Hương rừng Cà Mau

vietmessneger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 13 Aug 2024

4. Bác vật Xà Bông

So với các rạch khác ở ven vịnh Xiêm La, vùng Xẽo Bần thuộc vào hàng tương đối sung túc. Dân ở đấy sanh sống bằng hai nghề: phá rừng lấy củi và khi tiết trời thuận tiện, họ ra biển đánh lưới tôm. Tiền bán củi vừa đủ cho họ mua gạo ăn, thuốc hút; nghề đi lưới thì chỉ đem lợi riêng cho một số người có ghe, có lưới. Người đi bạn thường lãnh tiền buổi, tùy theo lưới trúng hoặc thất – tay làm hàm nhai.
Ðôi mươi mái nhà lá, vài ba gốc dừa không trái: ngọn Xẽo Bần xơ rơ như vậy đó. Chung quanh là cánh đồng cò bay thẳng cánh nhưng dầy năn kim, ô rô, cỏ ống. Cò lông bông, trích, cúm núm bay lượn tối ngày.
Dân làng nào tha thiết đến vùng đất phù sa nê địa! Vì vậy, khi ông bác vật X, đến xây nền đúc, cất nhà ngói, tự xưng là chủ đất thì không một ai xao xuyến cảm thấy quyền lợi mình bị đụng chạm.
Trái lại, họ rất vui mừng.
Trước tiên, ông bác vật đích thân đến thăm từng nhà trong xóm. Hễ gặp ai chào hỏi quá khúm núm, ông can gián:
– Bà con cứ bình đẳng, đừng nên gọi tôi bằng ông, tôi còn nhỏ tuổi lắm. Cứ gọi tôi bằng dượng Hai. Ðất này của bên vợ; vợ tôi thứ hai.
Hỏi qua vấn đề nền nhà, ông bác vật trả lời:
– Ai lỡ cất nhà nơi đâu, cứ yên lòng ở đó. Tôi không bao giờ có ý đuổi bà con. Tôi còn muốn kêu gọi bà con đến thêm, ở đông chừng nào vui chừng nấy. thỉnh thoảng mời bà con vô nhà tôi chơi. Lúc nào tôi cũng ở nhà để lo việc khoa học. Tánh tôi bình dân lắm, ai có chuyện gì khó hiểu tôi sẵn sàng giải thích.
Kể từ đó, buổi trưa hoặc buổi tối, nhà ông bác vật luôn luôn tấp nập. Ði rừng bắt được rùa, săn được heo rừng là bà con nghĩ đến ông, đem lại tặng. Ðáp tạ thạnh tình ấy, ông bác vật dắt từng người vào phòng làm việc của mình. Trên vách, hai hàng kệ đầy sách mỗi quyển dày hơn tấc tây, lưng da mạ chữ vàng lấp lánh. Một cái bàn tròn chiếm giữa phòng. Trên đó đủ kiểu ly, hũ, bầu… Toàn bằng pha lê trong vắt: cái thì méo miệng, cái thì tròn như trái dừa, có cổ dài uốn éo như cổ cò. Lại thêm chiếc đủa bằng pha lê dụng đúng trong ống, dài theo ống có lằn đỏ như vạch đo từng phân, từng ly tỉ mỉ.
– Thứ gì ngộ quá vậy, dượng Hai.
Ðáp:
– Ðồ dùng để thí nghiệm hóa học.
– Hóa học là chi vậy, thưa dượng.
Ông bác vật mỉm cười:
– Khó cắt nghĩa lắm. Thủng thỉnh, bà con sẽ rõ. Hóa là biến hóa… Các chất hóa học hiện nay còn thiếu mới mua được chút ít. E nguy hiểm, tôi chưa dám cho bà con xem.
Mãn buổi thăm viếng, bà con xóm ngọn Xẽo Bần vô cùng thắc mắc. Ban nãy, còn biết bao nhiêu câu hỏi mà họ không dám hở môi thố lộ ra. Giờ đây, họ xúm xít lại bàn tán cho hả hơi:
– Bà con biết không? Nghe tới hóa học tôi điếng hồn. Rủi ro nó nổ bất tử. Nội mấy cái ly, cái bầu của ổng cũng đủ ghim miểng nát bấy thi thể bà con mình.
– Ðừng nói bậy! Người ta dùng nó được nên mới dám chứa chấp. Tôi nghi dượng Hai mình làm… Quốc sự. Nhè ổng chế tạo bom đạn, dân chúng ở đây, ắt phải liên can.
– Ừ, tôi coi ổng là người có kỳ tài.
– Kỳ tài gì? Thực lộc chi thê. Chắc ổng có bằng cấp bên Tây. Nhờ vậy…
– Bằng cấp gì? Có thì ổng nói rồi. Chắc là “nhảy đầm” ở bển rồi về đâu. Năm ngoái tôi đi Trà Vinh gặp ông nọ xưng là bác vật canh nông. Ổng trồng mười cây đu đủ; lớn lên toàn là đu đủ đực…
– Nói xấu thiên hạ đi! Biết đâu ổng muốn trồng đu đủ đực để thí nghiệm.
– Ối thôi! Hơi đâu mà cãi. Xứ mình không bao giờ có nhơn tài được. Ði qua học bên Tây, nếu người Việt Nam nào trổ tài thì Tây ám sát hết. Tụi nó “muối nước đá” bắt nhơn tài của mình đem ướp cho chết, không cần đâm chém hoặc chích thuốc cho loạn óc, tê bại… Dầu sao Dượng Hai mình cũng là người dễ thương biết chữ nghĩa nhiều hơn mình.
Rồi thì ai về nhà nầy, sáng thì đi lưới, tối lại phá rừng. Công việc sanh nhai của họ ngày thêm đình trệ. Làm ra được, ngặt bán không ai mua. Vải bô giá càng mắc, kiếm không ra. Có điều lạ là dạo ấy thuốc ký ninh mua rất rẽ, thứ ký ninh bọc đường uống ngọt ngọt. Thiên hạ bảo đó là phát minh của Nhựt Bổn, thuộc giòng giống da vàng như người Việt Nam mình, nhưng họ biết chế thứ máy bay có mặt trời đỏ sau đuôi, thường bay lượn dài theo ven biển này.

Dượng Hai bỗng trở nên vui vẻ lạ thường, kể từ ngày đi Bến Tre về.
Trước mặt bà con chòm xóm, dượng tuyên bố:
– Mình ở đây sống trên kho vàng mà không hay. Nay mai, ai nấy đều có công ăn chuyện làm. Tôi sẽ cất một cái xưởng lớn. Thời Trời giúp tôi.
Có người hỏi:
– Mình dùng hóa học để chế tạo ra vàng, phải không?
Dượng im lặng mỉm cười rồi mở tủ, lấy cho mọi người xem một khối vuông, màu vàng như đất sét:
– Ðây là xà bông của tôi mới chế tạo như ở Bến Tre. Cỡ này, nó lên giá gấp ba vì không nhập cảng nguyên liệu hóa học được. Tôi hy vọng giúp bà con công ăn việc làm, xưởng xà bông của tôi sẽ cất tại đây thật gấp, cần dùng hàng trăm nhân công.
Họ trố mắt nhìn cho biết thứ xà bông mới lạ đó. Hồi nào tới giờ, ở đâu ít ai cần dùng đến xà bông nên không mua về. Họ dùng cám hoặc vỏ trái khóm chà vào bàn tay là bao nhiêu bụi bặm, dầu mỡ đều trôi hết.
Dượng Hai nói tiếp:
– Lúc này Nhựt Bổn đánh giặc với Ðồng Minh. Ðường giao thông tiếp tế bị ngăn cản. Vì vậy, thiếu xà bông. Giá xà bông từ hai cắc một kí lô đến sáu cắc. Nay mình chế tạo xà bông bổn xứ, bán chừng bốn cắc thì thiên hạ xúm lại giành mua như tôm tươi, mặc dầu xấu hơn chút ít!
– Ở Xẽo Bần nầy, làm sao đủ vật dụng?
– Sao không đủ! Mình cần dùng có hai món: dầu dừa với nước tro. Dầu dừa đã sẵn sàng: Ra Hòn Tre mua dừa khô về thắng lại. Nước tro thì nào là tro than đước, tro bẹ dừa, tro cây mắm. Nhứt là câu mắm, mọc đầy bãi biển, tro nó mặn hơn hết và rẻ vốn hơn hết.
– Nấu cách nào vậy dượng? Ðể tụi tôi về nấu thử.
“Ðể tụi tôi về nấu thử”. Mấy tiếng đó khiến cho vầng trán của dượng Hai nhăn lên, thoáng qua chút gì lo ngại. Nhưng chỉ thoáng qua thôi! Dượng cười to, lấy trong tủ đem ra một cái ống thiếc.
Mở ống, bên trong ló ra một vật khác bằng thủy tinh nhỏ hơn chiếc đũa, bề dài cũng ngắn hơn, một đầu thì tròn vo. Dượng nói:
– Ðây là… Cái ống thủy. Phải có nó mới nấu xà bông được. Dùng để cân nước tro.
– Cân là làm sao dượng?
– Cân là đo lường sức nặng của nước. Thí dụ như chén nước tro này: muốn biết mặn hay lạt, phải thả cái ống thủy vô coi thử nó mặn tới mấy độ.
Nói xong, dượng bỏ ống thủy vào nước tro. Lạ thay! Ống thủy dựng đứng. Dượng nói:
– Số 32, bà con thấy chưa. Bây giờ tôi đổ nước lạnh từ từ. Nước tro bớt mặn, ống thủy nổi không phải ngay số 32 mà thấp hơn: con số 31, 30, 29. Phải mặn đủ chữ nước tro mới hiệp với dầu dừa để thành xà bông. Bằng không hai thứ ấy cứ lỏng bỏng. Ống thủy này bây giờ mắc lắm, bên Tây không còn gởi qua được. Bí mật của nghề làm xà bông là vậy… Thôi, mai này bà con lại đây, tôi nấu thử cho coi.
Buổi gặp gỡ khi nãy mở đầu cho bao nhiêu hậu quả tai hại mà dượng Hai không đoán trước được. Dân chúng ở ngọn Xẽo Bần suy nghĩ: nếu mình chế tạo được xà bông thì tội gì đi làm mướn cho dượng Hai. Bà con lối xóm có thể tự ý mở ra mỗi người một xưởng nhỏ. Diều quan trọng là nấu một lần coi nó có đặc không, thay vì dùng ống thủy để cân nước tro, họ dùng lưỡi mà nếm thử.
Trong khi Dượng Hai thí nghiệm xà bông tại nhà, đằng này bà con xóm Ngọn cũng bỏ hết công việc làm để… “nấu” với kiến thức tối thiểu của mình. Nước tro cây mắm, dầu dừa và nước lạnh trộn trong chảo, bắc lên bếp. Họ ngóng xem kết quả. Nhắm chừng xà bông có thể đặc, họ cho nhiễu vài giọt trên giấy hút thuốc. Nhưng lạ thay! khi đổ ra khuôn, xà bông chỉ đặc trên mặt, lớp dưới lỏng bỏng toàn nước tro mặn đắng.
– Tại mình thiếu cái ống thủy để cân nước tro – Một người nói.
– Phải đó! Tro cây mắm mặn không đồng đều, cây già mặn hơn cây non, khúc gốc mặn hơn khúc ngọn, tôi chắc như vậy.
Có người thỏ thẻ:
– Hay là… để tôi lại đẳng lén ăn cắp cái ống thủy đem về đây cho bà con mình xài.
Người khác can gián:
– Ở tù chết. Hơn nữa, đem về đây mình biết xài nó theo cách nào? Ai biết số, biết chữ? Tôi tưởng mình nên ăn cắp một chút nước tro, thứ nước tro mà ổng đã thí nghiệm, được coi là đúng chữ. Ðem chén nước đó về đây, mình cứ chế tạo một cái ống thủy khác, không cần mua ở bên Tây như ổng.
– Làm cách nào?
– Mình kiếm cái chai dầu gió cũ, bỏ dằn vào đó một hột chì rồi đậy nút lại, để chai nọ không nằm ngang khi nổi trên mặt nước. Ðó là ống thủy của mình tạm chế tạo. Bấy giờ mình thả chai dầu gió nọ vô nước tro, thứ nước tro mà dượng Hai đã cân rồi, đúng chữ. Hễ chai dầu gió chìm xuống đến mức nào, mình ghi lằn mặt nước ấy vào hông chai.
Ý kiến đó được hoan nghinh và thi hành.
Thế là vài ngày sau mỗi người đều có một ống thủy riêng biệt. Dượng Hai nào hay biết chuyện gì, ngày hai buổi, dượng đinh ninh rằng với một kế hoạch châu đáo, theo qui mô to lớn, xóm ngọn Xẽo Bần sẽ trở thành một trung tâm quan trọng.
Nhưng có điều khiến dượng khó hiểu: Từ nửa tháng qua, bà con lối xóm ít lại đây để nói chuyện như mọi lần.

Một buổi sáng, chú Xồi bơi chiếc xuồng “tạp hóa” đến bến, mời dượng:
– Dượng Hai mua xà bông không? Xóm mình chế tạo thứ này nhiều quá rồi. Ðem giặt quần áo bọt cũng nhiều như xà bông bên Tây.
Dượng Hai thất sắc:
– Ai chế tạo vậy?
Chú Xồi đáp:
– Nhà nào cũng có nấu. Không tin dượng đi dạo coi thử.
Ðến bây giờ, dượng Hai mới hiểu tại sao hổm rày mấy người trong xóm khi gặp dượng là họ chào hỏi sơ qua rồi kiếu từ lập tức, sắc mặt không được tự nhiên.
Dượng thở dài:
– Trách ai bây giờ! Tại mình “sanh bất phùng thời”
Bao nhiêu xà bông sản xuất ở ngọn Xẽo Bần được tung ra khắp thị trường miền Hậu Giang. Cạnh tranh có hiệu quả với loại xà bông chế tạo bằng tro dừa ở Bến Tre vì tro cây mắm ở đây mặn hơn. Mỗi khi đi bán từ xa trở về, họ không quên mua tặng cho dượng vài gói trà Kỳ Chưởng.
– Trăm sự cũng nhờ khoa học của dượng đó, dượng ạ!
Dượng Hai đáp:
– Tôi mừng giùm bà con. Bà con đi dọc đường có gặp ai nấu xà bông như xóm mình đây không? Phải thận trọng, giấu nghề…
– Có. Nhưng xấu hơn xà bông mình nhiều. Họ bán chạy nhờ có hiệu. Kỳ này tôi tính khắc con dấu Việt Tân, Việt Hưng gì đó để đóng vô, kèm theo hình mặt trời cho cục xà bông nó “mạnh” một chút.
…Năm 1945, cả xóm ngọn Xẽo Bần không nấu xà bông nữa. Họ phải lo những chuyện khác cao cả hơn. Nhưng ý nghĩa của cuộc chiến đấu mới nào có gì lạ hơn là làm cho dân giàu nước mạnh, phát triển nội hóa. Có lẽ vì lý do đó mà họ hăng hái hơn ai hết. Vì họ đã thấy rõ một lần rồi.

“Ngã Hả Cu?”

baotreonline.com

Đoàn Xuân Thu

February 23rd, 2023

Post by Sơn râu 13 Aug 2024

Đỗ Hữu Ca và biệt phủ lấn sông – nguồn authentic.vn 

Theo báo quốc doanh trong nước, tối 18 tháng Hai, năm 2023, Bộ Công an, tỉnh Quảng Ninh đã khám xét hai biệt phủ của Ðỗ Hữu Ca, thiếu tướng,  nguyên giám đốc Công an Thành phố Hải Phòng.Một tại phường Ðằng Lâm, quận Hải An, Thành phố Hải Phòng. Hai tại xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng.Còn nhớ năm 2019, Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam có đi một bài viết: đây là một biệt phủ ‘lấn sông rộng hàng nghìn mét vuông, uy nghi, đồ sộ và tráng lệ”.Tạp chí nầy đã bị mấy quan phạt 50 triệu đồng, tước giấy phép hoạt động 2 tháng vì thông tin ‘sai sự thật’, ‘fake news’.Lúc đó, Thiếu tướng Ðỗ Hữu Ca dù đã về hưu, nhưng vẫn còn có nanh, có vuốt. Chúng mầy dám đụng tới ông là ông cắn.Nhưng lần nầy, chúng cắn lại ông. Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Ninh đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh tạm giữ đối với Thiếu tướng Ðỗ Hữu Ca, cựu giám đốc Công an Thành phố Hải Phòng về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. (Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản? Theo bà con trong nước xầm xì là Hữu Ca nhận tiền chạy án, Chạy không xong, quỵt luôn không chịu trả tiền lại cho người ta.Y như trong tuồng Nghêu, Sò, Ốc, Hến: “Tiền vô túi quan là của quan”.Ngoài ra Hữu Ca còn dính vô cái vụ trốn thuế, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ…”Còn quyết định “khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh tạm giữ?” Diễn Nôm là còng Thiếu tướng Hữu Ca lại, bắt đi chăn kiến.Bà con kháo với nhau tay dám sờ dái ngựa mà không sợ nó đá hậu một cái cho giập mật là Ðại tá Ðinh Văn Nơi, mới từ An Giang, căn cứ địa của Q (Cu, lại cu nữa!) Chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân mới tháng trước lên thay cho Phúc Niểng về Quế Sơn, Quảng Nam để làm người tử tế.

Như vậy dù chỉ là lon đại tá, tớ chơi cậu luôn. Thiên lôi mà! Ai sai đâu là tao búa đó!Nguyễn Hữu Ca tức ‘Hả Cu’ là ai vậy? Y 65 tuổi, quê tại xã Kênh Giang, huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hoa Phượng đỏ Hải Phòng. “Những Bến Bính, Xi Măng, Cầu Rào, Cầu Ðất, Lạc Viên” Những cái tên nghe chẳng thơ đâu. Nhưng với ta vô cùng oanh liệt. Ôi thân thiết tự hào quê hương vì có một lãnh chúa đầu gấu với bốn bằng đại học, An ninh, Luật, Báo chí và Ngoại thương.Bà con trong nước xôn xao như vỡ chợ trên Facebook. Rồi ngay cả đài ‘Bi-Bi-Xi’ tuốt bên Anh cũng chạy “breaking news’. Lúc Ủy viên Bộ Chánh Trị, “Bí thư thành quỷ HCM” Ðinh La Thăng la làng lúc bị nhốt cũng không to hơn thế. Chẳng qua, lúc Ðỗ Hữu Ca đang làm giám đốc Công an Hải Phòng là lúc xảy ra vụ án Ðoàn Văn Vươn gây chấn động cả nước.Bài Bình ‘Vươn’ Ðại cáo của nhà hoạt động xã hội Trương Quốc Tuấn cho biết:“…Anh em họ Ðoàn, ngăn biển lấp đất. Mồ hôi chan mặt, máu đổ xuống đầm. Trải mười mấy năm đội đá vá trời. Nơi Cống Rộc mới tạo thành cơ nghiệp. Than ôi! Cũng do thấy tiền tài hoa mắt. Bởi nghe điều lợi lộc ù tai. Bọn cường hào ác bá phủ huyện bàn nhau. Ðem điều lợi nhử quan đầu tỉnh.

…Tức nước vỡ bờ, già néo đứt dây. Bom tự tạo nổ tung, khiếp hồn quân hung bạo. Ðạn hoa cải bay vèo, bạt vía lũ cường quyền. Mất hồn hết vía, kéo nhau lui. Ðộng phách kinh tâm, tìm chỗ nấp…

Hải Phòng huy động quân đội và công an can thiệp trong vụ cưỡng chế đất của gia đình ông Đoàn Văn Vươn (huyện Tiên Lãng), 05/01/2012. Trong ảnh, đại tá Đỗ Hữu Ca (X) Giám đốc Công an Hải Phòng – nguồn RFI

Thấy đã yên yên, tràn quân tới. Kéo ập vào nhà, chỗ bỏ không. Giận đã cành hông, mất mày mất mặt. Bắt chó, đuổi gà, phá nhà thành bình địa mới đã nư. Vợ dại, con thơ chúng cũng chẳng từ. Bụng mang dạ chửa, dùi cui thúc vào bụng…Trong một phút đất bằng dậy sóng. Cửa nhà cơ nghiệp bỗng tiêu tan. Gia đình, vợ con xẻ nghé tan đàn. Nỗi oan ấy vì ai mà nên nỗi? Thượng bất chánh, hạ tắc loạn mới lắm dân oan. Chính sách bậy, lãnh đạo sai mới sinh phản kháng…Tội âm mưu chống người thi hành công vụ đã quá rõ ràng. Tội cố ý giết người, đả thương sai nha khó lòng chối cãi. Khẩn trương xét xử, tức khắc thi hành. Xử một răn trăm, để dân oan từ nay hết hòng nhúc nhích!”Viết văn xuôi là: “Năm 2009, anh em Ðoàn Văn Vươn, xã Bắc Hưng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng bị bọn cường hào ác bá cấu kết với tham quan, ô lại dồn họ vào đường cùng để cướp đất. Anh em Vươn quá uất ức đã vác mìn, súng chống lại cả trăm công an, bộ đội. Sau hơn 4 tiếng đụng độ, kết quả 4 thằng Công an và 2 tên bộ đội khuyển ưng CS đi nằm nhà thương.

Ông Ðoàn Văn Vươn và em trai Ðoàn Văn Quý bị tuyên phạt y án 5 năm tù ngày 31/7/2013 về tội Giết người và Chống người thi hành công vụ.

Chính Giám đốc Công an Ðỗ Hữu Ca là người ra lệnh, chỉ huy đàn áp và bắt nhốt dân oan Ðoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng, Hải Phòng. Sau đó ông ta còn ca ngợi chiến công này là một trận đánh đẹp, nên ghi vào sách. Thủ tướng ‘Ba Ếch’ thăng chức Thiếu tướng cho Ðại tá Ðỗ Hữu Ca.Giờ thì Thiếu tướng Ðỗ Hữu Ca, cựu Giám đốc Công an Hải Phòng bị tạm giữ, khám xét nhà riêng, rồi bị nhốt chờ hầu Tòa. Mà mấy quan Tòa nầy trước cũng từng là bạn nhậu với tớ. Ðời đểu thế! Dẫu làm cho tới tướng Công An cũng bị ủ tờ. Nhưng cũng có nhiều an ủi! Ðâu phải mình Ðỗ Hũu Ca? Mà còn Thiếu tướng Tiến sĩ Nguyễn Ðức Chung, tự Chung con, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thủ đô Hà Nội cũng đội chuối khô và một số tướng sao băng còn nhiều sao hơn Tướng Hữu Ca, Hả Cu nữa kìa!Là đảng viên CS cao cấp, Thiếu tướng Hữu Ca, với bốn bằng đại học, ắt phải rành câu nói khét tiếng của Mao Chủ Tịch, người không thích đánh răng: “Cách mạng vô sản là sự trấn lột những kẻ bóc lột”Dân nghe cái tin ruồi bu nầy, người thì nói hơi trễ; người thì nói đáng đời. Nhưng có người chiết tự cái tên Ðỗ Hữu Ca: “Ðỗ là Ngã. Hữu Ca là Hả Cu? Ngã Hả Cu? Xui thấy mẹ!

ĐXT

Bộ sưu tập đồng hồ mắc tiền của Thích Chân Quang

baotreonline.com

Du Face

June 15th, 2024

Post by Sơn râu 12 Aug 2024

Hình được chú ý trong tuần:

Thích Chân Quang tên thật là Vương Tấn Việt sinh ngày 9-12-1959, hiện là trụ trì chùa Thiền Tôn Phật Quang (tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu) – nơi có tượng Phật rất giống sư trụ trì (Thích Chân Quang).

Ông Thích Chân Quang là người nổi tiếng trên mạng xã hội với nhiều phát ngôn gây “sóng gió” về nhân quả, các lời kêu gọi cúng dường, cũng như các phát ngôn chỉ trích các nhà sư khác, chỉ trích luôn cả tiền nhân như:

“Trung Quốc là anh, Việt Nam là em…em phải lễ phép với anh. Chỉ có Lý Thường Kiệt là hỗn dám đem quân đánh Trung Quốc.”

“Ví dụ như có những lúc thời gian gần đây, trời, thời tiết rất là nóng, rồi có những người thích vô phòng máy lạnh, thiệt lạnh, thiệt mát sống, ngược lại với cái nóng bên ngoài. Thầy vẫn nói, những người này hơi ác. Vì sao? Vì không thuận theo luật đất trời. Trời nóng, mình cứ theo cái nóng mà sống. Trời lạnh, mình cứ theo cái lạnh mà chịu. Rồi đến khi trời lạnh, cái mình tắm nước thiệt nóng, vẫn là một cái ác…”

“Cái võng là cái nơi tiêu diệt hết công đức của chúng sinh.”

“Thầy nói thẳng một câu là người có tâm đạo thì cúng luôn cả cái nhà mình cho chùa luôn, dọn đi chỗ khác ở. Cứ ở cái chòi nào đó, ở bình thường thôi. Cúng hết phần đất, rồi sau này sẽ coi con cháu mình nó giàu.”

“Ai hát karaoke nhiều, người đó có nguy cơ chết làm ma câm.”

Ngoài ra, ông Thích Chân Quang còn được “ngưỡng mộ” vì có nhiều tài sản, đất đai trải dài khắp đất nước. Ông Thích Chân Quang đam mê các hãng xe Đức và đồng hồ, khi thuyết giảng ông Thích Chân Quang rất hay xắn tay áo để khoe đồng hồ. Và trong ảnh là vài cái đồng hồ “cưng” trong bộ sưu tập đồng hồ của ông được “người hâm mộ” ông chụp lại.

Chiếc áo không làm nên thầy tu

baotreonline.com

Du Face

June 22nd, 2024

Post by Sơn râu 12 Aug 2024

Thích Trúc Thái Minh tên thật là Vũ Minh Hiếu (sinh năm 1967, quê ở tỉnh Bắc Ninh), ông hiện là trụ trì chùa Ba Vàng, đồng thời là Phó trưởng ban Thông tin truyền thông Trung ương Giáo hội Phật giáo CSVN. Thích Trúc Thái Minh nổi tiếng nhờ rao giảng thuyết oan gia trái chủ, chùa Ba Vàng đã tổ chức lễ giải oán kết, giải oan gia trái chủ định kỳ, để được “giải nghiệp”, các Phật tử đã phải cúng cho chùa vài triệu đến hàng chục triệu VND. Sau nhiều thị phi vô đạo đức, cuối năm 2023, chùa Ba Vàng tiếp tục gây bất bình khi tổ chức trưng bày “xá lợi tóc Đức Phật 2,600 tuổi” để thu hút tiền của Phật tử u mê tại Việt Nam, “xá lợi tóc Đức Phật 2,600 tuổi” được xác định chỉ là một loại cỏ tên là Pili (Heteropogon contortus), loại cỏ này tự chuyển động khi ướt. Gần đây, chùa Ba Vàng đã đặt ra một quy định mới cho chúng Phật tử, khi qua thiền môn phải giao nộp điện thoại để không quay hình, ghi âm lời giảng của Thích Trúc Thái Minh và đệ tử đăng lên mạng xã hội, để dân chúng có thể phê phán, bóc tách lời sai trái từ ngôi chùa “quyền lực” này.

Hình ảnh này được lấy từ một đoạn video quay cảnh Thích Trúc Thái Minh tặng quà của Phật tử cúng dường gồm đồ ăn, thức uống lại cho các cán bộ 2 phường thuộc Thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh và Phật tử khi họ đến tham dự lễ Phật Đản năm 2024 (giữa tháng 5-2024). Trong clip này, có 2 cháu nhỏ thành tâm đứng xếp hàng, đến lượt nhận quà, nhưng Thích Trúc Thái Minh gạt đi và trao quà cho những “yếu nhân” đứng phía sau, trước sự vô cảm của những người lớn xung quanh. Không biết 2 cháu nhỏ lúc đó nghĩ gì? Xem ra, đến Ba Vàng, dù Quý đại chúng có cúng dường tiền tấn, hay thành tâm hành trì đến mức nào thì cũng không có cách chi mà gặp được Phật, bởi chính Ngài cũng phải lắc đầu, bịt mũi tránh xa chốn đó tự bao giờ.

