnh vật lại rất xa lạ và mang một vẻ đe doạ khó tả. Hình như mình là một kẻ cướp xâm phạm vào đất kẻ khác. Những lùm cây xanh đục lờ mờ của các làng cạnh sông, những cây sậy lau, những đám rong ẩn hiện dưới đáy nước đều như những con mắt rình mò bọn này.”

Di tự nhiên buông một câu:

“Anh Tô chỉ khéo vẽ vời! Chớ có gì mà sợ. Chỉ có Việt Minh thôi!”

“Việt Minh? Chẳng thấy bóng chúng đâu mà ngay cả đến chúng cũng vậy. Bước chân lên làng, hầm hố giao thông hào ngang dọc, nhà cửa bị Tây hành quân qua đốt cháy gần hết. Mấy tháng bạn của Tô bảo nhau “Mình đi giúp dân mà đếch thấy dân đâu mà giúp. Không chừng chưa giúp được ai mà chết đói rã họng”.

Bà Hạ hỏi:

“Thế bọn con có mang theo nhiều đồ ăn dự trữ không?”

“Không! Chỉ đủ ăn bữa trưa hôm đó. Ăn xong bọn này, hăng hái và liều nhất, chia nhau đi lùng khắp làng tìm dân.”

Ông Hạ hỏi:

“Bọn thanh niên của con không được võ trang à?”

“Mang súng làm quái gì cho nặng mình. Bọn công an và hành chính người nào cũng có súng lục. Ông Trưởng đoàn định lấy ít súng của Đại đội Bảo Chính cho bọn này mượn, nhưng con từ chối. Hoạt động xã hội mang súng chướng chết!

Ông hơi chột dạ nghĩ bụng, Tô liều thật, nhưng nó cũng có lý riêng của nó. Tô kể tiếp:

“Vui lắm me ạ! Tóm dân làng không được, bọn này tìm thức ăn vậy. Chỉ mấy tiếng đồng hồ sau, thằng thì bắt được con gà, thằng hái được mấy bó rau muống, thằng khám phá ra được một vựa thóc chôn ngầm dưới đất, tụi Tây tìm thấy trước nhưng không mang đi nổi. Bọn này hè nhau thằng xay, thằng giã, thằng sàng, thằng quạt. Chiều đến ăn cơm gạo mới, thịt gà luộc, kho, canh rau muống. Ngon ra phết!”

Bà Hạ kêu lên:

“Lấy của dân mang tiếng chết!”

“Đâu có lấy không! Ít hôm sau dân về đông đầy làng, bọn này mang tiền trả thóc, gà; lại còn lấy tiền quĩ mua thóc của họ, giúp họ xay, giã lấy gạo ăn.”

Lan cười bàn góp:

“Giống như trong bức ảnh.”

Tô ngơ ngác:

“Bức ảnh nào?”

Lan tìm bức ảnh cắt trong báo, đưa cho anh xem.

Di cười khẩy một tiếng khô khan. Tô ngắm ảnh mình, nét mặt chợt nghiêm trang và già hẳn đi. Một ánh khắc khoải thoáng hiện trong đôi mắt sâu của hắn. Hắn chỉ ngón tay vào người đàn bà quê, ngồi bó gối mắt buồn rười rượi ở góc bên. Giọng hắn ngập ngừng:

“Người đàn bà này bị Tây…”

Tô liếc nhìn mẹ và Lan, ngừng nói. Hai khoảng hồng xuất hiện trên gò má bà Hạ. Ông Hạ đoán biết lý do khiến Tô do dự, nên bất giác đằng hắng một tiếng, kín đáo nhìn Tô. Ông chưa tìm được câu hỏi nào để kéo câu chuyện về một hướng khác, Lan đã ngây thơ và tò mò dục anh:

“Anh nói tiếp đi chứ! Người đàn bà ấy làm sao?”

Ông Hạ mắng gắt Lan:

“Cái con quỷ này! Biết gì mà hỏi.”

Lan ngơ ngác đưa mắt nhìn mọi người, đoạn chắc cũng chợt hiểu nên mặt đỏ lên như rần. Câu nói đột ngột và sỗ sàng của Di, đến như một mũi tên:

“Việc gì anh Tô phải ngần ngại, che đậy! Cứ nói trắng ra bị Tây hiếp có tiện không? Chuyện đó thường xảy ra, hơi đâu bi thảm hoá làm chi!”

Mặc dầu cố ý làm giọng nói của nó thật cay độc, thật mỉa mai, Di cũng không xúc phạm nổi Tô. Tô ngồi dậy, nhưng hình như tách biệt hẳn khỏi mọi người. Hắn bắt đầu kể chuyện về “người đàn bà”. Giọng đều đều như máy, trần trụi tình cảm. Không một ánh oán hận, thù ghét, thương xót ló hiện trong mắt hắn. Tô đã nghĩ đi nghĩ lại về câu chuyện đó rất nhiều lần, và dần dần từng tình tiết ý nghĩa của câu chuyện thấm vào tâm hồn hắn, ăn xâu vào tiềm thức hắn. Hiện giờ chính miệng hắn mấp máy, các âm thanh phát ra, nhưng mọi người hình như đang “nghe”một nhân vật Tô khác xa lạ, không phải Tô thường khi.

“Theo dân làng kể lại, người đàn bà ấy bị Pháp chia nhau hiếp hơn mười lần, chết đi sống lại, trước mắt mấy đứa con. Chồng bà trước trước đấy ít lâu bị Việt Minh bắt đi làm dân công. Chắc bà ta có thể phát điên dại, nếu không có mấy đứa con còn cần nuôi nấng trông nom. Khi bọn này tới làng, bà ta đã có mang khoảng 4, 5 tháng. Hỏi, bà ta kể lại tỉ mỉ ‘tai hoạ’ đã xảy đến cho mình, giọng đều đều, không khóc lóc vật vã. Không hiểu sao, suốt trong thời kỳ này đóng tại làng, bà ta cứ luẩn quẩn quanh chỗ bọn này ở. Hễ Tô bước chân khỏi nhà, đã thấy bà ta ngồi bó gối ở đầu hiên, hoặc một góc vườn. Bọn này giúp tiền, quần áo cũ, gạo, đôi khi nhờ vài việc vặt. Tô tự hỏi chắc có một lý do gì xô đẩy bà ta gần bọn này. Về sau Tô tìm ra: Đó là thái độ dân làng đối với bà ta, không ai xua đuổi hất hủi hay ghét bỏ bà ta, nhưng mọi người không ai bảo ai đều cố tránh tiếp xúc với bà ta càng ít càng hay. Theo Tô biết, nhiều người giúp bà ta gạo, thức ăn, nhưng giúp đấy để rồi tránh ra cho nhanh… như tránh một người mắc bệnh hủi. Họ sợ! Nhưng sợ cái gì, trốn tránh cái gì?”

Bà Hạ thở dài, giọng xót thương:

“Tội nghiệp!”

Lan môi mím lại và tự nhiên thốt lên một câu giận dữ, khiến mọi người ngạc nhiên:

“Tụi khốn! Dã man…”

Tô cũng phải ngạc nhiên, trước phản ứng mạnh mẽ của cô em nhỏ. Hắn tiếp:

“Đứa con trai lớn của bà ta, khoảng 12 tuổi, nhất định van xin bọn này cho đi theo ‘hầu hạ’, bỏ mặc mẹ tại làng. Nó không lấy gì làm thông minh và cũng giống trăm nghìn đứa trẻ quê mùa khác. Nhưng thỉnh thoảng nó ngồi bó gối im lặng, mắt đỏ ngầu. Tô có cảm tưởng nhớn lên nó có thể giết người dễ dàng…”

Di ngắt lời anh:

“Đúng vậy! Giết hết bọn Pháp là xong!”

Tô hỏi lại em:

“Di có chắc đó là giải pháp hay độc nhất hay không?”

“Em hỏi anh một câu. Một câu thôi! Anh nghĩ gì về trường hợp người đàn bà ấy? Nãy giờ anh chỉ kể lại mà chẳng hề cho biết ý kiến riêng.”

Giọng Tô xa xôi và câu trả lời cũng khó hiểu:

“Anh nghĩ rất nhiều về chuyện đó. Còn ý kiến của anh… Nhưng thật ra anh cũng chưa có một ý kiến rõ rệt nào. Anh thấy trường hợp của anh bây giờ cũng không khác trường hợp của người đàn bà đó bao nhiêu. Anh chỉ biết một điều. Anh…”

Di nóng nảy chờ đợi, nhưng Tô ngừng nói, lảng sang chuyện khác:

“Chết chửa, nãy giờ toàn nói chuyện đâu đâu, quên cả những chuyện thú vị trong đời sống “du tử” của bọn này. Me và Lan có biết không, bọn này…”

Di chưng hửng. Nó thất vọng ra mặt. Đôi mắt nóng nảy, bốc lửa của hắn nhìn soi mói khuôn mặt Tô. Hắn hậm hực, bực tức nhưng rồi cũng đành ngồi yên.

Tô kể tiếp:

“Bọn này nếu hôm trước đến một làng hoang vắng dân bỏ đi hết, hôm sau chia nhau đến các làng lân cận lôi dân về. Trời mưa, trời nắng mặc kệ, bọn này say lên vì đi bộ. Lội bùn ngập đến đầu gối, gặp sông chắn ngang đường cầu đã bị phá đổ, cởi phăng quần áo đóng bè chuối vượt sông. Tối trở về mệt rã rời lăn ra ngủ. Ấy thế mà sáng hôm sau đã lại tranh nhau đi nữa, không ai muốn ở nhà giữa một khung cảnh thê lương thiếu hơi người. Thường thường khoảng 4, 5 ngày sau dân trốn tránh tại các làng chung quanh mới ùn ùn kéo về làng bọn này đóng, dựng lại nhà cửa. Lúc đó bọ này mới được nghỉ ngơi đôi chút và làm quen với dân…”

Di ngắt lời, giọng nghi ngờ:

“Miễn là họ để cho mình làm quen!”

Từ lúc bắt đầu câu chuyện đến giờ, lần đầu tiên khuôn mặt Tô căng thẳng và một vẻ khắc khoải lẫn lộn với một sự điên dại vẫn kìm giữ được, xuất hiện trong đôi mắt hơi sếch của Tô.

Di nghi ngờ là phải! Nói nghe có vẻ giản dị, nhưng thực ra công việc làm quen với họ rất khó và riêng với Tô nặng nhọc không kém một cực hình…”

Lan bất mãn:

“Anh chỉ nói quá! Em không tin! Anh đến để giúp họ cơ mà!”

Bà Hạ cũng đồng ý với Lan:

“Các con mệt nhọc vì họ, họ cũng phải biết ơn chứ?”

“Một người giúp nhưng lại có đến mười người phá…”

Tô im lặng một phút.

Ông Hạ hỏi một câu mà không biết trước là thừa vì đâu ngu đến nỗi tin tưởng tổ chức Quân thứ lưu động gồm toàn những người nhiệt thành và lý tưởng như Tô.

“Ai phá?”

“Ai phá? Tất cả mọi người trừ dăm ba người: Một thiểu số thật mỉa mai và lạc lõng.”

Di bàn góp:

“Chắc hẳn trong thiểu số lạc lõng đó có anh? ‘Những kẽ lạc lõng!’ Hừ! Sao câu đó đúng thế không biết!”

Bà Hạ nhìn Di, trách móc:

“Tại sao con hay bàn ngang thế? Để anh nói chuyện cho yên… Con ở nhà làm sao biết những nỗi khó khăn mệt nhọc của anh được.”

Khuôn mặt Di tối sầm lại. Hắn liếc nhìn rất nhanh Tô ngồi giữa me và Lan, đôi mắt trở nên dữ tợn. Hắn vừa bị gạt ra khỏi những nỗi buồn vui của mọi người.

Càng kể chuyện giọng Tô càng mải mê và dần dần mất hẳn vẻ lãnh đạm xa cách lúc ban đầu.

“Không bao giờ Tô quên nổi buổi đầu tiên Tô nói trước dân chúng. Việc tuyên truyền là nhiệm vụ của bọn này, nên bọn này cũng phải chia nhau đến các gia đình trong làng mời họ đến nghe. Khi họp nhau lại phân công, Tô là trưởng ban dĩ nhiên sẽ là diễn giả chính. Buổi đầu ra mặt, anh nào cũng hăng hái nhưng cũng đều lúng túng như nhau. Thuở bé đến giờ đã tuyên truyền ai bao giờ đâu. Thằng bàn ‘Phải có ca nhạc mới nhộn nhịp. Tao sẽ chơi đàn, thằng Quân hát’. Thằng khác bảo ‘Mít tinh thường phải hô khẩu hiệu cho hăng, Thằng Tô nói xong, ra hiệu bọn này la mấy khẩu hiệu cho xôm trò’. Một thằng dụt dè góp ý ‘Có nên diễn một vở kịch ngắn không. Dân chúng lâu không được xem kịch chắc thú lắm!”’Nhưng không ai bảo ai, mọi người đều tránh không đề cập đến việc ‘Tô sẽ nói cái gì với dân’. Và Tô thấy không ai nhắc đến vai trò diễn giả, tự nhiên Tô cũng im miệng không nêu ra. Rõ ràng tất cả đều cho Tô gánh nặng làm thế nào đạt được kết quả cho cuộc mít tinh. Nếu Tô thất bại? Ai cũng e ngại điều đó, nhưng cũng không dám nói ra nốt… Phân công xong, Tô lẳng lặng tìm một góc đình ngồi xem lại mấy tài liệu tuyên truyền của Bộ thông tin, một mình. Tô còn nhớ rõ như in, trên đầu Tô nóc đình bị đạn súng cối thủng một lỗ lớn, nắng chiếu xuống phủ lên người Tô và hai bàn tay Tô cầm tập tài liệu. Nhìn tập giấy rung nhẹ Tô mới biết tay Tô hơi run. Bất giác Tô tỳ tay lên đùi, hai tay ôm lấy trán mắt nhắm lại, để người lắng xuống…”

Tô ngừng lại, đôi mắt nhìn thẳng trước mặt, hồi tưởng lại những hình ảnh, xúc động riêng của hắn. Lan, miệng hé mở nhìn anh không rời. Cô nàng nóng nảy dục:

“Anh Tô! Kể tiếp đi chứ anh! Anh có cảm động nhiều không?”

“Cảm động? Cảm động vừa phải thôi. Nói cho đúng Tô cảm thấy sợ hãi. Không phải sợ đến nỗi mất bình tĩnh tê liệt cả chân tay, vì Tô tự biết sau vài lời lẽ lúng túng lúc đầu, Tô sẽ có thể nói rất hăng, nhưng mà là khắc khoải, nghẹn ngào. Ngồi đây, cách biệt, Tô nghe văng vẳng tiếng đàn, tiếng hát tập của mấy thằng bạn, tiếng một thằng hỏi ‘Thằng Tô đâu rồi ấy nhỉ’. ‘Để nó yên! Nó đang xem lại tập tài liệu’; tiếng rì rầm của đám đông dân chúng tập họp ngoài sân đình tựa như một làn sóng ngầm tràn đến gần, gần hơn nữa. Tự nhiên, hình như đất sập dưới chân Tô. Người Tô bị hỗng, lơ lửng chẳng đâu vào đâu. Tô vừa tự hỏi: ‘Nói cách nào để nắm được họ?’. Muốn lôi cuốn một đám đông, người ta phải biết đám đông đó ra sao, muốn gì, ghét gì, yêu gì. Mà Tô từ nhỏ đến giờ Tô đâu sống gần dân quê? Chẳng biết tí gì là có, về họ? Trong những năm gần đây dân quê chắc đã thay đổi rất nhiều.”

“Nhưng họ thay đổi như thế nào. Tô cũng không biết nốt…”

Ông Hạ ngắt lời Tô:

“Con thật rắc rối! Cứ nhảy ra trước mặt họ, nói đại đi là xong. Dân quê ấy mà! Thời nào vẫn ngu như nhau.”

Bà Hạ cười tin tưởng:

“Ông chẳng cần phải giục nó. Xưa nay Tô vẫn ăn nói gãy gọn và có sợ ai hay sợ cái gì bao giờ đâu.”

Tô giơ tay làm một cử chỉ nóng nẩy, bực tức.

“Mọi người không hiểu ý Tô. Hay có lẽ Tô diễn tả kém. Phải trông thấy tận mắt, sống những phút giây đó mới hiểu được tâm trạng Tô. Khó nói quá!”

Lan cái với anh:

“Nghe chuyện anh Tô kể tức bỏ xừ thế này! Chưa nói hết chuyện, anh đã kêu la bai bải ‘Khó nói quá! Khó nói quá!’. Anh không kể nhanh em không nghe nữa đâu!”

Tô cười trước sự nóng ruột của em gái. Hắn kể tiếp:

“Ngay khi Tô bước chân ra hiên, đứng đối diện với đám đông, Tô thấy ngay một đặc điểm khác thường: Đám đông theo mình thường biết, phải ồn ào hỗn độn, nhất là dân quê lại càng thiếu trật tự hơn nữa. Nhưng đây trái hẳn lại, cái đám mấy trăm người toàn quần áo nâu đứng đó, yên lặng một cách lạ lùng. Tô đưa mắt quan sát một vòng. Hàng trăm khuôn mặt hốc hác đen đủi, mắt đều nhìn xuống chân. Họ không buồn nhìn những gì xảy ra trước mắt họ. Họ cũng không nói chuyện với nhau. Trời hôm ấy Tô còn nhớ không nắng chói chang, không khí oi ả và khó thở. Không hiểu sao cái ánh sáng bàng bạc trùm lên cảnh vật và đám đông khiến Tô có cảm tưởng mọi sự có vẻ thực quá đáng, rõ ràng quá nên càng giống như một giấc mộng.

Thắng – một thằng bạn Tô – nói thầm vào tai Tô ‘Mẹ nó chứ! Mày trông kìa! Chúng nó đứng như phỗng đá thế kia chẳng khác một bọn câm điếc, nói làm chó gì cho bẩn mồm. Thật buồn nôn được! Lại còn mấy thằng công an khốn nạn kia nữa chứ! Chúng đang làm cái trò gì đấy…’ Hắn hất cầm về phía đám đông. Năm sáu tên công an, súng dao kè kè nên sườn, mặt mũi vênh váo, đang xô đẩy một toán dân ở phía cuối sân. Chắc chúng vừa đi lùa về được. Tiếng chửi rủa Tô nghe rõ mồn một ‘Đ.M.! Xếp hàng ngay ngắn vào! Dỏng tai mà nghe ‘các ông ấy’ tuyên truyền. Lại còn bướng hả? Ông lại tẩn cho một trận bây giờ? Thằng này mày là Việt Minh hả? Đứng vào hàng! Nhanh lên!’ Bọn công an chửi rủa văng tục khạc nhổ, không nể nang giữ ý. Tô thấy tên trưởng ban nháy mấy thằng dưới quyền, thì thầm vào tai nhau, đoạn chia nhau lẻn vào đám đông, hau háu nhìn vào mắt từng người. Rõ ràng chúng lợi dụng buổi tập họp đông đúc này để nhận diện những kẻ tình nghi và tìm gái. Lão phó trưởng đoàn miệng ngậm một chiếc tẩu lớn, tay tì lên chiếc ba toong, đứng cạnh Tô. Lãi có hình dáng giống một con cóc lớn. Người đẫy đà mặt phì phị, mắt ốc nhồi lờ đờ lướt qua đám dân. Hắn hình như không nhìn và lưu ý đến bất cứ ai. Nhưng đừng lầm dưới bộ dáng lù khù, hẳn thực ra là một người cứng rắn, nham hiểm và đáng sợ. Phục sức của hắn cũng kỳ khôi. Hắn luôn luôn mặc một chiếc áo kaki nhầu nát, chiếc quần short tím than để lộ đôi chân đen đủi gân guốc. Đầu hắn đội một chiếc mũ lính rúm rò và vai vắt một chiếc khăn mặt lớn…”

Lan so vai:

“Gớm nghe anh Tô kể em thấy kinh kinh!”

“Anh cũng vậy. Anh không sợ hắn, nhưng hễ bắt buộc phải gần cạnh hắn, anh cũng thất da thịt gây gây. Bọn công an đồn đại rất nhiều chuyện về hắn. Khi Tô ra hiệu, mấy đứa bạn Tô bắt đầu đàn và đồng ca một bản hùng tráng. Mọi người tưởng tượng một chút sẽ thấy ngay tiếng đàn hát của bọn này lạc lõng, trơ trẽn biết là chừng nào. Cũng từa tựa như mình ca hát vui nhộn cho một đám người trong gia đình vừa có người chết. Tô liếc nhìn những khuôn mặt trắng trẻo, thị thành của mấy thằng bạn nổi bật trên nền nâu tối của đám đông, khuôn mặt phì phị điểm một nụ cười thâm hiểm chết nhạo của lão phó trưởng đoàn, và người đàn bà bị Tây hiếp ngồi xổm bó gối ở một gốc sân đình, tách biệt hẳn với dân làng và bọn này: Người Tô toát mồ hôi và vào giây phút đó, tự nhiên Tô muốn kêu lên ‘Thôi hết cả đi! Ngừng lại, ngừng lại…! Sai lầm tất cả!’”

Kể đến đây, Tô đưa tay chùi mấy hạt mồ hôi lấp lánh trên trán.

“Nhưng, Tô biết thừa là đã quá chậm. Tô không thể ngừng lại cái trò hề đã mở màn và đang diễn ra. Thật là một trò hề phi lý, nhưng Tô vẫn phải dự vào, bất cứ nói gì, nhưng Tô vẫn phải nói, với họ. Nhạc ngừng. Tô tiến lên một bước. Và Tô nói liên tiếp gần một tiếng đồng hồ liền. Về sau các bạn kể lại, Tô mới biết mình đã nói nhiều đến thế. Chứ thực ra, Tô không có ý niệm gì về thời gian. Tô chỉ nhìn thấy những bộ mặt đen đủi câm nín, từng lớp từng lớp, họp thành một bức tường thành sừng sững mà Tô phải chọc thủng, lay động bằng những lời nói của Tô.”

Di đột ngột hỏi:

“Anh có nhớ anh đã nói những gì hay không?”

“Anh đã nói những gì, anh cũng không nhớ rõ. Hình như vớ được cái gì, anh nói cái đó. Anh nói đến độc lập, tinh thần quốc gia, nhân dân đoàn kết, phát triển kinh tế, giáo dục… Đại khái tất cả những gì mọi người thường đọc báo nghe qua những bài diễn văn, vừa kêu vừa rỗng. Mặc dầu, Tô cố sức làm cho giọng nói của mình tha thiết, đầy nhiệt thành, tin tưởng. Nhưng hễ Tô hăng lên được trong mươi, mười lăm phút, và rồi Tô ngửng đầu lên quan sát xem phản ứng của đám đông ra sao, tìm tòi một dấu hiệu nào khả dĩ chứng tỏ họ có nghe Tô; nhưng lại chỉ bắt gặp những bộ mặt câm lặng, không xúc cảm của đám đông, mấy bộ mặt nhăn nhó của mấy tên công an, và cái “người đàn bà ấy” ngồi bó gối như một bức tượng, nhắc nhở Tô đến những chuyện kinh tởm đã xảy ra; người Tô lại lảo đảo và điên dại, vì thấy mình bất lực. Tô không chịu thua vả bỏ cuộc ngay, tiếp tục hăng hái hơn nữa. Kết quả vẫn vậy! Tô không thể nắm được họ. Và Tô ngừng nói, chấm dứt cái vai trò diễn giả đã kéo quá dài của Tô, lùi bước đứng cạnh các bạn Tô, Tô không nhìn ai và cũng không muốn nói chuyện với bất cứ ai. Người đẫm mồ hôi, miệng đắng và chát như người vừa lên một cơn sốt rét kinh niên. Chỉ có thằng Thắng vẫn thản nhiên ghé vào tai Tô, sỉ vả ‘Tội nghiệp cho chú mày quá! Trông mày hăng hái diễn thuyết sùi cả bọt mép, tao thương mày quá! Hơi đâu hoài công phí sức nói với tụi dân ngu cu đen…’ Lạ thay Tô không giận hắn, lại còn mỉm cười cám ơn hắn là khác. Không chắc lời hắn nói hoàn toàn đúng, nhưng dầu sao hắn cũng là người hiểu được tâm trạng Tô lúc đó hơn ai hết.

Tô ngừng nói. Ngắm khuôn mặt đăm chiêu của Tô, ông Hạ thầm thương hại Tô. Có lẽ Tô đã quan trọng hoá những việc đã xảy đến cho hắn, và đã cố gán cho cái công việc tuyên truyền của hắn một ý nghĩa quá lý tưởng. Ông thầm đồng ý với Thắng: Hơi đâu quan tâm đến phản ứng của mấy thằng dân ngu dốt, đầu óc tối tăm. Tô cảm thấy bất lực là phải lắm. Làm sao bắc nổi một cây cầu thông cảm giữa hắn – một người trí thức – với những người dân sống như run, dế sợ hãi đủ mọi thứ: Tây, Chính quyền, Việt Minh. Kẻ yếu bị dầy xéo là chuyện tất nhiên, theo ông. Ông an ủi Tô:

“Con nói lưu loát thế xứng đáng là trưởng ban lắm rồi, thắc mắc làm gì về những chi tiết vặt vãnh. Ba cho rằng điều cần nhất phải chứng tỏ mình có khả năng. Con đã chứng tỏ được, thế là đủ.”

Tô im lặng, không cãi lại ông, nụ cười xa cách khó hiểu lại thấp thoáng ẩn hiện trên môi hắn. Di, sau mấy phút ngẫm nghĩ, lên tiếng giọng gay gắt:

“Lạ thật! Di không hiểu tại sao anh Tô khi nhìn các bộ mặt dân quê lại không hiểu ngay thái độ rất rõ rệt của họ đối với bọn anh và cái ‘trò hề’ của bọn anh? Theo Di, đó là một thái độ căm hờn! Ba bảo họ ngu đần, anh Tô cho rằng họ sợ, họ câm nín. Sai hết! Một đêm nào đó họ sẽ mò đến cắt cổ bọn anh không chừng! Lúc đó anh Tô cũng không kịp có thời giờ quan sát và lẩn thẩn tự hỏi thái độ bọ họ ra sao đối với anh, vì trong bóng tối không ai nhìn ra ai đâu!”

Bà Hạ và Lan rùng mình, thất sắc. Ý kiến của Di thật táo bạo, nhưng rất có thể biến thành sự thật. Tô nhìn Di, đoạn trả lời dằn từng tiếng một:

“’Trong bóng tối không ai nhìn ra ai đâu!’ Ấy! cũng chỉ vì anh muốn phân biệt ai là ai nên anh mới gia nhập Quân thứ Lưu động. Còn Di, Di tài thật! Nhìn đâu cũng thấy căm hờn, oán ghét!”

Di cười mãi:

“Dù anh gắn cho Di cái tật nhìn đâu cũng thấy oán ghét, anh cũng không ngăn nổi bọn ‘dân quê’ cắt cổ anh, nếu họ muốn thế.”

Tô cau mặt, không đáp. Bà Hạ và Lan giục, hắn lại tiếp tục:

“Sau khi Tô ngừng nói lùi về phía sau và các bạn Tô chơi xong một bản nhạc hùng khác, lão phó trưởng đoàn đủng đỉnh bảo Tô ‘Anh cho phép tôi nói với ‘cử toạ’ đôi ba lời!’. Hắn tiến lên một bước cầm ba toong gõ mạnh xuống hiên đá và bắt đầu nói, không giáo đầu. Dáng bộ lù khì thường lệ mất hẳn, trong nháy mắt biến thành một người khác: Tiếng oang oang, mắt ốc nhồi tròn lên, chốc chốc hắn lại cầm nan chỉ thẳng vào mặt đám dân đe doạ, nạt nộ. Hắn nói nhiều và lâu lắm, Tô không nhớ rõ những gì. Đại khái hắn xỉ vả, “Chúng mày toàn là đồ ngu! Suốt đời chỉ làm đầy tớ…! Chúng mày ngu dại nghe Việt Minh dụ dỗ… Bất cứ thằng Việt Minh khốn nạn nào bảo chúng mày cái gì là chúng mày cung cúc nghe ngay, v.v.”

