Vợ Thầy Hương

vietmessenger.com
Lê Xuyên
Miền Nam xuất bản 1965

Post by Sơn râu 24 Jul 2024

Phần 1

Chiếc đồng hồ chuông treo trên vách thong thả điểm đúng tám tiếng sau một hồi đổ kiểng đờn. Tám giờ tối.

Thầy Hương quản làng Tân Thời Võ Thiện Nam móc vội chiếc đồng hồ trái quít trong túi áo trong của chiếc áo bành-tô ka-ki vàng nút đồng ra đễ so giờ. Kim số dạ quang trên mặt đồng hồ cũng chỉ gần đúng giờ như vậy, xê xích không đầy một phút.

Thầy Hương nhét chiếc đồng hồ vào chỗ cũ rồi tằng hắng lấy giọng day qua báo một người đang cậm cụi làm sổ sách dưới ánh sáng xanh của một ngọn đèn măng-sông treo trên chiếc móc sắt giữa nhà:

– Nè chú Giáo, sao chú hổng bơm xăng thêm cho cây đèn nó sáng một chút. Tụi coi bộ nó hơi lu đa!

‘‘Chú giáo’’ ngẩng đầu lên đon đả đáp:

– Dạ được mà thầy Hương. Tôi cũng tính đợi thầy đi rồi về nhà lo chấm bài…

– Đâu có được! Tối nay chú phải ở đây luôn. Để tui kêu bầy trẻ bắt ghế bố giăng mùng sẵn để khi nào chú làm sổ xong nằm nghỉ.

– Dạ… nếu thầy Hương muốn như vậy…

‘‘Chú Giáo’’ đây là một chàng trai trạc không quá ba mươi tuổi, nghe nói dân ở miệt Bạc-Liêu, trôi nổi lên đây làm nghề dạy học tư và trọ một nhà trong xóm.

Thường thường vào mỗi buổi tối, anh giáo tư Trần văn Dị đến nhà thầy Hương để kèm thêm cho hai đứa con của thầy (một trai một gái) học và giúp làm các thứ sổ sách, vì thầy Hương là một người có điền đất nhiều, lại đại diện cho mấy ông chủ Chà ở Cần-Thơ trên các phần đổi tọa lạc rải rác khắp mấy làng trong quận Ô Môn.

Mấy tối nay, vì là vào lúc cuối năm nên anh Giáo Tư rất bận rộn biên chép tính toán về các khoản lúa ruộng, tiền vay, bạc lúa, lớp của thầy Hương, lớp của mấy ông chủ Chà…

… Bỗng có tiếng chó sủa vang rân ngoài ngõ.

Thầy Hương đang lúi húi lau chùi, xăm xoi khẩu súng hai lòng vội ngẩng lên và vui vẻ nói với, anh Giáo Tư:

– Chắc anh Hương Tuần và dân của ảnh tới rồi đó.

Chưa thấy mặt ông Hương Tuần đâu thì đã có tiếng nói bô bô của ông ta từ ngoài vọng vô:

– Thầy Hương sẵn sàng chưa? Cha, bộ mấy chậu bông sứ của thầy trồng nở bông rộ lên hay sao mà thơm nhột mũi như vậy cà!

Thầy Hương treo khẩu súng lên cái móc nón gạc nai trên cột rồi hấp tấp bước ra cửa

– Chú Hương Tuần đó hả? Sao đi lại trễ vậy cha nội? Anh em đi theo đông đủ độ chớ?

Ông Hương Tuần cười hì hì:

– Trễ gì mà trễ đó thầy Hương! Mà mình đi sớm có ăn thua gì, bắt ăn cướp mà thầy đi sớm quá động ổ tụi nó dông mất hết!

Thầy Hương Nam nhún vai rồi lôi ông Hương Tuần vào nhà:

– Nếu còn sớm thì vô đây nhăm nhi một vài chung trà nóng cho ấm bụng.

Ông Hương Tuần bước qua ngưỡng cửa thấy anh giáo Tư liền kêu lên:

–  Ủa, có thầy giáo ở đây nữa hả?

Thầy Hương quản liền nói chen vô:

–  Ờ, tui nhờ chú Giáo lại làm sổ và kèm mấy đứa nhỏ học đó mà.

Ông Hương tuần liền bước đến một bên bàn giấy của anh giáo Tư:

– Cha, sổ sách gì mà dày cộm vậy! Thôi bỏ đó hết đi! Đêm nay thầy giáo theo tụi tui đi bắt đám ăn cướp này, năm thuở mười thì mới có một đám dữ dằng như vầy nghen!

Anh giáo Tư mỉm cười nhỏ nhẹ đáp:

– Dạ tôi có nghe thầy Hương quản nói qua. Nghe đâu tụi nó là đám em út đồ đệ gì của tướng cướp lừng danh Năm Cà Dom đó phải hông ông Tuần?

– Ừ phải đa. Ý cha, tụi này võ nghệ song toàn, nhứt là thằng đầu đảng của tụi nó. Thằng này luôn luôn bôi lọ nghẹ vằn vện trên mặt, đúng là một đứa ở trong làng mình đó thầy Hương quản à! (vừa nói ông vừa day qua hỏi ông Hương quản).

Ông nầy cau mày:

– Thì chắc mẻm như vậy rồi!… Bởi vậy tui mới nóng lòng muốn thộp óc nó… (đoạn ông ta thở dài) cái tụi gì mà lộng hành quá đỗi, đánh một đêm một hơi ba bốn cái nhà… Đang lúc mùa lúa mà mình cũng bận công kia việc nọ túi bụi chớ phải ở không đâu!

Ông Hương Tuần rụt rè hỏi:

– Thầy Hương quản à, nghe nói quan lớn chủ quận… có kêu ông cả mình lên… để cạo sát ván về cái chuyện đó phải hong thầy?

Thầy Hương quản nhăn mặt

– Chớ bộ chú hỏi kêu ông cả lên để… gắn mề đai điều cho ổng sao!

Ông Hương Tuần xẻn lẻn day qua phía anh giáo Tư hỏi lảng ra:

– Nè thầy giáo, thầy theo tụi này cho biết vì thế nào khi bắt được mấy thằng đó thầy Hương đây cũng nhờ thầy giáo lập vi bằng cho nó được… văn hay chữ tốt…

Anh Giáo Tư mỉm cười đáp:

– Dạ, không nói dấu gì, tôi ngán mấy cái chuyện… dao súng đó ghê lắm. Để chừng nào mấy thầy về, thầy Hương quản đây kể sơ qua đầu đuôi nội vụ là tôi làm у theo đó cũng được… Tối hôm nay, số sổ sách còn đọng chưa rớ tới cũng khá bộn…

Thấy Hương quản gật gù nói chen vô:

– Thôi anh em mình để cho chú giáo ở nhà, chớ bắt chú phơi sương lội ruộng theo anh em mình thì cũng… ngặt.

Vừa lúc ấy thím Hương quản từ trong nhà sau vén màn cửa buồng bước ra, nét mặt tươi rói. Đó là một người đàn bà trạc độ hai mươi lăm hai mươi sáu tuổi đẹp mặn mòi và chải chuốt se sua.

Vừa bước ra là thím Hương đã đon đả cất tiếng chào ông Hương Tuần:

– Chú Hương Tuần đến rồi hả! Thím ở nhà mạnh giỏi chớ! Sao bữa hổm, đằng này tui thiếu một tay tứ sắc sai bầy trẻ nó đi qua bển mời thím Hương năm lần bảy lượt mà thím nhứt định hổng qua vậy? Bộ chú Hương… cấm thím hả? Chú làm cái chuyện ác nhơn sát đức đó… chú coi chừng tui nghen!

Ông Hương Tuần cười xòa:

– Ý trời đất ơi, con vợ tui nó có chưn có cẳng thì đi chớ mụ nội tui bây giờ hổng dám cấm cản nó nữa! (bỗng ông ta nheo mắt nhìn sững vợ thầy Hương quản rồi trầm trồ) Cha, bữa nay thím Hương bận cái áo bà ba kiểu gì và bằng thứ hàng gì mà tui coi ngộ quá vậy!

Thím Hương bẽn lẽn cúi mặt xuống đất và đưa tay vuốt vuốt một cái nếp áo:

– Ờ kiểu áo bà lai… Kiểu này mấy cô mấy bà ngoài chợ Cần-Thơ người ta bận thường lắm. Còn hàng này là hàng Bom-bay mới có bán kỳ này nên nó hơi… hoa hòe một chút…

Ông Hương Tuần chép miệng nói phân bua với thầy Hương-quản:

– Thiệt thím Hương đây lịch sự người lại trắng trẻo nên ăn bận thứ gì tôi coi cũng ngộ hết, chớ còn con vợ tui ở nhà… ý cha, hễ nó bận một cái áo hơi có màu một chút là tui thấy sao nó giống… bà bóng bà đồng quá cỡ!

Thầy Hương-quản không trả lời, đưa tay vân vê bộ ria mép, mắt lim dim nhìn vợ một cách vừa âu yếm vừa… hài lòng, trong lúc anh giáo Tư ngó vu vơ lên nóc nhà tay nhịp nhịp cán viết trên bàn và miệng thì mủm mỉm như… khoái chí một điều gì!

Thím hương kiếm cách gợi sang chuyện khác

– Nè chú Hương Tuần ơi, tối nay chú dẫn mấy anh em khác đi ên một mình hổng được sao mà phải lôi ông nhà tôi theo nữa hả?

Ông Hương Tuần trợn mắt:

– Ý trời, thím Hương nói như vậy là… lộn ngược ngạo hết! Tui phải đi theo phò tá ổng đây chớ! Đi ban đêm ban hôm như vầy rầu thúi ruột…

– Chớ bộ tui ở nhà đây sướng lắm sao! Chú Hương nghĩ coi: cả tháng nay, mười đêm như một, đêm nào đêm nấy ổng cũng mắc lo đi rỏn trong ruộng canh chừng sợ ba đứa tá điền nó lưu lúa đi hết, rồi mấy đêm nay lại đi rình mò trộm đạo cướp bóc nữa… ông thức đêm thức hôm riết rồi ổng ốm xọp đi, và hễ ổng dìa tới nhà là ổng nằm lăn kềnh ra ngủ ngáy khò khò, tui có lấy xà beng xeo ổng bây giờ ổng cũng chẳng nhúc nhích cục cựa nữa !

 Cả thầy Hương-Quản lẫn ông Hương Tuần đều cười xòa. Thím Hương xẻn lẻn cúi đầu xuống rồi háy xéo hai người :

– Ớ…mấy ông nầy lảng òm!

Ông Hương Tuần làm bộ cự nự:

– Coi, tụi này có nói gì đâu! (rồi ông xuống giọng làm lành)… Mà thiếm Hương nói như vậy cũng phải, nhiều khi tui tưởng hai ông bà như… một cặp vợ chồng son, nhứt là thím Hương… tui sợ mấy cô dâu mới cưới cũng còn thua xa nữa là khác !

Thiếm Hương cau mày chắc lưỡi:

– Đó, nữa đi ! Cái ông Tuần nầy sao bữa nay ông nhiều chuyện quá hổng biết!

Ông Hương Tuần vẫn chưa chịu thôi:

– Thiệt tôi cũng phục thầy Hương quản, vợ con như vầy mà thầy… tàn nhẫn vô nhân đạo bỏ bê hoài chớ! (chợt nhớ tới anh giáo Tư, ông Hương Tuần day qua anh ta, tiếp lời) may mà có thầy giáo ở đây chớ hông thôi thím Hương… sợ ma chết rồi còn gì!

Anh giáo Tư buông cán viết xuống bàn và gượng cười một cách rất khó khăn.

Thím Hương thì liếc nhạnh về phía anh ta rồi nghiêm giọng đáp lời ông Hương Tuần:

– Nói nào ngay có chú giáo qua bên đây thì nhà cửa nó cũng bớt vắng vẻ trong đêm hôm, nhưng từ lúc tới cho đến giờ về, chú giáo hết chỉ vẽ cho mấy đứa nhỏ học bài thì nhảy qua chúi đầu chúi cổ vô mớ sổ sách, chớ có lúc nào rảnh rang đâu…

Ông Hương Tuần chép miệng than thở dùm cho thím Hương:

– Ờ, tui quên chuyện đó nữa há! Cơ khổ…như vậỵ thím phải trách ổng cho dữ mới phải…

Thầy Hương quản níu nhẹ tay ông Hương Tuần :

– Thôi anh em mình lại bộ tràng kỷ uống sơ vài chén nước rồi đi cho sớm. Anh em mình ráng chịu khó một chút chớ để rủi ro tới trễ tụi nó ăn hàng xong xuôi rồi ‘‘buồm’’ hết thì anh em mình chỉ còn có nước sáng mơi…vác cái mặt mo lên cho ông cả ổng xài xễ đã nư thôi!

Ông Hương Tuần gật gù bước theo thầy Hương:

– Ờ phải. Thiệt ba cái thằng ăn cướp chết dầm, sao nó hổng chịu mần ăn lương thiện như người ta để… làng xã thảnh thơi một chút hổng biết! Hồi đó, tui mà dè cái nạn trộm đạo, cướp bóc như vầy, tui chẳng ra cái chức Hương Tuần nầy làm gì cho nhọc sức. Thà ở nhà đuổi gà, giữ con cho má bầy trẻ mà khỏe hơn!

Thím Hương vội vã chạy tới trước rót nước ra tách, cho hai người…

… Một lát sau, thầy Hương nhìn đồng hồ rồi đứng dậy hối ông Hương-Tuần!

– Thôi mình đi chú Hương Tuần! Bộ chú tính làm hết. Cái nước dảo của bình trà này rồi chú mới nhốm đích sao? Tự nãy giờ anh em họ đợi đằng trước, họ chữi thề nhoi trời đất kìa!

Ông Hương Tuần còn ráng uống cho cạn chén nước:

– Đi thì đi!

Thầy Hương bước lại lấy cây súng hai lòng mang lên vai rồi day qua hỏi ông Tuần:

– Cây ca-líp đui tui mượn trên ông Cả đưa cho chú xài, chú để đâu rồi chú Hương Tuần?

– Tui nhờ một thằng ở ngoài nó đeo dùm chớ có mất mát đâu thầy lo!

Thầy Hương nhún vai:

– Chú sao lôi thôi tổ mẹ.

Vừa lúc ấy, thím Hương cầm một chiếc khăn bàn lông lớn đem lại đưa cho chồng:

– Nè mình, mình lấy cái khăn này quấn cổ, hông thôi lạnh rồi cảm đó nghen!

Thầy Hương đỡ lấy chiếc khăn, âu yếm nhìn vợ trong lúc ông Hương Tuần chắc lưỡi hít hà:

– Cha, bà cưng ông hết chỗ để há!

Thầy Hương bèn lên tiếng dặn vợ:

– Mình ở nhà biểu bầy trẻ mần vịt nấu cháo để sẵn đó chờ tụi nầy dìa ăn chơi. Mình nhớ nấu nhiều nhiều nghen…cho mấy em kia họ ăn luôn thể. Tui với chú Tuần đây đi.. chắc hổng lâu đâu.

Thím Hương cầm lấy cây đèn năm pin trao cho chồng.

– Mình có đi vô trỏng cũng nên…coi chừng coi đổi. Mình ỷ у quá hổng nên đâu nghen. Tụi ăn cướp này là thứ liều mạng, nếu tụi nó…lướt thế thì mình nên cho tụi nó chạy huốt đi, rồi sau này sẽ liệu.

Thầy Hương cười xòa rồi hỏi lại:

– Bộ mình quên rằng ở trên còn có ông Cả, thầy Cai, quan lớn Chủ quận nữa sao?

Thím Hương xụ mặt xuống:

– Xí, mấy ổng cũng ngồi vít đốc chớ làm cái gì? Mà bắt quá bị mấy ổng rầy, hay cách chức là cùng! Cái đó đâu có chết!

Thầy Hương vỗ nhẹ vào vai vợ:

– Thôi dẹp bà đi! Mình ăn nói…ngang ngược vậy sao được, (đoạn nhìn vô phía trong buồng, thầy Hương hỏi luôn) Bộ hai đứa nhỏ ngủ hết rồi hả mình?

– Ừa.

– Còn mình, mình cũng đi ngủ đi chớ đừng thức canh tui đó nghen! À mình đi nhớ biểu sắp nhỏ dưới nhà nhắc chiếc ghế bố ra giăng mùng sẵn cho chú giáo ngủ…

Thím Hương ngước mặt lên hỏi liền:

–  Bộ đêm nay chú giáo ngủ ở đây… (nhưng rồi thím xuống giọng thản nhiên nói tiếp)… Được rồi, mình để đó cho tui.

Thầy Hương day qua bảo anh giáo:

– Chú giáo có buồn ngủ thì nghỉ lưng đi nghen. Chừng nào tụi này dìa tới, tôi sẽ kêu chú dậy nhờ chú làm sơ tờ vi bằng để sáng mơi trình liền lên cho ông Cả…

Anh giáo Tư đứng dậy sốt sắng đáp:

– Dạ được, thầy Hương cứ để cho tôi…

Thầy Hương quản liền xô nhẹ vai ông Tuần đi ra:

– Anh em mình đi chớ!

Ông Tuần vừa bước đi vừa ngoái cổ lại:

– Thím Hương với thầy giáo ở nhà chờ đó nghen! Tụi nầy đi nhấp nháy là dìa liền!

… Ngóng thấy hai người bước ra tới cửa rào, anh giáo Tư thở ra một hơi dài, gập mạnh quyển sổ đang làm lại, xô chiếc ghế ngồi qua một bên để mau chơn bước thẳng lại chỗ ngưỡng cửa nơi thím Hương đang đứng.

Thím Hương chưa kịp nói gì thì anh giáo Tư đã nắm tay thím kéo mạnh vào:

– Em đi vô đi để anh đóng cửa rồi tắt đèn măng xông!

Thím Hương hất tay anh ta xuống, thụp núp qua một bên cửa và xua anh ta đi:

– Anh… sao hổng ý tớ gì hết á! Để mấy ổng đi khỏi hẳn hoi đã. Chưa chi anh chờn vờn như vậy…

Vừa lúc ấy có tiếng chân người quay vô nhà. Thím Hương ló mặt ra nghe ngóng và thấp giọng cự nự anh giáo:

– Đó, thì em nói có sai đâu: có ai trở vô nữa kia kìa. Anh đứng xê qua một chút coi.

Thím Hương vừa dứt lời thì ông Hương Tuần đã bước trờ tới nói oang oang:

– Thím Hương chưa đóng cửa hả? Chút xíu nữa tui bỏ quên túi thuốc trong nhà rồi….

Thím Hương đưa tay áp vào ngực:

– Dữ hông! Chú làm tui hết hồn… (rồi thím gượng cười nói trớ đi)… Bị mấy ông bàn tán chuyện ăn trộm ăn cướp hồi nãy nên mới rồi tui nghe có tiếng chơn người lạo xạo… tui tưởng là quân gian chớ.

Ông Hương Tuần nhìn thím Hương trong một giây rồi bước lại bộ tràng kỷ lấy túi thuốc:

– Thôi tui lui đây. Thím đóng cửa lại đi, muốn chắc ăn thì thím nhờ thầy giáo đây đóng luôn mấy cây song hồng vô thêm nữa.. Mà có thầy giáo ở đây thì thím còn sợ cái gì chớ! Chẳng lẽ quân cướp dám cả gan nhè cái… ổ ong vò vẻ này mà tụi nó đâm đầu vô!

Anh giáo Tư bèn nói chen vào

– Ối hổng có gì đâu ông Hương Tuần à. Chắc thím Hương đây… lo cho thầy Hương… nên mới sợ bóng sợ gió như vậy đó mà!

Ông Hương Tuần cười rộ lên

– Cha, thầy giáo tinh ý dữ quá he!

Nói xong ông ta bước vội ra ngoài sân rồi biến mình trong đêm tối.

– Anh sao còn bày đặt lép xép cái lỗ miệng nữa hổng biết! Thằng cha Hương Tuần đó nó khôn giàn trời mây chớ hổng vừa đâu nghen!

Anh giáo nheo mắt mỉm cười:

– Ý cha, người ta binh mình hết mình mà còn trách nữa chớ!

– Xí, ai cần anh binh?

Anh giáo lại cười mơn:

– Thôi anh đóng cửa và tắt đèn măng xông nghen?

Thím Hương cau mày

– Đóng cửa thì… đóng, nhưng khoan tắt đèn đã! Mấy đứa nhỏ nó mới vô mùng và bầy trẻ còn lăng xăng mần gà mần vịt dưới bếp đó!

Anh giáo xuống giọng năn nỉ:

– Để đèn… hao xăng lắm mà!

Thím Hương trề môi:

– Chà, anh hà tiện quá!

Anh giáo dùng dằng bỏ đi đến bên cạnh bàn viết, kéo mạnh chiếc ghế ra rồi ngồi phịch xuống

– Em sao làm khó dễ hoài hè? Bộ bữa nào cũng có một đám ăn cướp như vầy sao!

Thím Hương bước lại gần anh ta, xuống giọng vỗ về:

– Thì để em biểu tụi nó lên đem ghế bố ra giăng mùng sẵn cho anh đã, rồi sau đó… mình có nói chuyện hổng phải dễ hơn không! Em còn nóng ruột bằng mười lần như anh nữa là đằng khác!

Anh giáo tươi hẳn mặt lên:

– Vậy hả ! Thôi em hối con nhỏ ở lên đem ghế bố ra rút đi. Em sao huỡn đãi quá hổng biết!

Thím Hương mỉm cười liếc xéo anh ta rồi bỏ đi về phía cửa buồng, miệng réo gọi con ở:

– Bảy a! Mầy bỏ đó lên đây tao nhờ một chút coi!

Con Bảy còn lục đục dưới bếp một hồi rồi mới ló mặt lên:

– Thím kêu con chi thím?

– Mầy vô vác cái ghế bố ra bắt gần chỗ bàn viết cho thầy giáo để thẩy mần sổ sách xong thẩy nghỉ lưng chờ ông mầy về… Nè, mầy vô buồng mở tủ lấy luôn cái mùng mới một nóc đó đem ra giăng luôn nghen Bảy.

– Dà.

Trong lúc con Bảy loay hoay banh ghế bố ra rồi giăng mùng, thím Hương day qua niềm nở bảo anh giáo

– Đó chú Giáo, khi nào chú Giáo mỏi mệt chú Giáo nằm nghỉ đi nghen. Chú nhớ tắt đèn măng sông dùm… Thôi tôi cũng vô ngủ đây chớ hơi sức đâu mà chờ ổng về..

Anh Giáo mỉm cười đáp:

– Dạ cám ơn Thím Hương… chắc tôi cũng tắt đèn liền bây giờ…

Thím Hương cau mày nhìn anh trong một giây rồi quay sang phía con Bảy:

– Bảy à, thôi mày xuống dưới bếp coi lại nồi cháo… Mày cứ cào lửa để than riu riu đó cho tao rồi mầy đi ngủ trước đi, chừng nào mấy ổng dìa tới tao sẽ kêu mày dậy.

Con Bảy ‘‘dà’’ một tiếng, bươn bả đi thẳng xuống nhà dưới như nóng lòng muốn cho xong công việc để nghỉ ngơi.

Thím Hương đứng xớ rớ ở đó chưa biết phải làm gì thì anh Giáo đã bắt ghế; bước lên và vói tay khóa hơi ngọn đèn măng sông…

Ánh sáng chợt tắt làm Thím Hương bối rối. Thím chắc lưỡi rồi hấp tấp chạy tuốt vô buồng khi nghe tiếng chân của anh Giáo bước xuống chạm vào chiếc ghế nghe lụp cụp lạc cạc.

Anh Giáo lật đật đuổi theo, nhưng khi đi ngang qua chiếc tủ thờ cẩn ốc để ở cuối gian giữa, trên có để một ngọn đèn ống khói trứng vịt leo lét, anh ta bỗng nhiên sượng lại… rồi len lén nép mình sát vô vách lần từng bước đi về phía buồng thím Hương…

Nghe tiếng chân người chạm nhẹ vào ngưỡng cửa buồng, thím Hương vừa nằm thụt sát tuốt vô phía trong giường vừa hỏi nho nhỏ:

– Ai… đó vậy?

Anh Giáo không đáp liền mà bước thẳng lại vén mùng lên đưa tay quờ quạng níu lấy ngang mình thím Hương lôi nhẹ ra:

– Thì… ai vô đây nữa!

Thím Hương cố nhoài người nhích ra nhưng không mấy kết quả nên đành thở ra một hơi dài rồi thì thầm cằn nhằn anh Giáo:

– Anh sao hổng bỏ tật lớn… Anh ẩu tả như vầy có ngày hai đứa chết dính chùm với nhau chớ hổng chơi đâu!

Anh Giáo vừa hôn nhẹ dưới vành tai của người tình vừa xầm xì

– Ẩu cái gì mà em nói hổng biết ! Giờ nay ổng đi mất rồi, cửa nẻo anh đã đóng kỹ… trong nhà quanh đi quẩn lại có ai nữa đâu! Bất quá anh vọt ra ghế bố nằm ngủ… hay chạy ra mở cửa cho ổng vào là cùng chớ gì!

Thím Hương vẫn còn cự nự:

– Em nói để chút nữa yên, em ra ngoài mà!

Anh Giáo đã nằm hẳn lên giường từ lúc nào:

– Chút nữa, chút nữa… để cho ổng về tới kịp thì còn mau chết nữa! Mà em ra ngoài hay anh vô trong, nầy thì… cũng vậy chớ gì…

Thím Hương hất mạnh tay anh ta xuống:

– Anh cái gì cũng… xô bồ xô bộn hết á! Nhưng đây là… buồng của em và mọi khi ổng ngủ trên cái giường nầy đây nè ! Mình cũng nên… nể mặt người ta một chút chớ…

Anh giáo Tư cười khúc khích:

– Nếu thiệt tình muốn… nể mặt ông Hương quản thì hai đứa mình đã… không dám chàng ràng với nhau như vậy! Thôi mà em, em đây hổng phải là… vợ  ‘‘của’’ thầy Hương sao? Đó em coi em đâu có tiếc chút xíu nào với anh đâu, như vậy em còn để ý gì đến căn buồng này, đến cái giường nầy…

Thím Hương khẽ trở mình rồi thở dài như cam phận, Anh Giáo xoay người theo, chép miệng nói đùa

– Em thiệt giống mấy người ăn xài bạc trăm bạc ngàn hổng tiếc, mà có khi… xót ruột vì một hai cắc bạc!

Thím Hương nhoài đầu lên, cắn nhẹ vào vai anh ta:

– Anh thì giỏi bép xép cái miệng ! Anh hổng biết chớ anh… xấu thói lắm, mấy lần trước ở bên nhà, tuy không có ai, nhưng anh làm em ngán thấy mồ!… Bộ anh quên rằng có… mấy đứa nhỏ nó ngủ ở buồng bên kia sao! Em sợ… là sợ như vậy đó!

Anh Giáo Tư thích chí thiếu điều muốn cười rộ lên nhưng anh ta chỉ đáp, giọng như nghiến giữa đôi hàm răng:

– Thì người ta có thương mình người ta mới như vậy. Thử thời em đem các cô mười bảy mười tám lại coi anh có quí bằng em hông ! Mà em làm như em… tốt nết lắm vậy!

Thím Hương vừa nhích người vô phía trong vừa đưa tay phủi lia:

– Mắc dịch anh… Bộ anh nói em…

Thím chỉ nói thêm được có bấy nhiêu đó, và những tiếng sau cùng như chìm lắng… đi đâu mất.

… Tiếng của hai con thằn lằn cắn đuổi nhau trên vách ván nghe rõ mồn một làm cho anh giáo Tư giật mình. Cả mấy gian nhà sao im lặng quá… Nhưng rồi anh ta cũng chẳng thèm để ý tới điều ấy nữa…

Thím Hương bỗng nhích đầu qua …đưa tay lắc nhẹ vai anh Giáo, rồi mãi một lúc sau mới hớt hải hỏi nho nhỏ anh Giáo

– Cái gì em nghe một tiếng ‘‘phịch’’ như…

Anh Giáo vuốt nhẹ má Thím Hương

– Cái gối rớt xuống gạch đá mà! Bộ em nói ai nhảy vô đây sao!

Thím Hương thở phào ra

– Vậy mà em hết hồn hết vía! Đây nè, anh để tay đây coi, nó làm như… đánh trống chầu ở trỏng vậy!

Anh Giáo sốt sắng hỏi lại:

– Đâu, đâu?

– Đây nè nè… Nghĩ anh ra đi! Hổng thèm nói với anh nữa đâu… 

Thím Hương buông sải hai tay lên mặt giường, và quay qua anh Giáo, giọng buồn ngủ:

– Mấy giờ rồi anh? Em mới nghe kiểng đồng hồ…

– Ối, anh có biết gì nữa đâu! Cái đồng hồ ở ngoài nhà là đồng hồ đờn, nên cứ mười lăm phút nửa giờ là nó đánh kiểng đờn ‘‘tình tang tình tang’’… Mà tự nãy giờ anh nghe văng vẳng nó ‘‘đờn’’ hai ba xáp gì đó…

Thím Hương quơ lấy cái mền, xổ ra phân nửa rồi vừa đắp lên người vừa kêu:

– Đâu có dữ vậy anh! Nếu vậy khuya ớn rồi đa!

Bỗng có tiếng chó sủa rộ lên ngoài cửa rào rồi có tiếng ông Hương Tuần vừa la chó vừa réo gọi vọng vô:

– Thím Hương ơi! Thím Hương! Thím thức hay ngủ đó. Thím Hương!… Thầy giáo ơi thầy giáo! Mau mở cửa cho tui vô.

Tiếp theo đó là tiếng vỗ cửa nghe rầm rầm…

Thím Hương ngồi choàng dậy đưa tay lắc mạnh vai anh Giáọ Tư:

– Ý trời ơi, họ dìa tới kìa anh!

Anh Giáo bò rột ngồi lên, hai tay quơ quàng phía dưới chân giường…

Thím Hương vừa lập cập xỏ chiếc áo túi vô, vừa hớt hải hỏi anh Giáo

– Mau đi anh ơi! Anh làm ơn chạy rút ra mở cửa dùm một chút!

Anh Giáo vội vã bước xuống trong lúc hấp tấp chạy đi, đá nhằm một chiếc guốc của Thím Hương văng đụng vô vách ván.

Thím Hương vừa sợ vừa bực, chắc lưỡi nho nhỏ…

Và trong lúc anh Giáo Tư lạch cạch nhấc mấy cây song hồng lên để kéo mở hai ba cái chốt cửa, Thím Hương nhanh nhẹn bước xuống giường, mò nơi đầu giường lấy hộp quẹt ra đốt ngọn đèn dầu móc trên cột. Đoạn Thím bước trở lại sửa hai chiếc gối tai bèo và chiếc gối ôm cho ngay ngắn chiếc chiếu lại cho bằng phẳng, với tấn lại mấy chỗ mí mùng bung ra…

Thím nhìn kỹ lại một lượt khắp mọi nơi, rồi mới khoan thai bước ra khỏi cửa buồng…

…Thấy ông Hương Tuần đang xầm xì với anh Giáo ngay chỗ cửa cái, thím Hương bưng luôn chiếc đèn chong trên bàn thờ xuống vặn cho sáng thêm hơn rồi mang lại phía hai người.

Thím ngạc nhiên khi nhận thấy bỗng nhiên hai người ấy nín bặt, rồi cả hai đều lấm lét nhìn về phía mình, và thím đăm ra lo sợ phập phòng… Nhưng thấy không có mặt thầy Hương quản ở đó, thím cũng… vững lòng đôi chút và làm tỉnh cất tiếng hỏi lớn:

– Ủa, còn ông nhà tôi đâu? Bộ ổng chưa dìa tới sao chú Hương Tuần?

Ông Hương Tuần đưa mắt nhìn anh Giáo Tư, tằng hắng lên mấy cái rồi ông ta vừa bẻ mấy ngón tay kêu răng, rắc vừa ấp úng đáp

– Dạ… tui cũng mới vừa cho thầy giáo đây hay…

Thím Hương chận ngang

– Coi, chuyện gì vậy chú Hương? Chuyên gì vậy… chú Giáo?

Anh Giáo Tư thở ra rồi giơ tay chỉ về phía ông Hương Tuần:

– Có chuyện…chẳng lành …thím Hương à. Ông Hương Tuần đây mới cho tôi biết sơ…Thầy Hương Quản bị thương nặng…

Thím Hương trợn mắt hỏi lại ông Hương Tuần một hơi

– Chú nói sao chú Hương Tuần? Ông bị thương à? Mà làm sao để cho bị thương? Nặng hay nhẹ hả chú Hương?

Ông Hương Tuần nhăn nhó

– Dạ, tui cho người lấy tam bản bốn chèo, chèo rút chở thầy Hương lên trên nhà thương Ô Môn rồi… Thiệt tức quá tui la cản thầy mà thầy đâu có chịu nghe cho nên mới ra nông nổi ấy…

Thím Hương dậm chân chắc lưỡi:

– Bắt sống nó tế mồ tế tổ gì mà ổng ham quá vậy hổng biết hả chú Hương?

Ông Hương Tuần nhún vai:

– Bởi vậy nên mới tức cành hông: thấy thằng đầu đảng bị động ổ chạy vọt ra, tụi kêu thẩy пổ mẹ nó hai phát liền để ria cái thằng chúa ôn đó…lủng như cái rổ xúc cho rồi, nhưng thẩy đòi bắt sống nó hè ! Tui tức quá, tính dệnh cho nó một phát ca-líp đui của tui, nhưng thẩy hất tay tui bật qua một bên rồi xách súng nhào theo rượt đuổi thằng đầu đảng…

Như đoán trước được việc sẽ phải xảy ra, thím Hương thở ra một hơi dài não ruột, đoạn cúi mặt xuống.

Thím bỗng để ý đến một chiếc nút áo túi còn chưa kịp gài vào khuy. Thím liếc nhanh về phía anh Giáo rồi lẹ tay gài luôn lại chiếc nút áo còn sót ấy. Bất chợt cái nhìn đó, anh Giáo đâm ra sượng sùng nên vội quay mặt ngó ra phía ngoài sân và tự nhiên cũng đưa tay lên vuốt vuốt lại mái tóc cho suông sẻ…

Thím Hương rầu rầu hỏi nhắc lại ông Hương Tuần

– Rồi sao nữa chú Hương?

– Dạ thấy vậy tui cũng nhào theo phía sau lưng thầy Hương… lúc bấy giờ anh em cũng đã nổi đuốc lên, kẻ rượt theo bọn cướp chạy túa ra đồng người chạy theo tụi này để ví bắt thằng đầu đáng. Nhưng khi thầy Hương vừa chạy trờ tới một cây rơm chất gần chuồng trâu, thì thằng đầu đáng núp chận đón ở đó nhảy ra quánh tạt một cây roi tằm vong vô đầu thầy Hương… Tui nghe ‘‘bốp’’ một cái, thầy Hương chỉ kêu lên hai tiếng ‘‘chết tui’’ rồi té lật ngang dẫy tê tê. Tui sợ thằng đầu đáng đánh bồi thêm nữa nên cất súng lên nổ một phát… Thiệt gần quá mà, chỉ cách nó có năm sáu bước gì đó…

Anh Giáo Tư hỏi chen vô:

– Có trúng ngay nó không hả ông Hương?

– Trúng ở đâu thì tui hổng biết chớ nhứt định là… có trúng. Tui nghe nó rên lên một tiếng rõ ràng mà!… Như bò rống vậy!… Rồi tui thấy nó loạng choạng chạy bương tới để nhào vô trong đám lát gần mé rạch… Tui có bắn nà theo mấy phát liền, thế nào nó cũng lãnh thêm vài ba vít đạn nữa mà!

Thím Hương có vẻ sốt ruột:

– Mà rốt cuộc rồi có bắt được nó hay không?

