Miền đất dữ

vietmessenger.com

Bản dịch: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 12 Aug 2024

Chương 21

Cuộc tàn sát ở Portella del Ginestra làm rung động cả nước Ý. Báo chí, đặc biệt là báo của phe hữu, mỉa mai thay lại lớn họng hơn hết. Những hàng tít chạy suốt trang nhất: “Tàn sát vô nhân đạo đàn bà trẻ em vô tội”, “Không thể ngủ yên: mười lăm nhân mạng chết, ba mươi người bị thương trầm trọng”, “Thành tích của người hùng: nhiều xác trẻ thơ”, “Máu vô tội đổ lên đầu ai?”…
Lúc đầu, ai cũng đinh ninh không ai khác ngoài đám “Người anh em” là tác giả của tác phẩm kinh tởm ấy. Trong cuộc họp báo, Silvio Ferra cũng có lời bóng gió khiến người ta hiểu như vậy. Nhưng, Ông Trùm đã chuẩn bị trước phương án đối phó. Có vài “Người anh em” ra trước tòa khai chúng đã thấy bóng thấp thoáng của Terranova và Passatempo tại địa điểm phục kích. Băng của Guiliano không công nhận, cũng không phủ nhận. Im lặng một cách khó hiểu. Người dân Sicilian ngơ ngác hỏi nhau ý nghĩa của sự im lặng khác thường ấy!
Hai tuần lễ trước ngày bầu cử toàn quốc, Silvio Ferra đạp xe từ San Giuseppe Jato đi Piani del Greci. Hắn đạp xe dọc theo bờ sông Jato, men theo đường mòn dưới chân núi. Trên đường, có hai người mang vũ khí lên tiếng gọi tên hắn. Và bảo hắn dừng lại. Nhưng, hắn cắm đầu đạp xe vọt lẹ. Được một quãng dài, hắn mới dám ngoảnh cổ lại nhìn. Hai tên kia còn kiên nhẫn lếch thếch chạy theo. Nhưng hắn vọt luôn. Vào đến thị trấn Piani, quay lại nhìn, hắn không còn thấy hai tên kia nữa.
Silvio vào trụ sở của đảng xã hội và họp với mấy lãnh đạo của đảng trong vùng đó gần ba tiếng đồng hồ. Lúc xế chiều, hắn vội vã để cố trở về nhà trước khi trời tối. Dắt chiếc xe đạp lững thững qua quảng trường thị xã, nhiều người quen biết lên tiếng vui vẻ chào hỏi hắn. Bỗng, có bốn người vây lấy hắn và đi theo hắn. Silvio Ferra nhận thấy một trong bốn tên kia là một sếp sòng Mafia ở Montelepre. Hắn cảm thấy rờn rợn. Từ hồi còn nhỏ, hắn đã biết Quintana. Hắn cũng biết là tại thị trấn Piani, cái bóng của Guiliano khiến cho đám “Người anh em” không dám ngang nhiên vùng vẫy như chỗ không người. Trên đầu bọn chúng, lưỡi gươm Guiliano treo lơ lửng. Tình hình lúc đó không cho phép “Người anh em” dám chọc giận công khai Guiliano. Tuy nhiên, Silvio cũng không dám công khai khiêu khích “Người anh em”. Bởi vậy, hắn cũng mỉm cười gật đầu chào Quintana và nói, giọng xởi lởi:
– Từ đây về đến nhà ông anh, đường cũng còn xa dữ. Ông anh đi chơi về trễ qúa vậy, ông anh?
– A, chào người hùng. Anh em mình cùng đi dạo với nhau một quãng nhé, đừng từ chối. Mà cũng chớ la lối om sòm. Không có lợi cho anh bạn đâu. Tụi này có vài điều muốn nói với anh bạn.
– Thì ông anh cứ nói ngay tại đây đi.
Silvio Ferra bắt đầu thấy run. Cũng như khi hắn ra trận lần đầu tiên. Với kinh nghiệm ấy, hắn nghĩ rằng hắn có thể khắc phục được sự sợ hãi mà hắn đang cảm thấy. Hắn cố chủ động để không vì bộc phát mà có những hành động không thích hợp và dại dột. Hai tên trong bọn nắm lấy cánh tay hắn và kè sát hai bên. Chúng làm như những người bạn thân thiết kè sát nhau đi. Chiếc xe đạp của Silvio bị để lại nằm chỏng trơ giữa quảng trường.
Silvio nhìn thấy dân thị trấn vẫn ngồi chơi trước cửa nhà họ. Họ cũng nhìn thấy hắn và biết sự gì sắp xảy ra. Dĩ nhiên là họ có thể đến cứu hắn. Nhưng vụ tàn sát kinh khủng ở Portella del Ginestra, không khí khủng bố ngột ngạt nặng nề đè nặng lên mọi người làm cho ai nấy tuy biết, tuy muốn cứu hắn, nhưng cũng không dám hó hé, nhúc nhích. Silvio Ferra đứng lì như chôn chân xuống đất. Quay nhìn về phía trụ sở, hắn vẫn thấy vài “đồng chí” đứng ở cửa. Lẽ nào họ không nhìn thấy và không hiểu hắn đang bị uy hiếp. Nhưng, chẳng có ai chạy tới. Hắn la lớn: “Cứu tôi với!”. Dân thị xã đứng im, nhìn! Các đồng chí cũng đứng im, nhìn!
Quintana cười gằn và đẩy mạnh hắn về phía trước:
– Đừng có khùng. Đã ai làm gì nào. Tụi này chỉ muốn nói chuyện với anh bạn thôi mà. Ngoan ngoãn đi theo tụi này. La lối kêu cứu là hại mấy thằng kia đó. Vả lại, chẳng có thằng nào dám đến đâu. Kêu vô ích.
Trời đã sẩm tối, trăng đã lên. Silvio cảm thấy họng súng gí sau lưng. Hắn nghĩ: nếu muốn, chúng vẫn có thể giết hắn ngay tại quảng trường này mà chẳng sợ hãi gì. Và ngay tại đó cũng chẳng có ai – kể cả các “đồng chí” của hắn – dám cứu hắn. Ngoan ngoãn đi theo Quintana thì có lẽ không chết. Có thiếu gì nhân chứng biết Quintana. Nếu hắn cứ tiếp tục cự nự, rất có thể buộc lòng chúng phải “khử” hắn. Những ý nghĩ ấy liên tiếp nảy ra trong đầu Silvio.
Quintana nhỏ nhẹ nói:
– Tụi này khuyên anh bạn nên “stop” cái trò điên khùng cộng sản của anh bạn lại. Tụi này đã nhân nhượng, bỏ qua cho anh bạn cái tội vu khống cho tụi này thực hiên vụ khủng bố ở Ginestra. Nhưng, anh bạn tỏ ra không biết điều. Sự nhẫn nại của tụi này, đáng tiếc, rất hạn chế, đã thế lại không được đền bù gì. Anh bạn tưởng thế là khôn ngoan sao chứ? Nếu anh bạn cứ nhất định diễn trò cộng sản thì tụi này bắt buộc phải để đám con của anh bạn mồ côi cha đấy.
Lúc đó họ đi ra khỏi thị trấn. Và bắt đầu lên dốc đá dẫn tới núi Cumeta. Silvio ngay nhìn lại phía sau. Chẳng thấy ai đi theo. Tuyệt vọng, hắn nói với Quintana:
– Lẽ nào ông anh đang tâm giết một người cha trong gia đình chỉ vì chuyện chính trị nhỏ nhặt đó sao?
Quintana cười gằn, đểu cáng:
– Đ.m, chỉ cần vô ý nhổ nước miếng trúng phải giày của tao thì cũng đủ bỏ mẹ rồi, nữa là…
Khi cảm thấy cánh tay được nới lỏng. Silvio vùng chạy xuống dốc, vừa chạy vừa la.
Dân thị xã nghe thấy tiếng súng nổ. Một trong số những người lãnh đạo đảng bộ Xã hội ở địa phương đã chạy đến đồn cảnh vệ.
Sáng hôm sau, xác của Silvio được tìm thấy bị vứt trong khe núi. Khi được cảnh sát hỏi, không một người dân thị xã nào nhận mình đã nhìn thấy sự việc xảy ra lúc đầu như thế nào. Không một ai đã nhận trông thấy Quintana. Thế đấy, bướng bỉnh, chống đối, ủng hộ cánh tả… nhưng, căn cốt đã là người Sicilian, thì không thể phạm luật omerta. Tuy không khai báo gì với cảnh sát, nhưng Guiliano đã được họ kể lại cho nghe, từng chi tiết.
Nhờ phối hợp nhiều yếu tố, nhiều thủ đoạn, nhiều loại hình hoạt động, đảng Dân chủ Thiên chúa giáo đã thắng trong cuộc bầu cử toàn quốc sau đó. Lần này thì Ông Trùm và đám “Người anh em” đã làm ăn có hiệu quả. Vụ tàn sát ở Portella del Ginestra chỉ làm cho dân Ý xúc động. Nhưng đã làm cho dân Sicilian tê liệt tinh thần. Giáo hội Công giáo – đã đem ngọn cờ thánh giá ra để vận động bầu cử, và đã thực thi đức ái hữu của Chúa một cách rất hào phóng – sau khi xong việc, đã trở lại cái mức “tằn tiện dè sẻn” trong các hoạt động bác ái của mình. Vụ ám sát Silvio Ferra được báo chí của phe tả đem mọi nỗ lực thổi bùng căm hờn trong dân chúng. Nhưng những bài báo ấy nghe cũng chỉ xao xác như chim hót của con chim thiên nga giãy chết. Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo cầm quyền đã nhận chìm vụ này.
Năm 1948, đảng Dân chủ Thiên chúa giáo thắng lớn trong cuộc bầu cử toàn quốc. Với đa số áp đảo, đảng vẫn dễ dàng thao túng quốc hội. Chính phủ vẫn nằm trong tay đảng. Mọi sự đâu lại vào đó. Ông nhà giàu vẫn tiếp tục bóc lột và phè phỡn. Thằng khố rách vẫn tiếp tục đổ mồ hôi với cái bụng lép kẹp. Vợ con thằng nghèo vẫn tiếp tục xanh xao, đói rách. Nghĩa là vẫn đường xưa lối cũ. Nghĩa là đảng Dân chủ Thiên chúa giáo vẫn còn thì giờ và sức lực để ca khúc “đường ta ta cứ đi, tiền dân ta cứ tiêu, đầu dân ta cứ đè”. Rõ ràng là trong tương lai nhìn thấy được, đảng Dân chủ Thiên chúa giáo vẫn ăn trên ngồi trước, Ông Trùm Croce vẫn là người cai trị trên thực tế của đảo Sicily. Đạo Thiên chúa vẫn là quốc đạo của Ý. Và thiên hạ cá nhau, sớm muộn gì ngài Franco Trezza cũng vồ được cái ghế thủ tướng nước Ý.
Thì ra rốt cuộc, thằng Pisciotta có lý!
Thông qua giáo sư Adonis, Ông Trùm đã cho Guiliano biết là đảng Dân chủ Thiên chúa giáo xét thấy không thể miễn xá cho nó được vì “vụ Portella tai tiếng quá”. Hoặc “hậu quả của chính trị vụ đó quá nặng nề”. Theo lời Ông Trùm nói với giáo sư Adonis thì:
– Ngài bộ trưởng Franco Trezza cũng bị trói tay. Đức Hồng y giáo chủ cũng không thể đỡ gạt gì được cho một kẻ mà chính ngài cũng đinh ninh là đã tàn nhẫn đang tâm giết hại đàn bà, trẻ thơ vô tội. Nhưng, riêng tôi – còn nước, còn tát – tôi sẽ vẫn tiếp tục làm tất cả những gì phải là và có thể làm để giật cho được cái miễn xá cho Guiliano.
Tuy nhiên, cũng theo ý Ông Trùm, tốt nhất là Guiliano nên di cư sang Mỹ hoặc sang Brazil. Trong trường hợp này, lão sẽ làm mọi sự để giúp hắn ra đi suôn sẻ.
Thái độ của Guiliano khi nhận được tin bọn Rome và ngay cả đức Hồng y giáo chủ và Croce “chơi bài ba lá” với mình đã làm cho tất cả thủ hạ của hắn ngạc nhiên. Dường như hắn đã dự đoán trước và đã có đối sách trước sự lừa lọc, lật lọng, xảo quyệt và đểu cáng của đàn anh, của cả Đấng Bề Trên rất đáng kính trọng: Hội Thánh. Và như thế hắn coi chuyện đểu cáng của bọn ấy là điều dĩ nhiên. Hắn hạ lệnh cho thủ hạ rút sâu vào trong núi. Và các sếp phải hạ trại quanh quanh gần đó để có mặt ngay khi cần. Ngày lại ngày trôi qua, Guiliano như càng rúc sâu vào và co lại trong thế giới huyền bí riêng của mình. Các sếp nôn nóng, khắc khoải chờ đợi mấy tuần lễ liền. Vẫn êm re.
Nhưng, vào một buổi sáng không vệ sĩ nào đi theo, một mình Guiliano đi sâu nữa vào trong núi. Mãi đến lúc trời tối mịt hắn mới về đến sào huyệt. Đứng trước đống lửa, Guiliano vắn tắt, nhưng oai nghiêm ra lệnh:
– Aspanu, mời các sếp lại họp.
Trên lãnh địa rộng mấy trăm ngàn mẫu của mình, hoàng thân Ollorto đã cho trồng đủ thứ cây trái, nhờ đó từ ngàn xưa Sicily đã được hân hạnh mang cái mỹ hiệu “vựa trái cây ngon lành nhất nước Ý”. Chanh, cam, đậu, ô – liu, nho, ớt, cà chua, cà tím, trái nào trái ấy to bằng mấy cái tô. Lại cả tre để đan sọt đựng trái cây nữa. Và ô – liu thì rất nhiều dầu. Chỉ có một phần rất nhỏ đất được nhượng lại cho nông dân theo chế độ thu tô trên căn bản một nửa số lượng thu hoạch. Tuy là hoàng thân, ngài cũng không muốn tỏ ra khác biệt với bất cứ một tên địa chủ nào khác. Nghĩa là, bao nhiêu phần béo bở nhất thì ngài giành lấy hoặc tìm cách giành lấy đớp hết. Cho thuê máy móc, ngài độc quyền. Hạt giống, cũng ngài. Phân bón, cũng ngài. Cho đến chuyên chở sản phẩm, cũng ngài luôn. Bởi vậy tiếng là tá điền hưởng 50% sản lượng thu hoạch, nhưng thực tế vào được đến bao tử tá điền 25% đã là quá may. Và để được cái may đó thì tá điền phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt quanh năm suốt tháng. Nhưng, quả thực là còn may so với thằng không được làm tá điền cho ngài mà chỉ làm công nhật theo mùa với đồng lương chết đói.
Nói chung, đất ở Sicily tốt. Và các ngài quý tộc, địa chủ của Sicily vẫn có thói quen tốt lành mà có lẽ vì đầu óc mụ ẫm, ngu muội nên mấy thằng khố rách không tài nào hiểu được. Đó là các ngài cứ nhất định bỏ hoang một số ruộng đất. Không trồng trọt. Cũng chẳng cho thuê. Để hoang chơi vậy đó. Thế mới ngông. Ngay năm 1860, nhà đại cách mạng Ý là Garibaldi đã hứa với nông dân là “người cày có ruộng”. Ấy vậy mà đến năm 1947, đức ngài hoàng thân Ollorto vẫn còn hàng trăm ngàn mẫu bỏ hoang, cho thỏa thói chơi ngông của ngài. Các ông hoàng bà chúa khác sử dụng số đất hoang này như một “quỹ dự trữ”. Lâu lâu túng tiền, cắt một miếng, bán. Lâu lâu cần tiền thanh toán cho cơn hứng bất tử của mình, cắt một miếng, bán.
Trong cuộc bầu cử toàn quốc vừa qua, tất cả các đảng phái, kể cả đảng Dân chủ Thiên chúa giáo đều hứa sẽ tranh đấu để phân chia lại ruộng đất, thực hiện lời hứa của nhà đại cách mạng Garibaldi “người cày có ruộng”, mà có phải là nước Ý chưa có đạo luật quy định tất cả đất bỏ hoang của các lãnh địa mênh mông đều được chia ra bán lại cho nông dân với giá tượng trưng đâu!? Có rồi! Và có hơi nhiều và hơi lâu rồi nữa là khác.
Nhưng…

Photo edit by Sơn râu

Các ông hoàng bà chúa chủ đất có một thủ thuật rất đơn giản và tương đối rẻ tiền để khỏi thi hành luật ấy. Chỉ việc thảy cho mấy “Người anh em” ít tiền còm là “Người anh em” sẽ thăm hỏi ra oai cho thằng khố rách áo ôm nào dám trưng luật ra để đòi tiền mua rẻ đất của các ngài. Vào những ngày – theo luật – cho phép nông dân mua lại đất thì mấy “Người anh em” chỉ việc cưỡi ngựa diễu tới diễu lui rong chơi phía ngoài cổng lâu đài của các chủ đất là mấy thằng khố rách co vòi hết ráo, chẳng thằng nào dám lân la đến gần lâu đài để eo xèo, xin mua lại đất. Nếu thằng nào dám thí mạng cùi, thì cũng chỉ dám đến ngồi ở cổng lâu đài, chẳng dám vào. Và nếu có thằng nào cứ nhất định thí mạng vào đòi mua… thì cũng được thôi. Có điều, gia đình thằng đó khỏi có một thằng đàn ông, con trai nào sống sót để cày ruộng đó. Và, cái đó đã thành lệ, thành truyền thống Sicilian, chỉ đơn giản thế thôi mà từ bao năm qua, chưa một thước đất nào của lãnh địa bán ra theo luật cả. Luật pháp làm gì được mấy ông cả, bà lớn đó. “Ơ hơ, có phải tôi không chịu bán đất đâu. Tụi nó không chịu đến mua. Bộ tôi phải đến nhà tụi nó để lạy lụy tụi nó đến mua à?”. Thế là xong. Quốc hội Rome cứ việc thông qua các đạo luật cải cách ruộng đất rất chi là cấp tiến. Một trăm đạo luật như thế cũng chấp hết. Cứ nằm đó cho bụi đóng chơi. Như đã có lần, trong một lúc bất ngờ, Ông Trùm Croce đã vui miệng nói với ngài bộ trưởng tư pháp một câu để đời như thế này: “Luật với lệ làm quái gì. Vì với tụi này, luật lệ có sức nặng nào đâu”.
Chỉ cần một sếp Mafia thì cũng quá đủ để khỏi có một thằng khố rách nào dám đến lâu đài ngài hoàng thân Ollorto để láo lếu đòi xin mua đất theo luật định. Nhưng, có lẽ Ông Trùm muốn cho các sếp tay em của mình có “công ăn việc làm”, kiếm chút tiền còm tăng thu nhập, để cải thiện bữa ăn hay sao mà gợi ý ngài hoàng thân mướn luôn một lúc sáu sếp làm gabellati “bảo vệ”.
Bởi vậy, buổi sáng rực rỡ hôm ấy, thời tiết nóng đến nỗi núi đá ở Sicily cũng phải đổ mồ hôi. Vậy mà sáu sếp Mafia của Sicily vẫn vui vẻ rủ nhau cưỡi ngựa thả diều bên ngoài cổng lâu đài của ngài hoàng thân. Đám nông dân đói quá nên đầu gối cũng phải bò, lết đến cổng lâu đài, mặc dù trong bụng đánh lô – tô. Chúng lết tới, nhưng cũng chỉ dám túm tụm nhau dưới bóng cây ô – liu hoặc bóng bức tượng Đức Chúa Jesus ở gần cổng lãnh địa để nhìn sáu nhân vật nổi tiếng hung ác nhất Sicily cưỡi ngựa rong chơi ở đó. Đám khố rách kiên nhẫn ngồi ở đó chờ Chúa ban phép lạ. Nhưng chờ hoài, phép lạ chẳng xảy ra. Luật pháp, có như không. Ngày hôm đó, không hiểu có phải là để đề phòng cuộc nông dân nổi dậy hay sao mà ngài bộ trưởng Bộ tư pháp đã ban lệnh cho toàn thể ngành cớm, từ cớm gộc, đến cớm oắt phải cắm trại 100% để… trực chiến. Trên toàn đảo Sicily ngày hôm đó có lẽ trừ cảnh sát giao thông, không tìm đâu ra một anh cớm ngoài đường. Tất cả đều trong doanh trại, trong đồn. Để trực chiến. Báo chí và phe đối lập hoạnh họe gì được. Bên ngoài lãnh địa đã có các sếp Mafia đi tuần tiễu giùm. Cao kiến thay! Có vậy mới làm được bộ trưởng Bộ tư pháp chớ.
Đám khố rách cũng lì, chịu dãi nắng bên ngoài cổng lâu đài. Chờ. Sáu ông sếp Mafia cũng kiên trì chẳng kém. Vẫn cứ cưỡi ngựa diễu tới diễu lui dưới ánh nắng chói chang. Nét mặt vị nào cũng lạnh như tiền, mặc dù trời rất nóng nực. Vị nào cũng biểu dương lực lượng giống hệt như nhau: súng lục tận lưng, súng săn đeo trên vai, súng máy cài sau yên ngựa. Cứ thế cưỡi ngựa đi tới đi lui, như cái quả lắc đồng hồ. Chẳng nói chẳng rằng, làm như không có đám dân khố rách đang đứng ngồi túm tụm ở đó. Chắc bọn này hy vọng Chúa làm phép lạ cho mấy đấng “long kỵ binh” kia cất cánh bay lên trời để cho họ can đảm vượt qua cổng lâu đài, vào xin mua lại mảnh đất theo luật định. Trong khi chờ đợi phép lạ xảy ra, đám khố rách giở cơm nắm cơm gói ra mà ăn uống với nhau. Có người còn thủ theo chai rượu. Bấy giờ giở ra nhâm nhi lai rai với nhau. Chỉ dám chờ. Không có ai dám quậy. Những người có mặt ở đây hầu hết là đàn ông. Chỉ có một số ít là đàn bà. Trong số ấy có cả ông bà già của Silvio Ferra và cả Justina cô nương nữa. Gia đình này đến là để xin mua lại đất, vừa để tỏ sự thách thức những kẻ đã giết con, giết anh của họ. Trong bụng thì nghĩ vậy, nhưng cũng “rét”, nên không dám vượt qua ranh giới định mệnh do móng mấy con ngựa của sáu tên cốt đột kia vạch ra trên mặt đường, để đòi cái quyền mà luật pháp do những ông to bà lớn của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo ở Rome đã làm ra và dành cho họ.
Đám nông dân không phải chỉ sợ thôi. Sáu đấng “long kỵ binh” kia đều là những con người “đáng trọng nể”. Chính các vị là người làm ra luật, thi hành luật và xét xử theo luật. Tất nhiên không phải luật pháp của quốc gia. Ý muốn của các vị là luật. Và bản thân các vị là những đấng toàn năng và toàn quyền, nhất là quyền sinh sát. Chính quyền Mafia chỉ là cái bóng, nhưng hữu hiệu gấp bội so với chính quyền Rome. Lơ mơ với chính quyền Rome có thể vẫn bình an vô sự. Nhưng lơ mơ với mafia thì dứt khoát là không xong rồi. Nếu không tiêu mạng thì nhà cửa, gia súc, mùa màng cũng bị bầy hầy là giá chót. Nông dân bị mất trộm cừu ấy, mà còn nhiều thứ khác tiếp theo nữa. Đám khố rách Sicilian, trong những trường hợp tương tự, có một lối giải quyết khác, độc đáo và hữu hiệu vô cùng cứ đến gặp sếp Mafia địa phương, “Puộc – boa” (1) 25% giá trị con vật bị mất thì chẳng những tìm thấy, mà còn nhận được lời đảm bảo con vật ấy sẽ không bao giờ bị “mất” như vậy nữa. Chánh quyền Rome có dám hứa ngon, đảm bảo chắc như vậy không? Nếu có một tên cốt đột nào ngà ngà say, hoặc vì lý do trời ơi đất hỡi nào đó, đã quất sụm một công nhân, nông dân vô tội nào đó, thì nhà nước chẳng nên phí sức đi điều tra tìm thủ phạm. Mất công vô ích. Bởi vì sẽ có vô khối nhân chứng gian và nhất là luật omerta. Dân Sicilian có thể không tuân theo mười giới răn của Chúa, nhưng luật omerta thì thủ rất kỹ, rất kỹ. Gia đình nạn nhân hãy đến sếp Mafia địa phương. Ân oán sẽ phân minh ngay trước mắt. Nếu bị chính sếp Mafia quất sụm, thì gia đình nạn nhân hãy ghi vào sổ nợ máu. Đời cha không đòi được thì đời con. Đời con không đòi được thì đời cháu. Có thể đòi không được mà còn bị vay thêm. Nhưng dù không đòi được, vẫn phải đòi. Nếu không sẽ bị coi là hèn. Con trai nhà đó khỏi lấy vợ. Con gái nhà đó khỏi lấy chồng. Còn tệ hơn bị cùi. Không có chuyện tha thứ. Không có chuyện xót thương trắc ẩn.
Trộm cắp lặt vặt giữa lối xóm với nhau cũng có thể tử hình. Trong khi đó, những mối cừu thù vẫn có thể giải quyết “trong danh dự”. Tranh chấp có thể giải quyết khỏi tốn một xu cho thầy cãi. Phán quyết của các sếp Mafia có thể bỏ qua. Cũng không thể chống án. Sự trừng phạt rất nặng nề và được thi hành răm rắp. Không thể trốn tránh, trừ khi bán sới khỏi xứ di cư sang nước khác sống mai danh ẩn tích, nếu không đủ móng vuốt trả đũa những cuộc tầm thù. Các sếp mafia thực sự nắm quyền hành ở Sicily, ngay cả thủ tưởng nước Ý cũng đành chào thua.
Chính vì những lý do đó mà đám dân khố rách kia, tuy đông đảo, cũng đành ngồi ngoài cổng lâu đài ngài hoàng thân Ollorto để ngắm sáu đấng anh hùng Mafia cưỡi ngựa, rong chơi diễu qua diễu lại. Tuy cùng mục đích, nhưng sáu đấng không đi chung với nhau. Vì như vậy tỏ ra là yếu. Anh hùng một cõi. Giang sơn nào, anh hùng nấy. Như một ông vua trong vương quốc của mình, mỗi vị có sắc thái riêng, sở trường riêng, độc đáo của mình.
Trong số lục vị quần anh ấy, đấng anh hùng được khiếp sợ nhất có cái tên cúng cơm là Siano. Cõi trời riêng của “ngài” là thị trấn Bisacquino. Hôm đó, “ngài” cưỡi con ngựa xám đốm đen. Năm đó, “ngài” khoảng lục tuần. Nước da mặt của “ngài” cũng xám xám lốm đốm như màu lông con ngựa “ngài” đang cưỡi. Chỉ mới hai mươi sáu tuổi, danh của “ngài đã nổi như cồn, đến mức hầu như “ngài” trở nên một nhân vật thần thoại. “Ngài” khởi đầu sự nghiệp bằng cách quất sụm nhân vật tiền nhiệm của “ngài” là “ sếp” Mafia địa phương lúc đó. Vị tiền nhiệm này đã “hóa kiếp” cho đấng thân sinh của “ngài”, lúc đó “ngài” mới 12 tuổi. “Ngài” đã ăn chay nằm đất, gặm nhấm nỗi căm hờn của mình suốt mười bốn năm trời. Cho đến một hôm cừu nhân của “ngài” đang nhong nhong cưỡi ngựa trên đường thì từ trên cây, “ngài” đã phóng mình xuống, trúng lưng con ngựa, ngay phía sau cừu nhân. Gí dao sau lưng cừu nhân và phóng ngựa ra giữa quảng trường thị trấn. Trước sự quan chiêm của đồng bào đông đảo, “ngài” đã nghiêm chỉnh đòi món nợ máu mười bốn năm trước. “Ngài” đã cắt tai, xẻo mũi, khoét mắt, cắt môi và xẻo luôn cái “củ tội” của cừu nhân. Sau đó “ngài đã ôm cái xác máu me đầm đìa của cừu nhân, cưỡi con ngựa cừu nhân, nghênh ngang diễu qua diễu lại ngay trước cửa nhà cừu nhân. Sau lễ đăng quang đó, “ngài” lên ngôi và trị vì thị trấn Bisacquino bằng máu và bằng bàn tay sắt của “ngài”.
Đấng anh hùng thứ hai phương danh là Arzana. Vương quốc của “ngài” là thị trấn Piani del Greci. Hôm đó “ngài” cưỡi ngựa ô trên đầu cắm chùm lông tía. “Ngài” là vị quân vương thâm trầm, chín chắn. Triết lý của “ngài” là bất cứ một cuộc tranh chấp, một đám cãi nhau nào, vì bất cứ lý do gì bao giờ cũng có hai phía đối nghịch. Phía đúng, phía có lý là phía chạy đến cầu cứu “ngài” trước phe kia. Vũ trụ quan và nhân sinh quan của “ngài” chỉ đơn giản có vậy thôi. Những triết lý thái cực của người Tàu hay triết học biện chứng của Hegel cũng có hơn gì? “Ngài” không chịu tham gia vào việc kết án tử hình tên Silvio Ferra “nếu chỉ vì mục đích chính trị”. Thật ra, “ngài” đã biết trước cái kết thúc bi thảm của tên đó từ mấy năm trước, nghĩa là từ lúc hắn tập tọng đóng trò cho bọn hồng, bọn đỏ kia. “Ngài” có hơi buồn vì bản án tử hình dành cho Silvio. Nhưng “ngài” bất lực không đỡ gạt giùm hắn được. Bởi vì đấng chúa tể Croce Malo và các đấng quân vương kia đã phán rằng: “Nay đã đến lúc phải treo cổ một tấm gương để răn dạy người dân vùng này”. Ách cai trị của “ngài” xem ra êm ái hơn, nhẹ nhàng hơn so với các đấng quân vương kia. Bởi vậy, trong số lục vị anh hùng cưỡi ngựa rong chơi hôm đó, “ngài” ít bị dân chúng khiếp nhất. Hôm đó, với nét mặt vô cảm, “ngài” cưỡi ngựa tham gia biểu dương lực lượng và ý chí cùng các vị khác. Trong lòng “ngài”, không gợn lên một chút hoài nghi về sự lành, dữ, đúng, sai trong hành vi của “ngài”.
Đấng anh hùng thứ ba đang ngồi trên lưng ngựa mang danh là Piddu. Giang sơn riêng của “ngài” là thị trấn Caltaniseta. Hôm ấy “ngài” đã cho trang trí hàm thiếc con ngựa “ngài” cưỡi bằng những tràng hoa rực rỡ. Năm nay, “ngài” tương đối đã cao niên, nhưng vẫn đầy hùng tính, ngay từ lúc còn là thanh niên, hùng tính của “ngài” đã có nét bộc lộ độc đáo: rất ưa nịnh, nông nổi, phù phiếm, háo thắng và nhất là háo sắc. Trong một ngày lễ hội của thị trấn, đã có một chàng trai tuy gốc gác quê mùa, nhưng lại rất hào hoa, phong nhã. Hắn đã phạm tội trọng vì cái tội phong nhã của hắn đã làm cho con tim của nhiều bà, nhiều cô thổn thức. Lúc khiêu vũ, hắn đã dám đeo nhạc vào cổ tay, cổ chân của hắn và nhảy múa dẻo quẹo, hắn dám mặc áo sơ – mi lụa đặt may tại Palermo, hắn đã dám đệm cho lời ca vốn đã đầy sức mê hoặc quyến rũ bằng cây đàn chế tạo tại Tây Ban Nha. Như vậy, sao quốc vương Piddu không nổi giận cho được. Nhưng “ngài” nổi điên khi những đôi mắt chó giấy của lũ đàn bà con gái địa phương này đã không biết người biết của và đam mê ngu muội, không biết si mê “ngài” mà lại si mê thằng nhà quê nọ, nó chẳng có cái đếch gì ngoài cái tốt mã, nụ cười duyên, điệu múa dẻo và giọng ca mê hoặc. Valentino, thằng nhà quê ngu muội ấy đâu biết rằng ngày lễ hội hôm đó cũng là ngày thần định mệnh đến gõ cửa nhà mình. Trên đường trở về, người ta thấy xác chàng trai ấy nằm sấp trên đường, đạn găm nát thây, lỗ chỗ như tổ ong bầu. Đó là thành tích khởi nghiệp của đấng anh hùng Piddu.
Đấng anh hùng thứ tư mang phương danh là Marcuzzi. Thằng khốn Pisciotta đã lấy máu của một người anh em bà con của “ngài” để làm lễ nhập đạo dao búa. Đó chính là tên buôn lậu đã mau mồm mau miệng xin thầy đội cho phép nó đi bắt Guiliano trong chuyến buôn chui đầu tiên và bị thầy đội đế cho một tràng tiểu liên suýt toi mạng đó. Người hùng Marcuzzi có nếp sống khắc khổ và rất sùng đạo. Như mọi đấng phú hào miệt vườn, “ngài” đặt ngay trong nhà của “ngài” một phòng mà “ngài” mệnh danh là “nhà nguyện riêng”, nơi hàng ngày “ngài” cầu kinh sớm tối. Không hiểu do trong nhà của “ngài” có nhiều tượng thánh – đủ kiểu đủ cỡ tượng Đức Chúa Jesus, Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Maria và nhiều chư thánh khác, chỗ nào cũng có, từ đầu giường nơi “ngài” và phu nhân hú hí cho đến xó bếp – hay là “ngài” vẫn giữ được nếp sống của lão già miệt vườn nên “ngài” sống rất thanh đạm. “Ngài” có cái nếp rất đáng quí là không thích tiêu mà chỉ thích giữ để dành tiền. Phải thành thật và ca tụng và khâm phục “ngài” ở chỗ – tuy không giàu có – “ngài” vẫn đủ tâm huyết và khẳng khái từ chối những mối lợi bất chánh. “Ngài” yêu chuộng quyền lực chẳng phải vì quyền lực đem lại cho “ngài” lợi ích vật chất, mà chỉ yêu quyền lực vì quyền lực. Triết lý về quyền lực của “ngài” rất thâm thúy, theo đó thì “quyền lực tự bản thân nó đã có một giá trị”. Nghĩa là quyền lực có giá trị nội tại trong chính nó, lấy chính nó làm cứu cánh. Cũng như chủ trương của Palton, “yêu là để yêu chứ không phải để chiếm đoạt cái ta yêu.” Thấy chưa, sâu sắc chưa. Ấy vậy mà những đứa thối mồm cứ nói “ngài” là một thằng già hủ. Tâm hồn của “ngài” là một trường ác đấu giữa hai tình cảm và mâu thuẫn: say mê giúp đỡ người đồng hương Sicilian một cách hòan toàn vô tư, đồng thời lại là một Mafioso theo trường phái cổ điển và cuồng tín. Chẳng thế ngài đã thẳng tay xử tử thằng cháu ruột của “ngài” khi nó phạm luật omerta, dám tiết lộ cho cảnh sát bí mật của hành động Mafia, chỉ vì nó bị cảnh sát của phát – xít nện đau quá, chịu không nổi mà phải khai ra.

