This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Thiên hạ đồn rằng lục cụ Tăng Liên có phép mầu nghe được tiếng chim kêu, gió thổi và nghe cả đến tâm sự từng giọt nước, từng hạt bụi trong lòng đất. Ngày hôm qua, theo sự hướng dẫn của cụ, chú phó hương quản Hem đã đào được một chiếc ghe ngo. Không biết ghe này chôn vùi từ bao lâu rồi; chỉ biết là đất phù sa đã lắp lên gần một thước. Lục cụ Tăng Liên bèn thắp nhang giữa ruộng, đọc kinh lâm râm. Chập sau, cụ quì xuống trân trọng đặt tay lên mũi ghe. Ghe chưa quá mục, thân hãy còn ngời lên màu nước sơn đỏ chói. Cụ lẩm bẩm: – Lâu lắm rồi… Hồi xưa kia, chừng năm bảy trăm năm qua, vùng này giàu có, sung túc. Cừ xem chiếc ghe kia cũng đủ biết người xưa tài giỏi hơn người nay… Chú phó hương quản Hem nói: – Thưa cụ, tìm được di tích này âu cũng là may mắn cho xóm mình. Không hiểu theo tục lệ mình có nên đào chiếc ghe này, đem xác nó về gần chùa mà thờ? – Không được. Chiếc ghe ngo dài trên năm mươi thước. Khoảng giữa, cây đã mềm, làm sao đem về chùa nguyên vẹn được. Không khéo, chúng ta hủy hoại công trình người xưa. Thà chúng ta đừng gặp chiếc ghe này còn hơn là gặp mà phá hủy. Chú biết ghe ngo là gì không? Nó là hiện thân của rắn thần Naga, linh hiển lắm. Hồi đức Thích Ca ngồi thiền bên bờ hồ giữa rừng, rắn Naga là thần ác. Hôm ấy mưa to gió lớn, đức Thích Ca cảm hóa được rắn. Rắn bèn quấn tròn chung quanh và ngẩng đầu lên cao để che mưa gió cho đức Thích Ca. Từ đó về sau, người Miên khoét thân cây sao, theo hình rắn, hằng năm bơi đua trên sông để mừng mùa nước nổi. Chú phó hương quản Hem đứng nghe, tỏ vẻ thành kính rồi đi theo sau lục cụ mà về chùa. Chuyến về, cả hai im lặng. Nắng chang chang. Thỉnh thoảng, họ quay lại nhìn cánh đồng mênh mông, cỏ non vừa mọc xanh rớn. Nơi ruộng sâu, nước ngập lên khỏi mắt cá, lác đác vài người lo cày bừa. Lục cụ nhìn chú phó hương quản, chú phó hương quản nhìn lục cụ. Linh tính như báo trước vời họ điềm gì. Ðiềm ấy lợi hay hại? Một chiếc ghe ngo bị chôn vùi từ năm sáu trăm năm, nay bỗng nhiên hiện ra chào ánh mặt trời! Như thường lệ, lục cụ Tăng Liên vào liêu an nghỉ. Phó hương quản Hem tỏ vẻ bối rối. Chú ngồi không yên. Chú không muốn về nhà khi bao nhiêu lo âu còn chồng chất, xao động trong lòng. Một ý nghĩ thoáng qua, chú lập tức bước qua bên hông chùa, nơi trại lá. Dưới trại, một chiếc ghe ngo dài kê lên cao, sơn phết kỹ lưỡng. Chiếc ghe này liên tiếp bốn mùa nước, đã làm vinh diệu cho chùa; cứ mỗi kỳ đua là thắng giải nhứt. Chú nhìn chiếc ghe từ mũi chí lái: bề ngang chừng tám tấc nhưng bề dài đến năm mươi thước. Hình ảnh con rắn thần Naga mà lục cụ giảng giải khi nãy hiện ra trước mặt chú. Hai con mắt ghe chớp lên. Toàn thân ghe như rung chuyển, ngời từng đốm xanh đỏ như vảy rắn. Lái ghe, đằng xa kìa, như quơ qua quơ lại. Gió thổi rào rạt vào trại lá. Ào! Ào! Hai tai chú nghe lùng bùng tiếng cồn, tiếng trống, tiếng hò reo. Ghe nọ run mình đòi phóng tới, gân cốt chuyển nghe răng rắc. Khiếp quá!
Lục cụ ngồi trong liêu, ngóng đợi phó hương quản Hem để ra ruộng nghiên cứu xác chiếc ghe thiên cổ nọ. Trời quá trưa. Rồi mãi xế chiều, chú phó hương quản mới tất tả bước vào, lạy cụ hai lạy như thường lệ. Ðôi mắt chú phó hương quản sáng lên: – Vì có lịnh ông Ðốc Phủ chủ quận nên tôi phải đi hầu, về trễ. Lục cụ sửng sốt: – Ðòi việc gì? – Dạ, ông Ðốc Phủ dạy chùa mình đúng ba ngày nữa phải đem ghe tới chợ Gò Quao mà đua với ghe của mấy chùa khác. Không tuân thì có tội. – Tội gì? Mới tháng này, chưa tới mùa rước nước! Ðua ghe như vậy trái với tục lệ. Chú phó hương quản cố suy nghĩ: – Dạ nghe nói lễ lớn lắm. Lễ của Tây, ngày 14 tháng 7. Theo mọi năm, ở Rạch Giá mới có lễ. Năm nay, quận Gò Quao mình bắt chước phát phần thưởng. Lục cụ Tăng Liên nghiêm mặt lại. Ðem ghe ngo của nhà chùa để đua, ăn mừng một ngày lễ chẳng liên quan gì đến dân mình nghĩ cũng khó xử thật. Không tham dự là chống lại với nhà nước Lang Sa, còn tham dự thì mất cả ý nghĩa thiêng liêng. Lục cụ bước ra khỏi liêu, đi vòng qua trại lá để ngắm chiếc ghe ngo. Cụ nói: – Ðua thì cũng được. Ngặt mình không sửa soạn trước. Rủi thua thì mất danh xóm này. Phải bào lại cho láng, sơn hai lớp thật kỹ. Chú phó hương quản biết không? Ghe không trơn láng đi chậm lắm, dầu mình cố sức bơi. Cẩu thả như thế này… Chú phó hương quản nói: – Ðây là chuyện cực chẳng đã. Chùa nào cũng vậy, họ đâu có thời giờ sửa soạn kỹ hơn mình. Dầu muốn hay không, mình cũng phải đua. Nghe nói thì quan trên giúp mỗi người một ổ bánh mì, mười người lãnh một hộp sữa. Ai về nhứt, được giải… thưởng danh dự. Lục cụ gật đầu: – Phải, nhưng mà… chú chắc mình thắng kỳ này không? Chú phó hương quản cười dòn: – Dạ chắc. Dân xóm mình bơi giỏi lắm; hơn nữa, mới tìm được xác chiếc ghe ngo xưa. Ghe có hồn, lục cụ à! Hồn chiếc ghe xưa giúp chiếc ghe đời nay. Hồi hôm qua, hèn chi tôi nghe chiếc ghe ngo này chuyển mình răng rắc như sung sức lắm. Thế là sáng hôm sau lục cụ đích thân đọc kinh làm phép cho ghe ngo. Ghe đẩy xuống nước; bao nhiêu trai tráng trong làng hò reo vang dậy như… lân thấy pháo. Sáu mươi bốn cây đầm nhỏ phân phát ra, mỗi người một cây. Trước mũi ghe, cây lọng đỏ giương lên che một cái khay nhỏ đầy rượu, nhang, trầu, hao quả và một ông Phật bằng vàng lớn cỡ ngón tay cái. Chú phó hương quản được hân hạnh lãnh trách nhiệm chỉ huy cuộc chiến đấu sắp tới. Chú lạy lục cụ rồi đến ngồi nơi mũi ghe, dưới bóng cây lọng. Ba mươi cặp thanh niên lự lưỡng từ từ bước xuống, ngồi sắp hàng hai. Bè ghe khẳm, ngang mí nước, tưởng chừng xê xích một phân nữa là chìm. Nhưng không đâu! Chú phó hương quản đã vấn chiếc khăn nhiễu đỏ lên đầu rồi đánh vào cái cồn nhỏ: – Môn! Môn! Môn!… Ðoàn lực sĩ hạ dầm xuống khoát nước, nhịp nhàng. Chiếc ghe ngo phóng tới từng bực rồi nổi lên cao khỏi mặt nước. Nước văng trắng xóa hai bên. Ta thấy chú phó hương quản nâng cây dầm lên cao khỏi đầu, bơi trên không khí. Tập dượt như vậy năm bảy bận, chú phó hương quản bắt đầu yên tâm. Lục cụ mỉm cười, ghé miệng vào tai chú mà căn dặn lần chót: – Ngày mốt, khi sắp hàng, chú nhớ kỹ: nếu họ sắp cho mình ở phía bờ bên này thì mình phải lấn tới chừng một tấc. Nước ngược chảy bên này mạnh hơn. Chùa Sóc Ven có bùa. Tránh đừng cho bên họ đụng nhằm ghe mình: không khéo ghe mình đứt ra làm hai khúc. Có bề gì chú ngậm ông Phật vàng vào miệng. Nhớ dặn anh em bên mình uống rượu bớt một chút. Mỗi người, phần ba lít là vừa. Tuy nằm nhà, lục cụ Tăng Liên vẫn theo dõi được cuộc đua ghe. Cụ nhắm mắt định trí, tai lắng nghe tiếng cồn của ghe gho chùa mình. Nó khác hẳn giọng cồn của chùa khác, cao vút hơn, thanh tao hơn. Từ sáng đến trưa, tiếng “môn, môn, môn” nghe đều đều. Cụ nhướng mắt, cau mày rồi chập sau ngáp dài, thông cảm: ngoài kia, họ “cáp” độ chưa được. Theo thường lệ, khi xuất phát hai chiếc ghe không ở lằn mức nào nhứt định. Sông quá rộng. Hai bên cứ bơi chầm chậm lấy trớn tới. hai vị chỉ huy liếc mắt nhìn nhau, khi nào đồng ý đua thì mới bắt đầu. Họ mãi “so cựa” với nhau như vậy. Bỗng giữa trưa, tiếng cồn thúc giục rồi im bặt. Lục cụ đứng dậy, đọc kinh lâm râm, đi tới đi lui trước sân chùa. Chao ôi! Ngoài sông Cái Lớn, hai chiếc ghe ngo đã biến thành hai con rắn thần bay trên mặt nước. Kìa, phó hương quản Hem đỏ rực như cây đuốc: khăn đỏ, mắt đỏ và da thịt đỏ vì rượu, vì máu nóng, vì ý chí bảo tồn danh dự của chùa mình. Kìa! ghe của đối phương đang liều mạng xắn vào hông ghe bên này để được huề vì hai bên đềy chìm. Nhưng người coi lái bên này nhanh tay. lách qua được. Phó hương quản Hem vội chụp lấy cây dầm nhỏ, nâng lên cao, bơi trên gió như thu hút tất cả sức mạnh của trời, của đất. Ghe vượt qua. Ðoàn dũng sĩ ôm cán dầm sát vào ngực, ngã mạnh tới, chuyển tất cả nhân lực vào mái dầm. Nước bay trắng xóa. Sau cùng, phó hương quản vội cầm ông Phật vàng trong khay, bỏ vào miệng mà ngậm. Lục Cụ Tăng Liên hình dung cảnh tượng dưới sông Gò Quao như vậy. Nó có thật không? Mồ hôi tươm xuống lưng, thấm ướt áo cà sa. Cụ chắp tay vái Trời Phật rồi vào trong liêu nằm xuống thở mệt, đợi chờ. Chiều hôm đó, tiếng hát vang dậy, tiếng cồn nhịp nhàng đưa đến ngày một gần. Lục cụ đoán đó là điềm chiến thắng. Cụ rửa mặt, lên chùa thắp nhang để tạ ơn đức bên trên. Nhưng phó hương quản Hem bước vào lạy cụ. Gương mặt của chú lạnh như đồng, gợn chút gì buồn bã. Lục cụ hỏi: – Sao vậy? Mình thua người ta à? Chú đáp: – Dạ, mình thắng. Nhưng mà… – Sao? – Nhưng mà được giải thưởng… Lục cụ trố mắt: – Ðược giải thưởng, có gì mà chú ngại. Tiền bạc hả? Vải bô hả? Nhang đèn hả? Năm nay, nhà nước cho vật gì? Chú phó hương quản Hem im lặng, chập sau mới bước ra ngoài đem vào một gói giấy lớn, từ từ mở ra thì ô hô! Ðó là một lá cờ tam sắc to tướng. Chú nói: – Cái này của ông Ðốc Phủ tặng chùa mình, phần thưởng hạng nhứt. Lục cụ không nói nửa tiếng, nuốt nước miếng như cố nén chút gì tủi nhục, xót xa. Hồi lâu, cụ lắc đầu, cười xòa rồi đỡ chú phó hương quản đứng dậy. Hai người bước ra sân. Một quang cảnh náo nhiệt diễn ra: bao nhiêu trai tráng đang nằm trên bãi cát, trên đất bùn. Kẻ thì hát nghêu ngao. Kẻ thì ôm ngực mửa ra nào là rượu, bánh mì, kẻ thì vói tay lên như gào thét, đòi thêm rượu nữa. Chú phó hương quản nói: – Dạ, bây giờ mình khiêng ghe ngo lên trại, mai mốt sợ không ai rảnh. Lục cụ nói: – Phải. Rồi chú ở đây với tôi. Tôi buồn quá. Có chút chuyện cần. Chú phó hương quản sực nhớ đến chiếc ghe ngo thiên cổ vừa tìm được mấy ngày trước. Nếu hổm rày không bận việc đua ghe này, có lẽ chú xin phép đào nó lên được. Và lục cụ chắc cũng đã dạy chú nhiều bài học hay hơn. Chú nói: – Mình ra ruộng, tiếp tục đào chiếc ghe xưa coi thử, phải không lục cụ? Lục cụ đáp: – Thôi. Mình cứ lấp đất lại cho chiếc ghe đó yên thân, khỏi bận hồn người xưa. Nay mai, vài chục năm nữa, chiếc ghe của chùa mình cũng vậy. Vạn vật đều biến đổi. Duy có nụ cười của đức Quan Âm bốn mặt… Bốn mặt của Ngài nhìn bốn phía để cứu khổ chúng sinh, khuyên ai nấy trầm tĩnh vì sự đời mãi đổi thay, thay đổi.
Từ tháng 11-2004, cuộc chiến ở Afghanistan đã leo tới mức độ tàn khốc. Quân đội Mỹ tăng cường các cuộc truy lùng và tiêu diệt bọn Taliban. Bom địa chấn phá nát các vùng núi đá dọc phía Tây Bắc, nơi được coi là căn cứ của bọn chuột đen này, nhưng Taliban chuyên đánh “Độn thổ”, thua thì rút vô các hệ thống hang ngầm trong núi đá, đã có sẵn từ thời chống Liên Xô, nên quân Mỹ gặp nhiều khó khăn khi truy quét.
Đám Taliban ở khu vực đèo Sokhta thuộc Helmand đã bị, lính rừng Mỹ ở trại tiền phương 91 nướng hỏa công 2 lần, chết queo trong các hang núi chằng chịt, nên khu này đã trở thành vùng “Trắng” (Không có lực lượng đối kháng), và cũng là vòng đai an toàn, nơi nghỉ chân của các toán lính thuộc trại 91.
Cả tuần nay, bên không thám của máy bay không người đã trinh sát khu vực và cho thấy vài mục tiêu hay di chuyển vào chiều tối tại vùng núi đá có các đường hầm ngầm của Taliban trước đây.
Đại úy Thomas, chỉ tay vô khu vực tình nghi.
– Tụi chuột đang toan tính trò mới ở khu này, toán trinh sát 8A, sẽ trinh sát và hạ thủ tụi nó ngay từ ban đầu …
Ông ngồi trên bàn, nhồi vố thuốc, mùi Amphora bay ngào ngạt trong căn trại hành quân.
– 9 con, chia làm 3 toán trinh sát bắn tỉa, thay phiên trong 3 ngày, canh vùng tình nghi từ khu vực núi đá bên dưới chân đèo Sokhta tới khu dân cư sát đó,
Ông làm một hơi thuốc.
– Tình báo cho hay, tay Shakoor đã lảng vảng ở đây 2 tuần nay.
Bước tới những người lính 8A.
-…Tụi bay làm tuồng Ninja… Mần tại chỗ! Biến lẹ, toán thứ 2 lảng vảng gần đó sẽ nhào vô chớp nhoáng, chụp hình Shakoor, cắt một ngón tay làm bằng chứng… Vì…
Ông xuống giọng.
– …Thằng này bị treo giá 100,000 đô! Nó đã chơi mấy vụ đánh mìn hy sinh nổi tiếng vô các đơn vị Mỹ.
…
Xuống khỏi chân đèo Sokhta, dưới chân ngọn núi đá thấp là cái nhà lụp xụp, vách đất chen những mảnh gỗ rời rạc, chắp vá, giống như chuồng dê.
– Con ăn đỡ 2 miếng bánh mì khô trong tủ bếp …
– …Hồi khuya, đói quá, con đã ăn rồi mẹ.
– Còn ly sữa …
– Cũng uống rồi!
Thằng nhỏ ôm bụng, nói không ra tiếng
– … Con … đói.
– …
– Còn trái dưa leo ngoài rào … Con ăn đỡ.
Zahra bước tới gần.
– … Mẹ qua thị trấn Kunduz làm việc, chiều về có đồ ăn ngon cho con.
Zahra, kéo tấm mền len rách những lỗ lớn đắp cho Anuk, đứa con trai 8 tuổi, đã 3 ngày rồi, không có gì ăn. Chị xô cửa, đi ra.
– Nhớ về sớm … Con đói.
Anuk rên rỉ, co người lại như con tôm khô, che mặt trong tấm mền rách, cố ngủ.
Zahra đi nhanh, cắt đường núi, tới Kunduz đúng 6 sáng.
Tranh Hồ Đắc Vũ
Kunduz là một thị trấn nhỏ, có điện, nước giếng bơm, vài tiệm bán thực phẩm, áo quần, vải thô, dụng cụ làm ruộng, đồ gỗ đơn giản, giường sắt, nệm bông kiểu quân đội, tiệm nước, trái cây, trại mộc và 1 tiệm may mặc, cả thị trấn tụ trên 2 con đường cắt ngang hình chữ thập, có tên Raqm1, chạy hướng Bắc-Nam, Raqm 2 cho hướng Đông-Tây, gần cuối Raqm 2 là tiệm cà phê chuyên bán bia lậu (Mỗi người 4 ly bia, 2 ly rượu và chỉ cho uống từ 4 giờ chiều tới trước 9 giờ tối).
– Zahra! Bàn số 2, 6 ly bia, 2 dĩa thịt dê nướng…
– Zahra! Dọn bàn số 4… Xong rồi! 4 ly bia 2 ly rượu cho bàn số 3 luôn…
– Zahra… Zahra!…
Zahra ù tai, hoa mắt, vô bếp, ra bàn lẹ như một con thoi, nhưng vẫn không kịp với cái miệng tía lia của tay chủ Amir.
– Zahra 2 đùi dê nướng của bàn số 1 …
– 4 miếng sườn của bàn số 5 đâu?
– 4 ly rượu của bàn số 1 có chưa?
Zahra dằn dĩa đùi dê xuống trước mặt Amir, vung hai tay.
– Ala! Ala… Đây! Cha mang tới bàn cho họ! Tôi không làm kịp!
“Ngày đó, vừa sinh Anuk, chiến tranh đã triền miên nổ ra ở vùng này, mùa màng hư hại, khiến không ai có việc làm, mấy vườn rau và trại dê trên núi đã bị bom đánh nát, anh chị không còn cơ hội bán rau củ, sữa và thịt dê mỗi ngày để sinh sống, mọi người gặp khó khăn nên trái dại, hạt khô trên rừng cũng không còn, Zahra lấy xương rồng cắt lát, phơi khô ăn kèm với bánh mì cho qua cơn đói từng ngày. Gia đình Zahra rớt vô tình cảnh túng thiếu nặng nề.
– Chắc anh phải theo Taliban kiếm chút tiền trợ cấp … Lo cho thằng con trai …
Chồng chị nhìn ra ngoài cửa sổ. Bên kia bãi đá tai mèo là đám Taliban đang lao xao ăn nhậu quanh đống lửa lớn, mùi thịt dê thơm cả vùng núi đá nhỏ.
– Anh có thể làm điều đó sao?
– Anh cần tiền và cơ hội cho gia đình sống tạm.
– Đó là tiền của kẻ ác, đã hủy diệt đất nước và dân chúng …
Dahir quay lại, nhún vai.
– Nhưng chúng ta cần sống …
Chỉ vô thằng con trai èo uột, nằm trên tấm mền rách.
– …Thằng nhỏ càng phải sống.
Sáng hôm sau, Dahir lên khu hang núi nhập bọn với nhóm khủng bố Taliban đang củng cố lực lượng ở khu vực Sokhta, Helmand.
Số tiền trợ cấp và lương thực ít ỏi của Taliban cũng tạm cho gia đình Dahir qua từng ngày bên cuộc chiến đang sôi sục ở vùng này.
Hang đá mập mờ khói cần sa, mùi rượu xương rồng ngai ngái, mấy bóng đèn led chỉ đủ sáng để thấy đám Taliban nằm ngổn ngang vòng theo vách đá, tiếng nhạc Ả Rập rè rè phát ra từ mấy cái laptop.
– Bốp! Bốp! Bốp!
Shakoor vỗ tay.
– Ê! Tụi bay!
Đám Taliban ngồi dậy.
– Chuyện lớn! Taliban mới có lệnh, tao cần phải đập mấy cú mìn hy sinh vô mặt tụi Mỹ để gây tiếng vang thế giới … Cho nên.
Ông nín thinh, đưa cặp mắt đỏ như máu, lừ đừ nhìn một vòng.
Ông kêu.
– Dahir, tới đây…!
Shakoor ngước mặt.
– Ala tối cao và Taliban đã quyết định …
Ông chỉ tay.
– … Chọn anh hùng Dahir…
Đám Taliban vỗ tay rào rào, Shakoor đưa cao 2 tay, như muốn ôm Dahir.
– … Được vinh dự lãnh trách nhiệm, đánh mìn cảm tử vô Trại Tiền Phương của lính rừng 91…
Tiếng vỗ tay tắt lẹ, bọn Taliban nín khe, cả hang đá im lìm, nghẹt thở.
Tiếng Dahir run run.
– Vậy là tui đi vô chỗ chết! Tui phải … Chết?
Anh quỳ xuống.
– Shakoor!
– Nhưng chết cho Ala! Cho Taliban hào hùng, của đất nước!
Dahir bắt đầu khóc, anh ôm mặt, vai run lên.
– Mà… Tại sao tui phải chết? Tui còn vợ, thằng con trai … Rồi ai nuôi?
Shakoor gằn giọng.
– Vợ con là đồ bỏ! Mầy vinh dự chết cho Ala… Cho tương lai chiến thắng huy hoàng của Taliban!
– Nhưng…Tại sao là tui?
Dahir chỉ tay vô đám Taliban đang nín hơi lặng tiếng.
– Sao không chọn tụi nó?
– Vì…
Shakoor nín, móc trong áo.
– Đây! Taliban tặng 1000 Đô Mỹ cho vợ con sinh sống, sau khi mầy…
Shakoor vỗ vai Dahir.
– … Thành anh hùng!
– !.
– Vợ con sẽ được hưởng trợ cấp lương thực cho tới khi chết…
– !!!.
Shakoor đưa hai tay lên trời, cười.
– Hà! Hà! Và dĩ nhiên là mầy được vinh dự về chầu Ala!
Dahir bật khóc.
– Nhưng tui không muốn chầu Ala! Tui không muốn 1000 đô … Vợ con được hưởng trợ cấp lương thực cho tới khi chết… Tui không muốn chết…tui lạy ông Shakoor!
Shakoor rút súng, nổ một phát.
– Đùng!
Chỉ vô mặt Dahir.
– Ala đã chọn mày! Mày là anh hùng, Taliban đã tin tưởng vô mày…. Không còn đường từ chối!
Shakoor bước tới.
– Mày từ chối! Vợ mày sẽ làm thế!…
Ông nói thật nhỏ vô tai Dahir.
– Vợ mày không làm!… Thì con trai làm!
Nhưng Trại Tiền Phương lính rừng 91 có số lớn, xung khắc với Ala! Được chúa che chở.
Theo kế hoạch, một chiếc xe van chở thùng nhựa đựng nước sẽ bị lật gần cổng trại, các thùng nước đổ lênh láng, tay tài xế lúng túng kéo từng thùng nước lên xe, gây chú ý của lính gác, 10 phút sau, Dahir đánh xe lừa bán bột mì, ngang đó, đúng lúc các toán hành quân trở về. Dahir sẽ nhảy xổ vô cổng chính, bấm kíp nổ, Xui cho Ala, và Dahir, khi anh ta phóng ra, sợi dây đeo mìn móc vô càng xe kéo anh dội lại, té xuống, tay đụng vô kíp nổ.
– Ầm!
Xong! Dahir banh xác, về với Ala trước khi chạy tới đánh mìn hy sinh vô Trại Tiền Phương của lính rừng 91.
Tay chủ quán Amir xô cửa, bước ra.
– Zahra! Xin lỗi…Chỉ vì đông khách quá, chị vô làm việc giùm.
Tiệm quá đông, dân nhậu đổ vô càng nhiều, công việc liền tay không kịp nghỉ. bỗng
– Rầm!
Tiếng la hét, tiếng ly bể, tiếng bàn ghế lật xuống sàn, tiếng đánh nhau. Zahra hé cửa bếp, nhìn ra.
Tiệm bia lậu trở thành bãi giác đấu, người ta ném ly, khiêng ghế, kéo bàn, đánh nhau túi bụi, không biết vì chuyện gì và ai là phe nào.
Zahra cúi đầu bò tới, tay chủ Amir quán nằm gục trên quầy với cái đầu rướm máu, chị nhanh tay mở hộc đựng tiền, lấy đúng 700 đồng AFN (8 đô Mỹ), tiền công ngày hôm nay, chị định bò vô bếp, thì.
– Bịch!
Một chiếc đùi dê nướng, rớt trước mặt, Zahra lẹ tay lấy, nhét vô bụng.
Mới 4 giờ chiều, nhưng bóng đêm của vùng núi Sokhta đã bắt đầu chập choạng, sương lạnh lốm đốm trắng trên những dốc đồi đầy cỏ gai, mặt trời trở màu cam đỏ, lấp ló sau những đám mây đen, báo trước cái lạnh khe khắt mùa này.
Băng qua những gộp đá nhọn là Zahra, chị đang hấp tấp đi nhanh về nhà.
“Vậy là xong được một ngày, 700 đồng tiền công và cái đùi dê cũng đủ cho 2 mẹ con sống qua vài ngày… Tội cho Anuk! Chắc giờ này con đói lắm… Uống đỡ miếng nước nấu bông Anh Túc mẹ để sẵn trên bếp đi con! Mẹ về nhà đây… Qua núi đá trước mặt là xong!”
Zahra bắt đầu chạy lúp xúp, qua những gộp đá, qua một khoảng rừng trống đầy cỏ gai… Zahra nhướng mắt về hướng nhà mình, không một đốm sáng nào trong màn sương mù đang phủ một màu trắng đục của vùng đồi trọc… “Vậy là sắp tới nhà” Zahra ôm cái đùi dê nướng dưới chiếc áo khoác, đè sát vô bụng, chị chạy vòng qua núi đá nhỏ …
Toán bắn sẻ đang nằm phục trên khu núi đá nhỏ.
– Hello! Con trai 8A1 báo cáo ông già …
– Nghe rõ, tiếp!
– Có mục tiêu đang di chuyển trong vùng tình nghi, không xác định rõ vì hình của drone quá mờ … Có thể là một người đàn ông … Mặc áo choàng.
…
Zahra ngồi nghỉ, thở dốc.
“Nhớ về sớm, con đói”.
Chị đứng dậy, cắt đường tắt, băng qua đám cỏ gai dày đặc, đầu cỏ gai đâm vô đế giày mỏng sừng sực, đau nhói bàn chân, Zahra mím môi chạy.
“Anuk! Ngồi dậy khơi lửa bếp cho cháy bùng lên con… Đúng rồi con trai! bỏ thêm gốc củi lớn vô! Mẹ sẽ nướng lại cái đùi dê, ăn cho ngon”
…
– Hello! Ông già, theo drone không thám, mục tiêu không rõ, đang chạy về hướng Trại Tiền Phương.
– Mẹ! Vậy là đúng trò của thằng chuột chết Shakoor rồi! Nó lại muốn đánh mìn hy sinh vô trại… Ê! Tụi bay coi chừng tối đa.
Zahra đứng lại, chị dựa lưng vách núi đá nhỏ thứ 2, tay ôm ngực thở, hơi thở như sương trắng, phà trong bóng đêm
“Chỉ qua núi thứ 3, thêm một khoảng rừng thấp là tới nhà, là mang lại sự sống cho đứa con trai Anuk. Đêm nay, 2 mẹ con sẽ có bữa ăn tối ngon nhất trong 3 tháng nay… Đùi dê nướng!… Con trai! Cái đùi dê mẹ đang đeo trong người nè!
Zahra chạy tiếp, chạy nhanh hơn, núi đá thứ 3 chập choạng từ xa… Chạy! Chạy…
…
– Hello! Báo động! Đã thấy rõ mục tiêu, dưới áo choàng có vật cộm lên, tình nghi là mìn hoặc chất nổ, tay ôm chặt bụng, có khả năng cầm vật kích nổ.
– Chính xác! Đúng là màn đánh mìn hy sinh của Shakoor.
Đại úy Thomas nói thật rõ.
– Nhưng…Yêu cầu xác minh lần cuối cùng, mục tiêu đúng là Shakoor?
Sĩ quan trưởng toán bắn tỉa trả lời.
– Chính xác, yêu cầu lệnh cuối cùng!
…
Zahra chạy qua núi đá thứ 3, cô quay vòng qua trái, đốm lửa ở nhà đã thấy mờ mờ từ xa
“Anuk ơi! Mẹ về đây! Đùi dê nướng cho con tới đây! Chỉ còn một quãng nữa thôi… Con sẽ vui, con sẽ ăn ngon, sẽ khỏe mạnh, lớn lên như ba con…”
Zahra đứng lại, kéo cái đùi dê lên, ôm chặt trong hai tay, chị mỉm cười, mùi dê nướng thơm ngạt ngào.
“Anuk! Thơm quá con trai ơi! Sắp tới nhà rồi!… Nè! Con ra sau nhà, hái 2 trái cà chua còn sót trên cây, đem vô… Ừ! Rửa sạch, để đó, mẹ về nướng lên ăn với đùi dê!
…
– Hello! Mục tiêu di chuyển nhanh về phía vách núi đá có thể ra khỏi tầm nhìn…Yêu cầu xác minh lệnh cuối cùng.
– Bắn tại chỗ.
– Go!
…
– Cắc bùm!
Tiếng súng bắn tỉa lạnh ngắt vang lên ngay núi đá thứ 3.
Đang chạy, Zahra trúng đạn, văng vô vách núi, vật xuống, chị ưỡn ngực lên, thở mạnh, miệng há rộng hớp không khí, chị gượng qua phải, cố chồm tới, với tay chụp cái đùi dê đã văng ra, nằm trên lớp đá núi…
“Anuk ơi! Mẹ mang về cho con cái đùi dê ngon lành nè”
Zahra run run ôm cái đùi dê vô bụng, chị giật mạnh, cong người lại, thở hắt…
Cuối năm 2020, cúm COVID-19 tung hoành ở vùng đất tự trị Kanesatake, thuộc bộ tộc da đỏ Mohawk, cách thành phố Montreal chừng 30 miles. Đã giết chết 50-60 người già và trẻ em. Kanesatake trở nên khó ở, nên nhiều người bỏ chạy qua Mỹ, tới vùng núi rừng Tây Bắc Vermont, sát bên tiểu bang New Hampshire kiếm sống bằng nghề thợ mỏ đồng, mỏ đá quý và chì, một số làm thợ cưa cây cho mấy công ty Lâm Sản.
Kawi, 25 tuổi, dân Mohawk, cũng bỏ Kanesatake chạy về phía Tây Nam New Hampshire, cách thị trấn Knight Point chừng 10 dặm, dựng căn lều gỗ bên bờ lạch, làm giàn sàng lọc cát, đá, tìm đá quý ở vùng núi Rockingham, đôi khi anh cũng lên tận núi rừng Knight Point săn thú, bán da vào mỗi mùa săn.
– Helo! Aida? Anh đây.
Kawi gọi.
Aida là người vợ không cưới hỏi, bỏ làng da đỏ bên Oklahoma, trốn về với anh lúc cô 13 tuổi, từ 5 năm trước.
– Em khỏe không? Đi làm lại chưa?
– Chưa! Em có bầu 5 tháng, không biết họ có cho làm trở lại hay không?
Cô thở dài.
– Sáng nay, lúc cho gà tây ăn, em chóng mặt và không khỏe.
– Nghỉ ngơi, cuối tháng anh gởi check về, đã có việc.
– Em đi nằm đây…. Bye anh.
Kawi tắt phone, anh nhắm mắt.
– Núi rừng ơi! Xin vợ con khỏe mạnh, nó đang cho con đứa con trai đầu tiên! Xin che chở cho Aida.
Núi rừng thức giấc, ánh mặt trời vừa lấp lánh những giọt sương đêm trên khu rừng trước lều, là Kawi đã ra bờ lạch, bắt đầu cho một ngày làm việc nặng nhọc.
