This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Buổi sáng ngay sau đêm phục kích và trốn thoát khỏi Montelepre, Turi Guiliano và Aspanu tắm nắng ở dòng suối sau hang Bianca trên đỉnh núi Ora. Chúng dựng súng vào vách đá và trải mền ra, nằm duỗi dài để tắm nắng ban mai. Hang Bianca dài và sâu. Ở cuối hang có tảng đá lớn đụng trần chặn ngang. Lúc nhỏ Turi và Aspanu đã tìm cách nhích được tảng đá đó ra một chút đủ cho người chui lọt. Và chúng đã thấy một lối thông sang sườn núi bên kia. Lối đó có từ thời trước Công nguyên và do đạo quân nô lệ đào để lẩn trốn và phục kích đạo quân La Mã. Xa phía dưới thị trấn Montelepre trông nhỏ bằng bàn tay. Những đường mòn dẫn đến rặng núi trông như những con giun ngoằn ngoèo bám vào vách núi. Mặt trời đang mọc nhuộm vàng rực rỡ những mảnh tường xây bằng đá màu xám và những mái nhà. Không khí ban mai trong trẻo, trái lê dại trên mặt đất mát lạnh và ngọt. Turi bóc một trái, cẩn thận cắn để hút nước xấp giọng. Vài giờ nữa, sức nóng mặt trời sẽ làm cho những trái này khô xác như bông gòn. Những con tắc kè đầu tròn như trái banh, bốn cẳng nhỏ xíu hốt hoảng bò tới, bò lui trên tay, trên người họ. Những con vật này trông dữ tợn nhưng vô hại. Guiliano hất chúng ra. Trong khi Aspanu lau chùi vũ khí, Turi nhìn xuống thị trấn bên dưới. Mắt hắn phân biệt được những chấm đen đen là những nông dân đang làm việc trên ruộng. Nó cố định vị nhà nó ở chỗ nào. Trước đó đã lâu – lúc chúng còn nhỏ – hắn và Aspanu đã trương hai lá cờ – một lá cờ Sicily và một lá cờ Mỹ – trên nóc nhà chúng. Tuy là những đứa trẻ ranh ma, nhưng lại thích được coi là những nhà ái quốc. Nhưng cái ý đồ thực sự của chúng khi trương cờ lên như vậy là để cho chúng leo lên những đỉnh núi cao này, chúng có thể nhìn thấy nhà của chúng. Bỗng nhiên, chúng nhớ lại câu chuyện mười năm trước, chính quyền phát – xít trong thị trấn đã bắt chúng hạ cờ Mỹ xuống. Hai đứa tức điên, bèn hạ luôn cả hai lá cờ Sicily và Mỹ, rồi đem lên hang Bianca chôn dưới gần chỗ tảng đá ở cuối hang. Guiliano nói với Pisciotta: – Mày trông chừng chỗ mấy đường mòn. Rồi nó đi vào hang. Mặc dầu đã qua mười năm, Guiliano vẫn còn nhớ chỗ đã chôn hai lá cờ. Một lớp rêu mỏng, màu xanh đen, xác xơ phủ trên chỗ chúng đã đào để chôn hai lá cờ, Guiliano lấy hòn đá làm cuốc để đào. Chỉ trong một hai phút, hai lá cờ đã lộ ra. Lá cờ Mỹ hơi bị nhàu nát và dính đất bọc ngoài lá cờ Sicily. Và cái bao hai lá cờ cũng vẫn còn. Lá cờ Sicily màu đỏ tươi và vàng vẫn còn rõ nét như hồi hắn mười tuổi và không bị thủng lỗ nào. Hắn đem ra ngoài hang, vừa cười vừa nói với Pisciotta: – Aspanu, mày còn nhớ cái này không? Pisciotta nhìn lá cờ và cả hai cười thích thú. – Thật đúng là định mệnh. – Pisciotta la lên và nhảy lên giật lấy lá cờ trong tay Guiliano. Y đi lại phía mỏm núi cắm lá cờ vẫy vẫy. Rồi, cả hai đứa đứng lặng thinh chẳng nói chẳng rằng như thể mỗi đứa chìm vào trong những ý nghĩ riêng tư của mình. Guiliano bẻ một nhánh cây gần đó, cắm nhánh cây xuống và chèn mấy hòn đá cho chắc, rồi treo lá cờ vào đó. Lá cờ bay phấp phới. Từ dưới thị xã cũng có thể nhìn thấy. Và chúng ngồi xuống mỏm đá, chờ. Cho đến tận trưa, chúng chẳng nhìn thấy gì. Nhưng, rồi chúng thấy một người cưỡi lừa đi trên đường mòn bụi bặm dẫn đến vách núi. Chúng nhìn thêm một giờ nữa cho đến khi con lừa đi vào rặng núi và bắt đầu leo dốc. Pisciotta nói: – Mẹ kiếp, người cưỡi nhỏ hơn con lừa thì chỉ có thể là ông bố đỡ đầu của mày, chứ không ai! Guiliano nhận ra ý khinh thường trong giọng nói của Pisciotta. Y dù ốm o, mảnh khảnh, nhưng lanh lợi, hoạt bát và trông cũng khá điển trai – nên rất tởm những người dị dạng. Bênh ho lao khiến đôi khi ho ra máu cũng làm y gớm, nhưng không phải vì y cho rằng bệnh ấy nguy đến tính mạng, mà vì sợ rằng bệnh ấy làm cho y mất đẹp trai đi. Dân Sicilian có cái khoái đểu cáng là dựa vào kỳ hình dị tướng của người ta để đặt cho những cái hỗn danh châm chọc, chế giễu, mỉa mai đến độ tàn nhẫn. Đã có lần, bị thằng bạn gọi là “ngực lép”, Pisciotta đã xỉa cho thằng đó một dao. May mà Guiliano kịp can ra, chớ không thì thằng đó cũng rồi đời. Guiliano chạy xuống vài dặm và nấp đằng sau một tảng đá lớn. Đó là lối chơi ngày còn bé, hắn và Aspanu hay chơi. Hắn đợi cho Adonis đi qua, rồi chĩa súng phía sau lưng và thình lình quát to: “Đứng im! Cấm nhúc nhích!”. Lại một trò chơi hồi bé. Adonis từ từ quay lại để che cái tay đang rút súng lục. Đứng đằng sau tảng đá, Guiliano cười và lên tiếng: – Turi đây mà, bố! – Và đợi cho đến khi Adonis nhét súng vào beo và cởi ba – lô ra, Guiliano mới hạ nòng súng và rời khỏi chỗ nấp. Biết là vì cặp giò quá ngắn, nên ông Adonis lên, xuống ngựa khá khó khăn, Guiliano định chạy ra đỡ ông xuống. Nhưng khi tới nơi thì ông đã tuồn được xuống đất rồi và vội vã ôm hôn hắn. Họ đi ngược lên, Guiliano dắt lừa. – Khá đấy, nhỏ, mầy đã đốt giai đoạn rồi, – Hector Adonis nói bằng cái giọng nghề nghiệp của ông. – Đêm hôm rồi, thêm hai mạng cảnh sát nữa. Không phải chuyện giỡn chơi đâu, nghe con! Khi họ tới chỗ mỏm đá, Pisciotta chào ông. – Nhìn ngọn cờ Sicilian. – Adonis nói, – Thầy biết là tụi con ở quanh quẩn đâu gần đó thôi. Pisciotta toét miệng ra cười: – Turi và con cùng với ngọn núi này đã tách ra khỏi nước Ý và tuyên bố độc lập. Hector Adonis nguýt một cái và nghĩ bụng: “Thật đúng cái thói duy ngã của bọn thanh niên ngông cuồng, cứ cho mình là cái rốn của vũ trụ”. – Tận dưới thị xã cũng còn nhìn thấy lá cờ này, kể cả Maresciallo và đám cảnh vệ. Thế nào tụi nó cũng lên đây tước lá cờ đó! – Lúc nào cũng giở cái giọng dạy đời ra được! – Pisciotta nói một cách xấc xược. – Chúng sẽ đến đây để chào cờ. Và chúng sẽ chỉ gặp lá cờ này mà thôi. Ban đêm thì tụi này hoàn toàn bình an, vô sự. Bọn cớm mà dám mò lên đây ban đêm thì có hoạ là trời sập. Adonis làm như không biết đến y. Ông tháo cái túi đeo trên lưng con lừa ra và lấy từ trong túi ấy một cái ống nhòm loại tốt, nhìn xa, rồi mấy bộ quần áo, kể cả đồ lót, bộ đồ cạo râu của ông bố hắn và sáu bánh xà – phòng. Trao cho Guiliano, ông nói: – Ở đây thì con cần mấy thứ nầy! Guiliano khoái nhất cái ống nhòm. Chúng nó liệt kê những thứ chúng cần và nhờ ông tuần sau mang lên. Guiliano biết là mẹ hắn ưa tích trữ xà – phòng đủ xài cho cả năm. Ở một cái túi khác, ông Adonis lôi ra một tảng phó mát có trộn tiêu, một ổ bánh mì và một ổ bánh gì đó nhồi đầy thịt heo, rồi lại phó – mát và trứng gà luộc. Chỉ tay vào cái bánh nhồi thịt, ông Adonis nói: – Cô La Venera gửi cái bánh này cho con, nói là ngày trước, mỗi khi lên núi thăm chồng, chị ta đều làm bánh này. Với cái bánh này, anh chồng chị ăn cả tuần lễ, không bị hư. Pisciotta nheo con mắt ra hiệu vừa thân mật vừa châm chọc và nói với Guiliano: Càng già càng dẻo càng dai. Bà càng kinh nghiệm, thì trai càng mòn, Bà càng lắm phép nhiều đòn, Vài đêm ân ái, trai còn bộ xương! Đúng không? Guiliano? – Và, Pisciotta lăn ra cười hô hố. Hai đứa ngồi xuống vệ cỏ, bẻ bánh ra ăn. Pisciotta lấy con dao y vẫn dùng để “lụi” người ra cắt phó mát. Đám cỏ chúng ngồi có nhiều côn trùng, nên chúng dọn lên chỗ mỏm đá. Ăn xong, chúng uống nước suối trong vắt chảy ở phía dưới chúng chừng ba chục mét. Rồi chúng lại lên chỗ mỏm đá, ngồi. Ông Adonis thở dài: – Hai đứa tụi con cứ nhởn nhơ tự mãn. Nhưng đây đâu phải là chuyện giỡn chơi, mà là chuyện giết người. Nếu chúng bắt được tụi con là chúng “phơ” liền tại chỗ. – Nếu tụi con bắt được tụi nó cũng vậy, – Guiliano trầm tĩnh nói, – cũng “phơ” liền. Ông Adonis rất xúc động về điều này. Vậy là hết hy vọng dàn xếp: – Đừng có liều lĩnh, – ông nói, – Tụi con còn trẻ quá mà. Guiliano nhìn ông thật lâu, rồi trầm tĩnh nói: – Tụi con còn quá trẻ đối với bố, nhưng đối với tụi nó thì chắc là đủ lớn để tụi nó xả súng bắn chỉ vì buôn chui phó – mát. Tụi nó đối dãi với tụi con như vậy, bộ bố muốn tụi con phải cong đuôi chạy à? Để gia đình tụi con chết đói à? Để hàng tuần bố đem thức ăn cho tụi con, còn tụi con nhởn nhơ ở đây chơi à? Tụi nó đến đây để giết tụi con, bộ tụi con phải quỳ xuống để cho tụi nó giết à? Và thưa bố, khi con còn nhỏ, bố đã chẳng nói cho con nghe về đời sống khốn khổ, khốn nạn của người nông dân Sicilian đó sao? Họ đã bị bọn người Rome, bọn thu thuế, bọn quí tộc, bọn địa chủ áp bức, bóc lột như thế nào khi đi làm thuê làm mướn cho chúng nó, làm quần quật còn hơn con lừa mà chỉ nhận được đồng lương vừa đủ để khỏi chết đói đó sao? Bản thân con đây này, con cùng với 200 người dân ở thị trấn đến quảng trường để cho chúng mặc cả giá tiền công như thể chúng con là súc vật không bằng. “Một trăm lire công một buổi sáng, chịu thì chịu, không chịu thì thôi, cút, xéo, về nhà mà chết đói nhăn răng ra, đừng có đứng ở đó mà lải nhải xin xỏ, rác tai ông!” Đấy, chúng nó nói với chúng con như thế đấy! Chúng nó đối đãi với chúng con như thế đấy. Ấy thế mà vô số anh em chúng con biết rằng nó bóc lột mình mà vẫn phải cắn răng chấp nhận đồng lương chết đói ấy. Ai sẽ là vô địch ở Rome, nếu không phải là Guiliano? Nghe vậy, giáo sư Adonis hết hồn vía. Là một thằng ăn cướp đã là quá mạo hiểm, nhưng là một nhà cách mạng thì lại còn mạo hiểm hơn. – Trong văn chương thì mọi sự đều hay, đều đẹp cả, – ông Adonis nói. – Nhưng trong thực tế cuộc đời thì làm vậy là mau xuống mồ lắm, con ơi! – Ông im lặng một chút, rồi ông nói: – Đêm hôm qua con làm anh hùng có ích hay không thì chưa biết nhưng mấy người lối xóm của con hiện ở tù oan, cái đó thì chắc chắn. – Con sẽ giải cứu họ – Guiliano bình tĩnh, thản nhiên nói. Những tưởng ông bố sẽ cổ vũ, hay ít ra cũng thông cảm thì Guiliano lại chỉ thấy sự sửng sốt đến hốt hoảng trên khuôn mặt ông ta. Hắn biết rằng trong đầu óc và tâm trí của Adonis, hắn vẫn chỉ là một thằng Guiliano, một thanh niên nhà quê tốt bụng thuở nào. – Bố nên hiểu con hiện nay như thế nào. – Nói đến đó, hắn bỗng ngưng không nói nữa, có thể nào hắn đoán đúng ý nghĩ của ông? Có lẽ ông nghĩ là hắn kiêu căng vô lối. Nhưng rồi hắn lại nói tiếp. – Con không sợ chết, con chỉ sợ sống nhục và chết nhục thôi! Hắn mỉm cười với ông, nụ cười mà ông rất thích: – Thật ra chính con cũng phải ngạc nhiên về những thay đổi trong lòng con nữa là ai. Nhưng, con không sợ bị giết. Vì con linh cảm con sẽ không thể bị như vậy. – Hắn cười lớn: – Bọn cảnh sát dã chiến, xe bọc thép có súng đại liên… tất cả những thứ giết người đó của bọn cầm quyền ở Rome đều không làm cho con sợ. Con có thể đánh bại chúng. Trên cái rặng núi ở Sicily này, đã và đang có đầy rẫy các băng cướp. Băng này tan rã thì băng khác hình thành. Passatempo và băng của hắn. Rồi, Terranova. Chúng thách thức bọn cầm quyền ở Rome đó. Tại sao con lại không thể làm như bọn đó được nhỉ? Con thừa sức làm và con làm hay hơn bọn đó nữa kìa! Ông Adonis cảm thấy vừa vui mừng, vừa lo lắng. Phải chăng ngoài vết thương trên người, nó còn bị thương ở não bộ? Hoặc nó lãng mạn, tưởng thời buổi này cũng giống như những ngày khởi đầu của lịch sử các anh hùng như Alexandre đại đế, như các Caesare, các hiệp sĩ kiểu Roland? Khi nào thì giấc mơ làm anh hùng khởi đầu, nếu không phải là lúc ngồi một mình, nghĩ vẩn nghĩ vơ ở một khe núi hay là lúc ngồi tán dóc với bạn bè rồi cao hứng, bốc đồng nói cho đã rồi thôi? Nhưng, ông Adonis nói một cách hững hờ: – Thôi, bỏ cái chuyện Pasatempo với Terranova đi, chúng đã bị bắt và hiện đang bị giam ở ngay nhà lao trong trại Bellatapo kia. Vài ngày nữa chúng sẽ bị giải đi nhà lao Palermo. – Con sẽ phải cứu họ, – Guiliano nói – Con hy vọng họ sẽ nhớ ơn con! Cái vẻ quyết liệt, chắc ăn trong cách ăn nói của Guiliano đã thực sự làm cho Pisciotta khoái chí. Cả hai đều giật mình vì thấy rõ ràng sự thay đổi ở Guiliano tuy mỗi người thấy ở những khía cạnh khác nhau. Cả hai lý do và cái cách yêu thương, trọng nể ấy khác nhau, Guiliano luôn có cái vẻ đĩnh đạc, đàng hoàng, nói năng mực thước so với cái tuổi và cái vốn sống của hắn. Nhưng đây là lần đầu tiên cả hai thấy rõ cái xu hướng về quyền lực của nó. Ông Adonis nói:
Photo edit by Sơn râu
– Họ nhớ ơn con? Thế con có biết là Passatempo đã giết người chú ruột của nó, người đã cho nó con lừa đầu tiên để làm vốn, làm kế sinh nhai không? – Nếu vậy thì con sẽ dạy cho hắn biết thế nào là lòng biết ơn. – Ngưng một lát, Guiliano nói tiếp: – Bây giờ, con xin bố một ân huệ. Bố suy nghĩ cho kỹ đi, rồi hãy trả lời. Nhưng, dù bố cho con cái ân huệ ấy hay không thì con cũng vẫn là đứa con đỡ đầu hiếu thảo và kính trọng bố. Bố đừng quên rằng bố là bạn thân của cha mẹ con, và cũng đừng quên lòng trìu mến mà con dành cho bố, con cũng xin nói rõ: con xin bố ân huệ này không phải cho lợi ích cá nhân con, mà là cho xứ sở Sicily mà bố dạy con phải yêu nó. Ân huệ đó là: bố hãy là tai, là mắt của con ở Palermo. – Điều mà con xin bố. – Adonis nói, – Có nghĩa là một giáo sư đại học Palermo phải trở thành một thành viên một “băng” gồm những tên sống ngoài vòng pháp luật? – Điều đó thì có lạ gì ở cái xứ Sicily này kia chớ, – Pisciotta nóng nảy nói chen vào, – Ở đây, ai mà chẳng dính dáng xa gần đến cái lũ “Người anh em” chó đẻ ấy. Và có ở đâu mà một giáo sư đại học lại có súng lục nhét cạp quần như ở Sicily này không? – Hector Adonis chăm chú nhìn cả hai đứa trong khi ông suy nghĩ câu trả lời. Ông có thể dễ dàng hứa rồi quên hay lờ đi không thực hiện lời hứa ấy. Ông cũng có thể từ chối hoặc chỉ hứa lâu lâu giúp đỡ một lần như một người bạn có thể giúp đỡ một người bạn, kiểu như ông làm ngay hôm nay. Sau cùng, nếu có hứa như hắn yêu cầu thì cái vở kịch này cũng không kéo dài vì Guiliano có thể bị giết trong lúc chiến đấu hay bị phản bội. Hắn cũng có thể di cư sang Mỹ, và thế là vấn đề được giải quyết. Ông suy nghĩ một cách buồn bã. Hector Adonis nhớ lại một ngày hè cách đó đã lâu lắm rồi, một ngày hè cũng như ngày hôm nay, lúc đó Turi và Aspanu mới chừng tám tuổi, chúng đang chơi trên mảnh đất phía sau nhà để đợi bữa ăn chiều. Ông Hector Adonis đem về cho Turi một ít sách ấy là thiên anh hùng ca “ Hiệp sĩ Roland”. Ông đã đọc cho chúng nó nghe. Ông Adonis hầu như thuộc lòng cả thiên anh hùng ca đó. Và cuốn đó được những người Sicilian có học thức mê say đã đành mà ngay cả những người vô học cũng mê nữa. Cuốn đó là trụ cột, là cái đinh của các gánh hát múa rối búp bê lưu diễn khắp thành thị, thôn quê. Và các tích truyện của cuốn đó được chuyển thành hình vẽ trên các bánh xe lừa kéo ngược xuôi trên khắp xứ Sicily. Hoàng đế Charlemagne có hai hiệp sĩ – Roland và Oliver – tử thủ để chặn hậu cho cuộc rút lui của mình. Adonis đã kể lại trận đánh ở đèo Ronceveaux, hai hiệp sĩ đó đã chết như thế nào, Oliver đã ba lần năn nỉ Roland thổi tù và để gọi quân của Charlemagne trở lại như thế nào, và Roland đã hiên ngang từ chối ra sao. Và rồi quân Hồi đã áp đảo, đã tràn ngập. Đến lúc đó, Roland mới thổi tù và. Nhưng, đã quá trễ. Khi hoàng đế Charlemagne quay lại cứu hai hiệp sĩ, ngài chỉ thấy thi thể của họ lẫn lộn trong đám hàng ngàn xác chết của quân Hồi giáo. Và ngài đã bứt tóc, bứt râu, vật vã trách mình và than tiếc hai người tôi trung thành đã anh dũng hy sinh. Adonis nhớ những giọt nước mắt long lanh của Guiliano khi nghe kể chuyện. Nhưng cũng khá kỳ cục là trong khi Guliano cảm động, khóc, thì trên vẻ mặt của Pisciotta lại lộ ra cái vẻ khinh thường, giễu cợt. Đối với đứa này thì đó là giờ phút đáng sống nhất của một con người, đối với đứa kia thì đó là một cái chết nhục nhã của những người bất trung và ngu xuẩn. Hai đứa trẻ đứng dậy chạy vào nhà để ăn cơm. Turi khoác tay Pisciotta. Ông Adonis mỉm cười nhìn cử chỉ đó. Chính Roland đã đỡ Oliver đứng dậy để cả hai cùng chết đứng trước cuộc tấn công của quân Hồi. Khi chết, Roland đã chĩa thẳng mũi giáo của mình lên trời xanh. Và một thiên thần đã lượm lấy mũi giáo đó. Thiên anh hùng ca và các huyền thoại dân gian đều kết thúc như vậy. Cách nay cả ngàn năm rồi, nhưng Sicily vẫn triền miên bị đau khổ trong cái khung cảnh tàn bạo của một cái máy ép dầu ôliu, của những cánh đồng cháy sém, của những miếu thờ bên đường xây từ hồi những người Siciclian đầu tiên theo Thiên Chúa giáo, của vô vàn những cây thập tự được dựng lên để đóng đinh đoàn quân gồm những người nô lệ nổi dậy dưới sự lãnh đạo của Spartacuss. Và đứa con đỡ đầu của ông có thể là một anh hùng khác nữa thêm vào số những anh hùng đã quá nhiều ở cái xứ Sicily này. Nhưng nó không hiểu rằng, để có thể cho Sicily thay đổi thì cần phải có ngọn núi lửa tinh thần phun lên, thiêu trụi hòn đảo này. Bây giờ, mười mấy năm sau, nhìn ngắm chúng trên mỏm đá trên đỉnh núi Ora, Guiliano đang chiếu đôi mắt màu nâu đậm vào ông Adonis, miệng mỉm cười như thể muốn nói hắn biết rõ ông bố đang nghĩ gì trong đầu, ông Adonis thấy một sự thay đổi kỳ lạ đang diễn ra, Ông thấy chúng như những bức tượng chạm nổi trên cẩm thạch, nhưng thân thể chúng bị đánh văng ra khỏi cuộc sống bình thường. Giữa Guiliano và Pisciotta có cái dáng dấp của một con người hiểm độc hung ác chỉ chuyên gieo rắc trên thế giới dao găm và chất độc. Trong khi đó, Guiliano – thân hình cao lớn của một người Mỹ, khuôn mặt có vẻ đẹp của tượng thần Apollo Hy Lạp – tỏa ra cái vẻ thơ ngây, chân chất của một anh hùng huyền sử. Ngay từ lúc còn nhỏ, Pisiotta đã tự ra thực tiễn. Xảo quyệt, lạnh lùng, tàn nhẫn, coi thường mọi sự. Guiliano, trái lại sẵn sàng tin vào thiện tâm của con người và kiêu hãnh vì sự thành thật của mình. Ngay từ những ngày đó, Hector Adonis đã nghĩ rằng rồi ra Pisciotta sẽ là người lãnh đạo và Guiliano chỉ là kẻ thực hiện. Nhưng, ông cũng chỉ biết đến thế và dự đoán đến thế chứ không biết gì hơn. Nhưng, một người tin vào đức hạnh của mình thì có thể nguy hiểm và tàn bạo hơn một người tin vào sự xảo quyệt của mình. Bởi vì cơn cám dỗ của điều thiện đã cho ta sức mạnh và an tâm lao vào sự tàn bạo mà vẫn tưởng mình là hiệp sĩ của cái thiện. Lịch sử đã có nhiều tấm gương như vậy mà Robespierre chỉ là một. Cái giọng chế giễu, châm chọc, xấc xược của Pisciotta đã phá vỡ cơn mơ màng của Adonis. – Thôi, giáo sư cứ ừ đại đi cho rồi! Tôi sẽ làm phó tướng trong cái băng cướp của Guiliano. Nhưng, dưới tôi, không có thằng nào để ra lệnh. – Y toét miệng cười, nói tiếp: – Tuy nhiên, tôi muốn khởi nghiệp một cách khiêm nhường. Mặc dầu không bị khiêu khích, đôi mắt của Guiliano vẫn lóe lên ngọn lửa tức giận. Nhưng, hắn lại điềm tĩnh nói: – Câu trả lời của bố là thế nào? Hector Adonis đáp: – Được. Một ông bố đỡ đầu có thể nào trả lời khác trong trường hợp này? Rồi Guiliano dặn ông Adonis làm gì khi ông trở về, và phác họa kế hoạch hành động cho ngày hôm sau. Một lần nữa, ông Adonis lại sửng sốt về sự liều lĩnh và táo bạo trong kế hoạch của hai chàng thanh niên này. Nhưng, khi Guiliano đỡ ông lên lưng lừa, ông đã tự vào đứa con đỡ đầu của mình và hôn nó. Pisciotta và Guiliano đứng nhìn ông lần theo đường mòn đi xuống để trở về Montelepre. – Người gì đâu mà nhỏ thó! – Pisciotta nói, – Vóc dáng như vậy chơi trò ăn cướp với tụi mình lúc bé là vừa. Guiliano quay về phía y, nói một cách nhẹ nhàng: – Còn mày thì từ nay nên ăn nói đứng đắn, đàng hoàng chút. Lúc nào giỡn thì giỡn, lúc nào cần bàn những chuyện nghiêm túc thì phải nghiêm túc chứ. Lúc nào cũng cái giọng chớt nhả, xấc xược. Nhưng, nói gì thì nói, chúng vẫn ôm hôn nhau trước khi đi ngủ và Guiliano thủ thỉ với Pisciotta: – Mày là em tao, nhớ điều đó! Chúng quấn mền nằm ngủ đêm cuối cùng với cuộc sống vô danh của chúng. Ngày mai, cùng với mặt trời lên, bóng tối vô danh đó vĩnh viễn chấm dứt.
