Một chút Việt Nam

vandoanviet.wordpress.com

Trần Doãn Nho

(Trong tập truyện “Vết xước đầu đời”, 1995, tác giả nhuận sắc 2018)

Post by Sơn râu 7 Aug 2024

Photo by Sơn râu 1991

Đêm rồi, Hưng ngủ muộn, vì cố gắng làm xong mấy bài homework cho tuần sau. Anh muốn có một chủ nhật hoàn toàn không bận bịu. Nửa đêm, mưa bên ngoài, cơn mưa nhỏ, gió mang theo những hạt mưa tạt vào qua khoảng hở của cánh cửa sổ quên kéo xuống. Anh lười biếng nằm im, để vậy, lắng nghe tiếng mưa rơi êm, tiếng cửa gương lay động lách tách. Trong giấc ngủ chờn vờn, trí tưởng anh bay về những vùng trời xa xôi, nửa thực nửa hư. Mưa sa, bão táp, lụt lội, ghe đò bập bềnh sóng nước bên hiên nhà. Chợ búa bồi hồi mùa nước lũ. Đám con trai, con gái xắn quần cao lội nước. Thời gian không đầu không đuôi, kéo dài ra vô tận. Cứ thế, anh nằm, anh đứng, anh ngồi, anh chơi, chậm chạp và lười biếng. Với những mộng tưởng xa vời. Mộng hãy là mộng, chẳng cần phải thành sự thực. Cứ thế …

Thức dậy sớm, làm vệ sinh xong, Hưng đứng tựa cửa sổ nhìn ra. Chúa nhật đã ở bên ngoài với bãi đậu xe ngân hàng trần trụi, phơi ra những ô, những lằn vạch, những mũi tên vô hồn. Đường phố vắng xe, tĩnh lặng nằm yên, y như thể đang say sưa ngủ giấc ngủ ngày. Chúa nhật, thời gian dịu đi, hiền lành, đáng yêu như con mèo nhỏ gối đầu trên chiếc dép ở góc phòng, lim dim ngủ để anh mặc tình sờ mó, vuốt ve, sở hữu. Suốt tuần, nó giục anh chạy, nó ném anh vào dòng sống phiêu linh không bến không bờ, nó chiếm lấy anh, sử dụng anh như một tên nô lệ. Bây giờ, ở đây, lúc này, anh có cảm giác cầm được nó và thả ra từng chút, từng chút. Rất tùy nghi.

Định pha một cốc cà phê, rồi chuẩn bị một tô mì ăn liền với đầy đủ gia vị, thịt thà (mà ngày thường không kịp làm), nhưng thấy bình cà phê sạch nhẵn, anh tự nhủ, thôi thì hãy tới tiệm Mỹ nhâm nhi một cốc cho khỏe. Anh thay áo quần, “lốc” cửa, ra đi. Khác với khu ngân hàng ở bên kia đường, khu chung cư anh ở, ngày chúa nhật ồn ào hơn thường lệ. Đám trẻ con đen, trắng, nâu, vàng chạy nhảy, la hét. Các cánh cửa phòng vốn đóng im ỉm giờ mở toang. Đi qua các căn phòng dân Nam Mỹ, chàng nghe phảng phất cái mùi đặc biệt mà dân Việt Nam ở đây vẫn gọi là mùi “xì” với vẻ mỉa mai. Chữ “xì” bắt nguồn từ chữ ‘Spanish”, dân nói tiếng Tây Ban Nha. Người Việt xem những ai không phải Mỹ chính gốc đều là “xì” và xem thường, thậm chí khinh bỉ họ. Kể ra thì khinh bỉ sắc dân khác cũng là một cách thế tự vệ trong một xứ đa chủng như thế này, anh nghiệm như thế.

Đúng lúc anh bấm nút đóng cửa thang máy, thì một cô gái chạy bổ vào, giọng Mỹ sõi:

– Xin lỗi, cho tôi vào với, tôi có chuyện gấp.

Anh đưa tay chận cánh cửa tự động. Cô gái lách vào qua một khoảng nhỏ còn lại vừa đủ cho thân hình nhỏ nhắn của cô. Cô gái thở gấp, nhìn anh:

– Cám ơn, cám ơn.

“Không có gì”, anh nói theo quán tính, nhìn vào khuôn mặt cô và ngạc nhiên thấy đó là một người châu Á. Cô nói tiếng Anh hay thật, nếu không nhìn mà chỉ nghe, chắc anh vẫn cho cô nàng là dân Mỹ thứ thiệt. Cô mặc cái váy xòe dài màu hồng nhạt, điểm những bông hoa tím nhỏ, áo T-shirt màu đỏ tươi, trước ngực có hàng chữ “Take back the night” nằm trong một ô tròn màu đen. Thắt lưng to bản. Tóc bới cao đuôi ngựa. Phần tóc phía trán được đánh thành hai tua nhỏ kiểu con nít, thả xuống hai bên má, trông thật ngô nghĩnh, y như kiểu tóc của loại dân Nam Mỹ nào đó. Cô còn trẻ lắm. Việt Nam, Tàu, Singapore, Nhật hay Lào? Cô đứng yên, nhưng lộ vẻ bồn chồn. Khi thang máy dừng hẳn, cô phóng ra trước, chạy đi. Anh nhìn theo cho đến khi bóng cô khuất sau góc phố, lòng bâng khuâng tự hỏi chẳng biết cô nàng đến từ đâu, đến thăm ai hay mới đến thuê phòng trọ.

Anh đi uống cà phê, đi giặt, đi chợ. Khi trở về, vừa đậu xe xong, anh chợt thấy bóng chiếc áo đỏ thấp thoáng trong lối đi chính vào khu chung cư. Như có một sức hút, anh rảo bước theo với hy vọng sẽ gặp cô nàng. Quả không bỏ công, anh đến đúng lúc thang máy vừa xuống. Cửa mở. Cô gái nhìn anh cười và ra dấu cho anh vào trước. Anh lịch sự nhường lại.

Khi thang máy từ từ chạy lên, anh định hỏi thì cô nàng lại bắt chuyện trước:

– Ông ở đây?

– Vâng.

– Tầng mấy?

– Tầng năm. Còn cô, cô đến thăm ai?

– Không, tôi cũng ở đây, tầng bảy.

– Thế à, vậy mà tôi không hề gặp cô lần nào ở đây. Chắc cô mới đến.

– Vâng. Chừng hai tháng.

Hai tháng. Cũng khá lâu, sao anh không hề gặp? Tò mò muốn hỏi thêm vài câu nữa, nhưng thang máy đã dừng ở tầng năm, tiếc thật. Khi anh chào từ giã, bước ra cửa thì cô gái cũng bước theo. Anh ngạc nhiên, dừng lại nhìn:

– Cô ở tầng bảy kia mà, sao không đi tiếp?

– Không, tôi muốn hỏi ông một việc. Ông người Tàu hay người Nhật?

– Cô đoán thử.

– Chắc là người Hồng Kông?

– Sai, Việt Nam.

Cô gái ồ lên một tiếng, tia mắt rực sáng, đột ngột dang hai tay ra như muốn ôm lấy anh, nhưng kịp buông xuống. Cô hạ thấp giọng, nói bằng tiếng Việt:

– Tôi cũng là người Việt.

Anh cười:

– Thế thì tôi đoán không sai. Tôi cũng ngờ ngợ cô là người Việt từ khi gặp cô hồi sáng.

– Ngờ ngợ? Tôi không hiểu.

– Ngờ ngợ là phỏng chừng, đoán chừng, là guess.

Cô cười:

– Tôi kém tiếng Việt lắm.

– Cô nói sành đấy chứ, à … nói giỏi đấy chứ.

Cô đứng ngẫm nghĩ một lát, rồi nói, giọng ngập ngừng:

– Gặp được anh là người Việt, tôi … vui lắm. tôi muốn nhờ … Xin lỗi, nói thế này có hơi, hơi … bất ngờ, anh thông cảm. Có thể nào, tôi ghé thăm anh được không? Không phải bây giờ mà … mà một lúc nào đó … khi anh không bận …

Anh ngạc nhiên nghe cô đổi từ “ông” sang “anh”:

– Đến thăm tôi, ờ, ờ … tất nhiên là được. Nhưng … có việc gì không cô?

– Cũng chẳng có việc gì, tôi chỉ muốn có bạn … cho vui.

– Nhưng … nhưng khi nào cô đến?

– Tôi không biết. Khi nào đến, tôi sẽ gọi điên thoại báo cho anh. Mà … mà anh không có gì phiền chứ? Lúc nào thì anh có nhà?

– Chúa nhật, còn ngày thường, tôi chỉ rảnh một chút buổi trưa và sau tám giờ tối.

Cô gái vội vã quay đi. Chợt nhớ ra điều gì, cô dừng lại:

– Vội quá, tôi quên hỏi. Anh có thể cho tôi số điện thoại và số phòng anh không?

Anh ghi số điện thoại và số phòng trên một mảnh giấy nhỏ đưa cho cô. Cô vừa quay gót, anh gọi giật:

– Này, cô, tôi chưa có số điện thoại cô.

Cô quay lại, đến gần anh, nói nhỏ:

– Tôi xin lỗi. Điện thoại tôi gọi ra thì được, nhưng không gọi vào được. Anh thông cảm. Cảm ơn anh.

Nói xong, cô quay người lại, đi bộ về phía cầu thang, lên lầu.

Hưng trở về phòng, lòng ngờ ngờ vực vực, không yên. Gặp bất ngờ. Quen bất ngờ. Thêm một cái hẹn bất ngờ. Đã thế, lại hẹn gặp ngay tại phòng mình. Cô ta là ai? Điếm? Dân bụi đời, băng đảng? Gái bất mãn gia đình, trốn nhà ra đi? Nhưng nhớ lại dáng dấp, cử chỉ của cô gái không có vẻ gì bất thường, thậm chí, rất là gái nhà lành. Nghĩ thế, anh cảm thấy yên tâm. Và vui. Một niềm vui thật mới.

Từ ngày qua Mỹ, sống tách khỏi gia đình, tự lập, anh như kẻ chạy đua với thời gian, tìm cách thích nghi càng nhanh càng tốt với xã hội mới, nơi mọi thứ mọi điều đều đầy thách đố, đòi hỏi sự phấn đấu. Không buồn. Chẳng vui. Luôn luôn bận rộn. Bây giờ, tự dưng quen một cô gái, tự dưng lại được hẹn hò khiến anh cảm thấy phấn chấn, một nỗi phấn chấn rất thanh niên bấy lâu bị dồn nén bỗng có dịp tràn ra, dạt dào. Bừng bừng. Sôi sục. Thế là, suốt cả tuần, hễ xong việc là anh về nhà. Hễ nghe điện thoại reo là có bận việc gì, anh cũng chạy vội đến bốc máy ngay. Mong mãi vẫn không nghe điện thoại của cô gái, sốt ruột, anh lên tầng bảy, đi dọc theo hành lang, mong được tình cờ gặp cô nàng đâu đó. Chẳng có ai. Hành lang lúc nào cũng vắng tanh. Các cửa phòng đóng im ỉm. Anh có cảm giác như thế giới không có mặt ở đây trong suốt những ngày làm việc. Cô nàng ở phòng nào nhỉ? Nỗi đợi chờ vu vơ khiến nhịp sống bình thường anh bị chao đảo. Anh cố ý kéo dài những giây phút thư giãn, cố ý giảm bớt những bận bịu, cố ý về sớm và tìm cách đi muộn. Thời gian giãn ra, chậm chạp, bứt rứt và buồn nản. Anh bần thần sống trong cơn mộng tưởng hoang đường.

*

Mãi đến tối thứ bảy, cô gái mới điện thoại cho anh. Cô nói một hơi, tiếng Anh chen lẫn tiếng Việt:

– May quá, anh có ở nhà. Hôm trước, muốn ghé anh, nhưng tìm không ra mảnh giấy anh cho hôm trước. Tôi mới tìm lại được hồi trưa nay trong đống sách vở. Tôi tên Miên Tâm. Gặp được người Việt Nam ở đây tôi rất vui.Tôi rất ít khi có dịp đi ra ngoài. Chắc anh bận lắm phải không? Chiều mai, anh có rảnh không, tôi sẽ ghé xuống anh, khoảng hai giờ đến ba giờ. Anh cứ để cửa vậy, tôi vào, khỏi ra đón. À, số phòng anh là 508 phải không … Tôi sẽ xuống. Nhớ để cửa, đừng đóng. Từ hai đến ba giờ chiều mai.

Nói xong, không đợi anh trả lời, cô đã cúp máy. Anh gác điện thoại, thở phào nhẹ nhõm. Thế là anh đã có một hẹn hò. Ngày chúa nhật sẽ được lấp đầy. Anh sẽ được bận bịu, sẽ có thêm những điều mới mẻ. Thế giới chán ngắt của anh với những màu sắc vụn rời, chắp vá sẽ được điểm xuyết thêm màu tím hay màu hồng của một bông hoa nhỏ. Anh cảm thấy hân hoan, phơi phới. Đầu óc anh đột nhiên đầy những ấn tượng về cô gái. Đôi môi đỏ chót, nốt ruồi chênh chếch bên cánh mũi, đôi bông tai to tròn đu đưa, ngực thấp nhỏ, nụ cười thân thiện, dáng đi hấp tấp, giọng nói tiếng Việt chen lẫn tiếng Anh với những âm nhấn rất Mỹ. À, mà lạ thật, cô gái này đâu có gì đặc biệt, sao lại làm anh xao xuyến như thế! Anh đã từng có bạn gái, đã từng yêu, từng hò hẹn. Thế thì tại sao lại bâng khuâng vô cớ như thế này! Đã khuya. Anh nằm xuống sàn nhà, chập chờn trôi vào giấc ngủ, chiếc áo tràn vào nhuộm đỏ giấc mơ.

Hôm sau, Hưng thức dậy sớm dọn dẹp phòng ốc. Căn phòng nhỏ tạm bợ đột nhiên ấm cúng và tràn đầy ý nghĩa. Ăn trưa xong, Hưng bồn chồn nghe ngóng, lòng thấp thỏm nghi hoặc không yên. Ấy thế mà cô gái đến thật, như một món quà tặng bất ngờ. Quá hai giờ, Hưng nghe bước chân ngoài hành lang. Tiếng gõ cửa thật nhẹ. Cánh cửa nhè nhẹ di động. Cô gái ghé đầu vào, nhìn quanh. Thấy anh, cô cười, nhanh nhẹn lách vào, khép cửa lại. Anh đứng dậy chào, mời cô ngồi. Cô gái nhìn anh:

– Phòng hơi hẹp, anh há.

Anh cưòi:

– Sinh viên nghèo mà cô.

Nàng bước lui, bước tới ngắm nghía mấy bức tranh cũ mua ở yardsale, cầm lên mấy cuốn sách học, nhìn qua rồi để xuống, bước đến cửa sổ, kéo lên, nhìn ra ngoài. Cô nàng tò mò nhỉ, anh nghĩ . Anh yên lặng, vòng tay nhìn nàng, cố đoán xem cô ta thuộc loại người nào. Hôm nay, cô mặc một bộ đồ lụa nhạt, có thêu những nhánh hoa hồng ở hai tà trước. Cổ đeo dây chuyền màu vàng, tóc xõa xuống hai vai. Cô ngồi xuống, nhìn anh, giọng trở nên thân mật:

– Em tên Miên Tâm. Còn anh?

– Hưng.

– Gia đình anh cũng ở đây?

– Vùng này, nhưng “town” khác.

– Vượt biên hay bảo lãnh?

– H.O.

Nàng cười:

– Cũng H.O. Đi đâu em cũng gặp H.O. (*)

– Cô đi đâu mà nhiều thế?

– Em ở nhiều bang lắm. Ở miền Nam có, ở vùng giữa có, giờ lại lên miền Bắc. Em “move” lung tung.

– Để làm gì?

– Đi chơi, đi làm ăn. Mỹ mà, tự do. Còn anh, có đi đâu chưa?

Hưng cười:

– Tôi mới qua, lu bu đủ thứ, đâu có điều kiện để đi. Phải vừa đi học, vừa đi làm.

– Anh học gì?

– Computer.

Cô gái nhìn ra ngoài, qua khung cửa sổ:

– Nghe nói vùng này, mùa đông lạnh lắm. Sao anh không về các bang miền Nam nắng ấm, ở gì đây mà chịu tuyết suốt mùa đông.

Anh cười:

– Lúc mới qua cũng ngán. Nhưng hai mùa tuyết rồi, đâu có sao. Cô uống cà phê nhé?

Cô nhìn lên:

– Em không thích cà phê. Anh có bia không?

Anh hỏi, giọng ngạc nhiên:

– Cô uống bia được à?

– Sao lại không! Một hai chai thôi. Anh ngồi đi, em tự lấy cũng được.

Cô gái đứng dậy, đến tủ lạnh, mở cửa. Nàng nói:

– Budweiser. Không có Heineken. Em khoái Heineken. Nhưng Budweiser cũng OK.

Cô lấy một lon đến ngồi ở bàn, khui uống, tự nhiên, thành thật, ngon lành. Nhìn cung cách cô, anh hãi. Nàng hỏi:

– Anh không uống?

– Tôi ít khi uống bia ban ngày. Uống vào mặt đỏ gay, kỳ lắm. Chỉ thỉnh thoảng uống một lon trước khi đi ngủ. Cô vẫn uống thường như thế à?

– Không thường lắm. Nhưng giờ này, ngồi ở đây, tự nhiên em thích một chút gì đăng đắng. Uống nước ngọt hoài, chán lắm.

Cô gác chân lên chiếc ghế thấp đặt kế bàn học. Những móng chân sơn đỏ chót, cắt tỉa cẩn thận. Đôi bàn tay nhỏ nhắn, móng để dài, cũng sơn đỏ. Bộ đồ lụa trơn láng, mỏng mảnh, thêu hoa cầu kỳ khiến anh nghĩ đến những bà chủ tiệm vàng hay tiệm mỹ phẩm thường thấy ở các đường phố bên Việt Nam. Chỉ thiếu cái nét phương phi, bệ vệ. Dáng cô mảnh khảnh, khuôn mặt nhỏ, đôi lông mày hơi xếch, trông ngổ ngáo khi ngước nhìn lên. Khi im lặng trầm ngâm, khuôn mặt cô như tối hẳn đi nhưng lúc cười, trở nên đôn hậu, chơn chất. Anh có cảm giác như khi im lặng và khi cười, cô có hai khuôn mặt hoàn toàn khác nhau. Hẳn cô nàng có một cuộc sống thoải mái lắm, anh nghĩ. Ít ra thì cô nàng cũng không phải lao động vất vả trong các hãng xưởng như anh.

Anh hỏi:

– Cô không đi làm?

– Có, nhưng thỉnh thoảng.

– Part-time à?

– Không hẳn thế.

Cô trả lời ngắn gọn, bằng một thứ tiếng Việt khá chuẩn xác. Tiếng Anh hay, tiếng Việt nàng cũng khá. Anh hỏi:

– Cô sang Mỹ lâu chưa?

– Từ khi em tám tuổi.

– Hèn gì!

– Cô gái ngước mắt lên:

– “Hèn gì”? Em không hiểu

Anh giải thích:

– That’s why…cô nói tiếng Anh như … Mỹ. Qua Mỹ mà lớn tuổi như tôi học chậm lắm.

– Anh mà lớn gì! Trẻ măng à, trẻ hơn cả … Garcia … à quên, anh trẻ, … trẻ lắm.

Không để ý đến lời khen, anh hỏi:

– Cô vượt biên à?

– Vâng.

– Với gia đình?

– Không, một mình em.

Anh sửng sốt:

– Tám tuổi sao cô đi một mình?

Cô gái trầm ngâm một chút rồi trả lời:

– Cha mẹ em gửi em cho một người quen.

À, ra thế! Trước đây, anh không hình dung nỗi tại sao người ta có thể gửi đứa con mới mấy tuổi đầu của mình trên những chuyến vượt biên vô cùng nguy hiểm như thế. Có khác gì bỏ con. Dần dà về sau, anh hiểu. Người ta không còn chọn lựa nào khác. Cuộc sống lúc đó đen tối quá, gia đình chỉ còn một cách: đánh cuộc với định mệnh bằng cách gửi con đi. Một đánh cuộc đau đớn. Hơn thế nữa, một đầu tư.

Miên Tâm cúi xuống bàn xoay xoay lon bia, khuôn mặt chùng xuống. Vẻ già dặn toát ra không giấu kín được hết đường nét ngây thơ loáng thoáng đâu đó. Cái vui lẫn quất trong cái buồn. Cô còn trẻ quá, trẻ và nhỏ. Tự nhiên, anh cảm thấy ngậm ngùi với hình ảnh một cô bé còn măng sữa, đã phải trải qua hết tuổi thơ của mình trong một hoàn cảnh lạc loài, cô đơn, xa lạ. Đó là cái giá phải trả cho ước mơ lớn của hai đấng sinh thành. Họ có toại nguyện không? Anh nhìn cô, hỏi:

– Ba mẹ cô vẫn còn sống?

– Vâng.

– Vẫn ở Việt Nam?

– Vâng.

– Cô không bảo lãnh qua à?

Nàng thở dài:

– Qua làm gì cho thêm khổ.

Lại kêu khổ, lạ thật! Chẳng khác gì cách nói của cha mẹ anh, hở cái là than thở. Những là qua Mỹ phải cày ngày cày đêm, con thì hư, Mỹ thì đểu, tình người không có, vân vân và vân vân.

Cô đứng dậy, đi quanh phòng, ngắm nghía, sờ mó mọi thứ. Đến ngăn có sách báo Việt Nam, cô lôi ra một tờ tạp chí, mang đến bàn, lật từng trang xem. Hưng chăm chú nhìn. Anh hỏi:

– Cô thích đọc báo Việt Nam không?

Cô ngẩng nhìn lên:

– Thích. Nhưng … nhưng mà, em không biết đọc tiếng Việt.

Cô gái nhìn đồng hồ trong lúc vẫn lật tới lật lui tờ báo tiếng Việt. Anh hỏi:

– Ai dạy cô nói tiếng Việt?

Cô nhìn anh:

– Không ai dạy cả. Chỉ bắt chước. Bắt chước người này người nọ, nhưng nhiều nhất là bắt chước phim bộ.

– Hèn gì!

Anh trầm ngâm nghĩ ngợi, chợt nhớ đến những lần anh than phiền với ba mẹ anh về việc mấy đứa em nhỏ của anh xem riết phim Hồng Kông, chẳng mấy khi chịu xem phim Mỹ. Anh bảo cứ xem phim nói tiếng Việt mãi thì bao giờ chúng biết tiếng Anh để theo kịp người ta. Anh chợt bật cười. Cô gái hỏi:

– Anh cười em?

– Không, tôi cười tôi. Nghe cô nói, tôi chợt thấy mình sai. Tôi vẫn cho rằng trẻ con mà xem phim bộ Hồng Kông là hư, không ngờ chính nó lại giúp người ta trau dồi tiếng Việt một cách hữu hiệu.

– Hữu hiệu?

– Là tốt, hay, là good.

Cô gái lại xem đồng hồ, vẻ bồn chồn. Uống cạn, tay cô cầm cái lon không bóp lên bóp xuống, nhìn anh, ngập ngừng:

– Em phải về. Em muốn nhờ anh một chuyện.

Chắc bắt đầu ra chiêu đây, anh nhủ thầm. Để thử xem.

Giọng cô chợt nghe thành khẩn:

– Em muốn học tiếng Việt. Anh có thể giúp em được không?

Anh chưng hửng. Anh không thể nghĩ ra một loại đề nghị như vậy. Anh cười:

– Tôi vẫn tưởng cô cần tôi việc gì ghê gớm lắm.

Không đoán được lời nói đùa của anh, cô gái tiếp:

– Thú thật với anh, điều làm em đau khổ nhất là em không đọc được thư nhà và cũng không viết được thư về nhà.

Lời thú nhận bất ngờ giúp anh chợt hiểu một cách sâu sắc nỗi buồn của cô gái. Những giới hạn về ngôn ngữ khiến cô bị cắt lìa khỏi nguồn cội. Cô có thể nói tiếng Việt, cũng như anh có thể nói tiếng Anh, nhưng thiếu hẳn sự gắn bó giữa những âm, những chữ với cuộc đời. Cô nàng đầy những kỷ niệm Mỹ, nhưng không cảm thấy mình là người Mỹ. Cô muốn mình là người Việt Nam, nhưng thiếu hẳn một quá khứ Việt Nam. Tự dưng, anh nhìn thấy một Miên Tâm khác đi. Anh hỏi:

– Cô còn nhớ gì về Việt Nam không?

– Không. Lúc đi, em còn nhỏ.

– Quê cô ở đâu?

– Kien Hoa hay Kien Phong, em không nhớ rõ.

– Cô về thăm ba mẹ chưa?

– Chưa. Em định sẽ về, nhưng chỉ khi nào em đọc và viết được tiếng Việt.

Cô gái lại xem đồng hồ, nhấp nhỏm trên ghế ngồi:

– Thôi, đến lúc em phải về. Em có việc bận. Anh liệu có thể giúp em được không? Yes hay No.

Anh phân vân:

– Giúp thì dễ dàng. Có điều, thì giờ tôi eo hẹp lắm. Như cô biết, tôi vừa đi học, vừa đi làm …

– Em biết. Anh suy nghĩ, em sẽ gọi lại anh tối nay. Dù thế nào, anh cũng rán giúp em. Hy vọng là anh sẽ nói “Yes”.

Cô đứng dậy, giọng dứt khoát:

– Em về!

Nói xong, cô rời phòng ngay, dáng hấp tấp. Anh đóng cửa lại, im lặng cảm nhận chút hơi hướm của cô gái như còn thoang thoảng đâu đây.

*

Hưng đồng ý dạy tiếng Việt cho Miên Tâm. Dù đôi lúc anh hoài nghi ý định thực sự của cô gái, nhưng trong thâm tâm, anh tin rằng cô thực tình đối với anh. Anh rút bớt những giờ nghỉ ngơi và đi chơi với bạn bè để chỉ dẫn cho cô gái. Chỉ phiền một nỗi: giờ giấc cô rất tùy tiện. Khi anh rảnh thì cô không xuống. Khi đang bận thì cô đòi xuống. Đôi lúc, đang học nửa chừng, cô đột ngột bỏ về. Anh bực. Biết thế, cô năn nỉ anh thông cảm cho hoàn cảnh đặc biệt của cô. Cô nhắc đi nhắc lại nhiều lần: my special circumstance!

Hoàn cảnh đặc biệt! Bây giờ thì dù không hoàn cảnh đặc biệt đi nữa, anh cũng chìều theo ý cô. Làm sao mà từ chối cho được. Anh bị cô hớp hồn rồi! Thời khóa biểu không cần nữa. Lúc cô muốn đến, cô gọi. Anh rảnh, anh dạy. Không thì thôi. Lúc nào cô muốn đến anh cũng cố thu vén bài vở, công việc để dạy nàng. Điều duy nhất làm anh khó hiểu là điện thoại cô không gọi vào được. Hỏi tại sao cô làm vậy, cô chỉ nói gọn lỏn, “Em thích thế.” Đã thế, cô còn yêu cầu anh đừng bao giờ tìm cô, dù chỗ cô ở hay bất cứ ở đâu. Có lần, nghe cô nhắc mãi lời yêu cầu đó, anh bực mình nói: “Em cần anh, em tìm. Còn anh, anh có việc gì mà phải tìm em nào?”  Cô bịt miệng anh lại: “Đủ rồi, đừng nói thêm gì nữa.”

Cô cư xử tự nhiên như một người tình lâu ngày. Thỉnh thoảng, anh cầm tay cô. Thỉnh thoảng, anh thở vào tai cô. Thỉnh thoảng, cô vịn vai anh. Có lúc cô mệt mỏi nằm vật xuống chiếc giường đơn nhỏ bé của anh. Có điều, mọi cử chỉ của cô đối với anh dường như luôn luôn vừa đủ, để không quá xa cách, mà cũng không quá thân mật. Riêng anh, anh vừa dạy cô học, tỉ mỉ, kiên nhẫn, đầy thiện chí, lại vừa vật vã tranh đấu với bản thân. Đôi trai gái trẻ trong một căn phòng nhỏ ấm cúng, thân tình, mời gọi, thế mà cái biên giới mỏng mảnh nằm giữa vẫn còn. Chỉ cần anh cúi sát thêm vào đôi vai cô. Chỉ cần vòng tay anh khép lại thêm. Chỉ cần cô ngả đầu thêm vào vai anh. Chỉ cần cô nằm yên trên giường thêm. Thêm một tí nữa, một tí nữa thôi, tất cả sẽ bị phá vỡ. Ban đêm nằm ngủ, trằn trọc với mùi hương hoa phảng phất, với những ý nghĩ vẩn vơ, với sự thúc dục của một cơ thể đang hồi sung mãn, anh định vượt qua mọi giới hạn ngày hôm sau. Nhưng lạ thật, anh yếu bóng vía, vẫn không làm được, vẫn đứng yên bên này lằn ranh.

Có lần, tập đánh vần xong một đoạn báo, cô nằm xuống giường nhắm mắt, áo quần hớ hênh, để lộ khoảng bụng trắng ngần. Tự nhủ đó là một tín hiệu mời gọi tích cực, anh lân la đến ngồi xuống gần một bên, tay anh bóp cánh tay cô lần lên phía vai, đầu cúi xuống chiếc ngực phập phồng. Anh cúi xuống, cúi xuống, trái tim anh đập thình thịch trong lồng ngực như muốn vỡ tung. Đúng lúc đó, cô mở mắt, tay đỡ nhẹ đầu anh, rồi ngồi dậy mỉm cười, bước đến bàn tiếp tục đánh vần.

Không mấy khi cô đề cập đến đời sống của cô hiện tại. Anh có hỏi han chuyện này, chuyện nọ, cô chỉ cười buồn, khuôn mặt như chùng xuống, tối đi. Gần cô, thay vì hiểu rõ hơn, anh lại thấy cô nàng bí ẩn và khó hiểu thêm. Càng ngày cô càng thu mình vào trong cái vỏ bọc. Càng ngày càng tự nhiên nhưng nghiêm trang, đứng đắn hơn. Anh sốt ruột muốn chấm dứt kiểu thầy trò bất đắc dĩ này. Các buổi học dần dần đâm ra đơn điệu, lạnh lùng. Hưng thấy chán nản. Những ý tưởng háo hức ban đầu cơ hồ như tan biến. Một hôm, cô điện thoại báo sẽ xuống, anh lạnh lùng:

– Anh mệt.

– Anh đau à?

– Không, mệt.

Anh gác máy đột ngột. Một lát, nghe tiếng gõ cửa, anh uể oải đứng dậy mở cửa. Miên Tâm xuất hiện trong cái “rốp” ngủ, bên ngoài thêm chiếc áo khoác. Cô nhìn anh chăm chú:

– Anh đau hay giận em?

Anh trả lời hờ hững:

– Anh nói rồi. Mệt!

– Anh không muốn em vào à?

– Anh muốn nằm nghỉ một lát.

Khuôn mặt cô đột nhiên tối lại, đôi mắt nhìn xuống, tay vân vê tà áo khoác. Cô bước đến gần anh, đưa tay đặt lên vai anh, cười buồn:

– Thì thôi, em về.

Cô quay ra, khép nhẹ cửa phòng. Anh nhìn theo, muốn gọi một tiếng, nhưng lại thôi.

*

Lần học kế, Miên Tâm không đến, cũng không gọi. Anh tự nhủ thôi thế là xong. Chấm dứt là vừa. Anh cũng đã có lòng với cô lắm rồi. Vả lại, anh bận bịu quá. Thì giờ anh dành cho cô, thực ra là cắt xén từ cuộc sống tất bật của anh. Để đổi lấy được gì? Chẳng có gì.

Nhưng hai ba ngày sau, đột nhiên anh thấy trống rỗng. Anh ngờ rằng mình mệt thật. Không phải. Ngẫm nghĩ một hồi, anh mới chợt nhận ra một cách sâu sắc rằng, tất cả chỉ vì thiếu tiếng gọi của Miên Tâm, thiếu bóng của cô. Những giờ rảnh rỗi chợt vô duyên lạ lùng. Có cô, có hơi thở, nụ cười, bước chân, tiếng mở cửa, tiếng đánh vần, dáng nằm dài trên nệm, mùi hương phấn. Có cô, anh quá bận bịu. Vắng cô, anh thấy giờ giấc thừa ra, dằng dặc. Anh đã khước từ, đã đuổi cô, đã mệt mỏi, chán nản. Anh tham lam, ích kỷ. Thiện chí lúc đầu của anh đã biến thành một thứ ham muốn khác. Anh muốn ôm cô, hôn cô, anh muốn, anh muốn…

Nhiều lần, anh ngồi bật dậy, mở cửa, leo lên tầng bảy, bước dọc theo hành lang. Các cửa phòng đóng kín. Anh chẳng biết cô ở đâu. Anh quả tệ thật. Cô lầu bảy, anh lầu năm. Chỉ có mấy phút đi bộ. Thế mà chẳng biết tìm cô ở đâu, khi cần. Chán nản, anh vào thang máy, xuống tầng một, vẩn vơ đứng nhìn con đường, bãi đậu xe, khu ngân hàng tấp nập. Mùa thu, lá rụng đầy. Gió thổi rào rào, dồn những đám lá vàng lại từng chòm rồi đẩy chúng tung ra khắp nơi. Anh buồn bã trở về phòng nằm xuống, bâng khuâng nhớ tiếc bồi hồi. Anh mong tiếng reo điện thoại. Anh mong cô đến.

Chừng một tuần sau, Miên Tâm gọi:

– Thế nào, hết giận chưa anh?

Anh hấp tấp:

– Có giận gì đâu. Em xuống liền chứ?

Giọng nàng ngập ngừng:

– Chưa được …

– Giờ anh đang rảnh. Em xuống nhé?

– Không … Mà này, anh nghỉ làm một bữa được không?

– Để làm gì?

– Anh đưa em đi chơi, được không?

Anh ngạc nhiên:

– Đi chơi?

– Thì đi chơi. Đi ra ngoài chơi cho vui. OK?

– Ờ … ờ, tất nhiên là OK. Em xuống đây rồi cùng đi hay sao?

– Hiện em không ở nhà. Anh đến đón em ở góc đường Queen và King, Family Health Hospital. Lúc hai giờ. OK? Em mặc áo màu đỏ. Như lần đầu gặp nhau.

– OK.

Anh mừng quýnh.

*

Anh đến chỗ hẹn đúng hai giờ. Một lát sau, anh thấy chiếc áo đỏ xuất hiện trong sân Family Health Hospital. Đúng là Miên Tâm. Anh ngạc nhiên khi nhìn thấy cô đẩy chiếc xe chở trẻ con. Đến bên xe, cô cười chào rồi lẳng lặng mở cửa sau, xếp gọn chiếc xe lại, mang xe và một đứa bé nằm trong đó lên xe anh. Anh tắt máy, quay lui nhìn. Đứa bé khoảng một, hai tuổi, tóc hoe, lăn quăn, da nâu phơn phớt. Không đợi hỏi, Miên Tâm nói ngay:

– Con em.

Con em! Anh giật thót mình, sửng sốt nhìn chăm cô, không chớp mắt. Cô cúi xuống đắp chiếc chăn nhỏ lên ngực, lấy bình sữa đút nuốm vào miệng đứa bé, âu yếm và thành thạo. Đứa bé vừa bú vừa cựa quậy, mắt nhìn láo liêng. Anh có cảm giác ngộp thở, muốn hỏi một câu, nhưng không thốt lên được. Phải vài ba phút sau, anh mới lên tiếng, giọng run run:

– Con em! Em không đùa chứ. Trai hay gái vậy?

– Gái.

– Mấy tuổi rồi?

– Mười bốn tháng.

Anh im lặng. Cô cũng im lặng. Một lát, cô gài seat-belt cho đứa bé, giục:

– Thôi đi, anh.

Anh nhìn cô, bối rối không biết phải xử sự thế nào.

– Đi đâu? Anh hỏi, giọng khô khốc.

Cô nhìn ra ngoài cửa xe:

– Một nơi nào ngoài thành phố. Em muốn tâm sự đôi điều với anh.

Anh muốn từ chối, đi về. Nhưng nghĩ lui nghĩ tới thấy không ổn, anh gài số, lái xe đi. Anh chạy vòng vèo bất định, đầu óc lang bang với những ý nghĩ không đâu. Cảm giác muộn phiền, tấm tức cấu xé trong lòng. Miên Tâm ngồi bất động, mặt nhìn thẳng phía trước. Ra khỏi thành phố, anh hỏi:

– Đi đâu?

– Tùy anh, em chẳng biết chỗ nào ở vùng này cả.

6.

Anh lái về hướng Green Hill. Đó là một công viên lớn ở ngoại ô, nằm kế bìa rừng. Chung quanh là những ngọn đồi nhỏ và khu rừng thưa. Mùa thu, các thứ lá đổi màu khiến tất cả trở thành một rừng màu sắc trông như hoa nở mùa xuân. Lá tím, lá vàng, lá đỏ, lá nâu, lá hồng …Mỗi lá là một bông hoa. Gió từ phương Bắc ào về từng đợt, len lỏi qua các khu rừng, khua động không gian bằng một thứ âm thanh rào rào bất tận, dấy lên trong lòng người cảm giác u hoài, mênh mang khó tả. Lá rụng từng đợt. Lá phủ kín bãi cỏ, mặt đất. Thỉnh thoảng, gió thổi tới, rồi như chạm phải một bức tường cản đâu đó, xoay ngược trở lại cuốn thốc từng khối lá trên mặt đất bay tung tóe lên các cành cây rồi la đà rơi xuống.

