Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 2 Aug 2024

Google photo

5. Hai cõi U Minh

Nơi giáp giới làng Đông Thái và làng Vĩnh Hòa ở U Minh, có người còn gìn giữ một di tích lạ lùng: một manh áo đen bạc màu, cất giấu cẩn thận trong cái hộp bằng cây.

Nắp hộp ít khi mở ra cho ai xem vì chủ nhân cho rằng làm vậy thì xúc phạm tới vong hồn người từng mặc chiếc áo đó. Có từ trăm năm về trước.

Nhân lúc cao hứng, chúng tôi xem qua manh áo nọ rồi thò tay rờ thử. Chủ nhân vội vã gạt tay chúng tôi ra đậy nắp hộp lại và nói:

– Đừng xúc phạm. Nó quý hơn ngọc ngà châu báu, nó linh thiêng hơn cái sắc thần ở đình làng.

Chúng tôi ngơ ngác, cho rằng chủ nhân muốn thổi phồng sự quan trọng của manh áo. Chủ nhân giải thích:

– Nhờ mồ hôi của manh áo này, nhờ tên của người mặc áo này mà từ trăm năm qua, người mình mới dám cất nhà dựng chòi ở chỗ này.

Rồi chủ nhân kể lại câu chuyện nghe qua thì hơi ly kỳ, nhưng gẫm lại cũng thông thường, có thể xảy ra.

Ngày ấy, dân số làng Đông Thái lại tăng một người. Vùng đất hoang mới khai khẩn, dân số tăng thêm không có nghĩa là thêm đứa con nít mới chào đời. Người dân mới đến ấy non bốn mươi, hồi hai tháng trước đã theo cụ Nguyễn Trung Trực phá đồn Kiên Giang mà giặc Pháp vừa chiếm đóng.

Vài người đến làm quen:

– Ông là… ông Cai Thoại.

Ông Cai Thoại đáp:

– Tôi không còn cơ hội đánh giặc nữa. Tôi muốn ẩn sĩ quy điền.

Nhưng điền đất ở mé biển, ven bờ U Minh bây giờ thuộc quyền sở hữu của ông Tổng Bá. Và ông Tổng nghiễm nhiên là người chủ điền duy nhất.

Ông Cai Thoại cưới vợ, cất chòi giữa ranh đất của Tổng Bá và khu rừng vô chủ gọi là U Minh. Trong đêm tân hôn, người vợ cằn nhằn khuyên nhủ:

– Mình nên chí thú làm ăn, đừng gây gổ với Tổng Bá. Ổng giết người như giỡn, nghe đâu ổng ra chợ Rạch Giá để nhận chức Cai Tổng với người Lang Sa. Thời đằng cựu làm Cai Tổng, qua tân trào ổng muốn giữ chức cũ. Ổng đáp:

– Nếu tôi gây gổ vì lẽ phải thì em nỡ lòng nào cắt đứt tình nghĩa. Tánh tôi ít chịu thua ai.

– Tổng Bá trả thù thì cả xóm mang họa lây.

Ông gật đầu:

– Dám tới đây tức là tôi lo liệu trước rồi. Gây gổ với Tổng Bá làm gì! Ông ta là tên chúa ngục ở địa ngục trần gian.

Bà vợ mừng vô kể, đưa ra điều kiện:

– Nếu mình gây sự mình tính sao với em?

– Tôi nằm xuống cho mình đánh mười roi. Mình vững bụng đi, nhà cất ở ranh đất, sát bên rừng. Nếu xảy ra điều gì, mình còn chỗ nương thân…

Bà vợ lại sợ sệt:

– Mình rút lui vô rừng, phía U Minh Thượng hả? Trời ơi! Cọp nhiều lắm, vô đó là chết.

Ông nói giọng bí mật:

– Tiến vô chứ đâu phải chạy lui. Người nhút nhát như mình ưa nói bậy quá. Thà ở với cọp còn hơn ở với Tổng Bá.

Hôm sau ông Cai xách dao ra sân, đốn cây trúc khá to đem vào khoe với vợ:

– Đây này, sẵn có cây roi để dành đánh tôi.

Bà vợ cau mày, hiểu chồng mình là kẻ quân tử nhứt ngôn, chẳng bao giờ nói láo với vợ dầu là trong phòng riêng, lúc ban đêm chẳng có ai làm chứng.

Ông Cai nói:

– Mình buồn hả?

– Buồn thì cũng buồn, ngặt nói ra khó quá. Em sợ mình ưa dạo chơi phía U Minh rồi gặp tai nạn bất ngờ.

– Vậy thì mỗi lần tôi dạo U Minh, mình cứ đánh tôi mười roi. Đàn bà phải có chút ít quyền hạn đối với chồng.

Bỗng nhiên từ phía rạch thứ Sáu, một tiếng nổ ầm khiến chim cò bay như vỡ tổ. Đó là pháo tre của Tổng Bá đốt làm hiệu lệnh. Đôi ba tháng một lần, ông ta ra chợ Rạch Giá để “hầu” quan chủ tỉnh người Pháp. Từ nhà ông ta ra vàm biển, con rạch chảy cong quẹo, phơi bãi bùn khi nước ròng. Những lúc ấy, Tổng Bá đốt pháo huy động dân chúng trong điền tới kéo ghe.

Ông Cai Thoại nói:

– Tôi ra xóm vàm xem vụ gì.

Bà vợ lắc đầu:

– Mình cứ ở nhà. Tổng Bá bắt dân kéo ghe. Nếu mấy chú lính tới mình chạy ra sau rừng mà trốn.

– Người anh hùng vai u thịt bắp như tôi mà trốn à! Nếu vắng mặt tôi thì mấy người khác lại phải mệt sức. Tôi muốn tiếp với họ.

Nói xong ông Cai chạy một mạch ra xóm vàm. Tiếng pháo tre thứ nhì nổi lên. Bà vợ nhăn nhó mặt mày, đứng không yên, tưởng đến cuộc đấu khẩu và cuộc đâm chém sắp xảy ra. Chồng bà tuy hiền, nhưng đôi khi rất hung dữ, xem cái chết bằng chơi.

Đến xế trưa, ông Cai trở về với năm sáu người bạn trai. Bà mừng vì chồng mình còn sống. Bà lại lo âu vì bọn người ấy từng nổi danh làm nghề đốn củi, ăn ong rồi họ bỏ nghề, năn nỉ cất nhà trong điền của Tổng Bá vì cọp U Minh đã xuất hiện vài lần, giết người tha luôn xác. Phải chăng ông Cai Thoại rủ rê bọn họ trở lên rừng đốn củi ăn ong như dạo trước. Nếu đụng tới cọp, ông sẵn sàng trừng trị.

Ông Cai nói:

– Mình nấu cơm cho anh em ăn. Nấu thiệt nhiều để ăn no còn gói theo.

Ăn xong, ông từ giã vợ, lên đường với bạn. Bà vợ chạy theo, rơm rớm nước mắt. Ông Cai trở vô nhà nằm sấp xuống đất rồi thét:

– Tôi thất hứa. Mình cứ đánh mười roi về tội tôi rút lui lên U Minh, ủa, tôi tiến vô U Minh!

Cực chẳng đã, bà cầm ngọn roi đánh vào mông ông Cai mười roi, tượng trưng.

U Minh là khu vực không biên giới rõ rệt, chẳng hiểu Đông, Tây, Nam, Bắc giáp với làng nào, xóm nào. Nơi khai thác xong thì mang danh xóm Giáp, xóm Ất. Đào kinh thì gọi kinh 4 thước (bốn thước bề ngang) hoặc kinh Chú Kỵ, kinh Bà Sửu, Bà Bình gì đó. U Minh còn có nghĩa là nơi tối tăm, ban ngày ánh nắng bị tán cây che khuất, vừa quá xế chiều sương mù buông xuống chẳng thấy đâu là đâu. U Minh là tên một cửa ngục ghê rợn trong Thập Điện do Diêm Vương cai quản. Xưa kia. U Minh bao gồm tận bờ biển vịnh Xiêm La, lần hồi địa danh ấy thu hẹp lại, nhờ sự khai thác cần mẫn của dân tứ xứ.

Ông Cai muốn thu hẹp địa danh U Minh, bắt đầu từ khu rừng phía nhà ông, ranh đất của Tổng Bá.

Mấy người đốn củi, ăn ong đưa ông Cai đến một giồng đất cao ráo. Họ dừng lại và nói:

– Ổng thường tới rình mồi, đàng kia kìa!

Ông Cai dựa lưng vào gốc cây tràm.

– Tôi ngủ dưỡng sức. Hễ thấy, anh em kêu tôi. Cọp đói đánh hơi giỏi lắm.

Chập sau đoàn người nắm tay ông Cai, giật mạnh:

– Ổng kìa!

Ông Cai ngồi dậy, quan sát rồi bảo:

– Để một mình tôi ra nói chuyện. Ổng đứng một mình, bọn mình thì quá đông. Lắm khi vì ổng quá sợ nên ổng làm liều. Đừng làm cho ổng sợ.

Ông Cai đến gần cọp. Cọp đến gần ông rồi cọp cúi đầu. Ông Cai đấm mạnh vào cần cổ nó. Nó há miệng ra. Ông đưa tay vào miệng nó. Nó rống lên chạy mất. Ai nấy xám mặt sợ giùm cho tính mạng ông Cai.

Chừng ông trở lại, họ quỳ xuống lạy. Ông giải thích:

– “Cha nội” tham ăn, mắc xương ở cuống họng. Tôi rút cục xương ra. “Cha nội” mừng quá nên chạy mất. Thôi, anh em mình về. Bữa nay đủ rồi. Mai mốt mình mang theo dao búa để phá rừng.

Đêm ấy bà vợ khóc nức nở, khuyên chồng đừng quen thói dại dột. Ông Cai nói:

– Ai dại dột, ai khôn thì trời đất biết. Người đời chẳng nên ham tiếng khôn hoặc tránh tiếng dại. Mấy người bạn của tôi làm nghề ăn ong, đốn củi, siêng năng lắm.

Bà Cai ngắt lời:

– Họ gặp cọp nên bỏ nghề.

– Mình nghe nói họ bỏ nghề, xin ở trong điền của Tổng Bá. Tổng Bá bắt họ làm đủ thứ công chuyện, làm thí công. Hồi hôm qua, họ xây lưng đẩy chiếc ghe biển. Tổng Bá ngồi trong ghe, vừa uống rượu vừa chê trách họ lười biếng. Họ cố sức đẩy, nước cạn, ghe quá nặng. Biết sao bây giờ, Tổng Bá sai lính quất roi cá đuối lên lưng, lên đầu họ. Hôm qua, họ tới đây ăn cơm, mình mẩy rướm máu. Họ bận áo để che vết thương. Mình đâu có thấy chuyện đau đớn đó. Bởi vậy tôi lên U Minh một lần nữa.

Đúng hẹn ông Cai và đoàn người chuẩn bị lên đường. Ông rút cây roi, đưa cho bà vợ:

– Mình đánh tôi mười roi nữa đi.

Bà vợ chắp tay xá chồng:

– Em lạy mình.

Ông Cai gắt giọng:

– Ai biểu mình lạy. Nếu mình không đánh, phen này tôi đi tuốt, không trở về.

Mười roi tượng trưng đã đánh xuống. Ông Cai chạy nhanh cho kịp đoàn người. Họ không muốn chứng kiến cái cảnh vừa tức cười vừa cảm động ấy. Lần này họ dạn dĩ hơn, mang theo gạo muối và nóp để ngủ trong rừng. Đến nơi, họ đốn cây, đào ao, chặt lá mật cật phơi khô để lợp nhà, cọp rống từng chập, như gần lắm. Ông Cai đi hồi lâu rồi trở lại:

– Ngưng tất cả công việc. Ai biết săn heo rừng, săn khỉ? Kiếm mồi về cho tôi!

Ăn cơm xong, ông trình bày: con cọp hôm trước trở lại vì vết thương khá nặng ở bắp đùi, dòi bu lúc nhúc khoét thịt. Cọp mang tật “cà nhắc” chẳng còn đủ sức rượt bắt mồi. Hễ đói quá, cọp phải ăn thịt người. Con người chạy chậm, dễ rượt theo, ở chỗ rậm rạp; heo rừng và nai thì nhanh chân hơn.

Buổi chiều, nhờ con heo rừng mà ông Cai đến gần cọp, ban bố thức ăn cho nó. Đâu đó xong xuôi, ông khuyên ai nấy ngủ dưỡng sức. Ông thức bên bếp lửa: khi trời gần sáng cọp mất dạng.

Hai ngày sau, bốn căn chòi đã dựng xong. Đoàn người rủ nhau về xóm kiếm thêm gạo. Dọc đường ông Cai nói khôi hài:

– Mai mốt anh em mình trở lên U Minh. Nhớ đem theo vài con chó săn, vài lít rượu, một giạ lúa giống. Cứ lên trước. Tôi ở nhà hú hí với má bầy trẻ, chịu thêm chục roi rồi tới sau. Chẳng lẽ anh em lại sợ… cứt cọp!

Lúa vãi xuống, mọc nhanh vì lòng đất U Minh ẩm ướt. Tuy nhiên, vài hôm mộng lúa bị cắn ngang vì chim chóc kéo tới quá nhiều. Ông Cai khuyên đốn cây to, xóc thành hàng rào xung quanh nhà. Công việc đang tiến hành, chợt có người la hoảng:

– Ông Cai ơi! Ổng kìa!

Ông Cai chạy tới, khuất dạng. Rồi trở về với gương mặt lo âu:

– Rừng này hết nai, hết khỉ. Bởi vậy cọp đói chịu không nổi. Ráng kiếm một con heo rừng cho tôi! Cọp sợ heo rừng. Cọp to lớn nhưng quá dở. Chắc hôm trước ổng mang bịnh, khi đụng độ với con heo rừng có nanh bén.

Ông Cai lựa một cái đùi heo rừng khá to, buộc vào sợi dây mây rồi đốn một cây tre rừng. Mọi người ngơ ngác đặt ra giả thuyết.

– Thưa ông! Cọp nhai nát cây tre đó. Tre yếu quá, làm sao đủ giựt sức ông cọp cho hỏng chân. Sợi dây mây lại bở hơn.

Ông lắc đầu:

– Anh em mình đừng tính chuyện thất đức. Đâu phải tôi làm cần bẫy. Vui lắm, lát nữa tôi rủ một anh đi theo. Một anh thôi. Đi nhiều quá cọp sợ. Ông ta sợ vì ông ta chỉ có một mình. Vậy mà hồi nào anh em nói cọp U Minh sống từng bầy! Dóc quá. Cọp ở ngoài Khánh Hòa mới đông. Rừng U Minh này còn một con cọp lạc bầy này mà thôi. Nó hung dữ vì bị bịnh, vì đói. Ai dám theo tôi.

– Tôi! Tôi!

Đến gốc cây tràm, ông ra lệnh cho anh chàng cảm tử nọ:

– Đứng im, đừng chạy bất tử cọp khinh dễ. Rủi bề gì thì trèo lên ngọn cây. Nhớ cầm cây cần câu này trong tay. Cầm thật chắc, đừng sợ, run tay.

Ông Cai đi khuất dạng trong rặng cây thưa thớt rồi trở ra với con cọp theo sau. Ông nói to:

– Làm như người câu cá. Cái đùi heo là miếng mồi.

Anh chàng cảm tử nói giọng cà lăm:

– Thà chết còn sướng hơn. Rủi ổng tưởng tôi là con mồi thì làm sao?

Ông Cai nín cười không được:

– Thịt của chú em chưa chắc ngon hơn thịt heo rừng. Đừng cãi nữa, ổng tới rồi. Phải đứng im, đừng giựt khi ông táp mồi. Đứng im cho tôi.

Anh nọ day mặt, chẳng dám nhìn đối diện con cọp già nua. Cọp bước cà nhắc, lông rụng khá nhiều, trông thiểu não như ông tướng trong tuồng hát bội mặc áo giáp lủng lỗ. Cọp táp đùi heo rồi chạy, sợi dây mây đứt luôn.

– Mình về chòi mình ở, bộ chú em muốn câu hoài sao chớ?

Ngày lại ngày, theo lịnh ông Cai, tất cả mọi người khai hoang lần lượt đóng vai anh thợ câu… cọp. Ông Cai đứng xa cổ võ cho ai nấy đừng sợ. Giếng đã đào xong. Mấy vồng khoai phủ xanh mướt, đọt non khoe tươi dưới bầu trời sáng sủa. Ông Cai dạo suốt ngày trong rừng, tìm hướng ngọn rạch Thầy Quơn và ngọn rạch Lốc Hỏa với ước mơ sẽ đào con kinh ăn thông ra sông Cái Lớn.

Xóm nhỏ đã thành hình. Ông Cai về thăm nhà. Bà vợ khuyên đừng phiêu lưu nữa, ông đáp:

– Tổng Bá giận tôi lắm. Nó nói xấu, đòi bắt tôi về tội lôi kéo tá điền lên rừng. Ở đây lâu ngày, xảy ra chuyện đổ máu. Chi bằng vợ chồng mình lên U Minh cất chòi cho gần gũi anh em.

Bà vợ tuân lời.

Nhưng, ông cọp thỉnh thoảng lại đến đòi ăn. Vấn đề thật nan giải. Chẳng lẽ cả bọn thay phiên nhau săn heo rừng để cúng cho cọp. Vài người đưa ý kiến:

– Xin ông trổ tài, giết hoặc đuổi ổng qua xứ khác.

Ông đáp:

– Anh em chưa trở thành điền chủ mà đã lười biếng, sanh tệ. Nếu giết con này, biết đâu còn con nữa, ở trong rừng sâu chạy tới. Đuổi nó đi, tức là gieo tai họa cho người lân cận. Rủi mai chiều, tôi mắc dịch, mắc gió chết thì chẳng lẽ anh em bỏ xóm?

– Ông nói chí lý. Chúng tôi sợ lần hồi cọp về xóm để ăn heo nhà, trâu nhà.

Vài ngày sau ông Cai nài nỉ:

– Ráng săn con heo rừng hay con nai giùm cho tôi, lần chót.

Ông Cai nhặt cái đùi heo, trao cho anh chàng cảm tử hôm trước:

– Đi theo tôi.

Ra khỏi xóm chừng mười công đất, ông bảo anh ta đứng một chỗ. Ông chạy vào rừng sâu, khi trở về có con cọp già lẽo đẽo phía sau.

Anh nọ xám mặt:

– Trời ơi! Làm sao tôi đốn tre, bứt mây làm cần câu cho kịp?

Ông nghiêm mặt:

– Trận này mới biết thắng bại. Chú mày đứng yên một chỗ. Có tôi đây. Nhưng mà chú mày cứ coi như là tôi vắng mặt.

Cọp tới trước mặt anh nọ. Anh ta luýnh quýnh, đem cái đùi heo rừng mà giấu sau mông.

Ông Cai nói:

– Được rồi! Đứng im! Hễ chạy là cọp ăn thịt anh liền. Mọi khi, tôi kêu bằng “chú em”, hôm nay tôi kêu bằng anh. Anh chạy trốn thì mọi người chạy theo, về xóm của Tổng Bá để ăn mày.

Cọp dừng bước, lè lưỡi, cúi đầu, rồi từ phía sau lưng anh nọ, nó bước chậm rãi từng bước.

Ông Cai nói từng chặp:

– Anh coi chừng, nó lại gần rồi. Đừng day mặt, nó khinh dễ. Nó tới sát đó. Nó muốn ăn cái đùi heo rừng. Hễ nó táp là buông tay ra.

Cọp táp đùi heo, quay mặt, chạy tuốt. Ông Cai trố mắt. Anh nọ như chết đứng tại chỗ.

Ông cười to:

– Đã là anh hùng thì phải tỉnh táo về nhà nhậu cho vui chớ. Đứng đó một mình, ổng trở lại. Cám ơn anh. Xong xuôi rồi. Gửi lời thăm bà con trong xóm. Tôi đi đây.

Anh nọ như tỉnh giấc chiêm bao:

– Ông Cai đi đâu?

Ông Cai đã khuất dạng.

Và từ đó về sau, chẳng ai gặp ông nữa.

Dân chúng xóm biển lần hồi bỏ Tổng Bá, lên U Minh Thượng lập nghiệp. Xóm biển trở nên vắng vẻ, nhiều người ra tận hải đảo như Hòn Tre, hòn Sơn Rái, theo nghiệp chài lưới. Mỗi lần ra chợ hầu quan chủ tỉnh Lang Sa, Tổng Bá không còn đốt pháo làm hiệu lịnh nữa: đốt vô ích, chỉ lơ thơ vài người chạy tới. Tổng Bá mướn thợ về xây nhà, làm hàng rào kiên cố mặc dầu tiền bạc ông ta chẳng còn bao nhiêu. Ông ta hút á phiện để giải sầu, đêm đêm thức từng chập khi nghe chuột chạy, dế kêu. Sợ ăn cướp, sợ ma.

Vùng đất hoang ở U Minh Thượng đã nở rộ câu hò tiếng hát. Bà Cai chẳng hiểu chồng mình dạo chơi phương nào. Bà muốn lập bàn thờ, nhưng dân chúng ngăn cản vì chưa có bằng cớ gì chứng to ông Cai đã chết. Đôi khi cọp về viếng xóm, có người đến nhà bà Cai để cầu cứu. Bà nói:

– Nhà tôi để lại cái áo rách đây! Anh em mặc thử xem. Có lẽ cọp còn nhớ mùi mồ hôi quen thuộc của ổng.

Họ mặc áo của ông Cai, quát to cố ý cho cọp nghe. “Đi ra xa! Thử hửi mồ hôi thì biết ta là ai!”. Thế là cọp rút lui. Lần hồi, chiếc tàn y nọ rách nát. Người đi rừng bèn xưng danh hiệu, vắn tắt:

– Tao là Cai Thoại đây!

Mười lần như một, cọp đều chạy trốn.

Vài chục năm sau, tin rằng ông Cai đã chết, mấy ông kỳ lão trong xóm bàn bạc, muốn hùn tiền cất ngôi miếu nhỏ thờ ông. Nhưng vừa hùn tiền xong lại nghe tin ông Cai Thoại còn sống nhăn. Bằng cớ là đêm đêm, người đi bắt trăn giữa rừng đã gặp ông thấp thoáng bên đống lửa, trong sương mù, kế bên có con cọp bạch quỳ xuống chầu chực. Lời đồn đại còn kèm thêm chi tiết: Ông Cai ngồi, uống rượu, thỉnh thoảng vỗ vai cọp, nói tiếng gì, không ai nghe được, nhưng cọp gật đầu.

Alaska đi về xứ tuyết

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

July 21st, 2022

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

Hơn hai triệu du khách đã du ngoạn Alaska trong các tháng Hè mỗi năm, trong đó hơn một nửa đến bằng các du thuyền. Tiểu bang thứ 49 của Hoa Kỳ có những nét độc đáo không mấy nơi nào có được với thiên nhiên, núi tuyết, băng hà, núi rừng hoang dã cùng một văn hóa bản địa của những người Eskimo xứ tuyết. Mời các bạn cùng chúng tôi thử ghé thăm Alaska qua loạt bút ký du lịch này.

