Cố vấn Trung Cộng Vi Quốc Thanh

baotreonline.com

Trần Vũ

Post on November 23rd, 2020

Post by Sơn râu 4 Jun 2024

Kỳ 13

Nhân ngày tang của đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhật trình cánh tả Le Monde số ra ngày 4 tháng 10-2013 đăng bài “Anh hùng của nền độc lập Việt Nam đã chết” của ký giả thân Cộng Jean-Claude Pomonti từng bị chính phủ VNCH và Hoàng gia Miên trục xuất, cấm nhập cảnh. Năm 2004, Pomonti quay lại Hà Nội và thực hiện phỏng vấn Võ Nguyên Giáp. Pomonti ghi trong bài viết: “Giáp say mê Nã Phá Luân và trong tất cả những chiến thuật của Bonaparte, Giáp giữ lại yếu tố bất ngờ. Trước sự ngạc nhiên của chúng tôi, Giáp kêu lên: “Việc Bonaparte đào thoát khỏi đảo Elbe về đất liền cầm quân, là tuyệt vời!” Giáp muốn nhắc đến việc vua Louis XVIII gửi ngự lâm quân chặn bắt Nã Phá Luân nhưng rồi đạo quân ấy đã theo hoàng đế. Một nháy mắt của Giáp về sự trung thành của các tướng lĩnh đối với chính mình. […] Giáp còn là một thiên tài tiếp vận. Một ngày, Giáp nhắc lại với chúng tôi phương châm mà Bonaparte vận dụng khi hành binh sang Ý: “Nơi nào một con dê chui qua, một người lính có thể vượt qua. Nơi nào một người lính có thể đi qua, một tiểu đoàn có thể hành quân.” Giáp nói tiếp: “Ở Điện Biên Phủ, để cung cấp 1 ký gạo cho bộ đội đang vây cứ điểm, dân công tiêu thụ 4 ký trong lúc vận chuyển. Chúng tôi đã dùng 260,000 dân công, 20,000 xe đạp, 11,800 bè gỗ, 400 xe vận tải Molotova và 500 ngựa.” Dưới sự che chở của rừng rậm, đại bác Việt Minh đã được tháo rời từng cơ phận để mang lên các ngọn đồi nhìn xuống lòng chảo, rồi ráp lại.”

Với những ai quan tâm chiến tranh, nếu đã có một thiên tài quân sự, thì thiên tài đó phải là Trần Đăng Ninh, tổng cục trưởng Tổng cục Hậu cần Việt Minh, đã cung cấp vũ khí, thuốc men, đạn dược, lương thực cho quân đoàn tác chiến chủ lực Việt Minh trong suốt 9 năm chiến tranh, không bao giờ thiếu, bất kỳ địa hình trận đánh. Một Trần Đăng Ninh mà trong hồi ký Võ Nguyễn Giáp không một lời tri ân. Trừ phi… vẫn do cố vấn Tàu Mã Tây Phu phụ trách tiếp vận, làm hết?

Trên các trang sử Quân đội Nhân dân thường xuyên số dân công được ghi 25,000. Phía Pháp ước tính 70,000 cho trận Điên Biên. Lần đầu tiên Võ Nguyên Giáp thừa nhận sử dụng 260,000 dân công. Cưỡng bách hay tình nguyện? Những ai sống trong Nam sau 75 biết rõ: mỗi hộ, mỗi tổ dân phố phải cắt cử người đi lao động XHCN cho đủ chỉ tiêu Phường-Quận. Vào thời chiến, chắc chắn là một bắt buộc trong những vùng “giải phóng”.

Phần quan trọng trong tường thuật của Pomonti là câu hỏi về việc kéo pháo ra khỏi thung lũng, lui ngày tấn công đã ấn định 25 tháng 1 sang 13 tháng 3-1954. Võ Nguyên Giáp trả lời bằng Pháp văn: “Le chef de nos conseillers chinois s’était prononcé pour une attaque rapide. Je donne l’ordre de retirer les troupes, y compris l’artillerie. La décision la plus difficile de ma carrière de commandant en chef.” (Cố vấn trưởng Trung quốc muốn đánh nhanh. Tôi ra lệnh rút quân ra, kể cả pháo binh. Là quyết định khó khăn nhất trong binh nghiệp Tổng chỉ huy của tôi.)  

Trong chương Quyết chiến Điện Biên Phủ (trung), Vu Hóa Thầm cho một phiên bản khác: Chính Vi Quốc Thanh lấy quyết định hoãn tấn công và thay đổi phương thức đánh nhanh, thọc sâu, giải quyết chiến trường “nở hoa từ trung tâm” bằng cách áp sát, “bóc măng” từng lớp. Đâu là sự thật?

Đa phần sự thật không nằm trong những lý lẽ mà Võ Nguyên Giáp cũng như Vy Quốc Thanh viện dẫn, và một cách trùng hợp cả hai cùng viện dẫn chung những lý lẽ: Quân đoàn Tác chiến Việt Minh chưa chuẩn bị đủ; cần đưa sư đoàn 308 sang đột phá Thượng Lào để Navarre phải phân tán binh lực; các đại đoàn trưởng chưa tin chắc thắng. Các lý lẽ này ít đứng vững. Trước mỗi chiến dịch, Việt Minh đều rèn quân chỉnh cán, chiến sĩ và cán bộ chỉ huy đều phải học tập thông suốt đường lối chỉ đạo, thấm nhuần ý chí quyết thắng cũng như tuyệt đối tin vào đường lối đúng đắn của Đảng. Không được quyền băn khoăn, vì sẽ bị xem là “giao động”, chưa “giác ngộ”, còn “hữu khuynh”, chưa gột rửa tinh thần tư sản ngại hy sinh gian khổ. Chưa “quyết tâm phấn đấu”… Trên mặt quân sự, với 5 sư đoàn chính quy 304, 308, 312, 316, 351 cộng thêm trung đoàn độc lập 148 lên đến 60,000 lính, Việt Minh chiếm ưu thế tuyệt đối về quân số. Binh lực Pháp đã bị phân tán trước đó, không cần sư đoàn 308 đánh Thượng Lào, vì Navarre đã huy động toàn bộ tổng trừ bị tái chiếm Phú Yên-Bình Định vẫn đang tiếp diễn. Quân đồn trú Điện Biên Phủ không hề giảm đi sau khi sư đoàn 308 sang Lào.

Lui ngày tấn công, như thế không thay đổi chung cuộc. Với công sự không đủ sức chịu pháo, không đường bộ tiếp tế, khả năng không trợ kém, mười ngàn binh sĩ Liên hiệp Pháp tại Mường Thanh không có lối thoát giữa rừng núi vây bọc.

Nhưng như vậy, thì vì sao Võ Nguyên Giáp và Vi Quốc Thanh bất ngờ lui tấn công một tuần trước khi khai trận?

Chính vì Hội nghị Bá Linh bắt đầu ngày 25 tháng 1-1954, là ngày ấn định khai chiến ban đầu. Anh, Pháp, Nga, Hoa-Kỳ ngoài bàn đến vị trí của Đức sau thế chiến, còn tìm cách giải quyết “vấn đề Đông Dương”. Nga-Sô yêu sách thành công sự tham gia của Trung cộng trong vòng đàm phán thứ nhì sẽ diễn ra vào tháng 4-1954 tại Genève. Chính đây mới là nguyên nhân lui tấn công sang giữa tháng 3 của Võ Nguyên Giáp (hoặc Vi Quốc Thanh). Chính từ lúc này Bắc Kinh sẽ gia tăng viện trợ tối đa cho Việt Minh để Chu Ân Lai đến Genève trong thế thượng phong. Nếu chiến tranh là cánh tay nối dài của chính trị, như Clausewitz định nghĩa, thì một quyết định quan trọng như vậy phải do Mao gửi công điện cho Vi Quốc Thanh hoặc Hồ Chí Minh hoặc Trường Chinh (tổng bí thư kiêm tổng quân ủy trung ương) yêu cầu Võ Nguyên Giáp trì hoãn. Cả Mao và Hồ Chí Minh đều cần biết kết quả hội nghị Bá Linh diễn ra cuối tháng Giêng.

Huyền thoại “kéo pháo ra”, trên thực tế cũng không cần thiết. Vì cho đến kết thúc, các tiền sát viên pháo binh Pháp và Phi đoàn Quan sát Pháo binh Bắc phần đã không xác định được vị trí pháo Việt Minh. Đại bác 105 ly của sư đoàn nặng 351 đều đặt trong hang núi, ngụy trang và kéo ra khi bắn.

[Trần Vũ]

Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp

Vu Hoá Thầm

bản dịch của Dương Danh Dy

Quyết chiến Điện Biên Phủ (trung)

Đứng trước kẻ địch điên cuồng, vận dụng cách đánh nào mới giành thắng lợi? Khi quân địch đóng giữ không quá 10 tiểu đoàn, cấu trúc công sự chưa hoàn thiện lắm, Vi Quốc Thanh từng nghĩ, quân đội VN có trọng pháo và pháo cao xạ trong điều kiện khống chế được sân bay địch và kiềm chế hỏa pháo của địch có thể áp dụng cách đánh nhanh thắng nhanh, chủ lực một cú đột phá, chọc thẳng vào trong lòng đich, tiêu diệt trước cơ quan chỉ huy, trận địa pháo binh và quân dự bị của Pháp “nở hoa từ trung tâm”, sau đó đóng từ trong đánh ra, giải quyết nhanh chóng cuộc chiến đấu. Võ Nguyên Giáp tán thành ý kiến này. Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN lập tức tiến hành bố trí chiến dịch theo ý đồ đó, dự định khoảng 20/1 mở cuộc tấn công.

Nhưng khi bộ đội trọng pháo của quân đội VN đến gần Điện Biên Phủ, trước mặt không có con đường nào để đi, không thể nào tiến vào trận địa. Mặc dù Võ Nguyên Giáp đã ra lệnh đại đoàn 312 giúp mở đường kéo pháo, nhưng do núi cao vực sâu, địa hình phức tạp, tiến triển chậm chạp, vẫn không thể nào tiến vào trận địa trước 20/1, do đó không thể không lùi thời gian bắt đầu chiến đấu. Bộ đội trọng pháo của quân đội VN được sự giúp đỡ rất lớn của đại đoàn 312 suốt ngày đêm đạp bằng mọi chông gai, mở đường, kéo pháo. Lúc này, Vi Quốc Thanh lại nảy ra ý nghĩ mới.

Vùng Tây Bắc dân cư thưa thớt không có nhà dân làm nơi nghỉ quân. Bộ đội VN ngày đêm đều đóng quân ngoài trời, chỉ có Đoàn cố vấn được chiếu cố đặc biệt, công binh chặt tre dựng nhà lá đơn sơ, để tránh gió mưa. Vi Quốc Thanh ở trong nhà lá mười mấy mét vuông trên sàn hầu như trải đầy bản đồ. Đồng chí thường nhìn chăm chú vào bản đồ suy nghĩ rất lâu.

Một cú đột phá, chọc thẳng vào trong lòng địch tiêu diệt cơ quan đầu não của địch, làm rối loạn hệ thống chỉ huy của chúng, làm cho địch không đánh mà bị rối loạn, từ đó đánh nhanh thắng nhanh, giành toàn thắng, đó là một cách đánh áp dụng nhiều lần và nhiều lần thành công trong chiến tranh giải phóng. Nhưng cách đánh này vận dụng ở Điện Biên Phủ có thích hợp hay không? Sau khi tìm hiểu kỹ hơn tình hình địch ở mặt trận, trong đầu Vi Quốc Thanh lúc nào cũng lởn vởn vấn đề này. Mắt chăm chú nhìn vào cứ điểm chi chít ở Điện Biên Phủ trên bản đồ, trong lòng Vi Quốc Thanh tưởng tượng ra một tình huống phức tạp về cơ sở phòng ngự của địch. Đồng chí nghĩ, quân đội Việt Nam thiếu kinh nghiệm đánh công kiên qui mô lớn, theo tình hình địch ta hiện nay, áp dụng cách đánh này thì không nắm chắc phần thắng. Đánh không tốt, còn phải chịu thiệt hại lớn. Vì vậy, cần thay đổi phương châm tác chiến.

Biến đánh nhanh thắng nhanh thành đánh chắc thắng chắc, từ ngoại vi vào trung tâm, tiêu diệt địch từng cứ điểm một. Đợi điều kiện chín muồi, mới mở tổng công kích tiêu diệt toàn bộ quân địch đóng giữ. Như vậy, có thể làm cho quân đội VN ở vị thế chủ động và rút kinh nghiệm từ trong từng trận đánh. Muốn như vậy phải chuẩn bị tác chiến thời gian dài, các công tác chuẩn bị phải làm thêm, không thể mở tấn công ngay. Xung quanh Điện Biên Phủ hiện nay, có nhiều bộ đội như thế, làm thế nào mới có thể phát huy tác dụng? Ánh mắt của Vi Quốc Thanh lọt vào vùng Ô Giang nam Thượng Lào, phía tây nam Điện Biên Phủ. Đây là một phòng tuyến hỗ trợ cho quân đóng giữ Điện Biên Phủ mà địch mới chiếm gần đây. Chiến tuyến tương đối dài, phòng ngự tương đối yếu, cách Điện Biên Phủ không xa lắm. Lệnh cho đại đoàn 308 ở tây Điện Biên Phủ đi đánh vùng này, rất nhiều điều lợi: tiêu diệt bộ phận sinh lực địch, phân tán binh lực cơ động của địch, giải phóng một vùng rộng lớn, càng cô lập Điện Biên Phủ.

Vi Quốc Thanh nghĩ đến đây trong lòng bỗng nhiên phấn chấn, lập tức bước ra khỏi nhà, đến chỗ Mai Gia Sinh. Đồng chí và Mai Gia Sinh bàn tính tỉ mỉ ý nghĩ của mình, Vi Quốc Thanh liền gọi điện thoại cho Võ Nguyên Giáp, nói có việc cần muốn bàn. Võ Nguyên Giáp đến ngay. Vi Quốc Thanh trình bày khá tỉ mỉ ý nghĩa mới của mình với Võ Nguyên Giáp. Võ Nguyên Giáp tỏ ý hoàn toàn tán thành thay đổi phương châm tác chiến. Nhưng việc cử đại đoàn 308 đi đánh thượng Lào, thì ngỏ ý để đồng chí sau khi suy nghĩ hãy quyết định.

Đại đoàn 308 là đại đoàn chủ lực số 1 của quân đội Việt Nam. Võ Nguyên Giáp suy nghĩ đại đoàn 308 đi Thượng Lào là một nước cờ hay cũng nắm chắc thắng lợi, nhưng ở Điện Biên Phủ có hơn 10.000 quân Pháp, trang bị tốt, khí thế hung hăng, liên tục chủ động xuất kích nếu biết được đại đoàn 308 đi Thượng Lào, chúng xuất kích toàn diện thì làm thế nào? Quân ta có thể trụ nổi không? Phần lớn đại pháo đã chuyển lên rồi, để tránh bị tổn thất cần phải đưa xuống, bộ đội sẽ có lời ta thán cũng sẽ ảnh hưởng đến tinh thần binh sĩ. Đồng chí mất ngủ, suy nghĩ một đêm. Ngày hôm sau, đồng chí đến gặp Vi Quốc Thanh, bày tỏ đồng ý đại đoàn 308 đi Thượng Lào tác chiến, đồng thời cũng nói rõ nỗi lo lắng của mình. Nghe xong, Vi Quốc Thanh nói: “Tôi thấy dù địch biết đại đoàn 308 đi Lào, chưa chắc dám xuất kích toàn diện. Nếu địch xuất kích toàn diện, chúng ta cũng có cách đối phó. Để tránh tổn thất có thể rút một số đại pháo đã chuyển lên là cần thiết, có thể nói rõ với bộ đội đại đoàn 312 vẫn phải tích cực mở đường chuẩn bị đưa đại pháo vào, nhất thiết không được lơ là. Bộ chỉ huy mặt trận cũng lùi về một ít, để bảo đảm an toàn”. Võ Nguyên Giáp yên tâm, tỏ ý tán thành sự sắp xếp đó. Đồng chí lập tức ra lệnh.

Thay đổi phương châm tác chiến đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc thắng chắc, rất nhanh được Trung ương Đảng Lao động VN phê chuẩn và Quân uỷ Đảng Cộng sản Trung Quốc đồng ý. Ngày 27/1, Quân uỷ Trung ương điện trả lời Vi Quốc Thanh nêu rõ: “Tấn công Điện Biên Phủ nên áp dụng chia cắt bao vây, tiêu diệt địch từng toán một. Mỗi lần tiêu diệt khoảng 1 tiểu đoàn, chỉ cần có thể tiêu diệt hoàn toàn bốn, năm tiểu đoàn thì địch ở Điện Biên Phủ có thể dao động hoặc rút chạy về phía nam, hoặc tiếp tục tăng viện. Cả hai trường hợp đều có lợi cho chúng ta”.

Cách đánh, đánh chắc thắng chắc từng bước tiêu diệt địch này, lúc bấy giờ gọi một cách hình ảnh là “bóc măng”, tức là bóc từng lớp một, ăn từng miếng một, cuối cùng tiêu diệt toàn bộ quân địch. Ngày 26/1, đại đoàn 308 tiến đến Thượng Lào, có nhiệm vụ tiêu diệt địch đóng giữ dọc bờ nam Ô Giang, xem tình hình đánh lấy Luông Prabang. Bọn địch ở phòng tuyến nam Ô giang nghe phong thanh tháo chạy. Đại đoàn 308 đuổi đánh dữ dội, trong 10 ngày tiêu diệt hơn 5 tiểu đoàn, giải phóng toàn bộ vùng lưu vực nam Ô Giang, tiến sát Luông Prabang. Navarre cấp tốc điều quân bằng máy bay từ đồng bằng Bắc Bộ và Điện Biên Phủ sang Luông Prabang và Mường Xay để chống đỡ. Đại đoàn 308 đã đạt mục đích tấn công Thượng Lào vì binh lực địch tăng thêm, cung cấp lương thực khó khăn, nên không tấn công Luông Prabang nữa, hạ tuần tháng 2 trở về vùng tây Điện Biên Phủ.

Đồng thời với đại đoàn 308 đi đánh Thượng Lào, Trung đoàn 148 quân đội Việt Nam tiến quân lên Phong Xa Lì, Thượng Lào, trung tuần tháng 2 giải phóng toàn bộ tỉnh Phong Xa Lì. Đến đây diện tích vùng giải phóng Thượng Lào lại mở rộng thêm 10.000 km2, nối liền với vùng Tây Bắc, Việt Nam. Quân địch đóng giữ Điện Biên Phủ càng thêm cô lập. Quân địch đóng giữ Điện Biên Phủ bố phòng nghiêm ngặt, công sự kiên cố hoả lực mạnh mẽ, làm thế nào mới có thể chia cắt bao vây địch, nuốt gọn từng miếng một? Đó là vấn đề Vi Quốc Thanh ngày đêm suy nghĩ. Vi Quốc Thanh có kinh nghiệm tác chiến phong phú vì đã làm Tiểu đoàn trưởng công binh thời kỳ trường chinh, nghĩ đến biện pháp thao tác áp sát và hào sâu tiếp cận địch. Tức tổ chức bộ đội đào hào sâu, lợi dụng hào sâu chia cắt, bao vây, áp sát cứ điểm địch. Sau đó bất ngờ tấn công. Như vậy có thể giảm thương vong bộ đội, lâu ngày đánh chắc, thắng chắc. Mai Gia Sinh cũng tán thành phương pháp này. Vi Quốc Thanh nói: “Hãy bàn với các cố vấn xem sao”.

Lúc này, vừa may cố vấn đại đoàn 308 Vu Bộ Huyết đến Ban chỉ huy báo cáo tình hình. Vu Bộ Huyết báo cáo tóm tắt tình hình đại đoàn 308 tác chiến ở Thượng Lào. Vi Quốc Thanh hỏi đồng chí: “Đồng chí có cách gì đánh Điện Biên Phủ không?”. Vu Bội Huyết nói: “Tôi nghĩ có thể dùng biện pháp áp sát. Tôi và Vương Thừa Vũ (đại đoàn trưởng 308), Lê Quang Đạo (chính uỷ 308) sau khi từ Thượng Lào trở về, ngày nào cũng tâm niệm làm thế nào để gặm cục xương cứng Điện Biên Phủ này. Tôi nêu ra trước biện pháp này, được các đồng chí ấy đồng ý, để bộ đội làm thí nghiệm trong ruộng lúa. Họ cảm thấy biện pháp này được, chúng tôi lần lượt báo cáo lên”. Mấy ngày hôm nay, Vi Quốc Thanh lại mắc bệnh đau đầu, trên trán mang một máy giải nhiệt bằng nhôm, tinh thần mệt mỏi. Lúc này đồng chí phấn khởi đứng lên nói không ngớt lời: “Thế thì tốt rồi! Đồng chí nói tỉ mỉ xem nào”. Tiếp đó, đồng chí lại tập trung tinh thần lắng nghe báo cáo tỉ mỉ của Vu Bộ Huyết trong lòng đã nắm chắc.

Ngày hôm sau, Vi Quốc Thanh chính thức đưa ra kiến nghị nói trên với Võ Nguyên Giáp. Võ Nguyên Giáp phấn khởi tiếp nhận, chỉ nêu ra, quân đội VN ngoài số ít công binh ra, lâu nay chưa trang bị công cụ thao tác áp sát, đó là một khó khăn thực tế. Vi Quốc Thanh điện gấp cho Quân uỷ Trung ương Trung Quốc, yêu cầu nhanh chóng điều động số lượng lớn cuốc xẻng để đáp ứng nhu cầu khẩn cấp. Bộ Tổng Tham mưu quân đội VN tuân theo chỉ thị của Võ Nguyên Giáp vạch ra kế hoạch công trình xây dựng toàn bộ trận địa và truyền đạt cho bộ đội. Vi Quốc Thanh triệu tập họp cố vấn các đại đoàn, yêu cầu họ giúp bộ đội tổ chức thực hiện. Đồng chí còn kết hợp tình hình địch trước mắt, giới thiệu với phía Việt Nam kinh nghiệm tác chiến công kiên của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc giúp giải quyết các vấn đề chiến thuật cụ thể, để tăng thêm niềm tin thắng lợi cho bộ đội.

 Vu Hoá Thầm

(đăng trong Thượng tướng Phong Vân lục
Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000)

Phi cơ Morane MS.500 Criquet của Phi đoàn Quan sát Pháo binh GAOA 21 (21e Groupe Aérien d’Observation d’Artillerie)

Đại bác không giật 75 ly của Trung đoàn 35 Pháo binh Nhẹ Nhảy dù (35e RALP) tại Điện Biên Phủ.

Súng cối 120 ly của đại đội súng cối nặng Lê dương (1re CMMLE)

Tiểu đoàn 3 Pháo binh của Trung đoàn 10 Pháo binh Thuộc địa (III/10e RAC) của thiếu tá Alliou.

Tiểu đoàn 3 Bán Lữ đoàn 13 Lê dương (III/13e DBLE) của thiếu tá Paul Pégot trên cứ điểm Béatrice (đồi Him Lam). Trong hình đại liên Browning đạn 7 ly 62, nặng 18 ký, tầm xa 900 thước, nhịp bắn 400 viên/phút.

Đặc công Việt Minh thực tập vượt rào kẽm gai.

Những Người Tù Cuối Cùng

Phạm Gia Đại

Post by Sơn râu 4 Jun 2024

Phần 21

Ngày Trở Về

Chúng tôi lục tục xuống xe, lích kích khiêng các ba lô túi xách cá nhân vào bên trong cái cổng có tên “Hàm Tân Z-30D” và được chỉ định tập trung vào một khu vực sâu phía bên trong trại .

Chín mươi người chiếm hẳn một góc sân trong tư thế nghỉ ngơi kẻ đứng người ngồi dưới tàn cây rợp bóng mát.

Trên khuôn mặt những người tù cuối cùng này có một điểm giống nhau là sự bình thản và nhẫn nại.

Sự bình thản là kinh nghiệm nhiều năm ở tù đã tạo cho họ có được một đức tính biết âm thầm chịu đựng, biết chờ đợi và biết bình tĩnh trước mọi tình huống.

Chính sự bình tâm trước mọi thử thách gian nguy và thái độ can trường chịu đựng một cách bền bỉ mọi hình phạt tàn khốc của kẻ thù phủ lên người họ, đã dần dần biến đổi môi trường sống của người tù thành thuận lợi hơn.

Hoặc giả vì cái nghiệp lực to lớn phủ chụp xuống toàn dân miền Nam khi nước đã mất vừa lui đi? Hoặc kẻ thù sau bao nhiêu năm trả thù đã hả hê và bây giờ họ chợt nhận thấy rằng mình đã xuống tay quá mạnh trên lưng kẻ thất trận cùng một mầu da nên dừng bớt lại?

Cộng thêm vào đó là lòng nhân đạo của người tù đã lấy ân báo oán, “lấy trí nhân mà thay cường bạo” khi cứu giúp thuốc men cho các khu gia binh và dân chúng quanh vùng, khi chia sẻ điếu thuốc, ấm trà, ly cà phê với các cán bộ, cán binh của trại giam đã làm cho họ phải suy nghĩ về tình người?

Tất cả những sự việc bề ngoài tuy trông rất bình thường đó lại là những yếu tố quan trọng cảm hóa kẻ thù, lấy được lòng dân, và xoay chiều cơn sóng dữ đã bao lần muốn nuốt sống mạng người tù; để đạt được điều ấy, hàng ngàn tù nhân đã ngã gục và nằm sâu trong lòng đất Mẹ.

Sau một thời gian dài suốt chín năm vừa qua, được gia đình đến thăm nom và tiếp tế đủ thứ từ ăn uống đến thuốc men, quần áo vật dụng, thì chúng tôi đã có một “tài sản” khá nhiều, khá bề bộn, dù là đã bỏ lại tại trại cũ Nam Hà nhiều thứ lỉnh kỉnh, nên chưa đến nỗi như đồ đạc trong truyện “Hoàng Trừu” ngày xưa.

Đó là chưa kể đến những thứ mà các bạn về trước đã để lại như cây đàn ghi ta, bình ấm pha trà, các sách truyện quý kể cả các cuốn kinh về tôn giáo mà chúng tôi buộc phải mang theo vào Nam vì đó là những kỷ niệm của người đã rời trại giao cho người ở lại.

Thêm vào đó, những người tù trước khi ra khỏi cổng trại tù vẫn còn phải chịu một lần kiểm soát gắt gao nữa và các sách báo kinh điển như vậy sẽ bị tịch thu ngay. Bởi thế kinh nghiệm của những người được về trước để lại cho người sau là càng gọn nhẹ càng tốt để tránh bị đám trực trại làm khó dễ hay hạnh họe trong lúc kiểm tra.

Trong những năm tháng tù đầy, có nhiều sự việc bất ngờ xẩy ra làm cho đời sống tù nhân thêm vất vả khốn đốn mà chuyển trại là một. Chuyển trại luôn là điều đáng e ngại nhất vì ngoài sự cực nhọc lao đao của thân xác là sự bất định của một tương lai không biết sẽ đi về đâu. Dầu sao đi nữa thì việc chuyển trại lần này coi như tạm xong.

Đây không phải lần đầu tiên chúng tôi chuyển trại và có thể cũng chưa chắc đã là lần cuối, cho nên cách tốt nhất là chấp nhận hiện tại rồi từ từ tính sau, bởi vậy chúng tôi mỗi người sẵn sàng bên cạnh hành trang của mình chờ đợi thủ tục nhập trại.

Thủ tục này như mọi lần thì bao gồm điểm danh từng người để bàn giao quân số cho trại mới, nhắc nhở về tuân thủ nội quy và kế nữa là mỗi người tù tự mở ba lô của mình ra cho trực trại khám xét từng vật dụng một trong đó; thứ nào được cho qua thì mới được đem vào, còn lại là tịch thu hết.

Điều lạ lùng là lần đầu tiên thủ tục khám xét để nhập trại tại Hàm Tân đã được thông qua chứ họ không lục tung lên tất cả mọi thứ trong tư trang mỗi người như những lần nhập trại tại miền Bắc.

Có thể đây là một dấu hiệu tốt hay chăng? Cái gì thì cũng phải đợi một thời gian nữa xem sao vì họ đã lường gạt người tù quá nhiều lần rồi nên bây giờ chúng tôi thẩy đều thận trọng.

Trong khi chúng tôi vẫn đang đứng bên cạnh tư trang của mình thì cánh cổng trại chợt được đẩy rộng ra hơn vì có mấy tay cán bộ, cán binh đem các xâu chìa khóa vào và lần lượt mở còng hết cho các tù nhân.

Thái độ của họ tỏ ra thân thiện mà tôi tin rằng đó là do cấp trên đã ra lệnh cho họ đối xử như vậy, chứ không đầy hận thù như tại trại giam Long Thành mười hai năm trước khi còng tay chúng tôi để chuyển đến trại Thủ Đức trên đường ra Bắc lưu đầy .

Tôi lấy bàn tay trái xoa bóp cổ cánh tay phải một chút vì có chỗ hơi bị sưng lên vì cái còng số tám.

Ba ngày trời rồi cổ tay phải của tôi mới được thong dong rời khỏi cổ tay trái của anh Hai Hầu.

Ba ngày rồi trên tầu hỏa hay khi xuống xe lửa về trại Hàm Tân, anh Hai Hầu đi đâu thì tôi phải đi theo, ngược lại cũng vậy và cả tôi lẫn anh Hai Hầu đều không than phiền gì dù là cái còng có hơi nhỏ một chút.

Sau đó thì có vài tay có lẽ là cấp chỉ huy mà họ gọi là “Ban” đến để nói chuyện với nội dung tóm tắt là anh em chúng tôi được chuyển vào Nam để “tiếp tục cải tạo chờ ngày về đoàn tụ gia đình”.

“Ban” đề cập một số những giáo điều mà chúng tôi chẳng ai buồn nghe vì sau ba ngày di chuyển trên xe lửa thật mệt mỏi, ai cũng chỉ muốn cho xong mọi thủ tục để tìm chỗ nghỉ ngơi mà thôi.

Mười lăm phút nói chuyện để chào đón chín mươi người từ miền Bắc vào Nam, và không thấy ai có ý kiến gì nên mấy tay cán bộ này bảo nhóm trật tự hướng dẫn chúng tôi về buồng giam trong một khu vực riêng, biệt lập nằm bên trái sân trại.

Bấy giờ là buổi chiều, từ lúc mới vào trại, tôi vẫn nhìn ra phía ngoài cổng, nắng đang nhuộm vàng trên những ngọn lá Buông từ xa rồi tắt xuống dần thân cây và hắt những sợi vàng yếu ớt của một ngày sắp hết thành những vệt dài loang vào trong sân.

Lúc đó tuy là mùa Hạ nhưng khi ánh nắng dịu đi thì dưới đất không còn bốc lên cái nóng hừng hực của ngày Hè nữa, mà hơi mát từ trong không khí tỏa xuống thật dễ chịu. Sau này tôi mới biết nơi này mát một phần là nhờ trại nằm gần bên một nhánh sông được tách ra thành các dòng suối nhỏ nước chảy róc rách ngày đêm xuyên qua khu rừng và chạy vòng quanh trại.

Trước kia, nơi đây là mật khu rừng Lá của VC mà họ vẫn thường chận các xe đò liên tỉnh để hăm dọa hành khách, bắt hành khách vào trong khu rừng này để tuyên truyền về “giải phóng” về “cách mạng” mất cả nửa ngày mới thả cho ra về. Nếu là quân nhân hay công chức thì bị bắt dẫn đi luôn.

Tôi có hai người cháu trai lúc còn bé đi theo chuyến xe đò liên tỉnh này, hai cháu cũng bị bắt vô đây nghe thuyết giảng mấy tiếng đồng hồ rồi mới được thả cho về lại Sàigòn vì các cháu chỉ là học sinh.

Lúc về tới nhà mấy ngày sau mà hai cháu vẫn còn hãi sợ. Hình ảnh những súng AK chĩa về phía hành khách đang ngồi bệt xuống đất trong rừng, và những chiếc khăn rằn quấn quanh cổ với những bộ mặt dữ tợn. Các cháu nói không quên được dù sau này đã trưởng thành.

Sau khi chiếm miền Nam thì cái mật khu này được biến thành trại tập trung “cải tạo” để giam giữ cả tù hình sự lẫn tù chính trị chế độ cũ. Thời gian những năm trước, trại này cũng nổi tiếng là khắc nghiệt, ngược đãi tù nhân với bàn tay sắt.

Số lượng tù nhân chết vì kiệt sức, vì vượt trại và bị bệnh tật không phải là ít.

Dòng đời vẫn trôi nhanh và tôi cũng không tưởng tượng ra được một ngày nào đó như hôm nay tôi lại có mặt trong khu rừng Lá này, không phải để nghe như các hành khách xe đò ngày xưa những tuyên truyền của VC – giống như những giáo điều bài bản rập khuôn và rỗng tuyếch mà tôi đã phải nghe mười mấy năm nay – mà chính tôi và những người tù đồng cảnh ngộ đang sống ngay bên trong trại giam của họ dựng lên tại nơi này.

Dầu sao thì tôi cũng đã vào đến trong Nam và điều thực tế là gần gia đình hơn và khí hậu miền Nam cũng ôn hòa hai mùa mưa nắng sẽ tốt và thích hợp cho sức khỏe chúng tôi nhiều hơn.

Một điều đáng mừng là gia đình cũng bớt vất vả ngược xuôi từ Nam ra Bắc trong những chuyến thăm nuôi đã như là huyền thoại vào tận rừng sâu núi thẳm để tiếp tế cho chúng tôi.

Một điểm nữa, không hiểu sao khi vào đến đây thì trong tôi niềm hy vọng lại chợt loé lên hình ảnh một ngày trở về sẽ không còn xa nữa- nghĩa là tôi sẽ có một ngày nào đó được trở lại thành phố Sàigòn, cái thành phố mà tôi đã phải u buồn trong câm nín, đau buồn trong tang tóc mà lặng lẽ bỏ nó ra đi cái ngày mà miền Nam vừa mất vào tay kẻ thù phương Bắc.

Miền Nam, hai tiếng đó như một cái gì thật là gần gũi và yêu thương mà sau mười hai năm lưu đầy xa vắng, nay tôi mới có dịp quay về để hít thở lại bầu không khí ấm áp này.

Tôi đang miên man suy nghĩ thì đã bước đến cửa buồng và quay về thực tại vì các tiếng động ồn ào, tiếng nói lao xao của các bạn. Chúng tôi thẩy các ba lô vật dụng cá nhân lên chỗ nằm rồi đi tìm nước tắm một cái đã, mọi việc khác tính sau.

Buồng giam này cũng giống như hàng mấy chục cái buồng giam mà tôi đã trải qua, mỗi buồng cũng chứa đến sáu chục người. Tụi tôi ở làm ba buồng, hai buồng lớn và một căn nhỏ trên mấy bực tam cấp là dành cho các ông tướng.

Đây là lần đầu tiên từ mười ba năm qua mà chúng tôi, các dân sự hay cấp úy cấp tá, được ở chung cùng một khu, cùng chung một sân, không có bờ tường hay hàng rào kẽm gai ngăn cách với các ông tướng.

Tất cả tụi tôi, những người tù cuối cùng đều tập trung trong khu này trừ một số trong các anh đã ở Hàm Tân trước thì được phái ra ngoài như là tự giác để canh giữ các lán trại hay chăn nuôi gia súc và heo bò tăng gia cho trại.

Phía trước mặt khu vực chúng tôi ở là bờ tường, còn phía bên hông trái là hàng rào dây kẽm gai, chừa ra một cái cổng ra vào, thông ra sân lớn; và phía bên kia sân chạy dọc vào sâu bên trong là các khu dành cho tù hình sự.

Đặc điểm của trại này là có hai khu giam giữ một dành cho tù hình sự nữ và một cho nam.

Trong ba căn buồng giam dành cho chúng tôi, hai căn lớn là sàn xi măng bên dưới và có một tầng trên là sạp gỗ.

Buồng giam ở đây tương đối thoáng mát hơn các buồng giam ngoài Bắc vì có nhiều cửa sổ và trông sạch sẽ hơn nhiều.

Chỉ có căn dành cho các ông tướng thì ngăn ra làm mấy phòng nhỏ và mỗi anh đều có một chiếc giường cá nhân thoải mái để nằm chứ không phải nằm trên sàn.

Nơi dành cho các anh ở là một căn nhà nhỏ trông rất tươm tất, không có hình dáng một buồng giam như chúng tôi đang ở dưới này.

Mấy ông tướng vào những năm sau cùng thì rất là thân, có dịp liên lạc nói chuyện thường xuyên với chúng tôi, và tâm sự nhiều với nhau chứ không còn ngăn cách và biệt lập như những năm đầu khi mới ra Bắc.

Chúng tôi thường gọi mấy ông tướng bằng “anh” chứ không có còn gọi theo cấp bậc chức vụ cũ nữa.

Trong các ông tướng thì chúng tôi quen biết hết vì gập nhau hàng ngày, và thường có dịp thì cùng tham gia văn nghệ chung với anh Lê Minh Đảo, anh Lê Văn Thân.

Tình thân mỗi người mỗi khác nhau nhưng tôi lại thân và kính mến nhiều hơn với các anh Mạch Văn Trường, Trần Bá Di, và anh Tất, mà tôi coi như những người anh lớn và học hỏi được nhiều về cách sống của các anh.

Anh Đảo thì rất văn nghệ, mau mắn và có giọng cười thật là phóng khoáng dễ mến.

Anh vừa đàn vừa hát nhiều bản do anh sáng tác nhưng hay nhất và cảm động nhất vẫn là bài “Mẹ” mà anh làm ra để tặng người Mẹ hiền.

Anh Di thì dáng người cao lớn như anh Trường nhưng gầy hơn, miệng lúc nào cũng nở nụ cười thật tươi khi gặp hay trò truyện với anh em chúng tôi. Điểm đặc biệt ở anh Di mà tôi nhận thấy nổi bật là anh lúc nào cũng giữ được tinh thần lạc quan và tinh thần chiến hữu bền chặt với anh em cấp dưới trong tù.

Anh Giai thì dáng hơi gù gù giống như vai hùm của võ tướng thời xưa và nhiều lúc tôi thấy anh hay cười mỉm chi như vừa tìm ra được một điều gì đắc ý vậy khi đang nói chuyện với các đàn em.

Anh Thân thì học được thuật châm cứu của ông thầy người Tầu khi còn ở trại Hà Tây ngoài Bắc.

Ông người Tầu này bị bắt khi đi hái thuốc tại biên giới Việt-Trung và bị khép vào tội gián điệp, và là một ông thầy đã từng cứu giúp nhiều anh em chúng tôi bằng phương pháp châm cứu thật độc đáo.

Những người dân sống tại vùng biên giới Việt-Trung, nếu thiếu thận trọng như ông thầy Tầu này khi mải mê đi hái lá rừng làm thuốc thì rất dễ bị lạc qua địa phận bên kia, và sẽ bị bắt ngay về tội xâm nhập lãnh thổ, dò la hay gián điệp.

Ông là một người có tài châm cứu như thần mà tôi khâm phục vì chính mắt tôi đã mục kích những lần ông chữa đủ thứ bệnh cho các anh em tù nhân chính trị với hai cây kim bạc dài đến gần hai tấc đâm lút vào bụng hay vào sống lưng.

Ông luôn đem theo một họa đồ mà tôi rất thích ngắm nghía nhưng chẳng hiểu gì cả vì đầy những huyệt đạo trên cơ thể con người để chỉ dẫn thêm cho anh Thân.

Ngoài tài về châm cứu ra, anh Thân còn có biệt tài về thổi ống sáo.

Buổi chiều khi đi lao động về, sau bữa cơm đạm bạc, tôi thường ngồi trên chiếc ghế đá trong sân trước buồng để hưởng một chút thanh tịnh của một ngày sắp tàn.

Những khoảng thời gian đó là lúc anh Thân bắt đầu lấy ống sáo ra và tiếng sáo của anh bay từ căn nhà trên bực tam cấp đó vi vu thoảng trong gió chiều xuống buồng chúng tôi làm tôi thấy tâm hồn mình lâng lâng một cảm giác mênh mang khó tả trong ánh chiều tà.

Tiếng sáo ấy chắc không thể đem ra so sánh với tiếng sáo của Trương Lương ngày xưa vì hai hoàn cảnh khác nhau nhưng để lại trong tôi những cảm xúc buồn vui lẫn lộn.

Lúc anh thổi, đầu anh hơi cúi xuống như đang để hết những tâm sự của mình vào trong tiếng sáo nên khi nghe dù là tôi nhìn thấy anh hay không nhìn thấy anh chăng nữa, trước mắt tôi vẫn hiện rõ một khuôn mặt hiền hậu xương xương nuớc da sạm nắng với nụ cười mím luôn trên môi và đôi mắt hiền lành nhưng luôn vương vấn một nỗi niềm u uẩn khó tả.

Có lúc tôi nghe tiếng sáo mà thấy lòng mình vui theo, nhưng nhiều khi tiếng sáo ấy thật buồn da diết như lời trần tình của một vị tướng, một chiến sĩ đã không làm tròn được bổn phận giữ nước của mình và đã sa vào trong tay giặc.

Đôi khi tôi chạy lên phòng để nói với anh rằng anh thổi sáo thật tuyệt vời dù là anh học chưa bao lâu, những lúc đó anh chỉ cười, nụ cười hiền hậu cám ơn, nụ cười mà không bao giờ xóa nhòa trong trí nhớ của tôi.

Có khi tôi lại không có can đảm nghe thêm nữa và bỏ vào trong buồng lên chỗ nằm tìm cuốn sách để đọc bởi vì tiếng sáo ấy lướt đi như làn gió nhẹ bay bay trong không trung của mấy buồng giam chúng tôi như đã khơi dậy trong tôi niềm đau sâu kín trong lòng về thân phận tù đầy của mình, về sự tan vỡ của gia đình, về niềm nhớ không nguôi thành phố mang tên Sàigòn, về tương lai có nhiều hứa hẹn hơn nhưng vẫn còn xa vời.

Anh Trường thì thân với tôi như anh em khi còn ngoài Bắc vì chúng tôi đều chung một thầy học đạo. Thầy Tâm đã nhận anh Trường và tôi làm đệ tử. Thỉnh thoảng tôi lại có dịp ăn bữa cơm chay với thầy, anh Trường và cả ông Xoàn nữa do thầy nấu nướng và chế biến; trong khi ăn thầy thường kể những câu chuyện về đạo Phật trong đời sống dân gian ngày trước rất là hay và thật lạ lùng.

Tôi cũng có một kỷ niệm đáng nhớ với anh Trường khi ngoài Bắc họ loan báo đổi tiền. Anh từ bên buồng giam của mấy ông tướng đưa cho tôi hai trăm đồng qua bờ tường để nhờ tôi đổi dùm. Lúc đó dù là ở Nam Hà cũng đã thoải mái hơn, nhưng các anh vẫn bị hạn chế nhiều trong bốn bức tường ít tiếp xúc với bên ngoài bằng tụi tôi, cho nên tiền bên các anh đều phải tuồn qua bên chúng tôi để tìm cách đổi cho kịp.

Chúng tôi trong buồng bèn gom tiền lại nhờ anh H. là tự giác đi ra ngoài trại qua đám cán bộ nhờ đổi dùm – nhưng không may hôm đó họ khám tất cả mọi người ra vào trại kể cả tự giác và trật tự nên anh H. bị tịch thu hết số tiền mang ra.

Tối hôm đó tôi nằm mơ thấy mình mặc một bộ quần áo rất sạch sẽ, áo sơ mi và quần tây mầu trắng thì đột nhiên có một con gà từ buồng bên cạnh chạy qua và nhẩy vào người tôi rồi loang đầy máu đỏ lên chiếc quần trắng đó. Tôi vội hất con gà ra nhìn cái quần bị vấy máu thì giật mình tỉnh dậy. Có thể là một điềm xấu.

Sáng dậy, tôi bèn đem giấc mơ ra hỏi thầy Tâm thì thầy không nói gì chỉ bảo tôi ráng niệm Phật và thầy cũng sẽ cầu nguyện cho.

Chiều hôm đó trực trại kêu mười mấy người trong đó có tôi qua khu bên Văn Hóa “làm việc”. Chúng tôi được biết là phải viết kiểm điểm vì lưu trữ tiền “ngân” vi phạm nội quy của trại. Lúc đó tôi mới hiểu là giấc mơ đã báo cho điềm không hay. Tôi viết và nhận số tiền hai trăm đồng là của tôi vì không muốn họ làm khó dễ anh Trường vì sao anh cũng là cấp tướng còn tôi dầu sao chỉ là phó thường dân.

Họ thu hết các bài kiểm điểm đem ra khỏi trại, tịch thu hết tất cả số tiền lần đó nhưng rất may là sau đó vụ này từ từ êm đi. Tiền đi thay cho các tai ương khác như ông bà thường nói chăng.

Tôi nhắn với anh Trường là số tiền đã bị tịch thu rồi và tôi nhận số tiền hai trăm ấy là của tôi và xin lỗi anh đã không làm tròn lời hứa nhưng anh rất vui vẻ và không trách cứ gì tôi cả.

Anh Trường cũng như anh Hai Hầu đều lớn tuổi hơn tôi nhiều và coi tôi như người em trai. Anh Trường được thả ra sau hơn mười sáu năm tù, khi anh ra về tôi có ra gặp anh nói chuyện chốc lát và anh siết chặt tay tôi cũng vẫn với nụ cười tươi và tiếng nói rổn rảng. Anh vẫy tay chào mọi người còn lại và nói mong sẽ sớm gặp lại hết các anh em ở Sàigòn một ngày không xa.

Tình chiến hữu ngày xưa quyện vào tình những người tù đồng cảnh ngộ hôm nay nhất là cùng ở tù với nhau trong giai đoạn cuối này đã trở thành một thứ tình cảm gắn bó không khác gì anh em một nhà.

Trong những lần trại có đợt thả như vậy, và mỗi khi nhìn thấy các người tù được ra về thì tôi lại mừng cho các bạn mình . Tôi mường tượng ra cảnh họ tối nay sẽ đoàn tụ quây quần bên bữa cơm gia đình với nụ cười trong nước mắt, nghĩ về mình còn ở lại thì tôi không khỏi buồn và thấy thật nhiều trống vắng trong tâm hồn vì mất một số bạn hữu không biết bao giờ gặp lại? Buồng giam càng ngày lại càng buồn tẻ hơn người càng lúc càng thưa dần.

Dầu sao mười mấy năm trong tù cũng tôi luyện cho tôi quen dần đi với những đợt thả không có tên mình.

Lúc đầu khi họ kêu ra sân ngồi tập hợp lại để nghe đọc tên, tôi rất hăng hái đi ra với hy vọng có tên mình trong danh sách được thả, nhưng bao lần tên tôi như bị lãng quên, nên riết rồi tôi cũng chán và mỗi lần như vậy lại cáo ốm nằm trong buồng vì biết chẳng bao giờ có tên mình.

Vả lại nghe thấy tên các bạn thân thì bên cạnh niềm vui cho bạn là nỗi chán chường của người còn ở lại.