Hai siêu nhân tài của riêng CSVN

baotreonline.com

Du Face

July 6th, 2024

Post by Sơn râu 12 Aug 2024

  1. Vương Tấn Việt tức Thích Chân Quang (sinh năm 1959, thầy chùa giàu có bằng tiền Phật tử, nổi tiếng với những thuyết giảng bậy bạ về Phật giáo nhưng vẫn giữ chức cao trong Giáo hội Phật giáo CSVN và là trụ trì một ngôi chùa lớn ở Vũng Tàu): Từ nhỏ tới năm 30 tuổi không học hành gì, 30 tuổi mới tốt nghiệp cấp 3 Bổ túc văn hóa hệ tại chức (không học trên trường). Đến 60 tuổi lấy văn bằng 2 cử nhân luật (cũng là hệ tại chức – hiện chưa thấy văn bằng 1). 62 tuổi lấy bằng tiến sĩ.

Thử hỏi trong phòng Diên Hồng của mấy ngàn ông nghị gật kia có bao nhiêu tấm bằng đại học/tiến sĩ thật? 

  1. Đỗ Hữu Ca (sanh năm 1958, thiếu tướng, cựu giám đốc công an Hải Phòng – người vào tù vì nhận hối lộ): Trước 1975 không có đi học, từ tháng 8-1975 đến tháng 4-1976, ông Ca là Học viên Trường Công an Hải Phòng. Năm 2023, truyền thông trong nước công bố ông Ca có 4 bằng cử nhân đại học: Đại học An ninh, Đại học Ngoại thương, Đại học Báo chí, Đại học Luật….

Con chim sẻ của thành Paris

baotreonline.com

Tim Nguyễn

August 9th, 2024

Post by Sơn râu 12 Aug 2024

Mới đây, xem Lễ Khai Mạc Thế Vận Hội Mùa Hè Paris, nghe Celine Dion hát L’hymne à L’Amour bỗng nhớ đến danh ca Edith Piaf của Pháp, bà là tác giả bài Ngợi Ca Tình Yêu này.

Edith Piaf – con chim sẻ (La môme – The little sparrow) của thành Paris. Nhỏ bé thế thôi (cao 1m47), tội nghiệp thế thôi, nhưng Edith Piaf là ca sĩ thần tượng của Pháp, biểu trưng của nền văn hóa Pháp Thế Kỷ 20. Edith Piaf được nhiều thế hệ yêu mến. Cuộc đời bà là một bi kịch đã được đưa lên màn ảnh.

Thật vậy, Edith Piaf (1915-1963) là nghệ sĩ lớn nhất của quần chúng Pháp (greatest pop singer). Tiếng hát của bà là linh hồn của Paris. Nó cũng là bi kịch của đời bà. Những bài hát hay nhất và nổi tiếng nhất của Edith Piaf gồm: La Vie En Rose (1946),  Hymne à l’ Amour (1949) Milord (1959) và Non, Je ne regrette Rien (1960). Phim La Môme (Con chim sẻ) vẽ lại tiểu sử đời bà từ ấu thơ cho đến khi gần về cõi chết. Tựa đề của phim dùng ở Anh và Mỹ là La Vie En Rose (Đời màu hồng). Phim từng đoạt Giải điện ảnh lớn tại Berlin (tháng Hai, 2007). Và người đóng vai Edith Piaf trong phim (Marion Cotillard) đã được trao giải Oscar vai nữ tài tử xuất sắc (2008). Bộ phim khắc họa hình ảnh Edith Piaf từ tuổi nhỏ nghèo đói hãi hùng đến năm 46 tuổi trong giai đoạn lịch sử hai cuộc thế chiến. Một cuộc đời đầy biến động với quá khứ bất hạnh đã được đạo diễn Olivier Dahan miêu tả tài tình. Phim được khởi quay vào giữa năm 2006. Để nhập vai hoàn hảo, Marion phải nhuộm đen mái tóc nâu óng ả và đôi mắt nâu. Marion còn phải bỏ ra 5 giờ trang điểm và phục trang sao cho giống hệt Edith Piaf một thời. Phim chiếu tại Cannes lần thứ 60, mở màn LHP Berlin lần thứ 57, và phần diễn xuất của Marion đã nhận được hoan hô suốt hơn 15 phút sau đó. Marion từ một tài tử trung bình đã trở nên nổi tiếng lẫy lừng ở Pháp, thường xuyên xuất hiện trên bìa các tạp chí danh tiếng. Xem phim, người ta có cảm tưởng cô là hiện thân của Edith Piaf.
Edith Piaf, theo lời kể, sanh ra bên lề đường, bị cha mẹ bỏ rơi, tuổi thơ lớn lên trong nhà thổ của bà ngoại, mắt mù rồi lại sáng, y như một phép lạ. Năm 1929, vừa 14 tuổi, Edith theo cha đi hát dạo trên đường phố. Về sau, Edith rời bỏ người cha và đi theo con đường riêng của mình. 16 tuổi, bà yêu một cậu tên Louis Dupont. Đây là mối tình đầu thơ dại của Edith. Hai người có với nhau một đứa con gái tên Marcelle, bé chết lúc mới 2 tuổi. Năm 1935, Édith lọt vào mắt xanh của một ông chủ  hộp đêm tên Louis Leplée. Ông thuyết phục cô theo nghiệp ca hát và đặt cho cô cái biệt hiệu theo cô tới cuối đời: Con chim sẻ Edith. Ông cũng là người yêu cầu Edith mặc toàn đồ đen khi lên hát, và trang phục này đã khắc họa hình ảnh người ca sĩ tài danh trong lòng người yêu nhạc. Tình yêu lớn nhất trong đời Piaf là với võ sĩ Quyền Anh Marcel Cerdan, mất năm 1949 trong một tai nạn máy bay trên đường đến thăm Piaf khi bà đang ở Mỹ. Trong một thời gian, Piaf lâm vào cơn khủng hoảng. Trong cơn hôn mê cuối đời, bà vẫn gọi tên Marcel.

Edith Piaf – Arkadia Records 

Piaf qua hai lần kết hôn: Lần thứ nhất với Jacques Pills, một ca sĩ. Họ lấy nhau năm 1952 và ly dị năm 1957. Người chồng thứ hai là Théo Sarapo, một thợ làm tóc sau thành ca sĩ và tài tử, anh ta nhỏ hơn Piaf tới 20 tuổi. Chưa hết: Người nữ ca sĩ «con chim sẻ» cao 1m47 nầy còn nghiện rượu, nghiện ma túy. Khi lìa đời vào năm 1963, có cả chục ngàn người đến nghĩa địa Père Lachaise ở Paris để tưởng niệm.

Ngày nay nhắc tới Edith Piaf là nói tới một biểu tượng của văn hóa Pháp. Tiếng hát của bà như còn âm vang đâu đó với đôi mắt mở to, dáng người nhỏ bé mặc toàn đen, với bản «La vie en rose» (1946) ngợi ca tình yêu và hạnh phúc. Bài hát cuối cùng của bà là bài “Non, je ne regrette rien”:

Non, rien de rien

Non, je ne regrette rien

Ni le bien qu’on m’a fait

Ni le mal

Tout ça m’est bien egal

Non, rien de rien

Non, je ne regrette rien

C’est payé, balayé, oublié

Je me fous du passé

Avec mes souvenirs

J’ai allumé le feu

Mes chagrins, mes plaisirs

Je n’ai plus besoin d’eux

Balayé les amours

Avec leurs trémolos

Balayé pour toujours

Je repars à zéro  

Poster phim La Vie en Rose

Không. Tôi không còn hối tiếc gì nữa. Kể cả điều tốt người ta làm cho tôi, lẫn điều xấu. Tất cả với tôi đều như nhau. Những niềm vui. Những nỗi buồn. Đã quên, đã quét sạch hết rồi, Tôi chẳng thèm đếm xỉa đến quá khứ của mình nữa. Bằng những kỷ niệm, tôi nhúm lên ngọn lửa. Những nỗi buồn, những niềm vui… Tôi chẳng còn cần tới. Tất cả đã được quét sạch. Những mối tình rung động líu lo… đã đuợc quét sạch vĩnh viễn. Tôi lại khởi đi từ số không.

“La Vie En Rose” của đạo diễn Pháp Olivier Dahan quả thật là cảm động. Cuốn phim lột tả những tương phản cùng cực với niềm vui tột cùng và nỗi đau đớn, lầm than của kiếp người: những đường phố hẹp, trong đêm mờ mờ ánh lửa, nhà thổ và những khuôn mặt rã rời, cuộc hành hương cầu nguyện thánh Thérèse, đời sống cơ cực dưới mưa, sự tương phản giữa một Paris trước chiến tranh và New York tươm tất, chào đón người nghệ sĩ tài ba. Đó là cuộc đời của Edith Piaf.

Nhà điểm phim Cao Thanh Tùng của báo “Viet Tribune” nhận xét: Nghệ thuật của Olivier Dahan cho thấy rất rõ, những cảnh ( scene) trên màn ảnh không theo một thứ tự thời gian. Sau cảnh (scene) Normandie là Belleville. Sau Paris tháng Hai, 1960 là California tháng 8, 1955.

Đúng vậy. Kỹ thuật của Olivier Dahan làm xáo trộn tất cả: không gian, thời gian, niềm vui, nỗi buồn. Diễn hành qua trước mắt ta -hình bóng cô gái nhỏ ca hát bên đường lượm từng đồng bạc, người nghệ sĩ như con chim bị ướt lông trên sân khấu với tiếng hát của sự lầm than, tình yêu, đám đông, chim sẻ và những quả chuông, anh lính lê dương, người kéo đàn phong cầm, cuộc hành trình dài của những người nghèo khó, tên ma cà bông, cái đĩa quay hoài…

Trường đoạn gây ấn tượng nhất là lúc Edith Piaf uống thuốc an thần nằm mê, thức dậy, thấy người tình võ sĩ đã về với mình. Hai người ôm nhau, hôn nhau nhẹ nhàng, êm ái. Rồi nàng vội vàng đi sửa soạn bữa điểm tâm cho chàng gồm cà phê đen, bánh nướng. Nhưng rồi, ô hay, bạn bè ở đâu xuất hiện vây quanh. Trong đó có ông bầu hát, đạo diễn sân khấu, nhà quản lý… Họ buồn bã đứng nhìn người ca sĩ: “Edith, hãy can đảm lên. Máy bay từ Ma rốc đã rớt…” Trong phút giây, Edith Piaf trợn trừng đôi mắt, hốt hoảng, khuỵu xuống, hai tay ôm lấy đầu. Lại đứng dậy, chạy quanh. Chạy ra phía sau. Mở ra một nhà hát đầy người. Một sân khấu, một dàn nhạc, và một tiếng hát cất lên…

Một cảnh khác, trên bờ biển California. Edith Piaf ngồi một mình trên bờ cát, trước mặt biển màu nâu tím. Bà đang ngồi đan. Một nữ phóng viên trẻ tuổi tiến tới phỏng vấn bà. Phóng viên: “Bà khuyên phụ nữ điều gì?” Edith: “Yêu”. Phóng viên: “Còn những cô gái trẻ?” Edith: “Yêu”. Phóng viên: “Thế các em bé?” Edith: “Yêu.”

Cảnh cuối cùng của phim muốn làm ta nghẹt thở: Edith hôn mê trên giường bệnh. Bà nhìn thấy mình là cô gái nhỏ đứng với hoa cỏ trên đồi. Thấy mình bị cha mang đi hát rong kiếm sống. Thấy sân khấu lớn mở ra và mình đứng hát: Non, je ne regrette rien. Không, tôi chẳng còn gì để hối tiếc…

TN – Tổng hợp

Cô bé áo đỏ

baotreonline.com

Tim Nguyễn

Post on March 24th, 2022

Post by Sơn râu 12 Aug 2024

Một tối mùa đông năm 2014, nhân Trần Trung Ðạo qua chơi, lại có thêm vợ chồng Trần Vũ và Thanh Mai, anh em Trẻ mở họp mặt bạn bè ở Saigon Block. Tuyết rơi đầy trời nhưng trong phòng ấm cúng, có trà (rất thơm), rượu (tới sáu chai vang đỏ) và thức ăn (đầy bàn), chuyện trò rộn rã, có lúc xoay qua điện ảnh. Nhân lúc hứng khởi, Nhật Hoàng, Ðinh Yên Thảo và kẻ này có nhắc tới hai cuốn phim vào hàng kinh điển là The Pianist và The Schindler’s List. Hôm nay, một ngày cuối đông trong ám ảnh chiến tranh diệt chủng hừng hực ở Ukraine gần biên giới Ba Lan, ngồi nhớ lại không khí đêm nào, Nguyễn xin kể lại câu chuyện về cô bé mặc áo đỏ trong phim The Schindler’s List.

Xin nói ngay: Ðây là cô bé mặc áo đỏ chứ không phải cô bé quàng khăn đỏ như trong thơ tôi.

Hỡi cô bé quàng khăn đỏ / đã chết trong hàm răng sói già…

Là hai nhân vật khác nhau – một của cổ tích và một của phim ảnh thời nay- nhưng cả hai cô bé đều là nạn nhân của định mệnh khốc liệt.

Mời bạn đọc theo dõi câu chuyện.

Cô bé áo đỏ là nhân vật duy nhất có màu đỏ trong cuốn phim toàn đen trắng Schindler’s List (Bản danh sách Schindler). Cô mới lên ba thôi mà đã bị đưa vào trại tập trung Auschwitz và rồi chết trong đó. Nhưng trước hết xin nói về cuốn phim. Schindler’s List là thiên sử thi bi tráng bằng hình ảnh, hoàn thành năm 1993, đạo diễn là Steven Spielberg, kịch bản của Steven Zaillian, dựa trên cuốn tiểu thuyết Schindler’s Ark của nhà văn Úc Thomas Keneally. Cuốn phim kể lại câu chuyện về Oskar Schindler, một thương gia người Ðức đã bảo vệ hơn một nghìn người Do Thái Ba Lan thoát khỏi nạn diệt chủng Holocaust bằng cách vận động đưa họ vào làm trong các nhà máy của mình. Chuyện phim diễn ra trong 72 ngày ở Ba Lan trong thành phố cổ Krakow, khởi đầu vào năm 1939 khi Ðức Quốc Xã tập trung người Ba Lan gốc Do Thái trong khu ổ chuột và khu tập trung Kraków Ghetto. Oskar Schindler (Liam Neeson), một doanh nhân đến thành phố từ Sudetenland với hy vọng làm giàu, y đã hối lộ những cán bộ cấp cao Wehrmacht và SS, để họ phung phí ăn chơi sa đọa, nhờ đó được giao cho một nhà máy sản xuất của quân đội. Ông ta hợp tác với Print Itzhak Stern (Ben Kingsley), một viên chức của Krakow Judenrat (Hội đồng Do Thái) có liên hệ với cộng đồng doanh nghiệp Do Thái và Chợ đen bên trong khu ổ chuột. Họ cho ông ta mượn tiền xây dựng nhà máy để đổi lấy một cổ phiếu của những sản phẩm được sản xuất. Những người Do Thái làm việc cho Schindler được cấp một loại giấy chứng nhận, nhờ đó họ có thể ra ngoài các trại tập trung mà không sợ bị quân Ðức bắt hay xét hỏi.

Cô bé mặc áo đỏ trong phim The Schindler’s List. nguồn youtube

Trong khi đó, đội trưởng SS Amon Göth (Ralph Fiennes) được điều tới ở Krakow để bắt đầu xây dựng trại tập trung Kraków-Plaszów. Ông ta ra lệnh thanh toán một phần của khu ổ chuột và cuộc thảm sát bắt đầu. Schindler nhìn sự tàn sát từ một ngọn đồi, và cảm thấy đau lòng. Qua Stern, ông hối lộ Göth để y cho phép ông ta xây dựng một tiểu trại cho công nhân. Bỗng mệnh lệnh từ Berlin bắt Göth phá hủy những vết tích của người Do Thái bị giết trong khu ổ chuột Krakow, tháo dỡ Plaszów, và dùng tàu chuyển những người Do Thái còn lại tới Trại tập trung Auschwitz. Bằng cách hối lộ Göth những khoản tiền lớn, Schindler và Stern giữ họ khỏi những chuyến tàu đưa tới Auschwitz, từ đó họ di chuyển tới Tiệp Khắc an toàn, chỉ có một đoàn tàu chở phụ nữ và trẻ em chạy tới trại Auschwitz do nhầm đường. Lạc lõng trong đó có em bé áo đỏ. Sau người ta tìm thấy chiếc áo đỏ của em trên một chiếc xe chở xác.

Vai em bé áo đỏ do Oliwia Dabrowska đảm nhận. Mặc dù không chủ ý, có một sự trùng hợp ở đây: Thực tế tại khu Kraków Getto cũng có một cô bé áo đỏ tên là Roma Ligocka, nhưng cô bé này sống sót sau thảm họa diệt chủng Holocaust. Sau khi cuốn phim được trình chiếu, Roma Ligocka viết một cuốn tự truyện tựa đề là The Girl in the Red Coat: A Memoir (2002). Tuy nhiên, cảnh trong phim của Spielberg được dựng lên theo ký ức của Zelig Burkhut, người sống sót từ trại tập trung Plaszow và nhiều trại khác. Khi được Spielberg phỏng vấn trước lúc làm phim, Burkhut cho biết ông gặp ở trại tập trung một cô bé mặc áo đỏ khoảng chưa tới 4 tuổi, bị sĩ quan Ðức Quốc Xã bắn chết ngay trước mắt ông. Hình ảnh đó đã hằn sâu trong trí óc ông, chưa bao giờ phai nhạt. Ðạo diễn Spielberg thì nói ông theo đúng kịch bản và cô bé áo đỏ có thể xem là hiện thân của sự trong trắng và hy vọng bị giẫm nát dưới bàn chân của bạo lực.

Về phần cô bé áo đỏ nhân vật trong phim, cô vẫn được các trang mạng điện ảnh gọi là Red Genia, còn Oliwia người nhập vai cô bé thì sinh ở Krakow ngày 28 tháng Năm 1989. Có lúc cô bảo cô hổ thẹn vì đã có mặt trong cuốn phim “Schindler’s List” của Steven Spielberg. Thật ra hồi đó Oliwia nào hiểu gì về vai trò biểu tượng của mình trong cuốn phim. Mãi tới năm 11 tuổi, bất chấp lời khuyên của Steven Spielberg là đợi tới 18 tuổi rồi hãy xem phim, Oliwia lần đầu tiên thấy hình ảnh mình trong “Schindler’s List” và cô kinh hoảng: “Tôi sợ quá.” Cô nói với báo The Times của Anh: “Tôi không hiểu gì nhiều nhưng tôi mong sẽ không bao giờ xem lại nó trong đời tôi.” Cô còn cho biết bao năm qua nhiều người hỏi vai trò của cô trong cuốn phim làm cô vô cùng hổ thẹn và cô thầm trách cha mẹ sao lại để cô xuất hiện trong vai cô bé áo đỏ quá hãi hùng, bi thảm. Thế nhưng, cho tới nay khi đã trưởng thành và hiểu biết hơn, Oliwia Dabrowska đã nhận thức được sự quan trọng và tinh thần nhân bản của cuốn phim và lấy làm hãnh diện về vai trò biểu tượng của cô trong đó.

Tất nhiên bạn và tôi đều xót thương cho số phận bi thảm của cô bé quàng khăn đỏ và cô bé áo đỏ. Ôi, ước mong sao trên đời này những cô bé hiền lành và đáng yêu như thế mãi mãi bình an và hạnh phúc. Một chế độ được gọi là nhân bản nhân đạo phải thực hiện được điều đó.

TN – theo tin Internet

Dặm trường

vanviet.info/van

Văn 2 Tháng Tư, 2019

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 12 Aug 2024

Kỳ 8

Chương 20

Chưa đến giờ mở cửa, Thuận đã có mặt trước cửa trạm, chờ đợi. Đây là ngày đầu tiên, Thuận chính thức được ông Quán, trạm trưởng, chấp nhận đứng ra làm trung gian thu mua trầm cho trạm. Khách hàng đầu tiên là một thanh niên, mặt mày đen đúa, nhảy xuống từ một chiếc xe đạp thồ. Nhìn thoáng qua là Thuận phán đoán được khách hàng thuộc loại nào, tính toán ngay chiêu thức mua hàng. Đợi khách đổ hàng ra xong, Thuận ngẩng mặt lên nhìn:

–     Chú em đi cội mới về à?

–     Dạ, em đi cội, về cũng mấy hôm rồi.

–     Chú em đi vùng nào, nói coi?

–     Dạ, Khe Sanh.

–     Qua Lào không?

–     Em cũng chẳng biết nữa. Ở giữa rừng sâu, ai mà biết chỗ nào là Việt nam chỗ nào là Lào. À, mà chắc là Lào vì có thằng trong tụi em gặp lính Lào.

Anh chàng theo dõi từng động tác nhanh nhẹn của Thuận đang lựa hàng, bộ điệu bồn chồn. Thỉnh thoảng, cậu ta lượm ít miếng hàng từ cụm này bỏ vào cụm kia:

–      Anh Thuận xem, những miếng này đẹp như thế, mà anh hạ loại, tội em.

      Thuận gắt:

–     Có mấy miếng, cân lượng bao nhiêu mà chú em quan trọng thế.

      Thanh niên cười cầu tài:

–    Góp gió thành bão mà anh. Về đây, anh đôi lăn đôi lóc thế chứ ở trên rừng, tụi em bòn từng miếng.

Lựa xong, Thuận hỏi:

      – Hàng mày bán bao nhiêu đây?

– Anh cho em tám ngàn.

– Cái gì? Tám ngàn? Chú em muốn tau bán nhà sao? Ba ngàn. Chịu thì để đó, không chịu thì mang đi…Tau không ép.

Thấy thanh niên còn chần chừ, Thuận hạ giọng:

– Mà có mang ra khỏi đây thì cẩn thận, nhìn trước trông sau cho kỹ…Tụi nó …tụi nó…Tau không muốn chú em bị tiền mất tật mang.

Chỉ cần ỡm ờ dọa nhẹ như thế là người thanh niên chột dạ. Anh ta nhìn quanh nhìn quất, rồi nhìn Thuận, than van đi rừng đi núi cực khổ, năn nỉ Thuận thêm cho một ít. Nhưng Thuận cương quyết lắc đầu:

– Tau mua bán, một là một, hai là hai. Hàng nào tiền đó.

Biết có nói thêm cũng vô ích, anh thanh niên đồng ý bán. Thuận trả tiền, nhanh nhẹn chuyển hàng vào bên trong.

Cứ thế, bằng tư thế của một tay giang hồ nửa-con-buôn-nửa-cán-bộ, Thuận lần lượt mua gom hàng của dân đi trầm một cách khá dễ dàng. Đến chiều, anh gom hết mấy bịch hàng, niêm phong, mang vào phòng kiểm nghiệm của trạm. Gặp ông Quán đang ngồi lặp bặp bên ống thuốc lào, Thuận cười:

–     Chào chú. Khoẻ không chú.

Ông Quán vừa rít xong một hơi thuốc Lào, ngửa mặt lên, thổi một ngụm khói lên trên không. Ông nhắm mắt lim dim thưởng thức. “Phê” rồi, ông đưa chân đẩy nhẹ ống điếu xuống dưới chân ghế, nhìn Thuận:

–     Sao, hôm nay, lùa được bao nhiêu cân?

–     Hơi yếu, chú. Ðâu có bốn mấy cân.

      Ông nhìn Thuận:

–     Thế nào? Chú mày muốn bao nhiêu đây?

      Thuận lả giả:

–     Tùy chú. Cháu không dám.

      Ông lấy cái mấy tính ra, bấm lui bấm tới một hồi, rồi chỉ vào con số, bảo:

–     Con số này thấy đã có lời chưa?

      Thuận nhìn vào, giật mình, nhưng vội trấn tĩnh, đứng dậy, ôm lấy thân hình gầy gò của ông Quán:

–     Dạ, cũng có lời chút chút. Cám ơn chú.

Ông Quán cười:

– Lời chút chút? Thuận, mi đừng qua mặt tau. Tuy không xem mi mua hàng, nhưng kiểu làm ăn của mi ngoài đó, tau biết mi mua toàn giá hời. Không sao, nhà nước cần những tay biết làm ăn như mi.

      Ông Quán lấy xấp chi phiếu ra, viết đúng số tiền vừa nói, đưa cho Thuận, hạ giọng:

–    Khi lên ngân hàng lãnh tiền, nhớ bồi dưỡng cho con Chu.  Hôm qua, gặp tau, nó có hỏi thăm mi đấy. Nghe chưa?

Thuận rút gói thuốc lá, lấy một điếu ra châm, nhìn ông Quán, cười:

– Chú biết tính cháu rồi. Không chơi đẹp thì không phải là Thuận trầm.

Thuận bước ra khỏi trạm, cầm tấm chi phiếu, nhìn đi nhìn lại số tiền mà ông Quán trả, cười tủm tỉm một mình, nghĩ đến những ngày tháng huy hoàng trước mắt.

*

“Chơi đẹp” là phong cách của Thuận mà cũng là phong cách của ông Quán. Phong cách đó đã làm biến đổi việc làm ăn của một trạm thu mua nhà nước nhỏ của một địa phương. Và sau này, phong cách này lan rộng ra và góp phần thay đổi cung cách làm ăn của nhiều công ty thương nghiệp toàn quốc. “Chơi đẹp” đơn giản có nghĩa là biết sẵn sàng “chi” tiền. Chi trước thu sau. Chi mọi cách, mọi kiểu: trên bàn nhậu, tại nhà riêng, trong khách sạn và dưới mọi hình thức: bao gái, quà cáp. Chi từ khâu này qua khâu khác, từ dưới lên trên, chi nhiều chi ít tùy thuộc vào tình hình và mặt hàng. Chi càng đều, máy chạy càng đều. Rốt cuộc, mọi cá nhân đều có lợi trong lúc bộ máy nhà nước lại chạy đều.

Trạm thu mua nằm trên đường Huỳnh Thúc Kháng. Ðó là một căn nhà cũ hai tầng. Tầng trên dùng làm kho chứa và tầng dưới là nơi kiểm nghiệm hàng trước khi nhập kho. Phía bên ngoài là một khu hành lang khá rộng, đủ mặt bằng cho nhiều loại hàng hóa lỉnh kỉnh cũng như có chỗ cho khách hàng đến chờ đợi, giao dịch. Tuy vậy, vì không có sân, nhà lại nằm sát đường, nên khách hàng phải đậu xe quanh quất hai bên đường. Trạm thu mua đủ loại nông, lâm sản do người dân từ các nơi mang về, để bán lại cho các vùng khác và cũng để xuất khẩu. Tiếng là thu mua nhưng trong thực tế, trạm chẳng thu mua được gì nhiều vì công an thuế vụ lảng vảng khắp nơi, nhất là khu vực trước cửa trạm, khiến người ta không dễ gì mang được hàng đến trạm. Nó nghịch lý, nhưng đây chính là đặc điểm của lối làm ăn xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ của cơ quan thu mua là mua cho được hàng nằm rải rác trong dân. Nhiệm vụ của công an và thuế vụ là phải bắt, tịch thu hoặc đánh thuế người mang hàng đi bán để bảo vệ chặt chẽ cơ chế xã hội chủ nghĩa không bị ảnh hưởng bởi thị trường tự do. Có người cần bán hàng quá, để lọt được vào trạm, phải có tay trong tay ngoài. Người ở ngoài mang hàng, rình chờ, thấy thuận tiện là chạy đến bờ tường, ném thật nhanh vào để người bên trong chụp, như thế mới thoát khỏi thuế vụ, vì thuế vụ không được quyền vào trạm để bắt hàng.