Tác giả tại băng sơn Hubbard Glacier  

Kỳ 1

Alaska, tiếng gọi nơi hoang dã

Các hiệp hội du lịch của Alaska thống kê rằng, cứ trong ba người đến Alaska thì có một người là du khách quay trở lại. Một tỉ lệ khá cao và đầy mơ ước cho bất cứ vùng đất du lịch nào. Vùng xứ tuyết trắng xóa hoang dã với những chú gấu Bắc cực hay nơi cá hồi tìm về cố quận để đẻ trứng rồi chết tại nơi mình sinh ra có gì lạ mà thu hút du khách đông như vậy?

Nhưng trước khi đến với xứ tuyết này, có lẽ cũng là cơ hội để chúng ta cùng tìm hiểu về lịch sử của Alaska, một tiểu bang xa xôi biệt lập với nước Mỹ mà nếu đến bằng phi cơ thì bay thẳng cũng mất ít nhất từ 6 đến 8 giờ bay, tùy theo tiểu bang.

Nằm về hướng Tây nước Mỹ và vùng cực Tây Bắc của Bắc Mỹ, mang ý nghĩa là “Ðại Ðiền” (The Great Land) theo thổ ngữ dân bản địa, Alaska là tiểu bang lớn nhất nước Mỹ với diện tích khoảng gấp đôi Texas, tiểu bang rộng hàng thứ nhì theo sau. Giáp với biên giới Canada về hướng Ðông, 3 mặt còn lại của Alaska hướng ra 3 biển khác nhau, chỉ cách lãnh thổ của Nga ở điểm ngắn nhất cũng đầy hoang vắng chỉ vài chục cây số tại eo biển Bering.

Seattle, nơi khởi hành các du thuyền Alaska

Ðó là lý do những nhà thám hiểm của Nga đã là những người đầu tiên đặt chân đến Alaska và nhận làm lãnh thổ của mình vào cuối thế kỷ 17. Năm 1867, Ngoại trưởng Hoa Kỳ lúc bấy giờ là William H. Seward đã đàm phán để mua lại Alaska từ người Nga với giá 7.2 triệu đô la Mỹ, tức chỉ vào khoảng 142 triệu đô la theo thời giá hiện tại. Nga Hoàng bán rẻ Alaska vì cần tiền sau chiến tranh  và mặt khác, Alaska cũng là vùng lãnh thổ xa xôi cách trở, khó bảo vệ của Nga nếu quân Anh hay Mỹ có ý định tấn công chiếm đất.

Dù mua được Alaska với giá rẻ mạt vào155 năm trước, Ngoại trưởng Seward cũng đã bị chỉ trích khá nhiều vì bị cho rằng đã phung phí ngân sách Hoa Kỳ cho một vùng đất xa xôi lạnh giá, chưa biết sẽ làm gì. Nhưng Ngoại trưởng Seward là một người có tầm viễn kiến.

Thứ nhất là việc mua lại Alaska đã chính thức chấm dứt sự hiện diện của người Nga cùng lãnh thổ của họ tại Bắc Mỹ. Thứ nhì là Hoa Kỳ có thể mở đường giao thương về Thái Bình Dương thông qua eo biển Bering. Không kể chỉ một thời gian sau, Hoa Kỳ đã nhận ra việc mua Alaska là một quyết định rất đúng đắn khi nó là một nguồn cung cấp tài nguyên phong phú lẫn chiếm vị trí chiến lược quan trọng về sau này.

Du thuyền tại bến đỗ

Alaska vẫn được giữ nguyên là vùng lãnh thổ Hoa Kỳ cho đến năm 1959 mới chính thức trở thành tiểu bang thứ 49 sát nhập vào Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Chính vì vậy mà hàng năm người dân Alaska đón mừng đến hai đại lễ của tiểu bang, một ngày Seward’s Day để ghi công Ngoại trưởng William H. Seward và ngày Alaska chính thức gia nhập Hiệp Chủng Quốc. Bảng tên đường Seaward có ở mỗi thị trấn Alaska tôi ghé qua.

Ngày nay, Alaska góp một vai trò quan trọng trong việc cung cấp dầu lửa và thủy hải sản cho nước Mỹ với các kỹ nghệ dầu mỏ, khí đốt và đánh bắt hải sản rất phát triển. Là một trong những nền kinh tế nằm cuối bảng trong 50 tiểu bang Hoa Kỳ, nhưng thu nhập bình quân của cư dân Alaska lại nằm trong nhóm các tiểu bang top 10 đầu bảng, một phần nhờ vào các kỹ nghệ kể trên và nguồn thu đáng kể từ du khách đổ vào hàng năm. Không kể cư dân Alaska, nếu cư ngụ tại tiểu bang này trên 12 tháng còn được chia thêm lợi tức hàng năm, khoảng vài ngàn đô la cho mỗi người, có từ nguồn dầu lửa.

Alaska là vùng đất du lịch nổi tiếng của nước Mỹ. Ðại dương, sông hồ, băng tuyết, rừng rậm, thác nước, núi lửa… Alaska có đủ. Hầu hết những ngọn núi cao nhất nước Mỹ là nằm tại Alaska. Và nếu muốn xem màu sắc lung linh ảo diệu của ánh sáng cực quang (Northern Light), du khách bay sang Anchorage rồi bay thêm 3 tiếng để đến vùng cực Bắc là Fairbanks, điểm lạnh nhất và băng tuyết quanh năm của Alaska. Hầu hết du khách đến với Alaska vào mùa Hè ấm áp, khi nhiệt độ trung bình cũng chỉ khoảng 60-70 độ, không cần áo lông thú như người Eskimo trong phim ảnh.

Du thuyền vào vùng biển Alaska

Bay thẳng sang Alaska đỡ tốn thời gian nhưng sẽ bất tiện và tốn kém hơn nếu cần di chuyển giữa các thành phố khác nhau của tiểu bang này nên phần lớn du khách đã chọn cách đến với Alaska trên các du thuyền. Hầu hết điểm khởi hành đến Alaska tại Mỹ là tại bến cảng Seattle hay ít hơn là tại San Francisco. Tuy nhiên du khách cũng có thể chọn cảng Vancouver bên Canada nếu vé phi cơ sang đó rẻ hơn.

Với một số người thì du thuyền chỉ là chuyến đi chơi trên du thuyền nên thường nghĩ rằng sẽ khá chán nếu thời gian kéo dài trên tàu. Tuy nhiên, nếu xem du thuyền như một phương tiện để đưa du khách đến các điểm dừng muốn khám phá khác nhau bằng đường biển thì chuyến đi sẽ thú vị hơn nhiều. Tôi đã từng đi vài chuyến du thuyền sang Mexico và một số đảo quốc vùng Caribbean, lần này cũng đã chọn phương tiện này khi lần đầu muốn khám phá Alaska bởi hải trình thông thường 7 ngày của nó sẽ đưa du khách ngang qua vài điểm dừng khác nhau của Alaska, rồi ghé đảo Victoria của Canada trước khi quay về lại bến cảng Seattle.

Sau 2 năm các du thuyền bị nằm ụ và vừa tái hoạt động trở lại từ khoảng mùa Xuân năm nay, các hãng du thuyền đã có những chương trình giảm giá để đưa giá vé du thuyền xuống phải chăng nhằm thu hút du khách trở lại. Chỉ có vé phi cơ trong mùa Hè, đặc biệt là dịp lễ Ðộc Lập năm nay đã tăng quá cao khi lượng du khách tăng mức kỷ lục, nên giá vé bay sang Seattle cao hơn gấp đôi so với bình thường. Tuy nhiên nếu chuẩn bị lâu từ trước, vé máy bay cũng sẽ không quá đắt.

Các chương trình nhạc trên du thuyền

Những gia đình có ngân sách giới hạn có thể chọn ở chung loại phòng không có cửa sổ, giá cả khá rẻ cho cả chuyến đi với vài trăm đô cho mỗi thành viên. Nhưng các du thuyền Alaska là hải trình ngắm cảnh nên phần lớn du khách đều chọn phòng có hàng hiên balcony ngồi ngắm bình minh mây nước và phong cảnh, hay ít nhất cũng hạng có cửa sổ nhỏ nhìn ra biển. Tính chung thì chi phí ăn ở, giải trí và di chuyển trung bình chỉ trên dưới $100 cho mỗi người mỗi ngày tùy theo hạng phòng, thì xem ra cũng rất phải chăng.

Mà thật ra với giá vé như vậy có thể chỉ đủ chi phí cho các du thuyền hoạt động cùng bảo hiểm, nhân công, thực phẩm… Các hãng du thuyền sẽ kiếm lời nhờ việc tiêu xài của du khách trên du thuyền như đấu giá, bia rượu, bán hàng, chụp ảnh, dịch vụ thẩm mỹ, vé đi tour, sòng bài…

Nghệ thuật xếp khăn lông trên du thuyền

Kể thêm dăm điều này bên cạnh câu chuyện lịch sử của Alaska bởi có thể mang cho bạn thêm dăm thông tin nếu Alaska nằm trong danh sách những điểm du lịch mà bạn muốn có dịp nào sẽ đi nhưng chưa từng đến.

Anh bạn tôi hỏi Alaska có gì lạ để đến? Tôi chưa có  câu trả lời và cũng không  là câu  hỏi với mình bởi đó là lý do tôi muốn đến với những vùng  đất  lạ. Hơn nữa, không chỉ mang theo niềm háo hức trước khi đến một vùng đất lạ, mà với riêng mình, tôi còn muốn tìm hiểu điều gì của Alaska đã giúp cho nhà văn Jack London viết nên kiệt tác “Tiếng Gọi Nơi Hoang Dã” (The Call of the Wild) hay đến như vậy.

Xin hẹn cùng các bạn kỳ tới.

Bún Bò Huế

hsdoduyngoc.blogspot.com

Sài Gòn, chiều chủ nhật 18.8.2019

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

Món bún bò Huế bây giờ có mặt khắp nơi, trong và ngoài nước. Tuy không nổi tiếng như Phở, nhưng bún bò Huế cũng được người dân mọi miền ưa chuộng. Nhưng phải nói thật một điều là bún bò Huế bây giờ lần lần mất chất Huế. Tô bún bò Huế bây giờ đã mất đi cái hương vị truyền thống. Bún bò Huế phải có hai thứ không thể thiếu là ruốc và sả. Mà phải là ruốc Huế chánh hiệu và loại sả nhiều tinh dầu. Đi vào quán bún bò bây giờ rất nhiều quán chẳng có mùi ruốc mà cũng không có mùi sả, thế thì sao gọi là bún bò Huế. Nhiều quán ở miền Nam xài ruốc Vũng Tàu, nhưng ruốc Vũng Tàu mùi không giống mùi ruốc Huế nên tô bún bỗng vô duyên. Sợi bún cũng không còn như xưa, ngày trước ở Huế, mấy lò bún đục cối ép bín bằng đinh ba phân, sợi bún ép ra lớn hơn sợi bún để ăn bún thịt nướng. Không phải bún nào cũng ăn với gì cũng được. Sợi bún ăn bún bò khác, sợi bún ăn bún mộc cũng khác với sợi bún ăn thịt nướng. Loại nào phải đúng với loại ấy. Bây giờ lại còn chế thêm thịt bò tái, bò viên ở tô bún bò, biến tô bún bò có một phần của phở. Trật lất hết. Bún bò đúng chỉ là bò, ngon nhất là bò bắp luộc chín. Heo thì dùng giò, giò sau mới ngon. Mà dân Huế cũng lạ, nếu đi biếu thì thường là biếu giò trước mà ăn thì chỉ chọn giò sau. Cái lạ nữa la trong kho tàng ẩm thực Việt Nam chẳng có món ăn nào là sự hỗn hợp của bò và heo. Bò là bò, heo là heo. Người Huế khéo chọn bò vốn nấu thì teo, heo hầm lâu thì nở thành một món ăn ngon. Lạ rứa hỉ? Giò thì có giò nạc, giò gân, giò khoanh, giò móng, giò búp. Giò khoanh là phần trên có thịt, có xương, có da, giò móng là phần dưới cùng của cái giò, có móng, gió búp là chỉ có thịt và da, giò gân là phần gần móng có xương nhỏ và gân, ăn nghe sần sật, giò nạc là miếng thịt trên cùng của giò, toàn thịt nạc, ăn ớn ghê lắm. Mỗi loại giò có vị ngon riêng tuỳ khẩu vị của mỗi người. Xưa nữa thì người ta gọi là bún bò giò heo. Nghĩa là chỉ có bò với heo trong nồi bún. Dần dần người ta thêm chả cua, chả tôm, huyết heo hầm bà lằng, bún bò không còn là bún bò giò heo mà là bún thập cẩm. Nhưng sợ nhất vẫn là thịt bò tái trong tô bún bò, một sự cách tân, pha trộn khó chấp nhận.

Bún bò ngày xưa nấu trong nồi nhôm tròn không quai, người ta bảo nồi đất nấu cơm, nồi đồng nấu cháo và nồi nhôm nấu bún. Nấu nồi nhôm mau sôi mà nóng giữ được lâu. Giờ thấy quán nào còn cái nồi nhôm đó thì hầu hết chủ là gốc Huế. Pha ruốc trong nồi bún bò cũng là một nghệ thuật, làm sao tô bún vẫn còn hơi ruốc mà không nồng mùi ruốc, không phải ai cũng làm được. Cũng có người sau khi chặt và rửa sạch giò, để ráo rồi ướp với ít nước ruốc, trước khi đem nấu, làm thế miếng thịt đậm đà, ăn không ngấy.

Nồi bún bò ngày xưa cũng đỏ au, không chỉ có ớt mà còn do dầu điều. Giờ tô bún trắng nhách như nước phở, nhìn hết muốn ăn. Màu đỏ hoà với màu xanh của hành, màu nâu của thịt bò thái mỏng cộng với khoanh giò khiến tô bún bò chánh hiệu nhìn hấp dẫn làm sao, nhìn mới ngon làm sao. Còn một điều nữa mà giờ người ta ăn bún bò trật bậy. Đó là không ai ăn bún bò bằng muỗng. Chỉ với đôi đũa, người ăn húp sủm sụp vừa bún, vừa thịt, vừa nước vào miệng, tất cả mới thành hương vị đủ thứ quyện lại của món bún bò. Ăn kiểu bây giờ, thịt đi đằng thịt, bún đi đường bún, nước đi đường nước, chẳng giống cái chi cả. Người ta cho rằng ăn như thế là kiểu ăn của người nhà quê, không sang. Nhưng ăn như thế mới đúng kiểu, cũng như người Pháp ăn gà phải dùng tay, ai ăn bằng nĩa người ta cười cho là không biết ăn. Người ta còn bảo:

Thịt gà, cá nướng, đàn bà.

Cả ba thứ ấy đều dùng bằng tay he..he

Húp một hỗn hợp như thế mà cắn thêm miếng ớt nghe cái bụp nữa thì đúng là thưởng thức trọn vẹn cái ngon của món bún bò. Ăn bánh bột lọc cũng vậy, chỉ chấm bánh với nước mắm xáy trái ớt xanh cũng chưa đã miệng, ăn cái bánh, cầm chén nước mắm, mà phải nước mắm nhỉ mặn nha, không phải thứ nước chấm lờ lợ chua chua ngọt ngọt bây giờ người ta hay dùng, cầm chén nước mắm mặn đó mà húp một miếng, ôi chao ôi! Cay, mặn cộng với béo, bùi, dai của cái bánh bột lọc, ngon thấu trời! Cái ngon của sự húp là vậy đó.

Bây chừ đi mô cũng thấy quán bún bò Huế, nhưng khó thấy quán bún ngon, cũng chẳng tìm thấy tô bún Huế chính gốc không pha tạp. Bún bò Huế bây giờ nhiều nột nêm, bột ngọt mà thiếu cái ngọt thanh của xương, của ruốc.

Bún bò ở miền Nam thì ngọt đường, bún bó ở Bắc thì mì chính. Miếng giò không còn thơm, ngậy, béo mà không ngán như xưa, có lẽ bây giờ nuôi heo tăng trọng. Nước lại trong veo như nước lèo của phở hay hủ tíu. Lại thêm đủ thứ rau. Bún bò xưa không ăn với rau, bây giờ thì tía tô, chuối xắt, rau muống chẻ, chẳng khác chi bún riêu. Ngay ở Huế, ở trong tiệm tô bún bò cũng lai căng và chẳng còn ngon. Người ta lại bảo ăn bún bò Huế ở Sài Gòn đôi khi cũng còn chất Huế hơn ở Huế. Nói thế thôi chứ muốn ăn bún bò Huế còn chút hương xưa, nên tìm gánh bún của mấy O, mấy Mệ đi bán rao ở đường phố, ở vỉa hè xứ Huế. Lớp người bình dân đó ít lai tạp, cũng ít chạy theo thị hiếu nên ít nhất cũng còn chút truyền thống ở gánh bún của mình. Dừng chân ở bên đường, bẻn đôi quang gánh có nồi bún đỏ lòm .nghi ngút khói thoảng mùi ruốc Huế lẫn mùi sả hăng hăng. Cầm tô bún một tay, tay kia cầm đôi đũa, húp một miếng, cắn miếng ớt cay thấu đít, ôi chao, ngon lạ ngon lùng. Rứa mới là bún bò Huế.

Xã hội thay đổi, cuộc sống đổi thay, đời sống cũng theo đà tiến hoá mà không còn như cũ. Nhưng có một thứ không nên thay đổi, không nên chạy theo thị hiếu đó là những món ăn truyền thống. Thế giới phẳng, người Việt toả ra khắp nơi trên thế giới. Họ không mang được ngôi nhà đi theo. Họ không mang được cây đa, giếng nước, ngôi làng đi theo. Cái mà con người ly hương mang theo được là những món ăn của quê nhà, món ăn của kỷ niệm, món ăn của ký ức. Thế nên đừng biến tấu nó, đừng lai tạp nó, đừngcanh tân nó mà cứ nên giữ cái chất, cái hương, cái mùi, cái vị của một thời xưa cũ. Đấy cũng là một cách để yêu quê hương, cũng là một cách giữ quê nhà trong lòng mình

DODUYNGOC

Luận Về Chữ Giao

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 9 09, 2018

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

Mấy hôm nay xôn xao cô Á hậu bán dâm với số tiền khủng cho một lần đi. Chuyện đấy tui không quan tâm vì thân thể của cô ấythì cô ấy có quyền sử dụng, cho hay bán là quyển riêng. Luật của ta vẫn còn nhập nhèm chưa rõ về chuyện này. Nhưng từ chuyện ấy mới đẻ ra chuyện để bàn dưới đây, chứ ở không làm gì?

Chuyện là tui có một anh bạn già, hồi xưa học chung trường Đại học, nhưng anh là lớp đàn anh, hơn tui mấy lớp, năm nay anh đã vào hàng U80. Anh là người đặc biệt, từ ngoại hình cho đến tính cách. Hiện anh là một doanh nhân đang đầu tư giáo dục, là chủ một cơ sở rất nổi tiếng của thành phố này. Anh đi nhiều, học được nhiều kiến thức, lắm kinh nghiệm. Cách nói của anh nhiều khi nghe nghịch nhĩ vì anh ưa dùng tiếng Đan Mạch, nhưng rất hợp lý và khó cãi. Nhân cái vụ bán dâm, trong một buổi tiệc rượu, có người hỏi anh thế thì theo anh mấy cô làm gái đó khi ngủ với khách mà chẳng có chút tình cảm nào thì cảm xúc nó ra làm sao?

Anh bạn tui mới luận về chữ GIAO để thay câu trả lời.

Anh bảo:

Trước hết nên định nghĩa thế nào là làm tình trước đã. Tôi là người say mê văn học Trung Hoa, tôi thấy trong văn học Trung Hoa, tuy không có một chương sách riêng định nghĩa về vấn đề này, nhưng mà nó bàng bạc ở nhiều tác phẩm, nhất là trong truyện Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Theo đó có thể phân chia việc làm tình theo ba cấp độ khác nhau là : giao cấu, giao hợp và giao hoan.

Cấp độ 1 là GIAO CẤU: Đây hoàn toàn là lối quan hệ theo bản năng, thô thiển, theo kiểu quan hệ của loài súc vật. Con đực gặp con cái là lăn xả vào nhau, hoàn toàn để thỏa mãn bản năng, nhu cầu tình dục. Quan hệ theo kiểu này, thì nhiều khi gặp nhau, làm tình với nhau, ra về mình còn không biết tên tuổi, giọng nói của nhau, thậm chí có khi nàng thiếu một ngón tay mình cũng không biết …Ví dụ các Á hậu này, đi khách xong chẳng cần biết người vừa ngủ với mình là ai, tên gì, nghề nghiệp, chức tước ra sao. Tiền trao cháo múc.

Cấp độ 2 là GIAO HỢP: Là lối quan hệ cao cấp hơn, và có đôi chút yếu tố tình cảm. Trước khi vào cuộc thì còn ôm ấp, tỉ tê, kể lể, tâm sự đời tôi, có khi ca hát, nâng niu mơn trớn nhau, rồi mới ôm ấp rồi sau hết mới làm tình với nhau.

Và cấp độ 3 là GIAO HOAN: Đây mới là cấp độ cao cấp nhất. Hai bên có thể đàm đạo, trao đổi, thảo luận với nhau về nhiều lĩnh vực. Gặp cả hai bên cùng thích chính trị, thì có thê thảo luận về nghị quyết đại hội Đảng, vấn đề luận tội TT Trump, nếu thích âm nhạc có thể nói chuyện về những nét riêng đặc sắc của Mozart, Chopin, thích hội hoạ thì nói về Picasso, Van Gogh….v. v. Nghĩa là có sự cảm thông, đồng cảm về tình thần, sau đó mới đi vào tình cảm, vuốt ve mơn trớn nhau, hôn hít nhau, và cuối cùng mới quan hệ với nhau. Đây là hình thức quan hệ của tao nhân mặc khách, nói theo Liêu Trai là “nói xong bèn giao hoan”. Ông Bồ Tùng Linh rất ý nhị ở chỗ này. Mà người dịch ra tiếng Việt cũng rất tinh tế ở chỗ này. He…he.

Nếu chia theo tuổi tác thì giao cấu là của các cậu trai cô gái mới lớn, thẻm khát và sung mãn. Giao hợp là hình thức của đa số những cặp tình nhân, và là hình thức phổ biến nhất hiện nay.

Còn hình thức 3 giao hoan là hình thức làm tình cao cấp của giới trí thức, văn nghệ sĩ v.v. và của người lớn tuổi, người khó tính vv.v.

Nói theo 3 cấp độ trên thì tôi có thể trả lời mình là người VN, có lẽ làm tình với người VN là thích hợp nhất, còn với người nước ngoài, hai bên nói nhiều nhưng không hiều nhau, có khi chỉ là ra dấu nhau theo ngôn ngữ esperantay thì còn gì là thú vị, mà chỉ còn là bản năng giữa hai giống đực cái. Như thế chỉ là Giao cấu mà thôi.

