Đường lên đỉnh WWC

baotreonline.com

Ian Bùi

Post on August 3rd, 2023

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Năm nay FIFA đã bỏ ra 435 triệu USD để tổ chức giải Nữ Túc Cầu Thế Giới — Women’s World Cup, viết tắt là WWC. Tổng cộng tiền thưởng cho các đội cũng được tăng đáng kể – từ $30 triệu vào năm 2019 lên đến $150 triệu! Nhưng nhiều người có thể không biết, cách đây chỉ nửa thế kỷ các liên đoàn quốc gia vẫn không được phép tổ chức giải bóng đá nữ dưới danh nghĩa FIFA. Con đường từ số không to tướng ấy đến nay là công cuộc đấu tranh bền bỉ của phụ nữ trong trường thể thao, và vẫn còn đang tiếp diễn.

Brandi Chastain của Mỹ cởi áo ăn mừng chiến thắng trước Trung Quốc trong trận chung kết năm 1999 (nguồn: FIFA)       

Mọi sự khởi đầu vào năm 1970, khi Liên đoàn Bóng đá Nữ Âu châu Độc lập (FIEFF) đứng ra tổ chức một cuộc tranh tài giữa 8 đội tuyển, đa số đến từ Âu Châu và khối cộng sản Đông Âu. Mễ Tây Cơ là nước duy nhất đại diện Châu Mỹ. Giải đấu diễn ra tại 7 thành phố trên nước Ý. Đan Mạch hạ đội chủ nhà 2-0 để đoạt chiếc cúp vô địch nữ đầu tiên trước sự thờ ơ của giới truyền thông. Mễ đã gây bất ngờ khi đánh bại Anh 3-2 để giành huy chương Đồng.

Đội tuyển Ý trước trận chung kết tại Turin (nguồn Internet)

Sau lần ra quân lịch sử ấy, FIEFF tổ chức thêm giải thứ nhì vào năm sau tại Mễ Tây Cơ với 6 quốc gia lọt vào vòng chung kết. Một lần nữa, Đan Mạch hạ đội chủ nhà 3-0 trong trận cuối cùng để đoạt cúp. Mặc dù các trận banh này không được chiếu trực tiếp trên TV, lượng người mua vé đi coi phụ nữ đá banh đã đạt con số kỷ lục. Dù FIEFF bị ngừng hoạt động năm 1972, nhưng các giải vô địch nữ nhỏ hơn, gọi là Mundialito, vẫn tiếp diễn trong hai thập niên 1970 và 1980.

Thủ quân Lis Westberg của Đan Mạch nâng cao chiếc cúp vô địch tại Mexico City, 1971 (nguồn: Internet)

Cuối cùng thì đến năm 1988 FIFA cũng chịu đứng ra tổ chức một giải đấu nữ, gọi là Giải Mời (Invitational). Cuộc tranh tài diễn ra tại Trung Quốc giữa 12 đội, trong đó có đội Mỹ mới được thành lập trước đó không lâu. Dù là một đội banh non trẻ so với các đội Âu Châu hay Nam Mỹ, đội tuyển nữ của Mỹ cũng vào đến được tứ kết trước khi bị loại bởi Na-Uy với tỉ số 1-0. Na-Uy sau đó hạ Thuỵ Điển 1-0 trong trận chung kết. Đây là bước dọ dẫm thử nghiệm của FIFA để xem khán giả có hứng thú xem phụ nữ đá banh hay không.

Poster quảng cáo cho giải mời năm 1988 của FIFA (nguồn: Internet)

Sự thành công của giải mời năm 1988 khiến FIFA đổi ý, chính thức đứng ra tổ chức giải vô địch bóng đá nữ thế giới đầu tiên năm 1991, cũng tại Trung Quốc. Song FIFA vẫn chưa dám sử dụng thương hiệu World Cup mà chỉ gọi nó là “World Championship for Women’s Football for the M&M’s Cup” (M&M là tên hiệu kẹo sô-cô-la của nhà tài trợ Mars!) Thời bấy giờ phụ nữ bị cho là yếu đuối hơn phái nam nên mỗi trận banh chỉ kéo dài 80 phút. Thậm chí có người còn đề nghị cho họ dùng trái banh nhỏ hơn của đàn ông. Rất may điều đó đã không xảy ra!

Lễ khai mạc tại Trung Quốc năm 1988 (nguồn: FIFA)

Ngày 30/11/1991, tại vận động trường Quảng Châu, đội tuyển Nữ của Mỹ đã làm nên lịch sử với chiếc cúp FIFA Túc cầu Thế giới đầu tiên sau khi hạ đo ván đội mạnh nhất xưa nay là Na-Uy với tỉ số 2-1. Trước hơn 63,000 khán giả tham dự, những tên tuổi như Julie Foudy, Mia Hamm, Michelle Akers, Brandi Chastain đã mở màn cho một cuộc cách mạng bóng đá ở Mỹ. Thuật ngữ “soccer mom” ra đời, và chỉ trong vài năm bóng đá trở thành môn thể thao được nhiều trẻ em Mỹ chơi nhất khi tính cả nam lẫn nữ.

Michelle Akers (giữa) nâng cao chiếc cúp vô địch năm 1991 (nguồn: FIFA)

Cuối cùng thì FIFA cũng phải công nhận khả năng đá banh của phụ nữ. Giải đấu năm 1995 được chính thức gọi là FIFA Women’s World Cup, và thời gian thi đấu cho mỗi trận là 90 phút như của đàn ông. Song các nữ cầu thủ vẫn không được trả lương hay tiền thưởng như nam cầu thủ, thậm chí nhiều đội còn không được ở trong khách sạn với phòng riêng mà phải chia sẻ phòng với cả chục người. Dẫu vậy, túc cầu nữ vẫn tiếp tục phát triển mạnh và ngày càng thu hút giới hâm mộ.

Na-Uy đánh bại Đức 2-0 trong trận chung kết tại Thuỵ Điển (nguồn: FIFA)

Trong 8 giải WWC từ 1991 đến nay, chỉ có bốn quốc gia từng thắng cúp vô địch: Mỹ (4); Đức (2); Nhật (1); Na-Uy (1). Trung Quốc tuy là một cường quốc bóng đá của Á Châu từ những ngày đầu tiên nhưng đến nay vẫn chưa thắng giải nào. Trong khi đó thì Nhật dù khởi đầu đá rất dở nhưng sau 20 năm khổ luyện cũng đoạt được chiếc cúp đầu tiên vào năm 2011. Mùa banh 2023 này có đến 8 đội vào được WWC lần đầu, trong đó có Việt Nam và Phi Luật Tân. Tuy cả hai đều đã bị loại sau vòng Bảng, nhưng nếu họ biết noi gương Nhật Bản thì rất có thể ta sẽ thấy họ trở lại trong tương lai.

Vô địch WWC 2011, Nhật Bản (FIFA/Getty images)

Ngày về của Đích

Nguyễn Mạnh Tuân phóng tác

baotreonline.com

Trần Vũ

August 3rd, 2024

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Con chó khựng lại trước tấm da gấu ngựa màu nâu đen, lông mướt như nhung, trải làm thảm dưới sàn gỗ. Nó nhe nanh, gầm gừ lùi lại đôi chút, cái đầu thon nhỏ, đen láy điểm nạm lông vàng sẫm quanh mép, hơi nghiêng một phía, chân nhón lên trong thế thủ đặc biệt của loài chó Lài khi lâm trận.

Ông Giao vỗ nhẹ lên lưng nó:

– Yên, Đích!… Yên nào!

Ông Huy vừa treo chiếc nón săn lên mắc, thấy vậy, quay lại bạn:

– Kỳ há!… Nó sợ gấu lắm thì phải?… Mà sao anh chịu khó chăm sóc con chó quái này?… Có gì đẹp đẽ nào: một chân tập tễnh, mình lại đầy sẹo…

– Ô… Câu chuyện dài dòng lắm. Con Đích không có bộ mã mỹ miều, nhưng đối với tôi, nó là người bạn trung thành, đôi phen vào sanh ra tử với nhau rồi đó…

Ông đẩy con chó Lài sang phòng bên, khép cửa lại, rồi kéo ghế mời khách ngồi. Câu chuyện của Đích được thuật lại bên tách trà thơm, trong không khí êm ả, nhẹ nhàng của buổi chiều sơn cước, giữa đôi bạn đường rừng lâu ngày mới gặp nhau. Giọng ông Giao ấm áp khiến câu chuyện đậm đà.

…Tôi còn nhớ như việc vừa xảy ra, anh ạ!… Sự thực thì cách đây đã trên 5 năm rồi. Bữa đó là một buổi sáng khô ráo, se sắt lạnh, vào đầu tháng Mười… Đang tiết cuối Thu, mà anh còn lạ gì những buổi sáng hồng, có heo may, có tiếng ngỗng trời ngang trên không… Dân thợ săn chúng mình không tài nào ngồi nhà được. Tôi cũng vậy vác súng đi ngay từ sớm… Tôi không theo ven rừng như thường lệ, mà băng ngang sườn đồi qua thung lũng, tới triền núi bản keo, khoảng rừng rậm có dòng suối bạc đó… Chỗ đó, về cuối Thu sẵn nai lắm!

Nhưng lần này ngồi rình mãi chẳng thấy bóng hươu, hoẵng nào, tôi lần mò vào sâu hơn, mãi cánh rừng lim phía dưới.

Chợt tôi nghe văng vẳng có tiếng rên rỉ nghẹn ngào, theo gió thoảng lại… Chẳng rõ tiếng gì, nhưng tôi biết chắc thế nào cũng có người hay vật đang hấp hối trong xó rừng nào đó, sau những hàng cây chi chít, che khuất tầm mắt.

Len lỏi qua mấy bụi gai, tôi lò mò tiến lại phía tiếng rên, cách đó cũng không xa… Tới khoảng rừng thưa, tôi giật mình, đứng sững lại: Chà!… Bây giờ nghĩ lại tôi còn giận sôi sục…

Anh biết không?… Ngay trước mắt tôi, hiện ra cảnh tượng dã man không tả nổi: bên cái cọc tre đóng chặt, căng thân một con chó như ta trải tấm thảm; miệng con vật tọng đầy giẻ, nên không sủa được, chỉ rên rỉ như tôi vừa nói…

Tôi thấy màu đất chỗ đó nâu đỏ, lại rung động liên miên; nhìn thực kỹ, thì ra đó là tổ kiến lửa!

Úi cha… Kiến lửa thì anh biết chứ gì?

Không phải thứ kiến li ti ta vẫn thấy đâu… Kiến này lớn hơn nhiều, mà cũng dữ dằn hơn cả trăm lần. Chẳng cái gì chống lại nó được… Dù hổ báo cho tới cá sấu, voi rừng cũng phải ngán kia… Chỉ trong vài giờ đàn kiến ghê gớm này đủ sức biến con mồi thành bộ xương khô, trắng bóng như vừa được cạo sạch từng đường gân, thớ thịt…

5, 6 hàng kiến bắt đầu bò lên bụng, lên lưng, lên tai con chó đáng thương hại, cả ngàn cặp nanh sắt thép đã rúc dưới lớp lông dày, cắm ngập vào da thịt nó… Thân hình con chó đã rướm máu…

Tôi chồm tới, nhanh như cắt, lia lưỡi dao săn, chặt lớp thừng gai trói con vật… Tôi làm hết sức mau lẹ mà dăm chục kiến đã bám vào tay, vào lưng, vào cổ tôi… Chà!… Buốt như kim châm vậy… Không kịp nghĩ ngợi, tôi ôm cả con chó nhào đại xuống dòng suối cuồn cuộn chảy gần đó.

Cả tôi lẫn nó bị nước cuốn trôi băng… Nhưng cũng nhờ vậy, chẳng con kiến nào còn bám được vào người tôi và con vật.

Thật là may, giá xa không có làn nước mát mẻ ấy, tôi chẳng biết làm cách nào cứu con chó… Nhặt hết kiến, chắc nó cũng chết cứng!

Về tới nhà đã quá trưa… Tôi ôm con vật suốt dọc đường, nên mỏi rã rời. Nó còn thoi thóp, phần đau, phần đói nên nằm lịm một xó.

Tôi không hiểu tại sao có người tàn nhẫn, nỡ hành hạ nó như vậy?… Nhìn kỹ ra thì nó là giống chó rừng, có lai đôi chút, nhưng phần giống chó sói nhiều hơn. Tôi đoán chừng con vật lẻn vào buôn bắt gà vịt sao đó, rồi sa bẫy…

Nhờ trời nó vạm vỡ khỏe mạnh, nên chỉ vài ba bữa sau là dậy được… Những vết thương đóng sẹo… Đó… chỗ trụi lông anh thấy đó. Riêng cái chân què lâu khỏi hơn, vì bị hàm thép của bẫy thú kẹp nát một lóng xương.

Nó ở với tôi được dăm tháng, ngoan ngoãn, trung thành như bất cứ con chó nhà tinh khôn nào. Có điều nó chẳng bao giờ chịu nằm ngủ trong nhà. Cứ đêm đến là ra nằm cuộn tròn như chó ta nuôi… Thỉnh thoảng, trong những đêm trăng sáng, nó tru từng hồi dài… Chắc nó nhớ lại những ngày sống với đàn thuở trước.

Cho tới một buổi sáng, tôi không nghe tiếng móng chân gại vào cánh cửa để đánh thức tôi dậy như mọi bữa, hay tiếng rít quen thuộc của nó báo hiệu trời vừa bình minh. Tôi chạy lại chỗ bụi sim cuối vườn: con Đích biến mất, vết dấu chân nó còn rành rành trên lối mòn vào rừng.

Tôi cất tiếng gọi… Như mọi lần, dù xa tới đâu, nghe tôi gọi, nó vẫn tru lên, đáp lời, nhưng bữa nay, không… Cánh rừng buổi sáng êm rơ, thưa nhặt vài tiếng chim hót… Tuyệt nhiên không thấy tăm tích con Đích.

Một ngày rồi hai, ba ngày qua… tôi đành phải nhận sự thật phũ phàng đó: con Đích đã bỏ tôi, để đi hoang, trở về với nếp sống rừng rú.

Nỗi buồn của tôi nguôi ngoai dần… Tôi biết loại chó rừng đều vậy, cuộc sống nhàn nhã trong một trang trại làm nó chóng chán, rồi tới mùa nào đó, nghe tiếng gọi của đàn chó thoảng lại theo gió ngàn, nó lẳng lặng biến mất, như con Đích vậy.

Khoảng nửa năm sau, bữa đó tôi đang cặm cụi đốn cây cẩm lai – thứ gỗ thức, có vân hoa, tuyệt đẹp, chợt nghe tiếng rít khẽ, thật đặc biệt của con chó được tôi cứu sống ngày nào… Tôi giật mình quay phắt lại: con Đích đứng đó, ngay sau lưng tôi, vẫn lầm lì, yên lặng như chiếc bóng… Những sẹo trên người nó còn nguyên, thêm vài hàng ngang dọc nữa là khác. Điều đó chứng tỏ những ngày xa tôi nó cũng trải nhiều gian truân… Nhưng lần này nó không cô đơn… Cách nó vài chục bước, còn con chó nữa, chó cái, 4 chân mảnh mai, tai nhọn hoắt, đang đăm đăm nhìn tôi… mắt đỏ khé, môi nhếch lên, nhe hàng nanh mũi dùi, trắng bóng.

Tôi biết đó là người bạn đường của Đích… Có thể nó là lý do quyến rũ đã bắt Đích khỏi trang trại của tôi.

– Giá hai con cùng về cả thì hay.

Tôi nghĩ vậy, nhưng con chó lạ đột nhiên xù lông cổ, gù cao lưng, sủa dữ dội rồi quay phắt đi nhón chân bước vào rừng.

Con Đích ngơ ngác một chút, ghé mõm vào chân tôi đánh hơi tỏ dấu quyến luyến… Tôi nhẹ nhàng vuốt đầu nó…thông cảm hoàn cảnh khó xử của con vật. Nó ve vẩy đuôi một cách khúm núm như mong muốn tôi thứ lỗi, rồi lẳng lặng bước theo bạn…

Trước khi khuất trong bóng lá, nó còn ngoảnh lại nhìn tôi lần chót.

Tôi mừng lắm, biết nó còn sống, chưa bị hổ báo xé xác là tôi yên tâm rồi.

Mùa Đông tới… Xuân qua… Tôi không có dịp nào gặp lại con Đích. Cho tới một bữa, tôi mãi theo dấu đàn trâu rừng, đi lạc vào tận cánh rừng Bản He… Vùng này toàn cây lớn cao ngất trời; dưới đất cơ man là bụi dâu, thứ dâu rừng có trái bằng đầu ngón tay cái, lúc chín tím thẫm, ngọt lịm.

Chợt tôi thấy động đậy trong bụi, rồi chiếc mõm ngắn, nâu hồng, bê bết mật dâu của con gấu non thò ra… Anh biết chớ gì!… Đối với chúng ta, gấu là thứ vật có hại, thứ kẻ thù cần diệt trừ…

Đôi khi nó vồ người, nhưng thường xuyên nó phá mùa màng, bắt gia súc, điều đó ai cũng rõ.

Lập tức tôi đưa súng lên vai, nhả đạn… Con vật ngã lăn ra, kêu xăng xẳng như con chó con… Tôi nghĩ thầm:

– Tốt… Khỏi cần phí thêm đạn, tới cho nó một báng súng nữa là đủ.

Nhưng tôi chưa kịp thi hành ý định ấy, thì nghe tiếng gầm gừ sau lưng… Thứ tiếng hằn học của loài gấu lúc tức giận nghe rợn người!… Tôi quay phắt lại, giơ súng, nẩy cò… Đạn không nổ… Trong mùa mưa, tôi quên không cất vào chỗ khô khan, một số kíp bị ẩm chắc vậy, tôi cuống lên.

– Thế này mới là cái chết!

Trước mặt tôi, con gấu đứng dựng người… Dễ nó cao tới 2 thước. Trông…phát rét! Tôi biết giống gấu có lối tấn công như vậy, nó chỉ cần ghì chắc kẻ thù vào ngực, rồi ghé miệng, ngoạm hàng nanh nhọn vào cần cổ là rồi!… Khỏe đến đâu cũng không chống lại nổi.

Nó chồm vào tôi… Nanh vuốt chìa ra… Mắt tóe lửa, dữ dằn như hung thần… Tôi chẳng có cách nào hơn là liệng khẩu súng vô ích xuống đất rồi rút nhanh con dao săn đeo bên mình…

Chắc là anh lấy làm lạ sao tôi không bỏ chạy rồi nạp viên đạn khác?… Vô ích, loài gấu thông thường thì nặng nề đấy, nhưng lúc tức giận, hay rượt mồi, nó nhanh nhẹn như ngựa đua kia!… Thà đứng lại dùng dao ăn thua đủ với nó lại có đôi chút hy vọng thoát thân.

Vả lại hồi ấy tôi đang sung sức, lại có con dao lưỡi thép bào mỏng, sắc như nước, nên đâm liều… Nhưng tôi chưa kịp ra đòn, con vật đã quờ lấy phải tôi, đè xuống… Thế là hết!… Nó ghì tôi vào ngực khiến tôi suýt nghẹt thở… Tôi nghe rõ trống ngực mình đập liên hồi… Rồi liếc thấy cái mõm đỏ chót há rộng, đang tính ngoạm vào tôi… Cái chết của tôi chỉ còn trong đường tơ kẽ tóc…

Chợt tôi có cảm tưởng con gấu bị xô nghiêng, rồi chân con vật gì đạp vào lưng tôi… Tôi nhận ra ngay con Đích.

Con chó rừng đánh đu vào họng con gấu khiến nó không đè được tay tôi nữa… Lưỡi dao săn sáng lấp lánh nhắc tôi phải ra tay ngay: tôi đâm liên hồi vào cổ, vào sườn, vào bụng con gấu… Tới lúc nó ngã vật xuống, tôi vẫn còn như say máu, cắm lút cán dao giữa ngực nó.

Con Đích cũng nằm lịm, không nhúc nhích, một tai rách bươm, còn mạng mỡ bị vuốt gấu cào sâu, máu chảy ròng ròng, thấy mà xót ruột!…

Tôi ôm vội lấy nó, cởi áo buộc tạm vết thương, rồi bồng nó về trại.

Lại một lần nữa nó nằm mê man… Phải cả tháng sau con vật mới thực lành mạnh. Từ đó, nó không bỏ trại nữa… Cho tới nay, ít khi nó rời tôi… Nói có anh, tôi chỉ mong sao nó sống trọn vẹn kiếp chó có nghĩa bên tôi thôi!

–oOo–

Huy chỉ vào tấm da gấu dưới chân:

– Tôi hiểu… Vậy ra tấm da gấu này đây?… Kẻ thù của con Đích đây?

Ông Giao gật đầu:

– Anh đoán đúng… Tính ra đã 6, 7 năm trời, mà tôi vẫn không sao làm cho con Đích quên được chuyện cũ. Mỗi lần thấy tấm da này, là nó gầm gừ muốn cắn xé… Cũng vì vậy, nên tôi ít dám cho con chó vào phòng này.

Trong lúc ấy, ngoài vườn, dưới bụi sim, con Đích vểnh tai: xa, xa lắm, có tiếng chó rừng tru từng hồi, mơ hồ vẳng lại… Chắc lại bầy sói đi săn đêm… Nhưng rừng khuya lúc này bớt quyến rũ đối với nó… Con vật nhìn lại phía ánh đèn tỏa ra từ căn nhà nhỏ, ấm cúng, ve vẩy đuôi, rồi nằm duỗi dài, lim dim ngủ.

Trở về già, nó đã thực sự vĩnh biệt nếp sống hoang để trở thành thứ chó nhà trung thành.

NMT phóng tác

Trần Vũ đánh máy lại tháng 7-2024 từ tuyển tập 15 Truyện Săn Bắn của Nxb Sống Mới in tại Sàigòn trước 75. 

Mảnh trời nhỏ

baotreonline.com

Trần Vũ

October 14th, 2022

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Nguyệt san Làng Văn số 44 tháng 4-1988 giới thiệu cây bút mới Nguyễn Ngự Bình. Mảnh Trời Nhỏ tiêu biểu cho sáng tác của thời kỳ này: hầu hết các truyện ngắn đều đầy ắp quá khứ chưa phai của một miền Nam vừa đánh mất. Xen kẽ những mối tình lưu lạc rồi gặp lại. Cách kể chuyện của Nguyễn Ngự Bình tự nhiên, nhiều hoài niệm với băn khoăn trên miền đất mới. [Trần Vũ]

Nguyễn Ngự Bình

Tôi quen chị Châu ngay hôm đầu tiên chị vừa dọn đến. Hôm đó, khi vừa tan học về, tôi quăng vội tập vở lên bàn và tò mò nhìn một việc kỳ lạ đang xảy ra ở nhà bên cạnh. Xóm tôi vốn là một khu tạp nhạp. Hầu hết các gia đình ở đây thuộc lớp bình dân lao động. Họ nếu không là quân nhân thì cũng là tài xế taxi, xích lô… Ai nấy đều an phận thủ thường, có mái nhà nghỉ ngơi sau một ngày dài cực nhọc là đủ. Hình như không ai có ý tưởng (hay khả năng) dọn đi nơi khác. Cho nên, việc căn nhà kế bên đổi chủ đã khiến tôi chú ý theo dõi. Thấy tôi đứng nhìn, chị Châu tiến lại làm quen:

– Ở đây à?

Tôi gật đầu.

– Tên gì?

– Tuấn.

Vậy là tôi quen chị. Từ lâu, nhà tôi có lẽ vắng người nhất xóm. Chỉ ba mẹ con thui thủi. Ba tôi vắng nhà luôn vì cuộc sống quân ngũ. Thỉnh thoảng về phép, ông vẫn dắt mẹ con tôi dạo phố, coi hát và sắm đồ cho anh em tôi. Nhưng những lần phép ngắn ngủi không bù được tháng ngày xa vắng. Từ khi có đủ óc nhận định, tôi vẫn thắc mắc và bất bình với sự vắng nhà của ông. Khi đối diện với ba, tôi cảm thấy mình rụt rè, nhỏ bé…không như tình cha con mà tôi từng thấy ở những thằng bạn khác. Tôi thèm được như thằng Bình ở cuối xóm: ba nó chạy xích lô, mỗi ngày ông đến đón nó ở trường. Khi xe đến đầu xóm, thằng Bình ngồi trên xe vừa khoát tay vừa la: “Tránh ra! Tránh ra!” để hù tụi tôi, những thằng đi bộ.

Bao nhiêu tình thương tôi dành cho mẹ, nhưng bà lại quá nghiêm khắc. Mặc dù sao này khi lớn lên, tôi đủ trí khôn, hiểu và thông cảm bà đã phải kiêm thêm nhiệm vụ của ba tôi để dạy con cái, đôi lúc tôi vẫn tủi hờn vì bà kèm tôi từng tí một, từ việc học hành, bạn bè, đến lời ăn tiếng nói…

Do đó, sự hiện diện của chị Châu bên cạnh là một điều hạnh phúc trong quãng đời thơ ấu. Nhà tôi đã vắng, nhà chị lại đơn chiếc hơn. Chỉ hai mẹ con. Ba chị Châu cũng là lính chiến ở xa. Vì thế mà cô Ba và mẹ tôi thân nhau lắm, đồng cảnh sinh tình.

Năm đó, tôi chuẩn bị thi vào đệ thất, bước thử thách đầu tiên của đời học sinh. Chị Châu học ở Trưng Vương, hơn tôi ba lớp. Mỗi chiều tôi thường qua nhà cô Ba để chị Châu kèm thêm. Thật ra tôi học rất khá và đầy tự tin trong kỳ thi sắp tới. Học thêm chỉ là cái cớ để tôi gặp và nói chuyện với chị Châu. Làm xong vài bài toán là tôi có thể nhâm nhi ly chè ngọt lịm chị để dành sẵn, hay có khi vài cái bánh làm ở nhà… rồi thong thả kể cho chị nghe những chuyện vui ở trường và tâm sự vụn. Một lần chị hỏi: “Lớn lên Tuấn làm gì?” Tôi đáp không suy nghĩ: “Phi công”. “Nếu vậy Tuấn sẽ làm…thi sĩ”. Tôi không hiểu tại sao muốn làm phi công lại thành thi sĩ, chỉ cảm thấy sung sướng, vì với tôi lúc bấy giờ, “thi sĩ” là một danh từ lớn, vinh dự lắm rồi.

Qua kỳ thi, tôi đậu vào Võ Trường Toản như ý muốn. Chị Châu khao tôi một chầu xi-nê ở rạp Rex. Ðó là lần đầu tiên tôi đi xi-nê với một người không phải là cha mẹ.

Vào trường mới, mỗi ngày tôi lại ngồi sau xe chị Châu chở đi học. Trưng Vương và Võ Trường Toản chỉ cách nhau một con đường nên thật tiện. Mỗi buổi trưa sau khi chuẩn bị xong, đợi chị Châu dắt xe ra khỏi nhà là tôi nhảy lên yên sau. Một tay vịn dưới yên, tay kia giữ hai chiếc cặp, hai chị em thơ thới ra đi.

Từ nhà đến trường phải qua một cái cầu. Những khi trời mát mẻ và vắng xe, chị Châu thường lấy đà từ xa để lên dốc. Những khi trời nắng chang chang, thấy chị gò lưng đạp, mồ hôi ướt đẫm cả lưng trông thật tội  nghiệp. Tôi đề nghị dừng lại bên này dốc, xuống xe đẩy và lon ton chạy theo đến chân cầu bên kia mới lên đi tiếp. Như vậy cũng không ổn, vì lúc xe cộ đông đảo, tôi chạy theo sau quá nguy hiểm, chị Châu không chịu. Tôi lại đề nghị để tôi chở. Thử mấy ngày thấy tôi lên cầu phom phom, tay lái vững vàng, chị Châu mới yên tâm chịu ngồi sau giữ cặp.

Dạo đó chị Châu đang học lớp chín và đã có mấy anh lớn hơn ở Võ Trường Toản ngắm nghé. Thấy chúng tôi đi chung tưởng là hai chị em, nên đến làm quen với tôi. Khi thì cây cà-rem, khi thì thỏi kẹo kéo… cũng chỉ để hối lộ những câu hỏi: “Chị em tên gì? Học lớp mấy? Nhà ở đâu? v.v…” Khi ra về cũng có mấy anh khác kè kè theo sau, nói mấy câu gì đó không rõ, chỉ thấy chị Châu thúc sau lưng ra hiệu đạp lẹ lên mà thôi.

Từ năm lên lớp bảy, tôi không đi học với chị nữa vì khác buổi. Mẹ tôi sắm một chiếc xe đạp để tôi đi một mình. Tuy vậy, tình thân giữa tôi và chị Châu vẫn không có gì suy giảm mà ngày một đậm đà hơn. Trong nhà chị, ngoài những đặc san Tuổi Ngọc, Hoa Tím… loại dành cho tuổi mới lớn còn có  một rừng tiểu thuyết, truyện dịch tha hồ cho tôi nghiền ngẫm. Cho nên, khi những thằng bạn cùng trang lứa chỉ mới mơ thành người Quang Trung với Duyên Anh thì tôi đã có khá bộn kiến thức với các tác giả gạo cội như Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn… hay ngay cả những nhà văn ngoại quốc như Tolstoi, Hermann Hesse v.v.

Có phải vì vậy nên đầu óc tôi sớm nảy nở! Khi đến tuổi mà tôi và các bạn bắt đầu đổi giọng trở nên ồ ề khó nghe, mặt lấm tấm vài mụn trứng cá … cùng những biến đổi sinh lý thầm kín khác, thì chúng tôi bắt đầu trò chơi người lớn, trò chơi mà biết bao lớp đàn anh đã từng đi qua, ít nhất một lần. Mỗi chiều tan học, chúng tôi mỗi đứa chiếm một góc, đợi tà áo trắng cô bạn láng giềng Trưng Vương đi ra. Trong khi các bạn tôi ngẩn ngơ trông theo, không một bóng hình nhất định, thì tôi đã có một người.

Những ngày tháng sau này, tình cảm tôi dành cho chị Châu dần dần thay đổi. Ðầu tiên tôi xưng là “Tuấn”, không phải “em” như xưa kia. Khi kêu “chị Châu”, tiếng “chị” cũng thật nhỏ như không có. Tôi muốn xóa bỏ hình bóng người chị trong đầu để có thể tiến lên làm một người bạn. Với tôi, tất cả những gì hay đẹp, dịu dàng của người con gái đều có ở chị. Tự hồi nào, chị đã chiếm trọn tâm hồn tôi không chừa một kẽ hở. Tôi nhìn các cô gái khác cùng trang lứa với đôi mắt dửng dưng lẫn chút ngạo mạn. Và cũng có lúc lắng nghe trái tim ghen hờn, khó chịu khi thấy chị Châu nói chuyện với một người con trai nào khác.

Không hiểu tôi sẽ ôm mối tình si bao lâu, và làm cách nào gỡ thoát nếu không có những biến cố dồn dập làm thay đổi hẳn cuộc sống.

 oOo

Cuối năm 74, khi tình hình chiến sự chưa sôi động lắm, tôi cùng chị Châu hăng hái tham gia dự trại họp bạn Hướng Ðạo toàn quốc tại Thủ Ðức. Tôi chỉ mới là kha sinh, chị Châu đã là huynh trưởng của một bầy sói con. Ðối với bất cứ Hướng đạo sinh nào, tham dự trại họp bạn là điều không thể bỏ qua. Và đây là dịp ghi lại nhiều kỷ niệm tươi đẹp.

Trong các ngày trại, một sinh hoạt được hầu hết các trại sinh tham gia là màn trao đổi huy hiệu. Ðây là một trò chơi có tính cách truyền thống và mang nhiều ý nghĩa nhất. Mỗi trại sinh thủ sẵn một số huy hiệu của đơn vị mình, khi gặp trại viên của đơn vị khác, có thể lại làm quen và đề nghị trao đổi làm kỷ niệm. Phần đông mọi Hướng đạo sinh đều thích được tự tay dùng lưỡi lam rạch lấy huy hiệu đã mang trên tay áo bạn, và nếu gặp những trại viên đến từ miền xa như Huế, Quy Nhơn, Bạc Liêu… thì huy hiệu càng hiếm và quý.

Dĩ nhiên tôi cũng hăng hái tham gia. Một hôm thấy chị Châu từ xa, tôi lại gần trang nghiêm chào theo kiểu Hướng Ðạo, làm như chưa bao giờ quen biết.

– Chào chị, tôi là Tuấn, đạo… Huy hiệu chị đẹp quá, tôi muốn trao đổi có được không?

Hơi bất ngờ, nhưng chị dễ dàng hiểu ý:

– À, tôi là Châu, đạo…sẵn sàng trao đổi với anh.

Tiếng “anh” làm tôi choáng váng mặc dù chỉ trong trò chơi. Sau khi nhường chị rạch trước, tới phiên tôi, lúng túng thế nào đã cắt luôn phần áo gần vai đang mang huy hiệu của Châu. Chiếc áo rộng theo gió căng phồng để lộ một phần thân thể, khoảng da trắng ngần dưới làn áo làm tôi bối rối.

– Tuấn… Tuấn xin lỗi.

Chị Châu cũng đỏ cả mặt, nhưng nhanh ý xếp chiếc nón đang đội nhét vào cầu vai che lại khoảng áo bị rách và vội vã đi về lều.

– Không sao, tôi còn cái khác, chào anh.

Sau kỳ trại, tôi về nhà với một tâm tư xáo trộn. Chị Châu không giận làm rách áo, nhưng chính tôi cảm thấy ngượng ngùng.

Thần tượng trong tôi đang biến đổi trạng thái. Tôi vẫn yêu mến chị như thuở nào, nhưng nay trong niềm thương mến đã xen lẫn sự…thèm khát.

Khoảng da trắng ngần của chị Châu như ngọn đèn pha chói lòa trong óc tôi những đêm thâu trằn trọc. Tôi để mảnh áo cắt được của chị dưới bao gối để có thể ấp ủ hằng đêm. Mảnh áo như cánh cửa sổ, từ lâu vẫn đóng kín vùng trời bí mật bên trong mà tôi vô tình một lần phá vỡ, để chứng kiến, dù chỉ là một mảnh trời bé nhỏ.

Những tư tưởng chiếm đoạt ngày càng mãnh liệt trong giấc mộng. Tôi cố đè nén và chối bỏ. Nhưng vô ích, nó đã hoàn toàn điều khiển và dẫn dắt tôi từ mảnh trời này sang vùng trời khác, bao la hơn, quyến rũ hơn. Ðến nỗi tôi phải khổ sở tránh gặp mặt chị Châu vì sợ chị sẽ đọc thấy tư tưởng tôi qua ánh mắt.