Photo edit by Sơn râu

Đấng anh hùng thứ năm trên lưng ngựa là ngài Bucilla, thị trấn Partinico là nơi dụng võ của “ngài”. Ngày hôm nay “ngài” vẫn giữ và còn đang mặc bộ đồ “cao – bồi vườn” mà năm năm trước đó “ngài” đã mặc khi đến vi thiềng của giáo sư Adonis “ít trái cây vườn nhà, nhiều quá ăn không hết, để rụng uổng”, đặng xin cho con trai của người bạn hàng xóm thi rớt đại học được đậu. Vẫn bộ đồ ấy, mặc dù sau năm năm, đã bao nhiêu nước chảy qua cầu, đã bao nhiêu bèo dạt hoa trôi. Chẳng hạn, thân thể của “ngài” vốn dĩ đã to ngang, nay lại tăng trọng thêm hai chục ký thịt và mỡ nữa. Chẳng hạn gia sản của “ngài” – so với tài sản của hoàng thân Ollorto thì chẳng khác nào giọt nước sánh với đại dương – cũng tăng gấp năm gấp mười so với năm năm trước. Chỉ vì hiếu cổ và tôn cổ chứ chẳng phải tằn tiện, keo kiệt mà “ngài” vẫn cứ đeo bộ đồ cao – bồi vườn ấy. Những hành động mà thiên hạ độc mồm độc miệng gọi là hung bạo tàn nhẫn đều được “ngài” thực hiện với ý thức sáng suốt và đều do động lực là lòng chí thành chí thiện. “Ngài” cũng có ý thức rất cao về danh dự cá nhân. Chẳng thế một lần kia, có một tên dại dột vui miệng nói một câu khôi hài chọc ghẹo “ngài”, “ngài” đã lụi cho thằng đó mấy nhát dao, cho về chầu tổ tức khắc. Lòng yêu của “ngài” dành cho đức công bằng mạnh mẽ không thua gì tòa án tối cao của nước Anh thế kỷ 18, đã dành án tử hình cho đứa bé con can tội móc túi vì nó đói quá. Cũng vậy, có đứa đã toi mạng bởi tay “ngài” chỉ vì đã trộm của “ngài” một quả trứng.
Đấng anh hùng thứ sáu với nét mặt cô hồn hắc ám có phương danh là Guido Quitana. Trên danh nghĩa, nơi hùng cứ của “ngài” là thị trấn Montelepre. Nhưng chiến công đẫm máu của “ngài” lại diễn ra ở thị trấn Corleone. Bất đắc dĩ “ngài” phải đi viễn chinh như vậy. Chỉ vì thằng nhóc khốn nạn Guiliano đã làm “kỳ đà cản mũi” sự nghiệp của “ngài” ở đó. Chẳng những thằng nhóc khốn nạn ấy đã che lấp cái oai linh của “ngài” mà còn dồn “ngài” đến chỗ “đói”. Đã có Guiliano thì ai thèm chạy đến chỗ “ngài” để cầu cứu điều gì. Và “ngài” cũng chẳng thi thố được một đòn ngoạn mục nào để ra oai cho dân thị trấn khiếp vía, đặng hù dọa kiếm chác. Dân thị trấn Montelepre không sợ “ngài”, không nhờ vả “ngài”. Vì thế cũng chẳng biếu xén “ngài” cái gì. Cho nên “ngài” “đói”. Mà đã đói thì đầu gối phải bò. Đó là luật sinh tồn ở đời. Đó là lý do “ngài” phải viễn chinh ở Corleone. Khốn nỗi, dân thị trấn Corleone cũng toàn là dân nghèo kiết xác. Cho nên bổng lộc của “ngài” ở đó cũng rất hom hem. Cũng may, để bù cho sự thiệt thòi ấy thì cái bản năng dã thú, khát máu của “ngài” gặp được nơi phúc địa. Tấm lòng khát khao những hành vi tàn bạo, man rợ đã được thỏa mãn tối đa. “Ngài” đã thi triển được hết các món nghề giết người và rất lạnh và đủ kiểu của “ngài”. Thành tích vĩ đại của “ngài” tại thị trấn Corleone chỉ trong có mấy năm trời “ngài” viễn chinh tại đó – chỉ xin kể thành tích vĩ đại nhất, xuất sắc nhất – là đã xóa sổ đời cho trọn vẹn bốn gia đình. Già trẻ lớn bé, thậm chí trẻ sơ sinh, đều được “ngài” ra tay tế độ tuốt luốt. Mà chỉ vì trong bốn gia đình này đã có đứa cả gan dám cưỡng lại lệnh “ngài”. Chính tay “ngài” cũng xóa sổ bụi đời cho Silvio Ferra. Cũng chính tay “ngài” đã hóa kiếp cho tất cả những tên hồng hồng hay đỏ lói trong thị trấn Corleone. “Ngài” chỉ thấy màu đỏ của máu, chứ không muốn màu cờ của bọn xã hội và bọn cộng sản. Có lẽ trong số sáu anh hùng cưỡi ngựa diễu qua diễu lại trước cổng lâu đài hoàng thân Ollorto hôm đó, thì “ngài” là vị độc nhất bị người ta ghét sợ hơn là nể sợ.
Đó là sáu đấng anh hung sếp sòng Mafia của đảo Sicily do ngài hoàng thân Ollorto triệu tới, để làm gabelatti theo luật định. Sáu đấng anh hùng, mỗi đấng một vẻ, mỗi đấng một cách, mỗi đấng một oai linh, để làm hiệu kỳ cho mình. Chỉ thấy bóng hiệu kỳ của mỗi đấng, dân chúng đã thấy bàng hoàng kinh sợ. Sáu đấng anh hùng hôm đó thong dong cưỡi ngựa dạo chơi bên ngoài cổng lâu đài của ngài Hoàng thân. Đám khố rách sợ oai linh của các đấng lắm. Sợ lắm, nhưng cái đói cũng làm cho họ trở nên lì lợm. Tuy nhiên, cũng chỉ dám lì lợm đến cái mức run rẩy đứng dưới bóng tượng Đức Chúa Jesus dựng ở gần đó. Để chờ phép lạ. Không đủ lì để vượt qua ranh giới định mệnh mà vào xin mua đất bỏ hoang theo luật định. Hai ngàn năm trước, có lẽ Chúa đã làm phép lạ. Nhưng bây giờ… Có lẽ Chúa mệt!? Không, Chúa không mệt, Chuá rất thương đàn con khố rách của Chúa, nên Chúa sẽ làm phép lạ cho sáu đấng long kỵ binh kia bay đi bằng cách khác. Qua tay Guiliano.
Chiếc xe Jeep chở đầy người có vũ trang từ Montelepre chạy như bay trên đường dẫn tới Palermo và quẹo qua đường dẫn tới bức tường thành của hoàng thân Ollorto. Trừ hai người, những người khác trên xe đều bịt mặt, chỉ chừa hai con mắt. Hai người trên xe không bịt mặt là Guiliano và Pisciotta. Một chiếc xe Jeep khác từ hướng Palermo chạy tới nhập đoàn với chiếc xe Jeep kia. Khi xe chạy tới cách sáu đấng anh hùng sếp sòng Mafia chừng năm chục thước, thì một đám khá đông gồm toàn đàn ông, cũng bịt mặt chen chúc nhau kéo đi ngang qua chỗ đám nông dân đang ngồi. Kế đó, họ phân tán thành đội hình bán nguyệt vây lấy sáu sếp sòng kia và sẵn sàng trong tư thế tác chiến. Trước đó, những người này giả dạng đi picnic và ẩn núp trong vườn ô-liu gần đó. Khi hai xe Jeep xuất hiện, họ lôi vũ khí giấu trong các thùng đựng thức ăn và lấy khăn ra, bịt mặt lại. Có tất cả khoảng năm chục tay súng.
Guiliano xuống xe, oai vệ như một ông tướng đứng quan sát những người bịt mặt triển khai đội hình và tư thế chiến đấu. Hắn đã nhìn thấy mấy sếp Mafia. Và các sếp cũng đã thấy hắn. Nhưng mỗi bên đều làm như không quan tâm đến bên kia. Đường ta, ta cứ đi, việc ta, ta cứ làm. Đám nông dân khố rách cũng nhận ra nó.
Aspanu, như một con rắn, mất kiên nhẫn, nhấp nhỏm đứng bên cạnh Guiliano. Những người kia bịt mặt vì họ sợ gia đình họ bị trả thù. Guiliano và Aspanu ra mặt chấp nhận về phần mình mũi dùi cuộc trả thù. Và sẵn sàng đương đầu. Chơi xả láng. Một sống một chết. Thách thức kẻ thù và cũng thách thức chính định mệnh. Cả hai đều thắt dây lưng chạm phượng hoàng và sư tử. Guiliano chỉ mang một khẩu súng lục đeo lủng lẳng bên hông. Ngón tay vẫn đeo chiếc cà rá nạm ngọc lấy được của công tước phu nhân Alcamo mấy năm trước. Pisciotta mang súng lục trong bao đeo dưới nách. Mặt mày xanh xao, tái nhợt vì bịnh phổi và vì sốt ruột. Trong bụng, y cằn nhằn Guiliano: “Làm thì làm mẹ đi cho rồi, dùng dằng mãi”. Lần này, y biết, Guiliano không nao núng vì động lòng trắc ẩn trong trường hợp khử lão Frisella. Y cũng biết Guiliano không có bản năng hiếu sát. Do đó, không có sự thích thú của con mèo vờn chuột. Guiliano cẩn thận quan sát xem lệnh của hắn có được thi hành xong, đầy đủ và đúng kế hoạch chưa. Chiến thuật của Guiliano trong trận này không có tân kỳ, bí hiểm. Hắn vẫn dành cho đối phương một lối thoát thân. Thủ hạ của hắn bao vây nhưng vẫn để chừa một lối thoát. Điểm độc đáo của Guiliano là thâm hiểm một cách lãng mạn. Như một nét bút phóng khoảng của một nghệ sĩ tài hoa bậc thầy, chất nghệ thuật thể hiện ngay trong sự táo bạo. Sáu đấng anh hùng Mafia đang lầm lì cưỡi ngựa có thể đi về hướng mà nó cố ý bỏ ngỏ. Nhưng các đấng chọn cái chước thứ ba mươi sáu, thì đó là sự tự sát về mặt tinh thần. Truyền thống Mafia cổ điển không có chiến thuật rút êm, không cho phép chọn chước thứ ba mươi sáu. Mafioso theo truyền thống cổ điển phải là một con cà cuống: chết đến đít vẫn còn cay. Vả lại, nếu sáu đấng anh hùng “sếp sòng” Mafia ngạo nghễ cưỡi ngựa lại chọn chước thứ ba mươi sáu, thì họ không còn là những nhân vật đáng nể sợ. Do đó, cũng hết đường mần ăn. Và đó cũng là con đường chết về thể xác.
Sáu đấng anh hùng “sếp sòng” Mafia của Sicily không quá ngu để không thấy vòng vây của Guiliano đã để ngỏ một lối thoát, và cũng không quá ngu để không thấy ý đồ của đối thủ trong lối thoát ấy. Và các vị cũng nhận định rõ ràng tình thế tương quan lực lượng. Vinh, nhục đã rõ. Khi giãy chết, nên gầm rống như sư tử hay khan khan não nùng như con thiên nga? Sanh nghề tử nghiệp! Có sao! Tới lối thoát và cũng là ranh giới định mệnh, Siano đã quay đầu ngựa, trở lại. Mấy đấng anh hùng kia cũng bắt chước theo. Không hăm hở, nhưng cũng không trì trệ. Lầm lì. Các anh hùng quay lại để đối diện với Guiliano, với thần chết, với định mệnh.
Từ trên một trong những ngọn tháp cao của tòa lâu đài cổ, qua ống nhòm, hoàng thân Ollorto đã nhìn thấy toàn cảnh. Ngài thấy rõ từng chi tiết trên khuôn mặt Guiliano. Đôi mắt bồ câu. Làn da trắng mịn. Đôi môi bình thường lúc nào cũng he hé như mỉm cười, nhưng lúc này mím lại. Ngài biết rõ: sức mạnh toát ra từ khuôn mặt ấy là sức mạnh của đức hạnh. Ngài lấy làm tiếc cái ý thức về đức hạnh của Guiliano đã không một chút nồng ấm của lòng trắc ẩn. Cơn cám dỗ của cái thiện đã đẩy người ta đến chỗ tàn bạo kinh khủng, còn mạnh hơn cơn cám dỗ của cái ác. Ngài biết rõ tâm địa ngay lành, trong trắng, lương thiện và đầy lòng xót thương đối với người nghèo của Guiliano. Chính vì vậy, ngài tự cảm thấy mắc cỡ với chính mình, vì cái vai trò của mình trong vụ này. Là quí tộc chính gốc, nhưng ngài cũng hiểu rõ người đồng hương Sicilian của ngài. Và bây giờ ngài cảm thấy có trách nhiệm về những gì sắp xảy ra. Sáu tên cốt đột kia, vì đồng tiền, mà phải chết để bảo vệ tài sản có nguồn gốc mù mờ của ngài. Bằng cách nào tổ phụ ngài đã trở nên chủ nhân của lãnh địa mấy trăm ngàn mẫu này? Bằng mồ hôi của chính mình? Không! Bằng mồ hôi của tá điền? Còn hơn thế nữa! Bằng máu của chính mình? Bằng máu của tá điền? Bằng mưu mô? Bằng gươm bén? Trên từng tấc đất của lãnh địa mênh mông, đã thấm bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu oán than, bao nhiêu hận thù. Hoàng thân Ollorto và tên tướng cướp Guiliano, ai là hoàng thân, ai là tướng cướp. Đã có ai lọt lòng mẹ với bằng khoán xác nhận chủ quyền đất đai trong tay? Thế mà sáu tên cốt đột kia sắp chết để ngài được làm chủ những đất đai ấy, chỉ vì đồng tiền của ngài. Chúng không thể chạy được. Chúng đã đe dọa được hàng ngàn người đang ngồi rúm ró dưới gốc cây ô – liu và dưới bóng bức tượng kia. Nhưng Guiliano đang đứng trước chúng như vị thần báo oán.
Giữa ban trưa mà hoàng thân thấy trời đất tối sầm!
Guiliano bước tới chỗ sáu đấng anh hùng sếp sòng Mafia đang cưỡi ngựa rong qua diễu lại. Cả sáu đều to, mập. Chúng lỏng buông tay khấu. Lũ ngựa đi bước một, như thể chính con ngựa cũng ngập ngừng. Sáu sếp sòng đều làm ra vẻ ngạc nhiên. Thỉnh thoảng lại cho ngựa dừng lại liếm láp lúa mạch chất đống trên tảng đá vôi lởm chởm.
Guiliano tiến lại, sát phía đường mà sáu con ngựa sắp đi qua. Pisciotta theo bén gót. Sáu tên cốt đột trên lưng ngựa có vẻ phân vân không biết nên ngừng hay nên tiếp tục đi. Nét mặt của chúng đều có vẻ khó hiểu. Súng ống tên nào chẳng có. Nhưng dường như chúng cũng hiểu rằng khi thần định mệnh và thần báo oán đã xuất hiện thì súng ống cũng chẳng ích gì. Do đó, không tên nào có ý định rút vũ khí ra cầm tay. Guiliano để cho sáu tên đi qua đi lại ba lần. Sau đó, Guiliano lùi lại và quay ra nói với Pisciotta:
– Bảo mấy thằng kia xuống ngựa và dẫn tất cả chúng lại đây.
Nói rồi, Guiliano băng qua đường, tiến tới tảng đá vôi, đứng tựa lưng vào bức tường thành của tòa lâu đài. 
Khi bước qua đường, Guiliano hiểu rằng hắn đã vượt qua ranh giới định mệnh, rằng ngày hôm nay không cảm thấy do dự. Không cảm thấy khó chịu. Chỉ thấy hận thù. Chỉ thấy căm hờn đối với thế giới này. Hắn dư hiểu rằng chập chờn đằng sau sáu bộ mặt cô hồn cốt đột kia, là cái bóng dáng hiểm độc của Croce Malo. Rằng chính thằng già “lựu đạn” ấy mới là kẻ thù đích thực của hắn. Hắn cũng cảm thấy giận đám nông dân khố rách đang túm tụm ở kia. Hắn cảm thấy xấu hổ giùm cho họ. Tại sao họ lại nhu nhược, khiếp sợ đến như vậy? Nếu hắn thực sự lãnh đạo họ, hắn sẽ làm cho Sicily đổi mới. Nhưng, rồi hắn cảm thấy lòng mình tràn ngập nỗi xót thương đám dân đói nghèo, sống dở chết dở kia. Hắn đưa cánh tay lên vẫy chào và khuyến khích họ vùng lên. Nhưng hắn chỉ nhận được sự ù lì, im lặng. Hắn nghĩ bụng: nếu có Silvio Ferra ở đây, thì chắc chắn hắn ta đã đứng lên đáp lại cánh tay vẫy chào của hắn. 
Pisciotta nắm quyền chỉ huy trận địa. Y bận chiếc áo thun in hình con rồng đang chồm lên. Mái tóc chải sáp láng bóng, lấp lánh dưới ánh mặt trời như lưỡi dao cạo ánh lên trong nắng giữa trưa. Y quay đầu như quay lưỡi đao về sáu tên sếp sòng sừng sỏ của Sicily. Pisciotta nhìn trừng trừng vào chúng như con rắn độc thôi miên con mồi. Khi đang ngang trước mặt y, con ngựa của Siano ỉa, cứt suýt văng vào Pisciotta, khiến y phải nhảy lùi lại một bước. 
Quay về phía Terranova, Passatempo và Sylvestro, Pisciotta khẽ gật đầu ra hiệu, Lối thoát dành cho sáu đấng Mafia sừng sỏ của Sicily khép lại. Hùng thiệt! Sáu sếp cứ thản nhiên rong cương ngựa, tiếp tục đi. Hiên ngang, ngạo nghễ như thể chúng chỉ nhìn thấy đám nông dân đang túm tụm, rúm ró ở kia, chứ không thấy thần chết trước mặt. Chúng dư biết, dư hiểu. Như vậy, chúng đã thắng keo này rồi đây. Guiliano phải quyết định bước sau cùng và nguy hiểm chết người. 
Pisciotta tiến tới lối đi của con ngựa do Siano đang cưỡi. Y giơ tay, oai nghiêm chỉ vào mặt lão. Nhưng Siano không ngừng lại. Con ngựa nhảy lé sang một bên, người cưỡi co dây cương, chút xíu nữa cả người cưỡi lẫn con ngựa chồm lên người Pisciotta. Với nụ cười man rợ, y cúi chào người hùng Siano, rồi đứng ngay phía sau, rút súng kè vào mông ngựa, lảy cò. Ruột ngựa đổ cả đống. Máu tuôn có vòi. Cứt bắn tung tóe. Chân sau con ngựa khuỵu xuống làm cho Siano té theo và bị thân con ngựa đè lên. Bốn thủ hạ của Pisciotta vội chạy lại, lôi lão ra, trói thúc ké và dẫn lại chỗ Guiliano đang đứng. Con ngựa còn sống và giãy giụa dữ dội. Pisciotta bồi thêm một phát ân huệ vào đầu ngựa. 
Tiếng xì xầm, vừa có vẻ sợ hãi, vừa có vẻ thích thú từ đám nông dân vọng ra. Guiliano vẫn đứng tựa lưng vào tường. Khẩu súng lục vẫn còn trong bao. Hắn khoanh tay đứng nhìn xem Pisciotta định làm gì sau đó. 
Năm người hùng “sếp sòng” Mafia còn lại vẫn bình thản điều hành. Tiếng nổ làm cho mấy con ngựa chồm lên. Nhưng người cưỡi áp chế được ngay. Lũ ngựa lại chậm rãi, bước một tà tà đi tiếp. Một lần nữa. Pisciotta lại tiến ra giữa lộ. Y giơ cánh tay chỉ vào tên đi đầu. Bucilla dừng lại. Những tên kia cũng dừng lại theo. Pisciotta nói: 
– Chắc hẳn gia đình tụi bay sẽ cần những con ngựa này trong những ngày sắp tới. Tao hứa sẽ gửi trả tận nhà. Bây giờ, tất cả xuống ngựa và đến kính chào Guiliano. 
Tiếng y vang lên như chuông. Đám nông dân nghe rõ mồn một. 
Im lặng một chút, rồi cả năm lặng lẽ xuống ngựa. Chúng vẫn kiêu hãnh nhìn vào đám nông dân. Những con mắt tóe ra những tia lửa ác độc, xấc xược. Thủ hạ của Guiliano khép chặt vòng vây. Cẩn thận và lịch sự, mấy thủ hạ tiến tới tước vũ khí của các sếp sòng và dẫn tới trước mặt Guiliano. 
Guiliano, với nét mặt vô cảm, nhìn cả sáu đấng anh hùng hét ra lửa, mưa ra khói một thời. Đã có lần Quintana làm nhục hắn và mấy lần định ám sát hắn. Nhưng nay, tình thế đã đảo ngược. Từ năm năm nay – và có lẽ từ trước đó nữa – cái bản mặt cô hồn của Quintana dường như chẳng thay đổi mấy tí. Người ta, càng thêm tuổi, càng thêm khôn ngoan, nhân đức. Nhưng hắn, càng già càng đểu, càng thêm tuổi càng thâm độc. Vẫn cái nhìn lấm lét của chó sói, nhưng, lúc này, cặp mắt ấy dường như tan hết sinh khí mà vẫn cố làm ra cái vẻ thách thức, bất cần đời của một tay sếp sòng Mafia. 
Siano, mặt mày xám ngắt, nhưng vẫn nhìn Guiliano, khinh khỉnh. Bucilla dường như hơi kinh ngạc, như thể hắn ngạc nhiên tự hỏi tại sao hắn lại dính vào một công việc bực bội mà chẳng liên can gì đến hắn. Mấy đấng anh hùng còn lại đều lạnh lùng, nhìn thẳng vào mắt Guiliano, như thể mình là những vĩ nhân mà hắn phải tôn kính, đồng thời lại có vẻ ngạo nghễ, như một tác phong phải có của những tay anh chị gặp bước đường cùng. Guiliano đã nghe danh tất cả sáu vị anh hùng này. Lúc còn nhỏ, hắn sợ oai linh của các đấng này lắm, nhất là Siano. Bây giờ, hắn hạ nhục các đấng trước toàn thể Sicily. Các đấng anh hùng này không còn nhiều thì giờ để quên đi được nỗi nhục nhã này. Vĩnh viễn, chúng là kẻ tử thù. Guiliano biết mình phải làm gì. Nhưng hắn cũng biết mấy đấng anh hùng này cũng là những người cha, người chồng. Vợ con của họ sẽ khóc thương họ. 
Các đấng anh hùng nhìn Guiliano, ngạo nghễ, thách thức, kiêu hãnh, không tỏ ra sợ hãi. Ý nghĩ của các đấng đã rõ ràng: “Guiliano, mày muốn làm gì ông thì làm. Ông không sợ. Ông cũng không thèm van xin”. Siano còn đủ hùng khí để nhổ “tẹc” vào chân Guiliano. Để tỏ vẻ khinh bỉ hay là để tỏ vẻ coi thường thần chết? 
Guiliano nhìn thẳng vào mặt từng tên. 
– Hãy quì xuống và ăn năn tội lỗi và làm hòa với Chúa đi, – Guiliano dõng dạc ra lệnh cho lục vị cốt đột. 
Nhưng cả sáu vị, không ai nhúc nhích. Sáu ông sếp sòng Mafia đứng xếp hàng ngang trước tảng đá vôi trắng. Guiliano đã lớn tiếng oai nghiêm, dõng dạc nói cho cả sáu và cho cả đám nông dân khố rách ngồi đằng kia cùng nghe:
– Nhân danh Thiên chúa, nhân danh đảo Sicily, tao xử tử chúng bay. 
Nói rồi hắn khẽ vỗ vai Pisciotta, ra hiệu. 
Lúc đó, người hùng Marcuzzi mới bắt đầu quì xuống. Nhưng Pisciotta đã khai hỏa. Cùng lúc, Passatempo, Terranova và Sylvestro cũng lảy cò. Sáu cái xác bị đạn tiểu liên hất tung lên, rồi té vật vào tảng đá như cơn bão hất tung những phiến lá khô. Máu chảy chan hòa. Loang lổ. Sáu cái xác rướn lên, chới với, quơ quào như đi trên dây, rồi ngã vật xuống giãy giụa vài cái và nằm xuội lơ. 
Từ trên tháp cao, hoàng thân đã chứng kiến từ đầu tới cuối. Và ngài quay đi. 
Guiliano bước tới, rút súng. Chậm rãi, trang nghiêm như cố đạo cử hành lễ, hắn lần lượt tặng cho mỗi người hùng một phát ân huệ. 
Có tiếng reo hò ầm ĩ của đám khố rách chứng kiến cảnh đó. Và chỉ vài giây sau, hàng ngàn người ồ ạt, chen chúc nhau vượt qua cổng để vào lâu đài của hoàng thân Ollorto. 
Đứng nhìn họ, Guiliano để ý thấy không một người nào trong đám đông dám lại gần hắn.

——————————–

1“Puộc – boa”: nguyên văn Pour boire: tiền trà nước, tiền thù lao.


Hương rừng Cà Mau

vietmessenger.com    

Sơn Nam

Post by Sơn râu 12 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

3. Cây Huê Xà

Cây huê xà là thứ cây gì? Hình dáng ra sao? Có thiệt hay là bịa đặt? Nó có lợi hay là có hại cho loài người? Bao nhiêu câu hỏi ấy dồn dập, lẩn quẩn trong trí thằng Lợi hằng năm nay mà nó không tài nào trả lời nổi.
Cây huê xà vốn là vị thuốc chánh trong toa thuốc ngừa rắn của ba nó. Nhờ đó mà đi đến đâu người ta dều khâm phục; ba nó nổi danh là thầy Hai Rắn. Ðược nổi danh là một chuyện khó vì lẽ ở vùng Rạch Giá, Cà Mau, thầy rắn xưa nay cũng nhiều người tài. Họ có thể cứu sống nạn nhơn, bảo đảm trăm phần trăm, nếu người bị cắn không để lâu quá hai giờ đồng hồ. Họ dùng toàn thuốc Nam dễ kiếm như gừng, cỏ ống, vôi, trầu, nhựa ống điếu, trứng rệp… Họ lại còn dám nuôi trong nhà vài con rắn để bắt chuột. Lúc họ uống nước trà, rắn nằm vắt vẻo trên đòn dông nhà, nhìn xuống gục gặc đầu. Ðêm nào có trăng thì rắn đi ngao du, lên tận trên đọt lá dừa để bắt chim trong ổ hoặc rình mổ mấy con dơi rượt muỗi bay qua chớp nhoáng.
Ba thằng Lợi nổi danh hơn các thầy rắn vừa nói trên. Thuốc của ba nó vò viên sẵn, khỏi tốn thời giờ tìm kiếm. Thuốc ấy mạnh lắm, trừ tuyệt nọc, nghĩa là một hai năm sau đi nựa bịnh nhơn không cảm thấy nhức xương sống mỗi khi lập đông trở về. Phi thường nhứt là có toa thuốc khi thoa vào tay, rắn không bao giờ dám mổ.
Hồi mới xuống rạch Thuồng Luồng này, ba nó đã có lần thí nghiệm cho các thầy rắn trong xóm coi thử.
Ba nó – thầy Hai Rắn – loan tin:
– Tôi có bùa bắt rắn. Bùa này của Phật Thầy Tây An ở núi Sam truyền lại.
Ai nấy phản đối:
– Nói dóc! Chân ướt chân ráo mới tới xứ này mà không để cho người ta thương! Phật Thầy Tây An xưa kia bao giờ làm bùa bắt rắn. Ngài lo giữ mối giềng đạo lý, sao cho ai nấy ăn ngay ở phải, đừng vì tiền tài mà nói dóc với chúng sinh.
Mỉm cười, thầy Hai Rắn mời bà con đúng giờ Thìn sáng mai đến cây thị, trước miễu ông Tà. Cây thị này hồi năm ngoái bị trời đánh tét làm hai. Thiên hạ đồn rằng: Có điềm trời! không vậy sao trong ruột cây có cái bộng đen ngòm. Dưới đáy bộng, một đống đất khô… Ngạc nhiên làm sao! Ðất nhút nhích từng cục, một con rắn hổ ốm nhom vùng ngóc đầu lên cao, phùng mang chồm tới, giống hình cái bàn nạo. Rắn nhìn người chung quanh, hút gió rồi rúc xuống đất vụn để ẩn mình.
Sáng hôm đó, đúng giờ Thìn, thầy Hai Rắn lại gốc cây thị với mọi người. Lấy tay vỗ mạnh vào gốc cây, thầy nói:
– Ông xà ơi! Ra đây nói chuyện chơi.
Ai nấy trố mắt, ngạc nhiên. Có tiếng hút gió như đáp lại rồi từ miệng bộng cây, cái bàn nạo lần lần nhô lên.
Thầy Hai lấy tay vạch vòng tròn dưới đất, vỗ xuống mạnh:
– Tôi muốn mời ông xà lại đây, ngồi trong vòng này với tôi.
Rắn nọ bò xuống, men vào vòng đã vẽ. Thầy xòe tay ra, để cách miệng rắn chừng một tấc mà thét:
– Cắn thử coi!
Rắn không nhúc nhích.
Thầy thét lớn hơn:
– Áp khẩu tay tôi nè! Cắn ngay đó thì tôi chết liền. Tôi đố ông dám cắn!
Ai nấy phập phồng chờ đợi. Rắn cục cựa, thối lui, ngóng mỏ lên cao, day qua day lại. Thầy Hai trợn mắt, đưa tay xít lại gần hơn nữa. Bỗng nhiên, rắn hút gió một tiếng rồi quay mình phóng vào bộng cây, mất dạng.

Thầy đứng dậy, vấn điếu thuốc. Vừa hút phì phà, thầy giảng rằng:
– Chém ruồi ai dụng gươm vàng làm chi! Nói thiệt cho bà con thương, tôi đây cực chẳng đã mới ra nghề. Tôi biết trong số bà con đây có người tài giỏi hơn tôi nhưng giỏi về môn khác. Thứ bùa này ít ai biết… Lúc ban sơ, tôi dùng nhân lực để kêu rắn ra khỏi bộng cây. Kế đó vẽ vòng tròn tức là tôi dùng thần lực. Ðến khi chuyển qua thiên lực, rắn nọ phải chạy trối chết… Nhân lực, thần lực, thiên lực, đó là ba chặng đường mà tôi đã trải qua. Phần đông, bà con mình xưng là thầy nhưng chỉ mới bước tới nhơn lực.
Tài của thầy Hai Rắn, ai lại chẳng phục. Ngặt thầy kiêu hãnh quá nên hôm đó không ai muốn thụ giáo, họ bực tức ra về. Trong số đó có Năm Ðiền là thầy rắn bấy lâu lừng danh ở xóm Thuồng Luồng này. Năm Ðiền cảm thấy bị sỉ nhục. Về nhà chú nằm suốt đêm không ngủ được, tâm trí bận rộn, cố nhớ lại mấy toa thuốc. Chú biết đây là một mưu mô của thầy Hai Rắn. Nhứt định thầy Hai có thoa vào tay một thứ thuốc đặc biệt. Ngửi nhằm mùi đó, rắn chịu không nổi, phải mờ mắt hoặc ê răng mà chạy trốn. Ăn cắp cái toa đó là diệu kế nhứt. Nghĩ vậy, chú sực nhớ tới con Lài, Ðứa con gái khá nhan sắc của chú.
Bấy lâu nay, chú thường để ý: Thằng Lợi, con thầy Hai Rắn, thường bén mảng lại đây để trò chuyện với con Lài.
Năm Ðiền bèn kêu đứa con gái vào:
– Lài à!
– Dạ.
Nhìn trước cửa thấy không có ai, chú nói nhỏ với con:
– Bấy lâu cha sống ở rạch rày cũng là nhờ nghề trị rắn. Bây giờ, thầy Hai Rắn tính đập bể nồi cơm của cha con mình!
Con Lài hỏi, ngây thơ:
– Sao vậy ba, người ta lạ, mới tới…
– Bởi vì nếu trời đã sanh Châu Do thì không có Gia Cát Lượng.
– Gia Cát Lượng là ai vậy ba?
Năm Ðiền đổ quạu:
– Không biết gì hết. Ngu quá! Mày biết thầy Hai Rắn là cha của ai không?
– Dạ… của anh Lợi.
– Thằng Lợi tới lui đây hoài. Ðiều đó ba biết hết. Ba nào cấm cản. Nó nói gì với con…
Con Lài bẽn lẽn:
– Ảnh nói muốn làm quen.
– Ừ! Ba nói thiệt với con, làm thân con gái phải giữ gìn thân thể. Không khéo, lỡ bề gì nhơ nhuốc danh giá giòng họ. Con thương nó thì phải cho ba hay để bắt buộc nó thương con…
Con Lài buột miệng:
– Ðừng … Tội nghiệp người ta.
– Không sao đâu. chiều mai, con rủ nó lại ăn cơm… Sẵn dịp ba mời nó uống rượu, thứ rượu “rắn giao đầu”.
Nghe đến rượu “rắn giao đầu”, con Lài liếc nhìn chai rượu thuốc để trên bàn thờ. Trong chai, ngâm hai con rắn mà ba nó lượm được hồi năm ngoái! Con rắn nước nuốt con rắn trun, có lẽ nuốt không vô nên hai con đều chết. Ba nó lượm đem về ngâm rượu.
Nó hỏi:
– Uống chết không ba? Con sợ quá.
– Gì mà sợ. Rượu đó làm cho trai với gái thương nhau như rắn. Uống vô, thằng Lợi không bao giờ bỏ con được. Trăm sự, nó đều thiệt tình. Con nhớ gạn hỏi nó một điều này mà thôi…
– Ðiều gì ba?
– Cái toa thuốc thoa vô tay mà rắn không cắn của ba nó xài hôm trước, đằng cây thị trước miễu ông Tà: Nhớ hỏi cho kỳ được. Bằng không, ba giết chết cả hai đứa như giết rắn. Từ nay hai đứa bây là hai con rắn… Vì chất rượu này…

Lá rụng ơi lá rụng!
Từng chiếc lá tràm bay lả tả như bươm bướm mỏi cánh, đáp nhẹ xuống mặt nước từ trong ngọn rạch trôi dài ra.
Con Lài nhìn dòng nước uốn khúc qua voi, qua vịnh như con rắn bò, thứ rắn có khoang màu vàng, con rắn hổ sơn. Nó vụm mặt lại để che cái hình ảnh đó. Nhưng nào được! Kìa chiếc xuồng của thằng Lợi bơi lướt tới, vạch ra hai làn bọt nước lốm đốm trắng như con bạch hoa xà… Lập tức nó xuống bến, bơi theo, mãi đến khi xuồng thằng Lợi ghé bên bờ đìa, kế gốc cây bình bát.
Thằng Lợi day lại cười:
– Ði đâu vậy cô Hai… Rắn bông súng?
Con Lài sực nhìn chiếc áo có bông đang mặc.
Nó e thẹn, liếc thằng Lợi:
– Em giống như con rắn bông súng. Còn anh, áo đen mốc như con rắn hổ đất. Cười em làm chi.
– Rắn đâu dám cười rắn. Nó vừa nói vừa nắm tay con Lài.
Con Lài rút tay ra cho có lệ. Nó bước qua xuồng, nhã vào lòng thằng Lợi.
– Anh à!
– Cái gì đó, hở rắn!
– Thiên hạ thấy, họ cười chết.
– Ai thấy mà cười? Chung quanh đây cái gì cũng là rắn như hai đứa mình. Thí dụ như mấy sợi dây choại, dây bòng bong kia…
Con Lài gật đầu:
– Phải, dây choại, dây bòng bong giống như rắn lục, nó xanh tươi. Còn đám cỏ bồn bồn đằng kia, nó dẹp lép quả thật là rắn lá… Nhánh củi khô, kế đó, anh thấy không anh Lợi?
– Nó là con rắn nẹp nía, da nó xù xì…
– Em suy nghĩ thấy sao kỳ quá, anh à. Rắn có thù oán gì với loài người, cớ sao loài người thù oán rắn. Như dây choại, cỏ bồn bồn, nhánh củi khô rất ích lợi cho con người.
Thằng Lợi vuốt mái tòc con Lài:
– Vậy nên rắn mới buồn bực trong lòng, tụ họp lại. Con rắn này tìm con rắn kia làm bạn với mình cho vui. Rắn với rắn thương nhau lắm.
– Nó có cắn nhau không anh?
– Ðâu có. Mà nó cũng không muốn cắn loài người. Người nào biết điều thì rắn không cắn.
– Biết điều là sao?
– Là biết nói chuyện với rắn. Nói chuyện bằng hơi tay, thí dụ như ba của anh…
Con Lài cố giữ trầm tĩnh, biết rằng nãy giờ nó đã nói chuyện mhảm vì uống rượu rắn giao đầu, nhưng nó nhớ lời ba nó căn dặn…
– Hơi tay của ba anh có gì mà nói chuyện được. Anh có cái hơi đó không? Tay anh đâu rồi.
Thằng Lợi xoa bay rồi đưa trước mặt con Lài?
– Phải có “ngải mọi”. Em biết thứ ngải đó không? Múc bột nó làm bánh ăn ngon lắm. Ăn bánh ngải rồi uống nước chanh. xong xuôi, nằm xuống hút một điếu á phiện với cái dọc tẩu làm bằng sừng “con dinh”.
Con Lài lắng nghe từng tiếng rồi hỏi tiếp:
– Hút á phiện rồi làm gì nữa?
– Rồi thì vợ chồng dắt tay nhau dạo kiểng, ngắm cái bông huê xà…
– Bông huê xà là thứ gì?
– Huê xà là huê xà. Ba của anh nói lại sau rốt.
Con Lài lẩm bẩm:
– Ngải mọi, nước chanh, á phiện, sừng dinh, huê xà. Toa này năm vị. Mình nhớ đủ hết.

Năm Ðiền với đứa con gái bỗng nhiên chết ngã lăn tại nhà.
Tin đó truyền ra nhanh chóng. Cả rạch Thuồng Luồng, ai nấy chưng hửng. Mấy ông thầy rắn xúm lại khám nghiệm rồi quả quyết:
– Chết vì rắn. Dấu răng rắn hổ. Chắc chắn có rắn hổ nuôi trong nhà, nó phản lại chủ.
Chờ cho thưa khách, thầy Hai Rắn tới, cầm bàn tay của hai nạn nhân nọ mà ngửi. Nước mắt của thầy bỗng dưng tuôn xuống. Chợt nhìn chai rượu thuốc “rắn giao đầu” trên bàn thờ, thầy lắc đầu, thở dài.
Ðêm đó, thầy kêu thằng Lợi ra sân mà nói:
– Mai này cha phải đi. Con ở lại một mình. Cha buồn lắm. Họ dụ dỗ con để khám phá bí mật, cha biết vậy. Nhưng trăm sự cũng vì toa thuốc nọ thiếu cây huê xà nên không linh nghiệm. Cây đó khó kiếm lắm. Cha con Năm Ðiền tưởng là cha nói gạt chớ sự thật nó có: dây đó tròn bằng mút đũa, vằn vện như da rắn. Phải tìm ở chót núi ông Cấm, tìm cả tháng mới gặp một cây. Con Lài chết, có lẽ vì Năm Ðiền không tin con gái nên cho rắn cắn nó trước. Chừng thấy con chết, y buồn quá nên tự tử theo, không muốn chuyện đổ bể ra e mất thể diện với bạn đồng nghề. Nghề rắn nó nghiệt như vậy đó!
Ðêm sau thầy Hai Rắn trốn xóm riềng, trốn đứa con trai mà đi mất.
Còn thằng Lợi ở lại. Tội nghiệp biết chừng nào! Nó nào hiểu tại sao loài người bày đặt ra thuốc rượu “rắn giao đầu” để dụ dỗ lẫn nhau, trong khi cái tình yêu tự nhiên còn keo sơn hơn gấp mấy! Nó không hiểu sở dĩ ngày nay nó cô độc, vắng cha, vắng tình nhân như vậy chỉ vì mối ganh tị giữa hai người đồng nghề là cha nó với cha con Lài.
Nó thơ thẩn như mất hồn, khóc không ra nước mắt mỗi khi ra thăm nấm mộ của người tình xưa, thấy mấy dây rau muống bò lan bên cạnh.
Cây huê xà là gì? Có thiệt hay không? Lắm đêm, nó nằm chiêm bao thấy một thứ dây lốm đốm trắng mọc cheo leo ở chót núi ông Cấm, tiếp với trời xanh. Trên cảnh xa vời không nhơ bợn đó, dây huê xà nhởn nhơ uốn éo với gió núi. Giữa lòng từng chiếc lá, hiển hiện kia trăm ngàn gương mặt của con Lài, tươi tắn, cười riêng với nó, trẻ mãi không già…

Hương rừng Cà Mau

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 12 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

2. Ông già xay lúa

Tây cai trị xứ mình… đem lại nhiều cái hay nhưng cũng có lắm điều dở, phải không chú phó hương quản? Chú phó hương quản ngạc nhiên, chưa dám trả lời. Ðây là lần đầu tiên mà chú nghe cậu xã Nê tuyên bố lạ lùng như vậy. Cậu xã là người thanh niên độc nhất ở U Minh làng Ðông thái này thi đậu bằng cấp tiểu học, học trường của nhà nước ở chợ. Nhiều lần, cậu xã giải thích riêng cho chú hiểu : tên Nê của cậu do chữ Tây Rờ-Nê, Rê-Nê gì đó mà ra. Chính cậu xã phổ biến cách chào hỏi mới, bắt tay “bủa xua” với ông đại hương cả. Mỗi kỳ đi hầu ông Ðốc Phủ Xứ chủ quận, cậu xã Nê không mặc áo dài, đội khăn đóng như mấy ông hương chức khác. Cậu diện áo bành tô, cổ thắt “cà ra quách”. Lại còn một việc lẫy lừng khác, thiên hạ đồn phong phanh chớ chú không chứng kiến tận mắt : năm ngoái, lúc ông Chánh Soái đi tàu tới Cạnh Ðền mang theo sắc thần của Bảo Ðại phong cho Hoàng tử Cảnh, cậu xã Nê bắt tay “bủa xua” với ông Chánh Soái, rồi “bật” tiếng tây rôm rốp khiến quan Ðốc Phủ Sứ, mấy thầy thong thầy ký và tất cả hương chức hội tề các làng trong quận đều khâm phục… Cậu xã Nê nhắc lại câu hỏi khi nãy : – Phải không chú phó hương quản, Tây cai trị đem lại lắm điều dở, chú nghĩ coi. – Ðiều gì vậy cậu. Tôi thiếu hiểu. – Cờ bạc lộng quá. Dân mình như tự do cờ bạc suốt năm. Ở chợ Ngã Năm, ở chợ Xẽo Rôn nhà “xẹt” đông nghẹt dân nghèo. Chú phó hương quản suy nghĩ, giải thích: – Tại cái máu cờ bạc. Dân miệt này toàn là người tứ xứ tới làm ăn. Họ cờ bạc không cần ăn thua, cốt để khuây khỏa nỗi nhớ nhà. – Không phải đâu! Tại họ ở không, quanh năm chỉ làm một nghề ruộng hoặc một nghề đốn củi. Thiếu tiểu công nghệ… – Thưa cậu, tiểu công nghệ là cái gì? – Là thuộc da, dệt chiếu, may quần áo… Làng mình không có thứ tiểu công nghệ nào để cầm chưn họ. Vùng rừng bùn lầy, khai thác chưa xong, làm sao họ nói đến tiểu công nghệ? Chú phó hương quản mải lục soát trong trí nhớ. Làng gồm bốn ấp, tháng Tết rảnh rang, ai nấy bỏ nhà đi chơi. Ấp Ðông Bình, sát mé biển chuyên về chài lưới; thường thường mấy tay khá giả ở đó đi ghe ra chợ Rạch Giá đánh me, đánh vố. Hết tiền thì họ ngồi nhà mà đờn ca vọng cổ hoặc nói chuyện tiếu lâm. Hồi mùng ba Tết, chú phó hương quản đến đó một lần, họ kéo chú lại bắt ép uống rượu đến say mèm rồi mới chịu thả ra. Vui quá! Lại còn “ông Năm xay lúa” từ ngoài hòn Cổ Trơn vào xay lúa mướn! Thiên hạ bao vây ổng, hỏi han rối rít. Cái ông già này mới cừ khôi, đứng xay từ hừng sáng tới mười giờ đêm mà không nghỉ tay, sắc mặt luôn luôn tươi rói. Bất chấp Tết nhứt, ông ra nghề từ bữa mùng bốn, xay lúa ròng rã tới hôm nay, ai cần thì cứ gọi ông đến cho vui nhà vui cửa. Chú phó hương quản nói: – Ở xóm biển có người chuyên môn xay lúa mướn. Ðó là tiểu công nghệ, phải không cậu ba? Cậu xã Nê gật gù: – Không phải… nhưng mà có còn hơn không. Ai xay vậy? – Dạ, ông Năm ở hòn Cổ tron mới vô. Nghe qua, cậu xã như bị điện giựt, nhảy nhổm, sáng mắt lên: – Chú nói sao! Hòn Cổ Tron à! Thiệt không? – Dạ, thiệt chớ. – Trời đất ơi! Mấy năm rồi tôi muốn biết cho rành cái… tụi người đó. Kỳ cục lắm kia. Tôi thấy tận mắt một lần mà còn nhớ, còn giận hoài. Họ ở truồng. Chú phó hương quản ngạc nhiên: – Sao lạ vậy cậu? Ông già này… có bận quần. Hằng năm mùa Tết ổng vô đây xay lúa mướn. Qua tháng mưa, ổng thất nghiệp trở về hòn; ổng đui hết một con mắt, nói chuyện sành sõi, nghe ngộ lắm. – Ðây là lần thứ nhì tôi gặp họ… Nếu không ở truồng thì họ cũng mang vô đây vài phong tục lạ lùng. Chú đốt đuốc mau. Mình đi kiếm ổng nói chuyện… Dịp may hiếm có. Con trăng đêm hai mươi lăm u ám quá; hai thầy trò đốt đuốc soi đường. Mùa hạn, đồng trống hoang, cây cỏ héo cằn, con rạch khô cạn. Ði bộ trong làng rạch đã mát chân lại được bảo đảm nạn rắn rít. Gió biển hiu hiu, hơi lạnh như gió bấc, muỗi bay thưa thớt từng con bên cây đèn tọa đăng, tuy vặn tim lên cao nhưng mãi lu câm vì ống khói không chùi sạch. Ông Năm nắm tay vào giàn xay, đưa tới lui. Thớt cối quay tròn, lúa phun ra kêu rồ rồ, vang đều đều, mãi rồi sanh nhàm tai, buồn ngủ, cơ hồ không có. Kế bên ông Năm, đờn kìm trổi giọng, không na ná tiếng gà mổ vào nia. Ðờn “ghi ta” hòa theo, tuy nhanh nhưng buông rõ rệt từng giọt đồng, kém dồn dập hơn giọng đờn ở bên Tây Ban Nha tuyệt vời. Bãi biển sình lấy của vịnh Xiêm La chứng tỏ đủ năng lực hấp thụ và đồng hóa những gì xa lạ! Năm ba bạn bè đang nghe bài Tây Thi quốc sự, nhắc gương chiến đấu của nhà chiến sĩ quốc gia Phan Châu Trinh, Mấy chai “ắp xanh”, “con cọp đen” rượu rừng… lần lần cạn. Tuy bận rộn xay lúa nhưng ông Năm vẫn lắng nghe, thưởng thức. Bỗng có kẻ chạy vào như tên quân trong tuồng hát bội cấp báo: – Thầy xã với phó hương quản tới. Nghe không! Hai chả đốt đuốc… Lặn hụp giữa ruộng nãy giờ. Tôi thấy rõ ràng. Ai nấy ngưng đờn ca. Ông Năm vẫn xay lúa rồ rồ… Họ vừa nói vừa cười, cãi cọ qua lại một cách thân ái: – Mấy chả gan mật cùng mình sao kìa! Hồi nào tới giờ họ chưa đặt chân tới xóm mình. Chắc có chuyện gì, mình ăn thua đậm. – Nói bậy đi. Hễ không tới thì chê người ta nhát, kiêu căng. Bây giờ người ta tới thì công kích. Thầy xã này là người có âm đức. Ba của thẩy, chú của thẩy hồi đó hiền lắm. – Hiền đâu không thấy, chớ tôi hồ nghi mấy “chả” toan xét giấy thuế thân đặng mà dằn mặt tụi mình. – Tết mà, thẩy đâu dám. Tôi nghi thẩy làm “ăn kết” dân lạ mặt, thí dụ như ông Năm xay lúa. Mình cứ trả lời rằng đã trình diện ổng với ông chủ ấp. Chủ ấp của mình bữa nay đi vắng, dễ nói dóc quá, đâu có mặt mà đôi chối. Nè ông Năm! Ngừng tay lại, nghe tôi dặn: Lát nữa, ai có hỏi, ông làm bộ như câm, như điếc. Nói chuyện nhiều, nguy lắm. Ông có “giấy lão” không? Ông Năm nói: – Không có giấy tờ gì hết. Tôi tàn tật hư một con mắt mà… Muốn dẫn tôi đi đâu cũng được… Theo lẽ, nhà nước phải nuôi tôi nữa kìa. – Cha này coi vậy mà gan ta ! Ánh đuốc sáng lòe trước cửa. Ai nấy lặng im. Chú phó hương quản đập đuốc xuống đất để dụi tắt. Cậu xã Nê bước vào, trong khi ông Năm mải xay lúa rồ rồ. Cậu xã tươi cười, khoát tay như bảo ai nấy cứ ngồi xuống, đừng đứng dậy chào. – Ðược! Ðược! Phiền bà con quá. Tết năm nay đầy đủ không? Ðờn địch vui quá hả? – Thầy nói. Một người đáp lại : – Dạ, nhờ… “bà cậu” nên năm rồi cũng khá, tạm đủ tiền xây xài. Chú phó hương quản lườm mọi người: – Bà con ăn nói vô ý tứ quá. Tại sao nhờ… “bà cậu”? phải nhờ người này người kia chớ. Còn ông già kia sao xay lúa hoài vậy? Nghỉ một chút để người ta nói chuyện. Bữa nay cậu xã tới… Cậu xã ngắt lời: – Ổng xay để ổng xay. Nếu dân mình ai nấy đều siêng năng như vậy thì quý lắm. – Dạ đó là ông già Cổ Tron mà tôi nói hồi nãy với thầy. Cậu xã hơi phật ý vì thái độ quá sốt sắng của người cộng sự: – Chú phó hương quản để mặc tôi. Tôi không muốn làm rầy ổng. Rồi giọng thầy ôn tồn: – Ông ở hòn Cổ Tron hả! Làm gì sanh sống ở ngoải? Ông Năm ngưng tay, trả lời: – Dạ, tôi đốn cây săn đá để làm cối giã gạo, bán cho bà con trong bờ này. – In là ông hư một con mắt? – Dạ bẩm, tôi tàn tật hồi còn nhỏ chớ không phải vì nghề… cầm búa. Một người nói tiếp như muốn chứng minh sự lương thiện của ông Năm: – Thưa thầy, ổng giỏi lắm. Nghèo là tại trời… vậy thôi! Cây săn đá ngoài hòn Cổ Tron bền tới thiên niên. Cối bằng săn đá giã gạo mau trắng. nhịp chày vô nghe bon… bon như thiếng chuông đồng. Ở nhà đằng kia, còn một cây cối thứ đó. Cậu xã gật đầu: – Ðó là tiểu công nghệ, nghe không chú phó hương quản. Rồi cậu ngắm nghía ông Năm. Nỗi thắc mắc của cậu vẫn chưa giải tỏa. Không lẽ dân ở hòn Cổ Tron lại siêng năng, khéo léo, hiền hậu tới mức này. Day qua mấy cây đờn, mấy chai rượu, cậu như hối hận: – Bậy quá! Làm lỡ cuộc vui chơi của bà con anh em. Thôi “làm” một bản vọng cổ nghe coi! Lựa thứ nào văn chương hay một chút. Vọng cổ mà văn chương hay! Họ rao sơ sơ rồi bắt đầu: – Ác ngậm non Ðoài, ngọn gió Ðông Nam nó thổi đưa mặt nhựt hồi về nơi Tây Bắc… Anh ca sĩ ngạc nhiên, tức tối vì thình lình cậu xã dơ tay lên, ra dấu hiệu chận lại, thiệt không đúng “điệu”! hay là cậu hồ nghi câu hát này ẩn ý chuyện quốc sự, sấm truyền? Hồi lâu, cậu xã mới nói: – Câu hát khó hiểu quá! Rắc rối mà lại vô duyên. Anh ca sĩ cãi lại: – Thưa cậu, đó là tả cảnh chiều, gió thổi nhè nhẹ mặt trời sửa soạn lặn… Bài này trích trong cuốn Vọng cổ Bạc Liêu bán tại chợ Rạch Giá. – Tôi hiểu… Bài ca lăng nhăng quá, trật sách vở khoa học. Tại sao mọc ở Ðông Nam rồi lặn ở Tây Bắc? Anh ca sĩ nhìn qua ông Năm như cầu cứu. Cậu xã nói cố ý: – Ông già xay lúa này cắt nghĩa thử coi. Tôi nói câu hát trật văn chương mà! Ông Năm vừa xay lúa vừa nói chậm rãi: – Dạ, lệ thường mặt trời mọc hướng Ðông lặn hướng Tây. Nhưng gần sa mưa hay gần Tết thì mặt trời đi xéo. Vì vậy ngày và đêm không đều, “tháng năm chưa nằm thì sáng, tháng mười chưa cười thì tối”. Từ Ðông Nam hồi về Tây Bắc, tức là bài ca vọng cổ muốn nói lúc tháng mười; ngọn gió đó là gió Tết. Mặt trời ít khi đi ngay hướng Ðông Tây, thưa cậu. Cậu xã Nê hoảng hồn vì dường như ông già xay lúa nọ nói đúng, đúng theo cuốn sách địa lý mà cậu đã học. Nhìn nhận rằng ổng nói đúng thì e mất thể diện mình, cậu đánh trống lảng: – Ông học điều đó ở đâu vậy? Ai dạy ông ? – Dạ, không ai dạy hết. Tôi nghiệm ở hòn Cổ Tron. Ở ngoải buồn lắm. Tối ngày, tôi coi mặt trời mọc, mặt trời lặn cho khuây khỏa. Ðiều đó, lần lần tôi hiểu được, không rõ hồi nào. Cậu xã Nê hơi tức giận. Chú phó hương quản nãy giờ ngồi im lại nói: – Ông biết cái gì ông ơi! Hòn Cổ Tron là nơi quê mùa, còn tệ hơn quê mùa nữa kìa! Dân hòn Cổ Tron chuyên môn ở truồng, đàn ông đàn bà gì cũng vậy, cậu xã của tôi biết rõ. Anh em đờn ca cảm thấy áy náy vì bầu không khí hơi bất hòa. Họ muốn an ủi cái thể diện của cậu xã mà họ không hề thù oán. Sẵn câu nói này, họ đồng hè trả lời: – Cậu xã hay quá! Ở ngoài hòn Cổ Tron có gì lạ vậy cậu, tụi tôi chưa biết. Ông Năm xay lúa mới ra hòn lúc sau này, chắc cũng chưa biết, Xin cậu nói lại cho tui tôi nghe. Thích chí, cậu xã Nê thuật lại: – Năm đó, hồi còn nhỏ mỗi ngày tôi đi học, từ nhà muốn tới trường thì phải quẹo ra sân banh sát mé biển chợ Rạch Giá. Bữa đó, hừng sáng, dân chài lưới la hoảng chạy về báo với ông cò Tây. Tôi tới nơi xem: rõ ràng trên bãi biển có hai người đờn ông, hai người đờn bà nằm dài lim dim con mắt, miệng chúm chím cười. Họ ở truồng đông đổng! Chập sau, thầy đội mã tà ra tới, Thẩy kêu mấy người đó. Họ nhúc nhích rồi nằm yên. có người bàn: “Chắc họ bị chìm ghe ngoài biển khơi trôi tấp vào đây, dọc đường họ cởi quần áo để thân thể nhẹ nhàng, tiện bề bơi lội. Họ ở xa lắm, không chừng ở ngoài hòn Cổ Tron”. Nghe qua họ vẫn chúm chím cười. Tiếng đồn ngày một lẹ, mấy người ở chợ kéo nhau đến nghẹt tới mé biển mà coi cho rõ hư thiệt. Ông cò Tây hoảng sợ, thầy đội mã tà cũng hoảng sợ. Làm sao giải tán được? Làm sao che dấu chuyện ở truồng đó được! Sau rốt, ông cò Tây bèn sai lính mã tà qua chợ mua bốn chiếc chiếu đem xuống mé biển, phát cho mỗi người một chiếc, biểu họ quấn chung quanh mình rồi lên bờ. Họ không trả lời. Mấy người mã tà bắt buộc họ đứng chính giữa, rối căng chiếu che bốn bên, dẫn họ về bót. Họ bằng lòng đi. Cái cảnh lạ lùng quá, như công chúa ngày xưa đi tắm có tỳ nữ che rèm bốn bên. – Hay quá vậy câu xã. Nói tiếp nữa đi. Cậu xã nói tiếp: – Ông cò không chịu chứa mấy ông bà ở hòn Cổ Tron này trong bót, e xui xẻo. Ổng ra lịnh giam họ bên nhà việc (nơi làm việc của chính quyền ở làng, xã) làng Vĩnh thanh Vân. Mấy ông hội tề đành giam giữ họ. – Rồi họ chịu bận quần áo không? Có người hỏi. – Chịu chớ sao không chịu. Hương chức làng xuất tiền công nho, may cho mỗi người một bộ vải xiêm láng. Họ cười, không nói không rằng, ra về. Rồi cậu xã kết luận: – Ðó, mấy người ở hòn Cổ Tron theo tôi thấy rõ ràng thì như vậy đó. Ông Năm xay lúa nghĩ sao? Ông Năm mỉm cười, trả lời rằng không biết. Chú phó hương quản nói: – Hồi đó, chắc ông già này có tham dự quá! Ai nấy cười rộ. Cười để làm thỏa mãn lòng tự ái của cậu xã, hòng chấm dứt câu chuyện cho đúng lúc. Cậu xã, chú phó hương quản đốt đuốc ra về.