Nỗi chán chường này bắt nguồn từ tình bạn như thường ăn cơm chung, cùng chia sẻ những nỗi mệt nhọc trong các giờ lao động ngoài nắng mưa hay những buổi chiều dạo bước trên sân tâm sự với nhau, thì đột nhiên họ có tên ra về để lại tôi ngồi ăn một mình, không ai tâm sự, là một trống vắng một nỗi buồn da diết trong tâm hồn khó bù lấp ngay được.

Thời gian vẫn lặng lẽ trôi qua, thấm thoát mà chúng tôi đã vào Nam được một năm. Khi vào đây tôi mới biết là trong Nam cũng còn giam giữ chưa thả hết tù chính trị chế độ cũ.

Chín mươi người chúng tôi từ trại Ba Sao Nam Hà là những người tù cuối cùng trên toàn đất Bắc chuyển trại vào Nam tháng Năm năm một chín tám tám.

Trong Nam lúc ấy, trại Hàm Tân còn khoảng hơn sáu mươi người nữa là những người tù cuối cùng còn lại ở miền Nam hợp lại với nhau thành khoảng một trăm năm mươi tư người tù chính trị là những người tù cuối cùng trên toàn quốc đang bước qua năm thứ mười bốn.

Một trăm năm mươi tư người tù đó là số sau cùng còn lại của hàng triệu người đã bước chân vô các trại giam tập trung kể từ sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản phương Bắc.

Khi toán tù từ Bắc nhập vào toán trong Nam, có những người bạn cùng đơn vị ngày xưa lưu lạc giang hồ bao nhiêu năm trời và qua bao nhiêu là trại giam từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam, bỗng chốc hội ngộ nhau tại Hàm Tân Z-30D mới biết là bạn mình vẫn còn ở lại đây, giống như bài hát:

-“Anh ở đây bạn bè anh cũng ở đây, áo rách xác xơ thân gầy cùng nhau chung kiếp lưu đầy…chiều chiều ra trông đàn én kiếm mồi thấp thoáng bay qua. Toa liền toa tầu đi trong bóng hoàng hôn, tiếp nối những dư âm buồn thành thơ ray rứt tâm hồn…”

Chúng tôi gặp lại nhau mừng rỡ một phần vì những giai đoạn cam go nhất trong cuộc đời tù tội hầu như đã qua và trong cái không gian dù còn nhiều tù túng và hạn chế này nhưng niềm hy vọng đã lóe sáng lên cho một ngày trở về.

Tuy nhiên, không ai biết rằng và chúng tôi cũng không ai ngờ rằng phải chờ đến bốn năm sau nữa thì họ mới thả hết hơn một trăm năm mươi người tù này làm nhiều đợt nhỏ lớn khác nhau.

Mặt khác ở bên ngoài xã hội, năm một chín tám chín thì Mẹ và hai em út của tôi được ra đi đoàn tụ qua Mỹ theo chương trình ODP mà anh thứ Ba tôi đã bảo lãnh từ 11 năm trước. Chắc chỉ có trong các nước Cộng Sản thì việc xin ra đi nước ngoài cho người dân mới bị làm khó dễ và thủ tục lâu la đến 11 năm như vậy. Năm sau, một chín chín mươi thì vợ chồng Tuyết em gái kế tôi là cô Năm ra đi cũng theo chương trình này qua California.

Năm một chín chín mốt thì đến lượt gia đình Khánh, em gái tôi là cô Sáu rời khỏi VN qua Mỹ là chuyến chót.

Kể cả vợ chồng Thu, em gái tôi cô Bẩy đi vượt biên mười mấy năm trước nữa thì gia đình anh thứ Hai tôi là độc nhất còn ở lại Sàigòn.

Những người trụ cột cho việc thăm nuôi tôi trong tù bao nhiêu năm qua đã lần lượt rời quê hương qua Thái Lan trên đường qua Mỹ định cư. Lúc đó chỉ còn hai con tôi đảm nhận vai trò đi thăm nuôi tôi trên những chuyến xe đò của ông Tô mà thôi.

Cùng lúc đó thì bên ngoài kể từ đầu của thập niên chín mươi niềm hy vọng, nỗi mong đợi bấy lâu là chương trình H.O đã bùng lên thành sự thật một cách rạng rỡ (là chương trình Nhân Đạo: Humanitarina Operation của chính phủ Hoa Kỳ dành cho các gia đình có thân nhân đã ở trong trại giam tập trung từ ba năm trở lên được đi định cư tại Hoa Kỳ.)

Một mặt thì trại vẫn thả nhỏ giọt những người tù, một mặt thì bên ngoài các chương trình H.O 1, H.O 2, H.O 3… vẫn tiến hành đều đặn, cứ vài tháng lại có một đợt H.O ra đi.

Trong khi đó thì chúng tôi những người tù cuối cùng vẫn còn bị giam giữ trong bốn bức tường của Z-30D Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải.

Tâm trạng vui buồn lẫn lộn của những người còn lại ít ỏi đó thật là khó mà diễn tả được. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại nhận được tin từ thăm nuôi vào cho biết những gia đình H.O nào đã lên máy bay qua Thái Lan, gia đình nào đang chờ đợi chuyến bay.

Một trong những niềm vui và an ủi là một số các bạn tù được ra về những năm trước nghe chúng tôi đã về Nam nên vào thăm mua quà và cả két bia nữa, nhân dịp cũng để từ giã chúng tôi luôn vì các anh đã có tên trong danh sách H.O sắp lên máy bay qua Mỹ định cư cùng gia đình.

Khi ra khu thăm nuôi gặp lại nhau thì không nén được niềm xúc động.

Cuộc đời nhiều lúc cũng khó mà lý giải được vì các người bạn đứng đây lúc trước đều là tù nhân như nhau nhưng bây giờ chúng tôi còn trong trại giam mà các bạn đó lại sắp bước vào cuộc đời tươi sáng trên phần đất Tự Do.

Chỉ có thể tin rằng con người ta mỗi người đều có số mạng khác nhau, hay khi mà nghiệp lực đã hết thì thong dong ra về, người nghiệp lực chưa hết thì còn ở lại mà thôi.

Trong hơn ba năm kể từ một chín tám tám, trại chỉ thả số lẻ là năm mươi tư người làm nhiều lần khác nhau, trong đó có nhà văn quân đội PNN ra trại năm chín mươi, cho nên đến đầu năm một chín chín hai thì tổng số còn lại là một trăm người.

Số một trăm người này lần lượt ra khỏi trại làm ba đợt: tháng Giêng, tháng Hai và cuối tháng Tư đầu tháng Năm.

Đợt thứ nhất gồm 42 người trong đó có các anh Lãm, Tỷ, Diễm, Chương “Tây Ninh”, Tống, Điền, Nghi, v.v.

Nhắc đến anh Tỷ thuộc Phủ Đặc Ủy thì mới thấy con người ta sống chết quả là có số mạng, cái chết nhiều khi đến thật dễ dàng nhưng có lúc gập bao tai nạn bệnh tật mà vẫn thoát lưỡi hái của Thần Chết thật kỳ diệu.

Khi còn ngoài Bắc, tôi nằm cùng sàn trên với anh Tỷ, một buổi sáng thức dậy, anh đứng lên để tháo cái dây cột mùng ra khỏi sợi dây kẽm thì có lẽ chóng mặt hay sao đó anh mất thăng bằng nên té từ trên độ cao hơn hai thước, đầu cắm xuống đất.

Bên dưới là các thùng gánh nước bằng sắt, đầu anh đập vào đúng một thùng sắt tây đầy nước, nhưng rất may là tối hôm trước không hiểu anh nào đã đậy thùng nước với cái chậu thau nhôm chia cơm; nhờ có chậu thau đó mà anh đã không bị bể đầu. Cái chậu thau đó như một cái đệm đã cứu mạng anh.

Mọi người đều hỏi anh cần đi bệnh xá không thì anh nói là không sao chỉ choáng váng thôi và một hai ngày sau thì thấy anh bình thường trở lại không có biến chứng gì nguy hiểm.

Khi mới vào Hàm Tân khoảng hai năm thì một buổi tối anh Tỷ đau lăn lộn tại chỗ nằm, chúng tôi đứng chung quanh cũng bối rối chưa biết làm sao và không hiểu nguyên nhân gì mà anh đau dữ dội như vậy, may có anh Nhơn nhanh trí chạy qua bên bệnh xá mời một bác sĩ (anh là BS cũ tại bệnh viện Sàigòn ngày trước và bị bắt sau này vì vụ án “âm mưu lật đổ chính quyền”). Qua chẩn đoán vị BS này nghi là sưng ruột dư nên kêu cấp cứu.

Vì thiếu phương tiện hay người tù không được ưu tiên hay sao nên anh Tỷ chỉ được một tay cán bộ chở bằng xe gắn máy từ đó trên con đường sỏi rất là xóc cả cây số mới ra tới ngoài lộ trên đường đến bệnh viện.

Dù ngồi đằng sau xe gắn máy xóc cả tiếng đồng hồ như vậy nhưng rất may là vẫn còn đến bệnh viện kịp, vì nếu để lâu cái ruột dư mà bị bể ra thì theo anh BS – có thể gây tử vong.

Khi mổ thì phòng mổ mở cửa sổ và bụi bậm tha hồ bay vào phòng chẳng có phương thức khử trùng gì cả. Sau khi ca mổ xong thì nhà thương họ bôi đầy mật ong lên vết mổ nói là để sát trùng vì không có thuốc. Vậy mà anh vẫn sống ngon lành.

Đợt thả lớn thứ nhì là sau Tết vào ngày 20 tháng Hai với 38 người trong đó có PKNiệm, TQ Lựu, Tấn “bầu”, HĐ Sung hay “Sung Bụi”, đại tá PV Phô, LM Sơn, LT Lạt, BQ Nghĩa (cũng là bạn cờ tướng của tôi đã từng đấu với nhau bất phân thắng bại trong mấy năm ở trại này).

Số tám chục người ra khỏi trại vào hai đợt đầu năm một chín chín hai này là những người tù đã bước sang năm thứ mười bẩy.

Vào cuối tháng Hai sau hai đợt thả ấy thì tổng số những người tù trong trại giam Z-30D còn lại đúng hai mươi người, trong đó có tôi.

Danh sách hai mươi người cuối cùng còn sót lại bao gồm bốn ông tướng là Lê Minh Đảo, Lê Văn Thân, Đỗ Kế Giai và Trần Bá Di, mười lăm anh em nữa là hai anh Bửu Uy và trung úy Thắng trong Phủ Đặc ủy; ba cảnh sát là hai trung tá NH Hải, TV Xoàn, thiếu tá PT Ngưu; người về từ Việt Nam Thương Tín Hoàng Hiểu; thiếu úy PRU trinh sát tỉnh Hòa “điếc”; anh Miên “hồi chánh viên”; ANQĐ là đại tá Sảo, Hãn, trung tá Hiếu, Kiên, thiếu tá Mẫn; lực lượng đặc biệt là thiếu tá LH Minh, nhà văn Thảo Trường TD Hinh và tôi thuộc tòa đại sứ HK.

Hai mươi người cuối này được “biên chế” vào hết đội 23 còn đội 20 trước kia được “giải thể”.

Từ đó thì tôi đi lao động chung với các vị tướng và đại tá đàn anh trong lúc sinh hoạt của đội 23 hoàn toàn khác hẳn vì ra lao động chỉ còn lấy lệ mà thôi. Chúng tôi đi ra ngoài để tăng gia về rau xanh, trồng bí mướp, khổ qua cho bữa ăn có thêm dinh dưỡng chứ không còn phải lao động nữa.

Có nhiều anh thì đi câu cá hay nấu nướng, viết thư cho gia đình. Tóm lại là chế độ cưỡng bách lao động từ mười mấy năm qua dành cho chúng tôi nay đã cáo chung và hầu như họ thả lỏng cho những người còn sót lại của đội 23 này được thoải mái như thể chỉ còn sống trong trại để chờ ngày về mà thôi.

Thời gian này quả thật so với quãng đời lưu đầy ngày trước thì khác nhau thật xa, tôi không còn cảm thấy không khí tù tội chung quanh mình, không còn cảm thấy những cảm giác nghẹt thở của trại giam, tuy nhiên tôi không khỏi băn khoăn vì chúng tôi còn lại quá ít, hai mươi người sống bên cạnh hàng ngàn tù hình sự đủ loại tội trạng.

Hàng rào kẽm gai được đẩy lùi thêm vào trong và khu vực của chúng tôi thu hẹp lại vào một góc nhỏ gồm căn nhà dành cho bốn ông tướng và mười mấy anh em chúng tôi sống trong nhà kho sửa laị thành phòng ngủ; và lần đầu tiên trong cuộc đời tù tội, chúng tôi mỗi người có một chiếc giường cá nhân đàng hoàng giống như bốn đàn anh trên căn nhà kia.

Nghĩ lại tôi mới thấy các giấc chiêm bao khi xưa còn lưu đầy ngoài Bắc thật linh ứng. Như giấc mộng chiêm bao của thầy tôi ngoài Bắc khi còn ở trại Nam Hà, thầy đã thấy tôi là một trong những con cá cuối cùng còn quẫy đuôi nằm thoi thóp trên lòng sông mà nước đã trơ cạn đến đáy.

Và hệt như giấc mộng, cánh cửa tù đã đóng lại sau lưng chúng tôi hai mươi người tù cuối cùng vào cuối tháng Tư và đầu tháng Năm năm một chín chín hai. Như giấc mộng rất linh hiển tôi đã nằm mơ khi mới ra Bắc – thấy một vị Thánh Mẫu hiền hậu và uy nghiêm ngồi trên ngai và Ngài đã phán cho tôi ngay từ lúc đầu rằng: “Cộng Sản nó không bao giờ muốn thả anh đâu, nhưng rồi cuối cùng họ cũng phải thả”.

Điều mà Ngài phán đã ứng nghiệm với những người tù cuối cùng – dù đã phải trải qua bao gian truân, cay đắng và tủi nhục suốt mười bẩy năm trời dài đằng đẵng đó nhưng họ vẫn luôn luôn nuôi dưỡng một niềm hy vọng hòa lẫn niềm vui tự hào rằng mình đã sống sót và có mặt trong ngày trở về.

Cuộc sống của chúng tôi trong bốn năm tại Hàm Tân Z-30D có nhiều cái mới lạ và cũng nhiều cái khó hiểu.

Mới lạ vì trước đó chưa hề xẩy ra bao giờ trong mười mấy năm lưu đầy thí dụ như chúng tôi được ưu đãi trong vài phương diện hơn hẳn tù hình sự. Khó hiểu vì sau hai đợt thả lớn vào tháng Chín một chín tám bẩy và Tết đầu năm một chín tám tám tại trại Ba Sao Nam Hà thì việc thả tù đột nhiên ngưng lại, rồi việc chuyển hết chín mươi người tù cuối cùng ngoài Bắc bằng xe lửa vào miền Nam. Tại sao không thả hết ở ngoài Bắc đi vì số lượng chỉ còn chín mười người tù mà phải chuyển trại họ vào Nam rồi thả rải rác đến bốn năm nữa mới xong? Chúng tôi chỉ có thể nghĩ rằng Cộng Sản – những người từ trong hang núi ra chiếm lấy thành phố – họ có cách suy nghĩ tính toán riêng của họ mà thôi.

Khi vào đến Hàm Tân tỉnh Thuận Hải, tổng số lên tới hơn một trăm năm mươi người tù chính trị cuối cùng còn lại trên toàn quốc đã hội tụ ở đây, nếu Hà Nội muốn thả thì quá dễ, cao lắm chỉ vài tháng là xong.

Thế nhưng chúng tôi đã lầm, vấn đề thả tù vẫn nhỏ giọt như thể phía Bộ Nội Vụ đang chờ đợi một cái gì từ phía Tây Phương hay nói rõ hơn là từ phía Hoa Kỳ thì mới mở cổng ra để thả hết tù .

Bởi vậy có sống với Cộng Sản thì mới hiểu Cộng Sản, và khi nào bước chân ra khỏi nhà tù thì mới biết là ra khỏi trại giam, hoặc khi bước chân về ngưỡng cửa nhà mình thì mới biết là đã về đến nhà – vì trại giam họ có thể dễ dàng nại ra bất cứ lý do nào đó để giữ người tù ở lại.

Cho nên người tù còn trong tay họ thì không có một cái gì là chắc chắn cả.

Một cái khó hiểu nữa là tình hình lao động nặng nề mà trại giao cho chúng tôi ngay từ khi mới chân ướt chân ráo vào Hàm Tân, nếu so với điều kiện sinh hoạt rất cởi mở dành cho chúng tôi là tù chính trị thì hai trạng thái này hoàn toàn trái ngược nghịch lý với nhau.

Việc lao động căng thẳng mà trại áp dụng từ phía hình sự qua cho chúng tôi đã làm chúng tôi hao hụt nhiều sức khỏe. Một điểm khác nữa về lao động là tù nhân ở miền Bắc một ngày xuất trại hai lần sáng và chiều ra khu lao động và trưa thì về trại nghỉ ngơi, còn ở Hàm Tân thì đi lao động nguyên ngày, xuất trại buổi sáng, trưa nghỉ tại lán để lao động cho đến chiều xong rồi đi tắm suối.

Bên hình sự thì đa số còn trẻ trong lứa tuổi hai ba mươi, nhưng chúng tôi người trẻ nhất cũng đã ngoài tứ tuần và cao niên là trên lục tuần cả rồi nên bắt lao động như thế trong giai đoạn này là một sự cưỡng bức không thể chấp nhận được. Trong lúc đó thì trại lớn tiếng tuyên bố là các anh về đây để chờ được thả và trại “tạo điều kiện” cho các anh được mau về với gia đình là điều vô lý.

Chính vì thế mà đã bùng nổ ra một cuộc biểu tình của đội 20 chống lại cái lao động khổ sai đó. Toàn thể anh em trong đội đã phản đối bằng cách không di chuyển nữa ngay trên đường ra khu lao động mới xa tới vài cây số đi bộ, nơi mà anh em phải trồng các loại hoa mầu và cây công nghiệp cùng với các đội tù hình sự.

Mọi người đều đồng lòng ngồi nghỉ trên cái cán cuốc của mình, hút điếu thuốc hay nói chuyện với nhau một cách bình tĩnh, trước con mắt vừa tức tối vừa ngạc nhiên của tay quản giáo là Hợp “chuột”, anh em trong đội đặt cho anh ta bí danh này vì khuôn mặt giống chuột nhắt, dáng hay loắt choắt, và luôn rình rập chúng tôi tại các khu vực lao động.

Cuối cùng thì phải tạ Ơn Trên vì phía trại họ đã nhượng bộ cho chúng tôi được về lại khu lao động cũ gần hơn, và áp dụng chế độ lao động mới nhẹ nhàng hơn. Đội 23 là đội dành cho các anh trên 55 tuổi cũng lao động trong khả năng của mình chứ không còn thúc bách như trước nữa. Chúng tôi đều thở ra một cách nhẹ nhõm vì không ngờ mình đánh một nước cờ liều thí xe mà thắng được ván cờ đang vào chỗ bí.

Sự kiện này là một biến cố lớn trong lịch sử của trại tù Hàm Tân vì họ chưa bao giờ nhượng bộ tù hình sự hay chính trị lần nào. Điều đó cho chúng tôi một bài học là nếu biết tranh đấu đúng thời điểm thì chúng ta sẽ thành công.

Đúng vào thời điểm bấy giờ ở bên ngoài, tù chính trị đang chuẩn bị ra đi theo chương trình H.O., và có lẽ trại biết rằng chúng tôi cũng sẽ lần lượt ra về chứ không phải ở mãi trong tù để làm công cụ sản xuất lao động cho họ hoài được. Chính vì thế mà họ xả luôn cả về mặt lao động.

Bên cạnh cái chông gai lao động mà chúng tôi vừa tranh đấu thắng lợi là những nét mới lạ độc nhất vô nhị của trại Hàm Tân.

Trước hết, là sự thoải mái trong nếp sống và cách thức sinh hoạt của trại giam này dành cho chúng tôi.

Ngoài việc được ăn mặc thường phục ở trong trại hay khi ra ngoài lao động là sự sử dụng tiền mặt một cách tự nhiên mà họ gọi là tiền “ngân”, như khi ra mua thức ăn gì tại “căng tin” thì móc túi trả tiền mặt một cách công khai chứ không phải nhìn trước nhìn sau. Tôi cũng bắt đầu làm quen với loại tiền giấy của họ trong lúc mua bán.

Nhớ lại lần đi lưu diễn đến trại giam hình sự tại Cây Số 60 ở Hà Sơn Bình gần mười năm trước, lúc lấy tiền ra để trả cho cô chủ quán ấm trà và gói thuốc lào thì tôi lúng túng mãi không biết đồng nào là một hào hay mười hào, năm chục hào và đành chìa ra hết để cô chủ quán lựa lấy cho đủ số tiền.

Trong bốn năm này, dù vẫn phải xuất trại hàng ngày ra lao động với cuộc sống đều đặn và nhàm chán như tiếng tíc tắc của kim đồng hồ, nhưng riêng tôi có một cảm giác rất lạ lùng rằng thân mình tuy còn trong tù nhưng Tâm của mình đã vượt được ra khỏi vòng rào của tù tội, và như thể bốn bức tường chung quanh không còn khả năng vây hãm, không còn khả năng gây khốn đốn cho chúng tôi nữa.

Như thể những nặng nề u ám, những lớp mây mù dầy đặc phủ chụp lên chúng tôi bao nhiêu năm qua đã dần tan biến đi để lộ ra một ngày mai tươi sáng trong ánh nắng hanh vàng.

Có thể rằng khi cái Nghiệp lực đã lùi ra xa thì mọi việc đều hanh thông chăng. Ngay cả những tay tự giác hay trật tự của trại thường liên lạc với chúng tôi cũng là những anh thuộc viên chức hay sĩ quan chế độ cũ trong nhóm tù cuối cùng hay bị bắt những năm sau ngày Sàigòn sụp đổ cho nên mấy anh trật tự cũng dần dần thành thân quen, và không khí trở nên dễ chịu nhiều.

Các cụ thường nói quan xa bản nha gần quả là đúng vì lấy được cảm tình của các anh trật tự này -giống như tấm đệm giữa chúng tôi và cán bộ trại- thì mọi việc trong sinh hoạt cũng thuận lợi hơn.

Bên cạnh đó, tại khu thăm nuôi, những tay cán bộ phụ trách thường tỏ ra thông cảm và dễ dãi chứ không tìm cách làm khó dễ, hạch sách người tù khi cho họ ra thăm thân nhân như ở các trại giam ngoài Bắc.

Tôi thấy các chị khi nói chuyện với những cán bộ này thì rất là tự nhiên hoặc xã giao, cho họ bao thuốc lá “ngoại” hay gói thuốc lào ba số tám một cách công khai và có thể nhìn thấy sự vui mừng của những cán bộ hay các anh trật tự khi được các chị cho quà.

Tôi tin là phía cán bộ phụ trách đã được chỉ thị từ cấp trên của họ để mở cửa cho việc gia đình đến thăm chúng tôi tại Hàm Tân, bỏ đi những thủ tục rườm rà hay quy định hạn chế ba tháng mới được thăm một lần.

Khi cần các chị có thể vào thăm các anh hầu như bất cứ lúc nào và càng về sau thì khu thăm nuôi càng tiếp đón các người vợ tù này và gia đình một cách thân thiện hơn, thêm vào đó chính những người vợ tù đã khiến cho khuôn mặt của khu thăm nuôi trở thành náo nhiệt và vui tươi.

Một đặc biệt trong sinh hoạt của người tù trong ba năm đầu tại Hàm Tân là buổi tối thì mãi đến chín giờ mới đóng cửa buồng giam để cho chúng tôi có thì giờ nhiều hơn, đi ra sân, ngồi uống trà với nhau hay đi bách bộ hít thở không khí trong lành, trong khi phía hình sự thì vẫn sáu giờ là đóng cửa buồng.

Sự cởi mở này còn được nới ra hơn nữa khi họ thả gần hết và chỉ còn lại hai mươi người, số tù chính trị ít ỏi cuối cùng . Trại đã lấy lại hai buồng giam lớn để giam tù hình sự và cho chúng tôi qua bên nhà kho làm buồng ngủ với giường cá nhân cho mỗi người và chỉ có hai cánh cửa ra vào nhưng không có khoá.

Mỗi tối, chúng tôi đều nhớ khoảng chín giờ thì mười mấy người trong căn phòng nhà kho bảo nhau rút vào trong rồi khép hai cánh cửa lại trước khi lên giường. Nếu quên thì có vài cán binh đi tuần ngoài hàng rào bên khu hình sự lại nhắc chúng tôi vào buồng bằng cách ra dấu một cách nhẹ nhàng.

Năm một chín chín mươi, cả trại giam giống như một xã hội nhỏ cũng lên cơn sốt về giải Túc Cầu Thế Giới và lần đầu tiên nửa đêm trại cho mở cửa hai buồng giam cho anh em chúng tôi ra xem các trận tranh tài này trên truyền hình.

Tôi nhớ anh Dậu Trung Tá Mũ Xanh ngày xưa, cũng thích Túc Cầu, và tôi cùng vài người bạn ngồi uống trà với nhau chờ nữa đêm ra xem chứ không ngủ. Điều này nói lên phía bên họ không còn lo sợ việc trốn trại và phía chúng tôi cũng thấy được là vào đến Hàm Tân thì ngày về không còn xa nữa.

Điều làm cho tôi có lẽ vui và tự hào về tù chính trị là các buổi chiếu phim tại hội trường lớn.

Thiếu Tá Nhu là trưởng trại và ông ta đã cho khai thác “căng tin” mua bán với tù nhân và gia đình họ khi đến thăm, và cho bán vé mỗi tối để thâu thêm tiền.

Bên hình sự, cả nam lẫn nữ đều nô nức rủ nhau ra mua vé mỗi chiều khi vừa vào trại để đi xem phim “chưởng” hàng đêm, đa số là phim Tầu kiếm hiệp của Hồng Kông hay Đài Loan. Mỗi tuần, các cán bộ trại lại về Saìgòn để mướn các phim “chưởng” loại này đem về Hàm Tân chiếu thu tiền. Chúng tôi muốn xem tối chiếu phim gì và phim hay dở cứ hỏi các cô cậu bên hình sự là biết hết. Những phim ảnh của phe xã hội chủ nghiã sau này đều bị “dẹp tiệm” chả ai buồn đi coi vì phim đã dở, đóng không hay, mà cốt truyện toàn tuyên truyền khô khan không hấp dẫn được khán giả, trại đã thử chiếu vài lần thất bại đành chuyển hướng kinh doanh qua phim “chưởng” thì đúng là hốt bạc.

Phía chúng tôi thì anh trật tự, cũng là một Thiếu Úy QLVNCH ngày trước thông báo chính thức là “Ban” Nhu mời các bác các anh lên hội Trường xem không phải mua vé. Ban đầu có vài anh còn nghi ngờ nhưng lên hội trường xem thì đúng là không cần vé.

Hầu như mỗi tối ngày thường là có chiếu phim, một nhóm anh em chúng tôi trong đó có tôi và anh Dậu luôn đi cùng nhau, tay phe phẩy cái quạt nan thả bộ về phía Hội Trường. Khi đến cửa, các anh trật tự đang soát vé các đội bên hình sự, nhìn thấy chúng tôi đến thì đều chào hỏi rất lịch sự và bước sang một bên nhường chỗ cho chúng tôi vào hai dẫy ghế đầu dành riêng bên trên, và chỉ một lát sau là cả ngàn hình sự nam nữ ngồi đầy nghẹt hết chung quanh nói chuyện ồn ào như một cái chợ.

Có hôm tụi tôi vào trễ nhưng vẫn thấy hai hàng ghế bên trên còn trống để dành cho chúng tôi chứ tù hình sự vẫn ngồi từ hàng thứ ba trở xuống. Một cử chỉ nhỏ đó cũng đủ cho tôi thấy được là ít nhiều thì trại hay “Ban” Nhu đã tỏ ra nể vì và ưu đãi một chút những người tù cuối cùng này.

Có những lúc vô tình chạm trán tay Thiếu Tá trưởng trại, chúng tôi đều chào ông ta, ông ta chào lại và không tỏ thái độ gì là còn thù hận sự kiện đội 20 đã dám biểu tình chống đối lao động tức là chống lại ông ta – bởi trong trại kể cả tù hình sự lẫn cán bộ dưới quyền, họ sợ ông ta như sợ cọp.

Những kỷ niệm ấy tôi chẳng bao giờ quên được bởi lẽ nó là những gì một thoáng tự hào của người tù chính trị so với tù hình sự, một cái gì cô đọng lại nhất sau mười hai năm lưu đầy phương Bắc.

Giống như Mẹ tôi vẫn thường nói một cách hãnh diện với mọi bà con họ hàng thân quen cũng như nói thẳng với Phường Khóm rằng các con trai của Mẹ đi tù là tù Ông tù Cha chứ không phải tù bình thường; tại địa phương Phường Khóm Trương Minh Giảng ở Sàigòn chúng nó tức lắm nhưng cũng không làm gì được.

Vì có đầu óc kinh doanh và thực tế nên khi về làm trưởng trại Hàm Tân, Thiếu Tá Nhu đã đặt vấn đề kiếm tiền lên hàng đầu, nguồn lợi to lớn đó từ nhiều phía đem lại như các toán khai thác lâm sản, những dịch vụ “căng tin”, dịch vụ thăm nuôi và chiếu phim “chưởng” hợp với thị hiếu của đám trẻ tù hình sự nam nữ.

Đó là chưa kể chủ trương của tất cả trại giam trong các nhà tù của Cộng Sản là sử dụng tối đa năng lực của tù nhân nam cũng như nữ, là vắt hết sức lực còn sót lại của họ nhằm mục đích làm tiền thật nhiều cho trại qua những từ ngữ lừa bịp và khuôn sáo như “tạo ra của cải vật chất” cho trại hay “lao động là vinh quang”.

Nhưng vì hai chữ “vinh quang” ấy mà hàng ngàn hàng vạn tù nhân đã phơi xác ngoài cánh đồng hay trong trại tập trung vì kiệt sức, vì bệnh tật không thuốc men, vì khẩu phần ăn quá thiếu thốn sau bao nhiêu năm tháng lao động cật lực vì sức khoẻ họ đã bị vắt kiệt.

Nhiều trại đã trở thành giầu có và đám cán bộ chỉ huy tham lam đã có túi đầy tiền, trong đó có trại Hàm Tân Z-30D, nhờ giam giữ thường xuyên một nguồn lao động dồi dào hàng ngàn tù nhân.

Các nữ tù có sắc đẹp ở trại này thì được tuyển chọn để phục vụ ở “căng-tin” và được đi lại khá tự do như những tự giác; mấy cán binh còn tiết lộ là các nữ tù này, đặc biệt một cô đẹp nhất tên M. còn phải phục vụ riêng cho “Ban” Nhu mỗi khi có yêu cầu tại nhà riêng của ông ấy gần đó nữa.

Hàng ngàn tù hình sự nam nữ, đa số là trẻ tuổi đều thích được ra sân sau giờ điểm danh để ăn diện quần áo và nhiều cô có dịp dồi phấn thoa son. Họ thường cặp với nhau thành từng đôi tíu tít nói cười, họ kéo nhau đi mua vé, trò truyện rất là vui mắt. Tôi có hỏi thăm thì được biết đa số nữ vào tù là tội mãi dâm, biển thủ, lường gạt, chỉ rất ít là tội sát nhân; một số nói là họ vô tội nhưng bị dùng làm con vật thí thân đưa vào tù để ém nhẹm việc cấp trên của họ đã biển thủ cả tiền triệu của công ty.

Nhiều tù nữ có bạn trai là tù nam, mỗi buổi chiều ra gập nhau truyện trò với nhau hai mái đầu sát vào nhau trên ghế đá công viên rất là tình tứ và lãng mạn. Nhìn họ vui cười bên nhau một cách vô tư tôi tự hỏi không biết khi vào buồng giam rồi xa cách nhau họ có buồn không? Họ có nghĩ rằng họ là nạn nhân của cái chế độ phi nhân bản này không?

Nếu miền Nam không sụp đổ, nếu chế độ Cộng Hoà còn tồn tại thì những người trẻ ở đây đã là các cô Tú cậu Tú hay sinh viên đại học hay những công nhân viên chức sĩ quan của chính phủ VNCH, những tương lai của đất nước chứ đâu có phải mang thân tù tội oan uổng như vậy.

Cộng Sản quả thật đi đến đâu thì tàn phá và đem hoang tàn đổ nát đến đó. Chúng tôi là những viên chức sĩ quan chế độ cũ đã thất trận nên phải chịu sự trả thù đầy thủ đoạn tàn nhẫn và hèn hạ của kẻ mang danh là chiến thắng chứ các người trẻ tuổi này họ đâu có tội tình gì mà cũng vướng vào vòng lao lý? Chính cái xã hội do chế độ Cộng Sản tạo ra đã đẩy những người trẻ tuổi này vướng vào vòng “pháp luật”, đẩy họ xuống hố.

Lòng tôi không khỏi bùi ngùi và thương xót cho những thiếu nữ còn quá trẻ, nét mặt còn thơ ngây mà đã bị rơi vào vòng tù tội. Và bên ngoài trại tù còn có bao nhiêu ngàn thiếu nữ khác cũng đang rơi vào những thảm cảnh tăm tối cùng đường trong một cái xã hội mà nền tảng gia đình đang bị phá hoại, trong một xã hội mà đạo đức đang bị lung lay tới tận gốc rễ bởi Cộng Sản cai trị miền Nam gây ra hàng chục năm nay.

Tôi không thể quên được hình ảnh các em bé vị thành niên khoảng mười đến mười bẩy tuổi trong trung tâm Thanh Xuân ở Hà Sơn Bình ngoài Bắc, là nơi giam giữ các trẻ phạm pháp. Đa số bị bắt vì tội ăn cắp, đánh nhau gây thương tích, một ít vì mãi dâm mà chịu những án tù rất nặng tới ba năm, năm hay bẩy năm, nhưng tựu trung lại thì các em cũng chính là nạn nhân của xã hội chủ nghĩa nghèo đói, bần cùng đã dậy cho con người biết lường gạt, biết ăn gian nói dối để sống còn . Và với chủ nghiã vô thần, các em đã bị nhôì sọ chỉ biết đến Đảng mà thôi, không cần cha mẹ hay nhà thờ và chùa chiền.

Nhiều lần tôi đã gập các em xúm nhau vào ì ạch đẩy chiếc xe “cải tiến” nặng nề chất đầy củi hay hoa mầu trên đường về trại. Xe “cải tiến” là loại xe mà trước kia do bò kéo nay được cải tiến lại để cho người kéo – (vậy mà họ lúc nào cũng hãnh diện là ta nay có xe “cải tiến”.) Nhìn các em đi chân đất với thân hình gầy gò ốm yếu, xanh xao mà các em còn cực khổ hơn trâu bò, các em phải nai lưng ra lao động mỗi ngày để làm ra của cải cho trại, lòng tôi không khỏi quặn đau.

Trong thời gian ở Hàm Tân, trong ký ức tôi còn nhớ một trường hợp khá lạ lùng về một cô bé bên đội hình sự bị ma dấu.

Khi đó vào một buổi chiều trong lúc nhập trại thì thấy phía cổng bỗng xôn xao và nhiều người chạy lung tung, hoá ra là một đội nữ thiếu mất một người.

Các cán bộ và cán binh túa ra đi lùng sục tìm kiếm khắp nơi chung quanh khu vực lao động và xa hơn nữa ở ngoài trại và phải mất hàng giờ sau mới lôi được về một nữ hình sự rất nhỏ người và nhỏ tuổi, miệng cô ta đầy đất bùn – nghe nói cô ta bị ma nhát và dấu dưới một gốc cây Buông.

Tôi thì chưa thấy trường hợp ma ám nào nhưng phải công nhận là Thổ Thần rất linh thiêng y như lời thầy của tôi đã chỉ dậy lúc trước là núi có chủ và đất sông ngòi cũng có chủ.

Một hôm trên đường về trại cùng đội 20, lúc đi ngang qua một lùm cây, chiếc đồng hồ đeo tay của tôi bị rơi mất từ lúc nào. Tôi cố tìm chung quanh sân cỏ và trong bụi cây vì biết rằng nó chỉ rơi đâu gần đây thôi nhưng không thấy đâu cả, chợt tôi nhớ lời thầy dậy bảo, tôi cầu xin Thổ Thần, xin cho tôi laị chiếc đồng hồ vì tôi rất cần nó.

Vừa cầu xong thì tôi nhìn thấy cái đồng hồ đang treo tòng teng trên một nhánh cây nhỏ ngay trước mắt tôi, chỗ này tôi đã tìm hai ba lần mà có thấy nó đâu, sao bây giờ nó lại hiện ra lạ kỳ như vậy?

Đây là điều chỉ có thể lý giải bằng tâm linh chứ không bằng khoa học được, cũng giống như nhiều lần vị Thổ thần đã báo mộng trong khu buồng giam hay tại khu thăm nuôi cho một số anh có tên thả về và các anh đều tả vị Thần này như là một cụ già thấp nhỏ người, râu tóc bạc phơ và chống cây gậy trúc.

Nói đến thăm nuôi thì phải công nhận rằng không trại nào qua được Hàm Tân Z-30D bốn năm cuối chúng tôi ở đó.

Việc mở cửa cho thăm nuôi, nhất là cho tù chính trị đã đem lại nguồn lợi mới cho trại. Khu này đã được “thiết kế” với những căn nhà tranh xinh xắn, xa khu trại giam và dành cho các gia đình ở lại. Dọc theo đó là con suối và hai hàng cây tỏa bóng mát rất yên tĩnh. Dãy nhà này được xây dựng lên khi chúng tôi vừa vào đến miền Nam.

Nếu chúng ta tạm thời quên đi thực tế là các căn nhà tranh đơn sơ này tuy ở ngoài bốn bức tường trại giam nhưng vẫn còn nằm trên phần đất của Hàm Tân Z-30D., thì chúng giống như là một khu nghỉ mát với vẻ đẹp thật nên thơ và gần với thiên nhiên.

Nhờ có các người vợ tù vào thăm chồng thường xuyên nên chúng tôi biết được nhiều về tình hình bên ngoài, những kiến thức này rất cần thiết và có thể xem như một sự chuẩn bị cho những người tù trở lại xã hội và gia đình. Đặc biệt tin tức liên quan đến chương trình mà chúng tôi đều đang mong đợi là H.O. – một chương trình nhân đạo có thật của chính phủ Mỹ chứ không là tin đồn đãi như khi chúng tôi còn ở miền Bắc.

Việc thăm nuôi đã diễn ra cả chục năm nay rồi nhưng chưa bao giờ lại nhộn nhịp, chưa bao giờ thực sự đem lại nhiều niềm vui và phấn khởi cho người tù như bốn năm này tại Hàm Tân, có lẽ vì ở gần hơn, phương tiện xe đò thuận tiện hơn cho gia đình đến thăm, và vì chế độ thăm nuôi đã mở ngỏ cho tù chính trị chế độ cũ.

Bởi vậy chúng tôi được thăm nom liên tục, các công sức của người vợ tù như con thoi đi thăm chồng nơi chốn lao tù đã không hề uổng phí vì đem lại cho người tù thêm sức khoẻ cả về thể chất lẫn tinh thần và nhìn những người tù cuối cùng này, tôi thấy ai cũng lấy lại phong độ nhanh chóng và sự tinh anh như trở lại trên khuôn mặt của mỗi người.

Về tướng mạo mà nói thì có lẽ nhờ ý chí phấn đấu không mệt mỏi của họ và nhờ vào lòng thương yêu vô bờ bến của những người vợ trung trinh, của các thân nhân trong gia đình, mà đã giúp những người tù này tẩy xóa dần đi được các nét u ám tù tội đã bám vào người mình từ bao nhiêu năm nay, hay vì họ đã trả xong cái nợ của người dân khi mất nước hay họ đã can trường chiến thắng được bao nhiêu là sự trả thù tàn độc của kẻ thù vừa là kẻ chiến thắng tựa như những ngọn roi sắt quất trên thân hình tiêu tụy của họ?

Điều này làm tôi liên tưởng lúc mới mất miền Nam vào đầu tháng Năm năm một chín bẩy lăm, trong lúc chờ đi tù tập trung “cải tạo” tôi đến thăm gia đình một đồng nghiệp tại Sàigòn thì bà Mẹ của cô là người Hoa biết về tướng số nói rằng sắc diện của tôi lúc đó rất là xấu và ám đen trên khuôn mặt.

Điều bà nói ám chỉ việc tôi sẽ vào tù, điều này cũng dễ hiểu thôi vì tôi và hàng mấy trăm ngàn viên chức sĩ quan chế độ cũ đều đang chờ đợi cái viễn ảnh đen tối không tương lai đó, nhưng chính tôi cũng không ngờ là thời gian đã kéo dài lê thê đến hãi hùng như vậy.

Lúc sa chân vào vòng tù tội và khi đích thực hiểu được thế nào là Cộng Sản, thế nào là chủ nghĩa xã hội thì quá trễ rồi và tôi chỉ còn biết nhìn lên Trời cầu xin Ơn Trên cho mình và các bạn tù còn sống sót để có ngày ra khỏi trại giam mà thôi.

Có ra đến khu thăm nuôi của Hàm Tân, có gập mặt các người vợ tù, nói chuyện tâm sự với các chị thì mới nhận chân được phần nào cái cao quí, sự quả cảm và lòng hy sinh đến tột cùng của người vợ dành cho chồng.

Nếu phải tuyên dương các người vợ tù như chúng ta thường tuyên dương các chiến sĩ QLVNCH anh hùng chiến thắng Cộng Sản từ chiến trường trở về thành phố Sàigòn thì tôi nghĩ rằng chúng ta chưa có một huy chương nào xứng đáng và có đủ ý nghĩa để tặng cho những người vợ tù đáng quí này.

Có lẽ trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc Việt Nam, chưa có bao giờ mà vai trò người vợ, người phụ nữ Việt lại phải đối phó hầu như đơn độc trước những thử thách to lớn của cuộc sống như dưới ách cai trị vô nhân tính của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam sau tháng Tư năm một chín bẩy lăm tại miền Nam.

Nhìn các bạn tù đã trải qua mười mấy năm trong trại giam tôi cũng phải nể sợ sức bền bỉ chịu đựng của họ, nhưng khi gặp các người vợ tù yếu đuối ở khu thăm nuôi và hiểu được các hoàn cảnh gay go cam khổ và bơ vơ trong một xã hội đầy thù nghịch và kỳ thị mà các chị đã phải sống qua bao nhiêu năm khi người chồng đã vào tù, thì tôi không khỏi thốt lên những lời cảm phục đối với các chị.

Quả thật các người vợ tù đã tạo nên một huyền thoại có một không hai trong lịch sử hiện đại, các chị đã viết lên một trang sử đầy những kỳ tích về sức người, về tình nghiã vợ chồng đã giúp các chị vượt lên trên được mọi gian khổ trầm luân và ngăn cách để đi đến được tới hạnh phúc và đoàn tụ ở tận cuối con đường đầy chông gai đó.

Không phải tất cả tù nhân đều có gia đình mà nhiều người vì còn trẻ hay còn mải mê với những công trận của đời lính mà còn độc thân khi Sàigòn thất thủ. Một điểm nữa có lẽ nhìn thấy ngày về không còn xa cho nên thân nhân của các người tù này đã tìm cách cho họ lập gia đình.

Một câu chuyện tình thật đẹp là của một bạn tù rất thân với tôi dù là anh lớn hơn tôi một con giáp.

Gia đình đã đưa một cô giáo ở Sàigòn quen với các em gái của anh lên trại để thăm anh. Cô giáo vốn đã có nhiều cảm tình với anh trai bạn mình, một người hùng của BĐQ ngày trước, một đại tá hiếm hoi của QLVNCH vẫn còn đơn lẻ, nên tuy trong lòng nhiều e thẹn nhưng cô đã quyết định đi theo gia đình đến Hàm Tân thăm anh.

Cả hai như bị tiếng sét aí tình ngay phút đầu gập gỡ giữa trai anh hùng gái thuyền quyên nên sau đó thì cô giáo thay mặt gia đình lên thăm anh luôn và mồi tình đã có một kết thúc hạnh phúc. Một đám cưới đơn sơ và trang trọng có một không hai đã được tổ chức tại nhà của anh tại Sàigòn. Cô dâu trong áo voan cưới mầu trắng bên cạnh họ hàng hai bên nhưng không có chú rể bởi lẽ lúc đó chú rể còn trong trại giam.

Khi được xem tấm ảnh cưới với một mình cô dâu đứng lễ trước bàn thờ gia tiên trong ngày cưới mà không có chú rể, tôi thật là xúc động nhìn anh vừa vui và vừa buồn cho niềm vui chưa được trọn vẹn của anh.

Khoảng một năm sau thì anh được thả về và đoàn tụ trong hạnh phúc bên cạnh người vợ hiền đã kiên tâm chờ đợi anh sau ngày cưới.

Khu thăm nuôi, các mái nhà tranh, các con đường đất sỏi đá rợp bóng mát bao quanh, con suối lững lờ trôi từ phía trước và chẩy siết ở phía sau khu nhà tranh, chiếc cầu bắc ngang qua khu “căng-tin”, những chuyến xe đò Sàigòn-Hàm Tân, đã là chứng nhân cho bao nhiêu câu chuyện về tình nghĩa vợ chồng tuyệt đẹp về những cuộc tình thật nên thơ và đẹp như trong mộng của những người tù cuối cùng.

Đẹp như trong mộng vì lẽ chúng tôi ở tù chẳng bao giờ biết được có một ngày nào đó có một người đẹp thương mến mình mà cất công vào tận khu rừng lá Buông để thăm những người chiến sĩ VNCH năm xưa, những tù nhân cuối cùng – những người đã ở tù mười lăm mười bẩy năm sau khi chiến tranh đã chấm dứt. Sự kiện có một người đẹp từ thành phố đến thăm mình sau mười mấy năm là một hạnh ngộ hoàn toàn bất ngờ và lý thú bởi vì chính các tù nhân này tưởng lầm rằng xã hội bên ngoài đã lãng quên mình.

Những người đẹp ấy là các người vợ tù đi thăm chồng, là những phụ nữ với tấm lòng cao cả như cô giáo, là người con gái một thời để yêu và một thời để nhớ có tên là Phượng đã ghé thăm tôi ngày nào bên dòng suối mơ.

Buổi sáng hôm ấy là một buổi sáng mà tôi khó có thể quên được trong cuộc đời của mình.

Một buổi sáng cũng bình thường như mọi buổi sáng trong trại Hàm Tân, nhưng nó đã trở nên khác thường, sáng ngời, đầy ánh bình minh và tràn đầy niềm vui khi chúng tôi từ trong hội trường bước ra và trên tay mỗi người cầm một tờ “Giấy Ra Trại”.

Đó là ngày 29 tháng Tư năm một chín chín hai, đánh dấu chấm dứt mười bẩy năm trong trại giam tập trung và những người tù cuối cùng đang chuẩn bị rời trại, rời cuộc sống tăm tối không có ngày mai để trở về với xã hội bên ngoài.

Tôi nhìn tờ giấy ra trại, một miếng giấy chỉ to hơn hai lòng bàn tay một chút hay hai phần ba tờ giấy đánh máy, mầu xám đậm trông mất cảm tình vì còn thua tờ giấy báo gói hàng hoá ngoài chợ. Nếu không phải là tờ giấy trả lại tự do cho chúng tôi thì chắc là tôi ném nó vào thùng rác.

