Cuộc Chiến Bí Mật Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH

ydan.org

Nicholas Cage

Bản dịch: Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

Google photo

Phần 7

Chiến Tranh Ngoại Lệ

Đầu năm 1962, CIA bắt đầu tổ chức lực lượng Dân sự chiến đấu (CIDG), tuyển mộ thanh niên người dân tộc, tổ chức thành những đại đội vũ trang đối đầu với Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. CIA sử dụng quân Mũ nồi xanh huấn luyện cho lực lượng dân sự chiến đấu để trà trộn hay cài cắm người vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Mặt khác, Sở Khai thác địa hình Phủ Tổng thống cũng gửi người đến hai trung tâm hỗ trợ huấn luyện.

Đến tháng 7/1962, cơ quan CIA đã có thể bàn giao chương trình Dân sự chiến đấu cho quân đội Sài Gòn. Việc bàn giao bắt đầu bằng “Kế hoạch Trở lại”, sẽ hoàn tất trong vòng 1 năm và được triển khai đồng thời với những hành động xâm nhập, phá hoại trên lãnh thổ Bắc Việt. Vì lẽ đó, “Kế hoạch Trở lại” còn có tên gọi là “Kế hoạch 34-63”.

Tháng 1/1963, Hải quân Mỹ gửi toán biệt kích biển (SEAL) sang Nam Việt Nam huấn luyện về chiến thuật hành quân biệt kích ở Đà Nẵng. Hai tháng sau, toán biệt kích Mũ nồi xanh từ Okinawa cũng đến huấn luyện cho lực lượng Dân sự chiến đấu tại căn cứ mới của CIA tại Long Thành, cách Sài Gòn khoảng 22km về hướng tây. Căn cứ này có tên là Trại Quyết Thắng, sẽ dần thay thế cho căn cứ Thủ Đức.

Trước khi lập căn cứ ở Long Thành, tất cả những biệt kích tham dự các kế hoạch xâm nhập Bắc Việt đều do CIA huấn luyện trong những mật cứ rải rác ở khắp Sài Gòn. Trên phương diện lý thuyết, nguyên tắc này có vẻ đảm bảo bí mật, vì các toán biệt kích đều ăn, ở, huấn luyện riêng biệt. Căn cứ rộng lớn Long Thành được xem là thực địa lý tưởng cho những khóa huấn luyện kỹ năng phá hoại, sử dụng vũ khí và các loại phương tiện đặc biệt khác.

Toán Mũ nồi xanh đầu tiên đến căn cứ Long Thành là toán A 413, do Đại úy Clinton Hayes làm trưởng toán. Họ huấn luyện cả điệp viên lẫn biệt kích dù. Tháng 10/1963, toán A 413 được thay thế bởi toán A 211 đến từ Okinawa, trưởng toán này là Đại úy Lawrence White.

Tại Sài Gòn, căn cứ vào kế hoạch “Trở lại”, ngày 1/4/1963, Sở Khai thác Địa hình đổi tên thành Lực lượng Đặc biệt – một binh củng của Quân lực VNCH.

Đại tá Lê Quang Tung, Tư lệnh Lực lượng đặc biệt. Đường quan lộ kết thúc vào ngày 1/11/1963 bởi các “chiến hữu” tại Bộ Tổng tham mưu VNCH.

Sau nhiều biến cố xảy ra vào cuối năm 1963, cả hai vị tổng thống VNCH và Mỹ đều bị ám sát. Đầu năm 1964, những hoạt động phá hoại trên đều nằm trong kế hoạch 34A. Ngày 3/2, tướng Nguyễn Khánh được tường trình về kế hoạch 34A, ông ta có vẻ hài lòng và hứa sẽ yểm trợ. Kế hoạch 34A vẫn được tiếp tục điều chỉnh, mặc dù tình hình chính trị ở Sài Gòn lúc này rất rối ren.

Ngày 24/1, Mỹ thành lập Trung tâm hành quân đặc biệt (SOG), đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Tổng Tham mưu trưởng Quân đội và Tư lệnh lực lượng quân sự Mỹ. Trên lý thuyết, SOG sử dụng chiến thuật chiến tranh ngoại lệ để phá hoại, quấy rối, làm suy yếu nền kinh tế Bắc Việt Nam, vừa tổ chức xâm nhập, bắt cóc con tin khai thác tin tức, phá hoại, tuyên truyền, thu thập tin tức tình báo và phản gián. Chương trình hoạt động của SOG bao gồm bốn hình thức. Một là những trận tập kích bất ngờ. Hai là tập kích, phá hoại những căn cứ, nhà máy quốc phòng và dân sự. Ba là tổ chức những cuộc hành quân từ cấp đại đội đến tiểu đoàn vào lãnh thổ miền Bắc, phá hoại những căn cứ, cơ xưởng, nhà máy lớn ở miền Bắc. Bốn là có thể sử dụng không lực đánh phá, làm suy sụp nền kinh tế Bắc Việt.

Căn cứ vào nhiệm vụ cho phép, SOG tiến hành giai đoạn 1 từ 2 – 5/1964. Tất cả gồm 33 mục tiêu, trong đó có 22 trận tập kích phá hoại. Chỉ huy trưởng đầu tiên của SOG là Đại tá Clyde R. Russell, cựu trung đoàn trưởng một trung đoàn thuộc Sư đoàn Dù 82, nguyên liên đoàn trưởng của Lực lượng đặc biệt. CIA đã bàn giao cho SOG tất cả những gì họ đã xây dựng được, kể cả những chiếc tàu Swift, PTF cho đến các toán biệt kích biển, cùng phi hành đoàn Đài Loan cho Bộ tư lệnh lực lượng dù và căn cứ Long Thành. Trên những cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực được CIA giao cho, bộ chỉ huy SOG tiếp tục những hoạt động xâm nhập miền Bắc.

Ngày 23/4/1963, chiếc C123 chở toán biệt kích gồm 3 người, tiếp tục xâm nhập Bắc Việt, nhằm tăng cường cho toán Remus. Theo kế hoạch, chiếc C123 bay tới điểm hẹn là những ngọn đồi gần khu vực lòng chảo Điện Biên Phủ. Phi hành đoàn nhìn thấy đèn hiệu từ dưới đất, bèn bật đèn xanh cho các quân nhân biệt kích nhảy ra khỏi máy bay. Sau đó, Remus báo cáo rằng những biệt kích quân đã đáp đất an toàn. Phi vụ đầu tiên của SOG coi như thành công.

Hai hôm sau, SOG chuẩn bị cho phi vụ thứ hai. Toán biệt kích mang mật danh Attila, gồm 6 lính Việt Nam sẽ nhảy dù xuống phía nam tỉnh Nghệ An. Lần này SOG không nhận được báo cáo, coi như toán Attila mất tích. Đến cuối mùa hè 1963, SOG thả thêm 8 toán biệt kích ra miền Bắc. Trong đó có 3 toán tăng cường cho các toán nằm vùng trước đó mà Phòng 45 còn nhận được điện báo cáo. Năm toán khác nhảy dù xuống mục tiêu mới, nhưng chỉ một toán có điện báo cáo về Sài Gòn.

Trong khi đó, Washington theo dõi sát các hoạt động của SOG. Nhiều vấn đề về các toán biệt kích nằm vùng ở Bắc Việt được đem ra thảo luận như tình trạng thiếu lương thực, thực phẩm. Toán biệt kích Bell hoạt động ở tỉnh Yên Bái đã hơn 1 năm mà không được tái tiếp tế. Trước khi nhận được tiếp tế trong tháng 7, hiệu thính viên toán Bell báo cáo rằng ba biệt kích quân đã chết vì đói.

Một vấn đề khác nảy sinh trong lãnh đạo, chỉ huy. Theo điện văn ngày 19/1/1963, kế hoạch 34A (xâm nhập Bắc Việt) có hai người chỉ huy. Một là vị Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn; hai là Tư lệnh Phái đoàn viện trợ quân sự Mỹ (MACV). Thêm vào đó, SOG chỉ nhận lệnh từ Cơ quan Phản gián và Các dịch vụ đặc biệt (SACSA) ở Washington.

Tóm lại, SOG phải xin phép cho mỗi phi vụ xâm nhập, khiến công tác bảo đảm cho từng phi vụ thêm rắc rối, phức tạp. Trước hết, Đại tá Russell, trùm SOG phải gửi chương trình hoạt động lên vị Tư lệnh Thái Bình Dương để báo lên Tổng tham mưu trưởng. Rồi phải được sự chấp thuận của Đại sứ Mỹ, tối thiểu 24h, trước khi thực thi phi vụ. Chưa kể nhiều phi vụ phải được sự chấp thuận của tổng thống Mỹ Johnson. Thêm nữa, những chuyên viên cao cấp của CIA đều có quyền gạch bỏ bất cứ kế hoạch nào do SOG soạn thảo mà không có bản thuyết minh chi tiết, thuyết phục.

Trước giờ xâm nhập

Chưa kể những vấn đề nảy sinh mang tính chất nội bộ, SOG luôn than phiền rằng những phi công của hãng Air America không chịu hợp tác. Còn các phi công Đài Loan thì từ chối bay tiếp tế cho toán Europa sau vố bị ăn đạn phòng không Bắc Việt. Khi SOG yêu cầu họ tiếp tục bay để tái tiếp tế cho toán Europa, họ liền cáo bệnh.

Vấn đề chọn mục tiêu xâm nhập cũng rắc rối. Toán Attila trong tháng 4/1963 xâm nhập địa bàn tỉnh Nghệ An. Tiếp theo toán Lotus dự kiến xâm nhập lui về phía bắc, nhưng rốt cục cũng lại nhảy dù xuống tỉnh Nghệ An. Toán Scorpion thả dù xuống cùng địa điểm với các toán Bell, Packer, Buffalo. Những toán khác xâm nhập cùng mục tiêu với toán Ruby… Trước thực trạng trên, CIA buộc phải có kế hoạch điều chỉnh và đổ thêm ngân sách huấn luyện.

Google photo

Đến tháng 8/1963, tại căn cứ Long Thành đã có 16 toán biệt kích được huấn luyện, bình quân mỗi toán có quân số từ 11 đến 15 người. Sở Khai thác địa hình cung cấp nhân lực tuyển chọn từ các đơn vị của Quân đội Sài Gòn, nên phần nào làm cho các toán biệt kích mạnh thêm. SOG nhận được một trong sáu chiếc máy bay C123 cải tiến, cùng 7 phi hành đoàn Đài Loan, cộng 3 phi hành đoàn Nam Việt Nam, tổ chức thành Phi hành đoàn số 1, trực thuộc SOG và dời căn cứ ra Nha Trang.

Ngày 14/11/1963, một chiếc máy bay C123 bay ra không phận miền Bắc, thả toán biệt kích tăng cường cho toán Bell, đang nằm vùng tại địa bàn tỉnh Yên Bái, thành công. Trong lúc đó phi hành đoàn Cò Trắng của Nam Việt Nam chuẩn bị phi vụ đặc biệt, thả biệt kích xuống phá cầu Cấm ở phía bắc thánh phố Vinh. Cây cầu quan trọng này dùng cho cả tuyến đường sắt và đường bộ, nếu bị đánh sập sẽ cản trở việc lưu thông, tiếp tế cho chiến trường miền Nam của Bắc Việt. Theo kế hoạch, sau khi phá sập cầu, toán biệt kích sẽ dùng thuyền bơi ra biển, nơi có lực lượng biệt kích biển đợi sẵn để đưa vể miền Nam Việt Nam.

Phi vụ này phức tạp hơn hẳn những phi vụ trước. SOG tổ chức toán biệt kích Centaur gồm 33 người, gấp 3 lần những toán trước đây. Chương trình huấn luyện cho Centaur bắt đầu từ ngày 26/7/1963. Ba tháng sau, SOG điều chỉnh lại mục tiêu, thay vì tấn công cầu Cấm sẽ chuyển sang dàn radar bên bờ biển. Theo kế hoạch, tàu Nasty chở những biệt kích người nhái ra vịnh Bắc Bộ, họ sẽ dùng xuồng cao su bơi vào bờ thám thính. Sau đó chỉ điểm cho chiếc máy bay C123 chở toán biệt kích Centaur nhảy dù xuống tấn công đài radar. Xong nhiệm vụ tất cả sẽ rút lui bằng thuyền ra tàu Nasty. Ngày N được ấn định là ngày 22/12, đúng ngày thành lập của QĐND Việt Nam.

Để chuẩn bị cho cuộc tập kích, ngày 10/12/1963, hai chiếc tàu Nasty chở những biệt kích biển ra đậu ngoài khơi vịnh Bắc Bộ. Rồi toán biệt kích biển lại chèo thuyền vào bờ, đợi ra hiệu chỉ điểm cho chiếc C123, chở toán biệt kích Centaur, đang đến theo kế hoạch. Tại sân bay Đà Nẵng, toán biệt kích Centaur gồm 28 người đã lên chiếc C123, do phi công Hồ Văn Kiệt lái. Không hiểu sao, chiếc máy bay C123 mới cất cánh cách sân bay khoảng 10km, do bị khuất tầm nhìn vì mây che phủ, đã đâm vào vách núi, không một ai còn sống sót. Phi hành đoàn Cò Trắng quả là trắng thật. Cả một phi hành đoàn bị xóa sổ.

Không phải chỉ riêng những toán biệt kích nhảy dù xuống không phận Bắc Việt thất bại, mà cả những trận tập kích trên biển do người nhái thực hiện cũng làm cho SOG mất mặt. Từ tháng 6/1962 đến tháng 1/1964, biệt kích biển đã tổ chức 4 trận tập kích, nhưng duy nhất chỉ có 1 trận không bị tổn thất.

Trưa ngày 15/2/1964, bốn người nhái trong toán Neptune kiểm tra lại hành trang và lên chiếc Swift. Chiếc tàu lại hướng ra vịnh Bắc Bộ. Họ chạy cách xa bờ biển để tránh bị radar phát hiện. Vào lúc 23h, thuyền trưởng người Na Uy cho tàu chạy vào gần bờ. Toán người nhái âm thầm xâm nhập trong màn đêm. Một người trong toán là Vũ Đức Gương, vốn là giáo dân, di cư vào Nam năm 1954. Gương là một trong những người nhái đầu tiên do CIA huấn luyện. Anh ta cũng có mặt trong phi vụ 22/12/1963, từng chứng kiến cảnh chiếc Swift bị tàu Swatow Bắc Việt bắn chìm.

Toán người nhái cùng ba thủy thủ đoàn sẽ dùng xuồng cao su bơi vào bờ. Nhiệm vụ của họ giống toán Vulcan trước đây. Xuồng bơi đến cửa sông Gianh, toán người nhái bơi vào đặt mìn phá hoại, rồi bơi trở về xuồng. Sau đó chạy ra chiếc Swift tẩu thoát về miền Nam. Một thủy thủ trực máy liên lạc với chiếc Swift đậu ngoài khơi đề phòng chuyện bất trắc xảy ra. Kế hoạch sắp đặt sẵn đâu vào đó, nhưng chuyện không may lại xảy ra. Bỗng nhiên gió thổi mạnh, tạo nên những con sóng xô đẩy chiếc xuồng cao su. Khi toán người nhái đang xuống nước, một ngọn sóng lật úp chiếc xuồng, thế là máy móc, đồ đạc, trang bị rớt xuống biển hết, trong đó có cả mìn để gắn vào mấy chiếc Swatow.

Khi toán cảm tử quân lật được chiếc xuồng trở lại, động cơ và máy truyền tin bị ngấm nước không hoạt động được nữa, lại không thể gọi chiế Swift vào cứu, họ chèo xuồng bằng tay trong đêm tối, cố tìm đường trở lại chiếc Swift. Đến gần sáng, chiếc Swift đợi quá lâu nên chạy vào tìm, may gặp được chiếc xuồng cao su bèn lôi tất tả lên tàu, cứu được toán người nhái cùng 3 thủy thủ đoàn.

Hai chiếc PTF tại căn cứ Hải quân Đà Nẵng. Phía sau là BTL Hải quân vùng 1 Duyên hải.Ban Cố vấn Hải quân của SOG, đóng tại Đà Nẵng, phải đợi đến đêm không trăng tháng sau mới tổ chức lại phi vụ khác. Chiều 11/3/1964, toán biệt kích Neptune trở lại cửa sông Gianh trên chiếc Swift. Toán trưởng là Nguyễn Văn Nhu, toán phó là Vũ Đức Gương, hai người nhái khác là Phạm Văn Lý, Vũ Văn Giỏi. Phi vụ thực thi có vẻ đúng theo kịch bản: chiếc Swift đậu ngoài khơi, xuồng cao su đưa 4 người nhái đến cửa sông Gianh, rồi đợi họ quay trở lại.

Mặc quần áo lặn, đi chân vịt, toán người nhái chia làm 2 tổ, bơi vào bờ. Hai tổ sẽ gặp nhau tại bến đậu của những chiếc Swatow. Vào đến nơi, Gương và Lý ngoi đầu lên quan sát, không thấy chiếc Swatow nào hết, cũng không thây 2 người trong tổ kia là Nhu và Giỏi đâu. Theo kế hoạch được quán triệt trước lúc lên đường, Gương và Lý bơi đến bến đậu thứ hai, họ phải bơi ngược dòng. Gương để ý thấy bình dưỡng khí sẽ không đủ ôxy để bơi trở lại xuồng cao su nên đã ra hiệu cho Lý lội lên bờ, cả hai tháo bình dưỡng khí, chân vịt ra giấu vào bãi sậy để dễ hành động. Bỗng dưng, có tiếng hô to: “Đứng lại!”. Tiếp theo là ánh đèn pin loang loáng soi khắp nơi, rồi tiếng súng nổ vang. Cả hai liền quay trở lại nơi giấu đồ nhái, nhưng không còn kịp nữa.

Trên chiếc xuồng cao su, mấy thủy thủ ngồi chờ cho đến lúc rạng đông. Không còn cách nào hơn, họ phải quay trở lại chiếc Swift, thiếu mất bốn người nhái.

Tin tổn thất về đến Đà Nẵng. Lần này toán cố vấn Hải Quân phác họa chương trình đánh phá mấy cây cầu dọc theo bờ biển miền Bắc. Toán biệt kích biển được chọn ra từ toán biệt kích Cancer toàn người dần tộc H’mông. Họ ngồi trên xuồng cao su bên hông chiếc Swift hướng về huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh. Khi chiếc xuồng cao su vào đến gần bờ, hai người ở lại ngoài biển. Vòng A Cầu, Châu Hềnh Xương bước lên trên cát. Một toán tuần tiễu đi ngang qua. Xương chiếu đèn hiệu ra chỗ xuồng cao su báo nguy, sau đó cùng với Cầu chạy lủi vào một bụi rậm, hy vọng sau khi toán tuần tiễu đi qua, họ sẽ cho xuồng vào đón.

Điều đó không diễn ra như dự đoán. Toán tuần tiễu Bắc Việt trông thấy dấu chân in trên cát và tức khắc mở cuộc săn đuổi. Thấy bị động, chiếc xuồng cao su chạy thẳng ra chiếc Swift và quay trở lại Đà Nẵng, thiếu hai người nhái là Vòng A Cầu và Châu Hềnh Xương.

Hai hôm sau, Ban Cố vấn Hải quân (NAD) tổ chức một phi vụ khác, dự định phá cầu ở tỉnh Quảng Bình. Theo kế hoạch cũ, 9 người bơi xuồng cao su vào gần bờ, thả toán người nhái, hai người trong nhóm đi nhầm vào đám ngư dân đánh cá đêm. Thêm lần nữa chiếc Swift trở lại Đà Nẵng, thiếu mất hai người nhái.

Ngày 1/4/1964, lực lượng Phòng vệ Duyên hải được chính thức thành lập tại Đà Nẵng, đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Ngô Thế Linh. Đơn vị mới này tuyển mộ, huấn luyện thêm nhiều toán biệt kích có quân số lên đến 30 người. Không như CIA, SOG có thể tuyển quân từ Quân đội Sài Gòn. Toán Romulus gồm những quân nhân từ binh chủng Thủy quân Lục chiến. Toán Nimbus tuyển từ Biệt động quân và lính dù. Hai toán khác từ Hải quân; toán Vega lấy từ đơn vị tàu biển; toán Athena tuyển từ các hạm tàu.

