Một Người Quen

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 6 08, 2019

Post by Sơn râu 2 Aug 2024

Tui biết anh ta khi tham gia vào chiến dịch X1, chiến dịch đánh tư sản đầu tiên của chính quyền Cộng Sản tại miền Nam sau 1975. Tui hồi đó thất nghiệp dài cồ, chẳng làm chi ra tiền, đói nhăn răng, cơm chẳng có mà ăn, bán hết áo quần, giày dép rồi tới sách báo, đến lúc chẳng còn gì để bán, nên khi được gợi ý tham gia có cơm ăn là ghi tên ngay. Bọn tui bị tập trung vào tối 9.9.1975, xe đưa đến trường Pétrus Ký. Ngồi chờ dài cổ mà không biết tập trung để làm gì? Đến nửa đêm thì được chia thành từng nhóm nhỏ, có xe chở đi. Nhóm của tui có tui với Lượng là gốc sinh viên Đại học Vạn Hạnh, bổ sung thêm một tên ở Đại Học Khoa Học tên Trung, thêm hai người nữa đến giờ chẳng nhớ tên. Tổ trưởng của toán là anh ta, một sĩ quan quân đội Bắc Việt. Anh ta nói tiếng Bắc giọng nhà quê, tụi tui nghe tiếng được tiếng mất. Lại thêm có nhiều từ nghe hơi lạ tai như khắc phục, tranh thủ, phấn đấu…nên nhiều khi tụi tui đoán ra yêu cầu của anh ta mà thực hiện. Tổ của tụi tui đóng quân ở trên lầu của một khách sạn của người Hoa ở đường Đồng Khánh, nhiệm vụ giữ một điện đài liên lạc, nhưng cũng ít khi thấy có ai gọi hoặc nhắn nhủ chi. Công việc chẳng có gì, chỉ quanh quẩn trong phòng, rồi chia nhau đi lang thang mấy căn phố đìu hiu, những hàng quán chắc hẳn ngày xưa rất nhộn nhịp. Anh bộ đội chỉ huy của tụi tui thấy cái gì cũng lạ, nhìn cái gì cũng thắc mắc. Nhiều hôm anh đứng ở balcon, mắt cứ ngước nhìn những toà nhà cao tầng và bảo với tụi tui, sao họ có thể xây được những cái nhà cao và to thế. Có lần tui đi ra phố Lê Lợi, mua về mấy ổ bánh mì thịt với paté, mời anh ta ăn, anh ăn mà miệng cứ xuýt xoa họ làm bằng thứ gì sao nó ngon quá vậy! Thật ra bánh mì lúc đó chẳng còn ngon như bánh hồi trước 75 vì thực phẩm đã bắt đầu khan hiếm rồi, dù bộ đội mới chiếm Sài Gòn hơn bốn tháng. Nói tóm lại là anh ta hoàn toàn xa lạ với những sản phẩm và cuộc sống văn minh của Sài Gòn. Anh bảo từ bé đến ngày đi bộ đội vào Nam, anh chỉ ở quê, mò cua bắt ốc, nhiều khi không đủ gạo mà ăn, độn khoai sắn, có lúc độn rau, sống rất thiếu thốn. Thịt bò, thịt heo là những món ăn mơ ước chỉ có ngày Tết hay ngày kỵ giỗ mới có một miếng trơn mồm. Anh chỉ mong đủ lớn để được vào bộ đội, có cơm ăn. Chiều chiều anh hay rủ tui đi ngắm hàng hóa, anh nhìn những món hàng với ánh mắt khát khao, thèm thuồng. Anh nói với tui là anh mê nhất đồng hồ không người lái có hai cừa sổ và cái đài có band hát nhạc. Anh thổ lộ là muốn mua quà gởi về cho bố mẹ và các em ngoài ấy mà chẳng có tiền. Anh ta thật thà, không có bệnh nổ như những anh bộ đội miền Bắc khác, nên tụi tui cũng có chút cảm tình. Tình cảm này xuất phát từ lòng thương hại nhiều hơn, dù anh đang là kẻ chiến thắng và đang là người chỉ huy tụi tui.

Một hôm phòng chúng tôi xuất hiện một tù nhân. Ông ta người Hoa, dáng to lớn, bị trói thúc ké vào một chiếc ghế. Nghe thoang thoáng ông ta là một tay tư sản giàu lắm ở Chợ Lớn, khai báo tài sản chưa đầy đủ nên bị bắt tạm giam để điều tra tiếp. Thế là tụi tui trở thành những tên lính canh, thay phiên nhau canh gác với khẩu súng carbine của nhân dân tự vệ. Đêm đó, tui được phân công gác từ 12 giờ đêm đến 2 giờ sáng, tui ngồi canh mà mắt cứ díu lại, chập chờn. Bỗng có tiếng gọi khẽ: Nị à, nị à…. Tui choàng ngay dậy, ông Tàu gật gật đầu, có vẻ muốn nói gì với tui. Tui ngần ngừ đi lại, ông ta nói nhỏ: “Nị cởi trói cho ngộ, rồi mở cửa sổ. Ngộ thoát được sẽ gởi cho nị 5 lượng vàng, bảo đảm sẽ có người đưa tận tay nị.” Thấy tui có vẻ không tin, ông ta nói tiếp, giọng cầu khẩn: “Tin ngộ đi, ở Chợ Lớn này ai cũng biết tên ngộ, ngộ không nói láo đâu, mở trói cho ngộ, ngày mai sẽ có người mang vàng trao tận tay nị” Thời điểm đó, đối với tui, vàng chẳng có giá trị gì, mà thật ra tui cũng chẳng biết trị giá của nó thì đúng hơn. Hơn nữa, tui vốn nhát gan, nên sợ nếu tên này trốn, chắc tui phải lãnh đủ. Nghe nói mấy ông cộng sản này kỉ luật nghiêm lắm, nên tui càng sợ. Tui lắc đầu, đưa tay ngang cổ, ra dấu cắt đầu, sợ lắm. Ông nhìn tui, thất vọng…

Người gác kế tui là anh ta, anh sĩ quan Việt cộng. Tui về giường nằm mà cứ nghĩ về ông Tàu, tự hỏi từ lầu ba này mà ông ta nhảy xuống thì không chết cũng què, sao ông ta tính chuyện gan trời vậy. Lan man nghĩ thế thôi, tui đi vào giấc ngủ lúc nào chẳng biết. Đang say ngủ thì bỗng tui nghe một tiếng rầm như vật gì bị rớt, hốt hoảng choàng dậy, tui thấy cửa sổ mở toang, ông Tàu biến đâu mất, anh ta thì đang loay hoay với cây súng, lên đạn lốp cốp rồi mới hô lớn: Đứng lại, đứng lại không tao bắn… Thế rồi anh chìa súng ra cửa sổ, chĩa súng lên trời bắn một tràng, rồi mới chạy xuống cầu thang. Tụi tui tỉnh ngủ hẳn, lật đật chạy theo anh. Xuống đến sân, thấy một chiếc xe hơi rồ máy chạy như bay ra đường….

Tui không biết anh ta có bị cấp trên kỉ luật gì không, hôm sau vẫn thấy anh ta sinh hoạt bình thường, cũng chẳng nhắc gì tới vụ ông Tàu trốn thoát. Thế nhưng trong lòng tôi vẫn dấy lên một nỗi nghi ngờ, tui tin chính anh là kẻ cởi trói và mở cửa cho tù nhân trốn thoát. Nghi vậy thôi, nhưng tui chẳng kể với ai.

Mấy bữa sau, vào buổi chiều, anh ta ôm về một cái máy radio cassette, tay đeo một chiếc đồng hồ Seiko. Nhìn những vật này, tui càng tin chắc anh ta chính là người giúp ông Tàu trốn chạy. Suốt ngày anh ra cứ loay hoay với chiếc máy và cái đồng hồ. Mấy thằng tui hướng dẫn cách sử dụng máy cassette, dạy anh ta cách lấy giờ, cách chuyển lịch cho đồng hồ. Bày đủ cách mà anh ta chẳng nhở gì, chỉ có nút tắt mở, bấm play, bấm chuyển band qua lại, từng đó thôi mà anh ta cứ mãi quên, không nhớ. Cứ mỗi lần mở máy là một lần hỏi. Bực mình quá, tụi tui bảo trong đầu anh chứa gì mà sao anh ngu thế. Anh ta chỉ cười, phô hết hàm răng hô rồi bẽn lẽn: “Thì tại tớ vốn nhà quê mà…” Thấy tội nghiệp, tụi tui lại bày cho anh.

Hơn tháng sau thì tổ chúng tôi giải tán, ai về nhà nấy. Ở chung nhau gần hai tháng, nhưng thật sự chẳng gắn bó gì với nhau lắm, vì trong mỗi người đều mang mỗi tâm trạng khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, toan tính khác nhau, nên cũng chẳng có tiễn đưa, tan hàng trong lặng lẽ.

*********
*********

Năm 1998, công ty tui mở thêm một nhà máy in và một xưởng chế bản điện tử, xin giấy phép khó khăn, phải ra tận Hà Nội. Tui là giám đốc nên lãnh trách nhiệm ra ngoài đó để vận động kiếm cho được tờ giấy phép. Người phụ trách ký giấy cho tui là một cán bộ cấp cục trưởng của Bộ Văn Hoá. Tay này rất quan cách, ăn nói, đi đứng rất bệ vệ, ra dáng lãnh đạo lắm. Dù đã có thư gởi gắm, có ngay phong bì lần gặp đầu tiên nhưng y cứ chần chừ, chưa chịu ký. Mời đi ăn mấy lần mà ông quan này vẫn chưa nhận lời, sau phải nhờ qua một quan lớn khác, y mới chịu đi. Vào tiệc, y gọi món rất sành sỏi, gọi rượu toàn thứ cao cấp, chứng tỏ y là dân chơi thứ thiệt. Khi ăn, y còn dạy cho cả bàn là ăn bào ngư phải ăn như thế này, rùa vàng, vi cá phải ăn như thế kia, ăn món nào với rượu nào, y biểu diễn khui rượu, rót rượu rất nhuần nhuyễn, cả bàn há mỏ ra nghe, tui chỉ cười nhạt. Y nói nhiều, nhưng chẳng ăn gì, mời mãi cũng chỉ động đũa đôi ba miếng gọi là, y bảo nhà hàng này làm món ăn chưa đúng điệu, mặc dù bữa tiệc đó tui phải thanh toán cả đống tiền. Vì tờ giấy phép đó, tui phải bám ở Hà Nội suốt gần ba tuần lễ. Và ngày nào cũng nhậu nhẹt, ăn chơi. Càng tiếp cận ông quan này, tui cứ ngờ ngợ, thấy có nét hao hao một người nào đó mà mình đã gặp trong đời. Nghĩ mãi mà chẳng nhớ ra. Cuối cùng thì tôi cũng nhận được tờ giấy phép, đổi lại, tui cũng hao khá bộn. Ngày cuối trước khi về lại Sài Gòn, tui được y chiếu cố mời về nhà nhậu như để trả lễ, vì theo y, không đâu nhậu ngon bằng ở nhà y, có đầu bếp riêng, thức ăn nhập khẩu tươi ngon, có rượu xịn, và hơn hết, theo lời y khoe, ở Hà Nội này, không có nhà hàng nào có dàn máy nghe nhạc so sánh được với dàn máy của y.

Nhà y không lớn lắm, nhưng nằm trên con đường đẹp với những hàng cây. Nhà nhỏ, nhưng trang trí toàn những vật đắt tiền. Sập gụ, tủ chè, tượng đứng, tượng ngồi, đồ sứ, ngà voi, ngọc xanh, ngọc đỏ lủ khủ. Tui choáng với tủ đồng hồ đeo tay của y, toàn thứ dữ: Patek Philippe, Omega Constellation, Jaeger Lecoultre, Constantin, Piguet, Longines…nhưng đúng như y nói, dàn máy nghe nhạc của y mới sợ, to đùng, sáng lóa, chắc phải vài trăm ngàn đô. Làm quan giàu thật. Dàn máy khủng đặt trên chiếc tủ bằng gỗ quý, chạm trổ tinh vi, đánh verni màu nâu nhạt trông rất đẹp. Trên chiếc loa lớn đen tuyền có một khung ảnh bằng vàng cũng chạm trổ khá cầu kỳ. Trong ảnh là hình của một anh bộ đội, đàng sau lưng là chợ Bến Thành, tấm hình đã úa màu thời gian, nhìn không hợp lắm với cái khung. Thoáng nhìn hình, tôi nhận ra ngay khuôn mặt của người sĩ quan chỉ huy tụi tui hồi đi chiến dịch X1. Hàm răng hô, khuôn mặt hiền hiền, ngu ngu. Tui buột miệng: Hình ai đây anh? Y cười rổn rảng: “Tớ đấy, chụp hồi mới giải phóng Sài Gòn, nhìn khác quá, phải không? Hồi đấy chẳng còn giữ được tấm hình nào, chỉ còn duy nhất tấm này. Kỷ niệm đấy, quý lắm đấy!” Tui suýt kêu lên, nhận người quen cũ, nhưng kịp dừng lại. Thời gian đã đổi thay, cuộc đời đã đổi thay, vị trí cũng đổi thay, liệu y còn nhớ thời kỳ đó không? Hay y cố tình quên đi rồi, nhắc lại thật tình là không có lợi. Nhưng tui cứ băn khoăn mãi là y làm cách nào mà có được sự thay đổi lạ lùng quá xá vậy. Tui hình dung lại khuôn mặt của anh ta, nhớ lại ánh mắt thèm thuồng của anh ta trước những hàng hoá của Sài Gòn, sự nhẫn nhịn của anh ta khi tụi tui bảo anh ngu vì dạy mãi mà vẫn không sử dụng được cái máy cassette. Cuộc đời chuyển biến kinh thật, đúng là đổi đời. Thấy tui đứng ngẩn ngơ trước dàn máy, anh nói lớn:” Sao? Dàn máy ngon chứ? Âm thanh tuyệt hảo. Mở ra nghe đi rồi sẽ thấy. Ông nhấn nút đi, nút trắng đấy”. Tui nhìn hàng nút, thấy nút nào cũng lấp lánh, nút nào cũng một màu nên lưỡng lự chưa biết phải nhấn nút nào thì lại nghe y với một giọng đầy quyền lực pha chút chế giễu: “Thôi vào ngồi nhậu đi ông nội, sao mà nhà quê thế, đến cái nút mà cũng không biết bấm”

Tui tự nhủ, hoá ra cuộc đời là một vòng tròn, luân chuyển thế vai nhau.
Saigon. Tháng 4.2015
DODUYNGOC

Một Người Bạn Cũ

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc  tháng 9 22, 2018

Post by Sơn râu 2 Aug 2024

Tui không ngờ gặp lại hắn và thật lòng tui cũng chẳng muốn gặp hắn tí nào. Nhưng sáng nay tui đã gặp hắn. Sáng nay anh bạn gọi ra cà phê ở đường Nguyễn Huệ, quán Ciao. Đến giờ hẹn, anh bạn vẫn chưa thấy đến. Tui lấy điện thoại ra đọc mấy tin buổi sáng. Đang chăm chú vào màn hình thì có tay ai đặt trên vai tui bóp nhẹ. Tui xoay lại thì bắt gặp một khuôn mặt vừa quen vừa lạ. Quen vì khuôn mặt ấy có những nét nhắc tui về một người bạn. Lạ vì khuôn mặt ấy lại có những nét lạ lẫm. Đó là một khuôn mặt bệnh hoạn, má hóp, da vàng ệch, đôi mắt trũng sâu, thâm quầng, tóc trên đầu chỉ còn lơ thơ mà bạc trắng. Bàn tay đặt trên vai tui khẳng khiu, những ngón dài với màu da thâm thâm đen của người bệnh gan nặng. Anh ta cười, nụ cười nhăn nhúm lộ hàm răng rụng gần hết. Giọng anh khào khào, thì thào: Nhớ tao không? Huỳnh ở Văn khoa, nhớ không?

Huỳnh, Lê Văn Huỳnh. Sao quên được. Những năm cuối thập niên sáu mươi thế kỷ trước, ở đường Trương Minh Giảng Sài Gòn. Trong những căn nhà tạm bợ ở bờ kênh Nhiêu Lộc. Dưới là dòng kênh nước đen, bùn lầy và rác rến. Không khí lúc nào cũng có mùi, mùi của ao tù và xác chết lâu ngày của những con vật, mùi của chất thải đổ ra. Tụi tui, những sinh viên nghèo từ ngoài Trung vô đi học, tạm thuê căn phòng nhỏ ở đấy sống tạm. Bốn thằng trong căn phòng mười mấy thước vuông được dựng bằng gỗ tạp, có chỗ phẻn tre và trên đầu là tấm tôn rỉ, mùa nóng thì hầm hập như lò thiêu xác, mưa thì dột tứ tung. Bữa đói, bữa no. Sống nhờ cơm ở câu lạc bộ ở Đại Học Vạn Hạnh, giá rẻ. Đói nữa thì lê thân xuống cơm xã hội ở đường Trần Quốc Toản( bây giờ là đường Ba tháng Hai). Hết tiền thì vô Đại học xá Minh Mạng ăn ké. Chỉ mong có miếng cơm qua ngày. Thằng nào cũng gầy gò và xanh mướt. Tui và Huỳnh thuê chung phòng. Hắn dân Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Còn tui dân Đà Nẵng. Hắn và tui cùng học Văn Khoa. Tui học Ban Triết. Còn hắn học Ban Sử Địa. Hai thằng đều là con hoang, tức là chẳng có ai nuôi, hàng tháng chẳng được diễm phúc lãnh măng-đa người nhà gởi tiền. Bởi vậy hai thằng sống thiếu trước hụt sau, nhiều bữa đói vàng mắt.

Có một dạo tui xin được hai cái phiếu cấp bánh mì của tổ chức Caritas, một cơ quan từ thiện của Công giáo. Bánh mì ở đấy rất ngon, làm bằng bột mì viện trợ của Mỹ. Ổ bánh mì dài ngoằng, ăn được nửa ổ là no vật vã. Thế mà mỗi phiếu lại được phát mỗi ngày hai ổ. Tui giữ một phiếu, tui đưa cho Huỳnh một phiếu. Sáng sáng, hai thằng ra chỗ bô rác dốc cầu đường Trương Minh Giảng chờ xe buýt đi qua quận tư lãnh bánh mì. Hôm nào có tiền thì kiếm ghế ngồi. Bữa nào cháy túi thì lên cửa trước lẻn ra cửa sau trốn vé. Lãnh được bốn ổ bánh, hai thằng bán lại cho xe bánh mì quen. Hôm thì lấy tiền mua gạo nấu hoặc đi cơm quán vỉa hè. Có hôm thì đổi đồ ăn, lúc thì mấy miếng thịt, khi thì mấy cái trứng. Cũng được một thời gian. Sau đấy, tui tìm được việc làm trong một toà báo, còn Huỳnh thì biến đâu mất tăm. Nghe đồn hắn vô bưng. Tui biết hắn hoạt động cho Việt cộng lâu rồi, nhưng chẳng quan tâm vì tui nghĩ mỗi thằng có mỗi lý tưởng riêng, mục đích riêng để sống.

Tui được một học bổng du học. Một thời gian dài cũng chẳng liên lạc với bạn bè cũ. Đi rồi trở về. Rồi biến cố tháng 4.75. Một thời gian sau nghe tin Huỳnh khi vào bưng được đưa ra Bắc rồi đi học ở Nga vì ba hắn cũng là dân miền Nam tập kết đang giữ một chức vụ khá lớn trong chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau đó cũng nghe tin hắn về nước và đang ngồi vào một cái ghế kha khá ở một sở của thành phố này. Nhưng tui cũng không có dịp gặp.

Những năm tám mấy chín mươi, tui mê chơi tennis lắm. Suốt ngày vác vợt đi khắp sân của thành phố. Sáng sớm thì ở sân Phan Đình Phùng. Trưa thì chạy vào sân Đường sắt hoặc Lê thị Riêng. Chiều thì vào sân Dinh Độc Lập hoặc sân Quốc gia Hành chánh. Và tui gặp lại hắn ở sân Quốc gia Hành chánh. Hắn cũng đi đánh tennis với người bạn trong nhóm tui, một cán bộ của quận 10. Chắc hắn có chức vụ khá lớn bởi tui thấy ai cũng có vẻ nể hắn, đồng thời hắn lại có hai cậu phục vụ lúc nào cũng sẵn sàng chăm sóc lúc cái khăn, khi chai nước. Hắn bây giờ hồng hào, bệ vệ, mập mạp với cái bụng đã phệ. Hai thằng gặp nhau mừng lắm, huyên thuyên đủ chuyện. Nhưng khi tui nhắc đến giai đoạn hai thằng đi xe buýt lậu vé qua quận tư xin bánh mì Caritas thì hắn chối. Hắn dứt khoát là không có chuyện đó, hắn cãi cho bằng được không có là không. Bực quá, tui bảo: Thế thì tui xin lỗi, tui nhận nhầm người rồi. Và tui bỏ đi về trước sự ngạc nhiên của hắn. Tui đi và không ngoái đầu lại và cả tuần sau tui không đến sân đó nữa vì ngại sẽ gặp lại hắn. Khi tui trở lại sân, anh bạn cán bộ đánh chung nhóm bảo rằng hôm đó hắn ngạc nhiên và bực mình vì thái độ của tui. Tui cũng chẳng giải thích gì. Và cũng qua anh bạn đấy, tui biết hắn đang giữ chức Vụ trưởng của một bộ nào đấy, đặc trách phía Nam. Vợ hắn là con gái rượu của một thứ trưởng. Nghĩa là hắn đang làm quan lớn và lẽ dĩ nhiên là hắn rất giàu. Nhưng tui không chịu được những kẻ chối bỏ quá khứ. Ai lại không có thời khó khăn. Sao phải tránh né nó khi đã thành đạt và giàu sang? Kể từ đó, tui quên luôn hắn.

Hôm nay tui lại gặp hắn, đã mấy chục năm rồi chẳng liên lạc, chẳng tin tức. Bây giờ gặp lại hắn, thân thể tiều tuỵ, bệnh hoạn. Tự nhiên tui thấy thương hắn. Hắn bảo hắn ung thư gan giai đoạn cuối, thời gian sống chẳng còn bao nhiêu nữa dù đã qua Sing, sang Nhật, đến Mỹ chữa nhưng mọi nơi đều đã bó tay. Hắn xin lỗi tui vụ hắn chối chuyện đi xin bánh mì trong quá khứ. Hắn bảo lúc đó đông người, hắn đang là sếp bự nên không thể chấp nhận chuyện ấy, sợ mất mặt với đàn em. Thôi thì dù sao cũng là bạn bè ở thuở hàn vi, hơn nữa hắn đang bệnh sắp chết, tui cũng chẳng sân si, giận hờn chi nữa nên hai thằng ngồi nói lại rất nhiều kỷ niệm. Hắn cầm tay tui, nắm chặt và hắn khóc. Hắn đang nghĩ đến cái chết, hắn đang tiếc nuối cuộc sống. Tui cũng chẳng biết nói với hắn gì nữa. Mỗi người mỗi số phận. Sống chết là quy luật của đời sống, ai tránh được đâu. Tui bảo hắn cứ bình tĩnh, an nhiên cho đến phút cuối. Lo âu, bi quan càng dễ suy sụp hơn. Thấy hắn khóc, tui cũng không cầm được nước mắt.

Trưa nay, chạy xe về nhà, lòng tui nặng trĩu khi nghĩ đến cái chết của hắn trong nay mai. Thế là một người bạn nữa chuẩn bị ra đi. Tui không còn giận hắn nữa. Có một thời hắn chối bỏ quá khứ nhưng bây giờ hắn phải chấp nhận tương lai. Một tương lai tối thui trong nấm mộ.
22.9.2018
DODUYNGOC

Lụy Đàn Bà

 hsdoduyngoc.blogspot.com

Đỗ Duy Ngọc tháng 6 07, 2021

Post by Sơn râu 2 Aug 2024

Spanish Artist converts intimate moments of gorgeous women into pastel paintings

Truyện về thằng bạn thân

Tôi và Nam là đôi bạn thân. Thân lắm. Hai đứa tôi học chung lớp từ Tiểu học, lên đến Trung học rồi Đại học. Đúng ra Nam thi vào Kỹ sư Phú Thọ nhưng vì thích gắn bó với tôi nên cũng ghi danh học Văn khoa cùng tôi dù Nam không có khiếu văn chương là mấy. Nhà tôi ở đầu dãy cư xá, nhà Nam ở cuối cư xá. Đó là cư xá dành cho sĩ quan ở đường Bắc Hải nên mọi người gọi luôn là cư xá Bắc Hải, có người gọi là cư xá sĩ quan Chí Hoà. Bố tôi là Trung tá làm việc ở Bộ Tổng tham mưu quân đội, bố Nam là Thiếu tá Quân cụ, chuyên cung cấp vũ khí, đạn dược và nhiều trang bị khác cho quân nhân. Gia đình tôi và Nam đều là dân Bắc di cư năm 1954 lại là gia đình quân nhân nên khá thân nhau. Bố Nam người gầy, rất hiền và vui vẻ, gặp ai trong cư xá cũng chào hỏi thân tình, ai cần chi cũng giúp tận tình.

Ông còn là một cư sĩ Phật giáo, ăn chay trường. Mẹ Nam là một phụ nữ đẹp, rất đẹp lại có dáng dấp rất quý phái, xuất thân từ gia đình trâm anh thế phiệt, là dược sĩ, làm cho một viện bào chế lớn ở Sài Gòn nên cũng hơi kiêu kỳ một chút. Nam đẹp trai giống mẹ và hiền lành giống bố. Hắn có dáng dấp và khuôn mặt như diễn viên Alain Delon, một tài tử nổi tiếng của Pháp thời đấy. Nam học giỏi lại rất thân thiện với bạn bè. Trong lớp học, hắn luôn tìm cách giúp đỡ mọi người, không bao giờ từ chối những yêu cầu của bất cứ ai, miễn là trong khả năng của Nam. Học chung với hắn lâu năm, tôi để ý là trong lớp có bạn nào khó khăn trong đời sống, hắn tìm cách giúp ngay, không quần áo, sách vở thì tiền bạc. Hắn tặng một cách kín đáo, tế nhị nên người khác không ai hay. Dưới mắt tôi Nam là một người tốt, quá tốt. Vừa học giỏi lại ngoan hiền nên Thầy Cô nào cũng quý hắn lắm. Chắc là ảnh hưởng lối giáo dục và tính cách tu hành của cha.

Hồi đấy, tôi có lần dạy kèm cho con chiêm tinh gia Huỳnh Liên, nhà ở đường Phan Thanh Giản. Ông này lúc đó nổi tiếng lắm, đến Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu còn phải tin những lời của ông. Một hôm tôi và Nam đến thăm ông, không biết lần đó ông hứng tình chi mà bảo hai thằng ngồi cho ông bói một quẻ. Tôi thì ông bảo chỉ làng nhàng, thuận lợi, không có chi trúc trắc, chỉ có điều như cái tuổi Canh nên canh cô mồ quả, già sống một mình. Đến Nam thì ông cứ ngồi nhìn Nam mãi, hết nhìn mặt đến cầm tay, lại bảo Nam vén tóc nhìn tai, nhìn gáy. Cuối cùng ông phán một câu: Cậu này rồi sẽ luỵ đàn bà, sẽ khổ vì đàn bà. Tôi muốn bật cười mà không dám. Đẹp trai con nhà giàu như Nam, tướng ngon như tài tử như Nam mà bảo luỵ và bị khổ vì đàn bà thì ai tin được. Đàn bà, con gái khổ vì hắn thì có. Thế rồi cũng quên đi, chẳng có thằng nào nhắc đến.

Mà kể cũng lạ, suốt mấy năm sinh viên, Nam chẳng hề yêu ai dù có rất nhiều cô gái theo hắn. Nhiều khi tôi nghĩ hay là hắn đồng tính, chỉ thích đàn ông. Nhưng chắc chắn là không phải thế, bởi nhiều khi bạn bè rủ đi chơi gái, hắn cũng hăm hở và làm tròn nghĩa vụ như bất cứ thằng đàn ông nào. Chỉ có điều khác là lần nào nó cũng cho thêm tiền các cô gái và cư xử rất đẹp với các cô ấy. Đến đâu hắn cũng được khen là người chơi đẹp và thanh nhã, lịch sự như một quý ông.

Năm 1972, tốt nghiệp đại học lại là lúc chiến tranh dữ dội hơn, tất cả sinh viên tới tuổi đều bị động viên, Nam đi vào quân trường Thủ Đức khoá 72. Tôi thi vào một cơ quan chính phủ nên được hoãn dịch. Ra trường, Nam chọn binh chủng nhảy dù trước sự ngạc nhiên của mọi người. Hiền như hắn mà sao lại làm sĩ quan nhảy dù được nhỉ? Hơn nữa bố hắn cũng chạy cho hắn về một đơn vị tiếp liệu cùng ngành quân cụ như ông, khỏi ra mặt trận. Nhưng Nam không bằng lòng, một mực về nhảy dù cho được. Và ngược với suy nghĩ của mọi người, hắn đánh giặc ra trò, lính lác thương hắn lắm vì hắn cũng xem lính như anh em một nhà. Lính hắn thằng nào tử trận hắn cũng về tận gia đình, giúp đỡ tiền bạc, lo lắng tận tình vợ con lính nên ai cũng quý. Nhưng mãi cũng chưa có vợ. Nhiều khi tôi nghĩ hay là hắn băn khoăn câu nói của ông Huỳnh Liên nên hắn sợ không dám lập gia đình. Cũng có lần tôi hỏi hắn về chuyện này, hắn bảo đời lính, hòn tên mũi đạn biết đâu mà tránh, lấy vợ rồi lỡ có chuyện gì chỉ khổ cho người ta. Nhưng rồi cuối cùng tôi phát hiện ra hắn yêu Ngọc Lan, em gái tôi. Chẳng là tôi có cô em gái nhỏ hơn tôi hai tuổi, đang học Luật. Ngọc Lan đẹp, thuỳ mị, nết na và rất hiền lành. Hai đứa này mà lấy nhau chắc hợp. Nhiều lần hành quân về, Nam cùng tôi và Ngọc Lan đi chơi với nhau. Hôm thì đi ra Rex xem phim, bữa thì ra Thanh Thế, Givral ngồi cà phê, ăn kem. Khi phát hiện ra hai đứa có tình ý với nhau, tôi hay tìm cách từ chối để Nam và Ngọc Lan có dịp ngồi riêng tâm sự. Nhưng một thời gian khá dài, hình như tình cảm của hai người chẳng đi đến đâu. Tôi thấy Ngọc Lan buồn, rất buồn. Tôi tra hỏi mãi thì em chỉ khóc mà không nói. Một hôm, có lẽ là không thể im lặng mãi được, Ngọc Lan mới bảo với tôi rằng Nam bảo rất yêu Ngọc Lan, nhưng không thể cưới vì ra chiến trường biết chết giờ nào mà gây khổ đau cho người mình yêu. Nói thế nào Nam cũng không lay chuyển. Không kết cuộc được thì đành chia tay. Đành vậy. Hơn năm sau, khi lấy xong cử nhân Luật, em gái tôi lấy chồng.  Chồng em là sĩ quan không quân lái trực thăng, cũng đẹp trai chẳng khác gì Nam nhưng tánh tình thì hơi cộc cằn và ăn chơi cũng dữ.

Tháng 4 năm 75, Nam từ trại Hoàng Hoa Thám chạy về chỗ nhà trọ của tôi ở đường Trương Minh Giảng, từ lúc đi làm, có lương, tôi xin phép bố mẹ thuê nhà ở riêng cho tiện. Nam trông bơ phờ, quần áo chẳng có chi ngoài chiếc quần đùi và cái áo ba lỗ. Hắn bảo cởi bỏ lại ở ngoài đường rồi. Hắn ngồi một lát rồi ôm mặt khóc hu hu. Tôi cũng chẳng biết nói gì với hắn vì tôi cũng đang rối tinh, chưa biết phải tính sao đây nữa. Hai thằng rú xe về cư xá Bắc Hải, mọi người trong cư xá cũng đang nháo nhào lo sợ. Đã có nhiều nhà khoá cửa ra đi. Bố mẹ tôi cũng chẳng biết làm gì, ngồi thở dài thườn thượt. Gia đình tôi cũng có giấy của Toà Đại sứ Mỹ lên danh sách di tản, nhưng bố mẹ tôi không đành để bà ngoại ở lại, bà đã quá già cho một cuộc hành trình sẽ chẳng biết về đâu. Ngọc Lan cùng chồng leo lên trực thăng bay ra biển từ tối hôm qua. Bố mẹ thấy tôi về cũng mừng. Bên nhà Nam cũng thế, Bố Nam cũng kẹt cụ bố ông, tuổi cũng đã già, không đi được, đành cả nhà ôm nhau ở lại, chờ chuyện chi tới cũng đành.

Rồi bố tôi, bố Nam và cả Nam bị kêu đi trình diện học tập cải tạo. Tiếp đó gia đình tôi cũng như gia đình Nam và nhiều nhà khác trong cư xá đều bị cưỡng chế ra khỏi nhà và có lệnh đi kinh tế mới. Cũng may tôi được lưu dung, làm việc tại chỗ cũ với những người chủ mới nên tránh được vụ đẩy đi kinh tế mới.

Nam học ở Suối máu, Long Khánh. Thời gian đầu bố tôi và bố Nam cùng bị tập trung một chỗ nhưng thời gian sau thì bị chuyển ra Bắc. Trong cuộc hành trình trên chiếc tàu lênh đênh ngoài biển, bố Nam không đi tới nơi, ông đã chết trên tàu, xác đành quăng xuống biển. Bố tôi bị bảy năm trong trại cải tạo, di chuyển từ Lạng Sơn đến Hà Nam Ninh rồi Yên Bái. 