Tui nghe sao thì ghi lại vậy, trúng trật tuỳ người đọc hê…hê

Viết đến đây thì tui chợt nhớ còn từ GIAO LƯU, hôm nào tui hỏi cho rõ từ này vì nó cũng có chữ GIAO kkkkkkk
9.9.2018
DODUYNGOC

Lại Một Kiểu Lừa Đảo Mới

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 9 03, 2018

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

Mấy tuần nay, liên tiếp cứ năm, ba hôm một lần điện thoại ở nhà reo. Nhấc máy thì có giọng một cô gái thông báo là tui có một bưu phẩm nước ngoài gởi về mà chưa thấy nhận, đề nghị bấm số 9 để biết thêm chi tiết. Tui vốn đa nghi và dù thường xuyên nhận những món hàng mua trên mạng của nước ngoài nhưng lúc nào cũng rất cảnh giác mấy cái vụ thông báo này. Bởi thông thường trong các vụ mua hàng tui chưa bao giờ cho số điện thoại nhà, chỉ sử dụng số điện thoại di động. Do vậy rất nhiều lần khi nghe thông báo như thế, tui thường cúp máy ngang, chấm dứt trao đổi.

Hôm nay trò ấy lại tái diễn, trời mưa chẳng đi đâu, lại đang rỗi, tui lắng nghe xem diễn tiến thế nào. Sau khi báo tui có bưu phẩm chưa thấy nhận, bên kia đề nghị bấm số 9 để biết thêm chi tiết. Tui bấm số 9, lại một giọng nữ miền Nam hỏi tui có tài khoản trong VCB phải không? Tui ừ, hỏi có gì không? Bên kia báo tui đang nợ ngân hàng 360 triệu đã sử dụng nhưng chưa thanh toán. Tui cười hô hố vì biết tỏng tong là đang bắt đầu một trò lừa đảo nên bảo rằng: Cô em lộn người rồi, tui không có xài thẻ ngân hàng nhé, mà tui cũng chưa bao giờ sử dụng số tiền lớn như thế từ ngân hàng. Bên kia lại bảo: Xin lỗi. Em lộn. Chỉ có 36 triệu thôi. Tui gẳn giọng: 36 triệu cũng không có nhé. Bây giờ sao đây? Sao đầu tiên là báo bưu phẩm, sang đây lại báo nợ là sao? Lại trả lời: Dạ bên kia là tổng đài tự động, bên này là thông báo về tài khoản ngân hàng, anh liên lạc số xxxxxx để được hướng dẫn tiến hành thanh toán số nợ đã sử dụng. Nếu không ngân hàng sẽ đưa ra pháp luật giải quyết.

He..he trò dọa nạt trẻ con. Chỉ có những người có dây dưa tiền bạc với ngân hàng mới lưỡng lự hồ nghi. Còn tui trên râu dưới dế héo, can chi phải thắc mắc, lại rõ như ban ngày đây là màn lừa người nhẹ dạ.

Tui biết trò lừa đảo đã hiện hình, nên nhấn giọng: Chấm dứt ngay trò này đi nhé, đừng có rung cây nhát khỉ. Tui thách chuyện đưa ra pháp luật đấy. Tui sẽ truy tố các người thì hợp lý hơn, nhưng các người là lũ dấu mặt. Nên chấm dứt những trò lừa đảo này đi.

Bên kia cúp máy. Không biết rồi cái trò nảy có diễn lại nữa không. Chán thật! Thời thế gì mà lắm trò lừa đảo thế? Trước kia, những trò này dùng các cô nói giọng chua loét của miền ngoài, bây giờ chúng lại sử dụng các cô giọng Nam, có lẽ chúng hi vọng đối với người Nam sẽ tin người giọng Nam hơn chăng? Chán thật! Suốt ngày lúc nào cũng phải đề phòng với cảnh giác. Toàn gặp chuyện lừa đảo, riết rồi chẳng biết tin ai? Ở đâu mà sản sinh ra lắm kẻ lừa lọc thế không biết?
3.9.2018
DODUYNGOC

Lại Một Bài Báo Cũ

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 10 16, 2018

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

Nhà văn Nhã Ca và Đỗ Duy Ngọc trước tòa soạn VIỆT BÁO

VIỆT BÁO WEEKEND SỐ 197 RA NGÀY 15.5.2006

BÁO DOANH NHÂN SÀI GÒN CUỐI TUẦN ĐĂNG LẠI

VÀI NÉT VỀ MỘT TAY CHƠI ĐỒ CỔ CỦA SAIGON…
“VUA ĐỒNG HỒ” đặt chân đến Mỹ tìm đồ cổ!

Học trung học kỹ thuật Huế, mò vào Saigon vào Cao đẳng Mỹ Thuật. Bỏ ngang sau 2 năm, lại theo môn Triết đại học văn khoa Saigon, rồi môn cổ ngữ Hán văn Vạn Hạnh. Học, làm, dạy kèm, rồi vẽ,lang thang, rồi học. Cuộc sống “giang hồ” như nhiều thanh niên Miền Trung cùng thời ấy trên đất hoa lệ Saigon, mà hậu vận lại “không đến nỗi nào” nói theo lời tâm sự của chính đương sự: tay sưu tầm đồ cổ Đỗ duy Ngọc. Ông tốt nghiệp cử nhân Việt Hán, trở thành ông thầy giáo gõ đầu trẻ được mấy năm, lại bỏ ngang nghề mô phạm, sống với cây cọ và tranh sơn dầu.

Những chặng đường tưởng là “dở dở ương ương”, theo giòng đời đưa đẩy, ông vào nghề làm bìa sách cho các nhà xuất bản Saigon, và “phất” nhanh! Đài truyền hình Saigon từng giới thiệu họa sĩ Đỗ duy Ngọc đã trình bày ngót 3,000 bìa sách cho các nhà xuất bản Văn Học, Văn Nghệ, PP/HCM, Trẻ, KHXH, Đà Nẵng, Tự Điển VN, ..v.v. Ông đi du lịch lung tung từ Tây Tàu, Nhật, và tuần qua, người ta thấy co mặt ở Phước Lộc Thọ, ngay trung tâm thương mại Quận Cam.

Đỗ duy Ngọc, trông dáng dấp phảng phất nét ước lệ của người họa sĩ và đôi nét giang hồ, một thứ giang hồ của những tay chơi “có của”.

–“Thì người ta vẫn gọi tôi là họa sĩ ấy mà !”, tay sưu tầm đồ cổ 56 tuổi này cười với tôi bên bàn cà phê sân trước Phước Lộc Thọ, nơi anh ta đang được Thầy cũ cùng bằng hữu trường Kỹ Thuật Huế đón tiếp, trong đó có vài người tôi biết tên: Gs Lê đình Thọ ,Gs Phổ, Gs Thiệu. Uống cà phê xong, họ kéo nhau đi thăm các thư viện và bảo tàng mang tên cố Tổng Thống Nixon, Reagan.

Là một trong không nhiều tay sưu tập đồ cổ của VN, anh Đỗ duy Ngọc mang cái sở thích sưu tầm những thứ mình thích, chớ không phải trữ những thứ cổ để buôn bán hầu hái ra tiền. Nên anh nói chưa có bán món nào cả, “cứ thấy lạ, cổ lổ sĩ hoặc tân thời, là mua về cất. Mua không nổi thì tìm đến xem cũng thích thú lắm rồi!”
-Thế mà tôi ở đây đọc báo từng thuật chuyện bên VN, nói anh là vua đồng hồ, vua lồng chim, có thực chăng?

Tay sưu tập có bộ râu nửa đen nửa bạc trắng này cười nhỏ nhẹ: “Các báo mến mình, nói lên vậy thôi. Tôi chỉ thu thập được hàng trăm cái đồng hồ các loại xưa nay và lồng chim, một số tượng Phật, ché rượu, chén trà,đồ ngà ngọc linh tinh…”
Nghe chén trà, tôi chộp ngay: “có chén nào thuộc tầm cỡ bộ chén cổ uống rượu của Tổ Thiên Thu từng khoe trước mặt Đào Cốc Lục Tiên khoang thuyền chở Lệnh Hồ Xung trên giòng sông Hoàng Hà không ?”
Tay chơi đồ cổ vừa từ Saigon đến cười: “-họa hoằn ông văn sĩ Kim Dung mới có đủ trong thiên Tiếu Ngạo Giang Hồ !”.

Được yêu cầu, anh Ngọc rút trong túi ra cái DVD loại bỏ túi từng mua trên đường du lịch Nhật Bản năm trước. Anh bật cho tôi xem một phần gia sản đồ cổ của anh đang được bảo tàng tại tư thất là một căn nhà 3 tầng, mỗi tầng rộng 200 mét vuông tại thành phố Saigon. Tôi say sưa ngắm các loại đồng hồ quả lắc phát ra đủ thứ âm thanh như đang lạc vào lễ hội một buôn làng nào đó của người cổ sơ châu Phi từng xem đâu đó trong phim: Tiếng gõ kinh kông như tiếng cồng, tiếng đàn thánh thót như dương cầm hòa lẫn tiếng chim hót,tiếng gà gáy o o, tiếng lạch cạch, tiếng cụng ly, hay tiếng kẻng leng ken!. Mỗi loại đồng hồ cổ phát ra một âm thanh riêng, mà mình không thể nào có dịp bước chân vào các phòng khách căn nhà trưởng giả, quí phái thời xưa để thấy được những chiếc đồng hồ quí hiếm. Tất cả được lên giây cót, chứ thuở xưa mấy trăm năm về trước làm gì có cục pin” để thay. Liếc nhìn qua người khách lạ vừa viếng Little Saigon, tôi thấy anh Ngọc xem lại bộ sưu tập của mình (chắc là đến lần thứ…mấy mươi rồi) với ánh mắt say sưa, mê mẩn như ánh mắt thời mình thanh niên chiếu tướng một bóng hồng lần đầu gặp trong đời mà…hợp nhãn.

Anh cho xem hình ảnh bộ sưu tập lồng chim. Cái thú chơi lồng chim, tôi mới biết lần đầu. Tay chơi đồ cổ gật gù khi tôi hỏi: “liệu có cái lồng nào cổ xưa cỡ thế kỷ không?”, rồi cho biết thêm: “Có chiếc lồng hơn hai trăm năm xưa đó, anh à!”. Từ ngạc nhiên chất tre xưa sao mà giữ được bền lâu không mối mọt gậm nhấm, đến những đồ trang sức lỉnh kỉnh lạ mắt đính tòn teng quanh lồng, ngay trong lồng, tôi được biết tên của vài thứ lồng anh Ngọc sưu tập: đó là lồng chim kiểu Võ Tòng đả hổ, lồng Thập Bát La hán, lồng Bách hầu, .v.v. (tên đặt tùy theo hình hay vật chạm khắc bằng ngà voi trang trí trong lồng: Thập Bát tạc 108 vị la hán trong võ Thiếu Lâm, bách hầu tạc 100 con khỉ đùa giỡn trên rừng !..)

Tôi cứ ngỡ lồng chim nào có sơn son thếp vàng như đồ mộc trong hoàng cung, là quí hiếm. Họa sĩ Ngọc cho biết, anh có nhiều lồng chim cổ vài trăm năm, mà thuần túy làm bằng tre. Giá trị hơn, lồng kèm theo những vật trang trí bằng ngà voi được đẽo, chạm khắc tỉ mỉ của các nghệ nhân đời trước. Ngay cái chậu đựng thức ăn cho chim, cũng bằng ngà voi thứ thiệt. Tôi đoán, có lẽ loại lồng này nguyên thủy dành cho giới hoàng gia hay quan quyền, điền chủ thuở xưa chơi, chứ dân giả làm gì vói tới.Mà nếu có, làm sao tránh được trộm đạo viếng nhà.

Một trong những thân hữu tiếp đón tay họa sĩ chơi đồ cổ này tới Quận Cam, giáo sư Lê đình Thọ mô tả: “Tôi đã có dịp thăm ngôi nhà họa sĩ Ngọc, và quả thực thấy đó là nơi tồn trữ đồ cổ trong cảnh trí thơ mộng, tịch lặng nhuốm hương vị thiền. Căn nhà số 129 B đường Nguyễn đình Chính này được giới yêu nghệ thuật biết tới, bởi nhiều bài báo Saigon đã giới thiệu rồi. Vừa bước vô sân yên ắng, lòng mình thấy thanh thản khi nhìn hồ nước và con suối nhỏ chảy róc rách, tai nghe tiếng chim hót líu lo như chào khách.Chim thì chim thiệt, mà lồng thì lồng quí hiếm thời cổ xưa. Vào phòng khách, tôi nhìn mọi thứ trang trí toàn là đồ cổ, ngoại trừ các bức tranh sơn dầu là tác phẩm của Ngọc mới vẽ mươi năm lại đây. Tràng kỹ, kệ, tủ, đều là thứ cổ lỗ sỉ ! Bình hoa bằng sứ,chén, bình trà rượu cũng cổ, có cái từ thuở đời Khang Hy. Hàng loạt kiểu đồng hồ được chưng trước mắt, và khi bước lên lầu, mỗi bậc thang có treo một loại đồng hồ xưa đẹp mắt, lạ lùng. Trong nhiều thứ đồ cổ được sưu tầm, tôi nhận thấy họa sĩ Ngọc có nhiều đồng hồ nhất, nên người ta thường gọi đùa anh ta là ông… Vua Đồng Hồ cũ.”

Vì thời gian tiếp xúc không nhiều, (họa sĩ Ngọc còn phải đi tới các viện bảo tàng nổi tiếng để xem…đồng hồ, coi các bậc vương giả Mỹ chơi đồng hồ thứ gì, hiệu Thụy Sĩ hay Pháp, Anh,Mỹ, còn theo ông thầy cũ Lê đình Thọ lùng tìm đồ cổ bị vô tình đem bán garage sale hay trong các chợ trời Cali), nên tôi chỉ phỏng vấn được đôi câu.
-Họa sĩ chơi đồ cổ từ bao giờ rồi ?
-Tôi mê sưu tập từ nhỏ. Lúc niên thiếu, thấy đồng xu là đã để dành. Sau luân lạc rồi thất lạc. Thực sự bắt tay sưu tập đồ cổ chỉ mới 32 năm rồi. Ấy là năm 1974, lúc ấy tôi đang làm cho chương trình phát triển của Tổng cục gia cư Saigon. Tôi mê cái lồng chim quí hiếm ấy quá, dám bỏ 4 lượng vàng tậu cho được, và cất đến ngày nay. Sau 1975, cuộc sống thay đổi, nhiều đồ gia bảo được rao bán ngoài lề đường. Nhờ vốn liếng chữ Hán từng học, tôi vớ được những đồ cổ như bình sứ đời Khang Hy, các đồng hồ thời cổ Pháp, bộ tẩu thuốc lá, v.v.trong đó có một khối ngọc Miến Điện chạm trổ chùm hoa. Đẹp tuyệt nhưng thiệt là nặng!
-Vào nghề chơi đồ cổ, anh chuyên trị món nào?
-Tôi thấy cái nào đẹp và quí hiếm, đều chơi tuốt. Thế nên có báo ở Saigon nói tôi là “Người ham chơi lung tung”. Đúng ra, tôi sưu tập đồng hồ nhiều hơn. Anh sẽ thấy, ngắm, và nghe tiếng gõ của đồng hồ, như cảm nhận một linh hồn trong đó, không cái nào giống cái nào, và mỗi âm thanh nó phát ra đều nói lên một tâm hồn, một sở thích, một cá tính!
-Thế dân chơi đồ cổ Saigon có ai sưu tập đồng hồ như anh không?
-Mỗi người một sở thích khác nhau. Trong giới đồ cổ, có người chuyên sưu tầm đồ cổ Huế, có người đồ Tây, có người đồ sứ, có người đồ ngọc. Vài chục người trong giới chúng tôi biết nhau, trao đổi hiểu biết lẫn nhau, ngoài sách vở nghiên cứu.

Người Họa sĩ sống nghề vẽ bìa sách và chơi đồ cổ này có nhiều lúc cạn túi lúc còn là sinh viên giang hồ từ Trung vô Nam. Anh cũng từng ghé vô những quán cơm xã hội của Saigon hồi trước năm 1975, nơi chỉ cần 5 đồng là có bữa cơm ăn no mệt nghỉ. Anh từng qua quán cơm chay xã hội VN Quốc Tự nơi sinh viên miền Trung học trường kỹ thuật Phú Thọ và Vạn Hạnh, Sư Phạm, Văn Khoa thường đáo vào. “Có khi hai người chỉ tốn có một phiếu ăn, là thay nhau cầm khay đi nhận phần ăn cơm xã hội”, anh nhớ lại bước đường thời vận mạt. Cũng có lúc anh làm ông thầy cò (corecter) chữa bản vỗ cho báo Đại Dân Tộc.

“Thế làm sao anh vô làm ông co-rech-tơ được ?”.
Họa sĩ Ngọc đáp: “Nhờ Thầy Thích Mãn Giác giới thiệu, lúc đó tôi là sinh viên Vạn Hạnh, còn Thầy làm phó Viện trưởng. Tôi sẽ thu xếp để xin thăm Thầy, và sẽ tìm thăm vợ chồng họa sĩ Hồ Thành Đức”
-Họa sĩ cùng thời với các họa sĩ Đức và Bé Ký?
-Đâu dám, tôi thuộc khóa đàn em, và chỉ học hai năm mỹ thuật Huế, rồi vô Nam.
Họa sĩ Hồ thành Đức là ân nhân của tôi trong những ngày tập tễnh vẽ tranh để bán dạo trong phố Saigon. Ông và họa sĩ Bé Ký từng cho tôi… mượn khung khi triển lãm tranh, cho nhiều ý kiến hội họa, và đôi lúc tôi buồn quá, ông bà rủ tôi đi uống cà phê!

Họa sĩ Đỗ duy Ngọc nói chỉ thích xem và sưu tập đồ cổ, chứ chưa có ý định bán ra bất cứ vật nào. Ông muốn giữ mãi những thứ mình thích cho riêng mình, mà mừng vì có người con trai là tài tử Huy Khánh, “cũng có máu sưu tập đồ cổ như cha”, anh cười nói.
Hỏi sao lại thích chơi đồng hồ nhiều hơn các thứ khác, anh nói nhỏ như lời thì thầm: “ chơi đồng hồ là chơi với thời gian. Nghe tiếng thời gian, giữ thời gian, níu thời gian lại, để biết giá trị của thời gian,..!” Tôi có cảm tưởng như anh đang làm thơ. Hỏi ra, họa sĩ Ngọc còn có nhiều giây phút trong cuộc sống dành để làm thơ, và đã xuất bản được ba tập rồi…Trên đường du lịch qua Mỹ tìm đồng hồ quí hiếm, họa sĩ Ngọc tạm trú những ngày đầu tại nhà vị thầy học cũ là Gs Lê đình Thọ, số điện thoại 714-552-2652. Sau đó, ông đi một vài nơi để tìm …những tiếng gõ tiếng ngân báo hiệu thời gian trôi.!
NGUYỄN HÙNG NHIÊN (CALIFORNIA)

Họa Sĩ Đỗ Duy Ngọc- Người Tình Của Hội Họa Và Văn Chương

art2all.net/tho/trandzalu/docduongvannghe

Trần Dzạ Lữ

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

            Đỗ Duy Ngọc – Họa Sĩ, Sinh tại Quảng Bình – Bắc Trung phần – Việt Nam. Di cư vào Quảng Trị năm 1954, sau đó vào Huế ở một thời gian ngắn và năm 1956 định cư ở Đà Nẵng. Học Mỹ Thuật, Đại học Văn khoa Sài Gòn ban Triết, Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn ban Việt Hán. Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sài gòn. Là thành viên ban chấp hành Đoàn văn nghệ sinh viên Đại học Vạn Hạnh từ 1972 – 1975, phụ trách mỹ thuật. Trước 1975, cộng tác với nhật báo Đại Dân Tộc và Sóng Thần, vẽ bìa sách cho nhiều nhà xuất bản và thiết kế sân khấu. Đã triển lãm tranh tại Hội Việt Mỹ Sài gòn, Đại Học Vạn Hạnh, Đường Sơn Quán (trước 1975). Du học Mỹ thuật ứng dụng tại Pháp. Sau 1975: Dạy văn chương các trường phổ thông trung học Năm 1995 bỏ nghề dạy học, hành nghề tự do. Từ 1980 trở lại với nghiệp vẽ bìa sách và thiết kế lịch, đã vẽ hàng ngàn bìa sách và đã nhận được nhiều giải thưởng bìa sách đẹp của Bộ Văn Hóa Việt Nam. Thường sáng tác tranh sơn dầu và đã được các nhà chơi tranh các nước Ý, Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Anh, Hòa Lan sưu tập. Là người có nhiều đồng hồ cổ nhất Việt Nam và Châu Á. Được Guiness Việt Nam công nhận năm 2003. Trong công trình văn hóa Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh do giáo sư Trần Văn Giàu chủ biên, Đỗ Duy Ngọc tham gia viết bài Nghệ thuật chạm khắc gỗ Sài gòn, Chợ Lớn, Gia Định trong cuốn 3: Nghệ thuật. Thành lập nhóm Nghệ thuật Breathing Eyes: quy tụ nhiều nghệ sĩ nhiếp ảnh trong và ngoài nước. Sống bằng lao động nghệ thuật, không lãnh lương của nhà nước và tổ chức nào. Hiện sống tại Sài gòn với vợ và 3 con trai (Trích tiểu sử).
Từ thập niên 70 tôi đã biết và gặp gỡ Đỗ Duy Ngọc trong những ngày phép từ quân trường Thủ Đức về lang thang ở khu đại học Vạn Hạnh ( Nay là trường Sư Phạm). Lúc này anh đang học văn khoa và triết. Chúng tôi thường ngồi quán cà phê trước trường giao lưu về hội họa, thơ văn… Có khi anh rủ tôi về nhà trọ của anh ở đường Trương Tấn Bửu ( nay là Trần Quang Diệu). Vì là dân văn nghệ nên luôn giắt lưng sách. Có khi là sách dịch của Bùi Giáng ký tên là Vân Mồng. Có lúc là sách dịch về nhà văn Nga Dostoievsky. Lại có lúc là thơ của Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên hoặc truyện của Mai Thảo, Nhật Tiến… kể cả Cô Gái Đồ Long của Kim Dung. Chúng tôi ghiền luôn nhà văn, triết gia hiện sinh Jean-Paul Sartre người Pháp. Phải nói là chúng tôi rất nể lớp văn nghệ sĩ 54. Trang viết của họ luôn đầy ắp khám phá và sáng tạo.. sau đường đi vững chải của Tự Lực Văn Đoàn mà chúng tôi từng yêu mến. Đỗ Duy Ngọc rất chân tình và quý bạn bè. Bẵng đi một thời gian dài vì tôi ra trường về đơn vị mới, anh đi dạy học… Đến thập niên 80 gặp lại nhau thì nghe anh bỏ dạy để theo nghệ thuật vẽ tranh sơn dầu và làm bìa sách. Tranh của anh được nhiều nước sưu tập. Đặc biệt ký họa của anh cũng tài hoa. Sống tự do với nghệ thuật nên anh đi đây đi đó cũng nhiều. Sống được, sống khỏe như anh kể ra thật thú vị. Năm 1995 khi tôi ra tập thơ đầu tay HDBT, anh là người mua thơ giá ủng hộ còn vận động thêm một số bạn bè của anh mua nữa. Nói ra điều này để hiểu thêm về một tâm hồn cởi mở đáng trân trọng như anh. Rồi năm tháng trôi qua, lặn hụp trong dâu bể… với trải nghiệm và đam mê nghệ thuật, trái tim và khối óc anh ngày càng giàu có hơn, bởi không chỉ vẽ tranh, sưu tập đồng hồ cổ, mà anh còn làm thơ, viết truyện và viết những bài nhận định, tản mạn về cuộc sống và xã hội cũng sắc bén như dao… Do vậy, thân xác anh thì ngày càng nhỏ thó lại. Mới đây gặp nhau trò chuyện trước chùa Vĩnh Nghiêm anh kêu bệnh xương khớp hành hạ anh… Hèn gì, mất đi dáng vẻ to, khỏe, đẹp đẽ ngày nào. Dù vậy, tư chất Đỗ Duy Ngọc vẫn còn long lanh trong đôi mắt anh. Và tôi hiểu rõ hành động của anh với đời, với gia đình, bè bạn… luôn mang tính nhân văn. Tuy ít gặp nhau trong những lúc bù khú, nhưng Đỗ Duy Ngọc là người bạn thường hằng trong tôi bởi anh chính là người tình của hội họa và văn chương… Anh vẽ tranh và viết nhiều thể loại.

