This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.
Nước tràn bờ sông Hậu chảy qua. Nước trên trời tuôn xuống. Gió biển triền miên thổi lộng về. Từ Sáng đến chiều, mặt trời biến dạng sau lớp mưa: ánh nắng pha loãng đều đều không làm chóa mắt kẻ ưu tư đang ngồi hút thuốc mà ngắm mấy lượn sóng chạy dài tiếp lưng trời. Núi Ba Thê bên này, núi Cấm trước mặt, hòn Sóc, hòn Ðất bên kia bình thường xem hùng vĩ, thơ mộng thì nay trở thành lè tè, bé bỏng trong cảnh bao la trời nước. Chú Tư Ðinh lại vấn điếu thuốc thứ nhì, mỉm cười khi thấy từ chân trời một cơn mưa to hơn sắp kéo đến. – Ừ! Mưa hoài đi. Ông trời năm nay biết điệu, thuận mùa, thuận tiết… Thiếm Tư như phản đối ý chồng: – Mưa vài đám nữa thì có môn leo lên nóc nhà mà ở. Ba cái lu, ba cái hũ trôi lểnh nghểnh trong nhà rồi, ba nó chưa hay sao? Gạo hết, tiền hết. – Mình đừng trách trời. Hồi nào tới giờ, trời cứ vậy hoài, hết mùa hạn thì phải tới mùa nước lụt chớ. Chú Tư muốn giải nghĩa sự lạc quan của mình dài dòng hơn để thiếm Tư nghe. “Ðàn bà giỏi tài chú ý lặt vặt chuyện bếp núc. Nhìn ra đồng thì họ chỉ thấy những chuyện trên mặt nước, hơi đâu mà cãi”. Nghĩ vậy, chú im lặng, vấn thêm điếu thuốc nữa. Giờ này, dưới đáy nước, sát mặt ruộng, mớ đất cày mềm nhũn, trở mình trắng phau. Gió thổi mạnh, trôi nhà trôi cửa nhưng lúa một tấc; thân lúa đuối sức cố nằm dài trên mặt nước vừa hấp hối ngột thở là nhánh non nứt ra trong nháy mắt để chào đón cuộc sống. Sau hè nhà, nước dậy đùng đùng, sóng gợn từng lượn lớn, vỗ lát chát vào vách. Chú Tư bước nhè nhẹ trên sàn tay vịn mái nhà, tay che mắt rồi cau mày; thằng Nhi đứa con trai của chú đang cưỡi trâu về. Ðôi trâu bước lên nền chuồng trâu lúc trước, tuy đã đắp cao thêm gần một thước vậy mà nước leo lên lé đé. Chú Tư chờ thằng Nhi vào nhà. Nó cổi cái áo ướt mem quăng trên sân: – Xung quanh đây hết cỏ rồi. Làm sao bây giờ hả ba? Trâu đói nữa, con mắt nó đổ ghèn hoài. Chú nói: – Bên giồng cát Sóc Xoài… Mày có qua tới đó không? – Có. Mà hết cỏ rồi. Mấy lõm cỏ sau chùa không đủ cho trâu bò ở đó ăn, đâu có dư tới mình. Trâu mình ốm nhiều. Từ Ðây tới nước giựt còn trên ba tháng nữa, làm sao chịu nổi? – Hồi đầu mùa, tao biểu giao trâu mình họ len đi miệt khác kiếm cỏ. Má mày ngăn cản. Bây giờ tới nước này rồi… Thiếm Tư trầm ngâm suy nghĩ, nhìn đôi trâu đã mòn sức, be sườn lòi rõ rệt từng hàng như vòng cung. Ðể ở nhà, trâu chết đói; giao cho thiên hạ len đi thì làm sao bảo đảm được? Trâu của trăm chủ khác nhau gom lại chung một bầy, tha hồ lấn hiếp, chém lộn bầy trâu gần bốn trăm con mà chỉ có năm sáu người chăn giữ. Ðường dài thăm thẳm, lội nước băng rừng, rủi khi bịnh hoạn thì trâu đành bỏ mạng nơi xứ lạ quê người. Thật là tấn thối lưỡng nan! Ðôi trâu nhà đứng khúm núm đó, trên nền chuồng, như hai pho tượng bằng đồng đen dựng lên mặt nước. Thiếm nói: – Ba nó tính sao thì tính. Tôi rối trí quá rồi. Chú Tư chép miệng: – Không nên cãi mạng trời. Muốn cãi cũng không được. Không lẽ họ giết trâu mình? Trăm con, chết chừng đôi ba con là nhiều. Muốn vững bụng hơn, mình cho thằng Nhi theo coi chừng. Thằng Nhi há miệng ngạc nhiên không dè mùa nước năm nay nó lại được đi du lịch bất ngờ như vầy. Chú Tư hỏi: – Muốn đi không mậy? Chặng đầu, họ mới len trâu tới chân núi Ba Thê, mình đuổi theo nhập bầy còn kịp, đây qua đó chừng nửa ngày đường. Lấy cái nóp mới của tao mà đem theo. Dọc đường muỗi mòng, mưa gió nhớ đi theo sát hai con trâu của mình, đừng ham chơi lêu lổng. Nói với tằn khao (đầu nậu, cai thầu) rằng mình chịu đóng cho y mười giạ lúa tiền công len trâu, mùa này.
Mưa cứ mưa trút xuống. Gió cứ dậy sóng lên. Từ lúc thằng Nhi dẫn trâu đi, nhà cửa lần lần trở nên vắng lạnh. Thiếm Tư cằn nhằn: – Giao sanh mạnh hai con trâu cho họ, ba nó chưa vừa bụng sao? Lại còn bày đặt cho thằng Nhi đi theo! Rủi bề gì… Chú Tư nói: – Má nó khéo lo thì thôi! Trâu hễ tới số thì dẫu cầm ở nhà nó cũng không sống. Tôi buồn lắm. Trâu giúp mình tạo ra hột lúa; bù lại, mình không kiếm đủ cỏ cho nó ăn no. Như vậy là mình bất nhân. Còn thằng Nhi… dịp này để nó học nghề với người ta. Thiếm Tư hơi giận: – Nghề gì? Nghề chăn trâu mà cũng học nữa à? Tôi không ham cái nghề đó. – Má nó nói giỡn sao chớ! Chăn trâu còn khó hơn diều binh khiển tướng. Ðời xưa, nhiều người nhờ lúc nhỏ chăn trâu mà tới lớn được làm vua. Con nít chăn trâu ca hát nghe bậy bạ nhưng nhiều khi linh nghiệm như sấm truyền, đoán trúng những chuyện quốc sự. Tôi nhớ coi… Trong truyện Phong Thần gì đó nhắc cái tích ông Nịnh Thích ngồi trên lưng trâu, gõ sừng mà hát công kích vua đời… Liệt Quốc Ðông Châu! Vua giựt mình, mời ông Nịnh Thích về làm quân sư. Nghe đâu lúc về hưu trí, ông Nịnh Thích lại cữi trâu mà du sơn ngoạn thủy. Như, tiều, canh, mục là bốn điều quan trọng mà. Thiếm Tư vẫn chưa nguôi cơn buồn: – Ba nó nói chuyện đời xưa. Chăn trâu theo kiểu ở xứ mình có khác, tối ngày đeo đuôi trâu mà lặn hụp dưới nước, ăn không no, ngủ không yên… – Nhưng mà học khôn nhiều chuyện. Mà nó hồi nào tới giờ chưa từng tới núi Ba Thê, vậy mà bây giờ thằng Nhi nó rành đó! Cảnh núi non thanh lịch, tâu ăn cỏ ngẩng đầu coi mây bay lui tới; ngứa lưng thì trâu cọ mình vô cột của đền vua chùa mà gãi sốn sột. Má nó biết không? Ở núi Ba Thê, trâu len ăn cỏ trên đền vua đời xưa… Vua chùa mất hết, trâu đời đời kiếp kiếp còn đứng dửng dưng trên mặt đất này hoài! Thiếm Tư bực bội: – Ðói, không đủ cỏ ăn mà cũng sang trọng. Thôi ông ơi! Ðừng nói nữa. – Hết cỏ thì qua chỗ khác, má nó đừng lo. Từ Ba Thê cả bầy trâu len qua miệt Bảy Núi. Oai vệ lắm kìa! Voi đi một lần đôi ba chục con là cùng, cọp đi hai ba con là nhiều; cảnh đó ở miệt rừng ai cũng thấy. Ðằng này, trâu lội nước năm ba trăm con, đen đầu, đặc nước. Kiếm bạc trăm là dễ chớ muốn thấy được cảnh đó không phải dễ, giống như hồi thiên hạ sơ khai, càn khôn hỗn độn… Mấy ông thầy chùa, bà vãi ẩn mình trong cốc trên núi, chán cảnh trần tục vậy mà họ còn bước ra ngóng mắt theo bầy trâu len dữ dội… Càng nhắc tới, chú Tư càng thích chí, thiếm Tư trái lại ngồi buốn xo, không tin nơi lời chồng, cho rằng đó là kiểu an ủi gượng của kẻ túng cùng. Chú Tư lại vấn thuốc, hỏi vợ: – Má nó ngủ hay thức? Nãy giờ có nghe không? Sao không ừ hử gì ráo, hay là ngủ rối… – Tôi nằm nghe đây mà. Nghe bằng lỗ tai chớ nghe bằng miệng sao mà phải ừ hử từng chập? Chú Tư lại nói tiếp: – Ở Bảy Núi thanh khiết hơn ở Ba Thê. Trâu ăn toàn cỏ lạ hoa thơm; lắm thứ cỏ phảng phất mùi gì giống như vị thuốc Bắc. Ban đêm, muỗi mòng cũng ít, tiếng chuông chùa, tiếng tụng kinh gõ mõ thì nhiều… Mặc dầu ăn cỏ ở dưới chân núi, trâu cũng được phong làm chúa sơn lâm. Cọp beo trên núi quì xuống mà đầu hàng chớ không dám xáp lại. Bên kia sàn nhà, thiếm Tư bắt đầu thở nhẹ rồi ngáy pho pho. Chú Tư mỉm cười, không chút hờn giận. “Vợ mình chán không thèm nghe nữa vì nãy giờ mình nói toàn những chuyện vui tươi, sung sướng, giấu giếm những nỗi cực nhọc trong nghề chăn trâu. Nhưng cần gì? Cốt ý là mình nhắc lại cuộc đời len trâu của mình hồi thuở con nhỏ cho riêng mình nghe mà thôi”. Chú lại vấn thuốc hút. Bên ngoài trời vẫn mưa, sóng nước vẫn chạy ùa tới đập vào vách nhà. Khói thuốc phun mờ mờ, bay thoảng lên cao. Chân trời lại hiện ra, lúa nằm dài xanh rờn, nhấp nhô trên ngọn sóng. Và… Ðằng xa kia là Bảy Núi, nơi mà giờ này thằng Nhi và hai con trâu của chú đang tung hoành, sắp lội nước hằng mươi cây số để vượt ra mé biển đến vùng rừng tràm miệt Linh Quỳnh. Rừng tràm xanh đậm, rọi xuống mặt nước đỏ ngầu, rung rinh. Nhứt là về đêm khi trăng chiếu, đom đóm bay về đậu khắp nhánh tràm như họp chợ phiên! Hồi thuở nhỏ, chú đến đó nhiều lần. Cảnh ấy bây giờ thay đổi vì nhà nước đã đào thêm con kinh Xáng Rạch Giá – Hà Tiên và đắp xong con lộ đá. Trâu vượt qua lộ xe hoặc ngủ tạm trên lộ cho tới sáng. Lội dưới nước lâu ngày, móng trâu trở nên mềm, đứng trên đá, trâu đau chân. Chú Tư bỗng hình dung trước mặt một cảnh tượng oai hùng, khi mặt trời vừa lố dạng, đàn trâu phải rút vào rừng tìm nơi ăn nằm. Nhà nước đắp lộ xe nào phải để cho trâu đứng, phá hoại… Trâu chạy ầm ầm. Không mấy chút, tràm gãy rôm rốp ngã liệt xuống, lõm rừng trở thành một cái đầm rộng lớn. Người len trâu tạm nghỉ ngơi vài ngày. Mấy “tay riều” đốn củi gần đó tụ họp lại làm quen, đánh bài cào, uống rượu, đốt lửa lên bàn chuyện tiếu lâm. Lắm khi họ sắp đặt công việc đi ăn cướp, ăn cướp kẻ khác và ăn cướp lẫn nhau. Mấy tay len trâu giựt tiền của tay riều; mấy tay riều xúm nhau giựt trâu của mấy tay len. Rừng lại đẫm máu… Trong cuộc xô xát dao búa đó, sanh mạng của con người như con kiến, hà huống chi đứa trẻ bé bỏng như thằng Nhi, con trai chú! Chú Tư giựt mình, e ngại. Trong giấc mơ, có lẽ thiếm Tư không tưởng tượng được tới cảnh chém giết rùng rợn đó. Thiếm nói lảm nhảm rồi lại trở mình, ngáy khò khò.
Tháng mười, nước giựt xuống. Ðến cuối tháng, mặt ruộng lộ ra, cỏ non nhú mọc xanh tươi đến tận chân trời. Mưa dứt sớm. Núi non lại trở nên hùng vĩ. Suốt mùa, lúa nương theo nước mà vươn lên đến bốn năm thước; bây giờ lúa nằm rạp xuống đất, chồng chất cao ngùn ngụt. Cái sàn nhà của chú Tư cũng hạ xuống. Cuộc sống trở lại bình thường. Ðêm ấy, quá canh ba, có tiếng kêu vang dội: – Ba ơi ba! Má ơi má! Trâu mình nè… Chú Tư, thiếm Tư mừng quýnh, tốc mùng chạy ra: Thằng Nhi về đó, coi dị hợm hơn mọi ngày, máng trên vai một đống gì cao nghệu. Chú Tư xanh mặt. Nó thảy đống ấy xuống đất: – Đm. chết hết một con. Ðem cặp sừng bộ da của nó về nè! Nặng gần chết. Ðm. không lẽ bỏ luôn. Thiếm Tư mếu máo, mừng vì gặp được con, buồn vì mất hết phân nửa gia sản: – Mô Phật. Mạnh giỏi hả con? Trời ơi! Con đi theo coi chừng mà làm sao nó chết? Dọc đường con có đau ốm gì không… Con, Con… Chú Tư im lặng, buồn buồn. Mừng con, tiếc của là một lẽ. Nhưng còn lẽ khác đáng lo ngại hơn… Hồi nào tới giờ, thằng Nhi ăn nói đàng hoàng mà chuyến về này, trong câu nói hồi nãy, nó pha vô hai lần chửi thề mà nó không hay. Thiếm Tư nhìn cặp sừng và bộ da trâu mà rơi nước mắt: – Thôi! Lần này lần chót. Năm tới bán con trâu còn lại, không làm ruộng nữa. Ðất nước gì kỳ cục quá, cái xứ này… Chú Tư nghiêm mặt: – Nói bậy nữa đi. Ðất của mình, nước của mình mà bà dám nguyền rủa hả? Hồi nào cúng vái, bà nói bà phục ông bà đất nước lắm mà… Thiếm Tư đi ra sân lo đốt lửa để un trâu. Chú Tư cũng đến vuốt ve con trâu còn lại rồi trở vô thấy thằng Nhi đang chụp gói thuốc rê trên bàn; nó mở ra, xé giấy vấn hút phì phà một cách tự nhiên, ngon lành. – Ghiền rồi hả mậy? Chú hỏi. – Hai ba bữa rày, hút có mấy điếu. Ở rừng, họ hút kịch liệt lắm kìa… ba. Chú Tư đem chai rượu đế ra, rót vào chén. Chú thấy thằnh Nhi hít mũi lia lịa. – Nhậu thì nhậu một chút cho ấm đi! Cỡ này mày sanh nhiều tật lạ. Rồi chú day ra sân mỉm cười: – Bà nó ơi! Coi thằng con của bà nè! Nó giống hệt tôi hồi nhỏ quá chừng. Thiếm Tư chạy vào, không hiểu rõ đầu đuôi. Thiếm lau nước mắt rồi nấu cơm cho thằng Nhi ăn, dọn mùng cho nó ngủ… Chú Tư thức mãi tới khuya, thỉnh thoảng hé mùng dòm thằng Nhi. Mùng rộng rãi nhưng nó vẫn co rút như hồi nằm trong nóp chật hẹp. Tay và bụng của nó xăm đầy những chữ nho, chữ quốc ngữ. Không cần đọc kỹ, chú đoán đó là “ngũ hồ tứ hải giai huynh đệ” hoặc “ái tình vạn tuế” mà một tay hảo hớn nào đã xăm cho nó. – Mình không lỗ lã gì đâu! Chú Tư lẩm bẩm một mình. Chuyến đi len trâu này, đứa con của chú mhiễm nhiều tật xấu nhưng nó khôn lớn hơn, nghe thấy được nhiều việc mà ở nhà chú không nghe thấy. Chú ra sân. Dưới ánh trăng suông, con trâu Pháo bước tung tăng, nhịp móng xuống lớp phù sa mát rượi, đứng trên mặt đất hôm nay mà sao thấy hơi khác lạ hơn mặt đất hôm nao, cũng ở chốn này. Nó hinh hỉnh lỗ mũi như cố phân biệt mùi thơm của cỏ núi hoa rừng với mùi thơm của mùi lúa sạ đang độ chín.
“Luôn bắt đầu bằng một hình ảnh. Ðiểm xuất phát phải là một hình ảnh trong đầu mà tôi muốn người đọc nhìn thấy.Hình ảnh ấy mang một xúc động, một cảm giác mà tôi cố gắng tường thuật trên giấy. Tôi chưa rõ nội dung khi bắt đầu viết, tôi không biết liệu sẽ tạo ra một câu chuyện hai trang hay một trăm năm mươi trang, hay cuối cùng sẽ không thành gì hết – chỉ một đoản thiên rồi không đi đến đâu, không khai mở điều gì…”
Eduardo Halfon, cách đây nhiều năm kể về cách hình thành văn bản của chính mình. Halfon chuyên truy lùng căn cước di dân qua trôi giạt rồi tìm về cội nguồn bị áp bức. Có gì giống giữa Trương Vũ với Halfon, một nhà văn Do Thái Hoa Kỳ sinh tại Guatemala?
Giống ở sự trôi giạt. Sự ly tán gia đình. Nhìn cách này, Trương Vũ gần với Halfon: “Nhiều thứ đã đi vào quá khứ nhưng vẫn để lại những dấu vết sâu đậm trong tim mình. Tôi muốn nói về một câu chuyện thật, được kể lại để làm nền cho tác phẩm The Bridge on the Drina (Chiếc Cầu trên sông Drina) của nhà văn Nam Tư (Yugoslavia) Ivo Andric’, người đoạt giải thưởng văn chương Nobel 1961. Tác phẩm lấy bối cảnh của thành phố Visegrad của Bosnia từ thế kỷ 16 trở về sau. Ðây là nơi thường xuyên chứng kiến những tranh chấp tàn bạo giữa hai đế chế Thổ và Áo-Hung, và cũng là tranh chấp giữa Hồi Giáo với Thiên Chúa Giáo (gồm Công Giáo và Chính Thống Giáo) liên tục suốt 400 năm. Ðể ngăn chận sự phát triển của Thiên Chúa Giáo, người Thổ tổ chức bắt cóc những đứa con nít thuộc gia đình Thiên Chúa Giáo, thường là những gia đình nghèo, đưa sang vùng cai trị của Thổ, bên kia sông Drina. Những đứa bé này được cải sang đạo Hồi và lớn lên như người Thổ. Rất nhiều bà mẹ đưa con đi chợ với mình, quay nhìn lại không thấy con đâu, rượt theo kẻ cướp cho đến bờ sông Drina, dừng lại, ngơ ngác nhìn theo chiếc phà chở con qua sông. Lúc đó, phà là phương tiện duy nhất để qua sông. Bên kia là vùng cai trị của đế quốc Thổ.
Thời gian đầu ở Mỹ, cả gia đình tôi còn lại Việt Nam. Hình ảnh những bà mẹ đứng ngơ ngác bên này sông Drina luôn ám ảnh. Có nhiều đêm, tôi nằm mơ thấy dẫn các con đi chơi, đang ngồi ăn uống vui vẻ, chợt nhìn lại không thấy con mình đâu.” [Trương Vũ/ Mưa Ướt Vị Thành]
Trương Vũ
Halfon không khác, trong sự phát tán: “Bốn ông bà tôi sinh ra: một ở Liban, một ở Ba Lan, một ở Ai Cập và một ở Syrie. Tình cờ tất cả đều đến Guatemala vào giữa thế kỷ 20, bằng lang thang du mục không có gì khác ngoài Do Thái giáo. Nhưng tôn giáo không đủ lấp mất mát và ngơ ngác. Họ đánh mất người thân trên các lục địa khác. Ðánh mất vì nhiều lý do mà tôi chưa biết hết. Khổ đau và cô độc thì tôi đã nhìn thấy trong mắt họ.”
Eduardo Halfon và Trương Vũ còn chung cách hình thành văn bản từ một hình ảnh. Ở Halfon, là trận nắng: “Khi viết Tu Viện, hình ảnh mà tôi có trong đầu là cảm giác khó chịu của một ngày về đến Israel, không muốn về, nhưng bị thúc đẩy bởi một thứ bổn phận đầy phiền toái bắt buộc tham dự đám cưới của chị mình. Bên trong tấm ảnh ký ức còn tất cả sức nóng ngột ngạt của sân bay Tel Aviv. Là hình ảnh đầu tiên khi tôi đặt bút viết.” [Eduardo Halfon/ La Fiction m’aide à passer de l’Individuel à l’Universel].
Ở Trương Vũ, là trận mưa: “Tôi nhớ những cơn mưa ở Việt Nam, Nha Trang hay Sài Gòn. Mưa Sàigòn thường đến ào một cái rồi ngưng. Mưa Nha Trang kéo dài lâu hơn, nhiều khi dầm dề, và cái cảm giác ướt át lành lạnh nó để lại thường dai dẳng. Tôi nhớ những buổi tối, ở xa về, tôi lang thang trên bãi biển dưới mưa, nhiều đêm mưa tầm tã vẫn không muốn về. Tôi nhớ những ngày còn ở trung học, ngồi trên thềm nhà đọc sách, nước mưa rơi xuống từ mái hiên, thỉnh thoảng những giọt mưa tạt nhẹ vào người. Tôi nhớ những đêm mưa tôi dạy học trong một lớp luyện thi. Học trò từ nhiều trường khác nhau, Lê Quý Ðôn, Võ Tánh, Nữ Trung Học… Lớp học mượn của đình Phương Câu, trống một bên. Khi gió lớn, cả thầy lẫn trò đều ướt. Bốn mươi lăm năm đã qua rồi, tôi vẫn còn nhớ rất rõ nét mặt một số học trò trong lớp đó. Tôi còn cảm nhận được cái lành lạnh của nước và mường tượng âm vang tiếng cười giòn của các em khi cố lách mình tránh mưa.” [Trương Vũ/ Những Cơn Mưa Ngày Cũ].
Ðến đây chấm dứt sự giống nhau, vì Halfon truy tìm nguồn gốc của thảm kịch, còn Trương Vũ tìm sự lạc quan sau bi kịch. Trận nắng của Halfon là trận nắng của thực tại bực bõ khi về quê. Cơn mưa của Trương Vũ không phải mưa bi lụy hay tình nhân mà mưa qua lớp học, với học trò. Halfon xây cất tiểu thuyết trên sân phi đạo Tel Aviv của một Do Thái kiều hồi hương, Trương Vũ xây cất tiểu luận trên nền gạch ướt mưa của sân trường cũ. Hai tâm thức. Hai hướng đến.
o O o
Tháng 5-1979 tôi đạp xe vào ngôi hẻm trên đường Hiền Vương. Ngôi hẻm có hiệu phở đầu ngõ trông sang cây xăng dẫn vào đường Duy Tân. Tôi đến chào thầy Lâm Ngọc Oánh. Tôi nói với thầy: “Em đến chào thầy.” Hai chữ vượt biên không thốt ra. Thầy Lâm Ngọc Oánh nhìn tôi đăm đăm, thầy không một lần hỏi vì sao, không một lần phát âm hai chữ vượt biên. Tháng 5-1979 là cao trào của vượt biên bán chánh thức, các học trò của thầy thay nhau biến mất. Thầy hiểu nên không cần hỏi và ban lời duy nhất: “Em đừng làm gì để bản thân, gia đình và dân tộc bị khinh.” Tôi không gặp lại thầy nữa.
Tháng 5-2019 tôi nhận sách tặng của một người thầy khác; thầy Trương Hồng Sơn, bút danh Trương Vũ. Tôi không học với thầy Sơn nhưng thầy Oánh và thầy Sơn đối với tôi không khác lắm, cả hai là sản phẩm của miền Nam, những giáo chức tận tụy và nhận lại ở học sinh lòng kính trọng cùng thương mến. Khác biệt là thầy Oánh ở lại và thầy Sơn ra đi. Chính nhờ ra đi mà thầy Trương Hồng Sơn trở thành khoa học gia rồi nhà văn, họa sĩ Trương Vũ. Nhưng thầy Sơn trở về và cho xuất bản Ðuổi Bóng Hoàng Hôn.
Vì sao tựa này?
Ðuổi theo chiếc bóng tuổi trẻ của chính mình khi bóng xế chiều tà hay xô đuổi ánh chạng vạng để thấy mặt trời phía sau bóng tối? Ðọc hết tập sách, tôi có câu trả lời: cả hai. Chính ý nghĩa của cả hai: Mặt trời đã sau lưng vì tuổi già ập đến nhưng vẫn còn phía trước, phía sau hoàng hôn cho một tuổi trẻ khác. Ý nghĩa này là tựa sách. Một mặt trời của quá khứ và tương lai; từ một điểm nhìn là sân trường Việt.
Trương Vũ trong ngày ra mắt sách tại DC tháng 5-2019
Vị trí ấy giải thích vì sao Ðuổi Bóng Hoàng Hôn là một tập tiểu luận pha tùy bút. Vì sao Trương Vũ chọn lối văn tâm tình ngay cả trong những chương thuần tiểu luận. Không hành văn hàn lâm, không phương pháp luận giải đại học mặc dù tác giả rất am tường. Vì là lời khuyên và trình bày của một thầy giáo. Nếu, vẫn còn chút ít chất sư phạm mà Trương Vũ thừa nhận: “nghề dạy học, với thêm chút tự phụ, dần biến tôi thành một người mô phạm trong cái nghĩa nghiêm túc và nghiêm khắc.”… thì ưu điểm nằm trong cách trao đổi thẳng thắn với các học sinh mà Trương Vũ xem đã trưởng thành, ngang hàng. Ðuổi Bóng Hoàng Hôn phải nhìn ở góc độ này: 2/3 được viết cho học trò cũ và tuổi trẻ ngày mai, 1/3 còn lại cho các bạn cũ. Trong tổng thể, vẫn là cho tuổi trẻ.
Thể tiểu luận khá hiếm trong ngành xuất bản tiếng Việt. Vì ít bán chạy. Khô khan. Ðuổi Bóng Hoàng Hôn không vậy. Nhờ vào tính chất trữ tình của giọng văn. Nhờ vào điều Trương Vũ tự nhận xét: “Sau này lên dạy đại học, tôi càng trở nên nghiêm khắc hơn với học trò mình, với nhiều người xung quanh nhưng lại ít nghiêm khắc với chính mình hơn.” Chính sự thiếu nghiêm khắc đó cho chúng ta những chương Mưa Ướt Vị Thành, Nói Với Chàng Siêu, Lá Mùa Thu, Nắng vàng Trong Rừng Khô, Ðất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, Về Lại Sorrento.
Nhưng trung tâm điểm của Ðuổi Bóng Hoàng Hôn vẫn là những ngôi trường. Giáo Dục Việt Nam: Những Vấn Ðề Căn Bản là chương quan trọng. Trương Vũ là nhà văn tỵ nạn đầu tiên đặt vấn đề cải cách giáo dục quê nhà, ở vào thời điểm chưa ai bàn đến và chưa nhiều sự kiện tha hóa. Khi biết những kiến nghị, đề nghị, hay đề xuất ngay cả của những nhân sĩ thậm chí của các công thần khai quốc “phục viên” vẫn không được Ðảng đương quyền liếc mắt, càng thấy sự tha thiết của một giáo chức miền Nam, là thầy Trương Hồng Sơn. Vĩ tuyến 17 còn hay mất? Thắng trận hay bại trận? Không trầm trọng. Trầm trọng là tương lai. Chức năng của một giáo sư là đào tạo và chuẩn bị cho học sinh bước vào tương lai. Trương Vũ, tức thầy Trương Hồng Sơn không quên điều này. Chương 7 của tập sách là tâm huyết của thầy.
Bỏ ra nhiều công sức thâu thập tổ chức học đường của các quốc gia Á châu, cập nhật với giáo dục Hoa Kỳ và phóng chiếu ngược vào học đường miền Nam, Trương Vũ so sánh từng quốc gia, chỉ ra bất cập căn bản của hệ thống XHCN và đề xuất cải cách. Ba suy nghĩ chính của Trương Vũ là Ðại học tự trị, Ðãi ngộ giáo chức và Sự Tự do bình đẳng giữa sinh viên với giáo sư trên lĩnh vực tư duy và phát kiến. Không mới với phương Tây, nhưng là hy vọng của một thầy giáo vẫn nghĩ còn trách nhiệm với tuổi trẻ quê cũ.
“Ðiều cần ghi nhận trong giáo dục toàn diện, không riêng gì cho Singapore, là phần đức dục phải bao hàm tính trung thực, trong sáng, hồn nhiên; phần trí dục phải bao hàm khả năng suy tư độc lập và tôn trọng sự khác biệt; phần mỹ dục phải bao hàm khả năng sáng tạo và khả năng làm đẹp cuộc đời; và phần giáo dục tính xã hội phải bao hàm khả năng biết tôn trọng tính đa dạng của cộng đồng và xã hội. […] Một nền giáo dục thực sự phát triển con người toàn diện không thể là một nền giáo dục nhằm phục vụ một chế độ, một quan điểm chính trị, một tập thể lãnh đạo, một giai cấp, một tôn giáo,v.v. Lỗi lầm quan trọng nhất trong giáo dục Việt Nam lại nằm ở điểm này. Ở miền Bắc trước khi chiến tranh chấm dứt, và ở cả nước trong khoảng gần 20 năm tiếp theo đó, nó là một nền giáo dục của xã hội chủ nghĩa, nó không chấp nhận những mô hình xã hội khác, những tư duy khác. Bên cạnh đó nó là một nền giáo dục mang tính giai cấp, dành đặc quyền giáo dục cho một thành phần của xã hội. Ngày nay, tính giai cấp quả thật đã giảm đi nhiều. Riêng về các môn học như Triết học Mác-Lê-nin, Chủ nghĩa khoa học xã hội, Lịch sử Ðảng, Tư tưởng Hồ Chí Minh, v.v. dù thực tế cho thấy sự thất bại không thể chối cãi của mô hình xã hội chủ nghĩa, chúng vẫn còn là những môn học bắt buộc và chiếm một thời lượng không nhỏ trong chương trình học và cả trong thi cử. Dù rằng, không phải đến bây giờ mà đã hơn mười năm trước đây, các môn học này đã được xem là những môn mà “thầy không muốn dạy, trò không muốn học”. Sự bắt buộc này kéo theo một vấn nạn khác của giáo dục: buộc học trò chấp nhận và sống với sự giả dối và bất công. Nhất là bất công với những triết thuyết khác, những đóng góp trí tuệ khác trong suốt quá trình phát triển của nhân loại. Theo Quốc Việt, “Việc đưa lịch sử đảng cộng sản, chứ không phải lịch sử quốc gia và dân tộc thành một môn học bắt buộc là một việc không những đi ngược lại với yêu cầu của xã hội mà còn phản lịch sử, phản dân tộc, và phản tiến bộ.” […]
Giáo dục Việt Nam cần giảm bớt mô thức giảng dạy áp đặt và tăng cường mô thức gợi ý.
Cần giảm thiểu sự mệt mỏi của học sinh, nhất là học sinh cấp tiểu học. Ðặc biệt, nên giảm bớt lượng kiến thức hay thông tin trong chương trình học. Nhắm đến một hành trình lâu dài hơn của con người. Không nên để họ gục ngã sớm về đầu óc.
Ðặt nặng vào việc đào tạo giáo chức và dành những đãi ngộ đặc biệt cho họ. Trong trường hợp các nước đang phát triển như Việt Nam, giáo chức phải được tuyển chọn từ thành phần ưu tú nhất của đất nước. Trong thực tế, một thanh niên ở tuổi 18 mới bước chân vào đại học chưa có ý niệm gì về những vấn đề như yêu trẻ, như hết lòng đào tạo tốt những thế hệ tương lai của đất nước. Chỉ có lòng tự hào, sự đãi ngộ và vị trí xã hội mới lôi kéo được các sinh viên ưu tú nhất vào các trường sư phạm, gần giống như cái cách mà nước Pháp đã dành cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm của họ, hay chính sách của Ðại Hàn như đã trình bày trên đây. Ðiều này đòi hỏi một chính sách ưu đãi từ phía chính quyền và một thái độ yểm trợ tinh thần từ xã hội.
Ðối với các trường đại học, ngoài việc áp dụng chương trình giảng dạy theo mô hình của các quốc gia tiên tiến Tây phương, quyền tự trị đại học cần được ban hành cho đại học Việt Nam. Thiếu sự tự trị, đại học Việt Nam khó thể hoàn tất vai trò đào tạo trí thức của nó. Ðây có thể là một liều thuốc đắng nếu chính trị xem đại học như một lực lượng đối kháng nguy hiểm. Nhưng, đây lại là một điểm chuyển hướng quan trọng để những thành phần tốt nghiệp đại học trong tương lai không mang mặc cảm nào với những đồng nghiệp ở các nước tiên tiến, đặc biệt ở các nước Á châu vốn trước đây có cùng điều kiện văn hóa, giáo dục, kinh tế với Việt Nam, như Ðại Hàn và Ðài Loan. Từ điểm chuyển hướng đó, họ mới có thể đóng góp cho đất nước bằng tất cả sức mạnh tinh thần, lòng hăng say, và niềm kiêu hãnh của họ. Ðừng nên quên một thực tế này, một sinh viên Việt Nam nếu bằng cách nào đó ra khỏi nước, vào học các trường đại học của Tây phương, khi trở về (ngay cả khi quyết định ở lại ngoài nước) thường được coi trọng hơn là nếu anh ta chọn ở lại với trường đại học trên quê hương. Sự kính trọng đó phát sinh từ những điều kiện về giáo dục mà sinh viên đó được hưởng ở nước ngoài, bao gồm những điều kiện mà anh ta hoàn toàn bị từ chối nếu chọn ở lại trên quê hương. Ðây là một bất công rất khó giải thích.
Ðề nghị sau cùng, và có lẽ là đề nghị quan trọng nhất, là nhà nước Việt Nam nên xem phát triển giáo dục toàn diện là ưu tiên hàng đầu của quốc gia, xem nguồn nhân lực được đào tạo qua giáo dục là tài nguyên quý giá nhất của đất nước. Và, khi làm chính sách giáo dục đặt trọng tâm vào những mục tiêu lớn như đào tạo con người trung thực, có sáng tạo, có tư duy độc lập, biết tôn trọng sự khác biệt, v.v. bên trên sự chuyển giao tri thức. Và, quên đi những gì thực sự không còn giá trị nữa.” [Trương Vũ/ Giáo Dục Việt Nam: Những Vấn Đề Căn Bản]
Những điều trên, thầy Trương Hồng Sơn viết đã hai thập niên, còn nguyên giá trị.
Trang Y Hạ trước 75 sống ở Kontum hai mươi năm, làm việc cho VNCH 7 năm, sau 75 đi cải tạo cũng 7 năm tại trại K4 Long Khánh. Hiện định cư tại San Francisco, Bắc California.
[Trần Vũ]
Trang Y Hạ
Kỳ 2
Bất chợt cô gái quay người lại nhìn thẳng vô mắt tôi, nói: – Ông biết không? Xã Tri Lễ chúng tôi là một xã dinh điền – hình thành từ năm 1957 – với số dân ban đầu khoảng – một ngàn năm trăm người – từ các quận ở Bình Định mà nhiều nhứt là Hoài Ân, Bồng Sơn lên lập nghiệp… Ban đầu người dân được chính phủ trợ cấp lương thực trong 8 tháng, các vật dụng dùng để canh tác kể cả các loại hột giống chính phủ cung cấp đầy đủ. Đất canh tác cũng được san ủi bằng phẳng rồi được phân chia cho từng gia đình… Ông thấy đó. Từ cầu Tri Lễ cho tới dốc cầu Dakmot là một bình nguyên rộng lớn dựa theo con sông Pơ-Kô, rất thuận lợi cho nông nghiệp. Dân ở đây có trồng cây cao su cây đay ngắn ngày và các loại hoa màu khác… Cuộc sống ổn định thì tai họa ập tới… Tai họa lớn đó là đám tướng lãnh phản chủ nhận tiền Mỹ giết chết gia đình cụ Diệm, giết chết nền Đệ Nhứt Cộng Hòa. Người dân vùng dinh điền như rắn mất đầu, còn đám tướng lãnh lo đấu đá tranh giành quyền bính mà bỏ bê người dân, đất nước, rừng cao su bị đốt cháy rụi, ấp chiến lược phá bỏ, an ninh lỏng lẻo… Từ đó người dân ở trong dinh điền bỏ đi về quê hoặc lưu tán khắp nơi… Ông thử nhìn xem ở xã Tri Lễ ngày nay chỉ còn khoảng hơn một trăm nóc nhà. Hiện giờ ở xã không trường học, không trạm xá, không nhà thờ, không chùa. không chợ… trước đây đều có. Tôi chỉ học hết lớp nhứt! Hôm nay các ông về… Tôi hy vọng rằng các ông sẽ giúp dân Tri Lễ phục hồi lại những thứ đã mất. Cô gái đang nói, bỗng ngưng bặt rồi chạy nhanh ra đường nhận mấy thùng hàng… Tôi thấy có một thùng rượu Whisky 45 loại chai vuông; một thùng rượu Napoléon nắp đen, một thùng thuốc lá Mỹ. Một thùng trái cây cũng của Mỹ và các thứ hàng hóa lỉnh kỉnh khác.
Cô gái xin lỗi tôi, rồi cô nói chậm rãi:
– Ông biết không? Trời sanh, nhưng trời không diệt. Chính con người mới “Truy cùng diệt tận”… Dịp may cho xã Tri Lễ này là lính Mỹ tới đóng ở phi trường Phượng Hoàng. Họ xây dựng công sự chiến đấu, họ mở rộng phi đạo, họ tái thiết đường sá… Họ mang tới vùng đất cao nguyên một luồng sinh khí mới – ấm áp, thân thiện, văn minh đồng thời tạo công ăn việc làm… Dân ở Tri Lễ còn trụ lại ít ỏi, bám theo lính Mỹ mà sống… Nói chính xác hơn là xúm nhau đi lượm rác Mỹ, phục dịch các nhu cầu cho quân đội Mỹ, cũng nhờ có rác Mỹ mà một số người trở nên giàu có và rất giàu có!
Tôi ngồi im lặng chăm chú nghe cô gái nói chuyện như là tâm tình san sẻ nỗi dằn vặt của con người ly hương đi tìm một vùng đất hứa mà bị thất hứa hơn là sự diễn đạt một đề tài trong một áng văn “nghị luận”!
Cô ấy nói tiếp giọng trầm trầm:
– Ông biết không? Cái xã Tri Lễ các cây ăn trái trụi hết lá, đứng trơ cành… Nguyên do là từ chất bột trắng đựng trong các thùng màu vàng chất đống ở cuối phi trường đó! Tôi nói vậy chắc ông sẽ ngạc nhiên lắm phải không? Ông ngạc nhiên là đúng thôi. Những cánh rừng chung quanh đây vẫn đang còn xanh um kia kìa…? Trong rác Mỹ có đủ thứ rác: từ thùng carton, ván ép, bao nylon, ván thùng đạn, tôn, cây gỗ thông, nhựa đường, sơn các loại… Người dân trong xã gom về: phân loại ra dùng làm nhà, làm vách nhà, đóng bàn tủ ghế… Tận dụng hết chứ không bỏ thứ gì. Trong số rác đó có một số vô tình dính loại hóa chất hoặc thấm thứ nước hóa chất từ bột trắng do lính Mỹ pha loãng… Thứ bột trắng đục đó chính là thuốc diệt cỏ, hay còn gọi là nước hóa chất làm rụng lá cây… Loại cây trụi lá trước tiên là loại cây trong thân có mủ: cây mít, cây xoài, cây đu đủ… Xã Tri Lễ trước đây ở trong vườn, trong rẫy nhà nào cũng trồng mít, xoài… xum xuê, xanh mát. Vậy mà, bây giờ tìm một cái tàn cây để tránh nắng cũng chẳng có. Người dân ngang qua phi trường; đi lượm rác ở phi trường thỉnh thoảng được nghe phảng phất cái mùi hăng nồng, nhưng nào có ai biết đó là mùi gì? Người dân đặt cho cái tên, là mùi Mỹ. Nhưng cho dù là mùi gì đi chăng nữa, thì người dân xã Tri Lễ vẫn luôn luôn biết ơn và nhớ ơn người lính Mỹ.
Tôi thật sự cảm mến người con gái mà tôi gọi là người con gái Bồng Sơn. Vấn đề cô san sẻ với tôi chắc cô cũng đã xếp lớp trong đầu từ lâu, có thể cô chưa gặp được người hiểu chuyện để lắng nghe cô nói. Tôi hy vọng tôi sẽ là người đầu tiên hiểu chuyện… Không biết có đúng không?
