Shinzo Abe (1954-2022)

baotreonline.com

Ian Bùi

July 14th, 2022

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Cựu Thủ tướng Nhật Shinzo Abe vừa bị ám sát trong lúc đang đi vận động tranh cử. Đây là một vụ án làm chấn động cả thế giới. Ông Abe [A-bê] là một chính khách rất được nể trọng, kể cả bởi những người thuộc phe đối lập. Cái chết bi đát và bất ngờ của ông sẽ là một vết thương khó lành cho nước Nhật.

Thủ tướng Abe thăm viếng Anh Quốc năm 2019. Nguồn: ROTA/Camera Press 

Gốc gác

Shinzo Abe sinh ra trong một gia đình quyền thế có bề dày chính trị thuộc hàng bậc nhất của Nhật. Ông ngoại của ông, Nobusuke Kishi (1896-1987), từng làm Thủ tướng Nhật những năm 1957-1960. Thập niên 1930 ông Kishi là Thống đốc Mãn Châu, thuộc địa của Nhật, và nổi tiếng là một nhà cai trị với bàn tay sắt. Sang Ðệ Nhị Thế Chiến, ông Kishi làm đến chức Thứ trưởng Bộ Thương Mại và là người đồng ký tên văn bản tuyên chiến với Hoa Kỳ. Sau chiến tranh ông bị bỏ tù ba năm, nhưng cuối cùng được thả ra vì người Mỹ nghĩ rằng ông có thể giúp gầy dựng lại nước Nhật theo đường hướng mà người Mỹ muốn. Dấu ấn lớn nhất mà ông Kishi để lại là sự thành lập đảng bảo thủ Liberal Democratic Party (LDP), về sau là đảng chính trị mạnh nhất ở Nhật.

Ông nội của Shinzo, Kan Abe, là một đại điền chủ ở tỉnh Yamaguchi. Gia đình Abe nổi tiếng về nghề nấu rượu sake và làm đậu hủ. Năm 1937 ông Kan Abe được bầu làm Dân biểu Nghị viện nhưng không theo đảng phái nào cả (ứng viên độc lập). Trái ngược với ông Kishi, Kan Abe chủ trương hiếu hoà và không đồng ý việc theo đuổi chiến tranh của chính quyền Hideki Tojo. Năm 1942 ông Kan Abe ra tranh cử Nghị Viên, đại diện cho nhóm thiểu số phản chiến chống lại Thủ tướng Tojo lúc bấy giờ đã khuynh đảo gần hết chính trường Nhật. Dẫu vậy Kan Abe vẫn thắng.

Bố của Shinzo, ông Shintaro Abe, cũng là một chính khách, từng làm Bộ trưởng Ngoại giao vào những năm 1982-1986. Trước đó ông từng giữ những chức vụ cao cấp khác như Bộ trưởng Kỹ nghệ và Ngoại thương, Chánh văn phòng Thủ tướng, Bộ trưởng Nông Lâm Súc v.v. Thời chiến tranh, Shintaro gia nhập Không quân Nhật và tự nguyện làm cảm tử quân Kamikaze để đâm máy bay xuống tàu chiến Mỹ. Khi ấy Shintaro Abe mới 20 tuổi, vừa tốt nghiệp đại học. Rất may cho ông Shinzo là chiến tranh chấm dứt kịp thời, bố ông lấy con gái Bộ trưởng là Yoko Kishi và cho ra đời ba người con. Ông là người thứ nhì.

Ông bà Shintaro Abe cùng hai người con; Shinzo ngồi trong lòng mẹ. Nguồn: wikimedia

Chính Trị

Shintaro Abe mất năm 1991. Hai năm sau Shinzo Abe đắc cử vào chính quyền tỉnh Yamaguchi với số phiếu áp đảo. Năm 1999 ông được bổ nhiệm chức Giám đốc Nha an sinh xã hội. Dưới thời hai Thủ tướng Yoshiro Mori và Yunichiro Koizumi, ông giữ chức Tổng thư ký Nội các (Chief Cabinet Secretary) từ 2000 đến 2003. Tiếp theo đó Shinzo Abe được chọn làm Tổng bí thư đảng LDP do ông ngoại ông thành lập. Ðến năm 2006 thì ông được bầu làm chủ tịch đảng LDP và lên làm Thủ tướng Nhật, khi đó Shinzo Abe mới 52 tuổi.

Nhiệm kỳ đầu tiên của Shinzo Abe khá ngắn ngủi, chỉ chừng một năm. Ông phải từ chức năm 2007 phần vì lý do sức khoẻ, phần vì mất khá nhiều hậu thuẫn do không ủng hộ việc cho phép một người phụ nữ đứng đầu Hoàng gia Nhật. Nhưng lý do lớn nhất có lẽ là vì đảng LDP của ông bị thua thê thảm trong cuộc bầu cử Thượng Viện năm đó vì các chính sách bảo thủ của họ không được dân Nhật ủng hộ. Ðó là lần đầu tiên LDP bị mất đa số sau 52 năm nắm quyền lực.

Năm 2012 chủ tịch đảng LDP là Tanigaki từ chức. Shinzo Abe được bầu lên thay thế. Nhiệm kỳ thủ tướng lần hai của Shinzo Abe kéo dài từ 2012 đến 2014. Không chỉ là thủ tướng, Shinzo Abe còn là một nhà ngoại giao không mệt mỏi. Trong vòng ba năm đó ông đã đi thăm viếng 49 quốc gia, một kỷ lục không vị thủ tướng nào trước ông làm được. Abe muốn nâng cao vị thế của nước Nhật trên chính trường quốc tế để đối trọng mối đe doạ đến từ Trung Quốc. Shinzo Abe cũng là người đề xuất việc thành lập khối tứ cường quốc Mỹ, Úc, Ấn, Nhật – gọi là Quad, để duy trì an ninh trong vùng Ấn Ðộ Thái Bình Dương hòng kềm chế Trung Quốc. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Nhật và Nam Hàn đã trở nên tệ hơn sau khi Abe lên nắm chính quyền.

Hết nhiệm kỳ tạm thời 2012-2014, Shinzo Abe được chính thức bầu làm Thủ tướng Nhật thêm hai nhiệm kỳ nữa là 2014-2017 và 2017-2020. Trong những năm đó ông tiếp tục đẩy mạnh sự hiện diện của Nhật trên chính trường quốc tế, nhất là trong vùng Indo-Pacific. Nhờ ông mà hiệp ước thương mại đa chiều TPP gồm 12 nước, trong đó có Việt Nam, đã được thông qua khá nhanh. Mỹ dưới thời ông Trump đã rút ra khỏi TPP. Dẫu vậy, ông Abe vẫn hoàn thành sứ mệnh của mình với hiệp ước mới mang tên CTTPP cùng 11 nước còn lại.

Shinzo Abe (trái) thời còn làm phụ tá cho cha là Shintaro Abe (phải), Bộ trưởng Ngoại giao. Nguồn: Kyodo

Đời sống riêng

Năm 1987 Shinzo Abe lấy bà Akie Matsuzaki, con nhà đại doanh nghiệp Morinaga chuyên làm sô-cô-la. Vợ ông là một người phụ nữ nổi tiếng cứng rắn và không ngần ngại cho công chúng biết quan điểm của mình. Thậm chí bà còn được gắn thêm danh hiệu “đảng đối lập nội trợ” vì những phát ngôn đi ngược lại đường lối và chính sách của chồng mình.

Trước khi lấy Shinzo, bà Akie làm nghề chơi dĩa hát (disc jockey) trên một đài radio trong vùng Shimonoseki, quê hương của ông Abe. Hai người không có con vì bà Akie không sinh nở được. Sau khi Abe lên làm thủ tướng, bà Akie mở một quán bar (izakaya) tại thành phố Tokyo nhưng mẹ chồng khuyên bà không nên đứng ra làm manager vì sẽ trông rất kỳ. Dẫu vậy, bà Akie vẫn có những sinh hoạt đi ngược với chồng mình. Tuy ông Abe là một chính trị gia bảo thủ, vợ ông lại ủng hộ những người đồng tình luyến ái và từng tham gia các buổi diễn hành hay xuống đường của họ. Năm 2015 bà còn chụp hình trên một cánh đồng marijuana nhằm ủng hộ việc gầy lại truyền thống trồng cần sa của dân Nhật từ nhiều thế kỷ trước. Mặc dù hai vợ chồng có nhiều quan điểm chính trị khác biệt, nhưng Shinzo Abe nổi tiếng là một người chìu vợ hết mực.

Shinzo Abe và Akie Matsuzaki năm 1986, chụp chung với vợ chồng cựu Thủ tướng Takeo Fukuda. Nguồn: Kyodo/Reuters.

Án mạng

Ngày 8 tháng 7 năm 2022, Shinzo Abe bị một tên sát nhân bắn hai phát đạn trên đường phố Nara trong lúc ông đang nói chuyện với đám đông. Hung thủ là một người đàn ông 41 tuổi tên Tetsuya Yamagami, từng phục vụ trong Hải quân Nhật. Ông ta dùng một khẩu súng tự chế làm bằng gỗ và các ống sắt. Tại nhà riêng của Yamagami, cảnh sát còn tìm được vài món vũ khí tự chế khác. Yamagami khai với cảnh sát rằng anh ta bất mãn với giáo phái “Unification church” mà anh cho rằng cố Thủ tướng Abe khi còn sống đã ủng hộ quá mức.

Unification Church được xem như một cuồng phái (cult) bắt nguồn từ Nam Hàn. Vào thập niên 1980 Unification Church nổi tiếng với những đám cưới tập thể có khi lên đến cả mấy ngàn người. Gần đây hơn, trong một buổi lễ ở Mỹ họ còn mang cả súng tiểu liên đủ loại. Dựa theo sử liệu đã được kiểm chứng, mảnh đất đầu tiên nơi Unification Church dùng để xây nhà thờ ở Nhật là đất của gia đình Kishi, bên ngoại của Shinzo Abe. Khi đảng LDP mới ra đời vào thập niên 1950, dòng họ Kishi cũng đã trợ giúp rất nhiều cho nhà thờ này về mặt tài chánh cũng như nhân sự.

Yamagami cho rằng Unification Church đã đầu độc mẹ anh khiến bà dâng tặng quá nhiều tiền cho tổ chức, làm cho gia đình bị khánh kiệt. Sự việc vẫn còn đang trong vòng điều tra. Dù gì chăng nữa cũng xin cầu nguyện cho linh hồn ông Shinzo Abe được siêu thoát và mong  cho nước Nhật mau vượt qua cơn đột biến này.

Thành viên giáo phái Unification Church trong một buổi lễ tại tiểu bang Pennsylvania hồi năm 2018. Nguồn: Twitter @jacquelinelarma.

IB

Paris 2024

baotreonline.com

Ian Bùi

August 3rd, 2024

Post by Sơn râu 16 Aug 2024

Thế Vận Hội Mùa Hè, Summer Olympics 2024, đã mở màn tại Ba-Lê, kinh đô ánh sáng. Có thể nói đây là một chương trình khai mạc đầy ấn tượng và đầy biểu tượng nhất từ xưa tới nay. Mọi khía cạnh xã hội và lịch sử nước Pháp đã được ban tổ chức khai thác triệt để. Và mặc dù không phải ai cũng đồng ý với các tiêu đề chính, nhưng không thể chối cãi rằng đạo diễn Thomas Jolly đã dàn dựng một màn kịch vô cùng táo bạo.

Ảnh: David Phillip/AP       

Năm 1783, quả khinh khí cầu đầu tiên do anh em Montgolfier sáng chế bay lên từ Versailles trước sự chứng kiến của vua Louis XVI, mở ra một kỷ nguyên mới cho nhân loại. Lần đầu tiên trong lịch sử, con người đã rời khỏi được mặt đất. Thật ra chuyến bay đầu tiên ấy không chở người mà là 3 con thú: trừu, vịt, và một chú gà trống. Để đánh dấu đóng góp quan trọng ấy, ngọn lửa Olympics đã được thiết kế như một chiếc khinh khí cầu khổng lồ bay trên bầu trời Paris, tạo nên một điểm nhấn không thể nào đẹp hơn cho Thế Vận Hội 2024.

Ảnh: Ludvig Thunman

Để tăng phần hấp dẫn, ngọn đuốc Olympic được trao cho một nhân vật kỳ bí đeo mặt nạ. Người này cầm đuốc chạy trên các nóc nhà thành phố. Khi ẩn khi hiện, có lúc anh ta làm những màn nhào lộn thật vui mắt, băng qua vô số các địa điểm nổi tiếng của thành phố như bảo tàng viện Louvre, Musée d’Orsay… Từ hôm đó đến nay thiên hạ bàn ra tán vào đầy trên mạng xã hội, không biết ai là người đóng vai đó. Cuối cùng, hôm thứ Bảy Simon Nogueira đã lên tiếng nhận mình là “một trong những người” đóng vai ấy. Còn bao nhiêu người nữa thì ta vẫn chưa được biết.

Ảnh: Bernat Armanue/AP

Một nhân vật bí ẩn khác chưa được công bố chính là người kỵ mã cưỡi con ngựa sắt trên sông Seine. Nhiều cư dân mạng lầm tưởng đó là “thần chết”, nhưng thật ra đó là Sequana, bà chúa của dòng sông Seine thơ mộng. Trong bối cảnh câu chuyện, Sequana được dùng để đại diện cho tinh thần thể thao của Olympic và cho con sông nơi các đoàn Lực sĩ diễn hành trước công chúng. Tuy ta không biết ai là người đóng vai Sequana, nhưng ta có thể đoan chắc người ấy phải là một nữ nhân.

Ảnh: Luca Bruno/AP

Khác những lễ khai mạc từ trước tới nay được làm bên trong vận động trường, lần này cả thành phố Paris được biến thành nơi công chúng được mục kích buổi lễ. Thay vì đi bộ, các đoàn Lực sĩ diễn hành trên những chiếc tàu trên sông Seine. Tuy làm ngoài trời nhưng khán giả vẫn phải mua vé để có được chỗ ngồi xem hai bên bờ sông. Tất nhiên không ai có thể xem được hết tất cả các tiết mục trong chương trình dài 4 tiếng đồng hồ này, nhưng đó là cái giá họ trả để được dự phần trong buổi lễ khai mạc có một không hai này.

Ảnh: Oscar J Barroso/AFP

Một trong những màn ấn tượng nhất là những cô gái ăn mặc sặc sỡ trên những cây nêu cao nghệu. Họ đứng phất phơ trong gió, và rồi khi âm nhạc trổi lên họ bắt đầu nhún nhảy, khiến các cây nêu cong oằn lên xuống qua lại như một bản đại hoà tấu vô cùng nhịp nhàng, vui mắt — nhưng cũng khá hồi hộp. Xem họ biểu diễn ta liên tưởng đến sự kết hợp diệu kỳ giữa những màn xiếc và thế giới thời trang mà Paris xưa nay vẫn nổi tiếng hàng đầu. Quả là dân Pháp có khác!

Ảnh: Richard Carliss

Đã là Olympic tất nhiên nước chủ nhà phải tận dụng tất cả các Lực sĩ nổi tiếng của mình trong màn rước đuốc. Đặc biệt lần này có sự góp mặt của nhà vô địch đua xe đạp Charles Coste, năm nay đúng 100 tuổi, là người áp chót được vinh dự cầm đuốc trước khi giao nó cho hai Lực sĩ cuối cùng là Marie-José Pérec và Teddy Riner để đốt lên ngọn lửa trên khinh khí cầu.

Ảnh: Al Bello

Một khi quả cầu được thả bay lên, chương trình kết thúc bằng một tiết mục “không chỗ nào chê”. Đó là Céline Dion với bài nhạc bất hủ của Edith Piaf mang tên “L’hymne à l’Amour”. Tuy là người Gia Nã Đại, nhưng Céline Dion đã từng diễn bài này tại Paris cách đây vài năm, trước khi bà bị mắc một chứng bệnh rất hiếm khiến cơ bắp trong người bị đơ cứng, không nhúc nhích được. Sự xuất hiện của Dion và màn diễn xuất thần của bà đêm hôm ấy chắc chắn sẽ sống mãi trong lịch sử Olympics nói riêng, và âm nhạc nói chung.

Ảnh: Handout/Getty

Dặm trường

vanviet.info/van

Văn 10 Tháng Tư, 2019

Trần Doãn Nho

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Photo edit by Sơn râu

Kỳ 12

Chương 34

Trong cơn khủng hoảng, Lục bỗng nghĩ đến Hồng. Bèn lấy xe, đạp đi. Trời hè nắng chói chang. Anh đạp lên dốc núi trong cái nóng nồng nực và tiếng ve kêu rền dưới các lùm cây. Ðến cổng, anh dựng xe, bạo dạn mở cửa cổng đi vào. Tiếng chó sủa dồn. Người đàn bà xuất hiện, la chó, tỏ vẻ ngạc nhiên, rồi khi nhận ra anh, cười:

      –     Cậu đó à? Ði mô mà lại lạc loài lên đây?

Anh nói láo:

      –     Dạ, cháu đi chùa, tiện thể ghé vào thăm vú.

      –     Rứa thê! Tội nghiệp hí! Rứa khỏe không?

      –     Dạ, khỏe, vú. Vú có khỏe không?

      –     Khỏe thì không khỏe, nhưng mà còn nhúc nhích, đi lại được.

      –     Vú ở một mình hoài như thế này mà chịu được, tài thật.

      –     Mô có ở một mình.

Lục chụp ngay cơ hội:

      –     Vậy thì Hồng ở với vú?

      –     Không, không, nhưng lên luôn.

      –     Dạ ngày nào cũng lên?

      –     Không, không. Vú không nhớ, nhưng lên luôn. Lâu nay mô mà không thấy. Răng lâu ni không lên chơi? Rảnh lên chơi cho vui.

      –     Dạ.

      –     Vô nhà uống miếng nước.

      –     Dạ, cảm ơn vú. Con đi bây giờ.

      Anh đi loanh quanh sân nhìn cây nhìn cỏ một lát rồi hỏi:

      –     Chỉ một mình Hồng lên với vú thôi à?

      –     Thì một mình hắn chứ ai vô đó.

      Lục thất vọng chào vú ra về.

      Vừa đắt xe xuống con dốc sỏi, nhảy phóc lên yên đạp, thì nghe tiếng gọi mừng rỡ:

      –     Anh Lục!

      Giọng Hồng. Anh luýnh quýnh tông bánh xe trước vào vách núi, chao đảo. Anh gượng giữ thăng bằng. Hồng quành xe đến bên anh. Hồng vừa dừng lại, anh thả chiếc xe ngả chỏng chơ, giang hai tay ra chào đón Hồng. Anh lắp bắp:

      –     Trời, Hồng! Cô Hồng!

      –     Hồng đây. Anh lên tìm Hồng phải không? Hồng linh tính không sai mà. Hồng biết ngay là hôm nay thế nào cũng gặp anh.

      –     Lại xạo nữa!

      –     Hồng nói thật. Chỉ có điều là không biết gặp ở đâu và như thế nào, nhưng Hồng biết chắc trăm phần dầu là sẽ gặp.  Tin Hồng đi.

      Lục tin. Cuối cùng, anh đã gặp nàng, thế thôi. Hồng ríu rít:

      –     Mà lâu nay, anh đi đâu mất biệt vậy?

      Anh hỏi lại:

      –     Hồng cũng thế, đi đâu mà mất biệt?

      –     Vẫn ở trong thành phố này. Không tìm làm sao gặp?

      –     Không tìm? Vậy ai lên đây?

      –     Ờ hớ! Thôi được. Vào nhà cái đã.

      –     Không, tôi phải về.

      Hồng dứ tay vào trán Lục:

      –     Ừ, thì về đi. Về và không bao giờ gặp lại nhé.

      Lục cười như trẻ thơ.

*                         

      Tới chỗ gốc cây lần trước, Hồng dừng lại, lấy tấm ni lông ra.  Lục thắc mắc:

      –     Chỗ cũ à? Không còn chỗ nào khác sao?

      –     Chỗ nào là chỗ nào?

      –     Có nơi nào còn nguyên sinh, nơi nào không có vết chân người, nơi nào hoàn toàn hoang dã.

      Hồng cười:

      –     Thơi buổi này còn chỗ nào là “rin” đâu. Chỗ nào con người cũng tìm đến mày mò ráo hết rồi.

      Thấy Lục vẫn còn đứng nhìn quanh, Hồng nói:

      –     Mấy hôm trước, rảnh, Hồng chịu khó đi quanh quanh mấy lần. Trời! Ði rừng một mình sợ muốn chết. Hồng cố tìm một chỗ…một chỗ…tốt hơn, nhưng không có.

      Lục cảm thấy thú vị. Tuy thế, anh làm bộ hỏi:

      –     Tìm một chỗ tốt, để làm gì vậy?

      Hồng phụng phịu:

      –     Thì…chẳng lẽ để Hồng đi chơi …một mình.

      Lục véo má Hồng:

      –     Ai mà biết!

      Rồi anh nhìn nàng, tủm tỉm cười. Hồng hỏi:

      –     Gì mà cứ nhìn người ta cười hoài vậy?

      –     Anh tưởng tượng một cô Hồng tiểu thư, đi một mình vào rừng để tìm nơi làm tổ.

      Hồng đập nhẹ vào ngực Lục:

      –     Cái anh này! Làm như Hồng là con chim không bằng.

      –     Không chim thì là gì nữa. Tìm chỗ tốt trong rừng để làm gì nếu không để đẻ trứng.

      Hồng ngẫm nghĩ một lát rồi cười buồn:

      –     Ừ. Nghe nói thì như đùa, mà đôi khi cũng thế thật đấy, Lục à! Nếu được đi đâu thật xa, thật sâu, không có ai, không dính líu với ai…

      –     Vậy thì đi.

      –     Thì đi!

      Hồng xếp đồ lại vào xách. Lục nắm tay Hồng, kéo đi. Anh không theo những lối mòn, mà băng ngang những vùng cây cỏ um tùm. Hồng cười khúc khích:

      –     Anh dẫn Hồng đi mô?

      –     Cứ đi. Cần gì biết đi đâu.

      –     Không khéo quên mất đường về.

      –     Cũng tốt! Hồng sợ thành Lưu Nguyễn lạc thiên thai hay sao?

      –     Trời, được thành Lưu Nguyễn thì còn gì bằng, phải không Lục.

      Mùi lá mùi cây, mùi gỗ mục phảng phất. Hương rừng làm Lục ngây ngất. Anh băng băng kéo Hồng đi. Thỉnh thoảng anh dừng lại, đợi Hồng. Hồng kêu nhỏ, rên rỉ vì lá cứa, gai xóc, nhưng nàng vẫn im lặng theo anh. Ðến một vạt cỏ tranh um tùm, Lục dừng lại, nhìn Hồng:

      –     Hồng mệt chưa?

      –     Mệt! Hay ta dừng lại đây?

      Lục nghi ngại nhìn quanh:

      –     Vẫn chưa phải là nơi mình muốn đến. Hồng xem, đầy cả dấu chân người: gỗ bị  cưa, cây bị chặt. Ở đây vẫn còn loài người.

      –     Thì đi!

      Hồng bước tới, suýt ngã vì ông quần vướng phải một cành cây. Mồ hôi tươm trên khuôn mặt Hồng. Tóc rối. Những sợi tóc dài lòa xòa trên trán, có sợi vắt ngang sống mũi nhỏ, có sợi dính vào khóe môi. Hồng mệt nhọc và hớn hở bước theo Lục.  Anh mê muội kéo Hồng đi miết. Anh lòn, đạp, níu, nhảy, đu, bươn bả vượt qua những khoảng rừng, những lùm cây, những mảng cỏ tranh, những con suối cạn. Rừng bất tận. Không sao.  Rừng che dấu. Rừng bao vây, che chở. Rừng hoang dã, thơ thới. Rừng mịt mùng, ngoài cõi. Rừng đắm đuối, hồn nhiên.  Mỗi một bước tiến tới, thế nhân lùi xa tăm tắp. Hai người trở thành hai con thú hoang sổng chuồng, về với cây lá, đất đai.

      Và đêm ập xuống, nhanh chóng và êm đềm y như ai vừa buông một tấm màn nhung trùm cả trời đất. Hồng đi sát vào người Lục, run rẩy:

      –     Hồng sợ!