Anh đào từng tảng đất đá dưới lạch, đổ đầy vô chiếc xe cút kít méo mó rỉ sét, đẩy tới giàn gỗ lọc đã được lắp ráp, 3 mặt là những miếng gỗ thông dài, mặt trên có 2 lớp lưới mắt cáo, lớp đầu lỗ lưới cỡ lớn, lớp dưới cỡ nhỏ bằng đầu ngón tay, dài chừng 15 m, nằm trên những cây chống, từ trên bờ, xuống tới lòng lạch. Kawi tựa 2 càng xe cút kít vô giàn gỗ, đẩy thân xe lên cao, đất đá đổ ào vô lưới, anh bước tới đầu giàn lọc, rút 2 chốt, kéo tấm ván lên, nước tràn vô, Kawi dùng một thùng lớn, đẩy mạnh nước để tăng sức chảy, nước chảy mạnh tới đống đất đá, lùa hết xuống lạch, trên mặt lưới mắt cáo còn lại những viên đá lớn cỡ cườm tay, mặt lưới bên dưới đầy những viên đá cỡ ngón tay. Kawi lấy cây cào, cào những viên đá lớn nhỏ vô một chiếc chảo sắt, anh lên ngồi bên bờ lạch, lựa từng viên, tìm đá quý. Cả 1giờ ngồi lựa, Kawi tìm được 1 viên Amethyst màu tím, 1 viên Beryl xanh lục to bằng đầu ngón tay út. Tháng rồi tìm được 6 viên Amethyst, Tourmaline, Albite. 3 viên Beryl cỡ trung bình, Kawi thu được 800 đô, anh định từ bây giờ cho đến cuối tháng, kiếm được vài viên là đủ 1,000 đô, anh sẽ ra bưu điện mua bưu phiếu, gởi nhanh về cho Aida, để cô mua thực phẩm, sống đầy đủ trong lúc đang mang bầu đứa con trai đầu tiên, anh không muốn Aida làm việc lao động vì ngại cho sức khỏe của đứa con trong bụng.
Kawi ngồi bật dậy, anh trở lại công việc. Lần này thì anh đào tới 3 xe cút kít đất đá, làm quần quật cho tới tối.
Đêm núi rừng tối thui, tối như lớp đá đen dựng đứng trước mặt. Lâu lâu xen tiếng tru gọi đàn của những con sói tách bầy, săn đêm, hoặc tiếng la sằng sặc của đám linh cẩu đang xâu xé một con nai ốm yếu đâu đó. Dưới kia, bên bờ lạch, bên 2 ngọn đèn bão mù mờ, tiếng lanh canh của những viên đá đụng vô mặt chảo, 2 bàn tay khô, những ngón cong lại vì lạnh của Kawi. Anh vẫn tiếp tục công việc lựa đá, trong cái lạnh tê người của vùng rừng núi Rockingham. 2 giờ sáng, đúng lúc 2 ngọn đèn bão cạn dầu, tắt ngúm, những ngón tay co ro của Kawi cũng đụng vào mẻ đá cuối cùng và có những tiếng động lạ, tiếng của những viên đá quý va vô thành chảo thép, theo kinh nghiệm của đôi tai, đá cuội khi va vô thành chảo thép có tiếng lục cục, đá quý khi đụng thành chảo có tiếng lanh canh… Kawi lấy cái đèn bão, rót chút dầu còn sót, lắc đều cho dầu thấm tim, châm lửa.
Lấp lánh trong ánh đèn vàng vọt mù mờ, là những viên đá Thạch Anh màu nâu đỏ, loại đá quý hiếm nhất và có giá nhất trrong vùng New Hampshire, to bằng nắm tay, nằm lăn lóc.
Kawi đặt chảo xuống đất
– Con tạ ơn núi rừng.
Anh đứng dậy, đội cái chảo lên đầu, đi nhanh về lều, gọi phone.
– Aida! Anh đã có tiền cho em sinh con rồi.
Kawi rơm rớm nước mắt.
– Em giữ gìn sức khỏe, chắc tuần tới sẽ về.
Hôm sau, trời mưa to, mực nước lạch dâng cao, Kawi ngồi trước lều hút thuốc, nhìn con lạch nước cuồn cuộn, anh tiếc cho một ngày làm việc. Kawi vô lều, thay đồ ấm, lận lưng khẩu súng ngắn, đeo bao da chồn lên vai, mở tủ gỗ, lấy chiếc hộp thiếc, bỏ vô túi ngực, đẩy cửa đi về thị trấn Knight Point.
Bán bao da chồn ở tiệm tạp hóa, Kawi mua ít thịt hộp, cá hộp, rau củ, 2 hộp đạn, dầu chiên, dầu đốt đèn, bao táo tươi, còn dư được 200 đô. Kawi ghé tiệm ông Joseph, người Do Thái già, chuyên thu mua đá quý từ các người khai thác trong vùng.
– Hello! Chào ông Joseph.
– Chào Mèo Rừng!
Mèo Rừng là tên thân mật mà mọi người ở vùng này đặt cho Kawi.
– Hôm nay anh sẽ mang lại cho tôi những viên đá quý tuyệt vời phải không?
– Tôi mang tới đây những viên đá quý đẹp nhất mà núi rừng đã cho tôi…
– Vậy sao?
Ông già Do Thái có cái mũi gãy phù thủy, râu tóc bạc phơ, dưới cái nón nhỏ, tròn, bằng nhung đen che đỉnh đầu. Ông mừng rỡ bước tới, kéo tay Kawi.
– Vậy thì vô trong phòng… Kín đáo hơn!
Kawi theo ông Joseph vô căn phòng sát bếp, ngồi xuống bàn, anh giúp việc người Tàu, đem ra 2 ly nhỏ, chai whiskey. Ông Joseph rót 2 ly đầy, cầm một ly, đưa lên.
– Mừng những viên đá quý của Mèo Rừng!
Kawi cụng ly.
Anh ngồi xuống, lấy chiếc bao da, để xuống bàn, đẩy tới trước mặt ông Joseph.
– Đây! Mời ông.
Ông Joseph, mở dây cột bao da… 4 viên đá Thạch Anh nâu đỏ, 3 viên Amethyst màu tím, 3 viên Beryl xanh lục lăn ra bàn.
Ông Joseph một tay bịt miệng, một tay đè lên những viên đá quý.
– Trời đất! Tôi sẽ mua hết! Mèo Rừng! Đây là một gia tài.
Kawi ngồi thẳng, khoanh tay trước ngực.
– Vợ tôi có bầu, sắp sanh con trai, cô đang ở với bộ tộc Mokawk tại Kanesatake, Quebec…Đang đợi tôi gởi tiền về lo cho việc sinh nở…
Ông Joseph rót ly rượu, đưa cao.
– … Mừng đứa con trai đầu tiên của Mèo Rừng Kawi!…
Anh ngước mặt.
– Nia:wen! Nia:wen! (Cám ơn, tiếng Mohawk)
Ông già Joseph, lấy trong hộc bàn, đưa cho Kawi xấp tiền.
– Đây là 3,000 đô của anh!…
Kawi bỏ xấp tiền vô túi da trước ngực.
– Cám ơn! Ông nhớ kín đáo giùm, lúc này không an ninh lắm.
Kawi vừa ra khỏi cửa trước, là anh Tàu giúp việc của ông Jo đã ra cửa sau, chạy qua xì xầm với Perdo, tay người Mễ, thợ của tiệm bán dao, búa, bên kia đường.
Kawi đang vui với số tiền lớn cho vợ và đứa con trai sắp ra đời, nên anh quẹo vô bar “Chồn xám”. Anh đứng bên quầy, gọi whiskey, Jake đứng gần đó, bước tới.
– Ê! Hello Mèo Rừng!
– Chào Jake! Khỏe không?
– Bữa nay mình có chuyện vui! Mời Jake 1 ly.
Kawi đã quen biết Jake trước đây trong chuyến săn chồn ở Knight Point, nhưng ít gặp vì săn chồn chỉ là việc phụ.
1 ly, rồi 2, rồi 3 ly… Tới ly thứ 5.
– Thôi tui về! Tối lắm rồi.
– Ê! Mèo Rừng cần đưa về không? Sẵn xe ở ngoài.
– Không! Cám ơn bạn… Tôi muốn đi giữa núi rừng để tạ ơn về món quà quá lớn mà núi rừng đã tặng cho chúng tôi…
Kawi đã say nhưng còn đủ tỉnh để băng rừng về căn lều gỗ của mình.
Đêm đầy sao, lấp lánh con đường mòn nhỏ những dải sương trắng mờ ảo.
Kawi vừa đi vừa hát một đoạn về niềm vui của một người hạnh phúc
Hey-ya-na,
Hey-ya-na,
Hey-ya-na, hey-ya-na!
“3,000 đô! Hà hà! Là một món tiền lớn … Anh sẽ về Kanesatake. Aida hơi ốm, anh sẽ mua những thực phẩm ngon nhất, bổ nhất cho Aida, anh sẽ hầm những tảng thịt bò rừng với khoai tây, cải đỏ cho vợ ăn mỗi ngày… Mua những bộ đồ đẹp, vài đôi vớ len đắt tiền, mấy đôi giày da thỏ nhỏ xíu, mềm và êm như nhung cho đôi chân bé tí của thằng con trai đầu tiên của mình… Sẽ mua cho nó bộ đồ Da Đỏ cổ truyền, may bằng da hươu con, có những tua quanh cánh tay, dọc 2 đùi và trước ngực là biểu tượng của dân Mohawk, in vô mặt da bằng dấu sắt nung nóng, sẽ vẽ 2 đường sọc đen đỏ trên mặt nó. Hai vợ chồng bồng con, ngồi trên ghế gỗ bọc da gấu… Anh thợ chụp hình đưa tay ra dấu và…”
Một vùng sáng lóe lên
– Bộp!
Cú đập vô đầu, Kawi gục xuống.
Kawi tỉnh dậy giữa rừng, vết thương sau đầu đọng những đường máu khô trên mặt, anh đưa tay vô ngực rờ rẫm, chiếc túi da đựng 3,000 đã biến mất. Kawi ráng sức bò về lều, đốt chiếc lò sưởi trong góc, lấy chai rượu whiskey trên tủ gỗ, nốc sạch… Anh dựa đầu vô vách, khóc.
“Vậy là Aida không có những thực phẩm ngon nhất, bổ nhất. Anh sẽ không có cơ hội hầm những tảng thịt bò Angus với khoai tây, cải đỏ cho vợ ăn mỗi ngày… Anh sẽ không có tiền để mua những bộ đồ đẹp, vài đôi vớ len đắt tiền, mấy đôi giày da thỏ nhỏ xíu, mềm và êm như nhung cho đôi chân bé tí của thằng con trai đầu tiên của mình… Và tiền đâu? Để mua cho nó bộ đồ Da Đỏ cổ truyền, may bằng da hươu con, có những tua quanh cánh tay, dọc đùi và trước ngực là biểu tượng của dân Mohawk, in vô mặt da bằng dấu sắt nung nóng, không còn dịp vẽ 2 đường sọc đen đỏ trên mặt nó, giống như tấm hình của ông cố, tổ tiên Mohawk ngày xưa…
– Hello Aida! Aida!
“Thưa quý khách số phone 123456…đã không còn sử dụng.”
4 giờ sáng, Kawi ra trạm bus, mua vé về Montreal. Anh gọi Crow, người bạn da đỏ đến rước.
– Kawi!
– Crow! Mặt mầy buồn quá! Hình như có điều gì muốn nói với tao?
Crow cúi mặt.
– Tao mong mầy đủ can đảm khi nghe …
– Điều gì?
Crow vẫn cúi mặt.
– … Vì yếu sức khỏe khi có bầu, Aida mang bệnh Covid, vô bệnh viện đã 3 ngày, sẩy thai và qua đời đêm hôm qua trong bệnh viện…
Crow khóc, mặt Kawi tím ngắt.
Kawi đứng đó, mắt khô rang, vẫy tay, khuôn mặt Aida từ khung kính trên chiếc quan tài di chuyển thật chậm về phía lò hỏa thiêu số 3. Cửa lò mở ra, quan tài đứng lại một lúc, như dành cho Aida 1 phút vĩnh biệt người chồng của mình.
– Konoronhkwa! Konoronhkwa! (Anh yêu em)
Kawi đấm ngực, ngước mặt, rít trong miệng.
Kawi về tới nhà, anh thu dọn những đồ vật cá nhân của Aida, chung với mấy bộ đồ, chăn gối bạc màu của Aida, dồn hết vô thùng sắt ngoài sân, châm lửa. Vài người hàng xóm ái ngại đứng nhìn.
Kawi vô nhà, tắm rửa, bước ra sân, vén cửa căn lều da đỏ, gia đình anh đã dựng ngoài vườn từ khi anh sinh ra, tới chiếc bàn thờ, lấy bộ đồ da đỏ bằng da hươu, có những tua quanh cánh tay, dọc đùi và trước ngực biểu tượng của dân Mohawk, treo trên vách, dưới hình ảnh của các tiền nhân, ông nội và ba anh (Bộ đồ mà anh ước mơ mua cho thằng con trai không ra đời của anh), mặc vô, đốt mấy khúc gỗ trong lò, đợi cho lửa bén, anh ném vô một nắm muối, lửa bùng lên, xanh lè. Anh ngồi xếp bằng, nhắm mắt, lẩm bẩm những lời cầu nguyện, bùa chú của dân Mohawk.
Chừng 10 phút, lửa trong lò cũng vừa tắt. Anh gắp 2 miếng than cháy đỏ, bỏ vô chiếc hộp thép, trên kệ thờ, cúi đầu khấn nguyện. Bỗng từ đỉnh lều, một con nhện trắng to bằng đầu đũa, nhẹ nhàng rơi xuống đung đưa với sợi tơ dài. Kawi lấy một ống gỗ nhỏ, có sợi dây da sơn màu đỏ trên bàn thờ, con nhện trắng hạ xuống, chui nhanh vô ống. Kawi đậy nắp lại, đeo ống gỗ lên trước ngực, anh lẩm bẩm, vái lạy, đứng dậy và ra khỏi lều.
Ông Joseph đóng cửa tiệm, vô phòng trong, kéo chiếc tủ sắt nhỏ, đếm tiền, ghi chú gì đó vô quyển tập, ông ném chiếc nón tròn xuống bàn, lấy chai rượu whiskey trên tủ, rót một ly đầy, ngồi xuống cầm ly, đưa lên…
Đèn phòng bỗng bật sáng.
Trên chiếc ghế, dựa sát tường.
– Hello! Chào…
Ông Joseph giật mình, để ly rượu xuống bàn. Kawi bước tới, khoanh tay.
– … Ông Joseph!
– Ơ!… Chào Mèo rừng! Anh làm gì trong nhà tôi?
Ông đưa tay, chụp chiếc điện thoại trên bàn.
– Tôi gọi cảnh sát.
Kawi chỉ chiếc điện thoại đã bị cắt dây.
– Tự nhiên!
– Anh muốn gì?
Kawi cúi sát mặt ông Do Thái, cặp mắt đỏ như mắt mèo rừng.
– Muốn trả thù… Vì ông đã cướp số tiền 3,000 đô của tôi… Khiến vợ con tôi chết!
– Ơ! Ơ!… Không phải tôi…Thằng Perdo!
Kawi cười.
– Perdo hả? Nó xong rồi!
Kawi mở cánh cửa tủ, Perdo té xuống sàn, chết cứng, mặt xanh màu lá chuối, lưỡi thè ra khỏi hàm răng, 2 tay bóp vô cổ, mắt trợn ngược.
Ông Joseph, nhảy tới giường, thò tay xuống gối, rút khẩu súng tay.
Kawi thả xuống sàn 5 viên đạn.
– Đây nè!
Ông Jo quỳ xuống sàn.
– Tôi lạy anh!
– Không! Ông đừng lạy tôi! Vì…
Kawi lấy ống gỗ nhỏ đeo trên cổ, mở nắp, con nhện trắng nhảy vô mũi ông Joseph.
Kawi bước ra khỏi nhà, kéo sát cửa, con nhện trắng bò từ vai anh chui lại vô ống gỗ.
Trong nhà, ông Joseph nằm chết cứng, giống y như tên Mễ Perdo, có điều, miệng ông sùi bọt nhiều hơn, và cái mũi phù thủy dẹp lép… Chắc con nhện đã chơi quá liều!
Andre Nguyen là người Việt Nam chính hiệu con nai vàng!
Vì trong khai sinh gốc, (Có tem và dấu trước bạ)
Họ và tên: Nguyễn Văn Thời, sinh năm 1985. Tại: Xã Nghĩa Lộc, quận Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.
Cha: Nguyễn Hàm, nghề nghiệp sĩ quan Dù, VNCH.
Mẹ: Lê Thị Hiền, y tá bệnh viện Tỉnh Quảng Ngãi.
Nhưng vì sao mà có cái tên: Andre.
Chuyện xảy ra rất giản dị.
Bà Hiền cho ông Kent, thiếu tá Mỹ, cố vấn Đoàn Tìm Hài Cốt Lính Mỹ bị chết trong chiến tranh VN, đóng ở khu tòa tỉnh, Quảng Ngãi, thuê nguyên căn lầu 3 ở căn nhà đẹp đẽ bên bờ sông Trà Khúc
Cũng năm đó, ông Hàm, cựu trung úy Dù, đi cải tạo về, bị lên máu bất tử, chết trong đêm (hàng xóm nghi ngờ là bị thượng mã phong, vì trả bài bù cho 8 năm tù cải tạo), 3 tháng sau, bà Hiền không ngần ngại gì, gá nghĩa với ông Kent. 1988, ông Kent về Mỹ, mang theo bà Hiền và đứa con trai. Tới Boston, Mỹ, bà Hiền thành Helen, cu Thời thành Andre Nguyen.
Trường trung học Melrose
– Bạn từ nước nào tới vậy?
Người bạn cùng lớp hỏi Andre.
– Là sao!
Andre ngập ngừng.
– Có phải từ Châu Á?
– Không! … Tui dân Mỹ!
– Nhưng nhìn giống dân Châu Á?
Andre nhún vai.
– … Tại giống ba tui.
Giờ học lịch sử, ông thầy giảng về Tổng Thống Kennedy và cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
– Andre! Em có nhớ gì về cuộc chiến này không?
Cậu lắc đầu.
– Vậy trong gia đình có ai tham gia trực tiếp không?
– Dạ không biết… Vì em không phải người Việt Nam!
– Em là người Tàu?
– Dạ không! Là người Mỹ.
…
Cho đến khi râu đã mọc đen dưới cằm, Andre mua thuốc, nhuộm tóc râu vàng khè như Mỹ. Trong những giao tiếp, sinh hoạt, Andre vẫn khăng khăng chối bỏ cái gốc Việt rõ ràng của mình.
– Không! Tôi là người Mỹ
Bob, người bạn cùng đại học của Andre.
– Tao nghĩ mày là người Mỹ gốc Việt thì đúng hơn.
– Không! Tao là Mỹ!
– Nhưng ba má là người Việt, mày sinh ở VN, từ đó tới Mỹ lúc còn nhỏ, và điều chứng minh rõ ràng nhất là…
– Gì?
– Sáng làm vệ sinh, mày có nhìn thấy mặt mình trong kiếng không?
-… Ờ! Có.
– Mầy có thấy nét Mỹ nào trên mặt mình không?
– !!!
Bob xuống giọng.
– … Hay chỉ là cặp mắt một mí, cái mũi tẹt, nước da ngăm vàng của người Việt?
Andre đứng phắt dậy.
– Những điều đó không xóa được cái “Mỹ” của tao!
– Dân Mỹ gốc Việt… Chẳng hạn, như tao là Mỹ gốc Thái Lan!
– Tao là Mỹ! Mỹ… Là Mỹ, không có chút Việt nào trong đó!
Andre nói quả quyết, bỏ đi, từ hôm đó cắt đứt mọi giao thiệp với Bob, người bạn Thái Lan, cùng khoa với anh.
Mức độ “Mỹ” của Andre tăng trưởng một cách trầm trọng
Mặt mụn kinh niên vì anh bỏ luôn đồ ăn Việt, chỉ Burger, pizza, sandwich ngày này qua năm kia.
Anh đã không nói tiếng Việt với mẹ từ lúc nhỏ cho đến bây giờ, và anh hoàn toàn không tiếp xúc, kết bạn với người Việt, cũng như không bao giờ lai vãng các khu người Việt ở Boston này. Andre Nguyên dị ứng với người Việt Nam ở đây.
Anh luôn bận rộn, nói (giống) như Mỹ, nghe nhạc Mỹ, coi phim Mỹ, kết thân với mấy người bạn Mỹ và có con nhỏ bồ Mỹ đen.
Đa số người Mỹ thường không quan tâm anh là Việt hay Mỹ, họ chỉ cần biết anh là người có văn hóa, làm việc ngon, không gây nguy hiểm cho chính họ và cho nước Mỹ. Ngược lại người Việt thì…
– Mẹ đó nói “Ăn gồi”, chân đi 2 hàng… mà khăng khăng là Mỹ, chắc tại nhuộm tóc vàng, căng mắt, sửa mũi cao nên tự “Mỹ hóa” cho mình.
– Cha kia răng hô, mắt hí mà lúc nào cũng “Tao là Mỹ chính tông!”
Và tình trạng này, ngày càng tăng ở vùng Massachusetts, người nặng bệnh “Mỹ” nhất vẫn là Andre Nguyen.
Xong đại học, đang Hè
– Mom! Con đã được nhận vô đơn vị Lính Rừng của quân đội Mỹ.
– Thật bất ngờ, quá hay! … Cũng như ba con ngày xưa… Hồi đó ba là trung úy dù của VNCH… mẹ rất hãnh diện!
– … Sorry! Nhưng con là lính Mỹ, người Mỹ
Andre vô phòng.
– Con chuẩn bị, tuần tới phải xuống trại huấn luyện.
Một năm sau, qua các cuộc huấn luyện đặc biệt vì khả năng quân sự của mình, Andre trở thành thiếu úy, trưởng toán trong đơn vị bắn tỉa của Lực lượng Lính Rừng 75, đồn trú tại Fort Benning, Georgia.
Năm 2018, Andre được chuyển tới chiến trường Afghanistan, bổ sung cho toán bắn tỉa, đơn vị trinh sát, thuộc viễn thám T4, lính rừng 91.
Andre bước vô căn phòng nhỏ, nằm trong căn lều lớn.
– Chào Đại Úy! Thiếu Úy Andre, số quân 123… Đơn vị bắn tỉa của Lính Rừng 75, trình diện!
Người mặc quân phục, ngước lên.
– Nghỉ!
Andre hạ tay, để ba lô xuống.
– Tôi là đại úy Carol, Quân Báo, chỉ huy trực tiếp của đơn vị trinh sát và bắn tỉa… Chào mừng anh về với đơn vị…
Đại Úy đứng dậy, bước ra.
– Bên trái là lều của bắn tỉa, trong lều có tất cả nội quy của lính rừng, tôi không cần phải nói điều gì.
Andre về lều, vẫn còn ngạc nhiên với người chỉ huy trực tiếp, anh lẩm bẩm.
– Đại Úy là cô gái xinh đẹp!
Tối đó, tại nhà ăn
Andre bận việc sắp xếp chỗ ở, tới trễ, ngồi ăn một mình trong góc lều, đại úy Carol, bước tới, cười, để khay đồ ăn, ngồi xuống bàn.
– Sao ăn trễ vậy?
Andre đứng phắt dậy.
– Làm thủ tục kiểm tra và nhận trang bị cá nhân, Sir!
Carol cũng đứng phắt dậy.
– Giễu dở quá! Anh có thể gởi cái trò này về cất kỹ ở trung tâm huấn luyện…
Carol đưa tay ấn vai Andre.
– Ngồi xuống ăn cho vui vẻ… Bạn Đồng hương à!
– Đồng hương?… Tại sao?
– Vì anh gốc Việt.
– À… Không! Tôi là người Mỹ.
Carol chúm chím cười.
– Tôi coi hồ sơ quân bạ của anh… Tôi biết anh là người gốc Việt Nam, sinh ở Quảng Ngãi…
Andre nhìn miếng thịt bò trên khay.
– … Ba anh là sĩ quan Dù … À anh qua Mỹ lâu chưa?
Andre hít một hơi dài.
– Ba kế của tôi người Mỹ, tôi không nghĩ mình là người gốc Việt … Nên không còn nhớ đã đến đây lúc nào.
– Nhân dáng, khuôn mặt anh là người Việt!
Andre bối rối uống ngụm coke.
Carol chồm sát mặt anh, cô nói nhỏ bằng tiếng Việt.
– Tôi là bé Tư, sinh tại bệnh viện Hà Đông Hà, sát chợ Tân Định, ba tôi là sĩ quan không quân, VNCH, mẹ là dân Mỹ Boston, y tá trưởng bệnh viện dã chiến Mỹ tại Sài Gòn…
Cô ngồi xuống.
– …Tôi là người Mỹ gốc Việt Nam.
Carol khoanh tay.
– Tôi hãnh diện mình là người gốc Việt!
Andre làm thinh, cắt miếng thịt bò trên khay, lấy miếng khoai chiên và đĩa bông cải đã nguội ngắt.
Carol ăn dĩa xà lách trộn gà xé thật nhanh.
– Carol! Cô ăn nhanh quá!
Cô cười.
– Ăn nhanh, đi chậm… Là tính cách của người Việt thứ thiệt!
– Carol nói tiếng Việt như người Sài Gòn.
– Anh không nói tiếng Việt?
Andre nhún vai.
– Không bao giờ, vì tôi là người Mỹ!
– …!
Carol khoe.
– Ba tôi đã đưa tôi về thăm quê Tân Định 2 lần … Nhà tôi ngày xưa ở đường Đặng Dung, mỗi lần về, đi trên đường lòng vẫn thấy nao nao…
Cô nhắm mắt.
Andre ngước mặt, nhìn
Carol
Một cô gái trẻ đẹp, tóc vàng, mắt xanh, mũi cao, da đốm tàn nhang… Nhìn rất Mỹ, Mỹ còn hơn những người Mỹ khác.
“Tôi hãnh diện là người Mỹ gốc Việt”
Điều gì đó bỗng lùng bùng trong đầu, Andre đứng dậy.
– Chào Carol! Gặp sau.
Anh mang khay đồ ăn bỏ thùng rác, về trại.
Carol vẫn ngồi đó, mỉm cười.
Phòng hành quân
Đại Úy Carol với 6 lính viễn thám T4, đầy đủ trang bị.
– Hê! Mấy em playboy, nghe, nhớ và mở miệng ra, hỏi những điều tránh cái chết!
Carol chỉ vô màn ảnh TV lớn.
– F1, khu vực chúng ta sẽ tới, thung lũng nằm giữa đồi trọc và núi đá, dịp quá tốt cho bọn Taliban đánh hỏa công, hoặc phục kích nổ phủ đầu, hốt ổ tụi mình chỉ trong vài phút.
Cô quay lại.
– 6 trái B-40, chục phóng lựu M 79, 2 đại liên bắn xéo cánh sẻ, ngay thung lũng…
Xuống giọng.
– … Là 7 con lính rừng đi thẳng xuống địa ngục… Quân Báo và trinh sát biết rằng: Khu hầm ở đây có khoảng 15 tên Taliban, thêm 1 đống vũ khí… Đây là một trở ngại lớn!
Yên lặng!
7 lính rừng, 14 con mắt mở lớn, đứng tròng, 7 cái miệng dán keo, nín khe.
– Đánh được!
Carol nhìn.
Andre đứng lên.
– Tôi có kế hoạch…
– Nói!
– Trực thăng thả chúng ta cách mục tiêu 1 giờ…
Anh coi đồng hồ.
– … Đúng 5 giờ chiều, khi mặt trời xuống, trong hang núi sẽ bốc nóng và độ ẩm rất cao gây khó chịu cho bọn chuột, vậy là chúng ta có cơ hội chơi xả láng, đánh phủ đầu bằng hỏa công, với M72, M79, xe rô bô điều khiển mang mìn claymore với 1 đại liên yểm trợ… Tôi lo việc bắn tỉa và đại liên yểm trợ, khi tấn công.
Carol nhíu mày, cô không nghĩ là anh chàng “Không phải người Việt” mới toanh này lại có chiến pháp táo bạo như vậy.
– Andre! Anh nghĩ rằng chúng ta sẽ làm được?
– Sẽ được! Đại úy cho lệnh chuẩn bị đồ chơi.
Chiếc trực thăng Black hawk thả 7 lính rừng, trang bị nặng. Sau 2 tiếng di chuyển ngụy trang.
Carol coi GPS, gọi máy.
– Hê! Ông già, tới nhà vợ ngon lành, chuẩn bị tấn công, đúng 5:00
4 giờ chiều, nắng vàng cam, hắt dài trên dãy núi, hâm lên cái nóng suốt ngày đã thấm sẵn trong lớp đá nâu đen. Cả vùng núi trọc hầm hập, khô người như đất sa mạc, trên bầu trời ửng vàng, bầy kên kên đói thịt, bay những vòng quanh dãy núi đá.
– Behe! Behe!
Cả toán nằm sát đất, Carol coi máy GPS.
– Drone thấy ở hướng 3 giờ, 2 Taliban đang chăn dê, bên một hốc đá lớn có nhiều khói bốc lên, tình nghi là ngách phụ của đường hầm trong núi… Andre, tới đây!
Andre bò lên.
– Anh có thể hạ 2 thằng chăn dê bằng một viên đạn?
– Có thể! Nhưng chưa bao giờ làm!
Carol cười.
– Bây giờ làm! Và làm được! Ok.
Cô nói trong máy liên lạc với cả toán.
– Tôi, Larry, Nick, Don, Clark sẽ đánh hỏa công thẳng vô hầm… Andre dứt điểm 2 con chuột chăn dê cùng Ben khống chế ngách hầm bằng 2 M72 với 4 trái Claymore khi tụi nó thoát ra.
2 trái hỏa tiễn cá nhân chui thẳng, nổ sâu, vài loạt AK 47 bắn trả rời rạc, sau đó là cả chục M79 bắn trực xạ liên tục, Nick và Don điều khiển 2 chiếc xe rô bô gắn mìn Claymore, chạy vô sâu trong hang, Carol, Lary, nhả từng loạt đại liên M60 yểm trợ.
Không một tiếng nổ kháng cự, căn hầm mờ mịt khói của cơn hỏa công.
Trận đánh hầm như hoàn hảo, vì không một đối kháng đáng kể nào của đám Taliban.
Bên ngách hầm, Andre điều chỉnh ống ngắm của khẩu súng trường bắn tỉa nhà nghề M110A, đúng lúc anh kéo cò, một tay Taliban ngồi thụp xuống, đái, viên đạn chỉ hạ thằng còn lại, nó té xuống, đè lên người bạn đang đái, tay Taliban vùng đứng lên, đưa khẩu AK, tính bắn báo động.
Đúng lúc bên đầu hầm.
– Ầm! Ầm!
2 tiếng nổ lớn của M72 đã át mất tiếng M-16, Ben đã nhanh tay bắn hạ tay Taliban còn lại. Andre và Ben nhả 2 trái M72, vô ngách, lùi ra xa, nằm sát đất, cầm sẵn bộ kích nổ của 4 trái mìn Claymore chống biển người đã gài sẵn.
– Tạch! Tạch! Tạch…
– Bùm.
Loạt AK và trái B-40 thổi văng Ben vô hốc núi. Andre quay qua, 4 cái đầu trùm vải đen của Taliban lố nhố sau tảng đá trước mặt … À, bọn Taliban khác đang tiếp ứng. Loạt AK bắn sát chân Andre, anh lăn tròn tới một phiến đá lớn, vì quá đà nên rớt súng và văng mất bộ kích nổ của 4 trái Claymore, trận đánh mìn sát thương hoàn toàn chết cứng, không nổ được, 4 tay Taliban đứng ngạo nghễ trên đầu tảng đá, tụi nó bước tới, 4 mũi súng AK lạnh ngắt chĩa thẳng vô đầu Andre.
Đôi mắt Andre mở lớn, trừng trừng nhìn cái chết đang tới…Nhưng! Lính rừng đâu có thể chết dễ dàng như vậy… Anh lăn nhanh tới xác Ben, chụp khẩu M-16, bóp cò…
Đại úy Carol ném bộ kích nổ, chạy tới ôm Andre, cô quay lại.
– Lính rừng rớt! tải thương, khẩn cấp!
…
Bệnh viện Dã Chiến Tiền Phương lính dù 91
Andre nằm trên giường, 2 chân băng bột.
Đại úy Carol ngồi xuống ghế, tươi cười nhìn Andre.
– Chúc mừng anh chưa chết!
Andre nắm tay Carol.
Anh nhìn thật sâu đôi mắt xanh, khuôn mặt, nụ cười của cô gái rất Mỹ, nhưng luôn hạnh phúc với máu lai Việt của mình, người đã can đảm nhào tới trước 4 mũi súng Taliban, bấm kích nổ của 4 trái mìn Claymore… Người đã cứu mạng Andre.
Cái “Chất Việt” mà anh đã chối bỏ bao năm bỗng bùng lên, ngùn ngụt trong đầu.
– Cốm ơn Đựa úy đoã cứu!
– Ah! Anh nói tiếng Việt
Carol cười.
– Đó là tính cách của người Việt đối với đồng đội của mình.
Andre nhắm mắt, lặng lẽ khóc.
– Tôi sẽ báo cho ba má anh.
Andre chống tay, gượng ngồi lên.
– Carol!
Anh ôm vai Carol, nhìn sâu vào đôi mắt xanh, nói bằng tiếng Việt, y chang giọng Quảng Ngãi.
Anh hào hứng đạp lên dốc Nam Giao, quẹo về hướng lăng Tự Ðức. “Nhà Hồng dễ kiếm lắm vào thẳng khi nào gặp khúc quẹo dừng lại ngôi nhà ở bên phải bên ngoài có cái cổng gỗ bọc bằng thép gai khi rảnh anh cứ lên chơi nhà vắng lắm”. Anh tìm ngay ra con đường Hồng chỉ. Ðường núi ngoằn nghoèo. Những con dốc nhỏ đầy đá sỏi. Rừng cây thưa. Núi rừng vào xuân nghe thơm mùi hoa và mùi lá mới. Buổi chiều, chim hót hiếm, mệt mỏi và lạc lõng. Anh tìm ra ngay ngôi nhà. Phải dắt xe lên bốn, năm tầng cấp đắp bằng đá núi. Ðẩy nhẹ, chiếc cổng gỗ mở ra ngay. Nghe tiếng động, một chú chó nhỏ từ góc sân chạy ào ra sủa inh ỏi. Anh dừng lại, nhìn vào trong chờ đợi, lòng áy náy không yên. Một bà già lưng còng bước ra khỏi cửa nhà, đưa tay lên ngang mắt để nhìn cho rõ, dợm chân bước. Bỗng tiếng Hồng reo lên:
– Kìa, anh Lục.
