Hỏa Lò

vietmessenger.com

Nguyễn Chí Thiện

Post by Sơn râu 23 Jul 2024

Phần 7

Sương Buồn Ôm Kín Non Sông

Tuổi thêm, thêm được tóc râu phờ
Nay đã năm mươi có lẻ ba.

Hai câu thơ của cụ Tam-Nguyên Yên-Đổ, không hiểu sao tự nhiên nẩy ra trong đầu lão, cái đầu đã ngây ngất, choáng váng vì chiếc xe com-măng-ca, suốt sáu tiếng đồng hồ, cứ hất lên, dằn xuống, trên đoạn đường hơn hai trăm cây số đầy ổ gà, từ trại Z 8 tới Hà-Nội. Lão có bao giờ để ý tới ngày sinh nhật đâu. Từ lâu rồi, lão coi cái ngày đó là ngày đáng nguyền rủa. Phải, hôm nay mùng mười, tháng tám, đúng là ngày cách đây năm mươi ba năm, lão chào đời…

Khi sinh ra, miệng đã khóc thé
Đời có vui, sao chẳng cười khì?

Hai câu thơ khác của Uy-Viễn Tướng-Công Nguyễn-Công-Trứ lại tới với lão. Đúng thật, cuộc đời chẳng có gì vui. Năm ba mươi mốt tuổi, lão bị đi tập trung cải tạo. Nằm tù được bốn năm, thì vợ bỏ. Năm bốn mươi bảy tuổi, được thả. Lão lê tấm thân tàn về ở nhà cô em gái. Bấy giờ lão mới biết tin thằng con trai độc nhất của lão đi bộ đội, đã chết mất xác trong rừng Trường-Sơn, và vợ lão đã lấy một gã cán bộ quản lý thị trường. Cô em gái lão khóc, bảo lão đừng trách vợ lão: “Chị ấy thương anh lắm! Sau ngày anh bị bắt, chị phải chạy chợ kiếm sống. Nếu không nhờ anh quản lý thị trường che trở, rồi lấy chị, chị không nuôi nổi con đâu! Lấy chị, anh ấy bị kiểm điểm, rồi sa thải, phải đi kéo ba-gác. May mà có sức khỏe, xốc vác nổi. Anh ấy là người tốt, quý cháu nó lắm. Nuôi nó ăn học tử tế, cho tới khi nó bị nhập ngũ đi B… (đi Nam).

Cùng với nhịp rung xóc của xe, câu nói đó cũng rung xóc trong óc lão, nhắc nhở lão không được quên ơn anh cán bộ quản lý thị trường. Anh ta đã nuôi vợ, nuôi con lão đấy! Kẻ cướp vợ lão lại trở thành ân nhân của lão! Mỉa mai thật. Nhưng lão phải thừa nhận đó là một thực tế. Bao bạn bè lão đi tù, vợ bỏ, con thất học, lêu lổng, hóa lưu manh. Bố một trại, con một trại. Có khi bố con cùng một trại. Có kẻ vợ phải đi bán thân, kiếm tiền nuôi con, nuôi thân, tiếp tế nuôi chồng.

Sống vất vưởng ở ngoài được gần hai năm, lão lại bị bắt. Khi tiếng súng bắt đầu vang trên bầu trời biên giới, công an đã gọi lão lên Sở, bắt viết kiểm điểm tư tưởng, ngày này sang ngày khác. Bạn bè lão cũng vậy. Ai cũng lo thắt ruột, thắt gan! Không khí Sở Công-An bận rộn, tất bật. Phó thủ tướng Phạm-Hùng đã ký lệnh tập trung tất cả các thành phần nguy hại. Đọc lệnh này trên báo Nhân-Dân. Nhiều bà vợ khóc lóc. Có bà ngất xỉu. Em gái lão cũng ngồi đứng không yên.

Thế rồi, một sáng tháng năm, trời vừa hừng sáng, lão vừa thức dậy, chưa kịp đánh răng, rửa mặt, thì công an tới, đọc “lệnh bắt người, khám nhà”, khóa tay lão lại, dẫn lão đi… Lão thấy nhẹ hẳn người. Bao lo lắng, phấp phỏng biến hết. Số phận đã được định đoạt. Thế là an tâm! Vào Hỏa-Lò, lão ngủ li bì. Bù lại bao đêm trằn trọc, thấp thỏm, nghe tiếng giầy bước mạnh ngoài cửa, cũng nhỏm dậy.

Ở Hỏa-Lò được vài hôm, không cung kẹo gì, lão bị chuyển thẳng đi trại Z8. Trong đợt tù lần trước, lão đã di chuyển nhiều lần. Lăn hết trại này đến trại khác. Nhưng cuộc chuyển trại lần này mới thật là khó quên. Chân mấy tù nhân chính trị đều bị cùm. Lưu manh chỉ bị khóa tay từng cặp. Xe rung xóc khủng khiếp. Trong một khúc quặt, tất cả tù trên xe ngã dạt về một phía. Bác già ngồi cạnh lão rú lên. Cổ chân bác đã bị gẫy. Xe vẫn chạy ầm ầm. Mặc những tiếng kêu rên đau đớn, hai tên công an võ trang ngồi trên xe, nhất định không chịu mở khóa cùm, còn chửi mắng mấy người năn nỉ, đề nghị tháo cùm cho bác già.

Lão tới trại vào lúc trại đương bị dịch kiết lỵ tàn phá. Trại nằm giữa lòng thung, gần biên giới Việt-Lào. Rào nứa ken dầy, bọc kín. Đoàn tù cùng đi với lão được dồn vào khu bên phải sân trại, khu của tù nhân chưa bị bệnh, hoặc mới bị nhẹ. Dẫy phòng bên trái sân dành cho những bệnh nhân nguy kịch. Lúc đó vào giờ ăn chiều. Mặt trời vàng khè tỏa sáng lấp lóa trên những ngọn đồi trọc đỏ quạch, nhấp nhô, nối tiếp nhau, bất tận. Gió Lào hầm hập từng đợt, phà hơi nóng xuống lòng thung khô cằn, không một bóng cây. Những lớp bụi hồng nhạt bay, rơi, tơi tả… Lão nghĩ có lẽ đây là Thung-Lũng Tử-Thần, và ngồi phệt xuống, bưng bát cơm gạo đỏ, gắp ít lá sắn luộc đưa lên miệng. Lá sắn chát sè. Lão mới vào tù, tuy đói, nhưng không nuốt nổi. Cuộc hành trình làm lão kiệt sức, mồm đắng ngắt. Lão chệu chạo nhai vài thìa cơm, rồi cho người bên cạnh. Một tên tù chửi đổng:

– Tiên sư nó, kiểu cách rởm! Mấy tháng trời, các bố nó đây toàn nhá sắn khô. Mới có cơm mấy bữa nay đó!

Lão không nói gì, đứng dậy quay nhìn về phía bên kia sân. Lão kinh hoàng trố mắt. Cách lão chừng ba mươi thước thôi, một cảnh tượng suốt đời không thể phai mờ đối với lão! Trong nắng chiều vàng ủng như nghệ, hàng trăm tên tù trần truồng, xám xịt, lủng củng xương da, đứa nằm, đứa ngồi, đương bốc cơm ăn. Có những tên không còn cầm nổi cái bát, cơm rơi đổ cả xuống đất, lẩy bẩy bò xuống, vốc nhặt đưa lên miệng. Tất cả diễn ra, im lìm, như một màn kịch câm. Như những bóng ma. Hai bóng ma, đầu trọc lốc, mắt sâu hoắm, đờ đẫn, ngồi đối diện nhau. Bốn bàn tay bám vào cái bát men đựng cơm, giơ lên, run run, từ từ đưa đi, đưa lại. Phải nhìn một lúc, lão mới hiểu là hai đứa đương giành nhau bát cơm của một tên nằm gục bên cạnh, không ăn nổi. Chúng không còn sức để nói, để chửi, để giằng mạnh. Một chiếc xe bò lọc cọc đi vào. Hai tên tù tự giác vào phòng, lần lượt khiêng năm xác chết trần truồng, đặt lên xe, kéo đi. Những tên tù ăn xong đứng lên, mủ máu từ hậu môn rỏ xuống…

– Chúng tôi vào uống nước. Anh ngồi trong xe. Tuyệt đối không được trò chuyện với bất cứ ai!

Tiếng tên công an áp tải lôi lão khỏi cơn ác mộng.

Chiếc còm-măng-ca dừng lại bên lề đường. Hắn cùng gã tài xế xuống xe, vào một quán nước ngay đó. Lão nhìn quanh và nhận ra thị xã Văn-Điển. Những căn nhà thấp lè tè dọc hai bên phố. Quanh quất, vài quán giải khát, quán phở, quán thịt chó. Khách thưa thớt. Trời buổi trưa nắng gay gắt, chói chang. Mùi nhựa đường, mùi xăng dầu, mùi phở, thoang thoảng. Chiếc xe lăn đường ầm ầm, lăn đi, lăn lại. Mấy công nhân hì hục đào, cuốc. Mấy chiếc xe thồ uể oải, nặng nhọc. Những chiếc xe đạp cũ kỹ, thô kệch, vội vã lướt qua. Mấy anh xích lô, xe để dưới bóng cây, ngồi trà thuốc, tán gẫu trong quán. Dăm đứa bé nhem nhuốc, nhếch nhác, nheo mắt nhìn chiếc xe com-măng-ca, nhìn lão, tò mò. Chúng chỉ trỏ vào chiếc khóa số 8 trên cổ tay lão, lè lưỡi:

– Ê, ê, tù, tù.

Lão nhìn các em, buồn rầu nghĩ ngợi. Chỉ có tuổi này là sung sướng, chưa biết gì, ngây thơ, vô tư lự, phiền não cuộc đời chưa vướng mắc. Đúng là tuổi ngọc.

Đột nhiên, bên kia đường, từ một căn nhà, the thé tiếng kêu la. Rồi cửa bật mở. Một người đàn bà chạy ra, đầu tóc rũ rượi. Một người đàn ông cầm một thanh củi đuổi theo, hầm hầm:

– Ông đập chết mẹ mày. Con ác phụ!

Mấy anh xích lô ùa tới, giữ gã lại.

Người đàn bà chạy sang quán nước, chu chéo:

– Thằng khốn nạn, mày bỏ vợ con, đi theo con đĩ đó. Bà không nhịn được nữa. Bà sẽ tố cáo cho mày mất chức hiệu trưởng, cho mày bị khai trừ khỏi Đảng!

Chị ta lấy tay vỗ bành bạch, hét lên:

– Thằng chó dái, cái này là cái gì! Nó không phải là “cái mả bố mày” sao, mà mày phải vục đầu vào cái của con nhà thổ?

Mọi người cười ầm lên.

Bà lão chủ quán đứng dậy, đi tới kéo tay chị ta, can:

– Thôi, chị bớt nóng. Chị là cô giáo, không nên làm thế. Phố xá người ta cười cho. Vợ chồng có điều gì, đóng cửa bảo nhau.

Tên công an và gã tài xế uống xong, thanh toán tiền cho cô con gái bà chủ quán đương cười ngặt nghẽo, rồi lên xe. Chiếc com-măng-ca bon đi.

Gã tài xế lắc đầu:

– Đúng là giáo đâm, giáo chém!

Lão thầm nghĩ đúng là xã hội đã thay đổi khác hẳn. Ngày xưa làm gì có loại thầy giáo, cô giáo như vậy. Dân còn gọi họ là những nhà mô phạm cơ mà. Ngày nay, kể cả bọn lưu manh, tính chất cũng khác hẳn. Hồi năm 1961, lão mới vào tù, đứa nào cũng giấu tội, xấu hổ, không dám nhận mình là ăn cắp, ăn trộm. Xã hội cũng nhìn bọn chúng bằng con mắt khinh bỉ, dè bỉu. Bây giờ, lũ chúng ngang nhiên khoe khoang chiến công trộm cướp. Càng táo tợn, độc ác, càng tự hào. Xã hội nhìn chúng bằng con mắt bình thường. Câu “Thời đại ra cửa là gặp anh hùng” của Hồ-Chủ-Tịch phải đổi thành “Thời đại ra cửa là gặp kẻ cướp” mới phù hợp với thực tế.

Xe băng qua đường Hai-Bà-Trưng, rồi dừng lại ở cửa Hỏa-Lò. Lão được bàn giao cho tên công an thường trực. Tên này dẫn lão qua khu xà lim 2, tới xà lim 1.

Sau khi một tên tự giác khám xét chăn màn, quần áo, sờ nắn toàn thân xong, tên quản giáo già đeo hàm thượng úy trỏ vào mặt lão:

– Tôi phụ trách xà lim này. Tôi ở trong Ban Giám-Thị. Nếu vi phạm nội quy, tôi có đủ thẩm quyền ký lệnh cùm ngay, cắt tiếp tế ngay! Cấm trò chuyện, liên lạc với các buồng khác. Cấm đứng lên nhìn ra ngoài hành lang. Cấm mất trật tự. Cấm cầu nguyện. Vào!

Tên quản giáo mở buồng 14. Lão bước vào. Cửa đóng sầm, khóa lại.

Một người tù cởi trần, mặc quần đùi, mày râu nhẵn nhụi, tóc chải gọn gàng, ngồi trên sàn, phe phẩy chiếc quạt giấy.

Lão quẳng túi nội vụ xuống sàn của lão, nằm gối đầu lên, thở phào, rồi quay sang hỏi:

– Anh bị bắt lâu chưa?

– À, mới được hai tháng. Còn ông bạn, ở trại nào chuyển về đấy?

– Tôi ở Z8, Nghệ-An. Anh bị bắt là vào ngay xà lim này à?

– Ờ, ờ, tôi bị tống vào buồng này ngay. Ông bạn chắc mệt lắm. Tôi pha cho ông bạn một ca nước chanh nhớ.

Lão ngồi nhỏm dậy:

– Anh cho tôi ít nước lã thôi.

Gã cười, hai hàm răng trắng, đều:

– Anh em bạn tù cả. Đừng khách sáo. Tôi mới được vợ tiếp tế hôm qua.

Nói xong, gã nhấc bị tiếp tế ở chân cùm lên, cởi dây, lấy ra một gói đường, một quả chanh.

Lão ngăn lại:

– Cảm ơn lòng tốt của anh. Tôi đã ở tù nhiều, tôi hiểu. Miếng ăn trong tù quý lắm. Tiếp tế là xương máu của gia đình. Anh giữ lấy mà dùng. Tôi họa hoằn cô em gái mới gửi cho đôi chút. Coi như là không. Tôi đã sống quen với tiêu chuẩn trại. Anh cứ để cho tôi tự nhiên. Anh em mình ở với nhau, có bạn là vui rồi.

– Ông bạn đi đường xa mệt. Tôi mời ông bạn lần này thôi. Đừng từ chối nữa.

Nể lời, lão đành bằng lòng.

Gã moi ở khe cùm ra một mảnh nhôm con, dùng nó như dao, bổ đôi quả chanh một cách khá vất vả. Gã vắt chanh vào ca men có sẵn nước, lấy chiếc thìa nhựa con, múc bốn thìa đường đổ vào, ngoáy một lúc, rồi đưa cho lão.

– Cảm ơn anh. Đã hơn bốn năm rồi. Hôm nay tôi mới được uống chanh đường.

Ca nước từ mồm lão chảy từ từ xuống họng. Chảy tới đâu, lão thấy thấm thía, thơm ngọt, tươi mát, khoan khoái tới đó. Lão đặt cái ca xuống sàn. Người tỉnh táo, khỏe hẳn ra.

– Anh có hút thuốc lào không?

Mắt gã bạn tù sáng lên:

– Ông bạn có à! Tôi thèm nhỏ rãi ra đây!

Lão cười:

– Có chứ. Chúng ta có thể làm một hơi bây giờ.

Gã giơ ngón tay trỏ lên môi:

– Nói khẽ chứ! Không được, phải đợi đến chiều tối. Lão Ngưu-Ma-Vương vẫn ngồi ngoài ấy đấy. Lão này hách xì xằng lắm. Động một tí là cùm, là cắt tiếp tế. Anh em đặt cho lão cái tên Ngưu-Ma-Vương là vì thế. Ông bạn có mệt, cứ nằm nghỉ đi.

Lão nằm xuống, nhắm mắt, cố chợp đi. Nhưng đầu óc cứ miên man nghĩ ngợi lẩm cẩm. Lần này là lần thứ ba lão vào nằm Hỏa-Lò. Nhớ lại hồi còn học Chu-văn-An, lão cùng bạn bè thường đạp xe qua nơi này. Hồi đó, lớp thanh niên tuổi mười tám, mười chín như lão, khờ khạo lắm. Khi đi qua Hỏa-Lò, kẻ thì dự đoán kháng chiến thắng lợi, nhà tù này sẽ bị phá đi. Một trường đại học sẽ được dựng lên. Kẻ thì ao ước một câu lạc bộ văn hóa sẽ thay thế, cho nam nữ thanh niên tới đó vui chơi, đàn ca, nhảy nhót. Riêng lão thì muốn sẽ là một vườn hoa, nhiều cây cao, nhiều thảm cỏ xanh rờn, cho Thủ-Đô thêm tươi mát. Ôi, cái ngây thơ, ấu trĩ đó, chính là nguyên nhân cơ bản dẫn tới sự hủy diệt đời lão, đời các bạn lão! Thế rồi, lão đậu tú tài, lão bị động viên đi trường sĩ quan Thủ-Đức, lão ra trận. Lão chiến đấu can đảm, mưu lược, nên mới hai mươi ba tuổi, lão đã đeo hàm Đại úy. Lão chẳng có ý thức gì về chính trị. Lão xông pha trận mạc dữ dội, vì lão có máu “người hùng”. Mẫu người lão ngưỡng mộ là Kinh-Kha vượt sông sang Tần, “một lưỡi dao bay, ngàn thủa đẹp”, là Triệu-Tử-Long “một thân toàn là mật”, đơn thương, độc mã giữa muôn vạn binh Tào, chiến bào đỏ máu. Khi còn đi học cũng vậy, mỗi khi đánh nhau với lính Tây, dù Tây đen hay Tây trắng, lão thường lăn sả vào đánh, và cho chúng đo ván. Lão cao 1m75, nặng 72 kí-lô, toàn gân và bắp, biết quyền Anh, biết Judo. Sức sống đầy ứ, rừng rực. Thực ra, lão cũng tình cờ đọc được ở đâu đó vài cuốn sách nói về hệ thống tù đày, về cuộc sống khốn cực của Nga-Xô, như “Tôi Chọn Tự Do”, “Con Quỷ Ở Thiên Đường”, “Từ Nga-Xô Trở Về”. Nhưng đọc trong khói thuốc Lucky, trong hương cà phê, trong hơi bia, hơi rượu, trong điệu nhạc Valse, nhạc Tango, trong vị đậm đà thơm ngậy của miếng bí-tết vàng rộp. Thành ra đọc, mà không đọc. Khi vào tù lần đầu, lão giận sự ngu xuẩn của lão lắm. Nhưng lão giận bố lão nhiều hơn. Ông cụ là người có cả Hán học lẫn Tây học, thông hiểu lịch sử kim cổ đông tây, sao lại đi chứa chấp cộng sản? Để rồi bị chúng đưa ra đấu tố, lăng nhục, hành quyết thê thảm! Lão không theo quân đội vào Nam, một phần cũng vì bố lão, khuyên lão, giữ lão ở lại. Sau này, lão nhận ra không phải chỉ riêng gia đình lão ngu ngơ, mà hầu như cả dân tộc ngu ngơ. Bị mắc lừa tất. Nếu ai cũng hiểu rõ cộng sản, thì lũ chúng làm thế nào có thể ngóc đầu lên được? Nói gì đến chuyện thống trị cả nước! Có nhiều bạn sĩ quan của lão, biết ở lại là dại rồi, bỏ trốn vượt biên đi Nam, và bị bắt đi tù. Không phải đợi Nghị-Quyết Tập-Trung Cải-Tạo của Trường-Chinh, mới bị đi như lão. Một số, cố uốn mình, mong thoát nạn, tích cực tham gia mọi hoạt động khu phố. Có người được tới 16 bằng khen các loại! Cuối cùng, tất cả vẫn gặp nhau trong tù. Dạo đó, lão thắc mắc, mà không tìm được câu trả lời. Tại sao, những người tự nguyện ở lại miền Bắc, ít nhiều đều có lòng tin ở cách mạng, coi cách mạng là chính nghĩa, hoan hô cách mạng, mà chính quyền lại gọi họ là ngụy quân, ngụy quyền? Họ ở lại là theo lời kêu gọi của cách mạng, không đi Nam. Đất nước đã hòa bình rồi, đâu bằng quê hương. Họ tin vào chính sách lưu dung, giữ “nguyên lương, nguyên chức” cho những người ở lại mà Hồ-Chủ-Tịch đã công bố. Tại sao họ đã quy phục, sợ hãi, không dám có hành động, hoặc lời nói nào đả kích chế độ, thậm chí nhiều người còn phải nịnh bợ, tâng bốc, mà Đảng vẫn bắt bớ một cách triệt để đến thế? Tại sao lại phải tống giam cả đến anh lính trơn, anh dân vệ, anh cảnh sát giao thông, anh hộ phố, bác Lý, bác Phó ở thôn xóm? Một cuộc bỏ tù vĩ đại chưa từng có trong lịch sử!

Sau hiệp định Paris, Chánh giám thị trại Phong-Quang, Thiếu tá Trịnh-văn-Thích tổ chức một buổi nói chuyện, nhân dịp Cục-Trưởng Cục Lao-Cải Lê-hữu-Qua tới thăm. Khi ca ngợi chính sách khoan hồng của Đảng, vị Cục-Trưởng cao lớn, phương phi, đeo kính trắng, gọng vàng, có nói: “Đảng ta rất khoan hồng, không bắt tất cả. Đảng chỉ cho đi tập trung cải tạo có 13 vạn ngụy quân, ngụy quyền”. Lăn lóc qua hàng chục trại tù, lão gặp cơ man là giáo dân, tu sĩ, linh mục, nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà sư, phạm binh, phạm cán, đảng viên. Không ai cho lão một câu trả lời thỏa đáng về việc bắt bớ, vô cớ, tràn lan này. Mãi tới năm 1976, ở trại Phố-Lu, lão gặp một lão già phản cách mạng chính hiệu, nghĩa là hoạt động chống lại chế độ thật sự, chứ không phải loại tù chính trị lôm bôm Đảng vơ bèo, gạt tép, tống vào các trại giam. Lão đưa ra thắc mắc của lão.

Lão già phản cách mạng vuốt râu, cười:

– Rất dễ hiểu, rất dễ hiểu. Thứ nhất, về mặt kinh tế, tù nhân là một lực lượng khai hoang sản xuất có lời nhất. Anh bạn tính thử. Nuôi một người tù, tốn 5 hào một ngày, kể cả ăn, mặc, thuốc men. Toán đan là toán già, ốm, lao động kém nhất, mỗi tù nhân cũng làm ra bình quân 2 đồng một ngày, gấp 4 lần nhà nước chi ra nuôi hắn. Các toán mộc, xẻ, rèn, lâm sản, bình quân 10 đồng một ngày, gấp 20 lần. Do đó, tù càng nhiều, càng tốt. Thứ hai, về mặt chính trị. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, cần phải xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa. Dù đóng kịch giỏi tới đâu, Đảng cũng thừa hiểu các anh không ưa chế độ. Nhưng Đảng không sợ các anh lật đổ. Pháp, Mỹ, Đảng còn không sợ kia mà! Đảng rất biết các anh không dám chống lại chế độ bằng hành động. Đảng kiểm soát rất chặt, các anh không làm nổi. Hơn nữa, với chính sách quản lý dạ dày, các anh lo hai bữa nuôi thân, nuôi gia đình còn mửa mật. Làm được cái gì? Riêng có cái mồm các anh xì xầm, to nhỏ, rỉ tai, Đảng không theo rõi xuể. Hàng triệu cái mồm đó là trở lực đáng ngại cho việc tuyên truyền điêu trá, lừa bịp, nhồi sọ lớp trẻ, nhằm biến chúng thành Người Mới, nghĩa là Người Máy. Lớp trẻ sinh ra, lớn lên dưới chế độ, không biết gì về quá khứ. Với chúng, Đảng tha hồ xuyên tạc lịch sử, huênh hoang lấp biển, vá trời, kể công, kể đức, dễ dàng nhào nặn chúng theo ý muốn. Đảng kỳ vọng vào lớp này nhất. Anh để ý, mỗi đợt kiểm kê dân số, thấy tỷ số người nhiều tuổi giảm, tỷ số lớp dưới 25 tuổi tăng, Đảng rất mừng, khoe là xã hội càng ngày càng trẻ hóa. “Đâu cần, thanh niên có. Đâu khó, có thanh niên” mà. Tôi biết có một bác đã bảy mươi tuổi, khi bị bắt, bác van xin tên chấp pháp rằng bác đã già yếu rồi, cho bác sống yên với con cháu tới ngày nhắm mắt. Tên chấp pháp cười nhạt, bảo:”Anh già yếu, nhưng cái mồm của anh, nó chưa già yếu!”

Bác đi tù, và bỏ xác trong tù. Các thứ văn thơ lãng mạn, các bản nhạc Trương-Chi, Thiên-Thai, Suối-Mơ, có dính dáng tí nào với chính trị đâu, Đảng cũng cấm. Những thanh niên hát những bài hát đó, như Toán xồm, Lộc vàng, người thì 15 năm tù, người thì 10 năm tù. Có lần Trần-Hoàn, giám đốc sở văn hóa Hải-Phòng, nghe thấy một đàn em của y huýt sáo bài Sơn-Nữ-Ca y sáng tác hồi đầu kháng chiến chống Pháp, y vội chạy lại xua tay: “Xin cậu, xin cậu, hãy chọn bài khác”. Đảng nghiêm cấm các thứ văn nghệ đó, vì nó không phù hợp với việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, nó làm loãng mất cái món ăn tinh thần đặc sệt chất Bôn-Sơ-Vích Đảng độc quyền nhồi nhét cho nhân dân. Thế thôi. Còn lý do thứ ba nữa, là khi xảy ra chiến tranh, những phần tử không ưa chế độ coi như lau sậy, kẻ địch coi như cọp. Cần phải phạt lau sậy đi, cho cọp không có chổ ẩn nấp. Do đó, phải tập trung những phần tử này. Dù họ đã được thả ra, cũng phải bắt lại. Đó gọi là chính sách “phạt lau, diệt cọp”. Còn chuyện đi tù vì lý lịch là tất nhiên. Đấu tranh giai cấp là phải vậy. Nhưng thực tế, số tù tư sản, địa chủ, thấm tháp gì so với số tù thuộc các thành phần khác. Anh đã ở nhiều trại anh biết. Tù chính trị đã nhiều, nhưng tù lưu manh bao giờ cũng nhiều hơn. Đó là hậu quả tự nhiên của thiếu khổ, của nền giáo dục coi khinh luân lý, đạo đức cổ truyền. Đám lưu manh này đều là thanh niên. Đảng coi chúng là rác rưởi của xã hội, không thể giáo dục cải tạo nổi. Biện pháp tối ưu là hốt chúng vào các trại tập trung, bắt chúng lao động khổ sai. Anh phải nhớ, bốn chữ “giáo dục cải tạo” chỉ là những từ vô nghĩa, ngớ ngẩn. Đảng đâu ngu tới mức tin vào mấy chữ đó! Thử hỏi có kẻ nào, ở ngoài xã hội, đã chán ghét chế độ, sau mười, mười lăm năm tù, chịu mọi hạ nhục, đầy đọa, lại tiến bộ, thành yêu chế độ! Cho nên, đừng bao giờ đóng kịch, nói với các cán bộ cộng sản là tôi đã cải tạo tốt, đã tiến bộ, đã nhận thức rõ sai lầm. Chúng sẽ khinh bỉ, cười vào mũi anh!

Được nghe lão già phản cách mạng chính hiệu giảng giải, lão cao hứng quá, bắt chước Lưu-Bị chắp tay vái Khổng-Minh:

– Được nghe những lời vàng ngọc của tiên sinh dạy bảo, bỉ nhân đây như kẻ mù được thấy lại ánh sáng. Bao mây mờ tan hết, được nhìn thấy trời xanh. Đa tạ, đa tạ.

– Phó Nhòm, hôm nay đếm được mấy xe rau muống?

Nghe tiếng gã đầu gấu từ buồng 7 vọng sang, gã bạn cùng buồng lão từ nẫy vẫn đứng nhìn ra sân trại, qua khe mấy tấm ván bịt, vội quay lại phía cửa buồng, nói to:

– 42 xe tất cả. Ngày mai, mỗi suất phải được một bát đầy.

Gã đầu gấu cười ha hả:

– Thế là mai “bành”(no). An tâm cải tạo rồi.

Phó Nhòm ngồi xuống, cười, nói với lão:

– Ở đây, chúng nó gọi tôi là Phó Nhòm, vì tôi có trách nhiệm nhòm đếm xem có bao nhiêu xe cút-kít rau muống được trở vào nhà bếp. Điểm thứ hai, nói thực với ông bạn, tôi có máu rất thích phụ nữ. Trong giờ vệ sinh, tôi thường đứng lên cùm, nhìn ra hành lang, ngó các em đi qua, đi lại. Danh hiệu “Phó Nhòm” quả là không oan uổng gì. Ngưu-Ma-Vương vừa đi rồi.

Lão uể oải ngồi dậy:

– Chúng ta có thể kéo một hơi bây giờ, cho giãn xương cốt một tí không?

– Thong thả, sắp tới giờ ăn chiều rồi. Nó sẽ trở lại, mở buồng cho ra lấy cơm. Hút bây giờ, mùi xộc lên. Nó vào, ngửi thấy thì nguy lắm. Phải đợi ăn xong, để bát, thìa ra ngoài cửa trả. Nhà bếp vào lấy đi. Hết giờ hành chính, nó về hẳn, mới có thể hút được. Mấy bữa nay có cá khô vụn kho muối, mủn ra. Những người có tiếp tế, không ăn, cho các buồng khác. Ông bạn nếu ăn được, tôi sẽ lấy phần của tôi vào.

– Tôi là loại tù vô gia cư, anh không ăn được, cứ mang vào, tôi dùng tuốt.

Tiếng gã đầu gấu vọng tới:

– Ông chú mới vào, từ trại nào về đấy?

Lão đứng dậy, trả lời:

– Z8, Nghệ-An.

– Trại Thung-Lũng Tử-Thần đấy. Ngay bọn quản giáo cũng có đứa phải trốn trại. Mấy thằng bạn cháu chết cả ở đó đấy. Ông chú sống nổi. Giỏi thật. Ông chú tù lâu chưa?

– Tất cả hai mươi năm. Chú mày tù lâu chưa? Bao nhiêu tuổi?

– Cháu hai mươi lăm. Trộm cắp từ bé. Đi tù từ năm mười bốn. Mới ra tù được hơn một năm, lại vào. Lần này, có thể dựa cột, hoặc chung thân.

– Tội gì mà nặng vậy?

– Cháu đâm một tên thuế vụ bị thương. Cháu buôn thuốc lá đường Lạng-Sơn Hà-Nội, bị nó chặn lại. Cháu cho một nhát, nhẩy tầu thoát. Về Hà-Nội được hai tuần thì bị bắt. Cháu vẫn đút lót cho tên này. Mới mấy lần chưa có tiền đút, nó trở mặt. Ức quá, cháu mới cho nó nhận một mũi lê.

– Chú mày hung quá. Tuổi còn trẻ. Phí đời một cách vô ích. Đáng lẽ phải tính toán kỹ một chút…

– Ngưu-Ma-Vương xuống núi!

Gã Phó Nhòm báo động.

Lão ngồi xuống, lắc đầu: “Tuổi trẻ bây giờ là miếng mồi ngon cho nhà tù nó nghiền nát. Nhiều đứa vì thiếu đói, chỉ ăn cắp con gà, bó lúa, cái xe đạp, cũng bảy, tám năm tập trung. Bỏ mạng trong tù vô số. Càng tù lâu, càng hư hỏng. Hiếm có đứa ra tù mà không tái tù. Thằng này nó nói đúng. Ít nhất cũng hai mươi năm, hoặc chung thân. Thế là tiêu đời.”

Tên Ngưu-Ma-Vương đi vào, mở cửa từng buồng ra cho tù lấy cơm. Hắn đứng ngay trong hành lang, mặt càu cạu, mắt gườm gườm. Bọn tù, cả nam lẫn nữ, lần lượt ra bê cơm vào, vội vã, len lét. Phó Nhòm đưa cho lão bát cá vụn.

Lão múc một thìa ăn thử:

– Chà, mặn hơn muối. Tôi ăn phần tôi cũng không hết. Nuốt của này vào, khát nước bằng chết.

Phó Nhòm mở túi thịt, múc bốn miếng con vào bát mình, rồi mời lão:

– Ông bạn ăn với tôi mấy miếng. Thịt vợ tôi kho đấy. Gọi là hưởng tí “hương vị xã hội”.

Lão nhất định từ chối. Phó Nhòm cứ múc vào bát lão. Không làm thế nào được, lão giao hẹn:

– Tôi chỉ ăn một lần này thôi. Bận sau anh đừng có ép tôi như vậy. Cứ tự nhiên dùng. Như thế, tôi thoải mái hơn. Trời nóng thật. Nắng tháng tám, rám trái bưởi. Ngồi không mà mồ hôi cứ đầm đìa.

Phó Nhòm vừa ăn, vừa quạt, nói:

– Ở Hỏa-Lò này có bốn khu xà lim tất cả. Xà lim 4 là dễ chịu nhất, ở mãi bên ngoài giàn nho. Chỉ dành cho cán bộ cao cấp bị tù nằm. Xà lim 3 nằm cạnh nhà bếp, mùi than xông lên rất khó chịu. Còn xà lim 2, có một buồng kỷ niệm ông Trường-Chinh, thì tối tăm, bí lắm. Gầm sàn bịt kín. Bô, chậu, sô, phải để ra giữa lối đi, rất vướng víu. Xà lim 1 này là thoáng đấy. Giá cửa trên phía sau không bị bịt ván, thì không nóng, không tối thế này đâu. Nhưng xà lim 3 có một ưu điểm lớn, là gần phòng nữ. Tối tối, nghe các em hát hỏng, chí chóe chửi nhau, đánh nhau, cũng vui. Ban ngày, khi các em đi cung, tha hồ ngắm, cải thiện mắt!

Tù lâu, kinh nghiệm, lão biết xà lim thường được bọn chấp pháp gài ăng-ten vào. Trong hoàn cảnh cô đơn, kẻ non nớt, cả tin, thường dễ tâm sự, dễ tiết lộ những điều mình muốn giấu. Ăng-ten phần nhiều lại rất ngon ngọt, tử tế, tận tình giúp đỡ, dễ cảm động lòng người trong cảnh ngộ mới bị bắt, thiếu khổ trăm bề. Khi mới bước vào buồng, nhờ cửa mở có ánh sáng rõ, lão thấy nước da Phó Nhòm xanh mái. Hai tháng xà lim chưa đủ thời gian để có nước da quý phái đó, nước da mà các phu nhân quý tộc hồi thế kỷ 19 bên Châu-Âu rất ái mộ. Khi lão hỏi Phó Nhòm nằm xà lim bao lâu, lão đã nghi ngờ rồi. Nhìn nội vụ của gã đầy đủ tất cả, nào quạt, nào ca, nào sô nhựa, thìa nhựa. Lại thêm một bọc to chăn áo mùa đông treo trên tường. Lão khẳng định ngay Phó Nhòm là một ăng-ten. Nếu không, tại sao lại phải nói dối? Đồ dùng của người tù, nó phải có thời gian lịch sử của nó. Phải nhiều lần viết thư về gia đình, hoặc gặp người nhà, mới có được đầy đủ. Không thể mới bị bắt mấy tháng, đang trong thời kỳ hỏi cung, chưa được viết thư, chưa được gặp người nhà, mà đã “làm nên lịch sử”. Phó Nhòm quả là một tay ăng-ten tồi. Gã kể vanh vách từng chi tiết về 4 khu xà lim Hỏa-Lò, chứng tỏ gã đã nằm qua tất cả. Một ăng-ten nham hiểm không phạm những sai lầm tầm thường như vậy. Rất có thể Phó Nhòm chỉ là một ăng-ten bất đắc dĩ.

Đèn điện bật sáng. Ngưu-Ma-Vương đi vào. Từng buồng được mở, để tù đặt bát ra ngoài cửa. Một tên nhà bếp đi thu. Chắc có việc vội, y quát giục nhặng sị, làm tên nhà bếp cuống cả lên. Xong việc, y khóa cửa xà lim lại, bỏ đi. Giờ tự do của xà lim bắt đầu.

Tiếng nam, nữ, đùa nhau, í ới, nhộn nhạo:

– Buồng 8 tháng này chều tiếp tế. Chắc ông xã cho rơi rồi. Thương quá là thương:

“Chơi xuân có biết xuân chăng tá.

Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.”

– Coi khinh! Đây đã có hàng trung đội xếp hàng nộp đơn xin đặt cọc.

– Em buồng 10 ơi, bị tiếp tế to thế. Càng no cái bụng, càng đói cái kia, phải không? Có muốn anh cho “nuôi bò” không? Bò của anh đang ứ sữa đây này.

Những tiếng cười hô hố, khoái trá, rộ lên.

Gã đầu gấu buồng 7 nói như ra lệnh:

– Trật tự, trật tự. Giặc lái buồng 4 đâu, kể nốt câu chuyện tối qua đi.

– Chuyện dân lái xe bọn tớ thì kể muôn đời không hết. Không phải vô cớ mà nhân dân gọi bọn tài xế xe tải là giặc lái. Thời chiến, bọn tớ chỉ cần đi một chuyến vào Quảng-Bình đất lửa, là được thưởng 300 đồng, bằng sáu tháng lương cán bộ. Chẳng thằng nào muốn vào chỗ chết đâu. Nhưng không đi, cũng không được. Đoàn xe tải chúng tớ đậu ở đâu, là dân sợ như sợ dịch hạch. Họ thường xuyên bị chết oan, khi máy bay Mỹ tới bắn phá. Sợ thì sợ đấy, nhưng đêm đến, suốt tuyến đường từ Ninh-Bình tới Quảng-Bình, chị em nông dân vẫn kéo tới chỗ đoàn xe chúng tớ đậu. Bọn giặc lái chúng tớ chỉ cần chi ra ba, bốn cái tem gạo bộ đội 250 gam, là đưa các nàng vào gầm xe. Đủ kích, cỡ. Từ thiếu nữ dậy thì mười bốn, mười lăm, tới bà xồn xồn gần năm choạc. “Nhớn bùi, bé mềm”, bọn tớ sơi tái. Đúng là cái thời kỳ “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Có điều cơ thể các nàng đói, còm quá, giảm mất hứng. Gặp em nào khéo chiều, tớ “nhân đạo” cho thêm gói kẹo, gói mì ăn liền. Em cảm động rưng rức. Bọn tớ cấu kết với nhau chặt chẽ, phối hợp nhịp nhàng. Mỗi lần bị oanh tạc, những thằng sống sót thu được vô số chiến lợi phẩm. Cứ khai là hàng trên xe bị hủy hết. Về Hà-Nội ăn chơi thả phanh. Thời chinh chiến, mấy người đi trở lại. Cần gì. Hưởng lúc nào, cho đã lúc đó. Nếu kể về tội, bọn tớ đáng bị nhiều cái án tử hình. Thế mà lại toàn được tuyên dương xuất sắc, được bằng khen. Bây giờ thời bình, tớ chỉ ăn cắp có bốn xe thóc, tổng cộng 28 tấn, chưa bằng cái móng tay thời chiến, đã bị nhận án chết. Chống án, vẫn y án. Chỉ còn trông cậy vào lệnh ân xá của ông Trường-Chinh. Tớ 42 tuổi. Tớ chưa muốn chết tí nào cả. Đ… mẹ cái số phận! Tớ tưởng tối đa chỉ bị bồi thường, cộng 7 năm tù là cùng.

– Giặc lái nói đúng đó. Bình thường chỉ thế. Nhưng giặc lái có cái khốn nạn là được chọn làm điển hình cho phong trào bài trừ tham nhũng. Rơi vào những vụ điển hình, đều bỏ mẹ cả. Đành trông vào Trời thôi.

Thấy lão chăm chú lắng nghe, Phó Nhòm nhắc:

– Kệ chúng nó chuyện trò, tán láo. Bây giờ chúng ta có thể say được rồi. Mấy tuần nay, xà lim cạn hết thuốc. Vật vã quá.

Lão giở cái chăn bông bẩn thỉu, hôi hám của lão, moi từ trong ruột chăn ra một nắm thuốc lào.

Phó Nhòm thán phục:

– Quả tù lâu, kinh nghiệm. Yểm thế này, bố chúng nó cũng không khám nổi. Tôi chỉ có mảnh giấy báo. Nhưng máy đã hết đá. Làm thế nào?

– Yên trí, yên trí. Đâu vào đó hết.

Lão cười, giở cái áo bông dầy cộm, tháo một cái khuy nhựa to ra, giơ lên:

– Máy đây. Anh rút một sợi dây dứa ở cái túi của anh kia. Tôi lồng nó vào cái khuy này, là có thể đánh lửa hút.

Lão cúi xuống, cầm một chiếc dép lốp của lão lên, moi từ đế ra một mảnh thủy tinh nhỏ. Lão xé bông, xé giấy, cuộn một điếu đủ hai người hút.

– Anh lâu không hút. Say đấy. Thuốc nặng lắm. Hút trước đi. Tôi hút sau.

Phó Nhòm kéo mạnh một hơi, lao đao, dựa lưng vào tường, say rơi cả thuốc. Lão nhặt điếu thuốc, hút đến hết. Khói lan tỏa.

Gã đầu gấu buồng 7 gầm lên:

– Cha chả, tên nào tra tấn lão gia đấy? Thơm lừng bốn cõi!

Mấy buồng khác nhao nhao:

– Ở đâu mà thơm thế? Phòng nào vậy? Đừng giấu anh em.

– Chắc của ông chú mới vào. Mấy tuần nay, ai có đâu.

– Đừng quên các đàn em, im ỉm sướng một mình, ông chú ơi!

Gã đầu gấu cười cầu tài:

– Ông chú chia sẻ hạnh phúc với chúng cháu đi. Ai lại chiến đấu âm thầm, đơn độc vậy. Xà lim là một nhà mà. Ông chú mới vào, không biết đấy.

Phó Nhòm đã hết say, hỏi:

– Ông bạn giải quyết ra sao?

– Chia sẻ với họ mỗi người một ít. Xà lim có bao nhiêu người hút?

– Hút tất. Chỉ có mấy bà, mấy em là không. Một nắm thuốc, mà cho bảy đứa, còn gì mà hút?

– Yên tâm, tôi còn.

Lão lôi trong chăn ra một nắm nữa:

– Bây giờ chuyển cho họ bằng cách nào?

Phó Nhòm hớn hở:

– Trong chăn, còn nhiều lắm hả? Được, tôi bảo chúng nó lái xe sang.

Gã đứng lên cùm, nói to:

– Buồng 7 đưa xe sang nhận hàng.

– Tuân lệnh!

Gã đầu gấu kêu lên. Một phút sau, một chiếc bàn chải đánh răng chui vèo qua cửa buồng lão, kéo theo một sợi dây dứa. 1

Lão gật gù:

– Giỏi thật. Xa thế, mà phóng một phát ăn ngay.

Phó Nhòm buộc gói thuốc vào dây, hô:

– Lái xe về.

Cái bàn chải lại chui qua cửa buồng ra ngoài.

Lão đứng lên, ngó ra hành lang, dặn:

– Chú mày chia đều cho tất cả. Có lửa chưa?

– Ông chú yên trí. Máy móc đủ cả. Chỉ thiếu có “nhiên liệu” thôi. Cháu sẽ chia đều cho bọn họ.

– Tao cũng định hút xong, rồi cho anh em. Chưa kịp, thì đã ầm cả lên. Vui thật!

Phó Nhòm nói với lão:

– Hàng mà chuyển qua cửa khẩu buồng 7 này, thì thuế má nặng lắm. Bọn kia chẳng còn mấy.

– Đó là thường tình. Chuyện hư hao là không thể tránh khỏi.

Ngoài hành lang, tiếng bàn chải lướt trên sàn vèo vèo, buồng nọ sang buồng kia, nhộn nhịp. Cả xà lim tràn ngập mùi khói thuốc lào.

Tiếng gã đầu gấu oang oang, sảng khoái:

– Cám ơn ông chú khao quân. Thuốc ngon cực kỳ. Đã đời quá! Ông chú làm gì mà tù lâu khiếp thế. Phản cách mạng, phản tuyên truyền, bất mãn, “kêu ca, phàn nàn, oán trách chế độ”, phải không?

– Tao không có tội gì hết. Tao là đại úy trong quân đội quốc gia. Tao chỉ có một tội ngu, năm 54 ở lại miền Bắc, không đi Nam, nên bị tập trung cải tạo từ năm 1961 tới 1977, mười sáu năm. Ra tù được hai năm, tao chẳng làm gì chống chế độ. Tự nhiên bọn Tầu tấn công sáu tỉnh biên giới, tao lại bị chộp nữa. Đã hơn bốn năm rồi. Không hiểu sao bỗng dưng lại đưa về nằm đây.

– Ông chú phải cảnh giác đấy. Nói ít, hiểu nhiều mà.

– Tao vợ bỏ, con chết trận. Gia đình tan nát từ lâu. Tàn rồi. Chẳng còn gì để mất, mà phải sợ, phải cảnh giác. Ở tù, ra tù, đối với tao cũng vậy. Giả thử được thả, tao cũng không biết làm cách nào để kiếm sống nuôi thân. Lại nay Đồn, mai Sở, nghĩ mà phát ớn. Sợ hơn hoạn. Tao già rồi, về với đất cũng được đấy. Năm nay, tao 53 tuổi. Hôm nay, mùng mười, tháng tám, ngày sinh nhật tao đấy.

– Bực thật. Ngày sinh nhật, mà không có gì mừng ông chú.

– Tao có để ý tới sinh nhật bao giờ đâu. Hôm nay, ngồi xe, tự dưng lại nhớ tới.

Tiếng một phụ nữ, giọng miền Nam, nhỏ nhẹ:

– Tôi có chút quà, gửi mừng sinh nhật anh nhé.

Lão cười:

– Rất cảm ơn chị quan tâm tới. Nhưng ngày sinh nhật là ngày đáng nguyền rủa đối với tôi, chứ không phải là ngày đáng mừng.

Phó Nhòm nói:

– Mụ này người Sài-Gòn, lấy chồng Hoa-Kiều Chợ Lớn. Buôn lậu, giầu xụ. Mụ và thằng con trai, cả hai vào tù 14 tháng rồi. Nghe đâu mụ ta đấm mõm cho công an những 150 cây vàng. Sắp tha rồi. Mụ ấy hảo tâm lắm, thường cho quà bọn vô gia cư. Ngưu-Ma-Vương ăn ngập miệng, cũng chiều mụ hết cỡ. Tiếp tế của mụ, thì hỡi ôi, bốn người ăn không hết. Mỗi tháng bốn lần. Mỗi lần, một bao tải lớn. Xem ra, không diệt được giai cấp tư sản đâu. Vào tù, chúng nó vẫn sướng. Chỉ đám vô sản là sống dở, chết dở, trong tù cũng như ngoài xã hội. Đòn chuyên chính vô sản trên thực tế lại giáng xuống đầu giai cấp vô sản nặng nhất. Ông bạn biết không, từ ngày giải phóng miền Nam, trung bình mỗi ngày, năm mươi hai vụ tự tử. Toàn dân nghèo. Một thành ủy viên thành phố Hồ-chí-Minh nói với tôi đó.

Một cái lược sừng vọt chui vào buồng lão.

Tiếng bà miền Nam vọng tới:

– Anh kéo dây về buồng anh đi.

Lão vội đứng dậy:

– Cảm ơn chị, tôi không nhận đâu. Tôi đã quen với nếp sống tù rồi. Chị để mà dùng.

– Anh kéo về đi. Nhanh lên. Công an võ trang sắp đi tuần vào đấy.

Phó Nhòm nói với lão:

– Mụ ấy cho thực lòng đấy. Cứ nhận đi.

Miệng nói, chân gã nhẩy xuống đất, kéo từ từ sợi dây dứa, lôi vào buồng liền mấy túi ni-lông dàn mỏng. Nào bánh đậu xanh, bánh khảo, bánh gai, nào đường, nào kẹo mè sửng.

Gã tháo các túi ra, nói:

– Bà chị kéo dây về đi.

Cái lược và sợi dây chui ra khỏi cửa. Liên tiếp sau đó, hai cái lược lần lượt chui vào buồng lão. Mỗi lược là một túi ni-lông quà.

Lão cảm động đứng dậy:

– Tình cảm các chị, các cháu dành cho tôi, tôi rất cảm kích. Xin cảm ơn tất cả.

– Đúng là “Tốt số hơn bố giầu”.

Một giọng đàn ông, hằn học, đố kỵ.

– Ai vừa nói đấy?

Lão hỏi Phó Nhòm.

Gã xua tay:

– Ông bạn đừng để ý tới thằng vô gia cư này. Nó là một thượng úy bộ đội. Không biết tội gì, bị giam ở đây đã năm tháng. Ai cũng ghét. Chẳng ai cho quà nó cả. Đói nhăn răng. Nó khoe, nó là đơn vị đầu tiên tiến vào giải phóng Sài-Gòn. Ngay cả mụ giầu xụ rộng rãi thế, cũng không cho nó cái gì. Tính nó hay xì xọt, bẩm báo. Chết đáng kiếp. Nhưng từ hôm bị gã đầu gấu buồng 7 rạch cho một “mince lame” (dao cạo) vào mặt, sợ, chừa hẳn. Vết sẹo còn ở má đó. Dài đến chục phân. Số là Ngưu-Ma-Vương sáng đó, vội cái gì, cho hai thằng ra làm vệ sinh cùng lúc, nên gã đầu gấu mới có cơ hội ra tay.

– Gã đầu gấu có bị kỷ luật nặng không?

– Cùm có ba hôm, mụ giầu xụ xin cho. Ngưu-Ma-Vương tha ngay. Ông bạn thấy sức mạnh của kinh tế có khiếp không! Lão Ngưu-Ma-Vương này đáng vào tù!

– Xã hội đói, khó tránh khỏi những chuyện như vậy lắm. Bỏ tù bao nhiêu cũng vô ích. Từ mấy chục năm nay, các trại đầy ắp lưu manh. Lớp nọ kế tiếp lớp kia, ngày càng đông đảo. Thời Tây, ở Hà-Nội giỏi lắm đếm được gần trăm tên trộm cắp, tụ tập ở mấy chợ Đồng-Xuân, chợ Hôm, chợ Mơ, chợ Đuổi. Phần lớn đều mồ côi, mồ cút. Con cái những nhà nghèo lắm mới phải đi bán kem, bán báo, đánh giầy, đánh mũ. Ở nông thôn, chỉ thỉnh thoảng xảy ra chuyện ăn trộm con gà, con qué. Tôi chưa thấy một giáo viên, một học sinh nào đi ăn cắp cả. Bây giờ thì nhan nhản. Xã hội đã lưu manh hóa mất rồi. Vào rạp xi-nê mà bỏ dép, để chân lên ghế trước, là y như rằng dép biến. Mới tháng tám, mà số nhập Hỏa-Lò của tôi đã là 4257. Như vậy hàng năm, Hỏa-Lò phải bắt vào ít nhất 6000 tù.

– Ông bạn nói đúng. Tôi vào tù cũng chỉ vì ăn cắp của công. Từ to tới nhỏ, thằng cán bộ nào có điều kiện ăn cắp mà không ăn cắp? Nhưng chết, chỉ chết loại tép riu như tôi thôi. Lương lậu chết đói, không tham ô, hối lộ, sống sao nổi. Muốn lương thiện cũng không được. Anh em, họ hàng, bạn bè gặp khó khăn, muốn cưu mang nhau cũng không nổi. Muốn xây dựng một xã hội có tình người, việc đầu tiên là phải xây dựng một xã hội no đủ. Giáo dục, văn hóa, sau. Cái đói không có tai. Khi cái dạ dày lép xẹp, lời hay, ý đẹp, dẹp tất. Chẳng hạn như mụ Sài-Gòn ở đây. Mụ ta giúp được nhiều người khác, vì mụ ta có nhiều tiếp tế. Tôi với ông bạn, dù có hảo tâm, dù có muốn giúp, cũng không làm được gì. Bản thân chúng ta còn thiếu bét. Giá mụ ta mà vào xà lim này sớm hơn một chút, thì gã thanh niên buồng 6 không đến nỗi chết.

– Sao có chuyện như vậy?

– Ông bạn không biết. Cách đây độ bảy tuần, gã thanh niên buồng 6 dùng mảnh chai cắt ven tay, tự tử chết. Nó mới hai mươi tuổi, cao lớn, đẹp trai. Chết nỗi, lại ăn quá khỏe. Gia đình không tiếp tế. Bị cái đói hành hạ không chịu nổi, nó dùng cái chết để giải quyết cái đói. Nếu được mụ Sài-Gòn cho quà, tôi tin rằng nó không tự tử. Ở buồng chung, lác đác cũng có những thằng tự sát như nó. Đứa thì đập đầu vào tường mà chết. Đứa thì dùng thủy tinh cứa cổ mà chết.

Thấy đuôi mắt Phó Nhòm có nhiều vết nhăn, lão hỏi:

– Anh năm nay bao nhiêu tuổi?

– Tôi sinh năm 1928. Năm nay, năm mươi lăm tuổi. “Năm mươi lăm tuổi hãy mừng ta/ Còn bốn lăm năm nữa đó mà”. Tôi người làng Vân-Đình, cùng quê với cụ Nghè Dương-Khuê.

– Anh là đảng viên phải không?

Phó Nhòm ngạc nhiên:

– Ủa, sao ông bạn biết?

– Đoán vậy thôi.

– Ông bạn đoán đúng. Tôi vào Đảng từ năm 1953. Trong kháng chiến, tôi là bộ đội. Tôi có mặt cả trong chiến dịch Biên Giới lẫn Điện-Biên. Năm 1956, tôi chuyển sang ngành ngoại thương. Tôi “giác ngộ” tương đối sớm, nhưng cũng quá muộn để làm lại cuộc đời. Sau cải cách ruộng đất, sau vụ Nhân-Văn, là tôi biết mình lầm. Những năm kế tiếp, tôi càng sáng tỏ vấn đề. Đất nước thống nhất, tôi có dịp đi công tác vào Nam ngay. Qua vùng đồng bằng sông Cửu-Long, tôi thấy tận mắt nông dân dùng cả gạo để nuôi lợn. Quá no đủ. Đầy tình người. Đặt chân tới thành phố Sài-Gòn, tôi giật mình. Phồn thịnh quá! Hạnh phúc quá! Trẻ con thời ngoan ngoãn, lễ phép. Hóa ra tuyên truyền toàn bố láo. Cả một cuộc sống như vậy mà không biết giữ lấy. Thực đáng tiếc, đáng trách. Trở ra Hà-Nội tôi có dịp gặp lại cụ Vũ-Đình-Huỳnh. Trong kháng chiến chống Pháp, tôi đã gặp cụ vài lần. Một cụ già đạo mạo, trang trọng. Nét cương nghị, trung thực, hiện rõ trên vẻ mặt ưu tư, buồn buồn. Ông cụ ngậm ngùi nói với tôi: “Anh bạn ạ, Sài-Gòn là một thành phố bị chiếm đóng. Không phải là một thành phố được giải phóng. Chỉ vài năm thôi, nó sẽ giống Hà-Nội. Tôi cả đời đi làm cách mạng, hy sinh tất cả, chỉ mang trong lòng một nguyện ước: đất nước được độc lập. Dân tộc được tự do, no ấm. Tôi đã không làm được điều đó. Thực đắc tội với đồng bào”. Nói thực với ông bạn, nếu các vị trong Bộ Chính-Trị, trong Trung-Ương mà ai cũng có một tấm lòng như cụ Vũ, thì tôi cũng không nằm đây, ông bạn cũng không nằm đây. Khốn nỗi, toàn một bọn cơ hội, đầy tham vọng cá nhân thấp hèn, đầy thủ đoạn hung hiểm, chỉ lo củng cố quyền lực, dối dân, mị chúng, đạo đức giả, núp sau nhãn hiệu cách mạng để làm những việc phản cách mạng, phản tiến hóa, núp sau nhãn hiệu Nhân-Dân để làm những việc phản Nhân-Dân. Lời nói thì đề cao con người. Việc làm thì hạ nhục con người.

Nghe Phó Nhòm tâm sự, thoạt tiên, lão nghi gã định gài bẫy lão. Sau thấy vẻ phẫn nộ thành thực của gã, lão lại nghĩ có lẽ anh chàng này là một ăng-ten bất đắc dĩ. Nhưng đối với lão, chuyện đó không thành vấn đề. Lão chẳng có gì để phải giấu giếm, phải đóng kịch. Nhìn kỹ mặt Phó Nhòm, nhất là đôi mắt, lão thấy không có những ánh nham hiểm, điêu trá. Khi gã cười, lão còn thấy gã có vẻ chất phác, lương thiện.

Lão thành tâm khuyên:

– Anh ăn nói thẳng quá. Đến tai công an, nguy hiểm đấy. Tôi đã gặp nhiều người chết vì vạ miệng. Mới gặp tôi, anh đã phản tuyên truyền như vậy. Anh không sợ sao? Anh biết tôi là người thế nào? Từ rầy, phải cảnh giác một chút.

Phó Nhòm cười rất tươi:

– Tôi có con mắt tinh đời. Ông bạn đâu có thể là loại chó săn, chim mồi! Hơn nữa, ông bạn ở đây rồi sẽ thấy. Trong xà lim này, họ chửi lung tung cả. Ức quá, ai mà nhịn được. Tôi thuộc loại giữ miệng đấy. Nhưng gặp ông bạn là người hiểu biết, có phong độ quân tử, tôi nói cho hả. Ở đời, cũng phải tin nhau một chút chứ. Nghi ngờ tất cả, sống sao nổi!

Lão cười:

– Vậy thì chúng ta hãy sống thực với nhau. Tôi hỏi anh, án mấy năm? Sắp hết án chưa?

Phó Nhòm vỗ đùi:

– Đúng là tôi có con mắt tinh đời mà! Tôi biết không qua mắt nổi ông bạn. Tôi bị xử ba năm. Bốn tháng mười ngày nữa là hết án. Tôi nằm ở các xà lim đã 16 tháng rồi. Chúng nó muốn dùng tôi làm ăng ten, giúp chúng điều tra các vụ án chính trị, vì tôi là đảng viên. Thực tế, tôi chẳng giúp được bọn chúng cái gì cả. Tôi có thể ăn cắp của công. Tôi không ăn cắp, thì những thằng khác cũng ăn cắp. Nhưng lợi dụng lòng tin của bạn tù, rồi hãm hại họ, tôi chịu, không thể làm nổi. Nó khốn nạn quá, độc ác quá. Mặt khác tôi cũng quý họ, phục họ. Không có những người can trường như họ, lịch sử không tiến được! Chúng nó hứa, được việc, sẽ giảm cho tôi 6 tháng. Nếu tôi nhẫn tâm, thì giờ này tôi đã nằm nhà rồi. Tôi nghĩ, nên để cái phúc cho con cháu.

– Không làm theo ý họ, sao anh không bị tống đi trại?

– Tiền, tiền. Đa số nằm đây đều phải chi cả.

– Thế sao lúc đầu anh lại nói dối tôi là mới bị bắt hai tháng?

– Tôi đã nằm ở xà lim 1 này hơn sáu tháng, ai cũng biết, dối sao được. Thằng đầu gấu cũng đoán được tôi là ăng ten, nên lúc nẫy nó nhắc anh phải cảnh giác. Bọn chấp pháp ngu, dặn tôi là bao giờ cũng phải nói là mới bị bắt, không được tiết lộ bí mật. Nhưng bí mật gì? Chỉ cần tinh ý một chút, nhìn nội vụ là biết ngay đã tù lâu. Nằm với ai, tôi cũng nói là mới bị bắt hai tháng. Chẳng khác gì gián tiếp báo cho họ phải đề phòng. Nếu tôi thực tâm muốn làm việc cho lũ chúng, tôi phải có kế hoạch. Chứ đâu đến nỗi ngu như thế.

Có tiếng giày ở ngoài sân. Cả xà lim im lặng. Hai tên công an võ trang mở khóa loảng xoảng, đi vào hành lang. Chúng mở cửa gió từng buồng, nhìn vào điểm người, rồi đóng lại. Tới buồng bà Sài-Gòn, một tên ngó vào, nói nhỏ cái gì. Phó Nhòm len lén đứng lên cùm nghé. Gã thấy bốn cái lạp xường được lần lượt đưa qua song sắt. Tên võ trang kín đáo để vào tờ báo, rồi gập lại.

– Trời nóng quá. Cán bộ mở hộ cửa gió, cho các buồng thoáng một chút.

– Được, nhưng cấm nhòm ngó sang buồng khác trò chuyện!

Phó Nhòm vội vã ngồi xuống sàn. Hai tên võ trang mở cửa gió ở các buồng, rồi khóa cửa khu xà lim, đi ra.

Gã đầu gấu cười hề hề:

– Bà cô đúng là ân nhân của xà lim. Chúng cháu có quỳ lạy nó, cũng đừng hòng nó mở.

Phó Nhòm thì thào:

– Bốn lạp xường to đùng. Ông bạn xem, vào tù rồi, mà bọn tư sản vẫn oai thế. Quản giáo, võ trang răm rắp tuân lệnh.

Lão ngán ngẩm:

– Trên trại cũng vậy. Những người nhiều tiền, sai khiến bọn quản giáo như sai đầy tớ. Chỉ giai cấp vô sản là khổ. Quanh năm ăn tiêu chuẩn trại. Lại hay bị đánh đập, cùm kẹp. Chết như ruồi. Bây giờ đến lượt tôi mời anh cùng ăn sinh nhật với tôi.

Lão đưa cho Phó Nhòm hai phong bánh đậu xanh, hai phong bánh khảo. Gã nhoẻn miệng cười, đỡ lấy:

– Tôi không khách sáo như ông bạn đâu. Tôi ăn ngay. Từ nay, chúng ta coi nhau như bạn. Mong ông bạn đừng từ chối tôi cái gì nữa. Vài hôm nữa, tôi gặp vợ. Ông bạn có muốn nhắn gì cho cô em gái không?

– Anh nhờ chị ấy nhắn hộ với em tôi là tôi đã về Hỏa-Lò. Bảo nó gửi cho tôi một ít Vi-ta-min C, một bàn chải, một hộp thuốc đánh răng, một bộ quần áo. Nói với nó là tôi vẫn khỏe.

– Có thế thôi?

Lão buồn rầu:

– Vợ chồng nó nghèo, đông con. Xin thế đã làm lệch quỹ gia đình nó rồi. Tôi áy náy lắm.

Tiếng gã đầu gấu oang oang:

– Đề nghị mấy em hát mừng sinh nhật ông chú đi. Buồng 9 mở đầu, rồi đến buồng 8, buồng 10.

Một cô gái lên tiếng:

– Cháu hát bài “Đợi Anh Về”, chúc mừng ông chú sẽ được về nhé.

– Hoan hô! Hoan hô!

Em ơi, đợi anh về.
Đợi anh hoài, em nhé.
Mưa có rơi dầm dề.
Ngày có buồn lê thê.
Thì em ơi, cứ đợi.
Anh của em trở về…

Lão già ngạc nhiên:

– Đứa nào mà hát hay thế? Có phải ca sĩ chuyên nghiệp không?

– Không phải, con tây đen đấy. Quê nó ở Từ-Sơn, Bắc-Ninh. Nó là sản phẩm của một vụ hiếp dâm trong kháng chiến chống Pháp. Nó hát quan họ Bắc-Ninh mới tuyệt! Giọng nó khỏe lắm. Có nó, xà lim này cũng đỡ buồn.

– Nó tội gì vậy?

– Không rõ. Nó không bao giờ nói cả. Cũng không tiện hỏi. Có khả năng con này là ăng ten. Nằm cùng buồng nó, là một em bị kết tội buôn đô la. Mới bị bắt. “Co quắp” trông rất sex-appeal! Cảnh sát khám được sáu trăm đô la trong người nó. Thế là vào thẳng đây. Gần hai tháng rồi. Không tiếp tế. Có một bộ quần áo độc nhất trên người. Khổ lắm. Mụ Sài-Gòn phải cho nó một bộ thay đổi.

Tiếng hát tiếp tục, lanh lảnh. Điệu nhạc dồn dập, mạnh mẽ, lập đi, lập lại.

Đợi anh, anh trở về, trong chết cười ngạo nghễ…
Đợi anh, anh trở về, trong chết cười ngạo nghễ…

Rồi chuyển sang ngân dài, não nề:

Dù tuyết rơi, bão nổi
Dù nắng cháy, em ơi
Bạn cũ có quên rồi
Đợi anh hoài, em nhé….

Lão tấm tắc:

– Đúng là có giọng hát trời cho. Nếu được rèn luyện, thì sẽ vươn cao biết mấy. Xã hội đã vùi dập biết bao tài năng. Tiếc thật. Bài hát này phổ nhạc thơ Simonov, bài thơ hay nhất của ông. Tố-Hữu dịch theo bản tiếng Pháp. Y dịch hỏng. Thí dụ hai câu tiếng Pháp là: “Quand la pluie au ton cuivré/ Sème la tristesse” mà dịch là: “Mưa có rơi dầm dề. Ngày có buồn lê thê”, thì không diễn tả được cái mầu vàng võ vàng, mung lung. Cái mầu vàng này chính là nỗi lòng héo hắt của người cô phụ chờ chồng nơi chinh chiến. Nhà thơ Lê-quang-Dũng, trước kia tù cùng với tôi, dịch hai câu này tuyệt vời:

Nắng chiều nhuộm sắc mưa sa
Sầu em cũng chín như là hoàng hôn.

Anh có thấy một trời, một vực không? Còn hai câu:

Dù tuyết rơi, bão nổi
Dù nắng cháy, em ơi.

Thì dịch lạc hẳn ý. Nguyên văn tiếng Pháp là: “Attends-moi, quand l’été rayonne/Mais tout l’hiver, attends.” “L’été rayonne” là “mùa hè lấp lánh”, đánh thức bản năng sống. Không ăn nhập gì tới “nắng cháy” cả. “Mais tout l’hiver, attends” là suốt mùa đông lạnh lẽo, cần tình yêu sưởi ấm, vẫn âm thầm, cô đơn chờ đợi. Tương “Tuyết rơi” với “Bão nổi” vào làm gì?

Phó Nhòm thán phục:

– Ông bạn xuất thân nhà binh. Dân lính tẩy, mà cũng sành văn thơ. Lạ đấy!

Tiếng cô tây đen vang lên:

– Bây giờ cháu hát bài “Tiếng Hát Dân Chài”. Ông chú nghe nhé.

– Cháu hát tuyệt lắm. Hát đi.

Cả xà lim lắng nghe. Tiếng hát dạt dào tình sóng nước, mênh mông, lồng lộng, đưa hồn người thoát khỏi cảnh ngục tù ảm đạm, bay bổng giữa trời biển bao la, bát ngát:

Ô, này anh em ơi! Tôi nhớ một chiều
Ánh lửa bừng soi thân yêu
Vi vu mà lên cao, nhấp nhô ngọn triều…

– Hát to lên, cho bên này nghe với! Con sơn ca của anh!

Tiếng từ khu xà lim 2, tận gần giàn nho, vọng tới.

Khi cô ca sĩ hát hết bài, cả xà lim rầm rộ vỗ tay tán thưởng. Bà Sài-Gòn nói:

– Cô thưởng cho cháu ít ô mai, ít kẹo chanh, cháu ăn cho ngọt giọng nhé.

– Cám ơn cô. Đợi cháu hát nốt bài thứ ba hãy. Đây là bài dân ca quan họ, quê cháu. Mẹ cháu dạy cháu từ bé.

Gã giặc lái tử hình kêu lớn:

– Hát đi. “Chỉ nghe tiếng hát mà lòng yêu thương” rồi đó!

Cô gái da đen hồn Việt lại cất tiếng hát. Điệu hát mang hồn quê hương, xứ sở, như nức nở, như nhắc nhở, tình nghĩa keo sơn, muôn đời không dứt, không quên, tha thiết, níu kéo.

Người ơi, người ở, đừng về!
Người về…về có nhớ…
Mà này, vạt áo, đừng có ướt đầm…
…ướt đầm như mưa…
Người ơi, người ở, đừng về!

Khi tiếng ca ngừng, xà lim lặng đi. Rồi một tràng pháo tay nhiệt liệt, vang dội.

Lão đứng lên, nhìn ra hành lang, xúc động:

– Cám ơn cháu, cháu hát hay quá. Đây là lần thứ nhất tôi mừng sinh nhật, các bạn ạ. Tối nay quá là vui. Vui nhất trong đời tù của tôi. Vui đến nỗi tôi muốn ở đây, đừng về nữa. Nếu sau này có về, tôi sẽ mãi mãi nhớ tối nay. Nhớ, có thể vạt áo sẽ ướt đầm như mưa.

– Ông chú đa cảm quá đấy. Đến lượt buồng 10, hát!

Gã đầu gấu đùa, ra lệnh.

Một tiếng cục cằn từ ngoài sân, quát lớn:

– Câm mõm hết! Hát hỏng nữa, tôi cùm cả lại. Đi ngủ!

Phó Nhòm nói nhỏ với lão:

– Tên phó giám thị đấy. Mặt sắt đen xì, mất hết tình người. Trái ý nó là cùm. Anh em gọi nó là Thần Cùm.

Đợi Thần Cùm đi khỏi, Phó Nhòm nói to:

– Xin lỗi quý vị thính giả. Buổi văn nghệ tối nay tạm ngừng, vì lý do trục trặc kỹ thuật. Tối mai, thứ bẩy, xin hẹn gặp lại quý vị.

Gã đầu gấu càu nhàu:

– Đang du dương, thì bị địch gây nhiễu. Làm một hơi tiêu sầu vậy.

Rồi ong ỏng hát:

Nhớ nhà châm điếu thuốc.
Khói huyền bay lên cây.
Có phải sầu vạn cổ,
Chất trong hồn chiều nay.

– Đ… mẹ nó, nhớ vợ, thương con, thèm thịt chó!

Lão nằm xuống, mệt mỏi:

– Hôm nay, tôi cũng nhọc, phải ngủ. Anh ngủ chưa?

– Tôi còn lâu. Muỗi nhiều đấy. Buông màn mà ngủ. Trên tường, có sẵn mấy cái lỗ nhét đầy giẻ, dây thò ra. Ông bạn có thể mắc màn vào đó. Lấy tạm miếng các-tông này mà quạt. Nóng thực.

– Tôi nằm không cho thoáng cái đã. Buông màn ngột ngạt lắm.

– Tùy ý. Chúc ông bạn ngủ ngon.

Phần đi đường mệt. Phần no bụng. Một lúc, lão thiếp đi.

Khi lão thức giấc, trời chắc đã gần sáng. Lão ngạc nhiên thấy Phó Nhòm, tay cầm mẩu bút chì ngắn ngủn, tay cầm mảnh giấy gói trà, ngồi nhìn lên trần, vẻ suy nghĩ lung lắm.

Lão hỏi:

– Gần sáng rồi, anh không ngủ à? Viết gì vậy?

Gã nheo mắt cười:

– Làm thơ tặng “Em” đấy.

– Tặng vợ à?

– Không. Tặng em buồng 9, buôn đô la. Em có vẻ đã chiếu cố tới. Giờ vệ sinh đi qua buồng, em lần nào cũng ngước lên cười.

– Giấy bút ở đâu mà xoay được vậy?

– Nhờ mụ Sài-Gòn cung cấp cho. Mụ ta muốn gì mà chẳng được.

– Cẩn thận, quản giáo vớ được, thì phiền to. Tôi lo cho anh.

Gã trấn an:

– Không ngại. Tôi rất thận trọng. Tôi còn yểm được cả lưỡi dao cạo, để hàng ngày cạo râu. Ông bạn này, tôi muốn làm một bài thơ mà nghĩ mãi không ra mấy câu kết. Bực quá.

– Tỏ tình, thì cần gì thơ. Viết văn xuôi cũng được.

Gã lắc đầu:

– Văn xuôi thì nói làm gì. Tôi không phải không biết làm thơ. Tôi đã làm thơ từ hồi đi bộ đội. Thỉnh thoảng báo “Văn-Nghệ”, “Văn Nghệ Quân Đội” vẫn đăng thơ tôi. Nhưng tôi muốn sáng tạo một loại thơ mới, phá bỏ tất cả những lối mòn sáo cũ, nâng thơ lên ngang tầm thế giới hiện đại, không, thế giới hậu hiện đại! Ông bạn đọc thử xem.

Lão cầm lấy mảnh giấy gói trà, đọc đi, đọc lại ba bốn lần, rồi ngơ ngác hỏi:

– Anh định nói cái gì? Tôi mù tịt, không hiểu. Sao bài thơ lại sắp xếp theo hình tam giác lộn ngược, giữa lại có một kẽ trống, không có chữ?

Phó Nhòm vuốt cằm, mặt trang trọng:

– Ông bạn mà hiểu được, thì còn gì là mới. Hình tam giác lộn ngược, với kẽ trống ở giữa, là tượng trưng cho bản năng gốc của tôi. Nó cũng là mũi tên, tượng trưng cho Thần Ái Tình. Đây là loại thơ cụ thể, đập ngay vào mắt người đọc. Tiếng Anh gọi là concrete poetry. Còn ngôn ngữ tôi dùng là để thể hiện cái ẩn ức, rạo rực, cái ngập ngừng, mung lung, cái hỗn tạp, mờ ám trong cõi vô thức của tôi. Ông bạn đọc không hiểu là đương nhiên. Phải có một chìa khóa giải mã mới có thể thấu đạt được. Mới là ở chỗ đó! Thơ văn bây giờ là phải siêu hóa, vươn tới cái trừu tượng, siêu hình, chặt đứt mọi hệ lụy với cuộc sống nhàm chán, ước lệ, với thực tế xã hội tầm thường, tủn mủn, tù đọng…

– Thế anh giải mã đi, để tôi có thể hiểu.

Phó Nhòm bối rối. Có lẽ gã chưa có chìa khóa!

Lão thương hại:

– Tôi hỏi thật anh. Anh có quan niệm về cái mới này từ bao giờ?

– Từ hồi tôi sang Singapour mua một số máy móc. Tôi tình cờ kiếm được mấy cuốn lý luận văn học của mấy học giả Pháp, Mỹ. Tôi giấu mang về. Tiếng Anh, tiếng Pháp tôi đọc được. Tuy phải tra tự điển khá vất vả. Đấy là tôi nói thực với ông bạn. Chứ nhiều người, nhất là lớp trẻ, thấy tôi trích dẫn các tác giả Anh, Pháp, Mỹ, tưởng là tôi uyên bác lắm. Đôi khi tôi còn cóp nhặt, trích dẫn cả chữ Hy-Lạp, La-Tinh, chữ Hán. Dù những ngôn ngữ đó, một chữ bẻ làm đôi, tôi cũng không biết. Cũng phải lòe đời một tị chứ!

Phó Nhòm cười khanh khách, rất là hồn nhiên.

Lão cũng bật cười:

– Tóm lại, anh chỉ lập lại cái của người khác. Như thế sao gọi là mới được. Chỉ là cũ người, mới ta thôi. Anh thức cả đêm, mà chỉ vẽ được cái hình tam giác lộn ngược, viết được mấy câu tối mù, tôi không hiểu, anh không giải thích được. Vậy anh đưa cho cô buôn đô la làm gì? Nhìn cái hình này, cô ấy sẽ tưởng anh là thằng vô giáo dục. Mục đích của anh là chinh phục cô ấy. Đâu có phải là cho cô ấy thưởng thức cái mới của thơ anh. Cứ viết một bức thư tình bình thường đi. Chỉ mất độ nửa giờ, mà đạt yêu cầu hơn. Chuyện cách mạng thơ, để sau.

Phó Nhòm tỉnh ngộ:

– Ông bạn nói chí phải. Thế là phí mẹ nó mảnh giấy!

– Không phí đâu. Dùng cuộn thuốc lào. Sắp sáng rồi, chúng ta làm một hơi cho tỉnh táo.

Sau khi hút một hơi say mềm, Phó Nhòm bảo lão đứng ngó ra sân canh chừng. Gã dùng ni-lông đun nước pha trà. Ba phút sau, hai người đã ngồi nhâm nhi ly trà trong sương sớm.

Cầm chiếc ly con bằng nhựa trên tay, lão tâm sự:

– Trong đời tù, tôi có may mắn được sống với nhiều nhà văn, nhà thơ. Tôi thấy ông nào cũng muốn tạo ra cái mới. Đó là một hiểu biết vỡ lòng của mọi nghệ sĩ. Một yêu cầu bắt buộc. Bản thân hai chữ “sáng tác” đã hàm chứa yêu cầu đó. Chẳng cần phải mấy ông Tây, ông Mỹ ồn ào rao giảng. Một tác phẩm đáng gọi là tác phẩm phải có cái gì mới, nghĩa là cái đóng góp riêng của tác giả. Nhưng mới không, chưa đủ. Mới phải cộng với hay. Ở thế kỷ trước, nhà soạn nhạc Franz Liszt, một hôm nhận được một sáng tác của một anh bạn trẻ. Xem xong, ông nói: “Nhạc anh vừa mới vừa hay.” Anh bạn trẻ vui mừng tột độ. Nhưng ông nói tiếp: “Tiếc rằng cái hay thì không mới. Cái mới lại không hay”. Thế kỷ 18, Voltaire cũng nhận được một tác phẩm của một nhà văn trẻ. Anh nhà văn trẻ coi tác phẩm của mình là cực mới. Mới tới độ anh ta cho rằng người đương thời không thể hiểu nổi, nên anh ta đặt tên quyển sách của mình là “Gửi Người Mai Hậu”. Voltaire xem xong, đùa: “Tôi sợ quyển sách của anh không tới địa chỉ”. Anh phải thừa nhận rằng mới, đẹp, cao, sâu, tới đâu chăng nữa, cũng đều bắt nguồn từ cuộc sống. Không có cuộc sống, là không có gì cả. Cuộc sống là bà mẹ đẻ ra mọi thứ. Nhà văn, nhà thơ không có cuộc sống thực tế, không từng trải, mà muốn sáng tác, chẳng khác gì người đàn bà không chửa, mà lại muốn sinh nở, cứ cố rặn, cố rặn. Nếu có phọt ra chăng nữa, thì cái gì sẽ phọt ra, chắc anh hiểu. Anh thức cả đêm uổng công. Vì anh đã tự tách ra khỏi mạch sống thực, để đi tìm cái mới. Cuối cùng anh nặn ra một thứ mà chính anh cũng không hiểu là cái gì. Cuộc sống không bao giờ chấp nhận những thứ không xuất phát từ nó, và trở về phục vụ nó. Nó liên tục đào thải những thứ vô tác dụng, nguy hại. Nó trân quý mọi cái đẹp. Vì nó rất cần cái đẹp. Trừ những cái đẹp gieo tai, rắc họa. Chúng tôi ở rừng nhiều. Chúng tôi biết đủ loại nấm độc. Màu sắc của chúng đều tươi tắn, rực rỡ, mùi vị lại thơm ngọt. Nhưng các loài vật, kể cả rắn rết đều sợ, tránh xa. Gặp chúng, là chúng tôi phải hủy, để tránh họa cho kẻ khác. Giống như vậy, những bài thơ, bài nhạc ca ngợi Hít-Le, Stalin, Mao-Trạch-đông v v… Công bằng mà nói, cũng có một số bài nghệ thuật cao. Nhưng cuộc sống không dung nạp thứ nghệ thuật đó. Vì nó chống lại cuộc sống, lăng nhục cái Thiện, cái Mỹ, tán dương cái Ác, cái Xấu.

Phó Nhòm gật gù, ngẫm nghĩ:

– Theo ông bạn, thì cái đẹp, cái mới phải tìm ngay trong cuộc sống hàng ngày xung quanh ta?

– Đúng thế. Tôi mới vào xà lim này chưa được 24 tiếng. Tôi đã phát hiện nhiều cái đẹp, cái mới. Tôi hỏi anh, trên đời này, ở đâu có buổi mừng sinh nhật, tặng quà, ca hát, đối với một người không quen biết là tôi, như tối hôm qua không? Cái đó không mới sao? Không đẹp sao? Nếu anh có trái tim hòa nhịp với cuộc sống, anh nắm bắt được nhiều cái mới lạ, mà chỉ vô tình một chút thôi, là chúng trượt mất. Khúc gỗ nó cũng nói. Nó nói với ai biết nghe nó. Một túp lều cỏ cũng phô vẻ đẹp. Nó phô với ai biết nhìn nó.

– Thừa nhận là ông bạn nói đúng. Nhưng có nhà lý luận tây phương coi thơ chỉ thuần túy là kỹ thuật bài binh bố trận từ ngữ mà thôi.

– Đó là chủ nghĩa hình thức, coi nhà thơ như kẻ tung hứng với chữ nghĩa. Hạ thấp thơ xuống thành một trò làm xiếc, một trò ảo thuật. Anh muốn tự dưng sáng tạo ra một hình thức mới? Uổng công thôi. Chỉ có nội dung tạo ra nổi hình thức. Khi chất lượng nội dung thay đổi, thì hình thức cũng buộc phải thay đổi theo, để có thể chứa đựng được nội dung mới. Nghĩa là khi nhà văn, nhà thơ chưa có đề tài mới, tình mới, ý mới, sự việc mới, thì đừng mong gì tạo ra hình thức mới. Ở Âu-Mỹ, một số khiên cưỡng, cố tạo ra. Họ cũng chỉ tạo ra những dị hình, dị dạng. Và dán nhãn hiệu cho những quái tượng đó là cái mới. Chính họ đã giết chết thơ văn, dập tắt niềm khao khát đọc của độc giả, kể cả độc giả trí thức. Cuộc sống đã lần lượt phế thải tất cả những vị tài bé tị, mà chí to đùng, nuôi mộng phất lớn, trở thành trưởng môn nọ, trưởng môn kia. Tôi còn nhớ cách đây mấy chục năm, có vị trong trường phái “Tiểu thuyết mới” huênh hoang một tấc đến trời rằng nếu viết tầm thường như Balzac, thì có thể ngoáy bút một tháng một quyển. Bây giờ cuộc sống đã đẩy các vị đó vào lãng quên.

Phó Nhòm uống cạn ly trà, khà một tiếng:

– Ông bạn biết nhiều nhỉ.

Lão cười:

– Nghe lỏm mấy ông văn sĩ, thi sĩ tù nói, rồi nhắc lại với anh thôi. Tôi võ biền, biết gì mấy.

– Thế các ông ấy có bàn gì về chuyện sử dụng chữ nghĩa, nhạc điệu không?

– Họ không theo chủ nghĩa hình thức. Nhưng đó là việc hàng đầu của họ. Họ đọc cho nhau, góp ý, sửa đi sửa lại từng li, từng tí. Công phu lắm. Một buổi chiều, có gã lưu manh hát câu hát: “Mẹ già nước mắt long lanh. Dòng sông Thao vẫn chảy quanh đôi bờ”. Một ông nhà thơ sửa ngay thành “Dòng sông thao thức chảy quanh đôi bờ”. Ông ấy bảo hai chữ “thao thức” khiến dòng sông có linh hồn. Có ông sửa cả Tiến Quân Ca. Ông ấy nói câu “Cờ pha máu chiến thắng mang hồn nước” không sống động, không mạnh, phải đổi là “Cờ pha máu chiến thắng Vang hồn nước“mới hùng. Họ còn sửa cả thơ của Vũ-Hoàng-Chương. Để tôi nhớ lại đã. Ờ, câu “Đời tàn trong ngõ hẹp. Gió lùa tronggác xép”. Họ sửa thành “Gió lùa qua gác xép”. Như thế tránh lập lại chữ “Trong” và sống động hơn. Còn câu “Men đã ngấm, bọn ta chờ nắng tắt. Treo buồm cao, cùng cao tiếng hò khoan”. Họ sửa thành “Theo buồm cao, cùng cao tiếng hò khoan”. Họ bảo chữ “Theo” nó nhịp nhàng hơn, khí thế hơn. Họ khen Vũ-Hoàng-Chương đã chế biến ý hai câu thơ Đường rất hay thành một câu khác, rất sáng tạo, mang một mầu sắc, tâm trạng khác. Đó là câu “Phòng xuân còn bỏ ngỏ. Khóm trúc đợi, xanh mầu”. Nguyên câu thơ Đường là:

Cảm thương khóm trúc bên khe núi,
Vẫn đứng trong mưa đợi chủ về.

Vũ-Hoàng-Chương bệ câu “Khóm trúc đợi”, thêm vào hai chữ “Xanh mầu” rất thơ, rất đẹp. Các ông ấy còn bàn luận nhiều. Tôi không nhớ hết nổi.

– Còn vấn đề nghệ thuật vị nghệ thuật, với nghệ thuật vị nhân sinh. Họ có bàn tới không?

– Quan điểm của họ rất đơn giản, rộng rãi. Họ cho rằng nếu dở, không đẹp, thì không thể gọi là nghệ thuật. Nghệ thuật chính là cái đẹp. Một bài thơ dù tả đôi mắt giai nhân, hay tả bộ xương người chết đói, nếu tồi, đều không gọi là nghệ thuật được. Mọi nghệ thuật, tức mọi cái đẹp, đều phục vụ nhân sinh, đều làm cho tình cảm, trí tuệ thêm phong phú, tinh tế, sâu sắc, nâng con người lên cao. Trừ thứ nghệ thuật gây hại như đã nói với anh lúc nẫy. Sở dĩ có cuộc tranh luận kéo dài từ lâu lắm rồi, cơ bản là do những người chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật có cái nhìn hẹp hòi, sai lạc, coi những vấn đề xã hội, chính trị, không đáng đưa vào nghệ thuật. Victor Hugo đã trả lời đại ý rằng “Phục vụ việc giải phóng con người khỏi áp bức, việc cải thiện số phận đau khổ của quần chúng, không hề làm xuống cấp cái đẹp, không tước mất của thi ca tí gì”. George Sand, Tolstoi, Dostoievski, Goethe, Réné Char cũng nghĩ như vậy. Họ vẫn thường đọc cho nhau nghe những bài thơ hay. Dù chỉ là thơ uống rượu. Thí dụ như mấy câu thơ này. Họ đọc nhiều, đâm ra tôi cũng thuộc:

Ta rót một mình, ta uống một mình.
Say chưa bén đài cô đơn chót vót.
Ta cứ uống và ta cứ rót
Những Kình Nghê uống sông lớn vào lòng.

Phó Nhòm vỗ đùi:

– Hay, thơ hay. Ngang tàng thực! Ông bạn có biết của ai không?

– Hình như của Hoàng-Công-Khanh, trước tù với tôi ở Yên-Bái. Ông ta ở Toán Văn Nghệ.

Phó Nhòm phát khùng:

– Về, tôi sẽ vứt mẹ nó mấy quyển sách của mấy tên đại bịp kia đi.

Lão can:

– Đọc để biết về các trào lưu văn học, về đủ thứ “Siêu”, thứ “Hậu”, thứ “Tiền”. Có sao đâu. Miễn là đừng nhai lại những thứ người ta đã nhổ đi rồi, mà cứ nghĩ là mới. Bây giờ còn sớm. Anh có thể viết thư cho “Em” còn kịp.

– Làm gì có giấy nữa. Phải đợi tối nay, xin mụ Sài-Gòn. Tôi tập thể dục đây. Sáng nào cũng phải tập nửa giờ. Nếu không, nằm nhiều, teo hết cơ bắp.

– Trên trại, đi lao động, không cần thể dục. Tôi chỉ luyện khí công, cho tinh thần thanh thản thôi.

Lão ngồi thẳng người, xoa bóp toàn thân một lúc, rồi nhắm mắt, hít thở đều đều, từng hơi rất sâu. Sàn bên cạnh, Phó Nhòm chạy tại chỗ, chân nhấc rất cao, miệng thở phì phò. Chạy xong, gã nhảy như con choi choi, cố chạm tay lên trần buồng cao vút, nhưng không nổi, còn cách những mấy chục phân. Gã thở hổn hển.

– Tôi luyện mãi mà không nhẩy tới trần được. Tôi đố ông bạn nhẩy được.

Lão đứng dậy:

– Để tôi thử xem.

Rất nhẹ nhàng, lão vút người lên, đặt cả bàn tay lên trần. Rồi lão lộn người, đi bằng hai tay thoăn thoắt. Phó Nhòm kinh ngạc:

– Ông bạn xương bọc da, mà vừa nhanh, vừa khỏe. Lạ thật.

– Tôi biểu diễn quyền thuật cho anh xem.

Lão đi những đường quyền điêu luyện. Đòn ra nhanh, gọn. Chân đá, tay đấm, tới tấp như vũ bão. Biểu diễn khoảng mươi phút, lão ngồi xuống, mặt không biến sắc, hơi thở bình thường.

Lão tươi cười nói:

– Anh muốn học, tôi dạy cho. Nhưng phải luyện ý trước. Rồi luyện khí. Sau mới luyện đến quyền. Đây là phương pháp đặc biệt để duy trì sinh lực trong hoàn cảnh đói rét. Hồi tôi còn ở Cổng Trời, Hà-Giang, một vị sư già đã truyền cho tôi.

Phó Nhòm sốt sắng:

– Nhất định tôi phải học, để khỏe, để phục vụ các em! Bắt đầu từ hôm nay, ông bạn giúp tôi.

– Được, nhưng nhớ là phải kiên nhẫn. Nóng vội không được. Dục tốc bất đạt. Thôi, chúng ta làm một hơi, để tôi còn giấu thuốc đi.

Trà thuốc xong, Phó Nhòm moi ở khe cùm ra một lưỡi dao cạo. Gã ngồi cạo râu, cắt tóc mai, nhổ lông mũi, sửa lông mày. Mất đến nửa tiếng.

Gã cười hỏi:

– Ông bạn trông tôi có già so với tuổi năm nhăm của tôi không. Tôi nói với em là tôi bốn tám.

– Anh có nước da trắng mịn, nên trông trẻ hơn nhiều. Nếu anh không nói, tôi yên trí là anh ít tuổi hơn tôi.

– Ông bạn tù đầy mấy chục năm. Lại râu ria, hom hem, khắc khổ. Trông tưởng tới bảy mươi. Cạo bộ râu đi, cho nó vui vẻ, trẻ trung.

Lão cười:

– Râu này là râu trốn lao động. Cạo đi thế nào được. Hơn nữa, nếu bộ râu tôi biến mất, Ngưu-Ma-Vương sẽ hỏi dao cạo đâu, thì anh lấy gì để sửa sang sắc đẹp?

– Ừ, tôi không nghĩ ra.

– Giấu lưỡi dao cạo đi. Tôi nghe thấy tiếng giầy. Có lẽ Ngưu-Ma-Vương tới đấy.

– Không ngại. Còn mệt nó mới mở tới buồng mình. Bao giờ buồng mấy bà nhiều tiếp tế cũng được ưu tiên ra trước.

Quả nhiên, Ngưu-Ma-Vương vào mở buồng bà Sài-Gòn đầu tiên. Rồi hắn ra bàn ngồi, cắm điện đun nước, uống trà. Tiếng điếu cầy rít lên sòng sọc, rất kêu.

Phó Nhòm nói khẽ:

– Ông bạn đứng lên xem mặt mụ ta đi. Ngót nghét ngũ tuần rồi, mà trông còn “dùng tốt” lắm.

Lão đứng lên cùm, nhìn ra hành lang. Một bà tóc phi-dê, trắng trẻo, mảnh mai, trông phúc hậu, khá đẹp, tay cầm bô, tay xách một sô nhựa lớn, đi ra. Tới cửa buồng lão, bà ta ngước mắt nhìn lên, mỉm cười chào lão. Lão giơ tay đáp lại, rồi ngồi xuống sàn.

Phó Nhòm thì thầm:

– Ông bạn có thấy một gói lớn ở trong sô không? Ngưu-Ma-Vương lại xin cái gì đấy. Còn hai mụ nữa không xộp bằng, nhưng cũng hay đấm mõm nó lắm.

Lão hỏi:

– Tại sao lại phải thế? Nó giúp các bà ấy được cái gì?

– Chẳng được cái gì cả. Ngoài cái được ra làm vệ sinh lâu, tắm giặt, ung dung, được cắm nước sôi, pha trà, pha mì tôm. Thế thôi. Lương thượng úy 80 đồng một tháng của nó không bằng mấy mụ ấy cho đâu. Nhưng họ có của.Thí cho nó một tí, để thoải mái đôi chút, cũng được.

Bà Sài-Gòn tắm giặt rất lâu, đến gần nửa tiếng. Bà ta ra sân phơi quần áo, rồi vào phòng lấy ca, bát, ra đun nước sôi pha trà, pha mì tôm.

– Báo cáo cán bộ, hôm nay bể đầy nước, tôi muốn rửa buồng cho đỡ hôi.

– Được, được.

Ngưu-Ma-Vương đứng dậy, vào mở cửa buồng gã đầu gấu:

– Múc nước rửa buồng 11.

Gã đầu gấu “Vâng” một tiếng to, rồi uỳnh uỵch chạy vào buồng tắm lấy chổi, lấy sô nhựa xách nước, cọ rửa ào ào.

Phó Nhòm lo lắng:

– Mình mà ra sau cùng, có khi hết nước rửa.

– Tôi định tắm mà cạn nước, thì ngán quá.

– Còn nước, cũng không tắm hôm nay được. Một tuần tắm có một lần, vào ngày thứ tư. Ngày khác mà tắm, nó vớ được, nó cắt không cho ra vệ sinh.

Lão đứng lên xem mặt gã đầu gấu. Đó là một thanh niên cao, gầy, đầu tóc bù xù, có đôi mắt to, tinh nhanh. Gã vừa xách nước chạy, vừa vẫy tay chào lão. Lão mỉm cười, gật đầu. Một lúc sau, gã đầu gấu cọ buồng, làm vệ sinh cá nhân xong, vào buồng. Bà Sài-Gòn cũng bê ca trà, ca mì tôm vào. Ngưu-Ma-Vương mở buồng 10, cho hai chị tuổi chừng ngót bốn mươi ra.

Phó Nhòm chỉ:

– Mụ đi trước, tối qua, cũng cho quà mừng sinh nhật ông bạn đấy. Cả hai đều là cán bộ tham ô, thụt két gì đó.

Lão giơ tay chào, hai chị mỉm cười đáp lại. Hai mươi phút sau, đến lượt buồng 9 ra.

– Buồng em buôn đô la và em tây đen đó.

Lão cũng giơ tay chào hai người. Họ gật đầu chào lại. Phó Nhòm đưa tay lên miệng hôn. Cô buôn đô la ngước mắt cười.

– Ông bạn thấy em thế nào, trông “ngon” không. Ba mươi ba cái xuân xanh rồi đó.

– Còn tươi mát lắm. Nhưng cô ca sĩ da đen, mẹ Việt-Nam, mà không có một nét nào Việt-Nam cả. Giống Châu-Phi nó mạnh. Nó át mất giống mình.

– Con này dại trai lắm. Cách đây mấy tháng, yêu một thằng lưu manh. Có cái nhẫn vàng, cái quần bò, cũng đem cho nó. Thằng ấy đi trại rồi.

Phó Nhòm đợi tới lúc cô đô la vào buồng, đi qua, gã hôn gió một cái nữa, mới chịu ngồi xuống. Tiếp tới buồng giặc lái, buồng tên thượng úy bộ đội, bốn năm buồng nam nữa. Lão lần lượt giơ tay chào tất cả.

Phó Nhòm ngồi bất động trên sàn, cằn nhằn:

– Mình ra sau chót, nước cạn, đục lắm. Ngưu-Ma-Vương vẫn trù buồng này.

– Tại sao nó lại trù?

– Tôi không kêu nó bằng Ban, xưng cháu. Nó ghét. Mấy thằng kia ở ngoài là cán bộ trưởng, phó phòng cả, mà cứ mở miệng là cháu cháu, Ban Ban. Không biết nhục.

Tiếng Ngưu-Ma-Vương quát:

– Gõ cửa buồng người ta làm gì!

– Thưa Ban, cháu có gõ đâu.

– Muốn chối hả? Chính mắt tôi nhìn thấy! Vào tù rồi còn giở lối chim chuột, giăng hoa. No cơm ấm cật, rồi dậm dật hử! Người ta đã có chồng, có con. Chỉ được cái bố láo. Vào, cắt tiếp tế bốn tháng, cho nhăn răng ra. Xem còn đĩ bợm được nữa không.

Tiếng cửa đóng xầm lại.

– Thằng trưởng phòng công ty hóa chất đấy. Nó chớp chới mụ Sài-Gòn. Nhưng có nước non mẹ gì đâu. Cắt tiếp tế bốn tháng thì người bằng cái que. Trở thành “đầu lâu chân tay” ( tù gọi bọn quá gầy). Tới buồng người yêu gã đầu gấu đấy. Đứng lên xem mặt đi. Con bé này không đẹp, nhưng hiền lành, tốt bụng, ai cũng mến. Tối qua, nó cũng cho ông bạn quà đấy. Ở cùng buồng với nó là một con trong đoàn kịch nói Hà-Nội. Con này nói năng tục tĩu, lưu manh còn phải chạy dài.

Lão đứng lên cùm, giơ tay chào hai cô gái, rồi ngồi xuống:

– Như thế là sáng nay, tôi đã duyệt binh xong. Coi như biết mặt cả xà lim. Lão Ngưu-Ma-Vương này rông rỡ thực. Ăn nói hết sức thô lỗ. Tên thượng úy bộ đội trông tội nghiệp, gầy còm quá.

– Ai bảo cáo cò! Chết không đáng thương. Ở các buồng chung, nhiều đứa còn gầy hơn nó nhiều. Chỉ sống bằng tiêu chuẩn nhà nước nuôi, thì máu thịt nào không teo, không cạn. Ông bạn cũng có béo tốt gì hơn nó đâu. Sống được hai mươi năm trong tù. Phép lạ đấy. Chúng ta chuẩn bị ra. Buồng mình là cuối cùng rồi.

Ngưu-Ma-Vương mở cửa buồng, giơ tay xem đồng hồ:

– Khẩn trương lên. Tôi phải đi họp ban giám thị.

Phó Nhòm và lão vội xách bô, xách sô, đi như chạy vào nhà vệ sinh.

– Nhanh lên, vào buồng đánh răng cũng được. Rửa mặt, lau người, qua loa thôi.

Phó Nhòm miệng nói, tay đổ bô, tráng bô. Gã đã quen với sự vội vã, nên chỉ dăm phút sau, gã đã rửa mặt, lau người, xách bô, xách sô đầy nước vào buồng. Lão còn đương vò cái quần, thì Ngưu-Ma-Vương đã quát, giục. Một phút sau, lão ra sân, phơi cái quần đùi lên dây thép, rồi trở vào.

Ngưu-Ma-Vương trợn mắt:

– Bận sau mà còn dềnh dàng, tôi cho vài cái bạt tai.

Nghe thấy hai chữ bạt tai, lão quay người lại, nghiêm nghị:

– Ông ăn nói thận trọng. Ông nhớ rằng đứng trước mặt ông là một người có danh dự.

Ngưu-Ma-Vương sững sờ một giây, rồi quát:

– Láo xược! Một tên phản động mà cũng đòi có danh dự. Tôi đã xem hồ sơ anh ở trại gửi về. Anh chuyên chửi Đảng, chửi lãnh tụ.

Hắn hầm hầm rút súng ra, thị uy:

– Anh có giỏi chửi Đảng, chửi lãnh tụ. Tôi bắn chết tươi ngay.

Lão cười ầm lên:

– Ông chỉ dọa nổi những kẻ tham sống, sợ chết thôi. Cả xà lim hãy làm chứng. Hôm nay, sáng 11-8-1983, ông quản giáo phụ trách xà lim 1, đã kích động tôi chửi Đảng, chửi lãnh tụ. Ông đưa ngay tôi lên gặp chánh giám thị để giải quyết vụ này.

Hắn hơi bối rối:

– Ai kích động anh? Không được vu cáo.

– Tôi đề nghị ông đưa tôi lên gặp ông chánh giám thị.

– Ông chánh giám thị đi vắng.

– Vậy ông đưa giấy bút để tôi làm đơn trình bày sáng tỏ sự việc này. Trách nhiệm của ông là phải cho phạm nhân làm đơn, và chuyển đơn của phạm nhân.

– Tôi không có giấy bút. Vào buồng!

– Tôi nói để ông biết, những việc lèm nhèm của ông, tôi không để ý tới. Nhưng nếu ông không biết điều với tôi, tôi sẽ nói rõ tất cả với chánh giám thị, với giám đốc sở. Hỏa-Lò không phải là một hoang đảo, để ông muốn làm gì thì làm. Trên ông, còn có sự kiểm tra của Đảng, của nhà nước. Chắc ông cũng biết, có những quản giáo đã phải vào tù.

