Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Google photo

4. Chiếc tàu ngầm Nga và người anh hùng mặt xanh

Đến tuổi 20, sau khi học một năm rưỡi đại học, tôi đã sử dụng hết những đồng tiền cuối cùng mà khó khăn lắm tôi mới kiếm được và không còn khả năng để tiếp tục theo học. Thời điểm đó không có sẵn nhiều sự trợ giúp tài chính trong khi tôi đã cảm thấy mệt mỏi với việc giặt quần áo bằng các mẩu xà phòng thừa và không còn muốn phải tìm kiếm những đồng tiền lẻ vương vãi để có thể mua một bữa tối là món xúc xích với giá 1 đô-la 3 chiếc ở một cửa hàng gần đó. Tôi quyết định tìm đến các nhà tuyển quân tại một trung tâm mua sắm ở Brunswick, Georgia, với hy vọng có thể gia nhập quân đội để tiết kiệm đủ tiền và quay trở lại trường học. Treo bên ngoài văn phòng tuyển lính hải quân là một tấm áp phích in hình một lính thủy trong bộ đồ ướt nhẹp của lực lượng Tìm kiếm và Cứu nạn (SAR). Sau đó, tôi đăng ký dự tuyển vào lực lượng Tìm kiếm và Cứu nạn của Hải quân.

Trước khi bước chân xuống tàu, tôi quyết định cưới Laura.

Mẹ bảo tôi: “Con hãy nói với Cha Ron trước đã”.

Tôi biết Cha thuyết giáo của chúng tôi không thích Laura. Tôi biết Cha không đồng tình với tôn giáo Đa thê (Mormon) của cô ấy. “Không đâu mẹ ạ, con sẽ không làm vậy đâu. Con sẽ không nói chuyện với Cha Ron. Con yêu Laura và con sẽ cưới cô ấy.”

Dượng bước vào phòng tôi, dùng hai tay đẩy vai làm tôi lùi lại vài bước. Ông thường thích chứng tỏ sự uy quyền bằng những cử chỉ mạnh mẽ như vậy. Nếu tôi nhìn vào ông hay bước lên phía trước, ông sẽ cho rằng đó là dấu hiệu khiêu khích. Tôi đã học được cách cúi đầu và đứng yên tại chỗ. “Nếu mày không nghe lời mẹ về mỗi chuyện cỏn con ấy, mày hãy gói ghém đồ đạc và bước ra khỏi nhà tao”.

Tôi không tin vào tai mình.

“Cái gì, mày nhìn tao hả,” ông nói. “Mày muốn thách thức tao à?, thử xem. Tao sẽ bước qua mày như là bước qua liều thuốc tẩy!” Thuốc tẩy được sử dụng để chống táo bón và đó là cách người miền Nam Georgia muốn nói là: “Tao sẽ bước qua mày như bước qua đống phân ngỗng ấy.” Đó là lần cuối cùng ông ấy đe dọa tôi.

Tôi gói ghém đồ đạc vừa một chiếc va li nhỏ, bước ra cửa, xuống đường và đi đến máy điện thoại công cộng. Khi tôi gọi đến nhà Laura, bố mẹ em bảo em ra đón tôi.

Gia đình Laura cư xử rất khác gia đình tôi. Con cái và bố mẹ cùng trò chuyện cởi mở. Bố mẹ em rất chu đáo với con cái. Ông bố thậm chí còn chúc các con một buổi sáng tốt lành. Điều đó làm tôi rất xúc động. Tôi yêu những gì gia đình họ có cũng như là tôi yêu Laura vậy.

Bố mẹ Laura để tôi sống cùng gia đình họ cho đến khi tôi tìm được một công việc tạm thời trong ngành xây dựng và có một căn hộ nhỏ. Nhiều tháng sau khi tôi bỏ nhà đi, ngày 16 tháng Tư năm 1983, Laura và tôi làm lễ cưới tại nhà thờ. Bố mẹ tôi bất đắc dĩ tham dự đám cưới nhỏ ấy bởi vì ở thị trấn nơi chúng tôi sinh sống, mọi người sẽ coi thường nếu họ không đến dự. Sau khi Laura và tôi thề nguyện, bố tôi trao cho tôi một tờ 100 đô-la và bắt tay tôi mà không nói lời nào, không “Chúc mừng” cũng chẳng “Quỷ tha ma bắt mày đi”. Không cần nói bạn cũng biết, bố mẹ tôi không ở lại để chờ đến màn cắt bánh.

Chuyện gần gũi yêu đương Laura đến với tôi một cách tự nhiên như bản năng, nhưng việc nói lời yêu và nắm tay cô ấy thật là khó khăn. Tôi cứ từ thái cực này chuyển sang thái cực khác, chẳng tìm được gì dung hòa cả. Tôi thiếu hình mẫu về vai trò một người chồng và một người cha. Bố tôi không bao giờ ôm mẹ tôi hay nắm tay bà cả. Có thể là ông có làm điều đó khi tôi không ở gần, nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy. Phần lớn câu chuyện của họ chỉ là về công việc hay bọn trẻ chúng tôi mà thôi.

Ngày 6 tháng Mười một năm 1983, tôi đến một doanh trại huấn luyện tân binh của Hải quân ở Orlando, Florida. Hai ngày sau, tất cả chúng tôi đều cạo trọc đầu và người thì sặc mùi vải bông mới hồ. Khi tắt đèn đi ngủ, tôi bảo cậu bạn ở chiếc giường phía sau: “Này cậu, hôm này là sinh nhật tớ đấy.”

“Thế à, chúc mừng sinh nhật.” Rồi anh ta chẳng nói thêm lời nào. Cũng không có ai khác lên tiếng cả. Có vẻ như là mọi người còn thăm dò thái độ của nhau.

Google photo

Việc thiếu tính kỷ luật và thiếu thái độ tôn trọng của các tân binh làm tôi ngạc nhiên. Vì thế nhiều người gặp rắc rối vì quên nói “Vâng, thưa Ngài” hoặc “Không, thưa Ngài”. Tôi thì đã được dạy dỗ là không được quên phép cư xử và phải để tâm vào từng hành động nhỏ. Những anh chàng đó được giao thêm một số việc (hít đất, lau và đánh sàn) và trông họ làm như những kẻ có trí tuệ chậm phát triển ấy. Sửa soạn giường ngủ và gấp gọn đồ lót không phải là một hoạt động đòi hỏi kiến thức và sự phối hợp. Tôi đã được dạy cách sửa soạn giường ngủ và gấp đồ lót của mình.

Người chỉ huy và tôi trở nên gắn bó bởi vì anh đã từng đảm nhiệm công tác Tìm kiếm và Cứu nạn với tư cách là một thành viên đội bay − một công việc mà tôi mơ ước. Anh giao cho tôi phụ trách một nửa doanh trại. Sau khi kết thúc gần 4 tuần ở trại huấn luyện, ¼ số tân binh vẫn chưa đạt. Tôi không hiểu lý do tại sao nữa.

Những tân binh còn quá yếu kém sẽ phải trải qua kỳ Huấn luyện Tăng cường (IT). Tôi trình bày với Đại đội trưởng: “Thưa anh, tôi muốn được tham gia kỳ IT để chuẩn bị cho bài kiểm tra sức khỏe Tìm kiếm và Cứu nạn của mình.” Tôi không còn nhớ chính xác những yêu cầu của bài thi SAR thời kỳ đó, nhưng bài thi hiện nay đòi hỏi các thí sinh phải bơi 500m trong vòng 13 phút, chạy 2,5 km trong 12,5 phút, hít đất 35 lần trong 2 phút, thực hiện đứng lên − ngồi xuống 50 lần trong 2 phút và lên xuống xà 2 lần. Nếu trượt phần kiểm tra này, tôi sẽ khó có khả năng gia nhập lực lượng Tìm kiếm và Cứu nạn của Hải quân.

Đại đội trưởng nhìn tôi cứ như là đầu tôi đang mọc sừng vậy. “Wasdin, cậu có biết họ làm gì ở IT không?”

“Những tân binh chưa đạt chuẩn nói với tôi là ở đó họ luyện tập rất căng thẳng.” Anh ta cười to.

Sau bữa tối, tôi đến tham gia IT và chợt hiểu tại sao anh ấy lại cười. Kỳ IT thúc giục chúng tôi năng động hơn. Chúng tôi tập hít đất, đứng lên − ngồi xuống, giơ súng trên đầu và rất nhiều bài tập nữa. Tôi nhìn sang bên trái rồi lại quay sang bên phải và thấy những anh chàng ở cả hai bên đều đang khóc. Luyện tập khắc nghiệt thật đấy, nhưng tại sao bạn lại khóc? Tôi đã trải qua những chuyện tồi tệ hơn nhiều. Mồ hôi và nước mắt rớt xuống sàn phòng tập. Mồ hôi tôi đổ xuống, nhưng tôi không khóc. Những học viên IT khác không biết rằng tôi tình nguyện luyện tập. Sau khi xuất hiện ở đó khoảng 7, 8 hoặc 9 buổi tối, mỗi buổi một tiếng đồng hồ, họ muốn tôi thay đổi kiểu cách quái quỷ đó. Nhưng tôi không bao giờ nói điều gì khác với họ. Khi tôi rời trại huấn luyện, chắc họ cho rằng Wasdin là học viên kỳ dị nhất từng đến đây.

Tôi tham gia bài kiểm tra Tìm kiếm và Cứu nạn. Ở bể bơi, tôi gặp một người đeo một phù hiệu lạ trên ngực. Lúc đó, tôi không biết ông ấy là người thuộc Đội SEAL của Hải quân và cũng không biết một người lính SEAL là thế nào cả. Nhiều người khác cũng không biết. Khóa IT có lẽ đã giúp tôi chuẩn bị cho bài thi này, nếu không phải là về thể chất thì cũng về tinh thần. Tôi đã vượt qua. Tuy nhiên, tôi chỉ tự tin 70% là mình sẽ được chọn đi học ở trường đào tạo lính bay. Số phận của tôi nằm trong tay của Hải quân. Họ sẽ giao cho tôi việc gì đây nếu tôi không đậu kỳ thi này?

Cho đến cuối kỳ huấn luyện ba tháng tại trại huấn luyện hải quân, Đại đội trưởng mỉm cười và trao cho tôi quyết định nhập học trường đào tạo lính bay. “Hẹn gặp cậu trong lực lượng hải quân” − anh nói. Vậy là tôi đã thành công. Đó là ngày tươi đẹp nhất trong đời tôi. Laura đến Florida khi tôi tốt nghiệp khóa huấn luyện và ở lại với tôi suốt mấy ngày cuối tuần. Tôi vẫn phải mặc quân phục ngay cả khi chúng tôi ra ngoài căn cứ. Khi chúng tôi đang ăn tối trong một nhà hàng, một cặp đôi tặng chúng tôi đôi vé thăm quan Disney World và thanh toán luôn hoá đơn của chúng tôi khi họ ra về. Ngày hôm sau, chúng tôi liền chớp cơ hội khám phá Vương quốc diệu kỳ này.

Khi tôi học tại trường đạo tạo lính bay ở Pensacola, Florida, không có chỗ dành cho những người đã có gia đình để Laura có thể ở cùng tôi. Ở trường này, tôi phải mặc đồ bay, học cách triển khai các thiết bị cứu nạn ra khỏi máy bay, vượt qua chướng ngại vật và tập đấm bốc trong các trận đấu nghiệp dư của hải quân. Đến cuối khóa học 6 tuần này, tôi tham dự một tuần huấn luyện “sống còn”. Giảng viên giả định tình huống máy bay của chúng tôi bị bắn hạ và chúng tôi phải làm mọi việc để sống sót: nai nịt lại trang bị, vượt qua sông, dựng một chiếc lều bằng dù và sống chỉ với lượng thức ăn ít ỏi như vài hộp nước sốt và ít táo. Trong suốt ba ngày cuối, chúng tôi chỉ ăn những gì có thể tìm thấy và đưa vào miệng được. Tuy nhiên, tôi vẫn không ăn được những con sâu ấu trùng.

Trận đấm bốc đầu tiên diễn ra vào đêm chúng tôi trở về từ đợt huấn luyện sống còn. Tôi nói với huấn luyện viên, “Tôi vừa ở trong rừng ba ngày mà không ăn uống gì cả. Anh nghĩ tôi có ổn không?” “Chết tiệt. Tay lính thủy đánh bộ này đang thắng đậm chúng ta. Chúng tôi cần cậu đến đó và đánh bại anh ta”.

Cám ơn nhiều nhé, bạn của tôi. Các bạn của tôi là Todd Mock và Bobby Powell đến xem trận đấu và ủng hộ tinh thần cho tôi. Todd đứng ở góc của tôi. Tôi bảo cậu ta: “Giá mà tôi có thêm thời gian chuẩn bị cho trận đấu này.”

“Cậu chỉ cần đánh anh ta nhiều hơn anh ta đánh cậu thôi.”

Lời khuyên hay đấy.

Mỗi trận đấu gồm 3 vòng, mỗi vòng 3 phút. Không di chuyển nhiều, chỉ cần đánh gục đối thủ ở mỗi vòng. Trong vòng đầu tiên, tôi chịu được tay lính thủy đánh bộ và thi đấu ngang cơ. Vòng thứ hai, tôi phản ứng không đủ nhanh và bị đánh hai lần. Anh ta đang thắng thế. Tôi cảm thấy cánh tay của mình yếu đi, chiếc găng tay nặng có 0,5 kg mà tôi cảm giác như 20 kg vậy.

Vòng thứ ba, tôi đến cọ găng với anh ta, một thủ tục xã giao lặng lẽ mà những đối thủ đấm bốc thực hiện khi bắt đầu vòng đấu cuối cùng. Tôi ra tay phải và anh ta bất ngờ thoi cho tôi một quả trời giáng. Đau quá. Ôi đau quá. Tôi khuỵu xuống. Khi tôi đứng lên được thì đã bị đếm đến 8.

Tôi không phải là Rocky – tôi rất sợ lại bị dính đòn. Khi bị đếm đến 8, tôi dồn hết sức tới tấp lao vào tấn công anh ta vì sợ đến chết rằng anh ta có thể lại làm đau tôi nữa. Cuối cùng, tôi thắng. Những người ủng hộ phe hải quân phát cuồng lên. Tôi ngồi trên một ghế đẩu ở góc của mình, cảm thấy kiệt sức. Tôi nhìn Todd nói: “Cậu và Bobby sẽ phải vác mình ra ngoài thôi.”

Họ bê tôi đến bãi gửi xe và đặt vào trong ô tô. Sau khi cởi găng tay, họ lau mồ hôi và đưa tôi đến ăn ở nhà hàng Wendy. Sau đó, họ đưa tôi về doanh trại và để tôi nằm xuống giường. Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi nghĩ mình đã bị làm sao đó rồi. Mặt sưng phồng lên, một bên mắt thì híp tịt lại. Con mắt kia cũng bị híp một phần. Quái quỷ gì thế này? Thế là tôi nằm bệt mấy ngày. May là lúc đó đã gần cuối khóa học nên tôi vẫn tốt nghiệp đúng hạn. Mặc dù xa cách nhưng Laura và tôi vẫn viết thư cho nhau và thỉnh thoảng tôi gọi điện cho cô ấy. Laura đến thăm tôi vào kỳ nghỉ cuối tuần sau khi tôi tốt nghiệp. Mối quan hệ của chúng tôi có vẻ tốt

đẹp. Sau đó, Todd, Bobby và tôi lên đường để đến trường Tìm kiếm và Cứu nạn, bắt đầu khóa học 12 tuần. Nơi này thật đáng sợ: Những cái tên viết trên tường, bể bơi khổng lồ trong nhà, cánh cửa giả của chiếc trực thăng H-3 và những giảng viên SAR mặc quần đùi và áo phông xanh.

Ôi, những người này là Chúa trời đấy.

Trường SAR đã thử thách tôi. Sau khi lấy hết sức bình sinh nhảy xuống nước, chúng tôi cảm thấy dễ chịu. Chúng tôi bơi đến thang cứu nạn, gắn thiết bị hoa tiêu vào, giơ tay ra hiệu, bật pháo sáng Mark-13 và luyện tập cứu nạn.

Google photo

Cho đến cuối khóa học, trong bài thi cuối cùng, tôi phải thực hành một kịch bản cứu nạn. Một viên phi công đang ngồi trên phao cứu sinh, còn một người khác đang nằm úp mặt xuống nước. Trong khu vực bể bơi khổng lồ, tôi nhảy ra khỏi cánh cửa giả của máy bay trực thăng và lao xuống bể bơi rồi hỗ trợ cho người đàn ông đang ở tư thế úp mặt xuống nước. Viên phi công trên phao hét lên với tôi: “Anh bạn, đưa tôi ra khỏi nơi quái quỷ này thôi. Ông ta chết rồi. Đừng lo cho ông ta nữa.”

Khi tôi bơi tới và chạm được tay vào viên phi công đang úp mặt xuống nước, ông ta giật mình tỉnh lại và tóm chặt lấy tôi. Tôi lặn xuống phía dưới – đối với người sắp chết đuối thì việc làm này chẳng khác nào đang đi xuống địa ngục. Sau khi xem xét quanh người viên phi công, tôi bắt đầu kiểm tra dọc sống lưng và không phát hiện dây dù quấn quanh người ông. Ông ta có vẻ ổn và tôi bắt đầu bơi, nhưng ông ta vẫn chẳng nhúc nhích. Tôi kiểm tra lại và nhận thấy cả hai chân của ông ta đều vướng dây dù. Sau khi gỡ dây ra, tôi bơi và đưa ông ta đến phao của viên phi công kia. Viên phi công ở trên phao lúc này lại bắt đầu hét lên với viên phi công ở dưới nước: “Đó là tại anh. Anh phản ứng kém quá”.

Tôi không thể đặt viên phi công này vào cùng phao cứu nạn với gã phi công khó chịu kia. Sau khi mở thiết bị nổi cho ông ta, tôi buộc ông ta vào phao và để ông ta nổi trên mặt nước. Bước lên phao, tôi kiểm tra viên phi công khó tính. Tôi đặt ông ta lên thang của trực thăng và đưa ông ta lên trước. Ông ta đánh tôi, vì vậy tôi như phải đánh vật để đưa được ông ta lên. Sau đó tôi buộc mình với viên phi công ở dưới nước để đưa ông ta lên máy bay cùng.  Khi trở lại phòng gửi đồ, tôi thấy một số bạn cùng lớp tôi chưa trở lại. Mải suy nghĩ về bài thi cứu nạn của mình, tôi đã không nghĩ đến khả năng họ đã thi trượt. Có khoảng 5 hoặc 6 huấn luyện viên đứng quanh tôi và hỏi: “Wasdin, anh làm sai cái gì vậy?”

Quỷ thần ơi. Tôi trượt khóa SAR rồi, tôi không biết tại sao nữa.

Họ lấy ra một cái móc hình chữ J, vốn được sử dụng để cắt dây dù và cắt rời áo phông trắng của tôi.

Tôi cố gắng nghĩ xem mình đã sai sót điều gì. “Chúc mừng, Wasdin. Anh vừa tốt nghiệp trường SAR.”

Họ đưa cho tôi chiếc áo sơ mi màu xanh và ném tôi xuống bể bơi cùng với những người bạn đang bơi đứng dưới nước. Tất cả bọn họ cười sảng khoái trước vẻ mặt ngờ nghệch của tôi – bởi vì họ cũng đều vừa trải qua trạng thái tương tự.

Việc tốt nghiệp trường SAR có ý nghĩa đặc biệt hơn việc vượt qua được kỳ huấn luyện ở trại hoặc tốt nghiệp khóa huấn luyện lính bay bởi vì đào tạo SAR thực sự là thử thách đối với tôi, cả về mặt thể lực và tinh thần. Sau khóa học SAR, thậm chí tôi còn phải học thêm nhiều hơn, với môn Chiến tranh chống tàu ngầm ở Millington, Tennessee. Mặc dù ở đây cũng chẳng có nơi ở cho những người đã có gia đình, nhưng Laura và tôi đã quyết định thuê một căn hộ nhỏ ngoài căn cứ. Khi có bầu, Laura trở về sống với bố mẹ mình cho đến khi em bé ra đời.

Sau đó lực lượng Hải quân điều tôi đến một phi đội huấn luyện ở Jacksonville, Florida để thực hành tổng hợp những gì tôi đã học ở các khóa huấn luyện lính bay, khóa đào tạo SAR và khóa đào tạo Chiến tranh chống tàu ngầm. Khi còn đang ở Jacksonville, tôi nhận nhiệm vụ thực thụ đầu tiên ở Đội HS-7, hay thường được gọi là “Dusty Dogs”, thuộc biên chế của tàu sân bay USS John F.Kennedy (CV-67). Mặc dù căn cứ chính của Kennedy là ở Norfolk, Virginia, nhưng đội của tôi vẫn nằm tại Jacksonville ngoại trừ khi Kennedy được triển khai ra biển.

Sáng ngày 27 tháng Hai năm 1985, Bobby Powell đến phòng của tôi ở doanh trại và thông báo: “Vợ cậu sắp sinh đấy.” “Trời ơi”, tôi kêu lên. Từ Jacksonville phải mất hai giờ lái xe mới đến được bệnh viện quân sự ở

Fort Stewart, Georgia. Tôi gọi điện cho gia đình Laura.

Bố vợ tôi nghe điện thoại: “Vợ con sinh cháu trai rồi”, ông báo.

Vẫn mặc đồng phục bay, tôi lên xe lái hết tốc lực. Mọi việc ổn cho đến khi chỉ còn 20 phút nữa là đến bệnh viện. Đèn cảnh sát chiếu phía sau xe của tôi, đó là đội tuần tra Đường cao tốc Georgia. Tôi tấp xe vào lề đường và dừng lại. Viên sĩ quan dừng lại phía sau, bước đến cửa xe của tôi: “Đi đâu mà nhanh vậy, con trai?” Bồn chồn và lo lắng, tôi giải thích: “Thưa ông, vợ tôi vừa sinh con và tôi phải đến bệnh viện.” “Bằng lái đâu?” Tôi trình bằng lái.

Ông xem qua nó và nói: “Thế này nhé, tôi sẽ đi cùng anh đến bệnh viện. Nếu chúng ta tới đó và vợ anh thực sự mới sinh con, tôi sẽ trả lại bằng lái cho anh.” Ông ta cho tấm bằng vào túi áo: “Nếu không phải, mời anh về đồn làm việc.”

Ông ta đi cùng tôi đến khu đỗ xe của bệnh viện và cuốc bộ cùng tôi đến phòng của Laura. Trong số những người đến thăm có mẹ tôi. Mặc dù bà vẫn giận vì tôi bỏ nhà đi để cưới Laura nhưng lại rất háo hức với cháu trai của mình. Viên sĩ quan tuần tra dành thời gian trò chuyện cùng bà.

Tôi bế cậu con trai nhỏ đáng yêu của mình lần đầu tiên, tên cu cậu là Blake. Tôi rất tự hào vừa là một người cha vừa là một lính bơi SAR xuất sắc. Cuộc sống thật tốt đẹp. Một lúc sau, tôi phát hiện viên cảnh sát đã biến mất. “Ông cảnh sát đâu rồi mẹ? Con cần lấy lại bằng lái xe”.

Mẹ đưa bằng lái xe cho tôi: “Ông ấy nhờ mẹ chuyển lời chúc mừng con đấy.” Sau khi Blake đủ lớn, hai mẹ con chuyển xuống Jacksonville để ở cùng tôi. Ngày 6 tháng Mười năm 1986, một chiếc tàu ngầm hạt nhân Yankee của Nga (K-219) hoạt động ngoài khơi Bermuda bị bục ở hầm chứa tên lửa. Nước biển lọt vào và phản ứng với chất thải nhiên liệu lỏng của tên lửa gây ra một vụ nổ làm ba thủy thủ thiệt mạng. Con tàu ì ạch chạy về hướng Cuba. Lực lượng đặc nhiệm của tàu John F.Kennedy điều đội trực thăng chúng tôi theo dõi con tàu. Thường thì chúng tôi chỉ bay cách tàu sân bay khoảng 48 km nhưng vẫn được phép bay xa hơn.

Tôi đi giày, mặc một áo bơi ngắn tay được gọi là “áo ngắn” và một quần đùi cotton màu trắng (quần bó trắng). Nhiều đồng đội của tôi mặc quần bơi, nhưng tôi dự trù khả năng có thể phải cứu nạn cho ai đó nên tôi quyết định mặc quần bó màu trắng này. Ở bên ngoài, tôi mặc đồng phục bay. Chúng tôi phát hiện tàu Nga bằng thiết bị định vị tàu ngầm kích hoạt. Chúng tôi liên tục sử dụng sóng siêu âm để theo sát con tàu.

Đột nhiên, phi công nói: “Nhìn nhiệt kế trên bộ truyền lực rôtô chính kìa.”

“Ôi trời…”. Hộp số nóng đến mức biến dạng.

Phi công cố giữ cho máy bay lơ lửng cho đến khi rơi xuống. Chúng tôi không tiếp nước mạnh như tôi tưởng nhưng vẫn đủ mạnh: “Cấp cứu, cấp cứu…”

Là lính bơi đầu tiên, tôi lao tới viên phi công thứ hai để giúp anh gắn mỏ neo và đưa ra ngoài cửa sổ. Tiếp đó, tôi chờ cho hai viên phi công thoát khỏi máy bay qua cửa sổ thoát nạn phía trước rồi lao tới cuối buồng lái, nơi mà tôi thấy người lính bay đầu tiên đã thoát ra ngoài cửa sườn máy bay. Tôi cởi bộ đồ bay ra, đi chân vịt vào, đeo mặt nạ và ống thở. Cuối cùng, tôi đá tung cái phao ra, bơm căng nó lên và giúp hai viên phi công vào phao. Có một lính bơi cứu nạn khác khoảng 40 tuổi. Thay vì thổi phồng áo phao và bơi đến phao cứu nạn, ông ta lại bám chặt lấy một cái thùng ướp lạnh hòng sống sót và trôi dần ra biển. Vì vậy tôi phải bơi đến đưa ông ta trở lại phao. Một ý nghĩ lo âu xuất hiện: Tôi sẽ làm gì nếu chiếc tàu ngầm Nga nổi lên từ ngay phía dưới?

Một chiếc máy bay chống tàu ngầm S-3 Viking bay qua. Tiếng động cơ ầm ì của nó nghe như âm thanh của một cái máy hút bụi. Chiếc máy bay quay trở lại phía chúng tôi ở góc 90 độ, có lẽ là đã nhận ra vị trí của chúng tôi. Ba mươi phút sau, một chiếc trực thăng bay đến. Tôi lấy ra chất phát quang màu xanh, trông như những bánh xà phòng và thả nhanh xuống mặt nước xung quanh phao. Thế là chúng tôi trở thành một mục tiêu xanh khổng lồ phát sáng giúp máy bay phát hiện ra.

Khi chiếc trực thăng xuống thấp hơn, tôi ra dấu đề nghị họ không đưa lính bơi xuống. Tôi kéo tấm kính trên mũ sắt của các viên phi công xuống để những tia nước do cánh quạt trực thăng gây ra không làm đau họ. Sau đó tôi đưa mọi người tới thang cứu nạn và leo lên cùng với người cuối cùng.

Sau khi rơi khỏi máy bay, bơi tới những lính bơi khác và đưa họ đến thang cứu nạn, tôi đã kiệt sức. Bên trong chiếc trực thăng, bạn của tôi, Dan Rucker, cũng là một lính bơi SAR, chỉ ngón tay cái lên trời tỏ ý hoan nghênh. Chiếc trực thăng cứu nạn của chúng tôi hạ cánh trên tàu sân bay. Chúng tôi bước lên boong tàu. Mọi người hoan nghênh, vỗ vai chúc mừng tôi về vụ cứu nạn đó. Đi bộ dọc theo boong tàu, tôi vẫn đeo bộ chân vịt, trông như một vị anh hùng ngoại trừ chiếc quần bó màu trắng. Bây giờ thì đồ lót của tôi đã là quần bó màu xanh có phát quang. Toàn thân tôi bừng sáng do chất phát quang màu xanh. Điều đó làm tôi lúng túng vô cùng. Tôi sẵn sàng bỏ cả triệu đô-la để có chiếc quần bơi khác. Sau đó, chúng tôi kinh hoàng xem lại toàn bộ cảnh tượng lúc trước được ghi lại trên băng ghi hình của con tàu.

Hai tuần trước khi hợp đồng làm việc của tôi với Hải quân hết hạn, tôi chợt chú ý đến một nhóm 5 người đến từ một đơn vị mà tôi chưa từng nghe đến tên: Lực lượng SEAL. Tôi nhớ là hôm đó họ không phải là một tiểu đội 7 hoặc 8 người theo tiêu chuẩn của SEAL. Họ có vẻ giống một đội lính laze: hai người tìm kiếm mục tiêu bằng laze, hai người nhận dạng mục tiêu và một viên đại úy phụ trách, có lẽ đồng thời đảm nhiệm cả khâu liên lạc. Họ ở trong khu vực bến tàu của lực lượng Tìm kiếm và Cứu nạn chúng tôi nên tôi được tiếp cận họ và hỏi chuyện về SEAL.