Vừa bước lên sân, việc đầu tiên của cậu Minh là phóng mắt vào nhà rồi liếc nhanh phía sau sàn nước để tìm hình bóng cô Kim Em. Hổm rày, cậu mang bịnh tương tư. Nhưng khi đến đây cậu gặp sự thất vọng. Ông Tư hỏi: – Lâu quá, không gặp cháu. Cháu vắng hổm rày, chắc lo học hành… Cậu Minh đáp: – Dạ, cháu không có chuyện chi. Bãi trường rồi, rảnh rang lắm. Chừng một tháng nữa, cháu mới lên chợ Rạch Giá nhập học lại. Thằng Thích chạy tới, nói xen vào: – Ba ơi! Cậu Minh đọc sách để coi kiểu nuôi ong lấy mật ở bên Tây! Hôm qua, con lại nhà cậu, cậu lật sách cho con coi mấy cái hình ăn ong. Ở bên tây hễ muốn lấy mật, người ta bận áo mưa, đội mão, mang bao tay bằng da bò. Hèn gì họ… mình đồng da sắt, không sợ ong đánh. Cậu Minh nói với con: Hễ con dạy cách ăn ong ở xứ mình cho cậu… ăn được thì cậu mua cho con một cáibê hê, một cây đèn pin . Ông tư lườm thằng Thích: – Ai hỏi mà mầy lên tiếng. Bỏ cái tật nói hớt của mầy nghe không? Xuống bếp, lo dọn cơm. Rồi ông day qua cậu Minh: – Nhằm bữa, cậu ăn luôn với tôi. Hổm rày nhằm cỡ ong”dàn trận.” Lui cui tối ngày với ba cái mật, cái sáp… Cậu Minh vô cùng thắc mắc: “Cô Kim Em đi đâu vắng rồi? Sao ban nãy thằng Thích rủ mình tới chơi, nó quả quyết rằng chị Hai nó có ở nhà.” Phía nhà dưới, nào thấy bóng hồng thấp thoáng. Gió phăng phắc nhưng mùi mật ong xông lên nồng nực khắp nhà. Ruồi bay từng bầy, bu lại gần mấy cái thùng thiếc đầy tàn ong mới”xắn” về. Mấy con ong non ngày non tháng như luyến tiếc ổ cũ, bò ra chung quanh miệng thùng, quạt cánh nhưng chẳng tài nào bay được. Cậu Minh nói hơi to: – Chà! Ong nhiều quá. Mật thơm quá. Rồi cậu đi lững thững xuống nhà bếp để xem cách nấu sáp, vắt mật, luôn dịp, tìm bóng giai nhân. Trong buồng, vọng ra giọng chanh chua của thằng Thích. Nó đấu khẩu với chị nó: – Ai biết cơm nước ra làm sao mà dọn? Sao chị nằm trong mùng hoài vậy? Ra dọn cơm cho người ta ăn. Kỳ cục quá. Giọng cô Kim Em trả lời: – Tao bịnh. Lâu lâu nhờ mầy dọn chén ra mà mầy cằn nhằn hả? Hết nói. – Chị bịnh hả? Hổm rày sao không bịnh. Chờ khách tới thì chị bịnh… Tôi biết rồi. – Ðừng om sòm cái miệng. Nhớ đem con cá nướng trên bếp xuống, cạo sơ sơ cho tróc cái lớp khét cháy ở ngoài da cá. Thằng Thích trở giọng khôi hài: – Ờ phải. Ta biết rồi. Vậy hả? Cha chả… Mâm cơm đã dọn ra. Cậu Minh ngần ngại, leo lên bộ ván nhưng chẳng dám ngồi đối diện với ông Tư. Ông Tư mời mọc đôi ba lần mà cậu vẫn rụt rè, nói nhỏ nhẹ như con gái: – Dạ, bác cầm đũa trước, cháu mới dám. “Thiệt cái thằng ăn học theo thời bấy giờ mà còn giữ được lễ phép thời xưa.” Ông Tư khen thầm như vậy. Bấy lâu nay, ông nghe thiên hạ đồn đãi: cậu Minh yêu mến con gái ông. Lúc đầu, ông chưa tin. Không lẽ cậu Minh lại muốn cưới con gái nhà bần h; àn, dốt chữ nghĩa. Dư luận ngày càng phồng lên, gia đình cậu Minh dường như chẳng lên tiếng đính chánh. Ông Tư tin là chuyện có thật. Gia đình cậu Minh thuộc vào hạng”có tiếng mà không có miếng” vì đã phá sản. Gia đình ông tuy vô danh nhưng đủ ăn nhờ nghề ăn ong mật ở góc rừng này. Con gái ông được nhiều người khen ngợi nhan sắc và nết na. Nếumay mà hai đứa nó kết tóc với nhau; âu cũng là vinh hạnh lớn cho ông. Dường như cậu Minh ưa rủ thằng Thích đi chơi để”giả đò mua khế bán chanh”, viện cớ hợp lý tới lui thăm người đẹp. Ngoài ra, cậu Minh bắt đầu nghiên cứu về sinh hoạt của loài ong mật. Ông Tư lên giọng: – Bữa nay ăn uống sơ sài quá. Cá lóc nướng trui mà thiếu rau dấp cá, mất ngon. Nước mắm thì mặn đắng, thiếu me chua, ớt thì để nguyên trái. Thằng Thích mầy sao tệ quá. Thằng Thích cãi lại: – Ðâu phải tại tôi. Tại chị Hai đó. Hồi sáng, chỉ còn mạnh cùi cụi. Vậy mà chỉ vô mùng nằm, đắp mền, không biết đau chứng bịnh gì. Ba hỏi coi! Nắm lấy cơ hội ấy, cậu Minh vào đề: – Dạ thưa bác, cô Hai đau nặng nhẹ ra sao? Ông Tư nín cười không được: – Ối! Ðau đớn gì. Vô ý vô tứ thì ong vò vẽ nó đánh, nóng lạnh một buổi là hết. Ổ ong ngay nóc chuồng heo. Thứ ong vò vẽ bất nhơn, không có mật vô ích. Lát nữa mầy đốt ổ đó cho xong, nghe Thích. Bữa nào nó đánh tới tao nữa. Thằng Thích mừng quýnh. Nó muốn trổ tài, giúp cậu Minh thấy tận mắt thói ăn nết ở của bầy ong. Nhứt định cậu Minh sẽ vui mừng mua tặng cho nó cáibê rê và cây đènpin , theo lời hứa. Nó ăn lua láo cho mau hết chén cơm rồi từ từ lui ra sau hè. Còn lại ông Tư và cậu Minh. Cậu cố hướng dẫn cho cuộc đàm thoại đi sâu vào vấn đề… con ong. Hổm rày cậu chịu khó đọc qua một quyển sách khảo cứu in tại Ba Lê. Cậu hơi to giọng cố ý cho cô Kim Em trong buồng nghe ngóng. – Thưa bác, sách Tây nói rằng ong mật là lại côn trùng có cánh, rất hữu ích cho loài người tự cổ chí kim. Ông Tư trố mắt: – Vậy hả? Nếu vậy thì sách Tây đâu có hay ho gì. Con ong có cánh để bay lẽ dĩ nhiên, ai cũng biết. Nhưng còn thiếu … – Thưa bác thiếu điểm nào? – Ðiểm ích lợi… ong mật có ích cho loài người mà cũng cần thiết cho loài thú. Con gấu trong rừng sống nhờ mật ong. Cậu Minh đáp: – Ðúng vậy. Rồi mấy hãng kẹo bên Tây thường lấy con gấu làm nhãn hiệu. Và mỗi hãng kẹo đều có mướn nhiều ông kỹ sư, nhiều ông khảo cứu. Họ nhìn nhận mật ong bổ ích cho loài người. Lịch sử của loài người làm nên… – Khó hiểu quá. Ăn thua gì với con ong. – Dạ thưa hồi thời Bàn Cổ sơ khai, càn khôn hỗn độn, trước khi tìm ra lửa để nướng thịt thú rừng, con người đã nhờ mật ong mà tẩm bổ qua ngày qua tháng, chịu đựng sương tuyết. Ðó lànền văn minh mật ong (civilisation du miel), trước khi có nền văn minh dùng búa dao bằng đá, bằng sắt. Liền khi ấy, ông Tư thích thú, rót rượu đầy chén mời cậu Minh: – Hay quá. Hồi nhỏ tới lớn, bác mới nghe cháu nói. Mới nghe qua thì hơi dở nhưng ngẫm lại thì hữu lý. Cậu Minh hớp chút rượu, trình bày tiếp, trong khi đó cô Kim Em ho húng hắng… – Thưa bác, xin nói qua các nhà chép sử phương Tây. Họ bảo rằng thời xưa mật ong là vậy quí. Ong là loài côn trùng oai hùng chẳng kém loài sư tử. Bên Do Thái dây gian còn truyền tụng tích chàng dũng sĩSăm Sông đi tìm nàngÐa Li La. Chàng ta gặp con sư tử cản đường nên ra tay giết sư tử. Vài ngày sau trởi lại chốn cũ thì ô hô! Có một ổ ong khá to đóng trong lồng ngực con ác thú, khoét gần hết xương thịt. Ông Tư lắc đầu: – Cháu nói hơi trật chìa rồi! Chắc đó là loài ong lỗ, ong vò vẽ, thứ ong đóng ổ ở sau chuồng heo. Loài ong mật thì ăn bông thôi, tinh khiết lắm. Còn gì lạ nữa không? – Thưa bác, nhà kiến trúc sư khen loài ong đã biết cất nhà lầu. Ổ ong là toà nhà bốn trăm hoặc tới năm trăm tần. Loài người ở thời văn minh chưa làm chuyện đó. Mùa nực, ong xúm nhau quạt cánh cho mát bầy con. Mùa lạnh, ong nằm xo rút liền với nhau để sưởi ấm. Nhờ vậy không khí được tinh khiết điều hoà, chẳng khác gì lò sưởi hay quạt máy. Ông Tư bắt đầu chán nản vì ở rừng Cà Mau chỉ có hai mừa mưa nắng và mùa nào cũng nực, ở trần. Ông hy vọng chắm dứt câu chuyện khá dài. – Bác ít đi chợ búa nên chưa rành cái quạt máy, lò sưởi… Thiết là lắm chuyện. – Dạ còn nữa, bác ơi. Nhà chính trị khen loài ong biết tổ chức thành những quốc gia, có vua, có tôi, có thần dân. Nhà y học công nhận rằng nọc độc của loài ong trị được bịnh tê bại. Họ khen mấy người ăn ong trong rừng vì người ăn ong giỏi như mấy ông thầy Chà thổi ống sáo để chỉ huy loài rắn bàn nạo. – Hơi lạ. Ăn ong với bắt rắn là hai nghề khác nhau. – Thưa bác, đó là cách bào chế thuốc ngừa thiên thời, trái giống. Thầy rắn Chà Và đùa giỡn với rắn hổ con, rắn cắn không sao hết vì nọc còn non. Rắn lớn lên, nọc càng ngày càng độc. Máu huyết của thầy rắn cũng quen lần lần với nọc độc. Rủi bị rắn cắn thầy ta vẫn cười tươi! Người ăn ong ở rừng nào khác thầy rắn. Lần hồi, máu huyết người ăn ong trở thành lờn, ong đánh không đau đớn nữa… Chén rượu thứ ba đã cạn. Ông Tư cười hề hề: – Giống như uống rượu vậy thôi. Con nít uống rượu mau say, dân ghiền rượu thì coi rượu hơi giống nước lạnh. Uống đi cháu. Uống cho quen. Rượu còn hiếm hiệm… Cháu giỏi quá. Cậu Minh cao hứng, uống lần hồi cạn nửa chén rượu đế. Mặt trời sắp lặn, đỏ khé sau rừng nhưng cậu nào hay. Mặt mày cậu ta cũng hừng lên, đỏ khé như một cái mặt trời nhỏ bé trong căn nhà ấm áp này. – Còn nữa hết vậy cháu. Nhà kiến trúc, nhà y họ, nhà làm quốc sự đều khen con ong. Còn nhà gì nữa không? – Thưa bác, ong ong ngộ lắm… Nhà nghệ sĩ nói rằng hễ gặp bông đẹp, nhụy ngọt thì con ong bay trở về ổ, báo cáo sự tình với đồng loại bằng một điệu vũ tức là nhảy múa. Nhờ điệu vũ đó mà bầy ong xúm nhau tìm hoa, hút nhụy. Ðẹp làm sao! Ổ ong tối mờ mờ như trong phòng ngủ. Con ong khiêu vũ trong bóng mờ. Khiêu vũ là cách nói chuyện tâm tình của loài ong. Có nhà thi sĩ cho rằng sáp ong là kết tinh bao nhiêu hương hoa của trời đất. Trong vũ trụ, đẹp nhứt là hoa. Nhụy hoa được loài ong hút về, tạo ra chất tinh khiết, xứng đáng cho chúng ta… xe lại làm cây đèn sáp để đọc sách hoặc cúng vái thần thánh. Con ong lại là… ông Tơ bà Nguyệt là lá thắm chữ hồng, đem nhụy bông đực rắc vô lòng bông cái. Vì vậy, bên Sa trại chủmạc Phi châu, cây chà là mới sanh trái được. Mấy người Ả Rập quí trong con ong, nuôi ong gần vườn chà là để cho bông cái chà là đừng trở ra thứ trái lép xẹp! Ông Tư ngơ ngẩn vì… cậu Minh nói hơi nhiều lời, nói hết sách vở mà cũng chẳng ích lợi gì ráo. Nói tới nói lui rồi cậu ta cũng loanh quanh trở lại chuyện ái tình hơi thô tục. Ngoài cửa sau, có bóng thằng Thích lấp ló. Ông tư hỏi: – Gì vậy Thích? Nó trả lời: – Con muốn rủ cậu Minh ra ngoài này cho mát. Ông Tư lắc đầu: – Mầy giả ngộ hả? Muỗi mòng như trấu. Ra ngoài sau hè để làm gì? Cậu Minh bắt đầu chán tiệc rượu vì cậu ta chẳng còn lý luận gì để phô trương cả! – Thưa bác. Cháu muốn nói chuyện với thằng Thích. Cháu uống rượu hết vô rồi. Hơi say. Khi thấy cậu Minh đến cửa nhà bếp, thằng Thích reo lên: – Ðiệu lắm. Không có chổ chê. Cậu Minh ơi! Xong rồi. Mời cậu vô mùng kẻo mất cơ hội. Ông Tư càng sửng sốt, nạt lớn: – Mầy khùng rồi hả? Làm gì mà vô mùng? Ðừng nói bậy. Thằng Thích nói khẽ: – Dạ… con giăng mùng ở gần cái chuồng heo để cho cậu Minh coi cái ổ ong vò vẽ. Cái ổ này kỳ cục lắm. Ba biểu con phá ổ đó cho xong. Cậu Minh thì muốn con giúp… làm cách nào cho cậu thấy tận mắt con ong sống nhăn…
Ông Tư chép miện, muốn rầy thằng Thích nhưng sợ cậu Minh hiểu lầm: – Ừ! Ðể tao coi mầy làm ăn ra thế nào! Cậu Minh đứng ngoài hè., liếc thấy cái chuồng heo và cái mùng giăng trên bãi cỏ, bốn sợi dây căng thẳng qua bốn cây chuối hột. Sợ làm phật ý ông Tư, cậu dò hỏi: – Cháu vô đó với thằng Thích. Nhà xảy ra chuyện, gì nguy hại không bác? Sực nhớ đến mớ lý thuyết mà cậu ta vừa nói lúc uống rượu, ông Tư lẩm bẩm: – Ờ! Thuốc dạy thầy, cậy dạy thợ. Biết đâu cháu thấy chuyện lạ hơn mấy ông bác vật! Ðây là ong vò vẽ, đóng ở góc chuồng heo của… rừng Cà Mau… Hiền lắm… Bác đâu dè thằng Thích nó rắn mắt. Mặt trời còn chạng vạng, ong nó thấy đường…. Lần đầu tiên, cậu Minh đánh bạo chui vô mùng. Ngồi bên trong, vui sướng làm sao. Vững như ngồi trong chiến bào. Ngoài kia, trời nhá nhem. Muỗi bay vo vo. Ông Tư chống nạnh, ho từng chập và dường như cô Kim Em cũng rón rén đến sát ngưỡng cửa. Cậu Minh mỉm cười. Qua lớp vải mùng c3nh vật hiện ra mờ ảo, rung rinh. Mấy tàu lá chuối phất phơ. Con ruồi, con muỗi còn bay không lọt vào mùng, huống gì con ong vò vẽ. Một đoạn sách mà cậu đọc sơ qua cho biết: bên Âu châu, mấy nhà nuôi ong đều sắm những thùng nhỏ, lọng kiếng hoặc lưới sắt để dễ bề quan sát. Muỗi dưới mặt cỏ bay luồn lên, vo ve. Cậu Minh quên đập muỗi, mải nhìn theo hướng ngón tay thằng Thích. Cái ổ ong vò vẽ lớn tròn, đen thui như cái trống, vừa một ôm. Ghê quá, đất chung quanh ổ ong chấp chóa, trơn láng. Nắng thoi thóp nhưng còn chiếu thẳng vào miệng ổ: một cái lỗ nhỏ, có hai ba con vàng bay loanh quanh như canh gác. Cậu Minh muốn chứng minh tinh thần hăng hái: – Nó không ra, làm sao mình coi được. Xa quá! Mầy Thích ơi. Phải chi hồi nãy mầy giăng mùng sát ổ ong. Thằng Thích thở nhẹ: – Nè anh! Tôi đem cây trúc này vô mùng để dành thọt. – Làm sao mà thọt? – Anh vén mí mùng, đưa cây trúc ra rồi đè mí mùng cho lẹ. – Tao nghi ngờ quá. – Ðể tôi! Thằng Thích vén mí mùng, đưa cây trúc ra, nhắm ngay cái miệng ổ ong mà”chọt” tới. Lẹ như điện xẹt, ba bốn con ong bay ra, theo cây trúc, chui vào mí mùng trước khi thằng Thích khép lại. Hai người la hoảng: – Chết tui. Anh ơi! – Nó đánh tao. Ui da! Trời ơi! Thích ơi! Chạy ra được không? Tình thế thật khó xử. Chạy sao kịp. Hàng ngàn con ong ào tới đậư ngoài mùng đen thui tùng cục, từng dề… chớp cánh nghe lào xào. Vài con xung phong lách mình xuống gốc cỏ; chui rèn rẹt vào mùng như con trùng, con kiến. Bên ngoài, ông Tư kêu la ỏm tỏi: – Dại quá vậy. Tại sao giăng mùng mà không trải chiếu cho sát mặt đất? Giăng mùng lơ lửng như vậy đó. Rán chịu trận. Cô Kim Em đứng nép vào bệ cửa, lỡ cười lỡ khóc: Thằng Thích và chàng trai thông minh kia đang bị nhốt trong mùng. Chập sau, mặt trời lặn khuất. Bầy ong gom về ổ. Ông tư bước tới, cầm một cái bao bố, khom lưng rồi thừa cơ hội thuận tiện, gói trọn cái ổ ong vào bao, chạy nhanh trở lại mương, nhận xuống nước: ong chết ngộp. Cô Kim Em tuân lời cha, xuống mương đem cái bao lên. Cái ổ ong được phá ra. Ong non trắng phau, lúc nhúc, gom hơn một thùng, đem lăn bột chiên ăn trong đêm ấy… Cậu Minh uống rượu khá nhiều, ôm thằng Thích mà ngủ cho tới sáng…
Vài tháng sau, cậu Minh cưới cô Kim Em. Họ sống không mấy yên ổn, vì thời cuộc. Lần hồi, họ tản cư lên Sài Gòn. Chàng làm thơ ký ở một tiệm bán kem, nàng thì thủ phận đêm đêm gánh chè đậu kiếm thêm tiền để nuôi nấn bày con sáu đứa. Càng tiếc mùi mật thơm lành của quê nhà, thuở ban đầu. Nhứt là những đêm mưa gió, vợ chồng ngậm ngùi nhìn nhau không nói một cậu. Ngọn đèn điện mập mờ gợi hình ảnh ngọn đèn sáp từ đâu lạc đến, để lệ hàng đêm, chẳng bao giờ lụn để soi sáng trang sách của cuộc đời bao la: cuộc đời vừa xới mật vừa dễ hiểu nhưng họ chưa bao giờ hiểu – như cái ổ ong bên cạnh chuồng heo.
Xóm Tà Lốc nằm trơ vơ gần khu rừng tràm, trên khoảng đất hoang dài gần năm chục cây số ngàn, giữa chợ Rạch Giá và Hà Tiên, theo vịnh Xiêm La. Thời Pháp thuộc, dân chúng xóm ấy sống biệt lập: bắt cá, đốn củi đủ ăn ngày nào hay ngày ấy. Nếu cần mua sắm vài vật dụng cần thiết, họ ngồi tại nhà mà chờ đợi một chú Huê kiều. Chú ta quảy gánh gióng, bán nào kim chỉ, lưỡi búa, đường thẻ, thuốc rê. Đặc biệt nhứt là loại kéo tàu, rèn tại chợ Rạch Giá . Ai không tin thì cứ mua thử một cây kéo đó, để dành trong rổ may. Kéo sống dai hơn kiếp người, và từ thưở cô gái mới về nhà chồng, cho tới khi có con có cháu, chết vô hòm mà kéo vẫn chưa lụt – nếu cây kéo đó không bị đánh mất. Cách vài ngày, chú Huê kiều đi qua xóm một lần. Tuy chú ta bán hàng với giá đập đổ, dân trong xóm Tà Lốc chẳng ai than phiền. Thưở ấy, đường giao thông dường như không có. Chú ta đi bộ suốt hai mươi cây số, qua vùng đất phèn đầy muỗi mòng rắn rít và đầy kẻ lương thiện – những kẻ lương thiện nhưng nổi máu bất lương từng chập. Lắm khi, chú Huê kiều bị gãy gánh giữa đường thương mãi: hàng hóa và tài sản bị tịch thâu, thân xác chú ta còn chịu thêm trận đòn nhừ tử, kêu trời thì không thấu, kêu làng lính ở tận đâu đâu. Thà là nhịn nhục để ngày mai tiếp tục hành nghề. Dân trong xóm lần hồi thương mến chú Huê kiều. Khi đi qua xóm, chú ta rao hàng nghe lơ lớ, não ruột: – Kéo tàu! Ké ….éo tàu! Trẻ con bu lại, cười giỡn. Chú Huê sẵn sàng cho mỗi đứa một cục kẹo nhỏ rồi rảo bước, để lại giọng rao: – Kéo tàu! Ké ….éo tàu! Nhưng ánh sáng văn minh lần lần soi rọi bên hè xóm Tà Lốc. Vào những năm kinh tế khủng hoảng, chính phủ thuộc địa đã cố gắng biểu dương uy thế bằng cách cho xáng múc, đào con kinh thẳng tắp dọc theo duyên hải vịnh Xiêm La, nối liền chợ Rạch Giá lên chợ Hà Tiên, phía bắc. Lần hồi, khi đào xong xuôi, lịnh của quan chánh tham biện chủ tỉnh truyền ra, quan chủ quận liền chạy tờ về làng, làng chạy trát xuống ấp Tà Lốc. Đại ý như sau: Trát cho hương ấp Tà Lốc tuân cứ: Tới ngày …. tháng …. năm …. nhà nước làm lễ ăn khánh thành con kinh quản hạt Rạch Giá – Hà Tiên. Quan Toàn Quyền Đông Pháp đích thân đi trên tàu, theo con kinh này . lần đầu tiên, con dân ấp Tà Lộc được ddón rước trọng thể quan Toàn Quyền Đông Pháp đại thần . Vậy đúng hừng đông nói trên, dân đinh trong ấp phải tề tựu ngay bờ kinh xáng, tại chợ, gần chỗ bàn hương án của hương chư’c hội tề đặt ra . Hương ấp phải truyền rao cho dân trong xóm được rõ rồi phúc bẩm cho làng biết . Nếu bất tuân sẽ bị khiển trách. Nhận được trát nọ, hương ấp Thum đi tới lui thăm viếng từng nhà để vừa uống rượu, vừa làm công tác . Chú ta mở đầu câu chuyện: – Ngày mốt, mình nên đón rước quan Toàn Quyền đại thần. Bà con thấy làm sao? Ai nấy nhao nhao phản đối, trình ra nhiều bằng cớ xác đáng: – Tụi tôi quần áo lem luốc, tay lấm chơn bùn. Vả lại, chưa đóng giấy thuế thân. Rủi có bề gì thì … phải làm sao? Hương ấp Thum cười khì: – Hỏi thử cho biết vậy thôi. Một mình tôi thay mặt tất cả bà con, đủ rồi. Nói chí tình, nếu bà con kéo nhau ra bờ kinh xáng, đứng khoanh tay gần bàn hương án để đón rước thì chắc thiên hạ cũng đuổi bà con trở về xóm, trước khi quan đại thần đến. Nhưng dường như bà con trong xóm Tà Lốc hơi buồn phiền điều gì mơ hồ: – Tụi tôi chưa được thấy mặt “tây u” và tàu bè tối tân của nước Pháp. Ai cũng muốn đi cho vui ngặt còn món nợ … quần áo và thuế thân. Chẳng hay quan Toàn Quyền đại thần có ghé lại xóm mình để uống nước trà …. lấy thảo hay không? Hương ấp Thum đáp: – Ghé làm gì? – Bộ thầy rảnh lắm sao? Mục đích của ông là tới chợ Hà Tiên cho mau. Nếu mỗi xóm mỗi ghé thì chừng nào mới tới nơi tới chốn? Thế là đêm đó xong xuôi, ai về nhà nấy. Dân chúng nói một câu thòng: – Thầy hương ấp cứ vui đi. Tụi tôi leo lên nóc nhà, hoặc trèo lên ngọn cây để coi tàu của Tây chơi, cho biết…. Hương ấp Thum quày quả trở lại: – Tôi không dám bảo đảm à. Đừng thậm thò thậm thụt như vậy. Ở dưới tàu, có ống dòm. Họ thấy xa lắm. Một người trả lời: – Thầy đừng lo. Từ đây ra tới kinh xáng, xa hơn hai chục công đất. Vả lại, tụi tôi núp sát mái nhà, hoặc đeo dính trên ngọn cây. Ở dưới tàu dòm lên quan Toàn Quyền đại thần cho rằng tụi tôi là rùa bò trên mồ mả, hay là con dơi, con quạ đeo nhánh cây. Đến nhà việc làng Sóc Sơn, hương ấp Thum nhờ chú biện thảo tờ phúc bẩm. Đại ý, hương ấp cho rằng dân xóm Tà Lộc bận việc đốn cây, mò cua …v..v .. Hương chức làng chẳng mảy may phiền hà. Trong thâm tâm, họ chẳng bao giờ muốn cho dân trong xóm Tà Lốc đi nghinh đón quan trên. Đó là hạng người không kỷ luật trật tự gì ráo. Dân chúng xóm chợ gần công sở cũng khá đông rồi. Thêm vào đó, mỗi tiệm phố đều sẽ treo cờ tam sắc. Ai cần gì mời số người ở xóm Tà Lốc, không mợ chợ cũng đông. Trời vừa rực sáng.
Dân chúng xóm Tà Lốc đã kêu réo nhau inh ỏi: – Thức dậy, anh em ơi! – Tàu chưa tới mà. Thức thì thức. – Tụi mình là “phó thường dân” xứ Nam kỳ, lâu lâu chào mừng quan trên: Chắc còn lâu lắm. Chừng này mặt trời mới ló dạng. Chắc quan Toàn Quyền đại thần đang ăn uống tại chợ Rạch Giá. Cỡ bốn giờ, mới tới. Một ông lão khôi hài: – Thiệt là dị hợm, kinh xáng đào rồi thì … là rồi . Còn bày đặt ăn khánh thành giống như nhà vua làm lễ hạ điền. Làm như không có ông Toàn Quyền đi thử thì nước không chảy. Có người hô to: – Phía chợ vui quá hé? – Nóc nhà của tôi mới lợp, cột kèo bằng cây danh mộc … lậu thuế. Ai muốn dưỡng già thì trèo qua nóc nhà tôi cho vui. – Bậy nè! Lớn đầu mà còn dại. Ngồi trên nóc nhà, rồi hút thuốc, nguy hiểm lắm. Tại sao mình không ngồi trên cháng ba của cây xoài, cao hơn nóc nhà! Chờ lâu quá nhiều người đâm ra nản chí. Họ tuột xuống đất, vô nhà uống nước cho thấm giọng rồi lại trèo lên. Đám trẻ càng xông xáo hơn. Chúng nó ở truồng, lén ra ruộng, cỡi trâu, đánh thẳng tay cho trâu sãi tới sãi lui. Rồi mòn mỏi, chúng nó nằm ngửa, phơi nắng trên lưng trâu để chờ đợi, sát kinh xáng trở về xóm. Chuyện gì đến là đến! Vào khoảng tám giờ rưỡi sáng, đoàn tàu ăn lễ từ từ tiến tới. Dân xóm Tà Lốc hò reo, chỉ trỏ . Họ hối tiếc vì đã ngồi nhà. Tàu quá nhiều, chạy giăng hàng dài treo bông treo tụi đủ màu sắc. Đếm kỹ thì thấy hơn mười cái ống khói đen ngòm, tức là mười chiếc tàu. Pháo đại, pháo tre, pháo trống … nổ vang rền tại chợ. Nổ suốt năm mười phút mà chưa dứt … Sau một hồi lẹt đẹt thì pháo lại rộ lên như con thú sắp đứt hơi cố gắng rống lên những tiếng cuối cùng vừa to, vừa dài …. Một người nghĩ ra sáng kiến: – Mấy đứa chăn trâu ơi! Tụi bay thử cỡi trâu, cho trâu sãi thật lẹ, coi họ làm gì ở ngoài chợ. Vài đứa trẻ le lưỡi: – Ngán lắm. Họ bắt tụi tôi không? – Tụi bây là … con chó gì mà bắt. Thứ con nít ở truồng mà tưởng mình như người lớn. Bọn trẻ bàn bạc: – Mấy ông Tây ưa bận quần áo trắng, đội nón trắng. Tụi mình sợ trâu nó ghét màu trắng. Nhè trâu chém ông Chánh soái thì nguy. Một người lớn quát to: – Nói tầm phào hoài. Làm như tụi bây quan trọng lắm. Chưa ra tới đó là thiên hạ đuổi tụi bây rồi. Cứ ở gần lấp ló, coi lén vậy mà. Hơn nữa, chưa chắc Ông Toàn Quyền Chánh Soái chịu lên bờ uống rượu đế với ông đại hương cả. Tàu chạy qua rồi chạy luôn … Không lẽ tàu chạy ngã khác. Thế là bọn trẻ mục đồng được yên tâm: “Tụi tôi ham lắm”. Mấy người lớn nhìn theo, căn dặn: – Về cho gấp, nói đầu đuôi cuộc lễ cho mấy thằng già này nghe chơi. Hơn năm bảy con trâu xóm Tà Lốc sãi nhanh ra công sở, mang trên lưng những sứ giả bé bỏng. Đột nhiên, tiếng “súp lê” nổi lên inh ỏi: – Tu … tu … Tu! …. uuu …. Dân xóm Tà Lốc khoái chí, vỗ tay: – Đó là quan Toàn Quyền Chánh Soái chào mừng bà con xóm Tà Lốc? Hay quá! Trời ơi! Khói lên từng cuộn đen thui …. Coi mê quá. Tiếng tu tu … cứ vọng rền. Một anh chàng có vẻ thông thạo: – Luật quốc tế mà! Họ chào mình theo luật quốc tế là cứ súp lê hoài … Chiếc tàu dẫn đầu ngừng lại. Mấy chiếc sau cũng ngừng, dường như chẳng dám qua mặt. – Đúng rồi! Tàu của quan Toàn Quyền Chánh Soái. Ổng ghé lại chợ …. Một ông lão thở dài: – Các cha ơi. Quan Chánh Soái chào mấy ông hương chức hội tề chớ nào chú ý tới bọn mình . Đừng hí hởn mà buông tay, té gãy giò nghe các cha. Con nít quá vậy. Nhưng bọn người háo thắng vẫn bàn bạc . Họ nghĩ mơ màng đến mấy ông hương chức hội tề. Nào ông cả Bon, ông chủ Xìa, Ông Xã Mực, ông thầy giáo Kiết, ông ban trưởng Huê kiều – Ông ban Xinh. Tất cả đang cúi đầu, lưng hơi khom, hột tay đưa ra để đón bàn tay ông Tây. Còn tay kia thì sờ lên ngực, ngay quả tim già, như để tỏ tình … Pháp – Việt đề huề! Vài phút sau, tàu “súp lê” vang dội như để tạm biệt. Từng chiếc một từ từ di chuyển. Mặt kinh xáng lấp lánh … Mỗi chiếc tàu là một ống khói đen, phun làn khói mỗi lúc một mỏng mịn . Khói vương vít, bay chập chờn trên nền mây trắng, che khuất từng chập vài bóng diều quạ. Bỗng nhiên một người quát to: – Thấy mẹ rồi! Còn một chiếc Ở lại. Neo luôn tại chợ. Hay mấy ổng dòm thấy tụi mình trong này làm điều vô lễ! Vô lý quá. Kìa …. Từ phía chợ, bầy trâu phóng nước sãi, trở về xóm Tà Lốc …. Ai nấy phập phồng chờ đợi. Tin mừng hay tin buồn! Chẳng lẽ quan Toàn Quyền nghe ngóng được tiếng nói xa xôi của bọn người vô danh núp trên nóc nhà, trên ngọn cây, như rùa bò, như quạ đậu. Lạ thật. Trên con trâu dẫn đầu, có tới hai người. Một thằng bé và một người lớn. Kìa! Trâu đã tới. Người lớn ấy ngồi vênh váo, như quen như lạ, chưa ai nhìn được hắn là ai! Đúng rồi! Hương ấp Thum. Thầy ta trở về xóm để làm gì mà hấp tấp như vậy. Giống như mấy ông tướng Tây cỡi ngựa phi báo, cấp báo! Mồ hôi tuôn ra nhễ nhãi đầy mặt hương ấp. Vừa nhảy xuống lưng trâu, thầy ta la lớn: – Đánh mõ lên cho dân chúng tụ họp. Chuyện sanh tử lắm. Đợi cho đủ mặt, tôi mới nói, đâu phải chuyện giỡn. Tài sản của nhà nước! Ai nấy đều ngơ ngác, tuột xuống đất, ngồi chồm hổm, sắp hàng hai để chờ lệnh . Gương mặt hương ấp Thum trông vừa đáng ghét vừa tội nghiệp. Bỗng dưng mà thầy ta lên giọng đàn anh. Có người hỏi: – Có gì vậy? Hương ấp Thum im lặng, thở hổn hển. Một ông kỳ lão với giọng đàn anh kẻ cả: – Cái gì vậy mầy Thum? – Dạ … Dân xóm Tà Lốc chưa làm phận sự. Ông kỳ lão quát: – Phận sự gì? Hay là ông Chánh Soái giận tụi tao, chỉ tụi tao vô lễ, ngồi trên ngọn cây …. Hương ấp Thum nói: – Dạ, dân xóm Tà Lốc phải ra sức … kéo tàu. – Tàu gì mà kéo? Ai nấy giương mắt tròn xoe. – Để người ta nói hết cho mà nghe. Số là đoàn tàu của quan Toàn Quyền đại thần bị trục trặc. Một chiếc bị tắt máy dọc đường, nhờ chiếc khác quăng đổi giòng tới đây rồi bỏ lại. Chẳng lẽ họ dòng chiếc tàu bịnh hoạn đó lên tới Hà Tiên thì mất thể diện cho “máy móc” của quan lớn quá, thiên hạ sẽ dòm hành chê bai. Bởi vậy, chiếc tàu họan nạn đó nằm tại chợ. Thầy hương quản giao cho tôi nhiệm vụ kéo chiếc tàu đó …. – Ủa! Sao lại dân xóm Tà Lốc! Hương ấp Thum đáp: – Dân xóm chợ đã góp tiền, đốt pháo và đóng thuế đầy đủ. Mấy chục năm nay dân xóm Tà Lốc chưa làm gí ích lợi cho nhà nước. Vậy thì … – Kéo lên bờ hay kéo đi đâu? Chiếc tàu đó bao lớn? – Dạ … Kéo về chợ Rạch Giá. Bà con nghĩ dùm. Sức một mình tôi làm sao kéo nổi chiếc tàu sắt về chợ Rạch Giá, xa hơn mười lăm cây số. – Bậy nè! Ai hơi đâu mà làm chuyện bá láp. Tại sao mình không kéo chiếc tàu đó vô bờ mời mấy ông bác vật tới sửa máy. Hoặc chuyến về, mấy ổng dòng tàu về … – Dạ, nghe đâu quan Toàn Quyền đại thần đi tuốt lên Nam Vang, về theo nẻo khác. Bà con nghĩ dùm. Ai nấy suy nghĩ: Kéo thì cứ kéo, ngại gì! Nhưng còn cái tội trốn thuế thân, từ nhiều năm. Nhiều tay tiều đốn củi quá lâu, nhiều chàng thanh niên một vợ ba con … chưa được hân hạnh ghi tên vô bộ sổ của nhà làng. – Dễ quá. Tôi bảo lãnh dùm! – Hương ấp Thum nói.