 Ông Năm lại tiếp tục xay lúa. Ông nói: – Tôi không biết cái chuyện ở truồng này! Chẳng qua là thiên hạ hiểu lầm hòn Cổ Tron. Mấy người ở truồng nào đã tự xưng quê quán, danh tánh. Như cậu xã nói, họ im lìm từ hồi đầu mùa kia mà! Cậu xã nói thiệt chớ không nói dóc đâu. – Vậy thì vụ đó là vụ gì? – Vụ này tôi nghe nhiều lần phong phanh. Tôi hồ nghi đó là mưu mô của mấy người nào đó ở gần chợ rạch Giá. Vì thiếu quần áo – nên nhớ là năm đó đồ khổ lắm, họ liều thân làm xấu để xin quần áo của nhà nước. Nhà nước sợ họ; họ đã thành công. Dễ gì đi làm mướn một buổi sáng mà sắm được bộ quần áo, hồi năm quần bao áo bố đó! Ai nấy khen ngợi: – Ông Năm cắt nghĩa hay quá! – Tôi nhắm chừng vậy thôi. Người trong cuộc họ hiểu rõ sự thật hơn tôi. Họ không nói gì thì làm sao mình biết; sự thiệt nó im lặng, không có lời nói. Bây giờ chắc họ cũng không muốn nói ra, e bị ở tù về tội gạt hương chức làng. – Vậy mình cũng nên kêu cậu xã trở lại, nói cho cậu nghe. Cắt nghĩa như vậy chắc cậu chịu lắm mà lại còn phục tài người ở hòn Cổ Tron như ông đây. Ông Năm lẩm bẩm: – Ðừng kêu trở lại nửa chừng; ban đêm, cậu hồ nghi. Ðể cậu về ngủ. khuya, gió lạnh lắm. Mà chưa chắc cậu chịu nghe. Nhưng không sao. Năm mười năm nữa, chừng tóc bạc hoa râm cậu hiểu một mình, không cần ai cắt nghĩa. Muộn gì!

Hương Rừng Cà-Mau

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 12 Aug 2024

Thay lời tựa:

Trong khói sông mênh mông,

Có bóng người vô danh

Từ bên này sông Tiền

Qua bên kia sông Hậu

Mang theo chiếc độc huyền

Ðiệu thơ Lục Vân Tiên

Với câu chữ: Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả,

 Tới Cà Mau – Rạch Giá

 Cất chòi, đốt lữa giữa rừng thiêng…

Muỗi, vắt nhiều như cỏ,

 Chướng khí mù như sương.

 Thân không là lính thú

Sao chưa về cố hương?

 Chiều chiều nghe vượn hú,

Hoa lá rụng, buồn buồn

 Tiễn đưa về cửa biển

Những giọt nước lìa nguồn,

 Ðôi tâm hồn cô tịch

Nghe lắng sầu cô thôn

Dưới trời mây heo hút…,

Hơi Vọng Cổ nương bờ tre bay vút

 Ðiệu Hò… ơ theo nước chảy, chan hoà năm tháng đã trôi qua

Ray rứt mãi đời ta

Nắng mưa miền cố thổ

Phong sương mấy độ qua đường phố,

 Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…

1. Hòn Cổ Tron

 Ông Từ Thông ra hòn Cổ Tron cất chòi mà nương náu không biết từ bao nhiêu niên kỷ rồi. Tóc của ông lốm đốm bạc, khi thì thả dài xuống khỏi lưng quần. Khi thì bới thành búi to sau ót, gài lại bằng một cọng gai kim quít. Một bộ quần áo nghĩ cũng hơi dư mặc đối với ông! Nhiều khi năm ba tháng liên tiếp ông phơi lưng trần với nắng, bên mấy gốc săn đá cổ thụ, lá cành xơ xác vì những cơn gió triền miên của biển khơi. Khi trời nực thì có những khe suối trong veo đón mời. Ông cứ ung dung mà uống, mà tắm một cách tự nhiên, vô tình khuấy rối

giấc mơ của đàn bướm trắng đang xao động bay lên chập chờn như muốn rời mấy nhánh mai hoằng lơ thơ cúi nghiêng mình chấm mí nước… Hôm nào vui cho bằng hôm mười bốn, hôm rằm! Ông Tư Thông ra sau rẫy, đào lên củ khoai môn to lớn, đem luộc chín. Ngồi trên vồ cẩm thạch. ông chậm rãi ăn buổi chiều, thỉnh thoảng rứt từ miến khoai, thảy xuống nước. Loài cá nhỏ bu lại nhởn nhơ mỗi con khoe một vẻ riêng. Tận dưới đáy biển, loại sò, loại ốc, loại nhúm đáng há miệng, le lưỡi bò chậm chạp trên nền đá tím nổi gân vàng, trên nền đá vàng nổi gân trắng. Hoàng hôn tràn tới chính là lúc cảnh vật dưới nước ngời lên, bóng mây phản chiếu lấp lánh như gấm. Ðêm về, trăng mọc. Nơi thủy cung rộn rịp nào kém chốn trần gian! Từng đợt rong chìm lững lờ mơn trớn, khoác thêm lớp xiêm lụa mỏng cho bầy cá hướng. Và muôn vì sao trên dải Ngân hà sa xuống đậu lấm tấm khắp nhánh san hô trắng bạc. Ở hòn Cổ Tron giữa vời vịnh Xiêm La này, ông Tư Thông cơ hồ quên cả loài người và loài người cũng hầu như quên rằng mình có một đồng lại ở ngoài mỏm đá chơi vơi kia. Ðiều ấy, chúng ta không nên trách ai cả, chẳng qua là… hải giác thiên nhai. Không lẽ ông phải vượt bốn mươi cây số đường biển để tới công sở Lại Sơn, bên Hòn Rái mà trình diện. Chính quan chủ quận Châu thành Rạch Giá còn ngán đi kinh lý đến làng Lại Sơn! Từ dinh quận của ông đến công sở làng ít nhứt cũng là năm chục cây số đường hải đạo mênh mông sóng cồn. Mấy chiếc “ca nốt” oai hùng trong sông rạch chỉ là cái vỏ trứng vịt giữa biển. Nhà nước thuộc địa nào chú ý đến việc cung cấp tàu đồng, tàu sắt để quan chủ quận đi cai trị dân! Không lẽ ông quận lại cưỡi ghe bầu hằng trăm cây số. Vả lại ghe bầu nào phải như chim trời mà bay thẳng một đường ngay. Ghe chạy theo đường gãy. Ngoài biển khơi, đường gãy là đường gần nhất giữa hai điểm cách nhau; cái khoảng gần trăm cây số trên kia kéo dài gấp ba, gấp bốn. Năm ấy, tháng ấy, ngày ấy… ông Tư Thông bỗng nghe chút gì băn khoăn, rạo rực trong lòng ông và ở ngoài đời. Từng đàn chim sắc đen ngòm như bầy quạ bay lượn quanh hòn Cổ Tron, rú lên, rít lên, lắm lúc như toan đáp xuống, đột nhiên đảo ngược, đi thẳng một mạch khuất trong mây khói. – Bữa nay họ làm cái gì vậy cà? Ông Tư Thông hối hả trèo lên chót đá mà ngóng. Hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc không có gì lạ. Duy có hướng Ðông: kìa, sừng sững dưới ánh nắng mai năm ba hòn đảo nhô lên, những hòn đảo mới lạ. Ông trố mắt liên tưởng đến phép dời non lấp biển rất nhiệm mầu của tay Thợ Trời khéo léo. Không thể lầm lẫn được! Hồi nào đến giờ, ông rất sành sỏi về vị trí mấy hòn đảo nhỏ án ngữ chung quanh đây. Từ hòn đảo mới nổi ấy, một đốm trắng người, một chiếc “ca nốt” rồi hai chiếc, ba chiếc đang rẽ sóng chạy phăng lại nơi ông đang ở. “Tự năm bảy năm nay, mình chưa mất lòng một con sâu, một con kiến, không lẽ bây giờ có kẻ báo oán mình? Oán nào đã gây ra mà báo?”. Nghĩ vậy, ông trở xuống chân hòn sát mé biển, chờ đợi. Chập sau, mấy chiếc “ca nốt” xáp gần bờ; họ đưa tay ngoắc ông. Người Việt Nam nọ lên tiếng: – Ông già! Lại đây quan lớn hỏi. Ông Tư Thông nhìn năm sáu người mặc võ phục trắng đứng gần thầy thông ngôn. Mấy người mặc võ phục nói ríu rít. Ông đoán đó là “tiếng Tây”… – Ông già! Ðây là Bu Lô Ða Ma? Ông đáp: – Dạ không biết. Nó là hòn Cổ Tron. Chung quanh đây là mười hòn nhỏ khác. Không có nơi nào kêu là hòn Ða Ma… – Vậy thì nó là hòn Nam Du. Trong bản đồ ghi rõ đường hoàng. Ông nói kỳ quá! Ông Tư Thông lắc đầu: – Dạ, lời thật khai ngay. Tôi không biết. Xung quanh đây là hòn Mẫu, hòn Dài, hòn Cổ Sơn, hòn Móng Tay. Chập sau, thầy thông ngôn mới đồng ý : – Ðúng vậy, Bu Lô Ða Ma hoặc hòn Nam Du là tên theo sách chữ nho, theo nhà binh. Hòn Cổ Tron là tên tục của nó. Nè ông lão! Quan lớn ra lịnh như vầy… – Bẩm thầy, quan lớn là người của nước nào, tôi chưa rành. – Ông giỡn sao chớ? Hay là ông ngủ mê? Cỡ này, nhà nước thuộc địa Tây đánh với nước Xiêm. – Bẩm thầy, đánh ở đâu? Tôi chưa được am tường. – Ðánh tại nước Cao Miên. Ðánh luôn tại Bu Lô Ða Ma tức là cái hòn Cổ Tron này. Ông Tư Thông cau mày: – Mô Phật. Cầu xin Phật Trời… Thầy thông ngôn đắc ý: – Không sao đâu! Hễ làm con dân thì phải gánh vác nghĩa vụ. Quan lớn muốn biết hổm rày có tàu bè lạ nào chạy tới đây do thám không? – Dạ, không thấy. – Hòn này bao nhiêu dân đinh? – Bẩm thầy, có một mình tôi thôi. Còn mấy hòn gần đây, tôi không rành. Chắc là năm bảy người, toàn dân “An Nam” mình. – Ðược, thôi bây giờ quan lớn muốn ông kiếm dùm trái cây, nước ngọt. Rồi quan lớn cho chút ít tiền… Thời buổi này ông nên xài phí. Việc sống chết bất thường lắm. Có lẽ sợ ông Tư Thông trốn luôn trên chót hòn nên thầy thông ngôn đi theo sát bên ông, sẵn sàng giúp ông quảy mớ chuối, mớ mít. Trước lạ sau quen, ông Tư Thông hỏi dọ sơ qua về tình hình trong bờ: – Trận giặc này không biết dân “An Nam” mình hao nhiều không thầy? – Hỏi làm chi vậy? Ở đây yên thân già của ông rồi. Nghe nói dân miệt Hốc Môn, miệt Long Hưng… nhộn dữ lắm. Tây không muốn nói chuyện đó. Một mối buồn len vào tâm não ông Tư Thông. Ông nghe gió thổi bốn bề, lạnh lùng. Lương tri như rực sáng nhắc nhở ông món nợ gì đối với đồng bào, giang sơn. Không giúp nước được thì ít ra ông cũng cần biết những gì xảy ra đau buồn trong nước. Cây có cội. Nước có nguồn. Chi có tổ. Cá có hang. Ðôi mắt già của ông Tư Thông ngẩn ngơ nhìn muôn lớp sóng cồn. Chân trời u ám, mấy đám mây tang bay thấp là đà… Ông hổ thẹn, tủi bấy phận mình không bằng con đỗ quyên đêm hè kêu khắc khoải. Thầy thông ngôn nói ta khiến ông giựt mình: – Quan lớn đi về. Ông muốn xin điều gì, vật gì không? Ổng tử tế lắm. Ông Tư Thông chắp hai tay ra vể cung kính: – Tôi muốn vô trong đất liền, miệt Rạch Giá hay Cà Mau gì cũng được để thăm bà con. Nhờ quan lớn cho giấy phép chớ thời buổi chiến chinh này… Tôi không có giấy thuế thân, hồi nào tới giờ. Vị quan hải quân gật đầu. Thầy thông ngôn viết lia lịa rồi vị quan ký tên. Ông Tư Thông cầm miếng giấy thông hành hộ mạng nọ, vô cùng mừng rỡ: – Chúc quan lớn đi bình yên. Mà… Quan lớn chạy “ca nô” về đâu? Thầy thông ngôn nói: – Về tàu lớn. Mấy chiếc tàu binh… của tôi sơn có vằn có vện. Ông không thấy sao? Họ sơn tàu lại cho giống cái hòn giữa biển. Hồi sáng tụi tôi bỏ ống dòm thấy rõ ràng ông đứng trên chót hòn này. Nhờ vậy mà ông khỏi bị bắn. Ban sơ, quan lớn tưởng đâu hòn này là chiếc tàu binh của kẻ nghịch. Ông hiểu chớ? *** Chưa vô tới bờ chợ Rạch Giá là ông Tư Thông cảm thấy cuộc đời đảo ngược, từ địa vị hoàn toàn tự do đến chỗ mất tự do. Ông trung thành với đất nước nhưng có sao đất nước đối xử với ông quá bạc bẽo, ghẻ lạnh? Từ hòn Cổ Tron, ông quá giang tàu buôn Hải Nam đi một mạch tới hòn Tre, nhờ chiếc ghe câu kiều đưa vào chợ. Dè đâu tàu của sở “đoan” xét hỏi. Miếng giấy thông hành nọ bị hồ nghi là giả mạo vì không có đóng mộc, vì đương sự không có giấy “lão” chứng tỏ rằng tên họ của mình đúng như trong giấy phép. Tàu “đoan” chở ông về giao cho ông cò Tây, Giam giữ ông được hai ngày, ông cò phú nội vụ qua dinh quận. Ông quận vốn là người mộ đạo Phật nên cho phép ông Tư Thông được tự do đi dạo chợ. Ông Từ Thông bày tỏ lý do: – Dầu muốn trở về hòn Cổ Tron, không dễ gì kiếm được ghe xuống mà quá giang. Gió thổi Nồm rồi. Phải chờ mùa Bấc… Dạo chợ mấy buổi, ông Tư Thông phát chán. Cầm mấy cắc bạc (của ông chủ quận cho) ông không biết nên mua sắm, ăn uống những gì. Rốt cuộc, ông mua tiền xu khoai môn mà ngồi ăn ngon lành nơi góc chợ. Còn dư, ông vào tiệm hàng xén mua nhang đèn cầy để về cúng bà Chúa Hòn mặc dầu ngoài hòn không có chùa miễu gì cả. Ông cũng thích chí sực nhớ lại mua vài cây kim, nửa cân đường cát trắng. Nhiều lần quan chủ quận viết thư qua bót ông cò hỏi thăm nhưng không được sự giải quyết nào dứt khoát. Chẳng lẽ giam giữ ông Tư Thông mãi mãi? Nhìn vào bản đồ vịnh Xiêm La, ông quận nảy sanh ý kiến: – Hòn Cổ Tron tuy thuộc quận Châu Thành nhưng nằm gần phía làng Ðông Hưng, quận An Biên. Ngày năm tây tháng tới, ta đón thầy xã trưởng Ðông Hưng mà gởi ông đạo này. Rừng của làng Ðông Hưng âm u quá, khó mà nhìn ra xa quá vài công đất để tìm lại chân trời; chạng vạng là un khói lên, không như hồi ở ngoài hòn Cổ Tron, hồi ông ngủ trần không cần mùng mền. Thầy xã trưởng giao trách nhiệm gìn giữ ông cho thầy hương quản. Thầy hương quản lại đổ gánh nặng ấy cho người em vợ là hương tuần Hay. Người giam giữ và người bị giam giữ lần hồi cảm thông nhau. Chú hương tuần lo đặt rượu đế. Ông Tư Thông đi cắm câu, kiếm “mồi” về nhậu. – Ở đây vui quá phải không? Ông Tư Thông gất gù: – Không được vui lắm. Coi bộ bà con mình nghèo hơn ở ngoài hòn Cổ Tron của tôi. Áo quần không có. Mình mẩy bị ghẻ khuyết ăn lở lói thâm niên. Nhà cửa xiêu vẹo, nay ở mai dời… Chắc là tại giặc Xiêm. Hương tuần Hay trả lời: – Giặc đâu không thấy. Người ta đánh mà mình chịu cực mới đau thương cho chớ! – Buồn quá, chú hương tuần à. – Hơi đâu mà buồn. Xứ này chịu cảnh này không biết tự hồi nào, từ hồi chưa có giặc Xiêm lận. Riết rồi quen, yên tịnh. Ông Tư Thông thích chí: – Thì ở ngoài hòn Cổ Tron của tôi, tứ bề sóng gió nhưng mà cũng yên tịnh. Cớ sao? Vì chung quanh có hàng chục hòn khác án ngữ. Tôi là người chạy giặc, vô trong đất liền này thăm bà con… Nhưng mà cũng yên tịnh. Nhờ bà con thương tình. Ngày tháng trôi qua đều đều. Hôm ấy không nhớ rõ hôm nào, thầy hương quản đọc báo Lục Tỉnh Tân Văn biết được tin trận giặc Xiêm đã chấm dứt. Tây và Xiêm dường như thủ huề. Thầy tự ý ra lịnh trả tự do cho ông Tư Thông. Ông Tư Thông ngạc nhiên: – Tôi bị giam hồi nào? – Ông chủ quận biểu tôi giữ ông lại để làm tù binh, chờ mãn giặc mới thả ông về Cổ Tron. – Về thì về, không sao đâu – ông lẩm bẩm. Thầy hương quản hỏi: – Hồi bị giam, ông có đồ đạc gì bị tịch thâu không? Tôi kêu nài giùm. – Vài ốp nhang, đèn cầy, kim may quần áo, đường cát trắng… Nhưng mà thôi. Ở ngoải, dầu không có mấy thứ đó… Nhưng cũng như có. Gặp dịp thuận tiện, thầy hương quản tìm ghe cho ông quá giang ra hòn Sơn Rái. Ông ra đi, hơi buồn. Dư luận trong xóm nổi lên bàn tán. Người cho rằng ông muốn truyền bá một thứ tôn giáo mới, thí dụ như “Ðạo Tịnh” bằng cớ là ông ưa nói hai tiếng yên tịnh. Kẻ khác hồ nghi rằng ông ở Côn Nôn thả bè vượt ngục trốn về. – Nè cha nội sành sõi lắm! Cây đèn “măng sông” của Chệt Kỵ hư “béc” đốt không cháy, vậy mà cha nội sửa lại được trong nhấp nháy… Lại còn nhiều giả thuyết khác ác độc hơn, cho rằng ông thường lân la mấy nhà có đàn bà góa, gái tơ, vân vân… Nhưng thời gian là vị trạng sư hùng biện nhứt thanh minh cho ông Tư Thông. Dư luận bất chánh bị đánh tan, lãng quên. Kỷ niệm lần lần trở nên trong sáng, tươi đẹp. Chiều chiều, khi ra bờ biển để câu cua, đẩy xịp, người ta nhớ ông Tư Thông như nhớ một cái vỏ ốc xà cừ ngũ sắc tấp vào bãi bùn. Như nhớ vài trang sách Phong Thần tình cờ lượm được trong ngăn tủ bỏ quên, những trang sách rách nát hơi khó hiểu vì thiếu hồi thứ nhứt và không có hồi sau phân giải.

Hương Rừng Cà Mau – cuốn sách của 4 thế hệ

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

May 25th, 2024

Lê Phương Trí

Post by Sơn râu 11 Aug 2024

Google photo

Cùng với Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy… Sơn Nam là nhà văn nổi tiếng của Miền Nam. Ông được gọi là “Ông Già Nam Bộ”. Tác phẩm của ông đẫm phong vị cỏ nội hoa đồng được nhiều người ưa thích. Cuốn Hương Rừng Cà Mau chẳng hạn đã được cả 4 thế hệ trong một gia đình cùng đọc. Đây mời các bạn theo dõi bài viết của Lê Phương Trí

Từ nhỏ, tôi đã thấy ba tôi đọc. Rồi sau đó, anh em tôi đọc và giờ đây các con, các cháu tôi lại đọc. “Hương rừng Cà Mau” viết gì mà cả 4 thế hệ gia đình tôi đều mê say?

Người ta thường nói “Đọc một quyển sách bằng đi muôn dặm đường”. Sách sẽ đưa người đọc đến những vùng đất mới lạ, đầy màu sắc với những phong tục, tập quán, ngôn ngữ, lối sống … mà dù chưa từng hoặc từng đến đó, chúng ta cũng hiểu rõ hơn những nơi ấy bằng đọc những trang sách. Đại gia đình tôi có một “truyền thống” quý báu là thích đọc sách, ghiền đọc sách. Một quyển sách mà 4 thế hệ của gia đình tôi đều đọc qua đó là Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam.

“Trong khói sóng mênh mông / Có bóng người vô danh / Từ bên này sông Tiền / Qua bên kia sông Hậu / Mang theo chiếc độc huyền / Điệu thơ Lục Vân Tiên / Với câu chữ / kiến nghĩa bất vi vô dõng giả…”, ngay từ Thay lời tựa, “ông già Nam bộ” – Sơn Nam đã lôi cuốn người đọc vào miền cực Nam tổ quốc.

“Hương rừng Cà Mau” được xuất bản lần đầu vào năm 1962, nội dung gồm 18 câu chuyện lấy bối cảnh cuộc sống của người dân U Minh (Cà Mau) vào khoảng năm 1930-1940.

Hương rừng Cà Mau với những câu chuyện ngắn, nhẹ nhàng nhưng lôi cuốn bởi giọng văn đậm chất Nam Bộ. Nội dung xoay quanh cuộc sống của những người dân thường bình dị, trong sáng. Mỗi câu chuyện dường như dẫn chúng ta lạc về thời gian cũ, xa nhưng không xưa. Bởi từng câu chuyện đều cho ta những nghĩ suy, những trăn trở, những ước muốn … ngay hiện tại.

Chỉ với những câu chuyện ngắn, nhưng mỗi truyện làm ta như được sống ở thời ấy, được hiểu biết về thời hoang sơ ấy, được ước muốn một lần ở nơi ấy để thấm thía “Sao không về cố hương? / Chiều chiều nghe vượn hú / Hoa lá rụng, buồn buồn”.

Đọc “Con Bảy đưa đò” để thấy câu hò sao hay vậy? và bỗng chợt thèm thịt luộc-bánh hỏi miền Nam! Xem “Bắt sấu rừng U Minh Hạ” để lòng khâm phục những người khai hoang mở đất, để mơ một lần được sống thuở hoang sơ. Nghiền ngẫm “Hòn Cổ Tron”, “Bác vật xà bông”, “Miễu Bà Chúa Xứ” … để thấy lòng yêu nước như một thứ tình cảm hồn nhiên, giản dị. “Mùa len trâu”, “Một cuộc biển dâu” … đâu chỉ là kể lại cuộc sống xưa ở điểm cuối cùng bản đồ Việt Nam mà còn giúp ta nhận ra con người sẽ trưởng thành hơn, cứng cáp hơn khi trải qua “giông bão”. Theo dõi “Hương rừng” để thổn thức với mối tình Hoàng Mai-Tư Lập, để háo hức với nghề lấy mật ong rừng, để đau đớn lòng cho những ai mắc bệnh phong cùi thuở nao.

Có thể nói “Hương rừng Cà Mau” của nhà văn Sơn Nam là một tác phẩm viết về cực Nam của Tổ quốc sống mãi với thời gian bởi giá trị văn học và nhân văn của nó. LPT – (Tạp chí trí thức)

Nhà văn Sơn Nam và con gái – nguồn PLO.vn

Bài thơ thay lời tựa của tác giả

Trong khói sóng mênh mông

Có bóng người vô danh

Từ bên này sông Tiền

Qua bên kia sông Hậu

Mang theo chiếc độc huyền

Điệu thơ Lục Vân Tiên

Với câu chữ:

“Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”

Tới Cà Mau – Rạch Giá

Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng

Muỗi vắt nhiều hơn cỏ

Chướng khí mù như sương

Thân không là lính thú

Sao chưa về cố hương?

Chiều chiều nghe vượn hú

Hoa lá rụng buồn buồn

Tiễn đưa về cửa biển

Những giọt nước lìa nguồn

Đôi tâm hồn cô tịch

Nghe lắng sầu cô thôn

Dưới trời mây heo hút

Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút

Điệu hò… ơ theo nước chảy chan hòa

Năm tháng đã trôi qua

Ray rứt mãi đời ta

Nắng mưa miền cố thổ

Phong sương mấy độ qua đường phố

Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê …

SƠN NAM

Hương rừng Cà Mau

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

Post on November 6th, 2020

Post by Sơn râu 11 Aug 2024

Ðã hơn 12 năm nhà văn Sơn Nam tạ thế, hóa thành hạt bụi bay về nơi quê cha đất tổ.

Ông tên thật là Phạm Minh Tài, sinh năm 1926 tại Rạch Giá. Chữ Sơn trong bút danh Sơn Nam là một họ phổ biến của người Khmer, ông đã sử dụng chữ “Sơn” này để tưởng nhớ một người phụ nữ Khmer đã từng cho ông bú mớm thuở nhỏ, chữ “Nam” có nghĩa là phương Nam, vùng đất Nam Bộ mà ông đã sinh ra, lớn lên và luôn đau đáu nhớ về.

Nhà văn Sơn Nam

Cuộc đời Sơn Nam gắn liền với đời sống văn hóa Nam Bộ. Nhiều tác phẩm của ông xuất bản được đông đảo độc giả đón nhận, trong đó Hương Rừng Cà Mau là tác phẩm nổi bật đã đưa tên tuổi của ông lên một vị thế quan trọng trong nền văn học nước nhà.

Năm 1962, tuyển tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau của ông được xuất bản lần đầu tiên bởi nhà xuất bản Phù Sa, lần lượt sau đó là nhà xuất bản Lá Bối năm 1967, nhà xuất bản Trí Ðăng năm 1972 .

Hương rừng Cà Mau là tuyển tập gồm 64 truyện ngắn viết về vùng đất Nam Bộ. Xuyên suốt cuốn sách là những mẩu chuyện về đời sống hằng ngày của người dân đã được Sơn Nam quan sát, góp nhặt lại thành cả kho tàng quý giá. Các truyện ngắn trong Hương rừng Cà Mau có thể được chia theo hai chủ đề chính, đó là chủ đề về con người Nam Bộ trong quá trình chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt và lối ăn ở của con người Nam Bộ, chủ đề thứ hai là bức tranh đời sống của cư dân Nam Bộ, mối quan hệ giữa người với người, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa được Sơn Nam thể hiện qua những truyện ngắn tiêu biểu như: Anh hùng rơm, Ăn to xài lớn, Bà đầm Phô-xi-đông, Bà vợ thứ 10, Bác vật xà bông, Bốn cái ngu, Bức tranh con heo, Cái vali bí mật, Cậu Bảy Tiểu, Cây Huê Xà, Con Bảy đưa đò, Con Trích Ré, Ðảng Cánh Buồm Ðen, Một kiểu anh hùng, Ngôi mộ chôn đứng, Tình nghĩa giáo khoa thư... Họ là những con người có tính tình hiệp nghĩa, sẵn sàng ra tay giúp đỡ người khác mà không cần nhận lại ân nghĩa.

Bìa sách Hương Rừng Cà Mau  

Với Sơn Nam, thiên nhiên trong văn của ông không đơn thuần chỉ là phương tiện để miêu tả cái đẹp, cái tài trí của người cầm bút và con người Nam Bộ. Thiên nhiên ở Nam Bộ không chỉ đẹp về hoa thơm, cỏ lạ một cách nhẹ nhàng mà nó lại như một cô gái bí hiểm, thông minh và sắc sảo, “cô gái Nam Bộ” này sẵn sàng nuốt chửng những người bội bạc, quên lời thề ân nghĩa với mình một chút không thương tiếc bằng rất nhiều cách khác nhau.

Trong truyện ngắn ‘Bắt sấu rừng U Minh Hạ’, Sơn Nam cho thấy con người đã phải nỗ lực vươn lên chống chọi với thiên nhiên hung tợn, đánh đổi cả mạng sống của mình trên con đường khai hoang lập địa. Số người bị sấu bắt nhiều không biết bao nhiêu mà kể xiết. Ðau đớn nhất là trong Con sấu cuối cùng, cô dâu trong ngày vu quy lại bị sấu bắt, thân thể dần chìm xuống lòng sông bởi con ác thú. Mảnh đất hùm tha sấu bắt này độc địa như vậy, ấy mà con người ta lại thương, không nỡ rời bỏ nó, nói như chú Tư Lập trong Hương rừng: “Hương rừng có ma lực quyến rũ. Lúc mới đến ở thì vui, Ở lâu lại sanh buồn. Xa cách lâu ngày đâm ra nhớ không nguôi, không trở lại không được”

Trong tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, ông không chỉ nói về chuyện con người ta xui rủi làm mồi cho sấu, cho hùm beo vì đơn thuần sấu hay hùm beo cũng chỉ là những loài động vật ăn thịt dữ tợn, đó là bản năng của chúng, mặc dù viết nhiều về việc con người ta đã bỏ mạng vì thú dữ nhưng ông có nói “Tuy thích ăn thịt người, loài sấu vẫn tìm cá làm nguồn thức ăn chính”. Thiên nhiên tuy khắc nghiệt nhưng vẫn rất hiền hòa, vẫn không quên ban thưởng cho những con người xứng đáng. “ Nếu trúng mùa dưa thì 1 lời 10, họ tha hồ ăn xài hết tháng Giêng, cờ bạc, đờn ca vọng cổ lai rai cho đến tháng 3 sa mưa”. Cuộc sống thoải mái cho phép người Nam Bộ có quyền tận hưởng thành quả của mình sau những tháng ngày lao động mệt mỏi, họ ngồi lại bên nhau, cùng nhâm nhi vài ba ly rượu đế, thưởng thức những con cá lóc nướng trui đang nằm trên lá chuối tươi mởn hay con cá sặc rằn to bằng cả bàn tay, xòa tươm mỡ. Xong xuôi rồi con người ta lại kể cho nhau nghe về chuyện đời xưa. Vùng đất màu mỡ như thế, nhưng không phải tất cả mọi người đều có ý thức trách nhiệm bảo vệ những gì mẹ thiên nhiên ban tặng.

Nhà văn Sơn Nam năm 1995

Một trong đặc điểm trong các tác phẩm nói về sinh thái, đó là ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường của con người cũng được nhà văn lồng ghép một cách khéo léo qua các truyện ngắn trong tuyển tập Hương rừng Cà Mau.

Với phong cách ngôn ngữ  chân chất và giản dị, đúng với phong cách của con người Nam Bộ. Sơn Nam đã kể về chuyện bẫy chim, bắt cá, nuôi ong… một cách khá nhiều kinh nghiệm và thú vị. Sơn Nam đã từng nói: “Tôi sinh ra ở vùng đất U Minh, nơi đó là những cánh rừng tràm bạt ngàn kéo dài từ Rạch Giá qua Sóc Trăng, Bạc Liêu, và đến tận Cà Mau. Tôi bắt đầu sự nghiệp viết lách vào năm 1955 trên văn đàn Sài Gòn, để từ đó có Mùa Len Trâu, Hương rừng Cà Mau được viết ra từ những ký ức quê nhà không bao giờ phai nhạt.”

Trên mục này, chúng tôi đã một lần trích đăng truyện Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư chân chất, mộc mạc của Sơn Nam. Sau đây là bài thơ tác giả dùng Thay Lời Tựa cuốn Hương Rừng Cà Mau.

Trong khói sóng mênh mông

Có bóng người vô danh

Từ bên này sông Tiền

Qua bên kia sông Hậu

Mang theo chiếc độc huyền

Điệu thơ Lục Vân Tiên

Với câu chữ:

“Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”

Tới Cà Mau – Rạch Giá

Cất chòi đốt lửa giữa rừng thiêng

Muỗi vắt nhiều hơn cỏ

Chướng khí mù như sương

Thân không là lính thú

Sao chưa về cố hương?

Chiều chiều nghe vượn hú

Hoa lá rụng buồn buồn

Tiễn đưa về cửa biển

Những giọt nước lìa nguồn

Đôi tâm hồn cô tịch

Nghe lắng sầu cô thôn

Dưới trời mây heo hút

Hơi vọng cổ nương bờ tre bay vút

Điệu hò… ơ theo nước chảy chan hòa

Năm tháng đã trôi qua

Ray rứt mãi đời ta

Nắng mưa miền cố thổ

Phong sương mấy độ qua đường phố

Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê…

NGUYỄN & BẠN HỮU

Đọc lại ‘hồi ký viết trên gác bút’ của Nguyễn Thụy Long

baotreonline.com

Nguyễn & Bạn Hữu

Post on February 18th, 2022

Post by Sơn râu 11 Aug 2024

Nhà văn Nguyễn Thụy Long (1938-2009) là một cây bút nổi tiếng trong nền văn học tự do Việt Nam. Người ta vẫn nói nếu viết kiểu “giang hồ”, Sài Gòn không thể không nhắc đến Duyên Anh và Nguyễn Thụy Long. Sau 1975, cuộc đời của nhà văn Nguyễn Thụy Long là một chuỗi khổ lụy triền miên. Không hiểu sao, trong hoàn cảnh đó ông vẫn cho ra nhiều tác phẩm mô tả đầy đủ cuộc đời mình và chung quanh.

Nguyễn Thụy Long kể lại như sau trong bài Tựa cuốn Hồi Ký của mình: “Tôi viết trên căn gác cũ ở căn nhà xưa của tôi ở ấp Ðông Ba Gia Ðịnh. Nay là khu giải tỏa Rạch Miễu. Tôi đã ở đó từ hơn bốn chục năm nay, từ ngày khởi nghiệp viết văn làm báo tuổi còn trẻ măng, đến nay tôi đã là một lão già hơi lẩm cẩm, ưa giận hờn, cáu kỉnh lo chuyện trời sập. Nhà tôi thuộc khu giải tỏa, chắc chắn sẽ bị ủi sập, căn gác kia phải được kéo đổ. Vì lo chuyện trời sập mà sau nhiều năm gác bút nay tôi lại cầm bút lên viết hồi ký “trối già” trên căn gác bút. Cầm cây bút lên bây giờ nặng nề lắm, nhất là viết hồi ký. Hồi ký tất nhiên nằm trong một đời người. Ðời tôi, một người viết văn, sống bằng nghề viết cả nửa đời người ở trên quê hương mình. Một đời cầm bút của tôi, tôi chưa hề viết nổi một truyện ngắn, truyện dài trữ tình nào. Cái chất trong văn chương của tôi từ xưa tới nay vẫn là những bão táp cuộc đời, đời sống. Nay viết hồi ký, hẳn nhiên là hồi ký của tôi, đời tôi. Tôi nhặt ra những mẩu đời sống của mình hẳn nhiên chẳng mấy đẹp đẽ. Viết hồi ký, là sự thật, không thể hư cấu để đánh bóng cho đẹp đẽ, đọc lên nghe du dương cho tâm hồn bay bổng. Không có điều đó trong tập hồi ký này. Tôi giới hạn tập hồi ký này từ năm 1975 đến hôm nay, cuối năm 1997. Viết tất nhiên có người đọc đến bị ngộ nhận, tôi không muốn hồi ký của mình mang màu sắc chính trị. Ngộ nhận đến bị xuyên tạc không mấy xa. Tôi hiểu điều đó, vẫn cố tránh khi viết. Ðể nói rõ hơn, tôi chỉ muốn nói đến con người, vấn đề nhân bản. Trong đời sống và quanh bằng hữu, tốt, xấu, đau khổ hay vui cười. Hoặc đau khổ quá mà bật ra tiếng cười. Từ xưa đến nay tính chất của tôi vẫn là tưng tửng trong đời sống. Theo chủ nghĩa Mackênô (tức là Mặc kệ nó). Muốn đến đâu thì đến.”