Nàng chạy vội ra cổng, hai tay vịn vào chiếc ghi đông:
– Hồng biết mà, thế nào anh cũng lên. Vào đây, vào đây. Anh để xe đâu đó cũng được. À, mà dắt vào đây đi. Chẳng có ai thèm lấy của anh đâu, nhưng dắt vào đây cho yên trí.
Lục dắt xe vào. Dừng lại trước khoảng sân nhỏ, anh hỏi:
– Thuận đâu?
Hồng cười:
– Ðừng nhắc Thuận ở đây. Hồng rủ anh lên đây là anh biết rồi. Thuận không thích nơi này. Mà này, vào đây, vào đây. Hồng chỉ cho xem cái này.
Lục cúi đầu chào bà già đang đứng ở cửa nhìn anh. Hồng nói:
– Bà vú của tụi Hồng đó. Bà ở với tụi Hồng từ thời còn con gái. Giờ nghễnh ngãng nặng rồi.
Vừa bước qua ngưỡng cửa, Lục đã cảm nhận ngay không khí hoang vắng của căn nhà. Mọi vật đều nằm ở vị trí của chúng y như thể chúng đã ở đó từ rất lâu và cứ mãi như thế, không thay đổi. Chúng sạch sẽ, thứ tự. Từ cái tủ thờ rất xưa cho đến bộ bàn gỗ khá mới. Từ chiếc ngựa bóng láng nằm ở góc nhà cho đến cây đàn ghi ta cũ kỹ treo trên tường. Chỗ này là cặp “găng” quyền anh, cái mũ “phớt”, chỗ kia là chiếc khăn vành màu vàng, cái tủ “két” thấp. Thấy Lục ngẩn ngơ quan sát, Hồng cười:
– Có gì lạ mà anh nhìn dữ vậy?
– Mọi thứ như trong viện bảo tàng.
Hồng cười:
– Không sai. Ðây là viện bảo tàng gia đình Hồng đấy. Mọi thứ ở đây đều là di vật của ba mẹ Hồng.
Lục rùng mình. Anh hỏi:
– Không có ai ở đây cả sao?
– Chỉ có bà vú với Hồng thôi. Còn ai nữa đâu. Mỗi người một phương cả rồi. Vú, vú, coi đóng cửa lại đi vú. Hôm nay vú đã nhớ tưới vồng cải chưa? Anh bạn của “miu” chỉ nhìn thôi chứ không đụng đến vật gì của vú mô, đừng có sợ, vú. Có gì “miu” đền cho vú.
Lục ngạc nhiên:
– Miu?
– Miu là tên ở nhà của Hồng. Bà vú chỉ nhớ tên “miu” thôi. Gian nhà này là do bà giữ gìn, nên thấy có ai lạ vào là bà sợ. Vú muốn tất cả vẫn để nguyên như thế, không ai được sờ mó, di chuyển. Thôi vú đi đi, để Miu đóng cửa cho.
Hồng kéo tay Lục đi qua một căn phòng khác nằm phía sau. Căn phòng nhỏ nhắn, tươm tất có khuôn cửa sổ trông ra một vùng cây cỏ um tùm mọc dọc theo sườn một con đồi. Phòng có một kệ sách nhỏ, toàn là sách học. Tường treo đầy hình Hồng, hầu hết đều trong bộ đồ áo dài trắng học trò. Một vài tranh tĩnh vật rất cũ, chỉ còn nước sơn mà không nhìn rõ hình.
– Một thư phòng, Lục nhận xét.
Hồng nói:
– Anh thấy sao? Ðây có phải là một nơi ẩn dật tốt không?
Lục không trả lời. Anh hỏi lại:
– Vậy thực sự Hồng ở đâu?
– Cả hai nơi. Dưới phố chỉ là nhà thuê, cho mấy cháu đi học và chạy các chuyện linh tinh. Lúc nào rảnh, Hồng về ở đây. Ðây mới là nhà.
Hồng chỉ một số bánh trái, thức ăn bày trên chiếc bàn nhỏ để ngang chính giữa phòng:
– Hồng có linh tính là thế nào anh cũng sẽ lên, nên anh xem, Hồng sửa soạn một số thức ăn để mời anh. Có cả rượu nữa đấy nhé. Rượu trắng đàng hoàng. Hồng nhờ mua dưới Truồi đấy. Hồng nghe nói rượu Truồi nguyên chất rất ngon, phải không anh?
– Có lẽ vậy. Nhưng cái gì mà Hồng linh tính ghê vậy?
– Hồng không nói láo anh mô. Anh xem, ở đây, đâu có ai lên. Ai quen Hồng, cần gặp Hồng thì đến nhà dưới phố. Không ai biết chỗ này. Mà lạ lắm anh, hôm kia hay hôm qua gì đó, tự nhiên, con mắt Hồng nó giựt giựt. Hồng nhủ thầm mai mốt thế nào cũng có khách. Hồng chắc mẩm rằng khách nhất định là anh.
Lục ngạc nhiên:
– Ngày nào Hồng cũng lên đây sao?
– Hồng ở đây cả tuần rồi.
– Không về lại dưới đó sao?
– Ừ.
– Thế mấy đứa nhỏ?
– Mấy đứa về bên nội.
Lục nhìn Hồng, bỡ ngỡ nhận thấy người đàn bà này dường như có cái gì khác hẳn những điều anh thường nghĩ về. Nàng có quá nhiều nét tương phản. Tiểu thư và dân dã. Ngông nghênh và nhu mì. Liếng thoắng và nghiêm túc. Lang bạt và gia giáo.
Loay hoay làm một số việc gì đó xong, Hồng trở lại, kéo chiếc ghế nhỏ, ngồi đối diện với Lục. Hồng nhỏ nhắn hơn trong bộ đồ lụa hồng với hàng nút gài bên hông, có cặp tua bằng vải thắt lại với nhau, phần còn lại thòng dài xuống quá thắt lưng. Cổ áo tròn, khoét rộng, để hở một khoảng ngực nhỏ, trăng trắng hồng hồng, gợi cảm. Anh dừng cái nhìn lại hơi lâu trên khoảng ngực đó. Nhưng chợt bắt gặp cái nhìn trêu cợt của Hồng, anh lên tiếng cho đỡ ngượng nghịu:
– Hồng trông chẳng khác gì con mèo nhỏ.
Hồng reo lên:
– Trời ơi, anh nói sao không khác câu nói của một người bạn à…một người quen Hồng. Sao, ngọn gió nào đưa anh tới chiều nay?
– Tình cờ. Lúc đầu, không có ý định gì hết. Rồi không hiểu sao, tôi quyết định lên đây. Không, có lẽ lúc đi ngang trường Ðồng Khánh, chợt nhớ hôm nọ, Hồng rủ tôi vào trường. Tóm lại, tình cờ.
– Ừ, tình cờ. Ở đời, người ta hay gặp những chuyện tình cờ như thế.
– Có những tình cờ làm thành lịch sử đó, Hồng ơi.
*
Vượt qua khỏi đám ngấy chằng chịt lẫn nhiều cây hoang mọc quanh khu mộ, cả hai bắt đầu leo lên ngọn đồi bên cạnh. Rừng rậm dần. Cây thấp, mọc san sát. Mùi lá ẩm mùa đông còn lại trộn lẫn với mùi hoa dại mùa xuân tạo nên một mùi tổng hợp là lạ. Lục khoái, hít hà liên tục. Hồng đi trước, leo dốc một cách khó khăn, nhưng có vẻ thích thú. Thỉnh thoảng anh phải đỡ nàng hoặc cầm tay nàng kéo lên một đoạn dốc đầy sỏi và đá vụn. Ðến một con đường mòn chạy vòng vèo quanh đồi, Hồng dừng lại, chỉ khu rừng trước mặt:
– Nếu băng qua hết khu này, ta sẽ đến lăng Tự Ðức.
– Hồng đi đường này đến đó rồi sao?
– Chưa hề, nhưng Hồng đoán thế.
– Cô định rủ tôi băng rừng đến đó không?
Hồng cười:
– Ừ. Ði suốt đêm nay.
Qua khỏi con đường, hai người đi vào một khu rừng khác. Trên đỉnh đồi, mặt đất trông bằng phẳng hơn. Khỏi cần phải leo dốc, vịn cây. Hồng bắt đầu kể:
– Ba Hồng mất lúc Hồng còn quá nhỏ. Chết vì lý do gì, Hồng lờ mờ lắm. Mẹ Hồng chỉ nhắc sơ sài, khi tụi Hồng hỏi. Ðại loại thì vì chính trị cũng có, mà kinh tế cũng có. Sau khi ông chết, dần dần tài sản của ông lần lượt bị tịch thu hoặc phá hoại. Cuối cùng, gia đình Hồng chẳng còn gì ngoài một căn nhà nhỏ để ở. Mẹ Hồng buồn, mang trọng bệnh. Bà quyết định bán căn nhà dưới phố, lên mua khu vườn này, hy vọng vận rủi không còn đuổi theo gia đình nữa. Nhưng rồi bà buồn, đau và chết. Tụi Hồng chôn cất bà ở đó, đồng thời dời mộ ba Hồng về luôn. Ðể hai ông bà được ở gần nhau. Bà mất rồi, tưởng yên. Thế mà vận rủi vẫn cứ đuổi theo gia đình Hồng. Anh chị em Hồng tứ tán, người chết trận, kẻ mắc bệnh nan y, người bị điên, ôi thôi đủ thứ. Nghiệp nặng. Còn Hồng, như anh thấy, dở dang, bất định…
Giọng Hồng nghe bình thản như kể lại chuyện buồn của một ai đó. Chỉ có hơi trầm xuống khi chấm dứt. Anh vừa lắng nghe vừa nhìn khu rừng trước mặt với khoảng trời và chòm cây chen nhau dưới ánh nắng chiều mệt nhọc. Ðã nghe tiếng chim gọi nhau về tổ. Thỉnh thoảng có tiếng chạy đuổi nhau của con sóc hay một loài thú leo trèo nào đó. Anh tưởng Hồng sẽ kể tiếp câu chuyện, nhưng nàng yên lặng bước, khuôn mặt chùng xuống, tối đi. Ðôi mắt long lanh như thể sắp khóc. Mà khóc thật! Hồng nhấp nháy mắt. Hai vệt nước lăn dài xuống má. Bất giác, anh đi sát với Hồng hơn. Anh nói:
– Cũng buồn nhỉ. Nghe như truyện.
– Ừ, thì buồn, tất nhiên thôi. Hồng nghĩ đến nghiệp báo. Nhưng anh xem, thời buổi này, khối chuyện còn thê thảm hơn nhiều.
Không khí lặng đi.
Nhưng rồi, Hồng trở lại vui vẻ, nhí nhảnh như thường lệ. Giọng vẫn trong veo như bao giờ:
– Anh có nhớ hôm tụi mình đi xem văn nghệ ở Tổng Hội không? Sau khi anh bỏ về, tụi Hồng cũng bỏ về. Vì sao anh biết không? Không có anh Hồng mất hứng. Vậy đó. Có ai mô mà chia sẻ. Phải có người mà chia sẻ mới vui chứ. Mà anh biết sao không, ngày hôm sau, nghe Thanh nói ở trường Ðại Học Sư Phạm họ làm vui lắm. Hội thảo, đốt sách, hát. Không, họ không dám hát bài “Dậy mà đi” nữa. Họ hát mấy bài như “Ai đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh”, “Công trường Kẻ Gỗ”. Anh có biết bài “Ai đi mô cũng nhớ về Hà Tĩnh” của ai không? Không biết phải không? Mà anh có nghe bản đó bao giờ chưa? Thì hát ra rả trên đài phát thanh mà. Ðoán thử xem? Chịu há? Của ông Nguyễn Văn Tý đấy. Nguyễn Văn Tý “Dư âm” ấy mà. Hai bài hát khác nhau một trời một vực, phải không? Này, mà vợ chồng Thanh sắp vào Nam ở rồi đó. Có nơi có chốn đàng hoàng thế mà đi mới lạ. Sao ai cũng thích vào Nam cả thế nhỉ? Ði hết rồi ai ở đây nữa.
Thấy sắp băng qua một con đồi nữa, Lục ngắt ngang hỏi:
– Ði đâu Hồng?
– Chẳng biết đi đâu nữa. Thì cứ đi. Ði đại. Ðến đâu thì đến vậy. Nếu đến được nơi nào chưa có dấu vết con người thì tốt.
– Không có đâu. Thế giới này bị tục hóa cả rồi. Không còn nơi nào an lành cả. Không còn nơi nào để ẩn nấp.
Hồng chỉ một khoảng rừng trống phía trước:
– Hay đến đàng kia đi.
Hai người im lặng bước. Ðến nơi, nàng trải tấm ni lông và bày biện đủ thứ lấy từ túi xách: bánh bọc lọc, bánh ít, bánh ngọt, chả và chai rượu.
– Ngồi xuống đi anh. Hồng nói.
– Hồng làm y như bữa tiệc vậy.
– Vâng. Một bữa tiệc. Tiệc của những kẻ lạc loài.
Thấy Lục dè dặt ngồi ở mé ngoài tấm ni lông, Hồng nói:
– Lại đây với Hồng. Hồng chẳng còn gì để ngại. Cũng chẳng còn gì để đề phòng cả. Cũng không còn gì để giữ. Mọi thứ tuênh toang cả rồi.
Nghe Hồng nói, anh nhìn Hồng lạ lẫm.
– Anh ngại sao? Hồng hỏi lại.
– Không. Hồng không ngại thì tôi ngại gì.
Anh ngồi xuống bên cạnh Hồng. Hai người dựa lưng vào gốc cây lớn, da xù xì. Chung quanh đầy cỏ dại, dây leo, xác lá nằm chen chúc nhau. Mặt trời âm thầm lặng đâu đó, khuất sau những vùng cây rậm. Phiá trước mặt là dốc đồi thoai thoải chạy về phía đồng bằng. Qua những kẻ hở hiếm hoi giữa các tàn lá, Lục có thể nhìn thấy con đường nhựa và một đôi mái nhà tranh thấp thoáng phía dưới xa. Hoàng hôn.
Hồng rót rượu vào hai chiếc ly nhỏ:
– Nào, uống đi Lục.
– Sợ gì, Hồng. Nào, Hồng cùng uống chứ?
– Dư sức. Không uống thì dẫn Lục lên đây làm gì. Nào!
Lục nốc ngay một hơi, cạn ly. Hồng uống từng hớp một, nhăn mặt, rồi ráng sức nốc một hơi, hai mắt nhắm lại. Nàng để ly xuống, dụi mắt. Mắt nàng đỏ hoe. Ðôi vai run rẩy. Hồng úp mặt vào hai lòng bàn tay, nấc lên. Lục táo bạo choàng tay qua vai nàng. Dường như chỉ đợi có thế, Hồng gục mặt vào anh. Anh với tay, rót thêm cốc rượu nữa, uống cạn. Người hưng phấn, anh xiết nhẹ Hồng vào lòng. Nàng nhỏ nhoi biết bao. Hồng, cô tiểu thư Hồng của ngày nào mơ mộng. Con chim nhỏ của thành phố Huế hồn nhiên. Thuở còn đi học, mỗi lần đi ngang cửa tiệm, thấy cô bé Hồng ngồi bên trong, đẹp đẽ, tươi mới, sáng rỡ, anh liếc nhìn để rồi lủi thủi bước đi, lòng loáng thoáng nhen nhúm một ao ước mơ hồ. Cô bé Hồng lớn lên, lấy chồng, kiêu hãnh và hạnh phúc. Rồi cô giáo Hồng bỏ chồng. Rồi cô Hồng đạp trên dư luận sống với một tay giang hồ. Rồi một cô Hồng lang bạt bây giờ ở đây với anh. Yếu đuối, nhỏ nhoi, buông thả. Từ cô tiểu thư Hồng mà anh sẽ sàng nhìn qua khuôn cửa độ nào và cô Hồng giữa núi rừng hoang vắng là một khoảng trời mênh mông dâu biển, với bao nhiêu vinh nhục và tình cờ.
Anh buông Hồng ra:
– Xin lỗi Hồng.
Hồng nhìn anh, ngạc nhiên:
– Ðừng nghĩ gì hết, Lục. Nghĩ gì cũng vô ích thôi. Mình chẳng có gì dính dáng đến nhau, Lục có cuộc đời của Lục. Hồng có cuộc đời của Hồng. Ðúng ra, mình chẳng có gì để san sẻ cho nhau cả. Nhưng lạ là, cứ mỗi lần nghĩ đến Lục là Hồng thấy có Hồng ở trong. Lạ thế! Còn Lục?
Lục lúng túng:
– Hồng làm tôi ngộp thở, không kịp nghĩ gì hết.
Anh đứng lên. Xác lá kêu lào xào dưới chỗ ngồi. Cơn gió chiều tinh nghịch luồn qua rừng, thổi tấp những cánh hoa nhỏ rơi lòa xòa. Hồng nhìn anh:
– Mỗi lần nhìn Lục, Hồng thấy có nhiều thứ của mình trong đó.
Lục bật cười:
– Thứ gì vậy?
– Nhiều nhất có lẽ là cái ngơ ngác lạc loài. Của Hồng. Của Lục. Mình cứ đi, cứ đứng, cứ nằm, cứ ngồi, cứ ăn, cứ sống, nhưng vẫn chẳng thấy mình dính dáng gì đến cái cuộc sống kỳ quặc chung quanh mình. Y như mình không phải sống ở đây. Như mình nằm mơ. Khiếp thật! Mỗi lần nhìn người, nhìn cảnh, không hiểu sao hai câu thơ mà Hồng chẳng còn nhớ của ai: lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa, bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh. Không, Hồng không chính trị chính em gì hết. Nhưng mà thế. Mỗi lần cố hình dung mình, cách hay nhất là hình dung Lục.
Nghe Hồng nói, Lục nghĩ đến một người khác, không phải Hồng. Anh đẩy Hồng ra xa, ngắm nghía. Có chút gì nhân dáng mình trong người đàn bà nhỏ nhắn, kỳ lạ này không? Ai mà biết. Trước mắt anh, đơn giản chỉ là một cô Hồng nhỏ bé, kỳ lạ.
Anh rót rượu vào cốc của mình. Hồng xô ra:
– Anh không có quyền uống một mình.
Nàng rót đầy ly nàng. Lục nhìn nàng, ái ngại. Hồng nâng ly lên chạm vào ly anh:
– Nào, trăm phần trăm!
Cả hai cạn ly. Lại rót vào. Cạn ly. Lục ngơ ngác nhìn quanh. Núi rừng vắng vẻ, âm thầm. Đã chiều lắm rồi. Từng mảng tối đã xuất hiện đâu đó dưới những tàn cây rậm khiến thân cây và mặt đất trở thành những khối mờ. Xa dưới kia, chỉ còn những vệt nắng muộn rải rác không đều xuyên qua những chòm lá sẫm màu. Tất cả đang dần dần hòa tan vào nhau thành một khối. Anh rùng mình, chợt cảm thấy mình quá liều lĩnh.
– Thôi, ta về. Lục nói.
Hồng nhỏm dậy, nhìn anh:
– Ừ, thì về. Nhưng sao trông anh đột nhiên ngơ ngác như con nai vậy?
– Không có gì.
– Anh sợ à?
– Sợ chứ. Hồng cũng như tôi, những con chim gãy cánh. Thử nghĩ coi, thời buổi này…
Hồng nhắp một hớp rượu nữa, cười vang. Tiếng cười đột ngột phá vỡ cái yên lặng núi rừng chiều thần bí, rơi tuột vào khoảng mênh mông dưới kia, tan biến. Hồng níu Lục:
– Ở dưới kia, không phải chỗ của bọn mình. Ở dưới kia, sao Hồng sợ quá. Ðâu có chỗ nào cho bọn mình, phải không?
Anh ừ, ngồi xuống, lòng mênh mang. Tưởng như mọi thứ chỉ còn là hư ảo.
Chương 25
Mới vừa gặp, chưa kịp ngồi, Mễ đã hỏi:
– Sao, bà nghe tin gì chưa?
Hạnh hồi hộp, hỏi lại:
– Hàng ăn lại rồi hả?
– Hàng chẳng ăn chẳng uống gì cả. Nhưng đây là tin khác, tin giật gân.
Hạnh ngẩn mặt nhìn chăm Mễ, chờ đợi. Biết Hạnh sốt ruột, nhưng Mễ nhẩn nha đi rót nước, tìm cái đĩa, đặt cốc lên, mang lại chỗ Hạnh.
– Lại bày đặt nước nôi nữa. Tin gì, nói lẹ lên.
Mễ cười:
– Tin khủng khiếp…
– Gì?
Mễ làm bộ nhìn ra cửa, rồi hạ giọng:
– Con Tương có bầu.
– Tương “mình” hả?
– Thì có mấy Tương mà bà hỏi.
– Vô lý!
– Cái gì vô lý?
– Mới gặp hắn đây mà. Mô có thấy bầu bì gì. Mà lại, hắn vẫn bới xách thường xuyên cho chồng mà.
– Bà gặp lâu chưa?
– Ờ…thì để xem. Trước Tết. Không phải. Cũng ba tháng rồi. Gặp ở ngoài chợ. Hỏi đi mô, nói đi bới xách.
– Tưởng mới hôm qua. Ba tháng rồi, bao nhiêu thay đổi, bao nhiêu nước chảy qua cầu.
– Mà sao biết bà ta có bầu?
– Thì cái bụng lùm lùm, dấu mô có được nữa.
Hạnh chép miệng:
– Sao hắn không bỏ xứ mà đi nhỉ?
Rồi đổi giọng:
– Cái thứ tệ bạc! Ai mà ngờ nhỉ. Trông hắn cũng hiền lành, đàng hoàng. Tôi không thể ngờ có cái loại đàn bà tệ bạc đến như vậy. Cái thứ đàn bà lang chạ đó, nói thật với bà…tôi không ngửi nổi. Ðừng có mà giải thích lý do này nọ. Không lý do gì hết, phải không bà? Lý do gì cũng là ngụy biện mà thôi, loại đàn bà trắc nết. Tôi mà biết hắn như vậy, đừng có hòng mà tôi chào, đừng nói là quan hệ làm ăn này nọ. Chồng chết thì thủ tiết nuôi con. Ở đây, chồng còn sống lù lù ra đó, mà lại bỏ chồng, lang chạ. Thật thời đại loạn hết biết.
– Trông bộ bà ghét cái đám đàn bà bỏ chồng lắm nhỉ? Nhưng mà bà biết hắn ta có thai với ai không?
– Chắc với một tay cán bộ nào đó chứ gì?
– Không.
– Với một tay tài xế xe tải?
– Không.
– Hay với một tay kiểm soát viên tàu Thống Nhất?
– Cũng không.
– Với một tên bạn thân thường hay lui tới giúp đỡ, an ủi vợ bạn?
– Cũng không.
– Cái bà này, ai cũng không cả vậy thì có thai với ai mà cứ ỡm ờ mãi thế?
Mễ chậm rãi kể:
– Bình tĩnh đi nào. Chuyện cũng khá hi hữu, phải kể đầu đuôi nghe mới hay. Mọi chuyện bùng ra chỉ mới đây thôi. Tháng trước đây, khi cái bầu không còn giấu vào đâu được nữa thì bên nhà chồng bắt đầu bêu riếu, xỉ vả Tương. Ba đứa con xấu hổ quá, qua ở bên nhà bà nội. Tương vẫn tỉnh bơ.
– Cái con mặt dày mày dạn thế sao?
– Ừ. Có lần, bên nhà chồng họp lại, gọi Tương qua để hỏi cho ra lẽ…
Hạnh sốt ruột:
– Hắn có qua không?
– Qua chứ. Nhưng hỏi có mang với ai thì Tương nhất định không nói. Nhà chồng ép Tương phải làm đơn ly dị, Tương không chịu.
– Cái con cũng kỳ nhỉ?
– Tức quá, chị em bên chồng kiện ra công an. Công an yêu cầu hội Phụ nữ đứng ra đảm trách. Hội Phụ nữ họp, rồi gọi Tương đến để kiểm điểm. Mất ba đêm ba ngày, các bà vừa dọa dẫm vừa thuyết phục, bà ta mới chịu thú nhận.
Hạnh ngồi dậy, chồm về phía Mễ định hỏi, thì tự nhiên cảm thấy đầu óc choáng váng. Mắt hoa lên. Nàng dựa vào ghế, hai tay ôm đầu. Mễ ngạc nhiên:
– Cái gì vậy Hạnh? Sao mặt bà tái dữ vậy?
Giọng Hạnh run run:
– Không biết sao nữa. Tự nhiên cái chóng mặt. Chắc buổi sáng chưa ăn gì hay sao, rồi trúng gió. Bà khép cửa lại dùm tí. À, cái phòng tắm đâu vậy bà?
Mễ chỉ phòng tắm cho Hạnh rồi ra khép cửa. Hạnh vào phòng tắm, bụng càng cồn cào. Nàng buồn nôn, vịn hai tay vào tường oẹ xuống chậu rửa mặt. Toàn nước giải. Nàng đứng dậy vuốt ngực. Lại nôn. Ðứng một lát, lại nôn nữa. Nàng nuốt nước miếng, ngậm miệng cố đè nén cơn nôn. Một hồi sau, mới thấy đỡ. Nàng rửa mặt, bần thần bước ra. Mễ hỏi:
– Sao thế? Hay là…
Hạnh cố làm tĩnh, nói:
– Không có gì. Chắc trúng gió. Sao kể tiếp đi. Tương có mang với ai vậy?
– Thì ngồi xuống đó cái đã nà. Gì mà nôn nao vậy. Hắn có mang với chồng.
– Sao lại với chồng? Bà cứ ưng giỡn hoài.
Mễ cười tủm tỉm:
– Thế mới ly kỳ. Hóa ra anh chị hẹn gặp nhau trong rừng khi anh ta được ra ngoài gọi là đi làm cái gì…giác giác, à đi làm tự giác. Anh ta đi làm gỗ.
– Gặp nhau sao được. Ði đâu cũng có công an áp tải mà?
– Thế mới tài.
– Chắc phải gặp nhau nhiều lần nhỉ?
– Ai mà biết. Nhưng có lẽ thế.
– Nhưng tại sao hắn nhất định giấu?
– Vì hắn sợ chồng bị kỷ luật.
Hạnh dựa ngửa người ra phía sau ghế, thở phào:
– Thế à! Bây giờ hắn ra sao rồi?
– Thì có sao. Hắn vẫn ở nhà, buôn bán bình thường. Có điều, trước đây, hắn tỏ vẻ bất cần. Bây giờ lại thẹn thùng, bẽn lẽn.
Cơn chóng mặt và buồn nôn trở lại. Hạnh đứng dậy:
– Thôi, tôi về cái đã. Chắc phải nằm nghĩ một hồi.
Mễ nhìn Hạnh:
– Mặt bà tái lại rồi đó. Thôi, cái điệu này chắc là bà “dính” rồi.
Hạnh lắc đầu:
– Không đâu. Chắc chắn là không. Tôi cẩn thận lắm.
– Ai mà biết. Vỡ kế hoạch là thường.
– Ðừng có nói bậy. Giờ mà “dính” thì thật là hết biết.
Mễ lại cười:
– Mình có dính thì đâu có sợ gì. Chồng con ở một bên chứ có phải như con Tương đâu, phải không nào?
*
Về đến nhà, Hạnh nôn oẹ nhiều lần nữa. Mệt quá, nàng vào phòng nằm, lòng chán nản cùng cực. Không nghi ngờ gì nữa, nàng đã có thai. Nàng đã lờ mờ nhận biết điều này cả tuần này vì thấy trễ kinh, thỉnh thoảng lại có những cơn chóng mặt bất thường. Nàng vẫn hy vọng đó chỉ là triệu chứng của một cơn cảm cúm nào đó. Bây giờ thì thật rồi.
Nhưng con ai? Ba người đàn ông đã đến với nàng sau kỳ kinh nguyệt lần cuối cùng. Cả ba đều có thể là tác giả của cái bào thai. Trời ơi! Làm sao mà lường được hậu quả nếu cái thai là của tay tài xế hay tay Bí thư huyện ủy. Trước đây, mỗi lần nhớ đến sự việc, nàng vẫn có cảm giác đó là những tai nạn ngoài ý muốn. Một thứ tai nạn nghề nghiệp. Chúng sẽ qua đi, đơn giản như một lỗi lầm vụn vặt trong cuộc đời bình thường. Bây giờ, chúng không “qua đi”. Chúng “đọng lại”. Chúng ở lại với nàng. Như một oan nghiệt. Trời ơi, máu thịt của những tay đàn ông xa lạ đó đang tồn tại trong nàng, đang lớn lên trong nàng từng giờ từng phút, đang biến thành một phần đời của nàng. Rồi mai đây, “nó” sẽ ra đời, “nó” sẽ chạy, sẽ nhảy. Sẽ thô lỗ như tay tài xế hay hung bạo như tay Bí thư. Nàng phải yêu mến “nó”, chăm sóc “nó”, để rồi âm thầm hay công khai nối lại liên hệ với những kẻ mà nàng không mấy ưa nhưng lại là cha của “nó”. Lục sẽ nghi ngờ, đay nghiến. Nàng sẽ trở thành một kẻ lăng loàn, một con đàn bà mất nết. Làm sao mà giấu đây?
– Trời ơi!
Nàng kêu lên. Và bắt đầu khóc. Khóc vùi. Nỗi tuyệt vọng mênh mang như núi, như rừng, không cách gì khỏa lấp được. Khóc chán, Hạnh đến trước bàn thờ, thắp nhang khấn nguyện. Khấn nguyện gì dây? Cầu cho đứa con trong bụng nàng là của Lục. Nhất định cái bào thai là của Lục, chồng nàng. Không thể là ai khác. Ðột nhiên, nàng cảm thấy thương Lục vô hạn. Nếu có anh ở đây, nàng sẽ nhảy xổ vào lòng anh mơn trớn, âu yếm, xin anh thứ lỗi cho nàng tất cả. Nàng sẽ yêu anh, yêu đắm đuối, cuồng nhiệt. Bất giác, nàng đưa tay đè quanh bụng, cảm thấy một phần của Lục nằm đâu đó. Chúng mình sẽ có thêm một đứa con nữa, Lục ơi. Nàng kêu thầm.
Có tiếng động bên ngoài. Hạnh nằm lắng nghe tiếng dắt xe đạp lên thềm, tiếng kêu lẹt rẹt của ổ líp, tiếng cái chống xe đạp dựng lên và tiếng bánh xe quay vòng. Lục về. Nàng quay mặt vào tường. Lục vào nhà, đi quanh, để một vật gì đó xuống bàn. Một lát sau, Lục vào phòng. Ðột nhiên, nàng hồi hộp y như Lục sắp thấy những lỗi lầm của nàng. Nàng cố nằm thật yên, tưởng tượng rằng anh sẽ nằm xuống, lay vai nàng hỏi: “ngủ à?”, rồi hôn nàng. Không. Dường như anh chỉ đứng nhìn, rồi bỏ đi. Hạnh nghe tiếng bước chân anh ra ngoài. Nàng ôm gối, giận chồng vô hạn. Anh đâu có biết vợ anh đang trải qua một cơn khủng hoảng ghê gớm. Anh đâu có biết là gia đình sắp phải thêm một gánh nặng. Anh đâu có biết những vất vả, những lo toan mà nàng chịu đựng.
Lục lại vào. Hạnh ngồi dậy, tự hỏi không biết nói gì với Lục đây? Thấy Hạnh thức, Lục hỏi:
– Em dậy rồi à? Giờ này mà em ngủ thì kể cũng là sự lạ.
Lục nhìn chăm nàng. Hạnh bối rối. Nàng sẽ sàng đưa tay kéo vạt áo che phần bụng dưới:
– Em hơi mệt. Anh đi đâu về đó?
– Lên nhà bà nội mấy đứa, tiện đường ghé anh Tân.
Hạnh cố nở một nụ cười giễu cợt:
– Lại tính đi Khe Sanh hay sao?
Lục không nói gì. Anh đến chỗ treo quần tìm một vật gì đó. Nàng nhìn theo. Lục độ này trông ốm đi. Ốm từ bao giờ mà nàng không để ý nhỉ? Phải, anh ốm. Cái áo nàng mua cho anh năm rồi vừa vặn, bây giờ có vẻ rộng ra.
Lục tìm cái gì không có, lại bước ra. Hạnh ấm ức gọi:
– Anh!
Lục dừng ở cửa phòng:
– Gì vậy?
Hai chữ “gì vậy” thốt ra nghe khô khốc như lá khô mùa gió Lào, không chứa đựng một chút quan tâm nào đến người vợ khốn khổ. Hạnh tủi thân nhìn chồng, nước mắt lưng tròng. Người gì mà vô tình đoản hậu. Vợ như thế này mà tỉnh bơ! Lục bước lại:
– Gì vậy em?
Hạnh úp mặt xuống gối:
– Không gì hết.
Lục sờ trán vợ thấy nóng, hỏi:
– Em đau hay sao mà trán có vẻ nong nóng thế này. Coi chừng cảm.
– Không.
– Người muốn sốt đấy. Em uống thuốc gì chưa?
Hạnh quay lại:
– Em không đau gì hết. Nhưng mà…nhưng mà…
Hạnh ngập ngừng. Lục ngạc nhiên hỏi:
– Gì vậy em?
Giọng Hạnh ráo hoảnh:
– Không gì hết.
Chương 26
Suốt chuyến tàu vào Sài Gòn, Hạnh nôn oẹ mãi. Nàng chỉ uống nước cầm hơi. Ðến Bình Triệu, nàng mà bỏ thêm tiền thuê băng nhảy tàu chuyển hẳn hai xách thuốc Tây lên Sài Gòn.
Nhận hàng xong, Hạnh không thiết gì đến chuyện mua bán nữa. Thân thể nhão nhừ. Ðầu óc bời bời rối loạn. Nàng tìm ngay đến nhà Duyệt. Mãi đến tối, Duyệt mới về. Ấn Hạnh ngồi xuống cái giường nệm nhỏ đặt ở một góc phòng khách, Duyệt hỏi:
– Bộ hàng “ăn” hay sao mà vào vậy?
Hạnh lắc đầu. Duyệt lại hỏi:
– Vậy bà vào hàng gì?
– Thuốc tây.
– Thuốc tây loại nào, xã hội chủ nghĩa hay tư bản?
Hạnh ngước mắt nhìn lên:
– Bà không biết là hàng ngoài vào chỉ có xã hội chủ nghĩa thôi à? Tư bản là hàng ra kìa.