Tình hình cứ như thế cho đến khi trạm có trưởng trạm mới là ông Quán. Ông Quán, gầy khô, nhỏ nhắn, ăn mặc xuềnh xoàng, nói năng nhỏ nhẹ, nét khắc khổ lộ rõ trên khuôn mặt. Vốn ở ngành công an lâu năm nên mọi đường đi nước bước trong bộ máy nhà nước, ông rất rành. Cùng làm việc với ông là hai nhân viên kiểm nghiệm, một thư ký và một thủ kho đều do ông Quán chọn lựa từ đám thủ hạ thân tín trước đây. Nhận chức xong, ông thực hiện ngay một sự thay đổi quan trọng. Trước hết, ông làm việc trực tiếp để có được một thỏa thuận bất thành văn giữa thương nghiệp và hai cơ quan công an thuế vụ nhằm tạo ra một khu vực an toàn để cho khách hàng yên tâm mang hàng tới bán. Thứ đến, ông cho thu mua thêm một mặt hàng “quốc cấm” là trầm. Theo ông, trầm cũng thuộc loại lâm sản và vì chỉ để xuất khẩu nên đây là mặt hàng chiến lược của trạm. Ngoài ra, để thu mua được nhiều hàng, không thể chỉ dựa vào chỉ tiêu do nhà nước quy định, mà phải biết tận dụng kinh tế thị trường: thuận mua vừa bán. Riêng trầm, ông Quán còn đi xa hơn: thay vì mua hàng như một cán bộ, ông mua hàng như một con buôn. Và để mua hàng như con buôn, ông cần đến sự hợp tác của con buôn.

Chỉ trong một thời gian ngắn, trạm thu mua trở nên rộn rịp. Ngay trước cửa trạm, lúc nào cũng có một số người công khai mua bán. Hàng hóa có khi đổ ngay trên lề đường. Người ta lựa chọn, kỳ kèo trả giá, trả tiền một cách thoải mái. Hàng ngày, đi ngang trạm, người ta thấy xe đủ loại, nào “cup” đời mới, nào Honda, xe đạp, xích lô đậu san sát, lấn cả ra mặt đường. Người có uy thế nhất trong số bốn, năm con buôn ngồi mua hàng ngay trước cửa trạm, chính là Thuận. Uy thế này là một kết hợp kỳ lạ và ăn khớp giữa một cơ quan nhà nước làm kinh tế với một con buôn, theo triết lý làm ăn của ông tân trạm trưởng. Thuận là một chọn lựa tinh khôn của trạm trưởng cáo già Quán. Ngoài chuyện “chơi đẹp”, Thuận còn là người có một lý lịch tương đối trắng, rất ít dính dáng gì đến chế độ cũ. Lại có máu giang hồ. Vì thế, Thuận còn là người hộ vệ cho ông, khi cần, nếu có một ai khác dòm ngó vào công việc thu mua phức tạp của ông.

Thế là trạm thu mua càng ngày càng “đỏ da thắm thịt”. Trang trí bên trong toàn đồ ngoại, từ cái quạt bàn cho đến lịch treo tường, từ bàn ghế cho đến cái máy đánh chữ. Chỉ tiêu hàng năm luôn đạt và vượt kế hoạch. Khách tham quan ra vào hàng ngày, có cả khách Hồng Kông và Singapore. Tổng kết cuối năm, trà rượu ăn uống linh đình. Trạm làm ăn lên, ông Quán lên, Thuận cũng lên, kéo theo cả những cán bộ phục vụ trong ngành công an và thuế vụ cùng lên.

*

      Trong số khách nhậu, chỉ trừ ông Lộc, trưởng “Kinh Tế 3” là người mới đến lần đầu, còn hầu hết đều đụng với Thuận trong nhiều lần nhậu khác nhau. Tâm, đội trưởng đội hình sự.  Lúa, phó Kinh tế 3. Viết, công an giao thông. Ðoàn, trạm thuế công thương nghiệp thành phố. Ngồi bên cạnh Thuận là Nguyện, thuộc đội bảo vệ chính trị. Khi ông Quán đến thì cuộc rượu đã lắng xuống. Ai nấy đều uống cầm chừng, đợi. Ông Quán mang theo một chai sâm banh Liên Xô. Thấy lon bia nằm la liệt trên bàn, ông không biết dùng chai rượu khai vị này để làm gì, nên đưa cho Thuận:

–     Cất đi để dịp khác.

      Thuận gọi ra nhà sau:

–     Mang cua ra cho chú Quán.

      Ông Quán xua tay:

–     Thôi khỏi, Thuận. Tối nay, họp xong đảng ủy có chiêu đãi rồi.

      Tâm nói:

–     Sao, họp có gì mới không, anh Quán.

–     Ý đồng chí muốn nói cái gì mới?

–     Thì hỏi chung chung vậy mà.

–     Chẳng có gì phấn khởi.

      Lộc hỏi:

–     Ý anh muốn nói cái gì mà không phấn khởi?

–     Chuyện thương nghiệp ấy mà.

      Trong lúc ấy, Thuận cụng lon với Tâm. Thấy mọi người đang ồn ào, Lộc xuống giọng hỏi ông Quán:

–     Chuyện thương nghiệp thế nào?

–     Bàn về chuyện giá cả thị trường. Thì cũng như có lần học tập chung về vấn đề thương nghiệp quốc doanh ấy mà. Anh còn nhớ bài học nào cũng xác nhận thương nghiệp quốc doanh là chủ đạo, phải không nào?  Nhưng thực tế, chúng ta luôn luôn bị động.

–     Ai phá?

–     Chẳng có ai phá cả. Chỉ tại cái thị trường quái ác. 

–     Thị trường? Thị trường là cái quái gỉ nhỉ? Ta luôn luôn chủ động nắm thị trường mà.

–     Thì nắm, nhưng đó là chính sách.  Ðúng, nó không là cái quái gì hết, nhưng nó ác vô cùng. Mình chạy theo nó chứ nó có chịu chạy theo mình đâu. Giá vàng chẳng hạn. Hay chuyện trầm ăn, trầm đứng chẳng hạn. Mình không thể nào chủ động được. Có cả tháng rồi trầm đứng, đâu có do mình muốn. Mình cần hàng để xuất, thế mà hàng không có, mới đau đầu. Không ai đi cội, không ai chạy hàng, không ai nhập hàng.

–     Thế thì ta nâng giá nhập lên để thu hút hàng.

–     Ðâu có dễ thế. Muốn nâng phải họp, phải báo cáo, phải xin ngân khoản. Mà lại, theo chỉ thị thì trầm là thứ quốc cấm. Mình kẹt về mặt nguyên tắc. Vừa tôn trọng nguyên tắc lại vừa chấp nhận thực tế…không phải là điều dễ. Nâng giá lên để thu hút nguồn hàng thì hóa ra mình cũng chạy theo thị trường hay sao.

      Lộc chắc lưỡi:

–     Gay nhỉ!

–     Mà thôi, bỏ qua chuyện đó đi. Ðộ này anh công tác thế nào?

      Lộc cười:

–     Cũng thế thôi, thủ trưởng. Tụi tôi là lính, chỉ đâu đánh đó.

–    Công tác của anh là một khâu quan trọng trong thương nghiệp quốc doanh. Vì các đồng chí có nhiệm vụ ngăn chặn sự phát triển tự phát của kinh tế thị trường. Bọn tội phạm kinh tế nguy hiểm không khác gì bọn tội phạm chính trị và hình sự.

–    Ðúng thế. Năm rồi, bọn tôi phá tan biết bao nhiêu đường dây làm ăn phi pháp của bọn con buôn, bọn móc ngoặc…

      Ông Quán hạ giọng:

–     Nhưng bọn chúng đông thật, lại khôn nữa. Phá đầu này chúng nó mọc đầu kia, phá băng này nó sinh băng khác.

      Vừa nói ông vừa nhìn Thuận, nghĩ đến lúc không cần tay giang hồ này nữa, có thể ông phải biết tìm cách thay ngựa giữa dòng. Không hiểu sao, đúng lúc đó, Lộc cũng nhìn Thuận, nhưng rồi quay đi chỗ khác, cười:

– Mà phá hết thì cũng, cũng hơi…kẹt.

Ông Quán định nói tiếp thì giọng Thuận ồm ồm vang lên:

–     Nào, mời chú Quán, anh Lộc. Chú Quán tới mà ham nói chuyện, chưa cụng lon với bàn.

      Thuận mở một lon bưng hai tay đưa cho ông Quán. Ông Quán cầm lấy, mở:

–     Ừ, thì cụng. Nhưng chú mi cũng biết tau đâu có phải dân nhậu.

      Thuận cười lớn:

–     Dạ, cháu biết mà. Nhưng xin chú dzô cho một cái để gọi là chào bàn.

      Ông Quán cùng với mọi người nâng lon.

      Lúc tan tiệc, đợi cho mọi người ra về, ông Quán bảo Thuận:

–     Tau có một tin vui cho mi. Một đơn vị trong Nam ra cần một số lượng lớn các mặt hàng lâm sản để xuất khẩu. Họ có “quota” nhập đồ phụ tùng xe đạp, và xe Honda bãi. Họ cần quế, tau đã giới thiệu cho một thằng bạn thân hiện làm lâm nghiệp ở Quy Nhơn rồi. Trầm, họ níu tau. Tau định chuyển số hàng vừa nhập cho họ, vì để thì cũng chưa đủ số lượng để xuất.  Mi liệu xoay chạy cho họ ít tạ hàng đầu được không?

      Thuận ôm chầm lấy ông Quán:

–     Thiệt hả chú. Trời ơi, thế thì, thế thì…chú cháu mình hợp tác đi.

–    Sao mà hợp tác được. Mi yên tâm, tau sẽ giới thiệu mi cho họ. Mi làm việc trực tiếp với người ta. Nhớ đừng quên chú Quán là được rồi.

–     Ðời nào, đời nào. Chú phải biết sự trung thành của thằng Thuận này chứ! Luôn luôn là số một nghe chú!

      Tin mới làm Thuận mừng đến ngộp thở. Nhưng Thuận băn khoăn:

–     Ðến mấy tạ hàng đầu. Hàng xô thì dễ. Mấy tạ hàng đầu kiếm mô cho ra?

      Ông Quán bật cười:

–    Ai bắt mi phải chạy cho đủ ngay đâu. Họ định xuất hàng vào mùa hè hoặc đầu thu lận kia. Vả lại, đâu phải người ta nhờ một mình mi.

      Thuận ngạc nhiên:

–    Vậy là vụ này nhiều người biết hả chú?

–    Mô có! Mi là người đầu tiên. Cho mi chạy trước. Yên tâm đi. Chưa ai biết đâu. Tau phải chọn người chứ.

      Thuận hớn hở, xiết tay ông Quán:

–    Cám ơn chú quá.

–    Ừ, suy nghĩ đi, liệu làm được thì mai cho tau biết.

      Thuận muốn hỏi thêm cho rõ chi tiết nhưng ông Quán bảo:

–    Có gì thảo luận sau. Tau về. Ông Lộc đợi tau ngoài xe.

      Ðịnh quay vào, nhưng chợt nhớ ra một việc, Thuận chạy theo:

      –     Chú Quán ơi, mai chú có nhà không?

      –     Không chắc. Có chuyện gì vậy?

      Thuận ngập ngừng:

–     Thì cháu có…có chút quà.

      Ông xua tay:

–     Cái thằng này. Cứ bày cái trò, tau không thích.

–    Dạ, cháu biết lòng chú. Nhưng với cháu thì mô có được.

      Ông Quán nghiêm mặt:

–     Tau đã nói rồi. Ðừng làm thế. Tau hoạt động bao nhiêu năm cho cách mạng, đừng coi thường tau như thế

      Thuận giả lả:

–     Cháu biết. Thôi thì để cháu ghé thăm thím vậy.

      Không biết có nghe hay không, ông Quán bước vội ra ngoài đường.  

*

      Rời chỗ làm của ông Quán, Thuận rú xe phóng thẳng về phía An Cựu, quành qua ngả sân vận động, quẹo vào một con đường đất quanh co. Hồng ngạc nhiên, hỏi:

      –     Thuận đi đâu thế này. Mua hàng hả?

      –     Mua hàng đâu vùng này. Về nhà cha Quán.

      –     Ông Quán ở vùng này à?

      –     Ừ.

      –     Ở mô lận?

      –     Vân Dương.

      –     Sao kỳ vậy?

      –     Gì mà kỳ.

      –     Thì ông Quán sao lại ở vùng nhà quê như thế này.

      –     Ai mà biết!

      Phải băng qua nhiều cánh đồng lúa liên tiếp nhau, vào một đoạn đường làng đầy tre, mới đến nhà ông Quán. Ngôi nhà gỗ cũ xưa với nhiều cửa ra vào, nằm không xa cái trụ sở xã mới xây ở phía bên kia đường. Vườn rộng. Rải rác đó đây là gạch, cát, cột, kèo và một cái sườn nhà đã ráp sẵn. Chắc đây là những vật liệu chuẩn bị để xây nhà, Hồng nghĩ bụng.

      Nghe tiếng xe, một người đàn bà chạy ra. Thấy Thuận, bà ta đon đả:

      –     Kìa chú…chú gì, tui quên mất tên. Nhiều chú quá, lú lẫn không nhớ nổi. 

      –     Dạ, thưa thím, Thuận.

      –     À, Thuận. Chú Thuận. Phải rồi, tui nhớ ra rồi. Mạnh khỏe không chú?

      –     Dạ, cả mạnh và khỏe.

      –     Ôn tui không có nhà đến nơi. Ôn đi mô mà đi từ sớm lận.

      –     Dạ, thưa thím, chú đang làm việc ở trên trạm. Cháu mới từ trên đó về đây.

      –     Rứa à. Ôn tui có nhắn chi khôn?

      –     Dạ không thím à. 

      –     Rứa đi mô rứa?

      –     Dạ, cháu ghé thăm thím chút.

      –     Rứa mời vào nhà uống chén nước. Có chè truồi mới nấu.

      Nói xong, người đàn bà bước vội vào trong nhà. Thuận dựng xe đầu ngõ, đi bộ theo. Hồng khều Thuận:

      –     Vợ ông Quán sao Thuận?

      Thuận gật đầu. Hồng sửng sốt nhìn người đàn bà. Và bắt đầu cười. Cười ngặt nghẽo. Thuận ngạc nhiên hỏi:

      –     Gì mà cười dữ vậy?

      Hồng không trả lời, vẫn cứ cười, cười chảy nước mắt.  Thuận bực, gắt:

      –     Vô duyên. Chẳng có gì đáng cười cả. Nào, sao cười?

      Hồng cố ngưng, nhưng không được, vừa nói vừa cười:

      –     Hồng tưởng…

      Nàng sặc, ngừng lại, rồi tiếp:

      –     Hồng tưởng…

      –     Tưởng gì?

      –     Tưởng là mạ ông Quán.

      Quả vậy, mới gặp, nàng cứ tưởng người đàn bà là mạ ông Quán. Nàng định buột miệng chào “thưa mệ”, may mà chưa kịp thốt ra. Bà ta ốm. Tóc bạc hầu như hết cả đầu. Tay chân gầy gò. Nếu không có bộ áo quần sạch sẽ, khá tân thời với đôi dép “xa bô” mới thì bà ta trông chẳng khác bất cứ bà mẹ quê chính hiệu nào mà nàng thường thấy. Ông Quán, tuy cũng già thật, cũng quê thật nhưng nàng không thể ngờ ông ta lại có một bà vợ quê rích quê rang như thế này. Trong lúc Thuận tán hươu tán vượn về lòng tốt của ông Quán, thì nàng không bỏ lỡ cơ hội nào ngắm nhìn người đàn bà trước mặt. Ngắm rồi so sánh với những gì mà trí tưởng của nàng từng vẽ vời về bà vợ của một tay trưởng trạm quyền hành hiện đang ban ơn ban phước cho khá nhiều người. Nàng chợt hiểu tại sao ông ta chẳng bao giờ mang vợ theo.

      Ngắm đã, Hồng tò mò nhìn từng thứ bày biện trong phòng khách. Chỉ trừ cái tủ thờ trông cũ kỹ, còn tất cả đều mới. Có cái mới tinh. Tủ buýp phê sáng bóng với bốn năm chai rượu ngoại và ly uống rượu, sắp xếp khá kiểu cách. TV đời mới. Quạt máy đứng Hitachi có lớp giấy dầu trùm lên. Máy nghe nhạc. Bộ đồ trà bằng sứ Nhật thật đẹp. Chắc tất cả đều là quà cáp, biếu xén. Nàng chăm chú nhìn cái tủ thờ. Tuy cũ, nhưng những đồ thờ để trên đó lại mới tinh. Một tượng Phật  ngồi bằng đồng, có vòng hào quang nhấp nháy. Hai lư đồng hai bên bóng sáng. Những tấm ảnh người đã khuất sang lớn, lồng khung trang trọng. Ba cây hương trầm thơm phức đang cháy nửa chừng. Bất cứ cái gì ở đây, kể cả bà vợ ông Quán đều chứa đựng những nét tương phản, ngược ngạo đến buồn cười.

      Sau khi nói quanh nói quất năm điều ba chuyện, Thuận đi ngay vào vấn đề chính:

      –     Hôm nay, tụi cháu ghé thăm thím, có mang một món quà…gửi thím.

      Người đàn bà nói, giọng thành thật:

      –     Quà chi mà quà hoài rứa. Mà chú đã hỏi ôn tui chưa? Ôn tui dặn hoài là đừng lấy đồ của người ta biếu, phiền lắm.

      Thuận cười:

      –     Thì khi mô dám không hỏi chú trước. Chú đồng ý, tụi cháu mới dám xuống đây.

      Thuận rút từ túi quần ra một gói giấy nhỏ, gói gọn năm chỉ vàng, đặt trên mặt bàn kiếng. Người đàn bà hỏi:

      –     Cái chi rứa?

      –     Dạ, mô có chi. Chút quà mọn mà thím.

      –     Mấy chú trên nớ phiền thật. Cứ cho hoài cho hủy.

      –     Không phải mô thím. Chú tốt với tụi cháu lắm. Thôi xin phép thím cho tụi cháu về. Khi mô rảnh về đây nhậu với chú một bữa.

      Người đàn bà vui vẻ:

      –     Ừ, về đây nhậu một bữa đi. Ưng gà, có gà. Ưng vịt có vịt. Ưng cá có cá. Ðồ nhắm không thiếu.

      Trên đường về, Hồng vẫn còn cười rúc rích:

      –     Khi nãy, Hồng định “thưa mệ” đấy, Thuận biết không?

      –     Thôi đủ rồi.

      Hồng ngừng cười:

      –    Trông mặt mày hiền dữ a. Có lẽ nhờ hiền vậy mà về già được hưởng phước nhỉ.

      Thuận quay lui:

      –    Ở đó mà hiền! Cả hai người đều là công an thứ thiệt đấy.

      –     Công an thì sao?

      –    Trời! công an từ thời trước giải phóng ở trong rừng lận. Nghe người ta kể, khiếp lắm. Mà thôi, nói chuyện khác. Giờ bà muốn về nhà hay chạy hàng với tôi?

      Hồng dựa sát vào sau lưng Thuận, hai tay vòng ra truớc ôm lấy bụng Thuận, xiết chặt lại:

      –     Ði thì đi!

Chương 21

Tin Thuận bỏ nhập hàng xô để đi chạy hàng xịn tạo nên một chấn động dây chuyền. Vài ngày sau, hầu như dân buôn trầm quanh quanh thành phố đã biết hết. Mọi người gặp nhau hân hoan kháo: “Hàng ăn lại rồi, hàng ăn lại rồi”. Ðã thấy xe Honda chạy ngược chạy xuôi vào trong những con hẻm. Ðã thấy những quán nhậu đầy ắp người. Thị trường vàng dọc theo đường phố rộn rịp hẳn lên. Những người nghèo gặp nhau bàn kế hoạch đi cội. Thương lái chạy qua chạy về trao đổi tin tức về nguồn hàng, về giá cả. Vui mừng nhất là những người mua lỡ hàng trước khi hàng đứng. Họ lôi những gói hàng cất giữ cẩn thận ra từ một xó xỉnh nào đó ra săm soi chùi rửa, đánh bóng, ngâm nước, độn chì, cân kéo lại và âm thầm tính toán giá cả.  Và trong số những người khấp khởi mừng thầm vì hàng ăn, chắc chắn có những đội viên của đội công an Kinh Tế 3 của đại úy Lộc. Họ có thêm nhiều việc để làm và có thêm nhiều nguồn lợi bất ngờ. Chả thế mà ngay chiều hôm đó, cậu nhân viên trẻ tuổi Kinh Tế 3 ghé nhà Thuận, hỏi:

      –     Nghe nói hàng ăn rồi phải không anh Thuận? Ngày nay kiếm được bận nào không? Còn bận hàng hôm qua đưa anh thế nào?

      –     Hồng đã gửi mấy khâu cho đại úy rồi mà.

      –     Rồi. Hàng ăn mà cáp giá thấp thế à?

      Thuận thực sự lúng túng:

      –     Hàng có ăn quái gì đâu. Thiên hạ ưa tung tin đồn nhảm.

      –     Thế à!

      Tay công an kinh tế ném vào Thuận một nụ cười ý nhị, rồi rú xe chạy đi.

      Những ngày tiếp sau đó, giá vàng tăng vọt. Ðiều buồn cười là không ai bán được hàng. Cũng chẳng ai mua được hàng.  Người bán thì ôm hàng, đợi giá cao hơn. Người mua thì lại ngần ngại, vì chẳng biết mua hàng rồi bán lại cho ai. Thương lái đi Sài Gòn, tuy nhấp nhỏm chạy quanh, nhưng chưa ai thực sự đóng hàng đi. Người duy nhất có được thông tin về hàng là Thuận. Vì thế, ai cũng muốn tìm Thuận để hỏi. Nhưng những người gặp Thuận, lại nghe Thuận nói lửng lơ con cá vàng:

      –     Tôi định mua ít hàng cất để dành. Rẻ thì mua mà cao quá thì thôi.

      Rốt cuộc, chẳng có anh nào bán hàng được cho Thuận.

      Thị trường đột nhiên sôi động, rồi đột nhiên dịu xuống.  Dân buôn trầm ngơ ngác nhìn nhau.

*

      Sáng hôm đó, Thuận gọi Hồng dậy sớm:

      –     Ði mua hàng, bà. Ta đánh nhanh rút nhanh ngày hôm nay.

      Thuận ghé nhà một chị buôn vàng quen biết, bán một lần năm “cây”, nhét tiền vào túi xách. Hai người ghé những nhà mà Thuận biết chắc là có hàng nhờ những ngày xôn xao trước đó. Bận hàng nào, anh cũng nâng giá lên một chút. Nếu đồng ý bán, anh trả ngay tiền mặt và mang hàng đi. Nếu không, anh dứt khoát bỏ đi, không trở lại. Cách tính toán này tỏ ra có hiệu quả. Dù người ta truyền miệng nhau về việc Thuận đang chạy hàng, thị trường vẫn yên ả, không còn lên cơn sốt như tuần trước.

      Nhờ thế, chỉ trong vòng có buổi sáng, Thuận đã mua được một số hàng đáng kể, tiêu gần trọn số tiền bán vàng. Sau khi kiếm chỗ cất giấu an toàn, đến chiều, Thuận lại rủ Hồng dậy đi tiếp. Hồng nhăn mặt:

      –     Thuận đi một mình đi. Mình mệt quá rồi. Mình chẳng biết mua hàng mua hóa gì, tới đó cũng chỉ ngồi. Chạy lui chạy tới cả buổi sáng, chóng mặt quá.

      Thuận nịnh:

      –     Có bà đi theo, hên. Bà thấy không, mình tính gì được nấy. Ði cho vui. Chuyến này trúng lớn tôi mua cho bà cái nhẫn hột xoàn.

      –     Ðừng mơ mộng viễn vông.

      –     Không mơ mộng gì hết. Cha Quán đã dẫn tôi đi gặp tay giám đốc công ty rồi. Họ đang đói hàng lắm. Giá nào họ cũng mua. Chỉ có một điều còn lấn cấn là không biết tính toán với cha Quán thế nào.

      Hồng im lặng đi thay áo quần. Nhưng sực nhớ ra một điều, nàng hỏi:

      –     Nhưng mình mô có còn tiền?

      –     Lo gì. Ði cái đã, mọi chuyện tính sau.

      Thuận đến nhà chị bán vàng quen, “bán miệng” thêm hai cây nữa. Hai người vào một “xóm trầm” trong Thành Nội. Gọi là xóm trầm, vì hầu như tất cả mọi nhà ở đây đều có người dính líu đến trầm. Người thì đi cội, kẻ thì là thương lái, người thì là thợ làm trầm, kẻ thì chạy cò. Họ liên kết với nhau thành một hệ thống. Nếu có bất cứ hiện tượng gì bất thường xảy ra là nhà này báo cho nhà kia để đề phòng. Vì thế, tuy ai cũng làm trầm, chứa trầm, nhưng chưa ai bị bắt. Mọi người đều có “đóng hụi chết” cho phường. Nếu có bóng công an hay thuế vụ vào trong xóm là tự động có người báo cho cả xóm biết để tẩu tán hàng hóa, bằng cách chuyền từ nhà này đến nhà khác.

      Thuận ghé nhà một tay chạy cò, hỏi tình hình hàng hóa, rồi rủ anh ta đi quanh xóm tìm hàng. Thấy Hồng không mấy vui, Thuận nói Hồng ở lại đó chơi, đợi anh về. Thực ra, nếu Thuận không nói, nàng cũng kiếm một chỗ nghỉ ngơi, đợi Thuận.  Lười biếng đã đành. Nàng quá chán với trò kỳ kèo bớt một thêm hai và trò chiến tranh tâm lý trong việc mua bán thứ hàng kỳ lạ này. Nàng đang sống nhờ nó, lên chân với bạn bè nhờ nó, ấy thế mà chẳng mấy khi nàng thấy giữa những miếng hàng vô tri vô giác kia với cuộc đời mình có một liên hệ gì có ý nghĩa. Nhiều lần đi với Thuận, buộc phải ngồi chứng kiến hai bên mua bán, nàng nhìn như nhìn một hoạt cảnh trên đường phố trong lúc đầu óc đang mải mê nghĩ chuyện đâu đâu.

      Hồng lục túi tìm cuốn “Hồng Ngọc”, truyện dịch của Leon Uris.  Nhìn quanh nhìn quất trong phòng khách thấy có cái ghế xếp, nàng mang đến bên cửa sổ, mở ra ngồi dựa vào, đọc.  Nắng chiều nhàn nhạt xuyên qua cây song thọ đào ngoài sân dọi vào chỗ Hồng, làm nàng ngất ngây buồn ngủ. Chợt nghe tiếng người xôn xao. Nàng giật mình tỉnh giấc, ngượng nghịu nhìn ra. Nhiều người cười nói ầm ĩ ngoài sân.  Họ dựng xe đạp, rồi kéo nhau vào nhà. Kìa, Lục. Sao Lục lại có mặt ở đây?  Nàng ngạc nhiên nhìn, nhận ra thêm một người quen nữa: Tuấn. Rồi Kim. Thấy Hồng, họ đồng thanh kêu lên:

      –     Chị Hồng.

      –     Bỗng không chị lại có mặt ở đây.

      –     Chào bông hồng xứ Huế.

      Hồng hỏi Lục:

      –     Tự dưng sao anh ở đây?

      Lục đọc thơ:

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ

      Vô duyên đối diện bất tương phùng.

      Hồng nhìn những người còn lại:

      –     Chào anh Kim, anh Tuấn. Sao các anh lại cùng có mặt ở đây thế này?

      Kim nói:

      –     Ðây là nhà tôi, chị Hồng ạ.

      Hồng “ồ” lên một tiếng ngạc nhiên, nói:

      –     Các anh cũng đi mua hàng à?

      Kim lắc đầu:

      –     Hàng họ gì với tụi này chị. Tôi có thằng em chuyên chạy mối trầm. Tôi không quen việc buôn bán. Ðã thế lại yếu bóng vía nên chỉ đi làm thợ thôi.  Tôi là thợ tiện chị à.

      Hồng chép miệng:

      –     Lâu lắm mới gặp lại anh. Anh nghỉ luôn từ lần họp đó nhỉ?

      –     Chị biết rồi, tôi là sĩ quan biệt phái, không được lưu dung. Sau lần họp đó, tôi phải đi cải tạo ở Hải Cát, chị.

      –     Anh không lên Bình Ðiền sao?

      –     Vâng, cũng may. Tôi tội nhẹ, chỉ đi học ba tháng.