Di giận dữ rủa một câu:

“Cái thằng già đểu giả! Mà tại sao anh lại có thể sống cạnh và công tác dưới quyền với hạng người nhầy nhụa và kinh tởm như vậy?”

“Dĩ nhiên hắn ‘nhầy nhụa kinh tởm’ Di xem, đâu có phải chỉ có tụi Pháp là đáng giết hết. Nếu vậy lão phó trưởng đoàn cần bị đập bẹp bụng như khi ta đập một con cóc. Tuy nhiên, hiện tại hắn vẫn sống nhăn ra đấy và giữ một chức vụ hơi lớn. Thành thật mà nói, mình không thể chối cãi thái độ của lão rất rõ rệt: Dân đen là một tụi ngu dốt, cần phải khi vuốt ve, khi đòn vọt. Đe doạ không xong, bắt bớ tra tấn cho đến khi vì sợ họ phải vâng theo…”

Tô quay về phía bố hỏi:

“Những kẻ như lão này trong chính phủ đâu thiếu gì phải không ba?”

Ông Hạ gật đầu đồng ý, lại còn cẩn thận khuyên:

“Con đừng nên gây thù chuốc oán với lão phó trưởng đoàn làm chi! Hắn là hạng người rất nguy hiểm. Hắn sẽ tìm cách hại con nếu con dại dột bướng bỉnh ra mặt chống đối hắn.”

Tô mỉm cười khinh thị, không đáp. Di cũng có vẻ suy nghĩ về câu chuyện Tô vừa kể.

Trầm ngâm một chút, Tô lại lên tiếng:

“Sau buổi nói chuyện với dân chúng đầu tiên, Tô nhất định không tổ chức những trò hề ấy nữa.”

Ông Hạ hơi ngạc nhiên:

“Con làm thế nào lão phó trưởng đoàn chịu à? Ban tuyên truyền không hoạt động tuyên truyền đâu có được.”

Giọng Tô thoáng chua chát:

“Ba khỏi lo hộ bọn này. Thực ra bọn này làm hay không làm đâu quan trọng, và cũng chẳng ai hơi đâu quan tâm theo dõi làm chi. Bọn này chỉ là một bức bình phong che đậy cho họ. Tô đâu có ngu đến nỗi không nhận thấy sự kiện đó.”

Di cười mỉa mai:

“Và kết luận là bọn anh thụ động, ì ra đấy, cuối tháng lĩnh lương.”

“A! Di nhầm rồi. Không thể dễ cho bọn anh thụ động, một khi bọn anh chỉ làm những điều bọn anh ưa thích và cho là phải. Thiếu gì cách giúp dân! Nhiều lắm, anh không tiện kể ra đây.Và kết quả khiến các anh nức lòng nhất là dân chúng ưa bọn bày rõ rệt. Bọn anh đóng ở nhà nào, dân chúng không bảo nhau đều sống quây chung quanh.”

Di lại cười:

“Một con nhạn đâu mang nổi lại cả một mùa xuân! Hơn nữa em không tin dân ưa bọn anh như anh tưởng. Họ chỉ ghét anh ‘ít’ hơn bọn công an, lính tráng mà thôi. Ngoài ra, chỉ nói đến riêng anh, em biết quá rõ anh thích cái gì rồi. Anh thích đứng khoanh tay, dửng dưng quan sát phân tách mọi sự xảy ra chung quanh. Anh đã thế, chắc các bạn anh cũng chẳng hơn gì!”

“Suy nghĩ, tỉnh táo cố tìm rõ ý nghĩa mọi chuyện xảy ra không dễ như Di tưởng đâu, và cũng không phải là một tội lỗi ghê gớm như Di hiểu. Di biết gì đến người khác mà lên giọng chỉ trích? Trong tâm hồn, trong trí óc Di chỉ toàn những Di, Di đầy ứ những ‘oán hờn’, ‘giận ghét’, của Di. ‘Di ghét người này, Di muốn giết người kia’. Di còn mê lên vì chính Di, còn thời giờ đâu ngó ngàng đến ai. Có bao giờ Di đặt mình vào địa vị anh và tự hỏi ‘Tại sao anh lại gia nhập Quân thứ Lưu động? Tại sao anh làm thế này, nghĩ thế kia…?’ chưa đã?”

Tô dồn cho Di một thôi, một hồi, cơn giận dữ lộ hẳn lên nét mặt, trong giọng nói. Mọi người – kể cả Di – đều ngạc nhiên, sững sờ. Trước đến nay, không ai tin Tô có thể nổi giận.

Giọng Tô vẫn gay gắt:

“Di là một thằng điên, Di hiểu chưa? Di điên, Di mù quáng thời mặc Di. Di cứ tiếp tục điên đi anh không ngăn cản. Nhưng Di để yên cho những kẻ thích suy nghĩ, tìm tòi như anh. Trước đây đã có lần Di cả quyết anh không thể hiểu nổi Di. Nhưng anh đã ‘cố gắng’ tìm hiểu Di! Còn Di! Di không hề nghĩ đến chuyện tìm hiểu người khác, nói gì đến cố gắng hay không cố gắng…”

Giọng Tô đầy khinh bỉ, nhưng ánh mắt lại thoáng vẻ thương hại:

“Nếu Di muốn, anh khuyên Di cứ việc trở về cái thế giới đầy oán ghét, ấm ức, tối mò mò của Di. Phần anh, có thể anh gia nhập Quân thứ Lưu động là một điều lầm lẫn, nhưng dù sao anh cũng ‘dám’ lầm lẫn. Mà chỉ khi người ta hành động, người ta sống, người ta mới lầm lẫn được. Còn ngồi ì ra đấy, thụ động, nhưng ta sẽ có thể trở thành một ông thánh, cứ tưởng mình khôn ngoan lắm! Biết nhiều chuyện lắm, nhưng thực ra mù tịt cả hai mắt.”

Di ngồi khoanh tay, đầu gục xuống và im lặng nghe Tô. Hắn có vẻ xúc động. Hắn vụng về đứng dậy khi anh ngừng nói, ra đứng cạnh cửa sổ nhìn ra phố, quay lưng lại mọi người.

Trời lại bắt đầu tối. Gió thổi từng cơn. Dăm ba chiếc lá vàng bay lướt qua cửa sổ rơi trên nền nhà, sát khuôn mặt mọi người khi ẩn khi hiện, trong khung cảnh tranh sáng tranh tối của căn phòng. Câu chuyện về cuộc sống của Tô vừa mang lại cho bầu không khí gia đình những xáo trộn khó tả.

Lan nhìn Tô, rồi quay sang nhìn Di đứng tách biệt cánh cửa sổ, nheo mũi lại, thở dài đánh sượt một cái:

“Lạ thật! Hễ cứ ngồi đối mặt nhau một lúc, thế nào hai anh Tô, Di cũng cãi nhau một trận mới hả. Tại sao thế hở anh Tô? Các anh thích thế à? Mà sao đàn ông cứ nhăn nhó khổ sở vì những chuyện chẳng đâu vào đâu. Nghe các anh, em rức cả đầu…”

Bà Hạ cười buồn bã, nói với Tô:

“Các con là con trai, đã lớn rồi, muốn làm gì thì làm, đi đâu thì đi, mẹ là đàn bà mẹ đâu hiểu và cũng không can ngăn, níu kéo, miễn là khi các con sống cạnh nhau, hoà thuận, đừng coi nhau như quân thù quân hằn là mẹ hài lòng… Mẹ buồn Tô đi xa nguy hiểm, mẹ lo cho Tô từng khắc từng giây. Vừa bước chân về nhà, hai anh em đã lại cãi nhau, tiếng nặng tiếng nhẹ. Mẹ thấy nó làm sao ấy!”

Tô an ủi mẹ:

“Ồ! Mẹ để ý đến những chuyện cãi vã lăng nhăng của bọn con làm gì. Khác tính nhau, anh em xung khắc là chuyện thường.”

“Nhưng, mẹ vẫn ngài ngại khi…”

Tô nói chặn ngay:

“Mẹ đừng lo ngại gì hết! Chúng con cãi nhau, chứ không thù ghét nhau đến nỗi đánh nhau đâm chém nhau đâu mà mẹ sợ.”

Bà Hạ lưỡng lự, định nói thêm, nhưng trước vẻ mặt lơ đãng, mơ màng đâu đâu của con, bà đành im lặng.

Mấy tháng nay, gia đình ông Hạ không trả nổi tiền điện, nên điện trong nhà bị cắt. Ông mò mẫm rịt thuốc lào trong bóng tối. Bà Hạ lên tiếng bảo Lan thắp mấy cây nến. Hai anh em Tô, Di vẫn giữ nguyên dáng bộ cũ, mỗi người theo đuổi một nguồn tư tưởng riêng.

Lan cầm hai cây nến vừa thắp, từ nhà trong bước ra. Khuôn mặt thanh tú, hai gò má hồng của Lan nổi bật trên những khoảng tối sáng của căn phòng. Tô đưa mắt nghìn theo em gái, một ánh vui thú, nghịch ngợm khiến khuôn mặt thường khi nghiêm trang và già trước tuổi của hắn trở lại trẻ trung – nếu không thể nói là trẻ con. Tự nhiên hắn bảo mẹ:

“Lan dạo này xinh tệ, me có thấy thế không?”

Lan đang lúi húi gắn nến lên bàn đáp ngay:

“Me ạ! Dễ đến mấy năm nay mới thấy anh Tô khen con xinh. Con tưởng các anh con mải mê những chuyện gàn dở, nên quên mất cả các cô con gái. Chằng bao giờ con thấy hai anh nói đến các cô, mọi rợ thật!

Tô có vẻ ngẫm nghĩ, hắn lục túi lấy ra một bao thuốc lá. Hắn gọi Di, giọng trở lại thân mật:

“Ê, Di! Hút thuốc không?”

Di lẳng lặng lại gần anh, đón điếu thuốc và hai anh em hút thuốc thở khói mù mịt, trước những cặp mắt ngạc nhiên của ông bà. Ông tự hỏi không biết chúng bắt đầu hút thuốc từ bao giờ. Dầu sao, sự làm lành kín đáo giữa hai đứa con trai cũng khiến bà Hạ mừng thầm. Bà liếc nhìn Lan và vẻ mặt hai người đàn bà trong gia đình rạng rỡ hẳn lên.

Một cơn gió lùa vào nhà. Lan rùng mình nhẹ, tay ôm lấy hai vai và hỏi anh:

“Mùa này ở vùng quê có lạnh không anh Tô?”

“Đâu có! Anh vẫn tắm và bơi ở sông hoài! Khoái lắm!”

Tô nói nhiều hơn đến chính hắn. Giọng nói và vẻ mặt Tô cũng thay đổi, không còn xa cách, khắc khoải hoặc chua chát như hồi nãy, trở nên mơ màng, đôi khi háo hức, nóng ấm.

“Mới đây bọn này đóng tại một làng nằm kề một con sông nhỏ. Bên kia sông chạy xa tít về phía chân trời là một cánh đồng sậy lau. Điều khiến Tô lạ lùng ngạc nhiên là sự trái ngược giữa dòng sông và cánh đồng sậy. Sông nhỏ nhưng nước chảy siết ghê gớm, suốt ngày đêm ầm ì và cuồn cuộn sóng. Cánh đồng sậy thì im lặng không ngờ, dăm thì mười hoạ có gió nhẹ lướt qua. Đứng cạnh sông, Tô cảm thấy chóng mặt, say mê một cách khó tả. Tô muốn nhảy xuống để dòng nước lôi cuốn, ghì lấy Tô. Mấy thằng bạn Tô bơi kém không dám bơi xa bờ. Tô bơi sang bờ bên kia và lội bì bõm một mình trong cánh đồng sậy, nước ngập ngang thắt lưng. Vào những buổi trưa trời nắng, chỉ có mỗi mình Tô. Sau khi để sóng nước nhồi lên nhồi xuống, và vẫy vùng cố bơi ngược dòng, Tô mệt phờ râu, lóp ngóp bò lên nằm thở dốc trên một cái bè, sậy khô tự nhiên kết thành. Chân tay rã rời, nhưng thú vị kinh khủng. Hình như con sông giống một người đàn bà nồng nhiệt mà Tô thì vừa yêu con sông đó…”

Lan đỏ mặt, mắng khẽ anh:

“Anh Tô nói bậy rồi…! Anh mê đàn bà, à mê sông đến mất trí kia à?”

Ông Hạ cau mặt, hơi bất mãn trước lối nói sống sượng của Tô. Bà Hạ mỉm cười khoan dung, còn Di ánh mắt nóng nảy, vẻ chăm chú kích thích lộ rõ trên khuôn mặt trắng và gầy. Tô quên bẵng mọi người, say sưa trong kỷ niệm.

“Vào những lúc khó quên ấy. Tô hình như không còn phải là Tô nữa. Tô quên hết cảnh vật hoang tàn quanh mình, quên cả những nỗi buồn phiền thắc mắc và dĩ nhiên quên luôn cả Việt Minh có thể lẩn quẩn đâu đây, rình mò, đe doạ. Đầu óc Tô rỗng tuếch. Tô chỉ cảm thấy nắng ấm trùm lên thân hình trần truồng của Tô. Ngực Tô phập phồng, cổ nghẹn ngào vì mệt, vì khoái cảm. Ngực Tô còn mang mấy vết thương rớm máu, con sông hình như vừa cào lên đây. Đôi khi Tô thiếp đi trong vài phút, hàng giờ. Sao biết được! Có hôm Tô nằm gối đầu lên tay, ngắm một đàn chim trắng, cổ dài bay lướt theo gió thành một vòng tròn và lên cao dần, cao dần, cho đến khi biến mất. Nhờ đàn chim Tô mới cảm thấy chiều sâu thăm thẳm của bầu trời thấm vào từng thớ thịt. Tô thật chẳng còn muốn gì hơn nữa: Con sông cuồn cuộn nồng nàn, trời xâu thăm thẳm và cánh đồng im lặng dầy đặc những cây sậy mảnh mai, chen chúc nhau thay thế cho những tư tưởng ý nghĩ của Tô, và nắng ấm. Tất cả những cái đó thừa sức thay thế cho tâm hồn, trí não Tô… Nếu được như vậy mãi mãi, Tô không cần nghĩ ngợi suy tưởng làm gì…”

Tô ngừng một chút, đôi mắt nhìn đăm đăm trước mắt như muốn đẩy lui xa tít, bốn bức tường chật hẹp vây khép gia đình này. Lan khe khẽ nhắc anh:

“Anh Tô! Tỉnh mộng đi chứ anh!”

Tô mỉm cười, hơi ngượng nghịu – một sự lạ – hình như hắn hổ thẹn vì đã thổ lộ quá nhiều chuyện về mình. Hắn thở ra một hơi dài, lẩm bẩm:

“Tỉnh mộng? Nhưng đây đâu có phải là một giấc mộng. Nhưng mộng hay thực, đổi những giây phút đó lấy bất cứ cái gì anh cũng không đổi…”

Di nhận xét:

“Tóm lại, anh chỉ sung sướng khi anh có một mình!”

“Không hẳn như vậy. Cũng tại con sông ấy, vào buổi chiều khi các bạn anh đã bơi tắm xong ra về. Còn lại mỗi những anh, chân tay ôm chặt một chiếc cột trơ trọi giữa dòng – vết tích của một nhịp cầu còn lại ở phía bên kia, nổi bật đen thẩm trên nền cánh đồng sậy hoang vu bên kia sông và tự nhiên anh cảm thấy sợ hãi, e dè. Trái hẳn với buổi trưa cảnh vật hoà với anh là một, vào lúc đó cảnh vật hình như lại đè nén anh, bóp anh nghẹt thở. Và anh chợt thấy rõ…tình cảnh hiện tại của anh nó tuyệt vọng, không lối thoát đến nhường nào. Ngày mai, anh sẽ phải làm gì để gán cho cuộc sống một ý nghĩa? Bất cứ một ý nghĩa nào, dầu nhỏ bé tầm thường nhất… Anh vội vã mặc quần áo và như muốn trốn chạy một cái gì, trốn cho nhanh. Về gần đến chỗ bọn anh ở, nghe tiếng các bạn anh cười nói, tiếng đành hát ông ổng của thằng Thắng, anh vui mừng chẳng khác một đứa trẻ vừa lạc đường. Giây phút ấy đừng nói đến chuyện tiếp xúc với mấy thằng bạn mà anh có cảm tình một phần nào, dù phải gặp những người kinh tởm bần tiện nhất như lão phó trưởng đoàn hay tụi công an, anh thấy vẫn còn hơn phải cô độc. Anh thật yếu ớt và có thể nói là hèn nhát, không thể tha thứ được!”

Tô nhìn Di, thẳng thắn hỏi:

“Anh làm Di ngạc nhiên phải không? Thường khi anh đâu phải hạng người sợ bất cứ cái gì. Đừng hiểu nhầm anh!”

Di cười gượng gạo.

“Em không ngạc nhiên và cũng không hiểu lầm anh chút nào. Em chỉ thấy, anh cũng chẳng hơn gì em. Có vậy thôi!”

Tô ngạc nhiên.

“Hơn Di?”Tô nhún vai. “Lạ thật! Nhiều khi Di có những ý nghĩ kỳ khôi, anh không ngờ tới. Anh không bao giờ lưu ý đến vấn đề ai hơn ai, nhất là giữa anh và Di.”

Lan hích mẹ một cái ra hiệu can thiệp, đoạn chen vào:

“Ê! Ê! Hai ông gàn… Cấm cãi nhau nữa đấy nhé! Me mắng cho mà nghe.”

Tiện dịp, ông Hạ cũng tiếp luôn, lôi các con trai trở về thực tại:

“Thôi! Nói chuyện thế đã nhiều rồi. Để cho thằng Tô nghỉ ngơi chứ! À! Thế nào, con đã lĩnh lương chưa?”

Tô lẳng lặng móc ví lấy tiền, nhưng hắn không trao cho bố, lại đưa cho mẹ và nói giản dị:

“Của me! 6.000 đồng tiền hai tháng lương con mới lãnh. À! Me nhớ trưa mai làm một bữa bún chả. Thật nhiều bún và thật nhiều chả. Con có mời Thắng lại dùng cơm trưa với gia đình mình.”

Bà Hạ liếc nhìn chồng rất nhanh, đỡ lấy sấp giấy bạc, tay hơi run và giọng cảm động:

“Con làm lụng vất vả trong mấy tháng trời mà chỉ được từng này tiền. Chính phỉ bất công quá!”

Tô mủm mỉm cười:

“Thằng Thắng nó cũng than phiền từa tựa Me. Nó bảo: ‘Mẹ nó! Lĩnh hai tháng lương chỉ đủ tao đi nhảy hai ba bữa là hết nhẵn.’”

Bà Hạ kêu lên:

“Thằng bạn con nó điên à! Tiêu gì mà dữ vậy?”

“Có gì lạ, Thắng con nhà giàu, lại là con một.”

Lan tò mò:

“Con nhà giàu còn đi Quân thứ Lưu động làm gì?”

“Hắn thích thế!”

“Kỳ khôi, anh Thắng là người thế nào hở anh Tô? Gàn bằng anh hay hơn?”

“Mai Lan gặp sẽ biết! À! Tô quên bẵng mất. Hai hàng áo lụa Tô hứa mua cho me và Lan, ngày mai Thắng sẽ mang đến.”

“Hàng vải anh mua cho me và em lại do bạn anh mang tới. Sao trái cựa vậy?”

“Hắn nợ tiền anh. Hắn có bà chị họ mở cửa hàng vải…”

Văn học Miền Nam 54-75 

vanviet.info

Duy Lam

27 Tháng Chín, 2020

Post by Sơn râu 23 May 2024

Kỳ 685

Duy Lam tên thật là Nguyễn Kim Tuấn, sinh năm 1932 tại Hà Nội. Ông là con trai của ông Nguyễn Kim Hoàn (quản lý cơ sở xuất bản Ngày Nay – Đời Nay) và bà Nguyễn Thị Thế (em gái của Nhất Linh, Hoàng Đạo và chị của Thạch Lam). Ông theo học các trường Trung Học Ngô Quyền và Chu Văn An (Hà Nội). 
Năm 1953, có lệnh động viên, ông tham gia quân đội, theo học Khóa 3 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ông đã phục vụ trong quân ngũ từ 1953 đến 1975. 
Năm 1958 ông gia nhập nhóm Tự Lực Văn Ðoàn của nhà văn Nhất Linh ở Sài Gòn. Ông còn là thành viên ban sáng lập và chấp hành hội Bút Việt, sau đổi tên là Văn Bút Quốc Tế Việt Nam. Đã cộng tác với các tạp chí Văn Hóa Ngày Nay, Tân Phong…
Bị giam giữ từ 1975 đến 1987. Sống ở Hoa Kỳ từ tháng 12-1990. Ngoài viết văn Duy Lam còn là một họa sĩ tài năng.

Tác phẩm:

Chồng Con Tôi (tập truyện ngắn, 1960)
Gia Đình Tôi (tập truyện ngắn, 1962)
Cái Lưới (truyện dài, 1964)
Nỗi Chết Không Rời (truyện ngắn, cùng viết với Thế Uyên, 1966)
Ngày Nào Còn Đàn Bà (tập văn vui, 1967)
Lột Xác (truyện dài, 1968)
Tuyển Tập Truyện Mới (tập truyện ngắn, 1995)
Thi tập Chân Mây (thơ, 1996)
Em Phải Sống (tập truyện ngắn, 1996)
Where The Cloud Ends (cùng viết với An Nhiên, 2007)

Cái Lưới

Vào một ngày mùa đông năm 19…, ông bà Hạ dọn đến biệt thự Hoàng Hôn. Trong khi ông Hạ còn mải đốc thúc người nhà khuân hòm xiểng đựng quần áo và những đồ dùng lặt vặt vào nhà, bà Hạ một mình lẳng lặng dạo thăm một lượt tất cả các phòng.

Tuy đây là chiếc biệt thự xưa kia bà Hạ và các con thiết tha mong ước được làm chủ, nhưng mọi công việc trông nom xây cất điều đình với kiến trúc sư, đốc thúc thợ thuyền bà đã để mặc ông tự ý lo liệu. Nếu ông cố gặng:

“Mình đến ngó qua một chút! Thợ đương xây đến phòng khách… Mình có muốn xây một chiếc lò sưởi thật lớn hay không? Đà Lạt vào mùa rét lạnh lắm đấy!”

Bà chỉ lắc đầu, thờ ơ trả lời:

“Tùy mình quyết định!”

Tuy bận chỉ dẫn người nhà kê tạm những đồ đạc cồng kềnh, ông Hạ vẫn kín đáo theo dõi những cử chỉ hơi khác thường của vợ. Ông băn khoăn tự hỏi, lần đầu tiên bước chân đến biệt thự, bà Hạ nghĩ sao về cách kiến trúc, sự sắp đặt các phòng và trang hoàng bên trong? Tự nhiên ông e ngại bà sẽ không hài lòng. Tự bao giờ ông bắt đầu quan tâm đến ý kiến của vợ?

Sau một hồi hò hét các người làm, ông thấm mệt và ngồi nghỉ trên một chiếc ghế bành rộng trong phòng khách.

Bà Hạ đang đứng trong căn phòng đáng nhẽ là phòng dành cho Di – đứa con trai thứ nhì của hai vợ chồng – quay lưng về phía ông. Cửa phòng mở, nên ông quan sát những hành động của vợ rất dễ dàng. Sau mấy phút trầm ngâm, vợ ông đặt một bức ảnh lên bàn – chắc vừa lấy ở va li ra – lùi lại mấy bước và ngây người ngắm nghía. Ngồi hơi xa nên ông khó nhận biết là ảnh ai.

Chợt bà Hạ đưa hai bàn tay lên ấp lấy mặt, hai vai rung nhẹ. Vợ ông khóc, ông đoán vậy, vì sống bên nhau bao nhiêu năm, ông không còn xa lạ gì lối khóc im lặng không một tiếng nức nở, đầy chịu đựng và nhẫn nhục của vợ.

Ông cảm thấy nửa như bực tức nóng nảy, nửa như lo lắng trước những cơn khóc lóc, rầu rĩ bất chợt của vợ trong những năm gần đây. Sức khoẻ của vợ ông cứ theo ngày tháng mà kém sút. Trước kia không hiểu sao ông có thành kiến vợ ông không bao giờ có thể ốm được. Từ khi lấy ông, đẻ con, qua thời kỳ gia đình tản cư và trở về Hà Nội sa sút đi, bà Hạ không lúc nào ngừng tay chân, làm lụng quần quật, xoay xở vay tiền, nhưng hiếm khi ốm.

Các con ông Hạ thường đùa me:

“Me không biết đau gì! Làm thế nào me ốm được nhỉ?”

Nhưng sau cái chết của Di, bà Hạ không còn được như xưa. Thân hình đẫy đà sút hẳn, làn da không còn trắng hồng, dáng đi chậm chạp nặng nề và đôi mắt to đã sâu lại sâu thêm.

Ông đứng dậy nhẹ nhàng lại gần vợ. Ông đến sát sau lưng mà bà không hay biết. Nhìn qua vai bà, ông nhận ra người trong ảnh là Di.

Chân ông đột nhiên trùn lại. Ông muốn lùi bước. Trong ngày theo ý ông, đầy vui vẻ và khoái hoạt này, ông không muốn nghe những lời trách móc và đối diện với khuôn mặt u tối của vợ.

Bà Hạ quay đầu lại, nhìn thấy ông. Trong một giây ngắn ngủi, ông Hạ bắt buộc phải nhìn thẳng vào cặp mắt đầy trách móc và oán hận chưa kịp che giấu của vợ.

Bà Hạ quay mặt đi lấy khăn lau nước mắt. Hai vợ chồng im lặng một phút. Đoạn ông đằng hắng, giọng nói làm ra vẻ cứng rắn, thản nhiên:

“Mấy cái thằng phu thật đổ đốn! Mình có thấy thiếu chiếc hòm nào không?”

Bà Hạ không đáp. Ông vội vã ra khỏi phòng không quay mặt lại.

Suốt trong ngày, ông tránh ngồi lâu một mình cạnh vợ. Ông tránh một trận cãi nhau giữa hai vợ chồng. Tâm tính vợ ông không còn giản dị như xưa. Bà có thể tức giận, gây chuyện với chồng gì những lý do không đâu. Một vài khi, những lời trách móc chua chát từ miệng bà Hạ thốt ra, khiến ông sửng sốt. Những nguyên nhân thầm kín nào đã biến chuyển tâm hồn vợ ông đến thế?

Sau bữa cơm tối, ông Hạ ngồi đọc sách, bà Hạ ngồi ở divan gần bên. Thói quen đọc sách từ bao năm nay ông không hề bỏ. Chiếc biệt thự rộng yên lặng lạ lùng. Tiếng các trang sách ông dở nghe rõ mồn một.

Một tham vọng nữa của ông Hạ đã thành sự thật: Ông hiện là chủ nhân một chiếc biệt thự lớn, đầy đủ tiện nghi. Ông không còn phải lo đến việc kiếm tiền. Hai vợ chồng có thể sống đến già mà vẫn giữ được một mức sống khá cao.