      –     Có người đâu mà sợ. Lục thì thầm

      Anh mày mò bước trong đêm, kéo Hồng đến một gốc cây.  Anh ôm Hồng. Nàng nép mình vào ngực anh, thở. Hai ngời im lặng lắng nghe. Rừng đêm yên tĩnh kỳ lạ. Không có âm thanh nào ngoài tiếng lá va chạm nhau lào xào. 

      –     Hồng nghe tiếng cây thở, Lục ơi.

      –     Không phải, chúng nói chuyện tình đấy.

      Hồng cười rúc rích. Anh nhìn thấy vệt sáng của đường răng khép mở. Anh hỏi:

      –     Hết sợ chưa?

      Hồng nép sâu thêm vào khoảng ngực:

      –     Hết. Nhưng trời tối quá, chẳng lẽ…

      Anh quả quyết:

      –     Ðợi. Mình sẽ đi tiếp.

      –     Ði mô nữa hè?

      –     Ði cho hết đêm.

      –     Chẳng lẽ đi hoài?

      –     Ừ.

      –     Trời tối thế này…

      –     Hồng biết, trời sẽ sáng.

      Và trời sáng thật. Trăng lên nhanh, tuôn ánh sáng vương vải. Những âm thanh đua nhau vang lên: tiếng leo trèo lên cây, tiếng bò dưới lá, tiếng rít, tiếng kêu the thé, man dại, tiếng lục cục. Rừng thức dậy, mơ màng trong sương đục. Lục cầm tay Hồng:

      –     Ta đi.

      Hai người men theo những vết ánh sáng để đi. Rừng bây giờ yên ắng trở lại. Trong vắng lặng, rừng trở nên huyền hoặc.  Mọi thứ dường như bất động. Chỉ có bóng trăng chuyển dịch.  Thỉnh thoảng có tiếng rơi của một giọt sương, nghe lẻ loi, mơ hồ như từ một cõi nào xa rớt vào hư ảo. Lục cảm thấy người nhẹ tênh. Anh dắt Hồng đi như dắt một cái bóng. Hai người di chuyển thênh thang giữa ngàn cây giăng mắc. Qua khỏi bóng của một cụm rừng già, cây cao, tàn rậm, họ bắt đầu xuống dốc.  Trước mặt, một mảng sáng mênh mông hiện ra. Trăng loang loáng trên một thảm cỏ ngậm sương. Hồng chỉ tay xuống dưới, reo lên:

      –     Kìa, suối, Lục. Xuống đó đi.

      Lục gật. Ðúng là suối. Âm thanh reo rào rạt. Nước tuôn tràn, bất tận. Anh hân hoan nhìn một đường nước trắng xóa loang loáng ánh trăng, chạy vòng vèo theo triền đồi và biến mất sau khu rừng phía xa. Anh kéo Hồng dẫm lên cỏ, lướt xuống. Tiếng suối reo nhỏ dần. Dòng nước nhỏ dần. Khi cả hai xuống hết dốc, vừa đến nơi thì lạ chưa, tiếng suối không còn nữa, chỉ nghe vọng âm văng vẳng rồi tan biến. Trước mắt, dưới ánh trăng vằng vặt, chỉ còn trơ ra một con lạch nhỏ khô cạn.  Hồng thất vọng nhìn quanh:

      –     Vậy thì con suối đâu?

      Lục ngẩn ngơ, đứng nhìn. Ảo giác chăng? Anh nắm tay Hồng, cẩn thận bước xuống những tảng đá nhọn nằm cheo leo bên bờ khe. Lòng khe đầy đá sỏi to nhỏ không đều. Một giòng nước nhỏ nhoi ri rỉ chảy qua giữa những khe hở của các tảng đá. Hai bên bờ lau lách, cỏ dại um tùm. Lục cảm thấy thấm mệt. Anh dừng lại:

      –     Mình nghỉ ở đây.

      Hông ngần ngại nhìn cây cỏ um tùm chung quanh. Lục lấy tấm ni lông ra. Anh lùa một đám cỏ tranh xuống, trải tấm ni lông lên trên. Anh bảo Hồng ngồi. Hồng ngần ngại.

      –     Hồng sợ gì vậy?  Lục hỏi.

      –     Sợ rắn.

      Anh quả quyết:

      –     Ðừng sợ. Rắn phải sợ mình.

      Chẳng nói gì thêm, anh ôm xốc Hồng lên, rồi ôm nàng lăn xuống tấm ni lông. Anh nghe tiếng lạo xạo bên dưới. Vạt cỏ tranh nằm rạp. Cả hai lún sâu xuống. Anh lăn qua lăn lại để cho chỗ nằm được bằng phẳng hơn. Rồi anh ôm Hồng, im lặng nhìn lên. Phía trên, khoảng trời bao la hiện ra. Trăng cao tít.   Chung quanh núi rừng chen chúc. Trong một thoáng, anh có cảm tưởng mình thoát khỏi mọi ràng buộc với cái xã hội nhiễu nhương, kỳ quặc dưới kia, bỏ lại đàng sau bao nỗi lạc loài.  Anh ôm chặt thân hình nhỏ nhắn của Hồng và cảm thấy hứng khởi. Một hứng khởi tươi mới như sau thời kỳ phục sinh. Tâm hồn anh như được thanh tẩy khỏi mọi ràng buộc. Anh thì thầm:

      –     Anh cảm thấy tự do.

      Hồng nhỏm ngừơi dậy:

      –     Tự do? Không. Hồng cảm thấy sợ. Sợ anh. Anh liều thật.

      Lại cười khúc khích. Nàng bày rượu ra. Lục say đắm nhìn nàng. Dưới trăng khuya, nàng mỏng mảnh, thơ thới như khói.

      Rượu nồng, tình thấm. Lục hỏi:

      –     Ta đi tiếp nhé?

      Hồng nép vào anh, ngần ngại:

      –     Anh còn nhớ đường về không?

      Lục ngoái nhìn ngọn đồi phía sau:

      –     Sao không. Chỉ cần leo ngược dốc này, là có đường về nhà Hồng thôi.

      –     Ðâu có đơn giản vậy. Mình đã đi qua bao nhiêu cánh rừng rồi, anh nhớ không?

      –     Cần gì nhớ. Trăng nó dẫn mình đi, lo gì.

      Hồng hỏi, giọng chợt bâng khuâng:

      –     Có khi nào về thì mọi chuyện đã thay đổi không nhỉ?

      –     Thì sao?

      Hồng im lặng. Lục chỉ về phía trước:

      –     Cố vượt thêm cánh rừng nữa đi. Xem thử bên kia có gì?

      Hồng gật. Hai người băng qua khe, đi vòng theo triền dốc.  Rừng rậm, thấp. Cỏ cây chằng chịt. Vừa hết khu rừng, Hồng chỉ mé bên phải:

      –     Dường như có nhà ở, Lục ơi.

      Lục nhìn theo tay chỉ. Ðúng là có nhà. Một ngôi nhà nằm đơn dộc dưới một chòm cây. Hồng hào hứng nói:

      –     Sao lại có nhà giữa rừng thế này, Lục nhỉ? Hay là mình thử đến đó xem sao?

      Lục ngần ngại:

      –     Ðừng nữa. Anh ngại. Biết đâu đó là công an biên phòng.

      Hồng quả quyết:

      –     Không đâu. Ðây là nhà chứ không phải là đồn đâu.  Ðể Hồng tới thử xem.

      Lục lần chần bước chậm theo sau Hồng. Ði một quãng ngắn, cả hai thấy một lối mòn nhỏ dẫn đến ngôi nhà. Hồng dừng lại, nhìn lui nhìn tới, ngạc nhiên:

      –     Lạ thật! Sao Hồng thấy chỗ này quen quá, Lục à?

      Nói xong, nàng chạy nhanh tới phía trước. Lục rảo bước theo. Ðược một đoạn, Hồng reo lên:

      –     Lục ơi, nhà Hồng! Kìa, anh xem, khu mộ của ba má Hồng nhé, hàng dương liễu vây quanh nhé, còn xem kìa, cái sân, cái cổng. Còn kia, phòng của Hồng.

      Hồng vừa nói vừa kéo Lục chạy băng qua hàng rào, đến khoảng sân. Hồng dừng lại, ôm chặt lấy Lục, lắp bắp:

      –     Sao nhà Hồng lại ở đây, anh?

      Lục rùng mình, ngẩn ngơ. Cho đến khi nghe tiếng chó sủa và bà vú của Hồng lụm cụm bước ra, anh mới tin là Hồng nói thật. *

      Ðêm đó, Lục ngủ lại thư phòng của Hồng. Anh nằm nghe nàng kể những câu chuyện mà nàng đọc từ hồi còn nhỏ. Hồng nói:

      –    Anh có biết chuyện “Mai ăn khỏi trả tiền” không?  Chuyện thế này: có một người khách ghé vào một quán ăn nọ ở dọc đường. Anh ta định gọi đồ ăn thì chợt thấy ngay trên cửa quán có treo một tấm bảng đề: “Mai ăn khỏi trả tiền”. Anh nghĩ bụng: tội gì mà mình ăn hôm nay. Ðợi đến mai lại ăn. Nghĩ thế, nên anh nhịn đói, rời quán. Hôm sau, anh lại đến. Anh gọi đồ ăn, ăn uống phủ phê, xong thung dung bước ra. Chủ quán chận anh lại, bảo: “Sao anh không trả tiền mà bỏ đi?”. Anh sừng sộ: “Hôm nay ăn khỏi trả tiền mà”. Chủ quán hỏi: “Ai nói với anh vậy?”. Anh chỉ vào tấm bảng: “Thì chẳng phải anh cho treo tấm bảng này à?”. Chủ quán trả lời: “Ðúng”. Anh nói: ‘Thì tại sao lại còn đòi tiền tôi”. Chủ quán nói: “Tấm bảng nói sao, anh nhắc lại cho tôi nghe”. Anh nhìn tấm bảng, đọc: “Mai ăn khỏi trả tiền”. Chủ quán bảo: “Vậy thì mai anh lại ăn hẳn hay. Bây giờ mới có hôm nay chứ đã ngày mai đâu”. Anh ngẩn ngơ, móc túi trả tiền và bẽn lẽn bỏ đi.

Kể xong, Hồng nói:

– Mình sống trong xã hội hiện nay, lúc nào cũng nghe nói tới ngày mai, ngày mai, ngày mai…Mình thì cứ ở mãi trong cái hôm nay, đọc mãi tấm bảng “mai ăn khỏi trả tiền” làm vui, chứ có bao giờ được có ngày mai đâu mà hy với vọng, anh nhỉ.

Lục giật mình, nhìn Hồng chăm chú. Người đàn bà này thật đáo để! Đêm đó, ngủ, anh cứ nằm mơ thấy tấm bảng, chữ viết thật lớn, treo khắp nơi: MAI ĂN KHỎI TRẢ TIỀN!

Sáng ra, đạp vội xe về, nhìn quanh nhìn quất nhà Hồng, Lục mới biết là mình đã đi quá xa trong cuộc phiêu lưu tình cảm quá sức liều lĩnh này.

Chương 35

Nghỉ ngơi được có một hôm, Hạnh đã lại thấy bồn chồn.  Lạ chỗ, lạ nhà. Và lo lắng vu vơ.

      Duyệt bảo: “Ở đó đi, chút tôi về, cần gì tôi chở bà đi”.  Nghe lời bạn, nàng nằm. Nhưng chỉ được có một chút, nàng đã ngồi bật dậy, thay áo quần, gọi xích lô đến nhà anh Thuyên, nơi nàng ở trọ bán hàng trước đây. Vừa gặp, nàng chưa kịp hỏi chuyện hàng hóa, anh đã kêu lên:

      –     Trời, cô Hạnh. Ði đâu mà lâu này chẳng thấy mặt mày đâu cả vậy. Cô mới vào hay sao? Hàng hoá thế nào? Lâu nay có mấy người đến hỏi thăm cô, tôi chẳng biết cô ở đâu mà chỉ.  Mới hôm qua đây thôi, cũng có một ông tới hỏi. Anh ta có để giấy lại. May mà cô tới, còn không tôi cũng chẳng biết mô mà giao. Ðây, cô.

      Nàng ngạc nhiên. Anh Thuyên vào trong lấy đưa cho nàng một mảnh giấy xếp tư. Nàng mở ra đọc:

      “Hai vợ chồng tôi vừa đi hàng vào. Hiện ở tại 123/46 Nơ Trang Long, Bình Thạnh.Cô có rảnh ghé lại để bán chuyện làm ăn. Chúng tôi chỉ ở được hai hôm, ngày kia phải về lại. Mong.  Thương”

      Thương vào? Nàng nhíu mày, ngẫm nghĩ. Nàng hỏi lại:

      –     Người đưa giấy là đàn ông?

      –     Thì là đàn ông. Anh ta bảo vừa từ Nha Trang vào.

      Thế là Cảnh rồi. Nàng cầm tờ giấy xoay qua xoay lại, sửng sốt. Sao anh ta biết địa chỉ ở đây? Và làm sao anh ta có thể bỏ việc ngoài đó để vào? Với lại, làm sao Thương có thể để cho anh ta đi? Anh chàng này liều lĩnh đến thế sao? Nhìn cái địa chỉ, nàng bỗng hồi hộp vô cớ. Có nên đến tìm anh ta không?  Ông Thuyên tiếp:

      –     Còn nữa. Hôm cô đi được ít hôm, có một người đàn ông Bắc đến tìm cô. Ông gì có đến đây một vài lần rồi.

      –     Chắc anh Phiệt.

      –     Ðúng rồi, Phiệt. Anh ta cho hay là anh ta đã nhận được giấy báo đi phỏng vấn.

      –     Vậy à! Anh ta có người vợ ở Canada bảo lãnh.

      –     Một người nữa. Anh chàng này lạ, người Huế. Người ôm ốm, trông bộ điềm đạm…

      Hạnh giật mình. Ai vậy nhỉ? Túy chăng?

      –     Anh ta có nói tên không?

      –     Không. Anh ta chỉ đến hỏi thăm.

      –     Có nhắn gì không anh?

      –     Không. Anh ta vào một chút rồi đi ngay.

      –     Vậy à. Có lẽ là một bạn hàng trầm.

      Vậy là thầy có đến tìm em. Trời ơi, em giận thầy biết mấy.  Em buồn khổ, em đi tìm thầy, thế mà thầy sao sao đâu. Thầy vẫn như ngày nào, vẫn giữ kẽ, vẫn…nhút nhát, vẫn…

      Nên ghé thăm ai đây? Thầy Túy hay Cảnh? Nàng chào anh Thuyên ra về, quên bẵng chuyện đến đây để hỏi thăm anh về tình hình thị trường

*

      Thấy Hạnh bước vào, Duyệt la bai bải:

      –     Bà đi đâu vậy? Ðã nói ở nhà nghỉ ngơi, thế mà cứ tháy máy đi. Thích đi đâu thì để tôi chở đi, sao lại đi xe thồ. Hàng hóa hay thăm ai? Nói mau.

      –     Mình ghé nhà người quen hỏi tình hình hàng hóa.

      –     Thế nào? Hàng đã ăn lại chưa?

      Hạnh bịa:

      –     Chưa.

      –     Tôi chạy vội về đây vì có hai tin mừng mang lại cho bà. Hai tin cùng đến một lúc, khiến tôi phân vân. Ấy, không phải phân vân gì cho tôi, mà cho bà đấy. Thứ nhất là: con Hương, có nhớ con Hương không, con Hương hôm nhảy nhót ở nhà anh Thông ấy. Con Hương tổ chức mừng đứa con vừa vượt biên đến Mã Lai an toàn. Chiều mốt. Tất nhiên là có nhảy.  Ðây là dịp để bà thực tập. Tin thứ hai là: ông Quất vừa ghé lại.  Nghe tin bà hiện có ở đây, anh ta mừng quýnh. Khoan, không có gì bậy bạ đâu, chuyện làm ăn thôi. Anh ta bảo là đi với bà hên. Này, dân Cộng sản thứ thiệt đấy nhé, nhưng giờ mê tín lắm. Tin đủ thứ, thần thánh, ngày tốt ngày xấu, mỗi chuyến hàng đi đều có cúng quảy đàng hoàng. Có lần hồi mới quen, anh ta còn hỏi tuổi tôi thử có hạp chuyện buôn bán với anh ta không…nghĩ cũng tức cười.

      –     Ông ta nói chuyện gì?

      –     Anh ta cho biết hiện thuốc “Jet” và “Hero” ở Hà Nội đang “hút”, vì có mối đóng lên vùng Thượng Du phía bắc. Anh ta cần đóng gấp hàng để đi khuya nay. Tôi đang bấn lên đây.

      –     Gì mà gấp gáp thế?

     –    Buôn bán thời buổi này mà bà hỏi. Hàng lên hàng xuống như nước lụt, đâu có đợi ai. Không nhanh tay thì thiệt mình. Vả lại, tàu anh ta phải đi khuya nay. Bây giờ bà tính sao, có muốn chớp thời cơ, đi luôn chuyến này với anh ta không?  Hay ở lại vui chơi? Tùy bà đấy. Nếu bà muốn đi, thì dọt lẹ đi đóng hàng.

      Hạnh cảm thấy bối rối thực sự. Nhiều việc đến cùng một lúc. Gặp Cảnh, thăm Túy, vui chơi hay đi Hà Nội? Duyệt nói:

      –     Có gì đâu mà bà bần thần vậy? Dân buôn là phải biết quyết định ngay, có gì mà phải đắn đo này nọ. Thích đi, thì sửa soạn tiền nong, đóng hàng, giao cho “tụi nó” lo chuyển vào ga ngay. Thì giờ không đợi ai cả. Nếu chưa muốn đi thì ở nhà nằm nghỉ, mốt ta vui chơi. Tôi thì, nói thật với bà, ba mươi giây là xong ngay. Nhưng để khỏi làm rộn bà, tôi cho bà nửa giờ suy nghĩ. Tôi lên chợ thâu tiền hàng rồi về lại. Quất cũng muốn biết ngay là bà có đi không. Tôi đi đây.

      Không đợi Hạnh có ý kiến gì, Duyệt quày quã bước ra rú xe đi ngay. Nàng nhìn theo, lòng thầm nhủ, con nhỏ lanh như sóc. Cái gì cũng nhậm lẹ. Duyệt và Thương có nhiều điểm giống nàng: nhanh, gọn, xởi lởi, và tốt với bạn bè. Những lúc chạy hàng ở Huế, nàng cũng ba chân bốn cẳng. Khi cần, quyết định rẹt rẹt. Nhưng nàng có cái khác: không vô tâm như họ.  Lúc này, nàng thực sự bối rối. Hình ảnh Cảnh và Túy chập chờn nhảy múa trong đầu óc. Cảnh táo bạo, hồn nhiên. Túy sâu sắc, da diết và…yếu bóng vía. Mỗi người tạo cho nàng một ấn tượng riêng biệt. Ấn tượng nào cũng khiến nàng nao nức, bồi hồi. Giờ họ ở đâu đó, đang đợi nàng. Mỗi người đợi một cách:  Cảnh thì đi vào đi ra, nôn nóng. Nếu gặp nàng là anh ta sẵn sàng xông thẳng tới, chụp đôi vai nàng, day dở cuồng nhiệt. Còn Túy thì trầm ngâm, nhìn quanh nghe ngóng, thấy nàng, sẽ từ tốn đứng lên, đôi mắt reo vui hớn hở, rồi…thôi.

      Nàng đi lui đi tới nghĩ ngợi mông lung. Ðàn ông, cái thế giới trông rất gần gũi ấy, vẫn không thiếu điều kỳ lạ. Hồi xưa, khi mới lấy chồng, nàng nghĩ đàn ông thì ai cũng thế. Dâm đãng, tham lam và lười biếng. Nhưng giờ đây, nàng hiểu ra rằng, không đơn giản như thế. Mỗi một người có nét riêng của họ, khó hiểu và hấp dẫn. Mười Giộc hung bạo mà hào hoa. Túy nhút nhát mà sâu sắc. Cảnh thì ẩu tả mà quyến rũ. Chẳng ai giống ai. Mỗi người mang lại cho nàng những cảm giác riêng biệt. Lạ. Y như được nhắm thử những món đặc sản tại các vùng khác nhau.

      Thoắt một thoáng đã thấy Duyệt trở về. Duyệt leo vội lên gác, giọng oang oang:

      –     Thế nào “bà nội”? Ði hay ở?

      Không kịp suy nghĩ, Hạnh trả lời:

      –     Ði!

      Duyệt có vẻ ngỡ ngàng trước câu trả lời dứt khoát, tức thì của bạn. 

      –     Chắc chưa?

      –     Ừ.

      –     Vậy nhé. Tôi đi rửa mặt, uống cốc nước. Bà lo chuẩn bị mọi thứ đi. Vàng chiều nay có giá đấy. Ðám cao nguyên về đóng. Khâu Kim Vân được giá. Bà có khâu gì?

      –     Khâu xanh Huế.

      –     Hơi yếu đấy. Nhưng không sao. Hơn thua vài trăm.

      Duyệt xuống. Hạnh nhanh chóng xếp đặt áo quần, kiểm tra lại số vàng mang theo, tính toán số lượng phải mua. “Lại đi”, Hạnh nhủ thầm.

*

      Trong các chuyến đi buôn đường dài của Hạnh, có lẽ chưa lần nào, Hạnh thoải mái như lần này. Quất dành trọn cho nàng nguyên cái “ca bin” của kiểm soát viên, để nàng tự do sử dụng. Phòng tuy nhỏ, nhưng gọn gàng, có gối, có chăn, có chậu rửa mặt, có tủ đựng đồ. Phòng là phòng của hai người, nhưng không biết Quất dàn xếp thế nào mà anh chàng kiểm soát viên kia, tên Tuấn, không hề thấy thấp thoáng trong phòng. Nàng áy náy, hỏi Quất:

      –     Em làm phiền mấy anh quá không?

      –     Không sao đâu Hạnh. Cái gì chúng tôi cũng lên kế hoạch cả rồi. Có phụ nữ thì phải có kế hoạch đàng hoàng chứ.

      Anh ta vừa nói vừa vỗ vào cái “xắc cốt” lủng lẳng một bên hông cười, để lộ hàm răng trên hơi vẩu, nhưng có duyên ngầm, nói tiếp:

      –     Chúng anh thực hiện phương châm “nhân viên và hành khách là bạn”. Em cứ yên tâm. Chỉ khi nào có đội cơ động lên, em tạm lánh ra ngoài.

      Buổi chiều, Quất rủ Hạnh xuống toa cung ứng.  Sau bữa ăn chiều, toa bán đồ ăn này trở lại lặng lẽ. Chỉ còn một vài người khách ngồi nhâm nhi cà phê, chuyện vãn. Tàu đang chạy qua những cánh đồng lúa vừa gặt xong, tiếp giáp với chân những ngọn đồi thấp. Mặt trời chênh chếch trên đỉnh ngọn núi xanh thật xa, chọc thủng một cụm mây khá dày, ném xuống chùm tia sáng thẳng tắp, nhiều màu, sắc cạnh. Một số tia chiếu thẳng vào toa tàu. Hạnh hớp một ngụm bia, nói:

      –     Chuyến này trông có vẻ êm đềm, anh nhỉ?

      Quất uống một hơi hết nửa ly, nhìn nàng hỏi:

      –     Ý Hạnh muốn nói cái gì êm đềm?

      –     Thì không thấy công an lên lục soát gì cả.

      –     Không có chuyến nào êm đềm đâu. Khuya rồi có toán cơ động lên, nhưng họ chỉ làm ở toa 6. Toa 2 và 4 cũng bị, nhưng sơ sơ.

      –     Em lo quá!

      –     Khéo lo! Anh đã nói rồi, anh lo hết. Em không tin Quất kiểm soát viên này sao!

      Hạnh hạ giọng:

      –     Hàng hóa để đâu, em không thấy?

      –     Thế mới hết ý! Hàng giấu mà để cho người ta biết, thì giấu làm gì.

      –     Nhưng mà…

      –     Không nhưng mà… gì hết. Em cứ việc ngủ ngáy, vui chơi thoải mái. Thế nào, hôm rồi ngủ ngon không?