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 15

Ngay tại Sicily – nơi những cuộc tàn sát lẫn nhau được thực hiện với nỗi hào hứng của những tay đấu bò Tây Ban Nha – dân Sicilian chính gốc cũng vẫn phải “chào thua” cái nhiệt tình cắt cổ, mổ họng lẫn nhau của dân thị trấn Corleone. Có khi chỉ vì tranh nhau một gốc ô liu mà sự thâm thù cũng dẫn đến sự thảm sát cả một gia đình. Những người hàng xóm sẵn lòng giết nhau chỉ để giành lấy một ít nước tại con suối công cộng. Một thằng đàn ông có thể mất mạng dễ dàng chỉ vì “yêu”. Mà tội nghiệp, “yêu” ở đây mới chỉ là đã nhìn vợ, nhìn con gái, em gái người ta bằng con mắt “không đứng đắn”. Tại Corleone, tuy cùng là “Người anh em”, nhưng khác băng thì cũng vẫn cứ lao vào chém giết nhau. Cho mãi đến khi Ông Trùm Croce ra tay can thiệp thì hòa bình mới được lập lại trong đám “Người anh em” ở Corleone.
Trong một thị trấn như vậy mà Stefa Andolini thành danh được với cái biệt hiệu “Thầy dòng quỉ sứ” thì phải biết, gã là một tay như thế nào.
Ông trùm đã triệu gã đến Villaba và ra chỉ thị cho gã phải gia nhập “băng” của Guiliano và phải tranh thủ cho bằng được sự tin cậy của hắn. Gã cứ ở lại đó cho đến khi nhận được chỉ thị mới. Trong thời gian chờ đợi, gã phải báo cáo cho Ông Trùm những tin tức về lực lượng của Guiliano, lòng trung thành của Passatempo và Terranova. Lòng trung thành của Pisciotta thì khỏi nói rồi. Nhưng phải lưu ý tìm hiểu những nhược điểm của hai “thằng sếp” này: nếu có dịp thuận tiện “khử” được hai thằng này càng hay!
Stefan Andolini đâu có sợ hãi gì người hùng “vĩ đại” Guiliano. Bởi vì gã có mái tóc màu râu bắp. Mái tóc đó Sicily này rất hiếm. Stefan Andolini thầm tin rằng gã được miễn, khỏi thực hành bất cứ thứ đức hạnh nào. Giống như một tay tổ cờ bạc bịp tin rằng “ngón nghề” của mình đến mức siêu đẳng, không thể bị lộ tẩy, Stefan cũng tin rằng không ai có thể lường trước được sự quỷ quyệt của mình.
Gã dắt theo hai đệ tử – Picciolti – tức là hai tên “học nghề” dao búa. Hai tên này chưa được vinh dự đứng vào hàng ngũ “người anh em”, một vinh dự chúng thèm chết đi được. Ba thầy trò lang thang dưới chân dãy núi Cammarata để “tầm sư” Guiliano đặng xin nhập băng phái. Chúng không quên mang theo đồ nghề – tức là vũ khí, súng đạn đầy đủ – và tin chắc sẽ được tóan tuần tiễu của Pisciotta hốt về “quang minh đỉnh”.
Nghe Stefan Andolini nói, Pisciotta mặt lạnh như tiền. Andolini kể lể thành tích. Nào là gã bị bọn cớm truy lùng vì đã ra tay tế độ cho một tên hoạt động chính trị thuộc đảng xã hội ở Corleone. Điều này đúng, nhưng, cái mà Andolini không nói ra là trong vụ này, cớm không có bằng chứng gì để có thể truy tố gã. Cảnh sát chỉ mời gã để hỏi thăm, dò la tin tức vậy thôi. Một cuộc hỏi thăm như vậy là quá đẹp, quá lịch sự so với lối hỏi vặn vẹo, moi móc của Ông Trùm. Andolini cũng không quên nêu luôn thành tích của hai đệ tử: cũng bị cớm truy lùng về tội đồng lõa trong vụ mưu sát ấy. Và điều này cũng đúng luôn. Nhưng trong lúc kể lể thành tích, Andolini vẫn lo ngay ngáy. Thằng quỷ dịch vật Pisciottta im lặng, lắng nghe. Nhưng là cái im lặng lắng nghe của một người mà tâm trí đang bận đào bới ký ức. Quả thật, Pisciotta đang cố nhớ đã gặp thằng già tóc râu bắp này ở đâu. Y chắc chắn một điều là thằng già này “có vấn đề” gay lắm. Nhưng y không nhớ là vấn đề gì.
Andolini kết luận là vì cái thành tích gã vừa kể, nên gã phải xin nhập băng với Guiliano. Gã chắc mẩm sẽ toại nguyện vì gã có “bùa”. Đó là sự quen biết, đồng ý và cổ võ của chính ông bố của Guiliano.
Gã Stefan Andolini, một người bà con của Bố Già Vito Corleone lừng danh Mỹ quốc. Thấy Pisciotta gật gù. Tưởng ngon ăn, Andolini hỏi tiếp. Bố Già Vito Corleone cũng có cái tên cúng cơm thuộc dòng họ Andolini tại thị trấn Corleone. Ông bố đẻ của Bố Già Vito bị một thằng cho đi tàu suốt về thế giới bên kia, lúc Bố Già còn nhỏ xíu. Nếu Bố Già không nhanh chân dông tuốt qua Hoa Kỳ thì chắc giờ này cũng thịt nát xương tan lâu rồi. Tại Hoa Kỳ, Vito đã trở thành Ông Trùm lừng danh. Giới giang hồ Mỹ quốc nghe danh lão là lắc đầu lè lưỡi hít hà cảm phục. Nếu có hận lão thì cũng đành bấm bụng chịu, chứ không dám ra mặt. Khi đã thành danh rồi, Vito vinh qui bái tổ và ân óan phân minh với kẻ đã dám hóa kiếp ông bố của ông lão khi xưa. Vào chính giai đoạn đó, Andolini đã được vinh dự làm thợ học nghề của Bố Già Vito. Sau này, khi sang Mỹ làm ăn, Andolini đã được Bố Già “cho vào làm”, coi đó như một cách trả ơn cho cái công Andolini “vâng, dạ” trong thời gian Bố Già tìm kẻ thù và thanh tóan món nợ máu năm xưa. Chính trong thời gian làm cho Bố Già mà Andolini gặp và quen thân với ông bố bà mẹ của Guiliano. Lúc đó ông bố Guiliano đang làm thợ hồ xây “pháo đài” Long Island cho Bố Già Vito Corleone. Andolini và ông bố của Guiliano đã thành bạn thân với nhau. Bởi vậy, trước khi lên núi xin nhập băng của Guiliano, Stefan Andolini đã ghé thăm ông bạn cố trí và xin cái “giấy giới thiệu”, cái “bùa” để lên gặp Guiliano.
Pisciotta trầm ngâm khi nghe gã kể xong lai lịch và thành tích. Y không tin cái “lão già lựu đạn” này. Mái tóc màu râu bắp với cái mặt cô hồn hắc ám của gã nom sao thấy “gai” quá, mất cảm tình quá. Pisciotta cũng không thấy khoái cái lối nhìn của hai thằng đệ tử của lão già lựu đạn”. Chúng gian giảo, đểu cáng, lưu manh làm sao ấy. Sau cùng, Pisciotta nói với lão:
– Để tôi đưa ông đến gặp Guiliano. Nhưng ông phải đeo súng chéo ngang vai. Nhớ không được tháo ra khi chưa được phép.
Adolini hoác miệng ra cười và nói bằng cái giọng vừa cha chú, vừa thân mật:
– Tưởng gì. Nhưng tôi đã nhận ra anh là Aspanu. Tôi tin anh. Anh cứ tự tiện thu vũ khí của tôi cũng như của hai thằng đệ tử của tôi. Sau khi nói chuyện với Guiliano, chắc chắn nó sẽ trả lại súng cho tôi.
Pisciotta đốp chát ngay khiến gã cụt hứng và hai thằng đệ tử của lão chưng hửng:
– Bộ lão tưởng tụi này là đồ lừa hay sao mà vác súng hầu cho lão? Đeo súng vào vai mà đi. Ai ngu mà đi vác ngà voi cho mấy người!
Và y dẫn ba thầy trò Andolini đi quanh co trên núi chán chê cho mệt nhừ người ra, rồi mới dẫn đến bản doanh. Hơn năm chục tay em rải rác trên núi. Đứa lau chùi vũ khí, đứa lúi húi mài dao. Guiliano ngồi ở mỏm đá, dùng ống nhòm thấy thầy trò Andolini ngay từ lúc lũ này mon men dưới chân núi.
Trước khi dẫn thầy trò Andolini đến gặp, Pisciotta đã trao đổi ý kiến trước với Guiliano. Y kể lại đầu đuôi những gì Andolini nói. Sau đó, kết luận:
– Turi, tao chắc chắn là “lão già lựu đạn” này hai mang đó, mày à. Có điều không biết mang cớm hay mang thằng già dịch Croce.
– Mày có nghĩ ra là mày đã gặp hay đã nghe nói về hắn ở đây không?
– Lúc nãy ngồi nghe nó nói, tao đã cố nhớ lại xem đã gặp hay nghe nói về hắn ở đâu mà đếch nhớ. Chỉ biết là nom hắn có vẻ quen mà biết chắc là nó có vấn đề gay lắm. Có thể tao sẽ nhớ ra.
– Có gì mà không nhớ ra. Mày đã nghe nói về hắn là do chính miệng mụ La Venera nói ra chớ ai. Mụ ta gọi hắn là Malpedo – thằng học nghề – vì mụ không biết tên thật của hắn. Mụ đã nói với tao nhiều về hắn. Hắn gia nhập băng của chồng mụ được có một tháng là chồng mụ bị cớm phục kích bắn chết. La Venera không tin hắn chút nào. Mụ nói: “Hắn có nhiều thủ đoạn vặt và hiểm lắm”.
– Đừng tin cái thằng già râu bắp ấy, – Syvestro nói chêm vào, – chính tôi đã trông thấy hắn nhiều lần tại bộ tư lệnh cảnh vệ ở Palermo. Và thằng chả xin gặp chỉ huy trưởng. Nội dung ra sao thì tôi không rõ. Nhưng chuyện thằng cha thậm thụt ở bộ tư lệnh cảnh vệ thì chắc như bắp.
– Aspanu, mày cho người xuống Montelepre mời ông già tao lên đây ngay. Trong khi đó, cứ canh gác chúng nó thật cẩn mật. Pisciotta phái Teranova xuống Montelepre mời ông bố của Guiliano lên. Sau đó, Pisciotta đi về phía ba thầy trò Stefan Andolini. Nó tháo súng của Andolini ra, trong khi các tay em của nó, súng ống sẵn sàng vây lấy ba thầy trò Andolini như bầy sói vây con mồi.
– Chắc ông bạn không buồn khi tôi miễn cho ông bạn cái nhiệm vụ giữ vũ khí chớ. Vả lại, ông bạn già rồi, khẩu súng cũng khá nặng, sợ mệt ông bạn!
Stefa Andolini hơi giật mình. Mặt hơi nhăn lại một cách kín đáo. Nhưng, rồi gã khẽ nhún vai một cái, bụng vẫn tin vào cái “bùa”. Pisciotta trao khẩu súng của gã cho một tay đàn em. Y ngưng lại, đợi một chút cho tất cả các tay em đều sẵn sàng. Rồi y đến chỗ hai đệ tử của Andolini. Một trong hai đứa – vì sợ hơn là vì có ý xấu – đưa một tay gạt nó ra, một tay sờ vào khẩu súng. Chỉ trong nháy mắt – nhanh như con rắn thè thụt cái lưỡi của – con dao đã nằm trong tay Pisciotta. Y tiến lên một bước thì cũng là lúc cuống họng tên kia, máu tuôn xối trên mặt đất. Tên đệ tử sụm xuống. Pisciotta đứng giạng chân qua xác tên đó, giáng một cú đá thật mạnh hất xác nó ra mép khe núi.
Những tay em của Pisciotta vẫn lăm lăm tay súng sẵn sàng.
Andolini vẫn ngồi trên đất, hai tay giơ lên đầu hàng, mắt dáo dác nhìn quanh. Tên đệ tử còn lại của Andolini nhào lên giằng lấy súng, nhưng chưa kịp thì Pasatempo đứng ngay đằng sau nó đã cười lớn và xả súng bắn xối xả nát bét đầu nó ra. Tiếng nổ vang khe núi. Cả bọn tỉnh bơ. Andolini mặt mày không còn hột máu, sợ run. Tay Passatempo vẫn lăm lăm cây súng. Có tiếng Guiliano từ trên mỏm đá nói vọng xuống.
– Thủ tiêu hai cái xác kia đi. Còn thằng “Malpelo” thì trói vô gốc cây, đợi ông già tao đến.
Xác hai đệ tử của Andolini bị bỏ vào trong cái rọ tre, cột thêm mấy tảng đá cho khỏi nổi lên khi bị ném xuống khe núi theo đúng truyền thống và sự mê tín của đám tay em của Guiliano. Passatempo tình nguyện làm “đạo tì”, vì nó thường lục soát các xác chết, lấy đồ, rồi mới đem chôn. Guiliano vẫn cấm những hành động ghê tởm ấy. Nhưng chẳng có lời lẽ nào có thể biến con dã thú ấy thành hiệp sĩ được.
Khoảng bảy tiếng đồng hồ sau, ông già của Guiliano mới lên đến nơi. Và đến lúc đó, Andolini mới được cởi trói khỏi gốc cây. Nhưng vẫn bị trói thúc ké khi dẫn tới trước mặt cha con Guiliano. Nhìn thấy ông bạn Stefan Andolini của mình bị trói như vậy, ông già của Guiliano nổi giận đùng đùng. Lão quay ra nói với thằng con:
– Đây là bạn của ba. Ba với ông cùng làm việc cho Bố Già hồi ở bên Mỹ. Chính ba đã khuyên ông ấy đến gia nhập băng của con và nói con sẽ hậu đãi và trọng dụng ông.
Lão quay lại, vừa cởi trói cho Andolini vừa nói:
– Tôi xin chân thành xin lỗi. Chắc thằng nhỏ nhà tôi hiểu lầm hoặc đã nghe ai đó nói tầm bậy tầm bạ về ông.
Lão ngừng nói, bối rối, đau khổ vì thấy ông bạn của mình đứng cóm róm, có dáng sợ hãi thất thần. Lúc bị trói ở gốc cây, gã tin chắc mười mươi là mình sẽ bị “đi đứt”. Sau gáy gã cảm thấy đau như thể bị một phát đạn làm bị thương. Gã muốn khóc vì hối hận cho sự láo xược, ỷ quen biết ông già nó, đồng thời gã cảm thấy mình quá ngu khi đánh giá thấp hai thằng lỏi này. Hai đệ tử của gã bị “làm thịt” trong nháy mắt khiến lão sửng sốt và sợ đến hết hồn.
Ông bố của Guiliano cũng cảm thấy bạn già của mình đang trong tình trạng nguy hiểm chết người và bởi chính tay ông con trai của ông Lão không dám giận dữ la lối nữa, mà xuống nước nhỏ:
– Turi, ít có khi nào ba xin con điều gì, phải không? Vậy, nay nếu con có điều gì hiềm khích với ông thì hãy vì ba mà bỏ qua, thả cho ông về. Hồi còn bên Mỹ, ông rất tốt với ba, và chính con cũng có lần được ông tặng quà sinh nhật mà con quên rồi sao, ba tin cậy ông và coi ông là chỗ rất thân tình của ba.
– Vậy là ba đã xác nhận lý lịch của ông? Như vậy thì tất nhiên là ông sẽ được con trọng vọng và tiếp đãi như khách danh dự. Nếu ông muốn ở lại đây tham gia vào băng tụi con thì còn gì bằng!
Sau khi tiễn ông bố về rồi, Guiliano mới gọi Stefan Andolini đến nói chuyện riêng:
– Tôi biết về ông qua vụ Candeleira. Ông đã theo lịnh thằng già dịch Croce, gia nhập băng của Canleleira, nằm vùng trong băng của hắn ta. Chỉ một tháng sau khi ông gia nhập vào băng ấy thì Candeleira bị phục kích và bị bắn chết. Vợ hắn ta nhớ ra ông. Qua những điều chị ta nói thì chẳng khó khăn gì mà tôi không hình dung ra được những gì sắp có thể xảy ra cho tôi, khi ông xin gia nhập băng của tôi. Chắc ông và thằng già dịch Croce nghĩ tụi tôi là lũ con nít dễ bắt nạt, xỏ mũi. Nhưng, kẻ ngây ngô là chính ông. Người Sicilian mình có cái tài gom góp những chi tiết vụn vặt, rời rạc, lẻ tẻ, rồi từ đó chắp nối với nhau và phát hiện ra cạm bẫy, lừa lọc, bội phản… Thời gian gần đây, bao nhiêu băng cướp bị rã đám. Nhà cầm quyền bây giờ trở nên tài ba một cách lạ thường. Tôi đã ngồi trên núi này và suốt ngày suy nghĩ. Tôi suy nghĩ về bọn cầm quyền ở Palermo và tự hỏi sao lúc này chúng có vẻ giỏi thế. Và tôi được biết rằng thằng cha bộ trưởng Bộ tư pháp ở Rome và thằng già dịch Croce thông đồng với nhau ăn cánh và hợp đồng tác chiến.