Trong Chiến tranh Thế giới II, những người nhái hải quân đầu tiên được huấn luyện kỹ năng trinh thám các bãi biển cho máy bay lưỡng dụng (sử dụng được cả trên bộ và dưới nước) hạ cánh. Không lâu sau đó họ học cách phá bỏ các vật cản dưới nước và họ đã được người ta biết đến với tên gọi là Đội phá hủy dưới nước (UDT). Trong Chiến tranh Triều Tiên, UDT phát triển và tiến sâu hơn vào đất liền với nhiệm vụ cho nổ tung cầu cống và hầm ngầm.

Vài năm sau đó, khi chứng kiến sự nổi dậy của Cộng sản ở khu vực Đông Nam Á, Tổng thống John F. Kennedy − người từng phục vụ trong Hải quân thời kỳ Chiến tranh Thế giới II, và một số vị quan chức khác trong quân đội nhận thấy nhu cầu phải có lực lượng lính chiến phi truyền thống. Hải quân liền thành lập một đơn vị có thể triển khai hoạt động cả trên biển, trên không và đất liền với nhân sự chủ yếu từ UDT. Ngày 1 tháng Một năm 1962, Đội SEAL 1 (Coronado, California) và Đội SEAL 2 (Little Creek, Virginia) ra đời.

Một trong những người lính SEAL đầu tiên là Rudy Boesch, một người New York và là đội trưởng

UDT-21. Với mái tóc húi cua trọc lóc, ông hướng dẫn những người lính SEAL mới tại Đội 2 trong huấn luyện thể chất (PT). Trên tấm thẻ quân nhân của ông, phần viết về TÔN GIÁO có ghi PT. Để duy trì thể trạng, Rudy và các bạn cùng Đội chơi đá bóng trong nhiều giờ − 32 người mỗi đội. Gãy chân là chuyện thường xuyên xảy ra. Những người lính SEAL sử dụng nhiều mẹo để tránh né các hoạt động rèn luyện mà Rudy đưa ra, ví dụ như tìm lý do vắng mặt, đi vệ sinh mà không quay trở lại hay lẩn trốn vào các bụi rậm trong quá trình rèn luyện.

Rudy cũng từng đảm nhiệm chức vụ Trung đội trưởng Trung đội 10, đơn vị từng giải cứu cho Trung đội 7 ở Mỹ Tho, Việt Nam vào ngày 8 tháng Tư năm 1968.

Đến cuối cuộc chiến tranh Việt Nam, Đội SEAL 1 và 2 được trao 3 Huân chương Danh dự, 2 Bội tinh Hải quân, 42 Anh dũng bội tinh với Ngôi sao Bạc, 402 Anh dũng bội tinh với Ngôi sao Đồng (một trong số đó là của Rudy) và nhiều phần thưởng khác. Khi một người lính SEAL bị giết thì 200 kẻ thù bị tiêu diệt. Vào cuối những năm 1970, Rudy giúp thành lập Đơn vị Cơ động 6 (MOB 6) và Đơn vị chống khủng bố của Đội SEAL 2.

Những người lính SEAL trên tàu John F. Kennedy chắc là phát chán lên với tôi, nhưng họ vẫn chia sẻ một vài câu chuyện đáng sợ về Huấn luyện Phá hoại Căn bản dưới nước của SEAL (BUD/S). Họ kể cho tôi nghe về nhảy dù rơi tự do, về lặn với bình dưỡng khí, về bắn súng, cho nổ tung mọi thứ và cả việc đi bắt tôm ở đồng bằng. Họ làm việc rất vất vả và chơi cũng thật nhiệt tình. Tình cảm giữa họ thật thân thiết. Một người nói với tôi rằng chính việc cho phép tham gia BUD/S đã tạo động cơ tái ngũ cho anh. Tôi mong được như họ.

Trong đợt ra quân 6 tháng, tàu John F. Kennedy dừng lại ở Toulon, Pháp, quê hương của tàu sân bay Pháp Charles de Gaulle. Tôi nghiêm túc hỏi chuyện viên đại úy SEAL về tiêu chuẩn để trở thành một người lính SEAL. Tái ngũ hay không tái ngũ – đó chính là lá bài quan trọng không thể bỏ qua để mặc cả với Hải quân. Tôi hy vọng một điều kỳ diệu – gặp đúng người đúng lúc. Tôi đến phòng ngủ của viên chỉ huy của mình và gõ cửa.

Ông mở cánh cửa kêu răng rắc.

“Thưa Tư lệnh Christiansen, nếu được phép tham gia BUD/S trước khi hợp đồng của tôi hết hạn, tôi sẽ đăng ký tái ngũ, thưa ông.”

“Anh bạn ngốc nghếch vào đây”, ông mở to cửa và nói.

Tôi bước vào, đứng trước mặt ông. Tôi chợt nghĩ rằng có lẽ tôi đã làm ông khó chịu. Trước đó, tôi tưởng mình đã phục vụ trong một đơn vị tinh nhuệ, nhưng bây giờ tôi biết rằng có một đơn vị còn tinh nhuệ hơn thế. Tôi không thể thỏa mãn với vị trí hiện tại của mình được.

“Cậu không biết cậu đang đề nghị điều gì đâu. BUD/S không phải là điều mà cậu thật sự muốn đâu. Hãy nhận tiền, trở về nhà và học cho xong đi. Cậu không biết trở thành một người lính SEAL phải như thế nào đâu”. Ông mất hơn nửa giờ để nói với tôi rằng tôi đang đề nghị một việc điên rồ.

“Xin cám ơn ông.”

Tỗi vẫn ở lại Pháp, nhưng chỉ ba ngày trước khi tôi trở lại đời sống dân sự, viên sĩ quan điều hành (XO), người được coi là cánh tay phải của viên sĩ quan chỉ huy, cho gọi tôi vào và nói: “Anh là một thủy thủ tuyệt vời và chúng tôi muốn giữ anh lại. Chúng tôi cần làm gì để giữ anh lại trong lực lượng Hải quân?”

“Tôi đã nói với Tư lệnh Christiansen, thưa anh. Nếu anh có thể cho tôi tham gia BUD/S, tôi sẽ đăng ký tái ngũ.”

Tôi đến khách sạn, chuẩn bị bay về Mỹ quay lại cuộc sống thường dân. Hôm trước khi tôi lên chuyến bay của hãng Hàng không Pháp, anh bạn Tim xuất hiện trước cửa: “Sáng nay chúng tôi vừa nhận được một bức điện về quyết định cử cậu tham gia BUD/S.” “Bịa đặt!”

“Nghiêm túc đấy, thuyền trưởng bảo tôi đưa cậu trở lại tàu để ông ấy nói chuyện với cậu.” Họ đang lừa tôi đây. Đó chắc là một cách chia tay thú vị mà thôi. Tôi trở lại tàu và bước vào phòng trực nơi các phi công, thủy thủ đoàn và nhiều người khác đang có mặt. Các sĩ quan cấp tá ngồi trên những chiếc ghế bành có kiểu thiết kế dành cho máy bay dân dụng lớn. Một máy pha cà phê và các tạp chí đặt ở trên bàn. Trên “Bàn Cầu cơ” có mô hình các máy bay thể hiện vị trí của các máy bay trên boong tàu. Một thiết bị giám sát màu đen − trắng hiển thị các điểm hạ cánh trên boong. Viên sĩ quan chỉ huy gọi tôi đến trước mặt. Ông trao cho tôi quyết định điều đến BUD/S. Mọi người vỗ tay và tiễn tôi đi.

Quyết định đó còn phụ thuộc vào việc tôi có vượt qua được bài kiểm tra thể lực cho BUD/S ở Jacksonville hay không. Tôi bay về nhà ở Georgia và Laura lái xe đưa tôi xuống Florida. Trong suốt gần 6 tháng phục vụ trên tàu sân bay, tôi không có nhiều thời gian bơi ngoại trừ khi giải cứu đội bay của chiếc trực thăng bị rơi. Trước đó, tôi chủ yếu tập bơi với chân vịt trong khi bài thi không cho sử dụng bộ đồ này. Tôi cũng không luyện tập kiểu bơi nghiêng và bơi ếch cần thiết cho việc huấn luyện của SEAL. Mặc dù tôi không nhớ chính xác tiêu chuẩn thể lực khi những người lính SEAL kiểm tra tôi trước đây nhưng có vẻ cũng không khác lắm với yêu cầu hiện nay: bơi 500m trong 12,5 phút, nghỉ 10 phút, hít đất 42 lần trong 2 phút, nghỉ 2 phút, nằm xuống đứng lên 50 lần trong 2 phút, nghỉ 2 phút, 6 lần lên xà trước khi bỏ tay, nghỉ 10 phút, chân đi ủng và mặc quần dài, chạy trên quãng đường 2,5 km trong 11,5 phút.

12 người chúng tôi trình căn cước và các giấy tờ khác. Sau đó chúng tôi cởi quần áo bên ngoài cho đến quần bơi. Tôi thấy hồi hộp. Khi tiếng còi cất lên, chúng tôi xuất phát. Khi tôi bơi gần đến cuối đường bơi 500 m, một lính SEAL thông báo thời gian còn lại: “30 giây”. Quyết tâm tranh thủ từng giây bơi thật nhanh, cuối cùng tôi chạm đích khi chỉ còn lại 15 giây. Tuy nhiên, một thí sinh khác đã không được may mắn như vậy.

Còn lại 11 người, chúng tôi mặc áo phông, quần dài và đi ủng. Chúng tôi thực hiện phần hít đất và đứng lên nằm xuống. Một lần nữa tôi lại vượt qua. Có hai thí sinh bị trượt. Sau khi nghỉ 2 phút, tôi nhảy lên bám lấy xà. Áp lực thất bại đôi khi có thể khiến người ta muốn nổ tung. Tôi đạt và hai người khác trượt.

Chúng tôi chỉ còn lại 7 người. Từng phần kiểm tra không quá khó khăn, nhưng thực hiện liên tục, hết phần thi này lại đến phần khác thì quả là thách thức. Chúng tôi bước vào đường chạy. Người lính SEAL chúc chúng tôi may mắn. Một người khác lại trượt. Vậy là 12 người lúc đầu giờ chỉ còn lại 6.

Con số giảm không dừng lại ở đó. Một số thí sinh không đạt đủ điểm cho bài kiểm tra Tổ hợp Kỹ năng Định hướng Quân sự (ASVAB) mà tất cả các ứng viên tiềm năng phải trải qua trước khi được tuyển vào quân đội. Qua các kỳ kiểm tra nha khoa, y tế, không gian bội áp, thêm một vài người nữa phải dừng lại. Một số người lại trượt vì mắt kém hoặc bị mù màu. Một số khác thì do không vượt qua phần kiểm tra tâm lý. Có một bảng câu hỏi tâm lý lặp đi lặp lại một số câu hỏi giống nhau. Tôi không dám chắc là họ đang lưu tâm đến tính tin cậy của bài thi hay là sự kiên nhẫn của tôi. Có một câu hỏi là: “Anh có muốn trở thành một nhà thiết kế thời trang không?” Tôi không biết những người thiết kế thời trang hay là tôi điên khùng nữa bởi vì tôi không muốn là một trong số họ. Một câu hỏi khác là: “Anh có bao giờ nghĩ đến việc tự sát không?” Tôi chưa bao giờ nghĩ đến cho đến khi tham gia phần thi này. “Anh có thích Alice ở xứ sở thần tiên không?” Làm sao tôi biết được? Tôi chưa bao giờ đọc nó cả. Các nhà tiên tri Do Thái cũng sẽ trượt phần thi tâm lý này: “Anh có bị hoang tưởng không?” “Anh có khả năng đặc biệt gì không?”. Sau phần thi viết, tôi gặp nhà tâm lý học và nói với bà những gì mà bà muốn nghe. Tôi đã đạt.

Về phần kiểm tra trong không gian bội áp, căn phòng trông như là một quả ngư lôi lớn vậy. Tôi nghe kể một số người bị ngất khi đang kiểm tra do cảm giác sợ hãi hay do tác động của khí áp hoặc do cả hai. Tôi bước vào bên trong, ngồi xuống và thư giãn: hơi thở chậm, nhịp tim đều. Người sĩ quan chuyên về môn lặn đóng chặt cửa lại. Tôi đi xuống 3 m, 6 m, cảm thấy khí áp gia tăng. Đến khoảng 10 m, tôi ngáp và nuốt khan để làm giảm đôi chút áp suất dồn vào tai. Áp suất trong phòng tương tự như là khi người ta đi vào vùng nước sâu 20m và đứng yên ở đó. Không có vấn đề gì xảy ra. Sau 10 phút ở trạng thái này, viên sĩ quan điều chỉnh giảm dần áp suất cho trở lại mức bình thường.

“Tốt lắm”, ông ta nói.

Trong số 100 thí sinh, tôi là người duy nhất vượt qua tất cả các bài kiểm tra. Tôi hết sức phấn khởi. Laura và tôi về nhà vừa kịp Lễ Tạ ơn. Đầu tháng Giêng tôi mới đến nhận nhiệm vụ ở BUD/S. Tôi rất vui khi được ở nhà với Laura và Blake trong các ngày nghỉ, cười đùa, ăn món thịt gà tây ấm cùng với khoai tây nghiền nóng và nước xốt còn bốc khói.

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Google photo

3. Tuổi thơ khốn khó

Ngay từ khi còn là một đứa trẻ, tôi đã học cách chịu đựng áp lực. Mẹ sinh tôi vào ngày 08 tháng Mười một năm 1961 tại phòng khám Weems Free, bờ biển Boynton, Florida khi bà mới 16 tuổi – một bà mẹ trẻ con nuôi một đứa trẻ. Bà quá nghèo để đến viện khám thường xuyên. Vì thế tôi được sinh non trước hai tháng, và cân nặng chỉ khoảng 1,5 kg với đôi mắt màu nâu đỏ và mái tóc đen. Phòng khám nơi tôi sinh ra tồi tàn đến mức không có cả một cái lồng kính nho nhỏ cho một đứa bé sinh thiếu tháng như tôi. Tôi bé đến mức chiếc nôi trẻ em quá lớn với tôi, nên thực ra mẹ đã đưa tôi về nhà trong một chiếc hộp đựng giày. Chiếc xe đẩy ở nhà cũng quá lớn, nên mọi người sử dụng một chiếc ngăn chạn bát đĩa, lót thêm ít vải xuống dưới làm chỗ cho tôi ngủ.

Mẹ tôi tên là Millie Kirkman, người gốc Scotland. Mẹ là người lạnh lùng, bà hiếm khi thể hiện cảm xúc cũng như sự nhanh nhạy với cuộc sống, bà làm việc quần quật suốt ngày tại một xưởng may để nuôi mấy anh em tôi. Có lẽ tôi thừa hưởng tính khí lạnh lùng và bảo thủ – với quan điểm “không chấp nhận từ bỏ nếu cho rằng mình đúng” từ mẹ mình – quả thật là một sai lầm.

Khi tôi lên chín, mẹ cho tôi biết rằng cha đẻ tôi là Ben Wilbanks, ông đã ruồng rẫy và bỏ rơi chúng tôi. Đó là lý do mà tôi luôn thù ghét ông ấy. Ký ức tuổi thơ đầu tiên mà tôi có được là khi tôi bốn tuổi, tại vùng biển West Palm, Florida. Giữa đêm hôm khuya khoắt, tôi bị đánh thức bởi một gã to lớn nồng nặc mùi rượu tên là Leon – người đang hẹn hò với mẹ tôi. Mẹ tôi gặp hắn khi bà làm hầu bàn tại một trạm dừng xe tải.

Cả hai vừa trở về từ một buổi hẹn hò. Đang nằm ở giường trên cùng, Leon xốc tôi dậy, vặn vẹo tôi vì sao ngày hôm đó tôi làm sai một vài việc. Rồi sau đó hắn tát tai tôi, đấm vào mặt tôi và cả vào mồm khiến tôi chảy cả máu mồm. Đó là cách mà Leon giúp mẹ tôi dạy đứa con trai của bà sống tử tế hơn.

Nhưng đó mới chỉ là sự khởi đầu và không phải khi nào nó cũng diễn ra vào ban đêm. Bất kể khi nào về nhà, hắn ta lại cho mình cái quyền dạy dỗ tôi. Tôi sợ đến phát khiếp mỗi lần biết mẹ sắp hẹn hò, toàn thân tôi run như cầy sấy. Tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Lần này sẽ tệ thế nào đây? Nếu Leon đến nhà khi mẹ tôi sửa soạn đi đâu đó, hoặc khi mà cả hai vừa trở về từ một cuộc hẹn hò thì trận chiến có thể diễn ra. Leon khá “dễ tính” trong việc chọn thời điểm cho tôi ăn đòn. Vào một ngày sau khi tan lớp từ trường mẫu giáo, tôi chạy trốn. Tôi cố tình đi nhầm tuyến xe buýt của trường. Gã này sẽ không thể đánh ta nữa đâu, ta thoát rồi. Xe buýt đưa tôi ra khỏi làng, tới nơi mà tôi không xác định được. Lúc này chỉ còn vài đứa trẻ trên xe. Xe dừng lại và một đứa đứng lên, rồi tôi theo nó xuống xe. Thằng bé cuốc bộ trên con đường bẩn thỉu về nhà. Lúc đó tôi chẳng biết phải làm gì, tôi mới chỉ năm tuổi và không có chút hiểu biết nào. Tôi đành đi đúng theo con đường bẩn thỉu đó cho đến khi tôi giáp mặt một ngôi nhà. Tôi cứ luẩn quẩn quanh ngôi nhà mà không biết phải làm gì ngoại trừ suy nghĩ phải tránh xa con đường lớn ngoài kia. Sau khoảng 2 giờ, một người đàn ông và một người đàn bà về tới ngôi nhà và phát hiện tôi đang trốn ở hè sau để tránh bị phát hiện từ phía đường lớn. Người phụ nữ hỏi: “Cháu tên gì?”.

“Howard ạ”.

“Chắc cháu đói rồi.” Họ đưa tôi vào nhà và cho tôi ăn.

Sau khi ăn xong, người phụ nữ nói: “Này cháu, cô chú phải liên lạc với bố mẹ cháu để đưa cháu về nhà.”

Tôi hoảng sợ, “Không, không được. Xin cô chú đừng gọi mẹ cháu. Có cách nào để cháu được ở lại đây với nhà cô chú không?” Họ cùng cười ồ lên.

Tôi không hiểu việc đó có gì buồn cười, nhưng tôi không kể cho họ hoàn cảnh của mình. “Đừng, xin cố chú đừng gọi mẹ cháu. Cháu ở với cô chú được không?”

“Không được cháu yêu à. Cháu không hiểu rồi. Mẹ cháu chắc đang lo đến chết đấy. Số điện thoại nhà cháu đâu?” Thực tế là tôi không biết. “Thế cháu sống ở đâu?”

Tôi cố hướng dẫn cho họ đường đến nhà tôi ở Hồ Worth, Florida, nhưng xe đã đi qua quá nhiều đường quanh co và ngã rẽ nên tôi không thể nhớ được. Cuối cùng họ đành đưa tôi quay lại trường, tại đó họ thấy dì tôi đang tìm tôi. Kế hoạch trốn chạy của tôi thất bại. Tôi nói dối mẹ tôi là mình đi nhầm xe.

Khoảng một hai năm sau, mẹ tôi lấy Leon. Rồi thời gian ngắn sau đó, cả nhà tôi chuyển tới Screven, Georgia và chúng tôi cùng tới gặp quan tòa. Ngồi trên xe, mẹ tôi bảo: “Khi gặp quan tòa, ông ta sẽ hỏi con rằng con có muốn bác Leon làm bố của con không. Hy vọng con sẽ trả lời là có.” Trong cuộc đời tôi, Leon là điều cuối cùng trên thế giới này mà tôi muốn, nhưng tôi biết chắc là tốt nhất nên chấp nhận, vì nếu không tôi có thể sẽ bị giết khi về nhà. Do đó tôi làm theo lời mẹ nói.

Ngày hôm sau, trước khi đi học bố mẹ tôi dặn hãy “nhớ bảo với bạn bè ở trường là từ nay con không còn là Wilbanks nữa, giờ con là Wasdin.” Tôi răm rắp làm theo lời họ.

Giờ thì tôi đã là con riêng của vợ Leon và phải giáp mặt với ông ta suốt ngày. Khi một con sư tử đực chiếm được một con sư tử cái và những đứa con của nó, sư tử đực sẽ giết tất cả. Leon không giết tôi, nhưng tôi phải trả giá cho bất cứ điều gì mà tôi không thực hiện chính xác như lời hắn nói. Nhiều lúc ngay cả khi làm đúng, tôi cũng phải chịu trận.

Vườn nhà tôi trồng rất nhiều cây hồ đào và việc của tôi là phải hái quả hồ đào. Leon làm nghề lái xe tải, nên nếu mỗi khi hắn về mà nghe thấy tiếng quả hồ đào bể dưới bánh xe, thì tức là tôi phải chịu lỗi. Hắn chẳng thèm quan tâm là sau khi tôi đã lượm hết thì lỡ có quả nào rơi xuống hay không. Lỗi của tôi là không chăm chỉ và không biết việc. Khi đi học về, tôi phải tới thẳng phòng ngủ và nằm ra giường để cho Leon dùng roi da đánh tôi không thương tiếc.

Ngày tiếp theo ở trường, tôi phải cố gỡ quần lót ra khỏi lớp máu khô và đóng vảy ở mông để ngồi xuống khi đi vệ sinh. Tôi chưa bao giờ tin vào Chúa, nhưng cũng đã có lúc tôi cầu xin Người: “Xin Người hãy giết chết Leon.”

Chịu đòn quá nhiều, tôi đã đạt đến ngưỡng không còn sợ mỗi khi chiếc roi da từ tay gã đàn ông nặng hơn 100 kg quật lên lưng, lên mông và chân tôi. Hãy nằm yên. Đừng lăn lộn. Làm thế không thay đổi được gì đâu. Hãy chịu đựng nó. Tôi cứ nằm trên giường, mắt nhắm nghiền lại và hình dung tới những vết thương. Việc tôi cứ nằm chình ình như cái xác chết càng khiến Leon thêm điên tiết.

Phi vụ bắn tỉa đầu tiên của tôi là sau mùa Giáng sinh, khi tôi bảy tuổi. Một thằng to con hơn so với tuổi lên 10 của nó, tên Gary, là đầu gấu ở trường đánh một trong những đứa bạn của tôi. Chiều hôm đó, tôi tụ tập thêm bốn chiến hữu. Chúng tôi thừa biết là Gary quá to lớn nên không thể đánh lại hắn được, nhưng lúc đó chúng tôi đứa nào cũng có súng BB cho ngày Giáng sinh. Tôi bảo: “Sáng mai mang súng tới trường. Chúng mình sẽ đợi nó ở gốc cây cạnh sân trường và bắn nó khi nó đi ngang qua.” Để đến trường, Gary phải đi qua một con đường hẹp, chính việc này tạo thuận lợi cho chúng tôi chọn điểm phục kích hắn. Ngày hôm sau, cả hội chúng tôi cùng đợi hắn. Chúng tôi có lợi thế chiến thuật là đông người, có vũ khí và lại ở cao hơn. Khi Gary vừa vào khu vực nã đạn, chúng tôi nổ súng vào hắn. Có thể bạn sẽ cho rằng Gary sẽ tháo chạy ngay từ phát đạn đầu tiên, nhưng nó không chạy. Nó đứng chịu trận như đang bị một đàn ong tấn công. Nó cứ ôm lấy vai, lấy lưng và lấy đầu mình. Chúng tôi tiếp tục bắn. Lúc đó, một bà giáo ở trường tên là Waters chạy tới và quát ầm lên. Rồi một giáo viên nữa quát nạt và chúng tôi chạy tán loạn ra khỏi gốc cây. Gary nằm oằn mình dưới đất và thở dốc ra như khóc. Tôi thấy tội cho nó vì đầu nó – nơi bọn tôi nhằm vào là chủ yếu, đang chảy máu, nhưng tôi cũng thấy là nó đáng bị đánh như thế vì hôm trước nó đã đánh bạn tôi. Áo của Gary lộn cả về đằng lưng. Một thầy giáo dùng khăn tay để băng mặt cho Gary.

Cả bọn chúng tôi bị triệu tập lên phòng Hiệu trưởng. Cảnh sát địa phương cũng có mặt ở đó, cố không bật cười vì trò đùa của chúng tôi. Tôi giải thích, “bạn ấy lớn hơn tất cả bọn em, nhưng hôm qua bạn ấy đã đánh bạn Chris.” Trong suy nghĩ của mình, tôi không hiểu là chúng tôi sai ở chỗ nào. Nhà trường tịch thu súng của chúng tôi và mời bố mẹ chúng tôi tới. Hiển nhiên bố dượng đã cho tôi ăn đòn tơi tả khi về nhà.

Một vài năm sau, trước khi tham gia vào SEAL, tôi về nhà vào kỳ nghỉ phép của lính Hải quân. Tôi ngồi trên xe do Gary lái, giờ hắn là lái xe cho bố tôi. Gary hỏi tôi: “Cậu nhớ lần bắn tôi bằng súng BB không?”

Tôi gượng gạo trả lời: “Ừ, nhớ. Cậu biết đấy, lúc đó mình đều là trẻ con mà.” “Không, không, không sao mà.” Gary chỉ vào vai trái và bảo: “Chỗ này giờ cũng ổn rồi.” Tôi sờ vào vai trái của cậu ta – và tôi cảm nhận được hình viên đạn BB dưới làn da cậu ấy.

“Đôi khi những vết đạn làm tôi đau đấy”, giọng cậu ta rất thật: “Có lúc nó khiến tôi đau ở đầu, lúc lại đau ở vai”. “Ôi anh bạn! Tôi vô cùng xin lỗi!”

Sau đó chúng tôi cùng uống bia và cảm thấy buồn cười về chuyện đã xảy ra.

Khi lên tám tuổi, tôi quay lại Florida với dượng mình cùng một vài người khác để làm nghề bán rong, tức là rong ruổi khắp mọi nẻo đường bán hàng trên một chiếc xe tải nhỏ không mui. Tôi ngồi phía sau bán hàng trong khi một gã nghiện rượu cổ đỏ ửng tên là Ralph Miller lái xe. Hắn thường dừng xe ở cửa hàng rượu. “Tao dừng đây để vào mua ít nước cà chua. Mày thích uống không?”

“Chắc là có.”

Hắn vào mua một bình nước cà chua cho tôi. Tiếp đó hắn mua một ít nước cà chua màu nhạt, mùi thơm thơm trộn lẫn với hành, cần tây, vài thứ gia vị khác và một tý chút nước trái cây Mott Clamato.

Ralph thích uống loại này.

Một lần khi đang ngồi trên thùng xe tải, tôi lén nhìn vào phía trong cabin. Ralph mở khóa túi quần

và lôi ra một chai rượu vodka, rồi trộn rượu vào nước Clamato. Làm thế có gì hay ho nhỉ? Gã này lại làm hỏng thức uống Clamato ngon lành này rồi!

Chúng tôi lái xe quanh những khu vực nguy hiểm nhất của thị trấn để bán dưa hấu, dưa vàng. Một lần khi xe của chúng tôi dừng lại ở một thị trấn tên là Dania, có hai gã đến thùng xe hỏi giá dưa. Một gã lấy một quả dưa, đặt vào trong xe hắn rồi bước về phía cabin như để trả tiền cho Ralph.

Đoàng! Tôi quay lại và thấy gã đó đang hướng một khẩu súng lục ổ quay .38 vào Ralph. Chân của Ralph đang chảy máu. Ralph run rẩy đưa cho gã đó ví tiền.

Gã cầm súng hất hàm hỏi Ralph: “Mày nghĩ tao không dám bắn mày chắc?” Tôi toan chạy khỏi xe.

Tên còn lại quát tôi: “Ngồi yên”. Sau đó gã hướng súng vào tôi. Tôi nhảy qua hàng ghế trên thùng xe và giật mạnh báng súng, lo sợ bị bắn bất cứ lúc nào. Tôi chạy nhanh đến mức mà chiếc mũ cao bồi màu đỏ nho tôi mua từ cửa hàng giá rẻ Grandma Beulah bay khỏi đầu. Trong một thoáng tôi đã nghĩ tới việc quay lại nhặt mũ, song tôi quyết định không vì nếu tôi quay lại, gã kia sẽ bắn tôi.

Tôi trốn quanh hai mô đá và thấy Ralph lê người tới buồng điện thoại ở trước cửa hàng tạp hóa.