Bất chợt cô gái hỏi:
– Ông vẫn nghe tôi nói đó chứ? Tôi nói ông nghe có chán không vậy? Cô gái khui một lon bia rót vô trong ly đá, rồi mời tôi…! Cô nói tiếp tục nói như phân trần, như minh chứng:
– Mấy điều tôi nói với ông vừa rồi… Tôi nghĩ là đúng. Bởi có tới ba bốn cái làng người Thượng ở chung quanh xã Tri Lễ và phi trường Phượng Hoàng; làng Thượng Daktri ở bên kia bờ sông Pơ-Kô, có cây cầu treo bằng 4 dây cáp kiên cố hình chậu, hai bên vách cầu, được che chắn kín mít, vì sợ trẻ con lọt xuống sông. Cây trái trong làng của họ vẫn tươi tốt, rừng chung quanh làng của họ vẫn rậm rạp… Làng Dakmot, làng Yanglokơram, ở xa hơn một chút, nhưng có hề hấn gì đâu? Người Thượng không bị cái “Mùi Mỹ” làm ảnh hưởng tới cái làng của họ. Người Thượng không bao giờ đi lượm rác Mỹ, cũng không đem bất cứ vật dụng gì của lính Mỹ về trong làng. Ngoại trừ thức ăn, đồ hộp, bánh kẹo – những thứ đó nếu có ai cho họ thì họ nhận và cảm ơn chứ tuyệt đối không bao giờ xin. Cũng không mua đồ Mỹ. Họ sống khép kín, hạn chế tiếp xúc với người Việt chứ đừng nói gì tới người Mỹ lạ hoắc, tới từ một đất nước xa lạ. Tôi ngồi nghe cô gái Bồng Sơn phân trần khúc chiết. Tôi thầm khen cô có cái nhìn bao quát và cũng tràn đầy lòng nhân ái. Tôi nhớ lại thời gian tôi làm “Thường Vụ” đại đội ở phi trường Phượng Hoàng. Tôi chứng kiến người lính Mỹ – quả thật – họ đúng là lính nhà giàu, họ sử dụng phương tiện chiến tranh của họ đem qua thật là hoang phí… Hành quân mà có đụng độ – bất kể nhiều hay ít – họ bắn đạn bay như trấu – họ gọi pháo binh rót đạn như mưa… Phi cơ thả bom tới tấp… Đồ dùng cá nhân của họ, họ cũng đem bán hoặc cho, thậm chí đem cho hoặc bán luôn đồ dùng cá nhân của bạn hữu… Có lần, một người lính Mỹ xách một cái giường xếp cá nhân sườn nhôm, đem gởi ở chỗ tôi. Anh ta nói “Tôi đi công việc 7 ngày, cái giường để ở bên trại, bạn tôi sẽ đem đi bán, đi cho”. Cô gái Bồng Sơn nói không sai: “Mấy ngôi nhà trong xã Tri Lễ, nhà nào cũng tích trữ đầy ắp đồ rác Mỹ các loại, không thiếu thứ chi”. Tôi làm “Thường Vụ” ở trong phi trường Phượng Hoàng, nhưng tôi không được quyền đi qua bên phía đơn vị lính Mỹ ở trừ khi có công việc cần phải gặp trực tiếp cấp chỉ huy Mỹ. Do đó tôi không biết gì nhiều… Hằng tuần họ [Mỹ] giao cho tôi thứ gì thì tôi nhận thứ đó đem cung cấp cho đơn vị, nếu thiếu hụt hoặc có nhu cầu thì tôi làm danh sách yêu cầu cung cấp bổ sung… Thường thì nếu có yêu cầu là họ chấp thuận ngay.
Một lần tôi bị viêm phổi nặng. Bác sĩ Thiếu tá người Mỹ chuyển tôi xuống “Bịnh Viện Dã Chiến” ở dưới lòng đất chữa trị săn sóc trong hơn một tháng. Tuy là một Bịnh Viện Dã Chiến nhưng thiết bị y tế, giường bịnh không thua gì một bịnh viện lớn, hằng ngày, tới bữa ăn tôi đi lên phòng ăn ở trên mặt đất đứng xếp hàng cùng với lính Mỹ. Tôi theo họ lấy: muỗng, nĩa, dao, đĩa, ly (tất cả làm bằng nhựa và bằng giấy). Tiếp theo là đi tới quầy thức ăn – thích ăn món gì thì lấy món đó: đùi gà, thịt bò, khoai tây, trứng, cá, rau, trái cây, nước trái cây, sữa, giấy chùi miệng … Ăn bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu… Ăn uống xong thì gom hết các thứ thừa thãi đem ra bỏ vô thùng rác.
Lính Mỹ, họ ngủ nghỉ, làm việc đều ở dưới hầm, hầm kiên cố, rộng rãi… Hầm làm bằng những cây gỗ thông hình vuông, dài – 12 mét, mỗi mặt gỗ, rộng 4 tấc, lợp ván ép bên trên, vách chung quanh hầm kể cả nền hầm và bậc thang cũng làm bằng ván ép (đặc biệt là ván ép Mỹ không thấm nước). Sau đó họ dùng xe ủi ủi đất phủ lên mặt hầm dày cỡ 2 hoặc 3 mét… Trên mặt đất chỉ có đài ra-đa, cột ăng-ten, nhà ăn, nhà vệ sinh, sân tập thể dục, vọng gác… Máy bay cũng nằm trong các ụ công sự có vòm che bằng sắt kiên cố. Theo như cô gái nói, thì tôi có thấy những thùng màu vàng, đựng bột trắng và hàng chục cái “xì-tẹc” nằm ở cuối phi trường… Tôi không quan tâm, vì tôi đã biết… Tôi không rõ cô gái Bồng Sơn nghe thông tin ở đâu mà cô biết khá rành rẽ…? Vậy mới biết tai mắt của người dân quả thật rất là tinh tường. Không thể giấu họ bất cứ việc gì.
Cô gái lại nhắc tôi giải thích hai chữ Bồng Sơn với vẻ mặt hí hửng. Tôi nghĩ mẹ của cô gái chắc cũng đã cho cô ấy biết sơ qua về “lý lịch” của tôi.
Tôi nói chặn đầu:
– Mẹ cô đã cho cô biết về tôi rồi phải không?
Cô gái trả lời:
– Tên của ông là Trần Hoang Sơn. Mẹ tôi nói vậy. Hoang Sơn là ông bị đi lạc trên rừng hoang phải không? Đi lạc mà tại sao lại mò về ngồi kế bên tôi vậy? Tôi phì cười và cô gái cũng phì cười…! Sau trận cười bầu không khí nơi cái sạp chật chội có vẻ đỡ ngột ngạt hơn và cũng thân thiện hơn!
Tôi hỏi cô gái:
– Cô có biết hai chữ Bồng Sơn ý nghĩa ra sao không?
Không đợi cô gái trả lời. Tôi giải thích:
– Bồng có thể hiểu là nâng lên, đồng nghĩa với ẵm (Bồng – Ẵm). Bồng cũng có thể hiểu là: bồng bềnh (nhẹ). Sơn là núi. Vậy Bồng Sơn là đám mây bồng bềnh trên ngọn núi…Nghe tôi giải thích xong. Cô gái bỗng reo lên có vẻ khoái chí:
– Tôi hiểu rồi… Bồng Sơn có nghĩa, là… Hồi còn bé, tôi là chị hai của ông Sơn. Tôi ẵm ông Sơn đi chơi vòng vòng trong xóm… Tôi cho ông biết… Tôi lớn hơn ông 2 tuổi lận đó! Chúng tôi lại cười…! Tôi nói tiếp: – Tôi có nghe mẹ tôi nói rằng: “Nhứt gái hơn hai, nhì trai hơn một”. Lấy nhau theo câu “thành ngữ” này là hạnh phúc lắm đó! Cô có thích không?
Cô gái biết tôi “ăn miếng, trả miếng”. Cô trề môi:
– Ông… ông… đừng có ngồi đó mà mơ mộng hão huyền!
Kể từ đó… Những lúc rỗi rảnh, hai chúng tôi vẫn thường gặp nhau ở chỗ sạp hàng… Cha mẹ của cô gái cũng không nói gì về chúng tôi có lẽ họ mặc nhiên công nhận hai chúng tôi là một cặp trai gái hạp nhau trong tinh thần bạn hữu. Người trong xã cũng vậy – dù gì thì kể từ ngày đoàn công tác chúng tôi về xã, bộ mặt của xã đã khởi sắc: Trạm xá, Trường học, Hành Chánh, Văn Nghệ… hoạt động trôi chảy, vui vẻ, thuận lợi trở lại.
Khoảng cuối năm một ngàn chín trăm sáu mươi chín, lính Mỹ ở phi trường Phượng Hoàng có dấu hiệu rút bớt quân số. Mấy căn cứ hỏa lực trên dãy núi Ngọc-Rinh-Rua, họ cũng bàn giao lại cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Cái phố mái lợp tôn, vách ván ép – nơi đầu đường phi trường cũng từ từ vắng khách… Một thời hoàng kim người muôn phương kéo nhau tụ về buôn bán, giao dịch đông vui, sầm uất bây giờ cũng lần lượt ra đi… Quán xá đã bắt đầu rục rịch đóng cửa… Khách bây giờ phần nhiều là lính Việt từ Trung Đoàn 42; từ tiền đồn Ben-Hét. Nhưng rồi cái phố “bộc phát, bộc tàn” một thời cũng tới lúc phải dẹp bỏ khi không còn lính Mỹ. Một thời gian sau nếu ai có dịp đi ngang qua đó thì còn thấy một đám đất đỏ loang lở tiêu sơ, ảm đạm, cỏ tranh, cỏ hôi mọc xanh rì… Một vài cái quán còn sót lại chỉ là bộ xương cách trí xiêu vẹo, tôn, ván ép bị ai đó tháo gỡ đem đi đâu mất tiêu!
Tuy vậy, cái dãy sạp chợ trời nơi đầu cầu Tri Lễ vẫn tồn tại một thời gian nữa cho tới khi người lính Mỹ cuối cùng âm thầm rút đi.
Người lính Mỹ cuối cùng ra đi về lại nơi xứ họ mà chẳng có một lời từ biệt! (Chợt tới, chợt đi chẳng hẹn hò!) Không biết họ có còn nhớ cái phi trường Phượng Hoàng, cái xã Tri Lễ nho nhỏ bên dòng sông Pơ-Kô? Không biết họ có còn nhớ tiếng nói, tiếng cười nắc nẻ của các cô gái trong các quán Bar? Không biết họ có còn nhớ mấy câu tiếng Việt mà mấy cô gái trong quán Bar dạy cho họ nói? Không biết họ có còn nhớ người tình của họ sẽ chờ thư hồi âm của họ hay không? Không biết họ có còn nhớ các em thiếu nhi mà họ thương mến? Biết bao nhiêu câu hỏi nhưng không một ai có đủ thẩm quyền để trả lời.
Còn riêng tôi, tôi biết chắc một điều là những người lính Mỹ họ chụp rất nhiều hình ảnh nơi họ đóng quân hay đi lại gặp gỡ với người dân trong vùng họ công tác… Họ đem các tấm hình ảnh, đoạn phim đó đem về Mỹ cất giữ làm kỷ niệm…!
Cuối cùng thì dãy sạp bên đầu cầu Tri Lễ cũng dẹp bỏ… Người dân ở xã Tri Lễ quay sang các nghề khác. Dù gì trong mấy năm qua đi lượm rác Mỹ họ cũng tích cóp được một số vốn tối thiểu để dự phòng khi hữu sự… Trong nhà họ vẫn còn khá nhiều đồ Mỹ. Mùi Mỹ dù có phai nhạt nhưng mùi Mỹ còn đọng lại trong lòng họ thì không bao giờ phai nhạt. Họ có nuối tiếc! Họ có hụt hẫng! Còn riêng về phía cha mẹ cô gái Bồng Sơn thì họ giàu, họ giàu có là nhờ cái tiệm giặt quần áo cho lính Mỹ và buôn bán hàng hóa với lính Mỹ. Tôi cảm nhận rằng là vợ chồng họ có dự định sẽ trở về quê cũ Bình Định hoặc đi tới một địa phương nào đó an toàn, thuận tiện để cho họ gầy dựng lại cuộc sống. Tôi không biết họ sẽ bỏ đi lúc nào?
Cô gái Bồng Sơn bây giờ chuyển qua buôn bán rau củ các loại ở trên đầu dốc cầu Dakmot. Đơn vị của tôi cũng đã được lệnh di chuyển về trên đầu dốc cầu Dakmot (phía bên Tri Lễ) để lo ổn định đời sống cho mấy làng Thượng từ trong rừng sâu mới dời ra vùng an toàn. Vậy là tôi và cô gái Bồng Sơn vẫn còn gặp nhau thường xuyên… Chợ rau cải chồm hổm chỉ sinh hoạt nội trong buổi sáng, người bán hầu hết là phụ nữ ở xã Tri Lễ, chợ nằm bên lề đường đất đỏ Tỉnh lộ 512, rất gần công sự phòng thủ của đoàn công tác chúng tôi. Khách mua là các anh lính thuộc mấy Tiểu Đoàn Biệt Động Quân, Đơn vị Pháo Binh, Đơn vị Thiết Giáp và người dân Thượng… Tôi nhận được từ cô gái Bồng Sơn một vài món ăn tự tay cô nấu và cũng tự tay cô đưa cho tôi, (kể cả rau cải)… nhưng không thường xuyên… Nói thiệt là… chúng tôi có yêu nhau nhưng hai chúng tôi không để lộ ra… (Từ xã Tri Lễ đi tới trên dốc cầu Dakmot, cách nhau khoảng hơn ba cây số)… Tôi biết cô gái Bồng Sơn đi bán rau chỉ là tìm ra một cái cớ để hai chúng tôi tiếp tục gần nhau. Một cái cớ rất – hợp lý, hợp tình, dễ thương!
Một buổi sáng sương mù còn dày đặc. Cô gái Bồng Sơn chạy xe Honda tới chỗ tôi. Trong nét mặt của cô có vẻ buồn. Cô ngập ngừng nói:
– Anh ơi…! Cha mẹ em mời anh tới nhà, dự bữa cơm thân mật lúc ba giờ chiều ngày mai.
Bữa nay cô gái gọi tôi bằng anh chứ không gọi là ông như mọi ngày. Tôi mừng rỡ cầm tay cô, cảm động nói:
-Em xinh lắm, (rồi âu yếm hôn lên trán cô!). Cô để yên cho tôi hôn và cũng để yên cho tôi cầm tay thật lâu… Cô gái mở giỏ lấy thức ăn đưa cho tôi như mọi ngày. Linh tính mách bảo có chuyện không vui xảy ra nhưng tôi không dám hỏi… Chúng tôi trao nhau bằng ánh mắt tràn đầy yêu thương thầm lặng.
Vẫn giữ vẻ mặt buồn, cô gái nói:
– Anh nhớ tới nhà em đúng giờ đó. Đừng để mọi người phải chờ…! Em trở về lo công việc!
Nhìn cô gái trở bước chậm chạp đi ra đường… Tôi than thở:
Em đi lững thững ân tình
ngàn năm nhớ mãi dáng hình ấy thôi
tìm nơi đâu lá mùa trôi
chim bạt gió vọng cuối trời mây đưa. (Thơ Trang Y Hạ)
Trong bữa tiệc… Cha mẹ cô gái cho tôi biết rằng: “Gia đình chúng tôi có thể về lại Bồng Sơn… Nơi cái xã Tri Lễ không còn là vùng đất hứa”. Tôi đã dự đoán từ trước nên không cảm thấy bất ngờ. Có điều là họ nói “có thể”. Có thể, là gián tiếp cho tôi biết chưa chắc họ sẽ đi về đâu? Họ không cho tôi một chút hy vọng! Tôi biết cô gái Bồng Sơn cũng đã dự đoán như tôi. Từ lâu nay chúng tôi yêu nhau trong thầm lặng, cả hai chúng tôi đều đau lòng vì dự cảm được rằng: tương lai là sự chia ly! Tuy nhiên chúng tôi vẫn luôn vui vẻ thanh thản bên nhau được ngày nào mừng vui ngày ấy.
Trời chiều uể oải chậm chạp hòa vô màu đêm. Đêm mờ mờ hòa cùng sương núi. Một vài cánh chim nhởn nha bay về đâu đó… Tôi và cô gái Bồng Sơn chạy xe đi về hướng cầu treo nơi làng Daktri. Tối nay cầu treo là của riêng cho hai đứa chúng tôi… Chúng tôi dựa lưng vô thành cầu. Hai chúng tôi ôm nhau thật chặt… Cô gái Bồng Sơn đang khóc rấm rứt…! Tôi để im cho cô ấy khóc… Thời gian ngừng trôi; nước dưới sông ngưng chảy… Niềm xúc động tựa cơn sóng dâng trào thật lâu mới lắng xuống.
Lúc này, tôi mới hỏi cô ấy về cái thau nhôm:
– Em à! Em cho anh biết lý do tại làm sao mà mẹ của em không cho anh dùng cái thau nhôm ngày anh mới tới xin ở nhờ nhà em? Anh đã một lần lấy cái thau nhôm đó rửa rau, rửa cá…!
Cô gái Bồng Sơn nghe tôi nói vậy, cô ngước lên nhìn tôi với vẻ mặt sững sờ không khác gì mẹ cô lúc trước… Cô lại ôm tôi chặt hơn. Cô nhón chân hôn tôi…!
Cô xúc động, nói:
– Anh yêu ơi! Cái thau nhôm chỉ để dành riêng cho phụ nữ giặt đồ trong mấy ngày… nguyệt lịch!
Tôi thầm thì:
– Hóa ra là như vậy…!
Ánh trăng nửa tháng khi mờ khi tỏ soi trên mặt sông Pơ-Kô lấp lánh màu sắc dập dờn lượn trên con sóng phản chiếu rực rỡ…! Chiếc cầu treo rùng mình đung đưa đôi khi chao đảo cộng hưởng theo từng hơi thở ấm áp của hai trái tim đang độ yêu nhau.
Hơn một năm sau kể từ ngày tôi được chuyển công tác về Kontum. Hôm nay một mình tôi trở lại thăm vùng đất cũ, vùng đất mà tôi đã gieo mầm tình yêu… Tôi dừng xe gắn máy đi lang thang tìm dấu tích cái sạp hàng mà tôi và cô gái ngồi bên nhau nhưng nào có thấy gì đâu. Tôi nhìn lên dãy núi: thấy bóng nắng, thấy bóng mây… Bóng người con gái tôi yêu thì không biết bay về phương trời nào!
Khoảng đất có sạp hàng khi xưa cỏ mọc âm u, vắng lặng… Một vài người đàn ông Thượng đang bới tìm thứ gì đó…? Tôi cũng đang bới tìm! Tôi bới tìm từ trong ký ức kỷ niệm một thời gắn bó với Người Con Gái Bồng Sơn./.
Một thời “Ấp Chiến lược, Khu Dinh điền, Khu Trù mật” là những danh từ xuất hiện hàng ngày trên báo chí miền Nam, tuy trong các đô thị ít ai thực sự sống những cảnh huống đó. Trang Y Hạ là một cựu quân nhân, cũng từng là cán bộ Xây dựng Nông thôn ghi lại những ngổn ngang của xã Tri Lễ, quận Dakto gần Kontum nơi sát ngay cạnh những trận đánh Ben-Hét, Pleime, Tân Cảnh, Võ Định, Delta … Nơi, dân chúng sống bằng rác của chiến tranh thải ra. Nơi, mang nỗi niềm của một miệt đất không nhiều chọn lựa.
[Trần Vũ]
Trang Y Hạ
Kỳ 1
Ngày tôi về công tác tại xã Tri Lễ, theo lịch công tác thì ít nhứt cũng phải nửa năm. Trong lòng có mơ ước được làm quen với một người con gái ở trong cái xã này. Tôi vốn nhút nhát lại thêm công việc bù đầu, bù cổ nên chuyện riêng tư dần dà rồi cũng quên bẵng luôn.
Bầu trời cao nguyên Dakto đã chuyển sang mùa nắng… Mỗi buổi sáng sương muối dày đặc, lạnh tê tái… Khoảng 9 hoặc 10 giờ lúc đó mới thấy ánh mặt trời, tia nắng ban mai bừng lên nhưng chỉ là một thứ ánh sáng trang trí cho đẹp chứ không đem lại hơi ấm bởi mùa đông gió núi… Tôi nhớ ngày đầu mới tới xã Dinh Điền này mọi thứ còn bỡ ngỡ, thiếu thốn… Đơn vị chen chúc ở trong ngôi nhà hành chánh tạm thời và bắt tay làm công sự phòng thủ… Tôi phải xin ở tạm trong một ngôi nhà của người dân gần đó.
Người phụ nữ chủ nhà khoảng ngoài 40 tuổi, dáng vẻ bệ vệ, nghiêm nghị, bà mở cửa bước ra chào chúng tôi và hỏi:
– Các anh tới xin ở gồm có mấy người?
Bà nói giọng Bồng Sơn. Tôi trả lời:
– Dạ thưa cô chúng tôi có hai người. Chúng tôi xin cô cho ở tạm chừng mươi hôm một khi đơn vị làm công sự… hoàn tất thì sẽ dời ra đó. Chúng tôi rất biết ơn cô!
Bà chủ dẫn chúng tôi ra phía sau… Căn bếp hơi tuềnh toàng, nhìn kỹ thì cũng khá sạch sẽ, rộng rãi… Bếp núc lạnh tanh, hình như gia đình không thường xuyên nấu ăn ở nhà thì phải? Chúng tôi nhanh chóng ổn định chỗ ngủ rồi đi chợ… Vợ chồng bà chủ nhà làm nghề gì thì mới đầu tôi chưa biết, tôi chỉ thấy hai người chở nhau trên chiếc xe Honda 67 rời khỏi nhà từ sớm… Người phụ trách máy truyền tin, anh “Âm-Thoại-Viên” ở chung với tôi. Anh ta đi chợ mua một mớ rau cải và cá… Ngặt một nỗi là không có thau chậu để mà rửa… Tôi nhìn lên nóc bếp thấy một cái thau nhôm khá lớn, nghĩ là vật dụng nhà bếp, nên lấy xuống dùng… Tới chiều tối vợ chồng chủ nhà đi làm về. Bà chủ mở cửa bước ra hỏi thăm chúng tôi:
– Các anh có nấu nướng, ăn uống gì chưa?
– Dạ thưa cô chúng tôi tự lo được. Có điều là tôi chưa kịp mua thau, nên mạo muội lấy cái thau nhôm của cô trên giàn bếp xuống rửa cá, rửa rau… Mong cô bỏ qua cho. Tôi nói xong, tôi thấy vẻ mặt bà chủ sững sờ! Tôi chưa biết chuyện gì, nên có phần hơi lo lắng. Bà chủ nhà hình như đoán được ý nghĩ của tôi. Bà nói:
– Không có chuyện gì đâu. Trong người của tôi hôm nay hơi mệt…! Bà chủ cầm cái thau nhôm đi vô nhà.
Ngày hôm sau, trước khi đi làm, bà chủ nhà dặn dò chúng tôi dùng nước nấu ăn ở trong cái thùng phuy, còn thau chén, soong, nồi ở trong tủ và dặn thêm rằng khi dùng xong nhớ đậy nắp kỹ càng vì đã vào mùa nắng, bụi đất đỏ do xe nhà binh chạy tung bụi… Bây giờ tôi mới hiểu cái giếng có nắp đậy làm bằng tấm tôn, có ổ khóa cẩn thận là sợ bụi.
Dakto có hai xã dinh điền. Một là xã Diên Bình nằm trên quốc lộ 14, bên dòng Dakpsi, còn xã Tri Lễ nằm trên tỉnh lộ 512, cạnh dòng sông Pơ-Kô, kế cận phi trường Phượng Hoàng. Tỉnh lộ 512 bắt đầu từ Tân Cảnh chạy qua Trung Đoàn 42, phi trường Phượng Hoàng, xã Tri Lễ, làng Daktri, làng Dakmot, làng Yanglokơram và chạy thẳng ra ngã ba biên giới Việt-Miên-Lào. Nơi đây có tiền đồn Ben-Hét, còn có tên gọi khác là đồn Bạch Hổ. Chiều dài tỉnh lộ khoảng hơn 30 cây số.
Phi trường Phượng Hoàng ban đầu chỉ là phi trường dành cho trực thăng. Đầu năm 1966, sư đoàn Không Kỵ Hoa Kỳ đổ quân xuống… Họ mở rộng phi đạo dài thêm ra để cho các loại máy bay vận tải chở quân trang, quân dụng và các phương tiện chiến tranh đáp xuống… Đồng thời họ cũng tuyển mộ thanh niên người Việt, người Thượng thành lập đơn vị bảo vệ cũng như tăng viện, yểm trợ các nơi trong quận Dakto khi hữu sự… Ngoài ra mỗi tuần có hai chuyến “công-voa” dài dằng dặc chở phương tiện từ bến cảng Quy Nhơn tới phi trường Phượng Hoàng và tiền đồn Ben-Hét.
Nơi đầu phi trường (tính từ Tân Cảnh đi vô) đã hình thành vài dãy phố tạm bợ – mái lợp bằng tôn, vách che bằng ván ép… Người ta mở quán xá đủ loại: tiệm tạp hóa, tiệm ăn uống, quán nhậu, quán Bar, Bi-da, bóng bàn, hớt tóc, uốn tóc, tiệm giặt quần áo… Khách khứa hầu hết là lính Mỹ, lính Việt… Nói chung là phục vụ nhu cầu cho lính Mỹ nhiều hơn. Dọc theo phi trường, sát tỉnh lộ – người Mỹ làm hàng rào bằng lưới mắt cáo cao 3 mét. Ở cuối phi trường ngay đầu cầu Tri Lễ cũng hình thành một cái chợ trời, các dãy sạp dài ba bốn chục mét, hầu hết buôn bán trao đổi hàng hóa Mỹ.
Người dân xã Tri Lễ hầu hết không còn làm nông. Một số đi buôn bán nhỏ, một số đi lượm rác của quân đội Mỹ thải ra ở cuối phi trường mỗi ngày… Bãi rác nằm trên một mảnh đất rất rộng. Nơi đó có hàng chục thùng “tô-nô”, “conex” đầy ắp các loại rác mà trong các thứ rác Mỹ đó có nhiều thứ còn dùng rất tốt: Thùng giấy, ván ép, gỗ thùng đạn, trái cây, đồ hộp, đồ nhựa, muỗng inox, vải dù, dây dù, kem đánh răng, bàn chải, đồ cạo râu, xà-bông cạo râu, bao nylon, gạo, gạo sấy, rau, củ, quả, bánh, kẹo, búa, đinh, kềm, ốc, vít, viết … Nói chung là cứ lượm rác Mỹ đem về phân loại ra, cái nào tốt thì đem đi bán cho các con buôn ở chợ trời, các thứ còn lại không bán được thì để ở nhà mà dùng… Trong rác Mỹ đó cũng có một số hàng hóa của người Việt bởi lính Mỹ thích mua, hoặc được các cô gái “mời mua”… Một thời gian sau họ đem đi bỏ vô thùng rác. Ngoài ra lính Mỹ còn đem đồ dùng của họ tới các sạp bán một số mặt hàng có giá trị: xà-bông, thuốc lá, nước hoa, rượu, bia, quần áo lính, giày, máy ảnh, đồng hồ, radio, giường xếp, poncho, đèn pin, ba-lô, quẹt zippo, súng ngắn… Thuốc diệt ruồi muỗi, thùng phuy, thùng tô-nô… Nhìn chung lính Mỹ khi cần tiền là cái gì của họ, họ cũng đem đi bán. Hoặc mỗi khi có lệnh di chuyển đi chỗ khác, hay rút quân khỏi căn cứ – họ cũng tháo đồ đem đi bán!
Vợ chồng người chủ nhà mà tôi đang ở nhờ cũng có một cái tiệm chuyên giặt đồ Mỹ ở cái “phố” mới nổi nơi đầu phi trường. Giặt ủi quần áo Mỹ thường trúng được đô-la và các vật dụng khác do lính Mỹ bỏ quên trong các túi quần áo… Ở xứ có đạo Công giáo, như xã Diên Bình quý Cha Giáo Xứ cấm giáo dân nhận giặt quần áo Mỹ. Lý do, trong túi quần áo lính Mỹ có ảnh “tục tĩu”… Giáo dân nào bất tuân sẽ bị cấm không được lên rước lễ hoặc dứt phép thông công.
Ngày Chúa Nhựt, tôi thấy vợ chồng chủ nhà không đi làm. Tôi nghe tiếng một người con gái từ nhà trên vọng ra… Tôi đoán có thể đó là con gái của họ. Đã gần 4 ngày trôi qua bây giờ tôi mới biết chủ nhà có con gái nên trong lòng cũng ao ước muốn gặp… Tôi nghe tiếng cô gái mở cửa sau bước ra. Cô vui vẻ, nói:
– Chào ông! Ông về xã công tác thời gian được bao lâu? Tôi là con gái lớn ở trong gia đình này. Hân hạnh được gặp các ông và cũng hy vọng chúng ta sẽ là bạn tốt.
Tôi xếp quyển sách nhìn phớt qua khuôn mặt cô gái. Cô không đẹp mấy nhưng phong cách dễ nhìn, vui vẻ, dáng người cao ráo, khỏe mạnh… Đặc biệt là giọng nói Bồng Sơn của cô nghe rất êm tai.
Tôi cũng tỏ ra lịch sự và vui vẻ, nói:
– Xin chào cô. Tôi tới xin ở nhờ cha mẹ của cô đã mấy bữa. Hôm nay thật hân hạnh được gặp cô. Tôi nghĩ rằng cô đang đi học ở xa mới về nhà? Còn thời gian tôi tới xã này công tác thì chưa biết. Nhưng có lẽ cũng khoảng… 6 tháng.
Cô gái cười, nói:
– Thưa ông. Không phải tôi đi học đâu… Tôi đi buôn bán đồ Mỹ ở kế bên đầu cầu Tri Lễ này đó… Nghe cha mẹ nói:
“…Trong nhà có 3 ông cán bộ dân-sự-vụtới xin ở tạm”. Tôi tò mò muốn biết, nên buổi chiều tôi gom hàng về sớm để bên nhà bà dì và ngủ luôn bên nhà bà dì.
Cô gái nói tiếp:
– Tôi trông ông rất… quen! Tôi thấy ông ở đâu đó rồi thì phải?
Cô gái nhíu mày chừng vài ba giây rồi reo lên:
– Tôi nhớ ra rồi. Đúng rồi:
– Ông là lính ở trong phi trường Phượng Hoàng? Đôi ba lần tôi có thấy ông đi ra phố ở đầu phi trường – uống bia, hớt tóc… Ông là sĩ quan! Tại sao bây giờ ông lại chuyển qua ngành “Cán Bộ Nông Thôn vậy?”.
Biết rằng đã bị “lật tẩy”… Tôi không thể chối. Tôi đành mỉm cười, nói:
– Chuyện còn dài lắm cô ơi…! Hôm nào rảnh tôi sẽ cho cô biết lý do nha!
Cô gái có vẻ không chịu. Cô nói:
– Buổi trưa, bất cứ buổi trưa nào nếu ông rảnh rỗi – ông đi bộ ra sạp hàng của tôi ở đầu cầu. Chúng ta sẽ nói chuyện, chuyện của ông. Có được không vậy hở ông?
Giọng cô gái có vẻ như quả quyết, pha chút nghiêm nghị… làm cho tôi hơi sờ sợ.
Tôi đành phải nói:
– Thôi được. Nhưng tôi mà ra chỗ cô bán hàng nói chuyện, cha mẹ cô họ thấy họ nghi ngờ… thì làm sao? Hoặc nếu có anh chàng nào đó ganh ghét khi tôi ngồi nói chuyện với cô thì làm sao đây?
Cô gái cười hiền từ, nói:
– Ông lo quá xa rồi đó! Cha mẹ của tôi đã biết về ông rồi… Hơn nữa ông đang ở trong nhà của chúng tôi mà. Hơn nữa, ông là đơn vị trưởng của một đơn vị mà… Vả lại, xưa nay tôi cũng đâu có quen người nào để tới nỗi họ phải ganh tỵ với ông… dù nếu có, thì chắc gì họ dám ganh tỵ. Thanh niên ở trong cái xã nhỏ nhoi này phần nhiều ít học hành. Một số đi lính, số còn lại lo đi lượm rác Mỹ. Tôi vô nhà lo phần công chuyện của tôi đây!
Cô ấy là người con gái duy nhứt tôi quen ở cái xã Tri Lễ này. Và cũng là người con gái duy nhứt hẹn hò với tôi. Và cũng là lần đầu tiên tôi được một người con gái hẹn.
Công sự phòng thủ đã làm xong, sát bên đồn Nghĩa quân. Nói là đồn chứ thật ra là cái nhà xây gồm hai phòng khá rộng dùng để trực chiến ban ngày, ban đêm các nghĩa quân về nhà ngủ. Quân số đâu chừng một tiểu đội, khi chúng tôi tới thì họ nhường hẳn ngôi nhà cho chúng tôi ở tạm và làm văn phòng. Ban ngày họ cử một người ứng trực, số còn lại về nhà đi làm kiếm sống… Khi nơi ăn, chốn ở đã ổn định, công việc phân phối xong cho anh chị em, một buổi trưa trời oi bức tôi mang khẩu súng Colt 45 và đem theo khẩu súng trường Garand M-1 đồng thời rủ thêm một người nữa đi ra bờ sông Pơ-Kô tắm và dò xem địa hình… Ngồi nhìn dòng nước trong xanh, hiền hòa lờ đờ chảy quanh co qua các bãi đá mà tự hỏi: Tại sao cái xã Tri Lễ này chỉ có khoảng hơn trăm ngôi nhà, trong vườn lại không có lấy một cây ăn trái, duy nhứt chỉ lưa thưa mấy lùm chuối sứ bị gió mùa khô thổi rách te tua… Đất “bazan” màu mỡ, dòng sông Pơ-Kô hiền hòa chảy quanh năm… Vậy mà dân trong xã lại không canh tác? Đang suy nghĩ miên man, bất chợt ngó qua bên kia bờ sông, bờ sông bên kia rừng lá âm u huyền bí… Tôi thấy một con vật nho nhỏ hì hụp bơi về phía chỗ tôi đang ngồi. Ban đầu cứ tưởng là con chó, nhưng con vật bơi tới gần thì càng lớn, lúc đó tôi mới nhận ra là một con mang đi lạc. Người bạn đi cùng bắt con mang đó đem về đồn với vẻ mặt mừng rỡ…!
Người lính Nghĩa quân thấy con Mang thì hốt hoảng, nói:
– Mang đi lạc vô làng là nát làng đó ông sếp ơi. Mang lạc là điềm chẳng lành ông sếp ơi!
Tôi không bao giờ tin mấy điều dị-đoan, nhưng tôi cũng không phản đối. Con mang đem đi làm thịt khao thưởng cho tất cả mọi người… Bẵng đi một thời gian chẳng thấy chuyện không lành xảy ra, mọi người cũng quên luôn chuyện con mang đi lạc. Tôi nhớ lời cô gái hẹn… Tôi sửa sang quần áo chỉnh tề rồi đeo súng, một mình thả bộ ra đầu cầu Tri Lễ – nơi cô gái ngồi bán hàng… Thấy tôi đi bộ tới, cô nàng mừng rỡ ra mặt, hình như cô nàng đã chuẩn bị chỗ ngồi sẵn cho tôi (ngồi hơi gần nàng). Tôi tảng lờ và ngồi vô vị trí đó, nếu ai tới mua hàng, họ sẽ nghĩ tôi là người nhà.
Tôi gợi chuyện:
– Cô Bồng Sơn ơi. Vì sao mà cái xã cô ở không có lấy một cái cây để che mát cho mùa nắng cháy vậy. Ngồi trong nhà mái tôn nóng hầm hập như thiêu, như đốt?
– Ủa…! Làm sao mà ông biết tôi ở Bồng Sơn? Cô gái ngạc nhiên nhưng ánh mắt hình như vui…vui…!
– Tôi nghe giọng cô nói, nên tôi mới đoán rằng cô ở Bồng Sơn. Mà cô có thích cái tên Bồng Sơn không?
Cô gái im lặng một hồi rồi tự giới thiệu:
– Tôi tên là Bích, họ Lê Thị. Bây giờ nghe ông gọi tôi là: Bồng Sơn, thì cũng được đi, thì nghe cũng hay. Dù gì nơi xứ dừa đó cũng là quê hương gốc của tôi mà!
Tôi nói tiếp:
– Vậy cô có biết hai chữ Bồng Sơn có ý nghĩa như thế nào không? Hai chữ đó nếu giảng giải ra thì hay lắm đó. Cô gái không trả lời tôi. Cô nhìn chăm chăm lên dãy núi cao ở xa xa… Tôi cũng nhìn theo… Trên dãy núi cao mây mù, sương mù bao phủ cả ngày, đã có lần chiến trận xảy ra phi cơ không thấy rõ “mục tiêu” để ném bom đành phải quay trở về. Trên các đỉnh núi, giới quân sự đặt tên: “Căn cứ hỏa lực 5 & 6…”. Ở trên đó họ xây công sự kiên cố, trang bị những khẩu đại pháo 155 ly, 175 ly do quân đội Mỹ trấn giữ nhằm yểm trợ cho toàn vùng Dakto… Trên các dãy núi có xảy ra nhiều trận đánh lớn, xương máu của hàng ngàn thanh niên hai miền nằm lại vĩnh viễn nơi triền núi mà nào có ai nhang khói… Cô gái thở dài, nét mặt trầm trầm có vẻ suy nghĩ về một điều gì đó mà tôi không thể đoán ra. Tiếng súng đại bác tôi đã nghe quen tai. Người dân sống trong thời chiến tranh giấc ngủ cũng không yên ổn!
Đêm nghe đại bác dội ngang,
tưởng như từ phía thiên đàng ghé thăm. (Thơ Trang Y Hạ)
Nhìn Hạnh vội vã trở vào ga sau khi đã đưa đồ ăn cho anh, Lục cay đắng nghĩ thầm: Hạnh không còn là của anh nữa. Hạnh đã có bầu trời riêng. Nàng bây giờ như một con chim sổ lồng. Sau khi rời lồng, tập tễnh bay rồi trở về, rồi bay rồi trở về nhiều lần, bây giờ quen đường, nàng bay xa, bay cao, bay dài. Bay thỏa thích, chẳng cần hỏi ý kiến của anh. Trước đây, mỗi lần đi xa trở về, nàng tíu tít chia xẻ với anh những gian nan cũng như những niềm vui của chuyến hành trình kiếm sống. Như một con chim bay về chiếc tổ nhỏ nhoi, nàng hân hoan cắn những cọng rơm hạnh phúc. Nàng nép vào anh, tìm hơi ấm và điểm tựa. Nàng trở thành nhỏ nhoi, yếu đuối.
Tàu hú còi, hướng về phương Bắc. Dù khuất sau nhà cửa và cây cối, nhưng anh tưởng như thấy rõ từng chuyển động của con tàu. Chúng mang con chim nhỏ của anh xa dần, xa dần khỏi tầm tay. Miền Bắc xa lạ và hiểm trở. Anh đứng sững trên sân ga một hồi, lòng hụt hẫng. Lần đầu tiên, anh kinh qua một cảm giác kinh khiếp: Hạnh ra đi mãi mãi. Cảm giác đó càng mạnh hơn khi anh lục xách đồ mà Hạnh gửi lại. Hạnh mua đủ thứ: dầu, bột ngọt, tôm khô, cá khô, mắm, hành, bột nêm, kẹo dừa, kẹo mãng cầu, mấy cuốn truyện cổ tích, báo thiếu nhi, dầu gió…Rấùt nhiều thứ, nhưng không có thứ nào cho riêng anh. Chẳng hạn như cái quần lót. Chẳng hạn như cái áo lót. Chẳng hạn bịch cà phê. Hạnh đã lo lắng chu đáo mọi thứ cho cuộc sống gia đình, cho con, nhưng tuyệt nhiên, quên hẳn anh. Anh hậm hực kéo phẹc mơ tuya lại, rú xe chạy như điên. Nỗi giận hờn trút hết lên tay ga. Xe phóng ào ào trên đường. Mãi đến khi sắp vào cửa Thượng Tứ, thấy chiếc xe mô tô ba của công an đậu trước cổng Thương Bạc, anh mới hạ ga, từ tốn chạy về nhà.
Anh ngạc nhiên thấy đèn nhà trên còn sáng. Hóa ra mấy đứa con thức dậy, chờ đợi. Nghe tiếng xe nổ, cả ba đứa tông cửa chạy ra. Thấy Lục một mình, chúng đứng hóng ra cửa. Anh vứt cái xách cho thằng con lớn:
– Mẹ mày không về đâu. Ðồng, xách đồ vào cất đi rồi đi ngủ. Mai còn đi học.
Nét thất vọng hiện rõ lên khuôn mặt ba đứa. Thằng Phụng chạy lại anh, rơm rớm nước mắt:
– Mạ còn ở Sài Gòn hả ba?
Lục không nói gì, dắt xe vào nhà. Trong lúc đó, cả ba đứa xúm lại mở xách đồ. Chúng reo lên vui vẻ khi tìm thấy kẹo, bánh và sách vở. Ðồng và Ngân giành nhau mấy cuốn truyện và báo. Cu Phụng đòi ăn kẹo dừa. Lục bực bội nạt:
– Không có ăn uống gì giờ này hết. Dẹp, đi ngủ. Mai còn đi học. Nghe không?
Thấy ba đứa vẫn tần ngần bên xách đồ, anh bước tới, lùa hết đồ đạc vào, vứt xách vào góc nhà. Anh gầm ghừ:
– Ði ngủ, nghe chưa.
Ba đứa tiu nghỉu vào phòng ngủ.
*
Sáng hôm sau, Lục tìm lên thăm mẹ. Bà cụ, kể từ hôm bị con trai gây gổ vì bà dám đụng tới Hạnh, vẫn muốn về thăm con, thăm cháu, nhưng tự ái không muốn đi. Giờ thấy Lục lên, bà mừng quá. Nhưng ngoài mặt bà làm ra vẻ bất cần. Bà liếc nhìn con, rồi cúi xuống cặm cụi lặt rau. Ðứng tần ngần một lát, anh hỏi:
– Mạ khỏe không?
– Khỏe.
Anh xuống giọng, cố nói một cách thật dịu dàng:
– Lưng của mạ bữa ni thế nào?
Nghe hỏi đến cái lưng, bà cụ uốn éo qua lại vài lần:
– Cũng đơ đỡ. Ðổi trời thì có hơi đau một chút.
Thấy giọng mẹ không có gì khó chịu lắm, anh yên tâm kéo chiếc ghế đến gần, ngồi xuống. Bà cụ ngước mắt hỏi:
– Cần chuyện chi đây?