Ông Hương Tuần đáp hơi to tiếng:

– Coi, thầy Hương thầy nằm cứng đờ một đống ở đó thì ai đâu còn bụng dạ nào mà rượt theo nó nữa chớ! Tui mới cắt đặt anh em tốp thì lo chở thẩy tuốt lên nhà thương chớ lúc đó thẩy… hết biết rồi, đứa thì dông dìa phi báo cho ông Cả hay… Còn tui, tui lội rút vô đây để cho thím rõ.

Thím Hương gật đầu:

– Được rồi, để tui kêu mấy đứa bạn ở đây đẩy tam bản xuống để tốc đi ra nhà thương Ô-Môn liền bây giờ.

– Phải đa. Thím nhớ đem theo một vài bộ quần áo lên nhà thương để thẩy thay đổi… Lên trển thím nhớ nói lại với thẩy dùm; sáng mơi tui lên thăm thẩy, còn bây giờ tôi phải quay vô trỏng để coi mấy anh em tụi nhờ chận cảc nẻo đường có thấy gì hông. Thím nhớ nói luôn với thầy Hương, sớm hay muộn gì tui cũng thộp cổ được thằng đầu đáng đó. Hồi nãy tui lấy đèn pin soi dưới cỏ thấy có vết máu của nó chạy dài, như vậy phăng lần tới mấy hồi.

Anh Giáo rụt rè hỏi vô:

– Sao Ông Hương không… rượt theo nó luôn; chớ để tới bây giờ chắc nó đủ thời giờ cao bay xa chạy?

Ông Hương Tuần ‘‘xì’’ một tiếng:

– Tui rượt theo rồi ai trông coi hối thúc anh em lo chở thầy Hương đi cứu cấp đây! Thầy Giáo khỏi lo. Thằng đó nếu là dân xứ khác, nó mạnh giỏi thì người ta còn chứa chấp nó, chớ bây giờ nó bị thương như vậy, mụ nội ai cũng hổng dám rước nó nữa!

Mà mình biết chắc nó là người trong làng, như vậy thế nào nó cũng còn ráng bò lê dìa nơi quen thuộc, hay nơi nhà nó ở cũng hổng chừng, để băng bó sơ sơ và quơ quàọ chút đỉnh tiền nong trước khi khơi sang xứ khác lánh thân…

Như thêm đắc ý, ông Hương Tuần gật gù rồi hăng hái nói tiếp:

– Nó chưa đi xa được đâu thầy Giáo à! Tui dám cam đoan với thầy: nội nhựt ngày mơi tui sẽ thộp cổ được thằng đầu đáng cho thầy coi!

Anh Giáo vừa liếc trộm thím Hương vừa trả lời đẩy đưa

– Ông Hương nói vậy là… đúng rồi chớ sai chạy đâu nữa được…

Ông Hương Tuần như không để ý đến lời của anh Giáo Tư quay qua ái ngại nhìn Thím Hương, rồi rụt rè hỏi thím:

– Thôi Thím Hương cũng sửa soạn đi lên chợ… Chắc thím biết chỗ nhà thương rồi…

Thím Hương như sực tỉnh:

– Ờ để tôi đi liền cho kịp con nước lớn… Thiệt tôi bây giờ cũng như người mất hồn…

Ông Hương Tuần nhìn Thím Hương quán chép miệng than thở:

– Cơ khổ, mới có nhấp nháy đó mà bao nhiêu chuyện đã xảy ra… Thôi, tui quay trở vô trong ngọn để lo phần việc của tui đây.

Nói xong, ông ta rón rén lui ra cửa rồi bước đi thẳng một mạch…

Mười phút sau, Thím Hương đầu đội khăn bàn lông, tay ôm một gói quần áo nhỏ, từ nhà trong bước ra.

Anh giáo Tư liền xáp lại:

– Em để anh di theo… cho có bạn.

Thím Hương không ngó lại, đáp giọng hơi xẳng:

– Đến nước này mà anh còn… ung dung làm như hổng có chuyện gì xảy ra hết vậy ! Người ta lo thiếu điều hụt hơi đây…

Anh Tư te te bước theo:

– Coi, thì anh cũng lo cho em đây nè!

– Nếu vậy thì anh chịu khó ở lại coi chừng nhà cửa và hai đứa nhỏ dùm em.

Anh Tư nhún vai, giọng lẩy đương:

– Cũng được.

Thím Hương đứng lại, có ý làm lành:

– Tội nghiệp em mà anh! Trong tình cánh này, dầu sao mình cũng nên nghĩ đến ổng một chút, dầu sao ổng cũng đã… ăn ở với em có hai mặt con và trên suốt mười năm nay không có một tai tiếng gì…

Anh Tư nhích mép cười:

-… Chưa có tai tiếng gì đúng hơn, và nội cái đó em cũng đủ thấy là anh khéo xử lắm nghen!

Thím Hương cúi đầu làm thinh, rồi lặng lẽ bước đi.

Anh Tư kèm theo bên cạnh:

– Anh biết trong lúc bối rối như vầy, người ta hay nóng nảy bộp chộp là sự thường, nhưng chuyện đời đâu phải chỉ có một ngày một bữa gì… Nó còn dài lắm em à! Và dầu trong hoàn cánh nào cũng vậy, em nên tin chắc rằng anh luôn luôn sẵn sàng chia xớt ngọt bùi cay đắng với em. Như vậy cũng có chỗ… đỡ phải không em?

Thím Hương tìm cách nói trớ sang chuyện khác:

– Anh ở nhà, mấy đứa nhỏ có thức giấc bất tử hay nếu sáng mơi em chưa về kịp thì anh cũng liệu lời nói với tụi nó. Anh nói với thằng Long và con Hạnh rằng cậu của hai đứa nó… đau nằm nhà thương và em thì đi lên thăm. Anh nói sơ vậy thôi chớ con nít con nôi biết nhiều quá cũng chẳng lợi lộc gì…

Giọng nói của anh Tư bỗng có vẻ gắt gỏng

– Được rồi, có chút xíu đó mà em cũng dặn tới dặn lui. Để thây kệ anh liệu lời nói với tụi nó sao cho yên thì thôi.

– Thì em nói… là là nói vậy… Thôi em đi nghen!

Thay vì đáp lời, anh giáo Tư lúng túng cằn nhằn:

– Thiệt cái đêm mắc toi gì sanh lắm chuyên rắc rối quá hổng biết! Cũng tại thằng ăn cướp chết đâm đó!

Rồi đứng im nhìn theo Thím Hương bước thẳng ra cửa rào để đi xuống bến sông, anh Tư chợt nghĩ ra điều gì nên đưa mấy ngón tay lên búng kêu tách tách và lẩm bẩm nói như nhủ với mình:

– Chuyện đời còn dài… biết đâu !…

Bấm đèn pin soi lần theo vết máu… đi phăng tới đầm lác, lội theo lằn lác bị ngã rạp, ông Hương Tuần thất vọng đứng trước bãi bùn ở mé kinh.

Vừa quơ đèn pin rọi theo một hàng dấu chân mới in ràng ràng trên bãi bùn, ông Hương Tuần vừa nói với anh tráng đinh đi theo mình:

– Cái điệu nầy chắc nó còn sức lội băng ngang con kinh nhỏ này đó Năm à… Mà qua bên kia bờ, đồng trống minh mông thiên địa, mụ nội tao bây giờ cũng hổng biết nó khơi dìa hướng nào nữa.

Anh Năm ngó mong về phía tối om ở bên kia mé kinh:

– Dạ phải đó ông Hương… Chắc chuyến nầy nó đi huốt được nữa…

Ông Hương Tuần chép miệng :

– Bộ mấy phát đạn của tao hổng trúng vào chỗ nghiệt của nó sao mà!

Anh Năm không biết đáp sao cho ổn, chỉ đành ‘‘dà’’ một tiếng lơ lửng…

Ông Hương Tuần trao đèn pin cho anh ta và bảo:

– Nè Năm, mầy đi lấy chiếc xuồng bơi lại đây chở tao qua kinh. Tao với mầy chỉ có nước kiếm… cầu âu, chớ mép ở bển ‘‘tràng giang đại hải’’ lớp ruộng mương, lớp đồng năng, lớp bàu sen, mình làm sao biết chỗ nào có dấu vết của nó mà phăng tới hả Năm?

Anh Năm lại ‘‘dà’’ một tiếng…vô thưởng vô phạt nữa rồi cầm cây đèn pin dông đi lấy xuồng…

… Qua tới phía bên kia bờ kinh, ông Tuần quơ quơ đèn pin rọi  ‘‘tứ tung ngũ hoành’’ một hồi rồi buông thỏng tay xuống, day qua hỏi anh Năm:

– Bây giờ mày tính sao Năm?

Anh Năm ấp úng đáp:

– Dạ… ông Hương tính sao đó tính… chớ tui biết khỉ gì…

Ông Hương Tuần thở ra:

– Tao… bí nên mới hỏi mầy, mà mầy lại trả lời cái điệu đó thì kể cũng như không!

Đoạn ông ta đứng chống nạnh ngó mong về phía đồng trống một hồi rồi lại hỏi anh Năm

– Mầy biết có nhà cửa nào ở gần gần đâu đây không? Cái này tao chắc mày rành.

– Dạ, từ đây vô tuốt trong ngọn sâu thì không có ai ở hết, nhà cửa chỉ gom dìa cận ngoài vàm… Để tui nhớ lại coi… gần đây nhứt có nhà của ông Sáu Giò rồi kế nhà của anh Ba Câu, anh Ba… xuồng câu đó ông Hương,

Ông Hương Tuần lắc đầu:

– Ối hai cha nội đó hiền khô chắc hổng có cha nào là thằng mặt lọ nghẹ đâu! Mà thôi tụi mình cũng thả rề lên miệt đó để dọ hỏi lần coi có ai nghe thấy gì lạ hông…

Thấy cánh cửa líp nhà ông Sáu Giò mở toang, ông Hương Tuần bèn xồng xộc đi vào, bật đèn pin lên rọi sơ qua một vòng :

– Ủa, khuya lơ khuya lắc mà cha nội này đi đâu để nhà cửa trống trơn như vầy nè!

Anh Năm chưa kịp chen vô phía trong nhà thì ông Hương đã ghim ngọn đèn pin rọi thẳng xuống khoảng đất nơi ngưỡng cửa và lập bập kêu lên:

– Ý, trời trời… sao có máu đọng vũng đây nè Năm?

– Đâu đâu ông?

Ông Hương Tuần lẩm bẩm:

– Lạ quá! Chẳng lẽ thằng lọ nghẹ là ông già Sáu Giò? Mặc dầu hồi nãy đèn đuốc nhấp nhem tao cũng thấy rõ vóc vạc của nó là bực trung và có da thịt chớ đâu cao lỏng khỏng ốm teo ốm nhách như ông… tre miễu Sáu Giò!

Anh Năm cũng nói ùa theo:

– Chắc không phải ổng đâu ông à… Hay là thằng đầu đảng nó về đây… bắt ổng dẫn đi rồi!

– Hứ, dẫn đi tế mồ nó sao! Thôi tao với mầy đi bương qua nhà kế cận… nhà của thằng Ba xuồng câu phải hông mầy?

– Dạ phải!

– Ờ, mình qua bên hỏi thăm coi có ai nghe lộn xộn gì ở bên này hông,

–  Dạ tui chắc giờ này ở bển chẳng có ai anh Ba thì thả xuồng câu tôm ngoài sông, Ở nhà chỉ có đứa con gái nhỏ của ảnh.

– Ờ, tao quên nữa há! Thôi mình cũng đi…cầu âu rồi hỏi thăm lần lần sang mấy cái nhà kế đó nữa coi.

Sang đến sân nhà anh Ba Câu, ông Hương Tuần và anh Năm thấy đèn chong sáng trưng phía trong nhà. Ông Hương Tuần ngạc nhiêh khều anh Năm, hỏi nhỏ:

– Uả, bộ thằng Ba nó hổng có đi câu đêm nay sao? Kìa kìa, có thằng cha nào mới ló ra cửa để nghe ngóng gần như là ông Sáu Giò vậy?

– Ông Sáu đó chớ ai!

Ông Hương Tuần lấy cây súng một lòng mang trên vai xuống để cầm sẵn nơi tay rồi trao cây đèn pin cho anh Năm và thì thầm căn dặn:

– Vô tới nhà, mầy bóp đèn chiếu liền, và hễ có ai rục rịch chạy thì mầy rọi theo để tao nổ nó nghen!

 Đoạn hai người xăm xâm đi thẳng vô cửa.

Mặc dầu đèn trong nhà sáng trưng anh Năm cũng bật đèn pin lên liền và rọi thẳng vô giữa mặt người mà anh ta ‘‘chạm trán’’ đầu tiên. Đó là ông Sáu Giò.

Ông Hương Tuấn chong súng lên và quát lớn với ý định chận đầu trước:

– Ê ông già Sáu, ông đứng yên, tôi rõ hết rồi, ông dẫn thằng lọ nghẹ giấu đi đâu, nếu biết điều thì chỉ cho mau!

Ông Sáu vừa lấy tay che mắt vừa bình tĩnh đáp:

– Chói mắt quá mấy ông ! Mấy ông muốn bắt thằng… nghẹ thì để tui chỉ cho…

Ông Hương Tuần ghìm ghìm mũi súng, hỏi dồn:

– Đâu đâu, nó ở dâu?

– Nó ở đây nè.

Cặp mắt ông Hương Tuần đáo lia trong lúc ngọn đèn pin trên tay anh Năm cũng …quét qua quét lại…

Ông Sáu Giò liền lên tiếng chỉ:

– Nó nằm đắp mền ở trên sạp tre bên trái đó! Ngọn đèn pin và mũi súng chong về hướng đó. Ông Hương Tuần hấp tấp hỏi:

– Ai vậy đó ông Sáu?

Ông Sáu Giò cười mũi:

– Thì thằng.. lọ nghẹ mà mấy ông kiếm bắt còn ai vô đó nữa!

Ồng Hương lườm lườm nhìn ông Sáu:

– Bộ cha già này muốn nói vần lân sao mà! Ai hổng biết nó là thằng lọ nghẹ, nhưng thằng lọ nghẹ là cha căng chủ kiết nào mới được chớ!

Ông Sáu thở dài rồi trả lời gọn lỏn:

– Chủ nhà này mà!

Ông Hương Tuần trợn tròn đôi mắt trong lúc anh Năm cũng lơi tay buông tắt ngọn đèn pin:

– Chủ nhà nầy! Thằng Ba Câu? Vô lý!

Ông Sáu Giò có vẻ bực mình:

– Mấy ông hỏi tui chỉ, còn vô lý hay có lý gì đó thì mấy ông cử bước lại dở mền ra coi… Dễ quá mà!

Vừa lúc ấy, người nằm đắp mền kín mít bỗng nhoi đầu ra và phều phào lên tiếng:

– Mời ông Hương Tuần lợi đây…

Tự nhiên ông Hương Tuần lùi lại một bước, ghim thẳng mũi súng về phía trước và lắp bắp kêu:

– Năm, Năm… rọi đèn lên mậy!

Tên cướp, mặt mày vẫn còn mang vết lọ nghẹ, cười khẩy, giọng tuy mệt mỏi nhưng không kém phần chế diễu;

– Tui là thằng Ba Câu đây mà!… Ông bắn súng khá đa ông Hương Tuần! Bình tĩnh lại đi ông Hương, tui dìa… tới mức và hết chạy đi đâu nữa được rồi mà!

Ông Hương Tuần rụt rè hỏi lại:

– Bộ mầy là… thằng Ba Câu thiệt hả Ba?

Một nụ cười héo hắt nở trên môi tên tướng cướp:

– Ông này bộ ổng… lẩn rồi sao mà! Tui… thiệt đây mà! Đây, ông muốn coi giấy thuế thân tui sẵn lòng đưa cho ông xét…

Ông Hương Tuần quay qua nói như muốn phân bua với ông Sáu Giò

– Thiệt tui có dè đâu nó là… thằng Ba Câu nầy nè! Sao mọi khi nó hiền khô, chơn chất lo mần ăn…

Ông Sáu buồn bã lắc đầu:

– Thì tui ở khít vách nó đây mà cũng hổng biết gì ráo ! Cho đến lúc nãy nghe súng nổ, rồi mõ hồi một nổi lên tứ tung, rồi kế tới thằng… Ba đây nó lủi vô nhà tôi máu me đầy mình… Mới đầu tui cũng tưởng ai, sau mới biết là nó nên kè nó dìa bên nầy đẽ băng bó…

Ông Hương Tuần hơi cau màỵ:

– Nhưng sao ông không chạy đi báo cho làng xã biết…

Ông Sáu nhún vai:

– Thì ông Hương nghĩ coi: tui thấy nó cũng không còn sống bao lâu nữa nên cũng có hơi… hưỡn đãi một chút, với lại thằng Ba đây nó cũng muốn trối lại với tui một vài điều…

Ông Hương Tuần chận ngang:

– Chắc nó căn dặn chỉ bảo ông về… mấy chỗ nó chôn dấu vàng bạc tích trữ từ hồi nào tới giờ phải hông? Tụi nó đánh mấy đám khá lắm mà!

Sáu Giò quắc mắt lên rồi cười khan:

– Tui nghèo thì nghèo… hết chỗ để ông Hương Tuần à, nhưng không phải vậy mà ham muốn mấy thứ của hoạnh tài ấy đâu. Ông hổng tin ông cứ hỏi thẳng thằng. Ba thì rõ… mà ông nhớ hỏi gấp chớ hông thôi nó sắp chết đến nơi bây giờ…

Anh Ba lại phều phào nói chen vô:

– Ông Sáu nói đúng đa ông Hương…

– Được rồi, để lát nữa tao sẽ hỏi cung mầy… Mà thôi để tao lo chở mầy đi nhà thương để họ lo cứu mầy sống đã rồi sau sẽ tính.

– Tính cho tui ở tù rục xương hay là đày đi Côn đảo hả? Đâu có dễ vậy ông Hương Tuần.

Ông Hương Tuần xốc cây súng trong tay:

– Mẻ ! Bộ mày muốn… hăm he tao sao chớ?

Anh Ba lại mỉm cười:

– Đâu có dám vậy ông Hương! Tui nói như vậy là muốn… khen ông bắn giỏi đó. Cha, ông nã tụi mấy phát thiếu điều… kề mũi súng sát vô áo nên bấy mình hết, sống gì nổi nữa mà ông còn lo chở tui đi nhà thương (bỗng anh ta quơ tay chụp một ngọn mác thủ sẵn bên mình giơ cao lên rồi quay mũi trút xuống ngay cổ họng). Mà tui nói thiệt; hễ ông rờ tới tui để chỡ đi nhà thương là tui đâm cổ chết liền cho ông coi.. mát con mắt!

Ông Hương Tuần giơ tay ra phía trước như muốn cản ngăn:

– Ý trời, mầy đừng… làm bậy hổng nên.

Ba Câu cười lạt

– Nên hay không gì tui biết mà!

Ông Hương Tuần hạ mũi súng xuống và dịu giọng bảo anh ta:

– Tao biết mầy can trường mà Ba! Nhưng mầy nên nghĩ lại để yên cho tao chở đi nhà thương họ cứu chạy cho mầy khỏi chết… Sau đó, bất quá mầy lãnh… một vài năm tù rồi dìa lo tu dưỡng mần ăn… Chớ bây giờ mầy liều mạng chết đi thì mấy thằng đồng đảng của mầy còn sống tụi nó hưởng hết… Mà tao nghe nói mầy còn có một đứa con nhỏ nữa đó Ba!

Ông Sáu Giò vội nói chen vô:

– Phải đa ông Hương! Con nhỏ nó nằm bên bộ ván kia kìa.

Ông Hương Tuần bước lại vén mùng lên nhìn vô trong: một đứa bé gái độ tám chín tuổi đang chèo queo nằm ngủ mê mệt, ông ta buông mùng khép lại rồi khẽ thở dài

– Tội nghiệp cho con nhỏ!

Ông Sáu Giò nhìn ông Hương-tuần, giọng buồn rằu:

– Thằng Ba đây nó có gởi gấm con nó cho tui nuôi dưỡng dùm… chớ đâu có dặn dò chỉ chọc về chỗ chôn tiền giấu bạc gì như ông Hương cật vấn tui hồi nãy.

Ông Hựơng Tuần có vẻ sượng sùng:

– Thì tui cũng hạch hỏi lấy lệ vậy thôi (đoạn ông ta day qua nói với Ba Câu)… Nè Ba, mầy nên nghe lời tao thì may ra tránh con nhỏ khỏi cảnh mồ côi cả mẹ lẫn cha…

Ba Câu mỉm cười chua chát:

– Chắc nó phải chịu cảnh đó rồi,.. (bỗng anh ta quắt mắt lên) Nó mà mồ côi như vậy thì dầu cho tui có chết cũng có người thay tôi mà trả thù, mà làm cho vợ con thằng cha Hương Quản chết lên chết xuống tui mới nghe!

Ông Hương Tuần chỉ về phía ông Sáu Giò:

– Bộ mày tính nhờ ông Sáu đây trả thù dùm hả?

Ông Sáu hấp tấp kêu lên:

– Ý, chuyện đó hổng có đâu! Tui chỉ lãnh phần đùm bọc con Lụa, con gái của thằng Ba đây thôi, chớ tui già cả lụm cụm như vầy mà làm gì ai được?

Ông Hương Tuần quay qua phía Ba Câu:

– Tao khuyên mầy dẹp cái chuyện đó qua một bên đi nghen. Bộ mầy quên rằng mầy… mới vừa đập đầu thầy Hương Quản bất tỉnh nhơn sự cho đến đỗi phải chở thẩy đi tuốt lên nhà thương Ô Môn đó sao. Thẩy mà hổng khỏi chuyến này thì mầy lãnh đủ đó nghen Ba!.

Ba Câu phắt cười lớn lên, rồi một tay ôm lấy ngực hào hễn thở. Mãi một lúc sau anh ta mới phều phào lên tiếng

– Tui quất một roi tầm vong đó thì… Phật Bà có xuống cũng… lắc đầu ứ hự chớ cứu gì nổi! Bởi vậy tui đâu thèm cho ông Hương Tuần chở tui đi nhà thương, rủi lên trển người ta cứu tui được thì sau này cũng chỉ có nước… ăn gươm máy hay ra Côn đảo ở rục xương ở ngoải…

Ông Hương Tuần chắc lưỡi

– Thằng nầy thiệt cũng kỳ! Mầy đi ăn cướp đã là quấy rồi, vậy mà khi động ổ mầy không chịu dông đi cho gấp như mấy thằng khác, mầy lại,ẩn núp để muốn giết hại làng xã…

Ba Câu nói chận ngang một cách gọn bân:

– Muốn giết thằng cha Hương Quản hè,

– Coi, thầy Hương thẩy làm gì đụng chạm đến mầy mà mầy thù thẩy dữ vậy?… Tao muốn nói là thẩy chỉ làm phận sự của một Hương chức hội tề lo giữ cho làng xóm yên ổn mần ăn…

– Tui thù đây là thù thằng cha Hương Quản Trần thiện Nam, còn thứ Hương Quản khác… thì thây kệ mẹ họ chớ ăn thua gì tui!

Ông Hương Tuần lớn tiếng cự nự:

– Ê, mầy không được ăn nói theo điệu ba trợn đó nghen. Hương Quản gì thì người ta cũng lo thộp cổ mấy cái thứ như mầy hết!

– Nhưng phải thứ Hương Quản khác thì tui còn… vị nể đôi chút để… mần ăn cho dễ, chứ gặp cái thằng Hương Quản Nam là tui khỉa nó liền. Tui canh thằng chả lâu quá… thiệt ông trời cũng có con mắt nên dung ruổi cho thằng chả phát chạy rượt theo tui đêm nay.

– Hứ, ổng có bề gì thì đời mầy cũng tàn!

Ba Câu cười khẩy

– Nhưng cái thù của tui còn trả hoài hoài nữa mà ông Hương Tuần! Tui chết chớ bộ anh em đồng đãng của tui cũng chết hết sao!

 Còn nội anh bạn đồng sanh đồng tử với tui cũng đủ chơi rồi…

Ông Hương Tuần chụp nói liền:

– Ờ mầy nhắc hay đa! Vậy mấy thằng đồng đảng đó hiện bây giờ ở đâu hả? Nhứt là cái thằng ‘‘đồng tử’’ đó?

– Coi, ở đâu thì… làng xã ráng mà kiếm?

Ông Hương Tuần trợn mắt:

– Cái thằng này mầy ăn nói dễ ngươi quá mậy ! Mầy hổng nói tao cũng có cách cho mầy nói, và tới chừng đó tao sợ mầy sẽ lạy tao để xin khai không còn sót một con đỏ nữa là khác!

Ba Câu lim dim đợi ông Hương Tuần nói cho hết lời rồi mới từ từ mở mắt ra, giọng diễu cợt:

–  Ông không nói tui cũng dư biết, nhưng sở dĩ lui dám thố lộ ra những điều mới rồi mà không sợ phải… khai ra hết là vì tui biết tui sắp chết…Ông mà tra khảo tui liền bây giờ thì tui càng… mau chết, và một khi tui chết rồi thì ông cũng…bó tay. Tui nói như vậy, ông Hương nghĩ coi có lý hông?

Ông Hương Tuần nhăn mặt:

– Thiệt tao hổng dè mầy xảo quá vậy!…

Còn cái chuyện thù oán…thầy Hương Quản thẩy có làm gì đâu mà mầy thù oán thẩy dữ thần vậy?

Ba Câu chỉ còn sức để nhếch mép cười:

– Hừ, đâu có cái gì!…Mấy người ở trên cao quá nên có thèm nhớ dùm chuyện của mấy thằng khố ôm áo rách nầy làm chi cho mệt phải hông! Bộ ông Hương Tuần ông quên…

Ba Câu chỉ nói có bấy nhiêu rồi bỗng ngoẽo đầu qua một bên, nấc lên mấy tiếng, máu miệng trào ra…

Ông Sáu Giò vội chạy lại nâng đầu anh ta dậy và réo giựt ngược

– Ba ơi Ba? Lay tỉnh bớ Ba!

Ba Câu từ từ mở mắt ra và khi thấy ông Sáu, anh ta rúng nhấc tay lên chỉ về phía bên kia bộ ván, rồi phều phào nói được hai tiếng:

– Con Lụa…

Bàn tay của anh ta rớt mạnh xuống sạp tre, mắt trợn trắng. Ông Sáu Giò đặt đầu anh ta nằm ngay ngắn trên gối, đưa tay vuốt mắt rồi quay qua thở dài nhìn ông Hương Tuần:

– Nó chết rồi ông Hương…

Ông Hương đâm ra ngượng nghịu:

– Ờ…tội nghiệp…cho con nhỏ của nó…

Ông ta dựng cây súng dựa vào vách rồi ngồi phịch xuống một chiếc ghế đẩu gần đó.

Ông Sáu Giò bước lại rụt rè hỏi:

– Bây giờ ông Hương Tuần…tính sao đây?

Ông Hương Tuần nhún vai

– Tính sao nữa giờ! Để sáng ngày mơi tui vô nhà việc trình rõ tự sự với ông Cả để ổng biểu xuất công nho ra… chôn cất cho nó… Còn bây giờ thì tui sai thằng Năm dìa trước cho mấy ổng hay để ra chứng cho vụ này.

Ông Sáu Giò nhìn sang phía xác anh Ba Câu:

– Hồi nào nó còn sống thì khác, bây giờ nó chết đi…tui cũng xin ông Hương sẵn lòng lo liệu dùm, phần tui, tui gánh đứa nhỏ kia…

– Được mà. Ông ráng lo cho đứa nhỏ đó đi, mà theo tui, ông cũng…đừng cho nó biết tường tận chuyện vừa qua làm gì… À, hồi nãy tía nó dìa, nó có hay hông?

– Dạ, nó ngủ mê nên không hay biết gì!

– Vậy thì tốt lắm! Ông cứ nói tía nó…đau chết bất tử. Mình đem mấy chuyên…cướp bóc, đâm chém bắn giết ra kể cho con nít nghe…nó cũng chẳng hiểu, mà cũng chẳng…lợi lộc gì.

– Ông Hương nói phải lắm. Tui cũng nghĩ như vậy.

Ông Hương bèn day qua bảo anh Năm:

– Năm à, mầy chịu khó bơi xuồng dìa trước để cho ông Cả hay và nói tao còn ở ngoài nầy nghen. Ổng có tính gì khác thì mầy trở vô cho tao rõ nghen.

Đợi cho anh Năm đi khuất, ông Hương Tuần liền lên tiếng hỏi ông Sáu Giò:

– Nè ông Sáu, tui hỏi thiệt ông câu này! Ông biết tại sao mà thằng Ba Câu đây thâm thù thầy Hương Quản dữ vậy hông? Hồi nãy nó có tính nhắc lại một chuyện cũ xì cũ xịch gì đó mà tui nghĩ nát óc cũng chẳng ra…

Ông Sáu liếc qua phía bên kia chỏng rồi thở dài đáp:

– Chuyện vợ con nó đó ông Hương à..Thiệt tui cũng hổng dè nó còn ấm ức tới ngày nay…Hồi nãy nó nhắc lại tui chưng hửng.

Ông Hương Tuần nhíu mày

– Chuyện vợ con gì ông Sáu?

– Ông Hương quên hẳn thiệt sao? Mười năm về trước con vợ của nó cũng có…dính líu đến thầy Hương Quản…

Ông Hương Tuần vỗ đùi kêu lên

– Thôi tui nhớ mài mại ra rồi! (bỗng nhớ trực lại kẻ bạc phận, ông ta liền hạ thấp giọng)…Hồi đó con vợ nó đây còn con gái phải hông ông Sáu? Hồi đó tui cũng chỉ nghe phong phanh vậy thôi,..Đâu, ông Sáu ông biết rành…

Ông Sáu vội đỡ lời:

– Thì..cái chuyện chẳng tốt lành gì nên người ta cũng ém nhẹm nó đi. Hồi con vợ thằng Ba đây còn con gái mới mười bảy mười tám tuổi gì đó…Ông già của nó là tá điền của ông Hương Quản… ông Tám Sến đó ông Hương Tuần !

– Ờ đất đai miệt nầy thuộc dìa của thầy Hương gần hết mà!

– Dạ phải. Và cũng trong mùa lúa như vầy, đứa con gái lớn của ông Tám Sến – tức là vợ của thằng Ba- sau nầу đó- chăn một bầy vịt tàu ở ngoài đồng. Ông già của nó mới dựng chòi cho nó ở luôn ngày đêm ngoài đó để trông coi cho tiện.

Ông Hương Quản thì…ban đêm hay tuần rỏn sợ tá điền lưu lúa bán tháo đi bớt để rồi đong thiếu đong hụt. Chắc ông Hương còn lạ gì, tá điền đứa nào đứa nấy cũng nghèo sặt gạch thiếu trước hụt sau…nội ba cái bạc lúa góp lấy trước hồi còn mùa nước nó cứ đẻ lời ra hoài, năm này chồng sang năm kia…

 Ông Hương Tuần có vẻ sốt ruột

– Cái đó tui dư biết! Con vợ tui nó cũng có cho bạc lúa… Bộ thầy Hương Quản…lẹo tẹo với con nhỏ hả? Mà thẩy cũng trọng tuổi, có vợ có con mà!

Ông Sáu Giò thở ra:

– Thì ông Hương nghĩ coi: hổng biết ổng òn-ỉ làm sao mà con nhỏ dính luôn! Chắc con nhỏ nó khờ quá, phần thì sợ ổng, phần thì…chưa biết gì hết nên sẵn đó rồi bắt bén…tói chừng mãn mùa khô thì…nó có nghén.

Ông Hương Tuần hỏi liền:

– Bộ thiệt vậy hả ông Sáu? Hồi đó tui tưởng ông già nó đặt điều bóp chặt bóp méo thầy Hương Quản để gạt tiền qua ba cái lúa ruộng lúa góp…

Ông Sáu Giò có vẻ bất bình:

– Đâu có chuyện đó! Tui ở đây tui rõ hết mà! Tới chừng ông già con nhỏ tá hỏa lên là con gái mình…như vậy… như vậy đó, ổng mới đập cho nó mấy trận chết lên chết xuống…

– Cha, tội nghiệp con nhỏ quá há!

Ông Sáu Giò thản nhiên kể tiếp:

– Sau đó ông già nó mới dắt lên kiếm ông Hương Quản trình tự sự để nhờ ông tính sao cho vuông tròn dùm…

Ông Hương Tuần chép miệng nói chen vô:

– Tính gì nỗi mà tính ! Ở địa vị của thẩy tôi cũng xin…bái!

– Ông Hương Quản ổng không nhận thì thôi đằng này ổng còn vỗ bàn đập ghế đòi dẫn luôn ông Tám Sến và đứa con gái ra nhà làng đóng trăng lại. Ổng nói ‘‘Tại sao hai cha con bây dám đặt điều cho làng xã như vậy’’…

– Mẻ, làng xã có chấm mút gì vô đó đâu mà thấy gom tụ lại hết như vậy cà? Bộ ông nghe lộn rồi nghen ông Sáu!

Ông Sáu nhún vai:

– Thì tui cũng nghe thuật lại như vậy thôi…

– Nói ai thì nên nói có ngằn… Nhưng ông Tám Sến ổng chịu xếp ve sao?

– Thì ông Hương nghĩ coi, hổng chịu rồi làm gì được người ta bây giờ ! Ông Hương Quản ổng còn nói ; Ổng thấy ràng ràng con gái của ông Tám ngủ… hà rầm với ba thằng thợ gặt, ổng đi tuần đêm ổng bắt gặp hoài, bây giờ có bầu có nghén hổng biết với thằng mập thằng ốm, thằng cao thằng thấp nào, rồi nhè ổng mà nả thì ổng cho… ở tù mọt gông ! Đó ông Hương ông coi !

Ông Hương Tuần tằng hắng bằng một cách khó khăn:

– Ối thầy Hương thẩy… nóng, thẩy nói vậy…

Ông Sáu bắt cười khan:

– Ý trời ơi, nổi nóng cái gì mà khôn tổ mẹ vậy ! Ổng ngủ với con gái người ta có chửa thè lè ra đó…

Ông Hương chặn lời liền:

– Thôi cái chuyện đó… tui biết mà! Rồi sao nữa ông Sáu?

– Thì còn sao nữa! Ông Tám Sến phải giở nhà cuốn gói đi xứ khác mần ăn vì ông Hương Quản ổng nhứt định đuổi ra khỏi điền của ổng, bao nhiêu tiền vay bạc lúa gì ổng cũng bỏ hết.

– Còn con gái của ổng… chửa đẻ ra làm sao mà lại đụng thằng Ba Câu này nè?

– Ậy cái chuyện còn dài, ông Hương để tui thủng thỉnh kể cho mà nghe chớ đừng hỏi nôn tới… Ối thôi , con nhỏ đó gặp nhiều cảnh đọan trường lắm ! Sau đó, Tám Sến như người thất chí, ổng nhậu say lu bù mà hễ mỗi lần ổng say như vậy, ổng nhè ổng lôi cổ đứa con gái ra đánh đập thiệt hết nước nói…

– Bậy quá há!

Ông Sáu Giò lườm ông Tuần, định cự nự lại nhưng rồi lại thản nhiên kể tiếp:

– Trước tình cảnh đó, phần thì bụng con nhỏ mỗi ngày một lớn, phần thì đồng bọn mắng chưởi như vậy nên nó chịu hết nổi và cuốn quần áo trốn đi…

– Trốn đi đâu vậy ông Sáu?

– Nghe nói nó trốn ra chợ Cần Thơ, ban đầu tính đi ở đợ ở mướn gì đó.

– Còn… Cái bụng?

– Cũng may… sau đó nghe nói nó bị xảo thai. Chắc bị bà già nó ép uống đu đủ xanh rau răm gì đó để phá cái hòn máu trong bụng đi, một phần khác thì chắc nó cũng bị ông già của nó ổng giận ổng đánh sanh tử lắm mà!

Tự nhiên ông Hương Tuần thở ra:

– Đời nay, có con gái lớn lên thiệt… phập phồng lo sợ hoài…

Ông Sáu nhìn ông Hương Tuần châm bẩm

– Ờ, ông Hương Tuần cũng có con gái lớn xộn há!