Hồi Ký Viết Trên Gác Bút như ta biết, được viết từ năm 1997 từ căn gác nơi ông ở Gia Ðịnh, được nhà Văn Nghệ ở Cali xuất bản năm 1999. Theo nhà xuất bản, đây mới là 2 tập đầu trong bộ hồi ký nhiều tập.

Ðiều ghi nhận đầu tiên là giọng văn trong “Hồi Ký Viết Trên Gác Bút” điềm tĩnh, đúng là của một người đã cao tuổi và nhìn lại đời mình, một cách điềm tĩnh lạnh lùng nhưng đầy lôi cuốn.

Trong tập hồi ký, bạn đọc sẽ thấy lại hình ảnh của nhiều văn nghệ sĩ Miền Nam trong thời nhà nước CSVN bủa lưới vây bắt — của Mai Thảo, Doãn Quốc Sỹ, Hồ Thành Ðức, Hoàng Hải Thủy, Phạm Ðình Chương… — nghĩa là cả chuyện tù, chuyện thất nghiệp, chuyện loay hoay trong một xã hội mất định hướng, và cả sau này tới thời nhà nước cởi mở, đón mừng Việt Kiều…

Tập hồi ký viết rất buồn, cũng hệt như chuyện nước mình. (theo Việt Báo)

Trước hết, tác giả Nguyễn Thụy Long kể về những đổ vỡ của gia đình mình:

“Vợ tôi, người vợ đã có một thời đầu gối tay ấp của tôi, lấy nhau vì tình. Quả nhiên dũng cảm đến độ “tàn bạo”. Nàng quất tôi tơi bời tá lả. Rụng như lá mùa thu… Tôi thua sau trận bị bôi tro trát trấu vào mặt, bị ỉa lên đầu. Nhưng ỉa lên đầu của cải tôi trong căn nhà này. Tôi tự an ủi, cũng chẳng sao, tôi có phải ra đi con tôi cũng hưởng. Bây giờ thì tôi biết con tôi chẳng hưởng gì, chúng bị bỏ trong viện mồ côi cho mấy bà sơ đói rách trách nhiệm. Nhưng đầy tình người bác ái. Ðó là sự thật. Sau phiên tòa, bị cáo (tôi) được tự bào chữa, cũng là nói lời cuối cùng. Lời nói bây giờ yếu xìu, không hiệu quả. Tôi nói như thế này:

– Tôi lấy vợ do hai bên cùng ưng thuận, có tí ti tình yêu. Vợ tôi mồ côi cả cha lẫn mẹ sống với ông chú là công chức bưu điện. Sau này bà ta là con nuôi ông Chu Tử, chủ nhiệm tờ báo Sống. Chúng tôi lấy nhau, thời gian đó tôi đang làm ký giả cho báo Sống. Việc chúng tôi lấy nhau cũng do ông Chu Tử giúp đỡ. Vợ tôi chưa từng có của cải hay đồng xu teng hồi môn mang về. Gia đình tôi có tiền bạc, nhà cửa, xe cộ, kẻ ăn người làm cũng do một bàn tay tôi gây dựng, bằng công việc làm của tôi, nghề cầm bút. Bây giờ khép tội tôi là kẻ ăn cắp tiền bạc thì tôi ăn cắp của ai? Các ông các bà hãy nhìn xem bộ quần áo bà ta đang mặc trên người cũng do tiền tôi mua sắm..

Còn nguyên nhân tôi lộn xộn đòi ly dị không phải mới có đây, có từ khi miền Nam này còn thịnh trị, quân đội Mỹ còn ở miền Nam kia. Người vợ tôi có mộng đi ra nước ngoài để mở tầm mắt nhìn thế giới, nhìn văn minh loài người không phải người Việt Nam. Vợ tôi đưa ra một đề nghị mà người chồng Việt Nam nào cũng phải thất kinh. Bắt chồng phải ly dị, để làm hôn thú với ngoại kiều, chẳng biết một anh lính Mỹ, anh Tây hay anh thợ điện Phi Luật Tân nào đó. Ðể ra đi hợp pháp. Dĩ nhiên tôi không thể chấp nhận đề nghị đó, một đề nghị tàn nhẫn, vô nhân đạo, cạn tàu ráo máng, bôi cứt vào mặt chồng. Thuở đó miền Nam này việc đi lấy Mỹ, lấy ngoại kiều là điều không tốt đẹp gì, một việc bần cùng bất đắc dĩ, việc làm vì hoàn cảnh. Gia đình tôi không đến đỗi ở trong hoàn cảnh đó. Ông Chu Tử, chủ nhiệm của tôi, người bố nuôi của vợ tôi, ông là nhà văn, tâm hồn phóng khoáng. Ông phải la vào mặt tôi:

– Anh nên nhớ rằng người ta lấy đĩ về làm vợ, không ai lấy vợ về cho đi làm đĩ. Nếu anh chiều theo ý cô ấy, tôi không biết anh là con người gì. Anh bôi cứt vào mặt anh, vào liêm sỉ của anh mà sống được à? Chuyện này không thể được!

Ngày 30-4 dịp may đến. Quân miền Nam bại trận. Gia đình tôi trốn đi mà đi không thoát. Hôm nay tôi còn ngồi đây… Tôi biết còn nhiều hoàn cảnh bi thảm khác, hơn hoàn cảnh của tôi nhiều mà người ta vẫn còn chịu đựng được. Tôi linh cảm thấy sắp có những chuyện xấu tồi tệ xảy ra cho tôi. Tôi sẵn sàng đón nhận nó.

Tôi trở thành một tên ngoan cố, ngụy biện. Tôi bị điệu lên phường rồi ra khỏi nhà với hai bàn tay trắng. Tôi không gặp hai đứa con tôi. Nhưng tôi cố nhẫn nại chịu đựng, rồi cũng có ngày nhìn lại được chúng. Tôi chỉ không ngờ khi nhìn lại hai đứa trẻ trong hoàn cảnh thảm hại như thế. Trong ai oán, trong nước mắt.

Tôi ngồi mãi ở thềm nhà xưa nhìn lên cây thập tự trên tháp chuông nhà thờ Tân Ðịnh. Bộ quần áo cải tạo bạc màu có nhiều miếng vá vụng về, cái túi xách nghèo nàn chứa vài món đồ kỷ niệm con con, lương thực không còn đến một củ khoai. Tôi nhớ con, nhớ những người bạn tù còn ở trong trại, giờ này kẻng đã đánh vang, tất cả đã phải vào lán trại. Niềm vui cuối cùng của kẻ tù tội được ngồi bên nhau. Có lẽ bạn tôi đang nghĩ đến tôi, tôi mang những lời nhắn nhe về cho gia đình họ. Những đứa trẻ xa lạ, con bạn tôi gọi tôi bằng chú hoặc bác. Còn con tôi, chúng ở phương trời nào? Bây giờ cuối năm hơi lành lạnh.

Trong căn nhà của tôi có tiếng đàn bà:

– Con ra xem ai ngồi ngoài cửa kia!

Có tiếng mở cửa sắt, rồi một cái đầu cô gái ló ra hỏi tôi:

– Ngồi chi vậy, đi đi, không có gì đâu.

Thân phận tôi bị hạ thấp xuống thêm một bậc nữa. Tôi giải thích làm gì, tôi đứng dậy và uể oải đi. Bà Tàu, hàng xóm nhà tôi, nhìn tôi, có lẽ nhận ra, bà ta lên tiếng:

– Ông về đó à, sao gầy ốm thế, cô ấy đi rồi, bây giờ nhà ông có chủ khác.

– Cám ơn, tôi biết cả, tôi chỉ về nhìn lại căn nhà xưa một lần cuối.

– Mời ông vào nhà tôi uống ly nước.

– Xin cảm ơn!

Nhiều năm sau tôi không về lại căn nhà xưa, con đường quen thuộc xưa. Tôi giữ tiếng reo cười của con tôi vang mãi trong đầu tôi, tôi không muốn tiếng cười trong sáng ấy lẫn trong những lời rủa sả cay nghiệt của cuộc đời.

Tôi thất thểu đi trên con đường Nguyễn Phi Khanh, dời xa dần ngôi nhà mang số 100. Ngôi nhà mà trước đây nổi tiếng Ô Mai Mơ Bắc Việt. Con đường cũng nổi tiếng theo là con đường ô mai cho lứa tuổi mộng mơ, mà một thời nhà văn Duyên Anh đã phong cho nó qua những tác phẩm trong sáng viết cho tuổi thơ ngọc ngà. Bây giờ chính anh ta cũng đang nằm trong trại học tập cải tạo, trại Gia Trung. Chúng tôi biết tin nhau qua những buổi được đi thăm nuôi.

Ði hết con đường Nguyễn Phi Khanh, băng qua ngã tư Trần Quang Khải, tôi đi vào đường Trần Khắc Chân. Leo qua hai cây cầu gỗ bắc ngang kinh Nhiêu Lộc xuống cù lao địa phận ấp Ðông Ba, nay là Phường 6 quận Phú Nhuận. Tôi trở về ngôi nhà xưa thuở đầu đời. Nay mẹ tôi đang sống. Trời tối mịt tôi mới về đến nhà. Mẹ tôi mừng rỡ:

– Mẹ biết con về, hôm qua mẹ đi họp người ta nói con được tha, chỉ về trong nay mai. Ngày hôm nay mắt mẹ nháy nhiều.

Mẹ tôi vét thùng gạo, toan nấu cho tôi một chút cơm. Nhưng tôi từ chối, tôi xin mẹ tôi đi thăm hàng xóm, những người đã gửi cho tôi nải chuối, củ khoai hoặc tán đường trong những lần mẹ tôi đi thăm nuôi tôi trong trại học tập cải tạo.

Sau đây là trang Nguyễn Thụy Long viết về đời sống gia đình, tình yêu của một số văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày đổi đời:

“Nguyễn Nghiệp Nhượng, chồng của ca sĩ Hồng Vân phải ký tên vào đơn xin ly dị với vợ, không ký cũng không được. Hồng Vân có một người chồng cán bộ khác, cũng làm văn hóa văn nghệ gì đó, so với Nguyễn Nghiệp Nhượng bây giờ, thằng thợ ngồi sửa xe đạp lề đường thì một trời một vực. Buổi trưa tôi thấy thằng cu Bi, con của Nhượng và Hồng Vân, mang đồ ăn ra cho bố. Mở ngăn gà-men ra tôi thấy mấy củ khoai luộc, loại lương thực bán ở tổ dân phố, củ khoai nào cũng bị sâu ăn đắng nghét đến hai phần ba.

Ngồi ở dốc cầu Bông, tôi nhìn thấy người vợ đầu gối tay ấp của tôi, ngồi sau xe của một thằng Tây lai mặt đầy trứng cá chở đi. Nàng làm thủ tục kết hôn, dĩ nhiên nàng được xuất cảnh ra đi theo chồng diện con lai.

Bên cạnh người ngồi lề đường là một quán cóc bán mấy thứ rượu, đồ mồi lèo tèo và chắc chắn là những thứ hạng bét. Buổi sáng tôi bán được mấy cái bù loong kiếm được mấy hào.

Tôi mua được một xị rượu cùng uống giải sầu. Nhượng góp một con cá khô nướng làm mồi đưa cay.

Tôi nhạy cảm nên muốn uống rượu rồi khóc như diễn viên điện ảnh Huy Cường. Nhưng khi nhìn mặt Nhượng sắc lại. Ðôi mắt dõi dõi nhìn xuống giòng kinh Nhiêu Lộc đục ngầu, bốc mùi hôi thối đến lợm giọng.

Tôi và Nguyễn Nghiệp Nhượng nói với nhau những câu vô nghĩa.

– Tao không bao giờ tắm ở con kinh này.

– Tao gác bút, tạm thời gác bút.

– Ðúng thôi, mày nên làm phụ tá đặc biệt cho tao để kiếm khoai sống qua ngày. Chưa biết sửa xe thì mày giữ nhiệm vụ bơm xe, bỏ tí sức lao động ra, mỗi chiếc bánh xe cũng được một hào đấy, rồi học vá xe, từ vá tay đến vá ép mấy hồi… Máy móc xe đạp cũng đơn giản thôi, khó nhất là rút căm xe đạp.

Tôi rất phục Nguyễn Nghiệp Nhượng vì anh ta có năng khiếu khoa học kỹ thuật về xe đạp. Hồi xưa tôi đã thấy anh ta tháo tung cả chiếc máy chữ lau dầu rồi sửa chữa tốt lại. Thì ngày nay cái xe đạp, xe honda cũ rích có nhằm nhò gì.

– Tao gác bút!

– Ai cho mày viết văn mà chẳng gác. Coi chừng bị đếm lịch. Học lấy một nghề mà kiếm ăn, không phải nuôi vợ con thì nuôi mẹ già mày. Tao có phúc hơn mày vì còn được nuôi mẹ nuôi con. Thôi câm miệng đi rồi uống rượu. Ngồi trên con kinh nước đen này chẳng nên thơ tí nào.

– Ừ thì câm nhưng tao là thằng Trâu nước lội dưới kinh nước đen.

– Tốt, tốt. Nhưng rượu chưa đủ đâu. A, mày nghe gì về Dương Nghiễm Mậu không?

– Nó ở tù, mới ra, bây giờ nó làm nghề sơn mài. Ngồi uống cà phê cứ có ba người là nó đứng dậy biến, nó cảnh giác cao như sống trong thời Thương Ưởng phò Tần Hiến Công thuở Ðông Chu Liệt Quốc.

– Phải thôi, nhưng mình cũng nên câm miệng lại. Trâu nước, tao biết mày có bệnh vạ miệng. Có miệng thì cắp, có nắp thì đậy…”

Hồi Ký Viết Trên Gác Bút còn phản ảnh nhiều mẩu đời, nhiều hoàn cảnh đen tối, bi thảm, cười ra nước mắt xảy ra dưới thời Cộng Sản toàn trị. Nó đúng là một xã hội không phải của người nữa.

N& BH

Dặm trường

vanviet.info/van

Văn 31 Tháng Ba, 2019

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 11 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Kỳ 7

Chương 17

Sau lần cãi vã với nhau, Hạnh nghĩ rồi ra mọi chuyện sẽ qua đi. Nhưng không đơn giản như vậy. Giữa hai người lửng lơ một cái gì bất bình thường.  Nó không hiển lộ ra rõ ràng, nhưng Hạnh cảm thấy nó cứ lảng vảng đâu đó. Lục ít nói hẳn đi. Anh thường tránh đề cập đến ý định của mình. Nhưng nhìn bộ dạng của chồng, Hạnh biết chắc rằng chồng vẫn còn nuôi mộng đi buôn. Biết thế, nàng cố tránh không nhắc nhở gì. Hai người đã ngủ chung với nhau, nhưng mùi vị ân ái trở nên nhạt nhẽo. Những nụ hôn thiếu hẳn nồng nàn. Vòng tay lơi lỏng. Lục của nàng như khác đi. Bướng bỉnh mà vụng về. Nhiều lúc, thụ động và ngờ nghệch. Còn nàng, không hiểu sao, nàng cảm thấy ngơ ngác và lạ lẫm. Cảm giác đó đeo đẳng theo nàng trong sinh hoạt hàng ngày cũng như khi nằm bên cạnh Lục. Cái gì thế nhỉ?

      Sáng hôm đó, thức dậy, nàng chợt nghe ân hận. Bèn bỏ ý định đi thăm bạn. Thấy anh vừa đánh răng xong, nàng nói:

–     Mình đi ăn sáng đi anh.

      Lục không trả lời nàng, mà hỏi:

–     Em đã lên thăm bà nội mấy đứa chưa?

      Nghe nhắc đến mẹ chồng, Hạnh hơi bực. Nàng trả lời mà như ném chữ vào mặt anh:

–     Chưa!

      Nhận ra giọng mình hơi xẵng, nàng dịu giọng:

–     Lu bu chuyện này chuyện nọ, em quên mất.  Hay chốc nữa hai vợ chồng lên thăm luôn.

      Lục dứt khoát:

–     Em đi một mình đi.

      Hạnh biết giữa chồng và mẹ chồng đã từng cãi vã nhau khi nàng vắng mặt, nên khi nghe chồng nói vậy, nàng im lặng, tự nhủ thôi thì hôm nay ráng ghé thăm bà nội một chút cho phải lẽ.  Nàng nói:

–     Mình đi ăn sáng trước đi anh. Ghé quán bún mụ gì ở Ðập Ðá đó. Lâu quá mình chưa ăn bún dưới đó. Ði anh!

      Lục không nói gì, lẳng lặng thay áo quần.

      Hai vợ chồng chở nhau ra đầu ngõ, đúng lúc một chiếc xe con Liên Xô chạy tới. Lục dừng xe, nhường đường. Nhưng ngang trước nhà, chiếc xe con chạy chậm, dừng lại. Người tài xế nhảy xuống, nhìn lui nhìn tới, rồi hỏi anh:

–     Cho tôi hỏi chút xíu. Ðây có phải là nhà bà Hạnh không ạ?

      Hạnh nhảy xuống xe, ngạc nhiên:

–     Tôi là Hạnh đây. Anh tìm tôi có việc gì?

      Cậu tài xế không nói gì, rút ra tấm thiệp nhỏ, đưa cho Hạnh. Thấy cái tên trên tấm cạc, tim Hạnh đập thình thịch.  Mặt nàng tái đi, hai tay run run. May mà Lục đứng sau lưng, nên không biết gì.  Nàng đọc xong mấy chữ viết nguệch ngoạc sau tấm cạc, yên tâm. Nàng định tĩnh lại, đưa tấm cạc cho chồng. Lục đọc xong, hỏi:

–    Em quen với ông này à?

–    Thì Công Ty Xuất Nhập Khẩu Nông Lâm Sản mà em nói với anh đó. Nhưng ông ở trên tấm cạc này là Bí thư huyện uỷ, cấp trên của ông giám đốc nữa. Chính ông này ký ngân phiếu trả tiền cho em đấy.

      Lục gật gù ra vẻ hiểu, đưa trả tấm cạc lại cho Hạnh. Hạnh cám ơn cậu tài xế, nói:

–     Em về nói lại với ông Bí thư là hai vợ chồng anh chị sẽ ghé thăm ông.

Quay sang Lục, nàng nói:

–    Cũng may là gặp ngay tại đây. Lát nữa, ăn sáng xong, anh với em qua đó thăm ông ấy một chút. Em muốn giới thiệu anh với ông ta. À, này em, em có biết rõ khi nào ông Bí thư có mặt ở nhà khách không? Chắc ông mới ra, bận lắm nhỉ?

–     Bận thì bận quá đi rồi. Ði công tác xa như thế này, em gần như trực trăm phần trăm. Sai đâu đi đó, không có giờ giấc rõ ràng. Ông bảo đi là đi, chẳng hề báo trước. Nhưng em biết chắc giờ này ông đang có mặt bên đó, lý do là vì em đang ở đây.

–     Thôi được. Em về trước nói với ông là tụi chị sẽ qua chào ông bây giờ. Mình qua bên đó trước đã, anh thấy sao?

      Lục ngần gừ, không muốn đi. Hạnh giục:

–     Ði anh. Gặp một chút, rồi đi ăn sáng sau. Người Nam họ dễ tính lắm. Gặp thăm hỏi năm điều ba chuyện xong là chào đi thôi, không có thủ tục rườm rà như người Huế mình.

–     Nếu vậy để anh vào thay áo quần lại. Ăn mặc thế này chướng lắm.

      Hạnh cản:

–     Ôi, hơi đâu mà lo. Ðâu có sao. Tính ông này xuề xòa lắm.  Mình ăn mặc “ra vẻ” quá đôi khi không hay.

      Ðúng như Hạnh nói, Mười Giộc ăn mặc xuề xòa. Chân đi dép nhựa cán bộ. Áo trắng bỏ ngoài quần. Ông tiếp hai vợ chồng Hạnh ngay trong phòng khách của nhà khách tỉnh nằm trên đường Lê Lợi. Phòng khách lớn, sang trọng, trang trí theo kiểu tây. Một bộ xa lông gỗ rộng, kiểu cổ đặt ngay chính giữa.  Lưng dựa và chỗ tì tay đẽo thành hình rồng phượng. Bên cạnh là một cặp ngà voi thật lớn, dựng trên một cái giá gỗ lên nước sáng bóng. Xưa nay đi ngang đi lại nhà này nhiều lần, Hạnh không ngờ bên trong lớn và sang như thế này.

      Thấy hai vợ chồng Hạnh vào, ông ta đưa tay ra bắt Lục, nắm chặt bàn tay lắc lắc một hồi lâu:

–     Hân hạnh, hân hạnh!

      Xong, ông ta đưa tay ra bắt tay Hạnh. Hạnh thấy kỳ kỳ, nhưng nàng cũng lịch sự đưa tay, lòng ngượng nghịu với chồng.  Ông lắc lắc bàn tay Hạnh một hồi nữa, miệng lập đi lập lại hai chữ “hân hạnh”. Lục tức cười nhưng cố nhịn. Hạnh cảm thấy khó chịu và quê với chồng, nhưng ráng giữ khuôn mặt bình thường. Cả ba ngồi xuống. Bộ xa lông lớn quá khiến người này ngồi cách người kia khá xa. Vừa ngồi xuống cái ghế lớn đối diện với hai vợ chồng, Mười Giộc đứng ngay dậy, kéo chiếc ghế nhỏ đặt một bên cặp ngà voi đến gần bàn:

–    Ghế lớn, ngồi nhìn nhau trông nhạt quá, phải không anh chị?

      Hạnh gật đầu. Móc túi không thấy thuốc, ông ta kêu chú tài xế đang đứng lấp ló ngoài hành lang đi tìm cái cặp, đem vào. Ông mở cặp, rút gói craven A, mở ra lấy một điếu, rồi ném xuống giữa bàn, đẩy tới mời Lục:

–     Anh hút thuốc.

      Lục hờ hững rút một điếu, cầm trong tay.  Ðợi Mười Giộc châm thuốc xong, Hạnh nói:

–     Sao, anh à… ông Bí thư có khỏe không? Ông ra khi nào vậy?

      Bí thư cười rổn rảng, không trả lời thẳng vào câu hỏi của Hạnh:

–    Huế đẹp thật! Cảnh đẹp mà người cũng đẹp, nhất là mấy bà, mấy cô. Vùng tôi, cảnh đã không mà người thì xoàng xoàng.

      Hạnh dè dặt:

–    Ông mới ra đây lần đầu?

–    Nói thế cũng không có gì sai. Thường mỗi khi đi công tác Hà Nội, tôi chỉ dùng máy bay. Có lần đi xe con, có ngang qua đây. Có ghé chợ, nhưng vội quá, chẳng ở lâu. Thế nào, chị có khỏe không? Còn anh? Ðây là chồng chị phải không? Anh tên gì nhỉ? Anh cũng người Trung đấy nhỉ? Giờ công tác đâu?

      Lục nói đùa:

–    Tôi làm anh nuôi.

–    Thế à? Hay nhỉ. Ðơn vị nào vậy?

–    Anh nuôi tại gia, ông Bí thư ạ.

–     Cái gì mà gọi là anh nuôi tại gia? Ðơn vị nào lạ vậy kìa. Tôi chưa bao giờ nghe nói đến.

      Hạnh cười xòa:

–     Anh đùa đấy, ông Bí thư ạ. Anh nuôi tại gia là làm việc nhà đấy. Tôi đi đây đi đó hoài, anh ở nhà lo chăm sóc con cái.

      Bí thư cười sảng khoái:

–     Cũng thú nhỉ. Thế nào, cô Hạnh có định vào lại thành phố Hồ Chí Minh không?

      Hạnh tránh không nhìn thẳng vào mặt Mười Giộc. Nàng sợ rằng ông ta vui miệng sẽ nói lung tung. Nàng đáp nhỏ:

–     Dạ, chưa có định gì hết. Mới ra mà ông Bí thư.

      Như để đánh tan nỗi lo ngại của nàng, ông ta nhìn Lục, nói:

–    Tôi gặp cô Hạnh, à bà nhà đây trên trụ sở công ty ở Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Bà là một trong những khách hàng đầu tiên của công ty huyện chúng tôi. Bọn tôi định mở rộng địa bàn hoạt động ra ngoài này đó anh. Vùng tôi không thiếu gì lúa gạo, nhưng thiếu nhiều thứ khác.

      Lục cố tỏ ra chăm chú lắng nghe.  Hạnh hỏi:

–    Thế ông Bí thư có định ra đây làm ăn không?

–    Ðấy, đấy, cái này phải cần đến những người ở tại địa phương, như cô chẳng hạn. Lần này, tôi đi tham quan một chuyến cho biết. Nhưng nhất định sẽ phải đặt một trạm thu mua ở ngoài này.  Có lẽ ở Ðà Nẳng cho tiện. Rảnh, ta sẽ ngồi lại bàn với nhau phương thức làm ăn. Tôi có hỏi dò bên thương nghiệp thành phố rồi. Họ cho biết, không trở ngại gì. Chỉ có cái khâu nhân sự thì…hơi phiền. Tất nhiên là phải dùng người địa phương. Nhưng kiếm người tin cậy thì không dễ. Phải vừa rành việc, vừa lanh, nhưng cũng phải, như cô biết đó, cũng phải…biết điều nữa. Không biết điều thì gay lắm. Với dân Nam bộ như tôi, xứ này còn mới quá. Tính tôi ngang phè, nghĩ sao nói vậy. Ở đây, người ta ít người nói thẳng những gì họ nghĩ trong đầu. Gay là ở khâu này. Biết người ta thích cái gì là rất dễ cho việc của mình.

      Bí thư vứt đi điếu thuốc mới hút một nửa, đứng dậy, rút một điếu khác, mồi tiếp. Nhìn quanh không thấy cái gạt tàn, ông đi thẳng tới chậu kiểng đặt sát tường, dí vào gốc cây cho tắt rồi trở lại ghế ngồi.

–    Chiều nay, tôi đi Hà Nội. Ra Bộ lo cho xong mấy cái giấy tờ, nhân thể gặp đồng chí Thứ trưởng Ngoại thương để xin ý kiến. Trở lại đây, tôi sẽ làm việc với các đồng chí địa phương, cả đây, cả ở Ðà Nẳng.

      Nhìn Lục, Bí thư giải thích:

–    Làm ăn bây giờ, khâu nào cũng phải thông, anh biết không. Hễ khâu nào có vấn đề, có sự cố là không ổn đâu.  Phải tính đủ trong, ngoài, trên, dưới mới có thể tiến hành công việc được.

      Quay sang Hạnh, ông tiếp:

–    Khi vào lại, tôi ở đây một thời gian để làm việc với bên tỉnh và thương nghiệp. Giờ ở tạm nhà khách này, sau ở dài ngày chắc phải về đóng quân tại khách sạn Hương Giang. Cô Hạnh thấy có ai chịu làm ăn với dân Nam bộ chúng tôi thì giới thiệu nhé.

      Thấy bộ tịch của Mười Giộc, Hạnh đoán ông ta muốn chấm dứt câu chuyện ở đây, nên bấm Lục đứng dậy:

–    Thôi, xin chào ông Bí thư. Khi nào trở lại, nếu ông Bí thư cần gì, vợ chồng tôi sẵn sàng tiếp một tay.

–    Vâng, có gì tôi sẽ báo cho anh chị rõ.

      Vừa nói, Mười Giộc vừa đứng dậy, đi ra phía cửa. Hạnh và Lục bước theo sau. Ðến  cửa, Lục đi nhanh ra phía bên hông nhà khách lấy xe. Hạnh rảo bước xuống tầng cấp.  Bỗng Mười Giộc gọi nhỏ:

–     Hạnh, Hạnh!

      Hạnh dừng lại, ngoái đầu lui nhìn. Ông ta bước nhanh xuống bên cạnh, nói nhỏ:

–    Anh nhớ em thiệt tình. Anh nói đùa vậy chứ sáng mai anh mới đi Hà Nội. Chiều nay, đi chơi với anh nhé.

      Nghe nói, Hạnh bẽn lẽn cúi đầu xuống, tim đập mạnh. Nàng hít một hơi thật mạnh, nói mà không nhìn lui:

–     Không được đâu, ông Bí thư.

      Nói xong, nàng bước vội xuống tầng cấp. Giọng Mười Giộc đuổi theo nghe thoang thoảng như  từ đâu tới:

–     Anh đợi đây lúc ba giờ chiều. Ði Ðà Nẵng chơi, tối về.  Nhớ nghe cưng, anh đợi.

*

      Ăn cơm trưa, dọn dẹp xong, Hạnh nói với chồng nàng đi thăm bà nội mấy đứa nhỏ. Biết Lục không muốn đi, nhưng nàng vẫn hỏi:

–    Anh đi với em chứ?

–    Anh đã nói rồi, em đi một mình đi.

      Hạnh rú xe ra đến cửa ngõ, dừng lại, quay lui, nói lớn:

–    Ghé mạ xong, em đi Kim Long thăm đứa bạn với lại tạt sang nhà mấy bạn hàng xem thử hàng hóa ra sao. Nếu em không về kịp, có đồ ăn em nấu sẵn, chỉ hâm lại rồi mấy cha con ăn.

      Nhìn vào tấm gương chiếu hậu, thấy khuôn mặt mình nhợt nhạt, Hạnh mới sực nhớ là chưa đánh phấn và thoa son. Nàng dựng xe lại, cứ để máy nổ, chạy vội vào nhà đánh một lớp phấn mỏng lên má, lấy tấm vải xoa nhẹ, nghiêng khuôn mặt qua lại để chắc chắn là má không quá hồng. Xong dùng thỏi son môi xoa lên môi một lớp. Thấy quá đậm, nàng lấy tay chùi bớt, rồi cẩn thận thoa lại. Ngắm nghía cẩn thận, thấy khuôn mặt bây giờ có phần tươi trẻ hơn, lại không có vẻ gì quá đỏm đáng, nàng yên tâm ra xe.

      Ði thăm mẹ chồng, nàng trông đợi một khuôn mặt lạnh lẽo, những câu chào hỏi lấy lệ, những cái nhíu mày, bĩu môi vừa cố tỏ ra lịch sự nhưng đồng thời cũng muốn cho kẻ đối diện biết rằng tôi chẳng ưa gì cô. Mối liên hệ bà gia-con dâu vốn không bao giờ tốt đẹp lại càng tệ hơn khi Hạnh đi buôn chuyến, thường xuyên vắng nhà. Hạnh biết mẹ chồng lo ngại là điều có lý. Nhưng nàng không thể chấp nhận bà mẹ chồng xem chuyện nàng đi buôn đường xa để nuôi chồng nuôi con là một hành vi không đứng đắn. Trong cái nhìn của bà, Hạnh biết, bà đã có một phán đoán dứt khoát về cô con dâu: nàng đã hư hỏng. Mặc! Bà nghĩ gì là quyền của bà. Nàng có hư hỏng hay không là quyền của nàng. Nàng không mất công cãi lại bà, và cũng chẳng muốn “người ta” xâm phạm đến quyền của mình.

      Trái với dự đoán của Hạnh, mẹ Lục đón tiếp con dâu một cách vui vẻ, thoải mái. Bà cụ hỏi thăm sức khỏe của nàng, sức khoẻ của ba mẹ nàng, các ông chú, ông bác, bà dì và cuối cùng nói về mấy đứa cháu nội. Bà khen đứa này, trách nhẹ đứa kia. Hạnh cũng hỏi thăm sơ sơ, rồi gục gặc đầu lắng nghe.  Hai người tuyệt nhiên không đề cập gì đến chuyện đi buôn của Hạnh. Lại chẳng nhắc gì đến chuyến đi quá dài ngày vừa rồi.  Bà mẹ chồng ra vẻ một bà già dễ tính còn Hạnh thì cố tỏ ra nhu mì, hiếu đạo.

      Trước khi ra về, Hạnh thưa:

–     Còn mấy chỉ hôm trước mạ cho tụi con mượn, mạ đã cần lấy lại chưa?

      Bà cụ xua tay:

–     Cứ giữ đó. Khi nào mạ cần, mạ hỏi.

–     Dạ, vợ chồng con cám ơn mạ.

      Ra đến đường, Hạnh thở phào, tự nhủ thế là xong bổn phận. Nhìn đồng hồ, thấy gần hai giờ, nàng chạy ra cửa Chánh Tây, lên Kim Long, tìm đến nhà Tùy. Rủi thay, Tùy vắng nhà.  Vậy thì đi đâu bây giờ? Bỗng nhiên, Hạnh bối rối. Về nhà?  Không. Dắt chiếc xe xuống mấy tầng cấp bằng gạch trước cửa ngõ nhà Tùy, Hạnh dừng lại, suy nghĩ. Nàng cố nhớ chỗ của một số bạn hàng buôn trầm vùng này. Bà Hoa. Bà Ðợi.  Ông Vàng. Thằng Chiến. Họ ở vùng này thật, nhưng khu Kim Long đường ngang ngõ dọc, làm sao nàng biết được nhà người này người kia ở đâu. Nhà nào trông cũng từa tựa nhau, vườn rộng, cây cối sum suê. Lúc đi mua hàng, nàng thường chạy theo người cò, từ nhà này len lỏi qua nhà khác, không cách gì nhớ ra nổi. 

      Ðành rú xe chạy vòng vòng. Những vườn cây Kim Long um tùm như rừng. Nàng chạy lung tung, hết đường này rẽ qua đường khác, lòng hoang mang bất định. Cuối cùng, không hiểu sao nàng ra được đến đường cái. Không lẽ vòng trở lại, nàng đành chạy chầm chậm về hướng phố. Gió từ bờ sông thổi vào lạnh. Bây giờ nàng mới nhớ ra nàng chỉ mặc một bộ đồ phong thanh. Trời mùa xuân nắng ráo, nhưng về chiều, vẫn còn ngây ngấy, phảng phất  cái rét kéo dài của mùa đông. Ðến gần cầu Sông Hương, nàng ngập ngừng một chút rồi quyết định chạy qua cầu. Mới có hai giờ rưởi. Nàng chạy thật nhanh trên đường Lê Lợi, hướng thẳng về phía ga. Ðến ga, nàng dừng xe ngay trước cửa, bước vào trong, nhìn quanh.   Không thấy ai quen. Cũng chẳng thấy gì. Lại trở ra, rú xe chạy tiếp. Ðến ngang nhà khách tỉnh, nàng càng bối rối hơn. Thấy một chiếc xe bán nước mía nằm phía bên kia đường, chênh chếch một chút về phía trên so với cái cổng chính vào nhà khách, nàng bèn vòng xe lại, ghé vào. Nàng ngồi xây mặt về phía ga, gọi ly nước mía.

      Thời gian lặng lẽ trôi qua. Nàng cố uống. Nhưng mùi nước mía nghe nhạt thếch. Ðầu óc rỗng không. Lòng cồn cào. Nàng bắt gặp chính nỗi sợ hãi của mình. Lâu lâu, nàng liếc nhìn cánh cổng nhà khách. Chẳng có gì. Tự dưng, nàng tuyệt vọng.  Thế thì về thôi. Nàng cố núc một hơi cho hết ly nước mía, đứng dậy trả tiền, lấy xe chạy như người mất hồn. Ði ngang trước cổng nhà khách, nàng rú thật nhanh. Ðang ngon trớn,  đột nhiên một chiếc xe con từ đâu phía sau vượt qua nàng, rồi chạy thật chậm trước đầu xe. Nàng bực mình, lách sang một bên, vượt lên. Khi qua khỏi chiếc xe, nàng nghe có tiếng ai gọi:

      –    Hạnh, Hạnh!

      Hình như giọng của Mười Giộc. Nàng tảng lờ, rú xe chạy nhanh hơn nữa, len lách qua nhiều hàng xe trước mặt, quẹo qua cầu, về nhà. Ðến trước cửa ngõ, nàng hồi hộp nhìn lui.  Ðường vắng tanh.

Hú hồn!

Chương 18

Dù sao, chuyện Mười Giộc ra làm ăn ở ngoài này cũng đem lại cho Hạnh nhiều hy vọng. Làm ăn với một công ty giàu có, lại là công ty nhà nước sẽ khiến cho Hạnh yên tâm hơn.  Khỏi lo sợ hàng bị mất, bị bắt. Khỏi chạy vạy phương tiện chuyên chở. Khỏi lo hàng đứng, hàng chạy. Khỏi lo cả vốn liếng nữa. Tuy ông ta có làm cho nàng bối rối thật đấy, nhưng nghĩ cho cùng, nàng tin là mình sẽ giải quyết êm đẹp. Lần gặp sau, nàng sẽ nói thẳng với ông ta về tình hình của nàng, về dư luận địa phương, về sự tôn trọng lẫn nhau cần thiết để cho mọi việc êm xuôi. Nàng sẽ nói cho ông ta biết rõ rằng những gì xảy ra đêm đó chỉ là chuyện qua đường. Một kỷ niệm vui. Một kỷ niệm văn nghệ. Hay nếu cần, nói thẳng cho ông ta hay, đó chỉ là một hình thức đổi chác không hơn không kém. Không có gì để phải vướng bận lẫn nhau.

      Vả lại, ở đây, có Lục. Nàng sẽ đi cùng với Lục khi có việc gì giao dịch với Mười Giộc. Hay tốt hơn hết, đẩy mọi chuyện cho chồng. Ðúng rồi, đang lúc Lục đang nảy ra ý định đi buôn, tại sao không kéo anh dính líu vào chuyện giao dịch với công ty mới này. Anh vừa giúp nàng vừa học hỏi, lại vừa làm cho có tiền. Cả hai vợ chồng cùng làm.

      Hạnh đem ý tưởng đó ra bàn với chồng. Nàng nói:

–     Anh này, nhân đám trong Nam ra làm ăn ngoài này, em nghĩ là mình nên kiếm một chỗ.

–     Anh không hiểu ý em. Kiếm một chỗ là thế nào?

      Hạnh thú nhận:

–     Em cũng chưa biết. Em chỉ đoán là họ lập trạm ở đây, họ cần phải có nhiều người địa phương hợp tác. Những người đó chắc chắn là phải rành về trầm, giỏi giao dịch.

      Lục cười:

–     Nói rành về trầm, với giỏi giao dịch thời buổi này thì không phải là ứng vào anh rồi, phải không?

–     Em nói chưa hết. Ngoài những người đó ra, thế nào họ cũng cần phải có người thư ký chẳng hạn, cần người thủ kho, cần người làm hàng vân vân. Ðây là em hình dung vậy.

–     Ðây là một công ty nhà nước, phải không?

–    Thì là nhà nước chứ ai nữa. Cái ông mình gặp hôm trước là Bí thư huyện ủy đấy. Chính em tận mắt thấy ông ta ký giấy tờ ở trong trụ sở Ủy ban nhân dân huyện à không…không phải, em nói lộn…ở trên trạm thu mua ở Gò Vấp. Ðó là nơi em đến bán hàng. Ông ta xởi lởi…lại rộng rãi nữa…à không, tính người Nam họ ít chi li như người Trung mình. Họ nhập hàng dễ lắm.

–    Vậy em muốn anh vô làm cho công ty chứ gì. Anh chắc chắn là họ không cần anh đâu. Mà lại, lý lịch của anh đâu có hay ho gì.

      Hạnh bực:

–    Thì em đã nói hết đâu. Chưa chi anh đã nói lui. Em bàn tới anh lại cứ bàn lui. Vậy chẳng phải anh thích có một cơ hội gì để làm ăn à? Giờ có cơ hội, anh lại lừng khừng.

–    Anh lừng khừng cái gì? Mình chưa rõ mô tê ất giáp gì cả, nghĩa là chẳng biết họ có thực muốn làm không, làm như thế nào, họ cần ai? Bỗng không, từ trong Nam ra, địa bàn của họ họ không làm, lại mò ra đây. Vậy chắc phải có chuyện gì đây.

–    Anh không nghe ông ta nói à? Ông ra Hà Nội gặp ông Thứ trưởng, rồi mới vào liên hệ địa phương. Người ta tốn công tốn tiền từ trong Nam ra đấy, đâu phải chuyện chơi.

      Lục cười:

–     Nói thật với em, thấy cái cung cách ông ta, anh có cảm tưởng như là một tay giang hồ nào đó, chứ không ra vẻ gì là một viên chức nhà nước đàng hoàng. Nhất định có cái gì không bình thường. Em có nghe ông ta nói không, ông phải chạy vạy cho khâu nào cũng thông. Thế nghĩa là thế nào?

      Hạnh kiên nhẫn:

–    Thì em bàn vậy thôi, chứ có phải dứt khoát là mình làm việc cho ông ta đâu. Em chỉ muốn tìm cho anh một chỗ…

      Lục xua tay:

–     Làm gì chứ làm với cái đám răng đen mã tấu đó, anh không mấy ưa. Nghe cái kiểu nói ngang ngang của đám cán bộ là anh đã dị ứng rồi. Dù sao, anh cũng là sĩ quan…

–     Thôi, thôi, anh làm ơn xin im cái miệng lại giùm em.  Ðừng có sĩ quan với không sĩ quan. Sĩ quan mà thua thì có khác gì, có khác gì…Mà lại, thời buổi này phải sống trước đã. Anh không muốn làm thì thôi, nhưng đừng có kỳ đà cản mũi.

*

      Tuần sau, Muời Giộc vào lại Huế và cho người qua nhắn Hạnh. Hạnh phân vân. Lục đã nói rồi, anh không chịu đi gặp. Mà đi một mình đến gặp ông ta tại khách sạn là điều nàng không muốn tí nào. Nàng bối rối, lừng khừng và nôn nao. Nửa muốn biết công việc làm ăn của công ty đến đâu rồi, nhưng nửa lại ngại ngần, vì chắc chắn là Mười Giộc sẽ hiểu lầm ý định của nàng. Nhưng bỏ qua một cơ hội như thế này thì quá uổng. Nàng ướm thử Lục một lần nữa. Lục nói, giọng cương quyết:

– Anh đã nói rồi, anh không thể thích nghi với cái giọng cán bộ. Mà chuyện làm ăn, anh chẳng rành. Có anh vào, càng thêm khó cho em, chứ ích gì.

Năn nỉ mãi không được, Hạnh đành phải tự quyết định. Thế là hôm sau, Hạnh đi. Dừng xe phía bên kia đường, nàng bảo Lục cùng vào, ngồi đợi nàng ở phòng khách, để nàng nói chuyện với tay giám đốc xong, thì chở nàng về. Nhưng Lục vẫn không chịu, nói vào đó, ngồi như thằng nhà quê mới lên phố, anh không thích, để anh đi vòng vòng chơi một hồi rồi quay trở lại, đợi ngoài đường. Hạnh bực tức, vùng vằng bỏ đi, lầm bầm đúng là anh chàng vô tích sự.