Lục lúng túng:
– Dạ…
Giọng bà cụ nghe như giễu cợt:
– Chắc có cần chuyện gì mới lên đây, phải không?
– Dạ…
– Con vợ mi về chưa?
– Dạ chưa.
– Lần này hắn đi hàng gì? Nghe nói trầm đứng mà.
– Tui cũng chẳng biết nữa. Hình như thuốc tây hay hàng gì đó.
Bà cụ chép miệng định nói một điều gì đó, nhưng kịp dừng lại. Một lát bà tiếp:
– Thì cũng phải đi thôi. Không hàng này thì kiếm hàng khác. Buôn bán thời buổi này mô có nhất định được.
Thấy bầu không khí có vẻ thuận tiện, anh nói:
– Mạ cho tui mượn thêm ít chỉ nữa, được không?
Bà cụ bỏ bó rau xuống, quay lại:
– Tau còn tiền mô nữa. Bữa trước còn bao nhiêu trút hết đưa cho mi cả rồi. Rứa con vợ mi nướng hết rồi hay sao?
Lục khó chịu vì chữ “nướng” mà bà cụ dùng. Y như nói vợ anh đi đánh bạc không bằng. Anh cố dằn lòng. Giữ giọng bình thường làm như không để ý đến cái từ ngữ đầy dụng ý của mẹ, anh đáp:
– Không, lần này tui muốn mượn riêng cho tui.
Bà cụ ngạc nhiên thật sự:
– Răng mà có chuyện riêng với chung ở đây. Vợ mi ở mô, mi ở mô mà chung với riêng.
Lục nói thẳng:
– Tui muốn làm ăn.
– Cái gì? Mi muốn làm ăn? Nhưng làm ăn là làm ăn cái chi?
Lục đáp gọn:
– Ði buôn.
– Trời, đi buôn. Lại đi buôn. Không được. Mi tưởng đi buôn đi bán dễ lắm răng?
– Thiên hạ làm được thì tui cũng làm được.
– Không được. Tau biết mi không làm được. Mà tau cũng hết cả rồi. Mi coi, nào ăn, nào uống, lại đau lên ốm xuống, tau già rồi mô có làm chi ra tiền.
Thấy mạ sắp kêu ca như mọi lần, anh thay đổi chiến thuật. Anh nói:
– Tui không muốn cứ ngửa tay lấy tiền của “hắn”. Hắn ỷ hắn có tiền hắn làm bộ làm tịch.
Ðúng như anh nghĩ, nghe giọng anh có vẻ khác thường, bà cụ đứng vụt dậy ngay. Trong cử chỉ và nét mặt của bà, anh nhận thấy có cái gì vừa sửng sốt vừa mừng. Bà hỏi gấp:
– Hai đứa bây có chuyện gì lộn xộn rồi phải không?
Lục muốn nói “không”, vì sợ mẹ nhân đó mà nói hành nói tỏi Hạnh, nhưng nếu thế thì làm sao mà vòi tiền mẹ được. Thành thử, anh im lặng, hàm ý chấp nhận là giữa Hạnh và anh đã có “vấn đề”.
– Chuyện chi vậy?
– Không có chuyện gì quan trọng. Hắn ỷ hắn làm ra tiền, rồi coi tui không ra gì. Tui không chịu được.
– Ðúng rồi! Vợ luôn luôn dưới quyền chồng là phải. Ðàn bà là thế, được đàng chân lân đàng đầu. Tau là đàn bà, tau biết, không biết cách kềm giữ là hư…
Biết bà cụ sắp lặp lại bài bản cũ, anh tìm cách nói qua chuyện khác:
– Tui định thế này, tui sẽ đi buôn, nhưng không đâu xa. Chỉ chạy hàng quanh đây thôi. Tui có đứa bạn chạy thuốc tây khá lắm.
– Mi thấy không, tau tần tảo buôn bán, ba mi mô có làm chi ra tiền, nhưng hễ nói một tiếng là tau phải nghe. Có rứa, gia đình mới êm ấm được…
– Mạ cứ cho tui mượn nhưng đừng có nói với hắn, hắn làm ồn…
– Ðó, mi thấy chưa, hắn có quyền chi mà hắn dám làm ồn. Mi là chồng mà! Vợ mà lớn tiếng, lấn quyền chồng là gia đạo không yên.
– Ngày mai hay ngày mốt, tui lên lấy được không. Hay nếu tiện, mạ đưa cho tui chừ cũng được…
Bà cụ bây giờ mới quay về với thực tế:
– Mi nói lấy cái chi?
– Thì lấy mấy chỉ vàng.
Bà lắc đầu:
– Tau đã nói rồi. Còn bao nhiêu tau đã đưa hết bữa trước rồi. Tau mô có tiếc gì. Mi thấy không, còn một đứa nữa chưa có chồng…
Lục đứng dậy:
– Ðược rồi, mạ có thì mạ cho mượn, bằng không tui đi mượn chỗ khác..
Anh ra lấy xe đạp, đạp đi. Bà cụ gọi với:
– Lục, Lục…
Thấy Lục vẫn không quay lại, bà cụ thở dài, ngồi xuống lặt rau tiếp.
*
Dắt xe đạp ra tới đầu cửa ngõ, Lục gặp ngay Hạnh vừa bước xuống từ xe xích lô. Anh không ngờ nàng trở lại chóng vánh thế. Trong thâm tâm, anh nghĩ là Hạnh phải ở ngoài đó cả tuần như khi đi Sài Gòn. Mới có ba ngày kể từ hôm gặp nhau trên ga. Vừa ngạc nhiên vừa ngượng, anh lắp bắp:
– Em…về rồi.
Hạnh cũng lắp bắp:
– Anh…anh…
Anh dựng xe đạp lại ngay hàng chìa tàu, phụ vợ mang giỏ trái cây vào nhà. Giờ này mấy đứa con đi học chưa về, nên cả hai lúng túng, không biết phải nói gì với nhau. Anh lẳng lặng mở cửa cho vợ, bỏ giỏ trái cây trên bàn, rồi đi ngay. Anh chẳng muốn nhìn thấy khuôn mặt lườm lườm của vợ. Tại sao nàng lại làm ra vẻ giận anh trong lúc đáng ra nàng mới là kẻ đáng giận? Nàng đi đông đi tây mà chẳng cần hỏi qua anh một lời. Ðáng lẽ nàng phải biết điều, tỏ ra ân hận. Ðáng lẽ nàng phải xuống nước với anh. Ðáng lẽ nàng phải vỗ về, an ủi anh. Ðàng này không. Nàng làm y như là anh có lỗi.
Giận cho giận luôn. Anh đi suốt cả buổi chiều. Về nhà, trời tối. Gặp hai đứa con đang ngồi chơi ở sân trước, anh hỏi:
– Thằng Phụng đâu?
Ðồng trả lời:
– Mạ chở đi đâu, con không biết.
– Từ hồi nào?
– Lâu rồi.
Lục gắt:
– Lâu rồi là bao lâu?
Thấy gắt gỏng vô lý, anh dịu giọng:
– Mạ đi khi nào, cỡ mấy giờ?
Thằng nhỏ lúng túng:
– Dạ…dạ…cũng chừng lâu rồi.
Anh bật cười:
– Thôi được. Ðã học lớp 7 rồi mà không biết tính giờ giấc chi cả. Tệ thật.
Anh quay sang hỏi Ngân:
– Sao, mạ mi mua về những gì?
Thấy ba vui vẻ, Ngân hớn hở khoe ngay:
– Trời, ba biết không, mạ mua vào toàn đồ Hà Nội không hà. Ngon ơi là ngon. Bánh đậu xanh này, kẹo cốm này, trái hồng, trái hồng tươi, chứ không phải hồng khô như trong mình. Hồng tươi mà ăn không chát. Còn gì nữa, anh Ðồng hè?
– Mứt hột sen.
– Ừ, mứt hột sen, ngon hết ý. Ba có ăn không, con vô lấy. À, mà chưa được. Mạ nói để cúng trước đã. Hay ba ăn cốm, cốm này mùi lạ lắm. Mạ nói cốm Hà Nội ngon số một.
Anh hờ hững hỏi thêm:
– Còn chi nữa không?
– Hết. Ðể xem…Phải rồi, hết.
Lục thất vọng. Cũng chẳng có gì cho anh cả. Hay nàng cất ở một nơi nào đó chăng? Anh vào bếp. Không có gì. Trên bàn cũng không có gì. Hay là nàng để trong phòng? Cũng không. Anh ngồi phịch xuống ghế. Hai đứa trẻ thấy ba đột nhiên thay đổi thái độ, không hiểu chuyện gì, rủ nhau bỏ ra ngoài sân.
Mọi vật trong nhà bây giờ đột nhiên xa lạ với anh, như thể chúng mới vừa xuất hiện. Chúng trân tráo, dễ ghét. Chúng không dính dáng gì đến anh. Chung quanh trống vắng lạ lùng. Có tiếng xe chạy vào. Hạnh về. Anh vội vã vào phòng, lắng nghe. Hạnh hỏi chuyện mấy đứa con, xong đi xuống thẳng phòng mấy đứa nhỏ. Mấy mẹ con rù rỉ rủ rỉ nói chuyện. Thỉnh thoảng, chúng la hét, đùa giỡn với nhau một cách vui vẻ. Càng nghe, càng giận. Cả mấy mẹ con làm như thể anh không có ở trong căn nhà này. Cả trong thế giới này. Sao họ vô tình, bạc bẽo thế!
Anh vùng ngồi dậy, đến cửa phòng mấy đứa nhỏ, nhìn vào. Hạnh ngồi xoay vào trong. Ba đứa con, đứa nằm, đứa ngồi, kéo tay kéo chân nghịch lẫn nhau. Anh bước ra ngoài bàn, gọi lớn:
– Ðồng, Ngân, Phụng, ra đây.
Ðang chơi đùa vui vẻ, nghe tiếng ba gọi khác thường, cả ba đứa im bặt, nhất tề ngồi dậy, rón rén đi ra. Anh lừ đừ nhìn từng đứa một, gắt:
– Sao không học bài để mai đi học?
Phụng nhanh nhẩu:
– Con học thuộc rồi.
Ðồng đáp:
– Mai con không có bài gì hết.
Riêng Ngân lúng túng, mắt lấm lét nhìn anh. Anh nạt:
– Còn con kia, học bài chưa?
Con bé líu lưỡi:
– Dạ…chưa.
Trong một thoáng, anh bỗng thấy khuôn mặt lạnh lẽo của Hạnh hiện lên. Không còn bé Ngân ở đó nữa, chỉ có Hạnh, bướng bỉnh, thách thức. Anh bặm môi, bước tới, tát vào khuôn mặt đó. “Bốp!”. Bé Ngân lảo đảo người, té nhào. Thằng Ðồng đứng gần đó, kịp thời đỡ lấy thân hình con bé. Má bên trái của Ngân đỏ hồng lên. Con bé ôm mặt thút thít, không dám khóc lớn, mắt vẫn lấm lét nhìn ba, không biết có sẽ bị thêm một tát nữa không. Ðồng và Phụng đứng im thin thít, mặt mày tái nghét.
Hạnh từ phòng trong, xô cửa bước ra, kéo bé Ngân lại, ôm vào lòng hôn hít. Nàng nhìn anh, mắt long lanh giận giữ:
– Có đánh thì đánh tôi đây này. Mắc chi đánh nó.
Chương 29
Từ ngày đi Hà Nội về, Hạnh cảm thấy hoàn toàn thấm mệt. Chuyến hành trình quá dài, từ Nam ra Bắc, rồi trở lại Huế với bao nhiêu tình huống phải lo âu đối phó, khiến nàng kiệt sức. Đã thế, mấy ngày sau, nàng khám phá trong người có những dấu hiệu khác lạ. Nàng thường thấy tê tê ở bụng dưới. Ðầu óc có lúc mơ mơ màng màng. Tay chân yếu hẳn mỗi khi cử động. Người nhẹ hẫng như mất trọng lượng. Nàng đâm ra lo lắng, không biết mình có bệnh gì không. Ðịnh đi khám bác sĩ, thì bỗng nhớ ra những lần đây, sau khi sinh xong, nàng cũng có những cảm giác tương tự. Phá thai cũng chẳng khác gì một lần sinh nở, nàng đoán. Vậy thì chuyến đi Hà Nội vừa rồi quả là quá liều lĩnh. Nàng vẫn tưởng chuyện phá thai cũng như giải phẫu một cái mụt, không có gì quan trọng. Từ đó, nàng tự đặt cho mình một chế độ dinh dưỡng và kiêng cử y như những sản phụ. Nàng uống thuốc bổ, tránh ra nắng gió và tự xoa bóp các bắp thịt hàng đêm. Nàng tự làm một cách âm thầm, vụng trộm. Không muốn cho Lục biết đã đành, nàng còn muốn giấu luôn cả các con.
Trưa hôm đó, sau khi xoa bóp xong, đang nằm thiu thiu ngủ thì nàng bỗng nghe có tiếng trẻ con kêu la thảm thiết từ ngoài vọng vào. Nàng vùng dậy bước ra cửa. Một người đàn bà bồng một đứa nhỏ lấm la lấm lét nhìn quanh rồi thình lình để đứa nhỏ xuống đất và bỏ chạy. Ðứa nhỏ được bọc trong một cái tả lót nhớp nhúa, trên người chỉ có một chiếc áo nhỏ, quá nhỏ, không đủ che hết tấm thân gầy gò, để lộ ra nguyên cái cuống rún dài. Nàng chạy vội ra, kêu người đàn bà lại, nhưng bà ta đã biến mất sau dãy nhà bên kia đường. Nàng trở vào xem tình hình đứa bé như thế nào. Ðứa bé không còn đó nữa. Nàng hốt hoảng chạy quanh nhà tìm. Tuyệt nhiên không có. Tiếng khóc im bặt. Khi vào nhà bếp, nàng đụng phải cánh cửa, tỉnh giấc. Tiếng khóc trẻ con vẫn còn nghe vang đâu đây. Nàng bàng hoàng bước ra sân. Trời rực rỡ nắng. Nàng nhìn vào khoảng sân, nơi người đàn bà để đứa bé. Chẳng có gì ngoài một vài hòn sỏi nhỏ và một cọng rác. Nàng rùng mình xúc động, sợ hãi.
Nghĩ đến chuyện thiêng liêng, nàng nhờ một người bà con xa đến đóng thêm cho nàng một miếng gỗ nhỏ vào cái “trang” thờ ngoài vườn. Rồi mua một bát nhang mới đặt lên. Ðể tránh sự chú ý của Lục, nàng sắp cái mới lẫn vào những cái cũ có sẵn. Thực tình thì Lục cũng chẳng để ý mấy đến chuyện cúng kiến linh tinh như nàng, tuy thế, cẩn thận vẫn hơn. Từ đó, hàng ngày, nàng ra thắp nhang, cầu nguyện.
Một hôm, Hạnh vừa xách giỏ đồ ăn về thì thằng Ðồng từ trong nhà chạy ra:
– Mạ ơi, mệ nội có xuống.
Nàng đáp hờ hững:
– Ờ. Này, xách mấy trái mít vào trong bếp cho mẹ đi. Bà nội xuống khi nào?
– Lâu rồi. Về rồi. Bà nội cho chè hột sen với chả.
– Hèn gì!
Hèn gì trông thằng nhỏ không vồ vập hỏi đồ ăn như mọi khi nàng đi chợ về. Nàng hỏi con Ngân đứng gần đó:
– Bà nội có nói gì không?
Ngân chưa kịp trả lời thì thằng Phụng từ dưới nhà bếp chạy lên, nhanh nhẩu:
– Có. Bà nội nói nhà mình có chuyện lạ.
Hạnh ngạc nhiên:
– Cái gì mà chuyện lạ vậy?
Phụng chỉ ra phía góc vườn:
– Bà nội nói bữa nay nhà mình có thêm một người chết.
Nàng giật nẩy mình, níu vai Phụng:
– Con nói gì? Bà nội nói như vậy thật à?
– Bà nội nói bữa nay cái am mình có thêm một bát nhang.
– Sao bà nội biết?
– Bà nội đi quanh vườn một hồi rồi vào bàn thờ lấy nhang ra thắp. Thắp nhang xong ngoài am, bà nội lẩm bẩm một mình: “trước chỉ có bốn cái, sao bây giờ lại năm”. Có đúng không vậy mẹ? Mẹ mới để thêm một cái à?
Hạnh gắt:
– Con biết gì mà hỏi. Năm hay bốn thì cũng vậy thôi, mệ khi nào cũng ưa thắc mắc.
Tuy nói thế, nhưng lòng nàng lo âu. Bà già này tinh mắt thật. Làm sao mà bà biết là có bao nhiêu bát nhang ngoài vườn. Hay là vì cái nàng vừa mới đặt lên mới quá, gây sự chú ý. Thực là bà già chồng lắm chuyện. Nhà người ta có bao nhiêu bát nhang thì mặc người ta, mắc gì mà bà xía vào. Hạnh bực mình. Và bối rối. Nếu không khéo giải thích, bà ta có thể nghi ngờ, đâm ra nói bậy thì phiền. Không chừng giấu đầu lại lòi đuôi. Ðúng là sự đời đôi khi không đơn giản như mình vẫn tưởng. Có những việc không đáng chi, có thể dẫn đến những phiền toái không lường trước được.
Dọn dẹp đồ xong, Hạnh gọi Ðồng lại hỏi:
– Khi mệ xuống thì có ba ở nhà không?
– Không.
– Mệ có hỏi gì mạ nữa không?
– Có. Mệ hỏi: mạ mi đi Sài Gòn lại rồi à? Con nói: Chưa.
– Rồi mệ nói gì nữa không?
Con Ngân xen vào:
– Mệ xoa đầu con, nói: tội cháu tui, có mẹ mà cũng như không. Mẹ cứ vắng nhà hoài.
Nàng gằn giọng:
– Mệ nói như vậy à? Không vắng nhà, không đi buôn, đi bán thì lấy gì mà ăn. Tau mà ở nhà thì tụi bây có nước mà ăn đất.
Thấy mẹ đột nhiên giận dỗi, Ngân sợ hãi lùi lại. Thằng Phụng không biết gì, chạy đến:
– Mệ thương tụi con lắm. Khi mô mệ xuống đây, mệ cũng mang nhiều đồ ăn. Mệ thay áo quần nè, mệ tắm nè, có lần mệ còn cãi nhau với ba nữa vì ba không cho tụi con ăn…
– Cãi nhau khi nào?
– Lâu rồi. Khi mạ còn ở Sài Gòn.
Hạnh hỏi Ðồng:
– Có không, Ðồng?
Ðồng đưa mắt trừng em, rồi lí nhí:
– Dạ, có. Nhưng sơ sơ.
– Cãi chuyện gì?
– Dạ, con nghe cãi nhưng không biết chuyện gì.
– Mi có thương mệ nội không?
– Dạ, thương.
– Có thương ba mi không?
– Dạ, thương.
– Mệ nội có thương con không?
– Dạ, thương.
– Ba có thương con không?
– Dạ, thương.
Hạnh ôm Ngân và Phụng vào lòng:
– Nhưng không ai thương tụi con bằng mạ cả. Phải không?
Cả ba đứa cùng dạ và ôm chầm lấy mẹ.
Trong lúc ôm cả ba đứa, tận hưởng cảm giác vô cùng ấm cúng của tình mẹ con, thì đột nhiên Hạnh nghe có tiếng xe nổ máy rộn ràng bên ngoài. Hạnh buông con, nhìn ra. Ngay trước cổng nhà, một chiếc “mô tô ba” dừng lại, chắn hẳn lối đi. Ba người công an nhảy xuống, đi nhanh vào. Qua khỏi cổng, hai người tẻ ra hai bên, đi vòng ra phía sau vườn. Người thứ ba thì đi thẳng vào nhà trên. Trong lúc đó thì ngoài đường, thêm hai chiếc Honda nữa chạy đến, mang theo ba người trong sắc phục thuế vụ. Họ dựng xe, rồi hấp tấp đi vào.
Hạnh vội vàng chạy ra khi nghe tiếng gõ cửa gấp rút. Nàng sửng sốt khi thấy toán công an và thuế vụ đã đứng đầy nhà, mặt mày người nào người nấy lộ vẻ khẩn trương không giấu giếm. Thấy nàng, người công an hỏi ngay:
– Chị là Ðoàn thị Mỹ Hạnh?
– V…â…n…ng ạ. Chính tôi…đây. Các ông đến có việc gì không?
– Chị là vợ của Tống Viết Lục?
– Vâng ạ.
Người công an rút từ trong “sắc cốt” tờ giấy đưa cho nàng:
– Chúng tôi thừa lệnh Ủy Ban Nhân Dân thành phố và tòa án nhân dân đến xét nhà chị.
Nàng run rẩy cầm tờ giấy. Ðọc xong, nàng tái mặt, vò đầu bứt tai, than:
– Trời ơi là trời! Chồng với con, chán ơi là chán. Tui đã nói bao nhiêu lần rồi là đừng đi. Thế mà không nghe lời, cứ đi để xẩy ra cớ sự như thế này.
Người công an giục:
– Ðây không phải là lúc than khóc. Xin chị ký vào đây cho chúng tôi còn thi hành phận sự. Ðây, ký ngay đây. Chỗ này này… Không phải chỗ đó…, phía dưới một chút. Nghe chị đã từng là nhân viên văn phòng chế độ ngụy mà không biết ký chỗ nào sao.
Hạnh muốn ngộp thở. Người công an hỏi:
– Còn ai trong nhà nữa không?
– Dạ còn. Mấy đứa con.
– Chị gọi hết ra đây.
– Dạ.
Hạnh không cần gọi vì cả ba đứa đã đứng ở cửa tự nãy giờ, đôi mắt đứa nào cũng tỏ vẻ sợ hãi. Người công an chỉ ba đứa:
– Chúng ở đây cả phải không?
– Vâng.
– Chắc chắn là không còn ai trong nhà nữa, phải không?
– Vâng.
– Nếu còn một ai nữa mà chúng tôi thấy được, chị phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Bây giờ chúng tôi yêu cầu tất cả người trong gia đình ngồi tại chỗ, tuyệt đối không được di chuyển. Ai không tuân, chúng tôi sẽ xử lý ngay.
Anh ta chỉ vào cái phản nhỏ đặt ở đầu góc sân:
– Yêu cầu tất cả đến ngồi đầu kia.
Cả bốn mẹ con líu ríu đến ngồi. Một người đến đứng cạnh mấy mẹ con, canh chừng. Năm người còn lại bắt đầu lục soát. Họ đi quanh ngoài vườn, lục lọi tất cả các chỗ khả nghi. Họ xem xét cẩn thận các gốc cây, các chỗ đất mềm, lật các hòn đá hay bất cứ vật gì nằm che trên mặt đất hay có dấu mới di chuyển. Một người dùng que nhọn chọc vào các chậu hoa, vào cái bể cạn ở góc sân. Trong lúc đó, người công an canh chừng mấy mẹ con, gọi Hạnh đến hỏi nhỏ:
– Chị có giấu giếm gì trong nhà thì khai đi. Nói trước có lợi hơn nói sau, khi người ta đã khám phá ra rồi.
Hạnh đáp:
– Thú thật với anh, chúng tôi không có giấu gì trong nhà cả.
– Chị đừng nói dối với chính quyền cách mạng. Khi chúng tôi đến đây là chúng tôi đã có bằng chứng rồi. Chị có đi buôn trầm, phải không?
– Tôi chạy hàng xô, chứ có buôn bán gì lớn lao đâu. Tôi nhập hàng cho thương nghiệp.
– Chị đừng nói dối. Chúng tôi sẽ tịch thu tất cả những gì tàng trữ bất hợp pháp.
Anh ta hạ giọng:
– Nếu chị biết điều, thì còn châm chước, bằng không…
Hạnh cương quyết:
– Không. Nhà tôi không có chứa thứ gì bất hợp pháp cả.
Xong bên ngoài, người công an trưởng toán ra dấu cho Hạnh theo họ vào nhà trong. Họ xem xét cẩn thận từng viên gạch lót nền nhà, các góc tường. Họ đưa tay vỗ vào tường, lắng nghe âm thanh đặc hay rỗng, để xem có dấu hiệu gì khác lạ không. Họ lật tung giường chiếu, di chuyển đồ đạc, dùng đèn “pin” dọi các góc nhà, gậm giường, mở tất cả các tủ, từ tủ đựng áo quần cho đến tủ đựng chén đọi. Vào phòng Lục, họ cầm cái radio và cassette săm soi trước sau. Một người công an lục tung hết sách báo, hỏi:
– Tại sao chồng chị có những sách báo loại này?
– Anh ấy mua lại đâu ở chợ trời, tôi không rõ.
– Chị có biết đây là loại sách ngụy không?
– Dạ, tôi không để ý vì tôi chẳng bao giờ đọc cả.
– Ðáng lý ra, chúng tôi giữ tất cả các loại sách báo này. Nhưng…sao, chị có cần nói gì không?
– Dạ, thưa không.
– Trong biên bản, chúng tôi ghi là chồng chị có lưu giữ một số sách báo phản động, chị nghĩ sao?
Biết là tay công an muốn làm khó dễ để vòi vĩnh, Hạnh định trả lời ngay là “tùy các anh”, nhưng nghĩ đến những rắc rối có thể xảy ra sau này, nên kịp dừng lại. Nàng xuống giọng năn nỉ:
– Xin các anh thông cảm. Đúng là chồng tôi đã làm những việc sai trái. Tôi sẽ khuyên răn anh ấy chịu khó tu tỉnh. Còn sách báo này, tôi sẽ đốt hết, xin anh đừng ghi gì vào biên bản.
Nói xong, nàng qua phòng bên cạnh, lấy một ít tiền, kẹp vào tờ báo, rồi đưa cho tay công an.
Sau gần hai giờ lục soát, toán công an thuế vụ lên xe chạy đi, để lại một căn nhà đầy rác rưởi bừa bộn. Hạnh nhìn theo, lắc đầu chán nản.
Sau khi ký vào biên bản tạm giữ hàng tại trạm thuế Công Thương Nghiệp quận I, tưởng thế là xong, Lục trở về nhà, mới biết rằng trong lúc anh loay hoay năn nỉ ỉ ôi với các nhân viên thuế vụ thì nhà anh bị lục soát một cách thô bạo. Anh đứng lặng người, sửng sốt nhìn vườn, nhà bị đào, bới, đục, nạy lung tung một cách không thương tiếc. Ở phòng anh, nguyên cả kệ sách báo bị xáo trộn hoàn toàn. Sách, báo vứt bừa bãi trên giường, trên nền nhà. Ở mấy phòng khác, nhiều khoảng tường bị tróc sơn, có nơi tróc cả mảng lớn, có nơi bị búa nện sâu vào, tạo thành lỗ hổng. Một số gạch lót nền bị bể. Ngoài vườn, cây cỏ bị giẫm nát. Dụng cụ làm vườn vất bừa bãi. Hai luống cà chua anh vừa mới trồng, trốc gốc hoàn toàn.
Bây giờ anh mới thấy hết cái tai hại của việc anh làm. Chỉ cần có một chút tang chứng là công an có thể làm bất cứ việc gì họ muốn. Không những hàng hóa bị tịch thu mà nhà cửa còn bị lục soát và bản thân anh phải khai lại những điều về quá khứ mà anh hoàn toàn muốn quên lãng. Ðúng như lời Hạnh đã cảnh cáo, đi buôn không đơn giản như anh vẫn nghĩ. Nó không chỉ là chuyện bỏ ra một số vốn, mua hàng rồi bán lấy lời, mà là một cuộc đấu tranh, giành giật và đối phó – vừa bằng tiền, vừa bằng trí tuệ, vừa bằng sức lực – với đủ thứ bất trắc. Càng nghĩ, càng ngượng. Anh đã làm phiền vợ con, làm phiền mẹ anh. Hai chỉ vàng mẹ anh cắn răng đưa cho anh mượn thế là tiêu tùng. Bây giờ anh là một con số âm không hơn không kém. Ý chí tranh đua với vợ hoàn toàn sụp đổ.
Hôm sau, Lục được mời về đồn công an phường để làm việc. Tại đây, anh phải làm một bản kiểm điểm, nêu rõ lý do tại sao không chịu lao động mà lại đi buôn, đã thế, lại buôn thứ hàng hiện do nhà nước kiểm soát là thuốc tây ngoại nhập. Anh phải giải thích rõ tại sao khi nhân viên thuế vụ chận hỏi, lại đạp xe bỏ chạy; tại sao bị bắt quả tang rồi lại còn cự nự, có hành vi chống cự và lời lẽ thiếu văn minh văn hóa với nhân viên nhà nước. Trong lúc đó, Hạnh lên xuống trạm thuế nhiều lần để “chạy” hàng ra, nhưng không có kết quả. Vụ việc đổ bể tùm lum, không ai dám nhúng tay vào. Số lượng thuốc tây gần hai chỉ của Lục “tạm thời” bị giữ với lời phê của tay trưởng trạm “sẽ giải quyết sau”. Hạnh thắc mắc:
– Xin anh cho biết giải quyết sau là lúc nào?
Anh ta cười:
– Thì cứ để đó đợi cho mọi chuyện đi vào quên lãng.
Hỏi cho có hỏi thế thôi, chứ nhìn cách làm việc của họ, nàng biết thế là hàng đi đong.
Sau hơn nửa ngày làm việc ở đồn công an, Lục trở về nhà như một người lính bị thương nặng ở mặt trận trở về hậu cứ. Anh đau đớn không chỉ vì mất tiền, mất của mà còn vì sự bất lực của anh bây giờ hiển lộ ra như đáy một con sông cạn. Anh đợi chờ những cơn giằng xé quyết liệt của vợ. Ấy thế mà không. Trong bữa ăn, Hạnh vui vẻ hỏi chồng:
– Anh chở hàng đi đường như thế nào để cho bị bắt?
– Chở vào cửa An Hòa, theo mấy đường hẻm ra phía chùa Tây Lộc, định chạy về ngả Cầu Kho. Nhưng khi vừa ra khỏi con hẻm thì bị một thằng thuế chạy kèm theo bắt dừng lại. Anh không dừng, tiếp tục đạp. Hắn đuổi theo. Xe hắn chạy nhanh vượt qua anh, ép lại. Anh đưa chân tống vào xe nó. Hắn loạng quạng tông vào lề đường. Còn anh cũng mất thăng bằng, ngã xuống. Anh đứng dậy định dắt xe vòng lại thì một thằng thuế khác từ phía sau chạy đến chận. Hai đứa đòi xét hàng. Anh cự nự không chịu. Ðôi co một hồi thì công an tới.
– Sao anh không bỏ đi mà lại đứng cho công an bắt?
– Không lẽ bỏ hàng mà đi à?
– Bỏ hàng hay không thì cũng vậy mà thôi. Anh có đứng lại họ cũng mang hàng đi, mà anh có chạy họ cũng mang hàng đi.
– Nhưng mình phải ở đó để chứng minh là hàng của mình chứ.
Hạnh cười ngất, bảo:
– Biết hàng là hàng của anh để làm gì? Ðể họ trả lại hàng cho anh à? Còn khuya! Biết hàng của anh thì họ bắt luôn anh, anh thấy chưa?
– Nếu mình bỏ chạy là bỏ chạy luôn sao?
– Bỏ chạy là cách tốt nhất. Nhất cử lưỡng tiện. Nếu anh bỏ chạy thì bây giờ mình có thể chuộc hàng lui, mà còn tránh khỏi bị lục nhà nữa. Ðể mình bị bắt thì mình phải khai. Khai rồi thì họ biết nhà họ về lục. Bây giờ thì sự việc đổ bể tùm lum, còn ai dám ăn tiền mình nữa. Không có ai đi buôn mà như anh. Hàng bị bắt lại còn đứng đó chịu trận. Tiền mất tật mang.
– Anh đâu có biết!
Con Ngân rụt rè hỏi:
– Công an có đánh ba, không ba?
– Không.
Lục không dám nhìn mặt vợ. Cũng không dám nhìn mặt con. Anh cắm cúi gắp thức ăn, lòng thẹn thùng vì đã không lường trước bao nhiêu điều tưởng rất bình thường, rất dễ, nhưng không đơn giản tí nào. Hạnh gắp bỏ cho Lục miếng thịt, hỏi tiếp:
– Bọn họ hăm he gì anh?
– Không.
– Vậy thì họ làm gì?
– Tay đồn phó chỉ nói: viết bản kiểm điểm cho tốt rồi về. Nếu chưa tốt thì ở lại viết đến khi nào tốt thì thôi.
Hạnh cười:
– Viết kiểm điểm tốt thế nào mà lâu thế? Từ sáng đến chiều. Anh viết mấy trang?
– Ba trang chứ mấy.
– Ba trang mà mất cả buổi. Văn chương chữ nghĩa anh để mô?
Lục ngừng ăn, nhìn vợ (bây giờ anh mới dám nhìn), nói:
– Ba trang, nhưng viết đến năm lần. Lần nào cũng bị chê là chưa tốt. Có cái còn bị mắng là chê bai cách mạng.
Hạnh giật mình:
– Trời, anh viết bậy bạ gì để cho họ nói thế. Cái này là nguy hiểm lắm. Tội buôn không sao chứ tội chính trị là phiền vô cùng, không ai gỡ ra được mô.
– Anh đâu có viết gì bậy bạ. Anh chỉ nói, gia đình cực khổ, thiếu thốn phải đi buôn để nuôi con. Tay đồn phó nói viết thế là bôi bác nhà nước, có ý cho nhà nước không chăm sóc đời sống nhân dân. Viết đi viết lại mấy lần, anh mới hiểu ra: mình càng viết thật thì càng không tốt. Phải biết nói láo.
Con Ngân thắc mắc:
– Ở trường cô giáo dạy con phải thật thà, khiêm tốn theo năm điều bác Hồ dạy mà. Vậy ba nói láo kiểu nào mà được tốt vậy ba?
Lục tếu:
– Dễ lắm con ạ, ba nhận là ba lười biếng, nhác nhớm, thích hưởng thụ, sợ lao động, thích ăn bám, tư tưởng ba lạc hậu, ba bị ảnh hưởng của Mỹ Ngụy. Ði buôn là ngu, là bóc lột vân vân. Ba chỉ viết chưa đầy một trang là được tốt ngay.
Thằng Ðồng xen vào:
– Vậy là mạ còn tệ hơn ba nhiều.
Hạnh cười. Và ba đứa con cười theo. Lục cũng cười, nhưng lòng vô cùng ngượng nghịu.
*
Phải mất nguyên một ngày, Lục mới sửa sang lại mọi thứ trong nhà và ngoài vườn.
Xong việc, anh định vào khoe với vợ con thành quả dọn dẹp của mình như một cách chuộc lỗi, thì cảm nhận ngay một không khí khác thường: sự lặng lẽ. Không nghe tiếng nô đùa của mấy đứa con. Chúng không chạy lui chạy tới, tò mò hỏi anh chuyện này chuyện nọ. Hạnh cũng không thấy xuất hiện. Anh nghĩ chắc mẹ con đi đâu đó hay ngủ. Anh đi quanh, thấy hai đứa nhỏ lặng lẽ chơi ở góc bếp. Trở lên phòng mấy đứa con, thấy cửa đóng. Tưởng không có ai, nhưng khi mở cửa ra, anh thấy Hạnh và thằng Phụng. Nàng đang loay hoay với đống áo quần. Anh lên tiếng:
– Mẹ con ở đây mà anh tưởng đi đâu hết.
Hạnh trả lời trong lúc vẫn cắm cúi trên đống áo quần:
– Ðâu có đi đâu.
Anh bước vào, nhìn vợ:
– Tụi nó quyền thị thật, lục tung mọi thứ không chừa một chỗ nào.
Hạnh nhìn anh:
– Họ vẫn làm thế từ lâu, anh không biết sao?
– Anh có nghe nói, nhưng không ngờ nó quá đáng như thế.
Bây giờ anh mới để ý thấy khuôn mặt vợ tai tái. Anh ngồi xuống bên cạnh, đặt tay lên vai nàng:
– Trông em có vẻ không được khỏe. Có đau ốm gì không?
Hạnh hờ hững:
– Không. Em chỉ hơi mệt.
Anh ngập ngừng:
– Anh…anh xin lỗi em.
– Lỗi gì?
– Thì đã làm em phiền. Anh đã không nghe lời em để đến nước này.
Hạnh im lặng. Anh muốn làm một cử chỉ âu yếm, nhưng thái độ thinh lặng của nàng khiến anh ngần ngại. Anh thở dài, bước ra.
Những ngày kế tiếp không có gì vui đối với anh. Không khí gia đình trở nên buồn nản. Hạnh ít nói. Anh chờ đợi Hạnh sẽ nhắc nhở, cằn nhằn, đay nghiến anh. Thế mà không. Nàng hoàn toàn không nói gì về chuyện cũ. Lúc đầu, anh nghĩ là nàng xem thường chuyện xảy ra, vì có lẽ nàng quá quen với những việc như thế. Nhưng không phải. Rõ ràng là Hạnh không muốn nhắc. Có thể nàng xem đó là cách đay nghiến trừng phạt hay nhất đối với anh? Trong bữa ăn, anh nhắc xa nhắc gần đến sự việc, nàng nói lãng qua chuyện khác. Hoặc im lặng. Anh ao ước được nghe nàng la hét, nặng lời với anh. Hay ít ra cũng tỏ ra giận dỗi, mặt nặng mày nề với anh, chẳng hạn. Ðể cho anh nhẹ lòng. Thế mà không. Tuyệt đối không. Nàng dịu dàng nhưng hờ hững. Chu đáo nhưng xa cách.
Mấy đứa con cũng thế, hờ hững, xa cách. Chúng lẩn tránh anh. Chúng ít la hét ồn ào như mọi khi. Buồn nhất là khi mấy mẹ con tụ lại với nhau đang chuyện trò, thế mà khi anh đến, muốn góp vui, thì không khí thay đổi hẳn. Vợ anh chăm chú làm một việc gì đó. Mấy đứa con thì lần lượt bỏ đi. Anh sống giữa gia đình mà như sống trong một ốc đảo. Càng ngày anh càng cảm thấy mình như thừa ra. Muốn la mắng con, anh cũng đâm ra ngần ngại. Anh bắt đầu có những hoang tưởng. Anh nằm yên trong phòng, thỉnh thoảng nhổm lên nhổm xuống, nghe ngóng đợi chờ vu vơ. Ðợi bước chân vợ vào phòng. Ðợi những đứa con chạy ào vào ôm lấy anh vòi vĩnh, trững giỡn. Ðôi khi, nửa khuya, anh thức dậy, đi lui đi tới trong phòng nhìn mông lung, mong chờ một tín hiệu vui trong gia đình, hầu xoá tan đi cái cảm giác vô tích sự đang mỗi ngày mỗi lớn dần trong anh.
*
Trong lúc đó, Hạnh cũng có một nỗi riêng mang. Nàng âm thầm chăm sóc sức khỏe cho chính mình. Ăn ngủ đều đặn, uống thuốc bổ thường xuyên. Dần dần, nàng thấy mình khỏe hẳn ra. Những dấu hiệu mệt mỏi bất thường trên cơ thể dần dà biến mất. Nàng yên tâm là đã lập cho đứa con bất hạnh của nàng một “nơi ở” và cúng kiến đàng hoàng hàng ngày. Có lẽ nhờ thế mà những cơn ác mộng đã không xảy ra như nàng tưởng tượng. Trái lại, nàng chỉ nằm mơ toàn những giấc mơ an lành bình thường. Nàng hy vọng rằng tấm lòng thành của nàng đã được linh hồn đứa con chia sẻ, thông cảm. Nhưng mỗi lần ra thắp nhang ngoài vườn, nàng không khỏi bối rối khi nhớ lời bà nội mấy đứa nhắc đến cái cái bát nhang mới đặt trên bàn thờ này.
Một buổi sáng, thức dậy, lòng nàng bỗng xôn xao vô cớ. Trời nắng đẹp quá chừng. Chim hót líu lo sau vườn, trước ngõ. Ra vườn, thấy Lục đang loay hoay xới đất cho mấy vồng cà chua bị hư hại hôm nọ, nàng nhìn anh mỉm cười. Lục ngừng tay, nhìn vợ, cười lại, nét mặt hân hoan, ửng lên một nét trẻ thơ kỳ lạ. Nàng dịu dàng:
– Em đi ra ngoài có chút việc.
Anh nhìn nàng đáp “ừ” rồi lại cúi xuống, cắm cúi làm. Hạnh ngắm chồng. Lục ở trần, mặc một chiếc quần lính bạc màu cắt ngắn đến đầu gối, đầu đội mũ lưỡi trai. Trời còn sớm, chưa nóng lắm, nhưng người anh mồ hôi nhễ nhại. Vai, lưng ướt đẫm. Trông anh có vẻ ốm và đen. Chắc là do anh chàng làm việc nhiều. Ðộ này anh siêng năng, ít nói và rụt rè. Có vẻ nhẫn nhục, chịu đựng. Trông bộ anh chàng đã thấm đòn! Cảm thấy mình có phần không phải đối với anh, nhiều lần nàng muốn thân mật trở lại với chồng như ngày nào. Nhưng nàng không mấy hào hứng. Có một khoảng trống mơ hồ ngăn cách giữa nàng với anh. Nàng còn giận anh? Không. Nhưng dường như cái thú thích hờn, thích dỗi với chồng không còn nữa. Càng ngày, nàng càng có cảm giác Lục mất dần cái nét tinh anh cuốn hút ngày nào.