Tình hình diễn biến mau lẹ đã đưa sự sụp đổ của toàn đất nước vào một ngày cuối tháng Tư. Khi dân Sài Gòn bỡ ngỡ nhìn từng đoàn bộ đội áo xanh từ rừng kéo về, tôi tạm quên nỗi niềm riêng để buồn chung với cả dân tộc. Qua tìm chị Châu để chia sẻ thì…chị đã đi mất. Cô Ba gởi chị theo gia đình người chú Hải quân có tàu vượt thoát. Cô ở lại chờ chồng chưa rõ tin tức.

Tối hôm đó tôi đã khóc. Khóc cho đất nước thay đổi, tương lai mù mịt, khóc vì thấy lá cờ vàng ngày nào kính ngưỡng bị chà đạp dưới gót giày xâm lăng, và khóc vì nhớ chị Châu da diết.

oOo

– Tuấn đang nghĩ gì vậy?

Tôi giật mình trở về với thực tại. Trái đất thật tròn. Không ngờ mình có thể gặp lại chị Châu trên xứ lạ quê người này. Duyên số chăng? Ðịnh mệnh chăng? Nếu tuần trước tôi không ghé qua một chợ Việt Nam để mua cà phê, ra về vội vã đụng phải người đàn bà đang đi vào…thì có lẽ những kỷ niệm êm đềm ngày xưa sẽ vĩnh viễn chìm vào dĩ vãng. Ðịnh mệnh lại sắp đặt cuộc hội ngộ ở một thời điểm không sớm và cũng không muộn. Khi mà chỉ mới hai tháng trước tôi chia tay với Trang, chấm dứt mối tình sau một năm trời vun đắp. Những khác biệt từ căn bản giữa tôi và Trang không thể san bằng. Thà chia tay còn hơn chịu đựng nhau trong cuộc sống lâu dài.

Còn chị Châu, chị cho tôi biết chị đã ly dị người chồng ngoại quốc cùng một thời gian, đem theo đứa con gái mang hai dòng máu Mỹ-Việt từ miền đông giá buốt về Cali tìm lại hơi ấm và đồng hương.

Minh Châu, người con gái một thời tôi đã tôn thờ và thương yêu ngây dại, giờ đây là một thiếu phụ quyến rũ. Tôi lặng lẽ nhìn nàng thật lâu, so sánh với một chị Châu của mười hai năm trước.

– Châu lạ lắm sao, nhìn hoài vậy?

– Không, Tuấn chỉ thấy chị đẹp và khác xưa nhiều lắm.

– Thật không? Tuấn không nịnh đó chứ? -Nàng mỉm cười- Châu già rồi, con cái đầy đàn mà đẹp nỗi gì!

Tôi cũng cười theo, chỉ một đứa con mà Châu nói con cái đầy đàn…hơn nữa các cụ vẫn bảo: gái một con… Một cách tự nhiên, nàng đổi cách xưng hô thân mật hơn. Từ vẫn gọi là “chị” hôm mới gặp lại, nàng đã xưng “mình” trong những lần nói chuyện sau. Ðêm nay trong không khí vũ trường đầy tiếng nhạc, nàng lại xưng “Châu” thân ái.

– Tại sao Tuấn chưa lấy vợ, gần ba mươi rồi còn gì?

Tôi chưa kịp trả lời, nàng đã nói tiếp:

– Kể cho Châu nghe chuyện của Trang đi.

Ðây là lần thứ hai Minh Châu hỏi chuyện tình cảm của tôi. Lần trước tôi chỉ nói sơ qua, rồi kết thúc. Tôi vốn không muốn nhắc lại sự đổ vỡ, để đi đến kết luận lỗi tại ai. Cứ coi như một diễn tiến tự nhiên của cuộc đời, có mật ngọt, có trái đắng. Bây giờ, trước đôi mắt tha thiết tò mò, tôi kể cho Minh Châu chuyện của tôi và Trang, nhưng vẫn tránh một kết luận.

– Tuấn vẫn như xưa, mơ mộng quá không tốt. Phải thực tế mới được.

Tôi đọc được nỗi bồi hồi và thông cảm của Minh Châu qua ánh mắt:

– Tuấn biết chứ, nhưng biết làm sao hơn? Sẽ có ngày Tuấn gặp được người hiểu mình.

Nàng nhìn tôi dò xét:

– Có người thực sự hiểu Tuấn, nhưng lại có vấn đề khác thì sao?

Rít một hơi thuốc, nhìn làn khói tan, tôi trả lời:

– Với Tuấn, đời sống chỉ thực sự hạnh phúc khi có người hiểu, chia sẻ với mình… Còn lại, có lẽ không là vấn đề quan trọng.

– Tuấn thành thực chứ?

Tôi mỉm cười, để ba ngón tay trước trán:

– Ðiều luật số một: Hướng đạo sinh trọng danh dự và lời nói…

Minh Châu cũng cười theo, nhưng giọng bỗng trở nên mơ màng:

– Hồi đó…vui nhỉ? Một lần Tuấn hư quá làm rách áo của Châu.

Trong khoảnh khắc, tôi tìm lại được ở nàng hình dáng “chị Châu” của ngày xưa cũ. Có nên cho Minh Châu hay mảnh áo năm nào tôi vẫn giữ như một kỷ vật, mang theo ngay khi vượt biên. Và hiện giờ nó vẫn còn nằm trong ví. Chúng tôi bỗng trở nên yên lặng. Mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng, thỉnh thoảng bốn mắt chạm nhau, cố tìm hiểu đối phương đang nghĩ gì.

Nhạc lại trổi điệu Boston nhẹ nhàng. Bản Chuyện Tình Buồn được nhiều cặp hưởng ứng. Minh Châu nhìn tôi, phá tan bầu không khí trầm mặc:

– Mình ra bản này, Tuấn nhé?

Tôi dụi điếu thuốc trong tay, dìu nàng ra sàn. Uyển chuyển theo tiếng nhạc, nàng dựa đầu lên vai tôi thì thầm:

– Năm năm rồi không gặp, từ khi em lấy chồng… Năm năm rồi trở lại, thương góa phụ bên song… Chỉ 5 năm xa cách bao chuyện đổi thay, huống chi hơn 10 năm. Mình không như xưa nữa, phải không?

Khẽ liếc xuống đôi cánh tay trần đang quàng qua cổ. Những sợi lông măng phơn phớt dưới ánh đèn mờ ảo như đang mời gọi. Cả một bầu trời đang mở rộng dưới mắt, bầu trời mà mới ngày nào chỉ một mảnh nhỏ qua khung cửa hẹp đã gieo vào tâm trí tôi biết bao xáo trộn. Tiếng nhạc vẫn dìu dặt, đưa đẩy mùi hương, mùi tóc của người thiếu phụ trong tay… Tự nhiên, tôi siết chặt vòng ôm.

oOo

Châm điếu thuốc cuối cùng, chiếc gạt tàn đầy ắp, cũng như tâm tư tôi đang chất chứa bao nhiêu khúc mắc.

Ðưa Minh Châu về tận cửa, cái bắt tay từ giã bỗng trở thành nụ hôn nồng cháy. Bao nỗi cuồng nhiệt và đòi hỏi của nàng biểu hiện qua mười ngón tay bấu chặt lên vai. Tôi tưởng mình sẽ đẩy cửa, dìu Minh Châu vào nhà và, nhưng…một động lực nào đã ngăn lại. Nàng tỏ vẻ ngạc nhiên và thất vọng khi tôi quay đi, chỉ nhắn thêm:

– Chiều mai Tuấn lại ăn cơm nghe, khoảng 7 giờ.

Chuyện gì sẽ xảy ra chiều mai khi tôi đến, sau bữa cơm, trong một apartment ấm cúng chỉ có hai người? Minh Châu là người đàn bà có đủ khả năng và bản lãnh làm những gì nàng muốn. Tám năm chung sống với người chồng khác màu da, nòi giống mà kết quả là sự đổ vỡ. San Jose là nơi nàng chọn để làm lại cuộc đời, với một đồng hương, dù nơi đây nàng hoàn toàn cô đơn không ai thân thuộc. Gặp lại tôi như người đắm tàu lênh đênh trên đại dương, dạt vào một hoang đảo để còn bám víu, hy vọng.

Bỗng nhớ tới Trang. Từ khi chia tay, tôi vẫn nửa đêm tỉnh giấc, cô đơn trong căn phòng vắng lạnh mới hôm nào còn là tổ ấm tuyệt vời của hai đứa. Giờ này em đang làm gì? Trong tay ai, hay vẫn lẻ bóng? Có nhớ những ngày vui? Tôi chợt cảm thấy thèm muốn hơi ấm của một người đàn bà, người yêu, người vợ… Minh Châu chăng? Nàng là người hiểu tôi nhất trên đời này. Ý của nàng tôi đã hiểu, nhưng còn đứa bé? Mái tóc vàng và đôi mắt xanh lơ sẽ luôn làm tôi liên tưởng đến cha nó, người đã một thời…

Bao nhiêu câu hỏi nhảy múa trong đầu đưa tôi vào giấc ngủ. Trong cơn mơ, tôi thấy Trang trở về bên cạnh, tôi lại thấy mình tới nhà Minh Châu. Gặp con bé Lisa, nó kêu tôi “Daddy, daddy!”.

NNB

Trần Vũ đánh máy lại từ nguyên bản đăng trên nguyệt san Làng Văn số 44 tháng 4-1988 từ trang 60 đến 63.

Nam Phương – Nữ Hoàng Cuối Cùng

baotreonline.com

Cảo luận của Francois Joyaux

Trần Vũ dịch

May 27th, 2022

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Cuối năm 2019 Nhà Perrin ấn hành cảo luận Nam Phuong, La denière impératrice du Vietnam của Giáo sư François Joyaux, là nghiên cứu sau cùng của giới sử gia Pháp về Hoàng hậu Nam Phương.

Trước tiên có sự khác biệt trong tước hiệu: Nhà Nguyễn và các sách tiếng Việt đều viết Hoàng hậu nhưng phía Pháp luôn viết Impératrice là Nữ hoàng. Do trong mắt Tây phương, Ðại Nam là một đế quốc mà Ai Lao và Cao Miên đã thần phục. Trong hồi ký L’Indochine francaise: Souvenirs xuất bản vào năm 1905, toàn quyền Paul Doumer từng viết: “Nếu chúng ta không đến kịp để ngăn chặn, phần số của Thái Lan đã kết thúc trong tay Ðại Nam.” Pháp cũng luôn xem Nam kỳ là thuộc địa của nhà Nguyễn. Quốc sử quán triều Nguyễn ngược lại, phải tuân thủ quốc sách xin cầu phong và nhận tỉ ấn của Thanh triều (chỉ xem Ðại Nam là vương quốc An Nam), nên không thể có danh xưng hoàng đế và nữ hoàng. Phải đến 1945, trong tuyên ngôn độc lập đầu tiên, Bảo Ðại mới đặt tên nước là Ðế Quốc Việt Nam. Là lý do vì sao có sự khác biệt trong tên gọi Nam Phương.

Vào đầu tập sách là lá thư của hoàng thân Nguyễn-Phúc Bửu Sao gửi Joyaux, kế đến là thay lời tựa của chính tác giả. Qua đó, độc giả hình dung ra phần nào nội dung, là một thiên phóng sự điều tra về cuộc đời của Nam Phương. François Joyaux sinh 1938 từng dạy về văn minh Á châu và Lịch sử Ðông Dương ở Trường Ngôn ngữ Phương Ðông, đã truy lục gia phả của Nam Phương, ở cả hai phía nội ngoại và cung cấp nhiều chi tiết về thời thiếu nữ của Mariette Nguyễn-Hữu Thị Lan. Người đọc khám phá Nam Phương từng sinh sống trong một biệt thự trên đường Lucien Mossard Taberd là đường Nguyễn Du bây giờ, đối diện không xa Trường Quốc gia Âm Nhạc thời VNCH và mỗi sáng Chúa Nhật bà băng qua đường Lê Văn Duyệt để đến nhà thờ Huyện Sỹ đọc kinh, cũng là nhà thờ do chính ông ngoại của bà là Lê Nhứt Sỹ xây cất. Sau đó Joyaux tái hiện cuộc sống của Nam Phương ở Paris cho đến khi về nước và thành thân. Rồi biến động với rối ren nguy hiểm trước khi chấm dứt bằng một nghi án: Là mối tình của hoàng hậu với viên quản gia người Pháp mà bà cho phép có phòng riêng trên cùng tầng lầu với bà; cho phép vợ của viên quản gia hãy còn hôn thú sinh sống ngay trong điền trang và không giấu giếm mỗi khi Bảo Ðại đến thăm. Hoàng hậu cho phép ngay cả những lời suồng sã của viên quản gia trước mặt mình và chu cấp hậu hĩ…

Tuy nhiên, vì thiếu tài liệu, nên phần riêng tư của Nam Phương xây cất thuần trên lời chứng của những nhân chứng từng tiếp xúc với bà. Nam Phương mất tháng 9 năm 1963 khi chưa tròn 49 tuổi. Khi sách xuất bản, 56 năm đã trôi qua. Dân Việt có quyền đặt câu hỏi: các lời chứng có thật đáng tin và thời gian có tàn phá ký ức của con người?

Sau hết, đây là một cảo luận viết bằng nhãn quan Pháp của một sử gia yêu mến một Ðông Dương thuộc Pháp. Hai chữ thuộc Pháp ấy, làm nền cho mọi phân tách của François Joyaux.

Riêng với lá thư của hoàng thân Nguyễn-Phúc Bửu Sao, có một chi tiết mà nhiều sử sách đã nhắc đến, là Nam Phương không ngần ngại tháo tư trang đóng góp cho “Tuần Lễ Vàng” của Việt Minh cho mục đích mua vũ khí chống Pháp. Chi tiết ấy, nói lên lòng ái quốc của bà. Tây học nhưng vẫn ái quốc. Nhưng số vàng ấy đi đâu?

Trong Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952, chương Việt Minh và Trung Hoa, trang 193, sử gia Philippe Devillers ghi:

“Các cánh quân tiền phương Trung Hoa vào Hà Nội ngày 9 tháng 9. Lư Hán và bộ tham mưu đáp máy bay ngày 18 và đặt tổng hành dinh trong Phủ Toàn quyền, phái bộ của Ủy viên Cộng hòa Pháp Sainteny buộc phải rời đi. Hồ Chí Minh cố gắng mua chuộc trước khi họ đến. Một bàn đèn thuốc phiện tuyệt đẹp bằng vàng nguyên khối (thành quả của “Tuần lễ Vàng”) được đúc tặng cho Lư Hán…”

Nguyên văn: “Les premières troupes chinoises sont entrées à Hanoi le 9 septembre. Lu Han et son État-Major y arrivent en avion le 18 et s’installent au Gouvernement Général que Sainteny et son équipe ont du évacuer. Hô Chi Minh s’est efforcé de les amadouer avant qu’ils n’arrivent. Un magnifique service de fumeur en or massif (un produit de la “Semaine”) a été offert à Lu Han…” [Philippe Devillers, Histoire du Viêt-Nam de 1940 à 1952, Chapitre Le Viêt-Minh et les Chinois, page 193, Éditions du Seuil, 1952]

Sách của Devillers, Nxb Seuil in ngay trong năm 1952, cho đến nay vẫn còn là quyển sử chi tiết nhất về giai đoạn trước, trong và ngay sau Hiệp ước Sơ bộ 1946. Nam Phương, như thế, đã biết vòng vàng của bà vào tay ai, nhưng hoàng hậu không còn thiết gì nữa.

Thư của Hoàng thân Nguyễn-Phúc Bửu Sao gửi Francois Joyaux

Cảo luận về Hoàng hậu Nam Phương của giáo sư cho tôi nhiều thích thú, pha lẫn với hoài niệm và thậm chí, tôi thừa nhận, làm buốt nhói trong lòng. Những điều ấy gợi lại biết bao tuổi niên thiếu của tôi ở Huế, cạnh Tử Cấm Thành.

Cha tôi, Hoàng thúc Nguyễn-Phúc Ưng Trảo, làm quan đặc trách công vụ bên Tòa Khâm [1], biết rõ việc triều chính dưới trào Bảo Ðại. Cá nhân tôi, vẫn nhớ Hoàng thái tử Bảo Long thân lâm đến trường La Providence [2] thăm các học sinh chúng tôi trong niên khóa 1944-1945.

Trong nhà, câu chuyện hay xoay quanh những biến cố lớn nhỏ của triều đình. Tính cách của hoàng hậu là chủ đề của nhiều bình phẩm mà thông thường nhất là những lời khen. Là một gia đình theo đạo, nên song thân tôi giữ mối giao hảo bền chặt với hàng giáo phẩm trong cung và bên ngoài kinh đô, cho dù là người Pháp hay người Việt. Do đó, tôi đã lớn lên trong suốt tuổi hoa niên giữa một bối cảnh mà hoàng hậu giữ vị trí quan yếu.

La denière impératrice du Vietnam dày 368 trang. Giá 26$. Bạn đọc có thể mua qua Tủ Sách Trẻ.

Rồi xảy ra những thảm kịch mà iáo sư đã tái dựng: Cuộc xâm chiếm Ðông Dương của Nhật Bản,

nổi dậy của Việt Minh, quân Pháp quay lại và bắt đầu một cuộc chiến chết chóc sẽ tàn phá sâu thẳm. Trong nhà, chúng tôi thảo luận rất lâu về quyết định thoái vị của hoàng thượng và thêm nữa, về tình cảnh khó khăn của hoàng hậu.

Khi ấy tôi lên 15. Tôi còn nhớ cung cách quý phái của Nam Phương khi bà cởi bỏ kiềng vàng và châu báu đặt lên chiếc khay nhỏ mà người ta đem đến cho bà, trong cung điện, cho “Tuần Lễ Vàng” của Việt Minh. Vài tuần lễ sau khi nhà vua thoái vị, bà đã đi một mình, không ai hộ vệ, đến dự lễ ở Tòa Giám Mục Huế [3]. Nam Phương đã đối mặt với tất cả những sự kiện bi thảm này, không riêng cho bản thân mà còn liên quan đến chính sinh mệnh của chồng và các con bà. Tôi vẫn còn trông thấy ánh mắt nhìn thẳng của hoàng hậu, rất ngay thực, trong một phẩm cách đàng hoàng và tự trọng, khi bà đối diện với nghịch cảnh.

Giáo sư đã phơi ra ánh sáng, tình huống hung hiểm mà Nam Phương phải đối phó. Là một linh hồn muốn được trong sạch trước mọi cái ác, từng ước mơ hiến thân cho Thiên Chúa, vậy mà đến cuối trào nhà Nguyễn-Phúc, bà phải diễn một vở kịch trên sân khấu lịch sử. Hoàng hậu mất đi quả cảm rồi rơi dần vào sự tầm thường. Thật buồn bã.

Giáo sư đã tái tạo quá khứ, làm bật lên những thăng trầm trong cuộc đời Nam Phương; rút ra triết lý từ những khúc quành của câu chuyện đau thương. Cuốn sách này là tài liệu cần tham chiếu. Ở vị trí của một người Việt Công giáo, tôi có lời ngợi khen và tri ân.

Hoàng thân Nguyễn-Phúc Bửu Sao

(Sư huynh André)

Thay Lời Tựa của Francois Joyaux

Một ngày 13 tháng 7. Trời hanh nắng và tâm trạng chúng tôi có chút phiêu bồng. Sau vài ngày ở miệt Tây-Nam, chúng tôi ngược lên hướng Bắc trên xa lộ A-20. Ðến khúc Brive-la-Gaillarde, ý tưởng vụt nẩy lên trong đầu tôi là sao không đi thăm mộ Nam Phương, nữ hoàng An Nam sau cùng. Tôi chưa biết gì về bà, ngoài bà từng là phối ngẫu chánh thức của Hoàng đế Bảo Ðại. Và, kỳ quặc, là bà chôn trong rặng núi Massif Central ở giữa miền Nam Pháp, trong ngôi làng bé nhỏ tên Chabrignac. Sao trong một chốn biệt lập như thế? Tôi không biết tại sao, nhưng thực tế này gây băn khoăn vì chừng như, phía sau, nhiều âm u. Là dịp thuận tiện để tảo mộ và cơ may khám phá thêm về lý lẽ của một tự nguyện phát vãng. Bảo Ðại thoái vị vào năm 1945 rồi kết thúc cuộc đời ở vùng biển xa hoa Côte d’Azur, trước khi tắt ngấm ở Paris: là kết cuộc thường thấy của số đông những vì vua mất ngai vàng. Nhưng rặng Massif Central? Làng quê Chabrignac? Ðầy hiếu kỳ.

Từ Brive-la-Gaillarde chúng tôi theo tỉnh lộ 901 lên thị trấn Objat, rồi trực chỉ Chabrignac. 45 phút sau chúng tôi đã đứng trước bia mộ của nữ hoàng. Một âm phần tuyệt giản dị, khiêm tốn đến khó tin. Vài đọt hoa úa lây lất với hai ba lữ khách Việt đến viếng, gương mặt nặng trĩu u hoài của một quá khứ mà nữ hoàng từng gánh nặng. Một tấm ảnh đã ố, làm tăng thêm buồn bã. Không một biểu tượng hoàng gia ngoài dòng chữ Hán: “Tombe impériale de Nam Phuong du Dai Nam”, “Lăng mộ Ðế quốc của Nam Phương Ðại Nam”.

Ra khỏi nghĩa trang, chúng tôi hỏi một bà sinh sống sát cạnh đã theo dõi chúng tôi từ bậc thềm cửa.

“Chúng tôi đến xem huyệt mộ của nữ hoàng. Bà có biết nữ hoàng từng cư ngụ ở đâu?”

“Gần đây thôi.” Bà trả lời. “Ở La Perche, đi theo đường này một cây số sẽ thấy một tư dinh đóng kín.”

Tư dinh khá lớn nhưng không vĩ đại, là một ngôi nhà xây đá tiện nghi, cất theo kiến trúc của vùng Corrèze với một khuôn viên khiêm tốn. Tôi dạo quanh và đến gần để chụp hình. Có ba người đàn ông đang đứng trò chuyện. Hơi ngại, tôi hỏi là tôi có thể chụp ảnh hay không? Một kẻ trả lời, không do dự. “Ông có thể mua trọn ngôi nhà!”

Tư dinh của Nam Phương rao bán!

Hôm sau, 14 tháng 7, vào lúc 9 giờ sáng, chúng tôi đi xem nhà. Bên trong hoàn hảo nhưng không còn là nội thất của Nam Phương vì đã được thay đổi và bài trí lại. Ngôi thất rộng lớn với vô số phòng. Sức mê hoặc ngay từ cái nhìn đầu tiên làm cơn điên rồ hôm trước sống lại! Chúng tôi thật sự muốn mua gì? Một điền trang hay ngôi nhà của Nam Phương? Không thể chối cãi, đúng là chúng tôi đang muốn mua lại tư dinh của nữ hoàng mà không phải mảnh đất nào khác. Chúng tôi nghĩ ngay đến làm một viện bảo tàng chứa các phẩm vật của xứ An Nam để tôn vinh và tưởng nhớ nữ hoàng; rồi làm một trang web quảng bá và tổ chức viếng thăm chốn ngụ cư cuối cùng của bà. Về hưu đã nhiều năm, vậy mà hôm đó, vợ chồng tôi tung hứng giấc mơ bồng bột như thuở còn đôi mươi. Vợ tôi sinh trưởng ở Sàigòn, giống Nam Phương, còn tôi đã dạy lịch sử Ðông Dương ở Trường Ngôn ngữ Ðông Phương [4] suốt ba thập niên, chúng tôi không thể không mua điền trang này.

Giấc mơ sớm va chạm thực tế. Tư dinh không bao gộp duy nhất dẫy nhà đá mà còn thêm 150 mẫu đất. Trong ba người đàn ông hôm trước đứng trò chuyện, ngoại trừ nhân viên địa ốc, hai người kia là nông phu muốn mua thửa ruộng vây quanh. Họ phải mua xong điền viên rồi thì chúng tôi mới có thể mua điền dinh. Nhưng cuối cùng cả hai, cùng là cha con, không đủ khả năng vay nợ. Ban đầu, chúng tôi thất vọng cùng cực nhưng rồi ít lâu sau, hưng phấn tan dần. Chúng tôi khám phá ra thêm là nữ hoàng vẫn ngụ cư bán phần ở Neuilly, bên rìa ngoại ô Paris, và bà chỉ về Chabrignac nghỉ mát, không thực sự là nhà của bà.

Bí ẩn vẫn nguyên vẹn.

Vì sao đức Chánh cung của Bảo Ðại đã mua “lãnh địa” La Perche? Sử gia Viễn-Ðông Ðương-Ðại là tôi, trong nhiều thập kỷ, khó làm ngơ. Tôi cần thấu đáo bí mật. Phải có tài liệu lưu trữ và có thể hỏi thăm thêm ở thân bằng quyến thuộc chung quanh nữ hoàng.

Tôi bắt đầu viết cảo luận này ngay sau chuyến nghỉ ngơi ở Chabrignac. Lúc đầu, nguồn tài liệu rất ít. Thư khố Pháp quốc Hải ngoại tuy ngập tràn văn thư về Ðông Dương nhưng không có một hồ sơ nào về Nam Phương. Ở Bộ Ngoại giao cũng vậy. Một phụ nữ Việt biết tiếng Pháp, làm việc cho chế độ Hà Nội, đã xuất bản một biên khảo ngắn về Nam Phương, nhưng tôi nhận ra ngay là văn bản ít trọng lượng này rất xa sự thật; được chính tác giả đánh giá công trình của mình là “tiểu thuyết”. May mắn thay, tôi liên lạc được với các thành viên trong gia đình nữ hoàng, từ con cháu đến dân làng Chabrignac từng biết nữ hoàng, và đặc biệt một người, mà độc giả sẽ khám phá trong sách, đã cho tôi chìa khóa mở vào nghi án của thời kỳ lưu trú của Nam Phương trong tỉnh Limousin.

Cách đây vài thập niên sử gia Pierre Nora từng giải thích, là phương cách viết sử nhìn từ góc độ cá nhân, “sự lợi kỷ lịch sử” (égo-histoire) – thuật ngữ này của ông – nhằm “diễn giải, ở cương vị sử gia, mối tương quan giữa lịch sử mà thiên hạ làm nên với lịch sử tạo ra chúng ta.” Tôi quá cổ điển để còn ước muốn và có thể viết theo phương thức ấy. Ngược lại, tôi sẵn sàng thừa nhận là quyển sách này được viết ra trong một bối cảnh cá nhân chuyên biệt, chắc chắn có ảnh hưởng lên nhãn quan của tôi. Ở mức độ chung, điểm thu hút liên tục chính là xứ Ðông Dương thuộc Pháp, một thiên anh hùng ca phi thường với những sai sót to lớn bên cạnh những hoan hỷ tuyệt diệu và cả vinh quang lẫn thấp hèn. Xuống mức độ cụ thể hơn, tôi muốn làm sáng tỏ một bí ẩn. Làm cách nào, vì sao, một người đàn bà xinh đẹp đến như vậy – từng khiến tôi si mê – đã trở thành bậc mẫu nghi của xứ An Nam để rồi cuối cùng trôi giạt đến làng quê Chabrignac? Hơn một cảo luận về tiểu sử, tôi lao vào điều tra “hình sự” lai lịch của Nam Phương. Các sử gia, trên nguyên tắc dựa vào thư khố và ở mặt nào đó, chính sự lạnh lùng của các hồ sơ lưu trữ đã làm cho các ấn phẩm lịch sử trở nên lạnh lẽo. Cảo luận của tôi không giống vậy. Chúng tôi không có tài liệu, chỉ có lời chứng thực  từ những người thân của nữ hoàng, những lời chứng sống được khơi dậy, mổ xẻ và kiểm tra. Những truy tìm ấy, tôi nhắc lại, trong bối cảnh của một Ðông Dương trước đây mà tôi yêu mến.

Nam Phương mang định mệnh hãn hữu. Nhan sắc, giàu có, kết hôn với hoàng đế, tất cả hân hoan đến với bà; nhưng rồi biết bao thất vọng, cạm bẫy, bi kịch: sự thù nghịch của triều đình Huế, các tình nhân của hoàng thượng, cách mạng Việt Minh, sự sụp đổ của Ðế chế Ðại Nam, lưu đày sang Pháp. Là một phụ nữ mạnh mẽ, bà đã tìm trong niềm tin Thiên Chúa nguồn lực cần thiết để vượt qua, cho đến ngày, hãy còn xuân sắc, bà buông xuôi.

Cuộc đời Nam Phương phản chiếu lịch sử Ðông Dương thuộc Pháp. Hòn ngọc viễn đông, một thuộc địa phú túc, màu mỡ, tràn đầy tương lai, như người ta đã nghĩ vào những năm 1920-1925. Nhưng sau đó là những biến động trầm trọng: phiến loạn của các phong trào ái quốc, xuất hiện đảng Cộng sản, chiếm đóng của Nhật, cướp chánh quyền của Việt Minh, bao nhiêu nỗi đau giằng xé mà Nam Phương phải đối mặt. Cuối cùng là Ðiện Biên Phủ, chán nản mệt mỏi của dân chúng Pháp và rồi là bại trận.

Nam Phương, là Ðông Dương thuộc Pháp nhìn qua cuộc đời của một nữ hoàng. Một nữ hoàng và một người đàn bà, mà có lẽ, phần đàn bà nhiều hơn phần nữ hoàng. Một định mệnh, một sử thi.

Francois Joyaux

Trần Vũ dịch từ nguyên bản Pháp văn Lettre-Préface in trong tập Nam Phuong, La dernière impératrice du Vietnam, Biographie, Francois Joyaux, Nxb Perrin, 2019.

[1] Résidence supérieure en Annam

[2] Trường La Providence sau này là  trường Thiên Hựu ngoài Huế

[3] L’Évêché de Huế

[4] École des langues orientales

Dặm trường

vanviet.info/van

Văn 8 Tháng Tư, 2019

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Kỳ 11

Chương 31

Thương lấy mấy tờ giấy từ tay Cảnh, giao lại cho Hạnh:

      –     Ðây là mấy cái phiếu giữ hành lý. Bà xem lại đi. Tất cả là ba giỏ gà và mười hai kiện xoài. Cước thuế đầy đủ. Nhớ xuống ga Bình Triệu xuất giấy tờ mà nhận. Coi chừng mất giấy là phiền đa!

      Hạnh nhìn về toa cuối đoàn tàu, băn khoăn:

      –     Nhận ở tại toa đó luôn hay sao?

      –     Không. Nhận ở phòng hành lý ga. Người ta sẽ chuyển hết vào đó.

      Hạnh yên tâm bước lên tàu. Chợt nghe giọng Thương nói lớn ở phía sau:

      –     Coi kìa, sao anh cứ đứng nhìn vậy. Xách đồ lên giùm cho Hạnh đi.

      Nàng định quay lui để nói “Thôi, mình tự lo được rồi”, thì bỗng thấy hai cái xách bị dằn ra khỏi tay, đồng thời với giọng của Cảnh vang lên sát bên tai:

      –     Chị  để tôi xách lên cho. Nặng chứ có phải chơi đâu! 

      Vừa nói Cảnh vừa nhanh nhẹn lướt qua khỏi Hạnh, xách hai cái xách bước vào trong, đứng chờ. Hạnh theo sau. Anh nói:

      –     Ðáng tiếc là chiều nay, Thương lại rảnh.

      Hạnh hờ hững:

      –     Cũng tốt thôi!

      Ðợi, nhưng thấy nàng chẳng nói gì thêm, anh mang đồ đạc đi cất, xong trở lại bên cạnh nàng, hạ giọng:

      –     Biết khi nào gặp lại Hạnh nhỉ!

      Giọng Cảnh nghe có chút bùi ngùi.  Nàng ngước nhìn:

      –     Anh muốn gặp lại em à?

      –     Sao lại không?

      –     Thôi. Ðừng gặp nữa.

      Cảnh tần ngần chẳng muốn đi, cố đứng sát thêm vào người nàng.  Nàng tránh ra:

      –     Thương đang đợi anh ở ngoài.

      Cảnh ngập ngừng:

      –     Hay là…hay là…Hạnh cho địa chỉ ở Sài Gòn để… để anh vào chơi.

      Hạnh nói:

      –     Em không có địa chỉ nhất định nào cả. Em đi đi, ở ở lung tung. Mà em mô có ở lâu trong đó, chỉ vào một hai bữa rồi lại đi.

      –     Thì kệ, cứ cho anh đi, biết đâu.

      –     Thôi, chẳng ích gì!

      Tàu hú còi. Cảnh chép miệng:

      –     Tiếc nhỉ!

      Chuyến tàu chợ số 183 Nha Trang – Sài Gòn chuyển bánh.  Hạnh hấp tấp hỏi:

      –     Chết cha! Ðồ của em anh cất ở đâu?  Ham nói chuyện em quên mất. À, đàng góc đó há, em thấy rồi. Cám ơn anh. Thôi, anh về đi, cho em gửi lời thăm Thương. Mong có ngày gặp lại.

      Cảnh không nói gì, nhìn sững Hạnh, rồi buồn bã quay đi.

      Tàu chạy vòng quanh khuôn viên ga khá lâu trước khi ra ngoài. Nàng thò đầu khỏi khuôn cửa, cố tìm xem hai vợ chồng Thương để chào từ biệt. Mãi khi tàu vừa vượt qua con đường nằm sát ga, Hạnh mới nhận ra hai vợ chồng Thương ngồi trên chiếc Honda trong đoàn người và xe cộ đang dồn đống lại hai bên đường tàu. Nàng nhoài người ra hẳn bên ngoài, vẫy tay. Cảnh nhận ra nàng ngay. Anh giang cả hai tay, chồm người tới phía trước, vẫy chào nồng nhiệt. Sau đó, Thương cũng đưa tay vẫy. Nàng nhìn mãi, cho đến khi tất cả khuất hẳn sau khu nhà cửa và các lùm cây. Chào Nha Trang. Chào Thương. Chào Cảnh. Nàng khe khẽ thở dài, tự hỏi không biết nếu còn ở lại Nha Trang thì tình trạng giữa nàng, Cảnh và Thương rồi sẽ như thế nào.

      Trái với ý nghĩ của Hạnh lúc đầu, tàu chợ Nha Trang-Sài Gòn không đến nỗi tệ. Mới thoạt nhìn, mọi thứ chẳng khác gì tàu Thống Nhất. Ghế ngồi, kệ để hàng hóa nói chung là tốt. Chỉ có sàn tàu không được sạch sẽ cho lắm. Nhiều vết bẩn.  Ghế nhiều chỗ tróc sơn. Mới bước vào, nàng nghe thoang thoảng một mùi hôi khó chịu, nhưng khi tàu chạy rồi, gió lồng vào thổi bay đi mất. Tàu vắng khách. Ghế trống tùm lum. Một mình nàng ngồi một dãy ghế. Hàng hóa chẳng có gì. Dưới gầm trên giá lưa thưa. Thương cho biết, tàu sẽ đông “dễ sợ” khi dừng lại tại nhiều ga xép dọc đường. “Dễ sợ” đến đâu nàng không hình dung được, nhưng trông thế này thì cũng không đến nỗi nào. Nàng cảm thấy yên tâm.