Chúng tôi rảo bước vội về buồng để gom các đồ đạc và vật dụng cá nhân. Còn một hai anh vẫn cứ đứng ngay cửa hội trường, tay cầm tờ giấy nhìn xuống đất như suy nghĩ điều gì hay vì còn đang xúc động và bàng hoàng?

Trong lòng tôi thật nhiều cảm xúc lẫn lộn. Tôi vừa vui vì cái ngày mà mình chờ đợi bấy lâu nay đã tới, đã thành sự thật và vừa suy nghĩ, vừa lo lắng về cuộc sống mới bên ngoài của mình sẽ ra sao. Tôi nhìn qua các bạn mình thì thấy họ như vẫn giữ được sự bình tĩnh, nhưng tôi biết rằng trong tâm trí họ cũng giống như tôi đang có những đợt sóng trào dâng.

Tôi đã từng đứng nhìn có lẽ hàng trăm lần các bạn tù cùng trại được thả về với tờ giấy này trên tay, nhưng tên mình chẳng bao giờ có; tôi đã âm thầm tuyệt vọng với nỗi buồn ray rứt trong tâm hồn khi trở vào buồng giam để tiếp tục nữa kiếp tù đày trên con đường đi mãi không đến đó.

Có ngờ đâu khi mà chúng tôi chờ đợi đã quá lâu rồi, khi mà chúng tôi đã quá chán chường để nghĩ tới niềm hy vọng được thả, khi mà chẳng ai còn thiết tha nghĩ tới…ngày về nữa thì đùng một cái được thả ra như ngày hôm nay, chúng tôi tựa như trên trời rơi xuống.

Từ hội trường về căn phòng tôi đang ở chỉ khoảng hơn trăm mét mà sao tôi thấy nó có vẻ dài hơn mọi ngày. Có lẽ khi cầm tờ giấy ra trại trên tay thì ý nghĩ đầu tiên loé trong đầu tôi là : phải thu dọn thật nhanh đồ đạc của mình để ra khỏi chỗ này sớm giây phút nào tốt giây phút ấy vì chẳng còn cái gì mà lưu luyến thêm . Bên cạnh đó, chúng tôi tuy không nói nhưng ai cũng sợ lần chần mãi lỡ mà họ đổi ý thâu tờ giấy này lại thì khổ.

Bởi có sống dưới chế độ Cộng Sản và có nằm nhiều năm trong trại tù của Cộng Sản thì mới thấy được tận đáy những đau thương gây ra do sự lừa bịp và xảo trá ẩn bên trong những từ ngữ mị dân được đánh bóng của họ.

Nắng đã bắt đầu lên cao chiếu rọi vào căn phòng, chúng tôi vội vã gom các thứ cần thiết cho nhanh để bước ra khỏi căn phòng nơi chúng tôi mới dọn vào ở mấy tháng nay. Có anh còn bỏ quên vài đồ đạc ngoài khu lao động nên không hiểu có xin chạy ra đó hay không. Chắc là hơi mất bình tĩnh chứ vài cái soong nồi lặt vặt thì xá gì mà cất công chạy ra nữa vì nếu trễ giờ họ bỏ lại thì khóc hận.

Riêng tôi khi ra đi mang theo duy nhất một cái ba lô của lính thì nay trở về cũng chỉ đem về cái ba lô thân thương đó mà thôi, nó trông vẫn y hệt như ngày nào tôi xách vào trường Chu Văn An, Chợ Lớn, gối đầu lên nó nằm chờ xe cam nhông chở đi “cải tạo”, chỉ có cái khác là ba lô bị thủng một vài chỗ do bị chuột đục và tôi đã vá lại rồi.

Tất cả các đồ hộp và thức ăn dự trữ tôi nhét hết vào một cái thùng sắt tây có nắp, tôi chỉ bỏ phòng hờ vài thức ăn trong ba lô đem theo bên mình thôi, vì kinh nghiệm sống trong trại giam là chỉ khi nào bước chân về đến ngưỡng cửa nhà mình thì mới yên tâm là đã về nhà. Tôi bê thùng sắt tây này lên phòng bốn ông tướng để lại cho các anh, vì hôm đó chỉ mười sáu anh em chúng tôi được thả. Bốn anh tướng còn ở lại , sau đó khoảng năm ngày thì bốn anh mới có giấy ra trại. Lòng dạ của Cộng Sản thật là khó hiểu và tính toán như vậy đó, chỉ còn có hai mươi người cuối cùng trong tù mà họ cũng tách ra làm hai lần, thả cách nhau mấy ngày.

Căn phòng nhỏ hẹp của chúng tôi bỗng huyên náo và nhộn nhịp hẳn lên với mọi người tại giường cá nhân của mình, người thì đang cuốn mùng mền, người thì lo đóng gói các vật dụng lại cho gọn ghẽ để ra về gấp rút giống như cuộc hành quân vậy.

Mấy tay trật tự của trại cũng vào và chia vui với chúng tôi, tôi bước ra bắt tay họ và chúc họ ở lại mạnh khoẻ sớm về với gia đình. Bốn ông tướng từ căn phòng trên tam cấp cũng bước xuống hỏi han chúng tôi tíu tít và chúc ra về vui vẻ. Tôi bỗng dưng thật xúc động nghĩ đến các anh còn ở lại, tôi bắt tay các anh thật lâu và chúc các anh sẽ ra về nay mai.

Anh Di vẫn nụ cười tươi siết chặt tay tôi, anh Giai vẫn dáng gật gù ra chiều đắc ý khi thấy chúng tôi chuẩn bị ra khỏi trại, anh Thân cười hiền hậu vẫy tay chào và anh Đảo đến bắt tay từng người. Dù bốn anh bề ngoài trông bình tĩnh nhưng vẫn có một thoáng buồn trên nét mặt . Chúng tôi càng ở tù lâu với nhau thì càng hiểu nhau và có tình thương gắn bó hơn. Nay chúng tôi ra về mà bốn anh còn ở lại thì tránh sao không khỏi bùi ngùi.

Bên ngoài thì trại đang thúc dục chúng tôi ra đón xe đò về Sàigòn. Tôi vẫy tay chào bốn anh lần chót rồi vác ba lô lên vai cùng với các bạn ra tập trung phía cổng trại. Tôi nhìn lại căn phòng lần nữa để kiểm soát xem có còn bỏ sót lại gì không nhưng căn phòng đã trống trơn và chỉ còn bao bì giấy má vứt lung tung trên đất.

Nhìn chung quanh thật không ngờ là tôi đã sống bốn năm ở đây từ năm một chín tám tám, lúc còn hơn một trăm năm mươi người đến hai mươi người và bây giờ tụi tôi đang rời trại chỉ còn bốn ông tướng trên căn phòng tam cấp.

Thời gian trong tù nhiều lúc thật là chậm y như trái đất không còn quay nữa nhưng bây giờ thì thật nhanh và cái cổng trại đang ở trước mặt chúng tôi.

Mới ngày nào mười sáu năm trước đang ngủ trong buồng giam của trại Cải Huấn Thủ Đức, chúng tôi bị đánh thức dậy khi trời chưa sáng để gấp rút rời trại di chuyển ra Bắc bắt đầu cuộc sống lưu đầy; bây giờ mười sáu năm sau, chúng tôi cũng mau chóng quải hành lý để rời trại nhưng với trạng thái hân hoan thơ thới của những người vừa được trả tự do.

Vĩnh biệt những cuốc với xẻng, vĩnh biệt những năm tháng tù tội lao động khổ sai, vĩnh biệt luôn cái địa ngục trần gian kinh hoàng đã giam hãm và đầy ải những người tù suốt mười bẩy năm qua.

Chúng tôi vừa tập họp xong thì được lệnh xuất trại vì thủ tục khám xét rất nhanh chóng và chỉ làm cho có lệ.

Một lúc sau thì chúng tôi đã leo lên xe đò và cái cổng trại bằng sắt của Hàm Tân Z-30D đã nặng nề khép lại đàng sau lưng. Tôi muốn nhìn nó lần cuối nhưng người tù có một cái tin dị đoan là ngày có giấy thả về và bước chân ra khỏi cổng trại giam rồi thì không bao giờ nên ngoái lại.

Cánh cửa tù đã đóng, đóng lại cả một quãng đời đen tối trong đó hàng ngàn người tù đã lần lượt ngã xuống: bị xử bắn, bị tra tấn, bị kiên giam, bị bỏ đói, bị bệnh tật hành hạ thân xác cho đến chết; và những người còn lại thì vẫn tiến về phiá trước như những bóng ma bên cạnh cuộc đời.

Hôm nay là một ngày đặc biệt trong đời, tôi có cái cảm giác lâng lâng như thể mình đang sống trong mơ chứ đây không phải là thực tế nếu không có những cái sóc của xe lăn bánh trên con đường toàn đá sỏi đôi lúc làm nẩy người tôi lên. Cũng con đường này bốn năm trước chúng tôi đi ngược chiều từ ngoài lộ vào đây và bước vào trại với bao ưu tư trong đầu về cái trại giam mới này.

Tôi nhớ lời thầy tôi nói trước khi hai thầy trò chia tay nhau để thầy trở về ngôi chùa thân yêu Thới Hòa ở Sàigòn và tôi thì ở lại, lúc mà tất cả các vị Tuyên Úy của các tôn giáo đều được thả về vào tháng Chín một chín tám bẩy tại trại Ba Sao Nam Hà tỉnh Hà Nam Ninh: “Sau này mỗi khi nghĩ lại, con sẽ thấy như là một cơn ác mộng”.

Quả thực mười bẩy năm là một cơn ác mộng dài đầy hãi hùng và chúng tôi cũng không ai nghĩ rằng mình còn sống sót được sau bao nhiêu năm thiên nan vạn nan ấy.

Bây giờ tôi đây đang là những người cuối cùng ra khỏi trại giam và đó là sự thật.

Tôi ngồi gần cửa sổ, cái ba lô dưới chân, nhìn những hàng cây hai bên đường từ từ lui về sau. Tôi sờ khung cửa sổ và cái thành ghế ngồi rồi nhìn các hành khách khác trên xe để biết chắc rằng đây không phải là giấc mơ.

Chúng tôi đang rời xa dần trại giam Hàm Tân, xa dần khu rừng lá Buông nhiều kỷ niệm, hướng ra Quốc Lộ để xuôi nam về thành phố. Nhiều hành khách trong đó có các cụ già, các chị buôn thúng bán bưng, các em nhỏ, cứ tròn xoe mắt nhìn chúng tôi vì họ không tin là mười bẩy năm sau khi hết chiến tranh mà tù chính trị chế độ cũ vẫn còn bị giam giữ trong trại tù.

Những hành khách trên xe đều tỏ thiện cảm với những người tù vừa được trả tự do, mỗi người hỏi một câu tạo thành một không khí thật là ấm cúng như trong đại gia đình vậy, có các cô bác còn cho chúng tôi trái cam trái quít hay chiếc bánh lá. Nhìn chiếc bánh lá lòng tôi lại chợt nhớ đến cô bé tại ga Diêu Trì ngày nào trên chuyến tầu chúng tôi xuôi về Nam đã biếu không cho chúng tôi nguyên thúng bánh lá của cô rồi quầy quả chạy xuống toa tầu mất hút vào đám đông.

Làm sao tìm gập lại được người con gái bé nhỏ có tấm lòng vàng ấy để cám ơn?

Các chị buôn bán ngồi trên xe đò nghe nói chúng tôi là người chế độ cũ thì tin tưởng hơn và kể ra nhiều câu chuyện khó khăn và đau thương ngoài xã hội lúc đó cũng muôn vàn gian truân sau khi chúng tôi vừa vào tù:

– “Các anh biết không lúc đó khổ lắm, dân cũng không có cơm mà ăn, toàn là bo bo không à, riết rồi chịu hổng nổi mới kéo nhau ra biển vượt biên đó.”

– “Nào là nó đổi tiền rồi nó đánh tư sản, đi kinh tế mới, ôi thôi người dân nào cũng mất hết tài sản. Cái mạng mình còn sống là may phước lắm rồi.”

Có chị còn rành về thời sự:

– “Nhưng thôi nói chi nhiều, mấy ổng về Sàigòn rồi thì cũng chuẩn bị đi nước ngoài với gia đình chứ còn ở đây nữa đâu.”

Tôi chỉ nhìn các chị cười thông cảm tuy không nói gì nhưng trong lòng vui vui vì đây là lần đầu tiên sau mười bẩy năm tôi có dịp ngồi nói chuyện trực tiếp với người dân và nhận thấy rằng họ vẫn còn mang trong lòng một ấn tượng đẹp đẽ về chế độ cũ VNCH và sau nhiều năm sống dưới sự kìm kẹp áp bức và bần cùng hoá của chế độ mới người dân đã quá lầm than nên nhận chân được bộ mặt thực bịp bợm của cái gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa.

Khi người dân đã nhận ra được sự thực thì không còn ai tin nữa và chế độ Cộng Sản này coi như đã bị cứa đứt ngay tại gốc rễ rồi.

Ngồi trên xe đò mà hồn tôi như để tận đâu đâu trong khi xe đang lăn bánh trên quốc lộ. Tôi cũng chẳng hiểu vì sao mình ốm yếu như thế mà còn sống sót được? Nhìn hàng cây bên đường, những ngôi nhà, những vườn tược đang chạy lùi lại phía sau, mắt tôi mờ dần trở về với ký ức không bao giờ quên được cái cảm giác lạnh trong xương sống lúc một giờ sáng một ngày tại trại cô nhi Long Thành mười sáu năm trước. Những khuôn mặt lạnh lùng chĩa các họng súng AK, CKC vào chúng tôi khi gạn lọc ra những thành phần “nguy hiểm cho chế độ” phải tức khắc di chuyển một cách âm thầm trong đêm tối ra Bắc.

Rồi ba ngày sau đó, cái cảm giác hãi hùng bơ vơ và tuyệt vọng khi biết mình đã bước chân xuống phi trường Gia Lâm, Hà Nội của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, khi biết mình đã bị tách khỏi miền Nam thân yêu bắt đâu cuộc sống lưu đầy nơi rừng thiêng nước độc. Lúc đó, chúng tôi không khác gì những con cá đang nằm trên thớt chờ đợi cơn thịnh nộ của tên đao phủ.

Một tay cán bộ của Bộ Nội Vụ ra đón chúng tôi tại sân bay và nói huyênh hoang rằng các anh sẽ được ở nhà ngói có điện và có “điều kiện để cải tạo tốt” mau sum họp với gia đình. Họ đang đưa chúng tôi vào cõi chết trong những nhà giam tồi tàn nhất thế giới của một nước cũng nghèo nàn và lạc hậu nhất trên thế giới mà vẫn nói được những lời giáo điều dối trá như vậy.

Thực tế là chúng tôi được chở về giam ở những buồng không có điện. Ban đêm tối như hũ nút ngửa bàn tay ra cũng không thấy vì tuy có điện nhưng họ cúp các buồng giam tù chính trị, và họ cũng không cấp cho một ngọn đèn dầu nào.

Họ tạo điều kiện cho chúng tôi “cải tạo” tốt bằng cách cho ăn cầm hơi nhưng lao động quá sức người để từ từ mà kiệt lực.

Người tù phải khiêng những tảng đá to nhỏ đủ cỡ, do bên hình sự bắn ra từ trong núi, trên đôi vai gầy mòn mỏi dần đi theo tháng ngày, để tiến hành việc xây dựng và mở rộng trại giam đón thêm nhiều tù mới.

Người tù áo rách tả tơi vì mồ hôi và khiêng đất đá, còn hai tay và hai chân thì rã rời sau mỗi ngày lao động, cho nên sau vài năm khổ sai như vậy với tình trạng thiếu ăn thiếu mặc, bệnh dịch lây lan không có thuốc men, sức khoẻ thì suy nhược, chúng tôi cũng không biết lúc nào Thần Chết sẽ đến rước mình đi.

Mùa Đông thì rất lạnh và rét mướt, phải nói là quá lạnh đối với những người tù thiếu ăn uống, không quần áo ấm, mỗi người chỉ được cấp một cái mền đỏ của Tầu. Có anh quấn trong người từ trong ra ngoài là mười tám lớp toàn là giấy báo mà đêm đến lạnh quá không nằm xuống được nên ngủ ngồi dựa vào tường trong thế co ro mà vẫn run bần bật.

Bởi thế bi thuốc lào hay điếu thuốc lá là thứ không thể thiếu được trong đời sống người tù nhất là trong thời tiết băng giá. Tôi chẳng biết điếu cầy là cái gì mà cũng phải tập hút để chống lạnh, riết rồi quen, quen rồi khó bỏ nó đúng như các cụ nói: “đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên”.

Nhưng cái khó khăn là lấy đâu ra lửa để mà hút thuốc? Cho nên cái khó nẩy ra cái khôn và không biết ai là người nghĩ cách chẻ một que diêm ra làm bốn với một lưỡi lam mài thật sắc.

Người tù phải hết sức tập trung khi một tay cầm lưỡi lam, tay kia cầm que diêm thật vững thì mới chẻ được nó ra làm hai rồi từ hai thành bốn mà que diêm không bị gẫy và diêm sinh chẻ ra làm bốn vẫn ngay ngắn, không bị vỡ vụn ra.

Nhờ đó mà kéo dài được mấy hộp diêm quẹt đem từ trong Nam ra. Mỗi lần sắp sửa đánh một que diêm thì hô cho cả buồng chuẩn bị “nạp đạn”- nghĩa là sẵn sàng nạp bi thuốc lào vào các điếu cầy để cả buồng châm lửa cùng hút một lúc.

Bữa ăn mà trại phát cho thì chỉ tạm dằn cơn đói xuống chứ lưng bát cơm hay cái bánh bột hấp, lưng chén bo bo vào bao tử chẳng thấy nó đâu, bởi vậy bi thuốc lào hay điếu thuốc lá là người bạn an ủi nhất cho người tù sau mỗi bữa ăn.

Mỗi tháng trại cấp cho ba đồng tiêu vặt thì ngoài kem đánh răng ra là để dành mua thuốc lá thuốc lào loại sản xuất nội địa như “Sa-Pa” hay “Tam Đảo” vì căng-tin trại cũng chẳng có gì để mua nữa.

Những mặt hàng nhu yếu phẩm đều khan hiếm và lẽ dĩ nhiên không bao giờ đến tay người tù.

Chỉ khi nào có phái đoàn ngoại quốc đến thăm thì trại mới dàn cảnh rất khôi hài là đặt trên mỗi gối của tù nhân một hộp sữa đặc trong lúc họ đang đi lao động bên ngoài xa trại và sau khi phái đoàn ra khỏi cổng thì trại họ thu các hộp sữa đó lại.

Trong các sự thiếu thốn lúc ban đầu phải kể đến hạt muối. Vì trại cấm lưu trữ muối sợ tù dùng muối để bẻ song sắt buồng giam trốn trại, nên ngoài bát lưng cơm hay khoai sắn ngày hai bữa là một ít nước muối loãng rưới lên cơm để ăn vậy thôi. Sau này họ cũng bỏ luôn không cho nước muối loãng nữa.

Có anh nói với tôi rằng khi nào ở tù ăn hạt muối mà ngọt như hạt đường thì mới là đã ở tù.

Quả là như vậy, từ trong Nam ra Bắc tôi còn trữ được muối vào hai ống Aspirine nhỏ xíu và không ngờ sau đó nó quí như vàng. Mỗi khi ăn cơm tôi gọi vài bạn thân đến và rắc cho mỗi người tí ti muối trên cơm là hạnh phúc rồi.

Lúc ấy, nhấm hạt muối không còn thấy nó mặn nữa mà lạ lùng một điều là nó lại trở nên đậm đà và hơi ngòn ngọt.

Một kỷ niệm khó quên nữa trong tôi là : đội lao động của tù chính trị tên là đội 20.

Đội 20 khi tôi chuyển trại về Nam Hà năm một chín tám ba và đội cũng tên 20 khi chúng tôi vào Hàm Tân năm năm sau đó.

Khi về Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh, chúng tôi được biết rằng đội 20, gồm nhiều anh em trẻ thuộc thành phần Phục Quốc bị bắt sau tháng Tư 1975, đã anh dũng đứng lên biểu tình chống lại chế độ hà khắc của trại giam và sau đó các anh em này đã bị trả thù tàn bạo trong khu kiên giam.

Cũng đội 20 mà tôi đã sống qua hơn ba năm trời tại Hàm Tân, miền Nam, chúng tôi đã đồng loạt biểu tình dưới hình thức bất bạo động chống lại lao động khổ sai, nhưng may mắn nhờ Ơn Trên chúng tôi đã thắng.

Tên đội 20 như đã đi vào lịch sử và mang theo nhiều kỷ niệm đau thương lẫn tự hào với hình ảnh các người tù chính trị đã hiên ngang và công khai, tay không đứng lên chống lại cái chế độ bạo quyền của hệ thống trại giam Cộng Sản.

Tôi đang miên man theo dòng tư tưởng lùi về dĩ vãng, một dĩ vãng đầy thương đau và tủi nhục, thì tiếng động lao xao trên xe đò đưa tôi về thực tại.

Tôi rùng mình một cái ra khỏi cơn ác mộng, hoá ra mình vừa hồi tưởng lại những năm trước còn trong tù, bây giờ tôi ngồi đây và chỉ hơn tiếng đồng hồ nữa là về đến thành phố, tôi như con chim đã xổ lồng đang tập vỗ đôi cánh để sắp bay đi thật xa đến chân trời mơ ước.

Tiếng người nói lao xao vì xe đò bỗng chết máy phải dừng lại với tiếng vừa càu nhàu vừa diễu của tài xế:

-“Tại các ông ấy ở tù lâu quá nên làm cho xe đò của tui bị “pan” chứ xe nầy ngon lắm có bao giờ ngừng ẩu như vậy đâu. Chắc tại học bài không thuộc chứ gì nên mới đi học tập lâu dữ dzậy.”

Bình thường thì tôi rất không ưa ai dùng chữ “học tập” hay “cải tạo” để chỉ cái lao động khổ sai trong tù tập trung của Cộng Sản nhưng tôi chỉ cười không nói gì vì biết sau mười mấy năm người dân đã quen với các từ ngữ tuyên truyền của Cộng Sản rồi, nay bảo họ sửa lại cũng không phải là dễ.

Riêng chúng tôi thì tuyệt đối không dùng các từ ngữ lừa bịp đó của họ.

Sau khi khoảng mười lăm phút kiểm soát lại máy lóc dầu nhớt, máy xe nổ trở lại và bác tài xế cười rất tươi nhe ra mấy cái răng vàng, ông ta ngoái đầu lại nhìn chúng tôi nheo mắt một cái rồi lái xe trực chỉ Sàigòn.

Đúng là tuýp người miền Nam chân thật và hiền hoà.

Hai tiếng Sàigòn làm tim tôi đập nhanh hơn bởi vì trong suốt mười bẩy năm xa Sàigòn, xa miền Nam, trong lòng tôi lúc nào cũng nhớ không bao giờ quên được những kỷ niệm thật êm đềm và những năm tháng tôi lớn lên và trưởng thành ở thành phố thân yêu này. Vì mất miền Nam mà tôi phải xa thành phố ấy mười bẩy năm qua nhưng giờ đây tôi đang trên chuyến xe đò này xuôi về thành phố và cái gì tôi cũng thấy lạ, từ phong cảnh dọc theo Quốc Lộ, đến nhà cửa, phố xá bên đường. Chắc là về đến Sàigòn thì tôi sẽ lạc đường vì đường xá đều đã đổi tên và ngay cả tên thành phố “Sàigòn” cũng không còn nữa.

Nói đến hai chữ Sàigòn thì khi chúng tôi lần đầu tiên ở ngoài Bắc khoảng đầu năm một chín bẩy chín được viết thư về gia đình để xin tiếp tế, nhiều anh đã suýt nữa không được gửi thư vì anh nhất định đề tên thành phố nơi đến là Sàigòn, không chịu viết là thành phố HCM. Sau cùng anh em bảo nhau là “chấp kinh thì phải tòng quyền” và sức khoẻ của mình là trên hết, không nên chấp những tiểu tiết, nhất là việc liên lạc với gia đình sau bốn năm biệt tin là điều quan trọng, thì anh mới chịu viết tên thành phố HCM vào mà trên gương mặt còn đỏ lên vì tức giận.

Về đến Sàigòn thì tôi sẽ làm gì trước? Chắc là tôi phải nhờ người chạy xuống Phú Lâm báo cho hai con tôi biết.

Hai con tôi chắc mừng lắm nghe tin Bố nó đã về, dầu sao tôi cũng còn may mắn vì cả hai cháu đều hiếu thảo và đều thương tôi và hơn một năm gần đây khi toàn bộ Mẹ và các em tôi đã qua Mỹ thì hai cháu vẫn thường cắp giỏ vào thăm tôi trong tù. Ngoài ra cả hai cháu đều được nhiều bạn tôi rất là thương mến. Có nhiều anh còn muốn làm thông gia với tôi vì con gái tôi vừa đẹp người vừa đẹp nết và cậu con trai cũng bảnh nữa.

Một kỷ niệm khó quên là lúc con gái tôi tên Trâm mới lên mười ba ra Bắc thăm tôi cùng mẹ cháu, tôi đã ngầm liên lạc được với hai mẹ con và dặn cháu ngày mai qua bên đội đem các thư “chui” về dùm cho các bác. Hôm sau cháu mặc một váy đầm xoè rất đẹp dài gần đến cổ chân, mau mắn chạy qua chỗ lao động của đội gạch và thâu hết các thư từ mà bạn bè trong đội muốn gửi về gia đình. Lúc cháu nhét thư vào đầy hai túi quần rồi cột một mớ nữa vào hai chân xong vội chạy về khu thăm nuôi thì đã có vài cậu trước kia là Thiếu Úy còn độc thân đã nửa đùa nửa thật gọi tôi bằng Bố làm bỗng dưng tôi thấy mình già.

Việc thứ hai là tôi sẽ đánh điện thư ngay qua Mỹ cho Mẹ và các em tôi mừng. Tất cả công lao của toàn thể gia đình bao gồm cả vợ chồng anh ba và vợ chồng cô bẩy ở bên Mỹ đã gửi tiền cùng quà về VN và nhất là Mẹ tôi luôn nắm giữ cán cân suốt mười bốn năm qua trong việc thăm nuôi tôi đã đơm hoa kết trái với ngày tôi trở về còn tương đối mạnh khoẻ.

Nói đến ngày trở về làm tôi liên tưởng tới tác phẩm :”Khi Người Tù Trở Về” của đại văn hào Pháp Andre Malreau.

Câu chuyện về một nhóm tù binh Pháp được trả tự do sau Thế Chiến, khi quân Đức bại trận.

Trên chuyến xe lửa trở về quê hương, một viên sĩ quan trẻ khoe với các bạn anh về người vợ tuyệt vời của mình và anh ta sẽ làm gì trong giây phút đầu tiên được đoàn tụ trong niềm mơ ước, anh phác thảo một viễn ảnh sum họp thật hạnh phúc của vợ chồng anh dưới mái ấm gia đình như ngày xưa. Tuy nói vậy nhưng trong lòng anh lại tương phản với ý nghĩ rằng không biết vợ mình có còn chờ đợi mình hay không?

Khi anh về đến ngôi nhà cũ, anh không vào thẳng nhà mà đi vòng chung quanh để quan sát bữa cơm chiều xem vợ mình có sống với ai không. Núp sau bụi cây sau nhà, anh thấy người vợ gầy ốm hơn xưa nhưng đang rất tươi vui lăng xăng bầy biện hai phần ăn, hai chiếc muỗng, hai chiếc nĩa thì anh lầm tưởng rằng vợ mình đang sống với người khác nên hai giòng nước mắt anh tuôn ra và anh lủi thủi đi mất.

Trong khi ấy người vợ được tin chồng mình sẽ trở về nên đã nấu ngay món súp đặc biệt cho chồng nhưng chờ mãi mà không bao giờ thấy người chồng trở về nữa.

Hoàn cảnh của tôi thì khác nên tôi không thể trở về mái nhà xưa trong Phú Lâm, Quận Sáu mà tôi sẽ về tạm thời ở chung với gia đình anh Minh là ông anh thứ hai của tôi trên đường Trương Minh Ký, bây giờ chả biết là tên đường gì nữa, nhưng tôi cũng chẳng quan tâm vì mục tiêu trước mắt của tôi là tiến hành thật nhanh thủ tục nộp đơn ra đi theo chương trình H.O. vì an ninh cho bản thân mình và vì tương lai cho hai đứa con.

Tôi tự biết rằng những người tù cuối cùng như chúng tôi sở dĩ có được ngày trở về là do sự can thiệp mạnh mẽ của các cá nhân, các hội đoàn Việt-Mỹ, của chính phủ Mỹ và trên thế giới nữa đã tranh đấu liên tục không mỏi mệt cho tù chính trị bao nhiêu năm trời, tranh đấu cho đến khi Hà Nội phải lui bước và phải thả hết các tù nhân ở ngoài Bắc sau đó là thả hết các tù trong Nam.

Sự bền gan tranh đấu ấy là một nghĩa cử thật cao quí mà suốt đời tôi không bao giờ quên.

Điều này một lần nữa khẳng định rằng nếu chúng ta tích cực và bền bỉ tranh đấu chống Cộng Sản đúng lúc thì Cộng Sản sẽ buộc phải lui.

Biểu tượng của các hội đoàn tranh đấu mạnh nhất là hội gia đình các tù nhân chính trị của bà Khúc Minh Thơ.

Một ân nhân mà tôi luôn ghi nhớ trong lòng là Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan, vị Tổng Thống anh hùng không những đã cứu chúng tôi ra khỏi tù mà còn đẩy lùi sự bành trướng của Cộng Sản trên thế giới, đưa nó đến chỗ diệt vong ở Nga va các nước Đông Âu.

Tôi nhìn qua các bạn ngồi trên xe đò, thấy những nét vui mừng hân hoan xen lẫn chút tư lự hiện trên những khuôn mặt của những người đang hít thở bầu không khí tự do lần đầu tiên sau bao nhiêu năm bị cầm tù. Tối nay sẽ là một ngày trọng đại của vợ con họ – ngày trở về của người tù cuối cùng – ngày gia đình thực sự đoàn tụ với một tương lai đầy hứa hẹn.

Một anh bạn ngồi bên tôi hỏi tôi còn thuốc lá hay không, tôi lục trong ba lô còn nguyên gói Kent bèn đưa hết cho anh vì sau một trận ốm nặng tưởng không gượng dậy nổi ở ngoài Bắc, tôi đã quyết định không bao giờ sờ đến điếu thuốc nữa.

Gia đình biết tôi đã bỏ hút thuốc nhưng vẫn gửi vào vài gói cho tôi để xã giao.

Chiếc xe đò vẫn lăn bánh bon bon trên đường nhựa mà sao tôi thấy như nó chạy quá chậm có lẽ vì tôi quá nôn nóng chăng, nhưng rốt cuộc thì chúng tôi cũng vào đến thành phố.

Quang cảnh thật nhiều thay đổi nhất là nhìn đâu cũng chỉ thấy xe đạp, xe gắn máy thì ít thôi và tuy tiềm năng giầu có của miền Nam đã giúp cho cuộc sống người dân đỡ phần cơ cực nhưng tựu trung vẫn còn nghèo rất nhiều so với miền Nam trước năm một chín bẩy lăm.

Phố xá quán hàng, cửa hiệu, chợ búa dần hiện ra trước mắt, tôi như một người từ cõi chết trở về, nhìn cái gì cũng lạ lùng và có cảm giác lạc lõng tựa như mình không phải là người thuộc về cái xã hội này.

Chiếc xe đò phải ngừng tại bến, không thể chở chúng tôi về từng căn nhà được. Tôi xách ba lô xuống xe, các bạn tôi cũng xuống tụ tập một chỗ bên đường. Chúng tôi nhìn nhau lần cuối, siết tay nhau xong rồi mỗi đứa đi một ngả vội vã tìm đường trở về với gia đình.

Suốt mười mấy năm sống bên nhau, no đói có nhau, bệnh hoạn có nhau, mồ hôi cùng đổ xuống lên bao cánh đồng, bao khu rừng, bao nương rẫy suốt chiều dài của đất nước, từng chia sẻ vui buồn cùng nhau, cùng vượt qua bao gian nguy của đời người tù khổ sai trên bước đường lưu đầy, tất cả đã hình thành trong chúng tôi một thứ tình cảm gắn bó mật thiết mang tính thiêng liêng và nhân bản của những người đồng cảnh ngộ.

Thế rồi, ngày hôm nay chúng tôi như những con chim được sổ lồng bay đi khắp nơi và không còn bên nhau nữa đã cho tôi cảm giác mất mát một cái gì thật quý giá về tinh thần về tình bạn.Tôi nghe mắt mình cay cay khi nhìn các bạn mình dần khuất trên các ngả đường, thôi đành chia tay các bạn nhé rồi hy vọng chúng ta sẽ gập lại nhau nơi phương trời xa xăm kia trong bầu không khí Tự Do.

Tôi vội xua đi nhiều ý tưởng hiện lên trong đầu vì việc cần lúc này là tìm phương tiện về nhà trước đã.

Tôi vẫy một chiếc xe Honda ôm, giở trang giấy viết tay trong cuốn sổ nhỏ ghi địa chỉ của ông anh hai tôi rồi đưa cho anh lái xe xem, xong leo lên ngồi đàng sau, ba lô khoác trên vai.

Tôi bỏ cuốn sổ vào túi quần, đó là một cuốn sổ nhỏ ghi lại địa chỉ của một số bạn thân trong tù mà tôi hứa là sẽ đến thăm gia đình họ khi có thì giờ thuận tiện. Trong cuốn sổ ấy cũng có ghi địa chỉ của một người con gái ở tận bên Quận Tám đã một thời làm trái tim tôi rung động và nhung nhớ.

Từ sáng đến giờ bao nhiêu là biến chuyển đã làm thay đổi cuộc đời tôi từ một người tù “không có bản án” trở thành một người tự do đang trở về với xã hội bên ngoài nên tôi không nghĩ đến Phượng. Nhưng khi tìm điạ chỉ nhà người anh thì mắt tôi vô tình lướt qua đường nhà Phượng và hình ảnh của Phượng bỗng hiện lên rõ nét trong trí nhớ của tôi, hình bóng ấy như thật gần mà lung linh như hư ảo.

Đã hai năm rồi cuộc tình ấy tưởng đã chìm vào quên lãng, hai năm rồi tôi không nhận được một hồi âm nào của Phượng và tôi vẫn sống như một chiếc bóng suốt thời gian đó, ôm ấp một chuyện tình dang dở.

Tôi biết nàng buồn lắm và tự ái nữa nhưng tôi nào có vui gì.

Bây giờ Phượng còn ở nơi đó nữa không, nàng còn chờ tôi hay đã bước thêm bước nữa?

Nếu nàng đã đi lấy chồng thì tôi không hề phiền trách gì vì đã hai năm trường chúng tôi không còn liên lạc với nhau và nàng cũng cần một nơi nương tựa. Chỉ cầu xin cho nàng một bến đỗ bình an và hạnh phúc.

Tôi để tay lên đùi chỗ cuốn sổ nằm trong túi quần và tự nhủ rằng thế nào tôi cũng phải đến thăm nàng.

Phượng ơi! Hôm nay anh đã là người tự do không còn trong bốn bức tường của trại giam.

Tiếc rằng không có mặt em ngay bây giờ để chia sẻ niềm vui với anh.

Phượng thương yêu của anh,

Thế nào anh cũng đến thăm em để nói cho em biết rằng anh chân thành cám ơn tấm lòng tốt của em: Em đã vào tận trong tù thăm anh.

Em biết không em,

Em đã đem đến cho anh những yêu thương ngọt ngào để con tim anh bừng sống lại khi nó đang khô héo trong sầu úa.

Em đã mang tình em vỗ về đời anh khi anh bị đầy ải nơi suối rừng cô liêu hoang dã không có tình người.

Em đã cho anh những giây phút thật êm đềm, thật hạnh phúc khi anh đang ở nơi chỉ có đau thương và khổ nhục.

Và anh cũng muốn nói với em rằng… anh vẫn còn nhớ em, anh vẫn rất nhớ em như ngày nào mình còn bên nhau, trong khu rừng lá Buông,trên chiếc ghế đá công viên trước mái nhà tranh, ngồi bên nhau em nép vào vai anh và nói những lời an ủi làm ấm áp tâm hồn băng giá của anh, mình tay trong tay không rời.

Anh vẫn còn nhớ tiếng nói và giọng cười hồn nhiên của em, và mỗi khi ra căng-tin đón xe đò về em thường ngoái đầu lại nhìn anh nói thật dịu dàng và âu yếm:

– “Em sẽ lên thăm anh nhưng chưa biết ngày nào, anh đừng mong tội nghiệp”.

Anh muốn nói với em rằng anh còn thương yêu em, thương em rất nhiều dù cho kỷ niệm của chúng mình đã phần nào phai nhòa theo năm tháng.

Những Người Tù Cuối Cùng

Phạm Gia Đại

Post by Sơn râu 4 Jun 2024

Phần 20

Sài Gòn Ngày Tháng Cuối

Trong suốt bao nhiêu năm nhưng tôi vẫn không sao quên được những ngày tháng cuối cùng của Sàigòn mà tôi đã sống.

Những ngày mà thành phố bất ngờ lâm trọng bệnh vào cơn hấp hối, nhưng vẫn cố chiến đấu đến hơi thở cuối cùng mới chịu buông xuôi hai tay.

Tôi cũng không thể nào quên nổi vì đâu mà cả chế độ của một quốc gia hùng mạnh như VNCH, lúc đó phát triển ngang hàng với Phi Luật Tân, Đại Hàn, hay Đài Loan, đã phút chốc bị tan tác như xác pháo.

Và vì đâu mà hầu như nguyên một chế độ theo chân nhau…vào tù trong bàng hoàng và đau thương.

Tôi theo Mẹ tôi leo lên trên lầu. Căn nhà số ba năm bẩy này có một lầu nhìn ra con đường Trương Minh Giảng. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa sổ để có thể có được một cái nhìn khái quát những xáo trộn và ồn ào mà mười mấy năm nay tôi chưa từng bao giờ thấy xẩy ra trên đường phố này. Những khuôn mặt ngơ ngác của dân chúng, người ôm giỏ người xách va li vừa đi vừa chạy.

Phía bên kia đường, một vài binh sĩ VNCH cũng đi lẫn vào dân trên đường họ về nhà hay đi đâu thì tôi cũng không biết được nữa. Nhìn dáng đi thẫn thờ của những người lính mà lòng tôi quặn đau khi nghĩ rằng anh tôi, Thiếu Tá tiểu đoàn trưởng của Sư Đoàn 5 BB QLVNCH ở Bình Dương bây giờ cũng bặt tin không biết ra sao.

Đầu óc tôi thường rất bén nhậy mà lúc đó cũng gần như tê liệt không nghĩ được phương kế gì.

Dương Văn Minh – (người vừa được đưa lên chức vụ Tổng Thống để thay thế cụ Trần Văn Hương, một nhà chí sĩ yêu nước nhưng đã bất lực trước thời cuộc) – vừa đọc thông điệp đầu hàng và kêu gọi mọi người buông súng.

Lúc đó khoảng hơn mười giờ sáng ngày 30-4-1975, giờ Sài Gòn.

Tôi đã đưa gia đình lên ở với Mẹ và các em từ hai ngày nay vì căn nhà tôi trong Phú Lâm tuy thuộc Quận Sáu nhưng không được an ninh cho lắm. Cứ tạm thời ra trung tâm thành phố để tránh các toán VC nằm vùng ở ngoại ô có thể xuất hiện bất ngờ trong hiện tình đất nước đang tranh tối tranh sáng như mấy ngày hôm nay.

Ngoài ra tôi cũng muốn ra ngoài Sàigòn trong những ngày rất là biến động về chính trị này để giữ liên lạc với các bạn đồng nghiệp trong lúc chờ đợi người Mỹ sẽ bốc đi cùng gia đình.

Đó là sáng ngày 28-4, sau khi người Mỹ đột ngột ngưng chương trình di tản bằng đường hàng không, cho nên mọi người ai cũng tìm đường ra đi trước khi quá trễ.

Có người bạn rủ vào khu vực Hải Quân trên Bến Bạch Đằng xem sao nhưng tôi lại không đi, vì tôi cố chờ đợi để đi theo chương trình ấn định của Tòa Đại Sứ Mỹ trong buổi họp cuối cùng.

Đi theo chương trình này, tôi sẽ đem theo không những gia đình mình mà cả Mẹ và các em nữa, danh sách này tôi đã nộp cho Tòa Đại Sứ Mỹ xong rồi.

Theo tinh thần của buổi họp cuối cùng của Đoàn Liên Lạc HK mà hầu hết các nhân viên người Mỹ, Việt và Á Châu trong đó có tôi đều tham dự thì người Mỹ rất có quyết tâm để đưa đi tất cả những nhân viên đang làm việc cho Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn và gia đình của họ, nhưng chương trình nêu ra vài điểm đặc biệt về thứ tự ưu tiên:

– Ưu Tiên Một:

Dành cho các nhân viên đã lánh nạn Cộng Sản chạy từ sứ quán Vùng I và Vùng II về Sàigòn sẽ được ra đi trước với gia đình họ.

– Ưu Tiên Hai (Non-Essential):

Các nhân viên trong Tòa Đại Sứ kể cả người Mỹ lẫn người Việt được chia ra làm hai loại:

“Không Thiết Yếu” (“Non-Essential”) và “Thiết Yếu” (“Essential”).

*Theo sự sắp xếp thì những nhân viên “Không Thiết Yếu” được ra đi trước vì nhiệm vụ của họ không còn cần thiết nữa tại đây.

*Các nhân viên “Thiết Yếu” là những người đang sát cánh với các cơ quan Phủ Bộ của chính phủ VNCH thì phải ở lại tiếp tục yểm trợ các Phủ Bộ này cho đến giờ phút chót để tránh cho chính phủ VNCH có thể sụp đổ sớm nếu tất cả sự yểm trợ của người Mỹ rút đi cùng một lúc.

-Tòa Đại Sứ Mỹ sẽ quyết định lúc nào là thời điểm -có thể trong tình hình dầu sôi lửa bỏng thì các nhân viên Việt-Mỹ thuộc dạng “Thiết Yếu” mới được bốc đi bằng trực thăng cùng gia đình.

*Thuyết trình viên một viên chức cao cấp người Mỹ bảo đảm là sẽ bốc hết tất cả mọi người còn lại và lập đi lập lại lời cam kết sẽ bốc đi tất cả các nhân viên thuộc dạng “Thiết Yếu”.

-Plan B: Nếu cần thiết thì 5 ngàn TQLC HK từ Đệ Thất Hạm Đội sẽ đổ bộ vào Vũng Tầu và thiết lập một con đường bộ nối liền SàiGòn ra Vũng Tầu – một con đường “Thép” an toàn cho việc di tản không bị gián đoạn.

*Chương trình di tản này dự trù sẽ kết thúc vào ngày 15-5-1975.

-Ngoài ra cần nói rõ thêm là trong các ưu tiên hàng đầu thì phải nói đến Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự D.A.O của Mỹ đã bắt đầu chương trình di tản trước tiên cho nhân viên của họ ra khỏi Sàigòn từ khoảng tháng 2-1975; và nhờ đó mà chị dâu tôi và hai cháu đã đoàn tụ với anh thứ Ba HQ của tôi đang tu nghiệp tại Rhode Island bên Mỹ vào tháng 3-75.

Mấy lần anh quá sốt ruột về tình hình sẽ mất Sài Gòn nên định bỏ về nước. Tôi đã phải gửi điện khẩn qua hệ thống của Tòa Đại Sứ để khuyên anh bỏ ý định mạo hiểm về nước của anh, vì chị ấy và hai cháu sẽ qua.

Trong bốn anh em trai, gia đình anh là gia đình hạnh phúc duy nhất đã đoàn tụ trên phần đất Tự Do. Ba anh em còn lại đều… vô tù.

Sau khi nghe buổi thuyết trình về kế hoạch di tản ngày 27-4 tại Tòa Đại Sứ Mỹ, chúng tôi trong Đoàn Liên Lạc HK đều tin tưởng vào kế hoạch này và tuân thủ theo đúng lệnh họp và ở lại đến giờ phút cuối cùng chờ đợi.

Ngày 28-4, tôi chở vợ con trên chiếc xe Renault 4CV ra nhà Mẹ tôi ở Trương Minh Giảng và sau một ngày chờ đợi không có tin tức gì từ phía các cố vấn Mỹ, tôi quyết định vào văn phòng của Đoàn Liên Lạc HK trong Phủ Đặc Ủy TƯTB xem sao.

Lúc đó là sáng ngày 29-4, tôi lái xe vào Phủ Đặc Ủy lần chót, mấy anh an ninh mở cổng cho tôi vào và nhìn tôi với cặp mắt hết sức ngạc nhiên:

-Ủa! ông mà còn đây thì làm sao tụi tôi đi được?”

Tôi vẫy tay chào các anh rồi lái xe vào cổng:

-“Tôi đang liên lạc chưa được. Có gì sẽ thông báo ngay cho các anh biết để cùng ra đi.”

Tôi đậu xe vào khu vực sân bên trong rồi chạy lên lầu mở cửa vào văn phòng và dùng điện thoại liên lạc ngay vào tòa đại sứ nhưng tất cả các đường giây đều bận hoặc điện thoại reo mà không có ai trả lời.

Trong lòng tôi nóng như lửa đốt và có linh tính không hay vì mắt bên phải máy liên tục. Mẹ tôi vẫn bảo là máy mắt bên trái là may mắn hay có tiền, nhưng bây giờ toàn máy mắt phải. Tôi vừa quay máy gọi vừa mong phía bên kia đầu giây có ai đó làm ơn nhắc dùm cái điện thoại lên nhưng vẫn vô vọng.

Kể từ hôm 27-4 sau buổi họp cuối cùng về tình hình di tản cho Đoàn Liên Lạc HK thì các cố vấn Mỹ cũng biệt tăm và bây giờ hai ngày sau cũng không biết họ giờ ở đâu.

Tôi cố gắng và kiên nhẫn gọi nhiều lần trong suốt một tiếng đồng hồ với hy vọng nghe được tiếng nói của bất kỳ tay cố vấn nào trong Đoàn Liên Lạc này thì sẽ tìm ra được manh mối về điểm tập trung mới cho kế hoạch di tản sau khi phi trường Tân Sơn Nhất đã bất khả dụng nhưng mọi nỗ lực đều không có kết quả.

Có lẽ chỉ còn một ít đường giây đặc biệt nào trong Tòa Đại Sứ là còn hoạt động mà thôi, còn các đường giây khác đều bỏ trống.

Tôi ngồi đó nhìn lại văn phòng nơi mình đã làm việc năm năm trời với bao nhiêu là kỷ niệm rồi quyết định thủ tiêu hết các tài liệu. Một số giấy tờ không kịp thủ tiêu thì tôi bỏ vào trong thùng và đem xuống xe.

Khi bước ra khỏi văn phòng, tôi nhìn suốt dọc hành lang tất cả đều vắng lặng như tờ, nguyên dẫy này và dẫy bên cạnh nữa trước kia tấp nập người đi lại chạy lên xuống cầu thang thì bây giờ mình tôi đứng trên đây tựa vào lan can.