Thế là bọn trai tráng sắp hàng, ra bờ kinh xáng để kéo tàu, trước là xem tàu của quan trên cho biết nó nặng nề đến mức nào, sau là để làm phận sự con dân thuộc địa. Chiếc tàu quá nặng. Mấy sợi dây đỏi sắt cũng không nhẹ. Nước chảy ngược. Gió thổi ngược. Hơn năm chục người nai lưng “hố bụi”, đưa chiếc tàu liệt máy nọ về chợ Rạch Giá. Mệt và đói quá chừng. Kéo tàu sắt khác hẳn chèo ghe. Làm sao thảnh thơi mà ca vọng cổ. Đến canh một, canh hai đêm ấy, chiếc tàu mới xê dịch được hai phần ba lộ trình. Cũng may, hương chức hội tề đã chú ý …. ban cho dân ấp Tà Lốc năm đồng bạc để mua bánh tét, bánh lá dừa. Ăn tạm no. Nhưng làm sao tìm nước uống? Nước dưới kinh xáng mặn đắng, chua chát quá chừng. Hễ ghé vô là chủ nhà hoảng sợ. Năm chục người uống hết nửa lu nước! Nhứt là chuyến đi bộ trở về. Dưới ánh trăng thanh, họ ca hát lai rai. Ai đủ sức thì cứ đi cho nhanh, về nhà cho vợ con mừng. Ai yếu đuối thì ngủ bờ ngủ bụi. Vài người mang bịnh cảm mạo, bắt gió vần công. Khổ thay! Mười lăm cây số bận về là cả một điều khổ nhục. Muỗi cắn quá chừng. Hồi ra đi, họ quên mang theo cái nóp. Rốt cuộc, chẳng ai ngủ mê hoặc chết dọc đường. Suốt đêm, họ đi lang thang nhắm hướng Tà Lốc. Chốn quê hương đẹp hơn cả! Đúng vậy. Vài người chửi rủa hương ấp Thum, cho rằng thầy ta muốn lập công đầu với nhà nước Pháp. Khi tàu tới chợ Rạch Giá, hương ấp Thum cút mất, vô quán ăn hủ tíêu một mình. Và lúc kéo tàu, thầy ta ngồi trên tàu, hò hét, ngồi bên cạnh coi người lái. Khoẻ quá. Đêm ấy, vì mình mẩy rêm nhức, dân kéo tàu đánh một giấc ngon lành trên giường thê nhi. Nhưng lúc bình minh vừa ló dạng, từ đầu xóm vang lên tiếng mơ hồ: – Kéo tàu! Ké …éo tà …àu! Ai nấy nhẩy nhổm, mở cửa sau mà chạy, sau khi … trăn trối với vợ con: – Trời! Mới kéo một chuyến mà mệt đuối. Kéo thêm chuyến nữa chắc chết luôn. Má bầy trẻ nhớ nói rằng tôi đi đốn củi rồi nghe. Tổ cha … thằng hương ấp Thum! Tiếng gọi mơ hồ cứ lan xa, rõ rệt trong sương sớm: – Kéo tàu …. Kéo tà …àu! Ngồi sau khe cửa, các bà hiền phụ nín thở, quan sát, chờ bóng dáng của hương ấp Thum. Tại sao hắn không đánh mõ? Nhưng hỡi ôi! Các bà cười vang. Tiếng “kéo tàu” nọ xuất phát từ cổ họng của anh Huê kiều quen thuộc, bán kéo tàu, kim chỉ và tặng kẹo ngọt cho trẻ con. Hắn ngơ ngác, thấy các thân chủ đều đóng cửa, ngủ trưa . Tại sao các thân chủ“tẩy chay” đột ngột như vậy? Nhứt là các thân chủ ấy còn thiếu chịu của hắn một số tiền ngày càng to. Hắn bực dọc khi nghe tiếng cười, tiếng chửi thề. Nhưng hắn trung thành với nghề tổ, hắn cứ rao to, rao cho hả giận để đánh thức lương tâm dân chúng xóm Tà Lốc! – Kéo tàu! Kéo tàu ….àu!…..
Mấy người hàng xóm la hoảng lên: – Tư Hưng đâu rồi! Nuôi heo bầy mà bỏ nó chạy cùng đường cùng sá. Sao không nhốt lại? … Thiệt hết nói. Tanh rình tanh ói, chỗ nào cũng một đống, ai hơi đâu mà hốt. Nó còn ủi nền nhà, phá mấy liếp cải. Nói ra thì mích lòng, để trong bụng thì ấm ức. Tư Hưng từ đầu xóm chạy lơn tơn về, lên tiếng thanh minh: – Bà con ơi! Tôi nhốt heo lại rồi. Chắc lại vợ tôi quên… Vợ tôi nó dại dột thì tôi chịu tội. Nói xong, Tư Hưng chạy lùa ba con heo nái. Heo chạy tán loạn, đâm ngay vào vách lá, chui vào trong nhà. Anh ta nói to: – Em ơi! Coi chừng heo chạy bể đồ đạc. Nhưng hỡi ơi! Trong nhà không có một tiếng trả lời. Anh ta vào nhà, chạy tới trước cửa ngõ nhìn dáo dác. Vợ anh đâu rồi? Hay là đã xách gói trở về nhà cha mẹ ruột? Bốn tháng qua, vợ chồng anh ta gây lộn liên tu bất tận, tính đổ đồng hai ngày là xẩy ra một cuộc cãi vã. Tư Hưng nói: – Ði đâu đi phứt cho rảnh. Gặp con vợ như vầy mau tàn mạt lắm. Thật là… Vừa lúc ấy, ông Hai Kiểm đi ngang qua, lên tiếng: – Chuyện gì đó Hưng? Vợ chồng mới cưới, nếu cơm không lành canh không ngọt thì đóng cửa dạy nhau… – Dạ, chuyện rắc rối lắm, đổ bể tùm lum. – Cái gì đổ bể?… cháu nói mau. Ông Hai Kiểm xụ mặt, tưởng tượng đến những hậu quả tai hại mà ông gánh lấy. Chính ông đã làm mai mối cho Tư Hưng cưới vợ. Bên gái đòi một đôi bông búp, hai chiếc vòng đúng một lượng vàng. Vì muốn tác hợp cho hai trẻ là người dưng nhưng ông Hai Kiểm vẫn làm gan lãnh nợ, vay dùm cho gia đình Tư Hưng số tiền khá to. Chủ nợ hỏi:”Rồi làm sao vợ chồng nó đủ sức trả?” Ông Hai Kiểm đáp:”Vợ chồng nó sẽ nuôi heo nái, bán heo con lần hồi.” Những chuyện đáng buồn đã xẩy ra, đến tai ông Hai Kiểm. Dư luận hàng xóm đã đồn đãi quá nhiều. Ban nãy ông gặp cô vợ trẻ của Tư Hưng ở bờ chuối, sát ven đường. Ông hỏi: – Cháu làm gì vậy đó? Cô vợ nó đáp: – Dạ, cháu cắt lá chuối khô đem về bó lại, làm ụ cho heo ngủ. – Cháu biết lo xa, bác mừng lắm. Xứ này nhiều muỗi, để heo ngủ trần mà mang tội. Làm sao heo mau lớn đúng tạ được? Sao thằng Hưng không ra đây làm công việc tiếp với cháu? Cô vợ nọ ôm mặt khóc. Bấy giờ, ông Hai Kiềm mới nhìn tường tận: gò má cô ta bầm tím. Ông thở dài, định tìm Tư Hưng để dẫy dỗ. Dè đâu vừa đi ngang cửa là nghe giọng nói vô lễ của anh ta. Ông Hai Kiểm vào sân, nói lẩm bẩm: – Làm gì mà quát nạt? Cái gì đổ bể? – Dạ, mời bác vô nhà, cháu nói hết đầu đuôi cho bác nghe. Rồi Tư Hưng tố cáo bao nhiêu sự lơ đễnh của vợ: nào vợ ngủ trưa, nào vợ kho cá ăn mặn đắng, nào vợ lười biếng nuôi heo. Và nhứt là ưa cãi vã với chồng. Hễ giận hờn, lập tức cô vợ bỏ nhà ra sau vườn. Ông Hai Kiểm dùng tình cảm để khuyên nhủ: – Nó lo cắt lá chuối kho chớ đâu phải dạo xóm ngồi lê đôi mách hoặc đánh bài tứ sắc. Cháu hãy bình tĩnh. Vợ nó có lỗi thì dạy dỗ bằng lời nói nhỏ nhẹ. Tư Hưng nói nhanh: – Dạ, nó cứng đầu lắm. Hễ cháu đánh thì nó đứng lì một chỗ, không thèm chạy. – Ừ… Nhưng mà cháu đừng đánh ngay con mắt vợ. Tư Hưng phục thầm sự nhận xét của ông Hai Kiểm: – Sao bác biết? – Trời đất xui kiến như vậy. Bác sống tới năm nay là sáu chục tuổi rồi. Ðàn ông ưa bạt tai vợ, táng ngay con mắt. Rủi đui con mắt thì sao?
– Cục cu cu… cu! Cu! Ông Hai Kiểm bước tới lui, ngắm nghía con cu mồi mới mua ở Xẹo Bần với giá là mười giạ lúa. Ông bắc ghế, đứng lên, mang cặp kiếng, nói thì thầm: – Ồ! Con cu hai cốt. Chưa chắc! Hồi bữa hổm, nó gáy tới bốn cốt. Rồi bác đưa tay lên miệng, bụm lại, nhái giọng gáy: – Cục cú cu… cu! Tức thời con cu mồi nhảy nhót, vỗ cánh, đòi bay ra khỏi cái lồng bằng tre. Nó đứng lại, há mỏ, ưỡn ngực: – Cục cúc cu… cu! Cu! Cu! Ông Hai Kiểm cười dòn: – Giỏi quá! Trót làm thằng ngu thì ngu luôn cho trọn kiếp. Sáng mai, mầy nhớ gáy đủ bốn cốt cho tao! Từ ngoài cửa, Tư Hưng bước vào. Anh ta nghe lóm tiếng được tiếng mất: – Bác Hai ơi! Nói chuyện với ai vậy? – Tư Hưng đó hả? Bác nói chuyện với con cu mồi. Gần tết rồi. Cu gáy vang dậy ngoài đồng, bác tính cho con cu mồi này ra nghê. Mua tới mười giạ lúa đó. Tư Hưng vẫn thắc mắc: – Con cu này mua quá mắc nhưng tại sao ngu dại. Nếu nó khờ thì luyện tập lại. Bác rành nghê gác cu lắm mà. Một dịp may để ông Hai Kiểm giải toả bao nhiêu thắc mắc. Ông rót nước trà ngồi cao hứng rung đùi: Ở đời có bốn cái ngu, Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu… – Mấy câu đó ý nghĩa như thế nào? – Khó lắm. Nói ra sợ cháu hiểu lầm. Ông bà mình hồi xửa hồi xưa đặt để câu đó, nhắn nhủ mấy người lớn tuổi mà ưa làm chuyện bá vơ như bác. Cháu thử nghĩ: bác ở không suốt ngày, chỉ còn biết tiêu khiển bằng cách thăm viếng người chòm xóm, giúp đỡ lặt vặt. Rồi thì dưỡng nhàn. Cháu biết tại sao làm mai là cái ngu dại thứ nhứt? Tư Hưng đáp: – Dạ cháu hiểu mơ màng thôi… – Nói ra, cháu đừng giận nghe không. Mình làm mai, giúp hai gia đình bên trai, bên gái kết tình thông gia. Nếu con cái họ ăn ở với nhau êm ấm thì thôi. Nhược bằng gặp thứ trai lỗ mãng, thứ gái lười biếng hỗn hào thì thế nào bên trai hay bên gái cũng trách móc mốc ông mai. Nào là thằng rể hoặc con dâu đó tệ quá. Không khéo, vài ngày nữa, nếu vợ chồng cháu chưa hoà thuận với nhau được…. Tư Hưng cúi đầu: – Dạ, cháu hứa… – Ðây là cái ngu thứ nhì của bọn già cả, có chút ít thể diện hoặc điền sản như bác. Mình lãnh nợ dùm cho thiên hạ, nếu con nợ trả đủ thì chủ nợ vui sướng, hưởng tiền lời. Bằng không, họ lại mắng vốn… Còn cái ngu thứ ba là gác cu. Nghe đến đó, Tư Hưng mỉm cười. Gác cu tức là đem con cu mồi ra ngoài ruộng để cho cu gáy lên, nhử bắt con cu rừng. Mấy ông cai tổng, ông hội đồng địa hạt thường gác cu vào mùa này. Tư Hưng còn nhớ năm ngoái ông cai tổng đi gác cu với vài đứa tiểu đồng, mang theo nào trả ấm, thịt gà, cơm nếp. Tại sao gác cu là cái ngu dại thứ ba? Anh ta hỏi mãi nhưng Hai Kiểm cứ lắc đầu. Sao rốt, anh ta gợi ý: – Dạo này, hễ ở nhà thì gây gổ với vợ. Cháu muốn theo bác, làm đứa tiểu đồng để học nghề. Hồi đó tới giờ, cháu ưa đá gà, đá cá thia thia. Mai kia mốt nọ, về già, cháu sẽ gác cu như bác. – Ðừng, cháu ơi. Dại dột lắm. Con cu mồi gáy vang lên. Ngoài bờ tre xa xôi dường như có tiếng đáp lại. Khiêu khích -“Cu kêu ba tiếng cu kêu, cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè.” Ông Hai Kiểm căn dặn Tư Hưng nên về nhà giúp công việc lặt vặt cho vợ bớt mệt. Nhứt là sửa các chuồng heo, đừng để lối xóm phiền hà… Sáng hôm sau, Tư Hưng đã có mặt tại nhà ông Hai Kiểm. Hai người ăn cơm rang dằn bụng rồi lên đường. Ông Hai Kiểm đi trước, xách cái lụp, tức là cái lồng bằng dây chì, trong đó có để con cu mồi. Tư Hưng theo sau, vác một cây sào dài, đầu cây sào có cái móc nhỏ bằng sắt. Lại còn có cái bình tích, đầy trà nóng, hộp quẹt và chiếc chiếu. Gió chướng thổi lao xao mang hơi lạnh từ phía tây bắc, báo hiệu ngày gần Tết. Mặt trời lên cao, bầu trời vẫn chưa trong sáng. Vài đám mây đen bay lởn vởn, thứ mây chuyển mưa còn rơi rớt. Mùi lúa chín xông lên vừa nồng vừa ấm. Qua khỏi bờ ven, hai người đều xăn quần lên tận gối. Lá lúa cứa vào da, hơi rát. Ðôi khi, bùn ngập tới nửa ống chân. Vài con cò trắng đáp xuống vũng nước cạn, rình cá tôm. Ông Hai Kiểm bước khá nhanh, dõi mắt nhìn đăm đăm về hướng cây gáo cổ thụ, giữa đồng. Ðến nơi, Tư Hưng đứng lóng nhóng. Ông Hai Kiểm nói: – Trải chiếu ra, ngồi xuống. Nếu khát nước thì uống trà cho thấm giọng. Trèo lên cây gáo, bẻ vài nhánh cây nhỏ, quăn xuống cho bác. Ông Hai Kiểm đem lá cây ghim lên cái lụp: – Nhờ làm như vầy để cho cu rừng không thấy cái lồng bằng dây chì. Lát nữa, cu rừng sẽ bay tới, đậu trên cái sàn, trước mặt lụp. – Còn mớ lưới này? – Mình giương lưới lên, gài chốt. Cu rừng đến trước mặt cái lụp, khiêu chiến. Nếu cu đạp nhằm cây chốt, lưới chụp xuống cái sàn, túm con cu rừng. Ðâu đó xong xuôi, ông Hai Kiểm dùng cây sào có móc sắt mà đưa cái lụp lên gần trên ngọn cây gáo. Ông bước ra xa, nhìn đôi ba lần khen ngợi: – Ðược rồi, Cu rừng chẳng bao giờ biết con cu mồi đang bị nhốt trong cái lụp. Và trước mặt lụp là cái sàn nhỏ, có lưới giương lên. Êm lắm! Hai người rút lui vào lùm cây mua, hơi thấp, vạch một lỗ khá to trong lùm rồi chui vào. Tư Hưng nói nhanh: – Giống như ngồi trong hang… – Ồ! Người gác cu ngồi ngoài bờ ngoài bụi như vầyl. Nếu đứng lom khom ở ngoài chỗ trống trải, cu rừng đâu thèm tới nạp mạng. Ngồi giữa lùm cây, ông Hai Kiểm hút hết điếu thuốc này qua điếu thuốc khác. Con cu mồi bị nhốt trong lụp bắt đầu gáy vang: – Cúc cù cu… cu! Cu! Cu! Ông cười dòn: – Giỏi quá! Ra đây, nó gáy tới ba cốt. Tư Hưng hỏi: – Dạ, cốt là cái gì? – Theo tiếng lóng của nhà nghề, mấy tiếng cúc cú cu, gọi là tiếng cốt. Con cu mồi này gáy ba cốt. Bảnh quá! Cháu nghe lại thử. Nó gáy kìa! Từ ngọn cây gáo, con cu mồi cất tiếng thảnh thót: – Cúc cù cu… cu! Cu! Cu! Ông Hai Kiểm nhướng mắt! – Ðó… Nó gáy đủ bốn cốt. Loại cu nào nhiều cốt thì được cu mái say mê. Lúc lúa chín, cu rừng bắt đầu”phân đồng” mỗi con cu trống, chiếm một khu vực riêng biệt, từ cây này qua bờ tre bên kia. Nó tha hồ ăn lúa chín và tìnht ự với bọn cu mái. Nếu con con cu trống nào toan vào khu vực của nó, nó sẽ đánh đuổi, đá và cắn tơi bời. Thí dụ như khu vực này, từ cây gáo qua bờ tre, đã có sẵn một con cu trống làm bá chủ. Mìnhd dem con cu mồi này tới để xâm chiếm. Lát nữa, con cu trống sẽ ra tranh cắn, đánh đuổi con cu mồi này để rồi bị lưới chụp xuống. Thời khắc trôi qua chậm chạp. Tư Hưng bắt đầu nản chí, muốn xin phép rút lui về nhà để… nuôi heo trả nợ đám cưới. Bỗng đâu từ phía bờ tre đối diện có giọng gáy thanh tao: – Cúc cù cu… cu cu! Ông Hai Kiểm ngồi nhốm tới, nép sát vào bụi cây mua, mang kiếng, nhìn qua kẽ lá: – Ðó! Con cu rừng lên tiếng, đòi đá lộn với con cu mồi của bác. – Sao nó chưa qua? – Cháu nên bền chí. Cu rừng khôn ngoan lắm. Nó hồ nghi điều gì… bất an. Nhiều con cu rừng đã bị lưới chụp hụt vài trận rồi. Nó còn dè dặt, dò xét tình hình. Trên ngọn cây, cu mồi gáy lên, thúc giục: – Cú cù cu… cu! Cu! Cu! Từ phía bờ tre, cu rừng bay nhanh qua cây gáo, đảo hai ba vòng, toan đáp xuống. Tư Hưng nói: – Nó tìm kẻ thù hả bác? – Nói chuyện nho nhỏ một chút. Coi chừng nó nghe. Nó tìm kẻ tình địch. Cu rừng này cho rằng con cu mồi trong bụi là kẻ từ nơi xa lạ đến xâm chiếm cánh đồng lúc để ăn no và chiếm đoạt người yêu của nó. – Tại sao nó bay qua đây! Hồi nãy bác nói con cu rừng này đầy đủ kinh nghiệm, chết hụt nhiều lần nên khôn ngoan…. – Lời tục thường nói: Biết chết nhưng cũng nhào vô. Con chim ghét nhauv ì tiếng gáy. Cu rừng gáy hai cốt ghét con cu mồi gáy tới bốn cốt. Nó cho rằng có kẻ bảnh trai hơn, toan chiếm đoạt sự sống của nó… Im đi. Qua kẽ lá, Tư Hưng thấy rõ ràng con cu rừng. Nó thuộc loại cu cườm, mớ lông chung quanh cổ nhuộm màu hường dợt, lấm tấm những điểm trắng tuyết, mỏ và đôi chân đỏ sậm, nhứt là con mắt tròn xoe, sáng ngời lấp lánh như giọt máu tươi. – Nó khôn quá. Nó nhảy trên nóc lụp chớ không thèm nhảy trước cái sàn để vướng vào bẫy! – Cháu nói đúng. Nhưng con cu mồi của bác còn khôn hơn! Con cu mồi nhảy nhót, vỗ cánh ngược lên trời… nhưng bầu trời của nó quá hẹp, nó té xuống. Nó bước tới sát lưới, quơ chân. Cu đá nhau như gà, dùng mỏ mà cắn, đưa chân mà quào. Con cu rừng cứ bay quanh quẩn rồi đứng trên lụp mổ xuống, để khỏi Sa trại chủ vào cạm bẫy. Lát sau, nó bay lên trên cao… trở qua bờ tre gáy inh ỏi, thứ tiếng gáy kém đẹp, có hai cốt “cu, cu” khi chấm dứt. Ông Hai Kiểm đưa tay lên miệng, nhái tiếng gáy để thúc giục cu mồi. Cu mồi lại gáy, khoe giọng thiên phú, đến bốn cốt. Nắng lên cao. Cu rừng dường như còn phân vân, chưa chịu xáp chiến. Tư Hưng thở dài: – Chừng nào nó bay qua đây… Ông Hai Kiểm đáp: – Bữa nay không xong thì chờ ngày mai, ngày mốt không xông thì ngày nọ, ngày kia… Gác được một con cu rừng khôn ngoan, mình vui hơn là gác con cu rừng thứ dại dột. Cháu mệt mỏi rồi hả? Tư Hưng ngáp dài: – Ðể cháu về nhà, lo cái chuồng heo. – Cháu muốn về thì cứ về. Bác không dám cản cháu. Nghe vậy, Tư Hưng lật đật cầm cây sào, bước ra khỏi lùm cây. Ông Hai Kiểm kêu lên thất thanh: – Làm gì vậy? Cháu về thì về một mình. Ðể bác ở lại…
Bảy ngày sau, Tư Hưng đã quên hẳn chuyện gác cu của ông Hai Kiểm. Hàng ngày, anh ta lo nuôi heo, quét nhà, sửa sang bồ đựng lúa. Vợ chồng đối xử với nhau êm ấm. Lúc vợ chồng Tư Hưng đang ăn cơm chiều, bà Hai Kiểm chạy vô sân, nói hơ hãi: – Tư! Mầy thấy bác Hai mầy ở đâu không? Trời mưa lất phất, lạnh lẽo. Trận mưa bấc dai dẳng, còn rơi rớt. Tư Hưng nhìn bà Hai Kiểm, thương hại: – Chuyện gì mà bác gái dầm mưa? Lâu rồi, cháu không gặp bác trai. – Ổng đi gác cu với mầy mà! Mỗi ngày mỗi đi, từ bữa đi chung với mầy đó. – Dạ, cháu theo bác trai có một buổi đầu mà thôi… – Kiếm bác trai mầy dùm tao! Tao hồ nghi quá. Lập tức, Tư Hưng buông chén đũa, chạy ra sau vườn. Trời vẫn mưa. Mặt trời khuất đâu mất, cảnh vật tối om. Cây gáo đứng trơ vơ giữa đồng như bóng ma trơi. Tư Hưng lục soát bụi cây, chẳng có cái lụp nào cả. Tư Hưng thất vọng, trở về. Bỗng dưng, anh ta nhớ tới cái bờ tre bên kia, đối diện với cây gáo. Anh ta chạy qua, nhướng mắt: giữa bụi tre, cái lụp gác lơ lửng, trên đó có con cu mồi và một con cu rừng bị lưới chụp. Cu rừng và cu mồi đều cú rũ, bất phân thắng bại vinh nhục, lông cánh lù xù vì dầm mưa quá lâu. Nhưng ông Hai Kiểm ở đâu? Tư Hưng toan kêu lên nhưng sợ làm lộ bí mật nhà nghề. Anh ta bèn đưa hai tay lên miệng, bụm lại, nhái tiếng cu kêu: – Cúc cù cu… cu! Cu! Cu! Bỗng nhiên, bụi nhãn lồng nhúc nhích. Có tiếng rên hừ hừ. Tư Hưng ngỡ là ma nhát, sửa soạn co chân tẩu thoát. Nhưng giọng run rẩy của ông Hai Kiểm vang ra từng đợt: – Cứu… tao… tao gần chết… á khẩu… Tư Hưng cõng ông Hai Kiểm vào nhà, đốt lửa hơ, cạo gió, mua thuốc cảm mạo, nấu cháo thương hàn… vài phút sau, ông Kiểm mới tỉnh táo, nói thân mật: – Tao chờ đợi… mắc mưa suốt buổi. Con cu mồi bay quá. Rốt cuộc con cu rừng chịu đá lộn, mặc dù bị gài bẫy nhưng cũng đá. Vui quá… Ừa! Ngu quá. Con cu rừng đó, tao cho vợ chồng bây nướng ăn. Hồi xưa, nhiều người đi gác cu như tao, ngồi rình mò dè đâu phía sau lưng có con cọp đang chờ ăn thịt họ. Gác cu không đem lợi lộc gì ráo mà mình ham. Cái thói phong lưu đó nguy hiểm lắm. Nếu mày không ra ngoài cứu kịp thì tao á khẩu, chết luôn ngoài bụi tre rồi. Ðó là cái ngu thứ ba: “Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu mà!” Tư Hưng mỉm cười, nhờ đến cái ngu thứ nhứt, thứ nhì: – Dạ, hai vợ chồng cháu cỡ này đề huề lắm. Ba con heo nái đang có chửa, món nợ mà bác bảo lãnh hồi cháu sửa soạn cưới vợ… – Tao hiểu rồi. Ráng mà làm ăn. Thôi tao về kẻo bác gái mầy trông đợi. – Dạ, trời còn mưa lai rai. Ðể cháu nhắn tin cho bác gái hay… Còn cái ngu thứ tư nó ra làm sao bác? – Cầm chầu hát bội. Rằm tháng giêng, cháu sẽ thấy. Hễ mình ít”chầu” bọn đào kép cho rằng mình là thằng già cầm chầu khó khăn, phách lối, khinh khi kẻ xướng ca vô loại. Nhưng nếu mình đánh chầu đúng điệu thì có kẻ giềm siểm, cho rằng mình là thằng già dê, cứ định chấm khen ngợi mấy cô đào trẻ mà quên mấy cô đào già. Tư Hưng nắm bàn tay gân guốc của ông Hai Kiểm: – Bác tử tế quá. – Sao mầy biết? Ðừng nịnh tao. Vợ chồng mầy nên ăn ở thuận thảo đi. Giọng Tư Hưng như ngậm ngùi: – Bác dám lãnh đủ bốn cái ngu trên đời… Không màng tiếng bấc, tiếng chì. Cái tiêu khiển của bác không làm hại cho ai. Và bác dám gánh trách nhiệm để cho kẻ khác vui sướng. Cháu phục mấy ông già xưa quá trời.
Những đêm đầu tiên ngủ lều nhà binh trong trại tạm trú Orote Point trên đảo Guam, tôi dỗ giấc ngủ bằng cách tự nhủ cuộc ra đi của vợ chồng tôi và bốn đứa em là chuyến đi cắm trại dài ngày trên một hòn đảo ngoài khơi Tuy Hòa tỉnh Phú Yên. Ở thành phố nhỏ bé hiền hòa và sạch sẽ đó, gia đình tôi đã sống hơn năm năm, và ngày hè như khoảng thời gian này trong năm tôi thường về thăm. Giống như tháng Năm ở Tuy Hòa, thời tiết Guam ôn hòa, ban ngày nhiều nắng ấm, và trời chỉ mưa về đêm vì mùa mưa mới bắt đầu. Nửa khuya, những hạt mưa rơi lộp độp trên mái lều đánh thức tôi và nhắc nhở rằng chúng tôi đang bước vào cuộc đời phiêu ngụ trôi giạt nơi đất khách quê người. Guam cách xa Tuy Hòa gần bốn ngàn cây số và nằm trong cùng vĩ tuyến, có diện tích rộng hơn một phần mười tỉnh Phú Yên, và không nhỏ bé hay gần đất liền như hòn Chùa, hòn Mái Nhà, hòn Yến, và cù lao Xanh hoang sơ và tuyệt đẹp của quê hương.
Trong “Thành phố Lều” này, những thứ cần thiết cho đời sống hàng ngày được cung cấp miễn phí, và để nhận lãnh phải xếp hàng chờ phiên mình trên căn bản tới trước tiếp trước. Lần đầu tiên tới văn phòng hội Hồng thập tự nhờ gửi thư, tôi quen thói không nhìn trước ngó sau, xồng xộc sấn tới trước mặt nhân viên phụ trách, và bị một anh lính Mỹ trẻ ngăn lại đưa ngón tay trỏ hướng lên trời và nhã nhặn nhắc, “One line, please (Xin xếp hàng một).” Tôi thẹn đỏ mặt không nói nên lời và từ đó chừa cái thói quen chen lấn đã ăn sâu trong xương tủy từ… bốn ngàn năm văn hiến.