Khó khăn lắm, mẹ con tôi chỉ đi thăm bố được bốn lần, mỗi lần thấy thân hình còm cõi của bố, mẹ tôi chỉ biết khóc và tôi thì lòng như lửa đốt. Bố tôi đi cải tạo một năm thì bà ngoại tôi mất, ba năm sau đến lượt mẹ tôi qua đời trong lúc ngủ, chắc tại buồn nhớ bố tôi. Mẹ của Nam cũng được làm tiếp ở viện bào chế đã đổi tên, nhưng rồi nghe thiên hạ xì xào là bà đang cặp kè với tay phó giám đốc. Mà thật sự là cũng chẳng phải cặp kè gì nữa mà đã trở thành vợ chồng, hiện ở trong một biệt thự ở quận nhất sau khi ông nội của Nam đã mất. Thế là chỉ trong một thời gian ngắn, tan hoang cả, thay đổi cả, phận người lắm éo le. Tôi chỉ còn một mình, chắc đúng như ông thầy bói nói năm xưa, canh cô mồ quả. Nhiều người rủ tôi vượt biên, tôi còn bố trong trại, sao đành nỡ ra đi. Với lại tiền vàng lúc đó có đâu mà đi được.

Cải tạo được hơn hai năm thì Nam được về, chức trung uý thì tội ác không nhiều nên về sớm. Hơn nữa bản tính hiền lành, giúp nhiều anh em đồng cảnh ngộ, lao động tốt, không có thái độ chống đối gì nên Nam cũng được ưu tiên. Hắn giận mẹ, không thèm tìm gặp, cắt đứt luôn tình mẹ con. Không nghề nghiệp, hắn làm nghề đạp xích lô. Tôi với hắn thuê một cái phòng nhỏ trong căn nhà xập xệ ở gần kênh Nhiêu Lộc, sống qua ngày.

Đùng một cái, hắn báo tin sắp lấy vợ, vợ hắn làm nghề đổi đô la ở đường Nguyễn Huệ. Trong quá trình chở đi, chở về hàng ngày mà thành vợ chồng. Đó là một cô gái đẹp nhưng có vẻ từng trải. Hỏi Nam về lai lịch của vợ, hắn chẳng biết gì, gặp nhau, quen nhau, yêu nhau thì về sống với nhau thế thôi. Hai vợ chồng khắng khít, thương yêu nhau lắm. Nam nghe lời vợ, bỏ nghề chạy xích lô, vợ hắn nhờ quen biết chi đó xin cho hắn làm công nhân. Hai vợ chồng sáng chở nhau đi, chiều chở nhau về trông rất là hạnh phúc. Nam thuê một căn lầu khá khang trang ở đường Công Lý, hai vợ chồng làm ăn có vẻ khấm khá, cũng mừng cho hắn. Tôi làm việc thêm được mấy năm rồi cũng bị cho nghỉ, đành xin làm việc chữa mô rát cho một nhà in nhờ có bằng cử nhân Văn Khoa chế độ cũ. Mỗi đứa đều có công việc riêng, đời sống riêng nên chỉ thỉnh thoảng gặp nhau, chẳng gần nhau như trước. 

Hai năm sau, một bữa Nam tìm đến tôi, mặt buồn như đưa đám, hỏi gì cũng chẳng trả lời. Rồi hắn rủ tôi đi uống rượu. Trời đất quỷ thần ơi, thằng này từ xưa đến nay có biết rượu chè là gì đâu. Ngay cả thời hắn cầm súng trong binh chủng nhảy dù, hắn cũng không uống rượu bia, sống như nhà tu. Bây giờ lại rủ tôi đi uống rượu, chắc chắn là hắn phải có tâm sự gì ghê lắm đây. Hai thằng ra vỉa hè ngoài chợ Phú Nhuận, hắn gọi rượu, tôi kêu mồi. Ngồi uống cả buổi chiều cho đến khi nhập nhoạng tối. Hắn say khướt, giọng lè nhè. Nhìn khuôn mặt càng đỏ càng đẹp của hắn, tôi mới hỏi nguyên do. Lúc đầu hắn lặng im, rồi nâng ly uống một ngụm, hắn nói. Hắn kể hôm nay xí nghiệp cúp điện được về sớm. Hắn về nhà định chở vợ ra bờ sông Thanh Đa ngồi chơi. Ai dè vừa vào cửa hắn nhìn thấy vợ hắn đang làm tình với người đàn ông lạ. Tôi chồm lên bảo thế thì vào vạch mặt chúng nó, làm một trận cho chúng biết mặt chứ. Hắn cúi mặt bảo làm thế để làm gì, dù sao thì chúng nó đã ngủ với nhau, đã làm tình với nhau, coi như gương vỡ rồi, hốt lại được chăng? Làm rùm beng chỉ xấu mặt nhau thôi. Tôi bảo mày lại tốt kiểu tào lao rồi, uýnh một trận rồi ra sao thì ra chứ, sao mà hiền quá vậy? Hắn cười méo mó nói để làm gì chứ. Thế là hắn bỏ vợ mà đi. Hắn ở với tôi mấy ngày rồi đi mất biệt. Mấy hôm sau vợ hắn đến kiếm tôi, bảo anh Nam bỏ đi đâu mất cả tuần nay. Tôi giả vờ hỏi vợ chồng em có gây gỗ gì không? Cô nàng bảo không, vợ chồng em vẫn yêu thương, hạnh phúc lắm mà. Tôi tự nhủ trong bụng con mẹ này kinh thật, đã ngủ với nhân tình mà miệng còn xoen xoét yêu đương với hạnh phúc. Lòng dạ đàn bà khó hiểu thật. Tôi cười nhếch mép mà bảo rằng Nam chẳng thấy ghé đây, cô tìm xem chỗ khác đi, mà tôi nghĩ cũng chẳng nên tìm kiếm làm chi, hắn bỏ đi chắc có lý do gì đấy, nhiều khi cô biết mà cô không nói đấy thôi.

Mấy năm rồi tôi không gặp Nam. Ngày tôi lấy vợ, cố đi tìm hắn mà cũng không tìm được. Đám cưới tôi đơn giản, chỉ có mấy người bạn cùng cơ quan cùng dự. Bố tôi sống bảy năm trong tù rồi cũng chết trong trại cải tạo, thỉnh thoảng tôi cũng nhận thư và quà của em Ngọc Lan gởi về từ Mỹ. Vợ chồng em đã ly dị, giờ em sống một mình ở San Jose, đi làm cho một hãng phần mềm ở đấy, sống cũng khá sung túc, cũng không có đứa con nào. Tôi cứ băn khoăn về Nam, người bạn thân nhất của tôi, giờ không biết trôi giạt phương nào, sống chết ra sao? Đúng lúc không ngờ nhất, Nam lại tìm đến tôi dù tôi đã đổi địa chỉ vì mua được một căn nhà nhỏ trong hẻm cũng ở đường Công Lý. Hắn mời tôi đi ăn đám cưới hắn, hắn bảo lúc trước hắn lấy vợ chẳng cưới hỏi gì, cũng tội nghiệp cho đời con gái người ta. Bây giờ lấy vợ thì nên cưới hỏi cho đàng hoàng. Hắn nhìn mập mạp, hàng râu mép càng tôn lên nét đẹp vốn có của hắn. Nhìn hắn chẳng khác gì diễn viên điện ảnh. Tôi mừng cho hắn. Đám cưới hắn đầy đủ lễ nghi, chỉ thiếu cha mẹ chú rể, tôi làm rể phụ cho hắn, vui lắm. Vợ hắn người Huế, là cô giáo dạy Văn trường trung học khá lớn trong thành phố. Cô ấy ăn nói nhỏ nhẹ, đằm thắm, thuỳ mị, dễ thương khác hẳn nhan sắc rực rỡ của người vợ trước. Tôi tin hắn sẽ hạnh phúc dài lâu. Năm sau thì vợ hắn sinh cho hắn thằng con trai. Hắn mừng lắm, thằng bé đẹp như thiên thần, đẹp trai hơn cả hắn. Hắn bảo tôi làm cha đỡ đầu cho con hắn. Tôi thấy hắn hạnh phúc và đôi mắt, nụ cười của vợ hắn cũng thể hiện điều đó.

Thế mà, chưa được năm năm, một hôm hắn lại tìm tôi, hốt hoảng báo tin vợ hắn đã ôm con bỏ đi đâu mất rồi, hắn tìm khắp nơi không thấy. Đến trường vợ hắn dạy thi trường cho hắn biết vợ hắn làm đơn xin nghỉ dạy rồi. Hắn cuống quýt, hắn buồn đau, hắn nhớ con, hắn thương vợ mà chẳng biết tìm đâu. Tôi với hắn chở nhau đi cả tuần đến những địa điểm mà hắn nghi vợ hắn đến. Nhưng bặt vô âm tín. Tôi cùng hắn mua vé máy bay ra Huế, tìm đến nhà cha mẹ vợ hắn, người nhà vợ hắn cũng ngơ ngác như hắn, chẳng biết cô ấy đi đâu. Hắn không ăn, không ngủ, người gầy rạc đi, râu ria mọc tua tủa, áo quần xộc xệch, suốt ngày lang thang ngoài đường như kẻ điên. Tôi lo cho hắn lắm, khuyên nhủ hắn mãi và hứa sẽ tìm cho ra tông tích của vợ con hắn. Hắn nhớ con, đêm đêm nằm khóc trong lặng lẽ. Vợ trước hắn bỏ đi, vợ sau bỏ hắn đi. Đời hắn cũng quái thật. Lần nào nó cũng đau như dao khứa trong lòng. Lần này nó càng đau hơn vì có đứa con, hắn nhớ con lắm, hắn khóc vì con hơn là vì vợ. Đau buồn làm hắn đổ gục, phải vào nằm bệnh viện cả tháng trời. Bác sĩ bảo hắn bị tâm bệnh chứ tim gan phèo phổi hắn rất tốt, chẳng bệnh tật chi. Bác sĩ cũng bảo nếu như không giải quyết được tâm bệnh, hắn sẽ bị tâm thần và đưa đến điên loạn. Tôi cũng bất lực, không biết giải quyết cách nào ngoài những lời khuyên bảo sáo mòn.

Một lần đi Long Thành thăm một người bạn đi tu ở Thiền viện Thường Chiếu. Lúc về trời bỗng nổi cơn mưa lớn, chúng tôi đành phải vào núp mưa trong một ngôi chùa nhỏ ven đường. Cơn mưa kéo dài, tôi lang thang vào trong và ngạc nhiên khi lại gặp cô vợ người Huế của Nam đang ở đây. Lúc đầu cô ấy né không muốn gặp, gặp rồi lại không muốn nói chuyện. Cô ấy bảo cô chưa xuất gia nhưng đang tu học ở đây, tháng tới sẽ xuống tóc và thành ni cô ở ngôi chùa này. Trời vẫn mưa mãi và tôi cũng nói hết những đau đớn, những nỗi khổ sở của Nam khi không tìm thấy vợ và con. Tôi cũng kể cho cô nghe hiện trạng của Nam bây giờ, sẽ điên nếu không chữa lành nỗi đau trong lòng anh ấy. Đến đó thì cô khóc, cô bảo với tôi là anh Nam là người tốt, quá tốt nên cô ấy không thể tiếp tục sống với anh được nữa vì cô đã lừa dối anh ấy, đã một lần ngủ với người tình cũ khi người ấy từ Mỹ trở về du lịch Việt Nam. Cô ấy đã không giữ được lòng ngã vào người tình cũ, cô hối hận, cô thấy mình không còn xứng đáng với con người quá tốt như anh ấy. Cô cũng đã nhiều lần muốn nói hết cho anh ấy biết để xin tha thứ nhưng cô không dám, cô không nỡ khiến anh ấy đau đớn vì bị phản bội. Cho nên cô đành chọn cách ra đi. Tôi hỏi đứa bé giờ ở đâu? Cô ấy càng khóc nhiều hơn, nước mắt tràn cả mặt. Cô nức nở mãi mới thốt lên được: cháu mất rồi, anh ạ. Rồi lại khóc. Tôi hoảng hốt hỏi tới, tại sao vậy, làm sao mất. Cô bảo cách đây một năm, cũng tại chùa này, cháu ra hồ chơi rồi bị chết đuối. Khi vớt lên thì cháu đã chết rồi. Bởi vậy cô ấy cũng sẽ ở chùa này cho đến già, đến chết để mong vẫn được gần con, để mỗi đêm tưởng tượng ra dáng hình con đang nô đùa cùng mẹ. Cô bảo thôi thì duyên phận của cô và Nam đã hết, đừng báo cho anh Nam biết cô ấy ở đây, đừng cho anh Nam tìm đến làm gì. Nhờ anh cố khuyên nhủ anh ấy, giúp anh ấy chóng khuây khoả để lành bệnh. Còn đời cô xem như đã chết rồi.

Tôi đi về lúc trời đã tối, cơn mưa cũng đã nhẹ hạt, tự nhủ có nên nói cho Nam biết không, có cho Nam tin con anh đã chết không? Lòng tôi rối như tơ vò. Cũng may sau hôm đó Nam cũng ít gặp tôi. Mỗi lần gặp hắn vẫn lầm lì, không nói, không cười, mặt lạnh như tiền, hàm răng cắn chặt và uống rượu như nước lã. Hắn luôn say khướt, khuyên mãi mà vẫn uống, hắn bảo uống để khỏi nhớ. Và rồi đến một ngày, Nam đi mất biệt, không một lời từ giã. Tôi tìm khắp bệnh viện, những nơi hắn thường tới, những chỗ hắn thường ngồi uống rượu, tất cả không có một manh mối nào. Căn nhà của vợ chồng hắn, đã bán từ lâu nhưng tôi cũng vào hỏi hàng xóm xem hắn có về đấy lần nào không, nhưng ai cũng lắc đầu. Hắn ít bạn, toàn bạn rượu, hỏi thì họ cũng chẳng biết gì. Tôi đành buông tay, đầu hàng với số phận biết tìm hắn nơi đâu, biết đâu nẻo đất, phương trời?

Thời gian chẳng đợi ai, tháng ngày cứ vùn vụt trôi đi. Vợ tôi qua đời sau cơn bạo bệnh khi chưa đến lúc gọi là già. Tôi có hai đứa con, cũng đã học ra trường, đã có công ăn việc làm để sống, đã có gia đình riêng. Tôi một mình lủi thủi trong căn nhà vắng. Mỗi chiều đốt nén nhang trên bàn thờ tôi cũng thường khấn nhớ về Nam, thằng bạn thân nhất đời tôi không biết giờ thế nào? Còn sống hay đã chết?

Rồi tôi nhận được thư Ngọc Lan, em báo cho tôi biết vừa gặp Nam ở San Jose, Nam nhắc anh hoài mà không viết thư cho anh vì đã làm phiền anh nhiều quá lại không biết địa chỉ mới của anh vì anh đã đổi nhà. Em có đưa địa chỉ cho anh và Nam hứa sẽ viết thư liên lạc với anh. 

Tôi mừng lắm, mừng mà nước mắt cứ tuôn, mừng vì bạn còn sống, mừng vì bạn đã qua được cơn u uất, mừng vì bạn đã có một môi trường sống khác để có thể xoá nhoà những nỗi đau của quá khứ. Từ đó, tôi và Nam cứ viết thư cho nhau. Nam kể trong những ngày bế tắc, Nam đã về Bà Rịa làm nghề cá và rồi có một chuyến vượt biên, Nam đi theo đến được đảo rồi qua Mỹ nhờ ngày xưa là sĩ quan nhảy dù của quân đội chế độ cũ, Nam bảo gặp được Ngọc Lan, Nam mừng lắm vì ở xứ người gặp được người thân là điều quý giá vô cùng. Thời gian sau nữa, tôi lại nhận được thiệp cưới cùng lời xin phép của Nam được cưới Ngọc Lan. Tôi vui. Cuối cùng, hai đứa cũng đến được với nhau. Hai đứa là tình đầu của nhau, mong cũng là tình cuối của hai người. Hai con người cô đơn trên đất khách giờ đây được hạnh phúc bên nhau, còn gì vui hơn. Thằng bạn thân lấy em gái mình sau những đổ vỡ của cuộc đời, sau những phũ phàng, có phải đó là duyên phận trải qua những thử thách.

Họ sống hạnh phúc với nhau được bảy năm, không có con nhưng căn nhà tràn ngập tiếng cười. Đến năm thứ bảy thì Ngọc Lan bị ung thư, y học không cứu được và qua đời trên tay Nam, mặt Nam đầy nước mắt. Tôi biết Nam đau khổ vô cùng, có lẽ còn đau nhiều hơn hai lần trước. Tôi thương cho người em gái vắn số nhưng không qua đó được để tiễn em làn cuối cùng. Tôi nghe tin mà sững sờ. Đến lúc này thì tôi tin lời của ông Huỳnh Liên, đời Nam đau khổ và luỵ vì đàn bà, đời tôi tuổi già cô quạnh. Buồn quá là buồn.

Giờ đây Nam đã về hẳn Việt Nam, sống cùng tôi. Chiều chiều hai thằng ngồi bên bờ kè nhìn nước chảy. Nước trôi về đâu? Chẳng biết. Nhìn mây bay, hỏi mây về đâu? Chẳng hay. Hỏi mình sẽ về đâu trong mốt mai, không ai trả lời. Có nhiều người cứ bảo hai ông này còn ngon quá, sao không kiếm mỗi người một bà cho vui tuổi già? Hai thằng nhìn nhau cười, nghĩ trong lòng cái số đã thế thì chịu số cho rồi, vẫy vùng làm chi nữa cho khổ người, khổ ta.

8.6.2021

DODUYNGOC

Dặm trường

vanviet.info.van

Văn 23 Tháng Ba, 2019

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 2 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

(Kỳ 3)

Chương 7

Hạnh đi thế là đã chín ngày. Có thể nội hôm nay hay ngày mai là nàng sẽ về. Lục không mấy nôn nao, vì đã quen với những đợt vắng nhà dài ngày của nàng. Thường thường thì nàng đi một tuần, chậm lắm là mười ngày. Sau khoảng thời gian đó, cha con anh sẽ thấy Hạnh từ trên chiếc xích lô hay xe đạp thồ đổ ngay trước cửa, bước xuống, gọi anh, gọi con ríu rít ra bưng đồ vào. Cũng có lúc nàng về lúc nửa đêm hay ba, bốn giờ sáng. Một lần, nàng từ Sài Gòn ra, tự động mở cửa, nằm ngủ bên anh, thế mà anh chẳng hay biết. Sáng ra, thấy nàng nằm đó, anh ngạc nhiên tự hỏi không biết cô ta ra hồi nào. Anh thật vô tâm. Nàng nhọc nhằn buôn bán, lên hàng xuống hàng, đi vô đi ra, tính tính toán toán, mà anh thì như kẻ ngoại cuộc. Nàng chỉ đâu làm đó. Không thì thôi. Xong việc, anh vơ vẩn ngồi đọc đi đọc lại mấy cuốn sách cũ. Hoặc nghe đài. Hoặc nhìn cây nhìn cối. Hoặc đi nhà bạn nhậu nhẹt, tán gẫu.

Gần trưa, đang giờ cơm, người phát thư mang cho anh cái điện tín của Hạnh. Ðiện tín viết:

“Con đang đau. Em phải ở lại săn sóc cho đến khi lành hẳn. Có gì cần, anh cứ lên bà nội hỏi mượn. Về, em sẽ tính sau”.

Lục giật mình. Con đang đau, nghĩa là hàng chưa bán được. Vậy là hàng đứng mất rồi. Không thấy Hạnh nói đến ngày về. Vậy là nàng ở lại, đợi. Ðợi đến khi nào? Sao nàng phải đợi? Hàng bán không được, thì người ta trở ra, chứ có ai ở trong đó, đợi dài dài. Tự dưng, anh lo. Hàng chưa bán được thì việc chi tiêu phải hạn chế. Anh ôm thằng con út vào lòng:

–    Thế là mẹ chưa về cu Tơ ơi.

Thằng bé nhìn anh thất vọng, nước mắt rơm rớm:

–    Mạ chưa về bữa nay ba há?

Anh lấy tay lau nước mắt cho con, an ủi:

–    Chắc vài hôm nữa mạ về thôi. Hàng bán chưa được.

Thằng bé gỡ tay anh ra, chạy đi báo cho hai đứa lớn. Anh nói theo:

–    Coi chừng cái chân chưa lành đó cu Tơ.

Thằng bé chạy cà nhắc, ra nhà bếp tìm con Ngân và thằng Ðồng. Lát sau, cả ba đứa đến vây quanh anh, mặt mày đứa nào cũng buồn thiu buồn thỉu. Anh ôm ba đứa con, hôn lên những đầu tóc khét nắng. Chúng còn nhỏ quá, rất cần hơi mẹ, cần bàn tay chăm sóc của người mẹ, từ miếng ăn đến giấc ngủ. Là đàn ông, dù có giỏi giang đến đâu, so với bàn tay và tấm lòng của người mẹ, anh cũng không thể nào bằng. Chúng cần người để nép mình, để vòi vĩnh, để làm nũng. Nói cho cùng, tình cảm của người mẹ bao giờ cũng tỏa ra chung quanh, chan hòa với con cái. Tình cảm đàn ông lúc nào cũng thu nén vào bên trong.  Sâu sắc thật, nhưng dửng dưng. Ðôi khi lạnh lùng, vô cảm.  Ngay chính anh, lớn là thế, cũng cần cái dịu dàng của đàn bà, huống gì con anh. Do sinh kế, Hạnh trở thành đàn ông mất rồi.  Nàng vắng nhà thường xuyên. Những lúc ở nhà thì vội vội vàng vàng, nhấp nha nhấp nhỏm như ngồi trên đống lửa.  Thỉnh thoảng nàng có nựng con cũng nựng lấy lệ. Anh dù quán xuyến trong ngoài, nhưng không thể ban cho chúng những cái vuốt ve ngọt dịu, không thể chuyền vào chúng hơi ấm của tấm lòng. Anh đẩy chúng ra xa hơn là kéo chúng lại gần. Biết thế, nên rất nhiều lúc, anh cố tỏ ra thật hiền dịu với con, nhưng không được bền. Hễ không vừa ý một cái gì là cái bản tính đàn ông lập tức trổi dậy ngay, không kềm được. Lại la, mắng, trừng, gắt.

Anh buông con ra, an ủi:

–    Thôi đi chơi đi. Vài hôm nữa bán hàng xong, mạ lại về thôi. Ðồng, đi rửa chén đi con. Cu Tơ, không được đi chơi xa.  Ngân, vô làm toán.

Mấy đứa con đi rồi, anh ngồi tính nhẩm số tiền còn lại.  Lần này Hạnh đưa tiền nhiều hơn thường lệ nên mấy cha con anh còn thừa ít nhất là cho hai ngày nữa, dù lần này, anh có tiêu hoang. Qua lá thư, anh đoán rằng Hạnh chưa thể về được trong mấy ngày tới. Phải mượn thêm tiền thôi. Anh vội vàng lên gặp mẹ.

Bà cụ nghe Lục hỏi mượn tiền, ngạc nhiên:

–    Nó đưa không đủ tiêu hay sao mà lại phải mượn?

–    Dạ, đủ. Khi mô cũng đủ cả, dư nữa. Nhưng lần này cô ta ở thêm ít ngày để đợi bán hàng, nên thiếu chút đỉnh.

Giọng bà cụ nghe ra hơi khác:

–    Lại chưa ra! 

Lục biết mẹ không bằng lòng, nhưng anh im lặng. Nói sao bây giờ? 

–    Giờ muốn mấy đây?

–    Mạ cho mượn năm trăm đi.

–    Gì mà nhiều thế? Bộ hắn ở trong cả tháng sao? 

Lục bực mình:

–    Mạ muốn cho mượn thì cho mà không thì thôi. Con mượn con trả, ai có xin mạ mô mà mạ thắc mắc.

Bà cụ không nói gì, lẳng lặng đi lấy tiền. Ðưa tiền cho Lục, bà nhìn anh, ngập ngừng một chút rồi nói nhanh:

–    Mạ nói thật, con nên coi chừng vợ con. Ðàn bà con gái mà cứ đi xa như vậy hoài, không hay ho chi.

Kệ bà, bà muốn nói gì cứ nói, cãi bà làm gì cho thêm phiền. Nghĩ thế, anh cầm tiền đi ngay. Nhưng lòng bực bội.  Mạ anh vẫn nhiều lần xa gần nhắc anh về chuyện anh để cho Hạnh đi buôn đường dài. “Ðàn bà mà cứ cho đi đứng lêu bêu như vậy không tốt đâu,” bà nói. “Cứ xem gương con mệ Thu đầu xóm này, hiền lành chuyên chính là thế, rứa mà rồi bỏ chồng cái rụp. Mụ Bảo cũng vậy, lên tàu xuống tàu buôn bán rốt cuộc bỏ theo thằng tài xế. Rồi con mụ Biều xóm dưới cũng bỏ chồng”. Thì làm sao được bây giờ, anh nghĩ. Anh vô tích sự, không nhờ Hạnh đi buôn đi bán thì cha con anh sống sao đây. Thời buổi này, hàng vạn đàn bà đi buôn chứ đâu có chỉ mình vợ anh. Không lẽ ai cũng hư hết. Mấy bà kia, người thì là vì có chồng đi cải tạo, người thì chồng nghiện ngập. Họ cô đơn, đau khổ nên dễ bị dụ dỗ. Còn anh, anh ở nhà nuôi con nuôi cái đàng hoàng. Hạnh lại yêu chồng thương con hết mực, mấy bà kia làm sao sánh được.

Càng nghĩ, anh càng giận mẹ.

*

Trên đường về, anh ghé cái sạp bán báo ở gần cửa Ðông Ba, xem báo “cọp”. Tuy anh chẳng mấy thích báo nhà nước vì toàn là báo tuyên truyền, nhưng thói quen đọc báo khiến anh đôi khi cũng tò mò, xem thử có gì mới lạ không.  Thỉnh thoảng anh mua tờ Văn Nghệ hay Văn Nghệ Quân Ðội.  Tờ Văn Nghệ Quân Ðội ấy thế mà còn đọc được hơn tờ Văn Nghệ của Hội Nhà Văn. Truyện trong đó tương đối ít nghe mùi tuyên truyền. Ðôi khi anh tìm thấy vài truyện ngắn đọc rất được.

Ðang lật tờ Văn Nghệ Hà Nội khổ lớn ra xem, thì bỗng nghe một giọng dòn tan từ phía sau:

–    Kìa, anh Lục. Gió đâu thổi anh tới đây?

Lục quay lại, ngạc nhiên:

–    Chị Hồng. Phải nói ngược lại, ngọn gió nào thổi chị tới đây chứ?

Hồng vui vẻ:

–    Ờ, thì sao cũng được. Có lẽ gió thổi cả anh lẫn Hồng tới cùng một lúc. Anh mua báo à?

Anh lúng túng:

–    Vâng, cũng định mua một tờ gì xem cho đỡ buồn.

Hồng đến sát bên anh:

–    Xí, đọc gì mấy tờ báo đó anh. Chẳng có cái quái gì trong cả. Toàn một giọng điệu y như nhau, năm này qua tháng khác, tờ này qua tờ khác. 

Lục nhìn quanh, cảnh giác:

–    Ờ chỗ đông người, đừng nói ẩu chị Hồng à.

Hồng le lưỡi:

–    À há. Anh hay đọc tờ nào?

–    Thỉnh thoảng thôi chị à. Tờ Văn Nghệ Quân Ðội đọc được.

–    Toàn bộ đội không mà anh thích à?

–    Không hẳn đâu chị. Có vài truyện cũng ngộ lắm. Tâm tình người lính dường như phe nào cũng từa tựa nhau.

–     À, Hồng hiểu rồi, anh thích vì anh đã từng là lính phải không?

–    Không hẳn đâu. Khi nào chị lấy một tờ đọc thử rồi biết. Mà chị  đi đâu thế? Cũng định mua báo?

–    Hồng nói rồi, Hồng đâu có đọc báo. Hồng đang đi nhong nhong chơi, thấy ai giống anh, nên tạt vào xem thử.

–    Chị rảnh rỗi quá nhỉ?

–    Thì biết làm gì đâu anh. Thời buổi này, loại người như anh và Hồng, đúng là vô tích sự. Chẳng biết làm gì.

Nói xong, Hồng cười khúc khích. Khuôn mặt nhỏ nhắn, tóc cắt ngắn, mái tóc uốn ép sát vào đầu trông rất trẻ trung, nhí nhảnh. Bộ đồ màu hồng nhạt khiến nàng càng trẻ hơn. Hồng tiếp:

–   Nói đùa với anh cho vui, Hồng tạt vào mua cuốn sổ ghi chép.

Nói xong, nàng bước tới góc đầu kia, vừa đi vừa cười tủm tỉm. Người đàn bà này thật lạ, trông y như cô nữ sinh mới lớn.  Yêu đời. Giọng khi nào cũng trong veo y như chưa từng bao giờ biết đau khổ là gì. Có Hồng, Lục ngượng, bỏ ý định đọc báo cọp.  Anh làm bộ nhìn vơ vẩn mấy tập sách để trên quầy, rồi đến gần Hồng, nói nhỏ:

–    Nghe lời chị, tôi không mua gì hết. Chào chị tôi về.

Hồng ngăn lại:

–    Làm gì mà vội thế. Anh làm Hồng có cảm tưởng anh bỏ về vì không muốn thấy Hồng ở đây. Hay là vội vì nhớ bà xã? Mà chị đang ở Sài Gòn, phải không? Chị ấy bao giờ về?

–    Chưa. Hàng đang đứng.

Hồng ngạc nhiên:

–    Hàng đứng rồi sao? Ai nói với anh? Chị ấy à? Thế mà Thuận cứ đi, Hồng đã nói mà không nghe.

–    Thuận cũng đi Sài Gòn sao?

–     Vâng. Hai hôm rồi.

Hồng đổi giọng hớn hở:

–    Gặp anh, định báo cáo với anh một chuyện: tối mai ở quán cà phê Tổng Hội có một buổi sinh hoạt ca nhạc sinh viên học sinh. Anh biết chưa?

–    Chưa. Tôi có phải là sinh viên học sinh đâu mà biết.  Mình già rồi.

–    Nói bậy. Sao mà già được. Chưa trẻ được bao nhiêu mà vội nói già thì uổng chết! Hồng mới nghe một cô bạn làm việc bên Thành đoàn cho biết. Nói là sinh viên học sinh chứ thật ra là cho tụi mình đấy. Sinh viên học sinh thời cũ ấy mà, nghĩa là thế hệ của anh và Hồng.  Hồng định đi cho vui. Hồng rất thích không khí văn nghệ sinh viên. Chao ơi là nhớ cái thời ấy. Cái thời nhong nhong ấy mà. Ði anh, đi để nhớ. Không dễ có dịp thứ hai đâu. Ði để nhớ một thời của bọn mình.

Lục đột nhiên cảm thấy thích thú. Anh cười, hỏi:

–    Chị vừa nói hai chữ “bọn mình”. Bọn mình, nghe thích thật.

Hồng vui vẻ lập lại:

–   Thì bọn mình chứ sao. Anh cũng như Hồng, Hồng cũng như anh, bọn mình cùng một thời, một cách sống một thứ cảm nghĩ, một thời để…để…để…

Lục tiếp:

–    Thì “Một thời để yêu, một thời để chết”, đúng không?

Hồng reo lên thích thú:

–   Ðúng. Ðúng qua đi chứ. Phải rồi hôm trước, anh có nói với Hồng là anh có cuốn này phải không? Sao lần rồi không cho Hồng đọc. Anh giấu, phải không?

–    Ðã nói với chị rồi, tôi cho mượn, chưa lấy về.

–    Ừ, ừ, hình như vậy. Mà này, nhớ lấy về nghe. Hồng đợi đó. Hồng sẽ cho anh mượn thứ khác. Anh có biết tờ Mai không? Hồng vừa mới tậu thêm được tờ Mai, số lâu lắm rồi, cũ mèm à, nhưng đọc cũng vui. Gì cũng đọc được hết miễn là sách báo hồi đó, phải không anh?

–   Tôi biết tờ Mai. Tôi nhớ hình như tôi đọc bài của Phạm Công Thiện đầu tiên trên tờ báo này. Hồi đó còn nhỏ, đọc mà chẳng hiểu cái quái gì. Nghe tụi bạn nói, đọc đại để nói dốc chơi.

–   Ôi, cái ông Phạm Công Thiện này, đọc mệt quá trời, Hồng chẳng ưa. 

Mải nói chuyện hai người quên mất mình đang đứng ngay trong quầy của người ta. Ðã choán chỗ, lại còn oang oang nói những chuyện tầm phào. Lục liếc thấy khuôn mặt nhăn nhó của cô gái bán sách báo ngồi trong quầy. Anh ngượng nghịu, bấm Hồng bước ra. Anh dắt xe đi, Hồng vẫn tíu tít nói chuyện không ngừng. Anh phải dừng lại, lắng nghe. Hồng hồn nhiên như nhiên. Lúc nào gặp, anh cũng thấy người thiếu phụ này như thế. Vui cười rạng rỡ. Hớn hở, vô tư. Có vẻ như nàng đang sống trong một không khí vô cùng bình an, hạnh phúc, chẳng dính líu gì tới cái xã hội đang đổi thay hừng hực bên ngoài.  Chẳng dính líu gì đến những lo toan, tất bật của bao nhiêu người cùng thế hệ, cùng hoàn cảnh như nàng. 

Thấy Lục nhấp nhỏm trên yên xe đạp muốn đi, Hồng nói:

–    Anh muốn đi, cứ đi. Gặp anh là Hồng muốn nói chuyện hà. Người ta bảo là đồng thanh thì tương ứng đồng khí…Mà này, nhớ tối đi cho vui nghe, anh Lục. Nhất định có Hồng ở đó.

Hồng lại cười dòn tan. Anh cảm thấy vui lấy với nụ cười của thiếu phụ đặc biệt này. Anh đùa:

–    Ờ, thì đi. Ði để nhớ một thời của “bọn mình”.