Google photo edit by Sơn râu

Đó, lý do tài ba đột ngột của Rome đó. Và chúng ta – cả ông lẫn tôi – cũng thừa biết rằng giữa thằng cha bộ trưởng và thằng già dịch Croce thì thằng già dịch “cáo” hơn nhiều. Chính vì sự hợp tác ma quỷ ấy mà các băng cướp cứ rụp rụp tan rã hoặc bị cớm vồ đều đều. Nếu không có bàn tay của Croce dính vào thì thử hỏi bọn cớm có tài ba như vậy không? Sao trước kia bọn cớm đụt như vậy, mà bây giờ nó vồ đâu trúng đó vậy? Nhưng ông có biết thằng già dịch Croce tiếp tay với bọn cơm diệt các băng cướp để làm gì không? Để an dân chắc? Nếu thế, tôi sẵn sàng quỳ lạy nó. Nhưng thằng già dịch ấy đâu có tốt đến thế. Nó diệt cướp để giữ độc quyền ăn cướp, để làm cha những thằng ăn cướp. Tôi biết trước sau gì cũng đến lượt tôi được điệp viên của thằng già dịch đó đến xin “hợp tác”. Tôi đợi và đợi đã lâu rồi đấy chứ. Đợi hoài cho đến nỗi tôi phải tự hỏi tại sao thằng già dịch ấy lại gia hạn cho tôi lâu vậy. Bởi vì dù rất khiêm tốn đi chăng nữa, tôi cũng phải hãnh diện mà nói rằng cái đầu của tôi đã được treo giá cao nhất từ xưa đến nay. Và hôm nay, qua ống nhòm, tôi đã nhìn thấy ba thầy trò ông ngay từ lúc vừa đặt chân đến đường mòn dẫn đến chân núi kia. Và tôi biết ngay quý vị là ai. “Á, à, lại cái tay Malpedo” (học việc). Vở cũ soạn lại. Ngây ngô và sơ đẳng. Ông bịp được thằng Candeleira, chứ sức mấy ông qua mặt tôi được. Thằng già dịch Croce đặt bẫy dở ẹc. Thế mà cũng đòi làm cha các tướng cướp. Lúc nãy, tôi nói với ông già tôi là cho ông gia nhập băng này nọ đặng ổng yên tâm đi mà về cho rồi. Chứ tôi cho ông gia nhập để tháng sau tôi cũng thành một Candeleira thứ hai à? Xin lỗi, khỏi có đi. Bởi vậy, tôi vẫn khử ông, chứ tha thế nào được. Để khỏi làm ông già tôi buồn, tôi sẽ thủ tiêu xác của ông luôn cho ba tôi khỏi thấy. Mai mốt về ông già tôi có hỏi, tôi nói ông gặp nạn ở đâu đó.
Andolini nghe và sợ chết điếng đi, nhưng vẫn làm bộ ta đây:
– Anh dám lừa dối cả bố đẻ ra anh hả, – Gã la to, có vẻ giận dữ. – Vậy mà anh dám tự hào là một thằng con theo truyền thống Sicilian hả?
Gã phun nước miếng cái “tẹc” tỏ dấu khinh bỉ, và nói tiếp:
– Ờ, cứ giết tao đi, cứ lừa dối ông già mày đi, rồi xuống thẳng địa ngục cho biết.
Pisciotta, Terranova, Sylvestro và ngay cả “dã thú” Passatempo cũng kinh ngạc. Trước kia, Guiliano đã nhiều phen làm cho chúng kinh ngạc, bất ngờ một cách rất thú vị. Guiliano là một người rất tư cách, rất đàng hoàng, rất trọng chữ tín, và rất trọng lời hứa. Và trên hết, Guiliano là đứa con rất hiếu thảo. Thế mà sao đột nhiên trong trường hợp này lại làm đảo lộn. Hắn làm một điều mà đối với tất cả bọn chúng là đê hèn: nó đã thất hứa, lừa dối chính ông bố đẻ ra nó. Chẳng phải chúng thương xót gì Andolini, cũng chẳng phải chúng phản đối việc Guiliano giết chết Andolini. Hàng trăm, hàng ngàn thằng Adnolini thì cũng đáng chết như thường. Nhưng chúng thấy không thể tha thứ cho Guiliano khi hắn lừa dối, thất hứa với chính ông bố nó. Chỉ có “thầy cai” Canio Sylvestro dường như hiểu được uẩn khúc. Y nói:
– Gã không thể làm hại anh em mình đâu. Vì ông bố gã là người dù sao cũng có lòng từ tâm.
Tuy nhiên, Guiliano vẫn tỉnh bơ nói với Andolini:
– Ông hãy ăn năn hối lỗi và làm hòa với Chúa đi. – Rồi quay sang Pasatempo, hắn nói: – Mày được năm phút để lo liệu.
Sợ té cứt ra quần, mái tóc râu bắp dựng ngược cả lên, Andolini cuống quýt nói:
– Trước khi giết tôi, anh nên nói chuyện với cha bề trên Manfredi đã.
Guiliano sững sờ, nhìn chòng chọc vào gã. Andolini nói liền một hơi:
– Đã có lần anh nói với cha bề trên rằng anh nợ ngài một cái ơn lớn. Do đó, ngài có thể yêu cầu anh làm bất cứ điều gì, anh cũng sẽ không từ chối.
Guiliano nhớ rất rõ lời hắn hứa và lúc hắn hứa thì không có ai khác ngoài hắn với cha bề trên. Tại sao gã này lại biết? Pisciotta khinh khỉnh nói:
– Turi. Sai người đi, về, rồi mới biết được câu trả lời của ông cha thì lại phải mất thêm một ngày nữa. Vả lại, ông cha bề trên ấy lại có ảnh hưởng đối với mày lớn hơn cả ông già mày sao chớ?
Một lần nữa, Guiliano lại làm cho cả bọn ngạc nhiên.
– Trói thúc ké nó lại và cột cái cùm vào chân nó để cho nó có thể đi được nhưng không thể chạy được. Cho tao mượn cận vệ. Đích thân tao sẽ dẫn nó đến tu viện. Nếu cha bề trên không xin tha cho nó thì chính ông sẽ ban phép bí tích lâm chung cho nó. Tao sẽ hóa kiếp cho nó tại chỗ và để cho mấy ông thầy dòng chôn xác nó luôn cho tiện.
Guiliano và đám cận vệ đến cổng tu viện thì mặt trời vừa mọc. Các thầy dòng đang ra đồng làm việc. Guiliano mỉm cười, nhìn họ. Chỉ mới hai năm trước đó, cũng vào giờ này, hắn cũng đi ra đồng làm việc với họ, cũng mặc cái áo dòng màu nâu, đội cái nón nhà binh Mỹ. Hắn nhớ lại và thấy vui vui. Lúc đó có ai tưởng tượng ra được hắn lại thành tướng cướp như bây giờ không nhỉ? Niềm hòai vọng về những ngày xưa sống an bình và làm lụng ngoài đồng khiến hắn cảm thấy lòng man mác buồn.
Chính cha bề trên đích thân ra tận cổng đón hắn. Thân hình cha cao lòng khòng, lêu khêu, lại khoác chiếc áo dòng dài thậm thượt nên trông như tấm vải biết đi. Khuôn mặt cha hơi tần ngần khi tên tù bước tới trước mặt. Ngài dang hai tay ôm lấy tên tù. Tên này hổn hển nói:
– Cha, mấy người kia sắp giết con. Chỉ có cha mới cứu được con thôi.
Cha bề trên gật đầu. Ngài nắm cánh tay Andolini dắt đến trước mặt Guiliano đang tiến tới ôm hôn ngài. Guiliano đã hiểu ra sự việc. Cái giọng đặc biệt khi gã tóc râu bắp thốt ra tiếng “Cha” không phải là giọng của con chiên bổn đạo nói với mấy ông cố đạo. Giọng của bổn đạo tuy cung kính nhưng không có cái tình ruột thịt. Giọng của Andolini thì đặc biệt là cái giọng của thằng con nói với ông bố đẻ của nó. Cha bề trên nói với Guiliano:
– Cha xin con tha mạng cho người này. Coi như một ân huệ con dành cho ta!
Guiliano cởi dây trói và tháo cùm chân cho Andolini và nói:
– Gã là người của cha.
Andolini ngồi thụp xuống đất. Sức lực trong thân thể gã cơ hồ cũng tan đi cùng lúc với sự sợ hãi. Bằng hai cánh tay gầy guộc, nhưng dài và quều quào như con còng gió, cha bề trên đỡ ngang thắt lưng, nâng gã đứng dậy. Ngài quay ra nói với Guiliano:
– Đi vào phòng ăn, cha sẽ bảo dọn cơm cho mấy anh em của con ăn. Còn ba cha con ta sẽ ăn ở phòng riêng, vì còn phải bàn nhiều chuyện cần làm sắp tới.
Ngài nói với Andolini:
– Con à, cơn hiểm nghèo của con chưa phải là đã qua đâu. Ông Trùm sẽ nghĩ thế nào khi biết chuyện này? Ta sẽ phải bàn với nhau thật kỹ. Nếu không thì kể như rồi đời con!
Cha bề trên có một phòng khách nhỏ riêng biệt. Cả ba người đi vào phòng đó. Đám cận vệ của Guiliano vào phòng ăn lớn của tu viện. Bánh mì, phó – mát, thịt nguội, cà – phê đã được dọn ra.
Ngồi vào bàn, cha bề trên nhìn Guiliano, mỉm cười buồn bã và lấy tay chỉ vào Andolini:
– Một trong vô vàn vô số trọng tội của cha hiện hình lên thế này đây. Cha chính là cha đẻ của thằng này đây. A, ai hiểu được những cơn cám dỗ mà một ông cha cố còn trẻ phải chịu. Ý chí con người thì yếu đuối, những đòi hỏi của xác thịt như giông như bão! Ma quỷ thì tinh quái! Cha đã không dằn lòng được, đã không cưỡng được cơn cám dỗ ấy. Bê bối vỡ lở ra. Bà mẹ của thằng này được ghép đại cho một thằng Andolini cha căng chú kiết nào đó. Cho nó xong đi ấy mà. Cha bỏ ra một món tiền lớn. Và vụ đó được ém nhẹm. Cha vẫn tiếp tục được thăng chức trong Hội Thánh. Nhưng, chẳng ai đoán trước được những sự trớ trêu ở đời. Âu đó cũng là thánh giá nặng nề Chúa ban cho cha, để thử thách cha trên đường theo chân Chúa. Cha còn vô số tội lỗi khác nữa, chứ không phải bấy nhiêu đó mà thôi!
Giọng của cha bề trên đổi hẳn, khi ngài quay ra nói với Andolini:
– Còn con, con nghe cho kỹ đây. Có thể nói đây là lần thứ hai cha sinh ra con, hay là, lần thứ hai con mắc nợ cha cuộc đời con. Con phải hiểu rõ, nhớ kỹ, thực hành đúng điều cha căn dặn: từ nay cho đến suốt đời con, người mà con phải tận tụy, trung thành nhất không là ai khác ngoài Guiliano đây. Con không thể nào quay về với Ông Trùm Croce được nữa. Và trên trái đất này con cũng không thể nào tìm được một chốn dung thân an toàn, ngoài chỗ Guiliano. Bởi vì, dù con trở về hay không trở về với Croce, mà đi sống ẩn náu ở một nơi nào khác, thì lão ta cũng vẫn phải tự hỏi: tại sao Guiliano lại tha mạng cho con trong khi nó lại khử hai thằng kia? Lão ta sẽ nghi ngờ con phản bội, trở cờ. Thế là con hết đường sống. Cái mà con phải làm trước hết là con phải thú hết với Croce, và xin lão ta chịu để cho con ở lại trong băng của Guiliano. Con sẽ cung cấp cho lão tin tức về Guiliano – tất nhiên là chỉ những tin mà Guiliano muốn cho lão ta biết – đồng thời, con làm dây liên lạc giữa quân của Guiliano và đám “Người anh em”. Đích thân cha cũng sẽ gặp lão ta, để nói cho lão thấy cái lẽ hơn thiệt trong vụ này. Cha sẽ nói rằng con sẽ ở lại băng của Guiliano, sẽ trung thành với Guiliano. Nhưng con sẽ không làm gì bất lợi cho lão ta. Lão sẽ nghĩ rằng trước sau gì con cũng sẽ bán đứng người đã tha mạng cho con. Nhưng cha cho con hay: nếu con không trung thành với Guiliano thì chính tay cha sẽ đẩy con xuống địa ngục. Con sẽ mang theo xuống mồ lời nguyền rủa của cha.
Rồi, Cha bề trên quay lại về phía Guiliano, và nói:
– Turi quý mến của cha. Lúc nãy, cha đã xin con cái ân huệ tha mạng cho thằng con của cha. Bây giờ, cha lại xin con một ân huệ nữa. Con hãy cho thằng con trai của cha được gia nhập băng của con. Nó sẽ chiến đấu cho quyền lợi của con. Nó sẽ tuyệt đối thi hành mệnh lệnh của con. Cha đảm bảo lòng trung thành của nó đối với con.
Guiliano đắn đo suy nghĩ điều này rất cẩn thận. Cha bề trên đâu phải tay vừa. Ai không biết mối quan hệ mật thiết giữa cha và lão già lựu đạn kia? Biết đâu hai con cáo già này lại không toa rập với nhau, cho thằng con trai cưng làm khổ nhục kế, để dăng bẫy chụp mình? Nhưng tin vào khả năng thu phục nhân tâm của mình, Guiliano tin chắc rằng với thời gian, hắn sẽ thu phục được lòng trung thành của Andolini đối với cha bề trên. Khả năng và cơ hội phản thùng của Andolini – nếu có – cũng là nhỏ và có thể ngừa được. Với năng lực tác chiến của gã, Andolini có thể là một “chủ chốt” có giá trị đã đành, mà còn có khả năng cung cấp tin tình báo về “đế quốc” của thằng già dịch Croce nữa. Guiliano hỏi:
– Cha sẽ nói thế nào và nói gì với Ông Trùm Croce?
Cha bề trên nín thinh một lúc, ngẫm nghĩ, rồi nói:
– Cha sẽ nói với lão ta. Cha có chút ảnh hưởng với lão ta. Và, rồi con sẽ coi… Thôi, thế con đã chịu cho thằng con trai của cha nhập băng của con rồi chứ?
– Dạ, được, con hứa với cha như vậy. Nhưng cũng xin thưa trước với cha, nếu nó phản con thì lời hứa của con với cha hết giá trị. Và lời cầu xin Chúa của cha cũng không kịp để chặn nó trên đường tuột dốc xuống địa ngục đâu!
Stefan Andolini sống trong một thế giới ít có ai dám tin cậy gã. Có lẽ vì vậy mà bao năm qua, cái bản mặt gã trở thành cái mặt nạ của một tên giết người. Gã biết là sắp tới gã phải làm xiếc, đi dây, ngả nghiêng, chập chờn trên dây tử thần. Không có một sự lựa chọn an toàn nào khác. Nhưng gã cũng cảm thấy phần nào an tâm vì lòng trắc ẩn rạng rỡ tỏa ra từ con người của Guiliano. Chính lòng trắc ẩn đó đã cứu mạng gã. Nhưng gã cũng không hề có ảo tưởng. Có điều Turi Guiliano là người độc nhất trên đời này có thể làm cho gã biết thế nào là nể, sợ.
Từ hôm đó, Stefan Andolini là thủ hạ và sau đó là một trong những tiểu tướng trong băng của Guiliano. Càng về sau gã càng nổi tiếng tàn bạo và sùng đạo. Chính sự sùng đạo này đã đem lại cho gã cái biệt danh “thầy dòng quỉ sứ” (Fra Diadavo). Cái tăm tiếng sùng đạo có được là do hàng tuần gã đi lễ nhà thờ. Gã cất công đến tận Villaba tìm cha Benjamini để xưng tội. Xưng tội gì đâu? Chỉ là tiết lộ bí mật của băng Guiliano cho Ông Trùm.
Tất nhiên là chỉ những tin tức Guiliano ra lệnh cho gã tiết lộ.

Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

Google photo

4. Đường về quê

Phải bánh xe là xe không?

– Không.

– Phải thùng xe là xe không?

– Không.

– Vậy thì tiếng “xe” chẳng là một tiếng không không.

Na Tiên Tì Kheo Kinh

Tiểu công nghệ không bao giờ chết! Tiểu công nghệ muôn năm! Những lời hoan hô ấy thường ám chỉ ngành dệt tơ lụa nội hóa, nhưng hôm nay, chúng tôi muốn áp dụng nó vào giới xe đò lỡ. Bên cạnh những công ty triệu phú gồm trên hai mươi chiếc xe tối tân, mỗi chiếc chở trên bốn mươi hành khách, chạy bon bon nổi giông nổi gió, thì xe đò lỡ rõ ràng là bé bỏng như những khung cửi cổ lỗ bên cạnh những máy dệt tối tân của Tây phương hoặc của Nhật Bổn. Đây này, chiếc xe ngoại hạng, mang bảng số xa xưa từ đời CU… vì “tuổi hạc quá cao” nên “gối mỏi da dùn” gặp khoảng đường xấu thì nhíp rít lên ken két và tuy mới sơn nhưng nổi u nần, xù xì như da con cóc tía, bạc màu.

Nói đến tiểu công nghệ là nói đến tánh chất gia đình. Chủ xe đã quá năm mươi tuổi, đảm nhiệm công việc “xốp phơ”. Cậu lơ xe người đồng hương với ông, được chỉ huy theo đường lối gia trưởng. Thỉnh thoảng nếu bị ông cằn nhằn, rầy rà oan ức, cậu lơ cau mày rồi bỏ qua, như ngày xưa người cha áp dụng kỷ luật “phu xử tử vong”, “áo mặc không qua khỏi đầu”. Mỗi tối thứ bảy, vào khoảng một giờ trưa, cậu lơ và ông chủ không cần hò hét bắt mối. Đã có có một số thân chủ đến tìm. Đó là những thầy thợ về thăm gia đình. Họ không cần mang khăn gói vì ở nhà họ đã có sẵn bộ đồ mát để thay đổi. Tuần lễ đầu tháng, họ mua đem về từng ký lô xà bông, từng cái áo thun con nít, đôi ba ổ bánh mì. Ai dám bảo là đàn ông không biết đi chợ, không biết tiết kiệm từng đồng từng cắc?

Xe chuyển bánh chầm chậm, khi chạy hết tốc lực thì cũng không lẹ hơn ai. Trên đồng hồ tốc độ, ghi rõ ràng từng cây số đến một trăm cây số nhưng cây kim đã liệt, đong đưa như quả lắc… Ông “xốp phơ” nheo mắt, chú ý vào công việc tiểu công nghệ, cả tay ngọc gót vàng đều làm việc. Thoi nhật nguyệt đây là cái “vô lăng” và máy âm dương là bàn đạp “ga” xăng. Đó là nói theo bài thơ khẩu khí của vua Lê Thánh Tôn. Thi sĩ đời nay có lẽ sẽ ca ngợi thêm. Chiếc xe đò lỡ này là chiếc thoi dệt những mối tơ giao cảm trên nẻo đường đất nước, đưa những giọt máu trở về tim để gạn lọc tìm lại những gì là lành mạnh v.v…

Tốc lực vừa phải của chiếc xe giúp cho du khách có đủ sự trầm tĩnh mà suy nghĩ. Xe chạy quá nhanh chỉ đánh thức sự kiêu hãnh và gây sợ sệt trong lòng người. Ra khỏi bến Chợ Lớn – Cây Mai, không khí thay đổi. Mưa đầu mùa đã nhuộm xanh vào rặng cây ở chân trời. Con trâu cúi đầu ăn cỏ. Đôi bóng người xê dịch trên bờ ven nhỏ, che dù. Ai cũng quen thuộc, nhìn nhau không bỡ ngỡ. Hồi làn sóng văn minh vật chất mới tràn tới, người ta ao ước được ngồi trên xe hơi, dầu là xe đò. Ngày nay khác hẳn, “Giấc Nam Kha khéo bất bình, bừng con mắt dậy thấy mình tay không”. Giá trị của đồng quê đã sáng chói, như viên ngọc quý bấy lâu không được ai lau chùi, nay lại chưng vào tủ kính. Vài người thỏa mãn trong giấc Nam Kha, tay nắm đầy châu báu nhưng khi thức tỉnh, họ cũng không muốn về quê để tạo lập một cơ sở, một phần mộ. Cát bụi trở về cát bụi. Chúng ta muốn làm cát bụi ở thôn quê, vun quén cho lúa cho khoai, mấy ai muốn kiếp sau của mình được làm hột cát bụi đô thành, ngột thở dưới lớp vách xi-măng cốt sắt, giam hãm trong mùi xăng nhớt?

Thôn quê là đây.

Cứ mỗi trưa thứ bẩy, hành khách của chuyến xe lỡ này sống lại những phút “lâng lâng chẳng chút trần ai”. Không cần ánh trăng “chênh chếch bóng chiếu trên rặng tre”. Không cần tiếng hò nhịp, tiếng giã gạo thật đều, thật nhanh của bản dân ca nào nhẹ nhàng xa đưa cả. Đấy là những câu kinh, những tiếng chuông, tiếng mõ dành riêng cho kẻ chưa đắc đạo. Dưới ánh nắng đổ lửa, nhìn những gốc rạ vàng cháy bên đường, khách hồi hương vẫn nghe hơi hướm của bồng lai tiên cảnh đang len lỏi vào tâm hồn.

Ông “xốp phơ” nói:

– Chạy mau làm gì? Kỳ rồi có ông nọ chạy mô tô mở hết tốc lực 120 cây số. Qua “cua”, ông ta thắng lại thình lình để tránh chiếc cam nhông trước mặt. Nếu thắng không ăn thì chết. Đằng này, thắng rất ăn. Vì trớn rút tới bị chặn thình lình, anh ta nhảy nhổm trên xe, cần cổ gật lại, gãy cổ mà chết tốt. Xe vô chủ nhào lăn nằm dưới ruộng, máy vẫn nổ rầm rầm. Xe mình chạy như vầy là vừa. Thế nào tối nay mình cũng gặp vợ con… Mấy thầy đọc nhựt trình không? Tôi có mua một số đây. Đủ hết: tử vi, tiểu thuyết, tin tức.

Một hành khách với tay cầm tờ báo lẩm bẩm đọc rồi chặp sau nói với người trên xe:

– Bữa nay có tin này ngộ quá. Nè… con nít chăn trâu giỡn nhau, đứa làm Ngọc Hoàng, đứa làm ông Địa, đứa làm Thiên Lôi nhè cầm ống quẹt mà đốt, làm phỏng nặng ông Ngọc Hoàng!

Có tiếng hỏi:

– Chuyện ở đâu vậy? Xứ đó chắc xa lắm. Con nít bây giờ ít biết giỡn điệu đó.

– Ở Tân Huề, Châu Đốc.

Người khác nói:

– Quê của vợ tôi đó! “Tân Huề, Tân Quới, Tân Long, ba Tân nhập lại không xong Tân nào”. Câu hát xưa nói về cù lao Tân trên sông Cửu Long. Con nít chơi dại quá. Cha mẹ không ai rầy la?

– Đâu có biết mà rầy la. Không ai dạy tụi nó trò chơi đó. Tụi nó chế ra. Miệt tôi, nghe nói hồi xưa con nít chăn trâu cũng giỡn (rắn mắt) một lần, nhờ vậy mà nổi danh. Móc đất sét tụi nó nắn hình người rồi đặt tên: đây là ông cả, đây là hương chủ, đó là ông hương sư, hương giáo, chánh lục bộ. Rồi hô một tiếng, tụi nó quăng mấy hình nhơn đó xuống sông, lõm bõm. Đất sét thì phải chìm. Trời xui đất khiến, cớ sao có một tượng đất sét nổi lình bình. Đó là tượng ông hương cả. Hay được, dân làng thỉnh tượng đó về thờ, cất đình. Bây giờ còn danh là “đình chăn trâu”. Nước mình xứ nào cũng có chuyện lạ.

Một giọng khác nói:

– Xứ của tôi ở xa lắm, vì mới khai phá nên sung túc. Trước năm kinh tế khủng hoảng 1930, giới điền chủ thiệt là no đủ, “trên ô-tô, dưới thời ca nô”. Đời văn minh, khó mà xảy ra chuyện linh hiển lạ kỳ như ông anh mới nói.

– Vậy thì buồn quá!

– Đâu mà buồn. Cũng có cất đình nhưng đâm đơn về Huế mà không được vua Bảo Đại phong sắc thần gửi vô. Dân chúng mới chế biến ra nhiều ông hiền, ông thánh mà thờ! Tam hiền, nhị thánh.

– Chẳng hay quý danh mấy ông đó là ai?

– Nói ra họ kiện chết. Đó là ba ông chuyên môn cho vay cắt cổ, tính theo bây giờ thì hồi đó họ ăn lời 3.650 phần trăm mỗi năm… tiền lời thì đem xây cất am Di Đà, đình Thần nông… Ba ông cho vay được bà con chế giễu là ba ông hiền.

– Còn nhị thánh?

– Là hai tay gộc, ruộng đất cò bay thẳng cánh. Tay thứ nhất mang tật mù từ thuở bé nhưng đá gà rất tài tình. Ông ta dùng tay mà rờ đầu, cổ, mông, cựa vảy… Đá trăm độ bảo đảm ăn chín mươi chín độ rưỡi. Đó là ông thánh thứ nhứt. Ông thánh thứ nhì là cậu công tử đi học trường “Bôn Đu-me” về. Một tuần cậu lái xe hơi ra chợ để nhảy đầm. Cậu mang tật cà nhót một chân mà nhảy đầm rất tài tình. Tây đầm ngán cậu ta quá xá!

Có tiếng cười khúc khích. Chập sau bầu không khí dịu xuống. Cậu lơ nói:

– Bà con ai còn chuyện gì ngộ nói ra chơi, trước mua vui, sau làm nghĩa nè. Coi chừng xe qua mặt nghe! Bà con cô bác rút cái tay vô, ló cái đầu ra!

Ông “sốp phơ” quát:

– Đừng hỗn mày! Bỏ cái thói đó nghe. Ở đây bà con cô bác ai nhỏ bằng tuổi mày mà mày nói giọng đó?

Một hành khách nói:

– Đứa cháu nó quen miệng nói cầu vui vậy mà. Ông già này khó tính quá ta. Nãy giờ sao ngồi êm rơ vậy?

– Ngồi êm chớ tôi nghe đủ hết.

– Vậy thì ông phải nói một chuyện gì để trả lễ lại chớ.

– Theo kỷ luật “sốp phơ” nghe bà con… thì tôi không được nói chuyện lúc hành nghề và không được ngồi gần gái đẹp. Rủi lãng trí thì hư hao. Nhưng mà bà con châm chế giùm. Bữa nay không có cô gái đẹp nào ngồi gần tôi. Mấy cổ kiếm xe tốt mà đi chớ đâu thèm đi xe này, mất “le” hết. Với lại tôi là sốp phơ lão thành, dẫu nói chuyện chớ luôn luôn nhớ nhiệm vụ. Bây giờ nói chuyện xứ tôi. Không có tam hiền, nhị thánh. Nhưng có ông tổng bảy, ông phó ba với thầy xã hai cắc chín. Từ chợ quận ra chợ tỉnh, hồi xưa chỉ có xe ngựa, mấy người sang trọng hễ đi thì bao trọn một cỗ xe. Mỗi cuốc như vậy, thầy cai tổng cho “buộc bo” bảy cắc, ông phó tổng tiết kiệm hơn, trả giá ba cắc, thầy xã thì trả hai cắc chín xu thôi… Riết rồi thành “tà ríp”, thành danh “tổng bảy, phó ba, thầy xã hai cắc chín”.

– Tại sao thiếu một đồng xu?