      Mọi người đều cười. Kim nhìn Hồng, giải thích:

      –     Nói thật với chị, tụi tui tình cờ gặp nhau, rủ nhau kéo về đây nhậu cho vui. À quên, chị đang chạy hàng?

      –     Không. Tôi cũng như anh, chẳng quen với chuyện buôn bán. Tôi ngồi chờ người bạn.

      –     Vậy thì xin chị cứ tự nhiên. Bọn tôi xin lỗi. Cùng một lứa bên trời lận đận. Hầu hết anh em đây đều là dân xe thồ.  Xin giới thiệu với các anh, đây là chị Hồng, đồng nghiệp của tôi hồi trước giải phóng. Còn đây là Tuấn. Ủa Tuấn cũng quen với chị Hồng sao? Ờ, thanh phố nhỏ mà. Còn đây là Hạnh, Tùng, Miễn, Lý. Lý bị bắt làm tù binh năm 1973, mới được thả về.

      Hồng nhìn Lý, le lưỡi:

      –     Trời, ở ngoài đó đến 11 năm. Khổ không anh?

      Lý nhún vai:

      –     Thì cũng khổ như mọi người. Ai sao, tôi vậy. Cộng nghiệp mà. Ðâu phải riêng ai chịu. Chị còn đi dạy?

      –     Không, anh ạ.

      –     Chị đàn bà thì có tội gì?

      Hồng cười:

      –     Dạ, tội…con tư sản.

      Kim mời mọi người đến cái bàn ở góc nhà. Anh nhìn Hồng ngần ngừ:

      –     Chị cứ tự nhiên. Nhưng nếu chị không ngại thì tới chung vui với tụi tôi. Hơn một nửa là nhà giáo, còn nửa kia là…ngụy.

      Hồng cười:

      –     Thì tôi cũng ngụy vậy.

      Mọi người cười xòa rồi lần lượt tới ngồi quanh bàn. Hồng nhận cốc nước trà từ tay Kim, rồi dịch ghế đến ngồi gần Lục.  Nàng vừa trao đổi đôi điều bâng quơ với Lục vừa kín đáo nhìn quanh. Như mọi cuộc nhậu bình dân khác, đồ nhậu đơn giản: ít bịch đậu phụng, đĩa lòng tạp xào, vài lọn chả và rượu trắng.  Khách nhậu đều trong bộ đồ lao động tồi tàn. Hồng chợt nhớ đến bữa nhậu ở nhà nàng tuần trước. Hai cuộc nhậu, hai hoàn cảnh, hai loại người, hai phong cách. Một bên nhậu vì thiếu, một bên nhậu vì thừa. Hai cuộc nhậu, hai cách đổi đời. Ở bên nào, nàng cũng thấy có phần của mình. 

      Sau khi rót rượu, nâng ly mời mọi người vào tiệc, Kim nhìn Hồng, cười:

      –     Mời chị “vô” luôn. Chị xem, trong lúc cả lũ chúng tôi đã đổi đời toàn diện thì hình như chị vẫn như vậy, vẫn là cô tiểu thư Hồng ngày nào. Xin mừng chị.

      Kim cạn ly. Thấy Hồng đang cầm trong tay cuốn sách, Kim hỏi:

      –     Chị đọc cuốn gì vậy?

–     Hồng Ngọc, truyện dịch.

      Hồng đưa cuốn sách. Mọi người chuyền tay nhau, lật ra xem. Rồi hỏi han, bàn tán, phê bình, nhắc nhở. Cuốn truyện thoáng chốc trở thành đề tài sôi nổi trong cuộc rượu. Mọi người hào hứng đua nhau nói về văn chương chữ nghĩa, về những tác phẩm trước giải phóng rồi lang mang đi xa hơn, bàn về những ngày tháng cũ, từ chuyện học hành cho đến chuyện lính tráng, chiến tranh. Hồng hào hứng góp ý. Trong thoáng chốc, nàng như bỗng được sống lại những lần họp bạn, những buổi họp giáo sư, những trại hè sôi nổi ngày nào. 

      Thuận trở về khi mọi người đang cao hứng nói, cao hứng uống. Anh im lặng đứng nhìn, ngạc nhiên không hiểu tại sao Hồng lại vui vẻ ngồi nhậu với đám đàn ông tồi tàn này. Bỗng thấy Lục, rồi lại nghe mọi người bàn tán chuyện văn chương chữ nghĩa gì đó, anh hiểu ra. Anh gọi lớn:

      –     Hồng!

      Hồng giật mình quay lại, thấy Thuận, bèn đứng dậy: 

      –     Thuận đi mô mà đi dữ rứa?

      Thuận cười khan:

      –     Bà nhậu nhẹt tưng bừng như thế còn hỏi gì nữa.

      Hồng không lưu ý đến vẻ khó chịu của Thuận, cười:

      –     Làm gì mà nhậu với nhẹt tưng bừng. Mình chỉ uống trà nói chuyện thôi. Bạn quen cũ cả. Ðây, anh Lục này, kia là anh Kim, cùng dạy với Hồng hồi đó ở Nguyễn Tri Phương, anh Tuấn. Còn đây là Thuận.

      Kim nói:

      –     Mời anh Thuận nhập cuộc với tụi này luôn. Phục, cả chú nữa, tới đây.

      Phục, em Kim, vui vẻ ngồi vào bàn. Thuận miễn cưỡng bước tới, bưng cốc rượu từ tay Kim, nốc một hơi. Thấy mọi người đột nhiên ngừng uống nhìn mình và Hồng, anh bất giác cảm thấy nhột nhạt. Kim mời Thuận ngồi xuống. Thuận từ chối. Anh không thể chịu nổi những khuôn mặt này. Trông chúng vừa kiêu ngạo vừa bần tiện. Anh cố nén cơn giận, nhìn Hồng, gằn giọng:

      –     Về!

      Nói xong, Thuận gật đầu chào, hậm hực đi một mạch ra ngoài. Hồng hốt hoảng theo Thuận bước ra, miệng lí nhí nói gì đó, không ai nghe rõ.

Chương 23

      Thuận chở hàng đến chỗ an toàn xong, trở về. Hồng hỏi:

      –     Hàng chừng đó đủ để nhập cho công ty chưa?

      Thuận lầm lì nhìn nàng, không nói, đi thẳng xuống bếp, rửa tay. 

      Rửa ráy xong, Thuận chẳng nói chẳng rằng, lấy xe đi.  Hồng đóng cửa, vào phòng, ngồi đọc tiếp “Hồng Ngọc”. Chốc chốc, nàng gấp sách, nhìn ra cửa, nghe ngóng, đợi. Ðợi mãi, vẫn không thấy Thuận về. Lại đọc tiếp. Ðến đoạn người cha khuyên cô con gái độc nhất của mình đi sống thử với người bạn trai mà cô vừa quen trước khi quyết định đám cưới, nàng gấp sách lại, ngẫm nghĩ vu vơ. Ðời sống ở Mỹ “đã” thật. Ðàn bà, con gái yêu đương tỉnh bơ, không hệ lụy gì vào chuyện đạo đức, danh giá như ở Việt Nam, nhất là ở Huế. Nàng mỉm cười, thì nàng cũng vậy chứ sao! Nàng đã thoát khỏi những chuyện lỉnh kỉnh về đạo đức, danh giá từ lâu.  Nàng sống cho mình, đơn giản, thoải mái. Con gái cưng của một gia đình giàu có thì được gì! Cô giáo dạy văn chương thì được gì! Vợ hiền lý tưởng của một ông thầy dạy toán thì được gì! Rởm. Nàng đã thoát, thoát hẳn. Thoát hẳn cái thế giới hẹp hòi của những đàm tiếu, thị phi, chê bai, phỉ báng. 

      Hơn chín giờ tối. Thuận vẫn chưa về. Hồng cất sách, đi ngủ.

     Tỉnh giấc, không thấy Thuận nằm một bên, nàng nhìn ra phòng khách. Ðèn sáng. Nàng ngồi dậy, bước ra. Thuận ngồi bệt giữa sàn nhà, tỉ mỉ kẻ bút chì đen lên những miếng trầm.  Năm, sáu vỏ bia nằm lăn lóc chung quanh. Hồng đặt nhẹ tay lên vai Thuận:

      –     Thuận về bao giờ thế?

      –     Mặc tôi!

      –     Gì vậy? Giận à?

      Thuận gỡ tay Hồng ra:

      –     Ai thèm.

      Hồng túm cái “rốp” ngủ ra phía trước, ngồi xuống sàn nhà, đưa tay lấy miếng trầm lên xem. Thuận dằn lấy:

      –     Ðừng có đụng đến. Mặc tôi!

      Thấy Thuận mặt mày đỏ gay, đôi mắt toát ra những tia nhìn hung dữ, Hồng biết là anh đang giận. Giận thì thôi! Hồng lặng lẽ đứng dậy, trở vào phòng, nằm nghiêng người nhìn ra.  Bóng Thuận đổ dài cả phòng. Thân hình to, khỏe. Tóc rủ dài quá gáy. Trông anh từa tựa như một quái nhân trong hang động của các phim kiếm hiệp Hồng Kông. Với người đàn ông này, mọi sự trở nên vô cùng đơn giản. Thuận chỉ biết giận chứ không biết hờn. Thương, ghét rạch ròi. Nhìn nét mặt hay quan sát một cử chỉ nào đó là có thể đoán ngay được anh ta đang nghĩ gì. Nhiều lúc thấy Thuận ngồi có vẻ như đang trầm tư, Hồng hỏi này Thuận đang suy nghĩ gì trong đầu vậy, anh trả lời, chẳng có gì. Mình không tin, nhất định Thuận phải có nghĩ một cái gì trong đầu. Thuận nói không có gì hết, tại sao phải nghĩ cho mệt. Hồng tin Thuận. Sau bao tháng ngày chung sống, nàng biết rõ anh chẳng có gì trong đầu thiệt. Mà nếu có, thì chắc Thuận cũng chẳng có đủ chữ để diễn tả ra. Trong đầu anh ta nhất định chẳng có thơ phú, không có ca dao, không có những tư tưởng rườm rà. Làm gì mà có những “tôi nhìn tôi trên vách”, “cũng đành”. Làm gì có “hai sắc hoa ti-gôn” hay “diễm xưa”, “bây giờ tháng mấy”. Cái thế giới chữ nghĩa mông lung ấy chẳng có một mảy may tác dụng gì với Thuận. Chúng không hiện hữu.

      Có lẽ vì thế mà hai người ít khi giận nhau. Hoặc nếu có giận thì cơn giận cũng chóng qua. Không như hồi còn ở với Thiết. Hai người rình mò, dò dẫm, soi mói từng cử chỉ, từng lời nói, từng cách biểu lộ tình cảm của nhau. Ðể rồi ray rứt, đay nghiến, than thở, giận hờn, trách móc. Nàng luôn luôn phải thủ thế, đề phòng. Nàng giấu giếm những cảm giác thật của mình.  Ngay cả trong những lúc ân ái, nàng cũng dè xẻn, chống chọi với mình để tránh những biểu lộ thỏa mãn quá đáng, vì sợ chồng hiểu lầm. Rõ ràng là nàng chỉ sống vì cái khác. Sống vì danh nghĩa và vì chữ nghĩa. Với Thuận, nàng sống tràn trề, thỏa mãn, khỏe khoắn. 

Nghĩ ngợi bâng quơ, Hồng thiếp đi trong chốc lát. Chợt có ai bấu mạnh vào vai. Nàng kinh hoàng mở mắt ra định la lên. Một bàn tay mạnh mẽ bịt miệng nàng lại. Thuận. Nàng bật cười hỏi hết giận rồi sao Thuận. Thuận chẳng nói chẳng rằng, chồm tới, thân hình trần truồng phô ra những bắp thịt cuồn cuộn. Tia nhìn man dại, sôi sục. Từ ngày ở với nhau, chưa bao giờ nàng thấy một Thuận có vẻ khác thường như thế này. Nàng cuống cuồng sợ hãi, dịch xuống cuối giường. Anh nắm cổ áo Hồng, kéo lại. Hồng cưỡng. Thuận đè tay nàng, giựt mạnh. Xoẹt! Một âm thanh khô khan kêu lên.  Chiếc áo Hồng toạt ra. Thuận nắm phần áo còn lại, giựt tiếp.  Hồng chống cự yếu ớt. Thuận xé ngang xé dọc. Chỉ trong chốc lát, chiếc rốp rách thành nhiều mảnh, rơi xuống nền nhà.  Hồng trần truồng, run rẩy, kêu nhỏ:

      –     Thuận!

      Hai tay Thuận nắm chặt hai cánh tay Hồng, nhìn trân trối.  Bỗng anh đưa tay tát mạnh vào má Hồng. Hồng nhắm mắt lại, choáng váng. Nàng chưa kịp phản ứng thì một cái tát nữa rơi vào má bên kia. Ðầu óc nàng điên đảo. Nàng mở mắt, nhìn trân vào khoảng ngực chắc, khỏe của Thuận vục đầu vào cắn.   Thuận dằn mạnh ra, đưa tay chỉ vào thân thể mình, giọng khàn đục:

      –     Này, mày xem thân thể tao này. Con nào cắn, con nào bấu, con nào cào. Chỉ có tao mới để cho mày hành hạ như thế này. Có thằng nào chịu cho mày cắn, mày xé hả?  Mày nhìn đây, có thằng nào, hả? Trừ tao ra, mày biết không? Trừ tao ra, trừ tao ra.

      Hồng không nói không rằng, vùng vẫy. Thuận thở phì phò.  Tay Thuận nới lỏng. Hồng dùng hai tay đánh binh binh vào người Thuận, rồi cào, cấu trên khoảng da thịt chắc nịch. Hai người đổ xuống giường, lăn lộn.      

*

      Hồng ngủ vùi mê mệt.

      Ánh nắng mặt trời chiếu xuyên qua khung cửa gương chói chang đánh thức nàng dậy. Thuận không có một bên. Nàng tung mền lao xuống giường. Chợt thấy thân thể hãy còn trần truồng, nàng hoảng hốt lấy mền trùm lại. Nhìn quanh. Thấy cánh cửa phòng vẫn còn đóng kín, nàng yên tâm buông mền ra. Chiếc “rốp” ngủ tả tơi nằm ngay dưới chân giường. Nàng nhặt lên, cột chặt bằng sợi dây lai áo. Mỉm cười vu vơ. May mà lần này là áo cũ, nàng nhủ thầm. Bao nhiêu áo quần đã tả tơi theo cơn cuồng loạn, Hồng chẳng còn nhớ rõ.

      Thay áo quần xong, nàng đi quanh các phòng. Hai đứa con đã đi học. Hàng hóa Thuận lui cui làm hồi hôm không thấy.  Chắc Thuận đã mang hết hàng đi. Nàng đứng trước tấm gương lớn của cái tủ áo quần trong phòng khách, ngắm nghía.  Vẫn cô Hồng nhỏ nhắn, mảnh khảnh yêu đời. Nàng nghiêng hai bên má để nhìn cho kỹ.  Mấy cái tát nẩy lửa của Thuận chỉ để lại một vết đỏ mờ nhạt nằm phía dưới mang tai trái. Chưa đến nỗi nào. Nàng xoay người, cảm thấy cánh tay phải ê ẩm.  Xăn tay áo lên, thấy dấu răng của Thuận còn để lại những vết tím bầm.

      Hồng lấy xe đạp, đạp qua cầu Ðông Ba. Nắng sáng chan hòa trên giòng sông Gia Hội. Gió sớm phơn phớt lạnh luồn qua áo, mơn man trên thân thể. Qua cầu, gió mạnh hơn. Nàng đưa một tay túm cổ áo lại, rùng mình, khoái cảm. Người cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái, đầy ắp sinh lực, tưởng chừng như trẻ lại, đang trở về cái thời vô tư xưa cũ ngày nào. Xuống khỏi cầu, định về phố, nhưng Hồng đổi ý, đi thẳng vào cửa Ðông Ba.  Ðạp dọc theo đường Thượng Thành, quẹo vào một đường hẻm có hàng chìa tàu ở hai bên đường cao quá đầu người. Gặp một con đường đâm ngang, lại quẹo nữa. Ði quanh đi quất chợt thấy khung cảnh quen quen, nàng nhận ra cái cổng với hai cột  trụ xi măng quét màu vàng của nhà Lục. Nàng đạp chậm lại, bối rối. Có nên tạt vào thăm anh chàng một chút? Phải chi có mang theo cuốn “Hồng ngọc” thì hay biết mấy! Nhưng nàng đã đọc xong đâu. Thôi, để khi khác. Chợt nhớ đến Thanh, nàng đạp thẳng đến nhà Thanh. Thấy Hồng, Thanh ngạc nhiên:

      –     Sao biết tôi ở nhà hôm nay mà ghé đến vậy?

      Hồng ngơ ngác:

      –     Tôi làm sao biết hôm nào bà ở nhà.

      –     Vậy thì sao bà đến giờ này?

      Hồng bật cười:

      –     Tôi không hẳn định đến đây. Ðang đi vòng vòng, sực nhớ đến bà, ghé chơi. Có thì tốt, không thì đi tiếp.

      Thanh kéo ghế cho Hồng ngồi, nói:

      –     Bà là kẻ sung sướng nhất trần gian.

      –     Sao vậy?

      –     Thì bà nhìn quanh mà xem, thiên hạ ai cũng đầu tắt mặt tối, mong sáng ra là chạy đôn chạy đáo kiếm tiền. Chỉ riêng mình bà là đạp xe đi thẩn thơ, không mục đích. Y như hồi còn học sinh không bằng.

      Hồng gục gặc đầu:

      –     Thì bà nghĩ xem, tôi đâu có biết phải làm gì.

      –     Ấy là vì bà có người lo rồi, chứ nếu không thì…

      Hồng lảng sang chuyện khác:

      –     Mà hôm nay sao bà ở nhà vậy?

      –     Ngày qua ở cơ quan có hội nghị đến khuya, công đoàn cho chia nhau nghỉ bù.

      Hồng đề nghị:

      –     Hay là bọn mình đi đâu đó chơi hè?

      Thanh lắc đầu:

      –     Nghỉ được một ngày, phải tranh thủ lo việc nhà. Anh Vân đi Sài Gòn lại rồi.

      –     Sướng nhỉ!

      –     Ðừng khen. Bọn này tìm cách vào Nam đấy. Không được hồn nhiên như bà đâu.

      Hồng ngạc nhiên:

      –     Vào Nam? Ông bà có công ăn việc làm ổn định vậy, sao lại bỏ đi?

      –     Ổn định cái gì?

      –     Thì bà là cán bộ công nhân viên, còn ông thì là cán bộ hợp tác xã.

      Thanh hạ giọng:

      –     Bà biết rồi, họ đâu có tin tụi mình. Làm thì làm vậy, chứ mai kia mốt nọ, không ai biết đâu. Mà lại, đồng lương chẳng ăn nhập gì đến thị trường hết trơn. Mình lo tính sớm thì hơn. Trong Nam dù sao cũng dễ thở. Chẳng ai biết mình là thứ gì.

      Có tiếng bà mẹ chồng từ trong gọi ra:

      –     Thanh ơi, vào xem mấy cái thùng này cất ở đâu, mạ chẳng biết.

      Thanh đứng dậy:

      –     Bà ngồi chơi nhé. Hôm nay bà cụ dọn phòng. Bà trở chứng muốn dời qua ở phòng cũ của  ông cụ.

      Thấy Thanh có vẻ bận bịu thiệt tình, Hồng đứng dậy:

      –     Thôi tôi về. Khi khác lại chơi. Bà lo việc của bà đi.

      Hồng bước xuống tầng cấp. Thanh bỗng gọi giật:

      –     Hồng ơi, quên nói chuyện này. Anh Vân gửi thư ra nói có gặp anh Thiết. Anh đứng bán nước mía đâu ở bến Bạch Ðằng. Bà biết chưa?

      Nghe nhắc đến Thiết, Hồng dừng lại. Nàng đứng sững, thở dài:

      –     Thế à!

      Rồi đạp vội đi.

*

      Vừa bước vào phòng, Hồng giật mình lùi lại, kinh hãi. Giường ngủ, sàn nhà ngập đầy sách báo, giấy vụn. Tất cả như vừa trải qua một cuộc đập phá kịch liệt. Nhà nàng vừa bị ăn trộm? Nàng chạy quanh thử các chốt cửa, ổ khóa. Mọi thứ vẫn nguyên vẹn. Phòng nàng, đồ đạc đâu vẫn nằm đó.  Chỉ có cái tủ sách nhỏ đặt ở góc phòng và kệ sách để ngay trên đầu giường là bị xáo trộn. Hai cánh cửa tủ mở toang. Một cánh chỉ còn dính với bản lề ở phần dưới. Tủ trống trơn. Trên kệ sách, chỉ có một cuốn tự điển Larousse cũ kỹ nằm đó, mở ra, nhiều trang giấy bị xé toạt. Hai giòng nước mắt chảy dài trên má, âm thầm giọt xuống đất. Nàng đứng như trời trồng giữa phòng, thất thần.

      Mãi một hồi lâu, Hồng mới định tĩnh. Nàng ngồi sụp xuống nền nhà, bò quanh, rờ rẫm từng cuốn sách,

từng mảnh giấy vụn. Những cuốn vở ghi chép, sổ nhật ký, lưu bút đều bị xé vụn. Cuốn “Một thời để yêu một thời để chết” nàng mới mượn của Lục bị xé rách nát, bìa theo đàng bìa, giấy theo đàng giấy. Cuốn tự điển bỏ túi đứt làm hai. Những tờ tạp chí Văn, Bách Khoa, Phổ Thông, Mai, mấy cuốn truyện Tuyết trên đỉnh Kilimanjaro, Ruồi trâu, Con đường đau khổ, Sông Ðông êm đềm, cuốn thì bị xé bìa, cuốn thì bị xé thành ba bốn phần, cuốn thì bị xé ngang từng xấp. Hẳn Thuận đã dồn cả nỗi tức giận vào những cuốn sách vô tri vô giác. Nàng tưởng tượng cảnh anh ta đỏ mặt tía tai, lồng lộn cầm từng cuốn một, tìm cách xé nát. Vừa xé, vừa ném, vừa chưởi thề. Không còn cuốn nào là nguyên vẹn.

Hồng đứng dậy, lặng người nhìn những trang báo, những bìa sách, bùi ngùi cảm nhận một nỗi mất mát lớn lao trong cuộc đời. Bình thường, chúng nằm đó, im lặng, vô hồn y như bao đồ vật cũ kỹ khác trong phòng. Nhiều cuốn, lâu lâu nàng mới đụng đến. Như cuốn lưu bút những năm học đệ thất, đệ lục chẳng hạn. Cuốn tự  điển Anh Việt bỏ túi của Lê Bá Kông chẳng hạn. Nhưng chúng là một phần đời của nàng. Những kỷ niệm, tưởng chừng như lãng quên, thực ra vẫn còn nằm gọn gàng ở một góc hẹp nào đó của ký ức, luôn luôn chực chờ cơ hội để sống dậy. Bây giờ chúng nằm trần trụi ở đó, tan nát, thương tổn nặng nề sau cơn cuồng nộ của một kẻ ngoài cuộc. Thuận, kẻ ngoài cuộc! Hơn lúc nào hết, ngay lúc này, nhìn những dấu vết tươi rói của cuộc bạo hành, Hồng mới cảm nhận được hết sự gắn bó tạm bợ của hai người. Họ sống với nhau, nhưng luôn luôn ở ngoài nhau. 

      Nàng chợt nhớ lại cảm giác của mình trong đợt truy quét văn hóa thực dân mới hồi mới giải phóng. Lúc đó, đứng trước đống lửa cháy ngùn ngụt thiêu đốt hàng chục ngàn sách báo xuất bản trước năm 1975, trong cái không khí đầy kích động của cuộc đổi đời, Hồng cảm thấy dửng dưng lạ lùng. Cô giáo Hồng vui vẻ nhận sự phân công của ban giám hiệu, thúc giục học sinh ném từng chồng sách báo vào đống lửa. Chính nàng cũng hồ hởi ném, đốt, lòng vui vẻ y như đang được người lớn cho đốt vàng mã hồi còn nhỏ. Ðốt cho mau để còn vào ăn của cúng! Thỉnh thoảng, nàng đích thân khều lên một cuốn nào đó bị ép sâu dưới đống tro hồng, để cho cháy hết. Chẳng có gì đáng phải bùi ngùi tiếc nuối. Thôi thì cái gì đã qua, cho qua, dọn mình sạch để đi vào cuộc sống mới, nàng nghĩ bụng.

      Bây giờ, cô giáo Hồng mất dạy nhìn đống sách vở tan nát, có cảm giác như mỗi một mảnh giấy, mỗi một vết xé là một thương tích đau đớn trên da thịt mình. Và trên tâm hồn mình.  Hồng bò quanh, nhặt từng mảnh giấy, từng cuốn sách, từng cuốn vở rách nát đưa lên môi hôn, nước mắt ràn rụa.

      Té ra Thuận không đơn giản như nàng vẫn nghĩ!

Chương 23

Dù Hạnh ngăn cản, nhưng rồi, Lục cũng tìm cách đi Khe Sanh. Anh xem đây là một chuyến tham quan. Ðúng ra là một chuyến đi thử nghiệm. Ðể Hạnh khỏi băn khoăn, anh không lấy tiền bạc gì của nàng. Anh cho nàng biết anh mang hàng giùm cho Tân. Thực ra, anh mượn của người bạn ít tiền, mua tượng trưng một số hàng tạp hóa mang đi. Tân chỉ anh cách cất dấu hàng trong xách cũng như trong áo quần và trên thân thể. Trong suốt chuyến đi trên xe đò, anh chăm chú lắng nghe và quan sát. Nhất nhất, anh làm theo lời dặn của Tân khi qua trạm, khi xuống đường. Tân bảo:

      –     Thời buổi này, đi buôn luôn luôn bất trắc. Chỉ tự mình học lấy kinh nghiệm, chứ không ai có thể chỉ vẽ tường tận được. Không có nguyên tắc nào cả. Phải khôn, lanh, phản ứng kịp thời. Như ngày xưa đi hành quân vậy.

      Chuyến đi suôn sẻ. Chuyến về, Tân mua hàng như thường lệ. Lục mua ít thuốc tây. Hàng đến bến xe an toàn. Nhưng trên đoạn đường chuyển hàng, anh bị thuế vụ bắt khi vừa qua cầu An Hòa. Xách hàng của Tân bị giữ lại ở trạm thuế. Bịch thuốc tây anh cột trong bụng đáng lẽ thoát, nhưng cử chỉ lúng ta lúng túng của anh khiến tay thuế vụ đâm ra nghi ngờ. Anh ta vỗ vào người Lục. Thế là bịch thuốc bị phát hiện và giữ luôn. Tân phải nhờ người trung gian chạy hàng ra sau khi chịu chi một số tiền.

      Cộng trừ nhân chia xong, Lục bị mất một nửa số vốn nhỏ nhoi của mình trong chuyến đi thử nghiệm đầu tiên. Về nhà, anh giấu Hạnh. Nhưng chỉ sau vài câu căn vặn đơn giản, Hạnh biết ngay chuyến đi của chồng đã “có vấn đề”. 

      Biến cố trên đã làm nhụt nhuệ khí của anh nhiều. Sau khi trả tiền nợ cho anh xong, Hạnh tuyệt nhiên không đá động gì đến chuyện này nữa. Nàng im lặng. Một im lặng dị thường, đầy kiêu hãnh. Và đôi khi có vẻ gì như giễu cợt. Anh ngậm bồ hòn làm ngọt, thẹn thùng mà không biết phải làm sao.

*

      Lục trăn qua trở lại trên chỗ nằm. Anh nhắm mắt, cố tưởng tượng một điều gì đó để ru dỗ giấc ngủ, nhưng vô ích. Nản chí, anh ngồi dậy, nhìn vào bóng tối, nghe ngóng động tĩnh từ phòng bên kia. Hoàn toàn im lặng. Anh leo xuống giường, mở cửa ra ngoài hàng chìa tàu, đi tiểu. Lúc trở vào, anh đứng tần ngần trước phòng ngủ của mấy đứa con. Cửa để hở. Từ bên trong, những tiếng thở đều nhè nhẹ vang lên. Cả mẹ lẫn con đều ngủ kỹ.