Ông Hương Tuần có vẻ sượng sùng

– Thiệt ra thì cũng… tùy đứa…

– Chớ hổng phải tùy mấy thằng dê xồm hảo ngọt sao?

Ông Hương Tuần tìm cách hỏi lảng ra:

– Ông chưa nói cho tui biết vì sao thằng Ba đây lại gặp con nhỏ kia để sau đó hai đứa nó ăn ở với nhau?

Đôi mắt sâu tròng của ông Sáu bỗng có vẻ xa xăm:

– Con nhỏ đó nó ra Cần Thơ tính kiếm chỗ mần nhưng không biết lớ ngớ thế nào mà lại bị một con mụ đầu nậu chứa điếm gạt bắt đi rước khách luôn ở dưới mấy chiếc ghe đò tại bến chợ…

– Ý trời, bộ có chuyện đó nữa sao?

– Có gì đâu là lạ đó ông Hương! Thân gái bơ vơ giữa chốn chợ búa thị thành, người quen không có, cắc bạc đồng tiền cũng không ngơ…

Ông Hương Tuần gật gù:

– Chuyện đời lầm lỡ một chút là vậy đó!

Ông Sáu cau mày:

– Sao ông không nói đến cái người đã làm cho nó lầm lỡ trước tiên dùm tui một chút !

Ông Hương Tuần đành bộc cho xui theo:

– Thì… có lầm kia rồi mới đưa đến lầm nọ… Tội nghiệp cho con nhỏ quá há… Còn cái chuyện của thằng Ba Câu này tới chưa mà tôi hổng nghe ông đá động,..

– Còn con nhỏ mới vô nghề ấy ít lâu thì mắc bịnh..

Ông Hương Tuần rụt rè hỏi chen vô

– Bịnh… đó hả?

– Hổng phải đâu! Nó cảm rồi làm cữ rét, phần thì yếu sức bị hư thai, phần thì thuốc men không có nên bị con mẹ tào kê đuối khỏi đò lên nằm vất vưởng sau mấy cái quán cóc ở đường mé sông, thời may bữa đó, thằng Ba nầy nó bơi xuồng đem một rọng tôm ra chợ bán và tình cờ gặp nó.

– Chắc hai đứa nó dắt nhau trở dìa đây?

– Ông Hương Tuần đoán đúng boong đa!…

Nói nào ngay, trước đây thằng Ba này cũng có ngấp nghé con nhỏ nhưng bị gì nó nghèo quá nên chưa dám chộn rộn gì kể xảy ra cái chuyện… mang trống chầu đó. Bây giờ hai đứa nó gặp lại trong hoàn cảnh ấy; nó cũng còn nghèo sặc gạch, mà con kia thì kể như tứ cố vô thân… Thôi thì hai đứa nó ráp nhau lại… Kể ra thằng Ba đây cũng dễ dãi và biết thương người lắm.

Ông Hương Tuần liếc qua bên phía xác chết:

– Nhưng sao… nó hổng chịu mần ăn như cũ mà lại nhảy sang cái nghề… cường san đạo tặc nầy làm gì cho ra nông nỗi này?

Ông Sáu Giò thở dài:

– Chuyện đời nếu nó cứ lình bình như khúc bập dừa trôi lên, trôi xuống theo con nước thì ai nói tới làm khỉ gì!  Vợ nó sau đó sanh được một đứa con gái, con Lụa nằm ngủ trên bộ ván đó – rồi đau ốm liên miên… Ôi thôi thằng Ba nó xấc bấc xang bang vì cái chuyện chạy thầy chạy thuốc, hết ông thầy tàu tới ông thầy huế, tiền bạc cắc са cắc củm dành dụm từ hồi nào tới giờ đều đổ trút ra hết mà cũng chẳng thấy bịnh tình con vợ nó thuyên giảm chút nào, mà còn tệ hơn trước nữa. Sau đó có người chỉ nó ra Cần Thơ cho đốc tưa người ta biết chắc bịnh gì để cứu trị, chớ để ở trong này nó nóng ruột mới uống của ông thầy này một thang thấy không mòi gì hết lại nhãy qua ông khác.

Ai chỉ đâu nó hốt đó mà theo chỗ tui biết thì ông nào ông nấy cũng bắt mạch nói mờ ớ vậy thôi!

Ông Hương Tuần ngắt ngang:

– Sau đó, nó có chở vợ nó ra đốc tưa ngoài Cần Thơ hông?

Ông Sáu Giò lắc đầu.

– Sao vậy? Cái thằng dại quá!

Ông Sáu cười lạt:

– Nó dại ở chỗ nó… nghèo đó ông Hương à! Ông nghĩ coi; tới chừng nó tính đưa con vợ nó ra đốc tưa thì trong nhà tiền bạc sạch trơn rồi. Xung quanh bà con cô bác ai ai cũng chẳng dư dả gì, người ta có thể vừa giúp vô chút đỉnh cơm gạo ăn hằng ngày vậy thôi… Ngặt một nỗi nữa là lúc đó nó mắc chăm nom săn sóc cho con vợ nó, nên nghề câu nghề chài gì nó cũng làm chụp giựt thôi, do đó nó đã túng lại càng thiếu thêm…

– Khổ dữ há!

– Chưa hết đâu ông Hương Tuần! Thấy tình cảnh… bí lối của nó như vậy tui mới chỉ cho nó chạy lên ông Hương Quản năn nỉ hỏi vay ổng đỡ chút đỉnh tiền để dìa lo chở vợ nó đi Cần Thơ,

– Ờ, ông chỉ nó như vậy hay lắm đa!

– Hừ, hay lắm mà hóa ra như không! Ông Hương Quản ổng nhứt định hổng chịu bỏ ra một đồng xu nào hết.

– Chắc gặp cái lúc thẩy… kẹt tiền chớ gì?

Ông Sáu Giò cười mỉa:

– Nhà giàu như ổng thì có lúc nào kẹt tiền được. Ba cái giấy xăng của ổng, thử thời đem đốt mười thằng như tui cũng chảy ra tro hết!

– Chắc tại ổng thấy thằng Ba đây hổng có lãnh ruộng đất gì của ổng hết, như vậy rủi ro nó trả chẳng được thì ổng chịu trận chớ làm gì nó được! Mặt khác, theo chỗ tui nghĩ thì ổng cũng không muốn dính dáng bất kỳ một chuyện gì của con vợ thằng Ba Câu đây nữa hết.

Ông Hương Tuần có vẻ suy nghĩ:

– Điều sau đó có lẽ đúng hơn, tui biết thầy Hương Quản cũng biết thương người lắm chớ chẳng phải không.

– Ờ thì thương! Vậy mà ổng còn nói thằng Ba đã không tiền mà còn bày đặt trèo đèo đi đốc tưa đốc tiếc này nọ! Theo ổng thì nên đi kiếm quơ ba cái thuốc nam lá cây, rễ cỏ dìa sắc uống là đủ rồi !

Nói vậy rốt cuộc rồi thằng Ba đành phủi đít đi dìa không! Chiều hôm đó, con vợ nó lên cơn mệt mê man bất tỉnh và tuy nó nóng ruột muốn ở liền bên cạnh vợ nhưng tối bữa đó nó cũng xuống xuồng đi thả câu như thường lệ. Nó còn tính đêm đó ráng mần khuya khuya hơn mọi hôm một chút để mong kiếm thêm mớ nhấm tôm cá gì, để sáng mơi sớm lo chở vợ qua Cần Thơ luôn.

– Sao ông biết rành rẽ quá vậy ông Sáu?

– Thì tối hôm đó, trước khi đi nó chạy qua nhà tui nhờ tui sang trông nom vợ con dùm nó…

Ông Hương Tuần thắc mắc hỏi thêm:

– Còn cái chuyện nó… bắt đầu làm ăn thêm bằng nghề bửa… tủ người ta chắc ông cũng biết chớ?

– À cái chuyện đó thì tui mới nghe nó kể lại ràng ràng đây, chớ lúc trước tui chẳng biết trời trăng gì ráo.

– Nói vậy nó mới trối trăn với ông hồi nãy đó có phải hông?

– Đúng đa. Ông Hương Tuần để tui nói rõ ngọn ngành thì ông mới hiểu được mọi chuyện. Hồi nãy tui kể tới đâu rồi cà? À, tối hộm đó tính đi làm một mẽ câu cho kha khá để sáng lại lo chở vợ đi Cần Thơ coi đốc tưa… Thiệt người ta nói ‘‘họa vô đơn chí’’ đúng lắm ông Hương à!

– Chữ nho ‘‘nói’’ mà trật sao được!

– Ông Hương nghĩ coi: tối hôm đó, theo lời nó mới trối trăn với tui hồi nãy thì cá tôm như trốn đi đâu mất hết, đã vậy mà nó còn sơ ý để mắc gốc, mắc chà đứt hết mấy giàn câu.

– Cha xui xẻo tận mạng há!

– Đến nước đó, nó đành bơi xuồng không dìa nhà trong bụng thì lầm thầm vái Trời vái Phật phù hộ cho con vợ của nó được tai qua nạn khỏi… Trong lúc ấy, trên bờ bỗng có người kêu xuồng nó ghé lại để xin quá giang một đỗi rồi sẽ đền ơn xứng đáng.

– Chắc nó tấp vô liền phải hông?

– Cố  nhiên rồi! Khi không có… thần tài kêu giựt ngược mà mình hông… ba chưn bốn cẳng chạy lại hay sao ông Hương Tuần?

– Thì… chạy gấp lại rồi!

– Thằng Ba nó liền đảo mũi xuồng tấp vô bờ. Người khách lạ nhảy liền xuống sạp xuồng… Thằng Ba nó liền quay ngọn đèn câu rọi về phía hắn ta và… hoảng kinh hồn vía khi nhận thấy ông khách đó…quần áo lấm lem máu me đầy mình, tay xách một cái bọc gì gói bằng một chiếc khăn tắm buộc chặt đầu lại, tay cầm một thanh kiếm sáng giới.

Ông Hương Tuần nhốm ngựời lên nhích chiếc ghế đẩu gần lại phía ông Sáu:

– Chắc nó gặp phải… tay tổ rồi chớ gì?

– Đó là tên cướp ‘’đồng sanh đồng tử’’ với nó sau nầy đó ông Hương!

– Nhưng mà tại làm sao nó lại… nhảy theo tên ấy để mần thêm cái nghề ác nhơn sát đức đó nữa?

– Ậy, ông Hương đừng nóng!… Thấy khách lạ dữ dằn như vậy, thằng Ba nó sợ không dám chở hắn ta đi và kể sơ qua tình cảnh của mình cho ông khách ‘‘quý’’ đó nghe để xin ổng thương dùm… Nghe xong tên ấy vung kiếm chém cái phụp xuống một bên be xuồng, rồi quăng cái bọc chăn tắm xuống sạp…Hắn ta cho thằng Ba Câu biết: một là ăn một lát kiếm kia, hai là chia cái bọc đó…

– Bọc gì vậy ông?

– Tên ấy nói xong mở chiếc chăn tắm ra và thằng Ba nó thấy…vàng vòng, bạc tiền nằm xấp lớp ở trỏng. Nó nghĩ đến con vợ nó đang nằm chờ ở nhà rồi nó lặng lẽ chống xuồng ra bơi đi… Ổng Hương, ông thử đứng vào địa vị của nó, ông tính sao?

Ông Hương Tuần lúng túng đáp:

– Thì… cũng tính như vậy chớ tính sao nữa bây giờ.

Ông Sáu Giò thở ra có vẻ vừạ ý:

– Thằng Ba bèn bơi rút đưa tên tướng cướp ấy đi đến một nơi cách đó chừng hai ba cây số. Đến nơi, sau khi cặp xuồng vô mé bờ, tên ấy xô cái bọc tiền và vàng về phía sau lái và biểu nó lấy phân nữa đi.

Ông Hương hít hà:

– Cha, chắc phân nữa đó cũng… khá lớn há!

Ông Sáu Giò khẻ lắc đầu:

– Hông, thằng Ba nó chỉ vói tay rút ra một tấm giấy bộ lư…

Ông Hương Tuần chắc lưỡi chận ngang:

– Coi, cái thằng sao dại quá! Của dưng tới miệng…

– Thằng Ba nó chỉ lấy có một trăm thôi… Tên tướng cướp cũng phải sững sờ rồi cầm thêm hai tờ bộ lư nữa nhét ở kẻ sạp, đoạn tất tả cuốn gói nhảy lên bờ…Mới sơ sơ đó mà coi bộ hắn ta mến thằng Ba lắm, nên trước khi bỏ đi còn căn dặn sẽ có dịp gặp lại thằng Ba trên khúc sông đó nữa…

– Cha, bộ nó tính rũ rê thằng nầy nhập bọn chớ gì?

Ông Sáu không trả lời cầu ấy mà xụống giọng rầu rầu kể tiếp :

– Nhét kỹ ba trăm vô túi, thằng Ba hớn hở bơi xuồng rút dìa nhà để gần sáng chờ con nước nhửng ròng chở vợ đi Cần Thơ liền. Nhưng khi nó dìa tới bến là tui chực sẵn ở đó. Con vợ nó đã tắt thở rồi còn đâu !

 Ông Hương Tuần lại liếc nhìn sang phía xác chết, chép miệng than thở:

– Ý cha, cái thằng thật bị xui xẻo tận mạng! (nhưng rồi ông ta quay sang hỏi bác Sáu)… Rồi nó.. theo thằng tướng cướp kia hồi nào vậy?.. Chắc vì vụ đó, nó… ức thầy Hương Quản lắm phải không?

– Lớp chuyện trước, lớp chuyện sau như vậy mà nó hổng thù ông Hương Quản sao được. Nói nào ngay, tui ở khích vách nó đây mà tui cũng tưởng nó chỉ bực tức… khơi khơi vậy thôi chơi đâu có dè nó để bụng… ơn đền oán trả như thế đó! Bởi vậy sau khi gặp lại tên tướng cướp lần thứ nhì nó ưng thuận theo tên ấy mần ăn liền.

Ông Hương Tuần thở ra:

– Té ra, thằng ‘‘lọ nghẹ’’ hay đi dộng cửa bửa tủ mấy ông nhà giàu bắt đầu ra đời từ ngày đó….Nhưng sao nó rành nghề võ nữa mà ông Sáu?

– Chắc hồi trước nó theo ở bạn cho mấy ghe thương hồ nên cũng có học quọp quẹp một vài miếng phòng thân, sau này nó đi đánh được vài đám xuôi rót, phần nó liều mạng quá nên các tài gia khổ chủ cũng đâm ra ngán rồi thì… một đòn mười… Hồi nãy nó có trối lại với tui nó tính nói trong mùa lúa năm nay thế nào cũng ăn hàng một chuyến thật quạu tại nhà ông Hương Quản trước khi giải nghệ rút đi xứ khác sống lương thiện hoàn toàn…

– Cái thằng cũng dữ há! Nhưng thôi, chuyến nầy cũng yên phận nó rồi. Tui và thầy Hương Quản kể như ngủ được thẳng giấc!

– Còn thằng ‘‘đồng sanh đồng tử’’ với nó chi?

Ông Hương Tuần nhún vai

– Thằng Ba Câu còn thì mới ngán nó dẫn đường chỉ nẻo cho thằng kia, chớ nay thằng Ba Câu buông tay, nhắm mắt…

Ông Sáu liền tiếp lời:

– Tui cũng vái trời nó chết thì cũng cho hết chuyện luôn, chớ thù oán dây dưa cũng chẳng ăn nhằm gì ráo mà còn làm khổ thêm nhiều người vô tội khác nữa. Phần tui, tui đã có hứa với nó là tui ráng lo nuôi nấng con Lụa cho tới khi nó lớn khôn.

– Ngày mơi đây thế nào tui phải nhờ ông Sáu cho tui lấy lời khai lại vì dầu sao ông cũng là người chứng số một trong vụ nầy.

– Bộ tui phải khai lại hết ráo trọi từ cái vụ ông Hương Quản còn tằng tịu với con gái ông Tám Sến…

Ông Hương Tuấn nói ngắt ngang:

– Ý thôi, cái vụ đó mình nên để qua một bên, nó hổng ăn nhập gì đến cái chuyện bắt cướp hết mà!

Ông Sáu Giò toan cãi lại, nhưng vừa lúc ấy có tiếng anh Năm réo gọi ông Hương Tuần ở dưới mé kinh, ông Hương Tuần cùng ông Sáu Giò tất tả chạy ra… Anh Năm vừa bước lên bờ vừa lắp bắp nói:

– Hổng êm rồi ông Hương Tuần ơi!

Ông Hương tuần vội hỏi lại:

– Cái gì nữa đó mậy?

– Anh em họ chở thầy Hương Quản dìa rồi…

– Coi, tao đã biếu chở thẩy lên nhà thương Ô Môn mà!

– Dạ phải, nhưng dọc đường thẩy tắt thở!

– Ý trời trời ! Sao nội đêm nay mà lắm chuyện xảy ra như vầy nè! Thôi mầy bơi xuồng chở tao dìa trỏng coi!… Còn ông Sáu, ông làm ơn coi chừng dùm tui, thằng Ba Câu đó nghen!

Ông Sáu nhún vai

– Thì nó nằm đó chớ chạy đâu nữa mà tui phải coi chừng!

Ông Hương Tuần như không đợi câu trả lời nầy, hối hả cùng với anh Năm xuống xuồng bơi đi…

Ông Sáu Giò tần ngần đứng đó một hồi rồi chậm rãi quay trở vô trong nhà… Vừa đi ông ta vừa lẩm bẩm nói một mình:

– Cha, sao đêm nay họ níu tay nhau chết dữ quá…Ứ hự, lại có thêm hai đứa nhỏ mồ côi cha nữa !…

Ông Sáu Giò, tay dắt con Lụa, đứng lóng ngóng ở trước cửa rào nhà thầy Hương Quản trong lúc con chó ở phía trong vừa chồm chồm lên cánh cửa rào vừa sủa vang rân…

Một chập sau, con nhỏ ở chạy ra và khi nhận thấy ông Sáu cùng con Lụa nó niềm nở hỏi liền:

– Ông kiếm ai đó ông Sáu?

Ông Sáu chỉ con chó:

– Cháu làm ơn xua con mực này dùm qua và vô nói  với bà Hương Quản rằng qua muốn gặp bả.

Con nhỏ ở vội vàng mở cửa và la đuổi con mực, rồi đưa ông Sáu cùng con Lụa vào nhà.

Vừa vô tới hàng ba, ông Sáu đã thấy vợ thầy Hương và anh Giáo Tư ở trong nhà bước ra.

Thím Hương nét mặt hơi gầy gò một chút, đon đả hỏi ông Sáu:

– Ông Sáu có chuyện chi mà lên đây sớm quá vậy? Ông dắt đứa nhỏ nào đây? Bộ cháu gái của ông hả?

Ông Sáu vôi rút chiếc khăn tắm quấn nơi cổ xuống cầm gọn trong hai bàn tay:

– Dạ, tui lên đây để nói với thím Hương chút việc riêng… Còn con nhỏ nầy là con của thằng Ba câu…

Cả thím Hương lẫn anh GiáoTư đều cau mày nhìn con Lụa làm cho con nhỏ đâm ra khớp sợ cúi gầm mặt xuống.

Anh Tư lên tiếng trước.

– Mà bác dẫn con nhỏ nầy lại đây làm chi nửa vậy

– Dạ thưa thầy giáo, tui dẫn nó theo dây là cũng để nói riêng với thím Hương một việc cần.

 Thím Hương vội đáp :

– Có việc gì thì ông cứ nói đại đi. Thầy giáo đây cũng là chỗ… quen biết trong nhà chớ bộ ai xa lạ sao?

Anh Tư có vẻ bực mình vì câu nói của ông Sáu :

– Nè bác Sáu, tôi tưởng bác nên biết điều một chút, cái chuyện của bác lẹo tẹo với thằng ăn cướp sát nhân ấy còn chèm nhèm ra đó, bác không lo giữ thân lại còn dắt con của nó lại đây để tính làm cái gì ám muội nữa hả?

Ông Sáu cười mỉa:

– Xin lỗi thầy giáo, thầy nói hơi quá lố đó đa! Nếu tui có dính líu gì đến chuyện cướp giựt thì đã có làng xã họ… còng đầu tui lại…

Thím Hương vội nói chen vô:

– Thôi mà ông Sáu! Chú Giáo chú… nóng lòng vì cái chuyện mới rồi, ông cũng không nên chấp nhứt chú làm gì. Sao, ông Sáu muốn nói chuyện chi vậy?

Ông Sáu rụt rè đáp:

– Thầy Hương mất đi mà tui còn dẫn con nhỏ nầy tới đây nữa thì tôi cũng lấy làm ấy nấy lắm thím Hương à ! Nhưng tui nghĩ lại ! thằng Ba hồi còn sống nó có làm chuyện… xấu xa thiệt, nhưng nay nó chết rồi thì kể cũng như đã đền tội xong. Phần nó êm như vậy, ngặt một nỗi còn con nhỏ mồ côi cả cha lẫn mẹ nầy…

Thím Hương đưa tay xoa đầu con Lụa:

– Ờ con nhỏ coi cũng dễ thương đa!

– Dạ còn có nó nên tui mới thêm lo thím Hương à. Tui thấy nó cù bơ cù bấc một mình nên lãnh phần nuôi dưỡng nó cho đến khi khôn lớn đủ lông đủ cánh rồi nó muốn đi đâu thì đi.

Anh Giáo Tư lại nói xía vô:

– Thì bác muốn nuôi con của tên sát nhân ăn cướp thì bác cứ việc nuôi, ai dám cấm cản bác ! Nhưng tôi không hiểu tại sao bác còn đem nói với thím Hương đây việc đó làm gì!

Ông Sáu cười lạt rồi đáp xẳng giọng

– Tui nói chuyện với thím Hương cái gì thì thây kệ tui, thầy sao cứ làm kỳ đà cản mũi hoài hà !

Thím Hương day qua anh Tư:

– Chú Giáo cứ để yên cho ổng nói…

Ông Sáu thản nhiên tiếp lời:

– Tui tính đem con nhỏ nầy đi xứ khác mần ăn. Hổng nói giấu gì thím Hương mấy năm nay cái nghề đan rổ đan thúng của tui đây chẳng ăn thua gì, bởi vậy tui mới tính dời nhà cửa kiếm chỗ khác coi có công ăn việc làm gì kha khá hơn không, nhứt là từ nay tui lại phải cưu mang thêm con Lụa… Tía nó như vậy bây giờ dầu cho bà con cô bác ở đây có thương hại nó cách mấy đi nữa thì cũng không sao tránh khỏi tai tiếng xầm xì… Con Lụa mỗi ngày một thêm khôn lớn, rủi nó biết rõ: chuyện không may của tía nó hay bị người đời nhạo báng khinh khi thì cũng tủi cho số phận của nó lắm. Tui nghĩ đến chỗ đó lung lắm nên mới tính đem nó đi chỗ khác ráng lo mần ăn để rồi còn cho nó học hành như mấy đứa con nít tốt số khác,.

Thím Hương có vẻ cảm động:

– Ông Sáu nghĩ như vậy cũng phải.

Anh Giáo Tư lẩm bẩm cằn nhằn một mình

– Cái ông già này sao rắc rối tổ cha!

Như không buồn để ý đến những lời của anh Tư, ông Sáu ngập ngừng bày tỏ ý định của mình:

– Sở dĩ hôm nay tui dắt con nhỏ tới đây là để thưa với thím Hương về việc đó, và xin thím Hương rủ lòng thương xót… bề gì con nhỏ mồ côi nầy cũng chẳng, có làm gì nên tội…

Thím Hương cau mày

– Thì tôi có nói gì khác đâu.

 Ông Sáu rụt rè nói tiếp:

– Đằng nào tui cũng phải dời đi xứ khác kiếm công chuyện mần ăn, nhưng kẹt một nỗi là bây giờ trong mình tui… tiền bạc cạn queo… Rồi đây đi tới nơi chỗ lạ, rủi việc làm chưa có liền, phần tui lại phải chịu đựng thêm một miệng ăn nữa! Bởi vậy tui đánh liều lên trên nầy để xin thím Hương rộng lòng giúp cho tui và con nhỏ này chút đỉnh tiền nong, sau này mần ăn khá tui sẽ không dám quên ơn.

Anh Giáo Tư lại nóng nảy nói chen vô:

– Sao bác không tính chuyện dễ hơn, tiện hơn là bơi xuồng chở thẳng con nhỏ ra ngoài Cần Thơ đem nó cho mấy bà phước để họ nuôi dùm cho!

Ông Sáu cười lạt:

– Nếu tui muốn quăng nó cho nhà nuôi con nít mồ côi của mấy bà phựớc thì tui còn vác mặt lợi đây nhờ nhõi thím Hương làm gì!

Thím Hương lại giảng hòa hai người:

– Chú Giáo nói như vậy cũng phải, nhưng tôi coi bộ ông Sáu đây quý mến con nhỏ lắm, bởi vậy đành đoạn nào đem nó giao cho mấy bà phước!

Được rồi, ông Sáu cứ đứng đợi một chút để tôi vô mở tủ lấy chút đỉnh tiền gởi ông nghen ông Sáu!

Ông Sáu gật đầu lia:

– Dạ được, thiệt thím Hương nhơn đức quá…

Thím Hương hơi mỉm cười rồi quày quả bước vô trong nhà, vừa đi vừa móc xâu chìa khóa ra. Anh Giáo Tư làm tỉnh nối gót theo sau nhưng cũng không quên ngó ngoái lại chỗ ông Sáu đang đứng để nói trống không :

– Thiệt giả bộ tài quá ! Túm được con nhỏ này dắt nó đi ăn xin thì ‘‘đậu’’ lắm đó!

Ông Sáu tái mặt đứng lặng thinh, để rồi ‘‘hừ’’ một tiếng với giọng đầy vẻ… hậm hực!

… Ba phút sau, thím Hương trở ra, tay cầm một trăm đồng bạc đến trao cho ông Sáu Giò:

– Ông cầm đỡ chút đỉnh này Ông Sáu.

Anh Giáo Tư đứng khoanh tay, người hơi ngã về phía sau, nói chen vô liền:

– Đó là lần chót nghen bác Sáu!

Ông Sáu run run cầm tờ giấy bạc trên tay, quắt mắt nhìn anh ta rồi day qua giữ giọng bình tĩnh nói với thím Hương:

–  Thiệt tui đội ơn thím Hương nhiều lắm nhưng xin thím Hương đừng phiền một trăm đồng bạc này tuy nhiều thiệt, quý thiệt nhưng tui xin gởi trả lại thím Hương chớ hông thôi thầy Giáo đây thẩy.., hổng vui.

Ông Sáu vừa nói vừa đặt tờ giấy bạc một trăm trên mặt bàn.

Thím Hương cau mày nhìn anh Giáo Tư rồi vội vàng cầm lấy tấm giấy một trăm đem nhét vô túi áo của con Lụa:

– Đừng phiền mà ông Sáu! Chú Giáo đây chú nói chơi vậy mà!

Con Lụa ngước lên nhìn ông Sáu như để dò xét và khi nhận thấy ông này cau mày nó hiểu ý nên vội thò tay vô túi móc tờ giấy bạc ra lắm lét trả lại vào chỗ cũ ở trên bàn.

Ông Sáu hấp tấp níu tay nó dắt đi:

– Thôi mình dìa con! Tui xin kiếu thím Hương và dầu sao tui cũng mang ơn thím nhiều lắm!

Đoạn ông ta hối hả rảo bước đi như muốn chạy trốn, mặc cho thím Hương réo gọi…

Thím Hương tính chạy ra theo nhưng anh Giáo Tư đã nhanh chân đứng chận ngang lối đi:

– Thây kệ ổng mà ! Ổng đến xin tiền mình cho mà ổng còn làm bộ kiêu kỳ, làm bộ mặt cao thì ổng ráng chịu…

Thím Hương cằn nhằn nho nhỏ:

– Anh sao kỳ quá! Mắc mớ gì mà anh xen vô bắt bẻ ổng hổng biết, anh làm như vậy rủi ra ổng… đàm tiếu kia nọ lung tung lên, có phải thiên hạ họ thêm để ý đến mình không?

Anh Giáo Tư không dấu vẻ bực dọc:

– Chớ em coi ổng nói như ông nội người ta mà em biểu nhịn ổng thì nhịn sao nỗi ! Cái thứ gì đã nghèo sát ván đến năn nỉ ỉ ôi xin tiền mà còn làm bộ làm tịch! Cái thứ đó nên để cho nó… chết luôn.

Thím Hương ái ngại nhìn anh Giáo Tư rồi thở dài:

– Anh sao vậy hoài! Anh cứ lo bươi móc người khác thì có ích lợi gì… Mình ráng giữ làm sao cho êm thuận với mọi người thì mới mong gần gũi được với nhau lâu dài chớ anh.

Anh Giáo Tư mím môi đứng làm thinh.. 

Đi được một đôi đường, ông Sáu và con Lụa đụng đầu với ông Hương Tuần, và chưa kịp chào hỏi gì hết, ông Hương Tuần đã vội kêu lên:

– May quá tui đi kiếm ông hết hơi hết sức nè ông Sáu!

Ông Sáu lo lắng hỏi lại

– Việc gì nữa đó ông Hương Tuần?

Ông Hương Tuần nhún vai

– Thì cũng loanh quanh ở cái việc lập vi bằng cả tuần lễ nay…

– Coi, tui đã khai hết ráo trọi mà!

– Ở trên người ta sai xuống chớ bộ tui muốn làm khó dễ gì ông sao! Mấy ổng còn thắc mắc ở chỗ… tiền bạc vòng vàng của thằng Ba Câu để lại…

Ông Sáu Giò cao giọng cự nự:

– Tui đã nói rõ mà! Sao ông hổng cắt nghĩa cho mấy ổng biết.

Ông Hương Tuần gật đầu lia lịa:

– Có, có mà ! Nhưng mấy ổng… muốn biết thêm coi hồi thằng Ba hấp hối, nó có trối trăn gì với ông về việc đó hông? (rồi như sợ phật ý ông Sáu, ông Hương tuần vội giảng giải thêm)… Cái này là mấy ổng muốn hỏi cho có đủ đầu đủ đuôi vậy mà.

Ông Sáu Giò thở ra:

– Nói nào ngay trong lúc nó gần chết, tui cũng có nghĩ tới cái vụ tiền bạc đó… không phải tui nghĩ cho tui đâu nghen ông Hương! Tui sợ nó chôn dấu tiền của ở đâu đó nên tui hỏi nó để giữ lấy để dành cho con Lụa đây làm vốn sau nầy… Nhưng nó cho biết là tiền bạc vòng vàng phần của nó cóp nhóp trong bấy lâu nay nó đều đem gởi cho tên đồng đảng cất một chỗ nào thì chính nó, nó cũng không biết nữa…

– Ý mẹt ơi, như vậy kể như… rồi đời ba mớ của cải ấy rồi! Tiền bạc mà đem giao cho ổ ăn cướp giữ thì mụ nội tui bây giờ lấy lại cũng không được!

–  Ăn cướp nhưng mà ăn cướp… bồ bịch bạn bè mà!

Ông Hương Tuần thắc mắc hỏi thêm:

– Bộ nó hổng có đem dìa đây chút xíu nào sao?

– Thế nào mà hổng có ! Nhưng theọ nó nói với tui thì nó chỉ lấy mớ nhấm để đấp đổi xây xài phụ thêm chút đỉnh ở tại nhà chớ không dám ăn tiêu phung phá lắm, vì sợ làng xã sanh nghi và bà con dòm xóm dòm ngó.

Ông Hương Tuần có vẻ chán nản:

– Nói vầy tui hỏi ông đây kể cũng như ăn trét luôn?

Ổng Sáu Giò cau mày:

– Thì có sao tui nói vậy chớ bộ tui đặt điều ra được sao! Mấy ông không tin thì cứ ráng mà dò xét…

Ông Hương Tuần vội chận ngang

– Tui thì sẵn lòng tin ông lắm nhưng mấy cha nội của tui ở trên mấy chả hổng tin như vậy thì sao !

Ông Sáu nhìn xuống con Lụa, thở dài

– Cái điệu này tui phải đem con nhỏ nầy dời nhà đi gắp, chớ nấn ná ở đây có ngày mấy ổng buồn buồn mấy ổng dám bắt tui về tội đồng lõa lắm chớ chẳng phải chơi!…

…Chiều tối hôm ấy, sau khi tiễn ông thầy chùa đến lo cúng kiến trong kỳ làm tuần ba tháng cho thầy Hương Quản ra về, thím Hương thẫn thờ dắt hai đứa con đi trở vô nhà…

Anh Giáo Tư đã chực sẵn nơi bực thềm và khi nhận thấy hai đứa nhỏ còn đeo theo mẹ, anh ta bèn dịu giọng bảo:

– Nè tối lắm rồi nghen! Thằng Long với con Hạnh vô nhà rửa chân rửa tay sửa soạn đi ngủ để mai còn đi học sớm…

Thằng Long, đứa con trai lớn của thím Hương ngước mắt lên nhìn mẹ, cầu cứu:

– Còn sớm bửng hén má! Má cho hai con ở đây chơi khuya khuya một chút, chớ hồi chiều mới cúng ba rồi con… sợ ma lắm!

Thím Hương chưa kịp nói gì thì anh Giáo Tư đã lên tiếng:

– Thằng này nó bày đặt chuyện như vậy đó mà! Nó phá phách thành ôn thành quỷ chớ sợ ma cỏ khỉ gì !

Thím Hương vội nói đỡ cho con:

– Ối con nít nó hay muốn thức khuya chơi nên nói vậy mà… Được rồi, hai đứa bây chỉ được chơi thêm một chút nữa, suốt ngày nay mắc lo cái đám làm tuần, má cũng mệt quá chắc phải đi ngủ sớm.

Con Hạnh níu tay mẹ giựt giựt và hỏi chen vô:

– Nè má, có phải mình làm tuần cho ba hoài hoài để ba mau mau trở dìa trong nhà phải hổng má?

Thím Hương dịu dàng vuốt tóc con gái, thương hại đáp:

– Ờ… nhưng còn… lâu lắm.

– Lâu là bao nhiêu hả má?

Thằng Long lên mặt khôn với em:

– Má nói lâu là… lâu biệt mù san đó ! Con này sao nó khờ quá! Ba chết là… chết luôn chớ trở về khỉ gì được ! Bộ mầy hổng thấy hôm bữa đám ma, người ta đem chôn ba tuốt luốt ở dưới đất sâu đó sao? Rồi bây giờ má mới kêu thợ hồ xây cái mà chắc cứng dằn lên trên nữa…

Thím Hương nhìn hai con gượng cười trong lúc anh Giáo Tư, như không dấu được nỗi bực dọc, nói chen vô liền:

– Hai đứa bây hổng đi ngủ phức cho rồi, chớ bây ở đó thì cũng chỉ nói bá láp bá xàm chớ ích lợi gì. Con nít phải tập ngủ sớm chớ đòi bắt chước theo người lớn sao được.

Thằng Long liếc xéo anh Giáo Tư rồi nói như để phân bua với má nó

– Hồi nãy má chịu cho con với con Hạnh thức chơi thêm một chút nữa hé má!

Thím Hương lườm anh Giáo Tư rồi quay qua trả lời cho cậu con trai

– Ừ, phải…

Con Hạnh mừng rỡ đề nghị thêm:

– Má cho thức tới chín giờ nghe má !

Anh Giáo Tư bắt đầu cằn nhằn… trống không:

– Con nít con nôi mà chìu quá vậy thì chúng nó hư mấy hồi ! Thương con thì cũng phải thương cho có căn…

Thím Hương bực mình nên hơi xẳng giọng:

– Kỳ quá! Hai đứa nó thức chơi thêm một chút nữa thì có chết chóc gì đâu ! Dầu sao tụi nó mới… mồ côi cha, nếu mình gắt gao quá thì cũng… không đành tâm.

Anh Giáo Tư vội dịu giọng nói lảng ra:

– Thì tôi có nói cái gì khác đâu! Nhưng thương con thì cũng có ba bảy đường thương.