– Vì sau ngựa phải qua đò, đò ăn một xu. Thầy xã bắt buộc chủ xe ngựa phải chịu tổn phí đó, nên chủ xe còn hai cắc chín. Bây giờ xin nói qua ông cai tổng. Về già ổng sắm một chiếc xe ngựa riêng cho oai. Năm đó ổng đi Sài Gòn mua được một con ngựa bắc thảo, thứ ngựa cao lớn dình dàng mà nhà binh Tây hồi xưa dùng để kéo súng “cà nông” lớn. Ngựa già, nhà binh dạt nó ra.

Mỗi tuần, con ngựa bắc thảo đó kéo xe, đưa ông cai tổng ra chợ để hầu quan chủ quận Châu Thành.

Năm ấy, dịp lễ 14 Juillet, tục gọi là lễ Chánh Chung, ông cai tổng đánh xe ra chợ tham dự. Kèn nhà binh thổi tò te tí te, cờ tam sắc đi tiên phuông, theo sau là binh sĩ nai nịt chỉnh tề đều bước. Con ngựa bắc thảo bỗng nhảy nhổm, trố mắt. Ông cai ghì cương lại. Ngựa vẫn lồng lộn, hí vang rền. Giật mình, ông nhảy xuống.

Đoàn quân nhạc tiến lại, càng gần, kèn tò tí te như thổi trong tai. Con ngựa bắc thảo vụt hí lớn… phóng mình, dây cương vuột khỏi tay ông cai tổng.

Rồi đúng theo tinh thần kỷ luật, nó đến sắp hàng sau toán lính, đi biểu diễn. Ông cai tổng la hoảng, lính mã tà can thiệp đuổi con ngựa ra khỏi hàng ngũ. Nó đành thối lui, hầm hừ. Binh sĩ biểu diễn kéo qua, đi xa, vào thành.

Nhưng thừa lúc ông cai tổng sơ ý, nó vụt chạy lần nữa, chạy tuốt vào thành. Phải vất vả lắm mới đuổi nó ra ngoài được.

Rồi ông “sốp phơ” kết luận:

– Lời tục ví “ngựa quen đường cũ” là như vậy đó. Chiếc xe hơi này không khác gì con ngựa “xích thố” chở ông Quan Công theo đường cũ, ngày hai chuyến đi hai chuyến về như vầy hoài. Tôi thì như người nông phu đi dạo giữa hai bên đồng ruộng. Mùa cày, mùa cấy, mùa gặt, lúc mặt trời mọc thả trâu ra ruộng, khi chạng vạng nhắc nhen kêu… thảy thảy đều có mặt tôi.

Cậu lơ cười:

– Bây giờ thì ông thúc nó về đường cũ cho lẹ lẹ một chút. Mau lên con ngựa xích thố!

Ông “sốp phơ” nói buồn buồn:

– Con ngựa này già quá rồi. Vài năm nữa cho nó vô nhị tì xe hơi của Chệt ve chai ở đường Cây Mai. Còn tôi thì về vườn, xuống lỗ…

Nhưng khách bộ hành sẽ về đâu? Họ cúi đầu xuống, nghĩ đến cái lúc mà xác chiếc xe CU này hóa ra con quỷ vô thường. Từng bộ phận của nó sẽ trở thành những mảnh sắt vụn, những cây đục, con dao yếm, như khi con trâu chết thì phân thây ra làm con cờ, lược chải đầu, mặt trống. Sanh kế sẽ đưa họ về đâu? Họ còn được về quê mỗi tuần một lần, đúng ngày thứ bảy? Hay là họ sẽ phát tài, dời cả gia đình lên thành đô để ngày đêm đầm ấm trong cửa rộng nhà cao? Hoặc là một trường hợp não lòng sẽ xảy ra. Họ mất sở làm, không có tiền để về quê nữa, phó mặc việc sinh sống của vợ con cho vợ con đảm nhận. Rồi họ lê gót khắp đô thành từ Bàn Cờ, Phú Nhuận, Hòa Hưng, Tân Sơn Nhất, ăn gởi nằm nhờ, nhìn lá me rụng bên vệ đường, nhìn bóng mát cây trứng cá nhà ai rồi hững hờ dang tay hái trộm thử một trái để tự an ủi.

Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

Google photo

3. Con cá chết dại

Chiếc xuồng lướt tới ngon trớn. Hồng như không hay biết, mải mê nhìn cánh đồng lúa chín hai bên bờ rạch. Nàng nghĩ đến ngày mai. Mẹ con nàng từ Long Xuyên đến miệt Rạch Giá làm mướn với hy vọng đem về vài giạ lúa sớm và một hũ mắm.

Bỗng dưng Huệ, con gái nàng, ngừng tay day mặt lại, buông mái dầm lơ lửng:

– Mẹ, ai kìa mẹ!

Hồng ngước lên, từ nãy giờ nàng đã thấy kẻ lạ mặt ấy rồi. Hắn tên là Hai Tỵ, ai cũng biết mặt. Hôm qua, lúc đậu xuồng bên trại ruộng, Hồng nghe thiên hạ thuật lại vài giai thoại đáng ghét về nhân vật Hai Tỵ. Đại khái, hắn có vợ rồi nhưng chẳng bao giờ sống gần vợ. Hắn xuất hiện tại xóm này như một hiện tượng quái đản: suốt ngày rong chơi, nơi nào động dao động thớt hoặc có gái đẹp, đàn bà là hắn đến.

Hắn không làm nghề gì rõ rệt, vẫn sống thênh thang ở cái xứ “trên bờ có lúa, dưới sông có cá”.

Huệ còn thắc mắc, nhắc lại lần nữa:

– Mẹ! Ai kìa! Hồng lên tiếng:

– Ai thì mặc họ, mẹ con mình lo bơi xuồng.

Hai Tỵ cau mày, đứng trên bờ rạch hút thuốc rồi hinh hinh mũi, thở ra hai làn khói. Trông hắn bỉ ổi, hơi ngốc, mái tóc sửng lên như rễ tre. Trong phút giây, Hồng có cảm giác mình gặp tên lâu la đến chặn đường. Làm sao bây giờ? Nàng muốn tri hô lên, dù Hai Tỵ chưa phạm tới tội gì rõ rệt. An ninh và trật tự trong xóm đâu bị lung lay vì sự có mặt của hắn. Nàng hơi mừng vì đằng kia còn xóm nhà khá đông. Lát nữa, nàng sẽ ghé lại xóm nhà. Nhưng Hai Tỵ rõ là kẻ lì lợm. Hắn từ từ bước lại như muốn chận xuồng.

Huệ nói khẽ:

– Thằng cha vô duyên quá. Để con mắng nó một trận. Hồng cản lại:

– Đừng để mẹ xem thử.

Hai Tỵ vụt cái tàn thuốc xuống nước ngay trước mũi xuồng. Để tỏ rằng ta đây nào thiếu bản lãnh, Hồng lên tiếng:

– Anh muốn “quá giang” qua sông?

Dụng ý của Hồng là sỉ vả, liệt Hai Tỵ vào hàng ngũ những con “dê xồm” đòi thỏa mãn yêu đương trong chốc lát. Hai Tỵ cứ cười hì hì:

– Cô lầm rồi. Tôi mời cô lên bờ.

Huệ tức giận, lên tiếng để hỗ trợ với mẹ:

– Ổng không quá giang thì mình cứ bơi tới, hơi đâu mà hỏi.

Hồng không nghĩ rằng mình là kẻ đang yếu thế. Tuy “mẹ góa con côi”, nàng đã nuôi con đến khôn lớn. Nàng dám xuống miệt này để gặt lúa và làm mắm, bất chấp đường xa.

– Ủa! Bơi đi đâu lạ vậy? Tôi đâu phải ăn cướp. Tôi là đứa biết điều, giàu lòng nghĩa hiệp. Đời tôi cô độc lắm. Tôi nhảy xuống rạch bây giờ!

Đòi tự tử để hăm dọa kẻ giàu tình cảm chăng? Hồng mỉm cười để lộ hai núm đồng tiền:

– Chết đâu chết phứt đi. Lì lợm quá. Để người ta làm ăn.

Hai Tỵ nói:

– Tôi nhảy xuống rạch để níu chiếc xuồng của cô.

– Đủ rồi nghen! Đừng nói dai.

Hồng nghiêm mặt, mắng lớn. Những lời mắng nhiếc tương tự như thế đã lọt vào tai Hai Tỵ hàng trăm ngàn lần rồi. Hắn nghĩ thầm: “Hồng muốn nói to để cho con gái nghe vậy thôi. Trước mặt con, nàng muốn tỏ ra gương mẫu”. Phải chi nàng bơi xuồng một mình thì chưa chắc hắn bị mắng oan như thế.

Bỗng dưng Hai Tỵ cảm thấy hãnh diện “thất bại là mẹ thành công”. Vả lại hắn chưa thất bại. Chiếc xuồng cứ lướt vùn vụt. Hắn chạy lúp xúp theo. Hồng quả là người đẹp đã đành, nhưng từ phía sau nhìn tới thì càng đẹp hơn. Hắn thầm cảm ơn định mệnh khiến hắn gặp Hồng mùa gặt năm nay. Mấy năm trước nhiều cô gái mơn mởn chưa chồng đến xóm này gặt lúa hoặc làm mắm. Họ thuộc vào hạng mặn mòi, tóc dài mắt đen, cườm tay no tròn. Tuy nhiên, hắn chưa bao giờ sảng sốt, ngơ ngẩn như khi gặp Hồng lần đầu tiên. Hôm qua, lúc mẹ con Hồng nấu cơm bên nhà ông hương Cả, hắn nhìn trộm hàng giờ rồi về nhà mang bệnh mất ngủ. Hắn nhớ rõ dáng điệu những cậu trai tơ, những người tuổi sồn sồn đứng ở nhà ông hương Cả. Trầm trồ khen ngợi người đẹp là quyền riêng của mỗi người. Hắn đứng lặng thinh mãi đến khi có người bên cạnh chế giễu thẳng vào mặt:

– Thằng cha Hai Tỵ này mê mệt rồi đa! Mọi lần, nghe đồn thằng chả đạo đức lắm.

Hai Tỵ bẽn lẽn:

– Bà con phá tôi hoài. Lần này tôi cương quyết đạp lên xác chết của kẻ nào ngạo mạn, dám qua mặt tôi. Tôi nhường nhịn lắm rồi. Ai khen đứa con gái của “bả”. Tôi già, tôi giành “bả” riêng cho mình.

– Nghĩa là cha nội đòi “cưới” “bả”.

Hai Tỵ hiên ngang nhìn mọi người rồi nói nhỏ:

– Cưới gấp. Vái trời.

Cả bọn cười rộ lên, Hồng vẫn ung dung chắt nước cơm để chứng tỏ mình vẫn bình thản. Nàng muốn nói thẳng: “Các anh dở hơi quá: đàn ông mà làm vậy, đàn bà nó khinh”.

Chỉ tội nghiệp cho Huệ. Nàng ngỡ mình sắp bị bao vây nơi xứ lạ quê người.

Đêm đã khuya.

Hồng nói với con gái:

– Huệ à! Con đi ngủ sớm để mai lo gặt.

Trước khi chui vào nóp, Huệ lộ vẻ sợ sệt. Căn chòi trống trải quá. Rủi bọn bất lương và nhất là Hai Tỵ đến hăm dọa thì kêu cứu quá trễ. Đoán được tâm lý con, Hồng nói ôn tồn:

– Ở đây gần xóm. Chẳng lẽ mẹ con mình ngủ nhờ trong nhà thiên hạ. Cọp, gấu gì đâu mà sợ! Thiên hạ còn gặt lúa, ngủ ngoài trời, sát mé biển nữa kia.

Nằm trong nóp hồi lâu, Hồng cựa quậy vì tiết trời hơi nực, ngứa ngáy. Nàng tung nóp ngồi ngóng vẩn vơ. Đêm ở miền biển cũng thơ mộng, nếu không có muỗi cắn. Nàng đặt mấy que củi vào bếp un, rồi nghĩ đến công việc ngày mai. Dưới rạch, nước gần cạn. Cá lóc táp mồi nghe đùng đùng. Xứ này nhiều cá hơn mức tưởng tượng của nàng. Nếu siêng năng, có thể câu hoặc tát mấy vũng cạn, khỏi tốn tiền. Dưới ánh trăng, cá đua nhau đớp bọt như nồi cơm đang sôi.

Bỗng một cục đất khá to rơi tõm xuống rạch, trước mặt Hồng chừng vài bước. Nước văng lấp lánh. Nàng nói hoảng:

– Ma nhát hả! Trời! Có giọng cười the thé:

– Tôi mà! Chừng này cô chưa ngủ? Hồng phát giận, nghiêm giọng:

– Anh này kỳ cục quá. Chừng này tới đây làm gì? Hai Tỵ nghiễm nhiên đến ngồi trước mặt Hồng:

– Cô biết rồi mà còn hỏi hoài. Tôi tới vì tôi ngủ không được.

– Tôi la làng bây giờ!

Hai Tỵ với tay để khều nhẹ bàn tay Hồng:

– Đừng nói lớn.

Rồi quay qua chiếc nóp của Huệ.

– Cháu nó ngủ rồi hả?

Hồng rút tay lại kịp thời. Hai Tỵ đem gói thuốc rê vấn rồi hút phì phà cho đỡ ngượng. Bầu không khí trở nên im lặng. Huệ vẫn ngủ say trong nóp.

Hồng ngồi lui lại bên con. Bấy giờ Hai Tỵ nói khẽ:

– Cô xuống đây làm gì? Tôi sẵn sàng giúp cô.

– Tôi biểu anh về nhà. Tôi không muốn nghe thiên hạ đàm tiếu.

Hai Tỵ làm mặt lỳ:

– Tôi không có nhà. Thưa cô, tôi muốn thăm cô trong giây lát. Xóm này chẳng ai đàm tiếu. Mấy người gặt lúa, giăng câu họ thức nói chuyện sáng đêm để nói chuyện một mình.

– Bây giờ, ừ được rồi, tôi sẵn sàng nói chuyện nhưng nói chuyện khác. Chuyện đó chán lắm, chuyện khác là chuyện làm ăn, lo sống…

Vô tình, Hồng lọt vào cạm bẫy tình cảm của Hai Tỵ. Hắn vấn thêm điếu thuốc, lần lượt trình bày cách thức kiếm cá để làm mắm rẻ tiền nhứt ở xóm này.

– Sáng mai, cô đi theo tôi. Tôi bảo đảm. Sắm vòng vàng, cất nhà lầu thì tôi chịu chớ kiếm chừng trăm ký lô cá dễ ợt. Cô hãy tin nơi lòng thành thật của tôi. Nếu nói dóc, mặt mũi nào tôi nhìn cô. Nếu cô không nhìn tôi, tôi chết.

Hai Tỵ mừng thầm, hiểu rằng đã đến lúc từ biệt. Ở đây mãi, câu chuyện sẽ hóa ra nhảm nhí. Anh đứng dậy, nói run run:

– Cám ơn cô. Hồi nãy, cô nói hơi ác độc.

Hồng gật đầu:

– Cũng tại anh nói dai.

– Cô nói sao? Tôi ngồi đây cho tới sáng.

– Thôi, lỗi tại tôi. Sáng mai tôi chờ anh tại đây.

Ra về, Hai Tỵ phơi phới trong lòng. Anh đến quán chú Kỵ, đập cửa om sòm:

– Bán một chai rượu thuốc con cọp coi!

Chú Kỵ thừa hiểu tính nết Hai Tỵ. Tuy hắn chưa phải là thân chủ lớn nhưng ít khi thiếu chịu. Chú nói đùa:

– Làm gì hăng quá vậy?

– Bữa nay tôi là một ông vua nghe chưa!

Rồi hắn đến từng người bạn, đánh thức, hối thúc đốt đèn. Hắn hứa cho người này cái nón nỉ, cho người kia chiếc xuồng. Và vài ngày nữa hắn sẽ làm việc với lý do còn giữ bí mật.

Hồng căn dặn:

– Huệ à! Con gặt lúa cho rồi công. Mẹ lo kiếm cá.

Mặt trời mọc rồi đó.

Huệ áy náy vô cùng. Hai Tỵ ngồi sẵn dưới xuồng. Nơi giữa khoang, hắn trải chiếc chiếu sạch sẽ. Huệ chưa hiểu mẹ nàng đi đâu với gã xấu nết này. Huệ nói khẽ:

– Kiếm cá mà như đi ăn giỗ. Thôi, mẹ ở nhà với con. Con không chịu như vậy đâu.

Dè đâu câu ấy lọt vào tai Hai Tỵ, hắn nói:

– Cháu đừng lo. Đi ban ngày. Đi rồi về bây giờ. Tôi đâu có nói giỡn hồi nào đâu.

Cực chẳng đã, Hồng xuống xuồng quay mặt về phía trước.

Hai Tỵ bơi thật hăng, bơi ra phía vàm biển. Hai bên bờ rạch, cây mắm, cây vẹt mọc um tùm. Gió thổi mạnh, nàng lắng tai nghe rồi nói nhanh:

– Anh đưa tôi ra ngoài biển hả? Tôi muốn về. Sóng gió tôi sợ lắm.

Hai Tỵ vẫn cố lỳ vừa bơi vừa hỏi.

– Xin lỗi cô tên gì? Cô có gia đình chưa?

– Tên Hồng, vợ chồng tôi xa nhau, ở riêng từ mười mấy năm rồi. Biết vậy là đủ. Còn anh?

– Đừng hỏi, tội nghiệp tôi. Cô biết tôi như vầy cũng là đủ rồi.

Một con cá lóc bỗng nhảy dựng lên cao, rơi xuống. Cá giẫy mạnh, như chạy nhanh trên mặt nước, Hồng thích chí:

– Cái gì vậy? Anh bơi xuồng tới thử coi.

Con cá nọ nằm ngửa đưa bụng trắng phau, quạt đuôi nhè nhẹ rồi nằm nghiêng. Để làm vừa lòng người đẹp, Hai Tỵ chụp con cá, ném vào xuồng.

Hồng day mặt phía sau. Hai Tỵ cau mày. Từ nãy giờ nàng chỉ thấy con cá. Nếu không có con cá đó chắc mình chẳng thấy mặt nàng. Con cá tốt phước hơn mình nhiều. Bàn tay Hồng vuốt mắt cho con cá đang chết, nhưng mắt nó cứ mở trao tráo.

Nàng hỏi:

– Ủa! Sao lạ vậy? Cá mang bệnh chăng?

– Gặp ngày may mắn, tôi muốn cho cô thấy vài chuyện lạ. Bữa nay mười sáu trăng tròn. Hồi đêm qua, nhớ cô quá tôi đánh bạo tới chòi để thăm cô và thăm cá.

Ngỡ rằng Hai Tỵ buông lời thô tục, Hồng im lặng.

Chẳng lẽ giữa ban ngày hắm dám giở thói vũ phu.

Qua khỏi gốc cây bần quỳ, Hai Tỵ quẹo xuồng vào bãi:

– Mời cô lên chòi!

Nói xong hắn vác chiếc chiếu, nhảy xuống bùn, tay kéo xuồng, tay vịn chiếu. Căn chòi quá nhỏ, tư bề có kèn, ô rô và nhiều loại cỏ hoang mọc um tùm:

– Mời cô nhảy cho khỏi lấm bùn.

Hồng còn do dự. Trong khi ấy Hai Tỵ trải chiếu lên bộ vạc. Gió thổi hù hù, sóng vỗ vào bãi nghe như gần lắm. Hồng ớn xương sống, có cảm giác như lọt vào động quỷ của tay thầy bùa đang chực giết người để luyện thiên linh cái!

Bầy khỉ kêu chót chét, hái trái bần chín mà ném xuống. Hồng đau khổ quá chừng. Nếu Huệ gặp mẹ trong cảnh này, nó sẽ nghĩ những điều oan uổng.

– Mời cô nằm nghỉ trên vạc. Tôi trải chiếu rồi đó. Sau khi ngồi mỏi lưng, cô nằm cho khỏe, chòi này của thiên hạ bỏ hoang. Tôi chiếm cứ.

Hồng lắc đầu:

– Cá ở đâu, tôi muốn trở về. Anh không về thì tôi về. Đừng gạt tôi.

– Ủa! Cô nói lạ vậy. Tôi ngồi ngoài này. Cô nằm nghỉ trong chòi một mình.

Rồi Hai Tỵ kể thao thao bất tuyệt:

– Tôi gặp cô vào lúc may mắn. Âu cũng duyên trời đặt. Ở xứ này, mỗi năm lại có một lần “cá dại”. Nước mặn cuối năm tràn vô rạch. Bao nhiêu cá lóc quen nước ngọt bị say nước mặn, chạy trốn không kịp, chết trôi lờ đờ như con cá hồi nãy cô thấy đó. Vùng rạch hoang vu này thuộc về cô. Sáng mai nước biển sẽ tràn vô rạch lần đầu tiên. Lứa cá dại đầu mùa thuộc về tay cô rồi đó. Cô tha hồ mà bắt trên khúc rạch mình bơi qua nãy giờ.

Hồng chợt tỉnh, dè đâu Hai Tỵ tử tế mức ấy, nhưng đối với nàng, chừng nào cá vào tay thì mới chắc ăn. Giờ đây cá còn lội dưới nước. Nàng mỉm cười, hai núm đồng tiền rung rinh. Hai Tỵ nói:

– Thiên hạ lo đào đìa, xây rọ, giăng lưới để bắt cá. Hoặc họ sắm ruộng đất lập vườn lấy huê lợi để mua cá. Còn tôi, mỗi năm uống rượu phủ phê vài ngày, lúc trăng tròn cuối năm nhờ mớ cá trời cho này. Gặp cô, tôi bơi xuồng đi ra ngoài mé biển này cho cô tin. Tài sản của tôi là bao nhiêu đó.

Hồng gật đầu. Dưới rạch một con cá lóc to trồi đầu lên, chạy lướt vào bãi, giãy giụa rồi nổi lình bình, nàng với tay bắt.