Anh đậu xe, mở cửa đứng nhìn sững các khu rừng. Gió phơn phớt lạnh. Bầu trời thấp hẳn, tưởng chừng như chạm phải các ngọn cây qua một lớp mây màu tro nhạt phủ kín. Anh chợt nhớ câu thơ của Nguyễn Du: “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.” “Màu quan san” là màu gì anh không hiểu, nhưng âm thanh của chữ đọc lên, gợi ra một cái gì bâng khuâng, man mác. Và anh chợt thâm cảm hết ý nghĩa của chữ “rừng”. Rừng là nhiều, nhiều quá, bất tận. Mùa thu đậm nét bởi rừng cây đổi màu. Không, rừng lá. Đúng ra, phải nói là rừng hoa, muôn màu muôn vẻ. Ấy thế mà, tháng sau, có thể là vài tuần sau, lá sẽ rụng. Rụng sạch. Biến mất. Y như thể chưa bao giờ có lá, để lại những cành cây trơ trụi, chơ vơ hứng chịu mùa đông tuyết giá.

Miên Tâm đụng khẽ vào vai anh. Anh quay lại, thấy cô run rẩy sau chiếc áo khoác. Anh nói bâng quơ:

– Gió nhiều quá.

Anh nhìn vào xe. Đứa bé đã ngủ say, hồn nhiên. Con nàng đó sao! Nhìn, anh thấy khó chịu.

– Ngủ rồi à? Nhanh thế.

– Vâng. Nó dễ tính lắm.

– Không ẵm theo sao?

– Sao mà ẵm được. Gió lạnh thế này mà. Nó vẫn quen ngủ thế, hai ba tiếng đồng hồ mới thức dậy. Để nó đó, ta đi chơi một lát đi anh.

– Đâu có được, không thể để trẻ em trong xe một mình.

– Đâu có sao, mình đi quanh quanh đây thôi. À, sao anh không mặc áo khoác. Một lát lạnh, cảm chết! Anh có mang theo không?

– Không.

– Thôi được, khoác chung với em.

Cô mở rộng áo, khoác một nửa lên vai anh, cầm tay, giục:

– Thôi đi.

Anh im lặng, thọc hai tay vào túi quần, bước đi. Hai người đi qua một bãi cỏ rộng có những cụm hoa hồng trồng cách quãng đều đặn. Lá từ trong rừng bay ra, vần vũ quanh hai người, đuổi nhau trên những ngọn cỏ. Đi ngang bức tượng đặt chính giữa khu công viên, cô hỏi:

– Em thấy có hai chữ Việt Nam, phải không anh?

– Ừ, đài kỷ niệm các chiến binh Mỹ trong tiểu bang đã chết ở Việt Nam.

Miên Tâm bùi ngùi:

– Ở đây yên lành thế, lại sang Việt Nam mà chết!

Anh bật cười:

– Còn mình đang ở Việt Nam thì lại tới đây mà sống.

Đến một cái hồ nằm gần chính giữa khu công viên, anh dẫn cô lên chiếc cầu nhỏ nối với cụm kiến trúc ở giữa hồ. Chính giữa là ngôi nhà có mái ngói cong cong, chung quanh là các tảng đá lớn, vài khóm hoa, một tượng phụ nữ khỏa thân. Loáng thoáng có đôi ba nét đông phương ẩn khuất đâu đó. Hồ rộng, bờ nước tiếp giáp với các ngọn đồi và rừng ở xa xa. Nước trong vắt, lặng lờ. Anh và Miên Tâm ngồi ở chiếc ghế khuất sau một tảng đá lớn, tránh gió. Anh gỡ áo khoác ra, nhìn cô, đổi cách xưng hô:

– Cô kể chuyện đi.

Cô choàng áo trùm kín hai vai, hai tay thu vào lớp áo trước ngực, ngước nhìn anh:

– Em xin lỗi đã không nói trước với anh là em đã có chồng.

Đã biết từ nãy giờ, nhưng khi nghe nàng nói hai chữ “có chồng”, anh cảm thấy khó chịu. Anh hỏi, không giấu vẻ mỉa mai:

– Lại là chồng ngoại quốc, Mỹ hay “Spanish” vậy?

– Anh ấy người Honduras.

– Vẫn còn ở với cô chứ?

– Vâng, tụi em vẫn ở với nhau.

– Nghĩa là thời gian vừa qua, khi cô xuống gọi là học với tôi, anh ta ở đó với cô, tầng bảy.

– Vâng.

– Trời!

Chữ “vâng” của cô làm anh ngột thở. Nghĩ lại những lần hai người ở chung trong phòng, anh rùng mình. Anh nhìn cô, gằn giọng:

– Cô liều lĩnh thật. Cô muốn hại tôi. Lỡ ra anh ta biết thì có phải là họa cho tôi không?

Miên Tâm cúi đầu:

– Em biết. Nhưng em với anh đâu có làm gì không tốt.

– Ừ, thì đúng là không có gì! Nhưng ai mà tin được. Nếu thằng chồng cô mà biết thì … thì … tốt hay không tốt, anh ta cũng …

Anh ngừng lại, không dám nói tiếp. Miên Tâm im lặng, nét mặt bần thần. Một lát, cô phân bua:

– Không phải em liều. Em chỉ xuống anh khi nào anh ấy đi làm. Nhưng … nhưng mà, nghĩ lại, đúng là liều thật. Nhưng biết làm sao được. Em thích học tiếng Việt. Em thích chơi người Việt. Em thích …

Anh nhìn thẳng vào mắt cô:

– Thiếu gì người Việt ở Mỹ. Vậy trước đây hai người ở đâu?

– Thú thật với anh, anh ấy không muốn cho em tiếp xúc với người Việt. Anh ấy sợ … sợ … mất em.

Anh hỏi:

– Ghen à?

– Vâng, anh ấy ghen với người Việt, vì cho rằng nếu em quan hệ nhiều với người Việt Nam, em sẽ bỏ anh ấy.

Anh gục gặc đầu tỏ ý hiểu. Nàng tiếp:

– Mấy năm rồi, từ khi lấy nhau, anh ấy cứ đem em đi loanh quanh, hết bang này đến bang khác, vừa để tìm việc làm, vừa để em không có cơ hội quen biết thân mật với người Việt.

Nhớ đến những lúc Miên Tâm nói vòng vo khi trả lời những câu hỏi của anh, anh ngớ ra, chép miệng:

– À, ra thế. Đúng là special circumstance, hoàn cảnh đặc biệt.

Cô cúi đầu, rút tay ra khỏi ngực, vân vê tà áo. Một cử chỉ rất là Việt Nam, anh nghĩ. Cô vẫn thường ăn nói, cử động tự nhiên như con gái Mỹ, nhưng giờ này, trông có hơi khác. Ngượng nghịu, e ấp như một buổi hẹn hò đầu đời. Anh hỏi:

– Cô yêu anh ta?

– Không, em không yêu.

– Không yêu sao lại lấy nhau, lại có con. Bị cưỡng ép?

– Không.

Cô chợt thổn thức:

– Em nói rồi, em cô đơn. Hồi đó, chẳng có ai ngoài anh ấy đến với em …

Cô lấy giấy chậm đôi mắt, đứng dậy, bước quanh, rồi trở lại. Cô nhìn anh, khuôn mặt bình tĩnh lại:

– Em sang đây lúc mới tám tuổi, như anh biết. Lúc đầu, em ở chung với gia đình mà cha mẹ em gửi em theo, rồi sau ở chung với một người bà con xa. Không ai tử tế với em cả. Họ chỉ muốn lợi dụng em. Họ ăn bớt tiền trợ cấp. Họ dọa nạt em. Họ bắt em làm việc. Nhiều lần, em trốn đi nhưng không biết ở đâu, đành phải về lại với những người mà em hết sức căm ghét.

Cô ngừng nói, đôi mắt nhìn xa như cố hình dung lại những gì trong quá khứ. Một lát, cô tiếp:

– Ở trong trường, em không có bạn. Em là người Á châu duy nhất. Bọn học sinh trong trường chẳng cần biết em là ai, chúng chỉ gọi em là Asian và khinh ghét em ra mặt. Chỉ có Garcia là đến với em, giúp đỡ em.

– Garcia?

– Vâng, Garcia là chồng em.

Cô gỡ mấy ngọn lá rơi vướng trên tóc, ném ra xa. Anh hỏi:

– Anh ta yêu cô lắm?

Miên Tâm cười gượng:

– Hình như thế.

Anh có cảm giác bực tức:

– Hình như? Đến giờ mà cô vẫn ỡm ờ với tôi. Hai người yêu nhau, lấy nhau, có con với nhau. Anh ta đi đâu, cô theo đó. Vậy cô tìm đến tôi để làm gì? Chỉ có một câu trả lời: cô muốn hại tôi.

Miên Tâm bối rối nhìn anh, nét mặt tràn đầy ân hận. Cô cầm tay anh, bấm nhẹ vào lòng bàn tay, nói:

– Em biết anh giận. Nhưng em nói thật, anh có quyền tin hay không tin. Em muốn yêu một người Việt Nam, nhưng em lại chẳng quen một người Việt Nam nào cả.

Khuôn mặt cô trở nên u ám:

– Em đã trải qua tuổi thơ, mà người ta cho là đẹp nhất đời, không cha, không mẹ, không bà con, không bạn trai, không bạn gái. Em không biết yêu. Có ai đâu để em yêu!

Anh hỏi:

– Garcia yêu cô thế, sao cô bảo không có ai?

Cô nhìn vào mắt anh:

– Vâng, Garcia yêu. Nhưng nói anh đừng cười, Garcia rất kém tiếng Anh, vì khi qua Mỹ, đã lớn. Tụi em trò chuyện với nhau rất ít, vì Garcia không hiểu hết những gì em nói. Tụi em chỉ trao đổi vài ba câu thông thường trong đời sống hàng ngày, chứ chẳng có tâm sự gì được với nhau. Em nghĩ gì, thích gì, Garcia chẳng hề biết. Tụi em ở với nhau như hai con thú …

Anh ngạc nhiên với cách dùng chữ khác thường của Miên Tâm:

– Hai con thú. Tôi không hiểu.

– Vâng, hai con thú. Chỉ có ăn, ngủ, nói chuyện trời mưa trời nắng vu vơ. Còn cái kiểu yêu của Garcia, em muốn nói, cái kiểu make love của Garcia … ghê quá!

– Ghê quá?

Cô quay mặt đi. Hưng nhắc lại câu hỏi. Cô ấp úng:

– Ghê quá là dữ dội … là … Garcia đêm nào, ngày nào cũng bắt em xem phim sex, rồi thì là … dày vò em, bắt em chiều … đủ kiểu. Em sợ …

Cô ôm mặt. Đột nhiên, anh thấy Miên Tâm nhỏ bé, tội nghiệp quá. Anh hỏi, giọng nhẹ nhàng:

– Sao cô không bỏ đi?

– Đâu có dễ. Anh ấy ghen dữ dội. Nhiều lần, anh ấy dọa giết em nếu em bỏ anh ấy. Anh ấy khóa số điện thoại, không muốn cho ai gọi vào với em. Em như người tù.

Anh rùng mình, nhớ lại cảnh Miên Tâm và anh ở với nhau trong căn phòng chỉ cách chỗ anh ta có hai tầng lầu. Nếu anh ta biết được, chắc cả hai không khỏi bị anh ta cho ăn đạn. Nghĩ đến đó, anh nổi da gà. Anh đứng dậy, lồng ngực ngột ngạt, vươn vai, cố hít một hơi dài, nhìn quanh. Nếu anh ta đột nhiên xuất hiện đâu đây, anh chạy đâu cho thoát. Miên Tâm đứng dậy theo, bước đến bên anh. Anh tránh xa, nghiêm nét mặt:

– Đủ rồi. Tôi đưa mẹ con cô về.

Cô ngước mắt nhìn anh:

– Còn sớm mà.

Anh gằn giọng:

– Cô còn muốn đẩy tôi vào tình cảnh kỳ quặc, nguy hiểm như thế này à?

– Cái gì nguy hiểm?

– Chồng cô chứ ai vào đây nữa.

Cô chợt hiểu nỗi sợ hãi của Hưng. Cô nói:

– Anh ấy đi New Hampshire rồi.

– Ai mà biết anh ta ở đâu. Vấn đề là tôi đã chở vợ anh ta đi chơi.

– Em biết chắc. Anh ấy đang ở New Hampshire.

Anh quay đi, không nói gì. Miên Tâm im lặng bước theo, cô nắm tay anh:

– Gió lạnh, Hưng à.

Nàng gọi tên anh, đằm thắm lạ lùng. Anh muốn rút tay ra, nhưng cuối cùng để yên. Anh rùng mình. Cơn gió tốc mạnh về phía anh. Miên Tâm xoay chiếc áo về một hướng, che kín hai người. Lá đổ rào rào chung quanh. Dưới tấm áo, cô ôm vai anh, nép vào ngực anh, nhỏ bé. Hưng nghe hơi thở cô ấm áp một bên. Hai người im lặng bước đi. Công viên chiều vắng ngắt. Mọi người có lẽ ở đâu trong các nhà máy, công sở. Chỉ đôi ba kẻ vô công rỗi nghề, bỏ học như anh, hoặc bỏ chồng như nàng lang thang ở đây.

Đến xe, mở cửa, anh thấy đứa bé vẫn còn nằm yên, ngủ ngon lành. Giờ nhìn nó, anh thấy tội nghiệp. Chẳng biết lớn lên, nó sẽ phải qua những nỗi bất hạnh nào.

Trên đường về, cả hai đều im lặng, mỗi người theo đuổi những ý nghĩ riêng. Trả hai mẹ con trước cổng Family Health Center, anh phóng xe rời xa như chạy trốn.

*

Như để bù lại số thì giờ đã phung phí một cách vô ích với Miên Tâm, Hưng lao đầu vào việc học và việc làm. Anh không ân hận, không phiền trách, nhưng cảm thấy như có cái gì hụt hẫng, có cái gì như chợt mấy đi, mất hẳn. Cô ta có lẽ vẫn còn ở tầng bảy, có lẽ hàng ngày vẫn đi vào thang máy, vẫn thỉnh thoảng mặc chiếc áo đỏ, nhưng anh có cảm tưởng như cô đã đi xa, đã rờì bỏ nơi này. Anh mở cửa phòng, bước vào thang máy, chẳng hề ngoái nhìn lui. Cô chỉ còn là một kỷ niệm nhỏ trong đời anh, một vết mực chợt vương trên tờ giấy trắng. Thỉnh thoảng anh tự hỏi có thể nào cô còn gọi điện thoại cho anh? Mấy chữ Việt Nam anh dạy nàng có còn nhớ? Một tuần, hai tuần, ba tuần trôi qua kể từ ngày anh chở mẹ con nàng đi Green Hill.

Một hôm, đúng vào lúc anh không mong chờ gì cả, thì Miên Tâm gọi. Lúc ấy, đã khuya. Đang thiu thiu gần ngủ, anh ngồi bật dậy bắt điện thoại. Tiếng cô hấp tấp:

– Anh vẫn còn đó. Em xuống bây giờ được không?

Anh cương quyết:

– Không. Xin để cho tôi yên. Đừng quấy phá tôi nữa.

Giọng cô gấp rút qua tiếng thở hổn hển:

– Anh ấy đi rồi. Em muốn gặp anh một lần, trước khi … trước khi …

Anh hỏi vội:

– Trước khi gì?

– Trước khi em đi.

Anh giật mình:

– Đi? Đi luôn?

– Vâng, anh Hưng à. Không còn thì giờ nữa, em xuống nhé?

Cô gác máy. Anh bâng khuâng giữ chiếc điện thoại trên tay, chẳng biết có nên mở cửa cho cô ta vào hay không. Nhưng rồi, anh bỏ điện thoại xuống, dứng dậy, bật đèn. Tiếng chân đã nghe loáng thoáng. Anh bước đến cầm nắm cửa, lòng trù trừ không dứt khoát. Gõ cửa. Anh vặn chốt cửa, lòng hồi hộp. Cô lách vào, nhìn anh cười buồn:

– Tưởng anh không mở.

Cô bước đến ngồi trên giường anh. Anh gài cửa cẩn thận, ngồi cạnh bàn, nhìn. Cô mặc “rốp” ngủ màu xanh, hớ hênh, tóc dài xõa đầy hai vai và một phần khuôn mặt nhỏ nhắn. Hai tay cô vòng trước ngực, bất động, buồn bã. Anh muốn nói một câu trách móc, than phiền nào đó, nhưng không được. Một lát, cô ngẩng lên nhìn anh:

– Em đi, trong vài giờ nữa. Chẳng biết có còn gặp lại anh nữa không …

Anh hỏi:

– Chồng em đâu?

Cô bật cười, nụ cười khô, gượng gạo:

– Anh đừng lo, Garcia không có mặt ở đây. Garcia đến hãng lo thu xếp một số công việc gì đó. Em chẳng muốn đem thêm rắc rối đến cho anh đâu. Nhưng …

Giọng cô nghe khác đi:

– Nhưng … em buồn quá. Em sắp xa anh.

Cô nhìn anh chới với:

– Anh đến với em đi …

Hai tay cô dang ra, nước mắt long lanh. Anh bần thần đứng dậy, im lặng bước đến bên cô. Cô víu cổ anh xuống, ôm chặt lấy anh, đầu gục vào ngực anh, nức nở. Nước mắt thấm vào da anh, lành lạnh. Cô ngẩng đầu lên, tay níu hai vai anh:

– Hôn em đi.

Anh chưa kịp phản ứng gì thì cô đã vật anh xuống giường, hôn tới tấp. Cô cắn. Cô rờ rẫm. Hơi thở cô nóng hổi. Anh nghe mùi tóc, mùi nước hoa, mùi da thịt cô tràn trề trên người. Những nụ hôn và những ngón tay. Cô thành thạo. Dữ dội. Cuồng nhiệt. Đắm đuối. Anh đờ đẫn, run rẩy, bàng hoàng, không biết phải làm gì. Tóc nàng rối tung. Cái áo ngủ gần như tuột hẳn xuống. Cô nàng thực quá quắc, anh nghĩ.

Một lát, chừng như thấy anh thụ động quá, cô ngừng lại, hỏi anh qua hơi thở gấp:

– Anh không thích em?

Anh không trả lời, xoay người ôm chặt lấy cô. Cô đưa hai tay giữ lấy đầu anh, thì thào:

– Hưng, em muốn một kỷ niệm Việt Nam. Đừng trách em, tội nghiệp. Em muốn … em muốn … một chút mùi … mùi Việt Nam. Em muốn … enjoy a little taste of Vietnamese … Một chút hương … Việt Nam, một chút … một chút …

Hưng không để cho cô nói nữa. Anh chồm lên người nàng. Như một con thú hoang. Không còn là một Hưng e dè, thận trọng nữa. Không còn Miên Tâm. Không còn Garcia. Không còn trời. Không còn đất. Hai sức trẻ quấn vào nhau như chưa từng. Một lần. Chỉ một lần thôi. Căn phòng rung rinh. Chao đảo. Từng hồi.

Và rồi tất cả lắng xuống. Hai người nằm lặng lẽ nghe hơi thở của nhau.

Chợt nhìn đồng hồ, Miên Tâm ngồi dậy. Cô mặc vội áo quần, kéo anh dậy, hôn nhẹ lên má anh, nói:

– Cảm ơn anh. Em phải về. Bye bye.

Cô bước đi, dứt khoát. Khi đến cửa, cô dừng lại, nhìn lui:

– Em không có gì đáng trách chứ?

Cô mở cửa bước ra. Tiếng chân cô xa dần.

Hưng nhìn xuống thân thể mình, ngẩn ngơ. Và chợt nhớ ra, anh chưa kịp nói gì với Miên Tâm cả.

Trần Doãn Nho

(Trong tập truyện “Vết xước đầu đời”, 1995, tác giả nhuận sắc 2018)

Dặm trường

vanviet.info/van

Văn 25 Tháng Ba, 2019

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 7 Aug 2024

Kỳ 4

Chương 9

Trở về lại Sài Gòn, Hạnh cảm thấy lòng mình phơi phới một niềm vui mới mẻ. Ngồi trên xe, người nàng nhẹ tênh mà lòng cũng nhẹ tênh. Chưa bao giờ nàng cảm thấy mình hồn nhiên, tươi trẻ như thế. Không có mang hàng hóa gì, nên nàng chẳng quan tâm gi đến các trạm thuế dọc đường. Không lo lắng, băn khoăn, không nhìn trước nhìn sau, không nhìn qua nhìn lại. Nàng lặng nhìn những cánh đồng xanh tươi thoăn thoắt chạy lùi ở hai bên đường, đầu óc tưởng nghĩ đến những niềm vui nho nhỏ trong những ngày sắp tới. Khác với những lần trước, cứ mỗi lần vào bán hàng ở Sài Gòn, nàng nôn nao muốn về. Ở Sài Gòn, nàng thấy lạc lõng, nhạt nhẽo, thiếu cái ấm cúng, thân tình của Huế. Thiếu đầm ấm, thiếu tình cảm. Nàng nhớ Huế, nhớ chồng, nhớ con, nôn nao muôn về. Nhưng lần này, tự nhiên, nàng cảm thấy Sài Gòn đáng yêu. Sài Gòn tự do, Sài Gòn rộng lượng, hào phóng. Sài Gòn không ai biết ai. Ở Sài Gòn, người ta lẫn lộn với nhau, không ai dòm ngó ai, không ai xoi mói đến đời tư. Nàng bỗng nhiên muốn ở lại Sài Gòn.

Về nhà, nghe có người nhắn nhe muốn xem hàng, nàng không vồn vã lắm vì biết là hàng còn đứng. Hơn nữa, nàng còn muốn về miền Tây. Nàng cảm thấy mình vừa có thêm đường làm ăn, có lối thoát. Chiều hôm đó, có người hẹn xem hàng, nàng từ chối ngay. Thì giờ để dành cho việc khác. Nàng lấy giấy viết thư cho Lục:

“Ngày…

Gửi anh

Không vừa ý, nàng lấy tờ khác viết lại:

“Ngày…

Anh yêu,

Chiều hôm nay, có hai người khách Campuchia tới xem hàng, họ là lái từ bên đó sang. Họ lựa hàng rất kỹ. Hàng đầu thì họ lựa không khác chi em, nhưng hàng đuôi thì họ kén dữ lắm. Rất nhiều miếng hàng loại 3 bị họ cho xuống loại 4, và từ 4 họ cho xuống 5. Em hô bán 3 cây, họ trả tiếng đầu 1 cây, sau họ thêm một chỉ nữa là một cây mốt. Còn thấp quá. Không bán được, nhưng em cũng mừng vì như thế là hàng đang có dấu hiệu ăn trở lại. Nhớ hôm mới đem vào, kêu mua hàng, chẳng ai thèm tới. Em nghe nói thương lái từ Campuchia đang trên đường qua nhiều. Hy vọng rồi sẽ bán được. Em cũng chỉ trông họ trả có lời chút đỉnh là em bán phứt để ra cho rồi. Nhớ anh, nhớ con chịu không nổi. Ðêm nào nằm cũng nằm mơ thấy anh và con.  Nhớ thằng cu Tơ quá trời. Nhưng biết làm sao bây giờ. Ra lỡ hàng ăn thì uổng phí quá. Anh đừng buồn và giận em nghe.  Trong lúc chờ đợi, ngày mai hay ngày mốt, em sẽ về miền Tây một chuyến nữa. Lần này, cùng đi với một người bạn học.  Người bạn này rất rành đường sá ở dưới đó.”.

Hạnh cắn bút, ngập ngừng. Suy nghĩ một lát, nàng viết tiếp:

“…Em định đi buôn chung, nhưng sau nghĩ lại thấy bất tiện, nên em cũng sẽ lại đi một mình. Anh biết không, có những món hàng mình lời không ngờ được. Như vỏ bao thuốc Ðà Lạt chẳng hạn. Ở dưới vùng đó, người ta làm thuốc giả quá trời, nào là Hoa Mai, Ðà Lạt, Sông Cầu và cả thuốc đầu lọc ngoại nữa như Jet chẳng hạn. Nhiều nhất là thuốc Ðà Lạt. Thường thì họ dùng vỏ bao Ðà lạt “rởm”, in ấn lem luốc hoặc vỏ bao cũ, loại bao “rin” dùng rồi, họ mua lại từ những người bán thuốc lẻ. Nhưng dùng loại vỏ này bán không được giá, vì khách biết ngay là Ðà Lạt giả. Nhờ người bạn chỉ, em mánh mua được vỏ bao “rin” từ trong xưởng in ra. Em lấy có 6 hào, nhưng về bỏ lại cho họ đến 10 hào, lời gần gấp đôi. Lần vừa rồi, đi thuốc lá sợi Lạng Sơn cồng kềnh quá, chỉ có 5 kí mà đựng trong một cái xách to, căng phồng, gây chú ý cho thuế. Cũng may, em lại có quý nhân phù trợ. Tình cờ thôi…người ấy.”.

Lại dừng, rồi tiếp:

“…là bạn học cũ. Lần này, em sẽ không đi thuốc lá sợi nữa, chỉ đi vỏ bao Ðà Lạt thôi. Vừa gọn vừa có lời. Loại bao này, họ trả giá cao là vì khi bán ra thị trường, người ta không phân biệt được thật hay giả. Họ bán ngang giá Ðà Lạt thật. Anh biết họ làm sao không? Họ mua nguyên cây Ðà Lạt thật về, rồi cứ mỗi cây, họ chen vào đó vài gói Ðà Lạt rởm, đóng lại bỏ mối cho con buôn hay bỏ ngay trong cửa hàng nhà nước. Nghe nói, họ làm Ðà Lạt rởm nhưng chất lượng lắm, không thua gì Ðà Lạt thật, chỉ khác nhau một chín một mười. Khách bình thường không ai phân biệt được.

Bận lên, em đi tôm khô. Tôm khô họ cũng bắt dữ lắm vì là hàng xuất khẩu. Em chỉ mua vài kí, mua thêm xách gạo, rồi nhét xuống dưới gạo. Kỳ rồi, em cũng mang lên được 2 ký tôm khô. Ðến bến xe, thuế vụ họ dùng que chọc xuống để tìm, nhưng may họ không phát hiện được. Loại tôm này bán ở Chợ Lớn cũng có lời lắm, cả mấy trăm đồng một kí.

Anh yêu, nói rứa cho anh rõ ngọn ngành. Ðừng có buồn và lo. Nhớ lo cho mấy đứa. Bận ra, em sẽ “đền” cho anh. Hôn anh ngàn cái. Hôn cu Tơ ngàn cái”.

TB. À quên, anh cần tiêu gì cứ mượn tạm đâu đó mà tiêu.  Tiêu thêm một chút cũng được, nhưng đừng hoang phí quá, em không đủ sức trả”.

Viết xong, nàng cảm thấy nhẹ người. Nàng bỏ thư vào phong bì dán lại, nhét vào ví. Biết mình còn ở lại, chắc thằng chả buồn lắm. Nhưng biết làm sao được! Nàng ngồi xuống ghế, hai bàn tay chụm vào nhau đặt giữa hai đầu gối, kẹp lại, ngẫm nghĩ bâng quơ. Chợt thấy lòng bâng khuâng khó tả.

*

Hạnh bảo xe xích lô dừng ngay tại góc đường. Trả tiền xong, nàng đi bộ lửng thửng vào đường Bình Thới. Ðoạn đường này vắng vẻ, ít xe cộ, hàng quán. Bên kia đường là mấy căn nhà đang xây. Bên này đường là khu nghĩa trang đang giải tỏa.  Các nấm mộ, cái còn nguyên, cái đã đào xới lên. Gạch đá, bia mộ nằm ngổn ngang. Tới cây vông đồng lớn, nàng dừng lại, nhìn quanh để dò địa chỉ. Có tiếng gọi:

–     Hạnh!

Nàng quay lui. Túy vừa đạp xe tới.

–     Chào thầy. Hạnh cảm động, nói lí nhí.

–     Chào Hạnh.

Chào xong, cả hai đột nhiên cảm thấy bẽn lẽn, không biết phải làm gì. Mười mấy năm rồi còn gì! Nàng đảo mắt nhìn quanh, bối rối. Túy cũng nhìn quanh. Hai người quay lại, chợt bắt gặp cái nhìn của nhau, cùng quay đi chỗ khác. Tự dưng, ai cũng cảm thấy sợ hãi vu vơ y như đang có một cuộc hẹn hò đầu đời. Đứng tần ngần  khá lâu. Túy làm ra vẻ mạnh dạn:

–     Mình đi. Không lẽ đứng đây.

–     Chỗ đó có gần đây không thầy?

–     Hơi xa. Hay là…hay là…Hạnh để tôi chở đi?

Hạnh nhìn chiếc xe đạp thô tháp của Túy, ngần ngại. Cuối cùng, Hạnh nói:

–     Cũng được. Thầy chở em đi.

Hạnh mạnh dạn đến sau xe, ngồi ngay lên poóc-ba-ga.  Túy chưa kịp điều chỉnh tay lái nên xe đạp nghiêng qua một bên. Hạnh chới với vịn vào lưng Túy, sợ té xuống đường. Nàng rùng mình, vội buông ra.

–     Hạnh không sao chứ? Túy hốt hoảng hỏi.

–     Dạ, được rồi thầy.

Túy đạp đi. Hạnh bíu một tay vào phía dưới yên xe, hai chân mày mò tìm cách đặt lên chỗ gác chân. Túy đạp vòng vào một con đường đất, trông giống như đường làng.  Túy giải thích:

–   Nhà sát bên cánh đồng, nên không chỉ cho Hạnh được. Ðịa chỉ không rõ ràng, toàn là “sur” với “sur” không hà. Ðừng phiền nhé.

–     Ðâu có thầy. Ai mà dám phiền thầy.

Túy dừng lại ở một ngôi nhà lợp tôn, sau khi đi qua một lối đi rải đá khá dài. Tiếp hai người là một phụ nữ trung niên.  Thấy Túy, bà ta nói:

–    Ổng đi rồi, chú Túy ạ. Ông có dặn tôi nói lại với chú là số lượng chưa đủ. Ðộ này nhiều mối quá, nhất là từ miền Trung vào nên mấy ổng làm không kịp. Chiều hay mai chú trở lại được không?

–    Chắc có đủ không chị?

–    Thì đàng nào cũng phải có đủ cho chú chứ. Chú lấy thêm cho cô đây nữa phải không?

–     Vâng. Cũng bạn hàng quen. Cô mới đi lần đầu.

Bà chủ nhà nhìn hai người, miệng mấp máy như muốn hỏi điều gì, nhưng kịp dừng lại. Bà nhìn ra ngoài vườn, mỉm cười vu vơ. Túy nói:

–     Vậy lát chiều em trở lại chị nhé. Chị nhớ nói anh lo giúp em nội hôm nay. Mai phải đi rồi đấy, chị ạ.

Túy dắt xe đạp quành lại.  Hạnh bước theo sau. Bây giờ đi đâu nhỉ? Nàng tự hỏi trong khi Túy đắt xe một mạch thẳng ra ngoài đường, đứng đợi. Cả hai lại bối rối nhìn nhau. 

– Hạnh muốn về chưa? Hay là…

Hạnh dụ dự, đáp lửng lơ:

–    Cũng chẳng biết đi đâu. Thầy quyết định đi.

–    Ðàng nào thì chiều cũng phải trở lại lấy hàng. Hay là mình đi quanh quanh đây chơi một chặp, đợi chiều trở lại.  Ðược không?

Chỉ đợi có thế, Hạnh gật đầu. Bước vào quán cà phê rồi, Hạnh mới nhận ra rằng chuyện làm ăn chỉ là cái cớ. Nàng mong mỏi được gặp ông thầy cũ của mình. Nàng vui mừng vì mình được ở lại Sài Gòn. Nàng vui mừng vì sắp về miền Tây thêm một chuyến nữa. Nàng vui mừng đến chỗ hẹn chiều nay. Nếu nàng bán hàng được, có lời, không hiểu nàng có đủ cam đảm trở về lại Huế hay không?

–    Hạnh này, Túy chậm rãi nói trong khi nhìn thẳng vào mắt cô học trò cũ. Tôi đề nghị Hạnh không nên gọi tôi bằng thầy nữa. Thầy giáo đã tháo giày rồi còn gì nữa đâu. Huống gì tôi mất dạy từ lâu rồi.

Hạnh ném vào Túy một cái nhìn tinh nghịch:

–    Em lại thích gọi bằng thầy hơn. Vì gọi thầy, nó gợi cho em vô số điều…tưởng như  đã chìm vào quên lãng.

–    Nhưng mà lúc này, gọi thầy trông nó lạc điệu quá! Nó làm tôi mất tự nhiên.

–    Em van thầy. Cứ cho em gọi bằng thầy đi. Ngày xưa mỗi lần nhớ đến thầy, viết thư cho thầy, đầu óc em khi nào cũng vang lên hai chữ “thầy Túy”. Ðâu có chữ nào khác đâu.  Không gọi thầy chẳng lẽ gọi…cái gì nhỉ?

Túy dọa:

–    Nếu Hạnh cứ gọi bằng thầy thì…coi chừng thôi…

–    Thầy sẽ bỏ em lại một mình ở đây, phải không? Thôi được. Em sẽ gọi bằng…anh đi, được chưa? Anh…anh…T…ú…y.  Trời, ngượng miệng quá.

–    Gọi đại đi, vài lần sẽ quen à. Như bạn bè thôi. Còn thầy trò đâu nữa.

–    Vậy là thầy… à… anh không công bằng rồi nhé. Em thì gọi bằng anh mà thầy thì xưng tôi, mô có được.

Túy cười xòa:

–    Thôi anh em vậy nhé.

Tuy đồng ý như thế, nhưng khi gọi, nàng vẫn cảm thấy ngượng miệng, nên nói trổng:

–    Từ ấy đến nay, bao nhiêu năm rồi nhỉ? Mười lăm hay mười sáu?

–    Cũng hơn mười sáu…à để xem, tôi…à anh bị gọi nhập ngũ tháng ba năm sáu chín.

–   Phải rồi, hôm lần cuối gặp thầy, thầy…à anh…Em không gọi anh được đâu. Khó quá. Thấy tiếng thầy nó gần gũi với em hơn. Gọi thầy nó trơn miệng dễ nói. Mà thầy có biết sao không, chỉ có tiếng thầy mới làm em nhớ lại hồi đó, lúc em còn bé, còn …

–    Bé gì mà bé. Lớp 11, 12 lớn tồng ngồng mà bé gì?

–    Em muốn nói là còn nhỏ, còn ngây thơ, còn ngoan, còn dại…khờ.

–    Ai bảo dại. Mấy cô trêu thầy như quỷ sứ.

–   Không dám đâu! Thầy vào lớp trông như một hung thần. Thầy còn nhớ con nhỏ gì nhỉ, à con nhỏ Loan. Hôm đó, thầy bảo nó đứng dậy trả lời câu hỏi, con nhỏ không đứng dậy. Thầy gọi lần hai, lần ba, con nhỏ vẫn ngồi tại chỗ. Thầy đỏ mặt, cho con nhỏ “không” điểm, rồi mắng mỏ cả lớp một trận về việc “tiên học lễ hậu học văn”. Thầy có nhớ chút nào không. Lúc đó, trông thầy còn ác hơn là một hung thần nữa.  Thầy có biết vì sao con nhỏ không chịu đứng dậy không?

–    Làm sao tôi biết được.

–    Ấy, ấy, thầy quá tệ! Thầy không biết gì hết. Thầy thiếu kinh nghiệm.

–    Gì?

–    Thiếu kinh nghiệm. Hôm đó, nó đang bị…đang có kinh, thầy biết không? Nó ngượng quá trời.

–    Trời, thế mà tôi đâu có hay gì!

–    Con nhỏ về nhà nó khóc, nó oán thầy quá chừng chừng. Em cũng tức thầy, tức ơi là tức. Tức mà không biết làm sao mà nói.

–    Hạnh nghĩ địa vị tôi lúc đó, làm sao tôi …

–    Ðúng, thầy nói cũng đúng. Sau này lớn rồi, có con có cái, em mới biết làm thầy làm cô không phải dễ. Nhất là mấy lớp lớn. Nhưng hồi đó, tụi em như lên cơn sốt. Em thì vừa sợ thầy, vừa giận thầy, vừa…đủ thứ.

–    Ghét tôi nữa chứ gì?

–   Ðã đành là ghét rồi. Nhưng nếu ghét luôn thì còn dễ.  Ðàng này…khác mới phiền. Thầy còn nhớ con Ngọc, cái con cao nhất lớp, ngồi gần cửa sổ không?

–    Chịu. Giờ gặp thì nhớ, còn không gặp thì mơ mơ màng màng. Học trò đông, làm sao nhớ hết cho được. Mà Ngọc làm sao?

–    Thầy có nhớ có lần thầy vào lớp, thấy một lá thư ai để trên bàn, thầy mang ra đọc cho cả lớp nghe không? Thầy có biết thầy làm như vậy là tàn nhẫn không? Tàn nhẫn hết chỗ nói. Con Ngọc nó viết đấy. Trời, nó nghe thầy đọc mà nó tím mặt tím mày, giận thầy ơi là giận, tưởng trên đời này chỉ có một mình thầy là có thể làm cái việc đó thôi. Nó bảo: thầy tưởng thầy ngon, thầy giỏi, rồi làm bộ làm tịch. Nó thề là nó sẽ trả thù thầy.