      Tàu chạy ào ào được một lúc thì giảm tốc độ, chạy chậm, rồi ngừng. Khách lục tục lên. Một thời gian ngắn sau, tàu chạy.  Lần này nó chạy chậm rãi, nhàn tản. Ðến một ga khác, lại dừng. Cứ thế, tàu chạy chạy, dừng dừng. Mỗi một lần tàu dừng, người và hàng tuôn lên. Và nàng lại đứng lên ngồi xuống, ngong ngóng. Ði tàu Thống Nhất quen, lần này đi tàu chợ, thật sốt ruột

      Qua khỏi ga Mường Mán, trời bắt đầu tối. Toa tàu chỉ có một ngọn đèn mờ nằm tận cuối toa, ánh sáng nhờ nhờ. Lối đi gần như bị lấp bởi hàng hóa, nhưng người ta dẫm chân lên đi lui đi tới không ngớt. Hành khách chuyển hàng. Ðám hàng rong giành khách. Kiểm soát viên hỏi vé. Công an hỏi giấy cước, thuế. Nhiều người khác, không biết thuộc loại nhân viên gì, rờ rẫm lục lọi từng xách hàng, hạch hỏi lung tung. Tiếng la, tiếng gầm gừ, tiếng cãi vả, chưởi bới, càm ràm không ngớt vang lên.  Người thì than bị đạp lên thân mình, kẻ thì rên hàng mình bị dẫm hư, người thì năn nỉ ỉ ôi chuyện thu vé, thu cước. Thỉnh thoảng lại nghe tiếng gà đập cánh, kêu quang quác hoặc tiếng heo kêu lục cục trong mấy cái lồng sắt để dưới gầm. Toa tàu bây giờ trông chẳng khác gì một cái củi di động. Người, vật và đồ vật như một đống hổ lốn chen chúc, chồng chất lên nhau. Thật đúng là tàu chợ! Bây giờ nàng mới hiểu được hết cái “dễ sợ” mà Thương nói. Tất cả đều hỗn độn. Người và vật như nhau, thậm chí người cứ thu lại, bé lại để nhường chỗ cho vật. Nàng đói bụng, thèm thuồng nhìn những soong cá, soong thịt kho của mấy người bán cơm mời mọc, nhưng chỗ chèn chật chội, đành nhịn thèm, chỉ mua một khúc bánh mì gặm tạm. 

       Lại sắp vào một ga nữa. Từ đàng xa, trong bóng đêm, nàng thấy nhiều bó đuốc cháy rực. Người nối người đứng lố nhố bên đường tàu. Gì vậy? Nàng thò đầu ra nhìn cho biết.  Bỗng có tiếng ai đó nói lớn như ra lệnh:

      –     Ðóng cửa lại!

      Nhiều người ngồi gần cửa nghe lời, nhanh chóng kéo cửa toa xuống. Nàng bắt chước làm theo. Bên ngoài, có nhiều tiếng la giận giữ vọng vào, hòa cùng tiếng đập cửa rầm rầm:

      –     Mở cửa ra, mở cửa ra mau!

      Mọi người làm lơ. Tiếng đập, tiếng đạp mỗi lúc một lớn.  Tiếng la càng lúc càng giận giữ hơn, và chuyển qua những tiếng chưởi thề thô bạo. Các cửa vẫn đóng. Hạnh hồi hộp ép mình sát vào ghế, không dám nhìn đi đâu hết. Ðột nhiên, từ hai đầu toa, có tiếng nhốn nháo. Mấy bóng người từ đâu bên ngoài tuôn vào, giọng gầm gừ:

      –     Ðù mẹ, mấy người điếc cả phải không. Ðù mẹ, xích ra.  Thằng nào, con nào thích vào nhà thương thì cứ nói. Ðù mẹ, xích ra…

      Họ dẫm chân đại lên hàng và người, nhảy đến mấy cửa sổ, giật chốt, kéo lên. Cửa vừa mở là từ bên ngoài, những bóng người khác đợi sẵn đâu đó, lập tức lao lên toa. Tiếp theo là những bao, những xách ào ạt tuôn vào. Một thanh niên nhảy qua chỗ Hạnh, đẩy nàng dạt sang một bên, kéo cửa lên rồi xoay người lại, vung tay, muốn đánh xuống. Hạnh kinh hoảng, nép người sau một bao hàng. Có lẽ nhận ra đó là một người đàn bà, nên thanh niên hạ tay xuống, gằn giọng:

      –     Mày…à…cô coi chừng!

      Toa tàu bây giờ như đang trải qua một cơn bão dữ dằn. Từ các cửa, hàng ào ạt chuyền vào. Người dưới tung, người trên nhận. Nhận hàng xong, tiện đâu họ ném xuống đó ngay lập tức  y như ném vào chỗ không người. Họ la, hét, vung tay, múa chân, tung hoành ngang dọc. Bụi bay mù mịt. Mọi người nín khe. Hạnh ngồi lọt thỏm giữa một đống hàng hóa đủ loại. Nỗi sợ hãi khiến cho nàng mất hết cảm giác.

      Ðến ga kế, mọi sự tái diễn. Rồi tái diễn. Càng lúc càng tệ hại hơn. Người và hàng hóa dồn vào, tưởng chừng như sức chứa của nó là vô hạn.

      Ðến một lúc, không còn ghế ngồi. Không còn sàn tàu.  Không còn cửa sổ. Hàng hóa chất lên cao, có nơi đụng tới trần, có nơi lấp hẳn khuôn cửa sổ. Chỗ nàng, may mắn thay, có nhiều bao bắp và đậu. Vì thế, nàng có được một chỗ để đặt lưng. Lúc đầu, nàng cảm thấy lộm cộm, khó chịu. Lần hồi, nàng cũng cảm thấy êm êm. Và thiếp ngủ. Bỗng có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Cửa vụt mở. Cảnh! Trời ơi, Cảnh. Sao Cảnh vào được đây? Nàng đang còn sững sờ thì Cảnh đã đến gần nàng.  Nàng nhìn ra ngoài vườn. Trời còn sáng trưng. Nàng hỏi: “Thương đâu?”. Cảnh lắc đầu. Anh tiến lại, kéo ghế ngồi xuống, đưa tay vuốt tóc, vuốt má nàng. Nàng ngẩn ngơ, không phản ứng, chỉ nhìn quanh xem thử Thương có ở đó không. Anh vuốt xuống lưng và luồn tay vào sâu trong ngực nàng.  Nàng vùng vẫy, kêu lên ú ớ, tỉnh dậy.

      Tàu  chạy. Lại ngủ. Vẫn là Cảnh. Cảnh chở nàng đi ăn, đi biển. Rồi anh ôm hôn nàng ngay trên bờ biển. Cảnh lại luồn tay vào ngực, rờ rịt. Bỗng có tiếng ai la lớn ở giữa toa: “Thằng ranh con! Mày mò bà đấy hả? Này, mò này, mò này!”. Hạnh giật mình, ngóc đầu dậy, ngơ ngác nhìn. Một người đàn bà đang túm áo một người đàn ông trung niên đấm thùm thụp.  Người đàn ông vung mạnh tay, gạt người đàn bà ra, nhảy vội qua đống hàng hóa rồi biến mất ở cuối toa. Người đàn bà lầm bầm gì đó một mình. Lát sau, chị ta nằm xuống trở lại, im lặng.

      Hạnh tỉnh ngủ hẳn, sửng sốt khi thấy bên cạnh là một người đàn ông lạ. Hắn mặt cái áo ca rô màu đỏ, trở mình nằm nghiêng, hai tay ôm đầu, y như đang ngủ. Nhất định là hắn giả đò, vì vừa rồi, nàng liếc thấy đôi mắt hắn động đậy. Nhìn lại mình, nàng chợt phát hiện ra mấy hạt nút áo phía dưới bị bung ra. Nàng gài nút áo, bặm môi nhìn hắn, lòng bừng bừng giận dỗi. Cái thằng mất dạy! Nàng xoay thân hình, muốn dùng chân tống cho hắn ta một đạp, nhưng không cách gì nhấc chân ra được khỏi cái giỏ hàng nằm gần đó. Nàng đưa tay đẩy mạnh vào lưng hắn. Phải cố gắng lắm, nàng mới tách khỏi hắn, dịch đến gần cửa.

      Người đàn ông nhỏm dậy, đưa tay dụi mắt. Hạnh nhìn ra ngoài cửa sổ, kéo vạt áo xuống, bẽn lẽn. Hắn nói khẽ:

      –     Chị…chị không ngủ được à?

      Nàng quay lui, ném vào hắn một tia nhìn dữ dội, giọng khô khốc:

      –     Này, chú đừng có hỗn nha!

      Hắn tỉnh bơ, nói tiếp, nghe hiền khô:

      –     Tui có làm gì đâu mà hỗn. Chị nên ngủ tiếp đi một chút cho khỏe. Tàu sắp đến nơi rồi. Ðoạn này êm.

      Nàng nhìn thẳng vào mặt hắn. Trông hắn còn trẻ, khuôn mặt dầy dầy, không có vẻ gì nham nhở lắm. Nàng tự hỏi không biết có phải chính hắn là kẻ vừa rờ rẫm nàng khi nãy không. 

*

      Qua khỏi ga Long Khánh, tàu chạy nhanh và êm. Tiếng bánh tàu nghiến trên đường sắt nghe càng lúc càng hối hả. Những chòm cây, những hàng cao su đen ngòm chạy vun vút bên ngoài. Gió sớm lạnh tê. Tuy thế, Hạnh không muốn đóng cửa. Nàng lục xách lấy chiếc áo len mỏng choàng ngang phía trước ngực, dựa lưng vào một chiếc cần xé rau cải, hai chân ruỗi thẳng về phía hàng ghế trước. Người thanh niên bảo:

      –     Tàu đang xuống dốc, chắc là sắp đến Dĩ An rồi! Chạy nhanh thật!

      Ừ, chạy nhanh thật, nàng nhủ thầm.

      –     Chị kéo cửa xuống, kẻo lạnh. Cảm chết!

      Nàng im lặng, nhìn về phía trước. Anh ta nói trổng:

      –     Hay là đổi chỗ vào ngồi phía trong này đi.

      Vẫn im lặng.

      –     Chị!

      Một bàn tay đặt nhẹ lên vai nàng. À, cái thằng oắt con này gan thật! Nàng lắc mạnh vai, hất bàn tay hắn xuống. Anh ta nói, giọng dường như hơi chùng xuống:

      –     Xin lỗi!

      Hắn im lặng. Tàu tiếp tục lao nhanh. Gió ngoài tạt vào dữ dội. Lạnh lắm rồi! Nàng rụt  cả người vào, dùng hai tay cố kéo cửa xuống. Ðược một phần, cửa kẹt. Hắn nhanh nhẹn chồm qua người nàng, dùng hai tay, giật mạnh. Cánh cửa rơi ào xuống. Hạnh sợ hãi, ngả người qua một bên để tránh, vô tình rơi vào lòng hắn. Bỗng nghe có tiếng nhốn nháo ở toa kế. Một số nhân viên bấm đèn “pin” nhảy vội lên các bao hàng và người, cố băng thật nhanh qua toa. Nhiều tiếng kêu đau.  Nhiều tiếng la ó phản đối. Nhưng họ vẫn cứ băng băng đi. Lát sau, lại thêm một số người nữa, cũng là nhân viên tàu, hối hả chạy tràn qua toa. Mặt mày ai nấy trông có vẻ nghiêm trọng.  Bây giờ, cả toa thức hẳn dậy. Nhiều tiếng hỏi dồn dập:

      –     Cái gì vậy? Cái gì vậy?

      –     Ăn cướp hả?

      Hạnh nép hẳn vào cánh cửa vừa đóng, lo lắng. Hai người công an xuất hiện ở đầu toa, lên tiếng:

      –     Yêu cầu tất cả hành khách, ai ở đâu ngồi đó. Tuyệt đối không được di chuyển. Ðồ đạc cũng thế. Hành khách nào ngồi gần cửa, yêu cầu đóng ngay cửa lại.

      Giọng một người đàn ông lên tiếng:

      –     Có chuyện gì thế, đồng chí?

      Một người công an trả lời:

      –     Ðứt thắng!

      Nhiều tiếng hỏi đồng loạt:

      –     Cái gì?

      Một ai đó trả lời thay:

      –     Thì tàu đứt thắng chứ còn gì nữa.

      Mọi người ồ lên khiếp hãi. Tất cả mất bình tĩnh, nhốn nháo hẳn. Hai người công an, tay thì vịn vào thanh ngang trên đầu toa, tay kia rút súng, chĩa mũi lên trần:

      –     Yêu cầu tất cả ngồi yên, giữ trật tự. Các đồng chí có trách nhiệm đang kiểm tra sự cố. Có gì chúng tôi sẽ báo cáo lại cho các đồng chí và các bạn rõ. Này, bà kia, làm gì mà loay hoay ở bao hàng đó. Còn thằng nhỏ, mày ngồi yên đó, không được chạy. Này, này, anh kia, đi đâu, đi đâu. Dừng lại. Coi kìa, bộ mày không nghe lời tao sao? Dừng lại, nghe không?

      Anh ta lên đạn lách cách. Mặc! Không ai bình tĩnh nữa.  Tất cả đột nhiên náo loạn. Tàu lao càng lúc càng nhanh. Gió ào ào bên ngoài như bão. Hạnh kinh hoàng trườn người nằm đại xuống ngay trên đôi chân người thanh niên, ôm lấy anh ta, miệng lâm râm niệm Phật. Người thanh niên nắm lấy tay nàng, xiết chặt. Trong tiếng khóc, tiếng la, tiếng đọc kinh, tiếng niệm Phật và tiếng gió, nàng nghe giọng thanh niên thoang thoảng bên tai:

      –     Ðừng sợ, không có gì đâu.

      Ðột nhiên, một tiếng “ầm” dữ dội vang lên trong đêm. Và im lặng.

*

      Hạnh cựa quậy, mở mắt. Trời còn tối. Có tiếng người nói lao xao đâu đó. Nàng cố xoay đầu về một bên để nhìn, nhưng không thấy rõ gì. Mọi vật vẫn chỉ là những khối đen lờ mờ.  Nàng nhắm mắt. Có tiếng bước chân lại gần. Giọng một bé trai:

      –     Có người nằm đây, mẹ ơi.

      –     Ðâu? Ðâu? Còn sống không?

      –     Ai mà biết. Có cái bao gì nằm một bên. À, thêm một người nữa.

      –     Nằm gần nhau à?

      –     Không, nằm gần phía đường ray.

      –     Ðược, để tao lại coi thử coi. Chết hay sống?

      –     Con không biết. Nhưng nằm im rơ bà rờ hà. Chắc chết.

Hạnh cảm thấy một cánh tay mình bị nâng lên. Người đàn bà hỏi:

      –     Xem kỹ mấy ngón tay. Có gì không?

      –     Dạ, không.

      –     Còn tay kia?

      Tiếp sau lời nói của bà mẹ, một bàn tay vuốt dọc theo tay bên kia của Hạnh, kéo ra khỏi cái bao đè. Tiếng thằng bé reo lên:

      –     Có, mẹ ơi. Có, mẹ ơi.

      –     Sụyt, nói nhỏ thử coi. Có thì có, gì mà ồn lên vậy. Có cái gì?

      –     Khâu.

      Giọng người đàn bà hớn hở hẳn lên:

      –     Thiệt không mậy? Mấy cái? Ðể tao lại coi. Lục tiếp trong người còn gì nữa không?

      Nghe bàn tay thằng nhỏ sờ soạng, Hạnh cố hết sức rụt tay lại, miệng rên khừ khừ. Thằng nhỏ hốt hoảng đứng vụt dậy, nhảy lùi lại:

      –     Mẹ ơi, còn sống.

      –     Thế à. Vậy thôi. Mau lẹ chạy đi tìm người khác. Gặp thì nhớ để tay lên lỗ mũi xem thử sống hay chết. Lẹ lên, trời sắp sáng rồi. Lẹ lên, không thì bọn họ kéo ra cả đống bây chừ.  Mày nghe tao nói không?

      Giọng thằng bé run run:

      –     Dạ, nhưng con ớn quá. Người chết tùm lum.

      –     Càng tốt thôi. Không ớn gì hết cả. Không chịu khó kiếm chác lúc ni thì khi nào mới có dịp khác. Lẹ lên.

      Hai người vội vã bỏ đi. Hạnh nghe tiếng bước chân xa dần.

      Hạnh biết chắc mình còn sống. Nhờ thằng bé đẩy cái bao sang một bên người, nên nàng có thể cử động cả hai tay và chân. Nàng uốn éo, vặn vẹo cơ thể, cảm thấy ran rát ở phía đùi. Sờ vào, thấy ươn ướt. Kéo ống quần lên, nàng nhận ra quần rách một mảng, da bị trầy. Nàng lấy chân dẫm vào cái bao nằm dưới. Bao bắp. Có phải là cái bao nàng đã từng nằm, ngồi lên trên không?  Sờ tay trong bụng, bịch tiền và vàng vẫn còn đó. Nàng nhớ đến hai mẹ con khi nãy. May mà nàng tỉnh dậy sớm, không thì chắc là bị lột sạch.

      Nàng chống tay ngồi dậy. Qua ánh sáng nhờ nhờ từ một khoảng trời phía rừng cao su đàng xa, nàng kinh hoàng khi nhận ra cả đoàn tàu nằm bất động. Có toa lật ngược hẳn, bánh chổng lên trời. Có toa nằm nghiêng một bên. Ngay trước mặt nàng, chỉ cách có vài mét, ba toa dồn lại thành một đống. Về phía phải của nàng, một toa khác gần như bẹp dúm. Nàng nhìn quanh, không nhận rõ được vật gì ra vật gì. Tất cả chỉ là những bóng lồi lõm, những mảnh trăng trắng xen lẫn những mảng đen lù lù, những khối, những hình thể lờ mờ. Nàng giật mình khi nhận ra một người nằm bẹp dưới toa tàu, ngay trước mặt nàng.  Một nửa thân hình người đó nằm ngoài đất, còn nửa kia kẹt bên trong. Cái áo ca-rô màu đỏ! Nàng dụi mắt, cố nhìn cho rõ.  Cái áo ca-rô màu đỏ. Ðúng rồi. Chính anh ta. Nàng kinh hoàng quay đi, toàn thân lạnh buốt. 

Chương 32

     Tảng sáng, Hạnh và nhiều người khác được những người tốt bụng tại địa phương dìu lên xe lam, đưa về bệnh viện Thống Nhất. Tại đây, sau khi điền một đơn khai lý lịch, nàng được chích một mũi thuốc khỏe và nằm nghỉ trên một cái giường trống của một bệnh nhân nào đó vừa xuất viện đêm rồi. Nàng cố ngủ và quên đi những hình ảnh hãi hùng của chuyến tàu. Nhưng không được. Các toa tàu dồn đống và xác người chết cứ hiện ra trước mắt nàng. Hình ảnh chiếc áo ca-rô lởn vởn trong đầu.  Nàng cảm thấy rờn rợn phía bàn tay trái, nơi anh ta đã táo bạo nắm lấy chỉ có vài giây trước khi đoàn tàu bị nạn. Cảm giác âm ấm của lòng bàn tay xa lạ đó vẫn còn đọng lại đâu đó trên da thịt.

      Ðến gần trưa, số người chết và bị thương được chở về dồn dập. Bệnh viện càng lúc càng ồn ào, náo loạn. Tiếng rên rỉ, khóc lóc, bàn tán, hỏi han không ngớt vang lên. Toàn là người và người. Kẻ nằm, người ngồi la liệt từ ngoài vào trong. Trời nóng bức. Bệnh viện càng nóng bức hơn, vì hơi người, hơi thuốc. Tất cả chìm trong nỗi hãi hùng, khắc khoải.

Ngột ngạt quá, Hạnh gượng dậy, nhường chỗ cho một nạn nhân khác, bước vội ra ngoài. Một đám đông vây quanh nàng lao nhao hỏi han. Nàng kể lại tình hình. Một người hỏi:

–     Làm sao chị về được đây?

       –    Tôi may mắn được mấy người tốt bụng dìu lên xe lam đưa về đây. Còn nhiều, nhiều lắm ở dưới đó…

      Một người khác hỏi:

      –     Vậy không ai đến cứu giúp gì hết sao?

      –     Chẳng thấy ma nào. Không biết cán bộ họ đi đâu hết.  Nếu không có những người dân tốt bụng, không hiểu tình hình sẽ tệ như thế nào.

      Một ai đó trong đám đông lên tiếng:

      –     Thì họ chỉ được tài nói dóc!

      Nhiều người muốn hỏi thêm, nhưng thấm mệt và đói, nàng cương quyết vẹt đám đông, bỏ đi. Ra khỏi cổng bệnh viện, thấy có chiếc xe gắn máy thồ đang chờ khách ở bên kia đường, nàng mừng rỡ băng qua. Chợt có ai ở phía sau đặt tay lên vai nàng:

       –    Chào chị.

      Nàng ngạc nhiên quay lại. Một phụ nữ mặc quần tây áo sơ mi trắng bỏ ngoài quần, tóc kẹp dài quá vai, nhìn nàng cười.  Nàng bực mình, hỏi:

      –     Chị cần gì?

      Người phụ nữ hỏi:

      –     Xin lỗi, chị là hành khách trên chuyến tàu vừa bị nạn phải không?

      –     Phải. Cô cần gì?

      –     Em công tác trong bệnh viện. Có đồng chí ở trong bệnh viện cần gặp chị.

      Nàng ngạc nhiên:

      –     Lần đầu tiên tôi đến đây, làm gì có quen ai.

      Người phụ nữ cười:

      –     Trước không quen thì sau quen, đâu có sao, phải không chị. Vào đó là chị biết ngay hà. Nào, ta đi!

      Hạnh bực mình:

      –     Tôi mệt quá rồi, cần về Sài Gòn gấp. Ai cần gì thì ra đây gặp tôi, tại sao phải gọi tôi vào. Tôi không vào.

      Hạnh dậm dự bước đi thì người phụ nữ nắm tay nàng:

      –     Chị phải đi với em.

      Nàng giựt tay ra muốn cự nự tiếp thì người phụ nữ nhìn chị với cái nhìn đầy dọa nạt:

      –     Chị không được cãi. Chị có cần biết em là ai không?

      Nàng nhìn ngay mặt người phụ nữ, thấy đôi mắt chị ta lạnh tanh. Nàng đâm ra bối rối, cúi mặt xuống. Chị ta nhắc lại, giọng như ra lệnh:

      –     Nào, ta đi.

      Hạnh líu ríu bước trở vào cổng bệnh viện. Người phụ nữ theo sau, nói:

      –     Vào cổng, rẽ trái.

      Qua khỏi cổng, người phụ nữ bước nhanh tới trước, dẫn đường. Chị ta đến một căn phòng nhỏ nằm gần phòng đợi ở phía bên phải của khu căn-tin, bảo nàng ngồi ở đó đợi. Một lát sau, một người đàn ông từ bên trong bước ra, chào:

      –     Chào chị. Chị bị thương có nặng không?

      Nàng đáp, giọng run:

      –     Dạ, sơ sơ.

      –     Sơ sơ thế nào?

      –     Dạ, sây sát ở phía dưới chân.

      Nàng định đưa vết thương ra cho người đàn ông xem, nhưng anh ta xua tay:

      –     Khỏi. Tôi có xem hồ sơ chị.

Hạnh nói:

– Dạ, có hồ sơ gì đâu ạ. Em chỉ điền đơn rồi được chích một mũi thuốc khỏe, chứ không có thương tích gì trầm trọng.

– Tôi không nói chuyện thương tích. Tôi không phải là nhân viên của bệnh viện. Tôi là cán bộ phụ trách an ninh khu vực này.

Hạnh giật mình:

– Em…em đi tàu…em, em..đâu có làm chuyện gì…sai trái…

Người đàn ông hỏi:

– Vâng, tôi biết là chị đi tàu. Chị tên Hạnh, đúng không?

      –     Dạ, em tên Hạnh.

      –     Hàng hóa chị mang đi có nhiều không?

      –     Dạ, ít thôi. Toàn là trái cây.

      –     Trông bộ chị đã trải qua một đêm lo sợ, phải không?

      –     Dạ.

      –     Chị có mang theo giấy tờ gì không?

      –     Dạ có.

      Nàng lục đi lục lại mãi mới tìm thấy cái “Chứng minh nhân dân”, đưa ra. Anh ta xem xong, hỏi:

      –     Chị ở tận ngoài Huế?

      –     Dạ. Em ở Huế.

      Anh ta cười nửa môi:

      –     Dân Huế nhiều người đi buôn nhỉ.

      Anh ta ngồi xuống góc bàn, nhìn nàng soi mói. Hạnh bối rối, đảo mắt nhìn ngu ngơ quanh phòng. Căn phòng hẹp, trống trơn, không có gì ngoài chiếc ghế và cái bàn nhỏ. Anh ta lên tiếng:

      –     Tôi biết chị bị thương, chị vừa trải qua một đêm kinh hoàng. Tôi thay mặt chính quyền và nhân dân địa phương chúc mừng chị được an toàn, thoát qua tai nạn. Như chị đã rõ, Ðảng và Nhà nước ta bao giờ cũng chăm lo cho đời sống của nhân dân và không bao giờ mong muốn những vụ việc đáng tiếc như chuyến tàu bị nạn vừa qua. Tất nhiên chúng tôi biết có một số đồng chí làm việc không nghiêm túc, do đó, không kịp thời tổ chức cứu trợ những đồng bào bị nạn. Tuy nhiên, nói chung, cho đến giờ này, công cuộc cứu trợ đã diễn ra tích cực. Chính quyền đã tận dụng mọi phương tiện huy động cán bộ, nhân dân hợp tác để khắc phụ hận quả của tai nạn. Hiện nay, trong nhân dân, có những tin đồn sai lạc. Bọn xấu lợi dụng dịp này để tung tin đồn, làm hoang mang dư luận, phá hoại uy tín của Ðảng và Nhà nước. Chị may mắn đưọc các đồng chí trong bệnh viện chăm sóc sớm, bây giờ ra về, chúng tôi yêu cầu chị không nên gặp gỡ, kể chuyện linh tinh và nhất là có những lời lẽ phê phán vô trách nhiệm. Tốt nhất là chị không nên để cho người ta biết là chị vừa bị nạn để tránh sự tò mò của người khác. Chị hiểu rõ những điều tôi vừa nói không?

      –     Dạ, hiểu.

      –     Chị có nhận rằng vừa rồi chị có những lời lẽ không hay khi trò chuyện với những kẻ tò mò trong bệnh viện không?

      Hạnh đáp lí nhí:

      –     Dạ, có.

      –     Chúng tôi có bằng chứng là hiện nay có rất nhiều kẻ xấu đang trà trộn trong nhân dân, lợi dụng cơ hội này để phá rối chính quyền cách mạng. Vậy thì, chị ngồi đây, viết một bản cam kết trước khi chúng tôi để chị ra về. Mẫu đơn có sẵn đây.

      –     Dạ, em…em biết gì mà viết.

      –     Có sao viết vậy. Có gì tôi sẽ góp ý thêm. Nào, chị có thể bắt đầu.

      Anh ta đưa cho Hạnh giấy, bút:

      –     Khi nào xong, chị gọi tôi ở phòng kế.

      Hạnh gật đầu, lòng nhão đi như con bún. Nàng ráng viết, hứa sẽ giữ im lặng hoàn toàn về chuyến tàu bị lật. Tay cán bộ đọc xong, gật gật đầu, thế này là tốt, chị biết điều lắm, thôi chị có thể ra về. Nàng mừng rỡ, lí nhí cám ơn. Ra khỏi cửa, nàng thấy một vài người đứng, ngồi trước cửa phòng, lóng ngóng nhìn vào trong. Chắc họ cũng đợi vào làm bản cam kết như mình, Hạnh nghĩ. Nàng cúi đầu xuống, cố đi thật nhanh ra ngoài.

*

      Ngồi trên ba chuyến xe lam chuyển tiếp về thành phố, Hạnh im thin thít trong lúc mọi người bàn tán xôn xao về tai nạn. Những câu chuyện kể phóng đại ra nhiều lần, hoàn toàn xa hẳn sự thật mà nàng chứng kiến. Mọi chuyện biến thành giai thoại một cách hồn nhiên. Xuống xe, nàng ghé chợ Bà Chiểu, mua sắm lại ít áo quần, dép, đồ trang điểm rồi mới đến Duyệt. Vừa thấy nàng, Duyệt reo lên:

      –     Trời, bà mới vào đó sao. Sao mà ở ngoài đó lâu đến thế! Chắc chuyến đi Hà Nội vừa rồi trúng mánh quá nên không muốn đi nữa chứ gì.

      –     Ðâu có. Mình đau nên phải ở nhà một thời gian để tĩnh dưỡng. Bà đi đâu mà về tối quá vậy?

      Duyệt sôi nổi:

      –     Bà không nghe gì cả sao? Cả thành phố đang náo loạn vì vụ lật tàu ở Bầu Cá. Cả chiều nay có ai làm ăn gì đâu. Tôi cũng thế, chạy quanh chạy quấc. Tôi vừa lên bệnh viện Nhi Ðồng về đây. Làm gì, bà biết không? Tìm thử có xác người thân hay người quen gì không. Vậy bà không nghe gì hết thật sao?

      Hạnh hờ hững:

      –     Không.

      –     Cái bà này. Người ta đang xôn xao như thế mà bà tỉnh bơ y như …thường vậy.

      –     Bộ bà nói tôi phải làm sao?

      –     Ðúng là điếc. Ðâu đâu người ta cũng bàn tán om sòm.  Nghe nói cả mấy ngàn người chết lận, bà biết không? Bệnh viện nào giờ cũng đầy người chết và người bị thương. Chưa hết đâu, xe còn tiếp tục chở lên nữa.

      –     Có ai quen trong chuyến này không?

      –     Làm sao mà biết được. Người ta đi đông đi tây, ai mà biết có đi chuyến tàu này không. Mình chạy quanh hỏi han hết bà con. Tất cả đều bình yên. Có một bà dì bà con xa lên Long Khánh thăm con, chẳng biết có về chuyến này không. Mấy đứa con đang lên ruột đàng nhà. Tôi có một con bạn thân thường đi buôn rau cải tàu chợ, giờ này vẫn chưa biết tin.  Không biết thế nào.

      Thấy Hạnh có vẻ không mấy quan tâm đến những tin sốt dẻo vừa đưa, Duyệt hơi cụt hứng. Nàng hỏi qua chuyện khác:

      –     Thế lần này bà đi hàng gì vào?

      –     Gà và xoài.

      –     Cái gì? Gà và xoài! Ðộ này bà biết khôi hài nữa hay sao đây?

      –     Không. Tôi nói thật.

      –     Bà buôn gà và xoài? Từ Huế vào?

      –     Không. Từ Nha Trang.

      –     Ði xe hả?

      –     Không. Ði tàu.

      –     Tàu Thống Nhất mấy, sao mà vào giờ này? Giờ này làm gì có tàu Thống Nhất kìa? Tôi vừa ra ga xem kế hoạch mà.

      –     Tôi đi tàu chợ.

      –     Lại đùa nữa. Tàu nào?

      –     Chuyến tàu vừa bị lật ấy.

      Duyệt trố mắt nhìn bạn:

      –     Hạnh, bữa này sao bà ăn nói kiểu gì tôi không hiểu.  Bà từ đâu về?

      –     Từ Bầu Cá?

      –     Thiệt không?

      –     Thiệt. Mình ở trên chuyến tàu đó.

      Duyệt bất ngờ đứng dậy, ôm choàng lấy Hạnh, xiết chặt thân hình bạn, la lên:

      –     Trời ơi, Hạnh. Bà còn sống đây, phải không? Có hề hấn gì không? Tôi nghiệp cô bạn tôi.

      Duyệt đẩy Hạnh ra xa, rồi nhìn từ trên xuống dưới, từ trước ra sau:

      –     Trời, bà vẫn còn nguyên vẹn chứ! Sao mà bà tỉnh bơ vậy?

      –     Không tỉnh bơ thì làm gì bây giờ.

      Hạnh vắn tắt kể lại cho bạn nghe những gì đã xảy ra trên chuyến tàu bị nạn. Nàng định dấu chuyện nàng bị làm kiểm điểm, nhưng sau đó, kể luôn cho Duyệt nghe. Duyệt tức tối bảo:

      –     Bọn nó hù bà đấy. Hèn gì, về tới đây rồi mà mặt mày ngơ ngơ ngác ngác như người thất thần. Ở đây, người ta bàn tán ầm ầm ở ngoài chợ, trên đường phố, trong bệnh viện. Sao không vào đó mà bắt người ta kiểm điểm đi.  Mà thôi, kệ xác!  Bây giờ, bà nằm nghỉ đi cho khỏe. Lạy Trời, lạy Phật, may tí nữa là tôi mất thêm một người bạn. Số bà lớn lắm! Về lo mà cúng quảy tạ ơn đi. Chín phần chết, một phần sống đấy!

      Sáng hôm sau, Duyệt ra sạp báo sớm, mua về tờ Sài Gòn Giải Phóng, chỉ cho Hạnh xem mẩu tin về vụ lật tàu:

      –     Chuyện động trời vậy mà họ chỉ loan như thế này này.

      Hạnh cầm xem. Ðó là một bản tin nhỏ, đăng khiêm nhường ở góc cuối trang trong tờ báo. Bản tin cho biết đã xảy ra một tai nạn tàu ở Bầu Cá hôm qua, gây ra một số thương vong. Chính quyền địa phương và nhân dân đang lo cứu cấp người bị nạn và khắc phục hậu quả của tai nạn. Bên cạnh bản tin là một thông báo ngắn của ngành Ðường sắt yêu cầu những ai có hàng trên chuyến tàu mang giấy tờ thuế và cước đến ga khai báo và nhận lại hàng hóa bị mất.  Duyệt hỏi:

      –     Bà có thích xuống lại dưới đó để nhận hàng hay không, tôi chở đi.

      Hạnh cười:

      –     Gà thì chết toi, xoài thì nát bấy, còn gì mà nhận. Tôi nghĩ chắc họ chỉ đăng thông báo lấy lệ cho vui thôi.

      –     Ừ, bà nói nghe cũng phải. Thôi, hay nhất là ở nhà nghỉ ngơi. Mọi chuyện tính sau. Tôi đi đây.