Dưới sân cũng không một bóng người, chỉ còn cây Mai Tứ Quí một mình bơ vơ giữa sân như tôi cô đơn đứng trên này.

Tôi quyết định lái xe trở về nhà Mẹ tôi để lại ngồi chờ tin nữa.

Gia đình vẫn luôn là nơi cho ta trú ẩn qua những cơn giông tố của cuộc đời. Lần này là một cơn giông bão khủng khiếp khổng lồ và đen tối nhất đang úp chụp lên miền Nam. Liệu gia đình có còn là nơi trú ẩn an toàn nữa không đây?

Dầu sao tôi vẫn phải trở về nhà, đồng hồ mới chỉ 11 giờ sáng ngày 29-4, vẫn còn chút hy vọng là những người bạn Mỹ sẽ còn nhớ đến chúng tôi để thông báo về địa điểm tập trung cho kế hoạch di tản mới.

Trên đường về, tôi thử tạt qua vài nơi mà các tay số vấn Mỹ vẫn thường lui tới làm việc bí mật gọi là các Nhà An Toàn nằm trên đường Hồng Thập Tự và Sương Nguyệt Ánh nhưng họ đều đã rút đi hết không còn một ai.

Buổi sáng ngày 29-4 ấy, sau khi không liên lạc được từ văn phòng làm việc, nếu tôi chạy xe thẳng vào Tòa Đại Sứ và tìm cách ở lại trong đó thì chắc chắn sẽ gập lại các cố vấn của Đoàn như Frank Rygalski, Vance Vincent, Jeffrey Ho, Paul hay Dick, và đêm 29-4 tôi đã leo lên nóc sứ quán vào trực thăng để bay ra Đệ Thất Hạm Đội an toàn rồi.

Nhưng không hiểu sao tôi lại không chạy thẳng vào tòa đại sứ để ở lại trong đó sáng ấy ? Một phần có lẽ vì không thể bỏ lại vợ và hai đứa con còn nhỏ dại, một phần tôi vẫn hy vọng là người Mỹ còn giữ kế hoạch bốc chúng tôi đi.

Thực tế đáng buồn là Tòa Đại Sứ HK chỉ bí mật ra lệnh cho các nhân viên người Mỹ gấp rút vào trong compound tức là trong sứ quán sáng ngày 29-4,mà không hề thông báo cho các nhân viên người Việt hay Á Châu.

Không có trực thăng nào bốc ai đi cả và các nhân viên người Việt hay gốc Á Châu thuộc Đoàn Liên Lạc HK của Tòa Đại Sứ Mỹ và hầu như toàn bộ nhân viên của Phủ Đặc Ủy TƯTB thuộc Phủ Tổng Thống (nơi mà Đoàn Liên Lạc HK yểm trợ), không ai biết địa điểm tập trung là ở đâu nữa ( cho nên tất cả sau đó đều gập nhau trong….. tù.)

Bây giờ lệnh đầu hàng đã loan đi trên làn sóng điện Saìgòn thì chúng tôi những nhân viên còn lại của Đoàn Liên Lạc KH trong đó có tôi lại càng thêm bôí rôí. Con đường ra đi đã tắc nghẹn một cách ngang xương và con đường ở lại thì tương lai mù mịt không biết về đâu.

Tình huống đã trở nên tuyệt vọng, nhiều tin loan tải đi rất nhanh; như là cả một hạm đội gần hai mươi bẩy chiếc tầu của HQVN đã ra khơi an toàn ngày hôm qua, rồi tin thiên hạ đang ùn ùn kéo nhau về miền Tây để sinh sống hay tiếp tục tìm đường di tản.

Tin tức khác nữa thì chúng ta sẽ bỏ Vùng III và lui về cố thủ tại Vùng IV vì Vùng IV Chiến Thuật là vựa thóc đủ sức nuôi quân chờ một giải pháp mới chứ chúng ta không chấp nhận đầu hàng dễ như vậy.

Hay sẽ có một chính phủ liên hiệp và một giải pháp tốt hơn cho miền Nam cũng được nhiều người bàn tán trong đó có ông anh thứ Hai của tôi không hiểu sao lại tin tưởng sẽ có một giải pháp mới?

Những tin tức đủ loại như vậy chỉ làm cho người dân trong đó có tôi thêm rối trí. Tôi đang đứng suy nghĩ như vậy thì nghe tiếng của Mẹ tôi gọi. Bên dưới nhà ngay sau khi nghe tin Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng trên radio thì Mẹ tôi bảo đóng ngay cửa hàng bán quần áo trẻ em lại, khóa cửa sắt bên trong, rồi kéo tấm màn che kín hết và kêu tất cả rút lên lầu.

Bên ngoài đường, như là đã chuẩn bị từ trước ở vùng ven thủ đô, cho nên chỉ khoảng một tiếng đồng hồ sau là tôi nghe thấy tiếng những âm thanh động cơ nặng nề của những bánh xích xe tăng T-54 lăn rầm rầm trên đường nhựa từ phía Ngã Ba Ông Tạ, chạy trên đường qua trước mặt nhà Mẹ tôi, hướng về phía cầu Trương Minh Giảng.

Tôi nhìn qua cánh cửa sổ hé mở để thấy hình ảnh đau thương đầu tiên nhất về ngày mà Sài Gòn sụp đổ trong mắt tôi là một đoàn xe tăng T-54 đang lăn bánh vào thành phố.

Những người lính Bắc Việt mở nắp xe tăng và chui ra đứng lên nhìn thành phố một cách ngỡ ngàng. Từng chiếc, từng chiếc một chạy ngang qua trước mặt tôi bên dưới đường như những mũi kim xuyên qua da thịt đâm vào tim.

Trong khi mà đa số dân chúng hai bên đường còn đang sửng sốt chưa hiểu chuyện gì đang xẩy ra, thì một số người chả hiểu sao đã giơ tay vẫy vẫy đoàn xe tăng này – bên cạnh đó những người lính VNCH vẫn đang lầm lũi bước đi một cách đáng thương.

Tôi có cảm tưởng như bầu trời u ám tối xầm hẳn lại vì một sự kiện không bao giờ ai tin là có thể có thật đã vừa xẩy ra: quân Bắc Việt đang tiến chiếm và “tiếp thu” thành phố Sàigòn -thủ đô của Miền Nam và chế độ VNCH vừa sụp đổ sau hai mươi năm anh dũng chống lại quân xâm lược từ phương Bắc.

Tôi theo Mẹ xuống nhà dưới để chuẩn bị cùng gia đình ăn bữa cơm trưa và cố gắng lùa bát cơm nhưng không thể nuốt nổi.

Trên radio chợt có những giọng nói rất lạ của vài xướng ngôn viên mới và trong những bản nhạc được phát đi, người ta nghe thấy bản “Nối Vòng Tay lớn” của nhạc sĩ họ Trịnh.

Tôi với tay tắt cái radio đi vì chả có gì cần phải nghe nữa.

Tôi nhớ lại buổi sáng ngày hôm đó, ngày mà chúng ta mất Sàigòn.

Không hiểu sao tôi ngủ dậy rất sớm sau một đêm thao thức và trằn trọc vì cái quyết định ở lại không ra đi một mình.

Tôi lấy chiếc xe Renault 4 CV chạy về phía Tòa Đại Sứ Mỹ xem tình hình ra sao trong khi cả nhà trừ Mẹ tôi, là còn đang say ngủ.

Trời mới vừa hừng sáng và không khí còn hơi mát của sương đêm. Sàigòn dễ thương là chỗ đó, dù ban ngày có nóng mấy đi chăng nữa nhưng khi màn đêm buông xuống là không khí dịu đi ngay.

Phố phường dọc theo con đường Trương Minh Giảng còn vắng người, tôi vừa lái xe ra khỏi nhà một lát chưa tới khu chợ nữa thì thấy một dáng người thất thểu đi bên đường như không hồn. Tôi nhận ra anh Điện, anh bạn đồng nghiệp của tôi và được Tòa Đại Sứ Mỹ biệt phái qua Tổng Nha Cảnh Sát. Tôi mừng quá vội dừng xe lại, nhẩy xuống bắt tay anh hỏi thăm thì chỉ nhìn thấy một khuôn mặt u buồn, anh không nói một lời nào, cái siết tay tôi thật chặt thay cho lời nói rồi lại đi bộ dọc theo con đường hình như đang suy nghĩ gì lung lắm. Tôi đứng nhìn theo anh một lát rồi lên xe đề máy và chạy chầm chậm suốt cho tới cuối con đường Trương Minh Giảng, gập ngã ba thì rẽ trái vào Trần Quí Cáp để hướng về phía con đường Thống Nhất.

Trong khi lái xe tôi vẫn suy nghĩ về anh Điện và dự định chiều nay sẽ đến thăm anh nhưng tôi không ngờ rằng đó là lần cuối cùng tôi gập anh bởi ngay sau khi anh nghe tin Dương Văn Minh đầu hàng thì anh uống thuốc tự tử.

Anh sinh trưởng ở Huế, là một người rất hiền lành, một công chức cần mẫn, gia đình chỉ có hai vợ chồng và không con cái.

Con đường Trần Quí Cáp sáng hôm ấy vẫn đẹp và rợp bóng mát với hai hàng cây cao bên đường như mọi ngày nhưng tôi có cảm giác thật lạc lõng và thật cô độc.

Thiên hạ hình như còn đang chìm trong giấc ngủ, thỉnh thoảng mới thấy một hai chiếc xe gắn máy chạy vụt qua rồi mất hút.

Những chiếc lá theo từng cơn gió sớm mai bay là là nghiêng cánh trước mặt kính xe của tôi rồi rơi xuống mặt đường nhựa và nằm im trên đó. Cuộc đời tôi cũng sẽ rơi rụng như chiếc lá khô này chăng?

Tôi lái xe vào phía trước của tòa đại sứ Mỹ và không thể không kinh ngạc khi nhìn thấy một dinh thự hoàn toàn trống rỗng, cánh cổng trước mở toang ra, với các mảnh kính vỡ bay ra tới tận ngoài đường.

Vòng xe lại phía sau là đường Hồng Thập Tự thì quang cảnh còn tang thương hơn. Một tòa đại sứ hôm nào còn nhộn nhịp, còn là đầu não của mọi kế hoạch tinh vi, thì bây giờ là một căn nhà hoang phế, các cửa sổ bị đập nát và khu cỏ xanh và đường nhựa phía sau này đầy các mảnh vụn của cửa kính vỡ, tôi phải lái xe ra xa để tránh các mảnh vỡ đó.

Mới tối hôm qua khi tôi đến đây thì còn đông nghẹt những người là người chen chúc nhau để tìm đường di tản. Trên bức tường kia là các TQLC Mỹ hườm súng và cổng vào thì đã đóng chặt.

Bây giờ hai cánh cửa mở toang, trên tường hoang lạnh, trong sân chỉ thấy vài bóng người, và trên nóc tòa đại sứ, hôm qua các trực thăng còn nườm nượp bay đi về để chở người di tản ra Đệ Thất Hạm Đội bây giờ cũng chẳng còn ai. Tôi chỉ nhìn thấy một bóng trắng rất nhỏ bốn chân đang chạy từ trên nóc xuống, có lẽ là con mèo đang đi tìm thức ăn.

Tôi đậu xe lại bên hàng cây, bước xuống cầm lên một mảnh vụn kính văng ra và nghĩ rằng phải có người dùng chất nổ để phá các két sắt trong đó để tìm tiền hay đô la còn sót lại thì các mảnh mới có thể văng xa đến như vậy.

Có điều tôi không ngờ rằng chẳng bao lâu sau thì cuộc đời hàng triệu người dân miền Nam trong đó có tôi cũng vỡ vụn ra không khác gì mảnh kính vỡ tan kia.

Tôi vòng xe về nhà nghỉ một chút đến chiều ngày 30 thì ghé thăm anh Điện, nhà anh rất gần nhà Mẹ tôi, ngay trong con hẻm bên cạnh ngôi chợ Trương Minh Giảng.

Khi tôi bước vào căn nhà thì không khí hoàn toàn vắng lặng và tôi hơi bị khựng lại vì cửa thì mở toang ra nhưng trong nhà không có ai ngoài một người bà con.

Tôi được biết là anh đã quyên sinh và chị đang ở trong nhà thương với anh để lo việc tẩm liệm.

Tôi bước ra khỏi nhà anh mà đầu óc còn chưa tỉnh hẳn.

Tôi để xe đó và đi bộ vào trong chợ, tôi có ý tìm một nhân viên của tôi cùng làm việc trong Đoàn Liên Lạc HK là một người gốc Chàm rất thành thật và dễ mến tên Carim.

Đang loay hoay nhớ lại lối vào nhà anh vì lối đi quanh co phía sau chợ thì tôi chợt thấy anh vác chiếc xe đạp ra định đi đâu. Gập tôi anh mừng qua dắt chiếc xe đạp trở lại, dựng nó tựa lên vách phòng khách trong nhà rồi chạy lại nắm tay tôi mời vào nhà.

Căn nhà anh ở là căn nhà sàn vách ván, bên dưới là con sông chẩy lượn lờ vòng quanh dưới chân cầu Trương Minh Giảng.

Căn phòng khách đơn sơ nhưng tối tù mù và trên tường có một bàn thờ che vải đỏ có lẽ là nơi anh thờ bùa chú gì đó.

Anh là một người với một cuộc đời khá đặc biệt chuyên giúp người, mà tôi nghe nhiều nhưng khi quen anh mới biết được.

Anh là một ông thầy người Chàm cao tay về bùa yếm.

Căn nhà sàn này cũng là một tặng phẩm của một bà trên chợ Bến Thành biếu cho anh vì anh đã cứu mạng cho con gái của bà.

Anh kể tôi nghe rằng con gái của bà này khi xuống Cần Thơ ăn học thì có một người thương yêu cô nhưng cô không chịu. Chàng trai kia bèn nhờ thầy bùa gì đó dưới Cần Thơ “thư yếm” vào phong bì gửi cho cô. Lúc mở phong bì ra là cô bắt đầu thấy như có ngọn lửa đang nung đốt ruột gan mình chịu không nổi, cô la hét và xé cả quần áo ra như người điên.

Đưa đến bệnh viện cấp cứu và bao nhiêu là bác sĩ cũng bó tay vì không tìm ra bệnh gì hết. Bà mẹ bèn đem cô về Sài Gòn để tìm thầy chữa trị, và may mắn có người giới thiệu với Carim.

Anh nói với tôi anh biết cái người đã yếm bùa hại cô này nhưng anh cao tay hơn nên chữa được. Sau khi con gái bà đã được giải trừ bệnh tật xong thì bà đã mua tặng cho anh ngôi nhà sàn này.

Lúc anh Carim mới vào làm cho Tòa Đại Sứ Mỹ và được đưa về Đoàn Liên Lạc HK để yểm trợ cho Phủ Đặc Ủy TƯTB thì anh nói tiếng Việt chưa sõi mà tiếng Anh thì cũng yếu nữa nên tôi thường giúp anh trong các khi cần phiên dịch hay diễn đạt bởi thế anh thân tình với tôi hơn những nhân viên khác của Đoàn.

Tôi tình cờ đến thăm và thấy anh rất vui mừng. Anh có hỏi tôi về tình hình và tại sao Tòa Đại Sứ HK lại không giữ lời hứa và không đến đón chúng tôi như đã cam kết trong buổi họp cuối cùng ngày 27-4-1975?

Tôi nói tôi không biết và lược sơ tình hình cho anh hiểu.

Riêng tôi có một câu hỏi với anh là với nghề nghiệp thầy pháp, tạm gọi anh như vậy đi, không biết anh có thể tìm được điều gì về tâm linh ngõ hầu soi sáng thêm cho tình hình đen tối này hay không.

Anh nhìn tôi chầm chậm lắc đầu một cách bi quan.

Anh cho tôi biết là một số anh chị em trong Đoàn còn lại tại Sàigòn cũng rất là hoang mang, không biết tính sao. Tôi nhờ anh nhắn lại với họ là mọi người nên lo cho gia đình mình là tốt nhất rồi xem tình hình ra sao sẽ tính.

Tôi ngồi uống với anh chung nước trà và siết tay anh rồi ra về.

Đó là lần tôi gập anh ngay sau lệnh đầu hàng và không còn dịp nào gập lại nữa nhưng lúc nào tôi cũng mến anh, một con người thật thà ngay thẳng và hay giúp người.

Tôi chạy xe đến nhà anh Sang là một cấp chỉ huy trong Đoàn Liên Lạc HK thì nghe tiếng khóc sụt sùi từ trong nhà vọng ra. Tôi chỉ gập một cô bé giúp việc, cô nói rằng cả hai vợ chồng anh đều đã ra đi từ hồi nào cô không hay nữa. Bấy giờ tôi mới hiểu rằng tất cả đều đã tan tác như loài ong vỡ tổ và mạnh ai người nấy đi tìm đường thoát ra khỏi miền Nam trước khi quá trễ.

Vì quá tin vào lời hứa và cam kết của các cố vấn Mỹ trong buổi họp ngày 27-4 mà phút chót tôi và rất nhiều người đã bị kẹt lại.

Mấy ngày sau tôi mới biết là tất cả cố vấn Mỹ đã có lệnh rút hết vào bên trong Tòa Đại Sứ sáng ngày 29-4 và ngay buổi chiều hôm đó thì Tòa Đại Sứ đã ra lệnh đóng kín cửa, cho lính TQLC Mỹ canh gác trên bức tường thành chung quanh và không còn ai ra vào được nữa.

Các bạn đồng nghiệp của tôi và chính tôi nữa khi bước chân vào các trại “tập trung cải tạo” của Cộng Sản, đã phải trả một cái giá rất đắt với bao nhiêu năm tù đầy cho niềm tin vào lời hứa sẽ bốc đi bằng trực thăng của người Mỹ.

Bởi lẽ các cố vấn Mỹ chỉ lo cho những người họ quen biết, hay chỉ đưa đi một số người quan chức bên phía VNCH đã được chỉ định mà thôi trong đó có Trung Tá HDC, một Trưởng Ban của Phủ Đặc Ủy TƯTB – nơi Đoàn Liên Lạc HK tôi vẫn làm việc.

Vào đầu tháng 5-1975, tôi quyết định đi một vòng để thăm bạn bè và có dịp gập gỡ một số bạn đồng nghiệp còn ở lại trong đó có một chị người Trung Hoa nói tiếng Việt rất ít nên chúng tôi thường phải đối thoại bằng Anh Ngữ. Câu chuyện của chị kể đã khẳng định điều nhận định của tôi là đúng.

Chị A.L cho tôi biết là người cố vấn Mỹ đang thuê nhà của chị nói rằng Tòa Đại Sứ vừa triệu tập khẩn cấp các cố vấn Mỹ đang ở trong thành phố hay đang làm việc tại các Nhà An Toàn phải vào trong Sứ Quán ngay lập tức nội sáng ngày 29-4.

Tay cố vấn này có hỏi chị muốn đi hay không, chị A.L trả lời là chị đang chờ cố vấn của Đoàn Liên Lạc HK thông báo xem sẽ tập trung ở đâu. Người Mỹ này nói là không còn kịp nữa đâu mà chờ đợi.

Nhờ có tay cố vấn ấy mà cả hai mẹ con chị mới vào được trong Tòa Đại Sứ yên ổn ngay sáng ngày 29-4.

Tôi thắc mắc là tại sao hai mẹ con chị đã vào bên trong yên ổn rồi mà còn ở lại đây Sàigòn giờ này? Chị nói đúng là con người ta không ai học được chữ ngờ và quả là con người ta đi đứng đều có số mạng.

Bởi tối hôm 29-4, ai có mặt trong Tóa Đại Sứ cũng đều biết rằng đó là buổi tối cuối cùng vì ngày mai trực thăng sẽ không còn vào đón người di tản nữa từ trên nóc của sứ quán.

Vì lẽ đó mà thiên hạ chen nhau một cách hỗn loạn, leo lên từng bậc thang một để lên trên sân thượng nơi trực thăng đang chờ –lý do là mỗi chuyến trực thăng chỉ đón một số người nhất định có tên trên manifest mà thôi.

Chị A.L dẫn mẹ già nên chậm hơn mọi người. Khi chị lên đến nóc tòa nhà và chuẩn bị chui vào chiếc trực thăng đã được chỉ định thì mới hốt hoảng không thấy mẹ mình đâu. Hóa ra bà cụ đã vừa mới đứng phía sau chị bên cạnh cầu thang thì đã bị người ta xô đẩy tuốt về phía sau từ hồi nào. Chị vội quay xuống dẫn cụ lên lại tới nơi thì chiếc trực thăng đó không thể chờ được và đã cất cánh.

Chị kiên nhẫn đứng chờ các chuyến sau nhưng vẫn bị từ chối vì không còn chỗ, và cứ thế chờ suốt đêm đến sáng rồi đành ra về khi toán TQLC cuối cùng rút lui – không còn một dấu vết gì nữa của người Mỹ đã hiện diện ở đây ngày hôm qua.

Những người không đi được còn lại ở bên trong và một số ở bên ngoài quá bất mãn đã phá tung cánh cửa và ùa vào phá hết các đồ đạc tủ bàn ghế bên trong. Một số người nữa từ các nơi ngoài đường thấy cổng mở cũng túa vào. Họ đập nát các tủ sắt lấy đi những gì còn có thể lấy được. Đó là vì sao mà các mảnh vụn của cửa kính văng xa ra tới tận ngoài đường.

Ngày 30-4, ngày mất miền Nam thì cái dinh thự to lớn và bề thế của Tòa Đại Sứ Mỹ trên đường Thống Nhất cũng chỉ còn là một cái xác nhà tan hoang.

Tôi nhìn lại tòa nhà đó một lần chót, không thể ai tin được rằng cái dinh thự ấy mới đây còn là nơi yểm trợ cho công cuộc chống Cộng của chế độ VNCH của miền Nam Tự Do, nay đứng chơ vơ xác xơ như thân cây ruỗng mục.

Trên đường phố chung quanh Tòa Đại Sứ tôi nhìn thấy bao cảnh dở khóc dở cười của những người hôi của. Họ chạy xe gắn máy các loại và thòng dây kéo theo các chiến lợi phẩm như những chiếc ghế xoay rồi cột trên đó thêm cái máy lạnh, cái quạt máy, hay cái máy đánh chữ.

Xe của họ phải chạy chầm chậm vì nhanh một chút nữa là chiếc ghế xoay kia sẽ đổ ụp xuống đường.

Tôi lái xe ngược trở về nhà Mẹ tôi để thu xếp đưa gia đình về lại căn nhà tôi đang ở trong Phú Lâm vùng ngoại ô.

Tất cả đã hết thật rồi và hy vọng cũng tan tành như mây khói.

Những người bạn Mỹ ngày nào vẫn cùng nhau sát cánh bao nhiêu năm giờ đây đã rời xa nghìn trùng không còn một dấu vết.

Các bạn đồng nghiệp như tôi hay toàn bộ bên Phủ Đặc Ủy hay các Phủ Bộ khác của chế độ VNCH cũng đang phải đối diện với một ngày mai không thấy gì là sáng sủa trước mặt một kẻ thù cực kỳ hiểm độc và tàn ác không lường.

Thôi cứ về nhà chờ rồi sẽ hay, cái gì đến sẽ phải đến.

Có khác chăng, trước kia tôi chờ trong niềm vui và hạnh phúc là người Mỹ sẽ đón đi di tản cùng với gia đình, còn bây giờ là chờ người của họ sẽ đến tìm bắt mình ngay tại nhà.

Thành phố Sài Gòn không còn nữa, tất cả những ngày tháng êm đềm mang đầy kỷ niệm trên mọi ngả đường thân yêu trong cái thành phố mang tên Hòn Ngọc Viễn Đông đó không còn nữa.

Lịch sử vừa sang qua một trang mới đầy sắt máu, hãi hùng, bi thương; và bên cạnh đó là một nền văn minh huy hoàng bắt đầu bị kẻ chiến thắng hủy diệt ngay trong thủ đô thân yêu mang tên Sàigòn.

Những Người Tù Cuối Cùng

Phạm Gia Đại

Post by Sơn râu 4 Jun 2024

Phần 19

Những Người Tù Áo Hoa

Thời gian ở trong tù quả thật đúng nghĩa là thời gian chết.

Khoảng thời gian vô bổ, vô nghĩa vì không biết lấy cái gì để lấp đi được hết cái khoảng trống đó hay làm sao để giết đi được hết cái thì giờ thừa thãi đó. Đâu phải nó chỉ là mười ngày hay một tháng như lời tuyên truyền lừa bịp của Quân Quản thành phố khi Sài Gòn đã mất, mà nó kéo dài lê thê và pha lẫn với những máu, nước mắt và mồ hôi của hàng trăm ngàn người tù chính trị hết năm này qua năm kia hình như không có giới hạn về thời gian nữa.

Lúc tôi còn ở trại cô nhi Long Thành, hơn ba ngàn người hầu hết là dân sự trong các Phủ Bộ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đang ở trong tù. Sau mười ngày, rồi sau một tháng trôi qua không động tĩnh thì họ cũng không còn biết bám víu gì vào ngày tháng nữa và thời gian chỉ còn là một khoảng trống không vô tận.

Cái chính sách “khoan hồng nhân đạo” của Đảng và Nhà Nước Cộng Sản đối với các viên chức chế độ cũ đã bị rơi cái bộ mặt giả nhân giả nghĩa khi sau một tháng rồi mà vẫn giam giữ các “cải tạo” viên.

Chính sách đó đã biến miền Nam thành một nhà tù lớn nhất thế giới.

Những người dân miền Nam , nhất là các quân dân cán chính chế độ cũ VNCH qua một thời gian ngắn sống dưới chế độ Cộng Sản, bắt đầu hiểu lờ mờ thế nào là Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN); và khi mà thức ăn dành cho súc vật là bo bo cũng không có đủ cho những người tù lao động khổ sai nữa thì mọi người bắt đầu nhìn thấy một hiểm họa đói kém và một tương lai đen tối đang đổ ụp xuống trên quê hương mình.

Có điều chúng tôi đều không hay và đều không hề biết rằng những khoảng thời gian ấy là những tháng ngày hiếm có mà còn được những giây phút thoải mái và thong dong một chút trước khi bị đưa ra miền Bắc XHCN, bị ném vào “hỏa ngục” trên trần gian – là những trại “tập trung cải tạo” với nhiều hình thức lao động khổ sai khác nhau- đang được từ từ dựng lên như nấm khắp Nam chí Bắc VN, dập khuôn theo các trại ở Siberia hay Tân Cương.

Những buổi chiều tại trại cô nhi Long Thành, chúng tôi chẳng biết làm gi hơn là cứ lững thững đi bộ dọc theo các con đường đất nện chung quanh các căn nhà chỉ còn là cái xác, không cửa sổ mà cũng chẳng có cửa ra vào.

Một số thì ngồi trên gò đất cao nhìn ra hướng xa lộ chạy về thành phố vừa nhớ về gia đình vợ con vừa tự hỏi tại sao lại ra nông nỗi này?

Tại sao lại cả một chế độ đang Tự Do no ấm trong miền Nam chui hết cả vào tù như thế này? Tại sao hầu như tất cả những thành phần tinh hoa của VNCH đều vào trong cái rọ này hết? Ai, những ai là người đã gây ra cái thảm trạng này, chúng tôi chăng?

Câu hỏi đó cứ mãi xoáy vào trong đầu tôi và có lẽ cũng trong đầu mọi người đang ở chung quanh tôi bởi vì chúng tôi đã mất một miền Nam trù phú thịnh vượng và văn minh văn hóa vào tay bọn người mà trước kia VNCH gọi nó là loài quỷ Đỏ từ miền Bắc vào, vừa vô tôn giáo vừa vô tổ quốc, vừa nghèo đói vừa gian manh, tàn bạo, đầy thủ đoạn và xảo quyệt.

Nhưng loài quỷ Đỏ gian manh xảo trá đó lại là kẻ chiến thắng và chúng tôi văn minh văn hóa hơn mà lại là kẻ thất trận.

Điều nhức nhối là nằm ở chỗ đó, và mỗi thời gian qua đi trong tù thì chúng tôi lại học được những kinh nghiệm mới và hiểu rõ hơn về cái gọi là XHCN – là cái xã hội dậy cho con người ta bề ngoài phải sống dối trá thì mới có thể tồn tại được.

Trong khi từ ngàn xưa chúng ta đã bị ảnh hưởng nhiều từ hai luồng triết học của Khổng giáo và Phật giáo. Sau ngày di cư vào Nam chúng ta còn được học Công Dân Giáo Dục và Đức Dục tại trường học. Các môn trí dục đó đều dậy chúng ta trở thành những con người vừa có tài năng vừa có đức hạnh, ngay thẳng, thành thật và biết thương người.

Đem hai lối sống đối chọi nhau như vậy ra cân đo, một đàng Cộng Sản chỉ biết một điều là chém giết và phá hoại không nương tay tất cả mọi thứ trên đường chúng đi để cướp chính quyền bằng mọi thủ đoạn – và một bên chúng ta những người Quốc Gia đã hành động như những người quân tử có lòng nhân đạo và không biết phòng bị đối với kẻ tiêu nhân – thì chúng ta đã hiểu vì sao Việt Minh đã thành công trong việc âm thầm hay công khai thủ tiêu hầu hết các nhà cách mạng trong các phong trào và đảng phái yêu nước thời chống Pháp và họ đã cướp được chính quyền.

Sau năm 1954 đất nước bị chia hai và khi Hiệp Định Genève ký chưa ráo mực, CSVN vẫn dùng một sách lược như cũ, theo đúng lời dậy bảo của quan thầy chúng là Nga-Tầu, là phát động cuộc chiến võ trang, xé bỏ ngay Hiệp Định mà chúng vừa ký kết để xua quân xâm nhập trái phép vào miền Nam qua vùng Phi quân sự và sử dụng cả đất Lào và Miên cho đường chuyển quân của chúng.

Trong tù, anh em có lúc nói chuyện với nhau rằng nếu ngày trước hành quân bắt được tên VC hay Bắc Việt nào bắn bỏ hết thì chúng đâu còn lực lượng đâu mà tấn công chúng ta nữa? Nhưng là người Quốc Gia chúng ta thượng tôn luật pháp đâu có thể làm thế được. Cho nên chỉ giam giữ tù binh VC một thời gian, cho một bản án, rồi lại thả và chúng lại trốn vào bưng, như cóc bỏ dĩa vậy.

Thời gian còn ngoài Bắc, có những em bé chăn trâu hay những trẻ đang mót lúa trên đồng nhìn thấy chúng tôi thì lạ lắm. Vài hôm sau quen dần thì mon men lại gần hỏi chúng tôi biết đọc chữ hay sao khi có vài anh cầm trên tay cuốn sách. Bởi Các em và các dân làng bên đều bị tiêm nhiễm sự tuyên truyền của Cộng Sản rằng các lính “Ngụy” chỉ biết ăn gan hút máu người mà thôi.

Thế rồi vài anh đã chỉ cho các cháu tập đọc và cách giữ gìn vệ sinh tránh bệnh tật nữa và các em bé này khi về tới làng loan truyền lại rằng các người tù này rất hiền lành và tử tế chứ không hung dữ như các cán bộ huyện xuống tuyên truyền đâu, và mỗi lúc đội chúng tôi đi lao động bên ngoài trại thì các em lại mon men đến gần vì rất thích nghe các chú kể truyện trong Nam.

Những ngày mà đội được điều về sửa sang hay xây lại cái sân hay gian trái của nhà tay trưởng trại là Thiếu Tá Dũng thì cậu bé cháu nội của tay trưởng trại này mới lên bẩy thường khệ nệ vác ra cái điếu cầy, ít thuốc lào cho các chú hút thuốc “giải lao” cho vui.

Nó thường nhìn trước sau không có ai là bê nguyên bình rượu Mai Quế Lộ của ông nội nó ra cho các chú mỗi người tu một hớp, rồi ngồi bên cạnh há hốc mồm ra nghe một cách say sưa các chú vừa lao động vừa kể chuyện đời xưa trong Nam, những chuyện lạ lắm nó chưa từng được nghe bao giờ.

Hỏi là lớn lên cháu thích làm gì thì nó trả lời không do dự:

-“Cháu muốn làm các người tù áo hoa như các chú”

-“Tại sao không muốn làm cán bộ như ông nội con đó?”

-“Tại vì tù áo hoa có nhiều quà lắm. Mỗi lần thăm nuôi là một xe đầy quà à!.”

Chúng tôi dù đang trong hoàn cảnh lưu đầy cũng không nhịn được và phá ra cười.

Sau khoảng hai tuần lễ sửa chữa nhà cửa cho tay trưởng trại này xong thì những người tù áo hoa này không còn có dịp gặp lại chú bé con dễ thương đó nữa, nhưng vẫn không thể nào quên được tình cảm thương mến mà chú bé đã dành cho các anh em trong đội xây dựng nhất là hớp rượu Mai Quế Lộ hiếm có trong hoàn cảnh đó.

Dân làng chung quanh cũng quen gọi chúng tôi là tù áo hoa vì mặc đồ treillis, còn bà vợ của tay trưởng trại này thì gọi chúng tôi là “những tù quốc tế“:

-“Các anh cứ đưa tiền đây cho tôi, tôi sẽ mua trứng gà và thịt thà cho. Ăn vào cho nó khỏe chứ các anh là tù quốc tế mà sợ gì tụi nó”.

Tụi nó ở đây là đám cán bộ an ninh và trực trại và những anh em tù nhân cả bên hình sự và chính trị được cho chức vụ như tự giác, thi đua luôn đứng lục xét từng người tù một ngay tại cổng trước khi cho nhập trại, nếu họ có gì nghi ngờ.

Bà ta nói thì rất là mạnh miệng nhưng có lần trong đội thường cử ra một anh làm “sĩ quan liên lạc” để đi lấy hàng về, khi vừa đến cửa nhà tay trại trưởng thì anh định kêu bà đem hàng ra thì thấy ông ta ngồi lù lù cạnh cái bàn đang rít điếu thuốc lào, còn bà vợ ở phía sau thì xua tay rối rít. Anh “sĩ quan liên lạc” này vội dọt lẹ.

Hôm sau gặp bà ta lấy hàng thì bà phân bua:

-“Các anh không biết chứ ông ấy cứ hay lên lớp tôi là mua bán “móc ngoặc” như thể là làm ăn không tôn trọng nội quy và làm ông ta mang tiếng. Hôm qua tôi bèn nói cho ông ta biết rằng nếu tôi không làm ăn buôn bán thế này thì lấy đâu ra ngày ngày thịt lợn luộc cho ông ấy ăn, rượu Mai Quế Lộ cho ông ấy nhắm?”

Bà vợ tay trại trưởng này tuy người gầy đét như que củi và hàm răng thì cả một tiểu đội trú mưa cũng còn dư nhưng được cái không hiểu sao rất là tốt với những người tù áo hoa này, có thể vì họ sẵn sàng mua hàng với bất cứ giá nào dù là cao hơn nhiều so với ngoài chợ, miễn là có hàng cho họ để bù vào cái khẩu phần ăn quá thiếu thốn.

Vậy mà trong một thời gian dài bà ta cũng đã giúp cho chúng tôi rất nhiều trong dịch vụ cung cấp “chất tươi” – để chỉ các loại thịt và nhất là trứng gà.

Hễ có con gà nào vừa đẻ là bà ta dành dụm lại thành một chục để bán cho tù chính trị và chỉ bán cho tù chính trị mà thôi. Có anh em hỏi tại sao không bán cho tù hình sự thì bà chỉ lắc đầu không nói nhưng chúng tôi hiểu ngầm là bà chỉ tin tưởng vào đồng tiền của người tù áo hoa thôi.

Mãi cho đến khi các gia đình trong Nam ra thăm nuôi chúng tôi được thường xuyên hơn thì những dịch vụ buôn bán của bà vợ tay trại trưởng này mới thưa dần đi.

Dù thời gian đã xóa nhòa đi nhiều kỷ niệm nhưng tôi vẫn không bao giờ quên được cái dáng gầy đét như cây sậy và đôi chân trần nứt nẻ của bà vợ tay trưởng trại này và cái tay bà khua khua trên không khí:

-“Các anh không biết chứ ngày xưa tôi là hoa khôi trong làng cho nên ông ấy mới mê tít đi mà cưới hỏi đấy.”

Dầu sao cũng phải công nhận là bà ta có cái Tâm khá thành thật và không hề bị ảnh hưởng bởi luận điệu tuyên truyền của Nhà Nước XHCN nên đối xử với chúng tôi có chút tình người.

Những hôm mua được “hàng” từ nguồn cung cấp của bà vợ trưởng trại này, và qua mặt được sự khám xét ở cổng trại để đem “hàng” vào được trong trại yên lành là những thời gian “vàng son” của người tù.

Chúng tôi chia nhau có thể năm mười người một con gà luộc để có một bữa ăn cho bõ ghét. Nằm ngay trước mặt tôi là một anh bạn khác đội, pilot ngày xưa và cao lớn. Anh ăn rất khỏe bởi thế lại là người đau khổ nhất mỗi khi nhận phần ăn chưa đầy một bát bo bo hay lưng bát cơm. Thấy tôi nhỏ con nên anh thường hay qua đổi cơm lấy bo bo để ăn cho nó nặng bụng hơn một chút vì bo bo vỏ dầy ăn vào thì lâu tiêu hơn là cơm nên có cảm giác đỡ đói hơn.

Hôm ấy, anh dành tiền và mua được nguyên một con gà và buổi tối sau khi vào buồng, anh mượn cái chậu thau phát cơm của buồng để đựng con gà, bầy nó nguyên con ra trước mặt để làm một bữa đánh chén có một không hai cho thỏa những ngày bụng xẹp lép quanh năm.

Tôi ngồi ngay trước mặt anh ở sàn trên nên không muốn cũng phải nhìn qua sàn bên kia từ đầu đến cuối, từ lúc anh bắt đầu ngồi xuống chiếc chiếu, sắn tay áo lên bê cả con gà lên, nghĩ sao lại bỏ xuống rồi chỉ bẻ một cái cánh ra nhấm nháp trong khi cặp mắt thì lim dim lại như để tận hưởng cái khẩu vị êm ái và ngọt ngào đó. Nhìn cách anh chậm rãi “xơi tái” con gà một cách ngon lành mà tôi không nhịn được cười, dù là vui vì bạn mình có một bữa no nê để trả thù cái đói kinh niên đáng nguyền rủa cứ bám chặt lấy người tù. Thình lình anh mở mắt ra nhìn thấy tôi bèn chỉ vào chiếc đùi gà, tôi lắc đầu chỉ vào phần thịt gà mà tôi vừa chia được. Sau hai tiếng đồng hồ anh mới xong bữa tối. Bình thường thì chỉ vài phút đồng hồ là chúng tôi ăn xong phần ăn của mình bởi chỉ có độc nhất ít bo bo hay khoai tây nhỏ bằng ngón tay út hay lưng chén cơm, không có canh, không có cả nước muối hay rau cỏ gì nên thanh toán rất nhanh.

Anh rửa qua loa cái chậu thau, bỏ nó ra gần cửa xong leo lên giăng mùng chui vào giấc ngủ đến thật êm đềm. Tối đó tôi tin là anh ngủ rất say không nhiều mộng mị. Người tù đó vừa có một ngày vui bất ngờ, một bữa ăn thịnh soạn như trên trời rơi xuống, và ngày mai muốn ra sao hãy tính sau.

Vài năm sau khi vào trại thì họ phân phát cho chúng tôi các bộ đồ treillis mầu hoa rừng của QLVNCH trước kia, một phần để tiết kiệm ngân quỹ, mặt khác cũng có thâm ý để cho chúng tôi mặc quấn áo đó như là QLVNCH đang bị chúng giam giữ vậy.

Thiên bất dung gian cho nên họ không ngờ rằng với bộ treillis mầu hoa rừng đó của các binh chủng TQLC, Nhẩy Dù, BĐQ, các người tù đã đi khắp đó đây trong núi rừng trùng trùng điệp điệp của Hoàng Liên Sơn chặt cây đem về cho trại – và vô hình chung QLVNH như bừng sống lại giữa núi rừng từ miền trung du lên các tỉnh miền thượng du.

Trong mắt của dân làng nhất là dân tộc thiểu số qua những lần tiếp xúc tuy ngắn ngủi với các người tù chính trị chế độ cũ thì họ nhận thấy những người tù này hoàn toàn khác hẳn so với những tù hình sự và dân chúng bắt đầu gọi chúng tôi là “người tù áo hoa” từ đó để phân biệt với tù hình sự. Tù áo hoa là những con người hiền hòa dễ mến và hay giúp đỡ không phải là hình ảnh những kẻ giết người, ăn gan người như tuyên truyền.

Khi ra Bắc được khoảng hai năm thì vào một ngày cuối Thu, trời chợt chuyển lạnh thình lình rồi mưa xuống xối xả như thể bao nhiêu nước trên trời đều tuôn xuống vùng núi rừng hoang vu này.

Nước từ trên nguồn cũng tháo xuống qua thung lũng, qua khe núi, từ trên rừng đổ về. Chỉ mấy ngày sau là cả vùng ngập lụt trong nước trắng xóa. Những ngôi làng dân tộc thiểu số người Thái chìm trong biển nước. Hoa mầu mất sạch và nương rẫy đều biến mất dưới làn nước trắng xóa, trâu bò xổng chuồng và bị nước lũ kéo phăng đi.

Nước cuồn cuộn đổ về tàn phá xóm làng, cả một vùng mênh mông không còn gì ngoài nước lũ, sức nước xoáy về quả thật là ghê gớm như cơn thịnh nộ của trời đất. Tất cả hầu như không còn gì dưới dòng nước trắng đục.

Miền Bắc nhất là các vùng mạn ngược của đồng bào thiểu số vốn dĩ đã nghèo xác xơ, quanh năm suốt tháng chỉ trông chờ vào hoa mầu và nương rẫy bây giờ tay trắng. Dân làng đứng trước một nạn đói không thể tránh được.

Địa phương thì nơi nào lo nơi đó và họ không hề quan tâm đến dân làng, nhất là khu vực làng của những sắc dân thiểu số.

Những người tù áo hoa bảo nhau nhập cuộc.

Hàng ngày mỗi khi ra lao động đi ngang qua khu vực làng mạc bị thiên tai, người cái áo, người cái quần, cái mùng hay đôi dép, lon Guigoz, cái nón lá và ngay cả khẩu phần ăn ít ỏi của họ nữa, góp lại và kín đáo bỏ lại bên gốc cây còn khô ráo và chỉ cho dân làng đến lấy về dùng.

Một thời gian sau, khi qua được thiên tai đó, mỗi lúc dân làng người dân tộc, thấy những người tù áo hoa lao động đi qua khu vực làng xóm thì họ chạy ra, bồng bế con cái và chắp tay lại cúi đầu xá những người tù này từ xa như xá những ông thần của họ vậy. Họ đem ra nải chuối, củ khoai củ sắn bỏ bên cạnh các gốc cây, nhưng những người tù trong mầu áo hoa rừng đó đều ra hiệu cám ơn, khoát tay và bảo nhau không nhận – bởi thấy người dân làng họ nghèo quá, nghèo đến độ mà những người tù thân còm cõi trong hoàn cảnh lưu đầy nhìn thấy cũng còn phải xúc động.

Nói về con người giam giữ con người thì trong lịch sử bốn ngàn năm của chúng ta, các vua chúa thời xưa cũng dựng lên nhiều loại ngục thất dành cho các kẻ tạo phản hay để trừ khử những thành phần chống lại triều đình, nhưng chưa bao giờ lại có một hình thức kỳ lạ và quái dị như các trại tập trung “cải tạo” như Cộng Sản VN du nhập vào từ các nước “quan thầy” của họ là Nga-Tầu để giam giữ nhiều trăm ngàn người dân một lúc.

Cho nên trong trại tôi ở miền Bắc có một bác rất là hiền lành và ít nói tên là Vỹ, người quắc thước để râu bạc phơ. Bác thuộc về bên đảng phái nên bị đi “cải tạo”, có hôm ngay tại “hiện trường” lao động bác đã quá bực tức vì cái án tập trung “cải tạo” vô hạn định này mà la lên rằng:

-“Tôi cũng đã bị ở tù nhiều lần trước kia nhưng chưa bao giờ thấy cái tù nào nó kỳ quặc như lần này.”

-“Ông Trời không biết có thấu không chứ tôi hết chịu nổi cái tụi này rồi.”.

Bác cứ la inh ỏi cả một góc khu vườn trồng rau cải bẹ xanh, bác bỏ cả cái cuốc cái thúng mủng bên cạnh mà đập tay đập chân xuống đất mà la đến khản cổ. Nhưng chỉ có chúng tôi nghe thấy mà thôi vì tay quản giao lấy xe đạp chạy đi mất từ sáng nên không xẩy ra chuyện gì.

Bởi thế khi mà chúng tôi bước vào trại tập trung, chính mình cũng không ngờ rằng mình đang mang bản án còn hơn tù chung thân vì tập trung – là hình thức sao chép nguyên bản lại từ Liên Xô – có nghĩa là không có thời gian hạn định và họ muốn giam giữ đến bao giờ thì giam.

Người tù không hề được ra trước tòa để biện minh cho mình, không hề được thông báo cho biết hạn tù là bao lâu và không bao giờ có quyền thắc mắc.

Cứ hết hạn ba năm thì trên Bộ Nội Vụ của họ tự động chồng thêm ba năm nữa và người tù không hề hay biết.

Một điều người tù có thể biết là tù nhân chỉ là một công cụ sản xuất để “làm ra của cải vật chất cho trại” qua cái từ ngữ lừa bịp là “lao động vinh quang” với một khẩu phần ăn nếu chỉ ngồi không, không phải lao động ngoài nắng mưa giá rét, thì cũng khó mà tồn tại.

Cứ lao động cứ “vinh quang” như vậy cho đến hơi thở cuối cùng và được cho một bộ ván sáu miếng rồi khênh lên nghĩa trang trên ngọn đồi là xong một kiếp người.

Một điều rất oái oăm và đau lòng là khi sống người tù chẳng bao giờ được ăn một bữa ăn tương đối no bụng nhưng khi nằm xuống thì được đặt trước mộ một bát cơm trắng đầy và một quả trứng gà luộc. Chỉ ngay tối hôm đó chưa qua ngày hôm sau thì bát cơm và quả trứng ấy cũng biến mất và chỉ còn lại nấm mồ đơn sơ nhiều khi cũng không có cả tấm bia mộ đề tên người quá cố.

Giòng đời vẫn cứ trôi và ngàn năm mây vẫn bay và người tù vẫn kéo lê cuộc đời lao tù, sống dở chết dở.

Quả thật chẳng có gì chán nản và dễ mất tinh thần hơn là ở tù dù là tù chính trị, chẳng thế mà ông bà ngày xưa đã nói “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” và “nhất tội nhì nợ”. Thời gian này là thời gian chết trong đời sống mỗi ngày của người tù, nó như kéo họ xuống đáy sâu của hỏa ngục, mà họ vẫn cứ phải lê bước đi cho đến hết con đường buồn thảm đó, không có cách nào khác.

Lâu lâu, vào những dịp lễ Tết thì trại lại thả một số người, khi thì vài anh lúc thì vài chục người và những người không có tên thì tiếp tục trong bốn bức tường và ở lại trong một tâm trạng buồn chán hơn và mất tinh thần hơn.