–    Rồi cô ấy trả thù …tôi bằng cách nào?

–   Hồi đó chỉ nghe nó nói thế thì hay thế. Chẳng thấy động tĩnh gì hết, thì thầy đi. Sau này tình cờ gặp lại, em hỏi, mi đã trả thù thầy Túy được chưa, nó nói rồi, em ngạc nhiên hỏi, trả thù thế nào, nó nói là nó trả thù ngay mùa hè năm đó, em hết sức ngạc nhiên hỏi, sao hồi đó tau chẳng nghe chi cả, mà mi trả thù làm sao, hắn trả lời em sao thầy có biết không?

–   Không.

–   Hắn nói tỉnh bơ, tau bỏ học, tau lấy chồng, em hỏi lấy ai, nó nói nó lấy thằng cha hàng xóm, chồng tau bây giờ đó, em lại hỏi, mi ưng anh ta à, nó bào không, em lại hỏi, tại sao mi không ưng mà mi lấy, nó nói nó lấy cho bỏ ghét, em hỏi, rồi sao nữa, nó nói, ờ thì lấy chồng, đẻ con và…thôi, chấm hết. Nó còn nói là em có gặp thầy Túy thì cho nó gửi lời thăm, nói là tau vẫn nhớ thầy, em hỏi rứa mi không còn thù nữa sao, nó buồn buồn trả lời, thù làm gì nữa, đời mình coi như xong rồi, còn gì đâu mà mơ với mộng….

–   Vậy mà tôi có biết gì đâu?

–    Thầy đi rồi, có ai gặp thầy mô mà kể. Mà hồi đó, có gặp cũng không kể. Ai mà vô duyên rứa, phải không?

Túy xoay xoay cốc cà phê vừa uống cạn, nhìn Hạnh:

–   Nãy giờ cô nói một mình, tôi không có được nói chi hết.

–   Thì có ai cấm thầy đâu? Mà lại, thầy có chuyện gì để nói. Chỉ có tụi em là nhiều chuyện thôi.

Túy chuyển câu chuyện:

–   Sao, gia đình Hạnh giờ thế nào? Chồng con ra sao?

–    Thầy ơi, tha cho em đi, “chuyện chồng con khó nói lắm thầy ơi”. Mà hơi sức đâu để ý đến chuyện đó. Gặp thầy đây là em chỉ nhớ đến hồi đó, cái thời đi học ấy. Cuộc sống bon chen quá, có lúc nào thảnh thơi mô, cho nên lúc nào được nói là nói.  Mà thầy nè, thầy khó, thầy ác như vậy, mà nhiều đứa chúng nó lại “mê” thầy.

–   Mê tôi, chuyện cũng lạ. Ai mê?

–   Con Loan này, con Ngọc này, con Hằng này, con Thương này. Ðó là mới chỉ lớp em, còn ở lớp khác nữa.

–   Hạnh khéo bịa. Tôi vừa xấu vừa ác, ai mà thích.

–    Ừ, thì xấu. Xấu mới tức. Phải chi đẹp trai con nhà giàu học giỏi thì còn đỡ tức. Xấu mà có người mê, mới lạ.

–    Còn em?

Hạnh trề môi:

–    Còn khuya, thầy ơi. Em mà mê thầy thì thầy đừng có hòng thoát. 

–    Thì tôi có thoát đâu nào. Bằng cớ là tôi đã bị điên đảo, đảo điên…đến chừ.

–    Ai bị? Thầy hay em?

Hạnh hạ giọng, ngậm ngùi:

–    Ừ, mà sao hồi đó, em đạo đức quá. Nếu không thì…

–    Cái gì mà đạo đức?

–    Em muốn nói, sau lần đó, cái lần hẹn với thầy ấy mà, em chỉ cần báo cho cái cô gì đó vợ chưa cưới của thầy là …xong ngay.

Túy giật mình:

–    Hạnh định làm như vậy?

–    Dĩ nhiên. Nhưng mà sau đó, em nghĩ lại, để làm gì?  Thà cứ vậy cho nó đẹp, phòng sau này còn gặp lại như…thế này này, phải không thầy?       

Chương 10

Hàng chưa có, Hạnh và Túy lại có dịp đi chơi với nhau. Lần này, Túy mượn xe Honda chở Hạnh đến một nơi xa thành phố. Ngồi yên xong, Hạnh chỉ chiếc cầu dài nằm phía xa, có thể nhìn thấy rõ vì tầm nhìn không bị cây cối che khuất:

–    Cầu gì đó vậy thầy?

–    Hạnh đã từng đi qua cầu đó rồi mà quên sao. Cầu Bến Lức.

–    Trời, cầu Bến Lức lận à? Mình đi xa đến thế sao! Sao không đi Ðầm Sen cho gần.

–     Nơi đó rộn ràng lắm. Người tứ xứ không thiếu. Có thể gặp người quen, thêm phiền. 

       Nghe hai chữ người quen, Hạnh hơi e ngại, đưa mắt nhìn quanh. Khách khứa còn lưa thưa có lẽ vì trời  chưa tối. Quán xây giữa một hồ nước, chung quanh đầy những hoa súng, cái nở tòe loe, cái còn búp.

–     Ai có sáng kiến làm cái quán ăn ở đây cũng hay nhỉ.

–     Cán bộ cỡ bự và dân mánh mun vốn thích chỗ kín đáo, xa thành phố.

      Hạnh nhìn người thầy cũ, thầm nghĩ “thì mình cũng thế!”.  Chợt mỉm cười. Túy hỏi:

–     Sao Hạnh cười?

      Hạnh nói qua một ý khác:

–     Thầy già hơn hồi đó.

–     Chẳng lẽ cứ “trẻ mãi không già”. Bao nhiêu năm nước chảy qua cầu…

–     Hèn gì hôm trên xe, ngồi một bên mà chẳng thể nhận ra.

–    Tôi nào có hơn gì Hạnh đâu. Hạnh lúc đó trông như một bà, bà lớn.

–     Bà lớn? Thời buổi này mà còn bà lớn nào nữa. Bà già thì có.

–     Không già. Nói bà lớn là nói độ này Hạnh có hơi…hơi đẫy người ra. Hồi đó Hạnh nhỏ nhắn như một con…con…gì nào?

–     Con thằn lằn chắc!

–     Không. Con mèo. Gì cũng khác hết, chỉ có cái miệng là không.

–     Sao vậy?

–     Nói tía lia. Hôm trên xe, nếu Hạnh nói nhiều thì tôi đã nhận ra rồi.

–     Sao mà nhận ra được. Em mô có nói giọng Huế. Người ta dặn, đi vào miền Nam mà nói giọng Huế là lộ tẩy con buôn ra ngay. Còn thầy, đố ai mà nhận ra cho được. Ðã mặc đồ bộ đội, lại đội nón suốt ở trên đầu. Còn thêm cái gương mát nữa chớ. Giọng thì giọng Bắc. Hèn gì, cứ mỗi lần hỏi thầy, nghe thầy trả lời giọng Bắc, em đã ngờ ngợ. Thấy bộ đội là em dị ứng rồi.

–     Dị ứng mà sao còn năn nỉ, nhờ vả?

      Hạnh muốn phác vào thầy một cái cho đỡ tức:

–     Thầy làm em muốn nghẹt thở. Hỏi nhờ một tí, cứ ậm à ậm ờ, khiến người ta lên ruột, hồn vía bay tận trên mây.

–    Nếu mà biết là Hạnh thì, nói thật Hạnh lên mây, tôi cũng lên theo. Ðàng này, tôi đi buôn, lại giả bộ đội. Tôi còn lo sốt vó hơn Hạnh nữa thì làm sao mà dám giúp ai cho được.  Bữa đó, nếu tay thuế vụ  mà không làm đứt cái xách của bà đi buôn nọ, thì có phần chắc là tôi lắc đầu, khi hắn hỏi tới cái xách của Hạnh.

–    Vậy thì thầy quá tệ. Quá tệ là quá tệ! Chẳng khác gì hồi đó. Tệ và tàn nhẫn.

       Hạnh xụ mặt, phụng phịu, quay đi chỗ khác. Túy nắm vai Hạnh, kéo lại:

–    Vô lý chưa! Lúc đó, nếu tôi mà biết Hạnh thì Hạnh mới trách chớ. Tôi biết làm sao hơn. Phần tôi đã hai cái xách rồi. Ðó là chưa kể hàng giấu trong người.

       Hạnh cười:

–     Lại biện bác. Thôi, cho là đúng đi. Ðể em nói cái này cho thầy nghe: giả sử hôm đó, tay thuế không làm rơi cái xách thì thầy sẽ không nhận hàng cho em, đúng không? Nếu không nhận, thì hàng em sẽ bị bắt vào trạm, đúng không? Nếu bị bắt vào trạm thì mãi mãi, thầy không gặp em. Nghĩa là chúng ta không gặp nhau, đúng không?

–     Không hẳn.

–     Hẳn đi chứ!

–     Không hẳn.

–    Này nhé, thầy không nhận thì hàng bị bắt vào trạm.  Em sẽ vào trạm để đóng thuế và năn nỉ ỉ ôi, đúng không? Xe sẽ chạy. Và thầy cũng…chạy luôn. Thế thì làm sao mà gặp nào.

–     Chắc gì xách Hạnh sẽ bị bắt.

–    Bị. Thầy đi buôn thầy biết quá rõ. Trăm phần trăm là bị. Nhưng mà, nếu em không bị bắt thì vấn đề vẫn không có gì khác.

–    Vì sao?

–   Thì em làm sao có thể nói chuyện với một người mà mình nhờ, người ta không giúp, phải không? Ðàng nào, thầy thấy không, quan hệ giữa em và thầy cũng mất. Vả lại, em có thích làm quen với bộ đội làm gì! Trong trường hợp như thế, trong trường hợp như thế thì…thì…buồn nhỉ.

–     Sao mà buồn?

–    Thì sao nữa. Bởi vì…bởi vì…như thế thì thầy và em vĩnh viễn không bao giờ gặp lại nhau.

–     Thì có sao đâu.

        Hạnh chỉ ngón tay vào mặt Túy:

–     Thấy chưa. Thầy mô có muốn gặp em. Em biết mà!

        Nét mặt nàng chợt trở nên ủ dột. Túy trêu:

–    Thôi, cô học trò ơi. Cô cũng vô tình. Cô chỉ muốn lợi dụng bộ đội thôi, phải không nào? Cũng may mà hôm đó bàn ăn nào cũng đầy người, không thì…

        Hạnh bẽn lẽn, nhớ lại lúc mình cố tình làm lơ anh chàng “bộ đội”, người mà chỉ mới trước đó một thời gian ngắn, đã giúp nàng. Hạnh làm bộ nghiêm mặt:

–     Thôi. Thầy đừng nói nữa.

–     Thôi thì thôi. Nhưng nhớ lần sau, đừng có làm lơ nữa nghe.

–     Thì em làm lơ với “bộ đội”, chứ có làm lơ với thầy đâu.  Khi nhận ra thầy, em mừng không kịp lớn.

–     Tôi cũng vậy.

–    Không, thầy khác, em biết. Trước sau, thầy vẫn xem em là “cơm nguội” thôi. Thiếp là cơm nguội đỡ khi đói lòng. Thầy có còn nhớ câu ca dao em chép lại cho thầy trong lá thư hồi đó không?

–     Nhớ. Nhưng tôi mới là cơm nguội.

       Hạnh cười:

–    Không chừng người này là cơm nguội của người kia.  Cơm nguội, khi đói, ăn ngon bằng mười cơm nóng.

       Người phục vụ dọn đồ ăn ra: gà xé phay và cháo. Túy hỏi:

–     Hạnh uống bia được không?

–     Chút chút.

–     Cho một lít bia hơi, hai ly.

       Người phục vụ mang bia ra. Túy rót cho Hạnh rồi cho mình.  Anh nâng ly:

–     Mừng hội ngộ!

       Hạnh hớp thử một hớp, nhăn mặt. Nàng cố nuốt xuống, rồi uống tiếp. Ðột nhiên, nàng bị sặc. May mà nàng kịp quay ra phía ngoài để phun ngụm bia. Nước văng tung tóe qua tận bàn bên cạnh. Túy móc ngay chiếc khăn tay trao cho Hạnh. Hạnh không ngần ngại, dùng khăn chùi quanh miệng. Nàng vò khăn lại, để trên bàn. Mặt nàng ửng đỏ. Túy nói:

–     Hạnh mặt đỏ, trông đẹp ghê!

       Hạnh đẩy ly của mình sang cho Túy:

–     Thôi, em không uống đâu.

–    Tùy. Nhưng thử lại đi. Ðừng hấp tấp, chỉ hớp ngụm nhỏ.

–     Say chết.

       Nói thế, nhưng Hạnh vẫn bưng ly lên. Nàng nhấp một ngụm thật nhỏ. Túy hỏi:

–     Hạnh chưa nói về tình hình gia đình.

–     Ðã nói với thầy hôm qua rồi. Em lấy chồng, có con. 

–     Hạnh phúc?

–    Dĩ nhiên. Cũng như thầy vậy thôi. Có vợ có con. Cô ấy, à chị ấy như thế nào?

–     Không được như Hạnh.

–    Tại sao?

–    Thì trục trặc. Chuyện đời ấy mà. Mà thôi, nói chuyện khác đi. 

–     Kìa, em đâu có muốn nói chuyện gia đình. Chính thầy hỏi trước mà.

        Túy không nói gì, nhìn trân Hạnh, núc hết ly bia đầy.

Hạnh hỏi:

      –    Thầy có biết hồi đó, tụi em gọi thầy bằng gì không?

–     Không.  Làm sao mà biết được.

–    Không phải một tên đâu. Nhiều tên lắm. Mỗi đứa gọi thầy một cách. Hễ gặp nhau là cãi nhau chí chóe về thầy.

–    Tôi làm gì mà các cô lại cãi nhau?

–    Thầy biết sao không, đứa thì bảo thầy là ái nam ái nữ, đứa thì bảo thầy là lại cái, đứa thì bảo thầy là…lãnh cảm, đứa thì bảo thầy là…

       Hạnh ngừng lại. Túy giục:

–     Là gì nữa?

       Hạnh nhìn xuống, cười khúc khích, tránh cái nhìn của Túy, rồi nói nhanh:

      –   Thầy… bất lực. Con Hồng nó quả quyết thế. Em hỏi sao mầy biết. Hắn đỏ mặt nói tao biết là tao biết, chứ không ai nói cả. Cái con tức cười chưa. Hồi đó, tụi em đâu có rành gì ba cái chuyện tầm bậy tầm bạ như thế.

–   Không rành mà còn như thế huống chi là rành. Còn Hạnh thì đặt cho tôi tên gì?

–     Em há, em đơn giản chỉ cho là thầy làm bộ. Thế thôi.

–     Sao cô nào cũng nghĩ xấu về tôi thế?

      Hạnh quắc mắt, nhìn Túy:

–     Nghĩ xấu thôi à. Ghét với thù nữa kìa.

–    Cũng lạ nhỉ. Tôi mô có làm chi mấy cô. Tôi lo dạy cho đàng hoàng.

       Hạnh im lặng. Túy lấy tăm xóc một lọn nem đưa cho Hạnh:

–     Ăn đi. Nem Thủ Ðức thứ thiệt. Hạnh có nghe nói nem Thủ Ðức, bưởi Biên Hoà chưa. Tí bia nữa nhé?

–     Thôi, không đâu thầy ơi. Hôm qua, uống có chút chút mà về nhức đầu gần chết. Cả đêm không ngủ được.

–     Thôi uống nước dừa đi.

–     Gì cũng được

–    Ðây là xứ dừa, dừa nước có, dừa khô có. Này, Hạnh xem.

       Hạnh nhìn theo tay chỉ của Túy. Cả một vùng toàn dừa là dừa. Dọc theo con đường lộ cũng như con đường làng đi vào trong sâu, cách hai ba nhà lại có một cái quán. Nào là Vườn Dừa, nào là Hẹn Hò, nào Hương Xưa, nào Hạ Trắng. Tên quán kết bởi những sợi dây dừa sơn màu xanh, đỏ, dựng trên những cái cổng cao giống như cổng chào trong những ngày lễ hội.

       Hớp một ngụm nước dừa xong, Hạnh nói:

–    Tụi nó ghét thầy vậy mà cái ngày thầy vào lớp, thầy có nhớ cái ngày đó không, ngày thầy làm đám hỏi ấy mà. Khi tụi nó thấy thầy mang trên tay chiếc nhẫn, tụi nó buồn khiếp. Hết giờ thầy, cả bọn bỏ lớp ra về luôn.

–     Hạnh cũng vậy?

–     Chứ sao!

–     Và tiếp tục nguyền rủa tôi?

–     Nguyền rủa?  Không đâu thầy ơi. Cả bọn năm, sáu đứa đạp xe đi lang thang, tuyệt không đứa nào nhắc đến thầy. Ði ăn, đi uống, đi chơi chán chê, đến khi chia tay về nhà, con Loan nó bảo: “Thế là một trang sử đã lật qua”. Rồi thôi. Ngày hôm sau, đứa nào cũng chăm chỉ học. Còn em há, em mô có chịu thua. Ðâu có để trang sử lật qua dễ dàng như vậy! Em cương quyết “phá” thầy. Em nhất định không chịu để cho thầy được bình an sống với mối tình của thầy. À, thầy còn nhớ cuốn sách em gửi thầy hồi đó không?

–    Nhớ chứ! “Lettre d’une Inconnue”. Thư của một người không quen.

–     Ðúng. Tác giả là ai nhỉ? Hình như là cái gì “vai” đó.

–     Stefan Zveig.

–    Ừ, Stefan Zveig. Cái tên này em cứ quên hoài. Em chỉ nhớ tên dịch giả thôi, Duyên Anh.

–     Tầm bậy.

–     À quên, Cung Tiến. Ðúng rồi, Cung Tiến.

–     Lại tầm bậy nữa. Cung Tiến là nhạc sĩ.

–     Vậy thì ai?

–     Võ Phiến.

–    Không phải đâu. Tên Võ Phiến nghe lạ hoắc. Mà thôi, cứ cho là Võ Phiến đi, hay Cung Tiến gì gì cũng được. Thầy thấy cái thư thế nào? Thư mà thực ra như là truyện.

       Túy bâng khuâng:

–    Phải nhận là ông ta viết quá hay. Chuyện thì chắc là láo, nhưng đọc xong rồi, tôi thấy nó có vẻ thật hơn là chuyện thật nữa. Tôi cảm động tưởng như người mình mềm đi. Chưa kể là sau đó, mỗi tuần lại nhận một lá thư. Toàn là “Thư của một người không quen”. Hạnh ác lắm.

–    Ai ác? Nhận sách, đọc thư, nhận hoa hàng tuần, ấy thế mà mỗi lần vào trong lớp, cái mặt thầy vẫn lạnh tanh. Còn lạnh tanh hơn trước nữa. Vẫn quát nạt bọn con gái tụi em. Em ngán ngẩm đến nỗi ngờ rằng thầy không nhận được thư em viết. Ðấy, ai ác?

       Túy triết lý:

–    Hạnh không biết rằng nhiều khi cái nghiêm trang, lạnh lùng chỉ là tấm mặt nạ che dấu những yếu đuối, bạc nhược đàng sau.

       Hạnh đột ngột chồm người qua chiếc bàn nhỏ, lên giọng:

–     Có đúng là thầy đã từng như thế?

       Túy gật đầu:

–     Vâng, cô học trò ạ. Giờ còn giấu nhau làm gì.

–     Có thật không thầy?

–     Thật!

       Hạnh nhìn sâu vào mắt Túy, rồi xuống giọng ngậm ngùi:

–     Vậy mà hồi đó, em …mô có biết.

–   Tôi cũng thế thôi. Nào có biết gì hơn. Hạnh có biết không, kể từ ngày nhận những bức thư nặc danh, người tôi trở nên hoang mang, thất lạc, bất định.

–    Vì sao?

–    Tôi không thể hình dung có một cô học trò có thể quan tâm đến mình như vậy. Tôi đi đâu, người ta cũng biết, cũng gặp. Trong thư, Hạnh kể khi thì gặp tôi sửa xe ở đường Ðinh Bộ Lĩnh, khi thì thấy tôi đi bộ trên cầu Trường Tiền không mặc áo mưa…Thế mà tôi chẳng biết là cô nào. Chẳng lẽ hồi đó, tôi đi đâu Hạnh cũng gặp hết.

       Hạnh cười:

–     Cái này…cái này …thì đúng là thầy ngây thơ, ngây thơ hung rồi.

–     Tôi ngây thơ?

–     Ừ. Em bịa hết, thầy có biết không. 

–    Bịa thế nào mà tôi đi đâu, làm gì, Hạnh viết trúng phóc.

–    Dễ ợt! Chỉ có vài ba lần em gặp thôi. Còn lại là sao thầy biết không? Học trò thầy đông. Em chỉ cần hỏi dò, hay nghe ngóng đứa này một chi tiết đứa nọ một chi tiết là em biết hôm đó, thầy mặc áo gì, đi mô vân vân. Em chỉ cần nhắc một, hai chỗ cho chính xác là đánh lừa được ông thầy rồi.

       Khuôn mặt Túy chừng như ngớ ra vì tiết lộ này của Hạnh.  Anh gật gù:

–     À, ra thế!

       Hạnh cười, tiếp:

–    Còn chuyện nhớ nhung, yêu ót này nọ, thầy biết không, em cũng bịa luôn.

–     Vậy là cô phỉnh tôi, phải không?

       Hạnh xoay xoay ly bia một chốc, rồi thở dài:

–   Ừ, không sai, em phỉnh thầy. Nhưng nghĩ lại, không phải em phỉnh chỉ một mình thầy, mà còn phỉnh luôn, phỉnh luôn…phỉnh luôn cả em nữa. Em đánh lừa em một thời gian dài mà em không hay. Em tưởng mình đang đùa và thích thú với trò đùa của mình cho đến khi, cho đến khi…

       Khuôn mặt Hạnh chợt đậm xuống, man mác. Nàng nhìn ra xa như để hình dung hết những chuyện của ngày qua. Túy im lặng nhìn cô học trò không chớp. Hạnh chớp chớp mắt nhìn Túy rồi cúi xuống mặt bàn:

–    …Cho đến khi thầy sắp làm đám cưới. Khi đó, em mới biết rằng em đã đùa với tình cảm của mình. Em bị chuyện đùa cợt của mình hành mình. Lúc đầu, em ghét thầy, tức thầy, em muốn phá thầy cho bỏ ghét. Em bịa ra nào là thương nào là nhớ, nào là thế này thế nọ để cho thầy rối loạn, để cho vợ sắp cưới của thầy ghen tuông, nghi ngờ chơi. Nhưng té ra…té ra là em tự dối lòng. Thầy có biết hồi đó, thầy ác lắm không?

–    Thì Hạnh đã kết án tôi ác mấy lần rồi, chưa vừa sao.  Hạnh không thấy rằng Hạnh ác hơn nhiều. Hạnh mới vừa thú nhận đó. Tôi có ác chăng là vì tôi không biết, còn Hạnh ác có chủ tâm. Hạnh muốn phá tôi, phải không? May mà hồi đó, tôi khám phá ra người viết thư quá chậm, chứ nếu không thì…

–     Sao thầy?

       Túy nói lảng:

–   Hạnh có biết không, hàng tuần tôi chờ đợi lá thư để tưởng tượng, để vẽ vời đủ thứ chuyện về một cô học trò. Vào lớp học nào, tôi cũng âm thầm ngắm nghía, tìm hiểu thử xem ai có thể là tác giả các lá thư. Chịu. Không thể nào biết được.  Nhiều lần, Hạnh biết, tôi ra bài làm cho tất cả các lớp ở tất cả các trường tôi dạy, để đêm về, ngồi săm soi từng nét chữ với hy vọng tìm ra nét chữ của người viết thư. Chịu. Em nhờ một người khác viết, phải không?

–    Em viết, từ đầu chí cuối. Em giả nét chữ. Em muốn giấu tất cả mọi người thì làm sao mà nhờ ai viết được.

–    Tôi không tin. Em có thể viết giả một, hai lá chứ không thể viết hàng chục lá được.

       Hạnh nhìn thẳng vào mặt Túy:

–     Thầy vô tình.

–     Không. Tôi chới với.

–    Thầy không để ý, chứ lá thư nào em cũng cố tình viết một hoặc hai câu bằng nét chữ thật của em. Chỉ có vô tình mới không nhận ra.

       Túy đưa hai tay ôm đầu, tưởng tượng lại khung cảnh cũ, nói:

–    Chịu. Tôi chịu. Không thể nào biết được.

       Hạnh trầm ngâm:

–    Mà cũng lạ. Tâm trạng em hồi đó kỳ lắm. Vừa mong thầy nhận biết em, lại vừa mong thầy đừng bao giờ biết. Vì nếu muốn thầy biết thì dễ ợt, nhưng em cứ ỡm ờ mãi, chẳng hiểu vì sao.

–    Thì sao nữa, trước sau, đây chỉ là một trò đùa.

–    Vâng, em cũng nghĩ thế. Nhưng không phải. Em đã hại em, em đã hao hơi tổn sức, em đã, thầy biết không, em đã bỏ lỡ…

       Hạnh nghẹn lời, nước mắt rơm rớm.

Chương 11

Cuộc gặp gỡ bất ngờ, đầy lý thú với cô học trò cũ năm nào dường như làm Túy trẻ lại, khiến anh bớt đi những ám ảnh nặng nề về cuộc sống trước mắt. Nó đưa anh trở về một thời hoa niên sôi động mà anh vụng về để trôi qua mất. Hồi đó, anh e dè, sợ hãi, giữ kẽ đến nỗi anh tự biến mình từ chỗ nghiêm túc giả vờ đến nghiêm túc thật. Anh sống một cách khổ sở, chật vật dưới cái mặt nạ do anh tự tạo ra. Anh đi dứng đạo mạo, ăn nói thì lúc nào cũng lựa lời, giữ ý. Vào lớp thì lúc nào cũng lạnh lùng, nghiêm khắc. Ðặc biệt là nghiêm khắc đối với các nữ sinh. Thực tình mà nói, đối với đám nữ sinh, anh luôn luôn có cái ám ảnh vu vơ, nên anh muốn đặt một ranh giới an toàn giữa họ và anh bằng cách lúc nào cũng cư xử với các cô hơi quá một chút, hơi tàn nhẫn một chút. Anh cho như thế là có lợi cho cả hai bên. Mỗi lần say sưa giảng bài, nhìn những khuôn mặt im lặng, mắt nhìn anh với một vẻ ngưỡng mộ thành kính, anh có cảm tưởng tất cả học trò đều muốn hớp hết những lời anh nói. Anh thành khẩn sung sướng với ý nghĩ rằng anh đã mang lại cho họ nhiều điều. Anh xứng đáng được ngưỡng mộ như thế. Bởi thế lúc nào anh cũng cư xử với các nữ sinh rất phải phép. Như sẵn sàng cho điểm “không”. Như sẵn sàng la mắng một cách thành thật khi một cô nào đó có lỗi. Ðã có lần, anh mang lá thư tỏ tình của một cô ra đọc cho cả lớp nghe để chứng tỏ mình hoàn toàn đứng đắn trong quan hệ thầy trò.   Anh tự lừa dối mình. Chẳng hạn như đuổi một nữ sinh mặc cái jupe cũn cỡn xuống ngồi bàn cuối lớp, nhưng vẫn lấm lét nhìn cặp đùi khi có dịp. Cho một cô điểm thấp vì không thuộc bài, nhưng đợi dịp bù lại bằng cách cho điểm thật cao trong một bài khác, chỉ vì cô bé có một khuôn mặt rất gợi cảm. Trong lớp, rất nghiêm túc khi giảng bài, nhưng lại say sưa ngắm trộm các cô khi cả lớp đang cắm cúi làm bài thi.

      Nhưng đến khi nhận được cuốn “Thư của một người không quen” của một cô học trò vô danh nào đó gửi tặng, anh hết ảo tưởng về sự nghiêm túc của mình. “Thư của một người không quen” là một truyện vừa. Toàn bộ truyện chỉ là lá thư dài của một người đầy tớ gái gửi cho anh chàng sinh viên mà cô yêu trộm nhớ thầm. Cô theo dõi người cô yêu từ những bước chân, cái nhìn, những lúc thay áo quần, những lúc đi chơi…Ðó là một mối tình câm, một mối tình tuyệt vọng, nhưng trong một cảm thức dâng hiến toàn diện. Bằng một lời văn nồng nàn, lôi cuốn, Stefan Zveig đã dẫn anh vào một thế giới tình yêu cực kỳ phong phú, đa dạng và kỳ diệu. Chỉ bằng một cuốn sách đó thôi, cô học trò vô danh đã quật anh ngã. Chưa hết. Cô ta còn gửi cho anh mỗi tuần một lá thư. Ðều đặn như thế. Thư kể chuyện linh tinh, không đâu vào đâu. Lúc đầu, anh cho rằng đó chỉ là trò đùa vô hại của một cô học trò tinh nghịch. Nhưng chính sự đều đặn của nó khiến cho anh mất ăn mất ngủ. Anh đâm ra mơ màng, nửa tỉnh nửa say. Anh săm soi, rình mò, nhìn trộm các cô học trò để đoán xem ai là “thủ phạm”. Ai là kẻ say mê anh? Ra ngoài đường, đi dạo phố, anh nhìn quanh xem thử có cô học trò nào đó không. Anh cảm thấy kiêu hãnh, nhưng bất an, ray rứt. 

       Một hôm, khi anh đi dạy về, thì gặp một cô học trò đang đợi. Anh rất ngạc nhiên, vì xưa nay hiếm khi học trò đến nhà anh. Anh nghiêm nghị hỏi:

–     Em học trường nào?

–     Dạ, thưa thầy, trường Nguyễn Du ạ.

–     Em tên gì?

–     Hạnh. Ðoàn thị Mỹ Hạnh, lớp 12. Thầy không nhớ em sao?

–    Xin lỗi em, học trò nhiều quá, tôi nhớ mặt mà không nhớ tên. Em đến có việc gì không?

       Cô học trò lúng túng, cúi mặt trả lời:

–     Dạ có.

      Cô học trò ngồi, hai bàn tay đan vào nhau, bàn tay này bóp bàn tay kia bồn chồn. Cô dáng người nhỏ nhắn, không đẹp.  Khuôn mặt không có gì đặc biệt ngoài cái cằm thon nhỏ, trông khá duyên dáng. Tuy thế, đó là một khuôn mặt rất dễ lẫn lộn với nhiều khuôn mặt khác, không gây nên một ấn tượng nào rõ nét. Anh nhìn cô, chờ đợi một sự năn nỉ nào đó về điểm kỳ thi đệ nhị lục cá nguyệt vừa qua. Nhưng đợi mãi, vẫn thấy cô yên lặng. Nghĩ rằng cô học trò nhút nhát, sợ hãi vì một lý do riêng tư nào đó, anh nhẹ nhàng khuyến khích:

–     Có gì em cứ trình bày. Liệu cái gì giải quyết được, tôi sẽ giúp em.

      Cô ngước nhìn anh, mím môi, thu hết can đảm nói:

–     Em đến báo cho thầy biết, em là người đã đã viết những lá thư hàng tuần cho thầy.

      Nói xong, cô thở hắt ra. Môi cô run run, đôi mắt long lanh nhìn anh, nửa như thách thức, nửa như van vỉ. Thoạt đầu, anh hơi sửng sốt. Anh hoàn toàn không mấy tin lời thú nhận bất ngờ đó. Anh không thể tưởng tượng cái cô học trò có dáng dấp nhỏ nhắn, hiền lành này lại có thể táo bạo viết cho anh hàng chục lá thư như thế. Nhưng khuôn mặt thành khẩn của cô khiến anh biết ngay là cô không nói dối. Anh nhìn sững cô:

–     Em! Chính em viết! Trời!

      Anh cảm thấy vui, vì đã tìm ra được cái điều ám ảnh anh cả năm nay. Nhưng anh thất vọng hoàn toàn. Trong thâm tâm, anh nghĩ cô học trò viết thư phải khác, nghĩa là phải cao ráo hơn, đẹp hơn, mặt mày phải lãng mạn hơn, đa tình hơn. Những lần vào lớp, khi nhìn quanh các cô để tìm xem cô nào viết, dường như anh chẳng bao giờ để ý những khuôn mặt “bình thường” như Hạnh. Người say mê anh chỉ tầm thường như thế này thôi sao? Thật bỏ công ray rứt, tìm tòi và kiêu hãnh! Anh đang loay hoay tìm cách giấu giếm nỗi thất vọng của mình, thì Hạnh nói liền một mạch, cắt ngang dòng suy nghĩ của anh:

–     Em xin lỗi đã làm thầy bối rối. Nhưng em đã suy nghĩ kỹ và biết mình không thể làm khác hơn. Em chỉ biết một điều rất đơn giản: em yêu thầy. Em yêu và nói em yêu, điều đó có gì tội lỗi không thầy? Em nghĩ là không. Em biết thầy sắp có vợ. Chính vì thế, em cần phải gặp thầy để nói một lần cho hết.  Em hoàn toàn không muốn phá hoại hạnh phúc của thầy.  Thầy yên tâm. Em chỉ xin yêu cầu thầy một điều: đi chơi với em một lần trước khi em vĩnh viễn mất thầy.

       Nói xong, cô học trò nhìn thẳng vào mắt anh, chờ đợi.  Anh lặng người một hồi lâu. Hạnh sốt ruột nhắc:

–     Thế nào, thầy?

       Lần này, chính anh bối rối. Cung cách làm thầy bỗng nhiên biến mất. Anh trở thành một tên học trò nhút nhát đang ngồi trả bài trước một cô giáo nghiêm khắc trong một môn thi vấn đáp gay cấn nào đó. Ðúng hay sai? Có hay không? Cô học trò lặng lẽ đợi, hai tay bây giờ để yên trên mặt bàn, vẻ tràn trề tự chủ. Thấy thầy vẫn ngồi yên, cô lại nhắc, lần này giọng rất dịu dàng:

–     Dạ, thầy…

      Anh trả lời thật nhanh, không kịp suy nghĩ, tưởng như ai đang nói hộ:

–     Vâng, tôi bằng lòng!

       Anh không dám nhìn cô học trò. Còn Hạnh, cô chỉ đợi có thế, chào anh và hấp tấp bước ra cửa, không một lần quay lại.

      Họ đã gặp nhau trong một công viên vắng vẻ lúc chập tối.  Thầy xe Honda. Trò xe đạp. Họ dựng xe sát nhau. Ai cũng định nói thật nhiều điều, nhưng rốt cuộc, ngoài vài ba câu chào hỏi cho có lệ, hai người không nói với nhau một lời nào. Cô học trò cảm thấy những gì cần nói thì cô đã nói hết trong thư. Còn thầy, thầy đâu có gì để nói. Thầy vừa ăn vụng vừa sợ. Thầy ngồi trên yên xe, run rẩy ôm cô học trò cũng run rẩy trong tay, mơ được gặp lại cô ở một nơi khác, và một lần khác. Tất nhiên, một hoàn cảnh khác!

       Ðến lúc về, trước khi đạp xe đi mất, cô cầm chiếc ghi đông xe của thầy, nói nhỏ:

–     Thế mà em cứ tưởng thầy…không phải là đàn ông!

*

       Khi xe xuống dốc cầu Bến Lức, Túy nói:

–     Tôi không ngờ ước mơ đó hôm nay lại thành sự thật.

       Hạnh ngơ ngác:

–     Ước mơ gì vậy thầy?

–     Ấy, lại thầy.

–     Ước mơ gì vậy à…à…vậy anh?

–    Ước mơ được gặp cô…à…gặp em ở một không gian khác, một hoàn cảnh khác.

–     Em chưa hiểu anh nói gì.

–    Anh muốn nói hồi đó, cái đêm đó ấy mà, Hạnh còn nhớ không, đêm mà Hạnh hẹn gặp anh trước cổng trường. Hồi đó, ôm em trong tay, anh nghĩ phải chi anh được gặp em trong một hoàn cảnh khác, một không gian khác.

–    Ðúng là các ông bao giờ cũng tham lam. Vừa muốn vợ, vừa muốn cả người tình, lắm khi người tình một, người tình hai.  Hồi đó, em còn quá ngây thơ.

       Túy cười:

–     Không chừng anh còn ngây thơ hơn em.

       Hạnh ngước mắt nhìn:

–     Ở đó mà ngây thơ!

–   Thì em xem, ai viết thư, ai hẹn hò, ai làm cho đầu óc anh vật vờ rối loạn…

       Hạnh nhéo vai Túy một cái, ghé miệng, nói nhỏ:

–     Nói nhỏ nhỏ một chút, ông thầy. Người ta ngồi chung quanh vậy mà nói y như chỗ không người. À, mà đến ngã ba Tân Hương hay Trung Lương gì đó chưa?

–     Chưa đâu.

–     Rồi sao?

–     Gì mà rồi sao? Anh nói chưa đến ngã baTân Hương.

       Hạnh lại véo vai ông thầy:

–     Em hỏi anh cái chuyện hồi nãy kìa. Cái chuyện đầu óc anh rối loạn…

–    Ừ, hồi đó, đám cưới rồi mà anh cứ dật dờ. Như trong mộng. Hảo gây gổ với anh hoài vì cái dật dờ đó.

–     Chị ấy ghen?

      –     Lúc đầu thì không. Cô ấy nói anh độ sau này đổi tính, không như hồi mới đám hỏi. Cô ấy bảo anh không biết chiều chuộng vợ, không biết yêu thương vợ, ở với vợ mà như ở với ai. Cho đến khi cô ấy biết chuyện em, cô ấy càng gây gổ tợn.