– Bộ bà tưởng tôi không biết sao. Nhưng thỉnh thoảng có bạn hàng vào đây lại mang thuốc tư bản chủ nghĩa, mới tức cười. Nước luôn luôn chảy xuôi. Chỗ nào thiếu thì hàng đổ về. Bà có ngờ nhiều lúc thuốc Ðà Lạt sản xuất ngay tại Sài Gòn này lại được bạn hàng mang từ Hà Nội vào không? Ấy, ấy thế mà có đấy. À bà có biết rồi phải không? Ðó, ngược đời như vậy đó. Thuốc tây cũng vậy thôi. Có nhiều khi tụi nó đổ thuốc tây ở cảng Hải Phòng, thế là bơi ngược. Không nắm vững điều đó, nhiều khi ôm thuốc tây trong này, lỗ “sặt gạch”. Mà bà, sao mặt mày độ này ngơ ngẩn thế? Xanh xao nữa. Ðau hay sao?
– Có gì cứ nói. Gì giúp được, ta làm ngay. Ba mươi giây thôi. Thời buổi này, cái gì làm được là làm ngay. Ba mươi giây, bà nghe chưa. Nào, kể đi.
Hạnh nói, giọng buồn buồn:
– Tôi có thai.
Duyệt cười thoải mái:
– Tưởng gì. Có thai thì có con. Có con thì nuôi. Con là lộc mà. Bà lo nỗi gì.
– Thôi đừng có lộc với liếc nữa. Có con rồi ở nhà lấy gì ăn.
– Bà mấy đứa?
– Ba.
– Ba còn thiếu. Bốn là vừa.
– Ba bốn gì bây giờ cũng không thể được. Tôi muốn…tôi muốn…
– Muốn gì nào? Thuốc dưỡng thai, đi khám bác sĩ thử xem trai hay gái…hay cái gì?
Hạnh hạ giọng;
– Tôi muốn phá…
Duyệt giật nẩy người:
– Cái gì? Bà muốn phá thai à?
Hạnh im lặng nhìn Duyệt, đôi mắt van vỉ. Nàng lập lại, giọng yếu ớt:
– Vâng, tôi muốn phá bà à. Lúc này mà có con thì gia đình tôi lâm vào chỗ bế tắc ngay. Bà nuôi con, bà biết. Tôi muốn phá…
Hạnh vẫn không thể nói hết câu. Hai chữ “phá thai” dội vào đầu nàng một cảm giác kinh khiếp. Nó gợi cho nàng ấn tượng của một cái gì bại hoại, vô luân. Nhớ lại, hồi còn nhỏ, một hôm thức dậy, nàng cảm thấy không khí trong nhà có gì khác thường. Bà con nội ngoại tụ tập đến nhà nàng. Mọi người thì thầm to nhỏ với nhau, nét mặt đầy vẻ nghiêm trọng. Mãi đến nhiều ngày sau, nàng mới hay thím nàng bị sẩy thai. Ông nội nàng lập bàn thờ cúng kiến nghiêm trang y như cúng người chết. Sau đó, nàng nghe mọi người bàn tán nhau về tội lỗi của những kẻ chửa hoang rồi phá thai. “Tội không để mô cho hết”, bà nội nàng kết luận như thế.
Ấn tượng tuổi thơ đó vụt sống dậy mạnh mẽ. Nàng không dám đến bàn thờ cầu nguyện trước khi đi. Nàng vội vàng mua hàng, vội vàng đi. Với Lục, nàng chỉ báo cho anh biết ngay sáng hôm nàng lên tàu. Tưởng anh chàng ngạc nhiên, té ra anh vẫn bình thản. Càng tốt. Ði đã. Nàng muốn giấu anh. Nàng muốn mãi mãi, đối với anh, cái thai hoàn toàn không hiện hữu.
Nhìn thấy vẻ cương quyết của Hạnh, Duyệt hỏi:
– Bà quyết định một mình hay có ý kiến của anh ấy.
– Một mình. Anh ấy biết thêm phiền. Mẹ anh ấy “cổ” lắm. Ở ngoài mình, chuyện này nghiêm trọng chứ không phải chơi.
– Có lý do gì đặc biệt không?
– Thì bà cứ tưởng tượng đang làm ăn như thế này, bỗng phải mất đi ba, bốn năm bận bịu với con dại thì có chết người không?
Duyệt gục gặc đầu, nói:
– Ừ, mà gặp trường hợp tôi, tôi cũng phải…ờ…cũng khó tính. Nhưng sao bà để cho đến nỗi này?
Hạnh cúi mặt, bẽn lẽn:
– Thì bà nghĩ xem, vợ chồng xa vắng lâu ngày, đâu có phải như bà, ngày nào cũng gần gũi. Tôi cố giữ lắm, nhưng ai mà ngờ. Thôi thì e cũng cái số. Tôi cắn đắn mãi, làm thế này tội chết. Nhưng biết làm sao. Một bên con, một bên đời sống. Thực khó quyết định.
Duyệt nói:
– Không có khó gì hết. Cái nào lợi, cái nào thực tế mình làm. Ðã quyết định thì cứ tiến hành. Bỏ ba cái thứ đạo đức vớ vẩn đó đi. Bà có thấy không, tụi bộ đội nó có thai rồi phá, lại có thai, lại phá, dễ dàng như thể đi chơi. Bà vào bệnh viện Từ Dũ mà xem, mấy bà mấy cô sắp hàng đợi đấy. Muốn phá cứ phá, muốn nạo cứ nạo. Tôi có con bạn làm y tá ở đó bảo người ta nạo xong, người ta bỏ vào từng xô. Có người còn đem về ăn nữa kìa.
Hạnh bưng mặt, choáng váng:
– Thôi bà ơi, làm ơn đừng nói nữa. Bà làm tôi lợm muốn xỉu đây này.
Duyệt nói:
– Nếu bà cần, sáng hoặc chiều mai, tôi chở bà lên Từ Dũ, làm xoắc xoắc cái cho rồi để còn lo việc khác.
Hạnh xua tay:
– Thôi thôi, không đi Từ Dũ đâu. Nếu tính chuyện đi bệnh viện, tôi đã không phải đến nhờ bà.
Duyệt ngạc nhiên:
– Vậy thì bà tính đi đâu?
Hạnh hạ giọng:
– Tôi muốn không ai biết chuyện này cả. Bà là người duy nhất tôi nói. Bà tìm giúp tôi, có ai làm riêng tại nhà không?
Duyệt lo lắng:
– Tôi nghĩ là có, nhưng ở nhà sợ không an toàn.
Hạnh quả quyết:
– Không sao. Bà tìm giúp tôi đi.
*
Qua khỏi Ngả Tư Bảy hiền một đoạn khá xa, Duyệt quẹo trái vào một con hẻm. Hạnh bảo:
– Nhà cũng khá xa nhỉ?
– Gì mà xa! Cũng vẫn thuộc Sài Gòn. Ðây là Tân Bình.
Con hẻm khá lớn, trải nhựa tử tế trông không khác gì một đường lộ. Nhà cửa hai bên cao ráo, khang trang. Nhiều nhà là nhà lầu, hai hoặc ba tầng. Những con hẻm nhỏ khác cắt thành từng ô như ô bàn cờ. Duyệt bảo:
– Ðây là khu tân lập sau giải phóng. Hầu hết là của đám cán bộ từ Bắc vào hay ở rừng ra và dân trúng mánh.
Duyệt quẹo quanh quẹo quất qua nhiều con hẻm nhỏ ngang dọc, cuối cùng tìm cái nhà số khá rắc rối: 273/6/17/8B. Ðến trước cổng, Duyệt cười:
– Thấy cái số nhà, cứ tưởng là một túp lều, không ai ngờ là một ngôi nhà to lớn như thế này, chẳng khác gì một biệt thự. Ðám cán bộ này không biết ăn cái gì mà mau giàu thật.
Tâm trạng Hạnh bồn chồn, nên không để ý mấy đến lời pha trò của bạn. Nàng lo lắng nhìn căn nhà, cái cổng, cây dừa, mấy chậu hoa để bừa bãi dọc theo tường. Duyệt bấm chuông. Một người đàn bà xuất hiện ngay sau cánh cửa, mở ra, hỏi:
– Ðồng chí, à, xin lỗi, cô là Duyệt ạ?
– Vâng.
– Còn cô đây là…
– Bạn tôi, khách của chị đấy. Sao, có gì trở ngại không chị?
– Ðâu có gì. Chúng tôi đang chờ đợi hai cô. Nào, ta vào trong đi.
Nhìn người đàn bà trong bộ đồ láng mướt, nói giọng Bắc đặc sệt, nàng càng bồn chồn, lo lắng thêm. Không biết bà “bác sĩ bộ đội” này làm ăn ra sao. Nàng hoang mang bước theo Duyệt và người đàn bà vào bên trong. Băng qua khỏi ngôi nhà lớn, đi ngang một khoảng sân hẹp, người đàn bà dẫn hai người vào một căn nhà nhỏ nằm khuất ở góc vườn. Ðàng sau cái hàng rào dựng tạm với những cọc gỗ xiêu vẹo là một khoảng đồng trống đầy cỏ dại. Khung cảnh có cái gì hoang liêu, buồn bã khiến nàng càng sốt ruột thêm. Vào trong, Hạnh thấy có một phụ nữ khác đã ngồi sẵn ở đó. Cô ta lặng lẽ cười chào. Hạnh thắc thỏm đảo mắt nhìn quanh. Căn phòng hẹp, vừa đủ chỗ để chứa những thứ cần thiết. Tường sơn vôi trắng toát, nước sơn trông còn mới. Trong góc phòng để một chiếc bàn đẻ có bệ gác chân, bên trên phủ một tấm “ra” trắng đã ngả màu. Cạnh đó là một chiếc bàn nhỏ hơn với dao, kéo, kềm mạ kền sáng loáng. Mùi cồn xông lên nghe nồng nặc. Hạnh bất giác lạnh toát, tưởng như lông tóc trong người dựng đứng lên. Nàng run rẩy muốn quỵ xuống. Thấy mặt mày Hạnh đột nhiên đổi sắc, Duyệt hoảng hốt chạy đến ôm lấy, hỏi:
– Sao vậy Hạnh?
Hạnh nói không muốn ra lời:
– Mình…mình…ớ…n quá!
Người đàn bà nói với Duyệt:
– Không có gì đâu. Cô có thể ra đợi ở phòng khách.
Duyệt lo lắng nói:
– Vâng. Chị cố gắng làm cẩn thận cho bạn tôi.
Người đàn bà cười, trấn an:
– Cô đừng lo. Tôi đã giải quyết cả hàng trăm ca như thế này rồi.
Nghe nói Duyệt ra ngoài, Hạnh chới với nhìn bạn:
– Hay…hay…bà ở lại đây với tôi.
Duyệt chần chừ. Người đàn bà cương quyết:
– Không được đâu.
Ðưa tay chỉ người phụ nữ, chị ta tiếp:
– Cô yên tâm đi. Ðồng chí này cũng là người miền Nam đấy, dân Sài Gòn chính gốc. Ðồng chí làm hộ sinh ở đây từ trước giải phóng. Chúng tôi kết hợp nhau để giúp các chị em phụ nữ có khó khăn.
Duyệt miễn cưỡng bước ra. Người đàn bà đóng cửa, gài chốt. Sau khi hỏi han Hạnh một số điều về sức khỏe, các triệu chứng thai nghén, hai người đàn bà nhanh chóng thay nhau đo huyết áp, cân. Người đàn bà cho Hạnh uống một viên thuốc, bảo nàng cởi hết áo quần nằm lên giường, tiếp tục trấn an:
– Cô cứ nằm yên. Chỉ khó chịu đôi chút. Tất cả chỉ trong vòng nửa giờ thôi. Không đau lắm đâu. Nếu cảm thấy có gì bất thường, cho chúng tôi biết ngay.
Hạnh nghe lâng lâng buồn ngủ. Nàng cố trấn tĩnh, nhướng mắt nhìn lên trần nhà. Nhưng đôi mắt hoa lên, đành phải nhắm nghiền lại. Trong trạng thái ngầy ngật, nàng mơ hồ nghe tiếng mở hộp, tiếng dao kéo chạm nhau lanh canh. Bỗng giật nẩy mình khi một dụng cụ gì đó đụng vào người. Tiếp theo là những cảm giác nhột nhạt khó chịu. Rồi chợt buốt lên. Nàng cắn chặt răng, nhắm mắt, có cảm giác như một phần da thịt mình banh ra, đột ngột tách rời khỏi thân xác. Ðau. Chao ôi là đau! Mạ ơi mạ, đau quá! Cơn đau chạy suốt người, thấm tận cùng da thịt. Mồ hồi toát ra như tắm. Nàng lăn lộn, rên rỉ. Hai người đàn bà cố đè nàng xuống. Thời gian trôi ngột ngạt.
Tiếng người đàn bà chợt vang lên khô, gọn:
– Xong rồi!
Nàng giật nẩy mình, nhớm đầu, mở mắt nhìn, chỉ thấy mảng tường trắng lờ nhờ lung linh phía trước. Nàng thều thào hỏi:
– Xong rồi sao?
– Vâng. Xong rồi. Tốt. Cô cảm thấy thế nào? Khoan, cứ nằm yên đó đã. Còn phải làm vệ sinh nữa. Ðừng cử động mạnh, ấy thế cứ nằm yên, hai chân có thể khép lại. Tốt. Nga, em chuyển cái chậu sang phía bên kia. Ðó, đó. Rồi giúp chị lau chùi cái này.
Nàng nghe tiếng khăn chùi quanh, tiếng nước đổ. Giọng người đàn bà lại vang lên:
– Xoay người lại cô. Ðấy. Xong! Cô có thể ngồi dậy.
Nàng vẫn nằm. Hai tay buông thỏng, rã rời. Một luồng hơi lạnh tràn vào sống lưng, lan khắp cơ thể. Mênh mang ân hận. Nước mắt ứa ra. Nàng úp mặt xuống gối, lặng lẽ khóc. Nàng chợt nghĩ đến Lục, đến tay tài xế, đến tay Bí thư. Ôi đàn ông, họ đến rồi họ đi, thênh thang, thoải mái. Họ đang ở đâu, làm gì?
Khóc chán, nàng lặng lẽ ngồi dậy mặc áo quần. Nghe có gì ươn ướt dưới lưng, nàng xoay người nhìn. Tấm “ra” trắng thấm đầy máu. Màu máu nhờn nhợt loang ra hết cả nửa tấm “ra” phía dưới. Hạnh rùng mình, quay đi. Duyệt hỏi vọng từ bên ngoài vào:
– Tốt cả chứ?
Người đàn bà đáp vâng, mở cửa cho Duyệt vào. Thấy mắt Hạnh đỏ hoe, Duyệt hỏi:
– Gì vậy bà? Sao lại khóc?
Hạnh nhìn Duyệt, nước mắt lưng tròng, không đáp. Duyệt lo lắng hỏi:
– Sao, thấy trong người thế nào?
Hạnh đáp, giọng yếu ớt:
– Không có gì.
– Sao lại khóc?
– Ðau. Và buồn.
Duyệt im lặng nhìn bạn, cố chia sẻ những cảm giác phức tạp mà bạn đang trải qua. Nàng dìu Hạnh ra bên ngoài. Hạnh nhìn người đàn bà, hỏi:
– Có cái…cái…ấy đâu rồi?
– Cái gì cô? Cô quên cái gì?
Hạnh ấp úng:
– Cái đó cô, cái…cái mà cô vừa mới lấy ra đó.
– Cô muốn nói cái gì, cái thai phải không? Cô muốn mang về sao? Ðâu có gì, chỉ mới tượng sơ sơ thôi. Nhưng tùy cô. Cô đợi chút, tôi bỏ vào bịch ni lông đã.
Người đàn bà nhanh nhẹn bưng chiếc xô, đổ nước ra một cái thau, đổ phần còn lại vào một bịch ni lông đưa cho Hạnh. Hạnh liếc nhìn. Một nhúm thịt nhầy nhụa, màu đỏ lẫn màu trắng. Con của nàng đấy sao? Nàng rùng mình, nhắm mắt lại, không dám nhìn. Mồ hôi toát dầm dề. Người đàn bà nói:
– Có gì đâu mà cô sợ. Thịt thôi. Cũng như mọi thứ thịt khác. Thịt heo thịt bò chẳng hạn. Chưa thành hình tượng gì đâu. Nhiều ca tôi làm ở đây thấy có cả mặt mày…
Duyệt nháy mắt, ra dấu cho người đàn bà ngừng nói. Nhưng bà ta vẫn tỉnh bơ, tiếp tục:
– …tay chân nữa kìa. Nhiều ca, năm sáu tháng đã có tóc…
Duyệt vội vã kéo Hạnh đi ra.
*
Khi bắt đầu chạy vào xa lộ, Hạnh ngợp. Ðường rộng, xe chạy như thác đổ, vùn vụt vượt qua khỏi nàng. Nàng sợ hãi, chạy nép vào gần lề đường. Mỗi lần xe, nhất là xe hơi, từ đàng sau lao lên, gió tạt vào như muốn đẩy nàng bay ra khỏi yên xe. Nàng mím môi giữ chặt tay lái, mồ hôi toát ướt cả người.
Qua hai cái ngã tư, Hạnh mới nhìn thấy một khu rừng cây, nằm cách xa lộ một khoảng ngắn. Thấy có một con đường mòn nhỏ, nàng quẹo ngay vào. May quá, đường mòn chạy vòng vèo theo con suối cạn, dẫn ngay vào khu rừng cây. Rừng thưa, vắng người. Hạnh tìm một chỗ đất bằng phẳng, dựng xe lên. Nàng lấy túi xách xuống rồi đứng nhìn quanh. Thấy một cây cao, tàn lá sum suê mọc ở một chỗ khá xa lối đi, nhưng trông cũng dễ nhìn thấy từ bên ngoài, nàng lom khom tìm lối tới. Nàng mừng rỡ khi thấy phần thân cây phía gốc khá lớn, mọc cheo leo trên một mô đất cao. Cây cối mọc nhiều ở khoảng đất chung quanh chứng tỏ ít người qua lại. Nàng mở xách lấy con dao phay, bắt đầu đào một lỗ ngay dưới gốc. Ðất lẫn với đá sỏi, dao lại đùi nên rất khó đào. Ðã thế lại có nhiều rễ cây ngang dọc chằng chịt phía dưới. Nàng cố vận dụng sức lực để đào cho sâu. Mệt, nàng ngừng lại để thở rồi đào tiếp. May mà phần đất phía dưới khá mềm, đào tương đối dễ. Mất gần cả tiếng đồng hồ, nàng mới đào xong. Nàng đứng dậy, ném cây dao xuống đất, vươn vai nhìn. Cái lỗ sâu và rộng. Trong trí tưởng nàng, đó là một “huyệt mộ”.
Nàng nhìn về phía lối mòn. Khu rừng vắng vẻ. Thấy chắc chắn không có ai chung quanh, nàng lấy từ trong xách ra bịch thai nàng đã cẩn thận gói bằng nhiều lớp vải và giấy báo. Nàng nhẹ nhàng để bịch xuống “huyệt”, đè thật sát, lấy đất lấp xuống. Xong, nàng dùng chân đạp mạnh nhiều lần cho chắc rồi rải đá, sỏi và lá mục lên trên để xóa dấu mới đào. Nàng lấy bó nhang, thắp lên, cắm quanh “huyệt”.
Chắp tay hướng về “huyệt”, nàng thì thầm:
– Con ơi, mẹ biết mẹ vô cùng có lỗi với con. Nhưng mẹ không còn cách nào khác hơn. Lẽ ra, con phải có nơi có chỗ đàng hoàng, không phải tới nằm ở một nơi xa lạ như thế này. Thời buổi này vô cùng khó khăn, nếu con có ra đời, mẹ cũng không đủ sức nuôi con cho đầy đủ. Thôi thì sống khôn thác thiêng, con thông cảm với những khó khăn riêng tư của mẹ. Ðã không cho con ra đời, lại phải cho con yên nghỉ như thế này, mẹ đau lòng lắm. Hãy tha thứ cho mẹ, nghe con!
Khấn nguyện xong, nàng đứng lặng người, nhìn sững vào “huyệt mộ”. Một cảm giác lạnh lẽo dâng tràn lên toàn thân. Ðột nhiên, có cái gì từ đàng sau vụt tạt vào, xô nàng thật mạnh. Nàng rùng mình, toàn thân lảo đảo ngả chúi về phía trước.
Chương 27
Duyệt chở Hạnh và và hai xách hàng đến ga Hòa Hưng vào lúc hai giờ chiều. Duyệt giải thích:
– Tàu Thống Nhất nghỉ ở Hòa Hưng nhưng lại đón khách ở Bình Triệu. Hàng mình gửi ở đây vừa bảo đảm vừa khỏi mất công mang ra ga Bình Triệu. Giá chuyển hàng lại rẻ, vì không có thuế vụ. Hàng vào ga Bình Triệu phức tạp lắm. Ga này giờ chỉ dành cho khách đi tàu Biên Hòa thôi. Nhưng nghe nói nay mai sẽ đón khách Thống Nhất.
Sân ga trống không, đầy nắng. Nàng giao hàng cho một tay chạy mánh hàng tại cổng phụ, dặn:
– Thống Nhất 4, Xe số 8, Hà Nội, kiểm soát viên Quất. Nhớ để dưới dãy ghế kế phòng kiểm soát viên. Biết Quất chứ?
Người thanh niên gật đầu:
– Ðược, chị khỏi lo. Em thường xuyên ở ga này mà lo gì.
Hạnh xuống xe, ngần ngại đứng nhìn cậu thanh niên xách hàng khuất sau hai cánh cửa sắt. Duyệt trấn an:
– Không mất đâu mà sợ. Người ta làm ăn lâu dài mà.
Duyệt chạy xe ra khỏi ga, theo hướng đường Ðiện Biên Phủ ra Hàng Xanh về Bình Triệu, thả nàng ở đó, đợi tàu. Khi Duyệt quay xe, Hạnh hốt hoảng gọi giật lại:
– Duyệt, sém chút nữa là quên một chuyện tối quan trọng. Nhớ ghé bưu điện, đánh ngay cái điện tín cho ông xã tôi, để ông lên đón. Không biết mấy giờ mai mới đến Huế nhỉ? Ðể tôi tính xem, tàu khởi hành lúc 6 giờ 30, đoạn Sài Gòn-Huế mất 28 đến 30 tiếng. Vậy đến Huế khoảng từ 10 đến 12 giờ đêm. Không biết tàu có trễ không. Mà trễ là thường. Nhưng thà đến sớm mà đợi còn hơn đến muộn, tàu đi rồi, khó lòng. Vậy nhờ bà đánh giúp thế này:“Anh đến ga vào lúc 11 giờ đêm, đón em ở TN 4 khuya 28/5, lấy đồ ăn. Hạnh”. Chút nữa quên, địa chỉ đây. Nhớ nhé.
Duyệt lấy giấy ghi vội những lời dặn của Hạnh.
Duyệt đi rồi, Hạnh giật mình tự hỏi: điện như thế chẳng biết anh chàng có hiểu gì không?
*
Theo bảng kế hoạch, tàu TN 4 khởi hành vào lúc 6 giờ 30 phút chiều. Nhưng trục trặc, mãi đến gần 9 giờ tối, tàu mới chạy. Ra khỏi ga, như để bù vào thời gian đã mất, tàu hú một hồi còi, tăng tốc lao nhanh vào khoảng bóng tối dày đặc trước mặt. Hạnh đứng dậy, kéo cánh cửa gài chặt lại, ngồi xuống sàn tàu. Mọi hoạt động trên tàu dịu hẳn. Nàng lắng nghe tiếng gió rào rào lướt ngoài thành tàu, yên trí có thể bắt đầu tìm kiếm một giấc ngủ tạm bợ cho qua đêm. Nhưng chỉ được một hồi, tiếng rào rào nghe chậm lại. Nhiều tiếng lao xao vang vọng từ bên ngoài. Một thanh niên từ trong toa ra đột ngột bước ngang qua chỗ Hạnh, nói:
– Chị tránh giúp cho tụi em lên hàng chút.
Vừa nói, cậu ta vừa kéo chốt cửa, mở. Gió tạt vào ào ạt. Hạnh đứng ngay dậy, lùi lại vào trong. Bên ngoài, một thanh niên khác từ đâu dưới đất đu lên. Một tay anh ta níu thanh ngang ở cửa tàu, một tay chuyền từng bịch hàng lên, la lớn:
– Mười bốn cục cả thảy. Xe sáu, bà Phước bốn cục, bà Thị hai cục. Xe tám, bà Tùng một cục, bà Sáu Xê năm cục. Xe hai, ông Hoàng hai cục. Xem đủ chưa?
Thanh niên bên trong vừa nhận hàng vừa đếm:
– 5…6…8…14… Ðủ.
– Xong! Tao nhảy.
Thanh niên bên ngoài, tay vẫn níu cửa tàu, một chân đứng lên tầng cấp, chân kia đong đưa trong không, toàn thân nhoài hẳn ra phía ngoài, trong tư thế sẵn sàng. Một lát, anh ta buông tay, biến mất trong bóng đêm. Người thanh niên phía trong đóng cửa, gài chốt, sắp mười mấy bịch hàng lại cho gọn gàng, xong ngồi lên trên, châm thuốc hút.
Hạnh và đám người nhảy tàu đột nhiên bị mất chỗ, đứng lớ ngớ ngay trên lối đi. Cuối cùng, chật quá, nàng lần mò vào trong toa. Toa đầy. Khách ngồi kín các hàng ghế. Khách đứng dọc theo lối đi. Hơi người, hơi thuốc nồng nặc. Không tìm ra chỗ nào trống, nàng đành đến dãy ghế cuối. Người đàn bà đứng ngay đó nhìn nàng hằn học. Chỗ đã chật, lại chật thêm. Hạnh làm lơ. Cứ đứng cái đã. Biết làm sao được bây giờ!
Một người đàn bà đi từ đầu toa đến cuối toa, gặp từng người, thì thầm to nhỏ. Ðến chỗ Hạnh, chị ta hỏi:
– Ði Hà Nội?
– Vâng.
– Hàng gì?
– Linh tinh.
– Cái gì lại gọi là linh tinh? Tạp hóa, thuốc hút, thuốc tây, áo quần, vải vân vân, phải có một thứ chứ.
Hạnh bực, muốn đốp chác lại, nhưng sợ rầy rà vô ích, nên nói:
– Tạp hóa.
Người đàn bà trề môi:
– Tạp hóa thì nói là tạp hóa, lại còn bảo là linh tinh. Ai mà biết linh tinh là cái gì. Mà có đúng là tạp hóa không? Phải thật thà khai báo, chứ ra miền ngoài rồi, đám công an cơ động không dễ tin đâu. Hay không muốn đóng thì nói. Nào, mấy cục?
– Ba.
– Ðâu?
Hạnh chỉ dưới gầm. Người đàn bà bảo:
– Ba cục, ba trăm. Mười một đội là ba ngàn ba.
– Cái gì mà ba ngàn ba lận?
– Nhiều quá phải không? Không đưa thì tùy.
Nói xong, người đàn bà ngoe nguẩy quay đi ngay. Hạnh hốt hoảng níu vai lại, im lặng móc tiền đưa:
– Ba ngàn, được không?
Chị ta chụp lấy tiền, trề môi:
– “Tiền đường” mà cũng kỳ kèo. Bộ mới đi buôn sao? Cái mặt trông cũng “sạn” với tàu rồi, mà còn làm bộ!
Ðêm sâu dần. Dù chật chội, ngột ngạt, nhưng dần dà, tiếng tàu chạy êm êm đưa mọi người vào giấc ngủ. Lúc đầu Hạnh đứng. Một hồi, xích qua, quay lại, nàng cũng tìm ra một chỗ để ngồi. Rồi nằm. Nàng nằm nghiêng, ngọ nguậy xỏ được đôi chân qua một kẻ hở hiếm hoi dưới gầm. Chẳng giường ấm nệm êm gì, thế mà nàng cũng cảm thấy thoải mái khi có một chỗ để đặt lưng. Thế là ngủ. Mơ rồi tỉnh. Tỉnh rồi lại mơ. Giấc ngủ bị cắt đứt từng chặp khi thỉnh thoảng có ai đó bước ngang đụng vào người.
Ðang mơ màng, Hạnh nghe âm sắc the thé của người đàn bà đi thu tiền khi nãy:
– Mấy bà dậy đi. Mau lên. Ðội cơ động đột xuất nhảy tàu.
Ba chữ “đội cơ động” như có một sức mạnh ghê gớm đẩy bật các bạn hàng ngồi dậy, tỉnh ngủ ngay lập tức. Những hành khách khác choàng thức dậy, ngơ ngác nhìn, rồi chừng như hiểu rõ chuyện chẳng liên quan gì đến mình, ngoẹo đầu xuống, ngủ lại. Giọng người đàn bà dứt khoát:
– Chị, hai trăm. Bà kia, hai trăm. Không có đủ, cứ giữ đó, có gì ráng chịu. Còn cô, một ngàn phải không, này thối lại tám trăm này. Bà, hai trăm. Không kỳ kèo, giá này là giá quy định.
Nhìn Hạnh, chị ta nghiêm giọng:
– Hai trăm đúng, không bớt đồng nào.
Hạnh không nói gì, lẳng lặng đưa hai trăm. Thấy một người đàn ông ngồi ở dãy đối diện cũng thức dậy lóng ngóng, nàng hỏi nhỏ:
– Ðến đâu rồi anh?
– Dường như qua khỏi Mường Mán hay Nha Trang gì rồi
Hạnh ngong ngóng tìm Quất, kiểm soát viên, người bảo kê hàng cho nàng. Quất từ đầu toa đi ngang, hỏi nhỏ bên tai:
– Sao, đóng tiền chưa?
– Rồi.
– Tốt!
Nàng nhìn anh lo lắng:
– Có gì nghiêm trọng lắm không?
– Còn tùy. Hàng cô đâu?
Hạnh chỉ. Quất ngẫm nghĩ một lát rồi bảo:
– Hàng ghế số 3, bên phải, phải không? Có gì, hẳn hay.
Hạnh ngồi xuống sàn, suy nghĩ vẩn vơ. Lát sau, có tiếng chộn rộn từ những toa phía trước. Rồi một dòng người đổ về phía cuối đoàn tàu. Những người nằm giữa lối đi đứng dậy, dạt sang một bên. Chỉ một lát sau, ba người công an trong đồng phục vàng, tay ve vẩy chiếc ma-trắc, hùng hổ tiến tới. Ðến ngay phòng kiểm soát viên, cả ba dừng lại:
– Kiểm soát viên đâu, chúng tôi muốn làm việc.
Quất tiến lại. Một công an hỏi:
– Bao nhiêu hành khách?
Quất đưa giấy tờ. Anh ta xem xong, liếc ngang liếc dọc trong toa:
– Bao nhiêu người không vé?
– Bốn chục.
Người công an đứng sau, chen vào:
– Phải cả trăm.
Quất chưa kịp phân bua thì người công an đứng trước hỏi tiếp, tay chỉ vào kệ để hàng và dưới gầm:
– Hàng của ai, anh nắm vững không?
– Vâng, của khách trong xe này.
Anh ta nhón chân đứng lên trên thành ghế, đưa tay chỉ một bịch hàng của ai để gần đó:
– Cái này của ai?
Không ai trả lời. Anh ta giựt cái xách xuống, đưa cho Quất:
– Anh ghi giấy, giao xách hàng cho trạm thuế ga Diêu Trì.
Anh ta định kéo xuống nhiều xách nữa, thì người công an đứng sau kéo tay anh ta xuống, nháy mắt, nói:
– Ta đi, đồng chí!
Ba người công an hùng hổ đi qua toa kế. Hạnh nhìn theo, nhẹ nhõm người. Ðám này trông bộ cũng dễ tính, nàng nhủ thầm.
Khi tàu qua khỏi Truồi và bon bon chạy ngang những cánh đồng lúa Hương Thủy, Hạnh đã nhấp nha nhấp nhỏm đứng ngóng ở cửa ra vào, xách đồ quàng lên vai. Ngoẹo Giàng Xay, nhà thờ Phủ Cam, dốc Nam Giao. Kia rồi, ga Huế! Nàng nhìn đồng hồ: 12 giờ 30 khuya.
Tàu vừa dừng, nàng nhảy xuống. Lợi dụng lúc hành khách Huế vẫn còn bận bịu với đồ đạc lỉnh kỉnh, nàng nhanh chân bươn ra cổng. Chỉ có một xách nhỏ, nên nàng chen tới dễ dàng, giúi vội tờ hai chục vào tay nhân viên gác cổng:
– Vé đây anh!
Anh ta buông tay ngay, để cho Hạnh lọt ra ngoài. Nàng dáo dác nhìn quanh tìm Lục. Không thấy bóng anh chàng đâu cả. Sân ga vắng, chỉ có xe thồ và xe xích lô đón khách khuya đậu bít lối ra. Nàng thất vọng tự hỏi: hay là Duyệt quên đánh điện? Hoặc Lục quên giờ lên ga? Nàng nóng ruột chạy lui chạy tới, lâu lâu lại nhìn vào ga, sợ tàu chạy bất tử. Mười lăm phút trôi qua. Ðã đến giờ tàu chạy lại. Hành khách đón tàu đã vào hết trong ga. Hành khách ra đã ngót. Vậy Lục đâu? Phải trở vào thôi. Nàng quay lưng bước.
Ðúng lúc đó thì một chiếc xe từ phía cầu ga chạy vào. Hạnh mừng rỡ nhận ra Lục. Nàng chạy lại:
– Trời ơi, sao giờ anh mới lại?
Lục không trả lời, hỏi lại:
– Ðồ đạc đâu?
– Ðồ đạc gì?
– Vậy em ra tay không à?
– Sao mà tay không được
– Vậy hàng để đâu?
– Thì để trên tàu chứ đâu nữa.
Lục sửng sốt:
– Em nói gì kỳ vậy. Ðể trên tàu làm gì?
Bây giờ Hạnh mới sực nhớ. Bức điện nàng đánh quá ngắn ngủi nên Lục không biết là nàng đi Hà Nội. Chắc anh cũng tưởng đi đón nàng như thường lệ. Hạnh vội vàng nhét xách đồ ăn giữa cái nẹp xe Honda, giải thích:
– Em đi hàng ra thẳng Hà Nội rồi mới trở vào. Tàu sắp chạy lại. Sớm lắm là ngày kia, em sẽ trở lại. Mọi thứ đồ ăn có đủ trong này: bột ngọt, mắm, tôm, cá khô…
– Ði Hà Nội?