Trần Dzạ Lữ qua ký họa của Đỗ Duy Ngọc

Tranh Sơn dầu của Họa Sĩ Đổ Duy Ngọc

Tranh sơn dầu

Dặm trường

vanviet.info/van

Văn 20 Tháng Ba, 2019

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Kỳ 2

Chương 4

Về đến nhà thì trời tối hẳn.

Cảm thấy đói bụng, nhưng Hạnh chưa muốn ăn. Nàng đóng cửa, mang hàng vào bếp, mở ra. Nàng ngồi lựa từng miếng hàng, cầm lên săm soi, phân ra từng loại theo chất lượng dầu và màu sắc đậm nhạt. Xong, nàng cân lại thử. Thấy số lượng hao hụt không đáng kể, nàng mừng thầm. Kể ra cũng là may mắn đầu năm. Nhưng nghĩ cho cùng, đâu chỉ là may mắn. Buôn mặt hàng này đòi hỏi nhiều mánh lới riêng, không giống như buôn các thứ khác. Còn phải chịu khó và biết quyết định đúng lúc. Ngắm nghía lô hàng và nghĩ đến một chuyến đi an toàn sắp tới khiến nàng bồi hồi, rạo rực. Mới đó mà đã gần một năm kể từ ngày nàng nhảy vào cái nghề buôn đầy kịch tính này.

Cũng chỉ là chuyện tình cờ. Tình cờ và bất ngờ, hoàn toàn bất ngờ. Sau khi quyết định bỏ sở làm ra “chạy chợ”, nàng làm đủ thứ để kiếm thêm tiền thu nhập hàng ngày: chạy mánh thuốc tây, thuốc lá, bỏ mối áo quần. Nàng giao dịch với một số dân buôn trầm, nhưng chẳng bao giờ nghĩ đến việc dính vào nghề này. Nàng không có vốn. Hơn nữa, sợ. Nói chung, buôn bán mánh mun bất cứ mặt hàng nào nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước đều được xem là bất hợp pháp và đều có thể bị công an thuế vụ làm khó dễ đủ điều. Nhưng trầm là mặt hàng bị săn đuổi nhiều nhất. Dù không có một văn bản công bố chính thức nào, nhưng qua truyền miệng và qua cách làm việc của công an, thuế vụ, người ta được biết rằng trầm được đánh giá ngang với thuốc phiện là món hàng thuộc diện “quốc cấm”. Bị bắt quả tang mang một ký trầm, không những hàng bị tịch thu mà người phải chịu một bản án lên đến ba năm tù giam. Nếu rủi bị bắt, chủ hàng không bao giờ đứng ra nhận.  Không ai muốn tiền mất tật mang.

Trầm lại là loại hàng không có tiêu chuẩn giá cả rõ ràng.  Cách phân loại hàng lại càng phức tạp hơn, tuy rằng nó có quy định loại như dzách lầu, loại một, loại hai, loại ba vân vân. Mỗi loại có giá cả của nó, nhưng vì một miếng hàng – chỉ là một mảnh gỗ chứa dầu – lượng dầu nhiều ít không đều, nên khó xếp loại, khó định giá. Ðã thế, giá cả lại cao thấp tùy theo nhu cầu người mua hoặc người bán, và tùy thuộc vào tỷ lệ các loại nằm trong một lô hàng. Thành thử, chung quanh việc mua bán trầm phát sinh ra vô số giai thoại, thực có, giả có, kể lại nghe cũng khá ly kỳ. Chính những điều như vậy khiến Hạnh giữ thái độ “kính nhi viễn chi” đối với việc buôn trầm.

Một hôm, nàng đi đóng thuốc tây cho một mối hàng tại Bao Vinh. Sau khi tính toán xong tiền bạc, bà bạn hàng thuốc tây kéo nàng vào phòng trong, lôi trong tủ ra một gói ny lông, bảo rằng:

–     Chị có quen biết ai chạy hàng trầm không?

–     Biết thì biết chứ. Em không chạy mặt hàng này, nhưng vẫn giao dịch với dân trầm nhiều. Chị cần gì?

Bà bạn hàng hạ giọng:

–    Ðây là một gói trầm người ta gửi nhờ đi bán gấp. Tôi chẳng biết cái loại hàng “dễ sợ” này. Nhưng vì ơn qua nghĩa lại nhiều phen, tôi không thể từ chối. Họ lại biết tôi kín miệng.  Nhưng không biết ai thân mà hỏi. Sợ hỏi không trúng người, thêm sinh chuyện. Bởi vậy nhờ cô xem giùm.

Hạnh nâng thử gói hàng, thấy khá nặng, khoảng vài ba kí lô. Nàng hỏi:

–    Mở ra xem thử có được không chị? Thú thật, em nghe nói thì nhiều mà thực sự, chưa khi nào em thấy một miếng trầm mặt mũi nó như thế nào.

–    Ðược thôi. Có mất mát gì đâu mà sợ. 

Mở ra, nàng hết sức ngạc nhiên khi thấy hàng chục miếng lớn nhỏ sắp sát nhau. Có miếng toàn màu đen như dầu hắc.  Có miếng thì màu đen đã ngả sang đà. Có miếng thì vừa đen vừa xám. Về hình dạng, miếng thì tròn tròn, miếng thì nhọn đầu, có khía, miếng thì lại lõm vào. Có miếng màu gỗ nhiều hơn màu đen. Nàng lấy ngón tay chà lên xem thử, thấy tay vẫn sạch. Té ra màu đen này là dầu, không dính tay. Chắc loại tốt đây, Hạnh nghĩ bụng. Nàng gói lại cẩn thận, đưa cho bà bạn hàng, hứa:

–    Ðược rồi. Em sẽ cố gắng kêu người về mua.

–    Nhanh lên nghe cô. Mà phải tìm người đàng hoàng, kín miệng nghe cô.

Trên đường về, nàng ghé nhà một người bà con xa đang chạy trầm.  Sau khi nghe kể về lô hàng, anh ta tức tốc đi ngay với Hạnh. Cuộc  mua bán diễn ra chóng vánh. Khi hỏi giá, bà bạn hàng nói: “Tùy anh, anh muốn trả bao nhiêu cũng được.  Tôi không biết mặt hàng này”. Người bà con rút ngay ra năm chỉ vàng, đưa cho bà bạn hàng, rồi hấp tấp ôm hàng về. Anh ta bảo:

–    Chị biết không, đây chắc là hàng ăn cắp. Em nghĩ có lẽ một tay công an hay thuế vụ nào đó tịch thu của ai, rồi nhờ người bán, lấy tiền chia nhau. Hàng rẽ rề. Biết cơ sự thế này, em đưa cho bà ta hai chỉ thôi. Mà thôi, của trời cho mà! Chị yên chí, em sẽ chia lời cho chị.

Xong việc, Hạnh về, không mấy quan tâm đến lời hứa vu vơ của người bà con. Ấy thế mà hôm sau, người bà con đến đưa cho nàng ba chỉ vàng, nói:

–    Em bán lời được sáu chỉ. Chị em mình cưa hai. Kể cũng hên.

Hạnh cảm động đến sững người. Bao năm tháng chạy chợ, nàng chưa hề cầm được trong tay vài phân vàng lời, nói gì đến nửa chỉ hay một chỉ. Không ngờ, chỉ với một tiếng nói, nàng bỗng không có trong tay đến ba chỉ vàng. Bắt đầu ra chạy chợ với vốn liếng hơn chỉ vàng (nàng dùng cái nhẫn cưới), nàng lấy bên nọ “đập vào” bên kia, bạo mồm hứa với mối này, dẻo miệng thuyết phục mối kia để có hàng. Bây giờ bỗng không, có trong tay một lúc đến ba chỉ vàng làm vốn, còn gì sung sướng hơn.

Sau lần đó, người bà con mua hàng, hỏi nàng có thích hùn không. Nghĩ là mình tự nhiên có duyên với trầm, nàng đồng ý bỏ ngay cả ba chỉ vào. May mắn thay, lô hàng đi trót lọt, nàng được chia lời thêm một chỉ nữa. Từ đó, Hạnh chính thức nhảy vào nghề buôn trầm.

*

Nghe tiếng động bên ngoài, nhìn ra thấy Lục, nàng mới hay là chồng đi vắng mới về. Không hỏi han thắc mắc, nàng nói ngay:

–    Anh giúp em một tay đi. Lô hàng em mua khá lắm, nhưng phải làm lại đôi chút. Anh vào trong tủ xem, có bao nhiêu bi xe đạp, mang ra hết đây cho em. Lấy luôn cây bút chì Trung Quốc, bút chì dùng để tô đen ấy mà.

Lục nhìn nàng, nghiêm giọng:

– Hạnh! Em có biết là hôm nay vẫn còn là ngày Tết. Khách khứa liên miên suốt ngày. Ai cũng hỏi em. Anh chẳng biết em đi đâu mà nói. Người nào cũng nói em tết nhứt mà ham việc tiếc công. Em không nể anh thì cũng nể bà con bạn bè chứ. Lại còn phải đi thăm đáp lễ người ta nữa…Đợi không được, đành phải đi một mình…

Bất ngờ bị chồng than phiền, Hạnh nổi cạu, dằn mấy miếng trầm xuống:

– Trời ơi! Anh làm như em đi chơi bời, la cà đàng đúm cả ngày không bằng. Anh có biết là em chạy đôn chạy đáo khắp cả thành phố để kiếm cho ra hàng không?

– Anh biết, anh biết…nhưng…nhưng…

Hạnh ngắt ngang:

– Anh khi nào cũng nhưng với nhị. Buôn bán là phải biết chớp thời cơ. Cứ ru rú nằm nhà như anh thì sao kiếm ra hàng. Anh có biết là cho đến giờ, em vẫn chưa có miếng cơm vô bụng…

Thấy chưa, hễ nói động đến là mang chuyện buôn bán ra dọa. Anh, anh, anh…

Giọng Lục chợt chùng xuống, nhão đi. Anh nuốt nước miếng, cảm thấy bất lực, không tìm ra chữ để diễn tả hết ý mình. Biết chồng không dám gây sự, Hạnh làm lành:

– Thôi, em xin lỗi. Em biết em có lỗi. Thiệt ra, nghe có xe đi an toàn, em nóng ruột nóng gan, đứng ngồi không yên…

      Lục định làm nư, nhưng nghe vợ xuống giọng, liền lẵng lặng bỏ đi, mang tất cả những thứ cần dùng xuống cho nàng. Nhịn vợ đã trở thành một thói quen từ khi nào, anh chẳng còn nhớ rõ. Vì anh hèn yếu hay vì Hạnh lấn lướt? Có thể là cả hai. Thực tình mà nói, cãi nhau gì thì cãi, nhưng hễ đụng đến chuyện buôn bán làm ăn là lúc nào anh cũng thấy mình đuối lý. Thôi thì đành nhịn cho yên cửa yên nhà. Mà nghĩ cho cùng, Hạnh đâu có làm gì sai. Ý nghĩ đó khiến anh cảm thấy mình lòng nhẹ đi, đỡ ấm ức. Thua ai chứ thua vợ mình chẳng chết thằng tây nào.

Hạnh hôn lên trán chồng biết ơn, rồi chỉ cho anh mấy miếng hàng mà nàng đã lựa để riêng:

–    Anh lấy cây bút chì tô đen, tô thật đen vào những nơi nào còn thấy màu gỗ. Cẩn thận nghe, hàng loại “hai” cả đó.

Hạnh thì lấy những miếng hàng có những lỗ hổng, nhét những viên bi xe đạp tròn tròn vào đó, rồi dùng bột gỗ rơi ra từ miếng trầm nhét kín lại. Miếng nào lớn, nàng bỏ bốn hay năm viên bi. Miếng nào nhỏ, nàng bỏ một, hai viên. Lục vừa làm vừa liếc nhìn Hạnh:

–   Người Việt mình làm cái gì cũng gian dối. Tụi Hồng Kông chúng nó biết, chúng nó trả về cho biết mặt.

Hạnh chống chế:

–    Làm sao mà biết được. Mình làm rất khôn, nghĩa là vừa phải. Miếng hàng này, anh xem, em bỏ bốn viên, anh cầm thử, chẳng có gì khác cả. Nặng vừa phải, không có vẻ gì là bất thường cả.

–    Anh cho rằng, nếu người ta qua mặt được một lần, lần sau, người ta sẽ bỏ nhiều hơn. Lòng tham vô tận mà. Người này làm được thì người kia cũng làm được. Cuối cùng, bi sẽ nặng hơn trầm.

Hạnh xẳng giọng:

–    Thôi mệt quá, anh ơi! Cứ làm, khi nào họ phát hiện được hẳn hay. Thời buổi này, không lừa dối nhau làm sao mà sống được. Mà lừa dối tụi nước ngoài, thì có sao đâu! Chúng nó quá giàu mà! Anh biết không, tô màu cho khéo là hàng sẽ được nâng loại. Bỏ bi vào, mình vừa trừ được hao hụt, vừa dư thêm ít lạng nữa. Một lạng trị giá cả nửa chỉ. Tụi nước ngoài chúng nó xạo không thua gì người mình. Chúng nó mua mình một, mà bán về Trung Ðông giá gấp ba, gấp bốn. Một kí loại “một”, chúng bán 4000 đô, trong lúc chúng nó mua của mình chưa tới 1500 đô. Ðấy, anh xem, vậy thì dại gì mà không tô, không độn.

Lục cười. Cái lối lý luận buôn bán này không hợp với tạng của anh. Anh không tin người ta có thể kiếm được lợi nhuận trong việc buôn bán chỉ bằng sự lừa dối. Nhất là khi sự lừa dối kéo lòng vòng từ khâu này đến khâu khác. Trong mặt hàng trầm, sự lừa dối được nâng lên thành nghệ thuật. Cứ tưởng tượng, một lô hàng trầm, người này mua của dân đi cội, bán lại cho người khác lấy một ít lời, người mua lại bán lại cho một người khác nữa và cứ thế chuyền qua tay bốn, năm, có khi sáu, bảy người. Khoảng cách giữa giá đầu tiên và cuối cùng lên đến vài cây là thường, so với số vốn bỏ ra lúc đầu chỉ một, hai cây vàng, lắm khi chỉ vài chỉ. Lục không rành buôn bán, lại càng không biết gì về mánh lới của mặt hàng trầm, nhưng trong nhà này, anh đã chứng kiến biết bao nhiêu vụ mua đi bán lại giữa Hạnh và bạn hàng, giữa bạn hàng và bạn hàng. Giống như đánh bài xì phé. Giá trị món hàng không nằm trong chính mặt hàng mà nằm trong cách bán. Ai có mánh lới nhà nghề cao, người đó sẽ kiếm được lời nhiều nhất. 

Có lần anh nói với vợ:

–    Mua bán riết rồi, không khéo em sẽ xem anh là một món hàng luôn.

Hạnh lườm chồng:

–    Chẳng thế mà nuôi nổi mấy cha con anh. Cứ ngồi đó mà chân chính với không chân chính. Ðói thì có!

Anh ngậm miệng. Kẻ làm ra tiền không những có quyền nói mà còn có quyền nói quá, nói xa hơn sự thật, có khi không cần cả sự thật nữa. Chẳng khác gì cái xã hội ngoài kia. Tất cả đều giả, từ những câu khẩu hiệu treo đầy đường phố cho đến các thông tin phát ra trên loa phường; từ những bài học trẻ con dạy ở trường cho đến những buổi họp dân phố, điều quan trọng không phải là sự thật mà là sự vâng phục và im lặng. Mỗi lần nhìn tấm biểu ngữ treo ngay trước lối đi vào xóm, “buôn bán là bóc lột”, dưới đó, hàng ngày đủ thứ loại con buôn, chạy mánh đi vào đi ra, anh cứ cười thầm. Một xã hội đầy nghịch lý. Nó tồn tại bằng sự nghịch lý. Chẳng lạ gì, gia đình anh cũng phải tồn tại bằng nghịch lý. Nghĩ như thế, anh nhìn Hạnh, cảm thấy bớt giận.

Hạnh gói lại, cân thử, rồi xoa tay thỏa mãn, nhìn chồng:

–     Lô hàng tăng thêm được năm lạng…Ơ kìa, anh làm gì mà ngồi ngẩn ngơ như thể nhớ ai vậy.

Lục như sực tỉnh, nhìn nàng, cười gượng. Nàng dùng dây ni lông, gói chặt lại rồi bảo Lục mang ra sau góc vườn, giấu dưới đống rác.

*

Để thưởng công chồng, mà cũng để chuộc lỗi, sáng hôm sau, Hạnh rủ chồng cùng mấy đứa con đi ăn tiệm. Lục chở hai đứa nhỏ.  Hạnh mượn thêm xe Honda của đứa em, chở Ðồng. Lục hỏi ăn ở đâu, Hạnh cười:

–   Cháo lòng Nguyễn Huệ.

Lục biết Hạnh lần này chìu anh, nhìn nàng cười duyên rồi lặng lẽ chạy về hướng đường Nguyễn Huệ. Anh biết Hạnh chẳng thích thú gì món cháo lòng. Nàng thường thích đi mấy quán đông khách, nơi nàng được gặp những người quen mà đa số là dân buôn. Ở những nơi đó, gọi đồ ăn, bia bọt cho anh xong là nàng chạy đi bàn này bàn nọ nói chuyện. Nếu nàng không đi, thì thế nào cũng có một ai đó kéo ghế đến ngồi cạnh nàng. Thôi thì đủ thứ chuyện: giá cả, lô hàng, các giai thoại về buôn bán, chuyện gia đạo người này người nọ. Chỉ trong thoáng chốc, anh trở thành người thừa. Anh đành im lặng nhâm nhi cốc bia, nhìn mọi người nhậu nhẹt, bàn luận, cãi nhau. Và đợi. Nhiều lần, ham nói chuyện, nàng quên mất cả anh. Mãi đến khi đứng dậy trả tiền, nàng mới sực nhớ ra, nàng chưa ăn gì cả.

Ðến quán, dựng xe xong, Lục liếc nhìn vợ. Hạnh không nói gì, háy anh một cái, cầm tay thằng cu Tơ vào trong quán. Quán ăn là một chiếc lều che tạm sơ sài ở góc vườn. Trong lều chỉ có hai chiếc bàn nhỏ. Các bàn khác đặt rải rác ngoài vườn, dưới gốc cây, và phần sân phía ngoài.  Không như các quán nhậu khác, ở đây, không khí thoáng đạt, yên tĩnh. Mồng ba Tết, quán còn thưa khách. Chỉ thấy một cặp ngồi ở phía cuối vườn. Lục cảm thấy thoải mái trước cái yên tĩnh này. Anh muốn được vừa ăn, vừa tâm sự chuyện đời với vợ con. Nhưng Hạnh trông không vui. Nàng lặng lẽ sắp xếp ghế ngồi cho mấy đứa con và gọi thức ăn. Thấy Lục  còn ngồi yên, nàng hỏi:

–    Anh ăn lươn xào hay lẩu? Hay làm một tô cháo đi.  Mấy đứa không thích ăn lươn. Chúng sợ. Ở đây thức ăn ít quá.

–    Quán bình dân mà!

– Anh uống một lon heineken nhé?

Lục xua tay:

–    Heineken đắt quá, uổng tiền. Anh uống một cốc  rượu “Thiên tường” thôi.  Ở nhà còn mấy lon Sài Gòn, về uống sau.

Hạnh cười:

–    Em đãi anh một lon. Lâu lâu nhấm một tí đồ ngoại cho vui.  Mừng em mua được bận hàng đầu năm.

Thấy Hạnh vui, anh im lặng chấp nhận. Ðược mấy khi nàng không cằn nhằn, nói chi đến chuyện nàng chìu anh như bữa nay. Anh cảm động nhìn vợ:

–    Cám ơn em.

–    Chồng em đến lạ!  Bữa này lại bày đặt cám ơn!

Lục không thoải mái được lâu. Khi anh vừa ăn được mấy miếng lươn và nhấp một, hai ngụm bia thì nghe có tiếng xe dừng trước quán. Anh nhận ra hai người khách mới, lại là bạn hàng của Hạnh: Hồng và Thuận. Anh nản chí. Tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa. Hai người bước vào, đang nhìn quanh để tìm chỗ, thì Hạnh vui vẻ lên tiếng:

–    Hồng! Thuận! Lại đây ngồi cho vui.

Hai người quay lại. Hồng reo lên:

–    Trời, hai vợ chồng chị Hạnh kìa.

Thuận nhận ra Hạnh, nói:

–    Tôi đang muốn tìm chị đây.

Thuận chào Lục, kéo ghế ngồi xuống cạnh Hạnh. Hồng ngồi phía bên kia, gần Lục. Thuận hỏi ngay:

–    Nghe chị mới “dớt” được một bận hàng xịn lắm, phải không?

Hạnh giật mình:

–     Ai nói với anh vậy? Ðừng nghe người ta đồn. Thiên hạ khi nào cũng ưa thêm mắm dặm muối vào.

Thuận oang oang:

–   Chị hên hơn tôi. Hôm qua tôi lên Dương Xuân, hỏi thằng Gò-đen mấy hắn cũng chối là không có hàng. Tổ mẹ thằng oắt con, có ngày tôi cũng phải cho nó ăn đấm.