      Hạnh bẽn lẽn:

      –     Vâng. Em thật bậy. Giành chỗ của mấy anh. Sáng ra, thấy anh nằm trên võng…

      Quất cười:

      –     Nếu không nằm võng thì nằm đâu. Chẳng lẽ…

      Anh ngừng nửa chừng, nheo mắt nhìn nàng. Nàng giả tảng không biết, hỏi tiếp:

      –     Còn Tuấn?

      –     Anh có khách thì cu cậu phải lo chuyển hộ khẩu thôi.

      –     Anh có nhiều khách lắm sao?

      –     Khách gì mà nhiều với ít. Làm như phòng kiểm soát viên chỉ để chứa khách. Khách là em đấy. Một mình em. Em là người đầu tiên và duy nhất. Phải có lý do chính đáng mới thuyết phục được cu cậu nhường chỗ chứ.

      Hạnh cười:

      –     Anh ta to thế mà anh cứ gọi cu cậu nghe sao phải?

      –     Ấy, hắn to thế mà trẻ hơn anh những ba tuổi kia đấy.

      –     Vậy anh ta mới ba mấy thôi à?

      –     Ba mốt. Chiến sĩ Trường Sơn ba năm, nên chóng già.

      Hạnh tính nhẩm. Vậy thì Quất ba mươi bốn, thua nàng những ba tuổi. Trời, thế mà nàng nghĩ anh ta phải đến bốn mươi. Nàng xưng anh anh em em với anh ta ngọt xớt. Nàng nói:

      –     Ừ, Quất trẻ thật. Bộ Quất không đi Trường Sơn sao?

      Quất trả lời:

      –     Anh xui. Ðộ nọ, đúng cái hôm lên đường đi nghĩa vụ thì ông cụ đột ngột lên cơn hen nặng, phải chở đi viện, nằm ở đó một tháng rồi chết. Ðảng ủy và xã đội chiếu cố cho anh về chăm sóc. Ðến khi mọi việc xong xuôi, thì đợt nghĩa vụ cũng chấm dứt. Ấy, rủi mà…may.  Sau này, có đợt gọi lại, anh đang công tác tại xã, lại được miễn thêm một thời gian nữa. Không phải anh lười nhác, trốn tránh trách nhiệm đâu. Con người là thế, lúc đầu hăng hái mà không làm được đến khi lòng mình nguội rồi thì…gay lắm!

      Quất cười hềnh hệch. Anh chế thêm bia. Hạnh tới quầy mua phiếu, lấy thêm một chai nữa, nhưng anh xua tay:

      –     Ðủ rồi, em. Ðợi khi xuống “ca” hẳn hay. Giờ không uống được nhiều đâu. Tốt nhất là về đến Hà Nội, giao ban, thong dong, uống mấy cũng được. Nể em, uống một tí gọi là giao tình. Ðang công tác mà say thì gay lắm.

      –     Mặt Quất mới uống một tí mà đã đỏ lên rồi đó.

      –     Chính thế. Chính vì vậy mà anh chỉ uống khi ở nhà. Ta ngồi chút cho hết hơi bia.

      Nàng nhìn ra ngoài. Mặt trời bây giờ đã khuất hẳn sau núi.  Tàu vẫn còn chạy qua những cánh đồng. Trời sâm sẩm tối.  Những con chim lạc lõng bay về một nơi nào đó trong xa kia mất hút. Lòng nàng chùng xuống. Chiều xuống bao giờ cũng gợi nhớ bếp lửa và bữa ăn gia đình. Chợt nhớ Lục và mấy đứa con. Nàng hỏi:

      –     Bao giờ thì đến Huế?

      –     Chắc phải đến khuya. Này, Huế của Hạnh nghe nói đẹp lắm phải không?

      –     Quất chưa đến hay sao?

      –     Ði qua thì hàng ngàn lần. Mà xuống Huế để tham quan thì chưa. Hôm nào, anh sẽ ghé chơi. Hạnh dẫn anh đi nhé?

      –     Không khó.

      –     Mà người Huế nghe nói khó lắm.

      –     Ở đâu chẳng vậy.

      Hạnh chợt nghĩ đến người đàn bà tìm gặp nàng ở Hà Nội hôm nào.

      –     Như ở Hà Nội. Mình nhớ đến cái bà gì ghé tìm mình ở nhà trọ lần trước. Bà ấy đúng là…là…

      Quất xua tay:

      –     Ôi thôi! Ðừng có mà nhắc đến cái bà lắm mồm ấy.  Anh ngấy bà ấy quá trời.

      –     Ðừng nói bậy. Ỷ thế không có chị ấy ở đây rồi ăn nói linh tinh. Mang vạ có ngày. Bà ấy bà xé xác Quất ra không chừng. Ðàn bà Bắc nghe nói dữ lắm.

      Quất đứng dậy:

      –     Ừ, thì dữ!

*

      Lúc đó, tàu vừa dừng ở ga Hải Vân Nam. Nàng hé cửa ra nhìn. Ðêm trăng đẹp tuyệt! Bầu trời trong vắt như mới tắm xong. Ánh trăng quấn lấy cây cỏ, mềm dịu kinh người. Lòng Hạnh xôn xao dậy thì. Ðầu óc mỏng ra, bốc thành hơi bay vút. Nàng ra khỏi ca bin, leo xuống, đứng dựa vào thành tàu, say sưa nhìn mọi vật im lìm đẫm trăng. Ðã nửa khuya, lại giữa núi rừng, nên không mấy hành khách xuống tàu. Lác đác chỉ có vài người đi tiểu, hút thuốc âm thầm như những bóng ma. Xa phía dưới kia, biển ngậm ánh sáng, lăng tăng bạc. Gió lạnh. Nàng vòng chặt hai tay trước ngực. Một bóng người rọi đèn pin đi đến:

      –     Ô, Hạnh. Sao đứng đây?

      –    Ai vậy? À, Quất. Mình ngắm trăng chút. Trăng núi rừng đẹp quá. Bữa nay mấy rồi nhỉ? Ði miết, quên cả ngày tháng.

      –    Ðã qua rằm rồi. Hạnh nhìn trăng thì biết. Trăng méo rồi.

      Anh nắm tay nàng:

      –    Ðứng làm gì ở đây. Muốn ngắm trăng, đi quanh quanh với anh. Ở đàng kia có con suối đẹp. Tàu chưa chạy đâu.   Ðang đợi tránh tàu vào, cũng phải hơn nửa tiếng nữa.

      Hạnh gỡ nhẹ tay Quất:

      –     Cám ơn. Mình lạnh!

      –     Sao không khoác áo ấm vào? Ðể anh vào lấy cho nhé?

      –     Thôi, để mình vào lấy cũng được.

      Quất vỗ vào cánh tay trần của Hạnh, giọng thân mật:

      –     Lạnh, đau mất! Ðừng ẩu thế, không hay.

      Nàng lên ca bin, lấy tấm áo gió choàng vào.

      Quất dọi đèn pin, theo lối bên hông nhà ga đi xuống. Ga, thực ra chỉ là một trạm nhỏ, nằm lọt giữa vách đá núi. Ngọn đèn bão treo ngay cửa sổ toả ra một thứ ánh sáng mờ đục buồn bã và cô độc. Sau lưng ga là một con dốc mấp mô những đá sỏi và rễ cây. Lau lách, cỏ dại đẫm sương. Nàng lần bước khó khăn. Chợt la lên:

      –     Chết cha!

      Quất hoảng hốt quay lại:

      –     Gì vậy?

      Hạnh chới với níu đại một cành cây. Quất nhảy lên đỡ nàng, gỡ chiếc áo len ra khỏi một nhánh cây trụi lá nhô ra trên lối đi.

      –     Thôi mình về. Khiếp quá!

      –     Ðể anh đỡ. Ðâu có sao. Xuống khỏi lùm cây kia là đến suối à. Ðã nghe tiếng suối rồi đó.

      Hạnh lắng nghe. Ðúng là có tiếng suối thì thầm đâu đó. Quất dìu Hạnh xuống. Sương lạnh. Quất nói:

      –     Suối kia rồi.

      Suối thật. Hạnh phấn khích gỡ tay Quất ra, chạy xuống.  Một giòng nước trắng xóa chảy tràn qua các kè đá, hớn hở đổ xuống một vũng nước trong leo lẻo phía dưới. Tiếng rơi như hát. Nàng đứng ngẩn người ra nhìn. Lau lách bạt ngàn thoai thoải chạy xuống dưới xa kia. Lòng chợt vô cùng cảm khái.  Nàng khe khẽ hát: “Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối..”..  Quất hỏi:

      –     Hạnh hát bài gì thế?    

      –     Một bài hát cũ.

      –     Thuộc hết không, hát tiếp đi.

      –     Người hẹn cùng ta đến bên bờ suối, rừng chiều mờ sương ánh trăng mờ chiếu, một đêm thiết tha…

      Hạnh ngừng, nhón chân bước lên tảng đá có giòng nước tràn qua. Quất cảnh giác:

      –     Coi chừng, rêu rong trơn lắm, té đấy.

      –    Mình thích suối. Chưa có lúc nào trong đời mình được thấy suối đẹp như thế này.

      Nàng lẩm nhẩm lập lại câu hát, tay đưa ra hứng giòng nước. Lạnh tê. Hạnh buốt tay, rụt vào. Chợt nghe tiếng thở gấp, quay lại. Khuôn mặt Quất tối đi, ngây dại. Ðôi mắt rực rỡ khác thường. Hơi thở nóng. Quất chụp hai vai Hạnh. Hạnh kêu:

      –     Quất!

      –     Ừ, Quất đây.

      Nàng đẩy Quất ra:

      –     Quất! Mình không thích thế.

      Quất vẫn không buông tay, giọng nghe như say:

      –     Hạnh! Hạnh đẹp quá!

      Nàng quay lại, nghiêm giọng:

      –     Quất! Ðàng hoàng tí đi nào!

      Quất vuốt nhẹ má Hạnh một cái rồi mới chịu buông, nhưng vẫn giữ giọng ngả ngớn:

      –     Hạnh hát hay quá!

      Hạnh ngồi xuống vốc nước suối, vừa lập lại câu hát vừa tung nước ra xa. Nước tạt ngược lại, rơi vào ngực. Nàng rùng mình, đứng dậy:

      –     Thôi mình lên đi Quất. Không khéo tàu chạy mất.

      –     Chưa đâu. Anh biết mà. Hạnh!

      –     Thôi, lần khác.

      Quất thở nhẹ:

      –     Dễ chi mà có lần khác.

      Hạnh nói:

      –     Nghe mình đi. Lên.

      –     Ừ, thì lên.

      Nàng đưa tay cho Quất kéo lên dốc đá. Lên khỏi dốc, nàng ngoái lui nhìn giòng suối, lòng vương mang theo hình ảnh của bài hát cũ. Chợt nhớ thầy Túy da diết.

      Trở vào ca bin, nàng trằn trọc hồi lâu mới ngủ lại được. 

      Khi thức dậy mới hay tàu đã dừng ở Huế tự khi nào. Nàng hốt hoảng leo xuống tàu, chạy vội ra cổng thì tàu đã hú còi chạy. Nàng tiu nghỉu leo trở lên, bỏ lá thư và bịch đồ vào lại xách, đứng tựa cửa nhìn ngoái lui sân ga vắng, tự hỏi chẳng biết Lục và Ðồng vẫn còn đợi ngoài ga hay đã trở về nhà                                      

      Ðến ga Thanh Hóa, Quất bấm Hạnh ra quầy hàng giải khát, nói:

      –     Từ đây ra Hà Nội, có thể có phái đoàn của Tổng Cục Ðường Sắt lên kiểm tra. Ðội Cơ Ðộng có thể nhảy ở Ninh Bình. Nhiều việc lu bu lắm. Vậy, em tránh ra ngoài, kiếm chỗ nào ở đầu xe, mắc võng nằm. Lát nữa, khi tàu chạy lại, Hạnh tìm gặp riêng Tuấn, bồi dưỡng cho cu cậu.

      –     Ðương nhiên. Nhưng nhiêu?

      –     Tùy Hạnh. Em liệu lý lấy. Dân buôn chuyên nghiệp mà còn hỏi. Nên nhớ, hắn không chỉ nhường ca bin cho em mà còn phụ anh cất giấu hàng nữa đấy.

      Nhân cơ hội, nàng hỏi luôn:

      –     Hàng giấu ở đâu?

Quất nhìn quanh, hạ giọng:

      –     Ðáng lẽ ra đến ngoài đó rồi cho em biết sau. Nhưng, không hề gì. Anh dấu trong “cốp”.

      – “Cốp”?

      –     Ðúng. Tụi anh mở “cốp” dấu hàng rồi đóng lại.

      –     Nhưng mình có biết “cốp” là cái gì, ở đâu đâu.

      –     Cốp là trong thành tàu ấy mà.

      Hạnh gật đầu, tỏ dấu hiểu.  Quất tiếp:

      –     Còn phần bà nội ở xe Cung Ứng, anh lo.

      –     Sao còn bà cung ứng vô đây?

      –     Hàng dấu nhiều nơi, em biết không. Trong “cốp” đâu có đủ. Có cả trăm cây thuốc chứ có ít đâu. Anh phải nhờ bà ta giúp thêm. Ở đó hơn một nửa rồi đấy. Nhưng kín miệng. Bể ra là hỏng hết. Nhớ chưa, cô em?

      Quất đưa tay nựng má Hạnh, nhưng nàng cảnh giác, tránh qua một bên.

      –     Coi người đi tới đi lui tùm lum nơi kìa!

      Quất chìa cho Hạnh tấm vé tàu:

      –     Em giữ tấm vé Thanh Hóa – Hà Nội, phòng gặp đội kiểm tra.

      Quất đi. Hạnh gọi giật:

      –     Còn một việc nữa, ra ngoài đó thế nào? Mình không về lại chỗ Kim Liên đâu.

      Quất dừng lại, cắn môi:

      –     Vâng. Anh cũng nghĩ thế. Ðể xem. Hay là em mướn phòng trọ gần ga đi. Chỗ này cũng có điều bất tiện, nhưng cứ tạm ở đó, sau hãy hay. Quyết định vậy đi nhé.

      Hạnh quanh quẩn một lát trong cửa hàng rồi trở lại tàu.  Khi nàng vừa bước lên toa, thì có hai người đàn bà nãy giờ luẩn quẩn dưới sân ga, chạy ào tới:

      –     Chào cô, chào cô.

      Hạnh quay lui nhìn. Ðó là hai người đàn bà gầy ốm, má hóp, mặt đầy những vết nhăn, ăn mặc rách rưới, bẩn thỉu. Mỗi người ẵm một đứa bé hai, ba tuổi mặt mày lem luốc. Bà đứng sau còn dắt theo một thằng nhỏ cỡ chừng bảy, tám tuổi. Thằng bé buồn bã đứng im, đôi mắt láo liên nhìn quanh. Hạnh sợ hãi tránh sang một bên. Người đàn bà đứng gần lên tiếng, nghe như hát:

      –     Trăm lạy cô, ngàn lạy cô. Cô “nàm” ơn “nàm” phước giúp cháu. Nhà cháu quá nghèo. Năm nay mùa màng lại thất bát.  Nhà chẳng còn gì ăn, con lại đông. Cô “nàm” ơn “nàm” phước…

      Bà này còn muốn nói tiếp thì bà kia chen vào:

      –     Cô ơi, cháu cầu trời phật giúp cô mua may bán đắt. Cô “nàm” ơn “nàm” phước cứu giúp nhà cháu. Con, con “nạy” cô mấy “nạy” đi cô.

      Vừa nói, bà ta vừa đẩy thằng bé ra tới trước. Thằng nhỏ chấp tay lạy:

      –     Cô ơi, nhà con đói nắm. Cô nàm ơn “nàm” phước cứu con. Con nguyện kết quả ngậm vành đội ơn cô. Con “nạy” cô…

      Hạnh tức cười vì lối học thuộc bài của nó, nhưng làm bộ nghiêm. Nàng lục túi áo, tìm mấy đồng bạc lẻ. Bà nói đầu tiên lại chen lên, hai tay bồng đứa con đưa tới sát ngực nàng:

      –     Cô ơi, con bé này ngoan nắm. Chừng này tuổi mà biết chuyện “nắm”. Cô “nàm” ơn “nàm” phước…

      Có tiếng ai trong toa nói ra như ra lệnh:

      –     Ðuổi xuống, đuổi xuống!

      Một giọng khác phụ họa:

      –     Ðuổi xuống. Ðóng cửa toa lại. Trông bẩn mắt quá!

      Hạnh dúi mấy đồng bạc lẻ vào tay người đàn bà. Bỗng nhiên, cả hai người đàn bà hốt hoảng bước xuống toa, chạy vội đi. Hạnh ngơ ngác nhìn quanh, thấy hai người công an đang tiến lại. Hai công an vừa đi khỏi, người đàn bà có đứa con lớn, nhanh chóng bước lên toa, đẩy thằng con về phía nàng:

      –     Theo cô đi con.

      Chị ta quay về phía Hạnh:

      –     Cô “nàm” ơn “nàm” phước nuôi cháu. Cháu ngoan “nắm”, “nàm” gì cũng được: gánh nước, bồng em, giặt đồ, bửa củi. Cô nhận cháu đi cô. Nhà cháu bảy miệng ăn, không nuôi nổi. Xin cô cho nhà cháu…hai ngàn thôi. Nếu cô thương thì cho thêm, nhà cháu không dám đòi. Nhà cháu cắn cỏ ngậm vành đội ơn cô. Này, Tào, nắm tay cô đi con.

      Thằng nhỏ dạn dĩ nắêm lấy tay Hạnh. Hạnh khiếp đảm tránh đi:

      –     Không, không, tôi không nhận đâu chị ơi. Ðây cháu cầm lấy một ít tiền về mua gạo.

      Người đàn bà kia từ nãy giờ bị cánh cửa chận lại, không lên được, cố chen vào. Bà ta gạt thằng bé sang một bên rồi chìa đứa con cho Hạnh:

      –     Này, cô ơi, cô bồng đi. Cô mang cháu vào trong kia.  Nhà cháu đến mười miệng ăn, ruộng vườn không có, chỉ còn đợi chết. Cô “nàm” ơn “nàm” phước. Thằng nhỏ này, cho cháu ngàn rưởi thôi. Cô “nàm” ơn “nàm” phước…

      Hạnh lúng túng, đứng đực người ra, không biết phải làm sao. Bỏ vào trong thì bất nhẫn, mà đứng đây thì bất tiện. Nàng lục trong túi lấy thêm ít tiền định cho thêm, thì chợt một bóng người từ dưới nhảy lên:

      –     Bước xuống, nghe không? Xuống hay tôi gọi công an bắt. Xuống, xuống mau, tàu sắp chạy bây giờ.

      Hai người đàn bà chưa kịp lấy tiền từ tay Hạnh thì bị người đàn ông trong bộ đồng phục đường sắt mạnh tay đẩy xuống hẳn khỏi toa, bất chấp tiếng khóc van vỉ của hai người đàn bà.  Anh ta đóng sầm cửa lại. Hạnh kêu lên:

      –     Quất! Anh Quất!

      –     Kìa, Hạnh. Dây dưa với họ làm gì.

      –     Thì ai mà biết. Em tưởng họ chỉ xin tiền.  Mà họ ở đâu vậy Quất?

      –     Diễn Châu. Nghe nói năm này mùa lại mất. 

      Tàu từ từ chuyển bánh. Hạnh cảm thấy bất nhẫn, mở cửa nhìn xuống. Chẳng thấy hai người đàn bà ở đâu cả. Rải rác trên sân ga, nhiều người tay dắt tay bồng ngơ ngác nhìn theo đoàn tàu. Nàng vịn tay chắn, ngoái nhìn lui cho đến khi khu ga khuất hẳn tầm nhìn.

Chương 36

Người phát thư dừng xe đạp trước cổng, gọi lớn vào trong:

      –     Nhà này có ai tên Ðồng không, ra nhận điện.

      Lục đang ngồi sửa xe đạp ở góc nhà, nghe tiếng, chạy vội ra. Người phát thư hỏi một lần nữa:

      –     Nhà có ai tên Ðồng không?

      Anh vừa bước nhanh vừa đáp:

      –     Ðồng, Ðồng nào? Nhà này chỉ có Lục. Tôi là Lục.

      –     Tôi biết. Vì thế tôi mới hỏi. Không có ai khác nữa sao?

      –     Có. Tôi có đưa con tên Ðồng, Tống Viết Ðồng. Nhưng nó còn nhỏ mà, ai điện cho nó làm gì!

      –     Ðúng rồi, tên Tống Viết Ðồng. Ðây này…

      Lục ngạc nhiên:

      –     Ai lại gửi điện tín cho thằng Ðồng kìa?

      –     Nếu đúng tên Ðồng thì nhận. Tôi phải hỏi vì sợ lộn nhà thì phiền. Ðiện lại là điện khẩn.

      Anh cầm tờ điện tín đọc:

      “Con hãy lên ga đón mẹ để lấy đồ ăn vào chiều ngày 26 tháng 9. Ghé ga để xem kế hoạch tàu trước. Mẹ đi Thống Nhất 1”.

      Hóa ra là điện của Hạnh. Ðọc xong, anh cầm tờ điện tín đi vào nhà, lòng bửng lửng bơ lơ. Sao Hạnh không gửi cho anh mà lại gửi cho thằng Ðồng? Anh cảm thấy danh dự mình đột nhiên bị xúc phạm. Thấy mấy đứa con lảng vảng đâu đó phía trước cửa, đoán là chúng lóng ngóng muốn biết tin về mẹ chúng, anh gọi:

      –     Ðứa nào ngoài đó?

      Nghe gọi, thằng Phụng mau mắn chạy ngay vào. Anh hỏi:

      –     Thằng Ðồng đâu?

      –     Dạ. Ðồng bước vào, trả lời.

      Anh đưa tờ điện tín cho Ðồng, giọng cố giữ thật dịu dàng:

      –     Ðiện tín của mạ gửi chi mi. Ðọc đi.

      Ðồng cầm tờ điện tín, đọc. Anh hỏi:

      –     Có hiểu không?

      –     Dạ, hiểu sơ sơ.

      Biết Ðồng không rành đọc chữ điện tín, anh “dịch” lại cho nó. Dịch xong, anh muốn nói một câu thật chua chát với con, nhưng cố kềm giữ lại. Anh bảo:

      –     Giữ lấy. Lo mà đi đón mạ mi.

      Mấy đứa con kéo đi. Anh nhìn theo, lắc đầu ngao ngán. 

      Ngày hôm sau, sau giờ học, Ðồng hỏi anh lấy chiếc xe đạp để lên ga. Anh ngạc nhiên, vì không nghĩ rằng thằng Ðồng có thể làm cái việc người lớn này. Anh hỏi:

      –     Mi biết gì về kế hoạch tàu mà đi?

      Ðồng nói, giọng chắc nịch:

      –     Con làm được.

      Anh nhìn nó, suy nghĩ một lát rồi bảo:

      –     Liệu làm được thì đi đi.

Ðồng chỉ đợi có thế, đạp xe đi. Một hồi lâu sau, nó trở về, ghi lại cho anh giờ đến của tàu Thống Nhất 1. Anh hỏi:

      –     Sao mi biết?

      –     Con hỏi nhân viên ga. Con cũng có xem bảng kế hoạch tàu.

      –     Có xem đúng ngày 29 tháng 9 không? Vì ngày nào cũng có một chuyến tàu Thống Nhất 1 hết. Số lẻ chỉ chuyến tàu vào. Số chẵn chỉ chuyến tàu ra.

      –     Con biết.

      –     Thứ hai là, giờ họ ghi không có gì chắc chắn cả. Họ ghi vậy, nhưng trễ vài tiếng đồng hồ hay nửa ngày là thường.

      –     Con biết. Ngày mai con sẽ lên xem lại.