Ai không biết hai đứa nó mới mồ côi cha, nhưng chính vì chỗ đó mà tôi thấy thím cần phải… dạy dỗ trông nom hai đứa nó một cách thật… sát đeo mới được. Tôi cũng thương, cũng lo cho hai đứa nó dữ lắm nên mới dám… nói thẳng vô như vậy.

Thím Hương thở dài

– Tôi biết vậy rồi… nhưng mình cũng nên… nương tay với hai đứa nhỏ một chút, tôi nói sơ sơ như vậy chắc… chú Giáo dư hiểu…

Anh Giáo Tư sốt sắng đáp:

– Sao tôi lại chẳng hiểu! Tôi hiểu nhiều lắm nên mới lo… riết tới cho tương lai của hai đứa nhỏ. Tôi tính lát nữa đây sẽ nói rõ cho… thím hay, và cũng vì chỗ đó mà tôi… khuyên hai đứa đi ngủ sớm…

Thím Hương vội chận lời anh Giáo Tư:

– Thôi thôi tôi biết rồi…

Đoạn thím day qua hai con:

– Hai con chạy xuống nhà dưới chơi đi. Có con Bảy còn lo dọn dẹp ở dưới á ! Nghe chuông đồng hồ gõ tám tiếng là phải chui vô mùng hết đó nghen !

Thằng Long vui vẻ nhận lời:

– Được rồi để con xuống dưới kêu chị Bảy kể chuyện ma nghe chơi.

Con Hạnh co đầu rút vai:

– Ý thôi, em ở trên nầy với má hà !

… Liếc thấy anh Giáo Tư có vẻ cau có, thím Hương vội tìm cách vỗ về con gái:

– Con nghe lời má đi xuống dưới chơi đi con! (rồi thím day qua đe thằng Long)… Nè Long, đừng có kiếm chuyện nhát em đó nghen ! Thôi dắt em đi đi…

Biết không thể làm gì hơn được, con Hạnh đành phụng phịu đi theo anh nó xuống dưới nhà bếp…

Đợi cho hai đứa nhỏ khuất mình thím Hương lên tiếng trách anh Tư:

– Đối với sắp nhỏ anh nên nương tụi nó một chút kẻo tội nghiệp…

Anh Tư nhìn thẳng vào mắt thím Hương rồi nghiêm giọng nói:

– Em à, em trách anh như vậy kể ra cũng có lý lắm chớ chẳng phải không, nhưng em cũng nên cho anh.. nghĩ đến anh, nghĩa là đến hai đứa mình một chút!

Đến đây, anh ta thở dài; buồn bã tiếp lời:

-… Đó em coi, cả năm nay và nhứt là mấy tháng nay, kể từ ngày thầy Hương qua dời… Đối với thầy; ngay đến giờ phút này anh vẫn còn cám ơn và quý trọng vì chính nhờ thầy mà anh có dịp gần gũi, quen biết rồi tới yêu thương em… Và cũng vì chỗ yêu thương đó mà anh thấy mình có hơi ích kỷ một chút: anh nóng lòng muốn sao cho hai đứa mình ung dung thương yêu nhau, đàng hoàng thương yêu nhau chớ khỏi phải ké né, lo sợ như bấy lâu nay nữa.

Nắm lấy tay thím Hương, anh Tư tha thiết nói thêm:

– Bởi vậy, tối hôm nay anh muốn bàn với em một việc nầy.

Chợt thấy ngọn đèn leo lét chong trên bàn thờ chồng, thím Hương khẽ rút tay ra, cúi gầm mặt xuống rồi hỏi lại nho nhỏ:

– Bàn việc chi vậy anh?

– Trước hết anh xin hỏi thẳng em một câu: em có thiệt tình yêu thương anh không?

– Coi, sao anh còn hỏi câu đó!

Anh Tư gật gù

– Tốt lắm. Vậy theo ý anh, đã tới lúc hai đứa mình nên dắt nhau đi nơi khác để tính chuyện ăn ở lâu dài…

Thím Hương mở to đôi mắt:

– Ý… bộ anh rủ em trốn đi à?

Anh Giáo Tư mỉm cười:

– Cái gì đâu mà phải trốn! Em sao thiệt thà quá đỗi! Cố nhiên là mình phải nghĩ cách để… mà con mắt thiên hạ. Đây nè, em thì ra tỉnh ở để trông nom hai đứa nhỏ học hành; qua sang năm thằng Long nó thi tiểu học, con Hạnh cũng lên lớp, mà ở đây, trường học đàng hoàng thì không có… Em nên mượn cớ đó, còn anh thì anh… cùng nhau ở một nơi nào mà không ai nhìn mặt kêu tên mình được.

Thím Hương mím môi suy nghĩ một hồi rồi đáp:

– Được rồi, em thương anh thì anh bàn cái gì em cũng nghe theo hết, nhưng anh tính chừng nào mình mới.. làm cái việc đó?

– Liền bây giờ. Mai mốt hay ngày kia ngày kìa cũng được, sớm chừng nào tốt chừng nấy!

Thím Hương lại liếc nhìn lên phía bàn thờ thầy Hương

– Sao gấp dữ vậy anh? Anh để thủng thỉnh hổng được…

– Ý trời ! Bộ em tính chờ tới khi… hết tang, mãn khó mới chịu đi hay sao !

– Nhưng anh làm vậy thiên hạ dị nghị chết.

– Chớ anh ở đây hoài thì thế nào anh không giữ mình nổi và sẽ đi đến chỗ buông thùa lúc nào hổng biết… Tới chừng đó, thiên hạ họ rõ hết thì chỉ có nước độn thổ hay vác mặt mo trốn đi !

Thím Hương có vẻ xiêu lòng:

– Nhưng còn nhà cửa đất điền ở đây làm sao?

Anh Giáo Tư đáp liền:

– Ối cái đó dễ ợt: em ra ngoài Cần Thơ bán hết ruộng đất cho mấy ông chủ chà rồi nhờ họ lo giấy tờ luôn cho. Mình lấy số tiền đó đi xứ khác mua bán làm ăn nó còn sanh lợi mau hơn là cứ bo bo giữ riết ba cái đất ở đây nữa.

Thím Hương thở dài:

– Làm như vậy khỏi bị người ta xầm xì ! Chưa chi đem bán tống bán khứ ruộng nương của chồng..

Anh Giáo Tư chắc lưỡi :

– Thì em nói không có người coi sóc, một mình em, em lo không xuể, bên thầy Hương, cũng đâu còn họ hàng gì khác mà em sợ người ta nói vô nói ra. Với lại em bán đất là để lo làm ăn chuyện khác và lo cho hai đứa nhỏ được đi ăn học đàng hoàng mà !

– Thôi em cũng nghe lời anh cho trót ! (rồi thím ngập ngừng nói thêm)… Nè anh Tư, nếu hai đứa mình đã nhứt quyết đi nơi khác chung chạ với nhau, thì em tưởng anh cũng nên… dịu ngọt với sắp nhỏ một chút… Bề gì tụi nó cũng là con của em và hai đứa mình thì cần… ăn đời ở kiếp với nhau…

Anh Tư nhăn mặt :

– Điều đó em khỏi căn dặn, nhưng sau nầy, mình đâu có… sống chung với hai đứa nhỏ mà em lo !

Thím Hương trợn mắt

– Coi, vậy anh tính bỏ hai đứa nó cho ai? Em hổng chịu rời hai con đâu nghen ! Tụi nó mới mồ cô cha đây, bây giờ em tách tụi nó ra nữa sao đành !

Anh Tư chắc lưỡi:

– Anh có nói là em phải bỏ rời hai đứa nhỏ hồi nào đâu !

Em coi, anh tính đâu đó chu đáo hết: mình sẽ đem hai đứa nhỏ gởi ra Cần Thơ học ăn ở tại nhà người nào nuôi cơm tháng, hoặc gởi thẳng hai đứa nó vô trường nào có lãnh nuôi học sinh luôn, ở chợ búa thị thành bề nào hai đứa đó cũng học hành mau tấn phát và mau khôn lanh hơn là ru rú trong miệt nhà quê nhà vườn này; về vấn đề này, em để anh lo hết cho.

– Nhưng chẳng lẽ mình gởi luôn hai đứa nhỏ ở luôn nhà người ta hoài sao?

– Đâu có ! Bởi vậy anh mới nói là chuyện mình tính đây là chuyện tạm thời, sau nầy một khi anh với em đã yên nơi yên chỗ rồi mình sẽ rước hai đứa nó về ở chung chớ ! Đó em coi, anh nghỉ như vậy có vừa ý em chăng?

Thím Hương khẽ gật đầu.

Anh Tư đưa tay níu vai Thím lôi nhẹ vào một bên gian nhà khuất ánh đèn, rồi thì thầm bên tai:

– Anh biết em phải… hy sinh nhiều lắm, nhưng em tưởng tượng coi: rồi đây một chỗ xa lạ, trong một căn nhà ấm cúng chỉ có hai đứa mình thôi… Tới chừng đó, đêm cũng như ngày, hai đứa mình không cần phải giữ ý tứ gì nữa hết… chớ đâu có như bây giờ, anh muốn gần em mà lát nữa đây anh cũng phải cắn răng lủi thủi đi về nhà ngủ chèo queo một mình.

Vừa nói, anh Tư vừa ôm nhẹ lấy lưng người tình:

– Nếu thầy Hương còn thì dầu yêu thương em cách mấy đi nữa anh cũng chẳng dám bàn tính với em một điều gì hết, nhưng nay thầy Hương mất đi, chẳng lẽ hai đứa mình thương nhau mà em lại.. ở góa suốt đời hay sao? Năm nay em mới gần ba mươi tuổi.. chẳng lẽ suốt năm sáu chục năm nữa em cứ sống đơn chiếc để chờ già, chờ chết hay sao? Đây nè, lát nữa đây sau khi anh về rồi em trở vô nằm lăn trở thao thức trên giường… nội trong một đêm nay thôi, em cũng đủ thấy… ngán thấy sợ rồi ! Anh có trải qua cảnh đó, anh biết…

Một làn gió lạnh thổi qua hàng song hồng nơi cửa làm cho thím Hương rùng mình vội nép sát người thêm vào người tình…

Số phận của thằng Long và con Hạnh đã được định đoạt…

Thấy ông Sáu Giò lui cui lo bưng dọn đồ đạc xuống xuồng, con Lụa thắc mắc hỏi:

– Bộ mình hổng ở đây nữa sao ông Sáu?

– Không. Hai ông cháu mình ra chợ Cần Thơ ở…

– Vậy hả? Ý cha chắc ở ngoài vui lắm hén ?

– Ờ, ra ngoải tao lo cho mầy đi học để biết chữ với người ta chớ ở đây mầy lông bông lêu bêu hoài…

– Ừa, đi học với tụi con nít khác chắc cũng vui lắm (bỗng nó xụ mặt xuống)… Nhưng mình đi rồi… bỏ luônt tía của con ở trong này sao?

Ông Sáu Giò có vẻ lúng túng :

– Thì… phải vậy chớ sao.

Con Lụa bỗng ngước mắt lên, hỏi ngang :

– Nè ông Sáu, sao con nghe người ta nói tía con ghê lắm, nào là tía giết người nào là tía đi ăn cướp, nào là..

Ông Sáu chận liền:

– Bậy nà ! Ai nói gì thây kệ họ, mầy đừng có thèm nghe cái mốc xì gì hết ! Bây giờ mầy..? hổng có tía nữa thì có tao đây làm… tía thế vô.

Con Lụa bĩu môi:

– Tía gì mà già khằn cú đế…

– Coi, tao có tuổi thì phải già chớ sao!… miễn tao lo cho mầy đầy đủ thôi. Tao còn lo cho mầy hơn thằng tía cũ của mầy nữa !

– Vậy ông là tía mới à?

– Ờ, từ nay mầy kêu tao bằng…

Con Lụa vui vẻ tiếp lời:

-… Bằng tía Sáu!

Ông Sáu Giò trề môi lắc đầu:

– Hổng được ! Như vậy quê mùa hủ lậu lắm. Mầy kêu tao bằng… ba Sáu, mầy quên rằng mình sửa soạn ra chợ ở sao !

– Ừa… ba Sáu…

Ông Sáu cảm động đưa tay vuốt nhẹ lên trên mái tóc dài chấm ngang vai của con Lụa rồi tất tả tiếp tục đi thâu dọn những món cuối cùng…

Con Lụa te te chạy theo:

– Rồi mình bỏ luôn hai cái nhà sao… ba Sáu?

Ông Sáu đứng lại mỉm cười:

– Con nhỏ này nhớ dai quá, mới dặn nó có một lần mà nó biết kêu… ba Sáu nghe ngọt xớt ! Con hỏi hai cái nhà của mình hả? Ối hai cái… chòi đó có bỏ ở đây cũng chẳng có ai thèm ở nữa là đem dời nó ra chợ!

– Rồi ra Cần Thơ mình ở đâu?

– Thiếu gì chỗ ở đó con…

Tuy nói thế, ông Sáu lo hết sức vì ngay trong lúc xuống xuồng bắt đầu bỏ dầm bơi đi, ông cũng chẳng biết rồi đây mình phải ở đâu…

Quả tình anh Giáo Tư không dối trá chút nào khi anh ta nói với thím Hương rằng mình luôn luôn bận tâm săn sóc đến tương lai của thằng Long và con Hạnh.

Sau khi thu xếp xong xuôi việc bán hết đất đai ruộng vườn cho một ông chú chà ngoài Cần Thơ, anh Tư ngày một ngày hai hối thúc thím Hương ra đi, và đem gởi hai đứa nhỏ ra tỉnh học. Anh ta bàn tính với thím Hương

– Anh căn dặn em gắt một điều nầy ! đừng cho hai đứa nhỏ biết gì hết, vì như vậy cũng chẳng ích lợi gì. Em phải nhớ rằng con nít đâu có biết suy xét như mình… Và tốt hơn hết là mình nên cho thằng Long con Hạnh đi trước. Để tới chúa nhật nầy anh lãnh phần đó cho vì anh rành hơn em…

Thím Hương hốt hoảng kêu lên:

– Cái gì mà gấp quá như vậy anh !

– Cần phải như vậy nếu hai đứa mình muốn sống, thật hạnh phúc sau này… Em nên nhớ rằng đây chỉ là kế tạm thôi và như vậy cũng tránh cho hai đứa nhỏ cái cảnh bỡ ngỡ nếu hai đứa nó phải sống chung với hai đứa mình khi ra ở riêng… Cái gì đột ngột quá hổng có lợi em à ! Em nên hy sinh trước một chút rồi sau này sẽ được vui vẻ hoàn toàn…

Thấy thím Hương làm thinh anh Tư bàn tiếp:

– Anh đã đi dọ hỏi trước hết rồi; thằng Long thì anh sẽ gởi cho nó trọ tại nhà một thầy giáo ở trường dạy nghề. Nó thi tiểu học xong thì thẩy lo cho nó vô trường đó luôn. Đời nầy học máy móc, học làm các nghề nguội, nghề đồng…có ích hơn là học chữ nghĩa suông… Còn con Hạnh…

– Ủa, bộ anh tính để hai đứa nó ở riêng rẽ nhau sao? Anh Giáo Tư thở dài :

– Anh cũng đã nghỉ nát óc rồi em à. Hai đứa nó ở chung với nhau rồi suốt ngày nhớ nhà nhớ cửa thì làm sao rảnh rang tâm trí để học hành cho được! Bởi vậy anh tính gởi con Hạnh vô một trường tư có nội trú cho học trò gái, như vậy mỗi đứa tiện có người chăm lo săn sóc thuận lợi cho sự học hành của chúng nó mà cũng vừa có thêm nhiều bạn bè để khuây lãng chuyện xa nhà nữa đó em!

Thím Hương chỉ phản đối một cách yếu ớt rồi lặng thinh trong đôi cánh tay ấp ủ ve vuốt của anh Giáo Tư…

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 17th Jun 2021

Post by Sơn râu 24 Jul 2024

Lời giới thiệu: 

Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ cuối

Vài ngày trước, tôi đã chứng kiến cảnh Biệt Ðộng Quân hoan hô người đàn bà can đảm của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân trên bãi trực thăng, vì thế tôi không ngạc nhiên khi thấy chị ta cũng có mặt trong đoàn người mặt mày hí hửng đang từ dưới chân đồi hì hục leo lên.

Tôi không cho lệnh đốt khu doanh trại, vì ngại khói đen bốc cao có thể thu hút sự chú ý của các đơn vị Việt-Cộng ở xa. Tôi không muốn đụng đầu với quân cứu viện của chúng lúc này.

Khi rút lui, Trung úy Phước đã sơ ý không phá hủy cái kim hỏa của khẩu súng cối. Vài giờ sau khi chúng tôi rút đi thì đạn cối 82 ly bắt đầu câu theo đít quân ta.

Chúng tôi nhanh chân vượt qua hai ngọn đồi, rồi chui vào sâu trong rừng lau sậy.

Trời vừa tối. Tôi cho lệnh dừng quân căng lều. Rừng bao la, đạn cối của Việt- Cộng “ùm! ùm!” rơi bâng quơ trong núi.

Ngày 1 tháng Tư năm 1975, lên đường!

Sáng nay mọi người đều no bụng. Ðoàn quân tìm lại được cái vẻ oai phong, khí thế ngày nào!

Ðội hình một hàng dọc! Thứ tự như cũ! Cứ theo hướng mặt trời mọc mà đi! Cứ men theo bờ Ða Dung mà tìm đường về quận lỵ Di Linh.

Binh nhì viễn thám viên Triệu Tân mở đường. Người thứ nhì là Thiếu úy Ðặng Thành Học. Người thứ ba là tôi. Sau tôi là thằng Y Don Nier. Sau thằng Don…  là đoàn rồng rắn lên mây, cả liên đoàn hàng dọc.

Ðường độc đạo, hai bên là lau sậy và gai mắc cỡ. Nếu cứ tính lộ không trung bình mỗi người cách nhau 3 mét, thì toán đi đầu của tôi cách toán đi chót của Thiếu tá Ðàng phải trên 2 cây số.

Tới chiều thì chúng tôi bắt đầu đi lên một cái dốc khá cao. Tình hình vẫn yên tĩnh! Trời đẹp quá! Trên không mây trắng vài sợi bay lờ lững. Gió nhẹ như ru. Thông ngàn reo vi vu. Chim chóc hót vang lừng. Nếu là thuở thanh bình thì cảnh này thật lý tưởng cho các thi nhân lang thang đi tìm ý thơ…

“Choác!” thằng Tân té ngửa!

Tôi và Thiếu úy Học khựng lại. Một giây sau, tôi và chú Học mới bóp được cò hai khẩu M16 theo phản xạ, nhắm về hướng bụi cây um tùm bên phải dốc.

Ðạn trúng tảng đá trong bụi rậm. Ðạn văng ngược ra đường xoáy trong không khí, kêu “Tăng! Tăng!… Tằng! Tằng!”  rồi… “Xèo!” chui xuống cỏ.

Toán viễn thám của Hạ sĩ Tuấn phóng nhanh lên dốc, vừa chạy vừa bắn.

Toán viễn thám chiếm được đỉnh dốc, nhưng tên bắn tỉa đã cao bay.

Viên đạn súng trường Nga trúng ngay giữa trán Triệu Tân. Cái nón sắt vỡ. Cái vỏ đạn bằng đồng đỏ còn nóng hổi, nằm trên mặt đất sau tảng đá.

Chỉ với một viên đạn, Thượng Cộng đã loại ra ngoài vòng chiến một viễn thám viên lợi hại của đơn vị tôi.

Khi đại đội của Thiếu úy Học đã bố trí an ninh xong, chúng tôi tạm dừng để an táng Biệt Ðộng Quân Triệu Tân.

Cặp thẻ bài đeo trên cổ Triệu Tân bị chia đôi, một chôn theo người chết, một bị cất trong ba lô của Ðại úy Hoàn, Tiểu đoàn phó.

Tôi cho liên đoàn chiếm lĩnh ngọn đồi để nghỉ qua đêm.

Ðêm đó toán viễn thám của Hạ sĩ Tuấn âm thầm lên đường. Ðiểm tới là triền dốc cuối ngọn đồi, cách chỗ chúng tôi dừng quân gần hai cây số.

Mờ sáng hôm sau một quả Claymore nổ. Tên Thượng Cộng đang nửa đường lên dốc lãnh nguyên trái mìn cơ động, khẩu súng trường bá đỏ văng trên bãi cỏ bên đường: Có vay có trả! 

Sáng ngày 2 tháng Tư năm 1975, vừa xuống tới chân dốc, tôi báo cho hai tiểu đoàn đi sau chuẩn bị đánh lạc hướng địch.

Mười năm phục vụ ở Vùng 2, tôi đã hướng dẫn nhiều quân nhân dưới quyền thành thạo nghệ thuật xoá dấu vết khi di chuyển trong rừng.

Hôm nay liên đoàn bị một phen vất vả. Ðoàn quân đang đi hàng dọc thì được lệnh dừng lại, chuyển thành hàng ngang, đâm thẳng xuống suối. Tới suối lại được lệnh lội hàng dọc trong lòng suối. Lội được khoảng nửa cây số lại có lệnh chuyển hàng ngang leo lên đỉnh. Khi lên tới đỉnh, đoàn quân lại chuyển thành hàng dọc.

Phải ma mãnh như thế mới đánh lạc được sự theo dõi của Thượng Cộng.

Vì di chuyển vòng vo tránh vùng địch hiện diện, nên chúng tôi dạt về hướng Tây hơi xa.

Buổi trưa, tôi thấy đồn Tân-Rai sừng sững bên phải trục tiến quân của mình.  Như vậy chúng tôi còn cách thành phố Blao trên chục cây số.

Nhưng khi nhìn thấy đồn Tân-Rai đã bị bỏ trống, trên cột, lá cờ vàng ba sọc đỏ còn bay, thì chúng tôi chỉ đứng xa mà ngó, chứ không dám leo lên. Mìn bẫy ai mà lường cho được!

Tôi cho quân chuyển hướng về Nam. Xế chiều, chúng tôi đã ở trên một đỉnh đồi nằm về hướng Tây Bắc của phi trường Con Hinh Ða.

Thành phố Blao nằm dưới kia, ngay trước mặt!

Từ trong phố, vẳng lại tiếng trống múa lân “thùng! thùng!”

Trước cửa vài ngôi nhà lác đác cờ bay, cờ nửa xanh, nửa đỏ, sao vàng. Blao đã rơi vào tay giặc!

Chúng tôi đành quay sang hướng Ðông, tìm đường lên Ðức-Trọng, Liên-Khương. Không biết tình hình Ðà-Lạt ra sao? Thôi thì, nước còn, ta cứ tát! Hy vọng, có còn hơn không! Bụng tuy đói cồn cào, nhưng chân chúng tôi vẫn cố gắng bước lên.

Ðêm 2 tháng Tư năm 1975, trong khi dò tìm tần số đài phát thanh Sài-Gòn, chiếc radio cầm tay của tôi bắt được một bản tin phát đi từ Lộc-Ninh qua Ðài Tiếng Nói Của Mặt Trận Dân Tộc Giải-Phóng Miền Nam.

Chương trình tối nay của đài cứ lặp đi, lặp lại lời kêu gọi của một thiếu úy trực thuộc Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân vừa ra đầu hàng quân Giải Phóng.

Anh thiếu úy này hết lời ca ngợi Quân Ðội Giải Phóng đã đối xử vô cùng nhân đạo với anh ta và hai người dưới quyền đã theo anh ta ra đầu hàng.

Anh ta còn lớn tiếng thiết tha kêu gọi những Biệt Ðộng Quân còn lại của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân hãy noi gương anh ta, mau mau ra đầu thú để khỏi bị chết đói ở trong rừng.

Trưa ngày 3 tháng Tư năm 1975, cánh quân đầu của tôi tới sát Liên tỉnh lộ 8 B. Nơi này cách quận lỵ Di-Linh chừng năm cây số. Bên kia lộ là vườn trà. Trà bạt ngàn.

Hướng Tây Nam con lộ là rừng tre. Chúng tôi núp trong rừng tre.

Ngoài đường cơ giới địch chạy ầm ầm.

Chờ tới gần tối, tôi đem theo Thiếu úy Học và một toán cận vệ xuống thám sát con đường.

Khi chúng tôi đang kẹt giữa đường thì một chiếc xe tải đi tới.

Toán cận vệ Biệt Ðộng Quân bắn đại vào đầu xe. Chiếc xe bể máy, xẹp lốp ngừng ngay giữa đường. Hai tên Việt-Cộng ngồi ghế trước chết ngay tại chỗ.

Chúng tôi chưa kịp kiểm soát trên xe chứa gì thì nghe tiếng đàn bà và trẻ con khóc ré lên trong xe; xe chở toàn đàn bà và con nít!

Tôi không biết vì sao trong chiếc xe Zin của Việt Cộng lại đầy con nít, đàn bà?

Tôi gọi anh em rút êm về hướng cũ. Chúng tôi nhanh chân lui lại hướng Tây chừng một cây số, ngủ trong rừng trà.

Từ radio, đài BBC loan tin thành phố Ðà-Lạt mất!

Bây giờ chúng tôi chỉ còn cách bỏ núi, tìm đường ra biển.

Ngày 4 tháng Tư năm 1975, chúng tôi di chuyển thật chậm trong rừng thông và rừng cỏ hôi. Vùng này nằm giữa Di-Linh và Bảo-Lộc. Hướng tiến bây giờ là Ðông Nam. Tôi hy vọng tìm được đường tới Liên-Ðầm. Rồi từ Liên-Ðầm lủi trong rừng tre chuồn về Gia-Bắc, xuống Thiện-Giáo, Phan-Thiết.

Trưa đó toán đi đầu của tôi mới ló đầu ra một trảng trống thì nghe tiếng súng trường Nga bắn “tắc! bụp!”  Có người đi săn gần đây!

Vừa quẹo qua một cái cua đường mòn, Binh nhất Yang đi đầu chạm trán một cán binh Việt-Cộng ngồi câu cá trên một cái cầu ván bắc ngang con rạch nhỏ.

Tên Việt-Cộng không ngờ trong rừng còn có quân lính Việt-Nam Cộng-Hoà! Y há hốc mồm nhìn sững cái phù hiệu đầu cọp nhe nanh trên mũ sắt của Binh nhất Yang. “Ðoàng!” thằng Việt-Cộng rớt xuống rạch. Nước trong rạch không sâu lắm, cỡ đầu người.

Chúng tôi núp trong lùm tre nhìn về hướng đồn điền trà trước mặt.

Trời! Việt-Cộng đâu mà nhiều thế! Lều bạt, xe cộ, phòng không, đại bác, xe tank, xe xích kéo pháo và tải đạn, đậu sát rạt nhau theo các đường phân lô trà. Bóng người qua lại lố nhố.

Ðơn vị Cộng Sản Bắc Việt này cũng cỡ một E pháo (trung đoàn pháo).

Như vậy gần đây cũng phải có ít nhất là một E bộ binh yểm trợ cho cái E pháo nặng trước mắt tôi!

Trên cái đồn điền trà bát ngát đó, chỗ nào cũng có bộ đội. Chúng nói chuyện ồn ào huyên náo tự nhiên như đang ở giữa Hà-Nội.

Chẳng đứa nào để ý tới tiếng súng của Binh nhất Yang. Chắc chúng tưởng đó là tiếng súng bắn chim trời, gà rừng của đồng bọn?

Trong tình cảnh đó, tôi thấy chỉ có cách áp dụng chước thứ ba mươi sáu trong tam thập lục kế là tốt nhất. Tôi ra dấu cho mọi người đánh bài tẩu mã.

Anh Thiếu tá Ðàng đi đoạn hậu, còn ở tít đằng sau xa, chẳng hiểu ất giáp gì. Thấy tôi hối hả ra lệnh “chém vè” càng nhanh càng tốt, anh cũng cho đàn em vắt giò lên cổ chạy theo tụi tôi. (Chém vè: Danh từ Việt-Cộng, có nghĩa là rút chạy.)

Sau đó, nương theo rừng thông, chúng tôi từ từ di chuyển ngược về Tây Nam, băng qua các vườn trà Bắc Blao và Bắc Tân Bùi.

Dự trù, qua khỏi Tân Bùi, tôi sẽ lấy Quốc lộ 20 làm chuẩn. Nếu thuận tiện, chúng tôi đổ dốc xuống Thiện-Giáo.  Nếu có trở ngại, chúng tôi sẽ cặp quốc lộ để về Gia-Kiệm.

Ðoàn quân tiếp tục đi suốt đêm.

Mờ sáng ngày 5 tháng 4 chúng tôi đang nghỉ chân trên một khu đồi thông thì nghe hướng chân đồi, trên con đường xe be có tiếng người nói chuyện. Tôi cho lệnh Thiếu úy Ðặng Thành Học dẫn theo một trung đội theo dõi đoàn người này.

Mấy phút sau có tiếng súng bắn “Cành! Cành!”  và tiếng hét “Sát! Sát!” âm vang trong núi…

Thiếu úy Học không đem theo máy truyền tin, nên tôi chẳng biết chuyện gì đã xảy ra.

Chừng mười lăm phút kế đó, mười mấy ông Biệt Ðộng Quân vừa thở, vừa leo lên đồi.

Học gạt mồ hôi trên trán, báo cáo với tôi,

– Trình Thái Sơn, tôi xuống tới đường thì đoàn người dưới đó đã đi tới khúc quanh. Chắc tụi nó là dân công Việt-Cộng, có cả phụ nữ đội nón lá. Tui cho lệnh bắn chỉ thiên để ra lệnh cho bọn họ dừng lại thì họ quăng hết đồ đạc, rồi chạy luôn! Tôi kiểm soát chiến lợi phẩm, chỉ thấy mấy cái đầu máy may, mấy cái radio, mấy cái đồng hồ treo tường, mấy cái nón lá, mấy cái áo tơi… Chẳng có thứ gì ăn được cả! Chúng tôi đói quá, chạy một hơi là mệt, đành bỏ cuộc!

Tôi an ủi Học,

– Xui quá! Phải chi đám dân công này mà đang làm công tác vận tải lương thực thì hay biết mấy!

Tôi thấy, cứ như những gì mà chú Học vừa nói thì bọn Việt-Cộng đi dưới đường chắc chắn mới trở về từ thị xã Bảo Lộc. Thành phố Bảo Lộc đã bỏ ngỏ nên trở thành mục tiêu cho bọn thổ phỉ cướp phá.

Tôi đoan chắc rằng, sau khi chúng tôi đi khỏi đây, thế nào chúng cũng mon men quay lại để tìm kiếm những gì mà chúng vừa vứt bỏ.

Hướng Tây Nam của chúng tôi là những rặng đồi cuối cùng của Cao Nguyên Bảo-Lộc.

Tôi biết chắc chắn rằng bên trái những rặng đồi xanh đó là Ðèo Chuối. Rừng chuối, rừng tre vùng này thì, eo ơi! Vắt nhiều không đâu bằng!

Trưa ngày 5 tháng Tư năm 1975, tôi đang suy tính làm cách nào an toàn đưa liên đoàn băng qua Quốc lộ 20 thì trong tần số 47.70 có người gọi Thái Sơn.

Tần số 47.70 là tần số đặc biệt của tôi, chỉ có tôi và Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân biết mà thôi.

Tần số này chỉ dùng trong trường hợp nguy biến hay bị thất lạc.

Tôi mừng rỡ vô cùng khi nhìn thấy bóng dáng một chiếc máy bay L19 đang bay lững lờ trên vùng trời hướng Ðông. Chiếc thám sát cơ L19 này trực thuộc Quân Ðoàn III.

Sau này tôi được biết, trên đường theo đoàn người di tản từ Ðà Lạt về Nha-Trang, Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân đã tới trình diện Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Khu 3 đang đi thị sát mặt trận. Trung tá Thanh đã báo cáo cho Tướng Toàn hay rằng, Thiếu tá Vương Mộng Long đang chỉ huy 3 tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân còn phiêu bạt ở trong rừng. Ông Thanh đã xin ông Toàn cho máy bay đi tìm cứu chúng tôi.

Trung tá Thanh đã cung cấp đặc điểm nhận ra tôi là: “Thái Sơn nói tiếng Bắc 54” trên tần số truyền tin cố định FM 47.70.

Từ 31 tháng 3 năm 1975, mỗi chiều dừng quân, tôi đều bắt thằng Y Don Nier gắn cây ăng ten 7 đoạn vào đầu một cành cây cao rồi phát đi trong thời gian dài đúng một tiếng đồng hồ cái điệp khúc:

“Mayday! Mayday! Ðây là Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân!” 

Thế rồi, một hôm, đài kiểm thính của ta đã bắt được lời kêu cứu ấy:

“Mayday! Mayday! Ðây là Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân!” 

Tin tức này được trình cho Trung tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn III.

Ngay sau đó, Chuẩn tướng Lê Minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh được ủy thác nhiệm vụ tìm cứu đơn vị này. Trung tá Nguyễn Khoa Lộc, khóa 18 Võ Bị, Liên đoàn phó Liên Ðoàn 33 Biệt Ðộng Quân đã được chỉ định bay trên trinh sát cơ L19 từ sáng cho tới tối mỗi ngày để tìm kiếm chúng tôi.

Suốt thời gian này Trung tá Lộc trú ngụ trong tư dinh của Ðại tá Phạm Văn Phúc, Tỉnh trưởng Tỉnh Long Khánh.

Vì Ðịnh-Quán, Phương-Lâm, Blao, Di-Linh, Ðà-Lạt, đã rơi vào tay Cộng Quân, nên tất cả những phi cơ dám mạo hiểm bay trên Quốc Lộ 20, vùng giáp ranh Lâm-Ðồng và Long-Khánh đều có thể bị phòng không bắn rơi bất cứ lúc nào.

Vậy mà ròng rã 3 ngày, Trung tá Nguyễn Khoa Lộc đã gồng mình liệng tới liệng lui trên trời, cố tìm dấu tích bạn.

Sau khi bắt được liên lạc với anh Lộc, sợ địch phát giác ra vị trí bãi đáp, tôi phải dẫn theo một toán viễn thám tiến ra giữa một bãi tranh để chiếu gương cho máy bay, thay vì dùng lựu đạn khói.

Thấy chắc ăn rằng dưới đất là quân ta, anh Nguyễn Khoa Lộc mới chịu bay đi, hẹn ngày hôm sau sẽ gặp lại.

Tôi loan báo tin vui này cho anh Ðàng và anh Tài. Cả liên đoàn như hồi sinh.

Sau đó, tôi cho quân tấp vào bìa rừng nghỉ qua đêm chờ mai ra bãi bốc.

Ðêm đó là lần đầu, tôi, anh Tài, và anh Ðàng đóng quân chung. Ðó cũng là lần đầu chúng tôi có thời giờ kiểm điểm lại quân số một cách kỹ càng sau gần nửa tháng vất vả, gian nan.

Tôi cám ơn Niên Trưởng Trần Ðình Ðàng đã phụ giúp tôi một cách rất đắc lực trong vai trò đoạn hậu vô cùng khó khăn. Với những đức tính can đảm, kiên nhẫn, chịu đựng, và khiêm nhường, Thiếu tá Ðàng là tấm gương tốt cho những người khác nhìn vào, cảm phục và noi theo.

Quân số Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân còn duy trì gần như toàn vẹn, phần lớn nhờ vào công lao của Niên Trưởng Trần Ðình Ðàng, Khóa 15 Võ-Bị.

Trưa ngày 6 tháng Tư năm 1975 Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được Phi Ðoàn 237 trực thăng Chinook của Quân Ðoàn III bốc ra phi trường Phan-Thiết. Ðổ xăng xong, trực thăng lại chở thẳng chúng tôi về Xuân-Lộc tăng phái Sư Ðoàn 18 Bộ Binh.

Hôm sau, những quân nhân của hai tiểu đoàn còn lại cũng được trực thăng bốc về Phan Thiết.

Khoảng 5 giờ chiều ngày 6 tháng 4 năm 1975 chúng tôi đặt chân xuống phi trường Long-Khánh.