Mục đích họ có những đợt thả, dù là nhỏ giọt, là nhằm thúc đẩy những người tù “cải tạo” tích cực hơn, nhưng trên thực tế thì hiệu quả lại ngược chiều vì mọi người đều nhận thấy một sự thực là bản án nặng hay nhẹ, ở tù lâu hay mau chính là dựa vào lý lịch chứ không hề dựa vào sự “cải tạo” nào cả.

Những người trong các “diện” liên quan đến tình báo, ANQĐ, cảnh sát đặc biệt thì chẳng hề thấy tên mình trong danh sách được thả sớm bao giờ.

Thêm vào đó là những đợt Bộ Nội Vụ xuống trại thẩm vấn liên tục, mỗi đợt kéo dài hàng tháng. Họ bắt người tù đa số là nằm trong các “diện” nêu trên phải nhận tội trong các bản gọi là “Tự Khai”.

Tôi cũng nằm trong số đó và họ đã thẩm vấn không biết bao nhiêu lần, mỗi lần cách nhau chỉ vài tháng cũng một nội dung như vậy.

Bắt người tù khai đi khai lại một câu chuyện bao nhiêu lần, khai vừa xong thì lại nhận được một sấp giấy và cái bút chì bắt khai lại vì chưa đủ “thành khẩn”. Ban đầu thì chúng tôi những người bị thẩm vấn lấy làm rất khó chịu và suy nghĩ rất nhiều vì không biết họ muốn cái gì, nhưng dần sau này hiểu ra cách “làm Việc” của họ nên cứ bản cũ sao chép lại là xong dù họ có hài lòng hay không cũng vậy.

Phương pháp thẩm vấn của họ đều giống nhau là tìm mọi cách khủng bố tinh thần người tù, rồi dụ dỗ để khai ra càng nhiều tội càng tốt chứng tỏ lòng “ăn năn hối cải” của mình để được “khoan hồng” sớm.

Nhưng thực tế, bản án dành cho người đó đã có sẵn.

Họ bắt khai nhiều lần để xem có vô tình khai ra điều gì mới hay không, bởi thế khi khai xong lần đầu thì tôi kín đáo viết lại vào nhiều chỗ khác nhau các chi tiết để ghi nhớ lần sau khai đúng như vậy.

Phải ghi lại nhiều chỗ và phải viết tắt vì thường xuyên họ có đợt kiểm tra “đôt xuất” chỗ nằm và tư trang. Tôi rút kinh nghiệm vì có lần họ bất ngờ xộc vào buồng hỏi chỗ nằm của tôi để kiểm tra “nhạc Vàng”. May mà tôi hay nằm trên góc sàn từng trên nên kịp thời tẩu tán hai cuốn Kinh Phật trước khi tay trực trại leo lên bắt đổ hết mọi thứ trong ba lô ra. Có thể họ đã thấy tập chép tay các bài hát của thời VNCH mà tôi cho anh bạn buồng bên cạnh mượn. Cuối cùng chẳng tìm được gì, họ chỉ nói vài câu cảnh cáo rồi leo xuống.

Để rút kinh nghiệm cho việc đấu trí với cách thẩm vấn của họ nên mỗi buổi chiều, chúng tôi các người được gọi ra “làm việc” trong lúc đi bộ trước sân thường trao đổi với nhau.

Anh Quang ‘sừng”, người thợ thật khéo tay tạc các bức tượng Phật và tượng Chúa, hay các kỷ vật bằng sừng trâu đã kể cho tôi nghe khi ra thẩm vấn ban sáng là tay cán bộ thẩm tra hỏi anh ý như khoe về “chính sách khoan hồng” của họ:

-“Anh nhận xét sao về chính sách này mà nhà Nước đã tạo cơ hội cho các anh?” Anh Quang bình tĩnh trả lời một cách thản nhiên:

-“Tôi chỉ biết rằng trong chế độ VNCH chúng tôi trước kia nếu giam giữ mà không có án thì còn hơn là tù chung thân, bị tù mà còn bị lao động như vậy là tù khổ sai, bị đưa ra khỏi miền Nam là lưu đầy.”

Tên cán bộ bị khựng lại và đổi qua đề tài khác.

Phần tôi khi ra “làm việc”, tay cán bộ của Bộ Nội Vụ tóc đã hoa râm rót chén trà nóng mời tôi theo thủ tục, châm điếu thuốc lá hút rồi hỏi có vẻ mỉa mai là tôi có lúc nào nghĩ rằng trước kia như vậy mà nay ngồi ở đây hay không. Tôi trả lời nhẹ nhàng rằng nếu biết như vậy thì tôi đã đi từ lâu chứ không có ngồi như ngày nay ở đây đâu. Tôi cũng cho họ biết rằng họ đã chiếm được miền Nam, họ có thể kiểm chứng nhiều nguồn tin nhưng tôi chẳng có gì cần phải dấu diếm như họ kết tội tôi; còn như nếu mà họ cứ không tin thì tôi cũng đành chịu chứ khai tới khai lui cũng chỉ có thế mà thôi.

Suốt bốn năm đầu, vừa đói khát vừa xuống tinh thần vì lo nghĩ đến gia đình lại chồng thêm cái mất ngủ do những buổi “làm việc” liên tục và căng thẳng với Bộ Nội Vụ của họ nên chúng tôi sa sút thấy rõ nhưng vẫn trước sau khai như một.

Có lẽ thấy cũng tốn thời gian mà không khai thác được gì thêm nên từ đó họ bỏ hẳn không còn xuống “làm việc” nữa.

Không biết có phải nghiệp chướng tù đầy của chúng tôi đã được Trời Đất thuyên giảm cho hay không, hay vì chúng tôi đã nhẫn nhục chịu đựng mọi gian khổ thử thách một cách can trường, mà cùng lúc với việc họ không xuống trại làm nhức đầu chúng tôi nữa thì gia đình cũng được tin cho vào trại thăm nuôi để mở ra một chương hoàn toàn mới và nhiều thay đổi lạ kỳ cho người tù.

Chị Liên, bà chị con bác Phán, từ Hà Nội vào thăm tôi lần đầu tiên và hai chị em sau một phần tư thế kỷ gập lại nhau thì chị vẫn giả lả nói những lời khuôn sáo rỗng tuyếch như khuyên tôi cố gắng lao động, chấp hành tốt nội quy, nhưng khi thấy tên cán bộ bỏ ra ngoài cửa thì nắm lấy tay tôi nói:

-“Sao em gầy thế, chị nhớ hồi chị ra thăm Ba Mợ ở Hải Phòng trước khi Ba Mợ di cư vào Nam thì em bụ bẫm lắm. Em phải cẩn thận giữ sức khỏe nhe, còn lâu đấy!”. Rồi chị lau nước mắt ra về.

Các chị con bác Phán, bác là chị Cả và Ba tôi là thứ Hai nhưng là trưởng tộc, vẫn mang ơn Ba Mẹ tôi vì ngày xưa khi gia đình Ba Mẹ tôi giầu có ở cái dinh thự lớn nhất nhì Hải Phòng thì Mẹ tôi rất biết ăn ở và có lòng thương người kể cả họ hàng và ngay cả các chị vú nuôi chúng tôi cũng xem Ba Mẹ tôi như gia đình của các chị vậy.

Ngày xưa thì tình cảm rất là gắn bó giữa người vú nuôi và người con trong gia đình, người vú được coi trọng như là người mẹ thứ hai vậy. Nhiều khi các chị vú thương chúng tôi quá đến nỗi Mẹ tôi dục dã mãi mới bịn rịn về thăm quê ngày Tết hay giỗ chạp.

Ngày mà Ba Mẹ tôi khá giả bắt đầu từ căn nhà mà Mẹ nói là “nở hậu” ở đường Cát Dài thì Mẹ tôi cũng đón về nuôi luôn hết gia đình Bà Hai của ông Đốc khi ông mất, để trả lại ơn ngày xưa trên Yên Bái lúc Ba Mẹ tôi còn hàn vi cũng nhờ ông Đốc lúc đó mở phòng mạch cưu mang một thời gian.

Mẹ tôi thường cho tài xế đi đón các chị con bác Phán từ Hải Dương ra Hải Phòng chơi, và mỗi lần như vậy thì Mẹ tôi lại dắt các chị đi mua sắm áo quần, vòng vàng, giầy dép đủ thứ, và được đi ăn ở những hiệu ăn sang trọng nữa nên các chị rất quý mến Mẹ tôi.

Khi quyết định di cư vào Nam thì Ba Mẹ tôi để lại hết ngôi dinh thự này cùng tất cả tài sản xe cộ cho gia đình người chị ruột là bác Phán vì bác trai không muốn bỏ xứ ra đi. Vì lý do đó mà gia đình bác Phán nhất là các chị vẫn mang ơn Ba Mẹ tôi, các chị gọi Ba Mẹ tôi là Cậu Mợ nhưng mà thương cũng như Bố Mẹ ruột mình vậy.

Khi Mẹ tôi nhờ chị Liên đi dò đường trước để vào trại thăm tôi thì chị nhận lời ngay dù là lúc đó dân chúng ngoài Bắc họ rất sợ dính vào chính trị nhất là di thăm tù chính trị từ trong Nam.

Đến khi Mẹ tôi và em Tuyết kế tôi ra Bắc thăm tôi lần đầu tiên thì các chị con bác Phán đón tiếp Mẹ tôi như bà hoàng.

Các chị hỏi Mẹ tôi thích ăn gì để đãi cơm, Mẹ tôi nghĩ Hà Nội cũng như Sài Gòn nên nói là bún chả. Báo hại các chị chạy khắp Hà Nội để mua ít than quả bàng về mới quạt được mẻ thịt nướng. Khi biết ra thì Mẹ tôi cứ xin lỗi mãi vì có ra tận ngoài Bắc thì mới hiểu được cái nghèo khổ thiếu thốn và sự túng quẫn nó như thế nào mà người dân đã phải sống dưới chế độ XHCN từ năm 1954 đến bấy giờ là một chín bẩy chín.

Trong thời gian tôi ở tù kể ra thì cũng có nhiều quý nhân giúp đỡ ngoài các anh chị con bác Phán. Một ông anh rể bên vợ tôi lúc đó ở Hà Nội cũng vào thăm tôi và nói thẳng rằng:

-“Anh có bạn quen ở Bộ Nội Vụ và anh có nhờ họ xem dùm hồ sơ của em và thấy ghi trên đó là CIA.” Anh ngừng một chút rồi nói tiếp:

-“Anh vào thăm em lần này để cho em biết, nếu không lo thì anh sợ em sẽ phải ở rất lâu đấy. Em hãy nói với Mẹ em đi nếu chịu thì anh sẽ lo cho.”

Tôi nhìn anh một lát. Lúc đó tôi đã gập Thầy Tâm là người thầy đã dậy cho tôi về đạo Phật và về nghiệp lực. Trong lòng tôi suy nghĩ rất nhanh, tôi bèn nói với anh:

-“Cám ơn anh đã vào thăm em. Em biết ở nhà em bây giờ bán hết rồi các xe cộ và cả các bộ vest cũng bán luôn. Mẹ em thì chẳng còn tiền sau khi anh Hai và cậu em út của em đi vượt biên bị bắt lại. Thỉnh thoảng Mẹ em gom được ít tiền gửi qua bưu điện vào đây cũng là quý lắm rồi, làm gì còn “cây” nào nữa đâu mà “chạy”. Họ nghi em là CIA thì đành chịu thôi biết làm sao”.

Tôi vào trại kể lại cho thầy Tâm nghe, thầy nói tôi đã quyết định như thế là đúng và cứ chuyên tâm niệm Phật. Từ đó tôi kiên nhẫn đếm từng ngày qua đi trong bốn bức tường trong khi học hỏi thêm về đạo Phật, quan sát nhận xét và thâu thập kinh nghiệm qua những người bạn tù mà tôi quý mến.

Các điều chúng tôi phán đoán việc thả nhanh hay chậm là do lý lịch chứ không do “cải tạo” tốt hay xấu dần dần càng sáng tỏ .

Có những anh vừa bị kỷ luật xong thì vài bữa sau có tên tha về, cho nên sự tuyên truyền của họ về “khoan hồng”, về “cải tạo” thành người công dân tốt đều tan ra mây khói. Không còn ai tin nữa; và anh em mỗi người đều tự cố gắng giữ gìn sức khỏe cho con đường lưu đầy còn dài thăm thẳm trước mắt.

Đến lúc đó thì chúng tôi mới bàng hoàng nhận ra một sự thực đau lòng là mình trước kia chống Cộng mà kết cuộc lại thì chính mình cũng không hiểu Cộng Sản là như thế nào.

Nếu biết thực chất của Cộng Sản tàn bạo, vô tổ quốc, vô tôn giáo và vô dân tộc và người Cộng Sản chỉ cần có cái chủ nghĩa xã hội của họ mà thôi thì chúng tôi sẽ chiến đấu đến cùng chứ không chịu nghe theo lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh để rơi vào tay họ như thế này.

Riêng tôi và các bạn làm cho tòa đại sứ hay lãnh sự quán HK tại miền Nam trước kia thì còn mang theo một mối ưu tư là tại sao người Mỹ, nói đúng hơn là chính phũ Mỹ bấy giờ hay các cấp có thẩm quyền Mỹ tại Sài Gòn đã cố tình bỏ rơi chúng tôi lại để rồi rơi vào tay Cộng Sản?

Một mặt thì tòa đại sứ HK theo lệnh của Washington cho phép những người làm cho cơ quan D.A.O – Defense Attache’s Office: Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự – được di tản mấy tháng trước khi Sài Gòn sụp đổ; mặt kia thì yêu cầu chúng tôi, những nhân viên tòa đại sứ Mỹ, phải ở bên cạnh các Phủ Bộ của chính phủ VNCH để yểm trợ cho đến giờ phút cuối cùng thì mới được di tản.

Nhưng giây phút cuối cùng ấy thì trực thăng đã không đến đón gia đình chúng tôi như họ đã hứa. Người Mỹ đã chỉ đưa ra khỏi miền Nam những thành phần không quan trọng hay một số nhỏ các cấp chỉ huy của VNCH mà thôi.

Họ lấy cớ là sân bay Tân Sơn Nhất bị phá hủy phi đạo bởi tên phi công nằm vùng Nguyễn Thành Trung vào ngày 28-4-1975 nên chương trình di tản đường hàng không phải đình chỉ.

Thế nhưng theo chương trình mà tôi họp với họ một ngày trước đó là ngày 27 tháng 4 năm 1975 tại sứ quán HK ở Sài Gòn thì họ đã có dự trù về việc nếu có trở ngại về di tản đường hàng không thì HK có “plan B” là thiết lập ngay một lối di tản bằng đường bộ từ Sài Gòn ra Vũng Tầu với năm ngàn lính TQLC Mỹ từ Đệ Thất Hạm Đội sẽ lên bờ và được sử dụng để bảo vệ cho cuộc di tản cho tới khi hoàn tất.

Chính phủ HK qua tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn đã hủy bỏ “plan B” không muốn đưa thêm người ra khỏi miền Nam nữa và hủy bỏ luôn việc đón chúng tôi – những nhân viên mà ở lại tính mạng có thể nguy hiểm trong tay Cộng Sản.

Trong đầu tôi có nhiều câu hỏi mà tôi đang đi tìm câu trả lời nhưng có một điều tôi biết chắc rằng nếu tôi chỉ làm việc thuần túy tại tòa đại sứ HKởi Sài Gòn thì tôi và gia đình có thể cả Mẹ và các em tôi đã ra đi được trước ngày mất miền Nam.

Vì yểm trợ cho Phủ ĐUTƯTB nên tôi mới bị kẹt lại và vào tù chung với bên Phủ và từ đó Bộ Nội Vụ của họ vốn chủ trương “bắt lầm hơn tha lầm” đã suy diễn ra tôi là người làm việc cho CIA, và hơn nữa có thể được cài lại cho kế hoạch hậu chiến. Vì thế tôi không ngạc nhiên khi trong các buổi thẩm vấn họ đều cố dò hỏi về kế hoạch hậu chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam, nhất là ở miền Nam, nhưng tôi trước sau đều lắc đầu.

Trong nhiều năm tôi đã cố tìm hiểu tại sao người Mỹ lại nhẫn tâm bỏ rơi chúng tôi trong khi người Mỹ biết chắc chắn rằng khi rơi vào tay Cộng Sản sau khi mất miền Nam thì chúng tôi sẽ gần cái chết hơn là cái sống hoặc giả nếu còn sống sót được thì sẽ phải ở tù mọt gông?

Một dịp may đã phần nào giải tỏa thắc mắc của tôi hôm mà tôi đọc được bài viết của một vị luật sư người Cu Ba lưu vong.

Tình cờ và may mắn tôi có trong tay tập san Reader’s Digest đăng bài của một vị luật sư ái quốc người Cu Ba về vụ thất bại của cuộc đổ bộ tại Vinh Con Heo thì tôi thấy lạnh xương sống khi so sánh với việc HK đã bỏ rơi đồng minh VNCH tại miền Nam một cách thật nhanh chóng thật dứt khoát và không thương xót, nhất là bỏ rơi các thành phần nguy hiểm như tôi và các bạn đồng nghiệp vào tay Cộng Sản.

Cũng như vụ đổ bộ Vinh Con Heo để giải phóng Cu Ba khoảng năm 1962 đã thất bại vì chính phủ Mỹ bấy giờ với TT John F. Kennedy phút cuối cùng đã rút tầu chiến ra khơi bỏ mặc cho hàng ngàn chiến sĩ Cu Ba ưu tú trên bãi biển làm mồi cho Fidel Castro mới lên nắm quyền tha hồ tàn sát không thương tiếc.

Một vị luật sư người Cu Ba đã trốn thoát khỏi nước qua được HK sau vụ đổ bộ thất bại đó đã thề rằng nếu cần thì ông sẽ dùng hết cuộc đời của mình để tìm hiểu tại sao HK lại hủy bỏ kế hoạch vào phút chót thì ông cũng làm. Ông đã vào các thư viện, qua bạn bè đến tận Bộ Quốc Phòng HK, xem được các tài liệu mà sau 20 năm đã được bạch hóa thành non-confidential thì đã tìm ra câu trả lời.

Chiến dịch giải phóng này đã được thành hình dưới thời TT Eisenhower, các người Cu Ba lưu vong tại HK được huấn luyện chu đáo cho cuộc đổ bộ cướp lại chính quyền từ tay Fidel Castro đang theo chế độ xã hội chủ nghĩa là một cái gai ngay bên cạnh hông của HK cần phải nhổ.

Mọi việc diễn tiến hoàn hảo và các chiến hạm và các phi đội chiến đấu oanh tạc cơ HK sau khi đổ bộ lực lượng các chiến sĩ Cu Ba này xong lên Vịnh Con Heo thì sẽ làm cỏ không quân của Fidel Castro vốn còn yếu ớt và yểm trợ cho lực lượng này vào giải phòng thủ đô của Cu Ba là xong.

Khi TT Kennedy lên thì không hiểu sao kế hoạch vẫn thực hiện như thường lệ cho đến khi vị tư lệnh chiến trường người Cu Ba vừa đặt chân lên Vịnh Con Heo thì ông bèn gọi cho phi cơ và chiến hạm HK nã pháo vào thủ đô và sân bay trên đảo nhưng không có tín hiệu trả lời và nhìn thấy các chiến hạm HK từ từ rút ra ngoài khơi bỏ mặc họ bơ vơ trên bãi biển.

Ông nhìn thấy các chiến hạm HK rút ra khơi y như nhìn thấy bản án tử hình cho mình và các chiến sĩ Cu Ba lưu vong đang phơi mình tại Vinh Con heo này.

Sau một thời gian án binh bất động như tê liệt vì quá hãi sợ trước cuộc tấn công bất thình lình của lực lượng hùng mạnh Cu Ba lưu vong, cho đến khi biết các chiến hạm HK đã rút lui không can thiệp nữa, hay có thể Cu Ba đã được mật lệnh từ Moscow cho nên Fidel Castro đã mạnh dạn tung quân ra và cho các máy bay cũ kỹ của mình ra bãi biển tàn sát lực lượng vừa đổ bộ. Một số lớn chết và bị thương, một số còn lại bị bắt và bị Fidel Castro ra lệnh tra tấn tàn nhẫn và hành hình dã man.

Theo vị luật sư ái quốc người Cu Ba này thì lý do là vì TT Kennedy không muốn đối đầu với Liên Xô tại Cu Ba, nhưng tại sao không hủy bỏ kế hoạch ngay từ đầu để hàng ngàn người Cu Ba yêu nước bị chết thảm khốc thì không thể hiểu được một nước văn minh hàng đầu thế giới là HK lúc đó nghĩ gì? Hay HK muốn dùng thân xác của hàng ngàn chiến sĩ Cu Ba lưu vong đó trên Vịnh con Heo như là một tín hiệu của HK cảnh cáo Nga Xô qua Fidel Castro?

Ông cho rằng HK muốn duy trì một nước Cu Ba Cộng Sản ngay bên hông nước Mỹ để dân chúng Mỹ biết sợ hãi mà ủng hộ các chương trình chạy đua vũ trang của chính phủ HK lúc bấy giờ.

Từ đó tôi tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi của tôi là người Mỹ đã plan một kế hoạch hậu chiến để tiếp tục “đánh” Cộng Sản trên phương diện chính trị và nhân quyền.

Người Mỹ biết rằng các thành phần như tôi hay làm cho các ngành tình báo quân báo và ANĐ chẳng hạn thì Cộng Sản khó mà thả ra sớm trước mười năm và đó là lá bài mà mà Mỹ có thể “tấn công” Cộng Sản VN để đạt tới những mưu đồ khác của họ.

Người Mỹ cần có những lá bài để có thể làm khó dễ CSVN, để “đánh” đòn nhân quyền, “đánh” về chính trị hầu buộc CSVN phải phần nào thỏa hiệp với Hoa Kỳ theo kế hoạch hậu chiến của Mỹ.

Chúng tôi những người tù cuối cùng chính là một trong những lá bài quý giá đó trong tay người Mỹ.

Chính vì thế mà họ đã chọn lựa mục tiêu nào cần thiết để bốc đi trước và con số hơn một trăm ba chục ngàn người miền Nam từ các sứ quán các vùng và tại tòa đại sứ Mỹ Sài Gòn được di tản trước ngày 30-4-1975 toàn là những thành phần văn phòng, tài xế, thư ký không nguy hiểm nếu bị bỏ lại.

Người Mỹ đã đạo diễn hết từ lúc có ý định rút lui khỏi miền Nam năm 1972 sau cái bắt tay giữa Kissinger và Chu Ân Lai tại Bắc Kinh.

Họ sắp xếp mọi chuyện chi li đến từng chi tiết cách bỏ rơi miền Nam, từ chiến thuật “Việt Nam Hóa” chiến tranh thời Nixon, trao toàn bộ trách nhiệm cho VNCH trong công cuộc chống Cộng, một mình VNCH chống lại cả một khối Cộng Sản Quốc Tế cho đến ký kết Hiệp Định Paris.

Họ trực tiếp đàm phán với Bắc Việt trong nhiều năm và để chúng ta ngồi ngang hàng với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là VC để chúng ta không thể có ý kiến gì được trong khi họ dàn xếp với Bắc Việt về cuộc chiến tranh mà VNCH đang đóng vai chính và về những gì mà Kissinger và Nixon đã hứa với Chu Ân Lai.

Họ làm ngơ trước các vi phạm của Bắc Việt và VC, họ cắt giảm nhanh chóng viện trợ để một quân lực hùng mạnh và thiện chiến nhất thế giới thời bấy giờ là QLVNCH phải lui trên mọi chiến trường, phải bỏ Cao Nguyên, Vùng II, về co thủ tại Vùng III mà chờ chết. Họ buộc TT Thiệu phải từ chức để đưa Dương Văn Minh lên- cho ông ta ít tiền để ươn hèn mà ra lệnh đầu hàng, dâng miền Nam cho Cộng Sản như Nixon và Kissinger đã giao ước với Chu Ân Lai, Trung Cộng.

Bây giờ, họ lại bỏ rơi có kế hoạch ngay cả những nhân viên thuộc tòa đại sứ HK của họ tại miền Nam như tôi và một số anh em khác mà tôi gập trong tù như anh Sửu, anh Điệp, Chi và Hảo,v.v. Những người đã làm việc trong ngành tình báo cho họ bao nhiêu năm, nay lại bị họ sử dụng một lần nữa trong kế hoạch “đánh” Cộng Sản bằng nhân quyền sau khi họ đã làm cho miền Nam phải sụp đổ.

Cộng Sản và Hoa Kỳ giống nhau ở một điểm là họ sẵn sàng hy sinh hàng triệu người để đạt mục đích. Cộng Sản đã ném nhiều triệu thanh niên thanh nữ vào chỗ chết trong các chiến trường chống Pháp ở miền Bắc, vào trận Điện Biên Phủ, vào cuộc chiến xâm lăng hai chục năm ở miền Nam hầu nhuộm đỏ toàn bộ đất nước.

Người Mỹ thì sẵn sàng hy sinh mười bẩy triệu người dân miền Nam để đổi lấy mậu dịch với Trung Cộng kể từ năm 1972.

Điểm khác biệt là người Mỹ không hy sinh dân chúng Mỹ mà đem mười bẩy triệu dân chúng miền Nam ra để hy sinh trong cuộc trao đổi với Tầu Cộng nhưng Cộng Sản thì hy sinh chính người dân cùng giòng giống da vàng với họ để làm vừa lòng quan thầy của chúng là Nga-Tầu.

Một số anh khi ra “làm việc” đã nói thẳng với đám cán bộ Bộ Nội Vụ rằng:

“Các ông chẳng có gì mà khoe khoang về chiến thắng tại miền Nam hết, chính người Mỹ đã làm cỗ sẵn và mời các ông đến ăn mà thôi. Thử nhìn xem, Nha Trang đã ba ngày sau khi Dương Văn Minh đầu hàng vẫn là thành phố bỏ ngỏ; các ông có mống nào dám vào “tiếp thu” chưa?”

Quả là về chính trị mà nói thì không thể có tình người mà dùng thân xác con người để lót đường cho bước đường chính trị của những tay hoạt đầu như Kissinger, Lê Đức Thọ, Nixon.

Các tay tài phiệt nằm sau lưng chính phủ HK thổi bùng lên phong trào phản chiến tại Wasington cuối thập niên sáu mươi đòi rút quân Mỹ về nước, đòi bỏ rơi miền Nam để tiến nhanh đến làm ăn với Trung Cộng trên một tỷ người là viễn ảnh hấp dẫn hơn nhiều – dù là miền Nam có thể thành núi xương biển máu thì xương máu của người miền Nam chứ xương máu của người Mỹ đâu mà họ lo.

Những nỗi đau đó lại phủ lấp trên phần đất Tự Do của miền Nam. Chúng ta có Chính Nghĩa mà chúng ta lại thất trận là vì lý do đó.

Sau này một số thành phần phản chiến người Mỹ tỏ ra hối hận nhưng tất cả đều đã quá trễ khi họ thấy hàng triệu người VN bất chấp hiểm nguy đã vượt biên, hàng trăm ngàn chết ngoài biển khơi, hàng triệu người phải vô tù.

Sau cuộc chiến nhìn lại thì tựu chung người trong tù vẫn luôn là những người bị nhiều thiệt thòi nhất – khi mà mọi nơi đã ngưng tiếng súng trên quê hương miền Nam, khi mà nhà tù mọc lên như nấm thay vì trường học.

Có sống trong những giai đoạn ngục tù và lưu đầy đó mới thấy được cái đau đớn trong tâm thức không nói ra được của mỗi người tù.

Một mặt thân xác rã rời sau một ngày lao động, buổi tối những đêm mùa Đông co ro lạnh cóng vì không đủ quần áo ấm chăn mền, vì bụng đói cồn cào đến hoa cả mắt; mặt khác thì lo nghĩ đến vợ con gia đình ở nhà không biết ra sao. Cho nên khi mà con người ta quá căng thẳng thần kinh và quá rệu rã về thể lực thì nhiều người đã tìm cách quyên sinh cũng không phải là không có lý của họ.

Đó là sự giải thoát ngắn nhất để mỗi ngày không phải nghe cái điệp khúc đáng nguyền rủa nhất là tiếng kẻng báo thức, kẻng xuất trại đi lao động, kẻng nghỉ “giải lao”, kẻng thu quân, kẻng điểm danh vào buồng và nhiều khi cả đêm chưa ngủ yên thì đã nghe tiếng kẻng đánh thức rền vang lên khắp trại giam và núi rừng.

Tiếng kẻng là cái gì mà chúng tôi thù ghét nhất mà lại phải sống với nó mỗi ngày giờ và quanh năm bốn mùa.

Một điều cười ra nước mắt và lần đầu tiên nhìn thấy làm tôi vô cùng kinh ngạc không tin ở mắt mình nữa là ngay cả trâu bò cũng nghe và hiểu được tiếng kẻng và phân biệt được các loại kẻng báo hiệu nữa mới lạ.

Thí dụ như vừa mới nghe kẻng “giải lao” kêu “keng! keng!” lanh lảnh từ xa trong trại vọng ra ngoài cánh đồng là con trâu nằm phịch ngay xuống luống cầy không cần suy nghĩ gì, không cần phải chờ lệnh từ người thợ cầy với nó cũng là tù nhân. Nó thở phì phò một cách mệt nhọc vì chính nó cũng không được ăn uống no đủ để mà “lao động trong vinh quang” nữa.

Con vật trong cái xã hội chủ nghĩa – mà người Cộng Sản vẫn khoe khoang không biết xấu hổ rằng XHCN là “thiên đường”, là tốt đẹp hơn nghìn lần chế độ tư bản “bóc lột” đang dẫy chết- cũng thật đáng thương vì nó đã sinh lầm vào chế độ đó.

Huống chi con người, những tù nhân chính trị chế độ cũ trong trại giam của một nước Cộng Sản đang đi lên chủ nghĩa xã hội nhưng nghèo đói lạc hậu, lòng hận thù nhỏ nhen và sắt máu nhất thế giới.

Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển
Post by Sơn râu 3 Jun 2024

Phần 16 – Cây Có Cội, Nước Có Nguồn

– Có nước đồng, nước sông mới đẫy.

Đến tuổi nầy, tôi đã thấy gần đủ mặt thò lò, bề trái cũng như bề mặt của cái gọi là phước đức hay nhục nhã của cái người đời ai ai cũng muốn: sự sống lâu. Tôi nói sống lâu có phước là khi có con hiền cháu thảo, và đại vô phúc là khi tuổi thọ chất chồng mà bên gối không người thừa tự: Đa phú tất đa ưu. Giàu mà thiếu sự trìu mến của cháu con bên màn, khi tối lửa tắt đèn, khi se da nhức gối, thì không nên giàu và sống lâu làm chi. Tổn hại cho bản thân nữa là khác. Những đứa kế nghiệp, bà con xa, chúng nó không một chút cảm tình, chúng chỉ mong mình sớm nằm xuống để mau ăn của.

“Đa thọ tất đa nhục”. Sống mãi về già ngày càng thấm đòn, càng thúc thủ bất lực nhìn sự đê tiện của dây huyết hệ, sự thối tha bề trái của nhân tình. Thiết nghĩ không nên sống lâu, sống với lời nguyền rủa sau lưng của chắt chít, tốt hơn biết mình già chúng đã trộng, thì nên chia sản nghiệp cho chúng, như vậy mà còn có ơn hơn, để làm chi bề ngoài cung cung kính kính, dạ dạ thưa thưa, bề trong chúng cay đắng chát chua: già mấc toi, khư khư chìa khoá tủ sắt bên lưng. không chết đâu chết phứt. Tiếc của sống hoài, ai hơi đâu chịu nổi!

°°°

Bà là người quê ở Vĩnh Long, làng Long Mỹ, tổng Bình Thiềng, nhưng trong khai sanh lại ghi ngày 15-4-1866, sanh tại làng Vĩnh Phước, tổng An Trung (Sa Đéc) tên trong bộ đời là Nguyễn Thị Lâu, nhưng ngoài thế lưu danh Bà Phủ An, với câu đặt để lớp xưa: Nhứt An, nhì Phát, tam Chanh, tư Định.

Có lẽ nhờ ông bà tôi khéo tu nhơn tích đức, nên tôi có được hưởng một phần gia tài của bà, nhưng nội gia sanh biếng sau mười chín năm nồng mặn, cháu gái bà với tôi hết duyên nợ, tôi không dám trách và chỉ nhớ ơn bà mộc bổn thuỷ nguyên, bà và ơn lớn của bà tôi nguyện đến thác không quên.

Ông là người Biên Hoà, quê ở Long Thành xứ Đồng Môn, làng Phước Mỹ, tổng Thành Tuy Thượng, nay còn một ngôi Phật tự che mát ngôi mộ song hồn của ông bà. Ông sớm thông Pháp ngữ, từng làm thông ngôn cho ông Gaslon Doumergue, có lúc làm toà tạp tụng lại Tây Ninh khi về Pháp cho hết vật kỷ niệm cho ông và thời may các vật nầy nay lọt về tay tôi cất giữ. Có dè đâu ông toà tạp tụng một xứ nhỏ như Tây Ninh, bỗng trở nên nguyên thủ nước Pháp, lúc đó gọi là đức giám quốc (nay gọi tổng thống).

Ông mất ngày 18-6-1937 sau khi leo lên tột bực nấc thang danh vọng và nếm đến cạn chén tân khổ năm 1926 khi nền tài chánh Pháp đi đến sát mức kiệt quệ và nhờ ông mà vượng lại được. (Ông sanh ngày 1-8-1863). Bất ngờ bốn món ông để lại đất Nam nầy trở nên quý: một cây đèn dầu lửa bằng sành (mục lục 56) họng có đến hai tim cho thêm sáng và ống khói hiệu Abeille làm giẹp giẹp cho xứng với hai tim; một đĩa bàn (mục lục 57) hiệu Saucy-uomkès, nơi mặt tiền vẽ cảnh lâu đài và đền Château d’Azay-le-Rideau ; một đĩa bàn nữa hiệu Nr. (mục lục 58), mặt tiền vẽ hình nàng Charlotte Corday là một nữ anh thư Pháp (1766-1793) dám đâm chết Marat để lên đoạn đầu đài đền tội, trên bức hình đề cây: “Noo Charlotte Corday, 19 Juillet 1793” ; và một đĩa bàn thứ ba, hiệu A-II-J.I (mục lục 58 bis), vẽ hình một người và đề trên đầu hình: “Fouquier-Tinville, accusateur public Noo”. Ông nầy (1746-1795), nguyên là biện lý toà án cách mạng Pháp, đã từng gởi lên gươm máy không biết bao nhiêu anh hùng chết oan, và sau rốt lão cũng lên theo đền tội.

Nhắc lại, bà cùng chồng là ông Phủ hàm Lê Văn An, sau đổi xuống toà án Sốc Trăng rồi tạo lập lại đây một sự nghiệp rất lớn, gồm một toà nhà lầu ngày nay còn kiên cố ngó mặt qua dãy chợ cá của châu thành và đó là toà nhà lầu đầu tiên tại đây xây cất bằng bê-tông cốt sắt. Ngoài toà nhà, ông bà có một sở ruộng tại làng Hoà Tú, ấp Bâng-Xa-mô, rộng đến 1.121 mẫu tây (1121 ha). Bỗng đột ngột ông mất (trước năm 1920), bà can đảm tiếp tục đơn thân quán xuyến khai thác sở ruộng và kinh doanh ngày càng thêm vĩ đại. Bà có phần về cung nô bộc, tôi tớ bạn bè ở trong nhà trên ba mươi người, mà người nào cũng trên ba mươi năm công nghiệp. Một tiếng bà hô là họ vâng lịnh răm rắp. Bà từ trần ngày 6-5-1931, để lại giấy nợ tá canh và mướn trâu làm ruộng, cộng trên mấy trăm ngàn bạc, bà trối dặn đốt hết, và khi mất, để lại một lẫm lúa năm căn đầy óc nhóc và trong tủ sắt một số tiền hết sức lớn thời đó là tám chục ngàn đồng bạc (80.000$00) gồm tám gói cuốn tròn giấy bộ lư, mỗi cuốn là mười ngàn đồng bạc (theo tôi một ngàn thời đó đáng trên mười triệu thời nay).

Nhưng bà giàu mà không có con. Trong mấy tháng bà nằm trên giường bịnh, bà suy gẫm có lẽ bà nhìn nhận tuổi già mà không con nối hậu kể như đại bất hạnh, đó là một cách trời hành tội vì muốn được giàu thì khó tránh không làm điều ác. Cho vay nặng lãi, thiếu nợ không bỏ, cứ kê nể chồng năm nầy qua năm kia là đủ tội rồi.

Trong khi đau ốm, bà khát nước, người canh cho bà ngủ là cháu ruột tín cẩn tên cô Ngọc. Cô mắt nhắm mắt mở, rót cho bà đầy chén, bà nhắp vào miệng vừa kịp phun ra. Đó là rượu chín chục độ! Bà trách mắng. Cô Ngọc khóc, đổ thừa đêm hôm tối tăm chai nước suối Vichy để quá gần chai rượu cồn, nên cô lầm lộn. Thôi cũng bỏ qua cho, kể như là sơ ý. Đến như việc nầy mới cắt nghĩa làm sao? Bác sĩ khuyên ăn lạt, triệt để cữ mặn. Thế mà cô Ngọc, cô Ngà, hai chị em, một khóc hai khóc, năn nỉ ép nài, nấu cháo sò huyết, nấu bánh canh cua, nêm nước mắm hòn, nêm nước trong Tàu, khẩn cầu xin xỏ cho được bà ăn: “Phải có hột cơm hột cháo mới là mau mạnh”. Nếu đó là vì dốt nát cãi lời bác sĩ thì cũng còn châm chế, duy nếu đó là làm cho bà mau chết để mau hưởng gia tài, thì đó thật là sâu độc ác ý không phương tha thứ. Lúc ấy tôi biết mà cũng như thằng câm. Bà thường nói về tôi là “thằng cháu rể xa, quăng mười lăm bã trầu chưa tới”, làm sao bà tin bằng cháu ruột, hai cô Ngọc, Ngà gọi bà bằng cô? Vì vậy tôi á khẩu.

Còn nhớ kỳ lết rồi, bà cho vợ tôi đeo xoàn “đầy mình”, dạy đeo luôn lên Sa Đéc “lòe loẹt ba bữa với người ta”, tôi hay được phân trần với bà và từ chối rằng: “Chúng con nghèo, dẫu đeo của thật, người ta cũng nói của giả; thêm nữa, nếu rủi ro bị trộm, bà có thể tin là chúng con bày mưu đoạt của, hàm oan ấy làm sao biện minh?”. Lúc thấy tôi nhứt quyết không nhận mượn xoàn đeo tạm, bà lưỡng lự không biết tôi thật ngay thẳng, hay là “thằng điếm ba da”, giả đạo đức để sau nầy táp cho lớn miếng! Bà có biết đâu lúc ấy tuy tôi nhỏ tuổi thật, nhưng đã có chút ít kinh nghiệm, chỉ quyết muốn được vợ thuận tình trung trinh chớ có xoàn nhiều chúng cám dỗ, có ngày mất vợ! Mất luôn hột xoàn! Sự nghỉ kỵ của tôi sau mười chín năm sau quả đúng người, nhưng đó là căn số của tôi, trách than vô ích. Bà mất năm 1931, trong lúc đại thái bình, như vậy mà yên thân.

Nếu bà sống được đến năm nay, bà càng thêm vô phúc, vì thấy cuộc đời biến chuyển, bà đâu tiếc sống. Các điền chủ đồng thời với bà nay thảy đều khuất bóng như bà: duy bọn con cháu không đứa nào lầm lỗi, mà thảy đều sạch tay, mà còn chưa hết khổ. Điền Nguyễn Tấn Phát, nhà giàu số 2, sanh con là Nguyễn Tấn Phòng, Nguyễn Tấn Nghị, nối dòng là cháu nội Nguyễn Tấn Lễ. Tấn Quyền, Tấn Lợi, thảy đều rân rát, kỹ sư, cử nhân luật, nhưng cũng phải bỏ ruộng chạy ra chợ sinh sống rồi từ trần, cháu bốn đời nay đều vô sản! Điền bà Hương Chanh, nhà giàu số 3 với con cháu là Trần Đắc Lợi (Chủ Lý), Trần Đức Chương (cậu Ba Chen), Trần Đắc Tuấn, Trần Kế Vĩnh, thảy đều trở nên dân chợ, sống lây lất qua ngày. Bà Tư Định, vô hậu như bà, của cải người dưng ăn. Những điền đất xưa, nay chỉ còn chút danh mà đã quá lu mờ, hoặc cũng không biết ở đâu nữa mà chỉ. Còn lại chăng là trong vùng còn giữ tên, như Kinh xã Phát là do ông Nguyễn Tấn Phát xuất tiền ra đào. Kinh Huyện Phòng (Nguyễn Tấn Phòng) v.v… Kinh xã Nhạn, mới nghe, tưởng là Việt, sự thật ông là người gốc Miên, được người đời truyền tụng gọi là “cù công Nhạn”, cù công dịch là “cửu công” lức là ông cậu. Chết mà sanh tiền ăn ở tốt, dân nhớ đức, chết mà như còn. Bia miệng thơm hơn bia đá.

Bà ôi, sao nói hết được những sự đổi dời, tang điền hoá ra thương hải. Thuở bà còn sanh tiền, lúa giá rẻ mạt mà dân thảy thảy no bụng. Lúa ba đồng ngoài một tạ, gạo tám xu một cắc một lít. Ngày nay lúa bán trên hai chục ngàn đồng mỗi tạ, ruộng làm đến hai mùa ba mùa, nhưng không phải ai ai dễ làm ra hột lúa. Trái lại, thấy dân nghèo chay gạo hàng ngày cũng đú dựng tóc gáy. Tội nghiệp đồng nghìệp tôi là hạng công chức ít tiền.

Một thơ ký tám con, lương ba mươi ngoài ngàn, kéo một bao gạo đã mất hết hai mươi ngoài ngàn, tức ba phần tư của số lương. Tội nghiệp mấy đứa trẻ, không tiền ăn hàng bánh, chúng nhắm ngay ồi cơm mà xúc. Xây qua quay lại một bao chỉ xanh gạo (một trăm ký) mới kéo hôm đầu tháng, chưa hết tháng mà cái bao đã xẹp lép! Ăn cơm chưa no, chúng nhè thuốc tiêu thuốc bổ của mẹ, cất kỹ trong keo, chúng cũng lôi ra nhai tuốt. Không thể tiện cặn, thà mua gạo ngon cơm cho chúng chan nước mắm đỡ tốn đồ ăn, và thực đơn suốt năm nầy qua tháng kia của chúng là rau muống luộc, năm khi mười hoạ mới có hột vịt luộc dầm nước mắm, đối với chúng, bữa ấy là thịnh soạn còn hơn hải vị trân hào.

Một điều khác, bà nghĩ xem: vàng, lúc Ba tôi còn sanh tiền, năm 1919, đưa tôi lên nhập trường Chasseloup, mua về năm chục lượng, giá mỗi lượng năm chục đồng (50$00), lường bán lời mỗi lượng một đồng bạc, cũng dễ thở, ngờ đâu từ năm 1919 đến năm 1925, vàng cứ sụt giá mãi, thét rồi chỉ còn hai chục đồng (20$00) rồi xuống mức cùng là mười chín đồng (19$00) một lượng, khiến Ba tôi sạch vốn. Đến năm 1931 là năm Bà mất, vàng leo thang trở lại mức trung bình xê xích từ năm chục đồng đến sáu chục đồng mỗi lượng, như vậy kể là vừa. Ngờ đâu kế đó, năm 1939, rục rịch có tin binh lính Nhựt đổ bộ Đông Dương, giá vàng vọt lên một trăm đồng (100$00) một lượng. Kể từ đó, vàng lên giá:

– Ngày 19-5-1940: 220$00,

– Ngày 4-7-1940: 330$00,

Nhảy một vọt, mấy năm gần đây, từ mười ngàn đồng (10.000$00) (12- 1968) leo lên hai chục ngàn năm trăm (20.500$00)

(ngày 15-5-1970), rồi năm chục ngàn đồng (50.000$00) (tháng 5 năm 1973) (năm nầy con bán ra mười lượng để sứa nóc nhà), kế đến năm 1975, giá vàng vọi lên 170.000$00 mỗi lượng, thiệt là cao vót tự cổ chí kim. Nhưng đâu phải là ngừng nới đây.

Cháu tường với cảnh đau thương như hiện nay, bà nằm trong mộ mà yên thân hơn, và chính thân cháu cũng không muốn sống

(29-3-1975: ngày giỗ mẹ).

Hơn Nửa Đời Hư

Vương Hồng Sển

Post by Sơn râu 3 Jun 2024

Phần 15 – Hư!

(Kể về hào phu thê, khi lập hai gia đình trước).

Lấy bình tâm mà xét, cho tới năm tôi được bốn mươi hai tuổi (năm 1946), năm nầy là năm chạy tản cư vô Hoà Tú (Sốc Trăng), đời tôi gồm một chữ HƯ to tướng, và vì năm nay tôi viết hồi ký đã được bảy mươi bốn tuổi, cũng đôi năm nữa là khoá sổ, chớ không lâu, cho nên tôi tạm gọi lập hồi ký nầy là: HƠN NỬA ĐỜI HƯ

Trong khoảng hơn nửa đời người ấy, tóm tất lại:

a) Hai lần cưới vợ, có làm hôn thú đàng hoàng nhưng đều hỏng bét:

Với bà Trần Thị Thố, cưới nhau vì tiền, chín tháng, keo tan hồ rã.

Tôi không biết lựa người. Hai đứa hoàn toàn không hiểu nhau. Cưới theo xưa, đủ lễ, có coi ngày coi buổi, thế mà cưới ngày 16-6-1924, chín tháng sau, ngày 12-4-1926, thì ly dị trước toà: chưa nát một chiếc chiếu. Đổ lỗi cho nhau làm gì? Tôi chỉ ghi lại, tôi đã làm buồn cho Ba tôi và bên vợ. Tiền Ba tôi xuất ra không kể, nhiều lắm, nhưng thôi, nói làm gì. Chỉ nhớ tôi còn thiếu nợ tiền đi hồ, đến nay chưa trả, mà các ân nhân đã từ trần từ lâu.

Sau khi để vợ, còn lại một căn phố, số 214 La Grandière, tôi bán và sang luôn bàn ghế và phố được một ngàn bạc, không dám giữ trong mình mà gởi cho một bạn thân cùng làm một sở ở trường máy đường Đỗ Hữu Vị, vì tôi nghĩ mình có tánh ăn xài lớn, không nên giữ tiền trong túi nhiều. Nhưng tôi đã lầm, gởi trứng cho ác.