      Hạnh cầm tờ báo, lật qua lật lại, hờ hững liếc nhanh qua những tựa đề. Bỗng nàng chú ý đến một bản tin khác, tựa in đậm, có hai chữ Tân Hiệp. Nàng giật thót mình. Bản tin cho biết Bí thư huyện ủy Mười Giộc đã bị bắt vì câu kết với bọn gian thương và móc ngoặc, làm thất thoát và thiệt hại tài sản xã hội chủ nghĩa đến hai trăm triệu đồng. Ông ta đã tuyển dụng người bất hợp pháp, lợi dụng chức quyền, gian dâm với nhiều phụ nữ, trong đó có nhiều phụ nữ đã có gia đình.  Bên cạnh bản tin, báo còn cho đi một bài viết có tựa đề : “Tại sao anh có thể làm như thế?”. Tác giả bài báo tự nhận là bạn chiến đấu trong nhiều năm của Mười Giộc. Hai người đã từng “hạt muối cắn hai”, “chia nhau gian khổ” suốt trong thời gian chống Mỹ cứu nước. Mười Giộc là một chiến sĩ can trường, một đảng viên gương mẫu, một người bạn thủy chung, tận tụy hy sinh cho cách mạng. Ấy thế mà chỉ vì bị bọn xấu lôi cuốn theo lối sống hưởng thụ vật chất, trong một sớm một chiều, anh đã sa vào hố thẳm. Trong bản tự kiểm điểm, anh đã tự thú hết lỗi lầm. Nhưng quá muộn.

      Tác giả bài báo, sau một đoạn dài đề cập đến sự mất mát niềm tin của nhân dân đối với đảng qua những cán bộ hư hỏng như Mười Giộc, đã kết luận bằng một câu tán thán: “Mười Giộc ơi, tại sao anh đã làm như thế!”.

      Nàng không quan tâm mấy đến vẻ thống thiết của bài viết mà sửng sốt vì vụ việc. Chỉ trong một thời gian ngắn, từ một tay Bí thư huyện ủy quyền thế bỗng chốc trở thành một tên tù. Nàng vứt tờ báo xuống bàn, ngồi ngẩn người ra, bần thần. Mười Giộc, thô bạo và nồng nàn, đã để lại trên nàng một dấu ấn khó phai. Chẳng biết ông ta có khai gì về nàng không? Ông ta có nhớ đến nàng không? Ðột nhiên, nàng nghĩ đến cái bào thai. Bào thai của ai? Có thể nào là của Mười Giộc? Nàng rùng mình, đứng phắt dậy. Của ai thì của, nhưng trước hết “nó” là của nàng.

      Thế là nàng vùng ngay dậy, mượn xe, nôn nao chạy ra xa lộ.

     Nhưng trái với điều mong đợi, nàng đã không thể tìm thấy “mộ” của “nó”. Mới có một tháng chứ đâu có lâu lắc gì!  Nàng đã đánh dấu kỹ, đã ghi nhớ từng dấu vết đặc biệt của con đường, của lối đi, của từng cây. Thế mà sau hai lần chạy Honda vòng vòng để đi tìm, nàng mất phương hướng. Ðành phải trở về. Hôm sau nữa, nàng lại mượn xe để đi tìm. Vô ích. Cái “mộ” biến mất.

      Hạnh quỵ xuống vì tuyệt vọng. Nàng có cảm giác như mình vừa đánh mất một cái gì vô cùng quý giá. Chính “nó” đã cứu nàng thoát chết, thế mà, nàng bỏ rơi, không hương không khói. Cái mộ ở đâu? Trí nhớ nàng đã trở nên sa sút hay là “nó” giận nàng, không muốn cho nàng “gặp mặt”? Càng suy nghĩ, nàng càng hoang mang. Duyệt trở về, thấy sắc diện của bạn, lo lắng hỏi:

      –     Sao trông bà có vẻ thất thần vậy?

      –     Không có gì.

      –     Bà đừng dối. Bà còn mệt lắm. Liệu mà nghỉ ngơi đi đã, đừng vội.

      Duyệt dành cho Hạnh một căn phòng nhỏ ở trên gác lửng, mang cho nàng ít sách, báo, truyện. Duyệt đi, Hạnh nằm một mình, cố đọc một cái gì cho khuây khỏa. Nhưng không được lâu. Chỉ một lát sau là nàng chán nản, bỏ xuống, nằm nhắm mắt, nghĩ ngợi vu vơ. Bỗng nhớ ra, từ ngày đi, nàng chưa viết gì về nhà cả. Nàng vội vàng ngồi dậy, lấy giấy bút ra. Nàng viết: “Anh”, ngập ngừng, xuống hàng, viết tiếp: “Em vừa thoát chết trong đường tơ kẽ tóc trong tai nạn lật tàu ở Long Khánh.  Thật khủng khiếp! Ðến bây giờ, em vẫn chưa hoàn hồn”.  Nàng dừng bút. Cần gì phải báo cho anh chàng biết nhỉ? Có biết thì anh chàng vẫn thế. Không chừng lại đi kể chuyện lung tung với người này người nọ, thêm phiền. Biết đâu, lại còn trách móc vớ vẩn những là tại sao lại đi Nha Trang làm gì, tại sao lại đi đi tàu chợ, tại sao lại buôn bán linh tinh.  Nàng xé đi, viết lại:

      “Anh, em chưa thể ra được. Thiếu tiền, cứ mượn tạm ở đâu đó, khi ra tính sau.  Hạnh”.

      Nàng lấy một tờ khác, viết cho mấy đứa con:

      “Ðồng, Ngân, Phụng yêu thương. Mạ nhớ các con quá chừng. Mạ muốn ra sớm với các con, nhưng hiện mạ đang bận chuyện buôn bán, chưa ra được. Các con đừng buồn. Khi ra, mạ sẽ mua thật nhiều quà cho các con. Ðồng, con đừng có la thằng Phụng hoài, tội nghiệp. Ráng thương em. Ngân cũng rứa, rán thương em. Xong, mạ sẽ ra ngay. Gửi cu Phụng một ngàn cái hôn. Mạ thân yêu của các con”.

      Bỏ thư vào bì xong, nàng ngồi trầm ngâm. Hình bóng gia đình hiển hiện ra trước mắt. Chồng, con, căn nhà, những lo toan, bực bội. Ðời nàng sao mà khốn nạn thế này. Tất bật chạy đôn chạy đáo kiếm tiền, hết ngày này qua ngày khác, hết năm này qua năm khác, không khi nào được thảnh thơi. Ăn đường, ngủ sá, thân xác lê la chẳng khác gì một tên ăn mày. Biết bao giờ mới được yên thân, ở nhà với con, không còn bon chen, lo lắng ngày đêm như thế này. Ừ, nếu được ở nhà mãi mãi, không chạy đôn chạy đáo thì sung sướng biết bao nhiêu!

       Nếu được ở nhà mãi mãi? Nếu được ở nhà mãi mãi?  Hạnh giật mình. Có thể nào ở nhà mãi mãi trong ngôi nhà đó?  Quanh quẩn quanh năm suốt tháng với chừng ấy khuôn mặt, chừng ấy cảnh vật, chừng ấy chuyện? Ngày nào cũng đụng mặt Lục. Chán chết đi được! Những Phiệt, những Cảnh, những Mười Giộc, những Túy, những Thuận  sôi động biết bao nhiêu!  Họ băng mình vào xã hội, lăn lộn với nó, sống chết với nó.  Như nàng!  Họ khỏe, mạnh dạn, táo bạo, tự tin. Lục của nàng, chẳng khác gì một con chim bị gãy cánh, một con ngựa què.  Còn đâu Lục của một thời ngang dọc! Còn đâu Lục sừng sững bên cạnh nàng như một điểm tựa, một chỗ để tin cậy.

      Còn đâu! Nàng thở dài, buông một tiếng cười khan.

Chương 33

      Lục đang loay hoay sửa lại cái ảng nước ở nhà sau thì thằng Ðồng từ trên nhà trên chạy vội xuống:

      –    Ba, có ông Nhề, công an khu vực tới hỏi ba.

      Anh vẫn tiếp tục công việc, không ngửng đầu lên:

      –     Lên bảo là mạ đi rồi, không có nhà.

      Một lát, thấy Ðồng vẫn còn đứng tại chỗ, anh gắt:

      –     Sao còn đứng đó? Lên nói mạ đi rồi.

      Thằng bé ngập ngừng:

      –     Nhưng ông ấy nói muốn gặp ba.

      Anh bực bội gắt tiếp:

      –     Mày có nghe tao không? Người ta hỏi mạ mi chứ hỏi tau làm gì?

      Thằng bé vừa đi miệng vừa lầm bầm gì đó. Anh gọi:

      –     Cái thằng kia, mi càm ràm gì đó?

      Ðồng vẫn bước.

      –     Thằng kia, lại đây!

      Ðồng quay lại, mặt tái đi, nhưng lộ vẻ bướng bỉnh. Lục chỉ ngón tay ngang mặt thằng bé:

      –     Mi vừa nói gì, cái thằng kia?

      Ðồng mím môi, nhìn xuống đất, im lặng. Tức quá, anh tát ngay mặt thằng bé một cái tát xửng vửng:

      –    Ðồ mất dạy! Con cái mỗi ngày mỗi mất dạy. Chán ơi là chán!

      Anh hầm hầm bước lên nhà trên. Vừa vào, anh giật mình lùi lại vì thấy ngoài anh chàng công an khu vực còn có một người lạ nữa. Anh gật đầu lúng túng chào:

      –    Xin lỗi các anh. Mời các anh ngồi chơi chút, tôi sẽ quay lại ngay.

      Lục xuống nhà dưới rửa ráy chân tay, bưng khay trà lên pha nước, mời khách. Nhề chỉ người đàn ông lạ, giới thiệu:

      –    Anh Thắng, bạn học cũ ở Hà Nội. Còn đây là anh Lục.

      Lục đưa tay ra bắt, xởi lởi:

      –     Hân hạnh được biết anh. Anh cũng công tác ở đây?

      Thắng cười vui vẻ:

      –    Không, anh Lục ạ. Tôi từ ngoài kia vào.

      Lục tỏ vẻ ngạc nhiên:

      –    Vậy không phải anh công tác chung với anh Nhề?

      –    Tôi làm công tác văn hóa. Chúng tôi là bạn học.

      Nhề xen vào:

      –    Anh Thắng vào đây công tác một thời gian, nhân tiện ghé anh chơi.

      Lục rót nước mời:

      –    Anh uống tạm nước trà trong này. Tôi không sính trà lắm, nên không dùng trà bắc như ở miền ngoài. Một số người trong này cũng bắt đầu mê trà bắc. Tôi thì chưa.

      Thắng xua tay:

      –     Không sao, không sao!

      Anh ta bưng tách trà, lơ đãng nhìn quanh. So với Nhề, Thắng trắng trẻo, trẻ trung hơn. Khuôn mặt thon, đường nét khá thanh tú, trông có vẻ là một nhân viên làm công tác văn hóa. Nhưng anh ta đến đây có chuyện gì? Lục tự nhủ lòng phải cảnh giác. Từ lâu rồi, anh không hề tiếp xúc với công an. Mọi việc, anh đẩy qua cho Hạnh. Mỗi lần Nhề đến nhà, anh tránh.  Làm một cái bóng tiện hơn.

      –    Trước ở trong ngụy quân, anh làm gì nhỉ? Thắng hỏi.

      –    Quân nhu, anh.

      –    Thế à? Quân nhu là gì nhỉ?

      –    Là lo cung cấp áo quần cho lính.

     –    À, là một loại như anh nuôi trong bộ đội ta, phải không?

      –     Không hẳn như anh nuôi bên cách mạng mình. Tụi tôi lo cấp phát áo quần, giày dép, thuốc…cho lính.

      –     Chỉ vậy thôi à? Không phải có lúc anh cũng được chuyển qua nghành tâm lý chiến sao?

      –     Không, anh. Tôi ở quân nhu cho đến ngày cách mạng vào. Không tin, các anh cứ kiểm tra lại. Tôi đã khai báo rất rõ ràng với cách mạng khi mới tiếp quản.

      Thắng cười:

      –    Tôi hỏi chỉ để biết thôi chứ không có ý thẩm vấn anh đâu. Tôi ở ngành văn hóa, lại ít vào Nam công tác nên không rành, hỏi cho biết thôi. Công tác an ninh có đồng chí đây lo rồi, phải không đồng chí Nhề?

      Thắng sửa soạn thế ngồi nghiêm chỉnh, hai tay chống lên đùi, nhìn Lục:

      –    Nói thế, chứ thật ra, hôm nay, đồng chí Nhề đây dẫn tôi đến gặp anh cũng có tí chuyện. Tôi hy vọng anh có thể giúp tôi.

      Lục nhìn Nhề:

      –     Như anh Nhề đây biết, cái gì làm được là tôi sẵn sàng à. Cách mạng cần gì là có tôi ngay.

      –    Số là thế này, anh Lục. Tôi được trên phân công viết một giai đoạn lịch sử của công cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta ở miền Nam. Tài liệu các thứ đã hoàn chỉnh.  Nhưng đó là trên sách vở. Trên cử tôi đi tìm những tài liệu sống. Vào đây rồi mới thấy là cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam vĩ đại hơn là tôi tưởng nghĩ khi còn ở miền Bắc nhiều. Ðiều khôi hài là, anh biết sao không…

      Thắng ngừng lại, nhìn Lục cười thật tươi, rồi tiếp:

      –     Có những thứ mình tưởng là nằm trong tầm tay, mình muốn là có ngay. Nhưng rốt cuộc, tìm mãi không thấy. Chẳng hạn như bản “Chính sách mười điểm của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam”.

      Lục ngạc nhiên:

      –     Trời, thiếu chi trong các sách báo của cách mạng mà anh nói thế. Tôi không nhớ rõ ở đâu, nhưng chắc chắn là tôi có đọc qua nhiều lần.

      –     Tôi biết, tôi biết, anh Lục ạ. Hiện tôi cũng có đây.  Nhưng cái chúng tôi cần, không phải là nội dung 10 điểm chính sách, mà là cái văn bản nguyên thủy của nó kìa, tức là tờ truyền đơn phát ra hồi đó. Anh hiểu ý tôi nói không?

      Lục gật gật đầu, không nói gì. Thắng tiếp:

      –     Là thế này: chúng tôi cần cái tài liệu sống, tức là tờ truyền đơn mà đồng bào, đồng chí ta bí mật chuyền cho nhau hồi đó. Nghĩa là cái tờ giấy in lem luốt, vàng ố. Ðó là tài liệu sống. Chúng tôi có thấy tấm phóng ảnh của một tờ như vậy, nhưng nó không rõ ràng, có lẽ vì máy chụp ảnh hồi đó của ta còn thô sơ qua.

      Thắng quay sang Nhề:

      –     Ðồng chí biết không, cứ tưởng tượng giờ mà ta có được một tờ như vậy, dù nó nhàu nát, vàng ố, nhem nhuốc, ngay cả cho dù không đọc được ra chữ, thì quý biết bao! Nó sẽ là chứng tích sống cho tấm lòng của đồng bào miền Nam, cho lòng trung thành của đồng bào đối với Ðảng, với Bác.

      Quay sang Lục, Thắng xuống giọng:

      –    Anh Lục à, chúng tôi cần sự giúp đỡ của anh.

      –    Anh muốn tôi giúp đỡ gì?

      –   Thì như tôi vừa nói đó, có cách nào anh tìm giúp tôi cái tờ truyền đơn cũ đó.

      Lục ngạc nhiên:

      –   Làm sao mà tôi tìm ra được. Sao anh không hỏi các cán bộ hoạt động nằm vùng trong này. Ở nông thôn, đâu có thiếu. Tôi nghĩ chính họ là những người giữ.

      Thắng xua tay:

      –    Ấy, ấy, khoan vội. Thế này, anh Lục à, chúng tôi làm việc dựa trên quần chúng nhân dân. Cái gì Ðảng không giải quyết được, là Ðảng động viên quần chúng nhân dân giúp tay.  Không phải tôi nhờ một mình anh đâu. Tôi nhờ nhiều người nữa. Nhân dân mà. Một người thì đâu phải nhân dân, phải không anh Lục. Anh có nhiều bạn bè, biết đâu.

      Lục chen vào:

      –     Không đâu anh. Tôi ít giao du lắm.

      –    Tôi nói chưa hết. Ai cũng có bạn bè, phải không nào.  Ai cũng có người thân, phải không nào? Gặp ai mình cũng hỏi, và động viên họ hỏi giùm người khác. Nếu ai cũng có tấm lòng với cách mạng thì ta sẽ có một dây chuyền nhân dân. Nếu thích thì ta cũng có thể gọi đó là mặt trận nhân dân vậy.

      Nhề hỏi:

      –     Ðồng chí có xuống tìm hiểu ở dưới các xã ấp chưa? 

      Thắng cười:

      –   Tôi nhờ nhiều đồng chí làm việc đó từ lâu. Lúc đầu, tôi cứ tưởng hô một cái là có ngay. Ấy thế mà tuyệt không tìm ra. Thế mới gay! Ðồng chí nào cũng nói là ta thắng lợi rồi, thì giữ cái đó làm gì. Họ nói đúng. Họ là những chiến sĩ  chứ đâu có phải sử gia, phải không anh Lục. Mà có cái này này. Hồi ta mới tiếp quản, đồng chí đã có mặt ở đây chưa?

      –     Chưa. Tôi mới được cử vào công tác đợt sau.

      –    Vậy đồng chí có nghe nói mấy cái vụ y như là, ta gọi là “tiêu diệt văn hóa đồi trụy”, tiêu diệt văn hóa Mỹ Ngụy gì đó không? Mấy phong trào ta phát động hồi mới giải phóng đó?

      –    Sao lại không?

      –   Các đồng chí tuyên huấn bên tỉnh ủy bảo tôi là hồi phát động phong trào tiêu diệt văn hóa đồi trụy, văn hóa nô dịch, ta làm quá, đến mức tiêu diệt luôn cả tài liệu cách mạng và những tài liệu cần thiết cho cách mạng luôn. Không khéo có đồng chí hăng quá, đốt luôn cả tài liệu cách mạng không chừng. Bây giờ, nghĩ lại thấy, mấy “ông” thấy tiếc. Cần tài liệu nghiên cứu không có. Thậm chí…ha..ha cần tài liệu để đọc giải trí cũng đành chịu. Tôi vào đây muốn nghiên cứu một tí về nền văn hóa nô dịch, đi lục trong thư viện chỉ thấy leo teo vài cuốn, lại  chỉ là mấy cuốn vô thưởng vô phạt. Thế mới thấy, đâu phải lúc nào chính sách đề ra cũng đúng, phải không anh Lục?

      Lục ậm ờ, không biết phải trả lời sao cho phải.

      Khi tiễn khách ra cửa, đợi cho Thằng đi trước, Lục thú thật với Nhề:

      –     Thấy anh và anh bạn vào tôi lo quá.

      –     Lo gì vậy?

      –     Tôi tưởng có chuyện gì dính dáng đến vụ hôm trước.

      –     Vụ gì?

      –     Vụ tôi bị bắt hàng.

      Nhề vỗ vai anh cười:

      –     Khéo lo bò trắng răng. Có lỗi, nhận lỗi rồi thôi.  Chuyện kinh tế mà, đâu phải chuyện phản động gì mà sợ. Sao, chị đi Nha Trang bao giờ mới về?

      –    Ủa, Hạnh đi Nha Trang à? Tôi đâu có hay. Tôi vẫn tưởng cô ấy đi Sài Gòn như mọi lần chứ.

      –    Lần này chị ấy đi Nha Trang đấy.

      –    Thế à!

      Nhề đùa:

      –    Thế thì anh nên coi chừng đi là vừa. Vợ đi đâu mà mình chẳng hay, không khéo có người bắt mất đó nghe…Mà Sài Gòn hay Nha Trang gì thì cũng thế thôi, phải không?

      Nhề cười ý nhị rồi quày quả theo Thắng bước đi.

      Vào nhà, Lục cảm thấy ân hận vì đã la oan Ðồng. Anh đi quanh nhà, tìm thấy Ðồng ngồi yên lặng ở góc nhà dưới, đang dùng một thanh tre vẽ ngang vẽ dọc trên nền đất. Biết anh đứng đó, nhưng Ðồng vẫn không nhìn lên. Anh nhìn chăm thằng bé. Ðồng ngồi chò hỏ, mặc chiếc quần đùi trắng, sọc xanh mới, ở trần. Hai chân đen đủi với chiếc sẹo tròn ở đầu gối, dấu tích của một lần té nặng vì chơi đá banh. Khuôn mặt thon dài, cằm nhọn, rõ ràng là một bản sao chép trung thành từ anh. Ðôi mắt nhỏ và đôi môi dưới dày, hơi trề ra nhất định là dấu tích của Hạnh. Trước, khuôn mặt tổng hợp ấy mang một vẻ kháu khỉnh dễ thương. Nó gần gũi, thân thiết. Anh vẫn thường ngắm nghía nó, như ngắm chính mình, ngắm một phần của anh hiện lên ở đó. Nó là của anh, từ anh. Nhưng thời gian gần đây, khuôn mặt đó đột nhiên đổi khác. Nó bướng bỉnh, thách thức. Nhất là khi anh la rầy, mắng mỏ. Nó mất đi cái vẻ sợ sệt hồn nhiên ngày nào. Nó sẵn sàng chống lại anh. Một khoảng cách vô hình hình thành giữa hai cha con. Anh cảm nhận một cách sâu sắc cái khoảng cách đó, nhất là khi Ðồng trả lời cho nỗi giận dỗi của anh bằng một sự im lặng gần như tuyệt đối. Nó nhìn anh với một tia nhìn thẳng, gan góc. Anh đau đớn nhận ra rằng nó không còn là vật sở hữu của anh nữa.  Nó đã là một người khác.

      Anh nhìn Ðồng, buồn và giận. Cảm giác bất lực dâng lên tràn trề. Anh bỏ đi. Thấy Phụng và Ngân đang chơi đánh thẻ ở góc vườn, anh dịu dàng gọi:

      –     Lại đây ba.

      Con Ngân đứng dậy, nhưng thằng Phụng níu lại:

      –     Tụi con đang chơi mà ba.

      Anh nhắc, giọng đanh lại:

      –     Lại đây!

      Cả hai đứa ríu ríu đứng dậy, bước tới. Anh bỗng đổi giọng, cố cho thật dịu dàng:

      –     Thôi, chơi đi.

      Nét sợ hãi, vâng phục trên nét mặt hai đứa nhỏ làm lòng anh dịu lại. Nhưng anh biết rằng  những điều đó chỉ là tạm bợ.  Chúng đang khác. Dù không mãnh liệt, dứt khoát như thằng Ðồng, nhưng rõ ràng chúng cũng đang rời xa anh. Chúng không còn tự động chạy đến ôm vai, bá cổ. Chúng không còn vòi vĩnh, làm nũng với anh. Khi có Hạnh ở nhà, chúng quây quần quanh mẹ. Khi Hạnh đi rồi, chúng tự bày trò chơi với nhau.  Chỉ khi nào anh gọi, chúng mới chạy đến và đợi có dịp là chúng tìm cách rời anh ngay.

      Ðộ này chúng ít gây gỗ nhau hơn trước. Nhất là giữa Ðồng và Phụng. Thường thì ít nhất cũng vài lần trong ngày, thằng Phụng chạy đến phụng phịu với anh vì bị thằng Ðồng ăn hiếp.  Giờ thì không còn nữa. Dường như Ðồng có vẻ biết nhường nhịn em hơn. Và thằng Phụng thì không muốn dựa dẫm vào anh. Anh có cảm giác hụt hẫng.  Ngay cả đám con cũng không cần đến anh. Thế giới của chúng thay đổi.  Nó thay đổi luôn vị trí của anh trong gia đình. Nó gặm mòn quyền uy của anh.  Anh vùng vằn chống đỡ, níu kéo. Nhưng yếu dần.

*

      Tần cầm chai rượu còn lưng lửng đáy, chầm chậm rót vào chiếc ly kề bên anh. Ðược một chút, anh dừng, nhìn lại phần rượu còn trong chai, rót tiếp vào ly khác. Ðến ly cuối, anh chúc ngược cổ chai xuống, để cho phần rượu còn sót bên trong phải chui ra. Từng giọt rượu khiêm tốn, chậm chạp hình thành rồi miễn cưỡng rơi vào ly. Tần để mạnh cái chai xuống bàn, cười:

      –     Hết! Nào, trăm phần trăm. Không ai được quyền để sót một giọt nào trong ly.

      Sáu người bưng ly lên, nhưng không ai muốn uống cạn.  Lục ngửa cổ, uống hết ly của mình, rồi đột ngột đứng dậy:

      –     Cạn chén hết đi. Tôi sẽ trở lại.

      Mọi người nhìn Lục, ngạc nhiên, nhưng không ai thắc mắc, cản trở. Tuấn chạy theo, rút ra mấy đồng bèo nhèo, dúi vào tay Lục:

      –    Còn mấy đồng, cho tao hùn với.

      Lục cương quyết:

      –    Cất đi. Tao lo.

      Tuấn tần ngần cất tiền vào túi, trở vào. Mấy người cười đùa vui vẻ, kháo nhau:

      –    Thằng Lục bữa ni chịu chơi quá sá! Bao trọn.

      –   Mà hắn mô có hề uống nhiều. Sao bữa nay uống hăng dữ!

      –   Chắc vợ hắn trúng mánh. Hay là có chuyện gì vui?

      –    Cái thằng cũng tội. Cứ lui cui ở nhà, đợi vợ.

      –    Bộ ông hơn gì. Cũng bám đít vợ chứ thua ai.

      –    Bậy nào. Tao còn chạy quanh.

      –    Thôi đừng có chạy quanh nữa. Tao thấy ông có khi mô có đồng nào trong túi đâu.

      –     Sao không?

      –    Có thì đi mua giùm thêm một “xị” nữa coi.

      –    Thôi mà, thời buổi này thắt nhau làm gì. Ai bao được thì bao. Vấn đề là được ngồi với nhau. Uống rượu một mình thì có chi vui.

      Lục trở lại. Anh lôi từ cái túi xách nhỏ đặt lên bàn lít rượu đầy chấm nút, chục gói đậu phụng, một xâu nem, hai gói Ðà Lạt. Những đôi mắt thèm rượu sáng lên long lanh, rạng rỡ.  Không ai thốt ra lời nào, nhưng tưởng như mọi người cùng hào hứng la lên: “Trời, đã quá!”. Cuộc nhậu lai rai tiếp tục. Lý cạn ngay chén đầu, khề khà:

      –     Này, ông Lục, ông cho anh em biết đi, ông mới trúng mánh, phải không?

      Lục cũng cạn chén, cười:

      –    Tôi làm gì mà trúng mánh. Thích thì nhậu thôi. Nào, vô đi.

      Giọng anh nghe đã nhừa nhựa. Anh rót tiếp rượu vào ly mình, châm thêm cho ly bạn. Tần vừa nhắp rượu vừa gõ tay lên bắp chân, hát nghêu ngao:

Cuộc đời vẫn đẹp sao

      Tình yêu vẫn đẹp sao

      Dù đạn bom man rợ thét gào

      Dù thân thể triền miên mang đầy thương tích

      Dù cho thất bại trên đường chiến dịch

      Ta vẫn còn cùng nhau một ánh trăng rằm

      … … … … …

Lý ca tiếp:

Cuộc đời vẫn đẹp sao

      Tình yêu vẫn đẹp sao

      Miễn là còn bạn chơi

      Miễn là còn rượu nhậu

      Miễn là còn đậu để ăn

      … … …

      Giọng ca Lý khàn đục, trật “tông”, đổi lời, nhưng chân thật. Lý trông thật tội, Lục nghĩ. Lúc nào cũng kích động, cũng ồn ào, thích hát hò lẩm cẩm y như thể rất khoái chí với cuộc đời. Nhưng anh biết Lý rất buồn. Buồn quá đến chai lì đi. Còn anh, nỗi buồn mới rướm, còn tươi, hứa hẹn nhiều đột biến khác không lường trước được. Anh lại nâng ly mời mọi người.  Không đợi ai hưởng ứng, anh đã cạn. Người xưa nói đúng. Rượu làm mềm môi. Lần đầu tiên, anh cảm thấy môi mình mềm đi, mềm thật. Giờ anh uống vào cứ như nước. Không cay.  Không nghẹn. Không ngập ngừng, dè dặt. Thích rót. Thích nâng ly. Rượu rơi vào ly sóng sánh. Rượu nâng lên như chứa đựng một niềm vui. Và uống. Uống. Thấm thía với cái cay nồng lan khắp châu thân. Mắt hoa đi. Bóng người mờ nhạt, lung linh trước mắt. Như mơ như thật. Ðầu óc chờn vờn. Anh nghe giọng Phong rất hùng hổ:

      –    Nào, hãy cạn ly để cám ơn những bà vợ anh hùng, đã xả thân chạy chợ để cho chồng được ngất ngưởng say.

      Giọng Tần:

      –    Trước mắt, hãy cám ơn bà Lục. Nhờ bà mà ta có cuộc rượu hôm nay.

      –     Ðúng!

      –     Ðúng!

      Lý ngâm:

Quanh năm buôn bán ở mom sông

      Nuôi đủ năm con với một chồng

      Lặn lội thân cò khi quãng vắng

      Eo sèo mặt nước buổi đò đông

      Hãy hoan hô một hình ảnh của bà Trần Tế Xương thời hiện đại.

      Lục đột ngột dằn ly xuống:

      –    Các ông im đi!

      Tưởng Lục đùa, Lý định nói tiếp, nhưng khi thấy đôi mắt Lục đỏ ngầu, mày mày trở nên bặm trợn khác thường, Lý dừng lại.

      –    Gì vậy Lục, say rồi phải không? Tuấn lo lắng hỏi.

      Lục nói, giọng lè nhè, nhưng không dấu được vẻ chua chát:

      –    Làm sao mà say được. Say thì làm sao mà biết được cuộc đời hay hay dở. Chỉ có các ông say, còn tôi làm sao mà say được.

      Lục rót tiếp ly khác, nhưng khi đưa lên môi định uống tiếp thì ngả xuống, vai chạm mạnh vào chiếc ghế dựa để gần đó.  Cốc rượu nghiêng ngửa sắp đổ, may mà Tuấn ngồi bên kịp thời giữ lại. Lục cố gượng dậy:

      –    Cứ uống đi. Hết rượu thì tao còn tiền trong túi đây.

      Anh moi trong túi ra mấy đồng bạc để ra giữa sàn, rồi cố lục tìm nữa, nhưng không còn đồng nào. Anh gục gặt đầu:

      –    Thôi thì còn chừng nào xài chừng đó.

      Cơn say đẩy đầu anh chúi xuống. Nhưng anh cố gượng:

      –    Ông nào tìm được bản cương lĩnh chính sách mười điểm của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng thì cho tôi biết. Phải là cái tờ truyền đơn ấy. Tờ truyền đơn “rin” hồi đó. Nó phải nhàu nát, bạc màu, phải…

T.D.N.

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdi

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Google photo

Bài 16. Trở về cuộc sống đời thường

Khi ra khỏi quân đội, cuộc sống của tôi đứng giữa ngã rẽ hoặc sẽ giàu có hoặc sẽ chết đói. Ở thời điểm vẫn đang nhận trợ cấp thương tật của Hải quân, tôi nhận được lời mời huấn luyện cho đội bảo đảm an ninh Thế vận hội mùa Hè 1996 ở Atlanta. Khi đó, 1.500 đô-la một tuần là một khoản tiền lớn đối với tôi, đặc biệt so với số tiền quân đội trả. Tôi giải ngũ và nhận công việc này. Trong thời gian này, tôi còn nhận huấn luyện cho Cục Quản lý Trại giam Liên bang (SORT) và nhiều cơ quan khác nữa. Công việc đòi hỏi tôi phải đi lại nhiều. Được trả 500 đô-la một ngày, tôi nghĩ mình sắp giàu đến nơi rồi.

Tính riêng trong mỗi phi vụ, số tiền tôi được trả công là rất hậu hĩnh, nhưng các phi vụ cứ đến rồi lại đi. Thời điểm giữa các phi vụ huấn luyện, tôi lại gặp khó khăn về tài chính. Với mong muốn có cuộc sống ổn định hơn, tôi đã gia nhập lực lượng cảnh sát Bãi biển phía bắc Miami, Hallandale, Broward, Florida, một địa điểm nổi tiếng với các cuộc đua chó và lượng lớn khách du lịch người Canada. Sau hơn sáu tháng huấn luyện, tôi trở thành sĩ quan cảnh sát.

Trong khi tuần tra, tôi đeo kính râm hiệu Revo, do công ty kính mắt Luxottica của Italia sản xuất theo công nghệ của NASA. Các loại kính mắt nhãn hiệu Ray-Ban và Oakley cũng do công ty này sản xuất. Kính râm Revos có thấu kính trong suốt, chống phân cực tốt nhất và chúng tạo cho người đeo cảm giác rất thoải mái. Do tôi là một tân binh nên một sĩ quan huấn luyện tân binh luôn đi cùng với tôi. Một hôm, tôi phát hiện một chiếc xe Cadillac bị đánh cắp đang chạy phía trước. Tôi yêu cầu lái xe dừng lại. Một chiếc xe tuần tra khác cũng tham gia vào cuộc truy đuổi và chúng tôi bật còi hú của cảnh sát lên. Chiếc xe bị đánh cắp rê vào bên đường. Ngay khi chiếc xe dừng, một thanh niên da đen trạc tuổi 17 hoặc 18 gì đó nhảy ra khỏi xe và bỏ chạy. Chúng tôi dừng xe ngay phía sau chiếc xe bị đánh cắp. Viên sĩ quan huấn luyện tân binh nhảy ra khỏi ghế và chạy về phía chiếc xe Cadillac bị đánh cắp và bắt tên lái xe, một thanh niên béo phì. Mở cửa bên ghế lái, tôi chạy ngay khi chân vừa chạm đất.

Tôi đuổi theo tên vừa bỏ trốn. Nhảy qua bụi cây và hàng rào. Trong khi rượt đuổi, chiếc dùi cui và bộ đàm của tôi rơi ra lúc nào không biết. Nhưng chiếc kính râm thì không bị rơi. Chúng tôi chạy qua đám đông và chạy vượt sang khu phố bên cạnh. Đột nhiên, tôi mất dấu tên bỏ trốn. Một người đàn ông đang tưới cỏ ở chiếc sân trước chỉ về phía sau nhà của ông. Tôi từ từ tiến về phía sau ngôi nhà, nhưng tên bỏ trốn đã nhìn thấy tôi và tiếp tục bỏ chạy. Cuối cùng, khi hắn đang chạy băng qua đường, bất thình lính tôi xuất hiện, vật hắn ngã xuống đường. Một sĩ quan cảnh sát đang lái chiếc xe zeep dừng lại giúp tôi. Tôi cảm thấy thật hạnh phúc khi bắt được tên trộm này. Viên sĩ quan này nói: “Đây là cuộc rượt đuổi dài nhất tôi từng biết.”