      Hạnh xoay hẳn người qua phía Túy:

–     Biết chuyện em? Biết cái gì? Làm sao biết?

      Túy thở dài:

–     Cũng vì một lá thư.

–     Anh đưa cho bà ấy đọc?

–     Không. Tình cờ cô ấy tìm thấy trong một cuốn sách.

–     Anh không cất à?

–     Cất chứ. Ai mà biết còn sót một lá.

–     Rồi sao?

–    Sao nữa. Cô ấy đọc, cô ấy dằn vặt anh. Anh càng chối, cô ấy càng lồng lộn lên. Sau, cô ấy tự đi điều tra và biết đôi ba phần sự thật. Mà đối với phụ nữ, dường như đôi ba phần hay tất cả, đều giống nhau.

       Hạnh chép miệng, cố giấu một nỗi sung sướng riêng trong lòng:

–    Thế à? Em đâu có ngờ sự thể ra nông nổi như thế. Em đâu có muốn làm khổ người khác.

–   Mọi chuyện càng tệ hơn về sau này, khi anh…ô kìa đến trạm rồi đấy. Em xem lại hàng hóa trong người.

       Hạnh hốt hoảng, khi thấy xe chạy chậm lại và trạm kiểm soát đã ở ngay bên đường. Nàng nói:

–    Mấy xách hàng, anh gửi tài xế cẩn thận rồi chứ. Liệu có an toàn không?

–    Mình trả tiền để mua đường, lo gì. Em nghe người xưa bảo là đóng tiền mãi lộ không? Mãi lộ là mua đường đó.

       Hạnh chỉnh lại hàng bó trong người. Hai người xuống xe, đi qua trạm an toàn. Lên xe lại, Hạnh nhìn ngắm Túy từ đầu đến chân, hỏi:

–    Chẳng giống gì với ông bộ đội hôm trước. Anh cũng có tài cải trang đấy chứ. Nhưng liệu cứ đi hoài như thế này, tụi nó có nhận ra anh không?

–    Ai mà biết. Ðược ngày nào hay ngày nấy. Hàng ngàn người khách qua lại, tài thánh tụi nó cũng không thể nhớ hết.

       Hạnh cười:

–     Từ ngày đó đến giờ, anh làm bộ đội mấy lần rồi?

–     Hai lần. Làm hoài không hay, vì lỡ họ biết được càng khó. Ðộ này, bộ đội hay cán bộ gì họ cũng soát, vẫn lục hàng.  Ði buôn cũng như đánh bạc, vừa phải biết gian lận vừa phải trông vào may rủi.

       Ðến chỗ ngồi, Túy đợi Hạnh bước vào ghế trong, nhưng nàng đòi ngồi ở ghế ngoài, sát lối đi. Nàng bảo:

–     Ngồi mãi trong đó, tê chân quá!

       Túy bước vào ghế trong, nhường chỗ cho Hạnh. Xe qua khỏi trạm, tăng tốc độ, chạy ào ào qua những cánh đồng lúa mênh mông. Anh để cánh tay thò ra phía ngoài. Gió thổi như roi quất vào da thịt. Anh bảo:

–     Công nhận mấy tay lái xe miền Tây này lái giỏi thiệt.  Chạy như giặc. Có lúc còn đuổi nhau trên đường để giành khách.

       Hạnh đồng ý:

–   Họ cứ chạy, cứ tránh, cứ vượt qua như đường không người. Lần đầu, thấy xe chạy vùn vụt, em ngán quá. Họ không sợ tai nạn hay sao?

–   Tuyến đường này lại rất ít tai nạn xảy ra hơn tuyến đường miền Trung. Họ lái giỏi chứ không phải lái ẩu.

       Hạnh bỉu môi:

–     Giỏi gì. Bị tai nạn thì cũng thành ẩu thôi à.

       Túy đưa tay bịt miệng Hạnh lại:

–     Thôi, đi đường đi sá, đừng nói chuyện gở, không hay.

       Hạnh để yên, dù mùi thuốc lá tỏa lên từ bàn tay khiến nàng hơi khó chịu. Ðợi cho anh cất tay đi, nàng gợi lại chuyện cũ:

–     Em không ngờ em đã gây phiền nhiễu cho gia đình anh như vậy. Chắc chị ấy nguyền rủa em dữ lắm.

       Túy thở dài:

–     Thì em biết rồi, đàn bà đã không ghen thì thôi, nếu đã ghen thì…

–    Nhưng nghĩ cho cùng, em có làm gì đâu. Mọi chuyện đã chấm dứt từ khi anh lấy vợ. Em nhận biết giới hạn của mình ở đâu. Vả lại, nói cho cùng, tất cả chỉ là một thời sôi nổi học trò thôi. Cũng chỉ là một cuộc chơi.

       Túy mơ màng:

–     Em nói đúng, chỉ là một cuộc chơi. Một cuộc chơi đáng giá!

*

       Túy và Hạnh xuống hàng ở cách tỉnh lỵ Bạc Liêu khá xa.  Ðịa điểm nằm kế bên một cây cầu lát gỗ bắt qua một con lạch chảy ngang đường.

–     Lần trước em giao hàng thế nào?

–     Ở cầu Cái Giầy.

–     Ðây chưa đến cầu Cái Giầy.

       Xuống khỏi dốc cầu song song bên vệ đường, Túy chỉ ngồi nhà nằm thấp thoáng ở sâu trong khu làng:

–     Ðó là nơi mình giao hàng.

       Nhìn thấy cây cầu khỉ dài, chạy vòng vòng qua con lạch lớn, Hạnh le lưỡi:

–     Trời, cầu kỳ thế này làm sao mà đi qua cho được. 

       Túy cười:

–     Vào miền Nam, phải tập đi cầu khỉ.

–     Sao lại gọi là cầu khỉ nhỉ?

–    Anh nghe người ta bảo ngày xưa vùng đất miền Nam này, dưới kênh lạch toàn là cá sấu, nên người ta không thể lội qua được, đành phải trèo lên ngọn cây cặp mé rạch, rồi đu mình chuyền qua bờ bên kia giống như khỉ chuyền mình trên cây. Sau này khi nghĩ ra được cách làm cầu, khỏi chuyền mình trên cây, nên người ta vẫn nhớ chuyện xưa, nên gọi là cầu khỉ.

–     Nghe cũng hay. Nhưng em ngán quá. Em mô có biết bơi. Lỡ rơi tõm xuống nước thì làm sao đây. Nước gì mà tởm.  Có sâu không anh?

–    Không sâu lắm đâu. Nhưng không té đâu. Nếu làm cầu mà để cho người ta té thì ai dám đi. Em cứ vịn vào các thanh ngang cho thật vững là đi được thôi.

       Hạnh dợm chân bước lên, nhưng sợ quá, nàng thụt lùi lại.  Túy bảo:

–    Em cởi dép ra đi.  Dép Lào trơn lắm. Ðưa dép và xách, anh mang cho. Em đi không. Anh đi sát sau lưng. Ðừng sợ.  Một lần sẽ quen thôi.

       Hạnh cởi dép. Nàng đưa cả xách lẫn dép cho Túy, rồi dè dặt đặt chân lên thành gỗ. Sau khi yên chí chân không trợt, nàng vịn tay vào thanh đỡ, bắt đầu bước. Chiếc cầu khỉ rung rung dưới chân khiến nàng run lên, khiếp đảm. Nàng dừng lại, không dám nhìn giòng nước đục ngầu đang chảy bên dưới.

–    Mạnh dạn lên. Trông cầu yếu thế, nhưng không gãy đâu. Có gì anh đỡ.

       Thấy Túy đứng sát sau lưng, nàng yên tâm dò dẫm bước.  Chiếc cầu, nối từng đoạn, đoạn ngắn đoạn dài, như những nhịp cầu vươn ra giữa con lạch, rẽ sang một hướng khác, vòng lại, dẫn đến bờ bên kia. Qua khỏi cầu, Hạnh đứng lại, vịn vào thanh ngang gần đó, ôm lấy ngực, thở dài nhẹ nhõm:

–     Ớn quá.

      Túy cười:

–     Em thấy chưa, cứ đi là đến hà. Thuế vụ em không sợ, mà sợ gì chiếc cầu. Từ ngoài Trung vào tận đây, chẳng lẽ bước lui, phải không?

       Hai người đi theo một con đường nhỏ dẫn sâu vào xóm trong. Hạnh tò mò nhìn. Nhà nào cũng có cầu khỉ, vì kênh lạch nằm ngang nằm dọc lung tung. Những con lạch nhỏ, những hồ nuôi cá tra, những nhà cầu lộ thiên, bụi bờ lau lách, tất cả đều mang dáng vẻ một cái gì hoang dã, tự nhiên. Túy hỏi:

–     Em cảm thấy như thế nào khi vào miền Nam?

–    Lạ. Nói chung, cái gì cũng có vẻ lạ. Cảnh cũng như người.

–     Mỗi lần về lại đây, anh có cảm giác như người mình được làm mới lại.

–     Nữa! Lại triết lý.

       Sau khi leo qua một đoạn cầu khỉ ngắn nữa, hai người rẽ vào một căn nhà lá lớn, nằm giữa khu vườn rộng trông như một ốc đảo. Dừa mọc khắp nơi, từ đầu ngõ vào sân, dọc theo bờ nước quanh vườn. Túy dặn:

–    Vào nhà, em cứ xem như bọn mình là anh em. Người nhà có thích giới thiệu gì thì cứ để họ tự nhiên. Ðừng thắc mắc.

       Chủ nhà là một người đàn ông đứng tuổi, phong cách rất Nam bộ, ăn mặc xuề xòa, cử chỉ thoải mái. Thấy hai người từ ngoài xa, ông đã đon đả chào:

–     Thầy lại về.  Sao, có khỏe không thầy?

       Hạnh hỏi nhỏ:

–     Anh xưng với họ là thầy hay sao mà họ gọi thầy?

–    Anh không xưng gì hết. Lên xuống bán hàng nhiều lần, ông già hỏi anh trước làm nghề gì, anh nói anh đi dạy học, thế là họ gọi anh bằng thầy. Dân ở đây, họ quý nhà giáo lắm, nhất là nhà giáo trước giải phóng.

       Vào nhà, chào hỏi xong xuôi, Túy hỏi:

–     Tình hình hàng hóa thế nào bác?

–     Có đỡ hơn. Ðợt Ðà Lạt xuất kho vừa rồi, nghe nói phân phối cho các tỉnh miền Bắc, nên trong này hàng khan hiếm.  Một số con buôn buôn ngược từ ngoài Bắc vào, thầy nghe nói không? Giá Ðà Lạt giờ cao lắm ở đây. Thầy xuống đúng lúc đa!

–     Ra thế! Ở Sài Gòn, cháu không để ý vụ này. Lần này, tụi cháu mang bao Ðà Lạt “rin” xuống. Ðộ này cũng khan hàng lắm, phải dặn trước cả tuần mới có.

–     Thầy cô mang về nhiêu?

–     Cháu 3000, cô đây 2000.

–     Tạm được. Giá cả thế nào, thầy?

–     Dạ, lần này thì vẫn 10 hào một bao như cũ. Tuy hàng khan, nhưng vì là mối cũ, nên người ta chưa nâng giá. Cháu không dám hứa cho lần sau. Nhân đây, cháu cũng xin giới thiệu, cô Hạnh, em họ, sẽ thỉnh thoảng về đây bỏ hàng cho bác.

       Chủ nhà nhìn Hạnh:

–     Cô đây cũng người ở ngoải?

–     Dạ. 

       Chủ nhà cười:

–     Tôi khoái tiếng dạ của mấy cô miền ngoải. Miệt trong này cũng có mấy gia đình ngoài ngoải vào cư ngụ mấy năm nay. Dân ngoải chăm làm thật.

       Chủ nhà chỉ về hướng những lùm cây phía trong xa:

–    Nhà họ ở tận trong đó. Thỉnh thoảng, tôi có gặp họ ngoài chợ.

       Túy mở xách, định lấy hàng ra, thì chủ nhà xua tay:

–    Khoan, để tôi khép cửa lại cái đã. Ðây thì yên, sấp nhỏ chúng nó “lo liệu” cả rồi, nhưng cẩn thận thì vẫn hơn.

       Cửa khép. Hai người lần lượt mở xách, lấy ra từng cọc từng cọc bao Ðà Lạt mới tinh, còn nguyên đường cắt xén từ trong nhà máy và thơm mùi giấy mới. Túy đẩy hết về phía chủ nhà:

–     Xin bác cho người đếm cẩn thận. Tất cả là 5000 bao.

–     Thôi được. Tôi tin thầy cô. Xem như đủ đi. Mấy cháu đếm sau cũng được. Có gì báo lại thầy cô. Tối nay, thầy cô định ngủ đâu?

       Túy đáp:

–     Cho chúng cháu ở lại đây, được không bác. Sáng mai bọn cháu về lại thành phố sớm.

       Chủ nhà quay sang Hạnh:

–     Thầy đây mỗi lần về đều ngủ đây. Ðàn ông thì khỏe.  Phụ nữ thì hơi phiền, vì ở đây, quê mùa, chẳng có phòng riêng cho mấy cô. Nếu cô đây không ngại, có cái giường đàng kia của đứa con gái, cô có thể dùng tạm qua đêm. À, còn việc đăng ký tạm trú…Chà chà, cũng rắc rối, vì thằng con lớn vừa vắng nhà. Nhưng không sao, không sao. Tôi sẽ nói đứa khác lo.  Cũng xong thôi. Thầy, cô cứ yên lòng ở lại qua đêm.

*

       Cảm giác làm mới lại tràn ngập tâm hồn khi Túy sánh vai với Hạnh trên con lộ ở một nơi gần cuối trời đất nước. Mảnh trăng đầu tháng tươi mới tỏa ánh sáng loang loáng trên những lùm cây, những cánh đồng bát ngát. Không khí khoảng khoát, trong lành. Gió mơn man vuốt ve da thịt anh, thổi mái tóc ngắn gọn của Hạnh bay bay, thỉnh thoảng đập vào má anh. Bóng hai người đổ trên đường lộ, song song. Bỗng dưng, anh cảm thấy tâm hồn lâng lâng sảng khoái. Anh dùng chân đá những viên sỏi nhỏ trên đường đi, hát nhỏ: “Mừng trăng lên chúng ta cùng múa hát, ước mong sao lúa hai mùa thơm ngát…”

       Hạnh đi sát vào người Túy.  Anh bạo dạn nắm tay cô, lòng hân hoan y như thể những ngày còn thơ trẻ.

–     Anh trông bộ vui quá nhỉ?

–     Lâu lắm rồi, anh mới hưởng được những giây phút như thế này.

–     Lâu lắm rồi! Ðàn ông khi nào cũng xạo. Ði với bà nào, cô nào cũng nói cùng một giọng.

      Túy bóp tay Hạnh:

–     Anh nói thật. Hoàn cảnh anh khác thường.

       Hạnh cười:

–     Cũng được. Cứ xem như là thật đi. Rồi sao?

–     Anh cảm thấy mình trẻ lại như thời nào.

–     Lại xạo. Thời đó, anh như một ông già. Mặt mày khó thương. Anh có khi nào trẻ đâu, phải không nào?

–     Nói rồi. Chỉ là cái mặt nạ thôi.

–    Mình tưởng thế thôi, anh à. Bao nhiêu ràng buộc nó đâu có cho mình sống những gì mình thích đâu. Tất cả chỉ là vọng tưởng vu vơ.

–     Riêng anh, anh tự do.

–     Tự do? Anh tự do?

–     Hoàn toàn tự do.

      Hạnh thở ra:

–     Em khác.

      Anh định hỏi tiếp, nhưng ngưng lại. Hai người đột ngột im lặng. Mỗi người có một lấn cấn riêng, không ai tiện nói cho ai về hoàn cảnh của mình. Thôi thì xem như không hay không biết. Từ hôm gặp lại nhau đến giờ, cả hai đều cố tránh không hỏi han gì đến chuyện gia đình của nhau. Nhìn thái độ tất bật của Hạnh, những vất vả nàng phải chịu đựng, anh đoán nàng phải gánh vác chuyện gia đình nặng nề. Nàng tần tảo ngược xuôi, vào Nam ra Bắc, không nề hà khổ nhọc. Còn đâu cô học trò lãng mạn một thời, chỉ biết học và trêu chọc!

      Vẫn im lặng. Hai người bước xuống con dốc dẫn đến lối đi vào làng. Những ngôi nhà tranh chìm trong bóng tối của mấy hàng dừa. Chỉ còn nhìn thấy ánh đèn leo lét. Hạnh phá tan sự im lặng:

–     Ðây về Cà Mâu còn bao xa nữa anh hè?

–     Nghe nói cỡ vài chục cây số.

–     Anh về đó bao giờ chưa?

–     Chưa. Có việc gì đâu mà phải về.

–     Vượt biên chẳng hạn. Nghe nói người ta về dưới đó vượt biên, phải không anh?

–     Nghe nói vậy.

–     Anh không có ý định vượt biên sao?

–    Chưa nghĩ đến. Hay là…hay là anh với em cùng đi nhỉ.  Tiện đây mà tìm đường thì hay biết mấy.

      Hạnh lắc đầu nguầy nguậy:

–     Ðời nào.

      Nói thì nói thế, nhưng gợi ý tình cờ của Túy không hiểu sao bỗng thấm sâu vào lòng Hạnh. Hạnh im lặng, suy nghĩ vẩn vơ một hồi. Vượt biên. Thoát, thoát khỏi bao nhiêu ràng buộc trên cái xứ sở nhỏ nhoi đau khổ này!  Tại sao lại không nhỉ?

       Hai người trở lại chiếc cầu khỉ. Hạnh níu tay Túy:

–     Anh phải đỡ em. Ban đêm đi kiểu này, ngán quá.

       Túy bồi hồi nắm tay Hạnh, dẫn từng bước qua cầu. Ðến giữa cầu, anh làm bộ nghiêng ngả làm Hạnh hoảng hốt bíu lấy vai anh, thở hổn hển:

–     Anh làm cái gì vậy?

       Túy không nói gì, tiếp tục làm bộ run run. Anh bỗng ao ước nàng trợt chân té xuống nước, để anh được ôm lấy thân hình nàng kéo lên. Dưới ánh trăng, anh cúi xuống sát mặt Hạnh. Anh có cảm tưởng nàng cũng ước ao như anh. Nàng muốn tránh, nhưng sợ ngã, nên đành phải để yên.

–     Ði cho rồi anh. Ðừng giỡn nữa.

      Qua khỏi cầu, Hạnh buông tay ra. Túy làm bạo, kéo tay nàng lại, để bàn tay nàng trong bàn tay anh, bóp chặt. Bàn tay nhỏ nhắn của Hạnh nửa muốn rụt lại, nửa cứ để yên. Nàng nhìn quanh:

–     Anh!

       Tiếng kêu nghe thảng thốt. Anh kéo người nàng sát vào người anh, bước lên đường. Con đường đất đầy bóng dừa.  Xóm làng yên tĩnh. Chỉ nghe tiếng trẻ đùa xa xa đâu ngoài đường lộ. Thỉnh thoảng, nghe những con cá quẫy mạnh hay tiếng con ễnh ương kêu đâu đó dưới con lạch. Anh nói:

–    Anh có cảm tưởng như là buổi hẹn hò đầu tiên trong đời.

       Hạnh tự nhiên đi sát vào anh hơn. Ðến ngã rẽ, thấy có một khoảng tối khuất sau cây dừa, anh nắm tay Hạnh, kéo vào.  Nàng im lặng bước theo. Anh đứng dựa gốc dừa, ôm Hạnh vào người. Hạnh chống cự lấy lệ. Anh hôn lên mái tóc, hai tay ôm xiết lấy lưng nàng. Hạnh run rẩy, nấc nhẹ trên vai anh. Anh lướt nhẹ đôi môi lên mắt. Nước mắt mặn chát. Anh nuốt lấy.  Hai tay anh sờ nắn quanh người Hạnh, háo hức. Chợt Hạnh cầm giữ bàn tay anh ngay chỗ thắt lưng:

–     Anh!

       Nàng đẩy anh, bước tránh ra ngoài:

–     Thôi về anh.

Túy hụt hẫng, hai tay chới với. Nhưng Hạnh đã bước đi.  Anh không nói gì, bàng hoàng bước theo. Anh đi sát vào người Hạnh, nói thầm:

–     Anh xin lỗi, chẳng qua…

       Giọng Hạnh ráo hoảnh:

–     Em hiểu.

Có tiếng động nhẹ bên bờ lạch. Một con gì vừa hốt hoảng nhảy xuống. Túy nhìn thấy một mảng nước từ dưới bắn lên cùng với ánh trăng vỡ toang ra, lạnh lẽo. 

T.D.N.

Hồi Ký Của Một Tay Súng Bắn Tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 7 Aug 2024

Google photo

Phần 2. Mỗi phát súng, một tên địch?

Một năm trước, tôi đóng quân tại căn cứ tại Đội SEAL số 6 ở bờ biển Virginia, Virginia. Trong thời gian trực chiến, tôi để tóc dài hơn so với quy định của lính Hải quân, vì thế tôi có thể đi đến bất cứ nơi đâu trên trái đất này mà không sợ bị phát hiện ra là một quân nhân. Tôi thường cạo râu nhẵn nhụi. Mặc dù trong lần triển khai dàn quân tới Na Uy cùng Đội SEAL số 2, tôi đeo râu giả, nhưng thực sự tôi không thích để râu mọc trên mặt tẹo nào.

Trong thời gian chờ lệnh triệu tập, tôi luyện tập tại khu nhà được gọi là “nhà tiêu diệt” (kill house)

– khu vực được sử dụng để huấn luyện chống khủng bố trong đô thị và tại trường bắn.

Sau giai đoạn trực chiến sẽ là khoảng thời gian ba tháng huấn luyện cá nhân, khi đó chúng tôi được phép rời đoàn và đến các trường học như Trường bắn Bill Rogers, Trường lặn, leo tự do hay bất cứ nơi nào mà chúng tôi phải đến. Điều tuyệt vời khi là thành viên Đội SEAL số 6 là tôi có thể theo học tại hầu hết mọi ngôi trường tốt nhất, ở bất cứ đâu nếu tôi muốn. Giai đoạn huấn luyện cũng là cơ hội tốt cho chúng tôi tranh thủ nghỉ ngơi, có thể là một kỳ nghỉ ngắn với gia đình – những dịp như thế đặc biệt quý giá đối với người vừa trở về từ những nhiệm vụ ở nước ngoài. Sau đó, chúng tôi có ba tháng tập trung để huấn luyện theo đội hình chung tại trường học lặn, nhảy dù và bắn súng. Sau mỗi nội dung huấn luyện, chúng tôi tham gia tác chiến giả để áp dụng những kỹ năng vừa học được.

Một buổi tối nọ, tôi ngồi trong một nhà hàng Pizza được gọi là Phòng chờ (giống như địa điểm mà Charlie Sheen và Michael Biehn đã đứng bên ngoài để tranh luận trong phim Navy SEAL (tạm dịch: Biệt đội hải sư)) và nói chuyện về golf với Blake, cậu con trai 7 tuổi của tôi và một anh chàng lắm chuyện vui tính có biệt danh là Smudge. Giai điệu của ban nhạc Def Leppard phát ra từ máy hát. Chúng tôi thưởng thức món xúc xích tiêu, lạp xưởng và bánh pizza hành – những món ưa thích của tôi. Trong giai đoạn trực chiến, tôi không được phép uống quá 2 cốc bia. Ở Đội SEAL số 6, chúng tôi phải tuân thủ nghiêm túc các quy định ngặt nghèo.

Đồ uống ưa thích của chúng tôi là bia Coors Light. Mỗi khi đi chơi theo nhóm, tôi và đồng đội đều ngụy trang thành vận động viên của Đội nhảy dù nghệ thuật Bia Coors Light. Chuyện ngụy tạo ấy được dùng để giải thích cho việc vì sao 30 gã trai lực lưỡng, đẹp trai, lại vào quán với dép tông, quần soóc, áo ba lỗ và dao Spyderco CLIPIT ở túi trước. Mỗi khi chúng tôi vào quán, tức thì những gã trai ở đó đều chuyển sang dùng bia Coors Light, rồi sau đó đám phụ nữ cũng chuyển sang dùng đồ uống này. Đáng lẽ hãng Coors nên tài trợ cho chúng tôi mới phải! Vỏ bọc này rất an toàn vì chúng tôi có thể trả lời mọi câu hỏi về nhảy dù biểu diễn. Không những vậy, trong quán, chúng tôi chỉ nói chuyện tầm phào nên chẳng ai quan tâm.

Khoảng 7 rưỡi tối, ngay trước khi thưởng thức xong món Pizza với bia Coors Light, tôi nhận được tin nhắn: T-R-I-D-E-N-T-0-1-0-1. Đây là mật mã có nghĩa: “Có mặt tại căn cứ Đội SEAL số 6.” Mật mã luôn báo cho tôi biết cần phải đến căn cứ nào. Lần này tôi phải lên máy bay ngay.

Tôi sẽ nhận túi quân trang của mình trên máy bay. Mỗi chiếc túi đều được buộc và sơn màu sắc theo mã cho từng nhiệm vụ cụ thể. Nếu trước đó tôi không gói ghém chính xác mọi thứ, tôi sẽ không nhận được đúng túi quân trang của mình. Khi tham gia tác chiến, mỗi chúng tôi phải quên đi những chiếc giường êm ái, thay vào đó là những túi ngủ để ngăn nước ngấm vào bên trong. Giấc ngủ tuyệt vời của lính bắn tỉa thực tế chẳng dễ chịu chút nào.

Trong suốt thời gian trực chiến, chúng tôi thực hiện chế độ tập trung trong một giờ. Dù ở đâu đi chăng nữa, tôi cũng chỉ có không quá một giờ trên máy bay và ngồi nghe tóm tắt nhiệm vụ. Giờ thì thời gian đã bắt đầu đếm ngược. Hai cha con tôi nhanh chóng lên xe − một chiếc Pontiac Grand Am màu bạc. Tôi lái xe về nhà ở ngay phía cuối con đường xuất phát từ Phòng chờ. Về đến nhà, vợ tôi, Laura vặn vẹo: “Anh đi đâu đấy?”

Tôi nhún vai trả lời: “Anh không biết”. “Thật không đấy”, Laura hỏi.

“Không biết; và nếu có biết thì anh cũng không thể nói cho em biết được. Gặp lại em sau nhé.”

Smudge đón tôi tại nhà và thả tôi xuống phi trường của Căn cứ Không quân − Hải quân Oceana. Mắt tôi đảo quanh một chiếc máy bay C-130 mà bên trong tối thui. Có một vài máy bay phản lực được trang bị thiết bị hỗ trợ cất cánh (JATO) nhằm giúp nó cất cánh khỏi đường băng và vút lên không trung rất nhanh. Đây là thiết bị cần thiết khi máy bay của bạn đang là mục tiêu bị tấn công. Nếu có sự đồng hành của JATO, tôi biết ngay rằng nơi tôi sắp phải tới không dễ chịu chút nào. Tuy nhiên, lần này máy bay chúng tôi không được trang bị JATO.

Tôi có mặt trên máy bay sớm hơn nhiều so với giờ chót là 8 giờ rưỡi. Bên trong máy bay, đèn bị tắt hết. Dưới ánh sáng màu đỏ từ chiếc đèn pin, tôi quan sát và chắc chắn những chiếc túi quân trang của mình đã được chuyển lên cũng như đảm bảo chúng đã được sắp xếp chính xác. Tôi cố ghi nhớ vị trí của chúng để quay lại lấy khi bắt đầu thực hiện nhiệm vụ.

Ba lính bắn tỉa khác tham gia cùng tôi là Casanova, Gã Mập lùn (Little Big Man) và Sourpuss. Trong đội SEAL, hầu hết mọi người được gọi theo biệt danh. Tôi bị một số người gọi là Waz-man. Số khác thì thích gọi tôi là Howie, nhưng nếu họ gọi tôi bằng cái tên thứ hai tôi sẽ không bao giờ trả lời. Thường thì mỗi biệt danh được đặt theo một hành động ngớ ngẩn nào đó của chủ nhân mang biệt danh, giống như việc phải có lý do thì một anh chàng mới bị gọi là “Drippy” (sướt mướt). Cũng có những cái tên khó đọc như Bryzinski lại được mọi người gọi thành “Alphabet”. Một người bạn của chúng tôi ở Đội 2 lại được gọi là “Tripod” (Ba chân).

Casanova là bạn bắn phối hợp ăn ý của tôi. Chúng tôi đã làm bạn với nhau kể từ khi còn là học viên ở Trường đào tạo lính bắn tỉa tại Quantico, Virginia. Casanova đúng là gã sát gái. Đàn bà ném váy vào mặt anh ta còn nhiều hơn là ném xuống thảm phòng ngủ. Gã Mập lùn có tiếng là anh chàng phức tạp, điều này lý giải tại sao anh ta luôn kè kè con dao Randall có chuôi lớn bên hông. Mọi người thường trêu anh ta là “tiểu nhân, đại đao”. Sourpuss là một tay lính kỳ cựu nhưng không có điểm gì đặc biệt. Anh ta là người duy nhất trong đội chúng tôi không bao giờ pha trò hay thích thú với chuyện pha trò, chỉ chăm chăm sớm trở về với “vợ yêu” và có vẻ như chẳng quan tâm gì đến nhiệm vụ sắp tới hay những gì diễn ra với chúng tôi. Sourpuss cũng suốt ngày kêu ca nên chẳng ai trong chúng tôi có cảm tình với anh ta cả.

Cả bọn chúng tôi cùng ngồi trước một bảng kẹp giấy ngay cạnh buồng lái. Chỉ có bốn chúng tôi, có lẽ là một phi vụ tầm cỡ thế giới. Người đàn ông đang tóm tắt nhiệm vụ là người tôi chưa từng gặp bao giờ, có lẽ ông ta đến từ Bộ Chỉ huy Đặc nhiệm Liên quân (JSOC). Ông ta trông có vẻ quá nghiêm túc. Có nhiều khi trong lúc đang được giao nhiệm vụ, có tiếng cười khúc khích vang lên trong đội. Người giao nhiệm vụ có thể đùa một câu về anh chàng vừa cười với giọng hơi châm chọc, kiểu như: “OK, chúng ta sẽ đi tuần tra tại đây khoảng vài giây. Đây là nơi anh chàng Jimbo xả nước lần thứ nhất. Rồi đằng kia sẽ là nơi cậu ấy làm bậy lần hai.” Nhưng lần này, không có cú pha trò nào cả. Tất cả đều im lặng.

Sau thất bại trong nỗ lực giải cứu 53 người Mỹ bị bắt làm con tin tại Đại sứ quán Mỹ ở Iran năm

1980, người ta thấy rõ rằng Lục quân, Hải quân, Không quân và TQLC không thể phối hợp tác chiến hiệu quả trong các nhiệm vụ tác chiến đặc biệt. Năm 1987, Bộ Quốc phòng Mỹ quyết định tập hợp tất cả các lực lượng tác chiến đặc biệt của các quân binh chủng thành một đội, kể cả những đơn vị tinh nhuệ như Đội SEAL số 6 và lực lượng Delta. JSOC là cơ quan lãnh đạo chúng tôi.

Người chỉ huy từ JSOC lật tấm bản đồ để chuyển sang một bức ảnh chụp từ trên cao và nói: “Được rồi, thưa các anh, đây là chiến dịch TCS.” Hóa ra Thiếu tướng William F. Garrison, người đứng đầu JSOC điều chúng tôi đi thực hiện nhiệm vụ Điều kiện và Tiêu chuẩn (Task Conditions and Standard – TCS). Tướng Garrison lại chơi khăm chúng tôi rồi. Liệu chúng tôi có đủ sức làm được những điều mà bản thân tuyên bố – bất cứ việc gì, bất cứ khi nào, dưới mọi điều kiện, bao gồm cả tiêu diệt mục tiêu cách mình 800m không?

Google photo

Người của JSOC tiếp tục: “Các bạn sắp thực hiện nhiệm vụ HALO đêm nhắm vào một mục tiêu định sẵn.” HALO có nghĩa là bay cao bung thấp, tức là chúng tôi sẽ nhảy ra từ máy bay và rơi tự do xuống gần mặt đất mới bung dù. Cách nhảy dù này cho phép người dưới mặt đất chỉ nghe hoặc thấy máy bay đang bay quanh khu vực đó mà thôi. Đối với cách nhảy bay cao bung cao (HAHO), chúng tôi sẽ nhảy ra từ độ cao gần 10.000 m, rơi tự do khoảng 5 giây rồi bung dù và tiếp tục bay lượn khoảng 65 km nữa trước khi tiếp đất, cách nhảy dù này giúp chúng tôi tránh bị phát hiện hơn. Trong một lần nhảy dù huấn luyện tại hai thành phố Pheonix và Tucson, Arizona − nơi cách địa điểm hiện tại hơn 160 km, chúng tôi rơi cách nhau khá xa. Khi nhảy HAHO, bạn phải đối mặt với cái lạnh cắt da cắt thịt ở độ cao gần 10.000m và cái lạnh đó còn kéo dài khá lâu. Khi xuống đến mặt đất, tôi phải kẹp tay vào nách để sưởi ấm. Nhưng lần này chúng tôi nhảy HALO nên cái lạnh không còn là vấn đề nữa.

Người hướng dẫn của JSOC chỉ cho chúng tôi xem lộ trình bay, điểm nhảy dù và quan trọng hơn là điểm đáp đất. Tại vị trí đáp, chúng tôi phải thực hiện các thao tác giấu dù. Ông ta thông báo cho chúng tôi địa điểm cất dù sau khi tiếp đất. Khi ở trên lãnh thổ của địch, chúng tôi thường đào hố để chôn dù, nhưng do đây chỉ là một cuộc thao diễn, nên chúng tôi không phải đào hố chôn những chiếc dù trị giá vài nghìn đô-la này.

“Đây là tuyến đường các anh sẽ hành quân vào.” Ông ta thông báo chúng tôi chỉ có tối đa 10 phút để tiêu diệt mục tiêu khi nó xuất hiện tại cửa sổ. Nếu đến muộn hoặc bỏ lỡ thời điểm mục tiêu xuất hiện hay bắn trượt, chúng tôi sẽ không có cơ hội thứ hai. Một viên đạn, một tên địch.

Chúng tôi cởi bỏ đồ dân sự. Giống như mọi thành viên khác của Đội SEAL, tôi cũng thực hiện nhiệm vụ đột kích với trang phục dân sự mà không có áo chống đạn. Khi thực hiện nhiệm vụ bắn tỉa, tôi thường mặc quần xanh chất liệu polypro hiệu North Face, kể cả khi tác chiến vào mùa đông, để chống muỗi. Chúng tôi mặc quần áo rằn ri xanh lá cây và ngụy trang từ đầu tới chân. Với bít tất, tôi chọn loại tất len. Sau thời gian huấn luyện tác chiến mùa đông với Đội SEAL số 2, tôi hiểu được giá trị của một đôi tất tốt, vì thế tôi luôn mua những đôi tất dân sự tốt nhất và đi giày cao cổ. Tôi cất mũ ngụy trang vào trong túi quần để dùng khi hành quân. Mũ ngụy trang có vành rộng và móc đính xung quanh vành để gắn cành cây ngụy trang. Ở ngăn đựng dao trên thắt lưng, tôi găm con dao hiệu Swiss Army, đây là loại dao duy nhất tôi sử dụng khi thực hiện tác chiến bắn tỉa. Tôi sử dụng bộ đồ nghề quân trang nhỏ như hộp trang điểm của phụ nữ để bôi xanh (đậm và nhạt) mặt mình. Tôi cũng dùng nó để bôi vào tay, nhưng chỉ khi không đeo đôi găng tay phi công có tác dụng giữ ấm hiệu Nomex mà thôi.

Google photo

Đốt thứ nhất của ngón cái và ngón trỏ ở găng tay phải đã được cắt đi vì nó giúp tôi có cảm giác tốt nhất để điều chỉnh kính ngắm, lên đạn cũng như khi lên cò.

Vũ khí đeo hông của tôi là súng ngắn Hải quân mang số hiệu SIG SAUER P-226 9mm. Các bộ phận bên trong của loại súng này có lớp sơn bề mặt chống ăn mòn phốt phát, màu sắc của súng tương phản nhau với hình ảnh của chiếc mỏ neo được khắc ở thanh trượt. Hộp tiếp đạn của nó chứa được 15 viên. Được thiết kế riêng cho lực lượng SEAL, nó là loại súng ngắn tốt nhất mà tôi từng sử dụng. Thực tế tôi đã thử hầu như tất cả các loại súng hàng đầu của lực lượng SEAL. Hiện tôi đang có một hộp tiếp đạn lắp sẵn ở súng và hai hộp nữa đeo ở thắt lưng. Những trang thiết bị khác gồm bản đồ, la bàn và một đèn pin chiếu ánh sáng màu đỏ. Trong tác chiến thật, chúng tôi có thể sử dụng máy định vị GPS, song lần này Tướng Garrison muốn kiểm chứng kỹ năng sử dụng bản đồ và la bàn của chúng tôi. Chúng tôi cũng mang theo túi nhỏ đựng các thiết bị y tế được gọi là túi y tế.