Đến khi tôi có chuyện cần dùng, hỏi, thì tên Nguyễn Văn Xuân đã đánh tứ sắc thua sạch rồi. Thế là tôi ở giữa hai thế kẹt: trước quá tin với vợ trẻ, thì vợ cho mọc sừng, trong tuổi thanh niên; tiếp theo vì quá tin nơi bạn thì bị bạn lừa; tình nghĩa phu thê không có, mà tình bằng hữu chi giao cũng không ra gì; duy tôi còn một chút lương tri, không muốn thành sát nhơn, một mình mình HƯ cũng đủ! Từ đó tôi đâm ra chơi bởi còn hơn trước. Tập uống rượu, thường nằm tiệm hút để đo lưng giấc trưa, vì tôi bán đồ đạc bàn ghế và sang phố rồi thì chở rương sách gởi nhà quen cho khỏi mất, chớ thân tôi, tôi không ở nơi nào định chắc: ăn thì ăn nhà hàng sang, Yeng-Yeng, Quảng Hộp, còn tối lại, tôi đi tìm gái, vui đâu chúc đó, đêm nay phòng ngủ nầy, đêm sau ở khách sạn khác, phòng sang chỉ có hai đồng rưỡi bạc một ngày, còn thuốc phiện chinh cống trong hộp thau chỉ có hai các mỗi ngao, hoặc hộp nhỏ mười gram một đồng mốt mỗi hộp hoặc hộp lớn hai chục gram hai đồng mỗi hộp, gái ăn chơi xóm nào tôi cũng quen, cô Mười tóc đỏ, cô Chín Quế Anh, cô Sáu Ngọc Anh, cô Ba Cù Là, ối thôi kể không hết. Thân xác xếp ve, mặt mày xanh mét, tôi là Vương Tái Sển chớ đâu xứng Vương Hồng? Một hôm ghé Solirène mua thuốc nhảy lên cân thấy còn có bốn mươi hai ký, giựt mình lúc đó, nhưng khi bước xuống cân, thì vẫn đi theo đàng cũ, cái hư thân mất nết không chừa. Nay tôi nặng sáu mươi ba ký, và nhớ lại các bạn trác táng năm xưa thảy đều xuống lỗ, ghê quá,

b) Lần thứ hai, tôi cưới cô Dương Thị Tuyết, phen nầy lúc ban sơ rõ là vì tình, vì khi gặp nhau, cô là bạch thủ; anh tôi khéo thu xếp cô ăn gia tài của bà Phủ An, nhưng rồi cũng đi đến ly dị. Cô ôm một ô xoàn, bỏ tôi với mớ đồ cô cho là vô dụng: chén bát cũ và sách rách bìa xác xơ như chủ nó. Cô bỏ tôi từ năm 1947, cưới nhau ngày 9-11-1927, án toà cho ly dị đề ngày 7-7-1958, ăn ở cùng nhau chia ngọt xớt bùi được mười chín năm, chen hoẻn không con,

“Mình ơi tôi nói mình nghe

Không thương nhau nữa, thà rằng mình thôi.

Muốn thôi, tôi cũng cho thôi.

Hồ san tát cạn, ai thôi mặc mình”

Mấy câu nầy không phải của tôi, và do một anh mật thám Tây, Le Corre, gặp ở Cần Thơ đọc cho tôi nghe, nay còn nhớ.

Đám cưới thật lớn, tiệc đãi linh đình. Cái nhạo rượu lễ, cậu Bảy Cảnh. Ông thân Hữu Phước, làm rể phụ, làm đổ hồi nào khi rót, không còn một giọt, điềm gì vậy? Phòng tân hôn: đêm cưới, lấy làm chỗ hốt me, đây thật điềm gở, nhưng tôi mê nhan sắc cô Tư nên nhắm mắt, cũng như chiều ngày nhập phòng vừa lạy xong mâm tơ hồng và cô bác, thì hai tôi phải để y đại phục cô dâu áo đỏ chàng rể áo thụng xanh bông hạc, đi rước tay bài: cậu Ba Qui, công tử Bạc Liêu, bác sĩ Lê Quang Trinh, hội đồng quản hạt, cô Ba Trà, Sáu Nhiều, huyện Đước v.v… và đêm ấy xâu được trót ngàn bạc. Ông via và bà via đều ăn trụm và giữ luôn mớ tiền hồ.

Ông Cò-mi Lân có mua biếu hai va-li da, một dùng đựng quần áo một chứa dao cạo và đồ nghề trang sức, hai vật nầy, chạy giặc mấy lần không mất, nay vẫn còn tại nhà tôi.

Ông Dương Văn Hai, cậu vợ, Dương Văn Tây và Dương Văn Giáo, cậu bên vợ, mỗi người cho một trăm đồng; anh Nguyễn Trinh Tường, anh vợ, đi hồ 50$. Nhưng thầy tôi là ông Kính, cho biết lễ vật đáng 550$ và bạc mặt 715$ thầy tôi cất giùm và hứa sau nầy sẽ trao lại hai tôi dành làm vốn khi ra riêng. Nói làm vậy, nhưng tôi không thấy mặt số tiền nầy, khi bà nhạc ban phần. Mấy chương kể lể nầy, không phải vì tiểu tâm, kỳ thật muốn ghi lại cho thừa kế biết mà đáp lại,

Đau lòng nhứt và nay tôi tiếc nhứt, là của lễ sính – lúc đó bị ông nhạc bà nhạc chê lên chê xuống vì chẳng phải kim cương hột xoàn, và chỉ có mười lạng vàng đôi. Nhưng đối với tôi, đây là vốn tiếng mẹ ruột tôi khi chết để lại, gồm mười đôi vàng do một tay Ba tôi chế tạo: chắt mót dành dụm từ li từ chút, lựa vàng thật cao tuổi, tự nấu lấy rồi cán ra móng, uốn thành vòng, mấy chỗ giáp mối thì cháy chớ không hàn vì hàn mất khéo và chỗ có vảy hàn vàng trở nên thấp (xấu), và bản thân trổ tài tự chạm ra mười kiểu khác nhau, kiểu chạm nào cũng xuất sắc, nay xin kể ra để cho biết cách gọi:

1) Chạm kiểu tứ linh tức long lân qui phụng;

2) Chạm bát tiên kỵ thú, tức mỗi ông tiên đều cỡi một con thú khác nhau;

3) Chạm nhứt thi nhứt hoạ, tức cảnh tứ thời “mai-lan-cúc-trúc” kèm thơ ngũ ngôn, nhưng mỗi giống hoa vịnh trong một câu năm chữ vắn tắt mà thôi;

4) Chạm nhứt cách nhứt chiếu (chiếc vòng chia ra tám khúc có bốn mặt trơn xen kẽ với bốn mặt chạm),

5) Chạm hạ cát, tức chạm hình nổ, dưới chân hình thì chạm bấm xuống cho hình thêm rõ nét và nổi hột thật đều y như hột cát sắp đầu cật kề nhau;

6) Chạm hạ láng, tức chạm hình nổi, dưới chân hình thì chạm bấm xuống và phải lăn mũi ve làm sao cho thật láng bóng nhứt là không được lủng rách; (đừng lầm với chạm lông, tức lấy giống lủng ra cho thấy lỗ trống);

7) Vàng nghiêng cũng gọi vàng niễng, tức cắt khữa sợi chí vàng như hình con cuốn chiếu. Người nào chạm đều tay đều nét là hay;

8) Vàng trơn, tức chiếc vòng để trơn, nhá thật bóng, không trầy, không móp;

9) Vàng neo chữ ngũ (nói chữ ngẫu mới hợp thời) tức vấn dây vàng cho đâu mặt nhau lại như hình ngũ trên hột lúc lắc,

10) Một đôi vàng đáp, tức để lá vàng trên khuôn mẫu bằng thép có chạm bông hoa sẵn, rồi xếp giấy để lên vàng rồi dùng búa “đáp” hay là đập mạnh lên giấy cho đến khi nào mặt vàng ăn lún xuống mặt khuôn, trổ ra hình mong muốn, xong rồi mới uốn cong ghép miệng, hoặc cháy hoặc hàn rồi làm khoá v.v…

Cưới vợ kỳ nầy, về ở chung với gia đình bà nhạc. Nực cười tôi muốn trụ mình cải hối, nhưng mấy cô nhân tình nhân ngãi vẫn chưa buông tha, tháng nầy một cô, tháng khác một cô, tiếp tục lên nhà số 260 đường Richaud (nay Phan Đình Phùng) kiếm để phá đám. Phần sợ vợ, vừa mười sáu tuổi đầu, biết được ghen tuông khóc lóc, phần sợ ông via đâm thọc kể kẻ vạch với bà via, nhưng nói có vong hồn ông và bà, mẹ vợ tôi rất lượng thứ, còn cha vợ, vốn là chắp nối, ông ăn chơi khét tiếng, thấy gái đến nhà như mèo thấy mỡ. Thèm thuồng thì có, la rầy vốn không!

Trong nhà không có tiền mà ăn xài như nước lở bờ. Nào bồi bếp nào sốp-phơ, lương thông phán của thầy tôi chỉ tám chục bạc mà mướn nhà đến một trăm sáu chục mỗi tháng ở đường Richaud được vài tháng, kế dọn về số 69 đường Taberd, cho đỡ tốn, vì phố nầy mướn tám chục bớt được tám chục. Nhưng nào có đủ. Mẹ vợ tôi tánh rất hào hiệp, trong nhà có tiệc đãi liền liền thầy tôi thì khỏi nói, kiếm được chút ít lì xì, thì lén đi nhảy đầm ôm gái. Vợ tôi và tôi thì không biết lo hậu. Lương tôi tám chục thêm tiền dạy Việt ngữ cho Tây kiếm mỗi tháng bốn anh trả mỗi anh hai chục, vị chi là tám chục nữa, thì cúng hết cho xi-nê, lúc ấy vừa có loại parlant (chớp bóng nói), thêm cải lương, lại còn coi đánh bốc. Cơm ở nhà không ăn, có máy với nhau làm giận làm hờn, bà via phải một tật mê tứ sắc tam hường, đánh mỗi lên mỗi cây đến một hai đồng, chiều về thấy hai đứa mặt héo ngồi chù ụ thì vứt năm đồng cho đi ăn Yeng-yeng, bà đâu biết rằng hai tôi giận giả, và rút rỉa bà mỗi tháng như vậy có trên hai chục ngày. Bất thình lình, mẹ vợ tôi xán bịnh, đánh tứ sắc ngồi một ngày một đêm gần cửa sổ làm qua ho ròi sưng phổi, ngày bớt ngày không, bỗng đêm 8-11-1928, bà đột ngột tắt hơi, trong khi tôi đã lìa Trường Máy, đổi về toà bố Sa Đéc từ 15-10-1928, phó thác vợ ở lại Sài Gòn nuôi mẹ đau chờ ngày tái hợp.

Lúc nầy thân tôi như chiến thuyền bé gặp cảnh bão táp, tai hoạ dập dồn.

Vì không lo xa nên không biết dành dụm xu nào, có bao nhiêu xài bằng hết. Lìa Sài Gòn, mất trước tiên tám chục bạc tiền dạy Tây, cũng mất luôn tiền phụ cấp đắt đỏ mười lăm đồng bạc mỗi tháng, về Sa Đéc lương tháng chỉ còn không tới sáu mươi ngoài đồng bạc (lúc nầy nếu có ai cho hối lộ thì nhận liền). Tôi ngây thơ trông cậy nơi mười lượng vàng của mẹ để lại và đã gởi cho cha mẹ của Tư cất giữ, tính lấy đó cầm vào nhà mont-de-piélé (tiệm cầm đồ) cũng có một số vốn nhỏ dọn nhà lập nghiệp, chớ không lòng nào tưởng tới việc bán đứt cho qua cơn túng ngặt. Ngờ đâu ngày l0-11-1928, lên Sài Gòn dự đám tang và khi chôn cất xong xuôi trở về nhà, trầu rượu lạy ông Trần Văn Kính trước mặt Ba tôi và trước mặt họ hàng cô bác bên vợ chứng kiến xin lãnh hộp gỗ đựng mười lượng vàng sính lễ năm trước, ông via tôi lấy trong tủ sắt cái hộp gỗ trống không và lấy thêm trong tủ một xấp giấy cầm đồ, rơi nước mắt cá sấu đổ thừa vì thua bạc, bà via tôi đã cầm gởi hết rồi, ông thề thốt sẽ chuộc lại trả tôi, nhưng lời hứa ấy như nước đổ lá môn, ông và tôi chia tay và bặt tin nhau từ đó.

Tiền đám tang bà nhạc mẫu, tôi làm sổ sách đàng hoàng và tính ra tiền điếu được tất cả 503$.

Sau khi tống táng, thầy tôi xét sổ, thấy còn 503$00 – 458$00 = 45$00, nên trả sổ và nói: “Ba cho hai con số tiền dư lại đó”.

Ngoài ra, thầy tôi có cho tôi hay rằng Ba tôi lên chia buồn có cúng số bạc một trăm đồng, tuy nói vậy mà thầy tôi nín luôn không trao số tiền nầy để biên vào sổ phúng.

Sáng ngày, hai tôi đưa Ba tôi lên xe đò về Sốc Trăng, hai tôi ôm một mớ áo quần cũ, một cái ô trầu bằng bạc, kỷ vật của bà nhạc mẫu, từ giã ông via, lên xe đò về Sa Đéc, trong túi còn lối năm chục đồng làm vốn, từ đây tranh đấu với đời, tự bay nhảy bằng cánh của mình, nhứt quyết không nhờ cậy ông nầy nữa.

Đời ấy tiền bạc mắc mỏ và có giá trị vô ngần. Tỷ dụ, tiền vãn phản đi từ Sài Gòn xuống Sa Đéc, đến toà bố lãnh nhiêm vụ mới kế ăn một bữa cơm buổi trưa ngoài nhiệm sở, tôi cũng cố đòi cho được và sau rối, nhà nước phải làm thủ tục cấp cho tôi một ngân phiếu, ngày nay tôi còn cất giữ để làm kỷ niệm đời làm tôi mọi năm xưa. Đó là ngân phiếu số 32.306 đề ngày 5-11-1928 có tất cả năm chữ ký: Denya, khu trưởng phòng nhì ký phái phiếu ngày nói trên 5-11-1928, Friqucgnon, trưởng phòng nhì, ký ưng thuận ngày 13-11-1928, Quên nói, khi lập xong ngân phiếu, phải gởi qua sở kiểm soát ước chi phê nhận, chữ ký ông Morieul và con dấu đề ngày 7-11-1928, xong rồi gởi trình tổng nha ngân khố, xin chữ ký (đọc không được) và rốt hết phải có chữ ký thứ năm của quan coi về đương sự có thiếu nợ chánh phủ hay không, và nhờ sở nầy phê “sans opposition” (không chi ngăn trở, tức không thiếu nợ) tờ ngân phiếu mới hợp lệ rồi còn chờ tôi lãnh tiền, nhưng tôi quyết giữ làm kỷ niệm cho con cháu biết đời công chức cho chánh phủ Pháp là vậy.

Số liền cấp vãn phản đó là Ba cắc bạc (0,30$ – Và cũng là một vậy kỷ niệm giá đáng ngàn vàng là một tờ ngân phiếu khác màu vàng, số 42.165 cấp ngày 7-3-1930 cũng đủ năm chữ ký y một kiểu như trên, giá bạc cấp phát là bốn chiêm Tây (0$04). Đây là tiền công thưởng tôi làm phát ngân viên (agent de paiement) đã chịu khó mỗi tuần đi xe từ toà bố Sa Đéc lên làng Vĩnh Bình, xa độ hai mươi cây số ngàn, phát tiền cho người phu lục lộ coiviệc vớt cỏ lục bình không cho trôi tấp vào chân cột cầu bê-tông. Công làm phát ngân viên cứ phát một ngàn đồng bạc lúc đó thì được ăn thưởng một đồng tiền huê hồng bù trừ sự mất mát; thế mà trọn một năm 1929, công tôi tính được “bốn đồng xu”, các độc giả cứ nhân ra rồi biết tiền công anh phu lục lộ là bao nhiêu. Không kể tiền xăng nhớt và tiền vỏ xe mòn, tiền sốp phơ v.v., hèn chi chánh phủ thời Pháp thuộc có tiếng là chu đáo, làm việc gì cũng đến nơi đến chốn! Ngân phiếu nầy tôi cũng không lãnh. Kể như chu đáo nhứt của chánh phủ đô hộ Pháp là năm 1944, tại Sốc Trăng, trong lúc binh Nhật hoành hành hống hách, anh em chúng tôi buồn quá nên tụ lại nấu một bữa cháo gà để lập đờn ca gọi yêu nghệ thuật, ngờ đâu sáng bữa sau có giấy đòi tôi lại hầu ông cò và ông bắt tôi chịu phạt về tội ban đêm làm mất trật tự (tapage nocturne), vì có người lân cận thưa về tội khuấy rầy. Biên lai số 1897 đề ngày 9-8-1944 (phạt 3$30 tức cinq frances d’amende thời đó, cộng với tiền tiêu tiền nghệ khác thành 11 francs như đã ghi trên biên lai. (Viên cò Tolsano phạt tôi, sau chết tại Cà Mau dưới gươm quân phiệt Nhựt năm 1945).

Ba tài liệu nầy tôi xem là rất quý, vì nhắc lại đời nô lệ của tôi.

Vợ chồng đưa nhau về Sa Đéc. Ở nhờ nhà ân nhân dượng và cô Thầy thuốc Phạm Văn Ngỡi suốt mấy tháng mới kiếm được một căn phố xây tổ uyên ương nơi số 106 đường Vĩnh Long, một năm sau, dọn về phố mới Thầy Ký Ngọc ở một đường nhưng gọi số 2 đường Vĩnh Phước, và sát dốc cầu sắt Sa Đéc, ngày nay có dịp đi ngang còn bùi ngùi cảm động. Duy ơn sâu Dì Tư và bác sĩ Ngỡi, nguyện suốt đời không quên. Nay hai ông bà đã mất.

Về Sa Đéc, chân ướt chân ráo, mẹ vợ chết, trong túi không tiền, quan chánh chủ tỉnh chưa biết cử chỉ khả năng mình ra sao, bỗng có giấy hãng xe Laurent Gay đòi tiền mua xe chịu và trả chưa dứt. Cái đó mới chết một cứa Tứ! Thân làm phát ngân viên tại toà bố, chữ Tín là trọng, thế mà hiển hiện có bằng cớ lúc trên Sài Gòn mình đã bội tín, nhứt là đã giựt tiền của Tây, và Tây với Tây cố nhiên vẫn binh vực nhau. Tuy vậy trời xanh có mắt, tôi trình chủ tỉnh bức thơ trả lời cho hãng, xe ông nhạc tôi mua và để tôi đứng tên. Nay tôi bằng lòng cho hãng lấy xe về trừ số nợ thiếu hoặc đòi ông nhạc tôi trả tiền, chớ tôi vốn vô can trong vụ nầy. Hãng ham bán mà không cẩn thận, bán lầm đòi tiền không được thì chịu lấy. Chủ tỉnh chấp nhận lời biện minh của tôi, thế là thoát nạn. Sau rõ lại, khi được thơ tôi, hãng rình một lúc lơ đễnh của anh lài xế, hãng nhảy phóc lên xe lái về ga-ra, dứt khoát. Nhưng ông nhạc vì vụ nầy, mất xe mà không dám cớ không dám đòi, duy thù thằng rể thấu xương. Nay mỗi khi lấy tấm cát chủ xe Fiat bốn chỗ ngồi, li-mu-zinh sáu mã lực, số mã tự kinh C.9032 do chánh văn phòng Renou ký ngày 13-12-1927, không khỏi khúc khích mình cười lấy mình.

Tình duyên của tôi và Tư, đằm thấm như hai chim con vừa thoát ổ mẹ, ríu rít trên nhành, rất tự do, bụng đói mà vui, tuy nghèo mà hạnh phúc…

Ngày 20 tháng 11 Tây năm 1928, gặp cứu tinh và ân nhân là bà Phủ hàm Lê Văn An, nghiệp chủ ở Sốc Trăng. Bà lên Sa Đéc dự tiệc cưới nơi nhà thầy cai tổng Nguyễn Tấn Cao tự Keo. Tôi và Tư cũng có mặt trong tiệc nầy. Chốn tiệc trung ứa lệ, bà cháu nhìn nhau. Tôi còn ghi lời bà nói hôm ấy: “Tao nghĩ tội nghiệp cháu nội tao (Tư) nay côi cút mất mẹ, chớ mẹ nó nếu còn, ngậm ngọc mà nói, tao cũng không màng thằng Tư (tức là tôi), mầy không biết, chớ mẹ nó và ông Kính, lúc trước kiện bà đây tranh gia tài, nay bà còn tính giận. Duy nay thấy vợ chồng bây, bà động lòng thương. Bà lẫn biết ông nội của cháu (tức Sển) và cậu Hương cha của cháu, đều là người nhân đức, nên bà mừng hết đỗi và tán thành cuộc lương duyên của hai cháu đó. Bây rán ăn ở cho có hậu thì bà không bỏ”.

Ngày 6 tháng 5 năm 1931, bà Phủ An từ trần, làm chúc ngôn do một tay tôi viết và ký thác nơi phòng chưởng khế, cho Dương Thị Tuyết và Vương Hồng Sển cùng đứng tên làm chủ 220 ha ruộng tốt trong làng Hoà Tú, và cho riêng cháu gái gọi bà bằng bà nội (kỳ thật là bà cô) của tư trang gồm vô số hột xoàn, cái bâu cổ không cũng đã có ba trăm hai chục hột, bông tai và cà rá; và bạc mặt tám ngàn đồng (tám chục tờ giấy bộ lư). Nhưng than ôi, cũng vì có tiền nhiều, nên nhân tâm biến đổi. Sau mười chín năm từ 1927 đến 1946, vợ chồng ăn ở với nhau như bát nước đầy. Bỗng Tư sanh tâm và ôm cầm sang thuyền khác. Án ly dị đề ngày 7 tháng 7 năm 1958. Thế là hết duyên hết nợ với cô Tư. Nói nữa làm cái, gạt lệ đủ rồi. (Nay ruộng và xoàn, tôi để cho Tư trọn hưởng. Em có biết chăng?).

Thế là hai lần lập hôn thú, một lần nhục nhã vì ham tiền, một lần vượt quyền định đoạt của mẹ cha vì ham sấc, hai lần có hôn thú đều hư.

Qua lần thứ ba, thù người khác mà để người nầy chịu khổ: không làm hôn thú nữa. Thế mà ở đời với nhau cho đến nay, và việc còn dài, không nên nói trước. Xin Năm thứ lỗi cho tôi. Một khi đã có con trai nối dòng, tờ hôn thú vẫn là thừa.

Cho đến nay, nghĩ mình ân ít tội nhiều, nên cũng “bất oán thiên hề mạc vưu nhân”, ai ở xấu, có lương tâm và trên cao danh chứng kiến.

Duy có nước đồng, nước sông mới dấy. Không ơn bà (bà Phủ An) vừa giúp tôi làm sao có sự nghiệp nầy. Biết nhưng làm sao báo đáp.

Cố vấn Trung Cộng Vi Quốc Thanh

baotreonline.com

Trần Vũ

Post on November 23rd, 2020

Post by Sơn râu 3 Jun 2024

Kỳ 12

Câu hỏi mà dân Việt thường đặt ra: Là vì sao Navarre ngu xuẩn đến mức giam quân Pháp vào một lòng chảo bị núi vây tứ bề rồi ngồi đợi Võ Nguyên Giáp tiến đánh? Cách xa Hà Nội 456 km đường bộ nhưng không đường tiếp tế từ châu thổ sông Hồng vì tất cả các tỉnh lỵ ráp gianh Sơn La, Hòa Bình, Yên Bái, Phú Thọ đều thuộc Việt Minh. Khoảng cách trên 300 km đường chim bay từ các phi trường Gia Lâm, Bạch Mai, Cát Bì khiến các phóng pháo cơ của Không đoàn Chiến thuật Bắc phần không thể hiện diện quá 10 phút trên vòm trời Mường Thanh. Trần mây thấp càng làm không yểm ít hiệu quả. Với những bất lợi như vậy, vì sao Navarre chọn chiến trường Điện Biên?

Hai lý do chính: 1/ Thủ tướng Joseph Laniel cam kết bảo vệ vương quốc Lào khiến Navarre phải chiếm lòng chảo án ngự trục giao thông huyết mạch từ Sơn La sang Luang Prabang. 2/ Chiến thắng Nà Sản 1952 của tổng chỉ huy tiền nhiệm Salan làm Navarre tin chiến lũy là hình thái thích ứng để ngăn Việt Minh. Nếu lý do đầu thuần chính trị, lý do thứ nhì trên mặt quân sự không hoàn toàn là một giải pháp tồi. Nhiều tập đoàn cứ điểm của Đức trên mặt trận Nga như Kholm, Demyansk, Velikiye Luki đã làm gẫy mũi giáo Sô-Viết. “Con nhím” là chiến thuật hữu hiệu chống biến người. Không ngẫu nhiên về sau tướng Westmoreland lặp lại mô thức này tại Khe Sanh và không lực Hoa Kỳ đã dội nhát 2 sư đoàn Bắc-Việt. Khiếm khuyết của Navarre là đã ước tính sai khả năng Việt Minh có thể huy động 70,000 dân công, cũng như đã đánh giá sai sức mạnh của không quân Pháp.

Câu hỏi khác: Tương quan lực lượng Pháp-Việt Minh trước trận đánh như thế nào? Trong nghiên cứu La Guerre d’Indochine, Nxb Tallandier 2015, trang 424, Ivan Cadeau đưa ra các số liệu: Từ tháng 7-1953 viện trợ Trung cộng tăng từ 200 tấn lên 2,000 tấn đạn mỗi tháng. Quân đoàn tác chiến Việt Minh lên đến 125,000 lính chính quy, cộng thêm 75,000 bộ đội Miền và 200,000 du kích, tổng số 400,000 cán binh. Quân số Liên hiệp Pháp trong cùng thời kỳ là 450,000 binh sĩ, bao gồm 175,000 lính viễn chinh, 55,000 phụ lực quân, 25,000 lính Lào và Khmer, 150,000 lính VN quốc gia, 30,000 dân quân giáo phái và 15,000 hiến binh, cảnh sát, quân cảnh.

Chênh lệch 50,000 quân gần như không đáng kể vì quân đội Liên hiệp Pháp phải phân tán để giữ đất nên không thể hình thành những đại đơn vị cấp sư đoàn để đương đầu với chủ lực Việt Minh. Trong thư riêng gửi cho thượng cấp cũ là thống chế Juin, Navarre than phiền sức chiến đấu kém, dễ mất tinh thần của lính Ả Rập và da đen. Các tiểu đoàn khinh chiến quốc gia thì vì trang bị nhẹ, hỏa lực không ngang bằng với chính quy Cộng sản. Lính hoàng gia Lào và Khmer gần như tượng trưng, dân quân Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên, Công giáo chỉ hữu hiệu chống du kích. Duy nhất các Hải đoàn Xung phong Dinassaut, Nhảy dù, Lê dương và Nhảy dù Việt Nam được xem thiện chiến.

Cũng từ 1951, quân đoàn viễn chinh Đông Dương đã bị “vàng” hóa. Ivan Cadeau thống kê trong số 175,000 ‘‘lính viễn chinh”, phân nửa đã là lính Việt. Bernard Fall liệt kê trong Một Góc Địa Ngục (Hell in a Very Small Place):

Tiểu đoàn 6 Nhảy dù Thuộc địa (6e BPC) của thiếu tá Marcel Bigeard cấp số 613 binh sĩ mà 332 là lính Việt, tỷ lệ 54%.

Tiểu đoàn 2 Săn giặc Nhảy dù (II/1er Régiment de Chasseurs Parachutistes) của thiếu tá Jean Bréchignac cấp số 827 binh sĩ mà 420 là lính Việt, tỷ lệ 50%.

Tiểu đoàn 1 Nhảy dù Lê dương (1er BEP) của thiếu tá Maurice Guiraud cấp số 653 binh sĩ mà 336 là lính Việt, tỷ lệ 51,4%.

Tiểu đoàn 1 Nhảy dù Thuộc địa (1er BPC) của đại úy Guy Bazin de Bezons cấp số 911 binh sĩ (413 lính Việt), tỷ lệ 45%.

Cả 4 tiểu đoàn này và Tiểu đoàn 5 Nhảy dù Việt Nam (5e BPVN) sẽ nhảy xuống Điện Biên Phủ. Cùng với Quân đội Quốc gia đã thành hình, ‘‘kháng chiến chống Pháp” thật ra đã là nội chiến.

Trong chương Quyết chiến Điện Biên Phủ (trung), Vu Hóa Thầm ghi sai chi tiết: De Castries không phải là một danh tướng của quân đội Pháp, chỉ là một trung tá chỉ huy một liên đoàn lưu động cán phải mìn tại Hương Canh (quốc lộ 2 đi từ Đại Phúc lên Vĩnh Yên), bị gẫy hai chân nên vắng mặt lâu trên chiến trường Đông Dương. Thăng cấp đại tá, de Castries chỉ huy Điện Biên Phủ và chỉ đặt cách chuẩn tướng ngày 16 tháng 4-1954 sau khi trận đánh đã diễn ra hơn một tháng. Truyền đơn de Castries cho thả xuống rừng rậm viết bằng tiếng Pháp không bằng tiếng Việt, nguyên văn nội dung như sau:

“Đại tướng, ông đã cho tập trung 4 sư đoàn tinh nhuệ nhất với khối lượng vũ khí hùng hậu. Tuy nhiên cho đến hôm nay các sư đoàn này không tấn công. Tự tin chiến thắng, nhưng có phải là ông đang đánh mất lòng tin vào khả năng chiến đấu của cán bộ và chiến sĩ? Đại tướng, ông đã hạ quyết tâm, phải giữ quyết tâm của mình. Đừng sợ mất mặt trước tập thể. Tôi đợi ông khai trận.”  Đại tá Christian de Castries [Ivan Cadeau, sđd, trang 431]

Đặc điểm của chương này là hình ảnh một Vi Quốc Thanh vô cùng kiêu ngạo bên cạnh một tiểu tiết kỳ lạ mà Vu Hòa Thầm ghi: Khi Võ Nguyên Giáp đến thăm, nghe được chuyện này, vội nói: “Quá nguy hiểm! Từ nay về sau bố trí hành động không thể nghe đồng chí nữa, đồng chí phải tuyệt đối nghe tôi”. Vi Quốc Thanh cười nói: “Vâng! Vâng! Từ nay về sau tuân lệnh!”. Gần như một nhạo báng? Khác Cố vấn trưởng Trung Cộng đầu tiên Trần Canh trong chiến dịch Biên giới là một đại tướng, Vi Quốc Thanh chỉ mang quân hàm trung tướng dưới cấp đại tướng của Võ Nguyên Giáp, nhưng cách đối đáp là một khinh thường.

[Trần Vũ]

 Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp

Vu Hoá Thầm

bản dịch của Dương Danh Dy

Quyết chiến Điện Biên Phủ (trung)

Điện Biên Phủ là vùng lòng chảo nam bắc dài khoảng 18km, đông tây rộng khoảng 6-8 km. Nam cách Lào khoảng 30km, đông cách Hà Nội hơn 300 km. Sau khi quân Pháp nhảy dù xuống đây ngày 20/11/1953, chúng đuổi hết cư dân yên lành sống ở đây, lần lượt tăng thêm binh lực, dùng máy bay vận chuyển vật liệu xây dựng, chặt phá cây rừng bừa bãi, xây đắp công sự làm cho Điện Biên Phủ trở thành tập đoàn cứ điểm có hệ thống phòng ngự hoàn chỉnh. Nơi đây có tất cả 49 cứ điểm, chia làm 8 cụm cứ điểm, 3 phân khu phòng ngự: phân khu trung tâm Mường Thanh là trụ sở cơ quan chỉ huy của quân Pháp nằm giữa thung lũng, trận địa chính của pháo binh, kho hậu cần, sân bay chủ yếu và 2/3 binh lực đều tập trung ở đây.

Phân khu bắc bao gồm hai cụm cứ điểm ở đồi Độc Lập (Gabrielle) và Bản Kéo (Anne-Marie) ở bắc và tây bắc Mường Thanh, cùng với cụm cứ điểm Him Lam (Béatrice) 1 ở đông bắc phân khu trung tâm Mường Thanh trở thành bình phong phía bắc của Điện Biên Phủ. Vùng Hồng Cúm (Isabelle) cách nam Mường Thanh khoảng 5km là phân khu nam, cũng có sân bay trận địa pháo binh, làm nhiệm vụ ngăn chặn quân đội nhân dân tấn công từ phía Nam. Mỗi cụm cứ điểm của quân Pháp có nhiều tầng hỏa lực hỗ trợ, đào giao thông hào chằng chịt. Xung quanh cứ điểm có một vùng làm vật cản 40-200m, trong vùng đó chằng nhiều lớp dây thép gai và lưới điện và chôn mìn dầy đặc. Đầu tháng 3/1954, địch lần lượt tăng thêm binh lực lên 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, lính dù, cùng với 2 tiểu đoàn pháo 105 ly, 1 đại đội pháo 155 ly, 2 đại đội súng cối 120 ly, 1 tiểu đoàn công binh và 1 đại đội xe tăng (10 chiếc), 1 phi đội máy bay (14 chiếc), tổng binh lực khoảng 13.000 tên. Xây 2 sân bay bắc, nam. Hằng ngày địch sử dụng 100-200 lần chiếc máy bay cho 100-300 tấn vật tư quân dụng đến Điện Biên Phủ.

Một số tướng lĩnh cao cấp Pháp – Mỹ từng thị sát Điện Biên Phủ cho đây là “một pháo đài bất khả xâm phạm” là “Verdun của Đông Nam Á”. Quân địch cậy thế bộ đội tinh nhuệ đông, hoả lực mạnh, công sự kiên cố, bố phòng nghiêm ngặt nên không lo sợ gì. Navarre, Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương lên tiếng phải “giữ vững cứ điểm này bằng bất cứ giá nào”, phải “nghiền nát” bộ đội Việt Nam ở Điện Biên Phủ.

Trung hạ tuần tháng 12/1953, đại đoàn 316 và 308 nối tiếp nhau đến và bao vây Điện Biên Phủ. Tiếp theo, do Bộ Tổng Tham mưu QĐNDVN điều thêm bộ đội trọng pháo, bộ đội cao xạ pháo được Trung Quốc trang bị huấn luyện cũng lục tục tiến về Điện Biên Phủ. Vi Quốc Thanh và Mai Gia Sinh dẫn nhân viên Ban chỉ huy cố vấn cũng theo Bộ chỉ huy tiền phương quân đội Việt Nam ra tiền tuyến. Từ tây Yên Bái chỉ có một con đường lên Điện Biên Phủ. Pháo binh ra trận, dân công vận tải đều dựa vào con đường này. Để đề phòng máy bay địch, bộ đội và dân công đều ngày nghỉ đêm đi. Chiều xuống người gánh, xe chở rất chen chúc. Vi Quốc Thanh mang theo phiên dịch và bảo vệ ngồi trên xe jeep, chỉ có thể lăn bánh từ từ. Mỗi lần gặp máy bay địch bắn phá, ôtô phải tắt đèn giảm tốc độ. Gặp phải đoạn đường nguy hiểm chưa gỡ hết bom nổ chậm do máy bay địch ném xuống, phải xuống xe đi vòng. Vì vậy, xe đi một đêm không nổi 100 dặm. Trời vừa hừng sáng phải chui vào rừng sâu ẩn nấp. Vi Quốc Thanh là người nóng tính, hết sức sốt ruột với tốc độ hành quân này, nhưng không biết làm sao được.

Khi sắp đến gần tiền tuyến, có một đoạn đường, pháo tầm xa của địch thỉnh thoảng bắn vài phát để phong toả. Phía Việt Nam sắp xếp ôtô chở vật tư của đoàn cố vấn băng qua đoạn đường này, còn người thì đi vòng theo đường mòn, để bảo đảm an toàn. Để đi nhanh ra tiền tuyến, Vi Quốc Thanh kiên trì ngồi xe băng qua. Khi xe băng qua chỗ phong toả này bỗng nhiên có tiếng nổ to, một phát đạn pháo nổ ở gần đó. Vi Quốc Thanh bình tĩnh ra lệnh cho lái xe không nên hoảng hốt, lái nhanh đi qua. Sau khi đến đích, kính cửa sau ôtô bị mảnh đạn xuyên một lỗ. Khi Võ Nguyên Giáp đến thăm, nghe được chuyện này, vội nói: “Quá nguy hiểm! Từ nay về sau bố trí hành động không thể nghe đồng chí nữa, đồng chí phải tuyệt đối nghe tôi”. Vi Quốc Thanh cười nói: “Vâng! Vâng! Từ nay về sau tuân lệnh!”.

Thượng tuần 1/1954, bộ đội được Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam điều thêm tiếp tục đến mặt trận Điện Biên Phủ. Lúc này lực lượng QĐND Việt Nam bao vây Điện Biên Phủ có các đại đoàn bộ binh 308, 312, 316 và 304 (thiếu 1 trung đoàn) và đại đoàn công pháo binh 351 (gồm 1 trung đoàn lựu pháo, 1 trung đoàn sơn pháo, 1 trung đoàn công binh, 4 đại đội súng cối, 1 tiểu đoàn pháo cao xạ, 2 tiểu đoàn súng máy cao xạ), tổng binh lực hơn 40.000 người, chiến ưu thế tuyệt đối về binh lực. Quân đội nhân dân vừa trải qua chỉnh quân chính trị và huấn luyện quân sự, tố chất quân chính nâng cao rõ rệt. Quân địch đóng giữ Điện Biên Phủ tuy lực lượng tinh nhuệ đông, công sự khá kiên cố, nhưng xa hậu phương, bị bao vây bốn bề, rất cô lập. Vì vậy, quân đội nhân dân có điều kiện cơ bản rất tốt để giành thắng lợi chiến dịch. Nhưng do quân đội nhân dân lâu nay chưa đánh công kiên quy mô lớn nên đứng trước tập đoàn cứ điểm kiên cố của đich, có những cán bộ kể cả cán bộ cao cấp nào đó, thấy quá nhiều khó khăn, thiếu lòng tin. Căn cứ vào tình hình đó, Vi Quốc Thanh dẫn đầu Đoàn cố vấn quân sự đã làm công tác chuẩn bị trước khi chiến đấu.

Thông qua trao đổi riêng với Võ Nguyên Giáp và tham gia hội nghị của Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam, Vi Quốc Thanh giúp phân tích tình hình, nghiên cứu cách đánh, đi đến thống nhất tư tưởng, xác định mục đích quyết tâm tác chiến. Đồng thời lợi dụng mọi cơ hội, làm công tác tư tưởng đối với cán bộ trung-cao cấp quân đội Việt Nam. Tại hội nghị cán bộ trung đoàn trở lên các đơn vị tham gia tác chiến, do Bộ chỉ huy tiền phương QĐND Việt Nam triệu tập ngày 14/1/1954, khi được mời phát biểu ý kiến, Vi Quốc Thanh nêu lên sự thật đầy đủ, nói rõ phương châm tác chiến của Trung ương Đảng Lao động Việt Nam và Tổng Quân uỷ là hoàn toàn đúng đắn. Đồng chí nêu ví dụ nói từ khi Pháp chiến tranh xâm lược Việt Nam đến nay đã thay 7 Tổng chỉ huy, còn Tổng Tư lệnh của chúng ta vẫn là Tổng Tư lệnh. Điều đó nói lên địch nhiều lần thất bại, chúng ta liên tiếp thắng lợi. Nói lên sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Tổng Quân uỷ là hoàn toàn có thể tin cậy được. Đồng chí vạch rõ, quân đội nhân dân có điều kiện, có khả năng giành thắng lợi của chiến dịch công kiên qui mô chưa từng có này. Đồng chí nói – các đơn vị bộ đội chủ lực quân đội nhân dân đã trải qua rèn luyện chiến đấu thực tế và huấn luyện quân chính. Sức chiến đấu đều được nâng cao rõ rệt, nhất là đại đoàn 308 và 312 càng trưởng thành là bộ đội có sức chiến đấu kiên cường, có thể nói một là bộ đội thép, một là bộ độ sắt, chúng ta có bộ đôi sắt thép sẽ đánh đâu thắng đó. Đồng chí cổ vũ cán bộ các cấp khắc phục mọi khó khăn, đánh tốt trận này, làm cho quân đội nhân dân tiến lên một bước lớn. Phát biểu của Vi Quốc Thanh có tác dụng cổ vũ ý chí chiến đấu, tăng thêm lòng tin.

Lúc này, khí thế của quân Pháp ở Điện Biên Phủ vẫn rất hung hăng. Một hôm, phiên dịch của Võ Nguyên Giáp cầm mấy tờ truyền đơn của máy bay quân Pháp rải xuống đến gặp Vi Quốc Thanh. Truyền đơn là lá thư viết bằng tiếng Việt của De Castries gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nội dung đại ý là: “Tôi biết bộ đội của ông đã bao vây Điện Biên Phủ, nhưng vì sao không tiến công? Tôi đã kiên nhẫn chờ đợi. Nếu ông có gan dám mở tấn công, thì xin bắt đầu đi! Tôi đang chờ đón những thách thức của ông, quyết một phen thắng bại với ông!”

Vi Quốc Thanh nghe người phiên dịch đọc hết tờ truyền đơn cười nói: “Lão De Castries này! Ngông cuồng lắm! Hãy đợi đấy. Đến lúc chiến dịch mở màn, là lúc hắn khóc đấy”. Phiên dịch báo cáo nói: “De Castries là một danh tướng của Lục quân Pháp là cấp dưới cũ của Navarre, đã qua trường quân sự, là học viên ưu tú. Hắn vốn quân hàm Đại tá, gần đây vừa được phong Thiếu tướng”. Vi Quốc Thanh nói: “Thế thì hãy để xem chúng ta học được gì ở học viên ưu tú này có tài chỉ huy đến đâu”.

 Vu Hoá Thầm

(đăng trong Thượng tướng phong vân lục
Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000)

Tập san quân sự Uniformes số 296 tháng 9-2014 làm chuyên đề đặc biệt về binh chủng nhảy dù Việt Nam.

Uniformes số 296 trang 48 giới thiệu chiến tích của trung úy Phạm Văn Phú đại đội trưởng đại đội 2 của tiểu đoàn 5 Nhảy dù (5e BPVN). Đêm 10 tháng 4-1954 trung úy Phú phản kích lên đồi Éliane 1, tái chiếm căn cứ và đẩy lùi tất cả các tấn công Việt Minh cho đến sáng. 6 ngày sau, trung úy Phú đặt cách đại úy tại mặt trận, quyền tiểu đoàn phó 5e BPVN.

Đại úy Phạm Văn Phú  sinh 1928 tại Hà Đông, tốt nghiệp tú tài Pháp bán phần, khóa 8 võ bị quốc gia Đà Lạt, được tiểu đoàn trưởng André Botella đánh giá là sĩ quan gan dạ, gương mẫu và kỷ luật. Hình chụp 1955.

Việt Minh huy động 70,000 dân công cho chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sàigòn 1953, thủ tướng Nguyễn Văn Tâm gắn huân chương lên quân kỳ của trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức (École d’Officiers de Réserve) trên đại lộ Charner, là đường Nguyễn Huệ về sau.

Nữ binh Hòa Hảo

Cố vấn Trung Cộng Vi Quốc Thanh

baotreonline.com

Trần Vũ

November 23rd, 2020
Post by Sơn râu 3 Jun 2024

Kỳ 11

Trang An Ninh Thế Giới ngày 30 tháng 8-2010 đăng bài thiếu tướng Nguyễn Dũng Chi, nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 251, trung đoàn 174, sư đoàn 316, là Người nhận Thiếu tá Marcel Bigeard đầu hàng trong chiến thắng Điện Biên Phủ. Ký giả Khánh Linh ghi:

“Nguyễn Dũng Chi đứng giữa lưng chừng đồi A1 dốc về phía trung tâm Điện Biên Phủ, mang một cảm xúc khó tả, vì mới chỉ cách đây vài giờ, ông và đồng đội đã phải đối mặt với cái chết. Bỗng đại đội trưởng Lâm Viết Hữu chạy ngược lên:

– Báo cáo ban chỉ huy, có quan tư Tây đầu hàng muốn gặp.

Ông không ngần ngại, dõng dạc bảo:

– Cho nó lên.

Và trước mặt chàng trai Nguyễn Dũng Chi lúc đó mới chỉ 27 tuổi, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 251, là một tên quan Tây cao lớn, mang quân hàm thiếu  tá, đầu đội mũ bêrê màu xanh lục, ngực đeo Bắc đẩu bội tinh đồng, đánh gót nghiêm chỉnh theo nghi lễ nhà binh, chào và nói:

– Tôi, thiếu tá Bigeard, chỉ huy tiểu đoàn 1, Bán Lữ đoàn Lê dương số 13, xin thuộc quyền ngài. Quân số tôi chỉ còn 150 người. Xin đợi lệnh ngài.

Trong hồi ký của mình, Nguyễn Dũng Chi đã viết: “Hãnh diện biết chừng nào khi lần đầu tiên trong đời binh nghiệp, một tiểu đoàn trưởng Việt Nam tay chắp sau lưng ngắm nghía tên quan tư nổi tiếng của quân đội Pháp, viên chỉ huy cơ động của De Castries đang chào và đợi lệnh theo đúng lễ nghi lục quân Pháp. […] Viên quan tư Pháp đầu hàng Nguyễn Dũng Chi lúc đó cũng còn rất trẻ, khoảng 30 tuổi, sau này trở thành đại tướng Marcel Bigeard, thứ trưởng Bộ Quốc phòng Pháp.“(*)

Đồi A1 là đồi Éliane 2 phía Pháp, khi thất thủ do đại đội 3 của đại úy Jean Pouget thuộc Tiểu đoàn 1 Nhảy dù Thuộc địa (1er BPC) trấn giữ, không phải Tiểu đoàn 1 Bán Lữ đoàn 13 Lê dương (I/13 DBLE) của thiếu tá de Brinon đang cố thủ Claudine. Trong hồi ký Chúng tôi đã chiến đấu tại Điện Biên Phủ (Nous Étions À Dien Bien Phu,  Nxb Presses de la Cité, 1964) Pouget kể lại phút cuối cùng: Đích thân ra tuyến đầu, dùng carbine M-1 bắn trả cho đến khi bị Việt Minh quăng lựu đạn nổ tung trong giao thông hào. Bị thương, bị thúc lưỡi lê xuống đồi, không có trình diễn đầu hàng hay cờ trắng. Cũng không cấp chỉ huy Việt Minh nào thẩm cung.  

Thiếu tá Marcel Bigeard mà Nguyễn Dũng Chi “hãnh diện nhận đầu hàng” thuộc binh chủng Nhảy dù Thuộc địa (Parachutistes Coloniaux) đội bérét đỏ chứ không thuộc Lê Dương Nhảy dù (Légionnaire Parachutiste) đội bérét lục. Bộ binh Lê dương thì đội nón képi trắng hình ống mà không đội bérét mềm. Bigeard đặt cách trung tá tại mặt trận ngày 16 tháng 4-1954, nắm quyền chỉ huy Phản kích Nhảy dù (chỉ huy toàn bộ các tiểu đoàn Dù), bộ chỉ huy đặt tại khu trung tâm Mường Thanh cạnh bộ chỉ huy của tướng de Castries, chứ không trên đồi A1. Bigeard không còn mang cấp bậc thiếu tá và đã cương quyết không ra xếp hàng cho đạo diễn Sô-Viết Roman Karmen quay hình, bằng câu từ chối lừng danh: “Plutôt crever (Thà chết)”. Một quân nhân như vậy, không quỵ lụy “xin thuộc quyền ngài”. Chi tiết khác, tổng thống Pháp Giscard d’Estaing trao huân chương Bắc đẩu Bội tinh (Grand-croix de la Légion d’honneur) cho Bigeard tháng 9-1974 trên sân Invalides, vào thời điểm tháng 5-1954 Bigeard chưa có huân chương này; cũng không sĩ quan Nhảy Dù nào nhảy xuống mặt trận với huân chương và dây biểu dương. Khi về hưu Bigeard là trung tướng (général de corps d’armée) không phải đại tướng (général d’armée). Đa phần “anh hùng Điện Biên” Nguyễn Dũng Chi đã tự hư cấu huyền thoại của chính mình, ông không biết đơn vị nào giữ đồi A1, ai chỉ huy và chưa từng gặp Bigeard.