– Ừ, em mang hàng đi Hà Nội. Em phải vào tàu ngay bây giờ kẻo trễ mất.
Không nói gì thêm, Hạnh quay bước chạy nhanh vào cửa. Ði một khoảng, thấy bất nhẫn, nàng quay lui nói:
– Về em giải thích sau. Ðừng giận.
Lục thở dài:
– Hèn gì!
Hạnh ngạc nhiên, quay lui lần nữa:
– Hèn gì là sao?
Lục quay xe chạy đi, không kịp nghe câu hỏi của vợ.
Chỉ vài phút sau khi Hạnh nhảy trở lên tàu là tàu chạy lại. Hú hồn! Huế đang lùi lại, lùi lại phía sau. Chuyến tàu mang nàng đi về một vùng đất lạ ở phía Bắc. Nàng bồi hồi ngoài nhìn sân ga tưởng như đang bắt đầu một chuyến phiêu lưu mới vô định.
Chỗ nằm của nàng đã bị chiếm. Một người đàn bà chẳng biết từ đâu tới nằm mê man ngủ, áo quấn xốc xếch để hở cả rún. Nàng không mấy buồn, vì lòng đang trĩu nặng. Lục trông không còn như Lục trước nữa. Anh lên ga đón nàng quá muộn. Khi gặp nàng, khuôn mặt anh dửng dưng đến lạnh lùng. Giọng nói nghe khô khốc như trò chuyện với ai chứ không phải với nàng. Còn đôi mắt mới chán. Chúng chứa đầy vẻ soi bói và ngờ vực. Sao anh lại bảo “hèn gì”? Cái gì mà “hèn gì”? Lẽ ra anh phải hiểu vì sao nàng đi Hà Nội, đi để làm gì. Lẽ ra anh phải hiểu tại sao giờ này, đáng lẽ nằm ngủ bên anh, bên con êm ấm, thì nàng lại nằm ở đây, giữa sàn tàu, chẳng khác gì những kẻ lang thang đầu đường xó chợ. Chồng con mà vô tâm đến thế là cùng! Nàng không thể ngủ được cho đến khi tàu đến ga Ðồng Hới.
Trời hưng hửng. Ðồng ruộng, những mái nhà và núi đồi hiện ra nhờ nhờ. Vẫn thế, không có gì khác với miền trong. Ga giống như nằm giữa một cánh đồng trống. Chung quanh ga, nhà cửa lưa thưa, thấp, nhỏ. Chỉ trừ những người đợi tàu đứng lố nhố ở dãy nhà ga, còn tất cả đều im ắng. Sân ga rộng và vắng vẻ lạ thường. Không có cảnh người chạy qua chạy lại và đội quân bán hàng rong đông đúc chờ chực sẵn. Một phụ nữ thấp nhỏ bước dọc theo tàu, thấy Hạnh nhìn, bèn đưa chiếc rá nhỏ ra mời:
– Mua kẹo cô.
Hạnh lắc đầu, tò mò nhìn. Chiếc rá nhỏ với vài gói thuốc là Ðồ Sơn, Tam Ðảo, Ðà Lạt. Ít kẹo dừa, mấy trái hồng tươi. Người đàn bà nhỏ, gầy, áo quần bạc thếch, cử chỉ rụt rè. Hình ảnh này trái ngược với người bán hàng rong trên tàu trong Nam: năng động, ồn ào, nhanh nhẩu, lành nghề. Họ là một đạo quân tạo thành phân nửa không khí ồn ào sinh động ở sân ga. Tàu vừa dừng là đạo quân này tràn lên như nước lũ. Tiếng rao hàng, mời mọc, cãi vã vang vang trong tất cả các toa. Họ cung cấp gần như đủ thứ cho mọi nhu cầu của khách đi tàu. Họ biến các toa tàu thành một cái chợ. Ở đây trái lại, mọi thứ yên lặng đến lạ thường. Khác biệt Nam-Bắc thật rõ ràng. Nhìn người phụ nữ thận trọng bước vào toa, Hạnh chép miệng:
– Ga ở ngoài này buồn thật.
Người đàn ông đứng bên cạnh cười:
– Chả bù với các ga trong Nam.
– Có lẽ thế.
Nàng vừa đáp vừa nhìn ra xa. Nổi bật lên giữa khung cảnh trống trải là một khu nhà nhiều tầng khá lớn, dáng nét đặc biệt. Hạnh hỏi người đàn ông:
– Cơ sở gì mà lớn thế anh?
– Bệnh viện Hữu Nghị Cu Ba đấy.
Nàng ngắm nghía cái bệnh viện muốn hỏi tiếp thì chợt Quất bước tới. Anh đập nhẹ vào vai:
– Vào trong này, ta nói chuyện tí.
Hạnh theo Quất vào phòng kiểm soát viên. Ðó là một căn phòng nhỏ nằm một đầu toa. Chỉ cái giường nhỏ, Quất bảo nàng ngồi xuống, rồi nói:
– Tin cho hay là có thể có “đội mạnh” nhảy tàu trước khi đến ga Vinh.
Hạnh ngạc nhiên:
– Cái gì gọi là “đội mạnh”, em chưa hề nghe nói đến?
Quất giải thích:
– Vâng. Người ta gọi là “đội mạnh”. Anh không rõ đội này xuất phát từ đâu, do trung ương hay địa phương nữa. Họ mới được thành lập.
Hạnh ngắt ngang:
– Thì cũng như đội cơ động vừa mới nhảy đột xuất ở Nha Trang chứ gì?
– Khác. Cả hai đều là công an đặc nhiệm, nhưng “đội mạnh” quyền hạn lớn hơn. Họ có thể đột xuất lên tàu bất cứ giờ nào, bất cứ ở đâu và có quyền xử lý bất cứ tình huống nào trên tàu từ tội phạm đến buôn lậu, nhảy tàu.
Hạnh hồi hộp hỏi:
– Gì mà nhiếu đội thế. Em đã chung hai đợt cho cái bà gì đó rồi. Chẳng lẽ…Bà ta đưa cho anh hay đưa cho ai khác?
– Có. Mấy đội công an kia, mình có “đường” lo liệu. Ðội này mới quá, chưa biết sự thể sẽ ra sao.
Hạnh năn nỉ:
– Anh giúp em đi. Ở ngoài này, cái gì cũng mới lạ đối với em cả.
Quất bóp trán suy nghĩ một lát rồi hỏi:
– Em có mấy bao hàng?
– Không phải bao mà là xách. Ba xách.
– Em ra lấy thử một xách vào đây.
Hạnh lôi dưới gầm lên một xách, mang vào cho Quất. Quất nói:
– Khá lớn nhỉ, không biết nhét vào có hết không. Hai xách kia cùng cỡ?
– Vâng.
– Ðược, em cứ mang hết vào đây. Nhét thêm một xách dưới gầm nữa. Còn xách kia, để trong tủ này.
Trong lúc Hạnh ra toa lấy tiếp hàng thì Quất mở tủ lấy hết đồ đạc lỉnh kỉnh ra để hết lên giường nằm. Hạnh vào, sắp đặt các thứ y như Quất đã chỉ. Quất nói:
– Cũng liều đấy. Nhưng ráng hết ý với em đấy. Nào, bằng lòng chưa?
Anh ta cầm tay Hạnh bóp mạnh. Nàng la:
– Coi kìa, đau em.
Quất cười hề hề:
– Xin lỗi em. Thử một tí cho vui thôi mà. Gì mà la lớn thế!
– Ai hỏi gì về hàng hóa, tuyệt đối em đừng nói gì hết. Bà kia có hỏi tiền, em cứ chung như thường lệ.
Ðúng như lời Quất nói, chỉ một thời gian ngắn sau khi tàu rời một cái ga xép ngoài Ðồng Hới để tránh tàu, cả đoàn tàu Thống Nhất lại xao xác trong đợt tiến công của một Ðội Công An Ðặc Nhiệm mới được thành lập mà dân buôn gọi là đội mạnh. Phối hợp cùng đội công an giữ an ninh tàu, đội mạnh lùa hết những hành khách không có vé về cuối đoàn tàu, đứng ngối chen chúc tại toa cung ứng, tức là toa ăn uống. Tại đây, họ bị buộc mua vé phạt với giá gấp đôi giá chính thức. Những ai không có tiền mua vé hoặc không chịu mua đều bị lùa lại một góc, chờ đuổi xuống tại một ga xép kế đó.
Hạnh trở về toa với cái vé phạt Ðồng Hới-Vinh. Toa bây giờ thoáng hẳn ra. Lối đi rộng. Hai đầu toa, chỉ còn vài người đứng ngồi nói chuyện vu vơ. Nhìn bộ tịch của họ, nàng đoán họ là những hành khách thứ thiệt, nghĩa là nhảy tàu vì không mua được vé chứ không phải là con buôn. Trong toa, không khí khác hẳn. Mọi người chờ đợi, căng thẳng. Có người mở xách hàng ra, lấy áo quần hoặc đồ đạc gì lỉnh kỉnh chèn lên trên. Có người cố nhét thật sâu một xách hàng gì đó vào dưới gầm hoặc trong góc.
Người đàn bà thâu tiền thầm thì to nhỏ với Quất một lát ở ngay đầu toa, rồi lần lượt đi gặp từng người. Ðến chỗ Hạnh, chị ta nói:
– Tình hình rất căng. Còn nước còn tát. Ta cứ đóng tiền để sẵn. Ðược thì tốt, không thì tính sau.
– Nhiêu?
– Ba trăm.
– Khiếp!
Chị ta sừng sộ:
– Gì khiếp? Giữa ba trăm với hàng chục, hàng trăm ngàn, bà chọn cái nào. Ai ta cũng sẵn sàng cả, chỉ có bà là …
Hạnh lúng túng:
– Ấy, tôi chỉ nói thế…
Hạnh móc bóp lấy tiền mà tưởng như ai lấy kim chích từng mũi vào da thịt đau buốt. Tiền đau xương mỏi chắc chứ phải chơi đâu. Thu tiền xong, chị ta đến gặp Quất. Họ ăn chia như thế nào với số tiền đó, chỉ có trời mới biết.
Ðội mạnh đến toa 8. Khác với cách hành xử nhậm lẹ, ào ạt khi tấn công vào những người nhảy tàu, cách làm việc bây giờ có vẻ nhẩn nha, chậm rãi, nhưng đầy nghiêm trọng. Khuôn mặt người nào người nấy cũng lầm lì, lạnh lùng và cương quyết. Vừa từ toa 7 bước sang, tay đội trưởng bố trí hai người đứng gác hai đầu toa. Nội bất xuất ngoại bất nhập. Ðích thân anh ta và một người nữa, chia hai, mỗi người một bên. Anh ta cử hai người khác tới đầu toa kia, cũng chia hai như vậy. Bốn người từ hai đầu toa, bắt đầu kiểm tra lần vào. Họ hỏi vé, hỏi hàng và lục lọi tất cả bao, bì, xách, gói từ nhỏ đến lớn, từ trên kệ xuống dưới gầm. Họ dùng đèn “pin” soi tận trong góc tối để xem thử có còn bịch nào sót ở trong không. Tất cả đều bị lục tung, lập biên bản đánh thuế. Thuế cao, hạ ít nhiều dựa vào số lượng cũng như chất lượng hàng hóa. Nói chung cách đánh thuế có vẻ tùy hứng. Người ta năn nỉ, khóc lóc, van xin. Vô ích. Họ làm việc như người máy, không một chút động tâm trước những giòng nước mắt và lời than thở. Một người đàn bà, sau khi năn nỉ một hồi không xong, òa lên khóc nức nở:
– Các anh ác vừa vừa thôi. Chừng này hàng hóa mà đánh thuế đến mười lăm ngàn. Cả vốn lẫn lời cũng chưa đến số đó.
Người công an hỏi gắt:
– Chị không chịu phải không. Ðưa lại đây.
Người đàn bà mừng rỡ đưa trả tờ giấy thuế:
– Anh làm ơn làm phước xem lại giùm.
Anh ta xé toạt ngay tờ giấy, ném xuống đất, lật sổ, viết một tờ khác, trao lại cho người đàn bà. Ðọc xong, chị ta hoảng hốt la lên:
– Hai chục ngàn. Anh có viết lộn không?
– Hai chục ngàn. Không lộn đồng nào.
– Sao vô lý thế này. Mười lăm ngàn đã không chịu được, giờ lại hai chục ngàn là thế nào?
– Chị không chịu, phải không. Vậy đưa lại đây.
Người công an xé giấy, ghi lại. Người đàn bà la lên, lần này vô cùng thống thiết:
– Trời! Hai mươi lăm ngàn. Trời ơi là trời. Gì mà vô nhân ác đức vậy trời.
Nói xong, bà tra ngồi bệt xuống ghế, mặt mày tái nghét, miệng lắp bắp như bị lên cơn động kinh. Người công an nói với Quất:
– Anh cho mang tất cả hàng của chị này niêm lại, giao xuống trạm ga Vinh.
Nói xong, anh ta tiếp tục công việc của mình. Cả toa bây giờ im phăng phắt. Chỉ nghe tiếng mở xách, soạn hàng rột roạt và tiếng sụt sùi đứt khoảng của những bạn hàng bị đánh thuế. Càng gần đến cuối toa, Hạnh càng nôn nao ngộp thở. Kìa, họ đã làm xong hàng ghế sau cùng. Hạnh sững người chờ đợi như đợi tuyên án. Cả toán công an đứng ngay trước cửa phòng kiểm soát viên, rút thuốc mời nhau hút. Rồi không hiểu sao, tất cả kéo nhau đi. Thế là thoát nạn! Nàng mừng rỡ đến nỗi khi người đàn bà thâu tiền mang tiền lại trả, nàng xua tay:
– Thôi chị giữ lấy.
Người đàn bà nhìn nàng, mắt mở lớn. Có lẽ chị ta không tưởng tượng được tại sao một người đã từng kỳ kèo bớt một thêm hai, bây giờ lại hào sảng dường ấy. Chẳng biết suy nghĩ gì, chị ta im lặng cất tiền vào trong túi, bỏ đi.
Chị ta đi rồi, Hạnh mới bắt đầu thấy tiếc. Tiếc đứt tóc!
*
Tàu đến ga Hàng Cỏ vào nửa đêm. Nàng quá mệt. Lòng hoang mang bất định vì không có ý niệm gì về sinh hoạt ở đây, nàng phó mặc mọi sự cho Quất. Quất đưa nàng và chuyển hàng vào hẳn trong phòng làm việc của ga. Sau khi làm xong các thủ tục giao ban, anh ta đưa nàng về một nhà trọ ở gần bến xe Kim Liên. Quất dặn nàng trước khi ra về:
– Ðây không phải là nhà trọ chính quy đâu mà là nhà ở. Cũng là nhà quen. Ðiều kiện sinh hoạt ngoài này không giống như trong kia, nhưng em ráng đi, sẽ quen dần. Ở đâu theo đó. Nhưng không sao, đây an ninh lắm.
Hạnh cười:
– Ðối với em, ở đâu thì cũng vậy thôi.
Chỗ trọ, hay nói đúng hơn, một chỗ ngủ qua đêm, là một căn gác gỗ khá cũ, dựng tạm ngay trên chái nhà bếp. Nhìn chiếc cầu thang ọp ẹp, và cách che chắn sơ sài, nàng đoán đây là một kho chứa đồ mà chủ nhân biến thành chỗ trọ để kiếm thêm tiền thu nhập. Vừa đặt bước lên cầu thang, căn gác đã nghe rung lẩy bẩy dưới chân. Nàng kinh hãi dừng lại, chới với, tay vịn chặt vào cái cột nhà. Thấy bộ tịch của Hạnh, chủ nhân, một người đàn bà đứng tuổi, gầy gò, răng đen, đầu chít chiếc khăn mỏ quạ, trấn an:
– Không sao đâu, cô ạ. Chúng tôi vẫn thường ngủ ở trên đó. Ðừng sợ.
Hạnh làm bộ bạo dạn bước lên, nhưng lòng vẫn không yên. Gác không có gì khác ngoài một chiếc ghế bố nhỏ có sẵn gối, chăn và chiếc mùng bộ đội trông còn khá mới. Từ căn gác nhìn ra qua một ô cửa nhỏ, nàng nhìn thấy những mái nhà ngói thấp, cũ kỹ. Một con hẻm ngoằn nghoèo chạy dọc theo những bức tường gạch thẫm, tối, chợt ẩn chợt hiện sau những cột trụ sứt mẻ và các cây sứ. Xa hơn là con đường lớn chạy ngang trước bến xe. Hà Nội đêm khuya im vắng. Nàng tò mò đứng nhìn mãi chiếc xích lô chở một người bộ đội lừ đừ chạy dọc theo lề đường đẫm nước. Xích lô trông thấp và rộng hơn xích lô Sài Gòn. Chỗ ngồi lót bằng tấm ván gỗ chứ không lót nệm. Chắc đau đít lắm, nàng nghĩ! Nhìn quanh, nàng có cảm giác Hà Nội cũ, lờ đờ và nhẫn nhục.
Hạnh mệt quá, ngủ vùi. Nàng chỉ thức dậy khi bà chủ nhà lên tìm, bảo là có người cần gặp. Nàng vội vã thay áo quần, bước xuống. Tưởng là Quất đến tìm, hóa ra không phải. Ðó là một thiếu phụ ăn mặc đỏm đáng, tóc bối, cử chỉ nhanh nhẹn, bộ tịch ra vẻ một con “phe” lành nghề. Chắc là bạn hàng tới mua thuốc, nàng nghĩ bụng. Vừa thấy Hạnh, chị ta đon đả chào:
– Chào cô. Vậy ra cô còn trẻ đến thế kia à. Lại đẹp nữa. Dân miền trong có khác. Trông như tiểu thơ vậy. Ấy thế sao lại đi làm cái nghề này…à, xin lỗi, tôi nói không phải, vậy mà cô chịu khó đi làm “phe” à. Ấy, lại xin lỗi, tôi ăn nói sỗ sàng. Sao, hồi hôm về, cô có ngủ được không? Ôi thôi ngoài này không được thoải mái như trong kia đâu. Chịu khó thôi. Chúng tôi cực khổ quen rồi. Nào, cô ngồi đây, ta nói chuyện.
Hạnh không để ý đến lời chào mà để ý đến cái giọng khá nặng của người đàn bà so với giọng Hà Nội. Nàng hỏi:
– Chị cũng người Hà Nội?
– Không, tôi người miền trong.
– Vậy chị tập kết?
– Ðâu có. Chỉ có người miền Nam ra ta mới gọi là tập kết. Chúng tôi dân miền ngoài mà.
Hạnh ngạc nhiên khi nghe chị ta khi thì nói “miền trong” khi thì nói “miền ngoài”. Nàng xin lỗi khách cho đi đánh răng rửa mặt. Trong lúc làm vệ sinh, nàng tính toán giá cả trong bụng với ý định sẽ hô giá với khách. Khi trở ra, nàng định đi thẳng vào chuyện mua bán thì chị ta đã hỏi trước:
– Vậy thì cô đi có một mình?
Sao lại “vậy thì”, Hạnh nghĩ. Nàng lưỡng lự đáp:
– Vâng. Em nhảy tàu.
– Cô tiểu thư thế mà gan nhỉ.
Hạnh nhã nhặn hỏi:
– Ai chỉ chị đến đây?
Chị ta cười:
– Có người chỉ.
– Chị quen với ông Quất à?
Người đàn bà làm ra vẻ ngạc nhiên:
– Ờ…ờ, sao cô lại biết?
– Em đoán vì chỉ có anh Quất là biết em ở đây.
– Ra thế. Cũng hay nhỉ. Cô quen với ông Quất ở đâu?
– Ở Sài Gòn. Anh ấy là bạn hàng của một người bạn em.
Người đàn bà gật gù:
– Ra thế! Ông Quất cũng tốt với cô nhỉ!
Hạnh bắt đầu thấy khó chịu và sốt ruột. Nàng hỏi, cố giữ giọng thật bình thường:
– Chị cũng đi buôn?
Người đàn bà xua tay:
– Không, không. Tôi chỉ “chạy chợ” quanh vùng này.
Hạnh không hiểu:
– Cái gì “chạy chợ”? Chợ Ðồng Xuân hả chị?
– Hà Nội đâu chỉ có chợ Ðồng Xuân. Ai ở trong đó ra đây cũng hỏi Ðồng Xuân, Ðồng Xuân.
Hạnh bẽn lẽn:
– Em mới ra lần đầu. Nghe người ta nói chợ Ðồng Xuân thì em cũng hay vậy.
– Ở đây có khối chợ. Cô không nghe nói Hà Nội ba mươi sáu phố phường hay sao?
– Dạ có.
– Mà này, bao giờ cô trở vào trong đó?
– Bán hàng xong là em vào liền.
– Không đợi vào với ông Quất sao?
– Ðâu có đợi được chị. Nghe nói anh ấy nghỉ một tuần lận.
– Vậy thì vào bằng cách nào?
– Dạ, cũng bằng tàu.
– Ai đưa cô vào?
– Anh Quất có hứa với em là gửi em đi chuyến tàu Thống Nhất mai hay mốt gì đó.
Người đàn bà chép miệng:
– Người ta tốt bụng quá nhỉ? Thôi tôi về.
Hạnh hỏi:
– Vây chị không mua hàng sao?
– Mua chứ. Nhưng bây giờ thì chưa.
Hạnh chưa kịp hỏi tiếp thì người đàn bà quày quã bỏ đi.
Để bắt Aidid, chúng tôi phải vượt qua trò chơi đèn xanh, đèn đỏ. Chúng tôi được thông báo sẽ chẳng có tin tình báo nên ít cơ hội hành động. Đột nhiên, chúng tôi được bật đèn xanh hành động. Rồi một chỉ huy nào đó sẽ lại hủy bỏ sứ mệnh đó trước khi chúng tôi xuất phát. Một chỉ huy trong đội bắn tỉa Anh ba Xanh (Blue Team) thuộc Đội đặc nhiệm SEAL số 6 gọi điện từ Dam Neck hỏi về nhiệm vụ và cho biết đang chuẩn bị người thay hai chúng tôi vào ngày 15 tháng Mười. Chúng tôi báo cáo với người chỉ huy về những việc đang làm, những điều kỳ vọng, những trang bị cần và không cần mang theo.Ngày 22 tháng Chín năm 1993, khi đang ngồi trên giường ở nhà chứa máy bay, một Thượng sĩ thuộc JSOC đến nói chuyện phiếm với chúng tôi. Anh ta khuyên chúng tôi nên hòa đồng với các đặc nhiệm Delta, đặc biệt với các đặc nhiệm thuộc Phi đội Charlie. Ở một phương diện nào đó, SEAL khá tương đồng với Delta. Chẳng hạn, cả hai lực lượng này đều giỏi đột kích và bắn súng. Nhưng ở khía cạnh khác, chúng tôi khá khác nhau – chẳng hạn SEAL đổ bộ từ tàu còn Delta đổ bộ từ máy bay. Do thường phải tiến hành chiến dịch riêng rẽ, việc tiếp xúc với Delta thường rất khó và do môi trường cạnh tranh cao nên một số đặc nhiệm Delta tỏ ra ghen tị với chúng tôi. Trong lực lượng Delta, chúng tôi cạnh tranh trực tiếp với các tay súng bắn tỉa Delta vì nhiệm vụ của chúng tôi có nhiều điểm chung. Khi ra ngoài chơi, chúng tôi thường đi cùng lực lượng CCT và PJ vốn đã biết nhau từ trước. Cấp trên hủy bỏ chuyến bay của chúng tôi cùng với lực lượng QRF. Tôi đoán hẳn đã xảy ra mâu thuẫn giữa chỉ huy của QRF với chỉ huy của Delta. Chỉ huy Eric Olson, sĩ quan của Đội đặc nhiệm SEAL số 6, sau này là người đầu tiên trong lực lượng SEAL trở thành Tư lệnh Hải quân của JSOC, đã gặp chúng tôi tại nhà chứa máy bay.
Google photo
Ông đến thay Chỉ huy trưởng Tewey của SEAL vì Tewey nhận nhiệm vụ khác ở cơ quan Liên Hợp Quốc tại Somali.Chỉ huy trưởng Olson hồ hởi nói: “Tôi chỉ đến để nói lời chào các bạn và xem các bạn đã làm được những gì.” Chúng tôi báo cáo với ông những gì chúng tôi biết. Ngày 23 tháng Chín năm 1993, có thể là do ảnh hưởng của Chỉ huy trưởng Olson, chúng tôi lại được phép bay cùng QRF, chính thức thực thi sứ mệnh theo dõi Mogadishu. Từ 3 giờ đến 7 giờ 15, Casanova và tôi bay cùng QRF. Trong thời gian này, chúng tôi nhận được cuộc điện thoại cung cấp thông tin về vị trí một ụ súng máy. Mất khoảng 5 phút, chúng tôi đến được khu vực này, nhưng những tay súng đã chuồn mất. Sau khi trở về căn cứ, tôi đánh một giấc khoảng vài giờ đồng hồ. Tôi tỉnh dậy lúc 12 giờ và lên một chiếc trực thăng cùng lực lượng PJ, Scotty và Tim để huấn luyện kỹ thuật cứu thương. Chúng tôi bay về phía nam nhà chứa máy bay và hạ cánh ở một cánh đồng rải rác có vài con dê. Tôi đứng trên cánh đồng, quay lưng lại một con dê non, bác sĩ phẫu thuật của Delta, Thiếu tá Rob Marsh, rút súng bắn vào con dê. Anh ta nói: “Tiến hành đi”.Tôi quay lại và biết cần phải làm gì với con vật này. Cầm máu động mạch chủ, ổn định hơi thở, băng bó và cố định vết thương ở ngực. Sau đó, anh ta bảo tôi quay đi và rút súng bắn vài ba phát. Tôi quay lại và kiểm tra nhưng chẳng thấy có vết bắn nào trên người con dê. Lật ngửa con dê và tôi tìm thấy một vết thương bằng dao đâm vào bên phải lá phổi. Tôi vội khâu lá phổi lại và xếp lá phổi lành lặn lên trên. Một lần nữa, Thiếu tá Marsh dùng chân dẫm mạnh lên chân sau của con dê non. Khi ông nhấc chân ra, máu tuôn trào từ động mạch ở đùi con dê giống như mạch nước ngầm phun trào. Vì vậy, tôi lại tiến hành cầm máu. Tất nhiên, nếu tôi thất bại, con dê sẽ chết. Các nhà hoạt động bảo vệ động vật hẳn sẽ buồn biết mấy nếu chứng kiến cảnh này, tuy nhiên đó lại là khóa tập huấn cứu thương tốt nhất tôi từng tham gia. Sau khi tập huấn xong, chúng tôi cho người dân con dê để họ xẻ thịt. Việc làm này chẳng là gì so với hàng triệu con bò và gà bị giết thịt làm thức ăn hàng ngày. Hơn nữa, việc làm này là sự tập luyện để cứu sống một mạng người nào đó, khi cần. Ngày hôm sau, ngày 24 tháng Chín năm 1993, chúng tôi nhận lệnh đột kích vào một phòng trà. Đại tá Hassan Awale, Bộ trưởng nội vụ của Aidid là khách quen của quán này. Tất cả bốn chúng tôi có nhiệm vụ giải quyết đám tù nhân và nếu cần, Casanova và tôi sẽ hỗ trợ lực lượng Delta khi họ tấn công.
Google photo
Trong khi chờ đợi nhiệm vụ tiếp theo của mình, bốn tay súng bắn tỉa của Delta, Casanova và tôi lên hai chiếc trực thăng Little Bird và bắt đầu một cuộc huấn luyện săn bắn trên thảo nguyên châu Phi. Được trang bị súng CAR-15, chúng tôi ngồi trên các chân càng máy bay và săn bắn lợn rừng, linh dương. Tôi là người duy nhất bắn hạ được một con lợn rừng. Chúng tôi hạ cánh để kéo xác con lợn và các con thú khác săn được lên máy bay. Đối với các tay súng bắn tỉa, huấn luyện bắn mục tiêu di động khi đang bay là vô cùng hữu ích. Chúng tôi trở về nhà chứa máy bay. Tôi đã cắt chiếc răng nanh của con lợn rừng làm quà tặng cho cậu qúy tử Blake. Tôi không nghĩ chiếc răng nanh là quà tặng phù hợp với cô con gái tôi. Tuy nhiên chẳng có món quà đẹp đẽ nào trong các cửa hàng nên tôi đành phải khất bé Rachel vào dịp khác. Tôi bỏ ruột con lợn, lột da, rửa sạch, rồi nướng lên. Sau đó, tất cả chúng tôi cùng thưởng thức một bữa thịt lợn nướng – một món ăn thay đổi cho những gói đồ ăn sẵn. Chỉ làm việc mà không thư giãn hẳn sẽ thành những thằng ngốc. Đã đến lúc chúng tôi cần phải xả hơi một chút. Chúng tôi quyết định tổ chức trận đấu bóng chuyền. Các sĩ quan thách đấu với lính. Trước khi trận đấu diễn ra, chúng tôi đã phục kích các sĩ quan. Tôi cùng với một số người khác có nhiệm vụ bắt cóc chỉ huy trưởng Phi đội Charlie của lực lượng Delta, Đại tá William G. Boykin. Chúng tôi lấy chiếc áo trùm lên đầu rồi trói chân tay ông ta lại và bỏ lên một chiếc cáng. Lực lượng Delta cũng làm như vậy với chỉ huy Dick Marcinko. Sau đó, chúng tôi chụp ảnh Đại tá Boykin.Boykin tham dự cuộc thi tuyển chọn vào lực lượng Delta năm ông 29 tuổi. Trung tá Burruss không ngờ Boykin sẽ đánh vào đầu gối bị đau của ông. Hơn nữa, một chuyên gia tâm lý ở căn cứ Fort Bragg đã tìm cách loại Boykin ra khỏi Delta với lý do Boykin quá sùng đạo. Boykin đã làm nhiều người ngạc nhiên khi vượt qua kỳ thi tuyển chọn và trở thành đặc nhiệm của Delta. Ông từng tham gia chiến dịch giải cứu con tin ở Iran năm 1980, chiến dịch ở Grenada, Panama và chiến dịch săn lùng trùm buôn lậu ma túy Colombia Pablo Escobar.
Google photo
Ngày 25 tháng Chín năm 1993, mặc dù chúng tôi và các phi công của QRF rất muốn thực hiện sứ mệnh do thám Mogadishu, nhưng cấp trên lại không đồng ý cho chúng tôi bay cùng chuyến bay tối hôm đó. Thật khó lường với bộ phận chính trị trong quân đội – lúc họ cho phép chúng tôi thực thi nhiệm vụ, lúc lại không có lẽ một chỉ huy cấp trên nào đó đã không muốn để mất chiến tích vào tay của Delta và SEAL. Đêm đó, quân của Aidid sử dụng súng phóng lựu RPG bắn hạ một trực thăng của QRF. Phi công chính và phụ đều bị thương, còn ba người khác chết. Người của Aidid đã băm vằm xác ba binh sĩ tử trận. Chỉ sau vài phút, binh lính Pakistan và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) đã có mặt ở khu vực này, bảo vệ hai viên phi công bị thương. Lực lượng PJ, với sự hỗ trợ của chúng tôi, đã sẵn sàng thực hiện sứ mệnh giải cứu hai phi công trong vòng 15 phút. Tuy nhiên, do chỉ huy của QRF quá ỷ vào sự giúp đỡ của chúng tôi và không có khả năng thực hiện nhiệm nhiệm vụ đúng cách nên phải mất hai giờ đồng hồ đội giải cứu của QRF mới có mặt. Điều này hoàn toàn không thể chấp nhận nổi. Sự chậm trễ này không chỉ làm hai phi công có nguy cơ bị thiệt mạng mà còn đẩy binh sĩ Pakistan và UAE bảo vệ trên mặt đất vào tình thế nguy hiểm. Thật chẳng biết từ nhanh trong “lực lượng phản ứng nhanh” ở chỗ nào nữa. Giá như Casanova và tôi cùng bay trên chuyến bay tối hôm đó, hẳn chúng tôi đã cứu được họ. Một số người cho rằng việc dùng súng chống tăng RPG bắn hạ được trực thăng Black Hawk chỉ là ăn may. RPG là loại súng đất đối đất chứ không phải đất đối không. Nhắm bắn một mục tiêu trên không đồng nghĩa với việc luồng hơi phía sau sẽ đập xuống mặt đường rồi bật trở lại và nó có thể giết chết người bắn.