Nhưng, những căn phòng bày biện sang trọng và không người ở trong biệt thự làm giảm hẳn sự kiêu hãnh của ông. Các con ông đâu? Bên phải là phòng dành cho Tô – đứa con cả của ông bà – còn bên trái là những phòng của Lan và Di. Tại sao các con ông lại đã đều rời bỏ gia đình, cách này hay cách khác?

Bà Hạ đang mải mê đọc mấy bức thư mới nhận được. Chắc là thư của Tô và Lan. Một chiếc ảnh nhỏ lọt khỏi mấy tờ thư, rơi xuống đất. Bà cúi xuống nhặt lên và ngắm rất lâu. Bà mỉm cười, nụ cười hiền dịu âu yếm đầu tiên trong ngày xuất hiện trên mặt bà. Bà Hạ hình như có chuyện muốn nói với ông. Ông chờ đợi, mắt không rời khỏi trang sách. Nhưng bầu không khí yên lặng trong phòng vẫn tiếp tục kéo dài.

Ông giận dữ dỡ mạnh liền mấy trang sách và ho khan mấy tiếng, như muốn nhắc nhở là ông đang ngồi đây. Tại sao vợ ông không nói một lời nào? Thà rằng hai vợ chồng cãi nhau còn hơn ngồi bên nhau mà xa cách hàng vạn dậm, mỗi người theo đuổi một sự suy tưởng riêng biệt. Vợ ông không có quyền giữ riêng những thư của các con, đọc một mình. Chúng cũng là con ông, sao bà lại quên điều đó?

Nhưng suy đi nghĩ lại ông thấy thầm trách vợ như vậy cũng có phần bất công. Thư chúng ông đọc làm chi; khi mà ông còn nhất định cấm cửa chúng, không cho phép trở về với gia đình.

Đêm đã khuya. Ông bà Hạ sửa soạn đi ngủ. Bà loay hoay mặc chiếc áo ngủ bằng hàng bông điểm những cành hoa nhỏ, cắt theo lối âu phương, cổ áo viền đăng”ten xanh nhạt. Chiếc áo này và một chiếc khác mầu hồng nhạt đều đã cũ, nhưng đi đâu bà cũng mang theo và nếu không mặc lên người thời khó mà ngủ yên giấc.

Chính tay Lan đã vẽ kiểu và may những áo ngủ đó cho mẹ. Hồi công việc doanh thương của ông thua lỗ, cả gia đình phải sống chen chúc trong một căn nhà nhỏ hẹp không tối nào Lan không chui vào giường mẹ, nằm trò chuyện cho đến khi ông xem sách xong và kỳ kèo mẹ phải mặc chiếc áo ngủ hơi kỳ khôi cho bằng được. Lan viện cớ:

“Me mặc áo ngủ con may trông quý phái lắm. Trông mặt me chung quanh tóc lõa xõa con thú ghê.”

Lan thường trò chuyện với hai anh là nó muốn luôn luôn được ngắm khuôn mặt thanh tú của mẹ nổi bật trên gối trắng và màu hồng xanh nhã nhặn của áo ngủ. Mới đây ông đã có lần càu nhàu:

“Sao mình không vứt mấy cái áo ngủ rách nát đó đi. Dễ thường tôi không đủ tiền may cho mình áo mới hay sao?”

Bà đáp ngay, giọng hơi sẵng:

“Mình để mặc tôi…!”

… Và rồi lẩm bẩm một mình:

“Áo mới mua dễ, nhưng ai mua được con gái.”

Ông Hạ cứng họng không biết đáp ra sao.

Ông Hạ mang sách vào giường đọc thêm. Ánh đèn không làm bà khó ngủ. Hồi mới lấy nhau vợ ông chỉ ngủ dễ dàng trong bóng tối hoàn toàn, nhưng nể chồng nên cũng đã phải tập ngủ dưới ánh đèn sáng cho quen. Bây giờ trái lại nếu không có ánh đèn nhẹ, bà lại hay mê hoảng.

Bà Hạ giở tập ảnh gia đình ra xem một lúc đoạn thiếp ngủ lúc nào không biết.

Ông đặt sách xuống đùi, nhặt mấy chiếc ảnh vợ bỏ rơi xuống ngực, định cất vào ngăn kéo bàn ngủ, nhưng rồi không hiểu sao vẫn giữ chúng trên tay ngắm nghía rất lâu. Đó là những bức ảnh chụp các con hai ông bà qua nhiều thời ký: Hồi chúng còn nhỏ, khi đến tuổi bắt đầu lớn và cả những bức chụp mới đây khi chúng đã trưởng thành.

Hình như ông nghe thấy vài tiếng động nhỏ ở đâu đây: Có lẽ là những tiếng cười ròn rã của con trẻ, tiếng cười đùa văng vẳng, lẫn lộn với những tiếng khóc thút thít thật dễ thương.

Ông lắc đầu mạnh và tỉnh hẳn. Óc tưởng tượng vừa đánh lừa ông: Đấy chỉ là một giấc mơ.

Thực tại trần trụi khiến ông choáng váng: Chỉ có ông và vợ sống lủi thủi trong toà biệt này, hai vợ chồng già và cô độc.

Dầu ông muốn hay không, tất cả những kỷ niệm xưa cũ, hoặc không xa lắm trong thời gian lại vụt trở về, tràn ngập tâm hồn ông. Ông thở dài, hạ cặp kính lão xuống, mắt nhìn đăm đăm vào khoảng trời tối đen ngoài khung cửa sổ. Dĩ vãng! Ông không sợ đối diện với dĩ vãng, nhưng ông đâu ngờ dĩ vãng lại có thể khiến ông xúc động đến thế.

Giai đoạn đầy rẫy những thay đổi quan trọng và đau thương của gia đình ông Hạ bắt đầu ngay sau khi hai vợ chồng ông và các con hồi cư về Hà Nội vào năm 194…

Hồi V.M. đảo chính, nắm chính quyền, hai đứa con trai ông – Di và Tô cũng tham sự những đoàn thể thanh niên và cũng sống ồ ạt, sôi nổi không khác những đứa trẻ cùng tuổi. Công việc làm ăn khó khăn buổi giao thời không cho phép ông Hạ có thời giờ chăm sóc con cái về mặt giáo dục cũng như tinh thần.

Chiến tranh bùng nổ. Gia đình ông bà Hạ tản cư về quê nội cách Hà Nội khoảng gần 20 cây số. Sau gần hai năm trời di chuyển từ vùng này sang vùng khác, số tiền dự trữ cạn hết. Hai vợ chồng cũng không tìm nổi cách gì để kiếm sống nuôi một gia đình năm miệng ăn.

Tuy ông từ trước đến nay, không hề tham dự trực tiếp hay gián tiếp vào một phong trào hay đảng phái chính trị nào, nhưng vì mấy người anh ruột của bà Hạ đều là những cấp lãnh đạo trong V.N.Q.D.Đ., nên các ủy ban kháng chiến tại làng ông bà cư ngụ vẫn ngấm ngầm theo dõi để mắt tới mọi hoạt động dù nhỏ nhặt nhất của gia đình ông Hạ. Gia đình ông bà luôn luôn sống trong sự lo ngại phập phồng và không dám ở lâu tại một làng nào nhất định.

Cho đến ngày, ông bà Hạ rồn rập tiếp được những tin tức đen tối, người anh thứ hai của bà vừa bị V.M. bắt đem đi, anh cả – một công chức cao cấp trong chính phủ hồi Pháp thuộc cũng như hồi V.M. – cũng bị ngầm mang đi an trí và giam lỏng, còn người vợ và đứa con trai cả của anh Bằng vừa bị V.M. bắt giam cách đây mấy ngày; hai vợ chồng sau một đêm bàn bạc suy tính, đành phải quyết định tìm cách trở về thành càng sớm càng hay.

Về Hà Nội nhà xuất bản trước kia ông Hạ hùn vốn và đồng thời làm quản lý bị đốt cháy tan tành. Người chủ chết trong cuộc chiến tranh. Tạm thời ông Hạ phải nhẫn nhục làm thư ký cho một hãng buôn ngoại quốc để chờ thời cơ. Cả gia đình chỉ còn trông cậy vào số lương quá ít ỏi của ông để sống. Đang quen với một mức sống vật chất tương đối sung túc, những sự túng thiếu không thể tránh được trong thời kỳ này ảnh hưởng đến tâm tính ông không ít.

Tuy ông cũng cố hết sức xoay xở tìm lối thoát, nhưng vốn không có, bạn hữu cũ đều thất lạc, ông đành bó tay. Làm một thư ký quèn, nhiều khi ông Hạ tưởng điên lên vì phải chịu lụy những kẻ trước kia chỉ đáng làm công cho ông.

Càng cảm thấy bất lực trong việc kinh doanh xây dựng lại sự nghiệp, ông càng trở nên gay gắt và khe khắt hơn đối với gia đình. Hễ đi làm về là ông gắt gỏng, hậm hực với tất cả mọi người – không kể một ai.

Ông Hạ luôn luôn lấy sự nghèo khổ ra làm đầu đề, phóng đại nó lên. Ông cũng cố ý hạ mình xuống để làm nổi bật sự nhục nhã chung của gia đình.

Tuy thừa biết vợ con rất sợ phải nghe những lời lẽ thô tục, mai mỉa độc ác của ông, nhưng hễ cứ ngồi nung nấu những tư tưởng đen tối và chua chát, chỉ một lúc sau chính sự bất mãn của ông làm ông say lên và ông bật nói rất lớn. Tuy nhiên ông vẫn còn đủ bình tĩnh để chọn lựa những câu nói cay đắng và thấm thía nhất.

“Tôi nói cho mà biết! Chưa ăn thua gì đâu. Bây giờ còn miếng cơm mà ăn là phúc lắm. Tôi thì tôi quen rồi. Từ bé tôi đã hiểu thế nào là thân phận một kẻ nghèo hèn. Nhưng nói đến đời tôi làm gì, tôi đâu có đáng kể… Sinh ra chỉ làm đầy tớ và lo lắng nuôi sống mọi người. Phải! Có ai lo đến kiếm ăn bao giờ đâu mà biết cuộc sống chật vật ra sao. Sinh ra đã được chiều chuộng, nưng như nưng trứng hứng như hứng hoa. Đã có người lo việc tiền nong… Hà! Tiền! tiền đâu mang lại hạnh phúc. Đúng lắm! Đẹp lắm! Cao thượng lắm! Chỉ đời sống tinh thần mới đáng kể. Giá tôi có hơi chút mắng mỏ đe nẹt, các ông con của tôi đã cho tôi là ác nghiệt độc tài…”

“Mà thôi nói làm gì nhiều vô ích. Có ai thèm nghe tôi đâu. Đành vậy, số tôi còn phải khổ nhiều. Nhỡ một cái tôi chết đi. Chết có lẽ lại may, đỡ phải lo kiếm tiền…”

Ông lấy cớ nhà không đủ tiền nuôi người ở, bắt các con phải làm đủ mọi việc. Ông cũng hay nhắc đến dự định trong tương lai cắt ngang mọi việc học hành của các con và bắt chúng đi làm sớm hầu giúp đỡ gia đình. Ông nêu ngay đời ông làm thí dụ.

“Học nhiều mà làm gì. Có bao nhiêu vĩ nhân lúc trẻ con nhà nghèo khổ nên phải làm những nghề hà tiện làm bồi, bán báo… Tao đây cũng thế! Tao có bằng cấp gì đâu, sao ra đời ai cũng kính nể. Học như con vẹt, nhồi vào đầu óc toàn lý thuyết chỉ làm mụ người đi và đảm óc phấn đấu.”

Ông không quên kể lại, lần này là lần thứ mấy mươi, quãng đời thơ ấu vất vả của ông. Để nêu gương khắc khổ, ông không hề nhếch miệng cười, bỏ hẳn sự ham mê mua và đọc sách báo. Những ngày lễ và chủ nhật ông cũng nhất định không đi đâu và cũng không tìm những cách giải trí không mấy tốn tiền như uống trà, sưu tầm tem thư hay hội họp với một số bạn đồng sở nói chuyện gẫu cho khuây khoả.

Vào năm ấy, những người buôn bán rau cỏ, thực phẩm tập họp tại bờ hồ Hoàn Kiến, ngay cạnh ngã tư Tràng Tiền, làm thành một cái chộ lộ thiên ở ngay trung tâm thành phố. Chẳng biết vợ con ông bàn nhau ra sao, nhờ vớ được mấy bao tải lá vối và một số sách cũ, tại mấy căn nhà bỏ hoang cùng phố, Di đột nhiên trở thành một chú bé bán nước và sách ở chợ.

Các bà các cô bạn hàng dần dần quen với khuôn mặt trắng trẻo, đẹp trai của “cậu hàng nước”. Tính hay ngượng, Di có một lối bán hàng rất kỳ khôi. Suốt buổi chợ, Di ngồi chúi mũi vào một cuốn sách, không mảy may quan tâm đến việc bán hàng. Có khách muốn uống nước, Di miễn cưỡng múc nước chè ra bát, mắt vẫn không rời trang sách. Ai muốn trả bao nhiêu thì trả, Di không hé miệng kì kèo.

Đôi khi, mấy bà mau mắn không muốn làm phiền Di, tự tiện lật bát, múc nước, đặt tiền trả trên giá hàng, Di cũng mặc. Tiền lãi kiếm được cũng tạm đủ để bà Hạ mua thêm ít món ăn cho bữa cơm gia đình bớt phần đạm bạc.

“Cậu hàng nước tài tử thường là đầu đề cho những câu chuyện khôi hài, cười ra nước mắt, của bà Hạ và các con. Riêng ông Hạ, ông bất mãn ra mặt trước thái độ coi việc buôn bán như một trò chơi của vợ con.

Khi số lá vối dự trữ cạn hết, ông Hạ đã tưởng câu chuyện buôn bán của vợ con chấm dứt luôn ở đây; thời đến một hôm, trong bữa cơm, Tô tự nhiên đề nghị:

“Ba! Me và con định bắt đầu đi buôn kể từ ngày mai.”

Ông ngạc nhiên, cau mày nghiêm khắc nhìn Tô và vợ. Bà Hạ mà định đi buôn?

“Me mày thì buôn cái gì. Từ bé đến giờ ăn sung mặc sướng, buôn bán chịu đâu nổi cực nhọc. Mà…bây giờ buôn cái quái gì lời lãi cho được. Vốn đào ở đâu?”

Tô đỡ lời mẹ:

“Me đã vay được ít tiền vốn và dự định buôn rau cỏ, gạo, gà vịt ở vùng quê mang về Hà Nội bán. Mấy bà ở chợ nói rau quả hiếm, nên bán rất được giá.”

Ông vặn hỏi:

“Đã xin được giấy phép chưa? Có mối bán không…”

Trước những câu trả lời gẫy gọn, đâu ra đấy của vợ và Tô, ông Hạ cảm thấy cay đắng, bực bội và thầm suy luận “À ra thế! Vợ con ông định buôn bán vì cho rằng ông không kiếm đủ ăn cho gia đình. Tại sao vợ ông không chịu đem bàn trước với ông. Vợ ông không còn tin tưởng vào ông?”

Ông im lặng ăn. Ông biết mọi người đang hồi hộp chờ đợi phản ứng của ông nhưng ông kéo dài giây phút chờ đợi. Ông cảm thấy đầy sức mạnh. Tuy vậy, ông không phản đối và cũng không nổi giận, ngửng đầu thản nhiên bảo:

“Được nếu mình đã tính toán kĩ càng hơn thiệt, mình cứ việc đi buôn. Càng hay! Tô chút nữa mang giấy tờ ra đây, ba viết cho lá đơn xin giấy phép thông hành.”

Tất cả mọi người đều sửng sốt chưng hửng. Riêng Tô, sau giây phút ngạc nhiên ban đầu, yên lặng nhìn ông dò hỏi, ánh mắt thoáng nghi ngờ.

Không ai hiểu được sự ưng thuận của ông Hạ có ẩn dấu một chủ ý thâm hiểm như thế nào.

Trong mấy tháng đầu việc buôn bán của bà Hạ có vẻ phát đạt rõ rệt. Ông Hạ là người ngạc nhiên hơn ai hết. Vợ ông thạo buôn bán? Ông tưởng vợ ông chỉ có thể là một người vợ, người mẹ kiểu mẫu. Ông tự hỏi tại sao vợ không bỡ ngỡ, lầm lỡ khi phải tiếp xúc giao dịch với những con buôn quỷ quyệt.

Ông xin nghỉ việc một hôm, đi theo vợ xem buôn bán ra sao. Đi đâu ông cũng thấy vợ được mọi người vì nể một cách đặc biệt. Đứng giữa đám người buôn bán chuyên nghiệp, vợ ông và Tôi nổi bật hẳn lên. Khuôn mặt thanh tú của bà Hạ, thân hình giong giỏng cao hai bàn tay ngón dài chưa bao giờ phải dùng tới để khuân vác của Tô, khiến mọi người lưu ý bàn bạc. Họ kháo nhau, phỏng đoán thêu dệt rất nhiều chuyện về bà Hạ. Nào bà là con nhà gia thế, trước chiến tranh rất giàu, tản cư về gia sản khánh kiệt nên phải buôn bán nuôi con v.v…

Họ quan sát bà, tò mò nhưng rộng lượng. Họ cười khi thấy bà vụng về hớ hênh trong việc mặc cả, thương lượng. Họ chỉ dẫn cho bà những mánh lới của các con buôn thiếu lương tâm. Dần dần, bà Hạ cũng tìm được một số mối hàng quen.

Khi lên tàu xuống tàu, ông Hạ lưu ý thấy rất nhiều người không nề hà giúp bà bốc hàng lên hoặc rỡ xuống. Vợ ông chỉ biết cám ơn họ bằng những nụ cười. Họ tỏ vẻ hài lòng ra mặt.

Một buổi tối, bà Hạ và Tô đi buôn về, mọi người thấy mặt Tô đầy những vết tím và trán xưng lên. Trong bữa cơm ông hỏi tại sao, Tô đáp ngay:

“Bị ngã tàu đấy!”

Bà Hạ tủm tỉm cười, liếc nhìn đứa con cả. Ông nghi ngờ vặn hỏi:

“Mình! Có thật nó ngã tàu không? Me con mày dấu tao chuyện gì đây.”

Lan sờ sờ cái bướu trên trán anh, ngây thơ:

“Ngã tàu thời phải gãy chân tay chứ đâu sưng trán.”

Ông gắt:

“Tô! hay ai đánh mày? Nói cho tao biết để tao còn liệu can thiệp chứ!”

“Mình đừng mắng Tô! Nó bênh cô Khanh nên bị thằng đội Tây ở đồn đánh cho đấy!”

Khanh là tên một cô bạn buôn bán của bà Hạ, goá chồng nhưng còn trẻ và xinh đẹp nên hay bị tên đội Tây theo đuổi tán tỉnh. Ông Hạ vừa bực mình vừa cười thầm Tô trong bụng: Máu con ông cũng nóng và bướng bỉnh, lại hay quyến luyến gái đẹp chẳng khác gì ông hồi trẻ.

Ông mỉa:

“Anh hùng nhỉ? Gặp thằng hung dữ, có phen nó đánh cho què cũng chẳng biết kêu ở đâu. Thời này ấy mà.”

Vẻ mặt Tô xầm tối, nhưng nó vẫn lầm lì không cãi lý với cha.

Công việc buôn bán nặng nhọc, sức chịu đựng của bà Hạ cũng có hạn. Bà xanh và gầy trông thấy. Tuy vậy vợ con ông Hạ vẫn nhất định đeo đuổi buôn bán.

Mấy tháng sau, số người đi buôn tăng lên, mối lời ít. Những con buôn khôn ngoan dần dần chuyển sang buôn đồ lậu: Thuốc tây, dầu hoả. Bà Hạ một phần không đủ vốn, một phần không có gan kiếm lời một cách nguy hiểm, nên tuy việc buôn bán rau quả chưa đến nỗi thua lỗ, ăn lạm vào số vốn, nhưng lời lãi chẳng được bao nhiêu:

Một buổi tối ông Hạ bảo vợ và Tô:

“Trước đây tôi ưng thuận để mình buôn bán là cốt ý để mình quen với đời sống chật vật. Tôi cũng thừa biết lời lãi không mấy, chẳng bỏ công. Đã đến lúc mình nghỉ ở nhà đi thì vừa. Dạo này tàu hoả hay bị giựt mìn. Nhỡ một cái rồi ra hối không kịp.”

Bà cúi đầu im lặng, khuôn mặt hốc hác thoáng vẻ thấy vọng, buồn rầu. Ông Hạ đoán vợ chắc cũng đã nhiều lần cân nhắc, suy tính nên bỏ hay tiếp tục buôn bán.

Còn đương lưỡng lự chưa quyết hẳn bề nào, thời mấy ngày sau một tai nạn xảy đến cho bà Hạ, khiến bà đành nghỉ hẳn ở nhà. Tàu hoả bị giật mìn và bà bị thương ở chân.

Khi Tô về báo tin xấu, ông hốt hoảng hỏi:

“Có nặng không? Me bị thương ở đâu?”

Tô vội đáp:

“Không sao đâu ba ạ! Me được đưa ngay đến nhà thương và bác sĩ có nói với con chân me chỉ phải bó bột và nằm dưỡng bệnh vài tuần là khỏi.”

Yên tâm và biết chắc vết thương không trầm trọng mấy, nên suốt thời gian cùng Tô đi đến nhà thương, thái độ ông Hạ nghiêm khắc và lạnh lùng.

Tô đi bên ông lặng lẽ. Cách đó hai, ba hôm, Tô đã cãi lại ông:

“Ba luôn kêu ca nhà thiếu tiền và muốn các con đi làm. Đi buôn dù không lãi nhiều nhưng cũng giúp được gia đình phần nào. Tại sao ba không chịu? Theo ý con, cứ tiếp tục đi buôn cho đến khi hoàn toàn không lãi nữa mới thôi.”

Ông Hạ cũng tự biết, vì đã tỏ ra coi thường sự cản ngăn của ông nên vào giây phút này con trai ông đành câm miệng hến. Ông cũng không cần lên tiếng trách móc, hoặc mỉa mai cay độc. Cái chân bị thương của chính bà Hạ chắc cũng đủ dạy cho Tô một bài học cụ thể và đích đáng.

Vừa bước chân vào phòng vợ ông nằm ở nhà thương, bà ã vội nói ngay, giọng e dè và ngượng ngập:

“Tôi không sao đâu, mình đừng lo. Chỉ phải nằm đây ít lâu.”

Ông yên lặng. Vợ ông thu hết can đảm tiếp:

“Mình…! Tôi xin mình đừng mắng Tô tội nghiệp. Tại tôi ham mấy món lời. Và…cũng chính tôi xui nó cãi lại mình. Vả lại… Tôi vừa nhất định sẽ thôi đi buôn, sau khi ra nhà thương… Ông đáp ngắn ngủi:

“Thế cũng phải! Dạo này mình gầy đi nhiều. Lãi chẳng thấy đâu, đã thấy ốm với què.”

Bà Hạ thở dài. Cặp mắt đầy thương xót hướng về phía Tô, đang đứng tựa vào thành cửa sổ nhìn ra ngoài trời, quay lưng về phía hai vợ chồng ông bà Hạ.

Sau khi bà Hạ rời nhà thương về nhà, không ai bảo ai, bà và các con đều tránh không đề cập tới chuyện làm ăn buôn bán.

Việc chi tiêu trong gia đình từ đó trở đi hoàn toàn ông Hạ nắm giữ. Vợ ông không dám phản đối. Tô và Di, dù muốn hay không, cũng vẫn phải tuân theo những quyết định độc đoán của ông về mọi vấn đề. Trong khi chờ đợi ông kiếm cho chúng mỗi đứa một việc làm thích hợp, ông cho chúng theo học một trường trung học công lập. Tuy vậy thỉnh thoảng ông cũng không quên nhắc nhở chúng đừng quên đó chỉ là một đặc ân. Ông sẽ bắt chúng thôi học ngay, nếu chúng dám cãi lại, hoặc chống đối với ông.

Ông Hạ vẫn ngày hai buổi đi làm và nhẫn nhục chờ thời.

Năm năm qua. Ông Hạ xin được một chỗ làm tại một công sở. Số lương cũng tạm đủ cho sự chi dùng của gia đình. Tô và Di thay đổi hẳn. Chúng đã vượt qua tuổi thiếu niên đầy phức tạp và bắt đầu bước chân vào quãng đời thanh niên. Lan càng lớn càng xinh đẹp và giống mẹ hồi trẻ.

Hai đứa con trai ông Hạ càng lớn, ông càng chua chát nhận thấy những thay đổi trong tâm tính chúng không hợp với sự mong muốn của ông chút nào.

Riêng Di, chỉ trong có mấy năm nó đã gây cho ông bao nhiêu buồn phiền thất vọng. Di không sợ và kiêng nể ông như hồi còn nhỏ. Di không hề giấu diếm che đậy lòng oán ghét bố của hắn. Hắn không để lỡ bất cứ cơ hội nào để chứng tỏ bằng hành động, lời nói: Hắn phủ nhận trọn vẹn quan niệm sống của ông Hạ. Làm thế nào để uốn nắn Di. Đánh hay chửi mắng? Không lẽ Di đã 17, 18 tuổi cao lồng ngồng mà ông còn đánh nó như một đứa trẻ.

Ngay từ hồi nhỏ, Di cũng đã tỏ ra có một tâm hồn rất dễ xúc cảm và một óc tưởng tượng quá phong phú. Rất dễ khóc và cũng rất dễ cười. Vì không muốn con trai tâm tính ủy mị và đàn bà nên ông Hạ hay mắng – “Con trai gì động tí thì khóc. Mày sinh ra làm con gái đúng hơn”. “Khóc! Khóc mà kiếm được cơm ăn à? Hồi tao bằng tuổi mày tao đã kiếm được tiền rồi”.

Về thể chất, Di giống mẹ nhiều hơn là bố: Đôi mắt sáng to, lông mi dài và cong, nét mặt đầy đặn và đường môi thanh tú, làn tóc mềm sõa trên trán rộng. Các bà rất ưa Di, hay nưng niu và cho quà. Thấy Di được nuông chiều quá đáng, ông bất mãn. Ông không trách vợ, đàn bà nào chẳng chiều con, nhưng ông đổ nỗi bực bội vào đầu Di: “Con trai sao cứ quấn lấy mẹ! Phải cứng rắng mạnh bạo chứ”.

Di sợ những hành động mạnh và có tính cách áp chế. Nó hình như không thể nào hiểu nổi tại sao trẻ con lại thích hợp thành bè phái, bắt nạt và đánh nhau. Tô hay phải bênh vực Di chống lại những đứa trẻ không ưa giáng dấp như con gái của em. Khi Tô một mình đánh nhau với hai ba đứa trẻ, Di đứng ngẩn người, mắt mở to đầy ngạc nhiên và cũng không hề nghĩ đến chuyện tiếp tay với anh.

Về nhà, bà Hạ lấy cồn soa bóp những vết xưng trên trán và tay chân Tô, Di còn hỏi những câu thật chướng tai, “Tại sao chúng lại đánh anh Tô hở me? Tại sao trẻ con thích đánh nhau? Di kinh lắm! không bao giờ Di đánh ai đâu me ạ!”Trước thái độ ông cho là hèn nhát của Di, ông Hạ quát lên: “Sao mày hèn thế? Chúng nó xúm lại đánh anh mày mà mày để mặc à? Tay chân mày để đâu…? Hừ! Nhớn lên thằng Tô cho làm quan võ được. Còn thằng Di? bộ mày suốt đời chắc chỉ quanh quẩn xó nhà bám váy me. À! Hay đi đóng tuồng giả làm con gái được đấy”.