Võ Nguyên Giáp là tướng lãnh hiếm của Quân đội Nhân dân trích dẫn Clausewitz. Không trong bản Việt ngữ của hồi ký Chiến đấu trong vòng vây, nhưng trong bản Pháp văn của hồi ký này: Mémoires, tome 1, La Résistance Encerclée, Editions Anako, 2003. Ở trang 105, đại tướng cho biết ông đem theo bản dịch Clausewitz của Denise Naville khi rời Hà Nội lên Việt-Bắc kháng chiến đầu năm 1947. Ông khẳng định đã suy nghiệm Clausewitz. Các trích đoạn dẫn chứng Clausewitz của đại tướng đều trích từ bản dịch của Denise Naville. Tuy nhiên bản dịch của Denise Naville do nhà Minuit ấn hành, cho mãi đến năm 1955 mới xuất bản. Võ Nguyên Giáp không thể có quyển sách này trong tay năm 1947. Vì sao phải như vậy? Vì đại tướng không thật sự tự tin vào thiên tài của mình nên cần tựa vào Clausewitz? Hay vì cần Clausewitz để biện minh cho các quyết định của mình thay vì thú nhận đến từ Vi Quốc Thanh? Từ cấp thấp đến cấp cao, phía Việt Minh không hiểu Điện Biên Phủ tự thân là một chiến thắng vinh quang, không cần phóng đại thêm. [Trần Vũ]

 (*) An Ninh Thế Giới:

http://antgct.cand.com.vn/Nhan-vat/Nguoi-nhan-Thieu-ta-Marcel-Bigeard-dau-hang-trong-chien-thang-Dien-Bien-Phu-312745/

Đồng Chí Vi Quốc Thanh Trong Viện Trợ Việt Nam Đấu Tranh Chống Pháp

Vu Hoá Thầm

bản dịch của Dương Danh Dy

Quyết chiến Điện Biên Phủ (thượng) […]

Ngày 24, hội nghị tiến hành trong hội trường lều tre của Bộ Tổng Tham mưu quân đội Việt Nam. Võ Nguyên Giáp nói mấy câu mở đầu, sau đó mời Vi Quốc Thanh lên phát biểu. Vi Quốc Thanh mỉm cười, gật đầu đứng dậy bước lên bục phát biểu với giọng nói chắc nịch rõ ràng: “Thưa các đồng chí ! Tại hội nghị này kế hoạch tác chiến mùa đông được Trung ương Đảng Lao động phê chuẩn, Võ Tổng tư lệnh tuyên bố và hai lần phát biểu của đồng chí đều rất tốt, nói rất toàn diện, tôi hoàn toàn tán thành”.

Tiếp đó, đồng chí nêu lên ngắn gọn chủ đề của bài phát biểu lần này: “Trung ương Đảng Lao động quyết định đặt hướng chính của tác chiến mùa đông này ở vùng Tây Bắc, tiêu diệt địch ở Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc, quyết sách này rất đúng đắn”.

Khi phiên dịch tiếng Việt dịch đoạn này, đồng chí liếc nhìn quanh hội trường. Hội trường rất yên lặng. Đồng chí biết mọi người đang chờ nghe đồng chí nói tiếp. Đồng chí không có bài viết sẵn, cũng không có đề cương, nội dung muốn nói hoàn toàn nằm trong đầu đồng chí. Đây là thói quen được rèn luyện từ bao nhiêu năm. Vi Quốc Thanh nói tiếp: “Vùng Tây Bắc tuy núi cao vực sâu, đất đai cằn cỗi, dân cư thưa thớt, nhưng đó là một căn cứ chiến lược quan trọng. Giải phóng hoàn toàn Tây Bắc, thì có thể nối liền với liên khu Việt Bắc lưng dựa vào Trung Quốc, nam tiếp giáp Lào, có lợi cho mở chiến trường Thượng Lào, tiến xuống Trung Lào, Hạ Lào cho đến Cao Miên và Nam Bộ Việt Nam, có thể đập tan mộng tưởng của Navarre âm mưu củng cố hậu phương chiến lược của ông ta, tiến tới tập trung binh lực quyết chiến với chúng ta ở Bắc Bộ. Nếu Mỹ nhúng chân thêm vào Đông Dương, tiến hành can thiệp quân sự thì chúng ta có khu vực xoay sở khá rộng lớn để đọ sức với chúng. Có thể nói, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc là một bước then chốt quan hệ đến phát triển của toàn bộ cuộc chiến từ nay về sau là một bước then chốt đánh bại bọn xâm lược Pháp, đập tan âm mưu can thiệp của đế quốc Mỹ”.

Nói đến đây, đồng chí chuyển đầu đề câu chuyện: “Nghe nói có những đồng chí còn có tư tưởng này nọ đối với việc lên vùng biên cương xa xôi Tây Bắc, Thượng Lào tác chiến, nhấn mạnh khó khăn này nọ. Cho rằng nên đặt lực lượng chủ yếu vào tấn công cứ điểm boong ke của địch ở châu thổ sông Hồng (công sự bê tông cốt thép địch xây xung quanh châu thổ sông Hồng), đánh chiếm vùng châu thổ sông Hồng, mới thực hiện được tổng phản công, giành thắng lợi chiến tranh chống Pháp. Ý muốn của các đồng chí đó rõ ràng là rất tốt. Các đồng chí đó muốn đi đường thẳng, sớm giành thắng lợi kháng chiến. Nhưng con đường này e khó đi lọt. Đây là chỗ mạnh nhất của quân Pháp ở Đông Dương, không chỉ có số lớn bộ đội tinh nhuệ, mà còn giao thông thuận tiện, có lợi cho bộ đội cơ giới hoá của địch vận động. Điều kiện trang bị kỹ thuật hiện nay của Quân đội Nhân dân rất bất lợi cho tiến hành tác chiến công kích quy mô tương đối lớn. Chúng ta đã có bài học kinh nghiệm về mặt này. Tránh chỗ mạnh đánh chỗ yếu, tránh chỗ thực, đánh chỗ hư là một nguyên tắc quan trọng của các nhà quân sự các thời đại trước.

Rất nhiều địa phương Tây Bắc, Thượng, Trung Lào, cho đến Cao Miên và Nam Bộ, Trung Bộ Việt Nam, đều là những vùng phòng ngự của địch mỏng yếu, chúng ta chĩa mũi nhọn tấn công vào những địa phương trên, biến hậu phương chiến lược của địch thành chiến trường mới thì có thể điều động địch, phân tán lực lượng cơ động của địch, không ngừng tiêu diệt và tiêu hao địch, từ đó thay đổi hơn nữa tình thế chiến lược của địch, tạo điều kiện cuối cùng tấn công đánh lấy đồng bằng sông Hồng. Thưa các đồng chí đó là con đường quanh co khúc khuỷu, nhưng nó là con đường tất yếu để đi đến thắng lợi cuối cùng”.

Tiếp đó, Vi Quốc Thanh nói đến kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc: “Cách mạng Trung Quốc đã đi con đường quanh co khúc khuỷu như thế. Căn cứ địa Tỉnh Cương Sơn và căn cứ địa Trung ương lấy Thụy Kim làm trung tâm do Mao chủ tịch lãnh đạo mở ra đều ở vùng núi xa xôi, nghèo nàn giáp giới mấy tỉnh. Năm 1935, Hồng quân trải qua cuộc Trường chinh hai vạn năm nghìn dặm đến Thiểm Bắc thành lập khu Thiểm Cam Ninh lấy Diên An làm trung tâm. Nơi đây là cao nguyên hoàng thổ, đất đai cằn cỗi, nhân dân nghèo khó, nhưng Mao chủ tịch, Trung ương đảng ở Diên An 13 năm liền, ở đây lãnh đạo toàn bộ cuộc chiến tranh chống Nhật và chiến tranh giải phóng thời kỳ đầu, về sau chỉ cần thời gian hơn một năm đã đánh bại Tưởng Giới Thạch, giành thắng lợi trong cả nước. Đó là con đường thành công nông thôn bao vây thành thị, cuối cùng đánh lấy thành thị”.

Vi Quốc Thanh tiếp tục nói: “Kháng chiến của Việt Nam cũng đi con đường như thế. Theo bố trí tác chiến mùa Đông năm nay của Trung ương Đảng Lao động VN, quyết định vạch ra chính là thể hiện cụ thể con đường này, giải phóng Tây Bắc trước, rồi tiến quân sang Thượng Lào và từng bước tiến xuống Trung – Hạ Lào, cho đến Cao Miên và Nam Bộ, ở đấy làm cho chúng đảo điên nghiêng ngả, làm cho Navarre một ngày cũng không được yên, không thể không phân tán binh lực cơ động của y, như vậy sẽ xuất hiện rất nhiều cơ hội tiêu diệt địch, có thể từng bước làm suy yếu địch, làm cho mình mạnh lên cải thiện trang bị kỹ thuật của Quân đội Nhân dân, nâng cao tố chất quân chính của bộ đội. Đến lúc đó, có thể chắc chắn tiêu diệt địch ở đồng bằng sông Hồng, giành thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến”.

Cuối cùng, Vi Quốc Thanh nói: “Thưa các đồng chí! Được sự ủng hộ đế quốc Mỹ, Navarre đang từng bước thực thi, ông ta được Mỹ viện trợ nhiều hơn, tăng cường trên trăm tiểu đoàn quân nguỵ, tổ chức hơn 80 tiểu đoàn bộ đội cơ động, đang tiến hành càn quét qui mô lớn tại các vùng chiếm đóng ở Nam bộ, Trung bộ và Bắc bộ và chuẩn bị tiến vào vùng giải phóng. Mấy ngày gần đây, Navarre lại cho lính nhảy dù xuống Điện Biên Phủ, khí thế hung hăng. Nhưng y mừng quá sớm. Sắp tới đây cuộc tấn công chúng ta bắt đầu thì sẽ đánh cho hắn không kịp trở tay, rối loạn lung tung, hết phương ứng phó. Nếu Navarre kiên quyết giữ Điện Biên Phủ, tất nhiên cũng không thoát khỏi số phận bị tiêu diệt. Mà điều đó phải dựa vào người chỉ huy các cấp chỉ huy tài tình, dựa vào cán bộ chiến sĩ bộ đội anh dũng thiện chiến. Chúng tôi tin tưởng các đồng chí dũng cảm gánh vác nhiệm vụ nặng nề này. Chúng tôi xin chúc các đồng chí thắng lợi dễ dàng, mã đáo thành công”.

Phát biểu của Vi Quốc Thanh thỉnh thoảng nổi lên từng tràng vỗ tay nhiệt liệt. Ý kiến sâu sắc, phân tích thấu đáo đó của Vi Quốc Thanh không thể không làm cho các đồng chí có tư tưởng này nọ chân thành cảm phục. Buổi nói chuyện của đồng chí Vi Quốc Thanh có tác dụng tích cực thống nhất tư tưởng cán bộ cao cấp quân đội Việt Nam. Sau khi kết thúc hội nghị quân sự, Vi Quốc Thanh được biết quân Pháp tiếp tục tăng viện cho Điện Biên Phủ, gấp rút xây công sự, mở sân bay, tích trữ vật tư, đồng thời tăng 6 tiểu đoàn cho Thượng Lào, đánh chiếm các nơi Mường Khè, Mường Khay, v.v.. xây dựng phòng tuyến sông Mã  để tiếp ứng cho quân đóng giữ Điện Biên Phủ.

Dấu hiệu bọn địch cố giữ Điện Biên Phủ là rất rõ ràng. Sau khi Vi Quốc Thanh và Võ Nguyên Giáp bàn tính, quyết định điều chỉnh kế hoạch tác chiến tiến lên Tây Bắc. Chia toàn bộ cuộc tác chiến Tây Bắc làm hai bước: đánh Lai Châu trước, đánh Điện Biên Phủ sau. Đồng thời quyết định điều thêm bộ binh, trọng pháo, cao xạ pháo, công binh v.v.. dự trù vật tư tác chiến để bảo đảm nhu cầu tấn công Điện Biên Phủ. Vi Quốc Thanh điện báo kế hoạch điều chỉnh cho Quân uỷ Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Quân uỷ Trung ương lập tức trả lời tán thành và đồng ý giải quyết vấn đề cung cấp vật tư cần thiết cho tấn công Điện Biên Phủ.

Ngày 6/12, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao động VN triệu tập hội nghị, thảo luận quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, phê phán kế hoạch tác chiến nói trên của Tổng Quân uỷ và quyết định thành lập Đảng uỷ và Bộ chỉ huy tiền phương Điện Biên Phủ do Võ Nguyên Giáp làm Bí thư và Tổng chỉ huy. Sau khi kết thúc hội nghị, bộ đội chủ lực QĐNDVN lần lượt tiến vào vùng tác chiến đã định. Trên đường hành quân lên Tây Bắc, đại đoàn 316 được biết bọn địch ở Lai Châu ngày 7/12 rút về Điện Biên Phủ, lập tức tuân theo mệnh lệnh của Bộ chỉ huy tiền tuyến truy kích bọn địch, lần lượt tiêu diệt tổng cộng 24 đại đội. Tàn quân địch chạy về Điện Biên Phủ toàn bộ vùng Lai Châu được giải phóng. Tiếp đó, Bộ chỉ huy tiền phương QĐNDVN ra lệnh cho các đại đoàn 316, 308 tiến xuống phía Nam bao vây Điện Biên Phủ.

Trung đoàn 66 đại đoàn 304 tiến xuống phía Tây dọc quốc lộ 8 và trung đoàn 101 đại đoàn 325 thiếu một tiểu đoàn được đưa xuống Hạ Lào tiến xuống phía tây dọc quốc lộ 12, ngày 21, 22 tháng 12 lần lượt tấn công cứ điểm của địch ở Trung Lào, trong mấy ngày ngắn ngủi, tiêu diệt hơn 3 tiểu đoàn cơ động Âu – Phi, tất cả hơn 2200 tên. Quân địch ở Trung Lào khiếp đảm kinh hoàng, bỏ trận địa lũ lượt tháo chạy. Bộ đội Việt Nam rất nhanh tiến đến quốc lộ 13 và sông Mêkông. Lúc này bọn địch ở Thà Khẹt, tỉnh lỵ của Khăm Muộn bỏ chạy về phía nam. Quân đội nhân dân lập tức giải phóng Thà Khẹt và phần lớn vùng Trung Lào, buộc quân Pháp nhanh chóng điều động binh lực tăng viện cho Trung Lào, xây dựng tập đoàn cứ điểm ở Xơ Nua và chiếm lại Thà Khẹt. Sau đó quân đội nhân dân chuyển sang củng cố vùng mới giải phóng và làm đường xuống phía nam, đồng thời thừa cơ xuất binh diệt địch.

Ngày 20/1/1954, quân Pháp dùng binh lực của sáu binh đoàn cơ động mở cuộc tấn công lớn vào Phú Yên của Liên khu 5 Trung Bộ VN, hòng thực hiện mục đích của chúng chiếm toàn bộ Nam Trung Bộ. Liên khu 5 điều động số ít binh lực ứng phó với quân địch chính diện, tập trung 2 trung đoàn chủ lực, theo bố trí sẵn của Bộ Tổng Tham mưu, ngày 24/1 mở cuộc tấn công vào quân địch ở bắc Tây Nguyên. Trận đấu thắng lợi, sau khi tấn công phá liền ba cứ điểm, nhanh chóng mở rộng chiến quả. Bọn địch đóng giữ lũ lượt bỏ chạy. Ngày 5/2, quân đội nhân dân giải phóng thị xã Kontum, tiêu diệt toàn bộ quân địch ở bắc Tây Nguyên. Sau đó tiếp tục tiến xuống phía nam tiến sát quốc lộ 19, và tập kích thị xã Pleiku. Đến đây quân đội nhân dân đã giải phóng 16.000 km2 đất và 200.000 dân. Quân Pháp không thể không ngừng tấn công Phú Yên, cấp tốc điều động binh lực tăng cường lực lượng phòng ngự cho thị xã Pleiku và các cứ điểm ở nam Tây Nguyên để ngăn chặn quân đội nhân dân tiếp tục tiến xuống phía Nam.

Tiểu đoàn tiền trạm của trung đoàn 101 được lệnh tiến xuống Hạ Lào, cuối tháng 1/1954 tấn công Attopeu tỉnh lỵ của Mường May, một tiểu đoàn đóng giữ ở đây bị tiêu diệt hoàn toàn. Quân địch đóng giữ các nơi ở Hạ Lào chỉ có viên chỉ huy là người Pháp, còn lại đều là nguỵ quân Lào, sức chiến đấu rất yếu. Quân đội nhân dân thừa thắng tiến lên, nhanh chóng giải phóng toàn tỉnh Mường May và phần lớn tỉnh Saravan (chiếm khoảng 2/3 tổng diện tích Hạ Lào) và hơn 200.000 dân làm cho nơi đây nối liền với vùng bắc Tây Nguyên Liên khu 5 mới giải phóng, hình thành tình thế chiến lược vô cùng có lợi.

Ban đầu khi nghiên cứu bố trí tác chiến mùa đông, Đoàn cố vấn từng nêu ra đưa một trung đoàn binh lực xuống Hạ Lào. Phía Việt Nam sợ nơi đó thiếu lương thực, bộ đội khó sống, chỉ đưa 1 tiểu đoàn, không ngờ 1 tiểu đoàn này lại giành được thành tích chiến đấu như vậy, thương vong lại rất ít, cung cấp lương thực cũng hoàn toàn không có vấn đề gì. Điều đó làm cho Võ Nguyên Giáp tăng thêm lòng tin ra lệnh điều động thêm đoàn bộ trung đoàn 101 và 1 tiểu đoàn khác đang hoạt động ở Trung Lào xuống Hạ Lào, để tăng cường sự lãnh đạo thống nhất đối với lực lượng vũ trang Hạ Lào, giúp chính phủ kháng chiến Lào xây dựng chính quyền, củng cố vùng mới giải phóng và tiếp tục phát triển xuống phía Nam.

Vi Quốc Thanh tán thành chủ trương này. Sau khi trung đoàn 101 đến Hạ Lào, tiếp tục tiến quân xuống phía nam, giải phóng vùng đồng bằng Cao Miên bao gồm VeunSai và SiemBang, nối liền vùng này với vùng mới giải phóng Hạ Lào. Trong thời gian này, một bộ phận chủ lực QĐNDVN ở địch hậu đồng bằng Bắc Bộ, Trung – Nam Bộ phối hợp với bộ đội địa phương dân quân; du kích tích cực bắt đầu chống càn quét, và chủ động đánh địch, nhổ các cứ điểm của địch, phá đường giao thông và cơ sở quân sự, đạt được thắng lợi không nhỏ.

Tấn công mùa đông của QĐNDVN đạt được thắng lợi rất lớn: vùng Tây Bắc trừ ốc đảo Điện Biên Phủ đã hoàn toàn được giải phóng với binh lực có hạn, trong một thời gian rất ngắn, đã giải phóng một vùng rộng lớn bắc Tây nguyên, Trung, Hạ Lào và đồng bằng Cao Miên có ý nghĩa chiến lược quan trọng, tiêu diệt được rất nhiều quân địch, thu được số lớn vật tư quân sự, cơ bản thực hiện được kế hoạch khai thông tuyến giao thông chiến lược Nam- Bắc Đông Dương, kiểm soát đông tây đường số 6, 7, 8, 9, 12, 19 của VN thông sang Trung, Hạ Lào và Campuchia đến quốc lộ 6. Tuyến giao thông của quân Pháp hầu như bị cắt đứt toàn bộ. Điều đó làm rối loạn hoàn toàn bố trí chiến lược của Navarre, buộc ông ta không ngừng phân tán binh lực cơ động, ứng phó bị động, mệt bở hơi tai, làm cho kế hoạch quân sự của ông ta giải quyết vấn đề Đông Dương nam trước bắc sau trở thành bong bóng. Điều đó đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi về chiến lược cho quân đội nhân dân giành thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ.

 Vu Hoá Thầm

(đăng trong Thượng tướng phong vân lục
Đại Bách Khoa toàn thư xuất bản năm 2000)

Tổng thống Giscard d’Estaing trao Bắc đẩu bội tinh cho trung tướng Marcel Bigeard tháng 9-1974 trên sân điện Invalides nơi an nghỉ của Nã Phá Luân.

Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 3 Biệt Cách Nhảy Dù Thuộc địa (3e BCCP): Hàng đầu bìa phải là đại úy tiểu đoàn trưởng Paul Cazeau chết trong trại tù Cộng sản. Bìa trái là đại úy Nguyễn Văn Vỹ sẽ là chỉ huy trưởng Quân trường Quang Trung rồi Tổng cục trưởng Tổng cục Quân huấn, rồi Tổng trưởng Quốc phòng giai đoạn 1966-1969. Sau 75 tướng Vỹ bị tập trung cải tạo. Đồng đội cũ, Marcel Bigeard, là đại đội trưởng tiền nhiệm, khi trở thành thứ trưởng quốc phòng sẽ can thiệp cho tướng Vỹ sang Pháp trị bệnh. Tướng Vỹ mất tại quân y viện Begin năm 1981. 

Trung tá Marcel Bigeard trên đại lộ Champs Elysées 1957. Binh chủng Nhảy dù Thuộc địa đội bérét đỏ khác với Nhảy dù Lê dương đội bérét xanh lục.

Bộ chỉ huy Nhảy Dù trong khu vực Claudine không trên đồi Éliane 2 (là đồi A1).

Những Người Tù Cuối Cùng

Phạm Gia Đại

Post by Sơn râu 3 Jun 2024

Phần 18

Người Tù Bất Khuất

(Kính dâng lên anh linh của anh Cả chúng tôi là Phạm Gia Quang, khóa 20 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt và dâng lên anh linh của em họ tôi Trung Úy Công Binh Kiến Tạo Tạ Mạnh Cường, người tù bất khuất.)

Đất nước chúng ta trải qua bốn ngàn năm văn hiến đã thành tựu trong việc gầy dựng lên một quốc gia hùng mạnh và đầy sức sống mãnh liệt cũng như trong công cuộc giữ nước đã bảo vệ được đất đai của tổ tiên chống lại không biết bao nhiêu lần ngoại xâm từ phương Bắc.

Chúng ta đã có những triều đại lẫy lừng như Đinh, Lê, Lý, Trần với những nền văn minh rực rỡ và mỗi khi tổ quốc lâm nguy thì lại xuất hiện nhiều anh hùng hào kiệt để giải nguy và cứu nước.

Bình Định Vương Lê Lợi với mười năm nằm gai nếm mật để đánh đuổi quân Minh và phục hồi giang san lấy lại Thăng Long thành.

Vua Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thuật chuyển quân thần tốc đã đại phá quân Thanh chiếm lại kinh đô trong hào quang ngời sáng.

Vua nhà Trần với quốc sư Trần Thủ Độ, với danh tướng như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, đã ba lần bẻ gẫy mộng xâm lăng của quân Mông Cổ làm rạng danh đất Việt và làm quân thù thất kinh hồn vía.

Lý Thường Kiệt đã xuất quân chinh phạt Tống và chiếm ba Quận phía Nam Trung Hoa viết nên trang sử vàng cho dân Việt.

Nhưng qua thế kỷ Hai Mươi thì vận nước bắt đầu suy vong và ngày 20-7-1954, Hiệp Định Genève đã chia cắt Việt Nam thành hai miền Nam Bắc qua vĩ tuyến 17 và hàng triệu người đã phải bỏ lại quê hương đất Bắc sau lưng mà di cư vào miền Nam lánh nạn Cộng Sản.

Một chế độ Tự Do đã dần dần hình thành một cách vững mạnh trong miền Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cũng dần dà trưởng thành trong khói lửa của chiến tranh vì Miền Bắc theo chế độ Xã Hội chủ Nghĩa, đã theo mệnh lệnh của Cộng Sản Quốc Tế Nga – Tầu, lại xua quân qua vùng Phi Quân Sự để tấn công miền Nam, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Genève vừa ký kết.

Khi ấy trong miền Nam đang vui hưởng cảnh thanh bình và an lạc nhưng các chàng trai, các thanh niên đã lần lượt phải giã từ bút nghiên lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của núi sông để bảo vệ nền Tự Do cho miền Nam chống lại họa Cộng Sản muốn nhuộm đỏ cả giải đất hình chữ “S”.

Họ đã trở thành những người lính, những sĩ quan tài giỏi thao lược và trở thành những anh hùng lưu danh muôn thủa trong các binh chủng của QLVNCH, nối gót cha ông và nối gót tiền nhân, đi trên khắp các nẻo đường của đất nước để bảo vệ quê hương chống họa xâm lăng từ phương Bắc.

Hầu như gia đình nào cũng có con em nhập ngũ trong những năm đầu của thập niên sáu mươi tại Sài Gòn và khắp các tỉnh miền Nam.

Gia đình tôi có chín anh em không kể “con bé dại”, Mẹ tôi vẫn gọi đứa em gái vắn số của tôi như vậy khi nó mất đi mới có vài tháng tại Hải Phòng lúc đó tôi nhớ còn ở đường Cát Dài chưa dọn về Cầu Đất.

Tôi tuy sanh đẻ tại Nam Định nhưng trong ký ức không còn nhớ gì về thành phố nơi chôn nhau cắt rốn này của mình, bởi mới sanh ra thì Ba Mẹ tôi đã đi tản cư liên miên ra khỏi Nam Định vì các thành phố lớn đều là mục tiêu cho các cuộc tấn công và phá hoại của Việt Minh và giao tranh của Pháp-Nhật tại Đông Dương. Người dân lành chỉ còn biết trốn chạy lúc thì trốn Việt Minh, lúc thì trốn quân phiệt Nhật để qua vùng Pháp kiểm soát, lúc thì trốn các cuộc giao tranh giữa Pháp – Việt Minh, thật vô vàn cơ cực.

Thành phố Hải Phòng là nơi thiếu thời của tôi và ba ông anh lớn và là nơi mà tôi còn ghi lại được nhiều kỷ niệm, nhất là những năm tháng theo học tại trường Dòng Saint Joseph. Hai đứa em út thì sanh trong Nam nhưng ba em gái tôi sanh tại miền Bắc lúc đó cũng quá nhỏ nên tôi không nhớ tụi nó nhiều hay có nhiều kỷ niệm như với ba ông anh trai.

Bốn anh em trai lớn trong gia đình tôi mà Ba Mẹ đặt tên Quang, Minh, Chính, Đại, thực tế thì tính tình lại không giống nhau và có những cuộc đời cũng khác nhau dù là cùng một cha một mẹ.

Ông anh Cả thì hiền lành và đạo đức nhưng có khuynh hướng thiên về quân sự ngay từ nhỏ khi thích bầy binh bố trận với các tên lính bồng súng và các xe jeep bằng thiếc mà Ông Nội tôi đúc cho và anh cũng rất say mê họa các hình võ tướng ngày xưa như vua Quang Trung, Lê Lợi , Trần Hưng Đạo với áo mão gươm đai.

Ông thứ Hai thì tinh khôn trước tuổi và có lẽ lấy hết sự khôn lanh của ông anh đầu, có lẽ vậy mà sau này khi di cư vô Nam mới hai mươi tuổi đã lấy vợ và sống tự lập từ khi vừa xong hai cái Tú Tài ở Trung Học Võ Tánh, Nha Trang.

Ông thứ Ba thì trầm tĩnh hơn, khôn ngoan và chín chắn hơn trong bốn anh em, có vẻ như già trước tuổi mà hồi bé tôi vẫn gọi anh là “ông cụ non”. Cũng không ngờ là “ông cụ non” ấy sau này lại là thủ khoa của khóa 13 sĩ Quan Hải Quân Nha Trang.

Khi anh đậu thủ khoa thì một số người ngạc nhiên bởi lẽ trong khóa 13 có một anh là cháu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nên ai cũng nghĩ rằng anh này, vì con ông cháu cha, sẽ là thủ khoa. Nhưng xét lại điểm thì anh Ba tôi hơn anh kia đến 27 điểm, quá xa để có thể thay đổi thứ bậc được và đây cũng là một điệm son của chế độ VNCH chúng ta, khác hẳn chế độ Cộng Sản mọi việc đều do chỉ định theo giai cấp và đảng tịch chứ không do tài cán.

Còn tôi khi di cư vào Nam mới lên chín tuổi và tính vốn hiền và nhút nhát từ nhỏ nên bảo sao làm vậy là yên thân và được Ba Mẹ khen ngoan chứ không hay bị la rầy vì nghịch ngợm như ông anh thứ Hai.

Ba Mẹ tôi cứ nói là ông anh thứ Hai lanh quá nên lấy hết cái khôn ngoan của ông anh Cả rồi nhưng không ngờ khi lớn lên thì ông anh Cả lại nổi danh hơn nhiều so với ông thứ Hai dù là cả hai anh em đều là sĩ quan phục vụ cho Sư Đoàn 5 Bộ Binh đóng tại Lai Khê, Bình Dương.

Khi chúng tôi lớn lên thì vận mệnh đất nước nổi trôi lại đưa bốn anh em tôi đi theo bốn con đường khác nhau, ngay sau khi mỗi người vừa đỗ xong bằng Tú Tài toàn phần.

Anh Cả sau một thời gian vài năm đi dậy học các trường tư thục tại Sài Gòn thì tình nguyện vào trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt khóa 20 và trong thời gian thụ huấn anh có biệt hiệu là “Quang Râu” vì có bộ râu quai nón đẹp rất là con nhà võ. Anh tôi đã theo chân cậu em họ là Tạ Mạnh Huy đang theo học khóa trước là khóa 19.

Ông thứ Hai vào ngành Quân Y và thuyên chuyển về Sư đoàn 5 Bộ Binh tại Bình Dương để lo về y tế cho các thương bệnh binh hay cùng hành quân với tiểu đoàn. Một vài người lính của anh tôi về phép Sài Gòn ghé lại nhà chơi thường cười nói với Mẹ tôi là ông Trung Úy Minh, tên anh Hai tôi, bây giờ “ngon” rồi chứ lúc đầu ông ấy thấy máu là muốn xỉu à, vậy thì làm sao mà cấp cứu thương binh?

Ông thứ Ba vào khóa 13 sĩ quan Hải Quân Nha Trang và vui với những chuyến hải hành lấy biển khơi làm nhà, ít có dịp lên “Bờ”.

Có một thời gian anh tôi phục vụ trong đoàn Biệt Hải phối hợp với toán người Nhái oai hùng của HQVN để thi hành những hải vụ nguy hiểm tại vùng Phi Quân Sự làm cho Mẹ tôi nhiều khi cũng ăn ngủ không yên, nhưng làm sao được vì người trai trong thời loạn ly lúc đó thì chỉ có một chí hướng duy nhất là chống lại sự xâm lăng của đám vô thần cuồng tín Cộng Sản Bắc Việt để giữ vững miền Nam bằng mọi giá.

Anh Ba tôi những khi từ Nha Trang về phép Sài Gòn và khi ngồi ăn trong không khí ấm cúng của gia đình vừa nhấm nháp các món ăn mà Mẹ và các em gái tôi nấu, thường hay kể về người Nhái HQVN với giọng nể phục.

Anh kể về những trận đánh hầu như huyền thoại, về các cuộc hành quân chớp nhoáng rồi rút lui của toán Biệt Kích người Nhái này mà ít khi nói về đoàn Biệt Hải của anh, nhưng tôi ngầm hiểu rằng anh tôi cũng là những sĩ quan đã tham dự trong các trận chiến âm thầm nhưng vô cùng hiểm nguy với cái chết và cái sống chỉ cách nhau gang tấc đó nữa nhưng anh không kể ra vì sợ Mẹ lại lo buồn.

Vì từ khi Ba tôi mất thì Mẹ tôi đã ở vậy nuôi con lúc mà cậu em út của tôi mới lên một, và tất cả tình thương thì Mẹ đã hết dành cho chúng tôi dù là hầu như các con đều đã lớn. Ngược lại thì anh em chúng tôi cũng dồn tình yêu thương dành cho Mẹ và luôn làm vừa lòng cũng như tránh làm gì cho Mẹ phải lo nghĩ.

Các anh tôi nhất là anh Cả và anh Ba luôn hiếu thảo, mỗi tháng lãnh lương xong là anh Cả cho vài người lính về phép để ghé nhà đưa hầu như toàn bộ số lương cho Mẹ tôi. Anh Ba thì trong thời gian huấn luyện tại trường sĩ quan Hải Quân Nha Trang lãnh lương Trung sĩ một ngàn ba một tháng thì chỉ giữ lại đúng một trăm đồng bỏ túi và trừ các khoản chi phí thì gửi hết phần còn lại về cho Mẹ. Tháng nào tôi cũng đạp xe lóc cóc ra Bưu Điện Sài gòn để lãnh tiền lương anh gửi về và những dịp Tết, Trung Thu thì lại lóc cóc đạp xe ra Bưu Điện để gửi bánh trái ra Nha Trang cho anh.

Nhưng có điều tôi ít ngờ tới là cuộc đời tôi và anh Cả tôi lại có những thời gian gắn bó bên nhau trong những năm tháng lưu đầy nơi đất Bắc sau khi mất miền Nam.

Tôi lớn lên trong thành phố Sài Gòn hoa lệ. Sài Gòn là thủ đô miền Nam nhưng với tôi Sài Gòn là tất cả, là thời niên thiếu, là thời hoa niên học trò tại trường Trần Lục, Tân Định, là Chu Văn An trong Chợ Lớn, là nơi tôi đã trưởng thành trên con đườngTrương Minh Giảng thân thương với rạp hát Văn Lang gần bên, trường Lê Bảo Tịnh trước cửa, là nhà cô ruột tôi với các cậu em họ trong ngõ hẻm bên cạnh, và quá nhiều kỷ niệm.

Trước khi thi Tú Tài, tôi cũng theo anh Cả đi dậy kèm các trẻ em tư gia để kiếm thêm giúp cho Mẹ. Cho đến lúc đỗ Tú Tài toàn phần xong thì một hôm, tôi tình cờ đọc một tin trên báo Chính Luận, cái tin tức mà đã hoàn toàn thay đổi cuộc đời sinh viên của tôi.

Đó là Không Quân Hoa Kỳ trong căn cứ Tân Sơn Nhất của KQVN tại Sài Gòn đang cần tuyển nhân viên. Vì muốn giúp cho Mẹ nhiều hơn là đồng lương ít ỏi của kèm trẻ tại tư gia nên tôi tham dự thi tuyển và được tuyển dụng về Phân Đội Sáu của Đệ Thất Không Đoàn, một đơn vị quân báo của không quân Hoa Kỳ.

Tôi bắt đầu bước vào ngành tình báo lúc nào không hay nhưng tôi lại cảm thấy rất thích thú với vịêc làm mới mẻ này của mình vì hai lẽ. Thứ nhất, tôi sẽ giúp cho gia đình vững vàng hơn với số lương tháng đưa về cho Mẹ nhiều hơn, vì sau khi Ba tôi mất thì Mẹ nói là còn nợ nần nhiều với chi phí cho nhà thương Grall bao nhiêu tháng trước kia. Thứ hai là tôi có dịp góp mặt trực tiếp vào công cuộc chống lại họa xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt và diệt trừ lũ Cộng phỉ VC đang ngày đêm đốt phá xóm làng giết hại dân lành.

Trước đó khi nghĩ đến ba anh trai tôi đang xông pha ngoài chiến trận mà mình thì cứ mãi trong học đường làm nhiều lúc tôi cũng không yên trong thâm tâm và mang mặc cảm tội lỗi với cuộc sống quá yên bình tại Sài Gòn.

Nhất là có lần tôi đã đến tham dự buổi khao quân của anh Cả tôi lúc đó là Trung Úy, đại đội trưởng đại đội Trinh Sát của Trung Đoàn 7, Sư Đoàn 5 BB ở Lai Khê về các chiến công lẫy lừng của đại đội Trinh Sát. Những chiến công thì nhiều nhưng nổi bật có thể kể đến trận Ấp Ba, trong đó đại đội đã quét sạch được VC ra khỏi Ấp mà đơn vị không bị một tổn thất nào trong khi tiểu đoàn bạn đã không thể vào nổi mà còn khiêng ra ngoài gần chục lính bị thương; và chuyến nhẩy trực thăng vận xuống mật khu VC phá hủy một căn cư “hậu cần” của địch.

Tôi đã thấy Trung Đoàn Trưởng lúc đó là Trung Tá Lê Nguyên Vỹ lên micro biểu dương chiến công của đại đội Trinh Sát trực thuộc trung đoàn này, gắn huy chương cho các sĩ quan binh sĩ Trinh Sát có nhiều công trận và anh tôi được Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu.

Tôi có dịp nói chuyện với các sĩ quan trẻ tuổi trong đại đội trinh sát và thấy họ thật dễ mến hiền hòa nhưng lại rất dũng cảm hoàn thành được nhiều cuộc hành quân gian khổ mà Trung Đòan giao cho.

Mỗi Trung Đoàn của Sư Đoàn 5 Bộ Binh chỉ có một đại đội Trinh Sát được trang bị với toàn những vũ khí tối tân và được xem như đơn vị tác chiến cơ động với hỏa lực mạnh nhất, thiện chiến nhất và là “con cưng” của Trung Đoàn. Đơn vị Trinh Sát này luôn trong tình trạng ứng chiến và nhận lệnh thẳng từ Ban Chỉ Huy của Trung Đoàn và thường được giao cho những nhiệm vụ khó khăn mà tiểu đoàn bạn không thể thực hiện được.

Vì thế mà anh Cả tôi ít khi thấy về phép mà mỗi tháng chỉ cho hai người lính về Sài Gòn thăm gia đình họ rồi nhân tiện đem tiền lương của anh về cho Mẹ tôi mà thôi. Riết rồi anh Cả tôi không những nổi tiếng trong Trung Đoàn là một cấp chỉ huy không sát quân mà còn là một người con rất hiếu thảo.

Mẹ tôi mỗi tháng khi thấy chiếc xe jeep quân đội ngừng trước cửa hàng, lúc đó Mẹ tôi đã chuyển qua bán quần áo trẻ em, trên đường Trương Minh Giảng thì lại phập phồng lo sợ cho đến khi hai người lính nói là ông đại đội trưởng gửi lương tháng về cho Mẹ.

Thời gian đó, tôi thấy một niềm tự hào không những về anh mình mà về cả đại đội trinh sát thiện chiến của anh, về Trung Đoàn 7 BB, về Sư Đoàn 5 BB và cả về QLVNCH nữa đang trải rộng những hành quân ngày đêm ra trên khắp bốn vùng chiến thuật trong công cuộc tiễu trừ Cộng phỉ này ra khỏi miền Nam.

Bởi thế nên tôi đã quyết định dấn thân và và lao mình vào làm việc với hơn năm năm trời cho Phân Đội Sáu của không quân HK.

Tôi bay đi về từ Sài Gòn ra Đà Nẵng thường xuyên để cùng phối hợp với các đơn vị quân báo VN của Quân Đoàn I. Những khi ở Sài Gòn thì tôi cùng Phân Đội này ghé lại làm việc tại Trung Tâm Chiêu Hồi Thị Nghè để phối hợp thêm tin tức về những hoạt động của VC trong vùng của Ba Chiến Thuật.

Trong thời gian này tuy tôi dồn hết nỗ lực vào làm việc cho Phân Đội Sáu nhưng vẫn không quên việc học vấn nên cố theo học ban Cử Nhân Anh Văn tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn dù gập rất nhiều khó khăn vì không thể đến trường thường xuyên.

Số tôi luôn có quí nhân phù trợ hay sao cho nên có một anh bạn thân thời học chung trường Chu Văn An là Nguyễn Đình Phương đã lấy dùm “cua” cho tôi đầy đủ và năm đó không hiểu có sao may mắn chiếu vào hay không mà tôi đậu luôn hai chứng chỉ Văn Minh VN khóa I và đậu Văn Chương Văn Minh Mỹ khóa II.

Có một kỷ niệm mà tôi không quên được là khi tôi vừa xong một chuyến công tác ra Đà Nẵng, khi bay về Sài Gòn thì ngày hôm sau phải vào vấn đáp cho chứng chỉ Văn Chương Văn Minh Mỹ.

Hai giáo sư theo như sinh viên thì thầm thì đều khó như nhau. GS Diệm thì nhớ mặt các SV thường xuyên tới lớp và GS người Mỹ thì “quay” SV tối tăm mặt mũi lại về các tiêu thuyết phải đọc trong chương trình.

Một SV lên trước tôi là người mà không hề vắng mặt thì lại bị thầy Diệm hỏi là sao tôi không thấy anh đến lớp bao giờ và bị đánh trượt oan mạng. Khi tôi có tên lên kế tiếp thì chắc mẩm là sẽ ăn một quả trứng to tướng vì tôi chẳng hề đến lớp thầy bao giờ nhưng thật lạ lùng là thầy hỏi thẳng vào cuốn tiểu thuyết The Scarlet Letter như vậy là tôi trúng tủ vì học quyển này rất kỹ.

Đến khi qua phòng bên vào vấn đáp với GS Mỹ thì chính ông này lại hỏi là tôi có thường đến lớp hay không mới lạ chứ? Tôi bèn trình bầy sự thật là vì chiến tranh đang lan rộng và tôi đang phục vụ cho Phân Đội Sáu, một đơn vị Quân Báo của Đệ Thất Không Đoàn HK, nên không thể có mặt được thường xuyên. Nhưng nếu mà GS thông cảm cho tôi 10 điểm thì tôi sẽ chắc chắn đậu chứng chỉ này và tôi hứa sẽ thu xếp thời gian để có mặt tại giảng đường nhiều hơn.

Chả hiểu ông bà phù hộ hay sao mà ông GS Mỹ này cho tôi đúng 10 điểm như yêu cầu.

Quả là học tài thi phận. Mẹ tôi có dịp lại khen tôi trước mặt các bà bạn của Mẹ hay với các chị đang giúp may vá trong nhà là tôi học giỏi vì vừa đi làm vừa đi học nữa mà được như vậy. Riêng tôi khi gặp mấy cô bạn của các em gái tôi thì có vẻ hơi làm cao một tí.

Thế rồi chiến sự bùng nổ ra khắp bốn vùng chiến thuật. Sau hai lần VC mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 thì tôi cảm thấy người Mỹ hình như đang muốn rút bớt quân số của họ đang tham chiến tại miền Nam về nước.

Một hôm trong năm 1969, các người bạn Mỹ trong Phân Đội Sáu nói với tôi là họ đang chuẩn bị rời VN và muốn giới thiệu tôi qua Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn.

Tôi đến Tòa Đại sứ Mỹ nộp đơn để tham dự một kỳ thi và trúng tuyển vào làm cho họ nhưng cũng có duyên nghiệp với ngành tình báo hay sao, cho nên từ Tòa Đại Sứ họ chuyển chúng tôi gồm 27 nhân viên qua yểm trợ cho Phủ Tổng Thống, nhưng nhiệm sở thực tế lại là Phủ Đặc Ủy Trung ương Tình Báo (PĐUTƯTB) trực thuộc Phủ Tổng Thống.

Chính vì thế mà sau khi miền Nam sụp đổ, tôi thường hay bị giam chung với các người tù thuộc các ngành ANQĐ, CSĐB hay PĐUTƯTB, hay Quân Báo.

Trong chế độ VNCH trước kia của chúng ta, có rất nhiều các quân dân cán chính tài giỏi và anh hùng, không những khi đối mặt với quân thù ngoài trận tuyến nhưng ngay cả khi họ sa vào trong ngục tù, và lưu đầy, họ cũng âm thầm chịu đựng một cách can trường mọi sự trả thù tàn nhẫn và phi nhân bản mà kẻ thù dành cho họ.

Thời gian lưu đầy ở ngoài Bắc có một dịp tôi được gặp những người Biệt Kích nhẩy toán ra Bắc thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Các anh đều sống rất kỷ luật, vẫn tôn trọng cấp bậc quân đội, và buồng giam đều giữ sạch sẽ ngăn nắp. Khi ngồi tâm sự với nhau, các anh cũng nói tới cái niềm đau không thể diễn tả được khi nghe tìn Sài Gòn đã mất ngày 30-4-1975.

Lần đầu tiên, nhiều anh đã không còn cầm được nước mắt vì chính trong thâm tâm các anh cũng như đồng bào miền Bắc đều trông đợi một ngày nào đó QLVNCH trong Nam sẽ ra giải phóng miền Bắc và các anh sẽ thoát cảnh tù đầy rồi trở về mái nhà xưa; nhưng tất cả đã hoàn toàn sụp đổ một cách chua cay và đen tối.

Khi nước mất thì nhà tan, ngoài anh Ba tôi được cử đi tu học một khóa HQ tại Rhode Island, HK và gia đình vợ con anh qua cơ quan D.A.O đã đi thoát được trước ngày Sài Gòn sụp đổ thì ba anh em tôi còn lại đều vào tù.

Bên gia đình cô Hanh là em út của Ba tôi với tám trai bốn gái thì bẩy con trai đã trong quân đội và năm người đi “cải tạo” sau ngày 30-4, chỉ trừ một cậu là hạ sỹ quan, và một cậu nữa giải ngũ thì tránh được cảnh ngục tù, còn cậu út thì được miễn dịch.

Nhà Mẹ tôi thì ngoài mặt đường Trương Minh Giảng, nhà cô tôi thì trong hẻm nhưng chỉ cách nhau vài trăm thước nên bốn anh em trai chúng tôi rất thân với các cậu em họ dù là vài anh lớn tuổi hơn chúng tôi nhiều. Trong những năm của thập niên sáu mươi thì hai gia đình từ từ vắng người dần bởi các anh tôi và các em họ tôi đều đã lần lượt nhập ngũ vào Thủ Đức hay Đà Lạt.

Mẹ tôi vẫn nói là cô ruột tôi rất là can đảm vì một lúc mất đến bốn người con trai sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản.

Anh Hải là anh lớn thì sau hai năm “cải tạo” đã trốn được ra khỏi trại giam ở trong Nam và trốn vào rừng nhưng mất tích và không nghe tin tức gì từ đó. Điều lạ lùng là một thời gian cả chục năm sau, có lần tôi lại nằm mơ thấy anh y như lúc anh còn sống, và anh dắt tôi vào trong một khu rừng rồi chỉ vào một gốc cây rồi nói với tôi rằng: “Đại ơi! Tôi ở chỗ này này”. Gốc cây ấy to như gốc cổ thụ và phát ra nhiều ánh sáng vàng nhạt trong khi những thân cây khác ở chung quanh thì mờ mờ trong bóng tối làm cho tôi tin rằng anh đã mất tại gốc cây này và đã hiển linh.