*

       Anh chuẩn bị đi xem sinh hoạt ca nhạc thì một người bạn hàng trên chợ mang vào cho anh một gói đồ của Hạnh. Nàng gửi ra nấm, bột ngọt, xì dầu, mì sợi, một cây thuốc Ðà Lạt, bánh phồng tôm và các thứ kẹo bánh. Kèm theo là một lá thư. Hạnh viết:

            “Anh thương,

Hàng hiện đứng hẳn. Em đã kêu nhiều người tới xem, nhưng ai cũng lắc đầu không muốn mua.Họ không trả giá nữa, chứ không phải là chê hàng xấu. Em niêm hàng lại gửi, định nhảy tàu ra hôm mồng 7, bất đồ gặp một cô bạn học cũ rủ đi buôn thuốc lá sợi về miền tây. Nghĩ tới nghĩ lui nhiều lần, em thấy đi ra đi vô tốn kém quá. Mà lại, bây giờ có ra ngoài mình thì cũng nằm nhà thôi. Bởi vậy, trong lúc chờ đợi, em đi buôn ngả miền Tây một chuyến thử xem sao. Vừa khỏi ngồi chờ sốt ruột, lại vừa kiếm thêm tiền tiêu. Em gửi ra ít thức ăn. Thiếu tiền, anh cứ lên bà nội mượn tạm. Lần trước, có lời ăn tiêu rộng rãi. Giờ hàng đứng, anh liệu dè xẻn lại. Nhớ vẽ toán cho bé Nhân.  Hôn cu Tơ cho em. Thương anh. Hạnh”

Lục xếp gọn lá thư bỏ vào túi. Anh nhìn mấy đứa con đang chia nhau kẹo, lòng chùng xuống. Cũng như thư trước, Hạnh cũng chẳng đề cập gì đến ngày về. Có nghĩa là nàng sẽ ở lâu.  Lâu đến bao giờ? Ðừng nói đến chuyện nhớ nhung vơ vẩn, nội việc phải đối phó với những lo toan hàng ngày về miếng ăn miếng uống, hay nói cho cụ thể, chuyện xoay cho ra tiền, khiến anh bối rối. Nghĩ đến thân gái dặm trường, bôn ba từ Huế vào, rồi lại từ Sài Gòn về miền Tây, một nơi hoàn toàn xa lạ đối với nàng, anh cảm thấy chạnh lòng. Hạnh giờ chẳng khác nào một chiến sĩ xông trận, một “chinh phu”. Và anh, một “cô phụ”. Anh chua chát cười thầm. 

Nỗi băn khoăn về chuyện Hạnh chưa về khiến anh do dự không muốn đi. Nhưng chợt có một thúc dục khác dấy lên trong lòng, anh lại đạp xe đi.  Anh ghé nhà Tuấn, rủ Tuấn đi cho có bạn.  Tuấn bảo:

–    Nghe thì cũng ham, nhưng mình hơi ớn. Chỗ sinh hoạt văn nghệ là nơi công an  chìm nổi đủ thứ. Ông nhà nước nào cũng quan tâm đám văn nghệ văn gừng kỹ lắm. 

–    Ðêm sinh hoạt này do Thành Ðoàn đứng ra tổ chức mà. Mình chỉ sợ tuyên truyền quá đâm ngán, chứ có gì mà sợ.

–    Ừ, thì Thành Ðoàn, nhưng ai mà biết họ có dụng ý gì.  Ông thích đi thì đi, nhưng nhớ cẩn thận lời ăn tiếng nói.

Nghe Tuấn nói, anh hơi hoang mang, nhưng vẫn cứ đi. Dè dặt thì cũng hay, nhưng dè dặt quá đâm ra dở. Anh nghĩ thế trong lúc cắm cúi đạp một mình đến Tổng Hội. Ðến nơi, trời đã sâm sẩm tối. Ðèn đuốc sáng choang, chiếu sáng từ góc đường Duy Tân – Trương Ðịnh đến căn nhà mà người ta vẫn quen gọi là Tổng Hội Sinh Viên. Bên trong và bên ngoài đã khá đông người, phần đông là thanh niên, đứng từng nhóm trò chuyện. Anh gửi xe bên lề đường, một nơi gửi xe dã chiến có lẽ vừa mới dựng ra để kiếm thêm thu nhập trong đêm sinh hoạt. 

Cơ sở Tổng Hội bây giờ trực thuộc một cơ quan của Thành Ðoàn. Từ lâu lắm, có lẽ từ cả trước tháng tư bảy lăm, anh không đặt chân trở lại cái địa danh khá nổi tiếng này. Chỉ trừ tấm bảng hiệu màu đỏ rực rỡ dựng bên lối đi vào, tất cả không có gì khác xưa, vào cái thời mà anh và đám bạn bè vẫn thường lui tới sinh hoạt, uống cà phê, đánh cờ, đấu láo trên trời dưới đất. Và bàn chuyện biểu tình, tranh đấu. Vẫn là một căn nhà thấp, cũ với những bức tường rêu và dây leo bao quanh. Vẫn những cột trụ xi măng dựng bên trên bức tường thấp, chăng vài sợi thép gai đã rỉ sét ở phía trước. Vẫn hai bức tường hai bên với hàng miểng chai gắn trên đầu tường. Vẫn cái giàn lá um tùm phủ lên trên tấm bê tông dài từ trong cửa chính kéo ra ngoài nằm trên mấy cột trụ đỡ. 

Anh dạo quanh, nhìn người này người nọ, cố tìm một khuôn mặt thân quen. Tuyệt nhiên không có. Ai trông cũng lạ hoắc, như thể họ không hề ở thành phố này. Ðám thanh niên mới lớn không nói làm gì. Ðàng này, những người bằng tuổi anh hoặc lớn hơn anh cũng thế, toàn lạ mặt. Phải rồi, bạn bè của anh giờ này, đâu còn ai ở đây. Kẻ thì đi tù, người vượt biên, đứa thì bỏ xứ.  Những người còn ở lại như anh, thì ai hứng thú gì mà bước đến những nơi như thế này. Trừ anh. Chỉ trừ anh.  Anh cảm thấy lạc lõng như tới một thành phố lạ. Vậy thì tới đây làm gì nhỉ?

Khi bước hẳn vào nhà trong, anh mới nhận ra một đôi khuôn mặt quen thuộc của thành phố. Kìa là Nguyễn Ðắc Xuân, đứng lúi húi đàng sau khung cửa kính. Kia là Trần Hoài cao lênh khênh, tóc bạc trắng. Anh cười chào. Hoài miễn cưỡng chào lại, có vẻ như không nhận ra anh là ai. Ði sâu hơn chút nữa, anh thấy thêm một vài người trông mặt quen quen nhưng không biết tên. Người vào mỗi lúc một đông. Anh len lỏi ra phía sau. À, thì ra nơi này vẫn còn là chỗ uống cà phê. Các chiếc bàn vuông nhỏ, thấp, kê sát nhau đã đầy người. Khói thuốc lá tràn trề. Hơi người, hơi thuốc bốc lên nồng nặc. Tiếng nói cười râm ran. Lục nhìn quanh. Anh nhìn thấy mấy chiếc đãy lọc cà phê treo sát bức tường ám khói, đen bẩn cùng nhiều chồng ly úp dọc theo chiếc kệ nhỏ. Rồi ấm, chén trà, gạt tàn thuốc nằm rải rác. Một vài bàn có kẻ ô đánh cờ tướng. Thì ra vẫn là quán cà phê thuở nào. Không khác gì ngày xưa mấy. Ðột nhiên, anh tưởng như mình đang trở ngược về quá khứ. Ở đây, trên những chiếc bàn này, anh và mấy người bạn thân đã từng ngồi từ tảng sáng đến xế chiều để uống cà phê, đánh cờ và đấu láo chuyện trên trời dưới đất. Ở góc tường nọ, anh đã từng cãi với thằng bạn về hai chữ “da du” trong bản nhạc “Vết lăn trầm” của Trịnh Công Sơn. Khoảng xi măng sát cột trụ ngoài kia là nơi anh đã nằm dài viết biểu ngữ thời tranh đấu chống Hiến Chương Vũng Tàu. Ôi một thời hoa niên sôi động! Bước vào đây như bước vào nhà mình. Mọi khuôn mặt đều quen. Ai cũng có thể là bạn bè. Ai cũng có thể thân nhau, chỉ sau khi mồi cho nhau một điếu thuốc, hay cãi nhau về một thái độ sống nào đó, hay thậm chí tranh luận nhau về chủ nghĩa Marx, về cách mạng, chiến tranh. Nhưng giờ đây, mọi thứ đều xa lạ, hờ hững. Tới đây mà làm gì nhỉ?  Có còn gì là của mình nữa đâu! Sự biến mất của một chế độ kéo theo mọi dấu vết cũ đi vào hư vô. Hết rồi. Xa rồi. Mất rồi. Còn đâu không khí lãng đãng độ nào!

Lục nản chí, bước ra ngoài. Bỗng có tiếng kêu ríu rít:

–    Anh Lục, anh Lục, tới đây, anh Lục.

Giọng Hồng. Anh mừng rỡ quay về phía tiếng kêu, thấy Hồng đứng dậy, tay vẫy gọi nồng nhiệt. Hóa ra nãy giờ anh dáo dác tìm cũng chỉ là thế: Hồng. Mà anh đến đây cũng chỉ vì thế. Người thiếu phụ, mà chỉ cần nghe giọng nàng cười thôi, anh cũng càm thấy đời sống bỗng trở nên trong veo. Gặp nàng, anh lây cái hồn nhiên của nàng. Hồng, con chim nhỏ reo vui trong tấm thảm đời u ám. Anh bước đến. Hồng chỉ cho anh chiếc ghế nhỏ còn trống bên cạnh nàng. Hồng nói:

–    Hồng giữ cho anh từ hồi nãy đến giờ. Người ta cứ đòi lấy đi, mà Hồng thì quyết giữ. Anh mà không đến thì thật đáng đánh đòn. Ðây là chị Thanh, bạn.

Anh sung sướng ngồi xuống, mắt rạng rỡ nhìn Hồng:

–    Sao chị biết tôi đến?

Hồng thoải mái:

–    Hồng đi guốc trong bụng anh kìa.

–    Vì sao?

–    Thì là vì…vì Hồng nghĩ …dân có máu văn nghệ như anh mà nghe một đêm như thế này lại không đến thì có họa là …điên. Hồng xin lỗi, Hồng nói thế là nói thật đấy, nghĩa là chắc chắn anh sẽ đến. Anh không tin hỏi thử Thanh cho mà xem, phải không Thanh?

Thanh gật đầu đồng ý. Lục cũng gật đầu, tỏ ý tán thưởng tất cả những nhận xét của Hồng. Nhưng anh tự cười thầm, vì máu văn nghệ thì anh có, nhưng có đến độ phải tới đây đêm nay thì có phần không đúng lắm.

      –    Anh uống gì, cà phê hay đá chanh? Hồng hỏi.

Anh đứng dậy:

–    Mấy chị gọi gì chưa?  À chắc là có rồi. Uống thêm gì nữa không?

Thanh nói:

–    Bọn này có cả rồi, anh Lục à. Anh có thể lo phần anh.

Lục đến quầy lấy cốc cà phê đá và hai điếu thuốc chữ A.  Hồng chỉ Thanh, giới thiệu tiếp:

–    Thanh cũng là nhà văn đấy, anh Lục à. Thanh có bài đăng ở báo tỉnh ủy đấy. Tờ  Sông Hương số tới sẽ đăng một bài thơ của Thanh.

Lục giật mình. Hồng mà cũng có bạn là dân cách mạng sao? Anh tự nhủ phải giữ miệng, tuyệt đối không phát biểu điều gì. Như biết ý, Hồng tiếp:

–   Thanh chỉ làm thơ tình với viết đoản văn thôi. Chồng Thanh cũng là nhà binh trước giải phóng đấy.

–    Thế thì thú quá! Tôi chưa hân hạnh được đọc bài của chị, nhưng thế nào cũng nhờ chị Hồng cho xem. Viết được cũng là cái thú, chị Thanh nhỉ? Tôi thì chịu. Ðọc thì nhiều, nhưng không viết ra nổi một câu.

Thanh cười bẽn lẽn:

–   Rảnh rỗi viết bậy viết bạ chơi. Mấy anh trong hội văn nghệ cứ khuyến khích mãi nên viết đại. Mấy anh thấy tội mấy anh đăng cho vui vậy mà, đâu có nhà văn nhà thơ gì mà Hồng giới thiệu cho lắm vào. Dị chết. Anh Lục có đọc đừng cười.  Thanh viết dở ẹt hà.

–   Chị khiêm nhượng nữa rồi. Tôi đã khen đâu mà chị vội lo.

Hồng cắt ngang:

–    Thế nào, anh Lục có thấy thích thú với khung cảnh này không? Hồng thì Hồng khoái quá chừng chừng. Khung cảnh này làm Hồng trẻ thêm cả chục tuổi. Mới đó mà cũng đã bao năm qua rồi, anh Lục và Thanh hè? Trông như mô mới bữa qua. 

Lục hớp một hớp cà phê, rít một hơi thuốc, nhìn Hồng cười tủm tỉm. Hồng hỏi:

–    Anh Lục cười gì Hồng vậy?

–    Không có khung cảnh này, chị cũng đã trẻ rồi. Lần nào gặp chị tôi cũng tự hỏi làm sao mà chị lúc nào cũng trẻ trung vậy. Y như con gái mới lớn. Bao nhiêu năm đối với ai chứ đối với chị thì hình như chịu thua.

Hồng đập vào vai Lục:

–   Nữa! Muốn trổ tài gì đây? Nịnh Hồng không được mô.  Hồng luôn luôn cảnh giác. Còn anh thì sao, anh cũng thế, có già chút nào đâu?

–    Chị đâu có gặp tôi hồi trước mà bảo tôi không già.

–    Thì anh cũng thế. Anh mô có biết Hồng hồi trước.

–    Chị lầm. Tôi biết chị Hồng từ lúc chị còn là cô học trò nhỏ kìa.

Hồng dứ ngón tay trước trán Lục:

–    Xạo vừa vừa thôi nhé, ông bạn.

Có tiếng rột rẹt của máy, rồi tiếng gõ gõ vào micro. Âm thanh rè rè, rồi chợt ì ầm vang lên nghe như sấm nổ. Mọi người giật mình, nhìn ra khoảng trống dùng làm sân khấu. Người phụ trách đang điều chỉnh âm thanh. Chắc là chương trình sắp bắt đầu. Sân khấu là một góc trống ngoài trời, nơi có đặt một chiếc bục nhỏ, cao chừng một hai tấc và máy phóng thanh cùng vài dụng cụ âm nhạc: cây ghi ta, cây violon và cây mandoline. Một người đàn ông bắt đầu nói:

–    Xin các đồng chí và các bạn im lặng. Ðêm sinh hoạt văn nghệ sắp bắt đầu.

Giọng xướng ngôn viên cao, the thé, nghe như sắp đọc một bài diễn văn tranh đấu. Hồng thì thầm:

–    Anh biết ai đó không?

Lục lắc đầu. Hồng nói:

–    Nhà thơ Võ Quê đấy.

À, thì ra đó là Võ Quê. Anh nghe giọng anh ta nhiều lần qua đài phát thanh, chứ chưa lần nào gặp. Nhìn kỹ thấy quen quen, chắc là đã từng gặp đâu đó. Bằng một giọng sắc cạnh, tở mở, xướng ngôn viên giới thiệu sơ về mục đích của chương trình sinh hoạt đặc biệt hôm nay. Ðại khái, nhà thơ cho biết “bọn ngụy và đế quốc” thường cho rằng “cách mạng” chỉ biết làm thơ, viết văn chiến đấu, căm thù, không có tình yêu, không có tình cảm. Thực ra, người Cộng sản là con người như mọi con người khác, cũng biết yêu thương, nhớ nhung, lãng mạn.  Nhưng đồng thời họ cũng là những chiến sĩ, những người yêu nước chân chính. Trong giai đoạn phải chiến đấu một mất một còn với quân thù, người Cộng sản tạm thời để tình cảm riêng tư sang một bên, tập trung năng lực phục vụ cách mạng. Bây giờ đất nước đã hòa bình, thống nhất, người Cộng sản có quyền bày tỏ các tình cảm riêng tư của mình trước cuộc đời qua thơ, văn, nhạc. Qua đêm sinh hoạt văn nghệ này, chúng tôi muốn giới thiệu đến các bạn trẻ và các đồng chí những mảng thơ, văn, nhạc  mà các đồng chí của chúng ta sáng tác trong thời gian trước đây cũng như hiện nay. Bài đầu tiên anh ta giới thiệu là bài thơ của Tố Hữu viết về Huế do một nữ sinh viên diễn ngâm.

Cô sinh viên ngâm theo giọng Bình Trị Thiên. Giọng ngâm vững vàng, tha thiết. Nhiều đoạn nghe khá giống với giọng ngâm Châu Loan trên đài Hà Nội. Vừa nghe Hồng vừa hỏi Thanh rồi chỉ cho Lục:

–    Anh xem, cái người ngồi gần cột trụ kia là Hoàng Phủ Ngọc Tường đấy. Anh biết Hoàng Phủ Ngọc Tường chứ?  Ðúng, trông ông ta xấu trai, vâng, cái người có mụt ruồi bên má ấy. Còn ông ngồi tận phía góc trái là Trần Vàng Sao, ngồi gần Bửu Chỉ. Lục biết Bửu Chỉ không nhỉ? Biết phải không?  Ừ, anh ta vẽ nổi tiếng lắm. Không, Hồng không quen đâu, chỉ gặp đôi lần ở bên chỗ triễn lãm, nơi Trung Tâm Văn Hóa Pháp cũ ấy. Ðúng rồi, chỗ Trung Tâm Liễu Quán đấy. Sau giải phóng, là trung tâm văn hóa. Vâng, có một quán cà phê nơi ấy. Cái tay cao cao, ốm, mặt xương xương kia là Thái Ngọc San, nhà thơ Thái Ngọc San. Nghe nói anh ta giờ là tay quyền hành nhất trong tờ Sông Hương đấy. Mọi bài vở đều phải qua tay anh ta hết. Phải không Thanh? Ừ, bài thơ của Thanh là nhờ anh ta ta duyệt đấy. Còn cái tay mặt mày đạo mạo, ngồi yên lặng từ nãy giờ là ai nhỉ?  Hồng chưa bao giờ biết. Thanh nói ai? Nguyễn gì, à Nguyễn Khoa Ðiềm há, Nguyễn Khoa Ðiềm là nhà thơ mà, sao trông như là …Bí thư tỉnh ủy vậy nhỉ?

Hồng hỏi Thanh rồi hạ giọng:

–   Nghe đồn là sắp làm Bí thư tỉnh ủy đấy. Nghe lâu mà bữa nay mới thấy mặt. Còn tay cao cao kia là Trần Hoài. Lục xem, mới ngần ấy tuổi, sàng sàng bọn mình mà tóc bạc trắng, ghê chưa. Trông như ông lão ấy. Không, cũng không đến nỗi, vì da còn năng nao. Còn cái tay thấp thấp ngồi gần Nguyễn Khoa Ðiềm là ai, anh biết không? Ai vậy Thanh? Tô Nhuận Vỹ, à té ra Tô Nhuận Vỹ là anh chàng này, cái tên nghe cũng chất lượng nhỉ… anh ta làm gì cũng lớn lắm, hình như chủ tịch Hội Văn Nghệ, phải không Thanh? Ừ, đúng, chủ tịch Hội Văn Nghệ Bình Trị Thiên. Cái bà mặc chiếc áo cánh mỏng ngồi với Lê Thị Mây, đúng là Lê Thị Mây chứ ai nữa, Hồng có gặp nhiều lần rồi. Bà nào nhỉ? Bà này cũng viết văn mà. Ðúng rồi, Trần Thùy Mai. Còn cái bà đang nói chuyện huyên thuyên ấy, là ai, trông lạ quá. Hồng chưa bao giờ gặp. Ai vậy, Thanh?

–    Dương Thu Hương.

–    Ít nghe nói. Bà ta cũng nhà văn nhà thơ à?

–    Nhà văn. 

–    Sao mình ít nghe nói đến nhỉ?

–    Bà này là dân văn nghệ “chi viện”. Ở Hà Nội vào. Bà này “ghê” lắm.

–    Ghê là sao? Lăng nhăng lắm hả?

–    Mình không rành. Nhưng nghe nói bà có mấy tác phẩm viết khá bạo, chưa xuất bản.

–    Có bằng Lệ Hằng trong mình không?

–    Không đâu.

–    Bạo là có vấn đề, bà biết không. Thôi, để nghe đi.

Bài thơ Tố Hữu chấm dứt bằng một tràng vỗ tay kéo dài.  Xướng ngôn viên giới thiệu tiếp một sinh viên lên hát bài “Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây”. Sau đó, là phần đọc thơ và hát do nhiều người đóng góp. Một số lên đọc hoặc ngâm hoặc hát thơ, nhạc của mình và bạn bè mình. Bài nào cũng pha pha giữa tình cảm cá nhân và nhiệm vụ đối với cách mạng. Chẳng có bài nào thực sự là thơ tình hoàn toàn như xướng ngôn viên quả quyết trong phần mở đầu. Một đôi bài có hơi hướm yêu đương lăng nhăng, nhưng giọng điệu vẫn còn dè dặt. Nhưng nói chung, dù sao, nghe cũng được.

Hồng thú vị lộ rõ. Nàng chăm chú quan sát, lắng nghe, rì rầm bàn tán với Thanh, rồi quay sang chia sẻ ý kiến với Lục.  Nàng xuýt xoa khen bài này hay, tỏ vẻ thất vọng khi nghe một bài không vừa ý. Nàng bảo anh:

–     Lâu lắm mới có được một buổi sinh hoạt vui vẻ như thế này. Chả bù với hồi trước…

Trước sau, Lục không phát biểu điều gì. Anh cũng ít hỏi Hồng, mà chỉ nghe nàng nói. Thực ra, anh chưa hỏi thì nàng đã nói rồi. Anh lắng nghe, không bình phẩm. Hút hết hai điếu thuốc thơm, Lục định lôi gói Ðà Lạt ra hút, nhưng nghĩ tới nghĩ lui, anh tới quầy mua thêm một điếu thuốc thơm nữa. Anh châm lửa, phì phà sảng khoái. Hồng nhìn anh, cười:

–    Anh trông cũng còn phong độ nhỉ?

Lục đang cố tìm một câu gì duyên dáng để đáp lại lời Hồng thì ngoài “sân khấu”, bỗng xuất hiện một thanh niên từ trong đám đông, xăng xái chen lên. Anh ta vừa đi vừa nói:

–   Ðến phiên tôi, đến phiên tôi. Cho tôi có ý kiến, đồng chí xướng ngôn viên.

Người giới thiệu chương trình đang nói về một nhà thơ nào đó, dừng lại, ngạc nhiên nhìn người thanh niên, chờ đợi. Anh này tiến đến gần xướng ngôn viên, chìa tay ra với ý định cầm lấy micro, nhưng xướng ngôn viên ngăn lại:

–    Ðồng chí là ai? Ðồng chí muốn đọc thơ hay hát? Sao không thấy đồng chí lên đăng ký trước?

–    Em không biết quy định này. Em sẽ tự giới thiệu về mình, sau đó, em xin phát biểu một số ý kiến.

–    Ý kiến? Ðồng chí muốn phát biểu ý kiến gì? 

–    Một ý kiến về văn học nghệ thuật.

Xướng ngôn viên dụ dự không quyết. Anh ta nhìn vào các nhà văn nhà thơ chủ chốt đang ngồi ở góc tường, như muốn hỏi ý kiến. Có một người nói lớn: “Hoàng Phương, sinh viên sư phạm ấy mà. Cứ để em ấy nói, cứ để em ấy nói”. Vài người khác phụ họa: “Ừ, cứ để người ta nói”. Xướng ngôn viên đợi một lát thấy không có ai phản ứng gì, bèn đưa micro cho thanh niên. Anh ta cầm lấy micro, run run đưa lên miệng:

–    Chào các đồng chí và các bạn. Tôi là sinh viên đại học sư phạm, ngành văn. Tôi xin được đi thẳng vào vấn đề. Mới đây, có một cuốn sách viết về phong trào đô thị ở miền Nam, đặc biệt là về phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh thành phố ta. Chúng tôi là thế hệ sinh sau đẻ muộn, nhưng qua tài liệu của Ðảng và Nhà nước, tôi biết các đồng chí sinh viên học sinh của ta hoạt động trong lòng địch rất là…rất là…anh hùng, rất là…rất…vâng, rất là đáng ngưỡng mộ. Các đồng chí đó đã đấu tranh rất quyết liệt với kẻ thù, bất chấp sự đàn áp dã man của bọn chúng. Thế mà, một cuốn sách vừa xuất bản đã xuyên tạc, đã hạ giá phong trào đấu tranh đô thị của sinh viên học sinh thành phố Huế anh hùng. Không những thế, nó còn có tác dụng gây chia rẽ giữa lớp trước và lớp sau, giữa địa phương này với địa phương khác. Tôi cho rằng cuốn sách  này rất nguy hiểm, có thể khiến cho kẻ thù lợi dụng để bôi xấu chế độ ta, gây hiểu lầm cho các thế hệ sau. Chắc các đồng chí và các bạn cũng đã nghe nói tới cuốn sách này. Ðó là cuốn “Học phí trả bằng máu”. Ðây…

Người thanh niên rút ra từ trong cái xắc nãy giờ vẫn mang trên vai một cuốn sách, đưa lên cao:

–   Ðây là cuốn “Học phí trả bằng máu” do Nguyễn Khắc Phục viết. Tôi có đọc tác phẩm của đồng chí Nguyễn Khắc Phục. Ðồng chí là một nhà văn giỏi, có lập trường tốt. Nhưng riêng cuốn sách này, không biết do động cơ nào, đồng chí đã làm một việc hết sức xấu xa, vừa sai sự thật vừa đi ngược lại chính sách đường lối của Ðảng. Chúng ta không thể để cho cuốn sách độc hại này lưu hành dược, dù đường lối của Ðảng ta  là rất rộng rãi, cho mọi người được quyền tự do viết, miễn là không có hại đến an ninh tổ quốc. Theo tôi, cuốn sách chứa một ý đồ thâm độc. Chúng ta phải ngăn chặn bằng mọi giá.  Ngày mai, anh em sinh viên chúng tôi ở trường Ðại Học Sư Phạm có tổ chức một buổi hội thảo lên án cuốn sách độc hại này, sau đó chúng tôi sẽ tiến hành lễ đốt sách. Mời các đồng chí và các bạn tới tham dự. Riêng tối hôm nay, để bày tỏ lòng phẫn nộ đối với cuốn sách, tôi xin xé tan cuốn sách này trước mặt các đồng chí và các bạn. Ðây…

Nói xong, anh cầm sách xé đôi, rồi xé vụn một số trang vứt chung quanh. Những mảnh giấy vụn bay tung tóe. Một số bay vào bàn Lục đang ngồi. Lục nín thở, hồi hộp nhìn lên. Ngay từ đầu, khi anh thanh niên này vừa nói, anh đã cảm thấy có gì không ổn, muốn ra về ngay lập tức, nhưng nhìn quanh, thấy mọi người im lặng, ngột ngạt theo dõi, anh không dám cựa quậy. Anh ráng ngồi chịu trận, mồ hôi vã ra. Thấy anh nhấp nhỏm không yên, Hồng nhiều lần nắm tay anh đè xuống. 

Người thanh niên vứt phần còn lại của cuốn sách vào chân tường gần bên. Một người đàn ông ngồi gần đó, thình lình bước tới, cầm cuốn sách, đưa lên trời vẫy vẫy trong không, lấy hộp quẹt bật lên châm lửa đốt. Ông ta cứ cầm cuốn sách như thế cho nó cháy một hồi, rồi vứt xuống, lấy chân chà chà lên.  Xong, ông ta tiến tới anh thanh niên, đưa tay ra bắt. Hồng la nhỏ:

–    Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường!

Ngoài sân khấu, anh thanh niên cảm động lộ hẳn trên nét mặt, quay về đám đông, nói tiếp:

–    Tôi không biết hát, chẳng biết ngâm thơ. Nhưng để đóng góp vào không khí sinh hoạt hôm nay, xin hãy cùng tôi hát lại một bài ca cũ để nhớ lại những tháng ngày đấu tranh hừng hực của anh chị em sinh viên học sinh thành phố Huế anh hùng. Nào, hãy hát cùng tôi:

Dậy mà đi, đậy mà đi

Ai chiến thắng không hề chiến bại

Ai nên khôn không khốn một lần…

Dậy mà đi, dậy mà đi

Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi…

         Nhiều người vỗ tay hát theo. Một số người khác, lúc đầu vỗ dè dặt, nhưng sau, thấy không khí  được hâm nóng, nên vỗ mạnh hơn, nhiệt tình hơn. Một vài người khác đứng dậy lặng lẽ bước đi. Lục cũng lặng lẽ đứng dậy, cảm thấy bất an. Phải ra khỏi đây thôi. Anh nói nhỏ với Hồng:

–  Tôi ra ngoài một chút. Có lẽ là… về luôn. Gặp lại Hồng sau.

Hồng chép miệng:

–   Chắc không có gì đâu. Ở lại cho vui.

Lục cười buồn:

–   Hồng hiểu. Thân thế tôi không tiện chút nào.

Anh cương quyết đi ra. Anh len lỏi giữa các bàn ghế, cố bước thật nhanh cho ra khỏi chỗ này. Trong lúc đó, trên sân khấu, giọng hát của người thanh niên chợt ngưng lại đột ngột.  Lục ngoái đầu nhìn lui, thấy nhà thơ xướng ngôn viên và anh thanh niên trao đổi với nhau chuyện gì đó. Cuối cùng, anh thanh niên đồng ý giao lại micro cho xướng ngôn viên. Giọng nhà thơ này vang lên trong lúc một số khác vẫn còn vỗ tay hát:

–   Xin lỗi các đồng chí và các bạn. Ai còn hát, xin ngưng hát. Bài hát này, theo tôi nghĩ, không phù hợp với tình hình hiện nay. Hồi xưa, ta tranh đấu với địch, ta dùng nó như vũ khí.  Bây giờ hòa bình rồi, ta hát bài khác. Xin yêu cầu các đồng chí ngưng hát.

Dường như không ai muốn nghe lời xướng ngôn viên. Tiếng hát vẫn vang lên, bây giờ nghe rập ràng và đầy kích động. Xướng ngôn viên nhắc lại lời yêu cầu, nhưng người ta vẫn hát. Anh cao giọng, lần này, như lệnh truyền:

–    Các đồng chí và các bạn nghe đây. Ðây là lệnh của Ty Công An, đây là lệnh của Ty Công An Bình Trị Thiên, yêu cầu ngừng hát. Nếu ai còn hát, nếu ai còn hát, nếu…

Anh chưa nói trọn câu, tiếng hát đã đột ngột im bặt. Mọi người ngơ ngác nhìn nhau.

Trong lúc đó, Lục đã ra đến ngoài đường. Anh thở phào nhẹ nhõm. Khi đến bãi xe đạp, anh dừng lại nhìn quanh quan sát. Không có ai. Anh yên tâm, dắt xe ra. Khi mới bắt đầu đạp, anh nghe tiếng Hồng đuổi theo phía sau:

–    Vậy mà về đành về đoạn.

Lục ngoái nhìn, thấy hai phụ nữ đang đứng ở giữa đường, vẫy tay:

–    Chúc ngủ ngon!

Anh đạp thật nhanh, tai còn nghe văng vẳng tiếng ngâm thơ của một giọng nam vang lên từ phía Tổng Hội.

Chương 8

Thao thức không ngủ được, Hạnh phải thức dậy sớm. Rửa ráy mặt mày xong xuôi, nàng kéo cái xách hàng ra kiểm tra lại. Nhìn cái xách, nàng đâm ớn. Nó căng phồng như muốn nứt ra, dù nàng đã cố đè ép lại. Nó xẹp xuống một lát, rồi lại phồng lên. Riêng hai ngàn vỏ bao thuốc Ðà Lạt, nàng chia làm nhiều gói, phần nhét vào các túi hai bên xách, phần cột trong người, phần nhét ở ví xách.

Bốn giờ sáng. Ðứng ngồi không yên, nàng quyết định đi. Nàng ra góc đường Ðiện Biên Phủ-Cách Mạng Tháng Tám đón xe lam về chợ Bến Thành, rồi nhảy xe lam khác về Xa Cảng Miền Tây. Trời còn mờ mờ tối nhưng sinh hoạt ở khu xa cảng đã vô cùng náo nhiệt. Xe đò, xe gắn máy, xe lam, xe xích lô, xe thồ, xe ba gác  vào ra tấp nập. Nàng xuống xe, vào tiệm hủ tiếu Nam Vang nằm ngay bên trạm xăng. Tiệm này là cơ sở của dân buôn hàng chuyến từ Sài Gòn về các tỉnh miền Tây và ngược lại. Người ở đây lo từ việc mua vé, chuyển hàng, gửi hàng, mua hàng và bán hàng. Ngày hôm qua, Phiệt đã chở nàng về đây tham quan, làm quen, nên nàng không cảm thấy lạ lẫm lắm khi bước vào. Bà chủ niềm nở chào đón Hạnh.  Nàng gọi một tô hủ tiếu, vừa ăn vừa đợi người trong nhà đi lấy vé xe. Quán sớm còn thưa. Chỉ có nàng với hai người khách khác trong một không gian rộng, thoáng. Chủ quán là một phụ nữ nam bộ to, mập, xốc vác, lanh lẹ. Mặt mày luôn tươi cười.  Bưng tô hủ tiếu bốc hơi nghi ngút đến cho nàng, chị ta ngồi xuống một bên, hỏi:

–    Cô nguời miền ngoài?

–    Vâng, em người Trung.

–    Trung, mà Trung nào vậy cô?

Hạnh ngơ ngác:

–    Dạ, Trung là Trung.

–     Nhiều thứ Trung lắm, Trung Nghệ này, Trung Quảng này, Trung Huế này…

Hạnh phá lên cười:

–    Dạ, em Trung Huế.

–    Tôi biết ngay mà. Ðúng là Trung Huế.  Ngó cái mặt là tui biết ngay hà.  Cô đi miệt dưới lần này là lần đầu?

–    Dạ.

–    Hàng gì vậy cô?