      Anh nhìn Ðồng chăm chăm. Ðồng cúi mặt nhìn xuống hai bàn chân mình. Khác với cái nét bướng bỉnh, thách thức những lần trước, lần này, Ðồng có vẻ chững chạc, tự tin. Nó biết rõ những điều cần làm và phải làm như thế nào. Ai bày cho nó?  Anh nhìn thấy những sợi lông măng hai bên môi Ðồng lún phún đen. Ðôi môi thỉnh thoảng mím lại. Tia nhìn dường như đã chứa ít nhiều nét suy tư. Những câu nói của Ðồng trở nên gọn ghẽ. Bộ điệu và cử chỉ chừng mực.

      So với Ðồng bây giờ, hình như thằng nhỏ Lục hồi đó ngang bướng hơn nhiều. Anh không nhớ rõ chính xác vào lúc nào, nhưng trong độ tuổi mười lăm, mười sáu, một hôm, không hiểu từ đâu, anh bất chợt bắt gặp một cảm giác lạ: anh muốn chống lại chú ruột và mẹ. Thằng nhỏ bực tức vì những lời la mắng, nguyền rủa, răn đe, ngăn cấm và những lằn roi quất vào người suốt thời thơ ấu của hai người lớn. Họ bất công. Tại sao họ cấm hắn bắn chim, câu cá? Tại sao họ cấm không cho hắn ra đường chơi vào những đêm trăng đẹp? Tại sao họ cấm hắn đi xe đạp? Tại sao họ cứ thường xuyên rót vào tai hắn những bài học luân lý nhàm chán như là hiếu đễ, vâng lời? Không cãi lại được, không bỏ đi đâu được, hắn bắt đầu một cuộc nổi loạn ngấm ngầm: làm trái lại tất cả những gì mà mẹ và chú muốn.  Chẳng hạn như cố tình học kém cho có vị thứ thấp hơn trong thành tích biểu hàng tháng, không chịu đội mũ khi ra trời nắng, cãi lý hoặc nhịn đói khi bị mẹ la. Trong thâm tâm, thằng nhỏ muốn chọc thủng bức tường quyền hành của mẹ và chú. Hắn thành công. Hai người lớn dần dà nhượng bộ. Hắn bắt đầu cảm thấy mình trở thành người lớn.

      Càng nhớ lại về mình, Lục càng thâm cảm thái độ của Ðồng. Và đau đớn. Giữa hai cha con bắt đầu có một cuộc chiến tranh mà kẻ thua cuộc chắc chắn là anh.

*

      Ðồng muốn đi đón mẹ một mình, nhưng Lục không cho.  Anh lấy xe chở con đi. Tàu trễ hai giờ. Anh lầm bầm chưởi thề, bảo Ðồng về nhà. Ðồng không chịu. Nó muốn ở lại cho đến khi tàu tới. Anh bực mình gắt:

      –     Về! Ðứng làm cái quái gì ở đây.

      Ðồng không nói gì, mắt lườm lườm nhìn anh. Thấy thằng nhỏ bắt đầu nổi chứng, anh âm thầm nhượng bộ, lấy xe đi lang thang một hồi, đợi đến giờ quay trở lại. Tàu đến, anh để Ðồng vào ga một mình gặp Hạnh. Anh chẳng muốn gặp vợ trong lúc này. Có gặp cũng chẳng biết nói gì, chỉ càng thêm giận. Mãi đến khi tàu chạy, Ðồng mới trở ra, tay xách một giỏ đồ đủ thứ lỉnh kỉnh. Ðồng đưa cho anh một xấp tiền, lẳng lặng ngồi lên xe. Từ đó về đến nhà, hai cha con đều im lặng. Anh không muốn hỏi. Ðồng cũng chẳng muốn kể chuyện.

      Ðến nhà, anh đợi Ðồng soạn đồ đạc ra, liếc  nhìn một chút rồi bỏ đi. Mấy đứa nhỏ rờ rẫm, cầm nắm những bịch kẹo, những trái hồng, trái nhãn, nhưng không reo vui hớn hở như mọi lần. Chúng cố kiềm chế niềm vui. Có lẽ rút kinh nghiệm từ lần trước, chúng không muốn anh nổi giận. Anh đếm tiền. Số tiền Hạnh gửi khá nhiều so với lần trước.  Nàng lời nhiều? Hay nàng còn ở lâu? Hay đó là ngụ ý một lời xin lỗi?

      Tối lại, sau khi ăn xong, mấy đứa con tụ nhau trong phòng, khép cửa lại, rồi ríu ra ríu rít nói chuyện. Anh rón rén bước đến cửa, đừng lại, ghé tai lắng nghe. Tiếng thằng Ðồng:

      –     Mạ hứa với tau mạ sẽ cho tau đi một chuyến vào Sài Gòn rồi ra Hà Nội. Tàu sẽ chạy qua hết các tỉnh.

      Giọng thằng Phụng:

      –     Mạ phải cho em đi trước. Em nhỏ. Không, em không chịu để anh đi mô. Mạ phải đem em đi.

      Ngân xen vào:

      –     Mạ cho em với thằng Phụng đi trước. Anh đi sau.

      Giọng Ðồng quả quyết:

      –     Mạ nói rồi. Tau đi trước. Tau lớn, có việc gì tau có thể giúp mạ.

      Ngân nói:

      –     Em cũng giúp được. Ðúng rồi, thằng Phụng nhỏ, đi đã không giúp gì cho mạ lại càng thêm phiền.

      Thằng Phụng mếu máo:

      –     Không. Em phải đi với mạ. Không cho em đi, em nằm vạ cho coi.

      Ðồng xuống giọng dỗ dành:

      –     Thì để tau đi một lần thử cho biết, rồi lần sau mi đi.  Mạ nói là đứa nào cũng được đi hết.

      –     Mà anh đi rồi em ở nhà với ai?

      –     Thì với ba.

      –     Không. Không. Em không muốn ở nhà với ba. Em thích đi với mạ ni.

      Ngân nói:

      –     Nói nhỏ nhỏ cả ba nghe. Liệu hồn. Mi ở nhà, mi còn nhỏ, ba ít la.

      –     Không, em không chịu ở nhà mô. Em đi. Cả ba đứa đi luôn.     

*

      Một tuần sau, anh nhận được một lá thư của Hạnh:

      “Anh,

      Em viết ít giòng tin anh rõ: em đóng hàng lên tàu đi Hà Nội một chuyến nữa. Chuyến này, em không nhắn thằng Ðồng lên ga đón, vì tàu sẽ đến Huế vào nửa đêm. Hơn nữa, vì chuyến rồi, em đã gửi đồ ăn và tiền về nhà. Tiền em đưa dư để trả nợ.  Anh có mượn ai, cứ trả hết. Hiện nay, em quyết định đi buôn tuyến Hà Nội – Sài Gòn, vì em bắt được mối thuốc lá ngoại ở Hà Nội. Em cung cấp thuốc cho họ mang đi Trung Quốc qua ngả biên giới. Em cũng bắt được mối cung cấp thuốc xã hội chủ nghĩa từ biên giới sang. Ðóng thuốc vào Huế bán cũng được, nhưng không lời bao nhiêu, thành thử em đóng thẳng vào Sài Gòn, vừa bán được giá, lại vừa đóng ngay thuốc lá ở đó lên cùng một chuyến tàu ra lại Hà Nội cho kịp chuyến. Ðường dây này hiện chưa có con buôn nào biết, nên em tranh thủ đi được chuyến nào hay chuyến đó. Em tính chuyến này từ Hà Nội vào, em sẽ ghé nhà nghỉ ngơi ít ngày, rồi đi lại. Nhưng cái đó còn tùy tình hình hàng hóa. Có gì, em sẽ đánh điện về nhà. Vài hàng tin anh rõ. Hạnh”.

      Lục thất vọng lật qua lật lại lá thư. Thư viết trên một tờ giấy vở học trò, được cắt cẩn thận ở phía lề. Chữ viết dù cân đối, nhưng có vẻ cẩu thả. Thư bắt đầu bằng chữ “anh” khô khan và một dấu chấm. Chữ A viết theo lối chữ in. Thư chấm dứt bằng một chữ “Hạnh” đơn độc, gọn lỏn. Lời lẽ trong thư hoàn toàn  chỉ có tính cách thông báo. Không có một chút hơi hướm tình cảm nào. Không nhớ nhung. Không giận hờn. Anh đọc đi đọc lại. Những giòng chữ dửng dưng, lạnh lùng.

Anh ngồi thừ người, suy nghĩ, trong trí bỗng hiện ra mồn một từng chi tiết trong lá thư đầu mà Hạnh gửi cho anh khi hai người mới quen nhau. Lá thư này anh đã giữ khá lâu, cho đến khi lạc mất trong đợt chạy loạn năm 1975. Lá thư bắt đầu bằng chữ “anh” và cũng kết thúc bằng chữ “Hạnh” như bây giờ. Cái khác biệt là chữ  A và chữ H, nàng viết theo kiểu chữ viết hoa với những nét uyển chuyển, xoáy vòng lại và kéo dài ra ở cuối trông rất duyên dáng và ý nhị. Anh còn nhớ anh đã ngắm nghía mãi không chán những nét chữ trong lá thư đầu tiên này. Nội dung thư cũng chỉ là những giòng thông báo và thăm hỏi vớ vẩn. Ðại loại như “anh vẫn còn đi làm ở chỗ cũ chứ”, “Em vẫn đi làm bình thường”, “ai đi làm xa, nhớ nhà lắm, nhưng đành phải chịu chứ biết làm sao” vân vân. Nhưng anh chú ý nhất là câu “ở ngoài mình, trời đã trở lạnh chưa anh? Trong này có hôm em phải mặc áo ấm vì buổi sáng trời có hơi se lạnh”. Anh ngờ rằng ý tứ của cô gái mới quen nằm trong câu này. Anh nhẩm đi nhẩm lại hoài câu này và cảm thấy “se lạnh” theo hơi văn dù hai chữ “se lạnh” có vẻ sáo ngữ.

      Anh mang thư cho các bạn hỏi ý kiến. Hầu hết đều cho rằng lá thư chẳng có gì đặc biệt, chỉ là một lá thư xã giao bình thường. Nhưng Phù suy diễn một cách khác. Hắn ta cho rằng lá thư, từ hình thức đến nội dung, “bày tỏ một tình cảm vượt qua giới hạn bình thường”. Hắn phân tích: “Này nhé, bì thư là một loại bì đặc biệt hai lớp, lớp trong màu tím. Nên nhớ nhé, màu tím là một màu rất có ý nghĩa. Lời thư tuy nói chung chung, nói vẩn vơ, nhưng đọc lên câu nào nghe cũng man mác, nhất là những chữ “chứ”, “nhớ nhà lắm”, “biết làm sao”, “trời trở lạnh”, “se lạnh”. Nếu không có tình ý gì thì cô ta chỉ viết đại khái như “nhớ nhà”, chứ thêm chữ “biết làm sao” vào làm cái quái gì. Còn “trở lạnh”, “se lạnh” lại càng không cần thiết.  Nếu xã giao, cô ta chỉ cần viết “có lẽ bữa ni ngoài đó lạnh rồi” là đủ. “Trở lạnh”, rồi “se lạnh” nghe nó thân thiết, bồi hồi, mời gọi. Ðã thế, mắc mớ gì cô ta lại kể với cậu là cô ta phải “mặc áo ấm”. Sao lại không “mặc áo len”. Tao thấy chữ “ấm” này đầy ẩn ý. Nhiều khi cô ta cũng viết vô tình thôi, nhưng rõ ràng là trái tim cô ta muốn một cái gì ấp ủ vào cho “ấm”.

      Nghe lời Phù, anh viết tiếp một lá thư nữa, lời lẽ đậm đà hơn một chút và anh nhận được ngay thư hồi âm, hé lộ chút nồng nàn.

      Hai lá thư với khoảng thời gian gần mười bảy năm có nhiều điểm giống nhau, nhưng lại quá khác xa nhau. Anh giận dỗi cầm bức thư xé nát thành những mảnh vụn. Thấy mấy đứa con lảng vảng trước cửa có vẻ chờ đợi xem thư mẹ, anh nhìn chúng mắt long lên, gầm gừ:

– Ði, cút đi. Ði cho khuất mắt tau!

–

T.D.N.

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdi

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Bài cuối. Lời kết

Bốn tên cướp biển Somali nhảy lên tàu hàng MV Maersk Alabama của Mỹ đang chạy cách bờ biển Somali 450 km. Đây là chiếc tàu đầu tiên mang cờ Mỹ bị cướp kể từ những năm 1800. Những tên cướp biển đã giữ Thuyền trưởng Richard Phillips làm con tin trong chiếc xuồng cứu sinh. Tàu khu trục USS Bainbridge (DDG-96) ngay lập tức có mặt đưa ra yêu cầu bọn cướp biển thả Thuyền trưởng Phillips. Máy bay trinh sát P-3 Orion Bay phía trên, theo dõi tình hình. Bọn hải tặc chỉ đồng ý thả thuyền trưởng khi đã nhận được khoản tiền chuộc một triệu đô-la. Lợi dụng bóng tối, một nhóm đặc nhiệm SEAL nhảy dù xuống biển và lên tàu khu trục Bainbrige. Chiếc xuồng cứu sinh hết nhiên liệu và lúc này gió biển khá to. Lo sợ trước những đợt sóng lớn, hải tặc cho phép tàu Bainbridge kéo xuồng cứu sinh vào vùng biển lặng sóng hơn.Đêm Chủ nhật ngày 12 tháng Tư năm 2009, tàu Bainbridge và xuồng cứu sinh neo đậu cách nhau chưa đầy 10m trong màn đêm đen kịt. Bên trong tàu Bainbridge, một hải tặc đang thương lượng về số tiền chuộc một triệu đô-la. Ở đuôi tàu, ba lính bắn tỉa SEAL và các đặc nhiệm phát hiện mục tiêu, đều ăn vận đồ màu đen có nhiệm vụ giám sát chiếc xuồng cứu sinh và truyền tải thông tin về cho Chỉ huy SEAL.Một đặc nhiệm phát hiện mục tiêu thông báo “T đang dí súng AK vào lưng H.” Mật hiệu này có nghĩa “Tên khủng bố đang chĩa súng vào lưng con tin.” Hai tên cướp biển khác đang thò đầu lên boong tàu để theo dõi tình hình. Mỗi lính bắn tỉa đều có một miếng nhám Velcro ở bên thành khẩu súng bắn tỉa Win Mag. Gắn với miếng nhám Velcro là một thiết bị truyền tín hiệu. Khi một lính bắn tỉa đưa tên cướp biển vào thước ngắm của mình, anh ta sẽ ấn nút trên thiết bị này để gửi tín hiệu đến chỉ huy của SEAL.

Google photo

Trên tai nghe, các lính bắn tỉa nhận được mệnh lệnh của Chỉ huy “Sẵn sàng. Ba, hai, một, bắn.” Từ đuôi tàu Bainbridge, ba lính bắn tỉa đồng thời siết cò. Ba tên cướp biển đổ gục. Một đội xung kích tiếp cận xuồng cứu sinh giải cứu Thuyền trưởng Phillips. Các đặc nhiệm SEAL khác bắt sống tên cướp biển đang thương lượng khoản tiền chuộc trên tàu Bainbridge.Một lần nữa, Đội đặc nhiệm số 6 của SEAL lại chứng tỏ được đẳng cấp của mình. Hầu hết những sứ mệnh do đặc nhiệm SEAL thực hiện đều được giữ kín với công chúng, gia đình và ngay cả với các đồng đội trong SEAL. Thật khó diễn tả những khó khăn và rủi ro các đặc nhiệm gặp phải trong quá trình huấn luyện và thực thi nhiệm vụ. Nói chung, sự tận tụy, sự hy sinh mất mát và lòng yêu nước của họ sẽ vẫn là những điều luôn được giữ kín. 

Phụ lục

Seal Team 6: Biệt đội siêu bí mật Vụ “hành thích” Osama bin Laden của SEAL Team 6 giúp soi rọi một chút ánh sáng vào biệt đội tinh nhuệ số 1 của quân đội Mỹ. Có 79 biệt kích được giao nhiệm vụ tiêu diệt Osama bin Laden song vào phút cuối chỉ có khoảng hơn 20 người tiến vào dinh thự của thủ lĩnh Al Qaeda, xông vào phòng ngủ và bắn trùm khủng bố này ở cự ly gần. Tất cả đều biết Tổng thống Mỹ Barack Obama đang theo dõi trực tiếp hoạt động của họ tại Washington. Những người này được ca ngợi như những anh hùng tại Mỹ song sẽ không có cuộc diễu hành mừng chiến thắng nào dành cho họ. Những biệt kích nói trên phục vụ trong một biệt đội có tên gọi không chính thức là SEAL Team 6 (Biệt đội SEAL số 6 – ST6), một đơn vị bí mật đến nỗi Nhà Trắng và Bộ Quốc phòng Mỹ từ chối thừa nhận trực tiếp sự hiện hữu của nó. Danh tính các thành viên của nó, dĩ nhiên, sẽ không được công bố vì lý do an ninh. Nhân dạng của họ có thể sẽ được giữ bí mật vĩnh viễn.

Google photo

Thành viên của biệt đội này từng săn lùng những tội phạm chiến tranh ở Bosnia, chiến đấu tại một vài chiến trường đẫm máu nhất ở Afghanistan và từng bắn chết 3 tên cướp biển Somalia trong chiến dịch giải cứu một con tin người Mỹ năm 2009.

Google photo

Cuộc đột kích vào rạng sáng ngày 2 tháng 5 ở Pakistan cũng có thể xem là điểm son cho biệt đội từng can dự trong một số chiến dịch nguy hiểm nhất của quân đội Mỹ trong vài thập niên qua.Leon Panetta, Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), nói các biệt kích SEAL lao vào nhiệm vụ với chỉ từ 60 đến 80% khả năng bin Laden có mặt trong ngôi nhà.Ông Panetta nói các biệt kích phải thực hiện quyết định bắn bin Laden, người không mang vũ khí và có một khẩu súng trường trong tầm với, trong một phần giây, khi họ tìm thấy hắn ở phòng ngủ trên tầng ba.Không hề có tranh luận giữa các thành viên của ST6 về việc họ có thực hiện quyết định đúng đắn khi bắn bin Laden hay không.

Don Shipley, một cựu thành viên của SEAL, nói: “Trong đêm tối, với đạn bay vèo vèo xung quanh và có nhiều người ngã xuống, nhiệm vụ của bạn là bắt sống hoặc giết chết bin Laden, ai biết được hắn ta giấu gì trong áo? Chuyện đó chỉ xảy ra trong một chớp mắt. Mục tiêu đang ở trước mắt và một cơ hội thứ hai sẽ phải trả giá bằng mạng sống”. Lalo Roberti, một cựu thành viên SEAL khác từng tham gia vào một chiến dịch giải cứu nguy hiểm ở Afghanistan vào năm 2005, nói: “Với chúng tôi, để trúng đạn đã là dở, đặc biệt với những thành viên ST6”. Trong hải quân Mỹ, các biệt đội SEAL bình thường được đánh số từ Đội số 1 đến Đội số 5 và Đội số 7 đến Đội số 10. Đội số 6 (ST6) được mô tả là đội “tinh nhuệ của tinh nhuệ” hay theo Roberti là “đội các ngôi sao”. Tên gọi chính thức của ST6 là Nhóm triển khai chiến tranh đặc biệt của Hải quân Mỹ (US Naval Special Warfare Development Group) hay được gọi tắt là DEVGRU. Các thành viên của SEAL cho biết, ST6 được chọn thực hiện chiến dịch “hành thích” bin Laden, sứ mệnh đình đám nhất trong lịch sử của SEAL, bởi kỹ năng sát thương của họ trong các điều kiện phức tạp và mơ hồ. Tất cả các thành viên của SEAL đều phải kinh qua những bước chuẩn bị khốc liệt, bao gồm 6 tháng huấn luyện tác chiến cơ bản dưới nước ở Coronado, California. Trong “tuần lễ địa ngục”, các tân binh chỉ được ngủ tổng cộng 4 tiếng trong suốt 5 ngày rưỡi chạy nhảy, bơi lội trong nước lạnh buốt và lội trong bùn lầy. Có khoảng 80% số ứng viên không vượt qua được vòng này và ít nhất có một người chết.

Google photo

Với những ai thành công, họ sẽ được huấn luyện thêm sau đó. Sau nhiều năm làm thành viên SEAL bình thường, các ứng viên của ST6 được huấn luyện nhảy dù từ độ cao 9.000m với mặt nạ và chiếm lại một tàu du lịch bị tấn công. Chỉ có một nửa số thành viên của SEAL hoàn thành được khóa huấn luyện này. Ryan Zinke, một cựu thành viên của ST6 đang là nghị sĩ ở bang Montana, cho biết các thành viên của biệt đội này có một tính cách nhất định. “Tôi sẽ dùng từ tự phụ và kiêu căng”, Zinke nói.

SEAL là từ viết tắt của nhóm từ chỉ phạm vi hoạt động đa dạng của họ gồm Sea (Biển) – Air (Không) – Land (Đất). Đơn vị này được Tổng thống John F. Kenedy thành lập vào năm 1962 như một cách thức để mở rộng chiến tranh không quy ước.Biệt đội ST6 về sau được thành lập nhằm phản ứng trước chiến dịch giải cứu con tin thất bại ở Iran vào năm 1980, khi Ngũ Giác Đài cảm thấy có nhu cầu về một cơ quan mà ngày nay được gọi là Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đặc biệt, cùng với một đơn vị đặc biệt của Hải quân chuyên trách chống khủng bố.ST6 có lịch sử chuyên tác chiến trên biển song trong một thập niên kể từ vụ khủng bố 11.9, đội đã tăng cường chiến đấu trên bộ ở Iraq và Afghanistan. Quy mô của ST6 được giữ bí mật song đội được cho là đã gia tăng quân số gấp hai lần lên thành gần 300 người kể từ đó.

Google photo

Hiện tại, SEAL có khoảng 3.000 thành viên đang hoạt động, trong đó các đội số lẻ đóng tại Coronado và số chẵn đóng tại Virginia. ST6 trú đóng tại một căn cứ độc lập với các đội khác, tại bờ biển Virginia. “Tôi thường gọi đó là câu lạc bộ của những ông già”, Zinke nói. Với sự gia tăng mức độ quan trọng của các chiến dịch đặc biệt và kiểu chiến tranh du kích, các thành viên của SEAL cũng đã chiếm giữ nhiều vị trí nổi bật trong quân đội Mỹ. Quan chức lên kế hoạch và giám sát chiến dịch tiêu diệt bin Laden – Phó đô đốc William H. McRaven, Chỉ huy Bộ Tư lệnh Chiến dịch Đặc biệt (US Special Operations Command), là một thành viên của SEAL.

Ngày 4 tháng 5, Lầu Năm góc cũng thông báo Phó đô đốc Robert S. Harward Jr., một thành viên SEAL khác, sẽ trở thành Phó tư lệnh của Bộ Tư lệnh Trung bộ Mỹ (USCENTCOM, phụ trách Trung Á và Trung Đông), giúp ông trở thành quan chức cao cấp thứ hai của quân đội Mỹ tại Trung Đông.Eric Greitens, một cựu thành viên SEAL từng viết cuốn sách “Trái tim và quả đấm” về kinh nghiệm của mình, nói các thành viên của SEAL thường bị hiểu nhầm là các biệt kích chết chóc nhất của Mỹ.

Dù theo như mô tả của Nhà Trắng, mức độ bạo lực của những tấm ảnh về bin Laden với lỗ đạn trên đầu có vẻ như góp phần nhấn mạnh tai tiếng này, ông Greitens cho biết thành viên của SEAL là những biệt kích sáng tạo, những người biết cách “thu thập tối đa thông tin tình báo mà họ có thể”.

Bất chấp sự thành công của chiến dịch, các cựu thành viên của SEAL cũng thừa nhận tính hiểm nghèo của cuộc đột kích và mức độ may mắn trong đó. Ông Shipley nói với một phóng viên của tờ New York Times: “Nếu mọi chuyện diễn biến theo chiều hướng xấu, cuộc trò chuyện giữa tôi và anh sẽ hoàn toàn khác biệt. Chỉ có hai chiều hướng trong các chiến dịch như thế − số không hoặc người hùng”.