      Đã từng đi qua đi lại hàng bao nhiêu lần trước khách sạn này kể từ khi nó mới được xây dựng, nhưng lần đầu tiên bước vào đây như bước vào một thế giới khác. Nàng lúng túng bước đi trên cái hành lang láng bóng đầy ánh sáng từ ngoài hắt vào qua cửa kính và ánh đèn điện từ trên trần nhà đổ xuống. Nàng có cảm giác như những bước đi của nàng đều được mọi người thấy rõ. Ngồi ở quầy tiếp tân là một cô gái mà mới nhìn qua, nàng biết ngay là một phụ nữ chi viện từ ngoài Băc. Hỏi tên Mười Giộc, cô ta kiểm tra không thấy. Hỏi tên Công Ty Thu Mua Nông Lâm Sản, cũng không có. Cuối cùng, khi cô gái dò tên những người từ miền Tây đến đăng ký, mới hay Mười Giộc là ông Tâm, Hoàng Tâm, cái tên nàng nghe nhắc một vài lần mà quên mất.

      Cô gái nhìn bảng số phòng treo thật lớn ở vách tường bên cạnh, rồi gọi điện thoại lên phòng. Xong, cô nhìn Hạnh:

–    Ðồng chí cho tôi mượn “Chứng minh nhân dân”.

      Hạnh giật mình. Lại phải đưa “Chứng minh nhân dân” sao?  Nàng lúng túng, định từ chối. Nhưng nghĩ lại, đã vào đến đây mà không theo quy luật tại đây thì làm sao được. Rút lui cũng không xong. Nàng đành móc bóp, đưa “Chứng minh nhân dân” ra. Cô ta cầm lấy, nhìn mặt truớc mặt sau, rồi nhìn Hạnh nhiều lần. Hạnh hồi hộp chờ đợi. Nàng vừa sốt ruột vừa ngượng. Cô ta hỏi:

–     Ðồng chí vẫn còn ở địa chỉ này chứ?

–     Vâng.

–     Hình của đồng chí cũ quá, trông không khớp với người.  Có dịp đồng chí nên đi đổi lại giấy mới cho tiện. Chắc đồng chí cũng quan hệ với nhiều cơ quan, phải không?

      Hạnh gật đại cho xong chuyện. Cô gái chỉ tay về phía trong nói:

–     Ðồng chí theo cầu thang đàng kia lên tầng hai, ngồi đợi ở phòng khách, chỗ có bộ xa lông lớn.

      Hạnh thoát nợ, lí nhí cám ơn rồi vội vã đi nhanh tới phía cầu thang. Leo lên lầu đến chỗ phòng khách, nàng tần ngần không biết làm gì. Thấy sông nước chợ búa hiện ra ngoài khung cửa kính, nàng bước tới sát cửa đứng nhìn. Toàn cảnh chợ Ðông Ba trải dài phía bên kia, trông gọn gàng, nhỏ nhắn như một khu dân cư. Trên sông, thuyền đò lênh đênh, chập chùng. Bỗng có tiếng động sau lưng. Nàng giật mình quay lại.  Một người đàn bà đang bước lại gần, tay lắc lắc chùm chìa khóa kêu leng keng. Thấy Hạnh, chị ta dừng lại ngắm nghía một lát, rồi hỏi:

–     Có phải cô là người muốn gặp khách ở phòng 203 phải không?

      Nàng lúng túng, vì thật sự khi lên đây, nàng quên hỏi Mười Giộc ở phòng số mấy. Nàng nhìn người đàn bà, hỏi:

–     Chị phục vụ ở đây à? 

–     Không. Tôi hỏi lại, có phải cô muốn gặp khách ở phòng số 203 không?

–     Tôi muốn gặp ông Tâm, Công Ty Thu Mua Nông Lâm Sản Tân Hiệp.

      Người đàn bà cao giọng:

–     Ở đây không có ông Tâm nào của Công Ty Thu Mua Nông Lâm Sản cả. Chỉ có ông Tâm, Bí thư huyện ủy.

      Hạnh vui mừng:

–     Vâng, đúng là ông ấy, ông vừa là Bí thư huyện vừa là…là…

–     Không vừa là gì hết. Bí thư là Bí thư thôi.

      Nói xong, người đàn bà ngồi xuống ghế, đồng thời chỉ cái ghế đối diện:

      –     Cô ngồi xuống đó.

      Nàng lẳng lặng ngồi, nhìn thẳng vào người đàn bà. Chị ta mặc một bộ đồ màu xanh, vải láng bóng, ngang trước ngực có thêu hai bên hai bông hoa màu mè rực rỡ. Có lẽ vì thế mà bộ áo quần khá rộng so với khổ người. Không thấy ngực đâu cả.  Khuôn mặt ốm, dài, hai lưỡng quyền cao, đôi môi hơi thâm, khuôn mặt tai tái, dù có đánh phấn. Tóc bới ngược ra sau thành một lọn, để lộ hai đôi bông tai màu ngọc xanh, lủng lẳng.

      Chị ta đặt chùm chìa khóa trên mặt bàn, nhìn Hạnh, nghiêm giọng:

–     Cô đến quan hệ với ông Tâm có việc gì?

–     Việc làm ăn.

      Thấy chưa rõ ràng lắm, nàng nói thêm:

–     Việc làm ăn của Công Ty Thu Mua Nông Lâm Sản.

      Không lưu ý đến điều vừa nói, chị ta nhìn ngay mặt nàng, hỏi:

–     Cô quen với ông Tâm như thế nào?

      Hạnh bắt đầu thấy khó chịu vì cái lối hỏi đầy vẻ soi mói của người đàn bà. Nàng nhìn mặt chị ta, cố giữ giọng thật lịch sự, hỏi:

–     Xin lỗi, chị là nhân viên của công ty hay sao ạ?

      Giọng người đàn bà bỗng trở nên gay gắt:

–     Cô chưa trả lời câu hỏi của tôi. Cô quen với ông Tâm như thế nào?

      Nàng định trả lời đốp chác để đáp lại thái độ bất lịch sự của người đàn bà, thì bỗng nhiên trong đầu óc nàng lóe lên một ý nghĩ: hay bà này là vợ của ông Bí thư. Hạnh hỏi ngay:

–     Xin lỗi, có phải chị là vợ của ông Tâm?

      Người đàn bà cười khô khan:

–     Nếu là vợ thì sao?

      Hạnh gượng cười, che dấu vẻ bối rối:

–     Xin lỗi chị, em không rõ.

–    Không sao. Nào, cô có thể cho tôi biết, cô đến quan hệ với ông nhà tôi có việc gì?

–     Xin thưa rõ với chị, em là khách hàng của công ty. Em đã nhập một lô hàng cho Công ty ở Gò Vấp mấy tuần trước.  Em có gặp ông Bí thư ở Sài Gòn và ở đây.

      Người đàn bà ngắt ngang:

–     Cô có gặp ở đây?  Khi nào?

      Hạnh lúng túng thực sự, nhưng kịp thời trấn tĩnh:

–     Em thường hay nhập hàng cho Thương nghiệp thành phố Huế, nghe anh em bên đó báo có ông Bí thư ra, hai vợ chồng em có đến thăm ông ở nhà khách. Em giới thiệu ông xã em với ông Bí thư, để nếu công ty có hoạt động ngoài này, ông xã em có thể có một chỗ làm ăn. Còn em thì chạy ngoài.

      Người đàn bà gật gù:

–      Ra thế!

      Chị ta quan sát Hạnh một chút rồi hỏi tiếp:

–      Thế cô đã từng về Tân Hiệp chưa nhỉ?

      Hạnh làm ra vẻ ngạc nhiên:

–      Tân Hiệp? Tân Hiệp là đâu vậy chị?

      Người đàn bà cười:

–     Cô bảo là cô làm ăn với công ty mà cô không biết Tân Hiệp là thế nào.

      Thấy Hạnh có vẻ ngơ ngác, chị ta giải thích:

–     Tân Hiệp là tên huyện, là trụ sở của công ty đấy.

–     Em chỉ biết Gò Vấp.

–     Gò Vấp là nơi đặt chi nhánh, ta gọi là trạm đấy. Vậy cô vẫn thường đi hàng vào thành phố?

      Hạnh hỏi:

–     Dạ, thành phố nào ạ?

–     Thì thành phố Hồ Chí Minh chứ thành phố nào nữa.

      Hạnh cười xòa:

–     Tụi em quen gọi là Sài Gòn.

–     Ờ, thì Sài Gòn. Sài Gòn là tên cũ. Ta có tên mới rồi thì gọi tên mới cho tiện.

      Hạnh dè dặt hỏi:

–     Vậy thưa chị, ông nhà đi vắng ạ?

–     Vâng, ổng đi hoài. Mà này, cô là dân buôn phải không?

–      Dạ, em có đi buôn, nhưng mà, nhưng mà…

–      Ði buôn thì gọi là đi buôn chứ nhưng mà gì nữa. Vùng tôi cũng có nhiều cô nhiều bà đi buôn, nhất là cái đám vợ con ngụy quân ngụy quyền. Họ chẳng ưa đi lao động sản xuất tí nào. Trước giải phóng cô phục vụ ở cơ quan nào của Mỹ Ngụy?

–      Dạ, em làm ở Nông Nghiệp.

–      Còn chồng?

–      Ði dạy.

      Người đàn bà gục gặc đầu, thỉnh thoảng cúi về phía trước, rồi lại ưỡn người ra phía sau. Ðôi mắt luôn nhìn thẳng vào Hạnh như muốn hiểu thật rõ Hạnh là hạng người nào. Hiếm khi chị ta cười. Chỉ thỉnh thoảng mới thấy chị ta nhếch môi để lộ mấy cái răng hơi vẩu, có vết thâm đen giữa các kẽ răng.

      Thấy ngồi lâu với người đàn bà này cũng chẳng ích gì, Hạnh tìm cách cáo từ. Nàng đứng dậy. Người đàn bà hỏi ngay:

–      Cô đi đâu?

–      Em về. Em có chút việc phải sang chợ.

–      Thế gọi là chạy chợ đấy nhỉ.

–      Không ạ. Em đi chợ mua đồ ăn.

      Người đàn bà nhìn lên:

–      Này, cô ngồi xuống đây.

–      Thôi, em phải về. Cám ơn chị, em về.

–      Cô ngồi lại, tôi có chút chuyện muốn bàn.

      Hạnh bực mình, nói xẵng:

–      Không được đâu, chị.

      Thấy Hạnh có vẻ cương quyết, người đàn bà bèn đứng dậy:

–      Không thích ở lại thì thôi.

      Nhìn Hạnh từ đầu đến chân, giọng chị ta đột ngột đanh lại:

      –    Tôi nói cho cô hay, ông Tâm nhà tôi không có làm thu nhập thu nhiếc gì cả. Ảnh chỉ lo chỉ đạo thôi. Ảnh có trăm công ngàn việc phải lo, việc huyện bề bộn lắm, không hơi đâu cáng đáng thêm việc buôn bán linh tinh. Cái công ty đó ảnh giao cho chú Tư Mau lo rồi. Cần liên hệ gì với công ty là liên hệ với chú Tư Mau.

      Ngừng một lát, chị ta nhìn Hạnh cười:

–    Ảnh hay quan hệ linh tinh lắm. Công tác thì tốt thôi, nhưng ưa quan hệ linh tinh lắm. Cô hiểu rõ chứ.

      Hạnh bật cười:

–    Em không hiểu. Có phải là quan hệ làm ăn với các cơ quan xí nghiệp không ạ?

–    Quan hệ với cơ quan xí nghiệp thì nói làm gì. Quan hệ linh tinh là ưa bao gái ấy, cô rõ chưa. Ði đâu ảnh cũng ưa lăng nhăng với mấy con đĩ ngựa. Mà cũng chỉ tại vì mấy con đĩ ngựa ấy, đi đâu chúng nó cũng bám theo y như là…y như là…

      Giọng chị ta đột ngột nghe như rít lên qua kẽ răng:

–     Tôi mà bắt được con nào thì …thì …phải biết mặt con Út Vực này.

Hạnh ra về mà như chạy trốn. Phải chi có Lục?

Nàng giận mình. Giận Lục. Và giận cả cuộc đời.

Chương 19

Có những cuộc gặp gỡ bắt đầu từ những chi tiết tình cờ.  Ðôi khi đó là những chi tiết thật nhỏ, thật vô nghĩa, thật phù du, tưởng chừng như chẳng hề có một chút dính dáng gì đến những bất trắc, vinh nhục của mỗi một đời người. Hôm đó, trời đột ngột đổ cơn mưa, khiến Hồng phải dọn hàng sớm. Nàng trùm vội chiếc áo mưa dã chiến, thu dọn hết đồ đạc vào trong cái xách, cột cái bàn đã xếp lại sau poóc-ba-ga xe đạp, chuẩn bị về. Nàng đợi ngớt xe để băng qua đường. Từ bên kia đường, một chiếc xe bộ đội chạy lại, chiếu hai ngọn đèn pha sáng rực về phía nàng. Nàng chói mắt, nhìn sang một bên để tránh. Chợt thấy trên chiếc ghế đá hư hỏng cách chỗ nàng ngồi bán thuốc lẻ khá xa, một thân hình người nằm vắt vẻo. Ai thế nhỉ? Chắc là một kẻ ăn mày. Chiếc xe chạy qua. Cả khu công viên chìm vào bóng tối. Mưa nặng hột dần.  Không suy nghĩ lâu lắc, Hồng dựng vội chiếc xe bên gốc cây, kéo tấm ni lông chạy lại. Một người đàn ông nằm đó. Nàng trùm vội tấm ni lông lên, cẩn thận nhét hai bên, sợ gió thổi bay đi mất. Mùi rượu nồng bốc lên khiến nàng lợm giọng, bước lùi lại. Người đàn ông dường như không hay biết gì, vẫn đắm chìm trong cơn say.

      Sáng hôm sau, khi Hồng đang lúi húi bày hàng ra bán thì nghe một giọng đàn ông hỏi:

–     Chị cho tôi hỏi…

      Hồng ngẩng đầu lên nhìn, thấy một thanh niên đang cầm tấm ni lông. Anh ta hỏi:

–     Có phải tấm ni lông này của chị không?

      Nàng gật đầu, lúng túng vì không biết phải xưng hô kiểu nào với người thanh niên trước mặt. Nàng nói trổng:

–     Có phải là người…nằm trên chiếc ghế kia hồi hôm không?

      Thanh niên nhếch mép cười, chòm râu lởm chởm trên mép động đậy:

–     Ðúng! Thằng này mà còn có kẻ quan tâm thì thật là chuyện lạ.

      Hồng hơi phật ý khi nghe cái giọng đầy vẻ khinh bạc, bất cần đời của thanh niên. Nàng im lặng bày bàn, dựng ghế, lấy thuốc, kẹo, bánh, hộp quẹt ga, đậu phụng da cá…bày lên trên.  Thanh niên theo dõi nàng làm việc, không nói gì. Khi thấy Hồng xong việc, thanh niên nói:

–     Cám ơn chị đã cho tôi mượn tấm ni lông. Nhờ vậy mà tôi ngủ qua đêm. Tôi trên Thuận, ba mươi hai tuổi.

      Nghe thanh niên tự nhiên khai tên khai tuổi, nàng cười thầm trong bụng, nhưng đồng thời cũng nghĩ ra cách xưng hô hợp lý:

–     Vậy là Thuận trẻ hơn tôi…à hơn Hồng à…hơn chị bốn tuổi.

–     Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ.

–     Ờ…đúng thế. Thuận có hút thuốc không?

–     Sao lại không? Một điếu đi.

–     Ðà Lạt hay Hoa Mai hay Ðồ Sơn?

–     Một điếu “No Một” [1] đi.

      Thuận rút mấy đồng bạc lẻ nhầu nát ra trả. Hồng xua tay:

–     Thôi được. Chị mời Thuận.

      Thuận châm điếu thuốc, hít một hơi, xong nói “cám ơn” và bỏ đi.

      Từ đó, Thuận trở thành khách hàng thường xuyên của Hồng. Ngày nào, anh ta cũng ghé lại sạp thuốc lẻ của Hồng, khi thì mua gói Ðà Lạt, khi thì mua điếu thuốc ngoại “No Một” hay Samit, khi thì gói đậu phụng, khi thì cái kẹo. Tuy không dị ứng lắm, nhưng Hồng cố giữ một khoảng cách khá xa với người thanh niên này. Phải nói là nàng vừa thương hại vừa sợ.  Toàn bộ dáng ấp cử chỉ, lời ăn tiếng nói của anh ta toát ra cái chất du thủ du thực thứ thiệt, không giấu giếm. Có thể còn hơn thế nữa. Dường như anh ta cũng cố tỏ ra như vậy. Thân hình to, cao. Khuôn mặt sần sùi, lồi lõm có lẽ vì mụn quá nhiều thời mới lớn. Cằm bạnh, lông mày rậm, xếch ngược. Ðã thế, Thuận lại để hàm râu trên lởm chởm, sợi dài sợi ngắn không đều, có sợi cong xuống tận môi. Nhìn bộ râu, Hồng rùng mình khi nghĩ đến đồ ăn dính vào đó mỗi khi ăn. Hôi hám biết bao! Giọng nói ồm ồm, cộc lốc. Cách ăn mặc rất bụi. Đúng ra, phải nói là nhớp, bẩn.

       Một hôm Hồng hỏi:

–     Thuận làm gì, ở đâu?

–     Thợ đụng.

–     Sao lại gọi là thợ đụng?

–     Nghĩa là đụng đâu làm đó. Từ lơ xe đến bốc vác, chạy cò, chở thuê và đâm thuê chém mướn. Ai thuê gì, làm nấy.

      Lần khác, nàng hỏi:

–     Thuận ở đâu nhỉ?

–     Bạch Ðằng.

–     Mô có xa nhà chị. Vậy sao chị không hề biết hè.

–     Hạng người như Hồng (Thuận xưng tên Hồng chứ không xưng chị từ lúc nào mà nàng cũng chẳng để ý) làm gì mà biết đến tôi, thằng Thuận du đãng này.

      Hồng nhăn mặt, làm ra vẻ giận:

–     Thuận đừng nói thế. Thuận có biết chị phải không?

–     Biết. Sơ sơ.

      Ðại loại như thế. Cứ mỗi lần Thuận ghé là có một cuộc đối thoại ngắn gọn. Hồng không muốn hỏi thêm. Thuận cũng chẳng muốn nói thêm. Nhưng lượng thông tin ít ỏi hàng ngày đó chồng chất lên giúp Hồng hình dung ra được lai lịch của người khách hàng khá đặc biệt này. Trước năm 1975, Thuận trốn lính, nhờ ba Thuận có quen lớn. Sở dĩ thế là vì nghề của ông ta là nghề chứa bạc cho các quan lớn tới giải trí hàng tuần.  Sau giải phóng, nhà cửa bị tịch thu. Anh ta lang thang kiếm ăn khắp nơi từ Ðà Nẵng đến Sài Gòn, có khi ra tận ga Vinh. Lấy vợ. Có hai đứa con. Vợ chồng gây gổ, Thuận bỏ đi. Vợ con vượt biên lọt, qua định cư ở một nước nào đó, bặt tin. Thuận cũng tìm cách vượt biên, nhưng thất bại. Lại trở thành kẻ lang thang, không nhà không cửa, không vợ con. Tay làm hàm nhai.

      Một hôm, trời mưa rả rích suốt ngày. Hồng lại cảm. Nàng quyết định nghỉ ở nhà một bữa. Nàng nằm đọc sách, thú vị lắng nghe tiếng mưa rơi êm đềm trên mái tôn. Bỗng có tiếng gõ cửa. Hồng ra mở. Cửa vừa hé, một người đàn ông cao lớn tuôn vội vào. Nàng giật nẩy mình, kinh hoảng lùi vào trong.  Hóa ra là Thuận. Áo quần anh ta ướt đẫm. Ðầu tóc ướt nước, rũ rượi. Nước nhỏ giọt ròng ròng xuống nền nhà. Thuận dợm chân bước lui. Hồng hỏi:

–    Trời ơi, làm gì mà Thuận đội mưa đi ướt dữ vậy? Áo mưa đâu? Làm sao mà biết nhà đây?

–    Không sao. Mưa mát.

–     Hay vào trong này lau nước đi đã. Có việc gì không?

      Hồng dẫn Thuận xuống nhà sau, đưa khăn cho anh ta bảo lau đi. Lau xong, Thuận trở lại phòng khách. Hồng chỉ ghế bảo anh ta ngồi, nhưng Thuận lắc đầu:

–     Không. Ướt thế này không ngồi được. Cho điếu thuốc đi.

Hồng vội lấy cho anh ta điếu thuốc.

–    Có lạnh không? Hồng hỏi lại.

–     Ðã nói là không lạnh mà.

      Anh ta châm thuốc, thân hình run run. Hồng nói:

–    Người run vậy mà bảo không lạnh.

–          Nhằm nhò gì!

–          Thuận đi đâu vậy?

–          Mua thuốc chứ đi đâu nữa.

      Hồng la lên:

–     Ði mua thuốc? Cái ông này kỳ thật. Thuốc thì ở đâu không có lại phải tìm về đây. Ðừng xạo. Có chuyện gì cần không?

      Thuận cười rổn rảng:

–      Thuốc của Hồng ngon hơn.

      –      Lại xạo nữa. Thuốc đâu cũng là thuốc.

–      Thuốc Hồng có mùi gì đặc biệt, hút một lần là ưng hút mãi.

      Hồng đưa tay véo anh ta một cái vào vai:

–     Chị không ưa cái kiểu nói xạo đó nghe.

–     Tôi nói thật. Thuốc Hồng có mùi gì đặc biệt, chỗ khác không có. 

      Tự nhiên nàng cảm thấy thú. Thuận rít liên tiếp mấy hơi liền, nói:

–     Ðã thật!

      Nhìn Hồng, anh ta nhận xét:

–     Hồng đẹp như một con mèo nhỏ.

      Hồng co người lại, hai bàn tay chắp lại giữa hai đầu gối, cười khanh khách:

–     Tầm bậy! Ðẹp như một con mèo thì đẹp gì.

      Hồng nghiêng đầu qua lại, nhìn Thuận:

–     Thuận thì giống…giống cái gì nhỉ…đúng rồi, giống một con cọp lớn.

      Thuận cười thoải mái, rít một hơi thuốc nữa rồi khoanh tay nhìn Hồng:

–     Một con cọp lớn. Nghe cũng được. Con cọp sẵn sàng vồ mồi, đúng không?

      Nói xong, Thuận dang hai tay ra, khuỳnh lại, bước tới phía Hồng làm như sắp ôm choàng lấy thân hình mảnh mai của nàng. Hồng sợ hãi nép mình sát vào ghế, xoay một bên vai ra ngoài trong một tư thế tự vệ rất thụ động. Thuận bỏ tay xuống, cười vang:

–     Tưởng con cọp vồ thật à? Không đâu. Vồ mồi cũng đợi lúc. Thôi, tôi đi đây.

      Hồng nhỏm dậy:

–     Ði à?  Ướt thế kia mà đi đâu. Trời còn mưa mà.

–     Nhằm nhò gì.

      Vừa nói Thuận vừa quay lưng bước ra cửa. Bóng dáng cao lớn của anh ta gần như choáng hết khung cửa nhỏ, tạo nên một khoảng tối ngay lối vào. Ra khỏi cửa, Thuận quay lại, nói “cám ơn” và đi mất. Hồng chạy đến cửa nhìn ra đường, thấy Thuận bước đi mạnh khỏe dưới cơn mưa. Nàng khép cửa lại, mỉm cười vu vơ.

*

      Khuya. Hồng đang dọn dẹp đồ đạc để về như thường lệ, thì Thuận không biết từ đâu, đạp xe tới. Sau khi mua điếu thuốc, anh ta nói:

–     Ðêm nay dọn sớm hơn thường lệ năm phút. Sao vậy?

–     Mình cảm thấy mệt trong người.

–     Mệt thì về thôi.

      Rít xong hơi thuốc, Thuận nhìn ngay mặt Hồng:

–     Chốc nữa, tôi sẽ về nhà Hồng.

–     Tầm bậy! Ai cho Thuận vào nhà giờ này.

–     Không cho cũng vào.

      Thuận đạp xe đi. Hồng nhìn theo, cảm thấy da thịt rờn rợn.  Một cảm giác kỳ lạ chạy khắp cơ thể khiến nàng bất giác sợ hãi. Trên đường về, nàng cố đạp thật nhanh. Ðến nhà, nhìn quanh nhìn quất không thấy ai, nàng mở cửa dắt vội xe vào nhà. Khi vừa đưa tay khép cửa thì một bàn tay chận lại. Thuận từ bên ngoài lướt vào như một cơn gió. Anh ta khép cửa, nói:

–      Bật đèn lên!

      Hồng khiếp đảm, run rẩy tìm cái nút, bật đèn. Ðiện cúp.  Nàng lần mò tìm cây đèn, thắp lên. Nàng thấy Thuận đứng dựa lưng vào cửa, hai tay vòng trước ngực, nhìn nàng, mỉm cười. Trong ánh sáng mờ ảo, lập lòe, Thuận đứng đó trông chẳng khác gì một hung thần. Nàng bước giật lùi. Nàng muốn nói, muốn la lên, nhưng không được, cứ đứng nhìn sững Thuận không chớp. Mãi vài phút sau, khi thấy Thuận vẫn đứng yên một chỗ, chưa tỏ ra có hành động gì ẩu tả, đôi mắt lại chứa đựng một tia nhìn có vẻ giễu cợt, Hồng cảm thấy bình tĩnh lại.  Thuận nhếch môi cười:

–     Ðừng sợ, con mèo nhỏ. Ðây không phải là kẻ cướp. Chỉ là một con cọp trong sở thú.

      Thuận rút ra một điếu thuốc từ trong túi, châm hút.

–     Mấy đứa nhỏ đâu?

–     Chắc ngủ cả. Hồng đáp nhỏ nghe như hơi thở nhẹ.  Nàng nhìn quanh cố tìm một cái gì để chống đỡ với nỗi sợ hãi và bất lực của mình. Nhưng vô ích. Chẳng có gì.

      Hút xong điều thuốc, Thuận ném tàn xuống nền nhà, dùng ngón chân chà nát. Anh nhìn Hồng tủm tỉm:

–     Tôi về.  Ngủ đi, con mèo nhỏ.

*

      Bẵng đi mấy hôm, không thấy Thuận ghé lại sạp. Hồng ngong ngóng. Thỉnh thoảng, nàng nhìn xuôi nhìn ngược. À, té ra mình đang tìm bóng dáng của anh ta. Chợt cảm thấy ngượng nghịu với chính mình.

      Tối đó, anh ta ghé lại. Không nói gì, chỉ nhìn Hồng. Lại cười tủm tỉm. Như đêm nọ. Hàm râu trên động đậy trông ngộ nghĩnh như một tay làm xiếc. Hồng che tay lên ngực mình, nói:

–     Thuận làm mình sợ quá!

–     Ðừng sợ. Sẽ ghé nữa. Khuya nay, chưa biết chừng.

–     Ðừng, Thuận. Không nên chút nào. Ðừng làm mình sợ.

      Thuận im lặng, bỏ đi.

      Ðến khuya, Hồng dẹp hàng sớm, về nhà đóng cửa thật kỹ.  Nàng nằm trên giường thao thức, lắng nghe, chờ đợi. Hồi lâu, không thấy gì, nàng thiếp ngủ. Trong cơn mơ màng, nàng nghe tiếng gõ cửa. Nàng vùng dậy, nghe ngóng, rồi bước ra phía cửa, lắng nghe động tĩnh. Tiếng gõ lại vang lên. Nàng hồi hộp hỏi nhỏ:

–    Ai?

–    Thuận. Thích thì mở mà không thì thôi, tôi đi.

      Hồng đứng thừ người ra suy nghĩ. Một lúc lâu sau, nàng thở dài, nói nhỏ:

–     Thôi, Thuận về đi.

      Không nghe tiếng trả lời. Nàng áp tai vào cửa, lắng nghe.  Bên ngoài hoàn toàn im lặng. Chắc anh ta đã bỏ đi. Thế thì tốt.  Nàng tháo chốt, hé cửa nhìn ra ngoài. Bỗng Thuận từ đâu không biết lách vào chẳng khác gì một cơn gió mạnh. Hồng chưa kịp phản ứng thì hai vòng tay anh ta đã ôm xiết lấy nàng như hai gọng kìm, nâng lên. Con mèo nhỏ la ú ớ. Tiếng Thuận thì thào:

–     Ðừng sợ, con mèo nhỏ.

      Hồng vùng vẫy, cấu xé dữ. Mặc! Thuận ôm xốc nàng đi vào, lần mò trong bóng tối tìm chiếc ghế. Anh để nàng xuống, hai tay mạnh mẽ bứt nút áo. Tiếng Hồng nghe đứt quãng:

–      Thuận, Thuận, đừng, đừng, Thuận.

      Thuận bịt miệng nàng lại. Nàng ú ớ một lát rồi im bặt.  Sau đó, nàng kêu tên Thuận nhiều lần. Trong bóng tối, tiếng kêu lúc nhỏ lúc lớn rơi tản mác trong một đêm mùa thu lặng lẽ.

*

      Không lâu sau đó, con cọp lớn về ở với con mèo nhỏ.

      Một cuộc tình? Có lẽ là không. Trong thâm tâm, Hồng chẳng thấy mình có chút gì gọi là tình yêu với Thuận. Nàng cần Thuận hơn là tình yêu. Không tỏ tình. Không hẹn hò.  Không có những chiều sóng đôi lãng đãng ngoài công viên, dọc bờ sông. Không có những giòng thư tình chan chứa nỗi niềm. Không có chiều vàng, nắng thu hay chiếc lá rơi âm thầm bên hiên. Không có những nhớ nhung khắc khoải, những đợi chờ mềm cả trái tim.

      Chỉ là những đối thoại ngắn ngủi. Những ôm. Những xiết chặc. Những bồng ẵm. Những hùng hổ, ham hố, cuồng bạo.  Không trau chuốt, sửa soạn, dò dẫm. Không trung gian. Không màu mè. Gọn. Khỏe. Lập tức. Trong những giây phút đó, Thuận như một con thú say mồi. Một tên lính lê dương. Toàn bộ bản năng của anh ta bộc lộ. Nó hữu hiệu, tràn trề, tự nhiên.  Luôn luôn là một cuộc hiếp dâm không hơn không kém. Mọi nơi. Ðâu cũng có thể là chỗ của Thuận. Giường. Bàn. Ghế.  Trên sàn nhà. Trong phòng tắm. Ngoài sân sau. Khi đang làm bếp.  Khi rửa chén. Khuya, sáng, trưa, chiều, tối. Anh ta hâm nóng căn nhà từ lâu vốn lặng lẽ, buồn nản. Anh ta đẩy nàng lặn sâu xuống một biển cuồng điên chất ngất. Cuộc sống của nàng bị bật tung ra, tuênh toang, hừng hực. Nàng không kịp ghê tởm, không kịp suy gẫm, không kịp phản ứng. Cho đến một lúc, bỗng nhiên nàng tìm thấy có cái gì nồng nàn trong sự hung bạo, có cái gì thiết tha trong cơn dã man, có cái gì phấn khích trong sự thô bỉ, tục tằn. Nàng khám phá ra một con người khác trong mình. Một phía khác của đời sống. Sức mạnh dã thú của Thuận đánh thức con dã thú trong nàng sống dậy. Như triều dâng thác đổ. Mãnh liệt. Tàn bạo. Trần trụi. Nàng cắn.  Nàng bấu xé, hành hạ Thuận không thương tiếc. 

      Ngẫm nghĩ  lại những ngày yêu nhau và những tháng ngày chung sống với Thiết, nàng kinh ngạc nhận thấy hai cuộc sống khác xa nhau ghê gớm. Một bên thì chừng mực, từ tốn. Một bên thì cuồng bạo, bứt phá. Một bên thì sống trong bóng sắc của chữ nghĩa, lãng mạn, đạo lý, danh tiếng. Một bên thì sống đến tận cùng ham muốn. Những ngày yêu Thiết, sống với Thiết đẹp thật, lãng mạn thật, nhưng dường như có gì không thật, không đủ. Sau 1975, mọi sự càng rối rắm hơn. Trong cơn lốc lịch sử, cả nàng cả Thiết đều mất đất đứng, trở thành mong manh, chới với. Cả hai tuyệt vọng lẫn nhau, đưa đến sự đỗ vỡ của một cuộc tình thuộc loại đẹp nhất thành phố. Trong thời buổi mà những chất thơ không còn cơ sở để tồn tại, đường phố chỉ dành cho khẩu hiệu, buôn bán trở thành gian dối, vô đạo đức, học thức trở thành phù phiếm và lãng mạn trở thành xa xỉ, quả thật Thuận là một lá chắn hữu hiệu. Qua Thuận, nàng có một chỗ để vịn, để đứng trong khi toàn thể xã hội chòng chành, chao đảo. Thế thì đã sao!

      Ðó là tất cả sức mạnh giúp nàng đương đầu với dư luận xã hội, với gia đình. Lúc đầu, đi với Thuận ra ngoài, nàng tưởng tượng cả rừng mắt vây quanh đàm tiếu, chưởi rủa. Nàng bối rối, ngượng ngập như bị bắt quả tang đang làm một điều gì xấu xa. Nhiều lần, nàng tủi nhục, chán nản. Nhưng tự nhủ lòng: phải tập cho người ta quen. Và người ta quen thật. Cặp Hồng-Thuận trở thành bình thường trong cuộc sống như những người miền Nam quen dần với màu áo công an và lá cờ đỏ sao vàng.

      Cuối cùng, Hồng hiên ngang, đĩnh đạc và kiêu hãnh đi bên cạnh Thuận như ngày nào mười bảy năm về trước, nàng đã hiên ngang, đĩnh đạc, kiêu hãnh và hạnh phúc khi đi bên cạnh Thiết trước con mắt ngưỡng mộ, thèm muốn của mọi người. 

      Giữa chàng thư sinh Thiết và Thuận đứng bến, nào có gì khác nhau?

T.D.N.

­­_______________________________

[1] “N0. 1” Một loại thuốc sản xuất tại Lào

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 11 Aug 2024

Google photo

Bài 8

Đội đặc nhiệm SEAL số 6

Chúng tôi bước vào huấn luyện ở đội Em út Xanh lục. Đây là khóa tuyển chọn vào Đội số 6. Sau khóa huấn luyện, một số người sẽ bị loại. Đa số chúng tôi đều đã ở tuổi ba mươi. Khi đó, tôi vừa tròn ba mươi tuổi. Các huấn luyện viên bấm thời gian ghi thành tích chạy và bơi của chúng tôi. Chúng tôi thực hành huấn luyện tác chiến trên bộ, nhảy dù và lặn. Tất cả các khoa mục này đều ở mức độ khó hơn trước. Chẳng hạn, với khoa mục nhảy dù, chúng tôi phải thực hiện khoảng 150 lần nhảy trong bốn tuần, gồm các nội dung: rơi tự do, mở dù ở độ cao thấp (HAHO), nhảy dù xếp chồng… Chương trình huấn luyện của chúng tôi còn có các nội dung: trèo bằng tay không, chiến đấu tay bo, lái xe phòng thủ và tấn công, nội dung học cách tồn tại, lẩn trốn, rèn luyện khả năng chịu đựng và tẩu thoát (SERE). Mặc dù chúng tôi dành khá ít thời gian học các kỹ năng như làm thế nào để đột nhập vào ô tô và khởi động động cơ chỉ bằng một chiếc tuốc nơ vít nhưng chúng tôi lại dành khá nhiều thời gian học cách điều khiển xe và bắn súng trong quá trình xe chạy. Các huấn luyện viên sẽ đánh giá và xếp hạng mỗi nội dung huấn luyện. Cuối cùng là đưa ra tổng số điểm và thứ hạng của mỗi cá nhân.

Với tôi, dễ nhất là khóa huấn luyện vượt vật cản, còn khó nhất là khóa huấn luyện cận chiến trong thành phố do huấn luyện viên John Shaw phụ trách. Không chỉ dừng ở việc học cách mở khóa, chúng tôi còn phải học cách phá các bản lề cửa. Mỗi ngày, số lượng đạn chúng tôi tập bắn lên tới hàng nghìn viên. Theo tôi biết, chỉ riêng số tiền mua đạn loại 9 ly dành cho Đội đặc nhiệm SEAL số 6 hàng năm còn nhiều hơn số tiền mua đạn dành cho toàn bộ Lực lượng lính thủy đánh bộ cộng lại.

Tôi trải qua khóa huấn luyện cận chiến trong thành phố ở một cấp độ khó hơn rất nhiều so với trước đó. Mặc dù đã là thành viên của đặc nhiệm SEAL nhưng tôi không áp dụng được nhiều kiến thức đã học trước đó. Trong một bài huấn luyện, chúng tôi phải đột nhập vào một căn phòng, bắn đón đầu mục tiêu, vừa di chuyển zíc zắc vừa bắn, chạy nước rút và bắn hạ mục tiêu cản đường. Các huấn luyện viên liên tục thay đổi cấu trúc của căn phòng. Khi thì là phòng lớn, lúc lại phòng bé; khi là phòng hình vuông, lúc lại hình tam giác và bố trí địch ta lẫn lộn. Thậm chí họ còn thay đổi cả nội thất của căn phòng. Chúng tôi luôn luôn phải cẩn thận và tỉ mỉ. Kết thúc khóa huấn luyện, các huấn luyện viên cho chúng tôi xem lại đoạn ghi hình của mỗi học viên.

Tôi luôn sát cánh bên cạnh Bobby Z, một chàng trai cao lớn có mái tóc màu đồng. Đôi khi, chúng tôi gần nhau đến mức tôi cảm nhận được cả luồng gió phát ra từ nòng súng của Bobby Z thổi vào tóc tôi mỗi khi bắn. Chúng tôi đã tạo ra khoảng cách rất lớn với những người còn lại. Sau khi xem lại đoạn ghi hình, chúng tôi thấy cả Bobby và tôi đều không giảm tốc độ khi bắn chạy đổi bên. Đa số mọi người đều di chuyển chậm lại để đón đầu mục tiêu nhưng chúng tôi thì không. Trong nội dung chạy và bơi, Bobby về đích ngay sau tôi. Trong khóa huấn luyện tại Đội Em út Xanh lục, Bobby và tôi luôn thay nhau dẫn đầu. Kết thúc khóa huấn luyện, tôi xếp vị trí thứ hai. Khi chúng tôi ở trường bắn của John Shaw, một số thành viên của đội Anh cả Đỏ, đội Anh hai Vàng và Đội Anh ba Xanh của Đội đặc nhiệm SEAL số 6 đến xem chúng tôi tập. Lính SEAL liên tục phải hoạt động trong môi trường nguy hiểm, nhưng Đội đặc nhiệm SEAL số 6 còn hoạt động trong môi trường nguy hiểm hơn nhiều. Năm đầu tiên sau khi thành lập Đội số 6, trong quá trình huấn luyện khoa mục cận chiến trong thành phố, một thành viên của đội đã vô tình bóp cò và trúng vào lưng Roger Cheuy. Sau đó, Cheuy chết trong bệnh viện do nhiễm khuẩn cầu chùm, loại khuẩn tạo ra các độc tố giống với những độc tố có trong những người bị ngộ độc thực phẩm. Thành viên này không chỉ bị đuổi khỏi Đội số 6 mà còn bị đuổi khỏi SEAL. Trong một sự cố khác, cũng trong quá trình huấn luyện khoa mục cận chiến trong thành phố, một viên đạn xuyên qua vách ngăn của nhà tập bắn và trúng vào chỗ nối trong chiếc áo chống đạn của Rich Horn. Viên đạn đã giết chết Horn. Trong một tai nạn ở mục nhảy dù, Gary Hershey cũng đã thiệt mạng.

Google photo

Sau sáu tháng huấn luyện, khoảng bốn đến năm người bị loại trong tổng số ba mươi người tham gia. Mặc dù chúng tôi bị một số chấn thương, nhưng không ai thiệt mạng cả. Đội Anh cả Đỏ nhặt tôi ngay từ vòng đầu. Logo của Đội Anh cả Đỏ là hình một người Mỹ da đỏ. Một số nhà hoạt động xã hội coi logo này là hình ảnh xúc phạm nước Mỹ. Nhưng căn nguyên của việc lựa chọn logo này là biểu lộ ý muốn mọi người trong đội phát huy lòng gan dạ và kỹ năng chiến đấu của những người Mỹ da đỏ.

Bây giờ tôi là người của một tổ chức bình phong có cấp trên, có địa chỉ và có cả trợ lý trả lời điện thoại. Khi điền những thông tin để xin cấp thẻ tín dụng, tôi không thể công khai với họ tôi làm việc cho Đội đặc nhiệm SEAL số 6. Thay vào đó, tôi phải cung cấp cho họ thông tin về tổ chức bình phong của mình. Khi công tác, tôi phải mặc quần áo dân sự thay vì quân phục. Từ “Đội đặc nhiệm SEAL số 6” không còn được nhắc đến nữa. Ngay cả sau khi hoàn thành khóa huấn luyện có quân xanh và được nhận vào Đội số 6, chúng tôi vẫn tiếp tục trau dồi kỹ năng bắn súng tại Học viện Bắn súng tự vệ Mid South ở Mississippi do John Shaw huấn luyện. Trường bắn ở đây rất rộng, các mục tiêu ở cả bên trái, bên phải, có mục tiêu ẩn hiện và nhiều loại mục tiêu khác nữa. Tám chúng tôi rời Đội Anh cả Đỏ đến đó huấn luyện. Đêm thứ Sáu, đêm đầu tiên ở đó, cả tám chúng tôi rủ nhau đến câu lạc bộ thoát y bên kia sông ở Tennessee để xem biểu diễn. Chúng tôi có lái xe riêng. Người lái xe này không phải là người của SEAL, vóc dáng thấp bé và rất thích nghe đài phát thanh. Anh ta tên là Willie nhưng chúng tôi đùa vui gọi anh ta là Wee Wee. Anh ta thích đọc mọi thứ nhưng lại là người ít nói. Wee Wee không vào trong với chúng tôi mà ngồi trong xe đọc sách đợi ở bên ngoài. Chiếc xe tải nhỏ chở chúng tôi có màu đen và các cánh cửa cũng màu đen. Chiếc xe mang biển số của Virginia và các nhíp xe vừa được thay mới. Ghế ngồi được lắp theo yêu cầu của khách hàng, đủ thoải mái cho tám người ngồi.

Google photo

Đội số 6 thường đi những chiếc xe có cửa kính chống đạn, có khả năng chạy khi bánh xe hết hơi, có lắp đèn và còi hú của cảnh sát và có các ngăn đựng vũ khí trong xe. Tuy nhiên, chiếc xe này chỉ đơn thuần là một chiếc xe tải chở người và thiết bị ở Mỹ. Sau khi rời khỏi quán, Wee Wee lái xe đưa chúng tôi về.

Tại một cột đèn giao thông, ba tên đi chiếc xe con bốn bánh, hai ống xả dừng ngay cạnh xe chúng tôi. Chúng thấy Wee Wee đeo kính Clark Kent khi anh kéo cửa kính xuống nhưng lại không nhìn thấy tám chúng tôi ngồi trong xe. Một trong ba tên gào lên: “Này tên khốn da đỏ. Lái xe về nhà ngay! Đừng bao giờ lái chiếc xe mang biển số của Virginia, cái bang chết tiệt đã từng gây chiến với các bang miền Nam trong cuộc Nội chiến. Đây là vùng đất của Tướng Robert E. Lee”.