Một lần khác, tôi đứng xếp hàng chờ lấy thức ăn, một anh lính Mỹ trẻ thấy hàng tôi khá dài bèn ngoắt tôi tới gần bằng cách cong ngón tay trỏ hướng lên trời và co duỗi lui tới như (người Việt) gọi chó rồi chỉ sang một hàng mới mở. Tôi nổi dóa bước tới định xạc “thằng con nít hỗn láo” một mách và “dạy cho nó một bài học.” May sao Quỳnh Châu đứng cạnh kéo tay tôi giải thích đó là lối gọi tới gần thông thường của người Mỹ. Lối gọi của người Việt (giơ cánh tay ngang vai, để lòng bàn tay nhìn xuống đất, và vẫy vẫy cả bốn ngón tay) người Mỹ dùng để chào từ giã người đang rời đi. Tôi quê một cục và từ đó hết đường lấy le (làm cho oai để lên mặt) với vợ rằng ta đây cũng giỏi tiếng Anh không kém gì mấy tay du học ngoại quốc về.
Lúc nhập trại, chúng tôi được chỉ tới căn lều ở Khu 5, khu xa nhất và nằm gần bìa rừng. Hai ngày sau, Khu 5 chỉ còn lại gia đình tôi, và các lều khác đều trống trơn vì sau khi biết lề lối tổ chức trong trại, người ta kéo nhau dời về các khu gần bộ chỉ huy để ban ngày nghe rõ thông báo và nhắn tin trên hệ thống truyền thanh chỗ đông, ban đêm tiện tụ họp ở “Ngã Năm Quốc tế,” và nhất là thấy an toàn hơn.
Tôi thích vắng vẻ và ngại chung đụng với người chưa quen nên bằng lòng với căn lều gần bìa rừng cho đến ngày cuối cùng trước khi chuyển sang trại Andersen trong căn cứ Không quân Andersen để lên máy bay vào (lục địa) Hoa kỳ. Chúng tôi không có gì để sợ mất vì tài sản mỗi đứa vỏn vẹn một chiếc xắc tay nhỏ đựng bộ áo quần và giấy tờ tùy thân. Những xấp giấy bạc năm trăm và một ngàn đồng mẹ cho nằm trong chiếc cặp da, một tài sản kếch xù ở Sài gòn, nay là mớ giấy lộn vô giá trị. Dưới hố tiêu ngoài trời, tôi thấy đầy dẫy hai thứ giấy bạc đó, mới toanh và có lẽ bị sở hữu chủ uất nộ liệng bỏ chứ giấy bạc mới khó có thể dùng làm giấy vệ sinh.
Ngã Năm Quốc tế là tên đặt cho khoảnh đất tráng nhựa nằm tại giao điểm của hai con đường chính của trại là phi đạo cũ thời thế chiến thứ II. Ngả đường thứ năm là đoạn đường ngắn dẫn vào nhà để máy bay cũ nay làm nơi đặt bộ chỉ huy trại. Văn phòng hội Hồng thập tự, trạm phát thanh thông báo tin tức, pi-ếch (PX, viết tắt của Post Exchange là quầy hàng Quân Tiếp vụ), v.v. trong các trailer (nhà rơ-moóc, do tiếng Pháp “remorque,” có thể dùng xe kéo đi và đặt ở nơi mong muốn) bằng gỗ mới toanh đều nằm quanh Ngã Năm Quốc tế. Ban đêm những kẻ vừa lìa quê hương đến đây tìm người quen, trao đổi tin đồn, và cùng nhau đoán già đoán non những gì sẽ xảy ra cho mình.
Một tối tôi đang thèm thuồng nhìn thiên hạ ra vào pi-ếch mua sắm thì bỗng hiện ra trước mặt một hình dáng quen thuộc – anh Hán con bà cụ chủ nhà trọ và là người anh đỡ đầu thời tôi còn là sinh viên trường kỹ sư. Sau mẹ, anh là người tôi mong ước gặp lại nhất. Với nụ cười nửa miệng cố hữu, anh đùa,
“Ô kìa, ai như cậu Ba Hoa? Tôi biết thế nào cũng gặp cậu ở ngoài này; sức mấy mà cậu bị kẹt lại.”
“Anh Hán . . . Làm sao anh ra khỏi Sài gòn?” Tôi la lớn và nhảy tới nắm chặt tay anh. “Tôi có anh bạn làm trung tá Hải quân, anh ta rủ tôi và Dư là chú em rể chồng cô Thảo đem gia đình lên tàu ra Phú Quốc lánh nạn. Có ngờ đâu tàu chở mình tới vịnh Subic ở Phi Luật Tân rồi chuyển lên tàu Green Wave (Sóng Xanh) sang đây.”
“Em cũng tới Guam bằng tàu Green Wave như anh. Thế chị Uyên đâu?” Chị Từ Uyên giáo sư trường trung học Trưng Vương là vị hôn thê của anh.
“Ngày 28 tháng Tư tôi đến Trưng Vương giục Uyên về nhà thu xếp và đến chỗ hẹn lên tàu Hải quân để cùng đi. Chờ mòn con mắt không thấy cô ấy đến, tôi đành đơn thân độc mã ra đi một mình,” ánh mắt của anh buồn tênh.
* * *
Đợt di tản bằng tàu ập tới Guam trong cuối tuần lễ thứ hai và đầu tuần lễ thứ ba của tháng Năm khiến dân số của Thành phố Lều lên tới hơn 50 ngàn người, hơn một nửa cư dân trên đảo.
Trong hai tuần lễ tiếp theo, số phận của những kẻ lưu lạc rất mù mờ vì Quốc hội Hoa kỳ, cơ quan nắm giữ hầu bao của quốc gia, đang ở trong kỳ nghỉ. Chúng tôi được bộ Quốc phòng nuôi ăn ở trong chiến dịch Đời Mới, nhưng bộ Ngoại giao và bộ Y tế, Giáo dục, và An sinh chưa được chuẩn chi và chưa thể công bố chương trình giúp đỡ dân tỵ nạn. Thời gian này, tôi gặp bạn là Toàn giảng viên toán dạy hai trường như tôi: Đại học Cơ bản Thủ Đức ở Phú Thọ và Đại học Kỹ thuật Minh Đức ở Phú Nhuận. Vợ chồng Toàn và đứa con nhỏ di tản bằng tàu Việt Nam Thương tín. Toàn mừng rỡ mời tôi về lều và xin tiền vợ vào pi-ếch mua một xâu bia Budweiser sáu lon đãi tôi. Toàn chỉ người bạn ở chung lều, một thanh niên trạc tuổi tôi đang ngồi ủ rũ,
“Ba Hoa biết Kích em rể Kim dạy bên trường Điện mà. Kích đi cùng tàu với vợ chồng mình.” Kim là bạn đồng khóa kỹ sư và dạy Ngành Điện ở Phú Thọ cùng với tôi.
“Ủa, vậy chớ bà xã Mỹ Diễm đâu? Hình như hai người có con rồi, phải không?” Tôi hỏi Kích.
“Dạ, tụi em có đứa con trai sáu tháng. Cả tháng trước, em và Diễm bàn bạc nát nước về chuyện đi hay ở. Nàng nghe lời anh Kim là một kẻ bài Mỹ, và khư khư ôm con ở lại. Em đành phải chia tay, nhảy xuống tàu ra đi, và giờ bơ vơ một mình.”
Kích ôm mặt khóc rưng rức,
“Từ hôm qua đây, đêm nào em cũng trằn trọc nhớ vợ thương con; em nhận ra mình đã mất hết lẽ sống trên đời và quyết định sẽ xin về Việt nam. Bằng bất cứ cách nào, dù chết cũng về.”
“Bọn mình khuyên hết lời, về tới nơi chưa được gặp gia đình vợ con đã bị tụi nó tóm cổ bắt giam biệt tích rồi, nhưng không lay chuyển được Kích,” Toàn xen vào rồi đổi đề tài và hãnh diện cho biết, “Vợ chồng mình sẽ đi Gia Nã Đại chứ không thèm ‘chơi’ với anh Mẽo cao bồi dở trò ma giáo bỏ rơi miền Nam khiến mình mất nước.”
“Làm sao Toàn may mắn như vậy?”
“Ông già vợ mình dạy học ở Đại học Montréal nói tiếng Pháp ở Montréal thuộc tỉnh Québec; ổng đã làm giấy tờ bảo lãnh bọn mình.”
Vào một tối đi phất phơ ở Ngã Năm Quốc tế, tôi gặp Sử và Trung; hai anh là kỹ sư điện vào trường trước tôi một năm và ra trường làm việc cho công ty điện lực. Sử là cựu học sinh lycée Yersin Đà Lạt, nổi tiếng bay bướm và nhảy đầm điệu nghệ nhất trường Điện; anh đi một mình. Trung quen thân với tôi hơn vì hồi đó anh ở trọ cùng với thằng Song bạn tôi trong cư xá Lữ Gia đối diện cổng trường và nằm phía bên kia đường Nguyễn văn Thoại; Trung đi với vợ mới cưới và chưa có con. Sử chia sẻ tin tức sốt dẻo,
“Pháp và Gia Nã Đại gửi phái đoàn vào trại tuyển mộ di dân với chủ ý vớt chất xám của trại Orote Point, chỉ nhận bác sĩ và kỹ sư, và chừa lại đám ‘danh ca’ cho Mỹ.” “Danh ca” (“đánh cá” không bỏ dấu tiếng Việt) là lối gọi mỉa những ngư dân.
“Mấy ông thầy mình ở trường kỹ sư đều xin đi Pháp vì ngày trước mấy ổng học và làm việc bên đó,” Trung kể tên một lô giáo sư cũ.
“Những người lớn tuổi đều xin đi Pháp vì Gia Nã Đại không nhận ứng viên trên 55 tuổi. Bọn Điên (do âm trong “Canadien” tiếng Pháp) nói thẳng là chúng tôi không muốn nhọc công vô ích vì sau khi huấn luyện để có thể dùng được thì anh đến tuổi về hưu,” Sử gượng cười.
Hôm sau, tôi lên văn phòng phái đoàn Gia Nã Đại đặt trong căn trailer trên mái trương cờ lá phong đỏ để xem thử. Tôi gặp Sử và Trung đang sửa soạn vào phỏng vấn, hai anh cho biết hôm đó là ngày chót phái đoàn Gia Nã Đại nhận người nên tôi vội vàng xin đơn điền tại chỗ. Nhân viên phỏng vấn tôi là một thiếu phụ trẻ đẹp và kênh kiệu, cô đọc lướt các chi tiết cá nhân và gia đình và khinh khỉnh hỏi tôi bằng tiếng Anh,
“Tại sao anh muốn nhập cư Gia Nã Đại?”
“Tôi là kẻ vô tổ quốc không có chỗ dung thân. Quốc gia nào đồng ý nhận mà tôi thấy sống được thì đến sinh cơ lập nghiệp.”
“Nếu được nhận, anh làm được gì cho Gia Nã Đại?” cô nhíu mày hỏi tiếp.
“Vợ chồng tôi là giáo chức đại học, các em đều có triển vọng thành người học thức và hữu ích, và gia đình tôi sẽ phục vụ xã hội hữu hiệu không thua kém ai,” tôi đã sửa soạn câu trả lời này đêm qua.
“Anh có thân nhân ở Gia Nã Đại không?” mắt cô không rời khỏi bản khai của tôi.
“Dạ không, nhưng tôi có bạn du học ở Montréal và Ottawa. Tôi có tên và địa chỉ của họ, nếu cô cần.”
Bấy giờ cô mới ngẩng mặt lên,
“Không cần. Tôi đã cứu xét đơn và quyết định nhận vợ chồng anh và ba người em dưới 21 tuổi làm ngoại kiều thường trú tại Gia Nã Đại.”
“Vậy còn Sang em trai 24 tuổi của tôi?” Tôi ngạc nhiên hỏi lại. “Chúng tôi không thể nhận anh ta,” mặt cô đanh lại.
“Tại sao? Tôi tưởng…”
“Anh ta là cựu quân nhân của chế độ Nam Việt Nam. Và trên 21 tuổi không kể là thành viên của gia đình anh,” cô ngắt lời tôi; lời nói của cô nhắc nhở tôi trong bảy năm qua, ông thủ tướng Gia Nã Đại thường tỏ ra thiên vị phe Cộng.
“Cám ơn cô và xin lỗi đã làm cô mất thì giờ. Gia đình tôi không thể bị phân ly,” tôi đứng dậy đi ra.
Sử và Trung đứng bên ngoài nói cười tíu tít. Trung sung sướng báo tin,
“Tụi moa được nhận đi định cư ở tỉnh Québec nói tiếng Pháp. Ngày mai qua quân y viện bên trại Andersen khám sức khỏe và nếu mọi việc suôn sẻ, ngày kia tụi moa rời trại bay sang Montréal bằng chuyến bay đặc biệt của hãng Canadian Air Pacific. Đó sẽ là chuyến cuối cùng của đợt di cư đi Gia Nã Đại từ đảo Guam.”
Bạn tôi đi Gia Nã Đại; tôi nằm lại Orote Point mà không hề buồn hay thất vọng. Vui buồn không xảy ra tình cờ, đó là do chúng ta lựa chọn. Tôi chọn sống mỗi ngày một lần thôi và tận hưởng những thứ hiện có hôm nay: ngày ba bữa có người nấu cơm cho ăn, đêm ngủ an toàn trong lều, ban ngày ra bãi biển ngắm trời xanh nước biếc, và ban đêm tìm bạn bè tán gẫu. Hôm qua là quá khứ, không thể thay đổi. Ngày mai chưa tới, tội gì mà lo lắng cho mệt óc?
Nó ráng sức bước từng bước một. Khó khăn vô cùng. Người bạn đồng đội trên vai nó bỗng quẫy nhẹ, nó lảo đảo muốn ngã nhưng hai tay vẫn cố nắm chặt vai áo của bạn. Máu từ vết thương, từ vai áo ấy chảy ri rỉ từng hồi xuống hai cùi chỏ của nó, rồi nhỏ giọt xuống đường đi. Mưa lớn. Tóc nó dính nhớp nháp vào tai, vào mắt. Qua màn mưa, hoà chút máu của bạn, trước mắt hiện lên con đường đỏ hồng chạy dài như vô tận. Nó gần như kiệt lực. Chân phải bắt đầu run rẩy và đau khủng khiếp, đau tới tim, tới óc. Cái thân người mà nó đang cố hết sức mang đi bỗng nhiên rủ xuống như cái mền ướt. Nó hoảng hốt ngã vật xuống đường. Cái thân thể đó ngã theo, đánh thịch một tiếng, nằm sấp bất động.
Không, không, mày không đến nỗi nào chứ? Mày đừng chết, đừng chết nghe! Nước mắt nó ứa ra thành dòng nong nóng. Và nó lăn ra bất tỉnh.
Tỉnh dậy, nó ngơ ngác nhìn. Căn phòng khá rộng, nhiều giường bệnh nằm song song với nhau. Thương binh la liệt như cá nằm trên lớp nước đá trong các siêu thị. Mùi cồn, mùi thuốc, lẫn mùi máu mủ tanh tưởi toả ra nồng nặc. Tiếng rên khe khẽ không bao giờ dứt. Đây là bệnh viện, nó tự hỏi? Nó cũng không biết ai đã đưa nó vào đây. Một bạn đồng đội còn sống sót? Cơn đau nhói lên, nó nhìn xuôi xuống hai chân. Máu thấm ra ướt đỏ lấm tấm trên những lớp băng quấn quanh khoảng giữa đầu gối chân phải. Nó cố trở mình. Cạnh giường nó, một nữ y tá, mặt mày phờ phạc, đang dùng kéo cắt băng cho một thương binh.
Căn phòng cửa đóng, âm u không đèn. Đang vào buổi sáng hay trưa hay chiều, nó tự hỏi.
Bỗng cánh cửa mở toang ra. Gió uà vào cùng một lúc với một toán người nói năng ồn ào. Nó sửng sốt. Đấy là quân thù? Đấy là bọn người mà nó và đồng đội tìm đủ mọi cách tiêu diệt trong những trận đánh dữ dội ngoài chiến trường? Và ngược lại? Nay họ xuất hiện đột ngột ngay trước mắt nó, nón tai bèo, quân phục ka-ki xanh, dép râu, súng ngắn bên hông. Như bị điện giật, nó cố ngồi dậy, rồi tự nhiên thả người nằm phịch xuống giường trong khi mắt nó chạm vào những cái nhìn lạnh tanh, sắt máu. Thế là chẳng còn gì nữa, nó nghe nó nói thì thầm. Một nỗi thê lương trùm lên nó.
Một người trong bọn họ hất hàm nói lầm bầm gì đó với cô y tá, rồi kéo cô nhanh ra khỏi phòng. Không đóng cửa lại.
Khoảng nửa giờ sau, những người bị thương nặng được cáng khiêng đi. Một số khác bị thương nhẹ hơn lần từng bước, tay vịn vào các thành giường, vào tường, đi theo toán người được cáng khiêng. Họ bị đưa đi đâu chẳng biết. Nó và năm bảy người khác, mỗi người được trao một cặp nạng gỗ, cũng được lệnh rời khỏi nơi này ngay lập tức. Căn phòng trong phút chốc trở nên trống trơn. Một thương binh luống cuống hỏi:
“Thưa, thưa, đi đâu?”
“Không được hỏi. Đi theo tôi. Khẩn trương, khẩn trương.”
Nó và mấy người chống nạng bị dẫn tới cổng sau của bệnh viện. Khi người cuối cùng ra khỏi cổng, hai cánh cửa của cái cổng sắt lớn đóng sầm lại. Tiếp theo, tiếng lách cách của dây xích sắt luồn vào song cửa sắt.
Đã chạng vạng tối. Họ khập khiêễng chống nạng lê lết đi. Có người chỉ đi được một quãng ngắn, đứng lại, rồi ngồi bệt xuống đất. Vài ba người khác đứng lại chờ.
“Tụi mày cứ đi đi. Ngồi đây không tiện. Tao sẽ đi ngay.”
“Không sao. Tụi tao cũng đi không nổi, ngồi nghỉ một chốc chờ mày.”
Nó không quen biết với mấy người đang ngồi nghỉ, rán đi theo những người còn sức tiếp tuc bước. Đi được mươi bước, đau quá, nó đứng lại. Hai nách, hai tay đè nặng lên cặp nạng, cố giữ chân phải đu đưa không chạm lên mặt đất. Mồ hôi tươm ra ướt đẫm mái tóc, ướt luôn chiếc áo trận dơ bẩn, máu me.
Trời tối dần. Mấy người ngồi nghỉ lúc nãy đã tiến tới. Có người lên tiếng, “Em đang chờ đó hả? Đi theo bọn anh ngay”. Nó đi không nổi, không muốn làm phiền ai, không biết nói lời từ chối, đành gật đầu, dạ, dạ. Và đứng yên nhìn theo. Họ đi xiêu xiêu, chậm chạp, khó khăn. Chốc chốc họ đứng lại, rồi thoáng một cái, biến mất trong bóng tối như ma.
Họ đi đâu? Nước mắt của nó tự nhiên ứa ra. Nó ngạc nhiên. Trước kia, từng chứng kiến biết bao cảnh ngộ khốn đốn hơn thế nhiều, nó vẫn cứng cỏi, nếu không muốn nói là bình thản. Nay chỉ có vậy, lại khóc lóc như con nít sao? Không, nó không được tỏ ra yếu đuối, nhưng nước mắt tự nhiên chảy ra không thể nào ngăn lại nổi.
Nó chớm đi một bước, đau thốn. Đành cố gắng ngồi bệt xuống đất, một chân co, chân kia đau quấn trong băng thẳng đơ. Chỉ vài giây sau, cặp nạng cùng với nó ngã kềnh lên bãi cỏ bên đường.
Sài Gòn Tháng Năm, ban đêm không lạnh. Nó ngủ thiếp lúc nào không hay.
Chợt có người lay nhẹ. Nó choàng tỉnh dậy. Trời mờ mờ sáng. Một người đàn ông đứng tuổi xốc nó lên chiếc xe ba gác. Hơn một tiếng đồng hồ sau, nó được đưa về nhà ông ấy, cách Tổng Y Viện Cộng Hoà không xa lắm, vùng Hạnh Thông Tây.
Nó được săn sóc lâu lắm. Cả tháng chăng? Nó không trả lời được câu hỏi ấy. Nhà chú xe ba gác nghèo xơ xác, chú vẫn tìm mua được một ít thuốc men đem về cho nó. Thêm một miệng ăn, thêm bận bịu vì nó, khiến nó áy náy vô cùng. Dù chưa khoẻ hẳn, nó xin đi. Cứ đi cái đã, mọi chuyện khác tính sau. Cùng lắm ngủ đường ngủ chợ. Nhưng lấy gì ăn? Ý nghĩ đó chợt hiện đến làm nó chột dạ. Chú hỏi liền mấy câu:
“Mà mày đi đâu? Mày sẽ ở với ai? Mày đã mạnh chưa?”
Nó không biết sẽ đi đâu cả. Nghĩ đến mẹ bặt âm vô tín. Nhớ đến người thân duy nhất còn lại là ông chú ở ngoài Trung, nó đáp liều:
“Cháu đi ra Trung. Chú thím cuả cháu ở ngoài đó.”
“Chà, chà. Ngoài Trung xa lắm phải không? Mà thời buổi giặc giã. Mày có tin tức gì ngoài đó không?”
Nó ngơ ngác. Qua bao biến động, ngôi nhà đó có còn không? Chú thím còn ở đó hay đã chạy loạn nơi nào rồi? Kể từ khi nó trốn nhà bỏ đi cho đến nay mới hơn một năm mà nó tưởng như đã trải qua cả một kiếp người. Cuộc sống cũ dường như thuộc về một quá khứ xa xôi mù mịt mất tăm. Chú xe ba gác có lẽ thấy nét mặt kỳ cục của nó, vội vàng nói tiếp:
“Thôi, thôi, mày đừng đi đâu cả. Cứ ở đây với tao cho tới khi hết bịnh. Không chết đói đâu mà sợ.”
Giọng nói đầy chân tình làm nước mắt nó muốn chảy ra. Nó tự trách tại sao ưa khóc vậy. Từ hôm bạn nó chết trên vai nó, lòng nó mềm nhũn, dễ xúc động, nước mắt như luôn luôn chực sẵn để tuôn thành dòng. Không được! Con trai ai lại! Coi kỳ lắm! Nó cố trấn áp nó. Rồi nó nghĩ ngay qua chuyện khác cho nguôi ngoai. Từ khi trốn nhà ra đi, nó gặp nhiều người tốt bụng. Bác hàng xóm, những người bạn đồng đội, … và nay chú xe ba gác không hề quen biết này. Cho nên đòi đi mà được giữ lại, nó sung sướng vô cùng. Vậy là mình giả bộ đòi đi hay sao, nó tự hỏi. Và nó biết là nó không giả dối chút nào.
Muốn tỏ lòng biết ơn, nhưng nó thấy khó nói quá. Mủ mít. Bà thím ngoài Trung từng bảo nó thế. Mủ mít? Nó nhớ chuyện cũ. Những trưa muà hè ve kêu vang. Một tay cầm cây trúc, một tay cầm con dao nhỏ, tới gốc cây mít chém nhẹ vài nhát. Mủ trắng sền sệt tươm ra. Lấy ít mủ quấn vào ngọn cây trúc, rồi đảo mắt nhìn lên những cành cây trong vườn xem ve ve đậu nơi đâu. Con ve ve màu nâu dễ lẫn với màu thân cây. Nhưng nhìn kỹ theo tiếng ve kêu, nó nhận ra hai cái cánh to, dài, trong, rung rung theo tiếng râm rang. Liền lấy cây trúc đầu quấn mủ mít thọc vào con ve. Thế là con ve ve bị dính cứng. Mình cũng bị mủ mít dính cứng không mở miệng ra được!
Thím, vợ của chú xe ba-gác, buôn bán ve chai. Bảo là ve chai nhưng gặp thứ đồ cũ nào thím cũng mua, rẻ rề, mang về chất từng đống cao đến tận mái nhà. Bao ny-lông, cân vệ sinh hỏng, sách báo cũ, dây dừa, dây thép gai, nồi, soong, chậu đất, chậu sành, vỏ đạn, dao, kéo, kính bể, bong bóng xẹp, súng, gươm, xe tăng bằng nhựa đã móp méo, búp bê mất đầu, mất tay, mất chân, v.v… Thím chùi rửa sạch sẽ, làm đẹp lại, xếp thành từng loại, rồi mang ra chợ bán. Hết chợ này tới chợ khác, có xe ba – gác của chú chở. Khi có người nào cần chở đồ, được trả tiền kha khá, chú chở ngay, gác lại việc chở ve chai cho thím. Chú thím có đứa con trai khoảng 10 tuổi, không được đi học, ngày ngày theo chú hoặc thím.
Chân của nó đã bớt đau, nó nghĩ đến ông chú của nó say sưa, hung dữ, nhớ đến chuyện mình bỏ nhà trốn đi, nay lại quay về coi sao được. Nó đánh liều “mở miệng” xin ở lại theo chú phụ việc. Buổi tối hay lúc nào rảnh, sẽ dạy ít chữ cho thằng nhỏ. Vợ chồng chú xe ba gác nghe nói thế bằng lòng ngay. Nó được thương yêu quá chừng, được coi như đứa con trai lớn trong gia đình – anh Hai.
Một hôm nó theo chú đi chở hàng về trễ. Nhà đã lên đèn. Thím ra đón ngay trước cửa, mặt mày tái mét.
“Ông ơi, có chuyện rồi.”
“Chuyện gì?” Chú bình tĩnh hỏi.
“Vô trỏng rồi tui nói.”
Thằng nhỏ đói bụng đã ăn trước, và đã đi ngủ. Thím đóng cửa, cài then, và thì thầm với chú. Nó ngồi bên cạnh chăm chú nghe.
“Ông ơi, công an phường tới. Hỏi hoài về thằng này.” Thím quay nhìn nó.
“Bà trả lời sao?”
“Tui sợ quá, không biết trả lời sao cả, nói đại rằng nó là bà con dưới quê lên thăm ít hôm thôi. Nay nó đã đi rồi. Công an hỏi đi đâu, tui nói đại nó đi về quê ở An Giang, Châu Đốc.”
Chú giật mình:
“Chết cha tui rồi! Bà nói cái kiểu gì lạ vậy?”
Thím đứng yên, sợ sệt.
Chú im lặng suy nghĩ khá lâu. Bỗng, như sực nhớ, chú bảo có gì đem ra ăn ngay. Ăn vội vàng. Xong, chú bảo nó lấy hết quần áo cho vào cái bị nhỏ mang theo, chẳng có là bao. Thím hiểu ý. Chú cầm tay nó dẫn ra khỏi cửa, và mất dạng trong đêm tối đen.
*
Nó ngồi thu mình trên xe ba gác, chú ngồi sau, hai chân đạp lia lịa. Gặp những ngã tư, ngã năm đèn sáng, chú lẻn nhanh vào những hẻm nhỏ tối tăm tìm lối đi khác. Khi thấy loáng thoáng đằng xa bóng dáng những người mặc đồng phục màu vàng, nghi là công an, chú liền thắng xe lại, ra dấu cho nó nhảy xuống núp sau một gốc cây hay nép mình bên một góc nhà nào đó. Chú đạp xe tới dò xét. Khi thấy yên, chú quay lại với nó, và tiếp tục đạp xe. Cứ thế, lặp đi lặp lại một cách nhanh nhẹn, gọn gàng. Chú im lặng, không nói một câu nào cả; nó cũng câm miệng hến. Chắc chú đã từng đạp xe trốn tránh như thế nhiều lần.
Gần nửa đêm, hai người tới một ngôi nhà ở ngoại ô Sài Gòn, mà sau đó nó được biết đó là vùng Gò Đen, cách Phú Lâm trên dưới 10 cây số. Nhà của người em ruột cuả chú.
Nó cũng gọi họ, em trai và em dâu chú xe ba – gác, là chú thím. Chú thím này có hai con còn nhỏ. Họ làm lụng cực nhọc suốt ngày. Họ nấu rượu chui, rượu lậu, gọi là Rượu Đế Gò Đen, hoặc gọn hơn, Đế Gò Đen, nổi tiếng từ lâu khắp Lục tỉnh.
Chỉ một thời gian ngắn, nó làm được mọi khâu, từ nấu gạo hoặc tấm thành cơm nhão, trộn men vào, ủ, rồi thêm nước, lại nấu, v.v …, cho đến khâu cuối cùng là cất hơi bốc lên chuyền qua cái thạp lớn đọng lại thành rượu. Nhà có nuôi heo, và gà vịt, cho ăn hèm vớt ra từ những chảo nấu. Tro trấu lấy từ lò nấu mang đi bán cho người làm rẫy, tức là làm vườn. Không bỏ phí một món nào cả. Người làm vườn thích thứ trấu đó lắm. Tốt lá, tốt củ.
Chú thím làm ăn cần cù, cẩn thận, khéo léo. Rượu Đế Gò Đen của chú thím ngày càng ngon hơn. Người mua đến từ nhiều nơi, nhất là từ Sài Gòn.
Một hôm chú sai nó đi xuống Tân An mua thêm mấy cái can nhựa để đựng rượu. Trên xe đò trở về Gò Đen, tình cờ nó ngồi cạnh một người đàn ông đứng tuổi tóc hoa râm, nét mặt dạn dày. Ông này thật vui tính, hỏi han nó đủ thứ chuyện, rồi kể cho nó nghe cuộc sống chìm nổi của ông.
“Chú em biết không, tui làm được đủ nghề. Cho nên có vất tui đi đâu tui cũng sống. Lúc đầu, còn trẻ, lớn hơn chú em một tí, tui theo gánh xiếc, giữ vai phụ hề. Chán thấy mồ. Nửa năm thôi, đi làm nghề khác.”
Nó tò mò:
“Phụ hề là cái gì hả chú?”
“Là làm tà lọt cho thằng hề. Loại tà lọt này không phải để sai khiến mà để thằng hề chánh hành hạ. Nó đánh, mình né, hoặc trân người chịu trận. Nó đuổi, mình chạy lăng quăng cuối cùng để nó bắt. Nó làm bộ giận dữ, mình làm bộ sợ sệt. Nó giễu, mình cười. Nó cười, mình vỗ tay. Nó khóc, mình tới lau nước mắt. Thiếu đường nó đái, mình cầm … cho nó đái. Chú em hiểu chớ? Chán thấy mồ. Mà chú em tên chi, để kêu cho dễ.”
“Dạ, dạ, … dạ …”
“Ủa, muốn giấu tên hả? Sợ cái gì? Sợ tui là công an? Thôi không hỏi tên nữa. Chú em thứ mấy trong nhà? Cứ gọi là thằng … thằng Sáu nghe. Còn tui tên Bính. Trông chú em trẻ măng. Mấy tuổi?”
“Dạ 20.”
“Xạo. Cái mặt còn non choẹt. Ở đó mà 20.”
“Chú giỏi quá. Thật ra cháu 16, hay 17 gì đó, cháu không rõ cho lắm. Năm rồi xin đi lính, lính Cộng Hoà, cháu khai gian cho đủ tuổi.”
“Có vậy chớ. Nhưng đừng cháu nữa, kêu anh xưng em cho tui trẻ ra. Mà anh kể ngang đâu?”