Khi lái xe chạy vòng vòng hỏi tình hình hàng hóa, Hạnh mới hiểu ra nỗi xôn xao của mình: nàng muốn lại được lên đường đi buôn. Những tháng ngày gần chồng gần con, sao mà chật hẹp tù túng lạ lùng! Nàng nhớ khoang tàu, nhớ băng ghế xe, nhớ những quán ăn dọc theo con đường bắc nam xuôi ngược. Những đám hàng rong xao xác bất kể đêm ngày. Mực nướng Lăng Cô. Cua, ốc Ðại Lãnh. Gà luộc Quảng Ngãi. Mực tẩm Nha Trang. Nho Tuy Hoà. Chôm chôm Long Khánh. Những đĩa cơm thịt sườn hấp dẫn. Những giấc ngủ lắc lư. Những bữa ăn tuy vội vã, nhưng ngon lành và có cái hương vị riêng của nó mà ở nhà, nàng không tìm thấy. Nhớ lúc lên tàu xuống tàu xôn xao sôi nổi. Nhớ da diết những đêm ngồi nhìn màn đêm bí ẩn chạy lướt qua khuôn cửa tàu. Nhớ những câu chuyện râm ran không dứt với bạn hàng, kẻ quen người lạ. Những bỡn cợt, tán tỉnh. Những câu chuyện tiếu lâm cười muốn bể bụng. Nhớ cả những phút hồi hộp, lo âu, căng thẳng khi sắp đi qua trạm thuế, hay khi công an lục hàng để rồi được hưởng lấy những giây phút hạnh phúc vô bờ khi mọi chuyện bình yên. Nàng nhớ cảnh lại nhớ người. Không biết thầy Túy độ này làm ăn ra sao, có còn tưởng nhớ đến nàng? Phiệt đã đi nước ngoài chưa? Mười Giộc làm ăn thế nào? Càng nhớ nàng càng hăm hở muốn đi, muốn tung trời bay lượn.
Nhưng tình hình hàng hóa, chợ búa không có dấu hiệu gì khả quan khiến nàng thất vọng. Tại các sạp hàng ở chợ, mấy bà ngáp vắn ngáp dài. Trầm vẫn đứng. Thuốc tây không mấy có lời. Hàng Hà Nội cũng như hàng Lào đột nhiên khan hiếm. Thuốc hút cũng vậy. Áo quần đứng giá từ sau Tết vẫn chưa có dấu hiệu tốt. Chỉ có mặt hàng tạp hóa là còn buôn bán được, nhưng nàng không thích mặt hàng lỉnh kỉnh, vụn vặt này. Hạnh bâng khuâng giữa chuyện đi và ở. Ở thì buồn mà đi thì chẳng lợi lộc gì.
Mỗi lần về nhà, đến trước cửa ngõ, vừa nhìn cánh cổng gỗ cũ kỹ khép hờ, nàng đã thấy buồn rười rượi. Vẫn phải vào đây sao? Nàng nghĩ đến những ngày vô vị trước mắt với một Lục lặng lẽ, ngơ ngẩn đi vào đi ra, với ngôi nhà chật, với những lo toan vụn vặt hàng ngày, với đám con luôn luôn vòi vĩnh. Chán ơi là chán! Có bữa, khi về, ngừng một lát trước cổng, nhìn lui nhìn tới bâng khuâng, nàng bỗng quày xe, đi tiếp. Không biết đi đâu và làm gì.
Nàng loay hoay chạy quanh chạy quất như thế. Cho đến khi, may thay, nàng gặp lại Thương, một cô bạn học cũ.
Chương 30
Tàu hú còi. Tiếng còi quen thuộc làm Hạnh đột nhiên phấn khích mừng rỡ y như thời trẻ con nghe mẹ kêu thức dậy vào sáng mồng một tết. Tàu sắp sửa mang nàng ra đi, thoát khỏi những ngày tù túng. Thương ngồi sát cửa, nên nàng phải nhoài người, ép vào phía sau lưng bạn, mới nhìn được ra ngoài. Nàng muốn nhìn mọi thứ y như thể đây là lần đầu được đi xa. Tàu băng qua đường Nam Giao, lầm lũi chạy về An Cựu. Trời còn tối. Hạnh chỉ nhìn thấy những ngôi nhà thấp ở hai bên đường lướt qua mau trong bóng tối nhờ nhờ. Nhà thờ Phủ Cam, cầu Kho Rèn, quốc lộ I. Cũng thế, đâu có gì khác trước. Nhưng không hiểu sao nàng thấy chúng nó mới mẻ, lạ lùng. Nàng tò mò nhìn mãi cho đến khi một ngọn gió sớm lạnh từ phía những cánh đồng hai bên quốc lộ tạt vào. Nàng rụt người vào, bảo Thương kéo cửa xuống.
Hạnh hỏi:
– Dép Lào thì không nói gì, nhưng loại áo Nato, ai bày cho bà mà bà biết mà đóng vậy?
Thương cười:
– Cần gì ai bày. Ở chợ, cái gì “ăn”, cái gì không “ăn” tự nhiên mình biết thôi. Loại “fieldjacket” này thỉnh thoảng đám bạn hàng ngoài mình cũng vào bỏ cho tôi.
– Cũng lạ. Ngoài này tôi chỉ nghe người ta nói đi Sài Gòn chưa hề nghe ai nói đến chuyện đi Nha Trang. Loại áo này quá đắt, ai dám mua mà mặc nhỉ?
– Thiếu gì người mặc. Cán bộ, bộ đội này, đám con ông cháu cha này, đám chạy hàng trúng mánh này.
– Cán bộ, bộ đội mà thích mặc đồ “đế quốc” à?
Hỏi xong, nàng thấy mình có hơi ngớ ngẩn. Ði buôn đi bán bao nhiêu năm, nàng có lạ gì chuyện hàng hóa, mà lại phải thắc mắc với Thương một điều quá sơ đẳng như thế. Nàng nghĩ là Thương sẽ chế nhạo nàng, nhưng không, Thương vui vẻ giải thích:
– Giờ mà còn đế quốc, đế que gì nữa. Ðẹp là mặc. Thích là mặc. Có tiền là xài. Bà không biết chứ bây giờ, xài đồ tư bản là cái “mốt” của cán bộ đấy. Nhiều tay cán bộ mặc đồ không muốn xé cái nhãn tư bản ở ngoài, để dợt le với đồng nghiệp nữa đấy. Nghĩ cũng buồn cười. Hồi trước, người ta bày bán đầy chợ, không ai thèm mua. Chỉ có mấy ông nhà quê dùng. Bây giờ có một cái cũ mang ra chợ là có người tới gạ gẫm đòi mua ngay. Không sờn, không rách, bán có cả nửa chỉ. Cũng là một gia tài.
Hạnh thành thật khen bạn:
– Bà giỏi thật. Xoay sở làm sao mà có được một cái sạp ở chợ, lại có mối lái làm ăn.
– Cứ khen người khác, còn mình thì sao? Bà chẳng số một hay sao. Này nhé, từ một cô thư ký văn phòng, nhảy ra buôn bán, đi đông đi tây, lại buôn thứ hàng “xịn”. Dân trong kia, chẳng biết trầm là gì, nhưng nghe ai đi buôn trầm là họ khiếp. Nghe nói ở vùng Vạn Giã, người ta cũng đi trầm đấy, nhưng họ khéo giấu lắm. Họ sợ công an.
– Vất vả lắm. Buôn thứ đó, có đó mà không đó. Y như vào sòng bạc vậy. Tôi cũng ao ước có được một cái sạp như bà, ngồi một chỗ buôn bán, tối tối về với gia đình.
– Bà cứ tưởng thế thôi! Ngồi hoài ngồi hủy một chỗ, ngày này qua ngày khác, chán lắm bà ơi. Nhất là những lúc ế khách, ngồi đuổi ruồi, mình ngồi bên này, nhìn qua con mệ chủ sạp bên kia, mặt mày nhăn nhăn nhó nhó, muốn phát khùng luôn. Tôi thích được tự do đi đây đi đó như bà.
Hạnh nhìn bạn, xem thử Thương đùa hay thật:
– Nữa! Lại đứng núi này trông núi nọ.
– Không, mình nói thật đấy.
Nghe Thương quả quyết, nàng chỉ mỉm cười. Hôm qua cô ta mới hãnh diện khoe với nàng là nàng có một cái sạp ở chợ, buôn bán ổn định, thoải mái, không mong gì hơn nữa. Cô bạn cũ này trông bộ vẫn vô tâm như hồi nào còn đi học. Có lẽ vì thế mà cô ta suớng chăng?
Trời sáng hẳn. Hạnh đòi Thương nhường chỗ phía ngoài cho nàng ngồi một lúc. Nàng sung sướng ngắm nghía cảnh vật lần lượt hiện ra theo con tàu tiến dần về phía trước. Ruộng, đồng, nhà cửa, cầu, sông nước, phố xá. Lâu lắm rồi, nàng mới tìm thấy cái cảm giác bình an, thơ thới. Bao năm, bao tháng trôi qua trong những lo lắng, băn khoăn, hồi hộp, đợi chờ vật vã. Mỗi một ngày đến là một ngày thách thức. Mà ngày tháng thì cứ như nước chảy xuôi, tràn tới tràn tới mãi.
Thương hỏi:
– Này, gì mà nhìn say sưa thế. Dân buôn tàu mà y như mới đi lần đầu.
Hạnh giật mình:
– Bà nói gì thế?
Thương hỏi qua một chuyện khác:
– Sao, nhớ ông xã à?
– Không đâu. Mới có nửa buổi mà nhớ gì.
– Nhớ là nhớ. Nửa buổi hay một năm thì có khác gì đâu. Này, mà bà chưa cho tôi biết gì về chồng con của bà nhe.
– Cũng bình thường vậy thôi.
– Là sao?
– Thì anh ấy ở nhà, chăm sóc con cái, ba đứa.
– Anh ấy chịu để cho bà đi long nhong thế này sao?
– Không cho cũng phải cho. Không đi long nhong thì lấy gì mà sống bây giờ. Cả vạn người chứ đâu phải một mình tôi.
– Ông Cảnh mình thì khác. Ông không chịu. Hồi mình buôn tàu, ông theo mình suốt. Nói cho đúng ra, chẳng phải ông nghi ngờ gì mình, nhưng muốn giúp mình một tay. Mà có đàn ông đi theo cũng hay bà ơi. Cáng đáng trăm thứ giúp mình trên đường. Hơn nữa, có chồng một bên, nói thật, mình cũng đỡ hư.
Hạnh giật mình:
– Bà nói sao? Cái gì hư?
– Mình nói, nhờ có chồng bên cạnh, mình đỡ hư.
– Sao lại hư? Bà làm như tụi mình còn con nít không bằng.
Hạnh im lặng, tư lự. Thương tiếp:
– Vậy mà thật đấy bà ạ. Cái giống đàn bà mình thường nhẹ dạ lắm. Ai nói ngọt thì tin ngay. Có lần, một thằng thuế dụ mình vô rừng, thế mà mình đi theo…
Hạnh ngắt ngang:
– Sao lại dụ được? Mô mà dễ dụ vậy?
– Ấy thế mà thật đấy bà. Chuyện thế này: hồi đó, mình còn đi buôn một mình, ông Cảnh chưa theo. Mình đi Sài Gòn mang theo năm giỏ gà, cũng hơn trăm con. Ðến ga …ga gì nhỉ, ga…à phải rồi, ga Sông Lũy, thì bị “sạc”. Mình ở lại đợi đóng thuế để lấy hàng ra. Thấy mình kỳ kèo, mà lại cũng có tiền nhiều, tụi hắn ngâm, không chịu giải quyết ngay. Thằng trưởng trạm dỗ ngon dỗ ngọt mình, rồi rủ mình vô rừng chơi. Mà lạ, không hiểu sao mình lại nghe theo lời nó, mới kỳ. Mình không nhớ nó nói những gì nhưng giọng thì ngọt lắm, ngọt xớt. Thế là mình theo. Ði đi mãi, vừa đi vừa nói chuyện. Mà cái thằng nói chuyện có duyên, bà ạ. Nó nói “thiên thung mang nai” gì gì đó, vậy mà sao mình nghe, mình cũng thích. Ðến một lúc, khi mình bắt đầu sợ thì đã ở giữa rừng. Tâm trạng lúc đó cũng lạ: nửa sợ mà nửa thì xem thường, sao cũng được. Nó ưng làm gì cứ cho nó làm, miễn sao mình lấy hàng lại. Ðâu có mất mát gì, phải không? Khi hắn ôm mình, bà biết không, nói bà đừng cười, mình chỉ phản ứng lấy lệ. Ừ, mà sao lúc đó người mình y như không thuộc về mình nữa. Y như có một người khác ở trong mình. Mình phó mặc. Nhưng cũng may…
Thương ngừng lại, cúi xuống lấy chiếc khăn mặt bị gió thổi bay xuống dưới gầm. Loay hoay mãi một lúc, Thương mới lôi được chiếc khăn ra khỏi lỗ kẹt giữa chỗ ngồi của hành khách khác. Thương bảo:
– Thôi bà vào ngồi phía trong đi. Tôi nóng quá, hứng chút gió cho nó đỡ. Mồ hôi mồ kê ra tùm lum đây này.
Không đợi Hạnh đứng dậy, Thương đã lấn ra, khiến Hạnh phải cong người lại, nhường chỗ. Thương nhìn quanh, thấy không có ai nhìn, bèn thò tay xuống dưới áo, dùng khăn lau ngực, lau lưng. Hạnh quay mặt đi, vì nghe mùi mồ hôi của bạn khá nồng. Thương lau xong, bỏ khăn vào bịch ni lông, nói:
– Vào ga Quảng Ngãi, chắc phải đi tắm một cái. Nóng quá!
Hạnh cố ý chờ bạn kể tiếp câu chuyện, nhưng dường như Thương quên mất. Nàng nhắc:
– Vụ đó rồi ra làm sao?
– Vụ gì?
– Vụ thằng thuế dẫn bà vào rừng đó.
– À, đến đâu rồi…khi hắn ôm mình, phải không? Ðúng, khi hắn ôm mình, đầu óc mình nó lơ mơ, lạ lắm. Mình không nghĩ gì hết, sao cũng được. Nhưng rủi cho hắn, mà cũng may cho mình, bỗng nhiên có ai gọi hắn từ trên loa phóng thanh ở ga, gọi gấp lắm. Hắn luống cuống, buông mình ra, chạy. Mình hoàn hồn, lúc đó mới nhận ra là mình đang đứng bên bờ vực mà không hay.
Hạnh rùng mình, hỏi:
– Gì mà đứng bên bờ vực?
– Không vực sao được. Cứ tưởng tượng hắn làm ẩu mình, thì hậu quả sẽ ra sao, ai mà biết được.
– Thì mình sẽ chống cự đến cùng. Mình cấu, mình xé, mình la lên rồi mình bỏ chạy…
Thương thở dài:
– Bà chưa ở trường hợp đặc biệt của mình, bà chưa biết. Nếu mà cấu được, xé được, la được, bỏ chạy được thì nói làm gì. Con người mình lúc đó nó lạ lắm, nó kỳ lắm…nó y…như không phải của mình.
Hạnh lại rùng mình.
*
Thương có một ngồi nhà nằm ngay trên đường quốc lộ, cách thị xã chừng vài cây số. Nhà khá khang trang. Vườn rộng, trồng nhiều loại cây khác nhau, nhiều nhất là xoài và thanh long. Thương lấy chồng sớm, nên tuy bằng tuổi Hạnh, con cái Thương đã lớn. Hai đứa đầu đi học xa. Nhà chỉ còn hai đứa nhỏ. Thương dành cho Hạnh một phòng ngủ riêng biệt, nên nàng cảm thấy không phiền hà gì. Cảnh, chồng Thương, hiếu khách. Anh tế nhị dành cho vợ nhiều thì giờ được ở gần bạn. Chỉ trừ những trường hợp cần thiết, còn thường thì anh để cho vợ và bạn vợ được thoải mái trò chuyện. Anh sẵn sàng bỏ những việc riêng, đến trông hàng cho vợ, để hai người đi chơi với nhau. Kể cả những lúc đi ăn tiệm. Hai người bạn học cũ trò chuyện đủ mọi thứ trên đời, từ những kỷ niệm vu vơ thời còn đi học cho đến chuyện buôn bán, yêu đương rồi chuyện gia đạo, chuyện đàn bà. Dù hai người chẳng phải là bạn thân hồi còn đi học, nhưng nhiều năm tháng trôi qua, bất cứ thứ gì cũng trở thành quý giá. Chúng quý chỉ vì chúng không còn nữa. Hạnh không quên kể lại cho Thương nghe về ông thầy cũ, Túy. Thương lơ đãng lắng nghe, không mấy mặn mà với ông thầy này, chỉ vì hồi đó cô đã có bồ. Thương là một trong những cô bạn hiếm hoi của Hạnh có bồ rất sớm, hình như chỉ khi mới có mười lăm mười sáu tuổi.
Kể từ sau ngày giải phóng, có lẽ chưa có lúc nào Hạnh cảm thấy thoải mái hoàn toàn như thời gian ở Nha Trang lần này. Nàng thấy mình trẻ hẳn lại. Những lo âu vớ vẩn tự nhiên biến đi đâu mất. Thương chở nàng đi nhiều nơi: Cam Ranh, Hòn Bóng, Tháp Bà, đi thăm những vườn xoài lớn ở những vùng sâu, cách quốc lộ khá xa ở Hòa Tân. Thú nhất là sáng và chiều nào, nàng cũng được ra bãi biển. Chưa bao giờ nàng được tận hưởng mùi vị của biển như bây giờ. Ở Huế, cả một thời tuổi nhỏ, họa hoằn lắm nàng mới có dịp về biển. Nhưng khi đi lại đi theo trường, nên chẳng mấy tự do. Sau giải phóng, cuộc sống tất bật, nàng chẳng còn nhớ gì về biển nữa. Ði chơi biển có vẻ sang quá, nhàn nhã quá, không thích hợp với hoàn cảnh chạy chợ. Bây giờ ở đây, biển nằm ngay thành phố. Ðưa tay ra là đụng biển. Bước xuống là gặp biển. Mùi biển phảng phất trong không khí, trong gió. Mấy buổi sáng liên tiếp, nàng đòi Thương chở nàng ra biển thật sớm. Lợi dụng lúc vắng người, Hạnh nằm lăn ra trên cát, tận hưởng những cảm giác mới mẻ. Nàng tưởng như mình còn là một cô gái mới lớn, chưa có hệ lụy với đời, hồn nhiên vui sống y như cuộc đời mãi mãi cứ thế không thay đổi. Không thuế má, không công an, không hàng hóa, không vàng cao vàng hạ, không vay mượn. Không chồng, không con, không ai, không gì níu kéo nàng. Nàng tự do thoả thích.
Hôm đó, Thương hẹn chở nàng đi ăn một món gì đặc biệt gì đó ở Thành, một thị trấn nằm trên đường quốc lộ. Rủi thay, đúng lúc đó, bốn bạn hàng từ cao nguyên về đóng hàng đi cùng một lượt. Thương tất bật chạy hàng, đóng hàng, không thể rời sạp được. Thấy Hạnh lần chần chờ đợi, chỗ lại chật, bạn hàng thì vây quanh chẳng biết khi nào xong, Thương nhìn chồng:
– Hay là chiều nay, anh thế em, đưa Hạnh đi Thành chơi. Em chở đi nhiều nơi rồi, nhưng chưa lên Thành. Ở đó có cái quán bún khá ngon, anh biết rồi. Ngó cái điệu này, em không thể rảnh được cho đến tối. Xem, cái chị ấy đợi từ trưa đến giờ…cho chị tiền đi. Em có bà bạn từ Huế vào…À, không loại quần này từ Thái đến, còn cái này không phải, hàng Sài Gòn…Coi kìa, em đừng xếp như thế, loại vải Thái này dễ nhăn lắm, đây, đưa tôi xếp cho. Sao, anh ráng đi. Hạnh, bà chịu khó, bà xem mình bận quá, lâu lâu có một lần bạn hàng đến một lượt. Ờ được rồi chị, em đã gói xong rồi, chị nói người ta đưa ra ga đi. Ði nhé anh.
Cảnh lúng túng:
– Em nói gì kỳ vậy.
– Thì có gì đâu mà kỳ. Bạn em cũng như bạn anh thôi. Mười bốn mười lăm, mười sáu…Sao, chị muốn lấy thêm bao nhiêu quần jean nữa…Thái hả? Không, cái này để dành cho chị Ðào rồi. Ðược, đừng lo…có đủ mà. Ði, đi anh, chở Hạnh đi chút. Xin lỗi bà nghe, khi thì ngồi rục cùi thúi cuống, khi thì không kịp thở. Sao? Ở đây hả? Ở đây làm gì, bà ơi. Tùm lum nè. Kiếm cái gì ăn đi. Ối trời ơi, ngại gì mà ngại…
Cảnh và Hạnh nhìn nhau, ngập ngừng. Hai người đứng nép sát vào lối đi hẹp giữa hai sạp, quan sát Thương làm việc. Thương giục:
– Cái anh này, lạ thật, đi cho em nhờ. Khoan, khoan, chị Ngộ, để em bỏ vào thùng cái đã. Gì? Áo NATO hả? Hết sạch rồi. Tuần trước hai chị em mang vô được 20 cái, đóng liền cái rụp. Lần sau đi. Ðó, bà thấy chưa Hạnh, người ta hỏi NATO như chi. Ði, đi, bà ơi. Làm ơn…Có gì tối về nói chuyện.
Cảnh nói:
– Thôi, hay là anh chở chị ấy về nhà đợi em.
– Cái anh này!…Mười tám, mười chín…Thấy chưa, lộn rồi. Em đã nói mà!
Nghe lời Thương, Cảnh và Hạnh lừng khừng một hồi lâu khi ra khỏi chợ, không quyết. Nhưng rốt cuộc, họ lặng lẽ đồng ý. Người thì chiều vợ. Kẻ thì không muốn làm buồn lòng bạn. Cảnh bối rối khi chở một phụ nữ không phải vợ mình trên xe. Còn Hạnh thì thực sự lúng túng khi ngồi trên chiếc yên liền có bọc một lớp da phụ màu nâu của chiếc Honda đàn ông. Hạnh ngồi dịch lui sau một khoảng để tránh khỏi phải tiếp xúc với Cảnh, tay bấu chặt lấy thanh sắt mé dưới yên xe. May mà cái gạt chân phía bên trái khá to bản nên nàng có thể tạm bỏ hai gót chân lên trên.
Khi xe chạy ra đường quốc lộ, hai người dần dần cảm thấy tự nhiên hơn. Ðoạn đường ở đây rộng rãi, tốt, phẳng phiu, ít ổ gà nên xe chạy êm đềm khiến Hạnh giữ được khoảng cách cần thiết. Tuy thế, lúc Cảnh tránh xe hay thắng gấp vì có xe băng ngang, hai thân hình lại có dịp đụng chạm nhau. Hạnh bấu chặt vào yên. Có lúc va chạm mạnh quá, Hạnh phải đưa tay níu vào áo Cảnh. Cảnh vật hai bên đường thật đẹp. Không gian thoáng đãng. Những cánh đồng lúa ửng chín dưới ánh mặt trời chiều. Những vườn xoài sai quả hai bên đường. Thỉnh thoảng nàng lại thấy một khu vườn đầy trái thanh long, màu đỏ hòa lẫn màu xanh với những chiếc lá dài hình dạng kỳ lạ rủ xuống, gây cho ta những cảm giác phấn chấn. Hạnh cảm thấy hào hứng. Và trong một thoáng, nàng vô tình để một cánh tay lên vai Cảnh, có cảm giác rạo rực mới mẻ như đây là lần đầu tiên trong đời được người yêu chở đi chơi trong một chuyến du ngoạn xa, ra khỏi khung cảnh ồn ào, chật hẹp của thành phố. Cảnh chăm chú lái xe, không nói gì. Ðến Thành, anh cho xe chạy chậm lại, hỏi:
– Tôi đưa chị đi ăn cháo cá nhé?
Nghe hỏi, Hạnh thấy buồn cười. Nàng nói:
– Cái bà Thương này cũng lạ. Bỗng không bắt anh phải chở đi tận đây. Thiếu gì chỗ đi.
Cảnh cũng cảm thấy buồn cười. Anh nói:
– Ừ, bà xã tôi cũng lạ. Bắt tôi phải chở chị lên tận đây ăn cháo. Cô ta làm như ở Nha Trang không còn gì để ăn nữa.
Hạnh không thể hình dung mình ngồi ăn với một người đàn ông xa lạ trong một cái quán. Sao vô duyên như vậy? Hạnh không hiểu sao đến bây giờ nàng mới nghĩ ra điều ấy. Cảnh suy nghĩ một lát rồi hỏi:
– Chị đã đói bụng chưa?
– Chưa anh ạ.
– Vậy, tôi đề nghị đi kiếm cái gì uống rồi về.
Hạnh gật đầu. Cảnh lái xe chạy vòng vèo rồi ghé vào một quán nước ở góc đường. Quán nước sát đường, nhưng chỗ ngồi lại ở trong khu vườn, sát hàng rào, nằm dưới bóng những cây dừa và xoài. Hai người cùng ngồi xuống, cùng nhìn nhau và không hiểu sao, cả hai cùng bật cười. Nụ cười bất chợt khiến họ mất hết những ngượng ngập, lúng túng. Cảnh buột miệng:
– Chị còn trẻ ghê!
– Anh cũng thế, trẻ ghê!
Cả hai lại cùng cười thoải mái. Họ nhìn thẳng mặt nhau và bắt đầu nhận ra rằng từ cả tuần nay, tuy ở cùng một nhà, tuy đã từng đi chung với nhau, chào hỏi nhau, đứng gần nhau, nhưng thực sự chưa ai thấy rõ ai. Hạnh nói:
– Anh có người vợ thật tuyệt! Hồi tụi này còn nhỏ, Thương là lanh nhất. Vui vẻ, năng nổ nhất.
– Vâng, không có cô ấy, chắc tôi cũng không biết phải xoay sở làm sao để nuôi con giữa thời buổi này.
Hạnh đưa ngón tay chỉ vào mặt Cảnh đồng thời ném vào anh một cái nhìn giễu cợt:
– Anh xạo! Thương khoe anh giỏi quá trời. Anh đã từng đi buôn chuyến với Thương…
– Ờ, thì có đi, mà đi như người hộ vệ, chứ tôi mà biết buôn bán gì. Cô ta sai đâu, đánh đó. Sao, gì mà chị cứ nhìn tôi cười hoài vậy?
– Không, không gì hết. Anh cứ nói tiếp đi.
– Nói cho đúng là cô ta hành tôi: bưng cái này cho em, vác cái nọ cho em, bỏ đồ kia vô giỏ cho em vân vân và vân vân. Cô ta xoay tôi như chong chóng.
– Anh người Nha Trang?
– Không. Tôi người Bình Ðịnh, nhưng lớn lên ở Nha Trang.
– Hèn gì! Tôi nghe giọng anh ngồ ngộ mà không đoán được anh người ở đâu.
– Cái gì mà chị kêu là ngồ ngộ. Tôi nói dở lắm hay sao?
– Ngồ ngộ là ngồ ngộ. Ngồ ngộ là hay, sao lại gọi là dở. Ở xứ tôi, ngồ ngộ tức là ngộ lắm. Là hay đó.
– Gì cũng được. Nhường cho chị chọn. Chị thích gì, tôi thích nấy.
– Vậy thì nước dừa đi. Hai ly nước dừa. Anh có hút thuốc không, kêu luôn. Có há? Ba số hay con mèo? Thôi cho ít điếu con mèo.
– Chị cũng hút thuốc?
– Mô có.
Cảnh nheo mắt nhìn Hạnh:
– Chị nói chữ “mô” hay quá!
Hạnh huơ tay phác một cử chỉ như muốn vỗ nhẹ vào Cảnh:
– Rồi, lại cho tôi nói giọng Huế quê phải không?
– Mô có!
Nghe Cảnh nhái giọng nàng, Hạnh lại huơ tay lên không, cười ngặt nghẽo. Nàng nói:
– Thôi thì quê cũng được. Quê vậy mà có người mê lấy vợ Huế đấy!
– Ấy, chị nói quê chứ tôi không có nói quê à nghe.
– Nghe cái giọng anh là tôi biết rồi cần chi anh phải nói ra, phải không? Thôi bỏ qua đi. Này, Nha Trang đẹp thật đó nghe. Tôi mới vào lần đầu mà đã mê ngay. Nha Trang có đủ: biển trời cây cỏ và… người.
– Mô mà không biển trời cây cỏ và người. Nha Trang mà so với Huế của chị chi được.
– Không đâu anh ơi. Ở xa nghe người ta ca tụng Huế đẹp Huế thơ, chứ ở đó hoài chán chết. Ði lui đi tới cũng chừng đó. Ngày mô cũng gặp chừng đó người. Nói thật với anh, nếu mà có dịp, có điều kiện, tôi muốn đi xa, không ở Huế nữa.
– Chị chẳng đi xa đó rồi còn gì nữa.
– Em nói xa là xa luôn kìa, nghĩa là đi ở chỗ khác.
– Thì ai cấm Hạnh đi. Quyền Hạnh mà. Mà nếu đi chỗ khác thì Hạnh muốn ở đâu?
– Nha Trang chẳng hạn.
– Ðứng núi này trông núi nọ rồi. Tôi thì tôi thấy Nha Trang cũng chán lắm. Ngày nào cũng như ngày nào, không có gì đặc biệt. Ðược đi đây đi đó như Hạnh thật sướng.
– Anh muốn đi thì đi, ai cấm.
– Hồi trước kìa. Giờ thì bị cột chân ở đây rồi.
– Thì lâu lâu mình đi một lần.
– Không đơn giản đâu.
– Thương không cho anh đi à?
– Ừ. Cô ấy ngó vậy mà khó lắm.
Hạnh cười:
– Khó là phải. Dễ cho mấy ông sinh chuyện à. Tướng ai chứ tướng anh mà thả ra thì phải biết!
– Hạnh nói “phải biết” là “phải biết” làm sao?
– Thì “phải biết” là “hết ý”.
Cảnh cười lớn, thoải mái. Nụ cười làm cả thân người anh rung lên. Hạnh nhìn thấy khoảng ngực của Cảnh chuyển động phập phồng qua lằn chiếc áo lót nổi lên dưới áo sơ mi trắng. Trông anh ta thật mạnh khỏe, tươi tắn. Một ý nghĩ vu vơ thoáng hiện, khiến nàng bối rối quay mặt đi. Ðúng lúc đó, người bán hàng bưng nước dừa tới. Hạnh chăm chú khuấy đường. Tiếng muỗng va lanh canh vào thành ly, trong và vui. Cảnh vừa khuấy đường vừa hỏi:
– Hạnh định khi nào đi lại?
Hạnh làm ra vẻ ngạc nhiên:
– Ði đâu anh?
– Thì rời khỏi đây.
Hạnh chống tay lên cằm, nghênh nghênh nhìn Cảnh:
– Vậy lúc nào anh đuổi em đi nào?
– Ai mà dám đuổi Hạnh. Sợ Hạnh bay vù đi liền. Ai mà giữ Hạnh cho nỗi.
Hạnh bỏ tay xuống, tiếp tục khuấy:
– Thì rồi cũng phải đi thôi.
– Hạnh định vào Sài Gòn hay ra lại Huế?
– Sài Gòn chứ anh. Ðang đi buôn mà.
– Hạnh sướng thật! Như chim.
Hạnh nhìn ra xa. Qua một khoảng hở giữa hòn núi và một chòm cây, nàng nhìn thấy biển. Nàng nói:
– Có lẽ thế. Em cũng muốn thành chim luôn cho khỏe.
*
Hạnh trải qua nhiều giấc mơ khác nhau trong đêm. Ðến gần sáng, nàng muốn thức dậy, nhưng giấc mơ kéo nàng nằm xuống lại. Mơ tiếp. Nhiều lần như thế. Khi tỉnh ngủ hẳn thì trời đã sáng trưng bên ngoài. Nắng tràn vào phòng cùng với mùi biển và mùi cây lá. Nàng vùng dậy, đến cửa sổ, kéo tấm màn chắn lên, nhìn ra ngoài. Nắng mênh mông. Nàng thấy Cảnh. Cảnh mặc chiếc quần jean cũ, ở trần, đang tưới cây. Anh đi tới, đi lui, khom người xuống rồi đứng dậy, vươn vai, mạnh khỏe, vững chải. Khi anh đi về phía giếng nước, nàng thấy khuôn mặt anh ửng đó, tóc lòa xòa phủ tận mắt. Ngực và bụng anh ướt nước. Nàng bỗng sực nhớ tới Lục. Nhớ Lục bửa củi, múc nước, cuốc đất. Thân hình Lục gầy hơn Cảnh. Nàng chợt có cảm giác Thương hạnh phúc hơn mình.
Hạnh đi rửa mặt đánh răng, thay áo quần. Khi ra phòng khách đã thấy Cảnh ở đó. Nàng ngạc nhiên:
– Anh sao nhanh vậy?
– Gì đâu mà nhanh chị.
– Vừa thấy anh tưới cây ngoài vườn.
– Thế à? Ra Hạnh… à chị thức dậy lâu rồi sao?
– Vâng.
– Tôi cố ý đợi… Hạnh đấy.
– Thương đâu mà đợi em… à đợi tôi.
– Thương lại bận nữa. Có bạn hàng tới lúc nửa đêm. Sáng ra đã đi rồi. Cô ấy nói tôi đưa Hạnh đi ăn sáng.
– Nữa!
– Mà sao? Hay Hạnh không thích đi?
Hạnh nguýt:
– Sao không?!
Cảnh nói:
– Tưởng Hạnh không thèm…
– Ai mà thèm.
Ngồi lên xe rồi, Hạnh nói:
– Em chẳng muốn ăn sáng đâu. Nhịn quen rồi. Cho em ra bãi biển chơi đi. Em thích biển. Ngoài em, biển xa quá, ít có dịp đi.
– Hạnh thích gì thì tôi chìu nấy. Nhưng đói bụng, trúng gió, tôi không chịu trách nhiệm đâu nhe.
Hạnh bĩu môi, “xì” một tiếng, nói:
– Ai thèm bắt anh chịu trách nhiệm. Có người chịu rồi.
– Ai mà sướng vậy?
– Anh khỏi cần biết.
Cảnh ghé tiệm mì, mua hai ổ mì thịt rồi phóng xe ra bãi biển. Trời đã khá trưa nên biển vắng dần. Cư dân địa phương đi tắm sáng đang lục tục rời biển. Dựng xe ở gốc cây dừa, Cảnh thuê hai chiếc ghế xếp. Anh đưa mì cho Hạnh và chỉ chiếc ghế:
– Hạnh ngồi đây ăn và ngắm biển.
Hạnh lắc đầu:
– Em nói rồi, em chưa muốn ăn. Em thích đi dạo biển.
– Tùy. Tôi đợi.
Hạnh đi ngay xuống bờ nước. Nàng bước trong vùng cát thấm nước. Sóng đều đặn tràn lên rồi rút xuống. Cảm giác mịn màng, mát lạnh dưới chân gây cho nàng một khoái cảm đặc biệt. Nàng theo bờ nước đi, đi mãi về phía xa. Bờ biển cong cong vươn ra, thu vào duyên dáng. Nuớc rung rinh, bập bềnh, sống động. Cát trắng. Trời xanh dịu ngọt. Gió biển dào dạt thổi vào. Biển vắng người phơi ra một bãi cát dài hân hoan dưới nắng. Biển ở đây trông gần gũi hơn biển Thuận An của nàng. Thuận An có cái nét hoang dã, khiến những người ít đi biển như nàng sợ hãi vu vơ.
Nàng mải miết bước. Thỉnh thoảng, nàng phải nhảy cỡn lên để tránh một đợt sóng lớn bất thần tràn vào. Ống quần đẫm nước mang lại cảm giác mát lạnh rờn rợn, kích thích. Nàng say sưa tận hưởng mùi biển y như thể nàng sẽ không còn cơ hội nào nữa. Ðến khi quay nhìn lui, nàng giật mình thấy mình đi xa quá rồi, xa đến nỗi không nhìn thấy chỗ Cảnh ngồi. Nàng vội vàng quay lại.
Về chỗ cũ, không thấy gì hết. Cảnh không, xe không, hai chiếc ghế xếp không, cả đôi dép Lào cũng không. Cảnh mang đi đâu? Bãi biển vắng tanh. Con đường Trần Phú xe cộ ngược xuôi. Nàng ngẩn ngơ, nhìn quanh quất. Cái anh chàng này nghịch ngợm hết ý, trốn đi đâu mất để người ta một mình thế này! Vậy thì ra bờ nước đi tiếp cho anh hàng biết mặt, nàng nghĩ. Nhưng khi thấy phía bên kia đường, nhiều khách du lịch đi dạo, nàng đổi ý, băng ngang qua. Ðến góc đường Lý Tự Trọng, nàng dừng lại, đợi xe. Ðột nhiên, nàng nghe tiếng bước chân hấp tấp ở phía sau. Chưa kịp quay lại thì hai bàn tay ai đó giữ lấy hai vai nàng ấn xuống. Một giọng cười vui vẻ vỡ ra:
– Hạnh đi mô đó?
Nhận ra giọng Cảnh, nàng ngoái đầu lui:
– Làm người ta hết hồn!
Nàng đưa tay, định đẩy Cảnh ra, nhưng rồi để mặc, buông tay xuống, cười.
Khi mặt trời đã lặn, nhân viên y tế mới đưa tôi đến bệnh viện dã chiến của Thụy Điển. Đầu óc tôi chìm sâu trong ý nghĩ rằng tôi có thể phải cưa chân. Tôi vô cùng sợ hãi. Tại bệnh viện, một y tá tiêm cho tôi một mũi moóc phin giảm đau nhưng nó chẳng có tác dụng gì. Hóa ra tôi thuộc 1% số người không có tác dụng với thuốc moóc phin. Người y tá này lại tiêm thêm cho tôi mũi nữa. Chân tôi vẫn đau kinh khủng. Họ xem xét vết thương: khoét bỏ những tế bào hỏng, nhiễm khuẩn và chết để giúp tôi mau khỏi. Sau đó, họ chuẩn bị chuyển tôi sang Đức. Các nhân viên y tế đưa chúng tôi lên máy bay. Nội thất bên trong máy bay thật ấn tượng, trông giống như bệnh viện biết bay: có giường bệnh, các chai dung dịch truyền, thiết bị máy móc. Một y tá đi ngang qua tôi. Tôi đưa tay ra và nắm lấy chân cô ta “Tôi đau quá. Xin hãy làm cái gì đó giúp tôi?”.
Cô y tá nhìn vào phác đồ điều trị của tôi và nói “Anh đã được tiêm hai mũi moóc phin rồi thì làm gì còn đau đớn nữa.” Sau đó, cô ta bỏ đi để xem xét các bệnh nhân khác. Lát sau, một bác sĩ đến bên cạnh và nhìn tôi. Đây là vết thương trong xương − một loại thương tật tồi tệ nhất. Với một vết cắt phần mềm, cơ thể sẽ bù đắp bằng cách thắt các động mạch để giảm lưu lượng máu đến vùng thương tật, ngăn không cho máu chảy mãi. Nhưng với vết thương từ trong xương, cơ thể không thể làm được điều đó. Cơ thể xanh xao, mất máu của tôi run lên bần bật và mồ hôi túa ra khi tôi nghiến chặt răng, cố gắng không để vết thương hành hạ. Ổn định mạch đập, thở chậm, cố gắng chịu đau. Tôi đã từng làm điều này khi còn là một đứa trẻ nhưng tại sao nó vẫn không hết đau? Tôi có thể làm điều này khi còn là một đứa trẻ nhưng tại sao bây giờ tôi không thể? Đó là một cách thức đơn giản tôi từng áp dụng khi bị đau trong những lần ẩu đả thời con nít: tự thoát ra khỏi sự đau đớn và không để thể xác xâm lấn tâm trí. Nhưng tôi vẫn không thắng nổi những biểu hiện sợ hãi của cơ thể: người cứ run lên bần bật và mồ hôi vã ra nên tôi lại cố gắng tập trung lý trí để chống lại sự giằng xé của cơn đau.
Google photo
Vị bác sĩ nói: “Cậu lính này đang đau lắm đây”, rồi ông tiêm cho tôi mũi giảm đau Demerol và hỏi
“Cậu thấy thế nào?”. Ngay lập tức tôi thấy cơn đau dịu đi và cảm ơn vị bác sĩ đó. Người bác sĩ nói gì đó với nữ y tá. Sau đó, cô quay trở lại và xin lỗi tôi. “Tôi xin lỗi, thành thật xin lỗi. Tôi không biết anh bị đau.” Cô nói mà gần như muốn khóc. Chẳng biết chân của tôi có bị cưa cụt không? Chúng tôi hạ cánh xuống căn cứ Không quân Ramstein ở Đức. Lính Không quân đưa chúng tôi lên một chiếc xe buýt. Những người lính Không quân này rất vui vẻ và thân thiện. “Chúng tôi nghe nói các anh đã giành chiến thắng. Chúng tôi đến để chăm sóc cho các anh đây”. Họ làm chúng tôi cảm thấy thật phấn chấn. Khi đến Trung tâm y tế vùng Landstuhl của Lục quân, bệnh viện lớn nhất ngoài lãnh thổ Mỹ, các bác sĩ đưa thẳng tôi đến phòng phẫu thuật. Trong phòng điều hành, họ làm công tác chuẩn bị cho tôi. Một y tá đang chuẩn bị gây mê toàn thân. Tôi vội nói “Tôi không muốn ngủ”. Cô ta lý sự với tôi “Chúng tôi cần phải đưa anh vào giấc ngủ để còn phẫu thuật.” “Tôi không muốn ngủ. Tôi biết mọi người muốn cưa chân của tôi.” Cô ta và một nam y tá nữa ra sức đè tôi xuống nhưng tôi đã đẩy bật họ ra. Tình hình khá căng thẳng khi bác sĩ phẫu thuật bước vào “Đang xảy chuyện gì vậy?”.Cô y tá giải thích: “Bệnh nhân đang chống đối không chịu hợp tác, anh ấy không để chúng tôi gây mê toàn thân”.
Bác sĩ phẫu thuật nhìn tôi. “Có vấn đề gì không?”
“Tôi chỉ sợ các ông sẽ cưa chân của tôi khi tôi đang chìm trong giấc ngủ. Tôi không muốn ngủ. Tôi xin các ông đấy”. Bác sĩ phẫu thuật nói với người nữ y tá: “Hãy gây tê ngoài màng cứng cho cậu ta”.