Hạnh im lặng nhìn người đàn bà, phân vân. Chị ta nói tiếp:

–    Ðừng sợ, cô. Nhà này là nhà buôn mà. Con cái tui đều đi buôn chuyến hết. Ông xã tui cũng vậy. Thời buổi này mà không buôn thì lấy gì mà ăn, phải không cô? Tui hỏi là hỏi cho vui vậy, chứ không có ý gì khác. Ông Phiệt ghé đây thường lắm. Cô đừng lo, nếu có chuyện gì cứ nói cho tui biết. Ðám nhỏ nhà tui nó quen biết hết thảy công an thuế vụ vùng này.

Bà ta ghé tai Hạnh, nói nhỏ:

–    Ngó vậy chớ đây vững lắm. Công an công iếc thuế vụ thuế viếc tụi tui bao hết rồi. Ở ngoải, buôn bán có dễ không cô?

–    Cũng vậy vậy thôi chị à. Ðâu cũng một “giuộc” như nhau.

Nói xong, Hạnh tự cười thầm, vì nàng bắt đầu tập tễnh nói giọng miền Nam. Bà chủ quán quay đi, rồi quay lại, nói tiếp:

–    À, mà tôi nói cái này, ở dưới đó tôm khô rẻ lắm, mang lên đây có khi lời tợn, gấp hai, gấp ba không chừng đó cô.  Lên, nhớ mang theo ít kí. Mang lên, tôi mua tươi cho cô. Ra khỏi bến xe, cô cứ mang thẳng vào đây. Tiền bạc sòng phẳng.  Nhớ nghe cô.

Hạnh gật đầu, cố gắng ăn cho hết tô hủ tiếu lớn, nhưng đành chịu. Lòng nàng nôn nao không yên. Lần đầu tiên, mang hàng về một miền đất xa lạ, bao nhiêu bất trắc dọc đường, nàng chưa biết thế nào. Đến giờ xe chạy, nàng bỏ đũa, vội vã đi. Thấy ghế ngồi của mình nằm ngay lối đi, Hạnh thất vọng nhìn quanh, tìm tay thanh niên con bà chủ quán để cằn nhằn, nhưng cậu ta đã nhảy xuống xe, dông mất tự hồi nào. Nàng hậm hực ngồi xuống. Nàng nhớ là nàng đã dặn kỹ anh ta chọn cho nàng chỗ ngồi phía trong, sát thành xe. Ngồi ở đó mát mẻ, thoáng mát lại tiện nhiều mặt. Có thể nôn ọe ra ngoài. Có thể mua hàng rong dễ dàng. Lại có thể nhét xách hàng ở dưới gầm. Ở đó, hàng trông kín đáo, an toàn hơn là để “chần dần” ngay trên lối đi như thế này.

Hạnh tháo túi xách khỏi vai, đặt ngay trước bụng. Nàng cúi xuống sờ tay dưới hai bắp vế xem thử sợi dây thun cột có bị tuột ra không. Cả ngàn bao Ðà Lạt nằm trong đó. Tốt. Nhưng nàng bắt đầu cảm thấy hai chân nặng, vì bị dây thun xiết chặt vào. Nàng cựa quậy khó khăn, vì sợ hai chân đụng người bên cạnh. Nàng định bụng sẽ nới ra một chút cho dễ chịu khi xe chạy đều. Chỉ cần cột chặt khi qua trạm hay bị chận xét thôi.  Cái xách, nàng cố nhét thật sâu dưới gầm phía trong. Gầm chật cứng, đẩy mấy nó cũng không chịu vào, cứ nằm khơi khơi ở ngoài. Nàng đành phải chuồi dưới gầm của hàng ghế trước. Vì thế mà chân nàng càng khó xoay trở. Hàng của ai mà nhiều thế không biết? Người ta đi hàng gì về dưới này nhỉ? Có ai đi hàng giống nàng không?

Xe đầy người. Lối đi  giữa xe chật ních. Dãy ghế nàng ngồi có ba chỗ. Sát cửa xe là một phụ nữ. Cạnh nàng là một người bộ đội, bộ điệu trông ghét không chịu được! Chẳng biết anh ta có cái xách nào không?

Xe chạy vùn vụt. Mặt trời ló ra khỏi đám mây hồng ở chân trời, tỏa ánh sáng rực rỡ. Gió sớm thổi vào xe mát lạnh. Hạnh lấy cái áo khoát mỏng trùm lên trước ngực, thu hai cánh tay trần phía dưới. Nàng nhướng người nhìn ra ngoài để xem phong cảnh. Xe chạy ngang một chiếc cầu khá dài. Nàng hỏi người đàn bà ngồi ở dãy ghế bên kia:

–    Cầu gì mà dài thế chị?

–    Cầu Bến Lức cô. Cô chưa từng về miệt dưới này à?

Nàng gật đầu. Qua khỏi cầu, không gian bên ngoài như mở rộng ra vô cùng. Màu xanh bát ngát. Những cánh đồng trải dài xa tít. Hèn gì người ta nói ở miền Nam, có những cánh đồng thẳng cánh cò bay. Nàng thấy thiêu thiếu cái gì khi nhìn về đàng xa. Không có núi. Ðúng là ở đây không có núi. Ở miền Trung, không gian bị núi chế ngự.  Núi nhấp nhô, xanh biếc, bí ẩn. Hễ nhìn ra xa là ta thấy những khối xanh rì chọc lên nền trời. Ở đây, không gian trải dài vô tận. Không khí trong lành, ngọt và thoáng đãng. Nàng nhướng người bên này bên kia, thèm thuồng nhìn những người được diễm phúc ngồi gần cửa. Mải ngắm nhìn khung cảnh hai bên đường, trong phút chốc, nàng quên hẳn là mình đang đi buôn. Chợt nghe loáng thoáng hai người đàn bà ngồi ở hàng ghế trước trò chuyện về buôn bán, hàng hóa, nàng để ý lắng tai nghe. 

–   Lần này chị “đi” gì?

–   Cũng một thứ thôi.

–   Loại gì, xã hội chủ nghĩa hay tư bản.

–   Xã hội chủ nghĩa chứ. Thứ này miệt dưới không có.  Lại rẻ, vừa túi tiền của mọi người. Loại tư bản đắt quá, chỉ có nhà giàu mới mua nổi. Còn chị, vẫn thứ đó?

–   Ừa.

–    Lá hay khâu?

–    Tùy.

–    Ði về trong ngày à?

–    Ðâu kịp. Cần quá thì mới bao xe đêm.

–    Giá đổi đến chóng mặt. Chị đi thứ này khỏe, nước lên bèo lên. Hàng như tui, nhiều khi lời thì lời đấy, nhưng mua lại vàng thì chỉ còn một nửa, có khi lỗ.

–    Tưởng dzậy mà lắm khi đâu có dzậy. Có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Nếu đơn giản thế thì sao có lắm người sạt nghiệp.

Im lặng một lát. Một người chợt nói:

–    Gần trạm rồi đấy.

Hạnh giật nẩy mình, nhớn nháo nhìn quanh. Nàng sờ lại hai đãy đựng bao thuốc ở hai bắp vế, chân đẩy cái xách dưới ghế sâu vào bên trong. Nàng thì lo thế mà lạ chưa, chung quanh nàng, mọi người vẫn thế, kẻ thì nhìn vẩn vơ ra ngoài xe, kẻ thì lim dim ngả người ra sau, ngủ. Chẳng lẽ không ai có mang hàng gì cả hay sao?

–   Các trạm tỉnh độ này cũng đỡ, ít lục hàng lung tung.  Chỉ sợ cái đám huyện và xã cắc ké. Người đàn bà ngồi phía trước tiếp tục.

–    Ừa, mà họ có quyền gì nhỉ? Trạm tỉnh mới có quyền chứ!

–    Phép vua thua lệ làng, bà ơi. Ðộ này còn đỡ, mới có năm ngoái chứ lâu lắc gì, mang theo ba con gà họ cũng đánh thuế.

–    Ừa, tui có bà chị, mua hai đôi sa-bô. Sợ bị hỏi han lôi thôi, chị mang một chiếc, còn một chiếc bỏ trong túi xách. Ấy thế mà cũng bị một tay thuế huyện chận đường đòi đánh thuế một đôi. Chị tức quá, vào huyện làm dữ, họ mới chịu buông.

*

Trạm thuế. Xe dừng trước tấm ba-ri-e chắn đường. Một cán bộ leo lên của trước, đi dọc theo lối đi giữa xe, quan sát qua loa rồi leo xuống cửa sau, vẫy tay cho qua. Khi thanh ba-ri-e từ từ dỡ lên để cho xe qua, nàng tò mò nhìn cái trạm.  Chẳng có gì khác với các trạm ngoài Trung. Một căn nhà nhỏ nằm bên đường với hàng chữ đỏ chói: Trạm Thuế Công Thương Nghiệp. Một vài nhân viên, kẻ ngồi hút thuốc, người đứng nhìn giòng xe cộ  đậu nối đuôi ngay trước trạm, đợi chờ xét giấy.  Kế đó là một ngôi nhà nhỏ, trông giống cái lô cốt, có cửa kiếng. Một nhân viên trực ngồi ghi chép, ký sổ và kéo thanh ba-ri-e lên, xuống bằng một sợi dây nối từ thanh gỗ vào bên trong. Trạm ở đây không có bãi đậu xe lớn vì hai bên đều là ruộng đồng, kênh lạch. 

Xe từ từ qua trạm, rồi lao nhanh, cố nuốt con đường dài tăm tắp phía trước. Anh chàng bộ đội bên cạnh châm thuốc hút. Từ lúc xe chạy đến giờ, anh ta ngồi yên, nhìn thẳng.  Chiếc nón cối vẫn ở trên đầu. Cái kiếng mát vẫn dính liền ở mắt. Anh ta mù? Không. Nàng thấy anh ta đứng lên ngồi xuống nhiều lần lấy đồ từ chiếc túi đặt trên giá. Áo quần bộ đội trông khá mới, tinh tươm, trái ngược với đôi chân đi một đôi giày vải cũ. Thỉnh thoảng anh ta co duỗi chân, có lúc đặt hẳn chân lên trên cái túi xách căng phồng của nàng. Nàng liếc nhìn, thấy khuôn mặt anh ta cháy nắng, đen sạm, nét khắc khổ hiện rõ. Một loại bộ đội già, bất túc, ngờ nghệch, Hạnh nghĩ thầm, lòng chẳng thấy có chút cảm tình nào. Nàng cố tránh né để khỏi đụng vào người anh ta, nên ngồi tràn ra phía lối đi. Anh ta hút thuốc khá nhiều. Lâu lâu, lại thấy anh ta rút gói Hoa Mai ra, châm lửa. Khói bay đầy. Nàng bực mình, nhưng chẳng biết nói làm sao. Cũng may là xe chạy nhanh, gió tạt vào ào ạt nên khói thuốc tan nhanh. Thấy đôi chân anh ta ngọ ngoạy, thỉnh thoảng đặt trên chiếc xách căng phồng, một ý nghĩ chợt hiện đến: biết đâu anh chàng cù lần này có thể hữu ích cho nàng lúc cần thiết. Tự nhiên, những thành kiến trong nàng về bộ đội chợt tan biến. Nàng nghĩ cách làm quen với anh ta. Ðợi lúc anh ta dứng dậy, xoay người cho đỡ mỏi, nàng dùng giọng Nam lơ lớ hỏi:

–    Anh đi công tác ở dưới miệt này à?

Anh ta không trả lời, chỉ gật đầu. Hạnh hỏi tiếp:

–    Xa quá nhỉ! Quê anh ở dưới đó sao?

–    Không ạ, quê tôi ở tận ngoài Bắc cơ.

Giọng Bắc pha pha, chứ không rặt Bắc như những người bộ đội nàng thường gặp. Chắc anh ta vào công tác lâu năm trong này, nên lai giọng.

–    Bắc mà ở tận đâu lận anh? Chắc anh mới về thăm gia đình?

–    Không. Tôi lên thành phố công tác, giờ về lại đơn vị.

–    Về tận đâu lận?

–    Nam Căn.

–    Năm Căn?

Anh ta không trả lời nữa mà nhìn chăm phía trước. Anh ta đưa tay lên nâng nhẹ cái kiếng mát, rồi kéo xuống. Nàng nhìn theo. Ðàng xa, một chiếc mô tô công an đang chạy ngược chiều vùn vụt phóng tới. Xe chạy lướt qua. Anh ta lẩm bẩm:

–    Chắc là đuổi theo một xe hàng nào đó.

Lát sau, anh ta lại rút gói Hoa Mai. Anh hỏi:

–    Cô có chịu được mùi thuốc lá không?

–    Không có gì, anh cứ tự nhiên.

Anh ta lục túi quần, lấy bật lửa. Không hiểu sao, anh ta cất lại vào túi.

–    Ðến trạm hút cũng được. Anh lẩm bẩm một mình.

Hạnh khen:

–    Anh khéo nhịn quá nhỉ?

–    Sao cô biết?

–    Thì nãy giờ, em để ý, anh rút ra rút vô mấy lần rồi mà không hút.

–    Cô tinh mắt nhỉ?

Ðến trạm Tân Hương thì hành khách được lệnh phải xuống xe, đi bộ. Hơn nửa tiếng đồng hồ sau, xe của nàng mới qua trạm.  Lên xe, nàng ngạc nhiên thấy tay bộ đội đã có mặt ở đó tự hồi nào. Chẳng biết anh ta đi đâu và trở lại hồi nào mà nhanh thế.  Ðẩy cái xách vào chỗ cũ, nàng nhắm mắt tận hưởng cái hạnh phúc lâng lâng của người vừa thoát khỏi một hiểm nguy chết người.  Cảm giác đó chóng qua.  Khi xe bắt đầu phóng vun vút trên con đường thiên lý, nỗi lo lại bắt đầu xuất hiện. Còn bao nhiêu trạm nữa? Cái gì sẽ xảy ra? Nàng quay sang anh bộ đội:

–    Nãy giờ anh đi đâu mà em chẳng thấy?

–    Thì cũng như cô. Xuống xe, đi bộ qua trạm. Cái trạm quái quỷ, rầy rà thật. Thật bực mình! Mất hết biết bao thì giờ của hành khách.

Hạnh im lặng, đợi nghe anh ta nói tiếp. Nhưng anh ta ngồi yên. Nàng lại gợi chuyện:

–    Gia đình anh ở dưới đó?

–    Không cô ạ.

–    Anh vẫn thường lên công tác thành phố?

–    Vâng.

–    Lên về luôn vậy, anh không mang ít hàng hóa gì để kiếm tiền tiêu?

–    Không. Tôi chả rành cô ạ. Phức tạp “nắm”! Cô đi chơi hay đi hàng?

–    Ði chơi anh ạ. Em đi thăm người bà con đi kinh tế mới dưới này,

–    Vùng nào vậy cô?

–    Vùng gì, vùng gì, em quên mất tên, đâu như là Minh Hải. Vâng đúng rồi, Minh Hải.

–    Minh Hải là tên tỉnh.

–    Ra thế. Em không rành lắm đâu.

–    Không rành sao dám đi, một thân một mình thế này. Vậy cô xuống chỗ nào?

–    Bạc Liêu.

–    Ngay thị xã Bạc Liêu à?

–    Không. Ngoài. Ngay cầu Cái Giầy. Anh biết cầu Cái Giầy không?

Anh ta gục gặt đầu, không trả lời. Xe chạy chòng chành qua những ổ gà. Người nàng đong đưa qua lại như ngồi trên võng. Khi xe chòng chành mạnh, thân hình nàng ép sát vào người anh bộ đội. Không biết vô tình hay cố ý, có lúc tay anh ta quàng qua vai nàng hay để lên trên đùi nàng. Nàng để mặc. Thỉnh thoảng, nàng làm như vô tình để cánh tay rơi trên đùi anh ta. Nhìn thấy một khu dân cư phía xa, Hạnh hỏi:

–    Chẳng biết gần đến trạm chưa nhỉ?

Anh ta xoay người ra phía ngoài, nhìn tới nhìn lui rồi đáp:

–    Chưa đâu. Cũng phải cả tiếng đồng hồ nữa.

–    Trạm này có khó không?

–    Tôi không rành đâu cô. Cô có mang hàng hay sao mà lo thế?

Hạnh thú thật:

–    Vâng, em có mang ít hàng để kiếm tiền xe. Em chẳng rành gì vùng dưới này. Anh có thể giúp em chút được không?

–    Làm sao mà giúp cô được.

–    Ðơn giản thôi anh. Ðến trạm, có ai hỏi, xin anh nhận giùm em cái xách này. Em chỉ một xách thôi à. Em vô cùng cám ơn anh.

–    Hàng gì vậy?

–   Thuốc lá sợi Lạng Sơn, anh ạ. Có mấy ký thôi à, nhưng em sợ bị dính thuế quá. Anh giúp em đi. Có gì, có gì, qua trạm, em sẽ.. .

Nàng hạ giọng, vừa nói vừa liếc quanh. Nàng im lặng, chờ đợi một câu trả lời từ anh bộ đội. Anh ta nhìn thẳng trước không trả lời. Hạnh sốt ruột, nhắc lại, giọng thật tha thiết:

–    Anh giúp em đi nghe anh.

Anh ta nói xẳng:

–    Rầy rà thật! Tôi chẳng quen kiểu này đâu.

Anh xoay người đổi thế ngồi. Chân này co lại, chân kia duỗi ra. Thân hình anh ta đụng vào người nàng. Có lúc, tay anh ta suýt chạm vào ngực nàng. Mặc. Nàng vẫn ngồi yên. Ðâu có thiệt thòi gì!

*

–   Ngã Ba Sóc Trăng, Ngã Ba Sóc Trăng. Bà con cô bác ai xuống Ngã Ba Sóc Trăng thì chuẩn bị xuống.

Giọng anh lơ xe vang lên rõ ràng, dứt khoát. Mọi người choàng dậy, ra khỏi giấc ngủ theo nhịp xe chạy đều trên đoạn đường lộ khá êm ái từ bắc Cần Thơ về. Hạnh giật mình, nhớn nhác nhìn. Ðến Ngã Ba Sóc Trăng rồi sao? Vậy là nàng sắp đến nơi. Mọi người trên xe kéo xách, lấy đồ nghe lạo xạo.  Tay bộ đội co duỗi chân tay, nhìn trước nhìn sau, nhìn xuống dưới ghế, tay sửa mũ cối, tay chỉnh lại cái kiếng đen. Trạm này là trạm cuối cùng trước khi nàng xuống hàng ở cầu Cái Giầy ngoài thị xã Bạc Liêu. Nàng cúi xuống vờ tìm đôi dép, cột lại hai chiếc đãy trong bắp vế, kéo cao lên gần đầu gối. Nàng quay sang anh bộ đội, tha thiết nài nỉ:

–    Anh giúp em qua trạm đi anh. Hàng thiệt ra chẳng đáng chi, nhưng em có nhiêu. Nếu dính thuế là hết.

–    Không được đâu cô. Rầy rà lắm!

Giọng Bắc lơ lớ lần này nghe rất khó chịu. Ðúng là dân bộ đội, chơi không nổi. Nàng chợt hối tiếc đã ăn nói nhẹ nhàng với hắn. Ðồ cái thứ bộ đội chết vằm, nàng rủa thầm. Xe giảm tốc độ, dừng lại một vài nơi để đổ khách, xuống hàng. Nhìn người ta xuống hàng thong dong trước khi qua trạm, nàng thèm thuồng quá chừng. Nàng bỗng mong xe cứ chạy chậm như thế, đừng bao giờ đến trạm. 

Trạm nằm ngay bên đường lộ. Ðường ở đây hẹp, xe đậu nối đuôi nhau. Hai bên đường, hàng quán san sát, trông giống như một nơi họp chợ. Ðội ngũ bán hàng rong đông đúc. Tiếng rao hàng, tiếng mời mọc, tiếng cãi vã, giành giựt khách ồn ào như ong vỡ tổ. Nhìn qua cửa xe, Hạnh thấy người ta đi qua đi lại, tay xách nách mang trên đường. Hạnh nhìn hai lối đi trước và sau, nghĩ bụng, sẽ xách hàng xuống rồi đi lẫn vào đám đông ngoài kia, qua khỏi trạm, ngồi chờ. Nàng dáo dác nhìn quanh, chờ cơ hội.

Nhưng xe ngừng, cánh cửa trước vừa mở thì một nhân viên thuế đã vọt vào đứng ngang đó, nói lớn:

–    Lưu ý bà con, ai muốn xuống xin đi cửa trước. Bà con nào có hàng hóa, đề nghị bà con lưu lại trên xe để kiểm tra trước khi xuống. Hàng nào không có chủ, chúng tôi sẽ tạm thời giữ lại ở trạm, đợi chủ hàng đến nhận lại.

Hạnh bối rối nhìn lui. Tưởng còn chỗ thoát, hóa ra cửa sau đã có một nhân viên thuế khác đứng canh ở đó rồi. Như thế là hai đầu bị bít kín. Tay thuế vụ cửa trước đảo đôi mắt soi bói nhìn quanh. Vài hành khách đi tay không xuống xe. Một bà cụ khệ nệ xách một cái xách to bước xuống. Tay thuế để bà cụ bước qua, mắt nhìn trừng trừng vào xách, y như thể muốn chọc thủng lớp da bên ngoài để biết những gì bên trong. Khi thấy không còn ai xuống nữa, anh ta bắt đầu lục soát những bao bì, xách, gói, kiện. Anh ta sờ từng cái một, nâng lên ướm thử trọng lượng, bóp quanh, ước đoán hàng gì ở bên trong, hỏi chủ hàng là ai, đã đóng thuế chưa vân vân. Hỏi hai, ba lần không thấy ai nhận, anh ta tự tiện mở dây kéo, lôi từng thứ ra để kiểm tra.   Xách nào có hàng, anh ta giao ngay cho nhân viên đợi sẵn bên ngoài, mang vào trạm.

Ðến hàng ghế trước mặt Hạnh, anh ta chỉ lên mấy xách hàng ở trên giá:

–    Xách này của ai?

Một người đàn ông đáp:

–    Dạ, của tôi.

–    Có hàng hóa gì không?

–    Không. Chỉ có áo quần.

–    Thật không? Tôi mà soát có thì sao?

Ông ta dứt khoát:

–    Tùy cậu. Cậu thích thì cứ soát.

Ông ta đột ngột trở giọng thách thức:

–    Nếu không có hàng thì sao? Nghe nói nhà nước bỏ ngăn sông cấm chợ, sao mà cứ lục soát ?

Tay cán bộ thuế lạnh lùng:

–    Tôi chỉ làm theo lệnh trên. Nếu ông có cần thì cứ làm đơn khiếu nại lên trên. Còn xách này của  ai? Không ai nhận phải không? Tôi xin hỏi một lần nữa, xách này của ai?

Không ai trả lời. Anh ta lấy cái xách xuống. Xách nặng, lại bị sợi dây cột vào giá níu lại. Anh ta dằn mạnh xách để làm tuột sợi dây ra, nhưng dây không đứt, cái quai xách lại đứt, kéo toạt ra một mảng da. Cái xách đong đưa toòng teng dưới giá.  Hàng hóa trong xách đổ xòa, rơi xuống trên đầu khách, trên nền xe, rơi cả trên đầu anh chàng bộ đội và Hạnh. Toàn là đồ tạp hóa: bong bóng, gương, luợc, cài, bài tây, bông tai, vòng đeo tay.  Sự thể bất ngờ này khiến tay nhân viên thuế vụ lúng túng. Anh ta cúi xuống lượm những đồ đã rơi ra nhét lại vào xách. Một số hành khách giúp anh ta lượm đồ giùm. Xong xuôi, anh ta treo lại vào chỗ cũ. Anh ta nói lí nhí một mình:

–    Cột gì mà cột chặt thế!

Mọi người trên xe lộ vẻ bất bình ra mặt, nhưng không ai lên tiếng. Tay thuế chỉ bối rối một chút, rồi trở lại công việc như cũ. Dãy ghế anh ta vừa lục đâm ra được hưởng lợi, vì sau đó, anh ta bỏ qua luôn, chuyển sang dãy khác. Tim Hạnh như muốn rơi ra khỏi lồng ngực khi tay cán bộ thuế bắt đầu đến lục dãy ghế nàng. Nàng cố thu hai chân thật sát ghế để tránh mọi đụng chạm với tay thuế vì sợ anh ta đụng phải bắp chân. Nàng liếc sang anh chàng bộ đội, đôi mắt van vỉ. Anh ta kéo cái gương trễ xuống mũi, ngồi yên, miệng phì phà điếu thuốc, y như thể mọi việc diễn ra chung quanh chẳng dính dáng gì đến anh ta.

–    Xách này của ai? Tay cán bộ thuế hỏi.

–    Của tôi. Anh bộ đội đáp gọn.

–    Của đồng chí?

–    Vâng. Còn xách này?

–    Của tôi.

–    Ðồng chí ở đâu về?

–    Thành phố.

–    Ðồng chí công tác ở đơn vị nào?

–    Ðội xây dựng 117 Minh Hải.

–    Còn xách này của ai? Tay cán bộ chỉ vào xách Hạnh, nơi hai chân anh bộ đội đang gác lên.

–    Của tôi.

–    Ðồng chí đồ đạc nhiều nhỉ?

–    Vâng, toàn là đồ gia đình gửi cho các đồng chí ở cùng đơn vị. Ðồng chí muốn xem?

–    Khỏi. Cám ơn đồng chí.

Hạnh ôm lấy ngực, liếc nhìn anh chàng bộ đội. Lần đầu tiên, nàng nghe cái “mùi bộ đội” thân quen và đáng yêu hơn bao giờ hết.

Nhưng khi xe vừa qua khỏi trạm, chút tình cảm mong manh ấy bỗng nhiên tan biến. Hạnh đã thoát qua trạm cuối cùng.  Hàng bây giờ hoàn toàn an toàn. Nàng mừng thầm vì mình chẳng có hứa hẹn gì với anh ta cả. Mà có hứa, nàng cũng sẽ làm lơ thôi. Hơi đâu mà ơn nghĩa với bộ đội cho thêm phiền. Xe đổ tại một quán ăn. Nàng quày quã xuống xe trước, đi thẳng vào khu vệ sinh nằm đàng sau quán. Trời đã ngả về chiều. Quán ăn tấp nập khách. Rửa ráy mặt mày xong, người nàng nhẹ nhàng, lâng lâng hạnh phúc. Bây giờ mới cảm thấy bụng dạ cồn cào đói. Nàng nhìn quanh xem thử tay bộ đội ngồi ở đâu để tiện tránh. Nhưng người mặc đồ bộ đội khá nhiều, nên nàng chẳng thấy anh ta ở đâu. Mãi đến khi tới quầy mua đồ ăn, nàng mới loáng thoáng thấy anh ta ngồi gần đó. Nàng tảng lờ.

Khi bưng khay đồ ăn ra, chẳng còn bàn nào có chỗ trống cả. Nàng tần ngần, đứng nhìn quanh. Bỗng có tiếng gọi:

–   Này, cô, cô ơi, có chỗ đây cô.

Nàng giật mình. Thì ra anh chàng bộ đội gọi nàng. Anh ta vẫy tay nhiệt tình, lập lại:

–    Cô, tôi xong rồi. Cô có thể ngồi đây.

Sao anh ta lại nói giọng Trung kìa. Bây giờ anh ta không đội mũ, không đeo kiếng. Ðầu tóc cắt ngắn. Khuôn mặt vuông, cằm hơi bạnh ra. Nước da đen sạm, xấu, nhưng đôi mắt lộ vẻ tinh anh. Mọi thứ chẳng giống gì nhân dáng anh chàng bộ đội trên xe cả. Hay là một người khác? Nàng ngượng ngùng bước tới, đặt  khay đồ ăn lên bàn. Ðang suy nghĩ cách nói lời cám ơn, thì chợt nghe tiếng anh ta kêu lên:

–    Hạnh! Có phải là Hạnh không?

Nàng ngạc nhiên nhìn lên, thảng thốt:

–    Trời! Thầy. Thầy Túy! Có đúng là thầy đó không?

–    Vâng. Túy đây.

–    Em là Hạnh đây, thầy.

Cả hai người đứng chới với nhìn nhau, nghẹn lời.

T.D.N.

Cuộc Chiến Bí Mật -Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH

ydan.org

Nicholas Cage

Bản dịch: Vũ Đình Hiếu

Google photo

Phần 12 – Phần cuối

Biệt Kích Quân – Ngày Trở Về

Sau những năm tháng bị giam cầm trong các trại giam trên đất Bắc, các biệt kích quân lần lượt được trả tự do, có người bị bắt từ năm 1961 khi cơ quan Trung ương Tình Báo Mỹ (CIA) bắt đầu thả những toán biệt kích đầu tiên xuống lãnh thổ miền Bắc. Bài viết này được viết theo cuốn “Secret Army, Secret War”, tạm dịch là “Đạo quân bí mật, trận chiến bí mật” của tác giả Sedgwick Tourison.

Bắt đầu cuối năm 1979, những biệt kích quân đang bị giam giữ trong trại giam Thanh Phong, dần dần được trả tự do. Đến mùa mưa năm 1982, phần lớn các biệt kích quân ở trại giam K1 đã được trả tự do, trở về đoàn tụ với gia đình của họ. Trước khi được trả tự do, có cán bộ quản lý từ Hà Nội vào đã nói với nhiều biệt kích quân rằng họ hãy gắng trở thành nhũng công dân hữu ích. Những phạm nhân biệt kích ít chịu cải tạo được thông báo: “Nên chuẩn bị, sẽ có cán bộ đến thăm bất ngờ”.

Đến tháng 12, những biệt kích quân chịu án dài hạn ở trại giam K1 đều được chuyển về trại giam Trung ương số 3 (nằm ở huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An). Đến mùa thu năm 1987, bảy phạm nhân biệt kích cuối cùng được trả tự do. Trong số đó có Nguyễn Hữu Luyện, một người theo chủ nghĩa chống cộng đến cùng… Một cựu biệt kích quân từng chịu án tù 15 năm đã kể lại “Ngày Trở Về” của anh như sau:

“Tôi còn nhớ lúc xuống tới ga xe lửa Sài Gòn thì trời đã tối, tôi biết không thể nào về thẳng nhà được vì đã không liên lạc với mẹ trong suốt 15 năm. Mặc dù được phép viết thư báo tin cho gia đình từ năm 1976, nhưng tôi lại không chịu tin, và cho rằng đây cũng chỉ là trò bịp bợm của Bộ Nội vụ. Có người trong nhóm được thân nhân thăm hỏi, đặc biệt là đối với những người có thân quyến ở ngoài Bắc. Hầu hết anh em chúng tôi không muốn gia đình mình phải chi tiêu một số tiền tốn kém cho chuyến đi ra tận ngoài Bắc thăm hỏi. Chúng tôi cũng có thể giấu thư, nhờ người đi thăm đem ra ngoài, gửi về nhà báo tin. Những người đi thăm nuôi thường rất có cảm tình và có vẻ thương xót cho những phạm nhân biệt kích quê ở miền Nam. Riêng cá nhân tôi, không viết gì cả.

Tôi đi bộ từ trung tâm thành phố Sài Gòn về nhà mẹ tôi.Tôi tránh đi trên đường vì sợ gặp phải trạm kiểm soát. Rốt cuộc, tôi vẫn không có giấy tờ tùy thân, mà giấy phép đi đường thì đã quá hạn. Tôi dừng lại trong một quán cà phê bên đường, đối diện với căn nhà năm xưa của mẹ tôi, ngồi im lặng hàng giờ đồng hồ đợi cho đến khi trời sáng.

Rất khó cắt nghĩa được cảm xúc của tôi, vì sau 15 năm ngồi suy ngẫm trong những trại cải tạo lao động, sợ rằng mình sẽ có những hành động, phản ứng khác thường. Trời vừa tảng sáng, mẹ tôi từ trong căn nhà quen thuộc đi ra. Tôi vẫn ngồi yên lặng nhìn mẹ, rồi đảo mắt xung quanh xem có ai ở gần không? (Thói quen đó hình thành trong tôi kể từ khi tôi dấn thân vào con đường làm biệt kích). Khi thấy xung quanh không một bóng người, tôi mới cảm thấy an toàn, bèn bước theo sau mẹ một quãng ngắn, sau đó bước lên đi song song bên cạnh mẹ tôi. Đi được chừng vài bước, tôi vẫn chưa biết mình định sẽ nói gì với người. Mẹ tôi dường như linh cảm có người đi bên cạnh, bà dừng lại vài giây. Tôi nhìn mẹ tôi, thốt lên: “Mẹ! con đây!”.

Sửng sốt, bà nhìn tôi vài giây, rồi nắm lấy tay tôi dắt trở về nhà. Chuyện xảy ra như ngày xưa, khi tôi còn là đứa trẻ làm điều bậy ngoài đường, bị mẹ lôi về nhà. Vào đến nhà trên, bà dắt tôi đến trước bàn thờ ông bà. Trên bàn thờ, có tấm ảnh của cha tôi và bên cạnh là bức hình của tôi. Mẹ nhìn tôi, nhìn tấm ảnh trên bàn thờ, rồi lại nhìn tôi, lại nhìn tấm ảnh. Sau cùng bà nói khẽ, giọng run run: “Con ơi! Mẹ nghĩ rằng con đã chết rồi!”.

Cuối cùng, tôi đã trở về nhà, tôi không còn biết nói gì thêm nữa.”

“Người hùng” biệt kích Nguyễn Văn Hinh quay mặt ra cửa sổ, nghẹn ngào…

Khi Tourison viết cuốn “Đạo quân bí mật, cuộc chiến bí mật” thì hơn 100 cựu biệt kích quân đã đến định cư tại nước Mỹ. Gần 200 người khác vẫn ở Việt Nam cùng hàng trăm cô nhi, quả phụ của những biệt kích quân đã bỏ mạng chỉ vì cái bánh vẽ “Chủ nghĩa quốc gia” mà CIA đã vẽ ra.

Còn Nguyễn Hữu Luyện, người tổ chức, huấn luyện toán biệt kích Hector mặc dù đã trốn trại không thành công vẫn được trả tự do sau 21 năm ngồi đếm song sắt trại giam. Đầu năm 1992, ông ta được trả tự do và được phép rời Việt Nam qua Mỹ định cư. Hai vợ chồng ông ta sống ở phía đông thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts.