– Cá này ngon, còn tươi để tôi đem về chòi cho con Huệ nó mừng.

Nét mặt Hai Tỵ nhăn nhó đau đớn khôn tả, quả là tâm trí Hồng mãi nhớ tới con cá và đứa con gái thân yêu. Chừng nào nàng mới nhớ đến mình? Hắn thở dài:

– Cô về trong xóm một mình. Tôi ở ngoài suốt đêm. Cứ để tôi ở đây. Hừng sáng mai, cô nhớ thức sớm, rủ cháu Huệ đi theo xuồng. Gặp cá là vớt, cá vô chủ là cá của tôi. Không ai tranh giành. Xứ này thiếu gì cá.

Hồng bịn rịn:

– Anh về trong xóm chớ!

– Không! Tôi ở đây. Cô về cho sớm.

Vào khoảng tám giờ sáng hôm sau, Hồng và Huệ bơi xuồng ra tới chòi của Hai Tỵ. Khoang xuồng đầy cá lóc chết dại. Cá nổi trắng mặt nước, hai bên bờ rạch không có nhà cửa, nên mẹ con Hồng độc quyền nguồn lợi ấy. Người ở xóm ngọn chưa hay cá đang chết dại vì nước lớn chưa chảy tới. Hơn nữa, cá lóc ở xóm ngọn đang cố gắng sống lây lất từng bầy chạy thoát về rừng. Hai Tỵ ngồi nép trốn bên sân chòi. Hồng mừng quýnh:

– Vậy mà tôi tưởng anh chết rồi chớ!

Hắn đáp:

– Mai cô về, tôi mới chết. À, cháu Huệ đem cá lên sân chòi mà mổ ruột đánh vảy, làm khô, làm mắm.

Hai mẹ con Hồng cười nói lăng xăng: cá nhiều, cá mập, cá bán có giá, cá bắt dễ dàng. Hồi lâu, Hồng sực nhớ Hai Tỵ.

Kìa! Hắn ngồi ngoài gốc cây bần, hai tay ôm đầu nhìn xuống đất.

Giọng Hồng thỏ thẻ:

– Để “em” đền ơn cho anh chút ít tiền.

Hắn nói gắt:

– Nín đi! Cá của trời đất chớ đâu phải của tôi.

– Để “em” mua cho anh một chai rượu. Anh tính toán, làm ăn giỏi quá.

Hắn ngước mặt nói nhỏ:

– Cô xưng “em” với tôi thiệt tình hả? Tôi dại lắm.

– Thấy anh mà tội nghiệp. Rồi anh lấy gì mà sống.

– Nếu em chịu ở đây, anh có cách để sống hoài. Hết mùa cá dại, anh xoay qua bắt trăn bắt rắn. Toàn là những món của trời, không vốn liếng. Mai này em bắt rắn với anh nghe không? Rồi ở đây luôn.

– Lạy anh, em về xứ. Em sợ rắn lắm.

Hai Tỵ trợn mắt:

– Xứ nào?

– Ở Long Xuyên.

– Anh đâu dám theo.

Bao nhiêu hình ảnh phức tạp nhảy nhót trước mặt Hai Tỵ: Hồng sống với con gái, Hồng còn trẻ còn đẹp. Ở Long Xuyên, xứ văn minh, Hồng đã và sẽ là đóa hoa thơm để cho ông Tây kiểm lâm hoặc ông chủ nhà máy xay nào đó tới lui thưởng thức. Họ có ca-nô, họ có xe hơi, mình chỉ nên theo Hồng về Long Xuyên khi nào mình có chiếc ca-nô để đưa nàng. Mình đã thua kém thiên hạ từ thuở mới lọt lòng khóc oa oa chào đời, từ hồi mang bịnh giang hồ, thích gió rừng, yêu sóng biển.

Giọng Hồng ngọt ngào:

– Rảnh thì anh về xứ em cho biết nhà.

Hai Tỵ cười chua chát:

– Ờ, anh tới nhà em, rồi anh giả bộ đau vài ngày. Chắc em quăng anh xuống sông, bỏ xác. Xứ em đẹp lắm, nước ngọt mãn năm, ai nấy đều có làn da mơn mởn. Tới chiếc lá rụng còi cũng đủ màu sắc, thấy mà thèm. Còn ở đây nắng cháy, nước mặn, anh như con cá chết dại. Em thấy chưa?

Hồng day mặt chỗ khác. Bây giờ đôi mắt Hai Tỵ đỏ lòm với hai giọt nước mắt chưa rơi xuống.

Hắn nói:

– Em biết cá “dại” là cá điên như chó dại, chó điên. Tại sao anh điên, em biết không? Như con cá gặp luồng nước mặn ngoài biển đang tới tấp. Nó không chạy kịp, nó chạy không nổi. Thà chết lờ đờ như vầy.

Gió biển vẫn thổi. Nhưng giữa hai người, không khí như đứng im nặng nề. Huệ nói to, hươi cây dao:

– Mẹ ơi! Lại đây tiếp xẻ cá. Mẹ nói chuyện gì mà nói hoài vậy?

Vừa nói Huệ vừa vung tay đập đầu con cá dại, Hồng rợn người khi nhận ra sự thật: Tuy chết rồi nhưng con cá vẫn còn mở mắt đỏ ngầu, trao tráo như cá còn sống! Lần đầu tiên bàn tay nàng với tới Hai Tỵ.

Huệ hơi bực tức:

– Ông đó nói cái gì vậy má?

Trong giây phút lãng mạn Hồng nắm tay Hai Tỵ.

Nàng nói với con gái:

– Đừng kêu “ông đó” bằng “ông đó”. Lát nữa mẹ về Long Xuyên với con mà!

Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by6 Sơn râu 1 Aug 2024

2. Con bà Tám

Sau mấy năm xây nò gần bãi gọi là nò cạn, Hai Nhiệm gom góp vốn liếng và vay thêm nợ của chú Xìn Phóc để phát triển công việc làm ăn: xây nò khơi, cách xa bờ biển hàng 10 cây số ngàn, theo kiểu nò bắt cá của người Xiêm (nò Xiêm).

Hai Nhiệm làm hai bài toán rành mạch trên giấy trắng mực đen để trình với chủ nợ là Xìn Phóc.

1) Cắm hàng rào dài suốt 2.000 thước để cho cá nương theo đó mà vô nò, mỗi thước cắm hai đước: 4.000 cây.

2) Nò hình tròn, bề kinh tâm (kính) 20 thước, bề chu vi tốn chừng 800 cây đước bện lại bằng mây tàu, phỏng chừng hai tạ mây.

Kèm theo cái toa ấy, Hai Nhiệm vẽ thêm bản sơ đồ của các nò Xiêm vĩ đại, giống như cái quạt tròn, thân quạt là nơi chứa chất cá tôm, cán quạt là những hàng cây rạo đón cá vô bụng nò.

Hai Nhiệm lấy làm thích thú, ngắm nghía tới lui rồi hạ bút ghi rõ: 40 ngàn đồng!

Anh xếp cái toa và bức sơ đồ làm tư, bỏ trong hộc tủ.

Ngoài cửa có người bước vào. Anh giựt mình, đẩy hộc tủ để giữ kín kinh tài.

– Chào thầy Tư!

Thầy Tư Nhu nheo mắt:

– Cái gì mà coi bộ quan trọng dữ vậy?

– Dạ, đồ đạc giấy tờ.

– Thôi! Giấu diếm làm gì. Nghe đồn năm nay chú em muốn vay nợ của Xìn Phóc để xây nò Xiêm. Hay lắm! Tôi tới đây bàn thêm, giúp ý kiến. Nếu thấy được, cho tôi hùn năm mười ngàn.

Hai Nhiệm chép miệng, chưa biết trả lời như thế nào để khỏi mích lòng bực “đàn anh” kẻ cả! Thầy Tư Nhu tới xóm biển này từ bốn năm qua, chuyên nghề làm thầy nò. Ai sửa soạn xây nò, muốn kết quả được mỹ mãn thì đem mâm trầu rượu tới chầu chực, chờ thầy xem tuổi, xem ngày giờ khởi công. Chưa hết! Thầy còn vẽ bùa bát quái nêu rõ đâu là Đông, Tây, Nam, Bắc, Càn, Khảm, Cấn, Chấn, dạy cho gia chủ cúng Hà Bá Thủy Long. Thầy sẵn sàng xem quẻ giùm với điều kiện chủ nò phải chia cho thầy một phần ba số tiền thâu hoạch được.

Im lặng hồi lâu, Hai Nhiệm lên tiếng để chặn lời thầy Nhu:

– Tôi ít tin dị đoan.

– Chú em đừng nói vậy, rủi xảy ra điều bất lành, ăn năn không kịp. Đất có thổ công, sông có Hà Bá! Người xưa thường nói.

Hai Nhiệm cười giòn, giọng khiêu khích:

– Nhưng tôi làm ăn ở tuốt ngoài khơi, ngoài vòng của thổ công, Hà Bá.

– Ngoài đó còn Thủy Long. Thủy Long cai quản khắp miền Nam Hải.

Hai Nhiệm vẫn công kích:

– Thủy Long là vị thần của người Tàu, tôi xây nò kiểu bên Xiêm.

Nãy giờ thầy cố ý dẫn dắt câu chuyện, khiêu khích cho Hai Nhiệm thốt ra lời nói vừa rồi. Thầy kể thao thao bất tuyệt về nguồn gốc cái nò Xiêm:

“Xưa kia ở bên Xiêm, vị quan đại thần nọ có đứa con gái vừa đúng tuổi cặp kê, nhan sắc xinh tươi lạ lùng. Cô gái này thích đi dạo trên đồi, bắt bướm, hái hoa.

Hôm nọ nàng lên sườn đồi gặp đóa hoa tím mọc ngoài gành đá, phía dưới là khe suối chảy cuồn cuộn. Nàng với tay, gió thổi khiến đóa hoa chập chờn ẩn hiện xa gần, khi vừa tầm, khi lơ lửng giữa khoảng không. Như bị thôi miên, nàng ngây dại bò tới để hái cho kỳ được ‘giấc mộng hoa’ ấy, quên cái khe sâu thăm thẳm. Nàng tuột chân té xuống”.

Hai Nhiệm nói nhanh:

– Chuyện ngộ thiệt nhưng lạc đề.

– Bởi vì chú em nóng nảy, chưa hiểu.

– Cái gì mà không hiểu. Đóa hoa này giết chết đóa hoa kia theo kiểu tuồng tích cải lương.

Thầy Tư Nhu lại nắm chủ động, tiếp tục câu chuyện từ lúc người đẹp rơi xuống gành đá, mất dạng.

“Ông quan truyền lệnh cho binh sĩ tìm xác đứa con gái nhưng ai nấy đều lắc đầu, gành đá quá cao, vả lại nước chảy cuồn cuộn, biết xác nàng trôi tấp nơi đâu. Nếu tìm được chăng nữa, làm sao trở lên sườn đồi? Rốt cuộc, vị quan bèn đặt giải thưởng cho bất cứ ai đem được cái tử thi về nha môn để ông làm lễ tống táng: Bấy giờ ở miền duyên hải có ông Dì Xiêm nghĩ ra sáng kiến: Đóng cọc thật khít theo hình tròn để bao vây vàm sông. Xác cô gái từ khe suối, trôi ra sông, rồi lọt vào vòng rào tại cửa biển. Sau khi vớt xác lên. Ông Dì Xiêm chẳng thèm nhổ bỏ mấy cây nọc. Cá biển giành nhau mà chui để nương tựa lúc nổi sóng lên. Thế là ông Dì Xiêm trở thành thủy tổ của nghề nò Xiêm. Ông này nghe đâu là người Hải Nam. Vì vậy khi hạ nò Xiêm, người miền biển cúng tế trọng thể, rước thầy nò đến ‘nhờ xem’ phương hướng kẻo Hà Bá, Thủy Long hờn giận”.

Câu chuyện hấp dẫn khiến Hai Nhiệm suy nghĩ. Đúng rồi! Xưa nay, muốn đánh lưới hoặc muốn bao đăng, luôn luôn người ta theo nguyên tắc mành lưới hoặc kẽ đăng phải khít thân hình con cá, con tôm thì mới hy vọng túm nó được. Ông Dì Xiêm đã ngẫu nhiên phát minh ra nguyên tắc mới. Ngoài biển sóng gió, loại cá to phải lựa một gốc cây nào đó mà nương tựa cho ấm cúng. Gặp gốc cây, cá mừng quýnh như kẻ sắp chết đuối bám được cái phao. Nó chẳng bao giờ buông phao để chịu chết đuối, bỏ phao này, nó chuyền qua phao khác rồi lọt vào nò cho ta xúc, đem bán.

Để tỏ rằng mình chưa đến nỗi vong ân bạc nghĩa đối với tiên sư Dì Xiêm, Hai Nhiệm toan kết thúc câu chuyện để đuổi khéo ông thầy nò Tư Nhu.

– Mấy năm qua, tôi làm giàu nhờ ông Dì Xiêm. Nếu gặp con cháu của ông, tôi sẵn sàng đền ơn. Ổng giỏi thiệt. Nhờ ổng mà dân miền biển sáng mắt thêm: cá vô nò, dựa lưng vào mấy cây nọc để chờ chủ nó tới xúc chớ không bao giờ chạy trốn, mặc dầu miệng nò rộng hàng đôi ba thước. Và giữa hai khoảng nọc có kẽ hở lớn gấp đôi gấp ba thân mình của nó.

Thái độ cương quyết của Hai Nhiệm khiến thầy Tư Nhu tạm thời rút lui:

– Mai chiều, tôi trở lại thăm chú em.

– Cám ơn, để tôi thăm Xìn Phóc trước đã. Y ta chịu cho mượn tiền thì mới bàn tới chuyện Dì Xiêm, chuyện con quan đại thần hái bông ở khe núi.

Nhờ cách làm ăn ngay thẳng của mình nên Hai Nhiệm được Xìn Phóc ứng trước số tiền khá to, dư dả để mua cây, mướn người đốn lậu thuế trên 4.000 cây đước, mỗi cây dài hơn mười thước. Mướn ghe chở ra ngoài khơi để cắm nò. Số ghe này chạy ra, chạy vào để chở cây, mỗi chuyến hơn 8 cây số.

Thầy Tư Nhu vẫn chàng ràng để nài nỉ:

– Nếu chú em không cho tôi hùn vốn hoặc xem phong thủy thì thôi. Bây giờ tôi muốn giúp công, chẳng cần đền ơn, chú em nghĩ sao?

– Giúp vụ gì?

– Bữa nào khởi công “xuống nò”, tôi xem giùm ngày giờ, theo sách vở ông bà để lại. Tôi lựa ngày “bổ tróc” tức là ngày hên.

Hai Nhiệm sực nhớ tới danh từ bổ tróc ấy:

– Tôi nghe người ta nói nhiều về ngày đó. Xây nò thì phải hạ thủy đúng ngày bổ tróc, như người cất nhà xem ngày để gác đòn dông.

– Chú em hiểu bổ tróc là gì không? Bổ tức là bộ, là bủa, bủa lưới. Tróc là bắt, nã tróc. Chú em cho biết tuổi tác để tôi “đánh tay” cho.

Hai Nhiệm nói với giọng tức giận:

– Tôi thì chẳng cho thằng cha nào hùn vô hết! Năm nay tôi “xù” cái vụ coi tuổi, coi quẻ bát quái, coi ngày bổ tróc. Mình hên thì mọi việc đều xong. Nếu hết thời, một trăm ông thầy nò cũng không cứu nổi. Hơn nữa mỗi “cha” thầy nò bàn một cách; cha nào cũng tự xưng là thần, là thánh tối ngày ngồi trên đất cạn mà nói chuyện cá tôm dưới đáy biển.

Thầy Tư Nhu cau mày:

– Chú em quá gắt gao đối với tôi.

Trẻ tuổi, háo thắng, nhưng Hai Nhiệm vẫn hiểu cái thủ đoạn đối nhân xử thế. “Quỷ thần kính nhi viễn chi”. Nên kính trọng ma quỷ, thần thánh nhưng chớ khá lân la với họ – nghĩa là nên lánh xa chừng nào hay chừng ấy. Muốn tống cổ thầy Tư Nhu ra khỏi nhà chỉ còn biện pháp cuối cùng như sau:

– Xin thầy coi giùm ngày “tróc bổ”, à, ngày “bổ tróc”, tôi nói lộn ngược lộn xuôi.

Một lần nữa Hai Nhiệm sa vào quỷ kế của Tư Nhu. Thầy ung dung móc “bóp”, đem ra tờ giấy nhỏ, đầy chi chít chữ nho lẫn chữ quốc ngữ.

– Suốt đêm hôm, tôi lật tất cả sách vở, đem tất cả bửu bối để giúp chú em. Chú em thương thì tôi nhờ, trách mắng thì tôi chịu. Tôi làm việc theo lương tâm, theo nghiệp tổ. Nếu không coi ngày bổ tróc giùm cho chú em, rủi xảy ra điều thất bại, tôi hối hận lắm. Đây, chú em, ngày mốt nên hạ nò cách bờ biển chừng 20 dặm, phía Tây Nam, giờ Thìn. Chú em ngóng về phía Tây Nam. Chừng nào thấy một cụm mây tròn màu tím hiện ra là…

Hai Nhiệm cười khanh khách:

– Là tàn mạt. Thôi cám ơn cha nội! Chộn rộn quá. Tôi cãi lời một phen xem sao. Lát nữa, tôi khởi công lập tức, chạy ghe buồm ra ngoài khơi, gặp chỗ nào cao hứng là tôi dừng lại. Mây trắng, mây dài, mây lốm đốm màu gì cũng là điềm tốt cả. Thôi về đi, chừng nào trúng nò, tôi đền ơn hai lít rượu với một cái mền để dưỡng già.

– Sao chú em không nói luôn là để liệm tôi trong hòm. Nhất là phá Sơn Lâm, nhì đâm Hà Bá. Chú em nhỏ tuổi, nghĩa là còn nhiều dịp để thành công nhưng cũng còn nhiều dịp để thất bại. Nhớ lấy đó! Răn lấy đó!

Nò đã xây rồi từ hơn mười ngày qua.

Hai Nhiệm cười với thiên hạ mà gan ruột thì nát như tương, giống hệt tâm trạng kẻ ngồi sòng bạc chờ đợi người “cái” khui con đề. Anh ăn ngủ không theo giờ giấc nhứt định, lắm khi đói mà ăn không ngon, không buồn ngủ nhưng ráng dỗ giấc ngủ để trấn tĩnh bộ thần kinh quá căng thẳng khi gió từ phía Nam thổi lộng về sớm hơn mọi năm đến hai tháng.

Nhiều khi, anh ta thức giấc nửa đêm, thấy mơ hồ trước mắt có ngôi nhà ngói. Dưới ánh đèn “măng sông” sáng choang nào là máy hát, nồi chảo bằng nhôm, tranh cảnh bên Tây treo đầy vách. Tóm lại, từ địa vị “thường thường bậc trung” anh leo lên nấc thang phú quý tột bực xóm này. Có vài buổi bình minh u ám, anh cúi mặt, nghĩ tới trận giông Nam ác liệt đang sắp sửa hoành hành ngoài khơi, đánh tan tành cái nò trị giá trên 40 ngàn đồng trong nháy mắt, bao nhiêu cây rào đều tróc gốc, nằm xiêu vẹo như hàm răng long của bà lão trên bảy mươi tuổi.

Ngoài cửa, thầy Tư Nhu xuất hiện với gương mặt ròng ròng nước mưa, với bàn tay che giấu dưới nách.

– Chú em đừng lo, hễ buồn hoặc lo ngại thì uống rượu với tôi.

Hai Nhiệm nhướng mắt. Chai rượu của thầy Tư là thủ đoạn gây cảm tình, nhưng giờ phút này nó trở nên cần thiết. Tư Nhu nói:

– Lời tục thường nói: Bách văn bất như nhứt kiến. Nghe nói hồi hôm cá vô nò của Tư Chối, của Hai Xịu ở Xẻo Bần. Hai cha đó, xúc được bốn ngàn con cá mè đường, mổ lấy bong bóng, lập tức bán cho ghe Hải Nam từ Xanh Ga Bo qua chịu mối. Còn xác cá, mỗi con nặng hơn mười ký lô, mấy chả bỏ ngoài biển. Bong bóng cá bổ khỏe hơn sâm Cao Ly, nhà giàu ưa lắm.

Hai Nhiệm gật gù:

– Vốn 40.000 đồng, trong một đêm thâu vô gần 100.00 đồng! Ngon quá. Hồi hôm kia, tôi ra thăm dò một lần rồi. Buồn quá chưa có “màng màng gì ráo!

– Ít ra trong bụng nò cũng có lai rai vài con gì chớ!

– Đôi ba trăm con cá chim, xúc uổng công, bán mười đồng bạc là cùng!

Thầy Tư Nhu đứng dậy dậm chân:

– Trời đất ơi! Chú em khờ khạo quá. Hễ cá chim chịu vô, tức là hai ngày sau cá mè đường kéo tới tràn nò, bể nò ăn thua. Hiện giờ ở trong cái nò của chú em có hơn 100.000 đồng rồi. Ra coi thử mới được. “Bách văn bất như nhứt kiến”. Nghề làm nò quý ở chỗ chủ nò đích thân coi sóc từng giờ từng phút. Nằm nhà nghe đồn phong thanh hoài, tức chết đi!

Nghe lời nói chí lý ấy. Hai Nhiệm quát to:

– Bạn ta đâu? Tay lưới đâu? Tụi bây ra ngoài nò với tao, với thầy Tư một phen để xúc cá.

Vài đứa cằn nhằn:

– Trời nổi giông, biển động mạnh từ hai đêm rồi, cá tôm gì mà xúc. Đi ra ngoài khơi, để ngắm cảnh họa may. Nhưng trời mưa giông có cảnh gì mà ngắm? Chẳng lẽ mình ra ngoài để kiếm vài cái thây ma chết trôi?