Cô ta tiêm cho tôi một mũi vào thắt lưng giống như gây tê cho bà đẻ. Kiểu gây tê này sẽ làm mất cảm giác từ phần thắt lưng trở xuống. Ông ta cầm tay và nhìn vào mắt tôi rồi nói: “Tôi là bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình ỏi nhất trong Không quân. Tôi sẽ giữ lại chiếc chân cho cậu”. Thái độ chân thành của ông khiến tôi cảm thấy khá an tâm. Người bác sĩ tiến hành phẫu thuật trong khi tôi vẫn thức để xem. Khi chắc chắn rằng họ sẽ không cưa chân mình, tôi chìm vào giấc ngủ. Sau đó, tôi tỉnh dậy vì thấy đau bên đùi phải. Thuốc tê đã hết tác dụng. Bác sĩ phẫu thuật dùng dụng cụ để lấy một miếng da ở đùi tôi. Ông bỏ miếng da vừa lấy được vào một chiếc máy trông giống như máy vắt phô mai. Ông sử dụng chiếc máy này để làm cho các lỗ chân lông nở ra. Sau đó, ông đặt miếng da vào vùng vừa phẫu thuật. Dần dần, tôi bắt đầu cảm nhận được sự đau đớn. Khi họ tiến hành ghép da lần thứ hai thì tôi hơi ngần ngại. Nếu trường hợp của tôi xảy ra trong thời Chiến tranh với Việt Nam, các bác sĩ hẳn đã cắt bỏ chiếc chân của tôi. Nhờ những tiến bộ y học, tôi đã giữ lại được chân của mình. Sau khi hoàn tất việc phẫu thuật, họ đẩy tôi vào phòng hậu phẫu. Người y tá treo một bơm điện vào giường của tôi và căn dặn: “Nếu thấy đau, chỉ cần bấm nút này, anh sẽ hết đau. Tuy nhiên chỉ khi nào anh thực sự đau đớn thì mới bấm nút để tự tiêm cho mình liều thuốc giảm đau.”
“Thật tuyệt.” Tôi ấn nút hai lần liền và tôi chìm vào giấc ngủ. Khi thức dậy, tôi không còn có khái niệm thời gian. Đột nhiên tôi nghe thấy tiếng rên rỉ: “Trời ơi, đau quá! Trời ơi, đau quá!” Giọng y tá vang lên: “Chờ một chút, chúng tôi sẽ tìm một chiếc bơm điện cho anh”. Tôi đưa mắt nhìn sang và nhận ra người đang kêu đau chính là cậu biệt kích Ranger dũng cảm, người bị một vết thương ở chân, hai vết thương ở vai và một vết thương ở cánh tay nhưng vẫn kiên cường nạp đạn giúp chúng tôi trong trận đánh ở Mogadishu.
Sau một lúc khá lâu mà người y tá vẫn chưa mang bơm điện cho cậu ta. Có thể do bệnh viện chưa kịp chuẩn bị với nhiều thương binh đến cùng một lúc như thế này. Cậu lính biệt kích tiếp tục kêu đau. Tôi gọi tên cậu ta. Cậu ta đưa mắt nhìn tôi và thốt lên vui mừng “Chào, Thượng”. Lính biệt kích Ranger thường gọi tắt “Thượng sĩ” là Thượng.Tôi vươn tay ra cầm lấy một đầu chiếc chổi lau sàn để dựa bên tường, ngay gần giường của tôi, rồi tôi đưa đầu còn lại cho cậu lính biệt kích và nói “Nắm lấy này”.
Cậu ta cầm lấy đầu cây gậy. Tôi nói: “Chúng ta hãy kéo hai giường lại sát nhau nhé.” Chúng tôi kéo cho đến khi bánh xe dưới gầm giường của mình chạm vào nhau. Khi hai chiếc giường đã sát vào nhau, tôi tháo kim của mình ra và cắm ven cho cậu lính biệt kích, sau đó ấn nút hai lần. Do đã sử dụng gần như toàn bộ sức lực nên tôi không còn đủ sức để đẩy hai giường rời nhau ra nữa. Cả hai cùng chìm vào giấc ngủ.
Khi người y tá trở lại, cô ta vô cùng tức giận và la toáng lên “Có chuyện gì với hai chiếc giường này vậy? Có chuyện gì? Tại sao anh lại cho cậu ta thuốc của anh? Nếu cậu ta có phản ứng với loại thuốc này thì hẳn anh đã giết chết cậu ta rồi đó!” Cô ta lấy chiếc kim ra khỏi cậu lính biệt kích và cắm trả lại cho tôi.
Một bác sĩ hàm đại tá nhìn tôi và nói “Này, cậu lính, cậu nghĩ cậu điều hành bệnh viện này hả?”. Tôi vội giải thích, “chúng tôi cùng sát cánh chiến đấu bên nhau. Cậu ấy đang bị cơn đau hành hạ. Tôi chỉ muốn làm cho cậu ta hết đau thôi. Còn nếu ngài muốn thì ngài có thể bắn chết tôi.” Vị bác sĩ này cười nụ với tôi. Ông kéo nữ y tá ra cuối phòng và nói: “Những chàng trai này được huấn luyện phải biết chăm sóc lẫn nhau. Bỏ qua cho họ lần này đi.” Nữ y tá quay lưng lại với tôi trong khi vị bác sĩ quay lại và nháy mắt với tôi. Sau đó, ông rời khỏi phòng. Ngày hôm sau, tôi thấy da đầu ngứa ngáy, khó chịu. Tôi đưa tay lên gãi. Một cục màu đen bám vào phần trong móng tay. Trong trận đánh ở Mogadishu, tôi đã cõng một cậu lính biệt kích Ranger, máu của cậu chảy ra đầu tôi. Những cục màu đen trên đầu tôi chính là máu đã khô lại.
Bác vợ tôi, Earl đến Đức thăm một chi nhánh công ty của ông tiện thể ghé thăm tôi sau khi nghe tin. Khi thấy tôi, ông chỉ nhìn chằm chằm một lúc rồi quay lưng rảo bước ra khỏi phòng đến gặp nhân viên chăm sóc và quát lên “Wasdin đang nằm lẫn với nước tiểu kia kìa!” Tôi không hề hay biết điều này bởi sau khi tiêm thuốc tê ngoài màng cứng, tôi không còn kiểm soát được bàng quang của mình nữa. Rồi tôi nghe thấy ông bác nói tiếp “Người cậu ta bẩn hết rồi!” Các nhân viên bệnh viện cố tìm cách trấn tĩnh bác tôi.
Bác Earl mất bình tĩnh và tiếp tục quát: “Tôi muốn các người lau người cho cậu ấy! Thay quần áo sạch cho cậu ấy! Cho cậu ấy đánh răng! Tốt nhất là các người làm ngay đi nếu không tôi sẽ gọi điện cho Washington ngay bây giờ và không để các người yên đâu!”
Có thể do nhân viên bệnh viện quá bận rộn vì chúng tôi nhập viện đột xuất với số lượng khá đông nên họ chăm sóc không xuể. Dù vậy, chỉ sau vài phút một nhân viên chăm sóc đã có mặt gội đầu cho tôi. Tôi thấy thật mái. Sau đó, nhân viên đó đưa cho tôi chiếc bàn chải và tôi đánh răng. Người nhân viên này cũng thay luôn cả tấm đệm dù nó đã được bọc nhựa và không bị thấm ướt gì. Họ đưa cho tôi một chiếc áo choàng mới. Tôi thấy tốt hơn rất nhiều. Bác Earl mang vào một chiếc xe lăn và nói “Cháu còn cần cái bác giúp gì nữa không?”.
“Dạ, cháu muốn ra ngoài”. Ông giúp tôi ngồi vào xe lăn và đẩy tôi đến cửa hàng đồ lưu niệm. Ông mua cho tôi một chiếc quần len, một chiếc áo len, một chiếc mũ tròn và một con gấu nhồi bông. Bác tôi bảo nhân viên thu ngân: “Cô có thể cắt bỏ hai ống chiếc quần len này lên ngang đầu gối được không?” Cô ta nhìn bác tôi thoáng vẻ bối rối và quay ra nhìn tôi rồi ngọt ngào đáp “Được chứ ạ”. Nhân viên thu ngân lấy ra chiếc kéo và cắt bỏ ống quần theo yêu cầu của bác tôi, sau đó cô đưa chiếc quần cho bác tôi. “Cám ơn”. Bác Earl đưa tôi vào phòng thay đồ của quầy lưu niệm và mặc chiếc quần len cho tôi trùm qua phần cố định bên ngoài. Bác sĩ phẫu thuật khoan bốn lỗ vào chỗ xương không bị thương, gần đoạn dập gãy, sau đó, cắm bốn đinh vào xương. Bên ngoài chân, họ dùng miếng thép gắn bốn đinh lại để cố định các đinh. Những chiếc đinh và miếng thép tạo thành bộ phận cố định phía ngoài. Sau đó, bác Earl mặc áo len và đội mũ giúp tôi. Ông đẩy xe ra khỏi phòng thay đồ và đến quán ăn tự chọn lấy vài cốc bia Hefeweizen. Đây là loại bia lúa mạch không lọc truyền thống của Đức. Loại bia này không đắng và nhiều cacbon hơn loại bia lọc. Ông hỏi tôi: “Cháu muốn gì nữa không?”
Google photo
“Bác có thể đẩy cháu ra sân phơi nắng được không ạ?” Ông đẩy xe ra ngoài và chúng tôi ăn uống ở đó. Sau khi được lau rửa sạch sẽ, thay quần áo thơm tho và ngồi uống bia dưới ánh sáng mặt trời, tôi thấy phấn chấn hẳn lên. Tôi uống nửa cốc bia rồi đi ngủ. Sau này, tôi tặng con gấu bông cho cô con gái Rachel.
Hôm sau, cậu lính của Delta bị thương ở vai đến thăm tôi. Chúng tôi nói chuyện với nhau về trận đánh. Cậu nói “Lúc đầu, tôi không đánh giá cao các anh vì nghĩ các anh không thực sự là thành viên trong đội của chúng tôi. Nhưng các anh thật tuyệt. Chúng tôi không nghĩ SEAL lại đánh hay như thế! Đặc biệt là anh! Tôi nhìn thấy anh vài lần trong trận đánh. Ước gì tôi được đi chung với anh nhiều hơn trước khi trận đánh diễn ra.”
“Cám ơn” – tôi nói. “À này, Brad đang ở tầng dưới. Anh có muốn gặp anh ấy không?” “Đương nhiên là muốn rồi”. Cậu đẩy xe đưa tôi đến gặp Brad, một trong số những tay súng bắn tỉa của Delta. Tôi thấy chân Brad bị cắt cụt – chân của Brad bị gãy lìa khi chiếc trực thăng anh ngồi bị trúng đạn RPG. Brad bắt tay tôi và nói: “Anh không cưa bỏ chân mà lại muốn đóng đinh à?” Brad nói tựa như mọi thứ vẫn rất bình thường với anh vậy. Anh chìa gói sợi thuốc loại Copenhagen ra mời tôi. Tôi lấy một ít cho vào miệng.
Ba chúng tôi ngồi nói chuyện phiếm với nhau. “Ô, họ vẫn giữ được chân cho cậu à?” – Brad hỏi. “Tôi nghe họ nói chỉ cần vết thương của tôi nhích lên trên một cm nữa, họ sẽ buộc phải cưa cụt. Brad đón nhận sự mất mát nhẹ nhàng hơn tôi mặc dù một chiếc chân của anh đã bị cắt bỏ. Lúc đó, tôi thấy buồn với chính mình. Giận Trời và Chúa. Anh ấy không còn chân nhưng vẫn giữ thái độ vui vẻ.
Nhìn thấy Brad vui vẻ, tôi cũng cảm thấy phấn chấn hơn. Brad là lính bắn tỉa của Delta ngồi trên chiếc Black Hawk 62. Cùng bay trên chiếc trực thăng đó là hai tay súng bắn tỉa khác của Delta, Gary Gordon và Randy Shughart. Họ bay phía trên chiếc trực thăng thứ hai bị bắn rơi và nhìn thấy Mike Durant đang di chuyển. Một đám đông người Somali khép dần vòng vây. Lúc này không còn ai bên cạnh, Mike đơn độc một mình. Ba tay súng bắn tỉa và các tay súng khác liên tục nhả đạn vào đám đông từ trên trực thăng.
Brad, Gordon và Shughart nhìn nhau và gật đầu. Gordon nói với viên phi công, “Hãy để ba chúng tôi đến hỗ trợ chiếc trực thăng Black Hawk 64”. Viên phi công gọi về Trung tâm chỉ huy “Ba lính bắn tỉa đề nghị được giúp chiếc 64”. “Không được. Có quá nhiều địch ở phía dưới. Không thể mạo hiểm được”. Khi một tay súng bên cửa máy bay bị trúng đạn, Brad cầm luôn khẩu súng máy. Mọi người đều cần khẩu súng lớn trong trận đánh để chế áp đối phương. Đám đông trên mặt đất tiến sát lại chỗ chiếc trực thăng bị rơi của Mike. Gordon thét lên: “Cho hai chúng tôi xuống.” Viên phi công lại gọi về Trung tâm chỉ huy “Hai lính bắn tỉa của Delta xin lệnh hỗ trợ chiếc máy bay bị rơi chừng nào lực lượng giải cứu tới.”
“Không được.” Gordon nhất định đòi xuống bằng được. Viên phi công hạ thấp độ cao máy bay. Brad dung súng máy bắn yểm trợ để Gordon và Shughart đu dây xuống. Trên mặt đất, hai tay súng bắn tỉa bình tĩnh đưa Mike và các thành viên phi hành đoàn khác đến vị trí an toàn hơn với vị trí bắn tốt hơn. Sau đó, Gordon và Shughart chiếm lĩnh vị trí phòng thủ ở phía đối diện với chiếc trực thăng bị bắn hạ, lạnh lùng bắn hạ từng tên địch một. Gordon sử dụng súng CAR-15, còn Shughart dùng khẩu M-14.
Đột nhiên, Gordon hét lên: “Tôi trúng đạn rồi”. Sau đó, tiếng súng của Gordon câm bặt. Shughart lấy khẩu CAR-15 của Gordon đưa cho Mike. Shughart tiếp tục chiến đấu. Khi súng của Shughart hết đạn, anh quay lại chỗ chiếc trực thăng bị bắn hạ và gọi điện về Trung tâm chỉ huy. Anh đi ra phía trước trực thăng và tấn công đám đông bằng khẩu súng lục, buộc đám đông phải lùi lại. Súng của Shughart hết đạn, đám đông phản kích, giết chết anh. Xác các tay súng Somali nằm rải rác trên đất quanh xác các lính bắn tỉa đã ngã xuống. Shughart và Gordon là những người đen đủi nhất trong số những người bị sát hại. Đám đông trả thù họ bằng cách kéo lê xác của họ trên đường phố và sau đó cắt thành nhiều khúc. Họ bắt sống Mike và giữ anh làm con tin với hy vọng dùng anh để trao đổi tù binh. Sau đó, Mike được trả tự do. Phần thưởng cao nhất trong quân đội là Huân chương được trao cho hai lính bắn tỉa của Delta: Gary Gordon và Randy Shughart.
Một hôm, Đại tướng Henry Hugh Shelton, Tư lệnh Bộ các chiến dịch đặc biệt của Mỹ, đến thăm tôi ở bệnh viện và tặng tôi huân chương Anh dũng bội tinh với Trái tim đỏ tía (Purple Heart) và Huy chương của Bộ tư lệnh các chiến dịch đặc biệt. Sự chân thành, chu đáo và những lời khích lệ của ông đã khích lệ tôi rất nhiều.
Ông hỏi: “Bệnh viện chăm sóc cậu tốt chứ?” “Vâng, thưa ngài.” Tướng Shelton hỏi tôi về tinh thần chiến đấu của các biệt kích Ranger trong trận đánh ở Mogadishu. “Họ chiến đấu dũng cảm, thưa ngài.” – Tôi trả lời. Nghĩ một lát rồi tôi hỏi: “Thưa ngài, chẳng lẽ chúng ta lại bỏ dở sứ mệnh của mình?” “Không, chúng tôi đưa xe tăng vào và hoàn thành nốt phần sứ mệnh còn lại.” Tôi tin những điều ông nói là sự thật nhưng Nhà Trắng đã không bao giờ cho phép điều đó xảy ra.
Tôi ở Trung tâm y tế vùng Landstuhl khoảng một tuần trước khi họ dùng máy bay chở tôi và những người khác đến Căn cứ Không quân Andrews ở Mary Land. Khi họ đưa tôi xuống máy bay, Laura và hai con của tôi ùa ra đón. Cậu con trai Blake 8 tuổi chạy đến bên tôi và choàng tay quanh ngực. Laura đang mang thai, trên tay cô là bé Rachel 3 tuổi. Ở độ tuổi này, Rachel còn quá nhỏ để hiểu được những điều đang xảy ra. Sau một đêm ở lại Mary land, tôi được đưa đến trụ sở của Đội ở Dam Neck. Tôi nói với họ rằng mình muốn vào Bệnh viện Lục quân Fort Stewart ở Georgia để phục hồi chức năng. Bệnh viện này cũng là nơi Blake cất tiếng khóc chào đời, cách nhà tôi khoảng 30 phút lái xe. Đội tặng tôi một chiếc xe lăn trọng lượng nhẹ, làm từ hợp chất composite, có giá tới hàng nghìn đô-la. Gia đình bốn người chúng tôi sống với bố mẹ vợ ở Odum, Georgia trong suốt thời gian phục hồi chức năng.
Google photo
Khi nghe tin Delta sẽ tổ chức lễ truy điệu cho những binh lính tử trận, tôi cũng muốn đi dự. Quân đội điều một máy bay vận tải cỡ nhỏ C-12 đến đón tôi tại Sân bay Lục quân Hunter ở Savannah. Tôi bay đến buổi lễ truy điệu được tổ chức tại quân doanh của Delta ở Fort Bragg. Đón tôi tại sân bay là Tim Wilkinson và Scotty, PJ và Dan Schilling, CCT trong chiếc xe thể thao SUV. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi được gặp lại những người bạn cũ từng sát cánh bên nhau ở nhà chứa máy bay tại Somali. Mặc dù họ là lính không quân nhưng chúng tôi đã cùng chiến đấu bên nhau ở Mogadishu. Điều này làm tôi cảm thấy gần gũi với họ còn hơn cả những đồng đội trong Đội đặc nhiệm SEAL số 6. Không quân trao huân chương Danh dự hạng nhì và Bội tinh chiến công cho Tim. Scotty được trao Ngôi Sao bạc, Huân chương danh dự hạng ba trong quân đội. Dan được nhận Ngôi Sao đồng, Huân chương danh dự hạng dưới của Ngôi Sao bạc.
Họ đẩy tôi qua một bức tường, ở đó có khắc tên của những đặc nhiệm Delta đã ngã xuống. Tôi thấy sáu đôi ủng dã chiến, sáu khẩu súng trường M-16 với các lưỡi lê giương lên, sáu lưỡi lê ở báng các khẩu súng trường này và các bức hình chân dung của các đặc nhiệm tử trận: Dan Busch, Earl Fillmore, Randy Shughart, Gary Gordon, Tim Griz Martin, và Matt Rierson.
Tôi nhớ Griz là người có một vết chàm lớn trên mặt. Griz là người vui nhộn, luôn nghĩ ra những trò đùa mới lạ và vui vẻ.Tại buổi Lễ truy điệu tổ chức ở trong phòng, Đức Cha dẫn dắt mọi người đọc kinh cầu nguyện cho những người đã ngã xuống. Những người vợ đầm đìa nước mắt. Nhìn vẻ mặt của cha mẹ Dan Busch thì biết ông bà hụt hẫng như thế nào. Dan là con một trong gia đình và mới chỉ 25 tuổi đời − một độ tuổi mà ít ai nghĩ đủ khả năng để được lựa chọn vào Delta.
Dan là một người rất ngoan đạo. Tôi chưa bao giờ nghe cậu ta báng bổ Chúa. Tôi nhớ có một ngày sau bữa ăn trưa, chúng tôi xoa dầu chống nắng và phơi nắng trên nóc của một tòa nhà bên ngoài nhà chứa máy bay ở Mogadishu. Trong khoảng thời gian rỗi ít ỏi này, tôi đã trò chuyện khá nhiều với Dan Busch.Một trung sĩ điểm danh lần cuối. Mọi người đều đáp “Có” khi được gọi đến tên, ngoại trừ sáu người đã ngã xuống. Đội tiêu binh bắn ba loạt đạn. Đội kèn thổi bài hành khúc trong lễ truy điệu.
Trong nghề nghiệp của mình, ngay từ khi chấp nhận công việc này, chúng tôi biết sẽ có những buổi như ngày hôm nay. Tuy nhiên, chứng kiến sự đau khổ của các bậc sinh thành, của những người vợ và những đứa con thơ, tôi thực sự đau lòng. Các chàng trai này đã ra đi, Dan đã ra đi. Sao tôi vẫn còn sống mà họ thì không? Dan Busch là người tốt hơn tôi, ngoan đạo hơn tôi. Tại sao anh lại chết còn tôi thì không? Tôi cảm thấy tội lỗi khi sống sót trở về. Kết thúc buổi lễ truy điệu, khi Scotty, Tim và tôi đang trò chuyện với nhau thì một đặc nhiệm Delta hỏi tôi là ai. Họ không nhận ra tôi trong bộ râu dài, rậm chưa cạo. Tôi quá yếu và chẳng còn hơi sức để cạo râu nữa. Scotty và Tim nói cho cậu ta tôi là ai.”Ôi, lạy Chúa”, cậu đặc nhiệm này đi đến chỗ các đặc nhiệm Delta khác và nói “Này Wasdin đang ở đây đấy!”Họ vây quanh tôi, đưa tôi đến phòng đợi của Phi đội Charlie và nhét vào tay tôi hai cốc bia. Chúng tôi trò chuyện với nhau và họ cười ầm lên khi nghe tôi kể chuyện bơm thuốc cho cậu biệt kích Ranger ở bệnh viện Landstuhl. Sau đó, Delta tổ chức một bữa tiệc nhưng tôi bị sốt và không còn sức lực để vui cùng với họ. Tôi về phòng khách sạn của mình trước. Chỉ có Bộ trưởng Quốc phòng Les Aspin tham dự lễ truy điệu. Phần lớn nội các trong chính quyền Clinton đều hy vọng trận đánh ở Mogadishu sớm đi vào dĩ vãng và muốn người dân Mỹ lãng quên trận đánh này. Sáng hôm sau, tôi trở về Georgia. Ngay khi về tới Georgia, tôi đến bệnh viện khám định kỳ. Tôi bị chứng tiêu chảy. Cơn sốt làm bệnh trầm trọng thêm. Toàn thân đau nhức. Tôi cảm thấy mất phương hướng. Tôi nghĩ chắc mình đang chết đây. Một nhóm nhân viên y tế đến bên, tiêm vào mông hai mũi và cho tôi truyền dịch. Họ tháo băng trên chân tôi ra và bắt đầu kiểm tra. Một bác sĩ hỏi tôi: “Cậu vừa đi đâu về? Chúng tôi liên lạc với gia đình cậu nhưng cậu không có ở nhà. Kết quả xét nghiệm máu cho thấy cậu bị nhiễm khuẩn cầu chùm.” Khuẩn cầu chùm đã bò vào người tôi qua những chiếc đinh ghim ở chân. Điều này phần nào giải thích tại sao tôi thấy không còn chút sức lực nào để có thể dự tiệc cùng Delta sau buổi lễ truy điệu.
Trên giường bệnh, tôi nhổm dậy, nhìn xuống phần chân và lẩm bẩm: Mình đang chết đây. Loại khuẩn cầu chùm này còn nguy hiểm hơn cả chiến tranh. Ngày hôm sau, bác sĩ tỏ ra bực bội với tôi và nói “Nếu đồng ý để tôi chăm sóc thì cậu phải cho chúng tôi liên lạc với cậu. Nếu không, cậu phải quay trở lại Virginia để các bác sĩ hải quân chăm sóc.” Ông ấy thực sự sợ hãi. Người bác sĩ đã rất ưu ái khi để tôi phục hồi chức năng ở bệnh viện của ông ấy, vậy mà tôi lại đem đến cho ông sự sợ hãi.
“Vâng, thưa bác sĩ.” Họ giữ tôi trong bệnh viện vài ngày cho đến khi tôi hồi phục. Ngồi ở nhà trên chiếc xe lăn, tôi mới thấy rõ mình đã phạm lỗi về lòng dũng cảm và cảm thấy có lỗi với bản thân. Tôi trượt sâu vào khủng hoảng. Thức dậy vào sáng hôm sau, tôi phải chăm sóc các đinh ghim bằng cách sát trùng những phần xung quanh bốn chiếc đinh thò ra phía ngoài chân. Nếu tôi không làm, các vi khuẩn có thể lại bò theo các đinh ghim vào xương tôi – lại gây ra nhiễm khuẩn cầu chùm như lần vừa rồi và suýt chút nữa lấy đi tính mạng của tôi. Sau đó, tôi băng bó vết thương lại. Quá trình này mất khoảng 40 đến 50 phút. Cứ hai ngày tôi lại lau rửa một lần. Tự lau rửa các đinh ghim khá vất vả. Tôi nhờ vợ và em vợ giúp nhưng họ chẳng có bụng dạ nào làm việc đó cho tôi. Trông vết thương thật kinh tởm với bốn đinh ghim thò ra phía ngoài chân. Phần da ở chỗ đinh ghim trông muốn buồn nôn và có thể nhìn thấy phần thịt bên trong.
Cả ngày tôi chỉ quanh quẩn trong các bức tường. Tôi không quen bị nhốt trong nhà và sự trầm cảm ngày càng đè nặng lên tôi. Tôi phải ra ngoài mới được. Theo đó, tôi quyết định tự làm những công việc bình thường và thường nhật. Nhưng thật không ngờ những việc đơn giản như đi chợ mua sắm hàng ngày lại làm tổn hại lòng tự trọng của tôi. Một ngày nọ, khi đang tự xoay xe trong lối đi ở Siêu thị Winn-Dixie ở Jesup, Georgia, tôi bắt đầu cảm nhận được sự thoải mái khi ra khỏi nhà, góp chút công sức nhỏ mọn cho gia đình.
Một người phụ nữ béo phì nhìn chằm chằm vào chân tôi. Mặt bà ta nhăn mặt lại như thể vừa ăn phải chanh chua. Tôi đã mang bên ngoài chân là chiếc quần len để che lấp phần cố định vết thương, nhưng các đinh ghim vẫn lộ ra ngoài. Bà ta nói: “Tại sao anh không ở nhà? Anh không thấy vết thương của anh làm người ta phát ớn thế nào à?
Tôi bị thương ở chân là để bảo vệ tổ quốc của bà − tổ quốc của chúng ta. Có thể đây là cách một người dân Mỹ bình thường nhìn tôi. Có phải họ muốn nhìn thấy chúng tôi chết vì họ nhưng lại không muốn nhìn thấy chúng tôi bị thương như thế này? Tôi cảm thấy buồn cho bản thân vì bà ta không biết tôi là ai và vì sao tôi bị thương. Câu nói này đã xúc phạm tôi và lúc đó tôi muốn đáp trả nhưng lại không thể. Những lời lẽ xúc phạm càng làm tôi chìm sâu vào trầm cảm. Ở nhà, tôi lăn xe quanh nhà, ăn uống và xem ti vi để giết thời gian. Tôi không thể tắm vì không được phép để các đinh ghim bị ướt. Tôi phải gội đầu bằng chậu và chỉ lau người bằng khăn tắm.Tôi tiếp tục đến bệnh viện Fort Stewart để phục hồi chức năng. Họ sử dụng phương pháp bồn xoay nước nóng chữa chân trái của tôi. Phương pháp này làm bong phần thịt chết ra ngoài. Nó làm tôi đau muốn chết, như thể bị trúng đạn lần nữa vậy. Họ đưa cho tôi đôi nạng. Họ đỡ dậy và đặt tay tôi vào thanh nạng. Vết thương dày vò làm tôi không nén được sự đau đớn, nước mắt cứ tràn ra. Tôi đã không vận động trong một thời gian khá dài. Sau đó, họ phẫu thuật cho tôi. Họ còn tiến hành phẫu thuật thêm ba lần nữa.
Đồng hồ sinh học của tôi không kịp điều chỉnh vì tôi liên tục di chuyển, ban đầu là ở châu Phi, rồi sang Đức và bây giờ là Mỹ. Thời gian rảnh nhiều nên tôi hay ngủ vặt ban ngày và điều này làm tôi khó ngủ vào ban đêm. Đau xương quả là vấn đề. Chừng nào những chiếc đinh còn trong chân, tôi vẫn còn đau. Thật dễ hiểu tại sao mọi người hay sử dụng thuốc giảm đau để cắt cơn đau. Nhưng tôi không đếm xỉa đến những loại thuốc này bởi nó chỉ làm người tôi tê dại đi mà thôi. Ở một mức độ nào đó, tôi muốn được nhấm nháp sự đau đớn, tội lỗi vì trong khi tôi sống sót thì rất nhiều đồng đội tốt của tôi, đặc biệt là Dan Busch đã ngã xuống. Tôi nghĩ có lẽ tôi thật kỳ cục khi gặm nhấm nỗi đau theo kiểu này.
Không còn ở quân doanh Đội đặc nhiệm SEAL số 6 và không còn đồng đội nào bên cạnh, tôi mắc triệu chứng khép mình lại do bị tách rời khỏi đồng đội. Tôi cũng vấp phải cú sốc về văn hóa. Mọi người trong khu phố có thể nói chuyện với tôi về cuộc sống của họ nhưng tôi lại không thể kể cuộc đời tôi cho họ nghe. Tôi không thể kể cho họ nghe về những tuần tập luyện vất vả, cũng không thể làm họ cười bằng chuyện tôi tiêm thuốc cho cậu biệt kích khi ở chung trong bệnh viện tại Đức. Mọi người xung quanh chẳng thể hiểu nổi. Tôi bắt đầu học cách im lặng trong các câu chuyện phiếm. Giờ đây tôi mới hiểu mình khác lạ với người xung quanh biết chừng nào. Không có đồng đội bên cạnh, tôi cảm giác mình bị lãng quên. Không còn các sứ mệnh phải thực thi, tôi mất đi cảm giác về chất hoóc-môn ở tuyến thượng thận tiết ra. Bây giờ, tôi thậm chí còn không đi lại được. Theo văn hóa của SEAL, tôi là kẻ bại trận đáng xấu hổ. Tôi ghét thế giới này nói chung và ghét Chúa nói riêng. Tại sao điều này lại xảy ra với tôi?
Sau này ngồi ngẫm lại, tôi ngộ ra rằng hẳn Chúa muốn tôi hiểu, tôi chỉ là một người bình thường và rằng lính đặc nhiệm cũng chỉ là một nghề không hơn không kém. Howard, con quá cứng đầu mà không chịu nghe Ta sau khi con bị trúng đạn lần đầu. Con cũng không nghe Ta sau lần thứ hai bị trúng đạn. Nào lại đây, cậu bé, hãy để Ta cho con gánh chịu nỗi đau lần thứ ba. Bây giờ con đã hiểu chưa? Con không phải siêu nhân. Con chỉ là người Chúa phái đi thực hiện các sứ mệnh đặc biệt chừng nào còn đủ sức. Con ở đâu đều do Ta quyết định, chứ không phải do con. Đây chính là điều Ta muốn con nhớ lấy. Bây giờ, con đã hiểu, hãy để Ta tạo tác thêm cho con. Con vẫn chưa phải là sản phẩm hoàn chỉnh. Chúa đã làm cho tôi biết khiêm nhường và đưa tôi trở lại với thế giới thực, làm cho tôi trở thành người cha của những đứa con theo đúng nghĩa. Ở thời điểm đó, chẳng ai khuyên tôi những điều như thế cả nhưng nhìn lại, bị thương ở chân chính là món quà quý báu nhất đối với tôi.
Một ngày nọ, anh bạn thân của tôi gọi điện đến. Ở nông trại của anh, có một giống hươu lai đặc biệt được anh lai tạo từ loài hươu đuôi trắng Mỹ. Anh ta bảo tôi: “Hãy đến chỗ tôi và chúng ta cùng săn bắn một chút.” “Được! Được! Hãy đến đây và đưa tôi ra khỏi căn phòng chán ngắt này!” Anh đi xe bán tải đến đón rồi đưa tôi đến nông trang. Anh đặt chiếc xe lăn của tôi xuống đất. Anh đẩy tôi đi khoảng 30 m qua các bụi cây nhỏ, rồi anh dừng lại. Anh chỉ tay về một chấm nhỏ cách chừng150m và nói “Con hươu thường hay xuất hiện chỗ đó.” Súng săn của tôi là khẩu Magnum cỡ nòng 7 li có kính ngắm chuẩn. Lòng tôi tràn ngập hạnh phúc. Tôi ngồi đó đợi khoảng một tiếng rưỡi. Một con hươu đực xuất hiện. Ngồi trên xe lăn, tôi tì báng khẩu súng săn lên vai, bóp cò và con hươu gục ngã. Một cú bắn hoàn hảo. Sau khi đặt khẩu súng xuống đất, tôi đẩy xe đến chỗ con vật. Phải mất một lúc khá lâu tôi mới tới được chỗ con hươu bị trúng đạn. Tôi dừng xe bên cạnh con hươu. Đó là con hươu đực rất đẹp. Nó ngước mắt nhìn tôi, khịt khịt mũi, rồi ngả đầu ra phía sau. Nó hộc lên lần cuối. Chứng kiến con hươu chết, tôi đâm ra nghĩ ngợi. Tao muốn ra ngoài và nhìn mày chứ không muốn lấy đi mạng sống của mày. Tao đã chứng kiến quá nhiều cảnh chết chóc rồi. Tôi nhấc con hươu lên và cắt đầu nó treo vào xe lăn. Ở miền Nam Georgia, săn bắn là thú tiêu khiển được nhiều người ưa thích. Các chàng trai xuất phát từ lúc tảng sáng và ngồi nấp sau các cây đợi con mồi xuất hiện. Tôi luôn sẵn sàng giết người để cứu bản thân hoặc một người nào đó − sẵn sàng giết người khi thực thi nhiệm vụ − nhưng từ đó tôi không bao giờ đi săn bắn nữa.
Những người đến bệnh viện để phục hồi chức năng cư xử với tôi như một người nổi tiếng. Vào thời điểm đó, tôi là người duy nhất trong bệnh viện bị thương khi tham chiến. Cứ mỗi lần tôi đến bệnh viện, năm hoặc sáu người lại chạy đến bắt chuyện với tôi. Sau sáu hay bảy tuần gì đó, cháu gái tôi kiếm cho tôi một thiết bị bịt vết thương bảo đảm nước không thấm vào. Nhờ thiết bị này, tôi đã có thể tắm được. Tôi đứng một chân trong bồn tắm và xoa dầu gội lên tóc. Tôi cảm thấy đây là món quà quý báu nhất tôi từng nhận được.
Đầu tháng Mười hai, sau hai tháng dài nhất trong cuộc đời mình, khu phố của tôi Screven, Georgia tổ chức lễ chào đón tôi − anh hùng của thành phố − bằng việc tổ chức tuần hành trong dịp Giáng sinh. Băng rôn, khẩu hiệu treo khắp mọi nơi. Một tấm bích chương lớn được treo trước khách sạn với hàng chữ: Chào mừng Howard trở về, người hùng của phố. Phía dưới là chữ ký của mọi người trong thành phố. Gần như tất cả 900 người trong khu phố đều ký tên vào tấm bích chương này. Mọi người từ Hạt Wayne đổ ra đường phố thành những hàng dài để nhìn mặt tôi và chúc tôi mau lành bệnh. Họ không hay biết những nỗi đau thể chất, tinh thần, sự mất mát, sự khủng hoảng đã tra tấn tôi như thế nào trước khi họ vinh danh tôi như hôm nay. Họ không thể hiểu hết những hành động này có ý nghĩa như thế nào đối với tôi. Giờ tôi không còn cảm giác là kẻ bại trận nữa. Mike Durant, cơ trưởng của chiếc Black Hawk số hiệu 64, chiếc trực thăng thứ hai bị bắn hạ trong trận đánh ở Mogadishu, bị gãy cả chân và lưng. Abdullahi “Firimbi” Hassan, Bộ trưởng Tuyên truyền của Aidid, giữ anh làm tù binh khoảng 11 ngày. Sau đó, Mike và một tù binh của Nigeria được những tên bắt cóc đưa đến Trụ sở Liên Hợp Quốc tại Somali. Một trong số những tên bắt cóc Durant đã kéo từ cổ ra chiếc thẻ an ninh, do Liên Hợp Quốc cấp cho hắn, đưa cho đưa cho lính canh. Họ ra hiệu cho hắn vào. Lực lượng canh gác ở trạm kiểm soát lúc đó không nhận ra Mike đang ngồi trong xe. Không ai biết điều này chỉ khi Mike đã được đưa đến đường băng. Những kẻ bắt cóc giao anh cho Tổ chức Chữ thập đỏ. Liên Hợp Quốc đã chứng minh với kẻ địch rằng họ là những người đáng tin cậy, nhưng tôi luôn cảm nhận Liên Hợp Quốc không chứng minh cho chúng tôi thấy mình có thể tin cậy họ. Bạn chỉ nên tin cậy những người cùng huấn luyện và chiến đấu với bạn. Tôi đã từng huấn luyện với các đơn vị chống khủng bố người nước ngoài và tôi tin tưởng họ. Sự vồn vã của lực lượng canh gác ở trạm kiểm soát của Liên Hợp Quốc dành cho tên bắt cóc Durant và kẻ bắt cóc Durant có thẻ an ninh do Liên Hợp Quốc cấp đã xác nhận sự mất niềm tin của tôi đối với Liên Hợp Quốc là đúng.
Mike Durant và tôi gặp nhau tại Căn cứ Không quân Fairchild ở Spokane, Washington. Đây là lần đầu tiên chúng tôi gặp lại nhau kể từ khi rời Somali. Chúng tôi đến đây để tham gia khóa học về cách tự tồn tại, lẩn trốn, chịu đựng và tẩu thoát. Mặc dù khóa học này giống với khóa học tại Căn cứ Không quân của Hải quân ở Brunswick, Maine với kịch bản bị kẻ địch săn tìm, rồi bị bắt giam và tra tấn nhưng khóa học này được tổ chức trong một căn phòng chỉ có từ 10 – 20 học sinh và chủ yếu tập trung vào khía cạnh tâm lý khi bị giam giữ. Với những trải nghiệm ở Mogadishu, Mike và tôi nhanh chóng trở thành diễn giả của lớp học đặc biệt này. Các giảng viên mời chúng tôi nói về những trải nghiệm và trả lời tất cả câu hỏi của học viên và giảng viên.
Lực lượng Hải quân đưa Casanova, Gã Mập lùn, Sourpuss, Đại úy Olson và tôi đến Lầu Năm Góc để trao Huân chương Ngôi Sao bạc cho chúng tôi. Tại Mogadishu, Đại úy Olson rời Trung tâm chỉ huy để tham gia chiến dịch giải cứu các binh sĩ. Buổi lễ trao giải thưởng được quay video. Người ta đã đọc to bản Tuyên dương chiến công của tôi giữa khán phòng: Tổng thống Hoa Kỳ vinh dự tặng Huân chương Ngôi Sao bạc cho Howard E. Wasdin, thuộc lực lượng Hải quân Hoa Kỳ vì đã có chiến tích sau: Chiến đấu dũng cảm và gan dạ trong chiến dịch UNOSOM II ở Mogadishu, Somali vào ngày 3 và 4 tháng Mười năm 1993. Hạ sĩ Wasdin là thành viên của nhóm bảo đảm an ninh đã hỗ trợ lực lượng xung kích khi lực lượng này đột kích vào căn cứ địa của kẻ địch và đã thành công trong việc bắt sống hai nhân vật chủ chốt trong hàng ngũ địch cùng hai mươi tên khác. Khi bị quân địch phục kích tứ phía, Hạ sĩ Wasdin đã chiếm lĩnh vị trí bắn và kiên cường bắn trả quân địch. Khi cùng đồng đội tấn công kẻ địch, anh bị thương vào bắp chân. Sau khi được sơ cứu, anh đã tiếp tục nhiệm vụ và tiếp tục tiêu diệt địch. Khi đoàn xe của anh ra khỏi vùng chết cùng với các tù binh trên xe thì anh thấy đồng đội vẫn đang bị tấn công. Hạ sĩ Wasdin cùng với đội bảo đảm an ninh dừng xe lại và bắn trả địch, giải cứu cho lực lượng đánh chặn Ranger. Mặc dù bị thương hai lần, anh vẫn tiếp tục tham gia chiến đấu và đẩy lùi kẻ địch. Sau đó, trong khi đang bắn trả kẻ địch với nỗ lực giải cứu những người bị nạn ở vùng máy bay rơi, Hạ sĩ Wasdin bị thương lần thứ ba. Tinh thần gan dạ của anh đã tiếp sức cho đồng đội cũng như toàn bộ đội hình. Với những hành động nhanh trí, quả cảm và sự tận tâm với nhiệm vụ được giao, Hạ sĩ Wasdin đã là tấm gương sáng, phát huy được truyền thống hào hùng của Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ. Bản tuyên dương chiến công này có chữ ký của tân Bộ trưởng Hải quân John Dalton. Casanova và tôi bước vào phòng làm việc của Bộ trưởng Quốc phòng và bắt tay ông. Vô cùng phấn khích, Casanova cho biết “Bộ trưởng là người có bàn tay mềm mịn nhất anh ta từng biết.” Sau đó, tôi còn bị khiển trách vì đã không tuân thủ mệnh lệnh cấp trên, tự ý cứu chữa cậu bé Somali dẫm phải mìn bộ binh. Nhưng đối với tôi, đó là việc làm thành công và có ý nghĩa nhất khi ở Somali.
Casanova và tôi ngồi nhai thuốc sợi Copenhagen trong phòng đợi của Đội Anh cả Đỏ. Đó là một căn phòng lớn, rất hài hòa về màu sắc. Casanova và tôi ngồi bên một cái bàn. Gã Mập lùn đến, cầm trên tay là chiếc phong bì của Công ty sản xuất dao Randall. Gã mập đã gửi con dao của gã cho công ty, kể câu chuyện của gã cho công ty biết và muốn quảng cáo cho công ty qua câu chuyện “Lính bắn tỉa của Đội đặc nhiệm SEAL thoát chết nhờ con dao Randall”. Casanova hỏi “Họ trả anh bao nhiêu tiền?”