SƠN DUÂN

(Theo New York Times)

Bật mí về biệt đội siêu đẳng tiêu diệt Bin Laden

Tiêu diệt trùm khủng bố nhanh gọn trong khoảng 40 phút và không để xảy ra thương vong nào cho mình, đội quân siêu đẳng của hải quân Mỹ đã hoàn thành sứ mệnh của mình.Từ căn cứ không quân Ghazi ở Pakistan, chiếc trực thăng cải tiến MH-60 hướng về pháo đài ở Abbottabad, cách trung tâm thủ đô Islamabad của Pakistan khoảng 50km. Trên trực thăng là đội SEAL của Hải quân Mỹ, đã từ Afghanistan bay qua biên giới cùng với hiệu lệnh chiến thuật, những người thu thập tin tình báo và người chỉ đường dùng ảnh siêu phổ tối mật.Sau loạt hỏa lực hơn 40 phút, 22 người thiệt mạng hoặc bị bắt. Một trong số những người đã chết là Osama bin Laden, trúng hai phát đạn vào phía trái mặt. Thi thể của trùm khủng bố được đưa lên trực thăng và máy bay trở lại nơi xuất phát. Một trong hai chiếc máy bay bị trục trặc kỹ thuật và bị quân Mỹ phá hủy, quan chức Nhà Trắng cho hay. Nếu đó không phải là mục tiêu có giá trị, thì hành động vừa qua chỉ là sứ mệnh thường lệ của đội quân SEAL Team 6 (đội 6), một đơn vị được huấn luyện đặc biệt và bí ẩn. Cũng như các đơn vị đặc nhiệm khác, các thành viên của SEAL Team 6 đội một chiếc mũ len trùm đầu và cổ dày. Được thành lập sau cuộc giải cứu 52 người Mỹ bị bắt làm con tin trong đại sứ quán Mỹ ở Tehran, Iran năm 1980, đơn vị này có nhiệm vụ thực thi các sứ mệnh tối mật, vốn bị chính phủ và quân đội Mỹ chính thức từ chối đảm nhận. Kết quả là họ thường được nói là “đặc vụ đen” – một thuật ngữ yêu thích của các nhà làm phim hành động Hollywood.

Google photo

Để bổ sung cho không khí bí mật bao trùm quanh đội quân này, chỉ vài người ngoài quân đội dám chắc về tên gọi của đơn vị siêu đẳng. Tên gọi dài ngoằng đáng tín cậy nhất là NAVSPECWARDEVGRU viết tắt của Đội triển khai chiến tranh đặc biệt của hải quân, hoặc viết ngắn hơn là DEVGRU.Tháng 3/1997, Tổng thống Mỹ Bill Clinton ký Sắc lệnh 13039 đặt tên cho đơn vị trên là NAVSPECWARDEVGRU. Tên gọi này sau đó được phổ biến cho các nhân viên trong quân đội Mỹ. Tuy nhiên, với vụ tiêu diệt Bin Laden vừa qua, có vẻ như đơn vị siêu đẳng trên sẽ được công chúng nhớ mãi với tên gọi SEAL Team 6. SEAL là tên viết tắt từ chữ cái đầu của từ Biển (Sea) Không (Air) và Đất (Land), và đội SEAL của Hải quân chuyên trách các chiến dịch đổ bộ. Tuy nhiên, hành động gần đây của lực lượng này ở Pakistan cho thấy, các thành viên của SEAL có thể hoạt động trong bất cứ môi trường nào.

SEAL Team 6 là đơn vị tinh nhuệ trong đội quân tinh nhuệ. Đóng ở căn cứ không quân Oceana của hải quân ở Virginia, thành viên của Team 6 còn hơn cả các chiến binh tài giỏi. Hầu hết, họ đều giỏi một hoặc nhiều ngoại ngữ. Trong chiến dịch tiêu diệt Bin Laden vừa qua, một số thành viên của đội còn có thể nói tiếng Pasto. Các ứng viên được lựa chọn vào SEAL Team 6 có khả năng thích nghi với bất kỳ một môi trường nào. Không có gì ngạc nhiên, việc huấn luyện đội viên SEAL cực kỳ khắc nghiệt và có một số trường hợp tử vong đã xảy ra, thường là trong quá trình huấn luyện chiến đấu, khi mà đạn thật được sử dụng.

Với một chế độ tập luyện đầy nguy hiểm nhằm chuẩn bị cho các thành viên khả năng tham chiến thật sự nên quân Mỹ không có bất cứ thương vong nào trong cuộc đột kích 40 phút ở Abbottabad. Điều này chứng tỏ sự hữu hiệu của quá trình huấn luyện. Ngoài thành công trong cuộc tiêu diệt Bin Laden, Team 6 còn đạt được nhiều thắng lợi khác. Dù chúng ta không biết rõ mọi chiến dịch của đội quân siêu đẳng này, nhưng Team 6 có tham gia chiến dịch giải cứu Toàn quyền Grenada khi Mỹ chiếm hòn đảo này năm 1983 để lật ngược tình thế đảo chính. Những năm 1990, Team 6 đã tiêu diệt một số tội phạm chiến tranh ở Bosnia.

Song, cũng như các đơn vị khác, Team 6 cũng có những thất bại. Tháng 3/2002, trên đỉnh núi Takur Ghar ở đông nam Afghanistan, một chiếc trực thăng Chinook chở các thành viên của nhiều đơn vị đặc nhiệm Mỹ đã trúng lựu đạn. Trong khi phi công cố gắng kiểm soát máy bay, thành viên đội SEAL Team 6 Neal Roberts trượt khỏi cầu thang đổ bộ và rơi xuống núi. Dựa trên những bằng chứng pháp y thu thập được sau này cho thấy, Roberts bị một số chiến binh Al Qaeda bao vây và đã trụ được 30 phút cho tới khi bị giết. Tuy nhiên, trong lịch sử của SEAL, những trường hợp như trên rất hiếm.

HOÀI LINH

(Theo National Journal, Mail)

Hồi ký của một tay súng bắn tỉa

Howard E. Wasdi
Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Google photo

17. Chữa bệnh cứu người

Tôi lái xe vượt qua chặng đường dài khoảng 430 km đến thăm cha tại bệnh viện ở thành phố Savannah, Georgia. Vẻ bề ngoài của ông đã đánh lừa tôi. Khi tôi đến, ông vẫn đang thức và cười đùa với các chị gái của tôi. Bác sĩ phẫu thuật nói với tôi: “Cha của anh sẽ không sao đâu. Ông đang trong quá trình bình phục.” Do vậy, ngay tối hôm đó, tôi chào ông để quay về trường chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp. Vài giờ sau khi tôi trở về nhà, em gái út Sue Anne gọi điện báo cho biết bố dượng tôi bị một cơn đau tim. Đến chừng nửa đêm, người anh em họ của tôi Greg thông báo cho tôi biết ông đã qua đời.

Dù gặp phải biến cố lớn nhưng tôi vẫn tham dự kỳ thi tốt nghiệp. Trong môn thi đầu tiên, Tiến sĩ Marni Capes nói với tôi “Howard, cậu hãy đứng dậy và rời khỏi đây ngay bây giờ.” “Không, không. Tôi có thể thi được. Tôi có thể làm được điều đó.” Khi thi, tôi mới thấy nó không khó như tôi tưởng. Từ khi trở thành một đặc nhiệm SEAL, tôi không còn lo lắng chuyện bị cha làm tổn thương nữa. Mối quan hệ giữa hai cha con tôi đã cải thiện rất nhiều. Sau khi trở về từ Somali, lần đầu tiên tôi nói với ông “Con yêu bố.” Sau đó, tôi đều lặp lại câu nói này mỗi lần tôi gặp ông. Chúng tôi đã thân ái ôm hôn nhau. Theo dòng thời gian, tính tình cha tôi dịu đi rất nhiều. Trong buổi sum họp gia đình cách đây không lâu trước khi ông qua đời, cha nói với tôi rằng ông rất yêu quý người vợ mới cưới của tôi Debbie. Khi nói về nghề tôi đang theo học, ông bảo: “Khi nào con mở phòng khám tư, bố sẽ là một trong những bệnh nhân đầu tiên của con.” Lời nói từ một người chẳng bao giờ chịu đến bệnh viện khám chữa bệnh cho thấy ông rất tin tưởng vào tay nghề tương lai của tôi. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với tôi. Tôi đã có được sự tôn trọng, tán đồng của cha, một điều tôi hằng mong ước.

Mẹ nói rằng cha dượng tôi đã rất buồn khi quan hệ giữa hai cha con tôi không mấy tốt đẹp. Tôi không muốn nói với mẹ tôi rằng khi tôi ở nhà, cha luôn là người quá gia trưởng, độc đoán. Ông không trò chuyện với tôi và cũng không thể hiện mong muốn xây dựng tình cảm với tôi. Khi cha mất, tôi không khóc nhiều như khi bác Carroll mất. Khi còn là một đứa trẻ, tôi chỉ dám tâm sự những chuyện thầm kín với bác Carroll. Tôi thậm chí có thể hỏi bác: “Mỗi sáng thức dậy, ‘thằng nhỏ’ của cháu cứ ngóc lên là sao? Liệu cháu có bị bệnh gì không?” Bác mỉm cười đáp: “Không, đó là chuyện bình thường cháu ạ.” Tuy nhiên, bố dượng tôi đã nuôi dạy tôi khôn lớn theo cách của ông và tôi rất buồn khi ông qua đời.

Một hôm, khoảng chín tháng sau đó, con trai Blake hỏi tôi “Bố có muốn gặp ông ấy không?” Tôi hỏi lại “Gặp ai hả con?”

“Cha đẻ của bố ấy.”

Cha đẻ của tôi có thể đã đi qua mặt tôi ở trong quầy tạp hóa nào đó và tôi chẳng biết ông là ai. “Này Blake, bố nghĩ là con biết ông ấy phải không”. Chúng tôi tìm kiếm và cuối cùng cũng tìm ra cha đẻ của tôi. Sau đó, tôi gọi điện cho ông. Vào dịp Lễ Giáng sinh, tôi đến gặp cha đẻ Ben Wilbanks của tôi. Cha đẻ Ben kể rằng mẹ tôi đã mang chúng tôi đi và đến sống ở Georgia với Leon. Trong tâm trí của mình, câu chuyện của cha đẻ tôi giải thích cho tôi hiểu tại sao gia đình tôi lại vội vã rời Florida đến Georgia để sống. Tôi có chiều hướng tin vào câu chuyện này bởi những câu chuyện tôi nghe được từ mẹ và các chị gái của tôi đầy mâu thuẫn. Cha đẻ tôi còn kể, ông đã bỏ ra nhiều năm tìm kiếm tôi nhưng không tìm được. Ông trở thành người tôi yêu quý nhất trong đời. Khi ông ôm tôi, tôi biết tôi đang đón nhận cái ôm chân thành. Ông từng phục vụ trong quân đội và là một nhân viên quân cảnh. Sau khi giải ngũ ông làm nghề lái xe tải cho tới tận bây giờ. Blake và tôi tiếp tục giữ liên lạc với cha đẻ của tôi. Mẹ tôi không bao giờ tha thứ cho ông và cũng không bao giờ quên những chuyện đã xảy ra giữa bà và ông. Về phần mình, tôi không đưa ra bất kỳ quyết định nào ra chiều bênh vực riêng ai. Khi chuẩn bị tốt nghiệp, tôi nhận được email của Đại úy Bailey, giảng viên Trường huấn luyện các bài cơ bản dưới nước. Ông đã đọc một bài báo viết về tôi trong phòng chữa trị xương khớp. Trong thư ông gửi lời chúc mừng tôi và hỏi tôi có còn nhớ ông không.

Google photo

Tôi tốt nghiệp với tấm bằng bác sĩ nắn xương khớp vào ngày 24 tháng Chín năm 2009. Tôi từng là người bảo thủ, kiên quyết không chịu gặp bác sĩ nắn xương khớp để trị bệnh trong một thời gian khá dài mặc dù thuốc men không làm tôi hết đau. Nhưng tôi cũng hiểu một điều là một người hành nghề y không thể làm được mọi điều cho một bệnh nhân và một bác sĩ nắn xương khớp không thể làm được tất cả mọi việc. Làm việc theo nhóm, đây là điều tôi đã đúc rút từ cuộc đời, luôn có hiệu quả. Xuất phát từ ý nghĩ đó, chúng tôi làm việc theo hệ thống. Các bác sĩ địa phương giới thiệu bệnh nhân cho tôi và tôi cũng giới thiệu bệnh nhân cho họ. Với phương thức làm việc này, bệnh nhân là những người hưởng lợi nhiều nhất.

Lần đầu tiên tôi bắt đầu khám bệnh cũng là lúc tôi biết mình đã có quyết định đúng. Bệnh nhân tin tưởng tôi. Tôi chẩn đoán chính xác bệnh cho họ. Tôi giúp họ cảm thấy khỏe hơn và họ yêu quý tôi vì điều này. Giờ đây, tôi toàn tâm toàn ý vào nghề nghiệp mới của mình. Phòng khám riêng của tôi hoàn thành vào tháng Tư năm 2010. Thật may mắn, ngay từ ngày đầu tiên khai trương đã có nhiều người dân ở khu phố và cộng đồng xung quanh đến khám chữa bệnh. Trong số này, có một bệnh nhân là cháu bé 13 tuổi. Cháu bị đau đầu mãn tính khoảng bốn năm trở lại đây. Sau khi khám bệnh tôi mới biết, nguyên nhân dẫn đến chứng đau đầu kinh niên của cháu bé khởi nguồn từ vụ tai nạn ô tô khi cháu còn bé dẫn đến mất phản hồi thần kinh về bó cơ trong vận động chủ động. Trung bình mỗi tháng cháu đau đầu 12 lần. Sau mười tuần điều trị tại phòng khám của tôi, cháu chỉ còn đau đầu khoảng một đến hai lần hàng tháng. Những ca trị bệnh thành công kiểu này là động lực giúp tôi hiểu mình đã có quyết định đúng. Tôi thực sự cảm thấy rằng đây là con đường Chúa dành cho mình sau khi Ngài đã cứu sống tôi ở Somali. Một minh chứng khác là khi tôi trị bệnh cho một bé gái 15 tuổi bị liệt tay. Cánh tay của bé gái này có cấu tạo không hoàn chỉnh và có nhiều dây thần kinh bị hỏng. Cô bé chỉ cử động được cánh tay phải. Tôi kết hợp xung điện, chỉnh nắn xương khớp với các kỹ thuật khác trong ngành học của mình để chữa trị cho cô bé. Sau một thời gian, lần đầu tiên trong đời cháu bé chuyển động được tay tạo với thân người một góc 42 độ. Sau một thời gian nữa, cháu cử động được cả về trước và về sau một góc 45 độ. Người trợ tá của tôi bật khóc. Bé gái òa khóc trong niềm hạnh phúc sau một thời gian kiên trì tập luyện. Cha cháu bé cũng khóc. Tôi buộc phải bỏ ra ngoài trước khi mình cũng không cầm được nước mắt. Tôi lấy khăn giấy lau nước mắt. Sau đó tôi trở lại với bệnh nhân như kiểu không có chuyện gì xảy ra và nói “Được rồi, đây là bài tập dành cho cháu tuần tới”. Cứu giúp những bệnh nhân như cháu bé này làm lòng tôi dịu bớt cảm giác tội lỗi khi tôi vẫn được sống còn những người tốt hơn tôi, như Dan Busch, lại phải chết. Giờ tôi hiểu rõ hơn lý do tại sao Chúa để cho tôi sống. Ngài thực sự đã định sẵn cho tôi con đường tiếp sau cuộc đời của một đặc nhiệm SEAL.

Mặc dù Blake đã 20 tuổi nhưng bất cứ khi nào đến thăm, tôi đều ôm con khi chia tay. Tôi cũng dành sự yêu mến tương tự với con gái riêng của vợ là Eryn. Trong lòng tôi, lúc nào tôi cũng coi Eryn là con đẻ của mình. Riêng với vợ tôi Debbie, bao giờ tôi cũng ôm hôn nàng mỗi khi về nhà và ra khỏi nhà. Debbie và tôi rất mực yêu thương nhau nên bạn bè thường nói chúng tôi là một cặp trời sinh. Trước đó nhiều năm, tôi thường tự hỏi tại sao tôi lại được Chúa cứu vớt. Hôm nay, tôi rất biết ơn Chúa đã để tôi được sống và cám ơn con đường Ngài đã định sẵn cho tôi đi. Một lần nữa, tôi lại cảm thấy tràn đầy nhiệt huyết. Và một lần nữa, cuộc đời lại mỉm cười với tôi.

Miền đất dữ

vietmessenger.com

Mario Puzo

Bản dịch: Đặng Thiền Mẫn

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

Chương 25

Đang ngủ say bỗng Michael Corleone giật mình tỉnh dậy. Tưởng như mình bị hất tung ra khỏi một cái hố. Phòng ngủ tối om. Hắn đóng chặt cái cửa sổ để ngăn ánh trăng lọt vào. Không một tiếng động, ngoại trừ tiếng trống ngực của hắn đập thình thịch. Hắn không cảm thấy có sự hiện diện của một ai trong phòng. 
Hắn tỉnh giấc, nhưng nằm trằn trọc trên giường. Hắn thấy hình như có một cái gì đen đen ở phía cửa. Hắn với tay bật đèn ngủ ở đầu giường. Cái vật đen đen ấy là cái đầu bức tượng Đức Thánh Mẫu bằng gỗ mun mà bà Maria Lombardo tặng hắn. Và cũng chính trong ruột bức tượng quý có bản chức thư – hay là bửu bối an toàn của Guiliano. Hắn nghĩ, có lẽ cái đầu ấy rớt từ trên bàn xuống. Và tiếng động ấy làm hắn giật mình. Hắn nằm duỗi thẳng cẳng và mỉm cười. Đúng lúc đó, hắn thấy tiếng kẹt cửa nhè nhẹ. Hắn quay nhìn về hướng đó. Trong ánh sáng vàng vọt, lờ mờ hắt ra từ chiếc đèn ngủ, hắn thấy lờ mờ khuôn mặt hốc hác, trơ xương của Pisciotta. 
Y ngồi tựa lưng vào cánh cửa. Bộ ria mép nháy nháy. Y toét miệng cười không thành tiếng. Cái cười của một kẻ chiến thắng. Như thể hắn nói: “Đ.m. canh phòng, bảo vệ, an ninh nơi ẩn trú như vậy mà cũng đòi đảm bảo an toàn cho Guiliano. Lo cho mình còn cóc ra gì mà cũng ra vẻ, học đòi làm nghĩa hiệp”. Michael nhìn đồng hồ đeo tay để trên bàn ngủ 3 giờ đêm. 
– Giờ giấc của anh bạn cũng lạ nhỉ. Anh bạn chờ cái gì vậy? 
Michael vừa hỏi, vừa vội vã đứng dậy mặc quần áo và tức tốc mở cửa sổ. Ánh trăng lọt vào phòng. Bóng cây bên cửa sổ khẽ lay động làm cho bóng của nó in trên nền phòng và nền trời lấp loáng như bóng ma. 
– Sao anh bạn không đánh thức tôi dậy? – Michael hỏi tiếp. 
– Tôi thích quan sát người khác đang ngủ. Đôi khi, trong lúc mơ ngủ, người ta vô tình thổ lộ những bí mật. Nổi nóng, nhưng Michael vẫn cố bình tĩnh: 
– Khỏi lo. Chưa bao giờ thằng này tiết lộ bí mật. Kể cả trong lúc nó ngủ mơ. 
Cả hai bước ra sân thượng. Michael chìa bao thuốc ra mời Pisciotta. Hai người cùng lặng lẽ kéo khói. Michael nghe thấy tiếng khò khè và tiếng húng hắng khô khan của Pisciotta. Dưới ánh trăng mờ ảo, khuôn mặt hốc hác, lợt lạt của hắn nom càng dễ sợ. Vẫn im lặng. Thình lình, Pisciotta lên tiếng. 
– Anh bạn nhận được bản chúc thư chưa? 
– Rồi. 
– Mẹ kiếp, thằng Turi tin tôi hơn bất cứ ai trên đời này, – Pisciotta thở dài, – nó tin đến cái mức dám phó thác cả sinh mệnh của nó cho tôi. Hiện nay, tôi là người duy nhất biết nó đang ở đâu. Đ.m, thế mà trong vụ chúc thư, nó lại đếch tin tôi. Anh bạn có cái chúc thư đó ở đây không Michael ngần ngừ. Pisciotta nói: 
– Xin lỗi, anh bạn cũng đếch khác gì thằng Turi. 
– Chúc thư đã được gửi đi Mỹ. Giờ này có lẽ nó đang nằm trong tay ông già tôi. 
Michael không muốn cho Pisciotta – cũng như cho bất cứ ai – biết hiện bản chúc thư đang trên đường đi Tunis. Michael rất sợ phải nghe câu hỏi kế tiếp mà theo hắn, đó là lý do duy nhất khiến Pisciotta mò đến đây vào giờ này, với cung cách lén lút như thế này. Chỉ có lý do đó mới đủ mạnh để khiến y phải liều mạng vượt qua sự canh gác nghiêm ngặt, cẩn thận của toà biệt thự này. Hay là y đã được để cho đi qua? Có thể là Guiliano sắp xuất hiện hay đã xuất hiện ở đây, không chừng. Nhưng chưa tiện ra mặt. 
– Khi nào Guiliano tới đây? – Michael hỏi. 
– Tối mai. Nhưng không phải ở đây. 
– Tại sao lại không phải ở đây? Ở đây an toàn… 
Nhưng Michael chợt thấy mình đã nói sai. An toàn mà Pisciotta lọt vào được mà không bị phát giác. Hắn nói mới nửa câu rồi im. Pisciotta cười: 
– An toàn của anh bạn! Rõ chán! An toàn mà tôi lọt vào được đến tận đây. Êm re. Phải vậy không? 
Michael tức giận, vì quả là thế. Nhưng hắn lại tự hỏi phải chăng chính Domenic Clemenza đã ra lệnh cho bọn canh gác để hắn đi qua. Thậm chí, chính già Domenic đã dắt hắn đến tận phòng của mình. Nếu không, sao hắn biết phòng của mình. 
– Guiliano quyết định như vậy hay sao? – Michael hỏi. 
– Không, chính tôi quyết định giùm nó. Anh đã hứa với gia đình nó là đảm bảo an toàn cho nó. Nhưng thằng già dịch Croce đã biết anh bạn ở đây. Và như vậy thì thằng cớm chúa – thanh tra Velardi – cũng biết. Gián điệp nhan nhản. Hỏi thật: anh bạn định dựng vở như thế nào cho Guiliano? Một đám cưới nhé, hay là bữa tiệc sinh nhật? Hay một đám ma? Anh bạn đã chỉ nói với tụi này toàn những điều tào lao, điên khùng. Chi vậy? Bộ tưởng qua được mắt tụi này sao chứ? Bộ anh bạn nghĩ tụi này cũng như lũ lừa ở Sicily sao chứ? 
– Cũng đếch cần phải úp mở, rào đón lôi thôi gì hết. Nói thẳng cho anh bạn hay. Tôi sẽ đếch bao giờ nói cho ai hay – ngay cả cho chính anh bạn, thậm chí cả Guiliano, cũng vậy – cái kế hoạch đào thoát của tôi. Tin hay không là tuỳ anh bạn. Tin thì đến. Đếch tin thì thôi. Cứ đòi tôi cho biết kế hoạch thì – xin lỗi – khỏi? Anh bạn cứ nói chỗ của Guiliano đang ẩn náu. Còn làm thế nào để đem hắn đi là phần của tôi. Miễn sao an toàn là được. Hay là không nói, cũng được. Nói rõ: bản thân tôi rất muốn giúp anh bạn Guiliano tới nơi tới chốn. Bằng an, vô sự. Nhưng anh bạn không tin thì cũng đành chịu. Và nếu anh bạn không nói thì ngay tối mai, tôi đã ở trên đất Mỹ với ông bà già tôi rồi. Trong khi đó mấy bạn vẫn cứ bị tụi nó rượt té cứt ra. 
– Anh bạn nói y như một thằng Sicllian thứ thiệt, – Pisciotta cười. – Mấy năm trời anh bạn ẩn náu ở đây thật không uổng chút nào. – Y thở dài. – Tôi đéo tin là mọi sự như vậy đâu, đéo tin đó là đã xong, đã ổn đâu. Trong gần bảy năm trời, tụi này vừa đánh vừa chạy. Quen rồi. Có té cứt thì bây giờ cũng đếch còn cứt để mà té nữa. Chạy, để khỏi bị phản bội và bị giết. Đó là lúc tụi này là vua của vùng Montelepre. Cứ kể ra thì bấy nhiêu đó cũng là vinh quang, danh giá chán. Chứ sao? Bao phen cớm lớn, cớm bé, cớm già, cớm trẻ ở vùng này khiếp vía, co vòi vì tụi này rồi. Phải công nhận Turi là người có lòng nhân hậu và có trí lớn. Tôi thì chỉ lo, chỉ nghĩ đến mình. Còn nó chỉ lo, chỉ nghĩ đến mấy thằng khố rách. Lúc đầu tôi cứ cho nó là nổi hứng lãng mạn, mơ mộng viển vông, lý tưởng hão huyền… Nhưng sau một năm sống ngoài vòng pháp luật, nó đã chứng tỏ cho tôi – và cho cả băng của tụi này – thấy là, quả thật, nó chỉ quan tâm đến đám dân cùn mằn, khố rách đó thiệt. Và quan tâm hết mình nữa là khác. Tôi là phó tướng cận kề nó, là em họ nó, là người nó tin cậy nhất. Tôi cũng mang cái khóa dây lưng bằng vàng chạm nổi chim phượng hoàng và sư tử. Giống y của nó. Nó cho tôi đấy. Ấy vậy mà khi tôi dụ con nhỏ, con của một thằng cha nông dân ở Partinico, làm cho con nhỏ này một bụng, ông già con nhỏ mách nó, anh bạn biết nó làm gì không? Mẹ kiếp, nó trói tôi vào gốc cây và quất một trận nên thân. Tất nhiên, không quất tôi trước mặt ông già con nhỏ kia hay trước mặt đám bộ hạ. Nó vẫn giữ thể diện cho tôi. Không bao giờ nó tỏ ra thiếu kính trọng đối với tôi Đó là cái bí quyết giúp tụi này dám sống dám chết cho nhau như vậy. Nhưng nếu nó biết tôi không nghe lời nó một lần nữa thì, đ.m. , nó dám giết tôi lắm. Đó, Turi của tôi như vậy đó. 
Tay Aspanu kẹp điếu thuốc run run đưa lên miệng. Dưới ánh trăng mờ, bộ ria con kiến của y sáng lên, lấp lánh như một mảnh xương đen, mỏng, bóng láng dán vào môi. Michael trầm ngâm. Câu chuyện thật lạ lùng. Không lẽ y liều thình giữa bao nhiêu cạm bẫy hung hiểm chết người, đến đây vào giờ này để nói với mình chuyện này? 