Một người trong nhóm chúng tôi hét to: “Mẹ kiếp, bọn khốn này!”

Đèn giao thông chuyển sang màu xanh. Wee Wee lái xe tiến lên phía trước đến cột đèn đỏ tiếp theo và dừng lại. Ba gã đó cũng dừng xe lại cạnh chúng tôi. “Này, cái thằng nhỏ thó kia. Mày vừa chửi đổng phải không?”. Chúng tưởng Wee Wee chửi chúng. Một người trong số chúng tôi đáp trả: “Này, bọn khốn. Chúng mày cảm thấy như thế nào khi biết bố mẹ chúng mày là anh em của nhau?”.

Lúc này, ba tên đó vô cùng tức giận và hét lên: “Táp vào lề đường ngay, chúng tao phải dạy cho mày một bài học mới được”. Mồ hôi trên trán Wee Wee bắt đầu túa ra. Anh kéo kính xe lên cao quá mũi. Chúng tôi cố nín thở để khỏi cười phá lên làm ba tên khốn này sợ và biết chúng tôi ngồi sau xe. Một người trong nhóm nói nhỏ với anh lái xe “Wee Wee, hãy lái xe vào bên đường và dừng xe lại.”

Wee Wee lái xe thêm khoảng hai, ba cây số nữa và dừng lại trước khi đến điểm nút giao các đường cao tốc giữa các bang. Ba tên khốn cứ lặng lẽ bám theo và dừng cạnh xe chúng tôi. Chúng nhạo báng để Wee Wee tức giận ra khỏi xe. Chúng tôi đứng ngay sát chiếc cửa đẩy bên hông xe sẵn sàng nhảy ra ngoài tiếp chiến. Tôi để tay lên tay nắm cửa. Ngay khi tôi mở cửa, ba người sẽ nhảy ra chặn bên trái, ba người khác sẽ nhảy ra chặn bên phải. Sau khi bố trí xong, chúng tôi bảo: “Wee Wee, dụ bọn chúng đến cửa hông đi”. Wee Wee đã thuyết phục được bọn khốn ra cửa hông để tránh ảnh hưởng đến giao thông.

Bọn khốn đi một vòng quanh xe đến bên cửa chúng tôi đang nấp. Ngay khi chúng vừa đến, tôi mở bung cửa ra. Như một phép lạ, sáu người trong chúng tôi đã đứng thành một vòng tròn vây ba tên khốn vào giữa. Mắt bọn chúng trợn trừng lên cứ như con ngươi sắp lòi ra khỏi mắt đến nơi vậy.

Một trong ba tên khốn nhổ miếng thuốc lá đang nhai trong miệng ra và nói: “Thấy chưa John, tao đã bảo mày rồi. Có ngày cái mồm của mày sẽ làm hại bọn tao. Tao nói có sai đâu.”

Trước tiên tôi dạy chúng bài học về lịch sử, “Này, câm mồm ngay! Thứ nhất, bọn tao không phải là những người da đỏ. Thứ hai, Virginia không phải là một bang của người da đỏ. Thứ ba, Tướng Robert E. Lee là người đến từ Virginia.”

Ba tên khốn đã bình tĩnh trở lại và tên John bắt đầu lớn tiếng. Chúng tôi quyết định dạy cho chúng bài học về cách cư xử, không ỷ mạnh bắt nạt yếu. Nói chung, chúng tôi đã đánh cho chúng một trận thừa sống thiếu chết. Để cho chúng nhớ, một người trong số chúng tôi ra lệnh “Cởi quần ngoài ra ngay”.

Bọn chúng nhìn chúng tôi đầy vẻ ngỡ ngàng. Tuy nhiên, để không bị đánh nữa, chúng ngoan ngoãn tụt quần ra.

Chúng tôi lấy chìa khóa, khóa cửa xe của chúng lại, ném chìa khóa xe vào bụi cây và thu hết quần và giày dép của chúng. “Hãy đến lối ra phía trước, dừng xe tại cửa hiệu 7–Eleven ở bên tay phải và chúng mày sẽ tìm thấy đồ của chúng mày trong phòng tắm.”

Sáng hôm sau, chúng tôi đang ngồi ở thao trường bắn của huấn luyện viên Shaw nhâm nhi ly cà phê trước khi bắt đầu buổi tập bắn thì một sĩ quan cảnh sát, vốn là một trợ lý huấn luyện của Shaw, lái xe đến và bước ra khỏi xe cảnh sát. Ông đi đến phía chúng tôi. Chúng tôi biết rõ ông vì chúng tôi thường xuyên huấn luyện cùng nên chúng tôi ra đó uống cà phê cùng ông. Ông cũng là một tay đua của dòng xe Harley-Davidson, rất giống chúng tôi. Ông nói: “Lúc một giờ ba mươi sáng nay, tôi nghe được một câu chuyện buồn cười nhất từ trước tới nay”.

Chúng tôi ngây thơ hỏi: “Chuyện gì vậy?”.

“Tôi nhận được một cuộc gọi từ cửa hiệu 7–Eleven báo có ba thanh niên mặc quần đùi đi bộ đến cửa hiệu. Người thu ngân đã khóa cửa lại không cho họ vào. Ba thanh niên này nói họ phải vào bên trong để lấy quần áo của họ. Khi chúng tôi đến, một nửa số cảnh sát trong đồn cũng đi cùng. Tôi thề đấy, đúng là có ba thanh niên mặc quần đùi đang đứng ở đó. Chúng tôi nghe hết câu chuyện lạ kỳ của họ. Chuyện là thế này: có một chiếc xe tải màu đen mang biển số Virginia, loại xe trông giống chiếc xe đang đậu đằng kia kìa – ông giơ tay chỉ vào chiếc xe tải của chúng tôi – đậu bên cạnh xe của họ. Bất thình lình, tám gã khốn, giống hệt các cậu, vây lấy họ và đánh cho họ thừa sống thiếu chết mà không nói lý do. Nghe xong chuyện, chúng tôi để ba thanh niên này ở trong cửa hiệu 7–Eleven và tìm đồ cho họ khoảng chừng hai mươi phút nhưng chúng tôi chẳng tìm thấy quần áo của họ ở đâu cả. Đêm hôm đó, chúng tôi buồn cười quá nên đã quên béng chuyện dừng lại ở cửa hiệu 7–Eleven. Quần áo và giầy dép của chúng vẫn còn nguyên trong xe của chúng tôi.

Viên cảnh sát tiếp tục: “Trước khi tôi ra về, một trong ba thanh niên đó nói: ‘John, thấy chưa. Tao đã bảo mà. Cái mồm của mày thể nào cũng có lúc hại bọn tao mà.’ Sau đó, hai tên trong bọn còn đấm tên John ngay trước trạm xăng. Chúng tôi ra can họ và hỏi: “Cái mồm gây ra rắc rối” có nghĩa là gì thì bọn chúng đều im lặng. Viên cảnh sát lắc lắc đầu và hỏi: “Các cậu có tin vào câu chuyện điên rồ này không?”

Tất cả chúng tôi đều im lặng. Sau một phút bối rối, chúng tôi cùng đứng dậy và bắt đầu buổi tập bắn. Cuối buổi chiều hôm đó, viên cảnh sát nói: “Đối với những kẻ mất dạy đó, cũng cần người đánh cho một trận. Cho dù những người đi trên xe là ai đi chăng nữa thì họ đã cứu ba tên mất dạy đó khỏi những

người không giữ được bình tĩnh với những lời nói của chúng.”

Chúng tôi gật đầu đồng tình. Mặc dù chưa có kinh nghiệm thực tiễn, tôi luôn để tâm vào mục tiêu tiếp theo: trở thành lính bắn tỉa. Theo quy định, phải là thành viên của Đội số 6 ít nhất ba năm thì mới được nộp đơn đăng ký thành lính bắn tỉa.

Google photo

Mùa thu năm 1992, tôi nộp đơn xin học tại Trường đào tạo lính bắn tỉa. Chỉ huy trưởng của Đội Anh cả Đỏ Denny Chalker bảo tôi: “Cậu là một đặc nhiệm giỏi nhưng thời gian công tác chưa đủ. Cậu phải phục vụ ở đây ba năm trước khi vào học tại Trường đào tạo lính bắn tỉa, đó là luật bất thành văn. Hơn

nữa, chỉ huy nhóm của cậu không muốn mất cậu.”

Mặc dù Đội Anh cả Đỏ phải cần từ bốn đến sáu lính bắn tỉa nhưng hiện tại mới chỉ có hai lính bắn tỉa. Một tuần sau đó, Denny nói: “Cậu đã biết tin gì chưa? Chúng tôi thay đổi quyết định rồi − cậu có thể đi học. Chúng tôi sẽ cử cậu và Casanova đến học ở Trường đạo tạo lính bắn tỉa.”

Mặc dù chúng tôi vẫn ở Đội Anh cả Đỏ nhưng chúng tôi cũng trở thành thành viên của Đội Áo đen (Black Team) bao gồm các tay lính bắn tỉa. Casanova và tôi có quyền lựa chọn theo học ở một trong ba trường. Đặc nhiệm SEAL bắt đầu mở trường đào tạo bắn tỉa riêng. Lục quân có tổ chức Khóa học đánh chặn mục tiêu trong các chiến dịch đặc biệt ở Fort Bragg, Bắc Carolina. Lực lượng Lính thủy đánh bộ có trường đào tạo bắn tỉa ở thành phố Quantico, Virginia. Tôi biết học ở trường của Lính thủy đánh bộ là rất vất vả nhưng đây là trường có truyền thống lâu đời nhất, uy tín nhất và quan trọng hơn cả là trường danh giá nhất trên toàn thế giới.

Do vậy, tôi quyết định đến Căn cứ của Thủy Quân Lục Chiến ở thành phố Quantico để theo học chuyên ngành bắn tỉa. Căn cứ này có diện tích gần 160 km², ngay gần con sông Potomac, Virginia. Học viện Quốc gia FBI và Học viện Phòng chống Ma túy cũng đặt trụ sở tại đây. Nằm ở góc của căn cứ, cạnh đường cao tốc Carlos Hathcock là Trường đào tạo lính bắn tỉa, một trường có những yêu cầu cao nhất. Trong số rất ít những người được nhận vào học thì chỉ có 50% số họ được tốt nghiệp.

Khóa học kéo dài 10 tuần, chia thành ba giai đoạn. Ngày đầu tiên của giai đoạn I: Thiện xạ và các kỹ năng cơ bản trên chiến trường, chúng tôi phải trải qua đợt kiểm tra thể lực. Những ai không vượt qua lần kiểm tra này đều bị trả về đơn vị chủ quản ngay lập tức mà không có cơ hội kiểm tra lại lần hai.

Sau khi các cán bộ đưa ra danh sách những học viên đỗ, chúng tôi vào ngồi trong tòa nhà màu đen với các cửa sổ bị bịt kín được gọi là nhà trường. Ở đây, chúng tôi được phổ biến những nội dung chính của khóa học. Ngày hôm sau, một Trung sĩ lên lớp cho chúng tôi. Trông anh ta độ ngoài bốn mươi với mái tóc cắt ngắn. Anh ta là thành viên trong Hiệp hội các xạ thủ hàng đầu nước Mỹ. Đây là tổ chức gồm 100 xạ thủ có điểm số cao nhất trong cuộc thi bắn súng trường và súng lục được tổ chức hàng năm. Các huấn luyện viên của chúng tôi gồm cả các cựu chiến binh, các chuyên viên hàng đầu và các nhân viên có năng lực nhất.

Trung Sĩ nhấn mạnh: “Lính bắn tỉa có hai nhiệm vụ. Thứ nhất là hỗ trợ các hoạt động tác chiến bằng cách bắn chính xác, hạ gục các mục tiêu đảm nhận từ vị trí ẩn nấp. Lính bắn tỉa không được phép rời vị trí ẩn nấp để bắn mục tiêu. Việc hạ gục các mục tiêu đảm nhận sẽ góp phần quan trọng vào chiến thắng của cuộc chiến. Nhiệm vụ thứ hai là quan sát và thu thập tin tức. Đây là nhiệm vụ tốn nhiều thời gian.”

Trên trường bắn, Casanova và tôi là một cặp huấn luyện cùng nhau. Chúng tôi luân phiên thay đổi vai trò làm tay súng bắn tỉa và người chỉ thị mục tiêu (tính toán tốc độ gió). Đối với súng trường, chúng tôi buộc phải sử dụng loại súng M-40 của lực lượng lính thủy đánh bộ, súng bắn tỉa Remington 700 cỡ nòng 0,308 caliber với băng đạn năm viên. Gắn trên khẩu súng trường này là chiếc kính ngắm loại Unertl 10. Tôi là người bắn trước nên cẩn thận chỉnh thước ngắm. Sau đó, tôi chỉnh độ bù đường đạn do ảnh hưởng của lực hút trái đất ở cự ly bắn 300m. Nếu thay đổi cự ly bắn, tôi sẽ phải chỉnh lại độ bù của đường đạn.

Casanova nhìn qua kính ngắm điểm loại M-49 được đặt trên giá đỡ ba chân. Nếu không có giá đỡ, độ lệch có thể sẽ lớn do tay cầm kính ngắm bị rung. Casanova sử dụng kính ngắm điểm để đo tốc độ gió. Đây thường được xem là thách thức lớn nhất của các tay súng bắn tỉa.

Thông thường, các tay súng bắn tỉa thông qua lá cờ để tính toán tốc độ của gió dựa vào góc bay. Nếu một lá cờ có góc bay 80 độ, lấy con số đó chia cho hằng số 4 thì sẽ ra tốc độ gió là 20 dặm/h (32 km/h). Tương tự, nếu góc là 40 độ thì lấy 40 chia cho 4 ra tốc độ gió là 10 dặm/h (16 km/h).

Trong trường hợp không có cờ, lính bắn tỉa phải dựa vào kỹ năng quan sát. Nếu người lính bắn tỉa chỉ cảm nhận là có gió thổi và gió có thể làm làn khói chuyển động thì tốc độ gió dưới 3 dặm/h (4,8 km/h). Nếu gió thổi nhẹ thì tốc độ từ 3 – 5 dặm/h (4,8 – 8 km/h). Nếu gió thổi làm lá rung rinh thì tốc độ từ 5 – 8 dặm/h (8 – 12,8 km/h). Nếu bụi và rác bị thổi bay lên thì tốc độ gió từ 8 – 12 dặm/h (12,8– 19,2 km/h). Nếu các cây lắc lư thì tốc độ gió từ 12 – 15 dặm/h (19,2 – 24 km/h).

Google photo

Một lính bắn tỉa cũng có thể sử dụng phương pháp dùng kính ngắm điểm. Khi mặt trời đốt nóng trái đất, không khí gần bề mặt trái đất gợn lên thành các làn sóng. Gió đẩy các làn sóng nóng này di chuyển theo hướng gió. Để thấy được các làn sóng nóng này, các tay súng bắn tỉa cần tập trung vào một vật gần mục tiêu. Xoay ống kính một góc 45 độ theo chiều ngược kim đồng hồ, rồi tập trung vào vùng phía trước vùng mục tiêu để có thể nhìn thấy làn sóng nóng. Gió thổi với tốc độ chậm sẽ tạo ra các làn sóng nóng lớn, còn gió thổi nhanh mạnh sẽ làm tan các làn sóng nóng. Phương pháp xác định tốc độ gió kiểu này đã được áp dụng vào thực tiễn.

Gió thổi trực tiếp từ trái sang phải hoặc phải sang trái có ảnh hưởng lớn nhất đối với đường đạn. Loại gió này được gọi là gió ảnh hưởng trực tiếp. Gió thổi xiên từ trái qua phải hoặc từ phải qua trái được gọi là gió ảnh hưởng gián tiếp. Gió thổi từ trước về sau hoặc từ sau lên trước thì ít ảnh hưởng nhất.

Casanova thông báo cho tôi tốc độ gió: “5 dặm/h (8 km/h), ảnh hưởng trực tiếp, từ trái qua phải”. Cự ly 300m nhân với 5 dặm/h bằng 15; 15 chia cho hằng số 15 bằng 1. Tôi điều chỉnh ô kẻ ngang trên kính ngắm sang trái một khấc. Nếu trong trường hợp số chia là hai từ bên phải thì tôi phải chỉnh sang phải hai khấc trên kính ngắm.

Tôi bắn phát đầu tiên vào bia cố định – trúng. Sau khi bắn tiếp hai bia cố định và hai bia di động nữa, tôi đổi vai trò sang làm người tính tốc độ gió còn Casanova sang vai trò bắn. Sau đó chúng tôi thu gọn trang bị và chạy lùi lại vạch bắn ở cự ly 500m. Tại cự ly bắn này, chúng tôi tiếp tục lần lượt thay nhau bắn ba bia cố định và hai bia di động. Sau đó chúng tôi lùi xuống bắn ở cự ly 600m. Thật khó khăn để giữ hơi thở và nhịp tim chậm lại sau mỗi lần chuyển vị trí. Tại cự ly bắn 700 m, chúng tôi một lần nữa bắn ba bia cố định nhưng hai bia di động không chuyển động liên tục mà lúc chuyển động, lúc lại đứng im. Tại cự ly 800 m, hai bia di động không di chuyển nữa mà lắc từ trái sang phải và ngược lại ở một vị trí cố định. Tại cự ly 900m và 1.000 m, cả năm bia đều cố định. Với tổng cơ số đạn là 35 viên thì ít nhất phải có 28 viên trúng bia mới đạt yêu cầu. Ở nội dung này, rất nhiều người không đạt yêu cầu và bị loại. Sau khi kết thúc nội dung bắn trên thao trường, chúng tôi trở về nhà bắn và lau chùi, vệ sinh vũ khí trước khi bước vào nội dung vẽ phác thảo địa hình. Các huấn luyện viên đưa chúng tôi đến một khu vực và nói: “Hãy phác thảo địa hình khu vực từ mép rừng phía bên trái đến tháp nước phía bên phải. Các anh có 30 phút để thực hiện nhiệm vụ.” Chúng tôi cố vẽ cho bằng hết các chi tiết quan trọng trong khả năng của mình theo thứ tự từ gần đến xa: các vật ở gần phải to hơn các vật ở xa. Ở phía dưới bản phác họa, chúng tôi ghi rõ những thứ chúng tôi nhìn thấy. Các huấn luyện viên xếp hạng chúng tôi dựa vào sự rõ ràng, chính xác và giá trị tình báo của bản phác họa. Cứ đạt được 70% trở lên thì đỗ. Sau đó, họ rút ngắn thời gian của chúng tôi xuống còn 15 phút thay vì 30 phút.

Lính bắn tỉa cũng luôn giữ bên mình một cuốn sổ ghi chép để sử dụng cùng với bản phác họa. Điều này có nghĩa là người lính bắn tỉa phải ghi chép những thông tin cần thiết về địa hình, tọa độ, bụi cây, vật cản và đường cơ động để bổ sung cho bản phác họa.

Chúng tôi cũng tham gia nội dung Ghi nhớ nhanh. Huấn luyện viên đặt lên trên bàn từ 10 đến 12 đồ vật: vỏ đạn 9 ly, đèn hiệu, túi đựng đồ loại Ziploc, bút mực, một chiếc kính hỏng, ảnh của một ai đó và một số đồ vật khác nữa. Trong vòng từ 10 đến 15 giây, chúng tôi phải ghi nhớ được mọi thứ ở đúng vị trí đặt trên bàn. Sau đó, chúng tôi vào lớp học, lấy một mảnh giấy và vẽ những thứ chúng tôi nhìn thấy. Cuối cùng, chúng tôi phải mô tả bằng lời những đồ vật này. Đôi khi, chúng tôi phải nói chính xác kích thước đồ vật mà chỉ nhìn chúng bằng kính ngắm hoặc ống nhòm. Nếu tôi không thể nhớ được 70% số đồ vật này thì sẽ bị loại. Chúng tôi cũng phải chui rúc trong các bụi cây, bụi cỏ − tìm một vị trí quan sát trong tình trạng các bụi cây làm cản tầm nhìn của chúng tôi − sử dụng cây cối để che dấu khỏi bị phát hiện.

Trong Giai đoạn II “Trinh sát mục tiêu và bắn súng không biết trước cự ly”, những người đã vượt qua Giai đoạn I có nhiệm vụ bắn hạ 100 mục tiêu ở khoảng cách từ 300m đến 800m. Do chúng tôi không biết chính xác khoảng cách từ vị trí đứng đến mục tiêu nên chúng tôi phải ước lượng. Nếu bắn trúng bia mục tiêu ở viên đạn thứ nhất thì được 10 điểm, ở viên đạn thứ hai được 8 điểm. Chúng tôi không được phép bắn ba viên cho một mục tiêu. Khi khi hoàn thành, Casanova và tôi sắp xếp lại các mục tiêu và thực hiện lại một lần nữa sau khi đổi vai cho nhau. Chúng tôi phải đạt được trên 70% số mục tiêu cần bắn hạ thì mới đạt điểm chuẩn để được ở lại trường.

Ngoài kỹ năng bắn súng, trường đào tạo lính bắn tỉa cũng dạy chúng tôi nghệ thuật ngụy trang. Chúng tôi phải tự chế tác trang phục ngụy trang cho riêng mình. Trước tiên, chúng tôi chuẩn bị quần áo: chỉ lấy phần trên và phần dưới của bộ quần áo dã chiến. Tiếp theo, sử dụng loại dây chỉ bền như loại cước câu cá lớn nặng hơn 5kg, chúng tôi buộc bộ lưới (chẳng hạn như: võng quân sự hoặc lưới đánh cá) vào lưng và khuỷu tay của bộ quần áo dã chiến. Sử dụng keo dán giày Shoe Goo dễ dàng hơn sử dụng kim chỉ rất nhiều. Tiếp theo chúng tôi cắt một vài miếng vải rộng khoảng 2,54 cm, dài 22,8 cm và buộc vào điểm nút ở phần trên của chiếc áo dã chiến buộc với lưới. Chúng tôi kéo theo chiều dọc từ dưới lên trên để cọ miếng vải sờn đi. Dùng một bình sơn phụt, sơn màu cho miếng vải. Casanova và tôi buộc lá cây từ phần đầu gối trở xuống, đây là bộ phận lính bắn tỉa phải di chuyển. Lá cây xòe ra trong quá trình người lính bắn tỉa bò trên mặt đất. Chúng tôi rất cẩn thận không buộc bất kỳ một vật nào quá dài vào để tránh nó lắc lư sẽ dễ bị phát hiện. Lá cây là tốt nhất vì chúng bền màu. Cỏ bị úa nhanh nhất − chỉ trong vòng khoảng 4 giờ đồng hồ. Xung quanh báng súng trường, chúng tôi quấn vải màu vàng và buộc thắt nút vuông. Chúng tôi cũng làm tương tự như vậy với phần nòng súng và kính ngắm. Sau đó, chúng tôi dán miếng vải màu xanh đậm đã được cắt trước đó ra bên ngoài. Tương tự, chúng tôi cũng làm như vậy với khẩu M-49, ống nhòm và các trang bị khác. Vào cuối tuần, lúc được nghỉ, Casanova và tôi tập luyện nghệ thuật giấu mình. Chúng tôi làm các bộ quần áo ngụy trang. Sau đó, mặc vào và nằm ở các địa hình khác nhau, thử tìm cách phát hiện ra nhau. Hầu hết thời gian rỗi, chúng tôi chỉ thực hành kỹ năng giấu mình này.

Google photo

Phần Trinh sát mục tiêu làm nhiều học viên bị loại nhất. Vị trí của mỗi lần Trinh sát mục tiêu đều khác nhau và chúng tôi phải thay đổi bố cục màu sắc và kết cấu quần áo ngụy trang để hòa lẫn với môi trường xung quanh. Lúc nào trong tay cũng phải cầm theo kính ngắm quang học. Mắt thường được sử dụng để nhìn bao quát địa hình. Ống nhòm được sử dụng để nhìn các vật cận cảnh hơn, tuy nhiên vẫn giúp có được cái nhìn bao quát. Kính ngắm của lính bắn tỉa cho phép quan sát kỹ năng nhất các vật nhưng lại không nhìn bao quát được.

Càng tiếp cận gần mục tiêu, lính bắn tỉa càng phải di chuyển chậm. Khi cách mục tiêu khoảng 3 km, lính bắn tỉa cần di chuyển nhanh nhưng phải êm. Sau khoảng 1 km phải cẩn thận hơn, phải điều chỉnh lớp ngụy trang cho phù hợp với địa hình. Khi còn cách mục tiêu chưa đầy 1 km, lính bắn tỉa phải chú trọng khi di chuyển – bò sát xuống mặt đất. Mỗi lần tay chỉ di chuyển về phía trước khoảng 30 cm và cứ 30 giây mới thực hiện một hành động này. Đôi khi người đi trinh sát phía trước đánh dấu đường đi. Việc làm này tạo khá nhiều thuận lợi cho người đi sau.

Trong vòng ba đến bốn giờ, chúng tôi phải vượt qua chặng đường từ 800 đến 1.200 m, đến cách vị trí quan sát khoảng 200m. Nếu người ở đài quan sát phát hiện ra chúng tôi trước khi chúng tôi đến cách vị trí quan sát 200 m, chúng tôi chỉ được 40 điểm trên thang điểm 100. Với kết quả như vậy, chúng tôi trượt.

Nếu người Quan sát nhìn thấy bụi cây chuyển động, anh ta sẽ dùng vô tuyến điện gọi báo cho giám sát viên (Walker): “Giám sát viên, sang trái 3 thước. Dừng lại. Sang phải 1 thước. Dừng lại. Một lính bắn tỉa ở ngay dưới chân”. Bất kỳ lính bắn tỉa nào ở trong vòng bán kính 30 cm đều bị bắt giữ. Những người bị bắt giữ thường là chưa đến được vị trí cách người Quan sát 200m. Lính bắn tỉa bị lộ sẽ đứng dậy và đi bộ về xe buýt, đạt 50 điểm và trượt. Khi đến vị trí bắn, cách người Quan sát trong vòng 200 m, chúng tôi phải lấy súng ra và bắn vào một khoảng trống ở chỗ người Quan sát. Nếu người lính bắn tỉa không phát hiện ra người Quan sát, không đưa ra tốc độ gió hoặc độ cao chính xác hay không bắn từ bệ bắn chắc chắn, sẽ chỉ đạt được 60 điểm và bị đánh trượt.

Nếu chúng tôi làm được tất cả những điều trên nhưng lại để người Quan sát phát hiện ra tiếng nổ, anh ta sẽ chỉ cho giám sát viên vị trí của chúng tôi và đến bắt chúng tôi. Trường hợp này được 70 điểm và đỗ vớt.

Nếu người Quan sát không phát hiện ra tiếng súng từ đâu, giám sát viên sẽ hô vang ở nơi anh ta nghi ngờ có lính bắn tỉa: “Hãy bắn phát thứ hai!” Đa số học viên đều bị lộ bởi người Quan sát đã nhìn thấy bụi cây di chuyển từ phát nổ thứ hai. Trường hợp này được 80 điểm. Phần cuối cùng của nội dung trinh sát mục tiêu là kiểm tra xem lính bắn tỉa có nhìn thấy tín hiệu từ người Quan sát hay không. Nếu lính bắn tỉa không bị phát hiện ở phát bắn thứ hai nhưng vẫn không quan sát được tín hiệu phát ra từ người Quan sát thì được 90 điểm.

Tôi nói: “Mục tiêu đang đập đập tay xuống đỉnh đầu.”

Giám sát viên nói qua vô tuyến điện với người Quan sát “Các lính bắn tỉa nói anh đang đập tay xuống đỉnh đầu.”

“Đúng, rất tốt. Đứng lên. Tới xe buýt. ‘Trinh sát mục tiêu chính xác, được 100 điểm’. Chúng tôi cần ít nhất hai lần trinh sát chính xác trong tổng số 10 lần ngoài việc đạt được mức điểm trung bình từ 70 trở lên.

Ngay cả vào mùa thu, nhiệt độ là 21 độ C, nhưng Quantico vẫn nóng như địa ngục khi chúng tôi phải khoác trên người bộ quần áo ngụy trang, kéo theo túi đựng trang thiết bị và bò sát mặt đất. Mọi người đều bị mất nước. Sau khi kết thúc nội dung Trinh sát mục tiêu, chúng tôi phải quay trở lại và sục sạo các bụi cây tìm những người bị ngất để đưa họ trở về doanh trại.

Casanova và tôi ở tại một khách sạn bên ngoài căn cứ trong khi lực lượng lính thủy đánh bộ ở trong doanh trại đối diện Trường đào tạo lính bắn tỉa phía bên kia đường. Chúng tôi vẫn đang trong chế độ trực chiến. Nếu máy nhắn tin của chúng tôi đổ chuông và phải thực thi nhiệm vụ, chúng tôi sẽ phải kín đáo rời khỏi nơi ở đi thực hiện nhiệm vụ mà không được phép để cho nhiều người biết điều gì đang diễn ra. Chúng tôi được hưởng những dịch vụ tốt nhất – đi máy bay hạng nhất và thuê xe ô tô chỉ dành cho hai người. Sau mỗi lần thực hành nội dung Trinh sát mục tiêu tại phòng khách sạn, tôi phải giúp kiểm tra một số vùng trên cơ thể của Casanova mà anh ấy không thể tự xem xét, xem có con bọ chét nào không để phòng tránh bệnh Lyme. Nếu không được chữa trị, bệnh Lyme sẽ tấn công vào hệ thần kinh trung ương. Casanova cũng làm tương tự như vậy với tôi. Không có việc nào tế nhị và thân mật hơn việc dùng chiếc nhíp để gắp bọ chét ra khỏi hậu môn của đồng đội mình.

Phải sau ba hay bốn lần thực hành nội dung trinh sát mục tiêu, tôi mới hiểu hàm ý sâu xa của việc làm trên: Giờ đây tôi hiểu điều họ muốn tôi làm là nhằm mục đích gì. Đó là để giúp chúng tôi không được để hoàn cảnh tác động, không giận dữ và mờ mắt vì ánh hào quang. Trong một lần trinh sát mục tiêu trước đó, tôi bò qua một cánh đồng lúa mạch. Một cậu lính trẻ bò ngang qua tôi rất nhanh.

Tôi thầm thì: “Này, cậu đang di chuyển quá nhanh đấy.” “Qua ống nhòm, tôi đã nhìn thấy người Quan sát. Anh ta vẫn chưa chuẩn bị xong. Tôi đang chuẩn bị hoàn tất phần thi trước khi người Quan sát tìm kiếm chúng ta.” Đồ ngu.

Cậu lính trẻ di chuyển quá nhanh cắt qua mặt tôi trong tư thế bò thấp. Chó chết thật.

Một giám sát viên hét to: “Tất cả các tay súng, nằm im!” Chúng tôi nằm im.

Người Quan sát nói với giám sát viên đứng ngay trước mặt tôi 30 cm. Lúc này, cậu lính trẻ ở phía trước tôi 1,5m vì cậu ta bò quá nhanh. Người Quan sát nói qua vô tuyến điện với giám sát viên “Có một lính bắn tỉa ngay dưới chân”. “Chính xác. Nào Wasdin, đứng dậy”. Chó chết thật. Liệu tôi có thể làm gì trong tình huống này? Chẳng nhẽ tôi lại quay trở lại nói với huấn luyện viên rằng “Đó thực sự không phải là tôi mà là cậu lính trẻ”.

Bốn mươi điểm. Điều này làm tôi tổn thương ghê gớm, đặc biệt trong những lần trinh sát mục tiêu đầu tiên. Điểm số là vấn đề rất quan trọng. Tôi đã nghĩ đến khả năng tôi có thể trượt vì điểm lần này. Trở về đơn vị ở Dam Neck, Virginia và nói với mọi người rằng tôi vừa bị loại khỏi Trường đào tạo lính bắn tỉa thì thật xấu hổ biết chừng nào.

Mặc dù về mặt lý thuyết, chiến thuật của cậu lính trẻ hoàn toàn ổn nhưng làm tôi phải chịu trận thay là không chấp nhận được. Không cần thanh minh gì với huấn luyện viên, tôi gặp riêng cậu ta ở sau doanh trại và nói: “Cậu có thể nghĩ đó là chiến thuật tốt bởi cậu thấy người Quan sát vẫn chưa chuẩn bị xong, cậu tranh thủ tiến nhanh. Nhưng nhớ đừng bao giờ bò sát bên tôi hoặc trước mặt tôi như thế. Nếu cậu làm tôi trượt một lần nữa, chúng ta sẽ nói chuyện kiểu khác chứ không phải nhẹ nhàng như lần này đâu.”

Cậu ta không bao giờ mắc lại lỗi đó nữa và tốt nghiệp Trường đào tạo lính bắn tỉa cùng khóa với tôi. Ngay cả sau khi đã đủ điểm đỗ nhưng nếu một lính bắn tỉa lặp lại lỗi đã phạm trước đó, các huấn

luyện viên sẽ đánh trượt mà không cần xét đến điểm số. Một số lính bắn tỉa bị trượt bởi họ không làm

được những bộ quần áo ngụy trang hòa vào môi trường xung quanh.

Này, chúng ta đã bắt đầu nội dung này được một tháng. Chúng ta đã học cách làm các bộ quần áo ngụy trang từ trước khi bắt đầu nội dung này. Tại sao các cậu không chịu ra ngoài quan sát địa hình và làm những bộ quần áo có thể hòa lẫn vào địa hình ở đó?

Một số học viên có thể làm được các bộ quần áo rất giống với môi trường xung quanh nhưng lại không nằm im được. Tôi thấy nhiều bụi bay lên ở những nơi họ ẩn nấp. Những học viên này bò đến cạnh một cái cây nào đó và nghĩ chiếc cây sẽ giúp họ không bị phát hiện. Các huấn luyện viên gọi đó là “các khối u của cây”. Các huấn luyện viên sẽ đưa mắt nhìn các cây từ trên xuống dưới. Khi phát hiện thấy gốc cây có một khối u. Tất nhiên, tay lính bắn tỉa đó trượt.

Một lính bắn tỉa không chỉ đơn thuần khả năng bắn súng cự ly xa. Một vận động viên bắn súng ở Thế

vận hội Olympic có thể bắn súng chính xác ở cự ly xa nhưng không biết cách trinh sát mục tiêu thì cũng không thể trở thành lính bắn tỉa. Ở lần trinh sát mục tiêu thứ bảy, tám và chín, các huấn luyện viên gọi tên một học viên bất kỳ. Nếu các học viên này không đạt điểm tối đa, họ sẽ không đủ điểm để tốt nghiệp. Chúng tôi không bao giờ được gặp lại họ nữa.

Tôi đã kết thúc nội dung này với tổng số điểm là 800 hay 850 gì đó, tính cả lần tôi bị 40 điểm do sự thiếu kiên nhẫn của cậu lính trẻ tuổi.

Giai đoạn III: Các kỹ năng nâng cao ngoài thực địa và thực thi nhiệm vụ, bao gồm cả phần thực hành chiến đấu. Không cần biết chúng tôi đã hoàn thành tốt như thế nào ở các nội dung: bắn súng các cự ly, phác họa địa hình, ghi nhớ nhanh, trinh sát mục tiêu, chúng tôi buộc phải vượt qua phần thực hành chiến đấu kéo dài ba ngày. Ở nội dung này, các huấn luyện viên kỳ vọng ở chúng tôi sự chín chắn và khả năng độc lập tác chiến. Lính bắn tỉa thường hành động theo cặp đôi mà không nhận được chỉ dẫn trực tiếp. Lính bắn tỉa phải có khả năng tự ra quyết định, bao gồm cả quyết định tự điều chỉnh để thích nghi với môi trường xung quanh.

Lợi dụng màn đêm, trong nội dung thực hành chiến đấu, Casanova và tôi tiếp cận thành công vị trí ẩn nấp. Trước tiên, chúng tôi đào sâu khoảng 10 đến 15 m, cẩn thận đánh cỏ và lớp đất bề mặt thành những mảng to rồi đặt sang một bên. Tiếp theo, chúng tôi đào một chiếc hầm hình vuông có kích thước 6 x 6m và sâu 5m. Ở đáy hầm, Casanova và tôi đào một hố để đi vệ sinh dài khoảng 2 m, rộng 1,5m và sâu 1 m, dốc 45 độ để thoát nước mưa và phòng khi lựu đạn rơi vào thì cả hai vẫn lăn được ra ngoài. Cũng để tránh nước mưa làm sập lở hầm, chúng tôi cố định phần mái hầm bằng các bao cát. Tiếp theo, chúng tôi dọn sạch khu vực trước hố bắn để tì khuỷu tay trong khi ngắm bắn. Sau đó, chúng tôi dùng các thanh gỗ, áo mưa, đá, đất, các mảng cỏ (chúng tôi vừa đánh lúc trước) che chắn phía ngoài hố bắn. Cuối cùng, chúng tôi làm một lỗ thoát hiểm phía sau, được ngụy trang bằng các cành cây. Phía trong lỗ thoát hiểm, chúng tôi gài một quả mìn sát thương phòng khi có người đột nhập.

Chúng tôi ghi chép mọi diễn biến xảy ra ở khu vực mục tiêu, một ngôi nhà nằm trơ trọi với những xe chiến đấu bao bọc xung quanh. Một người tuần tra đi ngay trên đầu chúng tôi nhưng không phát hiện ra chúng tôi. Cứ sau một giờ, Casanova và tôi đổi vai bắn tỉa và chỉ thị mục tiêu cho nhau. Chúng tôi ăn uống, ngủ nghỉ và vệ sinh cá nhân ngay trong hầm. Khó khăn đối với chúng tôi là phần một người gác để người còn lại ngủ. Vào ban đêm, chúng tôi phải ra ngoài và quan sát diễn biến ở ngôi nhà mục tiêu. Qua bộ đàm, chúng tôi nhận được mệnh lệnh tiêu diệt mục tiêu bên cửa sổ: “Một người đàn ông đội mũ đỏ sẽ xuất hiện bên cửa sổ ngôi nhà vào ngày 8 tháng Mười một. Hạ gục mục tiêu.” Nếu người đàn ông đội mũ xanh xuất hiện. Không được bắn.

Trước khi bước vào nội dung này, Casanova và tôi đã chuẩn bị một chiếc thẻ ghi khoảng cách. Khi đến vị trí trú ẩn, chúng tôi thêm vào thẻ một số chi tiết như đặc điểm địa hình và các địa vật khác. Chúng tôi chia thẻ ra thành ba khu vực: A, B và C. Dùng cánh tay và bàn tay đã quy ước từ trước, Casanova ra hiệu mục tiêu của chúng tôi đã đến khu vực B, kim đồng hồ chỉ 12 giờ, cách 500m. Sau đó, Casanova chỉ vị trí ở trên thẻ.

Tôi giơ ngón cái lên hàm ý đã chỉnh thước ngắm vào mục tiêu. Điểm cắt ngang trên kính ngắm nằm đúng ngực mục tiêu đội mũ đỏ đứng bên cửa sổ. Nếu bắn trượt, tôi sẽ không tốt nghiệp. Casanova vẫn còn cơ hội để hạ gục mục tiêu nhưng tôi thì sẽ trượt. Tôi cẩn thận bóp cò. Trúng mục tiêu. Sau khi bắn,

chúng tôi bí mật rút lui ra điểm đón. Quá trình rút lui này chỉ cho phép sử dụng bản đồ và la bàn để xác định hướng, chứ không được sử dụng hệ thống định vị GPS.

Khi trở lại nhà bắn, Casanova và tôi thuyết trình lại những gì chúng tôi thấy trên đường vào và trên đường rút lui và cả thời điểm chúng tôi nhìn thấy. Chúng tôi sử dụng hình ảnh và bản phác họa địa hình trong quá trình thuyết trình. Nguy cơ bị trượt vẫn lơ lửng trên đầu chúng tôi.

Huấn luyện viên mang quân hàm Thiếu tá nói với chúng tôi: “Hai cậu đã có bài thuyết trình hoàn hảo. Hầm ẩn nấp của các cậu rất tốt. Đích thân tôi đã đi bộ phía trên hầm ẩn nấp đó. Kỹ năng thuyết trình của các cậu thật tuyệt vời.” Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Tất nhiên, kỹ năng thuyết trình của chúng tôi rất tốt bởi chúng tôi đã từng thuyết trình khi còn theo học ở Trường đào tạo các kỹ năng cơ bản dưới nước – BUD/S.

Thật không may cho các học viên bắn tỉa khác, chúng tôi là cặp thuyết trình đầu tiên và bài thuyết trình của chúng tôi lại quá tốt. Tôi đưa mắt nhìn quanh căn phòng và các học viên thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ không hào hứng lắm với bài thuyết trình của mình. Một cậu lính khá trẻ thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ có khả năng bắn súng tuyệt hảo nhưng người thiếu tá chỉ trích họ rất gay gắt và tôi thấy cậu lính thật đáng thương. Cả cậu và đối tác của cậu đều bị bắt sống khi đang ngủ trong khi lẽ ra một người phải thức canh cho người kia ngủ. Quá trình rút lui ra điểm đón họ cũng để bị lộ. Kỹ năng thuyết trình của họ thật tồi. Nếu một lính bắn tỉa không thể nói rõ được cái anh ta nhìn thấy, thông tin anh ta đưa ra không có giá trị. Trong giới bắn tỉa, chúng tôi gọi hai cậu lính trẻ này là “những người bóp cò giỏi”. Nhiều người có khả năng bắn súng giỏi nhưng như thế chưa đủ để trở thành lính bắn tỉa. Tất nhiên, chúng tôi không gặp lại họ ở buổi lễ trao bằng tốt nghiệp.

Sau khi tốt nghiệp, tôi trở về Đội Anh cả Đỏ nhưng chỉ có rất ít thời gian ghé thăm gia đình. Tại đơn vị, tôi nhanh chóng bắt tay vào học cách bắn súng bắn tỉa 300 Win Mag với kính ngắm Leupold. Việc chuyển từ bắn loại súng bắn tỉa cỡ nòng 7,62 ly của lính thủy đánh bộ sang loại súng Win Mag của Đội Đặc nhiệm SEAL số 6 chẳng khác gì việc chuyển từ đua xe buýt sang đua xe Ferrari.

Chúng tôi vẫn sử dụng loại kính nhìn đêm KN-250. Kính nhìn đêm khuếch đại ánh sáng có sẵn từ mặt trăng và các vì sao, chuyển hình ảnh thành màu xanh và xanh trắng thay vì màu đen trắng. Nhờ đó, lính bắn tỉa có thể nhìn được vào ban đêm.

Sau đó, chúng tôi được đưa đến Fort Bragg, Bắc Carolina học cách sử dụng súng bắn tỉa có lắp ống giảm thanh CAR-15 trong khi vẫn ngồi trên trực thăng.