Gã Mập lùn mở bức thư ra và đọc “Cám ơn anh đã chia sẻ câu chuyện của mình với chúng tôi. Chúng tôi sẽ giảm giá 10% nếu anh mua con dao khác.” Gã mập tức giận chửi thề “Bọn chó chết này.”Cả Cassanova và tôi cười ngặt cười nghẽo khi nghe nội dung bức thư. Suýt chút nữa tôi đã nuốt miếng thuốc đang nhai vào bụng. Tôi hồi phục rất nhanh và trở lại đội. Lần đầu tiên tôi gặp Trung tá Chỉ huy trưởng Buttwipe là khi ông ta tiếp nhận chức Chỉ huy trưởng Đội Anh cả Đỏ. Buttwipe chuộng thành tích hơn là kết quả công việc. Do vậy, ông ta đã làm rối tung tổ chức lên. Một số người đã chuyển công tác khỏi Đội Anh cả Đỏ để sang Đội Anh hai Vàng và Đội Anh ba Xanh. Ông ta có điệu cười rất gian trá, đặc biệt khi có mặt Chỉ huy cấp trên. Khi cười với chúng tôi, tôi luôn có cảm tưởng ông ta đang nghĩ về một điều gì đó. Là người gốc Nhật Bản nên ông ta có vóc người thấp lùn và luôn để tóc ngắn, phần trước trán cắt bằng.
Có thể Buttwipe cũng ý thức được bản thân không có thực tài. Mặc dù ông bơi và chạy rất giỏi nhưng khả năng bắn súng thì lúc nào cũng đứng cuối bảng và thiếu tính quyết đoán. Có thể ông ta ghen tị với tôi vì chưa từng được tham chiến trực tiếp hay không được nhận Huân chương Ngôi Sao Bạc. Ngoài ra, bằng cách nào đó Buttwipe phát hiện ra rằng lực lượng Delta muốn có tôi. Các tay súng bắn tỉa ở bệnh viện tại Đức động viên tôi gia nhập lực lượng Delta với họ. Một Đại tá của Delta đã nói với tôi tại bệnh viện ở Căn cứ Không quân Andrew là muốn tôi chuyển sang phục vụ cho Delta. Giờ đây, ngồi ngẫm lại, tôi hiểu rằng Delta đã hiểu và tôn trọng tôi hơn. Về phần mình, tôi cảm thấy thân tình hơn với những người từng sát cánh chiến đấu bên nhau. Sợi dây tình cảm của tôi với Cassanova, Gã Mập lùn, các đặc nhiệm Delta, lực lượng CCT và PJ nồng ấm hơn so với các đồng đội khác của tôi ở SEAL.
Buttwipe nói với tôi “Tôi sẽ ủng hộ cậu nếu cậu ở lại SEAL nhưng nếu cậu nhất quyết rời bỏ SEAL, tôi sẽ là cơn ác mộng của cậu.” Những hành động của Buttwipe thôi thúc tôi chuyển sang lực lượng đặc nhiệm Delta. Tuy nhiên, trong lời nói của mình, ông ta lại không muốn tôi đi. Ông ta chẳng có ý nghĩa gì với tôi cả. Cuối cùng, tôi vẫn quyết định ở lại SEAL vì tôi được huấn luyện, đào tạo để trở thành một đặc nhiệm SEAL. Tôi vẫn muốn tiếp tục là một đặc nhiệm của SEAL. Đó là lựa chọn đúng đắn của tôi.
Trên thực tế, Buttwipe chẳng những không ủng hộ tôi mà còn gây khó dễ cho tôi. Ông đã lôi chuyện tôi đến dự lễ truy điệu các binh lính Delta tử trận trong trang phục dân sự, râu ria không cạo để quở trách tôi. Tôi thực sự không hiểu cách lập luận của ông ta là như thế nào nữa – Tôi đã suýt mất mạng vì nhiễm khuẩn cầu chùm trong quá trình bay đến dự lễ truy điệu. Việc phải chống chọi lại cái chết đã lấy đi gần hết sức lực của tôi. Khi đó, cạo râu là một hành động quá xa xỉ đối với tôi. Tôi xem thường sự yếu kém về năng lực của ông ta. Buttwipe nên làm một chính trị gia hơn là một nhà điều hành. Giờ đây, chỉ cần nghĩ về ông ta là tôi đã muốn ném một cục đá vào mặt ông ta rồi. Laura và tôi ly dị. Đứa bé trong bụng Laura không phải là của tôi, thậm chí không cùng chủng tộc với tôi. Chuyện này xảy ra khi tôi đi công tác xa nhà. Chuyện này tôi không muốn đề cập đến nhiều. Bản thân tôi cũng từng không chung thủy. Rachel và Blake chuyển đến sống với mẹ vì tôi không thể chăm sóc chúng khi phải đi nhiều. Trước đây, tôi đã không dành nhiều thời gian cho Rachel, giờ tôi càng ít ở bên cạnh nó hơn. Laura để cho con bé làm tất cả những gì nó thích nhưng tôi thì không. Khi Rachel đã đủ khôn lớn để đưa ra lựa chọn của mình, con bé chọn sống chung với mẹ. Sau này, khi Rachel vào học cấp ba, mẹ con bé đã để nó đi chơi với bạn trai – điều này tôi không bao giờ cho phép. Quan hệ của tôi với con bé ngày càng xấu đi. Mặc dù, với Blake, tôi còn nghiêm khắc hơn cả với Rachel, ấy vậy mà Blake vẫn chọn sống với tôi khi cậu bé bước sang tuổi 13. Mặc dù tôi biết phải luôn đặt gia đình lên trên công việc nhưng tôi lại hy sinh gia đình, đặt mối quan hệ của đơn vị lên trên hết.
Tôi đã hy sinh tất cả cho đội nhưng vẫn không lấy lại được phong độ trước đây của mình. Suy nghĩ của tôi ngày càng tiêu cực hơn. Một ngày, tôi cầm khẩu súng lục SIG SAUER P-226 trên tay. Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi tự sát bằng khẩu súng này? Có những điều còn tồi tệ hơn cả cái chết. Cái chết đâu giải quyết được tất cả.
Blake đến thăm tôi và cất tiếng gọi: “Bố ơi!”. Tiếng gọi đó đã làm tôi thức tỉnh. Kết liễu cuộc đời là hành động ích kỷ. Nếu tôi không còn mục đích gì để sống thì ít nhất tôi vẫn còn có con cái. Từ đó, những ý nghĩ đen tối không còn đọng lại trong tâm trí tôi nữa. Chuyện này giống như việc ban đầu tôi tưởng mình sẽ không giữ được chân nhưng cuối cùng vẫn giữ được nó. Tôi đi được bằng nạng, đi không cần vật trợ giúp và bắt đầu tập bơi trước khi được yêu cầu làm những việc đó. Mọi người nghĩ rằng tôi sẽ đi tập tễnh nhưng lại không phải như vậy. Nhiều người nghĩ tôi sẽ chẳng thể chạy được nữa nhưng tôi đã chạy được. Sau khi trở lại đội, tôi tập thể hình và thể lực đều đặn vào mỗi sáng với đồng đội. Không phải lúc nào tôi cũng theo kịp mọi người nhưng vẫn kiên trì tập luyện.
Lội ngược dòng sông cùng với bảy người thông thái tốt hơn nhiều khi lội cùng với một trăm cái đầu ngu dốt. ¾ Đại tá Charlie A. Beckwith, người sáng lập lực lượng Delta
13. Trận chiến ở Mogadishu
Khi trở về chúng tôi thấy mọi người đang tập trung khá đông. Cánh trực thăng đang quay tít, xe Humvee vào vị trí sẵn sàng và mọi người đều đã lắp hộp tiếp đạn vào súng. Mặc dù ánh nắng mặt trời đang rọi tia sáng qua bầu trời trong xanh, nhưng tôi biết không phải các binh lính này đi picnic. “Cái quái gì đang diễn ra ở đây vậy?” Chỉ huy trưởng Olson tiến về phía chúng tôi trước khi chúng tôi bước xuống chiếc “Humvee chế” của mình. Chiếc xe này nguyên dạng là chiếc Humvee nhưng đã được chúng tôi bỏ mui và các cửa. Nó không được bọc lớp thép đặc biệt và còn có tên gọi là xe chở quân/hàng hóa M-998. Tuần trước, một nhóm kỹ sư từ Mỹ đã sang lắp tấm thép chống đạn vào gầm xe để chống mìn bộ binh và mìn phân mảnh. Tôi ngồi ở ghế lái cùng với Casanova, trong tay là một khẩu súng ngắn. Ghế sau tôi là Gã Mập lùn và Sourpuss. Phía sau họ là hai băng ghế chạy dọc theo xe là hai quân nhân khác. Tôi nghĩ họ là các biệt kích Ranger, nhưng cũng có thể họ là các đặc nhiệm Delta. Hơn nữa, lính biệt kích Ranger thường ở vị trí điều khiển súng máy cỡ nòng 0,50 caliber.
Chỉ huy trưởng Olson phổ biến nhanh nhiệm vụ cho chúng tôi trong vòng vài phút “Các bạn sẽ tham gia với tư cách là lực lượng đánh chặn. Lực lượng Delta sẽ đu dây xuống và tấn công tòa nhà. Các bạn sẽ bắt các tù binh, rồi nhanh chóng rút khỏi đó”. Thông thường việc quán triệt nhiệm vụ này phải kéo dài khoảng một tiếng rưỡi. Lực lượng Delta, Ranger và những người khác cũng nhận quán triệt nhiệm vụ, nhưng chúng tôi sau đó đã quên béng điều này. Mặc dù, nhiệm vụ khá quan trọng và lẽ ra chúng tôi phải có thời gian để tự quán triệt nhiệm vụ, nhưng nó lại xảy ra quá bất ngờ, trong khi chúng tôi đang đi lắp các thiết bị tiếp sóng cho CIA. Chỉ huy trưởng Olson vỗ vỗ vào vai tôi rồi nói “Không nên để mất nhiều thời gian. Chúc may mắn. Gặp lại nhau khi các anh trở về.”
Mỗi chiếc trực thăng Little Bird AH-6J đều chở bốn lính bắn tỉa, ngồi hai bên cửa và các rocket dưới gầm máy bay. Hai chiếc Little Bird AH-6J, được vũ trang súng máy cỡ nòng 7,62 li và rocket 6,8 li, yểm trợ mặt trước tòa nhà mục tiêu từ trên không, trong khi hai chiếc còn lại bay phía sau. Phi đội Charlie của Delta sẽ nhanh chóng đu dây xuống từ hai chiếc Little Bird MH-6 và tấn công tòa nhà. Cùng tham gia là tám chiếc Black Hawk bay phía sau. Hai chiếc chở lực lượng tấn công của Delta. Bốn chiếc chở biệt kích Ranger. Một chiếc bay lượn phía trên và chở đội tìm kiếm và giải cứu. Chiếc thứ tám chở hai Chỉ huy chỉ đạo chiến dịch − một người điều phối hiệp đồng tác chiến giữa các phi công và người còn lại chỉ đạo lực lượng trên mặt đất. Ba chiếc trực thăng Kiowa OH-58 với quả cầu đen được gắn trên cánh quạt không lẫn vào đâu được, có nhiệm vụ bay phía trên mục tiêu. Quả cầu đen là một con mắt, bên trong có hệ thống truyền hình, hệ thống thu hình bằng nhiệt và radar dò tìm nhằm chuyển hình ảnh và âm thanh các hành động dưới mặt đất về cho Tướng Garrision ở Trung tâm Hoạt động Chung (JOC). Bay trên cùng là một chiếc máy bay trinh sát P-3 Orion.
Google photo
Tôi đánh xe vào vị trí thứ ba trong đoàn xe. Đằng sau đoàn xe Humvee của chúng tôi là ba chiếc xe tải thùng trọng tải năm tấn và khóa đuôi là năm chiếc xe Humvee khác. Biệt kích Ranger ngồi ở hầu hết tất cả các xe. Tổng cộng tất cả có 19 máy bay, 12 xe ô tô và 160 quân tham gia chiến dịch lần này. Người của Aidid đã chứng kiến cách chúng tôi tác chiến trong sáu lần trước đó và lần này chúng tôi tác chiến giữa ban ngày, ngay trong lãnh địa của chúng. Giờ này, nhiều quân lính của Aidid hẳn vừa nhai xong lá Khat. Tinh thần của chúng đang hăng chứ không rơi vào trạng thái uể oải như lúc tối muộn. Sự mạo hiểm luôn đòi hỏi những hành động táo bạo. Những người không chấp nhận mạo hiểm hẳn là những kẻ ngốc. Một phần công việc của chúng tôi là phải biết chấp nhận rủi ro và mạo hiểm. Lúc 3 rưỡi chiều, các máy bay trực thăng cất cánh trước, bay men theo bờ biển. Khi nhận được mật lệnh “Chim trời đã vào đất liền”, chúng tôi sẽ xuất phát. Tôi không hề run sợ bởi đây là hoạt động thường xuyên đối với tôi. Trên đường, chiếc Humvee đi đầu rẽ nhầm hướng. Nhưng không xe nào đi sau nó rẽ theo cả. Chiếc xe đi đầu sẽ bắt kịp mọi người. Chúng tôi tăng tốc theo hướng đông bắc xuyên qua Gesira. Trước khi đến ngã tư K4, chúng tôi vấp phải hỏa lực lẻ tẻ của đối phương. Đột nhiên Gã Mập lùn hét lên: “Mẹ kiếp, tôi trúng đạn rồi!”
Phải chăng chúng tôi đang rơi vào ổ mai phục? Phải chăng Gã Mập lùn bị thương vào ngực? Kim đồng hồ đo chỉ số sợ hãi của tôi vẫn gần vạch số không. Gã Mập lùn bị dính đạn chứ không phải tôi. Cũng giống nhau cả thôi, tôi lo lắng cho mạng sống của Gã Mập lùn và tôi bắt đầu cảnh giác hơn.
Tôi rê xe vào bên lề đường phía trên có phần đất nhô ra, nhấn phanh, nhảy xuống phía sau kiểm tra vết thương Gã Mập lùn. Gã Mập lùn nằm lăn dưới sàn xe và phần lưỡi của con dao Randall, gã luôn mang theo bên mình, rơi bên cạnh. Tôi cứ nghĩ sẽ nhìn thấy máu chảy từ một bộ phận nào đó từ cơ thể Gã Mập lùn nhưng rồi tôi chỉ thấy một vết đỏ to trên chân. Một viên đạn của súng AK-47 đã bắn trúng vào làm hỏng con dao và phần lưỡi bật ra bên ngoài. Con dao đã cứu cái chân của Gã Mập lùn.
Đoàn xe vẫn tiếp tục di chuyển trong lúc tôi đậu xe bên đường. Tôi trở lại ghế lái rồi tăng tốc về phía trước, bắt kịp vị trí cũ của mình. Đoàn xe vượt qua ngã tư K4 và đi theo hướng bắc, theo đường Lenin, rồi tiến về hướng đông theo đường quốc lộ. Cuối cùng, chúng tôi rẽ trái vào con đường đất chạy song song và ở phía nam con đường Hawlwadig.Lúc 4 giờ kém 20, chúng tôi đến gần khách sạn Olympic năm tầng màu trắng. Khi đó, tôi không biết là, cách về phía tây mục tiêu khoảng1,5 km, quân lính của Aidid đang tụ tập tại khu chợ Bakara để nhận vũ khí và đạn dược. Cách khoảng 1,5 km về phía đông, quân nổi dậy đã đến từ lâu. Chúng tôi bị kẹp giữa hai gọng kìm mà không hề hay biết.
Google photo Lực lượng tình báo của chúng tôi hẳn đã chế áp điện tử với sóng di động trong một vùng rộng lớn bao quanh mục tiêu. Lợi dụng trận bão cát sa mạc, đặc nhiệm Delta đu dây tụt xuống tòa nhà mục tiêu, một tòa nhà hai tầng màu trắng ở phía trước và ba tầng phía sau, mái có cấu trúc hình chữ L và nhiều cây xanh được trồng trên sân. Đây là một căn cứ của quân Aidid. Lực lượng Delta áp sát cửa ra vào thành hàng ngang, chuẩn bị phá cửa đột nhập và tấn công mục tiêu. Bốn nhóm Ranger − mỗi nhóm có mười hai người – nhanh chóng đu dây xuống và đứng chặn bốn góc xung quanh tòa nhà mục tiêu. Họ đóng vai trò là lực lượng ngăn chặn bảo đảm nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Google photo
Tôi rời chiếc Humvee của mình và chọn vị trí bắn tại một hành lang song song với khách sạn. Phía cuối khách sạn, một tay súng bắn tỉa của đối phương di chuyển phía sau bức tường. Phía trên cùng tòa nhà năm tầng về phía trái, một tay súng bắn tỉa khác di chuyển trên hiên. Chuyển vị trí bắn đến chỗ khác thuận lợi hơn, nhưng tôi nhận thấy không thể bắn được từ vị trí chúng tôi đang nấp. Tôi nói với một lính bắn tỉa của Delta “Chúng ta buộc phải di chuyển về phía chúng.”
Chúng tôi nhảy lên, tiến về phía trước cách khách sạn chưa đầy 100m. Trong khi chúng tôi còn đang chiếm lĩnh vị trí bắn, kẻ địch đã nhả đạn vào tòa nhà mục tiêu đặc nhiệm Delta đang tấn công. Điều này làm cho tôi cảm thấy hình như chúng đã bố trí để chờ chúng tôi đến. Chúng chuẩn bị rất kỹ càng và vị trí ẩn nấp của các tay súng bắn tỉa thật hoàn hảo. Có lẽ, nguồn tin về chiến dịch tấn công của chúng tôi đã bị rò rỉ.
Tay súng bắn tỉa dưới mặt đất kê súng lên một bức tường, cách chỗ chúng tôi chừng 100 – 150 m, nòng súng chĩa về phía biệt kích Ranger trong đoàn của tôi. Tay súng này chọn vị trí bắn thật hoàn hảo, chỉ nhô lên mỗi phần đầu. Tôi siết cò, bắn trúng vào phần đầu nhô lên của hắn. Nhờ hành lang, tôi có thể nhìn thấy mái hiên của tòa nhà năm tầng gần bên. Chưa đầy 200m trên tầng năm, có hai tay súng đang dùng AK-47 nã đạn vào phía sau tòa nhà mục tiêu, chỗ lực lượng Delta đang xung kích. Từ chỗ đang đứng, tôi không thể bắn được hai tên này. Tôi ngoái lại phía sau nói với tay súng bắn tỉa của Delta: “Chúng ta cần tiếp cận hai tên phía trên tầng năm nếu không chuyện tồi tệ sẽ xảy ra.” Chúng tôi trườn dọc theo hành lang và chiếm lĩnh vị trí bắn phía sau một cột trụ bên phải. Vị trí này vẫn chưa ổn. Hai tay súng trên tầng năm tiếp tục nhảy ra bắn xối xả vào lực lượng xung kích của Delta rồi lại thụt vào trong. Viên đặc nhiệm của Delta và tôi tiếp tục di chuyển về phía trước. Sau khi tìm được vị trí bắn tốt, tôi nằm xuống. Các đồng đội bảo vệ sự an toàn xung quanh cho tôi. Tôi di chấm đỏ trên ống ngắm vào vị trí tay súng bên phải vừa nhô lên. Theo thuật ngữ của dân bắn tỉa thì hành động này được gọi là bắn đón đầu − nhằm vào một điểm và đợi mục tiêu xuất hiện. Tương tự, kỹ thuật này có thể áp dụng cho bắn mục tiêu di động − nhắm vào một điểm phía trước đường di chuyển của mục tiêu. Khi tay súng nhô lên, tôi siết cò và viên đạn trúng vào thân trên của gã. Gã đổ vật ra phía sau và không thấy nhô ra lần nào nữa. Tên thứ hai không rút kinh nghiệm từ tên trước đó. Hắn cũng nhô lên và nã đạn như mưa nhưng cũng dính đạn của tôi vào phần thân trên và mất dạng. Nếu tôi không hạ gục được hai tên này, có lẽ chúng đã sát hại nhiều người khác bằng kiểu nã đạn từ các cửa sổ của tòa nhà − kiểu bắn này là cơn ác mộng đối với các đặc nhiệm Delta: Trong khi lực lượng xung kích Delta tập trung tấn công tòa nhà và tìm cách kiểm soát mọi thứ phía trong, bỗng nhiên đạn lại bay ra từ các cửa sổ phía ngoài.
Google photo
Ít nhất ba mươi phút đã trôi qua kể từ khi chúng tôi đến. Cứ thêm một phút ở lại vùng mục tiêu thì mức độ nguy hiểm lại gia tăng thêm. Lệnh thu quân đã được phát ra qua vô tuyến điện. Trên đường rút lui ra chiếc xe Humvee, tôi bị trúng đạn vào kheo trái, ngã đập mặt xuống đất. Ngay lúc đó, tôi không cử động được nữa. Kim chỉ mức độ sợ hãi dừng ở con số 1 trên 10. Sau đó kim chỉ nhảy lên số 2 rồi số 3. Sự đau đớn làm tôi ngạc nhiên bởi tôi nghĩ mình đã được đào tạo kỹ càng và giỏi hơn tất cả. Mọi người xung quanh tôi có thể bị trúng đạn hoặc thương vong chứ không phải tôi. Ngay cả các tay súng bắn tỉa khác cũng có thể bị bắn hoặc bị thương bởi họ không phải là tôi. Tôi đã được đào tạo tốt hơn. Thậm chí cả những đồng đội SEAL khác có thể bị bắn hoặc bị thương bởi vì họ không phải là tôi. Đó là lý do tại sao bạn bị rơi xuống từ thang dây – bởi bạn không phải là Howard Wasdin. Bạn chưa vượt qua tôi trong khóa học vượt vật cản – bởi bạn không phải là Howard Wasdin. Ngay cả sau lần đầu bị trúng đạn trong trận chiến ở Mogadishu, tôi vẫn rất ngạo mạn.
Dan Schilling CCT, xuất hiện. Casanova đến và bình tĩnh bắn gục một tên địch. Rồi một tên khác nữa. Một bác sĩ bắt đầu chữa trị cho tôi khi Dan nắm lấy dây đeo súng của tôi và kéo tôi ra khỏi vùng chết. Viên bác sĩ nhét miếng gạc loại Kerlix vào chân tôi và buộc lại. Ngay sau đó, tôi đã đi lại được. Những tên khốn đốt lốp xe ô tô − một hình thức đánh tín hiệu đến chỉ huy của chúng là hãy tăng quân tham chiến và những cột khói đen làm cản trở tầm nhìn của chúng tôi. Du kích quân của Aidid cùng với súng AK-47 bất ngờ xuất hiện từ những cột khói, từ những đường phố và tòa nhà xung quanh – có thể nói là ở mọi nơi. Ngay khi tôi hạ gục được một tên nào đó, ngay lập tức có một tên khác xuất hiện thay thế. Những người phụ nữ không trang bị vũ khí bước ra và đóng vai trò là người chỉ thị các mục tiêu bắn. Họ có nhiệm vụ phát hiện các vị trí của chúng tôi và ra dấu cho các tay súng bắn. Súng chống tăng RPG bắt đầu nhả đạn. Người của Aidid hét vào loa. Khi đó, tôi không hiểu ý nghĩa của những câu nói đó là “Hãy cút khỏi mảnh đất này và về bảo vệ tổ quốc của các ngươi” nhưng tôi hiểu những lời nói đó hàm ý sự có mặt của chúng tôi gây hại cho họ. Một chiếc xe tải 5 tấn trong đoàn chúng tôi bốc cháy do bị trúng đạn RPG. Ai đó trong đoàn đã ném lựu đạn phá hủy chiếc xe để không bị rơi vào tay kẻ địch. Chiếc xe bốc cháy bùng bùng.
Lực lượng Delta đẩy khoảng 20 tù binh đã bị trói tay lên hai trong số những chiếc xe tải 5 tấn còn lại. Trong số những tù binh này có cả cố vấn chính trị hàng đầu của Aidid, Ngoại trưởng Omar Salad. Mặc dù, Delta để sổng Qeybdid nhưng lại bắt được thủ hạ có vai trò quan trọng tương đương, Mohamed Assan Awale. Họ cũng trao thưởng cho thủ lĩnh một thị tộc Abdi Yusef Herse vì đã cung cấp tin tức giá trị. Sau khi trở về trại, lực lượng Delta đã giữ lại những nhân vật chủ chốt trong số tù binh và phóng thích số còn lại. Vào phút thứ 37 của cuộc chiến, trên vô tuyến điện vang lên lời nói “chiếc Black Hawk 61 đã trúng đạn”. Một viên đạn của khẩu RPG đã bắn trúng chiếc trực thăng Black Hawk có treo hình Elvis Presley bên cạnh và bắt sống Velvet Elvis. Cơ trưởng, chuẩn úy Cliff Wolcott, đã từng nhại lại vai diễn của Elvis và là một trong số phi công theo chúng tôi tham gia chiến dịch săn lùng này. Giờ đây, nhiệm vụ của chúng tôi chuyển từ bắt giữ tù nhân sang giải cứu đồng đội.
Google photo
Chúng tôi lên xe để rút lui. Đưa mắt nhìn vào hành lang, tôi thấy một biệt kích Ranger, khuôn mặt trẻ măng như một cậu bé. Tôi ngồi trong ghế lái gọi anh ta: “Lên xe nhanh, chúng ta còn đi”. Cậu lính này vẫn cứ trơ ra đó. Tôi nhảy xuống xe, chạy đến góc tòa nhà và đá vào cậu ta. Cậu ngước mắt nhìn tôi đầy vẻ ngỡ ngàng. “Nhanh lên xe đi!” Cậu ta trèo lên chiếc xe Humvee của mình. Đôi khi các biệt kích Ranger trẻ tuổi chỉ tập trung vào nhiệm vụ được giao từ đầu nên họ thường mất cái nhìn bao quát toàn cục. Mắt của họ không bắt nhịp với sự thay đổi của điều kiện hoàn cảnh và tai của họ không chú ý đến những mệnh lệnh miệng. Gặp phải tình huống phức tạp làm hệ thần kinh quá tải, họ thường không bắt kịp với những diễn biến thay đổi mau lẹ.
Thật may mắn, sự nghiêm khắc của cha dượng đối với tôi đã giúp rất nhiều trong những tình huống khó khăn như thế này. Ngoài ra, nhờ nhiều tuần huấn luyện gian khổ, nhờ thời gian công tác ở Đội đặc nhiệm số 2, số 6 của SEAL và ở Trường đào tạo lính bắn tỉa, tôi đã trui rèn được khả năng này. Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu. Chiến dịch Bão táp Sa mạc cũng giúp tôi rất nhiều. Tôi đã phát triển được khả năng chịu đựng trong những tình huống hệ thần kinh quá tải. Một số lính Ranger rất trẻ, chỉ mới vừa tốt nghiệp cấp ba vài ba năm nhưng tất cả họ đều chiến đấu vô cùng dũng cảm.
Ngồi cùng xe với tôi có Casanova, Gã Mập lùn và một số người khác nữa. Sourpuss không ngồi cùng xe với tôi. Do quá tập trung vào trận đánh nên tôi quên béng chuyện Sourpuss phải hộ tống đưa một lính Ranger bị thương trở về trước. Tôi lái xe ra khỏi khu vực mục tiêu theo hướng bắc, đi theo đường Hawlwadig. Tay trái tôi để trên vô lăng, tay phải tôi cầm khẩu CAR-15. Đạn AK-47 bắn vào chúng tôi từ cả bên trái và phải. Khi những viên đạn này bay qua đầu tôi, chúng tạo ra sóng áp lực còn nhanh hơn tốc độ của âm thanh. Tôi nghe thấy một số viên đạn đang bay đến − nhờ vào âm thanh phát ra như tiếng vỗ tay do va chạm giữa hai loại sóng.
Những cột khói trắng tỏa ra, kéo theo là tiếng đạn RPG nổ làm rung chuyển không khí khiến cho không khí có vị cay. Mùi lốp cao su và chất thải cháy bốc lên khét lẹt làm cho Mogadishu hôi thối khủng khiếp chẳng khác gì địa ngục. Súng máy cỡ nòng 0,50 caliber của chúng tôi nhả đạn, chiếc Humvee lúc lắc và tai chúng tôi chấn động. Tuy nhiên, tiếng súng làm cho mọi người cảm thấy yên tâm hơn. Tôi chẳng mấy cảm nhận được điều này vì tôi còn đang mải quan sát phát hiện địch trong tầm bắn của mình. Các cựu chiến binh SEAL sau này thường nói rằng tiếng súng máy làm họ yên tâm hơn. Chúng tôi được đào tạo, huấn luyện phải sử dụng các yếu tố bất ngờ, tốc độ và hành động vũ lực để giành thắng lợi. Trong đoàn xe, chúng tôi không tạo được bất ngờ với kẻ địch, không thể chạy nhanh hơn chiếc xe Humvee phía trước. Khẩu súng máy cỡ nòng 0,50 caliber tạo cho chúng tôi có hành động vũ lực. Nòng súng lóe sáng trút đạn ra, nhai hết cả bê tông, sắt thép và da thịt – nói theo nghĩa đen là nó phá sập hết các bức tường. Thật vậy, khẩu súng máy có sức sát thương rất khủng khiếp. Thật không may, kẻ địch cũng có loại súng máy cỡ nòng 0,50 caliber này, được bắt vít trên sàn những chiếc xe bán tải ở gara ô tô của Osman Atto. Những chiếc xe tải này lúc ẩn, lúc hiện ở các hành lang nhả đạn vào chúng tôi. Một khẩu súng máy trên trực thăng nhả đạn vào kẻ địch, phá nát hai bên của một tòa nhà. Quân Somali chạy tán loạn. Một số gào thét, một số choáng váng đứng chôn chân. Xác người chết và xác một con lừa nằm lăn trên mặt đất. Người của Aidid được trang bị tốt hơn những gì chúng tôi tưởng, họ chiến đấu giỏi hơn chúng tôi nghĩ và có rất nhiều người được trang bị vũ khí tốt hơn chúng tôi dự cảm. Giờ đây tôi lo sợ mình sẽ làm các mật vụ của mình bị nguy hiểm. Trên đồng hồ đo mức độ sợ hãi, kim chỉ vượt qua số 3 và chạm vạch số 5. Bất kỳ ai nói không sợ hãi khi lâm chiến thì hoặc là kẻ điên, hoặc là kẻ nói dối trắng trợn. Tất cả mọi người trở nên sợ hãi. Đó là một nỗi sợ hãi lành mạnh. Tôi không bao giờ muốn sát cánh cùng với những người không có chút sợ hãi nào khi tham chiến. Sự khác biệt giữa một chiến binh với một người thường là ở chỗ người chiến binh có thể kiểm soát nỗi sợ hãi. Người chiến binh phải phát triển khả năng này để kiểm soát nỗi sợ hãi bằng cách tin rằng mình có thể kiểm soát được nỗi sợ hãi. Niềm tin này có được từ việc biết vượt qua nỗi sợ hãi trong những trải nghiệm trước đó, chứng kiến cách đồng đội vượt qua những nỗi sợ hãi kiểu này, biết rằng mình là một chiến binh ưu tú và biến sự sợ hãi thành hành động.
Google photo
Trong đoàn xe của chúng tôi, xe nào cũng có người bị thương. Chúng tôi vẫn muốn cứu cơ trưởng và phi hành đoàn của chiếc trực thăng bị bắn rơi. Gần một con đường ở đó có hai biệt kích Ranger bị thương đang nằm. Tôi nghĩ, Chẳng biết cái quái gì đang xảy ra với những người Somali này? Chúng tôi đến đây để chấm dứt cuộc nội chiến. Họ đã nhận được lương thực nhưng lại đang giương súng bắn chúng tôi. Chẳng lẽ đây là những cái chúng tôi được đền đáp? Tôi thật không tin nổi điều này. Tôi tấp xe vào lề đường và dừng lại. Người biệt kích Ranger đầu tiên tôi bế lên xe bị thương vào chân. Chúng tôi đưa cậu ta lên phía sau của xe. Rồi chúng tôi đưa người thứ hai lên. Cậu ta bị thương bên má tay – đây không phải là vết thương nặng và không thể làm cậu ta suy kiệt. Trở về ghế lái, tôi ngoái lại phía sau. Cậu biệt kích Ranger bị thương ở chân đang hỗ trợ chúng tôi nạp đạn, trong khi đó cậu còn lại ngồi đó đầu cúi xuống nhìn chằm chằm vào vết thương ở tay.
Người biệt kích Ranger giúp chúng tôi nạp đạn lại bị dính đạn, lần này trúng thương vào vai, nhưng cậu ta vẫn tiếp tục giúp chúng tôi nạp đạn ở phía trước. Rồi một viên đạn nữa trúng vào cánh tay cậu ta. Nhưng cậu vẫn tiếp tục công việc nạp đạn giúp chúng tôi. Trong khi đó, cậu biệt kích Ranger trúng đạn ở tay vẫn ngồi yên một chỗ, kim chỉ mức độ sợ hãi của cậu ta lên đến số cao nhất, số 10. Cậu là lính Ranger duy nhất tôi thấy suy sụp tinh thần vì cuộc chiến. Phản ứng của cậu là có thể hiểu được − cậu mới chỉ là một cậu bé nhưng lại phải tham gia vào một trận chiến khủng khiếp đến vậy. Ngoại trừ một số Ranger trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm, tất cả đều chiến đấu rất dũng cảm. Nhấn mạnh chân ga, tôi bắt kịp đoàn xe. Đoàn xe rẽ phải vào con đường đất. Khi chiếc Humvee đi đầu giảm tốc tại ngã tư, các xe sau buộc phải chạy chậm theo. Sau đó, chúng tôi lại quặt phải đi về hướng nam – nhưng khi đến chúng tôi cũng đã đi từ hướng nam.
Tôi vô cùng thất vọng với Trung tá Danny McKnight, chỉ huy hoạt động trên mặt đất, nhưng lúc đó tôi không biết ông chỉ làm theo chỉ thị. Chiếc máy bay trinh sát P-3C Orion có thể thấy được diễn biến nhưng lại không thể trực tiếp thông tin cho McKnight. Nên nó chuyển thông tin về Bộ chỉ huy tại JOC. Tiếp theo, JOC gọi điện cho máy bay chỉ huy. Cuối cùng, máy bay chỉ huy điện đàm cho McKnight. Thời điểm Mcknight nhận được hướng dẫn đổi hướng là lúc chúng tôi đã đi qua con đường đó.
Tất cả những gì tôi biết là chúng tôi lại một lần nữa bị phục kích, thành xe tôi bị bắn thủng lỗ chỗ. Những người ngồi phía sau xe đang bị dính đạn. Thật không thể tin nổi. Tôi muốn nhấn gara khỏi vùng chết, nhưng cũng không thể vượt quá tốc độ của chiếc xe phía trước. Tôi bắn quân địch ở hai bên đường. Cố gắng vừa lái xe vừa bắn vào mục tiêu lúc ẩn lúc hiện ở hai bên đường và ngạc nhiên khi tỷ lệ sát thương vẫn đạt tới 30%.
Quân địch ở các tòa nhà trên tầng hai nhắm bắn chúng tôi. Tôi nhanh chóng lấy đường ngắm, di chấm đỏ vào mục tiêu đầu tiên và bóp cò. Một tên địch bị hạ, rồi lại tên nữa. Bọn khốn ném những tấm rào chắn đang cháy ra đường và đào rãnh ngang đường để chúng tôi không đi nhanh được. Trong khi tôi đang lách qua các chướng ngại vật, năm người phụ nữ đi sát bên nhau, tay cầm những sợi dây màu sắc, tiến về phía đoàn xe. Khi chiếc Humvee đi đầu đến vị trí những người phụ nữ này, họ kéo váy lên và những tên lính vũ trang đứng phía sau dùng AK-47, để ở chế độ bắn tự động, nã đạn vào chiếc xe đó. Sau đó, họ cũng áp dụng chiến thuật này với xe của tôi. Lần đầu tiên trong cuộc giao tranh này, tôi chuyển cần gạt sang chế độ bắn tự động. Một tay lái xe, tay kia cầm khẩu CAR-15, tôi bắn hết 30 viên đạn hạ gục hết số phụ nữ này và bốn tên có vũ trang ẩn phía sau. Tôi thực sự không muốn thế và đây chỉ là hành động tự vệ mà thôi.
Google photo
Sau đó, trên vô tuyến điện, tôi nghe được tin chiếc trực thăng Black Hawk do Mike Durant lái vừa bị một khẩu RPG bắn rơi. Mệnh lệnh đưa ra là trước tiên cứu Velvet Elvis, sau đó di chuyển đến khu vực máy bay thứ hai rơi để cứu Mike.Chúng tôi dừng lại trên đường tạo thành một hình tròn, nạp đạn và vạch kế hoạch hành động tiếp. Sử dụng băng dính sơ cứu để băng bó vết thương ở vai và tay cho các biệt kích Ranger cùng một số binh lính khác trong xe. Một số lính Ranger trông như những kẻ mất hồn, ánh mắt họ mất hết thần khí. Một chỉ huy của Delta bước đến. “Tôi trúng đạn. Nhờ cậu xem giúp vai bên này hộ tôi chút.” Một viên đạn đã xuyên qua miếng thép cứng chống đạn trên lưng nhưng vẫn chưa đủ để loại anh ta ra khỏi vòng chiến đấu.
Xạ thủ súng máy cỡ nòng 0,50 caliber ở một chiếc Humvee khác, đã mặc áo chống đạn có thể chống lại được những loại đạn nhỏ. Cẩn thận hơn, cậu còn cho thêm vào ngực miếng thép chống đạn kích thước 10 x 12 cm trước ngực bảo vệ chống lại loại đạn nặng hơn như AK-47. Tuy nhiên cậu ta không mang miếng thép này trên lưng. Có lẽ như những binh lính khác, cậu cũng cho rằng nhét miếng thép vào lưng chỉ khiến thêm nóng và thêm nặng. Hơn nữa, đa số đạn bắn từ phía trước chứ mấy khi từ phía sau. Sự trớ trêu đã xảy ra và cậu ta hy sinh. Qua vô tuyến điện, chúng tôi đề nghị để xạ thủ súng máy bên xe tôi sang thay thế. Chiếc Humvee của cậu bắn súng máy bị chết di chuyển lên sát xe tôi. Bên trong xe, một biệt kích Ranger, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt, đang ôm ghì lấy xác đồng đội và nói trong nước mắt: “Tôi đã bảo cậu đeo miếng thép vào mà cậu có nghe đâu”.
Họ kéo xác cậu ta ra và xạ thủ của chúng tôi vào vị trí thay thế. Casanova và tôi đã sử dụng hết 10 băng đạn loại 30 viên trong bao đạn của mình, cộng với 5 băng đạn lấy từ cậu biệt kích Ranger bị thương ở vai và tay đã giúp chúng tôi nạp đạn. Do cả hai chúng tôi đều sử dụng súng CAR-15 nên loại đạn của chúng tôi giống với lực lượng biệt kích Ranger. Gã Mập lùn không mang súng CAR-15 mà lại mang khẩu M-14. Lúc này, Gã Mập lùn nhận ra sự sai lầm của mình vì chẳng ai có chung cỡ đạn đó cả.
Đoàn xe di chuyển về phía trước và chúng tôi rẽ trái đi về phía đông, rồi lại rẽ trái về phía bắc. Tôi không biết McKnight bị thương ở tay và cổ. Chúng tôi dừng lại. McKnight dùng vô tuyến điện liên lạc với trực thăng chỉ huy để xin chỉ dẫn nhưng một lần nữa họ lại chỉ nhầm đường cho chúng tôi. Đoàn xe tiếp tục tiến về phía bắc, sau đó rẽ trái. Tôi cũng không biết Dan Schilling đã thay McKnight. Dan đã thành công trong việc bỏ qua các vòng lặp thông tin liên lạc phức tạp và liên lạc thẳng với một trong hai chiếc trực thăng chỉ huy. Khi Dan bảo họ chỉ đường cho chúng tôi tới vùng chiếc máy bay đầu tiên bị nạn để cứu Velvet Elvis, chỉ huy trực thăng lại chỉ thị chúng tôi đến khu vực tai nạn gần nhất, khu vực chiếc máy bay thứ hai bị tai nạn − cứu Mike.
Chúng tôi rẽ trái lên đường Hawlwadig, chạy về gần khách sạn Olympic và tòa nhà mục tiêu. Đoàn xe đã đi một vòng tròn! Chúng tôi đã vô tình để lộ lực lượng trước quân của Aidid trong các cuộc tấn công trước đó, sau đó chúng tôi mở cuộc tấn công giữa ban ngày và giờ đây một lần nữa bị mai phục − thật không còn gì để nói! Cán bộ chỉ huy SEAL từng dạy chúng tôi: “Nếu bạn sống sót sau một cuộc phục kích, hãy rửa tay gác súng và cảm ơn Chúa cả phần đời còn lại”. Tôi vẫn nhớ chỉ huy trưởng nhóm SEAL Olson vỗ vai trước khi chúng tôi rời trại: “Đừng để mất nhiều thời gian.” Mẹ kiếp. Những tên này vẫn là những tên vừa bắn chúng tôi lúc trước. McKnight đang làm cái quái quỷ gì thế? Ngớ ngẩn thật, chúng tôi đã chiến đấu ở nơi này. Lần đó đã chẳng có mấy kết quả tốt đẹp gì. Trong khi trên vô tuyến điện vẫn đang băn khoăn không biết chúng tôi đang tiến đến chiếc máy bay thứ nhất hay thứ hai bị tai nạn, tôi thấy một đám đông đang tiến đến chỗ Mike Durant và tôi chợt nhớ lại những điều đã đã xảy ra với binh lính Pakistan khi bị một đám đông tấn công và xé xác sau đó. Trong lần phục kích đoàn xe chúng tôi, quân Aidid đã gây thương vong và giết chết một số lính, nhưng chúng tôi kịp rút khỏi ổ mai phục trước khi cho chúng một bài học đau thương. Xác chết nằm rải rác khắp nơi. Giờ đây kẻ địch lại phục kích chúng tôi lần thứ hai. Lần này phải cho chúng một trận ra trò mới được. Súng máy và rocket từ trực thăng sẽ bắn xuống xé tan xác chúng thành nghìn mảnh.