Google photo edit by Sơn râu

Hai người quay vào phòng ngủ. Michael đóng cửa lại Pisciotta cúi xuống, nhặt cái đầu bức tượng lên và trao cho Michael: 
– Tôi liệng cái này xuống sàn đặng đánh thức anh bạn. Bản chúc thư đựng trong bức tượng này chứ gì? 
– Phải. 
Mặt Pisciotta sa sầm: 
– Vậy mà Maria Lombardo cũng nói dối tôi nốt. Tôi đã hỏi bà có giữ bản chúc thư không. Bà ấy nói không. Thế mà chính bà trao cho anh bạn ngay trước mắt tôi. – Y cười chua chát. – Tôi chẳng khác gì con đẻ của bà. – Im lặng một chút, y nói tiếp: – Và, tôi coi bà chẳng khác nào mẹ đẻ của tôi. 
Pisciotta hỏi xin một điếu thuốc khác. Trong vò còn ít rượu. Michael rót hai ly. Pisciotta làm gọn một hơi, ngon lành. 
– Cám ơn anh bạn. Bây giờ mình phải bàn tiếp công việc. Tôi sẽ trao Guiliano cho anh bạn ở ngoại biên thị trấn Castelvetrano. Anh bạn hãy đến đó bằng chiếc xe mui trần, để tôi có thể nhìn ra anh bạn. Và anh bạn cứ khởi hành thẳng từ Trapani này. Tôi sẽ chặn anh bạn ở chỗ chúng tôi đã chọn. Nếu có gì nguy hiểm, anh bạn cứ đội mũ lên, chúng tôi sẽ không xuất hiện. Thời gian là lúc rạng đông. Anh bạn liệu được chứ? 
– Ôkê. Xong ngay. Mọi sự ổn thoả. Có điều này tôi chưa cho anh bạn hay. Hôm qua, Stefan Andolini đã không đến như đã hẹn với giáo sư Adonis. Ông giáo sư tỏ ra rất bồn chồn, lo lắng. 
Lần đầu tiên Michael thấy y giật mình. Nhưng, rồi gã trấn tĩnh và nhún vai: 
– Ông già chim chích ấy chẳng mấy khi gặp trên. Thôi, bây giờ xin chia tay anh bạn. Cho đến ngày mốt, lúc rạng đông. Xong? 
Y bắt tay Michaei. Michael buột miệng: 
– Sao anh bạn không đi Mỹ cùng tụi này? 
Pisciotta lắc đầu: 
Cả đời, tôi đã sống ở Sicily. Và, tôi yêu đời lắm. Nếu cần phải chết, tôi cũng muốn được chết tại Sicily. Nhưng, dù sao, cũng cám ơn nhã ý của anh bạn. 
Michael xúc động một cách kỳ lạ vì những lời này. Mới chỉ biết Pisciotta sơ sơ, nhưng Michael cũng cảm thấy y không thể sống thích hợp ở một nơi nào khác, ngoài miền núi non của Sicily. Y quá hung ác, quỷ quyệt tàn bạo và khát máu. Cho đến nước da, giọng nói của y cũng hoàn toàn “Sicilian”. Đặc biệt “Sicilian”. Không bao giờ y tin vào một con người xa lạ, một vùng đất xa lạ nào khác. 
– Để tôi đưa anh bạn ra cổng, – Michael nói. 
– Cám ơn, khỏi? Phải giữ kín tuyệt đối cuộc gặp gỡ này. Nghe! 
Sau khi Pisciotta đi khỏi, Michael nằm trằn trọc trên giường cho tới sáng, không ngủ được. Những mộng mị, những ý nghĩ liên tiếp kéo theo ra sân khấu ý thức của hắn. Cuối cùng, thì hắn có thể gặp mặt Guiliano? Và cả hai cùng đi Mỹ? Hắn băn khoăn tự hỏi, khi gặp mặt liệu hắn có thể phát hiện ra chân tướng của Guiliano và tay này thuộc loại người nào không? Phải chăng Guiliano chỉ là một huyền thoại? Huyền thoại ấy lớn hơn chính cuộc đời thực của một con người có thực, đã thống ngự hòn đảo này và tác động đến dòng lịch sử của cả một quốc gia? Hắn nhổm dậy và đi ra phía cửa sổ. Bình minh hé rạng. Hắn nhìn mặt trời từ từ nhô lên khỏi chân trời, toả ánh vàng rực rỡ và làm thành một vệt sáng lớn trên mặt biển. Trông luồng ánh sáng đó, hắn thấy chiếc khinh tốc đỉnh đang rẽ sóng đi về phía cầu tàu. Hắn đi ra khỏi biệt thự, xuống bờ biển đến cầu tàu để đón Clemenza. 
Hai người ngồi ăn sáng. Michael thuật lại cho Clemenza cuộc gặp gỡ với Pisciotta hồi đêm. Clemenza không tỏ ra ngạc nhiên về việc Pisciotta có thể xâm nhập toà biệt thự được canh gác cẩn mật như vậy. Họ để ra cả buổi sáng để sắp đặt kế hoạch đón gặp Guiliano. Chắc chắn có gián điệp theo dõi từng cử động của họ. Vậy thì một đoàn xe xuất phát từ biệt thự này thì khỏi nói, sẽ được gián điệp chăm sóc kỹ là khác. Tất nhiên, Michael lại càng được theo dõi kỹ. Đúng là lực lượng cảnh sát, an ninh của cớm chúa Velardi có thể sẽ không can thiệp. Nhưng, sự đời! Nếu biết chắc và biết trước được mọi sự thì ở đời làm gì có những vụ bội phản, lừa lọc? Và trong vụ này, ai biết được những bội phản, lừa lọc kiểu nào đang được sửa soạn. Mà đối tượng, biết đâu lại chẳng phải chính là Michael, chứ không phải là Guiliano. Biết đâu cái chết của Michael lại quá quan trọng đến nỗi các đối thủ không ngại tốn kém khi phải “dựng vở” một cách rộng lớn và hiểm hóc như vậy. Chỉ khi nào Michael đã an toàn trên đất Mỹ thì cái màn hoả mù này mới ngừng chăng? 
Khi kế hoạch phác họa xong thì đã đến giờ ăn trưa. Sau đó, Michael đi ngủ. Hắn muốn ngủ bù đêm rồi. Peter Clemenza còn nhiều chi tiết phải sắp xếp và thực hiện trước cho xong. Lão ra lệnh cho bộ hạ của lão lo phương tiện chuyên chở và báo cáo lại cho ông anh Domenic chuyến đi của mình. 
Michael đóng cửa sổ, lên giường nằm. Thân thể mỏi mệt, nhưng không sao ngủ được. Chỉ nội trong hai tư giờ qua mà có biết bao nhiêu việc dồn dập xảy ra. Đấu trí và cạm bẫy. Tung hoả mù và né tránh. Xuyên thấu tử địa để tìm lối thoát… Hắn có linh cảm về một kết thúc chẳng lành. Nhưng rồi hắn lại tưởng tượng ra cuộc trở về của mình. Tại Long Island, ông bà già hắn đang đứng ở cửa chờ hắn trở về. Cái thành tích “ghè” bể sọ thằng Thổ Sollorzo và cớm gộc Mc. Closkey đã khiến hắn phải lẩn lút sống lưu vong hai năm tại Sicily. Cuộc lưu vong này đã kết thúc. Hắn trở về để nhận quyền cai trị “đế quốc Corleone” do ông già hắn trao lại.


Hương rừng Cà Mau

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Google photo edit by Sơn râu

16. Bắt Sấu rừng U Minh Hạ

Nơi sông rạch, cá sấu là giống hung hăng nhứt. Có điều đáng chú ý là chúng không thích những chốn sông sâu nước chảy, có sóng gió. Chúng lên tận ngọn cùng, tìm nơi yên tĩnh, chật hẹp. Vùng U Minh hạ, sấu thường đi ngược sông Ông Ðốc, rạch Cái Tàu vào giữa rừng tràm.
Tại sao vậy?
Tuy là thích ăn thịt người, loại sấu vẫn tìm cá làm món ăn chánh. Rừng U Minh hạ thuộc về loại trầm thủy 1 cá sanh sôi nẩy nở rất nhanh chóng; lên đó tha hồ mà ăn.
Ðến mùa nắng hạn rừng khô, sấu khỏi phải trở về sông Cáị Trong rừng có sẵn nhiều ao, nhiều lung 2, sấu cứ gom vào đó mà lập căn cứ sanh con đẻ cháu, năm này qua năm khác, cứ như vậy cho tới khi người Việt Nam ta đổ tràn xuống rạch Cái Tàu mà lập nghiệp. Ban đầu, họ ngỡ rằng sấu chỉ ở dưới sông, sau khi câu được chừng năm mười con sấu ở ngọn rạch họ đinh ninh cho là sấu đã giảm bớt… Mười phần chết bảy còn ba. Mãi đến khi có người lên rừng ăn ong 3 chạy về loan báo:
– Sấu ở giữa rừng nhiều như trái mù u chín rụng!
So sánh như vậy, không phải là quá đáng! Dân làng xúm nhau lên rừng để nhìn tận nơi. Cái ao lớn ước một công đất, bên bờ, dưới nước, toàn là lau sậy, dây cóc kèn 4. Sấu nổi lên, chen vào những bức tranh mầu xanh ấy những vệt đen chi chít: con thì nằm dài như chiếc xuồng lường 5, con thì dùng hai chân trước mà vạch sậy, ngóng mỏ xéo lên trời như họng súng thần công đại bác. Biết có loài người đến quan sát, chúng vẫn điềm nhiên sưởi nắng, bắt cạ Duy có con sấu già trợn mắt hướng về lũ người rồi bò thối lui vào giữa lòng ao, để thủ thế. Dân làng nhìn nhau như ra lịnh rút lui. Nghi ngờ gì nữa! Con sấu nọ có đốm đỏ ngay giữa tam tinh 6. Nó là “sấu chúa” sống lâu đời, nhiều phen kịch chiến với loài người. Khi ở trên cạn, sấu không nguy hiểm bằng một con rắn hổ. Sấu chúa khôn lắm, nó toan dụ địch thủ vào hang của nó nơi nước sâu. Trong số người khi nãy, có kẻ cẩn thận mang theo mác thông 7, lao, ná lẫy, nhưng họ dư hiểu rằng mớ khí giới ấy chỉ có hiệu lực đối với cọp, heo rừng. Ðằng này, sấu lại là loài ở nước, ở bùn lầỵ Chống xuồng vào thì ao quá cạn, còn đi bộ xuống thì lún ngập gối.
Cái ao sấu ở ngọn rạch Cái Tàu đã bị phát giác. Tin ấy đồn đãi lần lần, thấu đến tai ông Năm Hên, người thợ già chuyên bắt sấu ở Kiên Giang đạo 8, tức là vùng Rạch Giá ngày naỵ Ông bơi chiếc xuồng ba lá nhỏ đến địa phận làng Khánh Lâm, ngọn rạch Cái Tàu. Trong xuồng, có vỏn vẹn một lọng nhang trần 9 và một hũ rượu.
Từ sớm tới chiều, ông bơi xuồng tới lui theo rạch mà hát:
Hồn ở đâu đây?
Hồn ơi! Hồn hỡi!
Xa cây xa cối,
Xa cội xa nhành,
Ðầu bãi cuối gành
Hùm tha, sấu bắt
Bởi vì thắt ngặt
Manh áo chén cơm
U Minh đỏ ngòm,
Rừng chàm xanh biếc!
Ta thương ta tiếc,
Lập đàn giải oan…
Giọng nghe ảo não, rùng rợn. Dân làng thấy chuyện kỳ lạ, xuống đứng dưới bến để nhìn kỹ. Ðoán chừng ông lão nọ là người có kỳ tài, họ mời ông lên nhà, làm thịt gà, mua rượu thết đãi.
Sau khi tự xưng danh tánh, ông bảo:
– Nghe đồn có ao sấu, tôi chẳng nệ đường xa để tới xứ Khánh Lâm này.
– Té ra ông thợ câu sấu!
Ông Năm Hên lắc đầu:
– Thợ bắt sấu chớ không phải thợ câu. Hai nghề đó khác nhau. Câu thì dùng lưỡi sắt, móc mồi bằng con vịt sống. Ðó là ở dưới nước. Ðằng này tôi chuyên bắt sấu trên khô, không cần lưỡi.
– Vậy chớ ông bắt bằng gì?
– Tôi bắt bằng… hai tay không.
Ai nấy ngạc nhiên. Ông Năm Hên cười giòn:
– Bà con cô bác không tin sao?
Ai nấy nửa tin nửa nghi. Họ cố nhớ lại cách bắt sấu của mấy người thợ nào đến giờ. Bắt sấu bằng hai tay không quả là phi phàm, thế gian hi hữu. Không lẽ ông Năm Hên này lại nói láo để lường gạt, ổng nào đã mở miệng xin tiền bạc cơm gạo gì của xóm này! Ai nấy nôn nao, thiếu điều muốn năn nỉ ông đi bắt sấu tức thì để coi thử cách thức.
– Thưa ông, chừng nào ông ra nghề để cho dân làng chúng tôi được mừng? Nếu cần tiếp giúp chuyện chi, chúng tôi sẵn sàng. ở xóm này thiếu gì trai lực lưỡng đã từng gài bẫy cọp, săn heo rừng.
Ông Năm Hên đáp:
– Sáng mai sớm, đi cũng không muộn. Tôi cần một người dẫn đường đến ao cá sấu đó. Có vậy thôi! Chừng một giờ đồng hồ sau là xong chuyện! Sấu ở ao giữa rừng, tôi bắt nhiều lần rồi. Bà con cứ tin tôi. Xưa nay, bị sấu bắt là người đi ghe xuồng hoặc ngồi rửa chén dưới bến, có bao giờ sấu rượt người ta giữa rừng mà ăn thịt? Tôi đây không tài giỏi gì hết, chẳng qua là biết mưu mẹo chút ít, theo như người khác thì họ nói đó là bùa phép để kiếm tiền. Nghề bắt sấu có thể làm giàu được ngặt tôi không mang thứ phú quới đó. Nói thiệt với bà con: cha mẹ tôi sanh ra chỉ có hai anh em tụi tôi. Anh tôi xuống miệt Gò Quao phá rừng lập rẫy hồi mười hai năm về trước. Sau được tin cho hay: ảnh bị sấu ở Ngã ba Ðình bắt mất. Tôi thề quyết trả thù cho anh. Cực lòng biết bao nhiêu khi nghe ở miệt Rạch Giá, Cà Mau này có nhiều con rạch, ngã ba, mang tên Ðầu Sấu, Lưng Sấu, Bàu Sấu, sau này hỏi lại tôi mới biết đó là nơi ghê gớm, hồi xưa lúc đất còn hoang. Rạch Cà Bơ He, đó là chỗ sấu lội nhiều, người Miên sợ sấu không dám đi qua nên đặt tên như vậy, cũng như phá Tam Giang, truông nhà Hồ của mình ngoài Huế.

Sáng hôm sau, ông Năm Hên đi lên ao sấu, có Tư Hoạch một tay ăn ong rất rành địa thế vùng Cái Tàu dẫn đường. Nhiều người nài nỉ xin đi theo. Ông Năm Hên cản lại:
– Ði nhiều chộn rộn lắm. Tôi không giấu nghề với bà con đâu. Có Tư Hoạch đi theo coi mà.
Ðã quá giờ ngọ.
Ngóng về phía ao sấu U Minh hạ, ai nấy đều thấy một làn khói đen bốc lên. Ban đầu ngỡ là cháy rừng, chập sau, khói lụn xuống. Trong lúc đó, bà con xóm Cái Tàu lo nấu cơm, mua rượu đợi chiều làm tiệc ăn mừng. Nhưng ngạc nhiên làm sao, trời về xế, lúc ai nấy đang nghỉ trên nhà, bỗng nghe tiếng kêu réo từng hồi:
– Bà con ơi! Ra coi sấu. Bốn mươi lăm con còn sống nhăn.
Rõ ràng là giọng Tư Hoạch.
– Diệu kế! Diệu kế! Tôi là Tư Hoạch đi bắt sấu về đây. Bà con coi sấu lội có hàng dưới sông mình nè! Một đời người mới có một lần.
Dưới sông, Tư Hoạch ngồi trên xuồng, bơi nhè nhẹ như đi dạo mát.
Tiếp theo lái xuồng là một bầy sấu, con này buộc nối đuôi con kia, đen ngòm như khúc cây khô dài. Mỗi con sấu, hai chân sau thúc kê trên lưng, hai chân trước tự do, quạt nước cầm chừng như tiếp sức với Tư Hoạch để đẩy chiếc bè quái dị kia đi nhẹ nhàng. Thực tế hay là chiêm bao? Người thì đứng há miệng sửng sốt rồi toan chạy vào nhà trốn. Người khác khấn vái lâm râm, e nay mai xóm này bị trừng phạt của quỷ thần. Vài người dạn hơn, bơi xuồng ra giữa sông, nhìn bầy sấu nọ cho tỏ rõ rồi rước Tư Hoạch vào bờ hỏi han rối rít.
Ðại khái Tư Hoạch trình bày:
– Tới ao sấu, ông Năm Hên đi vòng quanh dòm địa thế rồi ngồi xuống uống một chung rượu. Kế đó ổng với tôi lấy xuổng 10 đào một đường nhỏ, ngày một cạn, từ ao lên rừng chừng mười thước. Xong xuôi, ông biểu tôi bứt cho ổng một nắm dây cóc kèn. Phần ổng thì lo đốn một đống cây mốp tươi 11, chặt ra khúc chừng ba tấc.
Lửa châm vô sậy đế, cóc kèn xung quanh, bắt cháy xuống đám sậy đế trong ao. Chập sau, bị khói bay cay mắt, ngộp thở, phần thì nước sôi nóng, sấu bò lên rừng theo con đường đào sẵn hồi nãy. Tức thời, ông Năm Hên chạy lại. Sấu há miệng hung hăng đòi táp ổng. ổng đút vô miệng sấu một khúc mốp. Sấu táp lại, dính chặt hai hàm răng: như mình ngậm một cục mạch nha quá lớn, muốn há miệng cho rộng để nhả ra cũng không được. Sau khi bị khúc mốp khóa miệng, còn cái đuôi đập qua đập lại. Ông Năm Hên xách cây mác nhắm ngay sau lưng sấu mà xắn nhè nhẹ để cắt gân đuôi. Ðuôi sấu bị liệt. Thế là mình yên trí, lấy dây cóc kèn trói thúc ké hai chân sau của nó lại, chừa hai chân trước để nó bơi tiếp với mình.
– Thực là bực thánh của xứ này rồi! Mưu kế như vậy thực quá cao cường. ổng đâu rồi? Sao không thấy ổng vể Xóm mình nhất định đền ơn ổng một số tiền, nuôi ổng cho tới già, ở xóm này. Bà con tính sao?
Tư Hoạch nói:
– Mà quên! ổng biểu tôi về trước cho bà con coi thử. Phần ổng mắc ở lại cúng “đất đai vương trạch” 12 rồi đi bộ về sau.
Chưa dứt lời, bên sông nghe tiếng hát của ông Năm Hên, ngày một rõ:
Hồn ở đâu đây?
Hồn ơi! Hồn hỡi!
Xa cây xa cối,
Xa cội xa nhành,
Ðầu bãi cuối gành,
Hùm tha, sấu bắt,
Bởi vì thắt ngặt,
Manh áo chén cơm,
U Minh đỏ ngòm,
Rừng tràm xanh biếc!
Ta thương ta tiếc,
Lập đàn giải oan…
Tiếng như khóc lóc, nài nĩ. Tiếng như phẫn nộ, bi ai. Ghê rợn nhứt là khi thấy ông đi ra khỏi mé rừng, áo rách vai, tóc rối nùi, mắt đỏ ngầu, bó nhang cháy đỏ quơ qua quơ lại trên tay.
– Coi tướng của ổng ghê như tướng thầy pháp! Một người thốt lên như vậỵ
Nhưng có tiếng khóc sụt sùi đâu đây. Ðó là vài cụ già, bà lão chạnh nhớ đến tổ tiên, đến bạn bè của mình, biết đâu trên bước đường sanh nhai giữa chốn nước đỏ rừng xanh, có thân nhân của họ đã bỏ thân vì đàn sấu này. Bó nhang đang cháy kia có giải oan được cái chết của họ không chớ?

——————————–

1Trầm thủy: Loại đất thấp ngậm nước.
2Lung: đầm nhỏ, sình lầy cạn.
3Ăn ong: lấy mật ong trong rừng.
4Dây cóc kèn: loại cây dây leo ở rừng nước mặn bền chắc, dùng để trói buộc rất tốt.
5Xuồng lường: xuồng được làm bằng một cây đục thành (xuồng độc mộc).
6Tam tinh: điểm ở trán, giữa hai mắt.
7Mác thông: mác có cán dàị.
8Kiên Giang đạo: đạo là đơn vị hành chính thời xưa tương đương một châu, một quận.
9Lọn nhang trần: bó (lọn) nhưng không có bao (trần). Nhà nghèo dùng loại nhang này, vì rẻ tiền.
10Xuổng: thuổng (dụng cụ để đào đất).
11Mốp tươi: loại cây như cây vông, gỗ xốp, dẻo, có thể làm nút chai hay cốt mụ Cá sấu ngậm phải khúc gỗ mốp, hai hàm răng dính chặt không há miệng ra được nữạ.
12Cúng “đất đai vương trạch”: cúng thần cai quản đất đai (vương trạch, thực ra là viên trạch, nghĩa là vườn đất, dân gian nói trệch ra là vương trạch).