Một cuộc lui binh nghiệt ngã đã đưa tôi tới chốn này. Quanh đây, tôi chỉ thấy một dải bình nguyên ngút ngàn đồng cỏ. Tìm đâu những rặng Chư-Prong, Chư-Gô suốt mùa sương phủ, mây che? Tôi đã thực sự lìa rừng, xa núi. Từ nay vĩnh biệt Pleime!

Tôi hiểu rằng chiến trận không dừng ở đây. Vì tôi biết một tướng hàng đầu Cộng-Sản đã tuyên bố:

“Muốn giải phóng Miền Nam, trước hết phải đặt bàn chân phải lên Tây-Nguyên, sau đó đặt bàn chân trái lên Duyên-Hải” (Võ nguyên Giáp)

Chúng tôi đã bình thản đợi chờ những trận đánh mới.

Tháng Tư 1975, những người lính của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân gốc Kinh, Thượng Rhadé, Jarai, Bana của căn cứ Biên Phòng Pleime đã chiến đấu một cách tuyệt vọng, nhưng với một phong cách thật tuyệt vời.

Chúng tôi đã không bỏ nhau. Theo chân nhau, chúng tôi đã ngã xuống, từng ngày. Máu chúng tôi đã tưới đẫm từng ngọn đồi, từng đoạn đường, từng khu phố để ngăn bước giặc tràn vào Xuân-Lộc, Ðồng-Nai, Sài-Gòn.

VML- K20

Seattle, ngày 21 tháng Tư năm 2006

(Nhuận sắc tháng Ba năm 2021)

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 11th Jun 2021

Post by Sơn râu 24 Jul 2024

Lời giới thiệu:

 Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 7

Còn Thiếu tá Trần Ðình Ðàng, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân lại là sĩ quan thâm niên hơn tôi nhiều. Anh Trần Ðình Ðàng xuất thân Khóa 15 Võ Bị và phục vụ trong binh chủng Biệt Ðộng Quân từ những năm binh chủng mới được khai sinh. So với Thiếu tá Ðàng tôi là đàn em rất xa, về cả hai xuất xứ, Biệt Ðộng Quân cũng như Võ-Bị, vì tôi xuất thân từ Khóa 20 Võ-Bị.

Tôi xin ý kiến của người Niên Trưởng dễ mến này về việc tôi được chỉ định chỉ huy liên đoàn. Tôi hỏi anh có trở ngại gì khi anh phải nằm dưới sự chỉ huy của tôi không, thì anh Ðàng trả lời một cách khẳng khái,

– Chú chỉ huy là phải rồi! Chú thông thuộc địa thế Vùng 2. Chú được cấp trên, cấp dưới tín nhiệm. Anh sẽ nghe theo lệnh của chú. Yên chí đi!

Tôi siết tay anh Ðàng thật chặt,

– Cám ơn Niên Trưởng! 

Trong cơn nguy khốn, chúng tôi thấy thương nhau hơn. Trong hoạn nạn, chúng tôi thấy gần nhau hơn.

Sau khi nhận lệnh chỉ huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, tôi đích thân kiểm điểm lại quân số các ban, ngành của bộ chỉ huy liên đoàn thì phát giác ra, chỉ có Ban Truyền Tin là hiện diện khá đầy đủ, cái máy viễn liên PRC 74 còn đủ điện trì và vận hành tốt.

Ban Quân Y chỉ còn một hạ sĩ quan cùng hai binh sĩ. Ông Trung úy Nguyễn Ðăng Tri, Y sĩ trưởng của liên đoàn đã vắng mặt từ trước ngày di tản.

Ðại Ðội Trinh Sát của liên đoàn cũng không còn người nào, không biết ông Ðại đội trưởng là Ðại úy Nguyễn Văn Song và đại đội này đang ở đâu.

Tôi tập họp tất cả quân nhân còn lại của bộ chỉ huy liên đoàn thành một trung đội, rồi cho trung đội này đi theo cánh quân đoạn hậu của Thiếu tá Trần Ðình Ðàng.

Cũng từ đêm 28 tháng Ba năm 1975, tôi không còn liên lạc được bất cứ đơn vị nào của Quân Ðoàn II.

Thì ra, thời gian này Thiếu tướng Phạm Văn Phú và Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II cùng các đơn vị khác đang bị Việt-Cộng truy kích đánh đuổi tơi bời, phải chạy từ tỉnh này tới tỉnh khác. Tình hình chỉ tạm yên sau khi lãnh thổ Vùng 2 Duyên Hải đã được sáp nhập vào Quân Khu 3 đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn III.

Sáng 29 tháng Ba trong khi đánh răng rửa mặt, tôi bất chợt nhìn thấy một cái đầu hói nằm chung với mấy anh lính cận vệ của tôi trên một cái poncho.

Tôi hỏi Binh nhứt Bích, người lính nấu cơm cho tôi,

– Thằng đầu hói nằm kia là ai vậy Bích?

– Dạ! Trình Thái Sơn, người đó là Thiếu tá Tài. Tối qua ông Tài tới poncho của tụi em, xin vào ngủ chung, ổng nói đã xin phép Thái Sơn rồi!

Tôi ra lệnh,

– Kêu ông ta dậy! Nói với ông ta lên gặp tao!

Năm phút sau, Thiếu tá Nguyễn Hữu Tài chân còn chưa mang giày, tới đứng nghiêm trước mặt tôi, miệng run lập cập,

– Ðêm qua tui lên xin gặp Thái Sơn để trình một việc quan trọng thì Thái Sơn đã ngủ rồi, tui phải chui vào nằm với tụi cận vệ của Thái Sơn chờ sáng nay gặp mặt Thái Sơn.

Tiếp đó ông Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân nói một hơi,

– Trình Thái Sơn! Tinh thần binh sĩ của tiểu đoàn tôi xuống thấp lắm rồi! Một thằng đại đội trưởng của tôi đã dẫn hai thằng lính dưới quyền nó trốn đi mất tiêu! Thái Sơn gắng liên lạc với thượng cấp xin tiếp tế lương thực cho anh em. Anh em tụi tôi đói quá! Thái Sơn ơi!

Nghe xong, tôi chỉ biết khích lệ tinh thần ông Tài bằng vài lời,

– Giữa rừng già thế này khó tìm lương thực lắm. Ông nói với anh em, chịu khó ăn rau tàu bay cầm hơi. Chắc cũng không còn xa làng xóm lắm đâu, gắng sức lên! Ðiều quan trọng nhất là cố giữ vững tinh thần, đừng vì quá đói mà thối chí, nản lòng, đào ngũ. 

Những ngày tiếp theo, dưới quyền chỉ huy của tôi, liên đoàn tiếp tục cuộc hành trình đã dự trù. Theo hướng Ðông Nam, chúng tôi băng rừng lội suối nhắm về quận lỵ Di Linh và thị trấn Blao, cứ cặp theo Liên tỉnh lộ 8B thì sẽ không sợ lạc. Trên đường chúng tôi đi qua chỉ có tre, mây và lau sậy; trên đường chỉ có dấu chân voi.

Ðịa thế ở đây tôi quen lắm. Thời 1968 tôi đã lặn lội, lùng sục không sót một ngọn đồi nào trong vùng này. Ðã bao lần, tôi qua lại trên dải đất từ bờ Ðông sông Ða-Dung qua Quốc lộ 20 tới Cao nguyên Gia-Bắc giáp giới quận Thiện-Giáo, Bình-Thuận.

Ngày đó, Trung tá Bùi Văn Sâm Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân đã biệt phái Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân của Ðại úy Hồ Khắc Ðàm (K16VB) cho Task Force South của Tướng Trương Quang Ân, Tư lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Tôi lúc đó là Ðại đội trưởng Ðại Ðội 1/Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân dưới quyền anh Ðàm.

Chúng tôi được trực thăng Hoa-Kỳ tải vào rừng. Tìm mục tiêu, diệt địch. Leo hết ngọn đồi này tới ngọn đồi khác. Mười ngày sau chui ra bãi trống nhận tiếp tế gạo, mắm. Rồi lại leo lên trực thăng, đổ xuống bãi khác.

Lại tìm mục tiêu. Lại leo hết đồi này tới đồi khác. Lại tiếp tế…

Cứ thế, mỗi đợt cả tháng trường, chúng tôi lần mò trong núi. Chỉ những anh bị thương hay sốt rét là có dịp nhìn thấy phố…

Bảy năm sau, tôi lại lội trên những con đường mòn ngày xưa tôi đã dẫn quân đi qua.

Bảy năm sau, tôi vẫn nhớ đường nào lên Ðại-Nga, hướng nào về Tân-Bùi, ngả nào qua Tân-Rai.

Lương thực của chúng tôi đã gần cạn. Giầy vớ, áo quần bắt đầu te tua.

Ngày 30 tháng Ba năm 1975, mặt trời vừa lên, trong máy nội bộ của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã có tiếng người trên trực thăng hối thúc:

“Yêu cầu Thái Sơn kiếm bãi đáp nhận chỉ thị gấp!”

Lúc đó chúng tôi đang ở gần một bãi ngô cũ. Chiếc trực thăng sà xuống. Người phi công quơ tay ngoắc tôi lia lịa. Tôi bước lên càng máy bay để nghe anh ta nói,

– Tôi được lệnh quân đoàn lên đón Thiếu tá về Ðà-Lạt.Thiếu tá lên tàu mau đi!

– Thế còn liên đoàn thì sao?

– Chúng tôi chỉ “rescue” một mình Thiếu tá thôi! Những người khác, bỏ! (Rescue: Cứu)

Tôi xua tay,

– Thôi! Nếu thế thì tôi không đi đâu! Tôi đang chỉ huy cả ngàn người. Tôi không mặt mũi nào bỏ đi một mình. Anh về báo với quân đoàn cố gắng bốc tất cả liên đoàn giùm tôi!

Nói xong câu đó, tôi bước xuống đất định quay đi thì người phi công cởi dây đai, mở cửa phi cơ. Anh nhảy xuống đất đứng nghiêm trước mặt tôi. Giơ tay chào tôi, anh nói lớn,

– Tôi không ngờ giờ này quân đội ta còn một vị chỉ huy đáng nể như Thiếu tá! Thiếu tá cho phép tôi chào kính phục ông và nói lời vĩnh biệt ông.

Người phi công nắm tay tôi lắc lắc mấy cái rồi anh buông tay tôi ra, leo lên buồng lái. Cả phi hành đoàn giơ tay vẫy vẫy giã từ. Tôi cũng giơ cái bản đồ vẫy lại. Chiếc trực thăng cuối cùng của Vùng 2 khuất dần ở chân mây.

Binh nhất Y Don Near mang máy truyền tin nội bộ của tôi lúc nào cũng đi sát bên tôi. Don đã nghe tất cả những lời tôi và viên phi công đối đáp với nhau. Chắc nó đã kể lại chuyện này cho bạn bè.

Trưa hôm đó, lúc dừng quân nghỉ chân, vài anh lính Rhadé, Jarai đã đến xúm quanh người chỉ huy của họ,

–  Ông Thiếu tá ơi! Ðừng bỏ tụi em, tội nghiệp!

–  Ừ! Thiếu tá không bỏ các em đâu! Thiếu tá lúc nào cũng ở bên các em. Chúng mình sống chết có nhau!

Nhìn những giọt nước mắt theo nhau lăn trên những gò má đen đủi của thuộc cấp, tôi thấy lòng mình ấm lại.

Chúng tôi đã cạn hết lương thực. Trên đường đi, chúng tôi phải tấp vào những nương rẫy cũ kiếm rau tàu bay, củ chuối, nấu ăn cho đỡ đói. Răng người nào cũng đen thui vì nhựa chuối rừng.

Ðiều khổ nhất phải chịu đựng là, sau khi ăn hoa chuối, cây chuối hay củ chuối thì chất xơ của chuối làm cho chúng tôi mắc bệnh táo bón. Mỗi khi đi tiêu, chúng tôi phải ngồi ngâm hậu môn xuống nước, lấy cây cạy phân ra. Hậu môn đau rát lắm. Ði tiêu xong người nào cũng bước cà-náng, hai hàng.

Buổi trưa, tôi đang ngồi bên đường chờ bát canh rau tàu bay của chú Bích thì Thiếu úy Ðặng Thành Học rón rén tới gần. Học thì thầm,

–  Có con gấu to lắm, trên cây. Thái Sơn cho phép bắn làm thịt nghe?

Tôi sáng mắt lên,

–  Ừ! Bắn đi!

Học vui vẻ phóng về hướng rừng. Lát sau chú quay lại, mặt tiu nghỉu,

–  Thấy con gấu trên cây trong bụi lau, thằng lính gác muốn bắn, nhưng lại sợ Thái Sơn la. Ðợi khi em xin phép xong thì con gấu đã chạy mất tiêu rồi!

Tôi thì buồn vui lẫn lộn. Buồn vì mất ăn một bữa thịt gấu. Vui vì tới giờ phút này, tinh thần kỷ luật của đơn vị tôi vẫn chưa bị lung lay.

Chúng tôi đang ở bên bờ một con suối lớn. Dưới nước, những con cá đuổi nhau có ngời. Tôi chợt nghĩ ra một ý lạ: Ðốt cá!

Tôi gọi Thiếu tá Tài và Thiếu tá Ðàng sẵn sàng. Tôi ra lệnh cho 3 tiểu đoàn tản xa theo dòng nước.

Mỗi tiểu đoàn trấn giữ một khúc suối. Nơi đầu nguồn của mỗi đơn vị chỉ cần đốt 3 quả lựu đạn M26 là liên đoàn có một bữa cá no nê.

Tôi học được cách “đốt cá” từ khi còn ở Ðại Ðội Trinh-Sát của Liên Ðoàn 2 Biệt Ðộng Quân.

Muốn đốt cá thì làm như sau:

Vặn phần đầu của quả lựu đạn ra, vứt đi.

Bẻ đầu một viên đạn M16 lấy thuốc súng đổ vào lỗ kích hỏa của trái lựu đạn.

Ðốt thuốc súng cho lửa xanh phụt lên.

Quơ qua, quơ lại quả lựu đạn cháy trong lòng nước. Hơi cay làm cho thủy tộc bị đui. Cá đen, cá trắng, lươn, cua, rùa, rắn, ếch, nhái, vân vân, con gì trong nước cũng nổ con ngươi nổi lên mặt nước.

Buổi chiều chúng tôi mỗi người được chia một lon Guigoz cá tươi. Sáng mai chúng tôi lại có sức để lên đường.

Ngày 31 tháng Ba năm 1975, chúng tôi đang ở trên một ngọn đồi cách Bảo Lộc trên dưới hai chục cây số. Từ trên đỉnh, chúng tôi nhìn thấy thung lũng dưới chân đồi là một mật khu trù phú.

Kế hoạch đặt ra như sau: Ðại Ðội 3/82 sẽ tiến sát, rồi bất thần đột kích khu doanh trại chính; mỗi tiểu đoàn sẽ cắt hai chục người tải lương thực về.

Kế hoạch đã được thi hành như dự liệu và không có gì trục trặc xảy ra.

Ðại Ðội 3/82 thanh toán mục tiêu rất nhanh.

Một cán bộ Việt-Cộng quần áo bảnh bao đang ngồi bên bàn, chờ ly cà phê phin nhỏ giọt thì bị một viên M16 ghim vào ngực.

Hai cán bộ đang cho lợn ăn trưa cũng bị mỗi tên một viên M16 vào ngực.

Mấy anh cán binh đang tưới cây trong vườn cũng bị mỗi anh một viên M16 vào ngực. Cái mật khu dưới kia là một trung tâm huấn luyện của Tỉnh Ðội Lâm- Ðồng Việt-Cộng.

Trung tâm có khoảng trên ba trăm khẩu súng gỗ và cả chục khẩu súng thật.

Có một khẩu cối 82 ly với một kho đạn.

Tên Việt-Cộng đang chờ uống cà phê có vẻ là cấp chỉ huy. Những tên khác có lẽ là bọn lo công tác hậu cần. Bọn bộ đội bảo vệ trung tâm đã xuất trại vắng.

Quân ta làm chủ tình hình một cách lẹ làng.

Có một tai nạn lúc xung phong: Hạ sĩ Nguyễn Ba trong toán tà-lọt của tôi đã lủi đầu vào một bụi tre. Một cọng tre khô xuyên vào mắt trái của hạ sĩ. Ðói quá, quên đau, hạ sĩ xung phong bắt được một con gà và một gốc sắn rồi mới chịu lấy khăn tay bịt một mắt rút lui lên đồi. Ăn xong bữa thịt gà, hạ sĩ mới nhận ra con mắt bị thương đang hành hạ anh ta. Cái cọng tre còn lòi ra khỏi hốc mắt Hạ sĩ Ba cả tấc. Quân Y liên đoàn không dám rút cọng tre khỏi mắt Ba vì không đủ phương tiện cứu chữa. Họ chỉ dùng kìm cắt cọng tre ngắn đi cho đỡ vướng.

Vốn là một tay viễn thám gan lỳ, người tà-lọt của tôi cắn răng chịu đau, không rên, không khóc. Những ngày sau đó, hạ sĩ đành quàng súng lên vai, hai tay luân phiên che mắt đi theo đoàn tùy tùng của Ðại úy Hoàn.

Tôi cũng quên dặn dò các cánh quân coi chừng bắn gà, bắn heo có thể gây đạn lạc trúng quân ta. Kết quả, đạn của Ðại Ðội 3/82 đã sượt qua cổ một anh lính của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân, thay vì trúng đầu một con gà. Người trúng đạn bị thương nhẹ.

Toán tải lương thực sau cùng của liên đoàn đã rút lui an toàn.

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 24 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 7  

Ông Trùm Croce Malo sinh ra tại làng Villaba, bên một đầm lầy mà ông đã làm cho tươi tốt và nổi tiếng khắp đảo Sicily. Ở Sicily, chẳng có gì gọi là trớ trêu khi “cha mẹ hiền lành sinh con quỉ sứ”. Ông Trùm sinh ra trong một gia đình đạo ròng. Lúc y còn nhỏ, gia đình tính cho y đi tu làm linh mục kia đấy. Chả thế mà lại đặt tên cho y là Crocefiso (1) – gọi tắt là Croce – một cái tên mà chỉ những gia đình nào sùng đạo lắm mới dùng để đặt cho con. Lúc nhỏ, y là tiểu lễ sinh ở nhà thờ để giúp lễ cho cha cố. Và đến tuần Lễ Thánh (2), nhờ thân thể mảnh khảnh, nét mặt xương xương nhu mì, hiền hậu, nên y đã được chọn để đóng vai Chúa chịu nạn (3).
Nhưng đến tuổi trưởng thành thì rõ ràng là Croce Malo rất khó chấp nhận một uy quyền nào khác ngoài chính y. Y buôn lậu, tống tiền, ăn cướp. Sau cùng, và tệ nhất, y đã tặng cho cô thôn nữ thủ vai Magdalenna (4) trong các lễ kịch Chúa chịu nạn một cái bầu, rồi quất ngựa truy phong. Y nhất định không chịu cưới cô gái kia, lấy cớ là cô ấy đã nhiễm sâu cái vai trò của cô, nên y không thể lấy làm vợ được. Gia đình của cô gái thấy lối giải thích đó nghe khó lọt tai quá, cho nên đã hạ tối hậu thư: một, cưới cô bé; hai, bị thanh toán. Croce Malo quá kiêu hãnh, không chịu cưới cô gái “mang tai tiếng” ấy, nhưng cũng không muốn bị “mần thịt”, bèn dông tuốt lên núi làm ăn cướp. Sau một năm làm nghề dao búa, y đã may mắn tiếp xúc được với các đàn anh trong nghề là tổ chức Mafia.
Mafia là một từ có nguồn gốc Ả Rập có nghĩa là “nơi tôn nghiêm”, “cung thánh”. Từ này nhập vào Sicily khi con cháu tiên tri-Mahomet xâm lược đảo này vào thế kỷ thứ 10. Suốt dòng lịch sử, người dân Sicilian bị hết người La Mã đến chế độ dân quyền của Giáo hoàng, rồi đến người phương Bắc, người Pháp, Đức, Tây Ban Nha giày xéo, áp bức, bóc lột tàn nhẫn. Các chính quyền ấy không làm cho người dân Sicilian cái gì khác hơn là nô lệ hoá họ, hãm hiếp vợ con của họ, thủ tiêu các nhà lãnh đạo của họ. Ngay cả những người Sicilian khá giả cũng không thoát được những tai hoạ ấy. Tôn giáo pháp đình kiểu Tây Ban Nha đã vu cáo họ là dị giáo để tước đoạt tài sản của họ. Bởi vậy, Mafia được thành lập như một hội kín để trả thù. Khi nhà vua từ chối can thiệp, không chịu hành động để chống lại bọn quí tộc người Bắc đã hãm hiếp vợ con của họ, thì một nhóm nông dân Sicilian đã giết luôn tên hôn quân nhu nhược đó. Khi bọn cảnh sát dùng nhục hình cassetta (5) để trừng phạt một người Sicilian trộm cắp vặt thì người dân Sicilian tìm cách giết tên cảnh sát trưởng đó, dù tên trộm kia không phải là bà con ruột thịt gì của họ. Dần dần, nông dân và những ngoời nghèo khổ hình thành một tổ chức tự vệ. Và tổ chức này trở thành một chính quyền trong bóng tối. Nhưng người dân nghe theo, trọng nể chánh quyền trong bóng tối này hơn là chính quyền công khai, chính thức, khi giữa đám dân có sự bất hoà với nhau, họ không bao giờ cậy đến cảnh sát hay chính quyền chính thức phân xử giùm, mà nhờ đến thủ lãnh Mafia địa phương đứng làm trung gian hoà giải.
Tội lớn nhất đối với người Sicilian là cung cấp cho chính quyền bất cứ tin tức gì về bất cứ hành động nào của Mafia. Trước bất cứ hành động nào của Mafia, người dân phải tuyệt đối im lặng. Đó là luật omerta. Được thực thi qua bao nhiêu thế kỷ, luật omerta được mở rộng sang cả những trường hợp chính người thân của mình bị Mafia sát hại. Sự bất hợp tác của người dân với chính quyền công khai đã lên tới mức ngay cả những đứa con nít cũng được dạy cho biết không chỉ đường cho một người lạ khi người này hỏi thăm đường đến một làng nào hay nhà của một người nào.
Qua bao thế kỷ Mafia ngầm thống trị đảo Sicily đến nỗi không một chính quyền nào có thể ngăn chặn được quyền lực của Mafia. Cho đến tận thế chiến thứ hai, người dân cũng không bao giờ nói ra miệng cái tên “Mafia”.
Sau năm năm hành nghề dao búa trên núi, Croce Malo được coi như một tay tổ lục lâm, nghĩa là một tay “có nghề”, coi việc cắt cổ mổ bụng, thiên hạ không hơn việc cắt cổ một con gà, một chuyện vặt vãnh không đáng bận tâm. Y cũng được coi là một người “đàng hoàng”, nghĩa là một tay đáng nể, đáng gờm. Sau một vài “dàn xếp”, y an nhiên trở về sống nơi quê nhà ở Villaba, cách thủ phủ Palermo khoảng 40 dặm về phía Nam. Sự “dàn xếp” này bao gồm cả việc trả tiền cho gia đình cô thôn nữ bị hắn tặng cho cái bầu, rồi không chịu cưới, lấy cớ cô này “mang tai mang tiếng” quá. Hành động này được “bốc thơm” như một hành vi nghĩa hiệp của y. Để tránh sự nhục nhã, cô gái ấy đã phải sang Mỹ tha phương cầu thực dưới danh nghĩa một góa phụ trẻ. Bởi vậy – dù là một tên giết người không gớm tay, một tên cướp tàn nhẫn, một tay anh chị của đám “Người anh em” (tên gọi các thành viên của tổ chức Mafia – N.D) – Y – Croce vẫn không tin rằng bấy nhiêu danh hiệu là đã đủ để đảm bảo an toàn cho y trước sự trả thù của gia đình cô gái đã bị y làm nhục. Bởi vì đây là vấn đề danh dự – nếu y không bồi thường – gia đình ấy bắt buộc phải giết y, bất chấp hậu quả ra sao. Nếu không, gia đình ấy không còn mặt mũi nào mà nhìn lại. Vì, không dám trả thù, rửa nhục, ở Sicily này, được coi là một con người đê tiện, hèn mạt đáng khinh.
Bằng cách phối hợp sự hào hiệp với sự quỉ quyệt, Croce Malo đã được coi như một Ông Trùm. Dù chỉ mới vào khoảng tứ tuần mà y đã được coi là “Người anh em” có uy tín và uy thế đến nỗi được mời đến để phân giải những tranh chấp rất tế nhị và gay cấn có thể đưa đến những thanh toán giữa hai hay nhiều sếp Mafia khác. Là một con người vừa lý sự, vừa khéo léo, như thể bẩm sinh đã là nhà ngoại giao có tài, y được đám Mafia ở Sicily tôn là “Ông Trùm hoà giải”. Nhưng, quan trọng hơn hết vẫn là cái tài giết người của y: giết bất cứ ai khi thấy cần, giết rất “ngọt” tay, bình tĩnh, lạnh lùng và không hề áy náy, xót thương.
Dưới “triều” của y, đám Mafia làm ăn phất lên như diều. Những tên cứng đầu cứng cổ cách mấy cũng nhũn như con chi chi, nếu không được thì được “hoá kiếp” hết. Ông Trùm Croce ngày càng giàu có. Ngay cả em trai của y – cha Benjamino Croce – tuy là bí thư chánh văn phòng toà Hồng y giáo chủ của Palermo, nhưng bàn tay của cha nhúng vào máu người ta nhiều hơn là nhúng vào nước thánh, trung thành với Đức Hồng y giáo chủ thì ít, mà với ông anh ruột dao búa thì nhiều.
Ông Trùm lấy vợ và có được một mụn con trai mà y cưng còn hơn trứng mỏng, đến độ tôn thờ “ông” con trai. Lúc đó, y chưa đạt đến trình độ siêu đẳng, và cáo già như sau này và cũng chưa bị các đối thủ chơi cho đòn nào đích đáng nên vẫn còn “bình” lắm, do đó y đã tính chơi một vố liều mạng. Nhưng, thời đó y nổi danh như cồn, không chỉ trên khắp đảo Sicily mà còn chấn động đến cả giới cầm quyền chóp bu ở Rome. Vố đó bắt nguồn từ một sự việc cũng rất tầm thường – một bất hoà nho nhỏ trong gia đình – mà, ngay cả những nhân vật tai to mặt lớn trong lịch sử cũng đành phải chịu.
Số là, với cái địa vị “Chúa Trùm” (Caph di capi: sếp của các sếp – N.D) trong đám anh chị Mafia, Don Croce tuy xuất thân bần hàn nhưng đã “vồ” được một em thuộc gia đình danh gia vọng tộc. Thật ra cái “vọng tộc” mà gia đình này có được chẳng phải vì tổ tiên năm đời mười đời của họ là ông hoàng bà chúa gì, mà là nhờ đã bỏ ra một món tiền lớn, nên đã biến máu đỏ thành “máu xanh” (6) chỉ ít lâu sau ngày cưới, cô vợ đâm ra ngủng nghỉnh, ỷ vào cái máu xanh “mua” của mình, cô nàng tỏ ra coi thường y, chê y đủ thứ, nào là gốc gác bần tiện quê mùa, nào là nói năng không tao nhã, mở miệng ra thì cứ như là đấm vào tai người ta, nào là chỉ quen giao thiệp với phường đầu trộm đuôi cướp, chỉ quen ra lệnh cho bọn đầu trâu mặt ngựa, nên không có những cử chỉ thanh lịch, không biết nịnh đầm. v.v. và v.v… Cô “tiểu thư vôi” ấy nhớ lại cái ngày mà những tay hào hoa phong nhã đã từng đeo đuổi mình phải dạt ra vì Ông Trùm tuyên bố xin cưới nàng. Nàng cứ tưởng như mình là nàng công chúa Bạch Tuyết, nhưng không có bảy chú lùn, mà chỉ có một bầy sát nhân ăn cướp bao quanh. Ông Trùm biết, cay lắm, nhưng không làm gì được. Vì, tuy chê bai vậy, nàng đâu có dại gì mà ra mặt rẻ rúng y. Đây là Sicily, chớ đâu phải là Paris hay Luân Đôn mà bảo là đàn ông không được đánh đàn bà, dù chỉ đánh bằng một bông hoa. Và đàn ông Sicilian cũng không có cái kiểu nịnh đầm như mấy thằng cha hiệp sĩ dỏm chốn đế đô. Bởi vậy, y quyết định phải làm một cái gì đó khiến cho con mụ đỏng đảnh này phải biết oai để rồi kính sợ, luỵ phục cho đến trót đời đặng y còn rảnh trí mà chuyên tâm vào lo công việc làm ăn chớ. Ngày đêm, y cố vắt óc tìm cách giải quyết vấn đề. Và cái bộ óc quái quỉ của y đã giúp y đề ra được một kế hoạch “thần sầu” mà đến tổ sư bồ đề Machiavel (7) sống lại cũng phải chào thua.
Có tin đức vua sắp tuần du phương nam để xem thần dân Sicilian của ngài trung thành và tôn kích ngài đến mức nào. Tất cả mọi người dân ở Sicily đều ghét thậm tệ nhà cầm quyền ở Rome và đều sợ Mafia. Nhưng họ lại rất tôn kính đức vua vì ngài luôn mở rộng hoàng tộc bằng các liên hệ máu mủ, bằng các cuộc hôn nhân và nhận làm “bố đỡ đầu”. Và cũng giống như những người dân Sicilian, ngài được tiếng là kính sợ Chúa và sùng kính Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Mary.
Đảo Sicily tưng bừng tổ chức lễ nghênh đón đức vua. Chủ nhật đầu tiên khi đặt chân đến Sicily, đức vua dự lễ Missa tại nhà thờ chánh toà Palermo. Sau lễ Missa, sẽ có lễ báp-têm (8) cho công tử Ollorto là hoàng thân Ollorto, một danh gia vọng tộc lâu đời ở Sicily. Thật ra, đức vua đã từng đỡ đầu cho vô số con vua cháu chúa khác và cũng đã đỡ đầu cho cả hàng trăm đứa trẻ con của các ngài thống chế, quận công, hầu tước…. và cả con của các ngài tai to mặt lớn trong chính quyền phát – xít của Mussolini. Đó là một thủ đoạn chính trị nhằm liên kết chặt chẽ vương triều với chính quyền hành pháp. Khi được nhà vua nhận đỡ đầu thì cậu công tử vương tôn đó đương nhiên trở thành “Hiệp sĩ của Hoàng gia”, có giấy tờ chứng thực đàng hoàng. Về mặt vật chất cụ thể thì được đức vua ban cho một cái cúp bằng bạc.
Ông Trùm sẵn sàng hành động hớt tay trên hoàng thân Ollorto. Hôm đó, y đã cài vào buổi lễ tới 300 “tay em”. Em ruột của y – cha Benjamino Croce – hôm đó cũng là giáo sĩ trợ tế cho đức ngài Hồng y giáo chủ Palermo chủ tế.
Theo nghi thức thì lễ báp-têm bao giờ cũng bắt đầu từ ngoài cửa nhà thờ. Vì lúc chưa làm báp têm – thì chưa phải là con Chúa. Và giếng nước để làm báp – têm bao giờ cũng ở cuối nhà thờ, ngay chỗ cửa ra vào.
Sau lễ Missa trong nhà thờ, hoàng thân Ollorto hãnh diện bước ra cửa nhà thờ – tay ôm cậu công tử còn nhỏ xíu. Đám đông đứng ngoài hoan hô ầm trời, vì hoàng thân Ollorto – một người mảnh khảnh, đẹp trai – là một quí tộc ít bị dân Sicilian ghét nhất. Đúng lúc hoàng thân bước ra khỏi cửa nhà thờ thì mấy trăm “tay em” của Ông Trùm ùa vào, chặn lối ra của đức vua, bao vây và cô lập ngài khỏi giáo sĩ cử hành lễ báp – têm là Hồng y giáo chủ Palermo.
Đức vua là người có vóc dáng thấp bé với bộ râu rậm hơn mái tóc. Ngài vận binh phục kỵ binh với dây chiến thắng chằng chịt và huân chương kín ngực, xuống đến tận gần rốn, khiến ngài trông như một thằng lính chì, đồ chơi của con nít. Bề ngoài coi ngài oai vệ vậy, chứ thật ra tâm địa của ngài rất dịu dàng, nhân hậu. Bởi vậy, khi cha Benjamino giúi vào tay ngài một cái bọc có đứa con nít đỏ hỏn, thì ngài chưng hửng mất chút xíu, chứ không có cự nự gì. Cha Benjanmino vội vã đổ nước thánh lên đầu đứa nhỏ, quơ quào qua quít vài dấu thánh giá, lẩm bẩm ba xí ba tú dăm ba câu kinh, thế là xong và ẵm đứa bé từ tay đức vua trao cho Ông Trùm ăn cướp của đảo Sicily, trở thành “Hiệp sĩ của Hoàng gia”. Khóc vì cảm động và sướng quá, mụ vợ của Ông Trùm quì sụp trước mặt đức vua, tạ ơn đức vua đã nhận là “bố đỡ đầu” cho con trai mụ. Mụ chẳng ao ước gì hơn – vì tuy là cũng “máu xanh” đấy, nhưng là máu xanh “mua” – nên chẳng bao giờ mụ dám mơ tưởng một hạnh phúc bất ngờ mà lại quá lớn, quá cả sức tưởng tượng của mụ như vậy.
Ông Trùm Croce ngày càng phát tướng ra. Cái mặt xương xương của lão bây giờ sệ ra. Hai gò má rung rinh, nung núc như hai tảng thịt mông ốp vào đó. Mũi của lão trở thành một cái mỏ bự, một cái “ăng – ten” thu phát quyền lực. Mái tóc xoăn, cứng như dây kẽm gai đã ngả màu muối tiêu. Bụng phệ ra một cách oai vệ. Mắt híp lại và lúc nào cũng láo liên, loé lên những tia chớp, phóng ra những cái nhìn vừa sắc, vừa nham hiểm, độc ác. Cùng với tuổi tác, quyền lực của lão cũng tăng lên, đến cái mức trở thành một tượng đài bất khả xâm phạm. Dường như lão không có những nhược điểm mà mọi người không nhiều thì ít đều có; không khi nào lão tỏ ra giận dữ, không khi nào tỏ ra tham lam, lão tỏ ra niềm nở, lịch sự một cách khó tính toán, trìu mến một cách máy móc, vô hồn và đặc biệt không bao giờ có lòng yêu thương, trắc ẩn với một ai. Lão ý thức rất rõ hậu quả nặng nề và tình trạng nguy hiểm thường xuyên của lão, thêm vào đó, rất đa nghi, nhưng dù nằm trên giường với vợ, chớ hề bao giờ lão hé răng chia sẻ với vợ nỗi lo sợ của lão.
Lão đúng là ông vua không ngai của đảo Sicily. Nhưng, đứa con trai độc nhất của lão – vị “Hiệp sĩ của Hoàng gia”, kẻ nối nghiệp lão – lại là nỗi thất vọng ê chề. Không phải vì kẻ thừa kế này ngu si, đần độn gì, mà chỉ vì nó thấm nhiễm đến mức bệnh hoạn cái lý tưởng tôn giáo.