Google photo
Trong lần giao tranh này, tôi đã gọi nhiều trực thăng hơn để đánh đuổi kẻ địch phía sau. Một phi công trả lời, “Chúng tôi hết đạn rồi.” Họ đã sử dụng hết số đạn mang theo, kể cả 20% số đạn dự trữ để tự vệ khi bay về căn cứ. Tôi đang tính đến 20% số đạn dự phòng chúng tôi mang theo. Mặc dù họ hết đạn nhưng các phi công vẫn lái trực thăng bay sát kẻ địch và dùng đuôi máy bay tấn công chúng. Kẻ địch rời bỏ chúng tôi và chĩa súng vào các máy bay trực thăng. Trong khi bọn chúng ngắm bắn trực thăng, chúng tôi bắn chúng. Các phi công không chỉ dùng đuôi máy bay tấn công chúng một lần. Họ đã làm vậy tổng cộng sáu lần. Các phi công trong Trung đoàn không vận 160 quả là đáng kính phục khi tự biến mình thành mục tiêu sống để cứu tính mạng chúng tôi. Lúc này, khẩu CAR-15 của tôi cũng hết đạn. Tôi bỏ nó sang một bên và rút khẩu súng lục SIG SAUER cỡ nòng 9 li ra khỏi bao súng bên hông. Đoàn xe của chúng tôi chạy chậm lại và một tên địch xuất hiện trước cửa ngôi nhà, chĩa nòng khẩu AK-47 về phía tôi. Tôi vung khẩu súng lục và bóp cò hai phát. Tôi đã tập kiểu bắn này hàng nghìn lần. Nhưng trong hoàn cảnh chiến trận, tôi bóp cò khá vội và kết quả là trượt. Hoóc môn từ tuyến thượng thận tiết ra ồ ạt, mọi thứ xung quanh tôi hình như đều chậm lại. Tên địch từ từ siết cò. Viên đạn trúng vào ống đồng phải của tôi và phần ống chân dưới gần như bị đứt lìa. Khóa nòng súng của hắn lùi lại phía sau, vỏ đạn văng ra bên ngoài. Mất hơn nửa giây tôi mới lấy được đường ngắm. Hai tiếng súng vang lên. Cả 2 viên đạn đều trúng mặt hắn. Nếu lần bắn đầu tôi lấy đường ngắm lâu hơn độ hơn nửa giây thì tôi đã diệt được tên khốn kiếp và đã cứu được cái chân của mình.
Chiếc xe của tôi đột nhiên chạy chậm lại. Cái quái gì xảy ra với chiếc xe này vậy? Tôi lấy sức nhấn chân ga nhưng không thể. Đưa mắt xuống sàn xe, tôi nhìn thấy đầu ngón chân cái quay ngược ra sau. Lúc đó, tôi thậm chí không nhận ra bàn chân của mình bị xoắn vào phía trong. Tôi cố gắng dẫm lên chân ga một lần nữa. Chiếc chân phải của tôi hoàn toàn tê liệt. Trời đất, đó là chân của tôi. Đưa chân trái sang, tôi nhấn ga. Vấn đề rắc rối thật rồi. Mặc dù đây là lần thứ hai bị trúng đạn trong trận đánh nhưng tôi vẫn tin vào sức mạnh của mình. Kim chỉ mức độ sợ hãi mới tăng lên số 6 chứ chưa phải số 10. Tôi chỉ cảm nhận được cảm giác tê cứng chứ không cảm thấy đau đớn bởi các thụ thể thần kinh của tôi đã quá tải. Mặc dù ngạc nhiên khi bị thương lần thứ hai trong trận đánh nhưng tôi vẫn ngầm từ hào khi là một lính bắn tỉa của Đội đặc nhiệm SEAL số 6.
Tôi vô cùng bực tức với McKnight và gọi ông ta qua vô tuyến điện. “Hãy đưa chúng tôi ra khỏi nơi chết dẫm này!” Cuối cùng chúng tôi cũng ra khỏi được vùng chết, đoàn xe dừng lại để cầm máu cho những người bị thương, nạp đạn và lập kế hoạch cho hành động tiếp theo. Casanova giúp tôi bò qua bảng điều khiển trung tâm vào ghế sau, nhường ghế lái lại cho anh. Khẩu CAR-15 của tôi được treo trên bảng điều khiển trung tâm. Gã Mập lùn cầm lấy khẩu súng CAR-15 của tôi và bỏ lại khẩu M-14 của mình.
Phần xương vỡ có cạnh răng cưa, có thể làm đứt các động mạch chủ và làm tôi chảy máu đến chết. Casanova đặt cái chân bị thương của tôi lên trên capô của chiếc Humvee và đặt chân trái của tôi bên cạnh để đỡ. Kê chân dốc lên cao giúp máu chảy chậm hơn. Casanova khẽ nói “Tôi sẽ đưa anh về nhà”.
Đoàn xe bắt đầu khởi hành và Casanova nhấn chân ga. Chiếc xe của chúng tôi chạy trên ba chiếc bánh đã hết hơi. Đoàn xe quay đầu và quặt phải tại Khách sạn Olympic, hướng về nơi chiếc máy bay đầu tiên bị bắn rơi. Việc làm này chẳng khác gì cảnh bộ phim Groundhog Day, lặp đi lặp lại các hành động tương tự.
Khoảng năm hay mười phút sau đó, một viên đạn của đối phương xuyên qua mắt cá chân trái của tôi. Không giống như chỗ xương gãy ở ống chân phải, không làm tôi đau đớn vì hệ thần kinh trung ương làm tắt cơn đau, vết thương ở mắt cá chân hành hạ tôi muốn chết đi sống lại. Kim chỉ mức độ sợ hãi của tôi đã nhảy lên số 7. Lúc này cảm xúc của tôi đối với kẻ thù đã hoàn toàn chuyển sang tức giận. Chúng đã cướp đi sức mạnh của tôi. Đột nhiên, tôi nhận ra mình đang thực sự gặp rắc rối. Đúng vậy, đoàn xe của chúng tôi lại một lần nữa không đến đúng vị trí chiếc máy bay đầu tiên bị bắn. Chúng tôi dừng lại. Mọi người bước ra khỏi xe và đứng thành vòng tròn. McKnight ra khỏi xe cùng với một người nào đó và hình như họ trải bản đồ ra để xác định vị trí. Thật ngớ ngẩn hết mức. Trong khi bị kẻ địch bủa vây, tại sao không vào quầy hàng 7- Eleven mà hỏi đường?
Đoàn xe của chúng tôi đã hai lần nhầm lẫn trong việc tìm vị trí các phi công bị bắn rơi. Chúng tôi sắp hết cơ số đạn mang theo. Bính lính bị thương và tử thương đã chật ních các xe. Khoảng một nửa số binh lính bị thương nặng, đa số là các đặc nhiệm. Nếu chúng tôi không trở lại căn cứ và tái hợp, có thể đoàn sẽ chẳng còn một mống nào để làm nhiệm vụ giải cứu. Chiếc xe của tôi bị đạn bắn thủng lỗ chỗ chẳng khác gì miếng bọt biển. Gương hai bên xe đều hỏng. Khi đoàn xe tiến về phía trước, xe của tôi bị trúng mìn bộ binh. Tấm thép dưới gầm xe đã cứu chúng tôi khỏi tan xác. (Sau này tôi trở thành thành viên danh dự của câu lạc bộ Những người sống sót Kevlar.) Casanova đánh xe vào lề đường rồi xe chết máy. Kẻ địch bất ngờ tấn công chúng tôi. Chúng tôi sắp toi rồi.
Tôi nhớ đến bộ phim yêu thích The Alamo sản xuất năm 1960, với nhân vật chính Dany Crockett do diễn viên John Wayne. Đây hẳn là cảm giác của Davy Crockett trước khi họ giết chết anh ta: bại trận, hết người chiến đấu. Chứng kiến cảnh đồng đội của mình từng người từng người một tiêu diệt trong khi kẻ địch vẫn tiếp tục áp sát. Vậy đó. Howard Wasdin sẽ chấm dứt cuộc đời của mình tại Mogadishu ở Somali vào buổi chiều ngày 03/10/1993. Điều tôi nuối tiếc nhất chính là tôi đã không thường xuyên nói với những người tôi yêu qúy những lời yêu thương. Suốt thời gian sống trên cõi đời, lẽ ra đó là điều mà tôi phải làm nhiều hơn. Hai người đầu tiên xuất hiện trong tâm trí tôi là các con tôi Blake và Rachel. Có lẽ tôi chỉ nói với chúng câu “bố yêu các con” khoảng sáu lần một năm. Một phần vấn đề nằm ở chỗ, do thường xuyên bận tập luyện và tham gia các chiến dịch tác chiến nên tôi chẳng có nhiều thời gian bên chúng. Mặc dù đã kết hôn, nhưng lúc này tôi chẳng nghĩ đến vợ tôi Laura. Mối quan hệ của tôi với Đội đặc nhiệm SEAL đã trở nên quan trọng hơn cuộc hôn nhân của tôi. Nhưng tôi muốn nói với Blake và Rachel rằng tình yêu của tôi dành cho chúng là vô bờ bến.
Kim đo mức độ sợ hãi của tôi chỉ ở số 8. Nó sẽ không bao giờ lên tới số 10. Khi kim chỉ mức độ sợ hãi của ai đó nhảy lên số 10 thì người đó sẽ không còn hành động được nữa. Khi đó bạn sẽ phó mặc số phận của mình cho hoàn cảnh xung quanh. Tôi vẫn chưa chết. Tôi dùng súng lục quay lại bắn phía sau nhằm xua đuổi 6 hay 7 tên địch xung quanh. Về thể lực, tôi không thể bắn trúng được bất kỳ tên nào vào thời điểm đó. Tôi bắn hết hai băng đạn của khẩu súng lục Casanova đưa cho tôi. Trên vô tuyến điện, tôi nghe thấy thông tin QRF đang trên đường đến cứu chúng tôi − bốn giờ nữa sẽ tới nơi xảy ra giao tranh. Lực lượng phản ứng nhanh − chẳng hiểu khái niệm của lực lượng này về chữ “nhanh” là cái quái gì nữa?
Xe của chúng tôi vẫn chết máy bên lề đường, tôi ngước mắt lên và thấy máy bay của QRF bay qua chỗ chúng tôi. Chúng tôi đã có cơ hội được cứu sống nhưng họ lại bay vượt qua. Chắc họ muốn bỏ mặc chúng tôi chết ở nơi đây. Sau đó QRF dừng lại và yểm trợ cho một chiếc xe trọng tải 3,5 tấn. Cám ơn Chúa, cuối cùng họ cũng đã nhìn thấy chúng con. Khi họ đến con đường bên cạnh chúng tôi, quân địch bỏ chạy hết. Xe của QRF dừng lại. Casanova và Gã Mập lùn giúp chuyển những người bị thương lên xe của QRF.
Một biệt kích Ranger đang loay hoay cuộn thang dây vừa thả từ trực thăng xuống – đây là công việc đã được làm đi làm lại nhiều lần khi tập luyện. Do thần kinh quá tải, người lính này chỉ làm theo bản năng mà quên hết những gì đã được dạy. Không tự đi được, tôi nhìn chằm chằm vào cậu lính Ranger trong sự hoài nghi. Tôi hét lên “Đây không phải là đợt huấn luyện! Hãy đặt sợi dây xuống, vứt vào trong xe và đưa chúng tôi ra khỏi đây!”. Tay biệt kích của Ranger tiếp tục kéo sợi dây mà không ý thức được hoàn cảnh xung quanh và không nghe theo mệnh lệnh của tôi. Tôi dí khẩu súng lục SIG SAUER của tôi vào cậu ta: “Tôi sẽ không giết anh nhưng anh sẽ phải đi tập tễnh nếu không vứt sợi dây đó vào xe!”Cậu ta bối rối mất một lúc rồi thả sợi dây ra. Cậu ta vội vã vào xe. Cuối cùng, những người trong xe cũng đưa được tôi lên chiếc xe tải của QRF. Casanova bảo mọi người hãy để ý hơn đến tôi vì chân phải của tôi chỉ treo lủng lẳng như vậy chứ không còn cử động được nữa.
Chúng tôi lái xe về trại mà không hề gặp bất kỳ cản trở nào từ quân của Aidid. Sau khi vào trong cổng, khoảng 40 đến 50 người đang chờ sẵn ở đường băng, trong đó có cả các nhân viên y tế. Họ đến để làm nhiệm vụ phân loại những người bị thương không thể cứu chữa với những người có thể cứu chữa được cũng như mức độ nặng nhẹ của thương tích. Một người lính của Ranger mở thành xe phía sau của một chiếc Humvee – máu từ xe chảy ra nhiều vô kể.
Casanova và Dan Schilling đưa tôi đến khu vực phân loại. Lúc này trời vẫn sáng, các nhân viên y tế cởi hết quần áo của tôi ra để thuận lợi cho việc chữa trị. Họ để tôi nằm trần truồng trên đường băng, vây quanh là các xác chết. Một lần nữa, tử thần lại “vồ” trượt tôi như những lần trước đó: như khi kẻ địch bắn rơi chiếc trực thăng của QRF và giết chết ba người bay cùng chuyến đó; như khi quân của Aidid mở cuộc tấn công lớn vào Pasha; như khi các pháo thủ của kẻ địch nã pháo vào khu của CIA, nơi tôi đến thăm và rời đi hôm trước. Tôi nghĩ có lẽ Casanova và tôi đã có một kết cục khác nếu chúng tôi bay cùng trong chuyến bay có ba lính bị sát hại hôm đó, nhưng có thể cũng sẽ chẳng khác gì và tôi có lẽ đã bị chết hôm đó. Tuy nhiên, điều đó không xảy ra bởi Chúa luôn bên cạnh phù hộ tôi. Giờ đây tôi đã 48 tuổi và đôi khi vẫn tự hỏi, Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi không hạ gục kẻ địch trước khi hắn hạ gục tôi? Có lẽ mọi người chỉ có thể gặp tôi ở nghĩa trang mà thôi.
Trước khi diễn ra trận đánh ở Mogadishu, những hỗ trợ chúng tôi nhận được từ chính quyền Clinton thật đáng chê trách. Chính quyền Clinton đã từ chối cấp cho chúng tôi loại xe chiến đấu bộ binh M-2 Bradley, xe tăng M-1 Abrams và máy bay cường kích AC-130 Spectre. Chính quyền Clinton quan tâm đến khía cạnh chính trị nhiều hơn là tính mạng binh sĩ Mỹ. Trong trận đánh ở Mogadishu, 18 binh sĩ Mỹ thiệt mạng và 84 binh sĩ khác bị thương; 1 lính Malaysia chết và 7 người khác bị thương; hai binh sĩ Pakistan và 1binh sĩ Tây Ban Nha bị thương. Mặc dù chỉ khoảng 180 binh sĩ chiến đấu chống lại gần 3.000 quân của Aidid nhưng chúng tôi vẫn bắt được Omar Salad, Mohamed Hassan Awale, Abdi Yusef Herse và nhiều thủ hạ quan trọng khác. Hàng ngàn người trong bộ tộc của Aidid thiệt mạng và số bị thương còn nhiều hơn thế. Chúng tiêu hao rất nhiều đạn dược. Nhiều tù trưởng phải sơ tán vì sợ các cuộc phản kích của Mỹ. Bốn lính bắn tỉa từ Đội Anh ba Xanh (Blue Team) đang trên đường sang thay chúng tôi. Phi đội Alpha của Delta đang làm công tác chuẩn bị sang thay Phi đội Charlie. Một loạt lính Ranger mới cũng đang trên đường sang. Chúng tôi đã phá vỡ được hậu phương của Aidid và chúng tôi muốn hoàn tất sứ mệnh này.
Bất chấp những thắng lợi của chúng tôi, Tổng thống Clinton vẫn coi chúng tôi là những kẻ bại trận. Mặc dù chúng tôi vẫn chưa bắt được Aidid và chưa chuyển được số lương thực viện trợ đến người dân nhưng Clinton đã rũ tay. Ông ra lệnh ngừng tất cả các hành động chống lại Aidid. Bốn tháng sau, Clinton trả tự do cho Osman Atto, Omar Salad, Mohamed Hassan Awale, Abdi Yusef Herse và các tù nhân khác. Đúng là chó chết thật. Chúng tôi đã mất rất nhiều thời gian sát cánh với người dân Somali để tạo dựng lòng tin, thuyết phục họ rằng chúng tôi sẽ ở bên họ trong thời gian dài. Nhiều người trong số những người Somali này đã dám mạo hiểm tính mạng bản thân để giúp chúng tôi. Một số còn dám đánh đổi cả sự an toàn của gia đình. Những lính canh trước đây của chúng tôi ở Pasha đều tham gia vào trận đánh ở Mogadishu và họ chiến đấu đến phút cuối. Chỉ một ít người trong số họ sống sót. Những người còn lại đều đã hy sinh khi sát cánh cùng chúng tôi. Chúng tôi đã bỏ lại những người bạn Somali của mình trong lúc họ vẫn đang cần sự giúp đỡ. Tôi có cảm giác sự hy sinh của chúng tôi là vô ích. Tại sao họ lại điều chúng tôi đến Somali trong khi vẫn chưa hạ quyết tâm phải hoàn tất sứ mệnh? Lẽ ra chúng tôi không nên tham gia vào cuộc nội chiến ở Somali – đây là vấn đề của họ chứ không phải của chúng tôi. Nhưng khi chúng ta cam kết, chúng ta nên hoàn thành cái chúng ta phát động: đó là một bài học chúng tôi luôn nhớ mãi trong lòng.
Somali không còn nhận được sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế trong nỗ lực mang lại hòa bình và lương thực cho đất nước nữa. Sự hỗn loạn và nạn đói gia tăng. Aidid đã ém nhẹm đi khá nhiều con số thương vong, mất mát của phe hắn trong cuộc chiến nhưng cũng chẳng thống trị được nước Somali thống nhất. Aidid chết năm 1996 trong một trận chiến tranh giành quyền lực nội bộ với Osaman Atto.
Có ai ngờ rằng Guiliano đã làm được cái việc mà tất cả các đấng chính khách – kể cả các đấng “bự” nhất – cũng không làm nổi. Đó là tập hợp các chính đảng ở Italia để theo đuổi, chung sức với nhau vào một hành động chung. Điều mỉa mai là hành động chung ấy nhằm tiêu diệt chính hắn. Tháng 7 năm 1949, không thèm thông báo cho Guiliano, trong một cuộc họp báo, ngài bộ trưởng Bộ tư pháp Franco Trezza đã công bố thành lập Bộ tư lệnh cảnh vệ đặc biệt gồm năm ngàn người. Ngài đã chọn được một cái tên rất kêu, rất hách để đặt cho lực lượng ấy. Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ. Báo chí khen ngợi đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo đang cầm quyền đã có quyết định dứt khoát đáng khen. Đồng thời, những báo gân hơn hoặc đa nghi hơn, đã sớm moi ra được những khía cạnh dè dặt, chưa đủ quyết tâm. Vì chưa nhằm thẳng vào Guiliano, chưa coi nó là đối tượng chủ yếu. Mục đích thực sự của sự la lối om sòm, đểu cáng này chỉ để làm cho người ta quên đi tên phỉ bậc nhất Sicily chẳng phải Guiliano mà chính là Ông trùm Croce. Đồng thời, để vồ món nợ mà Đảng dân chủ Thiên Chúa giáo đã “vay” hắn. Báo chí trong toàn quốc cũng quên “bốc thơm” ngài bộ trưởng Bộ tư pháp đã rất khôn ngoan khi tuyển chọn người để thành lập lực lượng này. Hầu hết là những cớm non, cớm oắt còn độc thân. Nhược điểm không phải là không có. Kinh nghiệm chiến trường chẳng hạn. Nhưng bọn phỉ cũng có hơn gì: Vài ba trăm tên ô hợp, chẳng được luyện chiến thuật. Ngoài những hành động phỉ như bắt cóc, chặn cướp xe… chúng cũng làm gì có dịp đụng trận lớn. Nhưng cái lợi của bọn cớm non, cớm oắt là anh hùng rơm, dễ khích. Khi chúng chết, khỏi phải nuôi báo cô vợ, con chúng. Đó là một cái lợi lớn nhất. Tính toán dễ sợ. Ngài bộ trưởng còn dự tính, nếu cần, sẽ tung lực lượng xung kích com – măng – đô, lính dù, xe tăng, trọng pháo… Và cả không quân nữa. Với một dúm người, bọn phỉ chịu sao thấu một lực lượng áp đảo với hỏa lực kinh khủng như vậy? Chỉ huy trưởng lực lượng đặc biệt tiễu phỉ là đại tá Ugo Luca, một chiến hữu của tướng Rommel, một nhân vật đã trở thành huyền thoại của quân đội Đức Quốc xã. Báo chí dưới thời phát – xít Musolini cũng đã tán tụng ông đại tá này là “Con cáo sa mạc” của Ý. Ugo Luca bậc thầy về chiến tranh du kích – sẽ làm cho lối đánh “rừng” của Guiliano chới với là cái chắc. Báo chí đề cập qua loa vài hàng để chỉ định Fred Velardi làm đầu ngành “cớm chìm” trên toàn cõi Sicily. Người ta biết rất rõ về ngài thanh tra Velardi, ngoại trừ điều ông ta được chính ngài bộ trưởng chọn làm phụ tá cho đại tá Ugo Luca. Một tháng trước khi có họp báo công bố quyết định thành lập “Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ”, có một cuộc gặp gỡ tay ba bí mật giữa bộ trưởng Franco Trezza, đức Hồng y giáo chủ Palermo và Ông Trùm Croce Malo. Trong cuộc họp ấy, lần đầu tiên đức Hồng y đề cập đến bản chúc thư của Guiliano với những tài liệu nguy hiểm chết người trong đó. Ngài bộ trưởng nghe và sợ đến khiếp vía. Phải hủy cho bằng được cái tài liệu ấy trước khi lực lượng đặc biệt tiễu phỉ kết thúc nhiệm vụ. Đã có lúc ngài có ý định thu hồi lệnh thành lập lực lượng đặc biệt tiễu phỉ lại. Nhưng bị áp lực dữ dội của cánh tả. Chưa gì bọn này đã rêu rao lực lượng đặc biệt tiễu phỉ chỉ là màn khói hỏa mù để che đậy sự bảo chợ ngầm của đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo dành cho Guiliano. Mà dẹp lực lượng này đi thì cái lưỡi không xương của bọn tả cũng thiếu gì cách nói. Nhưng, đối với Ông Trùm thì bản chúc thư của Guiliano chỉ làm cho vấn đề thêm khó khăn, phức tạp thêm, chứ không làm thay đổi giải pháp của lão. Lão đã quyết định phải diệt thằng Guiliano. Không còn con đường nào khác. Lão sống thì Guiliano phải chết. Hoặc ngược lại. Không còn giải pháp nào khác. Guiliano đã chơi “bể gáo” sáu thằng “sếp” Mafia của lão rồi. Nếu để Guiliano, chẳng những uy tín của lão bị dìm xuống đất đen mà lực lượng, tay chân của lão suy yếu đi thấy rõ. Uy tín của Guiliano ngày càng lên, lực lượng của hắn ngày càng mạnh. Như vậy, ngày tàn của bạo chúa Croce Malo không xa. Chẳng lẽ muối mặt đi than phục hắn. Mà chắc gì hắn đã chịu. Đã đành là phải diệt hắn nhưng không được thò cái mặt ra. Phải chơi trò ném đá giấu tay. Phải mượn tay người khác diệt hắn. Bởi vì, trước mặt dân Sicily hiện nay, Guiliano là một đại anh hùng, một đại ân nhân, một người bảo trợ vững mạnh. Đụng đến Guiliano là đụng đến đám khố rách đó. Chúng nó khiếp nhược thật đó, nhưng nếu chúng nó nổi khùng lên thì ông trời cũng nhỏ, chứ đừng nói gì đến lão và tổ chức Mafia. Ấy là chưa kể đến cú “rờ – ve” của hắn. Vỡ mặt là cái chắc. Ông Trùm cũng trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Hồng y giáo chủ cũng bấn không kém. Hứa cái gì, hứa với ai không hứa, mà lại đi hứa xin miễn xá cho một thằng ăn cướp! Nhưng ngài cũng ở vào một cái thế ít bị kẹt và dễ xoay trở cái lưỡi hơn hai đấng kia. Có gì đâu, Ngài sẽ trích dẫn câu kinh thánh: Chúa để cả bầy chiên ở đó để đi tìm một con chiên lạc. Xong ngay. Ngài sẽ dẫn câu chuyện thằng phá gia chi tử trong kinh thánh, rồi sau đó kết luật: kẻ có bệnh mới cần uống thuốc, kẻ tội lỗi phải được yêu thương nhiều hơn. Hết sẩy. Thần học thứ thiệt. Mấy nhà ngụy biện Hy Lạp có sống lại cũng đành bái phục, tôn ngài làm sư phụ. Trong ba cái đầu ấy, thì cái đầu của Ông Trùm là đa mưu túc kế hơn cả. Cái gì chớ bày ra mưu sâu kế hiểm, dăng ra thiên la địa võng là nghề của lão. Tất nhiên, trong trường hợp diệt Guiliano, lợi ích của lão ăn khớp với yêu cầu của ngài bộ trưởng. Trong đời Croce Malo chưa hề làm cái gì không công cho ai. Ngài bộ trưởng muốn cái gì? Cái ghế thủ tướng nước Ý. – Tất nhiên là ngài phải diệt thằng đó, – lão nói với ngài bộ trưởng. – Ngài không còn cách nào khác. Trước sau gì cũng phải diệt cho bằng được. Nhưng xin cứ để cho nó sống đó cho đến khi nào tôi vô hiệu hóa được bản chúc thư ấy đã. Bởi vì, con rắn chết rồi, nọc độc của nó vẫn giết người được cơ mà. Tôi cam đoan làm được điều đó. “Làm ăn” với nhau từ lâu, ngài bộ trưởng rất tin tưởng ở cái đầu óc đầy nghẹt mưu sâu kế hiểm của lão. Ngài gật đầu đồng ý. Ngài đưa tay bấm máy “intercom” và dõng dạc ra lệnh: – Cho mời ông thanh tra. Vài giây sau, một người cao dong dỏng, khuôn mặt quí phái, đôi mắt xanh lạnh lùng, bước vào. Ông ta không mập, nhưng ăn mặc thì cực kỳ tuyệt. Sang trọng nhưng trang nhã. Không khúm núm, nhưng không phách, không như mấy anh đài các rởm, kiểu cách học đòi. Ngài bộ trưởng nói với Ông Trùm: – Xin giới thiệu: đây là ông thanh tra Velardi. Tôi sắp công bố quyết định cử ông ta làm giám đốc an ninh tình báo trên toàn cõi Sicily, ông ta sẽ phối hợp với chỉ huy trưởng lực lượng đặc biệt. Quay sang phía thanh tra Velardi, ngài bộ trưởng đề cập đến bản chúc thư của Guiliano với tính chất nguy hiểm chết người của tài liệu ấy. Đúng là bản chúc thư ấy đe dọa đến sinh mạng của đảng Dân chủ Thiên Chúa giáo. – Này, ông thanh tra, – ngài bộ trưởng gằn giọng nhấn mạnh, – tôi yêu cầu ông hãy coi ông Croce đây là đại diện của chính tôi tại Sicily. Ông sẽ cung cấp cho ông ta tất cả các tin tức mà ông ta yêu cầu. Và coi đó là cung cấp cho chính tôi. Và đó cũng là một trong những nhiệm vụ của ông. Ông hiểu chứ? Chính vì hiểu, cho nên ông thanh tra đã lịm người đi một lúc mới nuốt trôi được cái yêu cầu quái gở ấy. Nghĩa là ngài thanh tra, giám đốc an ninh tình báo phải báo cáo cho Croce – trùm Mafia – mọi kế hoạch hành quân của đại tá Ugo Luca. Sau đó Croce sẽ báo cáo lại cho Guiliano để tên này kịp thời lỉnh đi, hoặc chuẩn bị chơi lại, nếu dám. Thông minh, học rộng như ngài thanh tra mà cũng chỉ hiểu được một cách rất lơ mơ những uẩn khúc, lắt léo đến độ quái gở ấy. – Nghĩa là, tôi phải cung cấp mọi tin tức cho ông Croce đây chứ gì? Nhưng, xin lỗi đại tá đâu có ngu. Rồi ông ta cũng sẽ đoán ra ngay cái kẽ hở theo đó tin tức bị lọt ra. Lúc đó, thì kẹt quá! Ít nhất, ông ta cũng sẽ không mời tôi dự các cuộc họp tham mưu nữa. – Nếu ông gặp trục trặc rắc rối gì, cứ cho tôi biết ngay, – ngài bộ trưởng nói. – Nhiệm vụ chủ yếu của ông là cứu cho được bản chúc thư chết người đó. Nghĩa là phải làm thế nào để Guiliano còn sống cho đến khi nào vô hiệu hóa được bản chúc thư kia. Ngài thanh tra đưa đôi mắt xanh lạnh lùng của mình chiếu thẳng vào Ông Trùm: – Tôi rất sung sướng được giúp đỡ ông ấy, – ngài thanh tra nói, – có điều tôi muốn biết rõ: nếu lỡ ra Guiliano bị đại tá Ugo Luca bắt sống, trước khi tài liệu nguy hiểm kia bị vô hiệu hóa, thì tôi phải làm sao? Ông Trùm không phải là một công chức – dù chỉ là ngang tầm với ngài thanh tra – nên trong trường hợp này lão không thể nói huỵch toẹt ra như thế này: “Trong trường hợp đó, nếu anh em mình không bị mắc làm mồi câu sấu là may. Nhưng, cả đám đi ăn mày là giá chót. Cái đó thì chắc”. Việc chỉ định đại tá Ugo Luca làm tư lệnh Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ đã được báo chí hoan nghênh như một lựa chọn sáng suốt và biểu hiện quyết tâm của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo. Báo chí nêu ra những thành tích, huy chương, lòng can đảm, tài năng tham mưu, chỉ huy, tính nết điềm đạm, bình tĩnh, không ưu tuyên bố rùm beng, huênh hoang. Nhất là, ông đại tá này có một sự kinh tởm rất đáng quý. Đó là kinh tởm mọi sự thất bại, bất cứ vì lý do gì. Cũng theo báo chí “bốc thơm”, thì ngài đại tá cũng là một tay rất kiên trì. Có vậy mới trị được cái thói tàn bạo truyền thống của Sicily chớ! Trước khi bắt tay vào việc, đại tá đã nghiên cứu kỹ tất cả các tài liệu tình báo về Guiliano. Ngài bộ trưởng thấy đại tá vùi đầu vào những chồng hồ sơ, báo cáo và tất cả các bài báo nói về Guiliano. Khi được ngài bộ trưởng hỏi khi nào ông ta sẽ xuất quân, đại tá đã nhỏ nhẹ đáp lại là ông ta đang thành lập bộ tham mưu. Và, Guiliano chẳng bốc hơi được mà sợ. Đại tá Luca để ra cả tuần lễ để nghiên cứu. Sau đó, ngài đã hình dung ra được một nhận định đại khái như thế này: Guiliano rất có tài về chiến tranh du kích. Nhưng nó chỉ có một chiến thuật độc nhất. “Bộ khung” của nó như sau: Aspanu, chỉ huy phó. Canio Sylvestro, cận vệ. Stefan Andolini nắm tình báo, liên lạc với Croce Malo và mạng lưới Mafia trong vùng. Terranova và Passatempo có bộ hạ riêng và “hành quân” độc lập, không do Guiliano trực tiếp chỉ huy, trừ những khi cần “hành quân phối hợp”. Terranova sở trường về bắt cóc. Passatempo thiện nghệ về chặn cướp xe lửa và tấn công nhà băng. Nhưng mọi kế hoạch đều do Guiliano vạch ra. Đại tá Luca cũng biết rõ thủ hạ của Guiliano chỉ nằm trong con số ba trăm đổ lại. Nhưng, đại tá kinh ngạc tự hỏi nếu chỉ như vậy thì không hiểu bằng cách nào, Guiliano đã làm mưa làm gió suốt sáu năm trời, vô hiệu hóa toàn bộ lực lượng cảnh vệ của cả một tỉnh và hoàn toàn “kiểm soát” miền Bắc đảo Sicily? Bằng cách nào hắn đã thoát được mọi cuộc hành quân truy lùng của một lực lượng cảnh vệ hùng hậu như vậy? Câu trả lời chỉ đơn giản là hắn đã huy động được rất đông nông dân Sicilian bất cứ khi nào hắn cần. Khi lực lượng chính phủ hành quân càn quét trên núi, bọn chúng lẩn xuống các thị trấn, làng mạc, sống lẫn lộn trong đám nông dân quê mùa. Cũng có một số đông dân thị trấn – như Montelepre chẳng hạn – là thành viên bí mật của hắn. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn hết là Guiliano được lòng dân chúng. Rất ít có cơ may cài được người vào băng của hắn. Cũng không có hy vọng mua chuộc được người làm phản trong số tay chân bộ hạ của hắn. Vô phúc, nếu hắn lên tiếng công khai kêu gọi một cuộc cách mạng! Sẽ có hàng ngàn, hàng ngàn người, già trẻ lớn bé sẵn sàng theo, hoặc ít ra cũng bao che cho hắn. Điểm rắc rối nghe tưởng như phi lý là dường như Guiliano có khả năng tàng hình. Thấy hắn xuất hiện ở đó, đưa quân đến bao vây kín mít và sục tìm. Vô ích. Tưởng như hắn tan vào không khí không bằng. Càng đọc các tài liệu, tin tức tình báo và báo chí, đại tá càng có ấn tượng mạnh. Nhưng ngài cũng cho rằng mình đã tìm ra được những đầu mối để từ đó phăng ra và đặt kế hoạch đối phó, phản công. Những đầu mối đó, trong giai đoạn đầu có thể chưa giá trị mấy, những về lâu dài sẽ quan trọng. Trong những bức thư gửi cho báo chí, Guiliano thường mở đầu bằng cách hăm dọa úp mở đại khái như thế này: “Tôi vẫn tin báo của quí ông và bản thân quí ông không phải là kẻ thù của tôi. Nếu đúng như vậy thì xin vui lòng đăng bức thư này trên báo của quí ông tại trang nhất…” Ai còn lạ gì cái số phận là kẻ thù của Guiliano. Bởi vậy, không ai ham làm kẻ thù của nó. Thế là Guiliano bảo đăng gì là báo chí rụp rụp đăng cái đó. Phần kế tiếp của các bức thư – theo đại tá – là những lời tuyên truyền thù nghịch chống chính phủ hoặc huênh hoang khoe số tiền mà nó cướp được và đem phân phát cho đám khố rách, huênh hoang về thành tích bắt cóc, tống tiền, chặn cướp xe… khi chọi nhau với đám cảnh vệ và có một vài cảnh vệ chết, Guiliano làm bộ bùi ngùi tiếc “trong trận chiến, khó tránh khỏi những tổn thất ngoài ý muốn”. Và dựa vào đó để đả kích chính quyền và kêu gọi cảnh vệ đừng dại dột đổ máu cho bọn quyền thế, bọn nhà giàu chuyên hút máu dân nghèo”. Trong bức thư giải thích việc nó giết sáu sếp Mafia, Guiliano đã giở giọng “giả nhân giả nghĩa”: “Chỉ có như vậy người nông dân mới hưởng được cái quyền mà luật pháp và đạo đức đã dành cho họ”. Ngài đại tá lấy làm ngạc nhiên khi thấy chính quyền đã để cho báo chí đăng tải những bức thư như vậy. Cái thói quen suy nghĩ theo kiểu mấy ông nhà binh đã khiến cho ngài đại tá yêu cầu ngài bộ trưởng Bộ tư pháp cho phép mình đặt Sicily trong tình trạng thiết quân luật. Dựa vào tình trạng này, ngài đại tá đã cho “treo” hết các quyền tự do, dân chủ và nhân quyền. Chẳng hạn ngài đại tá kiểm soát và “đục bỏ” những tin tức loạn một cách có lợi cho Guiliano. Nhất là những bức thư của Guiliano. Từ đó, ngài đại tá cắt đứt mối liên hệ của Guiliano với quần chúng, công khai thông qua báo chí. Ngài đại tá cũng là một tay thiện nghệ trong ngón đòn “tâm lý chiến”. Ngài cố dò tìm những tin tức về tình hình giao du của Guiliano với đàn bà con gái. Nhưng ngài đã không thành công. Chỉ có những báo cáo về các cuộc săn tìm hoa của đám bộ hạ của Guiliano tại các xóm “chị em ta” ở Palermo. Và ngài cũng được biết Pisciotta là một tay khá háo sắc. Nhưng, về Guiliano thì ngài chỉ được biết rằng kể từ khi dấn thân vào kiếp sống ngoài vòng pháp luật, Guiliano sống dường như không biết mùi đàn bà. Với tư cách là một người Ý, đại tá Luca không tin rằng có thể có tình trạng đó. Chắc chắn Guiliano đâu phải là thánh sống. Vậy, tìm ra được người đàn bà mà Guiliano thường lui tới, thì công việc kể như đã giải quyết xong. Điều làm cho ngài đại tá quan tâm và lấy làm thú vị là lòng thảo hiếu của Guiliano. Nhất là đối với bà mẹ hắn. Hắn gần như “tôn thờ’ bà mẹ. Ngài đại tá đặc biệt lưu ý điểm này. Và đưa yếu tố này vào luận điểm của ngài: Nếu thật sự Guiliano không có chuyện đàn bà, con gái bê tha, bồ nhí… mà lại có lòng tôn kính đặc biệt đối với bà mẹ hắn thì có thể dùng chính bà mẹ đó làm mồi bẫy hắn. Khi nghiên cứu hồ sơ và tình hình xong, đại tá bắt tay vào việc. Trước hết là lập bộ tham mưu. Chỉ định quan trọng và đắc ý nhất của ngài là cử đại úy Antonio Perenza làm sĩ quan trợ lý và cận vệ. Đại úy Perenza là một người cao, to, mập. Và như hầu hết mọi ông mập khác, đại úy là một người tính nết xuề xòa. Đại tá biết ông đại úy này là một sĩ quan can đảm. Và đại tá cũng dự đóan trước sắp tới ngài rất cần sự can đảm của ông ta. Tháng 10 năm 1949, đại tá Luca đến Sicily. Mặc dầu được báo chí Ý bốc thơm và đánh bóng rất kỹ, đại tá cũng cảm thấy tự ái hơi bị dụng chạm. Thân danh là một anh hùng thời chiến với cái biệt danh rất bóng bẩy là “con cáo sa mạc”. Vậy mà bây giờ lại phải cầm đầu một lũ cớm oắt, cớm nhóc để chọi với một dúm đầu trộm đuôi cướp đứng đầu là một thằng nhóc mới lớn. Mặc dù mang danh tư lệnh Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ. Cũng vẫn đau. Tuy nhiên là một sĩ quan chuyên nghiệp, có tinh thần kỷ luật cao, cho nên đại tá cũng hết mình. Vả lại, đi sông đi biển không chết, mà lại chết trong vũng trâu đầm, cái đó mới càng “quê” hơn nữa. Đợt đầu, đại tá chỉ đem sang Sicily 2.000 quân. Và ngài hy vọng bấy nhiêu cũng đủ. Ngài không muốn làm cho hào quang của thằng ăn cướp ấy lớn thêm, sáng thêm bằng con số năm ngàn quân. Theo ngài, dù sao đó cũng chỉ là một nhóm phỉ mà ngài có thể mau lẹ đè bẹp. Khi đặt chân đến Sicily, đại tá tư lệnh lực lượng đặc biệt tiễu phỉ đã dằn mặt Guiliano bằng ba đòn. Đòn thứ nhất là báo chí cấm tường thuật các hành động phỉ của Guiliano, nhất là đăng tải “thư” của nó. Đòn thứ hai là tống giam ông bà già của Guiliano với tội danh âm mưu thông đồng với bọn phỉ. Đòn thứ ba là thẩm vấn và tống giam trên 200 người dân Montelepre với lý do tình nghi là “gian nhân hiệp đảng” với bọn phỉ. Tất cả những người này bị giải về giam tại nhà ngục ở Palermo do chính lính của đại tá canh giữ cẩn mật. Tất cả những đòn này được thi hành dựa trên đạo luật do chế độ phát – xít ban hành, những vẫn chưa bị chế độ công hòa hủy bỏ. Nhà của ông bà già Guiliano bị lục soát kỹ. Đường hầm thông qua nhà của La Venera bị phát hiện. Bản thân La Venera bị bắt ở Florence. Nhưng chị ta được thả ra, vì khai không hề biết gì về đường hầm đó. Vả lại, thể theo đề nghị của thanh tra Velardi, chị ta được thả ra để làm mồi bẫy Guiliano. Báo chí Ý lại “bốc” đại tá Luca lên tận mây xanh với hàng tít lớn đại khái như cuối cùng, người ta đã tìm ra được người hùng. “Đại tá Ugo Luca hay là ngày tàn của bọn phỉ”. “Tại sao dùng dao mổ trâu để giết gà?”. Ngài bộ trưởng Bộ tư pháp cũng khóai chí vì được khen sáng suốt khi cử Ugo Luca làm tư lệnh Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ. Nhất là khi ngài được thủ tướng chính phủ tán thưởng sự bổ nhiệm này. Chỉ có Ông Trùm là chẳng cảm thấy gì trước những lời bốc thơm ngài đại tá. Tháng đầu tiên của ngài đại tá tại Sicily trôi qua không xảy ra một hành động “ngoạn mục” nào của Guiliano. Người ta đã tưởng là chỉ cần oai danh của đại tá cũng đủ để Guiliano phải co vòi. Thực ra, “trong bóng tối”, Guiliano để tâm nghiên cứu cách thức bày binh, bố trận của đại tá xem ngài có xứng danh là “con cáo sa mạc” hay cũng chỉ là con ngáo ộp. Hắn đã rất khâm phục sự sáng suốt của đại tá, khi ra lệnh cấm báo chí đăng tải các tin tức có lợi cho hắn, nhất là các bức thư của hắn. Làm như vậy, rõ ràng đại tá đã cắt đứt mạch máu nối liền nó với nông dân Sicilian. Nhưng, khi đại tá tống giam bừa bãi mấy trăm người dân ở Montelepre, thì sự cảm phục biến thành lòng căm thù. Cho đến khi ông bà già hắn cũng bị ngài đại tá cho nếm cơm tù, thì Guiliano hào hoa phong nhã đã biến thành một hung thần ác sát, một cơn ác mộng đối với lực lượng cảnh vệ của Sicily.