“Ngang … đi đái.”
“À, à. Để anh kể tiếp. Nhưng Sài Gòn em ở đâu?”
“Không. Em ở Gò Đen.”
“Vậy là sắp tới rồi. Không kịp kể chuyện nữa đâu. Thấy em anh thương quá. Anh cũng có thằng em út nhỏ hơn em, bị đạn trúng ngay vô đầu hôm ba mươi tháng tư. Nó là thằng Sáu. Cặp mắt cũng buồn buồn, mặt mày cũng ngơ ngơ, ngác ngác. Em làm anh nhớ nó quá. Em về làm việc chung với anh ở Sài Gòn đi.”
“Làm việc chi vậy chú, vậy anh?”
“Chẳng có việc chi ra hồn cả. Nghĩa là đủ thứ việc.”
“…”
“Không nặng nhọc đâu. Lại có hát hò, kèn trống, xôm tụ lắm.”
Nó hơi giật mình:
“Sao lại có kèn trống hả anh?”
“Có chớ. Ban ca kịch chui mà. Anh phụ giúp phần cải lương. Em biết ca cải lương không?”
“Không. Nhưng cháu, nhưng em không ở Sài Gòn được.”
“Sao vậy?”
“Không có giấy tờ.”
“Chứng minh nhân dân hả? Anh cũng không có. Ở chui. Mấy người trong đoàn cũng chui như anh.” Anh ta rút trong túi áo cây viết bi, kiếm một miếng giấy nhỏ trong ví tiền. “Địa chỉ của anh đây. Rán thu xếp lên Sài Gòn một chuyến cho biết mùi đời. Thấy chán thì cứ bỏ ngang xương, không sao cả. Em trả lời gấp gấp nghe. Bọn anh đang cần lắm, cần một người hiền lành như em. Cần lắm lắm.”
Ở tại Gò Đen gần một năm kể từ ngày rời khỏi nhà chú xe ba gác, nó như con chim trong bão tố đã tìm được nơi trú ẩn an toàn. Chú thím, bà con cô bác lối xóm, đều dễ dãi, rộng lượng, ngay thẳng, thật thà. Con chó, con mèo, đàn gà, đàn vịt, bầy heo, cũng trở nên quen thuộc, thân yêu. Khung cảnh chung quanh nó cũng thích, cây dừa, cây đước, cây lá, đám lúa, ao cá, vàm sông. Sống hồn nhiên như cây cỏ, không băn khoăn lo nghĩ. Mọi việc đều do chú thím lo toan, định liệu, nó chỉ có việc “Chú thím bảo gì mình làm nấy.” Khoẻ ru.
Ban ca kịch chui với trống kèn rập rình mà ông Bính nói trên chuyến xe đò, nó tưởng rằng nghe cho có nghe, không quan tâm lắm. Cái kiểu nghe vào tai này, ra khỏi tai kia. Nhưng lần này dường như có cái gì cứ luẩn quẩn trong tâm trí của nó.
Một buổi trưa, nhân lúc rỗi việc, nó vui miệng kể lại với chú câu chuyện trên xe đò. Kể xong, nó nghĩ rằng câu chuyện đến đấy là dứt điểm, như biết bao nhiêu chuyện tầm thường xẩy ra trong cuộc sống hàng này, tình cờ đến, có mặt với ta trong một thời gian, có khi chỉ trong thoáng chốc, rồi tình cờ đi, rồi biệt tích. Không bao giờ trở lại, không để lại dấu vết nào. Và những chuyện tầm thường khác sẽ cũng sẽ đến thay thế, rồi cũng sẽ đi.
Thế mà sau bữa ăn tối, không ngờ chú bảo thím và nó ngồi lại một chút, có chuyện nói:
“Tao đã bàn chuyện đó với thím mày đây.”
“Chuyện gì hả chú?”
“Chuyện cái ông trên xe đò nói có việc làm cho mày tại Sài Gòn. Tưởng thím mày chỉ biết tới mấy hũ rượu lậu mà thôi, vậy mà bả có lý.”
“Tao đồng ý với vợ tao. Mày có chữ nghĩa, mặt mày dễ coi, chắc là con nhà gặp thời buổi khó khăn phải về đây làm việc cực khổ với vợ chồng tao. Thấy thương lắm, không đành. Cho nên làm sao mày có thể ở đây lâu được. Trước sau gì mày cũng bỏ nơi này …”
Nó ngắt lời:
“Không, không, chú ơi …”
“Để tao nói tiếp. Là thế này. Nay mày có dịp bay nhảy thì cứ bay nhảy. Đó là dịp may. Dịp may tới mà bỏ đi nó không trở lại đâu. Chắc chắn mày sẽ sung sướng hơn, có tương lai hơn. Lỡ làm việc không giỏi, bị chê, thì lại về đây với tao liền một khi nghe. Như vậy tao mới yên tâm.”
Nó muốn ứa nước mắt. Chú tiếp:
“Mà mày đã biết Sài Gòn nhiều rồi, phải không? Trở lại đó, lại có công ăn việc làm, còn gì sướng bằng.”
Nó ngẩn người. Người ta nói Sài Gòn là hòn ngọc Viễn Đông. Người ta hát, “Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi …”, hay, “Cùng nhau đi tới Sài Gòn. Cùng nhau đi tới Sài Gòn. Thủ đô yêu dấu nước Nam tự do. Dừng chân trên bến Cộng Hoà, người Trung Nam Bắc một nhà …” trên đài, trên Ti Vi mà nó thường nghe trước kia khi mới vào lính. Thật rộn ràng, mê ly. Nó chỉ biết Sài Gòn qua lời ca tiếng hát mà thôi.
Lại nhớ, mới đây thôi, nó từ miền Trung theo đơn vị vào bảo vệ thủ đô. “Thủ đô, ôi thủ đô!” lại tiếng hát văng vẳng trên các đài phát thanh. Tha thiết, hào hùng. Nay thủ đô đang bị tấn công dữ dội ngày đêm. Nó ngạc nhiên đến sửng sốt. Và nó sắp tới đó. Bồn chồn, lo lắng, lẫn háo hức, kiêu hãnh.
Đơn vị của nó tiến tới được những nơi cách Sài Gòn vài chục cây số, dự vào những trận đánh ác liệt. Bom đạn kinh khiếp, máu đổ nhiều quá nó chưa từng thấy, xác người nằm đầy dưới hầm hố, trên các ụ phòng thủ. Đơn vị của nó bị đánh tan tành. Và cuối cùng, thằng bạn trên vai. Nó đã biết gì về Sài Gòn đâu.
Nó vốn quen chịu đựng và vâng lời. Nay chú bảo nên đi, thì nó đi. Năn nỉ xin ở lại coi sao được. Hơn nữa, nó biết chú thật lòng thương nó mới nói như vậy.
Sáng hôm sau, nó xin phép chú ra nhà bưu điện của quận mua giấy, mượn viết, viết một lá thư gởi cho ông Bính.
*
Sài Gòn đó rồi. Nó vô cùng kinh ngạc.
Nhà cửa chen chúc bên nhau san sát, những toà cao ốc vươn lên trời lồng lộng, đường sá đan vào nhau chằng chịt. Và đặc biệt là cây xanh. Nhiều con đường hai bên là cây cao ngọn giao nhau thành vòm che kín. Những cây me, những cây sao, những cây nó không biết tên. Nhưng Sài Gòn buồn. Tại vì ít người chăng? Nhiều công viên, bến xe, bến tàu vắng teo. Lại có những cư xá không người ở, những dinh thự trống trơn. Sài Gòn đang hấp hối chết hay đang trải qua cơn bệnh nặng, chưa bình phục.
Trên đường không thấy xe hơi như nó tưởng, như nó nghe nói. Thay vào đó là những dòng xe đạp chạy liên miên bất tận. Họ chạy đi đâu mà chạy mãi thế? Trốn tránh cái gì? Hay tìm kiếm cái gì? Lề đường lác đác người đi bộ. Im lặng. Không chuyện trò, không tiếng cười. Những đám người gầy yếu, vật vờ, áo quần nhếch nhác. Đàn ông áo sơ-mi nhàu nát bỏ ra ngoài chiếc quần tây cũ rích, đầu trần hoặc đội nón bèo nhèo, chân mang bata hay xăng-đan cũ, rách. Đàn bà áo bà ba bạc màu, quần vải thô, đội nón lá, nón rách, mang dép đã mòn nhẵn. Vắng bóng chiếc áo dài tha thướt. Không thấy ai mang giày, nam cũng như nữ.
Hai bên những đại lộ rộng thênh thang và dài hun hút, cây cối vẫn xanh tươi, nhưng tuyệt nhiên không thấy một bóng chim, không nghe tiếng chim hót. Trong các công viên cũng thế. Chim sẻ, loài chim quấn quýt với loài người, nơi nào cũng có, cũng thấy nhảy nhót trên các vỉa hè, nay biệt tích. Chúng nó bị người ta bắn, bẫy, giết chết để ăn thịt; họ thiếu chất đạm trầm trọng. Hay chúng sợ cái gì đó nên đã trốn đi nơi khác? Đất lành chim đậu. Hay là đất này hết lành rồi?
Đàn ông, thanh niên không còn lại bao nhiêu. Họ tử trận. Họ vào tù. Vô số tù cải tạo. Hay họ về quê sau khi Miền Nam thất thủ. Thay vào đó là những công an mặc kaki vàng, hay những bộ đội quân phục xanh. Nón tai bèo, nón cối. Hầu hết mang dép râu.
Nó không thể quên những khuôn mặt của cư dân Sài Gòn mà nó gặp trên đường. Má hóp, trán ưu tư, tóc bù rối.
Nhất là những cặp mắt. Giống nhau ở nét buồn chán, nhưng mỗi đôi mắt mang một vẻ riêng. Đăm chiêu, lạnh lùng, cau có, uất ức, giận dữ, hay tuyệt vọng. Đó là nam giới. Phụ nữ thì khác. Họ lặng lẽ, cam chịu hơn.
Cũng có một số người mới nổi lên được gọi là “cách mạng ba mươi tháng tư”. Họ mang băng màu đỏ trên cánh tay áo, có mặt tại những nơi tạm gọi là đông người – vì khắp nơi đều vắng vẻ — tham gia vào việc giữ an ninh, trật tự. Nổi lên bên cạnh chánh quyền mới quân quản là những cán bộ cộng sản nằm vùng, nay xuất đầu lộ diện. Những người này luôn luôn có dáng dấp “hồ hởi, phấn khởi.”
Ban ca kịch chui gồm một số ca sĩ tân nhạc, cổ nhạc. Có ba người cùng hoàn cảnh như nó, tức là không có giấy tờ hợp lệ, nhưng họ có tay nghề: ông Bính là một, một người chơi ghi ta, và một người chơi trống. Thỉnh thoảng một vài ca sĩ hạng hai, hạng ba của Sài Gòn cũ nhập vào đoàn. Khi cảm thấy khán thính giả không còn thích họ nữa, họ lặng lẽ rút lui. Riêng nó làm đủ thứ việc. Phụ bếp nấu ăn, lau nhà, khuân vác, chùi rửa mọi thứ lặt vặt kể cả một số nhạc cụ.
Nó làm việc siêng năng, chăm chỉ, ai cũng thương. Lại thích nghe người ta hát. Trong lúc làm việc, nó lẩm nhẩm hát theo. Bị chê là hát dở, nó cười hiền lành. Không sao mà, nó chỉ hát thì thầm cho chính nó nghe mà thôi. Người nào chú ý nghe nó hát là lỗi của họ. Và nó thuộc lòng khá nhiều bài hát trước 75. Những bài nhạc cũ đó bị cách mạng lên án là nhạc vàng, nhạc đồi trụy, nó rất ngạc nhiên.
Nhưng nó thích trống nhất. Nó hiểu lờ mờ rằng muốn đàn, phải học hỏi, tập luyện công phu, muốn hát phải được trời cho giọng hát hay. Trống coi bộ dễ học hơn. Lúc nào có dịp là nó mon men đến anh chơi trống bắt chuyện, hỏi han. Lần hồi nhờ anh chỉ vẽ đôi chút, xin anh cho đánh trống thử xem đúng nhịp không, có sáng kiến không, có hồn không. Vì anh bảo muốn chơi trống phải hội đủ ít nhất là 3 yếu tố: kỹ thuật, sáng tạo, cảm xúc. Ngoài ra còn phải biết hoà điệu với những thành phần khác trong ban nhạc bằng tiếng trống, và bằng cả sự giao cảm.
Nó nhớ nằm lòng lời anh dặn. Nhưng nó biết không phải vì tương đối dễ học nên nó thích. Nó thích trống từ lâu. Tiếng trống âm vang, đồng vọng trong tâm hồn nó từ thời nhỏ dại. Trống đình, trống chùa. Và những đêm lạnh nằm co quắp trong chiếc chiếu không thể nào chợp mắt nổi, nó lắng tai nghe. Chìm khuất trong quá khứ mù khơi thuở nó còn nằm nôi, tiếng mẹ ru lẫn trong tiếng trống bềnh bồng xa xa, tiếng lá rơi rào rạt ngoài vườn, tiếng ễnh ương buồn buồn lan rộng khắp nơi, những đêm mưa rơi trên mái rạ dột nát, nước mưa nhỏ giọt vào gian chái của ngôi nhà tranh, và lời ru, “Bên ướt mẹ nằm bên ráo con lăn.”
Ban ca kịch thỉnh thoảng đi lưu diễn những nơi xa thành phố. Ra Trung như Phan Thiết, Tháp Chàm, Phan Rang, có khi ra tận Nha Trang. Về miền Tây như Mỹ Tho, Bến Tre, Gò Công. Rất thiếu xe vận tải, xăng nhớt mắc mỏ, nhiều khi họ phải thuê ghe lườn để chuyên chở sân khấu, cánh gà, phông, và các ca sĩ, đào, kép. Bắt đầu đêm diễn xuất là mấy bài ca cách mạng theo đúng thủ tục. Tiếp theo, mấy bài ca cải lương quen thuộc. Và cuối cùng, phần chính, là những bài nhạc cũ, là nhạc vàng mà khán thính giả mong đợi. Cách mạng cấm hát loại nhạc này, nhưng ban nhạc vẫn hát chui, khán thính giả vẫn nghe chui. Có lẽ cách mạng biết điều đó, nhưng chưa “ra tay” chăng.
Nhạc vàng! Nhạc thời Việt Nam Cộng Hoà! Nhiều bài hát đã đi sâu vào tim, vào hồn của nó. Và của nhiều người khác. Có những bài hát mỗi lần nghe nước mắt nó rưng rưng. Một thời đại ngắn ngủi, hào hùng lẫn đau đớn, buồn nhiều hơn vui, chìm nổi trong những giai điệu lúc thì chan chứa tình tự dân tộc, rào rạt yêu thương, lúc thì rộn rã niềm vui, lúc thì chán chường ảo não. Đó là thời đại khi Miền Nam bị trọng thương, sắp gục ngã. Còn đứng dậy nổi hay không?
Lại có bài hát nó chỉ muốn nghe một mình thôi, và hát theo. Không muốn một ai trông thấy nó vừa nghe, vừa hát, vừa thổn thức. Chẳng hạn một bài hát đã vận vào một quãng đời đi lính của bạn nó, thằng bạn nó vác trên vai trong trận cuối. Nó lẩm nhẩm hát câu được, câu mất, nghẹn ngào: “Từ xa tôi về phép hai mươi bốn giờ … Chân nghe quen từng viên sỏi đường nhà … Và người yêu đứng chờ ngoài ngõ bao giờ … ”[1].
Bạn nó khi còn sống cũng thường về phép thăm người yêu. Đường về cũng xa, mà thời gian nghỉ phép cũng chỉ 24 giờ thôi. Nhưng bạn nó không bao giờ trở lại đơn vị đúng thời hạn. Thì bị phạt. Tái phạm bị trọng cấm. Càng tái phạm, thời gian trọng cấm càng dài. Rồi bị cấm tiệt không được về phép nữa. Thằng khốn khổ đó trông chẳng khác gì con thú dữ trong chuồng sắt. Cuối cùng, trốn. Tưởng trốn biệt, nhưng hơn hai tháng sau trở lại đơn vị, lãnh nhiều hình phạt, nói nhớ đơn vị, nhớ bạn đồng đội quá đỗi, chẳng thua gì nhớ người yêu. Xin được nương tay.
Tình yêu có sức mạnh đến thế sao, nó tự hỏi. Nhưng mình còn nhỏ quá, đã biết yêu là gì đâu? Lại quá nhút nhát trước mấy cô vừa lạ lùng, vừa lôi cuốn.
Một cô gái trong đoàn để ý đến nó. Một hôm, một buổi sáng sớm. Cô nàng mới xin vào đoàn, đẹp lắm, nhưng tay ngang, phải học ca, học diễn, sao cho duyên dáng, hấp dẫn, và theo cho đúng nhịp điệu, tiếng đàn, tiếng trống. Cô hơn nó khoảng vài tuổi, nó đoán. Khoảng mười chín, hai mươi, là cùng. Cô bắt chuyện:
“Anh này.”
“Dạ?”
“Đừng dạ.”
Nó lúng túng:
“Dạ.”
“Đã nói đừng dạ mà.”
“Dạ, tui không dạ nữa.”
“Lại dạ, cái anh này. Mà sao anh ít nói vậy. Hổm rày cứ tưởng anh câm. Nhưng không sao, anh không nói bằng miệng, tui cũng đoán được ý anh. Anh nói bằng mắt, anh có biết vậy không?”
Nó chột dạ. Thỉnh thoảng nó nhìn trộm cô, thế thôi. Đàn bà ghê thật, mình đã giữ ý đến thế mà cô nàng cũng biết.
Cô tiếp tục hỏi:
“Anh đang có chuyện buồn hả?”
“Dạ, ô, ô, tui quen miệng. Không dạ nữa.” Nó ấp úng. “Không, không. Tui không có chuyện chi buồn cả.”
“Vậy hả. Này anh, nãy giờ tui hỏi, anh trả lời. Bây giờ anh hỏi tui đi. Tui trả lời.”
“Chị, chị …”
Cô nàng cười, nụ cười càng mê hồn:
“Chị cái gì mà chị, chị. Kêu chi cũng được, đừng kêu chị. Tui tên Phượng.”
Nó lúng túng, không biết xoay xở làm sao, có vẻ van lơn.
“Thôi được rồi, để tui hỏi tiếp. Hình như anh đang sợ? Sợ ai vậy? Sợ cái gì vậy?”
“Không. Tui có sợ gì đâu.”
“Đừng nói láo với tui. Đừng giấu tui. Con mắt anh là con mắt sợ hãi, ngơ ngác, và hơi buồn. Tui thích con mắt của anh đó.”
Nói tới đấy, bỗng nhiên cô đứng dậy, quay người đi nhanh, trong khi nó đang ngồi trên một chiếc ghế thấp ngẩn ngơ nhìn theo. Cái mông ngồn ngộn ngang đầu nó khi cô đứng lên. Nó loà con mắt. Phượng là cơn gió thoảng, mới đến, đã đi.
Đấy là lần đầu tiên nó tiếp xúc với một cô gái xinh đẹp. Chỉ có thế, quá ngắn ngủi, nhưng nó bần thần mãi. Và nhớ. Nó nhớ mớ tóc uốn cong dài xoã lên cái trán trắng và phẳng che nửa khuôn mặt. Vài sợi tóc đi lạc vắt ngang qua đuôi con mắt bên kia cọ quẹt lên cái má phớt phấn hồng khi cô lắc đầu quầy quậy tỏ vẻ không bằng lòng những câu trả lời cụt ngủn của nó. Nó nhớ cặp mắt đen mịn như nhung, nụ cười lãng đãng, lời nói kỳ cục. Ngơ ngác, sợ hãi và buồn là ai vậy? Lẽ đâu mình? Nó nhớ giọng nói lên xuống trong veo, êm êm, như hát, nhưng đầy quyền uy. Và mùi son phấn dịu dàng. Và hình như cả mùi tóc. Xà bông thơm, hay nước hoa, hay bồ kết. Hay tất cả cái đó là mùi con gái nó nghe thấy lần đầu tiên trong đời. Ngọt ngào như hơi thở của trời đất buổi sáng sớm.
Một nỗi buồn không nói thành lời bỗng dưng ập tới. Tới rồi có đi không, hay là sẽ ở lại với nó cho đến bao giờ.
Những lúc rảnh rỗi, khá hiếm hoi, nó đến ngồi một mình trên chiếc ghế thấp của hôm nọ bồn chồn mong đợi, và tưởng tượng. Nó không dám chủ động tìm gặp cô ta. Lỡ cô không nhận ra nó. Có thể lắm. Chắc là cô nàng quên … chắc là em quên anh rồi. Nó gọi thầm, nhiều lần, Phượng! Phượng!
Tám ngày đã trôi qua. Nó đếm. Một buổi sáng, cũng buổi sáng, sáng thứ chín, cô xuất hiện. Cô đến, trố mắt nhìn nó ngạc nhiên, hỏi bịnh hay sao mà phờ phạc đến thế. Nó mừng rỡ, sung sướng trả lời:
“Chị …”
Cô nàng ngắt lời ngay:
“Lại chị. Anh có nhớ tui nói gì không. Kêu chi cũng được, nhưng đừng kêu chị. Anh nhớ em nói như vậy chứ?”
Nó bạo dạn dần. Tình yêu đã đến như thế.
Hai người lén lút gặp nhau. Hôm nào hai người không có việc làm, nàng không đi hát hay tập hát, chàng làm xong mọi việc tạp dịch linh tinh, họ kéo nhau đi ăn, đi dạo phố. Quán ăn độ này ít, phố phường độ này vắng, họ càng thích. Thích sống riêng với nhau, không bị ai quấy rầy. Nàng còn rủ chàng vào tiệm nhảy chui. Cũng như nhạc vàng chui, chính quyền biết có mấy tiệm khiêu vũ, nhưng “làm lơ”. Vài câu lạc bộ khiêu vũ và vũ trường mới xuất hiện, The Lighthouse Saigon, Quán Bar và Câu Lạc Bộ.
“Cái này chắc không được rồi. Anh không biết nhảy đầm.”
“Không sao. Em chỉ anh. Slow nhé, dễ lắm. Em cũng không biết nhiều đâu.”
Thế rồi, một hôm, Phượng tới. Hấp tấp:
“Anh ơi, nghe em nói. Gấp lắm.”
“Chuyện gì vậy?”
“Em thôi việc.”
Nó hoảng hốt:
“Tại sao? Tại sao?”
“Em hát mà người ta không vỗ tay, lại còn la ó.”
“Em chịu khó tập thêm. Hát hay mấy hồi.”
“Không. Em chán quá rồi. Không thèm làm ca sĩ nữa. Làm nghề khác. Thôi em đi.”
“Đi đâu? Anh đi theo em được không?”
“Không được. Quen anh lâu đến thế là quá lắm rồi đó, lâu nhất đó. Bây giờ em đi. Tui … tui phải đi ngay.”
Nói xong cô ta quay bước nhanh. Nó níu vai. Cô hất tay, có vẻ giận, la lên:
“Đừng, đừng. Đừng làm cái trò đó. Kỳ cục lắm.”
Nó lặng người. Cô bước nhanh ra khỏi nhà, nó đứng lại sửng sốt nhìn theo. Một thanh niên đang ngồi sẵn trên chiếc xe gắn máy chờ, máy đang nổ.
Nó như người mất hồn. Trước hết, một câu hỏi lặp đi, lặp lại nhiều lần. Thằng ngồi xe gắn máy chờ là thằng nào? Người tình? Bà con? Hay anh em ruột thịt? Nửa tháng qua, một tháng qua, không thấy tăm hơi Phượng. Nó buồn rầu ngẫm nghĩ chẳng lẽ mối tình giữa hai người chỉ ngắn ngủi có thế. Rồi xa nhau mãi. Rồi chết yểu.
Trong thời gian hơn một tháng trời mong đợi đó, nó lén lút trở lại những nơi hai người từng đến khi có dịp. Nó tới cả tiệm nhảy dù rất e ngại. Nhiều lúc khấp khởi mừng thầm thấy cái dáng đi quen quen, mái tóc buông thõng che nửa khuôn mặt đẹp na ná, trên đường phố, hay trên sàn nhảy. Nó rảo bước bươn bươn xông tới. Và thất vọng, đau đớn. Nhiều lúc nó sống trong ảo giác. Mộng thực lẫn lộn. Phân thân.
Rồi ngày ngày nó lại phải làm những công việc trước kia nó cảm thấy thích thú khi thỉnh thoảng được nghe tiếng cười, tiếng nói thân yêu đó lẫn trong tiếng kèn, tiếng trống, tiếng đàn, tiếng hát. Nay mọi thứ đều trái ngược. Buồn tẻ, chán chường. Nó làm việc uể oải, cẩu thả, quên trước quên sau. Bị rầy rà, nó chấp nhận, nhưng nó không thể chịu đựng những câu nói bóng gió, xỏ xiên của mấy thằng trẻ tuổi trong đoàn.
Chuyện phải đến, ẩu đả, đổ máu. Công an đến. Nó và ba thằng kia bị đưa về phường đội. Không có giấy tờ hợp lệ, nó bị đi tù cải tạo. Không biết số phận ba thằng kia ra sao.
Ở tù. Bị chuyển đến nhiều trại tù khác nhau. Còn trẻ, và đã trải nhiều gian khổ từ thời bé dại, nên nó chẳng có gì để phàn nàn về cuộc sống trong tù bây giờ. Và nó còn được học hỏi nhiều thứ từ những người tù khác. Hơn nữa nó nghĩ rằng người ta ở ngoài kia, ngoài những lớp hàng rào tre, hàng rào kẽm gai, cũng sống trong thiếu thốn, đói kém. Chiến tranh kéo dài lâu quá, sướng sao được. Mất tự do chăng? Cũng bực bội đấy, nhưng nó không đặt thành vấn đề. Nó đã quen sống trong bó buộc, quen vâng lời, muốn người khác quyết định, nó tuân theo, khoẻ hơn. Cuộc đời còn dài, sớm muộn gì nó cũng được tha.
Tuy nhiên, mấy chuyện xẩy ra tại hai trại tù dưới đây đã khiến nó lo nghĩ nhiều.
Thứ nhất là trại tù nhốt những người gọi là du đảng, côn đồ, xì ke, ma tuý, tàn dư Mỹ Ngụy. Có những tù nhân quá nhỏ, 11, 12 tuổi, tóc tai bù xù, mặt mày xanh xao, thân thể gầy gò xiêu vẹo, và không biết kỷ luật là gì. La hét, nói tục, chửi bới, ăn cắp, đánh lộn, chạy trốn. Nhiều tù thiếu nhi vì thế bị bắn chết. Tuần lễ nào cũng có những xác chết bị bó vội vàng trong manh chiếu rách, manh áo rách, được hai tù bé con khác gánh đi chôn, một lính bảo vệ mang súng đi theo sau chỉ đường. Họ không bao giờ đi trước tù. Trên đường tới chỗ chôn, nhiều khi cánh tay hay bàn chân nhỏ tí teo bung ra khỏi dây buộc, kéo lê trên con đường cỏ mòn. Máu đổ xuống thành những vệt đỏ dài trên cỏ xanh.
Họ ác quá, giết người bừa bãi, đành đoạn. Nhất là giết con nít.
Trại tù thứ hai nhốt sĩ quan Cộng Hoà, Cảnh Sát, và một số phần tử “phản động”. Nói chung, họ là những người có tư cách, nên được đối xử đàng hoàng hơn. Họ ít nói, không cười. Người nào chống đối lộ liễu đều bị “bạo lực cách mạng trấn áp” bằng cách chuyển đi trại khác hoặc thủ tiêu. Có người nói xuôi chiều, lấy lòng kẻ thắng trận. Có người cố gắng “học tập tốt, lao động tốt” mong sớm được cho trở về với gia đình. Cũng có một số, rất ít, làm điểm chỉ, bị bạn tù gọi là “ăng-ten”.
Sống với những người tù nói trên, lớn tuổi hơn nó nhiều, kiến thức hơn nó nhiều, nó kính nể như cha, như thầy, như anh. Trong tù, nó học hỏi được nhiều. Học cả tiếng Anh, không biết để làm gì. Học lén không cho quản giáo biết. Và học võ, nhu đạo, hiệp khí đạo, vô vi nam. Ngày dài tháng rộng, chẳng biết khi nào về, nhưng nó không sốt ruột như những người tù khác. Trái lại nó nghĩ rằng thời gian ở tù là cơ hội cho nó được mở mang trí óc, học hỏi kinh nghiệm sống. Nó biết nó khác trước nhiều.
Có khi nó nhìn lại nó. Ngày vui ít quá, trừ thời gian trong lính, những tháng ở Gò Đen, và nhất là những ngày ngắn ngủi có Phượng bên cạnh, mà nó vừa trân quý như một kỷ niệm đẹp nhất trong đời, vừa cảm thấy cay đắng, xót xa. Nhiều khi nó muốn quên Phượng, quên như quên một gánh nặng đeo trên vai, đè trong lòng.
Nó muốn quên tất cả.
Thế nhưng những đêm khuya thức giấc, nó nhớ lan man hết chuyện này qua chuyện khác. Ông chú say sưa hay đánh đập nó. Nghĩ lại, thương chú. Rượu xui khiến chứ chú đâu muốn thế. Mình bỏ nhà trốn là có lỗi, là vô ơn. Thương thím làm việc quần quật suốt ngày, thương cả hai thằng em họ ngỗ nghịch.
Nhiều khi nó nhớ quê hương da diết. Ngôi đình, những khóm nhà tranh, bụi tre, cây cau, vườn chuối, cánh đồng. Đường xóm vắng, con hói nhỏ, đàn trâu mẹp, chiếc ao bèo, chim bói cá, chuồn chuồn ớt, con bọ mắt. Và thành quách rêu phong. Và những dãy núi chập chùng bên dòng sông xanh biếc, thuyền ngược xuôi lẫn trong sương mù buổi sáng muà thu. Và tiếng trống xa âm u đêm mưa, tiếng chuông chuà ngân nga sáng chiều. Hè về thì ve kêu ra rả đón mừng. Đến khi muà đông nước dâng, ễnh ương không ngớt gọi nhau vang lừng suốt ngày đêm. Nó soát lại, thiếu mùa xuân.
Lại nhớ chú xe ba gác xốc nó lên xe gần cổng Tổng Y Viện Cộng Hoà, nhớ chú thím nấu rượu lậu xuề xoà, nhân hậu, dễ dãi. Nhớ cả ba thằng trẻ tuổi trong ban nhạc đó nữa. Chúng nó ganh ghét cũng phải thôi, vì Phượng chỉ cho một mình nó lọt vào mắt xanh. Vậy mà trong lúc điên cuồng, nó cầm cái ấm nước nện vào đầu một thằng. Ba thằng đó có bị ở tù như nó không?
Muốn quên mà không quên được thì nhớ. Nhớ gì nữa? Nhớ ai nữa? Nhớ thêm thằng bạn chết trên vai nhé, dĩ nhiên. Thế là đã kể lể hết mọi chuyện để nhớ rồi, chắc chắn vậy. Nghĩa là không có Phượng trong nỗi nhớ, nó thầm hỏi. Và nghe trái tim nhói đau.