Google photo
Hơn nữa, trực thăng Black Hawk bay quá nhanh và được bọc thép dày chắc nên không thể bị bắn hạ bởi loại vũ khí dạng này. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh những nhận định này là sai. Sáng hôm sau, ngày 26 tháng Chín năm 1993, chúng tôi đợi lệnh đột kích phòng trà. Nhưng nếu không có tín hiệu, chúng tôi sẽ thực hiện nhiệm vụ khác. Một thuộc hạ của Aidid đến trụ sở “Các chiến dịch của Liên Hợp Quốc tại Somali – UNOSOM” và cho biết y không theo Aidid nữa mà muốn làm việc cho chúng tôi. Vào buổi tối, một khẩu súng phòng không cỡ nòng .50 caliber được bố trí ở nhà máy sản xuất bột mì. Sáng hôm sau, khẩu súng này đã bị phá hủy. Người của Aidid đã từng thấy cách chúng tôi hoạt động và giờ đây chúng bất ngờ tấn công chúng tôi. Quả là chúng thông minh hơn chúng tôi nghĩ. Ngày 27 tháng Chín năm 1993, Aidid Qeybdid và hai trợ thủ khác đang ở trong tòa nhà của NBC. Chúng tôi đã chuẩn bị thực hiện sứ mệnh. Tuy nhiên, chúng tôi buộc phải hủy bỏ nhiệm vụ vì có người đã phát hiện thấy Aidid ở một khu vực nào đó và họ muốn chúng tôi thực hiện nhiệm vụ săn lùng Aidid. Lực lượng CIA, SIGINT và phản gián đã bắt giam 11 người được cho là lực lượng điều khiển bắn và các pháo thủ của đối phương. Ngày 28 tháng Chín năm 1993, chúng tôi đến Sư đoàn Sơn cước số 10 dự lễ tang tổ chức cho ba binh lính tử thương trong vụ trực thăng bị bắn rơi hôm trước. Kền Kền cũng có mặt. Sau lễ tang, Kền Kền bảo tôi: “Chúng ta có rất nhiều mục tiêu, nhưng tệ quan liêu đã ngăn cản chúng ta.” Rõ ràng Kền Kền rất bất bình với kiểu làm việc như thế này. QRF gặp nhiều khó khăn trong việc hiệp đồng với Delta. Còn Delta lại gặp khó khăn khi hiệp đồng với CIA. Tuy nhiên, lớn hơn cả là vấn đề trong nội bộ Liên Hợp Quốc, đặc biệt là rắc rối do quân Italia gây ra. Thiếu sự hỗ trợ của chính quyền Clinton lại càng làm cho vấn đề lộn xộn hơn. Xác ba binh lính tử thương của QRF được đưa lên máy bay về nước. Cuối ngày hôm đó, mặc dù không muốn, chúng tôi vẫn phải cùng ra chụp ảnh với Delta ở đường băng. Tôi buồn bã đứng ở cuối hàng. Tại sao chúng ta lại làm việc này? Nếu ai đó có được tấm hình này và xử lý chúng tôi từng người từng người một thì sao? Nhưng giờ nhìn lại, tôi rất hạnh phúc. Đó là bức hình duy nhất tôi chụp với Dan Busch, một tay súng bắn tỉa trong Phi đội Charlie của Delta. Anh đang đứng cạnh tôi. Đó cũng là bức hình duy nhất tôi chụp với người khác ngoài đội SEAL. Tôi luôn để bức ảnh này trong phòng làm việc riêng của mình. Đôi khi tôi lấy bức ảnh ra ngắm và nó lại gợi tôi nhớ tới ký ức ngày xưa. Thứ Tư, ngày 29 tháng Chín năm 1993, chúng tôi nhận được thông báo sẽ không có tin tình báo sâu. Điều này trái hẳn với những điều Kền Kền đã nói với tôi hôm trước. Tôi bay ra tàu FFG-46 đang đậu ngoài bờ biển Somali. Đây là loại tàu khinh hạm, trang bị tên lửa có điều khiển. Tại đây tôi ôn luyện để chuẩn bị cho kỳ thi nâng cấp quân hàm lên E-7. Trở về nhà chứa máy bay được biết sẽ có nhiệm vụ trong vòng năm phút nữa. Nhưng thật tiếc, nhiệm vụ này sau đó cũng đã bị hủy bỏ sau đó.
Google photo
Trung tá, Chỉ huy trưởng Phi đội Charlie của Delta thông báo cho tôi kế hoạch sửa sang lại khu ở, kể cả việc thay điều hòa, các lều bạt… Sẽ chẳng có bất kỳ sự luân chuyển nào cả. Chúng tôi chỉ rời khỏi Somali khi sứ mệnh hoàn thành. Tôi được dự kiến bay cùng Sourpuss lúc 22 giờ, nhưng chiếc trực thăng của chúng tôi lại bị hỏng trước giờ cất cánh. Ngày hôm sau, ngày 30 tháng Chín năm 1993. Bên ngoài khu ở, dưới lá quốc kỳ Mỹ, thay vì treo lá cờ của Delta, lần đầu tiên người ta cho treo cờ của Đội đặc nhiệm SEAL số 6. Lá cờ in hình đầu một người Mỹ thổ dân da đỏ trên nền đỏ. Lá cờ được Gã Mập lùn mang theo từ phòng chuẩn bị của Đội Anh cả Đỏ cùng với các trang bị cá nhân của mình đến Mogadishu. Khi lực lượng SEAL phải đi tác nghiệp ở một nơi nào đó, chúng tôi thường giữ bí mật với mọi người. Khoảng giữa trưa, chúng tôi nhận được báo cáo cho biết đã phát hiện ra dấu vết của Qeybdid. Chúng tôi chuẩn bị sẵn sàng lên đường nhưng bộ phận trinh sát để mất dấu hắn và chúng tôi không đi nữa. Việc tìm một người trong mê cung của Mogadishu chẳng khác gì việc tìm kiếm một nốt ruồi trên thân một con voi. Lẽ ra chúng tôi nên tóm hắn từ cơ hội trước đó, nhưng đổi lại chúng tôi lại phải hủy bỏ để dò theo Aidid. Trái với điều Trung tá nói hôm trước đó, Chỉ huy Olson nói rằng sẽ có người thay thế chúng tôi vào một thời điểm nào đó.Chiều hôm đó, tại bãi biển, một con cá mập đầu búa tấn công một người lính đang bơi thư giãn ở vùng nước biển sâu đến thắt lưng. Người lính bị mất cả hai chân: một chân bị mất đến tận hông, chân còn lại bị mất đến đầu gối, máu chảy xối xả. Tôi cũng xếp hàng cùng với những binh lính khác để hiến máu cho người bị thương. Anh ta mất khoảng 27 đơn vị máu. Thật không may, ai đó đã đặt ống thở vào thực quản thay vì vào khí quản của người lính bị thương. Mọi người đều nghĩ anh ta khó qua khỏi đêm hôm đó. Mặc dù anh ta qua cơn nguy kịch và vẫn sống sót, tuy nhiên não của anh ta bị liệt. Từ đó, anh ta sống cuộc sống thực vật. Tôi chẳng biết nên trách con cá mập hay trách người đặt ống thở nhầm. Chiều ngày 2 tháng tháng Mười năm 1993, chúng tôi chuẩn bị đột kích vào nhà riêng của Sheik Aden Adere để bắt Aidid. CIA một lần nữa khẳng định tin tức cung cấp là hoàn toàn đáng tin cậy, nhưng chẳng có mệnh lệnh nào được đưa ra. CIA vô cùng phẫn nộ. Ngày 3 tháng Mười năm 1993, khi tôi dậy, CIA nói rằng họ muốn thiết lập một vài trạm tiếp sóng ở quận Lido trong thủ phủ Mogadishu. Theo đó, các viên mật thám có thể sử dụng bộ đàm truyền tín hiệu đến trạm tiếp sóng, sau đó, trạm tiếp sóng sẽ chuyển tín hiệu về trụ sở. Tương tự, trụ sở có thể truyền tín hiệu cho các viên mật thám qua các trạm tiếp sóng này. Điều này cho phép truyền tín hiệu đi xa hơn.
Google photo Tôi mặc bộ quần áo dã chiến có áo giáp bên trong, quàng lên vai bao đạn với 10 băng đạn trên đó. Trong mỗi băng đạn chứa 30 viên. Tổng cộng tôi mang theo 300 viên đạn. Đeo dây súng cho phép tôi cử động dễ dàng hơn, đặc biệt cả khi ở tư thế nằm hay đứng có bệ tì như bức tường chẳng hạn. Tôi còn đi tất và đi loại ủng GSG9. Phần cốt tông của đôi tất được xấp sũng nước, nhưng phần len lại bảo đảm nước không thấm vào da. Quá trình bốc hơi nước giúp làm mát đôi chân vào ban ngày. Vào buổi tối, khí hậu sa mạc chuyển sang lạnh, lớp len giữ cho đôi chân ấm áp. Là một lính bắn tỉa, tôi không đeo thiết bị bảo vệ đầu gối hay đội mũ chống đạn. Để liên lạc, chúng tôi mang theo một chiếc điện thoại dự phòng cùng với các bộ đàm chống nước có khả năng mã hóa có độ bền cao loại MX-300 do Motorola sản xuất, bên thắt lưng. Tai nghe được gài phía sau tai nên nó không ảnh hưởng đến thính giác. Bộ nói tì sát vào vùng khí quản của tôi và không nhô cao lên mặt để khi ngắm bắn, chúng tôi có thể dễ dàng tì má vào báng súng mà không gặp bất kỳ cản trở nào. Tất nhiên, tôi cũng mang theo nước trong bình tông. Như thường lệ, tôi cũng mang theo con dao quân dụng Thụy Sĩ của mình. Chúng tôi lái trực thăng Huey đến sân vận động Pakistan, sau đó lái xe ô tô đến hai ngôi nhà. Sau khi cài đặt các thiết bị tiếp sóng, chúng tôi lái xe về nhà máy sản xuất mì ống bên bãi biển. Ở đó, trực thăng đã chờ sẵn để đón chúng tôi. Tôi cảm tưởng đây là ngày dài nhất trong cuộc đời mình và cũng là lần duy nhất trong cuộc đời tôi thực hiện sứ mệnh này.
Ngày 12 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi bước vào nhà chứa máy bay với râu tóc bờm xờm. Trong suốt thời gian ở Mogadishu, tôi không cắt tóc lần nào. Tại nhà chứa máy bay, mọi người tỏ ra rất vui mừng khi gặp lại chúng tôi. Họ biết chúng tôi đã có mười lăm ngày sống trong lòng địch và họ đã nghe một số điều về những việc chúng tôi thực hiện ở đó. Một số lính biệt kích Ranger chạy đến chỗ chúng tôi và nói: “Rất cám ơn các anh đã sát cánh bên chúng tôi khi chúng tôi bị mai phục”. Những người khác đều muốn hỏi: “Các anh đã thực hiện sứ mệnh gì vậy?”
Chúng tôi sống chung với lực lượng Delta, đội Điều hành Tác chiến CTT và lực lượng Giải cứu Bán chuyên nghiệp PJ. Đội CCT là lực lượng dò đường trong các chiến dịch đặc biệt của Không quân. Họ có thể nhảy dù xuống một khu vực bất kỳ và thực hiện trinh sát thực địa, điều hành bay, bắn chi viện và chỉ huy, kiểm soát và liên lạc trên mặt đất. Họ đặc biệt hữu dụng với chúng tôi khi gọi chi viện từ trên cao. SIGINT đã thu nhận khá nhiều người trong đội này. Lực lượng PJ của Không quân cũng tham gia các chiến dịch đặc biệt. Nhiệm vụ chủ chốt của đội này là giải cứu các phi công bị bắn rơi trong lãnh thổ đối phương và tiến hành sơ cứu thương trị bệnh. Cả Delta và Đội đặc nhiệm SEAL số 6 đều được bổ sung thêm lực lượng của CCT và PJ. Một chiếc tàu của Đội đặc nhiệm SEAL số 6 gồm tám thành viên có nhiệm vụ tấn công một tòa nhà được bổ sung thêm một PJ làm nhiệm vụ trị thương. Tương tự, đội cũng được bổ sung một CCT mang một chiếc radio trên lưng và làm nhiệm vụ gọi Không quân trợ giúp. Mặc dù, họ không giỏi việc đột nhập bằng SEAL hay Delta, nhưng là những tay chuyên nghiệp trong lĩnh vực của mình – hơn rất nhiều so với SEAL hay Delta. Việc bổ sung họ vào lực lượng SEAL và Delta là sáng kiến tuyệt nhất từ trước tới nay của JSOC. Do trình độ tác chiến của họ không thể so được với SEAL, đặc biệt là khả năng cận chiến trong thành phố nên chúng tôi làm quân xanh để huấn luyện họ. Trong khóa huấn luyện, một PJ và một CCT đã vượt qua kỳ sát hạch. Sau đó, họ lại xoay vòng sang huấn luyện ở Delta. Trong thời gian ở cùng với các đơn vị của Không quân, họ cứ thế xoay vòng tập luyện cùng Đội đặc nhiệm SEAL số 6 và lực lượng Delta. Tại nhà chứa máy bay, bốn chúng tôi hay cùng với CCT và PJ lang thang ra ngoài chơi vì chúng tôi đã biết họ khi cùng huấn luyện tại Dam Neck, Virginia. Giống như lực lượng Delta, họ thường để râu tóc gọn gàng để trông giống lực lượng biệt kích Ranger. Tuy nhiên, nước da xanh nhờ trên đầu đã làm họ lộ tẩy hết.
Đội chúng tôi có một cậu tên Jeff. Cậu ta khá điển trai và có sức hấp dẫn mạnh đối với Casanova. Thậm chí, thỉnh thoảng họ còn ra ngoài chơi cùng nhau. Một CCT khác tên là Dan Schilling. Cậu này ba mươi tuổi, tính tình cởi mở và sống ở Nam California. Dan rời bỏ lực lượng dự bị của Lục quân để gia nhập CCT. Ở giữa nhà chứa máy bay, chúng tôi thường chơi bài trên một chiếc bàn gấp dùng để lập kế hoạch. Dan vẫn hay mời tôi xì gà. Cậu ta rất thích hút loại xì gà Hoàng gia Jamaica Maduros.
Tim Wilkinson bỏ công việc kỹ sư điện để gia nhập PJ. Còn Scotty là chỉ huy của đội PJ. Gần chiếc bàn lập kế hoạch của lực lượng Không quân, CCT và PJ để một con búp bê, tên là Gina Nữ thần Tình yêu, là món quà sinh nhật cho một lính không quân của vợ Dan Schilling và bạn gái của Jeff. Trên cổ búp bê vẫn còn dính miếng giấy báo giá. Sau một chuyến thăm của các Nghị sỹ, Gina bỗng dưng biến mất. Điều này thật là nực cười!
Lực lượng biệt kích Ranger đông đảo hơn cả, nhưng họ vẫn rất thận trọng về đường phân giới ảo. Đường phân giới này giống như một bức tường phân cách khu vực của chúng tôi với lực lượng biệt kích Ranger. Có lẽ do họ tôn trọng tính chất công việc bí mật của chúng tôi hoặc tiếng tăm của chúng tôi. Tuy nhiên, cho dù là vì nguyên nhân gì đi chăng nữa, họ đã tạo cho chúng tôi một không gian riêng. Nhiều gã trong lực lượng Delta luôn có quan điểm Nếu không phải người của Delta, chẳng có việc gì phải giao thiệp cả. Có lẽ một số người trong Đội đặc nhiệm số 6 cũng có quan điểm như vậy, nhưng ở đây chúng tôi chỉ có bốn người. Nếu cả bốn chúng tôi đều thuộc Đội Anh cả Đỏ thì có thể chúng tôi còn kiêu ngạo hơn. Chỉ có bốn lính SEAL ở châu Phi nên chúng tôi buộc phải đi chơi cùng với ai đó.
Khi ở trong khu nhà chứa máy bay, chúng tôi mặc áo phông, quần soóc và đi dép tông. Khi mặc quân phục, chúng tôi không đeo biển tên hay đeo cầu vai quân hàm. Với chúng tôi, cấp hàm không có nhiều ý nghĩa như đối với lực lượng biệt kích Ranger và sĩ quan thông thường. Trong các đội đặc nhiệm của SEAL, chúng tôi thường noi gương chỉ huy của mình bởi danh tiếng của họ hoặc một số kỹ năng đặc biệt họ sở hữu. Không giống các sĩ quan thông thường, lính đặc nhiệm của SEAL thường gọi các sĩ quan của họ bằng tên thật hoặc biệt hiệu. Chúng tôi cũng không tuân thủ cấp trên một cách vô thức như những con rô bốt. Đơn giản là bởi chỉ huy cấp trên ở SEAL không đồng nghĩa là anh lãnh đạo tất cả − ngoại trừ về mặt văn bản giấy tờ. Trong thực tế, chúng tôi phải lựa chọn vũ khí và chiến thuật cho phù hợp với mỗi môi trường và tình huống cụ thể.
Lúc 9 giờ tối, chúng tôi bị pháo kích. Giờ đây, pháo kích vào chỗ chúng tôi là chuyện xảy ra như cơm bữa. Một số nghĩ ra trò chơi cá cược. Mỗi người sẽ đặt cược một thời điểm bất kỳ dự đoán xảy ra cuộc pháo kích với giá đặt cược là 1 đô-la. Ai dự đoán đúng thời điểm xảy ra cuộc pháo kích, người đó sẽ thắng. Chẳng có ai đưa tin về hành tung của Aidid cả.
Hôm sau, ngày 13 tháng Chín năm 1993, mặc dù là sĩ quan cao cấp của SEAL, nhưng Sourpuss không làm gì và chẳng chỉ đạo gì cả. Anh ta ngồi viết thư cho vợ. Gã Mập lùn kiểm tra cách thức gọi trực thăng của lực lượng QRF khi cần hỗ trợ. Chúng tôi cũng được phép ra ngoài tuần tra cùng với lính biệt kích Ranger khi không có việc gì để làm.
Một đoàn xe Pakistan đến tiếp tế. Theo lệnh của Tướng Garrison, Casanova và tôi lên máy bay đi cùng với Steve (một tay súng bắn tỉa của Delta thường xuyên làm việc với tình báo quân sự), Tư lệnh Assad và binh lính Pakistan dưới quyền chỉ huy của Assad. Chúng tôi lái xe qua thị trấn về phía tây bắc, gần Sân vận động Pakistan. Ở đây, quân Pakistan canh phòng rất chặt chẽ. Nơi họ ở rất gọn gàng và sạch sẽ. Họ không tùy tiện như binh lính Italia, những kẻ đang muốn làm chúng tôi suy yếu.
Suốt đêm hôm đó, quân của Aidid nổ súng bắn vào một chiếc trực thăng của chúng tôi và chúng sử
dụng Trường Đại học Quốc gia Somali bỏ hoang làm nơi ẩn náu. Casanova và tôi trèo lên đỉnh của một chiếc tháp sáu tầng. Từ vị trí đó, chúng tôi có thể nhìn thấy nhà của Osman Ali Atto – chuyên gia tài chính và là quân sư đắc lực của Aidid. Atto sử dụng số tiền thu được từ buôn bán ma túy (chủ yếu là lá cây Khat), cướp bóc và bắt cóc tống tiền để mua vũ khí và tài trợ cho quân của Aidid. Bên cạnh nhà Atto là một gara sửa xe ô tô. Gara này là một tòa nhà đồ sộ, được xây bê tông kiên cố và không đổ mái. Trong gara, các thợ cơ khí đang sửa chữa xe ô tô, xe ủi và đang lắp súng máy cỡ nòng .50 caliber được đặt trên giá đỡ ba chân vào thùng chiếc xe bán tải. Đây chính là gara ô tô Aidid dùng để tổ chức buổi họp khích lệ tinh thần binh lính hôm chúng tôi còn ở Pasha. Nếu bắt được Atto, chúng tôi sẽ cắt được nguồn viện trợ tài chính cho quân Aidid. Atto chính là kẻ nắm giữ hầu bao và điều tiết cuộc chiến. Không có gì quan trọng diễn ra ở nhà Atto, ngoại trừ bóng điện ngoài hiên nhấp nháy theo chu kỳ ba lần một. Có lẽ đây là một dạng ám hiệu, nhưng chúng tôi không thấy bất cứ hoạt động nào trong nhà. Việc bắt Atto chỉ là vấn đề thời gian.
Ngày 14 tháng Chín năm 1993, chúng tôi tiếp tục quan sát gara ô tô của Atto. Mọi người tấp nập ra vào. Có ba thợ cơ khí đang sửa xe. Casanova và tôi phát hiện một người nhìn giống Atto, đang nở một nụ cười lớn khoe hàm răng trắng bóng.
Chúng tôi chụp lại hình, sau đó truyền dữ liệu qua đường truyền mật cho các sĩ quan tình báo để họ nhận xem người trong ảnh có phải là Atto không. Chúng tôi đã mất dấu khi hắn rời gara và lái xe đi. Cùng ngày, một biệt kích của Ranger nghĩ là đã phát hiện ra Aidid trong một đoàn xe. Lực lượng Delta đột kích vào tòa nhà và khi đó mới phát hiện ra người bị bắt giữ là Tướng Ahmed Jilao chứ không phải là Aidid, mặc dù Jilao cao to và trắng trẻo hơn Aidid và là đồng minh thân cận của Liên Hợp Quốc. Aidid trở nên giống như minh tinh Elvis Presley, người ta thấy hắn ở mọi nơi nhưng thực tế lại chẳng phải là hắn.
Vào ban đêm, khu ở của lính Pakistan bị pháo kích từ những bụi cây và các tòa nhà gần đó dội vào. Tư lệnh Assad nói: “Chúng tôi sẽ tiếp tục bị pháo kích. Các anh có thể giúp chúng tôi chứ?”.
“Chúng tôi có thể phát hiện ra chúng bằng kính hồng ngoại và bắn pháo sáng vào chúng và các tay súng của ông có thể nhả đạn vào khu vực đó”. (Pháo sáng là loại đạn phốt-pho chiếu sáng mặt đất bằng sức nóng).
Chúa đã phù hộ nhóm du kích vì đêm hôm đó, chúng không bắn thêm lần nào nữa. Hai ngày sau đó, ngày 16 tháng Chín năm 1993, 3 phụ nữ vào nhà Atto và chỉ có hai người trở ra. Một người đàn ông cũng bước vào. Một cuộc họp khác nữa đang diễn ra, có cả Atto. Dường như hắn phụ trách, hướng dẫn mọi người thực thi kế hoạch.
Casanova rời khỏi tháp ở khu của lính Pakistan và di chuyển gần hơn tới bức tường còn sót lại đối diện với nhà Atto. Casanova nhận thấy mọi người bước vào ngôi nhà gần gara ô tô chứ không phải vào thẳng nhà Atto. Chúng tôi gọi trực thăng của lực lượng QRF đến pháo kích, ba quả pháo nổ nhưng chẳng quả nào nổ gần nơi đó cả.
Sau đó, chúng tôi trở lại nhà chứa máy bay ở khu quân sự. Tại đây, chúng tôi báo cáo vắn tắt tình hình cho một Đại úy của Delta.Trong báo cáo, tôi nói: “Đi tuần tra cùng biệt kích Ranger chẳng có vấn đề gì, nhưng chúng tôi muốn đi một mình. Chúng tôi sẽ biết phải xử trí ra sao khi bị tập kích, nhưng lại không biết lính biệt kích Ranger sẽ xử trí như thế nào trong tình huống đó”.
Viên Đại úy chấp thuận lời đề nghị.
“Ngoài ra, chúng tôi còn đề nghị thực hiện các chuyến bay do thám Mogadishu cùng với lực lượng
QRF.” “OK.” Casanova và tôi đến trụ sở của CIA và chia sẻ tin tức tình báo về hành tung của Atto với họ.
Đây là lần đầu tiên Casanova và tôi đi chung máy bay cùng lực lượng QRF. Chúng tôi nhận thấy quy định tham chiến của họ khác với chúng tôi. Họ được phép cho đạn vào hộp tiếp đạn nhưng lại không được phép lên đạn khi đối phương chưa bắn họ. Còn với chúng tôi, súng luôn lên đạn sẵn nên chúng tôi chỉ việc mở chốt an toàn và nhả đạn. Ở vùng chiến, quy định này của lực lượng QRF thật là nực cười.
Một hôm, Casanova và tôi lên một chiếc Humvee cùng với lực lượng QRF. Tôi ra lệnh: “Khóa chốt an toàn và lên đạn”. Các binh sĩ QRF ngỡ ngàng nhìn tôi. “Cái gì?”. Trời tối dần, đường phố và nhà cửa đã lên đèn. Súng của tất cả chúng tôi đều được khóa chốt an toàn và lên đạn sẵn. Casanova và tôi phải chịu trách nhiệm hoàn toàn nếu xảy ra thiệt hại cho đồng đội.
Lần tiếp theo, một số biệt kích Ranger. Casanova và tôi lại lái xe Humvee đến khu ở của QRF. Số binh lính từng đi cùng với Casanova và tôi trước đó vội vã phóng xe theo chúng tôi và vẫn nhớ mệnh lệnh đầu tiên của chúng tôi “khóa chốt an toàn và lên đạn”.
Sau đó, nhiều binh sĩ có cơ hội đi cùng chúng tôi. Họ thường đứng thành hàng để đợi chiếc Humvee do Casanova và tôi lái. Chúng tôi cười hạnh phúc khi thấy họ tranh nhau để được đi cùng chúng tôi.
Lúc 12 giờ đêm, chúng tôi lên trực thăng với QRF. Hai chúng tôi ngồi một bên cửa máy bay.
“Khóa chốt an toàn và lên đạn”.
Hai tay súng bắn tỉa của QRF ngồi ở bên cửa còn lại. Súng của họ cũng “khóa chốt an toàn và lên đạn”.
Tổ bay của chúng tôi thường chờ đợi cho đến khi bị bắn trước thì mới bắn trả, nhưng họ chỉ mang theo vũ khí hạng nhẹ và hai khẩu RPG buổi đêm hôm trước. “Hãy bắn bất cứ kẻ nào bạn cảm thấy bị đe dọa”. Nếu ai hướng súng nhắm vào chúng ta hoặc ở tư thế sẵn sàng tấn công chúng ta hay đứng ở vị trí bắn thì chúng ta có thể nhả đạn vào chúng. Mặc dù ban ngày nhiệt độ ở Mogadishu trung bình cao hơn 31°C, nhưng đến đêm xuống còn 15°C. Trong quá trình bay do thám ở Mogadishu phát hiện ra nhiều đống lửa được đốt ở các tầng trên của các tòa nhà bỏ hoang. Tôi hiểu những người tị nạn ngồi quanh các đống lửa này để sưởi ấm.
Google photo
Hai người Somali dưới đất chĩa súng vào chúng tôi. Casanova giương khẩu CAR-15 nhắm vào họ. Anh siết cò hạ gục một tên. Tên còn lại bỏ chạy giữa các tòa nhà. Viên phi công không thể giúp chúng tôi tiếp cận được hắn. Cũng đêm hôm đó, đặc nhiệm Delta dùng khẩu CAR-15 bắn ba phát vào ngực một thủ hạ của Aidid.
Thật không may, một đặc nhiệm khác của Delta phải cuốn gói về nước. Viên đặc nhiệm này thuộc biên chế của một trong những đơn vị chiến đấu tinh nhuệ nhất trên thế giới. Anh ta đã vô tình nhả đạn vào nhà chứa máy bay. Có thể hành động này đã cướp đi sinh mạng của một ai đó. Tôi vẫn nhớ như in nét mặt của viên đặc nhiệm sau hành động đó – anh ta biết điều gì sẽ đến với mình. Tướng Garrison và những người khác rất giận dữ. Mặc dù viên đặc nhiệm được huấn luyện để chiến đấu, nhưng giờ đâylại phải đóng gói súng ống và quay trở về Mỹ. Hồ sơ quân nhân của anh ta cũng sẽ bị ảnh hưởng. Chúng tôi có thể chịu đựng được nỗi đau thể xác và sự khổ cực, nhưng bị loại bỏ khỏi hàng ngũ là sự trừng phạt nặng nề nhất. Điều này mãi sau này tôi mới hiểu.
Ngày hôm sau, 17 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi trèo lên đỉnh tháp ở khu trại của binh lính Pakistan để thay ca cho Gã Mập lùn và Sourpuss vì họ đã ở đó theo dõi gara ô tô của Atto ba giờ rồi. Một mật vụ của CIA đi vào trong gara ô tô và xác minh xem người trong đó có phải là Atto hay không trước khi chúng tôi đột kích đa lực lượng. Đột kích đa lực lượng ít nhất cũng có một trăm người tham gia, bao gồm một xe Humvee, một vài trực thăng Little Bird chở lính bắn tỉa Delta và một vài trực thăng Black Hawk chở biệt kích Ranger và đặc nhiệm Delta. Khi nhận được tín hiệu: viên mật thám đi vào giữa gara, dùng tay phải bỏ chiếc mũ màu vàng đỏ xuống và đi vòng quanh khu vực Casanova và tôi sẽ phát tín hiệu tấn công. Đây quả là trách nhiệm to lớn với hai chúng tôi.
Chúng tôi phát hiện ra Atto sẽ có cuộc họp trong gara ô tô vào 7 giờ 30 phút hôm sau. Lực lượng
HUMINT quả là tuyệt vời khi cho chúng tôi biết chính xác thời gian và địa điểm cuộc họp. Thật buồn là trước đây, chúng tôi không có được những tin tình báo giá trị như thế khi theo dõi Aidid.
Lực lượng Delta đã từng dùng radio phát lệnh cuộc tấn công bắt Aidid, nhưng lại bị nhầm. Tối hôm đó, Casanova ở lại tháp, còn tôi nấp bên bờ rào tại khu ở của lính Pakistan và nhìn qua bức tường bên cạnh trại trẻ mồ côi để tiện quan sát. Từ lúc nhá nhem tối tới tận đêm, có quá nhiều hoạt động diễn ra nơi đây. Sau đó, nguồn tin của HUMINT cho biết một trong số các tay lái xe người Somali đã bí mật sử dụng thùng xe để vận chuyển vũ khí và đạn dược, kể cả đạn pháo. Xe này treo cờ của trại trẻ mồ côi phía trên và do đó dễ dàng qua được các trạm kiểm soát. Tôi không nghĩ rằng người ở trại trẻ mồ côi biết tài xế sử dụng xe vào mục đích này, nhưng nó giúp chúng tôi trả lời được câu hỏi về cách thức vận chuyển vũ khí, trang bị của Aidid.
Ngay từ lúc 6 giờ sáng, ngày 18 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi bắt đầu theo dõi gara ô tô của Atto từ trên đỉnh tháp. Lúc 8 giờ kém 15, viên mật vụ của CIA, để ria mép, đầu đội mũ vàng đỏ, mặc áo phông xanh và váy macawi kẻ sọc xanh trắng, xuất hiện tại gara ô tô. Anh ta sẽ kiếm được 5.000 đô-la nếu thành công. Sau 25 phút, anh ta vẫn chưa ra ám hiệu thống nhất từ trước. Rồi Atto cũng đến. Đi cùng với y là các vệ sỹ và một người đàn ông đứng tuổi. Chúng tôi chỉnh radio nhưng vẫn đợi tín hiệu từ viên mật vụ trước khi phát lệnh tấn công.
Thay vì đưa ra tín hiệu như đã hiệp đồng, viên mật thám hành động rất sơ xuất. Anh ta dang tay sang một bên, vòng tay lên đầu cầm lấy vành mũ, giơ chiếc mũ lên cao, rồi vòng tay theo đường vòng cung hạ mũ xuống bên hông. Nếu là một vệ sỹ của Atto, hẳn tôi đã bắn chết tên ngốc này ngay lập tức. Tôi hoàn toàn nghĩ rằng viên mật vụ này sẽ bị sát hại ngay trước mắt mình, nhưng thật may chẳng ai để ý hành động thái quá đó.
Casanova và tôi phát lệnh đột kích đa lực lượng. Lực lượng QRF ngay lập tức có mặt. Những chiếc trực thăng Little Bird và Black Hawk bay rợp trời. Ngay tức khắc, các đặc nhiệm Delta tụt dây xuống đổ bộ vào phía trong gara ô tô, còn các biệt kích Ranger đổ bộ phía ngoài bao vây gara ô tô và các trực thăng Little Bird chở các tay súng bắn tỉa của Delta bay lượn bên trên để bắn chi viện. Người của Atto chạy tán loạn như ong vỡ tổ. Lực lượng bán vũ trang xuất hiện ở ngôi nhà kế bên, nhắm bắn trực thăng. Các phóng viên cũng xuất hiện và ngay lập tức tay súng bắn tỉa Dan Busch ném bom phát sáng để các phóng viên sợ hãi tháo lui khỏi vùng chết. Sau này, nhóm phóng viên hồi tưởng lại rằng rất nhiều lựu đạn đã được ném về phía họ. Đúng là những tên ngốc vô ơn. Nếu là lựu đạn thì chúng đã bị giết chết hết rồi. Sau này, chính Dan nói cho tôi biết có điện thoại gọi sang từ Lầu Năm Góc và anh đã phải giải thích cho cấp trên hiểu là anh không ném lựu đạn sát thương vào đám phóng viên.
Sau khi bò qua bức tường và ra ngoài rìa của chiếc tháp sáu tầng, tôi nằm sấp xuống. Khẩu CAR-15 của tôi có viên trong hộp tiếp đạn và một viên đã lên nòng. Casanova đảm trách nửa trái gara ô tô, còn tôi nửa phải. Qua kính ngắm, tôi phát hiện một tên trong lực lượng bán vũ trang của Aidid cách chỗ tôi nằm chừng 500m đang nhắm bắn trực thăng từ cửa sổ. Tôi siết cò bắn trúng ngực. Hắn ngã ngửa ra phía sau và vĩnh viễn nằm đó.
Một tên khác cầm AK-47 vọt ra từ cửa thoát hiểm bên hông tòa nhà, cách chừng 300 m, giương súng nhắm bắn đặc nhiệm Delta đang tấn công gara. Tôi bắn hắn ta từ phía trái và viên đạn xuyên qua người. Hắn đổ vật xuống cầu thang mà vĩnh viễn không hiểu cái gì đã giết chết mình.
Cách chỗ tôi nằm khoảng 800 m, một gã vác vai khẩu RPG, chuẩn bị phóng bắn trực thăng. Mỗi lần chỉnh thước ngắm ở khoảng cách khác nhau tốn khá nhiều thời gian. Do vậy, tôi lấy thước ngắm ở tầm bắn 900 m, rồi tôi tự tính toán khoảngcách dựa theo tầm bắn đó. Lấy điểm chuẩn là ức của tên đang cầm khẩu RPG, tôi siết cò. Viên đạn trúng ngay dưới mũi hắn. Mọi người thường cho rằng khi dính đạn, nạn nhân sẽ ngã ra sau, nhưng thật ra phải ở hướng ngược lại mới đúng. Viên đạn xuyên qua ở tốc độ cao nên kéo hắn ngã về phía trước, đập mặt xuống đất. Tên này đã kéo cò khẩu RPG khi đang ngã và viên đạn găm ngay xuống mặt đường phát ra tiếng nổ Bùm!
Ngồi trên trực thăng, các tay súng bắn tỉa của Delta nhìn thấy phát bắn của tôi. Vài phút sau, một chiếc trực thăng bay ngay sát nóc tháp. Các tay súng bắn tỉa hét lên và giơ ngón tay cái lên chúc mừng tôi. “Đồ chết tiệt”. Thật may là cả Casanova và tôi đều ở tư thế nằm sấp, nếu không gió từ cánh quạt có thể hất phăng chúng tôi khỏi chiếc tháp. Delta bắt được 15 tù binh, nhưng các biệt kích Ranger ở trong các xe Humvee không kịp đến để bao vây vòng ngoài. Atto đã đổi trang phục cho một thủ hạ và chạy trốn theo lối cửa sau của gara. Hắn đã tẩu thoát.