Không mang áo chống đạn khi tiến hành nhiệm vụ bắn tỉa thực địa như lần này, thay vào đó chúng tôi phải vận dụng khả năng ngụy trang của mình. Nếu thực hiện nhiệm vụ trong đô thị, chúng tôi sẽ mặc áo chống đạn và đội mũ bảo hiểm. Mỗi người đều mang theo nước được đựng trong CamelBak. Đó là một bóng nước đeo ở sau lưng, có ống hút chạy qua vai để người sử dụng có thể hút nước uống mà không phải dùng đến tay.

Chúng tôi dùng loại súng trường Winchester Magnum .300. Loại súng này có đường đạn ít bị ảnh hưởng bởi yếu tố bên ngoài, đường cong của đạn đạo thấp và tầm bắn xa. Nó có sức mạnh hạ gục đối phương lớn hơn nhiều so với các loại súng trường khác. Nếu phải tiêu diệt mục tiêu cứng, ví dụ như động cơ của một phương tiện nào đó, tôi sẽ sử dụng súng trường 50 caliber, nhưng với mục tiêu là người, lựa chọn tốt nhất là Win Mag .300. Tôi đã lắp sẵn bốn viên đạn vào súng. Khi tiếp cận mục tiêu, tôi sẽ thêm viên đạn thứ năm vào ổ đạn. Hiện giờ trên người tôi đang có 20 viên đạn loại này nữa.

Google photo

Tôi sử dụng kính ngắm bắn tỉa loại Leupold 10-power. Power là chỉ số phản ánh số lần mục tiêu ở gần mình. Như vậy thì với chỉ số 10-power, mục tiêu trong kính ngắm sẽ bằng 1/10 so với khoảng cách trên thực tế. Ký hiệu chấm millimet trên kính ngắm giúp tôi điều chỉnh khoảng cách. Chúng tôi cũng được trang bị thiết bị ống nhòm đo khoảng cách bằng tia laser chính xác gần như tuyệt đối, nhưng trong nhiệm vụ lần này chúng tôi không được sử dụng thiết bị đó. Phía trên kính ngắm Leupold, tôi gắn thêm một kính ngắm bắn đêm KN- 250.

Mặc dù Đội SEAL số 6 cũng có lúc sử dụng đạn xuyên thấu và đạn xuyên thấu đốt cháy, nhưng với nhiệm vụ lần này chúng tôi sử dụng loại đạn match − loại đạn tròn đối xứng. Loại đạn này đắt gấp bốn lần đạn thông thường và có tác dụng sát thương tương đương như loại đạn Win Mag do Winchester sản xuất.

Đối với các nhiệm vụ khác, chúng tôi sẽ mang theo máy liên lạc vệ tinh mã hóa LRT-5, nhưng đêm nay là tác chiến ngắn, do đó chúng tôi không phải báo cáo về trung tâm. Chúng tôi chỉ việc xâm nhập, nổ súng và rút lui. Chúng tôi mang theo máy liên lạc MX-300. Chữ X ở đây không phải là viết tắt của từ tiếng Anh “excellent” nghĩa là “tuyệt vời” mà nó là viết tắt của từ “experimental” –“thử nghiệm”. Loại máy liên lạc này vẫn có thể hoạt động dù bị ướt hay khi ở nhiệt độ thấp. Từ vị trí bắn tỉa, chúng tôi có thể trao đổi qua bộ đàm và dễ dàng tìm thấy nhau. Đội SEAL số 6 luôn sử dụng những trang thiết bị đời mới tối tân nhất.

Là chuyên gia nhảy dù, tôi có trách nhiệm kiểm tra dù của anh em. Đó là loại dù MT-1X, chữ X ở đây cũng không phải là từ viết tắt của từ “excellent”.

“Còn 30 phút”, chỉ huy nhóm nhảy dù thông báo.

Nếu có nhu cầu đi vệ sinh, thì tôi có thể “giải quyết” nhờ một chiếc ống tiểu được gắn trên tường.

Tôi không có nhu cầu, vì thế tôi tranh thủ chợp mắt. “Còn 10 phút”, thông báo cất lên.

Tất cả đều thức giấc.

“Còn 5 phút”. Lúc này thang ở phần đuôi của chiếc C-130 từ từ được hạ xuống. Tôi kiểm tra lại lần cuối dù của từng người. Chúng tôi di chuyển về phía thang nhưng chưa bước xuống thang.

Khi thang được hạ xuống, âm thanh quá ồn khiến chúng tôi không thể nghe thấy gì. Lúc này chúng tôi phải sử dụng ngôn ngữ cử chỉ. Khi còn 3 phút, tôi quay mặt về phía thang. Nhớ lại bức ảnh chụp từ trên cao vừa xem khi tóm tắt nhiệm vụ, tôi nhìn xuống dưới để đảm bảo rằng máy bay đang bay qua khu vực mà chúng tôi phải xuống.

“Còn một phút”. Lúc này mọi thứ trên mặt đất có vẻ quen thuộc hơn. Tôi rất tin tưởng vào phi công, nhưng do đã nhiều lần trước đây tôi phải cuốc bộ, nên tôi muốn xác nhận lại điểm hạ cánh.

Google photo

“Còn 30 giây!” Máy bay hơi rung lắc. Tay trái của tôi giữ chặt vào thang, tay phải ra tín hiệu. Hướng ánh mắt vào bên trong máy bay, tôi giơ năm ngón tay lên, rồi đấm mạnh về phía bên phải nhằm ra tín hiệu chỉ đạo nhảy. Người chỉ huy yêu cầu phi công bẻ lái sang phải 5 độ. Nếu tôi giơ hai lần năm ngón tay, anh ta sẽ bẻ lái 10 độ. Tôi chưa lần nào cần phải bẻ lái hơn 10 độ cả, thậm chí có nhiều khi còn không cần phải điều chỉnh. Thật tuyệt khi được bay với phi công giỏi.

Đèn trên thang chuyển từ đỏ sang xanh. Lúc này chính là thời điểm để quyết định nhảy. Tất cả chúng tôi mất khoảng 5 giây để nhảy khỏi máy bay.

Tôi ra tín hiệu cho đồng đội. Gã Mập lùn là người đầu tiên nhảy ra khỏi máy bay, hiện tại đang ở độ cao khoảng 3.000m. Chúng tôi thường nhảy theo thứ tự từ nhẹ nhất đến nặng nhất để tránh trường hợp vị trí người nặng nhất đáp đất cách xa những người còn lại. Người nhảy tiếp theo là Sourpuss, rồi tiếp là Casanova. Tôi là người nhảy cuối vì với cương vị nhóm trưởng, tôi phải đảm bảo rằng tất cả đồng đội đều đã ra khỏi máy bay, hay trợ giúp khi có người bị mắc kẹt… Khi ở trên không, ba lô dù được buộc dây luồn ra phía trước ngực. Đã có lúc tôi nghĩ: Lạy Chúa cho cái thứ quái quỷ này hoạt động. Có lẽ trong khoảng 100 lần nhảy đầu, tôi đã luôn cầu nguyện: Cầu Chúa, xin hãy bung dù ra. Đến bây giờ, tôi đã có hàng trăm lần rơi tự do và tôi luôn tự gấp dù của mình. Một số người gặp phải tình huống dù chính không bung, do đó phải sử dụng dù phụ, nhưng tôi không nằm trong số đó. Dù của tôi luôn mở đúng lúc. Tôi chưa bao giờ bị thương, dù chỉ là một ngón chân, mặc dù tôi đã nhảy tổng cộng 752 lần.

Tôi điều chỉnh cơ thể để đáp xuống gần vị trí quy định. Sau khi rơi tự do khoảng gần một phút, tôi bung dù khi cách mặt đất khoảng 1.000m. Ở độ cao khoảng 800m, dù của tôi đã bung ra hoàn toàn. Tôi

nhìn ngược lên để kiểm tra dù và nới lỏng dây nối với ba lô cho dễ thở. Hai chân giúp tôi cân bằng

sức nặng của ba lô. Tôi bật thiết bị nhìn đêm (NOD) của mình lên. Ánh sáng hồng ngoại rực sáng phía sau mũ bão hiểm của chúng tôi. Bình thường thì ánh sáng này được tạo ra từ những thanh nhựa phát sáng (glow stick). Thanh nhựa được uốn cong cho đến khi những hạt thủy tinh dễ vỡ ở bên trong vỡ ra, sự pha trộn của hai hợp chất hóa học này tạo ra ánh sáng đó. NOD phát ra ánh sáng hồng ngoại mà mắt thường không nhìn thấy được. Chúng tôi chỉnh hướng bay xếp chồng lên nhau. Phía trên Gã Mập lùn là Sourpuss, trên Sourpuss là Canasova. Trên nữa là tôi. Vị trí dù của chúng tôi xếp theo hình bậc thang khi hướng tới mục tiêu.

Khi gần tới mặt đất, tôi tách dù ra khỏi nhóm và từ từ hạ thấp độ cao. Tôi nới lỏng ba lô để nó không kéo ngã tôi khi tiếp đất. Gã Mập lùn tiếp đất đầu tiên. Do không có tác động của gió, dù của anh ta nghiêng 10 – 12 độ và ngay lập tức bị vùi trong cát bụi. Anh ta nhanh chóng thoát ra khỏi dù và sẵn sàng vũ khí, trong khi Sourpuss là người tiếp theo hạ cánh. Tương tự, Sourpuss cởi dù và chuẩn bị vũ khí. Casanova và tôi hạ cánh tiếp sau ngay trên dù Gã Mập lùn và Sourpuss. Cả bốn chúng tôi cùng hạ cánh trên một khu vực có diện tích rộng bằng một phòng khách. Gã Mập lùn và Sourpuss mỗi người cảnh giới một bên góc 180 độ, trong khi Casanova và tôi cởi dù. Sau khi tất cả đã giấu xong dù, tôi dẫn đầu cả nhóm thoát khỏi khu vực này. Giám sát viên của JSOC đang đâu đó quanh đây chờ đợi nhằm phát hiện ra việc chúng tôi đi đường tắt. Cảm giác cám dỗ cứ xúi chúng tôi chơi trò bịp này, khi đó cả bốn chúng tôi có thể tháo dù cùng một lúc mà không phải bắt hai người đứng cảnh giới và có thể chúng tôi sẽ tiết kiệm được năm phút trong tổng thời gian tác chiến của mình. Tuy nhiên việc làm đó quá mạo hiểm và không đáng nếu bị giám sát viên phát hiện. Chúng tôi đều hiểu rằng tốt hơn là nên tập trung như đang ở trên lãnh địa của quân thù. Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu.

Gió thổi mưa táp vào mặt chúng tôi. Thời tiết này đúng là lý tưởng để dung thứ cho những sai lầm chiến thuật, khi chỗ này xuất hiện tiếng động, rồi chỗ kia là một cử động đột ngột. Chúng tôi hành quân khoảng gần 1 km, sau đó dừng lại ở điểm tập kết. Gã Mập lùn và Sourpuss cảnh giới, trong khi tôi và Canasova mở ba lô, lôi ra áo ghi lê và quần áo ngụy trang trông giống như một tán lá nặng nề được làm từ vải lòng thòng. Mỗi chúng tôi đều tự tay làm ra trang phục của mình, mỗi người có 2 bộ, một để dùng khi tác chiến trong rừng và một trên sa mạc. Tôi thay mũ tai bèo ngụy trang bằng mũ lưỡi trai ngụy trang. Trong lựa chọn trang phục, yếu tố quan trọng là phải làm sao để giúp mình hòa vào môi trường xung quanh. Trong môi trường tác chiến đô thị, màu trang phục thường tối để giống với màu đất, do đó quần áo có hai tông màu sẽ rất hiệu quả, quần dài ngụy trang màu tối như rừng nhiệt đới và mũ ngụy trang sáng màu cát sa mạc.

Casanova và tôi kiểm tra màu sơn tác chiến của nhau: tay, cổ, tai và mặt. Khi sơn màu lên da, điều quan trọng là phải làm cho mình xuất hiện trái ngược hoàn toàn so với một người bình thường, tức là biến màu tối thành sáng và biến màu sáng thành màu tối. Điều đó nhằm đảm bảo cho các phần của khuôn mặt tạo thành bóng (như là hốc mắt) biến thành màu xanh nhạt và những điểm phát sáng (trán, má, mũi, lông mày và cằm) biến thành màu xanh đậm. Nếu mặt của lính bắn tỉa vô tình bị phát hiện, thì nó không nên giống như một khuôn mặt. Chúng tôi phải biến mất và trở nên vô hình.

Chúng tôi chia làm hai cặp và đi theo hai tuyến đường khác nhau tới điểm đích. Thậm chí nếu một cặp có lỡ mất thời cơ, thì cặp còn lại vẫn có thể hoàn thành nhiệm vụ. Tôi và Casanova âm thầm tiến lên xuyên qua màn đêm tới đích. Mỗi người dò dẫm từng bước tiến về phía trước, hai bàn chân luôn thẳng hướng, loại bỏ tất cả mọi chướng ngại vật, cảm nhận được cả những cành con hay bất cứ thứ gì mà chúng tôi giẫm lên. Tiến từng bước ngắn, tôi dùng cạnh ngoài bàn chân, chầm chậm chuyển từ mũi bàn chân sang gót bàn chân tiến về phía trước.

Chúng tôi tới khu vực trống, theo xác định là cách mục tiêu khoảng 900m. Casanova và tôi dựng lều trên mặt đất. Do vẫn giữ cự ly với nhau nên chúng tôi không bị trông giống như những đốm sáng đang chuyển động khi bò thấp. Chúng tôi phải di chuyển đủ chậm để không bị phát hiện, nhưng cũng phải đủ nhanh để kịp đến nơi và nổ súng. Tôi cẩn thận giữ cho nòng súng trường không cắm xuống đất vì bụi bẩn sẽ làm giảm độ chính xác của nó, nhưng đồng thời cũng không để nòng súng chĩa lên trời vì sẽ làm lộ vị trí của chúng tôi. Tôi nằm sấp, tay và chân phối hợp nhịp nhàng trườn về phía trước. Mặt tôi sát đất đến mức mà nó đẩy cả bùn đi theo khi tiến lên. Mỗi lần trườn, tôi tiến được khoảng 15 cm. khi tôi và mặt đất gần như hòa làm một, tôi xóa bỏ hết tất cả mọi suy nghĩ khỏi đầu. Trong suốt quãng đường đó, tôi thường tự nhủ: Tôi và mặt đất là một, tôi là một phần của Mẹ Đất.

Nếu tôi thấy mục tiêu hay đội tuần tra, tôi sẽ không nhìn trực tiếp hay nghĩ về nó. Chúng ta biết rằng loài hươu đực thường hít hít và nhảy chồm chồm trên mặt đất vì nó chỉ có thể ngửi thấy mùi của bạn chứ không thể xác định được vị trí của bạn. Nó hít hít và nhảy chồm là nhằm bắt bạn phải chuyển động để nó xác định vị trí của bạn. Con người không có khả năng bắt mùi như loài hươu, song họ có giác quan thứ sáu: biết mình có bị theo dõi hay không. Tất nhiên thì một số người có khả năng cảm nhận tốt hơn người khác. Khi bạn nghĩ là mình đang bị theo dõi và nhìn quanh để xác định ai đang làm điều đó, tức là bạn đang sử dụng giác quan này. Các tay súng bắn tỉa nếu không muốn đánh thức giác quan này của kẻ thù thì nên tránh nhìn trực tiếp vào mục tiêu. Khi đến thời điểm nổ súng đến, tất nhiên là tôi sẽ nhìn thẳng vào mục tiêu qua tâm ống ngắm; thậm chí ngay cả lúc đó thì tôi cũng chỉ nên tập trung vào tâm ống ngắm mà thôi.

Tôi ngừng lại trong giây lát rồi tiếp tục trườn. Cuối cùng khi mục tiêu cách chúng tôi ước lượng chừng gần 500 m, chúng tôi đã tới được điểm bắn cuối (FFP). Lúc này là 2 giờ 20. Tôi kéo khăn trùm lấy ống ngắm nhằm không để xuất hiện đường sáng do đầu tôi và ống ngắm ban đêm tạo ra. Nếu bạn chưa từng nằm trong một vũng đầm với áo ghi lê ướt sũng, trong tiết trời mưa tầm tã với gió rít gào, trong khi phải liên tục giương mắt nhìn vào ống ngắm và thực hiện công việc của mình, thì bạn hẳn đã bỏ lỡ mất những giây phút tuyệt vời nhất của cuộc đời.

Trước mặt chúng tôi là một ngôi nhà cũ kỹ. Đâu đó trong căn nhà này là mục tiêu của chúng tôi. Casanova và tôi thảo luận về tầm bắn, tầm nhìn… Chúng tôi sử dụng mã màu cho từng phía của ngôi nhà, bao gồm màu trắng cho mặt trước, màu đen cho mặt sau, màu xanh lá cho phía bên phải và màu đỏ cho phía bên trái của ngôi nhà. Màu dùng để mã hóa các phía bắt nguồn từ mã hóa tàu thủy, trong đó xanh lá nhạt dùng cho mạn phải của tàu, màu đỏ cho mạn trái. Chữ cái theo phát âm được dùng cho từng tầng, gồm Alpha, Bravo, Charlie, Delta… Cửa sổ được tính từ trái qua phải theo thứ tự một, hai, ba… Nếu ai đó di chuyển qua cửa sổ ở mặt trước trên tầng thứ hai, tôi sẽ ám hiệu về cái cửa sổ là: Trắng, Bravo, một. Do đó chúng tôi dừng nói chuyện tào lao để trao đổi một cách ngắn gọn và hiệu quả. Những khóa mã này quen thuộc đối với thành viên của Đội SEAL số 6, giúp chúng tôi nhanh chóng hiểu ý của nhau dù trước đó chưa từng cùng làm việc.

Chúng tôi cũng có một công thức, bao gồm các yếu tố kích thước, hoạt động, địa điểm, đơn vị, thời gian và trang bị của kẻ thù (viết tắt là SALUTE). Thông tin tuần tra của kẻ địch rất quan trọng đối với đội đột kích. Ví dụ, đội đột kích có thể xông vào ngay lập tức sau khi đội tuần tra đó trở vào trong. Nếu đội tuần tra chỉ có hai người, đội đột kích có thể sẽ quyết định bắt sống khi chúng đang tuần tra, hoặc ba lính bắn tỉa có thể ngay lập tức hạ hai tên lính tuần tra ở bên ngoài và mục tiêu ở bên trong.

Nếu đây là tình huống giải cứu con tin, chúng tôi sẽ ghi nhớ địa điểm con tin đang bị giữ, địa điểm của bọn khủng bố, của bọn chỉ huy, giờ ăn, giờ ngủ… Chúng tôi vẫn đang phải ngâm mình trong nước, lạnh lẽo và khổ sở, song chúng tôi không bị bắt phải thích điều đó mà là phải làm điều đó.

Tôi dùng ống nhòm tính toán kích thước khung cửa sổ theo đơn vị milimet. Biết rằng cửa sổ thường có chiều cao khoảng 1 m, tôi nhân kích thước đó với 1.000, sau đó chia theo vạch milimet trên

ống ngắm để xác định tầm bắn.

Một giám sát viên xuất hiện và hỏi “Tầm bắn tới mục tiêu là bao nhiêu?” “600 m” là câu trả lời của tôi.

Một người trùm mũ kín đầu, mặc chiếc áo măng tô quân đội xuất hiện ở cửa sổ − đó là mục tiêu, nhưng chỉ là một hình nộm. Thường thì chỉ một lính bắn tỉa trong cặp đôi nổ súng, những người còn lại có nhiệm vụ ghi lại thông tin, xác định mục tiêu và bảo vệ xung quanh. Nhưng lần này cả bốn chúng tôi đều nổ súng. Tướng Garrison muốn biết liệu mỗi người có làm được điều mà chúng tôi đã cam kết hay không. Tôi nghe tiếng súng nổ từ cặp kia. Mỗi người chỉ có duy nhất một lần bắn thử, gọi là phát đầu. Cú bắn đầu tiên luôn kém nhất vì viên đạn xuyên qua nòng súng lạnh. Sau khi viên đạn thứ nhất làm ấm nòng súng, thì phát bắn tiếp theo sẽ chính xác hơn, nhưng Tướng Garrison không cho chúng tôi bắn phát thứ hai. Quân thù cũng đâu cho chúng tôi thực hiện điều đó.

Một giám sát viền kiểm tra mục tiêu nhưng không thông báo kết quả cho chúng tôi. Rồi phát đạn thứ hai nổ, tương tự đội tôi không hề biết kết quả. Bây giờ đến lượt cặp chúng tôi. Casanova nằm bên phải tôi, đủ gần để tôi có thể nghe được tiếng anh thì thầm nếu cần. Khoảng cách cũng đủ gần để chúng tôi xem chung một bản đồ. Với vị trí hiện tại, Casanova có thể xác định được vệt khói do đường đạn tạo ra cũng như quan sát được viên đạn găm vào mục tiêu, nhờ đó anh sẽ giúp tôi chỉnh đường đạn chính xác cho phát bắn thứ hai. Tuy nhiên, chúng tôi phải chấp nhận năm ăn năm thua với một phát bắn duy nhất. Chỉ mới sáu tiếng trước thôi, tôi đang ngồi thưởng thức món pizza nóng hổi trong Phòng chờ ấm áp cùng con trai tôi. Còn giờ đây tôi đang ở trong khu rừng lạnh lẽo và ẩm ướt, giữa một nơi vô định và chỉ được nổ súng một lần duy nhất vào mục tiêu. Hầu hết mọi người chẳng ai có ý niệm gì về cường độ huấn luyện và yêu cầu cao về trách nhiệm đối với công việc của một lính bắn tỉa.

Báng súng trường nằm chắc chắn trong hốc vai phải của tôi. Tay bắn của tôi ghì chặt tay nắm báng súng, trong khi ngón tay cò từ từ áp sát cò súng. Khuỷu tay phía sau giúp tôi giữ cân bằng. Má tôi tiếp xúc vững chắc với vùng ngay trên tay nắm báng súng, tôi hít một hơi thật sâu. Sau khi thở ra một phần, tôi nín thở − một kỹ năng mà người nhái làm rất tốt, giữ cho phổi ổn định để nó không làm lệch đường đạn của tôi. Tôi phải nín thở đủ lâu để chỉnh tâm ngắm trúng mục tiêu, nhưng cũng không được phép quá lâu đến mức có thể làm mờ tầm nhìn và gây căng cứng cơ bắp. Ngón tay tôi từ từ tăng cò – pằng.Tôi cũng không chắc liệu mình có bắn trúng mục tiêu hay không. Điều này không giống như trong phim, khi mà viên đạn có thể làm đổ vật mục tiêu ngay lập tức. Trên thực tế, viên đạn đi xuyên qua thân thể nhanh đến mức mà có những lúc người bị bắn còn không cảm nhận được là họ bị bắn, giống như những gì mà tôi được chứng kiến rất nhiều ở Somali, với loại đạn 223.

Sau khi Casanova thực hiện phát bắn, chúng tôi bò thoát khỏi khu vực theo một lộ trình khác so với khi xâm nhập. Nếu ai đó đã phát hiện ra dấu vết của chúng tôi và chờ chúng tôi quay lại trên chính con đường đó thì họ sẽ phải đợi dài cổ. Chúng tôi hành quân tới khu vực hạ cánh đã xác định và chờ ở đó cho tới lúc trời sáng.

Khi trời sáng, chúng tôi lộ diện để trực thăng đón. Giám sát viên cung cấp mã hiệu thông báo nhiệm vụ đã chính thức kết thúc: “Tuna, Tuna, Tuna.” Giờ thì chúng tôi có thể xả hơi được rồi, chúng tôi đứng thẳng dậy, vươn vai, bẻ khớp xương, tự thư giãn và đùa giỡn với nhau. Một chiếc trực thăng Black Hawk đón chúng tôi tại một sân bay dã chiến, sau đó thả chúng tôi ở một sân bay gần đó. Tại đó chúng tôi lên máy bay.

Sau khi về tới Đội SEAL số 6, cả bốn chúng tôi chưa được về nhà ngay. Chúng tôi phải trả lời thẩm vấn, sau đó lau chùi vũ khí trang thiết bị, kiểm tra hư hại và sửa chữa nếu cần. Rồi sau đó sắp xếp trang thiết bị chuẩn bị cho lần tập trung kế tiếp để tập dượt hoặc tác chiến thật. Công việc này khiến chúng tôi mất khoảng ba giờ để chuẩn bị sẵn sàng trang thiết bị cho những phi vụ tiếp theo.

Bốn chúng tôi đi tới phòng chỉ dẫn phi công số 1100 để báo cáo với tâm trạng như những kẻ bại trận. Tướng Garrison cùng với đội trưởng Đội SEAL số 6, chỉ huy Đội Anh cả Đỏ (Red Team), phụ trách Đội Anh cả Đỏ và khoảng 8 tới 10 cán bộ chủ chốt khác của các đơn vị lân cận ngồi trước mặt chúng tôi. Tướng Garrison là một người không chọn con đường binh nghiệp mà chính quân đội đã chọn ông. Trong suốt cuộc Chiến tranh Việt Nam, ông đã tới đó hai lần và được tặng thưởng Huân chương Anh dũng bội tinh với Ngôi sao Đồng Bronze Star vì lòng dũng cảm và Huân chương với Trái tim Đỏ tía Purple Heart vì những thương tật trong chiến đấu. Ông đã tham gia vào Chiến dịch Phượng Hoàng (Phoenix Program) nhằm triệt phá mạng lưới lãnh đạo của VC. Sau đó, ông làm việc trong Cơ quan hoạt động hỗ trợ của tình báo quân đội Mỹ và lực lượng Delta từ năm 1985 đến 1989. Đó là một người đàn ông cao dong dỏng, tóc nâu được húi cua. Ông ta ngậm phân nửa điếu xì gà đen xịt trên mồm. Đó là vị tướng trẻ tuổi nhất trong quân đội từ trước đến nay.

Đội trưởng của chúng tôi không thường xuyên tham gia vào các buổi trả lời thực hành huấn luyện, nhưng ông luôn muốn đảm bảo rằng những chàng lính hải quân của mình an toàn và quan trọng hơn là có phần trong buổi ăn tối cùng với Tướng Garrison.

Phụ trách Đội Anh cả Đỏ là Denny Chalker, có biệt hiệu là Snake − người từng là lính nhảy dù Airborne thế hệ 82 của quân đội; trước khi là tham gia Đội SEAL số 6, ông cũng là thành viên của đội SEAL và thuộc đơn vị chống khủng bố mang tên Echo Platoon của Đội 1. Ông là một chiến binh thực thụ.

Chúng tôi báo cáo tóm tắt về hoạt động trên máy bay, việc nhảy dù và về toàn bộ nhiệm vụ tấn công và hạ mục tiêu. Giám sát viên đã bí mật theo dõi khu vực hạ cánh xác định của chúng tôi. Họ thấy hai trong số chúng tôi cảnh giới trong khi hai người còn lại giấu dù. Thật may là chúng tôi đã thực hành giống như trong tác chiến thật. Tướng Garrison phát biểu: “Tin vui là kỹ năng tác nghiệp của lính bắn tỉa đơn vị anh rất tốt. Các anh đã ẩn nấp, di chuyển, hòa vào môi trường, đến được vị trí, quan sát và hoàn thành phát bắn. Nhưng điều đó chẳng có nghĩa lý gì khi tất cả các anh đều bắn trượt mục tiêu. Anh báo với giáo viên giám sát là mục tiêu cách 600 m, trong khi thực tế là cách 742m. Một trong số các anh bắn trượt xa đến tận bậu cửa sổ. Niềm hy vọng duy nhất của các anh là quân địch chết vì đau tim hơn là vì bị bắn.”

Cả bốn lính bắn tỉa chúng tôi nhìn nhau, mặt mày xị xuống giống như vừa bị sút vào bụng.

Khuôn mặt của đội trưởng chảy xuống.

Tướng Garrison vẫn giấu chúng tôi hai điều. Thứ nhất là lính bắn tỉa thuộc Đội Anh Hai Vàng (Gold Team) cũng không thực hiện nhiệm vụ thành công. Chỉ huy nhảy dù của họ không chỉ đúng địa điểm cần nhảy, do đó lính bắn tỉa của Đội Anh hai Vàng phải hành quân xuyên qua rừng trên quãng đường dài 13 km để tới mục tiêu. Tuy nhiên khi họ tới được mục tiêu thì đã quá muộn, vì thời gian cửa sổ mở trong 10 phút đã hết từ lâu. Thậm chí họ còn chẳng bắn được phát đạn nào. Bí mật thứ hai là lực lượng Delta của Tướng Garrison cũng thất bại.

Nhưng vấn đề tồn tại lớn hơn là ở chỗ tại sao Đội SEAL số 6 phải đột nhập vào máy bay khi nó đang chuẩn bị cất cánh trong khi Delta thực hiện việc đó tốt hơn? Rồi tại sao Delta lại phải đột nhập tàu khi nó đang di chuyển trong khi Đội SEAL số 6 có thể làm việc đó tốt hơn?

Hồi Ký Của Một Tay Súng Bắn Tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 7 Aug 2024

Google photo

Tôi thích bắn súng và tôi yêu săn bắn, nhưng chắc chắn tôi không bao giờ thích giết hại ai cả. Tuy nhiên, đó là công việc của tôi. Nếu tôi không giết những kẻ nhẫn tâm đó, họ sẽ ra tay sát hại nhiều lớp người trẻ khoác lên mình những bộ quần áo Thuỷ Quân Lục Chiến như chúng tôi.

− Trung sĩ Carlos Hathcock, Thuỷ Quân Lục Chiến

Phần 1. Tiếp cận và tiêu diệt

Khi Hải quân Mỹ cần sử dụng lực lượng tinh nhuệ nhất của mình, họ chọn lực lượng đột kích SEAL; khi lực lượng SEAL cần sử dụng lực lượng tinh túy nhất của mình, họ chọn Đội SEAL số 6. Lực lượng SEAL của Hải quân Mỹ có nhiệm vụ chống khủng bố và chống chiến tranh du kích (tương tự như nhiệm vụ của lực lượng Delta thuộc Bộ binh Mỹ) và cũng có lúc phối hợp với Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). Đây là lần đầu tiên câu chuyện của một lính bắn tỉa thuộc Đội SEAL số 6 được thuật lại. Và đó là câu chuyện của tôi.

Những người lính bắn tỉa đều tránh bộc lộ bản thân. Mặc dù chúng tôi ưu tiên tấn công thay vì trở thành mục tiêu bị tấn công, nhưng một vài kẻ thù vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng tôi. Chúng tôi dựa vào sức mạnh của mình để khai thác điểm yếu của đối phương, tuy nhiên trong suốt thời gian diễn ra cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần I, tôi đã bị thương và nằm đơn độc trên phần đuôi nhô ra của con tàu địch có sự hiện diện của nhóm thủy thủ làm việc cho Saddam Hussein. Một lần khác, dù là bậc thầy về nghệ thuật ngụy trang và ẩn nấp, nhưng tôi lại phải nằm phơi mình trên đường băng của một nước thuộc thế giới thứ ba với những lỗ đạn trên cả hai chân, chân phải gần như bị đứt lìa bởi đạn súng AK-47. Đôi khi chúng tôi phải đối mặt với những gì mà mình vẫn luôn cố tránh.

Tờ mờ sáng ngày 18 tháng Chín năm 1993 tại Mogadishu, Somalia, Casanova và tôi bò qua một bức tường còn sót lại ở đó, rồi trèo lên sân thượng của một tòa nhà 6 tầng. Mới tờ mờ sáng, nhưng ở khu vực xung quanh tòa nhà đã có người đi lại. Đàn ông, đàn bà và trẻ con đang tận hưởng những giây phút bình yên trên những con phố. Tôi ngửi thấy mùi từ những lò lửa mới nhóm lên bằng phân động vật khô hay bất cứ thứ gì mà người ta có thể để đốt. Chúng được dùng để nấu bất kỳ loại thức ăn nào mà người dân Somali tìm thấy. Thủ lĩnh phiến quân Aidid hiểu rõ được tầm quan trọng của việc kiểm soát nguồn cung lương thực, cho nên cứ mỗi lần thấy một đứa trẻ chết đói, tôi lại đổ lỗi điều đó cho Aidid, vì trò chơi quyền lực tàn độc của hắn đã tàn phá cuộc sống của người dân nơi đây.

Tòa nhà chúng tôi đang trú ngụ nằm ở giữa khu phức hợp Pakistan. Người Pakistan rất thân thiện và tôn trọng chúng tôi. Vào giờ uống trà, một cậu bé phục vụ luôn mang tới cho chúng tôi một cốc trà. Sữa dê mà họ cho vào trong trà thậm chí còn giúp tôi sáng tạo ra một hương vị trà mới. Ẩm vị và hương vị của những người chăn dê trong khu phức hợp này chạm tới cảm xúc của tôi khi tôi cùng Casanova trườn tới mép ngoài đỉnh tòa nhà. Chúng tôi nằm sấp ở đó và hướng tầm mắt về một gara lớn phía trước, đó là một tòa nhà không nóc của một xưởng sửa chữa các loại phương tiện. Vây quanh gara này là khung cảnh của một thành phố ảm đạm. Những con người Somali nặng nề lê bước, đầu và vai nặng trĩu như sắp sụp xuống. Sự bất lực bủa vây khuôn mặt họ, sự nghèo đói biến họ thành bộ da bọc xương. Do đây vẫn còn là khu vực “tốt hơn” so với những nơi khác ở thành phố này, nên những tòa nhà đa kích cỡ cũng được tôn tạo đôi chút. Ở vùng này cũng xuất hiện cả những ngôi nhà kiên cố bằng bê tông, thay vì chỉ có những tòa nhà cấp bốn bằng tôn và gỗ phổ biến trên khắp các thành phố và khu vực nông thôn ở đất nước này. Tuy nhiên, mùi hôi thối từ xác người chết và rác rưởi, trộn lẫn với “mùi” tâm trạng vô vọng của người dân nơi đây tràn ngập trong không khí. Vâng, đúng là sự vô vọng cũng có mùi vị. Người ta sử dụng khái niệm “các nước đang phát triển”, nhưng với Somali, khái niệm đó nghe thật chối tai. Thứ “đang phát triển” tại Somali lúc này chính là đói nghèo và chiến tranh. Tôi nghĩ khái niệm “các nước đang phát triển” chỉ là cách khiến những người vẽ ra nó cảm thấy được an ủi hơn. Dù chúng ta có xem đói nghèo và chiến tranh là gì đi chăng nữa, thì thực sự đó vẫn là hai điều tệ hại nhất có thể tưởng tượng ra. Tôi đo khoảng cách chính xác tới một số tòa nhà. Khi thực hiện thao tác bắn tỉa, hai yếu tố chính mà bạn cần xem xét chuẩn xác đó là độ lệch ngang và độ lệch cao thấp của đường đạn. Do hiện giờ gió không đủ mạnh để có thể làm lệch trái hoặc lệch phải đường đạn, nên tôi không phải quan tâm nhiều đến độ lệch ngang. Độ cao thấp thay đổi tùy thuộc vào tầm bắn (khoảng cách tới mục tiêu). Do hầu hết các mục tiêu của tôi đều ở cách xa từ khoảng 200m (từ gara trước mặt) tới 650m (tương đương với khoảng cách tới điểm giao nhau phía sau gara), nên tôi thường điều chỉnh kính ngắm ở mức cách 500m. Cách này cho phép tôi điều chỉnh súng cao hay thấp tùy thuộc vào tầm bắn. Khi súng nổ, giữa các phát bắn, bạn sẽ không có thời gian điều chỉnh kính ngắm để lấy tầm bắn chuẩn.

Chúng tôi bắt đầu trinh sát vào lúc 6 giờ sáng. Trong khi chờ tín hiệu của đồng nghiệp, tôi đã hình dung ra những cảnh tượng khác nhau trong đầu mình: có thể một tên sẽ xuất hiện chỗ này, rồi một tên khác xuất hiện chỗ kia và tiếp tục như thế. Khi đó tôi sẽ xác định mục tiêu, ngắm bắn và thậm chí còn làm động tác lên cò tượng trưng, phát đạn lướt xuyên qua hơi thở ổn định của tôi và theo đúng đường đạn đã vạch ra, trong khi vẫn đang dán chặt mắt vào mục tiêu. Sau đó tôi giả lên đạn lại, trở lại quan sát qua kính ngắm Leupold 10-power, tiếp tục tìm kiếm thêm vài tên khốn nữa. Đã hàng nghìn lần tôi bắn thử cũng như bắn thật, kể cả trong thời tiết ẩm ướt hay khô ráo, trong bùn lầy hay trong tuyết phủ; từ công sự tự đào trong lòng đất, ẩn mình sau những cánh cửa sổ khép hờ trong thành phố, hay gần như ở bất cứ nơi nào mà chúng tôi nghĩ ra. Những điều chúng tôi luôn được nghe ngay từ ngày đầu tham gia huấn luyện tại SEAL thực sự đúng đắn: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu”. Ngày hôm nay, tôi có trách nhiệm phải đảm bảo không một ai trong những người đồng đội thuộc Lực lượng Delta phải rơi một giọt máu nào khi tôi yểm trợ cho họ đột kích vào gara. Trong tác chiến, sự an toàn tuyệt đối của đồng đội tôi cũng quan trọng như sự bình an của chính tôi vậy.