Một buổi trưa nắng cháy như lửa, toán của nó được nghỉ mệt. Người ngồi trên những vồng đất mới vun lên để trồng sắn, kẻ đứng dưới gốc cây lớn có bóng râm, kẻ khác lại nằm dài trên mặt đất lấy tay làm gối, chiếc nón lá trùm lên mặt che nắng. Nó ngồi trên một tảng đá nằm ven một con đường mòn nhỏ, nhổ mấy cọng cỏ gà thắt thành nút, nhớ thời con nít, chơi đá cỏ gà một mình. Con đường đất này chạy từ trại ngoài vào trại trong cách nhau gần 2 cây số. Trại trong chứa nhiều tù hơn. Trại ngoài nằm trên một ngọn đồi bên một con đường nhỏ cho nên người đi thăm nuôi có thể được xe đưa lên gần sát trại.
Nó chợt thấy từ xa một người đàn bà nách bên hông một đứa bé, tay kia xách một cái bị lớn có vẻ nặng, bước chậm, người nghiêng. Bà đi một đoạn ngắn, rồi đặt con và cái bị xuống bên con đường đất, và cúi xuống nói gì đó với đứa con. Xong bà đi ngược lại quãng đường cũ. Đứa bé chưa biết đi, liền bò theo mẹ, lăn nhào, khóc thét. Bà mẹ quay lui bồng con tới chỗ cũ, đặt nó xuống đất cạnh cái bị, lại dặn dò, chỉ trỏ, rồi từ từ quay đi, vừa đi vừa ngó lui. Lần này đứa bé, có lẽ hiểu ý, ngồi yên. Bà vội đi như chạy, trở lui lấy một cái giỏ khác to hơn ở đằng xa, rồi mang tới chỗ đứa con đang ngồi cạnh cái bị cũ. Nghỉ ngơi vài giây, giở nón lá ra quạt cho con, cho mình, lại nách con lên, tay kia xách cái bị cũ, khập khiểng bước tới, để lại cái giỏ to nằm chờ ở đó.
Nó hiểu ngay. Bà này đi thăm nuôi chồng. Bà phải loay loay như thế vì không có xe chở người đi thăm nuôi vào trại trong nơi chồng bà đang bị nhốt. Chắc bà thương chồng lắm nên bới xách quá tải. Nó liền vất mấy cọng cỏ gà, tới xách cái giỏ lớn, chạy theo người đàn bà.
Bỗng một tràng đạn nổ vang. Nó giật mình đứng lại, tay vẫn giữ cái giỏ. Những người tù khác đang đứng, nằm, hay ngồi, đều đứng dậy, ngơ ngác nhìn quanh. Lính bảo vệ gọi nó tới, nạt nộ:
“Bỏ cái túi xách xuống ngay! Lần sau tôi bắn chết!”
Quản giáo bảo nó chiều lao động về gặp. Nó bị còng một chân biệt giam 3 ngày trong cái chòi nhỏ lợp tôn, ban ngày nóng như thiêu đốt.
Nằm duỗi thẳng một chân trong chòi nhỏ, lúc đêm về khuya trời mát dần, vẫn không ngủ được, nó ngẫm nghĩ. Từ ngày Miền Nam mất, buồn và căm hờn. Và mang trong lòng một cái gì gần như niềm tuyệt vọng. Rồi cũng nguôi ngoai theo thời gian. Tính nó thế, dễ vui và dễ quên. Căm hờn cũ phai nhạt dần. Nay tại sao nằm đây? Có lẽ vì vi phạm nội quy? Nó không tha thở, oán trách.
Thời gian ở quê nấu rượu chui, nó ít tiếp xúc với người ngoài. Thời gian sống với ban ca kịch, nó cắm cúi làm việc suốt ngày. Cho đến khi gặp Phượng, rồi đi tù.
Đời sống trong tù có thể là địa ngục đối với kẻ khác; riêng nó, đó không phải là chuyện gì ghê gớm. Nó nhìn người bộ đội, quản giáo, bằng con mắt dần dần bớt ác cảm. Nó nhận thấy những người thắng trận, những cai tù, có vẻ cũng chịu cực khổ gần như kẻ bại trận, người tù. Và cùng là người Việt với nhau, sẽ hiểu nhau, thông cảm nhau, nó mong. Hơn nữa, nó vẫn suy nghĩ một cách đơn giản, họ lấn chiếm lãnh thổ của mình không lẽ lại xử tệ với mình.
Chỉ tiếc là họ nhẫn tâm quá. Bắn chết trẻ con, vô cảm đối với một người đàn bà khốn khổ đi thăm nuôi. Có lẽ họ là lính, quen chém giết, sắt máu, chai sạn. Xã hội bên ngoài nhà tù chắc chắn tốt đẹp hơn nhiều.
Sau hơn một năm, nó được tha. Người cộng sản rất khéo dùng chữ nghĩa. Vào tù thì gọi là đi trình diện học tập cải tạo, được phóng thích thì là được ra trại, nhận “Giấy Ra Trại”. Nó, gốc Miền Trung, phải về quê cũ.
Quê nhà tiêu điều, tan hoang ngoài sức tưởng tượng của nó. Dân chúng đói trắng mắt, ngơ ngác, nghi ngờ, sợ sệt. Nó tìm nhà chú. Nhà còn nhưng người khác ở. Chú có tham gia một tổ chức “phản động” nên bị bắt đi biệt tích. Thím đem hai đứa con về ở bên ngoại. Không còn ai thân thích ở nơi này, cuộc sống quá khó khăn, nó tìm cách vào Nam.
Nhớ thời gian trong tù, được nghe những chuyện phiêu, mạo hiểm, trong đó chuyện “nhảy tàu” là chuyện nhỏ. Không tiền mua vé xe lửa, thì chui vào lỗ chó chui vào sân ga, lẻn lên tàu. Tàu chạy, người soát vé tới, biến vào cầu tiêu. Trước khi tới ga đến, tàu chạy chậm lại, nhảy xuống dễ dàng ven đường xe lửa. Mà tàu chạy nhanh cũng nhảy xuống được, vì biết cách nhảy võ, chân vừa chạm đất, co chân, hai tay ôm đầu, lăn theo đà vài ba vòng, khỏi gãy chân, gãy lưng. Thế là khỏi phải qua trạm kiểm soát vé tại cổng ga đến.
Nó tìm đến chú thím xe ba gác. Không gặp. Nó nghi ngờ rằng công an điều tra biết được nhà chú có chứa chấp nó. Không chừng chú thím bị liên lụy, nó than thầm. Về Gò Đen chăng? Vùng này nhỏ quá. Ở đó trước sau gì cũng bị lộ tung tích khi việc hành chánh ổn định. Thôi thì thử sống chui tại Sài Gòn một thời gian.
Nó tìm ban ca kịch. Đã đổi chủ. Lại được tin ông Bính đã bị bắt, và bị nhốt ở nơi nào không ai biết. Tìm Phượng cũng tin tức biền biệt. Người ta nói Phượng đã vượt biên, không biết sống chết ra sao. Số người vượt biên càng lúc càng nhiều.
Túng quá, gặp việc gì nó làm việc nấy, khuân vác, dọn hàng, làm cỏ, quét chợ, gánh nước, làm vườn. Ăn uống bậy bạ qua ngày, bữa đói, bữa no. Gặp đâu ngủ đó, ghế công viên, xó chợ, bến xe, nhà mồ có mái che ở nghĩa địa. Đấy là vào mấy tháng đầu.
Về sau nó được nhận làm lao công cho một chiếc ghe chở hàng từ Sài Gòn đi Bến Tre, Mỹ Tho. Trong ghe có mấy cái khoang chứa hàng lậu. Khi công an tới kiểm soát, nó chui vào đó trốn, ngủ một giấc dài. Khi không đủ hàng, ghe chở thêm hành khách, đôi khi khách du lịch. Ghe qua sông Nhà Bè, xuống sông Cần Guộc, Kinh Nước Mặn, tới sông Vàm Cỏ, rẽ xuống sông Tiền Giang, rồi tới Bến Tre hoặc Mỹ Tho.
Những hôm xa Sài Gòn, bềnh bồng trên sông nước, nó thích lắm. Từ thích đến yêu. Mới hai mươi tuổi mà đã trải qua lắm gian nguy, nay nó sung sướng được sống một cuộc sống không bon chen, không băn khoăn, không lo nghĩ, không sợ hãi. Như bèo trôi, như mây nổi. Sống với những người miền Nam đơn sơ, hồn hậu. Nay ghé Cần Giuộc, Chợ Đào mua vài chục hột vịt lộn, đong mấy chục ký gạo thơm; mai tới Tân An mua khóm miếng, bánh tráng, tới sông Tiền hái cam, hái mận, bẫy chim, săn chồn. Tôm cá thì ê hề nơi nào cũng có. Cả ghe quây quần ăn uống, cười đùa vô tư.
Nó nghĩ rằng sau vài ba năm là cùng, những ngày đầy biến động sẽ lắng xuống, cuộc sống sẽ yên ổn dần dần. Tại sao người ta bỏ đi nhiều vậy?
*
Trong tù, là sắt máu, là tàn bạo, là u ám. Nhưng cũng có chút kỷ cương. Một quy định nào đó đưa ra đều được mọi người tuân thủ. Người thắng trận có thể tin tưởng chế độ của họ là ưu việt, họ là kẻ có công với tổ quốc; chế độ cũ là thối nát, người tù là kẻ có tội cần được cải tạo. Khoan nói đúng hay sai, nhưng với xác tín hay ngụy tín đó, kẻ thắng trận có lẽ cảm thấy có nhiệm vụ hành xử thế nào cho xứng đáng với cương vị của mình.
Ngoài tù, chắc chắn mọi chuyện đều nề nếp, tốt đẹp, tươi sáng hơn nhiều, nó mong. Nhưng thật oái ăm, ngược lại. Những ngày hoang dã, hỗn mang đang diễn ra trước mắt. Một xã hội điên đảo đầy rẫy dối trá, bất công, lường gạt, áp bức, ngược ngạo, tham nhũng, đểu cáng.
Một hôm ghe chở hành khách về Mỹ Tho. Mọi người lần lượt lên ghe ngồi vào chỗ của mình. Bỗng có mấy người đi trờ tới. Một người đàn ông đứng tuổi trong nhóm, đầu đội nón cối, vai đeo cặp đựng hồ sơ, chân mang giày da, chắc là cán bộ cao cấp, lớn lên tiếng yêu cầu mọi người đều phải rời khỏi ghe lập tức. Không ai hiểu tại sao, nhìn chủ ghe hỏi han. Chủ ghe cũng ngạc nhiên nhưng nhỏ nhẹ yêu cầu tất cả hành khách hãy rời ghe bước lên bến xem thử có chuyện gì xẩy ra, rồi tính sau. Những người trong nhóm đó vội vàng lên ghe. Khi họ đã ngồi vào những chỗ vừa ý nhất, người đàn ông lại đứng trên mũi ghe la lớn:
“Bây giờ yêu cầu đồng bào lên ghe ngay. Khẩn trương.”
Nó uất ức. Chủ ghe và mọi người im lặng nhìn nhau.
Một hôm khác nó đứng nối đuôi chờ mua vé xe đò về Tân Hiệp, gần Mỹ Tho. Xe 10 giờ khởi hành, nhưng nó phải tới bến xe đứng chờ lúc 6 giờ sáng. Như vậy mới hy vọng có vé lên xe. Có người làm nghề “đứng chờ” trong hàng, được một hành khách trả chút ít tiền. Hành khách đó tới sau, điền vào chỗ người đứng chờ ấy. Trước nó đã có một dòng người dài gần vài mươi mét. Gần 10 giờ, một bọn ba, bốn người từ đâu đến, lại tới đứng ngay ở đầu hàng người chờ. Tiếng la ó nổi lên. Một cán bộ trong phòng vé bước ra, bọn người đó vẫy tay chào. Một ông già lụ khụ, ăn mặc xuềnh xoàng, lôi thôi, chống gậy bước ra khỏi hàng, tới phân giải:
“Này đồng chí, mấy anh đó không coi ai ra gì cả. Tới sau giành đứng trước. Nhờ đồng chí xử lý.”
“Mày là cái gì mà đồng chí với tao? Đi chỗ khác ngay!”
Mọi người sửng sốt. Nó nghiến răng lại để khỏi bật tiếng chửi thề.
Lại một chuyện khác nữa. Chủ ghe mua được mấy chục tấm kính lớn, đem về Bến Tre bán. Kính mỏng dùng làm cửa kính, cửa sổ, kính dày lót bàn ăn trong các nhà hàng. Loại kính này lúc đó hiếm lắm, Sài Gòn mới có. Thằng con của một cán bộ, có lẽ cấp lớn, cùng đi trên ghe, chơi nghịch làm ngã chồng kính từ khoang trên xuống sàn ghe. Tất cả kính đều gãy làm hai, làm ba. Mọi người la lên. Cán bộ nghiêm mặt nhìn con, rồi nhìn quanh, chau mày bảo:
“Có gì đâu mà nhặng lên cả thế. Anh chủ ghe, mua kính để làm gì?”
“Thưa, để đem về Bến Tre bán cho mấy nhà hàng… Dạ tui đã đóng thuế.”
“Mua vốn bao nhiêu? Không được nói dối. Xem nào, biên nhận đâu, đưa coi. Rồi tôi sẽ … tôi sẽ …”
Chủ ghe vội vã tiếp lời:
“Dạ, dạ. Cám ơn cán bộ lắm lắm.”
“Tôi sẽ … viết giấy cho anh … định lại giá kính vỡ này, đắt hơn giá anh mua. Kính vỡ thì dùng vào việc của kính vỡ. Anh cứ giao kính cho họ, kèm theo tấm giấy này, và thu tiền.”
Những chuyện ngược ngạo như thế xẩy ra hàng ngày, chỉ nêu lên vài ba chuyện mà thôi. Người dân thấp cổ bé miệng uất ức, cắn răng chịu đựng. Nhưng tệ hại nhất là tham nhũng, hối lộ, từ trên xuống dưới. Và hối lộ từ bao thuốc lá, chai bia, bữa nhậu cho đến tiền của, vàng bạc, đô-la. Mọi việc muốn tiến hành trôi chảy phải có đồng tiền đút lót đi trước chẳng khác gì một guồng máy muốn chạy trơn tru phải được bôi nhớt, bôi mỡ.
Nó chỉ biết đến thế thôi, không đủ sức để thấy được những chuyện tham nhũng, hối lộ tày trời, “kinh thiên động địa”, có tổ chức chu đáo, nằm trong hệ thống chặt chẽ, ở tầm vóc quốc gia đại sự. Nó nghe nói thế, nửa tin, nửa ngờ.
Họ thay đổi nhanh chóng quá, nó ngẫm nghĩ. Những ngày quân quản mới tiếp thu, bộ đội, công an trông cũng có vẻ hiền lành, chân thật. Họ thường nắm tay hay choàng vai nhau đi đây đi đó, nói năng tíu tít, mắt mở to ngạc nhiên nhìn cảnh vật mới lạ, lầu đài tráng lệ, phố xá đẹp đẽ.
Bỗng một sáng một chiều, họ sửa lại cử chỉ, thái độ, lời nói, và cách hành xử. Họ trở thành người xa lạ. Càng ngày càng hung hăng, tàn bạo, nham hiểm. Nó nghĩ, nó mong, rằng đấy chỉ là chuyện “hủ hoá” lẻ tẻ của từng cá nhân một. Loa phóng thanh phường khóm, báo chí, vẫn hô hào chính sách sáng ngời “trước sau như một”của nhà cầm quyền cách mạng. Trong sạch, đúng đắn, ngay thẳng, “cần, kiệm, liêm, chính”. Nhưng có quá nhiều chuyện xẩy ra chứng tỏ không phải thế. Đổi tiền là một.
Nó nhớ cả ba lần đổi tiền. Lần đổi tiền thứ nhất khiến túi tiền của người Miền Nam bỗng nhiên teo tóp lại khủng khiếp: 1 đồng Cách Mạng đổi lấy 500 đồng Việt Nam Cộng Hoà. Khi nghe tin đồn lại sẽ đổi tiền, mọi người kinh hoảng. Loa phóng thanh liền ra rả ngày đêm lên án bọn lưu manh, phản động đã tung tin thất thiệt làm nhân dân hoang mang, hoảng sợ. Ngay cả tờ báo lớn Tuổi Trẻ cũng hô hào phải bẻ gãy thủ đoạn tung tin đổi tiền của bọn gian thương.
Hai ngày sau đó, trước sự kinh ngạc cùng cực của dân chúng, lệnh thu hồi tiền mới thay bằng tiền mới hơn (1đồng mới hơn bằng 10 đồng mới) được ban hành với mục đích “đem lại lợi ích cho nhân dân lao động”. Họ, không phải trường hợp riêng lẻ, mà là chánh quyền, đã dối trá trắng trợn, và quá đỗi khinh thường người mà họ tôn vinh là “người chủ” đất nước, trong khi họ chỉ là “đầy tớ” của nhân dân.
Người dân mất lòng tin. Tuyệt vọng. Cho nên không phải vì gian nan, nghèo đói, mà người ta bỏ nước ra đi, dù không biết sẽ tới nơi nào trên thế giới mênh mông này, dù biết rằng sẽ gặp nhiều gian nguy đang chờ đón, hay có thể bị vùi thân trên biển cả, hay trong rừng sâu.
Tất nhiên những người vượt biên, những thuyền nhân cũng không biết nếp sinh hoạt, tập quán, của nơi họ có thể đến nếu họ sống sót. Thế nhưng, khác hẳn phái nam thường liều lĩnh, phái nữ vốn cẩn thận và lo xa. Ngoài hai ngôn ngữ thông dụng là tiếng Anh, và tiếng Pháp, họ cố công học nhiều nghề như may vá, đan len, thêu thùa, cắm hoa, nấu ăn, làm bánh, làm việc ở nhà hàng, trang điểm, làm tóc, làm móng tay, làm đồ nữ trang vàng, bạc, trồng hoa, v.v… Một số có khiếu âm nhạc thì học đàn tranh, đàn nguyệt, đàn tì bà. Lại có cả người học khiêu vũ.
Nhiều người làm việc đồng áng cũng không muốn sống trên mảnh vườn, thửa ruộng ông cha để lại. Người làm nghề chài lưới thì sẵn sàng giã từ sông ngòi, biển cả thân yêu, quen thuộc. Họ ra đi không chút chuẩn bị, cũng không cần chữ nghĩa. Họ nghĩ rằng dân những nước khác văn minh hơn nước mình, không ưa chuộng những nghề tay chân nặng nhọc, nên họ sẽ có việc làm để kiếm sống.
Có lẽ chẳng ai mong ước rằng họ và nhất là con cháu của họ sẽ có ngày chen chân vào những nghề nghiệp trong lãnh vực y, dược, nha, luật, khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, binh bị, vân vân.
Ông chủ ghe, có sẵn ghe, lại càng không muốn ở lại. Cả tháng ông hỏi dò từng người một riêng lẻ, những người làm việc với ông, xem có ai muốn ra đi hay không. Ông cẩn thận như thế cũng phải. Biết đâu có công an trà trộn. Mọi người đều mong lên đường càng sớm càng tốt.
Pulvis et umbra sumus. (We are but dust and shadow – Con người chỉ là bụi và bóng) Horace
Shadowman Tanja Vetter
Post by Sơn râu 24 Jul 2024
Sau nhiều chục năm ra nước ngoài, Toại rón rén trở về.
Đã bỏ tờ hai chục đô la vào sổ hộ chiếu, nhưng khi tới phiên qua cửa kiểm soát, chàng lấy ra, hồn nhiên nhét vào túi. Tay nhân viên hải quan trẻ, nhận sổ, mặt nghiêm, lạnh. Ở hàng bên kia, người cùng vào một lượt với Toại được trả hộ chiếu, bước qua cửa; rồi một người nữa cũng được qua. Ở hàng chàng, thời gian ứ lại. Khó mà đoán được những tiếng gõ lách tách vào máy bắn ra được những thông tin gì đã khiến anh ta cứ săm soi cuốn hộ chiếu gồm vốn chỉ vỏn vẹn có ba con chữ và mấy con số. Lý lịch đen ngòm chăng? Rốt cuộc, sau một hồi lật qua lật về, anh ta đứng dậy:
– Mời chú theo tôi.
Chàng hơi sửng sốt, nhưng tự trấn tĩnh, bước theo. Anh ta dẫn chàng vào một căn phòng cách trạm kiểm soát không xa, giao hộ chiếu cho một người đàn ông trung niên mặc đồng phục xanh, cầu vai đỏ gắn sao, không rõ là công an hay bộ đội, đang ngồi trước máy vi tính. Sau vài câu chào hỏi xã giao không mấy thân thiện, viên cán bộ chỉ vào chiếc ghế đối diện:
– Mời ông ngồi. Xin nói ngay, đây không phải là một cuộc hỏi cung mà chỉ là một thủ tục hải quan cần thiết theo quy định.
Chàng thản nhiên:
– Ông cứ hỏi, tôi sẵn sàng.
– Ông về Việt Nam lần này là lần thứ mấy?
– Lần đầu, thưa ông.
– Ở bên Mỹ ông có tham gia các tổ chức chống cộng không?
– Không.
– Trước đây ông có đi cải tạo, phải không?
– Vâng.
– Mấy năm?
– Bảy.
– Ông được tha năm nào?
– 1982.
– Ông trốn đi nước ngoài năm nào?
– 1987.
– Ở bên Mỹ, ông làm gì?
– Công nhân.
– Ông có sinh hoạt với Việt Tân?
– Không.
– Đi cải tạo bảy năm mà sao không tham gia hội đoàn chống cộng?
– Tôi chỉ biết đi làm nuôi gia đình.
– Trước ông cấp bậc gì?
– Đại úy.
– Đơn vị ở đâu?
– Ban Mê Thuột.
– Tiểu đoàn trưởng phải không?
– Không.
– Ông đã từng chỉ huy cả tiểu đoàn mà.
– Không.
– Có đấy!
– Khi được tha về, ông làm gì?
– Làm việc nhà.
– Ông đã từng đi buôn, đúng không?
– Thưa không.
– Tôi biết ông có đi buôn đấy! Ông vượt biên năm nào?
– 1987.
– Ông có thân nhân theo cách mạng, đúng không?
– Vâng.
– Bà con thế nào?
– Ông bác.
– Còn ai nữa không?
– Thưa không.
– Có đấy. Ông về Việt Nam để làm gì?
– Thăm gia đình.
– Trước đây ông thường buôn bán hàng gì?
– Không buôn bán gì hết.
– Ông định đi những đâu?
– Chỉ về quê thôi.
– Ở bên Mỹ, ông làm nghề gì?
– Công nhân.
– Có tham gia hội đoàn nào không?
– Không.
…
Cuộc vấn đáp diễn ra với những câu hỏi đơn giản, nhảy cóc từ chuyện này đến chuyện khác, nghiêm túc và vu vơ. Có vẻ như viên cán bộ cố tránh gây không khí căng thẳng, không vặn vẹo, truy vấn. Tuy vậy, thỉnh thoảng ông ta ngừng lại một cách đầy dụng ý, suy nghĩ, im lặng gõ lóc cóc trên máy một lát như để tìm thêm một chi tiết gay cấn nào đó, trước khi hỏi tiếp. Hoặc đột nhiên quay trở lại một số câu hỏi cũ nhưng thay đổi cách đặt câu. Để tránh bị gài bẫy, chàng trả lời ngắn, gọn, trước sau như một. không giải thích dông dài quanh co. Hỏi, đáp loanh quanh, lui tới tưởng chừng như không bao giờ hết chuyện. Nhưng rồi, trong lúc chàng sẵn sàng cho câu hỏi tiếp, thì ông ta đột nhiên mở hộ chiếu và visa ra, đóng dấu cạch cạch, thả ra nụ cười thân thiện đầu tiên, bảo:
– Cám ơn ông. Chúc ông đi chơi vui vẻ. Đến đâu, nhưng nhớ trình báo với tổ dân phố. Hành lý của ông vẫn giữ ở băng chuyền số 3.
– Vâng!
Ra khỏi phòng, Toại thở phào, nghe tê tê trong lồng ngực. Chàng chạm ngưỡng quê hương ngay ở chỗ xù xì, góc cạnh nhất, báo hiệu những ngày tháng trước mặt chẳng có gì êm ả. Chàng sẽ thăm thú, gặp gỡ, đi đứng, trò chuyện trên đất nước không như một người bình thường mà như một lý lịch. Ở xa, quê hương hiền hậu, nghèo nàn, gói gọn bằng bức tranh quê có bụi chuối đường làng con trâu dòng sông, thỉnh thoảng, kèm thêm bà mẹ già khuôn mặt nhăn nheo tưởng chẳng còn gì để nhăn nheo thêm. Một người bạn bảo Toại: cái điển hình thường làm hỏng sự thực. Hình ảnh mấy bà mẹ Việt Nam, qua nghề tạo hình, mẹ nào cũng quá già, quá nghèo, quá lam lũ, kể cả các bà mẹ được phong tặng danh hiệu “anh hùng”. Người ta có xu hướng sử dụng cái thật tiêu cực để tạo ấn tượng tích cực. Toại bảo: chẳng lẽ vẽ nhà lầu xe hơi và đại gia; cái giàu không gây cảm xúc, mẹ phải lam lũ mới là mẹ đẹp. Bạn chàng cười: chả lẽ hoa hậu phu nhân và mẹ Facebook không phải là mẹ Việt Nam. Quê nghèo mới quê hương, vậy còn quê giàu là quê của ai? Chàng bảo: quê hương chỉ là… hư cấu. Quả là chàng phán bậy! Quê hương trước mặt chàng bây giờ trông cụ thể, trần trụi và xám xịt, chẳng trơn tru hư cấu chút nào. Chả là, cuộc vấn đáp, tuy chỉ với lượng thông tin chắp vá, chẳng phản ảnh được gì trong cuộc đời chàng, đã đột ngột kéo chàng trở về những ngày tháng tưởng chừng đã tan loãng trong ký ức. Mớ bòng bong quá khứ, không đụng tới thì chúng ngủ yên, y như chẳng hề hiện hữu. Kéo ra một sợi, chúng tự động trào lên. Qua Mỹ, làm ngày làm đêm, chàng từng nghĩ mình đã đầu thai vào kiếp khác. Theo tháng ngày tất bật kiếm sống, mọi thứ chìm dần trong lãng quên tiền kiếp. Trở về, chàng bỗng chạm phải chính mình, rất quen mà vô cùng lạ. Tiền kiếp và hiện kiếp chàng xoắn vào nhau bằng những gẫy khúc quanh co, những trầy trợt gập ghềnh, nứt nẻ. Càng lún sâu vào, chàng thấy mình càng lạ lẫm quê hương, mập mờ cõi trong cõi ngoài.
Đã khuya. Phi trường vẫn rộn ràng, tấp nập. Hành khách cùng chuyến bay chàng có lẽ chẳng còn ai. Chàng tần ngần đọc mấy chữ thang cuốn, băng chuyển, khung giờ, sảnh đợi, nghe lạ tai như trẻ con mới học đánh vần, cố làm quen dần với không khí chung quanh. Khi đến băng chuyền số 3, chàng chẳng thấy hành lý đâu, nhìn quanh, bối rối, chưa kịp phản ứng gì một ai đó từ sau lưng chàng nói, đây rồi, đồng thời thấy hai chiếc va li cột giây đỏ làm dấu của chàng đã nằm gọn trên một chiếc xe đẩy. Ngạc nhiên, quay đầu lại, chàng thấy hắn đã đứng sát một bên. Chàng rùng mình, bững lững bơ lơ, nghẹn lời, rơi tuột vào quá khứ. Chàng im lặng đi theo sau hắn, chăm chú nhìn vết bớt trắng nằm ngang sau cổ, lấp ló dưới chân tóc, cái bớt mẹ chàng nói khi mới lọt lòng là đã có, sẽ đi theo suốt cuộc đời chàng. Bất giác, chàng đưa tay sờ lên gáy, tự hỏi không biết là hàng chục năm trôi qua, nó có còn giống như vết bớt ở hắn không, hay đã bay mất rồi. Mẹ bảo, mi là con của ngài cho nên ngài đánh dấu cho dễ nhận. Hỏi ngài nào vậy, mẹ chỉ lên trời nói ngài ở trên đó. Trong lố nhố người chen chúc như rừng, hắn đến từ một không gian khác, mặt mày thất lạc, dáng nét xa mờ khói nhạt. Toại lặng lẽ bước theo, tin cậy, bóng chàng phủ choàng bóng hắn. Chàng cầm tay hắn, bàn tay mỏng, sần sùi và lạnh.
Chàng nói, không ngờ lại ốm, xanh, phờ phạc như thế!
Hắn nói, giọng đều đặn thì thầm như tiếng vọng, suốt cả tháng trời, chỉ có chạy và chạy và chạy như một con thú hoang, trôi sông lạc chợ. Cả trung đoàn rã đám, lính không ra lính, dân chẳng ra dân. Về Sài Gòn, đi trình diện, người ta bảo còn gì nữa mà trình diện, hãy lo mà trình diện với chính cái thân mình. Cả một Ban Mê Thuột đang yên bình bỗng chốc tan nát. Nhớ mới hôm nào, giao đại đội cho thằng Bửu, lấy phép Trung Đoàn, cùng lũ bạn ở Tiểu khu, cả đám kéo nhau đi Hoàng Vinh ăn canh cải chua đầu cá, rồi ghé Chi Cao ăn kem, rồi ghé Tân Ka ăn thạch chè vui như hội. Ai mà ngờ mấy hôm sau, chỉ trong một ngày, tụi nó xơi tái cả thành phố. Cả đám bạn giờ chẳng biết thằng nào còn thằng nào mất. Chiếm xong thành phố là tụi nó bắt đầu đi lùng sục mọi ngõ ngách để tàn sát. Sẽ có thêm một Huế Mậu Thân.
Chàng bảo, rõ ràng là tụi Mỹ bắt tay với Việt Cộng. Bạn đồng minh chí cốt mà đi ngoéo tay với kẻ thù thì ta biết chạy đi đâu. Bây giờ tứ phía đều là lừa bịp. Địch lừa kiểu địch, bạn lừa kiểu bạn, trên lừa kiểu trên, dưới lừa kiểu dưới. Nói là cả trung đoàn, nhưng thiệt là chỉ có tiểu đoàn mình chịu trận, quần nhau suốt tuần lễ với tụi nó ở phi trường Phụng Dực, vừa đánh vừa đợi, đợi mãi đợi hoài, hóa ra là bị bịp, tiếp viện không có, đạn dược không còn, rốt cuộc, mạnh ai nấy chạy, nhục ơi là nhục. Cả hàng chục trận đánh nhau, có khi nào phải bỏ chạy. Lúc đó, nếu không có thằng tà-lọt nhanh như sóc ôm lựu đạn ra cản phá, thì cũng tiêu rồi. Tội thằng tà lọt, hắn chết thay “ông thầy”…
Hắn nhắc đến thằng Pha. Chàng bảo, ừ thằng Pha, tài chánh Trung Đoàn.