Rạng sáng ngày 19 tháng Chín năm 1993, tôi nhìn thấy lực lượng QRF đang đột kích vào những ngôi nhà cách chỗ chúng tôi đứng khoảng 500m. Lực lượng QRF chỉ mang theo một số khẩu súng cá nhân và súng RPG. Lực lượng bán vũ trang của Aidid đã bắn nhầm vào đoàn xe buổi sáng hôm đó. Từ trên tháp, qua kính ngắm đêm, tôi nhìn rõ quân địch. Tôi nhấc bộ đàm và hướng dẫn trực thăng đến bắn vào quân của Aidid. Trực thăng của QRF nã đạn .50 caliber và 40 li xuống như mưa, trong khi lực lượng QRF trên mặt đất tấn công dữ dội như thể trời long đất lở. Một số tên cố chạy thoát nhưng cuối cùng đều bị giết chết dưới họng súng của Casanova và tôi.
Chúng tôi đã sử dụng tháp này rất hiệu quả, nhưng người của Aidid cũng hiểu ra vấn đề. Một người phụ nữ dừng lại và ngước mắt nhìn chúng tôi. Sau đó bà đưa tay lên cứa cổ hàm ý muốn cắt cổ cả hai. Chúng tôi hiểu rằng vị trí ẩn nấp này đã bị lộ và nhận được lệnh tạm rời tháp một vài ngày. Chúng tôi rời khu ở của binh lính Pakistan lúc 5 giờ chiều và có mặt ở nhà chứa máy bay vào 5 rưỡi. Gần chục tay súng bắn tỉa Delta đón chúng tôi ở cửa trước, giơ hai tay lên cao và đập vào tay chúng tôi chúc mừng chiến thắng. “Wasdin, anh cừ quá!” Một người trong số họ nhìn chằm chằm vào các tay súng bắn tỉa Delta khác. “Nếu phải lựa chọn ai đó, nhất định tôi sẽ chọn Wasdin!”
Sau đó, Casanova và tôi sử dụng tia laze để đo khoảng cách thực từ chỗ tôi nằm bắn đến chỗ tên bị tôi bắn trúng đầu hôm đó, tổng là 846m. Đây là phát bắn chính xác nhất trong đời binh nghiệp của tôi. Từ sau lần đó, quan hệ của tôi với nhóm Delta được cải thiện rõ rệt. Nhưng có một điều tôi không bao giờ nói với họ là tôi thực sự đã ngắm bắn vào ngực gã đó.
Lúc 2 rưỡi sáng, ngày 20 tháng Chín năm 1993, Casanova và tôi bay cùng QRF đến tận 6 giờ kém 15. Trong chuyến bay, chúng tôi phát hiện thấy một người đàn ông đang dựng một máy phát sóng di động. Chúng tôi nghĩ, mình đã tìm ra được vị trí đài phát thanh của Aidid ở Mogadishu. Chúng thường sử dụng đài này để truyền đạt mệnh lệnh, phương thức pháo kích và tuyên truyền: Liên Hợp Quốc và Hoa Kỳ muốn chiếm Somali, đốt Kinh Koran và giết hại trẻ sơ sinh. Ngay cả khi quân của Aidid bị tổn hại và thất bại, đài phát thanh này vẫn rêu rao là đã giành thắng lợi nhằm tiếp tục khích lệ người dân gia nhập hàng ngũ của Aidid. Casanova và tôi không được phép bắn gã đang dựng cột phát sóng này, nhưng chúng tôi cũng kịp đánh dấu vị trí có thể là nơi đặt trạm phát sóng của đài phát thanh.
Lực lượng của QRF hỏi liệu chúng tôi có thể bay với họ tất cả các tuần được không. Họ đã rất nỗ lực trong thời gian qua bởi muốn trở nên giỏi như các tay súng bắn tỉa của SEAL.
Cuối ngày hôm đó, Kền Kền liên hệ với chúng tôi. Một viên mật vụ của anh ta báo cáo Atto sẽ ở nhà riêng vì có một cuộc họp diễn ra tại đó. Chỉ có bốn chúng tôi mới là những đặc nhiệm có thể xác minh được Atto vì chúng tôi thường xuyên nhìn thấy hắn. Kền Kền muốn một đặc nhiệm SEAL và một vài đặc nhiệm Delta đi cùng. Chúng tôi quyết định để Casanova đi, nhưng thật tiếc nhiệm vụ bị hủy bỏ.
Chuyến bay của chúng tôi cùng lực lượng QRF cũng bị hủy bỏ. Mặc dù chúng tôi đã lên xe Humvee sẵn sàng đột kích vào nhà Atto, nhưng rồi lại cũng hủy bỏ. Lần nào cũng chuẩn bị, hủy bỏ, rồi lại chuẩn bị. Chẳng biết bao giờ mới hết tình cảnh này. Sự việc này đúng là mệt mỏi nhưng không làm mất đi động lực của tôi. Cho dù là thách thức gì đi chăng nữa, tôi luôn biết mình đã chọn công việc này và phải tiếp tục cố gắng. Tại Trung tâm Huấn luyện Tác chiến Đặc biệt dành cho các đặc nhiệm của SEAL tại California, huấn luyện viên Stoneclam từng nói với chúng tôi, “Tôi phải nghiêm khắc với tất cả học viên, thậm chí cả về lý trí”. SEAL nổi danh là tinh gọn so với cả bộ máy quân sự quy mô lớn
và cồng kềnh. Điều này đòi hỏi chúng tôi phải kiên nhẫn. Tôi và tất cả đồng đội đều có chung suy nghĩ này. Chúng tôi học được cách kiểm soát cảm giác để khỏi rơi vào tình trạng chán chường. Tôi biết mình có thể vượt qua được những thách thức trong môi trường luôn biến động. Không phải mọi điều đều luôn đúng theo kế hoạch. Ngay cả với kế hoạch hoàn hảo nhất, thì khi đạn bắt đầu bay, kế hoạch đó cũng sẽ thay đổi.
Ngày 21 tháng Chín năm 1993, mật vụ Abe báo cáo đã trông thấy Osman Atto ở Lido gần ngôi nhà bí mật cũ Pasha của chúng tôi. Trong quá trình xử lý tin tình báo, chúng tôi luôn phải xác định được đó
là tin thật hay tin vì thành tích cá nhân. Tôi không nghĩ có viên mật vụ nào đó muốn lừa dối mình, nhưng họ có thể thổi phồng tin tức để nhận tiền. Abe dường như không nằm trong nhóm người này. Abe là người ăn nói nhẹ nhàng và không bao giờ mất bình tĩnh như những người khác. Anh ta rất bình tĩnh và các báo cáo của anh bao giờ cũng dựa vào thực tế. Chúng tôi thích làm việc với “Abe trung thực”. Trong bộ phim kinh điển Black Hawk Down – Diều hâu gãy cánh, một người lính nào đó đã đánh dấu xe Atto bằng cách dán lên trên nóc xe một miếng băng dính màu xanh ô liu chỉ dùng trong quân đội. Hành động này trông giống cảnh quay trong serie phim Điệp viên 007 về James Bond. Tuy nhiên, trong thực tế, Cơ quan Bảo đảm Kỹ thuật của CIA đã gắn một thiết bị theo dõi vào trong chiếc gậy có tay cầm bằng ngà voi làm quà tặng Aidid. Kền Kền đã sửa lại chiếc gậy và giao cho Abe để đưa cho một liên lạc viên thường xuyên tiếp xúc với Atto. Liên lạc viên này sẽ trao cây gậy cho Atto như một món quà tặng. Trong khi người liên lạc, mang theo cây gậy, lái xe đến phía Bắc Mogadishu, một chiếc trực thăng sẽ lần theo tín hiệu từ thiết bị nói trên. Khi chiếc xe dừng lại đổ xăng, Atto xuất hiện. Một mật vụ gọi điện báo cho Kền Kền biết Atto đã ở trong ô tô. Kền Kền dùng bộ đàm gọi cho Delta.
Delta xuất kích. Trực thăng tấn công đậu gần ngay trên đầu chiếc xe và một lính bắn tỉa nã đạn vào động cơ làm chiếc xe chết máy. Atto mở tung cửa ra và bỏ chạy. Tên vệ sĩ dùng AK-47 bắn vào đội xung kích nhưng một lính bắn tỉa đã bắn tên vệ sĩ bị thương ở chân. Các đặc nhiệm nhảy ra khỏi máy bay, lao nhanh về phía tòa nhà và bắt sống Atto.
Google photo
Lực lượng Delta còn lại tạo thành một vòng tròn bao vây tòa nhà. Quân Somali đốt lốp ô tô để ra hiệu cứu viện. Một số tiến về phía các đặc nhiệm Delta đang bao vây ngôi nhà. Rồi một đám đông kéo đến, chúng dùng súng AK-47 và RPG nhắm bắn trực thăng. Các tay súng bắn tỉa ở một chiếc trực thăng và các khẩu súng máy ở chiếc trực thăng khác bắn xối xả vào đám người này, hạ gục khoảng mười đến hai mươi tên và buộc chúng phải thối lui.
Bên trong tòa nhà, lực lượng Delta dẫn Atto lên nóc nhà, ở đó, một chiếc trực thăng đã đợi sẵn để đón.
Sau đó, khi đã quay trở lại quân doanh, Delta nói với chúng tôi “Chúng tôi không chắc liệu tên bị bắt có phải là Atto hay không. Liệu các cậu có thể đến đó và nhận diện hắn giúp chúng tôi được không?”
Casanova và tôi đi bộ đến chỗ giam giữ Atto ở đầu bên kia của đường băng gần khu nhà CIA ở. Atto bị nhốt trong thùng một chiếc công ten nơ. Trong bộ phim “Black Hawk Down”, nhân vật Atto là một gã to con, luôn ăn mặc bảnh bao, hút xì gà và hay nói mỉa kẻ bắt giữ hắn. Trong thực tế, mặc dù mặc áo sơ mi và váy macawi, hắn vẫn sụt sùi và van lơn xin được tha tội. Thấp lùn, gầy gò như một cán chổi và lắc lư như chiếc lá trong gió, Atto nhìn Casanova và tôi như thể chúng tôi là Thần chết đến mang hắn đi vậy. Tôi cảm thấy tiếc cho Atto. Tôi bị giằng xé giữa hai trạng thái. Một phần muốn nhào đến ôm và nói với hắn “Mọi việc sẽ ổn thỏa thôi”, nhưng một phần lại muốn rút súng bắn vỡ mặt hắn.
“Đúng, chính hắn đây”, Casanova nói. “Tôi không biết”, tôi nói đùa. “Trước đây, mỗi lần thấy hắn, hắn đều đang nở nụ cười lớn với hàm răng trắng bóng.”
Casanova nhìn gã thông dịch. “Bảo hắn nếu không cười, chúng tao sẽ đánh cho hắn một trận lên bờ xuống ruộng đấy.
Atto đã cười trước khi các thông dịch viên có thể dịch.
Trước đây, chúng tôi không biết Atto nói được tiếng Anh. Casanova và tôi đập tay vào nhau chúc mừng và cùng nói “Chính là hắn ta đấy!” Delta đưa hắn đến nhà tù trên một hòn đảo ngoài khơi Somali. Một bức thư ngắn gửi tới Atto khuyên hắn nên gặp các phóng viên để mở cuộc hội đàm với Liên Hợp Quốc ở Somali. Chúng tôi phán đoán, bức thư này khả năng được gửi từ Aidid – con cá lớn mà chúng tôi vẫn chưa bắt được.
Buổi sáng lễ Phục Sinh năm 1949 thật tưng bừng rộn rã. Từ trên cao, mặt trời chói lọi tỏa ánh sáng chan hòa xuống một Sicily huy hoàng muôn hoa. Trên ban công các tòa nhà thủ phủ Palermo, những giàn hoa rực rỡ màu sắc. Những cánh hoa tuy đã tàn, nhưng màu sắc còn tươi thắm trộn lẫn xác pháo hồng phủ đầy các vỉa hè, và nhất là bên ngoài những ngôi nhà cổ kính. Ngoài đường phố, người người nô nức, hân hoan lũ lượt kéo nhau đến nhà thờ chánh tòa dự lễ Missa do đích thân Hồng y giáo chủ cử hành. Mặc những bộ đồ “vía” màu đậm, đám dân nhà quê – đàn ông, đàn bà, con nít, tíu tít, hớn hở chào nhau bằng lời chào truyền thống của ngày lễ “Mừng Chúa sống lại”. Turi cũng lẫn lộn trong đám nhà quê ấy và cũng đáp lại bằng một câu truyền thống “Vinh danh Chúa Muôn đời”. Turi Guiliano và các thủ hạ lén nhập vào thủ phủ từ tối hôm trước. Chúng cũng vận bộ đồ màu đen thô kệch may theo kiểu nhà quê. Chiếc áo khoác rộng thùng thình che kín vũ khí lận trong người. Guiliano chẳng bỡ ngỡ lạ lùng gì với phố xá của Palermo. Mấy năm nay hắn thường lén vào thủ phủ này để chỉ huy bắt cóc các vương tôn, công tử và các tay phú hào giàu sụ để đòi tiền chuộc. Hắn cũng chẳng sợ hãi gì mà không dám đi ăn ở các nhà hàng sang trọng. Để vuốt râu trêu ngươi nhà chức trách, mỗi khi ăn xong, hắn để lại giấy cho biết Guiliano đã đến ăn ở nhà hàng này. Trong những cuộc thăm viếng thủ phủ như vậy, chẳng lần nào Guiliano gặp rắc rối. Khi đi ngoài phố, Guiliano bao giờ cũng có thầy cai Canio Sylvestro bên cạnh, hai thủ hạ khác đi trước chừng hai chục mét, bốn tên đi bên kia đường, hai đi phía sau và hai đi phía sau xa xa nữa. Dọc đường, nếu một chú cớm nào lớ ngớ hỏi giấy Turi thì đúng là vô phước cho chú cớm đó. Đám thủ hạ cứ “khử” cái đã. Hạ hồi phân giải. Vào nhà hàng, đám thủ hạ cũng chia nhau ngồi rải rác khắp các góc bàn ở chỗ hiểm yếu. Sáng hôm lễ Phục Sinh đó, Guiliano đem theo năm chục thủ hạ. Các sếp – ngoại trừ Stefan Andolini phải ở lại thủ trại – đều được đi theo Guiliano, kể cả đồ tể Passatempo. Khi Turi và Aspanu vào nhà thờ chánh tòa thì có bốn chục thủ hạ vô theo. Còn lại mười tên phòng thủ bên ngoài dưới sự chỉ huy của thầy cai. Terranova có nhiệm vụ lái chiếc xe dùng khi tẩu thoát. Đức Hồng y giáo chủ làm chủ tế đại lễ. Ngài mặc áo lễ màu trắng thêu kim tuyến lấp lánh, chống cây trượng bằng vàng. Cây thánh giá bằng vàng khối nạm ngọc to tướng đeo lủng lẳng trước ngực. Toàn thân ngài, ánh kim lấp lánh, chói lọi, rực rỡ như tỏa hào quang. Nhìn ngài lúc này mà đứa nào dám nói “Cái áo không làm nên thầy tu” là nói bậy, làm phạm thượng. Bởi vì trông ngài uy nghiêm, thánh thiện, siêu thoát và linh thiêng quá đi, khiến người ta không thể không cảm thấy kính cẩn và sợ hãi. Nhất là mấy mụ nhà quê thì khỏi nói. Nếu Đức Chúa Jesus hoặc Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Mary mà hiện ra chắc cũng không thể uy nghi, lộng lẫy hơn đức Hồng y giáo chủ trong khung cảnh này. Trong nhà thờ, chỗ nào cũng thấy tượng thánh. Đủ kiểu đủ cỡ và đủ màu sắc. Bi thương có, hớn hở có, trầm mặc có. Nào tượng Đức Chúa Jesus Phục Sinh, tượng Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Mary và vô số tượng chư thánh la liệt trên bàn thờ, trên tường. Turi nhúng mấy ngón tay vào bình đựng nước thánh trang trí hình nổi Chúa chịu nạn và làm dấu thánh giá. Hắn quì gối, đưa mắt đảo khắp nhà thờ, từ mái vòm cho đến các bàn thờ. Bàn thờ nào cũng đèn, nến sáng choang. Thủ hạ của Turi chia nhau đứng rải rác khắp trong nhà thờ, nhất là chỗ gần bàn thờ chính. Tín đồ chen chúc nhau trên các ghế ngồi. Những bộ áo quần màu đậm của đám nhà quê lam lũ bên cạnh những bộ quần áo màu sáng hoặc sặc sỡ của đám dân thị thành. Guiliano đứng trước bàn thờ Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Mary có các thánh tông đồ đứng bên. Hắn ngắm nhìn và cảm thấy vẻ đẹp huyền bí của các bức tượng thu hút, đến nỗi, trong giây lát, hắn như quên đi những gì xung quanh. Nhà thờ vang lên tiếng hát của giáo sĩ và ban đồng ca. Giọng lĩnh xướng cao vút, du dương được tiếng đại phong cầm vừa réo rắt vừa trầm bổng hòa theo, khi nhặt, khi khoan. Uy linh quá. Siêu thoát quá. Thỉnh thoảng giọng ầm vang của toàn thể các tín đồ trong nhà thờ đáp lại giọng lĩnh xướng, nghe vừa mơ hồ vừa ầm ầm như thác đổ. Mùi hương ngào ngạt tỏa ra từ các bình bông trên bàn thờ. Mùi trầm hương quyện trong khói mờ mờ ảo ảo. Điệu bộ sung tín của các tín đồ. Tất cả tác động mạnh vào Guiliano. Lễ Phục Sinh cuối cùng mà hắn dự cũng đã cách đó năm năm rồi, trước khi hắn xử tử tên thợ hớt tóc phản bội. Lễ Phục Sinh hôm đó, hắn cảm thấy một sự mất mát và kinh sợ mơ hồ mà hắn không rõ nguyên nhân. Đã bao lần hắn nói với kẻ thù mà hắn kết án tử: “Nhân danh Thiên Chúa, nhân danh xứ Sicily, tao xử tử mày”. Hắn liên tưởng đến bài kinh mà các ông Cha vẫn đọc khi làm phép bí tích rửa tội: “Nhân danh Đức Chúa Cha, Đức Chúa con… ta rửa tội cho mày”. Mỗi khi hắn đọc bản án tử hình giống như bài kinh của ông cố đạo, hắn cũng chờ đợi nghe tiếng kẻ thù thì thầm cầu nguyện. có lúc, hắn cũng ao ước làm cho lũ kẻ thù đó sống lại – như Chúa đã sống lại – và đem chúng ra khỏi nơi tối tăm mà chính hắn đã ném vào. Và rất có thể, buổi sáng lễ Phục Sinh năm nay, hắn cũng sẽ cho một đức Hồng y giáo chủ gia nhập vào đám kẻ tử thù mà hắn đã ném vào nơi tối tăm kia. Bởi vì, ông hoàng của Hội Thánh, nếu không lừa bịp dối trá, thì ít nhất cũng đã nuốt lời hứa với hắn, phản bội hắn. Do đó, ngài đã tự nguyện trở thành kẻ thù của hắn. Bất kể ông ta hát hay như thế nào, bất kể ông ta nom uy nghi, lộng lẫy, thánh thiện, siêu thoát, thần thiêng như thế nào – là kẻ thù của Guiliano có nghĩa là phải chết. Ra lệnh cho một vị Hồng y giáo chủ: “Hãy ăn năn tội lỗi và hãy làm hòa với Chúa đi” thì có phải là xấc láo không nhỉ? Buổi lễ sắp bế mạc. Các tín đồ lần lượt kéo nhau lên gần bàn thờ để được ban Thánh Thể. Ngày hôm qua, tại tu viện, số thủ hạ đã xưng tội với cha bề trên Manfredi. Và như vậy, giờ này tâm hồn chúng sạch tội, trong trắng. Từ hôm qua đến giờ, chúng chưa có dịp để phạm tội trọng nào. Có lẽ sau khi rước Thánh Thể vào lòng, chúng sẽ phạm tội giết người. Các tín đồ, lòng nhẹ nhàng, lâng lâng vì tâm hồn họ đã sạch sẽ, tinh tuyền sau khi xưng tội, nay lại rước Thánh Thể vào lòng. Họ hớn hở ra khỏi nhà thờ, trong lòng còn mang Thánh thể. Họ hân hoan vui bước tỏa ra khắp các nẻo đường, đại lộ để về nhà ăn mừng Chúa phục sinh. Phía sau bàn thờ, giáo sĩ phụ lễ cung kính đỡ lấy chiếc lễ miện của Đức Hồng y. Đầu trần, trông ngài lại có vẻ cao lớn hơn. Vành lễ miện bằng vàng chắn ngang trán đã làm giảm cái nét độc đáo Sicily trên khuôn mặt nghiêm nghị đến mức khắc khổ của ngài. Lúc này – không đội lễ miện – khuôn mặt ngài gây cho người ta cái ấn tượng ngài đầy oai quyền hơn là thánh thiện. Ngài thay áo lễ khác và cùng với các giáo sĩ tùy tùng – theo tục lệ truyền thống – ngài bắt đầu đến cầu nguyện trước từng bàn thờ trong số bốn bàn thờ chính trong nhà thờ. Bàn thờ thứ nhất cũng là lăng mộ của đức vua Roger đệ nhất. Bàn thờ thứ hai là lăng mộ của đức hoàng đế Fréderic đệ nhị. Bàn thờ thứ ba là lăng mộ của đức vua Henry đệ tứ. Những nấm mộ này hình chiếc quan tài, làm bằng cẩm thạch và chạm hình nổi rất công phu và nghệ thuật. Bàn thờ thứ tư ở cách xa hơn và hơi khuất. Đây là nơi thờ bức tượng Thánh Rosalie, thánh bổn mạng của thủ phủ Palermo. Bức tượng làm bằng bạc khối, nặng cả tạ. Hằng năm, vào ngày lễ kính nhớ Thánh bổn mạng, nhân dân thành phố vẫn khiêng tượng này ra để rước kiệu trên khắp các đường phố của thủ phủ. Nơi đặt bàn thờ này cũng là nơi an táng của tất các vị Hồng y giáo chủ đã từng cai quản thủ phủ Palermo. Vì chính thức ngài đương kim Hồng y giáo chủ – khi tạ thế – cũng sẽ được an táng tại đây. Khi đang quì cầu nguyện tại bàn thờ này, thì ngài và đoàn giáo sĩ tùy tùng bị Guiliano và các thủ hạ bao vây. Một vài tên đã chặn cửa ra vào lăng mộ để không ai có thể báo động. Đức Hồng y giáo chủ đứng dậy. Ngài trừng trừng nhìn lũ người bao vây. Nhưng thấy khuôn mặt Pisciotta, ngài đã nhận ra. Tuy nhiên, khuôn mặt y bây giờ quá khác lạ với khuôn mặt khi y yết kiến ngài lần đầu. Khuôn mặt y bây giờ là khuôn mặt quỉ sứ từ dưới hỏa ngục chui lên, bắt linh hồn ngài về dưới đó, ném vào lò lửa hỏa ngục thiêu đốt đời đời. – Tâu đức Hồng y giáo chủ, – Guiliano cung kính, nhưng không thiếu vẻ cương quyết, ngài đã bị chúng con bắt làm tù nhân. Nếu ngài làm theo lời chúng con thì cam đoan ngài không bị hại. Chúng con rất sung sướng và hãnh diện được kính mời đức ngài lên núi nghỉ lễ Phục Sinh với chúng con. Và chúng con cung kính xin hứa là, tại đó đức ngài vẫn được cung phụng đầy đủ và sung sướng không thua gì ở tòa Hồng y. Hồng y giáo chủ giận dữ nói: – Các con cả gan dám đem theo cả vũ khí vào nhà Chúa? Guiliano bật cười. Tất cả những cảm giác sợ sệt thoắt tan biến và nhường chỗ cho cảm giác thích thú về những gì hắn sắp làm. – Tâu đức ngài, có gì mà không dám. Con còn dám trách đức ngài là đấng bề trên thánh thiện, mà lại đi nuốt lời hứa, nếu chúng con giúp đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo thắng trong cuộc bầu cử toàn quốc vừa qua, thì đức ngài sẽ can thiệp với chính quyền cho chúng con được miễn xá. Nay đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo đã thắng. Và thắng lớn. Nhưng đức ngài lờ lời hứa của đức ngài đi. Bây giờ, bản thân đức ngài và Hội Thánh sẽ phải trả giá cho sự bội hứa tồi tệ đó. – Ta không rời khỏi nơi thiêng liêng này một bước, – đức Hồng y giáo chủ lắc đầu nói một cách oai nghiêm và kiên quyết. – Cứ giết ta đi nếu các con dám. Giết ta, cái tiếng tăm nhơ nhuốc của các con sẽ được không phải chỉ xứ Sicily, mà cả nước Ý, thậm chí cả thế giới này biết và phỉ nhổ. – Tâu đức ngài, rất may là chúng con được cái vinh dự ấy rồi. Nếu bây giờ đức ngài không tự ý làm theo lời chúng con, chúng con đành lòng phải cưỡng bách. Trước hết, chúng con sẽ giết chết hết các giáo sĩ tùy tùng. Sau đó, chúng con đành phải vô phép nhét giẻ vào miệng đức ngài, trói đức ngài lại, rồi chở đi. Nếu đức ngài cứ lặng lẽ làm như tự ý đi theo chúng con, thì cam đoan, đoàn tùy tùng của đức ngài sẽ không có ai bị hại. Đức ngài lên nghỉ mát trên núi với chúng con ít ngày, sau đó bình yên trở về tòa Hồng y, chứ có gì đâu! Đức Hồng y làm dấu thánh giá và lặng lẽ đi về phía cửa mà Guiliano đã chỉ. Cửa này dẫn đến cửa hậu của Vương cung thánh đường. Tại đó, một thủ hạ của Guiliano đã lái chiếc Limousine của ngài cùng với tài xế chờ sẵn. Chiếc xe đồ sộ, trang trí hoa Phục sinh rực rỡ. Xe cắm hiệu kỳ Hồng y. Ngoài xe của đức ngài Hồng y, còn có một chiếc xe khác chở các giáo sĩ tùy tùng của ngài. Guiliano dẫn đức ngài vào xe. Aspanu ngồi băng trước với tài xế. Đoàn xe có hiệu kỳ Hồng y giáo chủ ngang nhiên chạy qua các đại lộ của thủ phủ Palermo. Các toán tuần tiễu đã chào đoàn xe. Guiliano đề nghị đức Hồng y giáo chủ giơ cao tay ban phép lành cho họ. Ra khỏi thủ phủ, đến một khoảng đường vắng. Hồng y giáo chủ được mời xuống xe và sang xe khác. Xe này chạy được một quãng dài nữa, Hồng y giáo chủ lại được mời xuống xe. Một toán thủ hạ dưới sự chỉ huy của Andolini chờ sẵn nghênh đón và dùng cáng khiêng giáo chủ chạy biến vào trong biển hoa dại muôn màu rực rỡ mọc đầy trong núi. Đoàn tùy tùng và xe được để lại và sau đó được cho quay về. Guiliano làm đúng như lời hắn đã hứa. Trong hang sâu trên núi Camaratta, Hồng y giáo chủ hàng ngày vẫn được dâng những thức ăn mà ngài vẫn dùng tại tòa Hồng y. Những tên cướp hầu hạ ngài – cử chỉ đầy vẻ tôn kính đối với vị lãnh đạo tinh thần cao cấp – đã xin ngài ban phước lành cho chúng mỗi khi chúng dâng thức ăn hoặc hầu ngài một việc gì đó. Báo chí trên tòan nước Ý như điên cuồng. Tức giận, lồng lộn. Nhất là báo chí của phe hữu. Trong khi đó, dân chúng vừa hãi hùng kinh sợ, vừa hân hoan khoái chí. Hãi hùng kinh sợ vì sự phạm thánh, hân hoan khoái chí vì mấy anh cớm bị bẽ mặt. Họ cực kỳ hãnh diện vì coi đó là một chiến công của người Sicilian đã đánh bại tập đoàn cai trị ở Rome. Guiliano trở thành một người “đáng kính nể” số một. Người ta cũng ngơ ngác hỏi nhau: Guiliano đã đòi hỏi gì nơi đức ngài Hồng y? Và họ cũng tự trả lời một cách đơn giản: một số tiền chuộc khổng lồ.
Photo edit by Sơn râu
Giáo hội, nói cho cùng, trên danh nghĩa, chỉ là chuyện lo phần linh hồn cho người ta, chớ đâu phải là một siêu công ty mà nói tiền rừng bạc biển. Nhưng giáo hội đâu có thể hạ mình thương lượng cò kè thêm bớt như những tên quí tộc keo kiệt, cho nên, bèn xỉa ngay một trăm triệu đồng lire. Nhưng, ý đồ của Guiliano đâu có phải chỉ giản đơn như vậy. Đã đành là không chê tiền. – Tâu đức ngài, chúng con chỉ là lũ nhà quê dốt nát, không thông tỏ thần học, cũng mù mờ chẳng biết đường lên thiên đàng. Tuy nhiên, con chưa bao giờ nuốt lời hứa với ai. Còn đức ngài, chức trọng quyền cao trong Hội Thánh, thánh giá Chúa đeo trước ngực, mặc áo thánh, thế mà đức ngài nói láo như cuội. Cả Hội Thánh của đức ngài cũng không cứu sống nổi đức ngài đâu. Nghe vậy hai đầu gối đức ngài Hồng y như muốn sụm. Nhưng, Guiliano nói tiếp: – Nhưng cũng còn may cho đức ngài. Con có một đề nghị dâng lên xin đức ngài cứu xét. Hắn đưa bản chúc thư của hắn, xin đức ngài Hồng y đọc. Đến lúc đó, đức ngài Hồng y mới thở phào biết mình thoát chết. Vì, cho đến lúc đó ngài vẫn đinh ninh sẽ bị Chúa phạt qua tay Guiliano vì sự bội ước của mình. Ngài chăm chú đọc bức thư hơn là để ý đến lời trách móc của Guiliano. Nhìn thấy mảnh giấy ngài đã viết cho Pisciotta khi tên này đến yết kiến ngài lần đầu, ngài mới thấy mình bị hố. Ngài đưa tay làm dấu thánh giá với cái vẻ giận thân, trách mình ngu dại bị thằng nhóc cho vào bẫy. – Tâu đức ngài, kính mong đức ngài trình lại những tài liệu này cho Hội Thánh. Đồng thời thông báo giùm chúng con cho ngài bộ trưởng Bộ tư pháp. Đức ngài đã thấy bằng chứng khả năng của chúng con có thể làm cho đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo thân bại danh liệt, sự nghiệp tiêu tan. Cái chết của con – nếu không phải là cái chết chính đáng đó – ít ra cũng là một rủi ro lớn của nó. Chúc thư này sẽ được cất giấu một nơi mà chính quyền không mong gì đụng chạm đến được. Ngay cả khi chết rồi, con vẫn có thể làm cho đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo chết chìm theo con. Nếu có ai nghi ngờ khả năng của con thì cứ bảo họ đến hỏi Croce Malo, xem con đã đối xử với kẻ thù của con như thế nào. Một tuần lễ sau ngày bắt cóc ngài Hồng y giáo chủ Palermo, La Venera đã từ giã Guiliano. Trong ba năm trời, Guiliano vẫn chui qua đường hầm sang nhà chị ta. Trên giường của chị ta nó không chỉ tìm thấy những khóai lạc nhục dục, mà còn cả sự nồng nàn và nơi an nghỉ. Không bao giờ chị ta than vãn hay mè nheo đòi hỏi gì khác ngoài những khoái lạc. Nhưng đêm nay thì khác. Sau phút hoan lạc, chị ta nói với hắn là sẽ dọn đến ở chung với một người bà con ở Florence. – Tôi yếu tim lắm, – La Venera nói, – tôi không thể tiếp tục chịu đựng những phút hồi hộp lo cho mạng sống của cậu. Tôi vẫn nằm mơ thấy câu bị bắn ngay trước mắt tôi. Ngay trước cửa nhà tôi. Y như thằng chồng tôi trước kia. Bọn cớm đã bắn chết anh ấy y như một con chó vậy. Chúng bắn cho đến lúc thân xác anh ấy nát bấy như giẻ rách. Tôi nằm mơ thấy cậu cũng như vậy. Chị ta kéo đầu Guiliano áp vào ngực mình. – Cậu hãy nghe, nghe tiếng tim tôi đập. Hắn nghe. Và xúc động vì nỗi xót xa và yêu thương theo tiếng đập thình thịch rã rời của con tim Venera. Chị ta khóc, Guiliano vuốt mái tóc dày, màu nâu đậm của Venera. – Trước kia chị có sợ như vậy bao giờ đâu. Mà có gì thay đổi đâu? La Venera lắc đầu: – Turi, cậu đã hóa ra liều lĩnh lắm rồi. Cậu gây thù chuốc oán quá nhiều rồi. Mà toàn là có thù có oán với bọn có quyền có thế. Bạn bè cậu cũng chỉ sợ giùm cho cậu. Mỗi khi có tiếng gõ cửa là bà già cậu lại sợ tái xanh, tái xám đi. Cậu không thể thoát được đâu. – Nhưng tôi vẫn chẳng có gì thay đổi cả. – Không, cậu đã thay đổi nhiều rồi. Bây giờ cậu giết người dễ dàng và mau lẹ hơn xưa rồi. Tôi không nói là cậu độc ác. Mà chỉ nói là cậu quá coi thường cái chết. – La Venera vẫn khóc rấm rứt. Guiliano thở dài. Hắn thấy rõ chị ta run rẩy, sợ hãi. Cõi lòng tràn ngập nỗi buồn mà hắn không hiểu căn cớ vì sao. – Thôi được, chị cứ đi. Tôi sẽ biếu chị ít tiền đủ để chị sống suốt đời ở Florence. Một ngày nào đó, nỗi buồn lo của chị sẽ hết. Sẽ không còn chém giết nữa. Tôi đã có kế hoạch. Tôi sẽ không còn là một thằng ăn cướp nữa. Đêm đêm, má tôi sẽ ngủ yên và chúng ta sẽ gặp nhau. Hắn cũng thấy rõ là chị ta không tin.