Di sợ những lời chế giễu cay độc của bố hơn cả bị đánh mắng. Bà Hạ lắm khi thấy ông cứ nhắm vào đứa con thứ nhì làm tình làm tội, lên tiếng bênh: “Sao mình ác thế! Mình không biết nó khổ sở khi mình mang nó ra làm trò cười hay sao? Di hãy còn bé. Nhớn lên nó khác đi chứ”. Ông đáp tàn nhẫn “Phải thế mới được. Bé không vin, cả gẫy ngành. Nếu hành hạ nó mà nó khá lên được thời cũng rất nên”. Vợ ông im lặng không cãi, nhưng ông biết bà hầm không đồng ý với lối răn dạy con cái khe khắt của ông. Vợ ông đồng ý không thực ra ông Hạ cũng chẳng quan tâm.

Càng nhớn Di càng ít nói và không ưa những trò chơi mạnh. Khi Tô 12 tuổi, ông Hạ mua cho một chiếc xe đạp. Hễ nhàn rỗi, Tô nhảy lên xe đạp đi thật xa. Mới đầy, Tô còn chịu khó rủ em, nhưng sau nhiều lần thúc dục, thấy Di tỏ vẻ không thích thú những cuộc đi chơi ngoài những khoảng rộng, Tô đành đi một mình.

Di ham mê đọc sách từ nhỏ. Sách ông Hạ mua rất nhiều đủ mọi loại. Ngoài những sách viết cho trẻ con đọc, còn có những tiểu thuyết của các nhà văn hữu danh V.N. và sách dịch? Mặc dầu cấm các con đọc sách của người lớn, nhưng ông biết Di luôn luôn lấy sách cấm ra đọc. Mắng mãi cũng không chừa.

Di còn cố ý tránh dàn mặt với bố. Trừ trong những bữa ăn Di bắt buộc phải đối diện với ông Hạ, còn vào những khoảng thời gian khác trong ngày, Di tìm đủ mọi cách để có thể ngồi yên trong một xó kín đáo nào đó trong nhà, đọc sách và mơ mộng một mình.

Di tin tưởng vào Tkhông và coi như một người kiểu mẫu. Di cố gắng dập mọi hành động, suy luận ý hệt anh, một cố gắng không mấy khi đạt được kết quả. Mỗi khi ông Hạ mắng Di mà Di không tìm được đủ lý lẽ đối đáp, Di nhìn Tô cầu cứu. Ông Hạ bắt gặp nhiều lần hai anh em nghiêm trang ngồi bên nhau, Tô giảng giải, Di lắng nghe. Dần dần thái độ của Di cũng có vẻ cứng rắng mạnh bạo hơn trước phần nào.

Thấy Di có thể dựa vào Tô, bà Hạ cũng lấy làm mừng. Yêu con nhưng không dám bênh con ra mặt vì nể chồng, nhiều lần bà chỉ còn biết than thở với con cái, sau khi chồng rời khỏi nhà.

Ông Hạ cũng hay bắt gặp ba mẹ con Di, Tô thủ thỉ chuyện trò. Đôi mắt sáng lên thương yêu mến phục của vợ ông không rời khuôn mặt linh động của Tô. Hễ thấy ông, ba mẹ con tự động ngừng câu chuyện nói dở, trao đổi những cái nhìn kín đáo, hoặc lảng sang một vấn đề khác.

Sau khi nghĩ buôn bán, gia đình ông bà Hạ bắt đầu nợ. Vợ ông vay chỗ này một ít chỗ kia một ít, không cho ai hay biết, kể cá các con. Tiền chợ và chi tiêu lặt vặt ông giao cho bà quá ít – bà Hạ lại không phải hạng người có thể khoanh tay bất lực trước những kham khổ, thiếu thốn của những người thân.

Nếu ông biết vợ vay lãi ngay từ đầu, chắc ông đã có thể hoặc dùng uy quyền hoặc doạ nạt để ngăn cản. Nhưng thực ra ông đâu có thời giờ và tâm trí để theo dõi mọi hành động của vợ. Nhưng tình cảm hậm hực, bi quan đã chiếm hết tâm óc ông, ám ảnh ông ngày đêm.

Bà Hạ nay sắm món đồ này, mai sửa chữa món đồ khác, mua thêm thức ăn, chăm chút cho chồng và các con. Những món nợ chồng chất mãi lên nhau. Hàng tháng, bà Hạ chỉ vay nổi tiền trả nợ lãi, còn số nợ gốc tăng vùn vụt một cách đáng sợ.

Đến hôm chủ nhà đến tận nhà đòi và làm ầm lên, ông Hạ và các con mới khám phá ra bà nợ nhiều đến mức nào. Và từ đó trở đi chuyện nợ nần chẳng khác lửa được đổ thêm dầu, gây ra bao nhiêu cuộc cãi cọ, tranh luận giữa ông Hạ và vợ con.

Sau một thời kỳ trên bề mặt tương đối yên tĩnh, sóng gió lại xáo động cuộc sống của gia đình.

Vào một buổi sáng chủ nhật, cả gia đình ông Hạ đều ở nhà, một người khách đàn bà đến hỏi bà Hạ. Vừa trông thấy mặt bà ta, khuôn mặt bà Hạ tái nhợt nhạt. Bà vội chạy ra tiếp khách, dáng điệu lúng túng.

Bà Hạ thì thầm với bà khách những gì không hiểu, nhưng sau vài câu trao đổi, bà ta lộ vẻ tức giận, cất cao giọng nói không kiêng nể một ai:

“Thế bà nhất định không chịu trả? Bà còn khất đến bao giờ nữa? Tôi nể lắm mới gia hạn cho bà đến buổi nay, chứ người khác thì tôi đã lôi ra cẩm rồi.”

Bà Hạ bối rối nho nhỏ:

“Chết! Tôi xin bà. Bà nói khe khẽ thôi chứ…! Vâng, tôi sẽ cố…”

Người chủ nợ đứng phắt dậy, hai tay chống cạnh sườn, nhìn tất cả mọi người trông nhà một lượt, giọng thách thức:

“Tôi không việc gì phải nói khẽ. Tôi đến đây đòi nợ chứ không phải để xin tiền bà.”

Quan sát thái độ của vợ, ngay phút đầu ông Hạ đã nghi nghi, bây giờ mới vỡ lẽ: bà này là chủ nợ của vợ ông. Bà Hạ quay đầu nhìn chồng rất nhanh, khuôn mặt sợ hãi trông thật đáng thương.

Bà nắm tay người chủ nợ, nói liều:

“Vâng! Bà cứ về đi: đến sáng mai tôi sẽ đem đến trả bà…”

Người chủ nợ giật tay ra giận dữ:

“Tôi không đi đâu hết. Tôi sẽ ngồi lì đây đến hồi nào bà chạy được tiền trả tôi cả gốc lẫn lãi… Tôi tin vào lời hứa của bà để tôi chết đói rã họng ra ấy à. Hừ! Hứa với hẹn, khất ba lần bẩy lượt rồi chứ phải không đâu.”

Tô đứng dậy lại gần me, trán nói cau nhẹ, mắt nhìn người chủ nợ đầy khinh bỉ. Tô hỏi thẳng mẹ:

“Cái gì thế me? Có thật me nợ bà này một số tiền?”

Bà Hạ nghẹn ngào không nói lên lời, chỉ khẽ gật đầu.

“Bao nhiêu hở me?”

Bà Hạ yếu ớt đáp:

“Hơn bốn vạn!”

Ông Hạ vùng đứng dậy như ngồi phải lửa. Thế này thì quá lắm! Lỗi lầm của vợ ông không thể tha thứ được. Tại sao vợ ông dám tự ý vay một món tiền lớn đến như vậy? Chắc hẳn vay tiền để các con được ăn sung mặc sướng.

Nhưng nhìn khuôn mặt rắn như sành và đanh đá của người chủ nợ, sự thận trọng cố hữu của ông ghìm cơn nóng giận của ông lại. Ông phải thật khôn khéo và dò hỏi xem vợ có làm giấy tờ gì không. Nếu bị tù vì nợ, danh dự của ông, của gia đình còn gì?

Tô ngạc nhiên hỏi mẹ:

“Bốn vạn! Sao me không nói cho con biết? Mà mấy món nợ bà Bốn, bà Chi con đã đưa tiền me trả đầy đủ cơ mà?”

Người chủ nợ giơ tay lên sỉa vào mặt bà Hạ, giọng chua ngoa và đe doạ:

“Gớm thật! Bà có tiền mà bà không chịu trả tôi. Bà định ăn quịt phải không? Rồi bà sẽ biết tay tôi. Con mẹ này không phải tay vừa…”

Tô quay phắt lại nhìn thẳng vào mặt người chủ nợ, giận dữ.

“Tôi xin bà im ngay! Tôi đang nói chuyện với me tôi. Mà bà không cần phải nhiều lời. Chúng tôi không phải hạng người quen quịt nợ. Rồi bà sẽ được trả đầy đủ.”

Người chủ nợ vừa hé miệng định làm dữ, Tô đã tiến lên một bước, giọng cả quyết và đe doạ:

“Nếu bà mà nói thêm một câu thiếu lịch sự, tôi bắt buộc phải mời bà ra khỏi nhà. Đây là nhà chúng tôi. Nợ bà chúng tôi sẽ trả nhưng bà không có quyền làm ồn ào.”

Thấy tình thế có vẻ gay go, ông Hạ vội lại gần người chủ nợ, cười rất xã giao:

“Mời bà vào trong này ngồi chơi. Xin bà yên tâm! Tuy tôi không được biết rõ về chuyện nợ nần của nhà tôi nhưng rồi tôi xin lo liệu. Tôi là chủ gia đình, có gì tôi xin chịu trách nhiệm…”

Người chủ nợ còn lưỡng lự, ông vội thêm một câu:

“Chúng ta là người lớn cả! Đâu mỗi lúc mang nhau ra trước pháp luật. Gia dĩ, chắc khi cho nhà tôi vay tiền bà cũng quên một điều là vợ các công chức không có quyền vay nợ, nếu không được chồng cho phép.”

Biết gặp người thông thạo pháp luật, dù có làm ầm cũng không chắc đi đến đâu, người chủ nợ theo ông vào trong nhà. Ông khôn khéo hỏi cặn kẽ về món nợ của vợ nợ gốc hiện lên đến bao nhiêu, những điều kiện trả lãi và giấy tờ làm bằng chứng.

Sau gần một giờ đồng hồ điều đình, người chủ nợ ra về.

Không khí trong gia đình trở nên nặng nề khó thở, ngay sau khi người chủ nợ rời khỏi nhà. Bà Hạ ngồi cúi đầu gầm ra vẻ chăm chú khâu. Tô thì thầm trò chuyện với me. Bà lẳng lặng nghe, đôi mắt xâu chớp chớp, thỉnh thoảng lại thở dài. Nhưng tiếng thở dài não ruột của bà Hạ càng khiến ông, điên ruột. Di, từ lúc người chủ nợ bước chân vào nhà làm ầm ĩ và lăng nhục mẹ, vẫn ngồi bất động ở bàn học, khuôn mặt nó nhăn nhúm, cánh mũi phập phồng, đôi lông mày rậm nhíu vào nhau.

Ông Hạ mặt hầm hầm, đi đi lại lại trong nhà. Ông thầm nghĩ: “Được lắm! Thường lệ vợ con đoàn kết thành một phe để bênh vực lẫn nhau. Lần này thử xem còn ai bênh vực nổi ai nữa hay không”.

Ông lật đi lật lại chuyện vay nợ trong đầu, nhìn vấn đề dưới đủ mọi khía cạnh, cố tìm một lối thoát khỏi tình trạng tuyệt vọng này của gia đình. Ông cũng không quên một sự kiện hiển nhiên: Vợ ông đã vay một món tiền lớn và đã lại dại dột làm giấy tờ hẳn hoi. Ông đã viện lý lẽ vợ một công chức không có quyền vay mượn tiền không có sự ưng thuận của người chồng để làm kế hoãn binh. Nhưng ông đã phải hứa sẽ trả thành nhiều tháng, vì biết nếu người chủ nợ nhất định kiện vợ ông trước toà, tên ông sẽ bị trưng lên mặt báo. Được toà xử vô can thì không sao nhưng nếu chẳng may bị tù tội…? Ông sẽ không còn hi vọng gây dựng lại sự nghiệp một khi danh dự mang một vết nhơ khó rửa.

“Bốn vạn bạc”. Với số tiền lương của ông dù trả thành nhiều tháng, đến bao giờ mới dứt món nợ. Mà chắc đâu vợ ông chỉ nợ có món đó. Chắc chắn còn vài món nợ khác vợ ông hãy còn dấu ông.

Suốt mấy năm hễ ông dự định làm gì là y như gặp khó khăn. Chưa bao giờ vận ông đen đến thế? Nhiều khi ông đâm nghi ngờ cả tài năng soay sở kinh doanh của ông. Nếu thực ông là người có bản lĩnh tại sao lại gặp hết thất bại này đến thất bại khác. Thoạt đầu ông còn có thể đổ cho vận đen, nhưng dần dần lòng tự tin của ông bị lung lay đến tận cội rễ. Ông tự hỏi “Đen một hai lần chứ đâu có thể đen cả chục lần”. Hay có lẽ ông đã hết thời và bắt đầu già rồi?

Ông Hạ kéo một chiếc ghế, ngồi phịch xuống. Ông giang tay gạt mạnh. Mấy chồng sách, cốc chén văng xuống đất vỡ nát. Tiếng thủy tinh vỡ làm tất cả mọi người ngửng đầu quay mặt về phía ông.

Ông bắt đầu nói, giọng như quát. Càng nói cơn giận của ông càng bừng lên.

Ông hỏi vợ:

“Thế nào! Bây giờ bà nói ra làm sao? Tôi sẵn sàng giỏng tai lên nghe…! Bà vay tiền làm gì mà nhiều đến thế? Mà tại sao bà lại dám dấu tôi…? Bà tưởng bà vay nợ thời không liên can gì đến tôi phải không? Bà nhầm to! Nếu bà không trả nổi, con mẹ chủ nợ mang bà ra toà thì rồi chính tôi, bà nghe rõ chưa, chính tôi sẽ bị trừ lương hàng tháng cho đến khi nào hết hạn nợ…”

Trước những câu hỏi dồn dập bà Hạ không biết trả lời ra sao. Tô bênh me:

“Ba hỏi từ từ, chứ ba quát lên me trả lời sao kịp.”

Ông quắc mắt:

“Tao không nói chuyện với mày! Để mặc me mày trả lời…”

Bị dồn đến bước đường cùng, bà Hạ cũng đâm liều.

“Tôi vay để tiêu cho gia đình… Để mua thêm cái ăn cái uống cho ông cho các con… Để may thêm quần áo cho chúng và mua sách vở chúng cần dùng… Lâu ngày nợ gốc không trả được, lãi chồng lên nhau mới nhiều đến thế.”

“À! … Thế bây giờ người ta không còn coi tôi ra cái thớ gì nữa! Tôi ngồi đây để làm gì? Tôi là phỗng đá hả? Dính đến chuyện nợ nần gỡ ra đâu dễ! Vào tù như chơi. Trời ơi! Vợ với con. Tại sao bà không cho tôi biết từ đầu? Tại sao?”

Câu trả lời của vợ càng khiến ông tức giận thêm, mất hẳn bình tĩnh và tự chủ.

“Nói với ông chẳng ích gì! Ông lại la hét mà rồi con cái đói rách vẫn đói rách…’

“Bà cấm tôi la hét phải không? Từ bao giờ bà cho rằng tôi không đủ sức nuôi gia đình? Bà phải nhớ tôi la hét là có lợi cho bà. Tôi lo lắng kiếm tiền vì ai? Cho tôi à? Dễ thường trong gia đình này chỉ có tôi ăn, tôi tiêu, tôi phung phí tiền bạc… Phải chỉ có tôi ăn báo hại, báo cô…”

Tô bất mãn, ngắt lời bố:

“Ba nói hơi quá! Me chúng con đâu ăn báo hại lúc nào cũng tìm cách kiếm thêm tiền đỡ ba đấy chứ! Me chẳng đi buôn là gì?”

“Đi buôn! Mày đừng nhắc đến chuyện đi buôn nữa mà tao lộn ruột. Suýt nữa què một cẳng, mà lãi đâu? Lãi đâu?”

“Cứ cho là không lãi đi, nhưng ba cũng phải công nhận là me đã làm hết sức rồi…”

“Tôi không cầu ai làm hết sức! Tôi chỉ mong mọi người để tôi yên. Đừng phá tôi, đừng làm nhục tôi, đừng đưa tôi đến cảnh tù tội! Nợ đến hàng chục vạn trả đến kiếp nào mới hết!”

Quay về phía vợ, ông hỏi mỉa:

“Bà tưởng tôi là con trâu kéo cày trả nợ cho bà phải không?”

Bà Hạ tự nhiên ôm lấy đầu, mắt nhắm lại, nước da tái xanh miệng kêu lên:

“Sao tôi chóng mặt thế này…?”

Tô đỡ me nằm xuống giường. Lan chạy vội lấy nước và mấy viên thuốc cảm.

Ông còn cố nói với:

“Sao lại vác cái lo lắng vào người. Vay nợ phải suy tính trước sau chứ…?”

Hình như bị động lực mãnh liệt thúc đẩy, Di vùng đứng lên mặt nhăn nhó, ánh mắt oán ghét. Giọng nói run rẩy:

“Sao ba không thôi đi! Ba nói thế chưa hả hay sao? Ba không thấy me ốm nặng mà còn hành hạ me?”

Ông Hạ hơi ngạc nhiên, nhìn Di. Thằng này điên hả? Dám hỗn cả với bố nó. Ai hành hạ gì me nó? Ông chưa kịp mắng Di, nó đã rảo bước ra khỏi phòng, không quay đầu lại.

Bà Hạ ốm dai dẳng hơn một tuần lễ. Căn bệnh của bà không rõ rệt, không hẳn ra cảm sốt, cũng chẳng phải là cúm. Người bà cứ rạc đi, mắt trũng sâu, không ăn không ngủ được. Mặc các con thúc dục, bà cũng không chịu đi khám bác sĩ và thoái thác: “Me khó chịu soàng thôi mà. Mai khỏi!”

Ban ngày bà tránh nói chuyện với chồng. Đêm đến nằm cạnh ông, bà hay trở mình vật vã, chốc chốc lại thở dài.

Trước đây trong đời sống vợ chồng, những lúc nằm trò chuyện trước khi ngủ là giây phút tương đối gần gũi và thân mật giữa ông bà Hạ.

Muốn biết điều gì về các con ông có thể hỏi vợ và nếu bà muốn bênh vực tranh đấu cho các con thời cũng lợi dụng được mỗi thời gian đó nêu các vấn đề gay go lên mà không e ngại ông gắt và mắng lấp đi.

Dạo này, mặc dầu ông cố ý gợi chuyện, bà cũng chỉ trả lời cho qua, đoạn nằm vắt lên trán mắt nhắm lại giả vờ ngủ. Ông hơi bực mình trước thái độ cách biệt đó của vợ. Vợ ông không có quyền giữ những mối lo âu riêng cho mình. Ông muốn vợ phải hỏi ý kiến, nương tựa vào ông, bám víu vào ông, trong mọi trường hợp.

Cả đêm ông Hạ nghi ngờ tự hỏi: Hay có lẽ vợ ông không còn tin cậy trông mong vào ông như xưa? Vợ ông cũng như các con, cho rằng ông là một người bất đắc chí, hết thời mà vẫn cứ tưởng mình tài giỏi.

Lần đầu tiên trong đời ông hiểu thế nào là cô độc.

Đêm này qua đêm khác vợ chồng ông nằm cạnh nhau, chia cách bởi một bức tường thành vô hình và cùng cảm thấy bất lực như nhau trước số mệnh.

Ông có thể chịu đựng cô độc, nhưng cảm thấy mình bất lực thật là một cực hình ghê khiếp.

Trong thời kỳ bà Hạ ốm đau và dưỡng bệnh, ông nhượng bộ không hề đả động đến nợ nần. Ông kiên nhẫn đợi đến khi vợ hỏi hẳn bệnh. Tuy ông đã giao hẹn với người chủ nợ, hàng tháng sẽ thân hành mang tiền đến tận nhà, nhưng không hiểu tại sao ông lại không cho vợ hay biết sự thoả thuận đó giữa ông và chủ nợ. Hễ có tiếng gõ cửa vợ ông lại giật mình, khuôn mặt nhợt nhạt, nằm trên giường thân hình bất động và chờ đợi…

Hôm vợ gần khỏi, ông Hạ mới kể vắn tắt công chuyện nợ nần đã được giải quyết cách nào. Bà Hạ ngồi yên, đầu cúi, không hé miệng nói một câu.

Ông Hạ tưởng với tư cách một người chủ gia đình, cố gắng thu xếp như thế là hết, không thể chê trách được. Thế mà ông linh cảm hình như các con – nhất là Di và Lan – lại còn đổ hết lỗi cho ông: Lỗi tại ông nên bà Hạ nợ nhiều đến thế, lỗi tại ông nên bà Hạ ốm đau. Sự vô ơn của các con làm ông Hạ thâm gan tím mật. Chúng đã không hiểu ông, tại sao ông còn tỏ ra rộng lượng làm chi?

Khi vợ ông khỏi hẳn và bắt đầu ăn trả bữa, ông lại mang chuyện nợ nần ra nói. Gia đình đã túng thiếu, mỗi tháng lại phải trích 2.000$ tiền lương để trả nợ, nên các sự chi tiêu lại càng phải dè sẻn hơn. Ngay đến thuốc lá rẻ tiền ông Hạ nhiều lúc cũng không đủ tiền mua. Các món ăn quá thanh đạm ông nuốt không nổi. Thời tiết mùa nực khiến nhà biến thành một cái hòm lớn. Hà tiện tiền điện đến nỗi có cái quạt máy cũ ông cũng không dám bật lên. Ăn không được, ngủ không được, ông gầy đi và ngày càng khó tính và khe khắt.

Đêm đến trằn trọc trở mình đi trở mình lại, giấc ngủ vẫn không đến: Ông Hạ dằn vặt vợ, nói những câu mỉa mai như róc thịt. Nằm nghe hoài những lời trách của bố, Di đang đêm đùng đùng dậy mặc quần áo, mở cửa đi đâu không biết, mặc dầu ông Hạ đe.

“Muốn chết hả! Nhà binh đang thiết quân luật, đi lớ quớ lính tuần bắn chết mất xác.”

Những ngày đen tối của gia đình ông Hạ tiếp tục trôi qua. Vợ ông ngày nào cũng phải nghe những lời trách móc dai dẳng của ông, nên tâm tính thay đổi hẳn. Trước kia bà tươi tắn hay cười nói, duyên dáng không ai gặp mà không ưa mến; bây giờ ít nói, ra vào như một cái bóng, lúc nào cũng ngẩn ngơ như người bị một ác mộng ám ảnh. Nhiều lúc bà ngồi thừ người hàng giờ đồng hồ. Đôi khi ông còn bắt gặp vợ khóc một mình.

Trong câu chuyện với các con, dần dà bà Hạ đưa ra những lý luận lời lẽ hơi kỳ lạ.

Bà nhận hết lỗi về phần mình. Lỗi với chồng vì không biết thu va thu vén, tiết kiệm mọi chi tiêu để đến nỗi sợ như chúa chổm, vì buôn bán vụng về không kiếm thêm được tiền nuôi con ăn học đâu ra đấy; vì không khéo léo hoà giải mỗi người trong gia đình nên không lấp được vực sâu oán hận thù ghét nhau giữa chồng và các con.

Bà lại còn bênh chồng “Trước kia ba đâu có thế! Tại me cả! Các con cứ trách me đây này!”Bà còn nhắc lại hồi mới cưới nhau và có con, ông đã chứng tỏ là một người chồng người cha kiểu mẫu thương mến vợ con như thế nào. Các con bà ngạc nhiên, bỡ ngỡ. Không biết chúng có tìm ra nguyên nhân thầm kín đã khiến mẹ chúng thay đổi thái độ hay không, nhưng nể và yêu mẹ, chúng bảo nhau tạm thời tránh đề cập tới những sự “độc ác”của bố. Chúng còn cố gắng tìm đủ mọi cách giúp mẹ quên đi một phần nào cảnh buồn của gia đình. Chúng khôi hài và làm ra vẻ coi nhẹ chuyện nợ nần. Nghe những câu khôi hài của các con, bà Hạ cũng chiều chúng cười đấy, nhưng rồi sau đó buồn và lo lắng hơn.

Về phần ông Hạ, ông không chịu nổi sự khôi hài cười cợt giả tạo và không đúng chỗ đó của các con. Ông cho thế là hèn nhát và trốn tránh thực tại. Nghe chúng bông đùa về chuyện quần áo mỗi người đều cũ và mạng tứ tung, thiếu tiền ăn sáng phải ăn cơm nguội. Di đi học phải lê một đôi giày há mõm, Tô không bao giờ có đến chục bạc trong túi v.v… Ông lộn cả ruột gan muốn tát cho mỗi đứa một cái – như hồi chúng còn nhỏ – để làm chúng tỉnh ngộ. Chúng không biết thế nào là nhục nhã hay sao mà còn cười.

Chiều đến, và các con thích bác chõng ra hiên trước nhà hứng gió và chuyện trò mơ tưởng những chuyện cao xa, tưởng tượng ra những thú vui mọi người sẽ được hưởng nếu có nhiều tiền. Bà Hạ mơ xây được một biệt thự ở Đà Lạt có đầy đủ phòng cho cả gia đình, hoặc hè đến rồi rào tiền nong cho các con ra bể tắm, nghỉ ngơi. Bà còn gợi lại những kỷ niệm êm đẹp của thời con gái sống trong một gia đình khá giả.

Ngồi bó gối lẻ loi trong nhà, xa cách hẳn vợ con, ông Hạ nhiều lần tưởng chừng đang nghe một lũ người điên hay dở người trò chuyện. Mơ mộng hão huyền hoàn toàn xa lạ đối với ông.

Tuy ông Hạ soay sở tìm được mấy chỗ làm cho Tô, giúp đỡ một ông bạn thầu khoán của ông trông nom các tù binh tại một công trường, hay làm bồi cho một sĩ quan Pháp, nhưng hễ ông đưa đề nghị nào ra, vợ ông – thường lệ vẫn phục tòng ông – đều khăng khăng phản đối “Thà để các con chết đói còn hơn làm đầy tớ cho người ngoại quốc”. “Trông nom phu phen thường có kham khổ may ra. Tô còn kham nổi, nhưng đốc thúc tù binh phải đánh đập họ dã man lắm. Vả lại, nếu các bác thằng Tô một ngày kia trở về biết chuyện, tôi còn mặt mũi nào…”

Cho vợ chỉ là đàn bà câu nệ, ông hỏi thẳng ý kiến Tô. Tô nín lặng. Khuyên nhủ nhẹ nhàng, mắng mỏ, Tô lơ đãng miễn cưỡng nghe. Tô đợi khi ông hết lời, buông độc một câu ngắn ngủi “Con chịu thôi. Con không thể làm vừa lòng ba”, ông nản lòng, đành bỏ cuộc. Nhưng, ông đâu ngờ Tô đã ngầm đến gặp ông bạn của bố, nhận một chân phu đốc công trại một công trường bên kia Gia Lâm, trông nom phu mộ ở mấy làng kế cận. Trong mấy tháng liền, Tô xin nghỉ học để “dưỡng bệnh”, đạp chiếc xe cọc cạch qua cần sông cái, làm việc suốt ngày ngoài nắng đến tối mịt mới trở về, ông Hạ cũng không hay biết mảy may.