Mục tiêu lần này của chúng tôi là Osman Ali Atto – chuyên gia, cố vấn tài chính quan trọng của Tướng Aidid. Dù ngay từ lần trinh sát trước, cả Casanova và tôi đều có thể xác định được mục tiêu, nhưng cấp trên yêu cầu chúng tôi phải chờ mật vụ CIA xác nhận về đặc điểm nhận dạng của hắn trước khi nổ súng.Tôi không được phép quên thực tế trớ trêu hiện tại đó là phải thực hiện nhiệm vụ bắt sống Atto thay vì tiêu diệt hắn, dù hắn và cấp trên của hắn đã giết chết hàng trăm nghìn người dân Somali vô tội. Tôi có cảm giác rằng nếu tiêu diệt Atto và Aidid, chúng tôi có thể kết thúc xung đột, nhanh chóng mang lương thực đến cho người dân và bình an trở về nhà.

Khoảng 8 giờ 15 phút sáng, cuối cùng mật vụ của chúng tôi cũng ra tín hiệu theo quy ước định sẵn. Mật vụ này làm điều đó vì đã được CIA đối đãi rất hậu hĩnh. Điều đầu tiên mà tôi học được khi làm việc với CIA là sức mạnh của đồng tiền có thể xô đổ mọi sự trung thành. Nhận được tín hiệu, cả Casanova và tôi đều lên đạn sẵn sàng. Trực thăng Black Hawk (Diều hâu) và Little Bird (Chim nhỏ) bay rợp trời. Vào thời điểm đó, các thành viên Delta đã bắt đầu xuất kích. Quả thực, môi trường tác chiến trong đô thị đã cung cấp cho quân địch rất nhiều lá chắn, nhiều chỗ ẩn nấp và đường rút lui. Tất cả những gì mà một tên địch phải làm là nổ một vài loạt đạn vào trực thăng hoặc xe Humvee, rồi nhảy ngược lại vào trong tòa nhà và quẳng vũ khí đi. Thậm chí nếu hắn có tái xuất hiện, thì hắn cũng không còn bị coi là quân địch khi không mang vũ khí. Mọi chuyện diễn ra rất nhanh và môi trường tác chiến không có chỗ cho lòng vị tha.

Những người lính của Delta nhanh nhẹn tụt dây vào bên trong gara, lính Ranger cũng rất nhanh leo dây xuống bủa vây quanh gara, trong khi những lính bắn tỉa của Delta hiện diện trên trực thăng Little Bird bay lượn phía trên bảo vệ lực lượng trực tiếp tác chiến tấn công. Người của Atto chạy tán loạn như bầy ong vỡ tổ. Ngay lập tức, lực lượng dân quân của đối phương xuất hiện từ các tòa nhà xung quanh và nổ súng vào trực thăng. Thông thường khi tác chiến, các lính bắn tỉa phải phối hợp với những người xác định mục tiêu. Người này sẽ nhận dạng, ước tính khoảng cách tới mục tiêu và truyền thông số cho các lính bắn tỉa để triệt hạ kẻ thù. Tuy nhiên, lần này chúng tôi không có thời gian để thực hiện thao tác đó vì đang tác chiến trong thành phố. Trong môi trường tác chiến này, kẻ địch có thể xuất hiện ở bất cứ đâu. Thậm chí tồi tệ hơn là bọn chúng ngụy trang làm dân thường. Chúng tôi buộc phải căn cứ vào động tĩnh của hắn. Thậm chí nếu lỡ hắn có xuất hiện với súng trên tay, hắn ta vẫn có thể là người của phía chúng tôi. Chúng tôi phải đợi cho đến lúc hắn hướng vũ khí về phía những đồng đội của chúng tôi. Đến lúc đó chúng tôi mới chắc chắn được rằng hắn ta cần phải bị tiêu diệt. Chúng tôi không có thời gian chỉnh sửa hoặc thực hiện phát bắn thứ hai. Hiện tại cả Casanova và tôi đều được trang bị súng bắn tỉa .300 Win Mag.

Sử dụng kính ngắm Leupold 10-power, tôi thấy một phiến quân nấp ở cửa sổ cách tôi khoảng 500m và đang nã súng vào trực thăng. Tôi thở đều, lấy lại nhịp tim ổn định và hướng tâm kính ngắm vào hắn, những hành động tiếp theo diễn ra theo yếu lĩnh động tác sẵn có: báng sùng ghì chặt vào vai, má áp vào một bên kính ngắm, mắt tôi tập trung vào tâm kính ngắm thay vì tên địch, từ từ lên cò (thậm chí dù cò rất nhẹ, lực kéo khoảng 2 kg). Tôi cảm nhận được sự chính xác ngay từ cú giật của súng. Viên đạn đâm xuyên từ bên trái sang bên phải ngực tên địch. Hắn quay cuồng, oằn mình rồi ngã vật xuống nền nhà và nằm đó mãi mãi. Tôi nhanh chóng quay lại với kính ngắm và tiếp tục rà tìm mục tiêu. Cuộc chiến lại tiếp tục. Tất cả những ý nghĩ khác biến mất khỏi tâm trí tôi. Ngay lúc này chỉ có súng Win Mag bên cạnh, tôi tiếp tục rà tìm mục tiêu trong phạm vi đảm nhiệm. Casanova cũng đang thực hiện nhiệm vụ tương tự của mình.

Một tên phiến quân khác sử dụng AK-47 xuất hiện từ cửa một tòa nhà cách tôi khoảng 300m và hướng súng về phía những người lính Delta đang thực hiện cuộc tấn công vào gara. Tôi chắc chắn hắn ta nghĩ rằng ở vị trí hiện tại của mình, hắn an toàn trước lực lượng tấn công. Tuy nhiên hắn không thể thoát khỏi tầm ngắm của tôi bởi vì khoảng cách 300m không phải là một trở ngại lớn. Tôi hạ hắn từ phía sườn trái và tất nhiên viên đạn bay ra ở phía bên phải. Hắn gục xuống ngay ở cửa thoát hiểm và không bao giờ biết ai đã hạ mình. Khẩu AK-47 nằm im lìm bên cạnh xác hắn. Một tên khác cố tiến tới chỗ hắn để giành lại khẩu súng, song một phát đạn từ súng Win Mag của tôi đã ngăn không cho điều đó xảy ra. Ngay sau mỗi lần thực hiện một phát bắn, tôi lập tức quên mục tiêu cũ để chuyển sang mục tiêu khác. Trong và ngoài gara, khung cảnh hỗn loạn thấy rõ. Mọi người chạy tán loạn khắp nơi. Trực thăng Little Bird và Black Hawk che phủ bầu trời, tiếng cánh quạt rít gió đinh tai nhức óc, nhưng tôi vẫn đang ở trong thế giới riêng bé nhỏ của mình. Ngoại trừ nhiệm vụ và những mục tiêu tôi quan sát được từ kính ngắm, hiện giờ chẳng có gì khác tồn tại cả. Hãy để những người lính của đơn vị thực hiện tác chiến làm nhiệm vụ của mình bên trong gara. Nhiệm vụ của tôi là tiếp cận và tiêu diệt quân địch.

Đây không phải là lần đầu tiên tôi hạ kẻ thù vì đất nước mình. Hiển nhiên, đó cũng không phải là lần cuối cùng. Tôi tiếp tục rà tìm mục tiêu trong vài phút. Cách tôi khoảng 800m có một tên xuất hiện với súng phóng lựu RPG. Hắn chuẩn bị bắn trực thăng của chúng tôi. Nếu tôi hạ được hắn, đó chắc là mục tiêu bị hạ ở khoảng cách xa nhất trong suốt sự nghiệp cầm súng của mình, nhưng nếu tôi thất bại thì sao…

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 7 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 17

Michael và Adonis quay trở lại tòa biệt thự, ngồi dưới gốc cây chanh với Peter Clemenza: Michael nóng lòng muốn đọc bản chúc thư. Nhưng Adonis nói ông ta phải chờ Andolini đến để chở ông về Montelepre gấp. Michael cũng chờ Andolini xem gã có tin tức gì nói cho hắn không.
Một giờ trôi qua. Giáo sư Adonis nhìn đồng hồ. Ông có vẻ bồn chồn bứt rứt, lo lắng.
– Có thể xe bị hư chăng, – Michael nói, – chiếc Fiat ấy coi bộ cũng rệu rạo lắm rồi.
– Andolini có trái tim của tên sát nhân. Nhưng lại có tác phong lịch sự, đúng giờ của nhà quí tộc. Và đáng tin cậy. Tôi sợ rằng nếu lão ta đến trễ một tiếng đồng hồ, thì có nghĩa là có cái gì đấy trục trặc rồi, không ổn dữ rồi. Tôi phải có mặt ở Montelepre ít nhất trước giờ giới nghiêm.
– Thưa ngài giáo sư, – Peter Clemenza trịnh trọng nói, – Ông anh của tôi, Domenic có thể cho giáo sư mượn xe. Và cả tài xế luôn.
Ông Adonis suy nghĩ một chút, rồi trả lời:
– Không, cám ơn ông bạn. Tôi phải đợi. Tôi gặp lão đã, đó là một điều cực kỳ quan trọng.
– Ông có ý kiến gì khi chúng tôi đọc chúc thư ấy, – Michael hỏi. – Làm thế nào để mở được bức tượng ấy?
– Dĩ nhiên là đọc được, mà chẳng cần tôi có mặt làm chi. Còn mở bức tượng ấy thì chẳng phải mộng, mẹo gì đâu. Bức tượng ấy làm bằng gỗ cực tốt. Đầu bức tượng ấy rời. Chỉ cần tháo cái đầu ra. Nếu anh thấy khó đọc thì tôi sẵn sàng giúp anh. Anh cứ bảo một người của anh đến cho tôi biết, tôi sẽ đến ngay.
Michael và Peter Clemenza đi lên ngay phòng ngủ của Michael. Kể từ lúc nhận được từ tay bà Maria Lombado, bức tượng vẫn nằm trong áo jaket của Michael. Hắn hầu như quên hẳn bức tượng. Cả hai đều nhìn vào bức tượng Đức Thánh Nữ Đồng Trinh vừa được lôi ra khỏi túi. Sắc thái của bức tượng thì đúng là sắc thái châu Phi. Nhưng nét diễn tả cũng giống với nét diễn tả của những bức tượng mà mọi gia đình nghèo ở Sicily đều có. Bức tượng nặng đến nỗi không ai ngờ là nó rỗng ruột.
Peter Clemeza ra phía cửa sổ nói vọng xuống bảo mụ già đem lên cho lão cái khăn lau. Mụ đi lên, chỉ thò cái đầu vào cánh cửa mở hé, nhìn vào phòng, rồi chìa cái khăn cho Clemenza. Lão đứng chắn ngay ở cửa để ngăn ngừa mọi sự nhòm ngó hoặc bất ngờ nào.
Michael cầm bức tượng. Hai tay Michael nắm chặt đế tượng. Cánh tay vạm vỡ của Clemenza xoay mạnh một cái đầu, đầu bức tượng rời ra và lăn lông lốc trên sàn nhà. Một tập giấy mỏng bọc trong miếng da cừu non lòi ra khỏi ruột tượng. Tập giấy khoảng mười lăm tờ giấy mỏng chi chít chữ viết bằng mực đen. Mỗi trang đều có chữ ký nguệch ngoạc của Guiliano. Cũng có một tài liệu có con dấu của chính quyền, những bức thư trên ấy chỉ có tiêu đề của cơ quan nhà nước, một tờ giấy có chứng thực của chưởng khế. Michael dùng bức tượng và tấm giẻ lau đè các mép tờ giấy bị uốn cong ra. Sau đó, hắn trịnh trọng rót hai ly rượu, một cầm lên tay, một trao cho Clemenza. Họ uống và cùng đọc bản chúc thư đó. Phải mất gần hai giờ đồng hồ mới xong.
Michael kinh ngạc khi thấy Guiliano còn trẻ như vậy, có lý tưởng cao cả như vậy, mà đã phải trải qua những kinh nghiệm, những cạm bẫy lừa lọc xảo quyệt như vậy, với sự hiểu biết kinh nghiệm bản thân rất phong phú và sâu sắc về cái thế giới cạm bẫy, lừa lọc, phản trắc, Michael đã có thể dễ dàng nhanh chóng hình dung ra đầy đủ những mưu sâu bẫy hiểm Guiliano đã dùng để đối phó với địch, để có thể ấp ủ, nuôi dưỡng, mưu đồ, kế hoạch chiếm đoạt và xây dựng quyền lực, hầu có thể thực hiện cái sứ mạng của mình. Michael cảm thấy lòng tràn ngập nỗi sung sướng được gặp người đồng điệu, được góp phần mình vào sự giải thoát Guiliao. Trong phút chốc, những háo hức, nôn nóng trở về nhà của Michael đã bị nỗi sung sướng ấy làm tan biến như làn sương mai tan biến dưới ánh mặt trời.
Trong bản chúc thư này, những gì Guiliano nói về những hoạt động của mình trong thời gian sống ngoài vòng pháp luật thì chẳng có gì đáng kể lắm. Nhưng, những tài liệu dẫn chứng thì thật động trời và kinh khủng. Tài liệu ấy chắc chắn quất sụm tức khắc chính phủ đương quyền của đảng Dân Chủ thiên chúa giáo. Mà ngay cả cái đảng này cũng bị “đo ván” luôn. Thân bại danh liệt là cái chắc. Tại sao bọn chính khách lại ngu xuẩn và điên khùng đến như vậy được. Michael kinh ngạc: một tờ giấy viết tay mang chữ ký của Hồng y giáo chủ Palermo. Một bức thư lời lẽ khốn nạn của bộ trưởng Bộ Tư pháp gửi cho Ông Trùm Croce yêu cầu lão dập tắt cuộc biểu tình do cánh tả tổ chức ở Ginestra. Nhưng, khi sự việc xảy ra thì lại ngậm máu phun người, đạo đức giả, nước mắt cá sấu xót thương và to miệng hò hét lên án chống bạo động. Đặt mỗi sự kiện riêng rẽ thì mỗi sự kiện xem ra tầm thường, chẳng có gì đáng kể. Nhưng sắp đặt chúng vào chuỗi liên hệ với nhau, thì lập tức những sự kiện ấy trở thành một hòn núi tội ác khủng khiếp đập vào mắt người ta. Cũng có cả bức thư của hoàng thân Ollorto – nhân vật đáng kính, quyền thế cùng mình, tiền bạc như rừng như biển – đã tán dương Guiliano bằng những lời hoa mỹ, nồng nhiệt. Ngài đảm bảo với hắn rằng tất cả những nhân vật chóp bu trong chính quyền đã đảm bảo với ngài là họ sẽ làm tất cả để miễn xá cho hắn và thỏa mãn tất cả những gì hắn yêu cầu, chỉ với một điều kiện: hắn tiếp tay để họ nắm chính quyền trong cuộc bầu cử. Hoàng thân cũng cho biết có sự giao hảo mật thiết với ngài Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Và chính ngài bộ trưởng cũng nhất trí với hoàng thân. Cũng có cả bản chụp kế hoạch hành quân do bộ tham mưu tối cao cảnh sát phối hợp với Bộ Tổng tham mưu quân đội soạn thảo để tiêu diệt lực lượng và bản thân Guiliano, kế hoạch này đã được đổi lấy sự cộng tác của Guiliano nhằm triệt hạ cánh tả, giúp đảng Dân chủ Thiên chúa giáo nắm chính quyền.
– Thảo nào, cuộc hành quân dây dưa cả năm trời không xong, mặc dù chính phủ đã tung ra một lực lượng hùng hậu với đủ các binh chủng, – Michael nói, – lực lượng dàn ra chỉ là hỏa mù để che mắt và bịt miệng phe đối lập, chứ thực tâm họ muốn bắt Guiliano. Nhưng, đó mới chỉ là màn đầu của cạm bẫy. Nhưng, với những tài liệu này thì đúng là bọn chính quyền ngồi trên thùng thuốc súng mà ngòi nổ nằm trong tay Guiliano.
– Qua phải mang cái này đi Tunis ngay bây giờ mới được, – Già Peter Clemenza nói, – Nội nhật ngày mai, tài liệu này đã nằm trong tay Bố Già rồi!
Lão già nhét tài liệu vào ruột tượng, lấy đầu bức tượng ráp lại và bỏ bức tượng vào túi, rồi nói với Michael:
– Đi, nếu qua đi ngay bây giờ, thì sáng sớm mai qua đã lại có mặt ở đây rồi.
Họ đi ra khỏi biệt thự. Trước khi đi, Clemenza đã xem xét cái giẻ lau như thể xem có vết máu dính ở đó không, rồi ném vào bếp. Họ đi ra bờ biển và bất ngờ gặp Adonis đang đứng thẫn thờ ở đó. Stefan Andolini vẫn chưa tới.
Adonis đã tháo cà – vạt, cởi áo vét. Áo sơ – mi của ông đẫm mồ hôi mặc dù đã đứng dưới bóng mát của cây chanh và gió thổi hiu hiu. Hình như ông uống cũng hơi nhiều, vì chai rượu trên bàn đã cạn.
Ông ta chào Michael và Clemenza. Giọng thất vọng và lo âu:
– Những sự phản bội cuối cùng đang bắt đầu. Andolini đã trễ mất ba giờ đồng hồ rồi. Sự chậm chễ bất thường này là triệu chứng chắc chắn của thảm họa, của tội ác, của bội phản… Tôi đi Montelepre và sau đó đi Palermo ngay. Tôi phải tìm cách báo cho Guiliano biết ngay.

Photo edit by Sơn râu

Peter Clemenza nói, giọng nửa đùa nửa thật:
– Ông già à, xe của gã đó có thể bị hư thiệt. Hoặc có thể bị trở ngại vì một công việc gấp gáp hơn chăng. Gã biết là ông giáo đang còn ở đây, bình yên vô sự và sẽ đợi. Cho nên gã bay bướm lả lướt với mấy ả ở Palermo chẳng hạn. Thì cứ ở lại đây với chúng tôi một đêm nữa, nếu ngày hôm nay gã chưa đến.
Nhưng Adonis vẫn lẩm bẩm nói như thể nói với riêng mình:
– Nhất định là có cái gì đó tệ hại lắm xảy ra… nhất định… tệ hại… nhất định…
Và ông Adonis đã yêu cầu Peter Clemenza cho xe chở ông ta đi. Clemenza đã cử hai người – một tài xế và một hộ tống – lái chiếc Alffa Roméo chở ông Adonis đi Palermo. Lão nói với hai người của lão phải làm sao để xe quay về nhà trước khi trời tối. Cấm lang bang, la cà nơi nào.
Họ đưa giáo sư Hector ra tận xe và nói ông đừng lo lắng gì. Chúc thư sẽ được gửi đi Hoa Kỳ. Nội trong hai mươi bốn giờ đồng hồ nữa, nó sẽ nằm trong tay Bố Già. Và lập tức, Guiliano sẽ được an toàn ngay thôi. Chiếc xe chạy vút ra cổng. Già Clemenza và Michael đi ra phía cầu tàu. Michael đứng nhìn Clemenza mở máy tàu và để lão đi một mình với đám người hộ tống. Lão nói với lại: “Sáng sớm mai qua đã có mặt ở đây rồi”. Michael tự hỏi sẽ làm gì, sẽ ra sao nếu bất ngờ Guiliano lại chọn đúng đêm nay để đến đây?
Sau đó, hắn ăn trưa. Sau bữa ăn, hắn nằm nghỉ. Sau đó đi dạo một mình ngoài bờ biển. Xế chiều, mặt biển thẫm hơn. Và, phía ngoài tít mù khơi – Michael dự đoán – có lẽ là châu Phi. Hắn có cảm tưởng như ngửi thấy mùi hương hoa rừng và mùi dã thú. Hắn đứng trên bờ biển, thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên và cảm nhận yên bình của một đêm Sicilian. Hắn bỗng cảm thấy dạt dào lòng ái ngại cho những kẻ đang lao vào những cuộc hành trình gian nguy, hiểm nghèo. Guiliano trong hang núi, Pisciotta – với tấm khiên mỏng manh và mảnh giấy thông hành đặc biệt, có sọc đỏ, do bộ trưởng Tư pháp ký – đang đi dây giữa hai bên đều là kẻ thù. Adonis và Andolini, người nọ đang đi tìm người kia trên đường cát bụi mịt mù. Peter Clemenza đang bồng bềnh trên sóng nước biển xanh. A, già Domenic, đi đâu mà trưa này lại không ăn cơm ở nhà nhỉ?
Tất cả những người đó chìm khuất trong bóng của xứ Sicly. Khi họ xuất hiện thì có lẽ sự sống, chết của Guiliano đã rõ ràng.


Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 7 Aug 2024

Google photo

10. Một người hàng xóm

Vương An bừng mắt, lên tiếng. Đó là giọng rên bất mãn, khi cảm thấy đói. Nắng chói vào, từ cánh cửa mở rộng. Vương An nhắm mắt lại, dỗ giấc ngủ, nhưng cay mắt quá, bèn kêu lên vài tiếng não nuột, ư hư, ha… Xung quanh Vương An là khoảng trống, thế là tung chăn, ngồi dậy, bước chập chững như người say rượu, lần tay vào vách. Đến ngưỡng cửa, Vương An ngồi xuống, rú to lên để than van niềm cô đơn. Rồi nằm sắp, úp mặt xuống gạch, tay chân cựa quậy như con cua, như con nhện. Hai chân đập xuống, đụng vào gạch, càng đập mạnh, càng đau. Sau rốt, từ cửa miệng Vương An vang ra thứ âm thanh quái đản của con thú bị thương. Vương An trườn tới, hai tay chỏi lên, rồi buông xuôi.

Một bà lão bước vào, tay bồng đứa bé, tay nâng cái bánh bao to, trắng phếu, cái bánh nhưn thịt, có hột vịt, lạp xưởng. Vương An ngồi dậy, dựa lưng vào vách, bóp méo cái bánh, cắn một miếng, nhai thử rồi buông ra, nằm dài, rú lên.

Bà lão chạy tới, hươi tay đập mạnh vào mông Vương An rồi lột cái quần ướt mềm. Vương An ù lì, nằm tại chỗ, trong vũng nước nhầy nhụa, không kháng cự, nước mắt tuôn khá nhiều, mồ hôi lại chảy ra, chan hòa với mớ nước miếng. Nắng cứ lên, phản chiếu. Vương An đột nhiên ngồi dậy, liếc ra ngoài cửa.

Tôi ngồi đọc báo, theo dõi chiến sự. Những màn biểu diễn đượm vẻ “hiện sinh”, “hiện hữu” của Vương An chẳng còn gì là mới mẻ cả. Chú Hai, cha của Vương An dừng ngang cửa:

– Chào thầy Hai. Thầy Hai ở nhà, chưa đi làm? Hồi sáng nghe nói nổ lựu đạn ở chợ Tân Định, lính bố ráp.

Tôi đáp:

– Lát nữa phải đi. Chú Hai về sớm?

– Bữa nay ngày mười bốn An Nam, bán đắt lắm, người ta mua đồ về ăn chay. Vợ tôi giữ cái sạp “chạp phô” để tôi về lo cho A Ốn.

A Ốn là tên gọi của Vương An. Chú Hai sanh trưởng tại vùng cầu Ông Lãnh, tên chú là Vương Tường, năm nay khoảng năm mươi tuổi. Chú là người láng giềng trầm lặng, đóng cửa, ít cho con đi chơi ngoài ngõ hẻm. Người trong xóm khen ngợi: Chú đàng hoàng, chưa gây gổ với ai. Tôi nhận xét: Chú là hạng người chí thú làm ăn, “chơi bời kỹ”. Hai vợ chồng chú thay phiên nhau bán hàng trong nhà lồng chợ Thái Bình, mấy đứa bé, tất cả năm đứa, được nuôi nấng đầy đủ, nhờ sự chăm sóc của người quản gia lớn tuổi. A Phò, gọi bà Phò. Năm ngoái, một đứa con gái của chú Hai nâng cái chén đầy cơm, vừa đi vừa ăn trước cửa, vô tình nó lủi vô mình tôi, chén rơi đổ. Chú Hai hay được, trách mắng đứa bé rồi đích thân gặp tôi xin lỗi, mời đến uống trà. Lần đầu tiên, tôi vào nhà chú Hai. Cả một sự bừa bãi: Như cái nhà kho chứa hàng: nào tàu hủ khô, củ cải muối, củ kiệu, muối bọt, mỗi thứ chừng năm ba chục ký lô. Lại có năm ba khạp tương, hàng trăm chai tàu vị yểu, hàng chục hộp nấm đông cô, bún phơi khô… la liệt dưới gầm giường, trên gác, dưới bàn ăn cơm. Sách báo thì vô số kể. Chú Hai luôn luôn tích trữ hàng chục ký lô, đem về rọc nhỏ. Lúc rảnh rang bà Phò khuấy hồ, dán bao để gói hàng. Người trong xóm lo ngại, nhà chú Hai chứa toàn chất “bắt lửa”, rủi bề gì gây tai họa không đo lường được. Uống trà xong, chú tự giới thiệu bằng cách viết lên giấy, nhờ đó, tôi biết chú có năm đứa con, mỗi đứa mang cái tên khá đẹp, nếu đọc theo chữ Hán:

Đứa gái lớn là Vương Thái Phụng, gọi nôm na là Thởi Phùng, các em gọi nó là A Ché (tỷ là chị)

Thằng trưởng nam là Vương Khôn, gọi Khoánh, các em gọi là Tò Co (đại ca).

Đứa trai kế là Vương Xương là Vương An, gọi A Ốn. A Ốn, tức là nhân vật rắc rối mà tôi vừa mô tả phong cách ở phần nhập đề.

Ngoài ra còn có hai đứa con gái, ghi vào danh sách này cho sát với thực tế: Vương Kim Ngân, gọi A Ngàn, Vương Thái Hồng, gọi Thởi Hùng. Trong tương lai, còn nhiều nhân vật bé bỏng khác lần lượt xuất hiện. Vợ chồng chú Hai sanh năm một và lấy làm hãnh diện với thành tích ấy.

Chú Hai ngập ngừng:

– Tôi về nhà, lo cho A Ốn.

– Cái thằng Vương An phải không?

– Nó đó, thầy ơi. Cưng nó lắm. Bữa nay nhõng nhẽo, hồi khuya chắc nó bịnh, tôi đánh nó mấy roi, bây giờ nghĩ lại, buồn quá. Nó mập mà đau hoài, tôi mua cái móng con cọp cho nó đeo. Nó biết nói chuyện cũng nhờ thầy “khai khẩu” giùm, thầy quên rồi sao?

Tôi trầm ngâm, sực nhớ hồi năm ngoái Vương An đi bác sĩ về, ngồi cú rũ, rên ư hư. Tôi chạy qua, đứng lại ngưỡng cửa, hỏi thăm. Chú Hai nói: “Nó không biết nói chuyện đâu, nói ít lắm, mang cái tật. Cái lưỡi nó lớn, hình vuông”. Tôi nhìn Vương An, hỏi thử: “Đi bác sĩ bằng xe gì? Xe xích lô hả?”. Bỗng dưng Vương An há miệng, trợn mắt, nói ra hai tiếng thật lớn, như cái máy “ra dô” vặn to:

– Xích… nô

Cả nhà vui mừng, chú Hai, thím Hai mua cua biển thật nhiều, hàng chục con, luộc chín để thết đãi bầy con và người có phép thần thông là tôi. Ăn xong một con cua khá to, Vương An cười mủm mỉm. Tôi dạy nó hai tiếng khác. Nó trợn mắt quát to: “Tắc xi”. Thật là kỳ diệu. Vợ chồng chú Hai hỏi thăm tuổi tác của tôi rồi nhìn nhau. “Thầy Hai tuổi Dần, con cọp. Cái tuổi Dần của thầy Hai… oai linh lắm, không như cái tuổi Dần khác”.

– Bữa nay chú Hai nhờ tôi chuyện gì? Tôi sẵn sàng. Làm đơn xin nhà nước giảm thuế?

Chú Hai ngập ngừng:

– Mời thầy Hai qua nhà.

Vương An vẫn nằm dài, trên nền gạch. Chú Hai rót nước trà, nói giọng kính cẩn:

– Thầy… khoán cái bùa giùm.

Tôi làm thầy bùa hồi nào mà ngày nay chú Hai phong chức cho tôi như vậy? Tôi muốn từ chối, chưa kịp mở lời là chú nói:

– A Ốn bịnh cái miệng.

– Tôi đâu biết khoán bùa.

– À, cái đó dễ lắm. Cái tuổi Dần, con cọp của thầy Hai…

– Thế gian này, trong xóm này, con nhiều người tuổi Dần.

– Nhưng mà cái tuổi Dần của thầy oai linh lắm. Cọp có nhiều thứ, cọp hiền, cọp dữ, cọp đen, cọp trắng, cọp… đi tu lâu năm. Thầy Hai hồi đó ra đời nhằm giờ… con cọp linh.

Nói xong, chú Hai kéo ngăn tủ nhỏ, đem ra cây bút lông, thỏi mực, cái nghiên, rưới nước, bắt đầu mài:

– Lát nữa thầy khoán giùm hai cái bùa ở hai bên gò má thằng A Ốn.

Vì quan niệm đó là trò đùa vô thưởng vô phạt, tôi nhận lời, cầm bút lông múa máy, như viên dũng tướng cầm kiếm:

– Khoán bùa kiểu gì, chú dạy tôi đi.

– Thầy biết chữ Tàu mà. Vẽ chữ hổ, là con cọp đó. Tôi nhúng mớ lông thỏ mềm mại vào nghiên mực, viết thử vào lòng bàn tay. Chú Hai khen ngợi:

– Được rồi. Thầy là con cọp linh, thầy viết lên gò má A Ốn một bên một chữ hổ. Làm vậy, nó nói chuyện mau. Nhờ thầy mà mấy tháng rồi nó nói chuyện nhiều quá.

A Ốn cười hề hề, nhưng khi bút lông cọ vào má, nó nhảy dựng khóc ré lên. Chú Hai nắm tay nó, bồng nó:

– Xúi chẩy, Xúi chẩy. (Thằng nhỏ không tốt).

Tôi thối chí vì nó lắc đầu lia lịa. Chú thò vào túi, đem ra tấm giấy 20 đồng, nhét vào tay. Nó cầm lấy, nhưng cứ phản đối. Tôi thở dài. Chú giải thích:

– Thầy đừng buồn. Nó sợ cái con cọp của thầy đó.

Sau rốt, tôi đem hai đồng bạc tặng cho nó, nó chịu ngồi yên. Tôi viết xong hai chữ hổ là chú khen:

– Tốt lắm. Tốt lắm.

– Vậy là xong.

Nhờ thầy vẽ thêm hai cái vòng tròn ở ngoài cái chữ hổ, như nhốt con cọp trong chuồng.

Lát sau, chú Hai buông A Ốn ra. Nó chạy mất ngoài đầu hẻm, mang theo tiền bạc. Chú Hai nhắc bà Phò:

– Coi chừng A Ốn. Đừng đánh nó. Đi theo nó mà coi chừng.

Sau khi thị oai với con nít, tôi về nhà, sửa soạn đi dạo phố. Khi về, được hay tin: A Ốn đã nhập học, tại trường tư thục Chí Thanh, vào buổi xế. Mấy người dì, người chú của A Ốn đã chọn ngày lành tháng tốt, mua sắm cho đứa cháu cưng nào giấy, vớ, cặp da, thêm cái “kết” bằng vải ka ki. Bà Phò cho biết:

– Thầy Hai ơi, “xí chảy” đi học rồi. Nó vui lắm, bận quần áo tốt lắm.

Tôi ngạc nhiên, chẳng hiểu tại sao A Ốn còn có tên là “xí chảy”, bèn viết lên giấy, mấy chữ Vương An, bà Phò lắc đầu, mượn cây viết viết nhanh lên giấy, hai chữ “tiểu tử”.

Đồng hồ trên vách gõ bốn tiếng. Vì có ý chờ đợi nên thỉnh thoảng tôi nghiêng mình, trông ra cửa sổ, từ bên nhà tôi. Bà Phò nói vọng qua:

– Năm giờ, xí chảy mới về. Còn một giờ nữa, tôi đi rước nó.

Bỗng dưng ngoài đầu hẻm, tiếng khóc nhừa nhựa vang lên, mỗi lúc càng to. Đúng là A Ốn, tại sao cậu ta lại khóc ré trong lúc chưa tan học? Thím Hai – mẹ nó – mặt mày hầm hừ, nắm tay mà kéo lết nó. Trông A Ốn thật buồn cười, thiểu não: đầu đội kết, gắn ngôi sao trắng kiểu Quốc dân đảng, như ông tướng, hai chân mang loại vớ khá cao tận gối, nhuộm từng khoanh đen đỏ xanh vàng, kiểu vớ dành cho “anh chị” múa lân dịp tết. Hai sợi dây tréo quần sắp tuột, còn vướng víu trên vai. Và rõ ràng là không gài nút quần.

Lũ trẻ trong ngõ hẻm xúm nhau bao vây A Ốn và thím Hai.

A Ốn dừng lại, hươi tay. Thím Hai quát to:

– Tụi con nít này làm gì kỳ khôi vậy? Chận đường không cho người ta đi. Ngộ lắm hả?

Hai bên gò má A Ốn còn mấy lằn nguệch ngoạc của chữ hổ, đã lem lấm vì nước mắt. Lúc A Ốn đi ngang nhà, tôi ẩn lánh để khỏi e thẹn. Rõ ràng tôi chẳng có chút oai linh nào cả.

Bà Phò cởi quần, bắt buộc nó tắm rửa. Nó phát chạy, trần truồng. Thím Hai nắm nhanh tay nó, kéo vào nhà rồi chụp lấy cây roi mây. Nó chửi rủa vu vơ, thím đập túi bụi. Nó té xuống, hai chân cựa quậy, tung tăng đôi vớ màu “dã thú”. Lát sau, hai tay nó bị trói, đầu dây buộc vào chân bộ ván. Nó ngồi xuống, chịu phép. Thím Hai quát to như phân trần với hàng xóm:

– Mầy chạy hả? Tại sao mầy ngồi học trong trường rồi mầy chạy băng qua đường? Xe hơi nó cán mầy. Mầy coi xe hơi là đồ bỏ, mầy không sợ chết hả. Tao làm ăn mua bán trong nhà lồng chợ, kiếm tiền nuôi mầy ăn học, mầy biết không? Tại sao trong chợ tao kêu mà mầy chạy, người ta đạp nhằm, mầy lòi ruột. Tao lớn như vầy mà chạy đua không kịp mầy hả? Giỏi lắm, cái chân nào chạy đâu. Chạy hay lắm! Hay lắm!

Một tiếng hay lắm được điểm bằng một ngọn roi khá mạnh tay. A Ốn cựa quậy, đập đầu vào chân bộ ván, xuống nền gạch. Bà Phò can gián, toan giựt roi, nhưng thím Hai đánh thêm:

– Hay lắm. Cái chân này hay lắm. Trói mầy luôn trong nhà. Tao ra ngoài chợ lo công việc mua bán. Tại tao đánh mầy mà tao bỏ bê công chuyện hết… Xúi chảy.

Thím Hai vừa ra, bà Phò khép cửa lại. Tụi trẻ con còn lẩn quẩn nhìn vào. A Ốn nói to:

– Đ.m. tụi bây. Tụi bây cũng ngu như tao vậy đó.

Bộ tụi bây hổng có bị đòn lần nào hả?

Một đứa trẻ hỏi:

– Bộ mày mới đi học?

A Ốn đáp:

– Hổng vui. Học kỳ cục thấy mẹ.

Tôi đến gần cửa sổ, nói đùa:

– Vương An. Biểu bà Phò mở trói cho.

Nó lắc đầu:

– Cái gì mà Vương An. Kỳ cục thấy mẹ.

– Vương An là cái tên A Ốn đó.

– Không có cái tên gì hết. Không biết cái tên. Hồi chiều cô giáo kêu cái tên tao, rồi đánh đít tao, đau quá.

Mười phút sau, chú Hai về.

Mưa lắc rắc, bóng đêm lan tràn quá sớm. Trẻ con chui vào nhà, ngõ hẻm mất vẻ náo nhiệt. Ăn cơm chiều xong, tôi ngồi bên cửa sổ, nghe tin tức chiến sự.

A Ché, chị của A Ốn, bước vào:

– Thầy ơi, ba tôi kêu kìa.

“Kêu” có nghĩa là mời mọc. Tôi hứa:

– Về đi, lát nữa chú qua. Ba làm gì bên đó? Ăn cơm chưa?

– Ăn rồi. Ăn con cua luộc.

Nói xong, A Ché chạy mất, tôi phập phồng, chẳng hiểu lát nữa ăn nói ra làm sao, đóng kịch gì. Chắc chú Hai muốn bàn việc gì quan trọng chớ nào phải mời ăn cơm. Buổi cơm đã tàn, như A Ché cho biết.

Qua nhà chú Hai, tôi thấy A Ché, A Khoánh, A Xén, A Ốn… ngồi trên bộ ván, giành nhau mớ bắp nướng và đậu phộng rang. Chú Hai, thím Hai ngồi đối diện, mừng ra mặt:

– Mời thầy Hai.

Tôi cười gượng:

– Vẽ bùa con cọp cho A Ốn hả? Nó đi học mà tôi không hay. Tại sao nó bỏ lớp, về nhà? Ngày mai, cho nó đi nữa, cho quen.

Thím Hai lắc đầu:

– Thằng đó… ăn không hè.

Chú Hai nói, nghiêm nghị:

– Coi vậy chớ nó giỏi lắm. Nhờ cái bùa, nhờ thầy Hai.