Tôi rất mừng vì Ralph vẫn còn sống. Ralph gọi một xe cứu thương.

Cảnh sát tới ngay trước khi xe cứu thương xuất hiện. Nghe cảnh sát thẩm vấn Ralph, tôi biết rằng Ralph bị hai tên cướp yêu cầu đưa tiền chứ không phải là đưa ví. Do đó Ralph mới bị bắn.

Trong khi Ralph vào viện để băng bó vết thương thì cảnh sát đưa tôi vào đồn cảnh sát Dania. Nhân viên điều tra thẩm vấn tôi, rồi đưa tôi quay lại hiện trường để nghe tôi thuật lại sự việc. Họ có chút nghi ngờ song cũng nhận thấy là tôi còn quá nhỏ và lại bị sốc vì phải chứng kiến những điều vừa xảy ra. Đó là lần đầu tiên tôi được tiếp xúc với những người lính chuyên nghiệp. Họ dành thời gian cho tôi, kể cho tôi nghe về công việc của một cảnh sát và cho tôi biết họ đã phải làm gì để trở thành cảnh sát. Một viên cảnh sát chống ma túy cho tôi xem những loại ma túy khác nhau mà họ thu được trên đường. Họ để tôi đi quanh đồn cảnh sát, rồi một y tá ở phòng bên chỉ tôi toàn bộ trang thiết bị. Nhân viên y tế thậm chí còn cho tôi chơi trò trượt tuyết. Tôi sẽ mãi không bao giờ quên được họ.

Đêm hôm đó, tôi được một nhân viên điều tra đưa về nhà ông ấy để ngủ lại vì họ vẫn chưa tìm ra được bố tôi. Vợ ông ta hỏi tôi: “Cháu đã ăn gì chưa?”.

Từ sau bữa sáng đến giờ tôi chưa ăn gì, vì thế tôi đáp: “Chưa, thưa bà.” “Thế cháu có đói không?”

“Hơi đói ạ.”

“Được rồi, để cô làm gì đó cho cháu ăn nhé!”

Ông cảnh sát nói: “Bọn anh đưa nó vào đồn từ chiều nay, nhưng chẳng ai nghĩ tới việc cho nó ăn cả.”

“Các anh không biết nó là một đứa bé đang tuổi ăn tuổi lớn à?” Bà ta mang ra cho tôi một đĩa đồ ăn.

Tôi ăn ngấu nghiến. Ước gì tôi có thể ở với những con người này mãi mãi… Ăn xong, tôi đi ngủ. Sáng hôm sau tôi được gọi dậy lúc 5 giờ, viên cảnh sát đưa tôi quay lại đồn. Tại đó bố dượng và bác Carroll đang chờ tôi. Hai người có một vườn dưa hấu, nơi tôi làm việc sau giờ học và trong suốt mùa hè. Hai người này chỉ biết đến công việc. Khi không làm ở nông trại, họ làm nghề lái xe tải. Kể từ khi tôi làm việc phụ thêm với gia đình, mối quan hệ của tôi và dượng (nay đã bỏ rượu) đã tốt hơn. Ở miền Nam Georgia, nơi cái nóng có thể đạt đến gần 40 độ C và độ ẩm lên đến gần 100%, tôi thường đi khắp vườn dưa để thu hoạch những quả dưa hấu nặng đến gần 15 kg, xếp tất cả thành một hàng dọc và lăn dưa qua bên kia đường, sau đó chuyển lên thùng xe tải. Một trong số những người lớn tuổi hơn tôi sẽ lùi xe tải tới một xe moóc 18 bánh và tôi giúp họ chất dưa lên xe. Sau khi chuyển hàng ngàn quả dưa lên xe, sáng sớm hôm sau tôi theo xe tải lên vùng Columbia, miền Nam Carolina để bán dưa. Tôi có khoảng hai tiếng để ngủ trước khi quay về.

Khi có vài tiếng rảnh rỗi, gia đình tôi cũng đi picnic. Từ một trong những chuyến đi như vậy, tôi đã tự học được cách bơi qua những chỗ nước lặng ở sông Little Satilla. Trước đây tôi chưa biết chút kỹ thuật bơi nào, nhưng cũng phần nào cảm nhận được khi tắm ở nhà. Cả nhà tôi tới đó vài lần vào cuối tuần để bơi, câu cá vược, cá thu, cá chim cổ đỏ và cá mang xanh.

Cũng có lúc sau khi làm việc ở vườn dưa xong, cả nhóm chúng tôi cùng tới bơi trong làn nước đen ngòm ở hồ Grace. Do tác động của axit tannic từ cây thông và các loại rau khác nên nước ở cả sông Little Satilla và hồ Grace đều đen tới mức mà vào những ngày đẹp trời, bạn cũng không thể thấy chân mình dưới nước. Vào mùa hè, chuồn chuồn bay tới đây để săn muỗi. Từ bìa rừng bao quanh hồ, tiếng kêu của sóc hòa lẫn tiếng vịt và tiếng gà tây rừng. Những dòng nước đen ngòm đó luôn ẩn chứa vẻ đẹp bí hiểm.

Khi lên 14 hay 15 tuổi, tôi điều hành nhóm công nhân vườn dưa. Tôi thường đi từ vùng người da trắng sinh sống, theo một con đường mòn tới Quarters – khu vực sinh sống của người da màu. Tôi chở từ 15 đến 20 người làm đến vườn dưa ngày hôm đó, phân công công việc và cùng làm với họ, nhưng thực chất thì họ làm việc nhiều gấp đôi tôi.

Sau một ngày làm việc, cả nhóm chúng tôi lại tới hồ Grace để tổ chức thi bơi xem ai bơi được xa nhất tính từ chân cầu. Những chuyến đi picnic của gia đình giúp tôi cải thiện được khả năng bơi lội của mình. Khi bơi dưới làn nước đen nâu, miệng tôi khép hờ và thở ra một ít. Khi tôi lên bờ, có người còn bảo: “chắc là cậu xì hơi rồi, làm sao mà cậu nín thở lâu thế được!” Những lúc như vậy là dịp hiếm hoi tôi được thoải mái và vui vẻ. Thỉnh thoảng vào buổi tối, chúng tôi đốt lửa trại và chuyện trò.

Bố dượng không ngăn cấm chúng tôi dành vài giờ đi bơi hay câu cá, nhưng chúng tôi không bao giờ được đi săn. Ông cũng có lần cho tôi bắn súng, nhưng đi săn thường phải mất cả ngày. Như vậy thì sẽ bỏ bê công việc. Ông ấy chỉ chú tâm đến công việc. Nếu tôi làm sai hay lười biếng, ông sẵn lòng cho tôi ăn đòn.

Ở trường cấp hai, một hôm, tôi bị đau chân khi chơi đá bóng trong giờ thể dục. Thầy giáo tôi bảo “Để thầy xem hông em có việc gì không!” Ông kéo quần tôi xuống để kiểm tra hông phải và ông nhìn thấy dấu vết còn lại từ trận đòn của dượng tôi, kéo từ phần dưới lưng tới phần đùi. Ông giáo há hốc mồm và thốt lên: “Ôi! Chúa ơi…” Sau khi kiểm tra xong, ông kéo quần tôi lên và không nói thêm lời nào nữa. Trong những ngày tiếp theo, cuộc sống gia đình tôi vẫn vậy. Nhưng tôi cứ có cảm giác lung túng vì đã có người phát hiện ra bí mật của mình.

Dù cho những chuyện đã xảy ra, tôi vẫn yêu bố mẹ mình. Đó không phải hoàn toàn là lỗi của họ vì họ không được học hành và không biết cách dạy dỗ trẻ con. Họ đã làm tất cả để cả gia đình đủ ăn đủ mặc. Theo Tháp nhu cầu của Maslow, chúng tôi không bao giờ đạt tới tầng tự thể hiện bản thân (tầng thứ 5 trong tháp) vì chúng tôi hiện đang ở đáy tháp – chỉ cố để có đủ cơm ăn áo mặc. Về cơ bản, bố mẹ tôi không bao giờ dùng những lời cay nghiệt. Họ là những người tin vào Chúa. Chủ nhật nào mẹ cũng đưa mấy anh em tôi tới nhà thờ. Họ thấy cách nuôi dạy con cái của mình chẳng có gì sai cả.

Là anh cả của mấy anh em, bố dượng muốn tôi chăm sóc các em gái của mình là Rebecca, Tammy và Sue Anne. Cô em Tammy nói luôn miệng và hay tác oai tác quái. Từ khi vào học cấp một, không biết đã bao nhiêu lần tôi phải bênh vực cho cái tội vạ miệng của nó. Khi tôi đang học lớp 5, cô bé chửi một cậu bé học lớp 8. Hậu quả là cậu ta đấm thẳng vào mặt tôi, tặng cho tôi một quầng đen trên mắt, một chiếc mũi gãy và một cái răng sứt. Khi về nhà, bố tôi là người tự hào nhất mà chẳng quan tâm đến việc Tammy đã làm những điều xằng bậy và gây sự đánh nhau. Tôi trông chẳng khác nào một con vật hiến tế. Tuy nhiên, tôi biết dù cho cậu bé kia có đánh tôi tàn bạo đến đâu, nhưng nếu tôi không cho cậu ta đánh, thì chắc chắn dượng tôi còn đánh tôi tàn bạo hơn nhiều. Vào một buổi chiều khi tôi 17 tuổi và đang nghỉ hè ở nhà, tôi vừa đi làm cả ngày ở vườn dưa về, tôi tắm táp, sau đó ra phòng khách ngồi, chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi. Một lát sau, Tammy đi đâu về, vừa đi vừa khóc.

Tóc vẫn còn ướt, tôi hỏi: “Có chuyện gì đấy?” “Đầu em bị đau.”

“Sao mà đầu em lại đau?” Tôi sờ đầu em nó và thấy một cục u ngay trên đỉnh đầu. Tôi hỏi: “Ở đây có đau không?”

Tammy kể: “Bọn em đang chơi bóng rổ ở nhà thờ. Khi em vừa ghi điểm, Timmy nhặt bóng lên và ném bóng vào người em nên em ném ngược vào người nó. Nó chộp được em rồi khóa đầu em lại. Sau đó nó đấm vào đầu em.”

Tôi ra ngay khỏi phòng. Giờ thì tôi như con bò tót đối mặt với màu đỏ, nhưng tôi hoàn toàn tự chủ. Tôi rời khỏi nhà, qua cổng, vọt qua hàng rào xích và chạy thẳng tời nhà thờ First Baptist. Lũ trẻ cùng cha mẹ chúng đang rời nhà thờ sau giờ học Kinh thánh mùa hè. Mấy người trợ tế đứng ở phía cửa nhà thờ. Tôi phát hiện ra Timmy – người đã đánh em gái tôi. Tôi và nó cùng tuổi. Nó quay lại đúng lúc thấy tôi đi tới. Timmy hét toáng lên “Howard, chúng ta cần nói chuyện đã.” “Không cần đâu, thằng chó chết.” Tôi giáng một cú vào má phải, rồi quật ngã nó. Tôi chụp lấy đầu và ngồi lên lưng Timmy rồi đánh nó nhừ tử, miệng văng tục liên hồi. Tất cả những gì tôi nghĩ tới lúc này là em gái của tôi đang khóc với một cục u trên đầu.

Một người trợ tế cố lôi tôi ra, song nên nhớ tôi đang 17 tuổi và luôn làm việc quần quật từ nhỏ tới giờ. Phải thêm một số người trợ tế nữa mới kéo được tôi ra. Cha Ron xuất hiện. “Howard, dừng lại.” Tôi tin và tôn trọng cha Ron. Cha giống như người anh tinh thần của cả thị trấn này vậy.

Tôi dừng tay. Cha Ron là người đã dừng được cuộc ẩu đả.

Đen đủi thay, vụ việc này lại châm ngòi cho một mối thù. Bố của Timmy là một kẻ giống như bị tâm thần, trong khi dượng tôi là người nóng tính. Ông ta không bao giờ chùn bước trước ai.

Gã tâm thần lái xe tới nhà tôi. Dượng tôi gặp gã ở trước cửa nhà.

“Tôi mà gặp thằng nhãi con ông ở đâu đó thì nó sẽ không tự về nhà được đâu.” − tâm thần dọa.

Dượng tôi đi vào nhà và chộp lấy khẩu súng ngắn. Khi ông vừa bước ra trước nhà thì gặp ông nội tôi đi cùng Cha Ron đến. Bố tôi định nhắm thẳng vào mông của gã tâm thần. Song nội tôi và Cha Ron đã ngăn ông lại.

Những tuần tiếp theo thực sự rất căng thẳng với tôi. Đi đâu tôi cũng phải để ý phía sau xem có gã nào theo mình không. Timmy cũng có hai anh trai nữa. Tôi phải tụ tập anh em lại để bảo vệ mình và không bao giờ dám đi đâu một mình. Cha Ron gặp mặt cả bố và nội tôi ở nhà thờ. Hóa ra mọi chuyện diễn ra không phải như những gì phát ra từ cái mồm láu cá của em gái tôi. Tammy đã gây chuyện gì đó với Timmy. Sau đó Timmy chỉ dùng ngón tay cốc đùa vào đầu Tammy. Tôi đã từng nghĩ đó là cú đấm vào đầu thay vì những gì diễn ra trong thực tế. Cha Ron khuyên chúng tôi nên bỏ qua vụ việc. Giờ thì tôi biết là rắc rối to rồi.

Nhưng bố tôi lại bảo: “Này con trai, nếu là bố thì bố cũng làm tương tự, ngoại trừ việc văng tục liên mồm giống như con làm trong sân nhà thờ.”

Tôi xem hành động đó như là để bảo vệ phẩm giá. Mặc dù bố tôi cũng có lỗi, song với ông, bảo vệ gia đình luôn rất quan trọng và tôi qúy trọng ước muốn bảo vệ tôi của ông. Cha Ron là người gắn kết cộng đồng này và chính cộng đồng này đã giúp hình thành tính cách của tôi.

Bên cạnh Cha Ron, một người khác cũng có ảnh hưởng đến tôi là bác Carroll – anh trai của bố. Ông ấy không phải là người nóng tính và dù không phải là người học nhiều, song ông rất thông minh, đặc biệt trong đối nhân xử thế. Bác Carroll có bạn bè ở khắp nơi. Chính bác đã dạy tôi lái xe tải vì bố Leon không đủ kiên nhẫn để dạy tôi. Bố Leon có thể nổi giận ngay cả lần đầu tôi bốc nhầm dưa, lái xe sai hay bất cứ lỗi gì. Trong khi bác Carroll lại dành thời gian để giải thích mọi thứ cho tôi. Khi tôi họclái xe 18 bánh, bác Carroll bảo: “Không, Howard à, đáng lẽ cháu không nên quay trục xe ngay lúc này. Cháu nên tăng vòng quay thêm một ít đã. Rồi bây giờ thì về số và tiếp tục đi.” Tôi học được nhiều điều từ bác Carroll. Tôi và bố Leon có thể cùng lái xe từ bờ biển West Palm, Florida tới Screven, Georgia, liên tục 8 tiếng mà chẳng mấy khi nói chuyện với nhau. Hai bố con tôi không có chuyện gì để nói với nhau hết. Nếu có, thì đó là những câu đại loại như, “Con muốn đi tắm không?”. Ngoại trừ những nhu cầu cá nhân hay ăn uống, hai cha con chẳng nói gì nữa. Bố mẹ tôi thường bảo chúng tôi là “Con cái là để ngắm, không phải để nghe.” Nhưng họ cũng không phải hoàn toàn xấu. Nếu chúng tôi ra đường và nói ra điều gì, trong khi không ai hỏi mình thì khi về nhà, chúng tôi biết điều gì sẽ dành cho mình. Bác Carroll là người duy nhất thể hiện tình thương đối với tôi. Bác thường quàng tay ôm lấy vai tôi khi biết dượng lại đánh tôi một cách tàn nhẫn vào chân. Bác luôn động viên tôi, thậm chí là chỉ bằng một lời nói yêu thương lúc cần thiết. Nếu tôi và bác cùng đi xe, hai bác cháu sẽ dừng lại để ăn sáng và ăn trưa tại nhà hàng. Trong khi với dượng, hai bố con sẽ đi vào một cửa hàng tạp hóa và mua một ít xúc xích với pho mát rồi lên xe để làm thành món bánh sandwich. Leon không muốn dừng lại lâu. Đáng quý nhất là bác Carroll luôn động viên tôi. Ảnh hưởng của bác với tôi thậm chí là còn hơn cả Cha Ron. Nếu không có họ, có lẽ tôi đã có những hành động ngu xuẩn. Thậm chí là tự kết liễu đời mình.

Những năm trung học, tôi học trở thành chuyên viên tin học tại Quân đoàn Huấn luyện Sĩ quan Dự bị Trung cấp (JROTC) của Không quân. Tôi yêu JROTC, yêu cả những quy định, cơ cấu của tổ chức này cũng như bộ quân phục đẹp đẽ. Tôi luôn là một học viên xuất sắc: cả trong xếp loại sĩ quan cũng như trên cương vị là chỉ huy tổ quân kỳ. Điều đó cho tôi công việc để làm và cũng để vượt lên trên người khác. Khi đèn được bật lên, tôi hiểu được rằng tôi có thể dễ dàng trở thành người xuất sắc nhất. Tuy nhiên khi tiếp xúc với phụ nữ, tôi lại là kẻ đến sau. Vào tháng Mười, tức là một tháng sau sinh nhật 18 tuổi của tôi, tôi hỏi bạn mình: “Hôn kiểu Pháp thì phải làm thế nào nhỉ? Cậu làm thế nào?”

“Howard, thế này nhé, sáp lại cô ta, đặt môi mình lên môi nàng, luồn lưỡi vào trong, rồi sau quấn chặt lấy nàng.”

Tôi cần phải có một bạn nhảy đi cùng đến buổi khiêu vũ của JROTC. Một anh bạn cùng đơn vị của tôi có em gái tên là Dianne, mọi người đều gọi cô ấy là Dee Dee. Tôi chẳng mấy khi nghĩ về cô ấy, nhưng giờ thì tôi đã nghĩ đến việc có thể cô ấy sẽ cùng tới buổi khiêu vũ với mình. Lo lắng và hồi hộp, tôi mời Dee Dee: “Em đi tới buổi khiêu vũ cùng anh nhé?” “Dạ vâng,” − cô ấy đáp.

Sau khi khiêu vũ xong, cô ấy bảo tôi “Mình đi tới nhà Đèn ma đi.” Tôi đưa cô ấy tới nơi người ta đồn là có bóng ma không đầu của một công nhân đường sắt lang thang trên đường ray tìm kiếm gì đó, tay cầm một chiếc đèn lồng.

Khi tôi dừng xe, người tôi như cứng lại. Khi nào thì mình nên đặt môi lên môi cô ấy? “Luồn lưỡi vào và quấn lấy cô ấy” nghĩa là cái quái gì? Mình có nên luồn lưỡi theo vòng tròn không? Mình nên làm gì? Tôi cứ cố thoát ra khỏi những suy nghĩ đó. Tôi định bảo với Dee Dee, em này, chúng ta nên về thôi. Nhưng cô ấy đã tiến sát đến gần tôi, chờ đợi. Mặt cô ấy ngay trước mặt tôi. Rồi cô ấy chủ động hôn kiểu Pháp. Chẳng cần nói gì nữa, đây rõ ràng chẳng phải là môn học Vật lý lượng tử, như thế là ổn. Chúng tôi thành một đôi cho đến mùa xuân năm sau.

Buổi hòa nhạc mùa xuân sắp diễn ra, nhưng một gã nào đó đã mời Dee Dee trước tôi rồi. Suốt giờ học môn Kinh tế học, tôi cố mời Laura, bạn của Dee Dee cùng tới buổi hòa nhạc – đó là cuộc hẹn đầu tiên của chúng tôi. Laura dáng người đẹp và nảy nở. Khi buổi hòa nhạc kết thúc, chúng tôi đã hôn nhau lần đầu tiên ngay trong ô tô. Laura hôn tôi và tôi không cưỡng lại. Bởi tôi lớn lên trong một gia đình không có sự biểu hiện của tình thương, nên sự quan tâm của Laura dành cho tôi vô cùng ý nghĩa.

Nghĩ về quãng thời gian thanh niên, tôi vẫn nhớ phi vụ trinh sát đầu tiên của mình. Khi ở Screven, Georgia, chúng tôi không phải làm gì nhiều, nên thỉnh thoảng lại tự tạo niềm vui cho mình. Có một lần vào tối thứ Sáu, Greg, Phil, Dan và tôi lái xe xuống phía bờ sông. Chúng tôi thấy một cái va li cũ có lẽ là rơi ra từ xe của ai đó. Chúng tôi mở ra và chỉ thấy một ít quần áo trong đó. Chúng tôi quẳng nó lên thùng xe tải của Greg và chẳng nghĩ gì về nó cả. Khi chúng tôi dựng trại ở bờ sông, cùng ngồi quanh đống lửa uống bia với thịt bê nướng thì một con mèo ghẻ lở và gầy nhom xuất hiện. Nó chắc là mèo hoang nên chẳng dám đến gần chúng tôi, nhưng con mèo chắc là đói lắm. Chúng tôi ném cho nó một miếng bê nướng, con mèo vồ lấy và nhai ngấu nghiến. Một người trong chúng tôi bắt chước động tác của loài mèo thì con mèo nổi quạu ngay – móng vuốt và răng nó nhe ra. Tội nghiệp con mèo. Chúng tôi dùng cái va li làm cái bẫy bắt mèo bằng cách chống nắp va li lên và cho một miếng bê nướng vào trong. Khi con mèo mò vào trong va li, chúng tôi thả nắp va li xuống và kéo khóa lại. Chúng tôi cười toáng lên, rồi khi nghe con mèo kêu như điên dại trong chiếc va li càng làm chúng tôi khoái trá hơn. Con mèo cứ kêu cho đến khi kiệt sức.

Tôi chợt nảy ra một ý kiến. “Anh em biết là khi thấy cái va li, bọn mình đã muốn mở nó ra như thế nào? Vậy nếu mình đặt cái va li dọc đường, thì ai đó bắt gặp cũng sẽ dừng lại và mở nó ra.” Thế là chúng tôi mang cái va li ra phía đường và dựng nó ở gần một cây cầu. Sau đó chúng tôi nấp ở gần đó bằng cách nằm sát mặt đất trên một con dốc ở gần đường. Chúng tôi đợi một lúc thì có một chiếc xe chạy qua. Song xe này không phát hiện ra. Đúng là lái xe không thèm quan sát gì.

Rồi chiếc xe khác tiến tới và đèn phanh sáng lên. Sau đó nó vượt qua cái va li, quay một vòng chữ U và quay lại. Nó vượt qua chỗ chúng tôi nằm và quay tiếp một vòng chữ U, cuối cùng nó dừng lại sát cái va li. Một bà béo da đen bước ra và nhặt lấy cái va li. Sau khi quay về xe và đóng cửa, chúng tôi nghe tiếng nói chuyện rất rôm rả, tưởng như họ vừa nhặt được một hòm châu báu vậy. Chiếc xe di chuyển. Đột nhiên, đèn phanh xe bật sáng và cả rung lắc như người đứt hơi. Ba trong bốn cửa xe mở tung ra, rồi ba người nhảy phốc ra khỏi xe chửi rủa ầm ĩ. Chúng tôi cố nín cười.Một người trong bọn họ vứt cái va li xuống sườn đồi. “Đuổi nó cút khỏi ghế sau đi!” một người khác hét toáng lên. Một người khác chộp lấy một cái gậy và chọc vào trong xe để đuổi con mèo ra. Cuối cùng thì con mèo cũng thoát được ra ngoài. Chúng tôi chẳng mong là họ mở cái va li ở trong xe khi xe đang chạy vì chúng tôi không ý định làm hại ai. May là không ai bị thương. Từ vụ này, chúng tôi có thêm một câu chuyện để kể cho vui vào ban đêm. Tôi dám cá là những người đó sẽ không bao giờ dám nhặt bất cứ thứ gì trên đường nữa. Đó cũng là lần đầu tiên tôi thực hiện hoạt động quan sát bí mật.

Khi tốt nghiệp trung học, tôi đã cao trên 1m80 và dành dụm đủ tiền để mua một chiếc ô tô, theo học tại một trường công giáo là Đại học Cumberland ở Williamsburg, Kentucky. Nhưng chuyện đi làm để dành tiền cho chiếc Ford LTD màu xanh đời 1970 của tôi đã xôi hỏng bỏng không vì Tammy đã ngốn hết khoản tiền mua xe của tôi trước khi tôi rời khỏi nhà, do đó tôi phải đi bằng xe buýt. Trước khi bước lên xe, mẹ tôi bảo bố: “Anh ôm Howard đi.” Sau đó bà bảo tôi: “Lại ôm dượng đi con.” Leon dang rộng hai cánh tay và hai bố con tôi gượng gạo ôm nhau. Đó là lần đầu tiên hai bố con tôi ôm nhau. Tiếp đến tôi ôm nhẹ mẹ mình. Tôi lên xe mà lòng vui sướng vì đã thoát khỏi chốn địa ngục này.