Thầy Tư Nhu nói gắt:

– Đứa nào nói bậy đó? Ở nhà nghe không? Tao cấm tuyệt không cho đứa nào đi theo tao.

Thầy Tư Nhu day qua Hai Nhiệm:

– Chú em nghe nó chửi tôi không? Làm ăn, nên tránh những tiếng nói đem xui xẻo.

Bây giờ Hai Nhiệm đâm ra cảm động trước thái độ quá ư thành khẩn của Tư Nhu. Anh bắt buộc tên gia nhân ấy ở lại nhà. Đoàn ghe lên đường, xông ra ngoài khơi, dưới trận mưa tối tăm trời biển. Trống ngực Hai Nhiệm đánh thình thình. Thầy Tư Nhu đưa chai rượu lên môi mà ực liên tu bất tận, tưởng chừng như nếu ai gỡ chai rượu ấy ra, thầy mất phần hồn lăn ra chết xỉu. Hàng rào xuất hiện. Mớ cây đước cắm giăng hàng ngang để chận cá vẫn đứng vững trước bảo táp phong ba. Đoàn ghe nương theo đó mà tiến vào bụng nò. Hai Nhiệm và thầy Tư đều đứng thẳng người.

Bụng nò còn nguyên chưa hư hao. Vài bầy cá chim bay nhảy khỏi mặt nước, rớt xuống khuất dạng.

Tư Nhu bỗng run rẩy:

– Con gì? Ghê quá! Trời đất ơi là Trời! Hai Nhiệm hỏi như cà lăm:

– Thầy nói gì? Tôi đâu thấy? Thây ma hả?

– Đâu có! Bữa nay không có thì mai mốt có cá. Mình được quyền chờ đợi. Đợi ba tháng nữa mới mắn mùa nò. Nhưng mà nó ở dưới đáy biển kia, nó sửa soạn nổi lên. Nó sống nhăn. Nó không phải là người. Tôi thấy vài lần rồi.

Trong giây phút, Hai Nhiệm nhớ tới cá nược, cá “vuông”, loại cá ông thứ nhỏ thường xông pha vào để phá nò. Anh ta cãi lại:

– Đâu có! Nếu là nó, thì nó xịt vòi nước rồi quậy ầm ầm chìm ghe chìm xuồng rồi.

Từ dưới biển một cái đầu đỏ hói nổi lên, to và tròn bằng trái dừa khô thứ lớn nhất: miệng nó hả ra giống như mỏ chim, mắt nhắm híp lại.

Con quái vật ấy như bất chấp số khán giả trên mặt biển. Hai Nhiệm run lẩy bẩy:

– Vái Bà Cậu, mô Phật. Cầu xin Thủy Long chư vị… Rồi day qua thầy Tư Nhu:

– Con gì vậy? Ông gì vậy?

Thầy Tư im lặng vì cái đầu đỏ hói ấy đã lặn xuống biển.

Mặt nước lại xao động. Lần này một thân hình to lớn trồi lên, thoạt nhìn qua giống hệt như con trâu nằm vũng. Trên lưng nó, nhiều miếng vảy xanh lè đầy rong rêu, trơn nhớt, sắp đặt theo kiểu vảy trên lưng rùa. Từ đầu tới đuôi, thầy Tư Nhu đếm kỹ thấy có tám cái sọc nổi cao lên, chạy song song.

Thầy buộc miệng quát to:

– Con Bà Tám! Loại rùa khổng lồ có tám cái sọc trên lưng. Nghe đâu nó ở miền Xanh-Ga-Bo, lâu lâu xiêu lạc qua xứ mình. Phải đuổi nó ra cho khéo léo, kẻo bao nhiêu cây nọc cây rạo của nò mình ngả nghiêng hết.

Hai Nhiệm thọc cây chèo xuồng đập thử vào mai con rùa mang danh là Bà Tám. Nó im lìm, ngóng mỏ, trông hiền lành quá. Anh nói:

– Tại sao mình không bắt nó về, bán cho quan chánh tham biện chủ tỉnh, nuôi rồi đem về bên Tây.

Dường như con Bà Tám biết nghe. Đột nhiên nó cựa quậy vòng vo, quậy nước ầm ầm rồi nhắm vào hông nò mà xắn tới. Hàng chục cây nọc gãy rôm rốp, dây mây dứt tiện. Như một giấc chiêm bao! Con Bà Tám đã đi rồi, to bằng cái lu thứ lớn, sau khi đập phá.

Cái nò còn vài di tích mơ hồ trên mặt biển. Hàng rào vô dụng dài cỡ cây số còn đó, bụng nò bị bể. Mấy cây nọc còn sót lại đu đưa, rồi biến mất khi sóng ngoài khơi bỏ vòi báo hiệu trận giông Nam.

Về tới nhà, Hai Nhiệm nằm thở phào, thầy Tư bèn an ủi, khi cơn giông làm rung chuyển căn nhà nhỏ bé:

– Tại chú em ỷ tài ỷ sức, xuống nò không đúng ngày “bổ tróc”. Người làm nò giống như cô gái hái đóa hoa ngày xưa trên gành đá, bên Xiêm.

Hai Nhiệm nhìn thầy Tư Nhu:

– Làm cách nào bây giờ? Nợ của Xìn Phóc 40.000 đồng. Năm nay hoàn toàn thất bại. Liệu năm tới nó dám cho tôi mượn thêm để thử thời vận! Mình đâu bắt được con Bà Tám đem về chủ nợ coi để làm bằng cớ!

Thầy Tư Nhu nâng chén rượu mà lẩm bẩm:

– Có thứ khác, gọi là con Bà Ba, trên lưng có ba sọc. Hồi còn đi làm mướn cho ông chủ Rờ Nô ở đảo Phú Quốc, tôi nghe ổng nói đó là giống rùa xưa từ vài triệu năm về trước và sót một mớ ở Thái Bình Dương, ăn no dưới biển, về ngủ trên bãi. Súng cà nông bắn, nó không sợ. Biển xứ mình ăn thông với… năm châu bốn biển. Đời tôi gặp con Bà Tám này lần thứ nhứt… bấy lâu, nghe đồn đại…

Hai Nhiệm đáp:

– Tôi cũng gặp nó lần thứ nhất. Tôi không tốn một xu, còn Xìn Phóc thì tốn 40.000 đồng. Năm tới, chắc tôi trở lại nghề móc cua, bắt ba khía ở bờ biển. Chủ nợ dư hiểu, chẳng bao giờ thưa kiện ra tòa. Luật giang hồ mà.

‘The picture of the Olympics’: Amazing image of surfer Gabriel Medina ‘standing on air’ celebrating his 9.9 score goes viral

http://www.dailymail.co.uk

By James Reynolds 

Published: 31 July 2024

Post by Sơn râu 31 Jul 2024

An astonishing image of a surfer celebrating while appearing to ‘stand on air’ has been dubbed the ‘picture of the Olympics‘.

Brazilian Gabriel Medina paused briefly in the air with his board in tow as he raised an arm to supporters along the Tahiti coast after delivering a breathtaking performance to earn a score of 9.9 – the best of the Paris Olympics so far.

The three-time world champion appeared to settle on a cloud mid-air in the defining image of the tournament snapped by AFP’s Jérôme Brouillet some 16,000km from the heart of the action in the French capital.

Medina, 30, was competing against Japan‘s Kanoa Igarashi in the fifth heat of the men’s round three Surfing, making up for a lowly score of 2.5 on his first wave with an almost perfect 9.9 on his second.

The photographer was on a boat in the channel, waiting patiently for Medina to ‘kick out’ and exit the wave face at the end of his run, taking the shot just as the athlete pointed to the sky and capturing a moment to quickly become a global sensation. 

Medina raised his hand to the sky as he ‘kicked out’ to end his record-beating run

The surfer had scored poorly on his first attempt but received a 9.9 for his second effort

The surfers have been competing in Teahupo’o, Tahiti, some 16,000km from Paris

Medina sailed his board up to the crest of the wave as he completed his record-breaking run on Monday.

In a split-second, he made the jump from its top to hover briefly in the air, appearing to stand on a cloud as Brouillet captured the moment.

Brouillet caught Medina soaring ramrod-straight above the waves pointing one finger in the sky, his surfboard pointing skyward at his side.

‘Every photographer is waiting for that. You know Gabriel Medina, especially at Teahupo’o will kick off and do something,’ said Brouillet.

‘You know something is going to happen. The only tricky moment is where he is going to kick out? Because I’m blind!

‘Sometimes he makes an acrobatic gesture and this time he did that and so I pushed the button.’

Medina’s 9.9 score, of a possible 10, made the run the Olympic record for a single wave ride.

But it was his photo that garnered the most attention, soon dubbed the ‘defining image of the 2024 Summer Games’ by TIME Magazine. 

Medina posted the image on his own Instagram account, quickly attracting more than 2.4 million likes. 

Some thought the image must have been edited, left in disbelief at how all the components came together in that fraction of a second.

‘Damn that’s crazy… it looks fake,’ wrote Twitter/X user 30problemz.

‘You know the picture is elite when people [are] calling it fake,’ jibed user Ants_Revenge.

‘It’s a bummer man. But that’s the way it is now. An amazing photo is reduced to just looking like photoshop,’ replied user thetasteofoink. 

Gabriel Medina of Brazil rides a wave during Heat 5 of the event in French Polynesia

His photo was soon dubbed the ‘defining image of the 2024 Summer Games’ by TIME 

Medina’s 9.9 score, of a possible 10, made the run the Olympic record for a single wave ride

Medina reacts during round three of the Men’s Surfing competition in Tahiti

‘When people ask what Aura is just show them this photo,’ wrote That_Hurts. 

‘It must be the photographer’s best shot of all time. What a photograph by Jerome Brouillet,’ added Harsh Gautam. 

‘Best picture of his life I’m sure. This is so dope man,’ user SonicsMuse weighed in. 

Despite the accolades, Brouillet said celebrations would have to wait because he still had the rest of the competition to shoot.

‘I’m sleeping at a friend’s house near Teahupo’o and we’ll have a quiet one because if tomorrow the event is on, I have to wake up at five in the morning!’

Bữa Tiệc Món Ăn Xứ Quảng Của Những Người Quảng Nam Ở Sài Gòn

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 10 23, 2018

Post by Sơn râu 30 Jul 2024

Tui viết bài con cá chuồn và con cá nục của xứ Quảng Nam như một hồi ức về một vùng đất của tuổi trẻ nơi tui đã lớn lên. Như nhắc nhở một ký ức, một quãng đời đã đi qua. Tui viết để nhớ đến Mạ tui và những món ăn Mạ nấu. Không ngờ, anh Phú, bạn đồng môn của tui thuở xa xưa ở Đại học Vạn Hạnh, bây giờ là chủ của hai quán ăn bán toàn món ăn xứ Quảng mang tên Phú Chiêm lại có nhã ý mở một buổi tiệc với những món của quê hương như tui đã viết. Còn gì vui bằng, sao mà không nhận lời được. Hẹn nhau chiều thứ hai, buổi chiều mưa tầm tã gợi nhớ những cơn mưa dầm xứ Quảng, mưa cũng đội mưa đi dự, làm sao có thể bỏ được bữa tiệc đặc biệt này. Cũng may đến gần giờ hẹn, tạnh mưa. Tiệc tổ chức ở nhà hàng Phú Chiêm đường Trần Bình Trọng, Bình Thạnh. Toàn những món xứ Quảng lâu ngày gặp lại, khách cũng rặt dân Quảng Nam, chỉ riêng nhà văn Nguyễn Đông Thức là dân sinh ra ở Sài Gòn, nhưng quê cha cũng là dân xứ Quảng, nên cũng xem như là người Quảng Nam. Như thế là bữa ăn món Quảng của những người con xứ Quảng ở Sài Gòn. Cũng là một bữa tiệc đặc biệt và hiếm hoi.

Mở đầu là cá chuồn chiên. Những con cá chuồn được nhét ghệ, nén, bẻ gập chiên dòn. Lâu lắm rồi mới ăn lại món này. Cắn miếng cá, mùi thơm của kỷ niệm ùa về gợi biết bao niềm nhớ. Miếng cá chắc trộn với ghệ, với củ nén tạo một hương vị rất đặc biệt, một hương vị của vùng đất Quảng Nam. Nhai miếng cá thơm thơm, bùi bùi beo béo, hình dung con cá chuồn bay giữa biển khơi từng đàn như những cánh chuồn chuồn. Và bây giờ, cánh chuồn chuồn nằm khoanh tròn trên dĩa, chờ người bỏ vào miệng để người nhớ lắm một vùng đất. Cắn thêm trái ớt xanh, trái ớt xứ Quảng dòn nghe tiếng rốp rộn rã. Miếng cá thêm mùi cay, góp tăng thêm sự toàn vẹn của miếng ăn. Nuốt đến đâu nghe sướng tới đó. Rồi mực sữa chiên, những con mực nhỏ xíu vừa trọn miệng, nghe chất ngọt của biển khơi tràn trên đầu lưỡi, cái ngọt ngào thi vị đi kèm với mấy lá rau răm. Dai dai, beo béo, nồng nàn tràn ngập khoang miệng. Nhấm một chút rượu đưa cay. Ngon! Rồi hến xúc bánh tráng, cái vị bùi bùi như còn đọng chất bãi bồi trộn với cái dòn tan của bánh tráng, hai thứ cộng hưởng để tạo một cảm giác khó quên. Con hến nhỏ xíu rời đất cát nhưng vẫn mang trong thịt nó cái ngọt ngào bùi béo của gió cát. Câu chuyện râm ran của những người phiêu bạt rời quê, nhắc những món ăn thời bé dại. Lấy cái khôn của những kẻ đã từng trải, cái chất của kẻ giang hồ đã đi bốn bể năm châu để lý giải các món ăn của quê mình. Để tiếc những món ăn đã bị lai tạp, để biết tại sao ăn mì Quảng, nấu mì Quảng phải như thế này, khử dầu phụng phải như thế kia. Sao phải dùng hạt nén, sao gọi là cá Cu, sao gọi là cá Chim. Nhắc đến tô canh mít non nấu với cá chuồn, gợi lại món ăn cầu kỳ mít hong. Anh chàng Nguyễn Khắc Nhượng mô tả món ăn này và cho là món ăn ngon nhất của xứ Quảng mà chẳng mấy người được thử. Rồi anh đọc thơ Bùi Giáng, ông thi sĩ Quảng Nam này thì ai cũng biết, nhưng để hiểu thơ ông cũng chẳng mấy người. Anh đọc bài Về buôn bán của Bùi Giang và anh cho là bài thơ tuyệt hay:

VỀ BUÔN BÁN
Giã từ cõi mộng điêu linh
Tôi về buôn bán với mình phôi pha
Mình ơi! tôi gọi bằng nhà
Nhà ơi! tôi gọi mình là nhà tôi
Bây giờ xuôi ngược đôi nơi
Thôi mình ở lại tôi dời chân đi

Thưa rằng: – ở cái quái gì
Chàng đi thiếp cũng xin đi với chàng

Trong bàn tiệc cũng có anh chàng làm thơ Chu Nguyên Thảo, người đã in tập thơ hơn 300 trang để nịnh vợ với nhan đề Vợ tôi hiền giữ nhà cho tôi đi chơi. Nhưng theo Nguyễn Khắc Nhượng, chẳng có nhà thơ nào viết về vợ hay như ông Bùi Giáng. Ăn món Quảng với những người Quảng mà lại đọc thơ của nhà thơ nổi tiếng xứ Quảng thì còn chi hơn nữa, nhất là lúc ngoài trời còn sụt sịt mưa dầm.

Tui nhắc ông bạn Phú chủ tiệm con cá nục, anh sai lính đem ra một dĩa cá nục hấp. Ôi! Lâu rồi mới gặp lại chúng mày. Cá nục phải vừa nho nhỏ, cá nục lớn giống cá bạc má, không ngon. Nhúng một cái bánh tráng, bỏ thêm chút rau muống chẻ, vài cọng rau thơm. Bắt con cá bỏ vào, quấn lại. Chấm nước mắm ớt tỏi hay mắm nêm hoặc nước kho cá đều được. Bỏ nào miệng, cắn một miếng, cắn thêm miếng ớt xanh. Ôi chao là ngon. Chất cá ngọt, rau muống chan chát, dòn dòn, rau thơm nồng nàn, ớt cay, nước chấm mằn mặn. Tất cả trộn lẫn vào nhau thành một hỗn hợp dày dặn của miếng ngon khó lẫn. Cá nục nhỏ ăn luôn đầu, luôn xương, nhai càng nát, miếng ăn càng ngon. Ăn để nhớ quê, ăn để nhớ quá khứ, ăn để nhớ tuổi thơ đã qua rồi nên miếng ăn trong miệng chứa không chỉ còn là miếng ăn mà còn cả một quãng trời, một hồn vía, một quê nhà xa tít.

Và cuối cùng là con cá Trảnh. Loại cá này bên Tàu gọi là cá Lý ngư, cũng là một giống cá quý. Con cá này trong truyện Nhị thập tứ hiếu có nhắc đến. Loại cá này cùng loại với cá Chép, cá Mè nên lắm xương. Thịt thơm, ngọt nhưng cũng vì nhiều xương nhỏ quá nên miếng cá ăn giảm ngon khi mắc phải những xương nhỏ găm vào miệng. Hôm nay con cá trảnh được ông chủ kho với cải chua, lại gợi nhớ cũng món ăn độc đáo của Quảng Nam là cá Hố kho dưa cải. Ô là la! Lâu quá rồi không được ăn món bình dân mà ngon miệng này. Con cá hố dẹp lép, chẳng được bao nhiêu thịt nhưng kho với dưa cải chua thành món mặn miệng vô cùng. Trời mưa mưa se se, sới một tô cơm nóng, gắp miếng cá hố kho, kèm miếng dưa chua thấm đẫm nước cá, chan mấy muỗng nước kho, và vô miệng cả cơm, cả cá, cả nước kho sâm sấp, cay cay vij ớt bột, trời ơi là trời, ngon quá là ngon, ăn no rồi mà miệng còn thèm.

Ông chủ Phú muốn mời thêm tô mì Quảng, nhưng ai cũng đầu hàng vì đã no quá. Hẹn ông dịp khác vậy. Trời còn lắc rắc mấy hột mưa như hột mưa rơi trong thơ Bùi Giáng, chia tay nhau. Cám ơn bạn Phú đã làm nên buổi gặp mặt kỳ thú. Cám ơn những món ngon của xứ Quảng.

Các bạn của tui, ai muốn thưởng thức những món ngon tui đã kể, ai muốn đổi khẩu vị để nếm thử những món ăn độc đáo của một vùng miền, hãy một lần đến Quán Phú Chiêm. Bạn sẽ được một lần khám phá. Tui không bảo đảm những món ăn thật ngon vửa lòng tất cả mọi người vì mỗi người mỗi khẩu vị khác nhau, nhưng tui tin các bạn sẽ được thưởng thức những món ăn lạ miệng mà chắc hẳn lần đầu các bạn được nếm qua.
Hãy ghé Quán Phú Chiêm 52 Trần Bình Trọng, P.5, Q. Bình Thạnh hoặc Quán Phú Hương, 21 Sao Mai. Q. Tân Bình, bạn sẽ có dịp khám phá và thưởng thức những món ăn xứ Quảng.
22.10.2018
DODUYNGOC

Hoạ Sĩ Đinh Cường

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 1 18, 2019

Post by Sơn râu 30 Jul 2024

Hồi còn ở Đà Nẵng thập niên sáu mươi của thế kỷ trước, tui là thằng con trai đang lớn mê vẽ vời, rảnh rỗi là chạy đến phòng vẽ của hoạ sĩ Nguyễn Viết Hậu ở đường Hùng Vương gần đường rầy xe lửa sau chợ Cồn hoặc lên chỗ gần rạp xi nê Kinh Đô đường Độc Lập nơi có phòng tranh của nữ hoạ sĩ Maria Mộng Hoa để xem tranh và học lóm cách thức vẽ các hoạ sĩ này.

Năm 1965, hoạ sĩ Đinh Cường triển lãm lần đầu tiên tại Trung tâm văn hóa Pháp ở Đà Nẵng, tui đến xem và ngỡ ngàng, say đắm, vỡ ra nhiều điều về nghệ thuật. Trước đây, xem tranh của các hoạ sĩ sáng tác theo kiểu trường lớp, màu sắc na ná nhau, vẽ theo lối hiện thực hàn lâm, nay tui choáng ngợp với những bức tranh đầy sáng tạo, đầy ngẫu hứng và màu sắc, đường nét, bố cục rất mới, nội dung tranh phóng túng rất nghệ sĩ. Tôi bắt gặp một chút Marc Chagall, một phong vị Modigliani, những họa sĩ Pháp tui rất mê từ hồi học lycée, lại thêm một chút không gian bàng bạc rất Huế, rất Đông phương trong tranh của họa sĩ Đinh Cường. Hôm nào tui cũng đến, đứng nhìn say mê từng bức tranh. Hết tiến rồi lùi, rồi nhìn ngang nhìn dọc, rồi bạo gan sờ vào tranh để lấy cảm giác với lớp màu dầu sần trên sợi bố nham nhám. Đến xem suốt mấy ngày triển lãm, tui quá thích bức tranh vẽ thiếu nữ mặc áo dài tím quấn khăn quàng bay trong gió. Hỏi, giá khá cao, nhưng tui quyết mua. Quyết vậy thôi nhưng gom góp cũng mới chỉ được một nhúm, bí quá tui chạy mượn bạn bè, người quen. Ai cũng thắc mắc tui cần tiền làm gì, tui bảo: để mua tranh, ai cũng cười nhạo tui và đương nhiên cũng chẳng có ai cho mượn. Hôm bế mạc, tui rụt rè đến với mục đích nhìn lần nữa bức tranh thiếu nữ. Có lẽ quen mặt với cậu thanh niên ngày nào cũng lang thang trong phòng triển lãm, hoạ sĩ Đinh Cường có bắt tay tui. Tui sướng và hãnh diện lắm. Số tiền gom được chút chút định mua tranh, tui mua thuốc lá và rủ bạn bè đi cà phê hết nhẵn. Tui ái mộ tranh của hoạ sĩ Đinh Cường từ đấy.