Rồi chú rót nước trà đậm, đem kẹo gừng mời tôi ăn cho ấm, lúc trời đang mưa nhỏ. Câu chuyện cũng khá vui. A Ốn thích đi học, và đòi đi học từ hồi năm ngoái. Vô lớp, nó vui lắm, nói chuyện om sòm. Cô giáo hỏi tên để ghi vô sổ học. Nó nói: “A Ốn, A Ốn mà”. Nghe không được, cô giáo hỏi ba bốn lần, vì nó trả lời ngọng. Nó la lớn: “A Ốn, bộ không biết sao mà hỏi hoài vậy?”. Cô giáo dạy nó: “Muốn đi tiểu tiện thì lên cho cô hay, xin phép đàng hoàng.” Nó cười. Cô giáo sắp đặt cho nó ngồi gần chị nó, anh ruột nó là A Ché và A Khoánh… Trường tư, cái gì cũng dễ hơn trường nhà nước… Vô học, chưa cần nạp khai sanh.

A Ché cho biết:

– Cái thằng Ốn nó ngồi, nó cười, nó nói mỏi chân. Nó chạy lên xin cô giáo đi đái. Cô giáo ừ. Nó chạy ra sân chơi, lâu lắm rồi trở vô. Chừng cô hỏi thì… nó đâu có đái.

A Ốn cười, quơ tay về phía A Ché:

– Nói bậy hoài.

Tôi hỏi A Khánh:

– A Ốn học được chữ nào không?

A Khoánh nói dõng dạc:

– Thằng đó kỳ cục lắm. Đi đái rồi lát sau nó nói với cô giáo: “Cho nó đi ngoài sân chơi, coi xe hơi được không?”. Học trò đứa nào cũng cười lớn. Nó mắc cỡ, chửi cô giáo. Cô giáo đòi phạt quỳ gối. Nó chạy ra ngoài sân, vô nhà lồng chợ kiếm ba tui, ba tui cưng nó lắm. Không thôi thì… xe hơi đụng nó rồi, nó chạy qua hai con đường lận.

Cả nhà cười vang lên trong khi A Ốn nổi giận, nhào lăn xuống nền gạch, chú Hai bước theo, nắm tay nó, vuốt ve nó. Nó nói:

– A Pà. Làm con ngựa… cho tao cỡi đi.

Chú Hai ngoan ngoãn khom lưng. A Ốn nhảy thót lên, thích chí thúc hai chân. Tôi đứng nhìn. Chú Hai trở thành con búp bê cho con đùa giỡn. Đây là đời tư, là sanh hoạt gia đình. Không cần có người ngoài làm khán giả. Thím Hai, bà Phò, anh và chị cả A Ốn ngồi xúm xít, rọc xấp báo cũ, dán bao giấy. Tôi đến đầu ngõ hẻm uống cà phê. Lát sau, gió thổi mạnh, mưa nặng hạt. Trở về, thấy chú Hai đang đứng gần cửa:

– Thầy về nhà sớm hả? Chắc… ông trời mưa sáng đêm. Có máy bay. Thầy nghe không? Đêm nào nó cũng bay tiếp viện. Thằng A Ốn ban ngày thấy máy bay, nói máy bay giống như con cá. Nó không phải như người lớn mà biết lo. Chừng này mà nó ngủ trong mùng rồi.

Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 7 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu 7 Aug 2024

9. Một chuyện khó tin

Thời Pháp thuộc thực dân khoe khoang đã sửa đổi vùng bùn lầy Bến Nghé trở thành Hòn Ngọc Viễn Đông. Nhưng đồng bào ta xác nhận rằng bên cạnh Hòn Ngọc ấy còn nhiều vùng quá chậm tiến gọi là Hóc Bà Tó, Voi Bà Khẹt, Cù Lao Heo, Rạch Ba Rộng Ba Hẹp, Đồng Chó Ngáp, chốn “khỉ ho cò gáy”, “chó ăn đá, gà ăn muối” và theo lời truyền khẩu, ở các vùng nói trên, đồng bào ta sống trong địa đàng, chưa chịu ảnh hưởng của văn minh Tây phương. Nhiều cụ già hơn tám mươi tuổi, tuyệt nhiên chẳng thấy một cái xe đạp nào cả. Rõ ràng là nếp sống của Trúc Lâm thất hiền theo nền “văn minh thảo mộc”, nhà cửa, giường chiếu, bàn ghế, ghe thuyền đều bằng nguyên liệu cây cỏ, chế biến ra.

Ở Rạch Giá, Cà Mau nổi danh chậm tiến là chốn U Minh.

Ở U Minh, thiên hạ ngán vùng U Minh Thượng hơn là U Minh Hạ.

U Minh Thượng đáng sợ vì các “nhân vật” ở rải rác trong rừng đều uống rượu khá nhiều, ăn nói huyên thuyên. Quan lớn Pháp gọi đó là thái độ dối trá của người Á Đông! Biết sao bây giờ! Nếu im lặng thì họ bảo là sự thâm hiểm khó lường.

Xóm người ở U Minh Thượng tuân theo các luật lệ do chánh phủ Pháp đặt ra và không đặt ra.

Người thốt câu nói ấy cho tôi nghe, là ông hội đồng Liệt, một chủ ruộng lừng danh gốc U Minh Thượng. Năm nay ông hội đồng đã bảy mươi tuổi, cầm cự với chứng bịnh nan y, nhờ thỉnh thoảng hút vài điếu á phiện (theo toa đặc biệt của bác sĩ). Ông tản cư ra chợ từ năm 1946, hùn vốn mua bán.

Và để minh chứng, ông hội đồng mời tôi nằm xuống chiếc gối bằng sành để ngửi khói. Ông cho rằng á phiện làm cho tâm hồn sáng suốt, bình tĩnh và người nằm bên cạnh (như tôi) sẽ bớt hoài nghi khi thâu nhận những chuyện khó tin xảy ra hồi mấy chục năm trước. Đời là hư vô!

Hồi gần cuối năm 1940 thì phải, ông huyện Hàm T kiêm chức cai tổng bỗng nhiên truyền lệnh cho chú hương ấp C:

– Phải bắt tất cả những người trốn thuế thân rồi giải họ đến nhà tôi! Kỳ hạn hai ngày.

Hôm sau chú hương ấp đến khúm núm xin gặp ông huyện Hàm:

– Bẩm quan, tôi đã tuân lời, đâu đó xong xuôi, đầy đủ.

Ông huyện Hàm sửng sốt, rời chiếc ghế trường kỷ:

– Bộ mầy giỡn với tao sao chớ? Bắt được mấy đứa?

– Dạ hơn hai chục.

– Họ ở đâu rồi? Tại sao không cho biết trước để tao giao cho mày vài chục cái còng?

Chú hương ấp càng sợ sệt, liếc nhìn phía bến sông rồi nói khẽ:

– Bẩm quan, tôi giải họ tới đây rồi. Họ ngồi lủ khủ trong chiếc ghe của tôi đậu tại bến. Vì thiếu còng nên tôi tạm buộc tay họ bằng dây bẹ chuối.

Nghe chưa dứt lời, ông huyện Hàm bước tới đóng cửa kín mít, gài chốt cẩn thận. Mặt chú hương ấp tái mét, chú quỳ xuống lạy:

– Xin quan xét lại cho tôi nhờ!

Ông huyện Hàm chụp lấy cái chuông nhỏ, rung lên. Leng keng! Leng keng!

Giọng của ông huyện nói xen vào tiếng chuông:

– Cậu Hai đâu? Nhốt thằng này trong chuồng khỉ lập tức.

Từ phía nhà dưới, cậu Hai đáp:

– Con đây. Có con đây. Hồi lâu, cậu Hai nói tiếp:

– Còn chú hương ấp kia! Sao chưa chịu vô trong chuồng khỉ dưới này mà ngồi? Xuống đây!

Chú hương ấp lồm cồm đứng dậy, đi rón rén xuống nhà dưới. Cái chuồng khỉ hiện ra trống trơn, đại khái giống như kiểu chuồng nuôi chồn, chung quanh giăng lưới dây kẽm.

Cậu Hai đi tới đi lui, cầm trái chuối vừa lột vừa ăn ngốn, mái tóc chải láng bóng. Cậu trợn mắt:

– Thì vô trong lồng đó cho cha tôi mát ruột. Lát nữa mình tính toán sau, chuyện dễ quá. Khỉ nhà bữa nay ra vườn dạo mát rồi.

Nghe qua hương ấp mừng phấn khởi, toan ngỏ lời cám ơn cậu Hai nhưng cậu đã bước ra cửa sau đi mất dạng. Hương ấp tự ý ngồi xuống, mở gói thuốc rê, vấn hút. Theo lời đồn đại của giới thân cận thì cậu Hai chỉ mang tật “rắn mắt”, ngỗ nghịch, chớ chưa đánh đập, chém giết ai bao giờ. Đối với cha mẹ, cậu vẫn ngang tàng như thường. Nghe đâu, phen đó cậu tập dượt võ nghệ ngoài sân, thường lệ vào mỗi buổi sáng, rồi vào nhà xăm xăm đến sát bên cạnh bà huyện Hàm. Biết phận mình là kế mẫu, bà huyện sẵn sàng nêu gương ôn hòa, khoan dung để tránh tai tiếng không hay về mẹ ghẻ con chồng.

– Này cậu Hai! Cậu làm gì vậy? Khó coi quá.

Cậu Hai chống nạnh, ưỡn ngực nói:

– Gì mà khó coi! Tập nghề võ lai rai chơi vậy thôi mà bà!

– Nhưng cậu đã lớn tuổi, có vợ, có con. Cậu tha hồ tập dượt ngoài sân nhưng đứng kế bên tôi, xin cậu đường hoàng một chút.

Tức thì cậu Hai chụp cây kéo, nhấp lưỡi kéo thật nhanh để thị oai rồi kê lưỡi kéo vào đầu tóc của người dì ghẻ.

Bà huyện trẻ tuổi la rú lên:

– Trời! Ông nó ơi! Cậu Hai đòi cắt đứt đầu tóc tôi nè!

Từ trên dinh đường, ông huyện chụp lấy cây roi mây thật to, chạy xuống, đập túi bụi. Cậu Hai nhanh chân bôn tẩu, nói vói lại với cha:

– Xí hụt! Ông dám đánh tôi nhưng nào trúng vào tôi! Xí hụt! Đây là đường quờn “chung cổ tề minh”. Chuông và trống kèn vang một lượt. Tay múa, chân đá!

Ngồi trong chuồng khỉ, chú hương ấp vấn thêm điếu thuốc.

Cậu Hai bước vào nhà nghiêm mặt:

– Này hương ấp! Nãy giờ ba tôi có xuống đây không?

– Dạ không.

– Chắc ông mê xem chuyện Phong Thần, Tây Hớn gì đó. Tôi long trọng cho phép chú bước ra khỏi chuồng khỉ để chờ coi ba tôi tính sao cái đã!

Tuy mừng thầm nhưng hương ấp vẫn dè dặt lắng tai nghe từng tiếng động ở nhà trên. Dường như cha con ông huyện nói qua nói lại khá lâu, nói nhỏ nghe xì xào. Chừng trở xuống mặt mày cậu Hai tươi rói:

– Ra mau! Mình có chuyện đi gấp. Ba tôi đã tha tội cho chú.

Chú hương đáp:

– Dạ, cám ơn cậu Hai. Tôi có tội nhiều lắm.

Cậu Hai bỗng trợn mắt:

– Ông xạo quá! Ông biết tội gì không?

– Dạ tôi chưa biết tội của tôi.

– Chưa biết tội mà chịu tội thiệt lạ lùng như người không vay mà đòi trả nợ. Ba tôi phạt ông hai cắc bạc về tội gây náo động. Vào hừng sáng ông dẫn tới đây hàng chục người lực lưỡng. Để họ chạy ào vô ăn cướp nhà này hả?

– Tôi chịu phạt. Chẳng hay quan huyện dạy làm sao? Mấy người đó quả tình chưa đóng thuế thân nên họ tới chịu tội.

Cậu Hai chụp lấy cái nón nỉ, đội lên đầu rồi day vào vách:

– Cầm cây dầm đó. Đi theo tôi.

Nỗi lo sợ càng ám ảnh chú hương ấp. Hai người bước ra cửa sau rồi đi vòng xuống bến. Đôi chục người thiếu thuế vẫn ngồi dưới ghe. Họ ngưng tất cả câu chuyện. Kẻ gan lì nhứt là anh chàng hút thuốc ngồi sau lái. Tuy vậy, khi thấy cậu Hai bước xuống cầu ván, cũng đành quăng điếu thuốc cháy dở xuống nước.

– Này bà con nghe kỹ! Gần tết, ba tôi hiền lắm. Ông ra lịnh phạt mỗi người hai cắc. Có ai cự nự gì không?

Cả bọn im lặng. Cậu Hai hất hàm:

– Trả lời đi chớ?

Anh chàng hút thuốc khi nãy đánh bạo nói:

– Thưa cậu, phạt mà chừng nào mới đóng thuế chánh thức?

– Ba tôi tha bổng cho bà con về tội thiếu thuế thân vì tiền thuế là của Nhà nước Tây bày ra. Ba tôi làm việc cho Tây mà ghét Tây lắm. Khi nãy thấy bà con tới đây, ba tôi giận vì bà con dại khờ quá. Ai đời bị trói bằng dây chuối mà không chịu bứt dây để tẩu thoát? Hai cắc là tiền phạt về tội dại khờ đó!

Cả bọn thở phào, vừa mừng vừa giận, rồi từ từ vung tay, bứt toang mớ dây chuối khô héo, quá bở.

Cậu Hai thúc hối:

– Anh em bơi ghe về U Minh Thượng, tự do. Hương ấp nhớ kỹ tên họ từng người rồi góp tiền phạt, đóng trước Tết.

Chờ bọn người ấy bơi ghe đi khuất, cậu Hai cười to:

– Cho họ đi phứt cho rồi. Để chần chờ, họ làm “reo” đòi ăn cơm trưa, tốn hao lắm. Tôi mà làm sao mắc mưu họ được!

Bước xuống chiếc xuồng nhỏ, hương ấp ngoan ngoãn ngồi sau lái mà bơi, đặt mái dầm thật nhẹ sợ gây tiếng động hoặc làm cho xuồng nghiêng.

Cậu Hai nói:

– Bơi mạnh tay lên. Mình cần đi theo tụi nó, để tụi nó tưởng mình tha bổng vì sợ sệt. Tụi nó đứa nào cũng có vết, có thẹo: thiếu thuế thân năm sáu năm liên tiếp, bị tình nghi chống nhà nước Pháp, tù vượt ngục, ăn trộm trâu, nên chẳng đứa nào dám ra chợ Rạch Giá mua bán hoặc sắm đồ tết. Bị phạt hai cắc thì tụi nó mừng như cha mẹ đẻ lần thứ hai. Bằng không thì bị giải ra chợ ở tù, năm sáu bản án chồng lại. Nè! Chú có nghe hồi nãy tôi nói tới hai tiếng “tự do” không? Tôi nói để “bắt nhãn”, để tụi nó hiểu ngầm rằng tôi biết lý lịch từng đứa. Đứa nào cũng muốn tự do.

Mái dầm của hương ấp khuấy nước đều đều. Một con muỗi đáp ngay màng tang, cắn no máu; hương ấp chưa dám buông dầm đập muỗi e tiết lộ một cử chỉ khác thường.

– Chú hương ấp… thì lai lịch cũng giống hệt tụi nó thôi.

Giật mình, chú hương ngưng tay lại:

– Trời, tội nghiệp cho tôi mà cậu Hai! Tôi theo chánh phủ Pháp, trung thành.

– Giả ngộ hoài! Chú họ Lê, tên Mẹt. Ma quỷ nó tin lời khai của chú chớ ai mà tin. Chú cũng dám là Nguyễn Văn Quỵt, tù vượt ngục gì đó. Mà thôi, cứ bơi xuồng, bơi tự do kiểu mấy cha nội hồi nãy. Đ.m. mấy cha chơi “cuội” theo kiểu dân thất nghiệp rủ nhau đánh võ đài ăn tiền độ, chú là đồng lõa!

– Tội nghiệp tôi mà cậu Hai.

– Đừng giận tôi làm chi. Tuổi chú đáng cha đáng mẹ. Ủa! Bơi xuồng mau lên chứ. Cốt ý của tôi là “hù” chơi cho chú sợ, để chú bơi lẹ hết tốc lực. “Mau lên!” “On”! “Đơ”! “On”! “Đơ”! Hễ tôi đếm tới “Troa” thì chú giống như tụi nói. Nguyễn Văn Quỵt mà khai là Lê Văn Mẹt! Bữa nào tôi dẫn chú ra chợ, cho Tây nhìn mặt, biết đá vàng với thiên hạ! “On”! “Đơ”!

Đến xóm giữa U Minh Thượng, họ dừng lại địa điểm gọi là Bảy Ngàn. Nhiều người còn quan niệm rằng: đồng bào ta chưa ý thức rõ rệt về không gian nên dùng những đơn vị đo đạc quá co giãn: xa hai doi đất một “nghìn”, đi nửa ngày đường. Địa danh Sáu Ngàn nói trên chứng minh điều gần như trái hẳn. Sáu Ngàn tức là khu vực cách xa bờ kinh Xáng cỡ ngàn thước tây.

Nhà cửa ở đây thưa thớt, đôi khi không vách.

– Bây giờ mình ghé nơi nào, thưa cậu Hai?

Cậu Hai nhìn mấy con chim già sói khổng lồ đậu phơi nắng trên ngọn tràm:

– Bậy quá! Hồi nãy tôi quên cây súng “cà líp xây”. Thôi, ghé lại nhà chú. Rồi mình đi dạo xóm. Tôi muốn ghé như vậy để gây thế lực cho chú.

Xuồng ghé bến. Thím hương ấp cúi đầu chào cậu Hai. Nhà hai bên bờ rạch đều mở cửa, ai lo việc nấy. Cậu Hai ghé vào tai chú hương ấp mà nói khẽ:

– Tụi nó dể ngươi vì hồi nãy tôi tha tội, chẳng giam giữ đứa nào. Nhứt định tụi nó biết trước cuộc thăm viếng bất ngờ của tôi. Tụi nó muốn khiêu khích tôi.

Câu nói thốt ra, tỏ rõ từng tiếng như hăm dọa. Thái độ của cậu Hai càng trở nên khó hiểu khi cậu gạt ngang lời kính cẩn của thím hương ấp:

– Tôi đâu mỏi chân hoặc đói bụng khát nước, nếu muốn nằm nghỉ, ăn uống thật ngon thì tôi đã nằm nhà. Cám ơn. Bây giờ chú hương dạo xóm với tôi.

Con đường dọc theo bờ kinh hơi sầm uất, cỡ năm mười bước là phải nhảy qua mương nhỏ. Bỗng nhiên cậu Hai quát to:

– Anh kia! Dừng lại.

Chú hương ấp ngơ ngác, chưa hiểu ất giáp gì ráo; trước mặt cậu Hai chỉ có một ông lão đang hì hục đội mười bó rơm trên đầu. Nghe gọi bất thình lình, ông lão đứng nhìn.

– Ông biết ông có tội gì không? Ông già?

– Dạ không biết, thưa cậu Hai.

– Tội vô ý hủy hoại sanh mạng.

– Dạ sanh mạng của ai vậy cậu?

– Của ông chớ của ai? Rủi gặp kẻ gian ác, họ châm lửa đốt rơm thì ông hóa ra tro bụi. Tôi phạt hai cắc. Lát nữa, hương ấp lại nhà ông mà góp tiền nhớ chưa!

Chập sau, hai người đi qua cầu khỉ, dạo bên kia bờ rạch. Cậu Hai huýt gió bản nhạc Tây rồi chợt cười vang:

– Coi kìa hương ấp, con mẹ ấy phạm tội sát nhân. Chân cậu bước nhanh rồi dừng nơi đầu cầu thang kiểu cầu mà đồng bào thôn quê bắc thả xuống nước để rửa ráy và tắm. Ngồi khuất mình dưới nước, một thiếu nữ nhô đầu lên, ở trần nhưng kéo lưng quần che kín ngang nách.

Thấy chuyện hơi quá đáng, chú hương can gián:

– Thưa cậu, con gái tắm dưới sông. Nếu có gì vô lễ, cậu gọi lên nhà hoặc rầy la cha mẹ cô ta cũng được.

Cậu Hai nói gắt gỏng:

– Chú thấy cái gì không! Bộ chú tưởng tôi mê gái hoặc ăn nói thô tục sao chớ. Thấy cái gì lạ không?

Chú hương nhướng mắt nhìn thiếu nữ rồi nói rỉ vào tai cậu Hai:

– Dạ con nhỏ đó lớn bụng.

– Có chửa thì nói có chửa chớ gì mà lớn bụng. Tại sao chú nói nhỏ tiếng quá vậy? Chuyện đại sự. Chú biết điều nguy hại đó chưa. Tôi để chú nói trước, bằng nói trật tôi cách chức lập tức.

Là người lớn tuổi, hiểu rành cái phương pháp suy luận tréo cẳng ngỗng của cậu Hai, chú hương ấp nói khẽ:

– Dạ, đàn bà có chửa mà ngồi ngâm bụng dưới nước như vậy, chắc chắn đứa nhỏ trong bào thai bị ngộp thở. Để tôi bắt buộc con đàn bà nọ đóng tiền phạt hai cắc cho cậu.

Gian phòng trở nên im lặng. Ông hội đồng Liệt tự ý ngưng nói. Tôi ngáp dài, nghĩ rằng theo đà tưởng tượng ấy, ông hội đồng sẽ thêu dệt thêm hàng trăm câu chuyện cho đến sáng. Thời Nhựt Bổn đánh Trung Hoa tôi đã nghe nhiều tay nằm hút á phiện suốt ngày, đọc có một thứ nhựt báo mà dám bàn tán thao thao bất tuyệt về tình hình quốc tế, về chiến lược quân sự như là ông Tôn Tử tái sanh. Ông hội đồng này phải chăng đã cố tình nói sai sự thật? Tôi nhìn lên trần nhà, theo dõi một con thằn lằn bạch đang rình mồi đớp muỗi. Qua những mẩu chuyện tôi chỉ thích thú khi nghe ông hội đồng nhắc đến cái cầu tắm dưới sông. Danh từ ấy đáng chú ý. Ở miền quá nhiều ao, đầm, sông, rạch thì cái phòng tắm, cái chuồng tiêu đều đặt trên dòng nước, muốn đến đó phải qua một cái cầu. Tôi liên tưởng đến quyển sách khảo cứu về các kiểu nhà ở vùng Đông Nam Á, một hình thức văn minh trên sông nước.

– Nãy giờ cháu nghe bác nói chuyện gì không? Bác nói toàn sự thật, dường như cháu chưa tin.

Tôi đáp nhanh để tránh sự hiểu lầm:

– Thưa bác hội đồng, cháu tin lắm. Vì bác sống vào thời xưa, trong cuộc.

Ông hội đồng trố mắt:

– Cháu nói sao? À, có lẽ cháu ngỡ rằng bác đây là ông hương ấp ngày xưa dẫn đường cho cậu Hai! Thói thường, làm kẻ nói hươu nói vượn để rốt cuộc khen ngợi mình một cách khéo léo. Ông hương ấp là ông hương ấp. Hội đồng Liệt này là hội đồng Liệt, hai người khác nhau đó cháu.

– Vậy lúc đó bác là ai? Bác ở đâu? Làm sao mà chốn U Minh Thượng lại nảy sanh được chức hội đồng sang trọng hơn chức “cậu Hai”, chức “huyện Hàm”. Thú thật với bác cháu chưa hiểu nên vô tình làm bác phiền lòng.

– Chờ một chút, bác sẽ trả lời vắn tắt, chắc phen này cháu lại càng không tin… Bác hút thêm một cặp mới được. Á phiện giúp mình giàu trí tưởng tượng để bày mưu kế hoặc nói dóc. Á phiện cũng giúp mình quên khổ nhục. À, bác nói tới đâu rồi?

– Dạ tới lúc cậu Hai phạt vạ cô gái ngâm cái bào thai dưới nước, khi tắm.

– Đúng vậy. Phạt xong, cậu tiếp tục hành trình, mặt mày vênh váo.

Quá thắc mắc, tôi hỏi:

– Thưa bác, tại sao dân U Minh Thượng lại ngoan ngoãn chịu phạt vô lý như vậy. Người Việt Nam mình vốn nóng tánh, dám sống chết, liều lĩnh, ít ra họ cũng phản ứng lại.

Ông hội đồng vội ngắt lời tôi:

– Cháu đừng nóng nảy. Sau khi phạt cô gái nọ, cậu Hai và hương ấp đến căn chòi của bác. Hồi đó bác được dân trong xóm gọi là Tư Liệt. Tư Liệt này hồi đó thích uống rượu. Thuở đó, tôi đi suốt ngày trong rừng, làm nghề bắt trăn. Cháu nhớ: đốn củi thì đóng thuế, còn bắt trăn thì miễn thuế. U Minh Thượng thiếu gì trăn. Đến mùa, trăn đực và trăn cái hội lại, mê man hưởng phút trăng mật. Mình gặp quả tang, bắt trọn gói dễ dàng. Da trăn lột bán rất mắc, họ xuất cảng để làm bóp đầm, dây nịt. Hôm đó, tôi bắt được bốn con trăn, bán gần hai đồng bạc bày tiệc ăn mừng với anh em bạn đãi món đặc biệt. Đó là hai hộp sữa bò và hai cân đậu xanh!

Ai nấy đều tán đồng. Họ cho rằng đời mình uống rượu đã nhiều nhưng thiếu chất sữa bò. Đối với đồng bào ở thôn quê thời xưa, khuấy sữa đặc vào nước sôi mà uống là điều vô lý, chỉ dành riêng cho con nít mới đẻ hoặc những cụ gần đất xa trời, cơm cháo nuốt không vô. Vả lại, sữa hộp rất hiếm, bán quá mắc.

Bọn chúng tôi lui cui đốt lửa, ngâm đậu, khui hộp sữa để thí nghiệm nồi chè đặc biệt. Ai nấy cười nói huênh hoang, bỗng nhiên cậu Hai và hương ấp bước vào.

Chúng tôi đứng dậy chào, cậu Hai nói:

– Đường ở đâu? Tôi không thấy? Các cha này làm cái gì lạ quá! Hồi cha mẹ đẻ tới từng tuổi này, tôi chưa thấy ai ngạo mạn như vậy. Cha mẹ tôi sang trọng mà chưa dám xài phí theo kiểu của mấy cha đó! Hồi sáng tới giờ, tội này là tội nặng nhất so với tội trốn thuế thân, tội có thai mà tắm. Cả bọn im lặng.

Cậu lại nói:

– À! Tôi biết rồi mấy người ăn uống sang trọng trước mặt tôi để chửi tôi. Nấu chè với sữa hộp! Muốn làm vua xứ này hả?

Tôi thay mặt anh em để trả lời:

– Thưa cậu, cậu suy nghĩ quá xa rồi.

Cậu Hai quát:

– Câm miệng lại. Đừng vô phép, chưa chi đã cắt đứt lời nói của tao. Tư Liệt! Mầy biết tao muốn nói điều gì không? Đồ thâm độc! Mầy nấu đậu xanh với sữa bò thay vì nấu với đường để ám chỉ rằng gia đình tao bực nhứt vùng này nhưng cũng chưa dám tiêu xài như vầy!

Tôi đáp:

– Tụi tôi đâu dè cậu lên đây thăm viếng dân tình. Có lẽ cậu tức mình, ganh tị với cái sung sướng! Còn bảo rằng tụi tôi khoe tiền thì vô lý quá. Lâu lâu bắt được vài con trăn, thử bày cách ăn uống này để bù đắp cả một cuộc đời hẩm hiu.

– Mầy nói tao ganh tị với mầy hả? Đi theo tao mau lên. Lát nữa mầy trả lời với ba tao.

Đến nhà ông huyện Hàm, tôi ngồi chờ hồi lâu. Chẳng hiểu cha con ông huyện bàn tán với nhau điều gì, chỉ biết là chập sau người nhà của ông đuổi hai con khỉ đột trong chuồng ra, rồi nhốt tôi vào đó thay thế. Tôi chưa tin rằng: Khỉ là thủy tổ con người. Vì vậy, ngồi trong chuồng khỉ, tôi dửng dưng, chẳng thèm suy nghĩ về lẽ tuần hườn, đầu thai. Hồi sau, cậu Hai xuống nhà gặp tôi. Cậu ta không cau có, la hét như tôi tưởng:

– Này Tư Liệt, ba tôi nói đây là thể diện của nhà nước Pháp. Nếu, bọn người bất hảo ở U Minh Thượng đều ngỗ nghịch phạm thượng như chú thì lần hồi có loạn lạc, nhà nước Pháp kéo binh vô bắn giết, tốn hao xương máu người An Nam mình. Ba tôi cũng chẳng muốn bỏ tù chú hoặc hành hạ thân xác chú. Ổng bảo tôi tới đây khuyên nhủ chú nên liều mạng!

Nghe qua, tôi sảng sốt. Cậu Hai nói tiếp:

– Ủa, tôi nói thật. Làm liều chứ chưa phải liều mạng! Chú nên chuộc tội cho chú và chuộc thể diện cho tôi. Lát nữa, chú phải ăn một cục cứt khỉ! Dễ quá! Chết chóc gì mà sợ! Tôi cần có tiếng đồn đại trong xóm như vậy thôi! Rồi ba tôi tha tội cho chú về ăn tết. Uống thử đi, rồi muốn nấu chè với sữa bò hay sữa cọp, sữa nai gì cũng được. Đây là thể diện dòng họ tôi. Tá điền mà ăn uống sang trọng hơn chủ điền, đó là tội khinh quân.

Tôi mỉm cười. Quá giận, tôi trở nên tỉnh táo lạ thường. Đời là thế. Thánh nhân đã nói: sanh, lão, bịnh, tử là thế. Tôi gật đầu, kèo nài:

– Cám ơn cậu Hai, nhưng tôi nào phải là thánh nhân hoặc là anh hùng. Họ dám lãnh bưng chén thuốc độc lên môi để chết vinh. Đằng này, bưng chén cứt khỉ uống để mà sống nhục, khác xa nhau quá!

Cậu Hai cười giòn:

– Tư Liệt ăn nói nghe ngộ thật. Ăn cũng ngộ mà nói cũng ngộ. Chú muốn gì?

– Tôi muốn uống một “xị” rượu, để quên mùi trần thế trước khi chịu hình phạt.

– Dễ quá! Vậy mà nãy giờ chú nói xa nói gần, nói cái gì mà thánh nhân anh hùng. Rượu đây. Uống cái này rồi nhớ uống luôn cái thứ kia nghe cha nội! Gọi là… Hơi men khiến tôi ngà ngà say. Tôi uống nhanh cái chén đựng “cái thứ kia” rồi đi tắt ngang rừng tràm, về xóm Bảy Ngàn. Ai hỏi câu gì, tôi đều nín lặng. Sự nín lặng không là vàng, là bạc, là chì nhưng là thứ xấu xa nhất. Đoán chừng hai ba hôm sau cậu Hai sẽ cho người đến xóm Bảy Ngàn loan tin ấy để hạ nhục, tôi rút vào U Minh qua tận nơi giáp ranh với rạch thầy Quơn mà cất chòi, đốt lửa. Lửa cháy rừng để lộ ra một giồng cao ráo, đào xuống là gặp mạch nước ngọt. Thế là đại phú do thiên, tiểu phú do cần. Tôi làm giàu, trở thành điền chủ là nhờ tai nạn ấy và nhờ thời vận.

° ° °

Thuật chuyện tới đây, ông hội đồng Liệt lồm cồm ngồi dậy, rót nước trà đậm, rồi nằm trở xuống chiếc gối sành. Động tác của người ghiền á phiện “quanh quẩn mãi với một vài ba dáng điệu”, vì thiếu am tường về kỹ thuật chuyên môn tôi khó tả lại. Tôi từng nghe vài bạn quả quyết rằng: qua cách khui hộp nhựa, cách cầm tiêm, ta có thể phán đoán nội tâm của người bạn ghiền. Nãy giờ, dường như ông hội đồng Liệt bộc lộ nhiều cảm tình đối với tôi hơn trước. Mắt ông nheo nheo, “tay cầm tiêm như Triệu Tử cầm kích, mặt nhìn đèn như ông Khổng xem thơ, khói lên nghi ngút như Quan Công đốt núi” ngửi mùi khói thơm. Ông cầm cái que sắt, nướng chút gì trên ngọn đèn rồi vo viên, nhét chất đen đen láng láng ấy vào lỗ của dọc tẩu. Bỗng dưng, tôi mỉm cười, sực nhớ cái chất đen pha trong chén nước mà ông đã uống hồi xưa để thoát ra khỏi cái chuồng khỉ của cậu Hai.

Tuy nhiên, tôi cảm thông với nỗi lòng của riêng ông: dùng men rượu để đánh tan cái mùi hôi của phân khỉ, lập nên sự nghiệp bất thình lình. Rồi lạc lõng khi về già, đêm đêm nhờ mùi thơm của nàng tiên nâu mà gợi lại ký ức. Một cái vòng luẩn quẩn để giữ thể diện!

Ông hội đồng nói như thúc đẩy tôi:

– Sao im lìm quá vậy? Té ra cháu chưa tin nỗi khổ nhục của tôi hồi xưa. Cháu giống hệt mấy đứa con ngớ ngẩn, bất hiếu của tôi. Chắc là cháu hồ nghi tôi nói dối để giảng đạo lý.

Tôi đáp nhanh để ông hội đồng đừng giận:

– Dạ cháu tin lời bác lắm lắm. Những chuyện như vậy thiệt là…

– Thiệt là sao?

Tôi lúng túng:

– Thiệt là xứng đáng ghi vào loại sách Tang Thương Ngẫu Lục, Kim Cổ Kỳ Quan. Thú thiệt với bác, cháu chưa đọc mấy quyển sách đời xưa đó. Nhưng nghe qua cái tựa ngồ ngộ cũng đủ vui, đủ mệt rồi.

Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 7 Aug 2024

8. Mây trời và rong biển

Ở miền duyên hải Hà Tiên có trồng loại dưa hấu ngon ngọt, gọi nôm na là dưa Hà Tiên. Tôi đến viếng thăm miền thơ mộng ấy nhằm mùa dưa.

Mấy người làm rẫy gần chùa Hang thi nhau mời khách qua đường:

– Dưa Hà Tiên ngon bực nhứt nè! Mua ở đây khỏi lầm thứ giả.

Tôi ngạc nhiên vì làm sao có dưa Hà Tiên giả tại vùng Hà Tiên? Thật ra, đó là dưa hấu thông thường, ở đâu cũng có. Người địa phương đã chịu khó vào mấy hang đá, hốt phân dơi về bón. Phân dơi giàu chất “am- mô-nhắc” nồng nặc mùi nước tiểu. Có lẽ mùi ấy giúp cho dưa hấu ngon ngọt chăng?

Nhìn người bán dưa, tôi hỏi gắt:

– Tại sao lầm thứ giả?

Anh trả lời:

– Muốn trồng dưa cho ngon phải có “hoa tay” (năng khiếu). Nếu mình thiếu âm đức, trái dưa không ngọt hoặc ruột dưa trắng bệch. Thí dụ như ông Hai đằng kia.

– Ông già Hai làm gì mà thiếu âm đức?

Anh nọ trả lời:

– Chuyện dài lắm. Mời ông…

Tôi chợt hồ nghi đó là thủ đoạn tranh thương bất chánh để giành giựt mối hàng. Đã trót đóng vai kẻ du lịch tại sao tôi không dừng lại ăn dưa, để nghe chuyện.

Tôi ngồi bên tảng đá.

Trái dưa hấu đã xẻ ra, vỏ mỏng, ruột đỏ tươi, ráo mặt. Ăn xong, tôi lên tiếng:

– Chuyện ông già Hai ra sao? Tại sao kẻ thiếu âm đức chẳng trồng dưa ngon được?

Như để thanh minh cho lòng dạ ngay thẳng của mình, anh bán dưa trỏ tay về phía mé biển:

– Ổng ngồi đó! Lát nữa thầy tới đó thì biết. Tôi nói xấu làm gì? Cả vùng này thiên hạ đều chạy mặt.

Người được gọi là “ông già Hai” tuổi hơn năm mươi, dáng điệu ốm yếu. Tuy cách xa hàng trăm thước, tôi thấy rõ mái tóc bạc và bộ quần áo lãnh đen, lấp lánh dưới ánh nắng mai. Gió ngoài biển khơi bắt đầu thổi lộng. Ông già Hai ra khỏi căn chòi nhỏ bé, lấy tay che bớt ánh nắng rồi nhìn khá lâu về phía tôi đang ngồi.

Anh bán dưa như đắc ý:

– Thầy thấy chưa? Ông già Hai hồ nghi tôi đang nói xấu ổng.

Tôi bực mình: tại sao ở chốn thanh lâu u cốc mà lại xảy ra cuộc tranh chấp nhỏ nhen như vậy? Thể diện con người là cái gì? Nguồn lợi bán dưa có là bao? Và nếu ông già Hai đã phạm tội tày trời, lẽ ra ổng phải ngồi tù.

Đàng kia ông già Hai đi tới lui như bực dọc rồi đi xuống trước chòi.

Anh bán dưa mỉm cười:

– Ổng đang rình.

Tôi càng tò mò hơn:

– Rình cái gì?

Anh bán dưa nói:

– Lời thiệt khai ngay… Tôi đâu có vu cáo ổng mà tôi sợ mang tội lỗ miệng.

Rồi anh ta kể chuyện. Câu chuyện sát nhơn mà tôi lược thuật như sau: Điều đáng chú ý là ông già Hai mãi ngồi lì trước sân, để nhìn về phía chúng tôi. Dường như ông theo dõi mọi động tác của anh bán dưa này.