Lão đi vào buồng.

Ngưu-Ma-Vương đóng xầm cửa lại:

– Được, tôi sẽ nói chuyện với anh sau.

Hắn khoá cửa khu xà lim, hậm hực bỏ đi.

Gã đầu gấu kêu lớn:

– Ông chú chơi hay quá. Lần đầu tiên Ngưu-Ma-Vương bị một bữa bẽ mặt. Công nhận ông chú anh hùng thật.

Lão đứng lên nói:

– Anh hùng gì ở cái xó Hỏa-Lò này. Nhiều anh hùng vào tù cộng sản thì trở thành anh hèn hoặc anh hề. Tao có một nhược điểm là không chịu nhục nổi. Hơn nữa, tao cũng quá chán đời, nên không sợ chết nữa.

Tiếng anh trưởng phòng công ty hoá chất nói sang:

– Dù sao, ông anh cũng giúp chúng tôi cho nó một bài học đích đáng.

– Tính tôi vốn dĩ hoà vi quý. Nhưng nó quá đáng quá. Không thể để thế được. Hôm qua, nó trỏ tay vào mặt tôi đe dọa, tôi đã không chấp rồi.

Tiếng bà Sài-Gòn:

– Anh Hai làm cho em phục quá đấy.

– Chuyện vặt, có gì đáng phục đâu chị. Tôi chẳng qua là đã tới đường cùng, nên không cần gì nữa.

– Anh Hai khiêm tốn, em càng phục hơn.

– Không, tôi chỉ nói sự thực. Tôi không bao giờ đóng vai khiêm tốn. Cũng không bao giờ tự cao. Nếu tôi thông minh một chút, tôi đã chẳng phải nằm tù mấy chục năm.

Gã đầu gấu cười hô hố, rồi nhại giọng miền Nam:

– Anh Hai, làm em phục quá đấy. Anh em thân ái thế, ông chú phải cảm động đi chứ.

– Anh chỉ được cái ăn nói bừa bãi.

Tiếng người yêu của gã cự gã.

– Thế em không muốn ông chú với bà cô giống như anh với em sao? Sao em ích kỷ thế, không muốn cô chú có hạnh phúc à?

– Thôi đừng đùa nữa. Cô chú không bằng lòng đâu.

Phó Nhòm hứng khởi:

– Ông bạn trúng số rồi. Mụ xưng em ngọt ngào quá.

Lão ngồi xuống, lắc đầu.

– Anh đúng là một thi sĩ. Giầu tưởng tượng thực.

– Không, khoản tình yêu này, tôi kinh nghiệm hơn ông bạn nhiều. Rồi thời gian sẽ trả lời. Bây giờ, tôi muốn hỏi ông bạn chuyện quan trọng hơn. Liệu Ngưu-Ma-Vương có kiếm chuyện với ông bạn không?

– Không ngại. Nó có tật, giật mình. Thái độ của nó, chứng tỏ nó đã chờn. Anh phải biết dưới chế độ ta, Đảng đã thành công ở điểm làm cho mọi người khiếp sợ. Nhân dân khiếp sợ Đảng đã đành. Nhưng cán bộ, đảng viên còn khiếp sợ hơn nhân dân. Sợ lẫn nhau. Sợ cấp trên. Lúc nào cũng phải giữ võ. Hai lưỡi dao đói rét và tù đày, luôn treo lơ lửng trên đầu. Sự khiếp sợ dẫn tới sự khuất phục, biến con người thành tôi tớ ngoan ngoãn, thành công cụ Đảng tùy ý xử dụng. Sự khiếp sợ của dân chính là sức mạnh của Đảng. Khi nào dân hết sợ, là Đảng hết thở.

Một lúc sau, Ngưu-Ma-Vương mở cửa cho các buồng ra lấy cơm. Cả xà lim phấn khởi khi thấy mỗi suất được đầy một bát rau muống. Giữa mùa rau muống, mà Hỏa-Lò họa hoằn mới được ăn. Những người có tiếp tế vắt chanh, trộn muối vừng, trộn ớt, làm thành một món nộm tuyệt vời.

Ngưu-Ma-Vương bảo lão:

– Anh ra ngoài, cắt tóc, cạo râu cho gọn.

Lão ngồi xuống chiếc ghế đẩu ở giữa sân. Một tên tù tự giác dùng kéo cắt tóc, cắt râu một cách chớp nhoáng. Độ bốn, năm phút đã xong.

– Cho anh tắm rửa.

Lão chạy vào buồng lấy khăn mặt. Phó Nhòm đưa cho lão một miếng xà phòng. Kỳ cọ thoải mái xong, lão vào buồng. Ngưu-Ma-Vương bỏ đi.

Phó Nhòm vui mừng:

– Mềm nắn, dắn buông. Đúng là nó sợ ông bạn rồi. Từ xưa tới nay, nó chưa ưu tiên cho ai như vậy. Cắt tóc mấy tháng một lần. Cả xà lim cùng cắt trong giờ vệ sinh. Thái độ của nó cũng khác hẳn.

Gã đầu gấu gọi to:

– Bà cô ơi, ông chú cắt tóc, cạo râu, trông trẻ ra đến hai mươi tuổi đấy.

– Cô thấy rồi.

Phó Nhòm đắc ý:

– Thấy chưa. Mụ ta vẫn theo rõi ông bạn đó. Tốc chiến, tốc thắng đi!

– Nhưng để làm gì mới được?

– Để giải trí, tiêu sầu, quên đi phần nào cảnh tù tội.

– Tình yêu không phải là thứ mang ra đùa cợt, giải trí. Đó là quan niệm của tôi. Thôi, chúng ta ăn.

Thấy lão gắp một gắp rau muống đưa lên miệng, gã ngăn lại:

– Ấy chết, bẩn lắm. Phải nhặt vất những lá úa, lá thối đi. Có khi có cả sâu bọ, cả đỉa. Ông bạn có biết nhà bếp nó luộc rau thế nào không? Rau đưa về bếp là nó quẳng ngay vào chảo, không thèm cởi cả lạt buộc, chứ đừng nói tới rửa ráy. Luộc xong một chảo, nó rải ra bệ xi măng, xếp những bó sống lên. Rồi luộc tiếp, lại chồng lên những bó sống đó. Một lớp chín, một lớp sống như vậy. Hấp hơi thành chín tuốt. Không phải chúng nó lười, hoặc vô lương tâm. Tám, chín thằng nhà bếp mà phục vụ gần ba nghìn tù. Không làm thế, sao kịp.

Cơm nước, thuốc lào xong, Phó Nhòm hỏi:

– Ông bạn có chơi cờ tướng không? Tôi có một bộ quân bằng giấy. Bàn cờ đứa nào đã gạch sẵn lên sàn nằm của tôi đây này. Nếu không ngủ trưa, làm vài ván cho qua thời giờ.

– Ừ thì chơi. Nhưng cờ tôi thấp lắm.

– Tôi cũng chẳng cao gì.

Hai người tập trung vào bàn cờ. Phó Nhòm rất hiếu thắng. Mỗi khi ăn được của lão một quân, gã đắc ý, rung đùi, mặt hớn hở. Lão đưa tốt vượt hà. Gã cho pháo nổ giết ngay. Rồi ngâm nga:

Đáng thương chỉ có dăm thằng tốt
Bị thúc qua sông mấy kẻ về.

Thua liền ba ván, lão nói:

– Cờ tôi thấp như vịt. Không đánh lại anh. Tôi nằm nghỉ một chút.

– Phải giải chiếu ra. Nằm ngay trên sàn xi măng tuy mát, nhưng không hiểu sao, dậy mệt lắm. Có lẽ xi măng nó hút hơi người. Cái chiếu đó của một lão hắc lào đầy mình nằm. Tôi đã giặt phơi cẩn thận rồi.

Lão giải chiếu ra nằm, quay mặt vào tường. Trên tường, lấm tấm những vệt máu thâm xì. Chắc những người nằm trước giết rệp, bôi lên. Lão giở mình nằm ngửa, nhìn lên trần. Lão cố suy đoán xem vì lý do gì, lão đang ở trại, lại chuyển về Hỏa-Lò. Họ định thả lão chăng? Không phải. Thả từ trại cũng được. Việc gì mất công chuyển về đây, mới thả. Chịu không lý giải nổi.

Tiếng trẻ em nô đùa ầm ĩ từ trường Tân-Trào vọng vào. Chỉ bên kia bức tường thôi, là phố Hàng-Bông-Thợ-Nhuộm. Đi bộ độ hai mươi phút, là tới nhà em gái lão. Thế mà ngàn trùng cách biệt. Đột nhiên, lão thấy thân phận mình thua con chuồn chuồn, con chim sẻ. Chúng bay nhẩy tự do quá. Không bị cái gì kiềm tỏa. Nhưng bức tường cao sáu thước kia, với mảnh chai, với dây điện, nghĩa lý gì, so với thiên la, địa võng vô hình trùng trùng giăng mắc trên đất nước lão. Năm 61, lão đi tù. Con trai lão mới tám tuổi. Nó đang học lớp hai. Vợ chồng lão cưng nó lắm. Hai người nhịn ăn, nhịn mặc. Tất cả dồn cho nó. Lão sợ trẻ thơ thiếu dinh dưỡng, sau này, óc sẽ kém phát triển, cơ thể sẽ còi chột. Phiếu thịt, phiếu đường, đều để con dùng. Thằng bé nó giống bố ở đôi mắt, cái mũi. Giống mẹ ở nụ cười, cái tai. Nhiều lúc để con ngồi trong lòng, ngắm nó, lão nghĩ con người thực ra không bao giờ chết. Nếu lão có chết, thời một phần máu thịt lão, một phần tâm linh lão, vẫn tiếp tục sống trong thằng con. Cũng như bố mẹ lão tuy chết, nhưng thực tế, hai người vẫn sống trong lão. Cứ như thế, đời này sang đời khác, bất tận. Lão lập gia đình năm mới hai mươi hai tuổi, do bố mẹ sắp đặt. Hai cụ muốn có cháu nội để bế. Tuy nên vợ, nên chồng, theo lối cổ điển, nhưng vợ chồng lão sống với nhau hạnh phúc. Nàng là cô giáo tiểu học. Nhan sắc trung bình. Nhưng tính nết dịu dàng, đoan trang, chiều chồng, thương con, hiếu thảo, tề gia, nội trợ khéo. Đi tù, lão nhiều đêm ân hận, vì trong chín năm chung sống, lão đã không yêu thương vợ nhiều hơn nữa. Đôi lúc, lão nóng nẩy, quát mắng, khiến nàng phải khóc. Nàng hiền quá. Chẳng bao giờ cãi lại lão cả. Năm 77, tù về, được biết nàng ở Sài-Gòn, có ba con với gã quản lý thị trường. Lão bảo em gái đừng báo tin. Để cho nàng khỏi bận tâm. Yên với cuộc sống đang sống. Năm 80, gia đình nàng vượt biển. Tới nay, đã ba năm trôi qua, em gái lão vẫn không được tin tức gì. Rất có thể đã chìm đắm dưới lòng đại dương, làm mồi cho cá biển, như ngàn vạn gia đình bất hạnh khác. Lão thở dài.

Phó Nhòm đương đi đi, lại lại trên sàn, dừng lại hỏi:

– Có gì mà ông bạn thở dài vậy?

– Nằm không ngủ được. Nghĩ ngợi linh tinh. Buồn.

Lão ngồi dậy, giở thuốc ra, chuẩn bị hút.

– Chính vì vậy, tôi sợ nằm lắm. Cứ đi lại trên sàn thế này, cho đầu óc giải tỏa. Mệt lắm mới nằm. Tôi coi như mình đi dạo chơi trên “Đại lộ Hoàng Hôn”. Mỗi ngày tôi đi ít nhất mười cây số. Mười sáu tháng nằm xà lim, tính ra tôi đã đi được một phần tám vòng trái đất rồi đó.

Nhả khói ra đầy buồng, lão nói:

– Ở trên trại, tôi sống như cây cỏ, quên hết. Về đây, lại đâm nghĩ ngợi. Tôi không để ý tới chuyện về, ở. Nhưng không hiểu sao chiến tranh Việt-Trung không xảy ra, mà họ cứ giam tôi mãi. Vô lý quá.

– Có cái lý nào ở cái xã hội này! Không có thằng Nga, thì thằng Tầu nó choảng cho bỏ mẹ rồi. Tình hữu nghị đời đời bền chặt, bây giờ thành ra đời đời lỏng lẻo. Thằng em út tôi ngỏm củ tỏi trong trận biên giới năm 79. Nó đóng ở Lào-Cai. Xe tăng Tầu sơn cờ đỏ sao vàng bò vào tới tận nơi, vẫn tưởng là xe tăng của mình. Toi mạng sạch.

Lão lắc đầu:

– Hai bên cùng khoe là đại thắng. Chẳng biết đâu mà lường.

– Chúng nó cùng một lò nói phét cả. Lính Tầu ngỏm nhiều. Nhưng lính mình cũng không kém. Được cái hai thằng cùng coi mạng người như ngóe. Nói thực với ông bạn, tôi chưa bao giờ thấy mấy ông lãnh tụ Đảng hoảng sợ tới như vậy. Đánh Pháp, đánh Mỹ, các ông ấy vẫn ung dung. Đằng này, vừa bị tấn công, báo Nhân-Dân đã đăng tít lớn trên trang nhất, kêu gọi sự can thiệp khẩn cấp của Liên-Xô. Brê-giơ-nép cảnh cáo rất đanh thép: “Trung-Quốc nên rút quân ngay khỏi Việt-Nam, khi còn chưa muộn”. Bao nhiêu người bị huy động đi xây dựng phòng tuyến Sông-Cầu, để bảo vệ thủ đô. Chuẩn bị dùng cả võ khí hóa học ở Yên-Bái. Không vận cấp tốc mang quân tinh nhuệ từ Cam-pu-chia về. Địa hình biên giới là nơi phòng thủ lý tưởng, mà mới mười mấy ngày, bọn Tầu đã tiến sâu tới ba bốn chục cây số. Tuyến Lạng-Sơn chỉ còn cách hơn một trăm cây là tới Hà-Nội. Hoảng là phải. Mấy lãnh tụ đã chuẩn bị di tản vào Thanh-Hóa. Dân tộc thiểu số theo Tầu hết, ông bạn ạ. Hôm mùng năm tháng ba, Đặng-Tiểu-Bình tuyên bố rút quân và đe dọa: “Nếu lợi dụng việc rút quân mà tấn công, thì đừng hối hận”. Phía Việt-Nam không dám nổ một phát súng. Bọn Tầu nó dùng thủ đoạn mua chuộc nhân tâm. Nó phát cho dân lương thực, quần áo. Nhưng tất cả nhà máy, hầm mỏ, cầu cống, cơ quan công cộng, nó phá sạch. Hang Pắc-Bó nó cũng cho tan. Mấy chục vạn quân đương đánh nhau ở Căm-pu-chia, không có bố Nga đứng cạnh, thì Tầu nó nuốt chửng. Hoàng-Văn-Hoan, tay sai hiến cả linh hồn cho Tầu mà thống trị, thì dân mình sẽ khốn nạn gấp mấy. Tay sai Nga cai trị còn đỡ hơn ít nhiều. Trong trận chiến mười mấy ngày ở biên giới, ngoài thằng chết, thằng bị thương tàn phế ra, thằng dân chạy loạn là thằng thua đau nhất. Khi họ trở về, gà, lợn, trâu, bò của họ đã bị bộ đội tới trước thịt sạch.

– Tôi còn gặp rất nhiều người thiểu số vùng biên giới trong tù. Họ nói họ đi tù là may. Vô số kẻ ủng hộ Tầu bị hạ sát, xác quăng xuống vực. Anh nói đúng. Nếu không có Liên-Xô thì nguy. Đánh nhau với Tầu, Việt-Nam bị bất lợi nhiều mặt lắm. Quân Tầu đã từng đóng ở miền Bắc nhiều năm. Địa hình, nó thuộc như lòng bàn tay. Hơn nữa, khi tình nghĩa anh em còn thắm thiết, Bộ Quốc-Phòng Việt-Nam còn đưa cả bản đồ quân sự sang in ở Trung-Quốc. Trong Đảng, trong quân đội không thiếu gì người thân Tầu. Sức dân thì kiệt lắm rồi. Lại đang mắc kẹt ở Căm-pu-chia. Lực lượng quân sự Tầu gấp mười Việt-Nam. Chúng ở sát cạnh, hậu cần thuận lợi…

– Ngưu-Ma-Vương vào đấy! Chúng ta tạm ngừng.

Hắn mở khóa cho các buồng ra lấy cơm, rồi bảo lão:

– Anh đi cung.

Thấy hắn nhìn mình có vẻ lo ngại, lão nói nhỏ:

– Ông an tâm.

Rồi đi theo tên quản giáo thường trực. Lão được dẫn vào một phòng khá rộng, bàn ghế lịch sự, quạt trần chạy vù vù. Có cả một bức tranh sơn dầu lớn trên tường. Không phải là phòng hỏi cung. Một người đứng tuổi béo lùn, đầu húi cua, sơ mi trắng cộc tay, đồng hồ vàng, kính lão, tự giới thiệu là người của Bộ. Ngồi bên y là hai thanh niên, tuổi chừng ba mươi, cũng mặc thường phục. Nhìn thái độ kính cẩn của họ đối với y, lão đoán y là một cán bộ cao cấp. Một thanh niên rót trà ra mấy cái tách. Y chỉ tay vào bao Thăng-Long trên bàn, tươi cười:

– Anh hút thuốc, uống trà đi. Sức khỏe anh tốt chứ? Chúng tôi đưa anh về đây là muốn mở cho anh một lối thoát. Anh tù tất cả bao năm rồi?

– Lần thứ nhất, mười sáu năm. Lần này, từ khi nổ ra chiến tranh biên giới, hơn bốn năm.

Y gật gù:

– Đúng là một thiệt thòi cho anh. Nhưng thời chiến nước nào cũng phải làm vậy. Hồi thế chiến thứ hai, Mỹ cũng tập trung tất cả người Nhật trên đất Mỹ. Khi bọn bành trướng Trung-Quốc tràn qua, đám ngụy quân, ngụy quyền được tha về ở sáu tỉnh biên giới đều theo Trung-Quốc. Họ bị xử tử lập tức theo kỷ luật chiến trường. Anh ở Hà-Nội là may đó. Tôi đã xem hồ sơ anh. Từ năm 77 đến năm 79, gần hai năm ở ngoài, anh không chịu làm ăn gì, chỉ buôn bán bất hợp pháp.

– Tôi không có nghề ngỗng gì. Chỉ biết cắt tóc, do tự học trong trại. Nhưng công an phường cấm tôi làm nghề đó. Họ bảo cắt tóc rong, giao thiệp với nhiều người, không được. Tôi đứng đường bơm xe, cũng bị đuổi. Đi gánh gạch, xách vữa một thời gian cũng bị sa thải, do lý lịch tù tội. Vì vậy, tôi phải đi buôn trà, buôn mật ong từ Phú-Thọ, Lạng-Sơn. Mỗi chuyến buôn dăm cân trà, hoặc dăm lít mật ong. Chỉ tạm đủ sống. Nhiều khi bị tịch thu, mất cả vốn. Có nhiều ngày, tôi phải nhịn đói.

– Sao anh không lấy vợ? Anh muốn rảnh rang để hoạt động?

– Ông nghĩ xem, lấy vợ cũng phải gặp người hợp với mình, bằng lòng lấy mình. Tôi ra tù, vợ đã bỏ đi lấy chồng. Con đi bộ đội chết trong rừng Trường-Sơn mất xác. Lòng buồn rầu, chưa nghĩ tới việc lấy vợ. Hơn nữa, cuộc sống bấp bênh, nuôi thân còn chưa xong. Ông bảo tôi cố ý sống độc thân để hoạt động. Chết đói dở, hoạt động cái gì? Các ông cách mạng ngày trước, đa phần đều vợ con cả. Đâu cứ phải không vợ, không con mới làm cách mạng.

– Thôi được. Tôi biết cuộc đời anh có nhiều đau khổ. Bây giờ chúng tôi muốn tạo điều kiện cho anh làm lại cuộc đời. Anh mới năm mươi ba tuổi. Kém tôi bẩy tuổi. Còn sớm chán. Tôi hỏi thực anh. Anh có muốn ra tù không?

– Con chó nằm trong cũi, còn mong được xổng. Huống hồ con người. Đó là nói chung. Riêng đối với tôi, thực lòng nói với ông, tôi chán chường lắm. Tù lâu đã thành chai rồi. Ra tù, ở tù, cũng vậy thôi. Mỗi thứ có cái khổ của nó. Ở ngoài, tôi biết làm gì để đổ vào mồm ngày hai bữa? Lại lên đồn, xuống sở, hạch hỏi. Quá chết!

– Vì thế chúng tôi mới tạo điều kiện cho anh, bù đắp lại những thiệt thòi anh đã phải chịu. Chúng tôi sẽ bố trí cho anh ở thành phố Hồ-Chí-Minh. Việc ăn ở, anh khỏi lo. Có thể còn kiếm người chung sống với anh, cho tuổi già đỡ cô đơn. Nhưng với điều kiện là anh phải giúp cách mạng một số việc. Chúng tôi không thiếu người. Nhưng dùng anh, thuận lợi cho công việc hơn. Và chủ yếu cũng để bù đắp lại cho anh. Anh nghĩ sao?

– Ông có thể cho tôi biết cụ thể là tôi phải làm gì?

– Cái đó sau. Phục vụ cách mạng là vô điều kiện. Cách mạng giao cho việc gì là phải hoàn thành việc đó. Tất nhiên, công việc sẽ không vượt quá khả năng của anh. Bây giờ, tôi cần biết là anh có chấp nhận không?

– Khi tôi chưa biết cụ thể, tôi không chấp nhận được.

– Không sao. Chúng tôi không vội. Chúng tôi để thời giờ cho anh suy nghĩ. Khi nào bằng lòng, anh báo cho giám thị trại, xin gặp tôi. Hôm nay, tôi nói thế là rõ ràng lắm rồi. Phải cân nhắc hơn thiệt. Đừng đánh mất cơ hội. Anh có muốn viết thư cho em gái anh không? Chúng tôi chuyển hộ.

Lão xin giấy bút, viết vắn tắt mấy hàng cho em lão, rồi đưa cho một thanh niên. Tên công an cao cấp đứng dậy. Lão cũng đứng dậy.

Một thanh niên đưa cho lão một túi ni-lông, trong đựng một gói đường, hai hộp sữa, một gói trà, một tút Điện-Biên, một bật lửa hơi.

– Thủ trưởng chúng tôi biếu anh đó.

– Ở Hỏa-Lò cấm hút thuốc. Không có nước sôi pha trà. Tôi mang những thứ này vào, có thể bị tịch thu.

Tên thủ trưởng cười:

– Anh an tâm. Tôi sẽ bảo họ. Hãy suy nghĩ kỹ điều tôi nói với anh hôm nay. Tôi đợi câu trả lời của anh.

Tên quản giáo thường trực dẫn lão về xà lim, nói với Ngưu-Ma-Vương:

– Đồng chí thiếu tướng Cục trưởng nói cho phép nó hút thuốc, uống trà.

Ngưu-Ma-Vương nể lão ra mặt. Hắn không khám gì, mở cửa buồng, bảo:

– Anh lấy ca ra mà đun nước sôi.

Lão cảm ơn, mang ca nước của Phó Nhòm ra. Chỉ hai phút, xong việc. Lão bê ca trà vào buồng, lấy chiếc áo bông ra ủ lại.

Phó Nhòm hỏi:

– Thế nào, triển vọng tốt chứ?

Lão lắc đầu:

– Không có gì tốt lành cả. Ăn cơm xong, tôi sẽ nói cho anh nghe.

Tiếng khóa cửa khu xà lim loảng xoảng. Ngưu-Ma-Vương rít một điếu thuốc lào, rồi bỏ đi. Năm, sáu người trong xà lim chúc mừng lão sắp về. Họ nghĩ được chấp pháp cho quà là dấu hiệu đáng mừng.

Gã đầu gấu toang toác:

– Ông chú với bà cô sắp thoát ngục rồi. Ra ngoài gặp nhau, tha hồ vi vu. Đừng quên thằng cháu bất hạnh này nhá.

Tiếng bà Sài-Gòn vui vẻ:

– Về, cô sẽ gửi quà cho cháu.

Có tiếng ai hỏi gì, lão không nghe rõ.

Phó Nhòm đứng dậy nói:

– Giặc lái cùm, không đứng lên được. Ngồi nói, phải nói to mới nghe nổi.

– Ông anh tù lâu, kinh nghiệm. Muốn hỏi ông anh, liệu em có được chủ tịch Trường-Chinh ân xá, tha chết không? Có hai mươi tám tấn thóc thôi mà. Đâu đáng tội chết.

Lão an ủi:

– Sống chết có số. Lo nghĩ nhiều, vô ích. Tôi không dám khẳng định cái gì cả. Nhưng cứ hy vọng. Biết đâu, ông trời thương.

Phó Nhòm nói với lão:

– Kể cũng thương hại. Thằng này chết là cái chắc. Lão Trường-Chinh có tha ai bao giờ đâu. Còn việc ông bạn thế nào? Đừng nhìn đời bằng con mắt bi quan quá.

Lão kể hết cho Phó Nhòm nghe, rồi buồn rầu:

– Tôi thừa hiểu nó muốn dùng tôi để hại người khác. Tôi nguyên là đại úy quân đội quốc gia, lại tù đày suốt hai mươi năm. Dễ được những người chống đối tin tưởng. Nó muốn sử dụng tôi như một cái bẫy. Việc khốn nạn ấy, đời nào tôi chấp nhận. Bây giờ, tôi mới hiểu tại sao tôi lại chuyển về Hỏa-Lò.

Phó nhòm thán phục, giơ tay, bắt tay lão:

– Ông bạn đúng là bậc trượng phu. Hoàn toàn đồng ý với ông bạn. Để ra tù, mà phải phản phúc, hại người, cái giá đó ô nhục quá. Tôi có nhiều tật xấu. Nhưng lừa thầy, phản bạn, vong ân, bội nghĩa thì không. Tôi có yêu nhiều em thực. Nhưng tôi không phụ em nào cả. Tôi chỉ đa tình, mà không bạc tình. Những thằng sở khanh là tôi chúa ghét.

– Khi nó cho quà, tôi định không nhận. Sau, tôi nghĩ những thứ đó đâu phải của chúng nó. Chúng nó cướp của dân. Mình cứ dùng, mà chẳng chịu ơn nghĩa gì với chúng.

– Khi ăn cắp của công, tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng mua chuộc không nổi, chắc chúng lại tống ông bạn đi trại.

– Đời tôi đã tan nát rồi. Có tan nát nữa, cũng thế thôi.

Ngày hôm đó, hai người ngồi trò chuyện với nhau suốt. Mới gặp nhau có một ngày, mà hai người, một “Đại úy ngụy”, một Đảng viên, đã trở thành đôi bạn tâm đắc.

Buổi tối, xà lim sôi nổi, nhộn nhịp. Nam nữ đùa bỡn nhau. Tuy hơi tục tĩu, nhưng vui vẻ. Những cái lược, những cái bàn chải lao từ buồng nọ sang buồng kia, vun vút. Họ trao đổi quà với nhau, cho những người không tiếp tế đôi chút. Tuy không no lòng, nhưng cũng đỡ tủi. Phó Nhòm đứng ngó canh chừng bọn võ trang đi tuần vào.

Lão nói với gã:

– Tôi cũng đã từng ở xà lim. Nhưng những người ở xà lim này tốt thật. Họ cho cả những người không có tiếp tế. Có thể vì họ mới tù, lại có của. Thằng thượng úy bộ đội không ai cho nó cả. Tội thật.

– Nó hay sớ bẩm, ai cũng ghét. Hơn nữa, nó ở tận buồng 1, sát nhà vệ sinh. Xa thế, làm sao chuyển quà được. Muốn chuyển, phải qua buồng mình.

– Từ khi nó bị rạch mặt, anh bảo nó đã chừa rồi. Hay mình cho nó một tí.

Phó Nhòm cũng động lòng:

– Ông bạn nghĩ phải. Nên an ủi nó một chút. Để tôi lái xe sang buồng nó.

Lão xếp hai cái bánh khảo, ít kẹo mè xửng vào túi ni-lông.

Lần đầu tiên có người cho quà, gã cảm động.

– Con cảm ơn bố đã thương tới con.

Gã đầu gấu mắng:

– Loại như mày, tao đã gặp nhiều. Cho ăn thì “bố bố con con”, không cho thì “Đ… mẹ thằng già”. Hết “tự hào cách mạng” chưa? Nếu còn bệnh xì xọt, tao sẽ rạch mép. Chứ không rạch mặt nữa.

Lão nhờ Phó Nhòm phân phối thuốc lá cho các buồng. Mỗi người ba điếu.

Lão đứng lên hỏi:

– Các chị, các cháu có hút không?

Cô trong đoàn kịch nói, cười khúc khích:

– Cháu hút được cả thuốc lào. Cả xì gà gộc.

Cả xà lim cười ồ.

Bà Sài-Gòn vui vẻ:

– Em không ghiền. Nhưng em phải hút để chia vui với anh Hai. Anh Hai sắp về rồi mà.

– Không có chuyện về đâu, chị ơi. Còn nữ ca sĩ nữa, có hút không?

– Cháu hút, để lấy giọng hát cho hay, phục vụ xà lim.

– Phái đẹp chỉ có ba người hút thôi à?

Các chị, các cô cảm ơn, không hút.

Chương trình ca nhạc thứ bẩy kéo dài tới mười giờ tối. Tất cả mọi người đều phải hát, dù không biết hát. Mấy bà bị ép mãi, không khước từ được, đành đứng lên hát mấy bài ca ru con. Có bà hát cả bài “Bé bé bồng bông, bé đi sơ tán. Má đi lấy chồng” làm cả xà lim vỗ tay, cười sặc sụa.

Gã đầu gấu động viên:

– Không cần hát hay, chỉ cần hay hát thôi. Hoan hô các bà cô!

Cô ca sĩ, cô diễn viên kịch nói hát nhiều nhất. Mỗi người tới hơn chục bài. Toàn loại nhạc vàng.

Phó Nhòm nói với lão:

– Đang lúc cần dũng mãnh chiến đấu, mà toàn là ẻo lả, sướt mướt, rã rời tinh thần. Thua là phải. Đúng là thứ nhạc mất nước, mất nhà, mất vợ. “Lênh đênh đài cao chiến hạm, anh ngồi nhìn sao rơi nhớ tới mắt em” thì còn đánh chác mẹ gì nữa.

Lão thở dài:

– “Phòng trà nghỉ chân nghe Thái-Thanh ca Biệt Ly” thì bây giờ được biệt ly thật, được lao động khổ sai, nghe quản giáo nó sỉ nhục. “Súng gươm từ đây sẽ thôi cách trở tình này” thì bây giờ có trại tập trung nó cách trở hữu hiệu hơn nhiều. Chưa nói tới ý chí. Đa số, ý thức chính trị cũng không có làm sao có thể chống được với cộng sản. Phải trách mình trước. Trách Mỹ sau. Thôi, chuyện đã rồi. Không bàn tới nữa. Đi ngủ.

– Ông bạn ngủ đi. Tôi còn viết thư cho “em”. Có giấy rồi.

Lão buông màn, ngủ tới khoảng bốn giờ sáng. Rồi tháo màn, ngồi luyện khí công như thường lệ. Một lúc, Phó Nhòm thức giấc. Gã đun nước pha trà. Mọi người có lẽ còn ngủ cả. Hai người ngồi uống trà, thuốc lá phì phèo. Lão thưởng thức hương trà thơm ngọt, thấm thía, tinh thần sảng khoái.

– Trong tù mà được những phút như thế này, thật là hãn hữu. Ở ngoài cũng chẳng mấy khi có. Lo kiếm sống tối mày, tối mặt. Có lúc nào thư thái. Ngồi đối ẩm với người tâm sự được, đáng quý lắm. Các cụ ngày xưa nói “Đối diện ẩm trà tất ngã thê” là vậy. Tôi nhận thấy, nếu không quá thiếu thốn, nhà tù chính là nơi gần gũi nhau hơn, đối xử với nhau tốt đẹp hơn. Người nào mới vào, cũng được coi như khách quý. Tôi ở đây chưa được hai hôm, mà cảm thấy thân thiết với mọi người. Ở ngoài xã hội, muốn thân với nhau, còn lâu. Ở buồng chung, ở trên trại, giành giật sự sống khiếp lắm. Do quá đói khổ, mất hết tình người. Xà lim ở các trại cũng vậy. Đúng là những nấm mồ câm lặng. Ai cũng đói rũ, cũng cùm kẹp đau đớn. Không ai buồn nói với ai.

– Cùng hoạn nạn, nên thương nhau. Đồng cam khó hơn cộng khổ nhiều. Nhưng khổ quá, thì con người thành con thú, cắn xé nhau. Ở đây, ngoài mụ Sài-Gòn, tất cả chỉ một tháng tiếp tế một lần. Ăn dè, cũng không đủ. Nhưng cũng không đến nỗi quá đói. Do vậy, tình người chưa mất. Rệp cắn ông bạn mẩn cả vai lên kìa.

– Rận, rệp là bạn đồng hành của tù. Không cách nào trừ nổi. Viết xong thư cho em chưa?

– Xong rồi. Yêu đương trong này chỉ để tiêu sầu thôi. Rồi ra, mỗi người một ngả. Họ dậy cả rồi. Chúng ta tập thể dục đi. Ở xà lim, ai cũng phải tập cả.

Gã đầu gấu hát ong ỏng:

Ngày chủ nhật buồn, còn ai, còn ai. Môi em nồng nàn…

Phó Nhòm chửi:

– Đ… mẹ chúng nó. Đương lúc chiến tranh chết chóc như thế mà lúc nào cũng môi em với vai em. Đúng là nhạc phản chiến ! Không hiểu chúng nó là cái giống gì?

Có tiếng giầy đi vào. Gã ra nghé, rồi mừng rỡ:

– Hôm nay, Ngưu-Ma-Vương nghỉ. Ông quản giáo người miền Nam coi thay. Ông này hiền như đất thó. Không hiểu sao chưa bị đuổi ra khỏi cái nghề cần độc ác, vô lương tâm này. Sớm muộn gì cũng bị chuyển ngành thôi.

Ông quản giáo đã nhiều tuổi, gầy xọm, vào mở cửa buồng lão trước tiên.

Phó Nhòm nói nhỏ:

– Hôm nay có thể tắm giặt được. Có gì mang tất cả ra giặt đi.

Hai người vào phòng vệ sinh độ hai mươi phút. Họ vẫn hà tiện, không lãng phí nước. Còn dành cho người khác dùng. Họ định vào buồng, thì ông quản giáo bảo:

– Các anh cứ ở ngoài sân một lúc cho thoáng.

Rồi ông vào mở cửa buồng bà Sài-Gòn.

Mấy khi được thoải mái như vậy. Phó Nhòm hứng khởi, chạy vòng quanh sân, trông rất thanh niên. Còn lão giơ tay, hít thở không khí ban mai tươi mát.

Ông quản giáo già ngồi vào bàn, hút liền hai điếu thuốc lào.

Nhìn ra cửa sân, ông nói với lão:

– Anh ra khép cái cửa lại. Họ nhìn thấy, bất tiện.

Phó Nhòm nhanh nhẩu chạy ra khép cửa.

Thấy ông quản giáo không uống trà, lão hỏi:

– Báo cáo cán bộ. Tôi có trà, có thể pha mời cán bộ được chứ ạ?

– Sáng nay, tôi quên không mang theo. Anh pha uống cho vui.

Lão vào lấy gói trà Ba-Đình, cắm nước sôi.

– Anh mới tới xà lim này à?

– Tôi mới tới hôm kia.

– Trông anh gầy lắm. Chắc tù lâu rồi?

– Tất cả hai mươi năm.

– Tội gì mà tù nhiều thế?

Lão kể đầu đuôi về lý do đi tù của lão.

Ông quản giáo già chép miệng:

– Anh thì ở lại miền Bắc năm 54. Tôi thì ra Bắc tập kết. Anh vợ bỏ. Tôi vợ chết năm 1969. Mãi tới thống nhất, tôi mới biết tin. Anh, con chết trong rừng Trường-Sơn. Tôi, con chết bên Căm-pu-chia. Tôi cũng sống một mình như anh. Tôi còn một năm nữa là về hưu.

– Cán bộ uống đi cho nóng.

– Cảm ơn. Anh uống đi. Mỗi người một số phận, anh ạ. Buồn phiền cũng vậy. Không giải quyết được gì. Tôi có người em là thiếu tá ngụy, hiện ở trại Tân-Lập. Nó cũng gầy như anh ấy. Anh chẳng muốn ở tù. Tôi chẳng muốn làm nghề coi tù. Nhưng vẫn phải làm.

– Gặp một quản giáo như cán bộ, tù chúng tôi cũng thấy an ủi lắm.

– Tôi cứ nghĩ cách mạng thành công rồi, tù sẽ giảm. Không ngờ lại tăng gấp bội. Các anh chắc thèm thuốc lào lắm, phải không? Hút tạm một điếu đi. Chiều, tôi sẽ đưa cho anh một gói, phân phát cho họ hút. Nhưng đừng nói với họ là tôi cho. Rách việc lắm.

– Chào cán bộ ạ.

Bà Sài-Gòn mang màn ra phơi, chào.

Lão đứng dậy:

– Cảm ơn cán bộ đã cho hít thở không khí ngoài sân.

– Uống xong trà, hãy vào.

Phó Nhòm chạy đã mệt, dừng lại, nháy mắt với lão.

Ông quản giáo mời bà Sài-Gòn:

– Chị uống trà với chúng tôi đi.

– Cảm ơn cán bộ. Tôi có trà. Xin phép cán bộ cho cắm nước sôi.

– Phép tắc gì. Cứ tự nhiên.

Bà Sài-Gòn mang ở buồng ra một ca nước, và một túi ni-lông gạo nếp rang, khoảng ba kí lô.

– Báo cáo cán bộ, tôi biếu anh Hai đây ít gạo nếp.

Lão vội vàng từ chối:

– Tôi không dám nhận đâu. Chị phải để mà dùng chứ.

Ông quản giáo cười vui:

– Chị ấy thấy anh còm, chị ấy cho. Tôi ra lệnh mang vào buồng!

Phó Nhòm xách túi gạo nếp rang vào. Lão bối rối cảm ơn, rồi đi theo.

Các buồng lần lượt ra, tắm rửa thỏa thích. Họ mở cửa gió buồng nhau ra, nhìn vào, chuyện trò tự do. Ông quản giáo già ngồi hút thuốc, uống trà, vẻ chán đời, không nói năng gì. Chiếc điếu cầy của ông rít lên liên tiếp. Dân nghiện, ai cũng muốn hút bằng điếu cầy có nước, cho nó mát phổi. Thuốc lào cuộn giấy báo hút nóng lắm. Ông cho họ thuốc, cho họ hút. Gã đầu gấu đứng ở cửa buồng người yêu thì thầm rất lâu.

Cô diễn viên kịch nói, giục:

– Hôn nhau đi!

Gã cười:

– Thử hôn rồi, nhưng song sắt to quá, khít quá. Môi không chạm nhau được. Chỉ đưa lọt ngón tay qua thôi.

Người yêu gã bảo:

– Ai anh cũng chửi. Nói nhiều lần, anh không nghe. Nhưng riêng ông chú mới vào, nếu anh chửi, em sẽ cắt đứt quan hệ đấy.

Gã vẻ thuần phục:

– Đời nào anh chửi ông chú. Anh còn bảo vệ là đằng khác. Kể cả lão ở cùng buồng ông chú làm ăng-ten, anh chỉ thỉnh thoảng cảnh cáo thôi. Lão ấy không sớ bẩm gì chuyện xà lim, nên anh không ra tay.

– Thôi, vào buồng đi. Không nên lợi dụng sự dễ dàng của ông quản giáo mà quá đáng. Phải nể ông ấy một chút.

Người yêu giục, gã mới chịu vào buồng.

Phó Nhòm ngong ngóng đợi cô buôn đô la ra. Gã đứng lom khom, áp mặt vào cái cửa gió to bằng hai bàn tay. Cô ca sĩ đi trước, gã cười chào xã giao. Tới lượt cô buôn đô la đi sau. Gã thò qua song sắt lá thư đã gấp gọn bằng bao diêm. Ả cầm lấy, giấu đi rất nhanh, rồi vào nhà vệ sinh.

Phó Nhòm mặt mày rạng rỡ:

– Bước đầu như thế là thắng lợi. Phải chuyển sang bước hai. Tấn công ào ạt.

Lão cười:

– Ông quản giáo này tốt thật. Các buồng, nam nữ nói chuyện với nhau như thế, mà cứ lờ tịt. Phải có sự thông cảm sâu sắc lắm, mới dễ dàng đến thế được. Trong đời tù, tôi cũng gặp vài ông tương tự. Tù quý trọng các ông ấy lắm. Kể cả tù lưu manh. Quả là gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Bản chất phải lương thiện vô cùng, mới giữ được vậy.

– Ông bạn thấy có nam, có nữ, vui hẳn lên, phải không?

– Đương nhiên. Đơn vị nhân loại không phải là một, mà là một cặp nam nữ. Tạo hoá sinh ra vậy rồi.

Phó Nhòm vẫn nghe ngóng. Thấy tiếng dép lẹp xẹp từ nhà vệ sinh đi tới, gã nhẩy ra cửa. Cô ca sĩ ra sân phơi quần áo. Cô buôn đô la xách bô, xách sô nước vào buồng, rồi trở ra. Qua cửa buồng, cô ta đứng lại.

Phó Nhòm mỉm cười:

– Cái nhẫn ngọc thạch đẹp quá. Có thể cho xem được không?

Cô ta thò ngón tay qua song sắt. Phó Nhòm nắm lấy ngón tay búp măng, vuốt ve, không muốn buông ra. Lão quay lưng đi…

– Ông bạn nhìn gì ngoài sân đấy?

Lão quay lại:

– Không, để cho anh chị tự nhiên thôi. Chúc mừng anh đã toại nguyện.

Phó Nhòm, mắt long lanh:

– Chưa đọc thư, đã quỵ rồi. Tôi dự tính không sai. Còn ông bạn sao cứ lạnh lùng thế. Hãy noi gương tôi. Tù lâu, tim hóa đá rồi sao?

Gã đầu gấu từ nẫy vẫn theo rõi, cười ha ha.

– Công nhận cưa của Phó Nhòm đúng là loại cưa Tiệp thứ thiệt. Xoẹt một cái, cưa đổ Nữ Thần Đô La ngay.

Cơm nước nhà bếp đã chia xong. Ông quản giáo già mở cửa từng buồng, cho ra lấy cơm, rồi khóa cửa khu xà lim, bỏ đi.

Gã trưởng phòng công ty hóa chất trầm trồ:

– Ông quản giáo già này đúng là một Găng-đi Việt-Nam. Đạo đức thực, chứ không đạo đức giả, đạo đức đóng kịch, như mấy vị tai to, mặt lớn tôi đã gặp khi họ tới thăm công ty tôi.

– Từ nay, chúng ta gọi ông là Găng-đi.

– Nhất trí, nhất trí.

Khoảng bốn giờ chiều, Găng-đi vào mở buồng, cho mọi người ra lấy cơm, lấy quần áo vào. Buồng lão ra trước tiên. Găng-đi đưa cho lão gói thuốc lào Thống-Nhất một lạng.

Lão cảm ơn:

– Cán bộ tốt quá. Anh chị em ở đây gọi cán bộ là Găng-đi Việt-Nam.

Ông quản giáo già cười hom hem:

– Tôi đâu xứng đáng như vậy. Đời tôi cũng đã đau khổ nhiều, nên thông cảm với đau khổ của người khác. Tôi thật lòng thương tù. Em trai tôi cũng tù mà. Nhìn suất cơm các anh, tôi ái ngại quá. Nhưng biết làm thế nào? Tôi không nói mầu mè đâu.

– Tôi thấy người miền Nam phần nhiều thật thà, thẳng thắn. Nhất là nông dân. Hồi năm sáu mươi, tôi ngồi ăn bánh xèo ở vỉa hè. Tôi hỏi bác già Nam bộ bán bánh cho tôi: “Bánh xèo trong Nam có làm giống thế này không?” Bác ta đốp chát: “Trong Nam mà làm bánh xèo thế này, chó nó cũng không thèm ăn”. Rồi bác kể bánh xèo trong Nam phải có nào là nước cốt dừa, nào là tôm…

Găng-đi cười:

– Đúng vậy. Nông dân Nam bộ nghĩ sao, nói vậy. Lúc đó, anh có giận không?

– Tôi còn thích thú là đằng khác. Tôi đang ngồi ăn bánh xèo của bác ta, mà bác ta lại độp vào mặt là bánh xèo đó, chó trong Nam cũng không thèm ăn. Ngay thật đến thế là cùng. Nhưng đó là sự thật. Tôi đâm quý bác ta. Từ đó, tôi hay ra ăn. Chúng tôi trở thành thân nhau. Cán bộ cho phép tôi đi phân phát thuốc lào.

Lão đi tới từng buồng, đưa thuốc lào cho mọi người.

Gã thượng úy bộ đội năn nỉ:

– Con không có lửa. Bố cho con viên đá. Con đói lắm. Bố có gì cho con ăn với.

Lão chạy vào buồng, lấy cái khuy gắn đá đưa cho gã, kèm thêm một cân gạo nếp rang. Lão tới các buồng nữ, cảm ơn những người cho lão quà mừng sinh nhật. Lão cho cô ca sĩ, cô diễn viên kịch nói, gã đầu gấu mỗi người một bao thuốc lá. Tới buồng bà Sài-Gòn, lão đưa cho bà một bao:

– Chị không nghiện. Nhưng mỗi ngày, sau bữa cơm, hút một điếu cho thơm, không hại gì đâu.

– Em nhận. Nhưng với điều kiện, từ nay em cho gì anh Hai cũng phải nhận. Anh Hai cho em địa chỉ cô em anh Hai. Em về, em sẽ tới thăm, gửi quà cho anh Hai. Liệu anh Hai có được tha không? Hai mươi năm rồi, còn giam đến bao giờ nữa. Độc ác quá vậy.

– Không có hy vọng gì. Công an ép tôi phải làm việc cho họ, hại người khác, mới thả. Tôi không chấp nhận. Họ cho tôi tí quà là để dụ dỗ tôi thôi. Không tốt lành gì cả. Tối nay, tôi sẽ ghi địa chỉ của em tôi đưa cho chị. Tôi rất xúc động trước lòng tốt của chị. Cảm ơn nhớ.

– Có gì mà ơn với huệ. Anh Hai cứ coi em như em gái anh Hai.

Lão giơ tay chào:

– Vâng, cảm ơn cô em.

Rồi vào buồng. Phó Nhòm cũng từ cửa buồng Nữ Thần Đô La trở về.

Gã tò mò:

– Ông bạn “khai hỏa” rồi phải không? Phản ứng của em ra sao? Tôi thấy hai bên có vẻ “hữu nghị” lắm.

Lão lắc đầu:

– Chị ấy tốt với tôi, tôi cảm ơn. Có gì khác đâu.

– Về phía tôi, kết quả vượt chỉ tiêu. Em hứa ra ngoài sẽ tìm tôi. Tôi cho em địa chỉ một thằng bạn. Em sẽ liên lạc với tôi qua nó. Em ly dị lâu rồi. Nhưng vợ tôi là con sư tử Hà-Đông, dữ tợn lắm.

– Thôi, chúng ta ăn đi, rồi uống trà. Ủ lâu cũng nguội mất.

Tối đến, cả xà lim tán tụng Găng-đi không tiếc lời. Mùi thuốc lào, thuốc lá thơm lừng. Phó Nhòm tràn đầy hứng khởi, đứng lên tuyên bố:

– Tối nay, chúng ta hát mừng thánh Găng-đi Việt-Nam. Tôi xin mở đầu với bài “Danube Bleu”, tức “Giòng Sông Xanh”.

Gã hát cả bằng tiếng Việt, lẫn tiếng Pháp. Mục đích là để trổ tài với Nữ Thần Đô La. Tiếp theo, gã hát bài “Trở Về Sô-ri-en-tô”, rồi kết thúc với bài “Lịch Sử Một Cuộc Tình”. Mọi người vỗ tay ầm ầm. Cô ca sĩ, cô diễn viên kịch nói, thay nhau hát, không mệt mỏi. Càng hát, càng bốc. Gã thượng úy bộ đội, no bụng, cũng đứng lên góp vui. Không ngờ giọng gã trầm và ấm đến thế! Cả xà lim ngạc nhiên. Gã hát một loạt bài cách mạng. Rồi kết thúc bằng ba bài dân ca Lào, vừa bằng tiếng Lào, vừa bằng tiếng Việt. Gã được hoan hô nhiệt liệt.

– Xà lim đã phát hiện một tài năng mới.

– Đã có một cặp song ca nam nữ tuyệt vời.

Gã tự phụ:

– Nếu tôi có ăn, tôi hát sẽ hay hơn nhiều. Đói hụt cả hơi. Chỉ hát được đến thế!

Gã đầu gấu mắng:

– Chưa gì đã giở giọng vòi ăn. Đồ mạt hạng.

Lão can:

– Thôi, từ nay xà lim là một nhà. Mọi chuyện cũ, bỏ qua hết. Chú mày ơi, đừng giận nữa. Rằng tài nên trọng, mà tình nên thương.

Phó Nhòm đứng lên tuyên bố bế mạc. Mọi người chuyện trò râm ran tới khuya. Chỉ im lặng, khi nghe tiếng giầy công an võ trang vào tuần tra.

Lão nói với Phó Nhòm:

– Bắt đầu đêm nay, tôi dạy anh khí công.

Gã cười:

– Cảm ơn ông bạn. Tôi phấn chấn quá, chưa học nổi. Đợi mấy hôm nữa. “Vitamine E” công hiệu thực.

– Vậy chúng ta làm một điếu. Tôi đi ngủ. Còn anh nằm nhấm nháp khoản “Vitamine E”. Không biết em bên kia có nằm nhâm nhi khoản “Vitamine A” không?

– Em đa tình lắm. Mắt lúc nào cũng long lanh là nhờ có “Vitamine A” do tôi cung cấp đấy. Thôi ông bạn ngủ đi. Tôi còn phải mơ màng…

Ngày qua ngày, lão ở xà lim thấm thoát đã hai tuần. Lão không xin gặp tên cục trưởng. Lão biết khi khước từ sự cộng tác với công an, cánh cửa nhà tù sẽ tiếp tục khép chặt. Lão đã tỏ rõ lập trường ngoan cố, không chịu phục vụ cách mạng. Lão thở dài. Không còn lựa chọn nào khác. Phó Nhòm đối với lão đã trở thành một người bạn tâm tình. Lão thấy gã có học vấn, thẳng thắn, tốt bụng và rất ghét chế độ. Gã cứ tiếc rẻ: “Giá miền Nam mà giải phóng miền Bắc thì tốt biết bao!” Từng ở trong Đảng nhiều năm, gã khẳng định guồng máy độc tài này chỉ mang lại tai ương cho dân tộc. Từng được đi ngoại quốc, gã khẳng định kẻ nào đã sống trong chế độ, đã được nhìn thấy thế giới, với tất cả cái tốt, cái xấu của nó, mà còn chấp nhận được chế độ, thần kinh kẻ đó phải có vấn đề.

Em gái lão đã gửi quà cho lão. Kèm theo một lá thư khuyên lão hãy đón nhận sự “mở đường” của Đảng. Xem thư, lão lắc đầu. Chúng nó vận động cả cô em lão, để lung lạc lão. Quà chỉ có mấy cân mì rang, vài lạng đường Cuba, ít muối vừng. Mang tiếng là có tiếp tế, mà không có gì đáp lại những người cho quà mình. Lão áy náy. Phó Nhòm an ủi:

– Họ cũng biết ông bạn nghèo. Chẳng ai nhỏ nhen, để ý đâu. Mụ Sài-Gòn cho ông bạn nhiều thực. Trông ông bạn đã bắt đầu có da, có thịt rồi đó. Trẻ hẳn lại.

– Biết vậy, nhưng tôi vẫn thấy ngượng. Thường tình, có đi, có lại, mới toại lòng nhau.

– Cả xà lim này, ai chả biết ông bạn rộng rãi. Riêng khoản thuốc lào, thuốc lá, nếu ông bạn đổi chác, cũng đủ no hàng tháng là ít. Gã thượng úy bộ đội cũng được ông bạn chia xẻ. Ai cũng phục ông bạn.

– Nó không biết ăn dè như mọi người. Cứ hỏi xin tôi luôn. Nghĩ cũng khổ tâm.

Một buổi chiều, cơm nước xong, Ngưu-Ma-Vương mở cửa buồng, bảo lão:

– Anh thu xếp nội vụ. Chuyển sang buồng 1.

Phó Nhòm tái mặt. Hai người ở với nhau đang hợp, đang vui. Gã thấy bàng hoàng. Gã chưa quen với cảnh bạn bè chia tay đột ngột trong tù. Lão thu xếp đồ đạc, chuyển sang buồng 1.

Gã thượng úy bộ đội hớn hở:

– Bố ở với con. Con sẽ hầu hạ bố, đấm bóp cho bố.

– Buồng này gần nhà vệ sinh, ẩm mốc, hôi hám quá. Mai phải báo cáo cán bộ, xin cọ rửa.

– Nếu được phép, mai để con làm. Bố già yếu rồi, cứ nghỉ ngơi. Con còn thanh niên. Con xin xốc vác hết.

– Mày năm nay bao nhiêu tuổi?

– Con ba mươi mốt.

– Bị bắt lâu chưa?

– Mới mười tháng. Con bị nhốt mấy tháng ở Bất-Bạt, trại giam quân đội. Không hiểu sao lại chuyển về đây. Trại quân đội đỡ hơn. Ở đây đói quá.

Gã đầu gấu kêu:

– Ông chú ơi, ông chú ở buồng ấy là buồn rồi.

– Vẫn cùng xà lim. Xa hơn có bốn thước. Không buồn đâu.

– Thằng thượng úy, mày mà hỗn với ông chú, thì biết tay tao.

Phó Nhòm nói sang:

– Ở với nhau đang vui. Ông bạn chuyển sang đó. Chán quá.

– Anh em hiểu nhau là đủ. Xa một chút, không sao.

Gã thượng úy nhìn lão:

– Con đói quá. Bố có gì cho con ăn với.

Lão ngạc nhiên:

– Hôm kia, tao mới cho mày một cân mì rang. Đã hết rồi?

– Con ăn một lúc hết ngay.

– Ăn lối đó, không được. Phải chia ra mà ăn. Cốt cầm cự, giữ sức khỏe. Không nên ăn cho đã. Tao về đây, nếu hàng tháng được tiếp tế vài cân mì rang, là may rồi. Trên trại, đường xá xa xôi, cô em chỉ tiếp tế vào dịp tết thôi. Tù còn dài, phải chịu đựng cái đói, cái khổ, cho quen đi.

Lão pha một ca nước đường, rồi bốc vài nắm mì rang cho gã. Lão cũng bốc vài nắm, để lên miếng các-tông lão vẫn dùng làm quạt.

– Bố không uống à?

– Mỗi ngày chỉ uống một lần. Tao uống rồi.

Gã nốc một hơi hết ca nước. Rồi bốc mì, nhai ngấu nghiến. Vài phút hết sạch.

– Mày can tội gì?

– Con đóng quân ở Lào. Con phụ trách chở lương thực sang Thái, giúp du kích Thái. Con ăn tiền, đưa người vượt biên. Được mấy chuyến thì bại lộ.

– Sao không ai tiếp tế cho mày?

– Bố mẹ con đã chết. Con chưa có vợ. Có một ông anh, thì đã trốn sang Úc.

– Mày đi bộ đội từ năm nào?

– Con đi bộ đội từ năm 17 tuổi. Con phải khai man thành mười tám. Quê con ở Thái-Bình. Mang tiếng là vựa thóc, là “Quê hương năm tấn”, nhưng đói lắm. Bình quân, mỗi đầu người hàng tháng chỉ được chín cân gạo. Bố tính, sức thanh niên chúng con, kể cả con gái, phải ăn mỗi ngày một cân gạo mới tạm no. “Mười bảy bẻ gẫy sừng trâu” mà. Hàng năm đi thủy lợi, mỗi người phải góp một cân gạo mỗi ngày. Thế mà phải ăn như rồng cuốn. Ai ăn chậm thì đói. Để con kể cho bố nghe. Năm đó, có con bạn cùng xóm. Nó đem dăm lạng cá mòi khô đi thủy lợi. Sau mười ngày, lại mang nguyên về. Bọn chúng con cười vỡ bụng. Số là, nếu ăn cá nhằn xương, chậm chạp, thì cơm sẽ bị mấy cô bạn cùng mâm ăn hộ bớt. Thành thử, không dám đụng tới cá. Chúng con hát giễu cô ta: “Cá đi rồi cá lại về”, làm cô ta xấu hổ, đỏ cả mặt. Con đói từ bé. Còn nhớ năm con mười tuổi, một buổi tối, bố con nằm ở chõng, cứ thở dài sườn sượt. Một lúc, bố con chửi: “Mang rổ khoai luộc mẹ nó đi. Sáng mai nhịn cũng được”. Con sướng quá, bê rổ khoai, nhảy vọt qua bậc cửa, bị vấp ngã, gẫy mất cái răng cửa. Từ đó bạn bè gọi con là thằng sứt. Cái răng sứt vẫn còn đây.

Gã cười, nhe răng cho lão xem.

Lão vét nốt mấy sợi mì, uống một ngụm nước.

– Thế mày trúng tuyển bộ đội ngay?

– Vâng, được biết trúng tuyển, con mừng hơn mẹ con sống lại. Thế là hết cảnh đói mòn, đói mỏi. Mấy đứa gầy yếu quá bị loại, buồn như cha chết. Có đứa khóc.

– Hồi đó, chúng mày có biết đi B, chết rất nhiều không?

– Chúng con biết chứ. Trai làng bao đứa đã vong mạng. Hai thằng em họ con cũng đã chết ở Khe-Sanh.

– Chúng mày không sợ chết à?

– Chẳng đứa nào sợ cả. Cái đói triền miên đáng sợ hơn nhiều. Bố bảo, đi bộ đội, chết chưa thấy đâu, đã thấy no trước mắt. Hai mốt cân gạo, một cân rưỡi thịt, một cân đường, mỗi tháng. Nghe trên thông báo tiêu chuẩn đó, chúng con thèm rỏ rớt, rỏ dãi. Cứ như là một giấc mơ ấy. Chiến đấu dũng cảm được thăng chức lên sĩ quan. Tiêu chuẩn còn cao hơn nữa. Hơn đi thanh niên xung phong nhiều.

– Mày có ở Căm-pu-chia bao giờ không?

– Có chứ. Năm 79, con tiến công Căm-pu-chia theo đường Lào. Con gái Lào, Căm-pu-chia dễ dàng lắm, bố ạ. Nói thật với bố, hồi ở Căm-pu-chia, con ăn cả gan người. Thấy nói bổ lắm.

– Gan tươi hay gan khô?

Gã tiếc rẻ:

– Con chỉ mới được ăn gan khô thôi. Mấy thằng bạn con, chúng ăn gan tươi. Moi từ trong bụng ra, nhắm rượu luôn. Kể cũng tàn bạo.

– Mày không chết là may mắn lắm đó. Năm bảy mươi nhăm, tao xem báo Nhân-Dân. Ông Chế-Lan-Viên nói là tổng số hơn ba ngàn cán bộ gửi vào hoạt động ở Lâm-Đồng, chỉ có ba mươi người sống sót. Một tướng công an nói là cứ bốn mươi xe tải, mà một vào tới đích, coi như thắng lợi.

– Đúng vậy, bố ạ. Chết nhiều lắm. Đủ thứ chết. Chết bom đạn. Chết bệnh tật. Chết tai nạn, rơi xuống vực. Cánh vận tải chết vô số. Nhưng có hy sinh thế, mới thắng lợi.

– Mày đã vào đảng chưa?

– Con vào đảng lâu rồi. Không phải là đảng viên, làm sao lên được thượng úy.

Lão đứng dậy:

– Thôi, tao đi lại vận động một chút. Mày tham gia ca nhạc với xà lim đi cho vui.

Lão vừa đi lại trên sàn nằm, vừa nghe hát. Khi chương trình kết thúc, lão ngồi xoa bóp toàn thân, rồi luyện khí công.

– Hút thuốc đi bố.

– Mày hút thuốc lào hay thuốc lá?

– Bố cho con thuốc lá.

Hút hết điếu thuốc, gã hỏi:

– Bố có gạo nếp phải không? Bà Sài-Gòn mới cho bố mà. Kể bố cũng có duyên đấy chứ. Bà ta mê bố như điếu đổ.

– Đừng nói nhảm. Bà ta thương hại, bà ta cho thôi.

– Bố để con nấu cơm nếp ăn bây giờ nhá.

Lão ngạc nhiên:

– Lấy gì mà nấu? Xoong, nồi đâu?

– Con nấu bằng cái bô. Con đã cọ sạch sẽ. Xé cái chăn này ra để đun.

Lão cau mặt:

– Nấu bằng bô? Kinh tởm thế, nuốt sao được. Mà ngay có xoong nấu, cũng không nấu được. Mày muốn cùm à? Chúng tao đun hai ly con nước pha trà, mất độ vài phút là sôi, cũng phải có người đứng canh. Thổi cơm nếp, ít nhất mất nửa tiếng. Mùi chăn cháy khét lẹt. Cả Hỏa-Lò ngửi thấy. Làm sao đun nổi. Chúng nó bắt được sẽ kết tội phá hoại tài sản nhà nước. Nếu mày thèm quá, mai tao sẽ nhờ nhà bếp nấu giúp. Thôi, ngủ đi.

Sáng hôm sau, Ngưu-Ma-Vương cho phép lão cọ buồng. Hai người ra sức cọ rửa trong vòng mươi phút. Mùi hôi đỡ hẳn.

Lão nói:

– Mình phải cố giữ vệ sinh tới đâu hay tới đó. Muốn trụ được với nhà tù là phải thế.

Gã thượng úy bộ đội lôi từ gầm sàn ra một túi ni-lông toàn vỏ bưởi, vỏ chanh, vỏ chuối, lá bánh, nhồm nhoàm nhai.

Lão ghê sợ, ngăn lại:

– Không ăn được! Mày lấy ở trong cầu tiêu ra, phải không? Thằng này hỏng. Không thể tưởng tượng nổi! Cái thùng cao su đó chứa giấy chùi đít, giấy vệ sinh phụ nữ. Thế ra hằng ngày, mày vẫn moi những thứ này từ cái thùng đó ra ăn. Mày muốn chết đấy. Gói ngay lại. Chiều, vất đi hết. Đây, tao cho ít mì rang.

Gã len lét gói tất cả lại, vất vào gầm sàn.

Lão cảnh cáo:

– Bận sau mày còn ăn bẩn, ăn thỉu thế nữa, tao sẽ báo cáo quản giáo, và cắt, không cho mày một thứ gì nữa. Kể cả thuốc lào.

Tối hôm đó, ngồi bình tĩnh, lão giảng giải:

– Tao thương mày, tao mới đối xử như vậy. Tao định tới khi hết mì rang, mới ăn tới gạo nếp. Nhưng thấy mày thèm quá, tao cũng nhờ nhà bếp nấu. Kẹo, bánh, đường, mì rang, muối vừng, tao dùng thứ nào, mày dùng thứ ấy. San sẻ đều. Tao biết, ăn thế không thấm tháp gì với mày. Kể cả với tao, cũng còn thiếu. Gọi là đỡ đói đôi chút. Chúng ta không có nhiều. Biết làm thế nào? Ăn căng rốn ra, hai ba hôm hết. Rồi cả tháng nhịn. Ăn kiểu ấy, không có lợi cho sức khỏe. Ốm đau trong tù, lại không có thuốc. Tao rất thông cảm. Tao tù hai mươi năm rồi. Tao quen với đói khổ hơn mày. Nhưng mày cũng cố luyện dần đi, để thích ứng với hoàn cảnh sống trong tù. Tội mày, ít nhất cũng phải năm, bảy năm. Sau này đi trại, nếu vì đói, mà cứ gặp cái gì, ăn cái ấy, sẽ chết rất nhanh. Tuổi mày còn trẻ, phải cố mà sống. Hãy suy nghĩ kỹ lời tao nói: “Ăn để sống, chứ không phải để chết”.

– Con đâu muốn ăn những thứ dơ dáy đó. Con cũng là một con người. Một quân nhân cách mạng. Con có danh dự. Nhưng con đói quá. Không kiềm chế nổi.

– Tao hiểu. Trận đói năm bốn nhăm, chính mắt tao nhìn thấy, nhiều người còn ăn bậy hơn mày. Có trường hợp ăn cả thịt người chết. Bên Trung-Quốc, những năm đói, nhiều ông bố, bà mẹ không nỡ ăn thịt con mình, phải trao đổi con với người khác để ăn. Nhưng chúng ta không đói đến mức như họ. Họ không có thứ gì để ăn cả. Chúng ta vẫn có ba lạng gạo hẩm một ngày. Tuy chỉ còn xương da, nhưng vẫn sống trong nhiều năm. Tao không nói chuyện danh dự với mày. Chuyện cách mạng lại càng không muốn nói. Cả một thực tế bi thảm không mở mắt được mày. Vài lời nói của tao, ăn thua cái gì? Tao chỉ muốn nhấn mạnh một điều, đó là cái mạng sống của mày. Muốn giữ được nó trở về, tuyệt đối không được ăn uống bừa bãi, mất vệ sinh. Cách duy nhất để chống lại sự hành hạ của cái đói là không nghĩ tới nó. Cứ nhắm mắt luyện khí công như tao là quên đi. Mày xem, gã đầu gấu, cô ca sĩ, cô buôn đô la, và mấy người không có tiếp tế khác. Họ có no gì hơn mày đâu. Thỉnh thoảng được người ta cho, chẳng qua vài cái bánh, vài cái kẹo. Họ có cào cấu như mày đâu. Phải học tập họ.

– Vâng, con sẽ hạ quyết tâm.

– Không quyết tâm, cũng không có cách nào khác để no. Càng hành hạ mình thôi.

Phải sống với gã thượng úy bộ đội, lão ngán quá. Gã không biết chuyện gì để nói. Lúc nào cũng hau háu nghĩ tới ăn.

Một hôm, thấy bà Sài-Gòn có tiếp tế, gã háo hức:

– Bố xin bà ta ít gạo nếp rang, ít thịt đi. Con thèm thịt quá.

Lão buồn rầu:

– Người ta cho, tao còn không muốn nhận. Làm sao tao có thể nhục nhã xin xỏ được.

– Bố không nên sĩ diện. Bà ta quý bố lắm. Bố hỏi là được ngay thôi.

– Tao đã bảo không là không.

Gã nằm dài ra, tiu nghỉu.

Sáng hôm sau, vừa ra vệ sinh xong, Ngưu-Ma-Vương gọi lão đi cung.

Vẫn căn phòng cũ. Tên cục trưởng và hai thanh niên phụ tá ngồi ở bàn. Y chỉ ghế, mời lão ngồi. Qua mấy câu xã giao vô nghĩa, y vào đề:

– Chắc anh đã suy nghĩ kỹ đề nghị của tôi. Hôm nay, tôi muốn biết ý kiến của anh.

Lão ôn tồn:

– Vâng, tôi đã nghĩ kỹ. Tôi thấy, tôi không thể làm việc cho công an.

Y hơi ngạc nhiên:

– Anh cho tôi biết tại sao?

– Thời trẻ đi lính, tôi chỉ biết cầm súng, xông pha trận mạc một cách vô ý thức. Tôi không bao giờ để ý tới chính trị. Giờ đây, sau hai mươi năm tù, tôi chán nản lắm, chỉ muốn sống yên, làm một người dân thường. Nếu tôi có ý định bay nhẩy, thì năm bảy tám, tôi đã vượt biển. Một là thoát, hai là chết chìm rồi. Đâu có nằm tù thế này.

– Anh không muốn phục vụ cách mạng, lập công, chuộc tội?

– Tôi xin nói thẳng. Tôi không có tội gì, mà phải chuộc. Năm 54, theo lời kêu gọi của cách mạng, tôi không đi Nam. Tôi chưa hề có lời nói, hoặc hành động nào chống chế độ. Các ông có quyền. Bỏ tù tôi. Tôi phải chịu. Bây giờ, các ông tha cũng được. Tiếp tục giam cũng được. Tôi không có khả năng quyết định số phận của tôi.

– Anh cho cộng tác với chúng tôi là trái lương tâm?

– Ngành an ninh nước nào cũng có. Từ trẻ, tôi đã không thích nghề đó. Xã hội trăm nghề. Mỗi người hợp với một nghề. Khi không yêu nghề, thì không thể làm việc tốt được. Do đó, tôi không nhận đề nghị của ông. Hơn nữa, ngành an ninh không phải là một ngành an toàn. Nhất là với một người có lý lịch như tôi.

– Không an toàn? Anh nói, tôi không hiểu. Hãy giải thích kỹ hơn.

– Tôi nghĩ nghề công an, cũng như nghề chính trị, đều không an toàn. Những người muốn sống an phận như tôi, không ai muốn tham dự. Trước kia bao ông làm chính trị thân Nga đã bị bắt. Bây giờ, lại đến lượt những ông thân Trung-Quốc vào tù. Còn công an, tôi đã gặp nhiều ông trong trại giam. Kiên trì cách mạng như họ mà còn phạm sai lầm, nằm tù. Huống hồ tôi, một “đại úy ngụy”.

– Tóm lại, anh không chấp nhận đề nghị của chúng tôi?

– Vâng, tiếc rằng tôi không thể chấp nhận.

Y đứng dậy, lạnh lùng:

– Thôi, anh về. Anh muốn tiếp tục ở tù, khước từ sự mở đường của chúng tôi. Chúng tôi sẽ cho anh toại nguyện.

– Tôi đã nói, tôi không có khả năng quyết định số phận của tôi. Quyết định thế nào là ở các ông.

Trở lại xà lim, lòng lão buồn. Nhưng lương tâm lão thanh thản. Thế là sự lựa chọn đã dứt khoát.

Ngưu-Ma-Vương cho các buồng ra lấy cơm. Lấy túi muối vừng ra, lão thấy vơi đi tới một phần ba. Gói mì rang, gói đường cũng vậy.

Lão hỏi gã thượng úy bộ đội:

– Mày ở buồng, ăn mì rang, muối vừng, đường phải không?

Gã chối:

– Không, con không hề đụng tới túi quà của bố.

Lão giận lắm:

– Mày không chối được. Tao buộc dây theo một kiểu riêng. Không buộc thế này. Tao có gì, cũng chia sẻ đều với mày. Đối xử thế, mà vắng tao, mày còn ăn vụng. Từ nay, tao không cho mày cái gì nữa.

Suốt ngày hôm đó, lão không cho gã ăn, gã hút, không nói với gã nửa lời.

Buổi tối, xà lim ca hát, chuyện trò, gã nằm lì, mặt lầm lầm. Lão ngồi luyện khí công đều đặn. Mắt nhắm lại, tinh thần thư giãn.

Gã đột nhiên ngồi dậy, chửi đổng:

– Tiên sư nó. Tao sẽ cướp, tao ăn. Tao còn dần cho tan xác nữa. Báo cáo cán bộ, tao cũng không sợ.

Lão mở mắt, nhìn gã:

– Mày chửi tao? Mày nói mày cướp, mày ăn? Tao hứa sẽ không báo cáo cán bộ. Nếu mày dám sờ vào túi tiếp tế, hoặc chửi xỏ xiên một câu nữa, tao sẽ cho mày gẫy thêm vài cái răng cửa. Mày thử ngay đi. Xem tao có làm đúng lời tao nói không. Loại như mày mà cũng học đòi trấn lột!

Thấy mắt lão long lên, gã im lặng. Một lúc, gã nằm xuống, ngủ vật, mồm há hốc. Nhìn khuôn mặt vêu vao, nhìn thân hình da bọc xương của gã, lão thở dài.

Sáng hôm sau, Phó Nhòm báo tin mừng:

– Hôm nay, thánh Găng-đi coi.

Lại một dịp may hiếm có. Các buồng ra làm vệ sinh, mở cửa gió, nói chuyện với nhau thỏa thích. Ai đi qua buồng lão cũng đứng lại hỏi thăm việc về ở. Nghe lão kể lại cuộc đi cung hôm qua, Phó Nhòm tán thưởng:

– Ông bạn hành động đúng lắm. Đành phải hy sinh thôi. Vắng ông bạn, nằm một mình, buồn lắm. Không còn được trà thuốc bù khú với nhau nữa.

Gã đầu gấu tuồn ít thuốc lào qua song sắt:

– Đàn em cháu lén gửi cho cháu, nhiều lắm. Hút hết, ông chú cứ nói.

– Tao vẫn còn thuốc.

– Ông chú cứ giữ lấy.

Gã chừng mắt nhìn gã thượng úy bộ đội:

– Mày được ở với ông chú, có ăn, có hút là phước tổ nhà mày đấy. Không hầu hạ ông chú tử tế, tao cắt cổ.

Bà Sài-Gòn nhìn vào buồng lão hỏi:

– Hôm qua, anh Hai đi cung, kết quả thế nào?

Lão tươi cười:

– Chắc chắn là còn tù. Họ nói thẳng vào mặt tôi như vậy.

Bà ta buồn rầu:

– Chúng nó khốn nạn thực. Anh Hai từ chối là phải. Thà chết, chứ đời nào đi giúp chúng nó. Ở đây hôi quá. Em cho anh Hai lọ dầu thơm.

– Cám ơn cô em. Sau này, nếu được về, thể nào cũng phải vào Sài-Gòn, ăn với vợ chồng cô em một bữa cơm.

– Anh Hai sẽ là thượng khách của gia đình em. Em sẽ mua vé tầu cho anh Hai.

Đến lượt buồng lão ra. Găng-đi đưa cho lão một gói thuốc lào như lần trước. Thêm một gói trà Hồng-Đào:

– Biếu riêng anh gói trà này. Còn thuốc lào, chia cho họ.

– Cán bộ lương lậu có là bao. Không nên cho chúng tôi. Thấy cán bộ là xà lim vui rồi.

– Dù sao, ở ngoài cũng hơn ở tù. Cứ cầm lấy, nhớ kín đáo.

Bà Sài-Gòn báo cáo xin phép cho lão ít quà.

Găng-đi nheo mắt cười:

– Tình cảm quá nhỉ.

Lão vội nói:

– Chúng tôi coi nhau như anh em.

Lão đi các buồng, phát thuốc lào cho mọi người. Tới buồng người yêu gã đầu gấu, lão đùa:

– Liệu sau này có đi tiếp tế cho nó được không? Muốn làm Tô Thị vọng phu hả?

– Nhất định cháu sẽ đi. Cháu thương anh ấy lắm.

– Thằng ấy có chí khí đấy.

Cô diễn viên kịch nói bĩu môi:

– Ở đây thì chỉ non, thề biển. Ra ngoài gặp chàng khác, là cho rơi ngay. Rồi xem có đúng thế không.

Cứ hôm nào Găng-đi thay Ngưu-Ma-Vương là xà lim hệt như ngày hội. Một trái tim tốt có thể xoa dịu được nhiều khổ đau, oan trái. Chẳng trách Beethoven phải nói: “Ngoại trừ lòng tốt, tôi không thừa nhận một thứ ưu việt nào khác”. Victor-Hugo cũng khuyên con gái: “Con hãy sống tốt. Lòng tốt hàm chứa tất cả, con ạ”.

Buổi tối, sau khi nghe xà lim ca hát xong, lão lấy ít quà bà Sài-Gòn cho ra ăn. Gã thượng úy bộ đội nằm dài trên sàn, mặt buồn thỉu, nghĩ ngợi.

Khi lão buộc gói quà lại, gã quỳ phọp, gục đầu xuống sàn:

– Con lạy bố, bố tha tội cho con. Bố muốn đánh chửi con thế nào, con cũng xin chịu. Con xin bố.

Gã cứ quỳ gục đầu như vậy. Lão nhìn gã lòng đau xót vô hạn. Cái đói có thể hạ nhục con người đến thế này sao? Lão buồn rầu:

– Mày ngồi dậy đi. Không nên làm thế.

Gã nói như khóc:

– Nếu bố không tha tội cho con, con sẽ quỳ suốt đêm.

– Ngồi dậy. Tao đâu có chấp với mày.

Gã ngồi lên, vẻ ăn năn:

– Ở đây ai cũng khinh con. Chỉ có bố là thương tới con, coi con như con. Con láo, mong bố tha thứ cho.

Lão chỉ vào túi quà:

– Tao hiểu. Mày lạy túi quà này. Chứ không phải lạy tao. Tao cũng chỉ định phạt mày một hôm. Nhưng mày đói quá hóa rồ, chửi tao, đe dọa tao, đòi trấn lột, tao mới cắt, không cho mày ăn. Ở cùng buồng, cùng cảnh tù tội, tao ngồi ăn, nhìn mày nằm đói, nuốt khó trôi lắm. Từ nay, tao cho cái gì, được cái ấy. Cấm xin xỏ, đòi hỏi.

Lão mở túi, lấy cho gã ít xôi đậu xanh, mấy miếng giò, một bánh khảo.

Gã rối rít:

– Con xin bố, con xin bố.

Đợi gã ăn xong, lão cuộn thuốc lào cho gã hút. Rồi bằng một giọng chân tình, lão khuyên:

– Sau này thành án, mày sẽ phải đi trại. Mày là đảng viên, có thể mày sẽ được ưu tiên làm một việc nào đó no bụng. Nhưng sống với lưu manh, rất khó. Nếu muốn không bị đập chết, hoặc bị đánh thành thương tật suốt đời, nhất thiết phải sống lương thiện. Xì xọt, bẩm báo, trộm cắp lặt vặt là điều tối kỵ. Chết như bỡn. Nếu được làm toán trưởng, nhớ đừng bao giờ đàn áp, cưỡng bức toán viên lao động để lập công. Chúng sẽ cho mất mạng ngay. Không quản giáo nào che chở nổi cho mày đâu. Mày sống với bạn tù là chính. Chứ không phải với cán bộ. Mày đâu phải là đối thủ của những tay anh chị sừng sỏ. Chúng là những tay đao búa. Đâm chém là chuyện cơm bữa đối với chúng. Dù mày có to khỏe, có võ nghệ, cũng vô ích. Chúng sẽ đánh du kích. Đánh bất cứ lúc nào. Lúc ăn, lúc ngủ. Bất thình lình. Làm sao đỡ nổi. Tao ở tù hai chục năm, tao đã chứng kiến, những bộ đội đặc công, những dũng sĩ diệt Mỹ, tất cả đều len lét, sợ chúng một phép. Không dám ho he. Đơn giản là bởi chúng rất hung dữ, liều lĩnh, coi chuyện sống chết không là cái gì. Mày phải ghi nhớ lời tao, mới mong tha được xác về.

– Vâng, từ nay con xin ghi nhớ những lời dạy bảo của bố.

Cuộc sống cứ trôi đi. Lão ở xà lim đã được gần ba tuần. Lão dạy khí công, dạy luân lý cho gã thượng úy bộ đội, bắt gã góp vui ca hát. Mục đích giúp gã quên cái đói. Gã tấn tới trông thấy. Không còn nằm ườn ra, ngày đêm nghĩ tới ăn.

Một sáng, xà lim đón hai khách mới. Đó là hai phụ nữ. Một trung niên, một trẻ măng. Nhìn thấy hai người đi vào hành lang, lão biết ngay mụ trung niên là một ăng-ten. Nội vụ mụ lỉnh kỉnh, tay xách, nách mang. Mắt mụ lơ láo nhìn quanh. Trong khi cô gái trẻ nước mắt đầm đìa, ôm một túi con quần áo.

Khi Ngưu-Ma-Vương có việc, vắng mặt một lúc, gã đầu gấu hỏi:

– Bà cô mới vào bị bắt lâu chưa?

– Cô mới bị bắt sáng nay.

– Số giam bà cô bao nhiêu?

– X 1025.

– Còn cô em đừng khóc nữa. Cũng mới bị bắt, phải không?

– Em cũng bị bắt sáng nay.

– Nhớ rằng nội quy ở đây cấm không được tâm sự, kể lể tội trạng mình với ai. Vi phạm là cùm đấy.

– Cảm ơn anh. Em sẽ giữ đúng nội quy.

Lão nghĩ thầm: “Thằng ranh con này thông minh thật. Tiếc rằng không được ăn học. Số giam của lão là Z4257. Số giam của mụ này là X1025. Rõ ràng mụ đã bị bắt từ lâu, vào một năm nào đó, không phải năm nay. Con bé mới vào ngờ nghệch lắm. Phải tìm cách bảo rõ cho nó biết, để nó đề phòng. Gã đầu gấu báo động thế, chắc nó chưa hiểu gì cả.”

Lão đứng lên, gỡ một đoạn dây sắt han gỉ trên lưới sắt đã rách, căng ở phía cửa sổ sau, trên cao. Lão luồn đoạn dây sắt đó qua khe cửa gió, nhẹ nhàng cậy cái chốt gỗ phía ngoài. Cánh cửa gió chỉ cần đẩy nhẹ một cái là có thể mở. Lão đợi buồng mụ mới vào ra làm vệ sinh. Nhưng cô gái đi trước. Mụ đi liền sau. Chưa tiện nói. Lão kiên nhẫn, đợi hai người đi ra. Lần này, mụ ta xách sô nước ra trước. Lão gật đầu chào xã giao. Một phút sau, cô gái cầm khăn mặt, bàn chải, thuốc đánh răng, đi ra. Lão lấy tay ra hiệu. Cô gái dừng lại, nhìn lão.

Lão nói nhỏ:

– Cháu tuyệt đối không được nói với người cùng buồng những gì cháu định giấu không khai. Nguy hiểm đấy. Biết không?

Cô gái gật đầu:

– Cảm ơn chú đã bảo cháu.

Lão giục:

– Cháu đi đi.

Tới buồng gã đầu gấu ra vệ sinh. Thấy cửa gió mở, gã nhìn vào, nói:

– Ông chú phải bảo con bé mới vào cẩn thận. Mụ nằm cùng với nó là ăng-ten đấy.

Lão cười:

– Yên tâm. Tao vừa nhắc nó rồi. Đóng cửa gió lại hộ tao.

– Ông chú làm cách nào mà mở được nó thế?

– Lấy một đoạn sắt ở lưới sắt, bẻ như móc câu, luồn qua, giật cái chốt xuống là xong.

– Ông chú sáng kiến đấy. Cháu phải học tập.

– Mày phải cảnh cáo mụ mới vào. Nó bẩm báo chuyện xà lim thì mất vui.

– Ông chú yên chí.

Gã đóng cửa gió lại.

Buồng lão ra vệ sinh sau cùng. Lão và gã thượng úy tranh thủ tắm. Phải giội nước rất khẽ, để Ngưu-Ma-Vương không nghe thấy! Hắn còn đương bận khám tiếp tế của giặc lái.

Khoảng năm giờ sáng, bốn công an vũ trang rầm rập mở cửa xà lim, mở cửa buồng gã, khóa tay, bịt mắt gã lại, rồi tháo cùm đưa gã đi. Gã gần như ngất sỉu, không bước nổi. Hai công an vũ trang phải xốc nách gã, lôi xềnh xệch.

Liền mấy hôm, xà lim không ca hát.

Rồi cuộc sống cũng trở lại bình thường.

– Xà lim nghiêm cấm hút thuốc. Năm bao Điện-Biên này, tịch thu.

– Báo cáo Ban, cháu tử hình, Ban chiếu cố cho.

– Nội quy là nội quy. Không chiếu cố gì hết. Xách quà vào buồng.

Tiếng gã giặc lái nổi nóng:

– Tôi là thằng sắp dựa cột. Đã cùm, không được gặp gia đình thì chớ. Mấy gói thuốc vợ gửi cho, ông cũng thu nốt.

– Không lải nhải, vào!

– Tôi không vào, nếu ông không trả lại chỗ thuốc đó.

– Thằng này láo. Được, mày sẽ biết tay tao.

Ngưu-Ma-Vương đe, rồi bỏ đi.

Lão đã tắm xong, đương giặt cái áo lót. Gã thượng úy đương cọ cái bô. Ở ngoài sân, đột nhiên ầm ầm. Tiếng gã giặc lái kêu thét:

– Ông liều mạng với chúng mày. Đằng nào ông cũng chết.

Hai người từ nhà vệ sinh vội chạy ra. Hai tên tù tự giác to béo vật gã giặc lái xuống sân. Chúng dùng gót chân đạp ừng ực vào sườn, vào bụng. Gã giặc lái nằm co quắp, kêu “ối, ối”. Ngưu-Ma-Vương đứng nhìn, mắt gườm gườm, mặt lằm lằm.

Lão quăng cái áo lót, cái khăn mặt cho gã thượng úy, chạy tới can, lôi chúng ra.

Hai tên tù tự giác, mặt phừng phừng, chửi:

– Đ… mẹ thằng già phản động! Có phải việc của mày không?

Chúng đánh luôn lão. Bằng hai miếng võ Nhật điêu luyện, lão quật hai tên nằm sõng soài xuống sân. Rồi nói với Ngưu-Ma-Vương:

– Nếu chúng nó nhỡ tay, đánh chết anh ta, thì ông phải chịu trách nhiệm chính.

Ngưu-Ma-Vương quát hai tên tù tự giác:

– Chúng mày về buồng!

Lão chỉ vào mặt chúng, nghiêm khắc:

– Đồ vô lương tâm. Tao mà còn gặp chúng mày đánh người. Tao sẽ bẻ gẫy cổ.

Hai tên tù tự giác cun cút chuồn thẳng.

Lão bảo giặc lái:

– Cần gì mấy bao thuốc. Mang quà vào buồng thôi.

Rồi giải thích cho Ngưu-Ma-Vương:

– Cơ thể người ta có những tử huyệt. Nhỡ tay đánh trúng những chỗ đó, chết ngay. Bao người đã tù vì tội nhỡ tay đánh chết người. Ông nên thận trọng.

Hắn khóa cửa buồng giặc lái, buồng lão lại, đi khỏi xà lim.

Cô diễn viên kịch nói, la lớn:

– Ông chú ơi, hai thằng lực lưỡng như vậy mà ông chú quật ngã trong nháy mắt. Ông chú ghê thật!

Phó Nhòm hào hứng:

– Không ngờ ông bạn giỏi judo như vậy. Phải cho cái bọn chuyên lấy thịt đè người một bài học đích đáng như thế, chúng mới cạch.

Gã trưởng phòng công ty hóa chất bất bình:

– Dẫy buồng bên này, chúng tôi theo rõi từ đầu. Không thù oán gì mà chúng đánh giặc lái dã man như vậy. Không phải là giống người nữa. Đáng lẽ ông anh phải đánh bỏ mẹ chúng nó đi.

Gã đầu gấu xuýt xoa:

– Tiếc quá, dẫy buồng bên này không được xem ông chú biểu diễn võ thuật. Thằng cháu đúng là có mắt như mù. Thấy ông chú gầy gò, cứ muốn bảo vệ ông chú. Từ nay, xin ông chú bảo vệ thằng cháu nhé.

Cô người yêu gã giễu cợt:

– Cái mã anh mà đòi bảo vệ ông chú. Ông chú ơi, ông chú trông gầy, mà khỏe quá nhỉ.

Lão đứng lên cùm nói:

– Chú không khỏe đâu. Người ta gọi võ Nhật là nhu đạo, nghĩa là lấy mềm thắng cứng, lấy yếu thắng mạnh. Chú chỉ mượn sức của chính chúng nó, mà quật chúng nó thôi. Càng to mạnh, thì càng ngã đau. Phụ nữ giỏi judo cũng quật ngã được vài ba thanh niên.

Bà Sài-Gòn đùa:

– Vậy ra ngoài, anh Hai phải dạy judo cho em đấy.

Mụ mới vào khoe, để lấy le:

– Nhà tôi là thượng tá làm việc bên Sở. Hồi trẻ, ông ấy dạy võ cho công an. Không biết võ, thì làm sao đối phó được với bọn phản động, bọn trộm cướp, lưu manh.

Cả xà lim im lặng.

Gã đầu gấu lên tiếng:

– Cháu là tên trộm cướp, nên vào tù. Còn bà cô can tội gì mà cũng vào đây? Buôn lậu, ăn cắp của công, hay mại dâm?

Cô diễn viên kịch nói, cười khúc khích.

Người yêu gã can:

– Anh đừng ăn nói lung tung nữa.

Gã sửng cồ:

– Anh mà ăn nói lung tung? Em muốn cắt đứt thì cắt đứt! Anh là thằng có sao nói vậy. Anh là thằng trộm cướp thì nói là trộm cướp. Đã vào tù rồi, còn nói giọng cách mạng, đéo ngửi được. Tất cả nghe đây. Xà lim đang vui, sống như một nhà. Bất kể thằng nào, con nào, dù già, dù trẻ, dù mới, dù cũ, mà lén lút cáo cò, làm mất vui, tao sẽ rạch nát mặt. Hãy nhìn mặt thằng thượng úy bộ đội ở buồng 1 mà làm gương. Nó là thằng thứ năm tao cho ăn dao cạo đó. Đứa nào muốn xếp hàng thứ sáu thì cứ bẩm báo. Tao nói là làm. Không dọa ai đâu.

Phó Nhòm khen:

– Chú mày nói chí phải. Tao đảng viên từ năm 53, ở ngoài cũng là trưởng phòng tổ chức. Nhưng tao ăn cắp của công, tao nói thẳng, nói thật. Chẳng sợ ai ở đây cười chê tao cả.

Gã trưởng phòng công ty hóa chất phụ họa:

– Tao cũng thế. Tham ô, thụt két, nên vào đây. Trong sạch đã không tù.

Tiếng Ngưu-Ma-Vương quát:

– Im mồm hết! Xà lim không phải cái chợ.

Mải tranh luận, Phó Nhòm lại quên nhòm, nên hắn vào mà không ai biết. Xà lim lần lượt ra lấy cơm.

Buổi tối gã đầu gấu oang oang:

– Ngày kia là mùng 2 tháng 9 rồi. Không biết có tị “mều chun” (thịt lợn) nào không? Trên trại, quốc khánh bao giờ cũng có “mều ngạnh” (thịt trâu).

Gã giặc lái chửi:

– Bàn đến quốc khánh làm cái con c… gì. Giỏi lắm là ba miếng thịt bằng ba đầu ngón tay. Dính răng đã hết mẹ nó rồi. Đ… mẹ cái chế độ đểu.

– Giặc lái hôm nay có đau không?

– Gót chân nện như thế mà lại không đau. May có ông chú cứu cho. Không thì gẫy xương sườn với chúng.

– Giặc lái hiền quá đấy. Những tay tử hình khác, các quản giáo đều kiềng. Cho ăn kẹo cũng không dám hỗng như thế. Thằng em đây mà bị án chết, thì Ngưu-Ma-Vương “buồn” (nguy) ngay. Nói thực với giặc lái. Hãy chấp nhận số phận đi. Đừng hy vọng hão được ân xá nữa.

– Tớ không hy vọng nữa, nên sáng nay tớ mới đòi thuốc lá bằng được. Tiếc rằng tớ chưa xoay được vũ khí nên mới đến nông nỗi ấy. Tớ đã xác định chết rồi. Thằng Ngưu-Ma-Vương này sẽ bỏ mẹ với tớ. Chỉ cần một cái đinh mười phân là đủ.

– Xác định thế là đúng. Ông Trường-Chinh có ân xá cho ai bao giờ đâu. Thôi ca nhạc đi. Tối nay, chúng ta hát giải sầu cho giặc lái, cho cô em mới vào đang khóc xụt xịt. Em diễn viên kịch nói đâu, khai mạc chương trình đi.

– Em đang bận, để em hát sau.

– Bận gì?

– Việc của phụ nữ, đừng hỏi vớ vẩn.

– Tên thượng úy hãy mở đầu đi.

Lão đứng lên nói:

– Nó đương ăn. Tí nữa sẽ hát.

Giặc lái tình nguyện:

– Tớ xin mở đầu. Tớ hát dở lắm. Giọng như vịt đực. Tớ kể một truyện tiếu lâm cho xà lim nghe. Truyện này, tớ đã nghe nhiều người kể. Ở đây, chắc có người nghe rồi.

Phó Nhòm động viên:

– Nghe rồi thì nghe lại. Truyện tiếu lâm mà hay, thì nghe mãi cũng không chán. Vẫn phải cười như thường. Đề nghị trật tự.

– Được, xin kể. Các bạn đều biết chủ tịch Tôn-Đức-Thắng là một nhà cách mạng lão thành. Tính tình thật thà. Sinh hoạt bình dân. Nói năng bỗ bã. Ở chủ tịch phủ, mùa hè, bác thường đi đất. Các đồng chí bộ trưởng hỏi sao bác không đi dép. Bác cười hì hì: “Tui đi thế, cho mát cẳng”. Một lần, bác nói chuyện với các phụ lão, bác đeo kính, cầm tờ giấy thư ký đánh máy sẵn, long trọng đọc: “Các cháu thiếu nhi thân mến”. Cả hội trường ngơ ngác. Bác chửi: “Đù mẹ, tui nhầm. Đây là bài nói chuyện với các cháu”. Các phụ lão cười vui vẻ, thông cảm với tuổi già lẫn cẫn. Bác đã chín mươi rồi, còn gì. Như mọi người, bác Tôn rồi cũng ngỏm. Lúc bác hấp hối, tổng bí thư Lê-Duẩn, các ủy viên bộ chính trị, hỏa tốc tới phủ chủ tịch. Bác đã hôn mê. Bộ chính trị ngồi ở phòng ngoài bàn bạc. Dặn thư ký riêng của bác phải túc trực. Nếu bác tỉnh lại, có giăng giối điều gì, thì ghi chép cẩn thận. Đồng chí Trường-Chinh phát biểu ý kiến:

– Bác Tôn là bậc cao niên nhất trong Đảng. Khi cuộc cách mạng tháng mười bùng nổ, bác là người đầu tiên treo lá cờ đỏ trên Biển Đen, chào mừng cuộc cách mạng long trời lở đất, khai sáng kỷ nguyên mới trong lịch sử thế giới. Để tưởng thưởng thành tích vẻ vang đó, Đảng và nhà nước Liên-Xô đã lấy tên bác đặt cho một đường phố ở thủ đô Mạc-Tư-Khoa, trái tim của giai cấp vô sản, nơi toàn thể loài người tiến bộ hướng về, tin tưởng. Đảng và nhân dân ta rất tự hào. Tôi đề nghị bộ chính trị quyết định ướp thi thể bác, và xây lăng tưởng niệm. Để con cháu muôn đời tới chiêm ngưỡng. Thủ đô đã có lăng Hồ-Chủ-Tịch, chúng ta nên cho xây lăng bác Tôn tại thành phố Hồ-Chí-Minh, các đồng chí nghĩ sao?

Toàn thể bộ chính trị nhất trí.

Phòng trong, bác Tôn hé mắt tỉnh lại, phều phào:

– Họp bàn cái gì ở phòng ngoài vậy?

Anh thư ký vội trình bày:

– Thưa bác, Bộ Chính Trị đương bàn ướp thi hài bác, như bác Hồ. Bác nghĩ sao?

Bác Tôn thều thào:

– Ướp cái con c… ấy!

Rồi thở hắt ra, qua đời.

Anh thư ký vội chạy ra báo tin bác đã mất. Lê-Duẩn hỏi:

– Bác có giăng giối điều gì không?

– Thưa đồng chí Tổng Bí Thư, tôi có hỏi về việc ướp thi thể bác. Bác dặn là ướp cái con c… bác, rồi mất, không nói gì thêm.

Các ủy viên Bộ Chính Trị bối rối. Không hiểu sao bác lại dặn ướp “cái ấy”. Trường-Chinh là người uyên bác nhất, giải thích:

– Bác dặn vậy là có ngụ ý sâu sắc. “Cái ấy” tượng trưng cho sức sinh sản của nòi giống, được nhiều dân tộc trên thế giới đúc tượng, thờ phụng. Ý nguyện cuối cùng của bác là thiêng liêng. Chúng ta phải theo đúng. Khó là ở điểm chẳng lẽ xây cả một cái lăng lớn như lăng bác Hồ, mà chỉ đặt có một “cái ấy” bên trong. Lại còn quân đội canh gác, bảo vệ.

Thủ tướng Phạm-văn-Đồng phát biểu:

– Chúng ta có thể cho chế tạo một cái hộp bằng pha lê có hình cờ búa liềm và cờ đỏ sao vàng, rồi đặt “cái ấy” của bác vào. Tôi sẽ chỉ thị cho mấy nhà sử học viết bài giải thích ý nghĩa lớn lao của việc ướp và trưng bày “cái ấy”.

Bộ trưởng công an Phạm-Hùng tán thành:

– Ý kiến của đồng chí thủ tướng rất hay. Những phần tử xấu xuyên tạc, tôi sẽ cho tập trung cải tạo hết.

Tổng bí thư Lê-Duẩn đúc kết:

– Như vậy là chúng ta đã giải quyết xong khâu chính. Vấn đề còn lại là đặt “cái đó” ở địa điểm nào trong thành phố Hồ-Chí-Minh?

Phạm-văn-Đồng đề nghị:

– Đồng chí bộ trưởng Bộ Nội Thương thường báo cáo với tôi là cửa hàng Bách Hóa Tổng Hợp thành phố Hồ-Chí-Minh rất khang trang, đồ sộ, mà nhân dân vào mua hay kêu ca là chẳng có con c… gì. Nay để thỏa mãn nhu cầu của quần chúng, chúng ta trưng bày “cái ấy” ở cửa hàng này. Nhân dân sẽ hài lòng, không kêu ca gì được nữa. Các đồng chí có nhất trí không?

Toàn thể bộ chính trị vỗ tay ào ào tán thưởng.

Cả xà lim cười sặc sụa. Cười dàn dụa cả nước mắt. Mụ mới vào cũng ngặt nghẽo cười. Tiếp tới chương trình ca nhạc. Cô diễn viên kịch nói, Phó Nhòm, hát mỗi người dăm bài. Đến lượt gã thượng úy bộ đội song ca với cô da đen bài “Tiếng Chày Trên Sóc Bom-Bo”, rồi tới bài “Nổi Lửa Lên Em”.

Đương sôi nổi hào hứng, thì giặc lái đề nghị im hết. Hình như ngoài đường có tiếng gọi. Một phút sau, có tiếng con gái gào từ đường Hàng-Bông Thợ-Nhuộm vọng vào: “Bố ơi, sáng sớm mai, con gặp bố”. Tiếng gào vọng vào ba lần, xa xôi, nhưng rõ mồn một.

Gã giặc lái khóc nấc lên:

– Con gái tôi, nó gọi báo tin đấy. Chắc sớm mai tôi bị đem bắn.

Cả xà lim im lặng.

Lão nói với gã thượng úy bộ đội:

– Các vụ hành quyết điển hình đều có dán cáo thị, nên gia đình nó mới biết. Khổ thân nó đêm nay. Báo trước cho nó làm gì!

Đêm đó, xà lim như để tang. Không ai nói với ai một lời. Cũng chẳng ai biết an ủi gã như thế nào. Gã cũng chẳng nói gì với ai. Khuya lắm, thỉnh thoảng lão vẫn nghe tiếng gã nức nở. Lão định đứng lên nói vài lời với gã. Nhưng cảm thấy vô ích, lại thôi. Gần sáng, gã khóc to hơn.

Lão đứng lên cùm nói, giọng guồn rầu:

– Vĩnh biệt anh bạn. Anh bạn đi trước. Chúng tôi đi sau. Kẻ trước, người sau, ai rồi cũng qua cửa tử cả. Đừng sầu muộn nữa.

Mọi buồng lần lượt nói lời từ biệt với gã. Thì ra, cả xà lim, không ai ngủ.

Gã nghẹn ngào:

– Vĩnh biệt anh chị em. Tôi bất hạnh quá. Vợ ơi! Con ơi!

Rồi lịm đi.

Một buổi sáng, trong giờ vệ sinh, tên quản giáo thường trực đưa một nhà sư mặc áo vàng, đi chân đất vào bàn giao cho Ngưu-Ma-Vương. Nhà sư gầy nhom không có đồ đạc gì, ngoài cái khăn mặt cũ.

Ngưu-Ma-Vương nạt nộ:

– Ngồi xuống góc kia!

Nhà sư đứng yên, giọng miền Nam, bình thản:

– Ông ngồi trên ghế, ông bảo tôi ngồi xuống đất, tôi không ngồi.

– Can tội gì? Phản động đội lốt nhà sư, phải không? Cho tù mọt xương.

– A di đà Phật, tôi không đội lốt ai. Tôi tu hành từ nhỏ. Lấy trời làm màn, lấy đất làm chiếu. Ở tù hay ở đâu, cũng vậy thôi. Ông thất lễ lắm, tôi không nói chuyện với ông.

– Được, vào buồng. Thử xem ngoan cố tới đâu.

Hắn mở cửa buồng giặc lái cho nhà sư vào, rồi khóa lại.