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Dịch giả: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 18

Quốc Vương Umberto II – thuộc dòng dõi Savoy – là người có bản chất tâm địa hiền hòa. Do đó, ngài được người dân Ý lúc đó cảm mến, quí trọng. Ngài chấp thuận cho thực hiện một cuộc trưng cầu dân ý, theo đó, nước Ý chọn chế độ Cộng hòa hay chế độ quân chủ trên danh nghĩa. Ngài chẳng ham làm vua khi lòng dân không thuận. Về vấn đề này, ngài cũng giống như đức tiên vương. Dòng họ Savoy chưa bao giờ là những nhà cai trị có tham vọng. Dưới các triều đại của dòng họ ấy, trên thực tế, nước Ý thực sự là một nước theo chế độ dân chủ đại nghị. Đúng hơn, đó là một chế độ đề cao quyền lực của quốc hội. Theo các chuyên viên chính trị, chắc chắn cuộc trưng cầu dân ý sẽ thuận lợi cho vương triều.
Đảo Sicily được kể trong số những vùng tuyệt đại đa số phiếu chấp thuận duy trì nguyên trạng. Tức là duy trì vương triều. Tại Sicily lúc đó có hai thế lực “đen” mạnh nhất chi phối: Một, do Guiliano kiểm soát vùng Bắc hòn đảo; một, do Ông Trùm Croce và đám “Người anh em” kiểm soát phần còn lại. Guiliano không ủng hộ phe đảng chính trị nào. Trong khi đó, Ông Trùm và đám Mafia dồn mọi nỗ lực cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo và duy trì vương triều.
Kết quả cuộc trưng cầu dân ý đã làm cho vương triều – dù là trên danh nghĩa – vào viện bảo tàng. Nước Ý trở thành một nước cộng hòa. Và thế lực cánh tả gồm phe xã hội và cộng sản tỏ ra mạnh mẽ, làm cho chính phủ của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo lúng túng, lung lay, có nguy cơ sập tiệm. Cuộc bầu cử toàn quốc sắp tới, đám lau nhau vô thần kia có thể lên chấp chính ở một nước có giáo đồ của một tôn giáo lớn nhất toàn cầu. Và trên danh nghĩa thì nước đó là công giáo toàn tòng. Một nước mà bất cứ xó xỉnh nào cũng thấy tượng Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Mary, tượng Đức Chúa Jesus đủ kiểu, tượng các chư thánh. Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo chịu không thấu. Do đó, nó đã phải huy động toàn lực “đen” cũng như “trắng”, mọi thủ đoạn vương đạo hay bá đạo để có hy vọng thắng trong cuộc bầu cử tới. Nếu không thì ăn mày cả đám!
Trớ trêu thay, đảo Sicily lại được vinh dự ở vào cái thế quyết định. Nó nghiêng về phía nào thì phía đó có đường ăn nên làm ra và phía đối địch có đường “bị, gậy”. Trong cuộc bầu cử vừa qua, dân Sicilian sẽ đưa vào nghị viện – thượng cũng như hạ – khá nhiều dân biểu, thượng nghị sẽ thuộc phe xã hội và cộng sản tại Sicily, phe tả đang lên như diều. Vì tại đây, hoạt động công đoàn vẫn bị coi là hoạt động xấu xa của bọn “quỷ dữ”. Chủ nhân các nhà máy, xí nghiệp, điền chủ cũng không chịu nói chuyện với đại diện công nhân. “Có giỏi cứ đình công”. “Người anh em” chỉ nổ vài thằng là cả đám hết hồn, chẳng còn đứa nào dám ho he. Cứ như thế thì kết quả cuộc bầu cử như thế nào, không phải là điều không thể dự đoán.
Kết quả cuộc trưng cầu dân ý cũng như bầu cử vừa qua làm cho Ông Trùm Croce vừa lo sợ vừa tức giận phát điên lên được. Tại các thôn xóm xa xôi, Ông Trùm và đám “Người anh em” cũng làm dữ đấy chứ, cũng hăm he, đe dọa đủ cách để giành lấy phiếu cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo đấy chớ. Nhưng, rõ ràng là không kiến hiệu. Mấy thằng dân ngu khu đen vẫn “đường ta ta cứ đi”. Nghĩa là vẫn cứ bỏ phiếu cho các ứng cử viên xã hội và cộng sản.
Không phải chính quyền của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo và đám “Người anh em” mới tích cực vận động. Mà ngay cả Hội Thánh cũng vào cuộc. Trên tòa giảng, cha cố hò hét giáo dân phải bỏ phiếu chống lại bọn vô thần. Các dì phước đến từng nhà, tay cầm gói mì Spaghetti hoặc lon dầu ô – liu béo ngậy, miệng mỉm cười thân ái và tha thiết dặn dò:
– Nhớ nhé, hôm bầu cử thì nhớ bỏ phiếu cho ông này bà kia thuộc đảng Dân chủ Thiên chúa giáo nhé. Bỏ phiếu tầm bậy tầm bạ, lỡ ra bọn vô thần nó lên cầm quyền được thì Chúa với Đức Thánh Đồng Trinh dám “đi đứt” với chúng nó lắm. Báng bổ Chúa và Mẹ là cái nghề của bọn vô thần. Chúng nó mà cầm quyền thì mình sa địa ngục cho mà coi. Vì đâu còn nhà thờ nữa đâu mà đi lễ. Nhà thờ bị chúng biến thành rạp hát, thành nhà kho rồi còn đâu. Cứ gọi là sa hỏa ngục hết, nếu bỏ phiếu cho chúng nó. Sợ sa hỏa ngục không?
Đó, đại khái cây gậy và củ cà – rốt của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo là thế. Chiến thuật vận động tranh cử của họ là thế. Nhưng kết quả bầu cử ấy vẫn làm cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, các chức sắc lớn nhỏ trong Hội Thánh và các sếp lớn nhỏ trong đám “Người anh em” tức hộc máu ra được, hàng tỉ đồng lire dầu ô – liu và mì Spaghetti chứ đâu phải ít của. Mì của đảng Dân chủ Thiên chúa, cứ đớp – tội đếch gì, bỏ uổng – nhưng bỏ phiếu ủng hộ cánh tả, cứ ủng hộ.
Bộ trưởng Bộ Tư pháp của Italia – Ngài Franco Trezza, dân Sicilian chứ đâu phải ai xa lạ gì – cũng giận tím mặt lại với mấy ông bà đồng hương của mình. Đúng là một lũ vô ơn, lừa lọc, tráo trở, xảo quyệt. Mẹ kiếp, nghèo rớt mùng tơi – không có lấy tấc đất cắm dùi, ngay cả cái khố mà đeo cũng đếch có nữa – Vậy mà vẫn cứ kiêu hãnh. Bảo đếch thèm nghe! Đã thế lại còn ngu ơi là ngu. Bỏ phiếu cho bọn xã hội, bọn cộng sản, có ngày phá hủy nền tảng gia đình, phá hủy các nhà thờ, thì lúc đó, hỡi ơi, đã bể mẹ nó rồi, trở tay sao kịp. Đứa nào dám há mỏ ra kêu là tụi nó khiền ngay, có khi cắt lưỡi cho mà biết! Ngài bộ trưởng bóp trán suy nghĩ. Ngài tức giận đấm tay xuống bàn đánh thình. Nhưng, bỗng chốc một tia sáng lóe lên trong đầu óc ngài. Và, mặt ngài tươi rói, thiếu điều ở truồng chạy ra đường, la làng: Eureka, Eureka, như Archimède thuở xưa. Diệu kế, diệu diệu kế. Ngài chợt nhớ ra một người. Ngài chợt nảy ra một sáng kiến. Ngài thấy rõ một giải pháp ăn chắc mà lại rẻ tiền, hầu như miễn phí nữa là khác, đã thế, lại kín đáo, bí mật, không ai nói vào đâu được. Với giải pháp này thì kỳ bầu cử toàn quốc sắp tới, bọn xã hội, bọn cộng sản đừng hòng làm mưa làm gió. Ngài lấy giấy tự tay viết thư cho Ông Trùm Croce Malo.
Đó là một trong những cảnh không hiếm hoi gì của vở kịch “sự hợp tác huynh đệ giữa người bắt cướp và kẻ cướp”.
Đám dân ngu khu đen Sicilian ngơ ngác hỏi nhau:
– Ơ hay nhỉ, việc đếch gì mà mấy nhân vật tai to mặt lớn ở Palermo cũng như ở Rome phải nổi cơn tam bành, khi tụi mình bỏ phiếu cho cánh tả và bỏ phiếu “dẹp tiệm” nhà vua.
Họ cũng ngơ ngác không hiểu tại sao các cường quốc đàn anh như Hoa Kỳ, Anh và Pháp lại lo ngay ngáy và bấn xúc – xích lên về cái chuyện Ý có thể trở thành ông bạn đồng minh với Nga Xô, cũng chẳng biết nó ra sao và ở đâu nữa.
Cách đó hai chục năm đám dân kiết xác Sicilian không được tặng cho cái món quà dân chủ. Nay, lần đầu tiên tay được cầm lá phiếu, họ nghe những nào là dân chủ, tự do… cứ như vịt nghe sấm. Có hiểu gì đâu. Lúc được cầm lá phiếu, bảo họ đi bầu thì họ cứ ngay thật mà bầu cho những ông nào bà nào hứa tranh đấu giúp họ mua lại mảnh ruộng, mảnh vườn mà từ đời ông cố hỉ cho đến thằng chắt nội đã thi nhau đổ mồ hôi xuống đó. Mua lại với cái giá rẻ rẻ một chút, chứ nào có phải ăn cướp đất của ai. Nhưng họ bỗng phát hoảng, không dè – ấy là mấy ông lớn bà lớn nói vậy mới biết vậy – không dè bỏ phiếu chọn hỏa ngục, là phá hoại nền tảng gia đình. Và động trời hơn nữa, là làm nghịch cùng Hội Thánh, là chống lại đức Thánh Nữ Đồng Trinh mà nhà nhà đều có tượng thờ, là biến nhà thờ thành rạp hát, là cho vào “bảo tàng” cả đức Giáo hoàng mà họ hằng kính ngưỡng. Cha mẹ ơi, chỉ bằng cái lá phiếu cỏn con ấy, họ đã phạm toàn tội trọng ghê gớm như vậy mà đâu có biết.
Không! Trong thâm tâm chất phác, lương thiện, dân Sicilian không đi bỏ phiếu để phá hoại nền tảng gia đình. Nhất là chống lại Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Mary thì lại càng không. Họ chỉ bỏ phiếu mảnh đất nuôi sống bản thân, gia đình vợ con, chứ không bỏ phiếu ủng hộ đảng phái tả, hữu nào hết. Họ không thể quan niệm hoặc hình dung được niềm vui nào khác lớn hơn là cái niềm vui được làm chủ mảnh đất mà bao đời họ đổ mồ hôi trên đó, được giữ sản phẩm do chính họ làm ra để nuôi vợ con họ cho khỏi đói. Giấc mơ thiên đường của họ là có được mảnh đất để trồng lúa mì, mảnh vườn tí ti để trồng vài gốc ô – liu và chanh, cam, nho đủ để chi dùng trong gia đình. Có vậy thôi. Họ có đòi dê béo rượu nồng, nhà cao cửa rộng, áo quần lả lướt gì đâu. Nói chi đến chuyện trời trăng xa xôi dân chủ, tả, hữu. Những cái đó, đối với họ, nghe xa vời và hoang đường còn hơn cả truyện cổ tích dân gian mà họ vẫn vẽ trên những cỗ xe lừa của họ.
Ngài bộ trưởng Bộ Tư pháp trong nội các đảng Dân chủ Thiên chúa giáo – gốc gác Sicilian – vốn là một tay chống phát – xít ra trò, đã nếm cơm tù của Mussolini một thời gian. Sau vượt ngục và trốn sang nước Anh của thủ tướng Churchill. Tên cúng cơm của ngài Franco Trezza, vóc người cao lớn. Nom có dáng quý phái. Mái tóc vẫn còn đậm màu, tuy ria mép đã ngả màu muối tiêu. Là một anh hùng thứ thiệt. Nhưng ngài cũng lại là một đấng thư lại nghiệt ngã, một chính khách nham hiểm, một đầu óc tính toán rất lạnh.
Văn phòng của ngài ở Rome đặt trong một tòa lâu đài kiểu cổ. Trên tường, ngài không theo đúng nghi thức nghĩa là treo hình tổng thống mà gọi một cách đầy khinh miệt và xách mé là “lão già hủ” – mà treo ảnh “các thánh”: tổng thống Mỹ Roosevelt và thủ tướng Anh Churchill. Chứ sao! Các vị này là quan thầy bảo trợ ngài chứ đâu phải lão già hủ kia. Cửa sổ khung sắt, lắp kính chống nhiệt và có ban – công.
Ngài bộ trưởng thân hành và trịnh trọng rót rượu mời vị khách danh dự của ngài: Croce Male, chúa trùm của bọn đầu trộm đuôi cướp, ông vua không ngai của tất cả các ngành kinh doanh “đen” không vốn, nhưng có đến bốn chục lời.
Họ ngồi nhâm nhi ly rượu bách tuế thượng hảo hạng và bàn phiếm về bối cảnh chính trị ở Sicily và về cuộc bầu cử sắp tới. Họ lai rai bốn nhóm ăn chơi, trong lúc chờ bồi dọn tiệc. Tiệc đặc biệt, mà lại chỉ có một chủ, một khách. Ngài bộ trưởng rì rầm nói lên nỗi lo ngại của mình. Nếu dân Sicilian lại tiếp tục ủng hộ cánh tả thì đản Dân chủ Thiên chúa giáo có thể mất quyền kiểm soát nghị viện, nội các lọt vào tay bọn tả, đạo Thiên chúa dám mất ngôi vị quốc giáo… Vị khách chăm chú, thành kính nghe. Nhưng không nhếch mép. Không nói và cũng không cười. Trang nghiêm và nín thinh. Như tượng.
Vào đến bàn tiệc, vị khách cũng không ừ hữ, cứ ngồi đớp tì tì. Lão thầm cảm phục: mẹ kiếp, đầu bếp thủ đô có khác, nấu ăn ngon không chịu được, hơn Sicily xa. Tổ cha nó, cái xứ sở gì đâu, quê mùa, cù lần đến vậy, mà vẫn còn cứng đầu cứng cổ. Ông Trùm cúi cái đầu to tròn như cái đầu sư tử của lão gần sát đĩa mì Spaghetti xào với nấm. Cái hàm to và rộng như hàm sư tử cứ nhai như máy. Cái mũi như mỏ chim đại bàng của lão hin hin, hít lấy hít để – vừa như con chó đánh hơi xem có thuốc độc hay không, lại vừa như sợ hương vị thức ăn bốc hơi đi mất thì uổng. Đôi mắt láo liên nhìn một cách tham lam mặt bàn ê hề đồ ăn, thức uống. Ngài bộ trưởng cứ rỉ rả, tỉ tê về tình hình chính trị và về quốc vụ. Còn Ông Trùm cứ đớp, cứ ngốn. Ào ào như xẻng xúc.
Cuối cùng, đĩa trái cây và pho – mát cũng đã ngoan ngoãn nằm gọn trong bao tử Ông Trùm. Một ly cà – phê theo nghi thức. Một ly rượu tiêu thực to đùng cũng đã xong. Chiếc ghế bây giờ đã trở lên nhỏ bé đối với cái thân xác vốn dĩ đã kềnh càng của Ông Trùm. Nay, cái thân xác ấy lại nhập thêm một khối lượng thức ăn đồ sộ như vậy nữa, cho nên, cái ghế khốn khổ ấy – mặc dù xương cốt tốt – cũng không chiều được. Bởi vậy, lão ngồi mà cứ ngọ nguậy, nhấp nhỏm. Thấy vậy, ngài bộ trưởng hiểu ý nên đã mời Ông Trùm qua phòng khách. Có ghế bành đồ sộ. Tường bọc da cách âm. Ngài cũng truyền cho bồi dọn rượu. Đích thân ngài bộ trưởng Bộ Tư pháp rót cà – phê mời Chúa trùm tướng cướp, vị khách quí. Ngài mở hộp xi – gà thượng hảo hạng, mời. Ông Trùm lơ đãng nhón lấy một điếu gắn lên môi. Cũng đích thân ngài bộ trưởng bật lửa cho Ông Trùm kéo khói. Sau đó, ngài bộ trưởng khép nép, kính cẩn, chờ đợi lắng nghe những lời khôn ngoan của Ông Trùm. Bao nhiêu công lao khó nhọc của ngài là chỉ để cho phút giây này Ông Trùm kéo một hơi khói dài. Ngửa mặt lên trần, từ từ nhả khói. Cứ như một nhà thơ. Vừa lim dim thưởng thức khoái cảm của một bữa ăn ngon, của thức uống thượng hảo hạng của khói thuốc dịu, thơm. Nhà thơ đang tìm tứ thơ. Nàng thơ vẫn còn ưỡn ẹo, kiểu cách, chưa chịu nhập. Ông Trùm kéo vài ba hơi khói nữa. Ngài bộ trưởng vẫn kiên nhẫn. Hai mắt hau háu nhìn vào miệng Ông Trùm. Hong hóng chờ đợi. Cứ như sợ bất chợt, một lời nào của lão tuôn ra, mà ngài không đón kịp, thì uổng. Ông Trùm sửa lại thế ngồi cho ngay ngắn. Tưởng đâu lão mở máy nói của lão. Nhưng, chưa. Lão vẫn cứ nhìn chòng chọc vào ngài bộ trưởng, vừa nhìn chăm chú, lại vừa có vẻ mơ màng. Cái dáng dấp quí phái của ngài bộ trưởng đếch gây ấn tượng gì tốt đẹp nơi lão.

Photo edit by Sơn râu

Đối với lão khuôn mặt ngài bộ trưởng nom chẳng những không thanh tú thì chớ, trái lại, có vẻ thô, nặng và đần làm sao ấy. Và lão cũng chẳng mảy may cảm thấy sức thu hút, thuyết phục của ngài bộ trưởng. Lão còn khinh miệt bộ ria mép của ngài. Vì theo ý lão, bộ ria mép ấy càng làm cho khuôn mặt của ngài tăng thêm vẻ lưu manh, láu cá. Có thể, khuôn mặt ấy, dáng dấp, cử chỉ ấy có tác dụng nào đó đối với cái gọi là xã hội thượng lưu ở Rome. Chớ đối với dân Sicilian thì “nom dị hợm thấy mẹ”.
Tuy nhiên, con mắt lõi đời của Ông Trùm vẫn tìm được nơi ngài bộ trưởng chỗ đắc dụng cho mình. Ít nhất cũng giúp cho lão củng cố được quyền lực của Mafia chính là quyền lực của lão. Trước kia, lão mắc phải sai lầm ở chỗ là dại dột tưởng mình là anh hùng nhất khoảnh, đếch coi bọn Rome ra cái gì, kết quả là bọn Mussolini lên nắm chính quyền, làm cho lão điên đảo, lao đao và tổ chức “Người anh em” tưởng đâu đứt bóng luôn. Lão rút kinh nghiệm đó và cũng không hề có ảo tưởng đối với đảng Dân chủ Thiên chúa giáo. Tuy nhiên, dù không đi học một trường chính trị nào và cũng ít khi đọc báo, chỉ với cái bản năng của dã thú trước cạm bẫy, Ông Trùm cũng đánh hơi được mối đe dọa nghiêm trọng của một chính quyền cánh tả. Nó không hơn thì cũng không thua gì Mussolini. Những lời chúng hò hét về ruộng đất, về việc quét sạch chính quyền đen của Mafia không phải chỉ là tuyên bố huênh hoang, hứa cuội để hốt phiếu dân. Chỉ khi nào đảng Dân chủ Thiên chúa giáo nắm quyền thì Ông Trùm mới yên tâm làm ăn, và công việc của lão mới suôn sẻ. Bởi vậy, lão mới chịu lặn lội đến tận Rome. Nhưng, lão cũng đến trong tâm trạng mãn nguyện và kiêu hãnh của một ông thầy thuốc giỏi mang thần dược đến cho con bệnh ngày đêm mong mỏi. Lão biết là thuốc của lão sẽ chữa lành bệnh. Lão cũng có cái cảm khoái của một thầy thuốc giỏi: Chữa cho con bệnh khỏi bệnh thì vừa nặng túi, lại vừa được con bệnh mang ơn, trọng nể. Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo và ngay chính ngài bộ trưởng u mê đâu có hiểu rằng lão chữa bệnh cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo cũng là chữa bệnh của lão. Cái khoái ở chỗ cơm no, bò cưỡi, tiền rưỡi mang về. Lại còn được làm “Đấng cứu tinh” của đảng nữa mới hách.
Để cho ngài bộ trưởng chờ cho đến lúc mệt gần đứt hơi rồi, Ông Trùm mới mở “máy nói” của mình. Nhưng lão cũng chỉ mở chút chút để cho từng lời nói của lão rỉ rả tuôn ra:
– Kỳ bầu cử tới, tôi có thể trao thùng phiếu của toàn bộ đảo Sicily cho ngài bộ trưởng…
Sắc mặt của ngài bộ trưởng thay đổi liên tục. Đang từ nét chờ đợi khắc khoải lo âu chợt sáng lên, rạng rỡ.
– Với một điều kiện duy nhất.
Sắc mặt của ngài bộ trưởng đang sáng rỡ thoắt chốc lại tối sầm ngơ ngác. Ngài ấp úng hỏi:
– Điều kiện gì?
– Một tay súng thật ngon lành!
Bộ mặt ngơ ngác của ngài bộ trưởng trở nên “nghệt” hẳn ra.
– Tay súng nào, là ai vậy?
– Turi Guiliano! Tôi không đòi hỏi gì nhiều. Chỉ xin ngài đảm bảo với tôi là không được có bất cứ một hình thức hoạt động nào nhằm chống lại nó. Dù chỉ là giơ một ngón tay lên, cũng không.
Nét mặt “nghệt” của ngài bộ trưởng đổi thành thất vọng:
– Đó là điều tôi không thể nói được.
– Nhưng, sự nghiệp của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo, sự tồn vong của nó và thậm chí sự sống chết của chính bản thân ngài là tùy thuộc vào lời hứa ấy.
Bộ ria mép của ngài bộ trưởng nháy nháy:
– Guiliano là cái thứ ba đầu sáu tay gì mà dữ vậy? Bộ ông quên chúng tôi có cả trăm ngàn quân đội và cảnh vệ, cớm chìm, cớm nổi.
– Vắn tắt là thế này: hoặc ngài chọn Guiliano, hoặc ngài chọn cộng sản.
Ngài bộ trưởng xỉu thấy rõ:
– Thằng đó còn nhỏ mà sao chơi độc thủ quá. Quá so với ngay cả tiêu chuẩn Sicilian nhà mình!
– Ấy, bậy nào, trái lại. Hắn là một thằng rất đàng hoàng và rất tốt bụng.
Ông Trùm làm như không để ý tới nụ cười mỉm chua chát, châm chọc, hoài nghi của ngài bộ trưởng. Lão chẳng thèm nói với ông ta, nhưng trong bụng rủa thầm: “Đ.m. đã gặp nó bao giờ đâu mà vội dè bỉu sớm vậy. Gặp nó, ông sẽ phải quỳ mọp, bái phục sát đất”. Ngài bộ trưởng lắc đầu:
– Tôi nghĩ không phải vậy đâu, ông bạn! Một tay đã thí khá nhiều cảnh sát của tôi như vậy thì không thể là một người đàng hoàng tốt bụng được. Bắt tôi phải coi nó là một tay đàng hoàng, tốt bụng khác gì chửi cha tôi. Tôi sẽ ăn làm sao, nói làm sao với giới cảnh sát, chưa nói đến công luận.
Ông Trùm nghĩ: quả thật là mấy năm gần đây, hình như Guiliano đã nặng tay, đã xem thường dư luận. Kể từ khi “hóa kiếp” cho “cha” Dodanna đến nay, nó chơi xả láng với kẻ thù. Cả Mafia lẫn Rome đều bị nó coi là kẻ thù. Đã thế, lại còn chơi ngông. Gởi thư cho báo chí tuyên bố rùm beng nó là một người thống trị miền Tây Bắc Sicily. Thách thức Rome có ngon, có giỏi thì làm gì được, cứ làm đi coi. Nó còn gửi thư cho báo chí, ngạo ngược tuyên bố không “đảm bảo an ninh cho cảnh sát” tại các thị trấn Motelepre, Corleorre, Monreal… Kể từ chập tối cho đến rạng sáng, nếu cảnh sát tuần tiễu ngoài đường thì sẽ bị bắn bỏ, đừng kêu oan. Nó giải thích: đó là giờ nó và các thủ hạ đi thăm viếng gia đình, bè bạn. Và rằng, nó cũng không muốn thủ hạ của nó bị bắt lúc nằm ngủ trên giường ở nhà vào giờ đó.
Báo chí đang đói tin bèn sướng như điên, cho chạy tít lớn suốt trang báo:
– Salvatore Guiliano cấm cảnh sát áp dụng nhục hình Cassetta!
– Kẻ cướp đã cấm cảnh sát tuần tiễu tại các thị trấn trên đảo Sicily!
– Nhà nước! Có giỏi thì chơi tay đôi với Guiliano đi, hắn chấp đấy!
Xấc xược đến thế là cùng. Ngạo mạn đến thế là cùng. Bộ thằng nhỏ này tưởng nó là vua Sicily, những bức tranh biếm họa rất đau: Vẽ Guiliano oai nghiêm đứng giữa quảng trường thị trấn trong khi mấy anh cớm co ro, cóm róm trong lỗ cống. Hoặc thấy bóng Guiliano, mấy anh cớm sợ té đái. Nói cho đúng, ở Montelepre, ban đêm, Maresciallo vẫn cho các toán tuần tiễu đi “Giỡn” đấy chứ. Nhưng, các toàn này quả thật là không dám đi đàng hoàng mà lúc nào cũng trong tư thế tác chiến. Và trại Bellatempo – được tăng cường thêm cả trên trăm lính cảnh vệ – lúc nào cũng canh phòng cẩn mật, vì sợ Guiliano đột kích.
Có một lần, không hiểu vì ý thức trách nhiệm cao độ, hay muốn làm người hùng hay quá ức vì bị thằng nhỏ vuốt râu chế nhạo, mà Maresciallo hùng hổ xua quân lên núi, truy lùng Guiliano. Chưa được nhìn thấy bóng của một thằng lâu la Guiliano, thì anh em cớm đã vội rút lui. Vì hỏa lực và sự chơi bạo của Guiliano. Kết quả: sáu cớm “bể gáo” và trên chục mạng khác được quyền cụt tay hoặc chống nạng trọn đời.
Rome bị mất mặt rõ. Cũng không thể giả câm giả điếc được. Và đám đối lập la lối om sòm, đòi cho nội các về vườn vì bất lực. Nhưng chính sự táo bạo, xấc xược của Guiliano lại có lợi cho Ông Trùm, nếu lão thuyết phục được nó thực hiện kế hoạch của ngài bộ trưởng. Ông Trùm nói với ngài bộ trưởng:
– Tin tôi đi, Guiliano có thể là con cờ hay của mình. Tôi sẽ xúi nó, khích nó tuyên chiến với bọn xã hội và bọn cộng sản trên toàn cõi Sicily. Nó sẽ triệt hạ bộ tham mưu của bọn này. Nó sẽ “hóa kiếp” luôn những thằng đầu não, tổ chức, khích động của bọn này. Nó sẽ là một nắm đất sét, đa năng, đa hiệu và hoạt động trên bề rộng, công khai. Đồng thời sẽ là con dê tế thần để mình trút lên tất cả những máu me, tội ác. Nó sẽ lãnh đủ. Còn tôi và đám “Người anh em” sẽ làm cái phần còn lại ở bề sâu. Ngài thấy chưa, đó là kế hoạch toàn diện, có sự phối hợp tổng lực, rộng rãi của Hội Thánh, của “Người anh em”, của Guiliano. Như vậy, bọn kia đâu còn chỗ nào mọc mũi sủi tăm lên được nữa.
Những gợi ý của Ông Trùm coi bộ vẫn không giúp cho ngài bộ trưởng hình dung được vị trí của thằng giặc non Guiliano trong cái thế trận giành chính quyền của đảng dân chủ Thiên chúa giáo. Ngài vẫn nói, bằng giọng hoài nghi:
– Nhưng, nó đã gây tai tiếng không chỉ trong nước mà cả dư luận quốc tế nữa. Trên bàn văn phòng của tôi hiện có bản kế hoạch hành quân của Bộ tổng tham mưu quân đội, phối hợp với Bộ tư lệnh tối cao cảnh vệ để tiêu diệt hắn. Rồi cũng đã có sắc lệnh treo giải thưởng cái đầu của nó mười triệu lire. Nhiều chứ ít đâu. Do đó, thiếu gì thằng ham, tranh nhau mà lao vào thử thời vận. Còn nữa, trên một ngàn cảnh vệ đã được điều đến tăng cường, chỉ riêng cho thị trấn Montelepre không lớn hơn cái bàn tay. Con muỗi cũng khó lọt. Ấy vậy, mà ông bạn đòi tôi phải ngưng. Và, phải hứa bảo vệ nó. Điều kiện của ông bạn khó nuốt đấy. Này, ông bạn Croce thân mến, ông bạn giao nạp nó cho tôi, nghe coi bộ lọt tai hơnlà yêu cầu tôi phải bảo vệ nó. Lạy Chúa, có đời thuở nào lại ngạo ngược vậy. Rồi đến lúc nuốt không vô, mà khạc cũng không ra. Cái đó còn chết lẹ nữa. Guiliano là một sự sỉ nhục cho nước Ý. Ai cũng cho rằng phải tiêu diệt hắn. Tôi sợ rằng mình chưa sử dụng được lá bài này thì bọn xã hội, bọn cộng sản nó đã biết. Và la toáng lên là mình liên minh với tội ác. Cái đó mới đúng là mình tự đút đầu vào thòng lọng, cho bọn nó siết họng mình. Vả lại, lá bài này cũng không có gì đảm bảo chắc chắn thành công trăm phần trăm.
Ông Trùm nhấp giọng bằng một hớp cà – phê, đưa ngón tay vuốt hàng ria mép. Lão đã thấy hơi “nóng mũi” với thằng cha La Mã đạo đức giả này.
Turi còn sống là rất có giá trị và rất hữu dụng cho ta. Nó đang tạo ra sự nghiệp anh hùng trên núi. Toàn thể dân Sicilian tôn thờ nó. Đêm đêm, mọi gia đình ở Sicily vẫn thêm vào bài kinh, lời cầu nguyện như sau: “Xin Đức Thánh Mẫu che chở cho Guiliano khỏi tay bọn cớm.” Không một thằng dân trên đảo nghĩ đến chuyện phản bội nó. Và bản thân nó cũng là một thằng ranh ma, xảo quyệt hơn bất cứ một tên cướp nào từ trước đến nay. Tôi đã cài gián điệp vào băng của nó. Ấy vậy mà phẩm chất của nó cải hoán luôn thằng gián điệp, đến nỗi thằng này trở thành tôi trung của nó. Nó bảo dân Sicilian nhảy vào lửa họ cũng nhảy ngay. Lúc nãy, ngài hỏi tôi Guiliano là người như thế nào. Thì đấy, nó là thế đấy. Nếu bây giờ ngài có đưa thêm cả ngàn cảnh vệ, thậm chí cả quân đội chính quy đến, tôi e nó sẽ biến ngài thành trò cười cho dân Sicilian. Và, cái đó mới là nuốt không vô, mà khạc không ra. Chưa hết. Chẳng ăn cái giải gì mà hù nhau. Nhưng, cũng phải cho ngài hay: chống lại Guiliano có nghĩa là chống lại tất cả bọn nghèo kiết xác ở Sicily. Bọn này chiếm bao nhiêu phầm trăm trên đảo thì ngài biết quá đi rồi, chứ còn gì nữa. Đó ngài đủ đảm lược chơi với lửa thì xin mời, cứ vào cuộc. Bởi vậy, mình mới phải tương kế, tựu kế. Ai ngu mới chơi trò lưỡng đầu thọ địch. Thằng Guiliano còn sống, nó làm được cái gì? Bất quá nó chỉ quậy được như mấy năm qua là cùng. Trong mấy năm qua, ngài mất những gì? Nhưng, nếu bọn xã hội, bọn cộng sản vồ được chính quyền thì ngài còn gì, mất gì. Quá rõ, thấy chưa? Ấy là chưa kể nó lại quay ra ủng hộ thằng khố hồng, khố đỏ kia nữa thì có mà trời gỡ. Mất Sicily là cái chắc. Mà mất Sicily có nghĩa là – ngài thừa biết – mất luôn cả nước Ý. Khôn cũng chỗ đó, mà dại cũng chỗ đó. Có tí xíu đó thôi. Nhưng nó là chỗ hiểm, chỗ chết người đó, thưa ngài bộ trưởng.
Lão ngưng “máy nói” một chút, liếc ngài bộ trưởng một cái thiệt lẹ. Rồi lại tiếp:
– Ngài phải làm hòa với Guiliano. Đó là cái phao cứu nguy cho ngài đó.
Ngài bộ trưởng hỏi một cách lễ phép:
– Vậy thì phải thu xếp như thế nào đây?
Ngài bộ trưởng giả bộ làm lơ, không nhìn thấy nụ cười kẻ cả của Ông Trùm. Nụ cười ấy làm cho ngài cảm thấy một cái gì đó không thể diễn tả bằng lời được. Đại khái: đó là nụ cười của một thằng La Mã, nhưng lại nở trên khuôn mặt một thằng Sicilian. Còn tệ hơn một bông hồng cắm trên đống phân trâu. Nó khinh khỉnh, mỉa mai, chua chát và đểu cáng làm sao. Ngài bộ trưởng không bỏ qua cơ hội đá gió Ông Trùm một phát, gỡ gạc:
– Những nguồn tin có thẩm quyền cho tôi biết Guiliano cũng không có cảm tình với ông bạn lắm.
Thật không hổ ngươi là một tên La Mã, nhưng lại có máu Sicilian. Chỉ bằng một câu nói nhỏ nhẹ đó, ngài bộ trưởng đã điểm đúng huyệt Ông Trùm. Lão nói lầm bầm trong miệng:
– Nếu nó không đủ khôn ngoan để quên đi mối ác cảm, hận thù thì nó đã đi đời từ ba năm qua rồi, chứ làm gì còn đến ngày nay. Tôi vẫn giữ liên lạc với nó. Tiến sĩ Hector Adonis là một trong những người của tôi, đồng thời là bố đỡ đầu của nó và rất được tin cậy. Ông ta sẽ là trung gian hòa giải giữa tôi với nó. Nhưng thôi, ta quay lại vấn đề đang bàn. Nếu ngài chấp nhận giải pháp tôi đề nghị, thì tôi phải có một vài bảo đảm với ngài về một vài vấn đề cụ thể.
Ngài bộ trưởng đáp lại, giọng điệu nửa như châm biếm, nửa như giễu cợt:
– Chớ bộ ông bạn muốn tôi ký vào một chứng thư mang lời tuyên bố: Tôi, bộ trưởng Bộ tư pháp, rất yêu thương quí mến thằng ăn cướp mà tôi đang truy lùng để bắt giam nó, hay sao?
Một trong những điểm mạnh – và đó là chỗ ăn người – của Ông Trùm là không bao giờ lão để tình cảm xen vào công việc làm ăn. Bởi vậy, ngay lúc đó lão làm như không để ý đến những cử chỉ ba que, xỏ lá, châm chọc, mỉa mai, chế giễu, thậm chí nhục mạ nữa. Lão ghim những cái đó trong lòng, chờ cho khi được việc rồi lão mới quay lại “tính sổ”. Bởi vậy, nghe cái giọng châm biếm của ngài bộ trưởng, lão vẫn tỉnh bơ. Và chỉ đáp lại một cách đơn giản thế này:
– Đâu dám làm phiền ngài đến thế. Chỉ xin ngài cho tôi bản sao kế hoạch hành quân do Bộ tổng tham mưu và Bộ tư lệnh cảnh vệ tối cao soạn thảo để nhằm tiêu diệt lực lượng Guiliano. Đồng thời, bản sao lệnh của ngài cho tăng việc một ngàn cảnh vệ sang Sicily. Tôi sẽ đưa cho nó coi. Và hứa với nó ngài không triển khai kế hoạch hành quân và rút lại lệnh tăng viện cảnh vệ, nếu nó giúp ngài “giáo dục” đám cử tri Sicilian ngu xuẩn và cứng đầu. Ngài khỏi lo những tài liệu này sẽ được dùng để buộc tội hay trách cứ ngài sau này. Có thiếu gì cách khống chế. Chẳng hạn, nói là tài liệu đó bị đánh cắp. Huề cả làng! Vì kế hoạch, sắc lệnh đó cũng chẳng phải loại an ninh quốc gia, tối mật kia mà. Hành quân tiễu phỉ, chứ đâu phải an ninh thời chiến. Và tôi cũng hứa với nó là giúp đảng Dân chủ Thiên chúa giáo thắng cử kỳ tới, thì nó sẽ được miễn xá.