Nếu tên trộm không phải vừa chạy vừa kéo quần thì có lẽ hắn đã tuột khỏi tay tôi rồi. Tôi bắt hắn đứng dậy sau khi đã còng hai tay lại, chiếc quần của hắn lại tụt xuống. Tôi lấy chiếc còng khác mắc khuy quần hắn vào chiếc còng trên tay hắn để chiếc quần không tụt xuống. Viên sĩ quan huấn luyện tân binh đi cùng tôi lái xe tuần tra đến. Tên trộm quay đầu lại và nhìn vào biển tên của tôi “Ngài sẽ không đánh tôi chứ, Sĩ quan Wasdin?” “Tất nhiên là không. Tại sao cậu lại hỏi thế?”

“Tôi chỉ nghĩ rằng đó là những gì cảnh sát hay làm. Đánh đập chúng tôi. Đó là lý do tại sao tôi đã bỏ chạy.” “Này, cậu nghĩ sai về cảnh sát rồi”. Khi tôi chuẩn bị đưa cậu bé lên xe, một sĩ quan khác đã dùng tay đẩy cậu bé vào xe. Tôi vội quát lên: “Này, buông tay khỏi tù nhân của tôi. Nhớ đừng có chạm tay vào cậu bé thêm một lần nào nữa.”

Sau này tôi còn tịch thu được một số vũ khí từ vài gã lang thang. Mọi người dặn tôi phải cứng rắn hơn với bọn trẻ. Tôi hiểu điều đó, nhưng tôi không tuân theo nguyên tắc đó. Hóa ra kẻ đánh cắp xe là tên lái xe chứ không phải cậu bé bỏ chạy. Cậu chỉ là trẻ lang thang được chủ thuê khoảng hai mươi hoặc ba mươi đô-la một ngày, có nhiệm vụ đưa xe bị đánh cắp đến người mua và mang tiền về cho chủ. Cậu bé này làm thuê cho ba bốn ông chủ gì đó. Những người chủ chỉ thuê những đứa trẻ tuổi vị thành niên để tránh bị khởi tố như khi thuê những người đã trưởng thành.

Tôi để hai tên này ngồi sau xe của tôi, rồi lái xe đi. Tên bỏ chạy hỏi tên mập lái xe: “Tại sao mày không chạy?” Tên mập cãi lý: “Ừ, mày vẫn bị ông cảnh sát da trắng này bắt đó thôi. Mày giải thích sao về điều này?” “Đây không phải là người đàn ông da trắng bình thường. Mỗi lần tao quay đầu lại, đều nhìn thấy ông ta ở ngay phía sau.” Tôi mỉm cười.

Tại Đồn Cảnh sát Hallandale, tôi làm một số thủ tục đối với hai nghi can. Sau đó, tôi đưa chúng lên Sở Cảnh sát Broward để giam giữ chúng. Tôi thấy bàn tay và đầu gối của tên bỏ chạy bị rách khi bị tôi vật ngã trên đường. Hắn ta cần được khâu một vài mũi. Tôi đưa hắn đến bệnh viện.

Quá trình làm thủ tục khám bệnh mất tới 45 phút. Đã quá giờ ăn trưa, tôi còng tay hắn vào một hàng rào và đến quán McDonald trong bệnh viện mua đồ ăn. Tôi trở ra với suất ăn sẵn 25 đô-la. Cậu bé nhìn chằm chằm vào xuất ăn của tôi. Tôi hỏi “Cháu có đói không?” “Dạ, không đói lắm.”

“Lần cuối cháu nhét một cái gì vào dạ dày là khi nào?” “Cháu ăn súp từ tối hôm qua.”

Trời đất! Tôi quay trở lại quán ăn McDonald và mua cho cậu bé suất ăn như của tôi. Khi trở ra, tôi hỏi “Nếu bây giờ chú tháo còng tay ra để cháu ăn như một con người, liệu cháu có bỏ chạy nữa không?” “Không, thưa ngài Sĩ quan Wasdin. Cháu hứa với chú, cháu sẽ không chạy nữa. Cháu hứa đấy!” “Cháu cũng hiểu đấy. Chú sợ chạy lắm rồi. Nếu cháu bỏ trốn lần nữa, chú có thể sẽ bắn cháu.” Chúng tôi cười khúc khíc.

Tôi tháo còng tay cho cậu bé. Cậu bé cám ơn tôi. Cậu ta há miệng rất to ngoạm lấy miếng bánh. Sau đó, tôi quay lại quầy bán đồ ăn và mua thêm thức ăn cho cậu bé. Sau khi ăn xong, chúng tôi ngồi đợi ở phòng cấp cứu. Cậu bé nói “Chú chẳng giống các cảnh sát khác chút nào.” “Có nhiều cảnh sát như chú hơn là cháu nghĩ đấy.”

“Cháu chưa bao giờ nghĩ một sĩ quan cảnh sát sẽ mua cho cháu một cái gì đó để ăn.”

“Cháu biết những gì? Nếu cháu đến bên các nhân viên cảnh sát và xin họ đồ ăn, họ sẽ cho cháu ngay thôi. Họ có thể cho cháu một gói bánh hoặc một đồ ăn gì đó, nhưng chắc chắn họ sẽ không cho cháu tiền đâu.”

“Cám ơn chú.”

Cậu bé rất lịch sự, không ngớt lời cám ơn tôi. Có vẻ đó là một cậu bé tốt nhưng bị bạn bè xấu rủ rê. Tôi cảm thấy rất vui khi giúp cậu bé theo cách đó, nhưng tôi vẫn cảm thấy buồn bởi chẳng biết với tình cảnh của cậu thì cậu sẽ ra sao. Sau này, cứ khi nào tôi nhìn thấy cậu bé trên đường, cho dù đang làm gì chăng nữa, cậu cũng dừng lại vẫy tay chào tôi. Đôi khi, cậu bé còn chạy đến nói chuyện với tôi nữa.

Khoảng một hai tuần sau, tôi phải trả giá cho lần rượt đuổi bộ đó. Cổ và phần thắt lưng trở xuống đau khủng khiếp. Một cảnh sát ở Bắc bãi biển Miami khuyên tôi nên đến bác sĩ nắn xương khớp chữa trị. Lúc này tôi vô cùng tuyệt vọng. Tôi chợt nhớ đến bác sĩ nắn xương khớp mà ngài Đại sứ Negroponte từng bảo tôi. Cuối cùng tôi cũng đến gặp người thầy lang nắn xương khớp. Ông bảo tôi “Để thuận lợi cho đi lại, các bác sĩ phẫu thuật đã lắp thiết bị xoay chân phía ngoài cho anh. Thiết bị này ảnh hưởng đến hông phải của anh. Anh bị đau từ khung xương chậu đến cổ. Đó là lý do tại sao anh ngủ không ngon giấc và những cơn đau đớn liên tục tấn công anh.”

Google photo

Sau ba lần nắn chỉnh, lần đầu tiên trong nhiều năm qua, tôi ngủ một mạch từ tối đến sáng. Tôi tiếp tục đến nắn xương tại đây hai lần một tháng. Kết quả thật kỳ diệu. Tôi đã trở lại được với cuộc sống trước kia của mình. Ở thời điểm đó, tôi nghĩ các bác sĩ nắn xương khớp giống như những người trị bệnh bằng mát xa hay tương tự như vậy. Tôi không hề biết, họ đã phải học hành rất nghiêm túc để trở thành bác sĩ chuyên ngành này. Là một sĩ quan cảnh sát, tôi không còn bắt gặp đứa trẻ nào với những dấu tích của những trận đánh đập như đứa trẻ tôi gặp hồi mới nhận công tác. Mà nếu có gặp, chắc hẳn tôi cũng sẽ chẳng hỏi nhiều. Tôi sẽ chuyển đứa trẻ ngay cho các cơ quan có thẩm quyền và cha của đứa trẻ hẳn sẽ phải vào nhà lao thăm con. Về mặt tài chính, tôi nhận thấy cũng không thể tiếp tục công việc này được nữa. Với mức thu nhập 45.000 đô-la một năm, hẳn sẽ giàu to nếu sống ở Jesup, Georgia nhưng đây lại là Hallandale, Florida. Công ty sản xuất áo giáp cá nhân cho quân đội và cảnh sát hàng đầu thế giới Point Blank Body Armor thuộc Tập đoàn PACA ngỏ ý mời tôi về làm việc cho một chi nhánh của công ty ở Tennessee. Thu nhập 75.000 đô-la một năm quả là một con số vô cùng lớn, đặc biệt là ở Tennessee. Vì vậy, tôi bỏ ngành an ninh và tiếp nhận công việc mới này. Sống trong một thị trấn nhỏ, tôi thấy mình thật giàu có. Blake đã ổn định việc học hành ở trường mới và cuộc sống cứ thế êm ả trôi.

Là một phần trong chương trình quảng cáo sản phẩm áo giáp, Công ty giao cho tôi nhiệm vụ dạy các chiến thuật và vũ khí đặc biệt (SWAT) cho Kane Kosugi, một ngôi sao võ thuật người Mỹ gốc Nhật để vào vai trong chương trình trên truyền hình Nhật Bản mang tên Kinniku Banzuke (Những tài nghệ mới). Kane mặc một chiếc áo của Đội Thực thi Nhiệm vụ Đặc biệt (SMART) do tôi thiết kế. Anh ta là một người luyện tập chăm chỉ và tiếp thu rất nhanh. Công việc ở Point Blank đòi hỏi tôi phải đi lại khắp thế giới ở: Abu Dhabi, Dubai, Paris và bất cứ nước nào có hợp đồng lớn đối với công ty. Khi tôi đi công tác, Blake ở cùng với bạn bè. Khi Point Blank thay đổi bộ máy lãnh đạo, tôi không thích kiểu quản lý mới này.

Tôi trở lại Jesup để Blake và tôi được gần gũi hơn với con gái tôi, Rachel. Tôi lên kế hoạch huấn luyện cho lực lượng cảnh sát các Tiểu Vương quốc Ả Rập thống nhất chiến thuật và vũ khí đặc biệt (SWAT) theo hợp đồng của Thụy Sĩ. Bạn tôi, Tom McMillan, đã chuẩn bị một sân tập cho tôi ở Folkston, Georgia để tổ chức huấn luyện. Hợp đồng này thật béo bở. Từ trước đến nay, tôi chưa bao giờ kiếm được 5.000 đô-la một tuần. Tôi đang mong đợi đến giây phút này. Ngày 11 tháng Chín năm 2001, chúng tôi đã hoàn tất những khâu cuối cùng của kế hoạch và chuẩn bị bắt đầu tiến hành thì xảy ra vụ khủng bố vào Tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại thế giới. Sự kiện này đã thay đổi tất cả, làm cho kế hoạch huấn luyện phải tạm hoãn. Một giải pháp tạm thời được đưa ra trước khi vấn đề có thể được giải quyết. Ron, anh trai tôi tìm cho tôi công việc làm nhân viên bán hàng cho hãng xe GMC.Tôi đồng ý nhận việc này để duy trì cuộc sống. Thật ngạc nhiên, số tiền tôi kiếm được từ việc bán xe còn nhiều hơn tất cả những công việc tôi từng trải qua. Khách hàng yêu quý tôi. Thế rồi Blake vào học trung học.

Tôi thậm chí còn bắt đầu hẹn hò trở lại. Cuộc hẹn hò đầu tiên là với một người lúc nào cũng theo dõi tôi. Nghĩ lại thấy thật buồn cười. Cô ta thường gọi điện cho tôi và nói “Anh thường chỉ mất 20 phút để từ nơi làm việc về nhà. Hôm nay anh mất tới 35 phút. Chuyện gì đã xảy ra vậy?”.

“Em nói nghiêm túc đấy chứ?” Một tối, cậu em họ tôi Sandy vừa cười vừa nói với tôi: “Cô ấy đứng ở bụi cây bên ngoài nhìn vào cửa sổ nhà anh đấy”. Tôi phì cười vì chuyện đó.Sandy cũng cười theo. Cảm thấy khó chịu về việc này, tôi nghĩ mình phải đi kiểm tra mới được. Cô gái hay theo dõi tôi không đứng ở bụi cây bên ngoài nhà mà ngồi trong xe của cô đỗ cách nhà tôi một vài nhà để tiện bề theo dõi tôi. Tôi đã hẹn hò không đúng người. Tôi vô cùng thất vọng. Một lần khác, tôi hẹn hò với một người phụ nữ rất hấp dẫn. Ngay giây phút gặp mặt, ham muốn trong tôi trỗi dậy, tôi muốn ăn nằm ngay với cô ta. Trong khi ăn tối tại một nhà hàng, tôi hỏi: “Sở thích của em là gì vậy? Gần đây em có đọc cuốn sách hay nào không?”

“Kể từ khi tốt nghiệp trung học phổ thông, em chẳng bao giờ đọc sách cả.” “Em có sở thích gì không?” “Em thích nghe chương trình phát thanh của cảnh sát và thích xem chương trình Đô vật thế giới.” Tôi nghiêm mặt lại và nói “Vậy à”.

“Vâng. Chương trình phát thanh của cảnh sát giúp em gần gũi với cộng đồng hơn. Qua đó, em biết ai đang gặp rắc rối và nơi nào sẽ có cảnh thú vị để xem. Nếu cảnh sát chuẩn bị tiến hành bắt giữ hay diệt một ổ tội phạm lớn, em sẽ đến xem.”

Trời đất. “Và sở thích khác của em là gì?”

“Chương trình Đô vật thế giới. Em thích đô vật Stone Cold Steve Austin.”

Giá như đừng nói gì, thì cô ấy quả là cô gái tuyệt vời. Sau bữa tối, tôi đưa cô ta về nhà nhưng chẳng buồn hôn tạm biệt cô ta. Cô ta rất buồn. Tôi tự hứa với bản thân sẽ không có bất kỳ một cuộc hẹn hò nào nữa. Ở hạt County chẳng có cô gái nào phù hợp với tôi cả. Vào một buổi chiều thứ Bảy, ngày 19 tháng Một năm 2002, tôi về nhà với hai gói thịt gà mua ở Nhà hàng gia đình Sybil. Thịt gà ở nhà hàng này rất ngon. Có những người sẵn sàng lái xe hàng trăm cây số chỉ để đến thưởng thức món thịt gà ở đây. Blake và tôi đang chuẩn bị ăn thịt gà và xem bộ phim O Brother, Where Art Thou? tôi vừa thuê về thì cậu em họ Edward gọi điện cho tôi: “Tối nay, Deidre và em sẽ ra ngoài chơi. Cô ta có một người bạn và em muốn anh ra ngoài cùng”. Tôi biết đây hiển nhiên là kiểu sắp xếp cho một cuộc hẹn hò. Tôi trả lời dứt khoát “Không.”

Hai phút sau, Deidre gọi điện tới nài nỉ “Howard, chiều lòng tụi em đi. Em chưa bao giờ nhờ anh giúp điều gì cả. Debbie đã từng có một cuộc hôn nhân tồi tệ và cô ta sẽ đi cùng với chúng em nhưng cô ta không muốn làm người thừa. Anh chỉ đến với bọn em cho có bạn có bè thôi. Anh là người luôn thích vui vẻ mà. Em sẽ không bao giờ nhờ anh làm bất kỳ điều gì khác nữa đâu. Em hứa, chỉ một lần này thôi.”

Trò gạt người đây mà. Tôi rất tức giận nhưng vẫn bỏ hộp thịt gà xuống và nói “Blake, bố có cuộc hẹn phải ra ngoài đây.” “Thật vậy à? Con tưởng bố sẽ không bao giờ hẹn hò nữa.” “Ừ, bố cũng có muốn đâu.”

Edward và Deidre đưa tôi đến căn hộ của Debbie. Deidre giới thiệu: “Debbie, đây là người tôi từng kể với cậu và tôi muốn cậu gặp.” Deidre làm cả Debbie và tôi bối rối. Bốn chúng tôi đi chung một xe. Tôi hành động như kiểu, Này, tôi là Howard Wasdin. Cô em cần phải hạ mình trước tôi. Phải thể hiện sự tôn trọng đúng mực với tôi. Cô ta tỏ thái độ hoàn toàn ngược lại như kiểu. Này, tôi chẳng thèm quan tâm anh là ai.

Ồ, nhưng thật khác lạ, cô ta ăn nói thật nhã nhặn và lịch sự. Tôi băn khoăn chẳng biết cô ta xuất thân từ đâu? Hai chúng tôi đã có một bữa tối tuyệt vời, cười nhiều và nói chuyện rất tâm đầu ý hợp.

Tôi vẫn nhớ như in lần đầu tiên tay tôi chạm vào người cô ấy khi chúng tôi đang xem phim cùng Deidra và Edward. Ngay lập tức, tôi cảm nhận một luồng điện chạy qua người cả hai. Chúng tôi tiếp tục cuộc vui thêm vài phút nữa. Sau đó, tôi lái xe đưa Debbie về nhà. Khi chúng tôi đến nhà cô ấy, chúng tôi tiếp tục trò chuyện trong nhà. Cuộc nói chuyện đầy ắp tiếng cười. Tiếng cười dẫn đến sự kết nối, sự kết nối đưa đến nụ hôn và nụ hôn làm tim tôi muốn nổ tung. Tôi quên cả thời gian, nhưng tôi vẫn nhớ nếu là một quý ông lịch sự thì tốt nhất là nói lời chào rồi ra về. Cả hai chúng tôi đều cảm thấy như đất dưới chân sắp sụp. Cả hai chúng tôi đều không có ý định tìm kiếm một cuộc hẹn hò trong lần gặp này nhưng ông tơ bà nguyệt đã xe duyên chúng tôi.

Cô ấy tiễn tôi ra cửa. Trước khi ra về, tôi không quên nói “Anh đã có một buổi tối thật tuyệt. Cám ơn em.”

“Em cũng vậy.” Tôi hỏi: “Tại sao em không gọi cho anh vào ngày mai chứ?” Tôi lớn lên ở Screven, Georgia dưới sự dạy bảo nghiêm khắc của cha mẹ. Cha mẹ tôi luôn dạy tôi phải biết cách cư xử lịch sự như một quý ông. Hành động vừa rồi chẳng ra chất quý ông chút nào cả, mà nó sặc mùi Howard Wasdin. Tôi chưa bao giờ phải cầm điện thoại gọi điện cho một người phụ nữ nào. Họ đều gọi cho tôi trước. Ngay cả người phụ nữ đứng trước mặt tôi này cũng sẽ phải làm vậy cho dù cô ta có được nuôi dạy để trở thành một quý bà.

“Em không biết anh được nuôi dạy như thế nào nhưng mẹ em dạy em không được gọi điện cho đàn ông. Nếu anh muốn nói chuyện với em, anh sẽ phải gọi điện cho em trước.” Nói xong cô ấy đóng sầm cửa lại.

Tôi thực sự bị tổn thương. Trên đường lái xe về nhà, mặc dù giới hạn tốc độ là 90km/h nhưng tôi phóng rất nhanh, có lẽ vượt giới hạn tốc độ khoảng 70 km. Mặc dù, tôi được nuôi dạy để trở thành một quý ông nhưng tôi lại trở thành người quá tự phụ. Cô ấy hoàn toàn đúng. Có chuyện gì đang xảy ra với tôi vậy? Tôi biết, lẽ ra tôi nên nói “Anh là Howard Wasdin, hãy gọi điện cho anh nhé!” Sau này, tôi càng tôn trọng Debbie hơn.

Cả ngày Chủ nhật tôi ngồi đợi điện thoại từ Debbie. Nhiều lúc, tôi đã cầm máy lên định gọi điện cho cô ấy nhưng rồi lại không, bụng thầm bảo, cô ấy sẽ gọi cho mình ngay thôi mà. Cô ấy đã không gọi điện.

Sáng thứ Hai, tôi gọi điện cho Debbie. Chúng tôi đi ăn trưa cùng nhau. Vào cuối tuần, chúng tôi hẹn hò nhau. Tuần nào cũng vậy, chúng tôi đều hẹn hò cho tới khi kết hôn. Mặc dù, tôi từng thề sẽ không bao giờ chui đầu vào rọ lần nữa nhưng ngày 17 tháng Một năm 2003, anh trai Ron đã đứng ra tổ chức lễ cưới cho Debbie và tôi. Giờ đây, mỗi khi gặp Ron ở nơi công cộng, anh đều rất vui khi thấy chúng tôi hạnh phúc bên nhau và anh thường đùa “Khi tổ chức lễ cưới cho hai em, anh đã sử dụng loại keo tốt nhất đấy.”

Doanh số bán xe của tôi không đạt yêu cầu mặc dù những người tốt bụng ở Wayne luôn tìm đến tôi mua xe, thể hiện sự yêu mến tôi. Họ biết tôi lớn lên trong cộng đồng của họ và rất trân trọng thời gian tại ngũ của tôi. Tôi bắt đầu tính đến việc học tập để trở thành bác sĩ nắn xương khớp. Tôi vào làm tại một nhà máy hóa chất. Người bạn cũ trong lực lượng CIA là Kền Kền giới thiệu cho tôi một công việc tại một công ty an ninh ở Braxin. Tuy nhiên tôi đã từ chối vì thấy rằng công việc này không thể kéo dài khi tôi có tuổi. Tháng Mười năm 2004, Debbie và tôi đã nói chuyện với đại diện Bộ Cựu Chiến Binh của tôi. Họ đồng ý trả tiền học phí cho tôi nếu tôi theo học nghề nắn xương khớp. Debbie và tôi đến thăm trường đại học chuyên ngành cột sống, xương, khớp. Trên đường về, tôi thấy có nhiều lý do khiến tôi khó có thể theo học ở đây. “Tôi không thể vừa làm việc vừa đi học trong giờ hành chính. Chúng tôi sẽ phải thắt chặt hầu bao. Khóa học này mất rất nhiều thời gian. Không khéo tôi phải bỏ học dở chừng cũng nên. Lúc này tôi rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan.”

Debbie tức giận nói: “Nửa phần đời còn lại của anh sẽ trong khốn khổ – không bao giờ cảm thấy mãn nguyện, không bao giờ tìm được công việc mà anh yêu thích nữa. Nhưng nếu anh theo học ngành này. Càng bắt đầu sớm bao nhiêu, anh càng hoàn thành sớm bấy nhiêu. Anh sẽ cảm thấy hạnh phúc với công việc của mình. Còn nếu không, bốn năm nữa khi nhìn lại, anh sẽ nói: ‘Nếu hồi đó mình đi học thì giờ mình đã tốt nghiệp rồi.’” Ôi, tôi đã lấy được người vợ tuyệt vời.

Tháng Một năm 2005, tôi bắt đầu học ngành nắn xương khớp tại trường Life University ở Marietta, Georgia. Mặc dù tôi rất thích chuyên ngành nghiên cứu của mình nhưng một phần nhỏ trong số bạn cùng lớp của tôi có lối suy nghĩ rất lập dị. Số người này luôn phản đối bác sĩ y tế, kim tiêm và thuốc men. Thậm chí một giáo sư của trường còn nói với chúng tôi “Tôi sẽ không bao giờ tiến hành hồi sức cấp cứu hay hà hơi tiếp sức cho những người đang sắp chết.” Ông sẽ chỉ nắn xương cho những bệnh nhân sắp chết và tất cả chỉ có vậy thôi. Có một cặp vợ chồng, cả hai đều là bác sĩ nắn xương khớp, đã quen nhau và kết hôn khi còn đang học. Ba năm sau khi tốt nghiệp, người vợ qua đời vì bị nhiễm trùng tai do họ từ chối chữa trị theo y học hiện đại. Đối với trường hợp này, chỉ một liều kháng sinh là đã đủ để cứu sống người vợ rồi. Họ luôn giữ quan điểm rằng bác sĩ nắn xương khớp chỉ có một phương châm duy nhất là trị bệnh cứu người và dựa vào sức mạnh nội sinh của mỗi người. Họ làm tôi nhớ đến thầy mo, người không chữa được bệnh cho cậu bé tôi từng giúp đỡ ở Somali. Đa số bạn cùng lớp và các giáo sư đều không có lối suy nghĩ này và đa số các bác sĩ nắn xương khớp cũng không có lối suy nghĩ trên. Đó chỉ là một phần trăm nhỏ bé mang lại tiếng xấu cho những người hành nghề bằng liệu pháp nắn xương khớp.

Khi tôi đang học năm cuối, bố dượng tôi mắc bệnh xơ gan cổ trướng. Bụng của ông cứ phình to lên như một quả bóng.

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdin

Post by Sơn râu 14 Aug 2024

Google photo

15. Sứ mệnh bảo vệ đại sứ Mỹ tại Philippineses

Mặc dù vết thương vẫn khiến tôi đau đớn vào ban ngày và mất ngủ về đêm nhưng ở một khía cạnh nào đó, tôi thấy mình đủ sức khỏe để đảm nhận sứ mệnh bảo vệ Đại sứ Mỹ tại Philippineses, John Negroponte vì kẻ nào đó hăm dọa sẽ lấy tính mạng của ông. Sau khi tốt nghiệp Đại học Yale, ông theo học ngành luật tại Đại học Harvard. Đến giữa chừng, ông bỏ ngành luật để theo ngành ngoại giao. Là người gốc Hy Lạp, ông thành thạo tiếng Anh, Pháp, Hy Lạp, Tây Ban Nha và Việt Nam.Cùng đồng hành với tôi là Johnny cũng đến từ Đội đặc nhiệm SEAL số 6. Anh ta đến Philippineses từ trước, có thể trong đợt triển khai lực lượng của Đội đặc nhiệm SEAL số 1. Ở Philippineses, anh ta có khá nhiều bạn bè, nhiều người trong số họ là nữ. Anh ta tự nguyện nhận trọng trách này có thể là vì sự vui thú.

Lúc nào Johnny cũng vui vẻ. Chúng tôi sống trên tầng mười của một tòa nhà ở Makati, một khu phố cao cấp ở thủ đô Manila, thuộc sở hữu của một công ty bất động sản. Vào một tối đã xảy ra một trận động đất. Sự rung chuyển đã làm chúng tôi và cả người hầu phòng tên Lucy thức giấc. Cả Johnny và tôi đều ra khỏi phòng. Lúc đó, Johnny mặc chiếc quần lót ống rộng, còn tôi thì hoàn toàn khỏa thân. Phía ngoài cửa sổ, các tòa nhà đang lắc lư từ bên này sang bên kia. Tôi cũng nhận thấy tòa nhà mình ở đang lắc lư. Tôi hỏi: “Anh muốn làm gì trong tình huống này?”. Johnny nở nụ cười trên khuôn mặt và nói: “Chúng ta chẳng làm được gì trong tình huống này cả. Mặc kệ nó, chừng nào chúng ta bị hất xuống đất hẵng hay.” Chúng tôi cười và quay vào giường ngủ tiếp. Công việc của chúng tôi bao gồm cả việc huấn luyện cho người dân Philippineses bảo vệ Ngài Đại sứ. Một số người chúng tôi huấn luyện hiện đang phục vụ trong lực lượng Cảnh sát quốc gia Philippineses. Chúng tôi huấn luyện họ lái xe mô tô ba bánh và huấn luyện mô hình tác chiến đồng đội kiểu hình thoi (một nhân viên đi bộ đến điểm tiếp xúc, hai bên là hai người đi kèm và một người đi phía sau) và chúng tôi còn huấn luyện nhiều thứ khác nữa.

Google photo

Chúng tôi đưa họ ra ngoài tập bắn súng Uzis. Uzis là loại súng có độ chính xác không cao và nói chung người Philippines có rất ít vũ khí hiện đại. Ngài Đại sứ thật may vì lực lượng bảo vệ này chưa bao giờ phải sử dụng vũ khí để bảo vệ ông. Chúng tôi đề nghị với sĩ quan phụ trách an ninh khu vực cho phép nhân viên an ninh Philippines mang súng ngắn thay vì súng Uzis để tăng độ chính xác. Tuy nhiên, đề xuất này không được chấp nhận. Trong lúc ngồi với Cảnh sát trưởng và sĩ quan phụ trách an ninh khu vực để nói về kinh nghiệm điều hành ngôi nhà bí mật của tôi hồi ở Somali, chúng tôi đi đến thống nhất trong việc lập kế hoạch tăng cường bảo vệ và kế hoạch đột nhập và rút lui đối với Đại sứ quán. Ngoài ra, chúng tôi còn đưa lực lượng lính thủy đánh bộ bảo vệ Đại sứ quán ra sân tập bắn để huấn luyện. Lúc đầu, họ có vẻ không hài lòng và nói: “Này, chúng tôi thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ. Chúng tôi đã được huấn luyện bắn súng rồi.” Tuy nhiên, sau vài ngày trên sân tập bắn với Johnny và tôi, họ đã mở rộng được tầm mắt khá nhiều. Họ tiếp thu khá tốt.

Google photo

Đại sứ Negroponte làm việc không ngừng nghỉ, luôn bận tiếp khách và chơi tennis rất giỏi. Ông đối xử với chúng tôi như những người thân trong gia đình. Tôi cảm thấy thật gần gũi với con cái của ông, những người chúng tôi cũng có nhiệm vụ phải bảo vệ. Anh vợ ông, người gốc Anh, là người lịch sự và nhẹ nhàng. Họ mời Johnny và tôi đến ăn tối nhân ngày Lễ Tạ Ơn tại khuôn viên Đại sứ quán Mỹ ở Baguio, một tòa nhà hoàn hảo với các chùm đèn lộng lẫy và những bức tranh sơn dầu. Một ngày nọ, Johnny và tôi đi tiền trạm trước khi Ngài Đại sứ đến gặp bác sĩ xương khớp. Tôi đeo kính râm hiệu Oakley. Chúng tôi đi bộ đến quầy lễ tân và giới thiệu bản thân. Nhân viên lễ tân mời chúng tôi vào. Khi lục soát các căn phòng để tìm kẻ tình nghi, chúng tôi đã làm gián đoạn bữa ăn trưa của nữ bác sĩ xương khớp. Chúng tôi xin lỗi và tiếp tục công việc của mình. Sau đó, cuộc gọi đến từ Ngài Đại sứ, yêu cầu chúng tôi quay về gặp ông. Chúng tôi rời tòa nhà ở Makati và đến gặp Ngài Đại sứ. Ông lịch sự bảo chúng tôi: “Lần tới, nếu các cậu phải đến phòng khám của bác sĩ, nhớ đừng có gây phiền hà cho ai.” Thật tình cờ, vị bác sĩ này lại là một người bạn của Ngài Đại sứ. Chuyện này xảy ra trước ngày 11 tháng Chín một nên công tác an ninh chưa được ưu tiên, nhưng chúng tôi vẫn đến phòng mạch của bác sỹ trước theo cách chúng tôi được huấn luyện. Ngài Đại sứ giải thích: “Tôi từng bị chấn thương ở vai do đánh tennis và nếu cô ta không nắn lại xương cột sống cho tôi thì bây giờ tôi vẫn còn đau.” Tôi vẫn hoài nghi về khả năng chữa trị của các bác sỹ đông y và tôi không nghĩ họ có thể làm cho tôi khỏi đau ở cổ và chân nhưng tôi vẫn ghi nhớ trong đầu những lời dặn của Ngài Đại sứ. Tại Đại sứ quán, Johnny và tôi gặp một bác sĩ người Mỹ, trung tuổi và đang rất lo sợ cho tính mạng của mình. Ông cho biết mình là một bác sĩ chuyên làm từ thiện, chuyên cứu giúp người khác và hiện có một đám du thủ du thực đang tìm cách trấn lột và giết ông. Tôi hỏi “Làm sao ông biết?”. “Chúng đang theo dõi tôi. Chúng gọi điện đến khách sạn, kiểm tra xem tôi có ở đó hay không. Chúng vẫn đang ở khách sạn đợi tôi.” Johnny và tôi nói với nhân viên an ninh khu vực đang làm việc cho Bộ Ngoại giao: “Chúng tôi nghĩ đám du côn sẽ giết chết bác sĩ này mất.”Johnny và tôi mặc quần áo dân sự. Không muốn lộ diện là các nhân viên an ninh mật hay an ninh ngoại giao, chúng tôi không mang theo bộ đàm. Tôi thích mặc quần Kaki ống rộng nhiều túi vì loại quần này rất dễ mặc, có nhiều túi và trông khá hầm hố. Phía ngoài chiếc áo phông xanh dương của Hải quân, tôi khoác chiếc áo vét của một nhiếp ảnh gia với chiếc ống nhòm trước ngực và một chiếc đèn flash trong túi quần. Trong chiếc bao da bên hông là khẩu súng lục SIG SAUER có băng đạn 15 viên. Trong bao da đeo trên dây lưng là hai băng đạn dự phòng. Chiếc áo vét tôi mặc bên ngoài che kín khẩu súng lục và hai băng đạn dự phòng.

Google photo

Để vị bác sĩ ở lại Đại sứ quán, hai chúng tôi lái chiếc xe con chống đạn đến khách sạn vị bác sĩ này đang thuê ở. Đây không phải là nơi dành cho giới thượng lưu như khách sạn Intercontinental, nhưng cũng không giống với nơi ẩn náu của bọn lưu manh. Khi còn cách khách sạn ba tòa nhà, chúng tôi leo lên tầng thượng một ngôi nhà. Từ đây, tôi gọi điện cho nhân viên đứng quầy và giới thiệu tôi là nhân viên an ninh ngoại giao. Sau khi giải thích cho nhân viên đứng quầy hiểu tình hình, tôi yêu cầu nhân viên đó vén tấm rèm ở phòng bác sĩ nọ thuê. Đồng thời, tôi cũng mô tả cho anh ta biết vóc dáng của tôi và hẹn thời điểm tôi sẽ đến.

Tấm rèm được kéo ra, chúng tôi dùng ống nhòm nhìn vào phía trong căn phòng. Hình như không có ai rình sẵn trong phòng. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm vì sẽ không xảy ra cuộc đấu súng khi chúng tôi đột nhập vào căn phòng. Nhân viên đứng quầy đã xác nhận là không có ai trong phòng. Điều này thật tốt.