Mãi đến hôm Tô hỏi me trước mặt người chủ nợ “Con đã đưa tiền me góp trả đầy đủ các món nợ bà Chi, bà Bốn rồi cơ mà…” ông mới nghi ngờ, và sau đó tra hỏi Tô:

“Mày góp tiền trả nợ hộ me? Mày lấy tiền ở đâu?”

“Con giúp bác Phú trông nom phu bên Gia Lâm, mỗi tháng bác trả 1.200$.”

“Sao mày không cho tao biết?”

Tô nhún vai thản nhiên đáp:

“Cho ba biết thì làm sao góp được tiền trả nợ cho me.”

Ông Hạ thầm nghĩ “À ra vậy! Nó đi làm cốt để trả nợ cho me, không phải vì bị mình bó buộc”.

“Hiện thời mày còn làm với bác Phú không?”

“Không! Con xin thôi ngay sau khi trả xong hai món nợ cho me.”

Đôi mắt long lanh sáng của Tô soi mói nhìn bố. Tôi tiếp luôn, miệng thoáng một nụ cười chua chát, khinh thị:

“Chắc ba muốn con đi làm chứ gì? Đáng tiếc, bác Phú đã tìm người thay chỗ con mất rồi. Tuy nhiên nếu ba muốn, còn cái chân bồi hay bếp gì đó ba nói đến dạo trước, còn trống hay không? Kể ra, làm bồi cho một sĩ quan Pháp vào thời này cũng vinh dự cho cha mẹ lắm đấy chứ? Con cũng chỉ bắt chước óc thực tế của ba thuở nhỏ, đâu có gì xấu phải không ba?”

Bất giác ông vung tay tát Tô một chiếc. Tô đưa tay lên xoa má, vẻ mặt đanh lại. Hắn nhìn chăm chăm vào mặt bố, môi mím chặt, những thớ thịt hai bên hàm nổi hẳn lên. Nhưng rồi hắn trấn tĩnh được, gượng gạo nói:

“Xin lỗi ba!”

Tuy miệng xin lỗi, khuôn mặt Tô lại thoáng một vẻ kiêu hãnh khác lạ. Thật trái ngược, ông Hạ cảm thấy trong hai người kẻ thua trận bị lăng nhục lại là ông.

Tô ra khỏi phòng, ông Hạ vẫn ngồi trầm ngâm.

Về phần Di, Di đi về thất thường, nhiều tối không ngủ nhà. Di vẫn đi học nhưng hắn không mấy quan tâm đến bài vở thi cử. Thông minh thứ hạng điểm số của Di luôn luôn dưới mức trung bình. Ông Hạ mắng, Di cúi đầu nghe, vẻ mặt thờ ơ, chịu đựng – một sự thờ ơ còn khiêu khích và hỗn xược gấp trăm nghìn lần những câu phản đối cãi hướng.

Tệ hơn nữa, Di hình như còn định tâm gây ra nhiều chuyện rắc rối cho gia đình, và dĩ nhiên cho chính bản thân nó.

Đầu tiên là chuyện Di gây sự và cãi bướng với một người đội cảnh sát Tây.

Hôm đó ông Hạ đi làm về chưa kịp thay quần áo thời có tiếng gõ cửa. Một người cảnh sát Việt, đứng tuổi, tóc và bộ râu ghi đông cuốc điểm bạc, khuôn mặt vuông hiền lành, bước vào nhà hỏi:

“Đây có phải nhà cậu Di? Xin lỗi ông! Tôi chắc ông là ba cậu Di, vậy xin mời ông lên cẩm làm giấy bảo đảm và đón cậu ấy về…”

Ông hỏi Di bị bắt về tội gì, ông ta cười đáp:

“Cậu ấy đi xe không phanh lại đi trái đường. Ông đội Tây ra lệnh cho tôi bắt cậu ta vào bóp hỏi giấy tờ. Ông đội hỏi tên tuổi giấy tờ cậu ấy chẳng buồn cho biết lại còn cãi bướng “Tôi không có giấy tờ. Tôi không có nhà. Hỏi gì mà lắm thế!” Bị ông đội tát cho mấy chiếc cậu Di trừng mắt lên mắng “Đồ thực dân!” May mà ông đội không biết tiếng Việt. Rồi cậu ấy bảo tôi “Cụ làm ơn dẫn tôi đến phòng giam. Tôi không trả lời đâu”.

Ông ta cười tha thứ, lắc lắc cái đầu:

“Con trai thời này bướng thật! Tù cũng chẳng sợ!”

Ông Hạ cám ơn ông đã bênh vực cho Di. Ông đáp giản dị:

“Đâu có gì! Chẳng là tôi cũng có một thằng con trai tính nết bướng bỉnh chẳng khác gì cậu Di… Nó bị đạn lạc chết hồi Tây Ta đánh nhau trong thành phố…”

Ông thở dài nhỏ nhẹ khuyên ông Hạ:

“Tôi không muốn xen vào chuyện dạy dỗ con trẻ của ông, nhưng có lẽ ông nên răn dạy cậu Di bớt ngang tàng một chút. Nhỡ ra bị nghi là Việt Minh rồi tù tội thì khổ.”

Ông Hạ sượng sùng không biết đáp ra sao. Nếu trả lời người cha yêu con đó “ông cứ bỏ tủ nó đi cho nó sáng mắt ra”, chẳng hoá ông thú nhận không những không dạy nổi con cái mà còn phải nhờ pháp luật trừng phạt để thoả lòng oán ghét của ông.

Sau khi ông Hạ giở hết tài ngoại giao ra xin lỗi viên đội Tây, Di được tha. Di lẳng lặng theo ông về nhà không hề lộ vẻ biết ơn. Về đến nhà ông mắng, Di đáp gọn lỏn:

“Ba đến đón con làm gì cho mất công. Cứ để mặc con bị giam ở bóp có hơn không. Con đâu có sợ! Hay ba tiếc trăm bạc nộp phạt…?”

Ông nổi giận cổ nghẹn tức chưa kịp phản ứng, Di thọc xâu hai tay vào túi, cánh môi trề xuống, buông một câu:

“Mà xin xỏ cái thằng đội Tây đó làm gì! Trông cái mặt thực dân của nó, con chỉ muốn tát chuyện cho mấy cái rồi muốn ra sao thì ra…”

Bà Hạ ngồi gần đó, hốt hoảng nhổm dậy níu chặt lấy cánh tay chồng. Ông gạt vợ ra quăng cái gối xuống đất, giọng đầy khinh bỉ:

Bà không cần phải can. Đánh đứa con bất hiếu vô ơn này làm gì cho bẩn tay. Di! Mày đi đâu thì đi cho rảnh mắt tao…”

Di không nói nửa lời, lầm lũi ra khỏi nhà.

Tô từ đầu đến cuối vẫn ngồi im lặng quan sát bố và Di không can thiệp.

Tối đến ông Hạ trằn trọc mãi không ngủ được. Ông nằm vắt tay lên trán nghĩ ngợi miên man. Xưa nay trong vẫn ghét thậm tệ những tình trạng tranh tối tranh sáng.

Trong một khoảng thời gian ngắn ông đã đánh đập hai đứa con trai. Từ khi chúng bắt đầu lớn và hiểu biết, nhiều khi ông quát mắng chúng, nhưng chưa lần nào phải dùng đến chân tay. Đánh chúng là phải hay trái? Ông có thể tự bào chữa: Chúng hỗn láo và xúc phạm đến ông, đánh là đáng lắm. Nhưng một câu hỏi quái ác vẫn lởn vởn trong trí óc ông. Ông đã khổ công nuôi dạy chúng đến khi khôn lớn, tại sao chúng lại trả ơn bằng khinh bỉ oán ghét, hoặc thờ ơ cách biệt? Dĩ nhiên đôi khi ông cũng đã tỏ ra quá khe khắt và hành hạ chúng đôi chút, nhưng cũng vì bị thúc đẩy bởi thiện ý muốn chúng nên người, đầy đủ bản lĩnh đối chọi với đời. Ông đâu có sống chỉ vì đồng tiền. Sở dĩ ông say mê với tham vọng làm giàu là khổ vì đồng tiền quá nhiều trong thời thơ ấu và tuổi thiếu niên, ông không muốn vợ con ông nhục nhã trong cảnh nợ nần nghèo túng. Các con và kể cả vợ ông không chịu hiểu cho ông điều đó. Mà thực ra có ai chịu tìm hiểu tâm sự thầm kín của ông đâu?

“Vợ và các con ông không chịu tìm hiểu ông!”Tất cả những chuyện rắc rối trong gia đình đều phát xuất từ đấy mà ra. Đã vậy, tại sao ông không giải thích cho họ hiểu? Các con ông lớn rồi, óc phán đoán cũng đủ vững vàng để phân biệt phải, trái. Gặp cơ hội thuận tiện ông sẽ giải thích cho cả gia đình hiểu tâm sự của ông.

Sau hôm bị bố đánh, Di bỏ nhà đi dâu ba, bốn hôm không về. Ông Hạ vịn vào sự vắng mặt của Di, hoãn ít lâu ý định giải thích cùng mọi người trong gia đình. Thực ra ông cũng chưa quyết định hẳn; hễ định mở miệng thổ lộ những tư tưởng thầm kín là y như có một sức mạnh vô hình chặn họng ông. Sau năm hôm vắng mặt Di trở về nhà. Suốt trong bữa cơm chiều ông Hạ trò chuyện với vợ, Lan và Tô làm ra vẻ không lưu tâm đến sự có mặt của Di. Cơm nước xong xuôi ông ngồi ở bàn và tiếp tục câu chuyện dở dang với vợ. Khi ông cố gắng giảng giải là món nợ bốn vạn của bà sẽ trả xong trong năm tới, Di ngồi ở cạnh đó tự nhiên cười khảy một tiếng và nói khá to:

“Tiền! Lúc nào cũng kêu ca thiếu tiền…”

Ông Hạ quắc mắt, giọng đanh lại:

“Thế thì sao?”

Vợ ông lo lắng nhìn ông và Di. Giọng của Di ngầm mang một ý nghĩ thách thức. Tô thấy câu chuyện có vẻ gay go chêm vào, giọng khôi hài:

“Thì kiếm thêm chứ sao phải không me?”

Di mím môi ngồi không yên, dáng mặt nóng nảy. Ông Hạ gay gắt:

“Tôi xin nói để mọi người hiểu là để mặc tôi lo liệu! Hay có ông con nào muốn kiếm tiền thay tôi? Hừ còn là mệt mới thay nổi thằng bố già này…”

Di buông sõng một câu:

“Thật không! Ba cứ làm như kiếm tiền khó lắm…”

“Thưa ông không khó đâu, nhưng cái mẽ ông đi làm phu chưa chắc ai mướn…”

“Nếu ba cần tiền đến thế thì tiền đây!”

…

Mọi người hồi hộp chờ đợi phản ứng của ông Hạ. Ông hơi ngạc nhiên nhìn tập giấy bạc rồi lại nhìn Di. Chẳng lẽ Di thay đổi chóng thế, hết mơ mộng viễn vông và đã chịu khó kiếm việc làm giúp gia đình? Nếu vậy thì hay lắm! Ông sẽ cầm tiền, khen Di mấy câu và tiện thể hoà giải với tất cả mọi người trong gia đình. Đây là cơ hội ông không bỏ qua…

Nếu Tô không khéo can thiệp kịp thời, chắc ông Hạ đã vứt tiền vào mặt Di và đánh Di mấy cái tát. Di tưởng ông không đủ thông minh để hiểu ý nghĩa hành động hỗn sược của nó. Di cho rằng kiếm được một món tiền đưa cho ông, nó đã có quyền khinh bỉ sự tha thiết đồng tiền của bố. Di muốn làm nhục ông trước mặt mọi người.

Khi thấy mặt bố cau lại và rút mạnh tay về, Tô thản nhiên cầm số tiền lên, miệng tươi cười.

“À! Nhà phải ăn khao cái đã! Đây là tiền Di đi làm buổi tối đây mà. Con giao cho me làm một bữa cơm gà vịt ăn cho sướng mồm.”

Di nhìn ông một lần nữa.

Mấy ngày sau tình cờ nghe hai anh em Di, Tô chuyện trò với nhau ông Hạ có dịp biết thêm ít điều mới lạ và khá bất ngờ về ý nghĩ của các con trai ông về chính ông.

Trưa hôm đó sau bữa cơm, ông nằm ngủ ở giường phòng ngoài. Đêm đến ông thường trằn trọc khó ngủ, nên giấc ngủ trưa tuy ngắn ngủi thường vẫn giúp ông lấy sức khá hiệu quả. Ngủ mê mệt được một lúc, ông Hạ chợt tỉnh giấc. Ông không ngồi hẳn dậy, nằm mơ màng, vì đoán chưa đến giờ đi làm. Tiếng Di và Tô rì rầm nói chuyện ở đâu đây. Chúng ngồi ở chiếc bàn phía trong. Ông không nhìn thấy chúng, một chiếc màn ngăn chia chỗ ông nằm và nửa phòng phía trong.

Thoạt đầu ông không lưu ý đến câu chuyện giữa Tô, Di nhưng sau thấy thoáng nghe thấy những tiếng “ba”ông đoán chúng đang nói đến ông. Ông lắng tai nghe. Chắc chúng tưởng ông ngủ say sưa như thường lệ, nên bàn tán không giữ gìn.

Tiếng Tô hỏi Di vẳng đến tai ông Hạ:

“Suỵt! Ba còn ngủ đấy chứ?”

Ông nhắm mắt lại vờ ngủ, cố giữ hơi thở đều đặn. Di vạch màn nhìn sang chỗ bố nằm

Di trả lời ngay:

“Ba ngủ say lắm!”

Chúng tiếp tục câu chuyện dở dang.

Tiếng Tô nhẹ nhàng nhưng nghiêm khắc:

“Tại sao hôm đưa tiền cho ba, Di có vẻ hằn học thế?”

“Em đâu muốn vậy! Mà nếu thật ra em đã có thái độ hằn học, em cũng chẳng cần.”

Giọng Tô châm biếm:

“‘Di đâu có muốn hằn học!’. Di không đùa đấy chứ? Tại sao không thú thật đó là một thái độ cố ý!”

“Anh rắc rối lắm! Em đã bảo em cóc cần mà! Mà tại sao em không có quyền hằn học, nếu em muốn thế!”

“Đấy nhé! Di công nhận Di cố tâm kiếm bằng được một số tiền để có thể “ném”vào mặt ba và có cơ hội bộc lộ tất cả sự hằn học của Di. Đúng thế không?”

“Cứ cho rằng Di công nhận đi thì sao? Anh định đưa câu chuyện đến đâu?”

Tô rành rẽ:

“A! Anh muốn biết sau khi chứng tỏ Di kiếm nổi ra tiền và tự lập, Di có ý định rời bỏ gia đình hay không?”

Im lặng một phút. Di lẩm bẩm chua chát:

“Anh suy luận nhanh nhỉ! Anh tưởng anh đọc rõ những tư tưởng trong óc Di phải không? Phải rồi anh vẫn thường tự phụ rất sành tâm lý mọi người mà!”

“Di cáu với anh đấy hả?”

“Không! Di không cáu khi thấy anh soi mói tâm hồn người khác, nhưng rất ‘bực mình – và – khó chịu’ vì cái giọng làm ra vẻ thản nhiên của anh khi đề cập tới những đau khổ của mọi người.”

Tô láy lại, chế riễu:

“Anh thản nhiên khi nói tới những đau khổ của Di! Lạ nhỉ! Anh có cảm tưởng Di giận anh.”

“Phải nói là Di bất mãn mới đúng! Ừ! Tại sao anh cứ đòi đóng cái vai quan toà hạch tội nhân? Tại sao Di hằn học? Tại sao Di làm thế này, thế kia? Anh đừng quên anh cũng là người trong cuộc! Anh cũng hằn học và oán ghét ba không kém gì em!”

Im lặng. Tiếng Tô lại cất lên:

“Di khó tính lại nhiều tự ái! Làm gì có chuyện ai là quan toà ai là tội nhân ở đây. Có điều Di quên mất là anh và Di tính nết khác nhau. Di hằn học, Di muốn lộ tình cảm đó ra mặt, anh cũng có thể hằn học, nhưng anh dấu kĩ thì sao.”

Ngừng một chút, Tô tiếp giọng thành thật và dịu dàng như muốn làm lành với em:

“Hay bây giờ Di và anh gạt sang một bên những chuyện cãi vã rắc rối về bản chất của anh và Di. Tại sao Di không nghĩ rằng anh hỏi Di chỉ vì muốn tìm hiểu chút ít về Di. Dạo này Di và anh không có dịp nói chuyện với nhau… Anh ngại rằng nhiều điều anh nghĩ về Di có thể sai lầm. Di hình như muốn sống cách biệt với mọi người… với anh. Dĩ nhiên anh không trách móc Di nhưng ít nhất Di cũng phải để mọi người giúp Di chứ.”

Trước những lời lẽ lúng túng của anh. Di ngắt lời:

“Em hiểu anh!”

“Nếu vậy Di nói thẳng ra đi! Có phải vì muốn tỏ ra khinh bỉ ba nên Di đã quyết định bỏ học đi làm kiếm thêm tiền. Trong tuần qua, Di không bước chân đến trường, anh đã làm giấy phép xin nghỉ cho Di, nhưng anh dấu cả me lẫn ba. Di còn muốn đi học nữa hay không?”

Di trả lời, giọng mệt mỏi chán nản:

“Em không biết nữa! Em cũng không rõ sẽ phải nghĩ gì làm gì. Bao nhiêu vấn đề cấp bách phức tạp em cần phải giải quyết. Ngay vấn đề ba và em chẳng hạn!”

Di ngừng một chút, đoạn tiếp giọng cả quyết:

“Em sẽ nói hết anh nghe ý nghĩ của em về ba. Từ dạo tản cứ về ba không ngớt than phiền kêu ca về chuyện tiền. Đối với ba kiếm tiền và thành công là những chuyện quan trọng nhất trên đời. Ba than phiền nhà mình nghè. Ba đe doạ anh em chúng mình sẽ có ngày phải đi ăn mày làm phu phen để kiếm sống. Chuyện này em chẳng phải nói dài, anh cũng rõ như em. Nhưng ba tha hồ mắng nhiếc và hành hạ mọi người, anh và em nhớn rồi cũng đủ sức chịu đựng ba. Miễn là ba đừng đụng chạm đến me.”

Giọng Di nghẹn ngào:

“Em không tưởng tượng nổi, khi hành hạ áp chế một người yếu hơn mình, người ta lại có thể cảm thấy vui thú. Thử hỏi me có tội gì? Từ khi lấy ba đến giờ me ăn bao nhiêu cơm và tiêu bao nhiêu tiền của ba? Lúc nào me cũng tươi cười, nhẫn nhục chịu đựng ba. Ba đâu biết ba làm khổ me đến bực nào. Me không than thở kêu ca, nhưng me khổ ngấm ngầm? Nghe những lời riếc móc ray rứt me muốn khóc mà cũng không dám. Dạo chúng mình còn bé chẳng nhiều lần bắt gặp me khóc thầm là gì? Ba luôn luôn chỉ biết có ba. Ý kiến của ba là nhất ai cũng phải theo. Nếu cưỡng lại ba sẽ tìm cách ép buộc phải vâng theo ba.”

Tô xen vào:

“Di! Di muốn thêu dệt ra những chuyện thực ra không hề xẩy ra hay sao?”

“Thôi Di! Làm sao chúng mình biết được những chuyện thầm kín giữa ba và me. Hơn nữa, nếu kết tội ba một phần nào Di cũng kết tội me. Theo ý anh, không ai hoàn toàn vô tội cả, kể cả me chúng ta.”

Di bướng bỉnh cãi:

“Em không tin me có lỗi!

“Hay em không ‘muốn’ tin thì đúng hơn… Anh yêu me, nhưng cũng không lạ gì tính me. Một khi đã yêu con chiều con, me quên hết mọi thận trọng, tính toán. Me vay nợ lu bù để bù đắp cho chúng ta. Làm sao anh lại có thể trách me yêu các con? Anh tự hào có người mẹ như me! Tuy nhiên gia đình mình sẽ đi đến đâu, nếu me tiếp tục vay nợ? Em thử nghĩ xem?”

Hai anh em lại im lặng. Ông Hạ nằm không động cựa, và không dám thở mạnh. Ông đâu ngờ Di khe khắt với ông đến thế.

“Anh không biết chứ dạo me đi buôn, ngồi ở lớp học em lo lắng ghê rớm. Lúc nào cũng thấp tha thấp thỏm chỉ sợ tầu bị mìn và nhỡ me làm sao mỗi buổi tối thấy me và anh trở về bình yên, em nhẹ hẳn người và mừng không thể tưởng được. Càng mừng em càng thù ghét ba. Tại ba hết! Sau này, me ốm và gãy chân, ba chắc hể hả lắm. Ai bảo mọi người trái lời ba! Trông bộ mặt đắc thắng của ba, em mong me và anh chết cả trong một tai nạn tàu để xem ba phản ứng ra sao. Liệu ba còn sống nổi một mình hay không?”

“Sao Di hay nghĩ ra nhiều chuyện rắc rối làm khổ mình cho mệt. Chỉ vì muốn ‘trả thù’ ba, Di muốn me và anh chết đi hay sao?”

“Em cũng biết nghĩ thế là bậy, nhưng anh đã hỏi em cũng không giấu.”

“Em thật kỳ lạ!”

Di nhắc đi nhắc lại hai chữ “trả thù” Tô vừa nêu ra.

“Trả thù! Trả thù! Có lẽ anh nói đúng! Em thù ba! Ngay từ hồi bé. Anh còn nhớ hồi nhỏ, em đâu bạo dạn như anh. Em rút rát như con gái. Nhưng, tại sao ba không để em yên thân? Ba chế nhạo em, mắng chửi em và không hề quan tâm là tâm hồn một đứa trẻ nhạy cảm và mỏng manh đến mực nào. Dĩ nhiên em khác hẳn tính ba hồi nhỏ. Nhưng, tại sao ba muốn em phải có được bộ óc thực tế sát đất của ba? Tại sao ba muốn em phải sớm đụng chạm với những sự ti tiện của đời sống? Ba khổ thuở bé, nên thấy các con được hưởng một đời sống vật chất và tình cảm tương đối sướng hơn, ba không chịu được!”

Giọng Tô suy nghĩ:

“Em nói cũng có phần nào đúng. Nhưng suy đi nghĩ lại mình cũng khó trách ba được. Nếu lúc bé em hay anh cũng phải khổ như ba?”

Di nóng nảy:

“Em không chịu cái lối suy luận của anh. Anh quá rộng lượng đối với ba. Mình đã khổ sở, thời mình phải cố gắng giúp những người thân yêu khỏi bị khổ như vậy chứ. Không lẽ nếu người khác tát anh một cái, anh sẽ có quyền tát cho người thân của anh một cái hay sao?”

Tô không cãi lại em, Di tiếp:

“Vì vậy hồi nhỏ, và ngay thời kỳ cách đây mấy năm, cứ nghe ba nói mãi, mắng mãi em đâm mất cả tự tin. Em nghĩ có lẽ em là một đứa trẻ bỏ đi và không có một khả năng, đức tính nào hết. Rất nhiều lần em ngồi khóc thầm một mình trong căn phòng xép. Khóc, em cũng dấu mọi người. Em sợ nhỡ ba bắt gặp, em lại phải nghe những lời chế diễu. Em so sánh em với anh, với những đứa trẻ bình thường khác. Càng so sánh, em càng tủi thân và hoang mang. Em tự biết không bao giờ em bạo rạn được bằng anh. Em cũng không ưa thích lối sống hoạt động như anh. Thời giờ của em chỉ dùng để tưởng tượng, mơ mộng hão huyền. Dần dần em đâm ra ít nói, không thích chơi bời với bất cứ ai. Vì em cho rằng, em chỉ là một đứa trẻ bệnh não, gần như tàn tật. Anh xem, chỉ vì ba mà thời thơ ấu của em không còn chút gì là ngây thơ, êm đẹp!”

Di nửa đùa nửa thật:

“Em nói điều này chắc anh không tin. Còn bé, em đã nhiều lần nghĩ đến chuyện tự tử. Không có anh và me, không biết chừng em khó sống được đến nay.”

“Di nhiều óc tưởng tượng quá!”

“Giàu óc tưởng tượng đâu phải lỗi tại em!”

“Dĩ nhiên! Nhưng, anh nghĩ không chừng vì quá giàu tưởng tượng, Di đã gán cho dĩ vãng một ý nghĩ đen tối hơi quá sự thực chăng? Hồi nhỏ em ngây thơ, em đâu đã thù ba ghê gớm đến như vậy. Bây giờ, em mới thù ba đấy chứ!”

Di nồng nhiệt:

“Không! Anh đừng nhầm! Em thù ba bất cứ vào thời kỳ nào – Xưa nay em vẫn thù ba.”

Tô cười nhẹ, chế giễu:

“Di nói thế, anh cũng biết vậy. Nhưng, tính em ấy mà… Hôm nay thế này mai thế khác. Lúc nào cũng cả quyết, nghe phát ớn. Không hiểu sao anh tin rằng một ngày kia Di sẽ hết thù ba. Di sẽ hướng lòng thù hận của Di vào một nhưng khác, hướng khác, cũng hăng hái chẳng kém.”

Di cười khảy:

“Anh lại giở giọng tiên tri gàn rồi?”

Tô, Di cùng im lặng. Ông Hạ tưởng chúng đã trò chuyện xong, nhưng rồi Tô lại lên tiếng:

“Anh cũng đồng ý với Di là ba không dễ dãi với mọi người. Ba ích kỷ độc đoán và nhiều khi rất tầm thường. Nhưng Di phải công nhận một điều: Làm sao thay đổi được ba. Ba cứng rắn như một hòn đá! Anh chắc ba sẽ vẫn như thế mãi, suốt đời ba. Di, me, chính anh, chúng ta một phần nào cũng đã là những ‘nạn nhân’ của ba.”

“Nhưng đó là chuyện ‘ngày xưa’. Hiện tại anh và Di đều lớn cả rồi, không lẽ chịu sống dưới ảnh hưởng của ba. Ô! Tại sao chúng mình không nhìn đời khác đi? Tại sao lại oán và thù ba? Làm khổ mình sống trong những tư tưởng đen tối như Di. Phản đối, trả thù mà làm gì? Ba nói gì mặc ba. Nói lắm cũng mỏi mồm. Di cứ làm như ba không có đấy. Di có đời sống riêng của Di. Di còn phải lo cho tương lai nữa chứ?”

Di ngắt lời anh, giọng gay gắt hẳn lên:

“‘Làm như ba không có đấy’. Nói đến thì ngon lành nhưng trong thực tế đâu dễ như vậy. Anh khéo lý luận lắm nhưng em không rơi vào tròng đâu.”

Tô cất cao giọng một chút, ngạc nhiên:

“Tròng nào? Em nói cái gì đấy anh không hiểu!”

Im lặng.

Tô gặng:

“Di điên đấy à! Di làm như anh dùng lý luận để đánh lừa Di. Đâu có, anh chỉ muốn giúp Di.”

Di nói như khóc:

“Không! Bây giờ em mới thấy chính anh cũng không thể giúp được Di… Vì anh không bao giờ có thể là Di, nghĩ được, cảm được, đau khổ giống hệt Di! Anh là anh, Di là Di! Anh không ghét ba ‘giống’ Di. Anh đâu biết oán hận đã ăn xâu vào tâm hồn em. Dứt đi sao được. Lắm khi em sợ chính nguồn tình cảm mãnh liệt của em. Em không biết rồi đây lòng oán ghét ba của em sẽ đưa em đến đâu… Em muốn bỏ gia đình mà đi. Nhưng thế là hèn nhát là trốn tránh. Em còn cảm thấy ghét ba, em còn nhìn thấy mẹ héo hon, chết dần chết mòn đi. Vì mẹ vì mọi người; em càng thấy rõ ‘Em không thể rời bỏ nơi đây được’. Anh hiểu chưa? Em – không – thể!”