Photo edit by Sơn râu

– A, cái món miễn xá thì không rồi, vì tôi đâu có quyền miễn xá.
– Nhưng lời hứa thì ngài có quyền chứ? Và đến lúc đó, nếu miễn được thì càng hay. Bằng không thì cũng thiếu gì cách nói. Ngài có thừa thông minh mà.
Ngài bộ trưởng bắt đầu nhìn ra chỗ có thể khai thông được vấn đề. Ngài cũng đã thấy – như Ông Trùm đã cố ý cho ngài thấy rằng, đến cuối cùng Guiliano cũng sẽ bị Croce loại bỏ. Bởi vì hai con cọp Croce và Guiliano không thể sống chung trong cái “chuồng” Sicily được. Và chính lão – chứ không phải ngài bộ trưởng – sẽ đảm nhiệm cái vai trò đồ tể đó. Ngài bộ trưởng khỏi lo dính dáng đến cho bẩn tay ra. Như vậy, nếu chỉ là LỜI HỨA, thì dễ thôi.
Ngài bộ trưởng cân nhắc kỹ trước khi quyết định. Ông Trùm nhè nhẹ gật gù cái đầu sư tử của mình và dịu dàng nói:
– Nếu sự miễn xá cho nó coi mà có đường làm được thì tôi sẽ cố gắng xúc tiến.
Ngài bộ trưởng đứng dậy, đi đi lại lại trong phòng suy nghĩ về những rắc rối, những hệ lụy có thể có của vấn đề. Ông Trùm không thèm nhúc nhích cái đầu để theo dõi cử chỉ và thái độ của ngài bộ trưởng.
– Nhân danh cá nhân tôi mà hứa? – Ngài bộ trưởng đột nhiên lên tiếng. – Nhưng, ông có biết, nếu như vậy sẽ có những khó khăn như thế nào chứ? Tai tiếng không ít đâu. Tại sao vậy? Này, cho hay, chỉ nguyên cái vụ tôi gặp riêng ông, nếu báo chí biết, đừng tưởng về đuổi gà cho vợ là xong đâu. Nó sẽ lột da, lúc thịt. Gớm, báo chí bây giờ nó đang đói tin. Mà không đói tin thì báo chí của bọn đối lập cũng moi ra, cũng thổi lên. Thật ra, có đúng là ông cần phải có bản sao kế hoạch hành quân và lệnh tăng viện cảnh vệ… thì mới được việc không? Bộ không còn cách nào khác sao?
– Không có hai cái đó kể như công cốc!
Giọng lão ta lúc đó vừa có uy lại vừa có sức thu hút. Cứ như giọng hát của một đại danh ca. Lão nói tiếp:
– Tôi cần có bằng chứng cụ thể cho nó thấy tôi với ngài là chỗ bồ bịch. Đồng thời, cũng phải có một chút phần thưởng cho cái công lao hãn mã của nó chớ. Cả tôi và ngài kể như xong việc, khi tôi cho nó coi bản sao kế hoạch và sắc lệnh. Và cho nó biết muốn tự cứu, thì nó phải diệt bọn kia, nghĩa là tôi hứa ngài sẽ không triển khai kế hoạch và thực thi sắc lệnh nếu nó giúp mình thắng cử. Vả lại, không phải lo đối phó với các cuộc hành quân thì nó mới rảnh tay hoạt động cho mục tiêu của mình chứ. Sự kiện tôi có bản kế hoạch này không được thực thi sẽ là bằng chứng ảnh hưởng của tôi đối với Rome. Có như vậy Guiliano mới tin lời tôi chứ.
Ngài bộ trưởng rót thêm cho Ông Trùm một ly cà – phê nữa.
– Đồng ý, – Ngài bộ trưởng nói. – Tôi tin vào chỗ bè bạn giữa chúng ta. Tất nhiên là phải giữ bí mật sự giao tiếp này. Nhưng, tôi cũng lo sợ cho sự an nguy của ông đấy. Khi Guiliano đã đáp ứng yêu cầu của mình, mà nó vẫn không được miễn xá thì ông lãnh đủ.
Ông Trùm gật đầu, nhưng không nói gì. Lão nhấm nháp ly cà – phê. Ngài bộ trưởng ngắm nghía lão thật kỹ, rồi nói:
– Ông và nó không thể tồn tại trên hòn đảo đó được.
– Tôi sẽ dành cho nó một phòng, – Ông Trùm cười lớn, đáp, – Còn chán thì giờ mà, lo gì!
– Đúng, đúng! – Ngài bộ trưởng hoan hỉ nói. – Và nên nhớ điều này. Nếu tôi hứa đảm bảo với đảng của tôi về thùng phiếu của Sicily trong kỳ bầu cử sắp tới này, và, nếu tôi giải quyết thắng lợi trường hợp Guiliano, thì chưa ai có thể nói trước được đời tôi sẽ “lên hương” như thế nào. Nhưng, dù có leo lên đến đâu tôi cũng sẽ không quên ông bạn già của tôi. Có điều, ông phải nghe tôi.
Ông Trùm nhúc nhích cái thân xác đồ sộ của mình trong chiếc ghế bành cũng đồ sộ chẳng kém. Và lão trầm ngâm, cân nhắc xem những gì mình sẽ nhận được có đáng cái công mình đẩy thằng cha Sicilian có cái đầu nhọn như trái ô – liu kia lên ghế thủ tướng nước Ý không. Hắn ngu xuẩn quá! Tốt, sự ngu xuẩn của hắn lại là điểm có lợi cho mình. Vì, nếu có trở mặt thì sự ngu xuẩn của hắn càng dễ đưa hắn đến chỗ diệt vong. Bằng giọng dịu dàng và thành thật – lão ăn tiền cũng là nhờ cái giọng có vẻ chết người này đấy – Ông Trùm nói:
– Cám ơn ngài đã có nhã ý nâng tôi lên làm bạn của ngài. Và cũng xin nhân danh chỗ bạn bè đó, tôi hứa sẽ cố gắng làm những gì tôi hứa sẽ cố gắng làm những gì cần phải làm mà tôi có thể làm được để góp phần vào sự nghiệp của ngài. Vậy là ta đã thỏa thuận với nhau. Chiều mai tôi quay về Palermo. Và nếu ngài sẵn lòng, xin ngài hãy trao cho những giấy tờ vừa nói đó vào buổi sáng, tại khách sạn tôi đang ở. Còn về phần Guiliano, nếu sau khi nó đã hoàn thành nhiệm vụ mình trao, mà ngài vẫn thấy không thể xoay xở để nó được miễn xá, thì tôi sẽ thu xếp cho nó “biến” khỏi nước này. Sang Hoa Kỳ chẳng hạn, hay một nơi nào đó không thể gây cho mình những rắc rối sau này.
Hai người đã chia tay nhau như thế đó.
Trezza gốc gác Sicilian, kẻ đã chọn cái vị thế chống đỡ xã hội. Croce Malo, cũng gốc gác Sicilian, kẻ đã coi cơ cấu luật pháp xã hội – cụ thể Rome – như một thứ do quỉ dữ áp đặt lên thế gian, để nô lệ hóa lão ta. Bởi, Croce tôn thờ và tin vào một thứ tự do theo quan niệm riêng của lão. Đó là, chỉ dựa vào một thứ tự do theo quan niệm của riêng lão. Đó là, chỉ dựa vào sức mạnh của mình, chứ không vào sức mạnh của bất cứ ai khác. Sự tự do có được là do lòng trọng nể mà mọi người dân Sicilian khác dành cho mình.
Bất hạnh thay – Ông Trùm ngẫm nghĩ – Định mệnh đã tai quái, oái oăm, khi đặt lão vào cái thế phải đối nghịch với Guiliano, một người chỉ biết tuân theo tiếng nói trái tim, chứ không phải như phường đạo đức giả, kiểu ngài bộ trưởng.
Trở về Palermo, Ông trùm đã triệu thỉnh giáo sư Hector Adonis. Lão đã kể cho ông giáo sư nghe cuộc gặp gỡ giữa lão và ngài bộ trưởng. Cũng như những gì họ đã thỏa thuận, lão cũng cho ông giáo sư coi những tài liệu – Bản sao kế hoạch hành quân… nhận được từ tay ngài bộ trưởng. Con người có vóc dáng nhỏ bé kia tỏ ra lo âu. Thế là “hố” nặng rồi. Bởi vì chính đó là cái mà Ông Trùm muốn thấy. Con mồi đã bắt đầu mon men lại gần cái bẫy. Có đường rồi.
– Ngài bộ trưởng đã hứa với tôi rằng ngài sẽ không triển khai kế hoạch và sẽ rút lại lệnh tăng viện cảnh vệ sang Sicily. Nhưng, để đổi lại, thằng con đỡ đầu của ông phải vận dụng tất cả quyền lực của nó để ảnh hưởng một cách thuận lợi cho đảng Dân chủ Thiên chúa giáo trong kỳ bầu cử toàn quốc sắp tới này. Nó phải vững và mạnh. Điều đó tốt, rất tốt và rất cần thiết. Nhưng nó đừng quá lo lắng cho bọn khố rách áo ôm kia làm gì. Kệ cha chúng nó. Ôm rơm chi cho rặm bụng. Nó phải nghĩ, phải lo đến chính cái thân của nó ấy. Nó phải hiểu rằng liên minh với Rome, với ngài bộ trưởng Bộ tư pháp là một cơ may ngàn năm có một. Trezza nắm chóp bọn cớm, bọn cảnh vệ và luôn cả các ông tòa nữa. Và một ngày đẹp trời nào đó, rất có thể ngài ngồi chễm chệ trên ghế thủ tướng nước Ý. Và, nếu vậy, sự kiện Turi Guiliano ngang nhiên quay về, sống an toàn dưới mái ấm gia đình, đâu phải là chuyện khó. Thậm chí ngay chính bản thân nó cũng có vai vế trong chính trường nước Ý, nếu nó muốn. Dân Sicilian khoái nó dữ lắm mà. Vậy thì, nắm cái ghế dân biểu, thượng nghị sĩ, nào có phải chuyện hái sao trên trời? Nhưng muốn vậy, ngay từ bây giờ, nó phải tha thứ và phải quên. Tôi tin rằng ông có ảnh hướng lớn đối với nó.
– Nhưng làm sao nó có thể tin vào lời hứa của Rome? – Ông Adonis hỏi. – Turi đã luôn đấu tranh cho người nghèo. Nó sẽ không bao giờ làm điều gì có hại cho người nghèo.
– Nó đâu phải là cộng sản, phải vậy không nào? Ông hãy thu xếp để tôi gặp nó. Tôi sẽ thuyết phục nó. Tôi và nó đều là những người có thế lực ở Sicily này. Tại sao chúng tôi không thể hợp tác với nhau được nhỉ. Trước kia nó từ chối hợp tác với tôi. Thôi thì cũng được đi. Nhưng nay, khổ quá thời thế đã thay đổi rồi. Bây giờ sự hợp tác giữa tôi và nó là con đường giải thoát cho chính nó. Và cho cả anh em ta, nghĩa là, cho cả tôi và cả ông. Bọn cộng sản sẽ sướng rên, nếu nó nghiền nát được cả tôi lẫn nó. Bọn cộng sản đã chẳng nói rõ, chúng không dung thứ loại côn đồ, ác ôn như tôi đã đành. Mà ngay như anh hùng kiểu Guiliano, cũng không tha. Tôi sẽ đến gặp nó, ở bất cứ nơi nào nó muốn. Cứ nói với nó, thằng già Croce này đảm bảo lời hứa của Rome. Còn nữa, tôi đảm bảo sự miễn xá cho nó, nếu đảng Dân chủ Thiên chúa giáo thắng trong cuộc bầu cử toàn quốc sắp tới. Tôi xin lấy mạng sống và danh dự của tôi ra mà thề như vậy.
Hector Adonis hiểu rằng “lão già lựu đạn” này đã liều mình chấp nhận hậu quả của sự tức giận của Guiliano, nếu ngài bộ trưởng Bộ tư pháp hứa cuội.
– Tôi có thể mang các tài liệu này đến cho nó xem không?
Ông Trùm ngẫm nghĩ một lúc. Lão biết rằng một khi đã đưa thì đừng hòng lấy lại. Và, như vậy, trong tương lai, những tài liệu này trở thành vũ khí, thành sức mạnh của Guiliano.
Nguy hiểm hơn nữa, Guiliano sẽ trở thành bất khả xâm phạm đối với Rome. Nhưng lão mỉm cười với giáo sư Adonis:
– Được chứ, ông giáo sư! Dĩ nhiên là ông giáo sư có thể đem cho nó xem chứ.
Trong khi chờ đợi giáo sư Hector Adonis, Guiliano ngẫm nghĩ xem nên hành động như thế nào. Hắn biết rằng chính cuộc bầu cử sắp tới, và sự thắng lợi của cánh tả trong cuộc bầu cử vừa qua đã khiến cho Ông Trùm đến xin hắn cứu viện.
Trong vòng bốn năm vừa qua, dân Sicilian khố rách áo ôm đã được Guiliano tặng không cho cả trăm triệu lire chứ đâu phải ít. Nhưng đào đâu ra núi của đó? Tất nhiên, thì cũng đi “lượm” của bá tánh thập phương có của, nhưng không có lòng. Tuy nhiên đâu phải dễ dàng mà “lượm” được. Phải có tí ti quyền lực.
Chẳng hiểu có phải là do “đa thư” mà “loạn tâm” hay không, nhưng cứ ngốn những sách về kinh tế và chính trị do ông thầy Adonis cho mượn, Guiliano càng bối rối. Thực tế lịch sử cho hắn thấy trên khắp thế giới – có lẽ trừ nước Mỹ ra – cánh tả là hy vọng độc nhất của dân khố rách. Thương dân gnhèo thì nó rất thương. Nhưng chơi chung với mấy anh hồng hồng hay mấy anh đỏ chót thì khỏi. Kỵ tối đa là khác. Vì mấy cha này chống lại Hội Thánh và chê bai cái kiểu mẫu tổ chức gia đình của người Sicilian là những thứ mà hắn tôn thờ. Hắn cũng biết thừa đi nếu mấy cha xã hội, mấy cha cộng sản mà lên nắm chính quyền thì mấy cha không có tà tà như chính quyền của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo trong cái chuyện vì dân diệt bạo đâu. Đám côn đồ, thảo khấu bị chơi sát ván đã đành. Anh hùng Lương Sơn Bạc cũng xin miễn luôn. Đấy là cái thế tiến thóai lưỡng nan của Guiliano.
Màn đêm đã buông xuống. Guiliano bâng khuâng nhìn những đám lửa rải rác của đám lâu la chập chờn trên khắp rặng núi, tai nghe văng vẳng từ loa phóng thanh đặt ở quảng trường thị trấn theo gió vọng lên. Montelepre vừa bằng cái lòng bàn tay, lốm đốm ánh đèn. Một lát nữa, Adonis sẽ tới, bàn chuyện. Sau đó hắn sẽ cùng ông xuống núi. Trở về Montelepre thăm nhà. Và tất nhiên, La Venera tuy là hơi “cũ”, nhưng mỗi lần vẫn mỗi bốc lửa, lần sau không thua lần trước. Vẫn ngon lành. Bề gì cũng gái một con. Mấy lần sau này, Guiliano ngang nhiên trở về Montelepre. Không sợ hãi gì, vì hắn đã an toàn “kiểm soát” mọi hoạt động của thị trấn. Đám cảnh vệ ở Montelepre hết dám hó hé. Tên cớm nào to gan, bạo phổi dám đến gần nhà bà già hắn thì kể như rồi đời. Bất kể ngày đêm, các tay em của nó sẽ diệt không sót một mống.
Khi tới nơi, giáo sư Adonis được đưa vào hang. Cũng bàn, cũng ghế, cũng đèn điện. Có điều đèn do pin của nhà binh Mỹ. Thầy trò ôm hôn nhau, đủ lễ nghi, lệ bộ. Ông giáo sư trao cho nó một xấp tài liệu và nói:
– Thầy nghĩ con nên nghiên cứu ngay tài liệu này. Nội dung quan trọng và lý thú lắm đấy.
Đó là bản sao lệnh của ngài bộ trưởng Bộ tư pháp về việc tăng viện trên một ngàn cảnh vệ sang Sicily để tiễu phỉ. Bản kế hoạch hành quân của bộ tổng tham mưu đã được Guiliano chăm chú nghiên cứu một cách thích thú. Hắn không cảm thấy sợ hãi gì. Cùng lắm thì rút sâu vào trong núi. Nghỉ “chơi” một thời gian. Cả một đạo quân ăn chực nằm chờ cả một năm. Chịu nổi không? Chịu không thấu thì phải rút. Và Guiliano lại ca khúc “đường ta ta cứ đi”. Nếu cảnh vệ đủ đảm lược phiêu lưu vô núi, thì xin mời: Thiên la địa võng đang sẵn chờ. Bởi vậy, Guiliano yên trí lớn.
– Ai đưa cho bố những thứ này?
– Lão Croce! Chính bộ trưởng Bộ tư pháp trao cho lão.
Turi Guiliano tỏ ra không ngạc nhiên về sự “đi đêm” này. Nó mỉm cười:
– Bộ họ muốn hù tôi chắc? Rặng núi này coi vậy chứ sâu hiểm lắm. Đủ sức nuốt hết ráo bọn lính do họ tăng viện tới. Để rồi bố coi, con vẫn cứ nằm ngủ, ngáy o o dưới gốc cây.
– Lão Croce muốn gặp con. Lão sẵn lòng đến bất cứ nơi nào do con chọn. Lão đưa bản kế hoạch và sắc lệnh này như một bằng chứng thiện chí của lão. Cũng vẫn chỉ là một vở cũ soạn lại: ân và uy, cây gậy và củ cà – rốt. Lão có một đề nghị muốn thảo luận với con.
– Ý kiến của bố? Nên gặp lão không? – Guiliano hỏi và đăm đăm nhìn giáo sư Hector Adonis.
– Nên.
– Thế thì cứ gặp ngay tại nhà bố ở Montelepre. Cần gì phải đi đâu xa xôi. Bố có dám chắc lão dám liều cái mạng cùi của lão vậy không?
– Có gì mà dám hay không dám? Lão được bố hứa đảm bảo an ninh. Và bố cũng tin là con cũng hứa với bố như vậy. Lời hứa của con thì bố tin hơn ai hết.
– Dạ, con xin hứa. – Guiliano cầm tay ông Adonis, siết chặt. – Cám ơn bố về bản kế hoạch này. Và cả sách vở bố mang lên cho hôm nay. Trước khi ra về, bố làm ơn giải tỏa giùm con ít thắc mắc. Về vấn đề kiến thức thôi, được không ạ?
– Dĩ nhiên.
Suốt đêm đó, bằng giọng hấp dẫn, ông Adonis đã giảng giải những chỗ khó khăn trong các sách nó đã đọc mà không hiểu. Guiliano chăm chú nghe. Thỉnh thoảng nêu thắc mắc. Giống y cái cảnh đã từng diễn ra từ bao năm trước giữa thầy và trò. Và cũng chính trong đêm đó, ông Adonis đã gợi ý cho Guiliano về bản chúc thư. Tài liệu ấy sẽ ghi lại những diễn biến quan trọng xảy ra trong băng. Và những vấn đề tuyệt mật như cuộc “đi đêm” giữa Ông Trùm Croce và ngài bộ trưởng Bộ tư pháp. Các tài liệu này sẽ là bửu bối, là cái dù bảo vệ Guiliano. Bởi vì Ông Trùm và ngài Bộ trưởng giở trò phản phé thì tài liệu này sẽ được tung ra cho công luận. Chắc chắn hai tay kia thân bại danh liệt lập tức. Nghĩa là, nếu Guiliano bị chết chìm, nó sẽ kéo theo cả Croce và Trezza.
Nghe và hiểu ra, Guiliano mừng rơn. Phấn khởi rõ. Ngay cả lúc nó không có quyền lực – thậm chí có chết đi chăng nữa – thì một trăm năm sau có thể người ta sẽ tình cờ phát hiện ra tài liệu đó. Như nó và Pisciotta đã tình cờ phát hiện ra bộ xương con voi của Hannibal. Tuy nhiên điều mà nó không thấy, nhưng cáo già Croce lại thấy rõ, đó là, con voi và bộ xương con voi, khác nhau một trời một vực.

Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Google photo

13. Ngó lên sở thượng

Trong sách Trang Tử Nam Hoa kinh, có truyện Tiêu Dao Du, tạm dịch là Đi Tiêu Dao. Thoạt nghe qua, danh từ ấy đượm vẻ huyền bí, siêu hình. Nhưng suy đi gẫm lại, Tiêu Dao là thánh hiền ngày xưa cũng đồng nghĩa với “đi bát phố”, “đi phất phơ”, “thả tà tà” hoặc lêu têu kháng chiến, “cà nhổng chống xâm lăng”. Mỗi thời thế, con người đi tiêu dao tùy khả năng tài chánh và phạm vi cương tỏa của mình.

Vào năm 1948, thời kháng Pháp, tôi được dịp đi tiêu dao nhiều phen. Con người tôi bẩm sinh yếu ớt, luôn luôn có bịnh trong lục phủ ngũ tạng, hễ đến bác sĩ hoặc y tá là luôn luôn được chứng nhận… sắp ho lao đến nơi. Thật ra, tôi là người “mình dây”, ốm nhưng dẻo dai lắm, đi bộ lai rai suốt ngày cũng không thấy mệt; thuốc lá, cà phê, trà tàu là món “xăng nhớt” cần thiết hơn là cơm canh.

Tôi đến quận Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thì nghe tin mừng: Thằng Đinh, bạn đồng học ở Cần Thơ hồi thời “tiền khởi nghĩa” bây giờ sống trong cảnh sung túc, cưới vợ giàu tại làng Long Phú.

“Dịp may hiếm có, bỏ qua rất uổng. Tại sao ta chẳng đến nhà bạn, trước là thăm viếng, sau là ăn chơi vài ngày”.

Tôi dò đường đến nhà thằng Đinh, cách đồn giặc Pháp chừng ba cây số. Vừa thấy dạng nó từ xa là tôi nhận ngay: nước da đen ngòm, lỗ mũi cao và cái lưng tôm. Hồi học tại trường Phan Thanh Giản (Cần Thơ) thằng Đinh nổi danh hào hoa phong nhã, ăn xài như nước và đánh lộn rất giỏi. Nó đang lui cui… cưa cây, một khúc cây gòn quá to.

Vừa gặp tôi, thằng Đinh hò reo.

– Hay quá ta! Thời buổi này, gặp nhau là điều sung sướng. Làm chức gì rồi?

Tôi đáp:

– Ở không, chơi lai rai. Còn mày?

– Cũng vậy thôi. Miễn là không theo Tây. Vô nhà chờ!

Nhà giống như căn chòi, cất tạm nhưng bày biện khéo léo. Thằng Đinh cho biết:

– Mới dời về đây chừng hai tháng. Bề ngoài coi vậy chớ… nội dung còn bảnh lắm.

Vừa lúc ấy, một thiếu nữ xinh đẹp, mang thai bước ra chắp tay chào. Thằng Đinh giới thiệu cô vợ cưới hồi năm ngoái. Cô ta có vẻ “con nhà giàu”, đi đứng khoan thai, tay chân trắng nõn. Bỗng dưng thằng Đinh chạy ra sân, vác vô một khúc cây gòn, dựng đứng trên mặt đất:

– Tốt không? Đây là ghế ngồi, xinh đẹp vô cùng. Mình để như vầy thì cái da cây gòn xanh tươi mãi. Giống như cẩm đôn của nhà vua, phủ gấm xanh.

Tôi phục thầm sự tính toán ấy. Cây gòn thuộc vào loại dễ trồng, chặt nhánh cắm xuống là mọc nhanh. Gốc cây gòn này đặt trên nền sẽ lấy hơi thổ mà sống lai rai, tuy không châm rễ ra lá nhưng tế bào của nó lâu chết. Không sợ ai trộm cắp. Không sợ Tây đốt phá.