Casanova, Gã Mập lùn, Sourpuss và tôi còn bay sang Australia tập huấn cùng đơn vị đặc biệt của Lực lượng Không quân (SAS) nước này. Chúng tôi mua vé máy bay hạng nhất và đi hàng không dân dụng từ bờ Đông nước Mỹ đến bờ Tây nước Mỹ. Sau đó, chúng tôi bay đến Hawaii. Từ Hawaii, chúng tôi hạ cánh xuống sân bay Sydney ở bờ phía Đông của Australia. Từ đó, chúng tôi bay qua lục địa để đến Perth, nằm trên bờ phía Tây. Đó là chuyến bay dài nhất trong đời tôi.Tại Perth, phía ngoài trụ sở chính của đơn vị đặc biệt thuộc lực lượng Không quân Australia có một tượng đài vinh danh những binh lính của đơn vị này thiệt mạng trong quá trình huấn luyện hoặc chiến đấu. Có khoảng 40 lính được vinh danh ở đây, chủ yếu là thiệt mạng trong quá trình huấn luyện. Sau khi vào doanh trại, chúng tôi để vũ khí vào kho và họ đưa chúng tôi đi tham quan đơn vị. Buổi tối, chúng tôi nghỉ tại một khách sạn bên bờ sông Swan. Perth không nổi tiếng như Sydney, nhưng chi phí rẻ hơn và phong cảnh ở đây đẹp hơn.

Việc thành lập lực lượng SAS của Australia và Anh đều chịu ảnh hưởng của lực lượng SEAL và Delta. SAS có nhiệm vụ chống khủng bố và do thám cả trên biển, trên không và trên bộ. SEAL bắt đầu hợp tác với SAS của Australia từ thời chiến tranh Việt Nam.

Khi chúng tôi ra thao trường tập bắn, lính Australia chủ yếu được huấn luyện hạ gục các mục tiêu di chuyển nhanh ở cự ly 200m. Chúng tôi được huấn luyện hạ gục các mục tiêu cố định ở cự ly xa hơn. Lính Australia sử dụng súng bắn tỉa bán tự động còn chúng tôi sử dụng súng bắn tỉa phát một Win Mag. Khi bộ bốn mục tiêu bay qua, chúng tôi vận hành bằng tay khẩu Win Mag phát một cho mỗi mục tiêu và kết quả chúng tôi chỉ hạ gục được một nửa số mục tiêu cần tiêu diệt. Trong khi đó, lực lượng SAS liên tục bóp cò và hạ gục tất cả các mục tiêu. Chúng tôi đã rút ra bài học quý báu ở nội dung này. Tôi nhận ra rằng, trong môi trường phải cơ động nhanh như tác chiến trong thành phố, tốt nhất nên sử dụng loại súng bán tự động đối với các cự ly từ 200 đến 400m. Khẩu CAR-15 tự động của chúng tôi chỉ bắn chính xác tối đa ở cự ly 200m.

Khi chúng tôi đi ra bắn mục tiêu ở cự ly 500m và 700 m, lực lượng SAS lại rút ra bài học quý giá cho mình. Bởi khẩu súng trường bán tự động của họ không còn chính xác ở cự ly xa hơn 200 m, trong khi đó những khẩu súng trường bắn phát một của chúng tôi vẫn bảo đảm được độ chính xác cao.

Tôi thử bắn mục tiêu ở cự ly 725m. Một lính SAS gọi qua vô tuyến điện: “Phát đó, anh ta bắn có trúng không?”.

“Có.”

Tôi bắn thêm một lần nữa. “Anh ta bắn có trúng không?” “Có”.

Quá trình này lặp đi lặp lại thêm một vài lần nữa và kết quả đều giống những lần trước đó. Tay lính này lắc đầu thè lưỡi tỏ vẻ thán phục. Tối hôm đó, chúng tôi đến một quán bar, cậu lính này mua cho tôi một chai bia Red Back. Đây là loại bia làm từ lúa mạch của Australia. Loại bia này được đặt tên theo tên loài nhện độc ở Australia. Nhện cái ăn thịt nhện đực sau khi giao phối. Loài nhện này còn cắn người và tiêm nọc độc gây ảnh hưởng đến hệ thần kinh trung ương của người. Đây là loại bia được lực lượng SAS rất ưa dùng. “Một lính bắn tỉa cừ khôi, anh bạn”, anh ta nói với tôi trong sự ngưỡng mộ.

Vài ngày sau, mang theo súng CAR-15, chúng tôi đi thám hiểm vùng xa xôi hẻo lánh ở Australia khoảng 10 ngày. Một đêm, tại một trang trại rộng 8.000 héc ta, chúng tôi leo lên xe tấn công Rang Rover của lực lượng SAS. Mỗi chiếc xe có một chiếc pít tông đặc biệt ở phía trước lưới tản nhiệt. Ở đó, người ta gắn một gói thuốc nổ để sẵn sàng cho nổ tung chiếc cửa khi cần. Sau đó, các đặc nhiệm có thể nhảy ra khỏi xe và tấn công tòa nhà − một cách thức tấn công thật ấn tượng. Chiếc xe Rang Rover còn có thể phụt khói ra phía sau để cản đối tượng đuổi theo trên đường rút chạy. Trong quá trình lái xe, chúng tôi bắn các mục tiêu di động: các con chuột túi. Chuột túi thường ăn cỏ trên vùng đất ở các nông trang, đe dọa sẽ làm hỏng cây trồng và chỉ để lại rất ít thức ăn cho gia súc và còn lây lan bệnh dịch. Ngược lại với hình ảnh một chú chuột túi nhồi bông, đặc biệt khi bị chọc tức hoặc bị dồn vào đường cùng, một con chuột túi hoang dã có thể vồ người bằng bộ móng vuốt trước và phanh bụng kẻ xấu số bằng bộ móng sau cứng chắc.

Casanova, Gã Mập lùn, Sourpuss và tôi đều sử dụng thiết bị cảm quang nhìn đêm và thiết bị laze gắn trên khẩu CAR-15. Bắn mục tiêu di động trên xe đang chạy vô cùng khó khăn. Tôi di tia laze vào những con chuột túi. Trên xe chở các đặc nhiệm SEAL, súng của chúng tôi nổ pằng-pằng-pằng-pằng- pằng-pằng.

Bốn lính thuộc lực lượng SAS đi trên xe của họ chỉ nổ có một phát súng duy nhất: Pằng. Cứ mỗi lần chúng tôi bắn sáu phát, phía lính Australia chỉ bắn một phát. Lực lượng SAS nghĩ rằng chúng tôi đã quá lãng phí đạn khi bắn sáu viên đạn cho một con chuột túi. Chỉ đến khi đi kiểm tra số chuột túi chết và khi họ nhìn thấy xác chuột túi nằm ngổn ngang quanh chúng tôi, họ mới hiểu số chuột túi chúng tôi bắn chết nhiều gấp sáu lần họ. Họ thốt lên: “Chà, các anh có các thiết bị hỗ trợ xịn thật.”

Ngày hôm sau, chủ trang trại đi ra và nhìn thấy xác chết của đám chuột túi, họ tỏ vẻ biết ơn: “Các anh đã làm một công việc vô cùng hữu ích. Cám ơn các anh!”

Trở về doanh trại, chúng tôi ngồi trong một phòng họp khang trang. Các đặc nhiệm rót cho chúng tôi một loại rượu dán nhãn của Trung đoàn SAS lấy từ dưới hầm rượu lên. Khi đã ngà ngà, một người lính thuộc lực lượng SAS nói với chúng tôi anh ta từng tham gia cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất với nhiệm vụ giống đơn vị Bravo 20 thuộc lực lượng SAS của Anh. Nhóm Bravo 20 là một nhóm gồm tám người được phái đến hoạt động trong lãnh thổ đối phương, có nhiệm vụ phát hiện, báo cáo các vị trí đồn trú của đối phương, phá hủy các mục tiêu như các tuyến thông tin liên lạc cáp quang. Ngày thứ hai của chiến dịch, một người nông dân lái chiếc xe ủi đã phát hiện ra họ. Nhóm này đã để cho người nông dân đi thay vì bắt giữ hay giết chết ông ta.

Một vài ngày sau, nhóm Bravo 20 sống sót sau một vài cuộc giao tranh trước khi tan rã. Lực lượng dân quân của Iraq giết chết Robert Consiglio. Vincent Phillips và Steven Lane chết vì bị hạ thân nhiệt. Binh lính Iraq bắt giữ Andy McNab, Ian Pring, Malcolm MacGown và Mike Coburn (lực lượng SAS của New Zealand), người sau này được trả tự do. Chris Ryan lẩn trốn quân Iraq khoảng tám ngày, đi bộ chặng đường hơn 300 km để đến Syria. Sau 30 phút nói chuyện, các đặc nhiệm SAS rơm rớm nước mắt. Thông điệp họ gửi tới chúng tôi là “Nếu bạn bị lộ, tốt nhất hãy giết hoặc bắt giữ người đã nhìn thấy bạn chứ đừng để người đó đi.”

Binh lính SAS đối xử với chúng tôi rất tốt. Họ dạy chúng tôi cách sử dụng một số trang thiết bị và chúng tôi cũng làm vậy với họ. Chúng tôi đều tiến bộ hơn nhiều sau đợt huấn luyện này. Tướng George Patton từng nói: “Chuẩn bị kỹ lưỡng chính là tự mang lại may mắn cho mình.”

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 11 Aug 2024

Google photo

Bài 7

Bão táp sa mạc

Khi nền kinh tế Iraq suy thoái, Tổng thống Saddam Hussein đổ lỗi cho Kuwait. Iraq tiến hành xâm lược Kuwait ngày 2 tháng Tám năm 1990, và bắt giữ các con tin phương Tây. Liên Hợp Quốc lên án hành động này, yêu cầu Iraq rút quân, áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế đối với Iraq và tiến hành cấm vận nước này. Tuy nhiên, dường như mục tiêu xâm lược tiếp theo của Hussein là Ả Rập Xê-út.

Ngày 7 tháng Tám, Chiến dịch Lá chắn sa mạc bắt đầu. Tàu sân bay và tàu chiến Mỹ tiến vào vùng vịnh Péc-xích. Quân đội được gửi tới Ả Rập Xê-út. Liên Hợp Quốc ra tối hậu thư yêu cầu Iraq rút khỏi Kuwait trước ngày 15 tháng Một năm 1991, nếu không sẽ sử dụng bạo lực để buộc họ rút quân. Mỹ thành lập một liên minh gồm 34 nước với sự hậu thuẫn về tài chính của Đức và Nhật.

Trung đội của tôi chuẩn bị trang thiết bị sẵn sàng triển khai tới Machrihanish, Scotland. Khi biết Lá chắn sa mạc sắp trở thành Bão táp sa mạc, chúng tôi bay tới Sigonella, Sicily. Trạm đường không Hải quân của chúng tôi đặt ở căn cứ của NATO, có vai trò là một trục dẫn ra Địa Trung Hải. Ở đó, chúng tôi đợi tàu đến.

Trong khi chờ đợi, tôi thường đi ăn ở một cửa hàng gần căn cứ. Món mì ống cuốn thịt của họ đặc biệt thơm ngon. Một buổi tối, tôi hỏi cô phục vụ cách chế biến món đó. Cô ấy quay vào trong bếp hỏi, sau đó đi ra và hướng dẫn cho tôi. Sau khi ăn ở đó thêm vài lần nữa và lần nào cũng hỏi cách nấu món này, cô nói: “Anh và bếp trưởng nói chuyện nhé.” Cô đưa tôi vào bếp. Tôi nhận ra rằng một gia đình đang điều hành nơi này. Bếp trưởng và tôi uống Chianti (rượu vang đỏ vùng Tuscany) trong khi ông chỉ cho tôi cách chuẩn bị thực phẩm và sau một vài lần viếng thăm, ông dạy tôi cách nấu món Sicilian với thịt viên, xúc xích, mì ống nướng và mì ống cuốn thịt tại gia. Ông có vẻ vui khi tôi thích giúp ông nấu nướng. Phần việc quan trọng nhất trong việc chế biến các món Italia là chế nước sốt, thứ nước chấm có thể phải mất vài ngày mới xong. Trước tiên phải băm nhỏ ớt, hành, tỏi, cà chua và nấm. Sau đó xào chúng lên. Dùng sốt cà chua để nấu một vài loại rau thơm cho sôi lên, sau đó giảm nhiệt và cho thêm rau. Thêm rượu vang. Việc này có thể mất cả ngày. Làm thịt viên và xúc xích trong khi món nước sốt đang được đun liu riu. Sau đó cho thêm thịt vào nước sốt. Nửa đêm phải thức dậy để cho nước sốt vào tủ lạnh. Hôm sau, bao giờ ăn thì lấy ra khỏi tủ lạnh. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn nấu món Sicilian. Vợ chồng tôi thường mời bạn bè và hàng xóm đến thưởng thức món này và hồi tưởng lại không khí mà tôi rất thích khi ở Sicily. Thỉnh thoảng khi tôi dắt chó đi dạo ở ngoài đường, một người hàng xóm lại hỏi tôi: “Howard này, khi nào anh sẽ lại nấu cái món Italia đó vậy?”.

Một buổi tối vài tuần sau đó, tôi từ quán ăn trở về và dừng lại đài không lưu để xem vài chương trình ti vi. Trên CNN, họ chiếu hình ảnh những phát súng đầu tiên của chiến dịch Bão táp sa mạc. Tôi chạy ào tới Kho xử lý chất nổ, nơi trung đội của tôi đang ngủ trong các túi ngủ và đánh thức họ dậy: “Này, cuộc chiến bắt đầu rồi.” Mọi người bật dậy, sẵn sàng chiến đấu. Nhưng rồi chúng tôi nhận ra một điều, Tất cả chúng ta đang háo hức cái quái gì nhỉ? Còn chưa có ai nói chúng ta phải làm gì mà. Thế là tôi túm lấy một cái túi ngủ và chui tọt vào trong. Sáng hôm sau, chúng tôi nhận được thông báo rằng chúng tôi sẽ đến tàu sân bay John F. Kennedy, nơi tôi đã trải qua kỳ huấn luyện Tìm kiếm và Cứu nạn. Khi con tàu từ biển Địa Trung Hải tới, chúng tôi chuyển trang thiết bị lên tàu: các thùng đạn chống tăng nhẹ bắn phát một 84mm (AT-4), mìn định hướng, đạn dược… nhiều đến mức tưởng như không bao giờ có thể chất hết lên tàu được. Vì không biết mình được giao nhiệm vụ cụ thể nào, chúng tôi đem theo đủ mọi thứ.

Tàu John F. Kennedy dài 320m và cao 60m tính từ mớn nước đến đỉnh cột buồm. Nó có thể chở theo

5.000 nhân viên và chạy với tốc độ 34 hải lý một giờ. Ngoài hơn 80 máy bay, con tàu còn được trang bị hai hệ thống phóng tên lửa có điều khiển Mark-29 dùng tên lửa Sea Sparrow, hai hệ thống vũ khí cận chiến Phalanx để phá hủy tên lửa tấn công của đối phương và hai thiết bị phóng tên lửa Rolling Airframe Missile dùng để phóng đi các tên lửa đất đối không điều khiển bằng tia hồng ngoại.

Tôi gặp lại nhiều bạn cũ của mình ở trên tàu. Thậm chí có cả các phi công nữa. John F. Kennedy đi qua kênh đào Suez tới Biển Đỏ, hướng ra vịnh Péc-xích. Hầu hết mọi tàu đều không bố trí khu vực riêng cho đội SEAL. Chúng tôi ngủ và nhóm họp ở bất cứ chỗ trống nào mà chúng tôi có thể tìm thấy. May là chúng tôi có quan hệ rất tốt với nhân viên của tàu. Bất cứ khi nào họ nhìn thấy chúng tôi mặc đồng phục ngụy trang và đeo phù hiệu SEAL đi qua hành lang, họ đều nói: “Tránh đường nào, SEAL đang đi qua đấy.” Chúng tôi cảm thấy mình như là những người nổi tiếng vậy. Chúng tôi cũng cố gắng tôn trọng họ.

Ban đầu không có ai đến chỗ chúng tôi ở trong phòng ăn. Một vài lần sau, mọi người bắt đầu đến ngồi cạnh. Họ hỏi chuyện về BUD/S và những việc khác. Trong ngôi nhà nổi chứa máy bay khổng lồ này, chúng tôi rèn luyện thể lực vào mỗi buổi sáng. Một số nhân viên của tàu cũng đến và tham gia cùng chúng tôi.

Chúng tôi không theo trường phái Dick Marcinko kiêu ngạo và xa lánh mọi người. Marcinko là người thành lập Đội SEAL Số 6, từng ngồi tù vì tội lừa đảo chính phủ, từng viết cuốn tự truyện Rogue Warrior (tạm dịch: Chiến binh ma cà bông) và sản xuất một trò chơi video. Mặc dù tôi kính trọng ông vì đã thành lập ra Đội 6, nhưng Marcinko khiến chúng tôi coi thường vì ông không tôn trọng những người không phải là thành viên SEAL và những người SEAL không cùng nhóm với ông. Một lần đi máy bay, tôi thấy một viên phi công ngạc nhiên trước thái độ của chúng tôi khi so sánh với thái độ ồn ào, khó chịu, hợm hĩnh của những người lính SEAL của Marcinko. Tồi tệ hơn, Marcinko lừa rút tiền của chính phủ, đặt Đội 6 dưới đám mây u ám của sự nghi ngờ. Ông bị ngồi tù vì đồng lõa âm mưu với một nhà thầu dân sự tính giá cao các loại chất nổ cho chính phủ và bỏ túi số tiền đó. Trong nhiều năm sau đó, chúng tôi phải tìm cách thoát khỏi tai tiếng này. Đặc biệt là ở Đội SEAL Số 6, các chỉ huy kế nhiệm đã làm việc cật lực để xóa sạch những vết nhơ mà Marcinko để lại.

Trên con tàu John F. Kennedy, chúng tôi là khách ở nhà người khác. Họ là những người có trách nhiệm, chăm lo cho con tàu có thể làm cho chuyến đi của chúng tôi trở nên thú vị hay tồi tệ nếu họ muốn. Nếu con tàu bị rò rỉ, chúng tôi phải nhớ vào nhân viên của tàu để bít lỗ rò đó lại. Chúng tôi cư xử với thủy thủ đoàn rất tốt và họ coi chúng tôi như những thành viên của hoàng tộc vậy.

Tôi không có ý rằng chúng tôi phải nịnh bợ nhau, nhưng tất cả chúng tôi ở cùng một đội. Những người lính không thuộc lực lượng SEAL cũng cùng tuyên thệ lời thề Hải quân rằng “bảo vệ Hiến pháp của nước Mỹ trước tất cả mọi kẻ thù, trong và ngoài nước.” Đối xử với những người đồng ngũ như rác rưởi sẽ phải trả giá vì họ có thể quay lại tấn công mình. Nếu gặp Marcinko trên phố, tôi sẽ tỏ lòng kính trọng vì ông đã thành lập Đội SEAL số 6, nhưng nếu ông thể hiện rằng mọi việc tốt đẹp hơn khi ông còn là sĩ quan chỉ huy thì tôi sẽ nói với ông: “Ông hãy về chơi trò chơi video của mình và tiếp tục ảo tưởng đi.”

Trong suốt hơn một tuần, các phi công từ tàu chúng tôi cất cánh với máy bay chở đầy bom, bỏ lại chúng tôi ngồi xem bom của họ nổ trên CNN. Sau đó chúng tôi đứng lép một bên khi họ trở về với máy bay trống rỗng. Chúng tôi đã tập luyện và tập luyện cho thời khắc này. Đặc biệt là trong đợt tác chiến mùa đông, chúng tôi trượt tuyết hướng đến mục tiêu và dựng đèn hiệu để phi công trên máy bay quan sát được vị trí của chúng tôi. Sau đó chúng tôi sẽ “quét sơn” cho mục tiêu bằng tia laze để những trái bom tìm được điểm đến. Chúng tôi đang mất cơ hội đây. Đeo cặp kính phi công Ray-Ban, tôi đứng trên boong tàu cảm nhận luồng gió nhẹ thoảng qua và hướng mắt về phía đại dương tĩnh lặng, lung linh, nhìn về phía Iraq. Tôi nhìn thấy tàu USS San Jacinto (CG-56), một chiếc tàu tuần dương được trang bị tên lửa Tomahawk. Tàu USS America (CV-66) và tàu USS Philippine Sea (CG-58) cũng trong nhóm chiến đấu của chúng tôi. Tôi được trang bị đầy đủ mà không biết để làm gì cả. Các thành viên thuộc trung đội tôi không phải là những người duy nhất như vậy. Mặc dù Tướng Norman Schawarzkopf đã sử dụng lực lượng đặc nhiệm Anh, Quân chủng Không quân Đặc biệt (SAS), nhưng vào lúc bắt đầu cuộc chiến, ông không sử dụng lực lượng đặc nhiệm của Mỹ. Rõ ràng là ông thiên vị các lực lượng thông thường của Mỹ hơn là các lực lượng đặc biệt như SEAL hay Delta. Thật tệ quá!

Một chuyện bên lề khác, mặc dù SEAL đã luyện tập cẩn thận cách bảo vệ các giếng dầu ở Kuwait, Schwarzkopf vẫn không dùng chúng tôi. Sau đó, khi các lực lượng quân sự liên minh đánh đuổi quân đội Iraq khỏi Kuwait, quân đội của Saddam thực hiện chính sách tiêu thổ, phá hủy tất cả những gì có thể, trong đó có cả việc đốt hơn 600 giếng dầu của Kuwait. Kuwait mất chừng 5 đến 6 triệu thùng dầu mỗi ngày. Phần dầu chưa cháy hết tạo thành hàng trăm hồ dầu, làm ô nhiễm hàng ngàn hecta đất. Cát trộn lẫn với dầu tạo thành lớp “tarcrete” bao phủ 5% diện tích của Kuwait. Chỉ riêng việc dập tắt những ngọn lửa Kuwait cũng tiêu tốn đến 1,5 tỷ đô-la. Chúng cháy âm ỉ suốt hơn 8 tháng, làm ô nhiễm mặt đất và không khí. Nhiều người dân Kuwait và quân Liên minh mắc các chứng bệnh về đường hô hấp. Những cuộn khói đen dày đặc bao phủ vịnh Péc-xích và các khu vực lân cận. Gió thổi khói về phía đông bán đảo Ả Rập. Trong nhiều ngày, bầu trời đầy khói và những trận mưa đen trút xuống các nước láng giềng. Cho đến nay người ta vẫn còn chứng kiến những tổn thất về môi trường và con người do các đám cháy gây ra. Nếu không phải là do Schwarzkopf đã đánh giá thấp khả năng người Iraq phóng hỏa các giếng dầu, Đội chúng tôi tin rằng mình đã có thể tiêu diệt những tên xấu xa đó trước khi chúng tiếp cận được 600 giếng dầu, làm giảm mức thiệt hại mà chúng gây ra. Một hôm, vào khoảng nửa đêm, chúng tôi được đánh thức tập trung tại một trong những phòng chờ bên một cánh của chiếc máy bay phản lực. Tình báo cho biết một chiếc tàu hàng cải trang cắm cờ Hy Lạp đang đặt mìn ở Biển Đỏ. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải đánh chiếm con tàu đó. Đội SEAL số 6 đã thực hiện kiểu nhiệm vụ này với trực thăng Black Hawk và các thiết bị tiên tiến nhất. Đội SEAL số 2 chúng tôi phải thực hiện nhiệm vụ với những chú ong Sea King SH-3 và tài xoay xở của mình.

Chúng tôi bắt đầu lên kế hoạch thực hiện nhiệm vụ. Cần bao nhiêu trực thăng? Ai lên máy bay? Ai ngồi ở đâu? Chiếc trực thăng nào sẽ bay tới chiếc tàu đó trước tiên? Chiếc nào thứ hai? Chúng tôi bố trí vị trí bắn tỉa như thế nào? Kế hoạch rút lui và lẩn trốn nếu chúng tôi phải thoát ra? Trong khi chúng tôi tiếp tục tiếp nhận thông tin mới, chiếc tàu sân bay đưa chúng tôi gần tới vị trí tấn công hơn. Tiếng còi tàu vang lên − đã đến giờ ăn trưa. Chúng tôi ăn như thể không biết đến khi nào mời lại có cơ hội ăn nữa. Sau đó chúng tôi đi đến trung tâm thông tin để cập nhật tình hình và tìm hiểu chi tiết của con tàu chở hàng mà chúng tôi sẽ đánh chiếm. Có bao nhiêu tầng? Bao nhiêu phòng? Bao nhiêu thủy thủ? Lượng thông tin cần thiết để lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ là rất lớn.

Khi ở trên không, tôi chuẩn bị các thang cuốn thoát hiểm xách tay để leo trở lại trực thăng khi cần, chuẩn bị cuộn dây thừng bền chắc và các thiết bị khác liên quan đến hoạt động trên không. Tôi thắt một dây nylon dài 30m vào một cái chốt hình chữ U trên một thanh chắn cài vào trần bên trong của máy bay SH-3 − một chiếc trực thăng tác chiến chống ngầm hai động cơ. Do vốn không được thiết kế để thực hiện loại nhiệm vụ này, sau này nó được thay thế bằng Sea Hawk SH-60 − phiên bản hàng hải của Black Hawk. Đội SEAL số 6 có Black Hawk, nhưng chúng tôi, đội SEAL nước sâu, phải thực hiện nhiệm vụ với bất kể thứ gì có được. Tôi đặt một đoạn dây thừng ra gần cửa chiếc trực thăng.

Chúng tôi phân công nhiệm vụ. Là người đảm nhiệm vai trò dẫn đầu đội quản lý tù nhân, tôi phải mang thêm mười chiếc còng tay nhựa trong ba lô ngoài hai chiếc ban đầu theo quy định và xác định địa điểm giữ tù nhân khi chúng tôi đánh chiếm con tàu. Chúng tôi chuẩn bị trang thiết bị và mặc trang phục đen BDU. Chúng tôi đi giày chiến adidas GSG9 đế mềm và đế bám chắc như giày tennis vậy. Ngay cả khi bị ướt, bạn cũng có thể xỏ giày vào. Cho đến giờ đó vẫn là loại giày ưa thích của tôi. Chúng tôi bịt mũ đen kín đầu và ngụy trang phần người bị lộ. Còn với đôi tay, chúng tôi sửa những đôi găng tay hàng không màu xanh của mình bằng cách nhuộm đen rồi cắt đi hai trong số các ngón của chiếc găng tay bên phải: ngón bóp cò cắt đến đốt thứ hai và ngón cái cắt đến đốt thứ nhất. Cắt đi những ngón này sẽ dễ dàng hơn khi bóp cò, thay băng đạn, kéo chốt lựu đạn hơi cay… Những chiếc đồng hồ đeo tay giúp chúng tôi theo dõi thời gian. Ở dây thắt lưng chỗ eo gắn một chiếc mặt nạ phòng độc. Trong chiến dịch Bão táp sa mạc, mọi người đều chuẩn bị sẵn sàng để ứng phó với hơi độc và vũ khí sinh học; thông tin cho biết Hussein vẫn sở hữu vũ khí hoá học và sẽ không ngần ngại sử dụng chúng. Tôi cũng mang theo 2 hoặc 3 quả lựu đạn hơi cay.

Tôi mang theo súng tiểu liên Heckler và Koch MP-5 cùng với một khẩu SIG SAUER 9mm bên hông phải. Tôi để một băng đạn 30 viên trong khẩu MP-5. Một số người muốn mang hai băng, nhưng theo kinh nghiệm của tôi thì có hai băng đạn sẽ làm hạn chế khả năng cơ động và khó khăn hơn khi thay băng đạn mới. Tôi đem theo 3 băng đạn bên đùi trái và 3 băng nữa trong ba lô. Chúng tôi thử vũ khí ở khu vực phía sau đuôi tàu. Mặc dù trung đội chúng tôi có 16 người nhưng vẫn sẽ để lại lính bắn tỉa trên hai chiếc trực thăng lượn vòng bên trên. Như vậy chỉ có 14 người chúng tôi đánh chiếm toàn bộ con tàu − hai chiếc trực thăng với 7 lính tấn công ở mỗi chiếc. Máy bay của tôi sẽ là chiếc dẫn đầu.

Google photo

Các thành viên trong đội bay trên chiếc trực thăng đó là những gương mặt quen thuộc – tôi đã làm việc cùng với đội SH-7, trong những ngày đầu tiên khi tôi là một lính bơi SAR. Là người phụ trách những sợi dây, tôi ngồi bên trong cửa chiếc trực thăng, ở giữa những cuộn dây, đặt tay trái lên phần dây dẫn đến đỉnh cần trục và thò ra ngoài chiếc trực thăng. Khi ở trên không, tôi cảm thấy gió ở bên ngoài đang giằng kéo sợi dây ra khỏi tay tôi. Tôi nhắm mắt lại và nghỉ ngơi một chút. “15 phút”, giọng một thành viên phi hành đoàn vẳng đến tai nghe của tôi, truyền đi thông tin từ viên phi công.

Tôi mở mắt và chuyển thông điệp đó cho các thành viên trong Đội. “15 phút!” và tôi lại nhắm mắt lại. “10 phút.” Tôi đã quen với quy trình này. “5 phút.”

Đã đến gần rồi đấy. “3 phút.” Chúng tôi chầm chậm tiếp cận con tàu từ phía sau, từ 100 rồi 50 hải lý. “1 phút.” Chếch mũi chiếc trực thăng lên một góc, viên phi công kéo phanh. Khi chúng tôi bay là là lượn qua con tàu, ánh sáng còn lại của ngày đủ để tôi quan sát boong tàu. Chúng tôi vào vị trí. Tôi đá chiếc dây dài 30m ra ngoài cửa và hô: “Dây!” Chiếc dây chạm vào phần đuôi tàu – một khoảng trống không đủ lớn để trực thăng hạ cánh. “Đi!” Đeo đôi găng tay có những miếng đệm len dày dặn, tôi túm lấy chiếc dây thừng và tụt xuống như trượt trên một cây cột của lính cứu hỏa. Với hơn 50 kg quân tư trang trên lưng, tôi phải nắm thật chắc để không bị rơi bộp xuống boong tàu. Dĩ nhiên, với 6 người sau tôi đang đợi trong chiếc trực thăng, một mục tiêu lớn đang bay, tôi không muốn xuống quá chậm. Đôi găng tay của tôi quả thực đã “bốc khói” trong khi tôi tụt xuống. Thật may là tôi đã tiếp đất an toàn.

Nhưng không may là viên phi công không giữ yên được máy bay ở vị trí phía trên con tàu khi biển động dữ dội, bóng tối ập xuống và gió rít từng cơn. Khó khăn hơn nữa là vì những viên phi công thường không quen với việc bay lượn trên một mục tiêu trong khi một người nặng 100 kg với 50 kg quân trang của anh ta đang leo dây ra ngoài. Thế là chiếc trực thăng đột ngột bay lên cao. Viên phi công phải sửa sai bằng cách hạ thấp trực thăng cho từng người một tụt dây xuống. Mặc dù trước đó chúng tôi đã luyện tập với các phi công nhưng đó vẫn là một thao tác khó khăn. Nếu phi công không điều chỉnh được thì người đầu tiên sẽ tụt khỏi dây với khoảng 1m dây trên boong tàu, người thứ hai sẽ chỉ còn 1m và sợi dây của người thứ ba sẽ ở ngoài boong tàu. Rồi cũng chẳng mất nhiều thời gian để một anh chàng tội nghiệp rơi tự do không có chỗ bám từ độ cao 3m xuống sàn tàu chẳng lấy gì làm êm ái. Ngay cả đối với các viên phi công Black Hawk giàu kinh nghiệm hơn, đó vẫn là một thao tác khó khăn. Chiếc trực thăng lao đi. Chết tiệt. Tôi ở đó, giữa cuộc chiến, giữa Biển Đỏ, một mình trên con tàu địch xa lạ. Tôi cảm thấy trơ trọi. Nếu tình hình thật sự tồi tệ, tôi có thể chiến đấu theo cách của mình để vượt qua. Nếu tình hình thật sự, thật sự tồi tệ thì Mẹ Đại dương ngay ở đó. Nhảy xuống, sải nhịp bơi và lướt đi. Chiếc trực thăng phải bay vòng, xác lập lại tầm quan sát, tìm cách tiếp cận mục tiêu lần nữa và bay lơ lửng phía trên con tàu. Có lẽ việc đó chỉ mất hai phút thôi nhưng tôi cảm giác

cứ như là đã hai giờ trôi qua vậy.

Tôi đưa họng súng MP-5 quét xung quanh trong khi trung đội của tôi nhanh chóng tụt dây xuống. Khi tất cả đã cùng có mặt, chúng tôi vào đội hình chiến đấu. Đội trưởng Mark của chúng tôi, và thông tín viên DJ, dẫn một nhóm đi đến buồng lái để chế ngự và kiểm soát con tàu. Hai tay súng khác đi đến khu vực phía sau buồng lái để làm chết máy tàu – giữ cho nó bập bềnh trong làn nước. Đội của tôi đến cabin để bắt giữ thủy thủ đoàn.

Bên trong con tàu, chúng tôi tới cabin đầu tiên. Bạn cần mềm trước cứng sau. Giữ im lặng càng lâu càng tốt. Nếu nghe tiếng súng nổ hoặc tiếng một quả lựu đạn hơi cay, tôi sẽ phải hành động. A, khỉ thật. Bắt đầu nào. Và từ đó tôi sẽ trở nên mạnh mẽ hơn. Tung chân đá vào các cánh cửa và ném lựu đạn choáng vào các phòng. Kiểm soát mọi người. Sử dụng bạo lực thật nhanh và mạnh. Chúng tôi sẽ cố gắng để mức độ bạo lực phù hợp với tình huống. Không hơn, không kém.

Tôi mở cửa và bốn người chúng tôi bước vào trong thật lẹ khi hai người khác ở lại hành lang yểm trợ phía sau. Tốc độ là yếu tố quan trọng khi di chuyển cùng nhau. Hai chúng tôi đánh chiếm bên trái còn hai người kia đánh chiếm bên phải. Hai thủy thủ ở bên trong bị vô hiệu hoá. Chúng tôi đã chiếm được chỗ này. Họ không nói được tiếng Anh nhưng chúng tôi biết một ít tiếng Ả Rập: Xuống.Họ muốn nói đến vị trí.

Tôi và một đồng đội đứng nép vào tường để yểm trợ trong khi hai đồng đội khác thông báo: “Đi được không?” “Đi,” tôi trả lời, kiểm soát toàn bộ căn phòng.

Họ tóm được hai thủy thủ trên boong tàu. Tôi hét to, yêu cầu cho biết liệu phòng lớn bên ngoài có an toàn cho chúng tôi đi ra không: “Ra được không?”

“Ra đi,” một giọng đáp lại từ căn phòng.

Chúng tôi đưa các tù nhân qua hành lang và sang phòng bên cạnh. Đa số mỗi phòng có hai thủy thủ.

Một số phòng không có ai. Chúng tôi bước vào một phòng và bắt giữ các thủy thủ. Tôi hỏi: “Ra ngoài được không?” “Không,” hai tay súng trong hội trường trả lời. Bốn người chúng tôi ở lại với hai tù nhân và chờ đợi. Tôi nghe thấy tiếng tranh cãi trong hội trường. “Wasdin,” một người trong hội trường gọi.

Tôi men theo hành lang và thấy một thủy thủ đang đứng ở lối rẽ phía cuối căn phòng. Trong tay anh ta

là một bình cứu hỏa. Một lính bắn tỉa của chúng tôi định tóm lấy vì anh ta không phục tùng. “Chuyện gì vậy?” − tôi hỏi. “Gã này không nghe lời,” – Anh lính bắn tỉa nói.

Có thể anh ta nghĩ là chúng tôi đang phá hoại con tàu. “Bỏ xuống đi,” – tôi nói bằng tiếng Arập.

Viên thủy thủ đáp bằng tiếng Arập: “Không.” Tôi nhìn vào mắt anh ta. Dường như anh ta bối rối, có vẻ không phải anh ta tỏ ra thù địch chỉ vì muốn thù địch. Cho rằng việc này đơn giản là sự hiểu lầm, tôi hạ thấp khẩu tiểu liên MP-5 một chút. Anh ta ném thẳng chiếc bình cứu hỏa vào tôi. Chết tiệt.

Tôi né người sang một bên vừa khi chiếc bình cứu hỏa sượt qua đầu tôi. Ngày đó chúng tôi không đội mũ sắt. Nếu tôi không né được thì chiếc bình cứu hỏa đó đã lao thẳng vào mặt tôi rồi.

A, gã này suýt nữa thì đã giết chết tôi bằng một cái bình cứu hỏa. Lúc đó trông sẽ thế nào nhỉ? Tôi đã cố tử tế nhưng đổi lại thì bị đáp trả bằng cái bình cứu hỏa ấy. Tôi vô cùng tức giận. Tôi túm lấy gã và dí nòng súng MP-5 vào dưới tai phải, đẩy gã lùi lại rồi sút vào mông gã một cú cho bõ tức.

Người bạn của “Ngài Bình cứu hỏa”, một gã nhỏ bé gầy gò, giơ tay lên như định đánh tôi.

Một đồng đội của tôi định túm lấy hắn. “Không, tớ làm được.” Tôi dùng tay trái giáng cho người bạn của Bình Cứu hỏa một cú đấm ngay dưới mũi làm hắn lùi lại. Lực của cú đập đó đủ làm cho hắn phải đi nẹp lại răng. Gã nhanh chóng trở nên phục tùng, không dám ngo nghoe thêm gì nữa.

Ngay sau đó, Bình Cứu hỏa nhận được một cú đánh trời giáng: tôi vặn cánh tay gã ra sau gáy, túm tóc, khóa tay và nhấc lên cho đến khi cánh tay của gã suýt tuột khỏi khuỷu rồi đá đít gã xuống hành lang. Đồng đội của chúng tôi đưa gã và những tù nhân khác tới nơi giam giữ.

Máu chảy nhỏ giọt từ đầu xuống tai tôi. Bây giờ tôi mới ngấm mệt. Tôi đã cố gắng tử tế và mọi thứ diễn ra như vậy đó. Ngẫm lại, Bình Cứu hỏa lẽ ra phải nhận được hai cú vào người và một cú vào đầu. Xem ra tên đáng ghét này vẫn còn chút may mắn. Chúng tôi thấy nhiều người trên mạn tàu – khu vực rộng gấp hai lần phòng ăn và sự xuất hiện của chúng tôi làm gián đoạn tuần trà Thổ Nhĩ Kỳ và điếu thuốc của họ.

Chúng tôi rà soát con tàu gần như từng centimet, từ đỉnh tới đáy, từ đuôi đến mũi. Đội SEAL số 6 thường dùng 30 lính chiến để đánh chiếm một con tàu tương tự. Vì chúng tôi có ít người hơn và không

được chuyên môn hoá như Đội 6, chúng tôi phải mất đến 2 giờ. Nhóm của tôi ở lại mũi tàu trong bóng tối cùng với các tù nhân. Từ buồng lái, Mark truyền lệnh cho trung đội chúng tôi. Cậu DJ phụ trách thông tin ở cạnh ông. Không ai bị thương ngoại trừ cái tên ngu ngốc là tôi. Bây giờ con tàu thuộc về chúng tôi. Các tàu chiến vây quanh khi chúng tôi đứng bập bềnh trên biển. Những chiếc xuồng cao tốc RHIB dập dềnh bên cạnh chúng tôi chở theo Biệt đội Thực thi Pháp luật bảo vệ bờ biển (LEDET), một đơn vị huyền thoại nổi danh về truy bắt tội phạm buôn lậu ma túy tại các vùng biển xa. Xét về tổng thể thì giai đoạn nguy hiểm đã qua.

Chúng tôi gom các tù nhân lại. Thuyền trưởng của con tàu, ở trên buồng lái với Mark, cử người phụ trách kỷ luật xuống để đếm người. Chúng tôi phát hiện ra mình còn bỏ sót một thủy thủ. Có người đang lẩn trốn.

Chúng tôi hỏi các tù nhân xem họ có biết anh ta ở đâu không. Không ai biết gì cả.

Vì thế chúng tôi phải rà soát lại toàn bộ con tàu chết tiệt. Để lại bốn người canh giữ tù nhân, chúng tôi quay trở lại khu vực phía sau buồng lái và bắt đầu rà soát. Chúng tôi quá mệt khi phải quần thảo lại từng centimet của con tàu mà chúng tôi tưởng rằng đã kiểm soát được. Khi đang tìm kiếm, tôi nhận được điện thoại thông báo đã tìm thấy người kia. Anh ta đang rúc đầu vào giữa các ống dẫn của khoang động cơ để trốn và rất sợ hãi.

Chúng tôi đưa anh ta đến chỗ các bạn của mình ở mũi tàu và tháo còng tay cho tất cả các tù nhân, ngoại trừ Bình Cứu hỏa. Tôi bắt anh ta ngồi trên cái tời, trông giống như một ống cuộn cước có động cơ khổng lồ, một chỗ ngồi khó chịu nhất trên mũi tàu. Trong khi đó, Mark nói chuyện qua bộ đàm với một phiên dịch viên trên một trong những con tàu để trao đổi với viên thuyền trưởng đứng bên cạnh Mark.

“Các anh đang đặt mìn phải không? Đặt ở đâu? Các anh đang đi đâu? Các anh từ đâu tới?” “Chúng tôi không đặt mìn.”

“Nếu không, tại sao các anh lại không chở theo loại hàng hoá nào? Tại sao các anh đang trên hành trình rời khỏi Ai Cập trong khi lẽ ra các anh phải trở về nhà chứ?”

Những người này không cho chúng tôi câu trả lời xác đáng. Rõ ràng có điều gì đó rất khả nghi.

Bình Cứu hỏa than phiền: “Mông tôi bị đau.”

Đầu tôi vẫn đau nhức. Tên đáng ghét, may mắn là ngươi vẫn có cảm giác đấy. Một tù nhân trên mũi tàu luồn tay vào trong áo khoác tìm khẩu súng trong bao súng khoác vai. Các tay súng trên trực thăng chĩa tia laze cảm ứng hồng ngoại vào anh ta khi chúng tôi ấn nút an toàn của các khẩu MP-5, sẵn sàng bắn tung anh ta. Tuy nhiên không có khẩu súng hay bao súng nào cả, đó chỉ là một gói thuốc lá trắng mà thôi.

“Không, không, không, không,” người tù van vỉ. Mắt anh ta nhìn như hai quả trứng rán vậy. Anh ta may mắn vì chúng tôi có nguyên tắc nổ súng rất chặt chẽ, không giống như bốn viên cảnh sát ở New York, những tay đã bắn Amadou Diallo 41 lần khi anh này tìm kiếm chiếc ví của mình.

Một thủy thủ nói được tiếng Anh và chúng tôi trao đổi thông qua anh ta: “Không được di chuyển đột ngột. Không được đưa tay vào trong người vì bất cứ điều gì.”

Bình Cứu hỏa lại rên rỉ: “Mông tôi đau quá.” Tao đang mong mày cho tao cái cớ để nổ súng đây.

Lát sau, một thiếu niên chạy xồng xộc vào mũi tàu. Chúng tôi ngay lập tức quật ngã cậu ta. Sau khi gọi cho Mark, chúng tôi biết rằng cậu bé là người thuyền trưởng cử đến để lấy chìa khóa làm gì đó. Có lẽ là bất cứ khi nào thuyền trưởng ra lệnh, cậu ta đều vội vã làm ngay, nhưng chúng tôi nói rõ với cậu ta: “Không di chuyển nhanh và không chạy.” Tôi thấy thương cậu bé tội nghiệp bởi vì chúng tôi đã đánh cậu ta quá đau.