Hương rừng Cà Mau

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

15. Hương rừng

Sống ở rừng U Minh Hạ từ lâu rồi mà Hoàng Mai hãy còn có cảm giác như lạc loài tận đâu đâu, bước chân đi không vướng đất. Ví nàng như cánh bèo rày đây mai đó thì không đúng lắm: có lẽ nàng như đoá hoa sen, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Nhưng loại hoa sen thông tục quá, lại thường lọt vào tay phàm! Ðằng này, bẩm sinh nàng thuộc về một phẩm chất thanh cao hơn.
– Tằng tổ nhà ta vốn họ Trần, nhờ dày công phò chúa từ Thuận Hoá đến đây nên được cải ra họ Nguyễn, Niên mỗ, ngoạt mỗ, quân Tây Sơn đến mãi tận chốn rừng già này, chúa Nguyễn đành ra khơi tìm nơi cứu viện. Thảm hại thay! Tằng tổ nhà ta tuổi già, nhuốm bịnh không vượt biển hộ giá được, đành cam lỗi đạo quân thần, giả dạng lê dân, nương náu nơi chốn thanh lâm u cốc. Người được phong đến chức ngự y. Gia phổ ghi chép rành rành, nói xứ này, chỉ dòng họ ta là có gia phổ, đó con.
Cha của nàng thường nhắc nhở như vậy.
– Là quan ngự y, cớ sao tằng tổ ta không tự chữa bịnh được. Hẳng là bệnh nan y! thưa cha…
Bao lần nàng ướm hỏi như vậy nhưng không dám. “Thuộc dòng hoàng phái nhưng sao triều đình không chú ý tới mà ban cho chút bổng lộc?”. Ðó là nỗi thắc mắc triền miên của nàng khi thấy cha già chuốt tre đan giỏ mà độ nhựt hoặc ngồi buông cán câu bên bờ trúc, giữa trăm bầy muỗi rừng.
Thỉnh thoảng, cha nàng nói khẽ như thanh minh, tự an ủi:
Hoàng đế đang tức vị thuộc dòng ngụy, do tân trào dựng lên. Giọt máu hùng anh của tiên vương này đã bị lưu đày nơi hải đảo Bòn Bon, bặt tăm nhàn cá. Nhận chức hương giáo trong ban hội tề làng Khánh Lâm sở tại, chẳng qua là cha muốn bưng bít dư luận. Bổng lộc của tân trào, cha nào màng, chỉ nguyện làm bạn bầu với cây cỏ, gió trăng.
Ngày ngày lớn khôn, Hoàng Mai càng yên tâm tin tưởng nơi dòng máu quí phái của mình. Cội hoàng mai cổ thụ trước sân, há chẳng là một bằng cớ? Bao năm rồi, nó vẫn bền gan khoe sắc khi gió Tết thổi về; vùng U Minh này mấy ai biết thưởng thức giống hoa vương giả lạc loài! Bản Nam Bình réo rắt trong ruột cây đàn thập lục chỉ để riêng cho nàng thông cảm đó thôi… Nhưng cơ trời không ai ngờ được, tránh được. Mây đẹp của đỉnh Ngự còn có khi tan, nước yên làng của dòng Hương thường bị gợn những làn sóng nhỏ. Năm ngoái, năm kia, khi vừa quá tuổi trăng tròn, một buổi chợt soi mặt vào lu nước mưa, nàng bắt gặp cái màu trắng trong leo lẻo của dàn da mình. Miệng chúm chím hàm tiếu, nàng vuốt mớ tóc đen huyền; bàn tay ngà đặt trên má đỏ hây háy, mơn man chuyền suối tóc về trên sau lưng gầy. Nhưng… lạ kìa! Hàng chục sợi tóc thi nhau tuôn xuống.
Gió nhẹ thoảng qua; chân tóc lấm tấm đung đưa, vướng bận chưa chịu bay đi như còn than van niềm biệt ly vô cớ. Nàng cau mày trở vào phòng, cầm lược chải kỹ. Nàng toan rú lên. Lược đùa đến đâu là tóc rụng đến đó như lá úa trên cành đến độ gió trở mùa. Nàng e thẹn. Nàng giận dỗi.
Thân phụ nàng – Ông hương giáo – chạy tới. Nàng soi gương, không day lại rồi trả lời về tiếng rú khi nãy:
– Không gì lạ đâu, thưa cha.
Ông hương giáo đã hiểu nguồn cơn. Mớ tóc rối nằm cuộng đống trên bàn khiến ông xúc cảm, không che giấu được cơn buồn. Chiếc gương mờ soi đôi má ửng của Hoàng Mai, màu ửng đỏ lạ thường, không biến đổi dầu khi nàng sợ hãi.
– Từ hồi tấm bé, làn da của Haòng Mai mịn quá, bóng quá. Trăm sự đều do đó mà ra…
Ông thở dài, cũng như ông đã thở dài hồi mấy năm trước, tuy gió bấc về không lạnh lắm nhưng Hoàng Mai đòi đốt lửa để sưởi rồi dẫm chân lên than hồng mà cưòi. Ðêm đến, ông nghe tiếng rên khe khẽ. Ngỡ là con gái nhuốm bịnh, ông đến gọi cửa đôi ba lần. Hoàng Mai nằm đó, tỉnh mà như say, hơi thở hổn hển, đôi mắt úp vào chiếc gối mềm như trốn tránh mấy sợi tơ trăng buông xuống từng hồi, khi gió rạt rào khẽ rung làm hở ra mấy mí lá che trên đầu vách.
Bịnh của nàng, ông doán được, ngặt không muốn nói rõ tên ra: bịnh nan y – bịnh cùi. Ông chỉ khuyên con gái năng đi duốc vì ở rừng này… “phong” nhiều lắm. Quyển gia phổ ngủ từ lâu đời dưới lớp bụi trên bàn thờ được vời xuống. Lật ra kính cẩn dưới ánh nến bạch lạp. Hơn trăm năm qua, kiếng họ Nguyễn chưa ai nhiễm chứng ấy, rõ ràng không phải bịnh di truyền. Ông suy luận:
– Có thể nhà mình đắp nền trên ngôi mộ xưa của ai. Và tự ngày xưa, ai dám, chối rằng khu rừng này không là bãi sa trường mà người thắng kẻ bại đều lẫn lộn trong đống xương Vô Ðịnh đã hóa ra cát bụi:
Trang phụ lục thứ sáu của quyển gia phổ thứ nhứt còn thố lộ vài chi tiết khó hiểu, viết bằng chữ nôm:
“Ðến Ngạc Ngư Ðàm tức Ðầm Sầu, Ao Sấu, hơi sương lạnh buốt, chướng khí xây thành. Khách hỏi: loại Ngạc Ngư (cá sấu), từ đâu lạc vào đầm? Kẻ thổ dân thưa: không ai rõ. Chúng đến đây như án ngữ nẻo đường qua truông quỉ. Nơi ấy, muôn nghìn ma quái như ẩn, như hiện. Lại có loài ong dị thường năng về là ổ; lạo ong này lưng nhuộm ngũ sắc, vượt thiên lý để hái nhụy trăm hoa đem về luyện Ngọc. Người phàm chưa ai đến gần được.
Chúng không sợ khói, hửi nhằm hơi kim khí ở trược là chúng ào ra như giông tố giết cho kỳ được kẻ ngạo mạn. Quan ngư y họ Trần biết được tin ấy bèn sai quân sĩ bày mưu kế hòng cướp ổ ong nọ, đoạt loại Ngọc thiên nhiên hiếm có đem về luyện thuốc trường sinh…”

Tư Lập, tay thanh niên khét tiếng về nghề ăn ong ở xóm Cán Gáo được ông hương giáo mời về nhà, bày rượu thịt thết đãi, đối xử như thượng khách.
Trang gia phổ lại giở ra, đọc nho nhỏ vừa đủ cho Tư Lập nghe. Tư Lập gật đầu.
Trong rừng già này, bên kia Ao Sấu, thỉnh thoảng loài ong ngũ sắc ấy trở về. Ban đầu chú Tư dùng con dao xương nai mà cạo lấy mật nhưng không hiệu quả. Lần sau, chú mài miếng xương người, dẹp như cây dao, theo ý muốn của ông hương giáo. Ngọc ong đã lấy được, đem về. Chú bán tín bán nghi vì thấy “ngọc” chỉ là mớ nhụy bông quế lại thành ké mà loài ong dự trữ bên góc ổ. Từ đấy, ông hương giáo mời Tư Lập ở luôn trong nhà cho có bạn. Ngày đêm, ông chong hàng chục ngọn nến bạch lạp chung quanh mớ “ngọc” để luyện, hy vọng rằng khi đúng một ngàn ngày nó sẽ trị được bịnh nan y của Hoàng Mai. Tư Lập như không chú ý đến điều vô lý đó, cứ ra vào nhìn trộm hình dáng giai nhân rồi nằm trằn trọc… mãi đến một đêm nọ, lúc đứng ngắm thẫn thờ cội mai già trước sân, chú nghe hơi thở nào ấm nồng, nhồn nhột sau gáy:
– Anh Tư ở đây vui chớ? Nãy giờ em không dám hỏi.
Chú nhìn kỹ: không phải là dạng hồ ly tinh trêu cợt, chính là Hoàng Mai cô gái con ông hương giáo mà bấy lâu nay chú trộm nhớ thầm thương.
Nàng nói tiếp:
– Cha của em dặn em gọi bằng anh. và đừng làm gì anh buồn.
Chú hiểu ý. “À té ra bấy lâu nay ông hương giáo thương mình”. Chú đánh bạo tìm bàn tay nàng. Nàng lắc đầu:
– Em hơi mệt, như vậy…
Rồi nàng nâng tay áo lên, thứ tay áo lỏng thỏng quá rộng quá dài:
– Anh nắm cái chéo tay áo này, em cũng đủ vui rồi.
Cảm đông làm sao! Ngạc nhiên làm sao! Một mùi hôi hám từ trong tay áo bay ra. Khi níu cái chéo tay áo của người đẹp. Tư Lập thấy rõ ràng bên trong: ngón tay của nàng rụng mất hồi nào, chỉ có năm cuộn vải nhỏ vấn khéo léo thay thế.
Hôm sau, chú viện cớ ra đi lúc mùa bông tràm nở trắng rực. Chú không thèm làm nghề ăn ong nữa. Hàng trăm tấm kèo bằng cây mun, chú giao lại cho ông hương giáo. Chú về ở long Xuyên. Nhưng hương rừng có ma lực quyến rũ. Lúc mới đến thì vui. Ở lâu lại sanh buồn. Xa cách lâu ngày thì đâm ra nhớ không nguôi, không trở lại thì không được.
Chú lại trở về.

Sông Trèm Trẹm bắt nguồn từ xóm Cán Gáo chảy về phía Nam, qua xóm Tân Bằng rồi đổ ra sông Ông Ðốc, hòa mình vào vịnh Xiêm La.
Thằng Kim nóng lòng, không biết Tư Lập muốn dừng lại làm ăn ở khúc nào. Giây lâu, Tư Lập nói:
– Rừng U Minh còn nhiều bí mật! Ðừng lo mà. Tao hứa dẫn mày tới chỗ này vui lắm, đừng sợ chết đói. Có tao.
Xuồng ngừng lại giây lát nghỉ trưa rồi mái dầm lại tiếp tục khoát dòng nước đỏ ngòm, tuy chảy mạnh nhưng tứ bề khuất gió nên không gợn sóng. Ðôi bờ quanh co, hoa lá nghiêng mình lại, gioa đầu, bắt tay nhau che kín bóng mặt trời.
Khách đi đường ngỡ mình lạc lối trong hang, thứ hang thiên nhiên, bất tận. Có tiếng vượn hú. Từ bên này, con vượn bồng con, nắm sợi dây rau câu, lấy trớn đu mình sang nhánh ở bờ bên kia để hái trái rừng. Trái quá chát, vỏ quá dày, vượn nhăn mặt, bực tức ném mạnh. Trái vừng sa vào giữa lưới nhện giăng hờ, lơ lửng. Lưới rung rinh không đứt hẳn; con nhện hoảng hốt, thả sợi tơ dài, sa xuống. Chợt thấy mặt nước, nó toan rút lên. Nhưng trể quá rồi! Con cá bông phóng mỏ theo, táp mạnh. Thằng Kim ngỡ đó là con trăn. Cá lớn bằng cây cột nhà, vảy xanh vảy trắng thêu từng vòng ngời lên khắp thân mình. No mồi, cá lặn sát đáy, lội nhanh. Bầy cá con hối hả di chuyển theo mẹ, hàng trăm con lấm tấm như rắc cườm đầy mặt nước, mất dạng trong bóng mát đằng kia. Bờ sông im lìm, mặt nước thẫn thờ trả lại bóng dáng hiền hòa của cây chồi mọc sát mé bãi; bông vừng buông thõng xuống từng xâu chuỗi hường, chen lấn, nối tiếp nhau như bức mành mành. Nhánh vừng khó cắn, lá vàng rụng mất hẳn. Ðôi đọt non nhú lên, mỏng mịn, chưa nhuốm được màu xanh vì thiếu nắng; ở xa, trông như những cánh bướm khổng lồ đang phập phồng, ngứa ngáy, chưa đậu yên chỗ là đã chớm bay.
– Kim, mày biết nước sông này màu gì không?
– Ở dưới sông, giống như màu máu bầm. Múc lên tay coi thì như nước trà pha đậm.
Tư Lập day lại:
– Hồi xưa, có người nói nó giống như cà phê đen. Ờ… mày uống cà phê lần nào chưa?
– Chưa, chú Tư à.
– Bán thiếu gì, tại chợ Thới Bình. Dân ở chợ là người mới tới mua bán lập nghiệp, họ chưa dám đi sâu vô rừng làm ăn như tụi mình bây giờ. Họ nể nang dân phía này lắm.
– Sao vậy, chú Tư?
– Vì dân này là dân cố cựu, phá sơn lâm, đâm Hà Bá dọn đường cho họ tới sau làm ăn. Con nhà tướng đi mở đường máu mà!
Tư Lập vừa nói vừa vói tay đập sau lưng. Thằng Kim đã hiểu nghĩa mấy tiếng “mở đường máu”. Ba bốn đốm máu đỏ ngời: mấy con muỗi vừa bị đè nhẹp xác.
Nó sực nhớ tới bầy muỗi bu quanh nó từ mấy ngày rày. Ban đầu, nó bực mình, đập giết thẳng tay, phải buông dầm khiến xuồng lủi vô bờ. Mổi lần như vậy, Tư Lập day lại:
– Cứ bơi lẹ, muỗi cắn ít hơn. Ở lầy quầy mình bị cắn nhiều mà không đi tới đâu hết. Xuống xuồng để bơi chứ đâu phải để đập muỗi!
Nghe lời Tư Lập, thằng Kim bấm môi chịu đựng.
Vài tiếng gà gáy văng vẳng, hưởng ứng nhau phá tan bầu không khí tĩnh mịch. Vòm cây lần lần trống trải nắng rớt từng mảng, ngưng đọng không chịu trôi theo dòng nước ngày càng chảy hăng. Bên bờ, nước đổ róc rách theo con lạch nhỏ, vỏ tràm trôi lềnh bềnh trắng. Thằng Kim nôn nức:
– Tới chỗ nghỉ chưa, chú Tư?
– Chưa. Hai voi nữa. Mày nhớ không, hồi sáng tới giờ mới qua có sáu voi.
Hai voi, đường còn xa. Thằng Kim yên lòng vì sẽ đến chỗ nghỉ trước khi trời sụp tối:
– Chú có bà con ở đây hả?
Tư Lập cau mày không trả lời, mở gói thuốc ra vấn hút. Ðó là gói thuốc mà chú hứa tiết kiệm, để dành hút khi tới nơi.
Thằng Kim đoán chừng Tư Lập đang suy nghĩ nhiều. Chú lẩm bẩm:
– Ừ, bà con hay là người dưng, chuyện đó không quan hệ. Nhắc tới tao buồn quá, muốn quày trở lại bây giờ. Nhưng đã tới đây rồi không lẽ lại trở về. Tao không muốn kiếm nhà quen. Ở gần xóm đông thì bất lợi, ở xa quá cũng hại. Mày tin tao. Tao không dại gì trở lại đây mà tìm cái chết… Ờ, mày họ gì? Mấy ngày rày, tao quên hỏi.
– Họ Trương hay họ Trần gì đó, tôi quên rồi. Nghe nói hồi đó ba tôi đổi họ.
– Ối! Họ gì cũng được, miễn tới chừng người ta hỏi thì đừng trả lời lập dập. Nói vậy chớ ai xét hỏi. Tao có quen với vua. Hồi xưa, có người ở xóm này được cải ra họ Nguyễn cho giống với họ vua… Họ nói vậy hay lắm.
Thằng Kim ngơ ngác hỏi:
– Bà con với vua sao lại ở đây?
Tư Lập không trả lời. Chú bơi mạnh, mũi xuồng quẹo vô bờ, phía trái. Vàm mương nhỏ hiện ra. Chú nói:
– Mày nghỉ tay đi. Tới phiên tao rồi…
Ngồi trước mũi, chú bơi phía mặt vài dầm rồi trở lẹ qua bên trái, bơi vài dầm. Xuồng lướt tới ồ ồ. Gặp dây, gặp nhánh cây cản mũi, chú bứt, bẻ rôm rốp. Gặp nước cạn, chú đứng mà chồng hoặc quì trên sạp xuồng, ngả mình tới lấy trớn. Thằng Kim vui sướng quá. Lúc này nó khỏe tay, dầu muốn tiếp sức với Tư Lập cũng không được. Mũi xuồng quá nhỏ, nào đủ chỗ để hai người cùng ngồi ngang nhau. Hơn nữa, bơi xuồng theo lối mới này nó chưa quen. Mặt trời sụp xuống thấp, rọi thẳng từ trước mặt. Con rạch quá nhỏ, uốn ngoằn ngoèo như ruột ngựa nối liền qua những lung, bào, tròn tròn méo méo như hình mấy cái bao tử, gan, lá lách… Sậy mọc khỏi đầu.
Hương rừng ngào ngạt, mùi hương xa lạ nhưng rất quen thuộc. Thằng Kim hít mạnh để hửi cho kỹ, để nhớ cho rõ nhưng nhớ mãi không ra. Chợt ngẩng đầu lên, nó trố mắt. Rừng cơ hồ không còn chiếc lá nào cả! Trên hàng vạn nhánh nhỏ, bàn tay thần nào rắc lấm tấm hằng hà sa số đợt bông gòn, không phải riêng trước mặt mà khắp các tứ phía. Rừng sáng lạn, ai dám nói là rừng âm u? Bông kết oằn sai, mịn màng, trắng tuyết; đài, cánh đâu không thấy chỉ thấy toàn là nhụy ngọt.
Nó buột miệng:
– Rừng cây gì vậy? Chú Tư.
Tư Lập day lại cười vang:
– Thằng quỉ! Hửi mà không biết mùi mật ong sao? Tràm chớ giống gì! Muôn ngàn hũ mật ong của trời ban xuống cho trần gian còn treo lủng lẳng như mù sương trên nửa lừng đó. Hửi vô thì say. Say thì không tỉnh được. Có người toan dùng nó mà luyện thuốc trường sinh, từ trăm năm nay…

Tư Lập ngâm mình dưới bưng nãy giờ khá lâu rồi. Nước dâng lên nửa ngục. Hai tay chú quậy dưới bùn, chân bò tới lui, bọt nước sôi ùng ục. Chú rút lên một cây búa to tướng, nói huyên thiên:
– Nó còn nguyên, mới tinh. Bộ trái đấy xoay tròn sao mà! Hồi năm ngoái tao nhớ rõ ràng, nhận ở gần gốc cây tràm bên kia. Bây giờ nó chạy qua bên này. Ðể tao rửa sạch cho mày coi. Cam đoan không có một bợn sét, khuất dưới lớp bùn non, mưa nắng không sao thấu tới. Sét ăn hư hõng là khi nào mình giữ không kín. Lòng người cũng vậy… Mày chưa hiểu hả?
Thằng Kim thật tình không hiểu câu nói lắc léo của Tư Lập. Nó không cần tìm hiểu. Cây búa khiến nó ngạc nhiên hơn: cán dài cỡ năm tấc, lưỡi cao hơn hai tấc, bề ngang lưỡi búa trên một tấc rưỡi, lớn như mấy cây búa thần mà các ông tướng hát bội thường vác ra khi đánh trận.
– Cầm thử coi nặng không? Tay anh hùng mới cử nó được. Tạo ra lúa gạo, xuồng, chèo là nhờ nó. Nên nhà nên cửa, nên đất nên vườn, nên chồng nên vợ, xưng hùng xưng bá cũng nhờ nó.
Tư Lập nói tiếp:
– Ðói bụng chưa?
– Hơi đói. Nãy giờ tôi lưỡng lự; gạo còn chừng hai nắm, không lẽ nấu cháo. Hay là mình kiếm nhà nào mượn đỡ.
– Mượn gạo mà ăn, xưa quá! Ở xứ này, tao không muốn gặp mặt ai hết. Con người ta chết… không phải vì thiếu gạo. Tới lớn, mày hiểu câu nói đó. Bây giờ đi với tao tìm nhà quen, bảnh thì mày đi trước một lần coi!
Nói vậy chớ tư Lập bước trước, đạp lên choại, lên dớn nghe sột soạt. Thay vì đi thẳng lại phía rừng tràm trắng tih, thơm ngào ngạt, Tư Lập quẹo trở về phía rừng thấp lè tè, cây cối mọc so le hỗn loạn. Bùn non ngập mắt cá. Muỗi bay lợn cợn, vướng vít dưới chân cây còn u tối. Tư Lập khuyên nhủ:
– Ráng chịu cực vậy! “Lô” rừng tràm đằng kia là của người ta. Rừng chồi phía này mới là của mình. Vắng hai năm nay, tao ngán rồi, không muốn nhớ lại cái mùi nhụy tràm.
– Sao vậy?
– Ðừng hỏi nữa. Tao muốn lánh mặt người quen. Mai chiều, có lẽ mình qua nơi khác. Gió thổi hiu hiu, buồn quá.
Tư Lập thẫn thờ đôi mắt rồi bỗng nhiên khoát tay, ra dấu im lặng. Chú ngồi nép xuống. Thằng Kim cũng bắt chước, cúi đầu, ái ngại. Tư Lập cầm tay nó mà nói khẽ:
– Ðừng động đậy, thở nhè nhẹ. Nó kìa…
Thằng Kim ngớ ngẩn, liên tưởng đến thứ tai nạn khủng khiếp:
– Co… ọp hả?
– Nói bậy xui xẻo! Ong mật.
Và nó định thần khi Tư Lập nói rõ thêm:
– Ong mật… đi ăn bông. Bay rề qua rề lại, thấy chưa, thấp chủn trên đọt sậy kìa.
Thằng Kim mừng rỡ:
– Ngộ quá! Ổ nó ở đây đây, hả chú. Làm sao kiếm được? Ý! Nó lớn bằng hai con ruồi.
Om sòm cái miệng! Về chống xuồng lại đây mau, tao chờ! Nhớ cái hộp quẹt máy. Thằng Kim hối hả làm y lời. Trở lại chỗ cũ, nó chợt nghe tiếng “hì” ở phía rừng tràm. Té ra nãy giờ Tư Lập lội tắt qua mương đi lại đằng ấy.
Chú vội ngồi lên xuồng, chụp cây dầm, hờm sẵn:
– Bậy quá! Nó “đi bông” tới đây rồi mất dạng. Chờ một hồi nữa coi.
– Ði bông là gì? Chú Tư.
– Là đi hút nhụy bông… kìa mê quá!