Một người khác trong nhóm 7 phạm nhân biệt kích quân được trả tự do cuối cùng là Quách Rạng, vốn là người Mường, đến Mỹ năm 1992, sống tại thành phố Chamblee, tiểu bang Georgia. Vợ ông ta là bà Ngọc Ban, một phụ nữ được cho là rất can đảm, đã nói chuyện với một nhóm 400 người Việt Nam tại Atlanta. Bà kể lại câu chuyện lúc được tin chồng mất tích, nhận khoản tiền tuất của chồng, nhưng vẫn tiếp tục mong chờ người chồng trở về. Bà ta biết ông ấy sẽ trở về.

Những cựu biệt kích quân khác tiếp tục chọn con đường rời bỏ quê hương, xứ sở, vượt Thái Bình Dương đến định cư ở nhiều tiểu bang của nước Mỹ, từ Boston đến Seattle. Trong số họ có Mai Nhuệ Anh, nguyên trưởng toán Hector 2; Quách Nhung, người sống sót duy nhất của toán Horse; Trương Tuấn Hoàng, người cuối cùng xâm nhập lãnh thổ miền Bắc tăng cường cho toán Remus và Hà Văn Chấp, nguyên trưởng toán Castor cùng với Đinh Anh, thành viên toán đầu tiên được CIA thả dù xuống miền Bắc. Lê Văn Bưởi đến Mỹ năm 1993. Khi tác giả đang viết sách này thì ông Bưởi đang điều trị ung thư vòm họng ở Utica, New York. Có lẽ ông ta chẳng sống được lâu để đọc cuốn sách này.

Lê Văn Ngung, nguyên trưởng toán Hadley hiện đang làm khuôn mẫu cho hãng Kirk & Stieff ở thành phố Baltimore, tiểu bang Maryland. Cựu thành viên của ông ta là Vũ Viết Tịnh hiện đang làm hộ lý cho một bệnh viện ở Indiana và đã lập gia đình vào tháng 12/1994. Nguyễn Không, người trôi dạt vào bãi biển Bắc Bộ cùng với thủy thủ đoàn của chiếc Nautilus 7, hiện đang làm ngư dân ngoài khơi vịnh Mexico.Bùi Minh Thế, cựu thành viên của toán Becassine vượt biên đến định cư ở Henderson, Louissiana. Vài năm trước đây, ông ta gặp lại người vợ sau bao năm xa cách. Hiện giờ ông ta bị bệnh nặng, nằm liệt giường và có lẽ không có dịp đọc những trang viết của tôi về ông.

Đặng Công Trình, nguyên toán phó toán Scorpion, một trong những người tôn thờ chủ nghĩa quốc gia, chống cộng đến cùng, hiện đang làm trong một nhà kho ở California. Bạn đồng đội chắc không biết về “thành tích” quá khứ của ông ta.

Toán Recon

Trịnh Văn Truyên, nguyên là thủy thủ chiếc tàu Nautilus 3, có vợ là Thúy, đến định cư với chồng ở Biloxi, tiểu bang Mississippi và Truyên trở lại nghề biển. Thúy bị bắn ở New Orleans, tiểu bang Louisianna ngày 31/7/1990 trong một vụ cướp. Đám cướp chỉ lấy được chiếc bóp đầm không có tiền. Lúc đó bà ta đang có thai 7 tháng, đứa bé chưa chào đời đã phải cùng mẹ đi vào cõi hư vô. Thúy là một người đàn bà cứng cỏi, nhưng không cứng hơn người chồng của mình khi ông ta sống trong trại giam trên đất Bắc. Nhưng cái “chủ nghĩa quốc gia” mà anh ta tôn thờ cũng chẳng bảo vệ được vợ con anh ta ngay trên đất Mỹ vốn được xưng tụng là tự do nhất. Có thể cái chết thảm thương của mẹ con Thúy đã phần nào làm anh ta tỉnh ngộ. Với trái tim tan nát, anh ta thốt lên: “Nếu tôi biết được những chuyện mà giờ đây tôi tin là sự thật, tôi đã cho nhiều kẻ về chầu trời”.

Một trong những cựu biệt kích quân đầu tiên rời tổ quốc mình là Nguyễn Văn Hinh, nguyên là thành viên của toán Atila, anh ta vượt biển đến trại tị nạn của Singapore. Lúc phỏng vấn định cư, người Mỹ tỏ ra không tin câu chuyện về khoảng thời gian Hinh bị cải tạo lao động trên đất Bắc, nên đã nói không với nguyện vọng định cư của anh ta. Không những thế, họ còn nghi ngờ anh là phạm nhân đã tạo dựng nên một nhân vật không có thật. Trong thời gian sống ở trại tị nạn Singapore, anh ta gặp một phụ nữ, nguyên là một nữ tu. Sau đó chị ta phá giới chẳng hiểu vì lý do gì, nhưng cứ đổ nghiến cho “cộng sản không cho phép” để kết hôn với Hinh. Rồi hai người ung dung đến định cư ở Hà Lan. Hinh rất ít viết, vì theo anh ta thì đã viết quá nhiều bản tự khai trong trại giam. Nhưng lý do chính là vợ chồng anh ta muốn quên đi quá khứ của mình. Đó là điều dễ hiểu.

Hai biệt kích quân khác là Trần Văn Tư và Nguyễn Văn Lực đến định cư ở Úc đều cùng tâm trạng như Hinh. Quá khứ chẳng làm họ vẻ vang, cũng không đem lại cơm no, áo ấm cho các cựu biệt kích quân. Tuy nhiên, vẫn còn không ít những “người hùng” biệt kích quân khác chẳng thể quên quá khứ của họ một cách dễ dàng. Như trường hợp của Mai Văn Học, Hoàng Văn Chương trong các toán Strata. Lưu Chí Chấn, Châu Hềnh Xương, Lý Sĩ Lâu, Vũ Đức Gương cùng những cựu biệt kích quân người nhái khác từng xâm nhập hải phận Bắc Việt. Năm 1986, vì cảm thấy quá bất công, Vũ Đức Gương làm đơn khiếu nại, yêu cầu chính phủ Mỹ trả lương cho anh ta trong thời gian suốt 20 năm mà anh ta bị cải tạo lao động ở Bắc Việt. Thế nhưng tòa án Liên Bang lại cho rằng không đủ căn cứ về cuộc hành quân, cộng thêm lý do tài liệu lưu trữ về lực lượng biệt kích của Bộ quốc phòng Mỹ vẫn chưa được giải mã, đang còn trong thời gian bảo mật. Giờ đây lý do này không còn là vấn đề trở ngại. Thế mà những cựu biệt kích quân vẫn bị chính phủ Mỹ chối bỏ.

Biệt kích Nùng tại Daklak 1966

Hầu hết các cựu biệt kích quân đã định cư ở Mỹ đều cố gắng xây dựng cho mình một mái ấm gia đình, có người được xem là thành công, nhưng số đó không nhiều. Thỉnh thoảng, họ gặp lại nhau, bùi ngùi bên ly rượu mỗi khi nhớ về quá khứ nặng nề, về những người đã khuất. Và những người còn lại đều tin vào định mệnh. Khi họ lọt vào mắt CIA, được phong là những “người hùng”, rồi bị bắt và rồi nghiền ngẫm sự đời sau những song sắt trại giam trên đất Bắc, hầu hết lúc đó họ đều rất trẻ. Tuổi đời chỉ khoảng 20 và còn độc thân. Giờ thì đã lên lão, có người nhuộm tóc để đuổi thời gian đi và trẻ lại thêm ít tuổi.

Người viết những trang sách này chẳng có tham vọng nào, chỉ mong sao cho đàn con cháu của họ lớn lên, đọ những trang viết này sẽ hiểu thêm rõ về cha, ông của chúng, những người được cho là may mắn hơn trong nhóm biệt kích. Nhưng không thể không nói đến những biệt kích quân khác kém may mắn như: Hoàng Ngọc Chính, Đoàn Phương, Nguyễn Văn Lý. vì quá chán ngán vì phải chờ đợi phúc đáp của chính phủ Mỹ và nôn nóng đi tìm vận may ở “miền đất hứa”, như lời hứa của CIA, họ tìm cách vượt biên. Phương và Lý đi theo đường biển. Còn Chính theo đường bộ sang đất Campuchia. Rốt cuộc, cả ba “người hùng” đều mất tích cho đến nay.

Chiến tranh đã đẩy những cô gái ở nông thôn dồn về thành thị, họ buộc phải tìm mọi cách để mưu sinh.

Lê Trung Tín, nguyên là thành viên của toán biệt kích Red Dragon từ Trung Hoa lục địa quay trở lại xâm nhập lãnh thổ Việt Nam. Hiện Tín đang lo thuyết phục giới chức phỏng vấn của Sở Di trú Mỹ tại Sài Gòn về câu chuyện của mình. Rằng, Tín cùng một chiến hữu nữa là Vòng A Cầu đã trốn khỏi trại giam và họ là hai người đầu tiên sống sót sau khi trốn trại. Thế nhưng Sở di trú Mỹ cho rằng họ ngồi tù cộng sản chưa đủ lâu, nên không hội đủ điều kiện xin cư trú ở Mỹ. Thật không còn gì để nói.

Một người kém may mắn khác là Hoàng Đình Mỹ, nguyên là thành viên của toán biệt kích Hector. Tháng 12/1984, Mỹ đứng trước vành móng ngựa của TAND Tp Sài Gòn lãnh án vì tội tham gia vào tổ chức do Lê Quốc Túy, một Việt kiều Pháp đứng đầu. Vì thế, năm 1995 anh ta vẫn còn thụ án tại một trại giam ở Nha Trang. Thực ra Mỹ đã được trả tự do từ trại giam Thanh Lam trên đất Bắc từ năm 1981. Sau đó Mỹ trở về sum họp với gia đình, nhưng chẳng hiểu ma xui, quỷ khiến thế nào mà Mỹ lại vượt biên sang Thái Lan, gia nhập tổ chức phản động của Lê Quốc Túy. Năm 1982, Mỹ xâm nhập về Việt Nam và bị bắt ngay trong tuần đầu.

Nguyễn Văn Tân, nguyên thành viên của toán biệt kích Romeo, từng tuyệt thực trong trại giam năm 1973 để bảo vệ cho cái gọi là “chủ nghĩa quốc gia” và “tinh thần chống cộng đến cùng”. Đến năm 1988, Tân nộp đơn xin trợ cấp thương tật khi đã định cư ở Mỹ, liền bị tay bác sĩ khám bệnh cho Tân khẳng định như đinh đóng cột rằng: “Tâm thần của anh có điều gì đó không hay! (không làm việc bình thường được nữa)”.

Còn Lương Văn Inh, nguyên là thành viên của toán biệt kích God, lại lên vùng Đức Trọng, Lâm Đồng thuộc nam Tây Nguyên lập nghiệp. Đầu tháng 6/1994, Inh bị tái phát bệnh sốt rét. Vị y sĩ địa phương khuyên vợ Inh nên đưa anh ta vào bệnh viện. Giữa cơn mưa bão lúc nửa đêm, hai người con trai của Inh cùng hai người hàng xóm cáng Inh từ trên núi xuống đường quốc lộ, cách nhà Inh khoảng 4 km. Inh đã chết trên đường đến bệnh viện. Vợ Inh, một phụ nữ rất mực yêu chồng đã viết thư cho tác giả Tourison rằng:” Điều duy nhất chồng tôi mong muốn là các con tôi được ăn học tử tế, thành người. Nhưng giờ anh ấy không còn nữa”.

Câu chuyện về số phận các cựu biệt kích quân Sài Gòn có lẽ còn lâu mới kết thúc, cho đến khi nào chính phủ Mỹ thôi bỏ rơi họ.

Toán Idaho

Trước sự bất bình của các cựu biệt kích quân Việt Nam và áp lực dư luận, ngày 23/3/1995, viên Đại sứ Mỹ tại Thái Lan đã gửi bức công hàm dài 5 trang giấy đến Bộ ngoại giao và Sở di trú nước này đặt câu hỏi: “Tại sao hầu hết các cựu biệt kích quân còn sống sót sau năm 1975 đều bị Sở di trú Thái Lan từ chối?”. Kết quả là tháng 5/1995, Sở di trú Mỹ phải thay đổi điều kiện nhập cảnh cho các cựu biệt kích quân Sài Gòn.

Trước đó, ngày 14/4/1995, tờ New York Times đăng bài viết của Tim Weiner về những cố gắng của viên Đại sứ trong việc sửa chữa việc làm sai trái của Sở di trú. Vài hôm sau, câu chuyện về số phận hẩm hiu của các cựu biệt kích quân Sài Gòn được nhiều người biết đến. Ngay cả cựu Tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam là tướng William C. Westmoreland, rồi Thiếu tướng John Morrison, chuẩn tướng George Gaspard, thượng nghị sĩ Mc Cain cũng viết thư gửi thẳng cho Sở di trú Hoa Kỳ.

Cảnh hỗn loạn tại bãi biển Đà Nẵng ngày 29/3/1975. Dùng đủ mọi cách để bơi ra tàu.

Ngày 24/4/1995, John Mattes, một luật sư ở Miami, Florida đưa đơn kiện Chính phủ Mỹ tại tòa án liên bang ở thủ đô Washington, đòi bồi thường cho 281 cựu biệt kích quân Sài Gòn trong các trại cải tạo lao động hoặc đã chết trong các phi vụ xâm nhập lãnh thỗ Bắc Việt Nam. Rằng Chính phủ Mỹ phải trả lương cho họ xứng đáng theo đúng bản hợp đồng tuyển mộ các biệt kích quân Sài Gòn ở Nam Việt Nam.

Cuộc Chiến Bí Mật – Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH

ydan.org

Nicholas Cage

Bản dịch: Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 2 Aug 2024

Google photo

Phần 11

Biệt Kích Quân

Trong mọi nỗ lực phá hoại miền Bắc Việt Nam, để ngăn chặn sự chi viện cho chiến trường miền Nam, từ năm 1961, cơ quan Trung ương tình báo Mỹ (CIA) đã bắt đầu thả những toán biệt kích Sài Gòn (người Việt Nam) xuống đất Bắc. Từ năm 1964, Lầu Năm Góc đã biết chắc rằng những biệt kích quân đó đã bỏ mạng, bị cầm tù hoặc đã hợp tác với quân Bắc Việt. Nhưng Bộ Tống Tham mưu liên quân Mỹ, hay nói cách khác là Lầu Năm Góc vẫn ra lệnh tiếp tục thả thêm những toán biệt kích mới xâm nhập không phận Bắc Việt, thông qua “Kế hoạch 34A”.

Nỗ lực mới này do một cơ quan đặc biệt, mang danh: Đoàn Nghiên cứu, quan sát (hay còn gọi là Nha Kỹ thuật) đảm trách. Tính đến năm 1968, đã có khoảng 500 biệt kích mất tích (đồng nghĩa với chết hoặc bị bắt) ở Bắc Việt. Thân nhân của họ chỉ được cơ quan SOG thông báo là họ đã chết. Ngoài ra, SOG chẳng cần quan tâm xem số phận những biệt kích quân ra sao, hoặc chí ít cũng tìm cách cứu họ về.

Phải 20 năm sau, khi trên 300 biệt kích quân được trả tự do từ những trại giam trên đất Bắc, thì những mưu đồ đen tối nhất của Chính phủ Mỹ mới được đem ra ánh sáng. Qua những hồ sơ bị phủ một lớp dày bụi thời gian, được giải mã hay vẫn bảo quản theo chế độ bảo mật, cùng những cuộc tiếp xúc với những biệt kích quân người Việt Nam, nhân viên CIA, SOG, nhân viên tình báo. Ông Sedgwick Tourison, một chuyên viên tình báo của Bộ Quốc Phòng Mỹ đã vén lên bức màn bí mật trong cuộc chiến Việt Nam. Một cuộc chiến đã lấy đi biết bao sinh mạng của người Việt Nam và cả người Mỹ.

Trực thăng UH-1D của Không đoàn 366 rải chất khai hoang tại ĐBSCL

Có thể những biệt kích quân Sài Gòn không hình dung được họ đã trở thành công cụ, phương tiện chiến tranh cho Mỹ như thế nào trong một mưu đồ đen tối: “Dùng người Việt giết người Việt. Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”. CIA đã biến họ, những biệt kích quân của quân đội Sài Gòn thành những đứa con lầm lỡ, quay lưng lại với chính dân tộc, tổ quốc mình. Trong lúc lớp lớp người Việt Nam, có cả những người thân thích, chòm xóm, thân tộc, bạn bè trang lứa, cha chú họ… đã cùng cả dân tộc, đất nước này đứng lên chống Mỹ chỉ với một ước nguyện duy nhất là hoà bình, đất nước thống nhất, núi sông liền một dải.

Mỹ Tho, tháng 3/1966

Khi bị chính quyền Mỹ chối bỏ, những biệt kích quân của Quân đội Sài Gòn nghĩ gì sau bao năm dài bị giam giữ trong các trại giam trên đất Bắc? Trong số họ có kẻ đã phải trả giá quá đắt cho những gì mình đã gây ra cho đất nước bằng 10 năm, 20 năm, thậm chí có người ngồi tới 30 năm, suy ngẫm sau chấn song sắt trại giam. Khi đã luống tuổi họ có gì đế kể cho con cháu mình nghe? Hay có chăng chỉ là những ký ức buồn.

Cho đến giờ họ vẫn chưa lý giải nổi, vì sao những toán biệt kích quân khi xâm nhập lãnh thổ miền Bắc thường chạm trán các lực lượng vũ trang Việt Nam ngay tại địa điểm thả dù? Mặc dù tọa độ thả các toán biệt kích đúng ra phải được bảo mật. Họ phải bỏ mạng, hoặc may mắn hơn là bị bắt sống. Trong số họ có người đã nhận ra sự thật của “Chủ nghĩa quốc gia” mà CIA nhồi vào đầu họ. Do đó không ít biệt kích quân đã hợp tác với lực lượng an ninh Bắc Việt, gửi đi những bức điện giả để những người lính Sài Gòn nói chung, và biệt kích quân nói riêng bớt đổ máu.

Lời thú nhận của các cựu nhân viên CIA, SOG có thể gây sửng sốt hơn nữa cho nhiều người, đặc biệt là các biệt kích quân người Việt Nam, bởi một sự thật tàn nhẫn là các biệt kích quân Sài Gòn vẫn tiếp tục bị thả xuống lãnh thổ Bắc Việt, rồi bỏ rơi, ngay cả khi chiến dịch phá hoại của CIA đã kết thúc.

Toán Wyoming, 1970

Dưới đây là bảng liệt kê (có thể chưa thật đầy đủ) những toán biệt kích quân của quân đội Sài Gòn đã thả xuống lãnh thổ Việt Nam từ năm 1961 cho đến hết năm 1967.

Toán Ngày Thả Phương Tiện Số Người Phụ Chú

1. Ares 2/1961 Đường biển 1 Vẫn liên lạc trong tháng 4/1969

2. Atlas 3/1961 Thả dù 4 2 chết, 2 bị bắt khi xuống tới đất

3. Castor 5/1961 Thả dù 4 Mất liên lạc bên Lào 7/1963

4. Dido 6/1961 Thả dù 4 Gửi báo cáo sai lạc. Chấm dứt

5. Echo 6/1961 Thả dù 3 Gửi báo cáo sai lạc đến 1962

6. Tarzan Không rõ Thả dù 6 Liên lạc lần cuối 6/1963. Coi như bị bỏ rơi

7. Europa 2/1961 Thả dù 5 Liên lạc lần cuối 27/1/1964 từ Bắc VN

8. Remus 16/4/1962 Thả dù 6 – Gửi báo cáo sau 5 ngày

12/8/1963 Thả dù 2 – Thêm người

23/4/1964 Thả dù 3 – Thêm người

22/10/1964 Thả dù 4 – Thêm người, toán Alter

6/1965 Thả dù 4 – Thêm người

21/8/1967 Thả dù 2 – Thêm người. 13/5/1968 Bắc Việt loan tin bắt được quân Biệt kích trong vùng hoạt động của toán Remus.

9. Tourbillon 16/5/1962 Thả dù 8 – Gửi báo cáo sau khi xâm nhập

27/5/1964 Thả dù 7 – Thêm người, toán Coots

24/6/1964 Thả dù 7 – Thêm người, toán Perseus

7/11/1965 Thả dù 6 – Thêm người, toán Verse

24/12/1966 Thả dù 2 – Thêm người, toán Tourbillon Bravo. 1/1967 Hiệu thính viên gửi điện khẩn. Toán luôn né tránh lực lượng vũ trang Bắc Việt cho đến 4/1969.

10. Eros 1/9/1962 Thả dù 5 Gửi báo cáo giả. Chấm dứt

11. Pegasus 13/4/1963 Thả dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

12. Jason 14/5/1963 Thả dù 5 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

13. Dauphine 4/6/1963 Thả dù 5 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

14. Bell 4/6/1963 Thả dù 7 – Báo cáo sau khi xâm nhập.

14/11/1964 Thả dù 7 – Thêm người, toán Greco.Lần cuối cùng gửi điện 19/3/1967.Bị bỏ rơi 3/7/1967

15. Becassine 6/1963 Thả dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

16. Bart 7/6/1963 Thả dù 5 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

17. Tellus 7/6/1963 Thả dù 4 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

18. Midas 10/6/1963 Thả dù 8 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

19. Nike 10/6/1963 Thả dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

20. Giant 7/1963 Thả dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

21. Packer 7/1963 Thả dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

22. Easy 9/8/1963 Thả dù 8 – Báo cáo sau khi xâm nhập

18/7/1964 Thả dù 6 – Thêm người, toán Pisces

5/1965 Thả dù 5 – Thêm người, toán Horse

17/9/1965 Thả dù 9 – Thêm người

8/10/1965 Thả dù 3 – Thêm người, toán Dog/Gecko; đổi tên là Easy alpha. – Lần cuối cùng liên lạc 26/4/1968. Ngày 7/8/1968, Báo chí Bắc Việt đưa tin bắt được 12 biệt kích quân, trong đó có trưởng toán.

23. Không tên 12/8/1963 Thả dù 2 Tăng cường cho toán Remus

24. Swan 4/9/1963 Thả dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

25. Bull 7/10/1963 Thả dù 7 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

26. Ruby 5/12/1963 Thả dù 8 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

27. Không tên 23/4/1964 Thả dù 3 Tăng cường cho toán Remus

28. Attila 25/4/1964 Thả dù 6 Bị bắt ít lâu sau khi xuống đất

29. Lotus 19/5/1964 Thả dù 6 Bị bắt, ra tòa lãnh án

30. Coots 27/5/1964 Thả dù 7 Tăng cường cho toán Tourbillon

Một biệt kích người Thượng khoe chiến lợi phẩm của mình với người vợ sau một phi vụ.

Toán Ngày Thả Phương Tiện Số Người Phụ Chú

31. Scorpion 17/6/1964 Thả dù 7 Bị bắt, ra tòa lãnh án

32. Buffalo 19/6/1964 Thả dù 10 Bị bắt, ra tòa lãnh án

33. Eagle 28/6/1964 Thả dù 6 Bản phân tích 6/1968: Bị bắt, còn 3 người, dự trù di chuyển về hướng nam. Bắt đầu di chuyển 11/1968. Còn liên lạc trong năm 1969.

34. Pisces 18/7/1964 Thả dù 6 Tăng cường cho toán Easy

35. Perseus 24/7/1964 Thả dù 7 Tăng cường cho toán Tourbillon

36. Boone 29/7/1964 Thả dù 9 Bị bắt, ra tòa lãnh án

37. Alter 22/10/1964 Thả dù 4 Tăng cường cho toán Remus

38. Greco 14/11/1964 Thả dù 7 – Tăng cường cho toán Bell

Centaur 10/12/1964 Thả dù 28 – Bị rơi máy báy C123 ngày 10/12/1964 tại Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng. Tất cả tử nạn.

Remus Alpha 5/1965 Thả dù 5 – Một phần của Remus được lệnh rút lui sang Lào. Liên lạc lần cuối cùng vào 21/8/1965. Mất tích ở tọa độ 785/367. Vô tuyến điện không mở, đi sang Lào.

39. Horse 5/1965 Thả dù 5 Tăng cường cho toán Easy

40. Dog/Gecko 17/9/1965 Thả dù 9 Tăng cường cho toán Easy. Sau bổ sung cho toán Easy alpha thành toán Easy.

41. Verse 7/11/1965 Thả dù 8 Tăng cường cho toán Tourbillon. 2 người chết lúc thả dù. Toán hướng dẫn Tourbillon về kỹ thuật thám sát đường mòn. Tourbillon chia 3 người qua toán Verse. Toán Verse tách ra. 27/7/1967 Đài Hà Nội đưa tin bắt sống toán biệt kích.

42. Romeo 19/11/1965 Trực thăng 10 10/1966 nhận được điện văn rất rõ: “Romeo đã bị bắt”. Lần cuối cùng liên lạc 5/8/1968. Báo cáo mất tích 4/11/1968.

43. Kern 5/3/1966 Thả dù 9 1 người chết lúc thả dù. Lần cuối cùng liên lạc 5/9/1966. Bị bỏ rơi 7/12/1966

44. Hector 22/6/1966 Trực thăng 15 Gửi báo cáo sau khi xâm nhập

23/9/1966 Trực thăng 11 Thêm người của toán Hector Bravo. Hai toán không gặp được nhau. Bravo bị bỏ rơi 28/12/1966. Hector liên lạc lần cuối vào ngày 15/3/1967. Bị bỏ rơi 26/6/1967

45. Samson 5/10/1966 Trực thăng 8 Bãi đáp bên Lào. Liên lạc lần cuối 2/12/1966. Bị bỏ rơi 1/3/1967

46. Tourbillon 24/12/1966 Thả dù 2 Tăng cường cho Tourbillon. Mang cho toán Bravo máy nghe trộm điện thoại và máy dò sóng điện đài.

47. Hadley 26/1/1967 Trực thăng 11 – Xâm nhập miền Bắc bằng đường bộ. Bảng phân tích 6/1968: Toán bị bắt ít lâu sau khi xâm nhập. Dùng điện đài đánh lạc hướng Bắc Việt. 6/1967 được lệnh rút sang Lào. 3/1969 toán báo cáo đã ở bên Lào, cho trực thăng bảo vệ, tìm không ra vị trí của toán.

48. Hansen 22/4/1967 Trực thăng 17 Toán chưa tìm ra quân Bắc Việt. Quân Bắc Việt xuất hiện ở bãi đáp. Được yêu cầu rút lui.

49. Không tên 21/8/1967 Thả dù 2 Tăng cường cho toán Remus

50. Goldfish 13/9/1967 Đường biển 1 Xâm nhập bằng Plowman. Điệp viên 327, mới tuyển trong nhóm tù binh Paradise. Điệp viên sẽ nằm vùng 60-90 ngày và rút lui bằng đường biển. Mất liên lạc

51. Red Dragon 21/9/1967 Thả dù 7 Bị phân tán lúc thả dù. CIA tin rằng họ đã bị bắt. SOG cho rằng toán không sao, theo bản báo cáo 6/1968. Vẫn liên lạc đến tháng 4/1969.

52. Voi 18/10/1967 Thả dù 4 Mất liên lạc sau khi xâm nhập

Toán Castor, gồm 4 người, được Nguyễn Cao Kỳ đích thân lái chiếc C47 thả dù xâm nhập miền Bắc ngày 27/5/1961. Bị bắt ngày 31/5/1961.

Cuộc Chiến Bí Mật -Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH

ydan.org

Nicholas Cage

Bản dịch: Vũ Đình Hiếu

Post by Sơn râu 2 Aug 2024

Google photo

Phần 10

Chiến Tranh Ngoại Lệ

Hết đồ ăn, toán biệt kích phải tìm cây, củ trong rừng nướng ăn, dân địa phương thấy khói bèn báo công an. Suốt tuần lễ tiếp theo, toán biệt kích Strata 112 bị công an nhân dân vũ trang săn lùng ráo riết. Trên dường tháo chạy, toán Strata 112 bị phân tán mỗi người một ngả. Trưa ngày 4 tháng 10, một nhóm bị bao vây, một số biệt kích quân khác bị bắt. Ngô Phong Hải lẫn trốn thêm được 10 ngày, hy vọng có trực thăng đến cứu. Nhung đợi mãi, hết đạn, bị đói, hết hy vọng, anh ta đành ra hàng. Toán biệt kích Strata 112 đến đây coi như bị xoá sổ.

Chương trình Strata lại có chỉ huy mới là Thiếu tá George “Speedy” Gaspard. Sau khi nghiên cứu tấn thảm kịch Strata 112, Gaspard quyết định chuyển các toán Strata ra Đà Nẵng. Căn cứ này có một lợi thế là máy PRC-74, mà CIA trang bị cho các các toán biệt kích có thể liên lạc thẳng với căn cứ hành quân tiền phương, không phải qua trung gian BUGS ở Philippin.

Rút kinh nghiệm từ thảm họa Strata 112, lần này các toán biệt kích sẽ xâm nhập không phận Bắc Việt bằng trực thăng CH3, phát xuất từ căn cứ không quân Nakhon Phanom (Thái Lan). Để dễ cơ động, toán biệt kích Strata sẽ gồm từ 4 đến 8 thành viên. Mặt khác, do vóc dáng người Việt Nam nhỏ, không nên đem theo nhiều đồ, chỉ đem đầy đủ thực phẩm đạn dược, nếu cần sẽ được tiếp tế bằng trực thăng CH3.

Với vẻ hài lòng, Thiếu tá Gaspard chuẩn bị cho chuyến xâm nhập Bắc Việt lần thứ nhất trong năm 1968. Toán Strata 111 dự kiến sẽ xâm nhập phía tây làng Mõ, một làng lớn của huyện Lệ Ninh, tỉnh Quảng Bình. Nơi có con đường 196 chạy từ hướng tây nam làng Mõ đến biên giới Việt – Lào, nhập vào đường mòn Hồ Chí Minh. Tại lưu vực sông Gianh, nhiều dấu hiệu cho thấy, Bắc Việt sử dụng cá hai tuyến đường chuyển quân và hàng chi viện cho chiến trường miền Nam. Tin tức thu được tại khu vực này sẽ có giá trị lớn cho Không đoàn số 7 của Mỹ.

Chiều ngày 17 tháng 3 năm 1968, Strata 111 được trực thăng thả xuống khu vực đã định. Sau khi đáp đất, toán biệt kích di chuyển đến mục tiêu. Sáng sớm ngày 18, họ chạm trán với hai tiểu đội tuần tra của Bắc Việt. Hai bên cùng nổ súng khoảng 20 phút, thì toán biệt kích di chuyển vị trí. Đêm 18 tháng 3, họ báo cáo về Đà Nẵng về vụ việc chạm súng với toán toán tuần tiễu Bắc Việt lúc sáng.

Đến 19 tháng 3 (ngày thứ ba), toán biệt kích trớ nên dè dặt, cẩn thận, ba lần Strata 111 trông thấy các toán tuần tiễu của lực lượng an ninh địa phương đang truy lùng. Strata 111 bắt buộc phải điện về trung tâm yêu cầu cho rút quân.

Sau vụ này, Gaspard tiếp tục thứ nghiệm với toán mới Strata 113. Ngày 31/3/1968, toán biệt kích xâm nhập lại mục tiêu trước đó Strata 111 đã xâm nhập. Lần này Strata không thấy dấu hiệu của lực lượng an ninh Bắc Việt. Một tuần sau, Strata 113 được trực thăng đến bốc về.

Gaspard tin rằng mình đã thành công nên đưa tiếp toán Strata 114 xâm nhập Bắc Việt, ngoài nhiệm vụ do thám đường, toán biệt kích còn phải rải truyền đơn của đài Gươm thiêng ái quốc, vừa gài mìn trên đường và khu vực lân cận. Tuy nhiên, đến ngày thứ hai, toán biệt kích chạm trán với một đơn vị tuần tiễu của Bắc Việt. May mà họ chạy thoát.

Di chuyến dọc theo đường 196 về hướng nam, chiều 11/4/1968, Strata 114 báo cáo về Đà Nẵng rằng toán đã đến mục tiêu Rằng họ sẽ quan sát con đường suốt 24 giờ đồng hồ. Ngày 12/4, SOG ra lệnh cho toán biệt kích Strata 114 băng qua đường chụp ảnh, rải truyền đơn, gài mìn. Một giờ đồng sau khi đã thực thi xong phi vụ, toán biệt kích di chuyển đến vị trí an toàn. Họ nghe tiếng mìn nổ, chứng tỏ Bắc Việt có sử dụng con đường. Toán Strata 114 còn hai ngày nữa mới kết thúc phi vụ . Thế nhưng, họ đã hết nước uống, nên đòi rút quân. Nhưng toán biệt kích phải chịu khát và đợi đến ngày 15/4, trực thăng mới đến bốc họ về. SOG rất hài lòng: “có vẻ như biệt kích ra vào sau lưng quân Bắc Việt chẳng khác gì như chỗ không người”.

Trở về sau chuyến xâm nhập

Trong tháng 5/1968, căn cứ SOG ở Đà Nàng có thêm nhiều toán biệt kích mới đến. Họ vừa kết thúc khoá huấn luyện tại căn cứ Long Thành. Toán thứ tư lên đường là toán Strata 120, gồm sáu quân nhân, hai người đã có kinh nghiệm, từng là thành viên toán biệt kích Red Dragon trước đây, hai biệt kích quân người Kinh và hai biệt kích quân là người dân tộc Nùng.

Toán Strata 120 được trang bị giống như những toán nằm vùng dài hạn trước đây, cũng quân phục như bộ đội Bắc Việt, súng không có số. Họ được trực thăng CH3 đưa đến xâm nhập gần làng Mõ. Vài giờ đồng hồ sau, toán biệt kích trông thấy phân đội tuần tiễu của Bắc Việt đang di chuyển trong rừng. Họ báo cáo về Đà Nẵng yêu cầu cho rút quân, nhưng trung tâm ra lệnh cho họ tiếp tục phi vụ, vì quân Bắc Việt chưa phát hiện ra sự hiện diện của toán biệt kích.

Strata 120 di chuyển đến một điểm khác ở phía bắc làng Mõ và biến mất. Trong vòng chín ngày sau, SOG ra sức tìm kiếm Strata 120 bằng các loại phương tiện như máy bay quan sát; gọi Strata 120 trên tần số khẩn cấp mỗi giờ; gọi điện văn trên đài Gươm thiêng ái quốc. Đến ngày 26/5/1968, toán Strata coi như mất tích.