      Anh trở lại phòng, vặn radio. Anh rà hết đài này qua đài khác. Khuya rồi, chẳng còn đài tiếng Việt nào nữa. Ðành nghe đài Hà Nội vậy. Ðài đang phát chương trình “Ðọc truyện đêm khuya”, một chương trình dành cho đồng bào sinh sống ở nước ngoài. Truyện kể một sĩ quan chế độ cũ, khi mới giải phóng, trốn vào rừng với ý đồ lôi kéo bạn chiến đấu cũ chống lại cách mạng. Nhưng một thời gian sau, anh ta đâm ra giác ngộ cách mạng, chọn ở lại phục vụ đất nước thay vì theo gia đình trong một chuyến vượt biên bán công khai bảo đảm và an toàn. Nhiều đoạn nghe rất chối tai, nhưng anh vẫn chịu khó nghe hết, không bỏ sót một chi tiết nào. Nghe xong chuyện, anh rà tìm đài khác. Chán, lại tắt.  Rồi nằm im, tiếp tục nghe ngóng. Hoàn toàn im lặng. Hạnh không đến với anh như nàng hứa. Ðã mấy hôm liên tiếp, nàng ngủ với thằng con út, bỏ mặc anh nằm thao thức, chờ đợi.

Ðêm rồi, thấy Hạnh vào phòng đứa con, anh hỏi:

      –     Em ngủ với con à?

      Hạnh ậm ừ, không trả lời. Anh bảo:

      –     Lát nữa, con ngủ rồi, sang anh nói chuyện này chút.

      Nàng gật đầu.

      Ấy thế mà Hạnh không sang. Tại sao? Nàng giận anh?  Không. Nàng vẫn trò chuyện, nói cười với anh bình thường.  Nàng bệnh, sợ phải gần gũi với anh? Chắc chắn là không.  Trước nay, dù bệnh dù lành, vợ chồng anh vẫn ngủ chung.  Anh luôn luôn chìu chuộng nàng, rất tế nhị trong chuyện ái ân.  Ngay cả lúc bia rượu ê hề, trong người hưng phấn, anh cũng đủ bình tĩnh để tự chế. Vậy thì tại sao? Anh không hiểu được. Anh chỉ ghi nhận độ này nàng khác đi nhiều. Dường như mỗi ngày mỗi khác. Nàng không còn tỉ tê tâm sự với anh những chuyện lỉnh kỉnh của chuyến đi, chuyện mua bán, hoặc chuyện những “con bạn” nào đó ở Sài Gòn. Trong bữa ăn, nàng nói chuyện với con nhiều hơn với anh. Mấy cục pin radio anh nhắc hoài mà nàng chẳng nhớ mua. Những chuyện nàng kể, anh thấy có nhiều chi tiết mâu thuẫn nhau. Chẳng hạn như chuyến đi vừa rồi, khi thì nàng bảo lời năm chỉ, có lúc nàng nói chỉ có ba chỉ. Tệ hơn, có lần, giữa cơn ân ái, nàng đẩy anh ra và nói: “bữa nay , anh chưa tắm à?” khiến anh chưng hửng, mất hết hứng thú.

      Anh lại trăn qua trở lại, bồn chồn. Hạnh chẳng còn là Hạnh nữa.

      Ðến gần sáng, có tiếng động từ phòng bên. Chắc Hạnh đã dậy. Anh lắng nghe tiếng bước chân. Hạnh đi về phía nhà bếp. Anh vùng dậy, xỏ dép, xuống bếp. Hạnh đang lên lửa nấu nướng. Anh đến gần, đặt hai tay lên vai vợ:

      –     Em dậy rồi à?

      Hạnh nói, không quay lui:

      –     Có việc phải đi sớm.

      Anh dựa sát vào lưng vợ, hai tay luồn vào ngực nàng.  Hạnh để yên, chỉ dịch cánh tay một chút để đun củi. Anh hỏi:

      –     Hồi hôm, sao em không qua với anh?

      –     Em ngủ quên.

      –     Anh đợi cả đêm.

      Giọng Hạnh ngạc nhiên:

      –     Mắc gì mà đợi?

      Lục lúng túng:

      –     Thì đợi em vào ngủ.

      Hạnh gỡ tay anh ra, khều ngọn lửa trên bếp, rồi quay lại:

      –     Em ngủ với con không được sao?

      –     Anh có chút chuyện hỏi em.

      –     Thì lúc nào chả hỏi được.

      Lục âu yếm:

      –     Anh thích nằm kê trên tay em mà hỏi.

      –     Anh thì lúc nào cũng…vậy.

      Thấy Hạnh đang bận bịu với bếp lửa, anh năn nỉ:

      –     Chút nữa vào nhé.

      Anh nhéo vai nàng rồi vào phòng. Hạnh vào, vén mùng hỏi:

      –     Chuyện gì vậy?

      Anh kéo vợ nằm xuống. Chợt thấy cánh cửa phòng còn để mở, anh bảo:

      –     Sao em không đóng cửa lại?

Hạnh im lặng. Anh choàng tay qua khép cửa, kéo nàng vào lòng, mơn trớn. Hạnh hưởng ứng chừng mực. Nàng hỏi:

      –     Anh có chuyện gì cần bàn với em?

      Anh làm bộ không nghe, vẫn tiếp tục mơn trớn. Hạnh hỏi tiếp:

      –    Anh không nghe em hỏi sao? Anh định nói với em chuyện gì?

      Giọng tỉnh queo của Hạnh làm anh mất cảm hứng. Anh nới lỏng tay, buông vợ ra:

      –     Em giận anh chuyện gì?

      –     Không. Không có gì.

      –     Anh thấy độ này em…đối với anh…sao lạ quá.

      Hạnh nhích người ra:

      –     Anh lại…nghĩ bậy chuyện gì rồi, phải không?

      Anh hỏi:

      –     Hay em không được khỏe?

      –     Không. Em vẫn thường.

      Anh ấp úng:

      –     Nhưng sao, anh thấy em…em…em

      –     Em thế nào?

      –     Không như trước.

      Hạnh cười, chống tay, ngồi dậy:

      –     Anh nghĩ lung tung rồi. Bộ anh…nghi em chuyện gì sao?

      –     Không. Nhưng mà…

      Anh kéo vợ nằm xuống, ôm sát vào lòng. Hạnh chìu. Anh hôn hít khắp người Hạnh, muốn ân ái thì nhận ra toàn thân nàng lạnh tanh. Hơi thở đều đặn. Hai tay hững hờ. Anh chán nản buông vợ ra, cố nén một tiếng thở dài.

      Mãi đến khi nghe tiếng Hạnh dắt xe ra cửa, anh mới trở dậy. Ra ngoài sân trước, thấy Hạnh ăn mặc tươm tất chuẩn bị đi, anh hỏi, giọng không giấu được vẻ khó chịu:

      –     Em đi đâu sớm thế?

      Hạnh kẹp cái ví xách vào giữa xe, nói:

      –     Ði mua hàng.

      –     Hàng gì?

      Hạnh nhìn thẳng mặt anh:

      –     Thì trầm chứ hàng gì nữa.

      Lục dịu giọng:

      –     Hàng ăn lại rồi sao? Mấy hôm nay chẳng nghe em nói gì hết.

      –     Nói với anh thì cũng vậy thôi. Việc em em lo.

      Ngừng một lát, Hạnh thở ra:

      –     Cũng chỉ tại anh hết.

      –     Cái gì mà tại anh?

      –     Anh còn nhớ thằng cha Bí thư huyện ủy trong Nam ra không? Em năn nỉ ỉ ôi anh đi làm cho người ta, mấy anh cũng không chịu. Bây giờ có người khác nhảy vào. Chỗ đáng lẽ của mình bỗng dưng có thằng nhảy vào chiếm mất. Có tức không?

      Lục ngạc nhiên:

      –     Mà bây giờ ai nhảy vào?

      –     Thằng Thuận chứ ai. Bây giờ hắn nhận tiền của công ty đó để đi thu mua hàng. Một mình hắn đi vơ hàng, một mình hắn nhập. Tức chết đi được. Tại anh hết. Không chịu mở miệng, không chịu ngoại giao, cứ ưa ru rú ở nhà với lại nhậu với đám bạn xe thồ…

      –     Ô hay, em mới dẫn anh đi gặp thằng cha đó có một lần, rồi sau đó có nghe nói gì nữa đâu.

      –     Hỏi anh, anh cứ đay đảy từ chối. Chê người ta răng đen mã tấu, không đàng hoàng. Ðã làm ăn, cái gì lợi thì làm, còn người ta thế nào thì mặc họ. Anh chẳng biết thời biết thế gì cả.

      Lục hỏi:

      –     Hôm trước ông ta nói đi Hà Nội, về khi nào?

      –     Về khi nào? Anh có quan tâm gì đâu mà hỏi. Người ta vào từ đời nào, quan hệ lung tung mà mình chẳng hay biết gì cả.

      –     Vậy ông ta về, em không gặp lại à?

      –     Không. Mà thôi, nói với anh thì cũng như nói. Việc em em lo.

      Anh bực tức:

      –     Bộ anh không được quyền biết những việc em làm hay sao? Em xem thường anh quá lắm.

      Hạnh lên giọng:

      –     Bộ không nói cho anh biết là xem thường anh à? Nói cho anh biết thì anh vẫn thế. Mà không nói cho anh biết thì anh vẫn thế. Có gì khác đâu?

      Lục sừng sộ:

      –     Sao lại không khác. Một bên là tôn trọng nhau, một bên là khinh rẻ.

      Hạnh tái mặt, run giọng:

      –     Em làm gì mà anh nói là khinh rẻ?

      –     Không khinh mà thích đi đâu thì đi, thích làm gì thì làm. Có hỏi đến thì xổ cái giọng …

      –     Cái giọng gì?

      –     Cái giọng bạc bẽo.

      Anh ngừng lại vì cảm thấy hụt hơi. Anh đưa tay chỉ vào người Hạnh, đổi giọng:

      –    Tôi nói cho cô hay nhé, cô đừng tưởng cô làm ra tiền, cô nuôi gia đình này rồi cô lên nước, muốn làm gì thì làm nghe, muốn nói gì thì nói nghe. Cô nên nhớ tôi là chồng cô chứ không phải là thằng…thằng…

      Anh nghẹn lời. Hạnh chống hai tay lên hông (lần đầu tiên Lục thấy vợ chống tay lên hông như vậy) nhìn anh:

      –    Tôi vậy đó. Anh muốn làm gì thì làm đi. Ðừng có ở đó mà ra oai, những là quyền chồng, quyền con. Anh không có quyền gì hết cả. Thử hỏi cái nhà này không có tôi thì còn ra cái thể thống gì nữa. Con anh có còn được ăn học không? Anh có còn được phây phây như vậy không? Ðúng là vô ơn…

      Lục phẫn nộ thực sự. Anh không ngờ độ này Hạnh quá quắc đến như thế. Anh đỏ mặt, hét lớn:

      –    Cô im đi. Cô đừng tưởng tôi là đồ bỏ đi. Tôi không cần đến cái giỏi của cô, nghe chưa. Cô chống mắt mà xem.

      Không tỏ ra nao núng trước cơn hùng hổ của chồng, Hạnh trề môi:

      –    Ờ, chống mắt mà xem anh đi làm tiền về nuôi gia đình. Không cần chống mắt, con này đã thấy rồi: làm tướng làm tài, bày đặt đi buôn. Rốt cuộc, cũng về moi tiền con này trả nợ.

T.D.N.

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 12 Aug 2024

10. Ngôi nhà bí mật của CIA – Cuộc săn lùng Aidid

Chưa đầy nửa năm sau khi Casanova và tôi kết thúc khóa học bắn tỉa, chúng tôi nhận nhiệm vụ: Bắt thủ lĩnh phiến quân Mohamed Farrah Aidid và các thủ hạ của y. Được đào tạo tại Moscow và Rome, Aidid đã từng phục vụ trong lực lượng cảnh sát thực dân Italia trước khi gia nhập quân đội và sau đó trở thành một vị tướng của quân đội Somali. Phe cánh của Aidid (Habar Gidir), phe cánh của Muhammad Ali Mahdi (Abgaal) và các phe cánh khác đã hùa nhau lật đổ nhà độc tài Somali. Sau đó, các phe phái này đánh nhau tranh giành quyền kiểm soát Somali. Hai mươi nghìn người Somali đã thiệt mạng hoặc bị thương, sản xuất nông nghiệp đình trệ. Mặc dù cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp Quốc thông qua “Chiến dịch Vãn hồi Hy vọng – Operation Restore Hope” viện trợ lương thực cứu trợ, tuy nhiên, quân của Aidid đã tịch thu rất nhiều số lương thực này bằng cách hăm dọa hoặc sát hại những người không hợp tác với y. Sau đó Aidid đã bán lương thực cho các nước khác để đổi lấy vũ khí. Nạn đói hoành hành, cướp đi sinh mạng của hàng trăm nghìn người và nỗi thống khổ của người dân ngày càng gia tăng. Mặc dù các nhà lãnh đạo khác của Somali đã cố gắng để đạt được một thỏa thuận hòa bình, nhưng đều bị Aidid từ chối.

Ngày 5 tháng Sáu năm 1993, binh lính Pakistan tham gia nhóm viện trợ nhân đạo của Liên Hợp Quốc đã vào Somali để kiểm tra một kho lương thực tại một đài phát thanh. Khi đó, những người thuộc phe phái Aidid tụ tập biểu tình bên ngoài. Binh sĩ Pakistan vẫn tiến vào và hoàn tất việc kiểm tra. Khi họ đi ra, nhóm người biểu tình đã tấn công và giết chết 24 binh sĩ Pakistan. Sau đó, chúng chặt đứt chân tay, moi ruột moi gan và lột da những binh sĩ xấu số này.

Vụ việc này khiến Đô đốc Jonathan Howe, đại diện thường trực tại Liên Hợp Quốc phụ trách vấn đề Somali, vô cùng kinh hoàng. Ngay lập tức, ông treo giải thưởng 25.000 đô-la cho ai cung cấp thông tin về hành tung của Aidid. Cùng đó, Howe còn nhờ Bộ Chỉ huy Đặc nhiệm Liên quân (JSOC) giúp đỡ.

Ngày 8 tháng Tám năm 1993, người của Aidid sử dụng bom điều khiển từ xa sát hại bốn lính Mỹ. Hành động này được ví như giọt nước làm tràn ly. Tổng thống Bill Clinton bật đèn xanh cho JSOC hành động. Đội thực thi nhiệm vụ gồm bộ tứ bắn tỉa chúng tôi được gom từ Đội đặc nhiệm SEAL số 6, lực lượng biệt kích Ranger, lực lượng Delta, lực lượng đặc nhiệm số 160 và một số từ các lực lượng khác. Lực lượng đặc nhiệm 160, có biệt danh “sát nhân bóng đêm – Night Stalker”, đã lái trực thăng bay nhanh trong đêm ở độ cao thấp (để tránh bị rađa phát hiện). Chúng tôi tiến hành chiến dịch Rắn Chúa (Operation Gothic Serpent) theo ba giai đoạn: trước tiên, triển khai quân đến Mogadishu và xây dựng một căn cứ ở đây; thứ hai, theo dõi hành tung của Aidid; thứ ba, nếu chúng tôi không bắt giữ được Aidid thì theo dõi và bắt các trợ thủ của y để lần ra dấu vết.

Tại khu tập trung ở Dam Neck, Virginia, bốn chúng tôi gồm Gã Mập lùn, Sourpuss, Casanova và tôi sẵn sàng lên đường đến Somali. Chúng tôi tập luyện, chuẩn bị trang thiết bị, nuôi tóc và râu dài. Công tác chuẩn bị của chúng tôi có cả việc mã hóa các bộ đàm bằng giọng nói. Đây là phần việc tốn rất nhiều thời gian bởi chúng tôi phải nhập rất nhiều mã và tất cả các mã đều phải giống hệt nhau cho tất cả các bộ đàm cầm tay. Chúng tôi đã thống nhất tần số chung. Là một lính bắn tỉa, tôi phải liên lạc với cộng sự của mình là Casanova và sau đó hai chúng tôi phải liên lạc với bộ đôi bắn tỉa khác là Gã Mập lùn và Sourpuss. Tiếp theo chúng tôi phải liên lạc với cơ sở tiền phương. Tôi đã kiểm tra cẩn thận tất cả các trang bị thiết yếu. Sau đó tôi thử lại súng lần cuối. Mặc dù không biết chính xác nhiệm vụ được giao phó, nhưng chúng tôi đều chuẩn bị cẩn thận tất cả mọi thứ.

Sau khi hoàn tất công tác chuẩn bị, chúng tôi bay đến Fort Bragg, Bắc Carolina − trụ sở của Bộ Chỉ huy các Chiến dịch Quân sự đặc biệt và một số bộ chỉ huy của các đơn vị khác, nằm trong khu vực có diện tích hơn 60.000 héc ta, được bao bọc bởi cây xanh và đồi núi. Ở đó, chúng tôi nhận được thông tin chi tiết hơn về nhiệm vụ của mình. Chúng tôi xếp các hộp thực phẩm chồng lên nhau và chuẩn bị mang theo thì một sĩ quan bảo: “Các anh không cần làm điều đó, chúng tôi mang theo rất nhiều thức ăn rồi.”

Vì vậy, chúng tôi bỏ lại thực phẩm ở doanh trại của lực lượng Delta.

Google photo

Các giảng viên Viện Ngôn ngữ Quốc phòng đã dạy chúng tôi một số cụm từ quan trọng trong tiếng Somali: đứng lại, xuống, lùi lại, nhanh lên…Vài ngày sau, nhận được thông báo chiến dịch có thể bị hoãn nên chúng tôi bay về Dam Neck.Sau đó, một sĩ quan của lực lượng Delta gọi điện thông báo “Chiến dịch vẫn tiếp tục nhưng không phải để tóc dài và râu rậm.” Vì vậy, chúng tôi cắt tóc, cạo râu gọn ghẽ và bay đến Fort Bragg.

Ngày 27 tháng Tám năm 1993, chúng tôi lên chiếc máy bay vận tải C-5A thường dành chở lính biệt kích. Sau mười tám giờ bay, chúng tôi đáp xuống sân bay Mogadishu nằm trong khu tổ hợp của Liên Hợp Quốc. Lực lượng gìn giữ hòa bình của Ai Cập bảo vệ vòng ngoài. Bảo vệ phía trong là lực lượng gìn giữ hòa bình của Italia, New Zealand, Rumani và Nga đảm trách. Chúng tôi được bố trí ở và sinh hoạt tại một nhà chứa máy bay cũ ở phía tây đường băng. Phía trước nhà chứa máy bay là một tòa nhà hai tầng mái lệch − Trung tâm Hoạt động Chung (JOC). Các ăng-ten đâm tua tủa trên mái nhà trông chẳng khác gì gai nhím.

Một viên sĩ quan đưa chúng tôi đến nơi ở của Tướng Garrison. Phía trong căn nhà, Garrison không treo ảnh gia đình hay để những đồ dùng lặt vặt, do đó, ngay khi có thông báo, ông có thể đi mà không để lại bất kỳ một dấu vết nào. Viên trợ tá đã đánh thức ông dậy khi chúng tôi đến. Garrison nhìn chúng tôi một lượt và nói: “Xin chào, sao tất cả đều để tóc ngắn? Tôi muốn tất cả để tóc dài, như vậy mới có thể hòa mình vào dòng người trong thành phố và tác chiến được.”

“Chúng tôi được thông báo ngài muốn chúng tôi cắt tóc ngắn, thưa ngài.” Khi đó, chúng tôi ngờ rằng Delta đã cố tìm cách loại bọn tôi khỏi các hoạt động, đưa bộ binh đi nhưng lại chỉ dùng hải quân để tác chiến.

Tuy nhiên, Tướng Garrison vẫn cho chúng tôi biết kế hoạch hành động. Ông cho biết bốn chúng tôi sẽ là nhân tố chủ chốt của chiến dịch và giao nhiệm vụ.

Sau cuộc họp với Garrison, chúng tôi liên lạc với Cơ quan Tình báo Tín hiệu (SIGINT) do một sĩ quan thông tin của CIA điều hành. Cơ quan này có nhiệm vụ thu thập tin tức bằng cách chặn thu tín hiệu giữa con người (tình báo thông tin liên lạc) và những bức xạ điện từ phát ra từ công nghệ đối phương như các thiết bị vô tuyến điện, radar, hệ thống tên lửa đất đối không, máy bay, tàu chiến v.v… SIGINT kết hợp giữa giải mã thông tin mã hoá với phân tích đường truyền: nghiên cứu ai đang đánh tín hiệu đi đâu và bao nhiêu tín hiệu được đánh đi. Họ có thể chặn thu cả trên thông tin di động, vô tuyến điện và thậm chí còn nghe được cả các cuộc hội đàm từ rất xa. Đa số nhân viên trong cơ quan SIGINT đều nói được hai hoặc ba ngôn ngữ khác nhau và có máy bay dành riêng.

Tiếp theo, chúng tôi đến khu ở của CIA trên đỉnh đồi để gặp một đặc vụ CIA, vốn là cựu binh từng tham chiến tại Việt Nam, bí danh là Kền Kền (Condor). Cấp trên trực tiếp của Kền Kền là cụm phó cụm hoạt động, là một người Mỹ gốc Italia có bí danh Báo gấm (Leopard). Họ đều phải báo cáo tin tức lên cụm trưởng cụm tình báo CIA, Garrett Jones, bí danh Trăng Khuyết (Crescent). Jones có thân hình đậm và bộ ria kẽm. Khi nói chuyện với nhau, chúng tôi thường ví CIA là “Tín đồ Kitô hữu trong hành động” và đôi khi chính các đặc vụ của CIA cũng dùng biệt hiệu này để tự gọi mình. Ở Somali, họ gặp khó khăn, bởi việc đánh cắp bí mật của một nước vô chính phủ là điều vô cùng gian khó.

Trước khi chúng tôi đến, Washington không cho phép CIA vào hoạt động trong thành phố vì thấy việc làm này quá nguy hiểm. Khi chúng tôi có mặt, CIA đã có thể xâm nhập vào thành phố Mogadishu. CIA giới thiệu sơ qua cho chúng tôi những nét chính về thành phố Mogadishu, trong đó có một số nét về văn hoá và lịch sử. Họ cũng đặt bí danh cho chúng tôi dựa theo cấp hàm: Sierra 1 là Sourpuss; Sierra, 2 là Gã Mập lùn; Sierra 3 là tôi và Sierra 4 là Casanova. Ngôi nhà bí mật của chúng tôi sẽ được gọi là Pasha, tước hiệu của một người có chức vị cao trong đế chế Ottoman. Ahmed làm nhiệm vụ phiên dịch cho chúng tôi. Hiếm khi nào Ahmed nhìn thẳng vào mắt tôi khi nói chuyện và có vẻ anh ta là người dễ bị kích động. Viên mật vụ chủ chốt người Somali tên là Mohammed. Mặc dù là người ưa mạo hiểm, ông ta lại rất nghiêm túc trong công việc.

Google photo

Sau buổi gặp mặt với các đặc vụ CIA trên đồi, chúng tôi trở về nhà chứa máy bay và xin cấp bốn loại lựu đạn: AT-4, lựu đạn cay, lựu đạn phát sáng và lựu đạn nổ. Chúng tôi còn đề nghị cấp một chiếc đèn hiệu loại SST-181 để máy bay bay qua có thể xác định được vị trí của chúng tôi khi cần. Chúng tôi cũng học cách bảo vệ ngôi nhà bí mật của mình trong trường hợp kẻ thù tấn công hoặc cách thoát thân khi kẻ thù đánh chiếm. Đêm đó, chúng tôi ở trong nhà chứa máy bay cùng với lính Mỹ, tổng cộng khoảng 160 người. Mỗi người có một chỗ nằm với diện tích 1,2 x 2,4m. Chỗ tôi ở có 4 chiếc cọc gỗ để mắc màn. Những con diều hâu lao xuống vồ bắt những con chuột to cỡ con cún con tha lên xà nhà cho bữa tối. Giữa các bức tường thép đều có một khoảng trống nhất định nên luôn có ánh sáng rọi vào. Các cửa ra vào nhà chứa máy bay luôn để mở. Những chiếc trực thăng nằm lặng lẽ trên đường băng, không khí sặc mùi dầu mỡ. Do khu đất chúng tôi ở cao hơn các khu khác nên tôi có thể nhìn thấy ánh sáng lóe lên từ các cuộc đọ súng ở Mogadishu. Có một lá cờ Mỹ treo trên rui nhà phía sau chúng tôi. Tôi có thể cảm nhận được vị mặn của nước biển lẫn trong không khí vì biển ở ngay phía sau nhà chứa máy bay. Mặc dù nơi ở có đầy đủ tiện nghi nhưng cả bốn chúng tôi không được phép ở lại lâu. Aidid đã bắn ba quả đạn cối nổ ngay gần nhà chứa máy bay như một “nhã ý” chúc chúng tôi một đêm an lành. Một người nào đó đã tinh ý quay những bóng điện của nhà chứa máy bay hướng xuống dưới.

Thứ Bảy, ngày 28 tháng Tám năm 1993, chúng tôi mã hoá radio cầm tay loại PRC-112 trước khi xuất phát. Bên ngoài, thời tiết vô cùng khắc nghiệt, đoạn đường nhựa dưới chân như muốn tan chảy khi cuốc bộ đến chỗ máy bay trực thăng. Tôi đeo kính râm Oakley mắt để giảm bớt sự chói chang của mặt trời và kiểm soát cơ thể lấy lại cảm giác yên bình. Mặc dù khi đeo kính râm thì không thể giao tiếp bằng mắt nhưng nó lại giúp ngụy trang, dọa người khác, che giấu cảm xúc và ý nghĩ. Giống như một người bạn tốt, kính râm là món đồ chúng tôi luôn mang theo bên mình.

Một số binh sĩ thuộc lực lượng Delta đã ngồi sẵn trên đó và chiếc máy bay sẵn sàng cất cánh để bay huấn luyện. Phi công thuộc lực lượng đặc nhiệm số 160 đều là những tay lái hàng đầu thế giới. Họ nói với nhóm Delta: “Chào, xin lỗi, chúng tôi phải tiến hành một chiến dịch thực thụ. Các anh biết đó, chúng tôi cần phải để những anh chàng này lên cùng”.

Nhóm Delta lầm bầm và tỏ ra không vui: “Lạy Chúa, chúng tôi không muốn chen chân trong chiến dịch này.” Chúng tôi lên trực thăng và nói “chúng tôi sẽ kể lại với các anh khi quay về.”

Google photo

Bốn chúng tôi chia nhau ngồi ở hai bên cửa máy bay để, chân để buông ra bên ngoài. Sau khi cài chặt thắt lưng an toàn, chiếc trực thăng bắt đầu cất cánh. Nhóm Delta trở thành các chấm nhỏ xíu khi máy bay đạt độ cao. Chiếc trực thăng đưa chúng tôi vào sâu trong vùng lãnh thổ của Somali để có thể tìm được đường chính và đường phụ phục vụ cho việc đi và về ngôi nhà bí mật. Mặt trời chói chang và khung cảnh chiến tranh khiến chúng tôi cảm tưởng Mogadishu như chìm trong biển lửa. Các thánh đường Hồi giáo là những kiến trúc duy nhất cả hai bên tham gia cuộc nội chiến không dám động đến. Còn lại đa số các tòa nhà đều bị phá huỷ. Người dân sinh sống trong các túp lều có vách làm bằng bùn, mái tôn trong mê cung của những con đường đất. Những đống bê tông đổ nát, những khối sắt thép bị vặn cong và khung xe cháy nằm rải rác khắp nơi. Quân phiến loạn tay cầm súng AK-47 ngồi trong thùng các xe vận tải quân sự chạy băng băng trên đường phố. Lửa từ các đống rác, đống kim loại và lốp xe ô tô ngày càng cháy to. Những cột lửa này trông giống như phát ra từ địa ngục.

Quay trở lại khu biển, chúng tôi do thám tìm địa điểm cất hạ cánh máy bay gần ngôi nhà bí mật để bảo đảm nhanh chóng lên đường khi nhận nhiệm vụ đột xuất. Trong chuyến bay, do thám các vị trí trên bờ biển để khi cần chúng tôi cũng có thể xuất phát bằng đường biển. Vùng biển này có bãi cát màu trắng và nâu nhạt. Hẳn nơi đây đã từng là một khu nghỉ mát lý tưởng.