Hồng chen vào:

–    Thuận khi nào cũng ăn nói phang ngang bửa củi. Tùy người mà nói chứ. Ðầu năm đầu tháng…

–     Không tức sao được. Bán ai cũng là bán, sao lại chọn người này người nọ. Bộ thằng này không có tiền trả tươi hay sao.

Hạnh dịu dàng:

–    Tự dưng Thuận nói vậy. Mình có mua được gì đâu.  Trách nó làm gì tội.

–   Thôi chị ơi, Thuận chứ có phải ai mô mà nói câu đó.  Dân trầm, chị biết rồi, đánh hơi còn tinh hơn chó nữa. Nói là nói cho vui, chứ thằng này mà thèm giận thằng oắt con đó làm gì! Bây giờ thế này, liệu chị sang lại cho tôi bận hàng đó được không. Tôi đang cần hàng để nhập cho ông Quán mồng năm tết. Hàng “đuôi” thì nhiều mà hàng “đầu” không có. Không cần xem hàng, tôi trả lời một chỉ, được không.

Hạnh chối mãi không được, đành nói:

–    Giấu không được thì nhận vậy. Nhưng nói thật, tôi cần hàng đi.  Mua xong, tôi chuyển đi liền. Tôi nói thật đó.

Thuận nài nỉ, nhưng Hạnh cương quyết từ chối. Thuận bực  bội ra mặt, nhưng liệu khó thuyết phục được Hạnh, bèn xuống nước:

–    Hay là, chị cho tôi xem được không? Nghe nói mà không “chộ”, cũng tức.

Hạnh mềm mỏng:

–    Hàng mua xong, gửi liền, Thuận à. Mô có dám giữ trong nhà. Có xe là vọt ngay. Thuận thông cảm giùm mình.  Nếu còn giữ ở nhà thì tiếc gì mà không cho Thuận xem.

Cứ thế, hai người xoay quanh chuyện mua bán trầm. Câu chuyện nhảy vọt từ bận hàng ở Dương Xuân đến tình hình hàng hóa ở Sài Gòn, xoay quanh việc nhập hàng đầu năm cho công ty, rồi lang bang qua các giai thoại mua bán trầm. Hồng và Lục ngồi nghe một cách lơ đãng, thỉnh thoảng miễn cưỡng gật đầu hay lắc đầu khi Hạnh hay Thuận cần hỏi gì đó. Nghe chán, hai người quay qua nói chuyện với nhau. Hồng hỏi Lục:

–    Lâu nay, anh có đọc thêm sách báo gì không?

–    Trời, có sách báo gì đâu mà đọc, chị. Toàn là sách báo tuyên truyền vớ vẩn, đọc một bài là đủ.

–    Hồng muốn nói sách báo cũ kìa.

      –    Có chị ạ. Thỉnh thoảng thôi. Tôi còn giữ lại được một ít sách báo cũ sau mấy đợt truy quét tịch thu sách báo đồi trụy. Lâu lâu mang ra đọc lại chơi. Kể ra thì cũng ẩu.

–    Sách của ai vậy anh? Có cuốn nào hay không, cho Hồng đọc với.

–    Nói thật, tôi cũng chẳng còn thấy hay hay dở nữa. Ðọc là đọc cho vui, vì không có gì để đọc. 

–    Báo hay sách vậy anh?

–    Báo có, sách có. Một ít Bách Khoa, Văn. Mấy truyện dịch của Hemingway như “Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro”, “Chuông gọi hồn ai”, rồi “Một thời để yêu một thời để chết”…

–    Có truyện Việt nam không?

–    Một ít. “Tôi nhìn tôi trên vách” chẳng hạn.

–    À, “Tôi nhìn tôi trên vách” của Túy Hồng phải không?  Anh cho tôi mượn cuốn này đi. Trước giải phóng, tôi khoái truyện này lắm. Ðọc văn Túy Hồng cứ có cảm giác nhột nhạt thế nào ấy.  Nhột mà thích. Chữ nghĩa bà ấy cứ như cái gì chích vào người mình.

–    Chị nhận xét hay thật.  Tôi đọc cũng có cảm giác như chị nhưng không biết cách diễn đạt. Không khéo chị có thể viết phê bình sách đa.

Hồng cười thích chí:

–    Không dám đâu anh. Nhưng đọc truyện ai mà mình thích, Hồng đọc đi đọc lại hoài, cố tìm hiểu lý do tại sao mình thích.

–    Chị chịu khó nhỉ?

–    Hồng dạy văn mà anh.

–    Hèn gì!

–    Tháng rồi vào Sài Gòn, Hồng có mua lại được cuốn “Exodus”. Anh đọc cuốn này chưa?

–    Thế Uyên dịch phải không. Tôi có thấy nhưng chưa có dịp đọc. Hay không chị? Truyện đề cập đến cái gì? Chuyện tình?

–   Không hẳn. Ðề tài chính là chuyện dân Do Thái lập quốc.

–   Tôi nhớ ra rồi, đề tiếng Việt là “Về miền đất hứa”, phải không?

–    Ðúng. Hồng cũng mới mượn được của cô bạn mấy tập Bách Khoa đóng bộ, nhưng cũ quá, đâu thời kỳ 60, 61 gì lận.  Cũ, nhưng đọc lại cũng vui vui.

–   Tôi thì còn một ít Bách Khoa những năm sau này.  Nhưng tôi ít thích Bách Khoa. Bách Khoa nghiêm túc quá. Tôi thích tờ Văn hơn. Có mấy thằng bạn lính của tôi viết ở đó.

–   Ðúng rồi. Hồng cũng đọc Văn luôn. Ðám nhà văn trẻ trong Văn nhiều, mà toàn là lính không. Hồi đó, Hồng cũng thích lính lắm.

Lục cười:

–    Vậy mà Hồng mô có lấy lính?

–   Cũng cái số thôi anh. Nhưng thích thì mình vẫn thích.  Mà thời trước, mấy ai thoát khỏi lính đâu. Truyện cũng thế, toàn là chiến tranh. 

Lục định nói tiếp thì Thuận bỗng nhiên nâng ly bia lên, mời Lục:

–    Thôi cạn ly đi ông Lục ơi. Quý vị thì ai cũng văn chương chữ nghĩa cả, mà người nào người nấy ốm teo.

Anh ta quay sang Hồng:

–     Bà cũng thế. Cạn ly đi. Ngày nào cũng sách với lại chữ nghĩa. Tôi chán ngấy mấy cái trò văn chương chữ nghĩa của quý vị. Mẹ kiếp, không có tiền vào thì văn chương cái củ…mẹ gì! Nào, ông Lục, vô đi.

Hồng hớp một hớp bia, nhìn Thuận, nhỏ nhẻ:

–    Thuận kỳ thiệt. Thuận có chuyện của Thuận, tụi này không biết chuyện trầm thì nói chuyện khác cho vui thôi mà.  Chẳng lẽ cứ ngồi không.

Thuận quay sang Hạnh cười:

–    Họ khác mình khác, phải không chị. Họ thích chuyện giả, mình thì chuyện thật thôi. Nào, uống.

Thuận cạn ly, đặt một cái thật mạnh xuống bàn, rồi bàn tiếp chuyện trầm với Hạnh.

Thái độ của Thuận cắt ngang hẳn câu chuyện của Hồng và Lục. Hai người ngẩn ngơ nhìn nhau, im lặng.

Chương 6

Chuyến xe Bộ Nội Vụ với một viên chức cao cấp áp tải cùng với lệnh công tác do bộ trưởng ký đã giúp tay tài xế thong dong đi lọt mười mấy trạm thuế, mang đến Sài Gòn hơn ba mươi ký trầm xịn. Tất cả có ba chủ hàng: Mễ-Tư, Phúc-Toàn và Hạnh. Mễ đi máy bay trước đợi đón hàng. Phúc và Hạnh nhảy tàu Thống Nhất vào sau. Hạnh nhờ người dùng xe chuyển hàng về chỗ trọ. Lần này, nàng không gửi hàng chỗ cũ nữa, mà gửi ở nhà một người quen khác chuyên chạy mánh thuốc tây chợ Bến Thành, nhà ở đường Ðiện Biên Phủ. Thường thì dân buôn, nhất là dân buôn trầm, ít khi gửi hàng tại một nơi nhiều lần. Dân Sài Gòn chẳng mấy ai biết đến mặt hàng này, nhưng công an thuế vụ và đám viên chức phường khóm biết khá rõ. Vì thế, địa điểm bán hàng phải thay đổi luôn, để tránh gây chú ý, bảo đảm an toàn và dễ mua bán.

Trái với lời đồn đại ở Huế, tin tức thị trường không mấy vui. Sau chuyến hàng Tết, thương lái Campuchia hoàn toàn vắng bóng ở Sài Gòn. Cũng chẳng nghe tin tức nào từ bên kia biên giới gửi về. Các công ty nhà nước  nhập cầm chừng, chỉ mua hàng xấu, giá thấp. Hàng đứng. Thị trường hoàn toàn lặng lẽ. Thương lái trầm vắng biệt, y như họ biến đi đâu mất, không ai hay. Mễ-Tư thấy không xong, gửi hàng lại Sài Gòn, trở ra Huế  ngay.  Phúc nấn ná ít hôm, rồi cũng ra. Hai người này mạnh vốn, hàng ăn thì bán, hàng đứng họ xoay ra làm việc khác, đợi giá. Riêng Hạnh, nàng chỉ có một vốn. Vốn chôn chặt trong lô hàng thì đành chịu trận. Hạnh buồn bã, phân vân không quyết. Ði tay không ra Huế thì tốn tiền tàu xe. Lại không yên tâm chút nào khi để hàng lại tại nhà người ta quá lâu. Cả gia tài sự nghiệp và cuộc sống của chồng con đều nằm gọn trong mấy ký hàng. Bỏ đó mà đi khác nào giao sinh mệnh của cả gia đình vào nơi mênh mông vô định. Nhưng ở, thì biết ở đến bao giờ. Chồng chờ, con đợi, tiền cạn túi. Thì thôi, đành phải về. 

Trưa hôm đó, đợi nắng dịu, Hạnh trở dậy, sắp xếp hàng lại, gói, niêm phong kỹ, nhờ người nhà cất giùm. Nàng ra ga đúng lúc tàu Thống Nhất 4 chuẩn bị khởi hành. Vào giờ cao điểm, khách đặc kín phòng đợi. Những tay anh chị bán vé chợ đen cùng dân mánh mun đủ loại  chạy qua chạy lại gạ gẫm, móc ngoặc. Ðám vác hàng thuê làm việc cật lực để chuyển hàng của con buôn vào ga cho kịp chuyến. Nếu muốn ra ngay bây giờ, Hạnh có thể chìa ngay mấy trăm bạc cho con nhỏ gác cổng để vào ga, nhảy tàu ra ngay. Nhưng lòng chưa quyết, vẫn còn phân vân. Nàng đi lui, đi tới, ngẩn ngơ nhìn khách qua lại, lòng đau đáu, bồn chồn.

Chợt nghe tiếng gọi. Hạnh giật mình, nhìn quanh. Trời ơi, Duyệt. Duyệt, dân chạy hàng chợ Tân Bình. Như vớ được cái phao, nàng ôm lấy bạn, lòng ấm lại. Rồi buông tay, nhìn Duyệt, ngạc nhiên:

–    Ðịnh bỏ chợ ra buôn tàu hay sao mà vơ vẩn ở đây, bà?

Duyệt cười thoải mái:

–    Mô có. Ra tiễn ông anh họ đi Ðà Nẳng. Anh ấy mới ở trại cải tạo về. Bà cũng đi chuyến này hay sao?  Ra hàng gì vậy?

Hạnh đưa tay phủi bụi bám trên cái áo lụa láng của Duyệt:

–    Chẳng có hàng gì. Hàng vào bán chưa được, chưa biết tính sao đây. Ðợi mãi sốt ruột quá, tính nhảy tàu ra lại.

–    Ði tay không à? Có ai đời dân buôn mà để uổng phí thế! Ðóng ít thuốc lá ra đi. Craven A đang hạ đấy. Bữa này còn có “chín hai” à. Hôm qua hôm kia, hàng khan, bọn Hà Nội, “chín tám”, có khi “chín chín” mà cũng đóng đấy.

Hạnh ngập ngừng:

–    Ừ, đi tay không thì phí thật, nhưng…

Hạnh ngừng nói. Chẳng lẽ nói với Duyệt mình chẳng còn bao nhiêu tiền trong túi. Không để ý đến thái độ khác thường của bạn, Duyệt dứ dứ mấy ngón tay vào mặt Hạnh, cười tủm tỉm:

–    Lại ra gấp kẻo nhớ chàng chứ gì! Nhớ vòng tay, hơi thở, phải không. Của mình, chứ của ai mà vội. 

Hạnh cười theo:

–    Nhớ chứ sao không nhớ. Ðâu phải sướng như bà, về cái là gặp chàng ngay.

Duyệt xốc tay Hạnh:

–    Nhớ thì nhớ, nhưng phải có tiền. Không có tiền nuôi chàng thì đâu có mà vòng tay với vòng chân, hơi thở nồng nàn, phải không nà? Thôi, quyết định đi. Bà theo tôi, tôi đóng cho, bảo tụi nó chuyển hàng ra. Còn bà với tôi đi long nhong chơi, đợi khuya ra tàu, đi.

–    Ðầu óc tôi rối bù đây này, chơi gì mà chơi.

–    Bộ không được sao? Chuyến tàu kế, khuya mới đi.  Giờ mới có ba giờ chiều. Ðóng thuốc xong, bà còn cả khối thời giờ, chẳng lẽ nằm ngủ. Ta đi tới chỗ này chơi, vui đáo để lắm.  Tôi cá là bà chẳng bao giờ biết đến đâu. Quyết định đi. Buôn bán đầu tắt mặt tối quanh năm, phải hưởng thụ đôi chút chứ. 

Duyệt hạ giọng:

–    Ông xã tôi vắng nhà, tôi “nhảy dù” đi chơi.

Hạnh đâm ra tò mò:

–    Chơi cái gì mà gọi là “nhảy dù”?

Duyệt cười khanh khách:

–    Nghe hai chữ “nhảy dù” bà sợ sao? Không có gì ghê gớm đâu. Tôi dùng chữ tượng hình ấy mà. Nào, đi nhé. À bà ra đây bằng gì?

–     Thì xe lam chứ gì.

Duyệt nói như ra lệnh:

–     Nào, tôi đèo bà đi đóng hàng trước. Ðừng suy nghĩ gì hết. Dân buôn là phải biết quyết định. Ðừng có mà lừng chừng, mất mối. Không lỗ thì cũng bị tụi thuế chúng nó “đớp” cho hết vốn.

Hạnh miễn cưỡng theo Duyệt, leo lên xe.  Qua khỏi cầu Bình Triệu, Hạnh ôm vai Duyệt thú thật:

–    Thực tình, tôi chẳng mang tiền theo. Tiền hiện giờ nằm ở trong hàng cả rồi. Bà chở đi vòng vòng chơi rồi cho tôi về lại đường Ðiện Biên Phủ.

Duyệt ngoái đầu lui, nói lớn cho át tiếng ồn ào trên đường:

–    Bà cứ thậm thùi thậm thụt. Giờ có muốn lui lại ga, tàu cũng chạy rồi. Ðấy, bà nghe chưa, tàu hú còi rồi đấy. Giờ bà không đóng thuốc, phải không?

–    Ừ!

–    Ðược, ta đi chơi vậy. Ngồi yên đó, đừng có mà bàn tới bàn lui. Tôi ghé chợ một chút, dặn dò đôi chuyện rồi dông.

*

       Gửi xe xong, Duyệt nói:

–    Thời buổi này, đi đâu, làm gì cũng phải cẩn thận. Nhất là đám mánh mun như bọn mình. Bọn phường khóm chúng nó thính mũi lắm. Nhiều việc chẳng đáng gì mà bọn chúng cũng làm ồn lên.

Duyệt dẫn Hạnh đến một căn nhà nằm khá sâu trong một con hẻm tráng nhựa ngoằn nghoèo. Căn nhà khá khang trang.  Cổng sắt, cửa kéo. Một giàn hoa giấy đủ màu chạy dọc bờ rào, phủ cả cổng. Duyệt nói nhỏ vào tai Hạnh:

–    Nhà này trước của sĩ quan ngụy.

–    Hèn gì!

–    Nhưng giờ chủ nhân bây giờ là bộ đội.

–    Bộ đội thì phiền quá.

–    Không sao đâu. Nói bộ đội là nói cho vui vậy, vì là dân ngoài kia vào. Chẳng bộ đội bộ điếc gì, cũng dân mánh mun như mình thôi. Nghe nói chịu chơi lắm.

Duyệt gõ cửa. Ðợi một lát, mới có một bà cụ ra mở cửa.  Hai người đi ngang phòng khách vắng, theo một hành lang hẹp ra phía sau đến một phòng khác. Bước vào phòng, nàng ngạc nhiên khi thấy nhiều người  đã ở đó, kẻ đứng người ngồi rì rào nói chuyện. Có tiếng nhạc êm dịu phát ra từ chiếc cassette nhỏ đặt ở góc phòng. Nàng lúng túng vì nhìn quanh chẳng thấy ai quen. Thấy Duyệt, một giọng đàn bà reo lên:

–     Làm gì mà giờ này mới đến bà Duyệt?

Duyệt đẩy Hạnh tới trước:

–    Hạnh, khách mới, tin cậy. Dân trầm, từ Huế vào.

Duyệt chỉ từng người, giới thiệu:

–    Anh Thông, giáo viên lưu dung, chị Hồng bà xã anh Thông; Hương, em gái Hồng; Sinh, y khoa bỏ học ra chạy chợ; chị Tuyết, vàng chợ Nancy; Chị Phong, chợ Bà Chiểu; anh Toàn, anh Trang, anh Thắng, anh Phiệt và kia là chị Mùi.  Ðồng hội đồng thuyền cả.

Hạnh dè dặt chào từng người. Nàng ngồi xuống chiếc ghế mà người đàn ông tên Toàn vừa mang đến. Anh ta bảo:

–    Tôi rất thích nghe giọng Huế.

Hạnh mạnh miệng nói tếu để che giấu nỗi ngượng ngịu:

–     Giọng Huế dở nhất nước, anh thích gì nổi.

Toàn nghiêng đầu cười, điệu bộ rất ga lăng:

–     Trái lại, chị Hạnh à.

Nói xong, Toàn quay đi, trả lời một người khác vừa hỏi anh ta một điều gì đó. Hạnh kéo Duyệt ngồi xuống, nói nhỏ:

–    Tự dưng bà kéo tôi vào đây làm gì. Có ai quen đâu.  Với lại, tôi mô có biết nhảy nhót gì.

Duyệt ra lệnh:

–    Ngồi yên đó. Ðừng có nhiều chuyện. Không ai đưa về đâu, trừ khi mãn tiệc. Dễ gì có được một dịp vui vẻ như thế này vào thời buổi này. Không phải ai ở đây cũng biết nhảy cả đâu. Mà lại, không biết thì tập, mấy hồi.

Hạnh ngồi yên chịu trận, cố đè nén cảm giác lạc lõng.  Nàng không biết nhảy và cũng chưa bao giờ tham dự một buổi họp mặt có khiêu vũ nào. Ở Huế, khiêu vũ từ xưa đến nay vẫn điều cấm kỵ. Con gái và ngay cả con trai biết khiêu vũ bị xem như những người hư thân mất nết.  Hồi còn nhỏ, và ngay khi đã lớn, có chồng, đôi khi nàng cũng tò mò muốn tận mắt nhìn người ta khiêu vũ như thế nào, nhưng không có dịp. Không biết một người đàn bà sẽ có cảm giác như thế nào khi để một người đàn ông không phải chồng mình ôm sát lấy mình để nhảy. Mới nghĩ đến không thôi, nàng đã thấy nổi gai trong người, huống gì là trong thực tế. Khi Duyệt cho biết rủ nàng đi dự một buổi khiêu vũ lậu, nàng khăng khăng từ chối. Quen với trò trốn tránh công an, thuế vụ, nàng chẳng sợ gì chuyện “lậu” với không “lậu”. Nàng ngại chuyện khác. Nàng sợ bị lạc lõng.  Sợ hiểu lầm. Sợ tiếng tăm bay đến những bạn hàng Huế. Chỉ khi nghe Duyệt cho biết mọi người đều là dân Bắc và Nam, nàng mới bằng lòng vì nàng biết chắc là không có ai quen. Thực sự, trong thâm tâm, khi nghe Duyệt rủ, nàng đã muốn đi rồi. Nàng tò mò. Vả lại, đây cũng là dịp giúp nàng quên nỗi băn khoăn hiện tại.

Ðồ ăn bày ra. Toàn đồ nhậu: nem nướng, thịt vịt quay, phá lấu. Mấy bà lăng xăng bưng chén, đĩa, nước ngọt. Người đàn ông tên Thông bước tới vặn nhạc nhỏ lại. Anh lôi ra từ hộc tủ gần đó một  gói giấy báo. Anh tháo mấy lớp giấy để lộ ra một chai rượu. Anh đưa chai rượu lên, nói:

–   Ðây là chai Napoléon thứ thiệt thằng em tôi từ Mỹ mang về cho tháng rồi. Cũng đa đoan lắm mới lấy được. Nó mang hai chai, tụi hải quan đòi giữ lại hết. Năn nỉ mãi, lại biếu luôn một chai, mới được mang về. Hôm nay, khỏi rượu cồn, rượu Cây Lý, rượu Sitomen. Làm một bữa rượu Tây cho đã, đỡ ghiền.

Anh mở nắp, rồi dùng chiếc nắp nhỏ như một dụng cụ cân đong, trịnh trọng rót từng nắp đổ vào mấy cái ly để sẵn. Vừa rót vừa cười:

–    Thời buổi này, cái gì cũng phải cân đo đong đếm cẩn thận.

Rót rượu xong, Thông quay qua mấy bà:

–    Xin mấy chị nhắm một chút. Người nó có hưng phấn thì nhảy mới vui.

Ðến gần Hạnh, Thông nói:

–    Hân hạnh được biết chị. Mời chị…

Hạnh bẽn lẽn lắc đầu:

–     Tôi không hề…biết uống rượu. Cảm ơn anh, tôi uống nước đá lạnh cũng được.

–    Sao lại nước đá lạnh. Có cô ca cô la Mỹ đằng kia chị. Chị Phong mang đến đấy.