Chúng tôi ngồi trên hai khúc cây gòn mát rượi, uống trà “chẻo xụi”. Vợ thằng Đinh lui cui nấu cơm, bắc nước làm thịt gà. Và trong khi chờ đợi, chúng tôi uống lai rai rượu chát trắng, ăn vài con khô lóc. Đúng là kiểu “văn minh nhàn rỗi”. Rượu mua ngoài vùng tạm chiếm. Đêm ấy chúng tôi nằm gần nhau, kể chuyện hàn huyên từ thuở rời mái trường. Đại khái đứa nào cũng khoe khoang mấy lần chết hụt vì bom đạn và tự phong cho mình hai chữ trường thọ, phước đức. Mãi đến khuya, chờ khi vợ thằng Đinh ngủ say, ngáy khò khò trong buồng, tôi mới hỏi:

– Tại sao mày phiêu bạt tới xứ này? Hồi xưa, tao nhớ rõ ba mày làm đại điền chủ ở Bạc Liêu.

– Sự tích còn dài dòng lắm. Năm 1946, tao theo Thanh niên Tiền phong rồi mang bịnh tại xóm này, nhờ bà con của vợ tao bây giờ đó nuôi nấng. Họ cảm mến tao, vì tao hiền như cục bột, ăn rồi ngủ, họ ngạc nhiên vì tao là đứa nhu mì thế gian ít có.

– Mầy mà nhu mì? Ăn gởi nằm nhờ ở nhà người ta mà phách lối thì chết đói luôn. Mầy đóng kịch nhu mì tạm thời phải vậy không? Mầy sợ chết, sợ người ta điềm chỉ cho Tây bắt.

– Lẽ dĩ nhiên. Nhưng còn lý do khác.

– Sau khi nhờ bà con săn sóc, sức khỏe bình phục, tao nghĩ cách đền ơn. Nhưng đường xá xa xôi, giấy tờ không có, tao không dám đi. Tao nhờ người bà con bên vợ mang bức thư tới Bạc Liêu. Người bà con đó trở về, hoảng hồn vì cha mẹ tao giàu quá mức.

Thằng Đinh liếc buồng ngủ của vợ rồi nói khẽ:

– Giàu bằng mười ông già vợ tao bây giờ. Đúng lý ra, còn giàu hơn nữa.

Giọng nói thằng Đinh im bặt. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng nó không khoe khoang. Hồi đi học, tôi đã nghe một học sinh ở Bạc Liêu cho biết: cha của thằng Đinh nổi danh ăn chơi hào hoa phong nhã, nuôi một con cọp bên nhà để cho ai nấy xem chơi. Cọp này suýt sút chuồng mấy lần… khiến đám tá điền báo động, đánh trống đánh mõ.

Tôi hỏi:

– Ông già mầy cho bao nhiêu?

– Ông đồng ý cho tao cưới vợ nhưng tiền bạc thì ổng xiết hầu bao. Trong gia đình ai nấy phiền hà xem tao như đứa con bất hiếu nên chia dứt khoát một phần gia tài cho tao hưởng. Đó là bầy trâu ở Vĩnh Thạch. Tao lập tức tới liền, bán đổ bán tháo tất cả 250 con trâu. Mấy người tá điền hoan nghênh quá xá vì tao bán hạ giá. Ai mua ba con trâu thì được tặng thêm con trâu thứ tư. Rồi họ đãi tiệc, ca ngợi tao là “cậu út” biết giác ngộ. Tao ẵm gần 20 ngàn đồng về Long Phú cưới vợ linh đình. Tiền đó tao đưa cho vợ tao cất giữ, gọi là làm vốn. Bấy giờ bà con bên vợ thấy tao là đứa đàng hoàng nên cho tao ăn lời…

Gà gáy điểm canh ba. Thằng Đinh lồm cồm ngồi nhúm lửa nấu chè đậu xanh. Tôi ngăn cản:

– Ăn nhiều bịnh chết. Tụi mình còn lâu ngày, cứ ăn lai rai.

Thằng Đinh cười lại:

– Bậy nè! Thời giặc giã mình nên hưởng thụ trong phạm vi có thể. Sau khi làm xong phận sự thì tráng sĩ được quyền ăn uống no say!

– Thôi đi mầy ơi! Mầy làm phận sự gì?

– Bộ mầy tưởng tao làm chức nhỏ hả? Tao vừa lãnh chức trong ban giáo dục, chống nạn mù chữ hai ba làng.

Tôi lắc đầu:

– Dóc hoài! Giao một làng cho mầy, mầy làm không xong. Có lẽ nhờ mầy mà dân chúng thêm người dốt. Thí dụ như thằng con nhà mầy sắp sanh ra…

– Bậy nè! Thời thế tạo anh hùng. Giáp ranh với làng này, còn hai làng đặc biệt lắm, toàn là người Miên, làng Tài Văn, làng Liêu Tú… Tao coi sóc hai làng đó nhưng chưa biết làm sao, còn chờ kế hoạch…

Tài Văn, Liêu Tú hai địa danh nghe lạ tai quá. Tôi nằm mơ màng thử hình dung khung cảnh. Chắc là có tre xanh, cây thốt nốt, có chùa.

– Ở đó vui không?

Thằng Đinh trả lời:

– Tao chưa đi tới. Gần bót Tây, đi lang bang là nạp mạng. Ruộng trống trơn hễ mình chạy thì ngoài đồn Ngạn Rô, Tây bắn liền. Nghe nói đồn Ngạn Rô có “thằng xếp” bắn đại tài. Nó có cây súng lạ lùng, gắn ống dòm. Hễ cái bóng của mình lọt vô ống dòm là nó bóp cò, bá phát bá trúng.

Nồi chè sôi ùng ục. Thằng Đinh quạt lửa. Bỗng nhiên một tràng súng liên thanh nổ giòn gần lắm. Tiếp theo là tiếng “mọt chê”, tiếng súng “mút” rời rạc. Thằng Đinh vẫn ung dung mở tủ.

– Đường cát trắng. Nấu chè ngon một phen.

Tôi bắt đầu lo ngại:

– Súng gần quá. Tụi nó vô bất tử thì làm sao? Có ai canh phòng, đánh mõ đánh trống, thổi tù và không?

– Cần gì! Xóm này chẳng còn ai là nhân vật quan trọng trừ ra tao với mầy. Bây giờ thì ăn. Và tiếng súng hồi nãy nhắc nhở bọn mình nên ăn gấp.

Tôi cầm đũa nhắc nhở:

– Kêu vợ mầy ăn cho vui.

– Thôi. Gần sanh đẻ, nó mệt. Hơi đâu mà lo.

Nồi chè khá to, mỗi đứa ăn ba chén mà chưa cạn. Thằng Đinh vét nồi, múc cho tôi:

– Con người tử sanh hữu mạng. Trước sau gì cũng chết. Kẻ giàu sang, quyền cao tước trọng cũng như bọn mình thôi…

– Cái triết lý của mầy nghe nhàm quá rồi. Thằng Đinh cau mày:

– Tao muốn tuyên bố rằng: Tử thần viếng ta bằng một trăm nẻo đường. Nếu cẩn thận thì ta chỉ đề phòng được chín mươi chín nẻo. Luôn luôn tử thần có sẵn một nẻo trống trải để viếng thăm bất ngờ bất cứ ai.

Tây vô! Tây vô!

Vài người chạy ngang nhà thằng Đinh đánh thức nó. Tôi ngơ ngác đứng trước sân, vừa sợ sệt, vừa xấu hổ. Rủi mà bị Tây bắt sống phen này thì… nhơ danh trong sử sách! Nụ cười vẫn nở trên môi thằng Đinh. Nó chạy lại đầu xóm rồi trở về, hơ hải.

– Nguy rồi! Một cha nội ở trong này trốn ra ngoài đồn chỉ đường chỉ nẻo cho thằng Tây Ca Rê.

– Ca Rê là ai?

– Là xếp đồn Long Phú. Tụi mình nên lánh mặt, bằng không thì bị nhìn mặt.

– Mình chạy theo anh em ở đằng “cơ quan” chớ?

Sau vài phút suy nghĩ thằng Đinh nói khẽ:

– Mấy ổng là nhơn vật quan trọng mình chạy theo thì chết chùm. Chi bằng mình giả dạng thường dân, chạy cà nhỏng ra sau ruộng, chắc ăn hơn. Chẳng lẽ tụi nó kéo đại đội hùng binh ra ruộng để bắt hai đứa tay không, ốm nhom ốm nhách như tụi mình?

Rồi nó nắm tay tôi, thúc hối:

– Đi là vừa. Tụi nó gần tới rồi đó. Tụi nó bơi xuồng, chừng 20 chiếc.

– Còn vợ mầy?

– Vợ tao là dân của… đồn Tây, có lãnh giấy “lách xê”, dán hình đàng hoàng. Thời buổi giặc giã, đàn bà con nít với người già là… sướng nhất. Hơn nữa, vợ tao có chửa, bên vợ tao thiếu gì người làm việc ở tại dinh quận Long Phú của tụi nó.

Súng nổ thưa thớt. Ngoài ruộng, mấy người nông phu ung dung đánh trâu về phía “hậu cứ”, càng xa mé sông càng tốt. Họ ngoắt, mời chúng tôi hút thuốc. Nhưng sau khi nói vài câu khôi hài thằng Đinh tạm biệt họ:

– Đừng tập trung, dụm năm dụm bảy. Tụi nó thêm nghi ngờ. Nhứt là con trâu này. Tụi nó ngứa tay, bắn con trâu rồi lạc đạn làm hư giò hư cẳng bọn ta.

Chúng tôi bắt đầu chạy trên bờ ven nhỏ. Đến gốc cây tràm, thằng Đinh dừng lại, trèo lên rồi nói:

– Quá xá rồi! Nó đổ bộ kéo ra ruộng…

– Thiệt vậy sao?

– Chạy nữa! Mau lên. Cứ theo tao!

Tôi chẳng hiểu tại sao thằng Đinh lại đâm đầu về hướng đồn Ngạn Rô. Cách đồn ấy không xa, dường như còn đồn Bàu Biển. Ghê quá. Từng hàng tre xanh tươi giăng ngang trước mặt, như bức tường thành. Bên kia hàng tre là đồng trống hoang, giáp đến mé sông Hậu Giang, vùng kiểm soát của giặc Pháp.

Người ở xứ xa mới tới như tôi làm sao dám cãi về chiến thuật quân sự với thằng Đinh, ông thổ công ở vùng Long Phú? Lát sau thằng Đinh dừng lại, ngồi xuống bên bụi dứa gai, bên bờ con rạch nhỏ đầy ô rô, cóc kèn. Tôi hỏi:

– Chờ cơ hội “chém vè” hả?

Nó đáp:

– “Chém vè” làm gì, dơ quần dơ áo. Đứng đây chờ thời, được rồi. Mầy biết tại sao có danh từ đó không?

– Thì mình giả như con cua đinh, con cần đước…

– Chưa đúng. Con cua đinh với con cần đước khác nhau. Cua đinh có cái vè mềm, giống như xương sụn, ở xung quanh có mai. Nó vùi xuống bùn thật nhanh, nhờ cái vè chém bùn đó.

– Hiểu rồi. Nhưng tại sao mình không vô xóm nhà sau hàng tre đàng kia kiếm nước uống chơi. Xóm nào vậy?

– Đó là làng Liêu Tú, đằng kia là làng Tài Văn mà tao nói hồi tối đó. Tao lãnh trách nhiệm giáo dục trẻ em, người lớn. Ngặt tao chưa làm quen với bà con. Mình vô xóm đột ngột, họ nghi ngờ. Mầy biết tiếng Miên không?

– Làm sao tao biết! Thôi thì đành ở ngoài này.

Chúng tôi hút thuốc liên miên, nhìn vòng quanh. Đồn Bàu Biển. Ngạn Rô đến đồn Long Phú, rặng tre xanh và con rạch Long Phú, nhà thằng Đinh. Dường như chúng tôi bị bao vây vòng tròn. Nắng chang chang. Súng vẫn nổ. Thằng Đinh dọn một chỗ cao ráo, dưới gốc bụi dứa gai, ngắt bỏ mấy cái lá lòng thòng rồi bảo:

– Nằm xuống cho khỏe lưng. Tao canh chừng tụi nó. Sướng quá, lần đầu tiên tới thăm, mầy gặp một kỷ niệm vui vui… Tao chạy như vầy chừng vài chục bận rồi. Lần này, mình chạy… có lý. Đôi khi tao chạy “xịt” vì chẳng có Tây tà nào vô xóm. À! Ở đầu xóm, thằng cha Tư Đông nhè đặt tên con là thằng Tây cho đúng điệu Đông Tây Nam Bắc. Bữa đó, thằng chả kêu réo đứa con: “Tây ơi! Tây!” Cả xóm ngỡ là Tây vô, chạy ẩu… Rồi cả xóm bắt buộc thằng chả sửa tên con là thằng Hai…

– Ngộ quá. Chuyện khôi hài đó đáng ghi sổ tay…

Nói xong, tôi ngáp dài ngủ thiu thiu để dưỡng sức. Đêm rồi, thức đến quá canh ba. Mấy ngày trước lại phí sức lực hơi nhiều, cuốc bộ non trăm cây số, dầm mưa, đường sình lầy, nhảy qua mương…

Đến xế chiều tôi giựt mình thức giấc. Thằng Đinh đứng thẳng người, quát to:

– Nó đốt nhà. Ngay cái nhà của vợ tao! Thây kệ.

Tôi dụi mắt, hỏi nhanh:

– Tụi nó gan quá vậy? Chừng này mà chưa về đồn, lo ăn uống.

– Múa gậy vườn hoang mà. Có người điềm chỉ, cho tụi nó biết rõ xóm này ai hiền, ai dữ, ai theo kháng chiến… và tất cả đều đánh giặc với hai bàn tay không.

– Vậy tụi mình về xóm, về gần đó cho biết. Xế rồi. Đêm nay tụi nó ngủ tại đâu? Nếu muốn trú quân thì tụi nó ngu dại gì đốt cái nhà ngói ông già vợ mày?

– Trời ơi!

Tiếng kêu la phẫn nộ gọn lỏn ấy vừa phát ra khỏi cổ họng thằng Đinh là tắt nghẹn, dường như thằng Đinh còn muốn nói nhiều hơn. Nó chỉ ngón tay:

– Cháy nhà của vợ tao rồi. Vợ tao có chửa, không biết nó chạy kịp không? Bữa nay, Tây làm lộng quá. Chắc thằng đó điềm chỉ tao là trưởng ban giáo dục hai ba làng. Tao về. Về gần nhà… Hay là vợ tao thất lạc, gặp tai nạn. Mọi khi vợ tao ngồi lì tại nhà rồi trình giấy “lách xê” khi tụi nó hỏi tới. Mầy ở đây, tùy cơ ứng biến. Nhớ đi về phía nhà tao. Tối mai tao chờ.

Nếu rủ thằng Đinh ở lại thì tôi là đứa quá hèn hạ. Trời chuyển mưa. Giữa đồng không mông quạnh, còn một mình tôi. Phía rạch Long Phú, lửa cháy đen mịt, hết nhà này nối qua nhà kia. Cả xóm bị đốt rồi. Súng vẫn nổ và ngọn lửa cháy ngùn ngụt như đầu máy xe lửa chạy trên con đường sắt vô tận.

Mưa đổ hột. Tôi thấy ớn lạnh, ho vài tiếng. Hễ đói bụng thì chịu lạnh không kham. Tôi rút hai tay lên ngực. Lại mưa to. Túng thế, tôi chạy vào hàng tre xanh trước mặt, địa phận làng Liêu Tú.

Đại khái, làng này gồm chừng bốn năm giồng cát, rời rạc, như một quần đảo. Trên mỗi giồng tập trung chừng hai mươi nhà. Mỗi nhà đều có tre bao quanh, những bụi tre um tùm thiếu săn sóc. Tôi đánh bạo vào xóm. Đất khá cao ráo, trơn trợt vì mưa. Toàn là người Khơ-me. Từ nhà này qua nhà kia là đường, quanh co. Tôi dừng bước trước gian nhà ở đầu giồng. Một ông lão đang cầm búa, đập cành cạch vào cái miệng lon, lon đựng thức ăn, đồ hộp của nhà binh Pháp. “Chắc là ông ta làm quen với nhà binh Pháp nên xin mớ lon ấy về sửa lại làm ống dắt đũa, làm lư cắm nhang”. Tôi qua nhà khác, dăm ba đứa bé ngồi dưới đất, bốc cơm ăn. Thức ăn là một chén me, trái me tươi đâm nát trộn với muối ớt. Nhà kế bên rộn rịp hơn. Vài người uống rượu, đánh bài. Dường như chẳng ai quan tâm đến tôi. Họ xem tôi như là chú lái heo, một người vớ vẩn, một bóng ma.

Làm sao bây giờ? Nếu trở ra khỏi giồng liệu tôi còn nhớ phương hướng để trở về xóm nhà thằng Đinh? Đường xa, tối om. Bụng lại đói. Tôi đánh liều bước tới. Đột nhiên từ trong căn chòi, vang ra mấy tiếng lảnh lót:

– Ngó lên Sở Thượng thêm buồn.

Muốn chăm cội rễ, ngặt đường xa xôi.

Tôi dừng lại. Tại sao trong xóm Miên này lại có thể vang ra câu hát đó, câu hát của đồng bằng sông Cửu Long. Câu hát gợi tình, sang trọng thuộc vào loại chọn lọc, tuy bình dân nhưng ít ai biết. Thật vậy, Sở Thượng là con sông nhỏ, từ bờ Cửu Long chảy vô Đồng Tháp Mười, gần biên giới Việt-Miên. Sở là cá, những “lô” đồng ruộng mà từ hồi đời vua Tự Đức nhà cầm quyền cho đấu thầu khai thác nguồn lợi cá tôm. Mấy người lái rủ nhau lên Sở mà mua cá về, bán tận Sài Gòn.

Từ trong gian nhà, câu hát được lặp lại:

– Sở Thượng thêm buồn, ý a… thêm buồn…

Tôi cúi đầu, cố nhìn bên trong. Chiếc võng đưa kẽo cà kẽo kẹt. Một thiếu phụ vụt rời võng, đốt đèn. Tôi mạnh dạn bước vào.

– Thưa cô…

Thiếu phụ cúi đầu; hai bàn tay thô kệch xoa vào nhau:

– Chú đi đâu…

– Dạ tôi lỡ đường.

Thiếu phụ cười tủm tỉm, đôi mắt đen lánh:

– Ở dưới rạch Long Phú hả? Gan dữ đa! Dám đi tới đây hả?

Tôi quay mặt, sắp sửa co chân chạy trốn. Nhưng thiếu phụ nói:

– Đừng sợ. Xóm này ai nấy làm ăn vui vẻ. Đói bụng không?

Tôi gật đầu. Thiếu phụ vo gạo, nấu cơm. Tôi yêu cầu:

– Cô khép cửa lại giùm. Từ đây ra đồn…

– Hai ngàn thước. Gần mà. Nhưng lính Tây vô đây làm gì. Xóm này ai lo phận nấy. Tại sao chú dám vô nhà tôi?

Tôi đáp:

– Dạ tôi nghe câu hát. Tại sao cô biết câu hát đó?

– Chú nằm chiêm bao hả? Tôi là người “An Nam” ở Châu Đốc. Xóm này có “một mình ên” là người An Nam. Tôi lấy chồng người Khơ-me tại đây hơn bốn năm rồi. Chồng tôi ra chợ Sóc Trăng bán lúa, hai ngày nữa mới về. Lát nữa chú ngủ trên bộ ván. Tôi ngủ trong buồng, không sợ ai hết.

Súng nổ từng loạt ngoài đồn. Tôi giựt mình. Thiếu phụ cười:

– Tin tôi không?

– Dạ tin chớ. Bằng không thì tôi chạy lủi đầu vô tre gai rồi.

– Nằm xuống. Thôi, đừng nói chuyện nữa, người ta nghe.

Nói xong, thiếu phụ đóng cửa lại. Nồi cơm sôi lên, xông hơi. Lát sau tôi ăn cơm. Nhưng suốt đêm ngủ chẳng được. Buồn buồn vô cớ. Để rồi lúc hừng đông, tôi dụi mắt bước ra, trở về nhà thằng Đinh, theo hướng mà thiếu phụ chỉ.

Từ đó tôi yêu kính ca dao. Ngoài giá trị văn chương, địa lý, phong tục… nó còn là lá bùa cứu khổ cứu nạn thời kháng chiến. Vài người đã sáng tác ca dao kim thời cải cách. Trong trường hợp này, nếu thiếu phụ hát loại ca dao cải cách thì chưa ắt tôi dám vào nhà, xin tá túc. Vì biết đâu đó là cạm bẫy của bọn gián điệp.

Ca dao sống trong không khí riêng, khó tả. Dầu trí óc ta quên, nhưng nó còn đó. Như trăng sao tạm thời lu mờ chỉ vì mây mưa che phía dưới thấp.

Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Google photo

12. Ngày xưa tháng Chạp

Lẩm rẩm mà mình lưu lạc trên bốn mươi năm. Ừ! Để nhớ coi. Ấp Thiện Tâm tám năm, xuống Ba Láng, Cần Thơ hai năm. Còn lại hai mươi lăm năm, mình phá rừng ở rạch Chà Tre miệt U Minh Hạ này.

Ông Ba Hò suy nghĩ như vậy, thở dài rồi cúi mặt xuống. Mặt trời thoi thóp, gác bóng trên mé rừng tràm mà ông nào hay. Bóng đêm đổ xuống, pha màu nước rạch đen ngòm. Bầy cò trắng bay về gom lại, lượn vòng quanh mấy ngọn tràm, kêu lên “cót cót”. Ba bốn tháng rồi, ông không màng đến cảnh vật bên ngoài nữa. Mười công ruộng, lúa đà chín ngã, ông cũng không chịu khó đi thăm.

Ông chỉ nhớ rượu, đòi rượu. Mỗi cữ ít nhất cũng phải hai xị, nghĩa là nửa lít. Hỏi uống để chi, ông đáp: “Dụng tửu binh đả phá thành sầu”. Nhưng cái thành sầu của ông, thật là cao ngất, dài dằng dặc. Trời còn cho ông sống mười năm nữa là cùng: Mười năm tàn tạ ấy, với hai bàn tay run rẩy, làm sao ông hạ nổi kẻ địch thủ ẩn núp trong thành sầu kia. Đó là sáu năm lúa ruộng lấy lời nhập vốn chạy nhằm hai trăm tám chục giạ. Đó là sáu mươi lăm đồng bạc thiếu chịu ở vài tiệm tạp hóa. Mỗi năm, đến lúc năm cũ bước qua năm mới là lũ địch thủ ấy sung sức lên, công khai đánh hạ ông đúng theo phép nước lệ làng.

– Già mà làm biếng, biết ăn sao không biết trả?

– Đất này của Tây cho tao khẩn. Năm tới tao cào nhà này bỏ…

Nhưng đau đớn nhứt là:

– Tối ngày lo hò với hát chuyện trai gái huê tình. Già vậy là già sao?

Nhè cái tài hoa nghệ thuật của ông mà họ mỉa mai! Ông day mặt che giấu hai giọt nước mắt chịu thất thủ. Vì vậy mà năm nay, ông quyết bỏ xứ Chà Tre này, ra đi phiêu bạt, trước tết. Không còn mấy ngày nữa. Nửa tháng rày há chẳng có từng đàn cu ngói kêu thúc giục inh ỏi bờ tre. Lát nữa, chắc chắn thằng Tịnh, đứa học trò mến nhứt của ông sẽ đến, nghe ông dạy bảo lần chót.

Tay cầm cục mực, cây viết vàng

Vẽ phụng vẽ loan

Vẽ Tiết Đinh San

Vẽ chàng Lâm Sĩ

Vẽ bông hoa thị

Vẽ chữ Đại Tường

Đem về cắm trước đầu đường.

Kẻ đi qua thấy một chữ kim tương.

Người đi lại xem tường văn võ

Trách lòng ai chặn ngõ lấp truông,

Ngăn mây đón gió để con bạn nó thua

Buồn vì tiếng thị phi…

Tiếng hát của thằng Tịnh nghe mỗi lúc càng gần. Câu hát lạ mà quen hồi nào tới giờ ông chưa từng dạy nó.

Thằng Tịnh bước vô. Ông hỏi:

– Ở đâu vậy cháu? Của mấy người gặt ở miệt Cần Thơ đem xuống phải không?

Nó đặt chai rượu trước mặt ông:

– Ông hay quá. Con nhỏ đó gặt kế bên tôi hồi chiều, hò đối đáp một hồi, nói là ở Phong Điền mới xuống.

– Phải. Biết rồi. Câu hát đưa em trong nhà, chớ nào phải câu hát hò. Hồi nãy bác nghe cháu hò giọng lờ lợ. Ở miệt mình, riết rồi cái gì cũng trở thành buồn.

– Con nhỏ đó chê mình ở đây không có câu hò nào ngộ đó ông Ba. Ông làm ơn cho cháu một câu.

– Ừ, được. Ngày mai cháu rao lên như vầy là nó hết đường gỡ:

Anh thương em, anh sắm cho em một bộ áo dài màu cà, màu huyết. Anh đây nói thiệt chẳng phải nói càn. Anh đây sắm cho em một cây kiềng vàng chạm chữ tòng chữ bá, một bộ cà rá chạm đủ cửu long hườn. Anh sắm cho em áo lụa đủ màu, lụa Hà Đông, lục soạn. Còn anh, anh sắm cho anh chỉ có một cái nón đáng giá hai đồng xu. Ăn cơm rồi hút thuốc rê vấn lá chưng bầu. Miễn cho anh đặng tình chồng nghĩa vợ, cực khổ gì anh chẳng có than.

Nghe lần đầu thằng Tịnh đã nhớ, hát lặp lại gần đúng. Thấy nó sáng dạ, ông Ba hết sức vui. Nhưng vui thoáng qua. Mai mốt này, ông xa nó. Nói trước, e nó buồn. Không nói thì không được. Ông rót rượu ra chén, chóp một chút, nghe đắng lạ thường. Bóng dáng thằng Tịnh in dài trên vách lá. Ánh nắng xuyên nóc nhà, soi xuống thềm đất. Hai ba con thằn lằn tắc lưỡi rồi im. Ông Ba rùng mình. Ngoài sân kia hàng cây bình bát như không còn nữa. Sương xuống trắng đục hay là mắt ông yếu lòa? Cũng may là trong nhà không đốt đèn. Thằng Tịnh thấy ông ngồi cú rũ như mọi khi chớ nó nào thấy vầng trán của ông nhăn lên thêm một ngấn lớn.

– Làm sao cho họ ngán mình ông Ba?

Ông Ba giựt mình:

– Cháu nói gì?

– Dạ làm sao cho họ biết ở rạch Chà Tre này cũng có thầy hò như ở miệt trển? Con nhỏ đó coi bộ ngạo nghễ, kén chọn lắm…

Ông Ba cười:

– Ông đây hồi đó không ngạo nghễ sao? Cháu bây giờ cũng ngạo nghễ vậy. Phàm nói chuyện hát chuyện hò, người sành điệu không bao giờ căn cứ theo một, hai câu bóng bẩy nào đó mà xét đoán. Đời bây giờ, hò lộn xộn quá, chớ hồi đó, hò có lớp lang đầu đuôi. Thầy hò phải giỏi như thầy tuồng. Mới vô là câu dạo đầu. Chúc mừng lẫn nhau, chúc mừng chủ ruộng, tạ ơn Thần Nông. Điều đó ai cũng đạt được. Thiếu một hai vần, hò thiếu hơi chưa phải là dở. Thầy hò đôi bên chưa cần trổ tài. Họ để cho học trò của họ múa xem trước như tuồng hát vậy.

Bước qua chương tâm tình. Bên trai như cầm dây tơ buộc vào, bên gái phải khéo léo gỡ ra. Nhưng gỡ ra đừng cho rối, cho đứt. Rồi hai bên hẹn nhau làm đám cưới. Trước khi đó phải về hỏi ý kiến mẹ cha, cậy mai mối… Màn này có thể kéo dài. Nhưng thầy hò của đôi bên để dành tài năng của mình màn ăn thua chót. Đó là lớp nghèo.

Thằng Tịnh trố mắt:

– Vậy sao? Hồi nào tới giờ tưởng hò là để bắt duyên trai gái. Hò nghèo là sao?

– Là hò than nghèo. Một bên trai hay gái tự xưng mình là giàu có, bạc nén vàng ô, nhà lầu cửa sắt, lập tức bên kia bèn tả cái cảnh nghèo của mình cho tới mức. Trai nghèo làm sao cưới được con gái nhà giàu? Con gái nhà giàu, một khi thương con trai nhà nghèo thì có dám cãi lịnh mẹ cha chăng? Vợ nghèo chồng sinh lòng phụ rẫy. Cha mẹ già yếu, con gái làm sao xuất giá. Trả lời được là mình xứng danh thầy hò. Ông đây, hồi đó có tăm tiếng là nhờ đặt ra nhiều câu mà không ai đối ổn thỏa:

Chàng xa thiếp như cột xa kèo.