Rạch Cái Cau là ngọn sông Cái Lớn ăn qua địa phận tỉnh Cần Thơ. Trên ba mươi năm về trước, đó là nơi sầm uất, lau sậy mọc um tùm quanh mấy gốc bần to lớn cở hai người ôm không xuể. Sớm thì chim kêu, chiều thì vượn hú, quang cảnh buồn bã làm sao! Thỉnh thoảng, có người bảo rằng: giữa đêm khuya nghe tiếng cọp rống. Những tin đồn đãi bất lành như vậy lần lần bị đánh tan và không còn làm cho ai sợ sệt nữa. Kìa kinh Xáng Lái Hiếu vừa múc xong! Ngọn nước bạc mát lạnh, ngon lành đổ tuôn qua Rạch Giá, mang mấy dề lục bình lá xanh bông tím trôi phiêu lưu từ sông Hậu Giang ra ngoài khơi vịnh Xiêm La xa thẳm.
Sông rạch thông thương, vàm Cái Cau lần lần có người đến cất nhà đông đúc thành xóm nhỏ, có ông hương ấp đứng đầu. Ông hương ấp họ tên gì? Nhà ở lối nào? Ðiều đó khách thương hồ ít ai quan tâm đến.
Có qua đây, dầu vô tình đến cách mấy đi nữa họ cũng phải chú ý đến một cái tên, hay nói đúng hơn là một giọng hát: giọng hát của con Bảy đưa đò. Nó xa lạ nhưng quen thân, ấm áp. Khi cất lên thì cao hơn tầm bay bổng của con cò, con vạc, cao vút tận mấy vì sao đêm lấp lánh; giọng ấy lúc buông trầm xuống thì như hơi gió xao động cả giòng sông, chuyển rung mặt nước dẫu khi thuyền đã xa khuất. Nó trở thành một lớp mù sương mờ ảo che lấp bóng dáng của người hát. Khách ngẩn ngơ nhìn theo không còn thấy gì nữa tâm trí bâng khuâng giữa cảnh sông rạch âm u với nhánh “bần gie con đốm đậu sáng ngời”.
Người hát hay thường thường là có nhan sắc.
Bao nhiêu người tưởng tượng như vậy. Họ tìm tòi rồi đâm ra thất vọng. Vài người quả quyết:
– Cô lái đò này mặt rỗ hoa mè.
Nhưng rồi không nói ra, họ cũng phải nhìn nhận một sự thật: con Bảy có gương mặt chữ điền, đôi mắt đen lánh và vóc hình cao ráo.
Lý lịch của con Bảy ra sao? Chuyện đó lại càng khó hiểu. Chính ông hương ấp cũng chưa rõ vì hồi đó đàn bà, con gái không mang giấy chứng chỉ nên không có ghi tên vào bộ sổ. Mấy người ở lâu năm tại vùng này nói lại: năm đó, đâu từ miệt Cần Thơ, con Bảy xuống đây gặt mướn. Có điều lạ là đến khi rồi mùa thì cất chòi mà ở luôn chớ không về xứ. Năm sau, người mẹ già mang bịnh mà chết. Con Bảy đành sống một mình, hằng đêm chuyên nghề bán bánh bò cho ghe xuồng qua lại để độ nhựt; sau đó, đưa đò. Xóm này bao nhiêu trai làng gấm ghé nhưng nó không ưng ai. Lần lần thiên hạ phải dang ra.
Dạo nọ, cậu trai làng con của ông hương ấp vừa học được câu hát:
– Hò… ơ… Anh muốn gá chữ lương duyên với em trăm năm tình chồng nghĩa vợ. Mai sau anh có vô phần từ trần, xấu phước chết trước thì em ơi! Ðừng chôn xác anh dưới nước sâu sợ e con đỉa cắn, đừng chôn anh trên gò bởi ngại con mối ăn…
Gái trong làng không ai đối được. Cậu trai nó thích chí hát mãi một câu ấy hầu khoe tài khoe trí của mình. Nhưng đêm sau, giọng hò con Bảy trả lời:
– Hò… ơ… Em gá chữ lương duyên với anh trăm năm tình chồng nghĩa vợ. Mai sau anh có xấu phần từ trần chết trước, em rước thợ Bắc về cẩn đá lục lăng để chôn chàng.
Nghe câu đáp, ai nấy tấm tắc khen ngợi. Khi nấm mồ được cẩn đá thì sợ gì đỉa cắn, mối ăn. Ðó là cách giải quyết ổn thỏa nhất của mối tình bền như đá. Cậu trai nọ suy nghĩ tìm nhớ câu rao khác để thử tài con Bảy. Nhưng giọng con Bảy vội đuổi theo:
– Hò ơ… Gái tôi không hò đến chuyện Tây Du thì thôi, chớ hò đến chuyện Tây Du thì nhắc từ thuở xưa kia Tề Thiên Ðại Thánh loạn Thiên Cung đánh trời giành đất làm cho ông Nhạc Hoàng xang bang xấc bấc, đến chừng thác xuống đất bị Ngũ Hành Sơn chụp đè. Phật Bà có dặn: Này Tôn Hành Giả ơi! Nằm xuống đây chờ chừng nào Tam Tạng đi thỉnh kinh mi hãy đi theo làm đệ tử, Tam Tạng đi đến chợt thấy Tề Thiên nên mau mau chạy đến gỡ hai lá bùa… Tề thiên vùng mình đứng dậy được, nhưng mình mẩy thì ôi thôi… rong rêu đóng giáp, lỗ mũi thì cỏ mọc xanh lè… Bớ trai chàng có thấy không?
Cậu trai đành chịu thua không đáp được, về nhà sanh bịnh tương tư. Trong cơn bịnh triền miên, có lần cậu đánh bạo bơi xuồng qua nhà con Bảy để tỏ nổi lòng:
– Hò… ơ… Hột châu nhỏ xuống khoang hầm,
Em ơi! Phận em là gái phải có chồng nay mai.
Con Bảy vội đáp:
– Hộ hôn, điền thổ, đổ lửa mái nhà,
Ðứa nào muốn bậu, ông bà cháy tiêu…
Tức tối biết bao nhiêu! Cậu trai quay trở về. Quả thật cô ta hỗn xược dám khinh rẻ cậu và cả đám trai tơ ở xóm vàm này. Cũng may, câu đáp ấy nhỏ giọng vừa đủ cho cậu nghe thôi. Câu âm thầm ôm mối hận, hằng đêm tự an ủi:
– Ðèn treo Trường án, tỏ rạng bờ kinh.
Bình Thủy lưu linh, đáo lại Long Tuyền.
Trà Niền, Kinh Xăng, Ba Láng, Cái Răng
Hơn không hơn cũng kiếm cho bằng.
Có đâu thua bạn, bạn hành cười chê…
Nhưng ở đồng quê, chuyện gì xảy ra lần lần thiên hạ đều hay biết. Họ không tiếc lời để mỉa mai con Bảy:
– Ừ, Trời cao có mắt. “Cao nhơn tắc hữu cao nhơn trị”. “Trèo cao té nặng. Ngó cao đau ót”.
Cái ngày ấy lại đến.
Như thường lệ, con Bảy sửa soạn lên bờ ngủ. Khuya ít có khách sang ngang. Hơn nửa, trời chuyển mưa đen kịt phía Nam. Nhưng kia, một ánh đèn nho nhỏ chói lềnh bềnh giữa sông, từ từ trôi lại như cố ý đón đầu:
– Hò… ơ… Thân anh như con phụng lạc bầy.
Thấy em lẻ bạn, anh muốn vầy duyên loan.
Câu rao ấy thuộc loại tầm thường! Nhưng cảm mến cái giọng trai ấm áp, con Bảy hát lại:
– Gặp mặt anh đây, em muốn vầy hai họ,
Sợ vợ anh ở nhà tiếng nọ tiếng kia.
Khách cười to:
– Anh nói với em, anh đã có vợ nhà.
Vợ thì mặc vợ, anh xử hoà thì thôi!
Thừa lúc con Bảy đang rối trí, khách hò thêm một hơi:
– Anh thương em, thương quấn thương quít,
Bồng ra gốc mít. Bồng xít gốc chanh.
Bồng quanh đám sậy. Bồng bậy vô mui.
Bồng lủi sang lái. Bồng ngoáy trước mũi.
Ðặt em nằm xuống đây…
Kể từ hồi em đau ban cua lưỡi trắng, miệng đắng, cơm hôi.
Tiếc công anh đỡ đứng, bồng ngồi.
Bây giờ em vinh hiển… em bắt anh đi bán nồi làm chi?
Ý trách người tình nhân bạc bẽo! Trí nhớ của con Bảy bao giờ cũng có cách sẵn sàng ứng phó:
– Bánh bò một vốn ba bốn đồng lời, khuyên anh ở nhà cứ việc ăn chơi. Ðể em đi bán kiếm ít tiền lời, trước nuôi ba với má, sau lại nuôi mình…
Cũng là tưởng nghĩa tưởng tình. Ai dè anh bạc nghĩa em phải ở một mình bơ vơ!
Khách bên xuồng nọ lên tiếng:
– Ờ nàng ơi!
Khiến nghĩa bất vi vô dõng giã, lâm nguy bất cứu mạc anh hùng. Nàng còn nghĩ phận chữ tùng, thì trao dây xích buộc vòng sau đây.
Tức thì khách quày xuồng đi trước, rủ con Bảy tranh tài với khách. Nào chịu thua, con Bảy liền bơi theo sau.
Mái chèo phía trước nhịp nhàng:
– Ðêm khuya anh thức dậy xem trời;
Anh thấy sao Nguyệt Bạch, ngó xuống lòng rạch, anh thấy con cá chạch nó lội đỏ đuôi.
Nước chảy xuôi, con cá buôi nó lội ngược.
Nước chảy ngược, con cá nược nó lội theo.
Anh than với em rằng số phận anh nghèo.
Ðũa tre đâu dám đánh đèo với đũa mun.
Giọng con Bảy lảnh lót đuổi theo:
– Canh khuya em thức dậy, em lau nĩa rửa dỉa, dọn bàn,
Tay em san rượu chát, miệng em hát một đôi câu.
Trên lầu kia tiếng chuông đánh rộ,
Dưới nhà việc trống đổ tàn canh.
Em đây lịch sự chi đó mà đi đâu năm bảy người giành?
Giả như con cá kia ở chợ, dạ ai đành nấy mua.
Ðến khúc sông vắng, xuồng của chàng từ từ dừng lại. Con Bảy cũng lơi mái chèo. Bên ngọn, gương mặt của chàng rõ ràng là khôi ngô, tuấn tú. Chàng nói:
– Cô Bảy hò hay quá.
Con Bảy cúi đầu:
– Anh hò hay hơn em đó chớ!
– Anh khen cái giọng hò của cô em. Nghe sao mà ngộ quá. Cô em dạy cho tôi…
– Có gì mà dạy. Ðó là điệu “hò bánh bò” bắt chước giọng rao bán bánh bò trên sông. Ở đây sông rộng, nhà cửa, ghe xuồng thưa thớt. Mình phải có giọng vừa cao vừa dài, che lấp hết, để cho ai nấy nghe được mình. Khó hơn giọng hò cấy nhiều lắm, vì hò cấy có nhiều người ở gần mình để “hòa hơi” theo. Ở đây mình hò một mình.
Ðôi mắt của chàng sáng lên, ngạc nhiên:
– Vậy sao? Hồi nào tới giờ tôi không hiểu rành.
– Ủa! Chàng ở xứ lạ mới đến à?
– Phải. Tôi ở Bình Thủy-Phong Ðiền xuống đây. Nhưng ở đâu cũng là non với nước.
– Em gốc ở Ba Láng. Vậy là cũng như một quê. Em đến đây hai năm rồi. Lúc này ở trển ra sao?
– Cũng vậy… Hồi tháng sáu, Tây ăn lễ lộc gì đó. Cụ cử Hoành ở Sa Ðéc không chịu treo cờ của nó trước nhà. Thiên hạ đồn, không biết hư thiệt… rằng ngày lễ ấy cụ treo quần trước cửa để phản đối. Ở Bình Thủy, cụ Tòng Hiên làm bài thơ tự trào. May thay, hương chức làng giấu nhẹm nhưng vẫn thấu tai quan trên. Lúc đề bài thơ ấy, cụ Tòng Hiên kẹp ngọn bút ở giữa hai ngón chân mà viết. Ngạo nghễ quá! Khí khái quá! Vừa rồi ở Cái Răng có người bị tình nghi vì đã chép bài thơ “Vịnh chó chết trôi sông” Của cụ Cử Trị mà dán giữa nhà. Vì vậy, tôi phải đi. Qua đây gặp cô, vui biết mấy. Thôi ta tạm biệt…
Nghe qua, con Bảy bùi ngùi tấc dạ; Từ chỗ kính mến đến chỗ yêu thương chàng trai đó cũng không xa mấy. Con Bảy nhìn vầng trăng khuyết vừa hé lên khỏi ngọn bần.
– Bao giờ chàng trở lại. Em xin chờ.
Chàng cười mà đáp:
– Cám ơn.
– Lời em hứa là chắc. Hay chàng không tin nơi lời nguyền của gái đưa đò.
– Ðâu phải vậy. Chỉ sợ tôi không giữ đúng lời hứa của tôi. Chí trai bốn biển là nhà. Không có sức như chim bằng, như cá kình chớ phận con se sẻ, con tép, con tôm này cũng đòi học ngao du trong vòng đất nước nhỏ hẹp.
Dứt lời, chàng đứng dậy cất mái chèo. Con Bảy xúc động, rưng rưng nước mắt. Duyên may một đời chưa chắc gặp hai lần.
– Vậy thì xin chàng dạy lại cho em một đôi câu hò… để em nhớ đời.
– Cô hò đã hay mà lại có duyên. Tôi còn biết gì mà dạy thêm. Họa chăng chỉ có một tấm lòng này…
“Một tấm lòng”! Con Bảy mãi suy nghĩ về ba tiếng đó, chừng giựt mình nhìn lại thì chàng đã khuất dạng trong lớp sương khuya.
Cầu cao ba mươi sáu nhịp,
Em qua không kịp,
Nhắn lại cùng chàng:
Cái nghĩa tào khang sao chàng vội dứt?
Ðêm nằm thao thức, tưởng đó với đây,
Biết nơi nao cho phụng gặp bầy,
Cho le gặp bạn,
Ruột đau từng đoạn,
Gan thắt chín từng,
Ðôi ta như quế với gừng,
Dầu xa nhau nữa cũng đừng tiếng chi.
Bây giờ, con Bảy đưa đò đã già; người ở chợ vàm lại kêu bằng dì Bảy Ðò. Cứ mỗi sáng, dì ngồi đó nhưng tâm trí bâng khuâng theo câu hát nói trên. Chàng trai trẻ năm xưa như con nhạn bay xa. Phận của dì ví như con le bơi lội lẩn quẩn trong ao hồ nhỏ hẹp. “Dầu xa nhau nữa cũng đừng tiếng chi”. Phải chăng là dì năn nỉ chàng trai năm xưa đừng khinh dì là người kém lòng yêu non nước? Mấy năm rồi, dì không còn đưa đò nữa. Ngang kinh Xàng đã có cây cầu sắt. Trên, xe hơi chạy. Dưới, tàu đò đưa. Ngay tại vàm xóm nhà cũ lần lần tản ra, nhường chỗ cho một nhà lồng chợ.
Hồi nào thênh thang trời rộng sông dài, giờ đây dì ngồi lì một chỗ. Hồi nào trăng trong gió mát, giờ đây dì phải chịu đựng từ hừng đông tới lúc tan chợ trưa, bên một lò lửa cháy và một nồi nước sôi! Nãy giờ chúng tôi quên nói rõ: dì chuyên bán thịt heo luộc.
Nếu thời xưa dì nổi danh về câu hát câu hò, ngày nay món thịt heo luộc của dì cũng ngon ngọt không đâu sánh kịp. Thịt heo già, thịt heo nái mà dì luộc rồi thì cũng trở nên mềm mại, không dai, da thật dòn. Bởi vậy, lắm người ở chợ lân cận đến đây tìm mua cho được để nhậu hoặc ăn với bánh hỏi.
Lắm người khách tò mò:
– Dì Bảy à, Dượng Bảy đâu rồi! Sao ở đây không ai biết cả?
Dì đáp:
– Dượng Bảy đâu còn! Cũng như không. Dì… ở góa hằng chục năm rồi mấy cháu à…
– Làm sao thịt heo của dì luộc ngon quá vậy? Chỉ cho chúng tôi học với.
– Có khó gì đâu. Nhưng… mà khó lắm! Phải luộc trong nồi nước có để chút xíu phèn. Ðừng cho nước quá sôi mà hại đó mấy cháu! khi nước sôi thì đổ vô một lon nước lạnh. Cứ như vậy hoài. Dì chỉ cho nhiều người nhưng họ luộc không ngon, nói rằng dì giấu nghề…
– Ờ… nghe mấy bà già nói rằng hồi đó dì đưa đò, hò hát hay lắm phải không dì Bảy? Dì nhớ lại, dạy dùm chúng tôi…
Thiệt là khó quá. Không dạy, e mang tiếng làm hiểm. Mà dạy thì dạy làm sao? Ngồi đây mà nhớ đến cái thời xuân xanh năm nào! Nó như chiếc lá già rụng, mục nát trở về lòng đất để làm phân cho nghững cây tơ khác đâm lộc nẩy hoa. Nó như một chiếc xuồng cũ kéo lên trên đất khô, phơi dưới ánh nắng day gắt. Còn đâu hơi gió cũ? Còn đâu ánh trăng xưa? Còn đâu hơi thở, còn đâu dáng người? Còn đâu bến sông “nhánh bần gie con đốm đậu”?
Buộc lòng dì Bảy nói một câu:
– Cái việc hò hát cũng như cái việc luộc thịt heo vậy. Ai làm cũng được. Cách thức dễ ợt. Nhưng mà công phu lắm.
– Công phu là thế nào dì Bảy?
Im Lặng, chập sau dì đáp:
– Ở đây, hồi đó có người nói là cần “một tấm lòng”.
Từ thuở nhỏ, Sáu Bộ theo một người bạn lên núi Cô Tô để học đạo nhưng không có đạo nào quyến rũ anh được lâu dài. Hết đạo Ớt qua tới đạo Ðất; từ giã ông đạo Ðất, anh đến thọ giới tại cốc của ông đạo Nằm. Chán ông đạo Nằm, anh đi lang thang qua núi Dài với ý định cuốc đất làm rẫy. buổi chiều đó, anh ngồi trên phiến đá, mắt đăm đăm nhìn cảnh núi rừng, chợt thấy một ông lão râu tóc bạc phơ, tay chống gậy trầm hương từ từ đi lại. Ðoán chừng đó là một trong số trăm ngàn đạo sĩ ở vùng Thất Sơn này, anh không để ý cho lắm. Nhưng ông lão nọ bỗng sừng bước trước mặt anh, nhịp gậy xuống đất ba lần, cười lên ba tiếng lớn mà rằng: Chim bay về núi tối rồi. Sao không lo liệu còn ngồi chi đây? Anh đứng dậy, chắp tay chào. Ðạo sĩ ung dung nói: – Chưa nghe lời ta ư? Thời kỳ này là thời kỳ “mạt pháp”… Chim đã bay về núi, trời đã tối. Anh đáp: – Con chưa hiểu rõ. Bạch đạo sĩ, “mạt pháp” nghĩa là thế nào? Phải chăn mạt pháp là người Pháp tàn mạt? Ðạo sĩ gật đầu: – Khá khen cho con. Hiềm vì con có chí mà thiếu tài. Nghe con nói, bần đạo vui vẻ biết mấy như giữa trưa nắng mà uống được nước Cam lồ. Mạt pháp có nghĩa là thời kỳ giáo pháp suy đồi, đạo đức của tiền nhân không còn được thịnh. Tại vì nhân tâm rối loạn ư? Cũng phải. Tại vì bọn Phù Lang Sa ư? Thậm phải… Con hiểu sai nhưng mà nói đúng. – Bạch đạo sĩ, đó là chuyện quốc sự của kẻ còn nặng lòng trần tục. – Nhưng ở đây chúng ta chưa phải là tiên. – đạo sĩ nói. Ðuối lý, anh cố suy nghĩ để trả lời. Ðạo sĩ nói tiếp: – Thời buổi mạt pháp nầy chưa có ai thành tiên hoặc gặp tiên được. Ai nói ngược lại tức là dối mình, dối người, dối với non cao, dối với bể rộng… Muốn thành tiên thì phải dày công tu luyện để ngày kia giữ được chức vị cao. – Bạch đạo sĩ, công tu luyện ấy như thế nào… Chức vị ấy gọi là chi? Ðạo sĩ nói lớn: – Gọi là chức vị “chặt đầu Tây”. Con nghe chưa? Con nghe chưa? Xưa kia đức Nguyễn Trung Trực phá Kiên giang. Lúc sa cơ, Người không mảy may úy tử. Trước pháp trường, giặc khuyến dụ trăm điều, hứa ban cho… ôi thôi bao nhiêu là bạc vàng, chức vị! Người cả cười, chỉ xinh thọ lãnh một chức vị: chức nào mà Người có quyền chặt đầu tất cả bọn Tây. Giọng đạo sĩ như nghẹn ngào: – Hỡi ôi! Dũng tướng đã rơi đầu mà lời vàng ngọc nọ mãi rền vang trong lòng người, khắp non cao biển rộng… Chặt đầu Tây! chặt đầu Tây! Dứt lời, đạo sĩ quay mình. Gió thổi mạnh. Lá rừng cát núi bốc lên xoay tròn mờ mịt như khỏa dấu chân, che dáng hình của đạo sĩ. Anh Sáu Bộ tất tả chạy theo, đôi mắt chóa lòa như vừa sống trong một giấc chiêm bao mầu nhiệm. – Sư phụ! Cúi xin sư phụ thương con! Giữa muôn trùng cỏ cây, anh chỉ nghe đá núi vọng lại: – Chặt đầu Tây! Lời ấy không phải của ta nói. Con nghe không? Lời ấy của trời đất nói. Thế là năm năm sau, chàng trai trẻ ấy xuống núi. tên Sáu Bộ được sửa lại là Tư Hiền, Tư Hiền chỉ mang theo cây roi dài một thước tám, bằng cây trắc. Với cây roi ấy và đường quờn Lưu Thủy, anh nghiễm nhiên trở thành chúa đảng Cánh Buồm Ðen, hùng cứ từ mũi Cà Mau đến hải phận Hà Tiên. Sáng tinh sương,. Như thường lệ, Tư Hiền định cho ghe chạy dài theo mé biển. Vừa tách khỏi hòn Tre, gió nam thổi xuôi đưa anh về phía hòn Sơn Rái. Kìa, một chiếc ghe trôi bềnh bồng theo sóng, lá buồm sụ xuống, cột buồm đứt hết dây chằng. Lập tức anh cập lại đoán có người vừa bị nạn. Trong ghe nọ chỉ thấy một ông lão nằm mê man bất tỉnh. Sau khi được cạy miệng uống hớp nước lạnh, ông tỉnh lại nhìn dáo dác: – Ông đây là ai? Tư Hiền đáp: – Tôi là người đi mò ngọc điệp ở hòn Nhạn. Ông lão khóc nức nở: – Ăn cướp đánh tôi. Cha con tôi đi Rạch Giá bán tôm khô, về ngang đây bị nó chận lại giựt hết tiền, bắt luôn con gái; hẹn ba ngày sau đem trả lại. Tư Hiền nói: – Nó đi hướng nào? Lâu mau rồi? Tôi bắt tụi bất lương này đem về lập tức cho ông coi. Tức thời buồm mũi và buồm lái xổ ra. Tay anh siết dây lèo thượng. Ghe phóng nhanh tới. Không mấy chút, đã thấy một đốm đen trước mặt. Anh thét to: – Tụi bây coi tao! Chiếc ghe trước vẫn giương hai cánh buồm màu đen chạy ngạo nghễ, khinh thường. Anh cho ghe sát lại, nhảy qua quơ roi đánh mạnh khiến sợi dây chằng ghe nọ phải đứt. Buồm sụ xuống. Ghe chạy đảo nghiêng gần chìm. Nghe vù một tiếng, Tư Hiền vội né mình. Biết rằng gặp tay đối thủ lợi hại, anh bình tĩnh chống đỡ. Chợt liếc phía sau, thấy ngọn lao phóng tới, anh lách qua. Ngọn lao đâm trúng bẹ ghe, ghìm sâu vào, tên nọ lỡ trớn té xuống biển. – Biết ta là ai chưa? Chưa dứt lời, Tư Hiền đã gài ngọn roi của tên còn lại xuống sạp. Hắn cố sức gỡ lên nhưng không xuể, rốt cuộc đành quì xuống: – Nói thiệt với ông, tôi là ăn cướp biển. Lâu nay tôi từng gặp nhiều người tài giỏi nhưng chưa ai bằng ông. Tên thiệt tôi là Năm Bùn. Tư Hiền đáp: – Tại sao đánh một người già cả, nghèo hơn mình? Con gái của người ta mày giấu ở đâu? Mau trả lại. Ðồ du côn! Năm Bùn năn nỉ: – Trăm sự chỉ vì tôi chưa hiểu. Cô đó tôi giấu dưới khoang hầm. Tư Hiền rất đỗi ngạc nhiên khi thấy nhan sắc khá lộng lẫy của cô nọ. Cô quì xuống lạy tạ ơn. Lập tức, anh bèn đưa cô sang ghe mình. Sau khi nhận lời hứa tái ngộ với Năm Bùn tại hòn Ðá Bạc, anh cho thuyền trở về gặp ông lão nọ. Ðêm ấy anh ăn cơm ở Rạch Cóc, tại nhà ông lão. Nhơn bữa ăn, anh nhận thấy ông lão có ý tạ ơn mình bằng cách gả con gái cho, nếu anh muốn. Anh viện nhiều lẽ để từ chối. Trước lòng chân thành của gia đình, anh hứa sẽ trỡ về cưới, sau một thời gian hai năm. – Kim Thoa! Ðừng buồn nghe em. Anh thề chết sống gì cũng trở lại cưới em làm vợ. Bây giờ anh phải ra đi. Anh đi sao thì về vậy… Từ giã xong. Tư Hiền cho ghe tách bến, nhắm hướng hòn Ðá Bạc đúng theo lời hứa với Năm Bùn. Thấy ghe của Tư Hiền đến đúng hẹn, Năm Bùn vô cùng mừng rỡ, khâm phục và ra lịnh cho bộ hạ phải nghiêm chỉnh đón chào. Ðể tỏ lòng thành thật của mình, Tư Hiền đi hai tay không, để cây roi dưới ghe. Chào hỏi xong xuôi anh nhờ Năm Bùn cho bộ hạ lấy roi lên giùm mình. Lúc ăn uống, Tư Hiền ao ước được thưởng thức võ nghệ của đảng Cánh Buồm Ðen. Ðể đáp tạ, anh biễn diễn cho ai nấy xem một đường roi Lưu Thủy đã học được trên núi. Lúc biểu diễn, người ở ngoài tự do ném đá hoặc phóng dao vào thử. Ngọn roi xoay chung quanh mình anh như nước chảy không dứt, không rời, chớp nhoáng như gió… Kết quả là Năm Bùn sẵn sàng giao đảng Cánh Buồm Ðen cho Tư Hiền làm đảng trưởng. Nhờ vậy đảng được chỉnh đốn lại. Hằng ngày, các bộ hạ phải luyện tập võ nghệ cho tinh thông, cấm tuyệt không xâm phạm tài sản của người chài lưới ở ven biển. Hai kẻ thù chánh cần đánh đổ không nương tay là đoàn tàu “đoan” của Tây và ghe buôn lậu Hải Nam. Từ đó về sau, nhiều tin tức mới lạ được làm đầu đề bàn tán cho dân chúng miền duyên hải Rạch Giá, Cà Mau: – Trời ơi! Hai thằng con trai của ông X. bị ghe Hải Nam bắt, tưởng biệt tích… Ai dè mấy ông Buồm Ðen giựt lại được. – Sáng hôm qua, có cái chưn vịt tàu của tụi “tàu cáo” để sẵn trên sân chợ. Tây hoảng hồn nhìn ra đó là chưn vịt của chiếc ca nô tuần biển đi mấy bữa rày chưa thấy về. – Mấy ông Buồm Ðen đốt ghe Hải Nam ở hòn Nhạn. Bên này chết ba, bên kia chết trọn tàu… Ba năm sau, có tin đảng Cánh Buồm Ðen đã rã. Người đồn rằng: Chúa đảng vì quá giàu có nên trốn qua Xiêm. Không tán thành ý đó, kẻ khác quả quyết rằng chính mắt mình đã thấy xác chúa đảng trôi tấp vào bãi. Từ sáu tháng nay, đảng Cánh Buồm Ðen là đảng giả mạo. Gia Ðình của cô Kim Thoa khổ tâm hơn hết. Một đêm lạnh lẽo nọ, có tiếng gõ cửa. Tư Hiền bước vào, ôm ghì lấy người hôn thê: – Anh phải về, không bao giờ anh làm nghề này nữa. – Tây tập nã anh, phãi không? – Số là anh vừa giết oan một người. Tụi ghe Hải Nam lên hòn để mua heo, chừng kéo neo chúng không chịu trả tiền; anh đánh chết năm đứa. Nhưng rủi thay gặp một đứa biết võ nghệ khá cao. Anh đánh roi xuống. Nó đứng trên bãi, đưa roi lên đỡ trúng. Ngặt anh xuống tay mạnh quá, nó lún xuống bùn, ngã lăn trào máu miệng. Lúc hấp hối, nó ngoắc anh lại mà nói: “Tôi không phải chủ ghe. Tôi ở mướn mãn đời, giết tôi mà chi!”. Cảm động quá, anh cúi xuống xin lỗi nó, nó khoát tay anh ra, nói tiếp: “Tôi tha lỗi thì được. Còn vợ con tôi ở Hải Nam cũng đương làm mướn, Làm sao anh xin lỗi được…” Kim Thoa! Em nghe anh nói lại chưa? Ðây là lần đầu tiên trong đời mà anh đau đớn nhứt. Anh giết oan người ta. Ngọn roi này, anh xuống tay mạnh quá, bị ô uế rồi. Tội nghiệp, chết không nhắm mắt mà ngón tay hắn còn chỉ về phía biển khơi, nơi quê vợ con. Thấy phận người mà nhớ tới phận mình, anh vội về đây.
Tháng hai năm 1946. Có tin: Tây trở lại chiếm gần tới Rạch Giá, chúng đã nhảy dù xuống biên giới Việt Miên gần núi Sam, Châu Ðốc. Dân chúng sục sôi căm hờn tập trung lại ngọn Cái Bắc để bày mưu kế. Có đến trên ba mươi thanh niên tình nguyện đi bắt sống bọn Tây nhảy dù ở xa cách quê nhà hằng hai trăm cây số. Họ thiết lập một bàn thờ Tổ quốc giữa rừng, lấy củi tràm đốt thế cho trầm hương và mượn mặt bất để làm đỉnh đồng. Y phục của họ khác nhau, nhưng giống nhau ở chất vải màu luốc luốc, chứa chấp bao nhiêu rận. Giữa quang cảnh mộc mạc, thiêng liêng đó, người ta thấy một ông lão râu tóc bạc phơ chống cây gậy cao khỏi đầu bước ra. Ai nấy thầm thì: – Ông Năm Lập thợ câu của xóm mình! Ông lão nọ bỗng rưng rưng nước mắt: – Không! tôi không phải Năm Lập. Tên thiệt của tôi là Sáu Bộ. Có mấy năm đó, tôi lấy danh hiệu Tư Hiền, cầm đầu đảng Cánh Buồm Ðen. – Trời! Chúa Ðảng là đây sao? – Nói thiệt với bà con, tôi mai danh ẩn tích. Hôm nay tôi phải ra mặt. Nếu ngồi ì ở nhà, không ai làm gì tôi, nhưng tôi cảm thấy nhục nhã như thiếu món nọ gì đối với trời đất, núi non. Nếu xét tôi có tội, anh em cứ giết tôi để tế cờ. Bằng không thì cho phép tôi truyền lại bí quyết nhiệm mầu của đường Lưu Thuỷ mà thầy tôi dạy hồi năm mươi năm trước. Ðường quờn này ít ai biết lắm, lúc tôi diễn, bà con cứ ném cây, phóng dao vô mà không bao giờ trúng tôi. Ông đứng thẳng người, hai tay chắp cây roi lên bái tổ rất kính cẩn. Rồi thì vút một tiếng, ngọn roi xoay tròn che lấp thân ông như dải lụa, như nước từ trên thác tuôn xuống chấp chóa. Ðến kẻ ngỗ nghịch nhứt cũng không dám ném cây vào để thí nghiệm như ông cho phép. Lại một cuộc bàn tán náo nhiệt, vô trật tự: – Học được đường quờn của ổng, chắc Tây về nước rồi. Thời giờ cấp bách lắm! – Ði bắt “Tây nhảy dù” chỉ cần thanh niên lanh lẹn. Ông đi không được đâu. Ðể tụi tôi đốn tầm vông vạt nhọn, lẹ hơn… Giọng ông lão nói ngậm ngùi: – Không lẽ tôi tự vận. Bà con thương tôi. Nó là cây roi có chức vị “chặt đầu Tây” của tổ sư tôi truyền lại ở núi Dài, năm đó. – Thôi, lộn xộn quá. Ông cho tôi cây roi này để làm cán mác thì hợp thời hơn, chặt vắn lại vài tấc, đầu kia tra lưỡi mác thông. Có chất sắt thêm vô, ngọn roi của ông mới xài được. Tôi biết là hư cây roi, uổng lắm nhưng ông chịu phiền. – Ừ. Làm gì thì làm, miễn dùng nó được thì thôi. Thiếu củi nấu cơm, chặt khúc nó mà chụm, lão đây cũng không tiếc. Mấy cháu biết không? Ðây là thời kỳ mạt pháp. Ðoàn quân ra đi gấp. Làm sao họ có thời giờ để hỏi han ông về một đôi danh từ xa lạ đó? Họ tản ra bốn hướng trời, ít người được trở về xóm cũ. Sau đó vài tháng, giặc vào đốt xém. Ông lão nọ chết vì không chịu tản cư, lưu lại một tình cảm lạ lùng, khó dứt khoát đối với những ai chưa hiểu rõ hoàn cảnh đặc biệt của phần đất Cà Mau tận cùng này.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.