Kết thúc chuyến trinh sát, chúng tôi lái chiếc Humvee ra khỏi khu ở qua một chiếc lỗ bí mật ở hàng rào phía sau và đi ngược lên đồi. Ở đây, nhân viên của CIA giới thiệu ngắn gọn cho chúng tôi hiểu về tình báo con người (HUMINT). Công nghệ rất hữu ích trong hoạt động gián điệp, nhưng chúng chẳng mấy ý nghĩa nếu không có người dũng cảm đột nhập vào lãnh thổ đối phương. CIA nêu ra những vấn đề hợp lý – con người có thể nghe, nhìn còn công nghệ thì không làm được điều đó và do vậy không hiểu được bối cảnh xung quanh.

Gã Mập lùn sử dụng sơ đồ của Pasha để lập kế hoạch tiếp cận ngôi nhà bí mật và phân công nhiệm vụ cho từng người. Anh ta giao cho tôi nhiệm vụ tuần tra, cảnh giới và giao cho Casanova nhiệm vụ chỉ đạo hành động trong cuộc chiến. Gã Mập lùn cũng tiến hành thử các thiết bị thông tin liên lạc. Sourpuss rất thích kiểu tập luyện bơi và chạy của Đội đặc nhiệm SEAL số 6, nhưng khi bước vào thực hành, Sourpuss lại tỏ ra kém cỏi cả về tài năng và nghị lực. Lẽ ra phải đóng vai trò trung tâm dẫn dắt và lập kế hoạch, nhưng anh ta lại tự giới hạn vai trò của mình ở mỗi việc bố trí ai là người đứng trên mái nhà Pasha và ở thời điểm nào. Bốn chúng tôi cũng bắt đầu xây dựng một sa bàn về thành phố Mogadishu.

Trước khi xuất phát, Trăng Khuyết đưa cho chúng tôi bản tóm tắt các nhiệm vụ. Mặc dù chúng tôi đã gặp CIA, SIGINT và thông dịch viên của mình, chúng tôi sẽ vẫn phải hợp tác với họ ở huyện Lido, phía bắc tỉnh Mogadishu, gần trung tâm đầu não của kẻ địch. Tại Pasha, chúng tôi sẽ có thêm nhiều người khác tham gia cùng: lực lượng bảo vệ, đầu bếp và các mật vụ – là những người dân địa phương cung cấp tin tức tình báo cho chúng tôi. Trăng Khuyết nói với chúng tôi: “Nếu các anh không thoải mái với bất kỳ người nào, họ sẽ ra đi. Giờ là lúc các anh thực hiện nhiệm vụ của mình. Trong trường hợp các anh bị lộ, Tướng Garrison sẽ đưa các anh ra khỏi đó trong vòng mười lăm phút. Chúc may mắn!”

Tờ mờ sáng thứ Hai, ngày 29 tháng Tám năm 1993, chúng tôi bay trên trực thăng Black Hawk khoảng 5 km về phía tây bắc, băng ngang thị trấn để đến sân vận động Mogadiscio. Đây là sân vận động quốc gia của Somali có sức chứa tới 35.000 người, nơi tổ chức các trận đấu bóng đá và các sự kiện khác. Chỉ chưa đầy năm phút chúng tôi đã tới nơi. Do nằm trong khu ở của lính Pakistan nên chúng tôi gọi đó là sân vận động Pakistan. Từ đây, chúng tôi lên ba xe tải của người bản địa. Nhưng do chỉ cần hai chiếc nên chúng tôi sử dụng chiếc thứ ba làm xe hậu cần và cũng phòng bất ngờ một xe nào đó hỏng trên đường đi. Nhìn những chiếc xe này, tôi cứ nghĩ phải có một phép lạ nào đó thì chúng mới chạy được. Người Somali thường sử dụng đồ dùng cho đến khi hỏng không thể dùng được nữa. Người làm cho đống sắt vụn này chuyển động được quả là những tay siêu hạng.

Google photo

Chúng tôi lái xe ra khỏi sân vận động vào thành phố. Không khí trong thành phố sặc mùi nước tiểu và phân người hòa trộn với mùi xú uế bốc từ nạn đói, bệnh tật và tuyệt vọng. Những mùi vị này lởn vởn trong không trung như một đám mây đen bao trùm lên thành phố. Nó làm trái tim tôi nghẹn lại. Người Somali đổ chất thải thô ra đường phố rồi sử dụng chúng và phân động vật làm nhiên liệu đun nấu bằng những chiếc bếp sắt tròn hoen gỉ. Những đứa bé ở độ tuổi tiểu học mang súng AK-47. Chúng tôi đã được biết bệnh tả đang hoành hành trong thành phố vì nguồn nước bị ô nhiễm. Mogadishu trông như phần còn sót lại của thế giới cổ tích − nhiệm vụ của chúng tôi là phải ngăn chặn những kẻ ác độc và cứu vớt dân lành. Chuyện này không thành vấn đề, chúng tôi là lực lượng SEAL. Đây là điều chúng tôi phải làm.

Lái xe khoảng gần 1 km, chúng tôi đến Pasha. Lính canh người Somali mở cổng để chúng tôi vào. Trước đó, chúng tôi đã phái một mật vụ đưa cho họ chiếc radio để làm công tác chuẩn bị đón chúng tôi. Ở mỗi thời điểm có bốn lính bảo vệ Pasha. Bốn người khác sẽ luân phiên đổi ca. Tất cả những lính canh này đều luôn cảnh giác cao độ.

Những cánh tay gầy nhẳng, khẳng khiu của họ làm cho khẩu AK-47 trông to tướng. Họ mặc áo ngắn tay. Chúng tôi phóng nhanh vào bên trong và lính canh đóng cổng lại.

Pasha là tòa nhà hai tầng được bao quanh bằng các bức tường bê tông cứng nhắc. Trước đây, nó là nhà ở của một bác sĩ giàu có. Ông này đã cùng gia đình bỏ chạy khi Somali không còn là nơi an toàn cho họ nữa. Tình trạng đói nghèo ở Somali là nguyên nhân gây ra nạn trộm cướp. Do vậy, người ta đã xây các bức tường bê tông xung quanh ngôi nhà. Các thợ xây đã cắm các chai thủy tinh lên các lỗ trên bức tường khi bê tông còn ướt, sau đó đập bỏ phần đầu của những chai này khi bê tông đã khô. Bất kỳ ai muốn trèo qua bức tường đều phải trèo qua những chai thủy tinh vỡ. Mặc dù biện pháp này khá hiệu quả, nhưng trông bức tường thật mất mỹ quan. Vào một buổi tối, có tiếng súng nổ cách đó hai nhà. Sau đó, chúng tôi được biết đó là tiếng súng chủ nhà bắn tên cướp. Những tên cướp thường xuyên lượn lờ qua chỗ chúng tôi ở bởi khu vực này có nhiều người khá giả sinh sống. Bên trong, nước được lấy từ vòi nhờ trọng lực chứ không bằng áp suất. Khi mở các van, nước sẽ chảy xuống từ chiếc thùng để trên mái nhà. Tuy nhiên nước chảy rất chậm. Chúng tôi không thể uống nước này nếu chưa cho chạy qua thiết bị lọc Katadyn để loại bỏ các vi trùng gây bệnh. Đôi khi chúng tôi đun nước sôi để dùng, nhưng phần lớn là dùng nước đóng chai. Theo mức sống của người Somali, chúng tôi là những người khá giả.

Tôi chắc rằng khi vị bác sĩ này bỏ đi, hẳn ông đã mang theo tất cả đồ nội thất còn tốt. Trong nhà chỉ còn lại một chiếc bàn. Tôi có một chiếc giường cỡ 1,2 x 2m và một chiếc chiếu mỏng. Tuy nhiên, so với việc phải sống trong lều và ngủ trong bùn đất như hầu hết mọi người trong thành phố thì cuộc sống của chúng tôi vẫn sướng như vua. Khi chúng tôi tháo dỡ hành lý ra, một lính canh gầy gò có cân nặng ước chừng 55 kg cúi xuống cầm lấy một túi đồ khá nặng. Tôi đang định xách lên nhưng anh ta nằng nặc đòi tôi để anh ta mang giúp. Anh ta nhấc bổng túi đồ đặt lên vai và bước lên cầu thang.

Đầu bếp người Somali của chúng tôi đến đúng hẹn. Ông ta nấu món ăn halal theo chế độ ăn uống của Đạo Hồi – không thịt lợn, không rượu v.v… Thức ăn Somali là sự kết hợp cách nấu nướng của các nước Somalia, Ethiopia, Yemen, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ và Italia với nhau. Cách nấu ăn này bắt nguồn từ lịch sử giao thương lâu đời của Somali. Bữa sáng, chúng tôi ăn bánh ngọt nhân kếp mỏng và có hình thù giống bánh mì. Loại bánh này tên là bánh canjeero. Đôi khi chúng tôi ăn cháo boorash phong cách Italia kèm với bơ và đường.

Google photo

Bữa trưa, đầu bếp nấu các món ăn từ loại gạo hạt dài basmati. Ông nêm thêm một vài gia vị như hành, tỏi, quế, thì là và cây xô thơm để món ăn hấp dẫn hơn. Chúng tôi cũng ăn cả mì ống baasto kèm với món hầm và chuối, chứ không ăn kiểu mì ống sốt vang.

Đầu bếp ninh nhừ đỗ azuki bằng ngọn lửa liu riu trong khoảng nửa ngày. Sau đó, ông cho đường và bơ vào để nấu thành món ăn tối cambuulo. Đồ uống ưa thích của tôi là trà Rooibos đỏ, có hương vị thơm và ngọt tự nhiên. Tại Pasha, chúng tôi không bao giờ ăn đồ ăn đóng gói. Giá như biết trước thức ăn ở đây tuyệt vời như thế này, chúng tôi đã chẳng mang theo những gói đồ ăn này.

Mặc dù không được cung cấp đầy đủ những đồ ăn dinh dưỡng cần thiết, nhưng những người lính bảo vệ không bao giờ nghĩ đến việc lấy đồ ăn chúng tôi không dùng đến. Chúng tôi phải mời, thậm chí phải nói khéo để họ nhận số thức ăn đó. Chúng tôi cho họ tất cả số đồ ăn đóng gói mang theo, ngoại trừ những gói có chứa thịt lợn vì họ theo Đạo Hồi nên không được phép ăn. Tuy nhiên, họ chỉ ăn một ít, còn lại mang về cho gia đình. Ngoài ra, chúng tôi còn cho họ những vỏ chai nước để họ dùng làm đồ đựng nước. Theo phong tục, họ thường bắt tay chúng tôi và sau đó đặt tay chúng tôi lên ngực trái (nơi có trái tim) của họ như một cử chỉ thể hiện sự tôn trọng và biết ơn đối với chúng tôi. Người thông dịch viên bảo chúng tôi rằng những lính bảo vệ rất hạnh phúc khi người Mỹ có mặt ở đây. Họ rất thán phục vì chúng tôi đã rời xa gia đình, mạo hiểm tính mạng đến đây để giúp đỡ họ. Mặc dù một số phương tiện truyền thông cho rằng chúng tôi đến đây để bắt nạt người Somali, nhưng họ đều chẳng tin điều này. Tôi nghĩ đa số người Somali đều muốn chúng tôi giúp họ kết thúc cuộc nội chiến nơi đây.

Nếu tính ra tiền thì chi phí của những bữa ăn này vượt xa số tiền phòng thân Đội đặc nhiệm SEAL số 6 cấp cho chúng tôi. Tôi cuộn tròn những đồng 100 đô-la của mình lại và nhét vào báng khẩu CAR-15. Tôi lên kế hoạch cho riêng mình trong trường hợp buộc phải bỏ trốn khỏi đây. Khi đó, tôi sẽ tìm một ngư dân Somali và thuê anh ta đưa tôi xuống bờ biển Mombasa, Kenya. Ở đây, quân đội Mỹ sẽ bố trí người đón và chăm sóc tôi.

Nhiệm vụ của các mật vụ người Somali là ngày nào cũng phải đến Pasha, do vậy Kền Kền đã nói cho chúng tôi một số kí tín ám hiệu để hiểu được hành động của các mật vụ này. Chẳng hạn, bình thường người mật vụ phải đến Pasha từ hướng đông nam, nhưng anh ta lại đến từ hướng tây nam, khi đó chúng tôi phải hiểu rằng anh ta đã bị cưỡng ép làm điều này hoặc anh ta đang bị theo dõi. Lúc này, chúng tôi có nhiệm vụ phải bắn chết cái đuôi đang bám theo anh ta. Người mật vụ của chúng tôi có thể thực hiện một hành động rất đơn giản như dừng lại một vài giây ở một góc quặt nào đó và chúng tôi phải nhanh chóng nhả đạn tiêu diệt kẻ bám đuôi. Nếu anh ta dừng lại hai lần thì chúng tôi phải nhả đạn kết liễu cả hai tên theo sau. Quy trình đưa ra ám hiệu của chúng tôi đủ kín kẽ để kẻ địch không thể nhận ra chúng tôi đã ra hiệu cho nhau mặc dù những tín hiệu này rất đơn giản và dễ nhớ. Trước khi hành động, chúng tôi đã ôn lại các ký tín ám hiệu với các mật vụ. Theo bố trí, đặc nhiệm SEAL trên mái nhà có nhiệm vụ kín đáo bảo đảm sự an toàn cho quá trình lui tới của người mật vụ và phát hiện kẻ trà trộn. Thông thường, khi người mật vụ đến vào buổi tối thì đều cầm theo một chiếc đèn hồng ngoại hoặc đèn nhấp nháy.

Google photo

Động cơ chung nhất của các mật vụ này là tiền. Mặc dù, đôi khi họ giúp đỡ chúng tôi vì một lý do cao cả nào đó, nhưng đa số đều bị đồng tiền sai khiến. Tuy nhiên, ở một đất nước nghèo đói như Somali thì số tiền chúng tôi phải trả cho họ là không nhiều lắm.

Cùng ngày, bốn lính thuộc Cơ quan Tình báo Tín hiệu (SIGINT) cũng đến. Họ đến bằng con đường khác chúng tôi. Ngay khi đến, họ dựng phòng làm việc trông giống hệt phòng điều khiển phóng tên lửa vào không gian của NASA, có các màn hình, các nút điều khiển, thiết bị chuyển mạch. Họ dựng cột ăng-ten và các thiết bị khác trên mái nhà. Nhìn bên ngoài, nơi này chẳng khác gì trụ sở đài truyền hình CNN.

Gã Mập lùn triệu tập mọi người lại và phổ biến kế hoạch đột nhập và tháo lui. Như mọi khi, gã mang bên mình con dao Randall. Thật đúng là “Người bé, dao lại lớn”. Tôi tóm tắt lại kế hoạch tác chiến. Casanova chia bốn chúng tôi thành hai cặp tuần tra: Tôi cặp với Casanova, còn Gã Mập lùn cặp với Sourpuss.

Tấm sa bàn về thành phố của chúng tôi hoàn tất, nó che khuất toàn bộ bức tường lớn nhất trong ngôi nhà. Khi mật vụ nói cho chúng tôi biết khu vực nguy hiểm, chúng tôi sẽ đánh dấu vị trí đó bằng các đinh ghim và mã hoá bằng toạ độ ô lưới để khi cần có thể gọi điện tấn công vào vùng đó.

Trong một bản tóm tắt riêng, một mật vụ đã chỉ cho chúng tôi biết những vị trí lãnh chúa Somali, Mohamed Farrah Aidid có thể trú ẩn. Ngay lập tức chúng tôi đóng các đinh ghim lên các vị trí này trên sa bàn: Khách sạn Olympic, các doanh trại của các sĩ quan v.v… Sau đó, chúng tôi gửi các tọa độ dưới dạng tám chữ số này cho Trăng Khuyết.Cùng ngày, hai mươi viên đạn cối đã nã trúng sân bay, trung tâm hoạt động chiến thuật và trụ sở CIA. Một viên rơi gần ngay khu ở của CIA và thổi bay tất cả các cửa sổ của căn phòng này. Rõ ràng, thuộc hạ của Aidid đã phát hiện ra các mật vụ lui tới nơi ở của CIA. Cũng trong ngày hôm đó, một loạt đạn nữa lại bắn vào khu chúng tôi ở. Chúng tôi tăng cường tuần tra canh gác Pasha gắt gao gấp hai lần so với trước đó và giải thích cho mọi người hiểu khái niệm “thu dọn và tẩu thoát”: thu dọn các máy mã của SIGINT, bỏ chúng vào một chiếc ba lô, dùng lựu đạn nhiệt phá hủy các thiết bị khác của SIGINT, ấn định điểm tập trung và sau đó rút lui.

Google photo

Đêm đầu tiên, Casanova và tôi gác trên mái nhà. Mùi thối giống mùi xác chết động vật ngập tràn trong không khí. Tôi lẩm bẩm: “Chẳng biết mùi quái quỷ gì mà kinh tởm thế”.

Thứ Hai, ngày 30 tháng Tám năm 1993, tôi đưa mắt nhìn những ngôi nhà xung quanh để xem mùi kinh khủng đó bốc ra từ đâu, nhưng mùi đó đã biến mất. Trong khi tôi đang nhâm nhi chén trà ở tầng dưới thì một mật vụ viên đến đưa tin. Tôi mời anh ta cốc trà.

Anh ta lịch sự từ chối.

Tôi cố nài “Không vấn gì đâu, anh cứ uống đi.”

Anh ta chỉ uống một nửa cốc cứ như kiểu tôi ban cho anh ta một vật gì đó vô cùng giá trị vậy. Người

Somali luôn hành xử kiểu đó vì không muốn người khác nghĩ họ quá tham lam.

SIGINT thông báo cho chúng tôi là họ vừa chặn thu được một cuộc trao đổi giữa bộ phận điều khiển bắn với bộ phận bắn. Theo đó, các tay súng sẽ bắn từ những vị trí được ngụy trang kín đáo, còn lực lượng điều khiển sẽ quan sát xem các viên đạn có trúng mục tiêu hay không. Nếu đạn pháo nã trúng mục tiêu, người điều khiển sẽ đánh giá mức độ thiệt hại của đối phương. Bộ phận điều khiển bắn khuyên bảo “không được nhai lá ‘Khat’ trong khi bắn và khi đánh giá mức độ thiệt hại sau trận đánh”. Khat là một loài cây ở Somali. Lá cây này có chứa chất kích thích tạo cảm giác hưng phấn, làm mất cảm giác thèm ăn và tạo ảo giác. Người dùng sẽ bỏ vài chiếc lá vào miệng và nhai giống như nhai thuốc lá. Đa số các tay súng của Aidid làm nhiệm vụ của mình là để mong được đổi lấy lá Khat. Nhóm người này phải phục tùng Aidid để tiếp tục được cung cấp lá Khat thỏa mãn cơn nghiền, giống như những tên ma cô cho gái điếm hút chích để dễ bề kiểm soát. Do loại lá này làm mất cảm giác ngon miệng nên Aidid không cần phải cho họ ăn nhiều. Đội quân này rõ ràng không có tinh thần kỷ luật cao. Mặc dù không có điều gì xảy ra trong thời gian này, nhưng sau đó, SIGINT sử dụng vô tuyến điện gọi máy bay đến không kích vào các khu vực quân sự và đã thắng lợi khi diệt được một số trận địa pháo của đối phương.

Tối hôm đó, mùi thối lại bốc ra. “Cái quái gì vậy?” Tôi rời mái nhà, bí mật đi đến ngôi nhà kế bên. Tôi nhìn thấy một cậu thiếu niên đang ngủ trên một tấm đệm ngay dưới mái hiên. Khi cách một đoạn khoảng 10 m, tôi đã hiểu mùi thối bốc ra từ đâu. Sau này tôi mới biết, cậu bé trạc 14 tuổi đó đã giẫm phải mìn ở sân trường. Quả mìn lấy đi cả chiếc chân phải của cậu. Một phần chân trái cũng bị quả mìn thổi bay. Vết thương không được chữa trị đang dần chuyển sang giai đoạn hoại tử. Thuộc hạ của Aidid đã cài đặt chất nổ ở sân trường sát hại hoặc gây thương tật cho trẻ em với mưu đồ không để các em trưởng thành và gia nhập quân đội. Vết thương ở chân của cậu bé bốc mùi quá khó chịu khiến gia đình của cậu không thể chợp mắt nổi. Do vậy, họ mới bắt cậu phải ra ngoài hiên ngủ. Ban ngày, họ lại đưa cậu vào trong nhà. Tôi đã đề nghị CIA cho phép giúp cậu bé. Tuy nhiên, yêu cầu này không được chấp nhận vì họ sợ bị lộ.

Chúng tôi nhận thấy hoạt động trên con đường phía trước Pasha và các tòa nhà bên cạnh rất tấp nập từ lúc 22 giờ đêm đến 4 giờ sáng hôm sau. Theo tin tức báo cáo, Aidid thường tung người ra hoạt động vào thời điểm đó, do vậy lúc 3 giờ sáng, lực lượng Delta đã dùng dây thừng tụt ra khỏi ngôi nhà Ligato Lig. Họ bắt được chín người. Nhưng thật không may, tất cả số bắt được này đều là nhân viên của Liên Hợp Quốc và lính canh người Somali. Delta trắng tay trong vụ này.

Google photo

Thứ Ba, ngày 31 tháng Tám năm 1993, một mật vụ phát hiện thấy Aidid trong một chiếc xe. Trăng Khuyết muốn viên mật vụ triển khai ngay một máy phát sóng di động trong xe, nhưng Kền Kền không muốn hy sinh viên mật vụ này nên đã bác bỏ kế hoạch vì nó quá mạo hiểm.

Aidid lẩn như trạch. Thay vì ở nhà, hắn sống với người thân. Mỗi nơi hắn chỉ ở một, cùng lắm là hai đêm. Khi di chuyển, đôi khi hắn sử dụng cả một đoàn xe mô tô hộ tống, nhưng có lúc hắn chỉ sử dụng một chiếc xe đưa đón. Hắn thường ăn mặc giả gái để tránh bị phát hiện. Trong phe cánh của mình, Aidid rất được sùng bái nhưng các phe cánh khác lại chẳng ai ưa hắn cả. Casanova và tôi ăn vận quần áo giống người dân địa phương và sử dụng chiếc xe Jeep hiệu Cherokee để đi trinh sát. Chiếc Jeep này đã bị va đập một vài lần nhưng nó đã được chúng tôi bí mật bọc thép. Tôi vấn khăn trên đầu, mặc áo sơ mi hoa kiểu Somali và mặc chiếc váy macawi ra ngoài chiếc quần dã chiến của mình. Nhờ bộ râu tốt lên và nước da ngăm đen mà tôi dễ dàng qua mặt đám lính gác người Ả Rập. Về vũ khí, chúng tôi mang theo khẩu CAR-15 có lắp ống giảm thanh. Chúng tôi để dưới chỗ ngồi và lấy chiếc váy phủ lên. Bên trong túi đồ của chiếc quần dã chiến, tôi còn nhét thêm một khẩu CAR-15 và một khẩu súng lục SIG 226 cỡ nòng 9 mm trong áo sơ mi.

Cùng đó, tôi nhét thêm một con dao gấp, bấm tự động cực sắc vào túi đồ trong chiếc quần dã chiến. Túi bên phải tôi để bộ sơ cứu khẩn cấp.

Theo quy định của SEAL, chúng tôi chỉ được phép ăn vận gọn nhẹ. Điều này luôn chứa đựng đầy rủi ro, chẳng hạn, nếu một con gấu xuất hiện trong rừng, hẳn là chúng tôi không đánh đuổi được nó. Tuy nhiên, ăn mặc gọn nhẹ giúp chúng tôi dễ dàng trà trộn, thuận lợi cho hoạt động thu thập tin tức tình báo. Điều này đòi hỏi chúng tôi phải biết thích nghi với tình huống. Tuy nhiên trong trường hợp bị lộ, chúng tôi được phép nổ súng và bỏ chạy.

Casanova lái xe còn tôi chụp ảnh. Tôi phát hiện ra một vị trí có thể làm chỗ đậu cho trực thăng để lực lượng Delta và người bản xứ đi cùng có thể đổ bộ. Sau đó, chúng tôi còn tìm được tuyến đường giúp Delta đổ bộ bằng ô tô. Ngoài ra, chúng tôi còn tìm ra một điều thú vị khác nữa. Trước đây, mặc dù người của chúng tôi đi bộ hoặc lái xe hay bay lơ lửng trên những chiếc trực thăng để thu thập thông tin, nhưng chúng tôi vẫn băn khoăn tự hỏi chẳng biết người của Aidid vận chuyển đạn pháo cho đội quân của họ bằng cách nào. Nhưng giờ đây, mọi việc đã rõ. Tôi nhìn thấy hai người phụ nữ đi cạnh nhau. Trên tay mỗi người bế một đứa bé. Ngay lập tức tôi xoay ống kính về phía họ và phóng to lên, tôi đã nhìn thấy đầu của đứa trẻ ở trên tay của một người phụ nữ, nhưng trên tay người phụ nữ thứ hai không phải là đứa trẻ mà là hai viên đạn pháo. Suýt nữa cách ngụy trang này đã qua mặt được tôi. Trong quá trình đi do thám, chúng tôi đã tìm ra được phương cách đưa quân vào và rút quân khỏi Pasha. Ví dụ, khi đến thời điểm đổi quân, chúng tôi lái xe đến một lò mổ lạc đà bỏ hoang ở bên bờ biển, đánh tín hiệu cho một chiếc thuyền chở lực lượng SEAL thay thế và đưa xe cho họ, còn chúng tôi lên thuyền ra tàu. Lực lượng SEAL thay thế không cần phải mang theo nhiều đồ vì chúng tôi đã để lại các thiết bị nặng, cồng kềnh của SIGINT và các vật tư khác ở Pasha.

Google photo

Lò giết mổ này đồ sộ như một dãy nhà lớn trong thành phố. Trước đây, lò giết mổ do người Nga sở hữu, nhưng đã bị bỏ hoang từ khi xảy ra nội chiến. Họ chỉ lấy thịt và xương lạc đà, những bộ phận còn lại họ đều ném xuống đại dương. Vùng biển dọc theo bãi biển vốn từng được coi là một trong những bãi biển đẹp nhất thế giới, giờ đây đầy rẫy các loài cá mập: cá mập đầu búa, cá mập trắng và cá mập hổ. Tôi chưa bao giờ sợ bơi ở bất cứ nơi nào nhưng lại không muốn bơi ở vùng biển đó. Ngay cả người dân địa phương cũng không muốn làm điều này, nên bãi biển này chỉ dành riêng cho nhu cầu của chúng tôi. Như một món quà, bãi biển rất gần Pasha. Ở dưới biển có thể dễ dàng nhìn thấy lò giết mổ do lò này che khuất cả một vùng bãi biển rộng lớn. Sử dụng những chiếc xuồng Zodiac (loại xuồng cao su gắn mô tơ bên ngoài) hoặc RHIB để vào bờ là điều vô cùng lý tưởng.

Chúng tôi quay trở lại Pasha. Tối hôm đó, cậu bé ở ngôi nhà kế bên rên la đầy vẻ đau đớn. Tôi hiểu đứa trẻ đã phải chịu đau như thế nào với vết thương như vậy. Phải giúp đứa bé mới được. Casanova, một y sĩ của SIGINT tên là Rick và tôi quyết định đột nhập vào nhà cậu bé. Chúng tôi lấy vải đen bịt kín mặt lại chỉ để hở hai con mắt, mang theo súng MP-5. Không do dự, chúng tôi phá vỡ cửa, trói bố mẹ và người dì của cậu bé lại và đặt họ nằm trên sàn nhà gần tường. Tất nhiên, họ sợ chúng tôi sẽ giết họ. Chúng tôi mang đứa bé vào trong nhà để cha mẹ cậu có thể chứng kiến những điều chúng tôi sẽ làm. Rick mở hộp đựng dụng cụ ra. Chúng tôi rửa vết thương bằng dung dịch sát trùng. Cậu bé vô cùng đau đớn. Chúng tôi đã phải lấy tay bịt miệng cậu lại để giữ cho tiếng la hét của cậu không đánh thức cả khu phố dậy. Cậu bé lịm đi trong cơn đau. Chúng tôi cho cậu uống thuốc kháng sinh, băng bó vết thương lại và tiêm hai mũi kháng khuẩn vào hai bên mông cậu trước khi biến mất vào màn đêm.