Từ đó, tui bắt đầu tập vẽ tranh theo phong cách, màu sắc của ông. Trong lòng vẫn thầm tiếc chưa mua được tranh nào của hoạ sĩ Đinh Cường. Thời này, nhóm nghệ sĩ không những hút thuốc lá đen mà rất nhiều người còn hút pipe. Học đòi các nghệ sĩ đàn anh, tui cũng bắt đầu để râu tóc, đội nón bê rê, chôm của ba tui một cái tẩu đẹp, phì phèo suốt ngày với khói.

Đậu tú tài hai, tui thi vô trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế. Đậu và vào học mấy hôm, tui gặp hoạ sĩ Đinh Cường ở sân trường, tui chào ông, ông nhìn tui một hồi và bảo thấy mặt tui quen quen, tui nhắc ông về vụ triển lãm ở Đà Nẵng, ông gật gù và nhớ ra rồi cười hiền: nhớ rồi, cố gắng học hành nghe. Nhưng rồi tui không cố được như lời khuyên của ông, tui bỏ trường bay đi xa mong tìm những cơ hội mới…..

****

Một thời ở Sài Gòn, tui cũng vẽ vời, viết lách kiếm sống, cũng làm được triển lãm, cũng có mối quan hệ với nhiều nghệ sĩ tiếng tăm của đất Sài thành, nhưng trong tui, lòng ngưỡng mộ tài năng của hoạ sĩ Đinh Cường vẫn không phai nhạt. Tui vẫn thường xuyên đi xem triển lãm của ông, do không đủ điều kiện để mua tranh của ông, tui bắt đầu tìm cất những tác phẩm của ông trên báo chí, trên các catalogue triển lãm của ông và bạn bè. Sau này, nhờ có internet, tui tập hợp được hàng trăm ảnh tranh cùa ông. Một thời tui kiếm sống bằng nghề vẽ bìa sách, tui cũng học nhiều ở ông trong lãnh vực này.

Ông thường ngao du cùng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, hoạ sĩ Trịnh Cung, hoạ sĩ Bửu Chỉ, nhà nghiên cứu Bửu Ý….Trong nhóm này, tui vẫn kính trọng ông hơn cả dù nhóm này đều là những người tài danh của nghệ thuật miền Nam. Theo nhận xét của tui, ông là người điềm đạm, khiêm tốn, nói năng chuẩn mực như một nhà giáo nhưng vẫn toát lên tính chất nghệ sĩ ẩn chứa từ bên trong. Những người kia, người thì khôn khéo quá, ông thì khệnh khạng quá, ông nữa thì điếm đàng quá nên nhiều khi giữa đám đông, thấy ông chỉ im lặng nhưng vẫn có một chỗ đứng nhất định không chìm khuất.

Tranh của ông cũng vậy, những tảng màu đè lấp lên nhau, tưởng như là một sự sắp đặt ngẫu nhiên, nhưng vẫn ngời lên ánh sáng rất lạ lùng. Ánh sáng đó khiến cho tranh ông có sức cám dỗ rất mạnh, giữ chân người xem lại và ngẫm ngợi. Nhiều khi trong đám màu trầm khuất, lại có một đốm đỏ của lửa, đốm đỏ của hoa hồng hay đốm đỏ của một đường cọ bay ngẫu hứng. Thế giới trong tranh của hoạ sĩ Đinh Cường là thế giới của hoài niệm một quá khứ vừa bay mất, nhưng ông đã giữ lại linh hồn của quá khứ đó và tranh ông rực lên lãng đãng hoài niệm khiến cho người xem đủ đắm say. Ông vẽ nhiều về Huế và Đà Lạt, dù quê ông ở Thủ Dầu Một. Hai địa danh đó thường đi với hình ảnh người thiếu nữ mong manh, “vai em gầy guộc nhỏ” với chiếc khăn quàng hững hờ trong gió. Một không khí lãng mạn, phiêu bồng. Hình như người ta thấy những ca từ trong nhạc Trịnh Công Sơn thấp thoáng trong tranh của hoạ sĩ Đinh Cường. Có lẽ đó cũng là mối lương duyên của một tình bạn.

Bên cạnh những tranh thiếu nữ, tui còn rất khoái loạt tranh chân dung nghệ sĩ của ông. Ông vẽ cho nhiều người, và theo tui được biết, ông chỉ vẽ khi ông thích vẽ, thế thôi, chứ không vẽ vì qui tắc nào cả. Những tranh chân dung của ông cũng khá lạ dù có chút hơi hám của danh hoạ Modigliani. Nhiều khi chỉ là vài nét đơn giản trên giấy, hay những đường cọ trên bố, tính cách nhân vật được bộc lộ, hình thái của nhân vật được hiện hình. Theo tui, mảng tranh chân dung của ông cũng là một tài sản quí báu trong nền mỹ thuật Việt Nam thời hiện đại.

Hoạ sĩ Đinh Cường thường sử dụng màu xanh ở trong tranh. Đôi khi là xanh biếc ngã tím, đôi khi lại hoá xanh của cây lá, lúc khác là xanh của trời xanh xanh pha chút hồng tươi, hay là màu xanh của giòng sông lặng lờ chuyển dịch. Cũng có nhiều tranh ông dùng màu xám chủ đạo, màu xám buồn của vách nhà, của khung cửa đang mở, màu xám của tảng đá u mặc, của con lộ vắng người hay nóc của giáo đường cao cao. Màu xám như sương, gợi chút buồn nhè nhẹ làm nao nao. Và hai màu xanh, xám ấy là hai màu rất riêng trong tranh của người hoạ sĩ tài hoa Đinh Cường.

Tui gặp ông nhiều lần, được hầu chuyện ông vài lần, nhưng không được là người thân tình của ông. Nhưng trong lòng tui, từ hồi mới lớn xem triển lãm đầu tiên của ông cho đến tận bây giờ, đã đến tuổi U70, tui vẫn ngưỡng mộ ông như ngày nào, và với tui, ông là một trong số ít những hoạ sĩ tài danh của đất Việt trong thế kỷ XX.

Biết tin ông mất, lòng nhiều tiếc thương, xin có vài hàng gọi là kỷ niệm, như là những nén nhang cuối cùng đốt lên trước khi thân xác ông vào lò thiêu và trở thành tro bụi. Bái biệt ông, và tin rằng, những người hiền như ông, nhân hậu như ông, tài hoa như ông sẽ được đến và tiếp tục sáng tác trong một thế giới mới xinh tươi không hận thù, hiềm khích và lọc lừa.

Vĩnh biệt ông, người hoạ sĩ tui trọn đời kính mến.
Sài Gòn. 14.01.2016
ĐỖ DUY NGỌC

Hai Người Bạn

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 5 09, 2021

Post by Sơn râu 30 Jul 2024

Thời sinh viên Kim là bạn học cùng lớp với tôi. Nhà Kim nghèo, mẹ bán chuối ở phía ngoài chợ, không có sạp, nắng mưa rất khổ. Tuy vậy, Kim lúc nào cũng ăn mặc chỉnh tề, dù không phải là hàng hiệu hay may ở những nhà may lớn nhưng nhìn cũng khá mốt. Lúc đấy tôi là sinh viên xa nhà bụi đời nên nghèo rớt mùng tơi, cơm ba bữa còn thiếu lên thiếu xuống nên chẳng quan tâm đến áo quần. Hồi đó có chợ áo quần cũ ở đường Hàm Nghi và khu Dân Sinh, tôi thường ra đấy lựa cái nào còn khá, mua với giá rẻ về mặc. Đó thường là đồ viện trợ của các tổ chức từ thiện quốc tế nên không có cái nào giống cái nào, mặc vào cũng là hàng độc. Kim thường phê bình cách ăn mặc của tôi, hắn cho là không đứng đắn và trông có vẻ túng bấn quá. Ái chà một thằng con nhà nghèo tận đáy lại chê bai thằng bụi đời cũng nghèo tới háng. Lạ nhỉ! Sau đó tôi biết hắn là thằng sống bằng vẻ bề ngoài, chuộng hình thức, tự ti với hoàn cảnh gia đình nên lúc nào cũng cố giấu cái thân phận hèn mọn của mình.

Tụi tôi ra trường đi dạy học, Kim đổi về miền Tây còn tôi thì cứ mãi lông bông làm từ báo này giạt qua báo khác. Đến cái thời mọi người chộn rộn đi ra phía biển tìm đường sống, nghe tin Kim cũng đã vượt biên và sau đó định cư ở Mỹ. Bạn bè thất lạc nhau từ đấy.

Mấy chục năm sau, Kim về Việt Nam du lịch có gặp tôi. Tôi dẫn Kim đến các quán ăn, các quán cà phê và mấy phòng trà ca nhạc. Đến đâu Kim cũng chê dơ, chỗ nào Kim cũng chê bẩn. Vào quán ăn, mà tôi toàn dẫn Kim đến những quán nổi tiếng của đất Sài Gòn, Kim đòi nhà hàng rửa đũa muỗng, tô chén lại bằng nước sôi trước khi ăn. Tôi bực mình ra mặt. Kim bảo ba thứ nước ở đây đầy chất hoá học, uống vào nguy hiểm, sinh bệnh. Ăn vài miếng hắn chê dở quá, nấu không đúng điệu. Ngồi trong xe taxi, Kim liên tục bịt mũi và bảo rằng xe hôi hám quá. Ngồi phòng trà thì hắn nói người ta không vệ sinh hay sao mà ai cũng có mùi và ăn mặc nhếch nhác thế. Nói chung là đi đến đâu anh chàng cũng chê và bảo lạc hậu, thiếu văn minh. Tôi không hiểu hắn làm vương làm tướng gì bên Mỹ mà làm ra vẻ thế. Bạn bè cũ muốn gặp mặt nhân dịp Kim về, hắn khệnh khạng đến trễ, mũi như con thú đánh hơi rồi bảo nhà hàng có mùi gì khó chịu quá. Bạn bè lâu ngày gặp lại, muốn bắt tay hắn, hắn quăng cục lơ. Đến khi thức ăn dọn ra, hắn chẳng động đũa món nào, mọi người ngạc nhiên nhưng riêng tôi thì biết hắn sợ trúng độc vì nghe nói ở Việt Nam thức ăn toàn tẩm hoá chất. Mọi người thấy vậy thì rất bực mình. Từ đó chẳng có ai liên lạc với hắn cho đến ngày hắn về lại Mỹ.

Năm sau tôi có việc qua Mỹ giải quyết một số công chuyện. Theo kế hoạch có một tuần ở thành phố Houston. Gặp một số bạn cùng lớp, ngồi tụ tập nhau tôi hỏi thăm về hắn. Ai cũng lắc đầu bảo đụ mẹ thằng Kim qua đây đi học lại lấy được bằng kỹ sư, sau đó làm việc trong nhà máy mà hắn cứ tưởng là oai lắm, làm như nhà khoa học vĩ đại, cách ly bạn bè. Hắn có giàu có gì đâu, mà lúc nào cũng làm như quý tộc từ thuở nằm nôi, giờ chuẩn bị về hưu. Bạn bè cũ ngày xưa chung lớp không còn ai chơi với hắn. Nghe nói năm ngoái hắn có về Việt Nam, mày không gặp hắn à. Tôi ừ hử cho qua chuyện. Từ đó tôi chẳng quan tâm đến hắn nữa. Vừa rồi nghe tin hắn qua đời vì bệnh Virus Vũ Hán. Dù chẳng còn cảm tình chi với hắn nữa nhưng lòng cũng buồn vì vĩnh biệt một thằng bạn cũ.

Lại thêm một cô bạn, rời Việt Nam đâu từ ngày 27.4.75 vì có người yêu là sĩ quan không quân. Mấy chục năm gặp lại, tôi cũng mời đi ăn ở nhà hàng cơm niêu Sài Gòn. Khi thấy cơm cháy, cô ta làm bộ ngơ ngác gạo này là gạo gì mà nấu cứng và vàng thế. Tôi hơi quê rồi nghe. Thấy dĩa mè đậu cô cũng hỏi là cái gì? Bà mẹ nó, nó rời Việt Nam khi đã hai lăm tuổi chứ có phải là đứa con nít còn ẵm ngữa đâu mà không biết cơm cháy với muối mè. Chẳng qua làm bộ cho có vẻ người Tây, người Mỹ vậy mà. Từ đó tôi cũng Au revoir luôn. Sao phải làm ra vẻ chi vậy nhỉ?

Có một thời kỳ, nhất là khi chưa có bang giao Việt Mỹ, chưa bỏ cấm vận, nhiều người ở nước ngoài cứ tưởng mình là người đem văn minh về từ một quốc gia hùng cường, giàu có nhất thế giới. Dưới mắt họ xứ xở này dơ bẩn, lạc hậu, thiếu ánh sáng văn minh như vùng đất Châu Phi. Những thiết bị, đồ dùng của họ hiện đại xứ này làm gì có. Sau này đi về dễ dàng, người trong nước đi qua Mỹ, sang Tây chơi là chuyện bình thường thì nhiều người đã thay đổi cách nhìn khác hơn trước, không còn đóng kịch chảnh chó như cũ nữa. Tôi mất hai người bạn cũng từ cách làm ra vẻ ấy.

10.5.2021

DODUYNGOC

Giai Thoại Về Hồ Xuân Hương Và Những Câu Đối

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 6 10, 2020

P:ost by Sơn râu 30 Jul 2024

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương được xưng tụng là Bà chúa thơ Nôm. Làm câu đối mà bằng tiếng Nôm không phải dễ dàng. Thông thường câu đối thường chứa điển tích Trung Hoa, dùng chữ Hán để thể hiện. Ở câu đối cũng như thơ Hồ Xuán Hương rặt Nôm, mà lại toàn những chữ Nôm độc đáo và ấn tượng. Vào thời kỳ của bà mà viết được như thế chẳng khác gì một cuộc cách mạng (Đỗ Duy Ngọc – Phê bình thơ và câu đối của Hồ Xuân Hương – Tiểu luận, Sài Gòn 1974)
Hồ Xuân Hương là con ông Hồ Phi Diễn, làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu Nghệ An. Lúc Hồ Xuân Hương đã lớn, gia đình về thôn Tiên Thị, Tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương (nay là phố Lý Quốc Sư – Hà Nội). Nữ sĩ có một ngôi nhà riêng dựng gần hồ Tây, lấy tên là Cổ Nguyệt đường, chiết tự họ Hồ của mình ra thành 2 chữ Cổ và Nguyệt. Hồ Xuân Hương ở với mẹ, có đi học, sáng dạ, thông minh, nhưng không được học nhiều, thích làm thơ. Khi Xuân Hương lánh nạn lên Vĩnh Yên gặp Tổng Cóc Nguyễn Công Hòa (1802-1804), bắt đầu cuộc đời mười năm lận đận, vợ cả ghen tuông, thân phận như nàng Tiểu Thanh. Dứt tình với Tổng Cóc, quan Tham Hiệp Yên Quảng Trần Phúc Hiển cầu hôn, đám hỏi chẳng bao lâu thì mẹ mất, phải cư tang mẹ, đến đầu năm 1816 Hồ Xuân Hương mới về Yên Quảng được hai năm thì chồng bị bắt và kết án tử hình. Xuân Hương đi tu rồi trở về làng Nghi Tàm chết trong cô đơn, không một bài thơ phúng điếu.
Tự thuật và ứng khẩu
Câu đối vịnh cái Âm Hộ:
Khi khép tối om om, quân tử tò mò nhìn chăng thấy
Lúc mở ra toang hoác, anh hùng tấp tỉnh đứng coi
Ứng khẩu khi bị trượt ngã:
Hôm ấy, Hồ Xuân Hương cùng bạn bè ra phố dạo chơi, không may bà dẫm phải chỗ trơn trượt té sõng soài xuống đất. Người đi đường và bạn bè thấy vậy cười lăn cười bò, bà liền giơ tay trỏ lên trời đọc luôn đôi câu đối:
Giơ tay với thử, Trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem, Đất vắn dài
Hồ Xuân Hương khi du ngoạn qua cửa Gió ở Đèo Ngang, đã viết:
Khéo khen ai đẽo đá chênh vênh, tra hom ngược để đơm người đế bá
Gớm con tạo lừa cơ tem hẻm, rút nút nuôi cho lọt khách cổ kim
Câu đối Tết:
Đêm ba mươi tống cựu, khép cánh càn khôn, một then đưa đẩy khìn khin khít khịt
Sáng mồng một nghinh tân, mở lò tạo hóa, hai cánh banh ra toác toạc toàng toang
Câu đối nhận xét về tình duyên của mình:
Muôn kiếp biết là duyên trọn vẹn

Một đời riêng mấy tiếng chua cay

Hồ Xuân Hương và quan lớn:
Hôm ấy, một viên quan lớn trong triều đi vãn cảnh hồ Tây. Trời trong, nước xanh, cảnh vật đẹp đến nao lòng vì bao nhiêu tinh tú của đất trời dường như tụ hội cả ở nơi đây. Nơi mà tâm hồn nhạy cảm của bà nhìn ra và quyết định dừng lại an cư lập nghiệp chứ không tiến vào kinh thành Thăng Long – nơi bao văn võ bá quan, dân kinh kỳ kẻ chợ có máu mặt đều tìm vào – vì vị trí khuất nẻo so với kinh thành…Tiếng quân lính hô hét dẹp đường, cảnh võng lộng nghêng ngang, tiền hô hậu ủng, phá tan cảnh đẹp của bầu trời nơi đây. Xuân Hương đang giặt ở ven hồ thấy chướng tai gai mắt, liền buông rải quần áo ven bờ, điềm nhiên nhìn thẳng vào kiệu của quan đang đi tới, ngẫm nghĩ trong đầu, tìm tứ thơ, rồi đọc to:
Võng đào quan lớn đi trên ấy
Váy rách bà con giặt dưới này
Ví cái võng điều của quan lớn với váy rách của bà con quả là chua cay. Xem ra, quan thời xưa chả khác quan thời nay là mấy. Trong khi bà con khổ sở, cùng cực thì quan vơ vét hết cho bản thân. Nhà cao cửa rộng, vợ nọ con kia, còn ô dù võng lọng, nghêng ngang, quát lác, chỉ ăn tàn phá hại, có lợi gì cho dân đâu? Nghe câu đối, cả thầy, cả tớ trợn mắt nhìn Xuân Hương, thấy phong thái ung dung, ngôn từ sóc lỏi, độc địa, biết không thể là đối thủ để nạt nộ, đành lẳng lặng đi qua như không hề nghe thấy…Chuyện này mà để lan truyền ra khắp kinh thành Thăng Long thì mặt quan thành mặt mo, còn nhục hơn bị bà con dùng váy rách che lên mặt. Từ đó, như quả pháo xịt ngòi, quan mất hẳn thói nghêng ngang, hống hách, đi đâu bỏ hết lính dẹp đường ở nhà, Hồ Tây trở lại với khung trời cao rộng, cây xanh, nước biếc, đẹp mê hồn.

Đối đáp với Chiêu Hổ
Phạm Đình Hổ tên chữ là Tùng Niên hoặc Bỉnh Trực, hiệu Đông Dã Tiều, tục gọi là Chiêu Hổ. Chiêu Hổ người làng Đan Loan, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương (nay thuộc huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương). Ngay từ nhỏ, Phạm Đình Hổ đã tỏ chí rằng: “Làm người con trai phải lập thân hành đạo…Lấy văn thơ nổi tiếng ở đời…” Tuy đọc nhiều sách, nhưng ông chỉ đỗ đến sinh đồ. Khi Gia Long lên ngôi, ông đang dạy học ở phường Thái Cực, huyện Thọ Xương trong thành Thăng Long, hằng ngày rèn luyện học trò và biên soạn sách. Tại đây, ông kết bạn thơ với nữ sĩ Hồ Xuân Hương, dưới đây là những giai thoại đối đáp giữa hai người:

Những câu đối chào hỏi khi gặp gỡ:
Hồ Xuân Hương ra: Khấp như thiếu nữ vu quy nhật (Khóc như thiếu nữ vui ngày cưới)
Chiêu Hổ đối: Tiếu tự thư sinh lạc đệ thi (Cười như anh khóa lúc hỏng thi)
Chiêu Hổ hứng khởi lại ra: Người Cổ lại còn theo thói Nguyệt (Chữ cổ ghép với chữ nguyệt là chữ hồ, ý nói Hồ Xuân Hương đã lớn tuổi mà vẫn đa tình)
Hồ Xuân Hương đối: Buồng Xuân đâu đã nhạt mùi Hương (Chữ Xuân với ghép chữ Hương là tên, ý nói Hồ Xuân Hương này đâu đã phải là người “nhạt phấn phai hương”, đâu đã chịu già hom!)
Có thuyết nói cả 2 vế đều của Chiêu Hổ viết tặng Hồ Xuân Hương, vế sau thay chữ “đâu đã” bằng chữ “chi để”. Câu đối ghép lại đủ cả tên họ bà, còn tách ra lại là sự trách khéo: “Đã tự coi là người cổ hủ, trọng nề nếp, gia phong lại còn thích thói hưởng nguyệt, xem hoa, lả lơi, thi phú ? Đang tuổi xuân thì còn hương sắc, mà không gìn giữ nền nếp, gia phong thì buồng xuân còn để lạnh đến bao giờ?