Mụ vợ thượng tá công an thì thầm với cô gái cùng buồng:

– Bọn phản động, đứa nào cũng cứng cổ cả, không nghiêm trị, chúng không biết sợ đâu!

Đến buồng gã đầu gấu ra vệ sinh. Thừa lúc Ngưu-Ma-Vương đương nói chuyện với tên quản giáo thường trực, gã mở cửa gió buồng giặc lái, nhìn vào. Gã kinh hoàng, không tin ở mắt mình. Nhà sư ngồi xếp chân bằng tròn, lơ lửng trên không, cách mặt sàn chừng nửa thước, hai tay chắp trước ngực, mắt lim dim. Nhà sư từ từ hạ thân xuống sàn, nhìn gã, nở một nụ cười từ bi:

– Con đóng cửa lại. Đừng nói với ai nhớ.

Gã như một cái máy làm theo lời vị cao tăng.

Bữa cơm chiều, Ngưu-Ma-Vương mở buồng ra cho tù lấy cơm.

Nhà sư ngồi bất động trên sàn, nói:

– Tôi chỉ ăn mỗi ngày một lần. Ông có thể cho người khác.

Rồi nhắm mắt lại.

Ngưu-Ma-Vương mở cửa buồng gã đầu gấu:

– Bê suất cơm này vào. Nó muốn chết đói. Cho nó chết.

Buổi tối, gã đầu gấu mở cửa gió buồng gã ra, hỏi vọng sang:

– Thưa thiền sư, con không hiểu tại sao một người đạo hạnh như ngài cũng bị bắt vào đây. Ngài can tội gì?

– Bần tăng là kẻ tu hành, chỉ làm việc thiện. Bần tăng được thần linh lệnh sang Tây-Tạng. Bần tăng rời An-Giang lên đường. Tới Hà-Nội, thì họ đưa vào đây. Cũng là một cái duyên với các bạn. Sáng mai, bần tăng sẽ rời khỏi đây. Không sức mạnh nào giữ lại được. Có phải buồng này vừa có người bị hành quyết không?

Cả xà lim bàng hoàng. Lão ngó ra cửa kính cẩn:

– Thưa thiền sư, đúng vậy. Thiền sư quả là một bậc cao tăng siêu phàm.

– Người này chưa cam lòng chết. Trưa nay, oan hồn hiện về, kêu khóc với ta là chỉ vì hai tám tấn thóc mà bị chết. Ta đã giảng giải và cầu nguyện cho linh hồn đó siêu thoát rồi. Đừng hỏi gì ta nữa. Để ta thiền định. Ta có lời chào tất cả. Sáng mai, ta rời khỏi nơi này.

Tối đó, xà lim không ca hát. Những người ở cùng buồng chỉ xầm xì bàn tán với nhau. Họ không hiểu tại sao nhà sư mới vào, chưa ai nói gì về chuyện gã giặc lái, mà lại biết tường tận như vậy. Đúng là oan hồn gã đã hiện về kể lể hết mọi chuyện.

Gã thượng úy bộ đội nghi ngờ:

– Ngày mai mà vẫn nằm đây, thì bẽ mặt. Con chinh chiến bao năm, chưa thấy hồn ma bao giờ cả. Chết là hết.

Lão mắng:

– Mày biết gì, mà bàn tới những điều huyền bí đó. Để tao luyện thở.

Sáng hôm sau, xà lim làm vệ sinh đã gần xong, mà nhà sư vẫn ngồi trong buồng lâm râm niệm Phật. Mọi người bắt đầu hoài nghi. Mụ vợ thượng tá công an nói với cô gái, giọng dè bỉu:

– Lão thầy chùa phản động này chỉ được cái lừa bịp. Hôm qua, ông quản giáo đã bảo nó tù mục xương!

Mụ vừa nói dứt, thì tên quản giáo thường trực vào, đưa cho Ngưu-Ma-Vương một tờ giấy. Hắn đọc qua, rồi mở cửa buồng thiền sư:

– Đảng khoan hồng, tạm tha cho anh. Liệu cái thần hồn.

Ra tới bàn Ngưu-Ma-Vương, nhà sư nhìn vào mặt gã, nói:

– Gia đình sắp có tai họa. Phải tu nhân tích đức đi.

Rồi ung dung theo tên quản giáo thường trực, rời khỏi xà lim.

Buổi trưa, xà lim bàn luận sôi nổi. Buổi tối vẫn tiếp tục. Gã đầu gấu kể lại việc gã nhìn thấy nhà sư ngồi xếp bằng tròn trên không khí. Hầu như chẳng ai tin.

Gã bực quá, thề độc:

– Thằng này mà phịa chuyện thì sẽ bị bắn như giặc lái!

Gã trưởng phòng công ty hóa chất cười:

– Điều mày nói, phản mọi nguyên tắc vật lý. Không thể xảy ra được. Bất cứ vật gì nặng hơn không khí đều không lơ lửng được.

Phó Nhòm nói:

– Kể cũng khó tin thật. Nhưng sao nhà sư này lại biết rõ giặc lái chết vì hai tám tấn thóc? Điều này chứng tỏ là con người có linh hồn. Lại biết trước, chắc như đinh đóng cột, là sáng nay sẽ được thả. Nhìn rõ cả tương lai. Cứ đem khoa học ra mà giải thích, thì giải thích ra sao?

Lão nói với gã đầu gấu:

– Riêng tao, thì tao tin lời mày. Trên trại Cổng-Trời, mùa đông rét như thế, mà vị sư già nằm cạnh tao, chỉ mặc có độc bộ quần áo vải mong manh, chỉ ăn có một bữa, vẫn sống bình thường, tươi tắn trong nhiều năm. Chính vị sư già đó đã dạy tao phép dưỡng sinh và quyền thuật. Tiếc rằng tao chỉ học được đôi phần, thì chuyển trại. Thế giới có những điều huyền nhiệm, không lấy bộ óc bình thường của con người để lý giải được. Nói chung, con người hiện đại hiểu biết đôi chút khoa học là con người hoài nghi. Riêng chuyện nhà sư ở đây, hiển nhiên như vậy, chúng ta buộc phải tin. Nhưng nếu chúng ta nói với người khác, không dễ gì họ tin cả. Tôi nghe thấy nhà sư bảo Ngưu-Ma-Vương là gia đình hắn sắp có tai họa. Chúng ta hãy chờ xem điều tiên đoán này có xảy ra không.

Trong xà lim, tuy mỗi người đều mang trong lòng một nỗi lo âu phấp phỏng, một sự chờ đợi khắc khoải, nhưng nhờ đối xử với nhau tình cảm, an ủi, động viên lẫn nhau, nên ngày tháng cũng đỡ phần nặng nề. Những buổi ca hát, dù lập đi, lập lại vẫn giải sầu phần nào, mang lại ít nhiều sinh khí cho cuộc sống ngưng đọng, héo hắt. Mụ vợ thượng tá công an, dẫu ghét cay, ghét đắng gã đầu gấu, vẫn phải tươi cười với gã. Mụ rất ít trò chuyện, và không cho quà ai. Riêng một lần, mụ định cho gã ít đường, ít bánh. Gã từ chối thẳng thừng. Thỉnh thoảng gã lại đe rạch mặt, rạch mép bọn sớ bẩm, nên mụ cũng sợ, không dám nho nhoe. Nhờ vậy, xà lim vẫn lái xe cho quà nhau, vẫn hút thuốc lào, mà Ngưu-Ma-Vương không hề biết gì.

Một sáng trong giờ vệ sinh, gã thượng úy bộ đội không tắm, ra sân trước. Khi lão trong nhà vệ sinh ra, gã đương ngồi thụp dưới chân Ngưu-Ma-Vương, nói nhỏ chuyện gì. Lão không nghe rõ. Khi hai người vào buồng, Ngưu-Ma-Vương không khóa cửa lại như thường lệ, mà vào lục soát buồng. Hắn chui cả đầu xuống gầm sàn nhìn ngó, sờ mó. Cuối cùng hắn moi được ở khe cùm ra miếng nhôm lão mượn của Phó Nhòm tối qua để cắt móng chân. Hắn giơ miếng nhôm dài bằng ngón tay lên, nói:

– Mang kim khí vào xà lim là phạm nội quy. Anh lấy ở đâu miếng nhôm này?

Lão điềm đạm:

– Tôi không biết. Không phải của tôi. Có thể ai đó giấu nó vào khe cùm từ trước. Tôi có rà soát buồng bao giờ đâu.

Hắn không nói gì, khóa cửa, đi ra.

Gã thượng úy bộ đội vội vã nói:

– Không phải con báo cáo đâu. Con lúc nẫy nằn nì, kể khổ với hắn, xin hắn cho con viết thư về cho bà cô con. Nhưng hắn nói là chưa khóa cung, chưa được phép viết thư.

Lão lắc đầu:

– Không cần thanh minh. Tao biết là không phải mày.

Gã mừng rỡ:

– Con tình ngay, lý gian. Con vừa ngồi nói với hắn, thì hắn vào lục soát. Ai chả nghi ngờ. Sao bố biết không phải con?

Lão giải thích:

– Mày biết tao giấu miếng nhôm ở khe cùm. Nếu mày báo cáo, nó sẽ moi ngay ở khe cùm ra. Việc gì nó phải lục lọi tứ tung, chui đầu cả vào gầm sàn. Ở các xà lim, thỉnh thoảng vẫn có những chuyện kiểm tra đột ngột như vậy. Hơn nữa, từ lâu rồi, mày có cáo cầy gì đâu.

Thông thường, khám thấy kim khí trong người, hoặc trong buồng là hết cãi, là cùm. Nhưng Ngưu-Ma-Vương bị lão nắm được tẩy hay ăn hối lộ của mấy bà, lại thấy lão được cả thiếu tướng cục trưởng trên Bộ cho trà, thuốc, đường, sữa, nên hắn nể ngại, lờ đi. Gã đầu gấu xác quyết là gã thượng úy bộ đội xì xọt, đe rạch họng. Lão phải giải thích, bảo đảm là không ai cáo cò, gã mới nguôi giận, cho qua.

Liền mấy hôm cuối tuần, Ngưu-Ma-Vương mặt mày ũ rũ, phờ phạc, mất hẳn vẻ càu cạu, gườm gườm hàng ngày. Thấy cửa gió các buồng mở, hắn cũng chẳng buồn khép lại. Cả ngày, hắn hút thuốc lào liên tục, không nói năng gì.

Phó Nhòm khoái chí, phỏng đoán:

– Chắc nhà sư nói đúng. Hắn phải có chuyện gì, mới thay đổi hẳn thái độ như vậy.

Cô diễn viên kịch nói, đùa:

– Có thể vợ cho mọc sừng. Con gái thì chửa hoang.

Gã đầu gấu hứa:

– Đây sẽ bảo bọn đàn em nhà bếp điều tra xem sao. Yên chí, chỉ vài hôm là sáng tỏ vấn đề.

Ngày chủ nhật, Găng-đi coi thay. Lão pha trà mời, rồi nói bâng quơ:

– Ông quản giáo phụ trách xà lim này, không hiểu sao mấy hôm nay có vẻ ưu phiền dữ lắm.

Găng-đi thở dài:

– Ông ta có một quý tử độc nhất. Nó vừa can tội cướp của, giết người, bị bắt. Lớp trẻ bây giờ hư đốn quá. Tôi không hiểu sao, ngay cả con cái các ông to, nhiều đứa cũng trộm cướp. Bọn chúng có thiếu thốn gì đâu cho cam.

Lão mỉa mai:

– Các vị ấy quá chuyên tâm vào việc giáo dục nhân dân, nên không có thời giờ giáo dục con cái mình. Lo việc nước, quên việc nhà. Tinh thần hy sinh cách mạng thực cao cả.

Găng-đi cười khẩy:

– Tinh thần cách mạng. Làm thơ thì hô hào con cái người khác “Xẻ dọc Trường-Sơn đi đánh Mỹ”. Con cái mình thì gửi đi du học ở Nga, ở Đức. Lại còn “Người cách mạng khổ trước dân, sướng sau dân” nữa.

Lão cười:

– Khổng-Tử ngày xưa nói “Lo trước cái lo của dân. Vui sau cái vui của dân” là nói về mặt tinh thần. Còn tạm nghe được. Ông Trường-Chinh dùng chữ “Sướng, khổ”, mang ý vật chất, thành ra nó khôi hài.

Găng-đi ngán ngẩm:

– Người trung thực khó sống lắm. Tôi không biết luồn cúi, nịnh bợ, nên ở trong nghành mấy chục năm rồi, mà vẫn trung úy. Bù lại, được cái không bị tù họ nguyền rủa.

– Tù ai cũng quý trọng cán bộ. Cái danh thơm đó là vô giá. Cán bộ nghĩ, liệu ông quản giáo phụ trách xà lim này có xin ân giảm được cho con không? Ông ta có lập trường cách mạng triệt để lắm mà.

– Cái thứ cán bộ nhãi nhép như chúng tôi mà đòi xin xỏ. Con các ông to, thì khỏi phải nói. Tội tầy đình, mà bắt, lại phải thả ngay.

Lão bê ca nước lên:

– Thôi cán bộ cho buồng khác ra. Tôi làm mất thì giờ cán bộ quá.

Lão vào buồng. Gã thượng úy bộ đội tò mò:

– Bố nói chuyện gì với Găng-đi đó?

– Tao dò hỏi xem Ngưu-Ma-Vương ra sao. Con trai hắn cướp của, giết người, đã nằm Hỏa-Lò rồi.

Gã nhảy lên:

– Đáng kiếp lắm! Đáng kiếp lắm!

Tin vui đó được bí mật lan truyền các buồng. Ai cũng hể hả. Bà Sài-Gòn nghé vào buồng lão, đưa cho lão một khăn mùi xoa xanh lơ, thì thầm:

– Em tặng anh Hai vật này làm kỷ niệm. Em mất mấy hôm mới thêu xong đấy.

Lão cầm lấy:

– Cảm ơn cô em. Đồ đạc tôi toàn là thứ giẻ rách, hôi hám, không có gì để tặng lại cô em gái. Thực đáng trách.

– Em đưa cho anh Hai giấy bút. Anh Hai viết tặng em mấy chữ thôi.

Bà ta về buồng.

Một phút sau, đưa cho lão một tờ giấy trắng và một bút bi đỏ. Lão giở mùi xoa ra xem. Ở giữa mùi xoa được thêu một cây Myosotis, lá xanh, hoa hồng, với chữ “Forget-me-not” bên dưới. Đêm đó, lão nằm nghĩ ngợi. Lòng bùi ngùi xúc động. Một kẻ tàn tạ, xương da, không bóng một ngày mai, trước mặt là ngục tù thăm thẳm, sao cũng có người thương được? Tiếp cận với quá nhiều tiêu vong dạy lão coi khinh sự chết và coi trọng sự sống. Thể xác lão héo hắt trong lao ngục tối tăm, chật hẹp. Nhưng bộ óc lão sáng suốt, nhạy bén hơn. Trái tim lão rộng mở, chín chắn hơn. Đau khổ giúp lão gần gũi con người, hiểu giá trị của cuộc đời, nên biết trân quý nó đúng mức. Mấy chữ “Forget-me-not”, tên một loài cây thường mọc ở nơi hoang dã, cũng có nghĩa là “Đừng quên em”. Một sự tỏ tình rõ rệt. Một lời nhắn nhủ gắn bó. Đừng quên em! Lão làm sao quên được! Trong hoang mạc tù ngục mênh mông của đời lão, ba tiếng “Đừng quên em” ngân reo như một giòng suối ngọt ngào, tươi mát, róc rách. Hiển hiện một ốc đảo xanh rờn, hư hư, thực thực. Tình cảm, sự chăm sóc đầy trìu mến của em, mà quên được ư? Lâu lắm rồi, tiếng “em” mới vang lên trong tim lão. Không giống những tiếng “em” bình thường khác. Tiếng “em” này thân thương tới nghẹn ngào, nâng niu tới ngây ngất… Như một luồng điện, lương tâm lão đột nhiên lóe sáng. “Người ta đã có chồng rồi. Không được phép nghĩ bậy! Mình đã thấm thía nỗi đau của kẻ mất vợ. Bây giờ, mình lại có ý định chiếm đoạt vợ người khác, phá hoại gia đình người khác? Thực xấu hổ. Không ổn tí nào”.

Lão ngồi dậy, cuộn thuốc lào hút. Hơi thuốc làm lão tỉnh táo, trở lại thực tại. Lão bình tĩnh suy nghĩ. Hãy coi em như em gái? Không được! Giả dối! Làm sao chuyển được tình yêu sang tình anh em? Cứ giữ nguyên tình cảm với nhau như thế này. Không tiến xa hơn? Lão cười thầm. Lẩm cẩm! Tù tội, làm sao tiến xa hơn được? Tốt nhất là coi như một kỷ niệm đẹp trong đời. Thế thôi. Thấy giải quyết như vậy là thỏa đáng, lão hút điếu thuốc lào thứ hai.

Đêm xà lim im phăng phắc. Gã thượng úy bộ đội ngủ, thở đều đều. Lão lấy tờ giấy và bút bi ra. Bao tình cảm chan chứa trong lòng, mà lão không biết viết gì. Nghĩ ra câu văn nào, lão cũng thấy tầm thường, sáo cũ, không xứng với tình cảm thực của lão. Lão chặc lưỡi: “Mình là nhà binh, có viết văn bao giờ đâu. Cứ chọn bài thơ tình nào đó viết tặng em là được”. Lão lục trong trí nhớ nhiều bài thơ tình của các thi sĩ lãng mạn lão đọc thời trẻ. Nhưng tất cả đều không hợp với cảnh của lão. Lão hút điếu thuốc nữa, ngửa mặt, nhả khói lên trần. Mấy câu thơ của một nhà thơ tù, bạn lão, chợt tới trong đầu lão. Đúng tình, đúng cảnh của lão! Mừng rỡ, lão cầm bút nắn nót viết. Chữ lão đẹp, dắn dỏi. Mầu mực đỏ trên nền giấy trắng tinh cho lão cảm giác như đang viết bằng máu của trái tim lão. Viết xong, lão đọc lại:

Tặng em mấy vần thơ, kỷ niệm những ngày nhớ mãi ở xà lim 1, Hỏa-Lò.

Cuộc đời anh, chẳng có gì đáng kể.
Con người anh, tù tội, hom hem.
Anh chỉ có trái tim đầm ướt lệ.
Với lòng thành, anh đem tặng cho em.

Lão chợt thấy thông cảm hơn với gã cán bộ quản lý thị trường, với vợ lão. Gã thương yêu giúp đỡ vợ lão như thế, quý con lão như thế. Hai mẹ con lại ở cảnh đường cùng, chết đói dở. Lão thì tù không án, biền biệt, chẳng biết ngày nào về. Làm sao hai người không kết hợp với nhau được?

Cả đêm, lão hầu như không ngủ. Buổi sáng, Ngưu-Ma-Vương mở buồng lão ra vệ sinh trước tiên. Trông hắn gầy xọp hẳn. Mắt đỏ ngầu. Điếu cầy rít liên tục. Khi lão ra sân phơi quần áo, hắn bảo lão ở ngoài, đuổi gã thượng úy bộ đội vào buồng trước. Hắn mời lão hút điếu cầy, mời uống trà. Rồi hỏi:

– Anh tù lâu. Anh thấy trên trại sinh hoạt thế nào?

– Trên trại, ăn uống cũng như đây. Chỉ được cái chỗ nằm rộng rãi hơn. Nhưng lại phải lao động vất vả. Tù hình sự tuy toàn thanh niên, mà lại chết nhiều hơn tù chính trị.

– Sao lại thế?

– Chúng đói, không chịu được. Ăn bẩn, ăn bậy. Đa phần chết vì bịnh đường ruột. Chúng còn thường xuyên đâm chém nhau chết. Những đứa có tiếp tế, bỏ ra ít bánh, ít kẹo cho vay. Đói quá, cứ vay bừa ăn. Không kịp trả. Lãi mẹ đẻ lãi con. Có đứa nợ tới ba nghìn suất cơm. Nợ tới ba, bốn chủ nợ. Suất ăn hàng ngày bị bọn chủ nợ thu. Không có gì ăn. Chỉ vài tuần là chết.

– Ban giám thị cứ để mặc vậy?

– Có can thiệp đôi ba vụ. Nhưng nạn cho vay lãi lan tràn. Không can thiệp xuể. Nên bỏ mặc. Số án tử hình cả nước, mỗi năm chỉ khoảng sáu, bảy chục vụ. Số chết trên các trại, ít ra phải nhiều gấp trăm.

Ngưu-Ma-Vương thở dài:

– Tôi hỏi anh cho biết thôi. Anh vào đi.

Thấy ngày hôm sau, và liền mấy hôm Găng-đi coi thay, lão hỏi:

– Sao mấy bữa nay, cán bộ liên tục coi xà lim vậy?

– Ông quản giáo phụ trách xà lim ốm. Tôi được tạm cử coi thay.

Được tin này, xà lim thở phào nhẹ nhõm. Nhiều người cầu cho Ngưu-Ma-Vương sớm được về chầu Diêm-Vương. Việc vị cao tăng tiên đoán đúng nhiều chuyện khiến cả xà lim bàn tán, suy nghĩ. Gã thượng úy bộ đội dám ăn cả gan người cũng bắt đầu tin rằng có Trời Phật, cần phải sống lương thiện, mới mong được Trời Phật phù hộ, độ trì. Mụ vợ thượng tá công an cũng bắt đầu cho những người không tiếp tế chút quà. Để làm phúc. Đầu óc đơn giản của họ chỉ nghĩ đến thế. Lão thấy đó đã là một chiều hướng tốt rồi.

Một buổi sáng, bà Sài-Gòn được gọi đi cung. Nửa giờ sau bà về, nói với mọi người rằng sáng mai con trai bà và bà sẽ được trả lại tự do. Bà xin phép Găng-đi pha trà, mang kẹo bánh ra mời tất cả. Coi như bữa tiệc trà chia tay. Găng-đi vui vẻ cho phép. Buồng nào ra vệ sinh cũng được bà đứng ở bàn mời trà, mời bánh kẹo. Những người nghiện, Găng-đi cho hút một điếu thuốc lào. Bà đem tiếp tế của mình phân phát cho những người không có tiếp tế. Bà đưa cho lão một túi lớn và nói rất nhỏ, giọng nghẹn ngào:

– Trong túi có cái nhẫn của em. Anh Hai nhận lấy để có tiền tiêu xài khi đi trại.

Lão chưa kịp trả lời, thì bà đã quay đi, về buồng, mắt ngấn lệ.

Buổi tối xà lim long trọng tổ chức ca hát, mừng tiễn bà thoát ngục. Ai cũng tự nguyện hát. Cô ca sĩ mở màn, với bài “Ngày Về”:

Tung cánh chim tìm về tổ ấm.
Nơi sống bao ngày giờ đằm thắm.
Nhớ phút chia ly, ngại ngùng bước chân đi.
Thương tiếc bao nhiêu, người ơi!
Âm thầm tê tái cho ngày về.
Tìm lại đường tơ, nay đã đứt.
Ta sống không một lời trìu mến.
Như bóng con đò chiều lạc bến…

Cô hát liền năm bài. Toàn bài trữ tình, cảm động.

Tiếp tới Phó Nhòm. Gã hát bài “One Day”, lời Việt, gã tự ý thay đổi đôi chữ, cho hợp tình, hợp cảnh:

Giờ phút xa nhau,
trong buồng âm thầm châu rơi,
ướt đẫm khăn em…
Nhớ mãi câu yêu anh,
đường đời, đừng có quên nhau.
Rồi cách xa… Rồi nhớ thương…

Hết bài, gã đầu gấu hét lớn:

– Ông chú phải hát từ biệt bà cô đi chứ! Sao cứ im lìm vậy?

– Đúng, đúng. Buồng 1 phải hát!

Lão đứng lên:

– Được, được. Các bạn khỏi cần giục. Đó là bổn phận của tôi. Tôi xin hát một bài chia tay với người bạn quý của xà lim, của chung chúng ta.

Phó Nhòm cười ha hả:

– Không đúng. Với người bạn đặc biệt của riêng ông bạn, mới đúng.

Gã đầu gấu oang oang:

Trống chùa ai đánh thùng thùng.
Của chung ai khéo vẫy vùng “nên riêng”

Cả xà lim đùa rỡn, cười vui, châm chọc lão với bà Sài-Gòn.

Khi cơn ồn ào lắng xuống, lão nói:

– Các cụ ngày xưa bảo “Chuyến đò nên nghĩa”. Nay chúng ta cùng chung chuyến đò hoạn nạn. Tình nghĩa tất phải sâu nặng, thấm thía hơn. Để chia tay với người bạn rất tình cảm, giầu lòng thương người, tôi xin hát bài “Biệt Ly”:

Biệt ly, nhớ nhung từ đây…
Chiếc lá heo may… rơi bay…
Người về có hay
Mấy phút bên nhau… rồi thôi
Bóng em khuất xa từ đây…
Người về, u buồn khắp trời…
Và mây trôi…Nước trôi…
Ngày tháng trôi… Cùng lướt trôi…

Bị lôi cuốn theo cảm xúc, lão hát đi, hát lại bài hát ba lần. Cả xà lim vỗ tay rào rào.

Cô ca sĩ khen ngợi:

– Tối nay, ông chú hát hay quá. Hơn hẳn mọi tối. Giọng hát thật là buồn, cháu nghe cũng phải cảm động.

Phó Nhòm hóm hỉnh:

– Rung động thực có khác! Hát rất có hồn. Mà có hồn tất phải hay.

Gã đầu gấu bô bô:

– Đề nghị bà cô cho biết cảm tưởng.

Buồng bà Sài-Gòn vẫn im lìm.

Cô diễn viên kịch nói đứng lên, đùa rỡn:

– Chắc bà cô “vạt áo đang ướt đầm như mưa”, không nói được. Để em hát mấy bài vui, giải buồn cho bà cô.

Cô ta hát năm sáu bài liền. Điệu nhạc vui nhộn, yêu đời. Và kết thúc với bài “Hè Về” tưng bừng sức sống:

Hè về, nắng tung nguồn sống khắp nơi
Hè về, gió rung nhịp phách yêu đời
Bâng khuâng nghe gió đùa mây biếc,
Đàn chim cánh đo trời
Phân vân đôi mái chèo lữ thứ,
Thuyền ai biếng trôi…
Hè về trong khóm trúc mềm đầu bờ
Hè về trong tiếng sáo diều dật dờ
Hè về, non nước yêu yêu…

Khi chương trình ca nhạc bế mạc, bà Sài-Gòn cảm ơn mọi người, cầu chúc tất cả sớm tai qua, nạn khỏi, thoát cảnh lao lý.

Đêm đó, lão không ngủ được, nằm mân mê chiếc nhẫn trong tay. Thỉnh thoảng lại dậy cuộn thuốc hút. Lão tưởng mấy chục năm tù đầy, với bao đau khổ, bầm giập, trái tim lão không còn chỗ nào tươi mát giành cho tình yêu nam nữ nữa. Lão tưởng bao công phu tu luyện thiền định đã biến lão thành một người thoát vòng tục lụy. Lão đã lầm. Chỉ cần một ánh mắt thương yêu, một nụ cười tình tứ, một chăm sóc nhỏ nhoi, đã đủ phá tan mọi triết lý bi quan về cuộc đời, hồi sinh tất cả những khao khát rạo rực thanh xuân. Lão thầm nhủ nếu cửa sắt xà lim không khép chặt, không một thành trì đạo lý nào có thể ngăn cản lão sang buồng “em”, ôm “em” vào lòng, nói với “em” những lời âu yếm, tha thiết…

Buổi sáng, tên quản giáo thường trực mang lệnh tha vào. Được phép của Găng-đi, bà Sài-Gòn xách hành lý đi suốt hành lang chào các buồng. Tới buồng lão, bà thò một ngón tay qua song sắt cửa gió. Lão cầm ngón tay bà bóp mạnh, thay cho cái bắt tay từ biệt.

Bà nói qua nước mắt:

– Tạm biệt anh Hai. Em sẽ cầu nguyện cho anh Hai khỏe mạnh trở về. Em không bao giờ quên được anh Hai đâu. Khi nào về, anh Hai phải báo tin ngay cho em. Em đợi anh Hai đó.

Lão xúc động:

– Nếu trời còn để có một ngày mai. Anh sẽ tìm gặp em. Thôi, em về đi. Chúc em vui, khỏe, lên đường bình an.

Khi buông ngón tay bà ra, lão cảm giác buông mất niềm hạnh phúc vừa chợt tới với lão đã vụt biến. Như một giấc mơ. Lão ngó nhìn theo bà được vài giây, thì bà rẽ ra chỗ Găng-đi ngồi, không nhìn thấy nữa.

Tiếng tên quản giáo thường trực, ngạc nhiên:

– Chị này buồn cười thực. Được về mà lại khóc!

Bà Sài-Gòn về, ai cũng thấy tiếc. Nhất là những người không có tiếp tế. Không có sự giúp đỡ của bà, ngoài cái đói ra, họ còn thiếu thốn đủ thứ.

Một sáng, cô buôn đô la ngó vào buồng lão, than thở:

– Chúng nó không cho cháu nhận quà, để ép cung. Dã man quá! Bây giờ bà Sài-Gòn về, cháu và con da đen không có cả đồ vệ sinh phụ nữ. Mấy chị em khác chỉ có đủ cho họ dùng.

Lão phẫn nộ:

– Khốn nạn đến thế là cùng! Hôm nào đi cung, nếu đúng ngày, cháu cứ chìa vào mặt thằng chấp pháp cho nó xem, cho các tên công an khác thấy. Không việc gì phải xấu hổ cả! Chúng sẽ phải cho cháu nhận quà gia đình. Chú có hai cái áo lót. Hai cháu lấy xử dụng tạm.

Cô ta lưỡng lự:

– Chú lấy gì mà mặc?

Lão xua tay:

– Chú không cần. Mùa hè, chú toàn ở trần. Mùa đông, chú đã có quần áo rét.

– Cảm ơn ông chú. Ông chú tốt quá.

Cuộc sống trôi đi. Nhờ sự dễ dàng của Găng-đi, tình cảm giữa Phó Nhòm và Nữ Thần Đô la, cũng như gã đầu gấu và người yêu của gã, càng ngày càng thắm thiết. Phó Nhòm chia quà của gã cho cô đô la một nửa. Người yêu của gã đầu gấu cũng làm như vậy. Xin phép cho công khai. Không phải “lái xe” cho tí một như trước. Gã trưởng phòng công ty hóa chất cũng được Găng-đi ân xá, cho nhận quà gia đình.

Một hôm, cô ca sĩ nói riêng với lão:

– Cháu bị đi trại tới nơi, chú ạ. Ban giám thị giao cho cháu nhiệm vụ báo cáo tình hình xà lim. Cháu chẳng làm được việc gì. Chú bảo, chẳng nhẽ lại đi báo cáo chuyện tình cảm của người khác, chuyện vi phạm nội quy, như hút thuốc lào, cho quà nhau.

– A, cháu là người Ban Giám thị cài vào xà lim, chứ không phải của chấp pháp?

– Vâng, có hai loại ăng-ten. Ăng-ten của chấp pháp chuyên báo cáo, giúp đỡ việc điều tra, hỏi cung.

– Trông cháu gầy đi nhiều đấy. Cháu cứ ăn ở tốt, đi đâu cũng có người thương. Trời sẽ phù hộ. Chú vừa nhận được quà gia đình. Tí nữa, chú xin phép cán bộ, cho cháu.

Chiều hôm qua, lão nhận được quà của em gái lão. Nào đường sữa, nào bánh kẹo, thịt, ruốc, gạo nếp rang, vi-ta-min C. Lại cả chiếc áo khoác lót lông, mũ len, mấy bộ quần áo. Lão hiểu ngay tất cả là của bà Sài-Gòn. Em gái lão nằm mơ, cũng không có đủ tiền mua từng ấy thứ. Nhìn đống quà, lão rất xúc động. Chưa bao giờ lão xúc động đến thế. Lão phân phát quà cho tất cả những người không có tiếp tế. Những người có tiếp tế, lão chỉ biếu xã giao đôi chút.

Phó Nhòm nhận quà lão cho, hỏi:

– Có phải “em” gửi không?

Lão gật đầu.

Phó Nhòm cười, đắc thắng:

– Ông bạn đã phục tôi chưa? Thoáng qua từ đầu, tôi đã nói là ông bạn trúng số.

Lão cũng cười:

– Công nhận anh nhiều kinh nghiệm. Lão luyện giang hồ.

– Nữ hoàng đô la đã hoàn toàn bị chinh phục rồi. Hai ta thắng lớn!

Gã đầu gấu tinh quái cũng biết. Gã cười, nói riêng với lão:

– Ông chú “vào cầu rực lửa” 2 rồi. Ông chú cũng xứng đáng được thế. Mừng ông chú không bị cô đơn nữa. 

Như mọi thứ trên đời, xà lim cũng tan hợp, hợp tan. Người yêu gã đầu gấu chuyển xà lim khác. Gã bị xử chung thân, đi trại. Cô diễn viên kịch nói được thả. Gã trưởng phòng công ty hóa chất bị xử sáu năm, ra buồng chung. Ba, bốn tù khác tới thay chỗ. Phó Nhòm cũng sắp tới ngày về.

Vào một sớm đầu đông, trời còn tối đất, Găng-đi mở buồng lão và buồng cô ca sĩ. Hai người phải chuyển trại. Gã thượng úy bộ đội rầu rĩ, giúp lão thu dọn hành lý. Lão để lại cho gã ba cân nếp rang, ít kẹo bánh. Khi lão bắt tay từ biệt, gã rơm rớm nước mắt:

– Con chúc bố khỏe mạnh. Cảm ơn bố đã giúp đỡ, dậy bảo con. Hơn ba tháng gần bố, con đã hiểu biết nhiều.

Trong cảnh buồn, lão có đôi chút niềm vui. Lão biết những giọt lệ ứa ra từ mắt gã là vì lão. Không phải vì túi quà.

Lão và cô ca sĩ chào từ biệt mọi người, chào Găng-đi.

Lão ngó vào phòng Phó Nhòm:

– Hy vọng chúng ta sẽ còn gặp nhau ở ngoài.

Phó Nhòm xúc động:

– Chúc ông bạn thượng lộ bình an. Nhớ địa chỉ tôi, 28 phố Hàng-Điếu. Nhất định chúng ta phải gặp lại nhau. Tôi tin với bản lĩnh ông bạn, ông bạn sẽ vượt qua tất cả.

Phía ngoài giàn nho, hai chiếc xe tải đã chực sẵn. Khoảng bốn chục tù xếp hàng ngồi ở sân. Nam riêng. Nữ riêng. Tất cả tù nữ đều khóc. Kẻ nức nở thành tiếng. Kẻ nước mắt chảy quanh. Trong ánh điện vàng khè, mờ bụi sương, lão có cảm tưởng đang đứng ở một nghĩa địa, dự lễ hạ huyệt. Cô ca sĩ cũng sụt sịt, chào lão. Nhà bếp phát cho mỗi người một nắm cơm, một dúm muối rang. Tất cả đùm trong mấy mảnh lá chuối. Công an vũ trang dùng khóa số 8, khóa tay từng cặp. Lũ tù quần áo mong manh, đứng run bần bật. Nữ lên một xe. Nam lên một xe. Ngồi chen chúc. Chửi bới nhau tục tĩu. Hai chiếc xe nổ máy, từ từ chuyển bánh. Cửa Hỏa-Lò rộng mở.

Đầu tháng 12, Hà-Nội đã lạnh. Phố xá còn sớm. Không một bóng người. Lão mặc áo lông, đội mũ len, ngồi lặng thinh ở cuối xe, gần hai tên công an vũ trang, súng AK kẹp trong đùi. Xe băng qua cầu Long-Biên. Trong bóng tối bắt đầu nhạt loãng, giòng sông Hồng thân quen mờ mờ, như bất động. Lại rời Hà-Nội. Số kiếp sẽ đưa lão tới đâu? Tới đâu thì cũng vậy cả. Đều là đất thù. Trại tù giăng mắc khắp ngả. Người dân sống trên quê hương mình, mà lúc nào cũng ngơm ngớp lo sợ, nghi ngờ, cảnh giác. Quá sống trên đất thù!

Ngẩng nhìn bầu trời mịt mù sương phủ, cảm thương thân phận con người, tai kiếp đất nước, lão ngâm trong đầu câu thơ lão đã đọc ở đâu, lâu lắm, từ thủa tiền kiếp nào đó…

“Sương buồn ôm kín non sông…”

——————————–

1Người tù phải dùng những dụng cụ nhỏ như cái lược hay bàn chải đánh răng để có thể ném lọt vào chấn song sắt hẹp của phòng đối diện hay phòng ở xế trước mặt. Gói quà chuyển cho nhau vì thế cũng phải gói mỏng.
2Vào cầu rực lửa: Thắng to.

Chú Tư Cầu

vandoanviet.wordpress.com

Lê Xuyên

Post on 27 Sep 2018

Post by Sơn râu 23 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Phần 9 – Cuối

Đây là lần thứ hai Tư Cầu quay trở về nhà sau một chuyến đi xa. Nhưng nếu lần trước, cái lần mà anh ta từ trên Nam Vang về, anh ta vừa hồi hộp vừa hân hoan bao nhiêu thì lần nầy anh ta vừa bồn chồn vừa lo lắng bấy nhiêu.

Ngồi ở phía trước chiếc tam bản đò chèo cọt kẹt lướt trên mặt sông để về Rạch Chiếc, Tư Cầu buồn bã ngắm nhìn cảnh vật trên bờ lần lượt phơi bầy trước mắt anh ta: mấy cây cầu gãy gục đôi, xóm nhà cháy tiêu và chỉ còn lại mấy hàng cột đen xì, mấy cái lu nước bể nằm trơ vơ trên nền đất đã bắt đầu xanh um cỏ dại… Và dưới sông, thỉnh thoảng chiếc đò tam bản lại chèo ngang qua một xác chết sình chương và đen nám nổi lình bình trên mặt nước… Mấy con quạ đen bực mình vì bị khuấy phá bay vụt lên, kêu oang oác để rồi hấp tấp đáp sà xuống rỉa nốt mấy miếng thịt mềm rã…

Đến nơi, Tư Cầu vội vã bước lên đến để bươn bả đi thẳng về nhà.

Đâu đâu cũng có vẻ đìu hiu hoang phế và cả những người quen mà Tư Cầu gặp dọc đường cũng có vẻ dè dặt khi bắt buộc phải đáp lại lời chào hỏi vồn vã của anh ta.

Tư Cầu sững sờ đứng trước hàng rào me keo của nhà mình: ngôi nhà cũ biến đâu mất và nay chỉ còn một túp lều con lụp xụp như thu hình ở phía trong cùng.

Anh ta nghẹn ngào cất tiếng gọi:

– Năm ơi Năm! Bộ mầy hổng có ở nhà sao Năm?

Không có tiếng thằng Năm trả lời mà chỉ có tiếng con chó vện già xổ ra vừa sủa vừa tru ư ử đón mừng người thân cũ. Tư Cầu đặt cái cặp da và gói bánh mì xuống để vuốt ve con vật.

Vừa lúc ấy, Ba Kiên ở trong nhà chạy ra, mình trần trùi trụi với một khẩu ru-lô nhét trước bụng sau cái lưng quần vận đen của anh ta:

– Mầy hả Tư! Vậy mà tao tưởng ai chớ? Sao tao nghe đồn mầy bị Tây bắn chết rồi?

Tư Cầu có vẻ không bằng lòng những lời “chào đón” ấy, anh ta không trả lời câu hỏi của Ba Kiên mà nhìn quanh một vòng rồi hỏi lại:

– Sao… như vầy nè? Tía má và thằng Năm đâu mà nhà cửa vắng hoe vậy hả anh?

Ba Kiên bước lại ngắm nghía Tư Cầu từ đầu đến chân rồi cười hỏi luôn:

– Ủa, tao nghe nói Tây bắt mầy dẫn đi rõ ràng, sao bây giờ mầy trở dìa bảnh tỏn như vầy hả?

Tư Cầu cằn nhằn:

– Chuyện đó còn dài lòng lắm, để thủng thẳng tui sẽ kể lại cho anh nghe, còn tui hỏi về cái chuyện nhà cửa, tía má, thằng Năm… mà anh nói trớt đi hoài.

Ba Kiên nhún vai:

– Nhà cửa như vậy là tốt lắm rồi. Thời buổi giặc giã này mầy còn đòi voi đòi tiên gì nữa ! Còn tía má và thằng Năm thì dông theo anh Hai làm Việt gian hết rồi!

Tư Cầu chưng hửng trợn mắt:

– Làm Việt gian? Bộ anh nói giỡn sao chớ?

Ba Kiên có vẻ trầm ngâm một giây rồi đáp:

– Thiệt… chớ giỡn khỉ gì mậy!

Tư Cầu nói một cách quả quyết:

– Thiệt cái gì đi nữa thì tui tin hổng vô! Tía má già cả như vậy còn ham muốn cái gì nữa để ra làm Việt gian chớ? Mà Việt gian là Việt gian… cách nào chớ?

Ba Kiên gật đầu:

– Mầy nghĩ như vậy cũng hơi phải – phải: tía má, thằng Năm không làm Việt gian, cái đó tao cũng hổng dám nói cái gì khác, nhưng ngặt một nỗi là anh Hai bây giờ ảnh đi lính cho Tây…

Tư Cầu rơi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác:

– Anh làm ơn nói lợi tui nghe coi! Anh Hai làm đi lính cho Tây? Bộ ảnh điên sao hả! Chắc mấy cha nghe đồn vậy thôi, rồi đề án tử cho người ta… Anh Hai ảnh hiền khô mà!

Ba Kiên có vẻ bực bội:

– Mầy đi mới dìa hổng biết cái đám đế gì hết thì để người ta nói cho mà nghe… Nghe đồn khỉ gì: anh Hai ảnh ra làm lính đầu đỏ bạt-ti-dăng, ngày nào mà hổng có gác ở cái “cốt” kế bên cầu dưới chợ La-Ghì. Mầy hổng tin bữa nào mầy lội xuống đó coi, mà mầy làng chàng ra đó, thằng chả dám cắc bùm mầy đổ ruột lắm đa!

Tư Cầu thở dài, nhưng còn ráng hỏi:

– Anh nói làm sao á!… Mà cái gì giục ảnh để ra vác súng cho tây vậy cà? Mọi khi nói chuyện đi lính đi tráng ảnh ghét lắm mà?

Đến lượt Ba Kiên thở dài:

– Thiệt ảnh làm cho tao thiếu điều xấc bất xang bang… Nói nào ngay thì cũng tại ảnh… tức anh em ở trong nầy nên ảnh mới dông ra ngoài đồn Tây.

– Sao mà tức?

Ba Kiên nhún vai có vẻ hơi ngao ngán, rồi chậm rãi kể lại đầu đuôi câu chuyện:

– Mầy hổng biết chớ hồi mầy biệt tăm biệt tích rồi, ở dưới nầy Tây vô ruồng bố liên miên… (rồi như nhớ trực lại là tự nãy giờ cả hai đứng khá lâu ở giữa sân, nên Ba Kiên vội kéo Tư Cầu lôi đi) Thôi vô trong nhà rồi hãy tiếp tục câu chuyện.

Tư Cầu cúi xuống xách cái cặp da và gói bánh mì lên, rồi nhìn quanh và thắc mắc hỏi:

– Sao bà con cô bác ở lối xóm lại vắng hoe hết vậy anh? Thế nào họ cũng nghe tin tui dìa đây, nhưng sao không thấy ai chạy qua hỏi thăm hỏi lom gì ráo!

Ba Kiên cười đáp:

– Thằng này khờ tổ mẹ! Mầy quên rằng bây giờ là thời kháng chiến, đồng bào phải phòng kẻ gian…

Tư Cầu cự nự:

– Bộ tui đây mà gian sao? Bị Tây bắt thấy mồ thấy tổ!

Ba Kiên lắc đầu:

– Trừ ra cái việc tây nó bắn mầy chết rồi chở xác dìa đây chôn thì không kể, chớ nếu mầy bị Tây bắt mà sau đó, mầy lại lò mò dìa đây thì… thiên hạ ngán không dám ráp lại gần mầy là phải lắm! Với lại bị tao bây giờ làm công an nên bà con chòm xóm họ cũng… ngán luôn!

Tư Cầu ngó xuống khẩu ru-lô dắt trước bụng Ba Kiên:

– Anh mà làm công an?

– Tao làm tới cái gì nữa cũng được, nhưng tao… mến cái chỗ nầy hơn! (rồi nhận thấy cái gói Tư Cầu cầm trên tay, anh hỏi tiếp) Mầy mua bánh trái gì đó hả? Cha thằng nầy bây giờ coi bộ giàu quá mậy?

Tư Cầu trề môi:

– Giàu khỉ gì! Cái chuyện của tui cũng rắc rối lắm để huỡn đãi rồi tui kể lại cho anh nghe. Còn gói nầy… có mấy ổ bánh mì mua ở bến xe lục tỉnh trên Sài gòn đó mà!

– Ủa, bộ mầy lên tới trển lận sao?

– Ừa… mà thôi, anh vô nhà kể cho tui nghe chuyện của anh Hai coi ra thể nào!

… Vào trong nhà, Tư Cầu ngó quanh ngó quẩn rồi hỏi Ba Kiên:

– Bàn ghế, tủ thờ, ván ngựa ở đâu mà sao trống trơn vầy nè?

Ba Kiên cười xòa:

– Thiệt thằng nầy đi xa dìa nên coi bộ bơ bơ! Tủ thờ và mấy bộ ngựa để ở đây cho tụi nó vô chở đem đi hết hả? Hồi còn ở nhà, tía đem chuồi mấy món đó xuống mương ở đằng sau hè rồi.

Tư Cầu gật gù rồi hỏi luôn:

– Sao anh, còn cái chuyện Việt gian, Việt ngay đầu đuôi thể nào?

Ba Kiên ngồi phịch xuống sạp chõng:

– Thì có gì đâu, hồi mầy đi rồiTây nó vô ruồng bố liên miên nên mấy “anh lớn” cho rằng vùng nầy có Việt gian nên tụi nó mới làm dữ như vậy…

– Sao bộ đội đâu không đánh tụi nó cà?

Ba Kiên cau mày:

– Tao hỏi mầy đánh khỉ gì được một khi có Việt gian nó chỉ không còn sót một con đỏ?

Tư Cầu cười lạt:

– Thôi đi anh, mấy cha nội ở đây suốt ngày đêm cứ lo đập chó, vật gà ăn nhậu lu bù hoài chớ mấy chả mà đánh giặc cái mốc xì họ! Mà chỗ mình ở lại nhằm con đường đổ bộ thuận tiện của Tây để đi ruồng các miệt trong, nên mấy cha nội ở đây quýnh đít rồi đổ thừa bậy bạ là tại Việt gian nầy, Việt gian nọ chớ gì! Mấy cha khôn quá tổ mẹ người ta! Còn anh…

Ba Kiên vội ngắt lời em:

– Ê Tư, bây giờ khác chớ hổng phải như hồi xưa, mà mầy “phê bình” tưới hột sen đó nghen mậy!

Tư Cầu nói lẫy:

– Cha, gắt quá há!

Ba Kiên cũng đâm ra lúng túng:

– Thì mầy nghĩ cái gì cũng phải có… kỷ luật hết mới được! Nhưng thôi, dẹp chuyện đó qua đi để tao thuật cho mầy nghe về vụ… anh Hai ở nhà.

– Ờ vụ đó sao anh?

Ba Kiên cúi đầu xuống và chậm rãi kể:

– Như tao đã nói hồi nãy: mấy “ảnh” nghi trong vùng mình có Việt gian, mà tao thì làm công an nên mấy ảnh cạo tao sát da… Mầy nghĩ coi như vậy cũng kẹt cho tao quá: bà con lối xóm gì tao cũng quen mặt khắp cả và tao nói đây là Bà Cậu làm chứng, tao không thấy ai có… bộ vó Việt gian hết?

– Ừa, anh nói vậy tui nghe hạp ý lắm đa! (nhưng rồi anh ta nhìn sững Ba Kiên hỏi liền) Bộ anh thấy hổng có ai là Việt gian rồi nhè anh Hai mà chỉ cho mấy chả hả?

Ba Kiên cự nự:

– Đừng nói bậy mầy! Tao dầu tệ thế nào đi nữa cũng đâu đến cái mức đó! Mà mầy hổng biết thì ngậm mỏ lại để tao kể hết cho nghe chớ đừng làm bộ tài khôn hỏi xía vô hoài nghen!

Tư Cầu vội xuống nước:

– Thì thôi… anh nói tiếp đi.

Ba Kiên lừ mắt nhìn em một hồi mới chịu kể tiếp:

– Mày nghĩ coi, mỗi lần Tây đổ bộ nó bắn tứ tung ngũ hoành tao có điên khùng gì ẩn núp lại đó rình rập ai để ăn đạn hả?

– Vậy sao mấy chả… thấy anh Hai mình làm Việt gian?

– Ối thì ba thằng cô hồn du kích thấy rồi dìa báo cáo lại.

– Tụi nó thấy gì hả?

– Hôm đó bị có chiếc máy bay chuồn chuồn của Tây nó bay rà rà trên xóm hoài, rồi tụi nó thấy anh Hai ảnh leo lên nóc nhà ra dấu hiệu gì cho Tây đó hổng biết…

Tư Cầu bực tức níu vai Ba Kiên:

– Anh Hai ảnh biết đách gì mà lại nói như vậy chớ?

Ba Kiên hất tay anh ta xuống:

– Bộ tao hả? Cái thằng nầy kỳ cục quá!

Tư Cầu nổi nóng hỏi tới:

– Rồi anh Hai ảnh cũng chịu để cho mấy thằng chết dầm ấy bắt sao? Bộ ảnh không có miệng hả?

– Ra trước Ủy ban, ảnh nói là hôm đó tại vì thiên hạ nhốn nháo, phần thì binh của Tây ở ngoài vàm nã cà-nông liên hồi vô xóm nên… con gà điều nòi của anh hoảng sợ bay tuốt lên nóc nhà, ảnh sợ con gà chạy mất hoặc bị Tây lên bắt vặn cổ, nên ảnh mới leo lên bắt nó, rồi mấy cha nội cho rằng ảnh ra dấu cho máy bay chuồn chuồn…

Tư Cầu quắc mắc hỏi liền:

– Vậy mà mấy anh lớn cũng tin nữa sao?

Ba Kiên ấp úng đáp:

– Thì mầy nghĩ coi… mấy chả đang kiếm Việt gian mà anh Hai ảnh làm như vậy mấy chả hổng nghi hổng tin sao được!

Tư Cầu bắt chửi thề lên một tiếng, rồi hỏi:

– Mấy ảnh làm việc như vậy thì nữa rồi con chó nó theo mấy ảnh chớ ai mà theo nữa!

– Thì mầy giỏi mầy ra nói với mấy chả đi!

Tư Cầu bị người anh dồn vô chỗ… bí, nên lúng túng hỏi lảng đi:

– Nhưng anh Hai ảnh tiếc gì thứ con gà mắc toi đó để sanh chuyện rắc rối như vậy cà?

Ba Kiên nhìn Tư Cầu trề môi:

– Mầy hỏi câu nào câu nấy cũng lãng xẹt hết á! Đó là con gà nòi xung của ảnh chớ bộ gà thường sao? Mấy tháng trường nay, ảnh chắt chiu o bế cho con gà cưng của ảnh ngày đêm để ra giêng đem đi ra trường gà đá độ với người ta… nên ảnh mới dám liều mạng bò lên nóc nhà bắt nó trong lúc súng đạn nổ ầm ầm đó mầy!

Tư Cầu thở dài:

– Hèn chi… thiệt tình ngay mà lý gian!

Ba Kiên chụp nói liền:

– Thì đó, mầy cũng nghĩ như vậy!

– Nhưng bộ anh không đi xin giùm hay là đứng ra bảo lãnh cho anh sao?

Ba Kiên trợn mắt:

– Ý trời, bộ mầy nói chuyện chơi sao chớ! Từ đầu mùa cho chí cuối, tao lãnh công tác ở đây mà chỉ có chuyên môn đi bắt rượu lậu, với cờ bạc thôi chớ chưa có rớ được món nào Việt gian Việt ngay hết… rồi bây giờ mầy biểu tao nhảy vào bảo lãnh cho một vụ Việt gian thì có nước tao đi “mò tôm” chung một xuồng luôn.

– Nhưng anh quên rằng anh Hai là… anh ruột của mình, mà ảnh lại vô tội nữa sao?

Ba Kiên không đáp thẳng mà tìm cách hỏi lại anh ta:

– Sao mầy hổng giỏi ở đây mầy lãnh cho ảnh? (rồi anh ta nghiêm giọng nói tiếp) Mà tao cho mầy hay: chuyến nầy mầy dìa đây mà ăn nói làng chàng, mấy chả dám cho mầy… đi luôn lắm! Lúc nầy là lúc quyết liệt rồi chứ không phải lơ mơ như hồi đó được nghen mậy!

Tư Cầu chán nản hỏi thêm:

– Nhưng sau đó mấy anh lớn xử làm sao, và anh Hai ảnh ra đầu Tây hồi nào hả anh?

Ba Kiên trầm ngâm một hồi như để nhớ lại chuyện cũ rồi đáp:

– Thì… xử tử chớ còn… xử cách gì nữa mậy!

– Trời! Nhưng sao ảnh không chết mà còn bò ra đi lính cho Tây?

– Thằng nầy sao nóng quá! Mầy cứ ngậm câm miệng lại để tao nó cho hết đã! Mầy hổng biết chớ tao cũng bị kẹt ghê lắm: mấy chả xử anh Hai cho đã đời rồi lại nhè tao giao cho “sứ mạng” thi hành bản án…

– Rồi anh cũng nhắm mắt mà giết anh Hai hả?

Ba Kiên cười mũi:

– Bây giờ mầy nói cho sướng cái miệng mầy thôi, chớ không biết suy xét đách gì hết. Tao ở nhà thì là anh em của anh Hai, nhưng một khi ra trước “nhân dân” tao cũng là người của “chính phủ”. (đến đây, anh ta lại hạ thấp giọng) Mà ví dầu tao có… nghĩ cái gì khác, mụ nội tao cũng hổng dám cản mấy cha nữa!

– Hứ! Tui biết anh nhát hít mà!

– Mầy giỏi nữa! Tao biết mầy gan mà! Nhưng tao là người của “chính phủ” và hễ “quân pháp bất vị thân” tao cứ y lệnh mà mần. Nói nào ngay cũng… nhờ tao mà anh Hai ảnh thoát chết!

Tư Cầu hân hoan hỏi Ba Kiên liền:

– Bộ anh nghĩ lại rồi thả ảnh dông luôn hả?

Ba Kiên lúng túng đáp:

– Thằng nầy nó nói nghe… dễ ợt! Tao thả ảnh để nhào vô thế mạng hả? Nhờ tao mà ảnh thoát chết là như vầy nè: mấy chả kêu tao chở anh Hai ra giữa sông cái rồi buộc đá vô cho đi “mò tôm”, tao nghĩ lại… như vậy cũng ngặt cho tao quá! Phần thì tía má ở nhà cứ nhè tao mà chửi nát không chừa một sợi tóc, nên tao mới đề nghị với mấy chả nên đem xử anh Hai một cách… đàng hoàng hơn để làm gương cho thiên hạ…

– Tưởng gì khác chớ anh cũng chỉ giỏi trong việc nói với người ta giết anh Hai thôi!

Ba Kiên không buồn đáp câu trách móc của Tư Cầu và kể tiếp:

– Nhờ tao đề nghị như vậy mà mấy chả mới đem anh Hai ra xử bắn đàng hoàng, và cũng thời may, vừa lúc bịt con mắt ảnh xong thì có máy bayTây đến bắn loạn xà ngầu, cả thiên hạ và mấy cha nội trong ủy ban, mấy cha du kích mạnh ai nấy lủi… Trong lúc ấy, Tây nó cũng đổ bộ lên ngoài vàm ì ì… Mấy chả bèn lôi anh Hai đi theo, rồi sau đó không biết ảnh làm sao mà xút ra được để vọt theo ba thằng Tây luôn!

– Còn tía má và thằng Năm?

– Lối một tháng sau, anh Hai ảnh chơi nghiệt quá, ảnh dắt Tây dìa bố nát nước trong nầy, rồi ảnh lôi tía má và thằng Năm theo ra chợ, ảnh vô tao cũng lủi trốn thấy mồ thấy tổ! Thằng chả đi lùng kiếm mấy cha nội trong nầy còn hơn Tây nữa! Thiệt hễ ra làm Việt gian rồi thì bất kể quân thần.

Tư Cầu hỏi lại Ba Kiên:

– Chớ còn anh thì sao?

Ba Kiên lúng túng đáp:

– Tao thì khác…, tao “kháng chiến” mà mậy!

Tư Cầu cười mũi:

– Hứ, khác cái mốc xì họ! Anh theo mấy chả riết rồi… bất kể cái gì hết! Mấy cha làm bậy rồi cứ nhè người khác mà đổ thừa càn mạng, rồi lại xưng là nầy, là nọ nữa! Hổng phải tui ưa gì Tây, tui oán tụi nó thâm xương, nhưng có nhiều cái tui chịu mấy cha cũng hổng vô!

Ba Kiên nhìn em rồi cười lạt:

– Thằng này… tao coi bộ mầy đi Sàigòn ăn ba cái bánh mì tây nó liệng cho thét rồi mầy đâm ra nghĩ bậy nghĩ bạ quá lẽ! Tao cảnh cáo mầy một lần chót, mầy mà ăn nói cái điệu dộng đầu dộng cẳng đó nữa thì có ngày mầy chết không kịp ngáp đa em! Thiệt mà, mấy anh lớn thường nói cái thứ lừng khừng rồi ra thành, “bơ sữa” một vài lần là dễ biến thành phản động lắm!

Tư Cầu cũng không nhịn thua:

– Thôi đi anh, anh đừng có xài ba cái danh từ học mót đó với tui!

Ba Kiên giận đỏ mặt tía tai, vừa lấy tay mân mê cái báng súng ru-lô, vừa gườm gườm nhìn Tư Cầu:

– Mầy chớ phải thằng nào khác mà ăn nói móc họng móc hầu cái điệu đó, trời cản tao cũng “nổ” nữa đa mầy!

– Thì có ngày anh cũng kể tui như thằng khác! Đó, cái chuyện của anh Hai còn sờ sờ trước mắt chớ bộ xa lắc xa lơ gì sao!

Ba Kiên không muốn trở lại vấn đề ấy nữa nên lên tiếng hối Tư Cầu:

– Thôi dẹp chuyện đó qua một bên đi! Bây giờ mầy lo tắm rửa cho khỏe để rồi còn ăn ba hột cơm chiều chớ… À, mà sẵn có mấy ổ bánh mì đây. (Ba Kiên thò tay nắn nót mấy ổ bánh) Cha tao coi bộ ngon đa mầy!

Tư Cầu sẵn dịp đó cũng muốn làm lành với anh:

– Bánh mì nầy làm bằng bột mì ròng mà anh, bây giờ nó mềm đi chớ hồi sáng còn mới dòn ghê lắm! (Tư Cầu ngập ngừng đôi giây rồi nói thêm)… Của con Phấn nó mua cho tui đó mà!

Ba Kiên chưng hửng hỏi lại:

– Con Phấn nào? Phải con Phấn con của bác Bảy hông? À, tao nhớ rồi… cái con nhỏ mà hồi nẳm mầy lằng nhằng với nó rồi sau đó nó có chồng các-chú đó phải không?

Tư Cầu xẻn lẻn gật đầu:

– Ừa…

Ba Kiên cười rộ lên rồi nói lớn:

– Cha thằng nầy coi lơ mơ vậy mà tốt phước ớn! Mà làm sao mầy bị Tây bắt rồi lại gặp được nó hả?

– Thì… cũng do sự tình cờ.

Ba Kiên mỉm cười có vẻ hoài nghi:

– Thôi đi mầy! Chắc mầy mãn tù rồi lọ mọ đi kiếm nó chớ gì!

Tư Cầu bực mình cự nự:

– Anh nói như thầy bói! Bộ anh tưởng tụi nó thả êm tôi sao?

Rồi không đợi cho Ba Kiên hỏi tới, Tư Cầu bèn thuật lại việc vượt căng của mình. Kể xong, anh rụt rè hỏi Ba Kiên:

– Vậy chớ gia đình con Phấn bây giờ ra sao anh?

Ba Kiên nhún vai:

– Thì hồi bác Bảy gái chết rồi, gia đình bên ấy bắt đầu suy sụp may mà nhờ có con Phấn ở Sàigòn, Chợ-lớn gì đó gởi tiền bạc dìa hoài hoài… Cái chuyện nầy chắc mầy rành hơn tao rồi!

– Anh kể tiếp đi! Khúc sau tôi cũng mù tịt chớ có ở dưới nầy đâu mà rành!

– Mấy lúc lộn xộn sau này, ở bển còn nguy gắt nữa: lúa ruộng thì không góp được hột nào, con Phấn thì đường sá cách trở…

– Còn thằng Tư em của con Phấn?

– Hồi mầy đi rồi thằng Tư gia nhập bộ đội, rồi sau đó đi “lưu động” đâu về miệt dưới… Nhưng mới hôm qua hôm kia gì đây tao có nghe tin là nó tử trận rồi.

Tư Cầu nhăn nhó chắc lưỡi:

– Tội nghiệp quá há! Thằng đó nó hiền khô mà trời lại không cho sống đời, còn cái thứ ôn hoàng dịch lệ thì cứ trơ trơ đó hoài!

Sợ Tư Cầu kiếm chuyện nói xiên nói xéo nữa, Ba Kiên bèn tìm cách nói lảng đi:

– Thôi đi tắm đi mầy! Phần tao tao chạy lại đằng nầy kiếm coi có gà qué gì chăng để dìa còn tính với ba ổ bánh mì này chớ! (anh ta ngừng lại nuốt nước miếng rồi gật gù nói tiếp) Thứ nầy mà có gì khìa lên thì ăn ngon hết nổi!

Tư Cầu nhìn anh, cười mủm mỉm rồi nói:

– Anh ăn bánh mì rồi không sợ lây… thực dân đế quốc hay sao?

Ba Kiên trề môi, nhún vai rồi cũng cười đáp:

– Ối, lâu lâu xực chút đỉnh mà có sao mậy! (rồi như nhớ lại điều gì, anh ta hấp tấp nói thêm) Mà kể ra mầy cũng hên lắm nên mới đem trót lọt mấy thứ đồ ở thành đô dìa đây, chớ nếu rủi gặp mấy cha nội công an chận xét dọc đường thì thế nào mấy chả cũng tịch thâu liền và hổng chừng còn bắt luôn chú mầy nữa!

Tư Cầu làm bộ mặt ngáo rồi hỏi:

– Coi mấy chả tịch thâu để chi vậy? Mấy chả lấy vụt xuống sông hổng được sao?

– Thôi đi mầy! Mầy đừng kiếm chuyện hỏi mắc hỏi mỏ tao!

Rồi Ba Kiên hấp tấp đứng vậy bước ra cửa:

– Ở nhà nếu mầy có rảnh thì nhúm lửa bắc nước sẵn đó giùm tao, tao chạy đi… vận lương nghen mậy!

Căn dặn xong, anh ta dong thẳng một mạch.

Tư Cầu đứng tần ngần nhìn theo rồi lắc đầu thở dài…

°   °
°

Mấy hôm nay, Tư Cầu cứ ở miết trong nhà chớ không buồn đi đâu hết. Ba Kiên thấy em có vẻ lầm lì suốt ngày nên cũng đâm ra ái ngại, nhưng cũng chẳng biết khuyên nhủ ra sao vì anh ta dư biết tánh nết của em.

Một bữa nọ, Ba Kiên đi họp với mấy anh lớn về liền đến bảo Tư Cầu:

– Ê Tư, chiều nay mầy theo tao ra “Ủy ban” chơi nghen mậy!

Tư Cầu ngạc nhiên nhướng mắt lên hỏi:

– Ra làm chi vậy? Bộ hết chỗ chơi sao mà phải ra ngoải chơi hả?

Ba Kiên chắc lưỡi:

– Thằng nầy sao kỳ quá! Tao nói thiệt chớ bộ giỡn sao!

Tư Cầu hoài nghi hỏi thêm:

– Hừ… bộ mấy chả tính làm khó dễ gì tui nữa hả?

– Tao nói hổng phải mà! Mầy sao hay nghi bậy quá. Nguyên tao thấy mầy ở nhà hoài cũng buồn, nên tao nói với mấy ảnh kiếm công tác gì để giao cho mầy. Mấy ảnh chịu liền vì mấy ảnh cũng khoái cái nước lì của mầy…

– Sao mà khoái?

– Hổng khoái sao được, vì mấy ảnh còn lạ gì mấy thằng lóc chóc ở đây, hễ bình thường vô sự thì làm trời làm đất can hổng nổi, mà hễ có động tĩnh thì… mụ nội ai chạy theo cũng hổng kịp tụi nó nữa!

Tư Cầu mỉm cười:

– Mấy chả cũng biết vậy sao?

– Hứ, người ta chỉ huy mà hổng rành hết sao được mậy! Mấy ảnh thấy mầy được cái gan lì, mầy hổng nhúng tay vô thì thôi mà hễ chịu mần thì… trời gầm hổng nhả!

Tư Cầu nhún vai có vẻ không mấy quan tâm đến những lời “khen tặng” ấy và ngồi làm thinh.

Thấy vậy, Ba Kiên vỗ vai anh ta:

– Sao mậy? Mấy thuở mà được mấy anh lớn để ý đặc biệt như vậy.

Tư Cầu nói gạt ngang:

– Mấy chả tốt quá há! Chắc mấy chả thấy cái lưng của tui to bề bề dễ hứng đạn nên mấy chả mới chịu tốn nước miếng để khen tui như vậy chớ gì?

Ba Kiên bực mình la lối om sòm:

– Đừng nói bậy hoài mầy! Thằng nầy sao nó không chịu ưa ngon, ưa ngọt mà ưa nặng không hè! Mầy dìa đây phải sửa tánh nết lại, chớ mầy cứ giữ cái điệu nầy hoài tao e có ngày… mầy khổ đa em! Và tới chừng đó đừng trách móc hay cầu cứu gì tao hết nghen! Tao xin đứt mầy cái chuyện đó trước!

Phần thấy anh nổi cáu, phần cũng ngại mấy “anh lớn” kiếm chuyện trong lúc mới chân ướt, chân ráo về nhà, Tư Cầu bèn lựa lời “vuốt giận” Ba Kiên:

– Thì tui… vui miệng nói chơi một chút chớ có gì đâu mà anh làm rầm rầm vậy! Với lại, tui nói ở đây chỉ có một mình anh nghe thôi chớ bộ ai khác sao…

Ba Kiên vẫn còn sừng sộ:

– Mầy nói như vậy mới mau chết nữa! Bộ mầy hết chuyện chơi rồi sao chớ? Mầy nói với gốc cột tao sợ còn hổng được chớ đừng kể đến tao, tao bây giờ đâu phải chỉ là anh của mầy không thôi, tao còn là người của “ủy ban”, của “chánh phủ”… bộ mầy quên rồi sao?

Tư Cầu nhún vai đáp:

– Tui nói chuyện với anh ở trong nhà chớ bộ ở ngoài trụ sở gì sao mà sợ…

Ba Kiên nói chen vô liền:

– Mầy đừng có cãi bướng với tao! Tao thấy bây giờ ở nhà chỉ còn có tao với mầy, nên tao mới nhọc công lo như vậy… Nhưng thôi, mầy muốn tự tung tự hoành gì đó thì làm đi, miễn nữa đừng than đừng trách, đừng níu đừng kéo gì tao là được rồi.

Tư Cầu cau mày, nhưng rồi anh ta lại cười giả lả:

– Tui chớ phải ai sao mà anh lo cái chuyện đó cho mệt! Nhưng thôi… anh làm ơn nói với mấy ảnh rằng: tui mới dìa nên còn… bợ ngợ lắm, xin mấy ảnh nới cho tui một ít lâu. Anh nghĩ coi thời buổi thanh niên như tụi mình không nhảy ra giúp nước thì còn đợi gì nữa, nhưng óc tui… lộn xộn quá… Thiệt thoát chết mấy lần nên tui như bị ai hốt hồn vậy!

Ba Kiên nhìn em một hồi lâu như để dò xét, rồi chậm rãi đáp:

– Thôi như vậy cũng.. được, tao cũng chẳng ép mầy làm chi, nhưng sẵn đây tao cũng nói thêm một lần chót với mầy một điều nầy: bây giờ hổng phải dễ như hồi đó, mầy bây giờ lớn rồi, mọc đủ lông đủ cánh rồi, thì ráng mà lo liệu lấy, và nếu mai mốt có sự gì xảy ra tao… hổng biết cái gì hết đó nghen mậy!

Tư Cầu thấy Ba Kiên lên giọng kẻ cả như vậy bắt buồn cười, nhưng anh ta cũng nói cho xuôi theo:

– Ai mà dám nhờ anh lo đâu mà anh rào trước đón sau dữ quá vậy hổng biết!

– Ừ, nếu được vậy… tao cũng lạy mầy! Cần nhứt là mầy đừng lộn xộn gì nữa hết là tao yên tâm rồi, nội cái việc của anh Hai đó, nếu tao… cu ky như người ta thì cũng dính luôn theo hay ít lắm thì cũng bị hạ tầng công tác… Tao nói mí mí như vậy chắc mầy đủ hiểu. Bây giờ muốn mần ăn cái gì cũng vậy, mình có ở trong phe của người ta, người ta mới che đậy binh vực cho mình, chớ đừng cậy giỏi, đừng ỷ y là mình phải, mình đúng rồi “bất kể quân thần” thì sớm hay muộn gì cũng ngủm củ từ đó mầy!

Tư Cầu bực mình muốn cãi lý lại nữa, nhưng bỗng nhớ trực lại việc cần phải ra giáp mặt tía má và anh Hai anh ta nên xuống giọng hỏi Ba Kiên:

– Nè anh Ba, tui tính mơi này lội ra thăm tía má một chút…

Ba Kiên gạt ngang:

– Ý hổng được đâu mầy ơi… mầy ra ngoải láng cháng Tây nó bắt đa! Và hổng phải cái số của mầy hên hoài nghen!

– Có anh Hai ở ngoải mà anh!

Ba Kiên “xì” một tiếng:

– Mầy tin ảnh là có ngày mầy chết nhăn răng đa em!

– Anh sao nghi bậy hoài, anh Hai ảnh đâu có đến nỗi tệ như vậy! Mà dầu sao đi nữa thì tui cũng phải thăm tía má…

– Thì mầy nhắn tin ra là mầy dìa đây bình yên có phải dễ hơn không!

– Đâu được anh! Đó với đây mấy cây số mà không ra thăm tía mà thì sao phải lẽ…

– Mầy nói như vậy phải lắm nhưng cách đây cả chục năm về trước kìa! Chớ bây giờ mầy láng cháng nhích qua nhích lại chút xíu thôi cũng đủ chết rồi chớ đừng nói gì cách cả mấy cây số ngàn lận!

Tư Cầu vớùi giọng cương quyết nói thêm:

– Nhưng dầu sao tui cũng phải ra ngoải. Tui đâu có ngán Tây đó anh!

Ba Kiên nhăn nhó rồi lúng túng thuyết phục em:

– Thì đã đành rằng mầy bảnh, mầy hổng ngán Tây, nhưng tao nói với mầy tự nãy giờ rát cổ họng mà mầy chưa hiểu gì ráo… Bộ mầy nói chỉ có Tây không sao? Tao nói… nhích qua nhích lại cũng đủ chết là nói về phía… mấy cha nội trong nầy nè! Mầy sao cái gì cũng lóc chóc hết…

Tư Cầu nói gạt ngang:

– Anh cứ để thây kệ tui… mơi đây thế nào tui cũng đi ra ngoải, rồi muốn tới đây thì tới!

– Tao lạy mầy đó Tư! Mầy cứ kiếm chuyện khó khăn hoài rồi biểu yên thì yên sao được! Mầy làm như vậy, đâu phải chỉ có một mình mầy lãnh đủ, mà tao đây cũng kẹt vô đó nữa chớ bộ giỡn hay sao?

Tư Cầu cười lạt:

– Té ra anh lo cho anh chớ sợ gì cho tui.

Ba Kiên gãi đầu:

– Thiệt ra thì… thì mầy cũng… nên thương dùm tao một chút xíu. Nếu mầy nằng nặc đòi đi như vậy thì tao cũng hổng cản mũi cản lái làm gì, nhưng… theo tao, mầy nên đi cách nào cho kín kín. Hổng phải tao nói mầy sợ ai, nhưng mầy nên… nghĩ đến tao ở trong nầy.

Tư Cầu mỉm cười đáp:

– Được rồi, tui làm sao cho êm thấm thì thôi, tui cũng phải lo cho cái thân của tui nữa chớ anh!

Ba Kiên vỗ vai em cười hề hề:

– Tao biết mầy điệu lắm mà!… Nhưng mầy ra ngoải thăm tía má rồi chừng nào dìa hả? Hay là mầy… tính ở luôn…

Tư Cầu rướn cổ nó liền:

– Ê, anh nhìn mặt mũi thằng nầy ra sao mà anh nói hồ đồ như vậy chớ! Thứ nầy là thứ… ăn thua đủ với tụi nó mà anh!

Ba Kiên vội nói bọc theo:

– Ối, tao vui miệng nói giỡn chơi vậy, chớ tao dư biết mầy ngon lành mà! (rồi anh ta lắc vai Tư Cầu mấy cái liền) Cái thằng nầy sao dễ nổi sùng quá! Hễ ai nói động tới mầy là mầy quạu đeo… thời buổi nầy mà như vậy là… kém “chánh trị”, là dễ… chết non chết yểu lắm nghen mậy!

Tư Cầu trề môi:

– Tui thì vậy đó đa!

Ba Kiên nhìn em lắc đầu rồi bỏ đi ra ngoài sân một nước…

°   °
°

… Sau một thời gian nằm “ụ” ở nhà, Tư Cầu cảm thấy bực bội trong mình nên khi nghe Ba Kiên thúc giục ra lãnh “công tác” anh ta ưng thuận ngay.

Đó là một điều làm cho Ba Kiên hả dạ nhứt và sau khi chạy lên “ủy ban” báo cáo về việc ấy, anh ta hấp tấp trở về nhà gọi Tư Cầu rối rít:

– Tư ơi Tư, mấy anh lớn bằng lòng hết rồi nghe mậy!

Tư Cầu đang ngồi bó gối trên ngưỡng cửa nhà, thản nhiên nói:

– Vậy hả! (rồi anh ta mỉm cười hỏi lại) Chớ hổng phải tại tui… bằng lòng trước hả?

Ba Kiên nói lảng đi:

– Mà mầy cũng hên lắm nghen, mầy vô thiệt đúng dịp tốt!

Tư Cầu ngạc nhiên hỏi liền:

– Sao lại có chuyện hên xui ở trỏng nữa đó cha nội?

Ba Kiên vui vẻ đáp:

– Hổng hên sao được mậy! Tao cũng lựa lúc để tao đưa mầy đi học khóa huấn luyện cán bộ tiểu đội trưởng ở trên tỉnh bộ.

Tư Cầu đứng phắt dậy cự nự:

– Thôi, cái chuyện đó tui hổng thèm đâu!

Ba Kiên trợn mắt:

– Ý trời, tao bảo mầy đi học làm chỉ huy, làm… cha nội người ta, mầy còn chê nữa chớ! Như vậy sướng thấy mồ mà thầy còn muốn đòi trâu đòi heo gì nữa hả?

– Hứ, bộ anh nói tui ham lắm! Anh bắt tui chèo ghe bửa củi gì cũng được hết, chớ biểu tui đi học thì tui xin… chạy tét.

Ba Kiên dậm mạnh chân xuống đất:

– Cái thằng nầy thiệt kỳ đời! Mấy bữa tao chạy đôn chạy đáo năn nỉ lạy lục mấy anh lớn thiếu điều sói trán để gởi gấm mầy lên tỉnh bộ học khóa cán bộ, mà bây giờ mầy lại dở chứng như vậy thiệt hết chỗ nói rồi!

Tư Cầu thấy Ba Kiên bực mình như vậy bèn xuống nước nhỏ:

– Thì tui tưởng anh nói tui lãnh công tác gì đó hay là anh cho tui đi đánh giặc đánh giã tui còn ham… Tui có dè đâu anh lại gởi tui đi học. Thôi anh à, ai muốn làm vương làm tướng gì đó thì làm, còn tui cứ cho tui xách súng đi bắn ba thằng thực dân là tui đủ khoái rồi!

Ba Kiên chắc lưỡi:

– Nói như vậy mầy chỉ muốn làm một thằng du kích quèn thôi sao?

– Coi, tui quánh Tây đâu có cần… chức tước gì anh!

Ba Kiên thở ra một hơi dài:

– Nói như mầy vậy nhiều lúc tức muốn bể ngực! Người ta muốn tu cho lên tới Niết Bàn cũng còn phải trải qua mấy… cấp bực: ban đầu là Sãi, rồi Sư, rồi đi lần lần lên Hòa thượng Yết-Ma và còn cả chục bực rắc rối khác nữa! Kháng chiến của mình cũng vậy, nghĩa là cũng phải có cấp bực trên dưới chớ mậy!

Tư Cầu cười xòa:

– Anh sao hay ví tầm bậy hoài! Mà tui đã nói: tui có ham cấp bực khỉ khô gì đâu! Tui muốn kháng chiến.. trơn vậy thôi hè!

Ba Kiên cau mày suy nghĩ một vài giây rồi hăng hái nói thêm:

– Mầy không ham chuyện đó thì cũng cho là được đi nhưng mấy ảnh thấy mầy có nhiều khả năng và đàng hoàng nên mấy ảnh có bổn phận phải cất nhắc cho mầy, cái đó cũng vì lợi ích chung…

Tư cầu vội cắt lời Ba Kiên:

– Vậy sao hồi nãy anh nói là anh phải đi năn nỉ lạy lục mấy ảnh?

– Thì… tao nói như vậy để mầy… ngó lại giùm cái công khó nhọc của tao… Thiệt tình thì tao cũng… vận động với mấy cha lớn củ kiệu lắm nên mới được, chớ nếu tao lơi lơi một chút thì ba thằng ông nội khác nó xía vô cản mũi cản lái liền!

Tư Cầu lắc đầu thở ra:

– Tui thì ngán nhứt cái chuyện đó!

Ba Kiên chụp nói theo liền:

– Đọ, vì chỗ ấy mà tao khuyên mầy ráng đi học làm cán bộ chuyến này đó Tư! Chớ mầy cứ lẹt đẹt ở dưới hoài thì thế nào mày cũng còn nhiều dịp bực mình nữa, mầy có chỉ huy được thì mầy mới mong sửa đổi, lèo lái ba thằng cốt đột ở dưới cho nó khá dần dần lại. Mầy nhắm mắt buông tay thì tụi nó cứ… u trệ vậy hoài, và rồi có ngày mầy chịu hết nổi rồi sanh ra lục đục hổng tốt đó Tư!

Nghe Ba Kiên giãi bày thiệt hơn mọi mặt như thế, Tư Cầu cũng hơi xiêu lòng. Nhưng anh ta còn thắc mắc hỏi thêm:

– Anh nói như vậy tui nghe cũng phải, nhưng tui… chữ nghĩa không đầy lá mít rồi làm sao học lại người ta!

Ba Kiên cười xòa rồi vỗ vai anh ta:

– Mầy đừng có lo chuyện đó! Bây giờ người ta… khoa học tấn bộ lắm đâu có cần phải nhiều chữ nghĩa mới học lớp cán bộ được mậy! Với lại cái lớp nầy là lớp về quân sự chớ phải học thi đi thi sơ học, đít-lôm gì sao mà phải cần giỏi chữ!

– Nhưng tui sợ… học thua người ta rồi rỗ mặt “bầu cua” hết!

Ba Kiên đáp bằng một giọng quả quyết:

– Cái đó, mầy biệt có sợ thằng nào khác. Tao dư biết mấy thằng đi theo học mà! Toàn là thứ… ăn trộm trâu, thằng nào thằng nấy bư như bò, tao dám nói là mầy qua mặt tụi nó nghe một cái rẹt liền!

Thấy Tư Cầu làm thinh, Ba Kiên lo lắng hỏi thêm:

– Bây giờ mầy tính sao đây? Đi hả mậy?

Tư Cầu thở phào ra rồi nhỏ nhẹ đáp:

– Để tui ráng một chuyến thử coi…

Tư Cầu nghe anh nói như thế, cũng đâm ra thương hại:

– Thôi được rồi, để tui ráng chịu “xó” với mấy chả cho anh yên lòng, nhưng hổng biết mấy chả có để yên cho tui hông!

°   °
°

Khuya hôm ấy, như thường lệ sau khi dắt trung đội của mình đi khuấy phá cầm chừng một đồn đóng ở vòng ngoài chợ Trà Ôn, Tư Cầu cùng anh em lững thững thả rề trên lộ cái vắng tanh để trở về căn cứ.

Thấy điệu bộ Tư Cầu có vẻ thong dong cũng như đa số anh em khác đi nghinh ngang trên lộ, tên chính trị viên đâm ra sốt ruột. Anh ta tiến lên đi song song với Tư Cầu lên giọng cằn nhằn:

– Nè anh Tư, sao anh để anh em đi loạn xạ không hàng ngũ, không kế hoạch, không phòng bị, không…

Tư Cầu thản nhiên chận ngang:

– Còn “không” cái gì nữa thì nói luôn nghe coi!

Tên chính trị viên đứng sững lại:

– Coi, tôi nói thiệt chớ bộ giỡn sao mà anh dở cái giọng đó à! (và nhận thấy Tư Cầu vẫn làm thinh đi tới, anh ta bèn te te chạy theo) Ê, anh Tư! tôi đang thảo luận với anh, sao anh lại có thái độ… ngoan cố đó hả!

Tư Cầu hất hàm hỏi lại:

– Cái gì mà ngoan cố ngoan kiết ở trỏng nữa đó?

– Tôi đang thảo luận với anh với tư cách là chính trị viên trong đơn vị…

Tư Cầu xì một tiếng:

– Anh muốn thảo cái gì đó thì chút nữa dìa tới chỗ rồi hãy “thảo”, chớ bây giờ… tui xin miễn đi! (rồi Tư Cầu quay về phía anh em đang đi đằng sau hô lớn lên). Ê mấy bồ đi rút dìa nghỉ cho khỏe!

Tên chính trị viên vẫn lẽo đẽo theo một bên Tư Cầu:

– Tôi đang thảo luận với anh về vấn đề…

Tư Cầu sẵng giọng cắt ngang:

– Đang hành quân hổng có thảo luận đách gì hết!

– Coi, tôi nói với anh đàng hoàng quá mà!

– Tui vậy đó!

Tên chính trị viên nhún vai rồi nói:

– Nhưng anh phải cho anh em rút đi lại cách nào chớ làm gì đi nghinh ngang giữa lộ vậy! Rủi địch tới bất tử rồi sao?

Tư Cầu nén lòng giải thích cho anh ta hiểu rõ lý do tại sao mình để anh em đi như thế:

– Tui làm cái gì cũng có… căn hết chớ hổng có làm ẩu đâu! Con đường này vắng hoe và giờ này bà nội tụi nó cũng không dám lò mò ra nữa! Mình cũng phải liệu chừng khi dùn khi thẳng để dưỡng sức anh em chớ! Bây giờ nếu mình làm gắt, bắt anh em lội ruộng hay càn rừng lướt bụi mà dìa thì cũng được chớ hổng phải không, nhưng như vậy là không biết… hà tiện sức vóc của anh em.

Tên chính trị viên lắc đầu lia lịa:

– Làm như anh vậy đâu có được! Nguyên tắc là nguyên tắc, anh mà cứ buông lơi như vậy có ngày hối không kịp, tôi yêu cầu anh…

Tư Cầu đứng khựng lại, xốc lại cây “tom son” đeo lòng thòng một bên vai:

– Xin lỗi anh, ở đây thằng nào chỉ huy?

– Nhưng tôi là chính trị viên trong trung đội, tôi có nhiệm vụ…

– Nhiệm vụ gì thì thây kệ anh!

Tên ấy cười gằn:

– Được rồi, tôi sẽ báo cáo lên thượng cấp.

Tư Cầu xô anh ta ra một bên rồi tiếp tục đi tới:

– Anh muốn báo cáo cái gì đó thì cho anh mần thả ga, nhưng bây giờ xin anh dẹp qua một bên đi…

… Anh em trong trung đội lào xào một hồi rồi tiếp tục cất bước theo Tư Cầu. Sự mất thể diện với các đội viên, tên chính trị viên lại chạy theo Tư Cầu nghiêm giọng bảo:

– Nhân danh chính trị viên trung đội, một lần chót, tôi yêu cầu anh cho anh em đi đường khác…

Tư Cầu không buồn ngó lại:

– Tui và anh em nhứt định đi dìa theo lối nầy, hay là anh muốn lội ruộng băng đồng gì đó thì… xin mời anh cứ tự ý!

Tên chính trị viên do dự đứng lại một hồi rồi làm thinh bước xáp vô đi chung với anh em…

Trời mới tờ mờ sáng. Tư Cầu vừa cho anh em tản ra lội tắt ngang ruộng để về Rạch Chiếc thì bỗng nghe có tiếng máy xe hơi chạy từ phía xa vang lại.

Tư Cầu vội hô anh em nằm rạp xuống rồi leo phóc lên một cây cao bên vệ đường để ngóng về phía mấy đốm đèn pha xe đang ló dạng trong sương sớm. Sau khi quan sát thật kỹ, Tư Cầu tuột mau xuống. Chân của anh ta vừa chạm đất thì tên chính trị viên cũng vừa bước tới và lên tiếng cằn nhằn:

– Đó bây giờ anh thấy chưa?

Tư Cầu đứng xuống đất, cúi xuống lấy cây tiểu liên đặt dựa vào gốc cây lên rồi bình tĩnh hỏi lại:

– Thấy cái gì?

– Hồi nãy tôi đã bảo anh phải cẩn thận mà anh nhứt định không chịu nghe!

Tư Cầu bực mình hỏi lại:

– Mà đã có cái gì chưa?

– Thì Tây nó kéo tới rần rần đó còn gì nữa!

– Bộ ngán rồi hả? Nếu anh có ngán thì… tui đâu dám ép anh ở lại, anh muốn dông trước thì dông đi chớ còn đứng đây nói láp giáp cái gì nữa!

Tên chính trị viên sừng sộ:

– Anh đừng khi dễ tôi không được đâu nghen! Anh đã vậy mà còn không biết phục thiện gì ráo!

– Cái gì mà phục thiện? Bộ anh nói mình bị Tây nó vây rồi sao mà bây giờ anh cằn nhằn tui chớ!

Tên chính trị viên hất hàm chỉ về phía có ánh đèn pha xe mỗi lúc mỗi gần:

– Thì đó! Bây giờ anh phải cho anh em rút lui gấp để bảo toàn lực lượng…

Tư Cầu cười rộ lên:

– Tui nói anh đừng giận: anh không biết cái khỉ khô gì hết mà cứ xía miệng vô hoài! Xe Tây nó đi tình cờ như vậy chớ bộ tụi nó biết có anh em mình ở chỗ nầy sao? (rồi anh ta dõng dạc nói tiếp) Tiện đây tui cũng cho anh hay luôn thể: tui cũng đã quyết định cho anh em nằm tại đây để kích tụi nó!

Tên chánh trị viên lấp bấp nói:

– Ý trời anh nói thiệt hay nói giỡn đó!

Tư Cầu thản nhiên đáp:

– Thiệt! Và bây giờ anh chịu khó dang ra xa đi để tụi nầy mần công chuyện.

Nói xong Tư Cầu vội rả bước về phía anh em.

Tên chính trị viên níu áo anh ta lại:

– Anh biết tụi nó đông hay ít thế nào mà dám làm ẩu như vậy?

Tư Cầu gạt tay anh ta ra:

– Hổng biết sao dám mần? Tụi nó có hai xe, mình tấn công vớt một cú nầy gỡ vốn cho mấy chuyến đi ăn trét vừa qua, rồi dìa nghỉ mới sướng!

Biết có cản trở nữa cũng vô ích, tên chính trị viên đành đứng lặng nhìn Tư Cầu đi cắt đặt anh em bố trí rải rác dọc theo hai bên đường để chờ hai chiếc xe nhà binh tây đi trờ tới…

Trời đã mờ mờ sáng.

Bốn ánh đèn pha của hai chiếc xe nhà binh chạy thật nhanh, đua nhau rọi sáng một khoảng đường và như muốn ngấu nghiến nuốt ngốn khoảng đường sắp tới.

Tư Cầu đứng sổng lưng nhìn kỹ: đó là một chiếc xe díp dẫn đầu rồi kế một chiếc vận tải cỡ “cách cách”: hai kiểu xe mà anh quá quen thuộc hồi còn ở trên căng. Anh ta biết rõ chỗ ngồi của tài xế ở bên nào và thùng xăng của mỗi chiếc xe để ở đâu…

Tư Cầu bắt mỉm cười khi nghĩ rằng: hai chiếc xe ấy đi ẩu trên con đường nầy thật chẳng khác gì cuộc phục kích cũng… ẩu tuốt của anh ta. Và tự nhiên Tư Cầu đưa mắt nhìn về chỗ tên chính trị viên ẩn nấp để lẩm bẩm một mình “Ẩu nhưng mà… ẩu có căn”.

Tư Cầu chậm rãi lên cò súng rồi đưa tay lên sờ mấy quả lựu đạn mang trước bụng. Chất thép mát lạnh làm cho anh ta có một cảm giác sảng khoái lạ kỳ.

… Ánh đèn pha xe hơi đã rọi sáng mấy bụi rậm mọc trên lề đường phía trước mặt Tư Cầu. Anh ta cất mũi súng lên canh đúng vào chỗ phía tài xế ngồi rồi ria một loạt…

Trong buổi sáng tinh sương loạt súng tiểu liên của Tư Cầu nổ nghe dòn vô cùng. Có tiếng kiếng bể nghe loảng xoảng, chiếc xe đảo lia, hai ánh đèn pha cũng theo đó mà quơ qua quơ lại để rồi cuối cùng chiếc xe đâm sầm xuống một cái hố bên vệ đường và nằm im luôn ở dưới.

Chiếc xe sau chưa kịp thắng lại thì từng loạt súng ở một bên nầy đường tua tủa nã ra, rồi tiếng rít ghê rợn của chiếc xe phanh gấp lại cùng tiếng la lối quát tháo của bọn người trên xe vang lên nghe rõ mồn một.

Bọn lính Tây vội đua nhau tông nhảy xuống nấp về phía bên kia đường để bắn trả lại, mấy trải hỏa châu cũng đồng thời bay vút lên trời để báo hiệu cầu cứu.

Vừa lúc ấy, một bán trung đội nằm phục sẵn ở bên kia đường cũng bắt đầu cho nổ súng và tung lựu đạn lên ào ào ở phía sau lưng địch quân. Bị dồn ép một cách hoàn toàn bất lợi như thế, bọn lính trên xe chỉ chống trả yếu ớt, rồi lần hồi mấy cây trung liên ngưng nổ. Chỉ mười phút sau, sau một loạt đạn tung lên ầm ầm, rồi kế một đợt xung phong không có gì là cam go cho lắm, tiếng súng đã im bặt.

Tư Cầu, tay xách tiểu liên chậm rãi bước lên lộ tiến về phía chiếc xe đậu chình ình trên đó.

Thấy anh trung đội phó chạy lại, Tư Cầu hất hàm hỏi chiếu lệ:

– Xong xuôi hết rồi hả?

– Có cái gì mà hổng xong!

– Bên mình có cha nội nào… trầy da, sứt trán gì hông?

– Có sơ sơ nhưng chẳng ăn nhằm gì ráo.

– Thôi lo coi anh em thâu dọn chiến trường gấp rút lên rồi đốt mẹ hai cái xe đó đi… Mà anh có biết cách đốt xe hông hả?

Anh trung đội phó cười đáp:

– Ý trời, anh khỏi lo chuyện ấy! Sửa xe thì tui chịu dốt chớ đốt xe thì… mấy hồi!

Vừa lúc ấy tên chính trị viên lại lò mò ra đến nơi. Hắn ta ngó quanh quẩn một hồi rồi tằng hắng lấy giọng để hỏi Tư Cầu:

– Bộ… xong rồi hết hả anh? Cha, anh đánh… cầu âu một chuyến mà ăn được hén!

Tư Cầu cười mũi:

– Hừ, cầu âu sao được anh. Có chiến thuật, có kế hoạch đàng hoàng… mà ối thôi, anh hổng biết quân sự khỉ gì hết, tui có nói nhiều anh cũng chẳng hiểu!

Tên chính trị viên tìm cách bắt bẻ Tư Cầu:

– Ủa, sao anh để anh em mạnh ai nấy thâu đoạt chiến lợi phẩm… Như vậy quá bừa bãi, mình phải biết món nào cần dọn trước, món nào cần để lấy sau, chớ làm xô bồ xô bộn như vậy bất lợi lắm!

Tư Cầu bực mình la lớn:

– Cha nội nầy sao có chuyện với tui hoài vậy cà! (Đoạn anh ta day qua phía tên chính trị viên…) Anh em họ đánh giặc nhiều họ dư biết cách lấy những thứ cần mà! Cái đó tui xin anh khỏi lo!

Rồi Tư Cầu cất tiếng gọi viên trung đội phó:

– Ê anh ơi, anh làm ơn coi có cái đồng hồ Vi-le hay Mô-va-đôâ nào đẹp đẹp, anh tước cho tui một cái… Tự hổm nay, anh chính trị viên ảnh đặt cọc tui một chiếc mà tui cứ hứa lần hứa hồi hoài.

Anh trung đội phó mỉm cười rồi chạy đi…

Một lát sau, anh ta trở lại cầm một chiếc đồng hồ đeo tay và một hộp thuốc lá Ăng-lê trao cho Tư Cầu:

– Đây anh, có cái này coi bộ khá khá tui lấy đỡ để đưa trước…

Tư Cầu vui vẻ đón lấy và trao luôn cho tên chính trị viên:

– Đây, anh cầm tạm…

Tên chính trị viên dẫy nẩy:

– Ý chết, anh làm vậy coi sao được!

– Vậy chỗ anh em tụi mình chớ có ai xa lạ đâu mà anh ngại! (rồi như để cho tên này khỏi ngượng Tư Cầu mở hộp thuốc thơm ra mời) Đây anh hút bậy một điếu cho ấm bụng.

Tên chính trị viên vội bỏ chiếc đồng hồ vô túi rồi vừa cười xẻn lẻn:

– Cha, lâu ớn tôi mới được thưởng thức thứ này (rồi anh ta chép miệng) thứ đồ của thực dân đế quốc dễ… cám dỗ lắm, mấy anh lớn mà hay được thì mệt đa!

Tư Cầu tươi cười vỗ vai hắn:

– Anh khỏi lo chuyện ấy (đoạn quay ra phía viên trung đội phó, Tư Cầu dõng dạc hạ lệnh)… Nè anh “Phó” anh nhớ kiếm để riêng ba mớ chiến lợi phẩm đặc biệt để đưa dìa nạp cho mấy anh lớn đó nghen!

Viên Phó dạ một tiếng thật lớn rồi bươn bả chạy đi.

Vừa lúc ấy có tiếng lao xao đằng phía chiếc xe díp nhủi đầu xuống mương ruộng: tiếng đàn bà léo nhéo chen với tiếng đùa bỡn của một số du kích đang bao quanh chiếc xe ấy. Tư Cầu ngạc nhiên vội rảo bước đi tới về phía đó và tên chính trị viên cũng lẽo đẽo theo sau.

Gần tới nơi, Tư Cầu đã lên tiếng hỏi:

– Cái gì mà ào ào ở đó vậy mấy cha?

Một đội viên nhanh nhẩu chạy lại:

– Ý anh Tư ơi, có một cô ngộ giàn trời mây còn ngồi núp trong xe díp đó. Tụi nầy mới xán lại cổ la lối om sòm và còn chụp lấy cây “côn” của thằng quan hai chết lật ngửa trong xe, đòi bắn tụi này nữa. Anh em thấy ngồ ngộ nên… đứng chòm nhôm ở đó coi chơi….

Tư Cầu vừa bước tới vừa chắc lưỡi:

– Mấy cha nầy thiệt quá trời! Thì hạ mẹ nó đi để còn rút dìa cho mau. Mấy cha hễ thấy có đàn bà thì cha nào cha nấy như thèm khát từ đời cố lũy nào vậy…

– Ý hạ đâu uổng vậy anh Tư ! Thứ nầy là thứ ở thành… ngon lành lắm, anh em đề nghị với anh… cho anh em xin… xác của cổ thì tốt lắm!

Tư Cầu trừng mắt:

– Đừng nói xàm mà! Mấy cha bị cái tật đó mà có ngày chết không kịp ngáp! Rủi con mẹ đó nó lẫy cò bậy một cái rồi sao?

Anh kia cười hề hề:

– Mụ nội nó bây giờ cũng hổng dám nổ súng… Bị nó thấy tụi nầy… hơi làng chàng một chút nên nó đâm hoảng rút càn mạng cây súng của thằng Tây ra quơ quơ để dọa tụi nầy, không cho xáp lại gần vậy mà!

Thấy Tư Cầu bước tới, đám anh em dãn ra nhường lối. Tên chính trị viên định nối gót theo Tư Cầu nhưng có một đội viên vội lên tiếng:

– Anh Tư coi chừng đó nghen! Con mẹ trong xe dữ như cọp cái… Tụi nầy cũng chưa dám xáp vô đó.

Tư Cầu dừng lại trong lúc tên chính trị viên đứng lẩn vô đám anh em. Tư Cầu quay qua hỏi những người đứng gần đó:

– Sao mấy cha hổng tung mẹ một trái lựu đạn vô trong xe cho rồi để tụi mình còn đi dìa chớ?

Một anh mau miệng đáp:

– Tung thì được rồi nhưng làm như vậy uổng lựu đạn và uổng luôn người trong xe nữa. Cả hai thứ đó, anh em mình đâu có… dư dả gì đó anh Tư!

Tư Cầu mỉm cười nói:

– Thiệt tui cũng chạy mấy cha! Thôi để tui kêu con mẹ đó ra và cam đoan thả con mẻ muốn đi đâu thì đi rồi mình đốt luôn chiếc xe ấy cho rồi, chớ anh em cứ dềnh dàng ở đây hoài, tụi tiếp viện lên tới mệt đa!

Tư Cầu vừa toan bước tới thì tên chính trị viên gọi giật ngược anh ta lại:

– Ê anh Tư, thứ đó cũng là Việt gian phản quốc anh thả không được đâu nghen! Phải bắt dẫn nó về ủy ban để cho mấy anh lớn định liệu.

Một vài anh em khác cũng hùa theo nói giỡn:

– Thả uổng lắm anh Tư ơi!

– Anh Tư, anh cho tụi nầy xin tạm cô đó xài đỡ trong cơn ngặt nghèo nầy, rồi sau đó mấy anh muốn thả cổ cách nào đó thì mặc tình!

– Thứ nầy năm khi mười họa mới có một lần thả sao được anh Tư! Anh em mình ở dưới miệt nầy ăn… cá kho quẹt hoài ngán quá anh Tư ơi!

Tư Cầu tuy bực mình vì lối “hạ lịnh” của tên chính trị viên, nhưng cũng phải phì cười theo mấy anh em khác:

– Được rồi, anh em để tui liệu… Mà con mẹ nầy cũng thuộc thứ lô-can chớ bộ đồ tây thiệt hay sao mà mấy cha lao nhao quá cỡ vậy!

Đoạn, Tư Cầu thủ sẵn khẩu tiểu liên trước bụng và chậm rãi bước lại về phía chiếc xe díp. Mấy anh em ở xung quanh đó cũng hờm súng sẵn.

Trời đã sáng hẳn.

Tư Cầu đã nom thấy rõ hai gạch vàng trên vai của tên sĩ quan địch chết nằm dựa ngửa vào băng sau xe. Anh ta đứng lại và dõng dạc lên tiếng gọi:

– Cô nào ở trên xe đó làm ơn quăng súng xuống đất và bước ra không thôi…

Tư Cầu chưa dứt lời thì người đàn bà trên xe nhảy xuống đất làm Tư Cầu giựt mình chong mũi súng lên định ria liền, nhưng anh ta bỗng buông thõng khẩu tiểu liên xuống lắp bắp kêu lên:

– Ủa… em Ba!

Người đàn bà hấp tấp chạy lại:

– Trời ơi, anh Tư!