Từ đó, SOG không có bất kỳ thông tin nào về số phận của toán biệt kích Strata 120. Thực ra, định mệnh đến với họ ngày 18/5, tức bốn ngày sau khi xâm nhập. Biệt kích quân Nguyễn Đình Lành nhận “sứ mệnh” do thám một dòng suối mà toán sẽ phải vượt qua. Mấy phút sau, các thành viên của toán nghe tiếng hô to: “Đầu hàng! Đầu hàng ngay!”. Tiếp theo là tiếng súng nổ. Lành lĩnh trọn cả băng đạn AK, chết tại trận. Hai biệt kích quân Nùng nổ súng đáp lại, còn ba người khác thì lủi vào bụi cây.

Năm biệt kích quân còn lại phải chạy thục mạng, sau đó mới gặp lại nhau. Trong lúc chạy họ bỏ lại tất cả, chỉ đem theo súng và ít đồ ăn. Đêm đó họ trèo lên đỉnh một ngọn đồi, đốt lửa báo hiệu, hy vọng máy bay quan sát của Mỹ sẽ trông thấy. Do mất máy truyền tin, nên các biệt kích quân không còn cách nào hơn là đốt lửa ra hiệu.

Trốn trên một ngọn đồi nắng cháy, Strata chờ được giải cứu. Trong lúc họ không còn một giọt nước uống. Một biệt kích quân người Nùng là Trịnh Quốc Anh, cùng một cộng sự bèn đi tìm nước. Hai người còn lại trên đồi nghe tiếng súng nổ, sau đó tất cả bị bắt ngày 24/5/1968.

Ngày 14/5/ 1968, cùng lúc với toán Strata 120, toán Strata 111 cũng xâm nhập trở lại khu vực họ dã xâm nhập trước đó hai tháng. Hai ngày sau họ điện báo về Sài Gòn rằng Strata 120 đã tiếp cận mục tiêu an toàn. Thế nhưng đến ngày 17/5, toán biệt kích nghe có tiếng súng và tiếng chó sủa. Mọi người nằm im chờ nguy hiểm qua rồi di chuyển đến vị trí thuận lợi cho việc do thám con đường. Họ tiếp tục quan sát con đường thêm tám ngày và được bốc về ngày 30/5/1968.

Một ngày sau khi toán Strata ra đi, toán Strata 122 xâm nhập ở hướng bắc. Trong toán này có ba anh em. Nhưng đến không phận Lào, Strata không chịu đi tiếp để xâm nhập vào Bắc Việt. Trực thăng đành chở họ về và SOG lập tức sa thải Strata 122 ra khỏi lực lượng đặc biệt. Để thế vào chỗ trống trên, vào cuối tháng 5/1968, Strata 113 được lệnh xâm nhập Bắc Việt lần thứ hai. Lần này họ may mắn trở về bình yên.

Ngày 6/6/1968, toán Strata 114 cũng lần thứ hai xâm nhập tại khu vực gần làng Mõ và gặp ngay đoàn xe quân sự, toàn Molotova của Bắc Việt, đang di chuyến trên đường về hướng đường mòn Hồ Chí Minh. Không quân Mỹ đã để ý mục tiêu này từ lâu. Ngày 10/6, toán biệt kích Strata 114 điện báo về Sài Gòn rằng bom rơi gần chỗ họ đang ẩn núp. SOG phải thông báo cấp tốc cho không quân Mỹ và yêu cầu dành cho toán biệt kích một khu vực an toàn, tránh bị đánh bom.

Google photo

Tuy nhiên, trận đánh bom của không quân Mỹ không có hiệu quả. Strata 114 báo cáo trung tâm: “Bom ném không trúng mục tiêu”. Hai ngày sau, toán biệt kích lại chứng kiến đoàn xe Molotova chở đồ tiếp tế, nặng nề di chuyển trên đường. Sau đó, họ phát hiện ra một binh trạm chứa khoảng 60 xe vận tải giấu kín trong cánh rừng già có cây che phủ rất rậm rạp.

Thế nhưng mọi sự thay mắn cho toán biệt kích Strata 114 đã chấm dứt vào ngày 12/6/1968, cả trướng, phó toán và nhân viên truyền tin đều không trở lại sau một chuyến do thám ngắn. Khi nghe tiếng súng, lựu đạn nổ, bốn biệt kích quân còn lại của toán Strata 114 vắt chân lên cổ chạy thục mạng. Ngày 18/6, họ may mắn được trực thăng bốc về.

Cay cú, ngay ngày hôm sau (19/6), toán biệt kích Strata 115 được lệnh xâm nhập và tìm kiếm mục tiêu mới ớ phía nam tỉnh Hà Tĩnh. Đây là toán phải xâm nhập vào địa bàn xa nhất so với các toán Strata, cũng là toán gồm toàn biệt kích người Khmer. Sau khi đáp đất, toán biệt kích Khmer di chuyển đến mục tiêu, tiến hành do thám khu vực được giao. Hết lương thực, SOG phải nhờ một chiếc khu trục A1 của không quân Sài Gòn thả bom giả Napalm chứa thức ăn cho Strata 115. Ngày 27/6, toán Strata 115 chạm trán quân Bắc Việt, một biệt kích quân bỏ mạng. SOG phải điều trực thăng đến giải cứu toán biệt kích.

Cùng thời điểm này, toán Strata 111 tổ chức xâm nhập chuyến thứ tư. Ngày 20/6, toán xâm nhập sâu 16 km về phía bắc của khu phi quân sự. Trong bốn ngày đầu Strata 111 không thấy sự hiện diện của quân đội Bắc Việt. Nhưng đến ngày 24/6, họ bị phát hiện, bèn điện về Đà Nẵng báo cáo, rồi rải mìn; sau đó đi chuyển đến vị trí khác. Ba hôm sau, Strata 111 một lần nữa chạm trán với quân đội Bắc Việt, một biệt kích quân bị thương. Strata 111 yêu cầu trung tâm cho rút quân. Về tới căn cứ Đà Nẵng, Strata 111 lập tức bị giải tán.

Đến mùa mưa năm 1968, chương trình Strata vẫn tiếp tục triển khai, với mật danh mới là “Kế hoạch 34B”. Đối với biệt kích nằm vùng dài hạn mang mật danh là “Kế hoạch 34A”. Những toán biệt kích mới được tuyển mộ cho chương trình “Kế hoạch 34B”, gồm sĩ quan, hạ sĩ quan trẻ trong Quân đội Sài Gòn. Họ đem lại sinh khí mới cho các toán biệt kích Strata.

Cùng thời điểm trên, toán biệt kích Strata 115 (người Khmer) xâm nhập Bắc Việt lần thứ hai. Sau 18 ngày thực thi phi vụ, họ đụng độ với quân Bắc Việt. Toán biệt kích bị xé lẻ, phân tán. Trực thăng chỉ bốc về được ba người, còn bốn người khác thì mất tích. Toán biệt kích cuối cùng xâm nhập trong tháng 7/1968, là Strata 119, toàn dân Thái. Họ được tuyển mộ từ bên Lào, sau đó đưa về Long Thành huấn luyện cho đến hết năm 1967. Họ được chia làm hai toán. Toán qua không làm nên cơm cháo gì, SOG phải trả họ về Lào. Toán Axe được tăng cường hai hiệu thính viên người Kinh, tổ chức thành toán Strata 119.

Ngày 29/7, Strata 119 được trực thăng đưa vào khu vực gần làng Mõ. Trong tuần lễ đầu, họ không gặp trở ngại nào. Sau đó Strata 119 phát hiện Quân đội Bắc Việt có mặt thường xuyên ở khu vực này. Ngày 10/8/1968, tức hai ngày trước khi kết thúc phi vụ, Strata 119 phát hiện Quân đội Bắc Việt đang đi lùng. Trưởng toán Lò Văn Thông ra lệnh cho các thành viên trong toán nằm im, rồi gọi máy bay trinh sát xin chỉ dẫn. Do rừng cây quá rậm rạp, Thông cùng với một biệt kích quân phải leo lên một cây to để định hướng. Đúng lúc đó, bỗng có tiếng súng nổ chát chúa ở dưới, cả hai phái nằm im trên cây cả tiếng đồng hồ. Trong lúc đó, những biệt kích quân còn lại chạy thoát và được trực thăng bốc đưa sang Thái Lan. Thông cùng đồng sự định tìm đường sang Lào, nhưng đã bị quân đội Bắc Việt bắt sống.

Theo tài liệu “How Amerlca Lost the Secret War in North Vietnam”; by Kenneth Conboy, Dale Andradé. United press 2000.

Biệt kích Nùng cùng LLĐB Mỹ tại Daklak, tháng 3/1966

Đôi nét về dịch giả, giáo sư Vũ Đình Hiếu:

– Sinh quán làng Yên Thái (Bưởi) Hà Nội.

– Cựu sinh viên Đại Học Khoa Học Sài Gòn.

– Cựu sĩ quan Biệt kích.

– Sang Mỹ năm 1975, đi học trở lại.

– BS (Cử Nhân) Toán.

– MS Computer Science.

– Ph. D. Management Information Systems.

– Đã giảng dạy cho một số Viện đại học ở Mỹ, đại học RMIT Việt Nam.

– Đang giảng dạy tại Information Technology cho American University ở Bosnia Herzegovina.

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn
Post by Sơn râu 2 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 16

Chiếc Fiat đi vòng qua thị xã Trapani để tới bờ biển. Trên xe Stefan Andolinini cầm vô – lăng. Michael Corleone ngồi cạnh. Chiếc xe chạy đến một biệt thự rộng lớn nhất so với các biệt thự xung quanh. Trừ cổng và một lối thông ra bãi biển, khuôn viên tòa biệt thự có tường cao ngất bao quanh. Cổng lúc nào cũng có hai người canh.
Vừa vào phía trong cổng, Michael đã thấy ngay một người đàn ông mập, to ngang, ăn mặc khác với dân địa phương. Quần kiểu Mỹ, áo thun bó sát người, bên ngoài khoác chiếc áo vét thể thao. Trong lúc chờ mở cổng, Michael đã thấy nụ cười “toác hoác” nở trên khuôn mặt bành bạnh. Hắn lấy làm ngạc nhiên khi nhận ra đó là lão Peter Clemenza.
Peter Clemenza là “sếp lớn” dưới trướng Bố Già Vito Corleone, cha của Michael Corleone. Hai năm trời sống lưu vong, cách biệt và lẩn lút tại Sicily, Michael gần như bị cắt đứt khỏi mọi diễn biến trong gia đình. Hắn gần như mù tịt về những gì đã xảy ra trong giới giang hồ, ngay cả trong chính cánh Corleone nhà nó. Bởi vậy, hắn ngạc nhiên không hiểu tại sao lão Clemenza lại có mặt ở đây vào lúc này. Lần cuối cùng Michael thấy lão là cái “đêm định mệnh” khi nó chĩa súng khử thằng Sollozzo – biệt danh là “thằng thổ” – và me-xừ quan ba cớm Mc. Closkey.
Dù đã qua hai năm, Michael vẫn còn nhớ rõ cái nhìn có vẻ ái ngại và buồn buồn trên khuôn mặt lão lúc đó. Nhưng, lúc này nom Peter Clemenza tươi rói. Cứ như là lão ôm Michael, nhấc ra khỏi chiếc Fiat và cứ thế ghì chặt hắn vào cái ngực đồ sộ của lão.
– Mike, thật không có gì vui sướng cho qua bằng được gặp em lúc này. Qua chờ em cả hai năm trời để nói với em là qua rất hãnh diện vì em. Chơi gọn băng như em mới gọi là chơi. Tém gọn một cú hai tay tổ mới ngon. Làm như em mới gọi là làm chớ. Nhưng thôi, những trục trặc gì bây giờ cũng được thu xếp gọn, êm cả rồi. Chỉ một tuần lễ nữa, em sẽ có mặt ở nhà. Tiệc lớn đang chờ người hùng trở về trong khúc khải hòan ca. Cả nhà ở bển, ai cũng nôn nóng, mong ngóng em về!
Hai tay lão vẫn âu yếm ôm lấy Michael sau khi nói một thôi một hồi như vậy. Sau đó, lão âu yếm đăm đăm nhìn vào mắt hắn như thể đánh giá lại lần chót cho đắc ý. Đây không còn là một người hùng xốc nổi, bốc đồng lao vào trận mạc nữa. Sau hai năm lưu vong ở Sicily, hắn đã lột xác trở nên một người già dặn, chín chắn về mọi mặt, khuôn mặt Michael không còn rạng rỡ, cởi mở. Trái lại, kiêu hãnh, nhưng nghiêm nghị và dè dặt. Đúng típ Sicilian chính cống, có bản lãnh. Michael sắp nhận cái địa vị đầy quyền thế trong gia đình hắn.
Michael cũng không kém sung sướng khi gặp lại một Peter Clemenza đồ sộ, dềnh dàng. Khuôn mặt lão đã có nhiều nếp nhăn, sau cú bị ám sát, chết hụt, nay đã lành vết thương. Nhưng sức khỏe không được tốt lắm. Clemenza buồn bã, nhè nhẹ lắc đầu:
– Thân xác nào cũng vậy. Đã bị đạn nó khoét cho một lỗ như vậy thì dù có lành cũng không thể như trước được, huống hồ lúc này ông cụ đã có tuổi rồi. Đã đành, đây chẳng phải là lần đầu tiên ông cụ bị nếm kẹo chì như vậy. Tuy nhiên, nói là không được như xưa, chớ ông cụ còn gân chán. Somny bị tụi nó đốn. Tội nghiệp cho hắn. Nhưng, người đáng thương nhất vẫn là cụ bà nhà ta. Mike, tụi nó dã man quá, mẹ kiếp, tụi nó lấy súng máy xả Somny thành từng mảnh. Chơi vậy không đúng luật giang hồ chút nào. Chúng không được phép chơi kiểu đó. Đ.m. ức thiệt! Nhưng, mình đã có kế hoạch chơi lại. Mẹ kiếp, cú “rờ – ve” của cánh mình ấy nghe, cứ gọi là trời long đất lở, mình sẽ đòi tụi nó một vốn bốn lời, chớ không dưới. Khi về đến nhà, ông cụ sẽ cho em rõ chi tiết. Bởi vì em sẽ là đầu tàu thực hiện. Bởi vậy, mọi người đều mong ngóng em về.
Stefan Andolini gật đầu chào Clemenza. Rõ ràng họ đã quen biết nhau từ trước. Gã bắt tay Michael, chào giã từ:
– Qua phải quay trở lại Montelepre gấp. Ở đó, qua còn nhiều việc phải giải quyết lắm.
Gã nín thinh một chút, rồi ngập ngừng nói tiếp:
– Dù em có nghe ai nói ngược nói xuôi gì về qua đi nữa, em cũng kệ họ, đừng tin. Em nên nhớ điều này: qua luôn luôn trung thành với Guiliano. Và nó cũng tin qua cho đến cùng. Nếu nó bị phản bội thì thằng khốn phản thùng ấy nhất định không phải qua. – Gã lắp bắp nói thêm: – Và qua cũng sẽ không phản bội em.
Michael cũng cảm thấy tin gã:
– Sao không ở lại kiếm cái gì nhậu lai rai chút đã rồi hãy về, gấp thì gấp chớ, làm gì gấp dữ vậy?
Stefan Andolini siết chặt tay Michael, nhưng lắc đầu từ chối. Gã chui vội vào chiếc Fiat và chạy vút ra cổng. Clemenza dẫn Michael qua khoảng đất trống đi về phía tòa biệt thự. Những người mang vũ khí đi tuần cẩn mật. Nhất là lối thông ra biển. Có một đầu tàu nhỏ và một khinh tốc đỉnh cắm cờ Ý neo sẵn ở đó.
Trong nhà có hai mụ già mặc đồ đen, da sạm nắng, đầu trùm khăn đen. Peter Clemenza bảo họ bưng đĩa trái cây vào phòng ngủ cho Mike.
Sân thượng phía trên phòng ngủ của Michael trông ra Địa Trung Hải xanh biếc. Vệt ánh sáng ban mai đã chia mặt biển thành hai phần. Những chiếc ghe đánh cá với những chiếc buồm xanh, đỏ thấp thoáng nơi chân trời trông như những trái banh bập bềnh trên sóng nước. Trên sân thượng có chiếc bàn nhỏ phủ khăn màu nâu đậm. Trên bàn có vò rượu, hai ly cà – phê và một chai rượu vang đỏ. Bên cạnh hai người đàn ông một già, một trẻ – ngồi trầm ngâm. Thỉnh thoảng lại nói chỉ vừa đủ cho nhau nghe. Clemenza nói:
– Trông em có vẻ mệt. Mà mệt là phải. Thức đêm ngồi trên xe suốt như vậy thì sức voi cũng phải thấm mệt. Ngủ một chút đi cho khỏe. Ngủ dậy, tỉnh táo rồi qua sẽ cho em rõ chi tiết.
– Cháu quen rồi, – Michael đáp, – Nhưng, trước hết, cho cháu biết là bà già cháu lúc này ra sao đã?
– Ôi, tưởng ai chớ bà già còn khỏe chán. Bà mong em lắm đó. Đừng làm cho bà thất vọng thêm. Vụ Somny kể như “quá tải” đối với sức chịu đựng của bà rồi.
– Thế còn ông già cháu? Ông đã bình phục hẳn chưa?
– Nhất định rồi, – Clemenza cười lớn, tiếng cười nghe dễ sợ. – Trước sau gì thì ngũ đại gia đình kia cũng sẽ tìm ra ông. Ông đang đợi em ghê lắm đó. Mike! Ông đã có một kế hoạch vĩ đại, thần sầu. Mà em là người thực hiện, không thể để cho ông “đổ” lần nữa được. Còn chuyện Guiliano thì chẳng cần quan tâm nhiều. Nếu nó đến, thì mình cho nó đi theo. Nếu nó cứ bám chặt lấy cái đất chết này thì thôi, kệ cha nó, cần đếch gì.
– Ông già cháu cho chỉ thị như thế nào?
– Mỗi ngày có người đưa tin theo chuyến bay đến Tunis. Qua sẽ đi tới đó nhận chỉ thị. Lệnh mới nhứt qua nhận được bữa qua là thế này: trước hết, lão Croce được coi như là đứng về phía mình và giúp mình. Ngay lúc qua rời Hoa Kỳ đến đây, thì ông cụ cũng nói vậy. Nhưng, em có biết, hôm qua, khi em vừa rời khỏi Palermo, thì ở đó xảy ra chuyện gì không? Một kẻ nào đó tính khử lão Croce. Bọn chúng đặt mìn phá lủng một mảng tưởng, chui vô và mần thịt hết bốn vệ sĩ của lão. May mà lúc đó lão đi khỏi, chớ nếu không thì giờ này, lão chầu Diêm Vương rồi.
– Giêsu, lạy chúa tôi, – Michael thốt lên kinh ngạc. Hắn nhớ lại những sự bố trí cẩn mật mà Ông Trùm đã dàn ra ở khách sạn Umberto của lão. – Cháu nghĩ, người tính khử lão Croce không phải ai khác ngoài ông bạn Guiliano nhà ta. Cháu hy vọng là ông già cháu cũng như cháu đều đã rõ là mình đang làm gì chứ. Cháu mệt lắm rồi, cháu không thể tiếp tục suy nghĩ gì thêm nữa.
Clemenza đứng dậy, thân mật vỗ vai Michael:
– Mike, thôi, đi ngủ. Ngồi xe chạy suốt cả đêm hôm rồi, mệt là phải. Khi ngủ dậy, em sẽ gặp ông anh của qua. Cũng là một tay ngon lành lắm, cũng trạc cỡ ông cụ bên nhà. Nghĩa là cũng chịu chơi, chơi có tay nghề, có trình độ, chơi không chơi ẩu. Nếu cần cũng dám chơi xả láng, chết bỏ. Nếu không cần thì rụng một sợi lông chân cũng đếch thèm. Tóm lại, vừa có trình độ cao, vừa có tính tóan khôn ngoan, kỹ lưỡng.
Michael cởi quần áo ra và đi ngủ. Hơn hai ngày nay, hầu như hắn không chợp mắt. Thế nhưng đầu óc hắn vẫn cứ miên man suy tính, khiến hắn không yên tâm mà nghỉ ngơi được. Mặc dầu đã đóng kín những cánh cửa sổ bằng gỗ sồi nặng nề, hắn vẫn cảm thấy như ánh nắng ban mai xuyên vào tận da thịt. Mùi hoa gì đó hăng hắc hòa lẫn với mùi hương hoa chanh. Liên tiếp mấy gnày liền, đầu óc hắn căng thẳng vì phải đấu trí với các cao thủ ngoại hạng, chứ không phải chỉ với các bậc thầy trong khoa lừa lọc, xảo quyệt. Những câu hỏi cứ liên tiếp đặt ra mà không tìm được câu trả lời. Tại sao trong khi Guiliano bị truy lùng gắt như vậy mà những thủ túc thân tín của nó – như Pisciotta và Andolini – vẫn cứ nhởn nhơ, thong dong đi tới đi lui giữa ban ngày ban mặt trong thành phố? Tại sao, Guiliano lại quyết định coi Ông Trùm Croce là tử thù của mình trong lúc lo chạy tháo thân, trong tình hình bất lợi như thế này? Một tay Sicilian thứ thiệt dứt khoát không thể mắc sai lầm sơ đẳng như thế được. Đằng này lại là một tay có quá trình bảy năm vùng vẫy ngoài vòng pháp luật, rất tinh khôn, rất có bản lĩnh. Chắc chắn là Guiliano muốn sống an nhàn hơn, không phải là trên cái đất Sicily khốn khổ này, mà là trên đất Hoa Kỳ. Nếu không vậy thì hắn gởi vợ con đi trước làm gì? Lời giải đáp cuối cùng có vẻ hợp lý nhất và có thể làm sáng tỏ phần nào màn sương mù bí ẩn chỉ có thể là như thế này: Guiliano muốn chơi một đòn cuối cùng trước khi rời khỏi mảnh đất này. Và nếu cần phải chơi đòn tuyệt mệnh cũng ô – kê. Vì nó không sợ phải bỏ xác trên mảnh đất nó đã sinh trưởng.
Có những kế hoạch, những mưu toan, những thủ đoạn tuyệt chiêu nhằm đạt tới những mục đích mà Michael Corleone không hoặc chưa nhận định được. Do đó, bắt buộc hắn phải cảnh giác, đề phòng từ mọi phía. Bởi vì, Michael cũng chẳng muốn bỏ thây vô tích sự ở Sicily này. Hắn hoàn toàn cảm thấy mình không có dính dáng chút nào đến cái huyền thoại đặc biệt về Guiliano.
Thức dậy trong phòng ngủ rộng mênh mông của tòa biệt thự, Michael mở cửa bước ra ban công trắng toát dưới ánh mặt trời. Xa xa phía dưới ban công, Địa Trung Hải như một tấm thảm màu xanh trải dài đến tận chân trời. Những chiếc thuyền đánh cá tít ngoài khơi xa bập bềnh ẩn hiện trên biển lấp lánh. Michael ngắm nhìn vẻ đẹp của biển cả và vách núi đá hùng vĩ ở bờ phía bắc.
Căn phòng có nhiều đồ gỗ to lớn một cách thô kệch. Trên mặt bàn, có một bình nước và cái tách tráng men. Trên lưng ghế có tấm khăn lau màu nâu. Trên tường treo bức ảnh Đức Thánh Mẫu ẵm Đức Chúa Con. Michael rửa mặt, rồi ra khỏi phòng. Peter Clemenza đang chờ sẵn ở chân cầu thang.
– Có thế chớ, bây giờ nom chú em đã khỏe ra rồi. Ăn cho nó khỏe thêm chút nữa, rồi qua sẽ bàn chuyện với em, dựa trên những tin tức vừa nhận được.
Lão dẫn Michael vào phòng ăn gần bếp, trong đó đã kê sẵn chiếc bàn gỗ. Họ vừa ngồi vào đó thì một mụ già bận đồ đen từ trong bếp đi ra, lẳng lặng đặt hai ly cà phê, trứng ốp – lết, xúc xích và một ổ bánh mì. Rồi mụ lẳng lặng đi vào chẳng để ý đến lời cám ơn của Michael.
Đúng lúc đó, một người đàn ông mở cửa bước vào. Lớn tuổi hơn, nhưng trông rất giống Peter Clemenza, đến nỗi Michael nhận ra ngay đó là ông anh của lão Peter. Có điều lão Domenic đáng chú ý hơn nhiều. Chiếc quần nhung bạc phếch nhét vào ống giày màu nâu, áo lụa trắng, tay xếp ly rộng thùng thình. Bên ngoài khoác chiếc ja – ket màu đen. Trên đầu là chiếc mũ mỏ vịt. Tay phải lão phe phẩy chiếc roi ngựa, rồi quăng vào một góc nhà. Michael đứng lên chào. Lão Domeni Clemenza ôm hôn hắn một cách thân mật.
Họ cùng ngồi vào bạn. Sếp Domenic Clemenza có cái phong cách oai vệ tự nhiên của một người lãnh đạo, chỉ huy, khiến Michael liên tưởng đến ông bố hắn. Cũng một phong cách lịch sự kiểu xưa. Rõ ràng là Peter Clemenza có vẻ nể sợ ông anh. Và đối với ông em, Domenic tỏ ra thân mật kiểu vai trên, đàn anh. Điều đó khiến Michael ngạc nhiên và cảm mến ngay Domenic. Dưới trướng của Bố Già, Peter đã là một thủ lĩnh rất sáng giá và được Bố Già tin cậy.
Giọng nói ồ ồ, nhưng đôi mắt Domenic – dù đã bằng ấy tuổi – vẫn sáng như sao và tinh nhanh sắc sảo:
– Michael, qua lấy làm sung sướng và vinh dự được ông cụ thân sinh ra em – Don Corleone – trao phó cho cái nhiệm vụ ngầm chăm sóc, bảo vệ em. Ngày hôm nay em mới gặp qua và mới biết điều đó. Nhưng qua đã biết em ngay từ phút đầu tiên em đặt chân đến đây. Mặc dầu trong hai năm sống ở đây, em cũng gặp trục trặc, nhưng tính mạng của em được bảo toàn cho đến giờ phút này đã là nỗi vui lớn của qua rồi. Bây giờ em có thể giúp qua giải tỏa cái mà qua thắc mắc từ hồi nào tới giờ. Ấy là chú em vô tích sự của qua đây, – lão đưa tay thân mật vỗ vỗ vào vai Peter, – hồi ở bên đó, hắn có được thành công như hắn đã khoe khoang hay không? Có thật là hắn đã “leo” cao như vậy không? Chứ cứ như qua nghĩ thì chỉ trao cho chú nó một con heo, qua cũng đã ngại là hắn làm không xong rồi. Có thiệt là ông cụ bên ấy tin cậy hắn đến mức coi hắn như cánh tay mặt? Chú ấy còn dám nói là dưới tay chú ấy có cả trên trăm thủ hạ. Cái đó không biết có thiệt hay lại là câu chuyện làm quà của một anh đi xa về tha hồ nói dóc? Chứ qua thấy sao khó tin quá!
Lão vừa nói vừa thân mật vỗ vai ông em, miệng mỉm cười.
– Tất cả đều đúng như vậy đó à, chú Domenic. Ông già cháu vẫn thường nói nếu không có Peter Clemenza chắc suốt đời ông vẫn chỉ là anh bán dầu ô – liu.
Họ cùng cười. Peter Clemenza đáp lại:
– Còn tôi, nếu không có ông thì chắc suốt đời ngồi tù, nếu không phải lên ghế điện. Điều quan trọng nhất ông dạy tôi mà tôi học cũng chưa trọn vẹn là cách suy nghĩ để làm thế nào khỏi dùng súng mà vẫn được việc.
– Còn tôi, – Don Domenic thở dài, – Thì cứ mãi mãi là anh nhà quê nghèo mạt. Nói của đáng tội, thì cũng có những người quanh quanh đây đến để hỏi han, xin ý kiến này nọ. Họ nói là ở cái vùng Trapani này thì qua là người quan trọng. Nhưng họ cũng còn gọi qua là “già gân”, thậm chí còn gọi là “bất tín”. Chẳng là vì qua chẳng có coi lệnh của Croce là cái “đách” gì cả. Làm vậy có lẽ là không hay. Vì Bố Già ở bên cũng còn thấy cái chỗ dùng được của Croce. Nhưng qua thì đành chịu, không tài nào chơi được với thằng cha ấy. Có thể là qua bất tín. Nhưng chỉ bất tín với những đứa vô liêm sỉ. Thằng cha Croce đã tư thông với bọn cớm, với chính quyền. Nghĩa là, làm “gián điệp cao cấp” của chính quyền. Qua thì cổ hủ, nên qua coi đó là hành vi đê tiện. Đếch cần biết vì những lý do tế nhị nào, hễ cứ đi với chính quyền, với nhà nước thì là đê tiện rồi. Ấy, qua cứ theo lối xưa mà nghĩ thế và đối xử như thế. Nhưng, chẳng thà mang tiếng là “già hủ”, chứ tân tiến để mà như lão Croce, thì qua không ham. Michael, em cứ ở lại đây ít bữa thôi, em sẽ thấy có phải vậy không?
– Chắc chắn là như vậy, – Michael lễ phép đáp lại. – Và cháu cũng chẳng biết phải nói như thế nào để tỏ lòng biết ơn về những sự giúp đỡ mà các chú đã dành cho cháu.
– Thôi, bây giờ qua có việc phải đi đây, – Don Domenic nói, – Nếu em có cần gì thì cứ nhắn cho “qua” biết. – Nói rồi, lão cầm cây roi ngựa và đi ra.
Peter Clemenza quay qua nói với Michael:
– Michael, ông cụ ở bên ấy đồng ý giúp cho Turi Guiliano thoát khỏi cái xứ này. Vì nghĩ lại cái tình xưa nghĩa cũ đối với ông già nó. Nhưng, sự an toàn của em vẫn là quan trọng hơn hết. Ở đây, ngay tại Sicily này, đâu phải ông cụ không có kẻ thù. Nội trong một tuần lễ, Guiliano sẽ đến gặp em. Nhưng nếu nó không đến, thì em vẫn cứ phải về một mình. Qua được lệnh như vậy đó. Mình có một máy bay túc trực sẵn ở Phi Châu, sẵn sàng cất cánh bất cứ lúc nào. Ý của em thế nào?
– Pisciotta nói là hắn sẽ đưa Guiliano đến trong thời gian sớm nhất.
– Em đã gặp Pisciotta rồi hả? – Clemenza huýt gió. – Thằng ấy cũng bị bọn kia săn đuổi không thua gì Guiliano. Làm sao nó có thể khơi khơi đi khỏi sào huyệt của nó được vậy?
– Nó có giấy thông hành đặc biệt do Bộ trưởng Bộ tư pháp ký. Đó là điều khó hiểu và khiến cháu không an tâm.
Peter Clemenza gật gù cái đầu. Michael nói tiếp:
– Cái thằng cha chở cháu tới đây – lão Stefan Andolini ấy mà, chú biết lão không?
– Biết! Gã cũng đã làm cho mình hồi gã còn ở bển. Hồi ông cụ làm cái đường hầm đó. Ông già của thằng Turi Guiliano là một người ngay thẳng và khéo tay. Cả Andolini lẫn ông già của Guiliano đều là những tên lẩn thẩn, cho nên, đang làm ăn ngon lành ở bên ấy, khi không đâm đầu về Sicily. Mà, nói cho cùng thì chẳng thiếu gì người Sicilian như vậy. Cứ như thể họ không tài nào quên được cái nhà tí hin, sặc sụa mùi cứt đái của họ ở cái đất Sicily này hay sao ấy. Hai lão này qua bên ấy làm ăn cũng là do qua đem qua đấy chứ, chứ ai? Họ quay về Sicily dễ cũng đến hai chục năm rồi. Thôi, ta đi lên chỗ này chút, Mike. Ta đi thưởng thức cảnh đẹp đồng quê, vừa ngắm bầy cừu gặm cỏ vừa nhâm nhi lai rai và dò la tin tức chơi. Ấy, để qua nói tiếp chuyện của hai lão Andolini và Guiliano. Xây cho ông cụ vừa xong cái đường hầm, thì hai lão này nổi cơn điên hay sao không biết mà đùng đùng rủ nhau quay về Sicily. Can cách gì cũng không nghe. Làm như cơn sốt hòai hương nó hành mấy chả không bằng. Mà thật, đã là dân Sicilian thì chết đến đít vẫn cứ thói nào tật nấy, vẫn cứ Sicilian. Thế mới ngộ chứ!