Giọng Tô trầm hẳn xuống, khắc khoải và thương xót:

“Kể ra những điều anh nghĩ về Di cũng không sai lầm bao nhiêu. Anh cũng đoán biết có một nguyên nhân nào, rất quan trọng lôi kéo Di, và giữ Di sống tại gia đình. Nhưng anh cũng đã lầm, khi tưởng đó là tình yêu! Anh không ngờ lòng oán hận đã giữ Di. Không phải tình yêu!”

“Làm sao em phân biệt được tình yêu hay oán hận đã giữ em ở lại gia đình? Mà có lẽ cả hai thứ không chừng?”

Văn học Miền Nam 54-75 

vanviet.info

Trần Doãn Nho

15 Tháng Một, 2021
Post by Sơn râu 23 May 2024

Kỳ 3

Ngút Ngàn

Qua khỏi khu phố chợ khá rộn rịp của vùng ngoại ô, và cái đồn lính có thép gai rào chằng chịt, xe đò bắt đầu đổ dốc. Hai bên đường, nhà cửa thưa thớt dần. Những đồi thông xanh xuất hiện trong tầm mắt. Xuống hết dốc, xe lại nặng nề lên dốc. Buổi chiều không nắng, rơi mênh mang trên cây lá, trên con đường vắng lặng. Phía xa, rừng núi xanh um, mập mờ, ẩn giấu. Nguyên ngồi thật im, trí nhớ thả lỏng, bay đầy những hình ảnh mơ hồ. Ngày tháng dồn lại trong một quá khứ chơi vơi, nhạt nhòa. Thỉnh thoảng, Nguyên kéo cổ áo lên túm lại ở đàng trước. Mấy ngày trở lại đây, trời không mưa, mặt trời có lúc lấp ló, nhưng cái lạnh cắt da cắt thịt vẫn còn thấp thoáng đâu đó, ngây ngấy. Những người trong xe chừng như đều muốn ngồi khít bên nhau, lặng lẽ. Bên ngoài cũng lặng lẽ. Con đường về vùng núi lên dốc xuống dốc chập chùng. Buồn. Những ngày cuối năm dễ mang lại thứ cảm giác xao xuyến kỳ quặc. Nguyên cúi xuống, tẩn mẩn lấy guốc chà nát mấy cái vỏ đậu phụng dưới sàn xe. Lúc ngẩng lên, Nguyên bắt gặp nụ cười của người đàn bà ngồi ở hàng đối diện. Tự dưng, Nguyên cũng mỉm cười. Xe đến một ngã ba, xe quẹo về phía mặt. Đàn Nam Giao quạnh quẽ. Con đường ở bên kia dẫn về dòng Thiên An, vắng thật vắng. Những cây thông xanh ngát đã xuất hiện hai bên đường. Những người trong xe thò đầu nhìn ra ngoài, chỉ trừ người đàn bà trước mặt Nguyên vẫn ngồi im. Khi bà ta đưa tay sửa lại đầu tóc, Nguyên mới để ý thấy vành khăn tang trắng quấn trên đầu, ẩn sau chiếc khăn choàng ấm. Thấy Nguyên nhìn chăm chú, người đàn bà lại cười, nụ cười nửa như có vẻ tự nhiên nửa như muốn tạo một thân mật. Chợt Nguyên thấy thông cảm sâu xa nụ cười là lạ đó. Nguyên muốn hỏi người đàn bà một câu, nhưng lại thôi. Nguyên kéo cổ áo len lên nhìn ra ngoài. Sương mù loang loáng ở đám thông xa. Những con đường mòn đất đỏ ngoằn ngoèo, lạnh tanh, dẫn xuống những căn nhà đâu ở phía dưới, khuất sau cây lá. Sao buồn quá thế này!

Xe bắt đầu đến một khoảng đường bằng. Mấy căn nhà hai bên đường mới sơn phết lại trông như mới. Sửa soạn làm gì ở những vùng vắng vẻ như thế này nhỉ? Người tài xế chợt nói lớn:

– Gần đến cầu Lim rồi. Có ai xuống cầu Lim không?

Nguyên giật mình, đưa tay vuốt lại mái tóc, cầm xách ny lông lên, nhìn phía trước. Người đàn bà trước mặt lại nhìn Nguyên, cười lặng lẽ. Nguyên nói lớn:

– Cho tôi xuống đây.

Nói xong, Nguyên hấp tấp đứng dậy, nhìn người đàn bà cười nhẹ tỏ ý chào. Khi Nguyên bước đến gần, người đàn bà hỏi:

– Cô đi thăm mộ ở đây à?

Nguyên dạ thật nhỏ. Xe ngừng. Nguyên quay lại hỏi người đàn bà:

– Rứa bác cũng đi thăm mộ?

Người đàn bà gật đầu, nói nhanh như thể đã muốn nói từ đầu:

– Thăm mộ đứa con tui. Hắn chết năm ngoái, chết mồng ba Tết.

Âm thanh nằng nặng của chữ “chết” thoát ra từ miệng người đàn bà làm Nguyên chợt rùng mình. Nguyên gật đầu chào một lần nữa rồi hấp tấp bước xuống xe. Xe từ từ chạy. Nguyên nhìn theo, thấy người đàn bà vẫn hướng về phía Nguyên. Nguyên ghé vào cái quán nhỏ bên đường mua mấy thẻ nhang. Bà cụ già nhìn chăm Nguyên:

– Đến bữa ni cô mới đi thăm mộ lận?

– Dạ, mấy bữa trước cháu định đi, nhưng mà nghĩ phải lên đây, cháu thấy buồn quá mệ à!

– Cô đi thăm mộ ai rứa?

Nguyên đáp nhanh như thật:

– Dạ, cháu thăm mộ người anh bà con.

Bà cụ chép miệng nói tội nghiệp. Nguyên chào bà cụ rồi đi. Đến con đường mòn chạy sâu vào trong, Nguyên tần ngần bước chậm lại. Đến lúc này, Nguyên mới thấy lòng mình xao động mạnh. Lối mòn hoang vu này dẫn Nguyên vào nơi yên nghỉ của Xuân đó sao? Lối mòn quanh năm chắc chỉ ghi dấu những bước chân lạnh lùng, thầm lặng. Lối mòn đưa mỗi người đến những gặp gỡ không hình không dáng, đến những thổn thức ứ trào. Có ai rình rập quanh đây không? Có biến cố nào chợt xảy ra làm nổ bùng cái khung cảnh câm nín vô lý này? Nguyên hoang mang nhìn quanh. Cây lá lay động. Một tiếng súng có thể bất chợt nổ lên hay một bóng người lạ hoắc có thể xuất hiện bất thần sau đó với đôi mắt dọa nạt? Nguyên băn khoăn nghĩ tại sao không rủ thằng Thắng đi, tại sao Nguyên lại nhất định đi một mình. Buổi hẹn hò này đâu cần phải sợ có người thứ ba! Vì người thứ hai vốn chỉ là một đồi đất nhỏ bé, tròn trĩnh và những hòn sỏi cọng với một hoài vọng mù mờ. Đôi mắt cay cay, Nguyên đưa tay chặm mắt, bước nhanh. Người đàn ông già đang quét sân, nhìn thấy Nguyên, vội bỏ chổi đi ra. Ông ta lên tiếng:

– Cô bữa ni mới lên thăm mộ há? Tưởng cô đi ở xứ mô rồi chớ. Cái mộ đó tui mới vun thêm đất hôm qua. Chà, mấy bữa trời mưa dầm, đất nó trôi hết. Cách đây chín mười hôm, người nhà có lên thăm, thấy không có cô, tui tính hỏi, mà quên mất.

– Dạ, cháu cảm ơn chú. Chút nữa, cháu ra nói chuyện với chú sau.

Nguyên bước đi. Qua khỏi cổng tre, Nguyên đã nhìn thấy ngôi mộ của Xuân nằm đó. Nguyên bàng hoàng. Những nấm mộ khác lạnh lùng, quạnh quẽ, có nấm đã được vun quén lại, có nấm cỏ mọc xanh, chứng tích của sự bỏ quên, một bỏ quên tầm thường, vô tội mà buồn bã. Những ngọn cỏ nhỏ bé lay động ngu ngơ. Những sự sống nằm trên sự chết. Những khai sinh nằm trên cái tàn rữa, tiêu hủy. Những hiện diện vây phủ những vắng mặt muôn thuở. Sự nối tiếp tình cờ, hợp lý và khó hiểu. Nguyên dừng lại, đứng yên, mắt như mờ đi. Một lát, Nguyên mở ví xách lấy cái khăn tang trắng buộc quanh đầu. Em tầm thường như thế này đây Xuân. Em chỉ quấn khăn tang tại đây, với anh trong chiều nay. Trước khi đến đây, em đã giấu nó, vì em không muốn người ta biết là em đang nhớ anh. Và em sẽ bỏ vào trong ví khi em trở về. Nhưng khăn tang là gì Xuân nhỉ? Nguyên bước về phía mộ Xuân, ngẫm nghĩ lang bang và lại gỡ vội chiếc khăn tang bỏ lại vào trong ví xách.

Đến trước mộ Xuân, Nguyên đặt ví xuống đất, ngồi trên tảng đá cạnh đó. Ngôi mộ chắc đã được người đàn ông đắp thêm đất, sửa sang lại. Ngôi mộ tròn trĩnh với những hòn đá nhỏ lẫn lộn trong đất. Trước đây nửa tháng chắc hẳn cỏ cũng mọc đầy trên đây như mấy nấm mộ đàng kia. Hôm trước, bên nhà Xuân có cho gọi Nguyên cùng đi thăm Xuân và “chạp mã” luôn, nhưng Nguyên từ chối, viện cớ bận. Nguyên chỉ thích đi một mình như thế này. Một mình để ray rứt nhớ tiếc. Một mình để tưởng tượng về một cuộc hẹn hò, dù là thứ hẹn hò mù mịt, quạnh quẽ.

Nguyên vuốt tóc ra sau gáy, nhìn sững tấm mộ bia: Trần Văn Xuân. Trần Văn Xuân, tên anh đó hả? Anh đã mất hết, chỉ còn một cái tên cộng thêm vài giòng chữ ngày tháng sinh khắc sâu trong đá có tô thêm màu đỏ. Thế này sao? Trong trí tưởng Nguyên, Trần Văn Xuân trở về bằng một hình tượng nhòe nhoẹt. Nguyên cúi mặt úp trong lòng bàn tay, mơ hồ nhớ từng dáng nét của Xuân. Bàn tay Xuân cầm chặt tay Nguyên trong đêm tỏ tình đầu tiên gây cho Nguyên một cảm giác xôn xao kỳ quặc. Cảm giác đó giờ như trở lại trong Nguyên thật đầy. Bàn tay Xuân nóng ấm, có những đường gân xanh. Bàn tay đã thận trọng, dò dẫm trước khi nắm chặt bàn tay Nguyên đưa Nguyên đến tuyệt đỉnh xúc động. Sau giây phút đó, trên chiếc ghế đá mát rượi của công viên trước trường Đồng Khánh, Nguyên đã thực sự cảm thấy cuộc đời vừa bắt đầu, kỳ tuyệt như những vì sao run rẩy trong sâu thẳm của bầu trời đêm. Giờ còn gì nữa. Bàn tay Xuân đã rã rời thành những đốt xương khô vô nghĩa trong lòng đất. Cả những ngón chân, cả khuôn mặt, cả dáng nét, cả nụ cười, cả vòng tay ngọt ngào, thân thiết.

Hôm đào xác Xuân, Nguyên đã đứng lặng người chứng kiến sự rã rời đó. Ba người lính vừa xớt một khoảng cỏ, Nguyên đã thấy một đôi giầy ló lên. Có phải Xuân không hay một ai khác? Nguyên vừa hy vọng vừa khẩn cầu hy vọng đó không là sự thật. Đến khi tấm thẻ căn cước, tấm khăn thêu có hai chữ XN, tấm hình Nguyên vàng vọt được lục từ trong túi áo của xác chết, Nguyên mới sững sờ, ngây ngất. Sợ Nguyên xỉu, người ta đã kéo Nguyên đi chỗ khác. Nhưng Nguyên không chịu. Nguyên đứng bên móng cầu tỉnh bơ nhìn người ta đào xới. Mắt Nguyên mở thao láo nhìn người ta moi xác Xuân lên. Không có Xuân. Chỉ có cái đầu lâu với những lỗ hổng, những xương tay, xương chân, xương sườn…Người ta lần lượt rũ trong bộ áo quần ra những khúc xương lì lợm, đen đủi rồi gói từng cái một vào trong những tấm giấy trắng. Nguyên lạnh lùng, bình thản đến mất cả cảm giác. Nguyên nghe như có những âm vang xa xăm vọng lại trong đầu. Trời ơi, Xuân đó sao? Xuân vụn rời, tàn rữa, rụng rơi. Nguyên đứng vòng tay lại. Tâm hồn Nguyên như bay chơi vơi ở một không gian mù mịt nào. Mắt Nguyên ráo hoảnh như chưa hề có nước mắt. Có tiếng réo gọi thảng thốt xa xăm từ một nơi nào vọng lại. Nguyên choáng váng cả người. Đống xương của Xuân được bọc lại bỏ vào hòm và được khiêng lên chiếc xe quân sự. Một lá cờ phủ lên. Nguyên thẫn thờ leo lên xe, mắt đăm đăm nhìn về một phía và không thấy gì hết.

Nguyên ngẩng mặt lên. Nước mắt đã nhòe. Hai bàn tay đã ướt. Nguyên lấy khăn chặm nước mắt. Chiếc bia mộ với những giòng chữ son đỏ nhảy múa, buồn thiu. Nguyên lấy mấy cây nhang đốt lên cắm trước mộ Xuân. Mùi hương thoang thoảng và làn khói quyện tròn làm Nguyên bình tĩnh lại. Nguyên nhìn quanh. Trong đám lau sậy bên kia, có khuôn mặt nào đang ẩn giấu nhìn Nguyên không? Buổi chiều thật lạnh trên khu nghĩa trang. Nguyên kéo cổ áo len lên và chợt rùng mình. Nguyên lấy tấm ảnh chụp bán thân Xuân ra nhìn ngắm. Nhìn ảnh, nước mắt chảy dài trên má Nguyên. Đôi môi của Xuân có vẻ như muốn cười với Nguyên. Đôi mắt Xuân tinh nghịch. Tường Nguyên. Tường Nguyên…Nguyên nhắm mắt lại, úp hình Xuân giữa ngực. Âm thanh réo gọi trong Nguyên, chập chùng, thảm thiết. Âm thanh như toát ra từ một cõi im vắng, khô cằn. Buổi sáng trông anh trên đường. Buổi chiều chờ anh trước cổng trường. Hôm nào giận anh, em bỏ đi trước. Tiếng gọi của anh ở sau buồn rầu, ân hận. Nguyên. Tường Nguyên. Không, em không nghe đâu, anh phải đến năn nỉ, van lơn em mới chịu. Tối mồng một Tết, anh còn đến nhà năn nỉ gọi Tường Nguyên, Tường Nguyên đừng giận anh nữa. Phải chi tối đó, anh khoan về! Phải chi anh đừng vội vã nghe lời kêu gọi của họ mà mặc áo quần đi trình diện!

Nguyên buông lỏng tay. Tấm hình Xuân rơi xuống đất. Nguyên lượm lên bỏ vào trong ví. Những cây nhang đã cháy gần hết. Nguyên đứng trước mộ Xuân chấp tay vái, rồi yên lặng. Bộ quần áo đen của Nguyên hiện rõ trong khu nghĩa trang im vắng, quạnh quẽ. Có tiếng con chim sẻ đâu đó kêu chiêm chiếp thật gần. Nguyên xách ví bước đi. Nguyên vào nhà người đàn ông nói vài câu cám ơn. Người đàn ông xuýt xoa nói:

– Tội nghiệp! Cô chừng ấy tuổi mà đã góa chồng.

Nguyên nói nhỏ:

– Dạ, tụi con mới làm lễ hỏi.

– Ừ! Làm lễ hỏi rồi cũng như đã nên vợ nên chồng.

Nguyên đưa cho người đàn ông trăm bạc rồi chào ông ta, bước đi. Con đường mòn lạnh tanh, buồn bã dẫn Nguyên rời một cuộc hẹn hò đơn độc. Ra đến đường, Nguyên đón xe về Từ Đàm, rồi sau đó, lên xe lam về phố. Những đồi thông xanh, những im lìm hoang vắng đã lùi lại đàng sau cùng với nấm mộ Xuân tẻ lạnh. Dốc Nam Giao thật dài. Nguyên ngồi chụm hai chân, hai bàn tay đặt lên đầu gối trong một dáng co ro buồn. Trí óc Nguyên vẫn còn đọng lại những dòng chữ son đỏ trên tấm mộ bia nhảy múa. Nghe xe sắp xuống hết dốc, Nguyên ngẩng đầu lên, đăm đăm nhìn chiếc cầu gãy đổ hiện dần trước mặt. Xuân đã từng nằm đó với những đốt xương trơ trụi. Một cảm giác tê tái đột ngột làm Nguyên run lên. Nguyên quay mặt nhìn đi phía khác, cố tưởng tượng ra một hình ảnh nào đó không rõ nét. Tuấn!

Đúng là Tuấn. Tuấn với nỗi khao khát kỳ lạ hiện rõ trên khuôn mặt. Tuấn đó, sự thực đó Nguyên. Còn gì mà cứ phải mải miết hoài vọng về một dĩ vãng mù mờ! Nguyên nhìn những người đi đường và chợt xôn xao. Xe chạy dọc theo bờ sông An Cựu. Giòng nước trong xanh, lững lờ. Giòng nước bình yên êm ả quên bẵng ngày tháng. Một năm qua đi như mơ. Một năm rồi, những cái vô nghĩa đã trở thành có nghĩa.

Xe ngừng để khách xuống rồi chạy quẹo qua cầu. Gió lạnh luồn vào xe. Nguyên khép hai đầu gối lại, cố tưởng nghĩ đến một niềm vui. Nỗi ân hận gợn lên, thoáng qua nhanh, Nguyên lấy chiếc “băng-đô” buộc lại đầu tóc. Đường Lê Lợi thênh thang. Hàng cây bên đường đã rụng hết lá. Những cánh áo len bay lưọn bình thản. Đến cầu Trường Tiền, xe ngừng lại đợi đèn xanh. Những đoàn xe từ bên kia cầu nối đuôi chen chúc chạy qua. Đợi một lát, xe lăm rú mạnh leo lên chiếc vài gỗ tạm bợ nối hai nhịp cầu gãy đổ. Cái vài gỗ thô kệch, lì lợm đó là chứng tích lồ lộ còn sót lại của những ngày chiến tranh trong thành phố. Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp bây giờ trông hết sức gàn dở. Một ngày phải đạp xe đạp qua lại cầu vài lần, Nguyên cảm thấy ấm ức tiếc nuối. Trong những ngày mưa dầm dề, cầu Trường Tiền nằm im lìm, buồn đến không chịu được.

Qua khỏi cầu, xe lam quẹo về phố. Phố xá những ngày cuối năm rộn rã, dập dìu. Một năm đã qua rồi đó. Những vết đổ vỡ, nám đen của các căn phố vẫn còn, nhưng dường như không đủ để gợi lại đậm đà những tang thương cũ. Tự dưng, Nguyên mỉm cười vu vơ. Xe dừng lại, Nguyên trả tiền, hấp tấp leo xuống. Nguyên lục ví tìm lược chải đầu. Chiếc khăn tang trắng dồn lại một chỗ. Nguyên chợt nghe lòng mình xao động. Còn gì mà phải hoài vọng mải miết về một dĩ vãng mù mờ!

Nguyên đi dọc theo hè phố. Những nụ cười chào. Những cái vẫy tay thân quen. Nguyên bỗng muốn chào hỏi tất cả mọi người. Họ đó, họ ở trước mặt, họ ở chung quanh. Họ còn mở môi, còn liếc nhìn, còn vẫy tay. Phải chăng nên trở lại với đời sống và quên đi nỗi chết hoang vắng âm u? Khu nghĩa trang quạnh hiu với nấm mồ Xuân tròn trĩnh bỗng trở lại đột ngột trong trí tưởng. Nguyên cắn môi nghĩ đến sự quên lãng chóng vánh của con người. Mọi người ở đó, đang vui sống, còn ai đang nhớ đến những người đã vĩnh viễn rời bỏ họ, rời rã trong lòng đất? Như Xuân. Còn ai trong giờ này còn nhớ đến Xuân? Nguyên đột ngột cảm thấy ân hận. Bước chân Nguyên chùng lại.

Tường Nguyên Tường Nguyên Tường Nguyên…Tiếng gọi reo vui của một người. Nguyên nhìn về phía tiếng gọi. Tuấn! Tuấn dừng xe lại bên lề đường nhìn Nguyên cười tươi. Nguyên cũng mỉm cười. Một niềm vui vừa chợt trở lại, xóa nhòa nỗi băn khoăn. Tuấn nhìn Nguyên đăm đăm, khuôn mặt rạng rỡ như bình minh. Sự thực đó mà Nguyên, Nguyên nhủ thầm. Tuấn xuýt xoa:

– Chà, Nguyên lại mặc áo đen nữa. Đã đẹp đã buồn lại càng đẹp với buồn!

– Gặp anh lúc nào cũng nghe được chừng đó. Bộ Nguyên không biết anh đang mỉa Nguyên sao?

Tuấn dựng xe lại, đến đứng trước mặt Nguyên:

– Ai dám mỉa Nguyên. Anh thấy sao anh nói vậy mà. Nguyên định đi đâu đây?

Nguyên định nói thật là vừa đi thăm mộ Xuân về, nhưng lại thôi. Nguyên cười nhẹ:

– Chẳng định đi đâu cả. Ở nhà buồn buồn, Nguyên mặc áo quần đi xem thiên hạ sắm Tết.

– Nguyên không sắm Tết sao?

– Thôi, Nguyên ngán lắm rồi. Như năm ngoái, sắm được bao nhiêu phải bỏ lại bấy nhiêu mà chạy. Nghĩ lại Tết mà còn rùng mình. Bộ anh chưa ngán Tết hả?

Tuấn nói, giọng quả quyết:

– Anh chắc là không thể có thêm một Mậu Thân thứ hai nữa đâu.

Nguyên im lặng sửa lại cái “băng-đô” trên đầu tóc. Có bất trắc nào được biết trước đâu? Mồng Một Tết còn đi chơi với Xuân, tối mồng Một còn nghe Xuân gọi Tường Nguyên Tường Nguyên, thế mà sáng hôm sau là tất cả đều mất hút, vụn nát. Nguyên nhìn Tuấn, cố cười thật tươi:

– Thôi, bỏ qua chuyện đó đi. Bây giờ anh đi đâu?

– Đi lang thang như Nguyên vậy. Gặp Nguyên mừng ghê đi.

– Thật không?

– Thật chớ sao không.

– Vậy bây giờ anh đưa Nguyên đi chơi nhé, chịu không?

Một tia vui đã thấy trong mắt Tuấn. Tia vui chạy nhanh trên khuôn mặt và vỡ ra thành nụ cười:

– Nguyên không đùa bỡn với anh chứ?

Giọng Tuấn nửa xôn xao nửa dè dặt. Nhìn thái độ của Tuấn, Nguyên bỗng cảm thấy thích thú. Nguyên đang cố tạo ra một nỗi vui tạm bợ để khỏa lấp một hình ảnh hay đang thực sự đón nhận một bắt đầu mới mẻ? Chút băn khoăn vụt tan biến khi Tuấn mời Nguyên ngồi lên xe. Nguyên ngồi sau Tuấn, cố giữ một khoảng cách với thân thể Tuấn. Có ai quen đang trố mắt nhìn Nguyên và nghĩ về Nguyên với những ý tưởng không đẹp? Người ta sẽ cho rằng Nguyên quá vội vã khi bắt đầu một cuộc tình mới? Cũng không sao. Mỗi người có một tư riêng. Trong những giờ phút nào đó, mỗi người có quyền bất chấp tất cả để sống với tư riêng của mình chứ. Nhưng tư riêng của Nguyên như thế nào đây? Là những niềm vui tình cờ khỏa lấp dĩ vãng? Hay là nỗi băn khoăn giữa một nấm mồ lạnh và một nụ cười vui? Nguyên vụt bật cười:

– Đi đâu bây giờ anh Tuấn?

– Anh cũng đang định hỏi Nguyên đó.

Nguyên cố làm ra vẻ nghiêm nghị:

– Nguyên cho phép anh đưa Nguyên bất cứ đâu.

Tuấn cười rú xe chạy. Nguyên cố gượng người để luôn có một khoảng cách nhỏ với Tuấn, một khoảng nhỏ cần thiết. Tuấn cho xe chạy nhanh ra khỏi phố. Tuấn quay đầu lui nói:

– Thực tình, anh chẳng biết đi đâu bây giờ.

Đi đâu? Nguyên cũng không hiểu rõ mình đang muốn đi đâu và làm gì. Giữa khuôn mặt khao khát cùng với những bày tỏ nhiệt liệt của Tuấn và nỗi vui tình cờ của Nguyên khi gặp Tuấn vẫn còn một khoảng cách. Từ lâu, Tuấn vẫn chưa dám vượt qua. Còn Nguyên, ngay cả bây giờ, Nguyên không thấy mình nôn nao chờ đợi chi hết. Tuấn, sự thực trước mắt Nguyên đó. Nguyên gặp Tuấn trong ngày đưa đám Xuân. Những an ủi, những săn đón của Tuấn lúc đầu thực vô nghĩa. Nhưng dần dà, chúng làm Nguyên xúc động. Cho đến một lúc nào đó, Nguyên mơ hồ nhận ra sự hiện diện của Tuấn bỗng có một ý nghĩa đối với Nguyên. Có lúc, Nguyên đã quên bẵng Xuân để rồi sau đó nghĩ lại, Nguyên ân hận, vùi mình vào những nuối tiếc ray rứt. Nhưng Tuấn vẫn có mặt quanh Nguyên. Những buổi sáng những buổi chiều. Những biểu tỏ nhẹ nhàng nhưng tha thiết. Như hôm nay, Nguyên đã một mình đi tìm kiếm những hình ảnh cũ để được xót xa. Và khi trở về lại gặp Tuấn. Tuấn, em đang lợi dụng anh để quên hay thực sự là em muốn dứt khoát quên hẳn tất cả để lại bắt đầu?

Tuấn chạy xe vào Thành Nội, qua những con đường vắng và buồn, rồi lại chạy ra phố, qua bên kia cầu Tràng Tiền. Buổi chiều lờ đờ, mênh mang. Những câu chuyện bâng quơ, nhập nhằng, đứt khúc. Nguyên cảm thấy mệt mỏi, nhưng không muốn về. Những điều Tuấn nói bỗng không còn gây cho Nguyên một thích thú nào nữa. Nguyên cảm thấy lạnh. Tâm hồn Nguyên chừng như bay ở một vùng sương khói nào! Một buổi chiều qua đi. Tết sẽ đến. Có gì sẽ xảy ra nữa không? Tuấn im lặng một lúc lâu. Tuấn đang nghĩ gì? Đang trù tính bày tỏ những lời tha thiết mới bạo dạn hơn và rõ ràng hơn? Hay đang chán nản vì thái độ của Nguyên.

Buổi chiều thấp xuống, tàn dần. Qua khỏi Ty Bưu Điện, Tuấn chạy xe chậm, rẽ vào một con đường nhỏ, dừng lại. Tuấn nói:

– Đi đâu nữa Nguyên? Nguyên mệt chưa? Đã muốn về chưa?