Photo edit by Sơn râu

Đến nỗi, nó mò sang tận nước Brasil – trong khi Rome là trung tâm của công giáo – để tầm sư học đạo, rồi lặn lội vào tận trong rừng sâu Amazon để truyền giáo cho mấy thằng mọi ở truồng. Thế có đau cho lão không chứ. Lão lấy làm xấu hổ về điều này lắm và chẳng bao giờ nhắc đến dù chỉ là cái tên, thằng con ngu dại đó.
Mussolini lên nắm chính quyền. Ông Trùm không thấy có gì đáng lo ngại lắm. Lão đã quan sát rất kỹ “cái thằng hề mị dân” đó và đi đến kết luận đại khái như thế này:
“Thằng ấy đếch có đởm lược mà cũng chẳng sâu hiểm gì, chỉ được cái bẻm mép. Một thằng như vậy mà còn leo lên được chóp bu quyền hành ở cái nước Ý này, thì tao thừa sức làm vua không ngai ở cái đất Sicily này!”
Nhưng, rồi tai hoạ giáng xuống. Mãi mấy năm sau khi nắm và củng cố xong địa vị, Missolini mới có thì giờ đưa đôi mắt hiểm độc của hắn chiếu cố đến đảo Sicily và mấy “Người anh em”. Hắn khẳng định Mafia là một tổ chức tội ác kinh khủng. Nhưng, nếu chỉ như vậy thôi thì chắc cũng không sao. Cái mà Mussolini không thể tha thứ cho Mafia là tổ chức này, dù núp trong bóng tối, nhưng đã thực sự kiểm soát và giới hạn phần nào quyền lực của hắn trong đế quốc của hắn. Hắn cũng thừa nhận là trong suốt dòng lịch sử, Mafia đã chống lại bất cứ thứ quyền hành nào ở Rome. Tất cả các nhà cai trị ở Sicily trong hàng ngàn năm qua đã trổ đủ thứ ngón nghề, mánh khoé để nắm lấy quyền hành cai trị thực sự ở Sicily mà vẫn không làm nổi. Húc đầu vào Mafia như húc đầu vào đá. Nhưng, nhà độc tài này đã thề rằng “sẽ quất cho bọn Mafia gục luôn, gục vĩnh viễn”. Chính quyền phát xít đâu có thèm coi định chế thủ tục dân chủ ra cái cóc khô gì. Nó sẵn sàng, bằng mọi cách, làm bất cứ việc gì, miễn là đạt được mục đích của mình. Cái được mệnh danh một cách lừa bịp là “lợi ích quốc gia”. Nghĩa là, nó cũng xài những biện pháp của chính Ông Trùm, có phần còn bạo hơn nữa là khác.
Mussolini đã đặc phái và trao quyền cho Caesare Mori, một tay chân tín cẩn nhất của hắn làm thống đốc toàn quyền đảo Sicily. Mori bắt tay vào việc bằng cách trước hết là dẹp cái hệ thống toà án, pháp lý ở Sicily, dẹp luôn cả cái lực lượng bán quân sự gồm toàn người địa phương Sicilian và đưa quân đội từ miền Bắc nước Ý tới. Và bằng đạo quân này, Mori đã cho dân Sicilian tắm máu. Y bắt giữ và lưu đày cả làng, già, trẻ, lớn, bé tuốt luốt, nếu bị nghi là dính dáng xa gần với Mafia.
Trước khi có chế độ độc tài của Mussolini, nước Ý Thiên Chúa giáo không có án phạt tử hình, Điều đó gây trở ngại không ít cho việc chống lại Mafia, vì các tên Mafia ác ôn côn đồ khét tiếng lẽ ra bị tử hình, nhưng vì không có án tử hình nên chỉ bị tù chung thân. Tuy nhiên chỉ ở tù được ít lâu thì hoặc được đồng bọn tổ chức phá ngục giải cứu, hoặc “vượt ngục” một cách rất đáng nghi ngờ. Tổ chức Mafia lại coi cái án tử hình như một biện pháp chủ yếu. Nhưng với Mori thì khác. Những tên Mafia gan lì – dù bị tra tấn bằng hình phạt casetta mà vẫn không khai – thì “đọp” liền. Những kẻ được coi là a tòng, đồng đảng, âm mưu… đều bị đem đi đày ở một hoang đảo trong Địa Trung Hải và bỏ đó ở đó “cho mềm xương”. Chỉ trong một năm, đảo Sicily tả tơi, tổ chức Mafia manh mún, không còn là một lực lượng cai trị nữa. Chính quyền Rome coi như đánh lộn sòng hàng chục ngàn người dân vô tội bị “đọp”, bị bắt bớ, tra tấn, tù đày oan với bọn Mafia chính hiệu.
Ông Trùm Croce lại khoái cái trò chơi dân chủ với cái lối cai trị màu mè nhân đạo. Do đó, lão rất tức giận trước những hành động bạo ngược. Các chiến hữu của lão bị “đọp”, bị kìm kẹp, bị tra tấn, tù đày, còn lão, tuy không nhởn nhơ, nhưng vẫn sống. Lão vẫn chép miệng than thầm: “Tụi nó ngu quá, lộ liễu quá, ăn vụng mà đếch biết chùi mép”. Nhiều đứa bị tù mà chẳng được đưa ra toà xét xử – toà đã bị dẹp sạch rồi còn đâu – chỉ vì chính quyền của Mori chỉ cần nghe tin đồn thì cũng đã làm tới rồi. Những bọn vô lại làm chỉ điểm mà các chiến hữu không dò ra manh mối bọn này để mà diết, thì “đứt bóng” là đáng rồi. Đối với bọn phát – xít thì toà án làm gì cho thêm tốn công, tốn của, mà lại rách việc ra. Chúng đẩy lùi lịch sử trở lại cái thời tôn giáo pháp đình, cái thời quyền năng thiên định của các bạo vương chuyên chế. Ông Trùm tuy chẳng hề tin tưởng tí ti nào vào cái gọi là dân chủ – bất kể dân chủ kiểu nào – nhưng dứt khoát, lão cũng không tin vào quyền năng thiên định. Lão còn dám quả quyết rằng chẳng ai có lý trí lành mạnh mà lại đi tin vào cái quyền năng thiên định ấy, trừ khi bị tứ mã phanh thây.
Tệ hơn nữa, bọn phát – xít lại xài cái hình phạt “tắm nắng” – tức là hình phạt cassetta – khiến cho nhiều, rất nhiều tên Mafia gan lì cũng đành phải phun hết các bí mật ra. Ông Trùm đã khoe một cách căm phẫn rằng ông không bao giờ thèm xài cái hình phạt lạc hậu và dã man ấy. Nếu cần phải giết người nào theo ý Ông Trùm – thì cũng nên cho người ấy “đi” một cách mau lẹ mát mẻ, không nên hành hạ đau đớn thể xác người ta. Đấy, “chủ nghĩa nhân đạo” của Ông Trùm đấy. Theo ông thì cứ “đọp”. Giết là đủ. Cứ giết là khối đứa sợ.
Trong lúc Mori tung ra cuộc khủng bố trắng các Mafioso (9), thì giống như một loại cá mập lặn sâu dưới bùn – Ông Trùm cũng mai danh ẩn tích. Lão không đi lưu vong nước ngoài, mà chỉ chuồn vào một tu viện dòng khổ tu Phranxixcô – dưới sự che chở của cha bề trên Manfredi. Từ lâu hai người đã có quan hệ mật thiết và thân hữu. Khi bắt đầu làm ăn theo kiểu bắt cóc đòi tiền chuộc – mặc dầu rất tự hào về sự mù chữ của mình, vì nhu cầu, Ông Trùm đã phải mướn một tay “văn chương chữ nghĩa bề bề” là cha bề trên Manfredi để viết những bức thư tống tiền. Hai người tỏ ra rất thân thiện và rất tương đắc ở chỗ cả hai cùng có “tam khoái”: một là phá trinh con gái, hai là uống rượu nho thượng hảo hạng, ba là tổ chức trộm cướp một cách tinh vi. Ông Trùm thường mời cha bề trên cùng lão vi hành sang Thuỵ Sĩ chữa bệnh, đồng thời thưởng thức “mùi đời” ở cái xứ sở xinh đẹp và hiền hoà ấy. Một sự nghỉ ngơi hợp lý và cần thiết cũng như là một phần thưởng phải có sau những tính toán căng thẳng của những vụ “làm ăn” nguy hiểm. Vả lại, ở Thuỵ Sĩ thì kín đáo hơn ở Palermo hay ở lục địa Ý.
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Mussolini không còn đủ tâm trí và thời gian để “chăm sóc” đảo Sicily nữa. Ông Trùm lập tức nắm lấy thời cơ: đặt lại các đường dây liên lạc với các chiến hữu may mắn lọt lưới của Mori, báo những tin lạc quan cho những “Người anh em” trung kiên đang bị đày ngoài hoang đảo, tỏ tình hữu nghị với các “sếp” Mafia còn bị giam trong tù, cổ vũ bọn này kiên trì chịu đựng ít lâu đợi ngày ca khúc khải hoàn.
Ông Trùm biết rằng hy vọng độc nhất và tối hậu của lão là sự thắng trận của quân đội đồng minh Tây Âu. Bởi vậy, lão dồn hết nghị lực vào mục đích ấy, chớ chẳng phải lão thân Mỹ hay xót thương gì đám dân Sicilian đang rên xiết trong kìm kẹp của Mori và chế độ phát – xít. Lão tiếp xúc với các nhóm kháng chiến, ra lệnh cho lâu la của lão giúp đỡ các phi công quân đồng minh bị bắn rơi và nhảy dù sống sót. Chính trong những giờ phút quyết liệt ấy, Ông Trùm chuẩn bị kế hoạch hậu chiến của mình.
Tháng 7 năm 1943, quân đội Mỹ đã chiếm được đảo Sicily làm đầu cầu để đổ bộ lên vùng Nam Tây Âu. Ông Trùm đã rộng tay giúp đỡ. Trong quân đội Mỹ thiếu gì con em người Sicilian di cư sang Mỹ làm ăn? Chẳng lẽ người Sicilian lại đi chống lại người Sicilian đặng bảo vệ quyền lợi của bọn Đức quốc xã? Ông Trùm xúi giục hàng ngàn lính của Mussolini đào ngũ và trốn vào một nơi mà Mafia đã chuẩn bị cho họ. Bản thân lão móc nối với nhân viên mật vụ Mỹ và dẫn đường cho quân đội Mỹ qua các khe núi để đánh thọc vào sườn binh đoàn trọng pháp của liên đoàn Đức – Ý. Trong khi quân đội Anh đổ bộ bờ phía đông đảo Sicily bị tổn thất nặng nề và tiến quân rất chậm, thì ở bờ phía Tây quân Mỹ đã hoàn thành phần đầu kế hoạch với tổn thất không đáng kể.
Chính bản thân Ông Trùm – lúc này đã gần 65 tuổi và đã sồ sề lắm rồi – dẫn một toán dân quân gồm toàn các “tay em” vào tân Palermo bắt cóc viên tướng Đức, tư lệnh lực lượng phòng ngự của Đức và giấu viên tướng tù binh này ngay tại Palermo cho đến khi quân đội Mỹ tiến vào thủ phủ này. Bộ tư lệnh tối cao quân đội Mỹ tại Nam Tây Âu thông báo cho Ông Trùm biết là họ đã báo công của lão với Washington dưới danh nghĩa “Mafia tướng quân”, và những tháng tiếp theo, Ông Trùm cũng được các sĩ quan tham mưu của Mỹ biết dưới danh hiệu đó.
Thống đốc quân quản Mỹ ở Sicily lúc đó là đại tá Alfonso La Ponto. Là một chính trị gia có thế ở New Jersey, ông ta đã được sự uỷ thác đặc biệt và trực tiếp của Wasshington. Ông ta cũng được huấn luyện để đảm nhận chức vụ đặc biệt này. Tài năng lớn nhất của ông ta là tánh lịch thiệp. Và ông ta đã biết vận dụng tài năng này vào các cuộc thương lượng chính trị. Các sĩ quan tham mưu trong guồng máy quân quản Mỹ cũng được lựa chọn kỹ cho phù hợp với vai trò này. Bộ tham mưu gồm hai mươi sĩ quan và năm mươi hạ sĩ quan và binh lính. Phần lớn bọn này là người Mỹ gốc Ý. Ông Trùm đã đối với bọn này hết sức thân tình, cứ như anh em ruột thịt, luôn tỏ ra bao dung, trìu mến. Đã thế, lão còn tỏ ra “tứ hải giai huynh đệ” vì “tất cả anh em mình đều là con cái Chúa cả”.
Nhưng Ông Trùm – theo cách gọi của người Mỹ – cũng là một nhà thầu. Đại tá La Ponto đã coi ông là cố vấn và là ông bạn hào phóng. Đại tá thường đến nhà lão dùng cơm và nức nở khen những món ăn ở nhà lão.
Vấn đề đầu tiên mà Thống đốc quân quản Mỹ phải giải quyết là chỉ định các thị trưởng cho các thị trấn trên toàn đảo Sicily. Các cựu thị trưởng dưới chế độ phát – xít của Mussolini tất nhiên phải là đảng viên phát – xít và do đó phải nếm cơm tù của Mỹ. Ông Trùm gợi ý ngài đại tá bổ nhiệm các sếp Mafia vào các chức vụ ấy. Và đó là cách Ông Trùm thi ân bố đức cho các sếp này đồng thời biến các sếp này thành tay “đệ tử” của mình. Thành tích hiển nhiên nhất của bọn này là cái “mác” nạn nhân của Mussolini, đã bị hành hạ, tù đày vì đã “phản nghịch, chống lại các mục tiêu và lợi ích của nhà nước phát – xít”. Còn những tội như cướp của giết người của bọn này, theo Ông Trùm báo cáo cho ngài La Ponto, chỉ là do bọn phát – xít chụp mũ, để làm nhục các sếp Mafia mà thôi…. Ông Trùm thường khoe món cá tuyệt hảo do đích thân vợ lão nấu, ngoài ra lão còn kể cho ngài đại tá và bộ tham mưu của ông ta nhiều đức tính cao cả, quí báu của những “Người anh em” của lão – thực ra gồm toàn một lũ sát nhân, đầu trộm đuôi cướp – trong đó cao quý nhất và sắc nét nhất là niềm tin của lũ này vào những nguyên tắc dân chủ, tự do, công lý. Ngài đại tá mừng rơn vì nhờ Ông Trùm mà ngài đã mau mắn tìm ra những con người đúng tiêu chuẩn để cai trị một dân tộc văn minh dưới sự lãnh đạo của ngài. Chỉ trong vòng một tháng hầu hết các thị trấn đã có thị trưởng. Tất cả các thị trưởng đều là những tay Mafioso trung kiên vừa được đem từ nhà tù phát – xít ra và đều được Ông trùm xác minh lý lịch và bảo lãnh là Mafioso thứ thiệt.
Bọn thị trưởng này cũng phục vụ tận tình và đắc lực cho quân đội Mỹ. Chẳng thế mà chỉ với một dúm sĩ quan và lính Mỹ mà cũng đủ để trị an cả hòn đảo Sicily rộng lớn. Chiến tranh vãn còn tiếp diễn và ngay trên đất, Mussolini vẫn còn ngự trị. Ấy thế mà chỉ với một dúm sĩ quan và lính Mỹ mà các điệp viên của Đức và Ý đành bó tay, trên đảo không hề xảy ra một vụ phá hoại nào, không một tên gián điệp nào dám hó hé. Chợ đỏ đen được giới hạn ở mức tối thiểu. Để tuyên dương thành tích ấy, Washington đã ban cho ngài đại tá huân chương đặc biệt và vinh thăng thiếu tướng.
Các thị trưởng Mafia của Ông Trùm đã tận tình, tận lực thực thi đạo luật cấm buôn lậu. Các toán cảnh vệ tuần tiễu ngày đêm, gắt gao lùng sục từ đường phố lớn cho đến ngõ hẻm, từ miền quê cho đến khe núi khuất nẻo. Tuy dưới sự cai quản của quân đội Mỹ, nhưng chế độ khẩu phần lương thực của chế độ phát – xít đặt ra do nhu cầu chiến tranh vẫn còn được áp dụng. Mọi sự vẫn như xưa, nghĩa là nhà nước vẫn thu mua lương thực của nông dân theo giá do nhà nước ấn định. Ông Trùm ra lệnh cho các thị trưởng, bọn cớm, cảnh vệ và các thanh tra nhà nước phải làm thế nào để những tên nông dân đầu bò đầu bướu phải đưa nông sản và dầu ôliu đến bán cho các kho nhà nước theo giá ấn định. Để bảo đảm việc này, Ông Trùm yêu cầu và được ngài đại tá La Ponto hoan hỉ chấp thuận cho lão mướn những xe tải của quân đội Mỹ để chở những lương thực ấy đến thủ phủ Palermo cũng như các thành phố, thị trấn khác như Monreale, Trapani, Syracuse, Catania và thậm chí cho cả thành phố Naples trên lục địa đang bị thiếu lương thực trầm trọng. Người Mỹ kinh ngạc trước tài năng tổ chức và sự hữu hiệu của Ông Trùm và đã không tiếc ban khen về việc lão đã hỗ trợ quân đội Mỹ hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt đẹp quá cả sự mong muốn.
Tuy nhiên, Ông Trùm đâu có ăn được những cái bằng khen đó. Và cũng chẳng đọc được những lời lẽ tâng bốc trong cái bằng khen đó. Bởi một lẽ đơn giản là ngay chữ Ý mà lão đã “mù” rồi, nói gì đến tiếng Mỹ! Và những cái vỗ vai khen ngợi của ngài đại tá cũng chẳng làm no được cái bụng phệ của lão. Đâu có ngây thơ đến nỗi tin vào lòng biết ơn của đám con cháu chú Sam này, hoặc tin vào những ân sủng chúa ban cho sau này trên cõi thiên đường để tưởng thưởng cho những việc lành lão đã làm “vì lòng nhân đạo và vì sùng thượng tinh thần dân chủ”. Tất nhiên, lão không chê phần thưởng – bất cứ là do ai ban cho – nhưng phải ban thưởng theo kiểu của lão, và thưởng những món lão chịu kia. Mà lão có muốn “gan rồng đào tiên” đâu. Cái lão muốn, khiêm nhường và tầm thường lắm – thì cũng chỉ là nông phẩm, là dầu ôliu thôi. Bởi vậy, những xe tải của Mỹ chở đầy cứng lương thực – với tài xế có võ trang và giấy thông thành đặc biệt do chính ngài đại tá La Ponto ký – lại chạy về những địa điểm, nhập vào những kho do chính Ông Trùm chỉ định tại những thị trấn xa xôi, hẻo lánh như Montelepro, Partinico, Villaba chẳng hạn, từ đó Ông Trùm và đồng bọn tung ra bán giá cao gấp 50 lần giá chính thức trên thị trường chợ đen mà lão nắm độc quyền. Nhờ đó, lão gắn chặt được mối liên hệ và chia sớt mối lợi của lão cho các sếp đầy quyền lực của cái tổ chức Mafia đang hồi sinh.

Photo edit by Sơn râu

Chẳng phải lão thương xót hoặc quí hoá hay sợ sệt gì mấy sếp này mà vì các triết lý sống của lão là sự tham lam là cái hại lớn nhất và chắc chắn nhất đưa đến sự thất bại của con người.
Lão chia sẻ mối lợi cho đám đàn em cũng rất thoải mái. Lão còn có cơ hội khác nữa để bày tỏ sự hào phóng của lão. Ngài đại tá La Ponto nhận được nhiều món quà rất vô hại về mặt pháp lý, nhưng lại rất nặng về mặt tài chính, đồng thời lại được biểu lộ khát vọng cao quí của con người là lòng khát khao cái đẹp. Đó là những bức tượng cổ, tranh cổ, và nữ trang cổ. Cho là một trong những cái thú của lão. Các sĩ quan, nhất là bọn lính trơn đối với lão, thôi thì cứ “bố bố, con con” ngậu sị cả lên. Và chúng chẳng bao giờ chê những món quà mà lão tặng cho. Do đó, lão cũng được chúng dành cho lão quyền “ưu tiên hành quân” nghĩa là ưu tiên số một. Những xe tải chở hàng cho lão là những xe tốt nhất hoặc được sửa chữa cẩn thận nhất. Ông Trùm còn bố trí cho chúng được đi dự những bữa tiệc, ở đó chúng được cặp kè với những cô gái Sicilian mơn mởn với con mắt bốc lửa dục tình và với trái tim nóng bỏng là một trong những “đặc sản” của Sicily. Phần lớn bọn này đều có gốc gác Sicilian. Được đón tiếp trong những gia đình Sicilian “thuần chủng”, được ăn những món ăn mà ông bà già ruột của chúng ở bên Mỹ – tuy cũng gốc gác Sicilian đấy, nhưng vì tha phương cầu thực đã lâu hoặc vì lý do nào đó – đã quên mất cách nấu rồi. Nhiều đứa còn thề non hẹn biển với các ả giang hồ hoặc ái nữ của các trùm ăn cướp, giết người, đâm thuê, chém mướn.
Ông Trùm đã có đủ mọi điều kiện trong tay để tái lập cái giang san của lão, để tổ chức lại mạng lưới quyền lực của lão và để tái thu hoạch các nguồn lợi trước kia lão đã hưởng. Các sếp Mafia trên khắp đảo Sicily đều là người mang ơn lão. Có làm được thị trưởng thì cũng do lão “vẽ mặt, đeo râu” cho, chớ ngoài cái tài đao búa ra thì lũ ấy, một chữ bẻ đôi cũng không biết, bình thường làm sao mà leo lên được cái chức thị trưởng vừa oai quyền mà lại vừa nhiều bổng lộc béo bở kia.
Lão kiểm soát tất cả các nguồn nước trên đảo và bán lại cho dân với giá cắt cổ. Bấy nhiêu đó cũng đã bộn bạc rồi. Lão còn chiếm độc quyền thị trường lương thực, lão nâng thuế đánh vào các tiệm trái cây, vào tất cả các lò sát sinh và các cửa hàng thịt, các tiệm cà – phê thường và cà – phê “ôm” và ngay cả mấy phường kèn đám ma cũng được lão để mắt tới. Ngay cả xăng dầu – do một nguồn độc nhứt là Mỹ – lão cũng độc quyền kiểm soát. Lão cung cấp cặp rằng cho các lãnh địa rộng lớn của các quí tộc và thỉnh thoảng – rẻ thì mua chơi – mua lại đất của các chủ đất có cơ phá sản. Với bấy nhiêu thứ quan tâm, thế mà lão vẫn còn đủ thời gian và tâm trí để phác hoạ kế hoạch tái lập cái “quyền lực đen”, quyền lực trong bóng tối trên toàn cõi nước Ý mà lão đã từng nắm giữa trước khi Musolini lên nắm chính quyền. Lão quyết định phải giàu, mạnh trở lại. Vì dưới thời Missolini, lão gần như trắng tay về cả tài sản lẫn quyền lực. Trong những năm sắp tới – như người ta nói – lão sẽ đặt Sicily vào cái máy ép như trái ôliu.
Chỉ có một điều là cho lão buồn phiền lắm mà không làm sao giải quyết được. Đó là thằng con trai độc nhất của lão. Cái thằng điên khùng lẽ ra theo lão mà học tập “làm ăn” đặng mai sau nối nghiệp lão thì không lo, mà cứ lo “làm việc phúc đức”. Cái cơ nghiệp đồ sộ này để cho ai đây. Ông em trai của lão – cha Benjamino – con rơi con vãi thì cả bầy đó, nhưng không được phép lập gia đình chính thức thì cũng như không. Ông Trùm không có một người nào ruột thịt máu mủ để truyền nghề và trao lại cái đế quốc của lão. Điểm lại mặt các sếp sòng Mafia hiện tại thì không có mặt nào vừa có bản lãnh lại vừa có liên hệ huyết tộc, xa gần gì cũng được, và còn trẻ để trước mắt làm cái “quả đấm sắt” một khi bàn tay bọc nhung của lão tỏ ra không đủ sức thuyết phục.
Người thân tín của Ông Trùm đã “chấm” Turi Guiliano vào vai trò đó. Tuy không phải huyết thống, nhưng chính ông em trai của ông và cả cha bề trên Manfredi cũng khẳng định với lão về năng lực và bản lãnh của hắn. Càng ngày càng có nhiều huyền thoại lan rộng trên khắp đảo Sicily về những việc làm táo bạo đến mức tưởng như thần thoại của anh chàng này, thì đủ biết rằng nhận xét của cha Benjamino và cha bề trên là “con mắt tinh đời”.
Ông Trùm đã đánh hơi được giải pháp cho vấn đề của mình.
……..
(1) Nguyên văn tiếng Ý và có nghĩa là cây thập tự.
(2) Tuần lễ trước ngày lễ Phục Sinh.
(3) Trong tuần lễ Thánh, các nhà thờ thường tổ chức các buổi lễ kịch diễn lại tấn bi kịch Chúa Jesus bị bắt, bị đưa ra toà, bị tra tấn trước khi “bị đóng đinh trên cây thập tự”. Và y đã được hoan nghênh hết sức vì nhập vai rất có “thần”.
(4) Magdalena nguyên là một cô gái điếm, nhưng có lòng ăn năn sám hối nên được Chúa tha tội. Khi Chúa bị nạn, bị đóng đinh, Magdalena đã theo Chúa đến tận nơi Chúa bị hành hình và sau ba ngày Chúa chết, Magdalena là một trong những người đầu tiên phát hiện Chúa đã Phục Sinh (N.D)
(5) Cassetta: hình phạt đại khái như nhốt một người vào trong một thùng thiếc nhỏ, rồi đem ra phơi nắng.
(6) Máu xanh (blue blood): người âu vẫn gọi một cách chế giễu giai cấp quí tộc (high birth or high descent là có “máu xanh”. (N.D)
(7) Machiavel: tác giả cuốn “Ông Hoàng” trong đó đề cập đến các thủ đoạn bá đạo mà các nhà cầm quyền nên áp dụng để chiếm đoạt củng cố và nắm vững chính quyền. Các thủ đoạn ấy vô cùng quỉ quyệt thâm hiểm, bất nhân và tàn bạo. (N.D)
(8) Lễ báp têm: lễ rửa tội
(9) Mafioso: thành viên của tổ chức Mafia – N.D

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 24 Jul 2024

Phần 6

Con Rắn Ri Voi

Một buổi trưa, vào năm 1937, chú biện Tống đang đánh tứ sắc cầu vui với vài người bạn, chợt nghe tiếng canô chạy ầm ầm, ngày càng gần. Chú biện giựt mình, buông tay bài, nheo mắt:
– À! Ông cò Lơ Hia lùng bắt chuyện gì đó…
Một người đưa ý kiến:
– Chẳng lẽ ông cò bắt bọn mình. Chú biện quen thân với ổng mà?
Biện Tống lắc đầu:
– Ông Lơ Hia lợi hại lắm. Tôi làm biện làng, tức là làm thơ ký cho thầy xã trưởng vậy thôi. Bất cứ giờ phút nào tôi cũng có thể mất chức, bà con dư biết: lương bổng của tôi có bảy đồng năm cắc. Mấy người giăng câu, bắt cua hàng tháng huê lợi nhiều hơn tôi.
– Nhưng mà thầy được ngồi trong mát, khỏi dầm sương dãi nắng. hễ cúng đình thì thầy ngồi gần mâm của mấy ông hương chức hội tề.
Tiếng máy canô im bặt. Cả bọn ngơ ngác. Ông cò Lơ Hia mặc quần áo kaki và đội kết trông oai vệ làm sao: dấu hiệu trái lựu đạn đặc biệt dành cho ngành cảnh sát thời Pháp thuộc… chói ngời màu bạc. Theo sau ông cò là một người mặc quần áo xá xẩu bằng lụa trắng.
Chú biện Tống thủ lệ, chắp tay xá theo phong tụcAn Nam, nhung ông cò lơ Hia đã vui cười, đưa tay

bông rua:
– Rảnh chưa? Chú biện. Dường như chú đánh bài tứ sắc với mấy người kia hả?
– Dạ, đâu có…,
– Ðừng chối. Dòm bộ tịch của mấy người tôi đủ biết. Từ xưa tới giờ, tôi bắt hơn… ngàn vụ cờ bạc rồi. Lần này là vụ thứ một ngàn lẻ một.
Biện Tống nài nỉ:
– Xin quan lớn thương dùm.
– Nếu không thương thì nãy giờ chú biện phải bị còng rồi. Còng rồi đem xuống canô, đem về nhốt tại khám đường ở chợ Ngã Năm. Bây giờ, chú biện theo tôi, khỏi còng. Chú là người ốm yếu, còng tay làm chi thêm vô ích.
Nói xong, ông cò Lơ Hia khoát tay, ra lịnh giải tán đám người hiếu kỳ đang dụm năm, dụm bảy từ phiá xa xa. Thật là hồn phi phách tán. Chú biện Tống riu ríu bước theo ông cồ. Người Huê kiều nói tiếng Việt khá rành:
– Ðừng sợ. Ðừng sợ. Thầy Hai đừng sợ. Thầy Hai làm việc ở xóm này lâu mau rồi?
Biện Tống liếc qua ông cò Lơ Hia như để xin phép trả lời. Là người am hiểu chút ít việc quan việc làng, biện Tống đã thuộc làu nguyên tắc: khi bị bắt thì tội nhơn chẳng được quyền nói chuyện với kẻ khác, nhứt là khi quan trên chưa lấy khẩu cung.
Ðến bờ kinh xáng, ông cò Lơ Hia nói nhanh:
– Chú biện gặp dịp may rồi đó. Tôi làm bộ như vậy để dân làng đừng nghi kỵ. Thôi, chú cứ xuống canô uống rượu chát, bàn chuyện riêng với người này, ông Xìn Phóc, làm má chín giàu có lắm, ở Sanh Ca Bo mới qua.
Xuống canô, biện Tống mừng rỡ vì thoát nạn. Nhưng mấy tiếngmá chín, Sanh Ca Bo mơ hồ quá. Bấy lâu nay, biện Tống ăn học rồi giao thiệp lẩn quẩn với những người làm ăn bậc trung ở chọ Gò Quao mà thôi. Người tên là Xìn Phóc tỏ bặt thiệp, vui vẻ. Ông ta mở cặp da – thứ cặp da hơi lạ – đem ra tấm danh thiếp:
– Thầy Hai uống rượu đi. Làm quen với thầy Hai, tôi mừng lắm.
Torng khi hai người đàm đạo với nhau, ông cò Lơ Hia ra sau lái canô ngắm cảnh rồi đem máy ảnh ra mà bấm. Xìn Phóc mới giải thích rõ ràng hai tiếngmá chín . Biện Tống tỏ vẻ… lanh lợi, nói mơ hồ:
– Vậy mà tôi tưởng má chín là kẻ làm công hạng sang trọng, bạn thân của chủ tiệm hoặc có phần hùn trong công ty nào đó.
– Má chín, đúng ra là người mại bản, tiếng Tây kêu bằng cơm ra đo . Tôi làm com ra do cho hãng buôn lớn nhứt ở Sanh Ca Bo, thuộc về miền Hạ Châu. Hãng này giàu bạc triệu chớ đâu phải ít. Phen này, nếu chịu hợp tác làm ăn với tôi thì thầy Hai lời bạc ngàn…
“Làm ăn”chuyện gì đây? Biện Tống chợt nghĩ đến những giai thoại về buôn lậu quốc tế, bọn ăn cướp biển ở vịnh Xiêm La. Xóm này, ai nấy kiếm đủ cơm gạo qua ngày, tư bề là vườn rậm, nước mặn đồng chua. “Hay là Xìn Phóc muốn tổ chức gián điệp quốc tế? Ông cò Lơ Hia đưa hắn đến để gài bẫy mình chăng?” Biện Tống thở dài:
– Cám ơn má chín. Tôi dở lắm. Xóm này đâu có huê lợi gì. Dân chúng lo đặt lương, bắt rùa, bắt rắn…
Xìn Phóc gật đầu:
– Ông cò chỉ dạy tôi điều đó. Tôi tới đây, sau khi hiểu rõ tình hình. Nhưng còn chuyện nầy… nhỏ xíu thôi, tôi muốn nhờ thầy Hai giúp sức. Tôi ở lại đây với thầy Hai, bàn tín sau.
Ôn cò Lơ Hia nhìn đồng hồ, nói nhanh:
– Ðủ rồi. Má chín với biện Tống quen biết rồi hả? Nầy chú biện Tống.
– Dạ quan lớn dạy điều chi?
– Dịp may hiếm có. Nếu má chín bị cướp bóc, bắt cóc thì chú hoàn toàn chịu trách nhiệm nghe chưa? Má chín ở lại đây chừng một hoặc hai – ba tháng.