Khi tỉnh dậy tôi nhớ giấc mộng đó như in và thông báo cho gia đình bên cô tôi biết mà làm ma chay cho anh bởi lẽ cô tôi nhất định tin rằng anh đã trốn được qua Thái Lan dù là hơn mười năm đã trôi qua không hề có một chút tin tức nào về anh.

Anh thứ tư là Trường và thứ sáu là Linh thì mất tích và chết trên biển trên đường đi tìm Tự Do sau khi ra khỏi trại giam vài năm.

Anh Trường chết trong tình trạng rất là tội nghiệp vì khi ra tù thì anh nguyện ăn chay trường cho nên khi con thuyền lênh đênh trên biển nhiều ngày và hết lương thực, mọi người vớt được cá và sống sót nhưng anh nhất định không chịu ăn cá và nhịn đói – anh là người duy nhất thiệt mạng trên chuyến tầu đó.

Nhưng câu chuyện về anh Cường là con thứ ba của cô ruột tôi mới là câu chuyện bi thương và hùng tráng nhất của một người tù bất khuất đã có những hành động phi thường làm cho kẻ thù phải khiếp đảm.

Anh Cường, Tạ Mạnh Cường từ nhỏ đã ưa thích võ nghệ nên được cô chú tôi cho đi học võ cùng với người em là Tạ Mạnh Trường tại võ đường của Tổ Sư Lộc người sáng lập ra môn phái Vovinam ở Hà Nội.

Tôi nhớ lúc đó tôi mới năm tuổi cùng ba ông anh tôi được Ba Mẹ cho lên chơi Hà Nội ở nhà cô tôi ba tháng Hè. Anh Cường đã huấn luyện võ cho chúng tôi với thế tập đầu tiên là lộn mèo qua lưng một người khác trước khi có thể tập tự mình tung người lên trên không và lộn một vòng. Các anh thì đều tập được nhưng tôi có lẽ còn quá nhỏ và không có năng khiếu võ thuật hay sao mà lộn hoài không xong. Lúc ấy anh Cường thường nhìn tôi mỉm cười lộ chiếc răng vàng ra và cho tôi miễn tập làm cho tôi vô cùng khoái chí vì “ông thầy”không phạt mình.

Anh kể rằng Tổ Sư Lộc võ nghệ uyên thâm không biết đâu mà lường và là người mà lần đầu tiên trong đời anh thấy Tổ Sư chỉ ngồi tại bàn giấy và nghe tiếng gió mà tránh hết các đòn tấn công của học trò đứng chung quanh.

Anh Cường khi di cư vào Nam thì đã lên đẳng cấp Võ Sư và tôi đã có dịp hân hạnh được xem anh và phái đoàn Vovinam biểu diễn tài nghệ tại rạp Thống Nhất lúc đó tên là rạp Norodome tại Sài Gòn vào khoảng năm 1956. Đặc biệt của môn phái Vovinam là biểu diễn không có nệm tapis như Nhu Đạo hay các môn võ khác mà quật nhau thẳng trên sàn gỗ và dao sử dụng là con dao thiệt.

Dưới khán giả cũng có nhiều môn phái bạn ngồi xem và tôi cũng như tất cả khán giả đều vỗ tay tán thưởng nhiệt liệt khi anh Cường biểu diễn cú chặt bằng cạnh bàn tay đánh rơi con dao của một võ sinh khác đóng vai kẻ cướp tấn công anh và màn anh tung người nhẩy qua một võ sinh để dùng hai chân cặp cổ quật một võ sinh khác.

Võ sinh bị chặt rớt con dao thì cổ tay vẫn còn đau ê ẩm vì anh Cường biểu diễn thật, và võ sinh bị cặp cổ thì dù đã lộn người theo thế quật nhưng sau đó vẫn còn hãi sợ vì chút nữa thì bị trặc cổ.

Tôi thấy vị Võ sư trưởng môn phái Nhu Đạo và nhiều người của môn phái bạn và trong đó có chú bé con là tôi cũng đứng lên vỗ tay hoan hô mấy màn biểu diễn của anh Cường.

Vì hai nhà ở gần nhau nên tôi thường chạy qua nhà cô tôi chơi.

Có lần tôi vừa qua thì thấy cô em họ tôi đang nấp sau cánh cửa, tay cầm cái gáo bằng nhựa định hù anh mình. Khi anh Cường vừa bước chân qua cánh cửa thì cô ta đập cái gáo vào đầu anh Cường để rỡn chơi thôi nhưng phản xạ tự nhiên, anh vung tay lên chém và cái gáo bay tuốt ra sân, còn cô em họ tôi thì mất cả hồn vía ôm mặt khóc hu hu làm tôi không nhịn được cười.

Anh giòng giỏi con nhà võ vì chú ruột của anh có một gánh xiếc lưu diễn khắp miền Bắc qua nhiều tỉnh thành và từ vùng trung du lên cả mạn ngược, thời gian trước năm 1954. Đi đến đâu thì gánh xiếc này cũng đều gặt hái thành công. Gánh xịêc họ Tạ này nổi danh vì ông chú của anh là một người võ nghệ cao cường thường tay không chế ngự được con cọp và điều khiển nó theo ý mình.

Anh như vậy là nối giõi con đường võ nghệ theo chân ông chú chứ Ba của anh thì võ vẽ chẳng biết một tí gì lại rất là hiền lành và chỉ chuyên về buôn bán.

Tuy hai anh em đều theo học cùng lúc với Tổ Sư Nguyễn Lộc nhưng anh Cường tài nghệ giỏi hơn người em cho nên khi vào trong Nam một thời gian sau thì anh Cường được mời làm huấn luyện viên cho Cảnh Sát Quốc Gia tại Sài Gòn.

Tôi nhớ có một lần tụi tôi cũng năm sáu người ra quán Mai Hương góc đường Lê Lợi và Công Lý ngồi ăn kem và nhìn ông đi qua bà đi lại cho vui.

Khi ấy, quán này có một toán cao bồi hay đóng đô tại đây và quấy nhiễu các khách hàng mà chủ quán cũng không dám ho he gì vì sợ chúng phá quán. Bọn chúng đông cũng khoảng chục mạng, tay nào tay nấy ăn mặc quần áo theo kiểu chim cò đúng là dân chơi cao bồi thứ thiệt, và hôm đó không biết chúng ngứa mắt ra sao mà tính qua bàn chúng tôi cà khịa.

Anh Cường vẫn thản nhiên như không, vẫn cười nói với chúng tôi và chỉ ngoái lại bàn phía sau nói với tên đầu đảng cao bồi này anh là Huấn Luyện Viên võ thuật cho Cảnh Sát và muốn hơn thua thì đến Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát.

Nghe đến đó thì chúng lấm lét rồi từ từ dông hết làm cho tôi vừa phục anh vừa khoái chí nữa vì “ông thầy” đã cho bọn chúng một bài học nhưng không cần phải ra tay. Cũng từ đó thì đám cao bồi này dời “đô” đi nơi khác không còn thấy tại quán kem Mai Hương nữa.

Tôi hồi nhỏ ở Hải Phòng thì theo học tại trường Dòng St. Joseph, không biết có phải vì kỷ luật và giáo dục tại trường này rất chặt chẽ hay không mà tính tôi vốn nhút nhát lại càng thêm hay sợ hãi và thiếu tự tin. Chính vì thế mà hồi mới di cư vào Sài Gòn, đi đâu có anh Cường hay các em họ con cô tôi thì tôi rất là yên tâm và tụi tôi thân với nhau nhất vì toàn là con trai và mang tiếng là em họ nhưng các anh ấy đều lớn tuổi hơn tôi nhưng vẫn thân mật gọi tôi bằng “anh” theo đúng lễ giáo ngày xưa.

Bên bác Phán là chị ruột Ba tôi thì ở Hải Dương và gia đình bác lại toàn con gái hay các anh thì quá lớn không thèm chơi với bọn tôi cho nên bốn anh em chúng tôi từ Hải Phòng thường được Ba mẹ mua vé máy bay mỗi dịp Hè để đến thăm cô tôi tại Hà Nội nhiều hơn là xuống Hải Dương. Những lúc như vậy thì có cơ hội tập hợp hết cả lũ con trai với nhau hơn chục đứa và tha hồ nghịch phá bởi cô tôi rất dễ tính và lại hay chiều con cháu.

Thế rồi Hiệp Định Genève di cư vào Nam, bốn anh em trai tôi lại có dịp ở chung một thời gian với các cậu em họ trong nhà cô tôi tại Bến Chương Dương cho đến khi cô tôi dọn về Trương Minh Giảng thì chúng tôi mới tách ra nhưng vẫn giữ tình anh em rất là thân thiết.

Rồi lớn lên, mỗi người vào quân ngũ và bay đi bốn phương trời cho đến ngày mất miền Nam thì tôi, anh Cả tôi và anh Huy là con trai thứ năm của cô tôi bị đưa ra miền Bắc.

Anh Cường, Trường và anh Linh vì là Trung Úy Công Binh và văn phòng nên bị giam giữ tại Suối Máu trong miền Nam. Ít năm sau thì anh Linh và anh Trường được thả về nhưng anh Cường vẫn bị giữ lại dù anh chỉ là Công Binh Kiến Tạo xây dựng cầu đường mà thôi.

Lý do giản dị vì anh là cái gai trong mắt của bọn cán bộ trại bởi tính tình cương trực của anh hay bênh vực đồng đội nên anh bị ghép vào tội chống đối “cải tạo và lao động”.

Những khi họ đọc lệnh thi hành kỷ luật với người tù nào mà anh thấy bất công là anh đứng lên phản đối, đòi lại sự công bằng.

Sau đó họ di chuyển anh về một trại trong vùng Tống Lê Chân gần biên giới Việt-Miên và anh bị giam trong thùng “connex” sau lần bênh vực một người bạn tù.

“Connex” là một loại thùng lớn bằng tôn dầy của quân đội Mỹ trước kia dùng để chứa các kiện hàng di chuyển theo đường biển cho quân đội Hoa Kỳ trong miền Nam.

Cái nắng khủng khiếp của vùng rừng núi nhất là vào giữa trưa như hun đốt anh trong hỏa lò cộng với sự bỏ đói và bỏ khát là một hình thức tra tấn tàn bạo của trại giam mục đích để tiêu diệt ý chí và dũng khí của anh, nhưng anh vẫn không đầu hàng để được thả ra khỏi “connex” sớm hơn.

Các bạn anh bên ngoài đã khôn khéo mua chuộc được mấy tay nhà bếp nên anh đã được cho ăn khá hơn với miếng thịt hay miếng cá nằm dưới ít khoai sắn và họ đã chuyển vào cho anh được cái đinh bù loong mười phân.

Chính cái đinh này đã cứu anh sống sót sau hai tuần giam trong “connex”. Mỗi khi họ cho ít nước hay phần ăn ngày một lần thì khi họ đóng cánh cửa thì anh lại nhét cái đinh này vào khe cửa, nhờ thế mà những trưa Hè nắng như đổ lửa và anh sắp ngạt thở trong cái thùng bít bùng này thì anh bò lại gần khe cửa và ghé mũi sát vào cái khe hở nhỏ xíu đó mà hít được ít hơi mát từ bên ngoài.

Sau hai tuần lễ hành hình trong thùng “connex” anh được khiêng ra ngoài nhưng quả là họa vô đơn chí vì chỉ một thời gian ngắn sau đó thì trực trại kêu anh ra “làm việc” vì anh vẫn nhất định không chịu ký tên vào biên bản nhận “tội” như họ đã viết sẵn.

Các anh em trong buồng đều bảo anh là không nên ra, mỗi người một câu:

-“Cậu cáo ốm ở lại trong buồng thì tụi nó làm gì được?”

-“Giăng mùng lên chui vào ngủ là xong, kệ nó.”

-“Mình cảm thấy lành ít dữ nhiều đó nha, nên cẩn thận.”

Cáo ốm ở lại trong buồng thì anh không thể làm được vì như thế là tỏ ra sợ chúng nó, anh vốn là con nhà võ, hơn nữa lại là võ sư không thể để mất danh dự của môn phái, nên anh không chịu cáo ốm như vậy vả lại anh nói trước sau gì cũng phải đối mặt với họ một lần:

-“Các cậu cứ để tôi ra xem chúng giở trò gì? Mình trong tay nó mà, hôm nay không ra gặp chúng thì ngày mai cũng phải gặp thôi.”

Anh từ từ đi ra ngoài cổng trại chiều hôm đó trong sự lo âu của các bạn tù cũng là các sĩ quan chế độ cũ.

Khi anh ra đến nơi thì thấy tay Thượng Úy chính trị viên đã ngồi sẵn tại bàn với các cán bộ trực trại. Tên Thượng Úy mặt lạnh như tiền đưa tờ giấy cho anh ký nhận “tôi trạng”.

Anh bình tĩnh đưa lại tờ giấy:

-“Tôi không hiểu tôi mắc vào tội gì?”

Tên Thượng Úy đập bàn như hét lên:

-“Anh còn ngoan cố hả, không ký thì bỏ tù cho rũ xương ra.”

Hắn hầm hầm đứng lên và bước ra khỏi phòng trực trại.

Anh chuẩn bị bước ra cửa để vào trại thì mấy tay cán bộ như có dàn cảnh trước đã ngăn anh lại:

-“Chúng tôi còn cần “làm việc” với anh chưa xong.

Anh cảm thấy một cái gì không ổn nhưng đã quá trễ để rút lui và chờ xem chúng giở thủ đoạn gì.

Tay cán bộ vừa dứt lời thì các cửa sổ được đóng kín lại chỉ chừa có cửa ra vào là còn mở và từ ngoài bất ngờ hàng chục cán binh mang theo gậy gộc và thanh sắt xông vào phòng. Lúc đó mấy tay trực trại mới chịu bước ra ngoài.

Bấy giờ anh mới hiểu rõ dã tâm của bọn chúng kêu anh ra ngoài này “làm việc” là như vậy.

Anh nhìn quanh, căn phòng khá hẹp và anh lui dần vế phía góc phòng. Nếu ở bên ngoài thì với một lũ tép riu này chỉ cần học trò của anh cũng đủ dậy cho chúng một bài học nhưng mấy năm nay lao động khổ sai và ăn uống kham khổ đã làm anh mất đi rất nhiều sức lực nên không biết sao đây.

Dù sao thì cũng phải cho chúng biết thế nào là một Võ Sư được chân truyền. Anh ngầm lấy sức vận nội công lên hai cánh tay và đôi chân thủ thế.

Hầu như đã được chỉ thị trước, bọn cán binh đều không nói một lời vung các gậy và các thanh sắt lên xông vào tấn công anh túi bụi, nhưng vì anh đã lui vào góc phòng nên chỉ hai ba đứa có thể tấn công một lúc vì chúng sợ loạn đả vào nhau.

Thế rồi anh ra chiêu nhanh như gió và chỉ một loáng trước những con mắt kinh hãi của đám cán binh, các vũ khí của chúng đều rơi gọn nhẹ xuống đất. Đứa thì ôm cổ tay nhăn nhó, đứa thì ôm chân la bài hải và lùi dần ra phía cửa. Anh tính vọt ra cửa thì đột nhiên hai họng súng đen ngòm lên đạn hướng về phía anh, thì ra chúng đã tính trước là sẽ phải dùng đến súng tiểu liên để đối phó với anh.

Anh đứng lại tại chỗ và hai tay khoanh trước ngực chờ đợi. Chúng tiến lại gần và trói hai tay anh vào thanh sắt cửa sổ và trói hai chân lại với nhau. Xong đâu đấy rồi thì bọn cán binh, vốn đã được nhồi nhét những tuyên truyền xuyên tạc mọi thứ xấu xa về các sĩ quan “Ngụy” cho nên đều nhẩy vào dùng các thanh sắt quất anh không thương tiếc.

Than ôi! Người Võ Sư hào hùng ngày nào của võ đường Vovinam, người tù anh hùng đã bảo vệ cho bao nhiêu bạn mình trước bạo quyền của trại giam “tập trung cải tạo” của chế độ Cộng Sản, người sĩ quan hiền hòa vẫn xây dựng bao nhiêu đường xá cầu cống cho dân làng miền Nam ngày trước, người tù bất khuất ấy bây giờ đã ngất xỉu đi trong cơn đau đớn tột cùng của thân xác.

Mắt anh mờ dần đi và anh thấy lấp lánh đâu đó là những giọt nước mắt của Mẹ già tóc đã bạc phơ chỉ sau mấy năm Sài Gòn đã đổi tên và rồi anh không còn biết gì nữa.

Khi anh tỉnh dậy có lẽ vài ngày sau đó thì thấy những cặp mắt âu lo của các bạn tù trong buồng giam.

-“Ê! Cường tỉnh dậy rồi nè.”

-“Lấy ít cháo loãng thôi.”

Một anh bạn đến gần:

-“Ráng ăn ít cháo đi rồi uống thang thuốc này. Mình mới vào rừng hái ít lá cây nấu lên uống để xổ máu bầm ra.”

-“Cậu là võ sư chứ người thường thì chết rồi. Chúng dã man hèn hạ quá. Loài thú chứ không phải loài người!”

Anh bị gẫy hết hai bên xương sườn, một chân bị dập, một bên vai xương bị nát. Rất may là các vết thương trên đầu không nặng sau trận đòn thù đó.

Tình hình trong trại mấy ngày sau đó cực kỳ căng thẳng, khi các anh đi lao động chúng đều đem súng theo hườm sẵn và được lệnh sẽ bắn ngay nếu có nổi loạn.

Anh bèn bảo các bạn thân của mình chuyển lời nói với các buồng chung quanh là án binh bất động vì anh không muốn vì anh mà nhiều anh em khác phải hy sinh. Anh đã là một biểu tượng oai hùng nhất trong con mắt của những người tù đồng cảnh ngộ nên lời nói của anh đã được nghe theo và đã tránh được một cảnh tắm máu vì anh em đều sôi sục căm hờn.

Từ ngày đó anh không còn khả năng đi ra ngoài lao động, không còn những giây phút vào rừng sâu kiếm củi, nghe được tiếng chim hót ban mai hay hưởng cái hơi mát lạnh của núi rừng khi chiều buông xuống. Anh chỉ có thể khó khăn lắm mới lê từng bước một tập đi trong buồng giam.

Năm sau, các bạn anh vì là cấp Úy nên cũng từ từ được thả ra nhưng anh là cấp Úy sau cùng ra khỏi trại giam đó.

Anh trở về gia đình trong căn hẻm Trương Minh Giảng gần nhà Mẹ anh và được thuốc thang chạy chữa nhưng vì lục phủ ngũ tạng đều bị chấn thương cho nên một thời gian ngắn sau anh qua đời trong sự thương tiếc của gia đình và bạn bè khắp nơi.

Anh mất đi lúc mới ngoài bốn mươi tuổi để lại người vợ còn trẻ và mấy đứa con còn nhỏ dại. Cô tôi vừa khô nước mắt khóc hai đứa con đi vượt biên mất tích lại mang thêm một cái tang nữa. Mẹ tôi ở gần bên cạnh cũng chỉ biết qua nhà an ủi cô tôi mà thôi vì chính Mẹ tôi trong lòng cũng ngày đêm lo sợ cho tôi và anh Cả tôi lúc đó đang bị giam lưu đầy ngoài Bắc.

Đám ma anh Cường được tổ chức đơn sơ nhưng rất đông người tham dự kể cả gia đình họ hàng và nhất là gia đình các bạn tù của anh cũng đến thắp nén nhang để tưởng niệm người anh hùng yểu tử, vị võ sư vì bảo vệ bạn tù, vì bảo vệ Chính Nghĩa mà vong thân.

Hình bóng của anh vẫn sống mãi trong tâm khảm của mọi người. Anh là một sĩ quan Công Binh Kiến Tạo tận tụy với nghề nghiệp được đơn vị thương yêu, anh sống gần gũi với dân chúng và bảo vệ họ tại những cùng thôn xóm làng mạc xa xôi.

Anh là một người chồng gương mẫu, một “ông thầy võ” mà tôi kính phục khi tôi còn thơ ấu, một võ sư mà bao nhiêu võ sinh dưới quyền nể trọng nhưng trên hết anh là một người tù bất khuất, một anh hùng bất tử.

Khi tôi được thả về, nghe tin anh mất thật là bàng hoàng và xúc động bởi tuổi thơ của tôi đã nhiều kỷ niệm gắn bó với các em họ con cô ruột tôi từ lúc còn ở Hải Phòng và Hà Nội và ngay tại Sài Gòn trong thời thanh niên. Tôi vẫn không quên được những bài học vỡ lòng về Vovinam mà anh dậy cho bốn anh em chúng tôi trên sân gác thượng của nhà cô tôi ở Hà Nội.

Chùa Linh Giác đường Lý Thái Tổ là nơi mà gia đình để ảnh của các anh con cô tôi đã mất và cũng để ảnh của anh Quang, anh Cả tôi nữa.

Tôi đã đến ngôi chùa nhỏ ấy nhiều lần để thắp nén nhang dâng lên anh Cả tôi , dâng lên các anh Hải, Trường, Linh và nhất là anh Cường với bao niềm ngậm ngùi rằng thế hệ chúng tôi đã cống hiến hết cho công cuộc bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ miền Nam chống lại Cộng Sản xâm lăng trong hai thập niên, và mất hết những năm tháng đẹp nhất của đời người trong tù.

Không biết rồi mai này con cháu mình có còn nhớ rằng ngày xưa đã có những bậc anh hùng bất tử ghi lại bao chiến công oanh liệt không kém gì tiền nhân trong quân sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa? Và trong lịch sử của “trại giam tập trung cải tạo” của chế độ Cộng Sản vô thần tại Việt Nam đã có những người tù bất khuất mà võ sư Vovinam Tạ Mạnh Cường là một?

Những Người Tù Cuối Cùng

Phạm Gia Đại

Post by Sơn râu 3 Jun 2024

Phần 17

Sợi Dây Ngũ Sắc

Thật khó mà diễn tả cho hết được cái vẻ đẹp của mùa Thu trên đất Bắc, nó mong manh như sương khói, yểu điệu như nàng thục nữ ngồi ngắm bóng mình bên hồ Sen, nó bàng bạc như quyện vào từng chiếc là vàng rơi rơi bay bay theo từng cơn gió chiều nhè nhẹ đìu hiu trên con đường làng quê nghèo và mộc mạc.

Bởi thế mà mùa Thu đã tạo nên bao nhiêu nguồn cảm hứng cho bao nhiêu là văn sĩ và thi nhân và bao nhiêu là áng thơ tuyệt tác cùng những truyện tình lãng mạn đã làm cho lòng chúng ta không khỏi thổn thức mỗi độ Thu về.

Đúng vậy mùa Thu đã về rồi đó, riêng đối với những người tù thì mùa Thu là một mùa không phải là đẹp nhất trong năm nhưng là một khoảng thời gian mà thời tiết mát mẻ dễ chịu nhất sau ba tháng Hè nóng như nung người trong lò lửa.

Đây cũng là thời gian mà anh em chúng tôi lấy lại được một phần sức khỏe để dự trữ và chuẩn bị chống đỡ lại sự tấn công đáng sợ của cái lạnh kinh người khi mùa Đông lại đến.

Thời gian này chúng tôi thích nhất vì như được tắm mình trong một vùng không gian bao la mát rượi xen lẫn ít cái se se lạnh báo hiệu của một mùa Đông nữa sắp tới. Ban đêm cũng chỉ cần đắp cái chăn ngang bụng và dễ đi vào giấc ngủ sau một ngày mệt nhọc.

Mùa Xuân cũng đem đến cho người tù một khoảng thời gian ấm áp sau những đêm Đông lạnh giá, nhưng có lẽ không có mùa nào trong năm lại gây nhiều nhung nhớ sâu đậm như mùa Thu nơi xứ Bắc, nhất là khi khoác trên người bộ áo tù nhưng mắt thì vẫn dõi theo những cụm mây trôi dần trôi dần về phía chân trời vô định.

Chúng tôi đang chia ra thành từng toán nhỏ năm bẩy người để cùng đạp đất và sau đó khi đất sét đã nhuyễn thì sang mai từng lớp đất sét một cho tới khi nó chồng lên thành từng khối bánh.

Những tảng đất sét như cứng đầu nên vẫn chưa chịu mềm đi dưới những đôi chân trần của những người tù. Tôi vào cùng nhóm với các anh cấp đại úy như anh Trung pháo binh, anh Thế, Cảnh, Tâm, Châu vừa đạp đất vừa kể lại chuyện ngày xưa để giết thời gian và cũng để quên đi cái hiện tại nhọc nhằn.

Mỗi người một câu, chuyện trò rôm rả và chúng tôi như tìm được những nụ cười hiếm hoi lẫn trong những giọt mồ hôi vất vả, dù là trời đã sang Thu. Tôi nhìn các anh và chợt có ý kiến là mỗi người sẽ kể về mình một câu chuyện tình.

Mỗi ngày một người được làm “máy” tức là đóng vai máy quay phim “chiếu” lại một khúc phim tình nào đó mà mình từng đóng vai chính.

Thế là tôi được nghe những câu chuyện tình thật đẹp hay thật ngộ nghĩnh của các bạn mình và được dịp thả hồn mình đi mơ mộng theo từng tình tiết của câu chuyện hay bật ra những tràng cười thoải mái về những sự ngây ngô của mình khi mới bước chân vào tình yêu của thời sinh viên mới lớn lên tại Sài Gòn hay trong quân ngũ.

Qua đi gần hết một vòng thì người cuối là anh Trung, dáng anh nhỏ người da ngăm đen, tính tình thật hiền lành và dễ mến của người miền Nam, nhưng cười rất có duyên và cách kể chuyện của anh thì lại hấp dẫn nhất trong nhóm.

Anh Trung nhìn tụi tôi rồi nói hơi tếu một chút:

-“Tui chẳng có chuyện gì để kể hết à! Đi lính rôi quen bà xã rồi lấy nhau vậy thôi, hổng có gì nữa để kể, vậy là hết.”

Dĩ nhiên là mọi người đều không chịu một câu chuyện quá ngắn và có vẻ chạy làng như vậy cho nên anh Trung đề nghị là để đền bù, anh sẽ kể một câu chuyện có thật nhưng rất kỳ lạ và đầy bí ẩn của một người bạn của anh vừa mới xẩy ra trước khi anh chuyển trại về đây, mà chính anh cũng không biết đoạn kết của câu chuyện tình này sẽ ra sao nữa.

Giọng anh trầm trầm hẳn xuống và ngay lập tức tụi tôi bị cuốn hút vào câu truyện đầy tính liêu trai này.

Buổi sáng hôm ấy sương mù dày đặc trắng xóa cả bầu trời và hình như mây mù từ những nơi khác trong lòng thung lũng đều kéo nhau tụ cả về đây. Những ngọn núi chung quanh trại giam khu vực Hoàng Liên Sơn này cũng chỉ ẩn hiện mờ mờ trong một mầu trắng đục.

Cách xa chỉ năm thước cũng không nhìn thấy được mặt người. Cảnh vật nhạt nhòa trong sương khói như làm cho bầu không khí thêm phần ảm đạm và làm tăng thêm cái rét căm căm của mùa Đông miền Bắc. Cái lạnh thì xuyên thấu qua từng chiếc áo rằn ri mầu hoa rừng, qua luôn lớp áo lót bên trong và thấm vào từng sớ thịt của những sĩ quan tù binh – người tù chính trị chế độ cũ.

Vì sương mù và sở dĩ nếu xuất trại ra lao động có thể tù dễ trốn trại chonên tất cả chúng tôi được lệnh ở lại trong trại sáng hôm đó.

Chẳng ai bảo ai chúng tôi đều vào buồng, leo lên chỗ nằm ngả lưng xuống nghỉ ngơi cho khỏe hoặc nấu ít trà nóng uống cho đỡ lạnh. Mỗi khi mà được nghỉ lao động là đều có lý do nếu không vì sương mù như hôm nay thì hoặc là mưa quá lớn, hay có thể là chuẩn bị di chuyển trại giam, hay là cái gì nữa không đoán trước được.

Bởi vậy người tù lúc nào cũng phải chuẩn bị tinh thần cho những gì xấu nhất có thể xẩy tới cho mình bất kỳ lúc nào, tuy trong lòng luôn cầu nguyện những gì tốt đẹp nhất sẽ đến.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau bỗng có hàng loạt bộ đội vào sân trại và ra lệnh cho tất cả tù nhân đem hết tư trang ra ngoài sân để khám xét. Cái điều khó chịu ấy cứ sáu tháng lại tái diễn một lần và họ lựa đúng vào những dịp tù được nghỉ lao động để khám xét mục đích là không cho chúng tôi được nhiều thời gian riêng cho mình và đưa chúng tôi vào tình thế luôn bị động.

Mục đích của khám xét là để xem tù nhân có tàng trữ những gì trái với nội quy của trại không như vật nhọn, muối, tiền mặt, kinh sách tôn giáo, “nhạc vàng”, quần áo chưa đóng dấu “cải tạo”?

Trung và các bạn trong buồng lần lượt khuân hết các ba lô hay túi xách, các thứ linh tinh và chiếc chiếu cá nhân ra ngoài sân.

Mỗi lần như vậy thì Trung nhận thấy mình lại mất đi một vài thứ, lúc thì cái muỗng bằng bạc dùng để ăn cơm, lúc thì con dao cùn dùng để cạo râu, v.v.. Còn thì những thứ thực sự có giá trị như đồng hồ, nhẫn vàng, tiền mặt thì ngay từ lúc đầu bước chân vào trại giam thì họ đã tịch thu dưới danh nghĩa là trại “quản lý” dùm cho các anh khi nào được tha về sẽ trả lại.

Và mỗi lần như vậy là đám cán binh và đám bộ đội trực trại lại khám thật kỹ từng người một, từ cái lai quần đến ve áo trên người cho đến chăn mền quần áo, từng chỗ nằm của mỗi người và vết nứt trên tường.

Trung khoanh tay đứng nhìn một cách hờ hững vì anh chẳng còn gì để chúng nó tịch thu nữa mà phải lo nghĩ, và bên cạnh anh các bạn cũng từ từ cuốn chiếc chiếu lại đem vào buồng giam.

Chợt anh nhìn thấy Tuấn, người bạn bên cạnh anh đang bị tên trực trại hạch hỏi về chiếc dây chuyền kết bằng những sợi chỉ lấp lánh ngũ sắc bện với nhau rất đẹp mà anh đang đeo trên cổ.

Tuấn cố giải thích là kỷ vật của gia đình nhưng tên bộ đội còn trẻ măng vẫn không nghe và vẫn tịch thu sợi dây chuyền ngũ sắc ấy của anh. Có thể rằng mỗi đợt kiểm tra như thế này xong thì bọn chúng phải tìm nộp cho cấp trên một số tang vật bất cứ thứ gì của người tù để lập công cho nên chúng cố tịch thu càng nhiều càng tốt.

Ngày hôm sau trên đường đi lao động vào rừng đốn gỗ cho trại Trung thấy Tuấn lộ vẻ đăm chiêu và lo lắng không yên nên anh hỏi:

-“Sao thấy cậu có vẻ lo lắng chuyện gì thì phải?”

-“Ừ! Đêm qua mình lại nằm mơ thấy bà xã của mình, bà ấy khóc quá nói là mấy năm nay đi tìm kiếm mình khắp nơi mà không gặp.”

-“Ủa! mình tưởng là cậu còn độc thân chứ? Nhưng như vậy cũng là vui rồi, không gặp được người thực ở ngoài đời thì gặp người trong mộng cũng là vui và an ủi rồi còn gì?”

-“Không phải vậy đâu! Mình vẫn còn độc thân nhưng mà bà ấy là bà xã trong mộng của mình mà thôi nhưng mà câu chuyện dài lắm để mình kể cho cậu nghe…”

Thế rồi Tuấn từ từ kể lại cho Trung nghe về cuộc đời và mối tình kỳ lạ của mình ngày còn trong quân ngũ.

Thời gian ấy vào khoảng năm 1971 sau cuộc tổng tấn công của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua Campuchia phá hủy hầu hết các căn cứ hậu cần của Việt Cộng và quân Bắc Việt tại Kompong Cham, Kompong Sap, Kratie, đơn vị của Tuấn tháp tùng sư đoàn trở về vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam trong chiến thắng oai hùng và Tuấn được thăng cấp Trung Úy.

Sau đó đơn vị của Tuấn được lệnh đi hành quân tảo thanh diệt địch và tạm thời trú đóng bên cạnh một giòng sông nước trong vắt với hàng dừa xanh thật là thơ mộng.

Rồi một hôm, một biến cố đã xảy ra trong một ngày định mệnh đã làm đảo lộn hết cả cuộc đời binh nghiệp của anh.

Hôm đó, Tuấn theo đơn vị dừng lại đóng quân trong một làng nhỏ nằm ven sông thì binh lính dưới quyền báo tin là có một xác thiếu nữ trôi sông vừa dạt vào bờ. Tuấn vội chạy ra xem thì thấy một thiếu nữ tuổi chừng mười tám hai mươi trong chiếc áo dài màu trắng nữ sinh tuyệt đẹp, làn tóc thề lòa xòa che mất một phần của khuôn mặt trái xoan, nằm mấp mé bờ sông, nàng chết mà như đang trong giấc ngủ và có vẻ đẹp quí phái của con người tỉnh thành chứ không phải thôn dã.

Anh bèn ra lệnh cho binh sỹ khiêng nàng lên bờ và cho lính vào trong làng hỏi thăm xem có ai biết tông tích ra sao để báo tin cho gia đình nạn nhân đem về mai táng. Anh buột miệng khen một câu:

“Người đẹp như vậy mà chết uổng quá! Giá mà còn sống lấy mình thì thật là đẹp đôi.”

Thế rồi không biết có phải vào giờ linh hay là nàng sống khôn chết thiêng hay sao mà ngay tối hôm đó Tuấn nằm mơ thấy nàng hiện về và hai người bắt đầu quen nhau.

Kể từ hôm đó, hễ đặt lưng nằm xuống là Tuấn lại thấy nàng hiện ra ngay trong giấc mộng trong suốt chặng đường hành quân của anh hay là khi về phép y như một đôi tình nhân vừa quen nhau trong một khung cảnh hệt như thương xá Tax và hàng quán phố phường trên đường Lê Lợi tại Sàigòn vậy. Giấc mơ này nói tiếp giấc mơ kia y như những chương trong một cuốn tiểu thuyết lồng trong một mối tình lãng mạn.

Từ đó anh đặt tên cho nàng là Mộng Điệp và anh mơ thấy mình mặc quân phục về phép Sàigòn và tình cờ gặp nàng và làm quen trên đường nàng đi học về trong tà áo nữ sinh tha thướt. Ai đi ngang qua cũng trầm trồ là hai người thật đẹp đôi.

Những ngày sau đó, anh lái xe gắn máy đến trường đón nàng tan học vềvà hai người chở nhau đi chơi, đi xem xi nê, ăn uống và chở nàng về nhà của mẹ nàng bên cầu Thị Nghè.

Tình yêu nảy nở lúc nào không hay giữa trai tài gái sắc, hai người trao nhau nụ hôn đầu tiên trong vườn Bách Thảo và bàn tính chuyện hôn nhân. Anh rất mừng là mẹ nàng cũng tán thành và tác hợp cho đôi lứa.

Anh bèn xin đơn vị nghỉ phép nói là về thăm gia đình nhưng chính là về để tổ chức đám cưới với Mộng Điệp. Đám cưới thật là vui với đầy đủ lễ nghi đón dâu và đãi tiệc tại nhà hàng và có cả xác pháo hồng và áo cưới cho cô dâu e thẹn về nhà chồng.

Lúc đó tại thị xã nơi đơn vị Tuấn đóng quân, các cô bán hàng mỹ phẩm và quần áo phụ nữ thường rất ngạc nhiên khi thấy Trung Úy Tuấn thường đến cửa hiệu của họ và mua những quần áo kể cả đồ lót cho phụ nữ và đồ trang sức nữa. Ở cái thị xã nhỏ như vậy thì ai cũng biết chàng Trung Úy đẹp trai anh hùng này vẫn còn độc thân nhưng mỗi khi các cô hỏi chàng mua tặng cho ai thì Tuấn chỉ cười lắc đầu chứ không trả lời cô nào cả.

Cuộc sống hạnh phúc của vợ chồng Tuấn và Mộng Điệp kéo dài thật là êm đêm trong những giấc mộng nối tiếp nhau suốt một năm trời như vậy trong từng giấc ngủ cho đến một hôm

Một nhân vật huyền bí khác lại xuất hiện và lại làm thay đổi hẳn đời sống của chàng sỹ quan trẻ.

Thế rồi chiến trận lan tràn khắp nơi trên quê hương miền Nam và Tuấn bị cuốn hút vào cuộc chiến không có thì giờ để nghĩ đến một chuyện gì khác nữa ngoài những cuộc hành quân liên miên diệt trừ Cộng Phỉ. Nhìn những xóm làng nằm trong vùng “xôi đậu” với những xác người dân lành vô tội bị Việt Cộng thiêu rụi vì đã không theo chúng, hay những cây cầu đoạn đường bị VC phá hoại mà Tuấn không khỏi uất hận bọn Cộng Nô và bùi ngùi cho đất nước đau thương của mình.

Một hôm hành quân qua một vùng “xôi đậu” là những xóm làng mà ban ngày thì do Quốc Gia kiểm soát và ban đêm thì VC mò về và khuấy rối và bắt dân của xóm làng nghèo nàn này phải đóng góp gạo thóc gia súc cho chúng anh mới biết là Cộng Sản tuyên truyền rằng dân chúng đừng có theo Quốc Gia vì xe tăng của họ toàn là giấy các tông và máy bay trực thăng cũng vậy.Anh bèn gọi dân làng lại và cho họ đích thân đến cạnh một chiếc xe tăng tháp tùng cuộc hành quân để họ được tự tay mình sờ mó và đập tay vào xe tăng xem có phải bằng các tông hay không thì dân làng mới tin. Từ đó thì dân chúng trong làng ngả hẳn về phe Quốc Gia và mỗi khi có VC mò về là họ thông báo ngay cho các lực lượng đồn trú tại địa phương.Một ngày thật đặc biệt trong đời Tuấn, sau một cuộc hành quân lùng và diệt địch thật là vất vả và gian nguy trong vùng sình lầy của đồng bằng Cửu Long, đơn vị của Tuấn di chuyển ngang qua một ngôi làng rất là nhỏ có lẽ chỉ vài chục nóc nhà tranh thì anh thấy một cụ già chống gậy đang đứng trước cái ngõ dẫn vào ngôi làng như đang chờ đợi ai. Khi anh đi tới đâu ngõ thì bất ngờ cụ chống gậy bước ra và nói với các binh sĩ là muốn gặp anh.

Tuấn bèn cho đại đội dừng quân lại và phát cho dân làng một số thực phẩm khô và đồ hộp Quân Tiếp Vụ mà đơn vị anh mang theo để đi theo bà cụ vào trong làng.

Vừa bước chân vào ngôi nhà tranh của bà cụ thì Tuấn rất là sửng sốt vì hình như bà cụ đã biết anh từ trước. Cụ bà tuy đã luống tuổi nhưng trông còn tinh anh và nhanh nhẹn, cụ nói rất là từ tốn rằng tối hôm qua cụ nằm mộng thấy một ông già râu tóc bạc phơ báo tin cho cụ ngày hôm nay phải đón anh sẽ hành quân qua làng này để chữa bệnh cho anh.

Bà cụ nói rằng anh đang bị ám khí rất là nặng và nếu không chữa trị kịp thời thì không thể cứu được tính mạng. Vì anh thường hay làm những điều phước thiện giúp đỡ binh lính và dân chúng cho nên cụ được lệnh là phải cứu giúp anh. Mới đầu thì Tuấn không hiểu nhưng sau thì anh chợt nhớ ra người vợ Mộng Điệp của mình và kể cho bà cụ nghe từ đầu đến cuối câu chuyện.

Bà cụ trầm ngâm một lúc và nói rằng rất may mà anh gặp được cụ và cụ có thể chữa bệnh ma ám cho anh được vì cụ cao tay hơn con ma đang ám ảnh anh suốt hơn năm qua.

Lúc này thì Tuấn mới hiểu rằng tại sao sức khỏe của anh bị sa sút và damặt thì xanh hẳn đi như người bị mất máu mà trước kia anh cứ nghĩ là vì các cuộc hành quân gian khổ. Hóa ra là cuộc tình giống như những truyện trong Liêu Trai Chí Dị mà anh đã đọc hồi xưa đã tàn phá sức khỏe của anh trông thấy.

Bà cụ bèn lấy một chén nước sắc bằng những lá rừng và làm phép trên đó, để lên một cái bàn thờ nhỏ trong nhà thắp một nén nhang xong và bảo anh uống chén nước đó. Xong rồi, cụ cho anh một cái sợi dây chuyền bện bằng những sợi chỉ ngũ sắc rất đẹp và bảo anh là luôn luôn phải đeo trên cổ không được xa rời thì cái người vợ ma kia sẽ không còn hại anh được nữa.

Và cái điều lạ lùng là kể từ ngày ấy khi anh đeo sợi dây chuyền ngũ sắc trên cổ thì anh không còn gặp lại người vợ trong mộng nữa, không những thế hình như sợi dây chuyền này cũng che chở và đem may mắn cho anh trước lằn tên mũi đạn của quân thù.

Thời gian thấm thoát trôi qua cho đến một hôm anh chợt nhớ đến vị ân nhân của mình khi hành quân gần ngôi làng cũ và ghé vào thăm bà cụ ngày trước đã cứu mạng cho anh.

Khi gặp lại thì cụ rất là vui mừng y như người mẹ gặp lại đứa con còn an lành sau những ngày tháng hành quân gian khổ.

Cụ bèn kể cho anh nghe một câu chuyện và anh cũng không tin vào tai mình nữa. Khi đó khoảng vài tuần trước, cụ có đi qua chợ phiên của làng bên và bất thình lình có một người đàn bà mặt mày đỏ gay lên và xông lại xỉa xói chỉ tay lung tung vào mặt cụ và còn xấn xổ tính hành hung cụ nữa, và bảo rằng cụ đã cướp người chồng của chị ta. Cụ đã biết người phụ nữ bị ma nhập đó là ai rồi nên cụ bèn rút cái cây roi mây trong giỏ ra và bảo chị ta không được hỗn nếu không thì cụ sẽ bắt bỏ vào trong cái giỏ này. Nghe thấy vậy, người đàn bà kia chợt thụt lui lại, không còn la hét và cúi đầu cum cúp rảo bước đi mất ra khỏi chợ.

Cụ hỏi anh có biết người phụ nữ đó là ai không và nói ngay với anh rằng chính cái người vợ trong mộng của anh đã nhập vào người đàn bà đó để làm dữ với cụ vì cụ đã làm phép cho anh không còn bị ma ám nữa.

Những năm tháng sau đó, khói lửa bốc lên khắp nơi và người Sàigòn bắt đầu làm quen với những địa danh như Tống Lê Chân, Khe Sanh, Mùa Hè Đỏ Lửa tại Quảng Trị, Đông Hà, An Lộc Tử Thủ, Đại Lộ Kinh Hoàng với pháo kích của VC và quân Bắc Việt dọc theo Quốc Lộ 1 đã tàn sát hàng chục ngàn thường dân vô tội và gia đình của họ khi di tản từ miền Trung vào miền Nam lánh nạn.

Đơn vị của Tuấn đã liên tiếp chiến thắng lẫy lừng đem lại niềm hãnh diện cho Trung Đoàn và được Trung Đoàn khao quân và tưởng thưởng nhiều huy chương cao quí của quân đội.

Một điều bất hạnh cho người Quốc Gia là đồng minh Hoa Kỳ đã quyết định bỏ rơi họ đơn độc chiến đấu trong tình trạng thiếu súng đạn nhiên liệu trước một kẻ thù hung hãn và khát máu đang được yểm trợ đắc lực bởi Nga Sô, Trung Cộng và khối Đông Âu.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa một quân đội anh hùng đã vì thế mà mất đi dần ưu thế trên chiến trường và lui dần vào thế thụ động và phòng thủ. Chiến đấu cơ không còn đủ xăng nhớt để hoàn thành những phi vụ và pháo binh cũng không còn đạn pháo để yểm trợ cho quân bạn như xưa nữa và điều gì phải đến đã đến.

Ngày 30 Tháng Tư năm 1975, Miền Nam sụp đổ và rơi vào tay Cộng Sản và Tuấn cũng như hàng triệu quân dân cán chính khác của chế độ VNCH sa chân vào chốn lao tù.

Sau những lần chuyển trại trên đất Bắc, tình cờ Tuấn gặp lại người bạn thân năm xưa cũng sư đoàn là Trung Úy Trung pháo binh. Tuấn ngừng lại một chút rồi tâm sự:” Kể từ ngày họ tịch thu sợi dây chuyền ngũ sắc của mình thì ngay ngày hôm sau lên rừng đốn củi tự dưng mình thấy buồn ngủ ríu cả mắt lại và ngồi tựa gốc cây ngủ lúc nào không hay. Chỉ một lát sau thì thấy ngay người vợ trong mộng hiện ra và nàng khóc lóc ôm lấy mình và nói rằng mấy năm nay nàng đã đi tìm mình khắp nơi mà không gặp và điều bất ngờ nàng nói rằng đã có một đứa con hai tuổi với mình và ôm con sống trong cô đơn suốt mấy năm nay.”

Trung nhìn sững bạn anh, nếu không phải là người bạn thân đích thực kể cho nghe thì chắc anh sẽ không tin là câu chuyện này là có thực của một người cõi âm đã đem lòng yêu thương một người trên dương thế là bạn của anh và đã lặn lội từ Nam ra Bắc để ôm con đi tìm chồng.

Cuộc đời vẫn luôn xoay vần và Trung những tưởng là mình sẽ chết và chôn vùi trong xó rừng miền Bắc nhưng vì quân Bắc Việt tấn công qua Campuchia và Trung Cộng đánh qua sáu tỉnh miền Bắc nên anh và những bạn tù được di chuyển từ Hoàng Liên Sơn về các trại giam khác ở miền trung du vào năm 1978.

Nhưng Trung và Tuấn sau lần chuyển trại thì bị tách ra về hai nơi khác nhau và không còn gặp lại nhau nữa.

Những năm sau nầy Trung không được tin tức gì nữa về Tuấn và khôngbiết bạn mình lưu lạc phương nào và có được trả tự do chưa hay đã vì mất sợi dây chuyền hộ mạng nên cũng đã chết theo người vợ cõi âm nặng lòng với mối tình yêu người dương thế?

Trung kể chuyện một cách say sưa và tình tiết suốt hai ngày mới xong. Khi anh kết thúc rồi tôi vẫn còn ngẩn ngơ và bàng hoàng vì một mối tình liêu trai đầy lãng mạn xen lẫn nét huyền bí của bà cụ đã cho Tuấn sợi dây ngũ sắc và giải bệnh ma ám cho anh.

Năm 1983, anh Trung cùng một số lớn tù nhân được di chuyển vào trong Nam và tôi cùng với số tù nhân còn lại trong đó có các thầy và các vị mục sư, linh mục di chuyển về trại Ba Sao Nam Hà.

Từ đó tôi mất liên lạc với anh Trung pháo binh và không biết khi vào trong Nam anh có gặp lại nhân vật chính trong truyện hay không, nhưng tôi vẫn không bao giờ quên được câu chuyện đầy kỳ bí và huyền hoặc của sợi dây ngũ sắc này.