Cơm đói nghèo chẳng thấy vãng lai

Lúc túng hụt không tiền không gạo

Nàng thất vận, ôi thôi ảo não

Dạ âu sầu, ai bảo chi lo

Chàng nói gạt em rằng dưỡng nuôi săn sóc

Mấy thu chày, em bù lăn bù lóc

Nay vợ gặp chồng, ôi lỡ khóc lỡ cười

Làm gái như ai, chớ làm gái như em, dầu một hột tấm mẳn không cho sai, dầu một sợi tóc mai không cho dời đổi.

Em sợ trai như chàng ra chơi cùng anh em bạn, thấy người ta quần lãnh áo hàng, khăn bàn dọn bánh. Anh trở lộn về nhà thấy gái như em đây một người nghèo nàn cực khổ, mặc áo rách, đội cái nón rơm… anh không thương.

Còn câu nữa, nghe luôn lần chót.

Gẫm phận thiếp như thuyền kia không bánh

Thân vì muốn lập thân mà ngại nặng gánh gia đình.

Chàng ơi! Tại cảnh gia đàng em có một ông cha già đành cỡi hạc chầu tiên.

Còn bà mẹ hiền như trái chín cây trên nhành chờ khi ướm rụng:

Chàng ơi! Em ra đây, gặp chàng em hỏi thiệt:

Trai chàng tính cho em ở vậy hay là em cất bước thượng trình tòng phu.

Chàng ơi! Tại cảnh gia đàng của em, mấy ống tre ngã xiêu ngã tó.

Mấy tấm vạt cau rớt lên rớt xuống, ai ngó vào cũng chắt lưỡi lắc đầu, hỡi ôi cho phận thiếp. Anh kết nghĩa lương duyên với em tình chồng nghĩa vợ. Anh em bạn của anh đứng ngoài xa, miệng kêu, tay ngoắt. Bớ Tư ơi! Người sao không khác chi chị Thoại Khanh thuở trước khảy đờn tầm bạn mà kết nghĩa ái ân làm gì?

Ông Ba hò dứt câu. Giọng già khàn khàn nhưng còn đủ hơi để ngân dài. Nghe buồn quá! Thầy ơi! Nó đoán chừng: có lẽ ông bữa nay có tâm sự gì buồn thảm lắm. Mấy câu hò này mắc mỏ quá. Phải là người có gia thất, từng chịu bảy nổi ba chìm mới trả lời xong.

– Gặp bên gái rao như vậy; mình làm cách nào ông Ba…

– Mình tạm viện lý này lý kia. Cái thứ hò nghèo mà. Hò qua hò lại, tới rời cổng ra về mà không dứt. Cứ như vậy ngày này qua ngày kia, mùa này qua mùa khác. Không ai giỏi hơn ai mà hòng gỡ rối cho ai… Đó là cuộc đời. Người ta mượn đồng ruộng làm sân khấu, mượn sân khấu để nói chuyện trai gái. Mà chuyện tình trai gái là chuyện gay cấn vì giàu nghèo mà ra. Người hò huê tình chưa ắt là người có thói chim chuột. Chẳng qua là họ muốn nói chuyện với đời với trời đất với ngọn cỏ lá cây, từ trước đến giờ không có vị bạo chúa hôn quân nào cấm đoán họ nổi…

– Tại sao vậy ông Ba.

Ông Ba im lặng. Nhà thiếu cửa, vách nát, sương lấp đầy nhà như ngoài trời. Từ trên đầu xông nhà, một tàu lá rớt xuống kế bên ông, ông không ngó lại, không giựt mình.

– Tại sao vậy hả? Tại vì nhà nước không sợ mấy thằng cha thầy hò. Nhà nước Lang Sa có binh rồng tướng mạnh. Cháu hiểu chưa? Đánh giặc kỳ rồi, A-lơ-man còn thua Lang Sa nữa kia. Lụi hụi mấy thằng thầy hò như ông đây cũng tự nhiên nghèo mạt bỏ xứ mà đi… Nói nãy giờ như trăn trối với cháu. Kỳ hạn trong vòng tháng Chạp này ông đi trốn nợ luôn.

Thằng Tịnh giật mình nghe đau điếng trong lòng. Hồi năm ngoái năm kia, hồi tháng Sáu tháng Bảy năm nay, nó đã nghe ông Ba Hò nói cả trăm lần về chuyện bỏ nhà. Mấy lần trước, nói là nói vậy chớ không có thiệt. Nhưng đêm nay, chắc chắn rồi. Bằng cớ là nãy giờ ông bàn bạc nhiều quá về câu hò nghèo. Sáu bảy năm nay, ông dạy nó từng câu hò một chớ nào nói đến trọn cái cảnh ảo não, rộng rãi cả kiếp người. Nó thương tiếc, nhưng làm cách nào cầm chân ông Ba ở lại rạch Chà Tre này? Không lẽ nó dạy ngược lại ông là người làm ăn giỏi hơn nó, tuổi tác cao hơn cha ruột nó.

– Nán một mùa nữa nghe ông Ba. Thế nào cháu cũng gặt lúa giùm ông. Ra Giêng, cháu đốn lá lợp nhà lại, tới sa mưa, cháu hứa phát giùm ít nhất là năm công đất… Ông đi, cháu còn biết ở với ai…

Ông Ba cười:

– Đừng tài khôn! Cháu thương ông, ông biết. Nhưng mà cái gánh của ông đây nặng lắm. Người xa lạ khuyên ông như vậy, ông chửi cho một chập. Ông đâu làm biếng như người ta tưởng lầm… Nói cho cháu nghe: Cánh đồng này hồi đó là một tay ông đây khai phá. Hồi đó ông cất nhà kê táng nữa kìa. Hồi đó tới mùa hạn, mấy gốc năm sáu con rùa vàng. Mùa khô, đìa cạn nước, cá gom lại nổi đầu khít rịt như trái mù u rụng. Heo rừng nanh dài cả tấc mà ông dám cầm mác xông ra cự đương. Cọp trong rừng, có một mình ông đào hầm đặt bẫy… Ờ! Hồi đó cháu biết không, trong rừng có nhiều nhánh nhiều gốc cây ngộ lắm. Giống hình thù con nai con rồng. Ông đốn về bào chuốt lại để chưng dọn nhà cửa. Lắm khi ngồi một mình vui quá, ông hò với rừng với bụi… Hồi đó cây cỏ chim chóc như biết nghe, gật đầu đáp với mình.

Thằng Tịnh thở dài:

– Bây giờ cháu xin ông nói thiệt? Chừng bao lâu ông về đây, đi đâu? Để cháu biết chỗ tới thăm ông. Thân ông một mình, lại thêm già yếu.

– Đất nước này còn chỗ dung thân. Phận ông bây giờ tạm yên. Chỉ sợ cho phận cháu trong mai hậu.

Thằng Tịnh không hiểu:

– Cháu còn ở đây tạm sống. Còn sức lực, còn làm mướn được. Năm tới, tính làm thêm năm công…

Ông Ba Hò hớp miếng rượu cuối cùng rồi đứng dậy:

– Cháu chưa biết… Không lẽ chưa gì hết mà ông khóc trước giùm cho cháu. Giọt nước mắt đây nè! Làm thế nào lưu lại cho cháu đôi mươi năm sau mà nó không khổ. Năm nay có thể cháu làm ăn khá lắm. Rồi đây cháu vểnh râu mà khen. Đời phải đời thịnh trị, cuộc phải cuộc văn minh, như ông hồi năm nào. Nhưng mà máy tạo vần xoay. Ngày cuối tháng Chạp như vầy, một năm nọ cháu phải bỏ xứ mà đi như ông bây giờ. Chừng đó, ô hô! Cháu không còn đất để mà trốn. Đất chỗ nào cũng có người làm bá chủ rồi! Dầu là hòn đảo giữa biển, dầu là chót núi cheo leo. Chừng đó cháu quay mòng mòng như thằng say rượu ôm gốc cột mà ngao du vòng vo một chỗ. Cháu không còn tìm được, nhà cửa xập xệ, nát vách lủng nóc như nhà bác bây giờ. Chừng đó cháu thấy hột lúa của cháu làm ra không có ý nghĩa gì hết. Đời sống con người phải thay đổi.

– A ha! Lửa cháy đầy trời, cát bay mịt đất. Nhà không người ở. Ruộng thì cỏ hoang. Giếng thì có nước độc. Phật khóc giữa trời. Người sống thành xác chết. Xác chết đội mồ hóa người sống. Ở đâu cũng có hồn oan…

Vài năm sau trong vòng tháng Chạp năm xưa đó, ông Ba Hò ra đi biệt tích. Chủ đất thì mừng, vì đã mặc nhiên tống khứ được một tên tá điền cứng đầu. Chủ tiệm tạp hóa thì chửi rủa chê trách tại sao không chịu trả chút ít nợ, vài cắc vài đồng gọi là ơn nghĩa. Ba năm sau này, có kẻ bảo rằng ông đã chết bờ chết bụi vì say rượu. Kẻ thì phao tin: ông ra hòn Cổ Tron cất am, lập một môn đạo mới có kinh kệ riêng, đọc tên nghe khó hiểu nhưng giọng khi trầm khi bổng như hò như hát. Sự thật ra sao? Đến như thằng Tịnh cũng không hiểu. Nó đâm ra biếng nói biếng cười. Mãi đến một năm đó cũng vào tháng Chạp, nợ nần nhiều quá, nó trốn đi ra chợ Rạch Giá để làm cu li, vác lúa cho nhà máy xay ở ngoại ô.

Có lẽ vì vậy mà bây giờ ở rạch Chà Tre vùng U Minh Hạ tuyệt nhiên không còn ai biết hò đúng điệu có lớp lang như hồi xưa nữa.

Biển cỏ miền Tây – Hình bóng cũ

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 8 Aug 2024

Google photo

11. Ngày hội ba khía

Hồi tháng trước, Năm Hinh thua cờ bạc sạch túi. Về nhà, anh năn nỉ vợ:

– Mình đập con heo đất ra, lấy hai chục đồng bạc bỏ ống đó cho tôi đi làm vốn.

Vợ cằn nhằn:

– Đem đi đâu? Làm vốn miệt nào lận? Bộ ở đây làm ăn không được sao?

Năm Hinh trả lời:

– Đi qua Rạch Giá, xuống miệt biển Xẻo Lá, Xẻo Lúa gì đó. Tôi làm bài toán cho mình nghe. Nè, tôi mua vài thiên bánh tráng, vài yến đường, đậu phộng, dân ở biển thèm đồ ngọt. Tôi bán kẹo, bán chịu, họ cứ ăn, khi nào đánh lưới được cá gộc thì thật là nhứt bổn vạn lợi.

Vì nể uy chồng, người vợ đành trao mười tám đồng bạc. Năm Hinh xuống xuồng, cụ bị theo nào là nóp, nồi, chảo, gạo. Qua chợ Long Xuyên, mua bánh tráng, đường đậu phộng rồi bơi xuồng, quên ăn cơm. Ban đêm, anh không muốn ngừng tay. Tết trung thu ở miền đồng quê Rạch Giá nào kém phần thú vị. Lung sen, bãi sậy, bờ dứa nước, hớn hở, xao động lên, chào đón gió biển trăng rừng. Riêng con tim lữ thứ của Năm Hinh là ít nhiều khô héo! Thôi thì tạm thời buộc chặt chiếc xuồng ba lá nọ vào bến của quán chạp phô, bên dòng rạch ngoằn ngoèo. Rạch Xẻo Lá là đây rồi, đặt tên như vậy vì nhiều lá dừa nước, lá lợp nhà. Bao nhiêu người dân chài lưới đang cau mày soi mặt vào ly rượu “công xi”, để tìm hình dáng chị Hằng. Mây đen trôi qua từng chập, lững lờ. Có kẻ hờ hững nhìn trời, thử thu nhặt những sợi tơ trăng ấy, uốn nắn lại trên phím tre cho hợp với lời ca vọng cổ…

Lò kẹo của Năm Hinh bắt đầu hoạt động. Mưa tầm tã không nguôi. Nước ngọt chảy cuồn cuộn, lấn ra biển. Dân Xẻo Lá ngồi cú rũ trong nhà. Biển động, cá tôm đâu mà đánh? Họ nhìn đống lưới cao ngùn ngụt, chất trên bộ ván giữa nhà; mùi tanh của mớ lưới trộn lẫn vào hơi ẩm ướt, mốc meo của giường chiếu.

Thỉnh thoảng vài người khoác áo tơi chạy nhanh, dầm mưa, cắm đầu ngay hướng ông già Hy, nơi anh Năm Hinh ở trọ để thắng đường, làm kẹo đậu phộng. Nhờ lớp bánh tráng bên dưới nên đường thắng hơi lỏng cũng không sao.

Những ngày ra mắt thân chủ, Năm Hinh rắc thật nhiều đậu phộng lên:

– Bà con ăn thử. Ngon lắm. Ở Long Xuyên, dòng họ tôi sống bằng nghề này, cha truyền con nối từ mấy đời rồi, xưa kia ông cố tôi ở Biên Hòa lận.

Có người nói:

– Hèn chi ngon thiệt.

Đắc ý Năm Hinh nói tiếp:

– Chưa ngon đâu! Ở miệt tôi, không ai xài đậu phộng, rắc hột điều mới đúng điệu.

– Hột điều ra sao?

– Đó là hột của cây điều, tức là cây đào lộn hột. Hột đó dính dưới đít trái đào. Hình dáng như trái cật của con heo… Theo phong tục người mình thì cây đào lộn hột rủ quến ma quỷ…

Có người cười lớn:

– Chắc là ma… thứ ma ăn thiếu chịu.

Năm Hinh bình thản:

– Bà con cứ vững lòng ăn. Mai chiều đánh lưới làm cá khô trả lại cũng được. Quen biết với bác chủ nhà thì cũng như quen với tôi.

Ông già Hy mỉm cười. Thân chủ nói thêm:

– Vậy thì dễ quá. Anh đưa vài miếng kẹo nữa để tôi đem về cho sắp nhỏ nó ăn.

Ngày lại ngày, lò kẹo của Năm Hinh “nổi” lên nhanh chóng, đến mức anh phải thức đêm mà thắng kẹo. Nguyên liệu hao hụt, anh nhờ Chệt Kỵ đi chợ “bổ” hàng giùm. Ông già Hy, chủ nhà, thỉnh thoảng nhắc nhở anh:

– Ngủ sớm một bữa đi chú Năm. Làm quá cũng vậy. Cỡ này coi mòi biển động lâu lắm. Mình dưỡng sức ăn thua về lâu về dài.

Năm Hinh nói:

– Bác mệt thì ngủ trước.

Ông già Hy suy nghĩ, gật đầu:

– Mình nên làm việc gì cho đúng hơn. Nghề của chú lụm cụm như mấy ông già. Già như tôi… tôi cũng không làm như chú… Thà là dầm mưa ra mé biển đắp bờ, làm ruộng…

Rồi ông già Hy nằm xuống. Muỗi bu lại như trấu. Chập sau ông gãi chân, gãi tay, cằn nhằn vài tiếng rồi chun vô nóp… Tư bề, lạnh lẽo quá. Sóng biển gào thét triền miên. Gió lộng vào như giúp sức thổi bếp lửa. Năm Hinh hút thuốc, quơ qua quơ lại chiếc đũa bếp, rang đậu cho đều. Vài người kêu cửa, mua thêm ít miếng kẹo. Quần áo họ ướt mèm, anh nghĩ thầm:

– Dân chúng ở đây không biết lo xa, ít chịu khó. May mà mình tới đây thâu tóm mối lợi này. Thứ kẹo đậu phộng ai mà không làm được. Tại sao họ không làm? Hèn chi họ nghèo…!

Bốn mươi mấy ngày trôi qua là bốn mươi mấy ngày mưa gió, khách đến mua kẹo rất nhiều nhưng chưa ai trả tiền.

Năm Hinh đem cuốn sổ nhỏ ra, cầm cây viết chì đồ lại tên mấy người thiếu nợ: Tư Ái ba cắc, “Hai nhà mới” bốn cắc bảy, ông Tư tám cắc, Năm Chòi Mò một đồng… Tổng cộng đến chừng năm chục người, nghĩa là hầu hết xóm Xẻo Lá này. Trăm đồng bạc nợ, trị giá gần một tạ khô cá gộc, đem về Long Xuyên bán rẻ mạt cũng được hai trăm. Từ mười tám đồng bạc vốn mà gầy dựng một số tiền to gấp mười lần. Năm Hinh nghĩ mình đã lập được thành tích hiếm có. Nhưng bao giờ mới thâu được? Nhìn lưới mưa đang bủa vây khắp bầu trời, anh hút thuốc, thở dài.

Ông già Hy bơi xuồng đi thăm ruộng về, tất tả chạy lên nhà:

– Nguy quá chú Năm ơi! Nước tràn bờ ven rồi. Năm nay đói, đói…

Năm Hinh bước ra:

– Nước ngoài biển tràn vô hở bác?

– Nước từ trong ruộng tràn ra chớ! Mưa gì mưa quá đỗi. Mình tính làm ruộng chắc ăn hơn làm lưới. Dè đâu, trời báo nạn, lưới cũng chết mà ruộng cũng chết.

Năm Hinh rầu nét mặt nhớ tới món nợ không biết rồi đây chòm xóm neo số tiền ấy, đợi đến bao giờ mới trả? Anh hỏi:

– Bao lâu nữa trời mới êm, đánh lưới?

– Chú Năm giỡn sao chớ! Mai chiều tới mùa giông Nam, chú chịu khó ở tới tháng Mười Một, chờ gần tết về xứ một thể.

Bao nhiêu hình ảnh đau buồn hiện ra. Anh nhớ tới người vợ hiền Long Xuyên mà hơn tháng rồi không nhắn nhe thư từ gì được. Anh thở dài:

– Làm sao bây giờ. Hồi đó bác nói: Phải thời thì vài ngày họ trả hết. Cứ bán chịu…

Ông già Hy đáp:

– Nhưng chưa gặp thời… Ai muốn dùng dằng làm gì! Đất địa này, không bán chịu, ai mà mua. Chệt Ky bán chạp phô đàng kia dám cho bà con thiếu chịu hai ba năm mà không than phiền… Như vậy mới được.

Năm Hinh hơi bực tức:

– Chệt Ky nhà cửa ở đây. Phận tôi thì xứ xa mới tới lần đầu… Mẹ già, vợ yếu, con thì dại. Điệu này, mai mốt tôi đành bơi xuồng không mà về.

– Đừng giận chớ, chú Năm. Lúc nào dân xóm này cũng sẵn sàng trả nợ. Bây giờ, không có khô cá gộc, trả bằng thứ khác.

– Thứ gì bác?

– Ba khía chớ gì? Bá khía muối để dành ăn. Ở Long Xuyên biết ăn con đó không? Món ăn bình dân, đem về bán lẻ dễ hơn khô cá gộc. Chịu thì tối nay tụi tôi kiếm cho chú vài lu chở khẳm xuồng ăn thua. Nó là một thứ cua, dành cho nhà nghèo. Chú mượn bốn cái lu để đựng… chừng nào đem trả cũng được. Xứ này cần lu để đựng nước ngọt. Dễ dãi như vậy là tới mức rồi…

Dịp may để Năm Hinh rút lui khỏi con rạch Xẻo Lá oan nghiệt này. Anh đồng ý. Vừa chạng vạng, ông già Hy bơi xuồng lại quán Chệt Ky mua chịu chừng hai chục cây đuốc bằng dầu chai. Ông đi xuồng với Năm Hinh dài ra phía vàm biển mà kêu réo:

– Ai bắt ba khía thì đi. Bắt ba khía trừ nợ kẹo nè!

Có đèn chai sẵn rồi.

Chập sau, hàng chục xuồng bơi nhanh theo ông. Đêm ba mươi, trời tối như mực. Nước ruộng chảy tràn qua bờ ven biển. Rừng cây mắm đen ngòm trước mặt như bức tường thành. Muỗi bay vo ve. Gió thổi nhẹ. Ai nấy đốt lên, đỏ rực.

– Ba khía ở đâu sao không thấy? – Năm Hinh hỏi.

Ông già Hy kéo tay anh, chỉ ngay gốc cây mắm trước mặt, hàng trăm con ba khía bao quanh gốc cây, lúc nhúc. Ông nói:

– Mấy gốc cây mắm kế bên đó, đằng kia nữa… cũng vậy.

Năm Hinh nhìn kỹ: lũ ba khía nọ quá đông nhưng hiền hậu làm sao, không quơ càng ngẩng đầu lên để kẹp tay kẻ khác mà tự vệ. Hơn nữa, chúng phân chia từng cặp, con đi sau ráng chạy hơn con trước.

– Tụi nó đánh giặc với nhau, hở ông?

Ông già Hy cười:

– Tụi nó hội. “Hội” nghĩa là hẹn hò nhau tới đây mà bắt cặp tình tự. Cứ vài tháng một lần.

Vừa nói, ông già Hy quơ tay chụp bắt, thảy vào cái giỏ tre lớn. Ham quá, anh Năm bắt chước, mó tay vào. Ông già Hy nói:

– Chụp lẹ tay nó! Chậm là nó kẹp. Làm như thiên hạ kìa!

Năm Hinh nhìn chung quanh ánh đuốc phản chiếu dưới bãi bùn đen, chói ngời, tiếng “xạt xạt” trỗi lên như một bản nhạc lạ lùng. Hàng trăm, hàng ngàn con ba khía bị ném vào giỏ, nhịp nhàng đều đều.

Ông già Hy reo to:

– Được rồi, anh em ơi! Bắt nhiều quá mang tội.

Về nhà trên mười giỏ ba khía gom lại, ba cái lu lớn chở tới, khiêng đặt xuống xuồng của Năm Hinh. Họ để nước muối nửa chừng lu. Con ba khía sống nhăn bị nhốt vào. Đậy nắp kín.

Đêm ấy, ông già Hy thức suốt đêm làm bài toán để Năm Hinh so sánh. Với giá trung bình, bán sỉ, số ba khía này trị giá gấp hai số tiền nợ kẹo đậu phọng. Mấy cái lu thì cho mượn, ông khuyên chở về đây trả, đừng đi luôn mà mang tiếng oán.

Năm Hinh gật đầu. Hôm sau anh xuống xuồng, mượn cây chèo của ông già Hy. Giờ tạm biệt, anh vui trong lòng… Nhưng xóm Xẻo Lá trở nên buồn. Ngày mưa tháng gió, họ đành rút vào nhà mà chờ cơm rồi ngủ.

Năm bữa sau, nửa đêm, ông già Hy bỗng giật mình. Có tiếng ngoài cửa. Rõ ràng giọng Năm Hinh:

– Bác ơi!

– Gì vậy? Ủa, sao trở lại. Bán dọc đường hết rồi hả? Năm Hinh bước vào sắc mặt buồn bã:

– Dạ nó trở mùi… Tới Long Xuyên chắc là thúi hết. Cháu về đây tìm phương kế…

Ông già Hy nói:

– Bởi vì muối lạt quá. Không sao đâu. Thêm chút muối. Sáng mai, lại tiệm Chệt Ky mua vài cân đường, thắng cho gần tới rồi trộn vô… Chú chở đi gấp bán mắc bán rẻ trong vài ngày. Nghề gì làm ăn cũng khó…

– Nghề bán kẹo đậu phộng của cháu cũng vậy. Bác coi công lao từ mấy tháng nay.

Ông già Hy nói:

– Buồn mà chi. Nói thiệt, bác mới xuống xứ này cũng bán kẹo đậu phộng như chú em. Rồi làm lưới, sang qua làm ruộng. Mình vui vì muốn làm được chuyện khó hơn! Bán kẹo, bắt ba khía dễ quá, ở đây không ai làm, không phải tại làm biếng đâu. Bãi dài, biển rộng… thà chịu cực đánh lưới hoặc đắp bờ làm ruộng. Nhờ vậy rạch Xẻo Lá này lần hồi mới thành hình… Mai chiều có vui thì chú trở lại đây luôn cho ấm cúng. Biết chữ nghĩa biên chép nhiều như chú thì làm tới chức cai tuần ở xóm này.

Có ai thấy lá vườn tôi

baotreonline.com

Tim Nguyễn

December 1st, 2023

Post by Sơn râu 7 Aug 2024

Có ai thấy lá vườn tôi

Đốt lên cho khói lên trời tôi trông

Hai câu thơ trên của Trần Huyền Trân vẫn còn âm vang trong trí nhớ của kẻ này, mặc dù thời gian đã đổi khác, cuộc đời đã đổi khác. Có ai thấy lá vườn tôi … Mùa thu ở Mỹ có vô số lá vàng. Lá rụng đầy vườn, lá trên cây rộ đỏ, và khi gió đến lại cất lên bài ca của màu sắc, nhưng không phải là cái melody u sầu đầy kỷ niệm của Les Feuilles Mortes, mà là những âm giai vui tươi hớn hở. Thế nhưng có điều thoạt trông có vẻ nghịch lý: ấy là, lá rụng đầy vườn, nhưng không thấy ai đốt lá. Nghe nói luật cấm kia đấy. Ô, hay nhỉ, tại sao lại cấm đốt lá? Một việc làm thơ mộng như thế mà nỡ cấm sao? Cái ông luật pháp Hoa Kỳ này thật không có chút tâm hồn romantic nào ráo trọi. Ông cứ duy lý, vị thực tế mà làm.

Phải nói là não trạng của những người viết lách sang bên này khó thể chấp nhận một cái luật khô khan và cứng nhắc như thế. Rõ ràng là chúng ta không vui với luật cấm “đốt lá vườn tôi”. Cũng như chúng ta hổng vui khi ông nhà nước Hoa Kỳ cấm trồng rau muống và thả bông súng trên ao hồ chẳng hạn. Bộ các ông muốn giết chết cái đẹp sao? Kẻ này còn nhớ nhà văn Trúc Chi, cùng quê với Nguyễn, bất bình ghê lắm về cái vụ cấm đốt lá này. Và ông đã viết cả một bài dài để bày tỏ quan điểm đồng thời biểu dương cái đẹp của việc vun lá thành từng đống rồi châm lửa đốt trong khu vườn mùa thu. Thế nhưng nghĩ cho cùng, nhà cầm quyền nước Mỹ cũng có cái lý của họ khi ra lệnh cấm đốt lá. Mùa thu ở đây lá rụng vô số kể, vườn nhà nào cũng đầy lá. Thử tưởng tượng nhà nào cũng đốt lá thì môi trường sẽ bị ô nhiễm tới đâu, đó là chưa kể nạn hỏa hoạn sẽ xảy ra ngày một. Thôi thì đành hy sinh chút vẻ đẹp và hơi hướng lãng mạn để giữ gìn cái sạch và sự an lành cho mọi người. Xin lỗi thi sĩ nhé!

Không đốt lá thì cào lá, hốt lá. Cũng thơ mộng quá chừng đấy chớ. Thu sang hốt lá trong vườn / nghe tiếng tàn phai rụng vỡ… Thơ của bạn NXT đấy! Hốt lá. Đẹp và thơ mộng nhưng cũng ná thở. Bạn nào đã từng cào lá, hốt lá trong vườn thì biết. Mà không phải chỉ cào chỉ hốt có một lần đâu nhé. Suốt một mùa thu, ít ra cũng phải cào lá hốt lá dăm bảy lần. Thân gầy nghệ sĩ cúm rúm ho hen, cứ nghĩ mà thấy tội. Nhưng các ông nên nhớ là bác sĩ bảo phải exercise, kẻo không về chầu ông bà sớm. Mà cào lá, hốt lá là exercise rất tốt. Bảo đảm (chứ không đảm bảo như kiểu VC) là sẽ sống và vui vẻ dài dài.

Trong số bạn bè của kẻ này, có một ông bạn mùa nào cũng cào lá, hốt lá. Đó là ông Đinh Cường, họa sĩ – ấy là chưa kể có cả các ông Nguyễn Trọng Khôi, Tô Thẩm Huy, Đức Phổ trong đó nữa không chừng. Đây, ta hãy nghe Đinh Cường tả: Chiều mù cây nhánh trơ / tôi mù sương mất hút / giữa muôn trùng lạnh tăm / cuối năm rào lá đổ … Như người xưa nhớ bạn / cánh nhạn nhờ đưa tin / tôi một mình đứng lặng / cào lá ngoài sân đêm … Tội nghiệp chưa. Ai biểu sang xứ Mỹ làm chi cho nó cực thân. Ở quê nhà với mấy ổng có phải khỏe re không. Ấy là chưa kể ở đây ngày ngày còn phải nấu cơm, chiên cá, rửa chén bát, phụ vợ cuốc đất, trồng rau, trồng hoa cho nàng. Ôi, cuộc bể dâu sao mà oái oăm lắm vậy!