Xìn Phóc nhờ biện Tống tìm cho kỳ được một con rắn”qúi báu” có vảy nhỏ và mịn giống như miếng da rắn đã thuộc xong làm kiểu. Xìn Phóc đem trọn con rắn ấy về Sài Gòn rồi trở xuống, mang theo khá nhiều tiền.
– Thầy Hai ơi! Con rắn đó… trúng lắm, tốt lắm. Chẳng hay ở xứ này bà con bắt nó dễ dàng không?
Biện Tống cười dòn:
– Loại rắn ri voi, hàng hà sa số. Nó lội dưới sông rạch trong rừng vào tháng ngập nước như vầy.
– Bên Sanh Ca Bo, ông chủ tôi muốn đặt mua chừng bốn ngàn miếng da rắn thứ đó, chở gấp về bển, trong vòng hai mươi bữa. Bảo lãnh nổi không? Cứ một miếng da rắn, tôi để cho thầy một đồng xu tiền huê hồng. Lần đầu tiên trong đời, biện Tống mới gặp một trường hợp may mắn như vậy. Từ trăm năm rồi… nghe ông già bà cả nói lại thì rắn ri voi là loại vô dụng. Nó sống dưới nước, mỗi con to bằng bắp tay, cắn không chết ai cả. Mấy tay bợm nhậu chê rắn ri voi, thịt nó ăn không ngon bằng rắn hổ đất. Thỉnh thoảng, nếu bắt được rắn ri voi, mấy tay nhậu ăn tạm hoặc thả nó xuống nước, phóng sanh. Xìn Phóc quả quyết da rắn rất có giá tại Sanh Ca Bo. Người ta mua nó đem về, thuộc lại làm bóp đầm bán giá cao. Rắn ri voi có vẩy mịn, vảy ấy bám sát vào da, nổi hột sáng ngời: Người Âu châu xem da rắn ri voi là bảo vật, quí gấp mấy lần da bò, da ngựa.
– Ðược không? Một miếng da rắn, tôi chịu hai xu huê hồng!
Biện Tống nói, thật thà:
– Một xu, hai xu huê hồng tuy là số tiền khá to nhưng làm sao tôi nói cho bà con lối xóm nghe. Họ bị gạt nhiều lần rồi. Năm xưa, có người đến mua con cắc kè, bảo rằng đem về lột da bán ra ngoại quốc cho Tây với đầm làm bóp, làm dây nịt. Hắn cho hàng mấy chục tay em vào thôn quê, mua cắc kè với giá hơi cao…
Người khá giả trong vùng nghĩ ra cách: xuất tiền mua cắc kè của bọn tay em này bán lại cho tay đầu nậu ở chợ Gò Quao. Bọn tay em này làm giàu. Nhưng số cắc kè dự trữ ấy chỉ bán được lần đầu mà thôi vì tay tổ lưu manh làm đầu nậu ấy chỉ mua một lần đầu lấy lệ. Mấy người khá giả làm trung gian đành ôm bụng kêu trời với số cắc kè quá nhiều dự trữ trong nhà, mua bằng giá khá cao, tưởng rằng bán lại thì lời to nhưng chẳng ai mua lần thứ nhì. Tay tổ lưu manh và số tay em nọ đã cao bay xa chạy… một cách hợp pháp.
Má chín Xìn Phóc cười dòn:
– Cắc kè là chuyện khác. Rắn ri voi là chuyện khác. Thầy Hai hãy cầm số tiền này, mua về cho tôi.
– Tiền nhiều quá, nếu tôi giữ trong mình, tụi bất lương dám cướp bóc bất tử…
– Thầy Hai quen với họ, chẳng lẽ họ giết thầy Hai…
Biện Tống nhận số tiền hơn ngàn đồng – số tiền to tát, thời bấy giờ. Xìn Phóc xem kỹ lần nữa. Ðứng lắm. Rắn ri voi của miền U Minh đã được các nhà thuộc da ở bên Ăn Lê gọi là”Acrochordusjavanicus” với lời chú thích:serpent – éléphant d’eau douce (rắn voi ở vùng nước ngọt). Ông ta chỉ dạy cho biện Tống về giá cả, cách lột da… Ðâu đó xong xuôi, ông ta nằm nhà, chờ ngày gom góp da rắn, đem về Sanh Ca Bo. Nếu biện Tống giựt tiền thì ông ta sẽ nhờ sự can thiệp của tên cò Lơ Hia.
Hôm sau, biện Tống trở thành nhân vật quan trọng nhứt trong xóm. Bà con bao vây chú ta, để mượn tiền trước. Biện Tống báo tin long trọng: – Xứ người ta có mỏ vàng. Xứ mình có rắn ri voi, quí như vàng. Da rắn này đem về thuộc lại, bán cho ông hoàng bà chúa ở bên tây. Hồi mấy năm trước, đã xảy ra vụ mua cắc kè. Lần này khác hẳn. Cắc kè nhỏ quá, lột da nhỏ xíu. Da rắn to hơn da cắc kè gấp bội, đẹp hơn da trăn. Bấy lâu nay, người Huê kiều mua da trăn, bà con dư biết điều đó.
Lời giảng giải ấy được đa số tán thành. Họ xin lãnh tiền trước. Biện Tống cho mượn, mỗi người năm đồng để làm sở phí, chừng nào nạp da rắn thì trả thêm. Tuy nhiên, điều kiện nêu ra khá gay go:
– Da rắn bán mắc hay rẻ, tùy theo bề ngang. Nếu bề ngang không đủ một tất thì bị loại.
– Da phải lột sạch sẽ, cạo hết mỡ rắn.
– Nếu da bị lủng lổ thì mất giá. Miếng da nào lủng năm lổ thì kể bỏ.
Làm sao tìm ra da rắn cho thật nhiều, thật tốt để bán? Thiệt là thế gian hi hữu. Rắn ri voi vì nó to lớn ( như con voi!), da nó mang nhiều vảy rằn ri, đẹp hơn da trăn được nâng lên hàng đầu, quí hơn rắn hổ, rắn mái gầm hoặc cá tôm. Nó quí hơn con gà con vịt, gà vịt phải nuôi, ấp trứng… tốn thì giờ. Ðằng này rắn ri voi thuộc vào loại chim trời cá nước, ai bắt được nấy hưởng, khỏi đóng thuế cho sở kiểm lâm. Mọi người đều mặc nhiên được quyền truy kích rắn, chẳng cần xin phép hương chức làng, chủ đất, chủ vườn!
Bình thường dân trong xóm ưa… cờ bạc, đờn ca vọng cổ mùi mẫn hoặc hát huê tình đối đáp. Giờ đây, ai nấy đều bận việc, bất luận già trẻ bé lớn, chẳng ai thèm cờ bạc vì bắt rắn của trời đất, lột da nó ra, bán bằng giá quá cao… Cũng là hình thức cờ bạc tinh vi mà mọi người trong sòng đều hưởng lợi.
Vui sướng quá! Biện Tống lấy làm hãnh diện. Chú tìm ra công ăn việc làm cho bà con lối xóm. Số da rắn mua được tuy nhiều nhưng vẫn còn ít.
Ngày đầu, hai trăm miếng da.
Ngày kế đó, ba trăm miếng da.
Ngày kế, năm trăm miếng da.
Ðến ngày kế, năm trăm miếng da… thứ thật to.
Thật là kỳ lạ, đáng suy nghĩ. Làm thế nào dân làng tìm ra năm trăm con rắn mỗi ngày? Ban đầu. Xìn Phóc sanh nghi, ngỡ là loại rắn khác. Nhưng sau khi xem kỷ, anh chàng má chín gật đầu xác nhận:
– Ðó là rắn ri voi thứ thiệt. Dịp này, ta nên mua da rắn với giá thấp hơn. Thầy Hai nghĩ sao? Rắn ri voi ở xứ này sao mà mau lớn quá. Nè, mỗi tấm bề ngang hơn ba tấc!
Biện Tống đáp:
– Ðể tôi dạo khắp xóm làng rồi cho ý kiến sau.
Xìn Phóc ghé tai nói nhỏ với biện Tống:
– Hai người mình làm giàu rồi. Nếu rắn quá nhiều, tôi mua tám ngàn tấm da thay vì bốn ngàn như đã định. Ðừng nói họ biết, họ làm núng. Luôn dịp, thầy Hai ghi chép cách bắt rắn của họ để sau này tôi qua bên Xiêm, qua Miến Ðiện dạy cho dân chúng. Dân Việt Nam giỏi quá.
Ban đêm hàng trăm chiếc xuồng tới lui khắp hang cùng ngõ hẻm. Dân làng đốt đèn như mở hội hoa đăng. Từ hồi lập quốc, khai hoang, chưa lần nào vùng rừng tràm U Minh Hạ lại tưng bừng như vậy. Biện Tống đã hiểu: dân làng không bắt bằng tay hoặc không dùng mũi chĩa mà xom. Phương pháp ấy quá chậm chạp, làm hỏng da rắn, mất giá. Xưa nay, họ quen nghề câu: câu giăng, câu cắm. Mỗi người sắm hàng trăm cần câu, móc mồi cá sặc rồi cắm xuống bãi bùn, tùy thích. Cứ năm bảy phút, họ bơi xuồng trở lại chổ để gỡ rắn.
Rắn vi voi đớp mồi chậm chạp, lưỡi câu mắc vào mép miệng rắn. Nếu gỡ ra quá chậm thì rắn sẽ sứt mép, tẩu thoát.
Biến Tống đến gặp Hai Kỳ, người đó bán trên hai trăm miếng da rắn. Nhà Hai Kỳ trở thành một cái xưởng khai thác rắn sống. Trước sân, hàng chục tấm da, căng ra, đóng đinh cho thẳng thớm. Trong nhà, Hai Kỳ đang lui cui lột da rắn. Rắn bị siết cổ, buộc vào gốc cột nhà. Bàn tay khéo léo của Hai Kỳ cầm dao nhỏ, rọc một đường dài từ cổ tới hậu môn rắn. Lột da là chuyện dễ, đàn bà có thể làm được.
Biện Tống hỏi:
– Xác rắn đâu hết rồi?
– Dạ, mấy bữa đầu thì tôi nướng, nấu cà ri, thắng mỡ để dành. Mỡ rắn làm thuốc dán trị ghẻ, trị phỏng lửa. Lâu ngày tôi đào lỗ mà chôn… Uổng quá.
– Làm cách nào bắt rắn cho nhanh?
Nghe câu hỏi ấy, Hai Kỳ nghĩ hồi lâu:
– Khó nói lắm. Tôi chỉ biết câu rắn mà thôi, câu cắm như chú biện thấy. Ðằng xóm, có ông Bảy Ðăng câu rắn theo kiểu này lạ lám.
– Kiểu gì?
– Ông ngồi một chổ, thả cần câu xuống nước, tay ôm cần như ông Khương Thượng trên thạch bàn. Kế bên có chai rượu. Vậy mà mỗi ngày ổng câu hơn ba chục con rắn, giỏi hơn tụi trai tơ, tụi này buồn bã suốt ngày, cắm hàng trăm cần, bơi xuồng tới lui vất vả quá.
Bảy Ðăng là một ông lão khật khùng, uống rượu, li bì, say té lăn, ngủ bờ ngủ bụi. Riết rồi bà con hàng xóm chẳng ai màng săn sóc lão. Biện Tống bơi xuồng đến gần chòi Bảy Ðăng buông cần câu, nói vồn vã:
– Vui lắm. Nhờ ông má chín Xìn Phóc mà sau này, tôi chết trong hòm. Mai chiều tôi mua cái hòm (quan tài) thứ tốt cho bà con ngán chơi. Nếu má chín Xìn Phóc ở đây vài năm, tôi sắm cái hòm bằng vàng.
– Ông làm cách nào mà câu rắn giỏi hơn thiên hạ?
Bảy Ðăng cưòi khì:
– Tôi câu bằng thuốc mê.
– Thuốc gì? Dùng chất… hoá học hả? Hay là ông làm bùa?
– Ðây nè!
Bảy Ðăng chỉ vào chai rượu:
– Nó là rượu đế, thứ ngon.
Nói xong, lão mời biện Tống uống. Biện Tống từ chối. Lão nốc môt hơi rồi để chai rượu xuống bãi cỏ. Chai rượu nằm hơi nghiêng, không đậy nút.
– Lát nữa, chú biện coi!
Hai ngưòi im lặng. Từ mé nước, một con rắn ri voi trườn lên… đến gần miệng chai rượu rồi thập thò, rút lui như hoảng sợ. Bảy Ðăng nâng chai rượu, nhểu vài giọt xuống nước, trên cỏ. Con rắn… hăng hái bò trườn, đến gần miệng chai. Bàn tay lanh lẹ của Bảy Ðăng chụp xuống, bỏ rắn vào giỏ.
– Rắn xưa kia không biết uống rượu. Nhưng mà cho tụi nó tập tánh nếm mùi… cay đắng. Bữa đó, tôi uống rượu, ngủ quên rồi quơ tay kiếm chai rượu đổ hết. Chừng thức dậy, tối thấy rắn bò lại để hửi hơi.
Biện Tống như phát giạc điều gì quan trọng:
– Té ra cái chai rượu là cái cần câu rắn.
Bảy Ðăng vội đính chính:
– Là cái bẫy thì đúng hơn. Cần câu này, tôi cầm trong tay để che mắt thế giang, vậy thôi. Rắn mê rượu. Nếu giàu thì tôi giữ độc quyền bắt rắn, ngặt vì tôi nghèo. Tôi sẽ mua vài ngàn lít rượu, đổ xuống rạch. Rắn trồi đầu lên mà nhậu, lờ đờ ai muốn bắt thì bắt.
Nhưng biện Tống vẫn chưa thắc mắc. Mớ rắn của Bảy Ðăng đều nhỏ. Làm sao mà lột được tấm da ba tấc bề ngang? Bảy Ðăng gật gù:
– Chuyện đó bí mật. Muốn am tường thì nên tới nhà Sáu Kiến. Tôi bán cho Sáu Kiến. Thằng cha đó chuyên môn lột da.
Biện Tống đến nhà Sáu Kiến. Hắn đang làm việc trong căn chòi bí mật, sau hè, nài nỉ lắm vợ con hắn mới chỉ rõ địa điểm, Sáu kiến trợn mắt:
– Ủa! Chú biện, làm sao chú biết tôi ở đây?
– Thì vợ con của anh nói.
– Ðồ mắc dịch! Vợ con tôi báo hại tôi…

Vừa nói Sáu Kiến vừa liếc lên trần nhà. Ô hô! Biện Tống ngỡ mình lạc vào một cái hắc điếm trong truyện Tàu, loại hắc điếm làm thịt người mà bán cho thân chủ. Hàng chục con rắn no tròn, bón láng, treo lủng lẳng, đong đưa, như những khúc dồi to tướng. Sáu Kiến nói lẩn thẩn:
– Này chú biện. Chẳng lẽ tôi bắt buộc chú uống máu ăn thề. nếu chuyện này tiết lộ ra, chắc tôi giết chú.
– Sao? Nói gì ghê quá vậy? Giữa anh em mình nào xảy ra chuyện xích mích. Treo mấy con rắn đó lên nóc nhà để làm gì? Sao mà nó lớn quá vậy? Hèn gì mỗi tấm da lột ra ba tấc.
Sáu Kiến đưa ra một cái ống bơm xe máy:
– Ðó! Chú hiểu chưa. Tôi buộc lỗ đít rắn lại rồi thì bơm hơi vô miệng rắn. Con rắn trở thành cái ruột xe máy, căng thẳng, no tròn và chẳng bao giờ nổ. Tôi bơm hoài, bơm mãi rồi vuộc miệng rắn lại, treo tòn ten. Tới nước nào đó, tôi lột da, tấm da rắn bề ngang hai tấc sẽ trở thành ba tấc, nhờ khí… của trời.
Biện Tống cười chua chát:
– Bà con mình sáng chế nhiều kiểu hay quá.
Sáu Kiến nói:
– Cho thằng má chín Xìn Phóc nó biết một trận. Nếu bị bơm hơi, da rắn phải mỏng. Hễ mỏng thì Tây với đầm xài cái bóp mau rách hoặc sợi dây nịt mau đứt. Tụi nó phải qua đây mua thêm nữa…
Nhưng Sáu Kiến lầm to.
Phen đó, Xìn Phóc mua mấy ngàn tấm da rắn, trả tiền sòng phẳng, đi biệt tích. Mùa rắn năm sau, bà con lối xóm có lòng mong đợi nhưng hắn không trở lại. Hỏi lý do thì biện Tống không biết. Ðến tết, tình cờ biện Tống ra chợ Ngã Năm gặp ông cò Lơ Hia. Ông cò cho biết:
– À! Cái ông má chín Xìn Phóc. Ổng gởi thơ cho tôi, chúc mừng năm mới. Ổng nói da rắn ở xứ U Minh mỏng quá, chuyến đó đem về, ổng lổ vốn.
Biện Tống giả bộ ngây thơ:
– Tại sao lỗ vốn?
– Xìn Phóc nói: khi đem ngâm chất hoá học thì da rắn cũng như giấy hút thuốc, nhiều chỗ bị đứt theo lằn ngang, lằn dài. Thay vì làm được sợi dây nịt cho người lớn thì da nó chỉ dùng làm dây đeo đồng hồ tay. Thay vì làm bóp cho đàn bà thì da nó chỉ dùng làm bóp cho con nít. Mà con nít bên Tây đâu có xách bóp.

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 24 Jul 2024

Phần 5

Ruộng Lò Bom

Ông Hai Don đến khu rừng tràm, vừa bơi xuồng vừa nhìn dáo dác. Lệ – đứa con gái ông – đi đốn củi một mình từ sáng đến xế trưa mà vẫn chưa về nhà ăn cơm. 
Nó mất dạng nơi chốn nào? Hồi năm ngoái, Lệ đã tư tình với một tên cướp. Ông Hai don bắt quả tang đôi trai gái trắc nết, đánh cho một trận đòn nên thân. Tên cướp nọ bỏ xứ, vắng bặt. Nhưng dường như Lệ bắt đầu sống phóng khoáng, tập ca vọng cổ, vào rừng đốn củi một mình, chẳng sợ ma rừng như trước. Mới đây, trong xóm lại xuất hiện một tay”anh hùng mới,” gọi nôm na là Tư Cồ, vì hắn to lớn xác, vai u thịt bắp. Tư Cồ khoe khoang rằng đã phiêu bạt khắp Nam Kỳ, lục tỉnh, biết làm đủ thứ nghề. Hắn ta còn nói thêm: 
– Tôi nghèo vì muốn sống ngang dọc chớ nếu cần làm giàu như thiên hạ thì mấy hồi… Và tôi làm mướn qua tháng qua ngày chỉ vì tôi không muốn làm chủ. Người làm mướn sung sướng trăm bề: không lo xa, có nhà ở, cơm ăn. Khi cháng ông chủ này thì mình giựt nợ, làm tôi tớ cho ông chủ khác. Rốt cuộc kẻ giàu người nghèo đều chết ráo trọi. Chỉ có cỏ cây là sống mãi mãi… 
Ông Hai Don đã dè dặt đề phòng. Lệ nói gần nói xa: 
– Tư Cồ rõ ràng là người lịch thiệp, có tài như vậy thì chẳng bao giờ chết đói. 
Ông Hai đáp: 
– Có tài… ăn cướp chớ tài gì. Nó là đứa liều mạng, lười biếng, xem loài người như cỏ cây, thua cỏ cây nữa là khác. Phách lối, xấc xược quá! 
Lệ vẫn chưa hiểu: 
– Ảnh nói dứng phần nào chớ. 
– Nín đi. Nó nói cao xa lắm. Nó ám chỉ rằng tất cả dân xóm này là loài cỏ cây, chữ nho kêu bằng thảo giái. Riêng nó mới xứng đáng làm người, dọc ngang ngang dọc. 
Dè đâu lời mạt sát ấy lại gieo cho Lệ một ấn tướng tốt đẹp về chàng trai Tư Cồ. Lệ tò mò, muốn hiểu Tư Cồ oanh liệt như thế nào. Nàng muốn tìm người yêu cho xứng đáng. Người bạn trăm năm của nàng phải là người tứ xứ mới tới. Chàng ta chẳng hiểu rành dĩ vãng của nàng. Và theo kinh nghiệm cho biết, kẻ giang hồ tứ chiếng ít kén chọn khắt khe trong tình chồng vọ. Họ dễ dãi đối với sự trinh tiết. 
Lệ đã hẹn hò với Tư Cồ nhiều lần, vào rừng tràm để tìm hiểu nhau hơn. Nhưng lần này, ông Hai Don dường như chú ý. Hai người lựa một gốc cây tràm cao ráo, đem cơm ra ăn… 
Lệ chợt nghe tiếng động nên cau mày, néo mình vào gốc tràm: 
– Em hồ nghi quá. 
Từ Cồ vẫn thản nhiên: 
– Trong rừng, nghe tiếng cảnh lá khua răng rắc hoặc tiếng khoát nước là sự thường. Em sợ hả? Sợ ai? Sợ nỗi gì? 
Lệ nói khẽ: 
– Sợ ba em bắt gặp. 
Từ Cồ nói: 
– Dễ quá. Hễ ổng gặp thì xử huề. Chẳng lẽ ổng đánh anh. 
– Rũi ổng đánh thì sao? 
– Thì anh chạy trốn lẩn quẩn… như con nít chơi cút bắt. 
– Anh nói kỳ quá. Bộ… ba em là con nít sao? 

– Ừ! Anh xin lỗi. Theo ý em thì anh nên làm gì lúc này… 
Tâm hồn Lệ xao xuyến lạ thường. Tuy lẳng lơ trắc nết, nhưng nàng chẳng muốn cha buồn phiền. Ðối với Tư Cồ, nàng chưa từng gần gũi về xác thịt. Nàng muốn làm lại cuộc đời, kỹ lưỡng hơn. Nếu tình cờ, cha nàng bắt gặp thì oan ức cho nàng quá. Ðôi trai gái hò hẹn nhau giữa rừng, kín đáo, thiệt là tình ngay mà lý gian. Vài con chim áo dà bay tới tấp như giật mình. Ðể được vững bụng. Lệ mạnh dạn trèo lên cây tràm. 
Nàng nắm lấy một nhánh to, lao mình, rút chân, uốn lưng. Ðến ngọn cây tràm, nàng nằm nghiêng, ôm sát thân cây. Ðằng xa, trong bụi lá gồi, như có gió thổi nhẹ, vô cớ. Lá gồi như cái quạt xanh tươi, đung đưa. Nàng nói hơi to: 
– Coi chừng cọp, anh Cồ ơi! 
– Anh xem cọp như… loài cỏ cây! Ý kìa! Ngộ quá… 
– Cái gì ngộ? Anh phải cúi mặt xuống để nghe tiếng đất. Kìa… Dường như cọp tiến lại phía tụi mình. 
Tư Cồ đáp: 
– Em sao u mê quá… Xứ này đây có cọp. Cọp đâu dại khờ tới đây làm gì?… 
Bỗng dưng, có tiếng quát to: 
– Tụi bây lộng quá rồi! Ðứa nào nói tao là loài thú vật, dại khờ, giống như cỏ cây hả? Còn con yêu tinh kia! Xuống đây. Mầy không thấy cha mầy đây hả? Rõ ràng phường mèo gà đồng… 
Ông Hai Don bước tới, vạch lá. Lệ im lặng như nài nỉ Tư Cồ đừng cãi vã vô lễ. Tư Cồ lắc đầu, buồn bã: 
– Tôi có tội. Bác muốn trừng trị cách nào! Tứ thật, hồi nãy tôi nói giỡn cho vui với cô Lệ. Tôi chẳng dám so sánh bác với cỏ cây, thú vật. 
Ông Hai Don vẫn chưa vừa lòng. Ông muốn đánh Tư Cồ. Hắng ngồi lì đó, trông thật đáng ghét. Nếu đánh, ông sẽ viện cớ gì? Trai gái gạp nhau giữa rừng, nói chuyện. Câu chuyện giữa Lệ và tư Cồ chẳng có gì xúc phạm thuần phong mỹ tục cho lắm, ông nói đổng: 
– Tụi bây làm gì ngoài này? 
Tư Cồ bèn lên tiếng, tự bào chữa: 
– Dạ, như bác thấy rõ: cô Lệ ở trên ngọn cây, còn tôi thì ngồi trên mặt đất. Không có gì lạ cả. 
– Ðừng giỡn mặt với tao! Mầy ưa giỡn quá. Mầy coi tao như loài vô tri vô giác. 
Tư Cồ đáp: 
– Dạ, bác là cha ruột cô Lệ. Tôi kính mến cô Lệ. 
– Nói dóc hoài! 
– Dạ, tôi nói thật. Nếu bác thương tôi, tôi hứa làm ăn cho bác thấy. Tôi ghét những người khinh tôi. Chẳng lẽ bác khinh đứa làm ăn giỏi dắn. Tôi hứa chẳng bao giờ phụ lòng bác. 
Ông Hai Don cau mày. Nếu làm to chuyện thì chẳng ích lợi gì cho ai hết. Chi bằng ông giữ thể diện với Tư Cồ và bắt buộc Tư Cồ giữ thể diện đối với ông. Ông nghĩ ra một giải pháp vẹn toàn: cho Lệ và tư Cồ ăn ở với nhau, haiđứa nó phải đi làm ăn ở xứ khác. Dân trong xóm sẽ bớt lời dị nghị, thanh danh của ông được bảo vệ một phần lớn. 
Lệ xuống xuồng, cầm cây dầm bơi cho cha ngồi. Tư Cồ bơi xuồng của mình theo sau. Anh ta đem gói thuốc rê, vấn một điếu, mời ông Hai Don: 
– Thưa bác… 
Hai Don đưa tay nhận điếu thuốc: 
– Ðược rồi. Tao tính cho tụi bây. Con người ta sống trên cõi đời nên giữ đức hạnh. Nói thiệt cho mầy nghe, Tư Cồ… 
Tư Cồ im lặng. Ông Hai don lên tiếng thị oai: 
– Tao kêu mà mầy không dạ hả? 
Tư Cồ giựt mình: 
– Dạ, thưa bác. 
– Mầy có sức lực, có tài. Nếu mầy bớt phách lối thì nên nhà nên cửa, bằng không thì mãn đời mầy cứ như vầy hoài. 
Tư Cồ toan cãi lại. Nhưng nghĩ sao không biết, anh ta lại thôi. 
Gần mãn mùa mưa. Nước sông Hầu Giang lần lầ giựt xuống. Cánh đồng hoang vu, chạy dài tới chân trời, lai láng như biển cả, rộng hàng năm, sáu chục cây số nối liền bờ sông Hậu ra vịnh Xiêm La. Không một bóng người. Không một căn chòi hoặc nhà sàn. Lệ ngồi nấu cơm trên xuồng. Tư Cồ hút thuốc, khen tấm tắc: 
– Trời vừa mưa vừa nắng hiu hiu, mát quá. Trời đất bao la, đất này vô chủ… 
Lệ bắt đầu ngao ngán. Tư Cồ vẫn giữ thói ngang ngược ngày trước. Anh ta đưa nàng về đâu? Ðất này tuy đầy nước lụt và nhấp nhô những lượn sóng cỏ nhưng phải có người làm chủ, ghi tên trong sổ bộ của nhà nước. Tư Cồ cứ bơi xuồng thẳng về phía đông bắc: 
– Ðằng kia, anh cất sẵn một căn nhà sàn, hồi ba năm về trước, lúc chưa gặp em… Em thấy xứ này ngộ không? 
Lệ nói gắt: 
– Giống như biển. 
– Nó là đất liền, là đồng hoang. Vài tháng nữa, nước giựt xuống, mặt đất bày ra, vợ chồng mình đâu còn bơi xuồng thảnh thơi như vầy. Chừng đó, mình đi bộ… trên đầu ngọn cỏ. 
– Anh cứ nói phách hoài. Hồi đó, ba ghét anh cũng vì mấy tiếng cây cỏ đó! Sao anh ư cái vụ cây cỏ, cỏ cây quá vậy! Chẳng lẽ trên mặt đất này chỉ có anh mới là không phải loại cây cỏ… 
Tư Cồ nói lảng sang chuyện khác: 
– Giống như biển. Cỏ mọc nhấp nhô, giống như rong trôi ngoài biển. Tới chòi rồi! Phía gò đất đằng kia, ngay gốc cây gáo. 
Xuồng đậu bào bến. Bến tức là gốc cây gáo, loại cây chịu đựng nước lụt rất giỏi. Căn chòi đã xiêu vẹo nhưng còn tạm làm nơi trú ẩn được. Nước dâng lên gần ngập sàn nhà. Tư Cồ thúc hối: 
– Lệ à! Em dọn cơm lên chòi. 
Rồi anh ta nhảy xuống tắm. Nước sâu ngập cả đầu. Tư Cồ lặn hụp như con cồng cộc. Hồi lâu, anh trồi đầu khỏi mặt nước, vuốt mặt, đưa lên một cọng cỏ, loại cỏ dài hơn hai thước: 
– Bảnh không! Nhờ cỏ này mà vợ chồng mình làm ruộng. 
Lệ sửng sốt vì anh chồng này nói như đùa giỡn. Xưa nay, chẳng ai làm ruộng nhờ cỏ. Cỏ là loại thù nghịch của nhà nông. Nước ngập cao hơn đầu người. Lệ nhớ đến những trận mưa tầm tã vào tháng Tám âm lịch. Lúc cấy xong, nếu nước dâng lên đột ngột, một đêm hai tấc, lẽ dĩ nhiên lúa phải hư hao vì nạn lụt. 
Ðoán chừng sự ngạc nhiên của vợ, Tư Cồ nói tiếp: 
– Lát nữa, anh… bắt đầu làm ruộng. 
Lệ không còn chịu được nữa: 
– Anh nói giỡn hoài. Giữa cảnh trời nước bao la, không một bóng người, cỏ hoang mọc đầy. Ngồi trên chòi như ngồi giữa cù lao, ngoài biển. 
– Anh nói thiệt chớ không nói chơi. Em chưa tin à? Nấu cơm cho lẹ đi. 
– Muốn ăn thì lên đây mà ăn! Anh coi chừng cảm mạo. Rủi mang bịnh, làm sao chạy thầy chạy thuốc. 
Tư Cồ vẫn cười hề hề. Anh nhảy lên sàn, vuốt mặt. Nước vẫn chảy ròng ròng trên lưng: 
– Ăn rồi làm liền! 
– Thôi! Giỡn như anh, có ngày chết đói. Gạo còn đủ ăn có một hai ngày. Hết gạo, mượn ai? 
– Ðừng lo. Hết gạo thì mình đi chỗ khác chơi. Bộ mình muốn ở đây hoài sao? Chí trai, tang bồng hồ thỉ, rày đây mai đó. Nếu sống hoài một chỗ, mình… giống như loại cỏ cây sao? 
Tư Cồ vừa nói vừa cười. Lệ thở dài. Nàng gặp anh chồng Sở Khanh rồi chăng? Ai lại làm ruộng theo kiểu này. Hay là tư Cồ có dính líu đảng cướp nào đó. Căn chòi giữa nơi vùng nước ngập này là sào huyệt của chúng. Tư Cồ hẹn hò với đồng đảng để chia của hoặc âm mưu bố trí một trận giết người cướp cửa. Làm ruộng mà không có lúa giống, không trâu bò, làm sao tin được. 
Lệ dọn cơm cho chồng ăn, Tư Cồ vẫn nói giọng thiếu nghiêm trang: 
– Em ăn cho no đi. Anh ăn ít lắm. Ăn nhiều tức bụng. Ðúng theo sách vở… Trước khi làm, mình không nên ăn. 

Trong một thoáng. Lệ hối hận vì trót vương mang với Tư Cồ. Hắn lười biếng, ăn nói bóng gió nghe thô tục quá. Tiếng “làm” có nhiều nghĩa. Ðôi vợ chồng trẻ, buổi xế trưa, trong căn chòi nhỏ, tư bề sóng dậy lăn tăn và gió thổi hiu hiu… Tư Cồ nói: 
– Lát nữa tôi cày… 
Lệ thẹn thuồng: 
– Thôi, đừng nói chuyện trên trời dưới đất. Anh làm ruộng à! Ruộng gì? Hay là anh gạt em, đưa em ra đây. 
Tư Cồ cười dòn, xô chén cơm ra xa, rồi ho sặc sụa: 
– Trời đất ơi! Con mẹ này… vô đoan quá. Ừ! Tôi là đưá bất lương, bắt cóc con gái ra đây để luyện”Thiên linh cái.” Cây dao đây nè. Nãy giờ, tôi quên coi chừng, rủi mất thì chắc ngồi ở không mà chơi. 
Nói xong, Tư Cồ đứng dậy, lại nóc chòi, vạch mái lá. Lệ chợt rú lên: 
– Ghê quá! Anh đừng giỡn! 
Một cây dao dài chừng non thước tây. Cán dao ngắn. Lưỡi dao sáng ngời, bên ngoài có thoa dầu mỡ, láng bóng. Cây dao được gói cẩn thận trong cái vỏ bằng mo cau. Tư Cồ thủ bộ như hiệp sĩ thời trung cổ đang tuốt thanh gươm khỏi vỏ. Lệ sực nhớ đến bọn cướp biển đang hươi ngọn mã tấu: 
– Kỳ quá! Anh giỡn hoài. 
– Làm thiệt chớ đâu phải giỡn. Làm ăn mà. Có làm mới có ăn. 
Lệ nói gắt: 
– Tôi về bây giờ! Tôi xuống xuồng về nhà. Giỏi thì anh ở ngoài xứ này một mình… 
– Sao lại về? Tình chồng nghĩa vợ gì mà kỳ cục vậy? Chưa cực khổ, đói kém mà lại bỏ chồng ra đi. Ở lại… bớ phu nhân! 
– Ở lại để làm gì? 
– Ðể làm ruộng. 
– Xứ ngập lụt, mênh mông như biển, làm ruộng gì? 
– Ruộng”Lò Bom!” 
– Lò Bom là ruộng gì? 
– Là ruộng Lò Bom, ông bà nói vậy tôi hay vậy. Chẳng có ai”thông ngôn” tiếng đó. Tiếng Việt Nam. 
– Lò Bom là gì? 
– Ủa! Em hỏi cù cưa cù nhằng hoài vậy. Tôi cắt nghĩa rồi. 
– Lúa Xom Mà Ca, ruộng Lò Bom. Em chưa biết lúa Xom Mà Ca à? 
Tư Cồ giải thích: 
– Ðất này hoang vu từ hồi tạo thiên lập điạ. Nghe đâu ông Mạc Cửu tới khai khẩn vùng Hà Tiên nhưng ổng ưa ở vùng biển để lập chợ mua bán, lập sòng bạc. Ruộng bỏ hoang. Thế là ông Mạc Cửu tiêu tan sự nghiệp. Chợ Hà Tiên lần lần sụp đổ. Ông Mạc Cửu ở bên Tầu qua, đem theo nhiều quân sư quạt mo nhưng chẳng ai chú ý tới chuyện làm ruộng. Họ chê đất này ngập lụt. Họ dòm đất này rồi uống rượu, ngâm thơ, bày đặt đủ điều lăng nhăng. Ðất này giáp mí với cái Ðông Hồ. Nghe đâu, mấy ông Tàu nói rằng ở Ðông Hồ, ban đêm có tiên hiện xuống. Vợ chồng mình là tiên… ở gần Ðông Hồ. 
Lệ đổi giận làm vui: 
– Ồ! Em nghe nói chuyện ông Mạc Cửu… 
– Ông Mạc Cửu bất tài, không khai thác nổi xứ này. Rồi tới trào này: Tây lắc đầu, chẳng biết làm thế nào để lập làng lập xóm. Bác vật Tây chê đất này phèn, ngập lụt, khó khăn, thiếu kinh rạch, muỗi mòng. Mấy ông điền chủ không them khai khẩn, sợ tốn tiền đóng thuế mà chẳng thâu được huê lợi. Anh làm chuyện này, giỏi hơn Tây. 
Nói xong, Tư Cồ cầm cây dao dài, đặt nhẹ xuống xuồng. Rồi anh ta cầm cây dầm, bơi ra khỏi chòi chừng vài chục thước, nhảy xuống nước. 
Lệ đứng trông theo. Tư Cồ đứng trên mặt đất – tức là đáy nước – Nước cao ngang cổ. Hai tay Tư Cồ cầm dao, chém cỏ, chém gốc cỏ dưới nước. Cỏ nổi lên từng giề, vàng lườm màu phèn, trông giống như mấy giề rau câu, hải thảo ngoài biển. 
Tư Cồ bơi xuồng lại gần chòi, kêu to: 
– Mình ơi! Về… 
Lệ ngơ ngác: 
– Về nhà bây giờ à? Làm ruộng kiểu gì lạ vậy? 
– Thì… ruộng Lò Bom, rồng lúa Xom Mà Ca. Xong rồi. Hay là mình muốn ở đây một mình. 
Chiếc xuồng tiến nhanh, qua ngày đêm về nhà ông Hai Don. Dọc đường, Tư Cồ nói dong dài về cách thức làm ruộng Lò Bom. Cỏ bị chặt đứt gốc trôi lều bều. Hai tháng nữa, nước giựt xuống. Cỏ đã thúi, trở thành loại phân tốt, rải đầy trên mặt đất. Hai tháng nữa, tức là tháng Hai tháng Ba âm lịch, trời nắng cháy. Vợ chồng Tư Cồ sẽ trở lại đó, đốt cỏ. Rồi gieo lúa giống, lại lúa Xom Mà Ca từ lúc gieo đến lúc trổ bông là bốn tháng. 
Tư Cồ lẩm bẩm: 
– Nè! Mình phát cỏ một buổi, mình gieo giống một buổi. Hai buổi cộng lại là một ngày. Rồi nước mưa dâng lên, lúa trổ lúa chín. Mình trở lại đó gặt, một buổi nữa. Tổng cộng, làm ruộng tốn có một ngày rưỡi mà có lúa ăn. Một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, mình rảnh rang đến ba trăm sáu mươi ba ngày rưỡi! 
– Mình làm biếng quá! Nhưng lúa Xom Mà Ca ra sao? 
– Nó giống như lúa khác vậy thôi. Nhưng ăn không ngon cơm, bán mất giá. Mỗi mùa, mình cứ dời chỗ, theo kiểu làm rẫy trên núi. Chim chuột sâu bọ đâu có hay biết mà phá hoại. Tháng Hai, sau ngày Tết, em tới đó gieo mạ với anh? Chịu không? Rồi tháng Bảy, mình gặt, chừng vài chục giạ. Mình mượn chiếc ghe của ba. 
Lệ dàu dàu nét mặt, không trả lời. Bấy giờ nàng đã hiểu tại sao Tư Cồ cứ rong chơi quanh năm mà vẫn tự hào là kẻ… chí thú làm ăn, khôn ngoan, lương thiện. Anh ta tự hào đến mức khinh khi kẻ khác – những kẻ chỉ biết ham thích vùng đất cao ráo, không phèn, không ngập lụt, thứ đất sản xuất lúa ngon thơm hơn.
Tư Cồ nói: 
– Sao em nín thinh vậy? Hay là em muốn bỏ anh? Chán thằng chồng nghèo này hả? 
Giọng Tư Cồ buồn rầu. Anh ta bớt nói, khi xuồng vào xóm. Anh ta nhớ tới vùng đất gần Ðông Hồ mà từ xưa đến giờ, không ai sản xuất ra lúa gạo nổi. Họ sự nước. Họ sợ cỏ hoang. Họ là loại cỏ cây. Từ khi học được kỹ thuật làm ruộng Lò Bom với ông lão vô danh, tư Cồ mừng quýnh như kẻ học được phép tiên, do kẻ siêu phàm truyền lại. Anh bám lấy nghề, sống thử. Nhưng muốn sống thì phải có lúa gạo, có tình yêu. Tình yêu muốn bền vững thì phải có thông cảm sâu sắc. 
– Sao em lại không nói? Lệ… 
– Nói gì bây giờ? 
– Ở với anh không? Anh đã cưới hai người vợ, rồi cả hai người đó lần lượt bỏ anh, trong mùa phát cỏ. Chẳng cô nào trở lại với anh, khi gieo mạ, gặt lúa. Họ chê anh. 
Lệ suy nghĩ vẩn vơ. Tư Cồ yêu vùng đất phèn mà thiên hạ đều chê là vùng đất bỏ. Giờ đây nàng yêu Tư Cồ, người mà thiên hạ chê là thô tục, bất lương. Thôi thì cũng hy sinh theo chàng ta vài năm, để chúng tỏ lòng nàng khác hơn loại cỏ cây. Nàng đáp: 
– Ừ! Gieo mạ thì gieo mạ. Gặt lúa thì gặt, em không ngán. Nhưng em chỉ xin anh một điều. 
– Ðiều gì? Anh sẳn sàng nghe theo em, miễn là em đừng xúi giục anh bỏ cái nghề ruộng Lò Bom. 
– Em đâu dám. Mình làm ruộng thì cứ làm. Nhưng anh đừng nhắc tới chuyện cây cỏ cỏ cây. Thiên hạ họ không biết rõ, họ giận anh. Lại còn mấy tiếng Lò Bom, Xom Mà Ca. Ðừng nói cho ai nghe. Họ hỏi hoài, anh cắt nghĩa mãi, rốt cuộc chẳng ai hiểu được ai. Họ hỏi để cầu vui vậy thôi… Trừ ra hai vợ chồng mình

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam
Post by Sơn râu 24 Jul 2024

Phần 4

Tháng chạp chim về Nó hiện ra từ mí rừng phía đông. Ban đầu chỉ là một đốm đen. Ngỡ đó là con chim đầu đàn, tôi chờ đợi những con khác bay theo sau nhưng tôi ngạc nhiên: 
– Con diệc này sao bay về có một mình? Thường thường nó bay về nhiều lắm, sắp thành hai hàng như mũi tên, phải không ông Tư? 
– Không phải! Không phải đâu! 
Ông Tư trả lời cho có chừng. Mắt ông nhướng lên, theo dõi đốm đen cô độc nọ. Ông bước tới bước lui, quay tròn vòng rồi la lên mừng rỡ: 
– Nó đó mà! Tội nghiệp quá. Năm nào cũng như năm nào… 
Trên ngọn cây gòn, kìa một con chim to tướng đen thui, đầu có đốm trắng, cao nghệu như đứa trẻ lên mười tuổi. Mặt trời đã gác lên mí rừng dọi lên lông cánh của nó, mướt rượt. 
– Năm nay nó già đi nhiều… Tội nghiệp! 
Khỏi cần lượn vòng quanh, nó cũng nhìn được con rạch Ðường Sân này… 
Nóng ruột tôi hỏi: 
– Con chi gì mà coi dữ quá vậy ông Tư? 
– Con chim già sói. Thứ này bây giờ ít lai vãng tới miệt Cạnh đền này, chớ hồi đó thì ôi thôi… 
– Làm sao bắt nó xuống coi thử. Phải chi mình có súng… 
Ông Tư nhìn tôi, nhăn mặt lắc đầu: 
– Súng với ống mà làm gì? Ðừng nói bậy, nghe được nó bay đi luôn. Giống già sói gan dạ lắm. Cháu chưa biết sao? Hồi năm đó ông kiểm lâm Rôbe lại đây, cũng vào tháng này gập nó. Ông nổ nghe cái “rầm”, con già sói không thèm nghe, cứ đứng im. Qua phát thứ hai nó ngóng mỏ, coi bộ tức mình bực bội. Tiếng súng thứ ba nổ lên. Già sói nhè nhẹ cất cánh bay đi, buông xuống một cục phẩn, nhè cái nón của ông Rôbe mà rớt trúng. Báo hại ổng mắc cỡ, tôi phải thay mặt con già sói nọ mà xin lỗi ông… Con già sói này sống ít nhứt là năm chục năm rồi. Nó có nghĩa lắm, bỏ sân chim không đành. Hồi năm chục năm về trước, hồi trăm năm về trước rạch Ðường Sân ở Chắc Băng này phồn thịnh lắm. 
Vùng Rạch Giá, Hà Tiên nổi danh là nơi tập họp nhiều sân chim, của trời đất dành riêng cho. Từ vàm đến ngọn sông Cái Lớn, bao nhiêu là sân: sân Cái nước, sân Thầy Quơn, sân Thứ Nhứt… Ðó là chưa kể mấy sân ở giữa rừng mà chưa ai bước chân tới. Từng vùng rộng chừng mười ngàn thước vuông, tụ tập hàng vạn con chim lớn. 
Chúng nó sanh sôi nẩy nở, tạolập một thế giới riêng biệt náo nhiệt, ở khắp nhành cây và mặt đất. Dân chúng kéo đến các sân chim này để bắt chim, nhổ lông bán cho ghe buôn từ Hải Nam đến, họ mua về để kết quạt. Ta có thể chia hai loại chim: thứ làm ổ trên cây và thứ làm ổ trên mặt đất. 
Làm ổ trên cây thì có chim chàng bè, chim già sói, chim chó đồng. Là ổ dưới đất thì co chim bồ nông là đáng kể. 