Chúng tôi lái xe một vòng quanh khách sạn để xem có kẻ nào đang rình rập hay không. Sau đó, chúng tôi lái xe đến gần khách sạn hơn. Một chiếc xe cũ hiệu Junky, đỗ ngay trước khách sạn, có hai tên ngồi bên trong. Giác quan thứ sáu mách bảo tôi cần phải để mắt tới hai tên này. Chúng ăn vận không giống doanh nhân mà cũng chẳng giống đang ngồi đợi đón ai đó. Những người còn lại trong khu vực không có dấu hiệu khả nghi. Johnny đỗ xe gần góc của tòa nhà, ở đó anh có thể quan sát được phòng của bác sĩ nọ và những tên du côn chúng tôi nghi ngờ. Tôi rút khẩu súng lục từ bao da ra và cho vào túi trong của chiếc áo vét, để tay trên vành cò. Sau đó, tôi bước ra khỏi xe vào đi bộ đến khách sạn. Bên trong hành lang, đôi mắt của tôi quét qua tất cả những người và những đồ vật trông không bình thường. Theo nghiệp vụ được đào tạo, tôi có thể lướt mắt qua mọi người, để ý đến tư thế ngồi, cử chỉ của họ và qua đó biết được họ có phải là đối tượng gây nguy hiểm cho mình hay không. Một phần trong khả năng nhận biết này liên quan đến sự nhạy cảm của giác quan thứ sáu. Nó giống như việc bạn cảm thấy ai đó đang theo dõi bạn, bạn bất ngờ quay lại và phát hiện quả thực có người đang theo dõi mình. Nhân viên đứng quầy, có lẽ là người bà con của chủ khách sạn, đưa tôi đến cầu thang. Thang máy có thể là một cái bẫy chết người. Nó có thể bị dừng lại giữa các tầng. Có thể có ai đó đứng phía trên thang máy. Điều này không phải chỉ có ở trong phim ảnh. Hoặc một bất ngờ lớn xảy ra khi cửa thang máy mở. Nếu có sự sắp xếp này, nhân viên đứng quầy hẳn sẽ lo lắng hơn khi chúng tôi tiến gần đến phòng của người bác sĩ vì anh ta biết sẽ bị giết chết bởi kẻ mai phục hoặc giả không thì tôi cũng sẽ làm việc đó.

Google photo

Chúng tôi bước vào cầu thang lồng. Tôi rút khẩu súng lục ra và ấn số tầng chúng tôi lên. Tôi đưa mắt nhìn lên xem có họng súng nào đang chĩa vào đầu mình hay không, rồi quét mắt qua những cầu thang trước mặt. Khi lên đến tầng bốn, tôi đang định bảo nhân viên đứng quầy ra trước thì anh ta đã làm rồi. Anh ta dẫn tôi qua hành lang và mở khóa cửa phòng của bác sĩ. Sau khi vào phòng, tôi khóa cửa lại. Tôi không muốn có bất kỳ vị khách không mời nào bất ngờ xuất hiện phía sau. Người nhân viên đứng quầy tiến vào giữa phòng và bắt đầu gói ghém đồ đạc cá nhân của bác sĩ – mọi việc diễn ra đều hoàn hảo. Nếu có kẻ nào đó tấn công thì trước tiên hắn phải tấn công người nhân viên đứng quầy. Nhìn thấy thái độ thoải mái của anh ta tôi hoàn toàn tin tưởng anh ta không gài bẫy mình. Tôi lục soát căn phòng đề phòng có kẻ đang ẩn nấp. Tôi lục soát nhà tắm, tủ đồ, gầm giường… nói chung là tất cả mọi ngóc ngách của căn phòng. Sau đó, tôi hạ thấp tấm rèm xuống ngang cửa sổ, ra dấu cho Johnny biết tôi đã ở trong phòng và mọi việc đều ổn. Nếu tôi không ra dấu cho Johnny trong vòng năm phút, anh ta sẽ lên phòng hỗ trợ tôi.

Nhân viên đứng quầy thu xếp chiếc va li kéo, một túi quần áo và một chiếc va li xách tay đựng đầy đô- la. Tôi băn khoăn tự hỏi không biết vị bác sĩ này lấy ở đâu ra mà nhiều tiền thế. Có thể ông ta mang tiền từ Mỹ sang để sống ở đây nhưng cũng có thể ông ta dính líu vào một vụ việc gì đó. Sau khi thu xếp đồ xong, nhân viên đứng quầy khênh đồ xuống cầu thang. Cảm thấy thoải mái hơn, tôi vẫn cầm súng trong tay nhưng không chĩa về những điểm tiềm ẩn rủi ro. Khi đến chân cầu thang, tôi bỏ súng vào túi. Tôi đưa mắt liếc nhanh khắp hành lang. Dường như mọi thứ đều ổn thỏa cả. Tôi cảm ơn nhân viên bán hàng và cầm lấy hành lý. Sau khi móc túi đựng quần áo vào va li xách tay, tôi kéo va li kéo bên tay trái, còn tay phải tôi xách va li xách tay. Khi tôi ra khỏi khách sạn, hai tên côn đồ nhìn thấy tôi. Dường như họ biết tôi đến khách sạn để làm gì và cũng biết tôi biết họ đứng đó để làm gì. Liệu chúng bay có dám hạ gục tao không? Nếu họ cử động, tôi sẽ bỏ va li xách tay xuống và nhanh chóng rút khẩu súng lục trong túi ra. Tôi có thể vừa bắn vừa di chuyển và chúng sẽ bị kẹt trong xe. Nếu chúng cố gắng làm điều đó, hẳn đó sẽ là một ngày tồi tệ đối với chúng.

Google photo

Johnny lái xe đến và đậu ngay phía sau chúng. Nếu muốn bắn vào xe chúng tôi, bọn chúng phải ra khỏi xe và quay đầu lại. Khi đó, chúng không được bảo vệ bởi cửa xe nữa. Johnny bước ra khỏi xe với khẩu súng trong tay. Cánh cửa xe bảo vệ phần dưới cơ thể của Johnny. Sự xuất hiện của Johnny làm tôi cảm thấy thực sự an tâm. Tôi đi qua những tên côn đồ, ném hành lý vào sau xe và ngồi ở ghế sau. Hai tên côn đồ quay hẳn đầu lại nhìn chúng tôi, nói với nhau một vài câu gì đó rất nhanh. Johnny lái xe ra ngoài và đi một vòng tròn quanh khu nhà. Khi chúng tôi trở lại vị trí ban nãy, hai tên du côn đã mất dạng.

Chúng tôi đón bác sĩ tại Đại Sứ quán, đưa trả ông hành lý và lái xe đưa ông đến một cơ quan của Mỹ ở Manila, ở đây có nơi mua sắm và một nhà hàng. Chúng tôi giữ ông ở đó cho đến giờ chuyến bay cất cánh. Ông cứ liên tục cảm ơn chúng tôi. Khi lái xe đưa ông đến sân bay, chúng tôi đã phái một chiếc xe đi trước để thám thính. Ông tiếp tục nói lời cảm ơn chúng tôi “Hai cậu đã cứu sống tôi.” Chúng tôi đưa ông ta lên máy bay. Sau đó, ông đã viết thư đến Đại Sứ quán cảm ơn vì sự giúp đỡ của chúng tôi và điều này đã đem lại danh tiếng cho chúng tôi. Sau này chúng tôi mới phát hiện ra thực chất của câu chuyện rằng ông này đã hẹn hò với con gái một ông trùm. Cô ta bị ông ta đoạt mất đời con gái và hứa sẽ kết hôn với cô mặc dù đã có kế hoạch rời khỏi Philippines. Khi phát hiện ra điều này, ông trùm đã không chấp nhận lời hứa hôn và tìm cách xử lý tay bác sỹ. Có lẽ điều đó là hoàn toàn xứng đáng với hắn. Quá trình bình phục chấn thương của tôi còn mất một thời gian rất dài sau đó. Lúc này, vết thương vẫn hành hạ tôi vào ban ngày và làm tôi mất ngủ vào đêm. Nhiệm vụ bảo đảm an ninh ngoại giao là một công việc dễ dàng hơn rất nhiều so với nhiệm vụ của Đội đặc nhiệm SEAL số 6. Lúc này tôi biết mình sẽ chẳng còn đủ khả năng để đảm nhận những công việc khó khăn như trước nữa. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ an ninh ngoại giao, tôi trở lại đội. Chúng tôi tiếp tục thực hiện những công việc thường ngày: chạy, tập bắn trong nhà và ngoài sân bãi. Tôi nhận ra, mình không thể hoàn thành tốt những công việc này.

Google photo

Tôi nói với Chỉ huy trưởng của Đội số 6 “Tôi sẽ thu xếp đồ đạc và trở về Georgia vì vết thương làm tôi đau triền miên ở chân, hông và cổ. Tôi ngủ không ngon giấc.” Ở thời điểm đó, tôi không biết điều gì đang xảy ra với mình. Sau khi điều chỉnh dáng đi để bớt đau chân, tôi vô tình lại khiến thiết bị xoay chân lắp bên ngoài ảnh hưởng đến hông. Cổ tôi kéo theo chiều ngược lại và kết quả là bị đau lây.

“Tôi biết cậu là người như thế nào. Nếu cậu muốn, tôi sẽ chuyển cậu đến bất kỳ đội nào cậu muốn, kể cả đến làm huấn luyện viên ở trường Huấn luyện các bài cơ bản dưới nước (BUD/S). Cậu có thể chọn làm huấn luyện viên một trong những khoa ở đó: Tác chiến trên không, trên thuyền hay nâng cao khả năng chịu đựng dưới nước. Bất kỳ điều gì cậu muốn. Chỉ cần bảo với tôi và tất nhiên mọi việc đều do cậu quyết định.”

Tôi hiểu mình sẽ chẳng bao giờ có thể làm được những gì đồng đội của tôi đang làm. Tôi vẫn nhớ những lần tôi bước lên bậc cầu thang ở phòng tập bắn – phải bám lấy ba người để đi lên. Điều này chưa bao giờ xảy ra với tôi trước đó. Tôi biết thời kỳ đỉnh cao của mình đã qua. Giờ tôi không còn khả năng đó nữa. Tôi không giỏi, không nhanh và các giác quan của tôi không tinh nhạy như trước đây nữa. Chính xác mà nói, tôi không còn đủ sức khỏe để làm những gì trước đây tôi vẫn thường làm. Tôi nói “Cảm ơn Chỉ huy trưởng. Tôi sẽ không là một thành viên của đội nữa, tôi muốn bắt đầu một chương mới trong cuộc đời của mình. Làm một công việc khác để xem ngoài kia mọi thứ như thế nào”.

Gần như từ lúc trưởng thành đến nay, tôi đều gắn cuộc đời của mình với quân ngũ. Quyết định này quả là mạo hiểm: Chẳng biết tôi có thể làm gì trong thế giới dân sự?

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 14 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Chương 24

Trước khi chính quyền Rome chơi bạo bằng cách thành lập Lực lượng đặc biệt tiễu phỉ, Guiliano vẫn ngang nhiên đi về Montelepre bất cứ khi nào nó muốn, coi lực lượng cảnh vệ địa phương có cũng như không. Lúc đó hắn thường trông thấy Justina Ferra. Thỉnh thoảng cô lại nhà hắn chơi, hoặc để nhận tiền mà Guiliano gởi, giúp đỡ ông bà già của cô. Thời gian đó, thật sự, Guiliano cũng chẳng dè trước được là lúc trổ mã cô nàng lại là một thiếu nữ lộng lẫy, nẩy lửa. Cho đến một ngày kia, hắn gặp cô nàng theo ông bà già đi mua sắm ở thủ phủ Palermo để chuẩn bị lễ kính nhớ Thánh bổn mạng của thị trấn. Ở thị trấn Montelepre heo hút kia thì làm gì có những thứ ngon lành. Đã thế, giá cả lại cao ngất trời xanh. Cái gì cũng tưởng như làm bằng vàng. Hôm đó, Turi và mấy tay em cũng đi mua sắm.
Cách hôm gặp gỡ ở Palermo sáu tháng, Guiliano không thấy lại cô nàng. Ai dè chỉ trong sáu tháng, như con nhộng lột xác thành con bướm rực rỡ, cô bé Justina trổ mã thành một cô gái đẹp rực rỡ. Thân hình dong dỏng cao, thon. So với tầm vóc trung bình của gái Sicilian vào tuổi đó thì cô nàng thuộc loại “trường túc”. Cặp giò thon, dài, dận trên đôi giày cao gót mới mua. Năm đó cô nàng mới ở tuổi trăng tròn lẻ. Nhưng cái khí hậu cận nhiệt đới của Sicily đã làm cho khuôn mặt và vóc dáng cô bé sớm trổ mã thành một cô nàng nom mơn mởn. Mái tóc đậm màu, buông xõa như dòng suối chảy gọn gàng theo ba chiếc kẹp có gắn cái gì đó nom như ba viên ngọc. Chiếc cổ cao, thon, nõn nà như cổ của bức tượng Ai Cập khắc họa trên các bình hoa. Đôi mắt to, ngây thơ, ngơ ngác con nai vàng. Bộ phận duy nhất trên khuôn mặt phản lại cái vẻ ngây thơ là cái miệng. Môi dưới hơi trề ra, nom đã thấy chất “ham muốn” rồi. Cô nàng mặc bộ đồ trắng, dải băng đỏ quấn ngang đầu.
Lúc đó – đối với Guiliano – cô bé là vẻ yêu kiều hiện thân bằng da thịt, đến nỗi, Guiliano nhìn đến lõ mắt ra hồi lâu. Hắn đang ngồi nhâm nhi ly cà – phê tại một quán ngòai trời. Cô nàng cùng với ông bà già tình cờ đi ngang. Nhìn thấy hắn đấy chớ. Nhưng, ông già tảng lờ như không thấy. Bà già liếc nhanh, chỉ có Justina là cứ ngó đăm đăm vào anh chàng. Tuy nhiên, cô nàng cũng đủ “chất Sicilian” để ngó thì ngó chớ chào thì không. Chào, lộ hết cả còn gì! Nhưng, coi thiên hạ như củ khoai, cô nàng cứ mắt anh chàng mà đá long nheo. Còn chàng như bị hớp hồn. Chàng thấy đôi mắt kia dường như hé nở nụ cười tủm tỉm. Trong ánh nắng trên hè phố Palermo, nàng lộng lẫy, chờn vờn trong ánh hào quang. Cái vẻ đẹp dữ dội, nảy lửa, “rất Sicilian” từ thuở nào tới giờ vẫn là sản phẩm độc đáo loại này! Từ ngày lao thân vùng vẫy trong chốn giang hồ, Guiliano vẫn không dám mơ tưởng, nhất là không dám tin cậy vào tình yêu. Đối với hắn, yêu là chấp nhận sự khuất phục. Và tình yêu là mầm mống của phản trắc, của lừa lọc. Và do đó, tình yêu đối với đàn bà con gái là con đường đưa người hùng đến chỗ suy bại. Nhưng, lúc ngồi ở quán cà – phê, nhìn thấy Justina, hắn cảm thấy một cái gì đó hoàn toàn mới lạ. Một cái gì đó đột nhiên chụp lấy hắn, ùa tràn và chạy rần rật khắp toàn thân, khiến cho hắn cảm thấy không thể không tự nguyện làm nô lệ cho cô nàng. Nhưng, hắn lại không nhận ra đó là tình yêu mà hắn thường đồng nhất với bóng dáng của tử thần.
Một tháng sau ngày gặp gỡ “dở chứng” ấy, hình ảnh của một Justina đứng chờn vờn trong vòng hào quang trên đường phố Palermo cứ lở vởn trước mắt và ám ảnh trí Guiliano. Hình ảnh ấy không mờ đi thì chớ, lại còn rõ nét thêm. Hắn tưởng đó là sự thèm khát khoái cảm nhục dục. Lâu rồi, hắn không còn được hưởng khoái cảm ấy với La Venera. Thế rồi, không những chỉ trong giấc ngủ hắn mới mơ thấy cảnh hoan lạc với nàng. Ngay lúc tỉnh thức, giữa ban ngày, ban mặt, hắn mơ được dắt nàng đi lang thang trên rặng núi, chỉ cho nàng cái hang núi này, cái khe núi kia mọc đầy hoa dại rực rỡ sắc màu, ngạt ngào hương bay, chia sẻ cùng nàng những món ăn nóng hổi trên các bếp lửa ngòai trời. Cây đàn ghi – ta còn để lại nhà. Thế mà nó vẫn mơ gẩy đàn cho nàng nghe. Hắn hình dung mình và nàng ngồi bên nhau thủ thỉ, cho nàng xem những bài thơ hắn đã làm trước kia, trong đó có bài đã được đăng báo. Hắn còn dám nghĩ đến chuyện liều lĩnh lẻn về Montelepre, đến tận nhà của nàng để được nhìn thấy nàng, mặc dầu Montelepre lúc này đầy cớm và cảnh vệ. Nhưng, hắn cũng kịp tỉnh ngộ để biết rằng hắn đang bị những hiểm nghèo vây bủa, rình rập. Và ước mơ đó thật điên khùng.
Vào thời gian này, Guiliano chỉ còn hai con đường để lựa chọn. Một là bị bọn cảnh vệ bắn chết. Hai là tìm được một chỗ ẩn thân bên Mỹ hay Brazil. Nếu cứ tiếp tục mơ tưởng đến cô nàng thì chuyện đi Mỹ là không thể có được. Bởi vậy, phải gạt bỏ hình ảnh cô nàng khỏi tâm trí. Hay là… dụ cô nàng trốn đi theo sang Mỹ. Nếu vậy, hắn sẽ trở thành kẻ tử thù của ông già cô ta. Sicilian là thế đó. Cheo cưới đàng hoàng. Nếu không, xin miễn. Không thể có chuyện dụ con gái nhà người ta, rồi tiền trảm hậu tấu. Không thể có chuyện khơi khơi dắt nhau đi cho đến khi con cái đề huề, rồi quay về lạy mẹ lạy cha. Ngay chính Guiliano cũng không chấp nhận vượt quá quyền ông bà già, rất ghét chuyện dụ dỗ con nhà lành. Guiliano rất “cổ điển”, rất “truyền thống” trong quan niệm gia đình. Vợ cái, con cột. Bất di bất dịch, chính hắn đã có lần quất Aspanu một trận nên thân về tội dụ dỗ gái tơ. Và cũng đã có ba thằng tay em của hắn bị xử tử về tội hãm hiếp. Hắn muốn Justina nghĩ về hắn như một người sẽ đem lại hạnh phúc cho cô nàng, hắn sẽ ân ái với nàng và nàng phải cảm phục hắn, nhìn hắn như hắn tự nhìn mình. Hắn muốn đôi mắt cô nàng tràn ngập tin yêu đối với hắn.
Đầu óc “chiến lược gia” của Guiliano làm gì mà chẳng giúp hắn tìm ra được giải pháp cho vấn đề. Giải pháp đó là bí mật cưới cô nàng. Không có ai ngoài cha mẹ đôi bên biết điều này. Dĩ nhiên, Aspanu và một vài tay chân thân tín nữa cũng được chia sẻ bí mật đó. Sau khi cưới nếu có cơ hội an toàn, nó sẽ “nháy” cô nàng vào trong hang núi sống với hắn vài ngày. Là vợ của Guiliano cũng có nghĩa là chấp nhận hiểm họa. Sau đó, hắn sẽ tìm cách đưa cô nàng sang Mỹ. Ở đó, cô nàng sẽ chờ đợi cho đến khi hắn trốn qua được.
Đó, giải pháp của Guiliano là vậy. Không hiểu Justina nghĩ sao.
Từ năm năm qua, lão Caesaro Ferra đã là thành viên bí mật trong băng của Guiliano. Tất nhiên, nhiệm vụ của lão không phải là đánh đấm, đâm chém. Lão thuộc ngành “văn”, chứ không phải ngành “võ”. Lão làm công tác tình báo. Tối ngày bí mật dò la theo dõi tin tức, rồi báo cho Guiliano. Vợ chồng lão Caesaro là chỗ quen biết với ông bà già của Guiliano. Hai nhà chỉ ở cách nhau mười căn. Guiliano là một thanh niên có học thức nhất trong số dân ở thị trấn Montelepre. Hắn không muốn thành một anh canh điền cổ cày vai bừa. Khi Justina còn là đứa con nít đánh mất tiền, nó đã cho tiền “đền” và còn viết vài hàng để con bé mang về nhà. Trong giấy ấy có hứa là cả gia đình sẽ được hắn bảo trợ. Nhận được giấy, lão Caesaro qua gặp ông bà già của Guiliano để cám ơn và tự nguyện được “giúp hắn một tay”. Lão dò la thu thập – trong và quanh vùng thị trấn Montelepre và ngay cả tại thủ phủ Palermo – những tin tức về hoạt động của bọn cớm, của các nhà giàu có máu mặt để Guiliano bắt cóc đòi tiền chuộc, phát hiện những tên làm chỉ điểm cho cớm… Mỗi lần bắt có thành công, lão cũng được chia phần “chiến lợi phẩm”. Lão mở một quán nhậu nho nhỏ. Vừa làm kế sinh nhai, vừa làm nơi moi tin và chuyển tin.
Khi Silvio Ferra giải ngũ về nhà trở thành đảng viên xã hội, lão Caesaro đã đuổi hắn ra khỏi nhà. Chẳng phải vì lý do gì quan trọng mà lão dứt tình cha con. “Để nó ở nhà, có ngày cả gia đình mang đại họa lây vì nó”. Lão không hề có ảo tưởng về nền dân chủ của các ngài chính khách của đảng Dân chủ Thiên chúa giáo. Khi Silvio bị sát hại, lão đã nhắc lại cho Turi lời hắn đã hứa bảo trợ cho gia đình lão, Turi hứa sẽ báo thù.
Lão Caesaro không bao giờ phiền trách Guiliano. Lão biết vụ tàn sát ở Portella đã làm cho Guiliano rất khổ tâm, rất buồn phiền và đến bây giờ vẫn còn day dứt. Lão biết điều này qua mụ vợ của lão, khi mụ cùng bà già của Guiliano chuyện vãn với nhau. Gia đình Guiliano sung sướng biết bao trong những ngày trước khi tai họa khủng khiếp xảy ra. Tức là ngày đứa con trai cưng của họ bị cớm bắn tưởng chết. May mà sống sót. Những vụ giết chóc do Guiliano gây ra từ trước đến giờ – theo lão Caesaro – đều là chính đáng, cần thiết hoặc ít ra cũng là bất đắc dĩ cả. Nhưng bà già của Guiliano vẫn cứ áy náy về từng vụ. Khi xảy ra vụ Portella, lão Caesaro để tâm dò la manh mối, lão quyết phanh phui cho bằng được điều bí ẩn ở Portella. Phải chăng Passatempo đã điều chỉnh sai tầm súng? Phải chăng thằng đồ tể hóa sát khát máu ấy bắt chết đàn bà con nít cho sướng tay? Có thể có một bọn khác không phải là người của Guiliano đã thực hiện cái việc tàn sát ác nhân ác đức ấy để làm ô danh hắn? Nếu vậy, bọn đó là tay chân của Ông Trùm Croce hay là bọn cớm? Không ai thoát khỏi sự nghi ngờ của lão Caesaro, từ Guiliano. Bởi vì, nếu đến như Guiliano mà cũng còn như vậy nữa thì – theo lão – thế giới này hết thuốc chữa. Lão thương Guiliano như thương con mình. Lão đã nhìn thấy hắn từ lúc hắn còn là đứa trẻ ở truồng cho đến lúc hắn trở thành một nhân vật tiếng tăm lừng lẫy. Chưa bao giờ lão thấy hắn tỏ ra tán tận lương tâm, xấu xa, độc ác, đểu cáng, háo sát.
Lúc nào lão Caesaro cũng tai tỉnh mắt tinh, không để lọt một lời nói, một cử chỉ vô tình của khách nhậu. Lão cung cấp đồ nhậu cho những thủ hạ bí mật của Guiliano chưa bị đại tá Luca tống giam. Lão chăm chú ghi nhận từng chi tiết cỏn con, vu vơ, không đâu của đám “Người anh em”, tay chân bộ hạ của lão Croce vẫn thỉnh thoảng đến đây – trong lúc nhâu nhẹt, đánh bài – đã hớ hênh xì ra. Có một đêm, lão đã nghe thấy chúng cười nói bàn tán với nhau về việc thằng “súc sinh” và thằng “quỉ sứ” đã bí mật đến gặp Ông Trùm. Và thằng già “lựu đạn” này đã gạ gẫm và mua chuộc hai thằng côn đồ, cốt đột này thành tay sai, chỉ điểm cho lão.
Lão Caesaro nghiền ngẫm về những chi tiết cỏn con ấy. Với đầu óc tinh quái và một tay Sicilian thứ thiệt, lão rị mọ chắp nối, sắp xếp những chi tiết cỏn con, vu vơ, rời rạc, vụn vặt ấy thành một câu chuyện có đầu đuôi mạch lạc. Do đó, chỉ với một vài điều bâng quơ do bọn kia vô tình xì ra, lão đã suy ra thành một câu chuyện như thế này. Passatempo có hỗn danh là đồ tể thì trong câu chuyện của lũ kia, nó mang cái tên là thằng “súc sinh”, Andolini có biệt danh là “thầy dòng” thì trong câu chuyện được gọi là quỉ sứ. Có thế chứ! Villaba cách xa Montelepre như vậy thì hai tên này bí mật mò đến đó làm gì? Và chúng đã nói năng gì, thỏa thuận gì trong những lần gặp gỡ bí mật ấy? Lão đã sai thằng nhóc mười tuổi, con lão, đến nhà bà già Guiliano để nhắn cho Guiliano có tin khẩn. Hai ngày sau lão được Turi hẹn gặp trên núi. Lão đã kể cho Guiliano đầu đuôi câu chuyện mà lão đã xây dựng được. Guiliano lắng tai nghe, nhưng không tỏ ra một chút xúc động nào. Hắn chỉ thề sẽ tìm mọi cách để phát hiện cho bằng được điều bí mật ấy.
Bẵng đi ba tháng, Ferra không nghe thấy Guiliano nhắc nhở gì đến vụ ấy. Lão đã tưởng Guiliano cũng đã bỏ qua, sau khi dò tìm không ra manh mối. Bỗng một hôm lão được Guiliano nhắn mời lên núi. Lão hồi hộp và khấp khởi mừng thầm, vì chắc đã được nghe đoạn kết của câu chuyện do chính lão bắt đầu.
Guiliano và đồng đảng – trong giai đoạn này – phải rút sâu vào trong núi để tránh sự uy hiếp trực tiếp và thường xuyên của đại tá Luca. Caesaro phải đi ban đêm. Gặp Pisciotta tại điểm hẹn. Sau đó được dẫn tới “bản doanh” của Guiliano. Mãi đến gần sáng họ mới tới nơi. Có bữa ăn nóng chờ họ. Thức ăn ngon được bày ra trên bàn có trải khăn đàng hoàng. Bộ đồ ăn mạ bạc. Turi mặc áo lụa trắng. Quần nhung màu nâu da bò. Chân mang giày da đánh xi bóng lộn. Tóc chải sáp láng bóng. Chưa bao giờ nó diện bảnh như hôm nay.
Pisciotta rút lui để hai người nói chuyện với nhau. Guiliano coi bộ có một cái gì đó có vẻ ngượng nghịu không thoải mái tự nhiên và thân mật như mọi lần. Hình như hắn đang ốm.
– Cháu cám ơn bác đã cung cấp những tin tức quí báu, rất quan trọng – Guiliano trịnh trọng nói, – cháu đã theo dõi, điều tra. Và quả đúng như vậy. Rất quan trọng. Nhưng, hôm nay cháu mời bác đến để bàn một chuyện khác. Điều cháu sắp thưa với bác chắc sẽ làm cho bác ngạc nhiên và cháu mong sẽ không làm phiền lòng bác.
Lão Caesaro giật mình, nhưng lão cũng nói một cách nhũn nhặn:
– Anh nói quá chăng. Có bao giờ anh làm phiền tôi đâu. Tôi còn mang ơn anh thì có.
Guiliano mỉm cười. Nụ cười cởi mở, thành thật mà lão đã nhìn thấy ở hắn từ lúc nó còn bé.
– Bác nghe cho kỹ này. Cháu thưa với bác bước thứ nhất đã. Nếu bác không thuận thì cháu xin phép khỏi phải nói bước kế tiếp. Và cũng xin nói rõ, cháu nói chuyện này không phải trong cương vị chỉ huy. Và bác thì không phải trong tư cách thuộc cấp mà là trong tư cách người cha của cô Justina. Chính bác cũng đã biết là cô ấy rất đẹp. Và cũng đã có vô khối cậu lượn tới, lượn lui trước cửa nhà bác. Cháu cũng biết là hai bác đã dạy dỗ cô ấy rất đàng hoàng. Và cô ấy cũng là người đứng đắn, gia giáo. Phải nói, đây là lần đầu tiên cháu cảm thấy như… Cháu muốn cưới cô ấy làm vợ. Nếu như bác từ chối, cháu cam đoan với bác, đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng cháu đề cập đến vấn đề này với bác. Sau này, cháu không bao giờ nhắc đến nữa. Và bác vẫn cứ được cháu trọng vọng, kính nể như từ trước đến nay. Và cô ấy cũng vẫn được cháu đặc biệt bảo trợ. Nếu bác trả lời “được”, cháu sẽ tiến bước thứ hai là sẽ hỏi xem cô ấy có thuận không. Nếu cô ấy trả lời “không”, thì lại coi như không có vấn đề gì.
Lão Caesaro nghe mà trong lòng bối rối quá chừng. Đến nỗi lão ta cứ lắp bắp mãi:
– Để tôi nghĩ coi, để tôi nghĩ coi…
Rồi, lão làm thinh một hồi lâu. Khi lão cất tiếng nói, thì cũng vẫn nhũn nhặn. Và có lẽ còn nhũn nhặn hơn trước nữa:
– Em nó được anh thương đến thì còn gì bằng nữa. Cứ ý tôi thì có đến mòn con mắt ra nó cũng sẽ chẳng tìm được đâu ra một tấm chồng bằng anh. Thằng Silvio nhà tôi – nếu nó còn sống – chắc chắn nó cũng sẽ bằng lòng. – Rồi, lão lại lắp bắp: – Tôi lo là lo sự an nguy của em nó kìa. Nếu biết Justina là vợ anh, thế nào thằng cha đại tá Luca cũng tìm mọi cách bắt giam nó, hoặc dùng nó làm mồi để bẫy anh. Mà ngay cả đám Mafia – anh cũng biết hiện chúng đang thù anh đến tận xương tận tủy – cũng sẽ chẳng để nó yên thân. Phần anh – nói anh bỏ quá cho – anh chỉ có hai đường hoặc trốn sang Mỹ, hoặc bỏ xác trên núi này. Em nó còn trẻ quá mà phải cảnh góa bụa. Tôi không đành lòng. Tôi rất thành thật với anh, thương anh và thương con mà nói như vậy, mong anh bỏ qua cho. Có nó, đời anh thêm vướng víu, bận bịu. Cái đó là cái làm cho tôi lo hơn cả. Một chú rể mà lúc nào cũng phải nơm nớp đề phòng cạm bẫy kẻ thù thì làm sao mà sung sướng được. Cuộc hôn nhân này có thể dẫn anh đến chỗ chết. Ấy, chẳng qua là vì tôi quá thương quá quí anh mà phải nói thẳng, nói thật nên hóa ra nói năng càn rỡ chăng. Nếu cứ để đến lúc tương lai của anh ngã ngũ ra sao thì hãy tính, chắc là hay hơn. – Nói xong lão nhìn thẳng vào mắt hắn xem hắn có vẻ phật ý không. Nhưng lão thấy mặt nó ỉu xì. Rõ là mặt của một anh chàng thất tình. Lão cảm thấy có một cái gì đó trong lòng lão thôi thúc, bắt buộc lão phải nói thêm:
– Nói vậy không phải là tôi kiếm cớ để thoái thác, từ chối đâu.
Guiliano thở dài:
– Cháu cũng đã nghĩ đến tất cả những cái đó. Kế hoạch của cháu là thế này. Cháu sẽ bí mật cưới Justina. Cha bề trên Manfredi sẽ làm phép hôn phối cho chúng cháu. Phép cưới sẽ cử hành ngay trên núi này. Bất cứ ở một nơi nào khác cũng sẽ vô cùng nguy hiểm cho sinh mạng của cháu. Nhưng cháu sẽ sắp xếp để cả hai bác đến đây dự lễ cưới. Sau đó, sau đó cô ấy sẽ ở lại đây với cháu vài ba ngày. Rồi cháu sẽ lại gửi cô ấy về nhà. Nếu chẳng may cô ấy thành góa bụa, thì cháu cũng đã dành được một món tiền đủ để cô ấy sống cả đời. Hai bác khỏi lo cho tương lai cô ấy. Thương cô ấy, cháu sẽ phải chắt chiu, chăm chút bảo vệ cổ cả đời chứ. Nếu tình hình trở nên tệ hơn, cháu lại càng phải lo cho tương lai cổ hơn. Lấy một thằng như cháu làm chồng, thì quả là quá ư liều lĩnh thật. Một người cha khôn ngoan và thương con cái như bác thật có lý để không cho con mình liều lĩnh như vậy.