Thứ Tư, ngày 1 tháng Chín năm 1993, trong khi quan sát từ mái nhà, chúng tôi thấy một ông lão đánh xe lừa chở gạch vỡ. Khi trở về, ông cũng vẫn chở số gạch vỡ này. Cái quái gì đây? Chúng tôi đã lệnh cho một viên mật vụ theo dõi ông lão. Viên mật vụ phát hiện ông lão giấu đạn pháo dưới gạch. Chúng tôi báo cáo lên trên và nhận lệnh thủ tiêu ông lão.

Một lính bắn tỉa phải có lý trí mạnh mẽ, có niềm tin vững chắc vào tôn giáo hay một triết lý nào đó để đủ tỉnh táo không sát hại người bừa bãi. Trong chiến dịch Beltway năm 2002, lính bắn tỉa John Allen Muhammad đã nổ súng giết chết mười người và làm thương nặng ba người dân vô tội. Bắn súng có thể tạo cho con người cảm thấy mình mạnh mẽ. Một lính bắn tỉa giỏi không được phép để những xung lực này tác động chi phối. Mặt khác, khi một lính bắn tỉa không vượt qua được hội chứng Stockholm, người lính đó khó có thể hoàn thành được nhiệm vụ. (Năm 1973, tại Stockholm, Thụy Điển, một nhóm cướp đã bắt giữ các nhân viên ngân hàng làm con tin. Trong thời gian sáu ngày bị bọn cướp bắt giam, nhóm con tin lại trở nên có cảm tình với bọn cướp. Ngay cả sau khi được giải cứu, nhóm con tin vẫn ra sức bênh vực bọn cướp.) Qua một thời gian tìm hiểu lối sống và thói quen, lính bắn tỉa sẽ có hiểu biết tường tận về mục tiêu của mình. Trong một số trường hợp, lính bắn tỉa trở nên có cảm tình với mục tiêu. Tuy nhiên, lính bắn tỉa phải gạt bỏ được điều này. Khi thời gian đến, lính bắn tỉa phải hoàn tất nhiệm vụ của mình.

Trên mái nhà Pasha, Casanova và tôi nấp sau một bức tường. Tôi chĩa khẩu Win Mag về phía ông già, cách chỗ tôi nấp chừng 500m.

Casanova ngắm ông lão qua kính ngắm điểm. “Chuẩn bị. Ba, hai, một, bắn, bắn.”

Mục tiêu trong tầm ngắm của tôi, tôi bóp cò ngay. Tiếng “pằng” đầu tiên, nhưng không phải vào ông lão mà vào con lừa. Đang mong đợi ông lão sẽ ngã xuống, nhưng lại là con lừa, Casanova chặc lưỡi tỏ vẻ tiếc nuối. Ông lão bỏ chạy. Một lúc sau, ông lão chỉ còn là một chấm nhỏ, nhưng con lừa nằm chết ở đó. Không ai ra mang xác con lừa về và nó vẫn mắc vào chiếc xe kéo. Mọi người bỏ mặc con lừa nằm chỏng trơ giữa đường như vậy.

Google photo

Sau đó, một viên mật vụ cho chúng tôi biết ông lão đó không muốn chở đạn pháo, tuy nhiên quân của Aidid đe dọa sẽ giết chết cả nhà nếu ông từ chối vận chuyển. Tôi cảm thấy lòng mình nhẹ nhõm vì đã không hạ sát ông lão. Cùng ngày, lực lượng của SIGINT chặn thu được cuộc trao đổi trên vô tuyến điện về kế hoạch pháo kích của đối phương vào nhà chứa máy bay. SIGINT biết được tần số liên lạc của lực lượng pháo thủ. Ngay lập tức, họ đã thông báo cho sở chỉ huy để bố trí thời gian cho mọi người ẩn náu trước khi đối phương pháo kích vào. Không ai bị thương trong vụ pháo kích. Trong chiến tranh, báo động trước một vài phút là điều vô cùng quý báu.

SIGINT thường xuyên nghe lén các cuộc trao đổi vô tuyến điện giữa bộ phận bắn và điều khiển bắn của quân Aidid. SIGINT đã triển khai máy bay oanh kích tiêu diệt các trận địa pháo của đối phương. Ngoài ra, chúng tôi còn chuẩn bị sẵn lá Khat cho các pháo thủ nghiện. “Các anh không nhất thiết phải nghiện ngập giống người của Aidid đâu. Lá Khat đây, cầm lấy và nhai đi.” Họ cười nhăn nhở, phô ra những bộ răng ố vàng, đen xỉn. Tôi hiểu, cho người nghiện nhai lá Khat là điều khủng khiếp, nhưng nó có thể cứu họ thoát chết khỏi các cuộc pháo kích và khỏi các cuộc phản kích của chúng tôi. Quân của Aidid giờ đây bắt đầu khó phối hợp với nhau trong các cuộc pháo kích.

Đêm đó, chúng tôi phát hiện một gã vác súng AK-47, đứng trên ban công ngôi nhà phía sau. Tôi mở chốt an toàn khẩu CAR-15 và hướng chấm đỏ vào đầu của hắn. Chúng tôi luôn gắn ống ngắm quang học (ACOG) trên tất cả các khẩu CAR-15. Đây là loại kính ngắm điểm tầm ngắn, chạy nguồn điện 1,5 vôn. Vào ban đêm, nó sáng hơn so với ban ngày gấp 10 lần nên chúng tôi không gặp trở ngại gì khi tác chiến trong đêm tối. Chấm đỏ xuất hiện trong kính ngắm khi đã tìm được mục tiêu. Điểm này tiên tiến hơn nhiều so với kính ngắm laze. Tôi chỉ đợi gã thanh niên đó chĩa súng về phía mình là bóp cò nhả đạn, tuy nhiên, hắn không làm vậy. Sau khi nói chuyện với số lính bảo vệ của mình, tôi mới vỡ lẽ. Hóa ra gã thanh niên cầm súng AK-47 đó là một lính bảo vệ của chúng tôi. Hôm đó, anh ta về nhà và bắt chước chiến thuật bảo vệ từ trên mái nhà của SEAL. Tất nhiên, gã đần này chẳng nói cho chúng tôi kế hoạch đó và có lẽ gã cũng chẳng biết đã bị chúng tôi phát hiện. Chúng tôi bảo anh ta “Cậu suy nghĩ như vậy là tốt, nhưng lần sau nhớ nói cho chúng tôi biết, bởi nếu không hành động ngu dốt đó sẽ làm cậu hối không kịp.”

Sáng thứ Năm, ngày 02 tháng Chín năm 1993, chúng tôi họp bàn kế hoạch và sắp xếp các vị trí trong thời gian tới. Pasha đang vận hành tốt, nên chúng tôi cần phải duy trì bộ máy này sau khi hoàn thành nhiệm vụ và có lực lượng khác thay thế.

Vài ngày sau đó, chúng tôi có được thông tin cần thiết. Aidid rất giàu có. Cô con gái đang học đại học của Aidid có nhiều bạn ở châu Âu, Libya, Kenya và nhiều nước khác. Ai đó đã gọi điện vào máy di động của cô ta và SIGINT đã nghe trộm được. Mặc dù hắn ta di chuyển liên tục nhưng con gái của y đã mắc sai lầm khi đề cập đến nơi ẩn náu của hắn. Một viên mật vụ đã giúp chúng tôi xác định được ngôi nhà đó. Máy bay do thám P-3 thu nhận được tín hiệu từ đoàn xe hộ tống Aidid, nhưng ngay sau đó đoàn xe ngừng liên lạc và chúng tôi để mất Aidid trong mê cung của các tòa nhà.

Vào buổi tối, Casanova và tôi nằm trên mái nhà Pasha để bảo vệ vòng ngoài. Trong thời gian ở Pasha, chúng tôi hay chơi trò bẫy chuột. Chúng tôi dùng hạt đậu phộng lấy từ gói đồ ăn sẵn để làm mồi nhử. Chúng tôi buộc dây vào một chiếc gậy và gắn một chiếc hộp trên đó. Thông qua kính nhìn đêm, chúng tôi thấy chuột bò vào. Casanova giật dây, nhưng thật tiếc con mồi đã chạy thoát trước khi chiếc hộp rơi xuống đầu nó. Sau đó, chúng tôi cải tiến kỹ thuật bẫy này khoa học hơn. Tôi tháo rời một số chiếc bút bi và sử dụng lò xo bút bi tạo thành đường đi duy nhất dẫn đến chiếc hộp. Bên trong hộp có đặt một vài hạt đậu phộng. Ngay lập tức, một con chuột bò gần đến bẫy và vào trong hộp. Những sợi dây đóng chặt cửa lại và nhốt chặt con chuột trong hộp.

“Bắt được mày rồi”, tôi thì thầm. Casanova mỉm cười.

“Tiếp theo chúng ta sẽ làm gì?” – Tôi hỏi. “Giết nó chứ còn gì nữa.”

“Giết nó bằng cách nào?” “Cậu nói vậy là có ý gì?”

Trong khi chúng tôi mải bàn về cách giết con chuột thì nó đã thoát ra khỏi chiếc bẫy và chạy mất.

Lần sau đó, chúng tôi làm một chiếc hộp nhỏ hơn để chuột không có nhiều khoảng trống do đó nó sẽ khó trốn thoát hơn. Con chuột bò vào bên trong. Bẫy sập xuống. Tôi giận mạnh chân xuống chiếc bẫy. Con chuột chết, đồng nghĩa với việc chiếc bẫy cũng bị hỏng. Theo cách này, mỗi chiếc bẫy chỉ giết được một con.

Tôi cảm thấy vui sướng khi đã giết chết được một con chuột. Giờ đây tôi lại tiếp tục làm một chiếc bẫy khác để bắt con thứ hai. “Này, đến đây,” Casanova khẽ gọi.

“Gì vậy?” Tôi trườn đến chỗ Casanova.

Anh ta chỉ tay về phía ngôi nhà bên kia đường, chỗ chúng tôi đã cắt cử hai lính canh gác từ ngày hôm trước. Ở đó, có ba người đàn ông đang tìm cách vào nhà. Họ đã chọn nhầm nhà trong khu phố. Giá họ tìm cách đột nhập vào ngôi nhà này trước khi chúng tôi cắt cử người canh gác thì chúng tôi sẽ nói Liệu thần hồn, biến khỏi đây ngay. Giờ đây số lính canh của chúng tôi đã ở trong nhà và việc xử lý số người này là trách nhiệm của chúng tôi.

Casanova xử lý gã bên trái còn tôi xử lý gã bên phải. Di chấm đỏ vào mục tiêu đầu tiên của mình, tôi siết cò. Chân của hắn khụy xuống trước khi đổ gục. Casanova cũng diệt gọn mục tiêu của anh ấy. Tên ở giữa được sống lâu hơn hai tên đồng bọn một vài tích tắc vì ngay sau đó, cả Casanova và tôi đều nổ súng diệt hắn. Nếu ba kẻ đột nhập chỉ là những tên trộm thông thường thì chúng đã bị trả một giá quá đắt cho hành động đó.

Sau đó, SIGINT nghe lỏm được câu chuyện tại quán bar ở khu phố đó và biết quân của Aidid đang đi thu thập tin tức. Có thể bọn chúng đang lên kế hoạch tấn công chúng tôi. Pasha được đặt trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Chúng tôi thậm chí bố trí cả tên lửa chống tăng AT-4 và đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài. Hóa ra không phải quân Aidid đi thu thập tin tức mà chúng đi tuyển quân.

Một viên mật vụ nhìn thấy Aidid nhưng không thể xác định chính xác ngôi nhà hắn đang lẩn trốn. Thông tin này là cơn ác mộng đối với chúng tôi. Mặc dù các mật vụ cùng vào cuộc để xác định ngôi nhà nhưng những nỗ lực này bất thành. Một máy bay của lực lượng SIGINT bay từ châu Âu sang giúp chúng tôi. Chiếc máy bay này đã đến vào buổi tối hôm đó nhằm góp phần lần tìm và xác định chính xác nơi ẩn náu của Aidid. Hoạt động này giúp ích cho chúng tôi rất nhiều. Chúng tôi có thể sử dụng máy phát và đưa ra các cảnh báo hiệu quả hơn. Nó cũng giúp chúng tôi có thể chặn thu thông tin tốt hơn là chặn thu từ tầng thượng ngôi nhà chúng tôi đang ở.

Ngôi nhà lớn ngay bên phải Pasha là nơi cư trú của Đại sứ Italia. Tại đây, viên Đại sứ đã tổ chức một bữa đại tiệc với sự tham gia của đông đảo quân nhân Italia. Italia đóng chiếm tại Somali từ năm 1927 đến năm 1942. Năm 1949, Liên Hợp Quốc giao cho Italia ủy trị một số vùng của Somali. Sau đó, vào năm 1960, Somali giành độc lập. Giờ đây, lính Italia đã thực sự trở thành những thằng khốn khi chơi trò hai mang. Bất cứ khi nào máy bay Black Hawk hoạt động, lính Italia lập tức dùng đèn tín hiệu báo cho dân địa phương biết lính Mỹ đang tới. Nhưng đồng thời, binh sĩ của họ lại sử dụng hình thức tra tấn bằng điện đối với tù binh Somali, hãm hiếp phụ nữ và chụp ảnh ghi lại những chiến tích của chúng.

Liên Hợp Quốc cáo buộc Italia đã hối lộ Aidid và ra lệnh phải cử người thay Đại tướng Italia Bruno

Loi. Chính phủ Italia lại đề nghị Liên Hợp Quốc phải chấm dứt những hoạt động hiếp đáp Aidid.

Giancarlo Marocchino là một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn. Y bỏ trốn khỏi Italia vì tội trốn thuế và đã cưới một cô vợ người Somali trong gia tộc Aidid. Khi Liên Hợp Quốc tịch thu vũ khí của lực lượng bán vũ trang Somali, quân đội Italia đã giao số vũ khí thu được này cho Giancarlo. Người ta ngờ rằng sau đó Giancarlo đã bán lại cho Aidid.

Italia đã rót hàng nghìn tỷ lia vào Somali dưới chiêu bài viện trợ. Với sự giúp đỡ từ những nhân vật như Aidid, ngay cả khi Aidid chưa trở thành lãnh chúa quyền uy, hầu hết số tiền này đã rơi vào túi của các quan chức Italia và bạn bè của họ. Italia xây dựng đường cao tốc nối liền Bosasso với Mogadishu. Giancarlo Marocchino đã nhận tiền “lại quả” sau dự án này. Marocchino cũng gây dựng được mối quan hệ gần gũi với nhóm phóng viên nhờ việc bỏ tiền bỏ của thết đãi họ trong thời gian lưu trú ở Mogadishu.

Một cựu chiến binh Nga, sống cùng khu phố với chúng tôi, cũng chơi trò hai mang. Trước đây, ông ta được đào tạo qua về tình báo và giờ đây đang hoạt động như một lính đánh thuê. Ông ta làm việc cho cả hai bên miễn là nhận được thù lao. Chúng tôi nghi ngờ ông ta giúp cả hai bên dò tìm các vị trí bí mật và tuyển mộ binh lính. Có vẻ ông ta bắt tay với quân Italia để cùng làm việc này. Gia đình Sicili đã dạy tôi cách nấu ăn là những người rất yêu qúy nước Mỹ. Ngược lại, các hành vi của quân lính Italia ở Somali giống như những cú đấm giáng vào chúng tôi.

Chúng tôi đã nhận được báo cáo cho biết có thể Aidid đã mua được loại tên lửa đất đối không Stinger. Đây là loại tên lửa vác vai có thể bắn hạ được máy bay.

Tôi, Casanova và y sĩ của SIGINT lại một lần nữa đột nhập vào nhà của của cậu bé bị thương ở chân. Lần này gia đình cậu không còn sợ hãi như lần trước đó, tuy nhiên, họ cũng chẳng cảm thấy thoải mái. Chúng tôi còng tay họ lại trước khi chữa trị vết thương cho cậu bé. Vết thương của cậu đã khá hơn nhiều. Lần này, cậu không la hét hay vãi tè ra quần khi chúng tôi rửa vết thương nữa.

Sáng ngày 3 tháng Chín năm 1993, chúng tôi chuẩn bị đến khu quân sự. Những lính bảo vệ người Somali trinh sát đường đi trước khi chúng tôi ra. Trong chuyến đi, lính bảo vệ đã áp dụng chiến thuật tách nhóm. Theo đó, nếu có kẻ bám đuôi, chúng sẽ buộc phải chia đôi lực lượng thành hai ngả khác nhau hoặc đi theo một hướng theo kiểu năm ăn năm thua. Chúng tôi đã được đào tạo cơ bản chiến thuật ở trường học, nhưng những người bảo vệ lại rút ra kinh nghiệm này từ cuộc nội chiến và sẵn sàng áp dụng khi cần. Họ quả là những người rất thông minh.

Khu quân sự được canh phòng cẩn mật với sự bảo vệ của lính bắn tỉa, các tháp canh và các vị trí bắn. Chúng tôi cầm đèn hồng ngoại và bấm nháy để báo hiệu chuẩn bị nâng cấp mức độ bảo vệ an ninh cho Pasha. Khi ở đó, chúng tôi có cuộc họp với lực lượng Delta, kể cho họ nghe chi tiết các vụ pháo kích và các điểm nghi ngờ có bố trí lực lượng pháo thủ. Họ trèo lên mái nhà chứa máy bay và bắn do thám: những tay súng bắn tỉa bắn vào những khu vực nghi ngờ có lực lượng pháo thủ và hy vọng lực lượng SIGINT có thể chặn thu được các cuộc trao đổi ở những nơi trúng đạn. Khi Tướng Garrison phát hiện ra, ông đã mắng chúng tôi một trận thậm tệ. Ông không thích hành động bắn do thám này.

Đêm hôm đó, chúng tôi trở lại Pasha giúp lính bảo vệ hiểu rõ hơn về công việc của chúng tôi và cách thức thực hiện nhiệm vụ. Casanova mang theo đèn hồng ngoại và đi một vòng quanh ngôi nhà. Mắt thường không thể nhìn thấy đèn hồng ngoại. Tôi cho những lính bảo vệ nhìn qua kính nhìn đêm KN-250 nên có thể thấy ánh sáng lấp lánh trên người Casanova. Những người lính canh này há hốc mồm ra vì kinh ngạc như kiểu thể lần đầu tiên thấy vật thể bay lạ (UFO). Họ hạ kính nhìn đêm xuống để quan sát bằng mắt thường, rồi lại nhìn Casanova bằng kính nhìn đêm một lần nữa. Giọng của họ liến thoắng, tay chân khua loạn cả lên như là vừa viếng thăm UFO khiến cả Casanova lẫn tôi đều cười thú vị.

Vào lúc tối muộn, chúng tôi cùng với Cá Đuối (Stingray), đang làm việc dưới quyền của Kền Kền đến trình diễn những tính năng ưu việt của loại đèn nháy hồng ngoại và các thiết bị khác cho viên cảnh sát trưởng xem. Viên mật vụ chủ chốt, phụ trách mảng tuyển quân, đã nói cho viên cảnh sát trưởng phương thức hoạt động của chúng tôi. Kết quả, viên cảnh sát trưởng cảm thấy rất yên tâm và đồng ý cử người cộng tác với chúng tôi. Đổi lại, ông ta nhận được 50.000 đô-la. Tuy nhiên, chúng tôi hiểu, ông ta chỉ cần sử dụng 1.000 đô-la trong số đó là đủ để chi trả cho 20 hay 30 người chịu làm việc với chúng tôi, số còn lại đương nhiên ông ta bỏ vào túi mình.

Google photo

Casanova và tôi lại đột nhập ngôi nhà của cậu thiếu niên bị thương. Bố mẹ cậu ngoan ngoãn ra chỗ sàn nhà gần tường chứ không cần chúng tôi phải giục. Người dì tay bưng khay trà, quỳ xuống mời chúng tôi.

Tôi cầm một cốc lên và mời gia đình cùng uống. Tuy nhiên họ từ chối.

Lần này chúng tôi mang theo một phiên dịch viên để hướng dẫn gia đình cách chăm sóc cậu bé. Gia đình cậu bé rất nghèo và những cốc trà là điều duy nhất họ có thể làm để cám ơn chúng tôi. Họ đã từng mời thầy mo về chữa trị nhưng rõ ràng việc làm này chẳng cứu chữa được cậu bé.

Giờ đây, vết thương của cậu không còn bốc mùi nữa, nhưng đôi khi vẫn lên cơn sốt. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn quyết định phẫu thuật thêm cho cậu một lần nữa. Sau đó, chúng tôi đưa cho gia đình một số viên kháng sinh amoxilin. Chúng tôi dặn: “Cho cháu uống ba lần mỗi ngày trong vòng mười ngày”.

Tôi thấy lợi của của cậu bé đang chảy máu. Trong mồm cậu đầy máu.

Người y tá thốt lên: “Cậu ấy bị bệnh sco-bút rồi”. Người mắc bệnh này là do thiếu vitamin C trong thức ăn hàng ngày. Trước đây, các thủy thủ thường hay bị nhiễm căn bệnh này. Bác sĩ phẫu thuật người Scotland tên là James Lind thuộc Hải quân Hoàng gia Anh phát hiện ra rằng những thủy thủ nào hay ăn loại hoa quả như cam chanh thường ít mắc bệnh Sco-bút. Do chanh là loại quả dễ tìm ở các thuộc địa của Anh ở vùng Caribê nên Hải quân Anh đã cung cấp nước trái cây này cho các thủy thủ. Từ đó, thủy thủ Anh có biệt hiệu là “limey”. Limey có nguồn gốc từ chữ lime-juicer, có nghĩa là máy ép nước chanh.

Ngày 4 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi lái xe ra ngoài trinh sát tuyến đường dự phòng, dò tìm trận địa pháo của đối phương và để nắm vững địa bàn hơn. Sau đó, một viên mật vụ cho biết quân của Aidid đã cài hai quả mìn trên đường để phục kích các phương tiện đi lại của Mỹ. Hai quả mìn được cài ở đúng con đường chúng tôi đến gặp lực lượng Delta ở khu quân sự ngày hôm trước. Tôi tin rằng, chúng hẳn đã biết chuyến đi của chúng tôi nhưng chúng đã đón trượt.

Trong khu phố, hàng ngày các bé gái phải đi 1,6 km mới đến được nơi lấy nước và mang về nhà. Ở sân trước, một bé gái chừng bốn tuổi đang tắm cho đứa em mới hai tuổi của nó. Hầu hết mọi người Mỹ đều không nhận ra họ may mắn đến thế nào! Chúng tôi thầm cám ơn những hành động của các bé gái này

bởi nó làm mọi người ý thức hơn về cuộc sống đang có của mình.

Đến thời điểm này, chúng tôi đã trở thành người nổi tiếng, kiểm soát được khu vực rộng lớn. Khi Casanova thấy các cô cậu học sinh, anh gồng tay và hôn vào đó. Nhóm học sinh bắt chước liền. Một nhóm học sinh tụ tập lại và chúng tôi phát kẹo, socola, bánh Tootsie và kẹo cao su cho các em. Đúng vậy, mặc dù việc làm này làm lộ vỏ bọc của chúng tôi, nhưng Kền Kền nghĩ, đây là một việc làm có ý nghĩa để giành được tình cảm của người dân địa phương. Tôi đồng ý với anh.

Tôi mang một túi cam sang cho cậu bé bị thương ăn, nhưng cậu lại không ăn được vì axít xitric làm xót chỗ lợi đang chảy máu. Casanova giữ chặt cậu bé, còn tôi đổ nước hoa quả vào mồm cậu. Sau hai ba lần, cậu bé không còn cảm thấy xót nữa. Cuối cùng cậu khỏi bệnh sco-bút. Để giúp cậu bé, Kền Kền nói dối CIA là cậu bé có họ hàng với một viên mật vụ của chúng tôi. Một viên mật vụ mang cho cậu bé đôi nạng, còn tôi cho cậu mượn chiếc xe lăn.

Sau này, cậu bé ra ngoài hiên và nhìn thấy chúng tôi khi đang làm nhiệm vụ bảo vệ trên mái nhà của Pasha. Cậu mỉm cười và vẫy tay chào chúng tôi. Đây là chiến dịch thành công nhất của tôi ở Somali. Để làm việc này, tôi đã không tuân lệnh cấp trên trực tiếp của mình. Đúng là cầu xin sự tha thứ tốt hơn là xin phép làm một việc gì đó.

Aidid bắt đầu vận hành chiến dịch “Con tim và Khối óc”. Hắn công khai chống lại người Mỹ và bắt đầu tuyển quân ngay trong khu vực của chúng tôi: hắn tuyển tất cả chẳng chừa một ai từ già tới trẻ.

Các mật vụ báo cho chúng tôi biết tuyến đường Aidid sử dụng để vận chuyển tên lửa Stinger: từ Afganistan qua Sudan, Ethiopia vào Somali. Đây là số tên lửa Afganistan chưa sử dụng đến và nằm trong số tên lửa Mỹ cấp cho Afganistan để đương đầu với Nga. Một vài năm sau đó, Chính phủ Mỹ đã bỏ tiền ra mua lại các tên lửa Stinger này với giá 100.000 đô-la một quả mà không nói rõ lý do.

Aidid nhận được sự giúp đỡ từ Al Qaeda và Tổ chức giải phóng Palestine (PLO). Khi đó, chẳng mấy người biết đến tổ chức Al Qaeda. Al Qaeda đã gửi các cố vấn đến huấn luyện cho quân của Aidid chiến thuật phòng thủ tác chiến trong thành phố và cung cấp vũ khí giúp Aidid. Trong thời gian này, Al Qaeda còn dạy quân Aidid cách cải tiến kíp nổ tiếp xúc trên đầu đạn của loại súng phóng lựu RPG thành các thành kíp nổ hẹn giờ. Thay vì phải bắn thẳng vào trực thăng, RPG có thể phát nổ gần cánh quạt đuôi, yếu điểm của các máy bay trực thăng. Nếu bắn RPG từ đỉnh mái nhà sẽ dễ lộ và dễ dàng bị các tay súng trên máy bay tiêu diệt nên Al Qaeda đã hướng dẫn quân Aidid đào hố sâu trên đường. Bằng phương pháp này, họ có thể tránh bị trực thăng phát hiện. Mặc dù ở thời điểm đó, tôi không biết việc này, nhưng rõ ràng các  cố vấn Al  Qaeda đến Somali  thời  điểm đó có cả  Bin Laden và Mohammed Atef. Tương tự, PLO đã cử cố vấn và gửi phương tiện sang giúp đỡ Aidid. Giờ Aidid muốn nhắm đến mục tiêu là các nhân vật cấp cao trong chính quyền Mỹ.

Lực lượng SIGINT chặn thu được bức điện có nội dung về âm mưu phóng tên lửa tấn công vào Đại sứ quán Mỹ. Hơn nữa, các mật vụ còn cho chúng tôi biết lính Italia làm việc ở các trạm kiểm soát của Liên Hợp Quốc trong thành phố tiếp tục cho phép quân Aidid đi lại tự do. Do đó, quân của Aidid chỉ tìm đến các trạm kiểm soát của người Italia và dễ dàng tự do đột nhập vào sân sau của Mỹ và một số khu vực khác.

Hai trong số các vệ sĩ Aidid muốn bán đứng chủ nhân của họ để đổi lấy món tiền thưởng 25.000 đô-la. Do đó, Báo Gấm muốn gặp họ tại Pasha.

Để đến được Pasha, Báo Gấm lập kế hoạch di chuyển qua trạm kiểm soát của người Italia đúng gần một nhà máy mì ống cũ kỹ, được gọi là trạm kiểm soát nhà máy mì ống. Tuy nhiên, Báo Gấm lại không biết trạm kiểm soát này vừa được người Italia giao lại cho người Nigeria. Chỉ vài phút sau khi bàn giao, quân của Aidid đã phục kích và giết chết bảy lính Nigeria. Tối hôm đó, tôi nghe thấy âm thanh của một cuộc giao tranh ngay gần Pasha. Rõ ràng, bọn chúng đã bắt đầu đánh hơi thấy vấn đề. Tình huống này đòi hỏi chúng tôi phải khẩn trương hơn.