Hai người đã đối diện nhau và cứ đứng ngó sững nhau. Một lát sau, con Ba (vì người đàn bà còn sống sót trên xe chính là con Ba) gượng cười níu lấy tay Tư Cầu nghẹn ngào nói:

– Em không dè lại gặp anh như vầy…

Tự nhiên Tư Cầu vội rút tay về và lúng túng hỏi lại:

– Vậy mà anh cứ tưởng ai… Mà em đi đâu như vầy nè?… Bộ ông quan hai trên xe…

Con Ba đỡ lời liền:

– Thì ổng chớ ai! Anh thiệt hết sức…

… Anh em ở ngoài chưng hửng trước cảnh tượng bất ngờ ấy. Và trong lúc mọi người còn đang ngơ ngác thì tên chính trị viên đã xông lên chụp lấy cánh tay của con Ba định tước khẩu súng. Con này nổi giận vùng mạnh cho sút tay rồi lẹ làng quăng khẩu súng xuống bãi cỏ trước mặt…

Anh em đứng gần đó và cả Tư Cầu nữa, chưa kịp đối phó ra sao thì con Ba thản nhiên hất hàm chỉ về phía khẩu súng nằm trơ trên mặt cỏ:

– Đó ai muốn lấy thì lấy đi chớ làm cái gì mà chụp giựt coi kỳ quá!

Tên chính trị viên lồng lên định xông lại nữa, nhưng Tư Cầu đã níu hắn lại:

– Bình tĩnh lại anh! Anh sao bộp chộp quá!

Đoạn anh ta bước lại nhặt khẩu súng lên nhét vô lưng quần rồi day qua bảo các đội viên:

– Thôi anh em đi dọn dẹp chiếc xe díp cho xong đi rồi phóng hỏa nó luôn thể. Các xác chết và thương binh địch khiêng để ra riêng qua một bên để lát nữa tụi nó lên tụi nó chở dìa…

Tên chính trị viên hầm hầm hỏi chen vô:

– Còn cái con Việt gian nầy?

Tư Cầu trả lời gọn lỏn:

– Tui thả cô nầy muốn đi đâu thì đi!

Không phải chỉ có tên chính trị viên mà cả bọn đứng chung quanh đều quay phắt lại, một vài người ngạc nhiên hỏi lại một lượt:

– Thả hả?

Tư Cầu thản nhiên gật đầu:

– Thả cổ ra chớ giữ lại tế mồ tế tổ gì tui.

Tên chính trị viên bước lại gần Tư Cầu:

– Ê anh Tư, anh làm ngang vậy không được đâu, nghen! Anh ngó lại anh em coi có ai tán thành cái quyết định động trời đó của anh không?

Tư Cầu liếc qua một vòng… và anh ta vừa bực tức mà cũng vừa đau khổ khi nhận thấy bao cặp mắt vừa dữ dội vừa thèm khát của đám anh em đang long lên nhìn chòng chọc vào người con Ba như muốn bám sát không cho cô ta chạy thoát, như sẵn sàng để xông lên ngấu nghiến vồ lấy…

Tư Cầu cúi đầu thở dài.

Vừa lúc ấy có tiếng máy xe chạy vang lại mỗi lúc mỗi gần. Tư Cầu ngước mặt lên rồi hạ lệnh cho anh em:

– Anh em dọn dẹp xăng xăng lên rồi mình rút cho gấp, tụi nó kéo đến cũng gần tới rồi đa! (rồi liếc mắt thấy anh em còn ngần ngừ một chỗ, Tư Cầu mới trực nhớ đến con Ba) Còn cô nầy, cô sẽ đi theo anh em mình…

Đoạn Tư Cầu day qua bảo con Ba:

– Em cứ yên tâm hổng sao đâu! Có cần lấy đồ đạc gì trên xe hông?

Con Ba lắc đầu:

– Đồ đạc còn cả đống trên xe nhưng đến nước nầy thì đem theo làm gì nữa! Chắc mấy ảnh tính giết em phải hông anh? Mà quên nữa bộ anh chỉ huy cái toán quân nầy hả?

– Ừ… Hổng ai dám động tới em đâu! Nếu em là… một người khác thì… bầm dập dữ đa! Nhưng có anh thì ít ra mấy chả… hạ anh trước rồi mới làm gì đó thì làm… Thôi em ráng bước mau lội theo anh nghen!

Con Ba đứng khựng lại:

– Nếu vậy, anh bỏ thây kệ em, chớ anh dính dáng vô rồi có sao hông? Em thấy sao họ gầm ghè dữ quá, nhứt là cái ông gì có dáng cao ráo đứng gần anh đó (đến đây con Ba liếc nhìn về phía sau lưng Tư Cầu)… kìa thằng chả còn đứng canh chừng…

Tư Cầu níu tay con Ba lôi đi vừa cười lạt:

– Ối, cái thằng ó đâm mà kể số gì! Cái thằng chuyên môn kiếm chuyện đó anh đâu có ngán nó!

… Anh em trong trung đội hấp tấp kéo đi, lội băng qua ruộng để lẩn vào đám giồng cây um tùm ở tuốt trong phía xa lộ cái. Tên chính trị viên vẫn lẽo đẽo theo sau con Ba và Tư Cầu…

Toán quân vừa bước lên mí giồng thì đã nghe súng nổ vang rền ngoài phía lộ xe: đoàn xe tiếp cứu của Tây đã đến chỗ hai chiếc xe bị phục kích và bắn cầm chừng về phía lùm bụi ở hai bên lộ một hồi rồi rút về căn cứ, sau khi cho chở đi mớ xác chết và thương binh.

Thấy tình hình êm trở lại và địch quân không dám mạo hiểm đuổi theo, Tư Cầu ra lịnh cho anh em đi chậm bước lại vì tự nãy giờ mạnh ai nấy càn bụi, lội mương nên đều thấm mệt, nhứt là con Ba, đầu tóc rũ rượi, quần áo lấm lem có vẻ thiểu não vô cùng.

Vì lo đi cho mau, nên từ khi rời khỏi đường lộ, Tư Cầu và con Ba không có dịp trò chuyện với nhau.

Tư Cầu dừng bước đợi con Ba:

– Chắc mệt lắm phải hông em? Em ráng đi một chút nữa tới chỗ đám vườn đằng kia mình nghỉ chơn để anh bàn với anh em về cái chuyện của em…

Con Ba hỏi liền:

– Bàn gì nữa hả anh! Em tưởng mấy anh dẫn em về trỏng để cho mò tôm mò cá gì đó!

Tư Cầu thở dài:

– Đúng lý ra thì phải vậy! Nhưng để anh ra bàn với họ xem sao, anh tính xin họ thả em…

Con Ba chụp lấy câu đó:

– Hay là anh xin họ cho em theo luôn với anh.

Tư Cầu buồn bã lắc đầu:

– Cái đó hổng được đâu em à… (rồi anh ta hỏi lảng ra) Mà em đi đâu với ông quan hai để gặp tai nạn như vầy! Ổng không còn coi sóc trên căng nữa sao em!

Đến lượt con Ba thở dài:

– Thôi rồi anh à. Ổng được lệnh đổi đi về dưới nầy kế gặp nạn như vậy…

Tư Cầu buột miệng nói:

– Phải dè có ông hai và em đi trên chiếc xe đó anh đâu có cho anh em phục kích làm gì cho thêm rắc rối như vầy nè!

– Anh dè sao được mà dè! (rồi nó lo lắng hỏi Tư Cầu) Bây giờ anh tính sao đây anh?

Tư Cầu ngoái lại nhìn về phía tên chính trị viên đang đi gần tới hai người:

– Kẹt có thằng mắc toi đó, chớ đối với mấy anh em khác thì anh cũng dễ ăn nói… Mà em cứ nín thinh đi để anh liệu cách bàn tính với anh em đằng nầy. Dầu sao anh cũng nhứt định thả cho em, rồi đi dìa mấy cha lớn tính gì thì tính. Hổng lẽ mấy chả giết anh thế mạng được sao? Nội cái trận mới rồi cũng đủ vốn để nói chuyện với mấy chả. (chợt nhớ đến tình cảnh “tang tóc” của con Ba, Tư Cầu ấp úng nói tiếp…) Xin lỗi em nghen em Ba, anh không kịp suy nghĩ nên nói lỡ lời, dầu sao ông quan hai tử trận cũng là chồng của em…

Con Ba lắc đầu:

– Anh khỏi phải thắc mắc về chuyện đó (rồi cô nhìn thẳng vô mắt Tư Cầu)… Nói thiệt với anh, đời em đến đây kể như chán chê nhiều lắm rồi. Em tuy mới… lạc vô đây chớ nhìn sơ qua em cũng dư biết là anh ở trong cái thế long chong lắm. Đời của anh còn dài, em không muốn vì em mà anh phải chịu nhiều phiền lụy về sau… Mà với mấy cha nội trong nầy, em coi bộ… khó nhiều đa anh!

Tư Cầu gượng cười và đáp:

– Em rành bằng anh sao! Dầu có bề nào đi nữa thì cũng hổng bằng những nỗi hiểm nguy mà em đã phải đương đầu để đưa anh trốn thoát khỏi căng lúc trước.

Con Ba thở dài:

– Hiểm nguy nhưng không khó xử… Lúc ở trên căng, chỉ có em và anh, còn bây giờ đây… đâu phải là chuyện riêng của hai đứa mình nữa… Còn mấy anh em kia chi?

Tư Cầu cúi đầu làm thinh.

Vừa lúc đó, tên chính trị viên cũng mon men lại gần và lên tiếng bắt chuyện Tư Cầu:

– Tui coi bộ yên rồi đa anh Tư!

Tư Cầu muốn trả lời móc họng lại một câu, nhưng anh ta đáp cho xuôi theo:

– Ừ… chắc tụi nó rút dìa hết rồi.

Tên chính trị viên ngó con Ba vừa bước tránh đi, rồi hỏi Tư Cầu:

– Còn cái vụ nầy anh tính sao đó anh Tư?

Tư Cầu nhíu mày có vẻ bực mình:

– Ờ… thì còn tính sao nữa! Tui muốn thả cho cổ tại chỗ mà coi bộ anh hổng chịu…

Tên chính trị viên nói chen vô liền:

– Đọ, hổng phải chỉ một mình tôi đâu nghen anh Tư! Còn mấy anh em khác nữa chi! Mà tôi nghĩ anh em cũng có lý: anh tiếc gì cái đồ mắc toi này và thiệt ra thì cũng không đáng để mình dắt về trình với mấy anh lớn…

– Coi, hồi nãy anh nằng nặc đòi đưa về ủy ban kia mà!

Tên chính trị viên cười gượng đáp:

– Thì… theo nguyên tắc mình phải làm đúng như vậy, nhưng tôi nghĩ mình cũng nên châm chước: anh em đánh trận khổ nhọc, chết nay chết mai hổng chừng…

Tư Cầu cười lạt:

– Cha, anh thương anh em quá hén!

Tên chính trị viên có vẻ bất bình:

– Coi, tôi có trách nhiệm về tinh thần của anh em mà!

– Ừ, rồi sao nữa?

– Thì tôi nghĩ: mình cũng nên uyển chuyển tùy theo trường hợp… Với cái con vợ tây nầy mình nên… ban thưởng cho anh em… sử dụng…

Tư Cầu đứng phắt lại:

– Anh nói nữa tui đập anh gãy răng cho coi! Chánh trị đách gì vậy!

Tên chính trị viên cũng trợn mắt:

– Bộ anh coi nó trọng hơn anh em hả?

– Trọng hơn một mình anh thôi hè!

Hắn ta bực tức xốc lại khẩu súng đeo lủng lẳng bên đùi, bước tới một bước rồi dừng lại ngoái cổ hỏi Tư Cầu:

– Chớ bây giờ anh tính sao đây hả?

Tư Cầu dõng dạc đáp:

– Chút nữa rồi anh sẽ biết. Tui đợi đi tới đám vườn măng cụt ở trước kia rồi hợp tất cả anh em lại để tui trình bày về trường hợp đặc biệt này. Tui tin rằng thế nào anh em cũng sẽ nghe theo lời của tui và để cho cô Ba đây muốn đi dìa đâu thì đi.

Tên chính trị viên cười gằn:

– Hừ, anh làm sao mà cái con mẹ nầy còn sống thong dong được, tôi kêu anh bằng cha!

Tư Cầu cũng cười gằn lại:

– Thì để nữa rồi coi! (đoạn anh ta day qua ngoắc con Ba đi tới) Đi mau mau đi em! (rồi thấy con Ba ngó chừng chừng tên chính trị viên, Tư Cầu vội tiếp lời)… Em lại đây nè, đừng có sợ khỉ gì hết. Khi nào còn có anh ở đây, thằng nào rớ tới lông chưn của em thì nó cũng còn… mệt!

Đến một vườn măng cụt rậm rạp, Tư Cầu ra lịnh ngừng lại và cho tập hợp anh em. Đứng bên cạnh con Ba, Tư Cầu dõng dạc lên tiếng:

– Việc nầy gấp rút nên tui hổng nói cà kê dê ngỗng gì hết, tui muốn thả cô nầy, vậy anh em tính sao?

Tên chính trị viên hỏi liền:

– Xin hỏi anh vì sao thả cổ chớ?

Tư Cầu hăng hái đáp:

– Vì cổ là một ân nhơn cũ của tui, cổ đã cứu sống tui trên căng. Người đàn bà đã liều chết giúp tui vượt căng hồi tui bị Tây bắt đưa lên Sài gòn, mà anh em đều có nghe tui kể chuyện lại, chính là cô này đây!

Một số anh em “ồ” lên một tiếng ngạc nhiên, rồi mọi người xầm xì bàn tán xới nhau lăng xăng như lấy làm kỳ thú lắm vậy.

Thấy thế, tên chính trị viên hét to lên:

– Ê, cái đó thuộc về chuyện riêng của anh, chuyện cá nhơn của anh mà anh đem bươi ra đây làm chi hả?

Liếc thấy con Ba có vẻ ngơ ngác giữa đám người xa lạ đang quyết định về sự sinh tử của mình, Tư Cầu liền hướng về cô ta mỉm cười như để “trấn an” rồi hất hàm hỏi lại tên chính trị viên:

– Sao lại chuyện riêng? Chuyện riêng mà đã trở thành chuyện chung vì nếu cổ không liều mạng lúc trước thì làm gì còn có thằng nầy ngày nay để sống chung với anh em như vầy nè?

Tên chính trị viên cười lên hô hố:

– Có mợ thì chợ cũng đông bằng không có mợ thì chợ cũng không thua gì! Hứ anh làm như anh là anh hùng cứu quốc số một vậy! Cái cỡ của anh, tôi nói đây anh đừng buồn nghen, cái cỡ của anh cầu lấy thúng cỡ một giạ mà xúc bảy ngày bảy đêm cũng không hết nữa đa.

Tư Cầu chụp lấy cây côn của viên quan hai tây tử trận dắt trước bên cạnh cây Herstal “ruột” của anh ta và lên cò nghe cái rắc làm cho tên chính trị viên hoảng kinh nhảy nai và la chói lói, rồi hắn ta cũng lập cập rút lấy cây lục của mình ra quơ quơ trước mặt như muốn xua đuổi Tư Cầu đi dang ra xa vậy.

Trong lúc ấy, anh trung đội phó nhảy lại giữ lấy bàn tay cầm súng của Tư Cầu và nhăn nhó năn nỉ:

– Ý trời ơi, anh làm như vầy là… hổng nên đó anh Tư!

Tư Cầu quắc mắt hỏi lại:

– Bộ anh tính binh nó hả?

Anh phó vội buông tay Tư Cầu ra và chắc lưỡi liên hồi:

– Anh nói vậy là hổng hiểu bụng tui rồi! Nhưng anh nổi nóng bắn chết thằng chả rồi dìa trong biết ăn nói làm sao với mấy anh lớn đây?… Thôi anh Tư à, thằng chả muốn nói gì thì thây kệ nó mà!

Tư Cầu gườm gườm nhìn về phía tên chính trị viên:

– Anh để tui nã cho nó một phát rồi muốn tới đâu thì tới! Bộ nó nói tui xò với nó hoài sao chớ! Cái thứ nầy nhịn riết rồi nó lừng lên đa anh!… Dầu cho có bề nào đi nữa, bất quá tui bỏ nơi đây mà dong đi, chớ ai làm gì được tui!

Anh phó lại chắc lưỡi:

– Anh giết thằng chả rồi anh bỏ anh em đây để đi trốn, cái chuyện đó dễ rồi, nhưng tui hỏi anh: anh trốn mấy tay tổ dưới nầy thì được, chớ bộ anh tính trốn luôn… kháng chiến sao?… Mà anh thì nhứt định không chạy theo Tây rồi!

Tư Cầu buông thõng khẩu súng xuống, thở dài:

– Anh nói phải. Tui trốn kháng chiến không được và bỏ anh em đi cũng không đành. Nhưng thôi việc đó tui sẽ liệu sau, còn bây giờ tui xin anh em nghe theo tui một lần nầy … (nói đến đây, Tư Cầu ngước mặt nhìn về phía anh em đang đứng rải rác ở chung quanh) Tui xin anh em làm phước tha cho cô nầy. Như tui đã có dịp kể sơ qua cho anh em nghe: cô nầy chẳng những là ân nhân của tui mà còn là người quen biết, người đã có lúc ăn ở với tui chẳng khác như… một cặp vợ chồng…

Ngừng một chút như để dằn xuống nỗi xúc động đang trào dâng trong lòng, Tư Cầu lại nói tiếp:

– … Tui xin anh em cho tui có dịp đền ơn trả nghĩa, tui xin anh em tránh cho tui một việc làm tổn âm đức, thất nhơn tình. Hơn nữa, nếu xét cho cùng thì cô nầy chẳng có tội tình gì cho nghiệt lắm, trong thời buổi loạn lạc nầy một thân đàn bà con gái không cha, không mẹ, không nhà, không cửa, sống nổi trôi từ trên xứ người cho tới khi… đụng người chồng bây giờ… hoàn cảnh như vậy tuy không tốt đẹp gì nhưng cũng thiệt đáng xót thương… Vợ con, chị em mình may mà ở yên được dưới vườn chớ nếu gặp cảnh lưu lạc bơ vơ giữa nơi xa lạ, trên chợ búa thị thành thì thiệt hổng biết đâu mà lường trước được…

Liếc thấy mọi người có vẻ cảm động trước những lời lẽ tuy mộc mạc nhưng chí tình của Tư Cầu, tên chính trị viên bèn hét lên:

– Ai dại thì nghe theo lời chả, chớ tôi nhứt định không tha con Việt gian đó nghen!

Con Ba, từ đầu chí cuối nín thinh nay nghe nói vậy cũng nổi dóa nói trả lại:

– Anh hổng biết đách gì hết mà cũng xía vô hoài! Thử thời anh gặp hoàn cảnh của tôi, anh còn tệ lậu hết chỗ chê nữa! (đoạn nó day qua bảo Tư Cầu) Thôi anh Tư, anh để mấy chả muốn ăn thịt ăn cá gì em đó thì làm, chớ bộ mấy chả nói con nầy sợ chết lắm sao chớ!

Tên chính trị viên cười rộ lên:

– Cái bản mặt như vậy mà còn làm bảnh hoài! Thứ đồ ôm hót ba thằng Tây mà còn nói giọng như bà nội người ta. Cái thứ của mầy thì chỉ có cách gọt đầu, lột quần áo rồi đóng bè chuối thả cho trôi lên trôi xuống dưới sông thì mới xứng!

Con Ba chỉ mới vừa “hứ” một cái thì Tư Cầu đã lên tiếng chen vô:

– Thôi em ơi, hơi sức đâu em nói tay đôi với cái thằng cha lẻo méùp đó.

Con Ba nhìn lườm lườm tên chính trị viên rồi cười mũi đáp lời Tư Cầu:

– Em thấy anh em ở đây coi bộ dễ chịu hết, riêng có thằng chả làm hùm làm hổ quá trời! Hổng biết thằng chả là ông hoành ông trấn gì mà dữ vậy. Bộ nó nói em đây không có mòng có mỏ sao? Cái thứ đó, hồi em còn trên Nam Vang mà láng cháng là em đập quần lên đầu liền!

Thấy con Ba xài xể tên kia như vậy, Tư Cầu cũng mát ruột một phần nào, nhưng sợ con Ba đi quá trớn nên anh ta vội chận lời nó lại và day qua hỏi anh em:

– Tự nãy giờ, tui nói sơ sơ vậy chắc anh em cũng dư rõ về cái trường hợp đặc biệt nầy rồi… Anh em nghĩ lại coi: trong thời buổi giặc giã loạn xạ nầy, tha hay giết thêm một người nữa thì có nghĩa lý gì đâu, huống hồ gì đây là một người đàn bà đáng để cho anh em xót thương hơn là thù ghét… Tui đã hết lời với anh em rồi vậy bây giờ anh em… tính sao đây?

Tên chính trị viên lại la lớn lên:

– Tính giết nó chớ tính sao nữa! Anh em đừng có nghe theo thằng cha đó nghen! Thằng chả tính đánh đòn cảm tình với anh em đa!

Tư Cầu lừ mắt nhìn hắn ta:

– Tui hỏi anh em chớ bộ hỏi anh sao?

Tên chính trị viên đảo mắt nhìn qua một vòng rồi nói gằn:

– Thì anh em có ai giỏi thì đứng ra trả lời đi!

Thấy mọi người đều nín thinh, anh “phó” bèn tằng hắng lên một tiếng rồi rụt rè nói vô:

– Theo tui thì tụi nầy… không có ý kiến gì ráo… Việc nầy xin để cho… hai anh lớn ở đây tính sao đó thì tính miễn là êm thắm thì thôi…

Tên chính trị viên gật gù:

– Đọ, anh thấy chưa anh Tư! Phần tôi quyết không tha cái con nầy và tôi cũng xin nói thêm để anh em ở đây rõ: tất cả anh em ở đây sẽ chịu trách nhiệm hết trọi nếu để cho con Việt gian này tẩu thoát.

Tư Cầu chưa biết nói năng ra sao thì con Ba đã bước lại bên anh ta, rồi quắc mắt nhìn tên chính trị viên, nói dằn từng tiếng:

– Bộ anh nói con nầy sợ chết sao? Phải sợ chết, sao hồi tôi còn kẹt trên xe mấy cha không dám xáp lại gần? Nhưng thôi, mấy anh muốn cho tôi phải chết hả? Được rồi, tôi sẽ chết cho mấy anh vừa lòng…

Đoạn nó day qua nắm lấy tay Tư Cầu và cố lấy giọng thản nhiên nói:

– Anh Tư, nếu em có phải tội chết, em xin anh một ơn huệ cuối cùng…

Tư Cầu cự nự:

– Cái gì mà “chết” hoài hổng biết ! Anh đố thằng nào dám động tới em! Muốn giết em phải bước qua xác chết của thằng này đã!

Con Ba tha thiết nói tiếp:

– Em rõ bụng anh lắm rồi, nhưng việc này đâu có đáng để anh thí mạng một cách rẻ rề như vậy ! Anh để dành nó xài những dịp khác cho có nghĩa lý hơn. Nếu anh thiệt còn thương tưởng đến em, em chỉ dám xin anh một điều: em sẵn sàng để cho anh em xử tử, nhưng em muốn được chết bằng một phát đạn, bằng một lưỡi dao của chính tay anh… Thiệt không có cách nào chấm dứt cuộc đời trôi nổi của em mà làm cho em mát dạ hởi lòng hơn cách ấy được. Đó, cái ơn huệ cuối cùng mà em muốn cầu xin anh, chỉ có bấy nhiêu thôi anh Tư!

Tư Cầu gạt ngang:

– Ý đâu có được em!

Đoạn anh ta chong mũi súng lên, quắc mắt nhìn tên chính trị viên, nhìn tất cả anh em đứng xung quanh rồi cất tiếng rổn rảng nói:

– Xin anh em đứng xê ra một chút để cho cô nầy đi! Đừng ai cản trở, ngăn chận làm gì vô ích!

Thấy vẻ mặt dữ dội của Tư Cầu, các anh em vội bước dang ra hai bên, còn tên chính trị viên thì đứng sừng sững ở một chỗ, nhếch mép cười lạt.

Tư Cầu đảo mắt nhìn qua một vòng rồi ngập ngừng nói với con Ba:

– Thôi… em đi đi! Cái phần kiếp của hai đứa mình là chỉ hiệp đó rồi lại tan đó… Kỳ nào cũng y như vậy… Em cứ lội trở lại theo con đường mà mình qua hồi nãy để lên lộ cái đón xe. Xe cộ bây giờ lưa thưa lắm, nhưng em khỏi lo vì hãy còn sớm và từ đây cho tới trưa thế nào em cũng gặp một chiếc.

Con Ba ngó sững Tư Cầu rồi lắc đầu thở dài:

– Anh Tư, anh làm như vầy là… nguy cho anh lắm nghen!

Tư Cầu gượng cười đáp:

– Năm thuở mười thì mới gặp lại em, mà lần nào cũng lọt trong một hoàn cảnh… mệt hết, vì vậy, hoặc em phải liều, hoặc là anh phải ráng chớ có lần nào hai đứa mình chia tay nhau một cách… sởn sơ, một cách thảnh thơi đâu! (rồi anh ta nghiêm giọng hối con Ba) Thôi em dông đi cho mau để anh còn cho anh em dìa nghỉ… Em đi cho được mạnh giỏi nghen!

Con Ba liếc mắt nhìn ra chung quanh: một số anh em đứng chống súng có vẻ cảm động chứng kiến cảnh ly biệt của hai người, một số khác ngồi ngó lơ vào trong đám măng cụt như không muốn dính dáng gì với ai hết và tên chính trị viên đứng riêng rẽ một mình, mắt ngó láo liên, môi mím chặt chớ không còn mỉm cười thách đố như ban nãy nữa…

Con Ba vẫn không rời mắt nhìn hắn ta và thấp giọng bảo Tư Cầu:

– Em có đi được thì chắc chắn là anh ở trong nầy sẽ bị làm khó dễ gắt đa anh!

Tư Cầu hiểu ý hất hàm về phía tên chính trị viên rồi đáp:

– Ối chết chóc gì! Cái thằng đó chuyên môn đánh giặc miệng không thôi chớ đời nào nó dám chơi tay đôi với anh, và như vậy dầu cho nó muốn hại được anh thì cũng còn lâu, em cứ yên tâm đi đi, hổng có sao đâu mà sợ!

Con Ba thở ra:

– Thôi em cũng nghe theo lời anh. Lúc trước mặc dầu rất quý mến anh, không khi nào em nghĩ đến việc ăn đời ở kiếp với anh, nhưng sau kỳ nầy em muốn ở luôn dưới này với anh quá đỗi! (nói đến đây nó mỉm cười) Có lẽ em đã bắt đầu thấy mỏi mệt theo… tuổi rồi!

Tư Cầu giơ tay khoát hối cô ta đi. Con Ba đi được một bước bỗng ngừng lại thắc mắc hỏi thêm Tư Cầu:

– Nè anh, không biết từ đây đến ngoài lộ cái có ai canh giữ gì nữa không? Em sợ em mới ló mặt ra rồi bị anh em trong nầy bắt giữ lại thì kể.. cũng như không! Nếu vậy thà em ở đây và… có bề nào đi nữa thì cũng… yên thân xác hơn!

– Từ đây ra tới ngoài lộ vắng hoe không có ai canh gác đâu mà em sợ. Em cứ đi đi và khi nào ra tới chợ có dịp thuận tiện em nhắn tin về một lời cho anh rõ… Đáng lẽ anh đưa em ra tới ngoài lộ nhưng kẹt còn có anh em ở đây… anh làm vậy cũng… hơi quá…

Con Ba gật đầu tỏ ý tán đồng rồi nó nhìn lại đám anh em cất giọng chào từ biệt:

– Anh em ở lại mạnh giỏi. Tôi xin cám ơn anh em…

Tư Cầu nói chen vô liền:

– Được rồi… em dông đi cho mau để anh còn cho anh em dìa trỏng nghỉ chớ!

– Em đi nghen anh!

– Ừa…

Thấy con Ba vừa hấp tấp bước đi, Tư Cầu quay lưng lại, nhét khẩu súng cầm nơi tay tự nãy giờ vô chỗ cũ rồi hạ lịnh cho anh em lên đường rút về. Anh ta thở ra một hơi dài khoan khoái như mới trút bỏ một gánh nặng, đoạn rút túi thuốc ra chậm rãi vấn một điếu…

Tư Cầu vừa đưa lưỡi liếm cái mép giấy quyến để dán điếu thuốc lại thì nghe một phát súng nổ chát chúa bên tai, tiếng chân người chạy thình thịch…

Tư Cầu chụp cây tiểu liên lên ngó dáo dác và anh ta ngạc nhiên xiết bao khi thấy anh em không có vẻ gì hoảng hốt hết, duy chỉ lấm lét nhìn về phía gốc cây mù-u gần đó. Tư Cầu quay phắt lại: một đám khói thuốc súng nhỏ còn bay lảng vảng và sau gốc cây thấp thoáng bóng tên chính trị viên.

Tư Cầu hoảng hốt ngó ngoái về phía con Ba: con nầy đang cắm đầu cắm cổ chạy băng qua mấy líp vườn té lên té xuống. Hướng về phía tên chính trị viên, anh ta gầm lên:

– À, mầy muốn sanh sự tao cho mầy chết!

Rồi anh ta vừa lao mình tới vừa nâng mũi súng lên định ria tưới vào đó, nhưng anh trung đội phó đã nhảy lại ôm cứng anh ta:

– Ý trời ơi, anh Tư! Anh làm như vậy sao được!

Tư Cầu vùng ra được thì tên chính trị viên cũng bỏ chạy luồn theo mấy gốc cây để rượt theo con Ba.

Hai phát súng nữa vang lên cho cho Tư Cầu thêm lo hoảng cho số mạng của con Ba. Cô ta vẫn mải miết chạy. Vì không phải là tay thiện xạ nên tên chính trị viên bắn trước sau ba phát đều ăn trớt hết.

Không kịp nghĩ suy Tư Cầu chạy vụt tới định chận đầu tên chính trị viên, nhưng hắn ta được lợi thế là núp chuyền theo các gốc cây… Vừa lúc ấy con Ba chạy tới mé một cái mương vườn khá rộng và đang lúng túng vì sợ nước sâu thì tên chính trị viên xông rút lên nổ liền một nhưng lại trợt qua bên. Mấy con cò xanh ở phía bên kia bờ mương bay vụt lên kêu vang rân.

Con Ba nằm mọp xuống ngoái đầu lại kêu thất thanh:

– Anh Tư! anh Tư!

Tư Cầu ria càn một loạt đạn vào chỗ gốc cây nơi tên chính trị viên úp bắn con Ba, nhưng tên nầy sợ Tư Cầu chạy lên kịp chận đầu hắn ta, nên hắn lại nhảy vụt lên một gốc cây kế sát bên con Ba rồi thò tay ra cho thật gần thêm đích…

– Anh Tư, nó giết em!

Con Ba lại hét lên một cách quá tuyệt vọng…

Tư Cầu toát mồ hôi khi thấy cả khẩu súng, cả cánh tay của tên chính trị viên thò ra ngoài gốc cây và chong thẳng xuống người con Ba. Anh ta không thể nào chạy đến kịp hay ngăn cản gì được.

Anh ta nghiến răng, quay nhanh mũi súng về phía con Ba miết mạnh lấy cò súng…

Một loạt đạn nổ dòn tan… Con Ba ôm lấy ngực quay lăn qua một vòng nhưng rồi lại cố bám lại ở trên bờ mương. Tư Cầu buông thõng khẩu súng xuống, nước mắt ràn rụa: đến nước cùng, anh ta quyết không để cho con Ba phải chết vì tay của một kẻ nào khác.

Thấy Tư Cầu hành động một cách bất ngờ như thế, tên chính trị viên cũng đâm ra điếng hồn vì dư biết đã đến lúc Tư Cầu liều tất cả để làm cho lợi gan. Hắn ta bèn nhanh chân lủi trốn đi về trước…

Trong lúc ấy, Tư Cầu như kẻ mất hồn, há hốc miệng, tay chân quờ quạng cố hấp tấp chạy về phía con Ba… Đến nơi anh ta ôm xốc con Ba lên… Máu đã nhuộm đỏ một khoảng lớn trên chiếc áo trắng…

– Em Ba! Em Ba, em ráng lên để anh chở em dìa dưới…

Con Ba từ từ mở mắt ra…

Ban đầu cô rên nho nhỏ, rồi chớp mắt liền mấy cái và sau khi nhận thấy Tư Cầu, cô cố gắng nhoẻn miệng cười, đoạn sờ soạng đưa tay nắm chặt lấy vai của Tư Cầu.

Tư Cầu vội hỏi:

– Em ráng chịu đựng thêm đôi chút nữa được hông? Trong mình em bây giờ nghe thế nào hả em?

Con Ba nhăn mặt và ú ớ định nói nhưng không làm sao thốt nên lời được nên lại gắng gượng cười rồi hất hàm có ý chỉ về phía cây tiểu liên mà Tư Cầu đeo lủng lẳng ở phía sau lưng.

Tư Cầu khẽ gật đầu mà nước mắt chạy quanh:

– Anh… không muốn cho nó rớ tới em… Anh…

Nhưng Tư Cầu chưa kịp nói hết lời thì bỗng thấy con Ba dẫy nhẹ trong tay anh ta, đôi mắt cô đứng tròng như ngó trực lên phía ngọn đám măng cụt, một dòng máu nhỏ chảy rỉ ra nơi khóe mép và bàn tay của cô vừa bíu mạnh lấy vai của Tư Cầu cũng vừa rớt buông thõng xuống mặt cỏ…

Tư Cầu hớt hải lắc mạnh người con Ba và réo gọi:

– Em Ba! Em Ba! Trời ơi…

Anh ta nức nở ôm ghì lấy xác người yêu cũ vẫn còn ấm nóng và dịu nhiễu trong vòng tay.

Một tiếng tằng hắng ở phía sau lưng rồi một bàn tay đặt nhẹ lên vai Tư Cầu. Anh Trung đội phó ấp úng lên tiếng:

– Thiệt tui không dè… việc nó xảy ra như vầy. Thôi nó dĩ lỡ rồi, anh có quá… thương tiếc thì cũng vậy đó thôi. Bây giờ tốt hơn hết anh nên lo chôn cất cho cổ.

Tư Cầu ngước mặt lên hỏi ngang:

– Anh có thấy thằng khốn kiếp đó ở đâu hông?

Anh phó nhăn nhó đáp:

– Ối thôi, anh hỏi nữa mà làm gì! Thằng chả thấy anh… quyết liệt như vậy, thằng chả đã xanh máu mặt nên ba chưn bốn cẳng lủi dông dìa tuốt rồi, chớ ông nội tôi bây giờ có đội mồ sống dậy để biểu thằng chả ở lại, thằng chả cũng… chạy tét nữa…

Tư Cầu nghiến răng:

– Chuyến này dìa dưới, trời cản bây giờ tui cũng bắn cho nó nát óc nữa!

Anh phó gãi đầu, chắc lưỡi:

– Ý thôi anh Tư ơi! Theo tui thì cô đây vắn phần như vầy thì chắc cổ cũng được hởi lòng mát ruột một đôi chút… Hồi nãy tụi nầy đã có nghe cổ nói với anh như vậy… Có lẽ cái số kiếp của cổ là như thế và thiệt tình mà nói: cổ… gặp nạn ở đây dầu sao cũng còn… khá hơn, chớ nếu sa vào chỗ khác thì hổng biết ra sao nữa!

Thấy Tư Cầu lặng thinh, anh phó hăng hái tiếp lời:

– Anh Tư, cái việc xảy ra như vầy kể cũng… tạm yên rồi. Theo tui nghĩ thì mình cũng nên bỏ qua cho nó êm luôn đi, chớ bây giờ anh nóng giận làm tùm lum lên, cô Ba cô Tư gì đây có sống dậy được đâu, mà còn sanh lắm chuyện rắc rối mệt lắm anh ơi!

Tư Cầu buồn rầu đáp:

– Đằng nào thì cũng đã rắc rối rồi… Nhưng thôi, anh làm ơn cho anh em dìa dưới trước đi… À anh để lại cho tui một hai anh gì đó để phụ lực với tui lo chôn cất cô Ba. Anh dặn họ giữ một hai cái cuốc lại nghen!

Anh phó ái ngại đứng nhìn Tư Cầu một hồi lâu rồi quay bước đi về phía anh em tự nãy giờ đứng yên lặng để chứng kiến cảnh tượng quá thê lương ấy…

… Đợi anh phó đi rồi, Tư Cầu nhẹ nhàng đưa tay lên vuốt mắt con Ba rồi bồng xác cô ta lên đem đặt nằm ngay ngắn dưới bóng rậm mát của một tàng cây măng cụt. Xong xuôi, anh ta rút chiếc khăn quấn nơi cổ ra, giũ sạch rồi trịnh trọng phủ lên mặt xác chết.

Nghe tiếng động sau lưng, Tư Cầu quay lại thì thấy hai anh đội viên đã tới. Một anh bèn nói:

– Tui với thằng Sáu này ở lại đây để phụ với anh…

Tư Cầu gật đầu:

– Ờ… vậy nhờ hai anh em kiếm chỗ nào cao ráo và kín kín một chút rồi đào giùm tui một cái huyệt… Mà nhớ đào sâu sâu đó nghen!

– Dạ…

Nhưng anh kia nhìn xuống xác con Ba rồi ngập ngừng hỏi lại Tư Cầu:

– Anh Tư… bộ mình đem chôn cổ… y nguyên vầy sao?

Tư Cầu thở dài đáp:

– Thì… cũng đành chịu vậy chớ biết sao! Thời buổi loạn lạc này mà chôn cất kỹ lưỡng như vầy kể cũng là quý lắm rồi… À, hay anh chịu khó chạy vô xóm gần đây xin đỡ họ một chiếc chiếu rồi ra đây mình bó sơ lại xác cổ… Như vậy nó cũng đỡ… lạnh lẽo hơn một phần nào…

Anh kia sốt sắng tán thành:

– Như vậy được đa anh! (rồi anh ta day qua nói với anh bạn đồng đội) Phần anh, anh lo vụ đào huyệt sẵn đi, tui dong một chút là dìa liền!

– Ừ, anh lo phần anh đi, phần tui tui lo.

Đoạn hai anh nầy hấp tấp chạy đi.

Còn lại một mình trơ vơ giữa vườn măng, Tư Cầu chưa bao giờ thấy mình cô độc như vậy.

Tiếng gió thổi lào rào qua bờ tre gai ở ranh vườn, tiếng một con quốc trống túc lên từng hồi ở dưới đám lau sậy càng làm nổi bật lên thêm cái vẻ cô quạnh quá não nùng của khu vườn.

Tư Cầu không biết làm gì hơn nên móc thuốc ra vấn hút. Nhưng anh ta mới bập bập được vài hơi lại bực dọc vứt điếu thuốc đang cháy xuống cỏ, rồi bỏ đi một mạch lại phía anh bạn đang hì hục đào đất trên một cái gò cao giáp mí bờ tre.

Thấy Tư Cầu ngắm nghía chung quanh, anh đội viên liền ngừng tay cuốc:

– Chỗ này tốt hơn hết đó anh Tư, vừa ráo vừa khuất kín… Đất ở miệt nầy có mội nước nhiều lắm, hổng biết mình có tránh khỏi không!

Rồi như để cố gắng giải sầu một phần nào cho Tư Cầu, anh ta liên miên kể tiếp mấy chuyện về đào mồ, đặt mả, xây kim tĩnh, dò long mạch của mấy ông nhà giàu trong vùng…

Tư Cầu cũng ừ ào cho xuôi theo các câu chuyện, rồi bỏ đi trở về chỗ xác con Ba nằm.

Một làn gió nhẹ thổi chiếc khăn tắm phủ trên mình xác chết bay lất phất làm cho Tư Cầu thêm não ruột.

… Anh Sáu đội viên đã te te chạy đến, tay cầm một chiếc chiếu bông cũ. Anh ta vừa giơ chiếc chiếu ra vừa ngượng nghịu phân trần cùng Tư Cầu:

– Tui lục nát hết ở trong xóm mới tìm được chiếc chiếu bông nầy đây. Mấy năm nay giặc giã nên hổng có ai chịu sắm chiếu mới hết. Đây là chiếc chiếu nhứt hạng ở trỏng… Đồng bào ở đó tốt lắm, họ nghe tui nói có người chết và đi xin chiếu là họ lăng xăng đi kiếm cho tui.

Tư Cầu ngắm nghía chiếc chiếu rồi gật đầu:

– Như vậy là quá tốt rồi.

Anh Sáu bước lại đứng bên xác con Ba:

– Bây giờ mình… liệm cổ hay sao anh Tư?

Tư Cầu như không nghe câu hỏi của anh Sáu mà đứng nhìn trân trân vào xác chết rồi chép miệng nói:

– Thiệt không ai dè một người đàn bà từng sống bạt mạng từ xứ này qua xứ kia, sống kè kè một bên xe cộ rần rần, ở giữa chốn đô hội thị thành đèn xanh đèn đỏ, mà bây giờ lại nằm chết ngay chò trong một đám vườn vắng vẻ, đèn nhang không có, quan quách cũng không ngơ…

Anh Sáu lựa lời đưa đẩy cho xuôi theo:

– Tội nghiệp cổ quá há! Thiệt đời bây giờ sống chết… dễ như chơi… Mới hồi sáng đó, tụi nầy, xáp lại chiếc xe chúi nhủi xuống mương lộ, – cổ còn la lối om sòm…

Tư Cầu vói tay treo khẩu tiểu liên một nhánh măng cụt bị chặt mé còn trơ ra một khúc ngắn, rồi cúi xuống bồng con Ba lên đặt nằm xuống chiếc chiếu đã trải sẵn.

Anh Sáu lại lên tiếng bảo Tư Cầu:

– Anh Tư, anh hổng lục trong mấy cái túi của cổ coi có còn vật gì chăng? Nếu có cái gì thì mình cất đi để sau này nếu tiện dịp mình gởi trả cho bà con họ hàng của cổ… như để kỷ niệm vậy mà!

Tư Cầu cười lạt:

– Hứ, cổ chết ở đây rồi mình gởi vật kỷ niệm dìa cho thân nhơn của cổ để họ… chửi cho thụt sình hả? Mà cổ có nhà cửa họ hàng gì đâu, anh lại tính chuyện đưa với gởi cho mất công!

– Ờ, tui quên điều đó há!

Tuy vậy, Tư Cầu cũng quỳ xuống, chậm rãi một cách nghiêm kính thò tay lần mò trong chiếc áo túi và lần lượt lôi ra đặt lên một bên mép chiếu: một cái bóp da nhỏ, một chiếc khăn tay có thêu rua bốn góc, một gói thuốc thơm “ách chuồn” cùng với một bao hộp quẹt…

Xong xuôi, anh ta lấy chiếc khăn tay đưa lên ngắm nghía một hồi rồi nhét vô túi của mình, đoạn cầm lấy gói thuốc nâng niu trong lòng bàn tay và day qua nói với anh Sáu:

– Cổ ghiền thứ thuốc nầy thôi anh Sáu à! Hồi ở trên Nam Vang, rồi tới khi cổ ở trong căng, cổ cho tui hút thứ nầy hoài và bị tui chê rậm rề rậm rịt mà cổ cũng đưa riết… (rồi anh ta quay nhìn xuống xác con Ba lắc đầu liền mấy cái) Bây giờ cổ hết có… ách chuồn, ách phích gì nữa rồi!

Anh ta thận trọng nhét gói thuốc bao diêm vào túi áo như sợ hai món ấy bị dẹp méo gì vậy…

Anh Sáu ngập ngừng nhắc Tư Cầu:

– Anh Tư… còn cái bóp nữa anh! Anh… mở ra coi luôn thể.

Tư Cầu đáp liền:

– Thôi để trả vô túi của cổ rồi chôn luôn…

– Anh hổng mở ra coi có… giấy giờ gì hông.

Tư Cầu miễn cưỡng lật cái bóp và moi rút ra một xấp giấy bạc độ trên năm ngàn phần nhiều là giấy xăng bộ lư mới và một tấm giấy thông hành.

Anh Sáu rụt rè lên tiếng:

– Cha, cổ để lại một số tiền cũng khá bộn… mà bây giờ bà con của cổ hổng có ai hết… Anh tính sao đây anh Tư? Khi không mình đem chôn luôn số tiền nầy thì… cũng hổng ích lợi gì…

Tư Cầu làm thinh cầm xấp giấy bạc lên trao cho anh Sáu, nhét tờ thông hành vô bóp lại rồi để luôn vào trong túi áo con Ba như cũ.

Anh Sáu cầm xấp tiền trong tay và cứ để y nguyên ở đó. Thấy vậy Tư Cầu bèn bảo anh ta:

– Anh cất đi rồi đem dìa trao cho anh phó để ảnh đấp vô số khẩu phần của anh em… hay là đem phân phát ủy lạo cho vợ con mấy anh em tử trận từ trước tới nay thì phải hơn… Mình có đem chôn nó thì cũng mục nát hết.

– Anh nghĩ như vậy cũng nên lắm.

Vừa nói anh Sáu vừa nhét số tiền vô túi áo của mình rồi cũng quỳ hẳn xuống bên kia chiếc chiếu để đợi Tư Cầu.

Tư Cầu đưa tay nhắc chiếc khăn tắm lên để nhìn mặt người yêu cũ lần cuối cùng. Anh ta nâng niu phủi vuốt mái tóc của con Ba cho sạch đất, lá dính bám vào cho suôn sẻ lại, sửa kéo hai vạt áo, hai ống quần lại cho ngay ngắn, rồi phủ chiếc khăn tắm lên như cũ.

Anh ta cầm một mí chiếu đắp lên người con Ba:

– Thôi mình làm cho xong đi anh Sáu… Anh có lấy dây nhợ gì theo đó không?

– Có đây. Tui có xin ở trong xóm được ba mớ lạt dừa. Họ cũng đã nhúng nước sẵn cho dai mềm rồi…

Rồi hai người lặng thinh bó xác con Ba lại, ràng bằng dây dừa cẩn thận, đoạn Tư Cầu đứng lên lấy khẩu súng mang lên vai rồi mỗi người một đầu khiêng xác đi về phía gần bờ tre nơi anh đội viên kia lãnh phần đào huyệt.

… Hai anh đội viên nâng xác chết lên và khi đến miệng huyệt, mỗi người níu lấy một đầu dây dừa thả chầm chậm bó chiếu xuống…

Anh Sáu lại lên tiếng:

– Anh Tư… anh bỏ đất xuống trước đi để rồi tụi này lấp lại.

Tư Cầu nhướng mắt định hỏi lại nhưng chợt hiểu mỹ ý của anh Sáu nên anh ta bước lại bốc lên một bụm đất khô rời rồi từ từ buông cho đất rớt lộp độp trên mình chiếu…

Hai anh đội viên chỉ chờ có thế là hè nhau bươi đất tuôn xuống để lấp huyệt.

Tư Cầu cũng tiếp tay vô để cho việc chôn cất chóng xong, vì đã khá trưa rồi…

Tư Cầu đứng trước đầu mả nhìn trân trân vào nấm đất một hồi rồi lên tiếng:

– Thôi như vầy kể là xong! Anh em mình dìa đi!

Nói xong Tư Cầu quày quả bước đi.

Hai anh đội viên lẽo đẽo theo sau và anh Sáu lại bảo Tư Cầu:

– Để khi nào yên yên, anh đặt làm cho cổ một tấm mộ bia: chừng đó anh kêu tụi nầy phụ một tay…

Tư Cầu thở dài đáp:

– Ý thôi đi anh ơi, cái chuyện đó còn xa vời lắm! Mặt trận mỗi ngày một lan tràn, nội cái thân của anh em mình đây cũng không ở yên được một chỗ chớ đừng nói chuyện đặt mộ bia! Tui còn sợ không còn có dịp nào đi ngang qua đây để xẹt vô thăm mả của cổ nữa là khác!

Anh đội viên kia cũng nói đẩy đưa theo:

– Phải đa, cái xác của mình đây nữa cũng hổng biết được chôn ở chỗ nào nữa!… Mà hổng chừng hổng được chôn, hổng được nằm yên dưới ba lớp đất nữa là khác!

… Sau đó, cả ba cùng lầm lũi rảo bước đi về căn cứ, mỗi người mang nặng trong đầu những ý nghĩ tối đen…

… Tư Cầu lững thững bước vô nhà miệng khe khẽ hút gió bản hành khúc thanh niên.

Ba Kiên đang lui cui nấu cơm dưới bếp quay lại nheo mắt nhìn anh ta:

– Cái gì tao coi bộ mặt mầy mầy tươi rói vậy Tư!

Tư Cầu trả lời gọn bân:

– Con Phấn dìa rồi.

Ba Kiên đặt đôi đũa bếp đang cầm nơi tay xuống:

– Thiệt hả mầy?

Tư Cầu gật đầu:

– Thiệt chớ! Nó dìa đây kế bị mấy cha trên trụ sở giữ lại và mới thả ra đây nè!

Ba Kiên bước lại gần em:

– Sao nó ra được hay vậy? Bộ mầy lãnh… mà mầy lãnh khỉ gì được!

Tư Cầu quắc mắt nhìn anh, có vẻ không vừa ý:

– Anh sao… (nhưng rồi anh ta quay lưng bỏ đi lại chõng ngồi xuống) Thằng mắc toi đó lãnh con Phấn trước rồi!

– Thằng nào hả? Ờ thôi tao biết rồi… thằng chánh trị viên chớ gì? Cũng “nó” nữa hả?

Tư Cầu gật đầu.

Ba Kiên chắc lưỡi thở ra:

– Cha, cái thằng ông nội đó sao nó cũng chộn rộn quá! Chắc mầy chưa gặp nó chớ?

Tư Cầu trả lời quạu đeo:

– Gặp rồi chớ chưa cái gì!

Ba Kiên ngạc nhiên cự lại em:

– Coi cái thằng nầy… bộ bữa nay mầy sanh chứng sao mà! Cái gì mới thấy nó hí hửng đó rồi cũng lại chầm dầm liền theo đó! Bộ mầy gặp nó rồi… sanh chuyện phải không?

– Gì mà mau quá vậy! Mới đụng độ sơ sơ hè!

Ba Kiên lắc đầu:

– Tao biết mà! Nhưng thôi mầy ơi, nó có lãnh được con Phấn ra thì mình cũng mừng giùm cho cỏn, còn mình thì hổng nên chen vô đó làm gì mầy ơi! Tao biểu mầy: hễ cái gì có nó thì mình dang ra xa cho rảnh mắt đi.

– Nói nghe sướng hông! Tại sao anh hổng biểu nó dang ra mà anh lại bắt tui ! Làng xóm đất đai nầy là chỗ của tui ở từ trước tới giờ mà! Và con Phấn thì… tui cũng quen thân với nó trước lâu… Con Phấn dìa đây cũng để thăm tui kia mà!

– Ý thôi tía ơi! Nước non nầy mà tía cứ nói cái giọng đó hoài sao được! Nhưng mầy nên nghĩ lại: thằng ấy nó có làng chàng… chút đỉnh với con Phấn thì thây kệ mẹ nó. Vậy chớ mầy hổng biết: tụi nó chết đói chết khát ở dưới nầy nên lâu lâu gặp được một người đàn bà ở thành áo quần láng lẩy và mát da mát thịt thì mầy cũng nên để cho người ta… rậm rật đôi ba chút. Có hao mòn, sứt mẻ gì đâu mậy, và bề gì thì cũng do nơi con Phấn, nó dìa đây thăm mầy… như vậy là đủ rồi và mai mốt gì đây nó cũng dông dìa trển chớ bộ buộc ghe cột đỏi ăn đời ở kiếp gì với mầy sao mà mầy hậm hực với người ta chớ! Nè Tư ơi, chuyện của cô Ba còn nóng hổi đó mầy ơi!

Tư Cầu làm thinh ngồi cúi mặt xuống đất và đong đưa đôi bàn chân…

Liếc thấy vậy Ba Kiên thiết tha nói tiếp:

– Tư à, sao tao thấy cái gì mầy cũng muốn ôm vô để mầy lo hết! Mà phải lo để rồi hưởng thì tao cũng lạy! Đằng nầy mầy lo để lãnh đủ thì lo làm đách gì cho nó tổn thọ như vậy. Thử thời mầy hổng lo và buông lơi mẹ nó một chuyến coi có ai chết hông? Nếu có tao đền mạng cho! Rốt cuộc rồi ai ai cũng mạnh giỏi mập cùi cụi hết và chỉ có mầy là chết nhăn răng thôi.

Tư Cầu thản nhiên móc túi thuốc ra vấn hút:

– Tui là người chớ bộ cây cam-xe cà-chất gì sao mà trơ trơ một khúc đó anh Ba!

Ba Kiên nổi dóa chụp lấy túi nhái đựng thuốc quăng mạnh lên mặt chõng.

– Còn tao đây… là chó chắc! Bị mày hay nói cái giọng đó mà hồi nhỏ tao đập mầy sặc gạch hoài cũng phải!

Tư Cầu cười hề hề và vói tay lượm túi thuốc lên.

Ba Kiên vùng vằng đi trở về phía bếp để xơ nồi cơm… Bỗng anh ngừng đũa quay lại hỏi Tư Cầu:

– Chiều hay tối nay mầy có đi đâu hông mậy?

– Anh hỏi chi vậy?

– Hỏi chi thây kệ tao. Mầy làm ơn trả lời giùm tao một tiếng!

Tư Cầu đưa mắt nhìn anh dò xét:

– À… cái đó hổng biết chừng.

Ba Kiên bực mình nói sẵng:

– Thôi đi mầy! Mầy tưởng tao ngu lắm chắc! Mà mầy có đi đâu thì thây kệ mầy!

Tư Cầu cũng lớn tiếng cự lại:

– Anh nầy kỳ quá… Tui nói tui hổng biết chắc mà!

Ba Kiên lấy giọng thản nhiên đáp:

– Mầy hổng biết thì thôi, nhưng chỗ anh em tao tưởng cũng nên dặn trước mầy điều nầy: thời buổi bây giờ khó khăn lắm chớ không phải muốn dắt nhau tuôn lên gò mả hay chui vô lùm bụi luông tuồng như hồi đó được nghen!

Tư Cầu cười rộ lên:

– Anh khỏi có lo mà!… Bộ tui còn nhỏ nhít lắm sao anh!

°   °
°

Mọi khi hễ trời sập tối là Ba Kiên thả rề lên đầu trên hoặc xóm dưới để kiếm chỗ tấp vô mấy đám uống nước trà “quạu” hay mấy đám đờn ca rỉ rả.

Nhưng hôm nay, anh ta ở riết tại nhà và có vẻ xăng văng xéo véo làm cho Tư Cầu cũng đâm ra thương hại:

– Tối nay anh hổng thả đi đâu chơi sao hả anh Ba?

– Hông.

Tư Cầu cười xòa:

– Thiệt tui chạy anh… anh ở nhà để canh chừng tui phải hông?

Ba Kiên nhăn nhó đáp:

– Có muốn canh mày thì cũng chẳng được…

– Vậy anh để thây kệ tui…

Ba Kiên thở dài:

– Thiệt có mình mầy là làm cho tao khổ!

Vừa lúc ấy, có tiếng lạch cạch ngoài cửa. Tư Cầu chạy rột ra liền, và chưa chi anh ta đã reo lên:

– À em! (rồi anh tay quay đầu lại bảo nhỏ với Ba Kiên) Con Phấn lại đó anh!

Ba Kiên nhún vai thở dài như muốn thú nhận sự… bất lực của mình.

Phấn tươi cười bước vô nhà và đon đả cất tiếng chào Ba Kiên:

– Mạnh giỏi anh Ba! Ý chà, lâu quá mới gặp mặt anh Ba!

Ba Kiên ầm ừ:

– Ờ… cô Ba mạnh giỏi…

Phấn vui vẻ kêu lên:

– Sao hai người ở trong nhà mà để tối om như vầy nè! Đèn đuốc đâu không đốt lên hả mấy anh!

Ba Kiên quay bảo Tư Cầu, giọng nhừa nhựa:

– Đốt đèn lên đi mầy Tư!

… Sau khi cây đèn dầu được Tư Cầu bưng lên đặt trên bàn chiếu sáng một khoảng trong nhà, Phấn mới để ý thấy Ba Kiên ngồi bí xị trên chõng:

– Ủa, bộ anh… đau ốm gì sao anh Ba?

Ba Kiên nhún vai nhìn về phía Tư Cầu:

– Tui có đau ốm gì đâu cô! Nhưng bị… lên ruột vì thằng Tư đây hoài nè!

Phấn cười chúm chím, liếc Tư Cầu:

– Sao vậy anh Tư?

Tư Cầu cũng cười theo:

– Ối… em hơi đâu mà nghe ảnh nói hổng biết…

Phấn chụp lấy cây quạt mo rồi vừa quạt lia vừa kêu lên:

– Cha, ở trong nhà nực quá! (rồi cô quay sang đưa mắt nháy nháy với Tư Cầu) Thôi mình thả rề ra ngoài lộ cho nó mát anh Tư!… Em có việc… làm ăn này muốn đem bàn với anh đây!

Tư Cầu hốp tốp đáp:

– Ừ, bữa nay sao trời hầm quá hổng biết!

Ba Kiên cười lạt:

– Mầy hổng biết hả? Mà trời hầm hay là mầy… nóng vậy Tư?

Tư Cầu hơi sượng, cự nự lại anh:

– Anh sao hỏi lắt léo quá hổng biết! Hôm nay nhằm ngày nước ròng nên trời nóng nực là lẽ thường…

Phấn ái ngại nhìn Ba Kiên rồi quay qua hối Tư Cầu:

– Thôi mình đi anh Tư.

Nhưng Ba Kiên đã vội vã đứng lên, nói chen vô:

– Được rồi, cô Ba cứ ở lại đây nói chuyện với thằng Tư đi, tui có chuyện đi đàng nầy một chút… Tui nhường căn nhà cho hai người đó!

Tư Cầu hiểu ý anh muốn cản không cho anh ta đi ra ngoài đường với Phấn nên cũng muốn ở lại nhà cho… êm chuyện:

– Ờ, anh có việc gì cần thì anh đi đi, để tui coi chừng nhà cho…

Nhưng Phấn đã nói gạt ngang:

– Ối nhà cửa dưới nầy trống lõng như vầy ai có vô trộm cắp mà phải coi chừng! Thôi, mạnh ai muốn đi đâu thì đi hà!

Liếc thấy Ba Kiên và Tư Cầu còn đứng lựng khựng một chỗ, Phấn chạy lại lôi Tư Cầu ra cửa:

– Hai đứa mình đi trước anh Tư! Anh Ba đi sau nghen anh!

Ba Kiên bực mình nói lớn lên:

– Thôi mấy người đi đi! Tui bây giờ muốn ở nhà hè!

Phấn vừa níu tay Tư Cầu kéo đi vừa hỏi nhỏ anh ta:

– Sao anh Ba ảnh nói cái gì kỳ vậy hả anh?

Tư Cầu lúng túng đáp:

– Thì ảnh… như vậy đó! Ảnh muốn cho hai đứa mình ở nhà cho nó… chắc hơn…

– Chắc cái gì!

– Ảnh sợ… đêm hôm mình đi cặp kè như vầy… rủi ro có chuyện gì…

Phấn lắc mạnh tay Tư Cầu:

– Ối thôi, em biết rồi: ảnh sợ tụi nó kiếm chuyện phá đám phải không? Lo xa như vậy cũng phải nhưng anh nghĩ coi ban đêm ban hôm như vầy ai biết đâu mà lọ mọ rình rập tụi mình chớ! Có sợ là sợ mình… dây dưa lâu ngày chầy tháng…

Tư Cầu có vẻ lo ngại:

– Em hổng biết chớ bây giờ… khó khăn lắm! Hễ ai có rục rịch cái gì là họ biết liền chớ không phải như thời mấy ông làng ông xã hồi năm xửa năm xưa đâu! Đó, em dìa mấy ngày em thấy: tụi nó kỳ cục và ẩu tả lắm, mình hổng biết đường đâu mà đoán trước được.

Phấn rùng mình dựa sát vô mình Tư Cầu:

– Anh nói sao em nghe ghê quá!

Tư Cầu nắm lấy bàn tay cô ta:

– Nói như vậy chớ có gì đâu em! Cái thằng mắc toi đó nó muốn gây sự với anh thì cũng còn lâu, ít nữa nó cũng rủ rê năm ba người chớ cu ky một mình nó thì… ông nội nó cũng hổng dám nhúc nhích! Chuyến này nó mà làng chàng là anh nổ nó văng óc, đây nè em coi… (vừa nói Tư Cầu vừa cầm bàn tay của Phấn đem đặt lên chiếc bá súng của cây lục mà anh ta đã dắt sẵn trước bụng).

Phấn giựt phắt tay lại như bị phỏng:

– Ý trời ơi, ghê quá! Tụi mình đi chơi với nhau mà anh dắt của quỷ ấy theo kè kè làm chi!

Tư Cầu cười xòa:

– Dắt theo cho nó… vững bụng vậy mà! Nói thiệt với em, bây giờ đi đâu mà anh bỏ quên nó không mang theo anh thấy như… như thiếu một cái gì vậy!

Phấn xì một tiếng:

– Thiệt mấy anh hay bày đặt chuyện hoài!… Bị vậy mà còn… đâm chém nhau hoài!

Tư Cầu định trả lời nhưng chợt để ý đến vầng trăng vàng khè đã bắt đầu nhô lên khỏi hàng tre đầu xóm, và anh ta reo lên một cách thật hồn nhiên:

– Ý trăng lên rồi em ơi! (rồi anh ta chắc lưỡi) Thiệt lâu ớn rồi anh không dể ý đến trăng mọc như vầy nè!

Phấn cảm động cặp lấy tay Tư Cầu kéo xích lại gần mình:

– Còn em ở trên Sàigòn đèn điển sáng trưng… nên em cũng đâu có thấy trăng mọc trăng lặn gì đâu! Vì vậy nhiều lúc em nhớ quýnh dưới nầy….

Tư Cầu đưa tay véo má Phấn rồi hóm hỉnh hỏi lại:

– Dưới nầy có khỉ gì đâu mà nhớ hả?

Phấn đẩy nhẹ anh ta ra, giọng lẫy đương:

– Còn hơn anh, anh về dưới nầy rồi biệt luôn! Em tưởng anh “đụng” phải một bà nào nữa rồi chớ!

Tư Cầu làm bộ thở ra:

– Ý cha, dại một đôi lần thôi chớ bộ dại hoài sao em!

Phấn gân cổ lên:

– Xí, sướng thấy mồ mà còn làm bộ! Em hỏi anh có ai được như anh vầy không? Hễ mở miệng là bày đặt than dài thở vắn mà vắng mặt mình đi là… làng chàng rồi! Đó, đã ở tuốt dưới nầy mà còn ráng dính vô chuyện cô Ba vợ của ông quan hai nữa!… Thiệt em cũng chạy anh!

Nói xong cô bỏ đi te te một mình lên phía trước… Tư Cầu hấp tấp bước theo đưa tay níu lại rồi sẵn trớn ôm chặt cứng lấy ngang hông…

Phấn lấy cùi chỏ thúc thúc để đẩy anh ta ra:

– Anh quỷ nà! Ở yên nói chuyện hổng được sao mà làm cái gì… thấy ghét thấy mồ.

Tư Cầu cắn nhẹ lên vai Phấn, thì thầm bên tai:

– Bộ hổng cho người ta thương hả?

Phấn lấy ngón tay điểm vào trán anh ta:

– Dữ hông, hèn lâu mới nghe anh nói một câu… bùi tai! (rồi cô giở giọng đả đớt nói tiếp) Như vậy mới bõ công người ta lặn lội về dưới nầy thăm mình chớ!

Tư Cầu cười khì khì:

– Có lẽ cái không khí vườn tược nầy nó làm cho anh hứng chí hơn… Em hổng nhớ tụi mình biết nhau cũng giữa một vùng ruộng nước cây cối như vầy sao!

Tư Cầu chỉ nghe một tiếng trả lời “biết” kéo dài của Phấn, và hơi thở nóng hổi của Phấn như mân mê lên trên cổ của anh ta…

Bỗng một tiếng chim cú vang vọng ra từ trong đám cây xoài làm cho Phấn bắt rùng mình ngẩng cổ lên nghe ngóng, còn Tư Cầu tự nhiên cũng buông thõng tay xuống…

Tư Cầu níu Phấn lôi đi tới:

– Thôi mình bước lại đằng nầy em.

Phấn lựng khựng rị lại:

– Anh hổng nghe chim cú kêu đó sao? Thứ đó kêu xui xẻo lắm!

Một tiếng “cú” khô khan, bí hiểm lại vang ra nữa…

Tư Cầu tuy hơi chột dạ nhưng cũng lấy giọng tỉnh bảo Phấn:

– Ối em cứ tin dị đoan hoài! Thì ở vườn, ban đêm chim cú đi kiếm ăn và kêu lên là sự thường…

– Nhưng nó kêu lên từng tiếng một như vậy… ghê quá! Nếu nó kêu cú cú đủ ba tiếng là điềm chẳng lành đó anh!

Phấn vừa dứt lời thì một tiếng “cú” thứ ba vang lại liền theo. Cô níu chặt lấy cánh tay của Tư Cầu:

– Đó anh…

– Thì… người ta đặt chuyện nói như vậy mình hơi nào tin… Mà ba tiếng “cú cú cú” kêu liền liền kia cà… rồi nó bay đi mất mình mới ngán vì theo ông già bà cả nói lại… kêu như vậy mới… linh, đằng nầy nó kêu cú cú cách khoảng xa lắc xa lơ… mà em chắc gì nó chỉ kêu có ba tiếng không thôi! Để coi nó còn cú cú cả chục tiếng nữa cho mà nghe!

Liền theo đó, một tiếng cú vang lại nữa. Tư Cầu hất mạnh tay Phấn và chụp nói tiếp theo:

– Đọ, em thấy chưa! Anh nói đúng y bon mà!

Phấn thở phào ra như trút bớt một gánh lo âu:

– Vậy mà con chim mắc dịch đó nó làm cho em hết hồn hết vía! Phải nó đậu gần đây em vác đất chọi lên cho thấy mồ nó!

Tư Cầu vội vã kéo cô đi:

– Thôi bây giờ hai đứa mình thả ra ngoài mé sông kiếm chỗ nào ngồi cho khỏe coi, chớ đứng như vậy hoài mỏi chưn thấy bà, phần muỗi cắn đập hổng kịp nữa!

Phấn hăng hái tán thành:

– Ừ phải đa anh! Mình ra ngoài đồng trống gió mát và để ngắm trăng nữa, chớ ở trong nầy em coi bộ… bí hơi quá anh!

… Và hai người vui vẻ trở lại. Họ cặp kè nhau bước mau về phía mé ruộng ở sau khu vườn trái cây.

Tư Cầu dắt Phấn lò mò đi tìm một chỗ cho vừa ý:

– Chỗ này coi bộ được đa em!… Vừa mát mẻ, vừa cao ráo…

Phấn nũng nịu ngắt ngang:

– Nhưng sương xuống mặt cỏ ướt nhẹp làm sao mình ngồi đây!

Tư Cầu đưa mắt ngó quanh:

– Để anh chạy vô trong giựt bậy vài tàu lá chuối khô đem ra lót ngồi đỡ nghen em!

– Mà đi mau đi nghen!

– Ừ mà!

Rồøi Tư Cầu tất tả chạy đi về phía đám chuối trong bìa vườn… Anh ta bỗng đứng phắt lại nghe ngóng vì vừa thoáng nghe mấy tiếng sột soạt như tiếng chân người chạy trên lá khô…

Tư Cầu ngồi thụp xuống, bàn tay đặt sẵn lên bá súng… Tất cả đều có vẻ im lặng… im lặng một cách nặng nề ngoài tiếng kêu rổn rảng của một con nhạc sành lạc lõng… Anh ta mò kiếm mấy hòn đất khô, rồi liệng sạc sạc vô phía lùm bụi trước mặt… Vẫn không có gì lạ hết. Tư Cầu thở ra, đoạn đứng lên đi thẳng lại đám chuối giựt đại lấy hai tàu lá khô rồi hối hả mang đến chỗ Phấn đang đứng đợi.

Thấy Tư Cầu ló ra, Phấn reo lên:

– Dữ hông! Anh đi lâu quá làm em sợ thấy mồ!

Tư Cầu trải hai tàu lá chuối xuống mặt cỏ:

– Cái gì mà sợ! Ngồi đỡ đi em!

Phấn ngồi phịch xuống rồi vói tay kéo Tư Cầu sát khít lại gần mình…

… Gió thổi lào rào trên ruộng lúa như khỏa lấp những tiếng thở ra đứt khoảng của Phấn…

Và vầng trăng kia như hò hẹn trước để luồn khuất sau đám mây… một đám mây dầy đặc và dài lê thê…

… Bỗng có tiếng chim hoành hoạch kêu ré lên.

Tư Cầu rút tay ra ngồi nhổm dậy. Phấn hai tay giữ lấy chéo áo, hỏi nhỏ anh ta:

– Gì vậy anh?

Tư Cầu cũng thầm thì đáp lại:

– Hoành hoạch kêu như vậy… chắc có người hay con gì đi động, để anh…

Tư Cầu chưa kịp nói hết lời thì một ánh đèn pin lóe lên rọi chỉa thẳng vô mặt anh ta và liền theo là một tiếng hô to:

– Bắt lấy hai tên Việt gian nầy cho tôi, anh em!

Đúng là tiếng của tên chính trị viên.

Tư Cầu không nghĩ ngợi gì nữa, nhào lăn xuống ruộng lúa rồi kéo Phấn tuột theo xuống…

– Coi chừng hai đứa nó chạy trốn! Thấy ai chạy bắn nát óc cho tôi!

Tiếng tên chính trị viên quát tháo lên nữa.

Ánh đèn pin lại quét theo hướng của Tư Cầu lăn xuống ruộng… Núp trong đám lúa, anh ta lẩm bẩm chửi thề mấy tiếng rồi thò tay vô trong bụng rút phăng khẩu súng ra, lấy ngón cái kéo chốt an toàn xuống. Anh ta nâng mũi súng lên nhắm ngay vào giữa cái quầng ánh sáng do ngọn dèn pin tỏa ra… và bóp cò…

Một tiếng nổ chát chúa vang lên.

Có tiếng bể rổn rảng của mặt kiếng đèn và liền theo là tiếng thất thanh của tên chính trị viên:

– Trời ôi, chết tôi…

Tư Cầu day qua nói nhỏ với Phấn:

– Chắc chuyến này nó chết! Anh biết nó hổng biết cách cầm đèn pin rọi mà!

Phấn lập cập hỏi lại:

– Bây giờ làm sao đây anh?

Tư Cầu chưa kịp trả lời thì hai phát súng nổ chỉa về phía anh ta và Phấn đang núp. Đạn xẹt xuống nước ruộng nghe lõm bõm. Tư Cầu vẫn chưa rõ số người định theo bắt anh ta nhiều hay ít, nhưng khi nghe tiếng bàn tán xì xào vọng lại từ trên chỗ anh ta cùng con Phấn ngồi khi nãy, anh ta biết chắc là bọn họ chỉ có hai người, không kể tên tên chính trị viên đã bị thương…

Tiếng bàn tán lại vang lên, Tư Cầu nghe rõ mồn một:

– Trời ơi, tui coi bộ ảnh bị nặng đa anh… Chắc chảy máu dữ lắm, tay tui dính ướt nhẹp và nóng hổi đây nè!

– Vậy mầy lo cõng vô trỏng đi và báo cáo với mấy ảnh luôn! Còn tao, tao rượt theo tụi nó…

– Ừa, phải, tui cõng ảnh vô trỏng nghen!… Mà anh có dắt theo trái lựu đạn nào đó không, nếu có tung mẹ nó xuống ruộng, may ra…

– Tao có đem theo đây nè nhưng cái thứ lô-can nầy mà liệng xuống bùn xuống nước thì kể như lép đi chớ ăn thua gì! Mầy chạy vô trỏng cho mau để cho người ta liệu mà băng bó cho ảnh và nhớ xin thêm anh em ra tiếp tao ngoài nầy để ví bắt tụi nó lại nghen!

Tư Cầu vội lôi Phấn núp qua phía bên kia bờ mẫu. Anh ta nghển cổ lên trông thấy tên còn lại đang khom lưng tò mò đi tới…

Tư Cầu nói nhỏ với Phấn:

– Thằng nầy nó muốn nạp mạng nữa mà!

Phấn níu tay anh ta giật giật:

– Thôi anh ơi, mình hổng lo chạy vô nhà đi.

– Tính cái đó bậy đa! Bây giờ chỉ có nước đi luôn chớ quay vô trỏng thì chẳng khác gì muốn chui vô lọp.

Vừa lúc ấy, tên đi trên bờ mẫu đứng lại nghe ngóng.

Tư Cầu bèn la lớn lên:

– Ê Tư Cầu đây nè!

Tự nhiên tên kia ngồi thụt xuống.

Thấy vậy Tư Cầu bắt mỉm cười:

– Đứng dậy đi cha nội! Phải tui muốn hại anh thì rồi đời! Trời sáng trăng anh đi ngờ ngờ ở trên còn tui núp kín dưới nầy, thì tui hỏi anh tránh đi đâu chớ?

Tên kia vẫn lặng thinh.

Tư Cầu lấy giọng tha thiết nói tiếp:

– Nghĩ cho cạn thì tui với anh không thù oán gì ráo, vậy tốt hơn hết anh quay trở dìa đi để cho tụi nó muốn làm gì tui thì giỏi ra đây… Chớ anh mà theo nà tui quá thì… hết còn anh em gì nữa đó nghe!

Tên kia lên tiếng than thở:

– Kẹt tui quá anh Tư! Hay anh chịu khó trở vô trỏng với tui, tui làm phận sự mà…

Tư Cầu nói như quát:

– Cha nội này nói dễ nghe quá ta! Ừ, nếu anh muốn làm phận sự thì nhào vô! Tui chắc anh không dám liều mạng bằng tui đâu, đó là tui không nói chuyện tui hạ anh rất dễ, còn anh… anh làm sao bắn trúng tui được cà!

Thấy tên kia làm thinh, Tư Cầu dịu giọng nói tiếp:

– Thôi anh quay dìa đi, tui cũng mang ơn anh lắm… Tụi mình gặp gỡ nhau sau này mà! Còn như anh muốn làm phận sự thì tui đây chỉ cách cho: anh cứ bắn khơi khơi vài phát rồi lội xuống ruộng cho ướt loi ngoi một chút… như vậy đi dìa là đủ trình với mấy anh lớn rồi! Thôi tôi đi nghen anh!

Tuy nói thế, Tư Cầu vẫn núp yên một chỗ chờ xem phản ứng của tên kia ra sao. Độ một lát sau Tư Cầu thấy hắn đứng dậy rồi từ tay hắn bắn hai phát súng nổ lóe lửa…

Tư Cầu mỉm cười khi nghe đạn xẹt lủm chủm nổ bên kia bờ mẫu. Anh ta cũng đứng lên và hướng về tên ấy nói lớn:

– Cám ơn anh bạn! Sau nầy gặp gỡ tui không dám quên ơn anh đâu!

Tên kia vẫn nín thinh rồi lầm lũi quay trở vô, cùng trong lúc đó tiếng mõ báo động nổi vang rân trong xóm…

Tư Cầu vói tay khều Phấn:

– Mình cũng liệu mà dong đi chớ không thôi tụi nó kéo ra bao vây thắt họng đa!

Phấn lo ngại hỏi:

– Đi đâu bây giờ? Quần áo em ướt loi ngoi như vầy, còn đồ đạc thì bỏ trong nhà hết…

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Trời, cái đó để… tính sau, chớ bây giờ dầu cho mình phải chạy tuột quần mình cũng ráng chạy chớ quay lộn đầu vô trỏng để chết hả?

– Như vậy… mình đi luôn à?

Tư Cầu gắt gỏng:

– Chớ sao! Anh dìa trỏng chết đã đành, còn em vô thì cũng bị tụi nó mần thịt…

Phấn thở dài:

– Thì đành như vậy!

Tư Cầu lôi cô ta đi tới:

– Mau mau đi bà nội!

Phấn còn ráng hỏi:

– Mà đi đâu bây giờ anh?

– Đi đâu cũng được miễn thoát khỏi chỗ nầy thôi…

Phấn vội vã lội theo anh ta và miệng thì lẩm bẩm:

– Em biết trước mà! Người ta đã nói là xui xẻo…

Tư Cầu chận ngang:

– Em làm ơn câm cái miệng lại giùm một chút! Ai biểu khi không còn bò dìa dưới nầy làm chi cho sanh rắc rối như vầy nè!

Phấn toan nói lại nữa nhưng thấy Tư Cầu đi quá mau nên vội ráng rảo bước để theo cho kịp.

Tư Cầu bỗng quay lại hỏi:

– Chắc tiền bạc em… để ở trong nhà hết hả?

Phấn vội đưa tay nắn lấy túi áo và kêu lên:

– Chết hông! Tiền bạc giấy tờ gì em để trong túi ướt nhẹp hết rồi!

– Đâu đưa coi…

Phấn móc tuột chiếc bóp nhỏ trong túi ra trao cho Tư Cầu. Tư Cầu sờ soạng cầm lấy rồi vui vẻ nói:

– Hổng sao đâu! Có ướt thì cũng sơ sơ thôi chớ chưa thấm hết đâu! Mình mới nhào dưới nước ruộng có chút xíu mà!

Phấn bỗng chỉ về phía trong và hốt hoảng kêu lên:

– Kìa anh Tư! Họ đốt đuốc giăng hàng ở trỏng kìa!

Tư Cầu ngoái cổ nhìn vô cười khan:

– Ối tụi nó có đi theo rã giò cũng không kịp nổi hai đứa mình. Bây giờ em có đem theo tiền như vầy là vững lắm rồi…

Phấn sợ hối anh ta đi:

– Anh đừng có ỷ y quá hổng được đâu. Anh liệu cách nào dông cho gấp chớ chuyến này họ tóm cổ hai đứa mình lại được thì nguy đa anh!

Tư Cầu mỉm cười hỏi lại:

– Bây giờ cũng biết như vậy hả? Dông thì dông…

… Tư Cầu dắt Phấn đi thẳng đến một con kinh chảy từ ngoài sông cái vô trong ruộng sâu.

Thấy đi đụng tới mé nước Phấn lo ngại hỏi:

– Bộ… cùng đường rồi sao anh?

Tư Cầu đứng sát ngoài bờ ngó mong hai đầu con kinh:

– Cùng sao nổi mà cùng! Ở dưới nầy có chỗ nào mà anh không lội qua… Mình có ra đây mới có thể trốn đi cho mau được. Chỗ nầy, xuồng câu qua lại nhiều lắm, thế nào anh cũng kiếm được một chiếc để nhờ họ chở mình đi ra sông cái rồi dông tuốt một mạch lên phía Trà Ôn.

Phấn có vẻ đắn đo:

– Anh nói sao nghe dễ ợt… Rủi họ không chịu hay chở mình đem nạp cho mấy ảnh, hoặc đi báo cáo rồi mới tính sao đây!

Tư Cầu đáp bằng một giọng đầy tin tưởng:

– Em khỏi lo mấy chuyện đó! Ai ra sao anh biết hết mà! Với lại ai nỡ hại mình làm chi mà dầu họ có muốn rục rịch cái gì đi nữa thì… anh sẽ có cách làm cho họ phải tởn hết dám hó hé gì nữa và phải riu ríu nghe theo lời mình.

Phấn thở dài:

– Đành rằng mình phải liều, nhưng thời buổi nầy thiệt hổng dám tin ai hết anh ơi…

Vừa lúc ấy có ánh đèn lấp ló qua khúc quanh của con kinh, rồi một chiếc xuồng câu từ từ bơi trờ tới.

Tư Cầu nhón gót nhìn kỹ người ngồi bơi sau lái rồi hấp tấp lên tiếng hỏi:

– Bác Tám đó hả bác?

Người ngồi dưới xuồng vội đưa dầm chận rà bớt trớn đi của chiếc xuồng và ngóng cổ lên hỏi lại:

– Ai kêu qua vậy?

Tư Cầu hạ thấp giọng xuống một chút:

– Cháu đây mà bác… Tư Cầu đây mà!

Bác Tám giựt mình buông thõng cây dầm kéo rê trên mặt nước.

– Ý trời, mầy đó hả Tư? Tao mới vừa ở trỏng thả ra đây… họ kiếm mầy nát nước hết, sao mầy còn làng chàng ở đây? Còn cái con gì đó, tao nghe nói nó đi chung với mầy mà!

– Ờ con Phấn hả?… Nó đi với cháu đây nè… Mà bác cập xuồng vô để cháu nhờ một việc nầy…

Bác Tám dợm cất dầm bơi đi:

– Ý thôi hổng được đâu mầy ơi! Ai có phận nấy… tao già rồi cũng nên để tao ráng sống kiếm ăn đôi ba năm nữa…

Tư Cầu lấp bấp réo gọi:

– Khoan khoan bác Tám ơi, bác đành đoạn để cho hai đứa nầy chết ở đây hả? Bác ghé vô đi, cháu nhờ bác có một chút xíu mà! Ở đây vắng vẻ có ai dòm ngó rình mò gì đâu mà bác sợ hổng biết!

Bác Tám gác cây dầm lên ngang be xuồng:

– Tao hỏi mầy phải nói thiệt: mầy với cậu đó làm cái gì mà mấy chả ở trỏng la hét chỏi trời, tìm kiếm tở mở như vậy hả?

– Trời ơi, bác còn hỏi câu đó nữa! Cháu có làm cái khỉ mốc gì là bậy bạ đâu! Từ đầu mùa tới bây giờ tụi nầy chỉ biết cắm đầu cắm cổ đi đánh giặc, vậy mà mấy chả còn bơi móc kiếm chuyện sanh sự hoài… Mà mấy chả làm quá, cháu đâu có nhịn hoài được bác!

– Còn cái con gì đó… sao lại leo vô nữa?

– Dễ hiểu quá mà bác! Cái thằng chính trị viên ôn hoàng dịch lệ đó nó kiếm chác với con nầy nhưng coi bộ… hổng xong nên đâm ra thù oán và nó tính buộc luôn con Phấn vô để tụi nầy chết chùm với nhau chơi mà bác!

– Bây giờ tụi bây tính sao đây?

Thấy bác Tám còn lóng ngóng ở đó chớ chưa nhứt quyết bơi đi thẳng, Tư Cầu bèn lên tiếng van nài:

– Thì bác nghĩ coi tính cái gì nữa bây giờ. Thôi việc dĩ lỡ như vậy, hai đứa cháu chỉ có nước là dông đi lánh mặt cho rồi. Thời may gặp xuồng bác đây thì… cháu xin nhờ bác cho tụi nầy có giang ra ngoài sông cái, rồi coi chỗ nào vắng vắng, bác cho tụi nầy tấp lên bờ…

Bác Tám có vẻ phân vân:

– Nói nào ngay, tao thấy tình cảnh của hai đứa bây tao cũng thương, nhưng thương tụi bây được rồi nữa có rủi ro bề gì thì ai thương cho thằng già nầy đây.

– Cháu nói hổng sao mà bác! Thôi cập xuồng vô đi bác ! Thiệt cháu gặp xuồng bác cháu mừng húm, bác với cháu thế nào cũng dễ nói chuyện nhau hơn, chớ phải gặp ai khác thì chắc khó xử đa!

– Sao vậy mầy?

– Thì… nếu gặp xuồng ai khác thế nào họ cũng giục giặc và chừng đó cháu bắt buộc… phải ra tay nổ súng cũng nên, nhưng với bác thì… tránh được chuyện đó. Thôi cặp xuồng vô đi bác!

Bác Tám làm thinh bỏ dầm xuống bơi rút vô phía bờ. Đến nơi bác cắm dầm cho chặt để chiếc xuồng khỏi trôi rồi nhảy phóc lên bờ.

Tư Cầu ngạc nhiên hỏi:

– Ủa, bác đi đâu đó?

– Thì tao giao cái xuồng lại cho mầy, mầy muốn đi đâu thì đi, tao bất biết…

Tư Cầu níu áo bác lại:

– Coi, bác phải đưa hai đứa này đi chớ! Cháu mà bơi đi ngờ ngờ tụi nó chốp lại sao bác!

Bác Tám cằn nhằn:

– Chớ còn tao đưa hai đứa bây rồi mấy chả tha cho tao chắc?

Tư Cầu dịu giọng giảng giải:

– Cháu đã nói bác đừng có lo khỉ mẹ gì hết! Dưới xuồng sẵn có hai tấm cà rèm chút nữa cháu dựng lên rồi tụi này chun vô đó… bác cứ ung dng bơi đi hổng ai hồ nghi gì hết đâu mà! (rồi anh ta níu lấy tay bác Tám dắt xuống xuồng) Bác thương thì thương cho trót, rồi nữa thế nào Trời Phật cũng phù hộ cho bác…

Bác Tám bước xuống xuồng lại:

– Thôi thôi… mầy vái Trời vái Phật phù hộ cho mầy, tao coi bộ… cần hơn, tao già rồi dầu có chết cũng… vừa phải. Thôi hai bây xuống mau đi…

… Trăng sáng vằng vặc ngoài sông cái. Gió thổi thốc vào trong mui xuồng làm cho Tư Cầu thấy thấm lạnh và Phấn cũng co ro người lại.

Tiếng của chiếc dầm cạ vào be xuồng đều đều cùng với tiếng nước rẽ ào ào trước mũi xuồng nghe buồn một cách lạ lùng…

Tư Cầu thò đầu ra ngoài nhìn ngoái về phía hàng cây trong bờ, nơi thôn xóm mà anh ta âm thầm từ biệt… Anh ta bất giác thở dài.

Phấn ngóc đầu lên hỏi:

– Gì vậy anh Tư?

– Không…

Vừa lúc ấy, bác Tám cũng cất tiếng hỏi:

– Bây giờ tụi bây muốn đi đâu đây hả?

Tư Cầu đáp mau:

– Bác cứ bơi thẳng lên chợ đi, rồi gần đến khoảng nhà ruộng ông Cả, bác tấp vô cho tụi nầy lên bờ cũng được!

Bác Tám cười mỉa:

– Gần quá há!

– Ráng chịu khó cho cho cháu một chút mà bác! Nước còn lớn bác thả xuôi mấy hồi…

Phấn ngồi rột dậy:

– Nè anh Tư, anh tính tụi mình đi đâu đây?

– Thì… đi trốn chớ đi đâu!

Phấn nhích lại nắm lấy tay anh ta:

– Trốn chung rồi tụi mình kiếm chỗ nào sống luôn với nhau hén!

Tư Cầu chậm rãi lắc đầu:

– Cái đó… hổng được đâu.

Phấn buông thõng tay xuống:

– Sao kỳ vậy?

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Anh hỏi em: giặc giã lung tung beng như vầy mà còn có chỗ nào yên để hai đứa mình tấp vô đó chớ! Em còn chồng con, còn công việc mần ăn đăng đăng đê đê ở trển, anh thì long chong và hễ lọt vô bên nào bên nấy cũng cho lãnh đủ hết… như vậy em dám tính cái gì đời đời kiếp kiếp được hông?

Phấn có vẻ giận dỗi:

– Nói như anh vậy thì… hổng có khi nào em với anh nghĩ đến chuyện ăn ở lâu dài với nhau được hết sao?

Tư Cầu ngập ngừng đáp:

– Chắc… hổng có khi nào nữa em à!

Phấn thở dài sườn sượt:

– Em biết trước vậy mà!

Tư Cầu ấp úng nói tiếp:

– Em biết trước thì… em nên hiểu dùm bụng anh. Thời buổi nầy đâu phải ai cũng rảnh rang để nghĩ, để lo một cái chuyện… yêu thương, ăn ở với nhau đâu! Đó, em mới dìa dưới nầy ngồi chưa nóng chỗ mà em thấy coi… hết việc nầy đến việc nọ… nó chèo kéo nhau làm mình thiếu điều phát điên phát khùng…

Thấy Phấn ngồi làm thinh, Tư Cầu bèn ân cần dặn dò thêm:

– Chút nữa khi tới nhà ruộng của ông Cả thì… mạnh ai nấy theo con đường nấy, em chịu khó lội lên chợ để đón tàu hay xe gì đó dìa trển luôn đi, còn anh, anh băng qua giồng đi quẹo trở xuống La-Ghì thăm tía má, anh Hai của anh trước khi anh dông tuốt lên miệt Châu Đốc nương náu một thời gian… Bây giờ hai đứa mình chỉ có… hai con đường đó!

Phấn lên giọng chua chát:

– Con đường nào của anh thì cũng đi bét ra hết!

Tư Cầu nắm lấy tay cô ta, ngậm ngùi bảo:

– Thôi, chuyến này em hết mong trở dìa dưới nhà, mà anh cũng hết dịp để. gặp em nữa! May mà mình còn được núp chung nhau dưới chiếc mui xuồng nầy thêm một khoảng sông nữa!

Tự nhiên Phấn quơ tay ôm ghịt lấy Tư Cầu… và anh ta thì nghẹn ngào nói tiếp:

– Em dìa trển, em còn có chú Ba, có thằng Kỳ, có công chuyện mần ăn, có chuyện nhà chuyện cửa… chớ còn anh, rồi đây anh cũng chẳng có cái gì hết! Phải, anh chẳng có cái gì để lo nghĩ cho… rành rẽ, hẳn hoi, mặc dầu anh lo nghĩ cả trăm cả ngàn thứ chuyện….

Phấn buông tay ôm lấy đầu anh ta ghì chặt xuống ngực như ôm ấp vỗ về một đứa trẻ:

– Thôi, em biết rồi, em hiểu rồi… anh đừng nói gì nữa hết…

… Và trong phút chốc Tư Cầu có cảm giác mình trở nên bé bỏng, vụng dại một cách thật kỳ thú! Anh ta nhoi đầu nhìn ngoái ra mặt nước dưới ánh trăng khuya lạnh lẽo…

Một luồng gió thổi ào vào trong mui xuồng làm cho Tư Cầu rùng mình và vội rúc đầu vào bên ngực ấm của người yêu. Anh ta khe khẽ kêu lên như có ý tiếc rẻ một cái gì:

– Cha, phải chi trong đêm nay con sông này… đi hoài hổng tới bến thì sướng biết mấy!

Từ đằng sau lái, có tiếng cười lạt của bác Tám đáp lại liền:

– Hừ, tao bơi cúp bình thiếc chớ mầy có bơi ở đâu nên mầy van vái cho con sông nầy dài hoài hoài! Mà xuồng của tao là xuồng mần nghề đó nghen! Tụi bây làm ơn nhớ giùm tao một chút!

Nghe câu đó, Phấn đưa tay véo nhẹ vào lưng Tư Cầu rồi ngoái cổ ra phía sau nói lớn:

– Anh Tư ảnh nói… chơi mà bác! Tụi nầy biết giữ gìn lắm mà!

Tuy nói thế, Phấn cũng đưa hai vòng tay ôm lấy cổ Tư Cầu dìu nằm xuống và nói thỏ thẻ một bên tai:

– Thôi… hai đứa mình còn gần được nhau lúc nào hay lúc nấy phải hông anh cưng?

Chiếc xuồng hơi chòng chành một chút và… làm cho bác Tám bực mình giơ dầm móc mạnh xuống nước, khiến cho mũi xuồng suýt chút nữa đâm quẹo… ngang.

Tư Cầu nhổm đầu lên hỏi:

– Cái gì vậy bác Tám?

Bác Tám trả lời ráo hoảnh:

– Tránh đám chà mầy!

Tư Cầu mỉm cười nằm xuống gối đầu lên trên cánh tay mềm dịu của Phấn…

Đang mơ mơ màng màng, Tư Cầu bỗng giật mình vì một tiếng động mạnh ở mũi xuồng. Anh ta quơ quào chụp lấy khẩu súng rồi lấp bấp hỏi vọng ra phía sau lái:

– Gì vậy bác Tám?

Bác Tám vừa đứng xốc cặm cây dầm xuống nước vừa đáp:

– Tới rồi đó mầy!

Tư Cầu gỡ tay Phấn bò ra trước mũi xuồng và dụi mắt lia lịa:

– Ở đâu đây bác?

Bác Tám đáp sẵng giọng:

– Coi, mầy biểu tao đưa lên đây, bây giờ mầy còn hỏi cái điệu đó nữa… bộ mầy tính bắt tao thả lên thả xuống giữa sông theo con nước lớn ròng để hai đứa bây ôm xà nẹo với nhau hoài chắc!

Phấn cũng bước theo ra trước mũi xuồng. Cô vung vai rồi hỏi Tư Cầu:

– Mình lên chỗ nầy hả anh?

– Ừ.

Đoạn anh ta nhảy phốc lên bờ rồi đưa tay vịn cho Phấn leo lên.

Bác Tám vội vã nhổ chiếc dầm lên:

– Thôi phần công việc của tao xong hết rồi phải không?

Tư Cầu đi lại gần chỗ lái xuồng:

– Thiệt tụi nầy làm phiền bác nhiều quá… Thôi bác dìa đi, nước cũng bắt đầu nhửn ròng rồi…

Bác Tám có vẻ bùi ngùi:

– Nói là nói vậy chớ tao thấy tình cảnh của hai đứa bây tao cũng tội nghiệp lắm! Mấy cháu đi mạnh giỏi bình an, bác dìa đây nghen!

Phấn vội bước lại gọi bác:

– Khoan đi bác Tám ơi! Đây cháu gửi bác chút đỉnh tiền để hút thuốc (cô hấp tấp móc ra một tờ giấy một trăm đồng và nhét vô tay Tư Cầu) Nè anh Tư anh đưa cho bác.

Thấy vậy, bác Tám vội nại cho lui xuồng ra nhưng Tư Cầu đã nhanh tay chụp níu giữ lấy mũi lại rồi nhét tờ giấy bạc vô trong một chiếc nẹp tre trên tấm cà rèm.

Bác Tám cự nự om sòm:

– Ê, tụi bây lấy lại thì tao mới chịu đi! Bộ tụi bây trả tiền công cho tao hả?

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Ai mà dám làm như vậy hổng biết! Tội nghiệp mà bác!

– Bộ tụi bây nói tao ham tiền lắm hả? Thử thời gặp ai khác mà có mướn tao cả bạc triệu coi tao có chở lên đây không! Hay là kề súng kề dao vô bảng họng bắt tao đi coi tao có chịu nhúc nhích hay không!

Tư Cầu vừa cười mỉm vừa xô mạnh mũi thuyền ra:

– Cháu dư biết bụng bác mà!

Bác Tám lắc đầu rồi ái ngại hỏi lại Tư Cầu:

– Chắc chuyến nầy mầy… đi luôn hả Tư?

Tư Cầu nhún vai:

– Thì bác nghĩ coi… cháu làm sao dám ló mặt dìa dưới nữa!

Bác Tám cất dầm lên bơi:

– Cháu ráng giữ mình nghen cháu Tư! Bác lui nghen…

Tư Cầu cảm động nhìn theo và nói vói:

– Bác dìa dưới… nếu tụi nó có nghi cái gì thì bác liệu sắp đặt câu trả lời cho xuôi nghen bác!

Bác Tám khẽ gật đầu rồi bơi bung chiếc xuồng ra ngoài xa…

– Bác đó coi vậy mà tốt quá!

Câu nói của Phấn làm cho Tư Cầu như sực tỉnh.

Anh ta quàng tay ra sau lưng Phấn dìu đi lên phía trại ruộng ông Cả nằm kề bên con lộ vườn.

Mấy gian nhà trống trơn, lạnh lẽo (vì từ hồi bắt đầu có giặc giã, ông đại điền chủ nầy đã bỏ phế hết ruộng nương để dông tuốt lên Cần Thơ ở) khiến cho Phấn rùng mình đi ép sát vô mình Tư Cầu…

… Ra đến con lộ, Tư Cầu nắm lấy hai bàn tay của Phấn và nhìn thẳng vào mặt… vội cúi đầu đưa chân chà chà trên một đám cỏ cú mướt rượt sương khuya.

– Em… như hai đứa mình bàn tính hồi nãy, bây giờ em đi thẳng lên chợ còn anh, anh lội băng qua đồng để bọc xuống dưới La Ghì…

Phấn ngước mặt nhìn lên, và qua ánh trăng xuyên, Tư Cầu thoáng thấy hai ngấn nước mắt lấp lánh…

– Bộ không có cách gì khác sao anh? Hay là… hay là em theo luôn với anh đi xuống dưới La-Ghì, rồi hai đứa mình nương náu ở đó để kiếm cách buôn bán làm ăn… Hay là anh muốn đi đâu xa nữa cũng được, anh tạm ở dưới nầy đôi ba ngày hay một tuần lễ để em dông lên Sàigòn quơ thêm chút đỉnh vốn liếng rồi em sẽ trở xuống kiếm anh…

Tư Cầu vừa xiết chặt thêm đôi bàn tay của Phấn vừa lắc đầu:

– Hổng được đâu em. Anh đã nghĩ nát nước hết rồi. Thiệt anh không biết cắt nghĩa làm sao cho em hiểu… Khổ ở chỗ là bây giờ tuy không có bên nào dung tha anh ráo nhưng anh lại cũng… không trốn bỏ đi đâu được! Anh đã cố thử làm… tai điếc mắt ngơ một thời gian rồi mà cũng hổng được em ! Hễ anh nghe có tiếng súng nổ là trong mình làm như thấp thỏm nhớ ông bà ông vải gì kỳ vậy…

Phấn lắc nhẹ tay anh ta:

– Tại anh muốn hành thân hành xác anh vậy chớ gì! Bộ thiên hạ hết người đứng ra lo rồi sao!

Tư Cầu gãi đầu:

– Không phải tại thiên hạ hết người mà tại… mình ở không yên…

Phấn nói chen vô liền:

– Thì đó, em nói có sai đâu!

– Bởi vậy nên anh đâu có dám tính tới chuyện ở lâu dài với em được! Vì thế nào cũng có ngày anh bỏ mẹ nó lại hết ráo để dông đi nữa…

Phấn cúi đầu làm thinh.

Tư Cầu buồn rầu nói tiếp:

– Thôi em à, bây giờ hai đứa mình cũng… lớn tuổi hết rồi chớ đâu còn ở vào cái thời mười sáu, mười bảy tuổi nữa đâu… Đứa nào đứa nấy cũng dính cứng vô chuyện riêng của mình hết, và dầu cho anh với em có đánh liều làm lại ráo trọi cuộc đời đi nữa thì em có chắc là nó sẽ tốt đẹp, sẽ êm thắm hơn bây giờ hông?

Phấn nói gạt ngang:

– Nhưng nó hợp ý với mình hơn!

Tư Cầu bắt mỉm cười:

– Em có chắc không? Hay là sau này lại đổ thừa kia nọ lung tung lên… mình đã thử một lần rồi…

– Xí, bộ tại em hả? Mà anh không muốn thì thôi!

Tư Cầu kéo Phấn lại gần mình:

– Dầu thế nào đi nữa, không phải mối tình của mình chấm dứt trên con lộ nầy… Đó em hổng thấy sao: mỗi lần mình có dịp gặp nhau lại là anh coi bộ còn… mặn nồng gắt hơn trước nữa…

Phấn gục đầu trên vai anh ta thở dài…

– Thiệt chỉ với em, anh mới dám mấy lần làm cái chuyện… tổn âm đức! Anh đâu quên em là gái có chồng có con đàng hoàng… Nội chút xíu đó em cũng rõ bụng anh…

Mấy tiếng gà gáy rộ lên trong xóm kế cận…

Tư Cầu nhẹ buông Phấn ra:

– Coi bộ… gần sáng rồi em à…

Phấn quay mặt nhìn về con lộ xa hun hút, rồi nhìn Tư Cầu:

– Chuyến này… em biết sẽ gặp anh lại ở đâu?

Tư Cầu nhún vai giơ tay chỉ bá vơ vào khoảng trống không…

Phấn ngậm ngùi gật đầu như thấu hiểu câu trả lời… bi thảm ấy.

– Em cũng nên lên chợ mau mau để… cho kịp chuyến xe “tài nhứt”.

Phấn móc bóp ra trao cho anh ta mấy tờ giấy bạc rồi gượng cười nói đùa:

– Thôi nghen, lần này là lần chót đó!

Tư Cầu chưa kịp trả lời hay nói thêm một tiếng gì thì cô ta quay lại hấp tấp bỏ chạy đi.

Tư Cầu hớt hải kêu gọi:

– Em, em!

Chỉ có mấy tiếng khóc ấm ức của Phấn vọng lại, rồi cái bóng của chiếc áo túi trắng cũng mất hút sau một đám chuối mọc lấn ra khúc quẹo của con lộ…

Tư Cầu đứng nhìn trân trối về phía ấy…

Trên trời, một con le le lạc đàn bay ngang qua và tiếng kêu gọi bạn rả rích của nó như vướng mắc vào ánh trăng tà trước khi lắng tan hẳn.

Tư Cầu bỗng nhớ trực đến mấy tờ giấy bạc của Phấn mà anh ta vẫn còn nắm chặt trong tay… Anh ta bùi ngùi nhét vào túi rồi thờ thẫn bước rẽ xuống bờ mẫu ruộng để băng qua phía bên giồng.

Anh ta vừa đi vừa xốc lại cây lục dắt trước bụng: khẩu Herstal, tuy thuộc cỡ bẩy ly mấy mà sao hôm nay có vẻ nặng trĩu khác thường…

°   °
°

… Mới đây mà Tư Cầu nấn ná ở nhà anh Hai của anh ta gần được trót tháng. Ngày nầy qua ngày kia, cái tình cảnh ăn no ở không ngồi rồi làm cho anh ta chán ngán vô cùng.