Photo edit by sơn râu

Lão Caesaro hết sức xúc động. Anh chàng này nói năng thật mộc mạc, đơn giản. Nhưng thẳng thắng và chắc nịch, và cũng hết sức tha thiết. Và trên hết, nó đi thẳng vào vấn đề. Không vòng vo tam quốc. Cũng không úp úp mở mở gì cả. Hắn đã dự kiến hết. Kể cả những tình huống xấu nhất. Lão đứng dậy, ôm hôn hắn:
– Thật là hân hạnh cho tôi quá. Để tôi sẽ nói với em nó.
Trước khi ra về, lão Caesaro cho biết lão rất sung sướng nếu cái tin mà lão đã cung cấp quả là có ích và giải thoát được tiếng oan cho hắn. Và lão ngạc nhiên trước sự thay đổi trên gương mặt Guiliano. Đôi mắt mở lớn ra. Cứ nhìn bâng khuâng. Khuôn mặt đẹp trai đanh lại và lạnh như đá cẩm thạch.
– Cháu sẽ mời cả hai – Andolini và Passatempo – dự lễ cưới. Sau đó, cháu sẽ tính.
Chỉ mãi sau này lão Caesaro mới hiểu ra tại sao kỳ cục vậy. Đám cưới mà lại phải làm bí mật, lén lút.
Ở Sicily, chẳng có gì là chướng, là bất thường khi một cô gái, cho đến lúc lấy chồng, vẫn chưa có một lần gặp gỡ riêng người mà cô sẽ lấy làm chồng. Tục lệ ở đây vẫn đòi hỏi khắt khe một người con gái chưa chồng – khi ra khỏi nhà – phải luôn luôn làm thế nào để đàn ông không được nhìn thẳng mặt mình. Nếu thấy chỉ thấy được nửa mặt thôi. Không được phơi cái mặt lồ lộ khi ra đường. Nếu không, sẽ bị coi là gái buông tuồng, không đứng đắn. Trai gái cũng không có chỗ nào khác để gặp nhau “hợp pháp” ngoài khu vực nhà thờ. Ở đó, lúc nào các cô cũng được Đức Thánh Nữ Đồng Trinh Mary bảo vệ và được đôi mắt chăm chú của bà “sơ” già trông chừng. Nếu anh chàng nào chỉ mới nhìn nghiêng một em mà đã thấy mết rồi, và muốn tâm sự dài dòng thì phải viết thành những bức thư nói rõ ý định của mình. Đây là vấn đề đứng đắn quan trọng. Bởi vì chỉ cần làm không hợp pháp, thì cũng đủ để sinh chuyện đổ máu. Có những tay viết thư chuyên nghiệp đã được mướn để viết những bức thư như vậy. Ăn nói láng cháng, hoặc lời lẽ tối tăm, không rõ ràng minh bạch là có thể có đám ma thay vì đám cưới. Bởi vậy, trường hợp Guiliano ngỏ lời trực tiếp và thẳng thừng với ông bố Justina chẳng có gì là bất thường, ngoại trừ trường hợp không có dấu hiệu gì cho thấy anh chàng đã “nhắm” em bé đó từ trước.
Lão Caesaro cũng biết trước câu trả lời của cô nàng sẽ là “thuận”. Lúc còn bé, mỗi khi cầu kinh tối có bao giờ cái miệng leo lẻo của nó quên đọc trơn tru câu “Xin Chúa gìn giữ Turi Guiliano khỏi tay bọn cớm”. Lúc nào nó cũng xăng xái đem tin đến hoặc kiếm chuyện để đến nhà của bà già thằng kia. Và khi biết tin có đường hầm thông từ nhà Guiliano sang nhà La Venera, con bé làm như hóa khùng. Lúc đầu, ông bà già nó cứ tưởng là con nhỏ tức điên lên vì ông bà già của Guiliano – mà nó rất quí mến – bị bắt. Về sau hai ông bà mới hiểu. Thì ra cô nàng ghen.
Biết trước câu trả lời, nên khi nghe con bé trả lời “chịu” Caesaro không ngạc nhiên. Điều làm cho lão ngạc nhiên là cái cách nó tiếp nhận tin đó. Nó mỉm cười tinh quái. Cứ như thể chính nó đã sắp đặt để “chài” thằng kia. Và nó đã bẫy được.
Phía sâu trong các dãy núi có một lâu đài – đúng hơn là một pháo đài – do người Viking phương Bắc xây cách đó hàng ngàn năm trước, nay đã hoang phế. Guiliano quyết định làm đám cưới và hưởng tuần trăng mật ngay tại đó. Để cặp tân hôn không bị quấy nhiễu bởi những cuộc đột kích bất ngờ, Guiliano đã ra lệnh cho Aspanu lập một vành đai an ninh và phòng thủ.
Rời tu viện trên một chiếc xe lừa kéo, kế đó, cha bề trên Manfredi được cáng đến nơi. Ngài rất ngạc nhiên khi thấy bên trong khu lâu đài này lại có một nhà nguyện riêng. Tất nhiên những bức tượng có giá trị và các đồ gỗ đã bị đánh cắp từ hồi nảo hồi nào. Nhưng tảng đá được dùng làm bàn thờ nom vẫn đẹp. Thực ra, Cha bề trên cũng không ưng ý lắm việc Guiliano lấy vợ. Nhưng khi phép thánh đã ban xong rồi, ngài mới vui miệng nói đùa với nó: – Guiliano, con nên lưu ý đến châu châm ngôn này: “Chơi một mình thì khỏi sợ thua”.
– Nhưng, con cũng phải nghĩ đến hạnh phúc riêng của con chứ, – Guiliano cười đáp. Sau đó hắn nhắc lại câu tục ngữ của dân nhà quê mà Cha bề trên cũng lấy làm thích thú. Đó là: “Thánh thiện đến như Joshep mà cũng lo cạo râu cho mình, rồi sau đó mới cạo râu cho các thánh khác”. Câu nói đó làm cho cha bề trên khoái chí cười ha hả. Ngài lật mũ xuống, lấy ra chứng thư hôn thú đã viết sẵn và giấu trong đó. Ngài cầm vào trao cho Guiliano. Đó là một ấn chỉ rất đẹp, chữ in kim nhũ theo lối viết bay bướm kiểu Trung cổ.
– Chứng thư hôn thú này đã được ghi vào sổ của tu viện. Nhưng con cứ yên trí, không ai được xem sổ này đâu.
Cô dâu và ông bà nhạc đã cưỡi lừa đến từ đêm hôm trước. Họ ở trong một phòng của tòa lâu đài đã được thủ hạ của Guiliano dọn dẹp quét tước sạch sẽ. Có giường bằng tre, trải nệm rơm. Guiliano cảm thấy hơi buồn vì ông bà già hắn đã không dự lễ cưới của hắn được. Người của đại tá Luca bám sát họ. Thủ hạ của Guiliano chỉ có Aspanu Pisciotta, Stefan Andolini, thầy cai Canio Sylvestro, Passatempo và Terranova được mời dự lễ cưới. Justina mặc bộ áo cưới trắng tinh đặt may tại Palermo. Cô nàng nhìn anh chàng, mỉm cười. Guiliano choáng váng, ngây ngất vì nụ cười rạng rỡ ấy. Cha bề trên làm lễ vắn tắt. Sau đó tất cả kéo ra bãi cỏ trước tòa lâu đài. Bàn ăn đã dọn sẵn. Cũng thịt, cũng bánh, cũng rượu. Tất nhiên là không ê hề, sang trọng. Họ uống mừng cô dâu chú rể. Tiệc cưới “thời chiến”, trong tinh thần khẩn trương, nên các thực khách cũng làm lẹ lẹ. Cuộc trở về của cha bề trên vừa dài vừa nguy hiểm. Họ lo là bất thình lình bị toán tuần tiễu của cảnh vệ chộp được. Hoặc có thể bị kẹt giữa hai lằn đạn của cảnh vệ và của chính các tay em của Guiliano. Vì nhiều lý do nên cha bề trên muốn quay về gấp gấp. Nhưng Guiliano đã giữ ngài lại một chút:
– Con xin cám ơn Cha về những gì Cha đã ban cho con. Nhất là những gì Cha đã làm cho con ngày hôm nay. Nhân ngày cưới của con, con cũng xin được đền đáp công ơn của Cha, dưới một hình thức hơi khác lạ. Tuy nhiên, muốn vậy, con phải được sự giúp đỡ của Cha.
Cha bề trên và Guiliano tách ra khỏi bàn và nói nhỏ với nhau một chút. Cha bề trên gật đầu. Justina ôm hôn cha mẹ. Đưa đôi mắt khẩn khoản, bà mẹ nhìn cô nàng, rồi nhìn Guiliano. Justina thì thầm cái gì đó vào tai bà mẹ khiến bà bỗng bật cười. Lại ôm hôn lần nữa trước khi ông bà lên lưng lừa ra về.
Cô dâu chú rể động phòng tại phòng ngủ của tòa lâu đài hoang phế. Căn phòng trơ trọi không có đồ đạc gì. Nhưng Guiliano cũng cho chở đến đấy một tấm nệm nhồi lông ngỗng và bọc bằng lụa. Mền, gối đủ lệ bộ. Tất cả đều được đặt làm tại Palermo. Ngay trong phòng ngủ có một bồn tắm lớn làm bằng thạch cao. Tất nhiên là không có vòi nước. Nhưng, đích thân Guiliano xách nước từ dòng suối trong veo chảy gần đó đổ đầy bồn. Trong phòng tắm có đủ thứ hết. Từ xà – phòng thơm cho đến dầu thơm thứ cực kỳ đắt giá mà từ nhỏ đến giờ đây là lần đầu tiên Justina mới được nhìn thấy.
Lúc đầu, thấy mình trần truồng bên cạnh một người đàn ông, cô có vẻ ngường ngượng, thèn thẹn. Nằm nghiêng, co giò, hai tay nhét vào giữa cặp đùi kẹp chặt. Làn da mịn, hây hây. Cô nàng trông có vẻ mảnh khảnh, nhưng bộ ngực tròn trịa, căng phồng, nảy lửa. Khi được chàng hôn, cô hơi nghiêng đầu để môi chàng chỉ đủ chạm môi mình. Không vồ vập. Không “háu”. Anh chàng vẫn kiên nhẫn, không phải cái thứ kiên nhẫn của một tay dày dạn kinh nghiệm trong chiến trận dập liễu vùi hoa. Nhưng là cái kiên nhẫn của bậc thầy về du kích chiến. Nàng hất mái tóc đậm màu của mình ra phía sau. Chàng vuốt tóc nàng, thủ thỉ nói cho nàng nghe cái cảm tưởng khi, lần đầu tiên, ở Palermo, chàng “khám phá” ra nàng. Nghĩa là thấy nàng như một cô gái mơn mởn, chứ không còn là cô bé loắt choắt nữa. Chàng đột nhiên thấy nàng đẹp biết chừng nào! Chàng đọc cho nàng nghe những bài thơ chàng đã làm khi mình trơ trọi trên núi, lòng mơ tưởng đến sắc đẹp của nàng. Nàng nằm duỗi dài ra, nhưng lại lấy mền phủ lên thân thể. Chàng nằm bên cạnh. Nhưng nàng vẫn tránh đôi mắt của chàng.
Justina cũng nói cho chàng nghe nàng đã yêu chàng như thế nào. Yêu ngay từ lúc đem bức thư của Silvio Fera đến cho chàng. Yêu lập tức. Yêu mê say. Yêu cuồng nhiệt. Nàng cảm thấy như tim mình tan nát khi chàng không nhận ra nàng là cô bé gái năm xưa ngồi khóc ti tỉ bên đường vì bị cớm cướp mất tiền. Nàng nói, ngay từ lúc còn nhỏ xíu đó, đêm đêm nàng vẫn cầu nguyện cho chàng. Và lúc mới mười hai tuổi nàng đã yêu chàng mê mệt.
Turi cảm thấy hạnh phúc tràn ngập khi nghe nàng nói như vậy. Thì ra trong lúc chàng tưởng mình trơ trọi, cô đơn trên núi, thì ở Montelepre nàng đã yêu, đã mơ, đã tưởng nhớ đến chàng. Chàng vuốt tóc nàng. Nàng đưa tay nắm chặt lấy tay chàng. Bàn tay ấm áp, mềm mại, nhỏ xinh không nắm kín được tay chàng.
– Em có ngạc nhiên khi anh nói với cha em xin cưới em không?
– Sức mấy mà ngạc nhiên. Kể từ lúc anh nhìn em ở Palermo, em đã biết. Đâu cần phải nói, em cũng đã chuẩn bị để… là của anh rồi!
Chàng cúi xuống. Gắn chặt môi mình vào môi nàng. Lúc đó, nàng không nghiêng, không né nữa. Chàng ngạc nhiên vì hương vị ngọt ngào từ miệng nàng, từ hơi thở của nàng, từ làn da thịt săn mịn của nàng. Lần đầu tiên trong đời, chàng cảm thấy thân thể mình mềm nhũn, như tan chảy ra. Nàng quăng tấm mền đắp lên người ra. Áp sát vào chàng. Hai tay ôm chặt lấy chàng. Da thịt áp sát vào da thịt. Hai thân thể như tan hòa vào nhau. Hòa nhập làm một. Chàng cảm thấy thân thể nàng hòan toàn khác hẳn những thân thể mà chàng đã từng ôm ấp. Nàng nhắm mắt lại.
Turi hôn tới tấp như mưa vào môi, vào ngực nàng. Làn da nóng hổi như muốn đốt cháy đôi môi chàng. Chàng choáng váng ngây ngất vì hương vị từ da thịt nàng. Ngọt ngào. Chưa hề vương vấn hệ lụy cuộc đời. Còn tươi trẻ. Và hoàn toàn không có bóng dáng sự tàn lụi, chết choc. Chàng đưa tay ve vuốt cặp đùi nàng. Bàn tay mơn man trên là da mịn màng làm cho chàng thấy run lên như có làn điện truyền qua, chạy khắp thân thể và làm cho chàng có cảm giác như là đau đau. Nhưng, chàng kinh ngạc vì cảm giác ấy lại làm cho chàng phá lên cười lớn tiếng. Nàng vội vã lấy tay bịt miệng chàng, cầm tay chàng đặt lên đùi mình. Chàng cảm thấy đê mê như mất hết cảm giác. Chàng ghì chặt nàng bằng một đam mê bốc lửa. Lúc đầu nàng đã đáp lại bằng ve vuốt nhè nhẹ, từ từ, hơi có vẻ dè dặt. Nhưng sau đó, nàng cũng như một đám lửa bùng cháy lên. Dữ dội.
Đến lúc rạng đông, Justina nằm lăn ra ngủ.
Nàng tỉnh dậy thì mặt trời đã lên gần đỉnh đầu. Bồn tắm nước đã đầy. Thùng đựng nước bên cạnh cũng đầy. Không thấy Turi đâu. Một mình, Justina cũng cảm thấy sờ sợ. Nàng vào nhà tắm, tắm rửa.
Bên ngòai, mặt trời tháng năm chói lọi như đổ lửa. Nhưng gió đã làm dịu không khí nóng. Trên bàn ăn, thức ăn đã bày sẵn. Turi đã ngồi chờ ở đó. Không có ai, Justina chạy lại, ôm chầm lấy Guiliano và hôn say sưa. Nàng cám ơn chàng đã dọn cơm. Nhưng lại trách chàng đã không đánh thức nàng dậy sớm để lo cơm nước. Một người đàn ông cặm cụi nấu nướng để cho bà vợ nằm ngủ là điều chưa bao giờ nghe thấy ở Sicily.
Hai người ăn uống ngoài trời. Bao quanh họ, phía xa xa đã có bức tường thành đổ nát của tòa lâu đài hoang phế. Bên trên họ, ngọn tháp sừng sững. Họ lững thững dắt tay nhau ra vườn. Những cây ôliu cổ thụ, những gốc chanh, cam dại mọc rải rác. Nơi nơi, hoa dại nở rực rỡ. Hoa cô phúc thọ trắng muốt điểm những vết đỏ thắm. Theo truyền thuyết, loài hoa ấy là hiện thân kết cục bi thảm của mối tình nồng cháy giữa thần Vệ nữ và thần Andonises. Guiliano ôm choàng ngang lưng Justina, lững thững bước ra phía ngoài tường thành đổ nát. Mái tóc nàng, thân thể nàng như đượm mùi hương hoa dại. Đi ngang lùm cây ôliu, Justina nũng nịu dìu chàng ngồi xuống. Họ say sưa ân ái ngay giữa trời, trên thảm cỏ hoa đồng nội. Trên trời xanh trong vắt, một áng mây trắng lờ đờ trôi. Xung quanh họ, những cánh bướm sặc sỡ rập rờn.
Ngày thứ ba và cũng là ngày cuối cùng Justina ở lại với Guiliano, họ nghe thấy tiếng súng từ xa vọng về. Justina hốt hoảng, sợ hãi. Guiliano trấn an nàng. Chàng đã sắp đặt rất kỹ lưỡng, cẩn thận để trong ba ngày này không xảy ra một bất trắc nào. Ngay trong chỗ họ đang ở, Guiliano cũng làm thế nào để không gợi lên trong lòng Justina ý nghĩ và hình ảnh chết chóc, bạo lực. Súng, chàng giấu trong kẽ khối đá làm bàn thờ. Chàng dặn những người canh gác phải ở thật cách xa và không xuất hiện với vũ khí để Justina nhìn thấy. Không phải là chàng khinh suất, thiếu cảnh giác. Chàng chỉ sợ trong lúc đang du dương, nghe thấy súng, nàng giật mình, nghĩ ngợi vẩn vơ. Một lát sau khi nghe thấy tiếng súng nổ, Aspanu Pisciotta xuất hiện. Con thỏ rừng máu me bê bết vắt vẻo trên vai. Justina cười:
– Có một con thỏ mà bắn chi dữ vậy, ông mãnh?
Ném con thỏ xuống chân Justina, Aspanu đủng đỉnh đáp:
– Làm cho thằng chồng mày ăn đi. Món khoái khẩu của nó đấy. Ở đó mà một con. Có quyền nấu hư con này. Hai chục con nữa cũng có.
Justina cúi xuống, nhặt con thỏ đem làm thịt. Pisciotta ngoắc tay ra hiệu cho Guiliano đi theo y. Hai đứa đi ra khỏi cổng lâu đài, ngồi xuống trên một tảng đá.
– Nè, Turi, – Pisciotta nói, giọng có vẻ cằn nhằn, – liệu con nhỏ ấy có đáng để tụi mình phải liều mạng vậy không?
– Hiện nay tao đang ngụp lặn trong hạnh phúc, – Guiliano trầm giọng, đáp. – Nhưng thôi, nói tao nghe hai chục con thỏ mày vừa bắn hạ được đó.
– Một tóan tuần tiễu. Thứ dữ của thằng cha Luca. Hai xe võ trang hạng nặng. Tụi tao chặn nó ở vành đai an ninh, lừa cho một xe chạy vô bãi mìn. Ầm một phát. Trúng liền. Chiếc xe bốc cháy như đuốc. Mấy con trên xe, nếu không đi đứt ngay thì cũng bị thương, không lết được, dù còn sống cũng bị thui. Xe kia vội de gấp. Chạy có cờ mà vẫn bắn ào ào. Tội nghiệp mấy tảng đá. Sáng mai, thế nào tụi nó cũng quay lại. Để hốt xác đồng đội chứ. Và, chắc chắn là đông. Nặng đó, cha. Bởi vậy, tao đề nghị, ngay tối nay tụi mình dời đó.
– Sáng mai ông già của Justina đến đây đón nó về. Mày đã thu xếp điểm hẹn chưa?
– Rồi.
– Sau khi vợ tao về rồi, – Thấy Guiliano lắp bắp, bẽn lẽn nói khẽ tiếng “vợ tao”, Pisciotta cười. Guiliano cũng mỉm cười theo và tiếp. – … Mày bảo mấy thằng kia vô chỗ nhà nguyện. Ở đó, tụi mình sẽ tính. – Im lặng một chút, hắn nói tiếp: – Mày có ngạc nhiên khi tao vạch trần sự thật vụ Portella della Ginestra không?
– Ngạc nhiên đếch gì!
– Mày ở lại ăn tối với tụi tao?
– Để mừng đêm tân hôn cuối cùng của mày đấy hả? – Pisciotta lắc đầu. – Mày có biết câu ngạn ngữ này không?
Coi chừng dâu mới làm cơm
Thơm ngon chưa thấy, tai ương gần kề.
Câu ngạn ngữ ấy ám chỉ sắc đẹp giai nhân đã khiến cho biết bao anh hùng vương lụy. Trầm ngâm, Pisciotta khẽ nói tiếp, như thể nói với chính mình:
– Thê tróc, tử phọc. Cổ nhân đã dạy. Mấy khi sai? Con là cái nợ. Vợ là oan gia. Cửa nhà là nghiệp chướng!
Thâm thúy khiếp chưa. Triết lý sống, nhân sinh quan của ông ranh Pisciotta là thế đấy. Guiliano mỉm cười:
– Tao biết. Sự thể này không thể kéo dài. Dĩ nhiên. Mình sẽ phải sống cách khác. Mày ráng giữ vững an ninh vành đai cho đến sáng mai. Cho đến lúc tụi mình đâu đó mọi việc thu xếp xong.
Pisciotta gật đầu. Nó liếc mắt về phía đống lửa, Justina đang lúi húi làm cơm.
– Con nhỏ đó đẹp ác. Coi, nó đẹp rực rỡ ngay trước mũi tụi mình từ hồi nào tới giờ, mà sao giờ này mình mới phát hiện ra, nhỉ? Mà này, ông già nó nói là nó có máu sư tử đó. Coi chừng. Chớ để súng liền tay nó. Có ngày!
Nhận xét và khuyến cáo của Pisciotta không ra ngòai truyền thống của mấy anh nhà quê ma mãnh. Nhưng Guiliano tảng lờ, làm như không nghe thấy. Pisciotta nhẹ nhàng chạy len lỏi qua những gốc ôliu, thoăn thoắt nhảy qua bức tường thành đổ nát, rồi mất hút trong đám ôliu khác.
Justina kiếm mấy bông hoa dại, cắm vào cái bình cũ mèm, sứt mẻ lượm được đâu đó trong khu lâu đài. Vậy mà bông hoa cũng làm cho bàn ăn có vẻ trịnh trọng. Trên bàn, nàng dọn những món ăn vừa nấu. Thịt thỏ rô – ti, xốt cà chua nêm tỏi. Một đĩa xa – lát trộn dầu ôliu. Chai rượu vang đỏ. Nàng thấy Turi có vẻ như hơi bứt rứt, buồn bực. Nàng đoán có lẽ là do mấy tiếng súng nổ hồi nãy. Cũng có thể là do Pisciotta với nét mặt hắc ám, khẩu súng lục đen sì – đã làm vẩn đục chốn bồng lai của nó.
Đôi lứa ngồi đối mặt. Ăn uống chậm rãi. Guiliano thầm nghĩ: “Cô nàng nấu ăn không phải là dở”. Nàng rót thêm rượu, gắp thêm thức ăn, bẻ thêm bánh mì… cho đức lang quân. Rõ ra là một người vợ hiền. Bà già rèn kỹ thiệt. Guiliano để ý, cô nàng – tuy không phải bợm – nhưng ăn nhậu cũng không phải hạng xoàng. Cũng đúng thôi. Thân hình ấy, tuy chưa thể gọi là “vâm”, nhưng cũng đâu phải là loại mình ve, xác hạc. Nàng ngước mắt nhìn chàng đang đăm đăm nhìn mình, rồi toét miệng cười.
– Ngon bằng bà già anh nấu không?
– Hơn chứ! Nhưng, chớ có nói với bà vậy, nghen!
Cô nàng vẫn cúi lom lom nhìn chàng. Như mèo rình chuột.
– Ngon bằng Le Venera nấu không?
Turi coi vậy, chớ hồi nào tới giờ đã làm gì có mối tình đầu, tình cuối nào. Có yêu thương mèo mỡ nhí nhố bao giờ đâu. Mới lớn lên thì đã sống “đời giang hồ” rồi. Một mình, cu ki với mấy thằng đực rựa cũng như mình. Nứng lên thì đã có chị em ta. Cùng lắm thì dành “chị Năm” vậy. Bởi vậy, câu hỏi của Justina thật bất ngờ khiến anh chàng bối rối không thể ứng đối tức khắc và trôi chảy được. Tuy nhiên, đầu óc chiến lược gia mà, đời nào chịu bí. Hắn thấy ngay cả một chuỗi những câu hỏi tiếp theo câu hỏi: “La Venera nấu ăn có ngon không. Chẳng hạn, “vui vẻ” với La Venera có đã không. Vân vân và vân vân. Guiliano không muốn nghe và không muốn trả lời những câu hỏi như vậy. Nó không khinh rẻ, không coi như điếm, nhưng dứt khoát là khỏi có cái chuyện yêu đương mụ nạ dòng đó. Gọi là dịu dàng và kính trọng đối với La Venera thì có, chứ yêu đương thì không. La Venera, một người đàn bà đã phải chịu nhiều đau khổ phải qua nhiều kinh nghiệm thương đau, phải chứng kiến nhiều thảm kịch. Một cô gái hơ hớ, mới lớn như Justina làm sao mà hiểu được tình cảnh và thân phận của một người đàn bà như vậy.
Justina đứng lên dọn bàn. Nhưng vẫn chần chờ. Đợi câu trả lời của chàng. Guiliano mỉm cười, nhìn vợ:
– La Venera là một tay nấu ăn tuyệt vời. Sức mấy mà em đòi sánh với chị ấy.
Chiếc đĩa bay vút qua đầu Guiliano. Anh chàng không nín cười được. Chàng cười vui vẻ khóai chí. Vì cái cảnh đĩa bay cũng có, mà vì lần đầu tiên, cái mặt nạ dịu dàng, thùy mị của cô nàng đã bị tuột ra cũng có. Nhưng khi thấy cô nàng bật khóc, anh chàng cuống quít ôm chặt cô nàng trong vòng tay. Hai người cứ thế đứng ôm nhau trong ánh nắng chiều vội tắt ở Sicily. Anh chàng thì thầm bên tai đỏ ửng giấu dưới lọn tóc đậm màu của cô nàng:
– Anh nói giỡn mà. Nấu ăn em là số dách. Hơn cả bà già anh, hơn xa La Venera. Em nấu ăn tuyệt nhất trần đời!
Anh chàng cúi xuống để cô nàng không thấy nụ cười mỉm ranh mãnh của mình.
Đêm cuối cùng đó, đôi tân hôn nằm nói chuyện với nhau nhiều hơn là ân ái nhau. Justina hỏi anh chàng về La Venera. Guiliano nói đó là dĩ vãng, nên quên đi. Nàng hỏi sau này hai đứa làm thế nào để gặp nhau. Guiliano cho cô nàng biết tin nó đang thu xếp để gửi cô nàng sang Mỹ trước. Và hai người sẽ gặp nhau ở đó. Nhưng, điều đó cô nàng đã được ông già cho hay trước rồi. Cô nàng chỉ muốn biết làm thế nào để hai đứa gặp nhau lần nữa, ít nhất trước khi nàng đi Mỹ. Không bao giờ Guiliano nói cho Justina biết rất có thể nó sẽ không bao giờ thoát được. Cô nàng chịu sao thấu một kết thúc khủng khiếp như vậy?
Sáng sớm tinh mơ hôm sau, ông bố cô nàng đến. Justina đeo dính cứng trên cổ Guiliano cho đến lúc ra về.
Guiliano đi tới nhà nguyện nằm trong khu lâu đài cổ. Nó chờ đời Pisciotta dẫn mấy sếp tới. Trong khi chờ đợi, Guiliano lấy súng giấu đằng sau tảng đá dùng làm bàn thờ và đeo vào người.
Trong lúc nói chuyện với Cha bề trên, ngay sau lúc làm phép cưới, Guiliano đã bày tỏ với cha sự nghi ngờ của hắn về việc Passatempo và Stefan Andolini bí mật gặp Ông Trùm. Hắn đảm bảo với Cha bề trên là con trai của ngài khỏi lo. Điều nó đặc biệt muốn biết là sự thật trong vụ này. Cha bề trên đã kể cho nó đầu đuôi câu chuyện. Và, đúng như nó đã dự đoán, Andolini đã thú nhận tất cả với Cha.
Ông Trùm bảo Stefan Andolini rủ Passatempo bí mật đến gặp lão ở Villaba. Andolini được lệnh ở ngoài để hai người kia nói chuyện riêng với nhau. Và họ nói với nhau những gì, tất nhiên, Andolini không thể biết. Việc này xảy ra chỉ hai ngày trước khi xảy ra vụ Portella del Ginestra. Sau vụ ấy. Andolini cật vấn Passatempo. Tên này nhận là Ông Trùm đã trả một món tiền rất lớn, khi hắn làm sai lệnh của Guiliano nghĩa là chĩa súng bắn vào đám đông. Passatempo dọa ngược trở lại Andolini. Nếu tên này làm cho Guiliano hay, thì Passatempo cũng làm cho Andolini chết chìm cùng hắn. Bằng cách tố với Guiliano là chính Stefan Andolini môi giới và cũng có mặt trong lúc Ông Trùm thương lượng với hắn. Andolini sợ, không dám nói với ai khác, ngoài ông già ruột, tức là cha bề trên. Suốt một tuần lễ sau vụ thảm sát đó, Guiliano buồn kinh khủng. Nhìn nét mặt buồn khổ của Guiliano, Andolini tin rằng, nếu Guiliano biết thì chắc chắn cả Passatempo lẫn gã, không thể nào thoát chết. 
Guiliano đã cho Pisciotta biết ý định khu xử của hắn. Nhưng phải đợi sau “tuần trăng mật” của hắn đã. Guiliano không muốn làm đồ tể trước khi làm chú rể. 
Ngôi nhà nguyện bị tróc mái từ lâu. Cho nên, đứng trong nhà nguyện mà cũng như đứng ngoài trời. Guiliano đứng tựa lưng vào tảng đá dùng làm bàn thờ, dưới bầu trời trong xanh Địa Trung Hải. Chờ các sếp của hắn tới. 

Photo edit by Sơn râu

Pisciotta nói vắn tắt cho thầy cai biết sự việc sắp xảy ra và dặn gã phải đứng chỗ nào để họng súng của gã dễ dàng chế ngự thằng đồ tể và thằng quỷ sứ. Hai tên này được dẫn thẳng đến trước mặt Guiliano. Riêng Terranova, khi đến nhà nguyện, chẳng biết đầu đuôi ất giáp gì. Hắn ta ngồi xuống cái ghế đá kê sẵn từ đời nào trong nhà nguyện. Suốt đêm rồi, hắn ta phải thức trắng để chỉ huy đội phòng thủ vành đai an ninh. Do đó, giờ này hắn mệt lả người ra. Guiliano không hề nói với ai là hắn sẽ xử lý trường hợp Passatempo như thế nào. 
Passatempo như một con thú hoang có bản năng đánh hơi trước được cạm bẫy, nguy hiểm. Cho nên, ngay khi vừa đặt chân vào nhà nguyện, nó đã cảm thấy một cái gì khang khác và đặc biệt nguy hiểm cho nó. Cho đến lúc đó, Passatempo vẫn chưa biết việc gì sắp xảy ra. Bởi vì, cho đến lúc đó, Guiliano đối đãi với nó vẫn y như thường. Thật ra, từ lâu Guiliano đã biết Passatempo là một con thú hoang. Do đó, khi bố trí công tác, Guiliano vẫn sắp đặt sao cho Passatempo và thủ hạ của nó có một khoảng cách nào đó với các sếp khác. Guiliano vẫn gớm cái thói dã man của thằng này. Passatempo thường được giao nhiệm vụ đao phủ để xử tử những tên phản bội, làm chỉ điểm cho cớm hoặc làm ngáo ộp để hù những vị khách mời bướng bỉnh, cứng đầu, cù cưa tiền chuộc. Chỉ cần nhìn thấy cái bản mặt cô hồn thần chết của nó, thì khách mời dù có lì cách mấy cũng phát khiếp và thương lượng gấp gấp cho rồi. Nhưng có những vị dù đã được thấy dung nhan cô hồn của nó rồi mà vẫn còn lì, thì đích thân Passatempo sẽ thông báo cho khách và gia đình những biện pháp kế tiếp của nó. Cách đối xử của nó thì thú vị đến nỗi hầu như không vị khách nào dám cò kè. Hết bao nhiêu thì hết, ôkê, trao tiền gấp mà về để khỏi phải nhìn cái bản mặt thần chết của nó. 
Guiliano chĩa mũi súng vào Passatempo và nói: 
– Trước khi chuyển trại, tao phải thanh tóan món nợ này đã. Không nói thì tụi bay cũng biết món nợ ấy là gì. Nhưng cũng nên nói ra cho rõ. Tụi bay đã nhận tiền của thằng già khốn nạn Croce để bắn vào đám dân vô tội ở Portella đặng vu cáo, bêu xấu tao. 
Passatempo cố nhướng con mắt ti hí của nó lên để nhìn Guiliano, để dự đoán khoảng cách an toàn của mình với Guiliano. Đồng thời, để xem Guiliano sẽ coi ai – nó hay Andolini – là chánh phạm. Mặc dù chính nó cũng là bị cáo, nhưng nó nghĩ, nó cũng có thể làm một cái gì đó để tự vệ. Nhưng, Pisciotta cũng đã chĩa súng vào nó. Guiliano nói với Terranova: 
– Tao biết mày và đám thuộc hạ tuân thủ đúng chỉ thị của tao. Nhưng Passatempo thì không. Làm như vậy, nó kéo cả mày vào vòng nguy hiểm. Vì nếu tao không tìm ra được sự thật thì cả hai thằng chúng bay cùng chung số phận. Nhưng, đã rõ chỉ có Passatempo mới phải thanh toán món nợ này. 
Andolini có tâm trạng của một tín đồ tuyệt đối tin tưởng vào Chúa, và hoàn toàn phó thác cho Chúa. Một tín đồ tuyệt đối tin Chúa sẽ không bao giờ nghĩ là Chúa sẽ hại mình, dù mình có phạm đến tội gì chăng nữa. Cũng vậy, Andolini đã tuyệt đối trung thành với Guiliano. Tuy nhiên, gã cũng vẫn sợ. Không dám nhúc nhích và hòan toàn phó thác cho số phận. 
Với bản năng thú vật, Passatempo cảm thấy cái chết cầm tay. Lúc này – nó nghĩ – có lẽ ngòai sự độc ác của nó, chẳng cái gì có thể giúp nó thoát khỏi cái chết gần kề. Hai họng súng đã chĩa vào nó rồi. Chỉ có nước tìm cách trì hoãn phút nào hay phút nấy. Rồi bất thình lình hạ độc thủ. Trong hoàn cảnh này, mười mất, một còn cũng là hy vọng. Mong manh, nhưng cũng là hy vọng. 
– Chính thằng Andolini môi giới, chuyển tin, chuyển tiền cho tao, sao không xử nó? 
Thâm ý của Passatempo là lôi kéo Andolini vào đồng minh. Nếu thằng này cũng có một hành động gì đó cùng một lúc với nó, thì hai chọi hai hoặc cùng lắm hai chọi bốn, nếu kể cả Terranova và Sylvestro về phe Guiliano, thì cũng vẫn có nhiều cơ may hơn là một mình nó chọi với tất cả. 