Hắn nói, cầu bị phá, hai thằng đi dọc theo bờ sông, kiếm ra chiếc đò đang bốc người, Pha đưa một cọc tiền cho chủ đò, bảo chạy qua sông ngay. Tội nghiệp Pha, lên đò, hắn cứ đứng lơ ngơ đầu mũi, ôm chặt cái ba lô, bị trúng đạn ai đó trên bờ bắn, ngã tại chỗ. Đúng là dân văn phòng, chẳng có chút kinh nghiệm chiến trường. May mà mình chen kịp vào giữa. Đợi đò ra xa, nhảy tới ôm Pha, tưởng hắn chỉ bị thương, ai ngờ, hắn tắt thở hồi nào, hai tay vẫn còn ôm chặt chiếc ba lô thấm máu. Vào đến bờ, lục túi Pha lấy hết giấy tờ, đưa cho chủ đò mấy cọc tiền còn dính máu, cùng nhau khiêng xác Pha lên nhờ chủ đò lo mai táng đâu đó rồi tính sau. Bỏ bạn mà đi thì tàn nhẫn quá, nhưng biết làm sao. Về đến Sài Gòn đã là 15/4…
Toại chặc lưỡi tiếc rẻ, chiều 25/4, theo thằng Thông hải quân đến bến Bạch Đằng, thèm thuồng nhìn cả gia đình hắn leo lên tàu đi ra nước ngoài, mà phân vân, bất quyết. Thằng Thông nói vứt chiếc Honda mà đi, đây là cơ hội, để lộ tẩy người ta biết, người ta ùa lên là không còn chỗ đâu. Mày ở lại là tụi Việt Cộng nó giết.
Hắn nói, anh Đần nhắn về với mẹ, nói đừng sợ, cứ ở lại, đừng đi đâu hết. Mẹ nói anh Đần làm to, Thượng tá sư đoàn 320 Ban Mê Thuột, nghe cha cũng làm to ở ngoài Bắc đang trên đường vào. Có cả cha, cả anh mà không cứu được con thì cứu ai nữa…
Đi hay ở? Đi thì đi đâu mà ở thì ở đâu? Có nhiều khúc quanh trong cuộc đời, bị thẩy ra ngã ba đường, ta nứt thành hai, thành ba, thành bốn… Ta cãi vã với chính ta. Ta nghịch lý ta. Toại nhìn hắn. Hắn nhìn Toại. Hắn sống chàng. Chàng sống hắn, bần thần kéo hai cái va li ra ngoài, nhìn quanh nhìn quất chưa biết phải đi theo lối nào trong một Sài Gòn đang hấp hối. Giọng ai đột ngột vang lên:
– Toại, em, chị Duyên đây!
Chàng giật mình, kêu lên:
– Chị.
– Làm gì mà mặt mày ngơ ngác, thất thần vậy. Máy bay đáp cả hơn hai tiếng rồi sao bây giờ mới ra.
Chàng nhìn hắn nhập nhòe tan biến, sực tỉnh:
– Bận làm việc với hải quan.
*
Chuyện lên tàu xuống tàu nhảy tàu đu tàu bám tàu không có gì xa lạ với Toại, ấy thế mà loay hoay một hồi với chiếc va li và mấy cái túi xách lỉnh kỉnh, chàng mới xếp đặt xong chỗ nằm của mình trong toa giường nằm. Chàng hỏi người khách ngồi ở giường đối diện:
– Độ này tàu vắng khách nhỉ. Còn đến hai giường trống tầng trên.
– Có lẽ dành cho khách ở Dĩ An, Long Khánh.
Tàu lăn bánh, rề rà băng ngang những giao lộ ứ đọng người, xe. Qua khung cửa kính còn nhờ nhờ hơi nước vì cơn mưa nhỏ bất chợt rơi trên sân ga Sài Gòn lúc sẫm tối, chàng tò mò nhìn những chuỗi nhà cao thấp góc cạnh lồi lõm, những khoảng tối, sáng so le, những chùm đèn lấp lóa khắp nơi đang từ từ lùi lại phía sau, lòng chợt bồi hồi. Mấy chục năm dài bỗng ngắn lại.
Đón thêm hai khách ở Dĩ An (đúng như tiên đoán của người khách chung toa), tàu tăng tốc, đẩy tất cả cái rộn ràng, hối hả của thành phố về thì quá khứ, hưng phấn đâm bổ vào khoảng không gian hào phóng phía trước với vô số hình thù mơ hồ chen nhau trong bóng tối. Tàu, nhất là tàu chợ, với Toại, là một thế giới ngổn ngang đầy ám ảnh, người ngợm gian ngay lẫn lộn, nơi chàng đã từng dẹp bỏ hết những ưu tư nhân thế, lao vào cuộc bon chen giành giựt cơm áo gạo tiền. Tàu, giờ khác hẳn, hiện đại và đỏm đáng. Gối chăn thẳng nếp tươm tất, quạt máy, đèn đọc sách được gia cố thêm lọ hoa tuy-líp tươi tắn chưng trên bàn ăn sát cửa, lại kèm theo chồng tách nhựa, giấy chùi miệng. Tàu chạy êm êm đánh thức những chuỗi ký ức vốn đã từng bị chôn vùi theo vô số lo toan vật vã khi lưu lạc xứ người. Những nhớ và nhớ. Nhớ gần nhớ xa. Lần nhảy bám theo tàu ở Bình Triệu, hụt tay, cả thân hình lăn lông lốc xuống bên đường ray tưởng đời tan nát, may mà có cái bao hàng của ai vô tình nằm ngay nơi con dốc nhỏ chận lại. Lần lên hàng ở bên ngoài ga Dĩ An, bị công an và thuế vụ rượt, phải chịu hy sinh thân thể hiến máu cho muỗi suốt hai đêm trong trại giam để đàn em ôm bao hàng mấy chục cây thuốc lá ngoại chạy thoát. Những cuộc tình qua đường vội vã, chóng vánh như uống cốc nước mát cho đã khát, chẳng để lại chút dư vị nào. Hỏi người thiếu phụ nhà giáo bỏ dạy đi buôn mới gặp lần đầu ấy, sao em mặn nồng một cách tỉnh bơ thế, nàng bảo, vật vã mưu sinh nuôi một thằng chồng (bị biến thành) vô tích sự và một bầy con chưa kịp lớn, đức hạnh chỉ còn là trò lừa bịp thôi anh. Ấy thế mà, gặp lại lần sau cũng trên cùng chuyến tàu, nàng lạ Toại như chưa hề.
Tàu chạy êm, ru giấc ngủ.
Toại choàng thức giấc khi từng mảng ánh sáng từ bên ngoài liên tục hắt vào cửa. Nhìn ra, chàng ngạc nhiên thấy những dãy đèn sáng lấp lóa gắn song song theo những hàng cây thấp, thẳng, đều suốt dọc theo quốc lộ, tưởng không bao giờ dứt. Chàng vội nhảy xuống giường, mở cửa toa, ra ngoài, đi dọc theo lối đi bên hông. Khuya vắng. Mọi toa tàu đều đóng cửa ngủ kỹ. Tới đầu nối toa, chàng dừng lại ở bậc cửa lên xuống, tiếp tục ngắm những dãy đèn hấp tấp chạy giật lùi trong màn đêm. Cảm thấy bàn tay ai đặt nhẹ lên vai, chàng quay lại, thấy hắn, sững sờ, rơi tuột vào cơn mơ. Hắn nói, vườn thanh long đấy! Đang qua vùng nào vậy? Bình Thuận. Hồi trước làm gì có thanh long, tàu đi qua đoạn này tối mù mù. Gần đến Sông Lũy rồi. Toại kêu thầm: Phận, Phận. Tên tay anh chị khét tiếng tàu chợ Quy Nhơn-Bình Triệu này cùng với tên những chiếc ga lẻ nhập nhoè cứa vào ký ức chàng những vết cắt rối rắm. Khỏi Sông Mao đến Vĩnh Hảo, khỏi Vĩnh Hảo đến Tháp Chàm, rồi Phước Nhơn, rồi thì là… Suối Cát, Ngã Ba, Hòa Tân.
Trong bóng tối nhờ nhờ, hắn trông mỏng mảnh, lạc loài và xưa cũ dưới cái mũ tai bèo có dây cột vòng quanh cổ và bộ áo quần lính cũ nhiều túi, chân mang đôi dép râu. Chàng nhớ đã nhịn ăn, bỏ tiền mua đôi dép nhật hai quai ở Chợ Lớn, nhưng bị mất, phải chạy vạy đi kiếm đôi dép bộ đội tiện dụng này. Hắn nhắc:
– Dép mới bị tụi nó chôm ở ga Long Khánh. Mệt quá, thiếu cảnh giác, ngủ thiếp đi trên đống hàng, quên không nhét nó vào bụng. Công an dặn rồi, đất nước đang còn khó khăn, kẻ gian mọc như nấm, hễ mất cảnh giác là bị chôm chỉa tức khắc.
Khuya lạnh, chàng kéo cổ áo sát lên cổ, đứng nghiêng một bên, tránh gió thổi tới từ phía trước. Hắn lầm bầm:
– Đâu có thể làm thế nào khác được. Cơ hội đến, phải quyết định thôi. Sắp đến cái hố sâu đó rồi.
Chàng bần thần không quyết. Cũng ở chỗ đầu nối hai toa, cũng ở đoạn Bình Thuận-Nha Trang. Cũng đêm và cũng vắng như thế này. Và Phận đứng đó. Nó, sau khi cấu kết cùng đám công an và thuế vụ trấn lột lô hàng mà chàng đã thuê kiểm soát viên giấu kỹ trên trần tàu, sai đám đàn em hung hăng dằn mặt chàng rồi ra đứng ở đây hút thuốc, canh điểm hẹn tuôn hàng xuống cho con buôn trước khi tàu vào Nha Trang. Không thể mất trắng được. Chàng đã ném sinh mệnh cả gia đình vào lô hàng trong một canh bạc mua bán tháu cáy. Phận đứng mấp mé bên ngoài cửa lên xuống, tay cầm điếu thuốc, tay hờ hững vịn vào thanh tay cầm. Đã rất khuya. Tàu lầm lũi trong đêm, qua rừng, qua cầu, chạy dọc theo bờ biển, leo dốc, xuống dốc. Cả tàu đang say ngủ. Chỉ cần một cái đẩy thật mạnh vào tay nó là xong.
Chàng ngột thở. Biết chàng phân vân, hắn đứng đó, khuôn mặt tối ám, lầm bầm nói, phải dứt khoát, hai đường chọn một, nó còn là mình chết. Tàu vừa qua ga lẻ. Chàng lắc đầu nói, lỡ hắn không chết thì sao. Hắn nói, sắp tới khu vực hố sâu rồi. Chàng đưa tay kéo hắn vào phía trong, nói khoan đã, khoan đã. Nhưng không kịp nữa rồi. Hắn dùng hết sức bình sinh phang mạnh thanh gỗ vào cánh tay thằng anh chị. Hớ hênh, lại bị một cú trời giáng, Phận bị hất ra khỏi tàu, rơi như bay xuống khoảng không gian trũng sâu dưới chân đồi. Tiếng kêu thảng thốt tuyệt vọng của nó tản mác trong bóng đêm. Tay chàng chấn động, nhói đau. Vứt thanh gỗ ra xa, chàng chạy vội về toa, chui đại vào đống hàng hóa ngũ cốc ngổn ngang của bạn hàng, nằm yên như say ngủ. Hình như tàu vừa chạy qua một chiếc cầu, qua một ga lẻ rồi một ga lẻ, rồi một ga lẻ nữa…
Phận không chết. Toại chẳng lấy lại được hàng. Khánh kiệt và sợ hãi, chàng bỏ tàu, chuyển nghề.
Toại tỉnh ngủ hẳn, đứng mãi ở bậc cửa nhìn bóng dáng ngày tháng cũ chập chờn ẩn hiện trong bóng đêm. Tàu chạy chậm qua ga, chàng thoáng thấy bóng hắn nhảy xuống, bước nhanh như khói sương bay trong sân ga nhỏ, từ từ tan biến sau hàng rào thép gai phía bên kia đường.
*
Phải đi vòng vòng vèo vèo qua nhiều con đường khác nhau men theo chân các ngọn đồi mới tới được khu nghĩa trang, nơi tất cả các phần mộ riêng lẻ của nhiều thế hệ trong dòng họ được quy về một chỗ, nằm rất xa thành phố, nơi có lẽ đất đai không còn là đối tượng hữu ích của các chính sách giải tỏa. Gần cả chục người thân ra đi mà Toại không được trải qua những giờ phút bồn chồn thương xót và bận bịu khăn áo tiễn đưa. Chàng vốn không mấy ưa đi thăm mộ. Hồi còn nhỏ, chàng thường tìm cách trốn cái nghĩa vụ đi chạp mả họ. Nhiều mả quá. Lại không có gì vui. Hễ thắp nhang, vái lạy rồi nghe người lớn kể chuyện chết chóc, chàng nghe tâm tư mình khắc khoải. Đã thế, lại phải len lỏi băng qua hàng trăm ngôi mộ của những ai đó – sách vở gọi là bãi tha ma – nằm chen chúc trong một khu đất toàn cỏ dại, bụi rậm và vết chân trâu, chàng nản chí. Một thế giới rã rời và buồn thảm.
Khu mộ mới nằm một nơi riêng biệt, không u tối và hoang vắng như những nấm mồ ở vùng giải tỏa. Trong cảm giác nhẹ nhõm, Toại bỗng thấy dường như cái thiêng liêng, huyền bí giữa hai cõi tử sinh bị đánh mất. Nhưng khi khấn vái, đứng lặng im giữa cái im lặng của những người khuất bóng, chàng lại bỗng cảm thấy một ràng buộc vô hình với thế giới đất đá vô hồn đang ôm ấp những người mà chàng đã từng, cách này hoặc cách khác, gắn bó.
Lúc hấp hối, mẹ Toại hỏi Duyên, chị Toại:
– Thằng Đực khi mô mới về?
– Không nghe hắn nói chi hết. Chắc hắn sợ, không dám về.
– Mạ biết hắn đi hắn chẳng sung sướng chi mô. Nói với hắn là mạ sẽ phù hộ cho hắn. Còn thằng anh hắn, thì thôi…Hai cha con hắn chừ chỉ nghe bàn chuyện toàn là bí thư với thủ trưởng…
Cha Toại trối:
– Nói với thằng Đực là sau ni mà có về thì đừng có thắp nhang trên mộ tau. Tau chết cũng không nhắm mắt được vì cái thằng bất hiếu đó… Chỉ có thằng Đần mới là con tau.
Bác Du trối:
– Bác không ưa chi thằng Đực, hắn máu “ngụy” quá nặng. Nhưng bác chẳng trách. Hắn là đứa con của thời cuộc. Đã từng là tiểu đoàn trưởng chiến trường chứ đâu phải lính kiểng. Nếu cha hắn mang hắn đi như mang theo thằng Đần thì đâu nên nỗi…
O Mão trối:
– Nói o xin lỗi thằng Đực. Chắc hắn còn giận o lắm. Hồi đó, lúc ở ngoài Bắc mới vào, o chẳng biết chi trong Nam nên chưởi rủa hắn. Hắn trách o là phải…
Đực là Toại, Đần là anh Toại, tục danh.
Năm 1975, đại gia đình Toại đoàn tụ, vợ gặp lại chồng, cha gặp lại con, anh gặp lại em, cô chú gặp lại cháu. Sau chừng một buổi ôm nhau, tíu tít mừng rỡ, khóc cười trộn lẫn, thì hai mươi năm xa mặt cách lòng nhảy vào, thế là hai phe bắt đầu đụng độ. Nói quanh co khôn khéo kiểu nào cũng có chỗ éo le. Và so le. So le thói quen đã thành tập tính, so le tư tưởng, chữ nghĩa đã tiêm nhiễm tận đáy sâu tim óc. Thốt ra một chữ là kẻ thắng người thua, nhả ra hai chữ là phe mình phe họ. Nội chiến gia đình có thể nổ ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ chuyện gì, từ ăn uống, học hành, giải trí cho đến thờ tự, chạp giỗ. Lắm khi từ những chỗ hoàn toàn vu vơ như đi tiêu đi tiểu chẳng hạn. Mỗi người thân nội chiến diễn ra một kiểu. Anh Đần thì tuyệt đối trung thành với sự nghiệp riêng, thẳng thắn cắt đứt quan hệ với thằng em khác chiến tuyến. Cha chàng thì phiền chàng cứng đầu, làm gập ghềnh đường hoạn lộ của mình, nên chẳng mặn mà với đứa con út mà mấy chục năm trước ông đã từng muốn đem theo ra Bắc. Mẹ chàng lại thương đứa con ngã ngựa, không chia xẻ được vinh dự chiến thắng với chồng và con trai, sẵn sàng hứng chịu thiệt thòi của kẻ chiến bại. Lòng mẹ tang thương chẳng kém gì đất nước tang thương. Với cả hai đấng sinh thành, hóa ra, chàng đều bất hiếu. Không được hôm sớm phụng dưỡng đã đành, chàng lại còn trở thành con sông chia cắt, cha bên này mẹ bên kia, chới với.
Toại thả bộ đi băng qua khu mộ. Núi cao, rừng dày, sỏi đá trải khắp lối đi. Nhìn lên, trùng trùng cây lá, nhìn về, lãng đãng khói sương. Không gian thấm đẫm niềm im lặng của cõi khuất hòa tan trong tiếng thì thào vô cùng hồn nhiên của núi rừng lãng đãng. Sống, lao lung khổ nhọc, chết, lặng lẽ cỏ cây. Núi rừng gợi nhớ. Chàng leo lên ngọn đồi trọc nhỏ, nhìn quanh. Xa, khu trại cải tạo Bình Điền, nơi chàng chôn chặt bảy năm tù đày, căn cứ Bastogne, nơi từng diễn ra những trận chiến khốc liệt mùa hè đỏ lửa, mờ mờ khí núi. Nghe có tiếng róc rách, đoán có con suối, gợi nhớ đến những ngày tháng lao lung, chàng lủi ngang qua đám cỏ tranh, vẹt cành lá, hướng về nơi có tiếng nước reo. Giữa rừng mênh mông giăng mắc, thì tiếng nước reo là dấu hiệu cứu sinh. Có nước là có đường sống. Chàng tìm thấy con suối nhỏ, rỉ rả chảy qua những khe đá nằm chênh vênh sát sườn đồi, đổ xuống phía bên kia con đường mòn nhỏ cạnh khu mộ. Nhảy qua khỏi con suối, chàng leo, băng, vượt một hồi, chợt nhìn thấy rừng cây mâm xôi chín đỏ, bất giác rùng mình, tưởng như đang sống lại những ngày tù tội gian khổ. Trên đường băng rừng vượt suối dạo nọ, đi tìm cho ra lồ ô chặt mang về theo chỉ thị của quản giáo, chàng đã từng gặp rừng mâm xôi như thế này. Mừng hết lớn, chàng và thằng bạn tù đã say sưa ăn mâm xôi đến cành bụng trước khi tìm ra một vạt rừng lồ ô hoa nở từng chùm tím, vàng tực rỡ dưới nắng.
Nghe tiếng động, chàng nhìn lui. Lại hắn. Hắn đứng đó, khuôn mặt teo tóp nằm khuất dưới chiếc nón tự chế bằng lá rừng trong bộ áo quần tù bạc màu, tay cầm rựa, tay xách lon “gô”, vật bất ly thân của người tù.
Hắn nói:
– Mới tình nguyện theo toán đi rừng để khỏi đi gỡ mìn ở căn cứ Bastogne. Tuần rồi, mìn nổ chết và bị thương cả chục mạng bên trại B, nghe lạnh gáy. Bastogne kia kìa, nhìn thì gần vậy chứ đi nửa ngày chưa chắc tới, phải vòng theo phía bên kia con đồi…
Chàng nói:
– Tháng trước, ông già lên thăm… hỏi có muốn ông bảo lãnh chuyển về lao Thừa Phủ cho đỡ đi lao động…
Hắn nói:
– Không, nhất định không, chẳng thà chịu cực khổ với anh em bạn bè. Ông bới mấy cái bánh tét, mấy hộp lương khô, nhất định không lấy. Cha con thì cha con nhưng ai có lập trường nấy. Bực mình cái là hễ nói chuyện là ông gây, là ông mắng mỏ, nào là ngụy quân ngụy quyền đế quốc thực dân bán nước liếm gót nào là học tập lao động, nào là chấp hành chính sách, nào là nào là… Cha con thì cha con nhưng nuốt không vô kiểu mắng mỏ của ông. Nói với ông là học cả mấy năm thấm tận tim gan phèo phổi rồi, không cần cha nhét thêm…
Chàng nói:
– Ông bảo mi cứ ngoan cố thế này là tau hết đường thăng tiến. Nói nghe tức! Đảng cứ bu lu bù loa là ai làm nấy chịu, sao giờ con theo ngụy thì con ở tù, mắc mớ gì lại cột cha vào với con.
Hắn nói:
– Dứt khoát như anh Đần thế mà hay. Không anh không em không thăm không viếng. Sợ mất chức đại tá…
Chàng nói:
– Thà ở tù. Mình làm mình chịu, không nhờ ai hết…
Theo lối cũ đi về lại khu mộ, rừng mâm xôi biến mất. Như phép lạ. Chàng hoang mang nghe theo tiếng suối reo luồn, lách, chui xuyên qua cành lá chằng chịt một hồi mới ra khỏi khu rừng. Khu mộ vẫn còn nằm đó, vắng vẻ, tịch liêu dưới bầu trời chợt xám tối. Chàng đi quanh khu mộ, thắp thêm một tuần nhang, vái lạy từ biệt những người thân thuộc, lòng cảm khái. Họ hiện hữu, họ biến mất. Đã đến và đã đi. Như rừng mâm xôi của thằng tù. Thần linh và ma quỷ là nỗi khát khao chan chứa nhầm lẫn của con người đối với sự vật quanh mình. Ảo giác tạo nên thế giới.
Khi nổ máy xe chạy ra khỏi khu mộ, chàng chợt nhìn thấy hắn ở bìa rừng, thân hình nhỏ nhoi, xiêu vẹo, tả tơi, tan nát, đứng phân vân ở ngã ba đường, hai tay vẫy vẫy.
*
Nếu tính từ quốc lộ vào, thì ngôi từ đường dòng họ Toại xa hẳn con đường chính, muốn vào, phải đi vòng qua một con hói và vài đường xóm nhỏ. Con cháu tứ tán khắp nơi, kẻ theo bộ đội tập kết ra Bắc người đi lính đóng quân trong Nam, một số khác thì tha phương cầu thực tận miền cao nguyên, chẳng mấy ai nhớ đến một ngôi nhà đổ nát nằm ở bìa làng. Hồi thơ ấu, thỉnh thoảng theo mẹ về thăm, chàng rùng mình khi phải bước vào một căn nhà âm u, cũ kỹ, tường rêu mái thấp nằm trong một khu vườn hoang cây cỏ bừa bộn. Chăm sóc từ đường do một bà cô lỡ thì sống cô độc trong một gian nhà nhỏ quanh quanh đó, như một quá khứ dai dẳng bám riết vào hiện tại. Năm khi mười họa, chợt nhớ ra ngày giỗ một đấng nào đó, bà ghé vào chùi quét bàn thờ, thắp vài nén nhang, van vái chuộc tội cho cả đám con cháu vô tình. So với nhiều họ khác trong làng thì họ chàng xưa nay toàn là dân dã, chẳng có ai có danh phận gì, gia phả chỉ gồm những trang giấy ố vàng ghi những cái tên gọn lỏn, không chức tước sự nghiệp. Mãi cho đến sau 1975, khi bác chàng, cha chàng và anh chàng trở về, thì cả họ mới hay rằng dòng họ chàng cũng có người làm quan: bác là kỹ sư du học Liên Xô, cha chàng là tỉnh ủy viên, anh chàng là Thượng tá. Thế là, dòng họ chàng hiển nhiên dư thừa danh giá và mọi người bỗng nghĩ đến chuyện trùng tu ngôi từ đường. Ước muốn bình thường này gặp ngay trở ngại: để nêu cao lập trường vô sản, cả ba cán bộ cách mạng đều động viên mọi người ký tên hiến khu đất cho nhà nước. Người ký kẻ không, dằng dai mãi. Đột nhiên, bác chàng và cha chàng thay đổi thái độ, tuyên bố nhà nước không xâm phạm đến đất đai tổ tiên để lại cho con cháu. Và hai vị chạy ngược chạy xuôi lo làm giấy tờ hợp pháp hóa chủ quyền đất đai. Cả họ mừng rơn, nhưng đến khi mọi chuyện vỡ lỡ ra, mới biết cả hai vị đều tìm cách giành đất nhà thờ làm tài sản riêng. Người trong họ hỏi nhau: đi làm cách mạng vô sản sao còn giành tài sản? Có người trả lời: để bù lỗ. Không ai thành công, vì giấy tờ sổ bộ đứng tên một người trong họ đã mất, nhưng chính xác nhất, là vì cả cha chàng và bác chàng đều là công thần, đảng không thể bênh bên này bỏ bên kia.
Không thành công, nhưng cả hai người thân của chàng trở thành nhân… tố thù nghịch âm ỉ hiện diện tại ngôi từ đường, khiến cho những ngày giỗ chạp thành lạnh lùng buốt giá. Nhưng éo le thay, nhờ thế, nó điềm nhiên khỏi phải dính dấp – hay đúng hơn, bị tụt hậu – trong phong trào thi đua tái thiết mồ mả và nhà thờ họ thời đất nước đu bay theo kinh tế thị trường. Con cháu bỏ xứ ra đi ngày nào bây giờ trở về thăm quê, chứng kiến một nét ngoạn mục trong sinh hoạt dân gian thời hậu 1975: nghĩa trang biến thành phố nhà lầu, nhà thờ họ chuyển thành biệt phủ. Không được nhà nước phát động, nhưng các biệt phủ họ L., họ H., họ B. vân vân đều thể hiện công cuộc thi đua nhau một cách nhiệt tình. Biệt phủ họ nào cũng hiện đại, cũng nâng cấp, cũng được thiết kế và tạo hình bởi những thầy phong thủy không chuyên, nhưng giỏi nghề thần thánh. Nói chung thì biệt phủ hao hao nhau. Cũng cửa tam quan rồng bay phượng lộn tiếp nối với bình phong án ngữ trấn áp ma quỷ, cũng phòng hội, cũng nhà thờ chính, nhà thờ phụ kèm thêm nhà khách, cũng cột kèo sơn son thếp vàng, cũng đủ bộ long lân quy phụng, cũng tranh thủy mặc trám kín tường trong tường ngoài. Từ đường nào có con cháu là người đương chức lại được gia vị thêm bằng lầu ngắm trăng (vọng nguyệt lâu) và khuôn viên đi dạo. Các buổi khánh thành nhà thờ họ là những sự kiện lớn, đầy đủ lễ nghi cổ truyền diêm dúa với sự tham dự ăn ké của nhiều tai mắt địa phương và lắm khi, quan chức trung ương. Cuộc cách mạng thủ tiêu thần thánh hao người tốn của đã lại mở toang đường cho thần thánh nườm nượp trở về. Vì danh dự dòng họ, người ta cũng quên luôn chuyện kẻ thắng người thua trong cuộc nội chiến. Nghe nói, tại lễ khánh thành nhà thờ họ B. ở huyện Q, một sĩ quan cấp tá phe cộng hòa, nguyên quận trưởng (đã vượt biên ra nước ngoài sau khi ở tù về) và bí thư huyện ủy đương chức đều được xướng danh đuề huề, nghe rất hòa hợp hòa giải. Người trong họ hãnh diện bảo, chả là, khi đi vào lịch sử, quan phe nào cũng là quan thôi, kẻ hậu sinh được chia chác thêm vinh dự, dại gì phân biệt đối xử với người đi trước.
Toại ghé từ đường, yên tâm và cảm thấy dễ chịu với cái khiêm tốn không hợp thời của nó. Nó mang lại cho chàng cái ấm áp họ hàng thời thơ ấu. Xưa, mỗi lần về thăm, chàng thường đứng lấp ló trước bàn thờ, chỉ đợi người lớn xong việc là dọt ra ngoài kiếm đồ cúng và chơi đùa với đám anh chị em bà con hiếm khi gặp. Đi quanh, chàng tìm thấy hóa ra, ngôi nhà khá rộng, tuy vẫn cũ kỹ nhưng được sửa sang, tu bổ đôi chút, được cơi nới ra hai bên để có thêm không gian cho con cháu đến trong ngày giỗ chạp, vườn tược thì được dọn dẹp phong quang hơn, có rào chắn quanh, nằm ngay bên cạnh là một con đường nối thẳng ra quốc lộ, nên khu đất hoang tồi tàn ngày xưa bây giờ nhìn vào là thấy toàn đô la và tiền tỷ.
Thắp nhang khấn vái xong, quay ra, Toại bỗng giật mình khi nghe tiếng người vang lên phía sau:
– Ông!
Chàng quay lui, thấy một thằng bé từ góc nhà bước tới. Hắn ở đâu ra vậy? Chàng hỏi:
– Tới đây hồi nào mà không thấy?
– Dạ.
– Ở gần đây?
– Dạ.
Thằng bé, quần đùi xà lỏn, áo sơ mi nâu, nút hột gài hột không, tóc húi cua, điềm nhiên đến ngồi gọn trên chiếc ghế cũ kê sát tường, nhìn chàng, mắt đỏ hoe. Chàng hỏi:
– Khóc à?
– Dạ.
– Vì sao?
– Tức!
– Cũng là người họ Phạm?
– Dạ.
– Con của ai?
– Thao.
– Phạm Thao?
– Dạ.
Toại nghe nhói trong tim.
– Tên gì?
– Dạ, Đực.
– Đực?
– Dạ, Đực là tên gọi ở nhà.
– Mấy tuổi?
– Dạ, mười.
Chàng nín thở. Thằng bé im lặng. Nhà thờ họ im lặng. Thằng bé nói:
– Mới ở trên rừng về chiều hôm qua.
– Lên rừng làm gì?
– Dạ, theo cha. Ở đó, bộ đội tập trung đi Bắc nhiều lắm.
– Lên rồi sao lại về?
– Ông nội lên bắt về. Cha giấu ông nội đem hai đứa đi, ông nội biết, ông nội lên rừng, bắt Đực về. Ông nói hai anh em, chỉ cho đi một đứa, một đứa phải ở lại với ông nội. Đần đòi về với ông nội, ông nội không chịu. Đực đòi đi với cha, ông nội không cho. Đần khóc, trốn đi ba lần, bị cha đi tìm bắt lại. Đực trốn đi bốn lần, lần nào ông nội cũng tìm ra. Tức quá, làm bộ theo ông nội về, nhưng đợi lúc ông nội không để ý, trốn ông nội, nhờ mấy chú du kích dẫn đi tìm cha. Nhưng khi đến nơi thì xe chở cha đi mất rồi. Tức ơi là tức. Nhất định ở lại với mấy chú bộ đội để đợi cha trở lại. Ông nội dỗ, nói cứ về rồi lần sau ông nội dẫn đi gặp cha… Ông nội nói láo…
– Sao lại thích theo cha?