Sáng hôm nay, Tư Cầu ngồi bó gối ngoài hàng ba nhà để lắng nghe những tiếng súng lớn nổ vọng lại từ một miền nào khá xa…

Hai Cang ở trên đồn về thấy vậy vội bước lại gần em và vồn vã hỏi:

– Sao mầy hổng thả ra chợ chơi, chớ làm gì ngồi bí xị như muốn… trù cha hại mẹ vậy mậy?

Tư Cầu trề môi, nhún vai rồi làm thinh luôn.

Hai Cang móc ra một gói thuốc “Gô-loa” đưa mời em hút rồi ân cần hỏi thêm:

– Sao mậy? Cái chuyện tao đem bàn với mầy hôm trước đó, mầy đã tính thế nào chưa?

Tư Cầu hấp tấp phà hết hơi khói ra để trả lời:

– Tui đã nói hổng được mà! Bây giờ anh biểu tui theo anh đi lính như vầy thì cũng ngặt cho tui quá!

Hai Cang có vẻ bực mình:

– Coi, bây giờ mầy phải tính xem nên theo bên nào thì theo dứt dạt một bên chớ cứ long chong ở cửa giữa hoài sao? Mầy cũng đã ở phía bển ngập đầu lút cổ chịu hổng thấu nữa nên mầy mới bò vô đây…

Tư Cầu nói chận ngang:

– Tui dìa đây là để thăm tía má, thăm hai vợ chồng anh và thằng Năm… chớ bộ tui vác mặt dìa đây để đăng lính cho Tây ở trên đồn hả?

Hai Cang dậm mạnh chân xuống đất:

– Mầy nói điệu trên trời dưới đất hoài hè! Mầy đã ở trỏng hết nổi, bây giờ mầy ra đây mà lại không chịu theo bên nầy… vậy mầy muốn theo ai nữa chớ? Theo Ngọc Hoàng Thượng Đế chắc?

Tư Cầu ngập ngừng đáp:

– Tui… hổng theo bên nào hết…

Hai Cang nhăn mặt:

– Mầy nói sao?

Tư Cầu ngó lảng ra ngoài sân rồi chậm rãi trả lời:

– Tui không theo bên anh vì bên anh… bậy, mà tui cũng không theo bên anh Ba vì bên anh Ba… không hợp…

Hai Cang ngó em lắc đầu liền liền:

– Tao chạy mầy luôn. Mầy không theo phe nào hết thì cũng được đi… Vậy thì mầy cứ ở luôn đây rồi coi cái gì đó mua bán mần ăn, hay là mầy nhảy ra mần vài công rẫy đi, tao bỏ vốn cho!

Tư Cầu mỉm cười lắc đầu:

– Anh cứ để thây kệ tui mà! Anh nghĩ coi thời buổi nầy mà anh bắt tui phải… trụ hình mần ăn… lương thiện thì ngặt cho tui quá…

Hai Cang nhìn sững em:

– Vậy mầy muốn làm vương làm tướng gì nữa?

– Tui tính mơi hay mốt gì đây tui đi lên miệt Châu Đốc…

Hai Cang chận lời:

– Mầy lên kiếm cái động nào trong Bảy Núi tu chắc?

Tư Cầu cười xòa:

– Bậy nà! Tui lên đó kiếm một người quen, người nầy tui biết hồi mới trôi nổi lên Nam Vang…

Hai Cang chau mày:

– Dầu mầy có lên Châu Đốc hay ở dưới nầy tao chẳng thấy chỗ nào khác đâu?

Tư Cầu hơi lúng túng:

– Cũng… có chớ sao không. Ở miệt trên tui nghe nói yên yên hơn ở dưới mình, và lên ở trên cũng như ở một chỗ xứ lạ quê người không quen ai không biết ai… như vậy may ra tui mới lo tu tỉnh mần ăn được.

Ngừng một giây, Tư Cầu lại nói tiếp:

– Chớ còn ở dưới nầy, quanh đi quẩn lại, cái gì cũng nhắc mình nhớ đến chuyện cũ hết. Anh nghĩ coi, như vậy làm sao mình rảnh tâm rảnh trí để lo mần ăn được!

Hai Cang thở dài:

– Thì thôi, mầy muốn đi tao cũng không cản… Nhưng mầy đã có nói cho tía má hay chưa?

Tư Cầu gật đầu:

– Rồi.

– Bộ ổng bả… hổng có nói gì hết sao?

Tư Cầu gượng cười:

– Ý trời ơi tía má cự nự um sùm, nhứt là má! Má nói bộ tui khùng điên gì sao! Nhưng rốt cuộc rồi cũng êm hết…

Hai Cang cười theo:

– Thì ai còn lạ gì tánh nết… kỳ đời của mầy nữa! (rồi anh ta nghiêm giọng nói tiếp) Nè Tư, mầy một ngày một lớn thêm, chuyến nầy mầy có đi thì cũng ráng lo tu tỉnh làm ăn và nếu gặp chỗ nào phải nơi xứng lứa thì mầy cũng nên lo… kiếm một con vợ để cho nó cột chưn buộc cẳng mầy lại. Mầy mà lông bông như vầy hoài làm sao mà nên vóc nên người với thiên hạ được!

Tư Cầu trả lời xụi lơ:

– Thì để tui… ráng coi!

Hai Cang nhìn em, ngao ngán:

– Mầy… tao coi bộ cũng khá mà sao cứ lình xình hoài hổng biết! Tía má lo buồn vì mầy nhiều lắm đó nghen!

Tư Cầu buông thõng mấy tiếng “Tui biết mà!” rồi trầm ngâm ngồi nhịp chân, ngó mông lên một đám mây trắng đang uể oải trên nền trời xanh biếc, bao la…

°   °
°

… Và qua ngày hôm sau, Tư Cầu lên Cần Thơ để sang xe đi thẳng về Châu Đốc.

Sau khi xuống xe lôi, Tư Cầu ôm gói quần áo bao bằng giấy dầu, đứng xớ rớ trước cửa rào làm bằng cây mì sống, lá mọc xanh um. Một con chó con nghe động chạy xổ ra sủa vang rân và tiếp theo đó, một thiếu nữ độ mười tám tuổi, mặc bộ đồ bà ba đen bằng hàng Tâu Châu hớt hải chạy ra la cản con chó.

… Và khi thấy có một thanh niên lạ mặt đứng trước cửa rào, cô gái đứng khựng lại.

Tư Cầu vội lên tiếng hỏi:

– Dạ đây có phải là nhà của chú Bảy hông cô?

Cô gái khẽ gật đầu:

– Phải… mà chú hỏi thăm tía tui có việc chi?

Tư Cầu mừng rỡ hỏi nôn tới:

– Chú Bảy có ở nhà không cô?

Cô gái có vẻ ngần ngừ:

– Tía tui đi xóm rồi… mà chú kiếm tía tui có việc chi…

Tư Cầu không trả lời câu hỏi lặp lại đó mà nheo mắt nhìn cô gái một hồi rồi kêu lên:

– Ý thôi, tui nhớ ra rồi! Xin lỗi cô… cô đây có phải là con của chú Bảy phải hông?

Câu hỏi có vẻ ngớ ngẩn của Tư Cầu làm cô gái phì cười:

– Dạ phải, tui là con của… tía tui.

Tư Cầu “ờ” một tiếng rồi rụt rè hỏi thêm:

– Nói vậy chú Bảy đi vắng hở cô?… Mà cô có biết chừng nào chú dìa hông cô?

– Dạ không.

Thấy cô gái đứng lựng khựng ở đó chớ chưa chịu mở cửa rào, Tư Cầu đâm ra xẻn lẻn. Anh ta cúi đầu ngó xuống luống bông tí ngọ nở đỏ tươi dọc theo hàng rào.

Vừa lúc ấy thiếm Bảy ở trong nhà te te chạy ra. Thiếm đến đứng một bên con gái rồi đưa mắt hấp háy nhìn Tư Cầu. Anh ta vội ú ớ lên tiếng chào hỏi nhưng thiếm Bảy đã quay qua hỏi con:

– Ai vậy Thắm?

Thắm (tên cô gái) đáp nhỏ nhỏ:

– Hổng biết nữa má à!

Thiếm Bảy đưa mắt nhìn Tư Cầu từ đầu đến chân, rồi hỏi con gái thêm:

– Vậy chớ họ muốn hỏi cái gì mà ở trong nhà tao thấy nói láp giáp tự nãy giờ đó?

– Chú đó hỏi tía…

Thiếm Bảy bèn bước lại gần cửa rào hỏi thẳng Tư Cầu:

– Chú em muốn hỏi tía bầy trẻ việc chi vậy? Mà chú em là ai mà qua… chưa gặp mặt lần nào hết vậy?

Tư Cầu vội hỏi lại:

– Dạ thiếm đây là… thiếm Bảy…

Thiếm Bảy gật đầu:

– Ờ…

Tư Cầu hăng hái nói một hơi:

– Thiếm chưa có biết cháu chớ chú Bảy quen với cháu nhiều lắm. Cháu gặp chú hồi năm xưa ở trên Nam Vang, sau đó chú dẫn cháu lại nhà của cô Năm bán quán cơm…

Thiếm Bảy mừng rỡ kêu lên:

– Ý chèn đét ơi, tưởng ai chớ chú em mầy… nói như vậy qua biết rồi! Có phải chú em mầy… chú em mầy… có chuyện ạch đụi với cái cô gì đó, rồi chú em mầy đi tuốt lên Nam Vang kế gặp tía bầy trẻ đây hông?

Tư Cầu vừa gật đầu vừa đáp:

– Phải, phải đó thiếm! Cháu là thằng Tư Cầu gặp chú Bảy ở trển đó thiếm à!

Thiếm Bảy bỗng nhớ trực lại Tư Cầu còn đứng kẹt ở ngoài hàng rào nên réo gọi con gái mở cửa:

– Chèn ơi Thắm! Sao mầy để thằng Tư nầy đứng phơi nắng ở ngoải chút giờ đồng hồ vậy hả? Sao mầy hổng mở cửa mời thẳng vô nhà?

Tuy hối thúc con gái như vậy, thiếm Bảy cũng vội vàng tiến đến mở cửa rào chớ không đợi cô con gái bước tới.

Còn con Thắm xụ mặt xuống cằn nhằn nho nhỏ:

– Ai biết Tư Năm gì đâu mà biểu người ta mở cửa!

Thiếm Bảy thân mật mời Tư Cầu vô nhà:

– Thôi vô trỏng ngồi uống nước chơi Tư! Chú Bảy của chú em cũng dìa tới bây giờ…

Trong lúc ấy, con Thắm sượng mặt nên loay quay làm bộ đuổi xua con chó chạy đi chỗ khác.

Thiếm Bảy vồn vã hỏi thăm Tư Cầu:

– Bộ chú em mới tới hả?

– Dạ…

– Ối thôi, tía bầy trẻ nhắc nhở chú em hoài hủy. Hồi đó ổng có gởi một cái thơ lên cho chị Năm ở trển để hỏi thăm chú em mầy và chị Năm chỉ trả lời cho biết là chú em đã dông đi đâu mất biệt. Ối thôi, ổng bắt được cái thơ đó, ổng kêu trời kêu đất quá chừng!

Tư Cầu ấp úng nói chen vô:

– Dạ, cháu… dìa dưới nhà chớ có đi đâu đâu…

– Vậy hả! Ổng thì ổng tưởng rằng chuyến đó chú em mầy bỏ đi qua Lào qua Xiêm gì!

Tư Cầu mỉm cười đáp:

– Dạ, nhớ nhà quá nên cháu dìa thăm chớ có dám đi đâu nữa…

Thiếm Bảy nhìn Tư Cầu một hồi rồi ngập ngừng hỏi thêm:

– Còn cái chuyện… trai gái gì đó… chắc cũng êm luôn rồi phải không chú em?

Tư Cầu lúng túng đáp:

– Dạ… chuyện đó… cũng êm.

Vừa lúc đó có tiếng chú Bảy nói bô bô ngoài đường:

– Cha, ba con heo dịch vật ủi sạch mấy líp khoai hết! (rồi chú lớn tiếng la rầy) Còn đứa nào mở cửa rào mà lại để toang hoác không đóng lại vậy nè!

Thiếm Bảy vội chạy ra:

– Vô đây mau đi ông! Có thằng Tư tới ở trỏng kia kìa!

Chú Bảy có vẻ ngơ ngác:

– Thằng Tư nào? Ở trong xóm nầy có cả trăm ngàn thằng thứ tư…

– Thằng Tư gì mà ông gặp trên Nam Vang đó! Bộ ông lú ruột lú gan hết rồi sao?

Chú Bảy lột ngay cái nón lá xuống hấp tấp chạy vô nhà:

– Ý trời… thằng Tư Cầu! Đâu nó đâu! Sau bà hổng sai sắp nhỏ đi kêu tôi liền…

Tư Cầu cũng ở trong nhà bước ra, tươi cười kêu lên:

– Chú Bảy mạnh giỏi! Cháu đây nè.

Chú Bảy quăng nón lá xuống đất, rồi đứng nhìn sững Tư Cầu:

– Trời ơi… Tư! Sao chú mầy đi đâu biệt tông biệt tích. Chị Năm ở trển chỉ chửi chú mầy biết ghe tàu nào chở cho hết!

– Dạ…

Chú Bảy nghiêng đầu, nheo mắt nhìn Tư Cầu:

– Cha, qua coi bộ chú mầy… không được đỏ da thắm thịt như hồi trước nữa đa Tư!

Tư Cầu mỉm cười:

– Dạ bị lo nhiều chuyện quá chú Bảy à!

Chú Bảy liếc xéo anh ta:

– Chắc hổng phải là cái chuyện đàn bà đó chớ?

Tư Cầu rùn vai:

– Ý trời ơi thiếu gì câu chuyện khác nữa đó chú!

– Qua coi bộ chú mầy già hơn trước nhiều đa!

– Dạ thì mỗi ngày một lớn tuổi.

Thiếm Bảy sốt ruột nói chen vô:

– Thôi ông dắt chú Tư vô nhà nói chuyện chớ khách khứa gì mà ông để người ta đứng lựng khựng ở đó hoài vậy!

Chú Bảy gật đầu níu vai Tư Cầu:

– Vô đây chú em, qua có chuyện muốn nói với chú em lắm.

Tư Cầu mỉm cười đáp:

– Dạ cháu đây cũng vậy…

… Vào đến trong nhà, chú Bảy dẫn Tư Cầu đến ngồi ở bộ trường kỷ đặt ở gian giữa. Tư Cầu nhìn bộ ghế đen mun cẩn ốc sáng ngời, trầm trồ:

– Cha, thứ bàn ghế nầy ở dưới miệt cháu mất ráo hết, và nếu có ai còn thì họ cũng đem quăng ngâm xuống mương hết.

– Chắc ở dưới… động lắm phải không Tư?

– Dạ phải… và cũng vì vậy mà cháu mới dông đi như vầy đó bác à.

Chú Bảy định hỏi thêm nữa nhưng rồi lại quay vô phía nhà trong réo gọi vợ con:

– Bà nó và con Thắm đâu rồi? Khách khứa lại có cả giờ đồng hồ rồi mà tao chẳng thấy có nước nôi gì hết!

Tư Cầu vội nói:

– Được mà chú, cháu đây chớ bộ… ai lạ hay sao bác! Hồi nãy, đi ngang qua hàng mái đầm ở trước hàng ba, cháu có làm sơ hết một gáo nước mưa rồi bác à!

Thiếm Bảy ló lên nói với chồng:

– Con Thắm nó đang nấu nước ở dưới đó ông… (rồi thím day qua hỏi Tư Cầu) Từ hồi sáng tới giờ chú em đã có cơm nước gì chưa? Nếu chưa, trong nhà còn ba cái mắm chưng sẵn đó, để qua biểu con Thắm nó dọn cho chú em lót bụng đỡ?

Chú Bảy lên tiếng cự nự vợ:

– Ý trời, chưa gì mà bà khoe sơ ba cái mắm chưng cơm nguội để đem nhử thằng Tư thì… không khéo nó chạy tét!

Tư Cầu mỉm cười nói chen vô:

– Dạ đó là món ruột của cháu đó chú Bảy à! Nhưng hồi ở trên xe cháu có dằn bụng hết một ổ bánh mì nên bây giờ cũng còn… lưng lửng chớ chưa thấy đói. Thôi để chiều cháu ăn luôn cũng được.

Chú Bảy sốt sắng hỏi vợ:

– Vậy thì bà lo nấu cơm chiều rút đi! À, biểu nó bắt con vịt xiêm lai, tui để dành tự hổm nay đó đem mần thịt nấu cháo để tui với thằng Tư cụng ly một chuyến coi!

Thiếm Bảy tất tả chạy vô nhà sau…

Chú Bảy tươi cười quay qua hỏi Tư Cầu:

– Ê chú mầy, chiều nay nhậu thả cửa với qua một bữa nghen! Nhậu tối trời tối đất chớ hổng phải uống cầm chừng cầm chìa làm khách đó nghen!

Tư Cầu vặn vẹo hai bàn tay, rồi ấp úng đáp:

– Dạ, cái gì chớ cái đó cháu… dở lắm!

Chú Bảy thở ra như có vẻ chán nản:

– Thanh niên thời buổi nầy sao mà bết quá vậy chú em!… Mà dở gì dở thì cũng phải say với qua một chuyến.

– Dạ… chút chút thì được!

Chú Bảy hăng hái nói:

– Ừ thì chút chút! Qua mới đặt được mấy chai rượu bọt ngon lắm! (rồi bác mỉm cười tiếp lời) Độïc lập sướng ở chỗ nào qua hổng biết, chớ riêng phần qua, qua khoái ở chỗ… được nấu rượu thả cửa mà khỏi phải sợ tây tào cáo tới bắt!

Tư Cầu nhìn chú Bảy lắc đầu:

– Chú như vậy… là ở cửa tiên rồi!

Chú Bảy nhíu mày hỏi lại anh ta:

– Coi, như vậy là thường chớ có gì lạ đâu chú em! Mà qua coi bộ chú em mầy có vẻ… bận bịu hay âu lo một chuyện gì phải không? Sắc mặt của chú em mầy chao dao và già xọp chớ đâu được như hồi qua gặp chú em mầy trên tàu đi Nam Vang… Chuyện gì vậy chú em?

Tư Cầu thở dài:

– Ôi cháu gặp nhiều chuyện lăng nhăng lắm chú Bảy ơi!

Chú Bảy gục gặc đầu:

– Chú em mày khỏi khai, qua cũng đoán chừng chừng là như vậy…

– Sao chú Bảy?

– Có gì đâu: thời buổi nầy, người còn thanh niên trai tráng như chú em thì làm chi có thì giờ rảnh rang thả rểu trên nầy thăm thằng già nầy! Qua nói như vậy chú em đừng giận, nhưng có chuyện gì đó vậy Tư?

Tư Cầu ngó lơ ra phía trước sân một hồi rồi quay vô đáp:

– Thiệt ra thì cũng có chuyện đụng chạm chút đỉnh ở dưới chỗ cháu ở, và túng cùng quá cháu… dông lên trên nầy, trước là thăm chú thiếm, sau là nhờ chú thiếm coi có chỗ mần ăn gì không để cháu… nương náu tạm một thời gian…

Chú Bảy chận lời ngang:

– Cái đó, chú em khỏi lo. Hồi đó qua nói với chú em làm sao thì bây giờ qua cũng… giữ y nguyên như vậy. Được rồi, công ăn việc làm ở trên nầy thiếu gì… ruộng rẫy, cá mắm, người có sức vóc và chịu khó như chú em thì lo gì, (rồi bác tươi cười nói tiếp)… mà thử thời chú em cứ ăn no ở không năm này qua tháng kia, qua cũng đủ sức bao cho chú em nữa!

Tư Cầu gượng cười đáp:

– Chú nói như vậy chớ còn đủ tay đủ chưn như cháu đây mà làm cái mửng đó coi sao được! Dầu sao, cháu cũng chỉ cần nương náu ở đây một vài tháng hay một năm là cùng để cho nó yên yên một chút, rồi bò dìa xứ chớ cháu đâu có tính đi biệt tông biệt tích…

Chú Bảy chận lời:

– Thôi đi chú em ơi! Qua hỏi chú em biết chừng nào mới yên được? Bây giờ tốt hơn hết là chú em cứ kể như mình ráp vô sống luôn ở đây đi!

Rồi chú hỏi ngang:

– Ý qua quên chuyện nầy nữa: chẳng hay chú em ở trên Nam Vang dìa dưới rồi có vợ có con gì chưa vậy?

Tư Cầu rầu rầu đáp:

– Dạ, có mà… kể cũng như không…

Chú Bảy nhướng mắt lên:

– Lại bị ạch đụi vì mấy con lũng nữa phải hông?

Tư Cầu mỉm cười lắc đầu:

– Hổng phải như chú nói đâu! Hồi cháu dìa dưới ông già ổng hấp tấp lo vợ cho liền, nhưng sau đó con vợ của cháu bị nạn chết, và cháu ở vậy cho tới bây giờ…

Chú Bảy vui vẻ nói:

– Chuyện nầy để qua lo vợ cho chú em! Như vậy qua cột chú em ở luôn đây mới được… (rồi chú gật gù) Phải rồi, người hiền lành như chú em mà đụng phải mấy con ngựa bà trời thì chịu đời sao thấu!

Vừa lúc ấy, con Thắm đi xớt ngang qua hàng ba để ra phía trước cửa rào. Chú Bảy vội kêu giựt ngược nó lại:

– Nè Thắm! Con đi đâu đó hả?

Con Thắm đứng khựng lại ở một bên chái nhà. Nó chưa kịp trả lời thì chú Bảy bắt qua nói với Tư Cầu:

– Con gái lớn của qua đó chú em… Hồi ở trên Nam Vang qua có nói với chú em đó chắc chú em còn nhớ chớ?

Tư Cầu gật đầu ừ ào cho xuôi theo.

Chú Bảy lại hỏi thêm:

– Từ nãy giờ chú em có gặp nó chưa? Còn hai thằng em nó thì đi học chưa dìa…

– Dạ cháu có gặp cô… Hai đây rồi. Hồi nãy cổ ra… mở cửa rào cho cháu đó mà!

Liếc thấy con Thắm cau mày khi nghe câu nói ấy, Tư Cầu vội nói tiếp liền theo:

– Dạ… hồi nãy có thiếm Bảy ra… mở cửa nữa! Dạ có con chó cò chạy xồ ra sủa dữ quá may có cô Hai đây cản đuổi nó…

Nói đến đó, Tư Cầu sượng ngang và nín luôn vì vừa nom thấy con Thắm cười tủm tỉm rồi vội ngó lơ sang chỗ khác để giấu mặt đi.

Đến lượt chú Bảy lên tiếng hỏi lại con gái:

– Con đi đâu đó hả Thắm?

Cô gái vẫn ngoảnh mặt đi và trả lời nho nhỏ:

– Dạ con lại đằng tiệm mua trà về pha nước…

Tư Cầu vội kêu lên:

– Ý khoan đi mua cô Hai ơi! (rồi anh ta day qua nói với chú Bảy) Dạ cháu có mua cho chú một gói trà Nghi Bồi Nhâm thứ nhứt hạng để chú Bảy uống thử coi…

Anh ta bèn tất tả chạy lại mở gói đồ để trên bộ ván, lôi ra một gói trà khá lớn đoạn đem lên đặt ở trên bàn giữa. Chú Bảy vói tay cầm lấy gói trà đưa lên mũi ngửi ngửi rồi tấm tắc khen:

– Cha, thứ nầy coi bộ… quạu đa! (rồi chú gọi con) Nè Thắm, con cầm lấy gói trà của… anh Tư mầy vô pha liền một ấm uống thử coi!

Con Thắm hơi ngần ngừ một chút rồi cúi đầu đi thẳng vô, vói tay xớt lấy gói trà và biến nhanh ra nhà sau…

Tư Cầu ngồi lại xuống chiếc trường kỷ, hơi dựa lưng vào thành ghế, rồi buột miệng khen bâng quơ:

– Cha, cháu coi bộ ở đây êm quá chú Bảy à!

Chú Bảy nheo mắt như để nghe ngóng rồi cười xòa:

– Thì qua đã nói như vậy mà Tư! (rồi chú lại hỏi luôn) Nhưng chú em mầy thấy êm… ở chỗ nào hả?

Tư Cầu lúng túng đáp:

– Thì… hồi đi trên xe lôi vô đây cháu hỏi thăm anh xe đạp, ảnh nói ở đây ít khi nghe súng nổ lắm, mà có nghe thì cũng nghe văng vẳng ở xa xa….

Chú Bảy gật gù:

– Phải đa! Chỗ nầy kể ra thì… hồi đầu mùa tới bây giờ chưa nếm mùi giặc giã gì cho lắm. Nhà cửa, dân cư nguyên hiện, bộ đội đôi khi cũng kéo đi ngang qua đây, nhưng họ đi xuồng không, nên lần nào cũng có vẻ lật đật lắm chớ không có ăn dầm nằm dề ở đây và do đó tây nó cũng chừa vùng nầy ra…

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Phải ở dưới cháu mà cũng êm như vầy thì cháu… khỏe quá!

– Thì bây giờ chú em mầy bắt đầu khỏe đây nè!

Tự nhiên, Tư Cầu bắt quay đầu nhìn vô phía nhà sau…

°   °
°

Tư Cầu ở tại nhà chú Bảy được ba hôm thì đã thấy… bứt rứt trong mình. Sau một hồi do dự, anh ta bèn tìm chú Bảy gợi chuyện:

– Thưa chú Bảy, cháu muốn thưa với chú một chuyện nầy…

Chú Bảy thân mật… cự nự:

– Thì chuyện gì chú mày nói phứt ra cho tao nghe coi.

– Dạ hổng nói giấu gì chú Bảy, tánh của cháu… ở không hoài xốn xang chịu không nổi, vậy cháu tính bàn với chú để cháu ra phụ mần mấy công rẫy của chú…

Chú Bảy vỗ vai anh ta:

– Tưởng cái gì chớ việc đó… qua sẵn sàng mà!

Tư Cầu ấp úng nói tiếp:

– Nhưng cháu muốn xin với chú Bảy cho cháu ra ở luôn ngoài rẫy để… tiện việc trông nom…

Chú Bảy trợn mắt:

– Ý trời, nhà cửa qua rộng minh mông thiên địa như vầy bộ không đủ chứa chú em hay sao mà phải ra đó ngủ bờ ngủ bụi chớ?

Tư Cầu ngó xuống đất:

– Cháu nói thiệt với chú Bảy, cháu ở luôn đây là… nhứt hạng… nhưng đôi ba bữa thì được chớ lâu ngày chầy tháng… coi cũng kỳ…

– Kỳ cái gì mà kỳ?

Tư Cầu ngó ngoái vô phía nhà sau như để trông chừng rồi chậm rãi đáp:

– Cũng hổng phải kỳ gì, nhưng có chỗ bất tiện. Tánh của cháu quen ở cui cút một mình rồi… Thôi, nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt: cháu ngại ở chỗ trong nhà chú Bảy còn có… đàn bà con gái… Nếu tính ở lâu tại đây mà cháu cứ… co rút hoài thì chịu đời sao thấu đó chú Bảy! Bởi vậy cháu mới tính xin với chú ra ở ngoài đám rẫy cho nó vừa… tiện công việc mần ăn mà lại vừa… dễ coi và dễ thở hơn…

Chú Bảy sốt sắng vỗ vai Tư Cầu:

– Chú em mầy nghĩ như vậy cũng phải. Đàn ông con trai mà như vậy là… kỹ lưỡng lắm đa! (nhưng rồi chú lại ngó thẳng vào mặt Tư Cầu và hỏi thêm) Nhưng chú em mầy “kỹ” thiệt hay là vì… sợ rồi muốn lảng ra trước đó!

Tư Cầu cười tủm tỉm:

– Dạ, có lẽ hai cái đó cũng đều có hết!

Chú Bảy xô nhẹ vai anh ta ra:

– Thằng em nầy cũng lắt léo lắm chớ phải chơi đâu! Được rồi, nếu chú muốn ra riêng thì qua không dám nài ép làm gì nữa. Nhưng chú em ra ngoài đám rẫy rồi ăn ở làm sao?

Tư Cầu hăng hái trả lời:

– Dạ việc đó chú Bảy khỏi lo gì hết. Cháu ra ngoải kiếm chỗ nào cao ráo dựng bậy một cái thum, cái chòi lá ở cũng đủ rồi.

– Như vậy cũng được, mà chú em nhớ làm một cái thum cao cẳng như một cái chòi… nhà sàn vậy. Dưới nầy rắn rít dữ lắm, chú em ngủ liều trên mặt đất có bữa rắn hổ nó bò ra mổ cho sôi đờm kéo mây chết hổng ai hay hết đó nghen!

– Dà…

– Còn chuyện cơm nước thì chú em khỏi lo gì hết đó nghen! Để qua dặn mỗi bữa con Thắm giở cơm bưng ra cho chú em ăn chớ đừng nấu nướng làm chi cho mất công mất linh.

Tư Cầu ráng từ chối riết mà chú Bảy vẫn không nghe nên cuối cùng anh ta đành miễn cưỡng ưng thuận và nói xụi lơ:

– Chú Bảy làm như vậy thì kể cũng như không!

– Sao mà như không hả chú em?

Tư Cầu lúng túng đáp:

– Thì làm như vậy cũng mất công cho cô Hai ngày hai bữa lội vô lội ra, thôi để mỗi bữa cháu đi lấy cơm cũng được!

Chú Bảy gạt ngang:

– Ý thôi đi, chú mầy làm như vậy cái việc đi vô đi ra cũng đã hết ngày giờ thì còn mần ăn gì được nữa, và thì giờ đâu mà nghỉ ngơi! Chú em mầy đừng có cãi qua…

Tư Cầu thở dài làm thinh.

°   °
°

Trong ngày đầu, chú Bảy đích thân mang cơm nước ra cho Tư Cầu để phụ giúp anh ta trong việc dựng chỗ ở mới, và công việc xong ngay trong ngày hôm ấy. Qua trưa hôm sau, trong lúc Tư Cầu đang lui cui lo phát cỏ ở miếng bìa đất gần chòi thì Thắm bưng thúng cơm ra tới.

Tư Cầu nhăn mặt cắm mạnh cái phảng xuống đất mềm, rồi rút chiếc khăn tắm quấn trên đầu ra để lau mồ hôi.

Con Thắm đứng khựng lại cách đó mấy bước. Thấy vậy, Tư Cầu cố gắng lấy giọng đon đả chào hỏi:

– Cô Hai đem cơm ra cho tui đó phải hông? Cha, cô Hai mất công quá!

Con Thắm rụt rè đáp:

– Dạ có chi…

– Thôi, cô Hai bưng thúng vô để dưới chòi kia chớ trời nắng chang chang như vầy mà cô đứng chịu đựng như vậy…

– Dạ có sao đâu…

Tuy nói thế, con Thắm cũng bước thẳng lại phía nhà chòi, đặt thúng cơm xuống và lột nón lá ra cầm phe phẩy quạt.

Tư Cầu thì đi lại bờ đìa vục nước rửa mặt, xong xuôi anh ta cà rịch cà tang bước về chòi. Vào đến nơi, Tư Cầu ngó quanh ngó quẩn như tìm một vật gì rồi cười nói với con Thắm:

– Tui tính kiếm… một khúc cây hay một miếng ván kê lên cho cô ngồi đỡ nhưng ngặt không có…

Con Thắm vội đỡ lời:

– Dạ tui đứng đây chơi cũng được…

– Cô đứng hoài mỏi chưn chết, thế nào nội buổi chiều nay tui cũng phải đóng xong một cái băng cây để khi cô ra đây có chỗ ngồi nghỉ.

– Dạ…

Tư Cầu bước lại chỗ để thúng cơm, lật tấm lá chuối đậy lên và chắc lưỡi khen:

– Cha, làm gì mà cô cho tui ăn dữ thần vầy nè!

Con Thắm hấp tấp chạy lại:

– Ý, anh để tui dọn ra cho! Tui cũng quên lú không đem theo luôn cái mâm cây…

Tư Cầu phụ bưng thức ăn đặt xuống mặt đất:

– Cô cứ… đứng chơi để kệ tui… Cô khỏi đem mâm ra làm chi cho mất công, dân nầy ngồi chèm bẹp dưới đất ăn cơm quen rồi mà cô!

– Anh nói vậy chớ tui phải lo cho tử tế hông thôi tía tui ổng thấy ổng cự chết.

Tư Cầu vừa xới cơm vô chén vừa hỏi con Thắm:

– Cô Hai ăn cơm chưa? Nếu chưa xin mời cô dùng luôn…

– Dạ rồi… (và nó mỉm cười nói tiếp) Tui đem ra có một cái chén và một đôi đũa…

Tư Cầu đỡ lời liền:

– Thì tui… ăn bốc cũng được mà!

– Anh nói chơi chớ ai để anh ăn như vậy…

Tư Cầu đưa đũa vẽ một miếng cá kho và khen:

– Cha, ai kho cá ngon quá!

Con Thắm cười tủm tỉm:

– Anh chưa có nếm qua một miếng nào hết mà biết ngon…

Tư Cầu cười giả lả:

– Thì… thấy cũng đủ ngon rồi! Kho cá cái điệu nầy tui chịu lắm… Bộ cô nấu nướng những món này phải không cô Hai?

Con Thắm quay mặt đi và đáp:

– Vậy mà tui bị bà già rầy hoài đó!

Tư Cầu chắc lưỡi liên hồi:

– Ý trời, nấu ăn như vầy mà còn chê nữa! Tui có đi đó đi đây nhiều tui biết… ôi thôi, hồi tui ở Nam Vang, ở Sàigòn tui gặp thiếu gì các bà các cô nấu cơm thì bữa khét, bữa sống, còn kho thì trắng chờ trắng chạch, nuốt vô tanh rình muốn ói. Đó cô coi!

Con Thắm lấy chân ấn ấn xuống nền đất còn ướt:

– Anh nói vậy chớ mấy bà mấy cô ở chợ ở búa người ta dốt món nầy nhưng rành nhiều món khác, còn như tui đây tối ngày lúc thúc dưới bếp hoài nên có biết cái gì khác ngoài… ba ông táo đâu!

Tư Cầu hăng hái nói vô:

– Ý vậy mà quý đa cô Hai! Rành mấy chuyện khác… mệt lắm chớ sướng ích gì! (rồi anh ta có vẻ thẫn thờ) Hổng nói giấu gì cô Hai, tui cũng có nếm sơ qua mấy cái thứ đó rồi…

Con Thắm nín thinh một hồi rồi rụt rè lên tiếng:

– Tui có nghe tía tui nói hồi đó anh…

Tư Cầu đặt chén cơm xuống, chụp hỏi liền:

– Hồi đó tui làm sao? Chú Bảy nói gì tui đó cô?

Con Thắm ấp úng đáp:

– Dạ… tía tui nói… chuyện của anh đó mà!

Tư Cầu cau mày:

– Ừ thì chuyện của tui! Nhưng chuyện của tui làm sao mới được chớ?

Con Thắm xẻn lẻn cúi mặt xuống và nói mau:

– Thôi anh ăn cơm đi hông thôi nguội lạnh hết!… Tui hổng nói gì hết đâu!

Tư Cầu liếc xéo nó rồi lắc đầu nói:

– Cô làm cho tui nghẹn tới cổ thì nuốt cái gì vô nữa!

Thấy con Thắm quay mặt làm thinh, anh ta thở ra một hơi dài rồi cắm cúi ăn cho xong bữa cơm.

… Con Thắm bước lại giành thu dọn chén dĩa vô trong thúng. Tư Cầu đứng lên dựa lưng vào chiếc cột sàn chòi:

– Thôi bữa chiều, cô khỏi giở cơm ra ngoài nầy, cô để tui lội vô trong nhà ăn luôn cho tiện.

Con Thắm vội lắc đầu:

– Anh cứ ở ngoài nầy để tui bưng cơm ra cho. Tía tui dặn như vậy.

Tư Cầu chép miệng than:

– Thiệt ông già cũng kỳ… Khi không bắt cô đem cơm ngày hai bữa ra đây…

Con Thắm đáp lại gọn bân:

– Tía tui nói anh cũng kỳ nữa!

Tư Cầu nhướng mắt hỏi:

– Coi, tui kỳ chỗ nào cà?

Con Thắm cười lỏn lẻn:

– Thì… khi không anh cũng đòi ra ngoài nầy ở riêng!

Tư Cầu “à” một tiếng rồi cười xòa theo…

°   °
°

Mặt trời đã xuống tới đầu ngọn tre…

Tư Cầu tắm rửa xong xuôi ra đứng trên bờ mẫu lóng ngóng đợi con Thắm mang cơm vào. Anh ta muốn đi thẳng vô nhà chú Bảy nhưng rồi lại thôi…

Vừa lúc đó, từ phía trên lộ đất, con Thắm ló ra và tất tả đi tới. Tư Cầu vội bước nhanh về phía chòi, rồi ngồi xuống chiếc băng cây, chậm rãi móc thuốc ra vấn hút.

Con Thắm đến nơi hấp tấp hỏi một hơi:

– Chèn đét ơi, chắc anh đợi tui dữ lắm phải không anh Tư? Chắc anh đói bụng anh rủa tui… tan nát hết phải hông? Anh mong tui lắm phải hông anh Tư?

– Ý cô đừng nói vậy… Tui mong cơm thì có chớ mong cô Hai thì… cái đó để hỏi lại coi!

Con Thắm làm mặt nghiêm:

– Tui nói thiệt mà anh lại giỡn hoài!

– Coi, sao cô biết tui nói giỡn?

Con Thắm sắp đũa chén ra và hối Tư Cầu:

– Thôi anh ăn rút đi hông thôi trời tối đến nơi bây giờ.

Tư Cầu chắc lưỡi ngồi xuống bên thúng cơm:

– Cha, cô này coi lơ mơ vậy mà khó quá ta!

Con Thắm đứng dậy dợm bỏ đi:

– Anh cứ nói… xàm hoài, tui hổng nghe nữa đâu nghen!

Tư Cầu mỉm cười và cơm ăn…

Một lát sau anh ta lên tiếng hỏi:

– Sao bữa nay cô vô trễ dữ vậy cô Hai?

– Dữ hông bây giờ anh mới hỏi! Hồi chiều má tui sai bơi xuồng đi chợ, bận dìa nước ngược quá trời nên mới trễ vậy đó anh à!

– Cô Hai đi chợ có gì vui hông?

Con Thắm lắc đầu:

– Tui đi rút cho mau để dìa cho kịp lo cơm nước đem vô anh thì còn thì giờ đâu mà… vui… Có anh ở trong nầy khỏe ru, chớ tui… tui lo thấy mồ!

Tư Cầu đặt đũa xuống:

– Coi, sao cô biết tui vui? Tui mong cô ghê đi!

Con Thắm nghiêng đầu mỉm cười:

– Chớ hổng phải mong… cơm hả?

– Thì… mong cả hai thứ, nhưng mong cơm thì ít hơn…

-Xí, sao lại… mong cơm ít hơn?

Tư Cầu hơi lúng túng:

– Thì… cơm bữa nào mà chẳng ăn!

Con Thắm đáp lại liền:

– Chớ tui bữa nào mà chẳng vô!

Tư Cầu chưa biết trả lời làm sao thì con Thắm lại nói luôn thêm một câu nữa:

– … Mà tui có ăn thua gì, có kể số gì để cho anh phải mong ít mong nhiều! Tui hổng bằng cái móng chưn của người ta!

Tư Cầu đặt mạnh chén cơm xuống:

– Người ta nào vô trỏng nữa đó?

Con Thắm sượng sùng đáp:

– Thì… người ta đó chớ ai… bộ anh nói tui hổng biết hả?

– Giỏi đa! Mà ai nói cho cô biết chớ?

– Tía tui chớ ai!

Tư Cầu cau mày lẩm bẩm:

– Ông già đó thiệt cũng kỳ! Chuyện riêng năm xửa năm xưa của tui mà ổng cũng đem học lại cùng hết… Để hôm nào tui vô hỏi chú Bảy việc này mới được!

Con Thắm hốt hoảng van nài:

– Ý đừng! Anh hỏi tía tui ổng biết, ổng chửi tui tắt bếp!

– Sao cô nói chú Bảy kể lại cho cô nghe mà?

Con Thắm rướn giọng lên:

– Ai nói hồi nào đâu! Tía tui ổng kể cho má tui nghe chớ bộ…

Tư Cầu cười xòa:

– … Nghĩa là cô nghe lén phải không?

Con Thắm tức bực nghẹn lời và mãi một lúc sau nó mới cất giọng mỉa mai:

– Vậy mà ông già một hai nói là anh hiền khô…

Tư Cầu ngạc nhiên hỏi lại:

– Coi, tui… có nanh có vuốt gì đâu mà hiền với chẳng hiền hả cô Hai?

Con Thắm đáp lẫy:

– Chớ anh hiền mà… hết bà nọ đến bà kia… Bộ anh nói tui hổng biết hay sao!

Thiếu chút nữa Tư Cầu sặc cơm, anh ta buông đĩa xuống, ngước mặt lên trời và nói lớn lên:

– Thiệt mấy bà thì bà nào cũng y hệt như bà nấy! Chưa gì hết mà đã eo xèo nhức tai nhức óc người ta nè!

Con Thắm mắc cở ngồi quay đưa lưng lại và nín khe… Thấy vậy, Tư Cầu tinh nghịch hỏi tới:

– Ví dầu tui có chuyện bà nọ bà kia đi nữa thì ăn nhập gì ai mà cô lại… sần sượng với tui cà?

Con Thắm vẫn lặng im.

Tư Cầu làm bộ nói trống không:

– Thiệt mình không dè mấy cái chuyện mắc toi đó mà có người tức! Điều nầy hơi… lạ đa!

Con Thắm cũng đáp bâng quơ lại:

– Ai hơi sức đâu mà tức, điều thấy… vậy thì nói… vậy chơi. Ai có tật thì họ giật mình chớ ăn thua gì đến tui.

Tư Cầu cười to lên rồi hỏi:

– Chắc hổng ăn thua gì hết phải không? Để mơi tui lội vô kiếm chú Bảy nói qua một tiếng thì êm hết!

Con Thắm hốt hoảng đứng lên:

– Ý đừng anh Tư! Anh để thủng thẳng chớ chưa chi anh…. (nhưng rồi nó đâm ra sượng và nói lẫy ngang) Mà tui cho anh nói, tui… hổng chịu cho anh coi!

Tư Cầu lại cười rộ rồi thản nhiên nói:

– Để nữa rồi coi! Cha chuyến nầy chắc tui cắm sào ở luôn tại cái xứ này quá!

Con Thắm cười mũi:

– Thì ai cấm mình! (rồi nó lắp bắp hối Tư Cầu) Mà anh ăn cơm rồi chưa để tui bưng dìa chớ hổng thôi trời tối mịt bây giờ!

– Rồi tự nãy giờ đây nè!

Con Thắm sắp chén dĩa vô thúng nghe rổn rảng rồi bưng đi về một mạch… Tư Cầu vội rảo bước theo liền và rụt rè hỏi:

– Bộ cô Hai giận tui hả cô Hai?

Con Thắm ngó thẳng về phía trước:

– Có cái gì đâu mà tui phải giận!

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Như vậy… đúng là cô giận tui rồi, mà giận hổng có chỗ nào để nữa! Cô ác lắm nghen cô, làm như vậy từ nay trở đi… cô bưng cơm ra, tui nuốt sao vô!

Con Thắm bỗng đứng khựng lại, nhìn Tư Cầu và ấp úng nói:

– Sao kỳ vậy… Tui giận anh… có bữa nay không thôi…

Tư Cầu thở phào một hơi dài và định nắm lấy tay nó nhưng rồi lại nhẹ đặt lên trên vành thúng:

– Vậy mà cô làm cho tui hết hồn!

Con Thắm lại quay mặt đi:

– Anh nói vậy chớ tui mà ăn thua gì…

Tư Cầu cự nự:

– Sao lại không! Cô hổng biết chớ chuyến nầy tui nhứt định… ở luôn xứ nầy.

Con Thắm đáp bằng một giọng buồn buồn:

– Anh nói giỡn làm chi… Thiếu gì người không giữ được anh huống hồ gì… tui.

– Ậy, vậy mà cô giữ được!

Con Thắm ngoe nguẩy bỏ đi:

– Tui hổng tin…

Tư Cầu mỉm cười rảo bước theo sau:

– Hôm nào… rảnh rang cô ở ngoài nầy chơi lâu lâu một chút nghen!

Con Thắm lắc đầu lia lịa:

– Ý hổng được đâu! Tía tui biết ổng rầy chết! Thôi anh trở lại đi, tui dìa nghen anh Tư!

Và không đợi Tư Cầu trả lời, nó bỏ chạy thẳng một nước về nhà…

Tư Cầu mỉm cười đứng nhìn theo. Bỗng anh ta thấy con Thắm dừng lại và giơ tay ngoắc ngoắc. Anh ta hấp tấp chạy rút tới:

– Gì vậy cô Hai?

Con Thắm móc trong túi ra một gói nhỏ trao cho anh ta:

– Chút xíu nữa tui quên đưa cho anh món nầy…

Tư Cầu chưa vội cầm lấy:

– Gói gì vậy? Thuốc chuột cho tui uống cho chết hả?

– Bậy nà! Tui đi chợ mua dìa cho anh gói kẹo đậu phộng để anh ăn uống nước đó!

– Ý trời ơi, vậy mà hồi nãy cô hổng đưa cho người ta tráng miệng sơ sau khi ăn cơm xong!

Con Thắm phụng phịu:

– Hồi nãy mắc lo… giận anh nên ai mà nhớ!

Tư Cầu cầm lấy gói kẹo:

– Cha, ăn được mấy miếng kẹo nầy… cũng mệt lắm chớ phải lơ mơ đâu!

Con Thắm nói gạt ngang:

– Thôi đi anh… tui dìa nghen anh Tư!

… Tư Cầu cầm gói kẹo xốc xốc trong lòng bàn tay, rồi ưỡn ngực hít vô một hơi dài không khí mát lộng nơi đồng trống…

°   °
°

Trưa hôm ấy, sau khi mang cơm ra tới nơi và dọn sẵn ra dưới đất, con Thắm bước lại chân chiếc thang tre bắc lên sàn chòi:

– Nè anh Tư, anh ăn cơm một mình đi nghen, để tui leo lên chòi… hứng mát một chút!

Tư Cầu cười đáp:

– Thì trước sau gì tui cũng ăn cơm có một mình chớ mấy mình mà cô nói như vậy! Mà cô leo lên trển làm chi, ở dưới nầy nói chuyện cho vui…

Con Thắm háy anh ta:

– Lãng òm! Bộ anh bắt tui đứng dưới nầy để ngó miệng anh hả?

– Thì cả tháng nay cô đứng dưới nầy chớ đi đâu? Mà sao cô hổng sợ dòm miệng…

Con Thắm vội chận lời:

– Hồi trước khác… Hồi trước tui chưa… quen với anh nên tui ngồi lì ra trên băng cây đó rồi ngó trời ngó đất gì cũng được, còn bây giờ… có anh ở đây…

Tư Cầu cười xòa:

– Trước hay sau gì tui cũng ngồi một đống tại chỗ nầy. Cô nói như thể tui mới ở trên trời rớt xuống cái đụi vậy!

Con Thắm xụ mặt, giậm chân:

– Thôi tui hổng thèm trả lời anh nữa đâu, anh cứ nói dần lân hoài hè!

Tư Cầu hất hàm bảo nó:

– Thì đó, cô muốn leo lên thì leo đi! Mà đồ đạc của tui để tứ tung lộn xộn ở trển cô đừng chê nghen!

Con Thắm trề môi:

– Biết rồi khỏi phải nói!

… Và không đợi Tư Cầu nói thêm lời nào nữa, nó thoăn thoắt leo lên chiếc thang tre dài…

Tư Cầu mới vừa đưa đũa định và cơm phải ngừng tay lại. Lần đầu tiên anh ta mới để ý thấy dáng dấp gọn gàng, uyển chuyển nhưng không ẻo lả của con Thắm đang vươn tay co chân leo mau trên mấy bực thang…

Một cơn gió thổi ào tới làm bay tốc cái vạt áo túi lên, con Thắm vội đưa tay chụp giữ lại và kéo đè xuống.

Ở dưới nầy Tư Cầu thở ra một hơi dài rồi cúi đầu ngó xuống trở lại bát cơm. Anh ta bỗng đặt chén đũa xuống, chụp lấy cái muỗng thọc vô tô canh rau dền múc húp liền một lúc ba bốn muỗng…

Tự nhiên Tư Cầu thấy như… no hơi. Anh ta ăn vội ăn vàng rồi đứng dậy đi rửa miệng uống nước.

Chợt nghe có tiếng sột soạt trên chòi, Tư Cầu hỏi vói lên:

– Cô làm cái gì ở trển mà tui nghe rột rẹt dữ thần vậy!

Con Thắm ló đầu ra:

– Ý trời ơi tui lo dọn dẹp nóp, mền, đồ đạc của anh để lung tung trên này nè! Anh để vậy mà chịu được thiệt tui cũng phục.

Tư Cầu vội leo lên thang tre:

– Ổ heo của tui đó! Để tui lên phụ với cô nghen!

Con Thắm thò chân ra đặt trên nấc đầu thang và hấp tấp kêu Tư Cầu:

– Ý anh khoan lên, để tui xuống… dọn cơm.

Tư Cầu không trả lời mà leo rột lên… Khi Tư Cầu tới gần, con Thắm đành rút trở vô trong chòi và bò lại ngồi nép trong một góc.

Vừa ló đầu lên thấy bộ điệu của con Thắm, Tư Cầu phải khựng lại. Anh ta mấp máy môi định tìm một câu gì để nói nhưng chợt thấy cặp mắt đen lay láy nửa như bối rối nửa như đợi chờ của con Thắm, anh ta lại nghẹn lời…

Mãi một lúc sau, anh ta mới gượng cười hỏi con Thắm:

– Sao cô, tự nãy giờ cô dọn dẹp cái gì của tui đó?

Con Thắm như lấy lại sự bình tĩnh:

– Anh coi… đồ đạc có phải gọn ghẽ hơn trước hông?

Tư Cầu tươi cười leo hẳn lên, rồi đưa mắt ngó quanh:

– Ờ phải… có bàn tay “tiên” vô thấy khác liền!

Đoạn anh đưa tay ngoắc con Thắm:

– Thôi cô lại đây ngồi cho rộng rãi chớ làm gì mà chui rút vô trong góc vậy!

Con Thắm sượng sùng ngồi nhích ra một chút rồi không biết làm gì nó hết ngó lên nóc chòi đến nhìn qua bên vách.

Tư Cầu tinh nghịch hỏi:

– Cô kiếm cái gì vậy?

Con Thắm lắc đầu:

– Hông… Thôi tui đi xuống dọn cơm nghen anh!

Tư Cầu giơ tay cản lại:

– Cô làm gì mà lật đật quá vậy? Ở đây chơi cho mát chớ bây giờ trời nắng chang chang…

Con Thắm luýnh quýnh bươn đi xuống nhưng Tư Cầu đã nhích người chận ngay cửa chòi. Thấy vậy con Thắm lên giọng van nài:

– Anh dang ra để tui xuống… rủi có ai thấy thì kỳ lắm!

Tư Cầu cau mày, đáp bằng một giọng giận dỗi:

– Coi, có cái gì đâu mà kỳ! Đó cô thấy… Mà thôi tui cũng không dám cản!

Vừa nói, Tư Cầu vừa ngồi thụt vô trong.

Con Thắm hấp hấp đặt chân lên bực thang, bước xuống một nấc nhưng rồi đứng khựng lại. Nó ngước mắt lên nhìn Tư Cầu như để dò xét rồi bỗng nhiên lại mỉm cười mơn trớn…

Tư Cầu ngồi yên ngó xuống… Gió thổi nhè nhẹ làm mấy sợi tóc xõa của con Thắm bay lất phất.

Ánh nắng gắt bên ngoài hực chiếu dội lên gương mặt bầu bĩnh của người thôn nữ làm cho Tư Cầu có cái cảm giác là đang ngắm nhìn một thứ trái cây vừa chín tới, một trái xoài thanh ca vừa chín hườm hườm…

Tự nhiên con Thắm đâm ra xẻn lẻn… và Tư Cầu cũng có vẻ lúng túng.

Bỗng để ý thấy con Thắm vẫn còn đứng y nguyên trên thang, Tư Cầu lên tiếng bảo nó:

– Thôi em lên trên nầy chớ làm gì đứng lưng chừng hoài ở đó vậy!

Con Thắm nhíu mày rồi làm bộ mặt nghiêm hỏi lại anh ta:

– Ai biểu anh kêu tôi bằng em hồi nào mà hay quá vậy?

Tư Cầu giựt mình nhưng rồi lại cười xòa:

– Thiệt ra thì tui nói mà cũng không để ý nữa! Mà để ý sao được một khi nó từ trong lòng trong dạ tuôn ra luôn như vậy!… Thôi nó có… trớn như vậy, tui kêu… luôn bằng em nghe.

Con Thắm cúi đầu đáp nho nhỏ:

– Ờ cũng được… nhưng anh coi chừng tía má… em nghe được…

– Chú thiếm Bảy nghe được thì… cũng chẳng sao đâu, bộ em hổng phải nhỏ tuổi hơn tui sao?

– Hứ, nói như anh vậy hết chuyện rồi!

– Y,Ù mới bắt đầu chớ hết đâu được! Mà leo lên đây đã rồi muốn nói gì nói.

Con Thắm do dự một chút rồi chậm rãi leo từng nấc thang một…

Tư Cầu nhích người qua một bên để nhường chỗ.

Con Thắm ké né ngồi xuống rồi đưa tay tẩn mẩn vuốt kéo mấy sợi lác ló ra ngoài mí nóp.

Tư Cầu bỗng để ý nhìn đến phía trên lưng chiếc áo túi của con Thắm ướt dính mồ hôi. Anh ta thấy bứt rứt trong lòng và vội gợi chuyện đẩy đưa với con Thắm:

– Cha… nực quá phải không em?

– Ờ…

– Em có nghe trong nhà có ai nói gì… anh hông?

Con Thắm ngước mắt lên:

– Hông… mà nói cái gì bây giờ?

– Thì… nói chuyện về hai đứa mình…

– Xí, ai nói kỳ vậy!

Tư Cầu nhìn chằm chặp vào mặt con Thắm rồi ngập ngừng hỏi thêm:

– Còn em, ý của em như thế nào?

Con Thắm ngó mong ra ngoài đám rẫy:

– Ý của em…

Tư Cầu chụp nói liền:

– Đó, như vậy phải được hông! Em xưng… em nghe thiệt bùi tai…

Con Thắm ngoe nguẩy:

– Hổng thèm nói chuyện với anh nữa đâu? Người ta… nói lỡ một chút mà cũng… kêu ngạo…

– Lỡ như vậy cũng… đủ rồi! Em khỏi phải trả lời thêm gì nữa hết! (rồi anh ta làm bộ chép miệng ao ước) Cha, phải em… lỡ thêm kha khá nữa thì đỡ khổ cho anh biết mấy!

Con Thắm đưa chân đạp nhẹ vào bàn chân anh ta và cự nự:

– Cái anh nầy kiếm chuyện ngoắt ngoéo để nói bậy hoài!

Tư Cầu ngẩng cổ lên làm mặt nghiêm:

– Coi em nói oan cho anh đa! Đầu mùa chí cuối chỉ mới có… láp giáp tới hai chữ “anh em” mà còn… trục trặc lên trục trặc xuống…

– Chớ anh còn muốn gì nữa? Vậy mà tía cứ nói anh hiền khô hè!

Tư Cầu cười xòa:

– Trời ơi, nói như em vậy thì… đời tàn rồi! Hiền thì cũng hiền cho đúng chỗ phải nơi. Với lại cái chuyện của hai đứa mình đâu có cái chuyện gì mà hiền hay… dữ! Bây giờ chỉ có mỗi một việc cần là phải tính đi tới nữa.

Con Thắm liếc nhanh về phía Tư Cầu rồi ấp úng đáp:

– Em… không phải như… người ta đó nghen anh!

– Sao vậy?

Con Thắm đáp bằng một giọng rầu rầu:

– Em… thì dầu thế nào đi nữa, em cũng phải ở già đời mãn kiếp tại xứ này, còn anh, anh bay nhảy lung tung… rủi mai kia mốt nọ anh… buồn tình anh… bỏ đi rồi ai cản anh được!

Tư Cầu thở ra một hơi dài:

– Ý trời ơi, em làm anh hồi hộp quá! Anh tưởng em nói chuyện gì, chớ chuyện đó… dễ ợt, anh nhứt định bỏ neo luôn ở xứ này mà! Để bữa nào rảnh rang rồi gặp lúc chú Bảy vui vui, anh nói đại về cái chuyện của hai đứa mình để cho nó êm luôn và em khỏi phải lo viễn vông gì nữa ráo!

Con Thắm ngước mặt lên, mắt long lanh, môi mấp máy rồi hỏi dồn một hơi:

– Thiệt hả anh! Anh tính chắc như vậy hả?

Tư Cầu chưa kịp trả lời thì con Thắm lại xụ mặt nói tiếp:

– Mà thôi, em tin anh hổng vô đâu!

Tư Cầu nhăn nhó:

– Thiệt mà em! Nếu em hổng tin để anh thề bán mạng cho em yên lòng!

Con Thắm hốt hoảng lắc đầu lia lịa:

– Ý đừng, bây giờ anh thề cái gì mà hổng được, nhưng rủi ro sau này có chuyện đổi thay anh bị mắc lời thề thì em cũng đâu có vui sướng gì!

Tư Cầu mỉm cười rồi nói bằng một giọng thật tha thiết:

– Em nghĩ như vậy cũng phải, nhưng dầu sao em cũng có thể tin được rằng anh không đến nỗi tệ hại lắm đâu. Anh mang ơn chú thiếm Bảy ngập đầu lút cổ thì đời nào anh dám để cho chú thiếm phải oán trách anh sau nầy. Còn riêng về phần em, anh chỉ nói với em một lời là em khỏi phải lo sợ gì hết.

Con Thắm nhoẻn miệng cười rồi đáp:

– Bây giờ… dầu em muốn hổng tin anh cũng… hổng được!

Tư Cầu cũng cười theo rồi nhẹ nhàng đặt tay lên bàn tay của con Thắm, con nầy chỉ ngồi nhích ra một chút nhưng vẫn không rụt tay về và quay mặt nhìn vô vách.

Tư Cầu lại phải chú ý đến khoảng vải áo túi ướt dính mồ hôi. Anh ta toan đưa tay còn lại quàng lên một bên vai con Thắm nhưng rồi lại lắc đầu thở dài buông mạnh tay xuống sạp chòi.

Con Thắm giật mình quay lại hỏi:

– Gì vậy anh?

Tư Cầu gượng cười đáp:

– Không, không có gì hết… Anh thấy… em khác người ta lắm…

– Người ta nào?

– Người ta là… người đàn bà con gái khác mà anh đã gặp.

Con Thắm nhí nhảnh hỏi:

– Khác chỗ nào, anh giỏi nói thử coi?

Tư Cầu có vẻ lúng túng:

– Khác ở nhiều chỗ lắm… anh có nói em cũng không biết đâu!

Rồi như để cho con Thắm khỏi hỏi tới hỏi lui gì nữa, anh ta nhấc bàn tay nó lên, vuốt ve một cách rất trìu mến…

Con Thắm mở to mắt nhìn Tư Cầu như muốn tìm hiểu về câu trả lời quá mập mờ của anh ta, nhưng rồi nó lại mím môi lắc đầu tỏ vẻ… chịu thua.

Thấy vậy, Tư Cầu đưa ngón tay khều nhẹ gò má Thắm và hỏi:

– Sao đó em?

Con Thắm liếc xéo anh ta:

– Có gì đâu… Anh sao khó hiểu quá trời hè!

Tư Cầu mỉm cười đáp:

– Em muốn hiểu hả? Thì đây: sở dĩ anh nói em không giống nhiều người đàn bà con gái khác mà anh từng gặp là vì gần em, anh thấy sao mình bình tĩnh quá chớ không bộp chộp như mấy người kia… Và vì vậy mà anh biết chắc là chuyến nầy anh có thể… ở luôn tại xứ nầy được. Đó em chịu chưa!

Con Thắm cười lỏn lẻn:

– Tưởng cái gì chớ như vậy… thì được.

– Mà được… nhiều hay ít?

– Để nữa rồi mới rõ nhiều hay ít chớ bây giờ… ít xịt hà!

… Tư Cầu không thể không đưa tay ôm lấy một bên vai no tròn của Thắm được…

Vừa lúc ấy, có tiếng cọt kẹt trên cầu thang tre. Con Thắm vội hất tay Tư Cầu xuống và ló đầu nhìn ra.

Nó hốt hoảng đứng dậy và kêu lên nho nhỏ:

– Ý chết rồi, tía em ra anh Tư ơi!

Tư Cầu hấp tấp nhoai người ra:

– Đâu… chú Bảy đâu…

Và khi “đụng đầu” với chú Bảy, anh ta làm tỉnh gượng cười chào hỏi:

– Dạ… chú Bảy, chú Bảy đi đâu đây giờ nầy… trời nắng chang chang…

Chú Bảy nheo mắt đáp:

– Ờ, qua đi thăm miếng ruộng trong ngọn và sẵn đi ngang đây qua ghé vô nghỉ mát… (rồi chú mỉm cười hỏi thêm) Nè Tư, qua thấy thúng cơm còn để dưới nhà mà con Thắm đi đâu mất tiêu rồi chú em?

– Dạ… cô Hai cũng mới dọn dẹp chén đũa vô đó…

Chú Bảy vẫn chưa chịu thối lui:

– Qua mới thấy thấp thoáng nó… đâu đây mà!

Biết không thể lẩn trốn được, con Thắm liền ló mặt ra:

– Dạ con ở trên nầy nè tía…

Tư Cầu đành tiếp lời luôn:

– À… cô Hai mới lên trên chòi để… kiếm giùm cháu cái hộp quẹt máy và túi nhái thuốc đó chú Bảy.

Chú Bảy lắc đầu, lần bước trở xuống và nói nghe xuôi xị:

– Qua thấy túi thuốc của chú em treo trên cột ở dưới mà Tư…

Tư Cầu sượng trân nên đành lấp bấp đáp đỡ vớt:

– Vậy hả chú!… Vậy mà cháu… kiếm hết hơi…

Cả ba người lần lượt bước xuống thang tre, và khi chân vừa chạm đất, con Thắm te te chạy lại bưng thúng cơm lên:

– Thôi con dìa trước nghen tía!

Không đợi chú Bảy nói vô một lời nào, nó quày quả đi rút một nước… Chú Bảy nheo mắt nhìn theo con gái một hồi rồi quay qua hất hàm có ý hỏi Tư Cầu…

Tư Cầu lúng túng cúi đầu, rồi tằng hắng mấy tiếng để rụt rè hỏi lại chú Bảy:

– Chi… chú Bảy?

Chú Bảy khoan thai bước lại ngồi trên băng cây:

– Nè Tư, qua cũng đã từng trải qua… cái tuổi của chú em bây giờ, bởi vậy nên không có chuyện gì mà thằng Tư mầy phải… mắc cở hay giấu giếm với qua hết.

– Dà…

– Với lại thằng Tư mầy chắc cũng dư hiểu cái bụng qua…

– Dạ cháu biết nhiều là chú Bảy tốt lắm, cháu nương náu ở đây được như vầy là cũng nhờ chú thiếm…

Chú Bảy lắc đầu chận ngang:

– Qua muốn nói… chuyện khác kìa chớ! Qua có tốt với chú em về cái việc đó là dĩ nhiên rồi, là… thường tình thiên hạ rồi!

Tư Cầu làm ra vẻ ngạc nhiên:

– Chuyện gì nữa chú Bảy? Thì chú Bảy đối với cháu tốt hết về đủ mọi thứ chuyện…

Chú Bảy chắc lưỡi:

– Cái đó qua hổng dám nói, chớ qua luôn luôn sẵn lòng với chú em một chuyện, một chuyện gắt củ kiệu mà qua đã có lần nói sơ với chú em rồi.

– Dạ cháu biết.

– Thằng Tư mầy biết làm sao?

Tư Cầu ấp úng đáp:.

– Dạ thì… chú Bảy có tính lo chuyện… vợ con cho cháu…

Chú Bảy chụp nói vô liền:

– Đúng đó! Vậy chú em mầy đã… tính gì chưa? Qua muốn nói, chú em có tính… đi tới hay không?

– Dạ…

Chú Bảy gác tréo chân ngồi trở bộ lại:

– Thôi nói gần nói xa chẳng qua nói thiệt, bây giờ qua hỏi phứt chú em mầy một câu nầy: vậy chú em mầy…

Nói đến đó, chú Bảy đâm ra lúng túng vì không tìm ra lời cho xuôi câu.

Tư Cầu hồi hộp hỏi vô:

– Cháu… làm sao chú Bảy?

Chú Bảy tuôn ra một hơi:

– Qua muốn hỏi chú mầy về cái việc con Thắm… Chú em mầy… xem nó có được hông. Phần nó thì qua coi bộ nó cũng… mến chú em mầy lắm.

Tư Cầu chưa biết trả lời ra sao thì chú Bảy lại hỏi chêm vô thêm một câu:

– Mà hồi nãy, qua thấy hai đứa lục đục cái gì ở trển đó?

Tư Cầu sượng sùng đáp:

– Dạ… cô Hai mới lên trển… cổ mới có nói chuyện tầm khào với cháu vài ba câu kế chú Bảy tới…

Chú Bảy cười xòa:

– Ý thôi Tư ơi! Cái đoạn đường đó qua cũng có bước qua… năm bảy bận rồi mà! Ông trời đặt để… trai gái mới lớn lên thì… chuyện đó là chuyện thường! Bây giờ qua hổng cần biết “mới” lên hay “mới” có nói chuyện gì ráo, qua chỉ hỏi thẳng với thằng Tư mầy một câu dứt dạt, thằng Tư mầy… đối với con gái của qua như thế nào? Qua cần biết có… chút xíu đó thôi hè!

Tư Cầu cúi gầm mặt xuống ngó mấy đầu ngón chân và đáp nho nhỏ:

– Dạ cháu cũng… mến cô Hai lắm…

Chú Bảy đứng rột dậy, bước lại vỗ vai anh ta:

– Tốt lắm!

– Dạ cháu cũng xin lỗi chú Bảy, cháu ở đây nương nhờ chú thiếm Bảy mà còn… chàng ràng như vậy…

Chú Bảy hể hả ngắt lời anh ta:

– Hổng sao mà! Qua đã “chấm” chú em mầy thì được, qua cũng đã coi giò coi cẳng rồi qua mới dám rước về chứa trong nhà, chớ gặp thứ mắc toi mắc dịch… mụ nội qua bây giờ cũng không dám để tới gần! Nói thiệt với chú em mầy, nếu thằng nào khác mà làng chàng như vậy, thì trời cản qua cũng phang cho nó năm bảy cây tầm vông bò càng bò niễng chớ đâu được… êm thắm như vầy (ngừng một chút, chú Bảy nghiêm giọng hỏi thẳng Tư Cầu) Thôi mọi việc kể như xuôi rót hết, vậy chú em mầy phải… tính đi tới chớ!

Tư Cầu rụt rè hỏi lại:

– Đi tới… làm sao đó chú Bảy?

Chú Bảy thân mật đặt tay lên vai anh ta:

– Thì đi tới cái chuyện vợ con để qua với thiếm Bảy chú mầy tính phứt cho rồi. Năm nay con Thắm nó cũng trọng cải rồi, và thời buổi giặc giã có con gái lớn giữ kè kè ở trong nhà hoài không nên!

Tư Cầu bẻ mấy lóng ngón tay kêu răng rắc rồi ấp úng lựa lời:

– Chú thiếm thương cháu như vậy là… quá cỡ rồi, trên đời nầy thiệt hiếm có người như chú thiếm, nhưng… cháu thấy tình cảnh của cháu đang… mê mê như vầy mà còn tính tới chuyện vợ con… cháu e rằng cháu không đủ sức lo liệu…

Chú Bảy chận ngang:

– Ậy, qua nói để qua lo hết, qua bao trọn cho chú em mầy mà! Qua chỉ cần chú em mầy… ừ cho qua một tiếng!

Tư Cầu mỉm cười gãi đầu:

– Dạ… chú Bảy tốt quá nên cháu càng thêm suy nghĩ đắn đo dữ…

– Suy nghĩ khỉ khô gì nữa Tư! Chú em mầy ở đây dầu sao cũng yên phận rồi, bây giờ chỉ việc nhào vô cái rụp cho nó… mọc gốc mọc rễ ở đây luôn chớ còn tính bay nhảy đâu nữa! Năm nay chú em mầy cũng lớn tuổi rồi và chú em mầy nên bắt đầu lo tu tỉnh mần ăn đi thì vừa…

– Chú Bảy nói như vậy cũng phải, nhưng trong thời buổi này, cháu đâu có chắc ngày mai ngày mốt gì đây có được… yên lành hay không…

Chú Bảy chắc lưỡi:

– Ý trời ơi, thằng Tư mầy lo bá vơ như vậy còn hơn ông già bảy mươi! Thời buổi gì thì cũng thây kệ mẹ nó chớ hơi sức đâu mà lo tầm ruồng hoài! Nói vậy giặc giã tây tà lung tung với nhau rồi hổng ai chịu lấy vợ lấy chồng, rồi ngưng lại hết sao? Như vậy rủi nó kéo dài cho đôi ba chục năm rồi lấy… xuất đinh đâu để đánh giặc để mần công kia việc nọ? Hễ xay lúa thì khỏi bồng em, hễ gánh nước thì khỏi giã gạo, chớ bộ ai ai cũng phải tuôn ra mặt trận hết sao!… Còn cái việc “yên” hay không”yên” thì biết sao mà nói được, hễ trời kêu ai thì nấy dạ chớ chẳng lẽ mình cứ ngồi co rút một chỗ để… đợi hả Tư?

Tư Cầu gượng cười đáp:

– Dạ, bề gì chú Bảy cũng là người lớn tuổi nên thế nào chẳng rành việc đời hơn cháu nhiều, nhưng… cháu đâu quên được thân phận… trôi sông lạc chợ của cháu!

Chú Bảy “xì” một tiếng rồi bảo:

– Tưởng chú em nói cái gì khác, chớ cái việc đó đối với qua hổng ăn nhằm gì ráo: qua gả con gái bắt rể mà!

Tư Cầu ngập ngừng nói thêm:

– Ngặt nỗi bây giờ cháu cũng như… tứ cố vô thân, rồi biết ai đâu đứng ra để thay mặt cho đàng trai! Bề gì chú thiếm ở đây cũng thuộc vào hạng nhà có bề thế, cô Hai lại là cô gái đầu lòng…

– Cái chuyện đó, qua hổng thắc mắc thì thôi chớ sao chú em mầy lại lo ngại! Thời buổi nầy, phải châm chế chớ cứ răng rắc như trước sao được! Qua nói chú em mầy khỏi chộn rộn gì hết, qua bao lãnh hết mà! Chú em chỉ cần ừ một tiếng là đủ.

Tư Cầu còn ráng nói thêm:

– Cháu thấy trong làng thiếu gì nơi xứng đáng gấp ghé cô Hai..

– Ối thứ đó qua bỏ… lạc xoong hết, qua chỉ cần chú em mầy “ừ” một tiếng thôi mà!

Tư Cầu thở ra một hơi dài như tỏ vẻ… chịu thua rồi mỉm cười đáp:

– Dà… cháu cũng nhờ chú thiếm Bảy..

Chú Bảy hể hả vỗ mạnh vai Tư Cầu:

– Như vậy phải nghe được hông!… Mà thôi, từ giờ phút này trở đi, thằng Tư mầy có thể tập… bỏ hai cái chữ “chú thiếm” cho nó quen miệng lần đi thì vừa…

Tư Cầu “dạ” một tiếng xụi lơ làm chú Bảy hơi cau mày…

°   °
°

Chiều hôm ấy, con Thắm vẫn bưng cơm ra chòi như thường lệ, nhưng khi gặp mặt Tư Cầu là nó ngó bét đi chỗ khác. Tự nhiên Tư Cầu cũng đâm ra mắc cở. Mấy lần anh ta định gợi chuyện hỏi thăm về “tình hình” trong nhà sau khi chú Bảy ở ngoài nầy trở vô trỏng, nhưng rồi lại rụt rè nín thinh và đành cắm cúi ăn cho xong bữa cơm.

… Thấy Tư Cầu buông đũa xuống, con Thắm vội bước lại quơ dọn thật mau, mặt cúi gầm xuống làm cho anh ta bắt phì cười:

– Em làm cái gì mà chiều nay coi bộ… gấp rút quá vậy?

Con Thắm háy xéo anh ta:

– Anh thiệt kỳ thấy mồ!

– Đọ đọ, đừng có nói dựng đứng đó nghen! Anh làm sao mà kỳ?

Con Thắm phụng phịu:

– Anh… bàn tính cái gì với tía em hồi trưa mà dìa trỏng ổng nói om sòm lên…

– Bộ chú Bảy quở rầy em hả?

Con Thắm lắc đầu:

– Hông. Em cũng tưởng ổng dìa ổng la cho một trận về cái chuyện… hai đứa mình hồi trưa đó, nhưng mà không…

Tư Cầu cười nói:

– Như vậy khỏe cho em rồi…

Con Thắm gạt ngang:

– Cha khỏe dữ! Tía em ổng nói… anh chịu rồi.

– Ừ thì chịu. Còn em, ổng có hỏi gì em hông?

– Ổng hỏi… em có chịu hông…

– Vậy em trả lời làm sao?

Con Thắm bực mình đáp sẵng:

– … Trả lời chịu chớ trả lời làm sao nữa giờ!

Tư Cầu thở ra rồi mỉm cười nói:

– Ờ như vậy là êm rơ hết chớ có gì đâu mà em ra đây làm… mặt lớn mặt nhỏ tự nãy giờ…

Con Thắm nhíu mày:

– Anh nói nghe sướng quá há! Anh ở tuốt ngoài nầy anh hổng biết, chớ em ở trỏng em xẩu mình, xẩu mẩy vì mấy đứa nhỏ nó cứ theo chộ hoài.

Tư Cầu cười xòa:

– Ý trời ơi, tưởng cái gì chớ có chút xíu đó…

Con Thắm trợn mắt cự nự:

– Vậy mà anh còn cười được hả?

– Chớ em biểu anh… khóc hu hu sao?

– Hứ, cái anh nầy lãng òm! (rồi nó nghiêm mặt hỏi tiếp) Nè anh Tư, nói vậy anh… chịu thiệt hả anh? Anh tính… ở đây luôn, ở đây hoài hoài hả anh?

Tư Cầu trịnh trọng gật đầu:

– Chịu thiệt, chớ chịu… chơi cho chú Bảy đập tàn thây sao!

Con Thắm ngập ngừng hỏi thêm:

– Anh có nghe… tía em ổng nói… chừng nào không anh?

Tư Cầu cười mỉm mỉm:

– Chắc cận lắm à em, chú Bảy chú nói để coi ngày nào tốt trong tháng này….

Con Thắm nhăn nhó kêu lên:

– Hổng biết ổng làm gì gấp quá trời vậy cà!

Tư Cầu ngó xéo con Thắm, mắt lim dim:

– Chớ để lâu… nguội tanh hết!

– Nói bậy nữa đi!… Mà nè anh, nữa anh tính dọn dìa trổng ở hay là…

– Thì chắc phải đem thân gởi rể luôn ở trỏng rồi! Nhưng trong lúc lo mấy công rẫy tại đây anh cũng phải ở suốt ngày ngoài nầy. Căn chòi nầy coi lơ mơ vậy mà ở sướng lắm em! Nè tới chừng đó, mặc tình hai đứa mình hú hí nghen!

Con Thắm véo mạnh vào vai anh ta một cái đau điếng:

– Anh cứ nói bậy hoài hè! (và nó xăng xái bưng thúng cơm lên) Thôi em đi dìa rút nghen! Lằng nhằng ở đây hoài, tới chừng vô trỏng mấy tụi nhỏ nó thấy em đi lâu nó kêu ngạo em… thấy ghét lắm!

– Ừ phải, em dìa cho sớm sớm đi, chớ hổng thôi họ xầm xì hổng tốt.

Con Thắm chưa kịp bước đi thì Tư Cầu đã nhanh chân tiến lên đứng chận trước mặt nó và cười tủm tỉm hỏi một cách gọn khô:

– Bây giờ cho hun một cái… sốt dẻo được hông?

Chưa chi con Thắm đã vội ngả người ra phía sau như để né tránh. Nó cau có cự nự Tư Cầu:

– Nữa! Anh nầy kỳ quá!

Nhưng rồi nó lại chìa má ra và làm bộ nói lẫy:

– Đây nè ông!

Tư Cầu vừa mới để chót mũi chạm phớt qua gò má của con Thắm thì con nầy đã phát cười ré lên rồi vùng chạy đi…

Tư Cầu mỉm cười nhìn theo, nhưng rồi nụ cười ấy tắt dần để nhường cho một vẻ mặt nặng ưu tư…

°   °
°

Sau khi cưới hỏi xong, mặc dầu đã dọn về ở chung trong nhà chú Bảy, Tư Cầu vẫn còn ăn cơm và nghỉ trưa ở ngoài chòi rẫy.

Mỗi ngày con Thắm vẫn bưng thúng cơm ra đúng y như lệ cũ, và có khác ở chỗ là từ đây hai người có thể ung dung trèo lên chòi trò chuyện mà không càn phải giữ ý tứ gì nữa…

Một bữa nọ, Tư Cầu cùng Thắm ngồi vắt vẻo trên sàn chòi cao nhìn trời nhìn đất. Gió đồng thổi lồng lộng làm tung bay mất sợi tóc xõa của Thắm. Nó bỗng níu tay Tư Cầu hỏi:

– Mau quá hé anh Tư?

– Cái gì mà mau?

– Coi, anh nầy dễ quên quá! Thì từ ngày đám cưới của tụi mình đến nay lật đật đã trên ba tháng rồi chớ phải ít ỏi gì sao!

– Ờ phải há!

Tư Cầu quay qua âu yếm nhìn kỹ gương mặt hơi xanh xao, hơi hốc hác một cách thật… khả ái của người vợ mới cưới…

Liếc thấy Tư Cầu nhìn nhìn châm bẩm, con Thắm mắc cở hỏi:

– Bộ lạ lắm sao mà ngó người ta dữ vậy?

Tư Cầu đưa tay mân mê một bên quầng mắt hơi trũng của vợ:

– Lóng rày em hơi ốm đó nghen!

Con Thắm vội thò tay vô túi móc một chiếc gương tròn ra soi mặt rồi xẻn lẻn đấm nhẹ vào lưng chồng:

– Tại anh đó đa! Phải bây giờ em xấu hơn trước nhiều hông? Điệu nầy, anh chê em mấy hồi!

Tư Cầu tình tứ ôm lấy vai vợ:

– Em bây giờ mới… đáng mê hơn trước nhiều.

Con Thắm giơ tay vả nhẹ vô miệng chồng:

– Cái miệng anh nói leo lẻo vậy chớ ăn thua khỉ gì?

Tư Cầu làm bộ nghiến răng hăm dọa:

– Muốn ăn thua lắm hả: thì đây nè…

Vừa nói anh ta vừa ôm chặt lấy Thắm rồi ghì xuống sàn tre trong lúc con nầy thụi đấm ngắt véo tứ tung một cách… chiếu lệ lên lưng của chồng và miệng thì đả đớt kêu la:

– Anh quỷ! Ui da, đau người ta thấy mồ nè!

Tư Cầu mau miệng hỏi lại:

– Đâu! Đau đâu anh mắc thường cho? Ở đây hả?

Con Thắm lại kêu ré lên:

– Á… nhột thấy mồ!… Anh nầy kỳ thấy bà!

Tư Cầu thích chí cười xòa…

Bỗng mấy tiếng đại bác nổ liên tiếp nhau từ phía xa xa vẳng lại như những tiếng trời gầm khi sắp chuyển cơn mưa…

Tư Cầu vội ngóc đầu lên nghe ngóng rồi từ từ rút tay ra ngồi nhổm dậy.

Con Thắm nặng giọng hỏi:

– Gì vậy anh?

Tư Cầu thầm thì đáp:

– Em có nghe tiếng súng lớn bắn đó hông? Cha, hổng biết đụng độ ở miệt nào gần đây mà hồi bừng sáng tới bây giờ nghe súng đủ cỡ nổ rền hoài…

Con Thắm nhăn mặt:

– Ý trời ơi, thì lâu lâu nghe súng nổ là việc thường chớ có cái gì lạ đâu mà coi bộ anh thấp thỏm hoài hổng biết!

Đoạn nó vói tay níu lấy vạt áo chồng giựt giựt:

– Thôi nằm xuống… nghỉ lưng một chút nữa đi anh! Nó có nổ ở đâu thì thây kệ mồ nó chớ ăn nhập gì tới mình…

Tư Cầu gạt nhẹ tay vợ ra và ló đầu ra ngoài cửa chòi chăm chú nghe ngóng:

– Ý cha bây giờ nổ dữ nghen em! Toàn là súng máy không hà!

Con Thắm thở dài rồi bò rột dậy:

– Anh sao có cái tật lớn quá! Mình cốt giữ làm sao cho yên thân để mần ăn, súng nổ ở tí mú đâu đâu mà anh cũng chộn rộn làm chi vậy?

Tư Cầu có vẻ không bằng lòng:

– Người ta đánh giặc ầm ầm ở đó mà mình ngồi khoanh tay ở đây nghe khan thì… nôn ruột quá! (liếc thấy vẻ mặt ngơ ngác của vợ, Tư Cầu lắc đầu thở dài rồi dịu giọng nói tiếp) Mà anh có cắt nghĩa ra em cũng… hổng hiểu đâu! Nó kỳ lắm em à! Em chưa từng đánh giặc lần nào nên em hổng biết, chớ bây giờ mỗi khi anh nghe tiếng súng nổ, anh làm như thấy nhớ ông bà vải gì á!

Con Thắm xụ mặt xuống:

– Cai điệu nầy anh ở đây hổng bền đâu! Em biết trước mà!

Tư Cầu gượng cười nắm lấy tay vợ:

– Coi, có cái gì đâu mà mặt mày chầu bậu vậy? Cái gì mà hổng bền?

Con Thắm ngó mông về phía chân trời xa tít:

– Em nói đâu thì có đó, để nữa rồi coi…

Tư Cầu muốn ôm chầm lấy vợ để tìm lời an ủi, nhưng rồi anh ta vẫn ngồi yên không nhúc nhích với dáng điệu của một kẻ đã làm một điều gì phạm lỗi mà lại bị bắt tại trận…

Có tiếng nói chuyện lào xào ở cuối mấy giồng khoai mì ở bìa rẫy, rồi một tốp người mặc đồ đen vai mang súng ống xăm xăm đi thẳng lại phía nhà chòi.

Con Thắm khều Tư Cầu hỏi nhỏ:

– Ai đi đâu mà rần rần vậy anh?

Tư Cầu nghển cổ lên lấy bàn tay che trên mắt để khỏi bị chói nắng:

– À, chắc mấy anh em trong bộ đội đi ngang qua vùng nầy mà!

Con Thắm vội ngồi thụt vào trong, và níu áo chồng kéo vô:

– Anh ló ra ngoải làm chi vậy hổng biết! Họ đi lợi phía mình đó nghen!

Tư Cầu gỡ tay vợ ra và lần bước xuống thang tre. Vừa lúc ấy đám người lạ mặt cũng đi trờ tới.

Một người trong bọn chạy a lên trước và quơ tay reo la:

– Ủa anh Tư!

Tư Cầu nheo mắt để nhìn kỹ người gọi mình rồi cũng chạy lại ôm chầm lấy người ấy:

– Ý trời anh phó! Anh đi đâu mà lạc lên tới đây hả?

Anh kia quay lại chỉ về phía anh em đang đứng xung quanh tò mò ngắm nhìn hai người:

– Tui đi với anh em đây nè! Cha hôm nay tây nó bố ở miệt tụi tui dữ quá nên hồi sáng tới giờ chạy thục mạng qua bên nầy đây.

Tư Cầu gật gù:

– Hèn chi tui nghe nổ dữ quá! Anh ở miệt nào vậy anh Phó?

– Tụi nầy đóng lang bang ở miệt Tân Châu, Hồng Ngự… (rồi anh ta mỉm cười nói đùa) Mà bây giờ tui là “trưởng” chớ không còn là “phó” như hồi anh còn ở dưới đâu nghen!

Tư Cầu vỗ mạnh vào vai anh ta:

– Anh giỏi đa! Mà sao lại lên trên nầy?

– Còn anh, sao anh lại tấp vào đây? Hồi anh đi, tui tưởng anh dông trở lên Sài Gòn rồi chớ!

Tư Cầu nhún vai:

– Lên trển làm khỉ gì…

Anh “phó” vội kêu lên:

– Mà thôi, gặp anh ở đây… tụi nầy kẻ như trúng mối đi! (rồi anh ta thân mật hạ giọng nói tiếp) Hổng nói giấu gì anh, từ hồi sáng tới giờ tụi nầy chưa có hột cơm hột cháo gì dằn bụng hết nên đứa nào đứa nấy đói rã ruột…

Tư Cầu cười xòa:

– Sao mấy cha hổng nói liền! Tại đây thì không có gì hết nhưng để tui kêu… vợ tui chạy rút vô nhà nấu bậy một vài nồi khoai đem ra cho mấy anh ăn đỡ.

Anh “phó” trợn mắt tỏ vẻ ngạc nhiên:

– Ý cha, có vợ nữa rồi hả? Cha nội nầy giỏi quá ta! Cái điệu nầy anh tính mọc gốc mọc rễ luôn ở xứ nầy rồi còn gì!

Tư Cầu nhún vai:

– Thì… phải lo mần ăn chớ sao anh! (đoạn anh ta hướng lên phía trên chòi gọi lớn) Em ơi, xuống đây có người quen đây nè!

Con Thắm e thẹn bước xuống thang và khẽ gật đầu chào mọi người.

Tư Cầu sốt sắng giới thiệu anh “phó” và những người khác:

– Nè em, anh nầy đây là người cùng xứ với anh đó, còn mấy anh em kia… bây giờ kể cũng như… anh em quen hết đi!

Cả bọn nhao nhao lên:

– Phải đa!

Anh “phó” kín đáo liếc sơ qua con Thắm rồi vỗ mạnh vào vai Tư Cầu, cười giòn khớu:

– Anh… giỏi đa anh Tư!

Con Thắm xẻn lẻn quay mặt ngó đi chỗ khác.

Tư Cầu vội hối vợ:

– Thôi em đi bươn dìa nhà nấu cho mau một vài nồi khoai bưng gấp ra đây cho mấy anh em ăn đỡ. À, em nhớ gói theo luôn một bánh thuốc Cao Lãnh anh cất trong hũ đó!

Anh “phó” vội dặn chen vô:

– Chị nhớ nấu khoai nhiều nhiều nó nghen chị! Đối với tụi nầy thì thứ đó không sợ ế đâu!

Con Thắm gượng cười chào sơ mọi người rồi bưng thúng cơm lên đi rút về trong nhà…

Anh “phó” quay qua nói liền với Tư Cầu:

– Anh sao tốt phước quá vậy anh Tư!

Tư Cầu mỉm cười đáp:

– Tốt thì… kể ra cũng khá tốt nhưng không được khoái chí như mấy anh.

Anh “phó” trề môi:

– Ý trời ơi, chạy muốn… ra khói đây chớ khoái gì được anh!

Tư Cầu hỏi lại anh ta:

– Hổng khoái chớ sao anh lại tấp vô đó?

Anh “phó” thở ra:

– Thì ban đầu tui lên trên nhà chú tui ở Tân Châu tính nhờ chú chỉ dẫn cách làm cá mắm kiếm ăn cho qua ngày qua bữa, chớ ở dưới mình từ hồi anh… ra đi rồi xảy ra liền liền nhiều chuyện rắc rối lắm! Tui bịn rịn hoài nhưng rốt cuộc rồi tui coi vèo… chịu đời không thấu nên khơi đi luôn.

Tư Cầu tò mò hỏi thêm:

– Nhưng sao anh hổng lo mần ăn như mọi người khác mà trở lại xáp vô đám anh em đây?

– Thì ban đầu tui cũng tưởng là chuyến nầy tu bỉ mần ăn được luôn, nhưng rồi lại gặp mấy anh em đây… Ôi thôi, chắc tại cái số mình còn nặng nợ!

Tư Cầu thở dài:

– Tui cũng đang gặp cái cảnh tương tợ như vậy! Hổng biết lúc trước anh có như vầy không, chớ hiện thời mỗi lần tui nghe tiếng súng, lòng dạ tui nôn nao kỳ cục lắm!

Anh “phó” vỗ đùi nghe cái “bốp”:

– Đúng trân… cái bịnh của tui lúc trước! (nhưng rồi anh ta lại nhăn nhó kêu lên) Nhưng anh còn ôm kè kè một cô vợ ngon lành tận mạng như thế kia thì dễ gì rứt ra! Thôi tui hổng dám rủ rê anh đâu, rủi chị Tư chỉ nghe được chỉ chửi tui không còn một tấm da mẹ đẻ!

Tư Cầu chưa kịp trả lời ra sao thì anh ta lại vọt miệng hỏi thêm:

– Bộ anh mới cưới vợ ràng ràng đây hả?

– Ừ, lối ba tháng nay.

Anh “phó” lắc đầu quầy quậy:

– Ý thôi, hai anh chị đang còn ở vào cái thời… cụp lạc, mụ nội tui bây giờ xeo anh đi cũng hổng nổi!

Tư Cầu cười tủm tỉm:

– Anh sao coi tui tệ quá vậy anh! Thì để nữa rồi coi!

Đoạn anh ta bước lại cầm một cây cạc-bin bá xếp móc treo trên cột chòi lên để săm soi.

Anh “phó” hãnh diện bước lại khoe với Tư Cầu:

– Súng nầy mới nhứt hạng đó anh! Hồi ở dưới mình làm gì có thứ nầy phải hông anh?

Tư Cầu nâng niu treo khẩu súng trả lên chỗ cũ và khẽ gật đầu.

– Phải rồi. Thứ bá xếp nầy tui coi bộ gọn bân khoái quá!

Anh “phó” cười xòa rồi chắc lưỡi hít hà:

– Khoái đâu bằng một cô vợ mới nheo nhẻo đó anh!

Tư Cầu giơ tay thụi mạnh vào vai anh “phó” một cái:

– Anh sao cứ nói bông lơn hoài!

Và tự nhiên Tư Cầu đưa tay sờ nơi bụng mình ngay vào chỗ mà trước kia bao giờ cũng có cộm lên cái bá dẹp của cây Herstal (khẩu súng ấy Tư Cầu đã gởi lại cho Hai Cang trước khi bỏ lên Châu Đốc).

Anh ta ngẩn ngơ một hồi lâu rồi thở dài đưa tay nắn lớp da bụng đã bắt đầu dầy mỡ.

Anh “phó” để ý liếc nhìn dáng điệu của Tư Cầu và cũng thấu hiểu phần nào tâm trạng của anh ta trong lúc bấy giờ. Anh bèn tìm cách gợi chuyện với Tư Cầu:

– Sao anh, công việc ruộng rẫy ở đây có khá hông?

– Ờ… cũng khá, nghĩa là tui có thể sống già đời mãn kiếp ở đây được rồi.

– Như vậy là… cha đời rồi còn gì nữa!

Tư Cầu mỉm cười chua chát:

– Thì đúng như vậy rồi! Nhưng với tui, tui lại khác… nhiều lúc như thấy… thiếu, thấy nhớ một cái gì…

Anh “phó” thân mật vỗ vai Tư Cầu:

– Buồn chưn buồn cẳng rồi phải hông?

Tư Cầu cười đáp:

– Chắc cũng đâu đó!

– Thì anh… ráng chịu chớ tui hổng dám rủ rê anh đâu, tuy rằng bọn nầy rất cần một người như anh và nói đây không phải khoe với anh làm chi chớ cái đám của tụi tui coi lơ mơ như vậy mà bảnh lắm nghe!

Tư Cầu tò mò hỏi liền:

– Sao mà gọi rằng bảnh? Không khéo anh chạy ô mồ rồi mắc ô mả?

Anh “phó” kiêu hãnh lắc đầu:

– Ai thèm “quảng cáo” với anh làm gì! Tui nói sơ sơ như vầy anh cũng đủ hiểu: tụi nầy hổng có “anh lớn” nào ở trên đầu hết, mà quánh Tây coi cũng… mát con mắt lắm nghen! (anh “phó” bỗng nghển cổ lên ngó về phía bờ mẩu và kêu lên)

– Chị Tư ra tới rồi kìa! Ủa sao chỉ nấu khoai mau quá vậy cà?

– Chắc con vợ tui nó kiếm được thứ gì khác đem ra trước để mấy anh lót dạ…

– Nếu vậy thì… điệu quá!

Con Thắm vừa đến nơi là Tư Cầu hỏi liền:

– Em đem ra món gì đó em?

Con Thắm đặt thúng xuống:

– Tía biểu em mang mấy thứ nầy ra ngoài nầy trước đi…

Tư Cầu bước lại ngó xuống thúng và kêu lên:

– Bánh tét, bánh ít mấy anh ơi! (anh ta day qua hỏi vợ) Ở đâu mà có sẵn mấy thứ bánh trái nầy vậy em?

– Mai nầy trên bác Ba có đám giỗ nên tía lên xin ba mớ để cho mấy anh ở đây dùng đỡ…

Tư Cầu quay qua khoe với anh “phó”:

– Ông già vợ tui đi vận lương cho anh em đó! Anh chưa gặp mặt ổng nên hổng biết chớ ổng điệu lắm nghen!

Anh “phó” liếc nhanh về phía vợ Tư Cầu và nói đùa:

– Tui biết nhiều rồi mà!

Thấy anh em bu lại thúng bánh. Tư Cầu vội hối vợ:

– Thôi em chịu khó dìa trỏng canh mấy nồi khoai đi chớ anh coi bộ ba cái bánh nầy hổng thấm tháp gì đâu!

Con Thắm lại lùi lũi trở về trong nhà… Nhưng đi được một đỗi nó đứng lại ngoắc kêu Tư Cầu.

Tư Cầu vội chạy đến:

– Gì vậy em?

Con Thắm ngó về phía đám anh em rồi hỏi nhỏ chồng:

– Anh nhắm coi… anh em họ ở đây… ăn uống như vậy rồi có sao không?

– Cái gì mà có sao?

– Rủi có ai… đi mạch cho Tây rồi sao?

Tư Cầu cười đáp:

– Em khỏi lo, nếu Tây nó đi tới đây thì họ cũng đã dông mất đất rồi!

Con Thắm chắc lưỡi:

– Đã đành rồi, nhưng em nói đây là nói… cho phần mình kìa! Tây vô nó buộc cho mình… chứa chấp, tiếp tế cho họ rồi sao?

Tư Cầu đành kiếm cách nói gạt ngay:

– Ối ai đi mạch báo làm chi hổng biết! Ở đây bà con mình là người biết điều hết mà?

Con Thắm cười mũi:

– Ừ biết điều! Anh dễ tin như vầy rồi có ngày mang họa đa!

Tư Cầu giơ tay xua xua:

– Thôi bây giờ dầu sao cũng lỡ rồi, em dìa trỏng coi khoai chín chưa bưng ra đây liền để cho anh em họ ăn xong họ đi gấp là mình… nhẹ lo.

Con Thắm thở dài rồi lủi thủi đi thẳng…

°   °
°

Tối hôm ấy, trong lúc Tư Cầu đang nằm dài trong buồng, tay gác lên trán, suy nghĩ vẩn vơ thì con Thắm bước vô.

Tư Cầu nghển cổ lên rồi xê mình nằm nhích qua một bên và lên tiếng gọi vợ:

– Lại đây em?

Con Thắm bước lại đứng bên cạnh chồng:

– Tía kêu anh ra ngoài kia!

Tư Cầu ngồi nhỏm dậy:

– Tía kêu anh có việc chi đó em?

Con Thắm cúi đầu đưa tay mân mê cây cột mùng:

– Ai biết đâu…

Thấy điệu bộ của vợ như vậy, Tư Cầu đâm ra thắc mắc thêm:

– Thì có cái gì em nói thẳng ra đi để anh ra ngoải anh còn liệu…

Con Thắm ngập ngừng, một hồi hồi đáp:

– Tía hỏi anh về chuyện… anh tính đi đâu đó…

Tư Cầu có vẻ ngạc nhiên:

– Ai nói cho tía biết mà hay quá vậy cà! Bộ em hả?

Con Thắm lúng túng đáp:

– Thì tía cũng nghe phong phanh đâu đó, nên tía có hỏi em… Mà em không nói trước thì anh cũng phải nói…

Tư Cầu thở dài:

– Ờ phải… Em có thấy… ý tứ của tía ra làm sao hông?

Con Thắm trả lời giọng hơi pha chút lẫy đương:

– Anh khỏi lo… cái gì tía cũng binh anh hết mà! Thôi anh ra ngoải cho mau hông thôi tía đợi…

Tư Cầu lặng lẽ bước ra nhà ngoài…

… Thấy Tư Cầu ló ra, chú Bảy đã vội lên tiếng gọi anh ta:

– Lại ngồi đây chơi Tư!

Tư Cầu liếc mắt thấy có cả thiếm Bảy ngồi đối diện với chồng ở chỗ bộ trường kỷ đặt giữa nhà. Tự nhiên, anh ta đâm ra “khớp”.

Chú Bảy lại đưa tay ngoắc anh ta:

– Lại xích đây nè Tư… tía có chuyện này muốn hỏi thăm con một chút.

Tư Cầu ké né ngồi lên chiếc ghế “đẩu” gần đó rồi rụt rè hỏi lại:

– Dạ… việc chi vậy… tía?

Chú Bảy thản nhiên hỏi anh ta:

– Ờ tao nghe nói mầy tính đi đâu đó Tư?

Tư Cầu ấp úng thưa:

– Dạ… con tính qua thăm mấy người anh em bạn ở bên miệt Tân Châu…

– Phải mấy chú em ghé trong chòi hôm trước hông Tư!

– Dạ phải.

– Mầy đi ở bển rồi tính chừng nào dìa?

– Dạ dìa liền mà tía! Nếu trễ lắm thì năm ngày, một tuần lễ là cùng…

Thiếm Bảy bỗng lên tiếng:

– Tư à, lóng nầy má nghe nói đường xá trắc trở lắm chớ hổng phải như hồi trước đâu. Con nhắm có cái gì cần… thiệt cần thì hãy đi…

Tư Cầu gượng cười đáp:

– Dạ, sẵn lúc nầy rẫy bái gì cũng xong xuôi rồi nên con tính thả qua bển thăm anh em chơi và nhơn tiện xem coi có cái gì có thể mua bán mần ăn thêm hông…

Chú Bảy cười xòa:

– Thôi đi, cái bộ của mầy mà mua bán khỉ gì! Người ta miệng bằng tay, tay bằng miệng còn chẳng ăn thua gì nữa là mầy! (rồi chú Bảy nghiêm giọng hỏi tiếp) Cái điệu nầy tao coi bộ mầy tính cái gì nữa chắc? Mầy tính theo mấy anh em đó sao Tư?

Tư Cầu lúng túng chưa biết trả lời làm sao cho xuôi thì thiếm Bảy đã nói chen vô:

– Nè con Tư, con ở đây như vậy là được lắm rồi, vậy mà con còn tính bay nhảy đâu nữa? Bây giờ con có vợ có con rồi chớ đâu còn long chong như trước…

Chú Bảy sốt ruột gạt ngang:

– Bà để tui nói với thẳng cũng được rồi mà! (đoạn chú day qua hỏi con rể) Tư à, tao tuy đứng vào vai cha mẹ, và chuyện đời gì khác thì tao rành hơn mày thiệt, nhưng còn cái chuyện nước, chuyện nhà thì tao chưa chắc đã hơn mầy! Vậy mầy nên nghĩ kỹ mọi lẽ thiệt hơn, nếu thấy cần vùa giúp được người ta được chút đỉnh gì thì mầy cứ lo liệu… Tao không cản mà cũng không nài ép cái gì hết…

Tự nãy giờ con Thắm đứng dựa gốc cột gần đó nghe chú Bảy nói như vậy vọt miệng cự nự:

– Tưởng tía nói cái gì chớ tía đẩy đưa xúi biểu ảnh như vậy thì kể cũng như không!

Chú Bảy quắc mắt quát tháo:

– Ai biểu mầy xía miệng vô đó hả? Tao nói để thây kệ tao, mầy với má mầy cứ làm tài khôn tài khéo hoài hè!

Thiếm Bảy chắc lưỡi:

– Coi coi… cái gì mà có tui ở trỏng đó! Mà con nhỏ nó nói vậy bộ hổng phải sao?