Chim bồ nông tụ tập nhiều nhứt là ngọn rạch Chắc Băng đổ ra sông Cái Lớn. Ở đây hoàn toàn hẻo lánh, ít cây to lớn, ít cọp hoặc rắn. Hai loại này hay tìm chim mà ăn thịt hoặc ăn trứng. Ngoài ra trên mặt đất phủ dày nhiều dây choại, dây dớn để cho chim làm ổ. Nước dưới đất U Minh lại ngọt, xa xa lấp lánh nhiều vũng bùn chi tha hồ mà bơi lội. Chim bồ nông giống hệt chim thằng bè nhưng lông nó nhuộm màu xám tro. Bắt đầu tháng Chín tháng Mười, chúng bay từ Biển Hồ hoặc từ sông Hậu về rừng U Minh để làm ổ. Chúng lấy chân đạp dây choại xuống sát mặt đất và dùng mỏ để dò xét bên dưới. Gặp nơi đất ẩm hoặc có trũng, chúng bỏ đi nơi khác vì e sau này trứng sẽ thúi. Gặp chỗ vừa ý, chúng nhổ cỏ xung quanh, dọn một vùng nước khá rộng để bầy con sau khi nở ra có chỗ bơi lội. 
Tháng Mười Một, chim bồ nông đẻ ra ba trứng, lớn hơn trứng ngỗng chút ít. Sau đó, chim trống và chim mái thay phiên nhau ấp. Khi trứng nở, chúng tiếp tục ấp con dưới cánh cho ấm. Chờ khi chim con có lông ống thì chim trống lẫn chim mái bay đi tận Biển Hồ để tìm mồi nuôi con. Chừng hai ngày sau, khi trở về trong dãy (bọc da dưới mỏ) mỗi con đều đầy cá. Cứ mỗi ngày chim con được đút mồi một lần. Lúc cha mẹ đi vắng bầy chim con tha hồ đùa giỡn trong vũng nước đã dọn sẵn kế bên. 
Ngày qua ngày, bầy con lớn lên nhanh chóng, hễ đói là la hét lên inh ỏi. Khi thấy cha mẹ đem mồi về, chim con đạp chân quạt cánh, bay sập sận lên không trung. Lúc chim bồ nông đút mồi cho con, chúng ta có thể nói là một trận giặc lớn. Hàng ngàn con già sói, con chim chó đồng bay lại để giựt mồi cho con mình. Vì vậy khi con cá ở Biển Hồ từ trong đãy moi ra là chim bồ nông phải tranh đấu với ba loại chim kia. Và chính loại chó đồng, già sói lại phải đánh lộn cắn nhau để giành giựt, như ăn cướp chia của… 
Trứng bồ nông vừa nở, người chủ sân bắt đầu lo mướn “bạn giữ sân.” Nhiệm vụ của”bạn” là dọn một con đường tương đối trống trải từ mé rạch lên sân. Ðồng thời, họ cất trại dựng hai vòng thành lớn bằng tre chung quanh sân. 
Vòng thành thứ nhứt hơi vuông, mỗi cạnh dài cỡ sáu trăm thước, cao hai thước tây. 
Kế đó là vòng thành thứ nhì bên trong là tường để xử tử loài chim. Nền đất dọn sạch cỏ. Giữa hai vòng thành có cánh cửa lớn bằng tre. 
Ðâu đó xong xuôi, chủ sân mướn chừng hai chục người bạn, khác, gọi là”bạn giết” . Họ ra tay khi đàn chim bồ nông con bắt đầu bay sập sận nghĩa là mọc lông cánh đầy đủ. Nếu để trể, chim con sẽ bay mất. 
Ðêm ấy trời tối, vào khoảng canh ba. Sau khi được cha mẹ đút mồi, đàn chim bồ nông con vui chơi hả hê, bơi lội tung tăng dưới ao rồi trở về ngủ trên ổ. Mẹ cha của chúng đã đi vắng tận Biển Hồ, tìm mồi cho ngày mai. 
Bỗng đâu từ bốn phía có tiếng la ó, gầm thét của loài người. Mở mắt ra, bầy chim con phải choá mắt vì những đốm lửa đỏ rực. Mấy người bạn giết đã xông vào, hai tay cầm đuốc quơ qua, quơ lại. Ðàn chim con chạy tứ tung, tìm một lối thoát tuyệt vọng. Chúng bắt đầu chạy dồn vào một xó để lần lượt gom vào vòng thành thứ hai như cá vào rọ. 

Cạnh cửa tre hạ xuống, hàng chục người đứng bao vây phía ngoài pháp trường nọ, miệng la inh ỏi, tay quơ đuốc lửa. 
Dầu muốn xé rào chui ra, lũ chim nọ cũng không dám. Khi ấy, hai chục người”bạn giết” bước vào phía trường để thi hành nhiệm vụ đao phủ với hai bàn tay không. Quần áo của họ nai nịt gọn gàng. Ngang lưng thắt sợi dây nịt lớn làm bằng yếm dừa để đề phòng loại mòng chim chun vào người. Loại mòng này hay đeo theo cánh chim bồ nông để hút máu như chí, như rận. 
Hai chục người phải đối phó với chín mười ngàn chim bồ nông! Họ lanh lẹ lắm, tả xông hữ đột như Triệu Tử Long, Ðương Dương Trường Bản, tay trái họ nắm cần cổ chim tay mặt nắm đầu chim. Họ vặn lọi lại. Chim chết không kịp ngáp. Giết rồi quăng xuống tại chỗ. Phải lanh tay lắm mới giết kịp. Ðể chậm trễ thì chừng mặt trời mọc, bầy chim lớn từ Biển Hồ sẽ chứng kiến cảnh tượng đẫm máu này. Chúng sẵn sàng đáp xuống chiến đấu một mất một còn với loài người để giải thoát cho đàn con. 
Trời sáng. Thống thiết dường bao, tiếng kêu la của đàn chim lớn khi trở về không gặp con nghe vang dội cả góc rừng! Vài con may mắn hơn, tìm lại được bầy con nhờ chạy lạc nên thoát chết đêm vừa qua. Chúng tiếp tục đút mồi. Nhưng vài đêm sau, chủ sân mở cuộc tảo thanh lần thứ hai để tóm trọn gói. 
Riêng về bầy chim mất con thì cứ bay tới bay lui trên sân, kêu la ba bốn ngày liên tiếp rồi trở về Biển Hồ với niềm oán hận, thề không bao giờ trở lại đất Kiên Giang này nữa. 
Xong xuôi công việc, mấy người”bạn giết” về nhà uống rượu nghỉ ngơi. Giờ đấy đến lúc người”bạn nhổ” làm việc. Họ nhổ lông cánh từng con, xong một con là bó lại, giao phó nắm lông cho chủ sân. Chủ sân ngồi kế bên, trao cho họ cây thẻ để sau này làm bằng chứng tính tiền công… Xen vào đó, còn mấy người cán hôi. Mấy người nầy tình nguyện nhổ lông không ăn tiền. Họ xin lại xác chim bồ nông, đem về lóc mỡ ra, nấu dầu để thắp đèn. 
Không cần nói rõ, ai cũng có thể hình dung được bãi chiến trường, hôm sau xác chim bồ nông vun lên cao ngất, như đống lúa ba bốn trăm giạ. 
Ðó là cách giết loại chim bồ nông ổ trên mặt đất. Ðối với loại thằng bè, già sói, chó đồng làm ổ trên cây thì phải tốn công hơn. Vào khoảng canh ba, mấy “bạn giết” trèo lên tìm ổ chúng bẻ cổ từng con rồi ném xuống đất. 
Lông chim bán cho ghe buôn từ Hải Nam đến. Họ mua về để kết quạt. Giá thị trường như sau: 
– Lông bồ nông một bó một quan. 
– Lông thằng bè, già sói thì hai quan mỗi bó. 
Mỡ chim thì đem về nấu dầu như trên kia đã nói. Thịt chim đem xào sả nghệ, nước cốt dừa ăn cũng ngon ngon. Nhưng ai mà ăn cho hết? Có thể muối phơi khô. Thời bấy giờ, không ai cần làm chuyện đó. Họ thảy bỏ xác chim dưới sông cho diều, cho quạ… 
Ðất hoang, rừng rậm lần lần được khai thác ở vùng Kiên Giang. Vì động đất động rừng, chim bay đi, bỏ sân cũ. 
Chúng bị tiêu diệt lần lần. Số chim còn lại bay về đâu? Ngày nay cùng Rạch Giá, Cà Mau còn vài sân chim. Nhưng toàn là cò, diệc, cồng cộc, loại chim nhỏ. 
Vài Côn Nghi chim còn nhớ sân cũ, hàng năm cứ tới tháng Chạp là bay về. Như con chim già sói này trở về rạch Ðường Sân. 
Và ông Tư – Ngưòi giúp chúng tôi những tài liệu trên đây – hồi còn trai tráng chính là người”bạn giữ sân” và người”bạn giết” – hai danh từ xa xăm mà không ai nhắc tới nữa. 
Con chim già sói đứng cao nghệu trên cây gòn, day mỏ qua phía nhà ông Tư. 
Ông Tư đứng tần ngần, lấy tay che mắt nhìn nó, cố sức nhìn kỹ từ nét mặt như hỏi han sức khoẻ của người bạn già quen thuộc, biết giữ thủy chung đạo bằng hữu. 
Ông nói: 
– Mấy chục năm rồi, năm nào tháng Tết nó cũng về đây vài ngày. Năm nay nó già nhiều rồi. Ðầu sói hơn mọi năm, cháu thấy không? 
Như lời ông Tư, tôi thấy rõ ràng một đốm trắng ở giữa đầu con chim nọ. Là kẻ sanh sau đẻ muộn tôi nào gặp con chim này hồi mấy mươi năm về trước để so sánh cho biết nó già nhiều hay già ít? Mặt trời gần lặn rồi, nền trời đỏ khé. Con già sói đứng sững đó, im lìm như đúc bằng đồng đen, phía sau có hào quang. 
Nó nhìn ông Tư, râu tóc bạc phếu. 
Ông Tư nhìn nó. Có lẽ ông nghĩ đến phận mình mà nảy sinh ra bao mối cảm hoài. Trong con tim già, qua thời gian, giờ đây chắc chắn đã lắng xuống hết bao hung bạo của thời xuân xanh của ông và của đất nước hoang vu. Giữa ông và con chim nọ, không còn oán thù. Biển im lặng sau cơn dông tố. Ðây là Bá Nha với Tử Kỳ cảm thông nhau. Cầu cho ông Tư với con chim già sói được sống lâu hơn trăm tuổi! Xin tạ ơn đấng tạo hóa đã dành cho đất nước này bao nhiêu đặc ân như những sân chim đây là một. Hiên ngang thay! Ðẹp đẽ thay! Hỡi người Việt đầu tiên đến vùng Kiên Giang hưởng ơn Trời lộc Nước mà khai phá miền Nam…


Nỗi buồn man mác

baotreonline.com

Nguyễn Tường Nhung

Post on June 14th, 2024

Post by Sơn râu 23 Jul 2024

Lời tòa soạn: 

Sau loạt tùy bút “Phu nhân một vị tướng” ghi lại cảm nhận của tác giả Đinh Yên Thảo về cuốn hồi ức “Tháng Ngày Qua” của bà Nguyễn Tường Nhung, là trưởng nữ nhà văn Thạch Lam trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn đồng thời là phu nhân của cựu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, chúng tôi đã nhận được một bài viết mới nhất của bà Nguyễn Tường Nhung nhân việc bà ghé thăm nữ cựu Đại Sứ Theresa Anne Tull, người từng là Phó Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Đà Nẵng vào trước năm 1975. Bà cho biết có được niềm vui và cảm hứng ngồi vào máy viết lại kể từ sau khi phát hành cuốn hồi ký, sau khi đọc loạt tùy bút “Phu nhân một vị tướng” đã đăng trên Trẻ Magazine. Xin chân thành cám ơn sự ưu ái của bà Nguyễn Tường Nhung dành cho Trẻ Magazine.

Ba người con của cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng được bà Theresa Tull mang sang Mỹ năm 1975.   

Má đi thăm cô Tull không? Mấy tháng rồi con bận quá – Hiền hỏi mẹ.

– Ừ, đi chứ! – Nhã trả lời con. Rồi hỏi thêm:

– Lúc này cô sao rồi? Mấy giờ mình đi?

– Má thay đồ xong thì mình đi. À, để con ghé lấy phở và chả giò biếu cô.

Khoảng 15 phút sau Nhã đã xong xuống dưới nhà chờ ra xe cùng con gái đến thăm người mà con gái gọi là cô Tull.

THERESA A. TULL. Chúng tôi thường gọi là cô Tull. Cô làm Phó Lãnh Sự tại Đà Nẵng cùng thời gian với gia đình chúng tôi sống ở  Đà Nẵng. Cô cũng là người giúp đem 3 trong số 6 đứa con của chúng tôi qua nước Mỹ khoảng gần một tháng trước khi Việt Cộng chiếm miền Nam. Khi chúng tôi qua đến Mỹ, định cư tại tiểu bang Virginia, các con chúng tôi vẫn sống với cô Tull tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn cách nơi chúng tôi ở khoảng 30 phút lái xe. Lúc đó, cô Tull vẫn làm trong chính phủ. Hai năm sau, khi được cử đi làm Đại Sứ ở một quốc gia nào đó, cô giao 3 đứa con lại cho chúng tôi và nói, “Vì các cháu không phải là con nuôi mà chúng tôi chỉ muốn nhờ cô chăm sóc khi đến nước Mỹ.” Chúng tôi cũng rất mừng vì từ đây gia đình được đoàn tụ mặc dù thời gian ấy tôi còn đang học nghề làm tóc, còn Ba của chúng cũng chưa có công việc nhất định. Khi các con về, chúng tôi phải thuê một căn chung cư rộng hơn với giá tiền gấp rưỡi.

Bà Theresa Tull và cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng trong một dịp đám cưới trong gia đình.

Thời gian trôi nhanh thật nhanh. Vui buồn rồi cũng qua đi…

Thế mà đã 49 năm. Hôm nay cùng con gái đến thăm cô Tull, một người ơn của gia đình chúng tôi. Một sự trùng hợp thật ngẫu nhiên khi cô và tôi sinh cùng năm cùng tháng và cùng ngày: OCT 1936 – cô ngày 02 tại Mỹ, còn tôi ngày 03 tại VN. Năm nay chúng tôi đều ở vào tuổi 88. Tôi thì vẫn thích tính theo tuổi VN dùng 12 con giáp, ngay khi mới chào đời là mình đã được một tuổi. Như vậy hiện giờ tôi đã được 89 tuổi (con chuột nhắt).

Đến nhà cô mất khoảng gần một tiếng. Mùi phở, mùi chả giò thơm ngào ngạt. Chúng tôi nhắc đến những người anh chị em của cô phần đông cũng thích thức ăn VN, tất cả đều không còn nữa. Nay thì những người cháu thay nhau thăm hỏi giúp đỡ khi cô cần đến. Con gái tôi mỗi tháng cũng thường đến đưa cô đi ăn thức ăn VN hoặc đi làm tóc, móng tay v.v.Nhà cô là một căn trong chung cư có hai phòng ngủ. Phòng khách khá rộng, được chia một phần nhỏ làm phòng ăn. Trên tường phòng khách có vài bức tranh ảnh nghệ thuật, hai tủ kính trưng bày một số cổ vật quý giá của nhiều quốc gia, một cái đàn piano, một ghế sô-pha. Bếp cũng khá thoáng có nhiều ngăn đủ để những vật dụng cần thiết. Ngồi trong phòng khách, qua làn cửa kính, khách có thể nhìn thấy hàng cây cao to xanh mướt bên ngoài.

Bà cựu Đại sứ Theresa Tull và Bà Nguyễn Tường Nhung

Sau khi chào hỏi thông thường, con gái tôi mang thức ăn vào bếp, lấy một cái chả giò và một chén nhỏ nước mắm đưa mời cô. Cháu cũng không quên cho chị giúp việc hai cái. Có lẽ chị ấy chưa ăn chả giò bao giờ vì tôi thấy chị hơi ngạc nhiên… Phần còn lại gần 20 cuốn chả giò được chia ra từng hộp nhỏ cất vào tủ đá. Hai bát phở to cũng được chia ra từng phần. Con gái tôi cẩn thận chỉ dẫn chị giúp việc cách hâm lại cho nóng khi nào cô muốn ăn. Chị là người da màu khá mập vẻ chậm chạp, nghe nói tiền công trả cho chị từ 8 giờ sáng đến 5 giờ chiều là một khoản tiền khá nhiều vì chị không phải nấu nướng (câu lạc bộ lo phần này). Cô cần người giúp việc để sai vặt hay đẩy xe loanh quanh vì cặp mắt đã lờ mờ, hai chân đi không vững, phải dùng xe có bánh lăn, và hình như trí nhớ cũng phần nào sa sút (theo lời con gái cho biết). Ngồi đối diện nhau, thỉnh thoảng cô cũng quay sang nói chuyện hỏi tôi điều gì đó nhưng tiếng cô nhỏ mà tai tôi đôi lúc cũng ù ù, phần thì từ khi nghỉ làm hơn 30 năm rồi không nói không nghe tiếng Mỹ nên gần như tôi đã quên gần hết, chỉ còn nhớ những câu nói chuyện thông thường mua bán chợ búa lặt vặt. Nên khi Cô và con gái nói chuyện với nhau ngay trước mặt mà tôi không hiểu hai người nói chuyện gì. Tôi không chú ý vào câu chuyện của cả hai để nhìn rõ từng bức tranh, từng những món đồ trang trí quanh phòng khách, để hình dung theo trí tưởng của tôi về một bà Đại Sứ Theresa A. Tull, một chức vụ khá quan trọng của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Bà đang ngồi đây mái tóc lơ thơ vài sợi bạc, cặp mắt hơi lờ đờ, trên khuôn mặt chỉ thấy những vết nhăn, bộ đồ mặc như đã cũ. Bà sống trong một căn nhà quá đầy đủ tiện nghi bao quanh những vật tưởng như vô tri vô giác nhưng chúng là chứng tích của một thời vẫy vùng vang bóng. Nhưng giờ đây bà không còn đủ sức khỏe để du lịch hoặc làm những điều mình còn muốn làm. Nhìn lại những hình ảnh kỷ niệm, những món đồ vật trang trí quanh phòng mang về từ nhiều quốc gia mà bà đã từng làm việc hay đã từng đi qua, một chút ngậm ngùi cho bà hay cho chính bản thân tôi mà như có một hạt bụi bay vào mắt. Nhìn vào mặt và cách bà đang nói chuyện với con gái rất vô tư. Nếu thật sự như vậy thì tôi rất mừng cho bà được thản nhiên sống những tháng năm còn lại. Còn tôi vẫn khắc khoải, vẫn suy tư với nỗi cô đơn đã là một căn bệnh hay một bóng ma nào đó luôn luôn hiện diện trong suốt cuộc đời. Có một điều mà tôi muốn tìm hiểu ít nhiều về quan niệm sống của ÂU và Á và cá nhân của bà. Chỉ tiếc là tôi không đủ ngoại ngữ để tìm hiểu.

Sau buổi thăm viếng này, tôi có một tầm nhìn thoáng hơn về thân phận, về tuổi già. Dù sướng dù khổ, có tiền có danh vọng rồi cũng sẽ đến điểm cuối của cuộc đời – TRỞ VỀ CÁT BỤI.

Hồi ký của Bà cựu Đại sứ Theresa Tull – nguồn amazon

TN

Dân Á Đông trên Broadway

baotreonline.com

Ian Bùi

Post on May 17th, 2024

Post by Sơn râu 23 Jul 2024

‘Hamilton’, vở nhạc kịch từng thắng 11 giải Tony, đã được Broadway Dallas mang trở lại vùng Bắc Texas sau ba mùa vắng bóng. Khác với lần trước, kỳ này ‘Hamilton’ được diễn tại nhà hát Winspear Opera House cực kỳ đẹp. Khán trường này tuy nhỏ hơn Music Hall tại Fair Park nhưng hiện đại và ấm cúng hơn, ngồi đâu coi cũng rõ, và âm thanh rất tuyệt vời. ‘Hamilton’ là vở nhạc kịch có nhiều diễn viên da màu nhất từ xưa đến nay, nhất là người gốc Á Châu.

Stephanie Jae Park, người Mỹ gốc Hàn, thủ vai Eliza Hamilton, vợ nhà quốc phụ Alexander Hamilton (Joan Marcus/Broadway Dallas)       

Một kịch sĩ gốc Hàn khác là Marcus Choi được chọn đóng vai George Washington. Thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng ‘Hamilton’ quả thật là nhạc kịch Broadway đầu tiên trong lịch sử mà người gốc Á có cơ hội thủ vai những nhân vật chính không phải là người Á Châu. Khi tác giả Lin-Manuel Miranda soạn vở kịch này, anh đã cố tình đưa khái niệm đa sắc tộc vào tâm điểm vì chính bản thân anh, một người di dân từ Puerto Rico, cũng gặp khó khăn tìm vai diễn trong một thế giới Broadway bị áp đảo bởi người da trắng.

Marcus Choi nhập vai George Washington (Broadway Dallas).

Marcus Choi thổ lộ anh từng đi xem ‘Miss Saigon’ và ước mơ một ngày nào đó mình cũng sẽ được đại diện cho cộng đồng Á Đông trên sân khấu Broadway. Nay anh đã trở thành người gốc Á đầu tiên và duy nhất đóng một vai Nam chính trong vở nhạc kịch lừng danh này. Đối với Marcus, ngoài việc mang lại cho anh niềm hãnh diện cá nhân, nó còn là một sự nhắc nhở rằng giờ đây đến phiên anh phải mang trên vai trọng trách tạo cảm hứng cho các thế hệ nghệ sĩ kế tiếp. Anh mong rằng ‘Hamilton’ chỉ là bước đầu trên con đường đến Broadway cho người Á Châu.

Alexander Hamilton (Pierre Jean Gonzalez, trái) và George Washington (Marcus Choi, phải). Joan Marcus/Broadway Dallas

Ai cũng biết lên được đến sân khấu Broadway không phải chuyện dễ. Ngoài tài năng ra nó còn đòi hỏi sự hy sinh, trì chí và không ít may mắn. New York City không phải nơi dễ sống. Đời sống đắt đỏ là một chuyện, sự cạnh tranh quyết liệt trong nghề ca vũ nhạc kịch càng làm cho giấc mơ Broadway khó khăn hơn—nhất là đối với người gốc Á vốn đến từ những gia đình thường chỉ muốn con mình trở thành kỹ sư bác sĩ. Số người chọn học môn múa hát đã ít, số người dám dấn thân theo đuổi nó đến cùng càng ít hơn. Được đóng một vai phụ trong vũ đoàn thôi là coi như đã thành công rồi, đừng nói chi xa!

Hầu hết các vũ công và kịch sĩ trong ‘Hamilton’ là người da màu. (Joan Marcus/Broadway Dallas)

Khi ta nhìn thấy một người gốc Á như Marcus Choi trên sân khấu, ta phải hiểu rằng đây là một sự kiện lớn. Nó nói lên sự hoà nhập thành công vào dòng nghệ thuật chủ lưu của người gốc Á nói chung. Là người Việt, chúng ta cũng có quyền mơ ước một ngày nào đó sẽ được xem những vở nhạc kịch trên Broadway do người Việt đóng vai chính. Trước đại dịch, Francesca Nông đã làm nên lịch sử khi cô trở thành người Việt đầu tiên thủ vai Kim trong vở ‘Miss Saigon’ của Cameron Mackintosh, diễn tại Bass Hall ở Fort Worth vào tháng 12, 2019. Nhưng khi ấy Francesca mới chỉ là một diễn viên trừ bị, gọi là “understudy”, chứ chưa phải là người được thủ vai chính mỗi đêm. Rất tiếc COVID đã khiến cho vở đó phải rã đám, nếu không biết đâu cô đã trở nên một tên tuổi như Stephanie Jae Park.

George Washington (Marcus Choi) giã biệt chính trường, quay về làm thường dân. (Joan Marcus/Broadway Dallas)

Stephanie Jae Park may mắn hơn nhiều trẻ em Mỹ gốc Á khác ở chỗ cô sinh trưởng ở Guam. Cô nói thuở thiếu thời cô không bao giờ có cảm giác mình là người da màu vì xung quanh mình toàn là người da màu. Thứ nhì là mẹ cô rất thích kịch nghệ và hay tham gia vào các chương trình ca nhạc kịch do cộng đồng tổ chức. Do đó từ nhỏ cô đã hấp thụ cái không khí của sân khấu. Mãi đến khi gia đình cô dọn sang tiểu bang Colorado năm cô 11 tuổi cô mới phát hiện mình thuộc thành phần thiểu số. Và khi cô chọn học môn ca nhạc kịch ở đại học, gia đình cô không những không phản đối mà còn khuyến khích. Đối với người Việt thì chuyện này có lẽ hiếm.

Eliza (Stephanie Jae Park) và Alexander Hamilton (Pierre Jean Gonzalez) trong một màn múa. (Joan Marcus/Broadway Dallas)

Một cản trở lớn khác cho việc người Á Châu nói chung, và người Việt nói riêng, khi tham gia Broadway là không có nhiều vở kịch có vai cho người gốc Á. Đó cũng là lý do tại sao ‘Hamilton’ lại có đến hai ba diễn viên Á Châu—vì ai cũng có thể đóng bất cứ vai nào miễn họ có khả năng. Stephanie Jae Park kể lúc đầu cô không hề tính đến việc thử vai cho ‘Hamilton’ vì nghĩ rằng mình không hạp. Nhưng một khi được nhận vào kịch đoàn rồi cô mới thấy được cái hay của Lin-Manuel Miranda khi anh quyết định chọn diễn viên da màu cho những nhân vật lịch sử ai cũng nghĩ phải là người da trắng. Quyết định táo bạo này đã mở ra nhiều cánh cửa cho cộng đồng da màu khắp nơi, không riêng gì trên Broadway.

Joan Marcus/Broadway Dallas

Stephanie Jae Park nói cô hy vọng thành công của ‘Hamilton’ và của những nghệ sĩ như cô hay Marcus Choi sẽ khuyến khích các nhà soạn nhạc và kịch tác gia gốc Á dựng lên nhiều kịch phẩm khác để tạo cơ hội cho người Á Đông tham gia nhiều hơn nữa vào thế giới Broadway. Trong số các nhạc sĩ người Việt hiện nay, nhạc sĩ khiếm thị Đức Đạt là người đang ấp ủ giấc mộng soạn một vở nhạc kịch kiểu Broadway nhưng dựa trên văn hoá Việt Nam. Hy vọng giấc mơ của anh sẽ một ngày trở thành hiện thực. Khi ấy người viết chắc chắn sẽ đi xem (có thể nhiều lần) và viết một bài “review” thật tường tận và chi tiết.

Joan Marcus/Broadway Dallas

Chợ cá Joe Patti

baotreonline.com

Ian Bùi

Post on April 21st, 2022

Post by Sơn râu 23 Jul 2024

Ảnh: ianbui/Trẻ

Joe Patti. Ảnh gia đình

Vào thập niên 1930, một gia đình đánh cá tại Pensacola khởi nghiệp bằng cách bán cá trước hàng ba nhà mình. Người gia trưởng cùng là thuyền trưởng Joe Patti nổi tiếng khó tánh; ông quan niệm chỉ bán những con cá tươi nhất. Chẳng mấy chốc người trong vùng ai cũng biết tiếng. Dần dà quầy cá dã chiến của Captain Joe được chuyển sang địa điểm lớn hơn, sát bờ vịnh Pensacola Bay và thu hút khách hàng từ khắp nơi.

Ảnh: ianbui/Trẻ  

Hai ông bà Joe Patti có 6 người con. Mấy đứa con trai theo cha làm nghề đánh cá, đóng thuyền. Mấy cô con gái phụ mẹ buôn bán, kinh doanh. Một tiểu thương gia đình đúng nghĩa, chợ cá của ông bà Joe Patti khuếch trương nhanh chóng. Ngày nay họ không chỉ bán cá tôm do mình đánh bắt mà còn buôn hải sản tươi từ những nguồn khác để bán lại – tôm hùm từ tiểu bang Maine, hàu tươi và crawfish từ Louisiana v.v. Nghe kể sau 1975 gia đình Patti còn bảo trợ và mướn người Việt tị nạn. Nhiều người hiện vẫn sinh sống trong vùng bằng nghề đánh cá.

Ảnh: ianbui/Trẻ

Một trong những đặc sản nổi tiếng của Vịnh Mexico là cua đá (stone crab), một loại cua thân nhỏ nhưng càng to. Càng cua đá thịt dai và ngọt, chấm muối tiêu chanh ăn ngon bá cháy. Ông già đội nón cầm micro trong hình là Frank Patti, một trong mấy người con của Joe Patt. Vì chợ quá lớn và quá đông, ai muốn mua gì đều phải lấy số và đợi ông cụ gọi số của mình. Mỗi khách hàng có một nhân viên phục vụ riêng; muốn mua gì chỉ cho họ lấy. Dễ chừng phải có ít nhất hai ba chục nhân viên tại quầy cá tôm, chạy tới chạy lui không ngừng. Không khí nhộn nhịp, ồn ào như … cái chợ – nhưng rất ngăn nắp, quy củ và thân thiện.

Ảnh: ianbui/Trẻ

Câu đắt như tôm tươi áp dụng cho nơi đây thật là đúng. Tôm đầu đỏ vùng Vịnh thơm ngọt nổi tiếng, nếu kiếm thấy ở các chợ tại những thành phố xa biển như Dallas thì cũng phải khá mắc. Thời buổi gạo châu củi quế như hiện nay mà tôm Royal Reds bán chỉ có $6.99/lb. Thảo nào dân trong vùng sắp hàng dài dài để mua. Mặc dù hải sản luôn được chườm hai lớp nước đá cẩn thận, nơi quầy trả tiền có bán các thùng xốp đủ kích cỡ trong trường hợp khách cần mang đi xa vì du khách ghé ngang đây khá nhiều, nhất là từ các bãi biển gần đó như Orange Beach hay Destin.

Ảnh: ianbui/Trẻ

Ngoài hải sản, chợ còn bán đủ thứ vật liệu, gia vị cần thiết để nấu nướng. Tiệm còn bán bánh mì và bánh ngọt (có lẽ ban đầu do bà mẹ và mấy cô con gái bày ra). Họ cũng bán các món làm sẵn được đông lạnh như Cajun Gumbo, Crawfish Etouffé, v.v. Joe Patti có bán online và ship thẳng đến tận nhà. Họ có cách ướp lạnh rất nghề, bảo đảm sau khi đến nơi 48 tiếng đồng hồ hải sản vẫn còn tươi.

Ảnh: ianbui/Trẻ

Trước chợ có một cái sạp bán beignet (một loại bánh bột chiên kiểu như bánh tiêu nhưng có rắc đường bột). Người Việt nào từng ghé ngang khu phố cổ của New Orleans có lẽ đều đã uống cà phê DuMonde và ăn bánh beignet ở đó. So với DuMonde thì beignet ở đây ngon hơn rất nhiều; ai có dịp ghé Joe Patti nhớ ăn thử cho biết.

Ảnh: ianbui/Trẻ

Nói nhiều rồi, nhậu đi thôi!