Google photo edit by Sơn râu

– Đúng vậy. Nhưng còn Andolini thì sao?
Peter Clemenza nhún vai:
– Thằng cha là anh em bà con gì đó với ông cụ nhà ta đấy. Từ năm năm nay, gã là cánh tay mặt, cánh tay trái gì đó của Guiliano. Nhưng trước đó, gã đi phe với Croce. Chẳng ai hiểu ra làm sao nữa. Nhưng gã là tay nguy hiểm, khó chơi, khó lường trước được. Cứ coi như một tay đi dây có tài. Vì năm năm trời đi trên cái dây mong manh, nghiêng ngả giữa một cáo già Croce và một thằng quá rách trời như Guiliano mà không bị rớt, thì phải kể như quán quân quái kiệt đi dây tử thần, chớ gì nữa?
– Andolini sắp đem vợ của Guiliano đến đây, – Michael nói. – Mình sẽ gửi cô ta đi tàu sang bên ấy. Tới nơi, cô ta sẽ gửi mật hiệu, mật mã gì đó về cho Guiliano nói sự thể ra sao. Rồi, căn cứ vào đó, anh chàng Guiliano mới xét đoán và quyết định có nên đến chỗ mình hay không. Cháu hứa mình sẽ y theo vậy. Được chứ, chú Clemenza?
Clemenza huýt gió một cái:
– Qua chưa từng nghe nói Guiliano có vợ. Nhưng nhất định là ta cứ y theo vậy, miễn là thời gian đừng quá kéo dài.
Họ ra ngoài, đi đến thửa vườn rộng. Từ cổng đến lối ra bờ biển, Michael nhận thấy ít ra cũng có tới sau người gác đi đi lại lại. Chiếc khinh tốc đỉnh vẫn neo ở cầu tàu. Ngay trong vườn cũng có một nhóm người. Rõ ràng là bọn này đang chờ Peter Clemenza. Tất cả khoảng hai chục, đều là dân Sicilian. Áo quần lem luốc, mũ mỏ vịt, trông tựa như già Domenic Clemenza. Ở góc vườn, dưới gốc chanh, kê một cái bàn với mấy chiếc ghế gỗ trông cũng thô kệch. Clemenza và Michael ngồi vào những chiếc ghế đó. Lão Clemenza bắt đầu phỏng vấn. Lão hỏi thăm về đời sống của hắn hiện nay, vợ con ra sao, “làm” cho Domenic lâu chưa, có bà con gì ở Trapani này không, đã có lần nào định đi Mỹ làm ăn chưa, vân vân và vân vân.
Những câu trả lời đại khái cũng như nhau. Và tập trung lại chỉ là “có, rồi”.
Mụ già bận đồ đen đem ra một vò rượu bự pha với chanh tươi. Và sau đó bưng một khay đựng ly. Lão Clemenza mời những người được phỏng vấn uống rượu và hút thuốc lá. Khi đã xong, bọn đó đã đi khỏi, già Clemenza quay ra hỏi Michael:
– Trong đám này, em có thấy đứa nào coi bộ không ổn không?
– Cháu cũng thấy vậy vậy cả. Bộ tất cả đều muốn qua bên ấy.
– Đợt vừa rồi mình bị hao người quá. Rồi lại phải loại bỏ một số máu xấu. Bởi vậy, giờ mình phải bổ sung quân số. Khi nào em về và triển khai kế hoạch, có thể còn hao nhiều người nữa. Cứ khoảng năm năm, qua lại về đây, tuyển lấy một mớ độ mươi mười lăm tên, rồi chính qua đảm đương việc huấn luyện, sau đó đem sang bên ấy. Lúc đầu mình trao những việc lặt vặt – thu thuế, gác cửa… chẳng hạn, sau khi “có nghề” kha khá, và nhất là có lòng trung thành, lúc mình ướm coi bộ xài được thì khi có cơ hội, mình đem trắc nghiệm lần trót, bằng cách cho vào trận, thử lửa. Nhưng cái này cũng phải rất cẩn thận. Một khi chúng có tay nghề vững chúng sẽ được cho biết là đời chúng sẽ đảm bảo cho đến lúc “tịch”, nếu chúng trung thành với mình. Tụi ở đây đều biết qua tuyển người cho gia đình Corleone. Do đó đứa nào cũng mong được gặp qua. Nhưng trước khi gặp “qua thì nó đã phải được tay ông anh của qua nắn gân, sơ tuyển trước đã, không có một đứa nào có thể trực tiếp đến gặp qua, nếu nó không được đôi mắt nhà nghề của ông anh qua xem xét trước.
Michael đưa mắt nhìn quanh khu vườn trông hòa đủ màu, và cây ăn trái – nào chanh, nào ô – liu. Cũng có cả bức tượng ở một cái giếng cổ được rinh về đây. Và những bức tượng mới là tượng các chư Thánh. Bức tường bao quanh, sơn vôi màu hồng. Toàn bộ khung cảnh đẹp đẽ ấy được trao cho mười hai “Sứ đồ” dao búa ngày đêm canh gác.
Trưa hôm sau, chiếc Fiat lại xuất hiện ở tòa biệt thự, cũng vẫn Andolini lái xe. Ngoài gã ra, còn một cô gái với suối tóc nâu đậm dài, khuôn mặt trái xoan, trông cứ như tranh vẽ Đức Thánh Mẫu. Khi cô gái ra khỏi xe, Michael thấy là cô ta đã có bầu. Bộ đồ xoàng xĩnh kiểu phụ nữ Sicilian. Có khác chăng là may bằng vải hoa, nền trắng, chứ không phải màu đen truyền thống. Nhưng khuôn mặt của cô ta đẹp đến nỗi cái áo xấu xí tầm thường kia đã không làm giảm được vẻ đẹp ấy đi chút nào.
Michael cũng ngạc nhiên khi thấy khuôn mặt nhỏ nhắn của giáo sư Hector Adonis ló ra ở khuôn cửa sau xe. Chính ông đã giới thiệu với Michael tên của cô bé là Justina. Cô ta chẳng có cái vẻ e lệ, bẽn lẽn của một cô gái. Và tuy chỉ mới mười bảy, khuôn mặt đã có cái nét già dặn của một người đàn bà, như thể đã nếm trải nhiều mùi cay đắng của cuộc đời. Khi được giới thiệu, cô ta chăm chú nhìn Michael trước khi gật đầu chào, như đang cố phát hiện nơi hắn có nét lừa lọc, cạm bẫy gì không.
Một trong hai mụ già ở nhà này đến, dẫn cô ta vào phòng dành sẵn cho cô. Andolini lấy hành lý của cô ra khỏi xe. Chỉ là một va – li nhỏ. Và chính tay Michael xách va – li ấy vào nhà.
Tối đó, tất cả ngồi ăn cơm chung. Giáo sư Hector Adonis ở lại. Adolini đã lái xe ra về. Trong lúc ăn, họ bàn kế hoạch đưa Justina đi Mỹ. Già Domenic Clemenza cho biết tàu đi Tunis đã sẵn sàng. Và luôn luôn sẵn sàng. Vì thế không biết Guiliano đến lúc nào. Và đến là có thể “dông” liền. Lão mỉm cười và tiếp:
– Không biết hắn có đem theo ông bạn quỉ quái nào của hắn không.
Peter Clemenza cho biết lão sẽ đích thân hộ tống Justina đến tận Tunis và làm mọi sự để chắc chắn cô ta đi trót lọt với cái tài liệu đặc biệt của cô ta, nhất là vào được Hoa Kỳ mà không gặp một trục trặc sơ hở nào, dù rất nhỏ bé. Sau đó, lão sẽ quay lại biệt thự này.
Tới Hoa Kỳ, Justina gửi mật mã về. Lúc đó, cuộc “hành quân” chót để giải cứu Guiliano mới bắt đầu.
Trong bữa ăn, Justina rất ít nói. Già Domenic hỏi cô ta xem ngay đêm nay, cô ta có thể làm tiếp cuộc hành trình nữa sau một ngày mệt nhọc như vừa rồi không.
Nghe cô ta trả lời, Michael hiểu ngay tại sao Guiliano lại mê con bé này đến vậy. Đôi mắt đen, sáng. Chiếc cằm thon, nhưng lộ vẻ cương quyết. Cái miệng của một phụ nữ Sicilian táo tợn. Và giọng nói dõng dạc:
– Đi thì đâu có mệt bằng làm lụng. Và đâu có nguy hiểm bằng trốn tránh. Ở trên núi, ở ngoài đồng với bầy cừu mà cháu còn ngủ được, nữa là trên tàu thủy, trên máy bay. Ở những chỗ đó chắc chắn là không có lạnh lẽo như trên núi, ngoài đồng chớ?
Cô ta nói với cái vẻ hãnh diện, hiên ngang, thách thức với tuổi trẻ. Nhưng khi nâng ly rượu lên, tay cô run thấy rõ:
– Có điều cháu sợ là Turi không thể nào thoát được. Không hiểu sao anh ấy lại không đi cùng với cháu?
– Justina, – Giáo sư Hector Adonis nhẹ nhàng nói, – Nó không muốn con phải chịu sự nguy hiểm khi có nó bên cạnh. Sự đi lại của nó khó khăn gấp bội. Vì không thể lường được hết những bất trắc. Bởi vậy phải cẩn thận hơn nhiều.
– Cô Justina, – Peter Clemenza nói, – Đêm nay, tàu sẽ chở cô đến châu Phi, trước lúc rạng đông. Bởi vậy, có lẽ cô nên đi nghỉ sớm.
– Không, – Justina đáp, – Cháu không có mệt. Vả lại, cũng thấy hồi hộp quá, nên chắc có đi nằm thì cũng chỉ nằm đó, chứ ngủ thì chắc không được. Cho cháu một ly rượu nữa, được không?
Già Domenic rót cho cô ta một ly:
– Uống đi! Tốt cả cho đứa nhỏ trong bụng và giúp cho cô dễ ngủ. Guiliano có nhắn gì cho chúng tôi không?
Justina mỉm cười, có dáng buồn bã:
– Cả tháng nay cháu có gặp được anh ấy đâu. Aspanu là người duy nhất anh ấy tin cậy. Nói vậy không có nghĩa là ảnh nghi ngờ cháu phản bội ảnh. Nhưng đối với ảnh, cháu là một điểm yếu. Ảnh sợ người ta dùng cháu để bắt chẹt, để bẫy anh. Cũng là do ảnh đọc mấy cái tiểu thuyết, nói là tình yêu đối với đàn bà thường là mạt lộ của các anh hùng. Sự nghiệp anh hùng mà cứ dính vào đàn bà đó là tiêu. Và, tất nhiên, chẳng bao giờ ảnh hé răng cho cháu biết dự tính, kế hoạch của ảnh.
Michael tò mò, muốn tìm hiểu thêm nữa về Guiliano, con người có lẽ sẽ là chính hắn, nếu ông già hắn sinh sống tại Sicily. Somny đã từng là một con người như vậy. Hắn hỏi Justina:
– Cô đã gặp Turi trong trường hợp nào?
Cô bé cười hào sảng và vui vẻ nói:
– Cháu yêu ảnh từ lúc cháu lên bảy tuổi. Cách đây khoảng chừng bảy năm, lúc đó Turi mới sống ngoài vòng pháp luật, nhưng đã nổi tiếng khắp trong thị trấn nhà cháu, một thị trấn nhỏ bé ở Sicily. Bữa đó, cháu và thằng em trai đi làm ở ngoài đồng với ba. Ba đưa cho hai chị em tờ giấy 5 lire, biểu đưa về cho má, làm gì đó cháu không nhớ. Lúc đó hai chị em cháu ngốc lắm kìa. Tụi cháu vừa đi vừa cầm tờ giấy bạc mà phất như người ta phất cờ vậy đó. Lần đầu tiên mới được cầm đồng tiền lớn vậy mà. Hai thằng cớm đang đi, thấy vậy, chúng “chớp” mất. Hai chị em kêu khóc, đòi lại thì chúng cười hô hố. Tụi cháu không biết làm sao, không dám quay trở lại nói với ba. Cũng không dám về nhà nói với má. Hai đứa cứ ngồi chỗ đó vừa khóc vừa trách móc lẫn nhau, vừa chửi lại thằng cớm ăn cướp. Cho đến lúc tối sẫm, Turi ở trên núi xuống, đi qua. Anh cao, to, hơn hẳn mọi người đàn ông ở Sicily này. Cao to cứ như mấy ông lính Mỹ hồi chiến tranh đã đến Sicily này. Súng máy cầm tay, nhưng đôi mắt ảnh thật hiền từ, dễ thương và rất đẹp trai. Anh hỏi tụi cháu: “Hôm nay là ngày lễ mà sao công tử ngồi đây khóc vậy? À, ăn vạ cô nương đây phải không? Còn cô nương, sao cô nương cũng đang làm xấu đôi mắt rất đẹp của cô nương vậy? Làm xấu đôi mắt đẹp tuyệt vời ấy thì ai còn dám cưới cô nương nữa chứ?” Rồi ảnh cười. Có lẽ vì thấy cảnh hai chị em bé tí tẹo ngồi mếu máo. Tụi cháu nói cho ảnh biết sự việc xảy ra. Anh còn cười lớn hơn nữa, và nói tụi cháu phải đề phòng bọn cớm, rằng tụi cháu phải học quá sớm cái bài học đầu tiên như vậy về cuộc đời thì thật đáng buồn. Rồi ảnh đưa cho chị em cháu cả nắm tiền, bảo đem về cho má. Và còn viết một cái giấy bảo đưa về cho ba. Cho đến giờ, cháu vẫn còn nhớ từng chữ anh ấy viết, như thế này: “Đừng rầy la hai đứa nhỏ xinh đẹp và dễ thương này. Chúng sẽ là niềm an ủi, là nơi nương tựa của ông bà lúc tuổi già đấy. Số tiền mà tôi cho lại chúng gấp mười lần số tiền đã mất. Và xin nhớ kỹ điều này: Kể từ hôm nay trở đi, ông bà và hai em nhỏ này được Guiliano bảo trợ”. Cháu nghĩ cái tên ấy chắc chắn là kỳ diệu lắm. Vì ảnh viết chữ bằng chữ hoa. Cả tháng trời sau đó, trong giấc mơ, cháu chỉ thấy cái tên ấy thôi. Đúng thế, chỉ có tên Guiliano. Nhưng, cái làm cho cháu yêu ảnh nhất là ảnh cảm thấy thích thú khi làm được điều lành. Anh thấy sung sướng khi giúp đỡ người khác. Và cho đến bây giờ, cái tính ảnh vẫn vậy, không thay đổi. Cứ như thể cho đi thì ảnh có lợi nhiều hơn cái ảnh đã cho. Cũng vì vậy mà xứ Sicily này, ai ai cũng thương ảnh.
Ông Hector Adonis nhẹ nhàng nói:
– Nhưng chỉ như vậy cho đến khi xảy ra vụ Portella della Ginestra.
Justina nhắm mắt lại và nói một cách đanh thép:
– Họ vẫn còn thương anh ấy.
Michael mau mắn hỏi tiếp:
– Thế rồi làm sao cô gặp lại anh ấy?
– Anh hai cháu là bạn của anh ấy. Và có lẽ ba cháu cũng bí mật nhập băng của ảnh. Cháu không rõ điều này lắm. Còn cái vụ cháu và ảnh lấy nhau thì chỉ có gia đình cháu, gia đình ảnh – mà cũng chỉ có ông già, bà già biết, chớ đám lau nhau cũng không được biết – và mấy “sếp” trong băng của ảnh biết. Turi bắt mọi người phải tuyệt đối giữ bí mật chuyện đó. Sợ bọn cớm bắt cháu.
Mọi người ngồi ở bàn đều kinh ngạc về điều này. Justina lần gấu áo, lôi ra một mẩu giấy nhỏ, có đóng dấu và đưa cho Michael. Nhưng, ông Adonis đã nhanh tay đón lấy, và đọc. Rồi, ông mỉm cười và nói với cô ta:
– Ngày mai, con đã đặt chân lên đất Mỹ. Thầy có thể báo tin vui này cho ông bà già của Turi được không?
Justina đỏ mặt, e thẹn:
– Họ cứ nghĩ là cháu chẳng có cưới cheo gì mà đã có bầu. Họ nghĩ xấu về cháu. Nhưng thầy cứ nói đi cũng được.
Michael hỏi tiếp:
– Cô đã nhìn thấy hay là đọc bản chúc thư của Turi bao giờ chưa?
Justina lắc đầu:
– Chưa. Turi không nói cho cháu biết cái đó.
Mặt già Domenic Clemenza bỗng trở nên buồn thiu. Nhưng lão cũng có vẻ tò mò. Michael nghĩ là lão nghe nói về bản chúc thư ấy. Nhưng coi bộ không tán thành. Sao lại có thể có nhiều người biết như vậy nhỉ? Tất nhiên, không phải là tất cả mọi người Sicilian đều biết. Nhưng, như vậy, dứt khoát có nghĩa là một vài tay chóp bu trong chính quyền Rome đã biết. Ông Trùm Croce đã biết. Giáo sư Hector Adonis bỗng lên tiếng:
– Già Domenic, tôi xin già cho phép tôi ở lại đây, cho đến khi nào nhận được mật hiệu của cô này từ bên ấy gửi về, đặng tôi có thể thu xếp để kịp báo cho Turi. Kể từ khi tôi nhận được tin, thì chắc không quá một đêm Turi cũng sẽ nhận được.

Google photo edit by Sơn râu

– Ấy chết, thưa giáo sư, tội nghiệp tôi phải nói là ngài đã ưu ái dành cho tôi cái vinh dự được đón tiếp ngài ở đây. Chỉ sợ ngài chê thôi. Chứ nếu ngài muốn lưu lại đây bao lâu, là hân hạnh cho bỉ nhân này bấy lâu. Nhưng thôi, đã đến lúc tất cả anh em mình nên đi nghỉ. Nhất là phu nhân đây lại cần phải ngủ một chút, để có sức mà chịu đựng cuộc hành tình dài và mệt nhọc ngay ngày mai. Vả lại, xin lỗi giáo sư, lúc này bỉ nhân cũng đã có tuổi rồi. Thức đêm, ngồi lâu, cái thân già rệu rã này nó ê ẩm lắm. Thôi, xin lỗi!
Lão giơ hai tay lên, vươn vai – như một con chim vươn cánh lấy trớn bay đi – đồng thời lão mời mọi người đứng dậy. Đích thân lão dẫn giáo sư Adonis vào phòng ngủ dành sẵn cho ông ta. Lão gọi mấy mụ già sửa soạn chỗ ngủ cho khách.
Sáng hôm sau, khi Michael thức dậy thì Justina đã đi rồi.
Giáo sư Hector Adonis ở lại đó hai đêm mới nhận được thư của Justina cho biết đã tới Mỹ bình an. Có một lời lẽ nào đó trong bức thư khiến cho Adonis an tâm, thỏa mãn. Sáng hôm sau, trước khi ra đi ông xin gặp riêng Michael.
Michael trải qua hai ngày bồn chồn, nôn nao, nóng lòng muốn trở về ngay bên ấy. Lời lẽ Peter Clemenza mô tả cảnh Somny bị sát hại khiến cho Michael không hiểu sao có linh tính về một sự chẳng lành cho Turi. Trong thâm tâm của Michael, không hiểu sao, hai người này cứ quyện vào nhau. Họ có một cái gì đó giống nhau. Cả hai đều có cảm thức như nhau về sự sống mãnh liệt, dữ dội và về quyền lực. Guiliano cũng cỡ tuổi với Michael. Chính Michael cũng bị tiếng tăm của Guiliano hấp dẫn, kích thích trí tò mò, tưởng tượng. Michael cũng cảm thấy cái gì đó như thể một tâm trạng lo âu khi phải mặt đối mặt với anh chàng Guiliano. Hắn cứ băn khoăn tự hỏi không hiểu ông già hắn có dụng ý gì khi đưa Guiliano về bên ấy. Hắn không hiểu, nhưng hắn không bao giờ nghĩ rằng ông già hắn hành động xốc nổi, bốc đồng, không suy tính chín chắn. Những ý đồ sâu hiểm, những mục tiêu xa xôi – nhưng dứt khoát không bao giờ có trường hợp ông già hắn hành động theo ngẫu hứng. Nếu không có ý đồ gì đó thì chẳng hóa ra sự trì hoãn ngày về của hắn thành vô ích sao?
Michael và Adonis cùng đi ra bờ biển. Những người gác đã chào họ “Vossia” (Chào các thủ lĩnh). Không một người nào đó tỏ ra khinh lờn, chế nhạo khi thấy con người có vóc dáng thấp bé, nhưng ăn mặc rất thanh lịch ấy. Sau chuyến đi đêm rồi, chiếc khinh tốc đỉnh đã lại nằm chờ đợi ở cầu tàu. Những người ở trên tàu đều võ trang “đến tận răng”.
Mặt trời tháng bảy ở Sicily rất nóng. Mặt biển Địa Trung Hải yên tĩnh, phẳng lặng như một tấm gương khổng lồ phản chiếu ánh mặt trời chói lọi. Michael và Adonis ngồi trên hai chiếc ghế đặt trên cầu tàu. Ông Adonis lên tiếng:
– Trước khi rời khỏi nơi đây, tôi có điều muốn nói với anh. Tức là điều quan trọng, rất quan trọng mà anh nên làm ngay thì mới có hy vọng cứu Guiliano.
– Tôi rất sẵn lòng!
– Anh phải tức tốc gửi ngay bản chúc thư ấy. Không cần công bố, chỉ cần cho chính phủ Ý và Ông Trùm Croce biết là bản chúc thư đã nằm trong tay ông cụ. Bấy nhiêu đó cũng đủ khiến phe kia không dám đụng đến Guiliano nữa, mà phải để cho Guiliano bình an qua bên ấy.
– Ông có mang theo chúc thư đó không?
Con người có vóc dáng nhỏ bé kia bẽn lẽn mỉm cười, nhìn Michael:
– Anh đã nhận được rồi mà?
– Ông có nhớ lộn không? – Michael sửng sốt. – Đã có ai trao cho tôi cái đó bao giờ đâu!
– Rồi!
– Hector Adonis thân mật đặt bàn tay nhỏ nhắn của mình lên cánh tay Michael. Lúc đó, hắn mới để ý và nhận thấy bàn tay của ông nhỏ nhắn và những ngón tay cũng xinh xắn dường nào. Cứ như bàn tay của chú bé con ấy thôi.
– Maria Lombardo, bà già của Guiliano đã trao cho anh rồi. Chỉ có bà và tôi biết cái đó để chỗ nào. Ngay cả ông già nó và Pisciotta cũng không biết – Thấy Michael nhìn chòng chọc vào ông, có vẻ không hiểu, ông nói tiếp: – Trong bức Tượng Đức Thánh Mẫu bằng gỗ mun đó. Đúng, bức tượng ấy là món duy nhất có giá trị của gia đình này. Mọi người đều biết điều đó. Nhưng, Guiliano đã được người ta cho một phiên bản giống y vậy. Có khác là phiên bản này rỗng ruột. Bản chúc thư được viết trên giấy mỏng. Mỗi trang đều có chữ ký của Guiliano. Chính tôi cũng đã góp ý kiến cho Guiliano thực hiện từ mấy năm về sau này. Ngoài ra, cũng còn một vài tài liệu chứa đựng nội dung rất động trời nữa. Turi luôn ý thức rất rõ cái kết cục bi thảm rất có thể xảy ra cho nó, do đó đã chuẩn bị sẵn. Vừa để ngăn ngừa vừa để đón nhận. Đó là một thanh niên có thiên tài về chiến thuật, chiến lược.
Michael cười:
– Còn bà già anh ấy cũng là một diễn viên thượng thặng.
– Người Sicilian thứ thiệt nào cũng vậy. Chúng tôi không bao giờ hoàn toàn tin cậy vào một ai. Luôn luôn, chúng tôi phải làm bộ này nọ trước mặt mọi người. Tất nhiên, ông già của Guiliano là đáng tin. Nhưng ông thuộc loại ruột để ngoài da, phổi bò, nông nổi, hớ hênh, phù phiếm. Pisciotta là anh em bà con và là bạn chí cốt của nó từ lúc hai đứa còn để chỏm. Stefan Andolini thì cũng tận trung đấy. Chính lão đã cứu mạng Guiliano trong một trận đụng độ với cảnh sát. Nhưng thời gian cũng có khi làm cho lòng người đổi thay. Ngòai ra tiền bạc, hoặc bị tra tấn… cũng có thể làm cho con người không giữ được lòng thủy chung. Ai mà biết trước được lòng người sẽ ra sao. Bởi vậy, tốt nhất là đừng cho mấy người này biết.
– Nhưng, anh ấy lại tin ông!
– Chính điều đó làm tôi hãnh diện, – Hector Adonis chỉ nói giản dị có vậy. Nhưng ông ta có vẻ trầm ngâm, do dự, và sau đó ngập ngừng nói tiếp: – Nhưng, anh cũng sẽ thấy Guiliano khéo léo và khôn ngoan như thế nào. Nó tin tôi trong vụ chúc thư. Nhưng lại chỉ tin Pisciotta trong việc bảo vệ mạng sống của nó. Bắt buộc cả hai chúng tôi sẽ cùng phải phản bội nó, nếu nó thất bại.





Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 2 Aug 2024

Google photo

7. Lũ trẻ chăn trâu

Thằng Hon quỳ xuống cúi mọp đầu mà lạy.

Nó lạy đến lần thứ hai mươi. Ông hương cả Bạch vẫn giữ nét mặt lạnh như đồng. Và mỉa mai thay, trong lúc nó tiếp tục cử hành cái lạy thứ hai mươi mốt, ông hương cả từ từ đứng dậy, đi vào buồng.

Ngoài này, nó ung dung lạy lần thứ hai mươi hai rồi nói mếu máo với người phía bên kia vách buồng:

– Trăm lạy cả, ngàn lạy cả, xin cả tha tội cho con, con hứa tìm cách chuộc tội.

Ông hương cả Bạch quát to:

– Bộ mày hát bội cho tao nghe, phải không Hon? Mầy kêu tao bằng thằng hương cả hả? Tao không biết gì ráo. Theo luật lệ, hễ mày làm mất của tao một con trâu, thì mày đền lại tao một con trâu. Tao ăn ở công bình, đâu có biểu mầy đền hai con.

Thằng Hon im lặng, bắt đầu tin tưởng nơi lòng nhân đạo của chủ nhà. Biết đâu sau cơn nóng nảy quát tháo, ông hương cả sẽ hả giận: Từ thái độ im lặng đến thái độ chịu lên tiếng mặc dầu lên tiếng để chửi quả là ông hương cả bộc lộ tình cảm dồi dào. Biết đâu, mai chiều ông sẽ tha tội.

Thằng Hon lầm to.

Hồi lâu, ông hương cả nói tiếp:

– Một con trâu, con trâu pháo, trị giá một trăm giạ lúa. Kỳ hẹn trong hai ngày, nếu mày không tìm lại được, tao bắt mày ở tù. Mầy thông đồng với bọn ăn trộm trâu. Tại sao con trâu pháo đi lạc giữa ban ngày? Năm nay mầy mười ba tuổi chớ đâu phải đứa con nít, còn bú? Trong lúc mầy ở tù, cha mầy ở nhà phải đền bồi đủ trăm giạ lúa, nghe chưa? Tao biểu mầy đi kiếm cho được con trâu pháo. Để quá trễ nải, nó đi lạc vô điền đất người khác hoặc tụi ăn trộm xẻ thịt phơi da nó. Mầy quỳ ở trong nhà tao hoài hả?

Nghe đến chuyện ở tù, thằng Hon chết điếng. Cha nó đã qua xóm Xẻo Bần đốn củi mướn. Biết nhờ cậy vào ai bây giờ? Ông hương cả bước ra:

– Ủa! Quỳ ở đó trừ nợ hả? Hay là mầy muốn tao lạy ngược để trả lễ cho mầy! Cha chả! Mầy mà sợ ai? Cực chẳng đã, thằng Hon đành xá dài, lui ra rồi đi thẫn thờ. Bầy trâu trong chuồng cứ dậm chân, mấy con nghé kêu lên “nghé ngọ” nghe thảm thiết. Từ hôm qua tới giờ này, ông hương cả đã niệt trâu trong chuồng, bắt buộc thằng Hon phải cắt cỏ đem về. Ông nói: “giao cho mầy dẫn trâu ra đồng cũng như giao cho quân ăn trộm”. Trâu dậm chân kêu “nghé ngọ” vì đói, vì mến thằng Hon, vì đòi chạy rong ngoài đồng.

Đôi mắt thằng Hon bỗng dưng rướm lệ. Nó nghĩ thầm:

– Trâu bị nhốt nhưng sướng hơn mình. Mình đi nghêu ngao như vầy chẳng khác nào bị ở tù.

Về đâu bây giờ?

Thằng Hon quyết định: Ra ngoài ruộng mà ngồi cho khỏe. Đến gốc cây mù u, nó sực nhớ đến nhiệm vụ cắt cỏ cho bầy trâu trong chuồng ăn. Nhưng nó quên đem theo cái liềm hái, chẳng lẽ trở vào nhà để gặp ông hương cả Bạch lần nữa.

Bên gốc cây mù u có ngôi miếu cổ dựng lên không biết từ đời nào, mái ngói rong rêu, mấy cây cột bị mọt ăn sắp ngã quỵ xuống. Lúc rảnh rang, nó thường vô miếu ngủ trưa hoặc nặn hình ông Thổ địa. Rồi được lũ trẻ chăn trâu chọn làm nơi đùa giỡn, miếu Thổ địa gọi là miếu chăn trâu. Người qua lại thường khấn vái, thỉnh thoảng họ cúng nải chuối hoặc con gà.

Tại sao kẻ chăn trâu làm mất trâu lại không khấn vái nơi miếu chăn trâu để cầu xin?Thằng Hon mỉm cười khi nghĩ ra biện pháp cuối cùng ấy. Nó bước vô miễu. Con cắc kè kêu vọng lên. Vài cánh dơi bay sập sận. Từ đám cỏ vàng úa dưới bệ, bầy muỗi bay vo ve.

Sau khi khấn vái, thằng Hon ngủ lim dim, chờ thần báo mộng.

Nắng xế dài. Nó chợt giựt mình thức dậy vì bên vách có giọng nói, long trọng:

– Ta đây là Tổ sư chăn trâu. Này đệ tử Hon ơi! Chẳng hay đệ tử cầu xin điều chi?

Thằng Hon dụi mắt. Đó là giọng quen thuộc của thằng Kia. Thằng Kia thuộc vào bậc đàn anh trong làng chăn trâu. Nó nghiễm nhiên làm kẻ đầu đàn, bao nhiêu trẻ con chăn trâu trong vùng đều sợ. Nó lớn tuổi, điều ấy không đáng kể vì nếu cần đánh lộn chưa ắt nó mạnh khỏe, biết thế võ “xí múng” bằng mấy đứa khác. Có điều là thằng Kia tự xưng dòng dõi “chăn trâu nòi”. Mỗi khi bày trận đánh giặc hoặc xưng vương, thằng Kia ngồi chễm chệ trên chòi cây mù u. Đôi khi còn ngạo mạn, nhảy trên bệ thờ trong miễu, tự xưng là thần thánh, bắt buộc mấy đứa khác quỳ lạy.

Thằng Hon nói:

– Anh Kia à, ông hương cả biểu tôi kiếm cho bằng được con trâu pháo. Kỳ hẹn hai ngày.

Thằng Kia hất hàm:

– Nếu kiếm không được thì có sao không?

– Thì tôi ở tù, ba tôi bồi thường một trăm giạ lúa.

– Thằng cha hương cả này bộ khiến chết rồi sao chớ? May mà con trâu pháo thuộc loại trâu đực. Nếu là trâu cái, chắc “thằng chả” bắt thường một ngàn giạ lúa, bỏ tù mầy chung thân khổ sai, đày ra Côn Lôn.

Nghe nói tới bản án chung thân khổ sai, thằng Hon xúc động, khóc nức nở. Thằng Kia cười to:

– Tao nói chơi vậy thôi. Mầy biết tại sao một ngàn giạ lúa không? Trâu cái có giá trị hơn trâu đực. Thằng cha hương cả làm bài toán: trâu cái cứ hai năm đẻ một lần và mỗi lần đều phải sanh đôi cho vừa túi tham của “thằng chả”.

– Anh giúp tôi. Không hiểu con trâu pháo chạy lọt về đâu?

– Tao là dòng dõi “chăn trâu nòi”. Ông nội tao, cha tao, rồi tới tao, ai nấy đều nối nghiệp chăn trâu. Tao nói đâu đúng đó. Mầy đừng hỏi ông Thổ địa chi, tao có cách này: Mầy rửa mặt, ăn no ngủ kỹ, rồi thì tai qua nạn khỏi.

Rồi thằng Kia đặt nhiều giả thuyết về trường hợp con trâu pháo đi lạc. Xưa nay, lời tục thường nói: “lạc đường dắt đuôi chó, lạc ngõ dắt đuôi trâu”. Nếu vì ham ăn cỏ non mà đi lạc, lẽ dĩ nhiên trâu nhớ chuồng cũ mà trở về. Nhiều người mua trâu từ nơi xa, sơ ý để sút dây vàm, trâu chạy trốn bốn năm chục cây số để “đáo lai” chuồng cũ.

Thằng Hon sốt ruột hỏi:

– Nhưng con trâu pháo bây giờ ở đâu?

– Ở gần đây chừng hai cây số mầy biết không? Miệt này ai cũng nghe danh điền tổng Bồi. Ai muốn vô điền ổng thì phải xin phép trước, bằng không ổng bắt đóng trăn. Mấy con trâu của tổng Bồi đều có đóng dấu nơi sừng và bên hông. Ổng nướng con dấu bằng sắt rồi “ịn” vô. Con trâu pháo của mầy nhất định đi lạc qua điền của ông tổng Bồi. Ổng tịch thâu rồi “ịn dấu”. Trời mới dám nhìn. Mầy láng cháng tới đó, ổng bắt mầy luôn. Con trâu pháo đã vô sổ bộ của ông.

– Để tôi trình cho ông cả Bạch hiểu đầu đuôi.

– Hừ! Hương cả Bạch là hạng người khôn nhà dại chợ. Oai quyền của ổng không bằng một sợi lông chân của tổng Bồi! Đừng lo. Tao là “chăn trâu nòi” mà! Mầy cứ làm như vầy, như vầy, ra tay cho khéo. Mầy về giả bộ lạy lục ông hương cả Bạch rồi xuống bếp xin cơm nguội mà ăn, nhớ nghe không?

Thằng Hon gật đầu, nói giọng bí mật:

– Dạ, tôi nhớ rồi.

– Nhớ chỗ đó kia! Phải đánh đúng chỗ “nhiệc” của ổng. Ngoài mầy ra, không ai làm được chuyện đó.

– Dạ, tôi thấy mà. Chỗ đó tôi biết. Tôi thấy chỗ đó rồi.

Hai đứa cởi quần áo nhảy xuống vũng để tắm mát. Thằng Kia quả là người bạn tốt, xứng danh “chánh vì vương”. Nó cười ỏm tỏi:

– Tối nay tao làm công việc khác. Nhớ ra ngoài miếu này gặp tao, đầu canh tư. Nếu không gặp tao, mày nằm trong miếu mà chờ đợi. Cha chả! Vui cha chả là vui. Biết đâu qua trận này, tụi mình có vợ ráo trọi. Nhớ cái chỗ nhiệc (nhược) đó!

°

Trời tờ mờ sáng.

Ông Từ giữ nhang khói đình làng Khánh Van đã thức dậy. Tuổi già sức yếu, ông có tật thức vào đầu canh năm rồi ngồi bên căn chái phía sau đình.