Thuyền trưởng và thủy thủ vẫn không cho chúng tôi câu trả lời đúng, vì thế những người lính LEDET, được trang bị súng bắn đạn ghém, lên tàu chào chúng tôi, rồi chúng tôi chuyển giao con tàu và tù nhân cho họ. Họ sẽ lái tàu cập bến ở một cảng biển phù hợp nào đó tại Biển Đỏ, nơi mà câu chuyện về những tù nhân này vẫn chưa kết thúc.

Bình Cứu hỏa vẫn bị còng tay khi LEDET tiếp quản. Tôi mong cho đến tận bây giờ anh ta vẫn cứ bị như vậy. Công việc của chúng tôi đã xong. Thời tiết trở nên xấu hơn, vì vậy chúng tôi không thể về bằng trực thăng. Thay vào đó, chúng tôi dùng các thang cuốn thoát hiểm để rời con tàu và xuống các xuồng cao tốc RHIB của LEDET. Các xuồng này đưa chúng tôi đến con tàu đổ bộ của LEDET.

Chúng tôi lên tàu vào buổi sớm, như vậy chúng tôi đã thức hơn 24 giờ liền. Lần cuối cùng chúng tôi ăn là bữa trưa ngày hôm trước. Không chỉ căng thẳng về thể xác và giảm lượng adrenaline, chúng tôi còn đói gần chết. Trong phòng ăn, mặc dù chưa đến giờ ăn sáng, họ đã mang cho 16 người chúng tôi một bữa ăn khổng lồ. Tôi không nhớ chính xác họ cho chúng tôi ăn những gì, nhưng có vẻ như họ cho chúng tôi ăn cả bữa sáng và bữa tối cùng một lúc: bánh trứng, thịt dăm bông xay, bánh kếp bơ sữa, nước cam, cafe nóng, bít tết, súp măng tây có kem, bắp cải luộc, khoai tây nghiền và bánh táo nóng.

Đầu bếp trưởng bước ra và bắt tay từng người chúng tôi: “Tôi vừa chế biến một số món ăn đặc biệt cho các cậu đấy. Hy vọng là các cậu thích nó.”

“Tuyệt quá,” tôi nói.

“Chúng tôi vừa mới biết là các cậu đến nên chỉ kịp làm thế này thôi.”

Cuộc trò chuyện diễn ra khi chúng tôi ăn. Hình như tất cả các sĩ quan trên tàu đều có mặt. Họ đối đãi với chúng tôi như là những ông hoàng vậy. Dường như tất cả những ai có thể vào được phòng ăn thì

đều đến cả. Mọi người muốn gặp gỡ, nói chuyện và trở thành một phần của đội chúng tôi. Sự thân thiện

của mọi người có ý nghĩa rất lớn đối với tôi, làm cho tôi cảm thấy mình thật quan trọng.

Gần đầu giờ chiều, những chú chim sắt đến đón chúng tôi hạ cánh xuống phần đuôi chiếc tàu lưỡng cư, chúng tôi vẫy chào tạm biệt và bay trở về tàu Kennedy.

Sau đó, tôi nhận được Bằng khen của Hải quân, trong đó ghi:

Bộ trưởng Quốc phòng hân hạnh trao Bằng khen cho Kỹ thuật viên Tàu thủy Hạng 1 Howard E. Wasdin, Hải quân Mỹ, vì kết quả công tác như sau: Có thành tích tốt trong thực hiện nhiệm vụ của một chuyên gia chiến dịch đường không của Trung đội SEAL số 2 Foxtrot khi được triển khai đến Biển Đỏ yểm trợ cho Chiến dịch Bão táp sa mạc từ ngày 17 tháng Một đến 28 tháng Hai năm 1991. Trong thời gian này, Hạ sĩ quan Wasdin đã không ngừng thực hiện nhiệm vụ khó khăn của mình với một thái độ mẫu mực và có tính chuyên nghiệp cao. Là một chuyên gia chiến dịch đường không chịu trách nhiệm tất cả các hoạt động sử dụng thang dây trên trực thăng của SEAL, nỗ lực làm việc không mệt mỏi của anh đã giúp Đội đột kích duy trì khả năng xâm nhập nhanh chóng và hiệu quả các mục tiêu được xác định. Trong một sứ mệnh của SEAL, anh đã khéo léo chỉ đạo một cuộc xâm nhập và là người đầu tiên đáp xuống tàu để yểm trợ hiệu quả cho đồng đội. Anh tiếp tục là người dẫn đầu nhóm canh giữ tù nhân và đã thể hiện kỹ năng chiến đấu giỏi, góp phần quan trọng vào thành công của sứ mệnh. Kỹ năng nghề nghiệp phi thường, sáng kiến và sự cống hiến hết mình cho nhiệm vụ của Hạ sĩ quan Wasdin thể hiện sự tín nhiệm cao đối với bản thân anh và với Quân chủng Hải quân Mỹ.

“Tôi nhận được yêu cầu chọn ba người cho một chiến dịch bí mật, nhưng tình báo không cho tôi biết chiến dịch đó là gì cho đến khi tôi chọn được người,” Mark nói.

Bên ngoài Trung tâm thông tin tàu sân bay (CVIC), Smudge, DJ và tôi đứng ở lối đi khi Mark đi khuất vào bên trong, một lát sau quay trở lại và nói: “Được rồi.”

Chúng tôi bước vào. Có một phòng nghỉ nhỏ bên phải, trong đó có một máy pha café và một tủ lạnh. Cửa bên trái mở ra căn phòng chính có một bàn họp và các ghế xếp xung quanh. Trên một bức tường treo một tấm bảng trắng và phía trước một bức tường khác đặt một chiếc ti vi và đầu video. Hai chiếc ghế dài bằng da màu đen đặt ở bên cạnh. Một viên sĩ quan thông tin của tàu đang đứng ở giữa phòng. Bên cạnh ông là một người mà chúng tôi chưa bao giờ gặp. Tôi không biết ông ta là ma hay quỷ nữa.

Không giới thiệu về mình, người đàn ông chào: “Chúc các qúy ông một buổi sáng tốt lành.”

“Xin chào Ngài.” Chúng tôi không biết chức vụ của ông, nhưng thà lịch sự quá mức còn tốt hơn là có thái độ bất kính.

Google photo

“Một tên lửa Tomahawk được phóng đi nhưng không trúng mục tiêu và không nổ. Nó rơi xuống lãnh thổ của một nước bạn, nhưng lại có các lực lượng thù địch ở đó. Chúng tôi cần các anh phát nổ quả tên lửa để quân Iraq không thể lấy được công nghệ vô giá đó. Đồng thời, chúng tôi cũng không muốn họ chuyển số thuốc nổ đó thành các thiết bị nổ cải tiến (IED).”

Chúng tôi trở lại phòng ngủ, nơi đặt giường, tủ cùng một chiếc ghế dài và bắt đầu chuẩn bị quân trang. “Chuyện gì vậy?” Những đồng đội háo hức hỏi chúng tôi.

“Bốn người bọn tớ sẽ tham gia một chiến dịch. Thật tiếc là không thể kể chi tiết cho mọi người được.” Sự háo hức của mọi người giảm xuống khi họ biết rằng 12 người còn lại không được cùng tham gia.

Tôi dùng khẩu CAR-15 có báng nhỏ và ổ đạn 30 viên 5,56 mm. Bên trong tất, tôi đút vài tờ một trăm đô-la. Trong túi đựng đồ ở đùi trái, tôi để bộ đồ E&E: đèn pin, đồng hồ chống nước, com-pa, bản đồ, đèn chiếu thấu kính đỏ, chăn giữ nhiệt và khẩu phần ăn MRE. Trong túi bên phải, tôi để bộ dụng cụ sơ cứu: băng gạc 10 x 10 cm có dây buộc, một mảnh vải lụa và một cuộn băng gạc có vaseline dùng để băng các vết thương nhỏ trên ngực − tất cả đều được bọc trong túi nhựa hút chân không để chống thấm nước. Đây là bộ nhỏ nhất, chủ yếu dùng cho vết thương chảy máu do dính đạn. Mặc dù lính SEAL thường có trang phục khác biệt và đem theo nhiều vũ khí nhưng chỗ để bộ sơ cứu thì cũng giống như những lính khác. Như vậy, nếu một tay súng ngã xuống, chúng tôi sẽ không phải chơi trò phỏng đoán nơi để bộ sơ cứu đó để tiến hành băng bó cho anh ta. Dĩ nhiên là tôi cũng có thể dùng bộ của mình để băng bó cho đồng đội bị thương, nhưng sau đó nếu tôi cần cho chính mình thì không còn dụng cụ để làm nữa.

Bốn người chúng tôi lên chiếc máy bay SH-3 Sea King với khuôn mặt được ngụy trang bằng vệt kẻ và nốt chấm màu cát nâu nhạt. Smudge mang theo 2 kg thứ giống như đất sét màu trắng nhạt có mùi nhựa đường nóng − chất nổ dẻo C-4. Tôi mang theo các ngòi nổ chậm, kíp nổ và bộ phận kích nổ. C-4 không thể nổ tung nếu không phát hỏa một ngòi nổ chậm, đó là lý do tại sao chúng tôi tách biệt hai thiết bị này. Thiết bị mà Smudge mang theo an toàn hơn. Mặc dù chỉ riêng các ngòi nổ chậm thôi thì không đủ để làm nổ tung một bàn tay, nhưng chúng đã từng làm nổ tung một hoặc hai ngón tay bất cẩn rồi.

Chúng tôi mang theo ít trang thiết bị bởi vì đây sẽ là nhiệm vụ chớp nhoáng. Chiếc trực thăng bay một vài cây số trước khi giảm tốc độ xuống còn 10 hải lý khi ở độ cao 3m so với mặt nước. Tôi bước ra cạnh máy bay, để bộ chân vịt hướng thẳng xuống dưới rồi rơi xuống xuyên qua những tia nước sắc buốt do cánh trực thăng khuấy lên. Tôi không nghe được tiếng rơi tõm của mình trong tiếng ồn ào của lưỡi cánh quạt chém vào không khí trên đầu.

Từng người một trong số chúng tôi nhảy qua cửa bên sườn máy bay xuống biển. Tương tự như việc tụt dây xuống, mỗi người nhảy xuống sẽ làm giảm trọng tải của trực thăng, khiến chiếc trực thăng vút lên cao − và phi công phải chú ý điều chỉnh lại. Người lính SEAL cuối cùng hy sinh tại chiến trường Việt Nam là trung úy Spence Dry. Anh nhảy từ trực thăng xuống, chiếc trực thăng đang bay với tốc độ hơn

20 hải lý một giờ bỗng bốc vút lên cao hơn 10m và làm gãy cổ Dry.

Vừa bơi tôi vừa nhìn xung quanh. Mọi người có vẻ đều ổn cả. Một ánh sáng nhấp nháy từ bờ biển − tín hiệu của chúng tôi. Tôi bắt đầu cảm thấy lạnh. Chúng tôi xếp thành một hàng và hướng mặt về phía tín hiệu. Tôi bơi nghiêng, đạp nước dài, sâu và chậm để đẩy thân mình đi thật nhanh, cố gắng duy trì hàng ngũ với những người khác. Động tác bơi làm tôi ấm áp hơn. Khi đến vùng nước nông có thể đứng được, chúng tôi dừng lại quan sát bờ biển. Chưa có dấu hiệu nguy hiểm. Tôi gỡ chân vịt ra và móc vào một dây thun buộc quanh lưng. Sau đó chúng tôi trườn vào bờ biển. Smudge và DJ tản ra cánh trái và cánh phải. Tôi yểm trợ cho Mark bằng khẩu CAR-15 khi anh tiến đến chỗ ánh sáng, ở đó là một người Ả Rập có thân hình quả lê. Anh ta là người của chúng tôi. Họ trao đổi theo quy ước. Mark kéo tai trái. Viên mật vụ xoa xoa bụng bằng tay trái. Cho đến nay mọi việc vẫn tốt. Xoay lưng nhân viên này lại, tôi khóa tay anh ta và kiểm tra khắp người để tìm vũ khí, điện đài hay bất cứ thứ gì không thuộc về anh ta. Có vẻ như không có gì nghi vấn cả. Tôi mở khóa tay cho anh ta.

Mark ra dấu hiệu gọi Smudge và DJ đi vào. Sau khi họ vào cùng chúng tôi, tôi chú ý đến viên mật vụ trong khi chúng tôi di chuyển vào bên trong. Nếu anh ta tỏ ra bồn chồn một cách không bình thường khi chúng tôi đến gần mục tiêu, tôi sẽ biết liệu anh ta có thể đưa chúng tôi vào một trận địa mai phục nào đó không. Nếu anh ta đưa chúng tôi đến một vị trí mai phục, tôi sẽ là người đầu tiên găm một viên đạn vào đầu anh ta. Tôi chưa từng nghe thấy một điệp viên hai mang nào sống được khi dẫn lính SEAL vào trận địa mai phục. Trưởng nhóm Mark bám theo tôi và nhân viên mật vụ, tiếp đó là DJ cùng với chiếc điện đài. Smudge đi sau cùng.

Sau khi di chuyển thận trọng 800m trên cát, chúng tôi dừng lại ở một địa điểm cách một con đường đất

100m và nằm sấp xuống trong khi nhân viên mật vụ nhặt một hòn đá to, bước lên phía trước và đặt bên cạnh con đường. Sau đó anh quay trở lại và cùng nằm sấp xuống với nhóm của chúng tôi. Thân thể ướt sũng của tôi bắt đầu run rẩy. Sa mạc nóng vào ban ngày nhưng lạnh vào ban đêm và nếu bị ướt thì vấn đề càng thêm tồi tệ. Tôi muốn đi tiếp, nhưng không thích thú gì việc bị ăn đạn vì di chuyển quá sớm.

15 phút sau, một chiếc xe địa phương dừng lại bên lề đường (gần tảng đá). Chúng tôi chĩa các khẩu CAR-15 giảm thanh vào chiếc xe. Một người đàn ông mặc áo choàng trắng bước ra khỏi chiếc xe tải và bước đi 100m về phía chúng tôi.

“Dừng lại,” Tôi nói bằng tiếng Anh. “Quay đầu lại.” Anh ta làm theo.

“Bước lùi về hướng tôi.”

Khi anh ta đến chỗ chúng tôi, chúng tôi tóm lấy, trói lại và lục soát. Sau đó chúng tôi đi cùng người lái xe đến chỗ chiếc xe của anh ta và lục soát nó. Anh ta lái xe 20 phút đưa chúng tôi đến mục tiêu ở đâu đó giữa sa mạc. Anh ta dừng xe lại và đi bộ đoạn đường còn lại cùng với chúng tôi. Quả tên lửa nằm ở đó. Mặc dù nó đã tiếp đất rất mạnh, nhưng trông vẫn như còn nguyên. Chúng tôi lập một vòng cảnh giới bảo vệ trong khi Smudge chuẩn bị hai túi C-4. Mỗi túi vải xanh lớn đó chứa 1kg C-4 ở đáy. Cậu đặt một túi trùm lên đầu tên lửa và luồn dây khâu miệng chiếc túi vào một cái móc ở đầu túi, thít chặt lại. Cuối cùng, Smudge làm tương tự như vậy với đầu kia của quả tên lửa.

Cậu vỗ vai tôi rồi thế vào vị trí cảnh giới trong khi tôi ấn một ngòi nổ chậm vào mỗi khối C-4. Không kịp nghĩ ngợi điều gì, tôi chỉ cố gắng không giải quyết kém tình huống này. Tôi đút hai ngòi nổ chậm vào hai kíp nổ hẹn giờ, giữ cho chúng thẳng lên. Sau đó, tôi vặn chặt hai bộ phận kích nổ (M-60) vào hai kíp nổ. Một tay giữ bộ phận kích nổ, một tay tôi kéo đồng thời cả hai dây giật. Pop! “Sắp nổ rồi.” Tôi có thể ngửi thấy mùi cordite (một loại thuốc nổ không khói) khi các kíp nổ cháy. Có khoảng trên dưới 3 phút trước khi chiếc tên lửa nổ tung.

Tôi cùng đồng đội lao đi. Rất khẩn trương. Chúng tôi nấp sau một gờ cát tự nhiên trông giống như một con lươn giảm tốc khổng lồ. Bùm! Cát trút xuống đầu chúng tôi. Chúng tôi quay lại chỗ quả tên lửa để chắc chắn rằng nó đã biến thành những mảnh vụn. Mark ra dấu OK và chúng tôi trở lại xe.

Người lái xe đưa chúng tôi trở lại điểm dừng bên con đường có hòn đá, nhưng Mark bảo anh ta đưa chúng tôi đi xa hơn để tránh khả năng dừng lại ở trước một trận địa mai phục. Sau khi người lái xe cho chúng tôi xuống, đợi cho anh ta và viên mật vụ rời đi, chúng tôi quay trở lại bờ biển. Trên bờ biển, DJ gọi trực thăng vì biết chúng tôi đang trên đường về. Chúng tôi đeo chân vịt và xuống nước. Tôi thấy vui vì đã ra khỏi khu vực nguy hiểm và bơi rất nhanh. Ai cũng bơi nhanh. Bơi nhanh làm cơ thể chúng tôi ấm lên. Những gì chúng tôi được dạy ở BUD/S thật chính xác: Mẹ Đại dương là nguồn an ủi và là sự an toàn của bạn.

Khi trực thăng đến gần, chúng tôi xếp hàng cách nhau 5 m, để lộ ra tia thiết bị hồng ngoại được gắn vào các áo phao bơm phồng. Chiếc trực thăng lượn trên đầu, cánh quạt khuấy tung bọt biển. Nước biển mặn táp vào mặt nạ của tôi. Một chiếc thang cuốn được thả xuống, tôi móc khuỷu tay vào một thanh ngang leo lên. Khi chân tôi đặt lên chiếc thang, tôi chân đẩy người lên chứ không dùng cánh tay để

kéo, như vậy sẽ không làm cánh tay tôi rã rời. Khi lên đến đỉnh thang, tôi dùng tay đu người lên chiếc trực thăng.

Khi tất cả chúng tôi đã lên máy bay an toàn, một thành viên đội bay kéo chiếc thang lên và chiếc trực thăng đưa chúng tôi đi. Bên trong máy bay, chúng tôi vỗ lưng nhau và thở phào nhẹ nhõm. Chắc là do con tàu Kennedy đã đi gần chúng tôi hơn nên chuyến trở về không lâu như trước nữa. Chúng tôi đã hoàn thành một nhiệm vụ bí mật mà có người cho rằng vô cùng quan trọng.

Một vài ngày sau, tôi lại đứng ở bên ngoài CVIC. Lần này chỉ có DJ và tôi. Mark gọi chúng tôi vào và một lần nữa, chúng tôi gặp Người Không Tên.

Ông bắt tay chúng tôi và không lãng phí thời gian, ông nói: “Chúng ta vào chuyện luôn nhé?”.

Chúng tôi gật đầu.

Ông giải thích: “PLO lên tiếng ủng hộ cuộc xâm lược Kuwait của Saddam Hussein. Hiện họ đã bắt đầu làm ăn ở Iraq. Người Iran đang hợp tác với PLO để huấn luyện khủng bố tấn công các lực lượng liên minh. Gần đây, họ đã gài một thiết bị IED ven đường và một xe của ta đã vấp phải. Chúng tôi muốn các anh định hướng cho một tên lửa dẫn đường tấn công mục tiêu doanh trại PLO-Iran ở Đông Nam Iraq, sau đó gửi cho chúng tôi một Báo cáo đánh giá thiệt hại chiến trường (BDA).”

Mark thảo luận kế hoạch của ông với chúng tôi, sau đó DJ và tôi ra ngoài để chuẩn bị quân trang. Như mọi lần, chúng tôi phải chắc chắn rằng mình không có gì bắt sáng hoặc gây ra tiếng ồn trên người, do đó chỉ cần một lớp sơn hay một cuộn băng màu cát là mọi việc sẽ ổn. Sau khi chuẩn bị xong hành trang, cuối buổi chiều, chúng tôi lên chiếc máy bay Sea King từ sân bay của tàu John F.Kennedy. Tôi ngủ suốt và tỉnh dậy khi máy bay hạ cánh xuống căn cứ tiền tiêu. Trời đã tối hơn – thời khắc sắp điểm rồi. Một người dân tên là Tom với gương mặt chất phác, mặc quần bò xanh và áo phông xám đưa cho chúng tôi chìa khóa của chiếc Humvee: “Tôi vừa rửa xe bóng loáng rồi đấy.” Tôi nhìn chiếc xe cáu bẩn và mỉm cười. Tuyệt.Vì trời không mây và có trăng khuyết, DJ và tôi có thể quan sát được trong bóng tối. Kẻ thù chắc cũng nhìn thuận lợi, nhưng bầu trời trong sẽ giúp tên lửa tìm được mục tiêu. Sau khi lái 48 km qua sa mạc

để tránh đường sá, nhà cửa, các khu vực đông dân cư và các bốt điện thoại, chúng tôi tới một địa điểm có địa hình hơi trũng xuống, khoảng 3m giống y như những gì chúng tôi đã thấy trên bản đồ vệ tinh ở CVIC. Sau khi tạo các dấu vết giả quanh vị trí của mình, chúng tôi dừng lại ở chỗ trũng và xóa dấu vết xâm nhập. Tiếp theo, chúng tôi bọc chiếc xe bằng lưới ngụy trang sa mạc. Chúng tôi nằm cạnh nhau dưới đất, mặt hướng ra các phía khác nhau, lặng lẽ quan sát và lắng nghe để phát hiện khi có người đến. Những phút đầu trôi qua thật căng thẳng. Đó có đúng là bụi rậm không? Có thể họ đang theo dõi chúng tôi. Họ có bao nhiêu người? Liệu chiếc Humvee có khởi động lại được không nếu chúng tôi cần thoát ra? Liệu chúng tôi có chạy kịp không? 30 phút sau, tôi lấy lại bình tĩnh và tiến về phía trước, sử dụng GPS để định hướng. Vì chỉ có hai người, hỏa lực của chúng tôi sẽ yếu hơn so với một thủy thủ đoàn và chúng tôi cần cẩn trọng hơn để không bị phát hiện. Thính giác của tôi trở nên nhạy bén với từng âm thanh nhẹ nhất. Chúng tôi cúi mình khi bước đi, chậm chạp và lặng lẽ, tránh khu đất cao có thể khiến bóng của mình nổi lên.

Sau gần 5 km, tới chân một quả đồi. Doanh trại PLO-Iran nằm ở phía bên kia. Tôi đi trước DJ và chúng tôi leo gần 200m cho đến khi tới gần một cái dốc. Khi đến gần đỉnh đồi, chúng tôi bò thấp người vòng sang phía bên kia đồi. Cách đó khoảng 1,6 km, tôi nhìn thấy bức tường của một doanh trại hình tam giác có tháp canh ở các góc bao quanh ba tòa nhà lớn bên trong. Tôi cũng nhìn thấy một người lính đối phương đang ngồi cách 60m về phía bên phải của quả đồi với ống nhòm quanh cổ và trên lưng là khẩu súng trường.

Tôi dừng lại và ra hiệu cho DJ bằng một nắm đấm giơ lên: Dừng lại. DJ dừng lại. Người lính gác vẫn ngồi im.

Sau khi chỉ hai ngón tay vào mắt mình rồi chỉ về hướng người lính gác, tôi bò trở lại. DJ cũng rút ra. Chúng tôi đi vòng lại sau lưng đồi cho đến khi tìm thấy một cái dốc khác. Lần này khi đi ngang qua, chúng tôi thấy rõ mục tiêu không có lính gác ở gần đó. Mắt chúng tôi tìm kiếm khu vực xung quanh rồi nhìn ra xa hơn cho đến khi trại lính lọt vào tầm mắt. Chúng tôi chỉ có thể nhìn thấy duy nhất những người lính bảo vệ trên các tháp canh.

Trong khi tôi cảnh giới, DJ gửi đi một thông điệp mã hóa qua chiếc đài mang theo để báo cho USS San Jacinto biết vị trí của chúng tôi. Chắc là có một thông điệp khẩn được hồi đáp vì DJ gật đầu, ra hiệu “tiếp tục” cho tôi.

Tôi lấy ra thiết bị chỉ thị mục tiêu hạng nhẹ (AN/PED-1 LLDR) (thực ra cũng không nhẹ lắm) và giá đỡ của nó trong khi DJ bảo vệ vòng ngoài. Sau khi đánh dấu vị trí của mình bằng một đèn hiệu, tôi vẽ tòa nhà giữa trong doanh trại PLO-Iran, đánh dấu nó bằng các nhịp ánh sáng vô hình đã được mã hóa của đèn laze. Ánh sáng này sẽ phản vào mục tiêu và chiếu lên trời để tên lửa Tomahawk phát hiện được.

Tên lửa hành trình dường như bay song song với mặt đất. Một vệt khói trắng vờn quanh cái đuôi đang cháy của nó. Tomahawk dần dần hạ xuống cho đến khi nó đánh trúng vào tòa nhà trung tâm, và 500 kg thuốc nổ phát nổ thành một quả cầu lửa kéo theo những đám khói đen mịt mù. Cơn chấn động và các mảnh vỡ rơi xuống làm vỡ toác tường của hai tòa nhà khác gần đó, gây ra vụ nổ thứ phát ở một tòa nhà − có lẽ là nơi chứa các chất nổ dùng để sản xuất thiết bị IED. Hai trong số ba tháp canh bị vỡ tung. Qua ống nhòm, tôi nhìn thấy rõ một lính canh văng ra khỏi tháp và bay trong không khí như một con búp bê bằng bông. Bức tường của trại lính chỉ còn là một đống đổ nát. Tôi không thấy ai chạy ra từ doanh trại. Từ ngọn đồi của chúng tôi, người lính gác chạy bổ về phía doanh trại, hy vọng tìm thấy người sống sót trong số bạn bè của anh ta.

Chúng tôi thu dọn và đi theo đường khác đến chỗ để xe. Người ta thường dễ trở nên thỏa mãn trên đường về, vì vậy quan trọng là chúng tôi phải thận trọng hơn. Sau khi gỡ bỏ lưới ngụy trang, chúng tôi nhảy lên xe và lái đi. Một lần nữa chúng tôi lại đi đường khác với đường vào lúc ban đầu.

Trên đường lái xe về nhà, tôi phát hiện một vị trí giống như một nửa boongke của địch trồi trên mặt đất. Tôi đi vòng để tránh nó và chiếc Humvee bị sa xuống cát. Khi tôi cố gắng tăng ga để đưa chiếc xe thoát ra thì bánh xe càng lún sâu xuống làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn.

Đúng lúc đó, một đám lính Iraq đi ra ngoài boongke.

DJ và tôi chĩa súng CAR-15 vào họ.

14 người bọn họ giơ tay lên trời và bước về phía chúng tôi. Tôi không nhìn thấy sự đe dọa trên gương mặt của họ. Họ bẩn thỉu và hôi hám. Da của họ như dính chặt vào xương; không biết là họ đã nhịn đói bao lâu rồi. Họ đặt tay lên miệng, cử chỉ thông dụng quốc tế biểu thị hành động muốn xin thức ăn. Trong cuộc chiến, một số lính Iraq thậm chí còn đầu hàng cả những nhóm quay phim, họ rất sẵn sàng đầu hàng và không muốn chiến đấu.

Trên mặt đất, những tấm vải rách được họ dùng để nút chặt các đầu súng trường nhằm ngăn cát lọt vào. Chúng tôi bước ra khỏi xe và yêu cầu họ dùng tay đào một cái hố. Sau đó chúng tôi ra lệnh thả vũ khí vào đó. Trong khi làm, dường như họ càng sợ hãi hơn, chắc là họ tưởng chúng tôi sẽ hành hình họ ngay sau đó. Chúng tôi ra hiệu cho họ phủ đất lên cái hố. Họ bớt sợ hãi hơn và tuân lời. Có lẽ trong số đó có những người đã có vợ con. Đa số họ đều tầm tuổi tôi. Sự sống chết của họ hoàn toàn nằm trong tay tôi. Họ nhìn tôi như thể tôi là Chúa Trời vậy.

Lòng trắc ẩn dâng trào, tôi đưa cho họ hai khẩu phần MRE mà tôi đã chuẩn bị để làm khẩu phần ăn khẩn cấp trong trường hợp phải đào thoát và lẩn trốn. Với 14 người thì số thức ăn đó không phải là nhiều, nhưng họ chia đều cho tất cả. Một người thậm chí còn ăn cả Chiclets. Ồ, bạn biết đấy, đó thực sự là kẹo cao su bọc đường, nhưng ăn đi. Không sao đâu, cứ ăn đi. Chúng tôi cho họ gần hết số nước uống của mình. Họ khoanh tay và cúi đầu thành kính để cảm ơn chúng tôi. Họ đã rất khôn ngoan không tìm cách chạm vào người chúng tôi hoặc xâm phạm vào không gian cá nhân của chúng tôi.

Những tia nắng đầu tiên xuất hiện phía chân trời. Đã đến lúc phải đi. Chúng tôi yêu cầu đám tù binh đặt tay lên đầu. Tôi đánh dấu vị trí chiếc Humvee trên GPS và đi bộ phía trước trong khi DJ bám theo để bảo vệ phía sau. Nếu có viên phi công nào đó bay qua và phát hiện ra chúng tôi, anh ta sẽ rất ngạc nhiên khi thấy cảnh chỉ có hai người Mỹ cùng 14 tù binh bị bắt giữ đang đồng hành ở giữa sa mạc. Chúng tôi trông như là những vị thần chiến tranh vậy. Hai lính SEAL Hải quân bắt giữ 14 lính Iraq.

Khi chúng tôi tới căn cứ, Tom cự nự: “Các anh đem cho chúng tôi những gã này làm cái quái gì vậy?” “Ồ, thế anh muốn chúng tôi làm gì với họ?”

“Giữ họ lại.”

“Chúng tôi không thể giữ họ được.”

Không lâu sau trực thăng đến và chúng tôi để đám tù nhân của mình ở đó. Họ vẫn khoanh tay cúi đầu và cảm ơn chúng tôi. Chiếc trực thăng cất cánh đưa chúng tôi trở lại tàu John F. Kennedy.

Hồi ở BUD/S và cho đến tận lúc đó, tôi cứ nghĩ rằng tất cả những người mà chúng tôi chống lại đều là người xấu. Rằng chúng tôi đạo đức hơn họ. Tôi dùng ngôn ngữ để làm cho việc giết chóc trở nên đáng trân trọng hơn: “tàn phá”, “loại trừ”, “trừ khử”, “kết liễu”, “tống khứ”… Trong quân đội, đánh bom được gọi là “tấn công nhanh gọn mục tiêu quân sự” còn dân thường thiệt mạng thì gọi là “tổn thất phụ”. Thực hiện mệnh lệnh là lý lẽ giúp gỡ bỏ trách nhiệm giết chóc khỏi vai tôi và đặt nó vào một cấp độ cao hơn. Khi tôi ném bom khu doanh trại, tôi càng giảm tránh trách nhiệm của mình bằng việc chia sẻ nhiệm vụ: Tôi đánh dấu mục tiêu, DJ thông báo cho tàu và ai đó thì nhấn nút phóng tên lửa. Không có gì lạ khi những người lính chiến thường “vô nhân đạo hoá” kẻ thù − miệt thị những người Iraq thành “những cái đầu giẻ rách” và “những kẻ ngu dốt cưỡi lạc đà”. Trong văn hoá chiến tranh, ranh giới giữa nạn nhân và kẻ chiến rất mong manh. Tất cả những điều này giúp tôi thực hiện nhiệm vụ, nhưng cũng có thể bịt mắt không cho tôi thấy được nhân tính của đối phương.Dĩ nhiên SEAL đã huấn luyện chúng tôi phải xác định mức độ bạo lực phù hợp với yêu cầu của tình huống, phải được điều chỉnh tăng và giảm giống như điều chỉnh một công tắc đèn vậy. Không phải lúc nào bạn cũng muốn chùm đèn sáng lên. Nhưng đôi khi bạn lại muốn làm vậy. Cái công tắc đó vẫn ở trong tôi. Tôi không muốn, nhưng có thể bật nó lên khi cần. Tuy nhiên, việc huấn luyện không chuẩn bị cho tôi cách thức đánh giá nhân tính trong 14 con người cụ thể đó. Đó là điều mà bạn phải trực tiếp chiến đấu mới có thể cảm nhận được. Không thể là đánh trận giả. Có thể tôi nên găm một viên đạn vào đầu của mỗi người bọn họ và khoe khoang về việc tôi đã tiêu diệt được bao nhiêu tên. Một số người nghĩ về lính SEAL chỉ như là những cỗ máy kích động và giết người không cần suy nghĩ: “Ồ, anh là một kẻ ám sát.” Tôi không thích điều đó. Tôi không tán thành chuyện đó. Nhiều người lính SEAL hiểu rằng nếu bạn có thể thực hiện một chiến dịch mà không gây tổn thất về nhân mạng thì đó là một chiến dịch tuyệt vời.

Nhìn thấy 14 người đó, tôi nhận ra rằng họ không phải là kẻ xấu. Họ chỉ là những kẻ bần cùng gần như chết đói, thiếu trang thiết bị, không có súng, không có tư tưởng, đi theo kẻ người điên rồ nào đó, kẻ đã quyết định xâm lược một nước khác. Nếu họ không đi theo kẻ điên rồ đó thì Vệ binh Cộng hòa sẽ hành quyết họ. Tôi cho rằng họ đã mất ý chí chiến đấu. Và có lẽ họ thậm chí chưa bao giờ có ý chí chiến đấu ngay từ giây phút đầu tiên.

Họ cũng là chỉ là những con người giống tôi. Tôi khám phá nhân tính của mình và nhân tính của những người khác nữa. Đó là một bước ngoặt đối với tôi − đó là lúc tôi trưởng thành. Chuẩn mực của tôi về phải và trái trong chiến đấu trở nên rõ ràng hơn, được xác định bằng những gì tôi làm và không làm. Tôi đã cho 14 người lính Iraq thức ăn và đưa họ tới một nơi an toàn hơn. Tôi không giết họ. Bất kể bạn thắng trận hay thất trận thì chiến tranh vẫn là địa ngục.

Quay trở lại tàu Kennedy, trí óc tôi như đã sáng hơn. Mặc quần soóc và áo phông ngồi trên ghế lau súng, tôi suy nghĩ về cách mình đã gặp kẻ địch gần đến thế. Tôi biết rằng mình có thể đối chọi và đánh bại họ ở một mức độ bạo lực nhất định. Hơn nữa, tôi nhận ra rằng quan trọng là phải hiểu kẻ địch của chúng ta cũng là con người.

Chiến dịch Bão táp sa mạc chỉ diễn ra trong 40 ngày. Chúng tôi giận dữ vì không được đến Baghdad để tham gia kết thúc chiến dịch. Tàu Kennedy dừng lại ở Ai Cập, nơi chúng tôi đưa tất cả trang thiết bị khỏi tàu và nhận phòng một khách sạn năm sao ở Hurghada. Vì không phải là mùa du lịch và chiến tranh mới xảy ra nên chúng tôi là nhóm khách duy nhất. Khi chúng tôi đang ăn tối, trung đội trưởng bước vào và vỗ vào lưng tôi: “Chúc mừng, Wasdin, cậu đã lên Hạng.” Tôi đã được thăng từ E-5 lên E-6. Với Howard, cuộc đời mới thật thú vị làm sao! Chúng tôi đợi hai tuần để được bay trở lại Machrihanish, Scotland, kết thúc 6 tháng tham chiến.

Tôi không hồi tưởng, không gặp ác mộng, không khó ngủ, không mất khả năng tập trung, không suy nhược và cũng không tự coi thường bản thân vì đã tham gia vào một cuộc giết chóc lần đầu tiên − nhìn thấy người lính bị thổi bay khỏi tháp canh của PLO và rơi xuống đất tử vong. Những cảm xúc đó dường như ít bắt gặp hơn trong số binh sĩ các lực lượng đặc biệt. Có thể là do phần lớn những người nhạy cảm với trạng thái căng thẳng đó đã bị loại ra trong quá trình huấn luyện BUD/S và việc huấn luyện căng thẳng đã giúp binh sĩ sẵn sàng hoạt động với cường độ cao trong chiến tranh. Tôi bắt đầu lập cách kiểm soát suy nghĩ, cảm xúc và nỗi đau của mình từ rất sớm − đó là vấn đề sống còn − và điều đó đã giúp tôi ứng phó được với những thách thức trong các đội. Tôi đã chịu đựng được những đau đớn từ sự ác nghiệt của bố dượng tôi, từ Tuần Địa ngục và các kinh nghiệm khác và đặc biệt, tôi đã trải qua chiến tranh.

Mặc dù vậy, thực ra thâm tâm tôi rất lo lắng khi lần đầu tiên giết chóc. Tôi lo lắng không biết liệu mình có làm đúng không. Trên ti vi hay các trò chơi video, dường như giết chóc không phải là chuyện gì to tát cả. Tuy nhiên, tôi đã buộc phải ra quyết định kết thúc sự sống của ai đó. Những người mà tôi giết sẽ không bao giờ gặp lại gia đình họ nữa. Sẽ không bao giờ được ăn hay sử dụng nhà vệ sinh nữa. Không bao giờ thở nữa. Tôi lấy đi mọi thứ mà họ có hoặc sẽ có. Đối với tôi, đó là một chuyện lớn. Tôi không thể coi nhẹ điều đó được. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn không coi nhẹ nó. Trong một chuyến về thăm nhà, tôi nói chuyện với Cha Ron: “Khi chiến đấu, lần đầu tiên con đã giết người. Con làm có đúng không, thưa Cha?”.

“Con đã phụng sự đất nước đúng theo luật pháp.”

“Chuyện này sẽ ảnh hưởng như thế nào tới con khi thời gian qua đi thưa Cha?” “Điều đó sẽ không thể có tác động tiêu cực đến tiếng tăm của con đâu.” Lời lẽ của Cha đã an ủi tôi. Em gái út của tôi, Sue Anne, một nhà trị liệu tâm lý cho rằng tôi có gì đó không ổn. Tôi không thể xử sự bình thường được nếu không kìm nén điều gì đó. Sue chỉ không hiểu thực tế rằng tôi thực sự thoải mái với quyết định của mình và ổn định về tinh thần.Có một vài bí mật giữa những người lính SEAL với nhau. Chúng tôi thường xuyên quanh quẩn bên nhau và hiểu rất rõ nhau. Tôi biết màu tóc con gái của một người bạn, cỡ giầy của vợ anh ta và mọi việc đang diễn ra. Tôi biết chi tiết về bạn bè của mình nhiều hơn những gì mà tôi muốn biết. Tôi cũng biết ai muốn thử sức sang Đội SEAL số 6.

Smudge, DJ, 4 người khác từ các lực lượng SEAL ở trung đội Foxtrot và tôi nộp đơn xin gia nhập Đội SEAL số 6. Smudge, DJ và tôi vượt qua được vòng xét duyệt hồ sơ, nhưng những người khác thì không được chọn. Một người tỏ ra rất tức giận vì anh là lính SEAL thâm niên hơn tôi. Đơn xin gia nhập của chúng tôi đã được chấp nhận, và khi Chỉ huy trưởng của Đội 6 đến thăm đơn vị chúng tôi, ông phỏng vấn chúng tôi. Trớ trêu là lẽ ra đơn vị chúng tôi chỉ có một người được chấm qua vòng phỏng vấn và cạnh tranh cho vòng tiếp theo, nhưng cả ba chúng tôi đều đạt, điều đó có nghĩa là Đội nào đó khác sẽ có tỷ lệ trượt cao hơn.

Đơn vị cho chúng tôi một khoảng thời gian để tham gia cuộc phỏng vấn vào Đội 6 vốn thường chỉ diễn ra mỗi năm một lần. Tháng Năm năm đó, tôi được tham gia kỳ kiểm tra chính ở Dam Neck, Virginia, mặc dù Đội 6 thường yêu cầu những người xin gia nhập phải có ít nhất 5 năm kinh nghiệm ở SEAL. Những người lính SEAL xếp hàng để được phỏng vấn trông như những đứa trẻ hồi hộp chờ đợi được cưỡi xe trên Đỉnh Vũ trụ ở Disneyland. Những người như chúng tôi bay đến từ Scotland. Những người khác từ California, Puerto Rico, Phillippines và nhiều nơi khác. Đối với một vài người, đây không phải là lần đầu tiên họ được phỏng vấn.

Bên trong phòng kiểm tra, những người phỏng vấn tôi hầu hết đều là lính SEAL có thâm niên − những người lính SEAL thực thụ. Họ thể hiện phong cách rất chuyên nghiệp. Những người phỏng vấn hỏi tôi nhiều về nhận thức các sự vật. Về những trận đánh mà tôi đã tham gia. “Nhược điểm của anh là gì? Anh cần làm việc ở đâu?” Với một người lính SEAL trẻ, thật khó mà có câu trả lời rõ ràng. Nếu bạn không nhận thức được những điều đó và không có ý chí thực hiện chúng thì làm sao bạn có thể tiến bộ được?

Một người thử làm tôi bối rối một chút: “Anh có uống nhiều rượu không?” “Không.”

“Nhưng anh có đi ra ngoài uống rượu với bạn bè chứ?” “Vâng.”

“Và anh uống hết mình?” “Không?”

“Anh có uống nhiều không?”

“Tôi không biết trả lời câu hỏi đó thế nào. Có điều tôi muốn nói rằng tôi không uống đến mức để lại hậu quả.” Tôi không uống đến mức đau đầu, chóng mặt hay say mèm. “Nếu bạn bè của tôi vào thị trấn và uống rượu, 99% là tôi đi với họ. Nếu có việc phải làm, chúng tôi không uống. Vì thế tôi không biết trả lời lại thế nào. Tôi không uống đến mức nguy hại. Tôi uống vì tình bạn.”

Ông ấy mỉm cười: “Tốt.”

Tôi rời khỏi phòng, băn khoăn không biết mình đã làm thế nào. Tiến trình kiểm tra và phỏng vấn là một kinh nghiệm lạ lẫm đối với tôi. Lát sau, một lãnh đạo cao cấp bước ra và bảo tôi: “Đó là cuộc phỏng vấn tốt nhất mà tôi từng tham dự.”

“Nhưng tôi mới chỉ phục vụ ở SEAL được hai năm rưỡi.”

“Anh đã có đủ kinh nghiệm thực tế. Tôi chắc là điều đó sẽ có ích đấy.”

Nếu tôi không tham gia chiến dịch Bão táp sa mạc, có lẽ tôi sẽ phải đợi hai năm rưỡi nữa.

Hai tuần sau, Chỉ huy trưởng Norm Carley gọi Smudge, DJ và tôi vào văn phòng của mình. Ông cho chúng tôi biết thời điểm trở thành người của Đội Em út Xanh lục (Green Team), việc chúng tôi được tuyển chọn và sẽ được huấn luyện để trở thành binh sĩ Đội SEAL Số 6. “Chúc mừng các anh! Tôi không muốn thấy các anh rời bỏ chúng tôi, nhưng ở Đội SEAL số 6 các anh sẽ gặp rất nhiều điều thú vị đấy.”