Tư Cầu vội nói chen vô:

– Dạ thưa tía má, con mới định qua thăm mấy ảnh thôi chớ chưa có tính gì về chuyện đi hay là ở hết. Mà ví dầu con có qua bển… mần ăn đi nữa thì con cũng đi đi dìa dìa hoài… Đây với đó gần xịch chớ có xa lắc xơ lơ gì…

Chú Bảy thở ra:

– Mầy nói như vậy nghe cũng phải, nhưng theo tao nghĩ thì mầy cũng nên cân nhắc cho kỹ… bề gì thì bây giờ mầy cũng có vợ chình ình ra đó… Và không phải tao muốn trù ẻo chớ mầy chắc dư hiểu, trong buổi giặc giã, súng đạn nầy, cái chuyện sanh tử nó… nhấp nháy thiệt hổng biết đâu mà lường trước được…

Tư Cầu trả lời nho nhỏ:

– Dạ, cái đó con biết rồi…

Thiếm Bảy đang xỉa thuốc vội ngừng tay lại:

– Con biết thì để má nói thêm cho con nghe: con vợ con nó còn nhỏ lắm, mà hai đứa bây cũng mới ăn ở với nhau ràng ràng đây… con nên nghĩ đến chỗ đó một chút… Con Thắm, dầu hèn cũng thể, không đến đỗi gì tệ hại như thứ đàn bà khác nhưng con cũng phải… nghĩ xa: con vợ con nó còn khờ lắm, mà con phải biết, người ta khôn ba năm dại một giờ, đàn ông con trai bây giờ quỷ quái tinh ma… con đi bỏ nó ở nhà một mình nếu mai kia mốt nọ rủi có chuyện gì… đổ bể tùm lum lên… thì con đừng trách ai hết nghen!

Con Thắm mắc cở lên tiếng cằn nhằn má nó:

– Má sao nói kỳ quá! Má làm như con hư thúi đời nào vậy!

Chú Bảy cũng nói chen vô:

– Bà sao bữa nay ăn nói hàm hồ quá. Nó cự bà như vậy là đáng lắm!

Thiếm Bảy rướn giọng lên:

– Thì ông cũng phải để tui nói… phòng xa cho thằng Tư nó biết để sau nầy nếu có chuyện gì nó khỏi eo sèo với mình được.

Thiếm Bảy lại hướng về phía Tư Cầu tiếp lời:

– Đó là một lẽ, còn cái lẽ thứ hai nữa, như tía mầy ổng nói hồi nãy đó, rủi mầy… bị bắt bớ tù tội hay là bị… tai nạn gì khác, rồi mầy bỏ con vợ mầy cù bơ cù bất hay sao?

Tư Cầu ấp úng tìm lời nói đỡ:

– Dạ… bề gì cũng còn tía má ở đây.

Thiếm Bảy sẵng giọng:

– Tao với tía mầy sống đời ở đây hoài sao? Còn hai đứa nhỏ nữa chi? Tao lo cho hai đứa bây nên vợ nên chồng rồi bây giờ đến lượt tụi bây chớ!

– Dà…

Chú Bảy vội lên tiếng bảo Tư Cầu:

– Thôi, tía kêu con ra đây để hỏi thăm có một chút đó, bây giờ con vào nghỉ đi… rồi có cái gì khác con cho tía hay sau…

Tư Cầu e ấp đứng lên:

– Dà… tía má ngồi chơi…

Và anh ta len lén rút vào buồng. Con Thắm đứng xớ rớ ở đó một hồi rồi cũng theo anh ta vô luôn.

Tư Cầu chưa kịp hỏi han gì thì con Thắm đã nói chận trước:

– Đó anh thấy hông!

Tư Cầu có vẻ chưng hửng:

– Thấy cái gì?

– Chớ bộ anh hổng nghe má nói đó sao?

Tư Cầu thở ra:

– Có chớ sao không! Má nói như vậy cũng… phải (nhưng rồi anh ta hóm hỉnh hỏi lại) Mà em có nghe tía nói đó hông?

Con Thắm bước lại ngồi xuống cạnh giường:

– Ối, em dư biết mà! Ông già ổng bao giờ mà ổng chẳng binh anh! Anh… con ruột, con riêng của ổng chớ em thì ăn thua gì!

Tư Cầu cười xòa, đưa tay véo nhẹ vào bắp vế non của vợ…

Nghe con Thắm kêu “ái ái”, Tư Cầu vừa kéo vợ nằm xuống vừa vói tay bụm lấy miệng nó:

– Tía má còn thức ở ngoải kìa bà!

Con Thắm ngóc đầu lên ngó qua cửa buồng:

– Thức đâu anh chỉ coi! Đèn đuốc ở ngoải tắt ngóm hết rồi!

Tư Cầu cũng nhổm dậy:

– Thiệt hả?… Vậy thôi hai đứa mình cũng tắt đèn đi chớ chong làm chi… chói mắt thấy mồ!

Con Thắm bước xuống chõng rồi quay lại nhìn Tư Cầu với cặp mắt hoài nghi:

– Chói mắt thiệt hay chói mắt… gì đó?

Tư Cầu cười lỏn lẻn hối:

– Thì… tắt đèn đi bà…

Con Thắm mỉm cười lắc đầu rồi dình dàng đi lại chỗ để cây đèn chong. Nó từ từ kê miệng cho gần phía trên đầu ống khói rồi thổi nhẹ nhẹ… Ngọn đèn chao qua chao lại một hồi trước khi tắt hẳn…

… Con Thắm vừa hất vừa phủi tay Tư Cầu xuống vừa cằn nhằn:

– Để người ta bỏ mùng xuống đàng hoàng coi được hông?

Tư Cầu làm bộ chắc lưỡi liền liền:

– Thây kệ… bỏ đại xuống đi mà!

Con Thắm ngả lưng nằm xuống chõng và còn nói mát một câu:

– Xí, làm nôn tới để ít bữa nữa đi hén! Bộ người ta hổng biết sao!

Tư Cầu khúc khích cười bên tai vợ:

– Thì biết đây nè!

Con Thắm định nói nữa như chỉ ú ớ thêm vài tiếng trong miệng rồi im bặt…

Tư Cầu cất tiếng gọi nho nhỏ:

– Em! Em… ngủ rồi hả?

Con Thắm thở hắt ra một hơi dài rồi rên “ư ư” như người mớ ngủ.

Tư Cầu khỏi phải hỏi thêm một câu nào nữa…

… Anh ta bỗng đâm ra hơi bực mình khi nhận thấy phía nhà trong, nhà ngoài yên lặng quá chừng. Yên lặng đến đỗi, tiếng mấy con mọt đang khoét thanh tre trên đầu chõng của cặp vợ chồng mới cưới nghe rõ mồn một…

Chiếc đồng hồ chuông treo trên vách ngoài gian nhà giữa đã hai lần đổ kiểng: lần mười lăm phút, rồi một lần nửa giờ…

Tư Cầu quơ kéo chiếc mền còn xếp nguyên làm tư để ở phía đầu giường xuống, mở ra rồi nhẹ nhàng đắp lên mình vợ…

Như sực tỉnh, con Thắm cất giọng ú ớ kêu chồng, giọng nhừa nhựa, nửa như si mê, nửa như mỏi mệt:

– Anh Tư đâu… hả anh…

Vừa hỏi, con Thắm vừa quơ tay sờ soạng lên ngực lên mặt, lên tóc Tư Cầu rồi buông thõng xuống sạp chõng… như đã mòn sức, và sải tay ngủ liền ngay theo đó.

Ánh trăng khuya đã bắt đầu rọi nghiêng nghiêng qua mấy kẽ hở của tấm vách ván “bổ kho”.

Tư Cầu, một tay chống lấy đầu mải mê lặng nhìn vợ đang ngủ say… và bất giác anh ta cất tiếng thở dài.

… Hai hôm sau Tư Cầu ra đi.

°   °
°

Tư Cầu sang thăm anh “phó” được vài hôm thì quay trở về… để rồi lại đi nữa.

Bẵng đi hơn ba tháng sau, Tư Cầu lại lò mò về thăm nhà.

Hôm ấy, cả chú thiếm Bảy lẫn hai người con trai đều đi vắng và chỉ có con Thắm ở nhà. Tư Cầu hồi hộp đẩy cửa rào bước vô. Tiếng con chó vừa sủa vừa tru mừng Tư Cầu làm cho con Thắm đang ở sau bếp phải chạy ra, và khi giáp mặt với chồng nó bỗng khóc òa lên.

Tư Cầu lúng túng níu tay vợ dắt vô nhà:

– Trời ơi, anh dìa em không mừng sao lại… khóc muồi mẫn như vậy. Tía má và mấy em đâu mà nhà cửa gì vắng hoe vậy?

Con Thắm không chịu trả lời mà chỉ đưa vạt áo lên vừa lau nước mắt vừa sịt mũi.

Thấy vậy, Tư Cầu hơi chột dạ:

– Coi, có việc gì mà sao anh hỏi em cứ nín khe vậy? Nói cho anh nghe đi em!

Con Thắm lại hít mũi rồi bù lu bù loa kể lể:

– Chuyện gì nữa bây giờ! Ai biểu anh đi mất biệt cả năm sáu tháng nay…

Tư Cầu vội đính chánh:

– Coi, em đừng nói quá lố, mới có ba tháng là nhiều.

Con Thắm cự nự:

– Bộ anh nói ba tháng hổng đủ lâu hả? Bị anh tưởng như vậy nên anh bỏ ”tui” luôn cũng phải?

Tư Cầu chắc lưỡi:

– Cái gì mà bỏ! Anh có nhắn tin dìa, bộ hổng ai nói lợi với em sao?

– Hứ, nhắn tin mà đủ à! Anh chỉ lo đi cho sướng chớ chẳng kể gì tới vợ con ở nhà hết!

Tư Cầu mỉm cười chỉ vào mặt mình:

– Đây em làm ơn nhìn kỹ coi anh đi có sướng hông? Có bữa lội rừng lội bụi từ sáng tới chiều chẳng có hột cơm trong bụng…

Con Thắm nhăn nhó kêu lên:

– Ý chèn đét ơi, anh làm cái gì mà đến đỗi ốm nhom và đen thui vậy nè! (nó vừa kêu vừa đưa tay sờ lên một bên má hóp của chồng)

Tư Cầu nhún vai phân bua:

– Thì đó, em coi anh có sung sướng gì đâu… cực khổ thấy mồ!

Con Thắm quắc mắt lên:

– Cực khổ vậy mà còn ham! Nội bấy nhiêu đó cũng đủ hiểu là anh… chỉ nghĩ tới cái gì… riêng của anh thôi. Còn em, anh hổng thèm lo cho chút xíu nào hết. Bộ anh nói em bây giờ cũng còn như thời con gái hoài hoài sao?

Tư Cầu ấp úng đáp:

– Đành là như vậy nhưng… giặc giã nầy… vài ba năm rồi cũng hết chớ bộ có hoài hoài sao! Em thì còn ở đó lâu…

Con Thắm, mắt đỏ hoe, cũng phải bật cười:

– Xí, anh làm như sợ… mất một dịp hiếm có lắm vậy!… Giặc giã thì để cho thiên hạ tây tàu họ muốn quánh nhau gì đó thì quánh, mắc mớ gì tới mình…

Tư Cầu vội nói gạt ngang:

– Thôi dẹp chuyện đó qua một bên đi! Bây giờ em làm ơn nói chuyện nhà cửa cho anh nghe coi được hông!… À, tía má và thằng Ba, thằng Tư đi đâu vắng hết vậy em?

– Ờ, tía má và mấy đứa nó đi chợ hết rồi.

Tư Cầu quàng một tay lên vai vợ và dìu đi:

– Thôi mình vô trong nầy… chớ hông thôi người ta nhớ quýnh đây nè!

– Xí!

Bước tới cửa buồng, Tư Cầu dừng lại hất hàm hỏi vợ:

– Có chứa thằng cha nào ở trỏng hông vậy?

Con Thắm hất tay anh ta rớt xuống:

– Nói bậy nà! (rồi nó lại mỉm cười) Mà rủi có thằng cha nào ở trỏng thì anh cũng ráng chịu, chớ ai biểu anh bỏ người ta ở nhà một mình làm chi!

Vào tới trong buồng, Tư Cầu liền ôm choàng lấy vợ vào lòng, nhưng con Thắm vội ẩy anh ta ra và kêu lên:

– Anh mang cái gì mà cồm cộm…

Tư Cầu “à” lên một tiếng, thọc tay vô trong lưng quần móc ra một khẩu súng lục, nhét liền trở lại ra phía sau lưng, rồi xẻn lẻn phân trần với vợ:

– Anh hổng muốn đeo theo, nhưng anh “phó” ảnh nài ép… để phòng thân khi đi đường…

Con Thắm có vẻ đăm chiêu:

– Anh đem thứ đồ quỷ ấy dìa nhà làm gì…

Nhưng khi liếc thấy Tư Cầu đứng sượng lại đó, con Thắm đâm ra thương hại. No bước lại sát bên Tư Cầu và tỳ người lên ngực chồng rồi mỉm cười nói một câu mập mờ:

– Hồi nãy anh dắt cây súng trước bụng, em sợ… cấn nó quá!

Tư Cầu chụp lấy vai vợ lắc nhẹ mấy cái:

– Em sợ… cấn nó! Bộ em…

Con Thắm mỉm cười tiếp lời:

– Anh nầy thiệt hổng để ý gì tới vợ con hết ráo! Em có… bầu trên bốn tháng nay rồi đó!

Tư Cầu buông thõng tay xuống, vẻ mặt ngơ ngác:

– Bộ… thiệt vậy hả? Sao trước đây em hổng nói?

– Mắc cở thấy mồ mà nói khỉ gì!

– Coi, có chồng thì có con chớ bộ… nằm chiêm bao rồi mang bầu được hay sao mà mắc cở!

Con Thắm phát nhẹ vào vai chồng:

– Ớ lãng òm! Nhưng… mình ăn ở với nhau mới ràng ràng đây mà lại có con liền…

Tư Cầu làm mặt nghiêm:

– Thì có người… nhạy, người hổng nhạy…

Con Thắm vội xô anh ta qua một bên:

– Nghỉ anh đi! Cái miệng anh giỏi nói xàm hoài!

Tư Cầu bước lại nắm lấy tay vợ dẫn đến ngồi xuống mép giường rồi dịu dàng hỏi:

– Trong mình em bây giờ ra sao? Em thấy có khỏe mạnh hay là… có cái gì khác hông? Anh nghe người ta nói đàn bà… ốm nghén…

Con Thắm tươi cười lắc đầu:

– Anh khỏi lo, em khỏe mạnh như thường chớ không có sao hết. Mà có má ở đây thì em vững bụng lắm!

Tư Cầu ngập ngừng hỏi:

– Bộ… tía má hay rồi hả?

Con Thắm khẽ gật đầu rồi hỏi lại:

– Sao đó anh?

– Cha cái điệu nầy chắc ổng bả chửi anh tắt bếp!

Con Thắm lắc đầu lia:

– Hổng có, hổng có đâu. Tía thì… một phe với anh rồi, còn má, tuy má… hay lách chách cái miệng chớ má cũng thương anh lắm.

Tư Cầu chép miệng thở dài:

– Thiệt anh cứ làm khổ hết người này đến người nọ hoài…

Con Thắm vội nói khỏa lấp đi:

– Thôi chuyện đó dẹp qua một bên cho rồi! Bây giờ anh đưa bàn tay đây!

Tư Cầu nhướng mắt lên nhìn vợ, rụt rè chìa bàn tay mặt ra rồi thắc mắc hỏi:

– Đây nè… mà chi vậy em?

Con Thắm cầm lấy bàn tay đen rắn, mân mê mấy chỗ chai cứng rồi rướn giọng:

– Bàn tay nào… lương thiện, hiền khô… bàn tay nào hổng có… bóp cò súng hả?

Tư Cầu phì cười đưa bàn tay trái ra:

– Đây đây… bàn tay nầy nè!… Mà chi vậy em?

Con Thắm gật gù như tỏ vẻ bằng lòng rồi kéo lấy bàn tay của chồng đặt nhẹ lên bụng mình, rồi hăng hái nói một hơi:

– Đó đó! Anh “thấy” nó đạp hông! Chắc con trai hén anh?… Thằng nầy chắc nữa nó liếng khỉ lắm!

Tư Cầu ra vẻ nghiêng tai nghe ngóng, rồi tự nhiên anh ta đâm ra mắc cở rụt tay lại. Thật tình thì anh ta cũng chưa thấy “nó” đạp ở đâu hết nhưng cũng trả lời vợ bằng một giọng thật quả quyết:

– Ờ… thằng nhỏ đạp dữ há! Em hổng lên chợ hốt vài thang thuốc dưỡng thai uống… và ráng lo tẩm bổ…

Con Thắm nói gạt ngang:

– Ý hổng nên đâu! Con so mà anh! Má còn bắt em làm suốt ngày không hở tay để nữa dễ sanh.

Tư Cầu gật gù:

– Ờ phải há!

Nhưng rồi anh ta chép miệng ngồi thừ ra nhìn vợ.

Con Thắm gượng cười hỏi chồng:

– Sao khi không anh… bí xị vậy?

Tư Cầu rầu rầu đáp:

– Đây rồi nữa em mang cái bụng ì ạch, rồi đến lúc bể bầu… anh cũng đâu có ở nhà!

Con Thắm thở dài:

– Thì em cũng đành chịu vậy chớ biết sao!… Mà tại anh hổng muốn ở nhà bên cạnh vợ con chớ có ai cản trở anh đâu!

Tư Cầu lúng túng hết ngó lên trên nóc nhà rồi nhìn xuống dưới nền đất, trả lời xụi lơ:

– Thôi… bề gì anh cũng trót hẹn với anh em người ta rồi…

Con Thắm nổi nóng:

– Phải đa! Anh lỡ hẹn với người ta thì anh ráng giữ, còn lỡ hẹn với em thì anh cho… lỡ luôn!

– Em đừng nói vậy… tội nghiệp anh… Bây giờ em có chửi mắng gì anh cũng… hổng dám nói gì, nhưng anh xin gắt một điều: em đừng để bụng lo buồn quá… hổng nên. Như vậy nó có hại… cho cái thai lắm!

Nghe Tư Cầu nói như thế, con Thắm đâm ra mủi lòng thương hại. Nhưng vẫn giữ giọng trách móc:

– Hổng biết anh nghĩ sao mà anh bỏ đi ngang như vậy! Hổng có anh vô trỏng rồi nước mình… hổng độc lập được sao? Đó anh coi, anh đi mấy tháng nay rồi có cái gì khác hông?… Thì cũng… súng nổ, cũng Tây bố, cũng tản cư… Như vậy thiếu một mình anh cũng chẳng sao hết mà!

Trước lý luận “chắc nịch” ấy của vợ, Tư Cầu chỉ có nước thở dài. Anh ta gãi tai tìm lời giải thích cho vợ hiểu quyết định của mình nhưng rốt cuộc rồi cũng đành… nhún vai nói gạt ngang:

– Ối em là… đàn bà thì đâu có hiểu mấy chuyện đó! Em thấy một mà không thấy hai… Nếu ai cũng nói như em hết thì… chỉ còn nước sống trở lại cái kiếp tôi mọi như ông bà mình hồi trước.

– Thì ông bà mình cũng sống sởn sơ, vợ chồng con cái đề huề chớ bộ..

Tư Cầu nhăn nhó chận lời:

– Thời buổi nầy mà em nói như vậy người ta cười chết. Về cái chuyện anh… làm đó, tuy bây giờ em chưa thấy gì, nhưng lâu ngày chầy tháng thì nó cũng phải… nhúc nhích cục cựa chớ!

Con Thắm trề môi:

– Ai có cười thì em ráng chịu, chớ em có chồng có con em hổng muốn để rời đi đâu hết! Em lo cái gì có trước mặt, chớ em hổng thèm lo… chuyện bá vơ thiên hạ!

Tư Cầu thở ra:

– Nói với em riết rồi thế nào cũng có… cãi lộn! (đoạn anh ta nắm lấy tay vợ) Mà thôi, hổng thèm nói mấy chuyện đó nữa, lâu ngày dìa thăm em thì phải… vui lên mới được.

Con Thắm ngó thẳng vào mặt chồng:

– Bữa nào anh đi nữa đây?

Tư Cầu ngập ngừng đáp:

– Thì… vài ba bữa nữa…

– Coi, sao gấp dữ vậy? Sao anh hổng nói với họ anh dìa lâu lâu một chút. Cái điệu nầy đến chừng em nằm chỗ cũng dám hổng có mặt anh ở nhà nữa cho coi!

Tư Cầu chớp mắt nhìn xuống bụng vợ:

– Để anh ráng tới chừng em… gần ngày, anh sẽ dìa trước năm mười bữa nửa tháng…

Con Thắm, mặt mày buồn thiu, lên giọng thở than:

– Như vậy mà anh cũng phải… ráng nữa! Ý là em mới có mang bầu con so! Và may là em mạnh giỏi chớ không có đau ốm rề rề như người ta!

– Bề gì thì cũng có má ở liền một bên em.

– Xí, từ hồi nhỏ tới lớn lúc nào em hổng có má ở một bên! Em hỏi anh: vậy chớ em có chồng làm chi cà?

Tư Cầu gượng cười đáp:

– Có anh ở nhà thì anh cũng đứng… xớ rớ ở đó chớ anh biết khỉ gì về chuyện… đẻ đái của đàn bà.

Con Thắm chán nản thở ra:

– Thiệt anh nói cái gì cũng ăn trớt hết! (rồi nó nhìn Tư Cầu lắc đầu) Hổng biết sao hồi đó em lại ưng lấy anh như vầy! Chị em người ta đi một bước cũng có chồng theo tò tò, còn em thì cứ lủi thủi một mình như như là con mẹ bị chồng bỏ chồng chê gì vậy á!

Tư Cầu bắt phì cười:

– Thôi đi bà nội! Phải dè em hay rên như vầy hồi đó anh cũng… dang ra cho sớm! Nhưng bây giờ… lậm quá rồi… Em hổng biết chớ ngày nào mà anh hổng nhớ em! Cha, phải chi anh dẫn em theo được, hay là… có phép gì… dời giặc giã dìa gần đây để cho hai đứa mình chạy tới chạy lui thăm nhau được hén em!

Con Thắm tát nhẹ vào má chồng:

– Bậy nà! Anh vái chuyện gì ác ôn không hè! Vùng này được yên, ai nấy đều nhẹ lo mà anh lại đòi… dời giặc về đây nữa… bà con họ nghe được họ rủa anh chết!

Tư Cầu cười xòa rồi đưa tay ôm lấy vai vợ nựng nịu…

Con Thắm ngả đầu vào ngực chồng, thỏ thẻ hỏi:

– Ý chút xíu nữa em quên lú việc nầy: nữa em sanh con, anh muốn đặt tên nó là gì hả anh?

Tư Cầu véo nhẹ má con Thắm rồi đáp:

– Cái đó anh xin nhường quyền cho tía, tới chừng đó em nhờ tía lựa tên đặt cho cháu ngoại của tía… như vậy phải hơn em à! Tía mới biết tên nào trùng…

Con Thắm phụng phịu gạt ngang:

– Em hổng chịu vậy đâu! Anh phải đặt tên cho nó hè!

Tư Cầu hỏi lại vợ:

– Nhưng mình chưa biết nữa sanh con trai hay gái mà lựa tên trước khỉ gì được!

Giọng con Thắm rất quả quyết:

– Thế nào cũng con trai mà! Mấy năm nay thiên hạ đua nhau đẻ con trai không hè! Đây nè anh rờ coi, nó đạp ùng ục như vầy thì là con trai chớ sai chạy sao được.

Tư Cầu mỉm cười hoài nghi:

– Em sao nói ăn chắc quá!

Con Thắm chu miệng nhắc lại:

– Tên gì anh?

Tư Cầu nhíu mày suy nghĩ một hồi rồi đáp gọn:

– Tên là Kỳ. Em đặt nó tên Kỳ đi.

Con Thắm nghiêng nghiêng đầu như để nghe cho thấm ý cái tên mới mẻ đó, rồi ngước mắt lên hỏi:

– Tên Kỳ hả? Cái tên gì… kỳ kỳ quá! Mà thôi, em cũng chịu tên đó lắm… Con gái con trai gì em cũng đặt tên đó hết nghen!

Tư Cầu mím môi suy nghĩ:

– Hông, nếu con trai thì đặt tên đó, còn con gái thì… phần em.

Con Thắm tươi cười nắm lấy tay chồng:

– Nè, em căn dặn anh điều nầy: anh nhớ chừng… chừng gần khoảng em nằm chỗ, anh lội dìa đây trước nghen!

Tư Cầu bấm mấy đầu ngón tay tính nhẩm:

– Còn lâu mà! Thế nào từ bây giờ tới đó, anh cũng dìa thăm em ít lắm là ba bốn lần.

Con Thắm trề môi hăm he:

– Nói phải nhớ đó nghen! Hay là anh đợi cho… thằng nhỏ biết đi lẫm đẫm rồi anh mới chịu dìa cũng được!

Tư Cầu cười mơn:

– Em sao nói anh tệ quá vậy!

Vừa lúc ấy có tiếng chó sủa mừng trước sân, con Thắm thò đầu ngó ngoái ra và vội đứng dậy kêu lên:

– Ý chết, tía má dìa tới kia anh! Mình ra cho mau, chớ hai đứa cứ lúc thúc trong buồng… kỳ lắm!

Tư Cầu thở dài miễn cưỡng đứng lên bước theo ra…

°   °
°

– Ê anh Tư, lại đây nói chuyện chơi, chớ làm gì ngồi cú xụ đó vậy!

Tiếng anh “phó” kêu lớn lên làm cho Tư Cầu giựt mình quay đầu lại:

– Gì đó anh?

Anh “phó” đưa tay ngoắc anh ta:

– Thì lại đây. Cha mới dìa thăm nhà nên còn… vấn vít nhớ thương chỉ phải hông?

Tư Cầu búng mạnh tàn thuốc cho văng ra xa rồi xẻn lẻn đáp:

– Anh nói bậy nà! Tui chớ phải ai sao mà còn… bò lê bò càng về mấy cái chuyện đó!

Anh “phó” cười giả lả:

– Nói chơi mà anh!

Tư Cầu bước lại ngồi phịch xuống bên cạnh anh “phó” và vói tay lấy túi thuốc của anh nầy mở ra vấn một điếu khác:

– Anh tính nói với tui cái gì đó?

Anh “phó” nghiêm giọng:

– Túi tính bàn với anh một việc nầy mà hổng biết có vừa ý anh không…

Tư Cầu mỉm cười:

– Thì anh cứ nói đại ra đi rồi tui mới biết là có vừa ý hay không… Mà chuyện gì quan trọng lắm sao, anh lại phải rào đón lòng vòng như vậy?

Anh “phó” ngồi nhích lại gần Tư Cầu:

– Hổng nói giấu gì anh, tui muốn nhờ anh dắt năm sáu anh em qua trấn đóng bên miệt Cầu Muống Hồng Ngự, đó là một chỗ có mối đường qua lại quan trọng…

Tư Cầu vỗ đùi anh “phó”:

– Dữ hông! Đi thì đi chớ có cái gì đâu mà anh phải thắc mắc?

Anh “phó” ngó xéo Tư Cầu rồi ấp úng đáp:

– Tui biết anh sẵn lòng rồi, nhưng tui ngại ở chỗ: hồi nào anh chỉ huy cả trung đội rần rần rộ rộ, bây giờ tui giao cho anh… loe hoe năm sáu người… coi nó cũng kỳ!

Tư Cầu hơi cau mày có vẻ ngạc nhiên, nhưng rồi anh ta lại cười xòa:

– Ý trời đất ơi, thiệt tui không dè anh nầy ảnh để ý tới mấy chuyện… tủn mủn đó! Bộ anh nói tui bỏ vợ con đi như vầy là để… ham đòi chỉ huy, ham làm lớn lắm sao!

Anh “phó” vội tìm lời nói đỡ:

– Cái đó tui dư biết mà! Tui sống với anh cũng nhiều lắm, nhưng dầu sao… tui cũng phải… hơi e ngại một chút đỉnh. Đó là tui nói… phòng hờ vậy thôi.

Tư Cầu hăng hái hỏi thêm:

– Đâu anh nói sơ qua cho tui nghe công việc ở bển coi!

Anh “phó” không trả lời ngay mà vội ngó ngoái về phía anh em đang ngồi dụm năm dụm ba và gọi lớn:

– Có bác Năm Quắn ở đó không?

Một người đứng tuổi nhưng có vẻ quắc thước, tóc quăn và đã ngả màu muối tiêu ở hai bên thái dương, vội chạy lại.

Anh “phó” giơ tay níu bác ngồi xuống bên cạnh:

– Đây nè anh Tư, tui tính để bác Năm đây đi theo… phò anh đó!

Tư Cầu vui vẻ nói:

– Tưởng ai, chớ bác Năm đây thì… ngon lắm rồi!

Anh “phó” tiếp lời:

– Bác là người gốc gác ở bển nên đường đi nước bước gì ở bển, bác đều rành hết; bác lại quen lớn ở bển nhiều nữa và tuy bác trọng tuổi như vậy chớ chưa chắc gì thanh niên trai tráng cỡ tụi mình qua mặt bác nổi nghen! Bác bắn súng cũng tài mà lại có “nghề” nữa…

Bác Năm vỗ vai anh “phó” ngắt ngang:

– Thôi mà chú! Chú… quảng cáo vừa vừa nó chớ!

Anh “phó” gân cổ nói tiếp cùng Tư Cầu:

– Đó là tui chưa nói với anh: bác cũng là một tay bùa phép ghê gớm nữa!

Bác Năm lên tiếng cự nự:

– Thôi nghen chú! Chú nói quá, chú Tư đây chú cười qua chết!

Anh “phó” vẫn sẵn trớn nói luôn:

– Tui nghe anh em người ta nói lợi: hồi thuở… hưng thời, bác Năm đây đủ thứ bùa mê, ngải phép, thư ếm gì bác đều rành hết nhưng vì… (anh “phó” liếc xéo bác Năm, cười tủm tỉm rồi tiếp lời)… vì bác… phá hại gia cang người ta cũng hơi… khá nhiều nên riết rồi nó mất linh hết!

Bác Năm vội phân bua với Tư Cầu:

– Chú Tư đừng tin thằng chả nghen! Thằng chả nói bậy hoài!

Anh “phó” vẫn không thèm để ý đến lời bác Năm:

– Tuy vậy chớ bây giờ bác cũng còn xài được một vài thứ bùa thường như… khi bị rắn cắn, bị phỏng hay là con nít… khóc đêm, con nít khó nuôi gì đó, bác cũng mần cho khỏi được hết.

Tư Cầu nhìn bác Năm mỉm cười:

– Như vậy là còn… bảnh quá trời rồi!

Anh “phó” nghiêm giọng lại:

– Bác Năm đây và năm sáu anh em gì nữa sẽ đi qua bển với anh. Tui lựa toàn là tay chiến và xài toàn “tự động” không hè!

Tư Cầu gật đầu:

– Như vậy thì… nhứt trần đời rồi còn gì!

Anh “phó” vẫn còn thắc mắc:

– Đáng lẽ, tui hổng dám nhờ anh chuyện này nhưng vì ở bển là chỗ quan trọng, giáp biên giới và là mối đường của nhiều phe phái đi qua… Tui thì chai mặt ở đó rồi vì đã đ5ng chạm mấy keo với họ, nên tui nghĩ đi nghĩ lại thấy chỉ có mình anh…

– Tui mà tài cái gì! Phần thì mới chưn ướt chưn ráo…

Anh “phó” lắc đầu lia lịa:

– Cái đó tui dư biết mà! Tánh tình của tui bốp chát quá nên… không hạp… thổ cư ấy, còn anh, bề gì anh cũng… mềm dẻo, khéo léo hơn. Anh mà cà rà rị mọ ở đó ít lâu, cái đám… long chong ở bển nó cuốn gói theo anh em mình hết.

Tư Cầu tủm tỉm hỏi đùa:

– Chắc trong cái đám đó… hổng có phụ nữ chớ!

Bác Năm tự nãy giờ ngồi yên vội đáp xen vô:

– Cái đó… chú Tư khỏi phải lo! Ở bển đồng cỏ, nước phèn nên cái món phụ nữ cũng… loe hoe còi cọc lắm. Bởi vậy mấy cha nội thanh niên của mình bị “đầy” qua bển cha nào cha nấy cũng… méo xẹo cái mặt hết!

Tư Cầu cười rộ theo:

– Như vậy thì tui … khoẻ lắm! Hổng nói dấu gì bác, tui đã… ngán trân cái món đó!

Anh “phó” vui vẻ đưa đẩy theo:

– Thì tui biết rành như vậy nên mới dám nhờ anh đó anh Tư!

°   °
°

Tư Cầu mới về tới nhà vào buổi trưa thì đã tỏ ý sẽ quay trở về Hồng Ngự vào sáng sớm hôm sau.

Chú Bảy không nói gì nhưng thiếm Bảy không ngớt miệng cằn nhằn anh ta. Con Thắm thì quấn quýt bên Tư Cầu như muốn cố tận hưởng những giờ phút hiếm có sống cạnh chồng.

Tối hôm ấy, trong lúc hai vợ chồng đang ngồi thủ thỉ với nhau trong buồng thì có tiếng thiếm Bảy gọi vọng vô:

– Tư ơi, con làm gì ở trỏng… ra đây má hỏi thăm chuyện nầy coi!

Tư Cầu nhún vai nhướng mắt nhìn vợ. Con Thắm thở ra, rồi nói như giận lẫy:

– Thôi anh ra ngoải cho bả hỏi cái gì thì hỏi phứt đi! Chắc chuyện đi với ở đó chớ gì!

Tư Cầu miễn cưỡng đứng dậy bước ra nhà ngoài.

Thấy mặt rể là thiếm Bảy hỏi liền:

– Bộ con tính sáng mai đi thiệt sao Tư?

– Dạ phải. Con dìa đây là… dìa ẩu nên phải trở qua bển liền…

– Bộ ở bển hết người rồi sao? Sao con hổng nói với họ là con có vợ gần ngày nằm chỗ?

Thấy Tư Cầu nín khe, thiếm Bảy lại nói dồn tới:

– Con cứ nói đại là mình có vợ gần ngày sinh thì họ phải để cho con… nghỉ xả hơi một ít lâu chớ !

Tư Cầu bắt phì cười:

– Má nói như vậy chớ trong thời buổi… giặc giã thì cái chuyện đó… có ăn nhằm gì đâu! Thiệt tình không phải anh em người ta can ngăn mình dìa thăm nhà, nhưng tại mình xét thấy làm như vậy thì… cũng hơi kỳ…

Thiếm Bảy đang nhai trầu nhóc nhách, vội ngừng lại:

– Coi, cái gì mà kỳ! Mình có vợ có con thì mình lo ên lấy chớ bộ bắùt họ gánh cho mình sao mà con phải ái ngại!

Nói đến đó, thiếm vói tay bưng cái ống nhổ thau nhổ bớt nước cốt trầu rồi ôn tồn tiếp lời:

– Nè Tư, ở đời mà con cứ tưởng thiên hạ ai ai cũng như mình hết là con… thất bại nhiều đa nghen!

Tư Cầu chẳng biết trả lời làm sao cho êm nên đành “dà” một tiếng rồi ngồi im.

Thiếm Bảy có vẻ không vừa lòng. Thiếm đặt cái ống nhổ trả lại chỗ cũ trên mặt bàn một cách… hơi mạnh tay một chút, rồi nhìn chăm bẳm chàng rể để hỏi thêm:

– Nếu con không ở luôn cho tới khi con Thắm nằm chỗ thì con ở nán lại thêm một vài ngày nữa rồi hãy đi hổng được sao Tư?… Một vài ngày mà ăn thua gì!

Tư Cầu gượng cười đáp:

– Dạ, con lỡ hứa với anh em ở bển rồi má à! Mơi con phải đi trở qua cho sớm…

Thiếm Bảy nhăn mặt, chắc lưỡi:

– Mình có hứa cái gì với ai thì mình… phải hứa trừ hao trước đi, chớ con cứ theo… sát rạt như vậy sao được!

– Dà…

Vừa lúc ấy, chú Bảy đi xóm về tới, bước vô nhà

Thiếm Bảy liền day qua phân bua với chồng:

– Đó, ông dìa ông khuyên lơn thằng Tư đôi chút coi! Tui nói với nó tự nãy giờ mà coi bộ… hổng ăn nhằm gì ráo!

Liếc thấy bộ điệu con rể có vẻ bứt rứt, chú Bảy cảm thấy thấy thương hại nên lên tiếng cằn nhắn át lời vợ đi:

– Bà sao kỳ quá! Thì nó có công chuyện phải đi gấp chớ nó thong dong đi chơi sao mà mình níu cản, cầm giữ nó lại được!

Thiếm Bảy bực mình, liếc xéo chồng:

– Hứ, ông nói sao dễ nghe quá! Vậy chớ con vợ nó mang bụng thè lè ra đó, rồi gần ngày sanh ngày đẻ… là chuyện chơi, chuyện… đồ bỏ hay sao!

Chú Bảy nói gạt ngang:

– Thôi bà ơi, bà hổng biết cái gì hết mà bà cứ hay lép xép cái miệng hoài! Thằng Tư nó đã dìa thăm và lại không có thì giờ rộng rãi vậy mà bà kêu nó ra đây nói trời nói đất, nói dông nói dài làm chi vậy hổng biết! Bà hổng để hai vợ chồng nó… hú hí với nhau được thêm chút nào hay chút nấy, chớ mơi nầy “thẳng” đi sớm… bộ bà quên rồi sao?

Thiếm Bảy có vẻ cảm động và dịu giọng bảo Tư Cầu:

– Thôi con vô trỏng đi hông thôi con vợ con nó đợi… Má nói là nói vậy…

– Dạ, má dạy như vậy phải lắm, nhưng tại… tánh của con nó… kỳ quá, cón ít chịu để lỡ lời với ai…

Thiếm Bảy thở dài:

– Má biếât rồi. Tiện đây, má cũng căn dặn con một lời hông thôi mơi con đi sớm, má nói hổng kịp: bề gì thì con vợ con nó cũng gần ngày sanh, vậy con có làm cái gì thì ráng giữ đừng để xảy ra chuyện gì… tổn âm đức hổng nên… như là kỵ những chuyện… sát sanh hại mạng…

Chú Bảy bắt phì cười:

– Bà nầy nói sao lạ quá! Nó ôm súng đánh giặc mà bà làm như nó cầm… cuốc cuốc đất vậy!

– Thì… nó cũng phải… nương tay một chút chớ!

Chú Bảy cười rộ lên rồi day qua nói đùa với Tư Cầu:

– Ý bả muốn nói… thằng Tư mầy có… bắn thì bắn một phát đủ… chết thôi chớ đừng… ria một hơi năm bảy viên đó nghen!

Tư Cầu cũng cười theo trong lúc thiếm Bảy vùng vằng cự nự chồng:

– Ông sao cái gì ông cũng nói giỡn được hết! Ông có con có cái và sắp có cháu ngoại đến nơi rồi mà tui chẳng thấy ông lo cái gì ráo! Ông hổng thấy từ ngày thằng Tư nó ra đi rồi, tháng nào tháng nấy tui cũng ăn chay niệm Phật lu bù đó sao!

Rồi thiếm day qua ân cần bảo Tư Cầu:

– Rằm, mùng một gì má cũng có nhắc con Thắm mua đèn nhang trái cây cúng sao cho con đó Tư. Năm nay con bị sao hạn gắt lắm nên mình ráng chăm lo cúng kiếng được phần nào đỡ phần nấy…. Còn con, con cũng nên lo tu hiền và giữ gìn tấm thân đừng ỷ y còn trai tráng rồi tự tung tự hoành… hổng nên đa con!

Tư Cầu ngó về phía buồng vợ rồi nghiêm trang trả lời:

– Dà… Thưa má, con đâu có quên bây giờ con còn có vợ… có con nữa…

Thiếm Bảy gật đầu rồi dịu dàng bảo con rể:

– Thôi, con vô nghỉ sớm đi, mơi con còn phải dìa bển…

Tư Cầu ngước mắt nhìn về phía cha mẹ vợ đang ngồi chơ vơ nơi bộ tràng kỷ, dưới ánh đèn dầu lờ mờ tỏa chiếu từ trên đầu chiếc tủ thờ sừng sững án ngữ nơi phía trong cùng của gian nhà giữa…

Tự nhiên anh ta nghẹn lời, rồi lủi thủi đi quay trở vô buồng.

Thấy chồng vô, con Thắm ngồi nhỏm dậy bước xuống giường đi lại:

– Nói chuyện gì lâu dữ vậy anh?

Tư Cầu khẽ lắc đầu:

– Ờ … chẳng có gì hết! Tội nghiệp, má cũng lo cho anh quá đỗi…

– Thì ở nhà nầy có ai mà hổng lo cho anh!

Tư Cầu dìu nhẹ con Thắm lại cạnh giường. Nhìn dáng điệu phục phịch nặng nề của vợ cận ngày sanh, anh ta đâm ra thương xót vô hạn:

– Em có đi đâu nên coi chừng coi đỗi… rủi trợt té thì nguy lắm nghen!

Con Thắm nằm lăn trên giường, thở ra một hơi như có vẻ dễ chịu, rồi mỉm cười nhìn chồng:

– Anh nên lo cái thân của anh thì có! (đoạn nó vui vẻ kêu lên) Cha, lối hai tháng nữa thì em… nhẹ bụng rồi đa! Mà anh nhớ dìa cho kịp, hông thôi em hổng cho “nó” nhìn thằng tía nó nghen!

Tư Cầu bò lên giường, ôm nhẹ lấy bụng vợ:

– “Nó” hổng nhìn thằng tía nó nhưng miễn con gái mẹ nó nhìn là được rồi!

Con Thắm xô anh ta dang ra:

– Thôi tắt đèn đi ngủ sớm đi anh!… Mai mấy giờ anh thức dậy hả?

Tư Cầu rụt rè đáp:

– Lối bốn năm giờ cũng được…

– Em hỏi để còn lo nấu cơm sẵn trướcđể cho anh lót dạ ba hột trước khi đi, chớ hông thôi anh bơi xuồng đi dọc đường đói chết!

Tư Cầu đứng xuống giường, nhìn vợ thở dài:

– Em ngủ cho khoẻ đi chớ hơi đâu thức sớm nấu cơm cho mất công hổng biết!

Con Thắm mỉm cười:

– Dữ hông! Năm thuở mười thì mới lo cơm nước cho anh một bữa chớ bộ ngày nào cũng được như vậy sao!

Tư Cầu chẳng biết nói sao nữa nên đành bước lại cột nhà bưng chiếc đèn ống khói trứng vịt xuống thổi tắt.

Xong xuôi, anh ta bước trở lại mùng chun vô nằm sát bên vợ và đưa tay quàng lấy khuôn ngực tròn căng…

Con Thắm nằm yên một lát rồi nhích người ra và làm bộ kêu lên nho nhỏ:

– Của “nó” chớ hông phải của anh nữa đâu nghen! Xí lêu lêu mắc cở…

Tư Cầu nằm thẳng trở lại và đáp bằng một giọng rất thành thật:

– Ờ phải. Thiếu chút xíu nữa anh quên..

Nghe vậy, con Thắm vụt rúc đầu vô ngực chồng.

Tư Cầu bất giác cười khan rồi chắc lưỡi, giọng tiếc rẻ:

– Thôi đành… bóp bụng đợi… thuốc ngon nửa điếu vậy!

Con Thắm cười khúc khích rồi vừa véo mạnh vào vai chồng vừa nói nựng giọng rít giữa hàm răng:

– Mình cư… ưng ơi!

Tư Cầu xuýt xoa hỏi lại:

– Cha, bữa nay có cái … vụ “mình” ở trỏng đó nữa? Em mới đổi cách xưng hô hồi nào mau quá vậy?

Con Thắm xẻn lẻn dụi dụi đầu vào nách chồng rồi ngước mặt lên, giọng phân trần:

– Thì… em nghe vợ chồng người ta có con thì kêu nhau bằng… mình. Em tập nói lần hổng được hay sao mà mình bắt bẻ hả?

Tư Cầu vội đáp:

– Bắt đầu kêu liền cũng được chớ tập khỉ gì! bây giờ anh mới để ý… tiếng “mình” vậy mà nghe bùi tai quá hén em!

Con Thắm xô anh ta ra:

– Nghỉ anh đi! Anh kêu ngạo người ta hoài hè! Thôi nhắm mắt ngủ đi anh! Bộ anh quên mai anh còn phải dậy sớm hay sao!

Tư Cầu vói tay níu lấy vai vợ…

Một tràng súng máy khô khan, lẻ loi từ xa vang lại y như là… tiếng mớ ngủ của một khẩu súng sau bao đêm lửa đạn dài dằng dặc, với nhiều mỏi mệt, với lắm kinh hoàng…

Tự nhiên, Tư Cầu buông thõng tay xuống và mãi đến bây giờ anh ta mới đáp lại lời vợ, giọng lê thê:

– Ờ phải, anh ngủ đây nghen… để mơi còn dậy sớm…

°   °
°

Bác Năm Quắn đang la rầy mấy anh em chểnh mảng trong việc săn sóc vũ khí cá nhân thì Tư Cầu lững thững đi tới:

– Cái gì mà bác la lối om sòm bất nhã vậy bác Năm?

Bác Năm chỉ về đám anh em:

– Đó chú Tư coi, ông nội nào ông nội nấy cũng lo o bế tóc tai mướt rượt để thả lên trên đầu trên xóm dưới mà có mỗi một cái món tùy thân lại bỏ lăn bỏ lóc…

Tư Cầu mỉm cười độ lượng:

– Thì bác… cũng phải châm chế cho anh em nhờ một chút. Anh em họ còn trai thanh niên nheo nhẻo chớ bộ già còng khú đế như tui với bác đâu!

– Chú Tư nói như vậy là … hết chuyện rồi. Anh em mình đây đi đánh giặc chớ bộ… đi o mèo sao!

Tư Cầu day qua phía anh em:

– Tui tuy không… thẳng răng rắc đối với anh em, nhưng bác Năm nói cũng phải đó! vậy anh em mình cũng nên… biết lo một chút.

Đoạn anh ta níu tay bác Năm lôi đi:

– Nè bác Năm, lóng rày có chiếc ghe máy bọc sắt của tây ngoài đồn vô phía ngoài vàm hoài bác tính sao?

Bác Năm gật gù:

– Qua cũng tính bàn với chú về chuyện đó… Nó vô hoài thì mình… rẳng nó chớ sao! Bây giờ mình cũng đông dân chớ có lèo tèo năm sáu nhơn nữa đâu!

Tư Cầu có vẻ thắc mắc:

– Nhưng tui nghe nói hổng có tây u gì hết mà! Toàn là người mình và do một ông cũng người mình chỉ huy, với lại họ cũng không bố ráp khuấy phá gì tới bà con cô bác ở ngoải hết…

Bác Năm cười khan:

– Chú Tư nghĩ như vậy là… nhơn đức lắm! Nhưng theo… binh pháp chiến thuật chiến lược gì đó, mà qua có… nghe lỏm quọt quẹt được thì nếu địch không làm hùm làm hổ mà cứ rị mọ… bắt bồ với bà con cô bác nơi vùng mình ở là… chí nguy đó chú Tư! Gặp cái điệu nầy mình phải quánh liền chớ hổng nói on đơ gì nữa hết!

Tư Cầu thở dài:

– Tui cũng biết như vậy… Ờ quánh thì quánh!

Bác Năm tỏ vẻ ngạc nhiên:

– Quánh gì mà… xụi lơ vậy?

Tư Cầu chưa kip trả lời thì bác lại cười xòa nói tiếp:

– Thôi qua biết rồi! Chắc thiếm Tư ở nhà cận ngày nằm chỗ nên chú… ngại chuyện bắn giết chớ gì!

Tư Cầu cười theo rồi trả lời một cách lơ lửng:

– Ờ, con vợ tui nằm chỗ trong tháng nầy đó bác… Bác nầy thiệt nhớ dai đa!

Bác Năm Quắn nheo mắt nhìn Tư Cầu:

– Mà qua nói như hồi nãy… nghĩa là chú Tư nghĩ đến chuyện sanh nở của thiếm ở nhà nên… ngại việc súng đạn phải hông ? Có trúng tim đen chú Tư không nè?

Tư Cầu cười giả lả:

– Thì… cũng có chút đỉnh như vậy… nhưng nếu phải chuyện thì tui vẫn “mần” như thường chớ hơi sức đâu mà ngán đó bác!

Đến đây, anh ta nghiêm giọng hỏi liền tới:

– Sao, bây giờ mình tính… chuyện đó như thế nào?

Bác Năm đưa mắt dò xét Tư Cầu rồi huỡn đãi đáp:

– Dễ mà chú Tư! Anh em mình cứ việc kích sẵn chỗ tụi nó hay vô đó thì… ăn tiền. Qua bảo đảm chắc với chú Tư hễ ghe máy của tụi nó cập bến thì… bà cứu tụi nó bây giờ cũng hổng khỏi!

Tư Cầu có vẻ trầm ngâm:

– Nhưng sau đó, chắc anh em mình phải… cuốn gói dông cho gấp khỏi vùng nầy chớ hông thôi binh ôn thần tướng của tụi nó ở ngoài chợ kéo rốc vô thì mình chịu đời gì thấu. Cha, phải chi anh em mình được nhiều nhiều một chút để chận hết mấy ngả vô thì tui chấp tụi nó hết thẩy!

Bác Năm vui vẻ đáp:

– Đã đành như vậy rồi! Nhưng mình có ít xài theo ít, và cố nhiên là phải dông đi liền qua miệt giồâng Thường Lạc thì bà nội nó kiếm cũng hổng ra, rồi mình đợi cho yên yên bò dìa ở như cũ.

Tư Cầu gật đầu:

– Thì chỉ có nước đó. Tối nay mình cắt đặt và dặn dò anh em trước và bắt đầu ngày mai là mình kích sẵn hễ ghe máy ngoài đồn vô là mần liền.

Bác Năm vói tay bẻ một nhánh tre khô nhỏ vạch vẽ dưới đất:

– Đây chú Tư, qua tính anh em mình “nằm” như vầy có được hông?

Tư Cầu nghiêng đầu nhìn xuống:

– Thì phải như vậy rồi.. nhưng rủi hai ba ngày liền tụi nó hổng vô nữa, anh em mình tính làm sao? Rủi có thằng chết bầm nào nó đi mạch bậy cái là anh em mình… mệt ứ hơi đa!

Giọng bác Năm trở nên quả quyết:

– Vô mà! Qua dò chắc rồi, tụi nó vô đều đều để đốc thúc mấy ông hương chức hội tề mới lãnh… áo mão đây nè! Chú Tư đừng lo mình đặt liên lạc đều trời hết, hễ có rục rịch gì khác là anh em họ cho mình hay liền mà!

Tư Cầu liếc xéo bác Năm rồi hỏi đùa:

– Bác có… xủ quẻ chưa mà tui coi bộ bác nói ăn chắc quá vậy?

Bác Năm cười rộ lên rồi nghiêm giọng lại đáp:

– Có. Qua bói thì hổng sai chạy đi đâu được. Nói nào ngay cũng nhờ qua… có biết chút đỉnh về môn đó nên từ trước tới nay, qua gặp biết bao trận dữ dằn lắm mà cũng.. bình yên hết.

Tư Cầu bỗng nhớ trực đến lời của mẹ vợ nên hỏi bác Năm luôn:

– À, tui nghe nói năm nay tui… hơi kỵ, như vậy bác coi có sao hông?

Bác Năm nhíu mày tính lẩm nhẩm rồi đáp:

– Thiệt ra thì có kỵ đó. Nhưng cái quẻ của qua thì tốt lắm thế nào mình cũng thắng… Mà muốn chắc bụng, hôm đó chú Tư… đứng dang ra giữ mặt hậu đi, còn để qua trấn ở mặt tiền…

Đoạn bác vỗ vai Tư Cầu tươi cười nói tiếp:

– Thôi để qua một trận nầy rồi chú Tư dìa bên nhà lo than củi trước cho nó… kịp nghen chú Tư!

Tư Cầu có vẻ mắc cở:

– Ối, dìa trước nghe… đàn bà đau bụng đẻ nhức mình nhức mẩy lắm, bác à!

°   °
°

Trời hãy còn tối mò, Tư Cầu và anh em đã có mặt sẵn tại chỗ “kích” và người nào người nấy cũng đã túc trực nơi vị trí của mình.

Tiếng gà trong xóm đua nhau gáy dồn. Vài người trong xóm đã bắt đầu bơi xuồng vô đồng thăm mấy giàn câu…

Sương khuya đọng lại trên mấy tàu lá chuối rơi lộp bộp mỗi lúc có gió sớm thổi đong đưa.

Tự nhiên, Tư Cầu thấy ớn lạnh. Anh ta đưa tay quấn chặt lại chiếc khăn tắm quàng nơi cổ, dụi mắt liền mấy cái rồi khều bác Năm hỏi nhỏ:

– Cha, sao con mắt tui giựt quá bác Năm à!

– Giựt bên nào?

– Bên mặt nè.

– Cái nầy cũng… tùy người, chắc tại hồi hôm chú trằn trọc ngủ không được nên xốn con mắt mới sanh ra vậy.

Tư Cầu đáp giọng xụi lơ:

– Chắc vậy…

Bác Năm chẳng nói chẳng rằng dơ tay bứt đại một nhánh cây de ra ngang chỗ bác đứng rồi chăm chú đưa mấy ngón tay mò đếm từng nấc lá của nhánh cây…

Tư Cầu thấy thoáng qua nên tò mò hỏi:

– Bác làm cái gì vậy bác Năm?

Bác không trả lời ngay mà vẫn im lặng tẩn mẩn đếm đi đếm lại mấy chiếc lá và mãi một lát sau bác mới đáp:

– Qua bói lá cây chú Tư à!

Tư Cầu cười thành tiếng:

– Ý trời ơi, có cái gì đâu mà bác phải… bói chớ! Mà bác bói làm sao đó!

Bác Năm chậm rãi trả lời:

– Qua cũng hơi hồ nghi trong bụng nên bói thử một quẻ xem sao… Chú Tư hổng biết chớ cái môn bói lá cây nầy coi lơ mơ vậy mà cũng trúng lắm, qua đã nghiệm nó mấy lần rồi.

Tư Cầu rụt rè nói:

– Vậy hả? Mà bác thấy… trong quẻ bói lá cây mới rồi đó ra làm sao?… Có tốt hông bác?

Bác Năm gật gù rồi trịnh trọng đáp:

– Theo như quẻ đã ứng thì cái trận nầy mình… nằm ngủ bây giờ cũng thành công nữa! Đúng như vậy, thế nào mình cũng thắng… Nhưng sao lại có một chỗ hơi… trục trặc…

Tư Cầu cười xòa:

– Thắng mà… trục trặc sao lại… tréo ngoe như vậy bác?

Bác Năm chắc lưỡi:

– Ậy, quẻ nó ứng như vậy thì mình cũng… biết vậy! Qua thấy sao lạ quá nên tự nãy giờ qua tính lung lắm mà tìm không ra lời giải…

Tư Cầu vui vẻ nói gạt ngang:

– Mà thôi, miễn thắng là được rồi! Bây giờ bác phải lo sao cho mấy tay liên lạc mần ăn cho nhặm lẹ lút ga thì mới ăn chắc được. Phần mấy anh em nằm cản mặt hậu phòng khi bất trắc thì tui đã sắp đặt đâu đó đàng hoàng hết rồi. Tui để thằng Mãnh trông coi mặt đó cũng được, phần tui, tui sẽ ở luôn đây với bác…

Bác Năm chận lời Tư Cầu liền:

– Thôi chú Tư. Chú để một mình qua trấn tại đây cũng đủ… ăn xài lớn với tụi nó rồi. Chú đi dìa mặt sau đi.

– Trời ơi, bác đẩy tui dìa chỗ… dưỡng già thì buồn chết!

Bác Năm hạ thấp giọng xuống như có vẻ khẩn cầu:

– Chú chỉ huy mà chú Tư! Chú cứ đứng ở trỏng đi rồi có cái gì qua sẽ cho liên lạc vô hỏi chú liền và nếu tụi ngoài nầy… ba trật bốn vuột thì có đám của chú nhào ra… bề gì có chú đứng chận ở mặt đó qua mới vững bụng hơn.

Tư Cầu vừa cười vừa vỗ vai bác Năm:

– Bác làm khó tui đó nghen!

Bác Năm níu nhẹ lấy cánh tay Tư Cầu dắt đi cho khuất mấy chỗ anh em đang “kích” rồi thủ thỉ nói:

– Chú Tư, qua biết chú… phiền qua lắm, nhưng thiệt tình ra thì qua nghĩ đến cái quẻ hồi nãy nhiều lắm nên qua mới dẫn chú Tư ra chỗ nầy, chớ ở trỏng rủi anh em họ nghe lọt mấy thứ chuyện nầy thì… không tiện.

Tư Cầu gật đầu:

– Bác nói phải. Tui đây cũng không ưa mấy thứ chuyện coi thầy coi bà bá vơ bá láp đó. Mình đánh giặc mà bác!

Bác Năm ngập ngừng đáp:

– Đối với mấy anh em nhỏ thì qua hổng dám nói gì hết thiệt, nhưng đối với chú Tư… qua phải nói thẳng: dầu sao chú cũng nên… gìn giữ một chút, năm nay cái tuổi của chú đó… đen còn hơn lọ nồi nữa!

Tư Cầu cười mũi:

– Nói như bác vậy thì năm nay tui chỉ có nước nằm xuôi cò ở nhà chớ đừng nên nhúc nhích cục cựa gì hết phải không?

Bác Năm chắc lưỡi:

– Đâu phải vậy! Mình biết như vậy để mình tính toán cho kỹ, giữ gìn cho gắt mỗi khi bắt tay vô một việc gì. Nhưng dầu sao cũng có những… thứ khác chẳng hạn như mình có quới nhơn độ mạng hay là kiếp trước mình khéo ăn hiền ở lành…

– Thời buổi bây giờ mà bác nói mấy thứ chuyện đó nghe mệt quá!

Bác Năm xô nhẹ Tư Cầu đi tới:

– Hổng ai ép chú tin nhưng…. (đến đây, bác hạ thấp hẳn giọng xuống)… còn có một điều nầy nữa… chú Tư bộ quên rằng thiếm sắp nằm chỗ đến nơi sao! Thôi chú Tư vô trỏng lo đỡ cái mặt hậu đó cho anh em đi!

Tư Cầu “ờ’ một tiếng không mấy hăng hái rồi thẫn thờ bước về phía trong xóm…

Trời tờ mờ sáng…

Tư Cầu đứng dựa lưng vào một gốc ô-môi gần bờ kinh ngó mông về phía ngoài vàm. Anh ta hút thuốc liên miên, điếu nầy nối đuôi điếu kia. Hai chân anh ta đổi kiểu đứng liền liền và bàn tay còn rảnh thì quơ đập lia lịa đám bù mắt đang bu cắn…

Anh em đứng gần đó nhìn thấy dáng điệu Tư Cầu như vậy, người nào người nấy cũng nín khe và hồi hộp nghe ngóng…

Bỗng những tiếng súng nổ như khua lộn cả không khí còn mù sương buổi sáng.

Tư Cầu thở ra quăng mạnh điếu thuốc đang hút dở rồi day qua cười nói với anh em:

– Đụng rồi đó mấy cha!

Không một ai lên tiếng trả lời.

Tư Cầu cầm khẩu các-bin lên chạy thẳng xuống phía cây cầu ván bắc de ra ngoài mặt kinh.

Súng đủ cỡ nở rộ lên một hồi, và độ mười phút sau Tư Cầu chỉ còn nghe có lác đác một vài tiếng.

Tư Cầu cau có lẩm bẩm chửi thề một mình:

– Bộ mấy thằng liên lạc mắc toi ngủ gục hết, hay chui vào xó nào rồi sao mà!

Anh ta vừa nói dứt lời thì đã thấy một thanh niên bơi xuồng rẽ nước lướt tới nghe ồ ồ…

Tư Cầu thở phào ra một hơi rồi nhón chân đưa tay ngoắc lia:

– Dữ hông ! Mau mau đi cha nội!

… Anh liên lạc chưa kịp cặp xuồng vô là Tư Cầu hỏi liền:

– Sao em? Êm hết chớ ?

Anh liên lạc cắm dầm cho xuồng khỏi trôi đi rồi nhảy phóc lên cầu, vui vẻ trả lời:

– Thì… êm chớ sao anh Tư!

Tư Cầu nắm lấy tay anh ta lắc lắc:

– Êm… ra làm sao? Em nói rõ một chút coi!

Anh liên lạc vênh mặt lên:

– Thì êm là… mình thắng hoàn toàn. Cú nầy anh em mình “no” nghen. Tụi nó xụm gần hết… Bác Năm kêu tui vô cho anh hay…

– Sao bác và anh em chưa theo em vô luôn?

– Anh em còn phải ở nán lại để tốp thì lục lọi ba cái tụi chạy trốn trong mấy đám sậy, tốp thì lặn xuống kinh mò vớt súng ống…

Tư Cầu bước ngay xuống xuồng và hối anh liên lạc:

– Thôi em bơi đưa qua rút ra ngoải coi! (đoạn anh ta day qua nói vọng lên bờ) Mấy anh dìa trước và lo chuẩn bị mấy chiếc xuồng cho sẵn hết đi nghen! Tui ra ngoài bác Năm một chút!

°   °
°

Thấy Tư Cầu ra tới, bác Năm Quắn nhăn nhó cự nự anh liên lạc:

– Sao tao dặn mầy nói chú Tư ở trỏng đợi tao vô mà mầy quên hổng nói hả?

Tư Cầu vội đỡ lời anh liên lạc:

– Tại tui nóng lòng muốn ra đây mà bác! Sao bác, xong hết rồi hả? Anh em mình có ai hề hấn gì không?

Bác Năm chỉ về phía một xác chết nằm dưới gốc cây trên phủ bằng một chiếc chiếu bông cũ:

– Chỉ có thằng Ba Nhỏ… tại nó ẩu quá mà chú Tư.

Tư Cầu bước lại hé dở manh chiếu lên, thở dài:

– Tội nghiệp thằng nhỏ! Nó còn trẻ tuổi quá!… Má nó gởi nó cho tui, bây giờ nó… như vầy, tui biết ăn nói với má nó sao đây?

Đoạn day qua bác Năm, Tư Cầu hỏi thêm:

– Có một mình thằng Ba Nhỏ không thôi hả bác Năm?

– Ờ, ngoài ra đôi ba anh em khác… trầy trụa chút đỉnh thôi, còn tụi nó thì rụm gần hết, thằng chỉ huy thì chưa tìm thấy xác, chắc nó lủi vô đám ô-rô cốc kèn hay lau sậy gì trốn mất rồi. Thôi chú Tư cho anh em lui lần vô miệt trong sâu đi chớ hông thôi tụi nó vô tới bên đít bây giờ nghen!

Vừa lúc ấy có tiếng lao xao nơi phía sau ruộng, rồi có người reo lên:

– Bắt được thằng quan một người mình rồi anh em ơi!

Cả bác Năm lẫn Tư Cầu đều vội nhìn vô. Hai thanh niên đang áp giải viên sĩ quan tù binh trờ tới. Bộ quân phục trận mạc của người nầy lấm lem bùn đất và ông ta đang thất thểu đi tới, một tay ôm lấy bả vai bê bết máu.

Bác Năm đứng chống nạnh hất hàm hỏi anh đội viên:

– Dẫn cha nội nầy dìa đây làm gì vậy? Bộ mấy em tính chở nó theo để nuôi cơm hả? Sao hổng cho thằng chả một phát cho rồi.

Nghe bác Năm nói như thế, viên thiếu úy tù binh bước mau tới và lên tiếâng hỏi:

– Xin cho tôi biết ở đây ai là chỉ huy?

Tư Cầu hỏi lại:

– Chi vậy?

– Tôi muốn… mấy ông đưa tôi về giáp mặt với thượng cấp của mấy ông…

Tư Cầu cười xòa:

– Ở đây hổng có ai là… thượng cấp hết, ở đây anh em với nhau không hè!

Viên thiếu úy có vẻ chán nản:

– Tôi tưởng binh đội nào cũng có cấp chỉ huy chớ!

Tư Cầu nhún vai :

– Tụi nầy… vậy đó!

Viên thiếu úy cau mày, hết nhìn bác Năm đến Tư Cầu rồi ấp úng hỏi nữa:

– Chắc một trong hai… ông đây là người chỉ huy đám quân nầy phải không?

Bác Năm gầm gừ bước xích tới:

– Mà ông hỏi chi hỏi hoài vậy hả?

– Tôi cần biết ai là người chỉ huy để thỉnh cầu một điều nầy…

Tư Cầu chận ngang:

– Đâu ông muốn… thỉnh cái gì đó thì ông nói phứt đi coi nghe có được hông?

Viên thiếu úy quay sang phía Tư Cầu:

– Tôi xin mấy ông áp dụng đúng đắn luật lệ tù binh và dẫn tôi về trình với thượng cấp của quý ông…

Bác Năm khều Tư Cầu :

– Thằng cha nầy lộn xộn quá chú Tư! Chú cho anh em… tiêu thằng chả cho rồi để mình còn khơi sớm chớ hông thôi tụi nó vô tới bên đít bây giờ!

Viên thiếu úy hấp tấp buông tay giữ vết thương, nắm lấy tay Tư Cầu lắc lắc và hốt hoảng kêu lên:

– Ông, ông… chắc ông chỉ huy ở đây hả? Xin ông nói với mấy… anh em nầy tôn trọng luật lệ tù binh…

Tư Cầu nhẹ gỡ tay của ông ta xuống và vừa ngó bác Năm vừa đáp:

– Ở đây, cái gì… phải thì làm, chớ hổng có luật lệ gì ráo…

Muốn không để cho viên thiếu úy kỳ kèo gì thêm nữa, bác Năm liền lên tiếng hối thúc Tư Cầu:

– Thôi mà chú Tư! Hơi sức đâu chú ở đó nghe thằng chả nói trời nói đất hổng biết! Anh em mình rủi lọt vào tay mấy chả thì có đòi nầy đòi nọ hông!

Tư Cầu nhìn viên thiếu úy lắc đầu:

– Đó ông coi, thiệt tình thì dầu tụi tui có muốn dẫn ông cho làm tù binh cũng hổng được. Lát nữa bên ông kéo vô ruồng bố lung tung tụi nầy chỉ lo chạy thục mạng còn ai đâu mà lo giữ ông. Đó là tui chưa nói đến mấy cha nội V.M hay phe phái khác còn chực sẵn để nhảy vô… ăn có tụi nầy nữa…

Nghe vậy, bác Năm chêm vô luôn thêm một câu:

– Anh em thâu dọn xong xuôi hết rồi chú Tư và chỉ chờ chú ra lịnh…

Tư Cầu thở dài bước ra chỗ khác rồi quay lại nói trống không:

– Anh em… lo cho xong hết mau mau đi!

Nói xong, Tư Cầu bỏ đi xuống mé kinh.

Bỗng một đội viên hấp tấp chạy xuống cầm đưa cho Tư Cầu một chiếc bóp da:

– Bác Năm biểu tui đem xuống đưa trình anh cái bóp của ông quan một đó… (thấy Tư Cầu nhướng mắt lên có ý ngạc nhiên, anh nọ nói tiếp)… Dạ, ở trỏng có tiền khá bộn.

Tư Cầu cầm lấy chiếc bóp làm bằng một thứ da mắc tiền mềm dịu, mở ra. Anh ta bỗng chú ý đến một tấm ảnh khổ 6×9 lồng dưới một miếng mi-ca trong suốt. Trong bức ảnh có hình của một thiếu phụ trẻ đẹp và hai đứa bé gái xinh xắn.

Tư Cầu nhíu mày nhìn kỹ những gương mặt tươi cười trong ảnh. Anh ta mím môi có vẻ suy nghĩ lung lắm rồi hấp tấp hỏi anh đội viên:

– Thằng cha quan một đó bây giờ ở đâu hả?

Anh đội viên thản nhiên đáp:

– Dạ, mấy anh em dắt ổng ra mé sau ruộng rồi, chỗ đó hơi khuất một chút… phần ông một đó ổng cự nự quá trời…

Tư Cầu vội vã xô anh đó chạy trở lên:

– Em dông lên nói với anh em khoan… làm gì hết nghen! Để qua lên rồi hãy tính!

Anh đội viên định hỏi lại nhưng thấy Tư Cầu quắc mắt một cách thật dữ dội nên đành vừa chạy rút đi, vừa kêu réo vọng lên:

– Khoan, khoan ! Để ông một lại đó, anh em ơi!

Độ nửa phút sau, bác Năm đích thân dẫn viên thiếu úy xuống cùng với một số anh em khác. Gặp mặt Tư Cầu, bác cau mày hỏi liền:

– Gì vậy nữa chú Tư?

Tư Cầu ngó xuống đất:

– Tui tính… mình nên thả thằng chả cho rồi…

Bác Năm trợn mắt:

– Chú nói giỡn sao chớ! Đến cái việc mình bắt thằng chả theo cũng còn hổng được nữa thay, huống hồ gì chú tính thả thằng chả đi! Bộ ngày nào mình cũng vớt được một .. trự có gạch vàng như vậy sao?

Tư Cầu mở banh bóp ra rụt rè trao cho bác Năm xem tấm ảnh:

– Tui cũng biết vậy, nhưng bác ngó vô tấm hình nầy coi… Tui nghĩ ông nầy (Tư Cầu hất hàm chỉ về phía viên thiếu úy)… còn vợ trẻ con thơ nheo nhóc ở nhà…

Bác Năm cười khan:

– Vậy chớ ở đây anh em mình hổng ai có vợ con gì hết sao? Mà ai biểu thằng chả theo Tây?

Viên thiếu úy vội lên tếng:

– Tôi ở vào cái thế… kẹt. Hồi nãy tôi có nghe ông nầy nói (ông ta chỉ vào Tư Cầu) mấy ông cũng… kẹt như tôi, nhưng biết sao, tôi rủi ro bị đổi về đây và gặp mấy ông trong một hoàn cảnh như vậy… Tôi cũng muốn nuớc nhà mình độc lập…

Bác Năm chép miệng:

– Cha nội nào cũng khoe là mình xếp bót về cái chuyện độc lập hết mà rốt cuộc… đập lộn nhau thiếu điều không còn miếng da mẹ đẻ! Thiệt nghe mấy cha nội riết tui cũng hết biết đâu mà rờ…

Nghe bác Năm hơi dịu gọng, viên thiếu úy mạnh dạn nói thêm:

– Mấy ông muốn biểu làm sao thì biểu, chớ thật tình thì tôi… như vậy đó! Nhưng rủi một việc nữa là tôi lại thuộc vào hạng người cầm súng nên có lúc cũng … khó ăn khó nói quá!

Tư Cầu cười nói chen vô:

– Thì tụi nầy cũng cầm súng vậy! Có điều là tụi nầy hổng có ưa thực dân thì… đánh giặc chơi. Mai kia mốt nọ đâu đó bình yên hết rồi thì tụi nầy cũng rã đám dìa cầm cày cầm cuốc trở lại chớ làm vương làm tướng gì!

Viên thiếu úy cúi đầu thở dài:

– Mấy ông có phước hơn tôi là ở chỗ đó!

Tư Cầu lại cười to:

– Thôi đi cha!

Bác Năm sốt ruột tằng hắng một tiếâng rồi hỏi lại Tư Cầu:

– Bây giờ chú Tư tính sao đây? Chẳng lẽ anh em mình cứ đứng đây nói chuyện năm trên năm dưới hoài với ổng để chờ… tây vô nó xúc hết cả bọn!

Tư Cầu mím môi cúi xuống nhìn bức ảnh trong bóp còn cầm nơi tay, rồi ngước lên hỏi viên thiếu úy:

– Bộ hình vợ con của ông đây hả?

– Phải.

– Có nội bây nhiêu đây thôi hay là còn nữa?

Giọng viên thiếu úy trở nên bùi ngùi:

-Tôi mới được hai đứa con gái như ông thấy trong hình đó, và cũng sắp có thêm một đứa nữa… Kỳ nầy, chúng tôi đều ao ước sanh một đứa con trai… (ông ta nhìn Tư Cầu cố gắng gượng cười nhưng mắt chớp lia) Vợ tôi ham một đứa con trai lắm nhưng chuyếân nầy, dầu trai hay gái thì cũng phải đành… mở mắt chào đời trong cảnh… mồ côi rồi!

Tư Cầu nuốt nước miếng và thấy cổ như khô lại:

– Vậy hả… Tội nghiệp quá há! Tháng này con vợ tui nó cũng …

Tư Cầu kịp ngừng lời ngay chỗ đó và đưa mắt rụt rè nhìn bác Năm. Bác Năm nhăn mặt như cắn phải ớt, nhưng rồi lại lắc đầu thở ra một hơi dài. Giọng bác đã không còn gay gắt mà trở nên trầm trầm:

– Thôi chú Tư có tính gì đó thì tính phứt đi.

Tư Cầu tươi hẳn mặt lên:

– Tui tính mình thả ông quan một nầy dìa cho rồi. Thêm người chết nữa, anh em mình cũng chẳng lợi lộc gì mà để khổ cho vợ con người ta. Vợ ổng cũng gần ngày sanh… Mình cũng nên để phước dìa sau…

Một đội viên đứng gần đó, ý chừng còn bực mình vì vết thương nơi da đầu mới lãnh trong trận vừa rồi nên lớn tiếng nói chen vô:

– Ý trời ơi, sao anh tính thả thằng chả chi cho uổng vậy anh Tư! Vợ thằng chả có gần sanh gần đẻ thì ăn thua gì đến cái chuyện đánh giặc đánh giã nầy chớ!

Tư Cầu vừa hất mạnh khẩu súng mang trên vai cho đứng ngay lại vừa quay phắt sang phía anh đội viên, mắt lườm lườm:

– Ăn thua gì không, thì tao hổng cần biết đách gì hết! Tao thả người ta là tao… thả vậy thôi!

Bác Năm vội bước đến níu lấy tay anh đội viên xô nhẹ đi tới:

– Thôi đi chú mầy! Chú mầy hổng lo băng bó còn đứng xớ rớ ở đây làm chi nữa! Việc nầy trên có chú Tư, dưới có qua định liệu là đủ lắm rồi, chú mầy còn xía vô làm gì nữa hả?

Anh đội viên đành lủi thủi bước thẳng xuống mé kinh…

Bác Năm đi lại gần viên thiếu úy và nghiêm giọng bảo:

– Thôi, ông đi dìa đi… chắc ông biết đường chớ!

Viên thiếu úy mở to mắt nhìn bác rồi nhìn Tư Cầu và lấp bấp hỏi lại :

– Bộ… mấy ông… thả tôi thiệt sao?

Tư Cầu khẽ gật đầu. Bác Năm nói thêm:

– Tui nầy đâu có nói giỡn đó ông! Ông cứ đàng hoàng ra dìa hổng ai làm gì đâu mà ông sợ. Như vậy để cho ông có dịp thấy rằng tụi nầy tuy không cần biết luật lệ tù binh khỉ gì hết mà vẫn… bảnh như thường!

Viên thiếu úy nghẹn ngào đáp:

– Tôi biết … tôi dư biết rồi. Thật tôi may mắn lắm mới được… gặp mấy ông…

Bác Năm bỗng cười xòa:

– Thôi ráng dìa lo săn sóc vết thương đi rồi… còn gặp tụi nầy nữa! Mà lần sau chắc hổng được may mắn hoài hoài như vầy nữa đâu nghen! (liếc xéo Tư Cầu, bác Năm ỡm ờ nói tiếp) Ông hổng biết chớ cái may… bự bằng chiếc đệm của ông là ở chỗ bà một ở nhà gần ngày nằm chỗ đó, ông dìa ráng lo o bế nưng niu bả cho gắt đó nghen ông!

Tư Cầu cười tủm tỉm trong lúc viên thiếu úy tuy không hiểu gì nhưng cũng lên tiếng cám ơn rối rít hai người :

– Thật tôi không bao giờ dám quên ơn hai ông và tất cả anh em ở đây…

Tư Cầu gấp cái bóp lại trịnh trọng trao trả cho ông ta:

– Đây tui trả lại ông.

Viên thiếu úy cung kính đỡ lấy:

– Cám ơn…

Tư Cầu mỉm cười gạt ngang:

– Ối chút đỉnh mà ơn nghĩa khỉ gì!

Viên thiếu úy mở bóp móc xấp giấy bạc ra, khép nép nói:

– Cái nầy là do lòng thành của tôi: tôi xin gởi số tiền mọn gọi là để… ủy lạo anh em ở đây…

Tư Cầu ngó bác Năm :

– Ý trời, ủy lạo… ngược nè bác! Đó, bác tính sao thì tính.

Bác Năm gãi đầu:

– Thì… ông một ổng có lòng thành…

Tư Cầu cầm lấy xấp bạc trao cho bác Năm rồi quay lại viên thiếu úy:

– Thôi bây giờ… đâu đó xong xuôi hết rồi, mạnh ông, ông đi, mạnh tụi nầy, tụi nầy dông… đường ai nấy theo nghen!

Tư Cầu dơ tay ngoắc anh em rồi xoay lưng đi xuống mé kinh.

Bỗng viên thiếu úy chạy theo níu lấy tay Tư Cầu. Ông ta chưa kịp nói gì thì bác Năm thấy vậy đã vội vàng bước lại hỏi chận liền:

– Gì nữa đó ông nội? Tụi nầy hổng có dư thì giờ nghen!

Viên thiếu úy gượng cười:

– Tôi chỉ xin hỏi ông nầy một việc… riêng.

Tư Cầu nhíu mày:

– Việc riêng?

– Không dám nào ông cho tôi biết… quý danh…

Tư Cầu hơi mỉm cười:

– Ông này sao ăn nói kiểâu cọ quá… mà ông hỏi tên tui làm chi vậy! Để dễ… tóm cổ sau nầy hả?

Viên thiếu úy lắc đầu lia lịa:

– Tôi đâu có đến nỗi quá tệ như vậy! Sở dĩ tôi muốn biết quý danh của ông là để mai mốt gì đây, một khi đứa con thứ ba của tôi ra chào đời xin ông cho tôi được phép dùng quý danh để đặt tên lót cho nó…

Tư Cầu thở ra:

– Ý thôi đi, ông nầy sao rắc rối tổ mẹ! Tên với họ gì cho nó lộn xộn thêm nữa hổng biết!

Viên thiếu úy nắm lấy Tư Cầu, giọng tha thiết:

– Tôi muốn xin ông thêm một đặc ân đó. Tôi muốn rằng mãi mãi về sau nầy, con tôi sẽ ghi nhớ và kể lại cho mọi người khác nghe rằng, sở dĩ nó có một cái may mắn tột cùng tránh khỏi được cái số phận mồ côi cha trong bụng mẹ nó là nhờ một người mà tôn danh còn lưu lại trên cái tên lót đó.

Tư Cầu có vẻ cảm động, nhưng cũng ráng cười nói đùa:

– Thôi, tui cũng… ăn ở cho trót với ông. Tui tên Cầu, nhưng nếu bà một sanh con trai thì lấy chữ Cầu đặt tên lót được, chớ nếu sanh con gái thì … lót chữ ấy nghe trúc trắc lắm!

Viên thiếu úy ngậm ngùi đáp:

– Dạ, chỉ có bấy nhiêu thôi…

Tư Cầu giơ tay ra dấu hối ông ta đi:

– Ờ nếu xong hết thì mạnh ai nấy dông. Nè, ông nhớ lội ra phía sau ruộng rồi nhắm hướng đó dìa thẳng tới Hồng Ngự, chớ ông đừng thả lang bang trong xóm… hổng nên đa!

Viên thiếu úy có vẻ bịn rịn:

– Không biết đến bao giờ tôi mới có dịp gặp lại mấy ông…

Bác Năm nhăn mặt nói chen vô:

– Ý thôi, cái chuyện đó cho tui xin đứt đi! Mệt lắm!

Tư Cầu gật gù tiếp lời bác Năm:

– Ông dìa chuyến nầy nên… xin đổi đi chỗ khác, chớ ông lẩn quẩn ở đây thế nào cũng… gặp nhau, mà như vậy là khó ăn khó nói lắm!

Bỗng bác Năm vừa nghển cổ lên nghe ngóng, vừa giơ tay ra hiệu bảo im:

– Tây nó bắt đầu vô tới rồi nghen anh em! Có tiếng tàu chạy xình xịch ngoài sông cái, đúng rồi, nước lớn nên mình nghe rõ lắm!

Tư Cầu liền ra lịnh:

– Anh em mạnh ai nấy xuống xuồng bơi rút vô trong ngọn đi!

Bác Năm cũng vội chạy đi đốc thúc anh em.

Tư Cầu quay lại nhìn viên thiếu úy:

– Thôi, tui cũng xin kiếu ông.

Giọng viên thiếu úy trở nên nghẹn ngào:

– Mấy ông đi cho được … bình yên… mạnh giỏi!

Tư Cầu mỉm cười dơ tay vẫy chào:

– Ông dìa mạnh giỏi! Nhớ nói với bà Một ráng sanh con trai đó nghen!

Nói xong Tư Cầu quày quả rảo bước đi xuống mé kinh.

Trong lúc ấy, tiếng súng bắt đầu nổ. Bên ngoài sông cái, tàu Tây đã vô tới và đang cho ria đạn để dọn đường. Vài trái moọc-chê đã lác đác rơi nổ ành ành hai bên bờ kinh.

Viên thiếu úy đứng xớ rớ ở đó một chút rồi cũng vội vàng chạy ra phía mé ruộng…

Bỗng có tiếng chân chạy thình thịch rồi tiếp theo tiếng Tư Cầu réo gọi xen lẫn với tiếng đạn súng cối nổ ầm ì:

– Ê, ông Một!

Viên thiếu úy vội quay phắt lại và vừa lúc ấy Tư Cầu cũng vừa hớt hải chạy đuổi theo, tay cầm bộ áo quần bà ba cũ cuộn tròn lại .

Viên thiếu úy lo lắng hỏi liền:

– Sao ông không lo cho anh em rút đi gấp mà còn quay trở lên đây?

Tư Cầu hấp tấp đáp:

– Rút hết trơn rồi. Đây, tui chạy vụt lên để đưa cho ông bộ quần áo nầy để bận thay vào bộ trây-di kia. Tui sợ ông đi làng chàng gặp mấy cha nội khác họ… bắt lại thì … uổng cái công tụi nầy thả ông quá!

Viên thiếu úy cầm chặt lấy bộ quần áo trong hai bàn tay:

– Cám ơn…

– Thôi, tui… lui nghen!

Dứt lời, Tư Cầu đâm đầu chạy thẳng.

Viên thiếu úy ngùi ngùi ngóng theo hình bóng của một ân nhân mà ông ta khó thể gặp mặt lại nữa được, rồi tần ngần cúi xuống nhìn bộ quần áo đen đang cầm trong tay.

Mấy phát moọc-chê nổ như muốn… bứng luôn mấy khóm tre dày bịt sau xóm. Một số dân quê hớt hải chạy túa ra phía sau ruộng để tìm chỗ núp trốn. Viên thiếu úy vội lủi vào một đám sậy gần đó để thay đổi quần áo…

Thấy Tư Cầu vừa ló mặt ra khỏi mấy bụi chuối, anh đội viên ngời đợi dưới xuồng vội cầm dầm lên và gọi to:

– Mau mau đi anh Tư ơi, tụi nó đổ bộ ngoài mé sông cái rồi!

Tư Cầu vừa chạy rút xuống, vừa đáp:

– Qua tới đây nè!

Bỗng một tiếng nổ đinh tai điếc óc làm văng đất lên tứ tung… Tư Cầu chưa kịp nhào xuống tránh là đưa tay ôm lấy một bên ngực, buột miệng chửi thề lớn lên:

– Đ.m. trúng tao rồi Tám ơi.

Anh Tám (tên đội viên ngồi đợi dưới xuồng) đang nằm mọp xuống khoang để núp đạn nghe tiếng gọi thất thanh của Tư Cầu vội ngẩng đầu lên…

Anh Tám thấy Tư Cầu một tay giữ ngực, một tay nắm lấy một tàu lá chuối rủ xuống để gượng lại cho khỏi ngã.

Tư Cầu cố nhoai người tới để bước đi nhưng tàu lá chuối vì bị trì xuống quá nặng nên tróc tuột dọc theo bẹ, khiến cho anh ta té chúi nhủi về phía trước.

Anh Tám vội quăng dầm chạy lên nâng Tư Cầu dậy:

– Có sao không anh Tư?

Tư Cầu nhăn nhó rút bàn tay đang ôm một bên ngục giơ ra trước mặt: bàn tay ấy dính đầy máu. Đạn moọc-chê vẫn được câu vô đều đều như muốn vây quanh lấy hai người rút lui sau cùng ấy…

Tư Cầu day qua, ráng lấy giọng bình thản bảo anh Tám:

– Em lấy khăn tắm quấn đỡ cho qua đi… rồi mình xuống xuồng cho gấp… Đem dùm cây súng cho qua… sao nó nặng chình chịch vậy nè…

Anh Tám lính quýnh làm y lời Tư Cầu, đoạn dìu anh ta đi rút xuống xuồng sau mấy lần vấp ngã…

Đến nơi, Tư Cầu buông người nằm dài lên trên sạp xuồng; anh Tám vội vã níu lấy be xô lần tới, rồi nhảy phóc lên ngồi phía sau lái, quơ lấy dầm bơi ồ ồ…

Tư Cầu lại cất tiếng hỏi:

– Anh em đi trước lâu mau rồi hả em Tám?

– Dạ, lâu lắm. Bây giờ hổng chừng họ đã chống xuồng băng qua ruộng để vọt về phía bên giồng… Dạ, hễ qua tới bển là kể như vững rồi … Anh nhắm anh … có sao hông anh Tư?

– Ờ… chắc hổng sao. Em bơi xăng lên để dìa bển cho kịp… nhờ bác Năm cầm máu dùm…

Anh Tám cắm đầu cắm cổ bơi rút… Tiếng súng như đuổi theo phía sau lưng và dòng kinh bỗng nhiên trở nên vắng tanh, dài mút một cách… dễ sợ vô cùng.

Tư Cầu chợt cựa mình rên nho nhỏ, buông thõng một cánh tay ra ngoài be xuồng. Mấy đầu ngón tay chấm xuống mặt nước và kéo lê thành một lằn dài theo trớn xuồng đi tới.

Anh Tám vội gác dầm bò lên khẽ nhấc cánh tay Tư Cầu để xuôi lại. Anh ta cúi xuống nhìn chỗ băng vết thương và hoảng kinh khi chợt thấy khoảng nước đọng trong khoang xuồng đã biến sang màu đỏ lợt.

Anh ta hớt hải bò rột trở lại chụp lấy dầm lên, cong lưng bơi xuồng đi như lướt trên mặt kinh…

Vô tới đồng rau muống, anh Tám gác dầm lên, chụp lấy sào chống rút đi về phía giồng… và khi anh Tám vừa tới nơi, thì đã thấy bác Năm cùng một số anh em chực sẵn đợi trên bờ. Anh ta hấp tấp kêu lớn lên để báo tin dữ:

– Bác Năm ơi, anh Tư bị thương rồi!

Bác Năm bươn lội đại xuống mé nước:

– Chú Tư bị thương hả? Mà nặng hay nhẹ?

Mũi xuồng vừa lướt tới là bác chụp kéo cập vô bờ và lấp bấp kêu Tư Cầu :

– Chú Tư! Chú Tư… Chú bị thương ra sao đó chú?

Tư Cầu từ từ mở mắt ra, nhăn nhó… nhưng khi nhìn ra bác Năm, anh ta cố gắng nhoẻn miệng cười:

– … Bác Năm !

Bác Năm xem sơ qua chỗ băng và sắc diện của Tư Cầu rồi quay lên kêu réo đám anh em đang đứng bu nghẹt trên bờ:

– Bây đâu! Hai ba đứa gì xuống khiêng chú Tư! Mà nhớ nương nhẹ chớ dừng để động hay lắc chú đó nghen!

Bốn năm anh em dành nhau lội xuống…

Bác Năm kềm sát một bên Tư Cầu:

– Khiêng chú đem để ở chỗ cao ráo, khuất nắng gió ở phía sau cái nhà sàn ngói đó!… Thằng Tám mầy chạy lại xuồng tao lấy gói thuốc đen lên nghen!… Còn đứa nào đó lo đi muợn chiếc chiếu trải sẵn đi!

Bác Năm vừa tháo chiếc khăn tắm ra là chắc lưỡi hỏi Tư Cầu :

– Trời ơi, sao chú để bị… như vầy hả chú Tư?

Nhớ trực lại Tư Cầu cần được nằm yên, bác vội chận liền:

– Thôi chú đừng nói! Để qua hỏi thằng Tám cũng được …

Và trong lúc anh Tám thuật sơ lại trường hợp Tư Cầu bị trúng miểng đạn, bác Năm vừa nghe vừa lui cui lo rịt buộc thuốc cầm máu…

Nhìn sắc mặt xanh lét và đôi mắt mất thần của Tư Cầu, bác Năm lẩm bẩm cằn nhằn một mình:

– Máu chảy gần sạch bách mà cầm đách gì nữa được!

Rồi bác quay sang cự anh Tám:

– Chắc mầy bơi xuồng như rùa bò mới ra nông nỗi nầy! (chợt nhận thấy mình vô lý, bác thở dài rồi chép miệng than thở) Thiệt hễ xểnh tui ra một chút là có chuyện rồi!

Đoạn bác ghé sát xuống mặt Tư Cầu, giọng nửa như oán trách, nửa như xót thương:

– Chú Tư… sao qua nói hoài mà chú hổng chịu nghe!… Chú có thương thiên hạ thì cũng vừa vừa nó…

Tư Cầu cau mày làm bác Năm im bặt, rồi Tư Cầu phều phào nói:

– Bác Năm, làm sao … bác lo chở tui … dìa nhà… cho kịp…

Bác Năm gật đầu lia lịa:

-Được mà! Kịp mà!

Vừa lúc đó, có tiếng lao xao ngoài mé ruộng. Anh Tám vội chạy đi nghe ngóng và khi quay trở lại có dẫn theo cậu bé trạc mười bốn, mười lăm tuổi.

Bác Năm hất hàm hỏi anh Tám:

-Thằng nhỏ nào đó mậy?

Anh Tám nắm tay cậu bé dắt lại gần:

– Dạ, đây là em vợ của anh Tư qua cho ảnh hay… chỉ ở nhà sanh rồi …

Tư Cầu mở choàng mắt ra, nặng nhọc nhấc bàn tay lên một chút để ngoắc cậu bé lại:

– Em Ba qua đó hả… Bộ chị Hai …

Thằng Ba (em vợ Tư Cầu) thấy anh rể kêu tới, nó khóc òa lên, chạy tới quỳ xuống một bên cạnh, rồi nó vừa hít mũi, vừa mếu máo nói:

– Chị Hai sanh rồi anh ơi… Chỉ sanh hồi chiều hôm qua… chỉ biểu em bơi xuồng qua cho anh hay liền… Em kiếm anh lung tung mấy nơi… kế gặp Tây bố và sau đó, em hỏi thăm gần chết, người ta mới chỉ em qua bên nầy… em có dè đâu anh bị… như vậy.

Nét mặt Tư Cầu có vẻ tươi tỉnh lại đôi chút. Anh ta đưa tay ra dấu cho thằng Ba cúi sát mặt xuống:

– Trai hay… gái..

Thằng Ba sốt sắng đáp liền:

– Trai. Chị Hai chỉ mong anh dìa dữ lắm! Đây nè, chỉ có viết thơ kêu em đem qua cho anh (vừa nói, thằng Ba vừa móc túi lấy một tờ giấy gấp làm tư, mở banh ra trao cho anh rể).

Tư Cầu lẩy bẩy cầm lấy lá thơ và tờ giấy run run trên bàn tay đã mỏn sức. Anh ta nhăn mặt, chớp mắt liền mấy cái: những dòng chữ trên lá thơ như nhòe hẳn đi. Anh ta khẽ lắc đầu buông thõng tay xuống:

– Em Ba … em đọc…

Thằng Ba nhẹ rút tờ giấy ra khỏi mấy ngón tay đã bắt đầu đờ cứng của anh rể, rồi vừa sịt mũi mếu máo đọc:

“ Mình,

“Em sanh con trai hồi năm giờ chiều ngày mùng tám mình à. Em đợi hoài đợi hủy mà chẳng thấy mình về. Nhớ lời mình dặn, em sẽ đặt tên nó là Kỳ. Nó có chút xíu nhưng tía má nói nó giống mình lắm. Mình bắt được thơ nầy…”

Bác Năm bỗng đưa tay khều nhẹ thằng Ba và thở dài bảo:

– Thôi em…

Thằng Ba cúi xuống nhìn Tư Cầu. Nó bỗng kinh hãi đứng rột dậy, bước lùi lại phía sau một bước, rồi khóc òa lên. Mắt Tư Cầu đứng tròng và một tia máu nhỏ chảy rỉ nơi khoé miệng hãy còn phảng phất giữ một nụ cười…

Bác Năm rút lấy bức thơ nơi tay thằng Ba xếp kỹ lại, cúi xuống nhét vô túi áo Tư Cầu, đoạn kính cẩn đưa tay vuốt mắt kẻ xấu số, rồi cầm lấy hai mí chiếu đắp phủ lên xác chết…

Dưới mé ruộng, một con chim vịt cất tiếng kêu thảm thiết trong đám cây điên điển và bay vụt lên làm những cánh hoa vàng úa rơi lả tả trên mặt nước, để rồi lững lờ trôi đi… trôi đi….

Ở phía kinh Cầu Muống, tiếng súng vẫn còn nổ đều đều…

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 3rd Jun2021

Post by Sơn râu 23 Jul 2024

Lời giới thiệu: Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 6

Trung úy Trần Văn Phước, Ðại đội trưởng Ðại Ðội 3/82 và cả chục Biệt Ðộng Quân dưới quyền anh đang quây quần bên một vò rượu cần, vò rượu chiến lợi phẩm. Trự nào cũng xiêu vẹo bước tới, bước lui. Trự nào cũng lè nhè, la hét ồn ào. Tiếng họ cười nói oang oang giữa rừng khuya.

Với tôi, thì uống rượu không là một cái lỗi; nhưng say rượu thì tôi không tha; dù người đó thân cận như chú Phước.

Tôi rút súng bắn tan vò rượu. Những ma men tỉnh rượu ngay lập tức.

“Cuốn lều! Ðại Ðội 3 cuốn lều! Hướng hai ngàn bốn trăm dzu lu! Làm ngay!”

Trung úy Phước và “tòng phạm” riu ríu thi hành lệnh.

Mười phút sau một khoảng rộng lớn trên tuyến phòng thủ của tiểu đoàn bị bỏ trống. Ðại Ðội 3/82 bị phạt phải dạ hành mở đường. Mãi nửa giờ sau tôi mới bớt giận. Tôi ra lệnh cho Ðại Ðội 3/82 dừng lại tấp vào rừng ngủ.

Trong tiểu đoàn này Trung úy Trần Văn Phước là người thân cận nhất của tôi. Tháng 11/1972 khi tôi còn giữ chức Trưởng Phòng 2 của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 thì Chuẩn úy Trần Văn Phước về trình diện.

Vì Chuẩn úy Trần Văn Phước có bằng Tình Báo Căn Bản từ Trường Cây Mai, nên đầu năm 1973 tôi đã cho Phước vào Plei M’rong làm Sĩ quan Ban 2 của Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân. Nhưng chỉ được ít lâu, Thiếu tá Phạm Duy Ánh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân đã chịu không thấu cái tật rượu vào là rút súng của ông chuẩn úy nên vội hoàn trả chú Phước về cho tôi. Chỉ có mình tôi là biết cách kiềm chế con ngựa chứng này. Chú Phước đã theo tôi từ đó cho tới ngày tàn cuộc chiến.

Tới cuối năm 1973, sau khi Phước lên thiếu úy thì thầy trò tôi vào Pleime.

Chú Trần Văn Phước và chú Nguyễn Công Minh, sĩ quan truyền tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, là hai sĩ quan sau cùng còn ở lại bên tôi, rồi bảo vệ tôi thoát hiểm trong kẽ tóc đường tơ, khi vị trí của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bị địch tràn ngập trưa 15 tháng Tư năm 1974.

Rồi cũng chính Thiếu úy Trần Văn Phước là người đầu tiên cùng tôi đặt chân trên Căn cứ 711 sau khi chúng tôi vất vả hai ngày phản công tái chiếm căn cứ này. Trận đó tiểu đoàn của chúng tôi bị 6 tiểu đoàn của Sư Ðoàn 320A/ Ðiện Biên xa luân chiến.

Trong hai năm sau cùng của cuộc chiến, không có trận đánh nào mà không có mặt Phước bên cạnh tôi.

Sau trận Pleime, Thiếu úy Trần Văn Phước được đặc thăng trung úy. Lên trung úy, chú Phước bỏ nghề Quân Báo, trở lại đời tác chiến làm đại đội trưởng.

Ðây là lần đầu, tôi nặng tay với Phước. Tôi vào máy gọi cho Phước,

– An Bình đây Thái Sơn! Stop được rồi! Nghe rõ chưa?

Ðầu máy bên kia, tôi nghe tiếng người đàn em sụt sịt,

– Em xin lỗi Thái Sơn! Em xin lỗi anh Hai!

Tôi cũng thấy mủi lòng, xốn xang,

– Thôi! Ngủ đi! Chờ mai anh lên với chú!  

Tôi lấy điếu Lucky ra hút. Tiếng muỗi đêm vo ve bên tai. Tiếng suối reo rì rào trong khe. Tiếng gió lùa ù ù sau đồi. Trên poncho, lá cây rơi lộp độp. Quanh tôi đủ loại tiếng rừng. Chưa lần nào tôi cảm thấy rừng đêm buồn như thế!

Ðêm 27 tháng Ba năm 1975, trăng sáng như ban ngày.

Gần chín giờ khuya, Trung tá Liên đoàn phó cho người tới lều mời tôi lên gặp riêng.

Tôi nghĩ ông Liên đoàn phó sẽ rầy la tôi về vụ ồn ào của Ðại Ðội 3/82.

Tôi đã chuẩn bị tâm tư nhận lỗi với ông chỉ huy mới của liên đoàn về sự vô kỷ luật của đàn em. Nhưng tôi không ngờ ông Trung tá Liên đoàn phó muốn gặp tôi lại vì mục đích khác chứ không vì chuyện lính tráng say sưa.

Cho tới giờ này tôi mới nhìn thấy dung nhan ông Trung tá Liên đoàn phó, tên ông ấy là Ðào Ðức Châu.

Thì ra trong quá khứ, hơn một năm về trước, tôi và ông ta, đã giáp mặt nhau một lần, chỉ vài phút, ở Bồng-Sơn, Tam- Quan, Bình- Ðịnh, ngày đó ông Châu còn mang lon thiếu tá, giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 34, Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân.

Hôm đó, nhân dịp lễ Giáng – Sinh năm 1973 tôi có lệnh tháp tùng Ðại tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 và Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng/ Biệt Ðộng Quân/ Quân Lực Việt-Nam Cộng-Hòa bay trực thăng tới Bắc Bình-Ðịnh để ủy lạo các đơn vị Biệt Ðộng Quân đang tham chiến ở vùng này.

Tại phi trường Bồng Sơn, Ðại tá Nguyễn Kim Tây, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân đã nài nỉ tôi hoán đổi vị trí cho Thiếu tá Ðào Ðức Châu để ông Châu lên Vùng 2, còn tôi sẽ thay ông Châu giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 34 Biệt Ðộng Quân.

Tôi dư điều kiện để xin đổi vùng, vì tôi đã ở Pleiku, Vùng 2 trong thời gian gần mười năm rồi. Nghe Ðại tá Nguyễn Kim Tây đề nghị, tôi vui vẻ đồng ý ngay.

Ðại tá Nguyễn Kim Tây và tôi quen biết đã lâu. Hơn thế nữa, đầu năm 1972 tôi là người đã bay liên tục cả giờ đồng hồ trên trời Pleiku để sẵn sàng xuống cứu một phi công lâm nạn theo lời yêu cầu của ông Tây.

Hôm đó có một chiếc oanh tạc cơ Skyraider đã bị Việt-Cộng bắn trúng càng trong một phi vụ yểm trợ hành quân ở Kontum mới bay về. Tôi cũng vừa thả xong một toán viễn thám và đang chuẩn bị đáp trước bộ chỉ huy, nhưng Trung tá Nguyễn Kim Tây lại có mặt ở đây và đã yêu cầu tôi bay cover cho chiếc Skyraider bị nạn.

Lý do ông Tây quan tâm tới chuyện này chỉ vì viên phi công lái chiếc Skyraider là một người em ruột của ông Tây.

Dự trù khi máy bay cạn nhiên liệu, phi công sẽ nhảy dù xuống vùng Tây Pleiku và bỏ cho tàu rơi tự do trong rừng, trực thăng của tôi sẽ xuống cứu ông ta.