Nguyên im lặng, suy nghĩ. Một lát, Nguyên đáp:

– Về cũng được mà đi nữa cũng được.

Tuấn quay mặt nhìn Nguyên cười:

– Tụi mình vào quán nước gần đây nhé. Nguyên chịu không?

Nguyên gật đầu. Tuấn dựng xe, đưa Nguyên vào một quán nước vắng người. Tuấn uống cà phê. Nguyên uống nước ngọt. Tuấn im lặng nhìn vơ vẩn, thỉnh thoảng cầm ly cà phê xoay xoay trên bàn. Nguyên hớp từng ngụm nhỏ nước, nghĩ bâng quơ về những ngày tháng buồn vui, những hạnh phúc đến và mất hút. Những chờ đợi buồn bã. Sao Tuấn không nói gì đi Tuấn?

Tuấn nhìn thẳng vào Nguyên khuôn mặt thấp thoáng những nét buồn. Một lát, Tuấn thở ra, rồi nói:

– Đời sống nhiều khi bị dĩ vãng ám ảnh quá hả Nguyên? Có những điều mình muốn nói lại không nói được. Có những việc muốn làm cũng không làm được. Nguyên có nghĩ như vậy không?

Nguyên cười nhẹ:

– Cũng có thể đó anh.

Khuôn mặt Tuấn chừng như trầm xuống. Nguyên bỗng cảm thấy tội nghiệp cho Tuấn tội nghiệp cho mình. Dĩ vãng thì ích gì mà người ta cứ bị dày vò mải miết? Tuấn hớp một ngụm cà phê, nói:

– Hồi chiều mới gặp Nguyên thấy vui quá sức. Bây giờ lại thấy buồn.

– Đi với Nguyên anh buồn hả?

– Không. Có lẽ vì thấy Nguyên buồn.

Nguyên cảm thấy xúc động. Buồn thật. Những niềm vui tình cờ qua mau. Mỗi người ưa thích trở lại với chính mình, ray rứt. Một cái thú đau thương. Tuấn đứng dậy trả tiền rồi rủ Nguyên đi. Bóng tối đã phủ xuống. Bây giờ, Nguyên mới chợt cảm thấy mình liều lĩnh. Hai người đi sát cạnh nhau. Trong một thoáng, Nguyên nghe trong lòng xao động. Một cảm giác lạ hoắc chạy dài trên cơ thể. Tuấn bỗng nắm bàn tay Nguyên. Nguyên để yên. Bàn tay lạnh đang bóp nhẹ những ngón tay Nguyên. Nguyên nghe hơi thở dồn dập của Tuấn bên tai. Bỗng Nguyên đột ngột nhớ đến bàn tay nóng ấm của Xuân. Bàn tay đã đưa Nguyên bay vút lên cao, kỳ diệu của một buổi hẹn hò nào. Xuân, Xuân đó sao?

Nguyên giật mình, rút nhẹ bàn tay khỏi Tuấn. Nguyên cúi đầu xuống, bước thật chậm, tâm hồn mênh mang. Tuấn im lặng. Có một cái gì rơi hẫng đâu đó, không hình dáng. Một cái gì tan vỡ thật nhẹ, buồn buồn. Nguyên kéo cổ áo len lên, rùng mình. Âm thanh một tiếng gọi xa xăm vang vọng. Như một gợi dậy tha thiết. Như một hoài vọng ngút ngàn.

(Tạp chí Vấn Đề, Sài Gòn, số 32, tháng 3/1970)

đàm thoại với nhà văn Trần Doãn Nho

Lương Thư Trung (LTT):

Anh Trần Doãn Nho thân mến,

Nhớ lần đầu gặp anh cách nay 13 năm, nhơn tôi đi dự buổi ra mắt thi tập Thơ Tuyển của thi sĩ Tô Thùy Yên tổ chức tại Boston (Massachusetts), năm1998, lúc bấy giờ nhà văn Trần Hoài Thư giới thiệu anh, trước năm 1975 có viết trên tạp chí Văn ở Sài Gòn. Vậy xin anh có thể chia sẻ một chút là anh có bài đăng trên Văn từ lúc nào và ngoài tạp chí Văn, lúc bấy giờ anh còn cộng tác thêm với tạp chí văn học nào nữa không, thưa anh?

Trần Doãn Nho (TDN):

Mến chào anh Lương Thư Trung,

Bài đầu tiên đăng trên Văn là một bài thơ, vào mùa hè năm 1967, trong một số chuyên về Thơ, đặc biệt giới thiệu nhà thơ Nga Eugène Evtouchenko. Truyện ngắn đầu tiên đăng trên Văn là vào đầu năm 1969 và sau đó thêm vài truyện nữa. Ngoài truyện, tôi cũng có viết tiểu luận văn chương và điểm sách cho Văn và Tân Văn (cũng do Trần Phong Giao chủ trương).Ngoài ra, tôi có truyện in trên Vấn Đề (Mai Thảo chủ bút), Bách Khoa, tiểu luận và thơ trên Khởi Hành (Viên Linh chủ bút) và một số bài thơ và truyện trên Đối Diện.

LTT:

Tôi có đọc truyện ngắn Con mắt thủy tinh trên Văn số 132 ngày 15-6-1969 có chủ đề “Phượng trong thành nội” với nhân vật chính là Trang với đoạn văn mở đầu: “Khi lật đến bản nhạc “Tình Khúc Thứ Nhất”, Trang bổng đột ngột nhớ đến Quyền, cô nữ y tá Tổng-Y-Viện Cộng Hoà . Dáng cô bé nhỏ nhắn như quá lỏng lẻo đàng sau cái “blouse” rộng thùng thình. Trang gọi đùa cô bé là con mèo. Cô bé cười, mắt nhấp nháy nửa muốn cười nửa trông thật buồn…” ; để rồi anh kết sau hơn 12 trang báo in với những dòng cuối quả là buồn: “Trang hoảng hốt. Chưa bao giờ Trang thấy khuôn mặt mình quái đản như vậy. Đột nhiên, Trang có cảm tưởng nó không phải của mình, nó xa lạ, kỳ dị. Trang hấp tấp gắn mảnh thủy tinh vào lỗ hổng con mắt, rồi đi nằm. Suốt đêm, Trang bị ám ảnh bởi khuôn mặt của mình, không ngủ được.”
Thưa anh, anh có còn nhớ anh viết truyện này trong hoàn cảnh nào không?

TDN:


Nhân vật trong truyện là một người ở chung phòng trọ hồi tôi vào học ở Sài Gòn. Anh ấy là một thương binh, được giải ngũ. Trong hoàn cảnh chiến tranh vào thời kỳ cao điểm (1968,1969), trở thành thương binh, được giải ngũ và được lãnh tiền lương hàng tháng, trong điều kiện toàn thân lành lặn, chỉ có mất một con mắt, anh ấy, theo tôi, là quá may mắn. Tuy nhiên, theo như lời anh ta tâm sự, anh không cảm thấy may mắn như tôi nghĩ. Đó là bối cảnh của câu truyện. Anh bạn này, sau khi đọc xong truyện, kết luận một câu (mà tôi còn nhớ mãi): mấy nhà văn thường hay khai thác nỗi đau khổ của người khác để nổi tiếng!

LTT:

Là một tác giả viết văn lâu năm, anh nghĩ sao về lời kết luận của anh bạn này? Có phải nhà văn muốn khai thác nỗi đau của người khác hay chỉ vì cảm thông với nỗi đau của người khác mà viết nên những dòng chữ chan chứa nỗi đau?

TDN:

Anh hỏi, mà thực ra là anh đã trả lời thay cho người viết. “Nỗi đau” riêng của người khác, cũng như nỗi đau của chính mình, nói cho cùng, đều là là chất liệu, là kinh nghiệm nhân sinh mà người viết cần có để chế biến thành tác phẩm. Sáng tác, hiểu theo một nghĩa nào đó, là một nỗ lực biến nỗi đau riêng thành nỗi đau chung. Nói cho cùng, nếu không có những nỗi đau, có lẽ cũng không có văn chương.Tuy nhiên, riêng tôi, tôi cảm thông được tâm trạng của anh bạn chung phòng. “Con mắt thủy tinh”, dù chỉ sử dụng một số chi tiết điển hình từ anh ấy, cũng chạm đến nỗi đau riêng của anh. Chạm đến nỗi đau riêng đôi khi tạo ra một nỗi đau khác.

LTT:

Như anh viết : “Chạm đến nỗi đau riêng đôi khi tạo ra một nỗi đau khác”, anh làm tôi nhớ tới phần tiểu thuyết tâm lý với tiểu thuyết gia Marivaux (1688-1763) thuộc thế kỷ XVIII, qua hai tác phẩm La vie de Marianne và Le Paysan parvenu, mặc dù ông không thoát được ảnh hưởng các tiểu thuyết gia thế kỷ trước, nhưng ông đã đưa ra được khía cạnh mới là đi sâu vào việc tìm hiểu tâm lý nhân vật với các khía cạnh phức tạp trong tâm tình của mỗi nhân vật ấy; tất cả nó có liên đới với nhau giống như khi người ta ném một hòn đá xuống một hồ nước, gây nên những gợn nước làm thành vô số vòng tròn đồng tâm, và tâm lý nhân vật khi gặp một sự thể nào đó thì nó cũng phản ứng liên tục vào tâm trạng của họ như vậy. Anh có thể nói thêm một chút về “những nỗi đau khác” ấy được không, thưa anh?

TDN:

Nỗi đau khác đây không phải ở nhân vật tiểu thuyết. Tôi đề cập đến tâm lý thông thường của người đời. Từa tựa như “khơi lại vết thương lòng”. Khơi lại một nỗi đau có thể không làm người ta đau lại cùng một nỗi đau, nhưng tạo nên một nỗi đau mới, “nỗi đau của nỗi đau”. Cách hiểu của tôi có lẽ không khác lắm với hiệu ứng vòng tròn đồng tâm trên mặt nước khi có một vật thể chạm vào, của Marivaux. Trở lại với trường hợp người bạn chung phòng. Anh ta tên Trang và tôi đã sử dụng tên thật của anh trong truyện. Anh ta có hỏi tôi, giọng tỏ ra bực bội: Sao không dùng một tên khác mà lại dùng ngay tên tôi? Tôi đáp cho qua chuyện: tôi thích tên Trang. Thực ra, dùng ngay chính tên của anh giúp tôi dễ tưởng tượng hơn. Nghĩa là tạo ra một liên hệ giữa nhân vật thực và nhân vật ảo. Đây là một kinh nghiệm riêng: khi sử dụng chất liệu của một ai đó ngoài đời, nếu ta dùng ngay tên người đó, tôi cảm thấy dễ viết hơn. Có lẽ do ta có một “cái gì đó” để bám víu trong khi đầu óc mình đang phiêu diêu vào cõi hư cấu chăng?

LTT:

Đó là chuyện văn, bây giờ thử đề cập đến chuyện thơ. Tình cờ tôi đọc được bài thơ “Lịch sử” của anh trên tạp chí Đối Diện (1968) với hai đoạn cuối, anh viết:

……

nhưng lỡ tim em bị thủng
em hãy cố mở mắt ra nhìn ánh mặt trời
hay nhìn một vì sao
hãy nhớ đến vài người thân yêu nhất
hãy nhớ nụ cười thần thánh của tình nhân
nếu còn sức thì nhớ thêm vài thằng bạn
rồi nhắm mắt ngủ yên như cỏ như cây

em cứ yên trí đi
vì những người còn lại sẽ ghi lên giấy
em là một anh hùng
một anh hùng vô danh trong những anh hùng vô danh
của lịch sử đó em”.

(Đối Diện, 1968)

Và một bài nữa, cũng trên Đối Diện cùng năm, “Những đứa con của Chúa” mà anh dùng ba câu mở đầu bài thơ làm ba câu kết bài thơ:

lạy Chúa, nếu quả thật có Chúa trên trần gian
xin Chúa hãy ban cho loài người một nụ cười
và đừng bao giờ thêm một lời phán xét

……..

lạy Chúa, nếu quả thật có Chúa trên trần gian
xin Chúa hãy ban cho loài người một nụ cười
và đừng bao giờ phán xét.

(Đối Diện, 1968)

Nhưng có lẽ bài thơ “Cuồng ngâm” (ký tên Trần Hữu Thục) trên tạp chí Văn năm 1967, kỷ niệm Đệ Tứ Chu Niên xin ghi lại dưới đây; ở đó có chút gì khơi gợi lại lớp thanh niên trai trẻ nơi thành thị lúc bấy giờ luôn băn khoăn trăn trở về thân phận của chính họ giữa những mùa chinh chiến ngập tràn:

Cuồng ngâm

Có một lần ta nhìn sao rụng xuống
Ta ngỡ ngàng nghe thân thể vỡ tan
Ta cúi xuống và không tìm ra ta nữa
Không có ta không có ta cả đến nghìn năm

Ôi lịch sử, ta đã là lịch sử
lịch sử trên tay ta lịch sử trên tóc ta
nghìn năm sau và một nghìn năm trước
có ta rồi và cũng chẳng có ta

cho ta làm tất cả những người đã chết
cho ta làm bóng tối cho ta làm cây xanh
cho ta chết để không bao giờ chết nữa
chỉ có ta một mình chỉ có ta một mình

cho đập vỡ muôn ngàn ngôi cổ mộ
đập vỡ đền đài đập vỡ cả trời mây
để ta nghe một mình con dế mèn ca hát
một mình con chim đập cánh tung bay

có một lần nhìn trời sao ta khóc
ta thẩn thờ đi tìm một khoảng không gian
một khoảng không gian không buồn không tủi
không đau thương không giận không hờn

cho ta đừng bao giờ còn bộ óc
đừng giận đừng vui đừng khóc đừng cười
cho ta ngủ yên dù ở một nơi nào trên mặt đất
ta ru cây cỏ ta ru loài người

đừng nhắc ta về một dòng sông sầu thảm
đừng nhắc ta một lần lập quốc một thuở xâm lăng
đừng nhắc ta một lần thua một lần chiến thăng
gì là nhục nhã gì là oai hùng!

lịch sử ơi lịch sử buồn như bóng tối
nào có gì để bớt có gì để thêm
lịch sử ơi ta đã là lịch sử
lịch sử buồn ôi lịch sử không tim.

(VĂN, 1967)

Vào những năm tháng ấy, dường như học sinh, sinh viên phần lớn đều có đọc cuốn “Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ và Triết Học” của Phạm Công Thiện, cũng như quyển “Tự Do Đầu Tiên và Cuối Cùng” của Krishnamurti do Phạm Công Thiện dịch mà nội dung cuốn sách thứ hai này bao gồm nhiều vấn đề liên quan đến kiến thức, nỗi cô đơn, nỗi đau khổ, về chiến tranh, về tín ngưỡng nơi Thượng Đế, về Thượng Đế, về tình yêu, về thời gian, về sự chết và nhiều lắm những chủ đề có liên quan đến con người cùng hoàn cảnh chung quanh vây bọc lấy con người… Xin anh vui lòng cho hỏi thêm một chút là các bài thơ vừa trích của anh đuợc anh sáng tác trong hoàn cảnh nào? Và anh có chịu ảnh hưởng phần nào bởi các tác phẩm vừa nêu của Phạm Công Thiện, của Krishnamurti hoặc của các triết gia nào khác vào những năm 1960-1970 không, thưa anh?

TDN:

Chắc chắn là có anh Trung à. Nhưng không phải chỉ Phạm Công Thiện hay Krishnamurti, mà của nhiều luồng tư tưởng khác nhau: hiện sinh, thiền, phân tâm, tính dục…Không những đọc sách báo ở ngoài mà còn được học qua trong trường. Lúc đó, tôi đang học triết.

Nhưng tác động lớn nhất là hiện thực chiến tranh. Anh biết, năm 1967 là năm cao điểm của cuộc chiến Việt Nam với sự hiện diện của gần nửa triệu quân Mỹ. Nhiều và rất nhiều trận đánh ác liệt diễn ra trên khắp miền đất nước để rồi đầu năm 1968, chiến tranh diễn ra ngay ở thành phố với trận Mậu Thân. Suốt 26 ngày ở Huế đầu năm Mậu Thân, tôi sống trong và sống với chiến tranh. Bom đạn và chết chóc diễn ra ngay trước mắt, ở quanh nhà, trên đường phố…Nếu không may mắn, có lẽ tôi cũng đã trở thành nạn nhân chiến tranh. Tuy được hoãn dịch (học vấn) nhưng chung quanh tôi, bạn bè, bà con, hàng xóm láng giềng đều lần lượt đi vào quân đội. Cuộc tử sinh không còn là vấn nạn triết lý và là vấn nạn của đời sống.

Nếu “Cuồng ngâm” chứa đựng một thứ tuyệt vọng siêu hình (và có vẻ làm dáng) thì hai bài kia làm sau Mậu Thân, là tâm trạng thảng thốt thực sự. Mọi lạc quan về một đất nước hòa bình gần như đổ vỡ. Không chỉ thơ mà hầu hết các truyện ngắn tôi viết trong thời gian này đâu đó trên các tạp chí đều phảng phất tâm trạng đó. Và không phải chỉ mình tôi, mà hầu hết sáng tác của “những cây bút trẻ” (cụm từ mà tờ Văn gọi những người viết mới chúng tôi) đều như thế. Nhất là những cây bút vừa cầm súng vừa viết như Y Uyên, Trần Hoài Thư, Lê Bá Lăng, Lê Văn Thiện…Khác với tôi là dân thành phố nhìn chiến tranh với cái nhìn (y như) của một kẻ đứng ngoài, truyện của họ hừng hực khói lửa, đầy máu và nước mắt. Họ viết về hiện thực và chẳng cần bất cứ một triết lý nào, anh Trung ạ. Đọc lại thơ và truyện sáng tác thời đó (qua mấy tập thơ, văn miền Nam do Thư Ấn Quán tái bản gần đây), ta thấy rõ điều này.

Theo tôi, đó thực sự là một nền văn học chiến tranh với tất cả những hiện thực sống động của nó. Bi thảm nhưng tràn đầy nhân bản. Hoàn toàn khác hẳn với nền văn học tuyên truyền của miền Bắc.

LTT:

Với nhà thơ Âu Thị Phục An, trong bài trò chuyện vừa qua trên Da Màu chị cho biết, chị có truyện đăng trên Văn lần đầu nhưng sau này chị lại làm thơ nhiều; còn anh thì ngược lại, có thơ đăng lần đầu trên Văn nhưng sau này anh lại chuyên viết truyện. Theo anh, đây chỉ vì sở thích hay cái nghiệp của mỗi người ?

TDN:

Nói “nghiệp” nghe nặng nề quá. Viết lách nói chung, theo tôi, chỉ là một cái thú, thú bịa chuyện. Viết văn thì có nhiều điều để bịa hơn thơ. Thành thử, tôi thích viết văn hơn làm thơ. Nói thiệt với anh, tôi đã gửi năm, ba truyện ngắn cho Văn trước đó, nhưng không được chọn đăng. Không những ở Văn, tôi còn gửi cho vài ba tạp chí văn học khác như Văn Học hay Nghệ Thuật nhưng cũng đều bị từ chối. Chán nản quá, tôi gửi thử bài thơ. Và được chọn đăng. Một thời gian sau đó, ước ao của tôi mới được thỏa: truyện ngắn “Ngày tháng cằn” được đăng ở Văn số 121, kỷ niệm Đệ Ngũ Chu Niên. Cũng phải trải qua đôi chút “gian nan”, như tôi đã có dịp ghi lại trong “ Một chút Trần Phong Giao” trên Da Màu. Mà nghĩ cũng lạ, hồi đó, chỉ khi nào có bài được in ở Văn, thì mới cảm thấy mình là…nhà văn!

Nhân tiện, tôi cũng khoe với anh, trước khi có bài in ở Văn, tôi đã từng có một bài thơ (lục bát cua gái) được đăng ở… Phụ Nữ Diễn Đàn và hai truyện ngắn và vài bài thơ được đăng ở tạp chí Xây Dựng do Trung Tâm Huấn Luyện Cảnh Sát Quốc Gia Vũng Tàu, vào khoảng những năm 1960,1961, với một bút hiệu nghe rất học trò: Hạnh Băng.

LTT:

Mà sao lại là “Hạnh Băng” thưa anh? Anh có còn nhớ bài thơ ấy không?

TDN:

Hạnh là một cô bé tên Hạnh. Còn Băng là …Băng.

Bài thơ có 18 hay 20 câu có tựa đề là “Nhớ mong”, nói về một cô gái học lớp Đệ Lục(bây giờ là lớp 7), ngày nào cũng đạp xe đi học ngang qua nhà tôi (tôi học Đệ Tứ). Sáng nào, tôi cũng đứng ở góc vườn đợi nhìn cô đạp xe đi ngang trước khi đi học. Có lúc cũng đạp theo sau lưng cô, nhưng vừa đạp vừa run. Tôi còn nhớ bài thơ được đăng ở một góc nhỏ xíu, bên cạnh một ô quảng cáo dầu Nhị Thiên Đường chiếm gần cả trang. Lâu quá, tôi chỉ nhớ lỏm bỏm ít câu, xin ghi lại cho vui:

Em đi xe đạp ngang nhà
Góc vườn tôi đứng trông ra bồi hồi

Buổi chiều nhìn áng mây trôi
Nhớ em tôi viết mấy lời vu vơ

… Sáng nay không thấy em qua
Góc vuờn tôi đứng rất là nhớ mong ….

Trời ơi, mới đó mà 50 chục năm đã trôi qua rồi, anh Trung à.

LTT:

Thời gian lúc nào cũng vậy, thưa anh, có dừng lại bao giờ! Mới đó mà cũng đã năm mươi năm rồi những “nhớ mong” ngày nào! Nhơn những ngày đầu năm âm lịch, anh có thể chia sẻ một chút về việc tác giả giải thích về tác phẩm của mình, nó có mang một giá trị nào về mặt xác định tính chất hay hoặc dở của tác phẩm không, thưa anh?

TDN:

Như tôi có trình bày trong bài viết về cái gọi là “tác giả” (chắc anh cũng đã đọc qua trên Da Màu hay ở Hợp Lưu, bài “Tác giả, cuộc thăng trầm”), một khi tác phẩm đã ra đời rồi, ý kiến của tác giả giải thích về tác phẩm của mình cũng chỉ là ý kiến như bao ý kiến khác, không có một ưu tiên nào và không chắc đã đúng và có giá trị. Trước đây, ta thường cho rằng tác phẩm chính là tác giả, hay nếu không thì tác phẩm cũng mang nặng dấu ấn của tác giả. Hiểu được ý tác giả nói gì qua tác phẩm là xem như xong. Thực ra, sau này, người ta cho rằng không chỉ có tác giả, mà độc giả cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành ý nghĩa của tác phẩm. Ý nghĩa của tác phẩm là một liên kết tác giả-tác phẩm-độc giả. Ý nghĩa mà tác giả muốn gửi gắm là một chuyện; ý nghĩa mà độc giả tìm ra khi đọc là một chuyện khác, có khi hoàn toàn khác. Chẳng lạ gì, có trường hợp, trong lúc tác giả tự cho rằng mình đã mang hết tinh túy của đời sống trải ra trên trang giấy thì độc giả lại không tìm thấy gì trên đó cả. Thậm chí, ngược lại. Dở và hay, theo tôi, không nằm trong thẩm quyền của tác giả.

LTT:

Như anh biết, khuynh hướng tả chân cổ điển diễn tả sự thật đúng như thật, nó luôn luôn chú trọng đến những phần xấu xa và hèn kém của con người. Nhơn nhắc đến khuynh hướng tả chân, tôi còn nhớ dường như người ta cần nhận định rõ là nên tả chân đến giới hạn nào? Chú trọng đến hạng người nào trong xã hội và cần nói lên những điều gì và bỏ qua những điểm nào không nên nói; rồi hướng về đâu trong kết cấu câu truyện và cách giải quyết câu truyện như thế nào… Từ những phân chia ra các khác biệt như vậy mà khuynh hướng tả chân ngày xưa thường được phân chia ra cá thảy chín, hoặc mười loại khác nhau …

Dường như trong các tác phẩm của anh mà tôi đã đọc như “Vết xước đầu đời”, “Căn phòng thao thức” và truyện dài “Dặm trường”, chúng nặng về tả chân, mà nhất là tả chân theo khuynh hướng cổ điển vừa nêu. Anh nghĩ sao về nhận xét này, thưa anh?

TDN:

Thú thật với anh, khi viết là viết, chứ tôi không hề tự buộc mình một khuynh hướng nào hết. Tuy nhiên, ám ảnh lớn nhất của tôi là phản ảnh được một phần nào đó diện mạo của hiện thực, của những gì mình đã từng trải nghiệm trong cuộc sống. Thì là tả chân đó thôi. Thú thật, tôi không rạch ròi chọn cách tả chân nào trong số những loại mà anh đã đề cập. Khác với một số truyện ngắn, dù là tả chân, nhưng chỉ là những nét chấm phá, trong “Dặm trường”, tôi đẩy tả chân đến độ đậm đặc. Thay vì khái quát hóa, tôi sự- kiện- hóa, chi tiết hóa hiện thực. Trong một lá thư gửi riêng, ông Võ Phiến bảo là “Dặm trường” “chật ních” sự kiện.

Chọn cách viết này một phần nào là do cách nhìn của tôi về diện mạo của cái xã hội lạ lùng sau khi Cộng Sản chiếm miền Nam. Theo tôi, đó là xã hội của những sự kiện. Sự kiện tiếp nối sự kiện và bản thân con người cũng trở thành sự kiện. Nhìn quanh cuộc sống, ta chỉ thấy toàn là nhu cầu và những nhu cầu. Không có siêu hình, không triết lý, không lãng mạn… (Anh đọc lại một trích đoạn từ “Dặm trường” có tựa đề “Quen” đã đi trên Da Màu vào dịp 30/4/2010). Chỉ có con người và nhu cầu, con người và sự vật. Mọi người chấp nhận mọi thứ chỉ để được tồn tại. Giành giật, láo lường, phản bội. Mọi giá trị lộn tùng phèo. Những nhân vật trong “Dặm trường” sống trong một thế giới của sự kiện. Cách hay nhất là để cho sự kiện tự chúng nói lên ý nghĩa (facts speak for themselves). Do đó, thay vì đưa vào những cảm nghĩ và lý luận hay quan điểm (qua miệng của nhân vật hay ý nghĩ), tôi diễn tả sự kiện, dùng cử chỉ và những đối thoại thông thường. Nhân vật của tôi thường rất ít triêt lý mà chỉ “hành động”. Thay vì bày tỏ trực tiếp một thái độ, một nhận định, tôi đi lòng vòng quanh các sự kiện, mô tả chúng, vừa để dẫn người đọc hòa nhập được vào tình huống và tự tìm ra một “điều gì đó” trong cái mớ bề bộn các sự kiện.

LTT:

Về cái nét trong các nhân vật của anh, như trong bài viết “Thử đọc lại vài trang sách của Trần Doãn Nho”trên Da Màu, tôi có ghi nhận là nhân vật của anh dù nam hay nữ, dù hèn hay sang, họ có chung cái nét là khá thông minh. Thông minh trong ý tưởng, trong suy nghĩ, trong đối đáp và nhật là thông minh trong cách giải quyết những khúc quanh của cuộc đời. Họ không buông xuôi theo một định mệnh mang tính tắc trách nào. Họ lao vào đời và chấp nhận thân phận mình bằng tất cả trách nhiệm của một người trong cuộc. Phải chăng đó là tính cách đáng trân quý của những nhân vật tiểu thuyết hay là của những con người có thật trong dòng đời với biết bao biến thiên dâu bể một thời kỳ mà đất nước và con người bị xô đẩy vào con đường không còn một tia sáng le lói nào ! Xin anh chia sẻ thêm một chút về cách tạo nhân vật cùng tính cách của các nhân vật ấy trong các truyện của anh được không, thưa anh?