– Dạ, bao nhiêu năm ở nhà với mẹ, tưởng không có cha. Chừ biết có cha, thích đi theo cha.
– Còn Đần?
– Đần có nhiều bạn học ở trường. Đi xa, nhớ bạn không chịu nổ
– Đực có bạn không?
– Có. Nhưng không thích ở với ông nội.
– Vì sao?
– Ông nội hay la. Chơi chi ông nội cũng không cho.
Toại bâng khuâng:
– Vậy là đành chịu.
– Không. Dọa ông nội là nếu ông nội không cho đi, sẽ bỏ trốn. Hiện đang đi trốn ở nhà dì…
Toại rùng mình, lưỡng lự:
– Nếu cha vẫn không về, thì sao?
Thằng bé ôm đầu ngơ ngác:
– Ừ, nếu cha không về thì làm sao đi, làm sao đi…
Toại lập lại:
– Cha không về thì làm sao đi, làm sao đi…
Thằng bé quả quyết:
– Cha không về, vẫn đợi.
– Ừ!
Một lát, thằng bé hỏi:
– Ông tên gì?
– Đực.
– Đực?
– Ừ, tên gọi ở nhà.
– Ông con ai?
– Thao.
– Phạm Thao?
– Ừ.
– Ông vào đây làm gì?
– Tìm thằng Đực?
Thằng bé nín thở. Chàng im lặng. Nhà thờ im lặng. Rồi chàng nói:
– Hồi đó, đợi cha về. Đợi mãi, đợi hoài cho đến khi ông nội mất, cha cũng không về…
Lau mồ hôi, chàng tiếp:
– Mãi rồi, quên. Quên cha. Và quên luôn chuyện đi. Đực ở lại… miền Nam.
Thằng bé nói:
– Đần ra Bắc theo cha.
*
Toại ngẩn ngơ.
Đần?
Đực?
Thế giới chẳng làm gì có phép lạ.
26/4/2024
[1] Quintus Horatius Flaccus, (65-27 trước Công Nguyên) nhà thơ La Mã. Tên đọc theo tiếng Anh là Horace.
Truyện ngắn của Đỗ Duy Ngọc. (Theo lời kể của anh Thái Ngọc Sơn)
Hồi đó chúng tôi vừa mới lớn, giang hồ gặp nhau qua đàn ca xướng hát, kết thành một ban nhạc nho nhỏ. Lúc đầu kiếm ăn ở các tiệc cưới, lễ lạt, sinh nhật. Lâu lâu hiếm lắm cũng có show trên sân khấu nhưng năm thì mười hoạ lắm. Ban nhạc gồm bốn tên, bầu anh Thái Sơn làm trưởng nhóm vì anh lớn tuổi nhất bọn lại có vẻ chín chắn nhất. Vì chưa có tên tuổi gì nên tụi tôi bữa đói bữa no, ăn uống thất thường lắm. Có một thời, tụi tôi thất nghiệp, cả tháng không có show nào, đói meo. Cũng bởi hồi đó các ban nhạc thường theo kiểu Tây, hát lại mấy bài nhạc Pháp, nhạc Mỹ đang thịnh hành, còn tụi tôi thì cũng hát nhạc Tây nhưng thích âm hưởng âm nhạc dân tộc hơn, do vậy, các ban nhạc khác nhận trình diễn trong các trại lính Mỹ, các snack bar ào ào thì ban nhạc chúng tôi thất nghiệp dài dài, đói meo râu.
Thời may, trong lúc tuyệt vọng tưởng đã rã đám thì anh Thái Sơn mang về một tin vui. Anh có một người bạn mang lon đại uý, đang làm quận trưởng ở miệt Năm Căn, Cà Mau. Ông quận trưởng này có nhã ý mời ban nhạc về địa phương của ông trình diễn cho dân và lính xem, coi như làm công tác dân vận. Lại nghe ông ta sẽ trả tiền hậu hỉ, lại được ăn nhậu mút mùa, nghe khoái quá, bốn thằng ôm nhau nhảy cà tưng. Thế là thu dọn lên đường. Mỗi đứa cố kiếm một ít tiền làm lộ phí. Đường xa ngái, đi gần hết cả ngày, lại cứ nơm nớp sợ mấy anh du kích Việt Cộng ra chận đầu xe, cũng sợ mìn với lựu đạn cũng của mấy ổng cài giữa đường. Cũng may chuyến đi trót lọt đến Cà Mau. Cả bọn hứng chí vì đã có công việc lâu dài nên suốt đoạn đường đi ăn nhậu thả dàn, bia bọt, cá nướng, chuột đồng, rắn rít làm láng. Khi chiếc xe jeep của ông quận trưởng chở đến Năm Căn, cả bọn chẳng còn bao nhiêu tiền dằn túi. Nhưng chẳng có ai lo vì ai cũng nghĩ rằng lên sân khấu là có tiền, so dây đờn gảy từng tưng là có tiền nên cả bọn cười vui hể hả.
Đêm đầu tiên, ông quận bố trí cho cả bọn xem một chương trình văn nghệ của huyện. Chương trình và sân khấu này sau đêm nay sẽ là nơi ban nhạc chúng tôi trình diễn thay thế ban nhạc của địa phương mà theo lời ông quận là đã cổ lỗ sĩ rồi. Màn kéo, ban nhạc xuất hiện. Ban nhạc cũng bốn người, cũng kèn cũng trống, nhưng bốn nhạc công lại được bốn người dìu ra. Mấy ông ấy lò dò, mò mẫm từng nhạc cụ. Hoá ra đây là ban nhạc của những người mù. Họ chỉnh nhạc, gảy vài tiếng, trống cũng vỗ vài tiếng, kèn cũng tò tí te. Cả bốn chúng tôi nhìn nhau và cùng một ý nghĩ, không lẽ mình đến đây đây để cướp chén cơm của những nhạc công mù này. Anh Thái Sơn nói nhỏ với cả bọn: Tụi mình sáng mắt, không chơi đàn, đánh trống, ca hát được thì còn kiếm việc khác làm để sống. Đối đế cũng đạp được chiếc xích lô để kiếm cơm, còn những nhạc công mù này, không đàn hát được, không được tiếp tục công việc họ đã làm lâu nay, họ sẽ sống thế nào? Là nghệ sĩ với nhau, ta không thể dành giật việc làm của họ, cướp chén cơm nuôi sống cả gia đình họ. Làm như thế thì quá tồi và tội lỗi quá. Ai lại đi cướp việc của người mù, đẩy họ vào con đường bế tắc vì mất việc.
Thế là chúng tôi quyết định sẽ không hoạt động ở đây nữa, ngày mai sẽ về lại Sài Gòn. Anh Thái Sơn nói hết lý do với ông đại uý quận trưởng, sau một hồi suy nghĩ, ông cũng đồng tình quyết định của chúng tôi. Ông ra lệnh cho anh hạ sĩ cận vệ của ông ấy chở tụi tôi ra bến xe, mua vé cho tụi tôi về. Trên đường về, cả bọn không nói với nhau câu nào, mỗi thằng mỗi ý nghĩ nhưng tựu trung là không biết ngày mai sẽ ra sao? Nhưng rồi tuổi trẻ chóng quên, xe chạy được vài tiếng đồng hồ là cả bọn lại nói cười. Ngày mai thì để mai tính. Trên chuyến xe ở hàng ghế trước mặt chúng tôi có ba cô gái trẻ rất xinh, cười nói vui vẻ. Mấy thằng tôi sau mấy tiếng trầm tư bắt đầu dở trò tán tỉnh. Biết tụi tôi là ban nhạc, là nghệ sĩ thì các cô rất ái mộ, cả bọn chuyện trò, cười nói rất vui. Xe chạy đến trưa thì dừng lại ăn trưa.
Cả bọn lúc ấy mới lo vì chẳng còn đủ tiền để cả bốn thằng có được bữa ăn trưa. Các cô gái thì cứ rủ chúng tôi đi ăn cơm cùng. Thân nam nhi vai năm tấc rộng ai lại để gái bao ăn, nhưng tiền của cả bọn gom lại cũng chỉ mua được ly cà phê đen. Biết tính sao giờ? Ăn mà để gái trả tiền thì quê quá! Cả bọn lo ra mặt. Anh Thái Sơn bảo các cô cứ đi trước, bọn này sẽ đến sau. Vừa nói anh vừa nháy mắt với bọn tôi, chẳng biết anh có âm mưu gì. Các cô vừa đi khuất, anh vẫy tay bảo: bọn mày đi theo tao. Anh dẫn ba thằng đi men sông, thấy mấy cái cầu tiêu cất ở mép nước, anh lần lượt bảo mỗi thằng vào mỗi cái rồi nói: Tụi bây ngồi yên đó nghe, khi nào nghe tao huýt sáo thì hẳn ra nghe, nhớ chưa. Ảnh cũng kiếm một cái cầu cá, ngồi vào. Chờ một lúc bằng thời gian ăn xong một bữa cơm, anh huýt sáo, cả bọn thẫn thờ đi ra. Anh lại bảo: tụi bây phải tươi lên, làm như vừa ăn xong một bữa no nê vậy. Đi ngang một quán cơm, anh vào xin mấy cây tăm, phát cho mỗi thằng một cái, vừa đi vừa xỉa răng. Vừa bước lên xe, thấy các cô gái cũng đã ăn cơm xong ngồi vào ghế, anh quay lưng bảo với tụi tôi: Quán cơm này nấu ngon ghê chứ tụi bây. Ba thằng tui hưởng ứng: Ừ, quán này vừa rẻ lại vừa ngon. Nói xong cả bọn cười hinh hích. Các cô trách chúng tôi: Mấy anh đi ăn quán ngon mà không rủ tụi em gì cả, xấu ghê! Anh Thái Sơn bảo: Lúc tụi này xuống xe thì không thấy các cô đâu hết, đợi mãi tụi này mới đi đấy chứ.
Chuyến xe về Sài Gòn cũng an toàn và sau đó ban nhạc của chúng tôi cũng rã đám, mỗi thằng một phương kiếm sống. Hai thằng đi đăng lính, cũng may về được tâm lý chiến, cũng tiếp tục đờn ca. Anh Thái Sơn lang bang thời gian rồi nhập vào ban nhạc khác, chơi được ở phòng trà. Riêng tôi, tôi ghi danh vào trường Đại học Văn khoa, quên chuyện ca hát, chúi đầu vào sách vở. Mộng thành anh nhạc sĩ vỡ tan tành. 14.7.2019
Hồi nhỏ ba thằng tui hay đi chơi với nhau. Thằng Sửu lớn nhất trong ba đứa, hơn tui với thằng Lam một tuổi nhưng hắn khôn lanh hơn hai thằng tui nhiều. Hắn là thằng đầu têu, bày trò và hai đứa tui chỉ việc nghe theo. Hắn bắn chim, bắt rắn, bẫy kỳ đà cắc ké gì cũng giỏi. Thời đó bàu Thạc Gián rộng mênh mông, đi với thằng Sửu vô bàu làm gì cũng bắn được chim hay bắt được rắn. Hắn gan lắm, bắt rắn bằng tay không, bắn chim bằng cái ná cao su, giương ná lên là có chim gục. Hắn cũng ác lắm, con chim còn ngắc ngoải nó vặn cổ một cái là chết ngắc. Rắn cũng thế, hắn cầm đuôi, quay quay, lừa thế, túm cái đầu, xoay một cái, con rắn chết tươi, hết giẫy. Hắn gặp con gì cũng giết, nhiều khi gặp mấy con nhỏ xíu không ăn được hắn cũng dùng chân đạp, xéo cho chết và lấy đó làm vui. Thằng Lam thì ngược hẳn với hắn, thương yêu tất cả loài vật, cứ mỗi lần thấy thằng Sửu vặn cổ chim là hắn khóc, nhưng rồi cũng đi theo vì ham vui, nhưng khi thằng Sửu nướng chim, nướng rắn, thằng Lam không bao giờ đụng tới, hắn nhìn thằng Sửu nhai con chim rau ráu là hắn cứ lèm bèm, mi ác quá Sửu ơi, mang tội chết. Tui thì lâu lâu cũng cùng ăn với thằng Sửu, thấy cũng ngon. Con chim cu cườm nướng lên chấm muối ớt ăn giữa bàu lộng gió cũng có cái thú của nó, nhưng tui sợ rắn nên ít khi ăn rắn. Mà công nhận thằng Sứu siêu thiệt, con gì hắn cũng làm thịt dược. Mổ bụng, làm lông như một tay thợ săn lành nghề. Chắc là hắn học theo ba hắn, nhà hắn làm nghề mổ heo, mẹ hắn có sạp bán thịt ngoài chợ Cồn. Cứ thấy máu chảy và con vật quằn quại là hắn thích thú. Thằng Lam thì cứ thấy cảnh đó là bịt mắt. Nhà hắn tu mà. Ba hắn là cư sĩ tu tại gia, lại sinh hoạt trong gia đình Phật tử ở chùa, mỗi tháng ăn chay cả tuần lễ. Nhà hắn cũng hay tụng kinh, cả nhà tụng giọng lên bống xuống trầm hay lắm.
Tuổi vừa chớm lớn, Ba tui gởi tui ra Huế vô chủng viện, lâu lâu mới về, cũng ít gặp hai thằng bạn thuở nhỏ. Có lần về, ba thằng vô chùa chơi, trong chùa có hai tượng ông Thiện, ông Ác. Thằng Sửu đứng cạnh ông Ác, bảo thằng Lam đứng bên ông Thiện bảo tui chụp một tấm hình. Hắn bảo hiền lành như Lam sẽ chẳng làm được chuyện gì cho ra hồn. Tui giữ tấm hình đó khá lâu và nhiều khi nhớ bạn mở ra xem, thấy mặt thằng Sửu nhìn ác thiệt.
Học được mấy năm thì tui rời chủng viện ra học phổ thông. Lúc này chiến tranh đã căng thẳng lắm, ngày nào ở ngã tư chợ Cồn cũng có những chiếc xe GMC chở quan tài phủ cờ chạy qua, đêm đêm tiếng đại bác vọng về, hoả châu sáng cả bầu trời, lâu lâu lại có nổ mìn và truyền đơn rải ở ngã tư. Đến năm Mậu Thân, sau Tết thì tình hình chiến sự càng thêm máu lửa, bạn bè lần lượt vô quân trường. Thằng Sửu vắng bóng, ba hắn bị bắt sau Tết Mậu Thân vì hoạt động cho Việt Cộng, nghe nói bị đày đi Côn Đảo. Hắn lẩn trốn đâu đó, thoắt ẩn thoắt hiện một thời gian rồi biến mất. Nghe nói đã lên rừng. Thằng Lam thi rớt Tú Tài hai, xuất gia đi tu với một Thầy ở đâu trong Điện Bàn nên cũng không có dịp gặp. Tui xong hai cái Tú Tài, vô Sài Gòn. Từ đó cái tổ tam tam của tụi tui tan hàng, không có dịp gặp nhau nữa. Năm 1980, sau mấy năm đi cải tạo, tui về Đà Nẵng gặp lại Lam, lúc này đã là thầy trụ trì một ngôi chùa nho nhỏ ở Quảng Nam. Chùa không lớn nhưng phong cảnh rất hữu tình, trước sông, sau núi, địa thế rất đẹp. Lam bây giờ trang nghiêm, đạo mạo, tu hành tinh tấn và được dân chúng ở đó vị nể lắm. Lam cho tui biết Sửu bây giờ làm giám đốc một Sở ở tỉnh, đường hoạn lộ thênh thang, ba hắn giờ cũng là cán bộ. Lam cũng kể tui nghe trong thời chiến tranh, ngôi chùa của Lam là nơi thường cho Sửu ẩn náu dù Lam không tham gia Việt Cộng. Lam chứa chấp Sửu vì tình bạn chứ không phải đồng chí. Ba thằng bạn ngày xưa bây giờ đi ba ngả khác nhau, Lam với tui gặp nhau chỉ nhắc chuyện xưa, Sửu chắc bộn bề công việc nên cũng ít khi có dịp gặp.
Một thời gian khá dài ba thằng tui không liên lạc với nhau, chỉ thoang thoáng Lam đã là Thượng toạ, Sửu đã là chủ tịch hay phó chủ tịch tỉnh gì đó. Ba thằng mấy chục năm không gặp. Vừa rồi có chuyện ra miền Trung, tui đi tìm Lam, vào quê nơi chùa của Lam thì chùa không còn nữa, khu vực đó trở thành một công trường xây cất một dự án gì lớn lắm. Hỏi người dân quanh đó thì biết chùa đã bị đập nát vì quy hoạch, Lam ra tận trung ương kiện cáo mà chẳng ăn thua, ngày cưỡng chế, Lam chống đối để giữ mấy trăm hủ cốt vong thờ trong chùa nhưng bất lực trước hàng loạt máy xúc, Lam đòi tự thiêu nhưng chính quyền can thiệp kịp và bắt Lam giam ở Đà Nẵng. Tui ra Đà Nẵng tìm Lam mà cũng biệt vô âm tín. Trong những ngày đi tìm Lam và tìm hiểu tình trạng của ngôi chùa của Lam tui mới phát hiện ra rằng, các quyết định tịch thu đất và cưỡng chế chùa của Lam đều có chữ ký của Sửu. Sửu là người chủ trì dự án này. Quyết định thu đất: Sửu ký. Quyết dịnh cưỡng chế: Sửu ký. Chủ dự án: Sửu. Sửu là quan đầu tỉnh.
Miếng đất quá đẹp, và trong cơn sốt đất trên cả nước, đất là vàng, là bạc, là đô la là hột soàn thì làm sao mà người ta làm ngơ cho được. Và một người như Sửu không thể bỏ lỡ miếng mồi ngon này.
Mấy năm nay tui cố ý tìm Lam mà vẫn chưa gặp được, không biết hắn trôi giạt phương nào. Cái hình chụp hai thằng ở trong chùa thuở nào, nhìn lại thấy mặt thằng Sửu càng ngày thấy càng ác nhơn, chẳng khác chi cái tượng kề bên hắn. 6.1.2018 DODUYNGOC
Lần đổi tiền thứ hai năm 1978, Hân chẳng có bao nhiêu tiền để đổi. Lúc đấy Hân đang thất nghiệp, chạy đầu này đầu nọ, chẳng ra việc gì, ai kêu gì làm nấy, bữa đói bữa no. Có thằng bạn thân vượt biên, trước ngày đi có cho một ít, ăn được vài tuần cũng hết sạch. Loay hoay mãi mà chưa biết cách gì để sống. Sách vở bán đã hết. Áo quần cũng chỉ còn bộ đồ mặc trên người, cũng chỉ còn đôi giày da mòn long đế. Gia sản chỉ có bấy nhiêu. Căn phòng càng ngày càng vắng đồ đạc, càng thưa thớt người. Lần lượt từng người đi. Kẻ về quê, người đi đâu mất biệt. Đôi lúc có kẻ lướt về rồi lại đi. Tất cả tản mác để tiếp tục sống, để tiếp tục tồn tại.
Đang là cuối đông. Sài Gòn bỗng lành lạnh với những cơn gió lạ. Cả xã hội nghèo, thiếu ăn. Chén cơm trắng là giấc mơ của bao người. Ai cũng gầy với đôi mắt thất thần và cái bụng lép. Chẳng ai giúp được ai. Hân co ro dưới gió trên đường Trương Minh Giảng. Con đường quen thuộc cả chục năm nay, Hân thuộc từng con hẻm, từng lối rẽ, từng cái ổ gà nho nhỏ trên nền xi măng của vỉa hè. Vẫn biết là chẳng đi đến đâu, chẳng giải quyết được gì cho cái bụng rỗng đã ba hôm rồi, nhưng anh vẫn đi. Nằm nhà xót bụng không chịu được, ra đường với chút hi vọng gặp ai đó, gặp một dịp may nào đó, lượm được đồng bạc ai đánh rơi. Biết đâu? Cũng còn vài người quen, cũng còn vài thằng bạn. Nhưng Hân ngại. Anh tiều tuỵ quá. Đói rách quá, ngại gặp mọi người. Gia đình nào cũng nghèo nhưng đến bữa cũng có bữa cơm dù là bo bo, bột mì hay cá hẩm thịt ôi. Hân chỉ cần có gì bỏ bụng. Lấp đầy khoảng trống của bao tử đang kẻu ầm ĩ. Nhưng Hân không dám đến nhà ai. Đói nhưng cái bệnh sĩ vẫn bám vào anh. Hân đi dọc căn phố, những cửa hàng ngày xưa sầm uất thế, rộn ràng thế bây giờ đìu hiu và buồn tẻ. Đã gần chập chọang chiều mà căn phố vẫn hiu hắt vì không có điện. Những giọt mưa lác đác, hắt vào anh. Hân tay ôm ngực tay loay hoay tìm điếu thuốc. Túi rỗng. Hân thèm một hơi thuốc trong mưa. Hân cúi xuống, mắt lướt trên nền xi măng, anh lượm được hai cái tàn thuốc. Anh lượm mảnh giấy báo, xé hai tàn thuốc, gói mấy sợi thuốc vào mảnh giấy báo rồi se lại. Ánh lửa soi sáng một vùng mặt, khói vờn lên. Bụng đang đói gặp hơi khói làm đầu anh lâng lâng như say. Những bóng người loang thoáng, chập chờn. Bụng anh thắt lại. Hân có cảm giác có dòng nước mắt đang âm ỉ chảy từ đôi mắt cận.
Hân băng qua ngã tư. Góc cây xăng Trần Quang Diệu với Trương Minh Giảng cũ có một bà cụ già bán bánh ít nhân đậu. Bà cụ người Bắc đã già lắm. Lưng còng, lúc nào người cũng quấn trong hai ba lớp áo, đầu quấn khăn. Hàng của bà chỉ chục cái bánh lá đặt trên cái thúng cũng cũ kỹ như bà. Một bà cụ nghèo, vốn liếng chẳng bao nhiêu. Bà bán vào buổi chiều, ít thấy khách mua nên nhiều lúc bảy tám giờ tối vẫn còn thấy bà ngồi dưới đèn đường, bóng bà đổ trên đường nhìn hiu quạnh lắm. Hân lâu lâu cũng ghé bà, mua một vài cái ăn qua cơn đói. Hôm nay Hân nghĩ giá có vài cái bánh này, chắc cũng đỡ cho cái bụng. Nhưng anh chẳng còn đồng bạc nào trong túi. Ngang qua, Hân đi luôn dù chân như muốn níu lại. Hân đi đến hẻm Trường Lê Bảo Tịnh. Anh quay lại, dùng dằng mấy bước rồi sà xuống cái thúng bánh tả tơi của bà cụ. Cụ ạ! Cụ cho con hai cái được không? Mời cậu. Cậu mua giúp. Ế quá. Nhưng cụ ơi! Hôm nay cháu không còn tiền, cụ cho cháu thiếu được không? Bà cụ ngần ngừ, chép miệng: Khổ thế cơ à? Ối giời thời thế gì mà ai cũng khổ thế này? Hân đứng lên, anh thấy chóng mặt, cái đầu hơi quay quay, anh lại đành ngồi xuống. Dạ vậy thôi cụ ạ. Vốn cụ chẳng bao nhiêu mà cháu lại ăn thiếu thì khổ cho cụ quá. Bà cụ đưa đôi mắt hấp hem nhìn Hân, móm mém: Khổ đã khổ rồi. Cậu cứ xơi bánh đi, hôm nào có tiền gởi cho tôi cũng được. Trông cậu xanh quá. Chắc đói lắm rồi hử? Đêm đó nhờ hai cái bánh ít, Hân ngủ được một giấc ngon.
Mấy hôm sau đó, có việc ở Biên Hoà, anh xuống làm phụ mộc gần chục ngày. Về lại Sài Gòn mấy bữa, ghé góc đường lại không thấy bà cụ. Rồi ngày qua tháng lại, thời gian trôi đi, lúc thì quên, khi nhớ tìm mãi chẳng thấy bà cụ đâu.
**********
Cuối năm ấy, một người bạn cho một suất vượt biên, trả tiền sau. Hân liều làm một chuyến vì đang bế tắc quá. Lênh đênh gần nửa tháng ngoài biển, máy hư, tàu vô nước, cuối cùng cũng cặp được vào đảo Pulau Bidong đảo nhỏ ở phía nam biển Đông, thuộc bang Terengganu của Malaysia.
Đảo này được biết đến chủ yếu vì đây mở trại tạm cư cho người Việt tỵ nạn trong những đợt vượt biên liên tiếp của thuyền nhân từ năm 1975 đến năm 1991. Đến 30 tháng 10 năm 1991 khi trại đóng cửa thì nơi đây đã tiếp đón 250.000 người tỵ nạn.Hân ở đảo gần một năm vì chẳng có thân nhân nào bảo lãnh, anh vốn lớn lên từ cô nhi viện, tứ cố vô thân nên chẳng biết cậy nhờ ai. Sau đó anh gia nhập đạo Tin Lành và rồi một hội thánh ở Mỹ bảo lãnh Hân qua Mỹ. Những năm tháng ở Mỹ, anh cật lực vừa học vừa làm, cuối cùng cũng có một việc làm ồn định, một bằng cấp kha khá, một căn nhà vừa ý. Hai lần lập gia đình đều đổ vỡ, không có đứa con nào, anh nghĩ chắc ở thế cho đến già. Số thế rồi thì chấp nhận vậy. Đi làm về, một mình trong căn nhà trống, nhiều đêm anh nhớ Việt Nam, đôi khi thấp thoáng bóng của bà cụ và hai chiếc bánh anh còn thiếu nợ hiện ra trong giấc mơ. Nhưng anh vẫn chưa về, thật ra cũng chẳng còn ai để về. Chẳng còn chi níu kéo để về. Nhưng Việt Nam vẫn về trong giấc mơ của Hân. Có một cái gì đó không giải thích được cứ gọi anh về.
Năm 2002, nhân chuyến công tác ở Thái Lan, anh về lại Sài Gòn năm hôm. Thành phố chẳng còn như cũ, nhiều nhà cao tầng, phố xá đông đúc hơn, người ta có vẻ giàu hơn, hàng quán nhiều hon. Buổi chiều anh về lại con đường Trương Minh Giảng cũ, con phố này có vẻ ít đổi thay, trường đại học ngày xưa của anh giờ trông tàn tạ, những bức tường ám rêu, cái cổng trường vẫn thế. Ngôi chợ cũ khang trang hơn, phố sầm uất hơn. Hân đi dọc con đường mấy chục năm trước thường đi, vỉa hè không còn loang lổ, lát gạch đẹp hơn. Đứng ở bên này ngã tư Trần Quang Diệu nhìn qua xây xăng, anh thoáng thấy bà cụ bán bánh ít nhân đậu xanh đang ngồi ở dưới cột đèn đường. Lạ nhỉ? Hai mươi mấy năm rồi, cụ còn sống sao? Cụ vẫn ngồi bán ở đây sao? Hân nhớ hai chiếc bánh còn thiếu nợ bà cụ. Anh vội băng qua đường. Một chiếc xe bus trờ tới, che tầm mắt của anh. Khi anh bước qua bên kia đường thì không còn thấy bà cụ nữa. Mới thấy đây mà? Hay chỉ là ảo ảnh. Hân đi tìm quanh quất mà chẳng thấy gì. Anh đứng ngay chỗ bà cụ hay ngồi ngày xưa, miệng lẩm bẩm: Cụ ơi! Con về tìm cụ trả tiền hai chiếc bánh. Chắc cụ chẳng còn trên đời này nữa đâu. Nhưng con vừa thấy cụ. Hay cụ nhắc con nhớ món nợ năm xưa. Nhưng con biết làm sao trả. Cụ ơi! Mong cụ siêu thoát. Món nợ này con suốt đời nợ cụ.
Mấy ngày còn lại ở Sài Gòn, Hân cứ quanh quất ở cây xăng Trần Quang Diệu, hỏi thăm về bà cụ bán bánh ít hơn hai mươi năm trước ở chỗ này. Mấy hôm rồi chẳng ai biết, chẳng biết thêm tin tức gì. Hôm cuối cùng ở Việt Nam, anh gặp được một anh chàng xe ôm, anh biết rất rõ bà cụ vì anh là con rể của bà cụ. Hân mừng quá, ngồi trên xe để anh xe ôm chở về nhà mà anh cứ ôm bụng anh chàng xe ôm mà nói: Mừng quá, mừng quá. Chắc là bà cụ khiến anh gặp tui. Mừng quá! Anh xe ôm kể đêm qua thấy cụ về bảo chiều mai ra góc cây xăng, có người muốn gặp. Hân nói với lên: Thế là cụ bảo ra gặp tui đấy. Bà cụ linh thiêng thật.
Xe chạy vào mấy cái hẻm ngoằn nghèo. Con hẻm càng vào sâu càng hẹp lại. Căn nhà ở cuối con hẻm ứ nước, cạnh bãi rác. Nhà sơn tróc loang lổ, nghiêng ngiêng như muốn ngã. Nhà tù mù một cái bóng đèn vàng hiu hắt. Một người đàn bà đi ra sau tiếng kêu của anh xe ôm. Hân bước vào nhà, đập vào mắt anh là chiếc bàn thờ be bé thắp ngọn đèn đỏ quạch soi tấm ảnh nho nhỏ của bà cụ. Bà cụ đang nhìn anh, mắt nheo nheo với nụ cười hóm hỉnh. Anh nhớ câu cuối cùng của bà nói với anh hơn hai mươi năm trước: Khổ đã khổ rồi. Cậu cứ xơi bánh đi, hôm nào có tiền gởi cho tôi cũng được. Trông cậu xanh quá. Chắc đói lắm rồi hử? Hân xin ba cây nhang, đốt lửa, ánh sáng bùng lên soi khuôn mặt của người đàn bà nhầu nhĩ, chắc tại nghèo. Hân chắp tay vào ba cây nhang: Cụ ơi,con xin lỗi cụ, con đắc tội với cụ, con mang nợ cụ hai chiếc bánh cứu con qua cơn đói mà bây giờ con mới trả được cho cụ thì cụ đã chẳng còn. Con không quên được hai chiếc bánh của cụ đâu. Và vì không quên nên con mới nhìn thấy cụ, con mới tìm được nhà cụ để trả món nợ ân tình.
Hân ra ngoài cửa, ánh sáng cuối cùng của buổi chiều hắt lên ánh sáng kỳ dị vừa nhờ nhờ vừa tăm tối trên cánh cửa loang lổ. Anh rút hết số tiền trong ví, trong túi xách, anh không đếm là bao nhiêu nhưng cũng được một bó bằng cườm tay. Anh xin chiếc dĩa, đặt hết lên đấy và vái một lần nữa. Cụ ơi! Con xin gởi cụ. Đã biết trễ rồi nhưng có còn hơn không. Con đội ơn cụ và mong cụ tha lỗi cho con.
Hân bước ra con hẻm, ánh đèn đường vừa bật, anh lại ra con đường cũ. Cây xăng đang tấp nập. Khoảng sáng chiếu ở dưới đèn đường, anh lại thấy nụ cười và dáng lom khom của bà cụ. Nhưng lần này cụ không có bóng đổ. 15.7.2005 DODUYNGOC
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.