Nhưng bay tới khi hết xăng, người phi công đã không nhảy dù, bỏ tàu, mà cố gắng đáp bằng bụng. Cú đáp đã thành công ngoài dự liệu của mọi người.

Sau này, năm 1973, ông Nguyễn Kim Tây trở thành Ðại tá Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 6 Biệt Ðộng Quân nên ông muốn tôi về làm việc với ông.

Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai không phản đối chuyện hoán chuyển này, nhưng Ðại tá Phạm Duy Tất thì có vẻ không vui.

Nhìn tôi, ông Tất nói,

– Anh có làm gì phật lòng Long không mà Long bỏ anh?

Nghe Ðại tá Tất nói, tôi đã mềm lòng, xin hủy bỏ chuyện đổi vùng.

Tôi đã phụ lòng Ðại tá Nguyễn Kim Tây. Tôi đã ở lại với Ðại tá Phạm Duy Tất, với Vùng 2, và tôi đã làm được nhiều điều mà những thiếu tá khác không làm được. Vậy mà qua bao trận đánh, qua bao chiến công, tôi vẫn là thiếu tá.

Tôi hơi ngỡ ngàng, khi nhận ra ông Trung tá Liên đoàn phó của tôi lại chính là ông Thiếu tá Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 34 Biệt Ðộng Quân ngày nào.

Ông Châu mới tới Liên Ðoàn 24 một thời gian rất ngắn. Ông ta chưa hề đi thăm các đơn vị tiền tiêu, do đó tôi chưa từng gặp mặt ông ta.

Chính vì chưa giáp mặt, chưa quen cách điều binh khiển tướng của Trung tá Châu mà tôi đã thề sẽ bắn nát óc ông ta nếu ông ta cắt đứt pháo yểm của tôi cách đây vài ngày.

Ông Trung tá Châu thuộc lớp sĩ quan sống lâu lên lão làng, nên cách chỉ huy của ông ta cũng khác xa cung cách chỉ huy của lớp sĩ quan trẻ chúng tôi.

Ông Liên đoàn phó thân thiện mời tôi vào lều; ông trung tá ngồi trên võng, còn tôi thì ngồi trên khúc gỗ đối diện với ông.

Ông nói với tôi rằng cuộc họp “bí mật” này ông chỉ muốn có mặt mình tôi thôi; ông không cho hai vị chỉ huy tiểu đoàn còn lại là Thiếu tá Ðàng và Thiếu tá Tài biết chuyện ông sẽ bàn tính với tôi.

Ông tự giới thiệu, ông là dân Bắc Di Cư, tốt nghiệp Khóa 12 Võ Bị Quốc Gia. Ông ta vừa học xong khóa tu nghiệp gì đó sau khi lên cấp trung tá thì được lệnh về giữ chức Liên đoàn phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Ông Châu mở ba lô lấy bao thuốc lá Salem đầu lọc, mời tôi,

– Long hút thuốc đi! Hút một điếu cho ấm!

Tôi xua tay,

– Cám ơn Niên Trưởng! Tôi không hút thuốc đầu lọc!

Ông Châu im lặng một phút, rồi với một giọng đầy thảm não, ông bắt đầu tâm sự,

– Long ơi! Anh sinh ra để làm chính trị. Chỗ của anh là Thượng Viện, Hạ Viện chứ đâu phải chỗ này? Anh có muốn làm nhà binh đâu? Anh sinh ra không phải để làm lính! Quyết định đi lính của anh là một quyết định sai lầm! Giờ này anh không còn chút hứng thú nào ở quân đội nữa!

Tôi sốt ruột, phang ngang,

– Bây giờ Trung tá có lệnh gì cho tôi thì nói ngay đi! Nếu không, tôi phải về ngủ để mai còn sức mở đường! Liên đoàn đang lui binh, tôi không rảnh ngồi nghe chuyện cổ tích.

Thấy tôi có vẻ không muốn cà kê, dài dòng, ông Châu vội khẩn khoản,

– Long có uy tín với quân đoàn, mai Long xin trực thăng tải thương cho anh về Ðà Lạt được không?  Anh…

Tôi ngạc nhiên, trợn mắt, ngắt lời ông Châu,

– Trung tá đừng đùa lúc này!

Ánh sáng từ cái bóng đèn nhỏ mắc vào cục pin PRC 25 cho tôi thấy đôi mắt ráo hoảnh của vị sĩ quan khóa đàn anh,

– Anh nói thật chứ có đùa đâu?

Bây giờ thì tôi biết ông trung tá nói thật, không đùa. Tôi cứ ngồi ớ ra mà không biết phản ứng ra sao. Thấy thế, ông Châu năn nỉ tiếp,

– Long à! Thương anh thì ngày mai Long xin trực thăng cho anh ra khỏi đây, anh sợ chiến trận rồi!

Tôi nhấp nhỏm đứng dậy thì ông Châu vội cầm tay tôi,

– Anh đâu có tình nguyện lên Vùng 2 (?) Anh đâu có quen địa thế ở đây(?) Anh có ở lại cũng chẳng giúp gì cho anh em. Long ở Vùng 2 lâu rồi, quen biết nhiều, ngày mai Long xin trực thăng cho anh ra khỏi đây đi! Mình là anh em cùng trường. Long cố gắng giúp anh! Anh cám ơn Long nhiều lắm!

Thế là hết chuyện! Bộ mặt bỉ ổi của một kẻ tham sống sợ chết đã lộ ra quá nhanh và quá trơ trẽn. Tôi thẫn thờ đứng lên, bước ra khỏi căn lều của tên vô loại.

Ðêm đó tôi ngồi hút hết điếu thuốc này tới điếu thuốc khác mà lòng thì buồn vô cùng, cứ nhớ về Trường Mẹ Ðà-Lạt không nguôi…

Mờ sáng 28 tháng Ba năm 1975, một công điện khẩn được gởi cho Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2/ Hành Quân, xin trực thăng tản thương.

Trước khi máy bay tới, Ðại úy Trần Dân Chủ, Ban 3 Liên đoàn đến xin tôi cho phép anh ta theo chân Trung tá Liên đoàn phó rời vùng.

Tôi trả lời anh ta rằng,

– Trực thăng chưa tới thì ông Trung tá Châu còn là người chỉ huy liên đoàn. Anh phải trình diện ông ta, xin ông ta cho phép anh rời nơi đây.

Tôi nói thêm,

– Nếu tôi là người chỉ huy liên đoàn, tôi sẽ không cho bất cứ sĩ quan nào rời vùng. Trong những tình thế hiểm nghèo, người lính trông nhờ vào sĩ quan. Chỉ có sĩ quan mới có khả năng dắt dìu những người lính dốt nát thoát khỏi cơn khốn đốn. Sĩ quan biết sử dụng bản đồ, địa bàn, biết phương hướng. Ði trong núi, trong rừng mới cần sĩ quan dẫn dắt binh lính. Trong thành phố không ai cần các anh dẫn dắt! 

Ông Ðại úy Ban 3 dạ dạ, vâng vâng. Nhưng khi máy bay tải thương tới, thì Ðại úy Chủ đã nhanh chân theo bén gót Trung tá Châu lên tàu. Có hai hạ sĩ quan khai bệnh sốt rét tới xin đi, tôi cho đi luôn.

Hóa ra chuyến đi này của Trung tá Ðào Ðức Châu cũng là chuyến bay giã từ quân ngũ của ông ta. Ông ta vắng mặt từ đó, rồi trở thành một trong những người đầu tiên di tản khỏi Việt-Nam ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Trưa ngày 28 tháng Ba năm 1975, khi hai sĩ quan và hai hạ sĩ quan vừa yên chỗ trên sàn trực thăng thì dưới bãi bốc xảy ra cảnh lộn xộn, ồn ào.

Có một người đàn bà nhất định không chịu lên máy bay. Chị ta vừa khóc thút thít vừa co rụt người lại khi mấy anh lính an ninh bãi đáp tìm cách đẩy chị ta lên cửa trực thăng. “Em không về đâu! Em không nỡ bỏ anh ấy giữa rừng!”

Người đàn bà này đã theo đoàn quân của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân từ ngày đầu di tản. Chị không chịu bỏ người thân. Tay chân chị giãy giụa, miệng chị la bài hải:

“Em không sợ chết đâu! Cho em ở lại đi! Các anh ơi!” 

Cuối cùng, toán giữ trật tự bãi đáp đành chịu thua người đàn bà.

Chợt không ai bảo ai, tất cả Biệt Ðộng Quân có mặt trên bãi bốc ngày hôm ấy đã đồng loạt vỗ tay hoan hô người phụ nữ can đảm.

Chờ một lúc không thấy ai lên máy bay nữa, tôi ra dấu cho chiếc trực thăng cất cánh.

Chiều đó, khi dừng quân, tôi nhận được một công điện từ Bộ Tư Lệnh Quân Khu 2/ Hành Quân chỉ định Thiếu tá Hiện Dịch Vương Mộng Long, Khóa 20 Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam tạm thời giữ chức vụ Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Tôi mời Thiếu tá Ðàng và Thiếu tá Tài lên gặp tôi để phân nhiệm. Theo đó, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ mở đường, Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đi giữa, Tiểu Ðoàn 63 Biệt Ðộng Quân có nhiệm vụ đoạn hậu.

Ðối với Thiếu tá Nguyễn Hữu Tài, tôi không gặp trở ngại gì về vấn đề chỉ huy, vì anh Tài là Tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi trước khi thuyên chuyển qua Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân làm Tiểu đoàn phó cho Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn.

Ngày Ta Bỏ Núi

baotreonline.com

Vương Mộng Long

Posted on 27th May 2021

Post by Sơn râu 23 Jul 2024

Đôi bờ Đa Dung năm 2021. Nguồn: PGĐ 2021

Lời giới thiệu: 

Hồi ký “Ngày Ta Bỏ Núi” đã được viết cách đây 16 năm. Nhưng khi phổ biến, nó đã bị cắt xén và che giấu nhiều điều. Tác giả Thiếu tá Vương Mộng Long đã bỏ công nhuận sắc lại toàn bộ bài viết này. “Ngày Ta Bỏ Núi” với đầy đủ chi tiết từng ngày, từng sự kiện diễn ra trong suốt cuộc lui binh, kể cả những bí mật mà trước đây bị che đậy và giấu nhẹm.

Kỳ 5

Tôi lái xe ngược chiều về xưởng cưa thăm vị trí của ông Hoàn.

Bỗng tai tôi nghe có tiếng động cơ từ hướng Kiến-Ðức vọng về.

Sợ xe tank của địch sẽ tiến tới tấn công, tôi quyết định cho cánh quân của Ðại úy Tiểu đoàn phó rút qua mặt Bộ chỉ huy tiểu đoàn rồi ngủ đêm bên bờ con sông hướng Bắc trục lộ, cách tôi độ nửa cây số, hướng Gia-Nghĩa.

Tôi xuống xe đi bộ cùng với ông Hoàn.

Khi đi ngang xóm nhà của Khu Dinh Ðiền Nhơn-Cơ, nơi Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân và địch đã giao chiến suốt đêm 18 và sáng 19 tháng Ba, chúng tôi nghe mấy người lính đi bên trái báo có một thương binh bạn nằm bên lề đường.

Một Biệt Ðộng Quân mang phù hiệu Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân nằm trên bờ cỏ sát suối. Ruột gan anh đổ trên mặt cát. Ðầu mặt, tay chân anh máu đã khô. Kiến lửa và ruồi nhặng lúc nhúc bu trên người anh.

Người chiến sĩ Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân chỉ còn thoi thóp nhẹ.

Tôi lần tay vào cò khẩu súng Colt 45. Tôi nghĩ tới viên đạn giải thoát cho bạn mình. Tay tôi run run. Tôi không đủ can đảm làm việc này!

Tôi chợt nghĩ, anh chiến sĩ đã hôn mê; chắc anh ta không còn biết đau đớn là gì nữa cả. Chắc anh không cần đến viên đạn giải thoát của tôi.

Tôi và Ðại úy Hoàn lấy một cái poncho phủ lên người anh. Hai chúng tôi đứng nghiêm chào vĩnh biệt người bạn trẻ cùng binh chủng.

Cách chỗ anh Biệt Ðộng Quân nằm chừng năm chục mét trên dốc là hai cái xác Việt-Cộng đã sình. Hai cái xác trương to như hai con bò, áo quần căng cứng.

Nắng hầm hập. Một vùng ngập chìm trong tử khí.

Trưa 25 tháng Ba năm 1975, đứng trên đồi cao, tôi nhìn thấy khói đen bốc lên hướng thị xã Gia-Nghĩa. Trung tá Liên đoàn trưởng báo cho tôi biết tin Tiểu Khu Quảng- Ðức đang bắt đầu rút về Blao.

Trung tá Thanh còn cho tôi hay, người chỉ huy cuộc hành quân triệt thoái khỏi Quảng-Ðức không phải là Ðại tá Phạm Văn Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng-Ðức, mà là ông Trung tá Phạm Ðức Dư, Tham mưu trưởng Tiểu khu.

Trung tá Dư xuất thân là một sĩ quan tài chánh, từng làm Tham mưu trưởng Tiểu Khu Lâm Ðồng từ khi còn là đại úy cho đến khi chuyển qua làm Tham mưu trưởng Tiểu khu Quảng Ðức mới được gần một tháng. Ông Trung tá Phạm Ðức Dư chưa từng có dịp ra trận, chưa cầm súng bắn một viên đạn thật lần nào, nên đành phải giao cho Thiếu tá Trần Văn Bường, Tham mưu phó hành quân Tiểu khu Quảng-Ðức đảm đương nhiệm vụ điều quân.

Vì thế, Trung tá Hoàng Kim Thanh ra lệnh cho Bộ chỉ huy Liên Ðoàn 24 và hai Tiểu Ðoàn 63 & 81 Biệt Ðộng Quân án binh tại chỗ, chờ tôi về rồi mới tính sau.

Tôi lên xe chạy về Gia-Nghĩa. Trên đường, tôi phải ngừng xe nhiều lần để dẹp những khúc gỗ súc lớn mà các bạn Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân Quảng-Ðức đã trải đầy mặt lộ. Ðó là những chướng ngại vật chống tank cấp thời của các đơn vị bạn còn để lại.

Nơi đầu tỉnh, gặp mặt Trung tá Thanh, tôi cùng ông duyệt lại tình hình Quảng-Ðức.

Chúng tôi thấy những ngày trước đó, quân ta chưa có gì sứt mẻ. Tinh thần còn vững vàng. Tiếp liệu còn đầy kho. Chỉ có Kiến-Ðức, Nhơn-Cơ là nóng bỏng. Hai Tiểu Ðoàn 81& 82 Biệt Ðộng Quân và Ðịa Phương Quân của quận Nhơn-Cơ còn đứng vững, chưa cần tới tiếp viện.

Tôi không hiểu vì sao ông tỉnh trưởng bắt chúng tôi lui binh từ từ, bỏ hết điểm này tới điểm nọ.

Bây giờ ông ta lại bỏ cả tỉnh lỵ khi địch chưa tỏ ý định đánh chiếm nó.

Kho tàng đã bị đốt hết. Chúng tôi có tử thủ cũng chỉ vài ngày là hết đạn, hết cơm. Chúng tôi không rút cũng không được.

Tôi vội kêu Trung úy Ðăng giao Ðại Ðội 2/82 lại cho Chuẩn úy Gấm rồi dùng chiếc xe GMC của tiểu đoàn chạy về liên đoàn gặp tôi.

Tôi giao cho Trung úy Ðăng hai trăm ngàn tiền ăn và dặn dò anh dùng xe GMC đi theo đoàn xe của Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng-Ðức. Tới Blao, anh chuẩn bị lương thực tiếp tế sẵn cho đơn vị.

Ra khỏi liên đoàn, tôi ghé chợ Gia-Nghĩa. Chợ quán thưa vắng.

Tôi vào khu bán chạp phô. Tôi mua hai ký tép khô. Giá ba trăm đồng một ký. Tôi đưa cho chị bán hàng tờ giấy một nghìn, không nhận tiền thối lại. Tôi hỏi những người bán hàng,

– Sao bà con còn nấn ná ở đây? Người ta đi hết rồi! 

Chị bán tép sụt sịt,

– Biết đi đâu bây giờ Thiếu tá ơi! Con thì nhỏ, đường thì xa. Em sợ tên bay đạn lạc. Thôi ở lại đây có chết cũng đành!

Tôi buồn bã nói với bà con đôi lời từ giã.

Lúc đó có tiếng ồn ào nơi khu phố đối diện, cạnh Phòng Ngủ Gia-Nghĩa, nơi có hai tiệm vàng. Cửa hàng bên phải có tiếng khóc than. Cửa hàng bên trái có bóng đi ra, đi vô của một bộ quần áo rằn ri.

Tôi hỏi chị bán tép chuyện gì huyên náo, chị nói,

– Cướp, có hai anh lính Biệt Ðộng Quân ăn cướp! Họ ném lựu đạn vào tiệm bên phải, cướp vàng. Họ đang khảo tra chủ tiệm bên trái.

Tôi ra xe phất tay cho Trung sĩ Nguyễn Chi và Hạ sĩ Mom Sol sẵn sàng. Hai người này và anh tài xế đã rõ câu chuyện ăn cướp. Họ thủ thế chờ lệnh.

Tôi đứng trước đầu xe hét to:

“Ê! Hai anh kia đi ra không tôi bắn!”

Một tên tóc tai dài lượt thượt ló đầu ra cửa. Hắn giơ tay lên nhứ nhứ quả M 26.

Tôi ra lệnh:

“Bắn!”

Hai viên M16 trúng đầu thằng ăn cướp.

Nó nằm giãy tê tê trước bục cửa ra vào của tiệm kim hoàn. Quả lựu đạn chưa mở chốt văng trước thềm. Thằng thứ nhì cũng mặc quân phục Biệt Ðộng Quân từ trong nhà chạy ra, trên tay cũng có hai trái M 26.

Tôi hét lớn,

– Ném hai quả lựu đạn ra vườn!

Tên cướp ném hai trái M26 ra sân cỏ sau nhà. Chỉ một trái đã bị rút chốt an toàn.

Một tiếng “Ùm!” làm bay tấm tôle trên mái.

Tôi ra lệnh tiếp,

– Nằm úp mặt xuống đất, hai tay dang ra!

Hắn riu ríu làm theo lệnh. Tôi lại la lớn,

– Còn ai trong nhà nữa không? Ra hết đi!

Một cặp vợ chồng già run lập cập nắm áo nhau chạy ra sân chợ.

Ba thầy trò tôi tiến lên chỗ tên cướp đang run như cầy sấy.

– Mày ở đơn vị nào?

– Dạ em là Lao Công Ðào Binh của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh chạy lạc về đây!

Tôi hỏi vặn,

– Quần áo Biệt Ðộng Quân tụi mày lấy ở đâu ra?

– Dạ nhiều lắm! Trong tiệm giặt ủi đàng kia!

Tôi co chân đá vào mặt thằng ăn cướp một cái. Miệng nó phun máu. Tôi ra hiệu cho chú Chi lục túi nó và túi thằng đã chết, gom tang vật lại rồi gọi nạn nhân ra trao cho họ.

Gia chủ căn nhà bên phải chạy ra nhận lại số vàng. Họ vừa khóc vừa cám ơn.

Tôi đá liên tiếp vào mặt thằng ăn cướp mấy cái nữa, nó ôm mặt lăn lộn trên mặt đường khóc lóc xin tha mạng.

Tôi quát,

– Cút đi!

Nó lồm cồm bò dậy, chạy một mạch xuống triền đồi khuất dạng.

Tôi phân trần với dân phố đang bu quanh,

– Tụi này là lính giả. Chúng nó là quân phạm chứ không phải Biệt Ðộng Quân. Biệt Ðộng Quân không có những hạng người đốn mạt như tụi này!

Nói xong câu đó, tôi nghĩ tới ngày mai, chúng tôi không còn hiện diện ở nơi đây nữa. Ai sẽ thanh minh cho chúng tôi những sự mạo nhận như thế?

Tôi buồn bã lên xe hướng về Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Quảng- Ðức.

Tòa Hành Chánh bị đốt hư hại nhẹ. Khói từ các cửa sổ ăn loang lổ tường vôi.

Khu Trung-Tâm Yểm-Trợ Tiếp-Vận chỉ có kho xăng đã cháy, vài căn nhà chứa lương thực và đạn dược bị đốt lam nham. Những chỗ khác vẫn còn nguyên vẹn.

Trên mặt đất, quân trang, quân dụng, lương thực vương vãi khắp nơi.

Tôi quay xe xuống đồi. Tôi hẹn với Trung tá Liên đoàn trưởng, sáng mai tôi sẽ rút quân thẳng về bờ sông Kinh-Ðà chờ bộ chỉ huy và hai tiểu đoàn. Ðiểm vượt sông tôi sẽ định sau.

Sáng ngày 26 tháng Ba năm 1975, tôi ra lệnh phá hủy hai khẩu 105 ly ngay trên sân miếu thổ thần sau khi bắn hết gần một ngàn viên đạn về hướng Kiến-Ðức.

Khẩu 106 ly được ném xuống dòng sông bên đường, đạn của khẩu súng này cũng đã được gởi (bắn) hết qua bờ Nam đập nước.

Mười giờ sáng, đại đội đi đầu ra tới bờ sông. Trước khi tới bờ sông, tôi gặp một trạm gác của Nghĩa Quân Khiêm-Ðức.

Tôi thấy một Nghĩa Quân ngồi trên chòi gác giặc. Anh lính đang chăm chú quan sát khu rừng rậm dưới dốc.

Tôi hỏi anh Nghĩa Quân,

– Sao em còn ngồi đây? Người ta đi hết rồi!

Anh lính ngơ ngác,

– Ủa! Chứ người ta đi đâu Thiếu tá?

– Người ta rút về Blao hết rồi! Em đi đi!

Anh Nghĩa Quân nhìn tôi bán tín bán nghi. Ðến lúc thấy quân lính theo tôi đông ngời ngời, anh phát hoảng, co giò chạy về hướng thị xã.

Ðể tránh sự quan sát của địch, tôi cho tiểu đoàn đi song song với bờ sông Ða-Dung xuôi về hướng Tây. Càng tránh xa những con lộ chính hay đường xe be, càng đỡ lo chuyện rủi ro trên bờ đối diện.

Tới một khúc quanh, dòng chảy đổi thành Bắc Nam.

Cuối nguồn một ngọn thác thì mặt sông Da Dung phình ra, vận tốc nước trôi không còn nhanh lắm. Tôi quyết định vượt sông

Tôi chọn hai anh lính gốc dân chài cùng tôi bơi qua sông làm đầu cầu.

Ba khẩu M16, ba băng đạn, ba cuộn dây nylon, ba thầy trò tôi bu theo ba cái phao poncho độn bằng cành lá.

Chỉ có tôi và một anh lính tới bờ bình yên. Người lính bơi trên thượng nguồn bên trái tôi chìm nghỉm giữa dòng, sau một tiếng “Ối!” thất thanh. Ða-Dung nổi tiếng là sông nhiều cá sấu!

Qua tới bờ Ðông, tôi thủ thế khẩu M16 gác giặc để anh Biệt Ðộng Quân bạn yên tâm cột dây cho các toán viễn thám của tiểu đoàn theo chân nhau qua sông. Sau đó các đại đội được lệnh chặt tre làm mảng.

Ai biết bơi thì chỉ cần ôm một khúc tre lồ ô là có thể nương theo dòng chảy, tới bờ đối diện không khó khăn lắm.

Lúc này cả một khúc sông ồn ào như cái chợ. Nếu có con cá sấu nào bơi gần đó chắc cũng thất kinh hồn vía lo tìm đường tẩu thoát.

Tiểu đoàn tôi hoàn tất cuộc vượt sông với một thời gian rất ngắn. Khi Bộ chỉ huy Liên đoàn bắt đầu xuống mảng thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân cũng bắt đầu di chuyển. Tôi cho đơn vị đi ngược về Ðông Bắc, hướng tới một ngọn đồi xanh khá cao.

Cách bãi vượt sông chưa tới hai trăm mét là một bãi sình rộng. Cả chục con cá sấu lớn nhỏ đang nằm phơi mình dưới nắng. Thấy đoàn người đi tới gần, chúng hoảng sợ lao mình xuống nước, lội ngược dòng về thượng nguồn.

Ngọn đồi xanh mà chúng tôi đang chiếm lĩnh là một rừng tre. Tôi cho quân vượt cái yên ngựa, bố trí trên đỉnh Ðông Bắc của yên ngựa, nhường cái đuôi yên ngựa cho những đơn vị lên sau.

Dưới bờ sông có tiếng lựu đạn nổ. Truyền tin báo cho tôi hay, Trung tá Hoàng Kim Thanh, Liên đoàn trưởng, Trung úy Nguyễn Công Minh, Sĩ quan Truyền tin Liên đoàn và ba người khác bị thương.

Ơ hờ khi sưởi ấm đã gây ra tai nạn lựu đạn nổ. Lựu đạn nổ vì sợi dây thun cột mỏ vịt lựu đạn bị cháy trong lúc kíp an toàn đã bị tháo mất rồi. Trung tá Liên đoàn trưởng bị mảnh lựu đạn văng trúng ngực và trán.

Sau khi băng bó, Trung tá Thanh và những người bị thương được cáng lên chỗ tôi đóng quân.

Sáng ngày 27 tháng Ba năm 1975, trực thăng từ Ðà-Lạt tới bốc những quân nhân bị thương. Cùng đi trên chuyến tải thương này còn có Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân. Ông Mẫn bị sốt rét cấp tính.

Như vậy là chỉ trong vòng hai mươi bốn giờ sau khi rời Quảng-Ðức, hai vị sĩ quan chỉ huy của liên đoàn đã ra khỏi vùng.

Sau khi Trung tá Hoàng Kim Thanh được tải thương thì ông Trung tá Liên đoàn phó trở thành sĩ quan Xử Lý Thường Vụ chức vụ Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.

Tôi ở tiền quân, cách xa bộ chỉ huy liên đoàn gần nửa cây số nên không biết ông liên đoàn phó đang đi với tiểu đoàn nào.

Tôi thấy mới ra quân mà đã bỏ phí hai ngày đường, nên sau khi tải thương xong, tôi cho lệnh đơn vị gấp rút đổ dốc tiến về hướng Ðông Nam.

Chiều đó đang đi trên một lối mòn, chúng tôi nghe tiếng gà nhà gáy trong rừng. Vậy là có mật khu Việt-Cộng gần đâu đây?

Tôi báo cáo tình hình cho liên đoàn, đề nghị những cánh quân theo sau tôi dừng lại để tôi tập kích cái mật khu trước mặt.

Cái khu sản xuất của Thượng Cộng nhỏ tí, với hai chú du kích Thượng đang ngồi ngậm ống vố, không đáng cho một cú xung phong của một đại đội Biệt Ðộng Quân.

Hai tên du kích chưa kịp đứng dậy cầm súng đã bị bắn vỡ óc, nằm thẳng cẳng bên lò lửa than nghi ngút khói dưới chân một cái nhà sàn.

Tối đó chúng tôi dừng quân ngay trong mật khu địch. Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân bố trí một vòng cung hướng về Ðông, các tiểu đoàn bạn hạ trại bao quanh bộ chỉ huy liên đoàn, chịu trách nhiệm phòng thủ hướng Tây.

Cả liên đoàn không còn cái xẻng cá nhân nào, chúng tôi ngủ lộ thiên trên poncho. Tôi có cảm tưởng như mình là một Hướng Ðạo Sinh thời còn đi học, đang tham gia một đêm cắm trại mùa Hè.

Khoảng bảy giờ đêm, tôi nghe tiếng người cười đùa huyên náo trong rừng, khu Ðại Ðội 3/82. Tôi và Binh nhì Phan Thọ lần bước về chỗ tiếng cười nói ồn ào.

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 23 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 6  

Từ một mỏm đá nhô ra trên đỉnh núi Ora, Turi Guiliano và Aspanu Pisciotta có thể nhìn xuống thị trấn Montelepre ở phía dưới và chỉ cách chúng vài dặm. Ánh đèn le lói từ những ngôi nhà trong thị trấn như đang cố gắng một cách tuyệt vọng để chống lại màn đêm đang từ từ buông xuống. Guiliano tưởng như mình còn nghe thấy tiếng nhạc từ máy phóng thanh ở quảng trường vọng lên, tiếng rao của người bán hàng rong trước mỗi bữa cơm chiều.
Nhưng, không khí trên núi thật khó chịu. Phải mất hai giờ để đi xuống và bốn giờ để đi lên chỗ mỏm đá ấy. Lúc nhỏ, Turi Guiliano và Pisciotta đã từng chơi đùa ở đây. Chúng biết rõ từng mỏm đá, đường hầm, khe núi, cái hang. Xa xa, phía sau mỏm đá chúng đang đứng, có một cái hang. Khi còn nhỏ, chúng rất thích hang này và tự đặt tên nó là Bianca. Hang rộng hơn bất cứ ngôi nhà nào ở Montelepre.
Aspanu đã tuân lệnh hắn, Turi nghĩ thế. Trong hang có túi ngủ, có xoong chảo, thùng đựng đạn, giỏ lương thực. Có cái thùng gỗ đựng đèn pin, đèn dầu và dao. Cũng có cả một thùng dầu hoả. Guiliano vừa cười vừa nói với Pisciotta:
– Tụi mình có thể sống hoài ở đây được.
– Vài ngày thôi, – Aspanu nói. – Đây sẽ là chỗ đầu tiên bọn cảnh vệ ập tới, nếu chúng đi lùng mình.
– Bọn thỏ đế đó chỉ dám đi ban ngày thôi, – Turi đáp. – Ban đêm thì tụi mình bình an vô sự.
Bóng tối như một tấm màn lớn từ từ buông phủ trên rặng núi. Nhưng trời đầy sao đến nỗi chúng có thể nhìn thấy nhau, Pisciotta mở ba – lô, lôi vũ khí và quần áo ra. Turi cởi chiếc áo dòng mà hắn vẫn mặc từ lúc rời khỏi tu viện và mặc chiếc quần nhung, áo sơ – mi… bên ngoài khoác áo jaket da cừu, chậm rãi, trang nghiêm như ông cố đạo làm lễ, Turi mang vũ khí vào: hai khẩu súng lục lủng lẳng hai bên hông, một khẩu đeo trong bao kẹp dưới nách, một khẩu súng nhỏ nhét trong túi áo jaket, lưng thắt sợi dây nịt gần đầy đạn, bên ngoài áo jaket là sợi dây nịt khác gắn băng đạn, khẩu tiểu liên đeo lủng lẳng trên vai. Turi mỉm cười nhìn Aspanu chỉ có con dao giắt sau lưng và khẩu tiểu liên cầm tay. Ngắm nghía Turi võ trang như vậy, Pisciotta bật cười:
– Nhìn mày với bấy nhiêu thứ đồ giết người đeo chằng chịt, tao có cảm tưởng như tao ở truồng vậy. Mang bấy nhiêu thứ trên người thì làm sao mày đi được, chớ đừng nói là chạy nữa. Vả lại, lỡ khi mày té, thì với cái xác “voi” của mày, cộng với thêm bấy nhiêu thứ đó nữa thì làm sao tao đỡ mày dậy cho nổi?
Guiliano mỉm cười, nụ cười khó hiểu. Dường như đó là nụ cười của một đứa trẻ tin rằng mình đã bị đẩy vào đường cùng. Vũ khí cà lên vết thẹo làm cho hắn cảm thấy đau đau. Nhưng hắn lại khoái cái đau đó. Vì, đối với hắn, cái đau đó chính là lời miễn xá cho tất cả những tội lỗi mà hắn sẽ phạm. Vì vết thẹo đó là món nợ hắn cho xã hội vậy. Những tội lỗi mà hắn sẽ phạm chẳng qua chỉ là cách hắn đòi lại món nợ đó mà thôi. Hắn nói với Pisciotta:
– Tao đã sẵn sàng đi gặp kẻ thù.
Từ đỉnh núi Ora dưới vòm trời đầy sao lấp lánh, hai đứa lần theo con đường mòn ngoằn ngoèo dẫn xuống thị trấn Montelepre. Được vũ trang để chống lại tử thần và chống lại đồng loại độc ác, hai đứa bước đi hân hoan. Mùi hương hoa chanh và mùi hoa dại ngào ngạt trong không gian. Guiliano cảm thấy một sự bình thản mà hắn chưa từng bao giờ cảm thấy. Hắn không còn bất lực trước kẻ thù ngang tàng, càn quấy và cũng chẳng phải đối diện với kẻ nội thù khủng khiếp nhất đối với hắn là sự nghi ngờ lòng can đảm của chính hắn. Phát đạn đã kết thúc cuộc đời của tên cớm kia, cũng đã kết thúc cuộc đời của kẻ nội thù ghê gớm nhất nằm ngay trong chính nội tâm hắn. Hắn cảm thấy từ nay không còn sợ bất kỳ ai, bất kỳ cái gì. Nghênh ngang, ngạo nghễ, hiên ngang đi gặp mọi kẻ thù. Nếu đã có một lần hắn khiến được đời hắn phải sống, cho thân thể bị đạn bắn lủng phải lành, số lượng máu đã mất phải tự bù lại cho đủ…. thì hắn tin rằng, hắn sẽ còn có thể tiếp tục ra lệnh như vậy nhiều lần nữa. Hắn không hề nghi ngờ mình có số hên. Và, sẽ còn hên dài dài. Hắn tin rằng rồi ra hắn cũng sẽ như các anh hùng trong các truyện cổ tích dân gian: chỉ chết khi đã hoàn thành nhiệm vụ, chỉ chết khi đã chiến thắng vinh quang! Hắn sẽ không bao giờ từ bỏ dãy núi này, gốc ôliu này và xứ Sicily khốn khổ và nghèo đói này. Hắn chỉ có một ý tưởng mơ hồ về cái tương lai huy hoàng của hắn. Hắn không thể nào lại trở thành một chàng thanh niên quê mùa, nghèo nàn, thấy bóng thằng cớm là đã mặt mày tái mét, lấm la lấm lét, thấy bóng quan toà là khép nép run sợ, mặc dù mình chẳng làm gì nên tội, mặc dù lũ cớm và quan toà thực ra cũng chỉ là những thằng còn tệ hơn mình bội phần, những thằng đã làm cho luật pháp, cho xã hội trở nên ung thối.
Hai đứa đã đi xuống đến con đường dẫn vào thị trấn Montelepre. Chúng đi qua một miếu thờ bên lề đường. Bên trong miếu thờ có tượng Đức Thánh Mẫu Mary đang ẵm Đức Chúa Con. Màu áo xanh da trời của Đức Thánh Mẫu sáng lên như mặt biển dưới ánh trăng. Không khí ngạt ngào mùi hương hoa chanh làm cho Guiliano ngây ngất. Hắn thấy Pisciotta dừng lại, hái một trái lê dại ngào ngạt vì không khí mát lạnh ban đêm. Hắn cảm thấy tràn ngập lòng yêu người bạn, đồng thời là thằng em họ, đã cứu hắn thoát chết, một tình yêu đã có gốc rễ từ lúc cả hai đứa còn là những đứa trẻ thơ dại. Hắn muốn chia sẻ cho bạn mình sự bất tử của hắn. Số mệnh của chúng không phải là sẽ chết như một anh nông dân vô danh tiểu tốt sống trên sườn núi ở Sicily. Trong niềm hứng khởi đó, hắn đã la lớn tiếng:
– Aspanu, Aspanu! Tao đã tin! Tao đã tin.
Chúng đã đi tới con dốc cuối cùng và sắp đi ra khỏi những tảng đá vôi chập chờn như bóng ma quái, đi qua khỏi miếu thờ có tượng Đức Chúa Jesus và tượng các thánh tuẫn đạo. Aspanu Pisicotta chạy bên cạnh Turi Guiliano, cười giỡn, tung tăng chạy nhảy dưới ánh trăng non đang soi đường cho chúng đi tới thị trấn Montelepre…
Dưới chân núi là một dải đất trống để chăn thả súc vật, qua bãi đất trống là bức tường sau của những ngôi nhà. Đằng sau những bức tường xây bằng đá ấy là những mảnh vườn trồng cà chua, và đôi khi vài gốc chanh hoặc một gốc ôliu. Cửa sau vườn của nhà Guiliano khép hờ. Hai đứa lặng lẽ lẻn vào, thì đã thấy bà mẹ Guiliano đứng chờ. Bà lao vào vòng tay của con, trên má bà, hai hàng nước mắt lã chã tuôn rơi. Bà ôm hắn thật chặt, hôn hắn thật sát và thì thầm: “Cục cưng của mẹ, cục cưng của mẹ!” Và, lần đầu tiên trong đời. Turi Guiliano thấy mình đứng trơ dưới ánh trăng, trong lòng không gợn lên một chút xúc động, không có những cử chỉ đáp ứng lại sự vồ vập của mẹ.
Lúc đó đã gần nửa đêm. Trăng hãy còn sáng. Họ vội vã đi vào trong nhà để tránh con mắt rình rập của bọn mật thám. Các cửa sổ đều đóng lại. Những người thân trong gia đình Guiliano và gia đình Pisciotta đứng rải rác ngoài đường để canh chừng và báo động, nếu có toán tuần tiễu của cảnh sát. Trong nhà, người thân và bạn bè của hai gia đình chờ đợi đón mừng chúng trở về. Một bữa ăn còn lớn hơn cả bữa tiệc lễ Phục Sinh được dọn ra. Sau bữa ăn chung vui này, Turi và Aspanu sẽ phải “cắm trại” trên núi.
Ông bố Guiliano ôm hôn và vỗ vỗ lên lưng hắn, tỏ ý tán thưởng. Hai chị hắn, giáo sư Hector Adonis và cả một chị hàng xóm tên là La Venera cũng có mặt ở đó. La Vennera là một người đàn bà goá chồng mới khoảng 35 tuổi. Chồng chị là một tên cướp khét tiếng: Candelaira – bị phản bội và bị cớm phục kích bắn chết mới cách đó khoảng hơn hai năm. Tuy chị ta là người bạn thân nhất của bà mẹ Guiliano, nhưng Turi vẫn ngạc nhiên về sự có mặt của chị ta ở đây vào lúc này. Chỉ có bà già của hắn mới dám mời chị ta vào dịp này mà thôi. Trong giây lát, hắn tự hỏi tại sao? Hắn định hỏi bà mẹ, nhưng lại thôi vì thấy không tiện.
Họ ăn, uống, đối đãi với Turi như thể hắn vừa trở về sau một thời gian dài sống ở nước ngoài. Ông bố hắn muốn xem vết thẹo. Guiliano kéo áo lên để lộ vết thẹo to tướng, đỏ lói, xung quanh có vết bầm, xanh chàm do hậu quả thịt chỗ đó không bị thủng, nhưng cũng bị viên đạn làm chấn thương. Nhìn vết thẹo, bà già bật khóc, Guiliano mỉm cười và nói:
– Bộ má muốn con ở trong tù với vết thương do đòn bastinado hơn hay sao?
Mặc dù bầu không khí gia đình có vẻ vui gấp hai những ngày vui nhất hồi hắn còn bé, Guiliano vẫn cảm thấy không hoà nhập được hoàn toàn, vẫn cảm thấy một khoảng cách nào đó giữa hắn và gia đình. Thức ăn ngon: mực ống xào với mì, nước sốt cà chua, thịt cừu non rô ti và nướng, một chén lớn dầu ôliu trong vắt béo ngậy, tinh khiết, đĩa xalat… và một vò rượu vang. Tất cả đều là sản phẩm của Sicily. Bố và mẹ Guiliano lại kể lại những ngày huy hoàng hồi còn ở bên Mỹ. Giáo sư Hector Adonis đã làm cho họ say mê với những trang sử oai hùng của đảo Sicily, của Garibaldi (1) với cái áo sơ – mi đỏ nổi tiếng của ông, của những ngày toàn dân Sicilian nổi lên chống lại bọn Pháp dưới sự lãnh đạo Vespers trước đó cả trăm năm, cũng như tất cả những chuyện về dân Sicilian bị áp bức, bóc lột, đày đoạ bắt đầu từ Rôme, rồi đến Maure, người Viking phương Bắc, bọn Pháp, Đức, Tây Ban Nha… Ôi, những tai hoạ của Sicily! Sicily không bao giờ được tự do, hạnh phúc mà chỉ được đói, được nghèo, được khổ và được… đổ máu!
Và ngày nay, không một người dân Sicily chính cống nào còn tin vào chính phủ, vào luật pháp, vào cơ cấu tổ chức trật tự xã hội. Vì, trong quá khứ, gần cũng như xa, tất cả những thứ đó chỉ được dùng để biến họ thành những con vật kéo xe, kéo cày. Qua bao năm, Guiliano đã từng được nghe, được biết và đã nhớ như in vào óc những chuyện này. Thế mà, hôm nay nghe lại, hắn vẫn còn thấy máu căm hờn sôi lên. Và hắn nghĩ hắn sẽ làm cho tất cả những cái đó phải thay đổi.
Guiliano nhìn Pisciotta ngồi nín thinh hút thuốc và lặng lẽ nhả khói qua ly cà – phê. Đối với Pisciotta thì cuộc đời này chẳng có gì là quan trọng, là trang nghiêm. Bởi vậy ngay trong cuộc họp mặt này, y chỉ làm thinh, giữ trên môi nụ cười tủm tỉm – không phải là nó có tính ít nói, trái lại cái miệng nó tía lia, hoặc vì nó lo lắng, bẽn lẽn – nụ cười mỉa mai, chế giễu. Nhìn nụ cười ấy, Guiliano biết được nó đang nghĩ gì trong đầu. Đại khái như thế này:
“Có đếch gì đâu mà cứ bốc thơm nhắng cả lên. Ngu thấy mẹ đi nên mới để cho thằng cớm “đòm” cho một phát. Cũng may là không đi tong luôn. Và cũng hên là đã kịp “lật gọng” thằng cớm đó mà trả thù, chứ không thì lấy mã tấu đẽo mặt cả đời chưa hết nhục. Nhưng, lại bị chúng săn như săn thỏ ấy. Vậy mà ông bà già mày và mấy người kia – thối thấy mẹ – cứ làm như mày là ông thánh vừa trên thiên đường sa xuống không bằng”.
Guiliano nhìn sang La Venera. Chị đàn bà nạ dòng này, bà già mời làm gì, và tại sao chị ta lại đến? Hắn thấy chị ta không đẹp nhưng vẫn còn có nét lắm, táo bạo, nhưng hơi lẳng, ý chí kiên quyết lộ qua cặp lông mày như hai nét vẽ bạo tay và dứt khoát của một hoạ sĩ có tài, đôi môi đỏ xám như thể màu đỏ được nhìn qua một làn khói mỏng. Khó mà nói được khuôn mặt chị ta giống cái gì vì chị ta choàng khăn tang đen theo kiểu goá phụ Sicilian.
Turi kể lại đầu đuôi câu chuyện “tai nạn” của hắn. Ông bố của Guiliano – hơi ngà ngà – cất cái giọng lè nhè lên hoan hô vì hắn chỉ “nổ” có một phát một mà thằng cớm kia “đứt bóng” ngay. Bà mẹ hắn làm thinh. Ông bố hắn kể lại chuyện anh nông dân đến đòi lại con lừa, nhưng lão đã nói: “Anh mất có con lừa, còn tôi mất thằng con trai thì sao?”. Aspanu nói chen vào: “Thật đúng là đồ lừa lại đi tìm đồ lừa”. Mọi người cười ồ. Ông bố Guiliano cao hứng nói tiếp: “Thằng cha đó nghe chuyện thằng cớm bị “đứt bóng”, bèn sợ té đái ra. Vì nếu đòi con lừa thì sẽ bị cớm hỏi thăm, lôi thôi dám bị no đòn bastinado lắm. Vì vậy nó mới thôi, chứ dễ à?” Turi thủng thỉnh nói: “Con sẽ tìm cách trả cho ông ta con lừa khác”.
Sau cùng, giáo sư Hector Adonis phác hoạ kế hoạch cứu Turi. Theo ông thì sẽ bồi thường cho gia đình tên cớm bị “lật gọng” kia chút ít tiền. Vậy, ông bà già của Guiliano sẽ bán một thửa đất đi, và ông sẽ bù thêm chút ít vào đó. Nhưng, cũng phải đợi cho bên đó (gia đình tên cớm) nó nguôi ngoai đi đã. Ông Trùm sẽ làm áp lực với chánh quyền để nhận chìm vụ này và để gia đình tên cớm kia khỏi làm lôi thôi. Tóm lại là coi vụ đó như một tai nạn nghề nghiệp không hơn không kém. Làm sao để cả hai phía – chánh quyền cũng như gia đình tên cớm – đừng có bươi ra nữa, nhưng bề ngoài thì hai bên vẫn làm ra cái vẻ này nọ. Chỉ còn lại một việc phải giải quyết là cái căn cước mà Guiliano để lại hiện trường. Cái đó, trong vòng một hôm, Ông Trùm sẽ tìm cách để cho nó “thất lạc” khỏi hồ sơ phòng dự thẩm của ông biện lý. Điều quan trọng nhất là trong suốt năm nay, Turi cứ phải ẩn náu trên núi và không được lộn xộn gì. Turi kiên nhẫn nghe, mỉm cười đầu gật gù, không lộ vẻ bực bội. Thì ra họ vẫn cứ coi Guiliano hôm nay cũng vẫn chỉ là một Guiliano của mấy tháng trước đây. Hắn cởi áo jaket, tháo vũ khí, nhưng khẩu tiểu liên thì vẫn để dưới chân bàn chỗ hắn ngồi. Tuy nhiên, những cái đó chẳng gây cho họ ấn tượng gì. Cũng như vết thẹo đỏ lói trên thân thể hắn chẳng làm cho họ ghê sợ. Họ đâu có hiểu rằng viên đạn bắn lủng thân thể hắn thì cũng lúc cũng xé nát tâm hồn hắn. Bởi vậy hắn không còn là một thanh niên như họ tưởng.

Photo edit by Sơn râu

Lúc này, tại nhà, hắn còn được an toàn. Những ngừơi tin cậy vẫn còn lởn vởn canh chừng ngoài phố, đồn cảnh sát báo tin nếu có động dạng gì. Ngay chính căn nhà – tuy xây cả trăm năm – nhưng tường bằng đá, song cửa tuy bằng gỗ nhưng là gỗ tốt và lớn bản, cửa ra vào thì chắc chắn và cài then sắt kiên cố, không tia sáng lọt ra ngoài và kẻ thù cũng không dễ gì mà đột nhập bất ngờ, ấy vậy mà Turi vẫn cảm thấy thấp thỏm, phấp phỏng. Những người thân cứ muốn ép hắn vào khuôn khổ sống trước kia, khuyến khích hắn trở thành một anh nông dân cù lần, quê mùa, hạ khí giới trước kẻ thù và chịu bó tay trước pháp luật. Lúc đó, hắn hiểu rằng có thể hắn sẽ phải tàn nhẫn ngay cả với người thân của hắn. Trước kia, hắn ước mơ được yêu hơn là có quyền lực trước đã. Hắn nhẹ nhàng nói với giáo sư Adonis và những người trong nhà:
– Thưa bố, con biết là do lòng yêu thương và lo lắng cho con mà bố đã đề ra kế hoạch như vừa rồi. Nhưng con thấy là không nên để cho má con phải bán đất đi để giải quyết những chuyện rắc rối do con gây ra. Xin bố và tất cả những người thân ở đây đừng quá lo lắng cho con. Con đã lớn rồi. Và, do đó, con phải tự lo lấy, phải tự trả giá cho sự bất cẩn của mình, không thể để cho bất cứ ai phải bồi thường cái chết của thằng cớm do chính con gây ra. Nên nhớ là con chỉ buôn chui có một chút pho-mát, chẳng phải chỉ có con đi buôn chui mà cả đảo Sicily này buôn chui, thế mà nó cũng đang tâm xả súng vào con. Chắc con cũng sẽ chẳng bán hạ nó, nếu con không thấy là nó bắn con sắp chết. Và nếu vậy, con phải trả thù. Nếu không, con là một thằng hèn, con không là một thằng đáng nhìn một ai nữa. Nhưng đó là chuyện đã qua. Từ nay về sau con sẽ không nổ súng dễ dàng như vậy nữa.
Pisicotta cố làm cho bầu không khí bớt căng thẳng. Y cười cười:
– Dù sao thì sống trên núi vẫn khoái hơn là ở dưới này mà cứ phải khép na khép nép, lấm la lấm lét mỗi khi thấy bóng mấy thằng cớm chó đẻ.
Nhưng câu nói ấy cũng không làm cho cha mẹ Guiliano bớt lo lắng. Đôi mắt sáng rực của bà lộ nét hốt hoảng, sợ sệt. Bà nói, giọng tuyệt vọng:
– Đừng có làm thằng ăn cướp, đừng có cướp của người nghèo. Họ đã quá nghèo, quá khổ rồi, đừng làm cho họ khổ thêm nữa. Sống ngoài vòng pháp luật có khoái hay không thì cứ để cô La Venera đây nói cho mà nghe.
La Venera ngẩng mặt lên, nhìn thẳng vào Turi. Hắn bị xúc động không phải bởi cái vẻ buồn thảm, mà bởi cái nét khêu gợi, đắm đuối. Đôi mắt hơi lẳng của chị ta chiếu thẳng vào Guiliano như thể lôi cuốn, mời gọi vào cơn đam mê khoái lạc. Trước kia, Guiliano chỉ nghĩ đến chị ta như một người đàn bà lớn tuổi hơn nó, nhưng nay, nhìn chị ta, nó thấy lửa dục bừng bừng. Bằng giọng nói đầy xúc động, chị ta nói:
– Cũng chính trên dãy núi mà cậu muốn sống ở đó, thì nhà tôi cũng đã ở. Nhưng, như một con thú. Lúc nào cũng nơm nớp, lúc nào cũng thấp thỏm, ăn ngủ không được. Hai vợ chồng đang ân ái trên giường mà chỉ một tiếng động nhỏ cũng làm anh ấy giật mình, chồm dậy, dáo da dáo dác. Nằm ngủ tại nhà mà súng anh ấy vẫn để sát bên mình. Nhưng cũng chẳng vì thế mà bớt sợ, cho đến khi con bé cháu nó ốm, anh ấy ráng lén về thăm nó. Và bọn cớm biết anh ấy là người rất từ tâm, thương con, nên chúng phục sẵn, và chúng đã bắn chết anh ấy như bắn con chó ngoài đường. Chúng đá vào xác anh ấy rồi nhìn tôi mà cười hô hố.
Guiliano thấy trên mặt Pisciotta có thoáng nét giễu cợt. Tên cướp khét tiếng tàn bạo mà lại có lòng từ tâm? Gã đã mần thịt liền một mạch sáu mạng người, chỉ vì nghi họ là mật báo viên. Gã cướp của đám nông dân khá giả đã đành, mà còn bóp nặn cả đám dân nghèo mạt, gieo rắc khủng bố khắp vùng. Ấy vậy mà vợ gã lại nghĩ khác, cho gã là thằng từ tâm.
Chẳng để ý đến nụ cười tủm tỉm của Pisciotta, La Venera nói tiếp:
– Tôi chôn chồng xong, thì một tuần lễ sau cũng chôn luôn đứa con. Người ta nói là cháu nó bị sưng phổi. Nhưng tôi nghĩ là nó chết, bởi lòng dạ nó cũng tan nát vì buồn, vì lo. Cái làm cho tôi nhớ nhất là lúc tôi lén lên thăm anh ấy trên núi. Anh ấy bị lạnh, đói và có lúc bị ốm nữa. Nhưng anh ấy vẫn không tìm cách trở về sinh sống như một người nông dân bình thường. Tệ nhất là lòng dạ anh ấy trở nên chai đá, không còn tính người, tâm hồn không còn an tĩnh được nữa. Bởi vậy, cậu Turi, đừng có quá tự ái và kiêu hãnh. Tụi tôi sẽ giúp cậu trong lúc hoạn nạn. Đừng sống như nhà tôi trước khi chết.
Mọi người im lặng. Pisicotta không tủm tỉm cười nữa. Ông bố Guiliano thì lầm bẩm trong miệng là bán thửa đất đi ông càng khoẻ, khỏi phải làm, sáng sáng có thể ngủ đến tám chín giờ. Hector Adonis nhíu mày và cúi nhìn tấm khăn bàn. Không ai nói năng gì. Bỗng, tiếng gõ cửa dồn dập đột nhiên phá tan sự im lặng. Đó là dấu hiệu báo nguy, Pisicotta đi ra nói gì đó với người báo tin. Trở lại, y ra hiệu cho Turi mang vũ khí vào và nói:
– Đèn trong trại của bọn cớm bỗng bật sáng trưng, chắc là tụi nó đang chuẩn bị. – Im lặng một chút, y nói tiếp. – Thôi, chào giã từ, rồi chuồn lẹ cho rồi.
Cái gây ấn tượng cho mọi người là cái bình tĩnh của Turi khi hắn chuẩn bị đào tẩu. Bà mẹ lao mình vào vòng tay của hắn. Tay Turi vẫn còn cầm cái áo da cừu, nhưng cũng đã sẵn sàng ôm hôn bà. Hắn chào từ giã mọi người. Cử động của hắn chẳng có gì là lýnh quýnh hấp tấp, nhưng cũng chưa đầy năm phút sau, hắn đã súng ống sẵn sàng đầy đủ trên người. Hắn cũng chẳng có vẻ gì vội vã, mà đứng đó mỉm cười với mọi người, rồi nói với Pisciotta:
– Aspanu, cứ ở lại đây rồi lên trên với tao sau, hay là đi với tao bây giờ cũng được.
Chẳng nói chẳng rằng, Pisciotta đi ra phía cửa sau và mở cửa đi ra.
Pisciotta đi trước dẫn đường. Đi qua dải đất nằm giữa chân núi và thị trấn, Guiliano khẽ huýt gió. Pisciotta dừng lại để Guiliano bắt kịp y. Vào đến gần núi, thì trời lại có vẻ sáng hơn nhờ những tảng đá vôi phản chiếu ánh trăng. Những người canh chừng cảnh sát đã cho hai đứa biết là không có cớm tuần tiễu ở hướng đó. Chúng có thể bình yên trở lại hang Bianca sau bốn tiếng đồng hồ leo núi. Nếu bọn cớm dám đuổi theo chúng ban đêm, thì phải kể đó là một ngoại lệ đòi hỏi vừa can đảm vừa điên khùng. Guiliano nói:
– Nè, Aspanu, trong đồn có bao nhiêu thằng cớm?
– Mười hai, chưa kể Maresciallo.
– Mười ba, con số xúi quẩy – Guiliano cười. – Có vài ngoe như vậy thì việc đếch gì mình phải chạy trốn? – Hắn im lặng một chút rồi nói tiếp: – Theo tao.
Hai đứa quay trở lại và đi xuyên vào thị trấn. Qua đường Via Bella, chúng có thể nhìn thấy căn nhà của Guiliano nằm im lìm trong bóng tối. Hắn nấp vào một chỗ khuất, chờ.
Năm phút sau, chúng thấy tiếng xe Jeep ào ào chạy tới. Sáu thằng cớm, kể cả Maresciallo, chất trên chiếc xe ấy. Hai tên từ trên xe nhảy xuống chặn lối ra vào nhà. Còn Maresciallo và ba tên kia tiến lên đập cửa rầm rầm. Cùng lúc đó, một chiếc xe bít bùng chạy đến đậu sát đằng sau xe Jeep. Hai thằng cớm, tay lăm lăm khẩu tiểu liên từ trên xe nhảy xuống chặn hai đầu đường. Turi chăm chú nhìn quang cảnh đó và nhận xét: cuộc bố ráp được đặt trên giả thuyết là đối tượng không bao giờ phản công được, vì bọn cớm có ưu thế về quân số và võ khí. Turi luôn hành động theo nguyên tắc: khi bị săn đuổi, phải tìm cách để ở vào vị thế có thể phản công, bất kể sự chênh lệch lực lượng. Và có lẽ càng chênh lệch càng tốt.
Đây là cuộc “ra quân” đầu tiên của Guiliano. Và, hắn lấy làm ngạc nhiên là – Nếu hắn định gây cuộc đổ máu – hắn lại có thể dễ dàng chế ngự tình hình đến thế. Tất nhiên là hắn không thể bắn vào Maresciallo và ba người đang đứng trước cửa nhà hắn, vì sợ đạn lạc vào người nhà. Nhưng hắn có thể dễ dàng hạ hai thằng tài xế và bốn thằng đứng chặn ngoài đường. Nếu muốn, hắn có thể ra tay ngay khi Maesciallo và mấy thằng kia bước vào bên trong nhà. Khi súng đã nổ thì cho ăn kẹo thằng Maresciallo và mấy thằng kia cũng không dám thò đầu ra. Và lúc đó, hắn và Pisciotta tha hồ làm mưa làm gió. Còn bọn cớm ở cái xe chặn tuốt dưới cuối phố thì còn xa, do đó, đâu kịp đỡ đòn cho bọn này. Và chúng cũng chẳng dám chạy lên, nếu không có lệnh.
Nhưng, hắn không muốn gây đổ máu. Hắn vẫn còn “quân tử Tàu”. Hơn thế nữa, hắn vẫn muốn xem Maresciallo giở những trò gì nữa. Vì thằng cha này có thể sẽ là đối thủ chính của nó trong tương lai. Đúng lúc đó, chính ông già nó ra mở cửa. Và Maresciallo đã hùng hổ, thô bạo nắm cánh tay ông già nó, lôi xềnh xệch ra đường và quát: “Đứng đó”.
Một người như Maresciallo mà leo lên được cấp trung sĩ trong ngành cảnh sát quốc gia Ý thì đã là quá rồi, nhứt rồi. Và, nếu có leo lên được đến đó thì cũng chỉ được chỉ huy một tiểu đội cớm ở một cái thị trấn sơn lâm cùng cốc nào đó, như Montelepre chẳng hạn. Nhưng, ở những nơi ấy thì thầy đội cớm cũng “oách” chán, chẳng thua gì ông cha sở họ đạo, hoặc thậm chí, ông thị trưởng. Ấy vậy mà bà già Guiliano chẳng cung kính tiếp đón thì chớ, trái lại còn chặn ngang lối vào, nhổ nước miếng cái “tẹc” đặng tỏ dấu khinh bỉ. Gã và ba người của gã phải dùng sức gạt bà ra để vào nhà và lục soát, trong khi bị bà Guiliano mắng nhiếc, sỉ vả thậm tệ. Mọi người trong nhà đều bị lùa ra đường. Đàn ông, đàn bà ở các nhà bên cạnh cũng đổ xô ra ngoài để xem và la trách bọn cớm. Lục soát không có kết quả, Maresciallo quay ra hỏi cung những người trong nhà. Ông bố Guiliano đã hỏi ngược lại Maresciallo:
– Bộ ông tưởng là tôi sẽ tố cáo con tôi hay sao chứ?
Câu hỏi làm cho mọi người ngạc nhiên, thích thú và cười ồ cả lên. Maresciallo “quê” quá, ra lệnh cho mọi người quay vào trong nhà.
Trong chỗ đang nấp, Pisciotta thì thào nói với Guiliano:
– May mà bà già mày không có võ khí, chứ nếu có bà dám….
Nhưng, Guiliano không trả lời. Máu bốc rần rần lên đầu hắn. Hắn phải hết sức tự kiềm chế. Maressciallo dùng dùi cui quất một người trong đám đông đã dám phản đối hành động thô bạo của chúng đối với người trong gia đình Guiliano. Hai tên cớm khác túm đại mấy người, vừa quất dùi cui, vừa đấm đá túi bụi và đẩy lên xe bít bùng, bất chấp tiếng kêu la, sợ hãi phản đối. Có một người đứng một mình giữa đường bỗng thình lình đá mạnh vào Marescialo. Tiếng súng nổ, người đó té lăn trên đường trải sỏi. Từ một trong những căn nhà có bắn đang quằn quại. Turi nhận ra bà ta. Đó là bạn cố hữu của mẹ hắn và thường đem bánh trái sang cho bà.
Turi vỗ vai Pisiciotta, thì thào:
– Theo tao.
Hai đứa luồn lối quanh theo con đường dẫn tới quảng trường ở đầu đàng kia phố Via Bella. Pisciotta gay gắt khẽ hỏi:
– Mày làm cái quỉ gì vậy.
Nhưng, rồi y lại im lặng. Thình lình, y hiểu ra thằng Guiliano muốn gì. Chiếc xe chở những người bị bắt nhất định phải vòng xuống đây mới quay đầu xe trở về đồn được. Khi chạy len lỏi trong bóng tối, Guiliano cảm thấy mình vô hình như bóng ma. Hắn biết là địch thủ không bao giờ tưởng tượng được hắn sắp làm gì, mà cứ nghĩ là chắc giờ này hắn đang cao chạy xa bay lên núi rồi. Hắn cảm thấy phấn khởi một cách dữ dội. Chúng sẽ phải học bài học kinh nghiệm này: không thể nào lục soát nhà của Guiliano mà lại bình yên vô sự. Để mỗi khi chúng muốn làm như vậy, chúng phải suy đi tính lại. Chúng không thể lạnh lùng nổ súng, coi mạng người như ngoé, như đồ chơi được. Hắn sẽ bắt bọn cớm phải kiêng nể những người lối xóm cũng như gia đình hắn.
Guiliano và Pisciotta đã đến phía cuối quảng trường, chỗ có ngọn đèn độc nhất và chiếc xe cảnh sát đậu chặn lối đi vào đường Via Bella. Cứ như thể chúng đang bị vây trong rọ: đầu kia là bọn Maresciallo, đầu này là xe cớm đứng trấn. Bọn chúng đang nghĩ gì? Đó có phải là một kiểu mẫu hành quân vây hãm hay không? Chúng rẽ qua phía bên kia đường và chạy tọt vào cửa hậu nhà thờ. Ngôi nhà thờ đứng sừng sững trước quảng trường. Vào bên trong, cả hai nhảy qua hàng rào chấn song chỗ cung thánh và ngừng lại chút xíu trước bàn thờ. Đây là nơi mà trước kia, lúc còn nhỏ, hắn đã từng làm tiểu lễ sinh giúp ông cha ban bánh thánh cho giáo dân vào các ngày lễ và ngày chủ nhật. Vũ khí trong tay, hắn quỳ gối, tay quơ quào làm dấu thánh giá trước ngực. Thoáng trong một giây, hình như quyền lực toát ra từ tượng Chúa Jesus trên đầu đội mão gai, bị đóng đinh trên cây thập tự, tượng của Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Mary mặc áo màu da trời và từ tượng các chư thánh khác đã làm cùn nhụt cái ý chí chiến đấu của chúng. Nhưng, chúng bỗng đứng phắt dậy và chạy dọc theo lối giữa nhà thờ và đi đến cánh cửa lớn bằng gỗ sồi trông ra quảng trường. Nơi đây, chút xíu nữa thôi sẽ thành chiến trường. Chúng quì xuống, chuẩn bị vũ khí.
Chiếc xe chặn lối vào phố Via Bella đã lùi lại, lấy lối cho xe bít bùng chở người bị bắt vào quảng trường để quay đầu xe. Đúng lúc đó Guiliano mở hé cửa và khẽ nói với Pisciotta:
– Bắn bổng trên đầu chúng nó thôi.

Photo edit by Sơn râu

Đồng thời, hắn chĩa súng bắn vào bánh xe và thùng xăng của chiếc xe. Lập tức, bánh xe xẹp lép và bắt lửa. Hai tên cớm ngồi trên xe nhảy nhào ra ngoài nom như hai con búp bê bị đứt dây cột. Sự ngạc nhiên đã không cho chúng thì giờ để hoàn hồn! Bên cạnh Turi, Pisciotta đang bắn vào đầu chiếc xe bít bùng. Turi thấy tên tài xế nhoài người ra rồi nằm luôn. Những tên cớm có vũ trang khác nhảy ra và Pisciotta bắn tiếp. Thêm một tên cớm nữa bị “lật”. Turi quay sang phía Pisciotta định trách. Nhưng tiếng súng máy nổ giòn và kính rớt loảng xoảng mảnh vỡ bắn tứ tung. Turi hiểu rằng không thể động lòng trắc ẩn, xót thương nữa. Aspanu có lý. Hoặc giết hoặc bị giết. Có thế thôi.
Guiliano kéo tay Posciotta chạy lại chỗ bàn thờ, chuồn qua cửa hậu và lẻn ra ngoài, len lỏi quanh co trong bóng tối trên đường quay về núi. Hắn biết đêm nay hắn không hy vọng giải cứu những người bị bắt. Hai đứa đã đi tới dải đất ngăn thị xã và chân núi. Chúng chạy lúp xúp băng qua dải đất đó cho đến khi leo lên đến dốc an toàn vì có đầy những tảng đá vôi che chắn cho chúng.
Bình minh vừa chớm trên đỉnh Ora trong dãy núi Cammarata bao quanh thị trấn.
Gần hai ngàn năm trước đó, Spartacus đã cùng đạo quân nô lệ của ông trú ẩn tại đây và từ đây phóng ra những đợt tấn công vào đạo binh La Mã. Đứng trên đỉnh Ora, nhìn mặt trời đang mọc, Turi Guiliano cảm thấy tràn ngập, rộn rã niềm vui tuổi trẻ vì hắn đã thoát khỏi tay kẻ thù. Hắn đã có quyền để cho ai sống thì được sống, bắt ai chết thì phải chết. Trong tinh thần, hắn không còn cảm thấy hoài nghi về những gì hắn sẽ làm, không còn băn khoăn về việc có phải là hắn đã làm cho Sicily được tự do và vinh quang, hoặc việc nào là xấu, việc nào là tốt. Tất cả những gì hắn sẽ làm chỉ là chiến đấu cho công lý, là phụng sự người nghèo khổ. Hắn sẽ bách chiến bách thắng. Hắn sẽ chinh phục được lòng mến mộ, cảm phục của những người bị áp bức, bị bóc lột, bị khinh miệt.
Năm đó, Turi Guiliano mới chỉ vừa hai mươi mốt.
………
(1) Garibaldi (1807 – 1882): nhà ái quốc người Ý, đã cùng với Mazzini giải phóng đất nước và đấu tranh cho sự thống nhất của Ý. Ông cũng là tay giang hồ phiêu lưu, ba chìm bẩy nổi và là một “hiệp sĩ” hễ thấy sự bất công là ra tay. Chính vì vậy mà năm 1870 – 1871 ông đã đứng về phía Pháp chiến đấu chống Hoàng đế Phổ (Đức)





26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 23 Jul 2024

Phần 3

Nhứt phá sơn lâm

Trời vừa hừng sáng là khu rừng bắt đầu huyên náo. Từ sáu tháng nay, trướx sự xâm chiếm của lớp người”tay rìu” bao nhiêu chim cò, rắn, rít, khỉ, chồn, heo rừng phải nhượng bộ rút lui. 
Bọn tay rìu vào rừng kinh ngang kin dọc dưới sự điều khiển củacặp rằng . Tất cảcặp rằng đều do một ông”chủ đường” chỉ huy. Ðường có nghĩa là con kinh lớn tập trung bao nhiêu củi đã cưa sẵn thành từng khúc hai tấc rưỡi hoặc một thước. Muốn có một đường củi như vậy phải là tay rất có thế lực đối với nhà cầm quyền thực dân thời bấy giờ. 
Họ đấu giá một lô rừng cúp, loại rừng mà nhà nước cho phép khai thác cứ hai mươi hoặc hai mươi lăm năm một lần. 
Sau khi đấu giá được, việc cấp bách nhứt là mộ nhân công (tay rìu) vì chung quanh khu rừng nói trên rất ít dânc ư. Phải có nhân công thật nhiều mới khai thác xong đúng thời gian cam kết với nhà nước. Vì vậy, người chủ đường phải mộ nhiều nhân công từ Cần Thơ, Hà Tiên, Long Xuyên… đem xuống tận cái lô rừng cúp rạch Thứ Sáu, làng Ðông Thái, tỉnh Rạch Giá này. 

Anh Tư Bình Thủy tốc nóp, ngồi dậy. Anh ngáp dài, nhìn rừng, nhìn nước rồi từ từ nả lưng xuống với ý định dỗ lại giấc ngủ, bụng nghĩ thầm: 
– Làm thêm đôi ba thước củi cũng chưa đũ trả nợ. Không khéo, lại lao lực sanh bịnh tim, bịnh phổi mà mang khốn… 
Cum! Cum! Cum! 
Tiếng búa bổ vào gốc tràm bắt đầu vang lên từ đầu đến cuối rừng nghe còn nhặt hơn tiếng mõ thầy chùa tụng kinh. 
Ðùng! Ðùng! Ðùng! 
Từng thân cây ngã xuống liên hồi mặt nước rung chuyển, sóng gợn lên chạy dài, vỗ vào vách chòi của anh nghe lát chát. 
Các “tay rìu” bắt đầu nói chuyện cho qua cơn mệt nhọc. Anh Tư Bình Thủy nghiêng tai vào đầu nóp, lắng nghe tỏ rõ từng tiếng một: 
– Rừng này gốc của ông Gia Long. Hồi xưa Gia Long cũng như mình… 
Ðó là giọng của Hai Cờ Ðỏ. Gọi là Cờ Ðổ không phải vì cầm cờ Cộng sản đi biểu tình, nhưng vì quê quán anh này ở Cờ Ðỏ – một địa phương thuộc đồn điền của Tây “Êmory.” Anh có giấy chứng nhận riêng biệt của hãng Tây. Theo lời anh khoe khoang thì giấy đó mạnh hơn giấy thuế thân, bảo đảm không sợ bất cứ một thầy hương quản nào. Giọng Hai Cờ Ðỏ nói sang sảng: 
– Ðố các cha vậy chớ rừng này hồi đời xưa có vua Gia Long đi ngang qua không? 
Có tiếng cãi lại: 
– Túng tiền thì lại đây, tôi cho mượng đỡ vài cắc, chớ đừng nói dóc. Nói phải có sách, mách phải có chứng… 
– Dân ở Cờ Ðỏ không bao giờ nói dóc. Ðể tôi nói lại. Số là xưa kia… Gia Long bị Tây Sơn rượt, ngài phải dùng ghe biển mà chạy từ Cà Mau ra Phú Quốc. Chiếc ghe của ngài gọi là long thuyền… Ngài đứng trước mũi ghe, ngóng vào bờ mến tiếc lắm, vì ngài muốn làm vua ở đất liền chớ nào có mộng làm chúa ở cù lao… 
Ai nấy nhốn nháo lên: 
– Nghe lòng vòng quá. Nói cho lẹ thử coi… Muỗi cắn gần chết đây nè? Bà con nào cho tôi mượn bếp un, quạt khói lên dùm… 
– Tôi nói ông Gia Long ngóng vô bờ, dòm dáo dác cái cụm rừng của tụi mình đương đứng bây giờ. Rồi ổng day qua nói với đình thần tả hữu:”Sơn bất cao, thủy bất thâm, phù sa chiịa nhơn tác bất thành tu hú giả. Nhứt phá sơn lâm, nhì đâm Hà Bá, cao phi viễn tẩu giả nan tàng…” 
– Cắt nghĩa cho mau. Ở đây ai mà biết chữ nho. 
Hai Cờ Ðỏ cười dòn: 
– Câu đó ngụ ý về địa lý. Gia Long nói xứ Nam Kỳ này không có núi cao, không có sông sâu. Còn đất phù sa thì dở quá, vô dụng. Ðến đỗi móc đất lên nắn con tú hú để thổi cũng không kêu. Ðó là”bất thành tu hú giả.” Duy có hai nghề phá sơn lâm đâm Hà Bá là dễ làm ăn. Nhưng lưới trời lồng lộng không ai chạy khỏi: phá rừng, chài cá khiến con người phải nghèo mạt… 
Cả bọn cười vang lên: 
– Hay! Hay! Bây giờ tới phiên ông Tư Châu Xương nói cho anh em nghe một chuyện khác. 
Nghe đến tên ông Châu Xương, anh Tư Bình Thủy chợt sáng mắt lên. Ông này nước da đen ngăm, mặt mày hung tợn nhưng lòng dạ thiệt thà. Trong số tay rìu quen biết chỉ có ông là tử tế với anh nhứt. Bằng cớ là hôm trước lúc anh đau rét suốt ba, bốn ngày, ông cho đứa con gái lại nấu cháo và cho tiền để mua mấy chai thuốc phát lãnh hoàn. Cô gái ấy tên là Mịn, tuy đen đúa nhưng có duyên. Lúc ban đầu Mịn kêu bằng chú. Anh phải đính chánh lại rằng tuổi anh còn nhỏ, mới có hăm ba vì quá lăn lóc với sanh kế nên mau già đó thôi. 
Sau rốt, Mịn chịu gọi anh bằng anh, Mịn săn sóc châu đáo lắm, nhiều đêm ngồi quạt khói un muỗi cho anh đến quá mười giờ đêm mà không về. Những đêm về khuya đó, anh không bao giờ nghe tiếng ông Tư Châu Xương rầy con gái. Trái lại, có đêm nhiều khi cô Mịnh bơi xuồng đến thăm anh một lần thứ hai. 
– Ba của em sợ anh đắng miệng, biểu em đem qua anh điếu thuốc rê này. Ba nói hễ khi nào anh hút thấy ngon là trong mình bớt đau. 
Ðêm thanh vắng, giữa tứ bề rừng bụi, anh Tư lúc ấy thấy vui sướng không cùng. Anh cố tình nói một câu để dọ thử tấm lòng cô Mịn: 
– Làm ơn thì làm ơn cho trót. Không lẽ tôi phải bước xuống sàn lại đằng bếp un để châm thuốc hút. Nhờ em đốt dùm. 
Mịn e thẹn: 
– Hồi giờ, em đâu biết đốt thuốc. Hay là em gắp cục than cho anh. 
– Tội nghiệp. Bộ cô muốn đốt tôi luôn sao? Có gì là đắng. Cô cứ ngậm vô miệng, hút một hơi cha cháy trước. 
Và Mịn đã ngoan ngoãn nghe lời của anh. Ðiếu thuốc rê hôm đó ngon làm sao! 
Cô Mịn đã xuống về từ lâu mà anh còn ngồi đó, tiếc cái tàn thuốc đã cháy tới da tay, tâm trí mơ màng nhớ đến đôi mắt của Mịn, đôi mắt đen như nước rừng, có đôi vì sao chiếu xuống ngời lên lấp lánh… 
Ông Tư Châu Xương bắt đầu kể chuyện. Anh Tư Bình Thủy lập tức ngồi dậy. Nghe có tiếng cưa củi, anh đoán chắc hôm nay thế nào cũng có cô Mịn đến giúp cha. 
Ông nói: 
– Hai Cờ Ðỏ nói dứt cái sấm truyền của vua Gia Long. Bây giờ tôi xin nói tiếp về lúc Tây qua đánh thành Long Hồ tức Vĩnh Long bây giờ. Tôi cắt nghĩa tại sao lính Tây có mang mỏ neo ở bâu nói, tại sao trên đồng bạc trắng của Tây có chạm hình người đàn bà… 
“Năm đó, Tây kéo tàu binh tới bến Long Hồ. Tụi nó bắn súng lên. Bên này, binh của An Nam mình lập tức nã đại bác thần công xuống. Hai bên kịch chiến khá lâu. Lính Tây chết nhiều quá. Quan đề đốc của Tây ra lịnh kéo neo rút lui về Mỹ Tho. 
Thừa cơ, bên mình bắn súng như mưa bấc. Lính thủy Tây ráng sức kéo neo nhưng không xuể. Vì vậy, tàu chạy thối lui không được. Dè đâu, lúc đó trên tàu Tây một con đầm xuất hiện ra, tay cầm cờ phất tới. Ðó là vợ của quan đề đốc đứng ra thay chồng để xua binh đổ bộ lần thứ hai. Nhờ vậy, Tây thắng, chiếm thành Long Hồ. Sau đó, tụi nó nhớ ơn cái mỏ neo với con đầm nên mới ra lịnh ghi lại kỷ niệm… Bởi vậy, đàn ông nhiều khi cần có đàn bà giúp mới làm được việc lớn. Và ở đời, nhiều khi cái chuyện rủi ro như cái mỏ neo nọ lại biến thành dịp may…” 
Ông Tư Châu Xương dứt lời, ai nấy cười vang. Có người chêm vô một câu: 
– Bây giờ tới phía Tư Bình Thủy. Tư Bình Thủy đâu rồi? Nó mê ông lắm đó ông Tư. 
Anh Tư ngồi trong này nín khe, lắng nghe ngoài rừng thiên hạ gọi anh ngày một gấp! 
– Ðâu rồi? Hay là thua bài cào hồi tối rồi ngã luôn. Hồi tối, tôi thua hai chục đồng, nó thua có năm đồng, nhằm nhè gì. Ông Tư Châu Xương đâu? Kêu… thằng rẻ của ông thức dậy coi… 
Anh Tư Bình Thủy lắng nghe chờ sự phản ứng của ông Tư Châu Xương. Nhưng êm tịnh, chập sau, thấy Hai Cờ Ðỏ chống xuồng tới chòi. Anh giả vờ như ngủ mới thức dậy mà nói: 
– Bữa nay bịnh quá, tôi muốn ngủ luôn. Kêu ra có chuyện gì không? 
– Ra rừng rồi hãy biết. Ông già vợ của mầy chờ ở ngoải. 
– Ðừng nói bậy, ông bắt lỗi thì sao? 
– Cam đoan không bắt lỗi. Thằng Tư mâỳ biết không? Hồi nãy ông nói: đàn ông cần có đàn bà mới lập sự nghiệp được. Chắc là ổng muốn mở hơi gả con gái cho thằng Tư mầy. 
Anh Tư Bình Thủy lội xuống rừng. Nước rừng quá lạnh, ngập khỏi lưng quần, khiến anh tỉnh táo lại. Anh cầm búa lội qua gốc tràm gần đó. Nể lời yêu cầu của người chung quanh, anh không thể chối từ: 
– Tôi chỉ biết bài thơ ông Tiều. Bà con có đọc Lục Vân Tiên đều biết. Tôi không muốn nói ra vì nó chua chát quá. Tay rìu đời nay là ông Tiều đời xưa đầu thai lại chớ gì… 
Tiều rằng: Vốn lão tinh thông, 
Một mình thơ thẩn non lòng hôm mai. 
Tấm lòng chẳng muốn của ai, 
Lánh nơi danh lợi chông gia mặc lòng. 
Kìa non nọ nước thong dong, 
Trăng thanh gió mát bạn cùng hươu nai. 
Công hầu phú quí mặc ai, 
Lộc rừng gánh vác hai vai tháng ngày. 
Giọng của Tư Bình Thủy khá trong trẻo nên hấp dẫn được người nghe. Mặc dầu đó là tâm sự của người xưa nhưng những người lưu lạc ngày nay cũng nhờ đó mà sống lại đôi phút giây mát mẽ, thơ mộng. Họ im lặng nhìn nhau, chờ đợi lời bình luận sôi nổi. Cô Mịn liếc qua Tư Bình Thủy như khâm phục, hãnh diện. 
Nhưng từ trong rừng, kìa tên cặp rằng Be chống xuồng ló ra. Hắn mặc áo bành tô vàng, miệng ngậm ống vố, hất hàm lên: 
– Ê Từ Bình Thủy nói dóc cái gì đó? Thằng này bữa nay bày đặt o mèo nữa hả? Thi phú của mầy ăn nhập vào đâu? 
Tư Bình Thủy trợn mắt nhìn cặp rằng Be. Hắn nhếch mép: 
– Nói chơi không được nữa hả? Tao cho mầy hay: Cô Mịn muốn có hạnh phúc thì hãy tìm một người giống như tao. Cô sẽ có áo bông quần lãnh. 
Rồi hắn day lại cô Mịn mà cười: 
– Phải vậy không cô Mịn? Cưa củi làm chi mà áo rách vai, rách ngực. Người ta thấy da, thấy thịt của cô kìa… Cô dòm lại coi… trắng xát. 
Nhanh như chớp, Tư Bình Thủy xách búa lội nước đùng đùng lại gần xuồng cặp rằng Be mà chửi: 
– Ỷ làm cặp rằng hả? Ðồ tục tỉu! Tao chém mầy! 
Cái chuyện cầm búa hăm he chém người như thế ra rất thường giữa cuộc làm ăn hỗn độn này. Ông Châu Xương, ông Hai Cờ Ðỏ thấy chưa cần can thiệp, vì ông biết cái tật xỏ lá của cặp rằng Be. Ðúng vậy, hắn vội vã chống xuồng ra xa rồi dừng lại, nói vài câu để cứu vớt thể diện: 
– Bà con ơi! Thằng con nít thất học này làm gì mà biết thi phú, kinh sử. Nó nói dóc. 
Tư Bình Thủy nói lớn: 
– Thằng nào nói dóc? Chú mầy mới là thằng nói dóc. Hồi qua Bình Thủy rủ tao xuống đây, mầy nói ở dưới này sướng lắm. Sao mầy không nói ở dưới này muỗi mòng đỉa vắt nước ngập ngang lưng quần, nhà cửa không có. Mầy lại còn bày đặt chứa bài cào lấy xâu. Măn mùa, mồ hôi nước nắt của dân tứ xứ bị mầy cướp ráo. 
Cặp rằng Be đành đuối lý, chống xuồng đi. Hắn nói với lại: 
– Tao cho Tây hay. Nó vô bắn nát óc mầy. Xứ này, xứ của tây mầy biết chưa? 
“Xứ này, xứ của Tây.” Mấy tiếng đó khiến cho ai nấy cười rộ lên, cười chua chát thiếu điều ra nước mắt. Gió rừng ngừng lại. Nước rừng bừng tỉnh soi rõ từng lá cây, dáng người. Chập sau, ông Tư Châu Xương nói ôn tồn: 
– Mình dốt nát không biết tích Gia Long tẩu quốc, tích Tây đánh thành Long Hồ, nhưng chắc chắn mình không bao giờ nói một câu quá trật lất như thằng cặp rằng đó. Hơi đâu mà phiền, Từ Bình Thủy ơi! Trăm sự chỉ vì sinh kế. Ông Tiều này xưa nào có lúc rảnh rang tâm trí. Hồi nãy đọc thơ Lục Vân Tiên, cháu quên mấy câu trước:Mình rằng: đây đó hỏi han, xin vào chùa sẽ luận bàn cùng nhau. Nhưng ông Tiều không được rảnh:Tiều rằng: chẳng dám nói lâu, bởi vì còn phải vào rừng đốn củi bán hầu chợ phiên. 
Trăm sự cũng bởi đồng tiền. Bây giờ, mưu kế hay nhứt là tối nay cháu lại nhà bác. Bác chỉ cho ni tấc từng cây cột, cây kèo. Mình nến thừa dịp này mà ăn cắp… của Tây một bộ cột. Cứ đốn sẵn, nhận lấp dưới sình. Hôm nào thuận lợi, mình sẽ lưu đi. Mai kia mốt lại, cuộc phá sơn lâm này mãn, chắc chắn thế nào mình cũng lời được một cái sườn nhà. Cháu chịu vậy không? 
Anh Tư Bình Thủy liếc sang cô Mịn rồi cúi đầu trả lời nhỏ: 
– Dạ, bác thương con cháu. Con cháu đội ơn bác không hết chớ có dám cãi lại bao giờ.


26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 23 Jul 2024

Phần 2

Chuyện rừng tràm

Rừng Cà Mau âm u và mênh mông đến mức nào? Ðể trả lời câu hỏi đó, người ở địa phương thường xúm xít lại để kể cho nhau một câu chuyện giải trí như vầy: 
Năm đó thầy đội kiểm lâm X. vừa đáo nhậm ở lô rừng 321. Thầy ta thích bắn chim nên luôn luôn đích thân bơi xuồng đi rong khắp đường quanh nẻo tắt trong rừng. Cho đến ngày nọ, thầy nghe có tiếng chim gõ kiến, thứ chim chỉ ở vùng đất cao chớ không bao giờ ở nơi rừng tràm trầm thủy. Lấy làm lạ, thầy từ từ bơi xuồng lại ngay hướng đó, lắng tai xác nhận rõ ràng: 
– Cóc! Cóc! Cóc! Cóc! 
“Chắc là chỗ này chim gõ kiến nhiều lắm.” Thầy đội nghĩ thầm như vậy. Mái dầm khoát nước càng lúc càng hăng. Và ngạc nhiên làm sao, tiếng “cóc cóc” lần lần nghe trầm xuống, thở thành tiếng “cum cum” giống na ná tiếng mõ của đình làng. 
Trước mặt hiện ra một cảnh lạ mắt khiến thầy bỡ ngỡ như hai chàng Lưu Nguyễn khi giã từ non cao để trở về gặp trần gian. Cảnh rừng tràm dày bịt “cây chen vạn gốc” không còn nữa. Một vòm trời xán lạn hiện ra. Hàng trăm mái nhà cất san sát thành một xóm lớn, trong bản đồ tự hồi nào đến giờ chưa có ghi vào. Chừng điều tra lại thì ô hô! Ðó là một số người lén lút vào đây cất nhà phá rừng để bán củi lậu thuế đã ba năm qua mà nhà cầm quyền không bao giờ hay biết. 
Sau khi thương lượng, họ đồng ý chịu cho thầy một số tiền “trà nước” hai ngàn đồng, hồi xưa đó là số vốn khá to. Nghe nói nhờ đó mà thầy đội sắm được chiếc đò máy và đến năm sau, thầy đâm đơn lên quan trên để xin từ chức, dưỡng già. 
Sở dĩ nãy giờ chúng tôi đi hơi xa vấn đề là cốt ý giúp độc giả hiểu tối thiểu về lối sinh hoạt của một số người khá đông sống bằng nghề phá củi lậu thuế thời Pháp thuộc. 
Anh Tư Hưng ở trong số người ấy. 
Qui mô làm ăn của anh so với xóm trên kia thì nhỏ bé hơn nhiều. Anh đã được người bạn giới thiệu vào kinh Mười Lăm. Ở đấy, chỉ có bốn gia đình, thêm anh nữa là năm. Nhờ họ khéo che đậy bằng hình thức giăng câu bắt rắn, nên lính kiểm lâm thời đó ít chú ý. 
Hừng sáng, họ đi vào rừng đốn củi. Gạp cây nào to lớn, ngay thẳng họ hạ xuống lột vỏ, ngâm bùn chôn giấu để làm cột nhà, bán với giá đắt hơn. Cứ mười bữa, họ cho người chở củi ra chợ Thới Bình giao cho nhà vựa củi. Vựa này có giấy phép của nhà nước. Ðường đi thật gay go. Lắm khi họ phải chịu trần truồng nhảy xuống bùn, đẩy xuồng củi xuyên qua rừng hàng năm, ba cây số. Ðêm hôm tăm tối, họ phải nhìn hướng sao trên trời mà đi. Lắm khi đi lạc đàng trở về xóm cũ, họ chờ ngày khác. Mùa mưa thì trên rừng có nước, việc đi lại tương đối dễ. Qua mùa hạn, muốn buôn bán lậut huế như vậy phải vác củi đi qua nhiều khu rừng nổi tiếng có rắn và cọp. 
Sống như vậy lâu ngày, anh Tư Hưng lần lần mến người mến cảnh. 
Ngày nào bán được củi là nhóm người nọ chở về một xuồng đầy gạo, đường, trà, vải. 
Lúc nào bán được một bộ cột nhà thì đó là phần thưởng chung. Họ mở tiệc ăn uống suốt ngày, thâu đêm, mời người ở xóm khác tới dự. Anh Tư Hưng thích dự những cuộc ăn uống đó. 
Ðây là Hai Ðẹt, người đã từng nhậu ba lít rượu đế với ba yến khô cá sặc rằn. 
Ðó là Bảy Vĩnh, người hồi tháng trước đã ăn một lượt ba kí-lô mỡ heo luộc chín, chấm với muối ớt. Sau khi ăn xong, anh còn đòi uống thêm bốn gáo nước lạnh. 
Lại còn Tư Cần, đối thủ lợi hại của Bảy Vĩnh, Chính Tư Cần đã ăn bốn chục viên bánh xôi nước và một con vịt luộc, Bảy Vĩnh đáp lại, sẵn sàng ăn tám kí lô sầu riêng. thứ trái này khó kiếm ở rừng Cà Mau, phải gởi tàu đò ra chợ Rạch Giá mua về. 
Ngày hôm sau đúng lời hứa, Bảy Vĩnh ăn tất cả. Có điều lạ là sau đó anh trợn trắng, mửa ra toàn sầu riêng, khiến cho cử toạ phải một phen khó xử vì cái mùi “thơm béo” không đến nỗi khó chịu. 
Nói chung, anh Tư Hưng không chịu tham dự các cuộc tiêu khiển ấy, không phải anh không có tài ăn nhiều như thiên hạ, ngặt vì anh muốn giữ thể diện để mưu cầu chuyện khác. 
Trong số người tụ họp, anh chú ý đến cô Một, cô gái thùy mị của ông lão Bích. 
Lão Bích là người đứng tuổi nhứt trong xóm. Lão thường đến chung vui với tư cách người thạo chữ nho. Phen đó thấy lão đến, có người dùng chữ nho để cười cợt với lão: 
-Tử viết thiện giả, có con không gả; tích thiện phùng thiện, để lâu sanh chuyện; tích ác phùng ác, để lâu tác hoác. 
Lão nâng tô rượu mà cười. 
– Tôi chỉ có mụn con gái nên phải kén rể đông sàng cho kỹ lưỡng. Cậu nào biết văn chương mới mong. 
– Văn chương là thế nào? – người nọ hỏi. 
– Là biết hát đối. Ðây tôi ra một câu, ai đối được tôi gả con gái cho:Thấy anh hay chữ em hỏi thử đôi lời, thuở tạo thiên lập địa, ông trời do ai sanh? 
Anh Tư Hưng xiết đỗi vui mừng sực nhớ hồi nhỏ anh đã từng nghe câu trả lời như sau, nên anh lập tức lên tiếng:Nghe em hỏi tức, anh trả lời phức cho rồi, thuở tạo thiên lập địa, hai đứa mình chưa sanh! 
Ai nấy vỗ tay hoan nghinh. Cô Một e thẹn, cắm đầu chạy về nhà. 
Từ đó về sau, anh Tư Hưng thường gặp cô Một để trò chuyện. Lão Bích khuyên anh nán một đôi năm, chờ khi là ăn khá. Anh vui mừng nhận lời. Từ sáng đến chiều đôi trai trẻ cố sức đốn củi để đi bán. Nhưng phen đó, rủi bị lính kiểm lâm bắt được, tịch thâu chiếc xuồng. Vô cùng buồn bực, lão Bích chạy mượn cho Tư Hưng số vốn nhỏ để anh ta xoay qua nghề buôn nồi. Nồi trách, cà ràng ở Hòn Ðất giá rẻ, chở về Cần Thơ bán lại lời gấp ba gấp tư. Nhưng họa vô đơn chí, vì chở quá cao nên khi ghe đến Cần Thơ thì bị sóng đánh chìm… 
Nghĩ rằng đã đến lúc mặt vận, anh Tư bèn lên chợ tìm nhà anh em bạn quen nhờ bảo lãnh để mướn chiếc xe kéo. Không còn cách nào nhắn tin về gia đình lão Bích, anh hằng yên tâm suy nghĩ rằng: 
– Năm xưa mình hứa một hai năm sau mới cưới cô Một. Chờ năm mười tháng nữa, mình dành dụm số tiền mọn trở về rừng cũng không thất hẹn. 
Như chim gãy cánh, vào một chiều tháng ba năm sau, anh Tư cùng một người bạn ở Cần Thơ trở về kinh Mười Lăm để thăm viếng lão Bích và cô Một. 
Rừng tràm không có mùa hạ hay mùa thu rõ rệt. Mãn năm, luôn luôn lá xanh tươi và lấm tấm vài chiếc lá vàng sắp rụng. Anh Tư và người bạn hối hả bơi xuồng vào ngọn kinh. Lòng anh khấp khởi mừng thầm. Nhưng dòng nước hôm nay có khác, nó chảy lờ đờ, trong veo không một miếng xác mía, một manh lá chuối trôi ra. Ðiều ấy chứng tỏ không còn người nào ở trong ngọn kinh. 
Ðến xóm cũ thì hỡi ôi, ai nấy đều dời mất chỉ còn sót lại vài căn nhà hoang xiêu vẹo, cất xa nền nhà lão Bích chừng non công đất. Hỏi ai bây giờ? Cây cỏ toàn là lạ, căn nhà xưa đã đóng cửa. Anh in trí rằng gia đình lão Bích đã dời đi nơi khác. Không còn đủ thời giờ để cho anh buồn tủi nữa vì mặt trời sắp lặn sau rừng. Làm sao tìm chỗ ngủ gấp ở chốn rừng này? Người bạn của anh quá nóng lòng đòi trở ra sông Cái, nhưng trở ra sao kịp? Thôi thì đành đi sâu vào rừng tìm nơi nào có đất trống, có củi mục để đốt ngừa rắn rít, cọp beo. 
Anh Tư khuyên bạn nên vào gần rừng với anh để giấc ngủ bảo đảm hơn. Cách đó không xa, đúng như anh ao ước, có một đống củi lớn chắc là của ai đốn lậu thuế chưa kịp lưu đi. 
Hai người trải nóp ra, nằm hút thuốc. Chập sau vì quá mệt mỏi không ai bải ai họ chui vào nóp ngủ say. 
Một tiếng hú lớn khiến cây cối vang dội. Anh Tư giật mình, hé nóp. Bên ngoài trăng sáng vằng vặc, không biết rõ vào canh mấy, anh Tư lắng tai định thần, để tìm hiểu tiếng hú quái dị đó. Anh ngỡ là tiếng chim ụt. Mà kìa! Có bóng trắng thấp thoáng từ xa len lỏi vào rừng tràm và tiếng cười rú lên: 
– Hả! Hả! Hả! 
Lập tức, anh Tư Hưng gọi bạn: 
– Mầy! Mầy thức hay ngủ? 
Bạn đáp liền, giọng run run: 
– Tao thức nãy giờ. 
– Mầy nghe gì không? 
– Nó hú, nó cười phải không? Chắc mình gặp con xà niên rồi. 
Anh Tư Hưng quả quyết rằng này ẩm thấp, không bao giờ có xà niên như ở vùng núi cao. Anh nhướng mắt lên. Bóng trắng ban nãy đang lù lù tới quá rõ rệt. 
Chắc chắn đó là một người con gái bỏ tóc xõa, mình mẩy trắng ngần, tay cầm một món gì ngắn, lòng thòng tựa như cây phất trần… 
Anh buột miệng: 
– Ma… ma thiệt rồi. Mầy tỉnh trí không? Mầy nằm sát xuống coi chân nó có đụng đất không? Ma thì đi hỏng chân khỏi mặt đất. 
Bạn anh trả lời: 
– Tao coi kỹ nãy giờ rồi. Nó đi hỏng mặt đất. 
Bóng trắng nọ dường như chỉ còn gần đề anh chừng một công đất, hai tay quơ lên rồi lại cười lớn. Làm sao bây giờ? Tâm trí đang bối rối lại càng bối rối hơn. Anh vụt đứng dậy khi nghe từ trong rừng có tiếng hú thứ hai đáp lại: 
– Hú… Hú… 
Anh Tư Hưng ra lịnh cho bạn cùng tẩu thoát sau khi cuốn nóp thật gấp, e bóng ma nọ nhìn được dấu người mà truy nã theo. Họ núp trong bụi rậm, thủ trong tay khúc tràm ngắn để tự vệ. 
Bóng trắng nọ là một cô phụ nữ. 
Cô ta ngồi xuống đống tràm mà hai người vừa trải nóp ngủ khi nãy. Cô ta vẻ giận dữ; đôi tay cấu xé vào đống tràm nghe rột rột. Chập sau ông lão hiện tới, mặc áo ngắn, quần đùi đen. 
Anh Tư Hưng đứng dậy nắm tay bạn: 
– Phải chạy mới được, mau! 
Bạn cãi lại: 
– Ðể tôi ăn thua với nó… 
Bỗng dưng, ông lão đứng ngoài đống tràm la lớn: 
– Ai đó? Bà con nào đó? Phải mầy đó không Tư Hưng? Tao là Hai Bích đây… 
Nhờ vậy mà anh Tư nhận được bóng ma nọ: cô Một, người hứa hôn với anh ngày nào. 
Lão Bích cho biết thêm giọng mếu máo: 
– Bây giờ nó điên rồi. Mầy đi vài tháng nó mang thai. Nó chờ mày về, chờ hoài. Rồi nó đẻ trong rừng, không ai làm mụ bà. Tao làm mụ cho nó… Mầy tưởng tượng cái cảnh não nề. Con mầy chết non. Kiểm lâm vô đây với hương quản để bắt củi xét thuế thân. Xóm mình tản lạc, tao với vợ mầy phải chạy vô trong nầy. Mầy coi vợ mầy không thèm bận quần áo nữa mà có bận thì cũng không mua nổi. Nó khóc, nó cười, nó chửi tao. Ban đêm muỗi mòng quá, nó cầm cây xơ quất này đập muỗi. Nó điên vì tình, vì đời… 
Anh Tư Hưng khóc không ra nước mắt. Anh cũng không còn mặt mũi nào để nhìn mặt cô Một ngày xưa. 
Chắc chắn là anh không cưới cô Một. Năm sau có người gặp anh chạy xích lô ở Sài Gòn. Hỏi anh về vấn đề vợ con, anh đáp: 
– Khổ quá. Tôi bây giờ là thằng khùng. Vợ con gì…

26 Truyện ngắn Sơn Nam

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 23 Jul 2024

Photo edit by Sơn râu

Mấy lời giới thiệu
Những câu chuyện cũ về một vùng đất mới

Ðồng bằng sông Cửu Long là một vùng lương thực chủ yếu của miền Nam. Việc khai thác những tiềm năng phong phú của vùng đất mới này bắt buộc mọi người phải ra sức tìm hiểu nó một cách cặn kẽ. Càng đi sâu tìm hiểu những đặc điểm về lịch sử, về địa lý, về xã hội và đặc biệt là về con người miền Nam, người ta càng thấy việc tìm hiểu này không chỉ là cần thiết, không thể thiếu được mà còn bổ ích và đầy hứng thú đối với các nhà khoa học, các nhà văn hoá và nghệ thuật. 
Trong bước đầu tìm hiểu, không ít người đã tìm đọc lại Sơn Nam, đặc biệt là cuốn lịch sử khẩn hoang miền Nam và cuốn Ðồng bằng sông Cửu Long hay là Văn minh Miệt Vườn. Những cuốn sách và những bài báo của Sơn Nam đã giúp người ta đi trở lại những ngày đầu khai phá tìm hiểu những điều kiện thiên nhiên và xã hội của cuộc sống trong vùng, có khi cách nay nhiều thế kỷ, về cách thức làm ăn và sinh sống của con người những thời kỳ ấy. 
Sơn Nam kể”truyện đời xưa” nhưng không phải theo kiểu viết sử thông thường. Nói là Lịch sử… nhưng không viết theo niên biểu, anh viết đọc như thể anh có gì thì nói nấy, cần thì nói không cần thì thôi, không nhứt thiết phải đủ lễ bộ, chương hồi cho đầy đủ, cân đối. Ðối với người mới tìm hiểu, chưa có thì giờ vào thư viện lục tài liệu xưa, đọc sách Sơn Nam, thấy rất bổ ích. Thật vậy, sách anh viết, tài liệu vừa đủ để nêu được vấn đề, không nhiều quá làm người đọc phải mệt mà không cần thiết, mà cũng không ít quá để không nắm được gì, viết vui gọn, ngưòi đọc như được thưởng thức một bữa cơm bình dân, trông đạm bạc mà ngon miệng. 
Trong đống tài liệu cũ nằm bắt bụi trong những kho lưu trữ, anh tìm ra, chép lại không phải tất cả, mà gạn lọc lấy những cái cần thiết, những cái thiên hạ chưa biết hoặc ít biết, thành ra những cái vốn đã cũ mà vẫn thấy mới là vậy. 
Nhưng Sơn Nam không chỉ có những trang khảo luận mà còn có nhiều truyện ngắn, mà một tuyển tập được nhiều người biết đến, có cái tên khá tiêu biểu: Hương Rừng Cà Mau. Cà Mau vùng đất cuối cùng của Tổ Quốc, được kể lại vào cái thời kỳ mà phần lớn diện tích của nó còn là rừng với đủ thú dữ và hiểm nguy nhưng lại đầy hương sắc vì con người miền Nam đã tới đó sinh cơ lập nghiệp. 
Về người nông dân miền Nam, đặc biệt là miền Tây, từ Hà Tiên tới mũi Càm Mau, tức là miền đất được khai phá sau cùng. Vì đi tới đây sau cùng, những người khai phá này đã tới những vùng khỉ ho cò gáy nhứt, trước họ không ai thèm làm. Rừng sâu, nước độc, rắn rết hùm beo. Nhưng không thể lùi được vì không còn đất sống nữa người ta mới phải lang bạt tới đây. 
Muốn tồn tại, muốn sống sót được trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn như vậy, con người phải có một sức mạnh tinh thần đáng kể. Không được sự giúp đỡ nào của chính quyền lúc bấy giờ mà còn bị áp bức bóc lột nặng nề, những người phải rời bỏ quê quán tới xứ này phải sớm biết đùm bọc lấy nhau. Sức mạnh tinh thần đó không bắt nguồn từ kinh sách của thánh hiền vì phần lớn những người đi khẩn hoang đều thất học. Ðó là những giá trị tinh thần của dân tộc mà người ta mang từ nơi chôn nhau cắt rún tới đây và được phát triển lên trong hoàn cảnh đấu tranh mới, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh chống lại thiên nhiên còn thù địch với con ngưòi và chống lại những thế lực áp bức bóc lột cũng thù địch với con người không kém. 
Giá trị tinh thần nổi bật trong cuộc đấu tranh này là tình nghĩa giai cấp của những người nghèo, bắt buộc phải xa xứ mà tới đây, cùng nhau lập quê hương mới, nơi ca dao còn ghi lại: 
Cà Mau khỉ khọt trên bưng, 
Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um.
 