Theo tay chỉ của Thông, Hạnh thấy trên chiếc bàn nhỏ cuối phòng có một bịch ny lông khá lớn với chất nước màu đen sánh nàng vẫn thường thấy bày bán ở chợ Huỳnh Thúc Kháng.  Loại nước ngọt cô-ca đựng bình này chỉ mới thấy xuất hiện gần đây ở các khu chợ bán đồ ngoại ở Sài Gòn. Nhìn thôi, nàng đã thấy quá xa lạ đối với đời sống bình thường của nàng, nói gì đến chuyện mua để uống. Nàng bước đến bàn, lấy ly, cầm bình cô ca, mở nắp. Bịch lớn hơn bàn tay, nàng loay hoay mở nắp, trượt tay, bình nghiêng xuống bàn, nước chảy ra ùng ục. Nàng hoảng hốt, dùng cả hay tay đỡ bịch lên, nhưng lại trượt. May mà một người đàn ông đứng gần bàn, kịp thời chạy đến đỡ giúp nàng. Hạnh đỏ mặt, nhìn người đàn ông, ấp úng:

–    Xin lỗi ông, tôi vô ý quá.

Người đàn ông cười:

–    Ðâu có gì chị. Kìa, nước đổ cả vào vạt áo chị kìa.

Hạnh giật mình nhìn xuống, thấy thân áo bên phải, phía dưới bị nước đổ lan ra, nhỏ xuống quần. Nàng nhìn quanh tìm cái bóp để lấy chiếc khăn, thì người đàn ông rút vội khăn tay của mình, định chùi cho nàng. Nàng hoảng hốt bước lùi lại:

–    Cám ơn ông. Ai lại làm thế, nhớp khăn ông. Tôi có khăn ở đàng kia.

Hạnh trở về chỗ của mình, mở túi xách lấy chiếc khăn mu-soa nhỏ, chùi nước cô ca trên áo trên quần. Nước thấm vào da qua lớp quần mỏng. Nàng rùng mình, cảm thấy lành lạnh ở hai bắp đùi. Khi trở lại bàn thì người đàn ông đã chùi sạch nước đổ trên bàn. Anh ta đưa cho nàng cốc cô ca đầy:

–    Mời cô. Tôi tên Phiệt. Hân hạnh được biết cô.

Nói xong, anh ta nâng cốc rượu lên:

–    Nào, nâng cốc chúc sức khỏe cô Hạnh. Gọi cô cho trẻ, được không, hay gọi tên?

Hạnh bực mình vì cái vẻ xum xoe quá đáng của Phiệt.  Nhưng vẫn mỉm cười:

–    Không có gì, anh. Anh muốn sao cũng được.

–    Thế thì tốt quá. Kêu Hạnh đi nhé. Nào, mời Hạnh. Hạnh nâng ly với anh ta, uống một hớp. Không đợi Phiệt nói thêm, nàng bước về chỗ Duyệt. Duyệt đang nói chuyện vui vẻ với Thông về chuyến xuất cảnh của gia đình Thông sắp đến. Thấy Hạnh trở lại, Duyệt ghé tai hỏi nhỏ:

–    Thế nào, ông Phiệt ông ta tán bà đấy phải không?

Hạnh phác nhẹ vào vai bạn:

–    Bà khi nào cũng nói bậy. Ai mà tán tôi.

–    Có gì mà gọi rằng bậy. Ðàn ông thấy đàn bà thì tán là chuyện thường. Tôi thấy anh ta dùng khăn tay định lau áo cho bà, phải không?

Duyệt hạ giọng:

–    Vợ vượt biên mấy năm rồi.  Hiện ở Canada. Lúc đầu có thư từ, lâu nay bặt tăm. Chắc bà ta cho “de” rồi. Tính tay ấy cũng vui, nhưng tán vụng. Không bằng tay Toàn kia.

Hạnh im lặng, ngồi xuống chiếc ghế cạnh đó. Lúc này, nàng mới để ý thấy ai cũng ăn mặc khá tề chỉnh. Ðàn ông, áo bỏ vào quần. Ðàn bà, quần jean áo pull. Hồng mặc jupe. Chỉ có nàng là mặc đồ bộ. Nàng quay sang Duyệt:

–    Tôi ăn mặc thế này mà bà cũng kéo vào.

–    Sao lại gọi là “ăn mặc thế này”. Bộ ăn mặc sao mới được?

–    Bà xem, ai cũng áo quần nghiêm chỉnh, chuẩn bị đàng hoàng.

Duyệt phác vào bắp vế Hạnh:

–    Bày đặt! Không ở truồng là tốt rồi. Thời đại xã hội chủ nghĩa mà. Bà mặc thế này lại trông còn hấp dẫn ra phết. Bất ngờ mới thú. Nếu bảo bà chuẩn bị, chắc gì bà chịu đi. Thời buổi này, cận đâu xâu đấy, gặp đâu làm liền đó. Bà xem, không có thời buổi nào mà mọi sự xoay đổi xoành xoạch như bây giờ. Mới vợ vợ chồng chồng đó, thoắt cái, bỏ nhau. Mới mạ con đó, thoắt cái, ở tù.  Mới có mấy cây vàng đó, thoắt cái mất hết trơn hết trọi. Có nghĩ, có lo cho lắm cũng chẳng thấu đâu, Hạnh à. Bà hiền quá, cứ ru rú với chồng con, lại ở ngoài cái xứ Huế cổ chẳng ra cổ kim không ra kim, nên chẳng hiểu chi sự đời.

Hạnh gật gật đầu, nhưng vẫn chống chế:

–    Ai bảo với bà là tôi chỉ biết có chồng con? Mà không chồng con thì …sao được.

Nàng chợt nghĩ vu vơ, rùng mình. Duyệt nói:

–    Cứ xem như tôi lầm. Mà lầm thì càng tốt. Nào, tập nhảy đi.

Lúc này, Thông đã bỏ nhạc.  Một bản nhạc hòa tấu ngoại quốc. Hạnh nghe âm thanh quen quen, nhưng không biết là bản gì. Duyệt kéo Hạnh đứng dậy.  Hạnh ngồi trì xuống, không đi:

–    Tôi không biết nhảy. Ðể tôi ngồi đây nhìn cũng được. 

–    Không biết thì học. Nhảy cho vui chứ có biểu diễn trên sân khấu đâu mà sợ. Ừ, mà thôi, ngồi đó cái đã. Ðiệu tango khó nhảy. Ðợi khi nào có slow, tôi kéo bà ra tập.

Hạnh mừng rỡ ngồi xuống. Ðã có ba cặp ra nhảy. Thông với bà xã anh ta, Hồng. Toàn với Hương. Sinh với Mùi. Một lát sau, có thêm Trang với Tuyết. Tiếng nhạc vặn vừa đủ nghe.  Bốn cặp ôm nhau bước qua bước về theo điệu nhạc trong căn phòng chật. Cặp này nhìn cặp kia để khỏi giẫm chân lên nhau hoặc đụng nhau. Ngoài cặp Thông – Hồng là vợ chồng, còn ba cặp kia chỉ là những người quen. Ðúng là họ không kiêng dè gì cả.  Họ ôm nhau nhảy y như ngày nào nàng xem trên phim ảnh ngoại quốc. Hai thân thể ôm sát vào nhau. Ngực của mấy bà gần như ép sát vào ngực của mấy ông. Hạnh tránh không nhìn thẳng, nhưng lấm la lấm lét liếc mãi. Nàng cảm thấy nhột nhạt, toàn thân rần rần khó chịu. Mấy bà mấy ông này bạo thật bạo. Chẳng biết mấy bà này chồng con đâu? Nàng quay mặt đi, bưng ly cô ca lên hớp một hơi. Ngụm nước mát lạnh tuồn vào cổ. Nước ngon thật. Ðúng là đồ Mỹ. Chả bù với mấy thứ nước ngọt quốc doanh, ngọt chẳng ra ngọt, chua chẳng ra chua, uống vào cứ muốn nôn. Thấy Duyệt cùng Thắng nắm tay nhau bước ra một góc, Hạnh chăm chú nhìn. Người đàn ông đang chỉ cho Duyệt nhảy. Hai người ôm nhau bước qua, bước về. Trật nhịp. Thắng tập lại. Bước qua, bước về, xoay người. Duyệt vừa nhảy vừa cười khúc khích.

Xong một bản. Thông đến bỏ bản khác. Mấy cặp lại ra nhảy. Hạnh để cốc nước xuống bàn, chăm chú nhìn. Bỗng Phiệt bước tới:

–    Hạnh ra đây, tôi chỉ cho nhảy. Dễ lắm. Điệu slow, ai nhảy cũng được cả. Ra đây, Hạnh. Trật nhịp cũng được. Nào, mời Hạnh.

Phiệt đưa tay ra. Hạnh bối rối, không biết phải cư xử thế nào. Nàng ngồi yên, mặt đỏ nhừ. 

–    Em không biết nhảy, anh Phiệt à. Ðể cho em ngồi xem cũng được. Em…em không quen.

Phiệt vẫn không rút tay lui:

–    Ai lại ngồi xem trong lúc mọi người đều nhảy. Ðầu lạ sau quen thôi. Nể tôi một chút đi, Hạnh.

Hạnh miễn cưỡng đứng dậy, mặt nhìn về phía Duyệt, hy vọng Duyệt sẽ nói một câu gì để cho nàng thoát khỏi tình hình khó khăn này. Duyệt làm lơ. Phiệt nói:

–    Nào, mình bắt đầu đi. Trước hết, Hạnh đưa tay phải ra, nắm lấy tay tôi như thế này này, đấy, không phải nắm chặt, để tựa nhẹ thôi. Còn tay kia, để lên vai tôi. Thế, thế…

Hạnh ngượng nghịu đưa bàn tay phải ra. Phiệt nhè nhẹ nắm lấy. Nàng rùng mình, người nhột nhạt y như có kiến bò đâu đó sau lưng.

–    Còn một tay nữa, đấy đấy, để lên vai tôi.

Hạnh run rẩy đặt bàn tay lên vai người đàn ông xa lạ, có cảm giác ngột thở y như lần đầu nàng đưa tay cho ông thầy dạy học của nàng nắm năm nào. Bàn tay kia của Phiệt đặt sau lưng nàng. Lại rùng mình. Phiệt nhè nhẹ kéo nàng sát vào anh ta. Hạnh cưỡng lại. Tuy giữ một khoảng cách khá xa, nhưng hơi hám từ Phiệt tỏa ra nghe nồng. Nàng cảm thấy như mình bị đẩy tới phía anh ta. Nàng lúng túng liếc nhìn quanh, có cảm giác mọi người đang trố mắt nhìn. Thực ra, chẳng ai nhìn nàng cả. Mọi người đang chăm chú nhảy theo điệu nhạc và nói chuyện thì thầm với nhau. Chỉ trừ Duyệt. Hạnh bắt gặp nụ cười ý nhị của cô bạn khi Phiệt tình cờ dìu nàng đi gần đó. Nụ cuời này càng làm Hạnh bối rối thêm. Nàng đột ngột rút cả hai tay về. 

–    Em…nhảy không được.

Phiệt chưng hửng. Anh đâm ra bối rối, nhìn Hạnh ấp úng:

–    Xin lỗi, có lẽ là tôi…tôi vụng quá.

Hạnh thở dài nhẹ nhõm trở về chỗ ngồi cũ. Bản nhạc vừa chấm dứt, mọi người ngừng nhảy. Thông nói:

–    Bản kế cũng là slow. Xin mời. Ai muốn tập thì tập bản này.

Hạnh định bụng sẽ trốn ra ngoài chốc lát cho đỡ lạc lõng, thì Toàn bước lại. Toàn nói, giọng chắc nịch:

–    Nào, mời cô Hạnh đứng lên. Tôi sẽ bày cho cô điệu slow. Ðây là điệu dễ nhất, không biết nhịp cũng nhảy được.

Hạnh vẫn ngồi, mắt nhìn đi chỗ khác. Nỗi thẹn thùng sợ hãi làm nàng lì ra, không còn lưu ý đến chuyện lịch sự nữa.  Mặc kệ! Toàn cười:

–    Cô Hạnh đừng ngại. Bọn tôi toàn là những người đứng đắn. Ai cũng có gia đình vợ con đàng hoàng. Khiêu vũ là nghệ thuật, một loại hình giải trí. Cô đã đến đây, nên chung vui với chúng tôi, chung vui với mọi người. Thời buổi này buồn lắm, có một chút vui mà không chia nhau cũng uổng phí.

Toàn nói giọng Bắc, pha Nam. Giọng ấm, thuyết phục.  Toàn đưa tay ra. Không hiểu sao, nàng líu ríu làm theo lời Toàn. Mọi người trở lại nhảy. Khác với Phiệt, vừa ra sàn, Toàn nắm ngay tay Hạnh, tay kia dịu dàng đặt lên vai nàng. Anh ta ý tứ cố không kéo nàng sát gần. Anh ta kiên nhẫn chỉ vẽ và từng bước dìu nàng đi theo điệu nhạc. Thế rồi, không biết từ lúc nào, Hạnh thả hồn theo tiếng nhạc, đôi chân bước đều qua lại. Bàn tay nàng giờ nằm gọn trong bàn tay Toàn, ấm áp, tin cậy và hứng khởi. Dần dà, thân hình nàng sát vào người Toàn.  Vừa nhảy, nàng vừa lắng nghe Toàn kể chuyện đi buôn của anh ta. Toàn là những câu chuyện tủn mủn tẳn mẳn. Những câu chuyện không mấy lạ, nhưng không hiểu sao làm nàng cảm thấy vui.

Chương 6

Lục đứng tần ngần khá lâu trước đống rễ cây bừa bộn.  Ðống rễ này Hạnh đã mướn ông Búa trong xóm đào từ gốc cây nhãn bị bão trốc gốc mấy năm trước. Rễ nhãn rất chắc, đượm, nhưng lại ít hao. “Cả một xứ tiền đó. Anh bửa nhỏ dùm em, khỏi tốn tiền củi ít nhất là nửa năm, tám chín tháng chứ không phải chơi,” nàng dặn anh như thế trước khi đi. Mấy lần vác cây rìu và cái rựa ra để làm, anh lại tự nhủ thôi để mai hãy làm. Lần lữa mãi đến ngày Hạnh gần về, anh mới hốt hoảng.  Làm không xong việc này, lúc về, mặt mày nàng chắc sẽ nặng như cái thúng, không ai chịu nổi. Sợ nàng giận đã đành, anh còn sợ nàng buồn.

      Ðã quyết tâm làm, anh cởi ngay chiếc áo vứt trên bụi chìa tàu, lấy rìu bổ mạnh xuống khúc rễ lớn nhất. Mảnh gỗ văng tung tóe, bắn vào cả người anh, đau điếng. Cái rìu cắm phặp ngay giữa khúc rễ, dính chặt vào đó. Anh phải dùng tay và kềm chân mới rút ra được. Lại tiếp tục bửa xuống. Khúc rễ trông bộ chẳng chìu ý anh chút nào. Bửa năm bảy nhát, mà trông nó cứ trơ trơ ra như không. Mồ hôi bắt đầu vả. Anh thở phì phò, hụt hơi. Nghỉ một lát, anh bửa xuống, lần này  cố ráng hết sức với hy vọng nó sẽ tách đôi. Không ra gì. Chiếc rìu bây giờ cắm sâu vào gỗ, nằm lì. Anh bắt đầu nản chí. Cả đống rễ nằm ngang nằm dọc như thách thức. Anh tự nhủ: thôi hãy để mai. Nhưng biết đâu ngày mai, Hạnh về. Dám lắm. Nàng đi đã hơn cả tuần rồi. Không thể trù trừ được nữa. Phải làm thôi.

Anh vươn vai đứng lại. Lần này, anh thay đổi cách làm.  Anh đẩy chiếc rễ lớn sang một bên, bắt đầu bửa những khúc nhỏ trước. Vừa rìu vừa rựa, không bao lâu sau, anh làm xong một phần khá lớn đống rễ cây. Ðịnh tiếp tục qua những khúc lớn hơn thì nghe tiếng gọi thất thanh của thằng Ðồng từ vườn sau:

–     Ba ơi ba, thằng Phụng đạp mẻ chai, chảy máu quá trời.

Anh hốt hoảng ném cái rìu vào đống củi, vội vàng chạy đi. Ðến nơi, anh thấy thằng con út ngồi bệt giữa đất, hai tay ôm lấy bàn chân, lăn lộn khóc la ầm ĩ. Anh ẵm con lên, chạy vào nhà bếp, múc nước rửa sạch sẽ. Mảnh chai cứa đứt một đường khá sâu ngay giữa lòng bàn chân của Phụng. Anh nhìn khuôn mặt tái mét của con, dịu dàng:

–     Ðau lắm không con?

Ðứa bé gật đầu. Anh hôn lên mái tóc con, hỏi:

–     Con ra làm gì ngoài đó để cho đạp mẻ chai?

Thằng nhỏ mếu máo:

–     Còn đi lượm mẻ chai nạp cho trường để làm “kế hoạch nhỏ”.

–     Hèn gì! Gần nghỉ hè rồi mà còn kế hoạch nhỏ, kế hoạch lớn gì không biết.  Bắt con người ta đục bờ lủi bụi. Khổ thân con tôi chưa. Mà ai bảo con làm?

–     Cô giáo nói hôm trước nạp nhưng chưa đủ chỉ tiêu.

Anh bồng con vào giường, xức thuốc đỏ, rồi bôi một lớp thuốc mỡ lên bàn chân, lấy vải băng lại. Anh dặn:

–    Nằm cho khỏe. Ðừng có đi mô hết. Lát nữa đỡ, dậy nói anh Ðồng đơm cơm cho mà ăn.

Thằng Ðồng đứng xớ rớ một bên, nghe ba nói vậy, bèn lên tiếng:

–    Gạo hết rồi ba à.

Anh giựt mình:

–    Thế à. Sao bây giờ con mới nói?

Ðồng nhìn anh ấp úng:

–    Con…con…

Anh không nói gì, sực nhớ ra Hạnh dặn anh nhiều thứ.  Nàng cẩn thận ghi hết mọi điều cần thiết vào một miếng giấy để anh theo đó tuần tự mà làm. Anh ỷ y là trí nhớ mình tốt, nên giữ giấy mà không hề liếc thử xem nàng viết gì. Anh cho rằng những gì nàng viết, nàng cũng đã có nói với anh hết rồi.  Anh lên phòng, rút miếng giấy anh đã cẩn thận chuồi dưới cái radio. Tờ giấy trông như một cái sớ, ghi đủ thứ lỉnh kỉnh: mua gạo, mua ruốc, giặt chiếu cho ba đứa con, trả tiền thuốc cho y tá, mang tiền cúng lên cho dì Sanh, chỉ lại toán nhân và chia cho bé Ngân, thắp nhang nơi am và bàn thờ ông địa, bỏ giây thun vào quần đùi cho thằng Phụng, bửa củi. Cô ta bao giờ cũng cẩn thận như thế. Anh chợt mỉm cười với ý nghĩ mình bây giờ chẳng khác chi một người giúp việc. Nàng dặn dò như bà chủ nhà giàu dặn dò con sen trước khi cùng gia đình đi nghỉ mát.

Mà quả thế thật. Từ nhiều năm rồi, kể từ khi Hạnh ra chạy chợ, anh đóng vai trò của một người nội trợ. Lúc đầu, nàng chỉ nhờ anh giúp một số việc khi nàng quá bận bịu. Nhưng kể từ khi buôn trầm, nàng chẳng còn thì giờ đâu để lo việc nhà nữa. Nàng đi, về khi sớm khi muộn thất thường. Ðôi khi suốt từ sáng đến chiều, nàng ở ngoài đường. Có khi nửa đêm nàng mới về nhà, lúc cha con anh đã ăn no ngủ kỹ. Ðã thế, sau này, nàng đi buôn Sài Gòn, vắng nhà một tuần, mười ngày là thường. Không biết từ lúc nào, vị trí trong gia đình đảo lộn hẳn.  Suốt ngày, anh quanh quẩn trong nhà lo từ việc nấu nướng, dọn dẹp đến giặt rửa, chăm

sóc con cái. Có lần, anh bảo Hạnh:

–    Anh bây giờ là một nội trợ thứ thiệt. Chỉ trừ một thứ…

–    Thứ gì vậy?

–    Chỉ trừ…trừ cái việc đó, anh còn là đàn ông.

Hạnh nguýt anh một cái.

Làm riết thành thói quen. Và thói quen làm người ta dễ chịu đựng. Còn nhớ trước đây, anh có bao giờ đụng tay, dù là một việc nhỏ nhất, vào chuyện nhà. Hạnh, sau thời gian đi làm, trở về nhà quán xuyến hết mọi việc. Anh thì hết cà phê đến nhậu, bù khú với bạn bè. Dù không thâu đêm suốt sáng, nhưng chẳng mấy khi anh có mặt ở nhà được một buổi. Nếu có về nhà, lại nằm dài đọc kiếm hiệp, nghe nhạc, học Anh văn.  Hạnh vui vẻ lo toan mọi việc chu đáo. Ấy thế mà thỉnh thoảng anh còn tìm cách gây gổ với nàng. Chỉ vì một sơ ý nhỏ như giặt áo cái cổ không sạch, để con bẩn, hay quên mua cà phê cho anh. Bây giờ, anh hiền dịu như con nai. Anh quán xuyến hết việc nhà, không than van trách cứ. Lại còn vui vẻ, nể nang nàng đúng mực. 

Ðọc xong những điều Hạnh dặn, anh ngưng ngay việc bửa củi. Nhiều việc cần thiết khác anh chưa hoàn thành. Có tiếng xe chạy vào nhà. Tưởng ai, hóa ra Hồng. Anh bối rối vì trên người chỉ có độc một cái quần đùi. Hồng dựng xe, bước xuống, nhìn anh tươi cười:

–    Lao động là vinh quang nhé. Xin lỗi, Hồng vào có hơi đường đột, vì nhân ghé nhà cô bạn gần đây, tạt vào trả anh mấy cuốn sách.

Hồng lấy mấy cuốn sách ở giỏ xe phía trước, trao cho Lục.  Lục ngượng nghịu cầm lấy, nói lí nhí:

–    Xin lỗi cô Hồng, tôi đang …bửa củi.

Hồng cười xuề xòa:

–    Hồng biết mà. Cái này…cái này là tại Hồng. Thôi Hồng đi.

Nàng bước ra, nhưng đột nhiên dừng lại, quay lui nhìn anh, ngập ngừng:

–     Không mấy khi ghé ngang đây, hay là anh cho Hồng mượn thêm ít cuốn nữa, được không? Hồng hiện không có gì để đọc cả. Cứ phải đọc đi đọc lại mấy cuốn cũ hoài, chán ơi là chán. Tính Hồng lại ưa đọc, mới phiền. Ngày nào mà không đọc, thì ăn không ngon…

Nàng nói một hơi, rồi ngừng lại, chờ đợi. Lục không biết làm gì hơn, đành phải vào nhà lấy thêm mấy cuốn báo đưa cho Hồng. Hồng rối rít cám ơn, rồi ra xe, vọt chạy.

Người đàn bà này trông cũng ngộ, anh nhìn theo, nghĩ thầm.