Ông già Hai xưa kia làm tới chức phó tổng, cai quản chục mẫu vườn. Ông ta làm chủ ngôi nhà ngói duy nhất trong vùng.

Tánh ông ta rất khó thương, tiền bạc thì muốn gom vô chớ chẳng bao giờ cho xuất ra.

Tôi ngắt lời anh bán dưa:

– Thì tiểu phú do cần, đại phú do thiên, ổng hà tiện là phải. Kiến tha lâu đầy tổ. Như vậy đâu phải là thiếu âm đức?

Anh bán dưa lắc đầu:

– Trời ơi! Thề với trời đất tôi chẳng bao giờ nói xấu ổng. Thầy cứ ngồi ăn, không cần phải trả tiền dưa mà.

Trước thái độ chân thành ấy, tôi im lặng.

Anh bán dưa cho biết thêm. Vì muốn gom góp tiền bạc để làm vua một cõi, nên ông ta gìn giữ con gái thật kỹ lưỡng, chẳng thèm gả cho bất cứ chàng trai nào trong vùng. “Ngọc lành còn đợi giá cao”.

Lâu ngày chầy tháng, cô con gái ông trở nên “lỡ thời”. Cô ta tên Ngọc.

Tôi hỏi nhanh:

– Chuyện có thiệt hay không? Thế gian này, nhà giàu kén rể là thường tình.

Anh bán dưa nói gắt:

– Lát nữa tôi dẫn thầy qua bên kia núi để xem bằng cớ. Cái miếu thờ oan hồn cô Ngọc.

– Ghê quá vậy? Tại sao cô ta chết sớm?

– Năm đó ông già Hai bày qua nghề làm ruộng nhà. Bọn tá điền trốn nợ, chọn nơi đất đai phì nhiêu hơn. Ông già Hai mướn nhân công, dân vùng này ghét ổng, chẳng ai chịu làm mướn. Rốt cuộc, thằng Tú, chuyên nghề ăn cướp biển đến tình nguyện làm tôi tớ. Cái thằng này lạ. Nó bảnh trai, tuổi hơn hai mươi. Hằng ngày, ông già Hai bắt buộc làm việc không hở tay. Ban đêm nó ngủ bên chái nhà bếp, gần chuồng bò. Thiên hạ cười chê, nghĩ mà buồn cho thân phận chàng ăn cướp biển sung sức ấy.

Vài người đặt giả thuyết:

– Thằng Tú si mê cô Ngọc!

Lúc ăn giỗ hoặc lân la trong xóm, ông già Hai khoe khoang:

– Bà con đừng đàm tiếu, vô ích. Chuyện trong nhà, tôi biết hơn ai hết. Tôi đủ quyền lực giết nó mà! Nó muốn bỏ nghề bất lương, trở về làm ăn lương thiện. Tại sao tôi không cứu vớt nó.

Ông già Hai lầm to, thằng Tú đã yêu con gái ông. Lúc ban đầu, cô Ngọc tỏ vẻ lạnh lùng. Đôi ba lần thằng Tú đánh bạo:

– Cô ơi, cô…

Cô Ngọc cau mày:

– Nói gì thì nói phứt. Cha tôi khó lắm.

Thằng Tú đáp:

– Cô đừng sợ liên lụy. Tôi muốn nói ra. Mà thôi cô dư hiểu rồi? Nói ra thêm phiền. Rủi bề gì…

Thân hình mạnh khỏe, gương mặt khả ái trẻ trung của thằng Tú lắm lúc khiến cô Ngọc rung động. Lần hồi, cô nghĩ mà tội nghiệp cho đứa si tình:

– Anh nói đi.

– Tôi không sợ đòn bộng, tôi không sợ chết. Tôi sợ cô từ chối hoặc mắng nhiếc. Chừng đó, chắc tôi tự tử.

Cô Ngọc đáp:

– Anh nói kỳ quá hè! Tự tử làm gì, ích lợi cho ai đâu? Anh không còn cách xử trí nào khác cho xứng mặt anh hùng!

– Tôi sẽ làm nghề ăn cướp biển, giết người như rạ, giết tất cả đàn bà con gái để trả thù, cô chịu không?

Cô Ngọc im lặng mừng thầm vì chàng trai tỏ ra xúc động. Hồi lâu, chàng Tú cúi mặt:

– Thôi, tôi ra ruộng.

– Anh ở lại chút nữa.

– Không dám, tôi mắc cỡ lắm.

Cô Ngọc cười nhoẻn nụ, nói đùa như giỡn với một con thú dữ đang bị trói:

– Ai làm gì mà anh mắc cỡ? Vậy anh mắc cỡ với ai vậy chớ? Anh biết chữ không?

Thằng Tú nói lấp vấp:

– Dạ, tôi biết đọc chớ không biết viết.

Rồi đêm thằng Tú nằm thao thức. Thỉnh thoảng nó chun ra khỏi chiếc nóp, đến sát vách lén nhìn vào phòng cô Ngọc. Cô Ngọc ngồi chống tay lên trán như suy nghĩ. Hồi lâu cô tắt đèn, lên giường nằm.

Thằng Tú mừng quýnh như mở cờ trong bụng vì người đẹp chẳng ngủ được. Nàng lăn qua lăn lại rồi chợt ngồi dậy đốt ngọn đèn chong, đem giấy mực ra viết, viết rồi lai đốt bỏ. Rồi nàng ngủ.

Tại sao nàng chưa chịu gởi thư riêng cho nó xem? Dường như ông già Hai chẳng lưu ý mảy may đến mối tình vụng trộm ấy. Nàng đóng kịch khéo léo. Bận nọ, lúc mưa chiều lạnh buốt ông chợt nhớ đứa đầy tớ:

– Ngọc à! Con đem chai rượu cho thằng Tú nó uống!

Ngọc cau mày, nói gắt:

– Cho uống nó lờn mặt. Nếu nghiện rượu thì nó xuất tiền túi ra mà mua. Mỗi tháng cha trả cho nó hai đồng bạc kia mà!

Ông già liếc nhìn con gái, chợt nhận ra một điều: Tại sao nó lại hà tiện và tàn nhẫn hơn mình! Mình đây đã tàn nhẫn và hà tiện đến mức rồi. Chắc là…

– Tội nghiệp! Hồi nào tới giờ thằng Tú ngao du khắp ngũ hồ tứ hải, đi dọc về ngang. Trời mưa sóng biển ầm ầm như vậy, chắc nó buồn lắm.

Ngọc nói gắt:

– Có thương thì cha đem rượu cho nó đi. Con không ưa đám con nít ghiền rượu.

Ngồi bên chái nhà, thằng Tú nghe rõ cuộc đấu khẩu giữa người yêu và cha nàng. Nó xốn xang tấc dạ. Ngoài kia biển dậy ầm ầm, mấy chiếc ghe lưới chạy phăng phăng vào bãi. Hồi còn theo nghề ăn cướp biển nó thích chí khi thấy biển động. Chính lúc ấy, nó giả vờ đến tiếp cứu mấy ghe bị nạn, rồi thừa cơ hội, nó ra lệnh cho bọn tay em nhảy qua cướp giật. Mấy chiếc ghe gần đó có thấy cũng không dám chạy buồm tới. Mỗi lần mưa gió là mỗi lần nó đủ tiền bạc ăn xài. Từ ngày yêu Ngọc đến giờ, thỉnh thoảng nó cũng nhớ tới biển khơi, nhưng người đẹp vẫn cầm chân khách giang hồ.

Nàng xem nó như đứa con nít! Và nó bị hạ nhục trong khi biển dậy, sóng gió ầm ầm.

Nó nhận lấy chai rượu của ông già Hai. Men rượu vừa cay vừa chua như vị nước mắt tủi nhục:

– Dạ, cám ơn ông, tôi là đứa con nít. Tôi cứ uống rượu. Con nít mà uống rượu nên mới chịu dại dột.

Nói xong nó gục đầu xuống, ông già Hai trở lên nhà trên, quả quyết một điều gì!

Trời chạng vạng tối. Thằng Tú không muốn chui vô nóp. Nó nhủ thầm:

– Mình nên ngủ trần cho muỗi cắn chơi một bữa. Muỗi đâu dám cắn đứa say rượu. Nếu cắn, muỗi cũng say rồi ghiền rượu luôn.

Nó chợt nghe có tiếng chân người đi phía sau. Rõ ràng là Ngọc.

Không nói một lời Ngọc quay trở vào nhà, trong lúc đó có cái vỏ hộp quẹt rớt ngay trước mặt thằng Tú. Nó hiểu ngay. Trong cái vỏ hộp quẹt, một mảnh giấy khác ghi vắn tắt:

“Anh Tú, em thương anh lắm. Anh đừng hiểu lầm gì hết. Anh dám thề với em không? Tụi mình sống thì đồng tịch đồng sàng, chết thì đồng quan đồng quách”.

Bỗng dưng thằng Tú thấy yêu đời. Mấy chữ “sống thì, chết thì” do người đẹp viết ra khiến nó thèm sống và thèm chết. Người đời thường nói “trường tình biển ái”. Tại sao lúc trước nó dám vẫy vùng trên mặt biển đầy sóng gió mà giờ phút này nó rụt rè khi sóng gió của biển ái tình vừa dậy lên.

Nhanh như chớp, nó theo bén gót cô Ngọc. Ngọc đi thẳng lên nhà trên.

Thằng Tú lách mình, bước vào phòng của người yêu, nhìn dáo dác để tìm hiểu địa thế rồi chui xuống khoảng không gian tối om dưới gầm giường.

Hồi lâu Ngọc vào phòng thay quần áo, vặn tim đèn lên cao. Nàng mở tủ đem giấy mực ra, ngồi xuống chỏi tay lên trán.

Nàng suy nghĩ hàng năm mười phút rồi viết. Lâu lâu, nàng vò mảnh giấy, đốt bỏ.

Nó bò ra, xuất hiện đột ngột:

– Đừng!

Vừa nói nó vừa ra dấu hiệu như ngầm bảo cho người yêu đừng kêu rú sảng sốt.

Ngọc sợ, lại giận. Thằng Tú đem mảnh giấy mà nàng gởi cho nó hồi nãy, chỉ vào mấy hàng chữ, khi đặt lá thơ trên bàn:

– Sống đồng tịch đồng sàng.

Rồi nó áp miếng giấy lên ngực như ngụ ý:

– Mấy lời em nói với anh, cũng là mấy lời mà anh muốn nói với em, đêm nay.

Ngoài cửa có tiếng nói khẽ:

– Ngọc, con còn thức à!

Ngọc chết điếng! Cha nàng đã hay biết rồi chăng? Vô lý, chính nàng còn không dè thằng Tú dám lẻn vào phòng này. Hồi chiều tới giờ, cha nàng đâu có ra phía nhà sau?

– Chưa cha, con chưa ngủ.

Với giọng chiến thắng, ông già Hai nói:

– Con đưa cho cha cái chai dầu gió, cha hơi mệt.

Thằng Tú trợn mắt nhìn Ngọc. Ngọc im lặng quan sát tứ phía.

Ông già Hai nói ôn tồn:

– Ờ, chưa gặp cái chai dầu gió hả? Lát nữa con tìm cho cha. Bịnh của cha không nặng gì đâu!

Nói xong ông già Hai đi nhanh. Nghe tiếng chân của cha rời rạc, nhỏ dần. Ngọc nhìn cái tủ đựng quần áo, mở cánh cửa tủ.

Thằng Tú sực nhớ những mẩu chuyện khôi hài mà từ trước tới giờ nó chưa được hân hạnh đóng vai người trong cuộc. Ông già Hai tằng hắng phía nhà trên.

Không bỏ lỡ cơ hội, nó bước vào trong tủ mà ngồi. Ngọc khép cánh cửa tủ, vặn khóa.

– Chai dầu gió đâu rồi con?

Ngọc nói:

– Dạ đây nè cha.

Nàng mở chốt cửa phòng. Ông già Hai cười.

– Con thức khuya quá vậy! Ủa. Hồi nãy cha nghe con gì chạy sột soạt trong này!

Ngọc run run nói không ra lời. Bàn tay ông già Hai từ từ hạ xuống mặt bàn để giựt mảnh giấy có mấy chữ “đồng tịch đồng sàng, đồng quan đồng quách”.

Ông ta nói:

– Con gì chạy sột soạt?

Ngọc như người mất trí, thấy cái chết gần kề. Cha nàng sắp thi hành thủ đoạn gì đây. Cánh cửa tủ vừa khóa chặt, im lìm.

– Thưa cha con chuột, con chó gì đó!

Tuy ngột thở, thằng Tú cố lắng nghe. Nó nghĩ thầm: “Chết trong này là dại dột. Mình đã từng ngao du trên biển cả. Tại sao mình không lên tiếng?”. Nghe người yêu so sánh với “con chuột, con chó”, nó không kiên nhẫn được nữa. Nó đập mạnh vào cánh cửa tủ. Ngọc đành run tay, mở cửa tủ.

– Thằng Tú đó hả? Tao giết mày?

Thằng Tú nói:

– Giết tại đây à? Ông vô ơn bạc nghĩa quá. Ông không cần dùng đến tôi thì trả tôi ra biển. Tôi muốn đi xa.

Rồi day qua Ngọc, nó cười nhếch mép:

– Con nít, rồi con chó, con chuột. Đồng tịch đồng sàng, đồng quan, đồng quách. Nói láo!

Ông già Hai nói:

– Đừng cãi vã. Bây giờ mày ra ngoài biển với tao. Ở ngoài biển có sẵn mấy chiếc ghe đánh lưới. Mầy cứ giựt một chiếc mà đi cho khuất mắt. Chẳng lẽ tao giết mày tại nhà này cho dơ nền gạch.

Anh bán dưa nhìn về phía ông già Hai:

– Đó thầy thấy chưa, ổng theo dõi, sợ tôi nói xấu chuyện gia đình của ổng cho người khác nghe! Trời phạt ổng! Từ bốn năm nay, ổng ở ngoài chòi đó.

Tôi hỏi:

– Còn thằng Tú, còn cô Ngọc, còn gian nhà ngói?

– Để tôi nói tiếp: ông già Hai dẫn thằng Tú ra sân, nhưng ổng giắt cây dao nhỏ và bén, ở sau lưng. Chừng đến mé bãi, ổng chỉ một chiếc ghe, kêu thằng Tú lên đó mà đi cho biệt tích. Thằng Tú ngỡ thiệt. Dè đâu ổng đâm nó, lúc nó gần tách bến. Hay tin ấy, cô Ngọc phát điên, suốt ngày mở cửa cái tủ áo mà nhìn vào khoảng trống. Rồi hôm đó, cô ta đập tấm kiếng soi mặt, lấy miếng kiếng mà nuốt để tự tử. Ông già Hai sợ quá… Sau khi cô Ngọc chết, ông ta không dám ngủ ở nhà, không dám ra biển. Làm ruộng thì không dám, đánh lưới cũng không dám. Bởi vậy ông xoay qua nghề trồng dưa hấu, mà dưa hấu của ông chẳng bao giờ đỏ ruột.

Tôi từ giã anh bán dưa, đến bên cạnh ông già Hai. Ông ta lắc đầu, nhìn thẳng vào mặt tôi:

– Đời sao khó sống quá. Họ nói xấu tôi. Phải nãy giờ thằng đó nói chuyện con Ngọc với thằng Tú. Nó nói tôi thiếu âm đức. Thầy tin lời nó à? Tôi ngồi ngoài chòi này bốn năm nay rồi chưa đủ sao?

Nói xong, ông trao cho tôi một trái dưa và một cây dao:

– Mời thầy xẻ trái dưa để bói thử. Nếu dưa đỏ ruột, điều ấy chứng tỏ tôi không phải là đứa thất đức, còn nếu dưa màu trắng thì…

Tôi mạnh dạn xẻ trái dưa, thở dài, cố che giấu vì ruột dưa quá trắng. Tôi úp sát hai miếng dưa.

Ông già Hai quay mặt ra biển khơi. Có lẽ ông đã hiểu.

– Sao?

Tôi đáp:

– Ông cho cháu xin trái dưa này. Cháu muốn đem về, lát nữa mới ăn.

– Mà nó đỏ hay trắng?

– Dạ, hơi hơi đỏ, hơi hơi trắng.

– À, thằng Tú, con Ngọc, tụi nó còn báo hại thằng già này. Thôi cảm ơn thầy, thầy đi đi.

– Chuyện có thật sao ông?

Ông già Hai ôm mặt. Gió ngoài thổi lộng. Từng giề rong biển tấp vào bãi. Và trên trời, mây trắng bay. Xác thằng Tú ở đâu? Hồn cô Ngọc ở đâu? Trên chiếc chiếu nào và cái quan tài nào? Chàng nằm trên nệm rong biển và nàng tới lui vẩn vơ trên trời cho đến bao giờ.

Alaska đi về xứ tuyết

baotreonline.com

Đinh Yên Thảo

Post on July 29th, 2022

Post by Sơn râu 2 Aug 2024

Kỳ 2

Hơn hai triệu du khách đã du ngoạn Alaska trong các tháng Hè mỗi năm, trong đó hơn một nửa đến bằng các du thuyền. Tiểu bang thứ 49 của Hoa Kỳ có những nét độc đáo không mấy nơi nào có được với thiên nhiên, núi tuyết, băng hà, núi rừng hoang dã cùng một văn hóa bản địa của những người Eskimo xứ tuyết. Mời các bạn cùng chúng tôi tiếp tục ghé đến vài điểm dừng tại Alaska trên số báo hôm nay.

Du khách ngắm dãy băng sơn Hubbard Glacier trên boong tàu 

Kỳ 2

Alaska, con gấu Đông còn ngủ 

Khi chiếc du thuyền tiến vào vùng băng sơn Hubbard Glacier, du khách đổ dồn ra mũi tàu cùng trên các boong tàu chiêm ngưỡng cảnh thiên nhiên có lẽ là lần đầu tiên trong cuộc đời của họ. Giọng người thuyền trưởng vang trên loa, “Trong lần đầu tiên nhận nhiệm vụ cho hải trình này và điều khiển thuyền vào khu vực này, tôi đã buông tiếng thán ngạc trước thiên nhiên kỳ vỹ như thế này. Quý vị đang chuẩn bị chứng kiến điều như tôi từng thấy lần đầu trước đây”.

Quả thật, vùng băng sơn trắng xóa giữa mây trời tại một vùng biển với những tảng băng tuyết lờ lững trôi là điều đặc biệt và kỳ diệu nhất trong chuyến hải trình về Alaska và thu hút du khách đến với nó. Cho dù mỗi điểm dừng tại Alaska cũng có lắm điều thú vị của riêng chúng.

Tác giả tại tiệm hải sản bến cảng Juneau

Tuỳ theo hải trình của mỗi hãng du thuyền, các điểm dừng lại Alaska có thay đổi đôi chút. Các điểm dừng chính của các chuyến du thuyền đến Alaska là những thành phố dọc theo hành lang vịnh Alaska về hướng Bắc chạy dọc theo hải phận Canada, đến nơi xa nhất là Anchorage, thành phố đông dân nhất của Alaska hay chỉ đến Juneau, thủ phủ bé nhỏ của Alaska hay Skagway rồi trở ngược lại các thành phố như Sitka, Ketchikan, Victoria của Canada…

Ngoại trừ các nét riêng biệt cùng thời tiết khí hậu hay cảnh quan của các nơi đến, còn lại thì hoạt động trên các du thuyền sẽ không khác nhau bao nhiêu. Muốn vui thú, nắng ấm tắm biển và phù hợp ngân sách gia đình thì đi về hướng Mexico, Caribbean hay Trung Mỹ. Có nhiều thời gian và muốn khám phá nhiều quốc gia cùng lúc thì bay sang Châu Âu hay Châu Á. Và muốn có những thể nghiệm cùng chứng nghiệm một thiên nhiên và không gian khác lạ, xin đến cùng Alaska.

Thác nước Nugget Falls tại Juneau

Ðiểm dừng đầu tiên của chúng tôi là Juneau, thủ phủ Alaska như đã nói bên trên. Nói là thủ phủ nhưng Juneau là một thành phố rất ít dân, chỉ có hơn 32 ngàn dân, Người tour guide chở chúng tôi đến thác nước Nugget nói đùa rằng, Juneau không có ăn cắp xe vì đến hay rời Juneau chỉ bằng phương tiện hàng không hay hàng hải, không có đường sá hay xa lộ nào nối liền với các thành phố khác bởi việc xây dựng và bảo trì sẽ rất tốn kém trước địa hình cùng khí hậu của nó.

Ông bảo rằng người dân Alaska khá bảo thủ, không muốn có nhiều sự thay đổi và hài lòng với những gì họ đang có, đang làm. Họ hiếu khách và cũng cảm ơn du khách đã đến và bơm vào nền kinh tế của tiểu bang mình nhưng họ cũng không đổ dồn vào nó như kỹ nghệ chủ yếu của tiểu bang. Bởi du lịch thật ra cũng chỉ hoạt động trong vài tháng Hè và vài năm qua, các du thuyền hầu hết đều nằm ụ, du khách chỉ mới quay lại Alaska cùng các nơi khác chỉ từ cuối mùa Xuân năm nay.

Ngôi thánh đường Chính Thống Giáo Đông Phương cổ tại Sitka

Ðó cũng là điều tôi cũng ghi nhận được và khá ngạc nhiên khi đến với Alaska. Trái với suy nghĩ của tôi trước khi đến với nó, Alaska còn rất nhiều tiềm năng nếu muốn đầu tư vào du lịch bởi những thành phố rất ít dân này, chỉ vài chục ngàn dân lại đón hàng triệu du khách vào mỗi mùa Hè và chỉ có một tỉ lệ nhỏ cư dân phục vụ trong kỹ nghệ này. Có những điểm đến không có Uber và taxi, hay nếu nơi có  thì cũng khá ít  taxi. Du thuyền tôi đi không ghé đến Anchorage, nhưng ắt thành phố lớn này thì kỹ nghệ du lịch được đầu tư và phát triển mạnh mẽ hơn.

Nhà hàng cũng không nhiều, một đôi tiệm hải sản ngay bến cảng luôn có một hàng dài du khách chờ đợi để được thưởng thức cua Alaska còn tươi sống tại chỗ dù giá cả rất đắt, đắt hơn nhiều so với các nhà hàng hải sản tại Seattle. Nhưng người Mỹ vốn vung tay trong những chuyến nghỉ mát của mình, họ sẵn sàng bỏ tiền để mua lấy một kinh nghiệm hay kỷ niệm ở những nơi đến, từ việc đi tour, mua sắm, ăn uống…. Nên những chuyến đi của họ luôn vui thú và có nhiều điều đáng nhớ.

Khu trung tâm Ketchikan

Nếu tình trạng thiếu hụt nhân công bên trong nước Mỹ được nhắc đến nhiều trong thời gian qua thì Alaska chắc chắn phải thiếu hụt hơn hết. Những người hướng dẫn du lịch kể cùng chúng tôi rằng, mức lương trung bình cho công việc liên quan đến du lịch vào khoảng 35-37 đô la/giờ cộng thêm tiền tip nhưng vẫn tìm không ra người. Dân địa phương hầu như chỉ muốn làm những việc quen thuộc trong chính phủ, dầu lửa hay đánh bắt, khai thác thủy hải sản…, không phải ai cũng muốn làm du lịch, trong khi người từ trong các tiểu bang Mỹ mấy ai muốn bay ra đó làm việc.

Như con gấu ngủ Ðông, tôi nghĩ chỉ cần làm việc tại Alaska trong vài tháng Hè để phục vụ du khách rồi bay về lại trong đất liền cũng là một ý tưởng kinh doanh thú vị cho ai đó muốn thử thách chính mình hay tìm kiếm cơ hội. Và có lẽ đó là phương cách kinh doanh của các tiệm kim hoàn, áo quần, đồ lưu niệm bề thế mà đa phần của những người Ấn Ðộ hay Trung Ðông làm chủ.

Alaska, tiểu bang có đại bàng nhiều hơn tất cả các tiểu bang cộng lại

Khi con gái tôi trò chuyện xã giao và bảo rằng rất thích Alaska, một chủ tiệm nữ trang và đồ lưu niệm khá lớn ngay cảng Ketchikan đưa ngay danh thiếp, bảo rằng nếu muốn sang làm việc trong dịp Hè cứ liên lạc bà, công việc sẽ được bao ăn ở và di chuyển, chỉ không nói mức lương bao nhiêu.

Lý do du khách đến những thành phố dọc theo vịnh Alaska trong mùa Hè vì chúng không lạnh và những cơn mưa là chuyện của thiên nhiên, khó lường. Tôi chỉ gặp một ngày mưa khi ghé vào Ketchikan nhưng điều này cũng không ngăn cản du khách đón các thuyền nhỏ đi xem cá voi, ngắm cảnh hay lấy các tour dạo quanh thành phố hay đến các thác nước, công viên quốc gia. Bằng không cứ nhẩn nha dạo quanh bến cảng ở ngay trung tâm thành phố, ghé vào các tiệm tôm mua hay ăn cá thu tươi nướng hoặc có xe bus đưa vào khu trung tâm tại Sitka.

Nghệ sĩ đường phố

Một buổi chiều trên boong tàu, một người đàn ông Mỹ trắng trạc tuổi tôi mời lại tôi ly rượu sau khi hỏi xin tôi điếu thuốc. Matthew đến từ Hawaii, vui tính và nói nhiều, không biết có phải vì đã ngà ngà hay đang phấn khích về chuyến ra khơi. Matthew bảo, chúng ta rất may mắn khi đứng trên boong thuyền uống rượu và ngắm hoàng hôn tuyệt đẹp giữa đại dương như thế này sau những ngày làm việc vất vả trong năm.

Tôi không trả lời, chỉ nâng ly như lời đồng ý. Alaska ngày dài đêm ngắn, bình minh ló dạng từ 4, 5 giờ sáng và đến sau 10 giờ đêm mới tắt bóng hoàng hôn. Nhìn về phía chân trời, hoàng hôn giữa biển cả mênh mông thật đẹp.

Bến cảng Ketchikan

ĐYT

Bún Cá Ngừ

hsdoduyngoc.blogspot.com

Đổ Duy Ngọc  tháng 4 10, 2021

Post by Sơn râu 2 Aug 2024

Còn hơn nửa tháng nữa là giỗ Mạ tôi, giỗ lần thứ mười hai, như vậy đã mười hai năm những đứa con của Mạ không còn có Mạ trên đời để thương yêu, hờn giận. Nhớ Mạ, tôi lại nhớ những món ăn Mạ nấu. Hôm nay lại chợt nhớ món Bún cá ngừ. Ôi chao! Nhớ làm sao cái nồi cá ngừ Mạ kho thuở đó. Trong ký ức vẫn còn mùi thơm ngào ngạt toả ra từ nồi cá nóng hổi. Trên đầu môi vẫn còn đọng lại miếng cá chắc mà ngọt, mà ngon từ lúc nhìn cho đến lúc nuốt.

Hình như món ăn này phổ biến nhiều ở miền Trung, miền Bắc, miền Nam ít thấy. Có lẽ con cá ngừ có nhiều ở miền Trung chăng. Nó vốn là món ăn bình dân, cách chế biến cũng chẳng cầu kỳ. Cá ngừ ngày xưa ở miền Trung giá rẻ, là loại cá của nhà nghèo dù nó là món ăn có nhiều chất cần thiết cho cơ thể. Thế nhưng, người ta cũng cho rằng đó là loại cá có nhiều thuỷ ngân, không lợi cho sức khoẻ. Mạ tôi thì bảo cá ngừ ăn phong, nhiều người ăn vào dễ bị ngứa, nổi mề đay. Nhất là những chỗ màu sậm trong khúc cá, có lẽ đó là máu cá tụ, mấy miếng này ăn tanh mà lại độc. Ngày xưa ít có thuyền tàu lớn nên thuyền lưới, thuyền câu thường chỉ đi lúc khuya và về lúc sáng hoặc khuya đi chiều về nên con cá ngừ còn tươi roi rói, thân cá có màu xanh biêng biếc, mang cá đỏ au. Giờ tàu đi một chuyến dài ngày, cá ướp nước đá nên không ngon như ngày cũ. Nhìn thì tươi nhưng thịt kho lên bở, độ béo cũng mất đi ít nhiều.

Món Bún cá ngừ có nhiều cách nấu, tuỳ vùng miền mà có mấy cách nấu khác nhau một chút. Mấy Bà, mấy Mụ, mấy Mệ, mấy O người Huế xưa thì nấu kiểu như ri. Cá ngừ mua về làm sạch bằng cách ngâm nước muối khoảng 20 phút rồi vớt ra để ráo. Nhớ đừng mua cá lớn quá mà cũng không nhỏ quá, cắt khúc cỡ nhỏ hơn bàn tay người lớn là vừa ăn. Cỡ này thịt chắc, ngọt cá, không quá xảm. Mấy Mệ hay kho cá với thịt heo ba chỉ với thơm, cho nên khi chờ cá ráo, ta ướp thịt heo, thơm với chút nước mắm ngon, thêm chút bột ngọt và tiêu. Bắt nồi lên bếp cho nóng, cho hành tím, tỏi bằm vào phi hơi vàng rồi cho thịt heo vào đảo cho hơi chín, tiếp đó cho thơm cắt lát vô nồi. Đổ tiếp cá vào một lát sau lại cho nước sôi để nguội vào nồi. Lấy hai muỗng nhỏ ruốc Huế, hoà với chút nước cho tan, gạn lại rồi cho vào nồi cá. Đợi nước sôi, vớt bớt bọt rồi cho sôi khoảng 20 phút với lửa nhỏ thì nêm nếm cho vừa ăn. Nhớ không mặn như kho mà cũng không nhạt như canh mới đúng là nước Bún cá ngừ. Cũng nên nhớ không dùng nước ướp cá ngừ, nếu cho vào nồi, cá sẽ tanh lắm, khó ăn. Vì cá ngừ là cá biển, hơi tanh nên khi nấu nên bẻ vào mấy trái ớt cho vào nồi, nước sẽ có mùi the cay, lấp mùi tanh của cá. Bún cá ngừ ăn xâm xấp nước nên khi nấu nhớ để lại nhiều nước chứ không kho khô kẹo. Khi thấy đúng độ chín rồi, đậy nắp, tắt lửa để thêm chừng chục phút nữa cho khúc cá thấm, ăn sẽ ngon hơn. Cũng có thể bỏ thêm hành lá cắt khúc, nồi cá nhìn thêm hương vị . Gắp khúc cá ra dĩa với nước. Bỏ bún vào tô, chan nước vào, thêm chút rau sống, rau thơm. Xắn miếng cá vào và dùng đũa lùa vào miệng, nhớ lùa bằng đũa nghe, thế mới trọn vẹn cái sự ngon, cắn thêm miếng ớt xanh, lại nhớ là ớt xanh chứ ớt đỏ không hợp lắm với cá ngừ. Chất béo bùi của cá quyện béo của thịt heo trộn với nước cá hoà lẫn với rau xanh cộng chút cay của ớt tạo ra một hỗn hợp tuyệt cú mèo, ngon không nói được. Chất cá ngừ có một mùi đặc biệt khác các loại cá khác. Mùi gì nhỉ! Làm sao dùng chữ để diễn tả đây, chỉ biết là nó ngon, nó sướng cái miệng gì đâu. Miếng thơm kho cũng quá ngon, nó đẫm chất mặn của nồi cá thêm vào vị của biển cả. Nó không còn là miếng thơm ngọt thông thường nữa mà là hỗn hợp của nhiều vị. À mà còn mùi ruốc nữa, cách nấu này ít dùng nước mắm mà dùng ruốc để nêm cho nên có thoang thoảng mùi ruốc Huế. Một nồi cá ngừ rất Huế. Nếu thích ăn cay thì giã một chén ớt tỏi, giã dập chứ không phải cắt hay xáy ớt nhé. Chén ớt tỏi dậy mùi thơm, cho  nước cá vào, đảo lên rồi mới chan vào tô bún. Nếu có thì thêm chút sa tế trộn điều cho tô bún thêm màu sắc. Miệng lại đầy nước bọt rồi. Ăn mà xuýt xoa vì cay, mà chảy mồ hôi vì nồng, nước mắt rịn ra vì nóng thì mới đã. Trên là cách nấu của Mạ tôi mấy chục năm trước, khi mùa hè cá ngừ về và anh em tôi xếp lớp ngồi ăn, mồ hôi đứa nào cũng nhễ nhại.

Cũng có một cách nấu khác, cũng ngon và mang một mùi vị khác. Đấy là sau khi làm sạch cá, đem ướp muối, bột ngọt cho cá thấm rồi đem chiên sơ cho khúc cá hơi vàng. Sau đó cho cá vào nồi nước đã có thơm, cà chua, nước mắm, bột nêm, muối, ớt trái bẻ đôi. Kiểu này đơn giản, nước sôi, chín cá là đem ăn. Thịt cá săn chắc, béo thấm đẫm gia vị trộn lẫn sợi bún tươi và nước chua chua, ngọt ngọt với rau sống tạo ra một món ăn hài hoà giữa hương và vị, giữa mùi và gió lộng biển khơi. Kiểu nấu này hợp với người Nam nhưng thiếu cái đậm đà của ruốc Huế. Miếng cá chiên nhìn thì đẹp mắt nhưng lại thừa dầu và cá lại hơi khô, ăn không còn ngọt như miếng cá tươi nấu trực tiếp.

Cũng có một cách nấu khác nữa là gọt thơm, cắt lát nhỏ cùng cà chua, hành lá cắt mịn, ớt cũng thái lát. Đi kèm còn có hành tím, tỏi băm. Cá sau khi làm kỹ, cắt lát ướp với gia vị một thời gian thì đem chiên hơi vàng rồi vớt ra. Dùng dầu chiên cá để phi thơm hành tỏi, trộn thêm chút ớt bột. Hành tỏi đã vàng, cho thơm, cà chua vào xào, nêm nước mắm, bột nêm, bột ngọt đảo đều. Đến độ chín thì cho vào khoảng nửa lít nước dừa tươi, nước dừa sôi cho cá vào đợi sôi lớn lại, giảm lửa riu riu cho cá ngấm. Trước khi bắc nồi xuống nhớ cho hành, tiêu, mùi thơm lan toả cả gian bếp. Nấu kiểu này, nước cá sẽ hơi ngọt vì nước dừa, người ăn sẽ phát hiện một hương vị khác.

Cách đây khoảng năm bảy năm, ở đường Nguyễn Trãi, Quận nhất, Sài Gòn quán Ngọc Trâm có bán món này, ăn cũng được. Giờ quán dẹp tiệm rồi, không biết giạt về đâu?

Dài dòng quá thế nhưng tôi vẫn thích kiểu Mạ tôi nấu hơn. Nấu món cá ngừ với ruốc nó có mùi vị lạ lắm. Cũng như món Bún cá ngừ là một gam màu lạ trong các món ăn xứ Huế vậy. Cũng cần nhắc lại là ăn Bún cá ngừ thì phải có ớt xanh với rau sống. Ít nhất là phải có rau mùi, rau thơm, rau tía tô, bắp chuối bào mỏng. Cho nên một bữa ăn Bún cá ngừ của Huế là ngon mắt nhờ màu xanh biếc của cá, màu xanh lá của rau, màu của ớt của điều, sa tế. Nó còn làm cho khứu giác hoạt động nhờ mùi ruốc, mùi biển cả, đấy là ngon mũi và chắc chắn phần còn lại là ngon miệng. Ở Huế chỗ chợ Bến Ngự có gánh Bún cá ngừ đúng điệu Huế, nhưng lại không có bán thường xuyên, hên hay có duyên thì gặp. Bởi món ăn này không phải là món ăn quanh năm của người Huế mà chỉ đến dịp cuối xuân đầu hạ, khi ngư dân đánh bắt được nhiều cá ngừ thì món bún cá ngừ mới xuất hiện trong bữa cơm gia đình và trong các quán nhỏ ở Huế. Theo những người sành ăn, cá ngừ nấu ăn bún ngon nhất là cá ngừ quạ. 

Cũng nói thêm một chút về thành phần dinh dưỡng của cá ngừ. Trong 165 gam cá ngừ có calo: 191, Chất béo: 1,4g, Natri: 83mg, Carbohydrate: 0g, Chất xơ: 0g, Đường: 0g, Chất đạm: 42g. Cá ngừ chứa các chất béo lành mạnh như axit béo omega 3 nhưng hàm lượng chất béo tổng thể lại thấp (chỉ chứa ít hơn 2 gam / lon). Cá ngừ có hàm lượng chất béo và calo thấp rất phù hợp với các chế độ ăn kiêng cho người muốn giảm cân, giảm mỡ. Giúp bạn có thể sở hữu một vóc dáng săn chắc, khỏe mạnh và không gây hại cho sức khỏe. Giúp bảo vệ lá gan, ngăn ngừa thiếu máu, tăng cường sức khỏe tim mạch, giảm nguy cơ sa sút trí tuệ.

Sài Gòn đang vào đầu tháng tư, đầu hạ. Những cơn mưa bất chợt vội đến vội đi. Ngoài trời đang mưa lớn. Thắp một nén nhang trên bàn thờ, đốt thêm hai cây đèn tỏa sáng. Khói nhang thơm ngát căn phòng, nhìn ảnh Mạ và nhớ Mạ quá. Món Bún cá ngừ viết dài dòng lại tăng thêm nỗi nhớ. Khao khát được một ngày như ngày xưa, rất xưa, cả nhà đoàn tụ trong nụ cười ấm áp trên mỗi khuôn mặt và những thức ăn ngon Mạ nấu. Dĩ vãng tìm đâu thấy?

11.4.2021

DODUYNGOC