Hoặc: 
Tới đây xứ sở lạ lùng, 
Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê. 
Trong cảnh ngộ đó, con người sống bằng gì? 
Bằng cái Nghĩa! 
Ngày xưa, ở xứ này, thường nói! Sống phải điệu nghệ!
 
Theo Sơn Nam, điệu nghê là đạo nghĩa, nói trại ra. Rừng của Sơn Nam có hương là vì vậy. Tình nghĩa giữa con người ở đây không có xuất xứ trong cái cộng đồng làng xã, cái”tâm lý làng” như có người gọi, mà nó rộng hơn, nó sinh sôi nẩy nở từ trong vùng đất mới, khẩn hoang lập ấp, trong đấu tranh khắc phục ngoại cảnh thù địch, chống áp bức bóc lột, nên nó vẫn giữ được cái chân chất thật thà của người lao động gần thiên nhiên mà lại không tủn mủn hẹp hòi. Ðây là một nét đặc biệt nữa mà ca dao còn ghi được: 
Dấn mình vô chốn chông gai, 
Kề lưng cõng bạn ra ngoài thoát thân. 
Lao xao sóng bủa dưới lùm, 
Thò tay vớt bạn chết chìm cũng ưng.
 
Cái tình nghĩa bốn phương bè bạn này rất sâu đậm, nó thể hiện trong ca dao, trong các làn điệu dân ca và về sau, chúng được gặp lại nó trong Lục Vân Tiên, giữa Vân Tiên và các bạn, giữa Vân Tiên với Tiểu đồng… 
Cái tình bạn này đi liền với cái nghĩa “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha”, mà chúng ta cũng thấy rõ trong truyện Vân Tiên. 
Từ trước tới nay, truyện ngắn của Sơn Nam được biết nhiều nhất là qua tập Hương Rừng Cà Mau. Sự thật, Sơn Nam còn viết rất nhiều truyện ngắn đăng rải rác trên các báo Sài Gòn trong một thời gian dài hàng chục năm chưa được sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. 
Ðối với các bạn trẻ hôm nay, truyện”xưa” của Sơn Nam làm sống lại cảnh đời của cha ông đi khai phá thời trước, sống lại cái không khí hoang sơ mà hào hứng của buổi ban đầu lập nghiệp, theo dõi cách sống mộc mạc mà“điệu nghệ” của ông cha. 
Ðối với bạn đọc ở kháp các nơi, những trang khảo cứu và những truyện ngắn của Sơn Nam là những chìa khoá mở cửa vào tâm hồn của người Việt ở miền Nam. 
Trên tinh thần đó, chúng tôi chọn để giới thiệu với bạn đọc thêm 26 truyện ngắn của Sơn Nam, trước đây đăng rải rác trên các báo ở Sài Gòn. Những tên truyện được đưa vào tập này, tự nó đủ giới thiệu nội dung: Chuyện Rừng Tràm, Nhứt Phá Sơn Lâm, Con rắn ri voi, Cái ổ ong, Con sấu cuối cùng, Ðơn Hùng Tín chào đời… Như đã nói trên, truyện của Sơn Nam, cũ mà mới. Nói những chuyện cũ của một vùng đất mới, một vùng đất mà khó ai dám nói, kể cả những người sanh trưởng tại chỗ, là đã thật hiểu biết đầy đủ. Mong rằng những truyện ngắn này sẽ góp thêm hiểu biết về miền đất thân yêu của chúng ta. 

Nhà xuất bản

Photo edit by Sơn râu

1. Hết thời oanh liệt

Non trăm năm về trước, làn sóng người Việt Nam từ Cần Thơ, Vĩnh Long đổ xuống Rạch Giá, Cà Mau để khai khẩn đất hoang. Họ đã gặp những trở ngại thiên nhiên nào? Tài trí, sự dũng cảm của họ ra sao? Lòng chúng ta không khỏi phập phồng âu lo khi ngày nay đọc lại quyển Truyện đời xưa của cụ Trương Vĩnh Ký. Cụ có nhắc lại câu chuyện cọp ở vùng Gò Quao. Cọp ta đi dạo xuống bãi sông để tìm mồi, rủi bị kẹt đuôi trong bụi dừa nước… Rõ ràng thời ấy cọp quá lộng hành dám bỏ rừng sâu, bén mảng đến các xóm nhà sác mé sông, nơi mà chúng bị cô lập, thất thế nhứt. Ông cha ta đã đánh đuổi lũ cọp ấy như thế nào? Có người đáp: nhờ các thầy võ giỏi chuyên môn đánh cạp xuất thân ở các trường võ Quảng Nam, Quảng Ngãi. Gặp lúc nước nhà loạn lạc, các thầy chạy vào vùng Cà Mau mà ẩn lánh. Võ nghệ của các thầy quá đỗi cao cường, gặp cọp là rượt bắt lại, nắm gáy đè xuống, nện vào lưng cọp những quả đấm thôi sơn chẳng khác nào chúng ta ngày ngay đánh một con mèo hoặc một con chó con… 
Người khác bảo rằng: họ đã từng gặp mấy ông thầy bùa Xiêm, chuyên môn dụ dỗ cọp. Các thầy Xiêm nằm ngửa dưới gốc cây giữa rừng mà thổi kè, nói đúng hơn là thổi vào một miếng lá tre. Tức thời cọp mẹ, cọp con chạy lại, quỳ xuống hầu hạ canh gác cho thầy ngủ. Sau khi thức dậy, thầy xiêm võ về từng con, nhổ vài sợi râu hoặc vài sợi lông để nuôi sâu. Lông cọp, râu cọp được đem về cắm trong măng tre đang mọc. Vài hôm sau thì ô hô, mỗi sợi là một con sâu. Tục truyền rằng loại sâu ấy lớn bằng cườm tay, mặt đỏ hói, mình mảy vằn vện, có đuôi dài ngoe nguẩy. Nhiều người nuôi nó trong một cái hũ kín mít để giữ nhà. Khi có khách đến sâu cọp nhảy dựng trong hũ nghe rổn rảng rồi la hét! Ngoài ra, cứt của loại sâu này rất quý giá vì nó là vị thuốc độc, giết người trong nháy mắt. v.v… 
Sự thật ra sao? 
Cọp U Minh, cọp Gò Quao ngày nay bị tiêu diệt hoặc bị xua về Bảy Núi, về Tà Lơn phải chăng là nhờ các thầy võ Quảng Nam hoặc các thầy Xiêm có bùa phép? 
Trả lời câu hỏi ấy, cách hay nhứt là đến tìm các ông bà lão hiện còn sống ở vùng Gò Quao, Trà Ban. Mấy ông này nếu không trực tiếp đánh cọp thì ít ra cũng đã thấy và nghe rõ ràng hơn chúng ta. Vậy xin mời các bạn đọc thân mến đến phỏng vấn và nghe các ông trả lời. 
– Thưa ông, ông xuống đây lập nghiệp từ hồi nào? 
– Ðiều đó không nhớ chắc chắn ngày tháng. Nhưng mà mấy cháu nên nhớ: hồi Tây đánh nước mình, miệt Rạch Giá, Cà Mau còn hoang vu. Ngoài biển, có ghe đánh lưới của người Hải Nam. Còn trong đát liền chỉ co 1mấy nhóm người Triều Châu, Phước Kiến qua đây từ đời ông Mạc Cửu. Họ ở gần chơ Rạch Giá, chợ Bạc Liêu bây giờ. Kỳ dư, có vài sóc người Miên ở giữa đồng. Thưa thớt lắm. Sông Cái Lớn, Gò Quao này nhiều khi chèo ghe suốt ngày mà không gặp một nhà nào. Nghe nói hồi Gia Long tẩu quốc, nhiều người cất nhà ở Tân Bằng, Cán Gáo, Tau Dừa, Cái Nước. Hồi tôi xuống Gò Quao này, ở miệt dưới đã có vườn tược, có cau lão rồi. Nhưng đó là chuyện xa xôi, cách mình một khoảng rừng trên trăm cây số. Nghe nói chớ tôi chưa từng đi tới. 
– Lúc đó miệt Trà Ban này phải chăng là hoàn toàn không có ai ở? 
– Sự thật như vậy. Vài nhà người Miên ở tận giữa đồng nhưng họ không làm ăn chung đụng với người mình. Kỳ dư, ven sông Cái lớn này toàn là rừng. Trên bờ có cọp, dưới sông có sấu. Mình chèo ghe ban ngày, chừng vài trăm trước là thấy sấu nổi trước mũi ghe. Trời chạng vạng, nghe cọp rống, mấy ổng úp mặt xuống đất nên có tiếng dội… 
– Hồi mới tới cất nhà, chắc cọp khuấy rối mình dữ lắm! 
– Không có! Không có! Mình ngu dại gì vô tuốt trong ngọn cùng mà cất chòi. Làm như vậy có hai điều lợi. Một là mong mấy ngọn rặch không có rừng già. Rừng chỉ ăn dài theo mé sông cái, bề sâu vô chừng hai ba ngàn thước… Phía trong toàn là sậy, đế, cây mốp, rừng chồi. Mình có thể phá gấp sậy để đó để làm ruộng trước, co 1lúa gạo mà ăn liền. Ðiều lợi thứ hai là ở xa cọp. Lúc mới xuống làm ăn, mình cần sự yên ổn. Hơi đâu mà lo chuyện đánh cọp, trong lúc mình không rành võ nghệ. 
– Ở hẻo lánh như vậy, chắc sợ cọp dữ lắm. Cọp ưa tìm người mà ăn thịt… 
– Vài người lo xa. Họ rào chung quanh chồng heo. Sợ nhứt là khi mình did ruộng, cọp lén vào nhà bắt con nít. Lần đó, cọp tới sàn tôi chạy vòng quanh tìm cách vô nhà. Ðứa con tôi ở một mình. Nghe tiếng động đậy nó chạy ra sát hàng rào. Cọp ta không phương thế nào vào trong được nên day lại, thò đuôi vô kẽ hàng rào. Trưa về nhà nghe con tôi nói lại: “Ba ơi! Hồi ba đi ruộng, có con vèo vện lại đây, thò đuôi vô. Con nắm đuôi mà nó mạnh lắm, kéo ra được chạy vuột.” Chừng đó, lối xóm ai cũng hoảng sợ xây hàng rào chung quanh nhà. Ðêm cũng như ngày chỉ nghe động tịnh là nghĩ tới cọp. Nhưng dân mình gốc ở hai huyện (Cần Thơ, Vĩnh Long) xuống đây. Ở đó, đất khai khẩn lâu đời rồi nên phần đông nghe tới tên cọp là sợ chớ ít ai thấy tường tận ông cọp lần nào. Có một cô nọ ngồi rửa chén sau nhà, thấy cái tàu mo cau rụng xuống bèn vụt chạy vô nhà, đóng cửa lại: “Má ơi, cọp! cọp!.” Hỏi cọp ra sao. Cô ta nói nó cao lắm, lưng nó vàng, bụng nó rằn. Chừng xem kỹ lại rõ ràng là tàu cau… Có bà lão khác ngồi câu cá dưới gốc cây xộp. Cọp trong rừng men chạy ra chụp một cái. Bà nọ té nhào bên một gốc cây. Nhờ vậy mà cọp chụp hụt. Sau đó cọp chạy cong đuôi vô rừng. Bà ngồi dậy mở mo trầu ra ăn rồi lững thững về nhà nói lại. Bữa nay xui xẻo quá. Câu cá không được con nào, nhè gặp heo rừng ra nhát. Chừng cả nhà hồ nghi trở ra gốc xộp mà xem kỹ, rõ ràng là dấu móng cọp. Kể từ đó, thiên hạ ưa bàn tán về cọp, bắt đầu lo ngại. Có người bàn: nên thành lập một đội binh để vô rừng đánh cọp. Công việc đầu tiên là đốn tre tầm vông vạt nhọn để sẵn. Khi gặp cọp thì đánh trống lên, cả xóm xách tầm vông tới nghinh chiến. Mới nghe qua, dường như có lý. Nhưng sau đó, ở rạch Cái Cam, Phong Ðiền, Cần Thơ, có người xuống cho hay: “Ở xứ tôi, có bố trí như vậy nhưng thất bại. Gặp cọp, đánh trống lên, ai nấy xách tầm vông chạy tới. Cọp im lặng, trụ hình một chỗ. Thinh không, ổng hét lên. Tức thì ai nấy chạy tán loạn. Có người thiếu điều đổ ruột vì chạy càn đụng nhằm ngọn tầm vông của bạn mình. Về sau, có người gài bẫy được một ông cọp. Họ đút mũi tầm vông vô miệng cọp để đâm. Dè đâu cọp nhai nát như… mình ăn mía.” 
– Vậy làm thế nào mà đánh cọp đến đỗi không còn sót một con như ngày nay? 
– Chuyện đó phải làm lần hồi. Bố trí một đạo binh đánh cọp không xong, dân xóm này mới bày đặt cất miễu thờ cọp. Ðó là ngụ ý: “Chúng tôi là người làm ăn, không dám đả động tới ông, xin ông cứ ở trong rừng để chúng tôi được yên ổn!.” Cất miếu xong, chạng vạng có người tới đốt nhang. Mấy hôm đầu, ông cọp đi vòng quanh miếu, đứng nhìn nhang rồi về. Bữa sau đem ra cũng một cái đầu heo rừng. Cọp mừng lắm. Từ đó xóm giềng được yên. 
Nhưng tạo hoá vần xoay, dân miệt trên xuống đây khai khẩn ngaỳ thêm đông. 
Ðất giữ đồng khai thác hết. Bấy giờ chỉ còn là đất rừng sát mé sông, nơi cọp ở. Ðó là hồi nguy nan nhất cho dân mình và cũng cho cọp. Nhiều người làm gan cất nhà sát mé rừng. Ban đầu, đôi ba nhà, sau, năm mười nhà. Họ thấy ở gần rừng mé sông tuy là nguy hiểm nhưng có nhiều huê lợi khác: ăn ong, làm rẫy. Một công rẫy trúng mà được tới một trăm hai chục giạ khoai lang. Lúc này, nhiều người chết vì đi một mình vô rừng bị cọp chụp bất thình lình. Họ sắm mác thông, thứ có cán dài để ứng phó. Nhưng ở chỗ rừng dày, con người khó bề xoay trở để thủ thế. 

Photo edit by Sơn râu

Thời thế tạo anh hùng. Bận đó, ông thầy râu (thầy thuốc Nam, vì có râu dài nên gọi là thầy Râu) có đứa con gái bị cọp vồ. Tức mình ông cầm mác rượt theo tận giữa rừng, chém cọp rớt một cẳng. Tư Ngạn bị cọp cõng mất một con heo nái. Chú rượt theo cầm cự với cọp suốt buổi trưa. Nhờ lối xóm tiếp cứu nên mới thoát nạn. Từ đó về sau, chú ưa uống rượu, cặp mắt luôn luôn đỏ ngầu. 
Kinh nghiệm là không nên đánh cọp nơi chật chội, tứ bề có cây cối. Cọp sợ con người. Bằng cớ là ở giữa đồng trống, mình cầm mác thét lớn là cọp chạy mất. Vì vậy, khi dân mình phá động rừng, cọp tản mác, kiếm nơi khác mà hùng cứ. Rạch Cái Bần này lần hồi còn sót lại được ông Mun. 
– Tại sao ông Mun dám ở lại? 
– Vì ông thuộc về lại cọp già, đã từng chống chọi nhiều phen với loài người. Cọp nhỏ thì đi. cọp già ở lại. Thứ già là thứ dữ. Mỗi rạch chỉ còn sót lại một hai ông. Dân trong xóm đều quen mặt nên đặt tên. Có hai ông, Ông Vện với Ông Mun. Vện là cọp đực. Ông Mun là cọp cái. 
Trời đất dành riêng cho đôi cọp này số phận riêng. Trước hết xin nói về ông Mun. 
Thường ngày ông tới lui vàm Xẻo Gừa – một xẻo nhỏ, có cây gừa to lớn, nhỏ gừa (rễ thòng xuống) buông xuống hàng trăm cây to bằng cổ tay, bằng cây cột nhà. Ông Mun ngủ sát cốc, chung quanh có nhỏ gừa che chở nhiều lớp. 
Ông dạn lắm. Sáng đi, chạng vạng về. Tháng Tư năm đó, ông sanh được bốn ông Mun con… 
Thật là khủng khiếp, lạ thường. Xưa nay, cọp sanh một hay sanh đôi là cùng. Ðàng này sanh tới bốn con. Dân làng nhìn nhau lắc đầu, tưởng tượng một ngày kia bốn ông Mun nhỏ lớn lên, sung sức. 
Phải đối xử bằng cách nào? 
Bắt bốn ông Mun con chăng? Chuyện đó rất dễ. Ông Mun mẹ thường đi tìm mồi, để bầy con bơ vơ ở gốc cây gừa. Nhưng mất con, ông Mun mẹ sẽ đổ quạu, trả thù, gây nhiều chuyện bất an cho xóm. 
Lo xa rồi lại nghĩ gần, ông thầy Râu, ông Hương Văn Huệ, ông Tri Khách lừa bày ra một kế: bắt bớt ba, chừa lại một. 
Thi hành xong, ba ông đem ba con cọp nhỏ về nhà. Xóm giềng rất đỗi vui mừng. Nhưng ba ông không yên trí, sợ ông Mun mẹ đánh hơi theo tìm con để trả thù… 
Sau rốt, các ông mua nhang đèn về dựng bàn thờ trước nhà mà khấn vái: 
– Xin trình cúng ông Mun được hay: Thói thường xưa nay một mẹ thì một con. Ðằng này, ông sanh tới bốn con. Dân làng chúng tôi lo sợ nên thừa lúc ông đi vắng có tới xin bớt ba con, chừa lại cho ông một con. Như vậy không mích lòng ông mà cũng không hẹp bụng chúng tôi. 
Ông Mun về ổ, thấy mất con, gầm thét, rồi vài hôm sau dẫn đứa con còn lại đi đâu mất. 
Bây giờ làm sao để nuôi ba ông cọp con nọ? 
Cọp con hiền lắm, mình mẩy mềm mại, bò tới bò lui, cái lưng uốn éo như con mèo lớn. Tối ngaỳ, mấy cậu cứ đòi sữa. Biết được chuyện ấy, người đàn bà động lòng, xúm xít lại, đặt mấy cậu ngồi giữa bộ ván, ai nấy ngồi vòng quanh mà dòm ngó cho mãn nhãn. Các cậu đánh hơi rồi từ từ bò ngay lại người đàn bà nào có sữa để đòi bú. Bà chủ H. Cho bú thử. Kết quả, vài ngày sau vú sưng lên làm độc, đau sứt núm vú, bấy giờ thiên hạ càng lo ngại. Sau cùng, chở ba cậu ra chợ Rạch Giá để nạp cho quan phó chủ tỉnh. Ông phó tên Quitxy thưởng cho hai mươi lăm đồng bạc trắng. 
– Còn ông Vện? 
– Ông Vện có lẽ là chồng ông Mun cha của mấy cậu nọ. Phải chăng vì già nua bịnh hoạn mà ông Vện không theo vợ theo con. Buổi sáng đó người ta thấy ông Vện nằm dài trên bờ rẫy, sát mí rừng. Ban đầu ngỡ là ông ngủ trưa. Chừng mặt trời lên cao ngạc nhiên làm sao, ông vẫn nằm ì không nhúc nhích. Thiên hạ xúm lại gần, lấy đất chọi thữ rồi lấy cây dài đem cọc, chừng đó mới biết ông chết. Họ thui râu của ông, lấy thước đo ông dài một thước sáu. Người khác đòi, khiêng lên cân thử. Các bậc kỳ lão cản ngăn, cho rằng làm vậy là quá khinh thị mạt sát kẻ đã chết. 
Rạch Cái Bần không còn cọp nữa. Các rạch khác cũng nỗ lực như vậy. Lần hồi, ghe xuồng đi thông thương ngày đêm từ ngọn Cái Cau đến vàm sông Cái Lớn. Câu hát thời xưa:”U Minh Rạch Giá thị quá sơn trường, Dưới sông sấu lội, trên rừng cọp tha” không còn. Ghe xuồng tàu bè tấp nập, bọn sấu phải lui về vàm. Cũng thời câu hát xưa, thiên hạ sửa lại như vầy: 
Ðường đi Rạch Giá thị quá sơn trường, 
Gió run bông sậy, dạ buồn nhớ ai. 
Bông sậy là nơi đã khai thác thành rầy. Lòng dạ con người thơ thới hơn. Không còn sợ cọp, sợ sấu. Họ rảnh trí mà ngắm cảnh nhớ tình. Nhớ ai bây giờ? Trai nhớ gái. Vợ nhớ chồng. Người nay nhớ công ơn người xưa đã đánh cọp để tạo lập nên làng nên xóm. Họ không phải là thầy nghề võ, thầy bùa. 
Chẳng qua là họ muốn sống nên phải ráng sức cùng nhau, mỗi người ráng một ít. Sự thật về chuyện đánh cọp Gò Quao là vậy. Nó dễ mà khó, khó mà dễ. Người đánh cọp thời đó không bao nhiêu, tên tuổi của họ không cần bia đồng tượng đá. Vậy mà về sau này có bao nhiêu người tự xưng là thầy đánh cọp thời xưa để hát thuật Sơn Ðông, bán thuốc trật gãy xương hoặc bán bùa Xiêm để dụ dỗ gái tơ. 
Thiệt đáng trách biết chừng nào!


Bức Tường

baotreonline.com

Ian Bùi

Post on May 10th, 2024

Ảnh: Hồn tử sĩ (ianbui/TRẺ)       

Đài tưởng niệm di động cho lính Mỹ tử trận tại Việt Nam đến thành phố Frisco, Bắc Dallas, từ ngày 2 đến 5 tháng Năm, 2024. Được gọi là “The Wall That Heals” (Bức Tường Chữa Lành), nó là bản sao của đài tưởng niệm Vietnam Veterans Memorial ở Washington, D.C. Khởi xướng năm 1996 bởi tổ chức Vietnam Veterans Memorial Funds (VVMF), bức tường di động này đã ghé thăm hơn 700 địa phương trên nước Mỹ.

Theo VVMF, mục đích của việc mang đài tưởng niệm đến nhiều nơi là để “vong linh các tử sĩ được hiện hữu nơi có gia đình và bạn bè của họ. Nó giúp hàng ngàn cựu chiến binh không đủ điều kiện hoặc can đảm trực diện Bức Tường ở Washington tìm được động lực đến với nó trong một môi trường gần gũi, quen thuộc hơn, hòng hành trình chữa lành có thể bắt đầu.” Vì vậy cho nên ngoài bức tường ra, tại đây còn có các triển lãm về lịch sử cuộc chiến cũng như thông tin và lễ truy điệu cho các tử sĩ địa phương.

Ảnh: Vài hình ảnh của 35 “Anh hùng trong vùng” Bắc Texas (ianbui/TRẺ)

Tại buổi lễ khai mạc, thị trưởng Frisco và một số lãnh đạo thành phố đã có buổi nói chuyện với quan khách. Buổi lễ còn có sự tham dự của gia đình Hạ sĩ Robert Ray Brown (ngồi bên trái trong hình), cựu học sinh Trung học Frisco. Hạ sĩ quan Brown phục vụ trong Sư Đoàn 9 Bộ Binh, tử trận ngày 1/10/1967 tại Kiến Hoà, năm 20 tuổi. Vài người em của Robert được mời lên phát biểu; họ kể về những ký ức và kỷ niệm về “anh Robbie”. Những mẩu chuyện nho nhỏ ấy đã khiến khán giả khi thì bật cười, lúc thì rơi nước mắt.

Ảnh: Khách dự ngồi chật hết ghế, nhiều người phải đứng đằng sau. (ianbui/TRẺ)

Bàn của người khuất mặt – Missing Man Table, là một hình thức tưởng niệm chiến hữu của lính Mỹ. Chiếc bàn hình tròn tượng trưng cho sự quan tâm không ngừng. Khăn bàn trắng tượng trưng cho sự tinh khiết của tâm hồn. Đoá hồng đỏ tượng trưng cho sự thương yêu. Chiếc nơ đỏ nhắc nhở ta phải tìm bằng được những người còn mất tích; cây đèn cầy là niềm hy vọng họ sẽ sống sót trở về. Miếng chanh tượng trưng cho sự chua xót. Nhúm muối tượng trưng cho nước mắt người thân. Quyển Kinh Thánh đại diện cho sức mạnh của niềm tin. Chiếc ly úp, vì họ không có mặt cùng ta nâng ly. Và chiếc ghế trống.

Ảnh: ianbui/TRẺ

Buổi lễ có sự hiện diện hết sức đặc biệt của cựu tướng Richard Carey, cư dân Plano (TX), người từng chỉ huy cuộc di tản năm 1975. Tuy đã trên 90 tuổi và đi đứng khó khăn, ông vẫn cố gắng tham dự buổi lễ khai mạc. Bên trái tướng Carey là cựu chiến binh Alan Mesches, người giúp ông soạn quyển hồi ký “The Flying Grunt” (2023). (Người viết cũng rất hân hạnh được ông Mesches phỏng vấn và xuất hiện trong quyển sách này). Bên phải tướng Carey là vợ chồng tướng Lương Xuân Việt, cư dân Frisco. Tướng Việt cũng là một diễn giả trong chương trình.

Ảnh: ianbui/TRẺ

Trong số quan khách hôm đó có khá nhiều người Việt, vài người từng là cựu chiến binh. Thật vui mắt khi nhìn thấy những tà áo dài tha thướt bên cạnh những chiếc nón cao bồi, quần jean, giày boot của dân Texas. Có người còn mang con em theo; vài em có vẻ quan tâm đến lịch sử, đi vòng vòng chụp hình những tấm bảng kể về cuộc chiến. Song hiện vật được cánh đàn ông chú ý khá nhiều có lẽ là chiếc mô-tô Harley-Davidson mang tên “Gold Star Bike”, được tặng bởi Steve Davenport cho tổ chức American Gold Star Mothers (Mẹ Tử Sĩ) rồi sau đó được truyền lại cho VVMF.

Ảnh: Bình xăng khắc tên 75 tử sĩ, trong đó có Robert Cupp, đồng đội của Steve Davenport, tử trận tại Quảng Tín năm 1968. (ianbui/TRẺ)

Một vài số liệu về các tử sĩ trên Bức Tường: 58,281 tên; 3 cặp cha con; 43 cặp anh em; trẻ nhất, Dan Bullock (15 tuổi); già nhất, Kenna Taylor (62 tuổi); tuổi trung bình, 23 năm 1 tháng; trung học Thomas Edison ở Philadelphia có số cựu học sinh tử trận cao nhất, 64; số lính Mỹ thiệt mạng cao nhất trong một ngày, 246 (31/1/1968); năm nhiều người tử trận nhất, 1968; con số mất tích, 1500+; tuổi kiến trúc sư Maya Lin khi bản thiết kế gây tranh cãi của cô được VVMF bình chọn, 21!

Ảnh: Tác giả quyển “The Healing Box”, Paul Reed, tìm được tên 3 người đồng đội bỏ mình tại Kontum vào tháng Ba, 1968.

Chương trình kết thúc bằng một màn trình diễn của gần 200 chiếc drone thật đẹp mắt. Nào là huy hiệu các binh chủng, nào là hàng không mẫu hạm, tuần giang đĩnh, rồi thì trực thăng Sikorsky, chiến đấu cơ Phantom F-4 v.v. Gần 50 năm sau chiến tranh, kỹ thuật drone hiện đại đang dần thay thế pháo bông, cho phép chúng ta tổ chức những buổi lễ tưởng niệm thật trang nghiêm như thế này. Xin cảm ơn chi nhánh VFW (Veterans of Foreign Wars) tại địa phương đã mang Bức Tường Chữa Lành đến Frisco, và xin cảm tạ các nhà mạnh thường quân — Mỹ cũng như Việt, đã tài trợ cho cuộc triển lãm đầy ý nghĩa này.

Ảnh: ianbui/TRẺ

Hỏa Lò

vietmessenger.com

Nguyễn Chí Thiện

Post by Sơn râu 22 Jul 2024

Phần 6

Phùng Cung

Tôi mến và phục Phùng Cung ngay từ khi được đọc truyện “Con ngựa già của chúa Trịnh” đăng trên báo Nhân Văn. Trong tất cả các bài văn, bài thơ in trên tờ Nhân Văn, trong các tập giai phẩm Mùa Xuân, Mùa Thu, Mùa Đông, tôi thấy “Con ngựa già của chúa Trịnh” là đặc sắc nhất, về nghệ thuật cũng như về nội dung. Nó vừa thâm trầm, vừa tinh tế đúng như con người anh. Nó còn điểm đúng huyệt của Đảng. Chính vì vậy, Đảng đã căm giận bỏ tù anh không xét xử hơn mười hai năm. Nhiều người nhận định rằng truyện chĩa vào các văn nghệ sĩ có tài, nhưng vì đã ngoạm vào miếng đỉnh chung Đảng ban phát, nên chẳng những tài tận, mà nhân cách cũng diệt. Điều đó đúng. Nhưng nếu chỉ đả mấy anh văn sĩ, thi sĩ cô đầu, nhưng kẻ mà chính các “đồng chí bố” trong bụng cũng khinh rẻ, nhân dân cũng tởm lợm thì Đảng đâu có cay cú đến thế. Điều Đảng không thể không trừng trị nặng là anh đã dám nêu bật lên một sự thực nhục nhã: Văn nghệ sĩ, trí thức, toàn bộ dân tộc, giống như con ngựa già của Chúa Trịnh, bị Đảng gắn vào hai bên mắt hai cái lá đa bằng da, chỉ được nhìn thẳng một hướng hạn hẹp, trời mây, sông núi hoa lá không được thấy gì hết!

Cái cảnh con chiến mã Kim Bông dũng mãnh tung vó, phi nước đại, vất lại sau mông cả một vùng Sơn Nam Thượng, xông pha trăm trận, tung hoành là thế, mà khi thanh bình trở lại, nhàn nhã bước vào lâu đài cung điện Chúa, mới đặt chân lên nền đá xanh mát đã thấy bàng hoàng, rùng cả mình, chợt nghe tiếng chim hót trong trẻo trên các lùm cây xanh tươi mà hốt hoảng, ngơ ngác, Đảng cũng cho là chửi sỏ Đảng. Thực ra, đó chỉ là sự tha hóa tầm thường của những kẻ thiếu Tâm, thiếu Đức, khi được vinh hoa, phú quý, lo lắng bảo vệ cho địa vị của mình.

Mùa đông năm 1970, tôi rời Yên Bái lúc bốn giờ sáng. Sau 18 tiếng đồng hồ vừa đi ca nô, đi xe tải, xe lửa, chen chúc nhau trong một toa đen kín mít, nhầy nhụa phân lợn, tay bị khóa số 8 khóa từng cặp hai người một, đoàn tù chúng tôi tới trại Phong-Quang khoảng mười giờ tối, người nào cũng nôn mửa rũ rượi, kiệt lực. Ngồi xếp hàng trên sân đất, dưới mưa bụi, gió buốt, nghe điểm danh, nghe cán bộ quát nạt, huấn thị, rồi giúp mấy anh tù tự giác khám xét hành lý toàn đồ giẻ rách, hôi hám. Tới tận gần 12 giờ đêm, chúng tôi mới được phân chia vào các phòng.

Trong tất cả các cuộc trùng phùng trên thế gian này, khó có cuộc trùng phùng nào có thể vui mừng bằng những cuộc gặp lại nhau trong tù của những người bạn tù. Tôi vừa bước vào phòng thì bốn, năm ông đã ập tới, cười nói, hỏi han, nắm tay, nắm vai, đỡ hộ túi quần áo, mời nước, mời thuốc. Tôi cũng vui không kém gì họ. Thôi thì đủ thứ chuyện. Bao nhiêu mệt nhọc tan biến hết. Sức mạnh của tình cảm thực là kỳ diệu, không loại thuốc hồi sức nào sánh kịp! Các anh nói Phùng Cung cũng ở trại này, đang nằm bệnh xá vì bị lao phổi. Mắt tôi sáng lên. May quá rồi, thế là tôi sắp được chuyện trò với anh, người tôi mến phục đã lâu mà chưa được biết mặt. Vài hôm sau, tôi lảng vảng xuống bệnh xá tìm anh. Đó là giờ tù đang chia cơm, chiều hôm ấy lại ăn tươi, có “mều ngạnh” (thịt trâu) nên việc chia bôi rất vất vả, mất nhiều thời gian. Thịt chia riêng, xương chia riêng, da chia riêng, nước đong từng thìa. Tất cả đều phải cân bằng một loại cân tự tạo, nhưng độ nhậy có lẽ chẳng kém gì cân tiểu ly. Chia xong lại phải viết tên từng người vào những mẩu giấy nhỏ, gập lại, trộn lẫn lộn, rồi đặt bên cạnh từng bát, mỗi phần không quá một lạng. Đọc đúng tên ai, người đó lấy bát đó. Tù nhân đứng vòng trong, vòng ngoài, “góp ý” cho người được cử ra chia, thường là người có uy tín, trung thực, không lèm nhèm. Mấy chục bệnh nhân ở bệnh xá cũng đương xúm xít tham dự công việc chia chác thiêng liêng đó, trừ mấy người hấp hối. Tôi nhìn tất cả họ, từng khuôn mặt một. Không ai có vẻ là Phùng Cung cả. Tôi vòng ra phía sau bệnh xá. Một người trung niên mặc áo bông, đứng trước cây ớt chỉ thiên, nhưng đầu lại ngẩng nhìn lên nền trời xám nặng, nét mặt xám nhợt, bất động. Phùng Cung đây rồi! Tôi đoán vậy, và bước lại gần, khẽ hỏi:

– Xin lỗi, có phải anh Cung không?

Phùng Cung nhìn mặt tôi một thoáng, rồi đáp:

– Vâng, sao anh biết?

Tôi cười:

– Tôi mới từ Yên-Bái tới mấy hôm. Nghe anh Lê-Quang-Dũng nói anh ốm, tôi tới hỏi thăm. Tôi tù tất cả đã hơn tám năm rồi.

– Anh kém tôi hai năm. Nhưng tù về tội gì vậy?

– Cần gì tội mới tù! Bao nhiêu người ở đây, tội gì? Nhưng chúng nó bảo tôi làm thơ phản động.

Phùng Cung hững hờ, có vẻ trịch thượng:

– Làm thơ? Có thể đọc nghe vài câu không?

Sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là phải hết sức thận trọng. Bao người chỉ vì mắc bệnh “ngứa họng” khi trà lá với bạn bè mà tan đời! Trong tù càng phải kín miệng hơn. Nhưng khi nhìn thấy Phùng Cung, tôi linh cảm anh không là người hại tôi. Tuy vậy tôi vẫn phân vân. Tôi chọn một bài “vừa phải”, không quá “nặng dose”.

– Anh đang nằm bệnh xá. Tôi đọc một bài về cảnh bệnh xá trong tù cho anh nghe.

Gió bấc, mưa phùn lướt thướt qua
Củ khoai hà dím thành vô giá
Bệnh cũ âm thầm lại phát ra
Lũ tôi đã đoán bao người ngã
Trong vụ đông này khó đứng qua
Thân xác như hình nan, cốt mã
Mong cầu đông giá nới tay tha!

Tôi đọc hết bài, chờ đợi một câu phê bình. Nhưng anh im lặng. Một lúc, anh hỏi tôi:

– Anh ở toán nào?

– Tôi ở toán đan, gần ngay đây, toán mà lưu manh gọi đùa là “Mầm non của nghĩa địa”. Tôi cũng lao như anh, thỉnh thoảng lại ho ra máu, ít đi làm lắm. Hôm nào hứng, anh tới phòng tôi chơi. Vào ngày thường, đi làm hết, chuyện trò tiện hơn.

Đã bắt đầu đọc tên lấy thịt. Tôi bắt tay anh Cung:

– Anh vào ăn đi. Hôm khác chúng ta gặp nhau. À, tôi là Thiện, Chí Thiện thiền sư. Au revoir!

Tôi không phải chờ lâu. Hai hôm sau, vào buổi sáng, khi trại đi lao động hết, vắng ngắt. Phùng Cung vào phòng tôi. Tôi mời anh leo lên sàn trên, chỗ tôi nằm. Anh vừa leo, vừa nói:

– Ốm yếu sao không nằm dưới, đỡ leo trèo vất vả.

– Cái gì cũng có lý do của nó cả. Nằm sàn trên đun nấu đỡ bị lộ, đỡ bụi hơn, mùa đông lại ấm hơn nằm phía dưới.

Anh Cung ngồi xuống chiếu, móc trong túi ra một gói con con:

– Dũng nó bảo anh nghiện trà nặng lắm. Hôm nay mới tới gặp anh là vì còn phải kiếm trà.

– Trà lúc nào tôi chẳng có, nhưng toàn là trà gói ba hào loại bét, chua loét.

Tôi mở gói trà của Phùng-Cung ra, kêu lên: Trà búp, loại ngon!

Tôi đổ tất cả vào cái ca tráng men, lấy dăm cái đóm cật, đun độ hai phút là sôi, lấy miếng giẻ ướt lau sạch ca, lau tới đâu trắng tới đó. Tôi giải thích:

– Phải lau ngay khi đun xong, ca còn nóng bỏng mới sạch trắng được. Để nguội, cọ bằng cát cũng mệt mới trắng. Quản giáo mà thấy ca đen thì cùm. Cái gì cũng phải đánh nhanh, rút gọn! Bây giờ mình ngồi uống ung dung. Trời lại mưa, không sợ gì nữa.

Tôi lấy hai cái chén, tiện bằng ống nứa, rót trà vào. Chúng tôi đưa ly trà lên miệng, tận hưởng hương trà thơm ngát, rồi nhấp một hớp nhỏ. Khoan khoái, tỉnh táo hẳn. Tôi hỏi anh Cung:

– Anh có biết tại sao lại kiến hiệu đến thế không? Trà ngon không cần phải vào tới dạ dầy, xuống ruột, thẩm thấu vào máu, rồi mới tác động tới chúng ta. Nó đi thẳng từ khứu giác, vị giác lên thần kinh não, nên vừa mới nhấp một tí đã sảng khoái cả người rồi!

Chúng tôi mỗi người hút một điếu thuốc lào, uống một ly trà nữa, cho ấm người lên, rồi mới bắt đầu vào chuyện muốn nói:

– Anh tù đã 10 năm rồi, anh sáng tác được nhiều không?

Anh Cung lắc đầu:

– Mấy năm đầu rầu rĩ, lo nghĩ về vợ con, không làm gì được. Sau đó có viết một số truyện ngắn trong đầu, nhưng không nhớ nổi. Đành chuyển sang thơ. Làm cũng được ít thôi, độ vài chục bài. Hôm nọ nghe anh đọc bài thơ về bệnh xá, tôi cứ ngẫm nghĩ mãi. Tôi nằm bệnh xá nhiều. Những cảnh, những tâm trạng bi đát tôi thấy hàng ngày, sao tôi không làm được bài nào? Hiện giờ, chúng tôi đã đoán trước được có ba người sẽ không qua khỏi mùa đông này. Nhìn thấy chết đến từ từ mà không cứu được! Khoai sắn còn chẳng đủ, thuốc men thì vớ vẩn, kiệt dần, rồi gục. Mùa đông như một vị hung thần, chỉ biết cầu mong nó đỡ rét, nó nới tay buông tha. Thơ anh thực lắm!

– Thật ra, lượng không quan trọng. Cuộc đời một thi sĩ mà có được vài trăm câu thơ hay đã là thành công lắm rồi. Truyện Kiều hơn 3200 câu, những câu thực hay cũng chỉ ở con số trên 200 là cùng. Nhưng Việt Nam mình chưa ai bằng Nguyễn Du cả. Anh đọc nghe vài bài của anh đi.

Ngồi hút thuốc lào, uống trà ngon, nghe thơ, đó là những giờ phút hạnh phúc nhất trong tù. Hạnh phúc vì chúng tôi quên hẳn chúng tôi đang tù tội, ốm yếu, quên hẳn mọi ô trọc cuộc đời. Chúng tôi chìm đắm, hay đúng hơn, bay bổng trong say sưa: say trà, say thuốc, say thơ. Anh Cung đọc liền một lúc ba, bốn bài: giọng trầm nhẹ, nghe rất rõ. Càng nghe, tôi càng ngạc nhiên, càng bị cuốn hút vào dòng thơ anh. Tôi chưa từng được đọc thơ nào như thế. Nó mới tinh. Mới về ý, về tình, về ngôn ngữ, và nhất là về hình tượng, âm điệu. Thơ anh thực là đẹp. Anh đọc tới đâu, tôi thấm tới đó. Thơ đẹp, cũng như mọi vẻ đẹp trên thế gian này, đâu cần phải nghiên cứu nát óc mới thấy. Nó đi thẳng vào tim, vào óc ngay. Tôi biết anh tốn nhiều tâm huyết lắm mới tạo được những câu thơ như thế. Anh tìm tòi nhiều về chữ nghĩa, những không mắc “ngữ bệnh” như Âu-Dương-Tu hàng ngàn năm trước đã than phiền. Anh tìm tòi nhiều về hình tượng, về âm điệu nhưng không trở thành cầu kỳ, quái gở, thậm chí tới mức ngớ ngẩn như một số người! Càng đọc nhiều thơ, tôi càng nể các vị thâm nho ngày xưa. Các vị đó nhận xét ngắn gọn, như muốn cô đúc chân lý vào một câu. Sau này gần Phùng-Cung nhiều, thấy anh làm thơ quá khó nhọc, tôi thấm thía câu nói của Lục-Du: “Cái tận cùng của công phu là sự bình dị”.

Khi anh Cung ngừng đọc, tôi hút thêm một hơi thuốc lào, nhả khói ra mù mịt, hãm một hớp trà, rồi đặt tay lên đùi anh:

– Anh quả là có tài, kỳ diệu lắm! Bài “Biển cả” của anh có thể là một bài dạy về đạo lý làm người cho các vị đế vương. Tôi không bốc anh đâu. Mà bốc cũng chẳng được. Hay dở nó rành rành ra đấy. Khen chê lung tung, người ta khinh! Nhiều câu thơ của anh tuyệt vời! Thí dụ như:

“Trước mắt trẻ thơ, tinh cầu chỉ là chấm nhỏ
Càng tối đen, càng nhìn rõ xa xanh.”

” Mắt phàm tục đăm đăm vương chút lệ
Chút lệ này xuất hành từ trí tuệ con người.”

“Hỡi biển cả
Diện tuy rộng, nhưng thiếu những giác quan cần thiết
Lòng tuy sâu, mà chứa đầy mầu xanh mặn chát!
Bỏ mất mênh mông, chuốc lấy ồn ào
Tự thao túng cái thói hư nộ cuồng sóng vỗ
Trống trải, bơ vơ, chiều quả phụ
Bình minh vô vọng phương mờ…
Ôi, bao im lặng thanh cao
Đều chìm lăn trong thét gào man rợ! “

“Vậy dẫu có vô cùng lớn lao gì đó
Ta chỉ yêu cầu phải hài hòa với vô cùng bé nhỏ mà thôi! “

Chỉ một bài “Biển Cả” đã nhiều câu hay thế rồi, tôi đâu có nói quá!

Anh Cung xúc động, nắm tay tôi:

– Cảm ơn, anh đã khích lệ tôi nhiều lắm.

Có tiếng mở cửa. Chúng tôi im lặng. Thiếu úy Võ, cán bộ trực trại đi vào phòng. Nhìn lên sàn, thấy chúng tôi, hắn quát:

– Ốm đau nghỉ nhà, lại tụ tập trà lá, văn thơ chửi chế độ. Ai cho phép đun nấu? Tôi cùm cổ các anh lại! Hắn đi cả giầy đầy bùn ướt, leo lên chiếu tôi:

– Đưa cái ca đây!

Tôi ôn tồn trình bày:

– Tôi xin nước sôi ở nhà bếp, không đun nấu. Anh Cung với tôi biết nhau từ ngoài xã hội. Anh đem cho tôi ít thuốc lào. Trời mưa rét, chúng tôi uống tí trà cho đỡ lạnh. Ho lao sắp chết cả, thơ văn gì nữa.

Võ trợn mắt:

– Im, không được chối. Tôi đứng ngoài nghe hết cả rồi!

Anh em ở trại đã cho tôi biết cán bộ Võ, người miền Nam tập kết đã nhiều tuổi, nghiện trà cực nặng, không ác, chỉ phải tính hay nạt nộ nhưng lại thích người khác nói nhẹ nhàng.

Tôi chống chế:

– Cán bộ ở ngoài nghe thì đã rõ là chúng tôi không nói xấu chế độ. Anh Cung theo Đảng chống Pháp từ 16 tuổi, nhất thời lệch lạc về tư tưởng, Đảng chỉ cho vào đây “uốn nắn” lại. Đời nào anh ấy nói xấu Đảng.

Võ trợn mắt nhìn anh Cung, quát to hơn:

– Về ngay bệnh xá!

Rồi quay sang tôi:

– Chiều đi làm ngay!

Thế là chúng tôi hết bay bổng. Rơi tõm xuống thực tại.

Từ đó chúng tôi thỉnh thoảng gặp nhau. Khi có trà, khi không. Toàn nói về thơ. Mấy tháng sau, anh Cung ra khỏi bệnh xá, vào toán đan lát. Cùng một toán, chúng tôi ở cùng một phòng, tha hồ chuyện trò.

Anh em tù cũng xếp Phùng Cung vào loại phạm binh, phạm cán, nghĩa là những kẻ “Hồng Kỳ sinh, Hồng Kỳ dưỡng”, lạc điệu một chút, bị Đảng tống vào trại giam, nhưng vẫn còn tương đối “vững lập trường”, vẫn “cách mạng”. Lúc đầu họ tưởng họ chỉ cải tạo ngắn hạn rồi Đảng sẽ “xét lại” cho về. Họ cũng ăn, ở, làm, y hệt chúng tôi, nhưng họ vẫn tự hào tuyên bố là họ “Tù khác!” làm tôi phì cười. Số phạm binh, phạm cán này khá nhiều, Ban Giám Thị không ưu tiên hết được. Chỉ một số nhỏ được làm văn hóa, trật tự, trực phòng, toán trưởng các toán… Những năm đầu, chúng tôi khổ với họ. Những cuộc họp trong toán thường do họ điều khiển. Những phương pháp kiểm điểm, phê bình, tố giác, chụp mũ họ sử dụng thô bỉ, đểu cáng hơn ngoài xã hội nhiều! Nhưng rồi ba năm, sáu năm, chín năm… Ăn hết “lệnh” này tới “lệnh” khác, vẫn tù (lệnh là “lệnh tập trung”, ba năm một lệnh). Họ uất ức, lên án chế độ thậm tệ, và… đi cùm, tỉnh dần dần. Công bằng mà nói, cũng có một số phạm binh, phạm cán có tư cách, không cáo cò, không hành hạ bạn tù, mà thông cảm với số phận oan khổ của mọi người. Họ nhận thức được họ cũng cùng một kiếp, cũng là nạn nhân cả, không có “Tù khác” gì hết! Làm ăng-ten mà tù miền Bắc chúng tôi gọi là Béc-giê, thành phần nào cũng có: Tư sản, địa chủ, công nông, sĩ quan, binh lính, viên chức thời chính phủ quốc gia Bảo-Đại, trí thức… Chỉ riêng những người Công giáo, Phật giáo, những linh mục, tu sĩ, nhà sư là rất hãn hữu. Điều này chứng tỏ Tôn Giáo là vô cùng hữu dụng trong việc duy trì nhân phẩm, đạo đức loài người!

Phùng Cung là một trong số rất ít những kẻ “Cờ đỏ đẻ, cờ đỏ nuôi” nhìn suốt vấn đề, dứt khoát với Đảng với chủ nghĩa Mác-Lê khá sớm. Nhiều đảng viên tù lâu cũng chán Đảng, Bác. Nhưng tâm trạng họ vẫn là tâm trạng “Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng”. Anh Cung tâm sự với tôi là phải trải qua nhiều năm suy tư, nhận xét, phân tích nghiêm túc, anh mới khai tử được chuỗi mơ hồ, mới làm nổi những câu thơ như:

Ngộ độc rồi, lại chuốc độc lẫn cho nhau!

Độc đây là chủ nghĩa Mác-Lê, là thiên đường Cộng Sản đầy ảo ảnh huyễn hoặc như “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, “Thế giới đại đồng không còn biên giới”, “Xã hội không còn giai cấp, không còn người bóc lột người”, mọi bất công, áp bức đều tan biến, chỉ còn lao động sáng tạo và thương yêu. Để đi tới cái tương lai lấp lánh đó thì bạo lực phải là bà đỡ của cách mạng, giai cấp vô sản phải là kẻ đào mồ chôn giai cấp hữu sản, nông dân phải đạp đầu địa chủ xuống bùn đen vạn kiếp, Đảng Cộng Sản phải là Đảng duy nhất lãnh đạo, Đảng kiểu mới, phải có nền chuyên chính bằng thép; văn hóa, nghệ thuật, giáo dục chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, nhà văn, nhà thơ phải là “kỹ sư tâm hồn”, trái tim của nghệ sĩ phải thuộc về Đảng, phải coi tôn giáo là thuốc phiện, là phản động, và như Lê-Nin nói “Không thừa nhận một thứ đạo lý nào khác. Cái gì có lợi cho Đảng, cái đó là đạo lý”, “Kẻ nào không đi với chúng ta, kẻ đó là kẻ thù”, “Chúng ta không xoa đầu kẻ thù, mà chúng ta phải bóp vỡ sọ chúng!” Đến nỗi Maxim Gorki phải kêu lên: “Nếu quan niệm đơn giản như thế, thì mọi giá trị bị phá hủy hết!”

Nhiều người nhiễm độc nặng đến nỗi như bị quỷ ám, không nhận ra rằng họ đương xây con đường lên cái chân trời Cộng Sản mù mịt đó bằng thây người, bằng nước mắt, mồ hôi, rớt rãi, cơ hàn, chiến tranh, lao tù, gian dối, thủ đoạn tàn bạo, bằng ngu tối, vô luân, vô sỉ, bằng nô lệ kềm kẹp, bằng hủy diệt tất cả những gì mang tính người! Chẳng khác gì muốn làm một bữa tiệc ngon mà dùng toàn đồ thiu thối, đầy ròi bọ, đầy chất độc. Phật, Chúa, Khổng-Tử đều mong muốn nhân loại “yêu thương nhau”, “hỉ xả từ bi”, “bốn bể là anh em” và răn mọi người phải tu thân, phải làm điều thiện, phải có lòng lành ngay cả trong những việc nhỏ nhặt hàng ngày. Tóm lại là phải tu nhân tích đức. Cộng Sản lại coi những khuyến dụ đó là ru ngủ, là mê tín, là phản động, lạc hậu.

Từ đầu thế kỷ này, Lê-Nin đã ngây thơ khẳng định rằng chế độ tư bản đang giẫy chết. Y hẳn không ngờ rằng nó giẫy gần một thế kỷ rồi vẫn không chết, mà ngày càng cường tráng. Còn chế độ của y và Đảng y dầy công dựng lên thì chỉ ra đời mới có bảy mươi năm đã chết không kịp giẫy! Các triều đại phong kiến của một giòng họ cũng kéo dài 800 năm, 400 năm, 300 năm, 200 năm, chế độ tư bản cũng hình thành mấy thế kỷ rồi mà vẫn đầy sức sống. Tại sao chế độ Mác-Lê lại chết yểu như vậy? Chính vì tính chất Phi Nhân của nó!

Phùng-Cung vốn là tín đồ Mác-Lê, nhưng anh lại gọi chủ nghĩa Mác-Lê là “Học thuyết King Cobra”, lại nhận xét về Đảng tính như thế này:

Tổ chức rèn bằng được cho tôi thú tính.
Bước quá độ vững vàng để tiến lên Đảng tính!

Để tẩy hết được chất độc, cho tâm hồn trong sáng, anh đã phải treo xác mình lên cửa quan biến hóa, như mấy câu thơ rất triết lý trong bài “Dòng Sông” của anh đã nêu rõ:

Trong sông, những giọt nước nhỏ nhoi, tôi con của vô tận.
Buổi du hành, lòng vương sầu xứ.
Nguyện treo xác mình lên cửa quan biến hóa.
Hẹn bước trở về trong sáng ngàn thu…

Giống như Khuất-Nguyên, Phùng-Cung vấn thiên:

Nhà thơ hỏi Không Trung
Hỏi đủ ba lần
Cả ba lần đều được trả lời bằng một màu xanh bất tận!

Để đi tới một kết luận, Phùng-Cung thường phải suy nghĩ gian nan lắm. Anh nói bằng một hình tượng dân gian rất quen thuộc, nhưng dưới ngòi bút anh trở thành mới lạ:

Mỗi ý nghĩ trong ta đều trải qua lặn lội.
Như phận chiếc cò lặn lội trong phong dao…

Nằm trong tù, anh thấm hiểu rằng nuôi nấng anh, dạy anh làm người là người mẹ đầy yêu thương, đầy nghị lực, chứ không hề phải là Đảng, Bác:

Mồ hôi mẹ tháng ngày đăm đăm nhỏ giọt.
Con níu giọt mồ hôi đứng dậy làm Người.

Hai câu thơ này, cũng như nhiều câu thơ khác của Phùng-Cung, bộc lộ rõ tài sáng tạo chữ, sáng tạo hình tượng nghệ thuật của anh. Những chữ “đăm đăm”, “níu”, toàn là những chữ bình thường hàng ngày, nhưng dùng đúng chỗ, đắc địa, chúng trở thành độc đáo, gợi cảm vô cùng: hình ảnh người Mẹ lao động cực nhọc, lầm lũi, bền bỉ, năm này qua năm khác. Người con bé bỏng níu vào giọt mồ hôi đăm đăm chảy xuống của Mẹ, mà đứng dần lên khôn lớn làm người, diễn tả một cách xúc động công lao dưỡng dục trời biển của Mẹ. Một hôm tôi hỏi anh Cung:

– Anh có hối hận vì đã theo Đảng kháng chiến chống Pháp không?

Anh trả lời ngay lập tức. Chắc anh đã suy ngẫm nhiều về điều này:

– Theo Đảng thì hối hận. Kháng chiến chống Pháp thì không.

Tôi cười:

– Chống sự đô hộ của ngoại quốc là đúng. Nhưng nó chỉ được gọi là đúng khi thắng Pháp rồi, cuộc sống phải tốt đẹp hơn. Nếu anh biết trước cuộc sống người dân lại khốn nạn hơn nhiều lần thời Pháp thuộc, về cả vật chất lẫn tinh thần, thì anh có tham gia kháng chiến không? Thoát khỏi chiếc chảo bỏng để rơi thẳng vào than lửa, anh không hối hận sao? Tôi kính phục tinh thần yêu nước của dân mình dám hy sinh tất cả để giành độc lập. Nhưng dân mình đã bị lừa gạt, phản bội. Bị lừa phản ê chề như thế mà anh không hối hận? Nhìn cuộc sống trần trụi đểu cáng, khủng khiếp bây giờ, tôi đã tự hỏi:

Phải chăng đó giá công lao huyết hãn
Mấy ngàn ngày đánh Pháp những năm xưa?

Cuộc khởi nghĩa của Lê-Lợi kéo dài 10 năm cũng hy sinh, gian truân lắm! Nhưng nếu Lê-Lợi bằng xương máu của dân, thắng quân Minh, lại thiết lập một triều đại tàn bạo hơn cả quân Minh thì lịch sử đánh giá Lê-Lợi là có công hay có tội? Lê-Lợi được coi là anh hùng dân tộc hay bạo chúa vô song? Giả thử những Phạm-văn-Xảo, Trần-Nguyên-Hãn, Nguyễn-Trãi sống lại tôi hỏi các vị đó là nếu biết trước bị chặt đầu, bị tru di tam tộc bởi chính cái triều đình mà các vị là khai quốc công thần, các vị có vào Lam-Sơn tìm Lê-Lợi không? Hay các vị đã tìm nơi ẩn cư? Dù cuộc nổi dậy chống Minh là chói lòa chính nghĩa, người dân có cuộc sống tốt đẹp hơn nhiều dưới thời Minh Triều cai trị…

– Nhưng…

Anh Cung định nói. Tôi giơ tay ngăn lại:

– Anh đừng trả lời ngay. Đây chỉ là một ý kiến. Anh hãy suy ngẫm cái đã.

Trong cuộc đời tù 27 năm của tôi, tôi chơi với nhiều phạm binh, phạm cán. Nhiều bạn tù không bằng lòng về sự giao thiệp này. Tôi nghĩ họ chỉ là những công cụ mù quáng của Đảng, cần phải soi sáng cho họ bằng những lý lẽ xác đáng, vô tư. Hơn nữa, có thực quyền quyết định tới vận mạng dân tộc chỉ có mấy chục tên trong Bộ-Chính-Trị, trong Ban-Bí-Thư. Tội lỗi với Tổ-Quốc cũng chỉ những tên đó là Chính Phạm. Vả lại, đã vào tù, thời những công cụ mù quáng kia đã trở thành nạn nhân, một điều kiện rất thuận lợi để giúp họ nhìn rõ sự thật mà họ đã thấp thoáng nhận thấy. Tại sao lại phải xa lánh họ? Nhất là khi lẽ phải ở về phía ta? Các cụ ngày xưa đã chẳng bảo là “Nói phải củ cải cũng phải nghe”. Huống chi họ cũng là người, dù bị ngộ độc nặng! Trừ những tên tay sai đắc lực có nợ máu đã trở thành đao phủ của dân lành. Trừ những kẻ quyền uy nghiêng ngả hưởng thụ thừa mứa đã biến thành Yêu, thành Quỷ! Chỉ những kẻ không thể gọi là người được nữa, mới có thể ra những nghị quyết bắn bỏ hàng vạn dân vô tội, tù đày không xét xử hàng bao nhiêu vạn người lương thiện, phá tan nát bao gia đình, đẩy hàng triệu thanh niên nam nữ đi chết vùi, chết giập trong giải Trường-Sơn, nhằm mục đích xây dựng một nước Việt-Nam thống nhất trong lao ngục, xiềng xích, cơ hàn, tối tăm. Tôi thường trao đổi như vậy với Phùng-Cung, với các bạn khác. Chẳng ai đánh giá tôi là cực đoan. Một số người còn coi tôi là quá bao dung !

Một hôm Phùng-Cung mỉm cười nói với tôi:

– Mình vừa làm xong một bài thơ hiện thực kiểu Thiện làm. Nghe thử xem.

Anh đọc một bài thơ dài đến hơn 30 câu. Tôi yêu cầu anh đọc lại cho tôi nghe tới ba lần. Tôi lắc đầu:

– Tôi cũng thích giọng thơ của anh lắm. Tôi đã cố thử mãi, nhưng không ổn. Anh cũng không nên nhảy vào lĩnh vực của tôi. Chúng ta hãy phát huy cái sở trường của riêng mỗi người. Như thế đỡ phí công vô ích.

Thấy Phùng-Cung không vui, tôi nói thêm:

– Văn, và nhất là Thơ, nó là Người, anh ạ. Chúng ta đọc thơ Nguyễn-Du, Tú-Xương, Xuân-Hương, Yên-Đổ, chúng ta thấy như được sống gần gũi thân thiết với họ. Chúng ta có thể hình dung nổi được tính khí của từng người từ cái đằng hắng, cái lườm, cái ho, cái cười khẩy, từ điệu bộ, giáng dấp, thái độ, phong cách ăn nói, đi đứng, cảm xúc, rung động của họ. Không ai giống ai. Chẳng hạn như anh, tôi trước có gặp anh bao giờ đâu, ảnh cũng không thấy. Chỉ vì đọc “Con ngựa già” của anh, nên khi nhìn thấy anh, tôi nhận ra ngay. Thậm chí cùng một bài thơ mà phong cách tác giả khác, phong cách dịch giả khác. Như Tỳ Bà Hành của Bạch-Cư-Dị và bản dịch của Phan-Huy-Vịnh. Đọc ta thấy hai người khác hẳn nhau. Thí dụ như mấy câu:

Cùng một lứa bên trời lận đận
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau
Từ xa Kinh khuyết bấy lâu
Tầm-Dương đất trích gối sầu hôm mai.

Dịch vừa sát ý vừa chau chuốt, đẹp. Nhưng không phải là Bạch-Cư-Dị nữa, mà là Phan-Huy-Vịnh, một nhà nho hiền lành, đa cảm, ủy mị. Trong khi nguyên văn:

Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân
Tương phùng hà tất tằng tương thức
Ngã tùng khứ niên từ đế kinh
Trích cư ngọa bệnh Tầm-Dương thành.

Tôi dịch từng chữ để anh thấy:

Cùng là kẻ lưu lạc nơi chân trời
Gặp nhau hà tất phải từng biết nhau
Ta từ năm trước rời Đế Kinh
Làm kẻ lưu đày nằm ốm ở thành Tầm-Dương này.

Những câu thơ đầy khí phách của một chí sĩ, đượm tinh thần tứ hải giai huynh đệ, bi nhưng hùng, khác hẳn với họ Phan. Nhiều nhà phê bình Trung-Quốc không cảm nhận được cái hồn của họ Bạch, liều lĩnh nói thơ ông là bạch thoại, thơ để các chị vú em đọc, gần bốn nghìn bài thơ của ông không có tới một gram chất thơ! Còn Xuân-Diệu nữa, anh biết là một tay Pédé chứ? Đọc thơ hắn là rõ ngay!

– Sao thơ hắn cũng lộ ra là Pédé à?

Đây nhé:

Chớ đạp hồn em, trăng từ viễn xứ
Đi khoan thai lên ngự đỉnh trời tròn.

– Anh có thấy giáng điệu ẽo ợt của một tay đồng cô không?

Phùng-Cung cười tít cả mắt:

– Đúng quá, không sai tí nào!

– Còn nhiều nữa, như:

Con đường nhỏ nhỏ, gió xiêu xiêu
Lả lả cành hoang, nắng trở chiều.

Anh có thấy nó lả lơi, õng ẹo không? Có tí gì là đàn ông đâu!

Cụ Vũ-Thế-Hùng, một trí thức đã du học ở Pháp, một nhà thơ, một giáo dân có uy tín, một quan huyện thời trước 1945, trỏ ngón tay vào mặt tôi vừa cười vừa nói:

– Phải gọi mày là thằng quái ác, chứ không gọi là Chí-Thiện được!

Cụ Hùng cũng như cụ Nguyễn-văn-Tiến, cựu đảng viên đảng Cộng Sản Pháp, đều rất thích thơ Phùng-Cung. Khi nghe Cung đọc thơ, cụ Tiến thường gật gù: “Merveilleux! Merveilleux!” (Kỳ diệu! Kỳ diệu!)

Nhờ thơ, nhờ bạn bè, đời tù của chúng tôi bớt phần nặng nề, u uất.

Phùng-Cung sống rất sơ sài, không bao giờ để ý tới chuyện ăn, chuyện mặc. Ước vọng của anh đối với dân tộc cũng không cao xa. Anh chỉ dám mơ cho người dân được sống xum hòa, đầy đủ rau gạo, thế thôi. Ước vọng đơn sơ này được anh thể hiện bằng những vần thơ tươi mát, nhiều mầu sắc, nhiều hình ảnh đẹp:

Cây đại xuân ngạt ngào hương vạn thọ
Muôn chim hỡi, hãy về đây xây tổ ấm
Để chào đón một bình minh
rau gạo xanh trắng toàn phần!

Nằm trong tù, anh mong cho thế giới an bình, lòng người dịu lắng, thôi chém giết. Tư tưởng nhân ái này, anh diễn tả bằng những vần thơ êm ả, tuyệt mỹ:

Vùng châu thổ Lưỡng Hà gà vang tiếng gáy
Lớp lớp thương vong lòng bằng an ngồi dậy
Dưới ánh sao mai ưu ái trong lành…

Sao mai là biểu tượng của Đức Mẹ, của lòng lành, của sự quan phòng ưu ái!

Phùng-Cung không phải là người Công giáo, anh xưa tin theo Đảng, tin vào chủ nghĩa cộng sản. Nhưng anh thấy bất cứ nước nào đem ứng dụng chủ nghĩa vô thần này đều gây ra những thảm họa gớm ghiếc. Anh hướng về Chúa, cầu mong sao có ngày:

Khắp nẻo xanh Nam Bắc bán cầu
Chim hót thánh thi!

Tuy nhiên, ý thức rõ rằng ngày nào còn Đảng, ngày đó dân tộc còn chìm đắm, còn quằn quại trong vực thẳm, anh khao khát được xuống đường xung trận, chém sả vào đầu con Rắn Đỏ để đón Rồng Thiêng về lại xứ sở. Xong việc, anh sẽ quỳ xuống để Thượng đế phán xét hành vi xung sát của anh. Hãy nghe những vần thơ mà âm điệu thực kỳ diệu, mới lạ:

Còn ta
Lưng đeo roi
Ta quỳ dưới chân Thượng Đế nhân từ
Để Người tiện xét hành vi ta xung sát
Ôi, bóng xế ngả dài
Dài như sầu muộn
Nẻo hoàng hôn chưa gột rửa
Vương máu xa xăm…
Dấu xưa ơi, ta dừng cương
Chùm chuông nhỏ trên tháp thiêng làng cũ
Mảng nghe tiếng chiều, sầu đổ
Dư âm siêu hóa
Cõi bụi hồn ta vươn cánh xanh, lâng lâng…

Một buổi sáng, cán bộ giáo dục Cửu đưa anh Cung lên gặp Ban Giám Thị. Hơn một tiếng sau, anh trở về, mặt rầu rầu:

– Vừa gặp hai nhà văn làm việc cho Công An, Nguyễn Công Hoan và Đồ Phồn. Họ nói ở đây cảnh trí đẹp, thoáng đãng, đúng với cái tên Phong Quang! Rồi an ủi mình “Cứ an tâm nghỉ ngơi, Bộ sẽ cứu xét”. Mấy anh tù giỏi về nấu nướng đương thịt một con dê để ban giám thị “mời cơm thân mật” họ. Hai ông có vẻ thoải mái lắm. Họ khoe chiều họ đi săn bắn. Họ bảo mình ở đây trong cái rủi cũng có cái may. Ở ngoài đương đánh Mỹ ác liệt. Tất cả dồn cho chiến trường miền Nam. Riêng tỉnh Thanh-Hóa đã động viên tới 45 vạn bộ đội. Nhiều xã không còn thanh niên nữa. Đồng chí Lê-Duẩn nói nhân dân ta dù có phải mặc quần xà lỏn, đốt đuốc, cũng đánh Mỹ tới cùng. Bác trước khi mất cũng nhắc lại với họ là dù có đốt cháy cả dẫy Trường-Sơn cũng phải chiến đấu. Nhân dân ta không sợ hy sinh. Nhất định thắng!

Nguyễn-Công-Hoan còn đọc cho mình nghe một bài thơ y làm để ca ngợi công lao “Trị bệnh cứu người” của cán bộ trại. Thơ lục bát, mình chỉ nhớ có hai câu đầu.

Ra đi cứ tưởng rừng hoang
Tới nơi mới biết Phong Quang đẹp giầu!

Trung úy Cửu dẫn mình về trại nói là hắn còn phải chuẩn bị trà ngon, nấm hương, mật ong, rượu tắc kè, thịt nai sấy để tiễn các ông ấy. Tiếng nói của các ông ấy có trọng lượng lắm!

Mấy hôm sau ngồi chẻ nan cót cạnh tôi, anh Cung thở dài:

– Tất cả cuộc chiến tranh tai hại này đều do ý thức hệ Mác-Lê đẻ ra cả. Mọi tổn thất nhân dân hứng hết. Anh nghe thử ý mấy câu này xem có được không:

Trong vạc nước sôi đang luộc lá cờ
Quằn quại, nổi chìm
Chợt phai, chợt thắm

Bây giờ gia đình nào cũng chia ly tan tác, nên tôi phác thảo mấy câu rồi hoàn chỉnh sau:

Một bước ra đi
Một bước sinh ly
Phố vắng ngả bóng chiều rầu rĩ
Ngậm ngùi tìm dấu cố nhân…”

Có tiếng cười nói tục tĩu, nhốn nháo. Trên đường sát ngay chỗ chúng tôi ngồi làm, mấy chục thiếu phạm tuổi từ tám, chín, tới 14, 15 vác xẻng, cuốc, quang gánh đi qua. Thường gần trại giam nào cũng có một trại dành cho thiếu phạm mang cái tên khó hiểu là “Trường Phổ Thông Công Nông Nghiệp 2”. Các thầy, các cô đều là công an trại giam cử sang. Các em trai đều gầy nhom. Mấy em gái thời đẫy đà, khỏe mạnh do được các thầy quan tâm giáo dục, bồi dưỡng. Tôi cười, nói với anh Cung và mấy ông bạn già ngồi cạnh.

– Các bác nhìn xem, mấy con bé kia, tuổi đời mới độ 13, 14. Nhưng tuổi bộ ngực thời phải 17, 18. Phát triển lạ như thế là do các thầy đấy.

Trước đây có vài em 9, 10 tuổi, vì phạm nội quy nặng, bị đưa sang trại tù sống với chúng tôi. Các em nói chuyện như người lớn. Cuộc sống của các em đã dạy cho các em hiểu về chế độ xã hội chủ nghĩa hơn cả mấy ông đại trí thức. Tôi hết sức kinh ngạc. Có lẽ đầu óc trong trắng của các em chưa kịp ngộ độc bởi tuyên truyền thì tai họa đã giáng xuống các em rồi. Mắt các em nhìn thực tế thế nào thì hiểu như thế, không bị các kiểu lý thuyết hão huyền làm mụ mẫm. “Nhiều cục trưởng, vụ trưởng mà ngu, gửi các con vào chỗ chúng cháu, mong Đảng giáo dục thành cháu ngoan bác Hồ. Các thầy, các cô toàn ăn chặn của các cháu. Các cháu đói lắm lại phải lao động. Ở với các chú còn sướng hơn! Trên đời này phải cướp phá, chém giết để mà sống. Nhân đạo là tự sát!”

Chắc chắn đó là những lời các em học được ở các đàn anh lưu manh lớn tuổi hơn. Những người có tiếp tế thường cho các em quà. Tôi cũng quý các em, thường ôm các em vào lòng, khuyên bảo các em được chút nào hay chút ấy. Tôi làm được hai bài thơ nói về các em trong dịp này.

Một tối, tôi đọc hai bài thơ về Mao cho anh Cung nghe. Mấy bạn tù ngồi nghe cười thích thú. Anh Cung nghiêm nghị:

– Phải thận trọng. Tránh bôi nhọ bừa bãi. Cần phải xác thực. Sao anh biết Mao dâm đãng mà dám nói: “Nó là Đổng-Trác, nhưng dâm hơn nhiều”?

Tôi bực mình, hơi gắt:

– Chẳng lẽ tôi là người vu vạ? Được, tôi sẽ cho anh rõ.

Đến chủ nhật, tôi đưa anh Cung và anh Vương-Diệu-Dếnh tới bệnh xá nói chuyện với hai người tù Trung-Quốc vừa chuyển tới vài tuần. Một người nguyên là Thiếu Tướng. Một người từng là Tổng Công Trình xây dựng thủy điện Thác Bà. Tôi kiếm bao thuốc Tam-Đảo, một ấm trà búp mời họ. Chúng tôi ngồi nói chuyện. Anh Dếnh phiên dịch. Anh Dếnh là người Trung-Quốc ở Lào, vượt biên giới năm 1958, sang thăm một người bạn ở Thanh-Hóa. Anh bị bắt, bị nghi là gián điệp, và bị giam hơn 20 năm cho tới chết. Hai người cộng sản Trung-Quốc kể lại nạn đói kinh hoàng vào những năm 59, 60, 61 do phong trào Đại Nhẩy Vọt và Toàn Dân Luyện Thép gây ra làm chết hàng chục triệu người. Theo họ nói, có những phụ nữ đói đến nỗi tắt cả kinh. Dân chết như vậy, Mao vì sĩ diện, vẫn dùng nhiều triệu tấn lương thực trả nợ cho Liên-Xô! Chuyện ăn thịt người xảy ra ở nhiều nơi. Rồi tới Đại Cách-Mạng Văn-Hóa, tàn sát không biết cơ man là người. Họ chạy sang Việt-Nam cũng là để trốn sự truy lùng của Hồng Vệ binh. Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Sang tới biên giới Việt-Nam, họ vào tù ngay. Ông thiếu tướng có dịp được gần Mao, kể lại Mao thường hay lang chạ với các cô văn công quân đội, các gái quê kháu khỉnh. Các đồng chí bảo vệ Mao, kiêm luôn cả chức ma cô đưa dắt gái phục vụ cho người cầm lái vĩ đại.

Anh Cung nghe mà sững sờ. Tôi nói với hai người Trung-Quốc là các Hoàng Đế xưa còn có nhiều cung nữ hơn Mao. Điều đáng trách là Mao lại lên mặt “Đạo đức cách mạng”, “Lương tâm cộng sản” mà xử tù người khác về tội hủ hóa. Đôi khi còn xử tử nếu dám liều mạng chơi trèo đè lên các nữ đồng chí có chồng là cán bộ cao cấp công tác xa.

Hai người cộng sản Trung Quốc độ một năm sau bỏ xác tại trại tù Phong Quang.

Phải nói hiếm có nhà thơ nào mê thơ như anh Cung. Có lần chúng tôi mải tranh luận về một chữ. Anh em đang chia cơm. Họ gắt ầm lên, gọi chúng tôi ra đặt bát để lấy cơm. Chúng tôi hấp tấp chạy ra! Anh Cung ngã xuống giao thông hào (đào để tránh máy bay Mỹ oanh tạc và cũng để vùi xác chúng tôi, nếu máy bay Mỹ tới cứu. Ban giám thị nói thẳng với tù như vậy). Anh ngã, văng cả thìa, cả bát.

Vài anh em thỉnh thoảng lại thì thầm với tôi:

– Anh Thiện này, ông Cung hình như bị bệnh thần kinh ấy.

Tôi cười:

– Ông ấy tỉnh như sáo, kinh kệ gì!

– Không, đúng thật mà, tôi thấy ông ấy hay ngồi bên giao thông hào, miệng lẩm bẩm, bấm bấm ngón tay như bấm độn!

Tôi hiểu ra. Đó là anh đang làm thơ, lẩm bẩm đọc đi đọc lại để sửa chữa. Bấm ngón tay là đếm chữ.

Các bạn tù kể lại trước khi tôi tới trại Phong Quang, có lần anh Cung ho ra máu nhiều, tưởng chết, đã nhờ bạn bè, nếu anh chết, hãy nhắn cho vợ anh, chị Thoa, là có thể đi lấy chồng. Nhưng rồi các bạn cố xoay sở kiếm cho anh thuốc chữa, anh qua khỏi.

Khi hiệp định Paris sắp sửa ký, anh, cụ Vũ-Thế-Hùng, cụ Nguyễn-Văn-Tiến được thả. Mừng cho các người được về, nhưng lòng tôi buồn rượi. Những cuộc vĩnh biệt, ly biệt, hội ngộ, tái ngộ ở trong tù bao giờ cũng xúc động hơn ở ngoài xã hội. Có lẽ vì nó xảy ra bất ngờ, cũng có lẽ vì người tù, do bị cách biệt với cuộc sống nên tình bạn thường rất gắn bó, sâu nặng.

Đến năm 1977, tôi và đa số bạn tù của tôi được thả. Các anh Trần Nhu, Nguyễn-Ký, Lương biệt kích, Sơn biệt kích, Vũ-Thư-Hiên, Kiều-Duy-Vĩnh, Lê-quang-Dũng v.v… lần lượt ra về, số tù còn lại không nhiều. Nhưng đã có những tù mới tới bổ sung! Khi thả tôi cùng độ hai chục người nữa, chánh giám thị trại Trịnh-Văn-Thích nói: “Tha các anh là tha những cái xác vật vờ. Đảng còn phải cho cái bọn miền Nam nó hiểu thế nào là chuyên chính vô sản!”

Quả thực từ 1975, quản giáo phải chuyển vào miền Nam rất nhiều. Tù từ Nam chuyển ra Bắc cũng không ít. Guồng máy chuyên chính hoạt động rầm rộ trên địa bàn cả nước, nên tạm thời thiếu cai ngục.

Về tới Hải-Phòng, tôi sống với bà chị là Nguyễn-Thị-Hoàn và gia đình con bà. Căn nhà 136 phố Ga có tới 10 hộ chen chúc. Toàn là các gia đình cán bộ đảng viên, tổ trưởng khu phố và một gia đình của chính công an phường tên là Thanh. Công an Phường, công an Quận, công an Sở thường xuyên tới “hỏi thăm sức khỏe”. Sống trong tình thế như vậy, tôi không dám ngồi trong cái buồng con 8m2 của tôi để viết lách. Tôi thường đạp chiếc xe đạp con gấu, loại xe kẻ cắp không thèm lấy, đi ra ngoại thành mua dăm lít rượu về bán cho các hàng thịt chó. Khi lò nấu rượu bị lộ vỡ, tôi lên Hà-Nội nhờ anh Vũ-Thư-Hiên giao bột nở, nhờ anh Trình, Trung úy quân đội Pháp, giao cho mấy bó nan hoa xe đạp mang về Hải-Phòng bán, sống qua ngày. Cuộc sống của Phùng Cung cũng khổ sở chẳng khác gì tôi. Bạn bè đều phải lo kiếm sống, họa hoằn lắm mới gặp nhau.

Ngày 16-7-1979, tôi vào Tòa Đại Sứ Anh giao tập thơ gần 400 bài cho họ, rồi trở ra và được chở thẳng vào xà lim 1 Hỏa-Lò. Lại bắt đầu cuộc đời tù tội, cung kẹo, cùm kẹp, đói rét trong suốt 12 năm. Tôi và anh Cung, dù ở trong lao ngục hay ở ngoài, vẫn làm thơ, mỗi người một kiểu thơ khác nhau, dù thơ văn chỉ mang lại toàn tai vạ cho chúng tôi. Đúng là cái nghiệp!

Ngày 28-10-1991, tôi được thả về, ở 65 Nguyễn-Công-Trứ với bà chị thứ hai là Nguyễn-Thị-Hảo và gia đình con bà. Lúc này tôi rất yếu, nặng có 42 cân, lại đau đầu, trĩ nội, trĩ ngoại. Sau 12 năm xa cách, ra ngoài bạn bè người thì chết đói, chết bệnh, tự tử, vượt biển mất xác, tâm thần, người thì vào tù nữa, người thì may mắn trốn thoát ra nước ngoài. Những bạn còn lại trong nước lần lượt mời tôi tới nhà tổ chức ăn mừng liền mấy tuần. Trong những tiệc vui đó, tôi phải kê gối nằm nghiêng vì trĩ quá nặng không ngồi lâu được. Tình cảm bạn tù chúng tôi thật quý báu. Bất chấp sự răn đe, sự theo dõi, chụp ảnh trộm của công an, chúng tôi vẫn giao tiếp với nhau công khai. Liên-Xô đổ đã làm Đảng choáng váng, chùn tay lại. Căn nhà của các anh Phùng-Cung, Phùng-Quán, Trung úy Phan-Hữu-Văn, Đại úy Kiều-Duy-Vĩnh bị bộ công an theo dõi chặt chẽ, vì chúng tôi thường gặp nhau ở những nơi đó. Hàng tháng, vào những ngày chủ nhật, tôi đi xích lô tới nhà anh Cung, ở chơi với anh cả ngày. Lại hút thuốc lào, uống trà, chuyện văn thơ, ngồi ngay trên nền nhà. Nhìn chị Thoa vợ anh Cung xới cơm, múc canh, tôi nhớ hai câu thơ anh viết về những người vợ, người chị Việt-Nam dịu hiền, chịu thương, chịu khó, nhường nhịn:

Từng đọi cháo, lưng rau, chia sẻ bàn tay thanh thảo
Hiu hắt lề quê hai bữa cơm đèn…

Anh Cung vẫn say thơ, còn tôi thì đã ngừng từ năm 1988 vì suy nhược thần kinh, hay bị đau đầu khi phải suy nghĩ lâu. Bác Nguyễn-Hữu-Đang, anh Phùng-Quán, anh Lê-Quang-Dũng cũng thường có mặt.

Anh Cung thấy tội nghiệp cho Tố-Hữu. Nhân dân chẳng còn ai nhắc tới thơ hắn nữa. Gần 40 năm trời, cả một bộ máy tuyên truyền khổng lồ nâng đỡ, hà hơi tiếp sức mà vẫn chết. Thực hoài công!

Tội nghiệp nhà thơ
Hợm mình
Lầm lạc
Bởi không biết sống
Nên không biết chết
Nửa thế kỷ bị lưu đày
Trong cõi tung hô!

Tuy anh Cung khinh Tố-Hữu, nhưng cũng như chúng tôi, anh không liệt hắn vào loại bồi bút. Chúng tôi nghĩ Tố-Hữu làm thơ ca ngợi Hồ-Chí-Minh, Lê-Nin, Stalin, Mao-Trạch-Đông, ca ngợi Liên-Xô, Trung-Quốc, phe xã hội chủ nghĩa, vì hắn thực sự là một người cộng sản. Hắn ca ngợi đảng hắn, chế độ hắn, các lãnh tụ hắn. Không cần làm thơ, hắn cũng quyền cao chức trọng, hưởng mọi ưu đãi. Cũng như đối với các văn nghệ sĩ trẻ, những người nào thực lòng tin tưởng là chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt, Đảng, Bác là vĩ đại, do bị tuyên truyền nhồi sọ từ khi còn là thiếu niên, là nhi đồng họ cũng không phải là bồi bút. Họ chỉ sai lầm. Đầu độc họ chính là những văn nghệ sĩ, những trí thức lớn tuổi, những người ít nhiều đã có danh từ trước 1945. Từ sau Cải-Cách Ruộng-Đất và vụ Nhân-Văn, tiếp sau càng ngày càng phải sống dưới sự khống chế toàn diện và triệt để, bị trói chặt! Những vị này thừa hiểu rằng cuộc sống dưới thời Pháp thuộc tuy chẳng tốt đẹp gì, tuy chịu cái nhục mất nước, cũng còn dễ thở hơn nhiều dưới cái ách của Đảng. Họ rất rõ Đảng là một tổ chức siêu phát xít, cực kỳ hung hiểm, nên họ rất hoảng sợ. Họ tán tụng Đảng, cổ võ mọi chính sách của Đảng, giúp Đảng làm công việc đầu độc lớp trẻ là để được yên thân, để được ưu đãi về vật chất. Họ đi nước ngoài như đi chợ, con cái cũng du học ngoại quốc. Họ mới thực xứng đáng với danh hiệu bồi bút, nghĩa là dùng ngòi bút làm tôi tớ để hưởng bổng lộc đãi ngộ, vất bỏ tất cả những gì gọi là lương tâm, liêm sỉ!

Từ ngày ra tù, suốt 20 năm, Phùng-Cung luôn bị cái đói “bám thắt lưng mà đánh”. Anh tôn kính hạt gạo lắm!

Tôi rạp đầu
Bạc tóc rạp đầu
Lạy hạt gạo thiêng!

Chị Thoa tần tảo hôm sớm nuôi chồng, nuôi con, thân gầy như thân ve, làm anh đau lòng. Anh làm bài thơ “Mồ hôi xương” tặng vợ:

Em vất vả
Tối ngày vất vả
Lưng áo em
Ngoang vôi trắng xóa
Cái trắng này vắt tận trong xương!
Vợ chồng anh sống trong cảnh:
Trệu trạo trái sung
Ruột tím cơ hàn
Mà trong lòng vẫn nơm nớp tai họa:
Mắt trước, mắt sau
Kinh hoàng di lụy
Quỳ gối, chống tay, vẫn còn sợ ngã!

Chính sách khủng bố của Đảng quả là ghê gớm. Chẳng trách bao năm đất nước hơn 70 triệu con người mà cứ bất động, cứ im lặng mênh mông!

Suốt mấy chục năm, công an thường tới nhà anh, gọi anh lên đồn, lên sở đe doạ, khủng bố tinh thần. Có lần, không biết ai tố giác, công an bắt anh và Phùng Quán phải nộp cho chúng tập thơ chép tay của anh độ 50 bài. Cả gia đinh anh lo âu, hồi hộp. Cuối cùng đành nộp cho chúng. Cũng may, toàn là thơ tả cảnh cả, không đụng gì tới chế độ, nên chỉ bị tịch thu tập thơ và nghiêm khắc cảnh cáo! Anh mỉa mai ví thân phận anh như cánh bèo, tới cạn kiệt rồi mà không yên:

Lênh đênh muôn dặm nước non
Dạt vào ao cạn vẫn còn lênh đênh.

Nhưng từ khi Đông-Âu tan, rồi Liên-Xô đổ, anh không còn “quỳ gối, chống tay, vẫn còn sợ ngã” nữa, mà ngang nhiên đương đầu với mọi hiểm họa. Năm 1992, anh và Phùng-Quán tổ chức mừng thọ bác Nguyễn-Hữu-Đang 80 tuổi (tuổi ta). Anh viết thư mời các văn nghệ sĩ, mời cả Đỗ-Mười, Lê-Đức-Anh. Trong giấy mời anh đề là “Mừng sống dai”.Điều này làm chính quyền tím ruột. Tuy trong buổi ăn uống họp mặt, không ai trực tiếp lên án Đảng, nhưng sự việc hàng mấy trăm văn nghệ sĩ, trí thức tới mừng thọ một tên phản động bị bỏ tù 15 năm, quản thúc tại Thái-Bình hơn chục năm, đã là cái tát vào mặt Đảng! Đỗ-Mười, Lê-Đức-Anh tất nhiên không tới. Nhưng công an thì tới đông, dù không ai mời. Họ ngang nhiên quay cả vidéo để làm tài liệu! Buổi “Mừng sống dai” đông vui này còn chứng tỏ một điều: nỗi sợ đã giảm nhiều. Bạo lực đã ít hiệu quả.

Ngày anh Phùng-Quán mất, Phùng-Cung đứng ra tổ chức tang lễ. Đám táng Phùng-Quán làm Đảng lo ngại. Nó quá đông. Có những vòng hoa đề những dòng chữ như “Những người cùng chung hoạn nạn”, “Một kẻ sĩ bất khuất”v.v… Nhiều bài thơ ca ngợi Phùng-Quán, chửi bóng gió Đảng cũng xuất hiện. Hôm đó tôi đứng cạnh quan tài Phùng-Quán, cùng Nguyễn-Hữu-Đang, Phùng-Cung. Tôi ghi vào sổ tang mấy chữ: “Anh Quán mất đi là một điều đau buồn chung. Nhưng cũng mừng là trước khi nhắm mắt vĩnh viễn, anh đã mở rộng mắt và nhìn rõ sự thật”. Đám táng có nhiều công an chìm, công an nổi. Nhà nước sợ đám tang trở thành một cuộc biểu tình!

Nhiều người lần lượt tới thắp hương trước linh cữu anh và nói vài lời. Tất cả đều bày tỏ lòng thương tiếc và kính phục tinh thần “Yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét” của anh. Bài nói của nhà thơ, nhà giáo lão thành Vũ-Đình-Liên là cảm động nhất. Chỉ có một tiếng nói duy nhất lạc lõng là bài thơ Hoàng-Cầm đọc. Đại ý nói Quán là người một lòng chung thủy với Đảng, Bác. Đảng, Bác ra lệnh là Quán đi đầu làm theo. Bài thơ này sau đó được báo Văn-Nghệ đăng lại. Chị Trâm, vợ anh Quán giận dữ nói với tôi: “Anh Quán đã bỏ Đảng, Bác từ lâu rồi. Anh Cầm đã sỉ nhục chồng tôi!”

Khi tôi mới tù về, Phùng-Cung đã giơ cho tôi xem bài thơ ca ngợi Hồ nhân ngày sinh 100 năm của y, Hoàng-Cầm làm, lấy tên là “Nhớ về làng Sen” đăng kín cả hai trang báo Văn-Nghệ. Anh còn cho tôi xem tập thơ “Trường ca Bác” của Lê-Đạt cũng làm vào dịp này. Tôi đọc lướt qua, và thấy tiếc cho các anh đó. Anh Cung nói với tôi là không bao giờ mời họ tới nhà anh cả. Tôi thấy anh đã nhiều tuổi rồi, lại ốm yếu, sức thơ của anh cũng đã xuống. Tôi khuyên anh nghỉ thơ, ngồi viết hồi ký về vụ Nhân-Văn. Anh là người trong cuộc, lại là người chân thực, anh biết nhiều sự thật, kể cả những sự thật buồn lòng. Tất cả phải viết ra để mọi người, nhất là lớp trẻ biết rõ.

Từ khi hệ thống xã hội chủ nghĩa lung lay rồi sập, nhà nước Cộng Sản đối phó với những người không phục tùng một cách khôn khéo hơn. Tình thế đã khác. Họ trở nên xảo quyệt, ma quái, tinh vi, không trắng trợn, thô bạo quá như lúc còn cường thịnh. Họ dùng chính sách “vừa dụ, vừa dọa”. Trong một số trường hợp, họ đã thành công. Cụ Nguyễn-Mạnh-Tường viết quyển L’Excommunié (Kẻ bị khai trừ) in ở Pháp, Nguyễn-Khắc-Viện phát biểu bất đồng chút ít. Công an đến đe dọa trước. Rồi nhân dịp tết Nguyên-Đán, Đỗ-Mười thân chinh tới nhà hai vị “mừng tuổi” một số quà, một số tiền, việc này được chiếu cả lên tivi. Thế là hai cụ im hẳn. Chính quyền chỉ cần có thế!

Con trai anh Phùng-Quán, cháu Quân, dây vào việc đánh chết người, bị bắt vào Hỏa-Lò. Nắm lấy cơ hội này, công an gọi anh lên sở, đề nghị anh “Có chung tiếng nói với Đảng” họ sẽ tha con anh ngay, coi như vô tội. Vợ chồng anh Quán hỏi ý kiến tôi và Phùng-Cung. Chúng tôi hiểu lòng bố mẹ thương con, không thể không cứu. Cháu Quân lại định tự sát trong nhà giam. Tôi khuyên anh Quán là chỉ cần hứa với công an là anh im lặng cũng đủ rồi. “Còn chuyện có chung tiếng nói với Đảng” là không thể chấp nhận. Anh Quán thở dài sườn sượt. Anh hứa với công an như tôi khuyên. Lập tức cháu Quân được về gia đình. Ít lâu sau, anh Quán qua đời.

Bác Nguyễn-Văn-Phổ, con học giả Nguyễn-Văn-Vĩnh, bạn tù của tôi từ năm 1962, hoạt động quân báo nội thành cho cộng sản hồi chống Pháp. Năm 1955, bác bị vu vạ là gián điệp, bị xử 15 năm tù, nhà cửa, tài sản bị tịch thu hết. Bác được giảm 5 năm, nhưng lại nằm tù 17 năm, một tháng, một ngày, mới được thả! Ra tù độ 7, 8 năm, tòa bí mật xử lại vụ án, và xác định là tất cả vô tội. Bác được bạn bè rỉ tai cho biết việc xử lại này. Bác đến tòa xin được văn bản tòa minh oan cho bác. Bác đã ở vào tuổi bát tuần, bác chỉ yêu cầu chính quyền trả lại ngôi nhà bị tịch thu trị giá khoảng sáu trăm ngàn đô la Mỹ. Đơn từ gửi các nơi, năm này sang năm khác, không ai buồn giải quyết. Chúng tôi khuyên bác đưa việc này ra công luận thế giới. Cuối cùng tận năm 1995, bác tới nhà tôi nói một thiếu tướng quân đội tới nhà bác, đưa cho bác 100 triệu (gần 10 ngàn đô la Mỹ). Bác đành bằng lòng cho qua hết: ngôi nhà, đồ đạc, tiền bồi thường 17 năm tù oan. Mọi chuyện êm thấm!

Một số trí thức, văn nghệ sĩ, ít nhiều phản kháng khi Đảng cởi trói (thực ra là nới lỏng đôi chút) bị chính quyền doạ dẫm, mua chuộc, đã trở lại với nghề bồi bút cũ như Trần-Mạnh-Hảo, Nguyễn-Thị-Ngọc-Tú, Diệp-Minh-Tuyền, Trần-Quốc-Vượng v.v… Một số co lại, im lặng.

Nhưng nhìn chung, đại đa số, kể cả các đảng viên, đều chán ghét Đảng. Nhiều người đấu tranh ngấm ngầm chống lại. Cứ xem những bài văn, bài thơ được photocopy lưu truyền khắp nơi thì rõ.

Tôi thường nói với anh Cung và bạn bè là tôi có thể sẽ được ra nước ngoài. Nhìn vào tình hình trong nước, tình hình thế giới, tình hình người Việt hải ngoại mà tôi ít nhiều am hiểu qua một số bạn bè từ Mỹ, Canada, từ Pháp, từ Úc về, tôi tin chắc rằng sớm là khi Mỹ bình thường quan hệ ngoại giao với Hà-Nội, muộn là khi Mỹ cho Việt-Nam tối huệ quốc, tôi sẽ được hộ chiếu sang Hoa-Kỳ. Anh Cung, cũng như các bạn tôi, đều là những kẻ sống quá lâu trong lòng cộng sản, nên hiểu rõ tẩy của chúng, đòn phép, ý đồ, đường đi nước bước của chúng. Tất cả đều đồng ý với nhận định của tôi.

Quả nhiên, khi Mỹ sắp quan hệ ngoại giao với Việt-Nam tôi được cấp hộ chiếu. Và ngày 1-11-1995, tôi rời Việt-Nam đi Hoa-Kỳ.

Trước khi đi, các bạn tôi, toàn là bạn tù, tổ chức ăn uống chia tay, chúc mừng tôi. Anh Cung gặp riêng tôi, vẻ mặt ưu tư:

– Tôi hiểu Thiện không mang thơ tù của tôi đi được. Có vài người quen, đảng viên lâu năm cả, sắp đi công tác ngoại quốc. Họ cũng chán Đảng, chán chế độ lắm! Tôi định nhờ họ mang tập thơ đó đi, tôi viết nhỏ, gọn, dễ dấu. Hơn nữa, họ đã ra nước ngoài nhiều lần, không bị khám bao giờ cả.

Tôi giật mình nhìn anh:

– Không được, việc nguy hiểm như vậy, đảng viên hay không, chán đảng hay không, đều không thể tin được. Nhỡ là tình báo của Bộ Nội-Vụ thì sao? Anh cũng biết khi mở kho hồ sơ mật vụ Đông-Đức ra, có những ông văn sĩ, trí thức chống đối, bao năm mọi người vẫn nể phục, lại tóe loe ra là các ông ấy làm việc cho cơ quan an ninh. Đúng là bây giờ cán bộ, đảng viên đa số đã chán ngấy Đảng. Nhưng chắc chắn cũng có một số nhỏ làm việc cho công an. Việc gián điệp tối mật, chúng ta biết ai vào với ai! Anh cứ an tâm, chớ nóng vội. Sẽ có người tin cậy mang thơ của anh đi. Ngoài những người thực hiểu rõ nhau, anh cũng chớ nói với ai là anh có tập thơ đó cả.

Anh nghe lời tôi, và không giao tập thơ tù của anh cho họ. Anh Nguyễn-Hữu-Hiệu về Việt-Nam vài lần. Lần nào cũng tới thăm Phùng-Cung, Phùng-Quán, Nguyễn-Hữu-Đang và tôi. Anh Hiệu đã mang lọt không những thơ tù, mà cả gần mười truyện ngắn của Phùng-Cung sang Mỹ. Việc này nguy hiểm. Anh Cung đã nhờ mấy người Việt hải ngoại mang đi. Nhưng họ e ngại.

Thời gian trôi thật là nhanh. Tôi sang Hoa-Kỳ đã được 19 tháng. Phải rời quê hương, rời những người thân, những bạn bè chí cốt đã bao năm chia sẻ ngọt bùi cay đắng, tôi nhớ lắm! Luống tuổi rồi, lại xa nước, tôi thấy câu tục ngữ La-tinh: “Đâu sống tốt, đó là tổ quốc” là sai. Tôi nghĩ chúng ta vạn bất đắc dĩ mới phải rời bỏ đất nước. Quê cha đất tổ càng đau khổ, chúng ta càng xót thương. Tôi hằng mơ ước một ngày không xa, quê hương Việt-Nam yêu dấu được tự do, tôi sẽ trở về tìm lại những thứ cuộc đời không thể quên, gắn bó với hồn tôi từ thủa tôi còn mặc quần thủng đít: Những bờ tre, góc phố, những hương cau, hương bưởi, những quán nghèo, những ngôi mộ, những con trâu, con chó đầy ân tình, những mùa trăng mênh mang, những con người đôn hậu, cần cù, thông minh, hóm hỉnh, cùng chung tiếng nói, điệu ru, câu hò, giọng hát, cùng chung một lịch sử vui buồn, một nền văn hiến ngàn năm, và nhất là cùng chung bao tan tác, nổi chìm, giập vùi, tai họa trong gần nửa thế kỷ. Vào những giờ phút hoàng hôn của tuổi sáu mươi, tôi luôn có cảm giác mình đang sống những ngày ủ rũ buổi tàn thu. Hình bóng những người mà tôi đã yêu, những thâm tình mà tôi đã mất thường chập chờn trong tâm tưởng… Khi ra đi, tôi bùi ngùi nâng ly nói với các bạn:

– Cuộc đời chúng ta, tan hợp, hợp tan đã nhiều. Lần này tôi xa các bạn, lòng vẫn hy vọng có một ngày rất gần sẽ được trùng phùng, khi đất nước không còn bóng giặc. Cuộc trùng phùng này sẽ tưng bừng nhất, hào hùng nhất, vĩ đại nhất trong cuộc đời đầy bất hạnh của chúng ta. Vì đó cũng là cuộc trùng phùng, cuộc đại đoàn viên của cả dân tộc sau nửa thế kỷ chia ly, đày đọa. Chúng ta căm giận mà không tàn ác vì chúng ta trân quý điều thiện. Chúng ta nhân ái mà không khoan nhượng, hòa hợp với tội ác vì chúng ta phẫn nộ trước mọi cái ác. Chúng ta biết ngẩng đầu trước sức mạnh đen tối của bạo lực, nên chúng ta biết khoan dung cho những kẻ biết cúi đầu hối cải, ủng hộ, khuyến khích họ trở về với Lương-Tri, với Dân-Tộc!

Từ ngày sống ở Mỹ, tôi vẫn gọi điện thoại về thăm hỏi gia đình, thăm hỏi các bạn. Cách đây bốn tuần, vào tối thứ bảy, các bạn tôi tập hợp nhau tại nhà Đại úy Kiều-Duy-Vĩnh đợi nói chuyện với tôi. Vừa bắt đầu câu chuyện, nhà thơ Lê-Quang-Dũng báo tin cho tôi biết là Phùng-Cung đã mất hôm thứ sáu tại nhà, sau hai tuần bạo bệnh. Các anh sắp đi đưa đám. Tôi bàng hoàng, lòng quặn đau. Thế là anh đã ra đi vĩnh viễn, tôi chẳng bao giờ còn được trông thấy anh, nhìn thấy nét mặt đầy ưu tư của anh, nâng cốc uống trà với anh, nghe anh đọc thơ nữa… Đành rằng cửa tử ai cũng phải qua, nhưng sao lòng lại đau, nước mắt lại ứa ra! Đêm đó, tôi nằm quay mặt vào tường, hồi tưởng lại những năm tháng gần anh, từ buổi đầu gặp gỡ trên trại Phong-Quang, một chiều đông ảm đạm, anh đứng trước cây ớt chỉ thiên, ngẩng đầu nhìn lên nền trời xám nặng, nét mặt xám nhợt bất động, tới buổi từ biệt anh, vào Sài-Gòn đi Hoa-Kỳ, anh nắm tay tôi không muốn rời, nước mắt rơm rớm…

Mai này trở về Việt-Nam, tôi chỉ còn biết cúi đầu đứng lặng trước chút thổ phần bò xéo cuối thôn, nơi thân xác anh an nghỉ…

Trời gần sáng, tôi nhắm mắt chợp đi, mơ thấy những vì sao, những cánh buồm xanh biếc, đương ngược giòng Ngân lộng gió, đưa linh hồn anh về với Thượng-Đế chí nhân!