Nhưng phải nói là mùa thu ở Mỹ đẹp và rực rỡ mê hồn. Chẳng hạn, mùa thu ở New England và trên thượng nguồn sông Mississippi ở Minnesota. Kẻ này bỗng nhớ Cao Đông Khánh (này Khánh ơi, bạn giờ ở đâu vậy, có còn mê trăng trong vịnh Frisco và “bông cúc vàng nở giữa kẹt hang” một nhân vật nào đó của thơ và truyện?). Vâng, nhớ Cao Đông Khánh trong một lần lái xe tới thành phố Saint Paul đọc thơ và thăm bạn bè vào những ngày mùa thu như thế này. Cuối tháng mười, ngày vẫn còn chút nắng, và rừng cây rộ lên bản hợp tấu của những sắc màu rực rỡ. Một nơi nữa Nguyễn cũng thấy mùa thu đẹp mê hồn. Đó là Atlanta. Khi Nguyễn cùng các bạn Nhật Hoàng, Đinh Yên Thảo và anh chị Phan Xuân Sinh đến Atlanta cách đây nhiều năm, vào ngày 7 tháng 11, mùa thu với những sắc lá rực rỡ đã hiện ra khắp nơi. Nguyễn cũng không ngờ mùa thu Atlanta đẹp như thế. Có những cây rực đỏ. Nhiều cây vàng sẫm. Lại có cây chỉ một màu tím than. Và ngàn cây hợp xướng: lá bay như trẻ con đùa giỡn trên suốt dọc đường từ phi trường về khu phố người Việt. Đẹp nhất là sau nhà Đỗ Xuân Quang. Buổi sáng thức dậy xuống uống cà phê thấy rừng lá bời bời. Kẻ này hớn hở hân hoan đứng ngắm, tự nói với lòng mình -và xin nhắc thêm lần nữa ở đây- rằng mùa thu ở đây không hề buồn như trong văn chương lãng mạn, mà trái lại reo vang như thể ca ngợi những niềm vui của thế gian -một thứ ode à la joie. Không, lòng ta không hề cảm thấy chút u sầu nào, mặc dầu có thể vừa chia tay với một mối tình. Kia, nhìn xem. Đỏ, vàng, cam, nâu, có cả lục biếc, xôn xao, hát múa trên cành và đùa bay tán loạn. Lá mùa thu đang biểu diễn lập trường đấy, các bạn ơi. Lập trường của cái đẹp.

Mùa Thu trên hồ Caddo Texas – photo Bảo Huân/Trẻ

TN

Chú Cuội và những huyền thoại của tuổi thơ

baotreonline.com

Tim Nguyễn

September 30th, 2021
Post by Sơn râu 7 Aug 2024

nguồn phelieu247.com

Đang giữa mùa trăng, thiết tưởng cũng nên tản mạn đôi dòng về chú Cuội và những mẩu chuyện từng sống trong lòng trẻ thơ.

Người ta nói rằng kể từ khi Neil Armstrong đặt bước chân đầu tiên lên mặt trăng vào năm 1969 là những huyền thoại về trăng không còn nữa. Ở đó nơi người ta tưởng là Hằng Nga và chú Cuội từng có mặt hằng bao ngàn năm nay, thật ra chỉ toàn là đá lạnh băng, không hề có sự sống. Nghĩa là huyền thoại về trăng đã chết. Không còn huyền thoại, trẻ con sẽ đi qua tuổi thơ bằng những con đường khác, trần trụi và khô khan.

Thật ra có đúng như vậy không? Có đúng là trước những khám phá của khoa học, và trong thế giới thực dụng ngày nay, huyền thoại sẽ không còn đất sống nữa và những câu chuyện của tuổi thơ không còn hàm chứa sự mơ mộng và lòng tin ngây thơ trong sáng? E không phải như vậy. Sự mơ mộng của con người, nhất là của tuổi thơ là vô hạn. Chẳng hạn giờ đây nơi quê nhà, cho dù chế độ hà khắc và thực dụng, trẻ con dưới ánh trăng rằm ở một nơi nào đó dưới sự chỉ dạy của người lớn vẫn say sưa múa hát:  Bóng trăng trắng ngà / Có cây đa to / Có thằng cuội già ôm một mối mơ / Lại đây ta nói cuội nghe / Ở cung trăng mãi làm chi… Và những câu đồng dao vẫn còn sống mãi trên mảnh đất sương muối gió mùa ấy và ngay tại hải ngoại này ở những trung tâm người Việt:

Thằng Cuội ngồi gốc cây đa

Thả trâu ăn lúa gọi cha ời ời

Cha còn cắt cỏ trên trời

Mẹ còn cỡi ngựa đi mời quan viên

Ông thời cầm bút cầm nghiên

Bà thời cầm tiền đi chuộc lá đa.

Một nhà văn Việt Nam, ông Vũ Khắc Khoan từng viết một vở kịch ngắn rất thơ mộng, có tên là Thằng Cuội Ngồi Gốc Cây Ða. Vở kịch ngắn này được Vũ Khắc Khoan viết ra giữa thập niên 40 (khoảng 1946-1947) và đã được công diễn tại nhà hát lớn Hà Nội. Ở hải ngoại, vở kịch cũng đôi lần được trình diễn vào dịp tháng 9 nhân tưởng niệm Vũ Khắc Khoan. Kẻ này thuở còn ở trung học, được xem trình diễn một lần trên sân khấu trường Khải Ðịnh (Quốc Học – Huế). Người đóng vai thằng Cuội là anh Nguyễn Khoa Dánh (nay không còn nữa) còn người đóng vai Gái (người yêu của Cuội) là ai thì bây giờ không còn nhớ. Nội dung vở kịch nhằm cắt nghĩa tại sao Cuội mang tiếng là nói dối (nói dối như Cuội – kẻ này cũng được hân hạnh mang tên Cuội nữa đấy): chỉ vì Cuội thấy được những điều mà người khác không thấy. Vở kịch để lại ấn tượng sâu sắc trong trí óc người viết cho dù đã nửa thế kỷ trôi qua. Và hình ảnh thằng Cuội vẫn còn hiện diện đâu đó trong tiếng dế, dưới ánh trăng…

Vậy cho dù gì đi nữa, khoa học có tiến tới đâu, kẻ này vẫn tin rằng huyền thoại không chết và những câu chuyện của tuổi thơ như Chú Cuội, Thạch Sanh, Cô Bé Lọ Lem, Peter Pan, Bạch Tuyết và Bảy Chú Lùn, Công Chúa Ngủ Trong Rừng, Nàng Tiên Cá, Tin Tin, Thằng Người Gỗ Pinocchio… Nghĩa là sự mơ mộng, lòng tin ở điều thiện vẫn sống mãi trong lòng nhân loại. Cho nên chúng ta không ngạc nhiên khi biết rằng Ông Già Noel, ở đây gọi là Santa Claus, vẫn sống mãi trong lòng trẻ thơ. Và hàng năm có hàng triệu trẻ trên khắp thế giới mơ ước và viết thư cho ông già Noel. Cháu Quỳnh của kẻ này, vào mỗi dịp Giáng Sinh lúc bà còn sống, vẫn viết thư cho Santa Claus và nhờ bà gởi đi giùm. Cũng vậy, cách đây vài ba năm, cùng hiền nội về thăm gia đình ông chú ở Wichita – Kansas, được cô bé Kathleen, 6 tuổi, cho xem thư của bé viết cho Santa Claus. Bé kể chuyện trong gia đình, rồi kể chuyện các bạn của bé ở trường và xin ông gởi cho bé chiếc đàn piano nhỏ xíu để bé đàn bản Jingle Bells.

Và sau đây là lời của Francis P. Church, ký giả của tờ New York Sun năm nào nói với cô bé Virginia khi bé hỏi Santa Claus có thật hay không: Ông già Noel có thật, cũng như tình yêu, như lòng bao dung và sự chung thủy. Chỉ có thế cuộc đời mới đẹp đẽ và vui tươi được. Thế giới ảm đạm biết bao nếu không có ông già Noel, không có Virginia, không có niềm tin, không có thi ca – chẳng có gì để làm cuộc sống dễ chịu lên cả… Ông già Noel có thật, nếu không thì không thể tin vào chuyện cổ tích. Ông còn sống hàng nghìn, hàng vạn năm nữa để đem lại niềm vui cho những đứa bé như cháu và những tâm hồn hướng về điều thiện.

Vâng, chú Cuội, ông già Noel, cũng như mọi huyền thoại khác… sẽ còn sống mãi trong trí óc trẻ thơ. Cho dù con người có đặt chân lên mặt trăng, sao hỏa, hay bất cứ hành tinh nào. Vậy chúng ta không ngạc nhiên khi thấy những cuốn phim gần đây như Finding Nemo, Kungfu Panda, Toy Story, Up, Rise of the Guardians… được các khán giả tí hon hoan nghênh nhiệt liệt. Và đêm đêm, các bé ở đây vẫn thích được cha mẹ đọc cho nghe chuyện Cô Bé Lọ Lem, Pinocchio, Con Mèo và Chú Hải Âu Con… Rồi mai đây khi lớn lên, đứng trước cuộc đời vạn nẻo, có thể các bé sẽ không còn tin vào huyền thoại như xưa nữa. Nhưng không sao, tâm hồn các bé đã được nuôi bằng dưỡng chất của cái đẹp và điều thiện, bằng mật hoa và ánh nắng của một thời tươi xanh và vô nhiễm. Ðể rồi các bé sẽ vững bước trên đường đời, trở thành những con người công chính.

TN

Chiếc cầu trên sông Drina

baotreonline.com

Tim Nguyễn

Post on June 29th, 2021

Post by Sơn râu 7 Aug 2024

‘Chiếc Cầu Trên Sông Drina’ là tác phẩm của nhà văn Nam Tư Ivo Andric. Andric viết cuốn truyện này khi sống bình lặng ở Belgrade trong thời gian Thế Chiến II, và xuất bản nó năm 1945. Những năm đầu 1970 sống ở Đà Lạt, làm nhà in và nhà sách Nhân Văn, Nguyễn An (Nguyễn Minh Diễm) và tôi đặc biệt mê Chiếc Cầu Trên Sông Drina, tìm thấy trong đó nhiều hình ảnh và ý nghĩa nhân sinh. Cách đây khoảng trên dưới 10 năm, tôi có ý định viết về cuốn sách và cây cầu, Nguyễn Minh Diễm bèn gởi cho một bài ngắn. Tôi đã dựa vào bài của Diễm và tìm thêm tài liệu trên mạng để bổ túc. Nay Diễm đã ra đi, để tưởng niệm bạn, tôi xin đăng lại bài viết năm xưa. Mời độc giả cùng chia sẻ.

Câu chuyện về chiếc cầu trên sông Drina xoay quanh thị trấn Viýegrad và chiếc cầu Mehmed Paýa Sokolovic bắc ngang sông Drina. Dàn trải qua 4 thế kỷ dưới triều đại Ottoman, cuốn sách miêu tả cuộc sống, định mệnh và những mối liên hệ giữa những người cùng thời cư ngụ cùng trên một mảnh đất, đặc biệt xoáy sâu vào cuộc sống của những người Hồi giáo và Thiên Chúa Giáo Chính Thống sống ở Bosnia và Herzegovina.

Cuối thế kỷ thứ 4, vua cuối của đế quốc La mã là Theodosius đệ nhất chia lãnh thổ làm hai phần Ðông và Tây, giao mỗi phần cho một hoàng tử cai trị, với ranh giới là dòng sông Drina, nay thuộc lãnh thổ Bosnia trên bán đảo Balkans. Dòng sông không chỉ là một biên giới địa lý, mà còn là đường phân thủy của hai dòng văn hóa đông tây nữa. Trên bờ phía đông dòng sông, có một tỉnh nhỏ tên là Viýegrad. Ðây là nơi đa dạng về văn hóa, chủng tộc và tôn giáo. Trong khi giới quý tộc theo đạo Hồi, thì giới nghèo theo Thiên chúa giáo La Mã, dân quê theo Chính Thống giáo còn thương buôn là Do Thái.

Ðế quốc Hồi giáo Ottoman lúc thịnh thời có một quy định đối với các vùng xa, gọi là cống vật bằng máu – huyết cống: thỉnh thoảng quân lính tràn vào phía bờ tây, bắt trẻ trai đưa về làm nô lệ cho giới quý tộc ở thủ đô Istanbul. Câu chuyện bắt đầu với hình ảnh cậu bé người Serbia bị cướp khỏi bàn tay của người mẹ. Bờ sông Drina chính là điểm chia tay giữa mẹ và con, trước khi đoàn quân lôi đứa trẻ lên yên, quất ngựa phi nhanh, rồi xuống phà qua sông, như đi vào cõi vô tận… Trong tác phẩm “Chiếc Cầu Trên Sông Drina”, Andric tả lại cảnh những bà mẹ chia tay con mình: “Những bà mẹ này chạy theo các con, vừa chạy vừa kêu khóc, cho tới khi tới bờ sông và đứa nhỏ được đưa xuống phà. Tới đây thì họ kiệt lực và cũng không thể theo qua bên kia sông.” Vĩnh viễn mẹ con chia cách nhau. Những đứa trẻ sẽ trở thành người Hồi giáo và mang tên Thổ.  Tại thủ đô, những đứa thông minh, mặt mũi sáng sủa cũng có khi được chọn lựa và huấn luyện để trở thành quân nhân. Vào cuối thế kỷ 16, một trường hợp vô tiền khoáng hậu xảy ra, là một trong các trẻ ấy trở thành tể tướng của đế quốc Ottoman. Vị đại quan ấy dù đã lên đến tột đỉnh danh vọng, vẫn mang trong lòng một vết thương không kín miệng, đó chính là dòng sông Drina ngăn cách ông mãi mãi với người mẹ thân yêu. Chỉ có một cách để hàn gắn vết thương là cho xây một cây cầu nối liền hai bên bờ ngay tại tỉnh Viýegrad. Ðó là chiếc cầu bằng đá trên dòng sông Drina xanh ngắt, trung tâm của cuốn tiểu thuyết đem đến cho nhà văn và cũng là nhà ngoại giao Ivo Andric giải Nobel Văn chương năm 1961.

Cuốn tiểu thuyết lấy chiếc cầu như một sân khấu, mà cũng là một chứng nhân, một sợi chỉ xuyên suốt thời gian hơn 300 năm của một trong những khu vực đa dạng nhất trên thế giới, vào thời điểm mà những mâu thuẫn đến lúc không thể dung hợp nhau rồi sẽ đưa đến sự bùng nổ của thế chiến thứ nhất, cũng là khi cây cầu bị phá hủy. Việc xây dựng cây cầu khởi sự vào năm 1566 và 5 năm sau thì hoàn thành, thay thế cho chiếc phà cũ kỹ đưa người qua sông. Nhà văn Ivo Andric miêu tả dòng sông Drina chảy xiết như sau: “Phần lớn dòng chảy của con sông lao qua những hẻm núi hẹp giữa những sườn núi chớn chở hay qua những vực sâu thăm thẳm với những tường đá dựng. Chỉ ở một vài nơi, bờ sông trải ra hình thành những thung lũng với bờ thoai thoải, một nơi như thế nằm ngay tại tỉnh Viýegrad, ở đó dòng sông bung vỡ thành một dòng uốn cong.” (Andric 1977, 13). Thị trấn Viýegrad nằm hai bên bờ sông và câu chuyện của tôi kể về những mảnh đời ở thành phố này và cây cầu bắc ngang sông Drina.”

Lúc cây cầu bắt đầu được xây dựng, nỗi uất ức của những con người đói khát bị đánh đập, hành hạ và lao động khổ sai đã đưa đến tin đồn là thần linh không muốn cây cầu được hoàn thành. Radisav, người tung tin đồn đó bị bắt, và bị kết tội chết bằng cách đóng nọc. Hình ảnh kinh hoàng của một con người giống như ngồi trên một cái sào cao ngất dựng bên cầu đã là động lực thúc đẩy những con người bất hạnh lao động nhanh hơn, mạnh hơn và chăm chỉ hơn.

Cây cầu khi đã hoàn thành với cái kapia, giống như cái bốt gác ở giữa một bên cầu, liền trở thành trung tâm sinh hoạt của Viýegrad, và cuốn truyện trở thành tập họp của một số chuyện ngắn đa dạng và vô thường như chính đời sống và lịch sử.

Dòng sông Drina vẫn trôi đi và cây cầu vẫn đứng đó, ghi nhận bao chuyện buồn vui của kiếp người…

Cô thiếu nữ Fatah quyết không chấp nhận lấy người mình không yêu đã thản nhiên tiếp đón nhà trai, mặc áo cô dâu, trang điểm đẹp đẽ bước lên xe hoa về nhà chồng, nhưng khi đến giữa cầu thì tung mình nhảy xuống sông. Anh chột Cachot cầu bơ cầu bất bị cả tỉnh khinh khi nhưng đã tỏ ra tư cách hơn người khi đứng ra bảo vệ thi thể trinh trắng của người thiếu nữ bất hạnh. Một người lính vì thiếu cảnh giác phạm lỗi khi đứng gác cầu đã tự giác trả giá bằng chính sinh mạng mình. Một tay mê đỏ đen từng đánh bạc với quỷ ngay trên cầu. Một ông già luôn luôn nói những điều nghịch lại với cộng đồng bị đóng tai vào Kapia…Và còn những gì nữa? Ðời sống cứ trôi đi, cứ đổi thay, thế hệ này tiếp theo thế hệ khác như dòng nước chảy qua chân cầu. Nhưng chính cây cầu thì vẫn còn đó, với mây bay  trên cao và nước xanh chảy xiết bên dưới. Cây cầu không nói, không phản ứng mà chỉ ghi nhận… Những chú bé vẫn ra bờ sông ngồi câu cá nơi mà cha anh đã từng ngồi câu trước đây. Rồi chú lớn lên, đi qua cầu để bước vào một cuộc sống khác. Có khi không bao giờ trở về, cũng có khi lê bước mệt mỏi trở lại cây cầu với gánh nặng của đời sống và tuổi tác trên vai, nhưng cây cầu thì vẫn thế, đá vẫn lên nước sáng bóng và nước sông vẫn cứ sủi bọt khi đụng vào chân cầu.

Hình ảnh của “Chiếc cầu trên sông Drina” khiến không thể không ngậm ngùi nghĩ đến những vần thơ của Ôn Như Hầu:

Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ,

Quán thu phong đứng rũ tà huy

Phong trần đến cả sơn khê,

Tang thương đến cả hoa kia cỏ này. 

TN

theo Nguyễn An và Wikipedia

Bài thơ tuyết phủ

baotreonline.com

Tim Nguyễn

Post on March 9th, 2023

Post by Sơn râu 7 Aug 2024

Tranh OHARA KOSON

Tuyết rơi

như tuyết ngày xưa

ở oklahoma

đâu rồi. chung trà tuyết sơn

không một ngọn nến cháy trên bàn

như trong thơ pasternak. viết cho lara

em. đâu rồi

còn đây. bài trà ca

mùa đông. mình anh

và bầu trời. tuyết phủ

như ngày xưa

người đi trong mưa tuyết

mơ về một cánh chim

bên lều cây chuối

ôi. basho

và câu thơ haiku. ngày nào

Garland 3.2.2023

Sáng nay, viết bài thơ Tuyết Phủ, bỗng nhớ tới nhiều điều. Xin ghi lại đây…

Sáng thứ Hai 01 tháng 2. 2023. Tuyết đầu mùa phủ trắng thành phố Dallas, Texas. Tuyết cũng đã tràn ngập các thành phố Miền Ðông nước Mỹ. Trong cảnh tuyết phủ mênh mông ấy, lòng kẻ làm thơ này nghĩ tới nhiều thứ, mơ tới nhiều điều trong sách vở và trong cuộc nhân sinh buồn vui trộn lẫn này.

Trước hết, nhìn cảnh tuyết phủ im lặng chung quanh, Nguyễn nghĩ tới tiếng quạ trong thơ hài cú của Basho. Ờ nhỉ, thời khắc này được nhìn thấy một bóng quạ đen trên cành phong du cất lên vài tiếng quạ quạ phải chăng lòng mình cũng bớt đi nỗi quạnh hiu. Nhưng điều Nguyễn nghĩ tới nhiều hơn cả vẫn là tiếng ấm nước reo trên bếp lửa. Như sáng nào cùng hiền nội lần đầu tiên nhìn thấy cảnh tuyết rơi trên thành Oklahoma. Ðây là đoạn văn đã viết hồi mới tới Mỹ nhìn thấy cảnh tuyết rơi: Ðầu xuân, một bạn văn ở Los Angeles gửi cho gói trà. Trà mang nhãn hiệu Tuyết Sơn, mở ra thơm ngát. Lúc bấy giờ, tuyết phủ trắng thành Oklahoma, nơi tôi ở. Chỉ trong một đêm, phong cảnh đã đổi khác, như trong truyện thần tiên của Hans Christian Andersen. Buổi sáng mở cửa nhìn ra vườn, ngạc nhiên đến sững sờ, vừa cảm động vừa hân hoan. Tuyết, lần đầu tiên nhìn thấy trong đời. Vội vàng vào bếp đun ấm nước. Tiếng nước reo như tiếng gió qua lũng thông vàng. Hương trà bốc lên trong tĩnh lặng sớm mai khi tuyết đã trắng mái nhà, cây cối, bờ rào và những con đường hiu quạnh. Nâng chung trà lên, nóng ấm trong lòng bàn tay. Uống vào một ngụm, nhìn ra tuyết bay, thấy mình là người hạnh phúc trên đời. Thì ra, hạnh phúc vẫn có đấy, dẫu hiếm hoi và nhỏ bé so với những nỗi khổ vô cùng tận của kiếp người…

Tranh OHARA KOSON

Và cũng như sáng nào tuyết rơi ở thành Oklahoma, Nguyễn vội vàng đi đun ấm nước. Sẵn có cà phê Starbucks mua từ trước Tết, Nguyễn pha một ly cho mình, hương thơm tỏa trong không khí sáng mai. Chợt nghĩ tới người thơ bên phương trời xa bèn nâng ly cà phê lên mời cùng uống với mình. Ôi, cà phê uống trong cảnh tuyết phủ sớm mai ngon cực kỳ ngon. Nhìn ra ngoài trời tuyết phủ kẻ này mơ tới những ngọn nến cháy trong thơ Boris Pasternak. Cũng như nhớ tới những ngọn nến được thắp lên một đêm tuyết rơi trong câu chuyện của nhà văn Nga nổi tiếng Konstantin Paustovsky. Chuyện kể như sau: Trong Thế Chiến II, một phụ nữ trẻ người Moscow tên là Tatyana Petrovna cùng với con gái Varvara, tản cư về một thành phố nhỏ và ngụ tại nhà một người đàn ông già tên Potapov. Một tháng sau khi Tatyana đến, ông Potapov qua đời. Lúc đầu cô không ưa cái thị trấn này, và cảm thấy hối tiếc đã rời bỏ nhà hát ở Moscow để về đây. Nhất là vào những sáng những chiều, lúc thời tiết xấu, lũ quạ kêu quang quác, bay thành từng đám mây đen trên những ngọn cây trụi lá. Nhưng rồi ngày tháng trôi qua, cô dần quen với ngọn đồi bạch dương và dòng sông uốn lượn bên đồi. Cô cũng đã bắt đầu đi trình diễn ở các trạm quân y trong vùng. Cuối cùng thì cô đâm ra thích cái thị trấn nhỏ bé và êm đềm này, nhất là khi tuyết phủ. Và cô bắt đầu quen sống trong ngôi nhà của một người lạ với những đồ vật lạ. Potapov có một người con trai hiện đang phục vụ trên một chiến hạm trong vùng Hắc Hải. Tatyana ngắm nhìn tấm ảnh của anh treo trên tường, cảm thấy đã gặp chàng trai này ở đâu, dường như đã lâu lắm trước cuộc hôn nhân thất bại của cô, nhưng cô không thể nào nhớ ra được.

Những bức thư tiếp tục gởi về cho Potapov, tất cả đều cùng một người viết. Tatyana xếp những cái thư ấy trên bàn viết của gia chủ. Một đêm, khi trời đổ tuyết, Tatyana không thể nào ngủ được. Tò mò, cô mở một cái thư ra xem. Người con trai của Potapov là Nikolai cho biết rằng anh vừa hồi phục sức khỏe trong bệnh viện sau khi bị thương nhẹ. Anh ta hy vọng rằng khi rời khỏi bệnh viện anh sẽ có thể xin nghỉ phép về thăm cha già. Người con hình dung ra cảnh vật lúc anh trở về: Tuyết rơi trên những con đường đi tới vườn cây chỗ đình phong ngày nào sẽ được dọn sạch. Anh mơ về lại nhà, lau bụi cây dương cầm và lên dây lại. Anh mơ thấy trên giá đàn vẫn còn khúc mở đầu (ouverture) của tác phẩm “The Queen of the Spades” của Tchaikovsky, và những ngọn nến cháy dở vẫn còn trong giá nến. Thế là sáng hôm sau Tatyana ra dọn sạch tuyết trên lối đi tới vườn cây. Cô cũng sửa lại cái chuông treo ở cửa và mướn người đến lên dây đàn. Cô tìm lại những mẩu nến cháy dở và đem cắm vào giá nến. Và rồi Nikolai được xuất viện. Anh đã về đến ga xe lửa và anh buồn biết mấy khi người trưởng ga báo cho anh biết cha anh đã qua đời. Nikolai trở về đứng trong vườn nhà dưới trời tuyết phủ. Thế rồi anh gặp Tatyana. Cô thân ái mời anh vào nhà.

Trong nhà, chuông cửa vẫn hoạt động, những ngọn nến và cây đàn dương cầm vẫn ở đó – mọi vật trước mắt đúng như anh tưởng tượng. Nikolai thắp nến, dạo đàn và cùng ngồi dùng trà với Tatyana. Cô nói dường như cô đã có gặp anh ở đâu đó một lần.

Ðêm hôm ấy, Nikolai nằm ở sopha không chợp mắt. Anh cố thức tận hưởng từng phút giây trong ngôi nhà xưa.

Sáng hôm sau, Tatyana đưa anh ra ga xe lửa. Trước khi anh bước lên tàu, cô bảo anh là hãy viết thư về. Sau cùng, cô nói, cô và anh đã là người một nhà. (Ðoạn này viết theo bản dịch của Vũ Thư Hiên)

Ôi, những ngọn nến trong đêm tuyết rơi. Và chúng ta có nên nhắc lại những ngọn nến ở sự kiện âm nhạc Woodstock cách đây ngoài năm mươi năm, và trong ca khúc Candles In The Rain, Melanie đã hát:

Chúng tôi quá gần nhau, không còn khoảng cách / Máu chúng tôi cùng hòa chung trong một vết thương / Chúng tôi cùng đau chung một nỗi đau / Và chúng tôi cất tiếng hát hòa bình thân ái

Vậy xin người hãy cùng nhau đưa cao ngọn nến. trong mưa / Bởi vì nếu không. bóng tối sẽ dâng đầy lòng đêm. Ôi, xin hãy đưa cao những ngọn nến sáng / cho mưa ngừng rơi trên vai áo chúng ta dần khô…

Chúng ta quá gần nhau. không còn khoảng cách / Người thì đến đây ca hát. người đến để nguyện cầu xua tan bóng đêm.

Tuyết vẫn còn phủ khắp thành phố. Ngồi một mình, Nguyễn lại nghĩ đến bài thơ Tuyết Xưa của Nguyễn Phan Thịnh (Ôi, bạn Thịnh ra đi cũng đã mươi mười lăm năm rồi!). Bài thơ viết ở Lawton cũng thuộc tiểu bang Oklahoma. Thịnh ơi, đâu rồi những áng tuyết xưa…

xưa lắm rồi, điệu a-go-go trẻ trung

tíếng đàn guitar bập bùng suốt đêm

chúng ta nâng ly vang đỏ, bên ngọn lửa

đón mừng tuyết rơi trắng hiên

Ôi, tuyết rơi tuyết phủ như trong phim Dr. Zhivago. Xin cùng nghe lại khúc nhạc Chanson de Lara (Lara’s Theme). Và thấy lại hình ảnh Yuri và Lara trong ngôi nhà tuyết phủ. Một đêm, Yuri đang ngồi làm thơ bên ánh nến trong khi những con chó sói xuất hiện và ngước mõm tru rân quanh những gốc thông già bên hiên nhà. Một buổi sáng, Yuri và Lara thức dậy, đứng tựa vai nhau vén rèm cửa nhìn ra, thì ô kìa, như trong thơ William Wordsworth, hoa thủy tiên vàng (yellow daffodils) nở rập rờn trong gió.

Nguyễn xin dùng đoạn văn này để kết thúc bài viết với hy vọng chẳng bao lâu nữa thủy tiên vàng sẽ nở khắp vùng đồng cỏ Texas và nắng ấm tràn ngập những ngọn đồi, những con đường của thành phố.-TN