Photo edit by Sơn râu
Hai ngày liền hắn ngồi trong hang sâu trên núi Camaratta. Nó xem xét, cân nhắc rất kỹ những tin tức thu lượm được về Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ. Và dựa trên đó, hắn đặt kế hoạch. Ít nhất cũng có một ngàn cảnh vệ được bố trí quanh thủ phủ Palermo chờ hắn đến giải cứu ông bà già hắn. Một ngàn quân khác thì rải ra đóng ở thị trấn Montelepre và các vùng quanh đó. Nhiều người dân là thành viên bí mật của hắn cũng được tuyển mộ vào trong số lính đó. Đại tá Ugo Luca đặt tổng hành dinh và bộ tham mưu của ngài tại Palermo mà ngài nghĩ là bất khả xâm phạm đối với Guiliano. Nhưng, chính vì vậy mà ngài đại tá bị hố. Turi hướng sự căm thù của mình vào việc nghiên cứu và đề ra kế hoạch chơi lại ngài đại tá. Đối với hắn, kế hoạch đó có những nét rõ ràng và đơn giản như trò chơi con nít. Với một ngàn quân rải ra tại Montelepre và các vùng xung quanh, đại tá Luca cứ tưởng là đủ để khóa chặt Guiliano tại sào huyệt của hắn. Cứ làm như thể là hắn không thể ra khỏi và sau đó lại an toàn rút về sào huyệt. Nhưng, đồng thời Guiliano cũng biết kế hoạch của hắn chỉ có thể thành công nếu không có một sơ sót nhỏ nào – dù trong chi tiết – khi được triển khai, thực hiện. Guiliano gọi Aspanu vào trong hang và trình bày toàn bộ kế hoạch. Kế đó, từng người một, từ Passatempo, Terranova, thầy cai Canio Sylvestro và Stefan Andolini, mỗi người được cho biết và chỉ được cho biết phần việc của mình. Bộ tư lệnh cảnh vệ đóng ở Palermo trả lương cho toàn bộ lính cảnh vệ đồn trú tại phía tây và bắc Sicily. Hàng tháng, xe phát lương được canh gác rất cẩn thận và được một lực lượng khá hùng hậu hộ tống – chạy một vòng khắp các đồn trại trong vùng để phát lương cho lính. Lương của mỗi người lính được đựng trong bao, từng đồn từng trại được đặt trong thùng, khóa cẩn thận và chất lên xe. Xe này là xe chở vũ khí của quân đội Mỹ. Người tài xế được trang bị súng lục. Phát ngân viên ngồi bên cạnh được trang bị súng tiểu liên. Mỗi khi xe phát lương – chở hàng mấy chục triệu lire – rời khỏi Palermo, thì đều được hộ tống cẩn thận. Đòan xe hộ tống gồm ba xe Jeep bố trí súng đại liên mở đường. Trên mỗi xe Jeep này ngòai tài xế còn có ba cảnh vệ. Một xe tải chở trên hai chục cảnh vệ khác áp sát xe lương. Đoạn hậu là hai xe chỉ huy, mỗi xe gồm sáu cảnh vệ. Có máy truyền tin có thể liên lạc với Palermo hoặc với trại binh nào gần nhất để xin tăng viện khi cần. Bộ bọn cướp muốn tự sát hay sao mà dám chơi trò vuốt râu cọp một lực lượng như vậy? Sáng sớm hôm đó, đoàn xe phát lương rời Palermo. Trạm dừng chân thứ nhất là một thị trấn nhỏ, Tommasco Natale. Từ đây, đoàn xe phải nương theo đường núi ngoằn ngoèo. Để tới thị trấn Montelepre là trạm dừng chân thứ hai. Phát ngân viên và toán hộ tống cũng biết đây là cuộc hành trình khá gay go và phải mất cả ngày – nếu kể cả thời gian phát lương – nên xe nào cũng ráng chạy nhanh. Lính tráng ăn uống ngay trong lúc xe đang chạy. Chúng cười giỡn vui vẻ. Mấy chú cảnh vệ ngồi trên xe Jeep còn tháo võ khí để đại xuống sàn xe. Khi đoàn xe vượt ngọn đồi cuối cùng để đi vào thị trấn Montelepre, thì lính tráng trên xe thấy một đoàn cừu lớn choán hết cả khúc đường trước mặt. Mấy chiếc xe Jeep mở đường và xe tải chở lính hộ tống ráng len lỏi vào giữa bầy gia súc, mấy anh cớm trên xe la hét chửi om sòm mấy anh chăn cừu. Bọn cảnh vệ, đứa nào cũng nóng lòng đến doanh trại trong thị trấn để kiếm bữa ăn nóng, hoặc để cởi bộ đồ trận ra, chỉ mặc đồ lót cho thoải mái rồi kềnh lên giường cho cái lưng đỡ ê ẩm, hoặc túm tụm nhau là vài canh xì – phé vừa đỡ nghiền, vừa có hy vọng đứa nọ lột đứa kia. Đã đến khúc đường này rồi, chẳng còn nguy hiểm gì nữa. Montelepre – một trại binh trên năm trăm quân – kia rồi. Chỉ cách có mấy dặm. Nhìn lại phía sau, toán xe mở đường thấy chiếc xe chở lương đứng trơ trọi một mình giữa bầy cừu. Phía trước xe, phía sau xe, lũ cừu xúm xít dồn cục và đứng ì ra. Toán mở đường đâu biết là xe chở lương bị kẹt cứng vì cừu, không còn lối đi. Phía bên kia đồi, hai xe chỉ huy cũng bị cừu vây kín. Không nhìn thấy xe mở đường và xe lương. Nhưng toán này cũng yên trí không có gì xảy ra. Montelepre ở cách vài dặm phía bên kia đồi. Bố bảo bọn cướp cũng không dám giở trò. Mấy tên chăn cừu cũng làm bộ tíu tít xua bầy cừu để mở đường cho xe. Chúng sùy con này, suỵt con kia. Cây gậy vung bên trái, đập bên phải, chẳng để ý đến tiếng còi xe pin pin inh ỏi. Nhưng xua được con cừu này đi thì con khác lại xô tới. Chiếc xe vẫn không đi được. Bọn cảnh vệ trên xe đứa thì cười, đứa la hét, chửi thề om sòm, không có dấu hiệu gì báo động. Thình lình sáu tên chăn cừu áp lại xe chở tiền. Hai trong số sáu tên rút súng trong túi áo khoác, chĩa vào tài xế và phát ngân viên. Bốn tên còn lại, mở thùng đựng tiền, nhồi vào bao bố. Passatempo chỉ huy nhóm này. Nét mặt cô hồn của hắn đủ làm cho tài xế và phát ngân viên rụng rời. Sợ còn hơn sợ súng. Cùng lúc đó, phía bên kia ngọn đồi, từ hai bên sườn núi bên vệ đường, một toán cướp vũ trang ào xuống. Hai chiếc com – măng – ca bị bắn bể lốp. Pisciotta đứng phía trước mũi chiếc xe thứ nhất, ra lệnh: – Để vũ khí lại trên xe, tất cả xuống xe. Cứ từ từ. Chớ manh động, dại dột. Muốn còn sống mà về với vợ con? Hay là muốn làm anh hùng? Tụi này không thèm lấy tiền túi của mấy bạn. Đừng phiền! Xa xa phía đàng trước, ba xe Jeep mở đường và xe chở lính áp tải đã qua được bầy cừu và bắt đầu xuống dốc đi vào thị trấn. Sĩ quan chỉ huy toán mở đường quay lại nhìn phía sau. Bây giờ trên đường lại có thêm nhiều cừu cắt đứt đoàn xe của ông ta với xe chở lương. Cũng chẳng thấy xe chỉ huy, ông ta nhắc máy truyền tin ra lệnh cho một xe Jeep quay lại và dùng tay ra hiệu cho các xe đậu nép sát bên lề cho xe Jeep quay trở lại. Khi chiếc xe quay trở lại và leo được nửa con dốc thì nguyên một tràng đại liên bắn xối xả vào nó. Bốn cảnh vệ trên xe, đạn găm nát bấy. Chiếc xe không người lái, loạng choạng, tuột dốc và bốc cháy. Sĩ quan chỉ huy toán mở đường nhảy khỏi xe Jeep, nằm ép xuống mé đường, miệng ra lệnh cho tóan lính áp tải xuống xe và dàn đội hình chiến đấu. Nhưng, hai chiếc xe Jeep kia như con nai kinh hoảng đâm đầu chạy trốn. Trên thực tế, toán cảnh vệ áp tải không tiếp cứu được xe chở tiền vì hễ cứ ngóc đầu lên là hỏa lực của các tay em của Guiliano bắn nằm xuống. Thủ hạ của Guiliano phục sẵn trên các cao điểm chế ngự dễ dàng. Toán cảnh vệ bắn vu vơ. Điều tốt nhất mà toán áp tải có thể làm là kiếm một chỗ núp cho kín, rồi bắn đì đẹt cho qua chuyện. Thầy đội Maressciallo ngồi trong doanh trại ở Montelepre để chờ xe phát lương. Cuối tháng, thầy đội cũng bấn. Tháng này, cớm chìm cớm nổi vây kín Montelepre, nên mấy thằng buôn chui đâu dám ngo ngoe. Dân chúng trong thị trấn nhà nào cũng có đám tang. Công việc mần ăn đình trệ hết. Trẻ nít không dám ra đường. Cáo tử thì hồ bi. Tháng này thầy đội không liếm láp được gì, nên túi cũng cháy. Bởi vậy, cũng như ai, thầy cũng muốn ngày vừa lãnh lương thì tối đi ăn nhà hàng một bữa, sau đó, kiếm một em “ấp” qua đêm cho giải sầu. Nghe tiếng súng xa xa, thầy đội cũng phát hoảng. Nhưng thầy trấn tĩnh được ngay: “Mẹ kiếp, cho ăn kẹo, thằng Guiliano cũng đếch dám chọc ghẹo tóan tuần tiễu của ông giữa ban ngày ban mặt. Cả tháng nay đám lính của đại tá Luca nó quần cho chạy té cứt ra. Bố nó cũng không dám vuốt râu cọp”. Ngay đúng lúc đang nghĩ như thế, thầy đội giật nảy mình vì một tiếng nổ dữ dội ngay cổng trại Bellamp. Một trong những xe võ trang đang đâu ở đó phát lửa và bốc cháy như ngọn đuốc. Kế đó, Maresciallo nghe tiếng súng máy nổ gần ở phía đường đi về thị trấn Castellammare và đường đi ra thị trấn bờ biển Trapani. Kế đó là tiếng súng nổ ở các căn cứ dưới chân núi bên ngoài thị trấn Montelepre. “Bỏ mẹ, – thầy đội chợt nghĩ, – thế này thì khỏi có nơi nào tiếp cứu nơi nào”. Ngay lúc đó, thầy đội thấy toán tuần tiễu của mình, hớt hơ hớt hải chạy về trại, vừa thở hổn hển vừa run run báo cáo là Guiliano tung toàn bộ lực lượng “chơi” vào trại gồm 500 quân của đại tá Luca. Tất cả những cái đó diễn ra giữa ban ngày. Từ trên mỏm núi cao, phía trên thị trấn Montelepre, qua ống nhòm, Guiliano quan sát cuộc chặn cướp xe chở lương. Quay 900, hắn quan sát trận đánh diễn ra ngay trong thị trấn, trực tiếp tấn công trại Bellampo và toán tuần tiễu ven biển. Các sếp của nó hành động tuyệt hảo. Passatempo và các tay em đã chặn cướp được tiền lương. Pisciotta đã vô hiệu hóa được toán áp tải xe chở lương. Terranova và các bộ hạ của hắn – được tăng cường thêm một số mới tuyển – tấn công trại Bellampo và các toán tuần tiễu. “Thầy dòng” Stefan Andolini đang sửa soạn một vố đích đáng và “ngoạn mục”. Tại bộ tư lệnh ở Palermo, ngài đại tá nhận được điện báo đoàn xe phát lương bị chặn cướp, các doanh trại bị tấn công… với một thái độ im lặng mà các thuộc hạ của ngài cho là khác thường. Nhưng, trong thâm tâm, đại tá rất phục tài Guiliano. Tuy nhiên, ông cũng thắc mắc không hiểu bằng cách nào, Guiliano nắm được những tin tức về các hoạt động của các toán cảnh vệ. Bốn cảnh vệ bị chết trong cuộc chặn cướp xe lương. Mười cảnh vệ khác “anh dũng hy sinh” trong cuộc chạm súng dàn trận với Guiliano. Ngài đại tá còn đang cầm ống nghe báo cáo số thương vong, thì đại úy Perenza bước vào. Cái cằm của ông ta vốn đã thô và bạnh ra giờ đây lại run run xúc động. Ông ta vừa nhận được báo cáo có vài tên phỉ bị thương và một xác chết để lại tại trận. Căn cứ vào giấy tờ trên xác tên phỉ này và do hai người dân thị trấn Montelepre nhận dạng thì đây là xác của Turi Guiliano. Không dè dặt, chưa đợi tin tình báo, ngài đại tá đã vội mừng thầm, lòng tràn ngập niềm vui chiến thắng. Những tài liệu tham mưu trong các quân trường, những quân trang quân sử ghi đầy những chiến công hiển hách, những mưu lược, đấu trí sâu hiểm. Nhưng cũng có những chiến thuật của những chiến lược gia tăm tiếng đã bị một thằng vô danh tiểu tốt dìm xuống bùn đen chỉ nhờ lối đánh “rừng”, sự táo tợn ngòai dự liệu và sự may mắn lạ lùng của nó. Cũng như một viên đạn vô tình bắn vu vơ đã trở thành định mệnh và biến tên phỉ lừng danh thành một bóng ma. Ồ, biết đâu đấy. Sự đời lắm nỗi bất ngờ éo le. Những suy nghĩ miên man và dồn dập đã giúp đại tá bình tĩnh trở lại, cẩn thận dè dặt hơn, bớt lạc quan tếu hơn. Cũng có thể là dịp may. Nhưng, cũng có thể là cái bẫy. Nếu vậy thì chính ngài, đại tá Ugo Luca, “con cáo sa mạc” sợ gì mà không chui vào bẫy để bắt chính kẻ giăng bẫy? Đại tá bèn cho lệnh chuẩn bị. Một đoàn quân cơ giới đủ mạnh để áp đảo bất cứ cuộc tấn công nào của bọn phỉ. Thiên la địa võng của chúng cũng chấp. Nhưng phòng xa cho chắc ăn, chiến xa mở đường. Tiếp đó là hai chục xe Jeep chở đầy nhóc lính dù. Rồi đến xe thiết giáp chở ngài đại tá và ngài thanh tra. Đoạn hậu cũng chiến xa, cũng lính dù. Chưa hết, cảnh vệ được lệnh rải nằm đường, lập các nút chặn, các toán tuần tiễu vũ trang hùng hậu diễn tới diễn lui suốt dọc đường. Từ Palermo đoàn hùng binh phải mất một giờ mới tới được Montelepre. Dọc đường, ngài thanh tra không nhấn mạnh ở chỗ cái xác đó có đúng là xác Guiliano hay không. Cái mà ngài quan tâm hơn hết là tài liệu mà cái xác đó mang theo có phải là bản chúc thư chết người kia không. Nếu phải, thì làm thế nào để nẫng tay trên ngài đại tá, chứ nếu nó lọt vào tay ông nhà binh này thì cũng hơi phiền. Vì tài liệu càng có ít người biết càng tốt. Đoàn hùng binh, thần kinh căng thẳng suốt dọc đường. Tay lăm lăm súng, sẵn sàng khạc đạn. Đoàn xe tới nơi bằng an, vô sự. Không một viên đạn chui ra khỏi nòng súng, chiến thắng. Nhưng là chiến thắng “chống lại cái cối xay gió”. Cũng đúng thôi. Lực lượng của thằng Guiliano bao lăm mà dám trêu ngươi một đoàn hùng binh như vậy. Nhưng ngài đại tá vẫn bị thất vọng. Ngài thanh tra chỉ vào cái xác – được chở bằng xe cứu thương về trại Bellampo – và khẳng định “không phải xác Guiliano”. Mặt của các xác ấy – tác phẩm ngoạn mục của Andolini – bị đạn bắn nát bấy. Nhưng làm sao qua được con mắt nhà nghề của ngài cớm gộc Velardi. Những người dân khác trong thị trấn Montelepre được đưa tới nhận diện cũng khẳng định “không phải”. Vậy, đúng là cái bẫy. Ngài đại tá hình dung ra Guiliano suy nghĩ như thế này: “Mẹ kiếp, nghe tin vui, thằng cha đại tá mừng húm, nhảy đại lên xe, gọi với vài thằng cận vệ, phóng đại đến địa điểm. Thế là chui vào rọ!”. – “Con ơi, con mới chỉ ở mức “điếm” thôi, chớ tía mày có sỏi có sạn trong đầu. Để xem ai chui vào rọ”. Mặc dù tới nơi bình an, nhưng đại tá vẫn ra lệnh phải hết sức cảnh giác trên đường trở về. Chính ngài cũng vội vã quay về Palermo chui ngay vào Bộ tư lệnh. Ngài đại tá muốn đích thân báo cáo cho Rome những gì vừa xảy ra. Yêu cầu đặc biệt của ngài là Rome phải làm thế nào để bọn nhà báo ở lục địa (trên đất Ý) đừng có sủa ầm ĩ một cách có lợi cho thằng giặc. Im đi được là nhất. Trước khi rời trại Bellampo, đích thân ngài đại tá kiểm tra đội hình đoàn xe. Đơn vị nào phải đúng vị trí theo kế hoạch, đề phòng tối đa âm mưu phục kích. Trên đường về ngài đại tá chơi ngon. Ngài ngồi xe Jeep dẫn đường. Ngài thanh tra ngồi ở một xe khác phía sau. Một sự táo bạo có tính toán. Không hổ danh “con cáo sa mạc”. Nhờ đó mà ngài đại tá và đấng cớm gộc Velardi thoát chết. Đòan xe về gần đến thủ phủ Palermo. Lính tráng trên xe đã thở phào hú vía, thì một tiếng nổ vang. Chiếc com – măng – ca không chở ngài đại tá – nảy lên cao cả thước, rơi xuống, cháy bùng bùng, các mảnh vụn vung vãi tứ tán. Chiếc xe vận tải chở lính hộ tống đi sát ngay phía sau cũng được ăn theo. Trên xe có ba chục thì đã có tám mạng đi đứt tại chỗ, mười lăm mạng khác ngắc ngư. Hai sĩ quan và tài xế trên chiếc com – măng – ca chỉ còn là những đống thịt bầy nhầy tan như xác pháo. Tại Bộ tư lệnh Lực lượng đại tá tiễu phỉ, ngài đại tá báo tin dữ cho ngài bộ trưởng Bộ tư pháp và xin gửi nốt ba ngàn cảnh vệ và xin Bộ tổng tham mưu cho thêm vài đại đội dù. Ông Trùm, biết rằng, những cuộc tấn công như vậy sẽ còn dài dài, nếu ông bà già của Guiliano còn bị giam. Bởi vậy, lão đã can thiệp để ngài đại tá thả họ ra. Nhưng lão cũng không thể ngăn được việc tăng thêm viện binh. Thị trấn Montelepre nhỏ như vậy mà bị hai ngàn lính trong Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ của ngài đại tá quần suốt ngày đêm. Ba ngàn lính khác lùng sục từng hòn đá, gốc cây trên núi. Số người dân tại thị trấn Montelepre, các thị trấn xung quanh và ngay cả tại Palermo được nếm cơm tù của ngài đại tá nay đã lên đến con số 700. Ngài đại tá “tận dụng” những quyền hạn đặc biệt mà chính quyền của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo đã dành cho ngài. Trong giờ giới nghiêm từ chập tối cho đến sáng, dân trong thị trấn phải ở trong nhà, không được ra đường, nếu không có giấy thông hành đặc biệt. Ai vi phạm, nếm cơm tù ngay lập tức. Khủng bố. Bầu không khí ngột ngạt. Ông Trùm bối rối quan sát tình hình, vì thấy ngọn gió đã xoay chiều bất lợi cho Guiliano.
Miễu Bà Chúa Xứ, Ðìa Gừa, Gò Mả Lạn… phải qua những chòm cây cổ thụ, những vùng lau sậy hoang vu ấy rồi mới đến nhà ông Tư Ðạt. Trời đã quá chạng vạng. Ánh nắng thoi thóp, đỏ khé. Trong giây phút trở sang màu tím bầm. Muỗi dậy ổ, kêu vo ve khắp gần xa. Loài ếch nhái, côn trùng bắt đầu lên tiếng, chào mừng bóng tối đang tràn ghập qua nhanh chóng. Cô đơn làm sao, căn nhà giữa đồng này! Gió thổi lành lạnh. Tôi rùng mình: – Thưa ông, cháu về. Ông Tư Ðạt cười ngất: – A ha! Ðứa cháu này sợ ma. Nãy giờ tôi quên. Vô đây, đốt thêm ngọn đèn nữa. Phải rồi, đèn lu quá! Sợ ma sao? Ở đây chơi mà! Tôi trả lời, ấp úng: – Dạ, cũng hơi sợ. Thiên hạ nói ở Ðìa Gừa, ở Gò Mả Lạn này… Ông Tư nói nhanh: – Có ma hả? Hơi đâu mà tin. Họ nói ma buông xuống lòng thòng từ cánh tay, từ bàn chơn, cái đầu rồi ráp lại. Họ nói ma ở truồng bỏ tóc xõa, đứng trên ngọn cỏ mà múa. Mình hú, nó hú trả lời. Mình chạy, nó rượt theo. Nhưng tôi nhứt quyết xứ này không có loại đó. Xứ này, cháu biết không, là xứ của ma… Tôi trầm ngâm suy nghĩ: Tại sao ông Tư Ðạt nhìn nhận có ma rồi bảo rằng không có? Chớ ma ở gò mả này thuộc về loại nào? Dầu sao vẻ mặt trầm tỉnh, can đảm của ông cũng làm cho tôi được yên tâm chút ít: – Thiên hạ đồn đãi nhiều. Cháu phải sợ theo. Ông Tư khêu ngọn đèn rồi vào trong đem ra một chai rượu đế: – Uống đi cháu. Thủng thỉnh tôi nói qua chuyện khác vui hơn… Ðồn đãi là một chuyện. Nhưng sự thật lại khác. Cái gì được người ta lặp đi lặp lại nhiều lần bằng câu hát đưa em? Vậy mà có người không hiểu rõ. Thí dụ như: Một mai thiếp có xa chàng Ðôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin. Tại sao đôi bông thiếp trả, đôi vàng thì xin? Không lẽ người đàn bà nước mình mang thói tham lam? Sự thiệt nó có tích như vầy: đôi bông là vật cha mẹ chồng cho nàng dâu hồi đám nói; đôi vàng là của riêng mà hai vợ chồng trẻ nhờ dành dụm sắm được lúc sau. Nàng dâu than vãn bà mẹ chồng khắc nghiệt, sẵn sàng “trả đôi bông” lại cho mẹ chồng. Nhưng nàng vẫn thương chồng – “xin giữ đôi vàng” – nài nỉ chồng cất nhà ở riêng để thoát ách. Câu hát đó cao sâu lắm! Hồi xưa, khách qua đường hễ nghe nó là hiểu được tánh tình của bà mẹ chồng trong nhà như thế nào. Bởi vậy người hát phải biết hát, người nghe phải biết nghe. Cái chuyện ma ở Gò Mả Lạn này cũng như câu hát đó. Lâu ngày, thiên hạ không hiểu, họ nói xàm, làm mất phẩm giá người đời xưa rồi đâm ra sợ sệt vô lý. Chung quanh nhà này có ma thiệt… – Ghê quá vậy ông! – Phải! Ðó là hồn oan. Mình phải thấy rõ họ, mình phải thương họ. Thường bữa, họ tới lui, muốn làm quen với mình nữa. “Sự tử như sự sanh, sự vong như sự tồn” mà…
Non 80 năm về trước, hồi đó ở tại Gò Mả Lạn này xóm nhà đông đúc hơn bây giờ. Họ sống về nghề ruộng rẫy, giăng câu, bắt rắn. Giặc Tây đến. Chúng đóng binh ở ngoài huyện Kiên Giang. Binh sĩ của ông Nguyễn Trung Trực lén kéo về châu thành để công kích. Dân chúng nghe tiếng súng, nửa mừng nửa sợ. Tới một đêm đó, nhiều loạt súng nổ chát chúa ngay đầu xóm, tại Ðìa Gừa. Không ai dám bước khỏi nhà. Họ đoán rằng có người bị giết và tiếng súng sát nhơn nọ là của Tây. Sáng hôm sau, vài người bạo dạn ra dò xét. Họ kéo mấy cái thân người dưới đìa đem lên, chôn chất kỹ lưỡng gần bờ thềm. Từ đó, đêm nào đêm nấy giống nhau. Cứ quá nửa đêm dân chúng phải cắn răng, nuốt lệ mà nghe súng nổ. Khi thì nghe tiếng kêu rú. Khi thì nghe thêm tiếng chim bay. Nước dưới đìa lần lần đen ngầu, hôi tanh. Cỏ bên bờ ngày một cao vì dân làng không còn ai lui tới để gánh nước như trước. Trong khi đó, con đường từ thềm đìa ra ngoài lộ cái trở nên mòn lẵn vì dấu chân của bọn đao phủ Tây tà và của những nghĩa quân, lương dân vô tội từ nơi xa lạ dẫn tới. Dân làng quá đỗi hiền lương, hằng đêm, họ thức để chờ nghe tiếng súng đầu tiên nổ ngoài bờ giếng. Rồi họ cúi đầu lầm thầm đọc kinh vãng sanh, cầu nguyện cho người quá cố. Trưa đó ngày mùng 7 tháng chạp, bất thường giặc kéo nhau tới bờ Ðìa Gừa. Chúng đứng lại nhìn xuống đìa, đếm mấy gò mả xung quanh. Nào ai dám hó hé! Chập sau, chúng rút lui. Một thằng bé chăn trâu được may mắn núp ở gần bờ đìa, khi nãy. Nó về xóm thuật lại: – Tui thấy ông Tây này cười, ông kia la hét, ông Tây nọ gật đầu. Mấy ổng dòm vô xóm mình… Ðiềm lành, điềm dữ hay là không có điềm gì hết? Không ai đoán trúng cả. Vì đó là một diềm dữ, nhưng dữ quá mức tưởng tượng của họ. Ðêm ấy cả xóm đều bị bao vây. Nhờ ngủ ngoài chuồng trâu, đứa bé chạy thoát được. Nó qua xóm kế bên cầu cứu trong khi súng nổ liên hồi, lửa bốc cháy. Ðầu canh năm, tiếng súng vẩn còn thưa thớt. Mặt trời gần mọc, chừng đó dân làng kế bên mới dám đi qua cứu giúp. Người chết quá nhiều. Người còn sống quá ít. Làm sao mà chôn? Ban đầu còn bó thây bằng chiếu, mỗi hầm chôn một người. Sau cùng, cứ chôn chung một hầm, đủ già trẻ bé lớn. Khiêng nhiều chuyến quá sanh ra mệt mõi! Họ khiêng bằng võng, đặt hai xác chết trên một võng, người trở đầu phía trước, người trở đầu phía sau.
– Ðúng vậy! Hồi đó hai người nằm một võng, theo kiểu hai đứa con nít ngủ trưa như bây giờ thiên hạ đưa con. Ðêm về khuya. Chai rượu gần cạn. Ðứa bé chăn trâu thưở trước là ông Tư Ðạt ở Gò Mả Lạn buổi này, nói tiếp: – Lâu quá rồi! Thiên hạ chết oan! Cả xóm chết giống nhau. Không một người khóc. không một miếng khăn tang. Cả tháng sau, quạ còn bay đen trời như tàn nhà cháy… Tôi là người quen với họ, họ thương tôi lắm. Tôi không sợ ma, nhờ đó mà ít gặp ma. Vậy mà không hiểu can cớ gì buổi trưa đó tôi gặp họ. – Ban ngày hả ông? Ông Tư Ðạt nói: – Chánh hiệu là… ban ngày. Ði gặt về, dọc dường tôi ghé lại bờ Ðìa Gừa. Thấy nước trong quá, tôi nhảy xuống tắm rồi ngắt một cọng bông súng. nhai vô miệng cho mát. Tôi nhớ rõ: cọng bông súng dài lắm. Nhai một hồi, bỗng nhiên thấy một ông già hiện ra, đâu mặt với tôi, miệng ổng thì nhai đầu kia của cọng bông súng. Sợ quá, tôi nhả ra nhưng không được. Hàm răng của tôi cứng lại rồi… đánh bùa cạp. Sau rốt, ông già nọ nhai lần cọng bông súng đến gần mặt tôi, hai mặt đụng nhau, sát rạt, lạnh ngắt. Ông già nọ hỏi tôi: – Cái thằng Ðạt chăn trâu! Nhớ ta đây không? – Ông là ai? – Bà con mà! Mấy chục năm nay, mày làm ăn thế nào? – Dạ nghèo quá! – Vậy thì thằng Ðạt mày còn sống tới bây giờ cũng không sung sướng gì hơn mấy người chết yểu cả xóm hồi đó. Nhớ không Ðạt? Bà con chết đêm mùng 7 tháng chạp. Phải cúng kiến chớ! Có thịt ăn thịt. Có muối ăn muối. Rồi cất nhà cho bà con mày ở. Nhớ thắp nhang. Ông Tư Ðạt nói tiếp câu chuyện: – Ðêm đó, về nhà tôi ngủ không yên. Sau rốt, tôi kêu gọi bà con lối xóm cất một cái miễu. Hương chức hội tề hỏi tại sao cất miễu mà không xin phép; tôi trả lời đó là miễu thờ Bà Chúa Xứ, nào dám nói sự thật, sợ mình bị buộc vô tội làm quốc sự. Bởi vậy cháu hiểu vì đâu tôi giữ nhang khói ở miễu này, vì sao ở sát Gò Mả Lạn mà tôi không sợ ma. Ba bốn mươi năm nay, ruộng nương thất bát, có một lần bỏ xứ mà đi nhưng buồn bực quá, tôi trở về nền nhà cũ. Tôi nghĩ: Mình ở đây nghèo, nhưng mà vui. Nhiều đêm tôi nằm nói thơ Vân Tiên một mình mà không đỡ buồn. Tôi đứng nhìn trời đất đồng ruộng ở ngoài. Tối thui vậy mà vui quá! Cháu ra đây coi thử… Ông Tư Ðạt bước ra cửa, đưa tay làm dấy hiệu bảo tôi đi theo. Ðồng ruộng mơ hồ. Trăng non chưa hé. Ðám lau sậy mịt mùng chạy dài như bức trường thành, nối liền Gò Mả Lạn qua Ðìa Gừa, tiếp đến miễu Bà Chúa Xứ đằng xa. Ông lẩm bẩm: – Không riêng gì ở Gò Mả, ở Ðìa Gừa… Rải rác đầy ruộng nương, hồi đó ở đâu cũng có mả, có xương người. Kìa, cháu thấy không? Sao trên trời xẹt xuống một đốm… hai đốm. Rồi đất ruộng rung rinh, lúa mới cấy dợn đều như sóng dậy ngoài biển. Cháu thấy không? Tôi lạnh người. Gió thổi hiu hiu. Phải chăng oan hồn thuở trước đang về đây? Họ trở thành cát bụi, đang thu hình vào rễ lúa để vương lên mặt đất, đòi đơm bông kết trái? Hay là họ buồn rầu khi nhìn cậu bé chăn trâu còn sống sót thuở nọ giờ đây sống hẩm hiu. Từng vệt sao rơi, phải chăng đó là những niềm tin tưởng soi sáng quyển sử trường cửu của đất nước, một quyển sử không có số trương mà mỗi luống cày là một tờ giấy bao la, mỗi bụi lúa là một nét chữ không nhòa, muôn năm linh động? Ông Tư Ðạt vỗ vai, bảo với tôi: – Bây giờ cháu thấy ma chưa? Không thấy thì ráng đứng hoài cho tới chừng nào thấy rõ. Ông ở đây mấy chục năm rồi mà chưa biết đủ mặt người. Bởi vậy đêm nào ông cũng thức, cũng nhìn…
Má ơi! Đừng gả con xa. Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu… Câu chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 hoặc 1940 gì đó. Trời sáng trăng. Thường lệ cứ đến chín giờ tối là nhà ông hương Cả Ba đóng cửa ngủ sớm. Đêm ấy, có khác. Cây đèn “măng sông” cất lâu trong tủ được đem ra lau chùi, đốt sáng lên. Ông Cả nheo mắt, nhìn đăm đăm ra sân tìm một góc tối om nào đó mà định thần hòng gỡ mối tơ vò rối rắm của gia đình. Ngoài sân, trăng sáng yên lành; lớp thủy ngân xao động, nhảy nhót, gờn gợn trên lá trên cành của vườn cam, trên ngọn tre mềm dịu đang chuyển động từng cơn. Ông lẩm bẩm: – Kìa… mà gió trở ngọn. Gió chướng qua gió nồm. Hết nắng sang mưa. Bà Cả lắc đầu: – Ông này vớ vẩn. Gả con Út hay là không? Sáng mai mình phải trả lời cho cậu Quỳnh biết. Ở đó mà lo gió chướng, gió nồm! Hai đứa nó đâu rồi? – Tụi nó ở ngoài sân nói chuyện rù rì, bà không nghe sao? Thế nào tôi với bà cũng tính cho xong xuôi nội đêm nay. “Tính” đây là cả một bài toán. Làm thế nào có lợi cho gia đình mình? Gả cô Út cho cậu Quỳnh, ông bà rất đỗi vui mừng vì gặp nơi môn đăng hộ đối. Nhưng về mặt tình cảm thì thiệt thòi quá. Gả con gái về chốn Cạnh Đền xa xăm! Tháng trước, ông xuống đó để dò xét thân thế gia đình của đàng trai: căn nhà ngói vách ván, xung quanh có vườn tược lai rai, xa xa nhô lên vài nhà của người Miên. Và rừng xanh một dãy che phủ tứ phía chân trời! Ông đáp: – Tôi nhứt định gả. Hai đứa nó thương nhau từ hồi còn đi học ở Sài Gòn. Bên đàng trai khá giả. Mình đòi bắt rể, ai mà chịu. Thôi đành vậy… Bà Cả thở dài: – Tôi ngại quá. Mình có mụn con gái. Gả đi xa xôi không nói làm gì. Ngặt xứ đó kỳ quái, hiểm nguy. Nội cái tên Cạnh Đền nghe cũng dị hợm… – Tưởng bà ngại điều gì chớ chuyện đó thì dễ. Dân ở dưới hiền lành lắm. Bộ thiên hạ ăn thịt con gái mình sao mà nguy hiểm? – Tức chết đi! Nói vậy mà không hiểu! Ông không nghe người ta hát sao? Xứ đâu hơn xứ Cạnh Đền, Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội lềnh như bánh canh. Ông Cả nghe qua, cười ngất hồi lâu. Bà Cả càng sôi gan: – Ông cười tôi nói bậy à? Ở xứ đó chạng vạng là ai nấy phải vô mùng để… ăn cơm – Nhưng sự thật là họ ăn cơm sớm, hồi cỡ bốn giờ chiều để khỏi cần vô mùng. Bà nghe ai nói lại vậy? – Ông có tài binh vực cho xứ Cạnh Đền. Dẹp chuyện muỗi một bên, tôi bàn qua chuyện đỉa để ông có giỏi thì cãi. Nè, tôi nghe nói… phen đó cô dâu nọ ở chợ Cần Thơ gả xuống. Cổ xuống bến làm cá, xong xuôi đem trút vô chảo, nấu canh chua. Dè đâu chừng con đỉa đeo trong khứa cá. Cô dâu nọ bị đuổi vì tội… nấu canh chua bằng đỉa. Oan ức quá. Xứ đỉa nhiều, đâu ai dè trước! Tôi sợ con Út nhà mình phải bị đuổi trở về mà mang nhục với xóm riềng. Ông Cả cười dòn: – Thiên hạ đồn nhưng có thiệt lần nào chưa? Tôi nói cho bà nghe: chuyện đó dóc. Hồi xuống Cạnh Đền, tôi nhắc chuyện… “đỉa lềnh như bánh canh”. Thiên hạ ở dưới đó cắt nghĩa: Cạnh Đền là nơi nước mặn gần mãn năm. Hơn nữa, ruộng ít khi cày trâu. Làm sao có đỉa ở vùng nước mặn? Chẳng qua là mấy người đặt bài hát đưa em, thêm nhưn thêm nhụy để bắt vần. Đỉa nhiều ở là xứ nước ngọt như Bình Thủy, Ô Môn đây nè! Bà biết chưa. Ở đây, từ hồi nào tới giờ, có ai lỡ nấu canh chua đỉa không? Bà chỉ cho tôi coi thử. Bà Cả đuối lý, cố suy nghĩ, tìm cách bảo thủ ý kiến của mình. Sau rốt, bà nói: – Gả con về rừng khổ lắm. Xưa nay, người ta hát: Mẹ mong gả thiếp về vườn, Ăn bông bí rợ dưa hường nấu canh. “Đằng này mình gả con về rừng… Bao nhiêu người chịu tai nạn đó rồi”. Ông Cả hút điều thuốc, chập sau mỉm cười, đắc thắng. Bà day lại: – Ông gả thì gả đi. Đường xá xa xôi làm sao nó về thăm mình được. Nãy giờ tôi quên nói chuyện đó. – Dễ ợt. Miễn con gái của mình có hiếu… Gả con… ở trong nước Việt Nam chờ qua bên Tây bên Tàu gì sao! Một khi quên cha quên mẹ thì dầu ở kế bên nhà nó cũng không thèm về thăm. Tôi thì tôi tin con Út lắm. Công cha mẹ nuôi dưỡng, cho đi ăn học lẽ nào nó quên. Bà Cả bỏ đi chỗ khác, nói lại một câu: – Để coi nó nhớ hay quên! Xuống miệt Cạnh Đền, muỗi ăn thịt nó. Nó bỏ thây ở dưới, hai ba năm chưa chắc về thăm mình được một lần. Lần hồi mất gốc rễ, nó nhè lấy tên mình, đặt trùng lại cho con cháu của nó mà không hay. – Tại sao vậy? Bà này vô lý quá… Tuy cãi lời bà, trong thâm tâm ông cảm thấy chút gì buồn bực đuối lý. “Ông có lý luận đúng, nhưng bà… không lẽ nói sai”. Nghĩ vậy, ông lại nằm nơi ghế trường kỷ, lẩm bẩm: – Ông Tơ xếp đặt rồi. Phận con Út vậy đành vậy. Thế là tháng chạp năm đó, nhà ông Cả treo bông kết tuội để gả con, giữa tiếng dị nghị của bao chàng trai tơ ở rạch Bình Thủy.
Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền. Hai năm qua. Ba năm qua… Chuyến đầu, đôi vợ chồng về thăm ông Cả bà Cả, đèo theo một đứa con gái nhỏ… sổ sữa dễ thương. Chuyến sau họ về, lại thêm một đứa gái. và một đứa thứ ba nữa đang nằm trong bụng mẹ. Hai ông bà quá đỗi vui mừng. Nhưng liên tiếp mấy năm sau họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá! Có chuyện gì xảy ra bất lành không? Hai ông bà muốn xuống Cạnh Đền thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn. Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà trách ông: – Tôi nói muỗi rừng ăn thịt hai đứa nó rồi. Xứ gì mà muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng chói nước lớn bụng mà chết… Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không? Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em: Má ơi đừng gả con xa, Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu? hoặc: Thương chồng phải lụy cùng chồng, Đắng cay phải chịu, mặn nồng phải theo. Mỗi khi tiết trời lập đông là cơ thể rêm nhức, tuổi già của ông càng đè nặng hai vai. Nảo nuột quá những câu hát: Một mai ai đứng bên kinh, Ai phò giá triệu, ai rinh quan tài? Bên kinh đã có con trai, Giá triệu con gái, quan tài nàng dâu Hỏi nào chàng rể ở đâu? Chàng rể uống rượu đi sau nói xàm… Ông nhìn trời. Ngày nào đó ông chết, con gái không về kịp để phò giá triệu, càng không có chàng rể. Nhưng ông tin tưởng rằng đứa rể của ông ở vùng Cạnh Đền xa xôi kia, giờ phút này đang cặm cụi làm ăn nhớ cha mẹ vợ, không bao giờ uống rượu nói xàm vì chàng là kẻ có ăn học. Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông, mắt mòn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại. Trời đất nào phụ kẻ có lòng như ông! Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái: – Phải chỗ cây mù u này không? Cậu Quỳnh nói nhà bên vợ ở đâu đây. Chị vợ đáp: – Không chừng… Đúng quá, cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít. Anh chồng ngó tới ngó lui, cãi lại: – Mình mới qua một cây cầu. Chèo tới trước chỗ cây cấu khỉ, đằng kia kìa, họa may… Ông Cả cố gom tất cả sức già, la lớn: – Ở đây nè, bà con ơi! Nhà vợ thằng Quỳnh ở đây nè… Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông Hương cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt: – Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai. Bà Cả mừng quýnh: – Úy! Bộ con Út đẻ năm một sao? Con nhỏ đó thiệt giỏi! Khách trả lời: – Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con. – Sao vậy cà? Sao vậy cà? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ đẻ nhiều quá vậy? Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói: – Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà, vợ chồng con cái rút vô mùng… nói chuyện. Ít ai đi đâu. Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng “muỗi kêu như sáo thổi” ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi. Để đánh trống lảng, ông nói: – Ừ! Phải vậy mới được. Xứ mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang. Bà Cả nóng ruột: – Anh chị đây có nghe vợ chồng nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt? Khách trả lời: – Dạ không nghe. Con cái lũ khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con. Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng gió bất thường. Bà thở dài, nói như rên siết: – Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông ơi! Hồi đó ông cãi tôi… Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phò giá triệu, ai rinh quan tài? Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân: Măng non mọc kề bên gốc. Phận ông có khác; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu- và cũng là lần chót – khi ông tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận: – Ờ… ở dưới nó có lập vườn chưa? Lát nữa, anh chị chịu khó chở về dùm cho vợ chống con Út một gốc tre Mạnh Tông để làm giống. Chừng thấy măng non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn luôn nhớ ông ngoại bà ngoại nó trên Bình Thủy.
This is a text widget, which allows you to add text or HTML to your sidebar. You can use them to display text, links, images, HTML, or a combination of these. Edit them in the Widget section of the Customizer.