*

Lục dắt xe ra. Xăng cạn bình. Tiếc tiền, anh mang xe vào, lấy xe đạp. Anh ghé chợ mua gạo, ruốc, nhân tiện, ghé sạp thuốc lá bán sỉ, mua hai gói để dành. Anh buộc bịch gạo sau xe, chở về nhà, dặn thằng Ðồng nấu cơm, hâm cá cho em ăn, rồi đi lên nhà dì Sanh. Dì Sanh là dì ruột của Hạnh. Dì lo chuyện cúng giỗ vì  người em đi kinh tế mới, quá nghèo, không lo nổi.

Trên đường trở lại nhà, anh nghe tiếng gọi:

–    Lục, Lục!

Lục giật mình hướng về phía có tiếng kêu, thấy mấy người bạn quen đang đứng bên kia đường, tay đưa cao, vẫy vẫy. Anh vòng xe lại. Ngải nói:

–    Nhậu.

Anh thích thú hỏi:

–    Ðâu vậy?

–    Ðâu thì quan trọng gì. Có đi không, thế thôi.

Lục phân vân, vì còn nhiều việc phải làm. Nhưng rồi cười:

–    Nhậu chùa mà từ chối thì có là điên.

Phong cải chính:

–    Không có nhậu chùa đâu. Nhậu đậu.

–    Ðậu thì đậu!

Anh hăng hái nhận lời ngay. Ngoài chuyện thích thú vì được bù khú với bạn bè, lần này, tiền chi tiêu Hạnh giao cho anh có nhiều hơn mọi khi. Ðiều này khá bất thường.  Vì tiền Hạnh giao cho anh, nàng thường tính đâu vào đó rạch ròi: tiền ăn, tiền gạo, tiền thuốc lá, tiền linh tinh, kể cả tiền cho anh uống cà phê con cóc hay tiền quà vặt cho con. Nếu có “bất thường chi” thì mượn đâu đó hay đợi nàng về. Vì theo nàng, “nố nào có nố đó”, không thể lẫn lộn với nhau đưọc. Nhưng riêng với cá nhân anh, anh thường có những “bất thường chi”. Giả dụ như hôm thứ ba vừa rồi, nhân cao hứng trong câu chuyện với một người bạn trong quán cà phê, anh “chơi” luôn hai điếu samit. Hai điếu samit tương đương với hai tuần cà phê của anh. Bởi vậy, anh phải nhịn liên tiếp nhiều bữa cà phê để bù.

Cuộc nhậu do Tuấn, một bạn đồng nghiệp cũ, tổ chức.  Tuấn được lưu dung dạy học, sau bị thải hồi như anh. Nói tổ chức chứ thực ra, cũng như mọi cuộc nhậu khác, là đứng ra triệu tập và lo chỗ. Còn mọi thứ là đóng góp. Ðám bạn bè Lục đều thuộc loại dở en dở thằng, không ai có tiền. Ai cũng nghèo, cơm nhà quà vợ, lấy gì mà đãi nhau. Họa hoằn, có tay quen nào đó, trúng mánh, đãi cho một chầu nhậu, thì cả đám sáng mắt ra, ùa vào. Nói cho đúng ra, chẳng phải người ta đói quá, thèm ăn, thèm uống, mà người ta thèm bạn, thèm một không khí, thèm một chút hưng phấn tập thể. Nhậu để quên.  Nhậu cũng để nhớ. Nhậu riết, thành quen, thành chuyên nghiệp. Ðâm ra thèm. Chiều xuống là thấy thèm. Không có chất cay, miệng mồm đắng nghét.

Cả nhóm đạp xe về nhà Tuấn. Việc chuẩn bị diễn ra rất chóng vánh. Mồi, Tuấn có sẵn: một xô huyết heo làm tiết canh. Rượu, thuốc lá và đậu phụng thì kẻ ít người nhiều chia nhau đóng góp. Thoáng chốc, cuộc nhậu bắt đầu. Tất cả tám người ngồi xuống chiếc chiếu trải giữa nền xi măng. Một cách nhậu rất nam bộ, không kiểu cách. Không bàn, không ghế, không quan cách như thời trước. Nhậu riết kiểu này, người ta mới hiểu ngay ra tại sao người Nam dễ tính, xuề xòa. Họ xem cuộc đời bỡn cợt chứ không trầm trọng như người Trung hay người Bắc. Cuộc đời chẳng qua chỉ là một cuộc nhậu, nói như thằng Lý viết văn.

Nhìn mấy lít rượu đầy ắp bày ở bàn, trông bộ ai cũng có cảm giác thoả mãn. Chúng bảo đảm là mọi người có thể và có quyền uống tùy thích, không sợ nửa chừng hết rượu, mất hứng.  Lục chọn một chỗ ngồi gần cột nhà, vừa có thể duỗi chân và dựa lưng thoải mái, để ngắm nhìn bạn bè nhậu. Anh uống chừng mực, góp chuyện chừng mực. Nói cho đúng, chừng mực như anh thì chưa phải là dân nhậu chính gốc. Tuấn bảo anh, “nhậu như ông là nhậu giả, chưa toàn tâm toàn ý”. Lục không đồng ý, nhưng không cãi. Khanh cãi thế anh:

–    Nào có ai là toàn tâm toàn ý đâu. Ai cũng nhậu giả cả.  Người dùng nhậu để quên. Người nhậu để đỡ buồn. Không có ai có tác phong nhậu thực sự như dân Nam. Họ nhậu là họ chỉ biết nhậu, không mượn nhậu để làm việc khác. Bọn mình nhậu là nhậu vì chuyện khác cả.

Có thể là như thế, Lục nghĩ. Nhưng riêng anh, anh thích vui. Thích bạn bè.

–    Nào, vào cuộc đi. Cuộc đời vốn buồn, nhậu vào cho đỡ buồn. Trăm phần trăm đi cho nó cao hứng.

Tấn nâng ly lên, nhắc mọi người điệp khúc anh ta vẫn thường nói trong mỗi lần nhậu. Như một thứ nghi lễ nhập cuộc, cuộc nhậu nào cũng bắt đầu bằng thủ tục một trăm phần trăm.  Tiếp đó là lai rai, vừa nhắp vừa gắp mồi và tán gẫu. Lục và các bạn nâng ly, uống cạn. Người ngồi đầu mút chiếu là Phong rỗ. Anh ta là cựu trung úy, cải tạo hai năm ở Kỳ Sơn về, giờ đạp xe thồ. Kế đó là Lý, “nhà văn nhỏ” như anh ta thường tự nhận, cựu sĩ quan, bị bắt trong trận Khe Sanh, được trao trả tù binh sau hiệp định Paris. Lý ăn nói ẩu tả, không kiêng kỵ gì hết, dù nhiều lần bị công an hăm he bắt đi cải tạo lại.  Rồi Tuấn, Ngải, Kim và Phòng. Tất cả đều là nhà giáo lưu dung. Ngồi gần anh là Hoàng, phó ty nông nghiệp trước giải phóng.

Qua một ly rượu đầu, mặt mày ai nấy sáng hẳn ra. Lý hít hà:

–    Mẹ kiếp, cuộc đời này không có nhậu chắc chết sớm.

Ngải cười:

–    Nhưng nhậu cho khiếp vào thì nào có sống lâu.

–    Theo tao thì nhậu nhiều, nhậu ít hay không nhậu thì cũng thế. Sống thế này thì có khác gì chết. Mẹ kiếp, không hy vọng, không tương lai. Không một chút ánh sáng le lói cuối đường hầm.

Tuấn ngắt ngang:

–    Lại lắm chuyện rồi, ông Lý. Muốn được nhậu lâu dài, chỉ có một cách: đừng nói bậy.

Lý cãi:

–    Bạn bè cả mà, ông sợ gì mà lần nào cũng cản trở.  Nhậu mà không la lên, nói lên thì nhậu mà làm gì. Ông ngờ vực cả bạn bè nữa hay sao?

Hoàng cười:

–    Ðến cả bản thân mình mà mình còn nghi ngờ huống gì bạn bè. Ông cứ thử tưởng tượng, ở đây ông ngồi nói cho đã, lỡ công an gọi lên, ông có dám bảo đảm rằng ông không tự thú hết những gì ông nói hay không?

Lý rót đầy một cốc rượu, giọng trầm trọng:

–     Tôi sẽ nói như tôi đã từng nói. Lần tôi bị bắt ở Khe Sanh đưa ra Bắc, tôi nói hết. Nghĩ sao, tôi nói vậy hà.

–    Nhưng còn bạn bè, đồng đội ông thì sao? Ông làm ông chịu, đã đành, nhưng tại sao lại làm liên lụy đến người khác?

Tuấn từ tốn bảo:

–   Ðược rồi các bạn ạ. Ðiều quan trọng là chúng ta còn cơ hội để được ngồi với nhau như thế này. Nếu cứ đề cập đến những chuyện linh tinh như thế, tôi dám chắc lần sau không ai dám đến đâu.  Ðừng để phải lên đồn công an làm việc.

Lý gục gặc đầu, nốc cạn ly, giọng.

– Ông nói đúng. Bọn chúng ta trở thành những thằng người gỗ rồi.

Không khí lắng xuống. Chỉ cần một nhắc nhở đơn giản như thế là mọi hào khí vừa loé lên chợt tắt ngấm.  Mọi người nhắp rượu, gắp mồi nhìn nhau. Rượu vào nhưng lời nghẹn lại. Bao giờ cũng thế, cứ hễ gặp nhau là ai cũng muốn nói đôi điều cho hả, nhưng rồi không thể nói được. Im lặng. Chỉ có im lặng thôi. Im lặng là vàng, là bạc, là tất cả. Ưu việt của chế độ mới là huấn luyện cho mọi người tự bịt miệng mình. Họ xem nói là sản phẩm nguy hiểm nhất của con người. Lời nói là cái làm nên lịch sử. Lời nói là tia lửa. Lời nói là vũ khí. Đó chính là kinh nghiệm xương máu của họ trong quá trình tổ chức, loại bỏ đối thủ và chiếm đoạt chính quyền. Trong xã hội này, không những mọi người tập im lặng, tập nhắm mắt trước những sai trái, mà còn tập làm quen với những điều nghịch lý, không những thế, biến chúng thành hữu lý. Dần dà, im lặng trở thành quán tính, không những ở hành vi cử chỉ bên ngoài mà còn ở trong tư tưởng. Sự sợ hãi đã làm người ta tự tẩy não mình một cách thầm lặng. Bởi thế mà trong những buổi tụ họp như thế này, ăn nói, ai cũng giữa kẽ. Bạn bè đó, nhưng chỉ cần một “sự cố” nhỏ, là phản bội nhau ngay. Chỉ để tìm lấy sự an toàn cho chính mình.

Lục ngậm ngùi nhìn bạn, nhìn mình. Tóc ai cũng đã lấm tấm bạc. Khuôn mặt ai cũng hằn lên những nếp nhăn. Bao nhiêu hào khí, tươi mới, sôi nổi một thời mất hẳn. Tuy cười đó, nói đó, nhưng khuôn mặt người nào cũng đọng những nỗi sợ hãi vu vơ, chất chứa những nỗi niềm chưa thỏa. Vẻ nhếch nhác, bần tiện lồ lộ trên mỗi một người. Trông như ai cũng thèm ăn, thèm nhậu. Những kẻ được trọng vọng một thời bây giờ hiện thân là những anh giáo làng ngơ ngác. Mọi người lặng lẽ uống. Và uống. Tưởng như uống cho hết cái cảm giác bất lực, lạc lõng của một lớp người.

Đúng là những thằng người gỗ! Và là những thằng người gỗ biết nhậu, Lục đau đớn nghĩ thầm.

T.D.N.

Cuộc Chiến Bí Mật Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH

ydan.org

Nicholas Cage

Bản dịch: Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

Google photo

Phần 9

Chiến Tranh Ngoại Lệ

Trong tháng 10/1965, tám chiếc CH3 đã đến Nha Trang trong đội hình Phi đoàn trực thăng 20. Tháng 4/1966, sáu chiếc máy bay mang biệt danh Pony Express được chuyển đến căn cứ không quân Nakhon Phanom của Thái Lan.

Toán biệt kích đầu tiên xâm nhập bằng loại trực thăng CH3 là toán Hector. Toán Hector được chia làm hai toán nhỏ. Hector-A sẽ xâm nhập Bắc Việt Nam, lập mật cứ do thám đường. Toán Hector-B sẽ xuống sau, có nhiệm vụ móc nối với các cơ sở trà trộn trong dân địa phương.

Ngày 22/6/1966, 15 biệt kích quân trong toán Hector-A lên đường đến phi trường Nakhom Phanom. Nhiệm vụ của họ là thăm dò đường số 137 chạy sát biên giới Việt-Lào. Đây là tuyến giao thông khá lớn, chạy ngang qua đèo Ban Karai, rồi nhập vào đường mòn Hồ Chí Minh. Toán Hector gồm toàn quân nhân Việt Nam tuyển từ các đơn vị trong Quân lực VNCH. Toán trưởng là Đại úy Nguyễn Hữu Luyện, người có cấp bậc cao nhất trong các toán biệt kích xâm nhập Bắc Việt Nam.

Hector-A không phải đợi lâu ở phi trường Nakhon Phanom của Thái Lan. Từ đây, họ lên hai chiếc CH3 đang đợi sẵn. Hai chiếc trực thăng PonyExpress bay xuyên qua đất Lào, xâm nhập không phận tỉnh Quảng Bình. Khi mặt trời sắp lặn, họ đến bãi đáp, các biệt kích quân đẩy chiếc thùng đựng đồ của họ xuống trước, rồi nhảy theo. Ít lâu sau, toán Hector báo cáo đã đến vị trí an toàn. Toán Hector-B tiếp tục sang Thái Lan ngày 23/9/1966. Tương tự như toán Hector-A, họ đáp xuống bãi thả. Những biệt kích quân trong toán Hector-B biến mất vào rừng, để sau đó nhập lại với toán Hector-A.

Tại Sài Gòn, SOG đợi điện báo cáo của Hector-B đã nhiều ngày, nhưng không thấy họ lên tiếng. Khi SOG chất vấn Hector-A, được trả lời rằng họ không tìm thấy 11 biệt kích quân cúa toán Hector_B. Không màng tới chuyện Hector-B bị mất tích, SOG chuẩn bị thả toán biệt kích kế tiếp. Đó là toán Samson, có 8 người, gồm đủ thành phần các dân tộc thiểu số. Họ sẽ được trực thăng CH3 đưa đến sát biên giới Việt – Lào, rồi xâm nhập bộ qua biên giới, đến đèo Tây Trang ở hướng nam Điện Biên Phủ. Nhiệm vụ của toán Samson là do thám đường số 4, con đường tiếp vận cho các đơn vị Bắc Việt hoạt động vùng Bắc Lào. Ngày 5/10, chiếc trực thăng CH3 chở toán biệt kích Samson cất cánh từ Nakhon Phanom, bay về hướng bắc, ghé lại một trạm CIA trên đất Lào để tiếp thêm nhiên liệu, rồi tiếp tục bay đến mục tiêu thả toán biệt kích. Toán Samson gửi tín hiệu về Sài Gòn ngay tức khắc, chứng tỏ họ thành công.

SOG đợi đúng 3 tháng sau rồi tiếp tục thả toán Hadley, gồm 11 biệt kích quân Việt Nam. Cũng như Samson, toán biệt kích sẽ được thả gần biên giới rồi xâm nhập bộ vào Bắc Việt. Toán Hadley có nhiệm vụ do thám đường số 8, con đường này đi qua đèo Nape, rồi chạy sang Lào. Ngoài ra, toán phải đặt máy thăm dò chấn động trên đường. Loại thiết bị này CIA đã thử bên Lào. Đây là thiết bị có thể phân biệt chấn động do người hoặc xe cộ di chuyển. Toán Hadley sẽ thu thập những dữ liệu về lưu lượng xe cộ lưu thông trên con đường này gửi về Sài Gòn.

Ngày 26/1/1967, toán Hadley được đưa đến phi trường Nakhon Phanom. Ngoài các thành viên của toán, còn có Đại úy Nguyễn Văn Vinh, với mật danh March. Hai chiếc CH3 bay ngang không phận tỉnh Khammouane, tiến đến gần biên giới Việt – Lào. Mặt trời lặn thật nhanh, chiếc CH3 dẫn đầu đáp xuống một bãi trống, đổ toán biệt kích quân Hadley xuống, rồi ngóc đầu lên, bay về hướng Nam.

Khi chiếc trực thăng lên cao, Nguyễn Văn Vinh nhìn ra cửa sổ máy bay, cảm giác như tim ngường đập vì bên kia đồi, nơi vừa thả toán biệt kích là con đường đất. Khi được thông qua kế hoạch hành quân, trong tấm ảnh không hề có con đường đất đó. Như vậy họ đã thả toán biệt kích xuống lầm bãi! Chiếc CH3 thứ hai bay theo cũng phát hiện ra sự cố đó, liền lập tức báo cáo. Trung tâm buộc chiếc trực thăng thả toán biệt kích phải quay trở lại. Nguyễn Văn Vinh cùng quân nhân chuyển vận Việt Nam chạy ra khỏi trực thăng vào bìa rừng kêu gọi toán biệt kích. Họ gọi tên từng người, nhưng không ai trả lời, tất cả đã biến mất hút vào rừng.

Trở lại Nakhon Phanom, Vinh ngồi bên cạnh thùng đồ ăn cho toán biệt kích để sẵn sàng tiếp tế. Đã 48h trôi qua, Hadley vẫn biệt tăm. Trở lại Đà Nẵng, Đại úy Vinh ngồi sau chiếc khu trục A-1 do phi công Việt Nam lái. Trong hai ngày kế tiếp, họ bay ba lần ngang qua điểm hẹn với toán Hadley, hy vọng thấy tấm panô báo nguy hoặc tín hiệu của toán biệt kích, song tất cả chỉ hoài công.

Hai hôm sau, Nguyễn Văn Vinh nhận được điện thoại của Đại úy Calisto từ Sài Gòn gọi ra cho biết: CIA bắt được công điện của Bắc Việt báo cáo lên trên rằng đã phát hiện toán biệt kích gần đèo Nape. Như vậy Hadley đã nằm trong tay Bắc Việt. Điều này đúng không? 18 ngày sau, Hadley bỗng báo cáo về trung tâm là đã chạm trán với quân Bắc Việt và hiện vẫn còn lẩn trốn trong rừng. Bức điện đã gây tranh cãi dữ dội ở trung tâm Sài Gòn. Để biết rõ thực hư, SOG tổ chức toán Voi nhảy dù xuống điều tra. Bốn biệt kích trong toán được trang bị ống dòm cực mạnh và máy chụp ảnh xa. Họ được lệnh nằm lại, chụp ảnh bất cứ người nào lấy thùng tiếp liệu thả xuống cho toán biệt kích Hadley. Điều này sẽ chứng minh toán Hadley đã bị bắt hay chưa.

Ngày 18/10, Nguyễn Văn Vinh đi theo toán Voi trên chiếc MC130. Đến Hà Tĩnh, toán biệt kích Voi nhảy ra khỏi phi cơ. Đại úy Vinh (Marc) đã dặn toán Voi khi xuống tới đất phải báo cáo ngay. Nhưng rồi toán Voi cũng biến mất luôn, không một lời báo cáo.

Trong tháng 10/1966, hiệu thính viên toán Romeo gửi về một điện văn ngắn: “Romeo đã bị bắt”. Tháng 12 cùng năm, Hà Nội thông báo vụ xử toán Kern, gồm 9 biệt kích quân nhảy dù xuống đèo Mụ Giạ. Toán này xâm nhập từ tháng 3, lần cuối cùng trên lạc là tháng 9/1966. Tháng 3/1967, Hà Nội thông báo tiếp về vụ toán Samson, toán này mất liên lạc từ ba tháng trước. Tháng 6 đến phiên toán Hector-A bị điểm tên trên đài phát thanh Hà Nội, họ bị khép vào tội gián điệp. Cuối cùng đến lượt toán Bell bị đem ra xét xử.

SOG lại tuyển thêm nhân sự, mặc dù kế hoạch 34A (xâm nhập Bắc Việt) không còn là nỗ lực chính nữa, song SOG có thêm nhiệm vụ mới. Đến tháng 1/1967, SOG có 207 nhân viên Mỹ. Riêng lượng nhân viên là người Việt Nam (có 470 người tại thời điểm năm 1964, thì đến đầu năm 1966 tăng lên hơn 1.700 người). Phần lớn những quân nhân này nằm trong đội hình cuộc hành quân Shining Brass (xâm nhập qua Lào). Shining Brass đã bước qua giai đoạn thứ hai, sử dụng trung đội xung kích Hatchet tấn công mục tiêu trên đất Lào, do các toán biệt kích tìm ra.

Một trong những nhiệm vụ mới mà Tư lệnh Thái Bình Dương giao cho SOG là tìm kiếm những quân nhân Mỹ bị mất tích (MIA). Đầu năm 1967, SOG hoạch định chương trình chuyên do thám hệ thống đường Bắc Việt sử dụng đế tiếp tế cho miền Nam, hoặc tìm những mục tiêu ngắn hạn, gọi tắt là Strata. Kế hoạch sẽ sử dụng những biệt kích quân Việt Nam xâm nhập vùng phía nam của Bắc Việt để thu thập tin tình báo và bốc toán biệt kích về khoảng bốn tuần sau đó. Kế hoạch này có vẻ giống như kế hoạch hành quân Shining Brass, nhưng đã đổi tên là Prairie Fire. Francois được chỉ định theo dõi kế hoạch Strata.

Toán Strata đầu tiên xâm nhập Lào là toán Strata 111. Toán xuất phát từ căn cứ hành quân tiền phương Khe Sanh được trực 1 thăng H34 King Bee (Phi đoàn 219) thuộc không quân của Quân đội Sài Gòn đưa đến mục tiêu. Vài giờ sau khi xâm nhập, toán biệt kích phát hiện Bắc Việt có mặt ở khắp nơi. Công điện thu được của Bắc Việt cho biết toán biệt kích nhảy dù đúng căn cứ của Sư đoàn 325 Bắc Việt.

Google photo

Toán biệt kích Strata đội nón cối, mặc quân phục, trang bị AK47 như lính Bắc Việt cho họ thêm yên tâm. Bị lộ, họ chạy xa mục tiêu khoảng năm cây số và yêu cầu được rút lui khẩn cấp. Cố gắng tránh đụng độ với quân Bắc Việt và tìm được bãi đất trống trải, toán biệt kích Strata được trực thăng H34 đến bốc, đưa về Đà Nẵng. Tháng 8/1967, toán Strata 112 tiếp tục xâm nhập Lào từ căn cứ tiền phương ở Đakto (Kontum). Nhiệm vụ của toán là do thám một nhánh trên đường mòn Hồ Chí Minh. Họ đáp xuống mục tiêu an toàn. Ngày hôm sau di chuyển dọc theo con đường, họ khám phá ra vài căn chòi. Sáng hôm sau nữa, Strata bị phát giác. Họ điện về Sài Gòn, yêu cầu được rút lui . Mặc dù có quá nhiều mây che phủ nhưng các phi công H34 vẫn đáp xuống mục tiêu, bốc theo toán biệt kích Strata về tới Đakto an toàn.