Siêu nước sôi lên nghe vui tai. Tiết trời như lành lạnh. Lát sau ông pha trà, rót ra một cái tô lớn. Mấy hớp đầu tiên đem cho ông Từ niềm ấm áp nhưng hương vị của tô trà không mấy đậm đà.

Ông nhướng mắt nhìn vào đáy tô. Không có gì hết!

Ông hinh hỉnh lỗ mũi vừa hớp vừa đánh hơi.

“Lạ thật! Tô trà phảng phất mùi hôi hám gì khó chịu”. Quá tức giận, ông giở nắp ấm, đổ tất cả nước sôi và xác trà vào cái chậu để phân chất. Ông cau mày vì đã đoán lầm: nước và xác trà đều tinh khiết, đâu có lẫn lộn chút phân chuột, phân dơi!

Gió thổi thoang thoảng. Mùi ô trược lại xuất hiện mơ hồ, bàng bạc đó đây. Ông Từ đã hiểu: mùi ấy ở chỗ khác. Lập tức ông bước xuống đất, khom lưng, nhướng mắt tìm cái xác chuột chết dưới gầm giường.

Gầm giường rất sạch sẽ! Bây giờ ông mới sảng sốt, mở toang cánh cửa liếp. Mùi ô trược bay lộng vào. Ông chạy ra sân, thấy trên bãi cỏ một đống phân người.

Vốn là kẻ hiền lành, ông ngẫm nghĩ:

– Ai thù oán mình mà họ bày trò vô lễ này? Mình nghèo khổ, làm tôi tớ quét dọn trong đình mà thôi.

Đột nhiên, ông nhớ đến thủ đoạn của bọn đạo chích. Sau khi rình nhà ăn trộm vài món lặt vặt, chúng thường phóng uế để “xổ xui” trước khi rút lui. Nhưng ngôi đình này đâu có gì quý giá! Lập tức ông ra trước sân rồi trở lại gian chái để tìm cái chìa khóa.

Ông trở lên mở khóa. Nhưng hỡi ơi! Cái ống khóa bị bẻ gãy tự bao giờ. Trong chánh điện, mất một con hạc bằng cây. Con hạc còn lại thì nằm nghiêng trên nền gạch. Trong hàng “lễ bộ” đã vắng dạng một cây kích, một cây chùy bằng cây. May phước quá! Bộ lư vẫn còn. Ngoài ra chẳng mất món nào khác.

Tại sao con hạc lại bay, với đôi cánh bằng cây? Và ai đã lấy trộm cây chùy, cây kích? Loại khí giới bằng cây ấy dành để cho kép hát bội dùng chớ ai sờ mó làm gì? Đây là vụ trộm có ác ý, có tổ chức.

Bấy giờ ông Từ sực nhớ tới trách nhiệm nặng nề của mình, hương chức làng sẽ khiển trách. Tại sao ăn trộm vào đình mà không hay biết? Ông nghĩ ra một kế: hốt sạch đống phân rồi tất tả chạy đến nhà ông hương cả Bạch, vị chánh bái của đình. Suốt mười năm qua, ông hương cả giữ chức ấy và được giao cho trách nhiệm giữ “sắc thần” là cái bằng cấp, do triều đình ban cho để thờ phụng. Bình thường, sắc ấy cuốn tròn lại cất giấu kỹ lưỡng tại nhà ông cả. Tới ngày kỳ yên, hương chức thỉnh sắc ấy tới đình, lễ xong đem cất tại chỗ cũ sợ xảy ra trường hợp sắc thần bị trộm đem bán cho những đình làng chưa có sắc.

– Chuyện gì vậy? Làm gì mà tới sớm vậy?

Ông Từ đã nghiên cứu từ trước những lời lẽ mà ông phải nói để trút bớt trách nhiệm và tăng thêm phần long trọng:

– Trời ơi! Ghê gớm quá. Tôi nằm chiêm bao thấy ông thần hiện về, râu tóc bạc phơ. Ổng nói với tôi rằng cơ trời thay đổi.

– Thiệt vậy sao? Ông thần làng này linh lắm. Xưa kia ổng làm tới chức cai đội trong cơ binh của vua Gia Long. Ổng bị quân Tây Sơn xử trảm. Từ đó ổng sống phảng phất trên trần gian này.

Ông hương cả vừa hỏi ông Từ, vừa liếc lên trang thờ, nơi ông đã cất giữ cái sắc thần. Nhưng ông chỉ nhìn từ phía sau trang thờ.

Giọng ông Từ thêm phần bi ai:

– Ông thần làng mình thật là linh thiêng. Ổng nói, cơ trời thay đổi rồi lại đổi thay, như giấc chiêm bao.

Ông hương cả gật đầu, cau mày:

– Thay đổi rồi lại đổi thay, nghĩa là không có gì thay đổi ráo trọi. Giấc chiêm bao đó mơ hồ, khó tin.

Ông Từ cúi đầu nói khẽ:

– Nhưng trước khi từ biệt đình làng, ông thần liền hóa phép, đem theo một con hạc để ông cỡi rồi ông vung hai tay, cầm cây chùy và cây kích. Tôi giật mình thức dậy, lên chánh điện thì rõ ràng, mấy món đó mất dạng.

Ông hương cả Bạch sửng sốt đứng dậy, bước nhanh ra trước nhà, nơi phòng khách, để nhìn kỹ lên trang thờ, đôi mắt ông ròn xoe:

– Trời! Cái sắc thần đã mất. Ai lẻn vào đây ăn trộm vậy kìa! Chết cha! Phen này… tội nặng lắm.

Ông Từ được trớn bèn kết luận:

– Ông thần cỡi hạc bay đi thì làm sao cái sắc thần còn ở trên trang cho được. Rõ ràng, hai chuyện này dính dáng với nhau.

Nói xong, ông Từ vuốt râu mỉm cười, chua xót, thấy mình tuy có tội lớn với dân làng nhưng không “tày trời” bằng tội của ông cả Bạch.

Ông hương cả Bạch đã già trên sáu mươi tuổi. Trong phút giây ông chợt đoán ra phần nào sự thật. Để tròn trách nhiệm, ông nghĩ ra một ý kiến táo bạo:

– Truyền cho dân làng đánh mõ, đánh trống lên để tri hô, tìm bắt thủ phạm. Nó ăn cắp “sắc thần” rồi! Đình mà không có sắc thần thì tai họa xảy tới. Vái trời.

Ông Từ bươn bả ra cửa, vừa chạy vừa tri hô. Ông hương cả chạy theo. Bầy trâu trong chuồng dậm chân, trâu con kêu nghé ngọ vì đói, hôm qua thằng Hon không thèm cắt cỏ! Lần đầu tiên từ mấy năm qua. Ông nói gằn, to giọng:

– Đ.m. nó!

Rồi ông kềm hãm cơn phẫn nộ:

– Phen này mình thua trí thằng con nít.

Độ mười phút sau, dân làng nhốn nháo đến mé rạch, bao vây các khu vườn, chận xét những ghe xuồng lạ mặt, cãi vã nhau, đặt ra hàng trăm giả thuyết về quá khứ vị lai:

– Chắc làng này có hạn hán, bão lụt, mắc ôn mắc dịch, hoặc hồi năm ngoái, hương chức định gian lận tiền lạc quyên, nên thần mới giáng họa!

Bỗng nhiên vài người la hoảng:

– Tại sao mình không bơi xuồng rượt theo kẻ trộm. Nó ở dưới sông, mình kiếm trên bờ vô lý quá.

Ông hương cả Bạch chợt thấy hai cậu thanh niên đứng trong đám đông. Đó là thằng Kia thuộc giòng dõi “chăn trâu nòi” và thằng Hon, đứa làm mất con trâu pháo của ông. Hai đứa đứng ưỡn ngực, chống nạnh. Ông muốn nắm đầu tụi nó, đánh cho một trận, chưa chi chúng nó đã cút mất mạng? Ông muốn tố cáo thật to, nhưng với mớ tóc bạc, già dặn trường đời, am hiểu tâm lý dân làng, ông mỉm cười, giữ im lặng, tính toán cẩn thận:

– Rủi hai đứa nó giấu luôn cái sắc thần thì sao? Cái sắc thần quý hơn con trâu pháo. Mình cần giữ chức chánh bái trong đình để góp tiền cúng tế, góp tiền tu bổ đình hàng năm và để chết có danh. Mất con trâu pháo, mình còn sắm được con trâu khác, chớ mất sắc thần, mất chức vị chánh bái thì làm sao chuộc được.

Tiếng cười bỗng ồn ào lên, từ bờ rạch:

– Gặp rồi! Cái sắc thần, con hạc với cây chùy, cây kích nằm trên bè chuối. Tụi ác ôn nào đó thả ông thần xuống bè, để trù rủa làng mình. Chắc là mấy ông hương chức ở làng kế bên phá rối làng mình. Họ thấy làng mình có ông thần linh hiển rồi ganh tị.

Ông hương cả Bạch nói gắt:

– Không đâu. Dòi trong xương dòi ra.

Rồi ông chạy tới nơi. Cái sắc thần cuộn tròn chắc là còn để trong cái ống tre sơn son. Kế bên là con hạc bằng cây nằm nghiêng, vì đã gãy chân. Cây chùy, cây kích trơ trẽn quá! Chiếc bè chuối trôi lờ đờ. Một người lên tiếng:

– Ai dám vớt cái bè đó vô bờ. Rủi ông thần vặn họng thì sao?

Ông hương cả nói gằn từng tiếng:

– Xưa nay, chỉ có mấy ông chăn trâu mới dám vớt bè. Mấy “ổng” là con cháu ông Thần Nông. Mấy ổng dám vớt bè tống ôn để ăn đầu heo, ăn gà vịt cúng tế. Bây giờ thì…

Nói tới đó, ông đưa mắt liếc vào đám người, thấy dạng thằng Kia và thằng Hon. Ông nói tiếp, giọng xa xôi:

– Bây giờ mời con cháu ông Thần Nông ra tay giúp dân làng.

Hàng trăm cặp mắt đổ dồn về phía thằng Kia và thằng Hon. Thằng Kia nói to, cố ý cho thằng Hon nghe riêng mà thôi:

– Để tao! Tao là “chăn trâu nòi”, tao có “cô hồn” hơn mầy. Mầy đứng đó, đừng lăng xăng hư việc hết.

Thằng Kia ưỡn ngực từ từ tiến về phía ông hương cả Bạch. Ông hương cả thiếu điều muốn ăn gan nó. Nó muốn cười thật to. Nó mím môi lại rồi nói như đùa giỡn:

– Chắc ở làng này con nít chăn trâu bị ăn hiếp nên ông thần mới bị phiêu bạt làm vậy. Ông thần đau xót vì con cháu ông Thần Nông gặp nạn. Ổng nghĩ rằng ổng không còn linh thiêng hay là ổng giận nên ổng từ giã làng này.

Ông Từ sực nhớ tới mùi “thoang thoảng” bên tô trà hồi sáng nên nói to:

– Thiên hạ hiểu rồi! Thỉnh sắc thần lên đi cha nội ơi!

Thằng Kia đáp:

– Từ rày dân làng hứa ăn ở hiền lành với tụi tôi mới chịu vớt bè.

Nó cởi áo nhảy xuống rạch, nói với lại:

– Sau khi tôi vớt lên, phải cúng vái tạ tôi nghe không? Cúng đầu heo rồi thả bè cho tụi tôi vớt lên ăn chơi.

Ông hương cả nói to:

– Kia ơi là Kia! Tao lạy mầy đây nè!

Rồi ông nhìn thằng Hon:

– Hon ơi là Hon! Tao lạy mầy rồi mà!

Hôm sau thằng Hon tiếp tục giữ trâu cho ông cả Bạch. Bầy trâu được thả ra đồng ăn cỏ. Ông hương cả chẳng nói nặng nhẹ tiếng nào cũng không nhắc nhở việc bồi thường con trâu pháo. Thằng Hon tiếp tục “nằm trâu, thổi sáo mơ đời Thuấn Nghiêu” như câu ca dao đã truyền tụng.

Biển cỏ  miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 2 Aug 2024

Google photo

6. Kéo trúm

Năm ấy tôi là một công tử vườn ở làng Đông Bình, vùng khỉ ho cò gáy, chưa khai hoang. Mỗi năm, có đến tám tháng nước mặn tràn vào rạch. Khi nước bắt đầu ngọt thì sanh ra một thứ tai nạn: muỗi bay từng bầy suốt ngày, dẫu là lúc trưa nắng.

Đáng lý ra, với chút ít chữ nghĩa, tôi đã rời xóm làng, ra chợ Rạch Giá tìm sở làm cho ra vẻ thầy thông thầy ký. Nhưng tôi vẫn cương quyết bám lấy quê cha đất tổ! Thái độ hiên ngang ấy không phải là lòng yêu nước. Chẳng qua là tánh ham chơi, muốn làm ít, hoặc không cần làm mà vẫn có ăn, ăn ngon.

Suốt ngày suốt tháng, tôi dạo la cà từ xóm này qua xóm kia, hết ăn là nói. Nói cho bà con trong xóm nghe đại khái nhưng mẩu chuyện Tam Quốc, Tiếu Lâm, Ba Người Lính Ngự Lâm Pháo Thủ. Lẽ dĩ nhiên tôi đã thu hút cảm tình của thính giả. Dầu tôi nói sai, thì chẳng ai cãi lại vì có ai biết chữ đâu mà đọc sách.

Thế mà có kẻ dám khuấy rối cuộc sống yên lành của tôi. Kẻ đáng xử tử ấy chính là ông Phô Nô. Tôi biết ông ta trong một trường hợp bất ngờ. Ông ta gửi một bức thư khá thân mật mời tôi đến tư thất để bàn về một vấn đề… sẽ cho biết sau.

Tư thất của ông Phô Nô là cái đồn kiểm lâm cách xa làng Đông Bình chừng mười cây số. Ông Phô Nô hơi già, ở trần khi chào tôi. Tôi hơi giận và bắt đầu khinh ông ta: trên ngực ông ta có xâm hình quá tục tĩu, lốm đốm vài miếng lác ướt. Tôi sực nhớ đến nét chữ trong bức thư của ông ta: Tệ quá! Viết trật văn phạm, khó đọc, “con cua con còng” như tuồng chữ trẻ con lớp đồng ấu! Tôi nghĩ thầm:

– Chắc hồi ở bên “mẫu quốc” ông ta làm củi, ban bù… Sau vài phút ăn nói xã giao, tôi được nghe ông Phô Nô trình bày tiểu sử và thành tích chiến đấu. Hồi Âu Châu đại chiến 1914-1918, ông ta làm lính giữ súng đại bác 75 ly, rủi bị thương nhẹ nên ông tra trở thành “ân nhân của tổ quốc” được ưu tiên qua thuộc địa, lãnh chức kiểm lâm.

Ông ta gật gù:

– Ở đây sướng quá. Làm ít công việc mà ăn lương hơi nhiều.

Tôi hơi bực dọc, nói mơ màng:

– Đó là tình trạng chung. Xứ tôi, mọi người đều làm ít nhưng cũng ăn no đủ mặc dầu thiếu chất bổ.

Ông Phô Nô mỉm cười bí mật, mời tôi ở lại ăn cơm Tây: ngon quá, món nào cũng lạ miệng. Nhứt là đồ gia vị nào hột cải, dầu ô liu, dấm tây trộn cải xa lách. Vừa ăn ông ta vừa hỏi đến sự sanh hoạt của nông dân. Tôi trả lời:

– Nói chung, ai nấy đều sung sướng.

Ông Phô Nô trố mắt:

– Thiệt vậy à? Họ chưa ăn bít-tết, ra-gu.

– Thưa ông, dân ở vùng nước mặn đồng chua có bốn thức ăn sang trọng. Đó là lươn, ếch, rùa, rắn! Cá, tôm, thịt bò, thịt heo là món hơi nhàm.

Ông Phô Nô gật đầu:

– Mấy thứ đó ở đây sản xuất khá nhiều. Hổm rày, tôi muốn tìm cách bắt buộc dân chúng đóng thuế.

Nghe qua, tôi cố gắng nín cười. Phải chăng ông Phô Nô liệt các loại lươn, rùa, ếch, rắn vào hàng thú rừng như cọp, heo, nai, voi.

Ông ta giải thích:

– Theo pháp luật, họ phải đóng thuế.

Tôi đưa ý kiến:

– Khi nào họ bán ra chợ Rạch Giá hoặc bán lên Sài Gòn thì sẽ đóng thuế. Theo chỗ tôi hiểu thì nhà nước thuộc địa đã thâu thuế môn bài nhà vựa cá…

– Bên Pháp, vào rừng săn bắn là phải đóng thuế. Huống gì mỗi năm, ở làng nhiều người làm giàu nhờ lươn. Đây là bằng cớ: Tại làng Đông Bình, có tên… Năm Lươn cưới hai con vợ, nhờ nghề bắt lươn. Anh ta giàu lắm, mỗi tuần ra chợ Rạch Giá bán gần 200 ký lô lươn sống. Tên thật anh ta là Trần văn Lượm, vì bắt lươn quá giỏi nên dân chúng tặng biệt hiệu là Năm Lươn!

Cái tên Năm Lươn này như quen tai, nếu không lầm thì dường như tôi đã từng nhậu với anh đôi ba lần tại nhà người bạn quen nào đó. Anh ta ở giữa đồng không mông quạnh, bạn bè ít tới lui vì đường sá khó khăn. Hễ đi bộ thì thiếu đường mòn, cỏ mọc cao nghệu đầy cánh đồng, còn đi xuồng thì nước ngập lé đé khỏi mặt đất chừng ba tấc.

Ông Phô Nô nói tiếp:

– Tôi nhờ anh điều tra tên Năm Lươn. Tại sao hắn sản xuất quá nhiều lươn như vậy. Hai trăm ký lô mỗi tuần, mỗi ký lô ba con, tức là sáu trăm con lươn.

Nghe đến công tác mà ông ta giao phó, tôi hơi phiền. Mặc dầu việc điều tra ấy có vẻ lịch sự không gây sự hiểu lầm nhưng tôi không muốn. Trót ăn bữa cơm Tây của ông Phô Nô rồi. Tôi hứa qua loa.

Trước khi chia tay, ông Phô Nô rỉ vào tai tôi:

– Năm Lươn là đứa bí mật, làm nghề thầy bùa. Coi chừng nó. Cực chẳng đã, tôi nhờ tới anh. Hồi tháng trước, hai người lính kiểm lâm tới làng Đông Bình theo dõi nhưng Năm Lươn không chịu xuất hiện. Ban ngày, nó nằm nhà. Thỉnh thoảng, nó tới mấy cái thềm đìa, gò mả mà nằm ngủ hoặc ăn cơm một mình.

Tên tuổi Năm Lươn, ai cũng biết. Và ai cũng nhìn nhận anh ta đặt trúm rất giỏi, dùng thuốc men bí mật hoặc bùa phép.

Xin nói đôi hàng về con lươn. Hình dáng ra sao, thịt nó ăn ngon như thế nào, ai cũng hiểu. Muốn bắt, ta đặt trúm. “Trúm” tức là cái ống tre, dài hơn một thước tây, giống như khẩu súng ba-dô-ca, một đầu thì sẵn có cái mắt tre (đốt tre), đầu kia có gài một cái hom, giống như cái quặng (cái phễu). Lươn chui vào thì dễ nhưng trở ra thì khó. Muốn cho lươn chui vào phải có mồi nhử bên trong.

Mỗi người làm nghề bắt lươn sắm chừng một trăm ống trúm, đặt rải rác trên đồng cỏ mênh mông. Con lươn làm hang dưới đất, thở bằng mũi và mang. Khi đánh mùi ngon ngọt, lươn ra khỏi hang, tìm cách chui vào ống trúm để xơi mồi. Muốn đặt rải rác hàng trăm cái ống trúm, trên đồng cỏ dày bịt, mênh mông, phải sắm một chiếc xuồng, chở hàng trăm ống trúm. Rồi kéo chiếc xuồng lướt trên cỏ, cứ vài chục thước là đặt xuống một ống, tùy ý thích. Công việc nặng nhọc nhất là kéo chiếc xuồng khá nặng ấy, quanh co hàng ngàn thước. Và hôm sau, trở ra đồng cỏ, đem ống trúm về, không bỏ sót.

Do đó người bắt lươn được gọi là người “kéo trúm”. Gặp Năm Lươn là chuyện dễ. Anh ta tôi đã từng nghe biết!

– Ủa, cậu Ba! Bữa nay lên xứ này chơi hả?

Tôi đáp:

– Cậu Ba, cậu Tư gì! Kêu tôi bằng em cháu, bằng thằng cũng được. Tôi nhỏ tuổi hơn anh Năm nhiều. Đêm rồi kéo trúm khá không?

– Chừng năm chục kí lô. Mệt thấy mẹ…

– Một mình anh làm ra tiền bằng hai người khác. Mệt mà có tiền, anh còn đòi chuyện gì bây giờ.

Năm Lươn cau mày, rủ tôi tới chòi uống rượu chơi. Anh ta chỉ về phía xa xa, giữa cánh đồng hoang.

– Nhà tôi ở bờ đìa. Nhưng mà ra cái chòi này, vui hơn.

Rồi anh ta day mặt, nhìn về phía mé rừng tràm. Dọc đường, tôi hỏi:

– Chòi nào nữa? Nghe đồn anh Năm có tới hai vợ. Đằng kia là nhà của “bà lớn”, phía rừng tràm là nhà của “bà nhỏ” hả?

– Bà nhỏ ở xóm đình. Chòi này dành riêng tôi ở một mình cho khỏe thân.

Bấy giờ, vào khoảng tháng Năm. Mưa khá nhiều nhưng đồng cỏ chưa nổi nước. Từng bầy cúm núm bay bổng khi chúng tôi đến sát bên ổ. Lát sau, chúng tôi vào căn chòi. Hàng trăm cái ống trúm chất đống, theo trật tự, giống như những gốc củi xếp đặt sẵn từng thước khối, chờ giao cho thân chủ.

Chòi không vách, tấm lá chằm ngăn đôi. Phía trước là bộ ván ăn cơm, phía sau là giường ngủ.

Lời ông Phô Nô vang dội trong tâm trí tôi. Năm Lươn là người bí mật, biết bùa phép. Gẫm ra, tên do thám nào đó báo cáo cũng có lý. Xung quanh chòi, cây mua, cây lức mọc um tùm. Kế bên chòi, một cái đìa khá sâu, nước trong leo lẻo phản chiếu ánh nắng trưa. Thềm đìa quá rậm rạp. Rau muống bò lan tràn. Chuột chạy tới lui như đùa giỡn với mấy con rắn nước đang há mỏ.

Năm Lươn mở đầu câu chuyện:

– Không mấy khi, cậu lên chòi này chơi. Chắc là cậu muốn nói chuyện gì bí mật.

Tôi nhớ đến sứ mạng mà ông Phô Nô giao phó. Phải giữ kín mới được.

– Có gì mà bí mật. Tôi là dân nhậu mà, anh Năm.

Năm Lươn cười nheo mắt, hóm hỉnh:

– Khổ lắm. Vợ tôi cũng chẳng muốn tiếp rước bạn bè. Bà lớn bà nhỏ gì cũng vậy. Hai bả cho rằng tại tôi ăn nhậu mà tốn kém tiền bạc rồi sanh sứa, gây thiệt hại cho gia đình. Làm ra bao nhiêu tiền, giao mấy bả giữ, rốt cuộc tôi còn hai bàn tay không. Muốn mua thêm vài lít rượu uống nhưng khổ quá, làm sao có tiền? Tôi mua chịu ghi sổ ở tiệm Chệt.

Tôi đi ngay vào vấn đề:

– Anh siêng là một việc nhưng nhiều người siêng như anh mà tại sao họ thâu huê lợi ít hơn? Nghe đâu anh kéo trúm bá phát bá trúng, mỗi ống đều có một hoặc hai con lươn chun vô nạp mạng…

– Ừ! Chuyện đó không chối cãi. Nhưng tôi chẳng muốn dạy nghề cho ai biết. Con lươn bí mật lắm. Ra ngoài này, tôi chỉ cho mà xem.

Đến bên thêm đìa, chúng tôi ngồi xuống. Gió thổi lồng lộng, lướt qua đồng cỏ hoang vu. Ngọn cỏ quá sung sức, quá cứng nên không gợn như bông lúa, vang lên điệu nhạc buồn buồn, như tiếng ve sầu.

– Kìa! Nó lấp ló đó!

Tôi chăm chú nhìn qua phía bên kia bờ đìa. Năm Lươn đè vai tôi. Cả hai nằm mọp, không dám thở mạnh. Từ trong miệng hang, một đốm màu vàng xuất hiện, mỗi phút một to.

Tôi buộc miệng nói khẽ:

– Cái gì?

– Con lươn đó. Loại lươn già, sống hàng chục năm, có người nói nó sẽ hóa ra con chồn.

– Thiệt vậy hả?

Năm Lươn nói khẽ:

– Cứ xem thì biết.

Đầu con lươn to cỡ bắp tay, mắt nó him híp như kẻ buồn ngủ, đặc biệt là hai cái lỗ tai nó hiện ra bằng ngón tay út. Giống như mặt con chồn, giống chừng tám chục phần trăm.

Tôi hỏi:

– Tại sao nó không có chân?

– Bộ tôi là con lươn sao mà cậu hỏi tôi. Chắc nó chẳng bao giờ mọc chân.

– Tại sao nó không bò ra?

– Cậu này kỳ quá. Về già, chắc nó mệt mỏi, nằm một chỗ. Thân hình của nó ngắn ngủn hà, cậu ơi. Như cái đòn bánh tét!

Làm sao nó bay nhảy như mấy con lươn nhỏ? Bởi vậy, nó biết thân, nó nằm một chỗ trong hang vắng, ngày hai buổi ló mặt ra dòm mặt trời, mặt trăng. Hễ trời mưa, nó bò ra xem cỏ cây hoa lá…

Vậy thôi. Nó là con lươn già, thủ phận, vậy mà nhiều người cho rằng nó trở thành con chồn. Dóc quá. Ôi thôi.

Rồi Năm Lươn giải đáp câu hỏi thứ nhì của tôi. Theo ý kiến anh ta, tóc người chẳng bao giờ hóa ra cá trê hoặc con lươn. Hồi năm ngoái, tình cờ đào đất trên thềm đìa, đụng nhằm miếng ván nắp hòm. Vì là vùng đất thấp nên khi cạy nắp ra, anh ta thấy toàn là nước lõng bõng, đen ngòm và mớ xương người. Trong vùng nước thịt người ấy, có chừng ba con cá trê, đôi ba con lươn nhỏ. Đó là cá và lươn từ ngoài đìa chui vào để làm hang trong cái quan tài.

Lát sau, chúng tôi về nhà.

Tôi nằm trên bộ ván, tâm trí vẫn thắc mắc về kỹ thuật kéo trúm của Năm Lươn. Kéo quá hay, thâu quá nhiều huê lợi, chắc là dùng thứ mồi đặc biệt.

Anh ta ra sau hè, nói vọng lại:

– Nằm đó chơi nghe cậu Ba. Tôi nấu mồi để kéo trúm. Khuya nay, cậu với tôi nhậu một cữ giải sầu. Nằm đó chơi.

Câu nói thân mật ấy rõ ràng là một khẩu lịnh nghiêm khắc. Năm Lươn không muốn cho tôi tò mò, tìm hiểu cách thức nấu mồi. Hễ mồi ngon thì dĩ nhiên từ nơi xa lươn nhạy hơi tìm tới, chui vào trúm để thưởng thức rồi mắc kẹt trong đó. Gặp thứ mồi vô vị, lươn chỉ tìm đến khi nào quá đói. Tôi không chịu thua, nói to:

– Mồi gì vậy? Tôi nghe người ta nói muốn cho lươn vô trúm thì phải đổ thêm dầu cá sặc, dầu dừa vô mớ cá mồi.

Năm Lươn đáp:

– Kiểu đó xưa lắm. Mình xúc cá sặc, thứ nhỏ con, đem về luộc cho chín. Đủ rồi. Bộ cậu Ba biết kéo trúm nữa hả?

– Ờ… biết sơ sơ. Gần nhà tôi, mấy ông lão chuyên nghề kéo trúm dùng thứ mồi bí mật, mua ở tiệm thuốc Bắc. Tôi hỏi hoài mà mấy ổng không chịu tiết lộ. Có một thằng con nít kéo quá giỏi. Mỗi đêm nó kéo 20 ống, sáng ngày trút ống ra được lai rai 18 con lươn. Nghĩa là có hai ống thất bại mà thôi.

– Nó xài mồi gì?

Tôi nghiêm giọng:

– Bí mật lắm. Anh đừng cho ai biết. Nó dùng mồi cá thòi lòi, buộc chung với lá cách để lấy mùi thơm thơm. Ống trúm vừa đặt xuống là năm bảy phút sau, lươn bắt mùi cá thòi lòi chun vô nạp mạng…

Năm Lươn cười giòn:

– Đó là mồi của con nít. Dở lắm…

Nói xong, Năm Lươn đứng dậy, rồi vào trong chòi đem cái nắp vung khá to, đậy lên trên cái nồi đựng mồi. Lúc tôi ra ngoài hè thì nồi ấy đã kín mít, hơi cá chín bay thoang thoảng.

Tôi nằm xuống hút thuốc trong khi Năm Lươn bỏ mồi vào ống trúm. Anh ta làm nhanh tay: mở cái hom ra, bỏ mồi rồi gài cái hom lại. Lát sau, hàng trăm cái ống chất lên, vun đống trong xuồng. Anh ta bắt đầu kéo trúm, hai tay bám vào mũi xuồng rồi day mặt về phía lái đi thụt lui. Chiếc xuồng từ từ di chuyển kéo tới đâu là cỏ nằm rạp xuống. Thỉnh thoảng anh ta dừng xuồng, đặt một hai ống trúm rồi kéo tới, quanh co, khuất lẫn trong biển cỏ.

Còn lại một mình, tôi lợi dụng cơ hội để thám thính căn chòi hoang. Diêm quẹt đánh lên, châm vào thếp đèn dầu cá. Trong buồng, trơ trẽn cái hũ gạo. Tôi mở nắp hũ: Hai cái hộp cá mòi hiện ra, loại cá mòi nhập cảng, vô hộp tại xứ Ma-rốc. Hai hộp này còn nguyên. Một hộp thứ ba đã khui ra, còn sót hai con cá vàng lườm. Cá mòi hiệu Xu-ma-cô nổi danh.

Chuột chạy sột soạt. Tôi giựt mình. Năm Lươn chưa về. Tôi ra sau hè. Cái nồi đựng cá mồi nằm đó. Gió thổi nhẹ đưa lên mùi cá hộp, mùi đặc biệt…

Trong một thoáng, tôi đủ hiểu tại sao Năm Lươn cố ý bắt buộc tôi nằm ở bộ ván trong khi anh ta nấu mồi. Nào có gì đâu. Trong mớ cá sặc, cá rô nhỏ xíu ấy, ta trộn thêm chút ít cá mòi hộp để gây mùi thơm. Mùi thơm của dầu ô-liu. Ô-liu là loại trái vùng ôn đới có dầu béo, như trái cà na, dầu ô-liu thơm ngọt, tẩm cá mòi hộp vì vậy cá mòi “Xu-ma-cô” nổi danh. Hấp dẫn và đặc biệt hơn mùi mỡ heo…

Nhờ mùi dầu độc đáo ấy, Năm Lươn làm ăn khá giả, cưới hai vợ và cũng vì muốn giữ bí mật nhà nghề nên anh ta mang tiếng là “phù thủy”.

Tôi tắt đèn, nằm im.

Lát sau. Năm Lươn về, mang theo hai con lươn. Anh gọi to:

– Thức dậy cậu Ba ơi. Nhậu chơi.

Tôi đáp:

– Mồi ngon quá vậy! Chưa chi mà lươn đã chạy vào ống trúm, làm tù binh.

Năm Lươn vào chòi, đốt đèn rồi mở nắp hũ gạo. Anh nghiêm mặt, trở ra:

– Hồi nãy tới giờ…

Để tránh sự hiểu lầm, tôi lên tiếng:

– Tôi đói bụng, muốn kiếm cơm nguội nhưng gặp hộp cá mòi của anh…

Năm Lươn thở dài:

– Kỳ quá. Hồi năm ngoái, có một người tới đây, giống như cậu, để dọ thám, cho rằng tôi làm… quốc sự. Ông Tây Phô Nô biểu cậu lên đây hả?

Tôi im lặng, chưa trả lời. Năm Lươn ngáp dài:

– Đời sao khó sống quá. Mình thủ phận, làm ăn vất vả vậy mà họ cũng nghi ngờ. Họ muốn cái gì đây? Tôi như con lươn già trong hang. Tại sao thiên hạ không hiểu như vậy? Ở một chỗ cheo leo mà không yên. Bây giờ tôi nói thật đó. Mồi lươn của tôi có trộn cá mòi hộp. Thứ cá mòi có ướp dầu, hễ đặt xuống nước là dầu nổi màng màng, loang ra. Bao nhiêu lươn đều xúm lại chun vô ống trúm.

Tôi chợt nhớ đến buổi cơm Tây, tại nhà ông Phô Nô:

– Anh Năm đừng giận. Tôi giúp anh. Tôi tới nhà ông Phô Nô, ăn cắp chai dầu ô-liu đem về. Anh tha hồ mà kéo trúm. Mua cá mòi hộp tốn tiền. Ông Phô Nô có mua ở Sài Gòn một lít dầu ô-liu, tụi Tây trộn dầu này với giấm, rưới vào xà lách. Dè đâu…

– Cái gì?

Tôi theo dõi ý nghĩ riêng, dè đâu con cá mòi ở Địa Trung Hải và hương vị dầu ô-liu miền Bắc Phi lại là mồi ngon của lươn U Minh… Bên thếp đèn dầu cá, Năm Lươn ngồi đó, đập muỗi từng chặp, hai tay chai cóng, bắp chân nổi gân như cọng rau muống. Tôi nực cười cho dư luận và bắt đầu xem ông Tây Phô Nô như đứa con nít, nói đúng hơn là như một con lươn sắp hóa ra chồn bên thềm đìa, bên hè.