– Andolini đã thú tội với tao rồi. Vả lại, trong vụ đó, tay nó đâu có đụng vô cò súng. Thằng già khốn Croce đã lừa nó, như nó đã lừa tao. 
Passatempo bối rối thấy rõ: 
– Nhưng, tao đã giết cả trăm mạng rồi, mà mày có phàn nàn, trách móc gì đâu. Vụ Portella cách nay cũng đã hai năm rồi. Tao sống chung với mày cũng đã sáu bảy năm nay, chớ đâu phải ít. Trong suốt thời gian đó chỉ có mỗi một lần đó là tao không nghe lời mày. Thằng già Croce đã thuyết phục tao là mày không thể nào biết được. Lão cũng nói là bắn hù theo kiểu mày chưa đủ “đô”, dân nó cóc sợ, không chắc ăn. Với lại, vài mạng người chết có nhằm nhò mẹ gì, so với số người mà tụi mình đã “xịt”. Vậy mà mày làm chi dữ vậy. Ngoại trừ lần đó, tao chưa bao giờ tỏ ra bất trung với mày. 
Đến nước này, Guiliano thấy rõ là hết thuốc chữa cho thằng khốn này. Không có cách gì để làm cho thằng chó đẻ này thấy được tầm mức tệ hại của việc nó làm. “Việc này có đáng gì so với biết bao nhiêu người đã bị mất mạng vì chúng nó. Chi mà dữ vậy. Qua từng ấy năm trời làm thằng ăn cướp, bộ thằng Guiliano không giết người chắc? Bộ thằng Guiliano không tàn bạo chắc? Xử tử thằng cha thợ hớt tóc, đóng đinh tên giả danh giáo sĩ, giết không tiếc tay mấy thằng chỉ điểm, làm thịt mấy thằng cớm, bắt cóc tống tiền… Những cái đó là việc làm phúc đức chắc? Nếu Passatempo là giống súc sinh lớn lên như dã thú, thì Guiliano là cái gì? Thánh chắc? Chúa tể Sicily chắc…”. 
Những ý nghĩ ấy tuồn tuột kéo nhau ra nhảy múa trong đầu óc Guiliano, khiến hắn cảm thấy như có cái gì đó miễn cưỡng khi phải xử tử Passatempo. Tuy vậy, hắn vẫn cứ nói: 
– Tao cho mày ít phút để ăn năn tội, làm hòa với Chúa. Quỳ xuống và cầu nguyện đi. 
Mấy người kia đứng tách ra xa khỏi Passatempo. Nó làm bộ như quỳ xuống cầu nguyện. Nhưng, bất thình lình, như một con thú nhảy chồm lên vồ mồi, nó lao về phía Guiliano. Nhưng cùng lúc đó, nòng súng chĩa thẳng vào ngực Passatempo, tiến lên một bước Guiliano lẩy cò. Viên đạn hất ngược Passatempo trở lại, nhưng, hai mắt mở trừng trừng, thân xác nó còn đủ đà để chạm vào người Guiliano trước khi ngã xuống giãy giụa. Guiliano bước tránh sang một bên. 
Trưa hôm đó, xác của Passatempo được phơi ra trên quãng đường mà bọn cớm vẫn tuần tiễu đi qua. Trên ngực nó ghim mảnh giấy ghi dòng chữ: “Những kẻ phản bội Guiliano sẽ chết như thế này”.



Hương rừng Cà Mau

vietmessnenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 14 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

13. Tình nghĩa giáo khoa thư

– Từ đây tới nhà ông Trần Văn Có gần hay xa vậy thầy?
Thầy xã trưởng đáp:
– Ở xóm Cà Bây Ngọp lận! Ðể tôi ra lịnh cho phó hương ấp đòi tên đó tới công sở…
Thầy phái viên nhà báo “Chim Trời” giựt mình.
– Tôi là phái viên, đâu có quyền hạn đó đối với quý độc giả thân mến gần xa.
Thầy xã hỏi:
– Phái viên là gì vậy thầy?
– Là người thay mặt cho tờ báo đi cổ động và thâu tiền.
– À! Bây giờ tôi mới biết cái thằng Tư Có. Nó thiếu tiền của nhà báo hả? Hèn chi nó bơi xuồng lên công sở lãnh báo, đúng bảy bữa là có mật nó. Nghèo không biết thân lại còn bày đặt làm sang mua báo không trả tiền!
Thầy phái viên cố nén sự bực tức khi nghe người độc giả thân mến của mình bị thầy xã khinh khi; thầy hút thuốc suy nghĩ rồi lại hơi buồn buồn mà nhớ đến sự thất bại về tài chánh.
Ông độc giả Trần Văn Có thiếu sáu tháng tiền báo tức là hai đồng sáu cắc rưỡi. Từ chợ Rạch Giá vô đây, thầy đã tốn gần ba cắc rưỡi tiền tàu, tiền thuốc hút. Chuyến về lại phải xuất thêm ba cắc nữa… Ông độc giả nghèo nàn này chắc gì trả được một đồng trong số tiền thiếu chịu nhà báo!
Nhưng đã tới đây rồi mà trở về thì uổng cuộc viễn du Hậu Giang này quá! Thầy phái viên quyết tình binh vực thể diện của người độc giả nọ:
– Không phải tôi đi đòi tiền! Tôi đi dò hỏi ý kiến bạn đọc đối với tờ báo. Tiền bạc là quý… Nhưng ý kiến của bạn đọc lại quý hơn. Ðộc giả ở tới đâu, chúng tôi đi tới đó.
Sau vài phút đi tới đi lui, thầy xã gất đầu:
– Ðược. Ðể tôi biểu thằng “Trạo” chèo tam bản đưa thầy. Thầy nên dè chừng. Tên Trần Văn Có nói mười, thầy tin một là vừa. Anh ta công kích tờ Lục Tỉnh Tân Văn của nhà nước Lang Sa gởi xuống công sở; đi ăn giỗ thì nói chuyện Hít Le, chuyện nước Ý đánh nước Á, chừng hỏi kỹ mấy nước đó ở đâu, anh ta bí lối nói lảng qua chuyện Tàu…
Thầy phái viên tò mò:
– Vậy thì ông độc giả của chúng tôi rành chử nho?
– Ai biết rõ được. Anh ta nói có dây có nhợ, tích người học trò nghèo tên là ngươì Thừa Cung gì đó… chăn heo; ông quan đại thần Lý Tích đích thân nấu cháo cho chị ăn dè đâu bị lửa táp cháy râu. Chưa hết đâu, thầy phái viên ơi! Hễ gặp ai say rượu anh ta nói một hơi như thầy chùa tụng kinh, có ca có kệ. Cái gì mà các anh hãy trông người kia đi ngoài đường, mặt đỏ gay, mắt lờ đờ…
Thầy phái viên cười lớn, nhịp mạnh tay xuống bàn ba bốn lần như đánh trống chầu hát bội, đôi mắt sáng ngời, chân nhảy nhót như con nít:
– Hay quá! Hay quá! Tôi thăm ông độc giả đó mới được. Ổng làm thầy giáo hả thầy? Nhờ thầy đưa tôi đi tới gặp mặt. Ngộ quá hen! Ừ! Ừ!
Bực mình quá chừng, thầy xã nghĩ: “Ông phái viên này kêu mình bằng thầy mà lại tưng bốc kêu Tư Có bằng ông. Hay là ổng chê mình không dám xuất tiền mua báo như Tư Có. Chừng bận về, mình mua vài năm báo chơi cho biết mắt”.
Thầy xã hối thúc cho chú trạo sửa soạn quai chèo đưa thầy phái viên đến ấp Cà Bây Ngọp. Thầy phái viên cám ơn một tiếng nhỏ rồi cúi đầu xuống nói rù rì như xa như gần, trong cuống họng:
– Ờ! Ðể coi các anh hãy trông người kia đi ngoài đường, mắt đỏ gay, mắt lờ đờ, quần áo xốc xếch, chân đi xiêu bên nọ vẹo bên kia, múa chân múa tay, mồm nói lảm nhảm… Lũ trẻ theo sau reo cười chế nhạo… Ðúng vậy, QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ lớp sơ đẳng, Việt Nam Tiểu học tùng thư… Sách náy do Nha Học Chính đã giao cho ông Trần Trọng Kim, ông Ðặng Ðình Phúc và ông Ðỗ Thận soạn… Eo ơi! Cái buổi thơ ấy đó nay còn đau.
Ðường đi ấp Cà Bây Ngọp quá xa vời! Chiếc tam bản nhún xuống một cái “ồ” rồi nhảy tới một cái “sạt” theo nhịp chèo hai chèo. Nắng chang chang rắc vàng trên thảm cỏ hoang xanh ngắt. Vài nhánh bình bát gie ra, quất vào bụi sột soạt. Xế chiều, cò trắng phất cờ như đón người khách lạ. Trích, cúm núm kêu ré lên. Con rạch thâu hẹp lại. Chiếc tam bản lắc nghiêng như trái dừa khô trên mặt nước đầu sóng gió. Ánh trạo chèo một chèo, nghiêng mình bên hữu. Rồi bỗng nhiên anh chụp mỗi tay một cây chèo mà chèo trên đất khô bên bờ rạch. Chiếc tam bản lại lướt nhanh trong lòng nước quá hẹp, vừa đủ lọt bề ngang.
Anh trạo mỉm cười:
– Chèo như vậy đi lẹ hơn. Mọi lần mùa hạn, nước cạn queo, dưới sông đầy bùn non, tôi cưỡi trâu trên bờ mà kéo. Chiếc tam bản đi như cộ kéo lúa…
– Chú trạo biết rành nhà Từ Có không?
– Dạ, biết. Tư Có ở một mình, nuôi heo, giăng câu, ăn ong, nghe nói y ở xứ Vãng Long xuống đây tính bề dạy học mà xin phép chưa được…

Buổi cơm chiều ngon lành làm sao! Ăn cá lóc nướng trui, uống rượu “ông cọp”. Anh trạo đã về, Tư Có kềm thầy phái viên ở lại ngủ một đêm, chú hứa sáng mai bơi xuồng đưa thầy trở lại công sở mà đón tàu đò. Thếp đèn dầu cá kéo thêm một tim thứ nhì nữa, cháy khá sáng. Bếp un dưới đất tỏa lên cuồn cuộn, tỏ rõ từng sợi khói mịn màng như mànhlưới tơ giăng bủa khắp căn chòi nhỏ hẹp.
Tư Có bỏ mùng xuống, chun vô tấn ba phía rồi mời:
– Thầy Hai vô trong này ngồi nói chuyện cho vui. Ở ngoài muỗi cắn. Khói như vậy mà muỗi cứ bu lại rớt lềnh trong thếp đèn dầu cá đó.
Ngượng nghịu, thầy phái viên nhà báo Chim Trời rón rén dở mí mùng, chun lẹ vào ngồi kế bên:
– Xứ gì lạ quá! Anh Tư ở đây hoài sanh bịnh chết.
Tư Có đáp:
– Xứ Cà Bây Ngọp, tiếng Khơ Me nghĩa là trâu chết. Hồi đó nghe nói trâu “len” tới đây thất bại, phong thổ ẩm thấp trâu chết nhiều quá. Họ đặt tên kỷ niệm luôn… Bởi vậy dân tình bịnh hoạn, thưa thớt, làng này chưa cất nổi cái trường học.
Thầy phái viên trố mắt:
– Vậy à? Còn mấy làng khác?
– Ðông Thái, Ðông Hoà, Ðông Hưng, Vân Khánh Ðông… không làng nào có trường hết. Thầy nghĩ coi…
– Hèn chi miệt này chỉ một mình anh Tư là độc giả báo Chim Trời của chúng tôi… Báo có thích hợp không anh Tư?
– Nói chí tình, đó là của người bà con ở Sài Gòn “đăng” dùm tôi, ban đầu tưởng nói chơi dè đâu nhà báo gởi xuống thiệt, xem cũng đỡ buồn. Phần nhiều bài vở của mấy ông viết cao quá. Tôi thường đọc cái trương Văn Uyển, có bài thơ bát cú vủa cô Bích Lý vịnh cảnh sông Hương. Hay quá lẽ! về sau, ông Trần Bất Diệt ở Cầu Kè họa vận…
Thầy phái viên gật đầu, ừ lấy lệ, thật ra hồi nào tới giờ đi cổ động cho báo Chim Trời mà ít khi thầy đọc kỹ báo nhà. Tư Có hỏi tiếp:
– Nhà báo Chim Trời đông người không thầy? Chắc là lớn lắm? Làm sao mà thành chữ được.
– Có thợ chuyên môn ráp từ chữ a, chữ b.
– Trời thần ơi! Biết tới chừng nào mới xong, chắc là thợ đông lắm… Còn mấy ông chủ nhiệm, chủ bút, phóng viên… Chắc làm việc rần rộ ngày đêm.
thầy phái viên sực nhớ đến tình trạng loe hoe của toà soạn, gật đầu lần nữa.
– Làm báo thì cần nhiều trí óc lắm phải không thầy phái viên? Tiếc là hồi nhỏ cha tôi chết sớm. Hồi đó, ổng làm thầy giáo cũng đặt thơ bát cú, từ cứ. Cha tôi chết, má tôi giữ mấy pho sách, dạy lại tôi. Ðó là sách Quốc Văn giáo khoa thư, thầy còn nhớ không?
Thầy phái viên cười:
– Nhớ chớ. Làm sao mà quên được! Hồi nhỏ tôi hớt “ca rê”, tay xách tòn ten bình mực đi học ở trường làng. Hồi đó, trí óc minh sáng suốt, nhớ dai lắm. Bây giờ lớn tuổi, đầu bạc hoa râm, đi làm ăn rày đây mai đó, nhớ nhà, nhớ trường học, nhớ làng xưa.
Tư Có nói:
– Chắc là thầy muốn nói bài “chốn quê hương đẹp hơn cả” chớ gì?
Rồi chú đọc một hơi:
– Một người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen người thuộc, làng xóm, láng giềng đến chơi đông lắm. Một người bạn hỏi: ông đi du sơn du thủy…
– Ðó đa! Ðó đa! Anh Tư nhớ kỹ quá… Người du lịch mới trả lời: ở chống quê hương… từ cái bụi tre ở xó vường cho đến con đường khúc khuỷu trong làng, cái gì cũng gợi cho tôi những mối cảm tình chứa chan… Bài đó có hình ông già mang kiếng, chống gậy nói chuyện với mấy người khăn đống áo dài.
– Thì hình nào cũng khăn đống áo dài. Trừ ra cái hình thằng nhỏ chăn trâu cầm roi: ai bảo chăn trâu là khổ… Không, chăn trâu sướng lắm chứ.
Thầy phái viên phụ họa theo như cùng hợp xướng:
– Ðầu đội nón mê như lọng che, tay cầm cành tre như voi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tôi nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bướm lượng trên đám cỏ…
Rồi thầy kéo qua những đoạn khác mà thầy nhớ:
– Hay quá! Nhà báo bây giờ không ai bằng. Văn chương như vậy là cảm động lòng người… Như cái hình ông già đẩy xe bò lên dốc, có hai đứa học trò kéo dây tiếp sức. Trời nắng to. Ðường thì dốc. Một ông lão đẩy cái xe lợn. Trên xe có ba bốn con lợn to, chân trói bụng phơi và mồm kêu eng éc…
Tư Có vỗ trán:
– Còn ông già khuân tảng đá nữa, thấy mà thương: Trời nhá nhem, chạng vạng tối, tôi thấy một ông cụ già hì hục khuân tảng đá. Ông cụ nhắc lên để xuống đến bốn năm lần mới đem được từ giữa đường đến chỗ bụi cây mà bỏ đấy… Lão đi lỡ vấp phải tảng đá này, sầy cả chân đau lắm nên khuân bỏ vào đây, sợ có người vấp nữa chăng.
Thầy phái viên lại không chịu rằng mình kém trí nhớ:
– Ngang hình ông già đó, trương phía tay trái có bài chọn bạn mà chơi, thói thường gần mực thì đen. Cha chỉ ngón tay, con đứng khoanh tay cúi đầu mà nghe. Dưới chót lại có hàng chữ: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài.
Tư Có gất đầu:
– Ðó là ngụ ý răn he gương tốt thói xấu. Phải siêng năng như Sửu chăm học, ngồi bên đèn mà đọc sách; đừng lười biếng như thằng Bình đánh vòng. Phải bền chí học hành. Ờ thầy phái viên chắc nhớ cái hình con kiến tha mồi! Văn chương nghe như đờn Nam Xuân: Nước mềm, đá rắn thế mà nước chảy mãi đá cũng phải mòn. Sợi dây nhỏ, cây gỗ lớn, vậy và dây cưa mãi cũng đứt. Con kiến nhỏ, cái tổ to, thế mà kiến tha lâu cũng đầy tổ. Người ta cũng vậy…

Không ai bảo ai, hai người lại nằm xuống lim dim. Tuổi của họ đã quá ba mươi! Nước chảy mãi mà sao đá không thấy mòn? Sợi dây cưa mãi, gỗ chưa đứt mà sợi dây sắp đứt trước. Sự nghiệp của họ nào đã có gì: Kẻ mến cái thú ở nhà quê, người lận đận với cái thú ở kẻ chợ.
Nằm mãi không ngủ được, thầy phái viên lắng nghe những tiếng động trong nhà, giữa tiếng mọt nghiến gỗ kèn kẹt như người đưa võng, bất chấp tiếng chuột chạy sột soạt và nhất là tiếng muỗi rừng lộng hành kêu vo vo, thầy mơ lại những ngày năm nay tôi lên bảy, tôi đã lớn, tôi không… lêu lổng nữa. Còn đâu mùi hương của những quyển sách mới bao bìa kỹ lưỡng nhưng vài ngày sau đã rách bìa! Làm sao nghe được tiếng phập phồng trong ngực của đứa bé khi trời mưa to, đi học trễ, run rẩy bước vào trường rồi cổi áo phơi ngay trong lớp… Ðây, thầy giáo mặc đồ bà ba, lâu lâu bước ra khỏi lớp để chào hỏi khi thầy xã, thầy cai tổng đi ngang qua. Một đôi lúc, thầy giáo quá cay nghiệt đã dùng thước đánh vào những đầu ngón tay non yếu, hoặc hươi cây thước bảng…
Dầu sao đi nữa, những kỷ niệm xa xưa vẫn vui, vui như một lũ học trò giành nhau chụp cho được cây dùi trống, đánh thùng thùng báo hiệu giờ vào lớp.
Giọng Tư Có nói nhỏ:
– Ngủ chưa, thầy phái viên?
Thầy phái viên yên lặng, trời mới mưa, các chỗ trũng đầy nước cả nên cóc và nhái kêu ính ỏi. Vài giọt mưa rớt nhẹ xuống đất… Và rơi trên rạch Cà Bây Ngọp trước nhà. Hồi năm nào, thầy là giọt nước trong lành đó, bây giờ nó đã trôi xa, ra sông, chứa đựng rác rến, chảy hăng ra biển. Ừ, hoạ chăng đó là con đường hiệu quả nhất là được sớm bốc thành hơi, đầu thai trở lại nguồn… Nghĩ vậy, thầy khoan khái mỉm cười ngồi dậy hỏi:
– Ngủ chưa anh Tư?
– Chưa!
– Tôi nãy giờ cũng vậy, muốn ngủ sớm để mai về nhà, mà không thấy mệt.
Im lặng một hồi lâu, rất lâu, Tư Có nói ngậm ngùi sau một tiếng thở dài:
– Biết lấy gì làm sở phí cho thầy. Thầy nói thiệt tình nghe coi… Chắc thầy tới đây thâu tiền.
– Ðâu có! Ðâu có! Mình là bạn đời với nhau…
– Thầy hiểu cảnh tôi. Không lẽ gởi cá lóc, rùa, mật ong… nhờ thầy đem về Sài Gòn gọi là tiền của tôi trả cho nhà báo. Tôi “đăng” là vì ái mộ báo Chim Trời chớ ít đọc lắm. Mấy thầy viết cao quá. Tôi mua để dành về sau cho đủ bộ.
– Anh Tư đừng ngại chuyện đó. Cứ tiếp tục đọc. Lâu lâu dò nơi mục Thư tính không chừng có lời của tôi thăm hỏi anh Tư. Nếu thấy báo đăng đòi tiền các độc giả, xin anh Tư hiểu rằng đó là nhắc nhở các người khác. Tôi hứa nói lại với ông chủ nhiệm mỗi kỳ gởi tặng anh Tư một số báo, hoài hoài cho tới số chót.
Chú Tư Có vô cùng cảm động:
– Thôi thầy ngủ lấy sức để mai về bình yên. Khuya nghe chồn cáo cộc kêu, thầy đừng giựt mình: Ở đây miệt rừng, không có… xa xa thì nghe tiếng chó sũa trăng.
Thầy phái viên cười dòn, tưởng tượng cái cảnh biệt ly ngày mai “Ôi! Cái cảnh biệt ly ở xóm Cà Bây Ngọp sao mà buồn vậy!” Vĩnh biệt thì đúng hơn. Nghe nó buồn như một giọng hò, một câu rao Vọng Cổ, nhưng thầy chưa muốn nói ra, giờ này.

Hương rừng Cà Mau

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 14 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

11. Một cuộc biển dâu

Linh đinh bèo nước biết về đâu?
Ðậu bến An Giang thấy những rầu,
Bảy Núi mây liền, chim nhíp cánh,
Ba dòng nước chảy, cá vênh râu.
Có rau nội quạnh, dân xanh mặt,
Không trái bần khô, khỉ bạc đầu…


Cử nhơn PHAN VĂN TRỊ


Lão Bích day mặt qua một bên. Nắng đổ xuống từng đóm lửa đỏ như mấy cục sắt trong lò rèn mới rút ra, chóa lên rồi bay bổng xa dần, trở nên phiêu diêu, mát rượi như bầy đom đóm vô hình bay trong đêm. Ðúng ba ngày rày, lão chỉ uống nước chớ không ăn một hột cơm nào. Hai hôm đầu, lão lấy cớ lả mệt. Hôm sau, đứa con lão bới cơm đầy chén, lão hứa sẽ ăn khi khỏe người. Chờ khi nó nằm ngủ trưa, lão đổ cơm trở vào nối, thảy xuống nước vài hột để nhìn bầy cá linh bu lại giành mồi, phóng mình lên… Giờ phút này, bụng dạ của lão thơ thới lạ thường, không biết đói là gì. hay là nó đã tê liệt rồi? Nhịn đói năm ba ngày liên tiếp không phải là một lý do đầy đủ để chết; sức người chịu dai lắm nếu hãy còn cảm giác biết đói. Ðằng này lão không đói nữa: phân nửa thân xác của lão, từ ngực trở xuống, dường như đã lìa. Từ ngực trở lên, qua hơi thở phơn phớt, lão ngỡ chỉ còn lớp da nhăn bọc xương khô. Bịnh lão hoành hành từ mười năm qua đã giúp lão trút nhẹ lá phổi, duy còn đôi mắt và hai lỗ tai. Nhưng hai giác quan này đã biến đổi, hư hao quá nhiều. Bây giờ là ngày hay đêm? Ở đây là biển trần khổ hay là ở trên bồng lại? Trong mớ ánh sáng lung linh, dường như có muôn ngàn gương mặt khác nhau hiện ra không rõ rệt, dịu hiền như ngọc nữ kim đồng, trong tiếng tiêu, tiếng sáo, tiếng đờn cò, giữa bầy phụng hoàng bay lượn.
Thằng Kim, đứa con lão, quát to:
– Quạ! Quạ đừng!
Lão Bích giựt mình thở phì phào:
– Quạ à? Vậy mà cha tưởng là…
Thằng Kim bò trên xuồng, hươi dầm định đập lũ qua đang liều lĩnh bu lại mũi xuồng. Lão Bích lắc đầu:
– Nó muốn rỉa xác tao thì cứ rỉa. Coi chừng chìm xuồng… Rán bơi tới nữa… Con ơi!
Rồi lão nắm tay nó mà kéo lại sát mặt:
– Thấy chòm cây, xóm nhà nào trước mặt không? Hừng sáng rồi hả?
Thằng Kim hoảng hồn, đoán rằng cha nó đang hấp hối. Mặt trời sắp lặn. Nó bơi mạnh. Qua lượn sóng to này nó hồi hộp, chưa kịp nghỉ tay là lượn sóng khác tràn tới. Ðằng xa kia, ẩn hiện trên ngọn sóng ngọn lúa xanh rì. Từ hồi sáng, mặc dầu nó bơi liên tiếp, cảnh vật chung quanh vẫn y hệt. Nước chảy hăng, tràn lan từ bờ sông Hậu Giang ra vịnh Xiêm La, chảy mãi về hướng Tây. Nó thắc mắc: nước ở đâu mà nhiều quá, ngập đồng ruộng, sâu cỡ hai thước, mênh mông không bờ bến như biển khơi. Hồi hôm qua, lão Bích dẫn giải:
– Ðây vùng ruộng sạ thuộc tình Long Xuyên. Hằng năm, nước lên vài tháng rồi giựt xuống. Ði tắt như vầy hơi cực nhưng không ai xét giấy thuế thân.
Giờ đây, nó mới hiểu rõ sự thật của tiếng “hơi cực”. Nhớ lúc đi qua phá Ðại Ngãi để vượt ngang sông dài Hậu Giang, nước sâu, sông rộng nhưng nó cảm thấy đẽ thở hơn. Sông rộng có giới hạn, bơi non một giờ là qua khỏi; giữa sông nhiều cù lao nổi lên giúp người đi đường vững tinh thần, rủi chìm xuồng thì lội vô cù lao. Vùng ruộng sạ này có khác! Bờ Bến ở tận chơn trời, nước tuy cạn nhưng có thể giết người, nạn nhân dầu lội giỏi, vượt năm bảy ngàn thước cũng không tìm được một căn nhà sàn, một ngọn tre mà nương tựa.
Mặt trời xuống, ngày một thấp. Và rặng cây ban nãy biến đâu mất rồi? Nó tự hỏi. Mặt nước xanh tươi, đám ruộng sạ của ai hiện ra hàng trăm công đất. Lạc vào đó e ngọn lúam vướng vào dầm khó bơi, nó quay xuồng qua phía tay mặt. Sóng gió đà dịu xuống. Phía trước mũi xuồng, lố nhố những đốm đen ngòm, chuyển động như giăng ngang kin1 chân trời.
Lão Bích nói vọng lại, yếu ớt:
– Thấy bờ bến gì chưa?
Nó nghiêng tai nghe tiếp.
– Ba để lại cho con cái áo này… Yếu quá… ba ngồi dậy cổi áo không được. Con..
Nó trố mắt. Hai chân của cha nó im lìm như khúc gỗ bỗng nhiên cựa quậy, giãy dụa.
– Sao… sao không cha?
Thằng Kim la rú lên, bò tới. Tay chân ba nó đã lạnh ngắt, mặt thì xanh đen. Nó khóc không nên tiếng, nước mắt nước mũi cứ tuôn xuống.
Ðằng xa… xóm nhà hiện ra. Nó rú lên. Nhưng tiếng hú nghẹn trong cuống họng. Chụp cây dầm, nó quơ lên trời làm dấu hiệu.
… Một chiếc xuống ba lá rẽ nước tiến lại, người ngồi trên xuống quát lớn:
– Gì vậy? Té xuống ruộng hả?
– Không! Ba tôi chết rồi.
Khách nọ ngồi xuống, rờ vào lão Bích rồi nhìn thằng Kim:
– Ở đâu tới vậy? Tội quá. Người này là ba của chú em à?
– Dạ ở cù lao Ông Chưởng…
Khách lẩm bẩm:
– Thì cũng ở trong vòng tỉnh Long Xuyên… Biết sao bây giờ! Ði đâu mà lỡ đường như vậy? Có bà con với ai gần đây không?
Thằng Kim chắp tay lại:
– Ông giúp dùm tôi. Không ai hết. Không ai hết.
– Ðể coi.
Khách quay lưng, đưa tay ngoắc chiếc xuồng phía sau. Thằng Kim đã hiểu những lằng đen ở chân trời khi nãy là bầy trâu vô số kể đang lặn hụp. Trâu quậy, sóng nước chuyển nghe đùng đùng. Hơi trâu thở khì khì như cây rừng khi nổi gió. Hàng trăm cặp sừng cong vòng, nhọn lễu nhô trên bộ mặt ngơ ngác ba góc, giống hệt những trái ấu khổng lồ.
Khách bảo em bé ở xuống sau:
– Ðừng cho trâu đi theo. Không khéo chìm xuống người ta bây giờ! Mày đẫn chú này lại chòi ông Hai Tích…
Ðứa bé đáp:
– Rồi ai coi chừng trâu phía sau?
Khách ngẫm nghĩ:
– Vậy thì mày đưa một đỗi, gần tới nhà Hai Tích thì hú một tiếng cho ổng hay. Rồi trở ra lẹ. Ngoài này tao len trâu chậm chậm chờ mày…
Rồi day lại thằng Kim:
– Chú em đi với em này lại nhà quen của tôi. Họ giúp giùm cho.Em bé bơi trước. Thằng Kim theo sau, trong dạ buồn điếng nhưng cũng khuây khỏa được ít nhiều. Nó cúi đầu nhìn: tay chân cha nó đã rút lên, mặt nghiêng một bên khuất dưới cái nón lá; có lẽ khi nãy ông khách nọ đã chú ý đậy mặt dùm cho nó.
Ông khách bỗng bơi xuống theo, kêu nó:
– Ngừng lại nghe tôi căn dặn: thằng nhỏ đó sợ ma lắm. Chiều rồi, đừng cho nó thấy. Chú em lấy cái nóp này của tôi đem về nhà ông Hai Tích. Không chừng sáng mai tôi về tới. Ðừng buồn. Ông Hai Tích cũng như tôi…
Hai căn chòi nằm lú trên mặt nước. Khói cơm bay tỏa cuồn cuộn, tản mác trở về phía mặt trời mọc. Quạ đậu sắp hàng trên nóc nhà, há mỏ kêu rồi bay bổng vòng quanh xuồng. Em bé rú lên:
– Ông Hai ơi! Có khách của chú Tư Lập nè!
Rồi nó quày quả trở lại. Thằng Kim nói:
– Cám ơn.
Ðứa bé nhìn lại trong xuồng thằng Kim:
– Sao ông này nằm hoài… Kêu ổng thức dậy, tới bến rồi!
Thằng Kim méo mặt, nước mắt lại tuôn xuống. Như đoán được trách nhiệm giao phó nãy giờ, đứa bé rùng mình, la lên một tiếng “trời” rồi bơi đi tuốt.
Nghe thằng Kim thuật lại hoàn cảnh của cha nó, ông Hai Tích thở dài, gọi bà Hai nấu cơm thêm để thằng Kim cùng ăn. Thằng Kim nuốt không vô; hồi xế trưa đến giờ tâm trí nó bận rộn vì một câu hỏi mà nó không dám thốt ra: “Chôn ba nó ở đâu? Làm sao mà chôn?”. Bà Hai gọi ông Hai ra phiá sau. Hai vợ chồng nói qua lại thì thào. Ông Hai trở ra:
– Ý của cháu như thế nào? Miệt này, mùa này ai rủi ro thì cũng vậy. Bác coi cháu như người nhà nên mới nói thiệt. Phải chôn gấp nội chiều nay, lòng vòng chờ sáng mai không lợi ích gì.
Thằng Kim hỏi:
– Thưa bác, chôn ở đâu?
Ðoán được vẻ lo âu sợ hãi ấy, ông Hai Tích ngập ngừng:
– Nói chôn cho đúng tục lệ chớ đất ở đâu mà chôn? Tứ bề là nước. Có hai cách: một là xóc cây tréo ở giữa đồng rồi treo lên mặt nước, chờ khi nước giựt mới đem chôn lại dưới đất. Như vậy mất công lắm, diều quạ hoành hành. Chi bằng bó xác lại rồi dằn cây dằn đá mà neo dưới đáy ruộng…
Thằng Kim đập đầu xuống sàn nhà, hai tay bứt tóc:
– Trời ơi, phải biết vậy, ba tôi đi tới xứ này làm chi…
Bà Hai Tích rưng rưng nước mắt:
– Cháu đừng khóc. Trời định vậy. Ở đây ai cũng vậy; người có của, ai tới xứ này? Trách cha, trách mẹ, trách trời là thêm tội. Cháu thắp nhang đi, lạy không được thì xá ba xá. Bác ra tay dùm. Trời chạng vạng, lát nữa tối tăm, khó lắm.
Bước ra sau hè để coi bóng mặt trời rồi ông Hai Tích lật đật trở lại phía trước, tay cầm chai rượu. Ông dở cái nón che mặt lão Bích, phun rượu kéo tay chân xác chết ra cho ngay ngắn.
Hai chiếc nóp gói kín xác kẻ bạc mạng. Bà Hai vào nhà rút mười sợi dây choại, chuyền xuống. Sau rốt, hai ông bà lum khum khiêng xuống suồng cái thớt trên của cây cối xay lúa cũ.
Xuồng rời khỏi nhà, mỗi lúc một xa. Thằng Kim khóc đòi đi theo… để tự vận. Bà Hai Tích nói:
– Lớn rồi, cháu không phải là con nít nữa mà đòi liều mạng dại dột như vậy. Coi như là xong một cái tai nạn…
Thỉnh thoảng, ông Hai Tích day mặt lại, khoát tay như ra dấu bảo người trong nhà đừng trông theo. Biết cử chỉ của mình vô hiệu quả, ông cho xuồng tẽ qua một bên hông trong nhà không ai nom thấy cảnh tượng đau xót cuối cùng. Ðôi mắt thằng Kim mở rộng, trừng trừng. Cả mặt nước giờ đây hiển hiện như con ác thú khổng lồ há miệng ra nuốt trọn thân xác cha nó rồi ngậm miệng lại, giận dữ vì chưa no. Nhưng chỉ giây phút thôi! Mặt nước trở lại yên tịnh, phải chờ khi da trời tỏ rạng sao Hôm, nắng vàng chìm xuống, cơn gió Nam mới nổi lên lần nữa, triền miên đến khi gà gáy văng vẳng.
Ngay bàn thờ giữa, khói hương cháy đỏ. Ý của ông Hai và bà Hai là cầu siêu cho vong hồn người bạc mạng. Phần thằng Kim thì sau khi uống trọn gáo nước lạnh, nó nằm ngả trên sàn, mệt lịm, ngủ tự hồi nào. Nó mớ. Nó trở mình đấm tay, đạp chân nghe rầm rầm. Ông Hai, bà Hai lấy chiếc chiếu đắp cho nó.
Bà Hai nói:
– Tội nghiệp. thân nó đơn chiếc mà gặp cảnh này…
Ông Hai cau mày:
– Biết vậy thì tại sao hối nãy bà tiếc cái cối xay lúa? Bộ bà muốn cho ba nó nổi sình lềnh trên mặt nước hay sao?
– Ðừng nói nữa ông ơi. Tới mùa nước giựt, bề nào ông cũng rán nhớ hốt xương, chôn cất kỹ lưỡng dùm nó. Tôi khổ lắm…
Ông Hai hớp miếng rượu:
– Không cần… Ðất ruộng này rải rác, Lũ khũ… xương người ta với xương trâu, thứ trâu “len” đi xa bị bịnh mà chết dọc đường. Tới mùa cày ruộng, năm nào cũng vậy, tôi gặp xương đó hoài.
– Rồi ông làm sao?
– Thì cày đất lấp lại cho lúa sạ mọc lên. Mình cứ tưởng đó là xương của người hồi đời Bàn Cổ… Chớ nhìn nhận rằng nó còn tươi trẻ hơn bộ xương mà mình đang mang đây thì… mình phải suy nghĩ cho phận làm người của mình quá! Mấy bữa đó, tôi buồn, về nhà khảo tiền của bà để mua rượu uống, bà không hiểu nên rầy tôi… Bà nhớ không?
Thằng Kim lại trở mình, đập tay xuống sàn nhà…