Toán Strata 111

Những toán biệt kích Strata kế tiếp chuẩn bị xâm nhập Bắc Việt ngoài trang bị như lính Bắc Việt, họ được mang theo máy truyền tin PRC74, để có thể liên lạc thẳng với máy bay thám thính bao vùng. Toán Strata 111 lần này có nhiệm vụ do thám lượng xe cộ của Bắc Việt di chuyển trên tuyến đường 101 thuộc địa bàn tỉnh Quảng Bình. Đó là một nhánh quốc lộ 12 trước khi đến đèo Mụ Giạ, để nhập vào đường mòn Hồ Chí Minh. Toán biệt kích Strata có đem theo ống nhòm đặt trên giá ba chân để có thể theo dõi lượng xe cộ của Bắc Việt qua lại khu vực núi Khe Sai gần đó.

Rạng sáng ngày 24/9/1967, toán biệt kích Strata lên chiếc trực thăng CH3 tại căn cứ không quân Nakhon Phanom (Thái Lan). Để tránh bị để ý, chỉ có 7 trong số 13 biệt kích quân của toán Strata tham gia phi vụ. Thiếu tá Wilgus lên chiếc C130, đích thân chỉ huy chuyến thả toán biệt kích Strata 111 . Thiếu tá Alton Deviny lái chiếc CH3, sau này kể lại: “Chúng tôi thả họ lúc trời hửng sáng, đỉnh núi chỗ họ đáp xuống quá dốc, mà rừng thì rất rậm rạp”. Tuy địa thế hiểm trở, gây khó khăn cho biệt kích quân khi di chuyến, nhưng bù lại, ít thấy bóng dáng quân Bắc Việt. Có lẽ toán biệt kích cảm nhận rõ hơn những trở ngại, vì họ phải theo dõi lượng xe cộ lưu thông trên 6 km đường ở địa thế hiểm trớ, quả là điều rất khó khăn. Cộng thêm nhiều vấn đề mới phát sinh như hết nước uống; hai biệt kích quân bị bệnh. Do đó, ngày 28/9, toán biệt kích Strata yêu cầu được rút quân. Mặc dù toán Strata chẳng đem về được bao nhiêu tin tức, nhưng SOG vẫn tỏ ra hoan hỉ vì lần đầu tiên họ đã thành công trong việc đón được cả toán biệt kích từ đất Bắc trở về.

Chưa đầy một tháng sau, Strata lại chuẩn bị cho phi vụ xâm nhập mới. Vào thời điểm đó Thiếu tá Wilgus đã mãn hạn phục vụ tại Việt Nam. Người thay thế Wilgus là Thiếu tá Victor Calderon. Đến Nam Việt Nam lần thứ hai, Calderon tập hợp toán biệt kích Strata 112 lại, nói rõ nhiệm vụ của họ phải xâm nhập không phận phía bắc tỉnh Quảng Bình, để do thám khu vực ngã ba đường 15 nhập vào đường 12, chạy về hướng nam đèo Mụ Giạ. Địa điểm họ đáp xuống sẽ là khu vực rừng núi, cách mục tiêu 8 km về hướng tây bắc. Lần này họ phải nhảy dù. Đêm 23/10/1967, mười biệt kích quân trong toán Strata 112 lên chiếc máy bay MC130 ở phi trường Tân Sơn Nhất.

Chiếc MC130 bay từ biển vào đến mục tiêu, thả toán biệt kích xuống. Giống như những toán biệt kích nhảy dù xuống trước đây, toán Strata 112 bị phân tán. Khi đáp xuống hiệu thính viên Ngô Phong Hải không nhìn thấy bóng dáng bất kỳ người nào trong toán Strata 112. Chiếc dù của anh ta bị vướng trên một ngọn cây cao. Đợi đến sáng, Hải cắt dây dù, leo xuống, sau đó gặp Mai Văn Hợp, chuyên viên chất nổ trong toán. Cả hai quay trở lại gốc cây Hải vừa xuống hồi đêm đế lấy máy truyền tin. Năm giờ đồng hồ sau, cả toán mới tập hợp lại đầy đủ. Trưởng toán là Thiếu úy Nguyễn Văn Hùng cảm thấy nghi hoặc địa thế xung quanh khu vực thả dù không giống như trên bản đồ. Thêm vào đó một vài thành viên trong toán báo cáo tại khu vực đáp xuống có một làng dân.

Sau khi phối kiểm, đúng là toán Strata 112 bị thả nhầm xuống gần ranh giới tỉnh Hà Tĩnh. Toán biệt kích buộc phải đi chuyên gấp, nếu không dân địa phương sẽ phát hiện ra họ và báo cho lực lượng công an nhân dân vũ trang. Nhưng ngay sáng ngày 31 tháng 10, toán biệt kích đã bị phục kích gần bờ một con suối. Ba biệt kích quân bỏ mạng, một bị thương. Số còn lại chạy về hướng nam tỉnh Quảng Bình. Mặc dù liên lạc được với máy bay Mỹ, nhưng do rừng quá rậm rạp, họ không thể xác định đúng vị trí của toán biệt kích.Trực thăng cấp cứu đành phải quay về.

Cuộc Chiến Bí Mật Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH

ydan.org

Nicholas Cage

Bản dịch: Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 1 Aug 2024

Google photo

Phần 8

Chiến Tranh Ngoại Lệ

Tấn công lên bờ khó thành công, Ban Cố vấn dự thảo chương trình khác mang mật danh Loki, bắt cóc ngư dân miền Bắc đem đến cù lao Chàm ngoài khơi Đà Nẵng cho Mặt trận Gươm thiêng ái quốc tuyên truyền. Một ngư dân bị biệt kích bắt mang về giam tại cù lao Chàm theo chương trình Loki.

SOG hy vọng sau khi nhận tàu Nasty, những trận tập kích phá hoại trên đất liền Bắc Việt có cơ hội thành công hơn. Theo đó, SOG lên kế hoạch sử dụng 26 biệt kích biển bố trí trên 3 chiếc xuồng cao su, sẽ tràn lên bờ bắn phá trong vòng 10 phút rồi rút nhanh. Chuyến kế tiếp SOG soạn thảo kế hoạch đánh phá cầu trên quốc lộ 1 thuộc địa bàn tỉnh Thanh Hóa, xa hơn là những mục tiêu thực hiện trước đây, để Bắc Việt khó phán đoán địa điểm tập kích.

Đêm 26/6/1964, SOG cho triển khai vụ tập kích: 7 quân nhân làm nhiệm vụ phá cầu; 22 người khác làm lực lượng bảo vệ, cảnh giới. Trận này họ đã giết được hai người gác cầu và bốn người khác trong lực lượng tuần tra biển. Thanh toán xong mục tiêu, tất cả rút ra xuồng cao su và chạy về chiếc Nasty đang đợi.

Sau vụ tập kích thành công, tưởng dễ ăn, Ban Cố vấn tổ chức tấn công quy mô hơn. Họ sử dụng hai chiếc Nasty, một chiếc chở biệt kích, chiếc thứ hai hộ tống. Mục tiêu trận tập kích này là trạm bơm ở phía bắc Đồng Hới, Quảng Bình. Đêm 30/6/1964, hai chiếc Nasty xâm nhập hải phận Đồng Hới. Trong lúc 2 chiếc PTF-5 và PTF-6 đợi ngoài khơi, 30 biệt kích biển xuống xuồng cao su ập vào bờ, tập kích những mục tiêu đã định.

Bị tổn thất hai vụ trong vòng hai tuần, lần này Bắc Việt đã có kế hoạch “đón khách”. Khi toán biệt kích biển lên đến bờ, họ được chào đón bằng đủ các loại súng. Thấy vậy, chiếc PTF-5 ngoài khơi phải tăng tốc chạy vào bắn yểm trợ cho toán biệt kích rút lui, nhưng vẫn bị kẹt lại hai người. Ngày 15/7, biệt kích tiếp tục tập kích vào cửa sông Ron, để lại thêm hai người nữa. Chứng tỏ Bắc Việt đã mạnh tay hơn trong việc tiêu diệt các toán biệt kích quân Sài Gòn.

Cùng thời điểm trên, Phái đoàn Viện trợ Quân sự Mỹ (MACV) nhận được tin tình báo có 10 chiếc Swatow trên đường vào Đồng Hới, 4 chiếc khác đã đến sông Gianh để đón lõng bất kỳ toán biệt kích nào xâm nhập hải phận Bắc Việt.

Ngày 20/1/1965, dưới ánh trăng vằng vặc, một chiếc máy bay C123 màu xám không phù hiệu cắt ngang không phận phía tây tỉnh Lai Châu, bay vòng trên bầu trời về hướng bắc lòng chảo Điện Biên Phủ. Phi hành đoàn Đài Loan trông thấy lửa đốt sáng trong khu rừng ở dưới đất đúng theo hình dáng đã quy ước. Toán biệt kích 4 người nhảy ra khỏi phi cơ, chiếc C123 bay qua Lào rồi hướng về Nam Việt Nam.

Những biệt kích quân vừa nhảy dù xuống vùng Lai Châu thuộc toán đầu tiên của SOG xâm nhập không phận Bắc Việt trong năm 1965, lẽ ra sẽ tăng cường cho toán Remus đã nằm vùng trước đó trong tháng 4/1962, nhưng do tình hình thay đổi, Remus nhận lệnh đổi sang thực thi những phi vụ phá hoại. Thế nhưng trước đây Remus chỉ được huấn luyện thu thập tin tức tình báo, cộng với không có phương tiện để phá hoại nên ngày 10/8/1963, SOG tăng cường thêm cho Remus hai “sư phụ”. Cả hai “sư phụ” đều là người Tày nên dễ làm việc với Remus và phù hợp với đặc điểm của toán biệt kích. Ba tháng sau, toán Remus báo cáo đã rải mìn trên trục đường chính về hướng Tây Trang, tây nam Điện Biên Phủ, chạy sang Lào.

Sau khi CIA bàn giao các toán biệt kích cho SOG trong tháng 1/1964, thì hoạt động phá hoại là nỗ lực chính của lực lượng biệt kích Sài Gòn trong kế hoạch 34A. Ngày 23/4, SOG thả thêm ba biệt kích người Mường xuống tăng cường cho Remus. Trong tháng 8, Remus báo cáo phá sập thêm 2 cầu nữa ở phía bắc thung lũng Điên Biên Phủ. SOG hứng khởi, thả thêm 4 biệt kích người Mường nữa cho Remus.

Buôn Ea Yang 3/1966. Gia đình người vợ trẻ nhận xác chồng, vốn là một biệt kích người Thượng

Trong tháng 1/1965, SOG dự kiến thả thêm 9 biệt kích quân Việt Nam xuống tăng cường cho Remus. Nhóm này mang theo hỏa tiễn 4.5inch loại nhỏ, mới chế tạo đem vào chiến trường Việt Nam kiểm nghiệm. Toán Remus được lệnh dùng loại vũ khí mới này bắn phá sân bay Mường Thanh, Điện Biên Phủ. Đây là sân bay được không quân Bắc Việt sử dụng như một căn cứ tiền phương. Ngày 20/1/1965, bốn biệt kích quân Việt Nam nhảy dù xuống nhập vào toán Remus, năm biệt kích quân khác cáo bệnh để khỏi tham dự phi vụ trên. Công điện báo cáo của Remus cho biết, một biệt kích quân bị gãy chân lúc đáp đất, một bị ngã vỡ sọ chết.

Vài tháng sau, SOG đổi chủ. Người đứng đầu SOG từng được xem như là một trong những huyền thoại của Lực lượng đặc biệt Mỹ, đó là Đại tá Donald D. Blackburn. Năm 1965, không quân Mỹ bắt đầu đánh phá Bắc Việt, với chiến dịch “Rolling Thunder”. Quân Mỹ yêu cầu SOG đánh phá đường mòn Hồ Chí Minh nhằm ngăn chặn đường tiếp tế, chuyển quân của Bắc Việt vào chiến trường miền Nam. Để chỉ điểm cho các trận oanh kích, MACV ra lệnh cho SOG tổ chức những toán biệt kích quân Việt Nam do lực lượng biệt kích Mũ Nồi Xanh của Mỹ làm toán trưởng, sẽ xâm nhập, do thám hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh.

Theo đó, những tháng cuối năm 1965, SOG tuyển thêm quân Mũ Nồi Xanh, cùng huấn luyện họ chung với biệt kích quân Việt Nam tại căn cứ Long Thành. Những cuộc hành quân do thám đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào có tên là “Shining Brass”.

SOG tiếp tục tuyển mộ thêm lính tình nguyện trong Quân đội Sài Gòn, như toán Romeo gồm 5 quân nhân lấy từ Sư đoàn bộ binh 2 và năm thành viên là dân sự. Toán Romeo có 10 người, từng được huấn luyện hơn một năm, có nhiệm vụ do thám đường 103, chạy dọc theo khu phi quân sự, rồi nhập vào hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh.

Trong lúc toán Romeo làm công tác chuẩn bị, SOG tìm phương tiện khác để thả toán biệt kich. Những phi công Đài Loan lái loại máy bay C123 chưa phải là “hạng nhất”, mặt khác nếu nhờ trực thăng Air America sẽ mang tiếng. Hơn nữa, SOG là lực lượng thuần túy quân sự chứ không phải CIA. Cuối cùng, SOG quyết định sử dụng loại máy bay trực thăng H34 của Phi đoàn 219 (King Bee) của Quân đội Sài Gòn. Vả lại, những phi công của Phi đoàn 219 có nhiều kinh nghiệm thả biệt kích và rất liều mạng, khiến người Mỹ cũng phải thán phục.

Thế là 4 chiếc H34 không phù hiệu được biệt phái ra Nha Trang trong tháng 10/1965. Thực thi những phi vụ bay cho cuộc hành quân “Shining Brass”, phi công Việt Nam đều muốn chứng tỏ khả năng của mình. Trong các phi vụ thả, thu hồi những toán biệt kích Việt – Mỹ, phi công Việt Nam được người Mỹ xem là “loại siêu”. Cũng vì vậy SOG quyết định sử dụng loại trực thăng H34 chở toán Romeo xâm nhập không phận Bắc Việt.

Sáng 19/11, theo kế hoạch 34A, 10 biệt kích quân được đưa tới Khe Sanh. Thời điểm đó nơi này chưa nổi tiếng, mới chỉ là một căn cứ của đơn vị biệt kích nhỏ, cách biên giới Việt – Lào 6 km; cách khu phi quân sự 40 km. Ba giờ chiều, toán Romeo lên 3 chiếc trực thăng H34, xuất phát từ Khe Sanh. Chiếc trực thăng đầu có 3 biệt kích quân, sĩ quan SOG, 2 xạ thủ đại liên và 1 phi công phụ người Mỹ. Cơ trưởng là Đại úy Nguyễn Phi Hùng, có biệt danh là “Moustachio”. Số biệt kích còn lại chia đều trên 2 chiếc H34 khác.

Đại Úy Phi Hùng dẫn đầu phi đội trực thăng bay về hướng bắc, khuất dần trong mây. Băng qua khu phi quân sự, đến mục tiêu, phi đội đáp thẳng xuống bãi đáp, thả toán biệt kích Romeo xuống, rồi bốc lên cao bay về phía nam. Chuyến thả biệt kích thành công.

Đến đầu năm 1966, SOG tin rằng mình có tới 9 toán biệt kích nằm vùng trên lãnh thổ Bắc Việt, với tổng quân số là 78 người. Hai toán mới nhất thả tháng 12/1965, tăng cường cho toán Romeo. Toán Kern gồm 9 biệt kích quân nhảy dù xuống gần đèo Mụ Giạ vào tháng 3/1966 đã liên lạc sau khi xâm nhập. Hai toán này có nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo theo lệnh của Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở Thái Bình Dương (CINPAC). Ông ta đinh ninh rằng Hà Nội đang cho sửa chữa gấp những con đường dùng để chuyển quân, chi viện vật chất cho chiến trường miền Nam. Do đó, buộc các toán biệt kích quân phải đếm số xe vận tải Molotova lưu thông trên đường mòn Hồ Chí Minh. SOG nhìn nhận rằng những mệnh lệnh của ông Tư lệnh quân viễn chinh Mỹ ở Thái Bình Dương gửi xuống cho các toán biệt kích đôi khi rất mơ hồ, không rõ ràng.

SOG cũng đã nhận thêm loại máy truyền tin mới Delco 5300 thay cho loại máy cũ cồng kềnh RS-1 phải quay tay. Máy Delco 5300 cũng có thể truyền tín hiệu Morse. Vào thời điểm này, Hà Nội tiếp tục gia tăng hệ thống phòng không, khiến cho các phi công Đài Loan “lạnh gáy” trong những lần bay thả đồ tiếp tế. Lúc đó có hai toán cần được tiếp tế. Một là điệp viên Ares xâm nhập khu vực tỉnh Quảng Ninh năm 1961. Hai là toán Eagle, gồm 6 người nhảy dù xuống phía tây tỉnh Quảng Ninh vào tháng 6/1964. Hai toán này nằm gần thành phố Hải Phòng, nơi có hỏa lực phòng không rất mạnh. Tháng 2/1965, SOG đưa ra kế hoạch thả dù tiếp tế cho toán Eagle, rồi Eagle sẽ chia cho Ares, gộp thành 1 chuyến cho cả hai toán. Kế hoạch bị đình trệ nhiều lần do hệ thống phòng không ở Hải Phòng này có thêm cả tên lửa SAM của Nga. Nghe nói đến tên lửa SAM, những phi công Đài Loan xanh mặt, từ chối bay.

Thế nhưng việc tiếp tế cho hai toán biệt kích vẫn phải thực thi. Để tránh hỏa lực phòng không Bắc Việt, SOG tìm giải pháp khác, dùng loại máy bay có tốc độ nhanh hơn. Lúc này những phi công Việt Nam xem ra được để ý tới. Trong ba phi hành đoàn được huấn luyện bay với cao độ thấp ở Florida năm 1964, có một toán tử nạn trong lúc huấn luyện, một toán bỏ cuộc. Toán thứ ba sau này bị loại vì bay tiếp tế nhiều lần không thành công.

Để lấy lại uy tín, tướng Kỳ đích thân bay chuyến đầu tiên thả biệt kích, cũng là người đầu tiên bay phi vụ oanh kích trong tháng 2/1965, rồi cho phép sử dụng đơn vị nổi tiếng nhất của ông ta là Phi đoàn chiến thuật 83, có biệt danh Thần Phong, chuyên sử dụng loại máy bay Skyraider A-1G, không mang phù hiệu. Phi đoàn này tập hợp những phi công “thượng hạng” của không quân Quân đội Sài Gòn. Tháng 4/1966, một đơn vị A–1G vượt vĩ tuyến 17, bay thẳng đến những ngọn đồi gần đường 103. Khi nhận được tín hiệu của toán Romeo trên mặt đất, viên phi công thả hai quả bom Napalm, bên trong chứa đồ tiếp liệu cho toán biệt kích, theo kế hoạch 34A, gồm quần áo, lương thực, đạn dược.

Tiếp theo đến phiên không quân Mỹ tiếp tay. Phi đoàn chiến đấu 366 đóng tại phi trường Đà Nẵng sử dụng máy bay phản lực F4 Phantom thả tiếp tế cho toán Eagle ở phía tây tỉnh Quảng Ninh. Để tránh tổn thất, người Mỹ đã chuẩn bị kỹ hơn, một phi tuần F4 tấn công vào một mục tiêu gần đó, rồi hai chiếc F4 tách ra, bay về hướng khác. Họ bay cách mặt đất chừng 16 m, khi trông thấy tín hiệu của toán biệt kích Eagle, hai phi công thả những trái bom Napalm chứa đồ tiếp tế. Toán biệt kích Eagle báo cáo đã nhận đầy đủ đồ tiếp tế.

Skyraider trong một phi vụ

Tiếp theo đến phiên không quân Mỹ tiếp tay. Phi đoàn chiến đấu 366 đóng tại phi trường Đà Nẵng sử dụng máy bay phản lực F4 Phantom thả tiếp tế cho toán Eagle ở phía tây tỉnh Quảng Ninh. Để tránh tổn thất, người Mỹ đã chuẩn bị kỹ hơn, một phi tuần F4 tấn công vào một mục tiêu gần đó, rồi hai chiếc F4 tách ra, bay về hướng khác. Họ bay cách mặt đất chừng 16 m, khi trông thấy tín hiệu của toán biệt kích Eagle, hai phi công thả những trái bom Napalm chứa đồ tiếp tế. Toán biệt kích Eagle báo cáo đã nhận đầy đủ đồ tiếp tế.

Công bằng mà nói, nhờ những trận oanh kích ở Bắc Việt nên SOG được trang bị loại máy bay C130 để phục vụ cho những hoạt động bí mật. Trường hợp có máy bay nào bị bắn rơi trên lãnh thổ Bắc Việt, Mỹ sẽ nhận là của không quân Mỹ. Phi hành đoàn C130 sẽ được huấn luyện đặc biệt trong căn cứ không quân Pope, thuộc tiểu bang North Carolina. Mùa hè 1966, SOG nhận thêm 4 chiếc máy bay loại MC130, được gắn thêm “râu” trước mũi để bốc các toán biệt kích theo kiểu điệp viên James Bond 007 (Fulton Skyhook extraction system). Tháng 10/1966, bốn chiếc MC130 đã đến Nha Trang, dưới danh nghĩa Phi đoàn Vận tải số 314, nhưng họ chỉ nhận lệnh từ SOG. Sau những lần bay thực tập, họ nhận lệnh xâm nhập không phận Bắc Việt thả truyền đơn và sẵn sàng thực thi những phi vụ đặc biệt. Đêm Noel, họ làm cú đầu tiên, thả 2 biệt kích dù xuống tăng cường cho toán Tourbillon.

Google photo

Cơ trưởng Leon Franklin kể lại: “ Chúng tôi cất cánh từ Nha Trang, bay dọc theo biển, ngang qua Đà Nẵng rồi vào đất liền. Phi hành đoàn gồm hai phi công, một cơ khí viên, hai sĩ quan hoa tiêu và một phi công đồ bản”. Khi chiếc máy bay đến mục tiêu, cơ trưởng Franklin để ý tìm tín hiệu nhưng không thấy gì hết. Họ bay vòng trở lại, lần này thấy lửa đốt lên theo hình chữ L. Đúng mật hiệu, hai biệt kích quân nhảy ra, chiếc phi cơ vòng lại bay về phương Nam.

SOG vẫn tiếp tục tìm kiếm thêm nhiều loại phương tiện để tăng khả năng hoạt động xâm nhập, phá hoại. Những phi công Việt Nam lái loại trực thăng H34 rất có khả năng và đã thành công trong việc thả toán Romeo trước đây. Tuy nhiên, SOG lại thích loại trực thăng CH3 của không quân Mỹ hơn. Loại máy bay này mới xuất hiện trên chiến trường miền Nam Việt Nam, có khả năng bay nhanh hơn, trọng tải lớn hơn so với trực thăng H34.