TDN:

Anh cho rằng các nhân vật của tôi “Thông minh trong ý tưởng, trong suy nghĩ, trong đối đáp và nhất là thông minh trong cách giải quyết những khúc quanh của cuộc đời. Họ không buông xuôi theo một định mệnh mang tính tắc trách nào. Họ lao vào đời và chấp nhận thân phận mình bằng tất cả trách nhiệm của một người trong cuộc.”

Thực ra, nhân vật của tôi hầu hết đều là những nhân vật “lai”, anh Trung ạ. Tôi không hề có ý định tạo ra những nhân vật “chính diện” – hiểu như là cái gì đối nghịch với “phản diện”, với cái “không tà”. Nhân vật của tôi thường chênh vênh, tiêu cực, nửa chính nửa tà, luôn luôn tưởng mình làm chủ được các hành động của mình và các biến cố, trong lúc thực ra, họ bị cuộc sống lôi kéo đi… ngoài ý muốn. Đó là những con người thất bại, không những trong cuộc sống mà ngay trong chính ý định của mình mà không biết, vẫn cứ tưởng mình vẫn là mình, thậm chí vẫn tưởng mình ..thành công. Trong các hành động của họ và ngay trong tâm tưởng của họ, biên giới giữa cái đúng và cái sai rất nhập nhòe, mờ nhạt . Đó là ý tưởng chủ đạo khi xây dựng nên các nhân vật trong các truyện ngắn, và đặc biệt là nhân vật Hạnh trong “Dặm trường”.

LTT:

Về “tính dục” trong truyện anh là một hiển nhiên. Cũng như trong các trang sách của Lâm Chương, trong văn anh lác đác những cảnh mật thiết giữa hai nhân vật nam và nữ là một cái gì đó nếu mà thiếu nó thì Trần Doãn Nho và Lâm Chương sẽ là hai nhà tu, không còn là hai nhà văn nữa rồi. Tôi thấy trong Dặm trường, cảnh hai nhân vật nam và nữ, họ gặp nhau sau những tháng ngày xa cách giữa cảnh rừng trầm mặc và những chiếc lá rụng thành một lớp dày rung chuyển dưới thân thể nóng bỏng của hai người đã làm cho Dặm trường mang đầy cái hương liệu tiểu thuyết của nó…

TDN:

Như anh nhận xét, yếu tố tình dục trong các sáng tác của tôi khá đậm.

Tình dục trong văn chương không phải là điều gì mới mẻ. Nó đã có mặt trong nhiều tác phẩm văn chương cổ điển Trung Hoa. Ở Việt Nam, truyện Kiều cũng phảng phất tình dục. Thơ Hồ Xuân Hương cũng thế. Ở miền Nam trước 1975, tình dục cũng đã có mặt trang văn chương, dù không được phổ biến. Chẳng hạn như “Tình cao thượng” của Nguyễn Mạnh Côn, một vài truyện ngắn khác của Võ Phiến hay trong truyện của Thế Uyên, Túy Hồng hay Nguyễn Thị Thụy Vũ… Nhưng nói chung trong một hoàn cảnh xã hội như xã hội miền Nam thời đó, tình dục trong văn chương vẫn còn là thứ tình dục “ấp úng”, chưa nhà văn nào can đảm khai thác đến nơi đến chốn. Sau 1975, ra nước ngoài, với một môi trường mới mẻ, cởi mở và được tiếp cận với văn chương thế giới, nơi mà chuyện tình dục chỉ là “chuyện thường ngày ở huyện”, tình dục trong văn chương Việt Nam Hải Ngoại dần dần cũng đã trở thành “chuyện thường ngày ở huyện.” Ở trong nước cũng thế. Không những trong văn mà còn ở trong thơ. Thực tình mà nói, đối với người sáng tác, tình dục là cuộc sống, là một chất liệu như các chất liệu khác cho sáng tác văn chương. Dẫu vậy, do nhiều nguyên nhân tâm lý cũng như xã hội, sử dụng yếu tố tình dục đòi hỏi sự đắn đo, thận trọng.

Với tôi, tình dục trong sáng tác cần phải có. Nó như một thứ gia vị, hay nói như anh,” một thứ hương liệu tiểu thuyết”. Văn chương, ngoài cái thơ mộng, dí dỏm, nhân bản…cũng phải có thêm cái gì đăng đắng, cay cay, mằn mặn, bùi bùi… để có thể vượt qua. Nói hơi quá, theo tôi, khuớc từ (hay lên án) đưa tình dục vào văn chương cũng là một… sự kỳ thị, kỳ thị với cuộc sống (cuộc sống vốn đâu có tội tình gì!), anh Trung à. Riêng cá nhân tôi, đưa tình dục vào một số sáng tác cũng có phần “méo mó nghề nghiệp”. Trước 1975, tôi có dịp nghiên cứu ít nhiều về phân tâm học, nên chịu ảnh hưởng. Với phân tâm học, như anh biết, tình dục đóng một vai trò khá quan trọng trong việc hình thành cá tính, quan điểm sống cũng như quan hệ với xã hội. Nó là một sức mạnh vô thức, phần nào chi phối các hành vi, cử chỉ và thái độ của con người.

LTT:

Như anh vừa nêu:” Với phân tâm học, tính dục đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành cá tính, quan điểm sống cũng như quan hệ với xã hội”. Xin anh nói rõ thêm một chút về quan điểm này và có gì làm bằng chứng cụ thể không, thưa anh ?

TDN:

Phân tâm học là một lý thuyết tâm lý đưa đến nhiều thay đổi về tư tưởng trong thế kỷ 20, khó có thể giải thích qua chỉ vài giòng hay một bài viết ngắn, anh Trung à. Như tôi đã nói, tôi bị “méo mó nghề nghiệp”, nghĩa là bị ảnh hưởng, nên tìm cách xây dựng nhân vật dựa trên một vài quan điểm mà thực sự đến nay vẫn còn là đề tài tranh cãi. Thành thử nếu anh hỏi bằng chứng thì tôi …đành chịu.

LTT:

Theo ý tôi, khi sáng tác, có thể người ta dựa trên sự thật, có thể hoàn toàn là hư cấu; nhưng hư cấu hay sự thật, cả hai đều không quan trọng bằng những tiếng động, những lời thì thầm, những gì đã xảy ra có hợp với tâm trạng và cảnh ngộ của hai nhân vật vào một khoảnh khắc ngàn vàng đó hay không mới là điều quan trọng. Và sự việc xảy ra mà không làm trục trặc dòng suy nghĩ của người đọc, không phải đặt lại những câu hỏi tại sao họ gặp nhau ở giữa rừng và tại sao họ lại hiến thân cho nhau, vân… vân và vân … vân…. Điều đó cho thấy dù là hư cấu hay có thật, tác giả đã làm xong phần viết truyện của mình một cách hoàn bị rồi. Còn truyện có được khen hay chê, nhân vật có còn được ai nhớ và nhắc hay không, lại là phần khác, không phải do nơi tác giả nữa. Anh nghĩ sao về nhận xét thiển cận này?

TDN:

Chắc là anh đề cập đến đoạn cuối của “Dặm trường”, là đoạn mô tả cảnh gặp gỡ bất ngờ giữa rừng trong trại cải tạo giữa nhân vật chồng và nhân vật vợ, hai người ân ái với nhau sau đó mới nhận ra nhau. Phải không anh Trung?

LTT:

Phải, anh Nho à.

TDN:

Cũng như anh, nhiều độc giả thắc mắc, không phải vì cảnh ân ái, mà cảnh vợ chồng gặp nhau mà không nhận ra nhau. Cảnh đó hoàn toàn phi lý và nói như anh, có gì “trục trặc”. Vâng, không những trục trặc mà hoàn toàn trục trặc. Thực ra, đó là một trục trặc cố ý. Thay vì để cho độc giả khép sách lại và …đi chơi, tôi muốn để lại trong đầu độc giả một dấu hỏi, nghĩa là một trục trặc. Kể ra như thế là có phần “gian”.

Thông thường thì dù là chấp nhận hư cấu, người ta thích mọi sự đều diễn ra hợp tình, hợp lý và không quá xa sự thật. Kết thúc của “Dặm trường”, nếu có thể gọi là một “kết thúc”, đều nằm ngoài cả ba cái đó. Tôi chọn kiểu kết thúc này như một giả thiết. Anh để ý mà xem, trong suốt truyện, tôi đã đưa vào bao nhiều điều vô lý tưởng chừng như không thể nào có trong cuộc sống, ấy thế mà chúng lại là sự thật, chẳng hạn như cả chuyến tàu đều bị tuôn hết hàng hóa, hoặc chuyện đổi tiền năm 1985 hay chuyện “xây dựng xã hội chủ nghĩa”…Hay gần đây hơn, biến cố 11/9 ở Hoa Kỳ. Thực mà như ảo và còn hơn cả ảo. Ảo mà lại như thực. Biên giới giữa thực và ảo không lúc nào mỏng manh như lúc này. Có điều, nếu độc giả lưu ý cách đối thoại và khung cảnh mà tôi cố ý tạo ra, thì đó một cảnh giả. Tất cả chỉ là do lòng “tơ tưởng” đi đến độ hoang tưởng của anh chàng tù nhân Lục vắng đàn bà lâu ngày mà sinh ra. (cảnh trong rừng này là cảnh tôi đã kinh qua vô số lần khi ở trong trại tù khi đi tìm bổi, giang, lồ ô…). Khi viết chương này, tôi nghĩ đến cái thời hồng hoang, thời của Adam và Eva. Tôi cũng nghĩ đến Hạnh như một bóng ma, có thể lúc đó đang bị chìm tàu trong một chuyến vượt biên nào đó ngoài khơi Thái Bình Dương. Tóm lại, là giả thiết. Bằng cách bắt chước cái gọi là “hiện thực thần kỳ”, từ chỗ rất hiện thực, tôi đột ngột đẩy tất cả vào hoang đường. Từ thực, tôi đẩy đến ảo. Như là một lối thoát ra khỏi không khí chất chứa toàn là sự kiện trong suốt truyện.

Nhà văn Phạm Xuân Đài (trong bài “Đọc Dặm trường”, thế Kỷ 21, số 150, tháng 10/2001) phần nào chia xẻ tâm tư của tác giả, khi ông nhận xét: “chương cuối là một chương mang không khí siêu thực. Sự việc diễn ra như một tượng trưng, một cô kết thoát khỏi mọi thực tế tàn nhẫn của cả một bi kịch dài (…) Ngay đối thoại của họ sau đó cũng như những lời vang vọng từ đâu đó của hoang dã”.

Nhiều độc giả khác không chia xẻ cái nhìn đó.

Riêng anh, anh nhận xét: “Điều đó cho thấy dù là hư cấu hay có thật, tác giả đã làm xong phần viết truyện của mình một cách hoàn bị rồi. Còn truyện có được khen hay chê, nhân vật có còn được ai nhớ và nhắc hay không, lại là phần khác, không phải do nơi tác giả nữa.”

Đúng như thế, anh Trung à. Công việc của tác giả là: hoàn tất tác phẩm. Và chỉ như thế mà thôi.Theo tôi, thái độ hay nhất của tác giả là: đừng nên hoang tưởng về tác phẩm đã ra đời của mình.

Riêng tôi, khi viết xong mấy trăm trang chữ của “Dặm trường”, đọc đi đọc lại, sửa lên sửa xuống, thêm đoạn này bỏ đoạn kia, lòng phân vân không biết số phận nó như thế nào, tôi nghĩ đến người phụ nữ mang nặng đẻ đau, bèn viết ở trang cuối cùng: “Viết rồi, đọc lại, muốn viết lại từ đầu, nhưng quá muộn. Nó đã chào đời.” Và tôi quyết định cho nó ra đời, lòng bỗng dưng nhẹ nhõm.

Hơn mười năm sau, đọc lại, cảm giác cũng không mấy khác. Vâng, với tôi, “Dặm trường” chứa đựng nhiều nhược điểm điển hình của một truyện dài đầu tay. Không những chỉ “Dặm trường”, mà đọc lại những gì mình viết, bao giờ tôi cũng có cảm giác thất vọng. Nếu xem mỗi tác phẩm là một đứa con thì đứa con nào dường như đều có khuyết tật. Thế mà lạ, tôi vẫn tiếp tục viết. Và rồi lại thất vọng. Tôi nhận ra một điều, anh Trung à: cái lạ của văn chương là không phải cứ thích viết hay là nó hay và thích… viết dở là nó dở. Văn chương cũng không hẳn là sở học. Không hẳn là tay nghề. Văn chương không phải là thứ người ta có thể cưỡng cầu. Văn chương hình như chỉ là …văn chương. Thích viết ư, mời cầm bút lên mà viết. Bằng tấm lòng. Hay ư, dở ư….

Nhưng tôi vẫn có cảm giác tự hào: sự có mặt. Đối với những gì tôi đã viết ra, tôi không “cưng” chúng, nhưng thành thật quý chúng. Văn chương, nghĩ cho cùng, là sự có mặt. Với tôi, viết là một cách thế hiện diện. Hơn thế, một thách đố với những thất vọng về chính mình. Trong một hy vọng vượt qua khỏi mình. Chừng đó là đã quá lớn cho một giấc mơ rồi, anh Trung à!

LTT:

Lâu này, tôi thấy anh cũng viết lai rai, nhưng không đều đặn như thời gian đầu khi mới qua định cư. Lâu quá mới đọc được tùy bút “T(uy)ết trắng” của anh trên Da Màu vào ngày mùng một Tết Tân Mão này. Thời gian sau này, hình như cách viết của anh có khác. Anh có còn viết thêm truyện nào mang đậm chất tính dục nữa không? Và với anh nhơn Tết này, ở khía cạnh viết lách, anh mê gì nhứt trong những ngày sắp tới, thưa anh ?

TDN:

Hiện nay, đề tài tính dục không còn (hay ít) ám ảnh tôi nữa. Sau một số thử nghiệm, tôi có cảm giác mình vượt qua được nó rồi. Có lẽ vì trong xã hội Mỹ (và xã hội VN hiện nay), yếu tố tính dục không còn bị húy kỵ như xưa, nên vấn đề chuyển sang phía khác. Tôi lại bị ám ảnh bởi một yếu tố khác: chữ. Chữ/ nghĩa là động lực gây ra vô vàn điều xấu trên thế gian. Chữ và nghĩa, hai vấn nạn lớn của con người trong thời đại truyền thông. Chung quanh ta toàn là chữ và chữ. Số chữ thì giới hạn mà nghĩa thì vô cùng. Chúng ta bị chữ vây bủa và uốn nắn mà vẫn cứ tưởng mình làm chủ được mình. Tôi đang tìm hiểu về “Ký hiệu học” (Semiotics) là môn nghiên cứu về các ký hiệu (signs), đặc biệt là chữ và vấn đề ẩn dụ (cũng liên quan đến chữ) và dự định viết một tiểu luận về vấn đề này. Và cũng đang sáng tác một truyện ngắn liên quan đến “chữ”. Ngoài ra, trong năm này, tôi sẽ in tiếp một tập truyện ngắn gồm có những truyện và tùy bút tôi đã viết trong thời gian trước đây.

LTT:

Ngoài ra, được biết anh còn ký bút hiệu Thế Quân trong mục “Tin Văn“ trên tạp chí Văn Học ở California do nhà văn Nguyễn Mộng Giác làm chủ bút. Với công việc này chắc anh phải đọc báo văn học ngoại quốc nhiều, dĩ nhiên mất nhiều thì giờ. Anh có thể chia sẻ một chút về công việc đúc kết các trang tin văn nàyvà những trở ngại cùng lợi ích của công việc đúc kết này trong sáng tác của anh có nhiều lắm không, thưa anh?

TDN:

Cám ơn anh nhắc đến Thế Quân. Vâng, với bút hiệu này, tôi đã phụ trách phần “Tin Văn” cho tờ Văn Học trong gần 4 năm, từ số 179 (tháng 3/2001) cho đến số 222 (tháng 11&12 /2004, khi Văn Học được chuyển giao cho nhà văn Cao Xuân Huy. Trong những lần ghé quận Cam (California), thăm anh Nguyễn Mộng Giác, chứng kiến anh một mình một chợ dành rất nhiều thời gian để chăm lo cho tờ Văn Học, với tấm lòng muốn duy trì tiếng nói văn chương của người Việt hải ngoại, thấy anh Giác gần như hy sinh công việc sáng tác, tôi nhận lời tiếp tay anh bằng cách phụ trách hẳn phần Tin Văn. Một mặt, để phổ biến tin tức và văn học thế giới đến độc giả Việt Nam, mặt khác, để lấp đầy một số trang, đỡ đi một phần nào nỗi lo lắng bài vở mà người chủ biên nào cũng đêm ngày lo lắng. Với trung bình khoảng 10 trang tin văn cho một số báo, tôi cũng khá bận bịu. Ngày nào cũng phải đọc nhiều tờ báo văn học khác nhau, tìm tin, lựa tin rồi tra cứu về tác giả và tác phẩm. Đọc và dịch. Với ý định để cho độc giả nắm vững ngọn nguồn, nói là tin, thực ra, không chỉ là đưa tin, bản tin nào tôi cũng cố gắng viết như một bài viết và có khi viết hẳn thành một tiểu luận.

Lúc đầu là do muốn đóng góp, đến khi quen, tôi đâm ra thích thú với công việc. Vì nhờ đó, mà tôi có dịp đi sâu vào sinh hoạt văn chương thế giới, có dịp tiếp cận được cái phong phú, cái đa dạng của văn chương nhiều nước. Càng biết, càng học hỏi mới càng thấy mình nhỏ bé và càng thấy cái cộng hòa văn chương Việt Nam mình còn chật chội, còn thiếu thốn, còn khiêm tốn quá.

Tôi xem thời gian phụ trách Tin Văn cho tờ Văn Học là thời gian nghiên cứu và học hỏi. Cuốn “Tác giả, tác phẩm và sự kiện” là thành quả của thời gian làm Tin Văn.

LTT:

Xin chân thành cảm ơn anh đã chia sẻ vài chi tiết về cách viết truyện của anh, giúp tôi lãnh hội thêm phần nào tâm lý các nhân vật mà anh dựng nên với nhiều dụng ý. Nhơn dịp đầu năm mới Tân Mão, kính chúc anh và gia đình nhiều sức khoẻ, vạn an. Và lúc nào tôi cũng hy vọng đọc được thêm nhiều các sáng tác mới của anh trong những ngày sắp tới.

TDN:

Anh Lương Thư Trung thân mến,

Vai hàng chia xẻ cùng anh. Như là một kỷ niệm. Rất bạn bè và rất văn chương. Cho tôi gửi lời thăm chị và các cháu cùng cháu ngoại và cháu nội.

LTT:

Anh Trần Doãn Nho,

Một lần nữa xin cảm ơn anh rất nhiều.
Trân trọng kính chào anh.

(Thực hiện qua điện thư.

Houston, Ngày Mùng Sáu Tết Tân Mão, nhằm ngày 09-02-2011)

Câu chuyện về bài hát Les Feuilles Mortes và Autumn Leaves

Nguồn: bài trên Net

Post by Sơn râu 23 May 2024

Bản nhạc đưọc nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời Việt có tên “Những Chiếc Lá Úa” có bản gốc viết bằng tiếng Pháp là “Les Feuilles Mortes” là lời than thở u sầu tiếc nuối cho một tình yêu đã mất. Bản dịch qua tiếng Anh, “Autumn Leaves”, cùng một chủ đề, nhưng cách tiếc nuối thể hiện nhẹ nhàng hơn.

Bài hát có một cuộc đời khá lận đận. Bắt đầu vào năm 1945 là một bài thơ được viết bởi nhà biên kịch và nhà thơ Jacques Prevert như là một phần của kịch bản cho vở ballet mang tên “Le Rendezvous” (“Cuộc Hẹn Hò”). Hai năm sau, khi đạo diễn Marcel Carné làm một bộ phim ballet, nhà viết nhạc cho cuốn phim người Hungary là Joseph Kosma đã chọn bài thơ của Jacques Prevert làm nhạc nền cho bộ phim. Có lẽ vì bài thơ đã không được sáng tác dưới hình thức bài hát nên cấu trúc hơi khó sử dụng. Kosma đã chuyển bài thơ thành 24 trường canh của đoạn mở đầu, gồm có 2 âm điệu và giai điệu rõ ràng, và tiếp theo là một điệp khúc gồm 16 trường canh (½ độ dài của bài hát truyền thống Tin Pan Alley nổi tiếng của Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20). 

https://sites.google.com/site/vuoncva5461chuyenbonphuong/_/rsrc/1504978790588/cbp-11/2.jpgTuy bộ phim của Carné thất bại, nhưng diễn viên chính, một ca sĩ trẻ nổi tiếng tên là Yves Montand, tỏ ra thích bài “Les Feuilles Mortes” mặc dù không hát ca khúc ấy trong phim, nhưng ông đã đưa bài hát vào buổi hòa nhạc của mình. Ban đầu, bài hát chỉ nhận được sự lạnh nhạt. Không theo nhịp điệu, có một cấu trúc quá phức tạp, lại mang một thông điệp u sầu buồn bã … là những điều làm bài hát không được ưa chuộng. Nhưng Yves Montand vẫn tiếp tục hát. Trong vòng vài năm sau, bài hát trở thành nổi tiếng nhất của ông và là bài hát được yêu cầu nhiều nhất.

Trong khi bài hát đã thuộc về Montand, có một phiên bản đáng nhớ bởi một nữ ca sĩ người Pháp, Juliette Greco. Cô ca sĩ bohemien xứ Corse xinh đẹp, một” Little Miss Existentialist”, người theo chủ nghĩa hiện sinh, Với giọng hát mơ màng và chậm rãi, cô mang đến cho bài hát một sắc thái đặc biệt quyến rũ, cô hát như không bao giờ còn có thể được yêu mãnh liệt đến thế nữa. Juliette Greco đã ghi âm bài hát này nhiều lần nhưng phiên bản đầu tiên của Montand vẫn là bản hay nhất.

Vào năm 1950, khi bài hát được dịch sang tiếng Anh với tựa đề “Autumn Leaves”, thì chỉ có một phần nhỏ của bài thơ là còn tồn tại (và rất hiếm khi được hát). Phần chính của bản dịch là phần điệp khúc. Người viết lời nhạc Johnny Mercer đã tạo ra một vài hình ảnh rung động như “đôi tay bỏng nắng anh dành để ôm em” và “Bài hát mùa đông năm cũ”, nhưng trong thực tế, đây là một bài hát hoàn toàn khác với bài thơ của Prevert và bản nhạc mà Kosma đã tạo ra. Trong khi bản gốc đã gom được tất cả sự mê đắm nồng nàn, thì bài hát này chỉ là một phiên bản đính kèm, mang lại vẻ hoài cổ hơn so với cảm giác âu sầu, nhiều buồn vui lẫn lộn hơn là niềm cay đắng xót xa.

Sau khi Nat “King” Cole” đưa bài hát đã lên vị trí số một trong cuộc lưu diễn vào năm 1955, thì đến lượt các ca sĩ khác   từ Frank Sinatra (năm 1957 thu âm trên dĩa Where Are You?) đến Tony Bennett, Eartha Kitt, Chick Corea, Stanley Jordan và Leonie Smith đã hát bản nhạc này bằng những phiên bản đã cắt bớt.

Riêng Yves Montand vẫn tiếp tục hát và thu âm bản gốc cho đến khi ông qua đời vào năm 1991.

(Phỏng dịch theo “Behind the Song Autumn Leaves” của Bill DeMain)

* Autumn Leaves                              Patti Page

* Autumn Leaves                              Nat “King” Cole

* Autumn Leaves                              Richard Clayderman

* Lá Úa (Y Vân)                                Duy Trác

* Les Feuilles Mortes                        Edith Piaf

* Les Feuilles Mortes                        Yves Montand

* Những Chiếc Lá Úa (Phạm Duy)  Thái Thanh

Les Feuilles Mortes

Music by Joseph Kosma

Performers:  Edith Piaf

C’est une chanson, qui nous ressemble

Toi tu m’aimais et je t’aimais

Nous vivions tous, les deux ensemble

Toi que m’aimais moi qui t’aimais

Mais la vie sépare ceux qui s’aiment

Tout doucement sans faire de bruit

Et la mer efface sur le sable les pas des amants désunis

Autumn Leaves

Lyrics by Johnny Mercer

Music by Joseph Kosma

Performers:  Nat “King” Cole, Patti Page

The falling leaves drift by the window

The autumn leaves of red and gold

I see your lips, the summer kisses

The sun-burned hands I used to hold

Since you went away the days grow long

And soon I’ll hear old winter’s song

But I miss you most of all my darling

When autumn leaves start to fall

Les feuilles mortes

Lyrics by Jacques Préver

Music by Joseph Kosma

Performers: Yves Montand 

Oh! je voudrais tant que tu te souviennes

Des jours heureux où nous étions amis.

En ce temps-là la vie était plus belle,

Et le soleil plus brûlant qu’aujourd’hui.

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle.

Tu vois, je n’ai pas oublié…

Les feuilles mortes se ramassent à la pelle,

Les souvenirs et les regrets aussi

Et le vent du nord les emporte

Dans la nuit froide de l’oubli.

Tu vois, je n’ai pas oublié

La chanson que tu me chantais.

C’est une chanson qui nous ressemble.

Toi, tu m’aimais et je t’aimais

Et nous vivions tous les deux ensemble,

Toi qui m’aimais, moi qui t’aimais.

Mais la vie sépare ceux qui s’aiment,

Tout doucement, sans faire de bruit

Et la mer efface sur le sable

les pas des amants désunis.

Những Chiếc Lá Úa

Nhạc: Joseph Kosma

Lời Việt: Pham Duy

Trình bầy: Thái Thanh 

Mùa thu đã về khắp lối đường lá vàng bay,

tìm đâu những ngày vui với người xinh đẹp ấy?

Mùa thu đã về hơi gió lạnh chốn khuê phòng,

thầm nhắc trong lòng nơi cô quạnh sống chờ mong.

Người xưa khuất rồi tim đã lạnh giá từ bao năm,

mùa thu nhắc lại tình trong trắng.

Ngày ấy trên đồi cất tiếng cười thắm yêu đời,

chìm lắng xa vời những câu thề xưa người yêu ơi!

Chiều nay tê tái riêng trong lòng tôi,

giờ đây một bóng đón thu buồn.

Nghe gió may về đập ngoài song vắng,

tiếng rít lên cuồng loạn trong mùa thu.

Lìa cành lá úa tả tơi nhảy múa,

rụng ngập đầy sân gợi sầu thi nhân.

Nhìn tàu lá úa lòng buồn tê tái,

gợi hình ảnh xưa đã khuất lâu rồi.

Kỷ niệm cũ đành mất

người năm xưa ôi! nay về nơi đâu?

đàn khóc canh thâu.

Mùa lá úa nhắc lại bao ngày sống say sưa,

gần nhau đôi ta cùng buông nụ cười.

Nhặt tầu lá úa nhịp nhàng em múa,

để vào lòng tôi nụ cười lả lơi.

Những chiếc lá úa kỷ niệm năm cũ.

Lại ngập đầy sân người cũ đâu rồi?

Tìm đâu thấy hình bóng

người năm xưa ôi! nay về nơi đâu?

thổn thức canh thâu.

Tàu lá úa rớt đọng tràn trề xuống đôi vai,

Tìm đâu thu năm nào bên người yêu.