Google photo

Chưa đến 8 giờ sáng Chủ nhật, ngày 5 tháng Chín năm 1993, Báo Gấm và bốn vệ sĩ đi trên hai chiếc Isuzu Troopers phóng ra khu Liên Hợp Quốc. Khi họ tới trạm kiểm soát nhà máy mì ống, một đám đông bu lấy họ. Ở phía trước cách khoảng vài trăm mét, lốp xe cháy và bê tông đổ làm tắc nghẽn con đường. Lái xe của Báo Gấm nhấn ga vượt qua ổ phục kích. Bốn mươi chín viên đạn găm vào xe của họ. Một viên xuyên qua áo và trúng vào cổ Báo Gấm. Người tài xế tiếp tục rồ ga xuyên qua ổ mai phục và đưa Báo Gấm đến bệnh viện trong khu Liên Hợp Quốc. Sau khi truyền gần 5 lít máu và khâu 100 mũi, Tướng Garrison đưa Báo Gấm đến chữa trị tại một bệnh viện ở Đức. Báo Gấm được cứu sống.

Cuối ngày hôm đó, tôi nghe thấy những tiếng nổ của loại súng cỡ nòng 50 caliber, loại đạn có thể xuyên thủng tường, bắn từ hướng tây bắc, cách chỗ chúng tôi chừng 300 – 500m.

Vụ bắn này cộng với vụ phục kích trước đó giúp chúng tôi hiểu rằng mình sẽ bị tấn công. Tình trạng sẵn sàng chiến đấu được ban bố và chúng tôi đều vào vị trí tác chiến. Tôi đã gọi một chiếc AC-130

Spectre đến phòng khi chúng tôi cần sự giúp đỡ. AC-130 Spectre là loại máy bay có thể bay nhiều giờ liên tục, mang hai khẩu pháo Vulcan M-61 cỡ nòng 20 li, một khẩu pháo L/60 Bofors cỡ nòng 40 li và một khẩu bích kích pháo M-102 cỡ nòng 105 li. Các bộ cảm biến tinh vi và radar giúp phát hiện kẻ thù trên mặt đất. Bạn có thể thả một con thỏ trên một sân bóng đá và chiếc AC-130 Spectre sẽ dễ dàng làm thịt con thỏ này. Tôi đã được đào tạo về khả năng của loại máy bay này và cách gọi máy bay đến trút đạn xuống kẻ thù tại thao trường Hurlburt ở Florida. Điều này làm cho tôi rất phấn khích, chúng tôi đã sẵn sàng hạ gục một số binh lính của Aidid. Tuy nhiên, số phận lại mỉm cười với quân của Aidid khi chúng chọn ngày khác để tấn công.

Cùng ngày, chúng tôi phát hiện ra một trong những mật vụ chủ chốt bị lộ và chúng tôi buộc phải đưa anh ta rời khỏi Somali.Lúc 8 giờ tối, một viên mật vụ báo cáo Aidid đang ở nhà một bà dì của hắn. Kền Kền điều một máy bay trực thăng đến chở Cá Đuối và viên mật vụ đến căn cứ và báo cáo vắn tắt tình hình cho Tướng Garrison biết. Tất cả những người ở Pasha đều rất hưng phấn. Tất cả những gì chúng tôi đã làm ở Pasha − từ việc điều hành các mật vụ, lực lượng SIGINT… đã mang lại thời khắc quý báu này. Tình báo giỏi và màn đêm là lá chắn vững chắc bảo vệ đội xung kích của chúng tôi. Thậm chí, viên mật vụ thậm chí còn có trong tay sơ đồ của ngôi nhà. Đây là điều lý tưởng cho đội hành động đặc biệt khi tiến hành xâm nhập. Aidid là của chúng tôi.

Tuy nhiên, yêu cầu bị từ chối. Đến giờ, tôi vẫn không biết tại sao. Kền Kền và Cá Đuối thực sự bị tổn thương. “Chúng tôi sẽ chẳng thể có được một cơ hội khác qúy báu như lần này!” Những người còn lại cũng chẳng thể tin vào quyết định này. “Whiskey Tango Foxtrot ?!” Theo bảng chữ cái ngữ âm quân sự, ba từ trên viết tắt là WTF và có nghĩa là “Chó chết thật!”

Tôi rất bực mình vì chúng tôi đã miệt mài làm việc chỉ để đổi lấy kết quả là nhiệm vụ quan trọng bị bỏ qua. Có vẻ như người đáng trách trong vụ này là bộ phận chính trị trong quân đội. Tôi cũng cảm thấy bức xúc trước hành vi đối xử với lực lượng CIA. “Kền Kền, tôi thành thật xin lỗi. Tôi không biết cái quái quỷ gì đang diễn ra nữa. Tôi chẳng hiểu nổi tại sao chúng ta lại không thực hiện phi vụ này.”

Kền Kền không giận chúng tôi, nhưng anh ta rất hận Tướng Garrison. “Nếu Garrison không cho thực hiện phi vụ này, thì ông ta phái chúng ta đến đây làm cái quái gì? Tại sao lại phải làm tất cả những việc này, tại sao phải ném tiền vào đây, đẩy chúng ta vào nguy hiểm, đẩy các mật vụ vào nguy hiểm.”

“Nếu chúng ta vào cuộc”, tôi nói hộ Kền Kền nửa câu còn lại “Chúng ta đã có Aidid”. “Chó thật, cậu nói đúng, lẽ ra chúng ta đã có Aidid”.

Khi đó, tôi cũng tức điên lên với Garrison. Khi quá tức giận, tôi thường trở nên im lặng. Kền Kền và tôi đều có chung một nỗi khổ và từ sau vụ việc đó, tôi chẳng nói chẳng rằng. Những người khác biết ý và dành cho tôi một không gian riêng. Tất cả chúng tôi đều tiếc nuối vì bỏ mất cơ hội thực hiện nhiệm vụ.

4 giờ sáng, ngày 6 tháng Chín năm 1993, từ trên mái nhà Pasha, Casanova và tôi nghe thấy tiếng nổ của xe tăng. Khi đó, chúng tôi vẫn chưa biết Aidid đã có xe tăng, nhưng chúng tôi vẫn dự phòng tên lửa chống tăng AT-4.Vài giờ sau, Casanova và tôi nói chuyện này với Gã Mập lùn và Sourpuss. Vừa nghe xong, Sourpuss đã phản đối: “Không thể có xe tăng ở đây được”.

“Chúng tôi phải biết mình đã nghe thấy tiếng động cơ gì chứ”, tôi nói.

“Tôi không tin,” Sourpuss nói. “Điều vớ vẩn này có thể gây ấn tượng với CIA đấy, còn với tôi thì không.”

“Đúng thật là…”

Cũng buổi sáng hôm đó, một viên mật vụ bị bắn chết khi vừa bước chân ra khỏi xe của mình.

Chẳng bao lâu sau, viên mật vụ thứ hai cũng bị bắn vào đầu. Viên mật vụ này là anh trai của người giúp việc cho chúng tôi. Anh ta là một người tốt. Anh ta đồng ý làm mật vụ không phải vì tiền mà để giúp phe cánh của anh giành thắng lợi và chấm dứt cuộc nội chiến. Ánh mắt người hầu phòng chẳng thể che giấu được nỗi buồn to lớn trước sự mất mát này. Dường như mọi việc vẫn chưa dừng lại ở đây, viên mật vụ thứ ba đã bị quân Italia đánh một trận thập tử nhất sinh.

Chúng tôi nhận được mật báo về việc Aidid đã sở hữu súng phòng không. Phe cánh Aidid tiếp tục lớn mạnh và ngày càng hoạt động tinh vi hơn nhờ sự hậu thuẫn của Al Qaeda, PLO và sự làm ngơ của quân Italia. Người dân bản địa cũng nhận ra sự phát triển này và đều tỏ ra muốn gia nhập vào đội quân của Aidid.

Một mật vụ báo cho Delta biết Aidid đang ẩn náu trong khuôn viên cũ của Nga. Vì vậy, Delta đã theo sau viên mật thám này và bắt mười bảy người, nhưng không có Aidid trong nhóm này. Chỉ có hai trong số mười bảy người bị bắt là nằm trong số những kẻ bị săn lùng. Họ đã bị giam giữ, hỏi cung và rồi được phóng thích. Delta đã có một màn trình diễn tác chiến trước người của Aidid: máy bay bay vào, dùng dây thừng tụt xuống và sử dụng lực lượng biệt kích Ranger để bảo vệ những người vừa xuống.

Ngày 7 tháng Chín năm 1993, một mật vụ chủ chốt của chúng tôi đến muộn bốn giờ đồng hồ. Chúng tôi nghĩ anh ta đã bị giết chết.

Cuối cùng anh ta cũng xuất hiện “Tôi đến để nhận nhiệm vụ tối nay”. “Xin lỗi, anh đã bị xóa tên.”

“Xóa tên ư?”

“Nhiệm vụ bị hủy bỏ. Tối nay không có nhiệm vụ nào giao cho anh hết.” Buổi tối hôm đó, Casanova và tôi hộ tống Kền Kền mang tiền đến cho một mật vụ. Các mật vụ chỉ huy thường giàu có, có tầm ảnh hưởng lớn và sở hữu một số nhân viên dưới quyền. Kền Kền đến tận nhà các mật vụ chỉ huy chứ không gọi họ đến bởi ông muốn kiểm tra số lượng và nhận mặt các tân binh, để biết các mật vụ chia cho họ bao nhiêu tiền và giao nhiệm vụ cho họ như thế nào. Cuộc gặp kéo dài khoảng tiếng rưỡi. Trong khi Casanova và tôi đứng bảo vệ bên ngoài, chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ cách đó khoảng 200m về phía bắc.

Gã Mập lùn và Sourpuss nhìn thấy một số người rời khỏi cuộc đọ súng, chạy về hướng chúng tôi. Họ dùng vô tuyến điện hỏi: “Có phải các anh đang cần sự giúp đỡ không?”.

“Không, chúng tôi không tham gia.” Nếu chúng tôi bắn pháo hiệu xanh, Gã Mập lùn và Sourpuss sẽ gọi trực thăng, rồi mở đường đến hỗ trợ chúng tôi trước khi trực thăng có mặt. Khi đêm đã về khuya, chúng tôi trở lại Pasha và tôi đã bắt được con chuột thứ hai.

Ngày 8 tháng Chín năm 1993, biệt kích Ranger báo cáo đã phát hiện một chiếc xe tăng cũ của Nga cách thành phố khoảng hơn 3 km và đã tiêu diệt chiếc tăng này. Tôi nhắc Sourpuss về tiếng nổ của chiếc xe tăng mà Casanova và tôi đã nghe thấy vài ngày trước đó, “Thấy chưa? Đó là xe tăng đấy. Cậu biết không, chúng gây ra tiếng ồn trong quá trình di chuyển.” Sourpuss bỏ đi.

Ngày hôm đó, Abe đã trở thành mật vụ chủ chốt của chúng tôi. Chúng tôi đưa cho anh ta một chiếc đèn nháy hồng ngoại và một chiếc đèn hiệu gắn nam châm. Anh ta có vẻ rất tự tin là sẽ tiếp cận được Aidid nên chúng tôi báo động lực lượng Delta để họ sẵn sàng.

“Aidid đang di chuyển,” Abe gọi báo. Tuy nhiên, khi màn đêm buông xuống, Abe đã để mất dấu Aidid.

Mặc dù SIGINT không chặn thu được bất kỳ cuộc trao đổi nào, nhưng một số tiếng nổ vẫn vang lên ở hướng sân bay. Đội pháo thủ của Aidid đã tìm ra được phương thức liên lạc với tổ bắn và tổ điều khiển bắn mà không bị SIGINT chặn thu. Chó thật, chúng đã thay đổi cách liên lạc.

Ngày 9 tháng Chín năm 1993, Tướng Garrison nhận được lệnh tiến hành giai đoạn ba – theo dõi các thủ hạ của Aidid.

Delta cho máy bay lượn trên bầu trời Mogadishu để biểu dương lực lượng: khoảng 10 – 12 chiếc trực thăng Little Bird và 20 – 30 chiếc trực thăng Black Hawk. Các tay súng bắn tỉa ngồi trên những chiếc trực thăng Little Bird trang bị các loại súng, rocket và tên lửa. Những chiếc trực thăng Black Hawk hạng trung cũng trang bị súng, rocket và tên lửa. Các đội đột nhập của Delta và biệt kích Ranger nhanh chóng đu dây tụt xuống mở các cuộc tấn công ngay khi vừa đặt chân xuống mặt đất. Ý tưởng của việc làm này là để chứng tỏ chúng tôi mạnh hơn Aidid và làm cho Aidid ít hấp lực hơn với người dân với hy vọng hắn không tuyển mộ được lính mới.

Cùng ngày, gần nhà máy sản xuất mì ống – cách sân vận động Pakistan khoảng 2 km, các kỹ sư công binh đơn vị 362 của Lục quân tiến hành dọn dẹp đường tỉnh lộ Mogadishu. Một trung đội xe bọc thép Pakistan bảo vệ họ trong khi Lực lượng Phản ứng Nhanh (QRF) đứng bên sẵn sàng hỗ trợ khi cần. QRF được tập hợp từ Sư đoàn sơn cước số 10 của Lục quân, Trung đoàn Không vận số 101 và Trung đoàn Không vận số 25 và đóng quân ở khuôn viên một trường đại học bỏ hoang và Đại sứ quán Mỹ cũ.

Các kỹ sư công binh đang ủi một vật cản ra khỏi con đường thì một đám đông người Somali ùa đến. Một người Somali rút súng bắn một phát rồi nhảy lên xe tải trắng phóng đi. Các kỹ sư công binh dọn xong vật cản thứ hai. Rồi đến vật cản thứ ba: những lốp xe cháy, đống sắt vụn và một chiếc rơ moóc. Ai đó đứng trên ban công tầng hai bắn vào họ. Các kỹ sư và lính Pakistan bắn trả. Đối phương bắn mạnh hơn từ tứ phía. Đám đông chuyển các vật cản để chặn số binh sĩ lại. Các kỹ sư gọi trực thăng của lực lượng QRF đến. Trong vòng ba phút, các máy bay trực thăng Cobra đã đến. Hàng trăm người Somali có vũ trang tiến vào từ phía bắc và phía nam, sử dụng súng phóng lựu RPG bắn ra từ nhiều hướng.

Cobra dùng pháo 20 li và rocket 6,8 li nã vào đối phương. Nhiều máy bay khác của lực lượng QRF được điều đến giúp trong khi các kỹ sư tìm cách thoát thân, tháo chạy về hướng sân vận động Pakistan. Lực lượng bán vũ trang của Aidid bắn đạn cối 106 li vào chiếc tăng đi đầu của Pakistan làm chiếc xe tăng bốc cháy. Một chiếc xe ủi chết máy nên các kỹ sư vứt nó lại. Khi 30 lính Somali cố tìm cách chiếm đoạt chiếc xe bỏ lại này, hai quả tên lửa TOW đã quật ngã chúng và phá hỏng chiếc xe. Hai kỹ sư và ba lính Pakistan bị thương trong quá trình rút chạy về sân vận động. Một lính Pakistan tử thương. Tính tới thời điểm đó, đây là trận chiến lớn nhất xảy ra ở Somali.

Theo nguồn tin tình báo của chúng tôi, Aidid có tham gia trận chiến này và hắn chỉ huy cuộc mai phục ở nhà máy sản xuất thuốc lá gần đó. Hơn một trăm người Somali chết và vài trăm người bị thương, nhưng Aidid đã thắng lợi vì tiếp tục khóa được con đường này, hạn chế được sự chuyển quân của Liên Hợp Quốc. Hơn nữa, các phương tiện truyền thông còn lên tiếng bênh vực Aidid khi phát đi bản tin nhiều “thường dân vô tội” Somali đã thiệt mạng. Tôi ghét các phương tiện truyền thông tự do của chúng tôi. Ngồi một chỗ mà chỉ tay năm ngón thì ai chả làm được. Tổng thống Clinton cũng vô tình giúp Aidid khi tuyên bố tạm dừng các chiến dịch tác chiến tại Mogadishu cho đến khi cuộc điều tra hoàn tất. Chính trị luôn bao trùm lên cuộc sống của người dân Mỹ. Aidid nã pháo vào Pasha. Súng máy và súng bộ binh nổ gần sát chỗ chúng tôi hơn. Chúng tôi vẫn trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Lực lượng bán vũ trang của Aidid cũng nã pháo vào trạm kiểm soát của Nigeria ở hải cảng Mogadishu, mới được quân Italia bàn giao.

Các mật vụ của Kền Kền trà trộn vào cuộc họp được tổ chức ở gara ô tô. Mục đích của cuộc họp là để Aidid khích lệ tinh thần binh lính. Chúng tôi muốn biết Aidid có thực sự xuất hiện ở đó không. Tuy nhiên, hắn đã không đến.

Lúc 5 giờ sáng ngày hôm sau, ngày 10 tháng Chín năm 1993, quân của Aidid đã pháo kích dữ dội hơn vào trạm kiểm soát ở hải cảng Mogadishu.Cùng ngày, một mật vụ thông báo với chúng tôi rằng người của Aidid đã biết rõ về Pasha. Chúng biết cả những loại xe và loại súng của chúng tôi cũng như biết rõ Kền Kền trước khi chúng tôi xây dựng căn cứ ở Pasha.

Aidid phục kích đoàn phóng viên người Somali của CNN. Người phiên dịch và bốn lính bảo vệ của chúng tôi bị sát hại. Quân của Aidid đã nhầm phái đoàn phóng viên của CNN là chúng tôi. Chúng tôi cũng phát hiện thấy một phóng viên Italia đã dàn xếp để có một cuộc phỏng vấn với Aidid. Một viên mật vụ đã đặt một chiếc đèn hiệu bên trong xe của phóng viên này để chúng tôi có thể lần được dấu vết của anh ta. Hẳn tay phóng viên này đã nhận thấy có gì đó không ổn bởi vậy hắn đến nhà một tay trong của chúng tôi thay vì đi gặp Aidid với hy vọng chúng tôi sẽ tấn công vào đó. Thật may, chúng tôi đã cử một mật vụ làm nhiệm vụ xác minh vị trí trước khi tấn công.

Mặc dù vậy, CIA vẫn quyết định vào cuộc. Chúng tôi cũng vậy. Chúng tôi nhận được tin, người của Aidid sẽ phục kích chúng tôi. Thay vì hai đặc nhiệm SEAL làm nhiệm vụ cảnh giới, hai người còn lại nghỉ ngơi, chúng tôi quyết định bố trí ba đặc nhiệm SEAL cảnh giới và một người nghỉ ngơi.

Ngày 11 tháng Chín năm 1993, mãi tới 7 giờ sáng hôm sau tôi mới đi ngủ. Đêm hôm đó, không có cuộc phục kích nào. Sourpuss đánh thức tôi dậy lúc 11 giờ và cho tôi biết là quân của Aidid đã áp sát chỗ chúng tôi.

Một viên mật vụ khác cho chúng tôi biết những thằng khốn đang muốn lấy đầu viên chỉ huy đội bảo vệ của chúng tôi bởi chúng đã phát hiện ra Abdi làm tay trong cho CIA. Trong số những người bảo vệ cho chúng tôi có cả con trai của Abdi. Abdi chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho những viên bảo vệ khác; hơn nữa, ông ta còn có trách nhiệm bảo vệ sự sống của họ. Ông là người có địa vị cao trong dòng tộc. Ông đã chấp nhận đẩy gia đình vào nguy hiểm khi làm tay trong cho CIA. Cũng phải nói rằng việc ông đồng ý giúp CIA còn có động cơ kiếm tiền, nhưng động cơ lớn hơn là mở ra tương lai sáng sủa hơn cho dòng tộc. Giờ đây ông đã bị lộ. Sau này chúng tôi phát hiện ra kẻ bán tin là gã người Italia.

Condor gọi điện cho Tướng Garrison. “Chúng tôi bị xâm nhập và chúng tôi cần ra khỏi cái nơi chó chết này.”

Lúc 3 giờ chiều, chúng tôi để lại các thiết bị không cần thiết như những gói đồ ăn sẵn, sau đó tất cả mọi người ở Pasha gói ghém đồ đạc và lái xe đến sân vận động Pakistan. Trực thăng đến đón lúc 7 rưỡi tối và đưa chúng tôi trở lại nhà chứa máy bay ở khu quân sự.

Khi hồi tưởng lại, lẽ ra chúng tôi nên đuổi người Italia ngay từ ngày đầu tiên đến Pasha cũng như nên triệt hạ ngay tên lính đánh thuê người Nga. Sau đó, chúng tôi nên tận dụng cơ hội đột nhập vào ngôi nhà bí mật và bắt Aidid. Tất nhiên là nếu cấp trên để chúng tôi bắt Aidid khi hắn đang ẩn náu ở nhà bà dì thì tốt biết mấy. Mặc dù đã mất Pasha nhưng chúng tôi vẫn còn mục tiêu để hành động.

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 12 Aug 2024

Google photo

Bài 9

Thêm một lần khổ luyện

Sau khi Tướng Garrison phất cờ cho lính bắn tỉa của Bộ Chỉ huy Đặc nhiệm Liên quân (JSOC), chúng tôi hiểu rằng không thể phát nào cũng bắn trúng mục tiêu ở cự li 800m trong mọi điều kiện thời tiết và địa hình. Để hoàn thành cự li bắn này, chúng tôi đã bỏ ra một tháng tập luyện bất kể mọi điều kiện thời tiết, ngày hay đêm, dù mệt mỏi thế nào, ở nơi có độ nghiêng, độ cao khác nhau, ở miền quê và đồng bằng ngay cả khi có người bị mắc bệnh… Bắn súng vào những ngày mưa, ngày lạnh hay khi vừa bò ra khỏi các ống thoát nước, chúng tôi đều thử cả. Chúng tôi đã vững vàng hơn rất nhiều: “Chúng tôi có thể bắn chính xác ở cự li 500m trong mọi điều kiện.” Hàng ngày, các tay súng bắn tỉa đều ra thao trường bắn và bắn 10 viên đạn và phải bắn được những phát chí mạng khiến đối phương gục chết ngay khi trúng đạn. Yêu cầu đặt ra là phải có ít nhất 8 trong tổng số 10 viên trúng vòng 5 phía ngoài và ít nhất có 2 viên trúng vòng 4 phía trong theo kiểu bia của FBI.

Sau quá trình tập luyện, Đội đặc nhiệm SEAL số 6 tổ chức cuộc thi để lựa chọn tay súng bắn tỉa giỏi nhất. Trong số 18 người tham gia, tôi về thứ nhất. Điều này làm cho một số người có thâm niên hơn không mấy vui vẻ. Country, công tác trong đội, có thâm niên nhiều hơn tôi một năm, về vị trí thứ hai. Lớn lên ở Alabama, miền Nam nước Mỹ, Country rất to con, tính tình vui vẻ, có mái tóc màu hạt dẻ và nói giọng miền nam. Anh hay kể những câu chuyện săn bắn thời bé, về những con thú anh săn được, về những thứ phải chuẩn bị trước khi đi săn và về hương vị thịt của các loài thú. Có lẽ Country đã bắt đầu săn bắn từ khi mới 10 tuổi. Kinh nghiệm đôi khi có thể là con dao hai lưỡi. Lính bắn tỉa cần phải quên những thói quen xấu.

Đội đặc nhiệm SEAL số 6 cử Country và tôi hợp thành một đội đến tham dự cuộc thi lính bắn tỉa giỏi khu vực tại Sở Chỉ huy Lực lượng Delta ở Bắc Carolina. Các đội khác trong SEAL cũng cử hai người giỏi nhất đi thi. Tương tự như vậy là các thí sinh đến từ Lực lượng Delta, Biệt kích Ranger, đội Giải cứu Con tin của FBI (HRT), Sở Mật vụ, Sở Cảnh sát Hạt Cumberland và nhiều lực lượng khác.

Hàng sáng trên sân tập bắn của Delta, chúng tôi khởi đầu bằng việc bắn mục tiêu di động là đĩa bay từ lỗ bắn ở cự ly 200m. Đĩa bay được đúc từ bột đá có kích cỡ và hình dáng một chiếc đĩa trũng lòng. Đối với Country và tôi, đây là mục tiêu quá dễ dàng. Khi viên đạn bắn trúng, chiếc đĩa sẽ nát tan thành bụi. Những ai thua cuộc đều phải mua một thùng bia. Các tay súng bắn tỉa của đội FBI và Sở Mật vụ là những người thường xuyên phải mua bia.

Chúng tôi cũng phải bắn các mục tiêu từ lỗ bắn mà không biết trước cự ly và không được sử dụng thiết bị laze để đo khoảng cách. Đây là phần khó nhất. Sau khi mục tiêu xuất hiện, chúng tôi còn phải xác định đó là bạn hay thù. Sau đó, nhanh chóng hạ gục mục tiêu trước khi mục tiêu bay vọt khỏi tầm nhìn. Ở nội dung bắn súng chếch, chúng tôi bắn từ trên cao xuống mục tiêu. Kiểu bắn này đòi hỏi cách tính toán hơi khác so với các kiểu bắn khác.

Ở nội dung khác, chúng tôi phải chạy đến một vị trí, ổn định vị trí và bắn. Country cầm khẩu súng của tôi, chạy lên tòa nhà bốn tầng và ổn định vị trí. Tôi leo cầu thang phía sau Country. Do không phải mang theo vũ khí nên khi vào vị trí bắn, tôi có thể nhanh chóng ổn định nhịp thở − chỉ trong vòng vài giây. Với tôi, việc loại ra khỏi đầu những suy nghĩ vớ vẩn đã trở thành bản năng phản xạ vô điều kiện. Tôi siết cò vào mục tiêu đối diện với tôi ở một tòa nhà khác. Cự ly bắn từ 500m đến 700m. Chỉ một vài đội có thể hạ gục được mục tiêu ở tầm bắn này: Đội đặc nhiệm SEAL số 6, Delta, một số biệt kích Ranger và đội Nhà máy điện hạt nhân thuộc Bộ Năng lượng. Trước khi bước sang buổi sáng cuối cùng của cuộc thi, Country và tôi luôn dẫn đầu. Buổi sáng hôm đó, chúng tôi đã kết thúc bài bắn chuẩn bị. Chúng tôi bước vào nội dung chính. Tôi chỉ thị một mục tiêu cho Country và anh ta bắn đón đầu hạ gục mục tiêu. Sau đó, tôi chỉ thị một mục tiêu khác.

Google photo

Country nhắm bắn mục tiêu và khi anh ta bóp cò, mục tiêu con tin vẫn bay. “Chết tiệt!” Tôi hỏi “Chuyện gì vậy?” “Tôi nghĩ là tôi vừa bắn vào mục tiêu con tin.” Nếu không bắn phát đạn nào, chúng tôi không ghi điểm trong nội dung này nhưng vẫn đủ điểm để về nhất. Mặc dù, đó không phải là cú bắn gây chết ngay tại chỗ nhưng chúng tôi vẫn bị trừ 10 điểm. Cặp đôi bắn tỉa giành chiến thắng thuộc về đội biệt kích Ranger, trong đó có một người cùng học với tôi tại Trường đào tạo lính bắn tỉa ở Quantico. Tôi nghĩ, đội Delta về thứ hai. Đội của Nhà máy điện nguyên tử thuộc Bộ Năng lượng về thứ ba.

Do Country và tôi mất điểm vì lỗi đó nên chúng tôi về vị trí thứ tư và nằm trong nhóm ba đội thua cuộc. Cả Country và tôi đều không hài lòng với kết quả này. Đội HRT và Sở mật vụ đứng ở vị trí cuối cùng. Mặc dù như vậy, nhưng điều quan trọng là biết rút kinh nghiệm từ những sai lầm trong quá trình huấn luyện. Với tôi, những cú bắn sau đó tôi đều phải hết sức nghiêm túc.