Lúc mới quen nhau, Chiêu Hổ còn ngại ngùng, Xuân Hương đùa:
Những bấy lâu nay luống nhắn nhe, nhắn nhe toan những sự gùm ghè, gùn ghè nhưng vẫn còn chưa dám, chưa dám cho nên phải rụt rè.
Chiêu Hổ cả thẹn nổi máu nóng anh hùng phản công liều lĩnh: Hỡi hỡi cô bay tớ bảo nhe, bảo nhe không được gậy ông ghè! ông ghè không được ông ghè mãi, ghè mãi rồi lâu cũng phải rè!
Ta thấy Chiêu Hổ mất bình tỉnh, lời thơ hồ đồ, nóng nảy. Tuy nhiên chúng ta thấy hai người đừa bởn rất thân tình.

Một hôm, Chiêu Hổ đến chơi nhà Hồ Xuân Hương, khi đi qua sân, đụng phải quần áo của nàng đang phơi. Hồ Xuân Hương xuất thần đọc: Tán vàng, lọng tía, che đầu nhau mỗi khi nắng cực
Chiêu Hổ đối lại: Thuyền rồng, mui vẽ, vém buồm lên rồi sẽ lộn lèo

Bữa nọ, Chiêu Hổ hơi men chếnh choáng ghé sang nhà Hồ Xuân Hương chơi, mượn cớ say rượu ông vừa nói chuyện vừa đưa tay quờ quạng lung tung, Hồ Xuân Hương biết Chiêu Hổ giả đò liền tức cảnh thành thơ:
Vẫn giả tỉnh vẫn giả say, sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày? này này chị bảo cho mà biết, chốn ấy hang hùm chớ mó tay.
Chiêu Hổ đáp: ‘Nào ai tỉnh nào ai say, nào ai ghẹo nguyệt giữa ban ngày? hang hùm ví bẳng không ai mó, ao có hùm con bỗng trốc tay?
Văn bản cổ nhất chép giai thoại này không gọi là thơ Chiêu Hổ mà ghi là thơ “Mắng người say rượu”, các văn bản về sau dựa vào chữ hùm, hùm con nên cho rằng đó là của Chiêu Hổ đối đáp với Hồ Xuân Hương.

Năm 1804 sau khi thôi Tổng Cóc, Hồ Xuân Hương vay tiền Chiêu Hổ để mở hiệu sách ở Phố Nam gần đền Lý Quốc Sư, Xuân Hương vay năm quan tiền. Chiêu Hổ cho mượn có ba, Xuân Hương trách:
Sao nói rằng năm lại có ba? trách người quân tử hẹn sai ra, bao giờ thong thả lên chơi nguyệt, nhờ hái cho xin nắm lá đa.
Chiêu Hổ đáp: Rằng gián thì năm quí có ba, bởi người thục nữ tính không ra, ừ rồi thong thả lên chơi nguyệt, cho cả cành đa lẫn củ đa.
Xuân Hương trách Chiêu Hổ là Cuội, nói dối như Cuội ngồi gốc cây đa trên mặt trăng, có lẽ Chiêu Hổ cũng không giàu có lắm, nên mượn chuyện tiền quí với tiền gián mà trả lời. Ngày xưa một quan có mười tiền, tiền gián có 36 đồng, một quan bằng 360 đồng, do đó 5 quan bằng 1800 đồng. Tiền quí có 60 đồng; do đó 3 quan tiền quí bằng 60 X 3 = 1800 đồng. Xuân Hương tưởng mượn Chiêu Hổ tiền quí, nhưng Chiêu Hổ cho mượn tiền gián, trách Xuân Hương sao tính không ra.

Năm 1821, Phạm Đình Hổ dâng sách được vua Minh Mạng vời ra: Ông được bổ làm Hành Tẩu Viện Hàn Lâm. Xuân Hương năm ấy chồng Tham Hiệp Trần Phúc Hiển bị tử hình, trở về Cổ Nguyệt Đường, hay tin đã làm câu đối mừng Chiêu Hổ với lời đùa nhẹ nhàng:
Mặc áo Giáp, dãi cài chữ Đinh, Mậu Kỷ Canh khoe mình rằng Quý
Hồ Xuân Hương lấy những chữ trong thập can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý ý muốn chế diễu Chiêu Hổ chỉ đỗ Tú Tài, nhờ dâng sách mà được làm quan nay mặc áo đẹp ra vẻ ta đây.
Chiêu Hổ nổi nóng, đối đáp bằng lời mắng nặng nề: Làm đĩ Càn, tai đeo hạt Khảm, Tốn Ly Đoài khéo nói rằng Khôn
vế đối lấy những chữ trong bát quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn , Ly, Khôn, Đoài mắng Xuân Hương là ‘con đi càn dỡ lại còn tự phụ, cho mình khôn’. Những lời mắng nặng nề ấy đã chấm dứt mối liên hệ giữa Xuân Hương và Chiêu Hổ. Trong thư hồi âm, đoạn cuối ông viết hai câu kết để cắt tình đoạn nghĩa với “bà chúa thơ nôm”:
Nay đã mần cha thằng xích tử
Rầy thì đù mẹ cái hồng nhan
Xích tử là con đỏ, trỏ dân chúng. Theo Lê Thước, thì hai câu này là của Nguyễn Công Trứ – thân hai câu này là vô nghĩa lý: tại sao đã được mần cha thằng xích tử, thì lại đù mẹ cái hồng nhan! Không thèm đù nữa, hay lại đù hơn bao giờ hết? Chẳng qua đây là đối chọi chữ chan chát cho thích. Những chuyện tục truyền như thế này, rất có thể không phải là sự có thật (có ý kiến cho Chiêu Hổ chỉ là nhân vật trong giai thoại, không phải là Phạm Đình Hổ), nếu mà có thì như vậy thật đáng buồn biết chừng nào, Chiêu Hổ thì có vợ con, yên nhà yên cửa, tốt thân tốt thế, quan lớn sống lâu! Còn Xuân Hương thì lận đận, long đong, chưa bề nào! Hạ những lời đùa như thế giữa hai người tài tử ai đáng hơn ai?

Đối đáp với học trò
Một hôm sau ngày mưa, Hồ Xuân Hương đến trường, giẫm phải hòn gạch dưới có bùn bắn lên tận cẳng chân (hồi đó con gái còn mặc váy) Hồ Xuân Hương phải ra cầu ao cúi xuống vén váy rửa cẳng chân. Một cậu học trò tinh nghịch trông thấy liền đọc một vế:
Nê nếnh do chi tầm hà xứ? (Đại ý: Bùn bắn lên cẳng chân để tìm cái gì trên ấy nhỉ?)
Hồ Xuân Hương liền đáp: Mạc tương thoá thủ tiếu anh hùng (Đại ý: Khi cúi xuống rửa tay thấy nó cười người anh hùng như cậu).

Đối đáp với nhà sư
Tương truyền khi Xuân Hương qua chùa chơi, vốn biết Xuân Hương nổi tiếng thơ phú, nhà sư liền cho chú tiểu mang ra 1 vế thách đối.
Vế ra như sau: Thông ba sáu bộ chân kinh, dẫu chẳng La Hán Kim Cương, cũng cao tăng đạt đạo
Hồ Xuân Hương liền bảo chú tiểu đưa bút và viết ngay vế đối lại bên cạnh: Dù hay ba vạn chín nghìn, không biết méo tròn ngang dọc, thì cũng đếch ra người

Đối đáp với Tổng Cóc (có thuyết khác nói cả 2 vế đều của Hồ Xuân Hương)
Trong thời gian theo cha về Sơn Dương dạy học, Hồ Xuân Hương được nhiều cậu Tú, anh Nho ngấp nghé chuyện riêng tư, trong những người đó có Tổng Cóc. Ông Tổng Cóc có tên thường gọi là Kình, quê ở làng Gáp, xã Tứ Xã (Lâm Thao, Phú Thọ). Khi đi lính lên chức Đội, gọi là Đội Kình. Khi làm Phó tổng được gọi là Tổng Kình. Tên chữ của Tổng Kình là Nguyễn Công Hòa. Cóc là tên gọi lúc còn bé. Gọi tên xấu xí thế cho tà ma bớt quấy. Sau này Hồ Xuân Hương có bài thơ Khóc Tổng Cóc nên dân làng mới gọi ông là Tổng Cóc. Tổng Cóc là con cháu quan nghè làng Gáp Nguyễn Quang Thành. Tương truyền Tổng Cóc kết thân với Tú Điếc làng Xuân Lũng và Nho Trâm người làng Kinh Kệ. Ba người quen biết Hồ Xuân Hương trong dịp họ đi thi Hương. Nhờ sự mối manh của họ, mà cụ Đồ Xứ người Nghệ An (đỗ đầu xứ nên khi dạy học họi là Đồ Xứ) đã dẫn con gái Hồ Xuân Hương về làng Sơn Dương cạnh làng Gáp để dạy học. Một hôm, nhân ngày Tết Nguyên đán, cậu Tú Kình cùng một số thư sinh đem biếu quà Tết cho cụ đồ Hồ Sĩ Danh, thân sinh Hồ Xuân Hương, bị Hồ Xuân Hương ra câu đối:
Tối ba mươi khép cánh càn khôn kẻo nữa ma vương đưa quỷ tới
Tú Kình đối lại: Sáng mồng một mở then tạo hoá để cho thiếu nữ rước xuân vào
Nhờ câu đối này, Tổng Cóc cưới Hồ Xuân Hương về làm vợ kế, đương nhiên bị vợ cả và con cái bất bình, nhưng vì “trai làm nên lấy năm bảy vợ”, nên họ phải ngậm đắng nuốt cay. Một lần vợ chồng có va chạm, Tổng Cóc giận dỗi viết thư trách móc để dưới gối rồi bỏ đi xa một thời gian, khi Tổng Cóc về thì Hồ Xuân Hương đã không từ mà biệt. Mãi lâu sau Tổng Cóc mới dò la biết Hồ Xuân Hương đang sống trong phủ Vĩnh Tường, tính đếm ngày tháng, Tổng Cóc biết Hồ Xuân Hương đã sinh đẻ. Ông đến phủ Vĩnh Tường chỉ dám lân la ngoài phố, chờ con sen trong phủ ra hỏi mới biết được con gái Hồ Xuân Hương đã chết khi sinh ra. Tổng Cóc đành tay không ra về, ông viết mấy câu đối tỏ vẻ nuối tiếc như sau:
Thảo lai băng ngọc kính (Nói đến tấm gương bằng ngọc)
Xuân tận hóa công hương (Hóa công cũng chịu lúc tàn xuân)
Hai câu này hiểu theo nghĩa đen là: “Tấm gương trong trắng ví với người con gái trong trắng, nhưng khi hết xuân thì thợ trời cũng chịu”.
Độc bằng đan quế thượng (Chi bằng lúc ta vin cành quế đỏ)
Hỏa phóng bích hoa hương (Tha hồ hoa biếc tỏa hương thơm)
Hai câu này hiểu theo nghĩa đen là: “Chỉ biết dựa vào phúc đức, con cháu khi ấy hương thơm sẽ tỏa khắp muôn nơi”.

Đối đáp với ông đồ Bút
Khi tiếp chuyện một ông đồ tên là Bút ở làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Hồ Xuân Hương (có một thời cùng gia đình sống ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận, nay là vùng vườn Bách Thảo, Hà Nội), ra vế đối: Gái Khán Xuân, xuân xanh tuổi mười ba, khép cửa phòng xuân còn đợi nguyệt.
Ông đồ Bút đối lại: Trai Đình Bảng, bảng vàng treo đệ nhất, chờ khi chiếm bảng trúng khôi khoa
“Bảng” (trong “bảng vàng”) cùng âm với “bảng” (trong “Đình Bảng”); tương ứng với “xuân” (trong “xuân xanh”) cùng âm với “xuân” (trong “Khán Xuân”) của vế ra.

Đối đáp với Dương Trí Tản
Một lần về quê nội Quỳnh Đôi, Hồ Xuân Hương cũng đối đầu ngang ngửa với các sĩ tử, ông đồ- những người ngưỡng mộ bà lũ lượt kéo tới nhà để xem mặt, bắt…hồn thơ, xem có đúng “danh bất hư truyền” như người đời tán tụng không? Trước mặt họ là một người đàn bà nhan sắc chưa phải chim sa cá lặn, dung mạo cũng chẳng phô bày nhung lụa, phấn son, nhưng phong thái đoan trang, ngôn từ lịch thiệp, lại nổi tiếng về trình độ học vấn, giỏi thơ nôm, khiến ai cũng cảm thấy hài lòng, mến mộ. Cuộc thi tài diễn ra ngay tối đầu tiên, tất cả các sĩ tử, văn nhân đều bị đánh bại, riêng ông đồ Dương Trí Tản – tính tình ngang ngạnh, tự phụ, là ra vẻ bất cần. Chờ cho đám bạn bè thất trận đi vãn ông mới thủng thẳng tìm đến ra mắt người đẹp. Rít xong điếu thuốc lào, nhả khói mù mịt gian phòng, Trí Tản cố tình ứng khẩu lại bài thơ đã chuẩn bị sẵn:
Eo lưng thắt đáy thật là xinh, điếu ai hơn được điếu cô mình, thoắt châm thoắt bén duyên hương lửa, càng núc càng say tính với tình

Hồ Xuân Hương đối: Giương oai giễu võ thật là kinh, danh tiếng bao năm đã Tản mình, thoáng ngửi thoáng ghê hơi hương lửa, tài Trí ra sao hỏi tính tình?
Bài thơ tỏ rõ bản lĩnh nhanh nhạy, sắc sảo và cũng không kém phần thẳng thắn, quyết liệt của Hồ Xuân Hương, dùng chính cái tên của ông đồ rởm, gõ đầu trẻ không xong, còn đòi gõ đầu Hồ Xuân Hương? Mượn điếu bát để tỏ tình thân…gái, chưa được gái già này cho phép đã tính chuyện ái ân (hương lửa) trong khi Xuân Hương có cả đống người chạy theo tán tỉnh nơi kinh kỳ, đô hội còn không được nữa là người nghiện thuốc lào, suốt ngày hun khói mù trời, ăn nói ngạo mạn, xấc xược như ông ta. Xuân Hương là con người bằng xương, bằng thịt, thích cảm xúc êm dịu, tao nhã, chứ đâu phải cái điếu bát trơ khấc, để ông muốn bén duyên hương lửa, ân ái vợ chồng lúc nào là có thể đè ra như đè điếu được? Bên cạnh đó còn có cả họ tên của ông Dương cũng được lồng ghép vào. Vừa song phi đã ngã ngựa, ông Trí không dám giữ bộ mặt dương dương tự đắc nữa mà nhân lúc mọi người tản đi vì trời khuya, bèn bấm bụng rút lui, thua tài trí Xuân Hương và trở thành bằng hữu. Từ đó ông ta thôi ti toe, không còn giở thói đàn anh, bắt nạt, lấn lướt, lớp nho sinh, văn sĩ trong làng nữa.

Năm 1788, sau khi treo ba chữ “Cổ Nguyệt Đường” lên, khiến khách văn chương thành Thăng Long tò mò kéo đến tấp nập. Hồ Xuân Hương đã nổi hứng ra vế đối hiểm hóc:
Gái Cổ Nguyệt chơi Hồ cổ Nguyệt, Nguyệt Nguyệt bằng quân tử trượng phu.
Trong vế đối hai chữ ‘nguyệt” ghép lại thì thành chữ “bằng” (朋), chữ “bằng” ở đây có nghĩa là bằng hữu. Vế đối ngầm khoe bàn bè bằng hữu của Cổ Nguyệt Đường đều là bậc quân tử trượng phu.

Phải mấy năm sau, Dương Trí Tản mới đối lại được như sau: Trai Kỳ Sơn chơi núi Kỳ Sơn, Sơn Sơn xuất anh hùng hào kiệt.
Tuy nhiên, những người am tường Hán học bình luận rằng vế đáp của Dương Trí Tản chưa chỉnh so với vế đối của Hồ Xuân Hương, vì tuy vế sau hai chữ “sơn” ghép với nhau thì thành chữ “xuất”, nhưng vế trước chữ “Kỳ” không ghép được với chữ “sơn” để nên nghĩa như chữ “cổ” ghép với chữ “nguyệt”.

Cũng giai thoại này nhưng có thuyết khác lại chép vế ra rằng: Gái Vọng Nguyệt chơi giăng vọng nguyệt, (Nguyệt 月) (nguyệt 月) (bằng 朋) tể tướng công khanh. Ở đây có tên làng Vọng Nguyệt (làng Vọng), huyện Yên Phong, tỉnh bắc Ninh là làng nhiều người đậu tiến sĩ. Ý nói, gái làng Vọng Nguyệt chỉ chơi “giăng vọng nguyệt” là trăng rằm, và kết bạn (bằng 朋) với ai có tài làm tể tướng. Vế đối như sau: Trai Tam Sơn đứng núi Tam Sơn, (Sơn 山) (sơn 山) (xuất 出) anh hùng hào kiệt. Làng Tam Sơn, huyện Đông Ngàn; nay là thôn Tam Sơn, xã Tam Sơn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Làng có 2 Trạng nguyên là Nguyễn Quang Quan và Ngô Miễn Thiệu.
Vọng nguyệt (xã Tam Giang, huyện Yên Phong) xưa có tên là làng Ngột Nhì. Người họ Chu đến đây khai cơ lập nghiệp đầu tiên. Sau khi ông tổ họ Chu mất, mộ ông được đặt ở đồng Đống Tranh, nhìn xuống một cái ao bán nguyệt. Do vậy, làng được đặt tên tự là Vọng Nguyệt. Vọng Nguyệt nghĩa là trong trăng, đẹp và thơ mộng đến kỳ ảo. Đây là một làng cổ mang đầy đủ bản tính của quê hương Bắc Ninh trong truyền thống: anh hùng và trữ tình. Tính anh hùng được biểu hiện rõ trong câu chuyện dân gian và mối tình sử giữa chàng trai làng Vọng Nguyệt Chu Đình Dự và công chúa Lý Nguyệt Sinh. Họ gặp nhau trong ngày hội xuân và trai tài, gái sắc đã nên nghĩa trăm năm. Gặp khi giặc Tống xâm lấn nước ta, họ đã lập đội dân binh, góp phần vào chiến thắng hào hùng trên sông Như Nguyệt mùa xuân 1077. Nay, Vọng Nguyệt vẫn còn đền thờ Nguyệt Sinh công chúa, mối duyên tình kỳ ngộ giữa người con gái Vọng Nguyệt Chu Thị Bột và chàng thư sinh Tam Sơn Ngô Sử Toàn đã để lại cho người đời một đôi câu đối như trên mà sự kết hợp giữa chữ tình và chữ tài thật quả tùng lai ít thấy.

Gần đây, có người là Hồ Bá Quỳnh xin đổi lại câu của Dương Trí Tản như sau:
“Trai Nhân Sơn gặp tiên Nhân Sơn, sơn sơn xuất công hầu khanh tướng”
Về phía Tây Nam cách làng Quỳnh Đôi khoảng 3km có làng Nhân Sơn. Nay thuộc xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Lưu gần thị trấn Cầu Giát. Ngay trong làng ấy có hòn núi gọi là Lèn Nhân Sơn rất đẹp. Núi Nhân Sơn nay đã bị phá đá nung vôi gần hết. Nhưng truyền thuyết vẫn còn vì đã đi vào lòng dân. Truyền thuyết kể rằng: Nhiều đêm trăng thanh gió mát người ta tưởng thấy các cô tiên thưởng nguyệt cạnh các ông tiên đánh cờ. Dưới chân núi có ngôi đền cổ nhân dân thường hương khói lễ vật phụng thờ. Câu đối này đảm bảo được chữ Nhân là người ghép với chữ Sơn là núi thì thành chữ Tiên (ông Tiên, cô tiên) và hai chữ sơn ghép lại thành chữ xuất như ông Dương Trí Tản đối.
Hồ Bá Quỳnh biệt danh là ông “vua hiến kế” (nguyên cán bộ Ủy ban vật giá tỉnh Nghệ An, ngụ xã Quỳnh Bảng, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) vị Tiến sĩ được coi là một trong những cha đẻ của ý tưởng “Hưu nông dân”, có hàng trăm tờ trình ở tầm kinh bang tế thế, quốc kế dân sinh… làm lợi cho cộng đồng nhiều tỉ đồng, nhưng lại không nuôi nổi vợ con

Hồ Xuân Hương và Khâm sai đại thần
Khi Gia Long diệt được nhà Tây Sơn, tiến ra Bắc Hà, viên khâm sai lúc bấy giờ được lệnh đi kinh lý các tỉnh có gặp Hồ Xuân Hương để xin câu đối. Bà liền viết:
Thiên tử tinh kỳ đương bán diện (Che nửa mảnh rực cờ thiên tử)
Tướng quân thanh thế áp tam thuỳ (Trấn ba góc, rõ tài tướng quân)
Câu đối trên có nghĩa đen là: Cờ xí của nhà vua treo khắp mọi nơi, che nửa mặt người. Uy danh của vị khâm sai rất to lớn, bao trùm cả ba cõi. Câu đối được treo lên, vua Gia Long nắc nỏm khen, bàn dân thiên hạ cười mủm mỉm, còn quan bé, quan to giật điếng người…vì phong cách nghịch ngợm của Hồ Xuân Hưng chẳng giấu vào đâu được, khen vua mà lại xỏ ngầm chết vua đấy. Bán diện nghĩa là khuôn mặt chia ra làm hai nửa theo chiều dọc, còn áp tam thuỳ…chỉ khác gì áp vào cái chỗ ba góc da còn thiếu ấy? Đến nỗi chúa dấu vua yêu một cái này thì tướng quân dại gì buông tha? Câu đối được hiểu theo nghĩa ngầm rằng:
Che nửa mặt, rực cờ Thiên tử
Trấn ba góc, rõ tài tướng quân

Wikiquote
DODUYNGOC chép lại