Một con ong rồi hai con ong bay qua sát ngọn cỏ, lưng ngời những rằn xanh đỏ, hai chân sau quặp lại kẹp hai đốm vàng sậm mà thằng Kim đoán là nhụy bông. Ong vừa qua khỏi chừng mươi thước. Tư Lập hối hả bơi xuồng theo. Nhưng hai con ong nọ lại đáp xuống, mất dạng. Chú nói:
– Ðây là trạm thứ nhì của tụi nó. Rán chờ chút nữa. Chém chết tao cũng ăn được ổ này.
Sau đôi ba lần theo dõi rồi dừng lại như vậy, Tư Lập bỗng cười vang, múa men tay chưn như đứa trẻ thấy kẹo. Hàng trăm con ong bay chập chờn trước mặt, đáp xuống, vọt lên cao, không dời chỗ. Chú ngóng xem hướng gió trên ngọn cây, ra lịnh cho thằng Kim đứng im rồi chú đi khuất, chập sau mang về một nắm rễ cây gừa.
Hộp quẹt bật lửa lên. Nắm rễ gừa ngún cháy, khói bay đều. Chú nói nhỏ:
– Ði theo tao, đừng chạy bất tử nghe!
Chú phồng má thổi mạnh, khói tung bay mịt mù chưa tan là chú thổi thêm lần nữa, chân bước nhanh tới. Hiển hiện sau lớp khói mỏng kia, vật gì lạ thường như một trái cây khổng lổ, lớn bằng cái nia, đen ngòm rực rỡ như nạm muôn ngàn hột thủy tinh chấp chóa…
Thằng Kim há miệng:
– Ổ ong hả? Ong đâu hết rồi?
– Cả triệu con kết lại, nằm sắp lớp đen ngời, chớp cánh lia lịa đó, không thấy sao! Ổ ở bên trong. Lên xuồng đi. Rủi bề gì tao với mày thối lui, lặn dưới mương, úp chiếc xuồng này lại mà che…
Tư Lập cầm nhánh cây khô gạt mạnh vào ổ; ong rớt xuống cỏ từng mảng, lần lần tan ra. Ổ ong khoe mày trắng tinh như sáp, treo trên khúc cây gác nghiêng; cây kèo.
Chú quát:
– Chống xuồng lại. Tao với mày khiêng nguyên ổ xuống. Dầu sao mình cũng mang tiếng ăn cắp của thiên hạ rồi.
Ðặt dưới xuồng, ổ ong nứt ra, mật vàng tươi chảy đọng vũng. Tư Lập chụp cây dầm, bơi trối chết, lướt qua sậy, qua năn. Thằng Kim cúi đầu sát ván, nhắm mắt, e nhánh hai bên quật nhằm. Nó cười tươi khi thấy mái chòi hoang hiện ra trước mặt, Tư Lập trao cây dầm cho nó thò tay xé tàn ong:
– Trời ơi! Tao hại tao! Tao ăn cắp… của tao.
– Chú nói gì?
– Miếng kèo bằng cây nhum. Hồi năm ngoái tao gởi nó lại cho người quen. Chữ “điền” tao khắc làm dấy rành rành.
Cây rừng chuyển răng rắc. Ðâu đây có tiếng chưởi thề ỏm tỏi, xen vào tiếng dầm khuấy nước. Tư Lập cau mày.
– Họ đi theo dấu bắt tụi mình. Không khéo lại xảy ra đâm chém, uổng mạng. Nhiều khi họ mạo nhận là của họ để hăm dọa mình. Lát nữa, mày đứng yếu bóng vía… Cứ cãi lại cho tao.
Thằng Kim giựt mình:
– Chú đi đâu? Một mình tôi không dám…
– Tao núp sau hè. Họ tới kìa! Cầm búa lên! Ðụng độ thì tao ra ăn thua.
Nhanh như chớp, Tư Lập bước lui, ngồi khuất sau bụi mật cật. Thằng Kim nhìn trước mặt. Hàng cây rung rinh, rẽ ra. Một người vạm vỡ cầm búa, bước tới:
– Khôn thì chịu tội. Thằng kia, mày ở xóm nào tới?
Thằng Kim cố giữ sắc trầm tĩnh:
– Tôi ở đây, mần ăn…
– Ăn cắp chớ mần ăn? Tao theo dấu tụi bây nãy giờ. Công trình mấy tháng nay toa tạo sẵn để mày hưởng! Ðã ăn cắp mà lại còn gỡ luôn tấm kèo, chẳng khác nào ăn trộm rồi đốt luôn nhà của tài gia.
– Tôi không biết gì hết…
– Chém chết mẹ chớ không biết!
Lưỡi búa của khách hươi lên. Thằng Kim cũng nâng cây búa một cách vụng về. Khách nhìn nó, ngạc nhiên rồi nhìn cây búa:
– Mày ăn trộm búa nữa hả? Ráng mà đỡ. Nè!
Hoảng hốt, Tư Lập nhảy ra, nắm cườm tay người khách lạ:
– Tao ở nhà ông hương giáo hồi xưa đây mà. Chú mày đến sau nên không biết rõ tao là ai.
Khách trố mắt:
– Trời! Cậu Tư. Về hồi nào! Trời… nãy giờ thấy cây búa, tôi hồ nghi là của cậu. Sao không lại thăm cô Hoàng Mai?
Tư Lập vuốt mồ hôi trán:
– Thôi! Về đi. Nhắn với ông hương giáo rằng tối nay tao tới.
Khách nói:
– Buồn lắm! Cô Hoàng Mai yếu nhiều.
Tư Lập thở dài:
– Vậy hả? Ðừng nói nữa. Về trước đi.
Khách rút lui. Tư Lập nói ngậm ngùi:
– Trốn mà không khỏi. Trốn Tây ta là chuyện dễ; trốn người quen là chuyện khó hơn. Ta ăn cắp ổ ong khi nãy mà chi? Nghề ăn ong có nghiệp chướng… Ðâyu là ổ ong cuối cùng của tao trong nghề…
Thằng Kim hỏi:
– Sao vậy? Ai đau nhiều vậy chú? Cô Hoàng Mai là người bà con…
– Bà con không phải bà con. Người dưng không phải người dưng. Tối nay mày thay mặt tao, lại đó mà thăm ông hương giáo. Phần tao, tao phải xa rừng này. Ở lại đây, mày có dịp học khôn. Ðừng buồn. Ðể tao nói lại đầu đuôi sự tích, hồi năm trước…

Nghe xong thằng Kim đi từng bước chẫm rãi đến nhà ông hương giáo. Câu chuyện tình của Tư Lập hãy còn lâng lâng trong trí nó. Gió chiều nhẹ thổi. Mùi bông tràm ngào ngạt. Nó nhìn từng gốc cây, lắng nghe từng tiếng lá trở mình mà khoang khoái trong lòng. Rừng U Minh này đối với nó cơ hồ không là còn gì bí mật khó hiểu nữa.
Ðến nhà ông hương giáo, nó được thết đãi cơm nước tử tế. Ông hương giáo không nói chuyện nhiều. Nó nói dối rằng… chừng lát nữa Tư Lập sẽ đến. Nhưng Tư Lập có đến đâu! Ðêm đó, nó được nằm ngủ trên ván gõ, trải chiếu bông, giăng mùng rộng rãi. Nửa đêm, nó chợt tỉnh vì ánh đèn chói mắt.
Ông hương giáo nói:
– Chú em thức hả? Kìa! Trên bàn thờ, từ bao năm rồi, tôi luyện “ngọc ong” để trị bịnh. Bịnh gì, chắc Tư Lập nói sơ cho chú em hiểu rồi. Tôi buồn quá. Tư Lập không trở lại nhà này nữa đâu. Chú em cứ nói thiệt. Phải vậy không?
Thằng Kim nói:
– Dạ cháu không biết. Chú Tư không nói rõ…
– Ta hiểu lắm. Dầu sao, trở về lần này, Tư Lập cũng đã tỏ ra có nghĩa! Ai nỡ câu thúc chí trai của mình trong một xó để đổi lấy chữ nhàn? Ai nỡ bỏ cái danh dự để mua chuộc một chức tước quí phái huyền hão. Từ xưa, tằng tổ của ta cũng vì khí khái ấy mà phò Chúa, xiêu lạc đến đây! Bây giờ ta yếu lắm rồi. Dầu muốn bắt chước Tư Lập, ta cũng không còn đủ sức lực mà bắt chước. Gia thế của ta, thiên hạ đã rõ. Câu thúc Tư Lập ở mãi tại đây chăng? Ta chỉ là người hương giáo, quyền hạn gì? Ừ! Tôi là tôi cho Hoàng Mai. Năm nay, nó ngồi một chỗ, không còn đủ sức mà ra thăm cội hoàng mai trước ngõ như hồi Tư Lập biết.
Sáng hôm sau, thằng Kim từ giã ông hương giáo rồi đến ngồi bên mé rạch. Bông vừng tươi thắm, cây cối hai bên bờ giao đầu lại, mát mẻ. Nó chờ đón bất cứ xuồng ghe ai, đi về đâu cũng được, để quá giang. Sau lưng nó, trên thềm nhà, trong bóng mát, hình dáng của Hoàng Mai với đôi mắt và mớ tóc trùm kín trong chiếc khăn. Chiếc tay áo của nàng lòng thòng che khuất mấy ngón tay, từ từ nâng lên như tiễn đưa một hình bóng…

Hát Bội giữa rừng

vietmessenger.com

Sơn Nam

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Rạch Khoen Tà Tưng ngày…
Cháu x…


Hèn lâu, bác mới nhận được thơ của cháu gởi xuống thăm bác.
Dưới này, xóm riềng đều được vạn sự bằng an. Trong thơ, cháu hỏi về sự tiêu khiển của người mình hồi mới khai thác đất hoang, năm sáu chục năm về trước. Cháu nói hồi đó dân mình ưa hát dối, hát huê tình. Không phải vậy đâu! Hát đối cần có sông rạch thông thương để bên trai bên gái tự do bơi xuồng song song nhau mà hát. Ðằng này. “dưới sông sấu lội, trên rừng cọp đua” có ai dám bơi xuồng ban đêm bao giờ! Việc hát đối cần có tít nhiều tiền bạc để làm tiệc tùng thết đãi tất cả những ai có mặt cho vui với nhau. Ðằng này dân mình hồi đó còn nghèo lắm, ruộng chưa hết phèn, đình chưa cất, hương chức làng chưa có.
Bởi vậy chỉ có hát bội là cách giải trí độc nhứt của người đi khai phá đất mới. Ai hát bây giờ? Lẽ tất nhiên không phải mấy người trong xóm. Họ không biết chữ nho, Tiền Ðường Hậu Tống gì hết.
Phải mời gánh hát bội từ xa lại hát chơi một đôi tháng. Nói đứng hơn, ông bầu gánh đích thân tới xóm mình. Năm đó nhớ kỹ lại… bách chừng mười bảy tuổi, xóm Khoên Tà Tưng mới có hai mươi căn chòi lá.
Ông bầu gánh tới bàn với mấy ông kỳ lão:
Bà con tôi muốn lại đây hát giúp vui.
Hát bội mà ai không ham, ngặt ông bầu nọ buộc nhiều điều gắt gao quá. Như là phải nuôi cơm toàn ban nam nữ. Như là phải cất rạp sẵn cho mấy ổng hát.
Nghe qua, mấy ông kỳ lão lắc đầu vì đào kép toàn ban hát họ đông gần bằng dân số xóm này… Hơn nữa rạp cất giữa vùng cọp beo, nghĩ cũng khó bảo toàn tánh mạng cho người hát và người đi coi hát. Ông bầu đành năn nỉ:
_Bà con thương dùm, anh em tôi cực chẳng đã mới chạy xuống miệt này! Không lẽ bà con bắt nộp cho Tây chớ anh em tôi ở miệt Vũng Liêm vô hội “Kèo Xanh” rồi bị đổ bể.
Ðộng lòng trắc ẩn, mấy ông kỳ lão đồng ý. Rồi thì mõ đánh chuyền rao cho đầu trên xóm dưới hay rằng:
“Nay mai có hát bội tới, trước mua vui sau làm nghĩa, mỗi nhà nên tùy hỷ góp vài vùa gạo để nuôi họ. Ðồng thời, tất cả thanh niên trai tráng phải vô rừng đốn tràm, vạt nhọn dưới gốc sẵn”.
Hỏi:
– Hát ban ngày hay ban đêm?
Ông kỳ lão nói:
– Hát ban đêm mới vui chớ, ban ngày để làm công việc đồng áng.
Có người cật vấn về vụ cọp ăn thịt người, ông kỳ lão nói:
– Bà con đừng lo. Cứ đốn tràm về đây, nhiều chừng nào tốt chừng nấy. Phen này, mình mới cọp và sấu tới coi hát với mình cho vui luôn thể.
Tràm đốn về chất đống. Ông kỳ lão đích thân đốc suất việc xây rạp. Cơ mưu của ông như vầy: cất một cái nhà sàn ở giữa sông, theo kiểu ba căn hai chài. Ba căn giữa dùng làm sân khấu, hai chài dành cho đào kép ăn ở, nấu cơm. Như vậy, nhứt cữ lưỡng tiện chớ chòi trong xóm nhỏ quá, đâu đủ chỗ cho họ ở đậu.
Hỏi:
– Dân tụi tôi đứng đâu mà coi hát?
Ông kỳ lão nói:
– Bà con dốt quá! Chung quanh sân khấu nọ, mình xốc cứ làm vòng thành, gốc cừ này khít gốc kia chừng một gang tay. Ai muốn coi cứ việc bơi xuồng vô vòng rào nọ. Xong xuôi đóng cửa lại. Cọp phải bơ vơ ngồi trên bờ rạch. Sấu thì đành ngóng mỏ, ngoài vòng. Trong này, mình ngồi trên xuồng mà coi sáng đêm ăn thua. Tuồng Tàu dài lắm.
Xóm Khoen Tà Tưng rộn rịp còn hơn Tết, suốt ba bốn ngày liên tiếp họ dựng rạp, xốc nọc dưới sông. Mấy anh chị đào kép mới tới vô cùng mừng rỡ, họ cỡi áo ra tiếp tay.
Nhà cất xong. Bây giờ tới lượt lợp lá, lót sàn. Lá dừa mọc sẵn dựa mé. Tràm nhỏ cây, ở đâu mà chẳng có, cứ đốn về lót thế cho ván. Ðêm hát ra mắt, vui quá đỗi là vui! Ðào kép thì áo mão xanh đỏ, đầu giắt lông trĩ, ngặt hai bàn chân thiếu hia, thiếu hài. Trống đánh thùng thùng. Kèn thổi tò ti te.
Hai bên rạ chong bốn ngọn đuốc sáng rực.
Họ hát tuồng Phong Thần, lớp lập Bá Lạc Ðài. Tuồng nhắc lại khi Tử Nha còn hàn vi nhờ người bạn là Tống Dị hơn cưới vợ cho. Vợ tên là Mã Cơ. rủi thay, cô vợ này có tật thô lỗ, xúi giục chồng đi ra chợ kiếm tiền cho cô ta xài phí. Tử Nha ra chợ làm thầy bói, gặp con Tỳ Bà tinh là chị em của Ðắc Kỷ, Tử Nha biết đúng chơn tướng con yêu nọ, nên xin phép Tỷ Cang thiêu sống nó. Tỳ Bà tinh hoàn nguyên hình cây đờn tỳ bà bằng đá.
Giáo đầu là lời chúc mừng nhà vua. Sau đó, Dị Nhơn múa mà rằng:
Sông Hà Lạc, qui trình tám quẻ,
Cửa Võ Môn, cá nhảy ba từng.
Trẻ ngậm cơm ngả ngớn đền Xuân,
Già vỗ bụng chình chòng coĩ Thọ,
Miêng Trì là quê ngụ,
Dị Nhơn thiệt tên già!

Tử Nha bèn bước ra, xưng danh, than thở rằng mình chưa gặp vận. Dè đâu bà vợ là Mã Cơ xắn xả chạy lại mắng Tử Nha:
Bớ ông Tử Nha này:
Tôi, cầm khỉ không tướng khỉ múa,
Còn chăn voi chẳng biết voi lung,
Hay mần răng! Này tôi nói cho:
Bảo đừng về tiên ngộ tiên khùng
Khá kiếm chỗ ở thuê ở mướn,
Ðể trả tiền đường, tiền đậu cho mụ đây… à!

Tức quá Tử Nha ra chợ ngồi làm thầy bói. Tỳ Bà tinh bèn tới thử tài. Biết chân tướng yêu tinh của mình không qua được cặp mắt thần của Tử Nha, Tỳ Bà tinh bèn tri hô lên vu cáo rằng Tử Nha toan hiếp dâm nó. Ông trùm xóm hạ lịnh cho dân chúng rượt bắt Tử Nha:
Tốc bôn trì, tốc bôn trì!
Lai ứng tiếp, lai ứng tiếp!
Lão già nào hãm hiếp, hãm hiếp!
Bắt gái trẻ hoang dâm, hoang dâm!
Quyết sanh cầm, quyết sanh cầm!
Nan dung thứ, nan dung thứ!

Tuồng này nghĩ thiệt lạ, thiệt hay. Nhiều người ba bốn chục tuổi mới được xem hát bội lần này là lần thứ nhứt. Họ thức sáng đêm ngồi dưới xuồng, khi mệt mỏi thì nằm xuống. Rồi lại ngồi dậy. Hai ba đêm đầu, cọp sấu không dám lại vì tiếng trống, phèng la, đuốc lửa.
Việc gì cũng vậy, riết rồi sanh chán. Xưa kia, ông Từ Thức cưới vợ tiên ở Bồng Lai mà còn đồi trở về dương thế, hà huống chi xem đoàn hát Bầu Tèo này biểu diễn.
Mấy đứa con nít xem một chập, ngồi ngủ gục. Chừng trống đánh giựt mình, tụi nó dụi mắt, cằn nhằn: “cái gì mà tốc bôn trì, tốc bôn trì hoài! Cà tháng rồi không có gì mới. Cứ con yêu Tỳ Bà tinh chưn cẳng có ghe ngứa…” Tụi nó xúm nhau bơi xuống về. Hỡi ôi! Hai ba ông cọp chạy dài theo bờ rặch! Thôi thì đành trở vô vòng hàng rào nọ mà chờ đợi tới sáng.
Cũng chuyến nọ, con Tỳ Bà tinh đang hát bỗng nhiên mặt mày xanh lét, tay run run chỉ xuống sông rồi chạy trở vào buồng. Rõ ràng là Tỳ Bà tinh thấy hai con sấu đang ngóng mỏ vô hàng rào. Ông kỳ lão ra lịnh giông phèng la. Sấu lặn mất.
Lần lần, dân chúng thỏn mỏn về số gạo đóng góp nuôi đào kép. Ba chục ngày là ba chục vùa gạo! Ông bầu tìm cách sáng chế tuồng mới nhưng quanh đi quẩn lại chỉ bấy nhiêu đào kép, bấy nhiêu áo mão. May thay, lúc đ1o dân xóm Khoen Tà Tưng có sáng kiến qua xóm Tà Lốc mời mấy người Miên bên đó đến xem hát trước mua vui, sau nữa là chia sớt gánh nặng lúa gạo. Người Miên rất đỗi hoan hỷ. Họ giúp sân khấu nọ vài điệu múa “rầm” lúc sửa soạn vô tuồng. Gần vãn hát, họ đưa lên một anh hề Mien giễu bằng tiếng Việt Nam. Chuyện giễu của họ như vầy: anh nọ ở bên này sông có cô tình nhân ở bên kia sông. Không biết cách nào qua được, anh dậm chân:
– Cô Hai ơi! Sông sâu sào vắn đâm không tới! Muốn qua thăm bậu ngặt không có chiếc “re”!
Lúc đầu nghe giễu như vậy ai nấy cười như nắc nẻ, lần hồi sanh nhàm. Vì vậy, gánh hát bội phải từ từ rút lui qua xóm gần đó, cách chừng ba chục cây số.
Trời bắt đầu sa mưa. Gánh hát ra đi, nghĩ cũng hợp thời cho dân xóm này nhưng bất lợi đối với họ. Họ rã gánh lần lần, lưu lại khắp trong vùng hoang vu này nhiều chuyện hay hay. Dân xóm Khoen Tà Tưng bị ảnh hưởng của họ đậm quá! Mấy đứa con nít chăn trâu nhái lại giọng hát bội, thét lên inh ỏi ngoài đồng:
– Muôn tâu bệ hạ! Muôn yên nhà lợi nước, nên trồng đước với đà. Mai sau có hư cửa hại nhà, đốn nó làm kèo làm cội…
– Muôn tâu bệ hạ! muốn yên nhà lợi nước, nên trồng đước với su, bắt khỉ đột cầm tù, ắt yên nhà lợi nước…
Có một anh hề trong hánh hát trốn ở lại. Người đó sau này là ông Biện H. Ông biết chút ít chữa nho. Nhờ ổng mà xóm này có viết liễn. Nghe đâu chú của ổng hồi trước phò ông Phan Thanh Giản thủ thành Vĩnh Long. Ổng Phải giả danh kép hát chạy xuống miệt này. Trước khi làm biện ở đình, ổng nổi danh một thời nhờ tài hát huê tình. Ổng nói: phải nhái theo lời văn của hát bội, thí dụ như: “Cả tiếng kêu…! Ờ này em Hai ơi! Sách có chữ Thiện ác đáo đầu…” Thì câu hát mới vui, có tinh thần.
Ý kiến đó được anh chị em hát huê tình khen là phải.
Câu chuyện hát bội hồi xưa tới đây cũng khá dài rồi. Nhưng chưa hết, vì còn mấy ông cọp nọ. Có lẽ mấy ổng mê hát bội hơn loài người. Chừng một hai tháng sau, cái sân khấu nọ tốc nóc, bao nhiêu nọc tràm làm hàng rào đã lung lay ngả nghiêng trên dòng nước, chừng đó người ta thấy một đôi ông cọp thường tới lui ngồi cà rũ dựa gốc cây gừa bên bờ rạch. Nhứt là đêm có trăng, mấy ổng le lưỡi dài thòn, như nhớ tiếc bao nhiêu con mồi ngon, bao nhiêu tiếng kèn tiếng trống. Biết đâu về sau này mấy tiếng “coi hát cọp” là do sự tích của mấy ổng hồi xưa, không chừng!

Lực sĩ phi thường

baotreonline.com

Ian Bùi

Post on September 7th, 2021

Post by Sơn râu 15 Aug 2024

Mỗi hai năm, cứ đến Olympics mùa Hè hoặc mùa Đông thì tôi lại đón xem giải Thế Vận Hội cho người khuyết tật, gọi là Paralympics. Đối với tôi xem họ chơi thể thao mình học hỏi được nhiều điều, đôi khi còn cảm thấy tủi thân vì thấy sao mình xoàng quá, không bằng một góc những người thiếu tay chân. Giải Paralympics nào cũng đầy những câu chuyện “vượt qua số phận” mà ngày nay ta hay gọi là “truyền cảm hứng”. Mời các bạn cùng tôi lướt sơ một vài người trong vô số những lực sĩ phi thường.

Alia Alissa và Abbas Karimi cầm cờ dẫn đầu Đội Tị Nạn trong lễ khai mạc Paralympics Tokyo 2020. Nguồn: NBC Olympics   

Trước tiên phải kể đến Ibrahim Hamadtou, 48 tuổi, người Ai-Cập, trong môn bóng bàn. Năm lên 10 anh bị tai nạn xe lửa phải cưa hết hai cánh tay lên tận vai. Nhìn anh ta không thể nào nghĩ một người như vậy có thể chơi thể thao, nhất là bóng bàn. Vậy mà đây là lần thứ nhì anh được vào đội tuyển quốc gia. Nguyên do là ban đầu Hamadtou chỉ biết đá banh, nhưng một hôm, đang lúc làm trọng tài cho một trận bóng bàn, anh bị khiêu khích bởi một tay vợt nọ. Anh kể:

“Hai cây vợt cãi nhau vì bất đồng ý kiến về một bàn điểm. Sau khi tôi trao cho một bên thắng điểm, anh chàng kia giận dữ nói với tôi rằng ‘anh không chơi được nên anh không đủ tư cách làm trọng tài!’ Chính câu khích bác đó khiến tôi tìm mọi cách để tập đánh. Mới đầu tôi thử kẹp vợt trong nách nhưng không được. Sau tôi nghĩ ra cách ngậm trong miệng. Tôi phải mất cả năm trời luyện tập và chế ra cách giao banh bằng chân. Rất là vất vả, dĩ nhiên, nhưng nhờ trì chí nên cuối cùng cũng thành công.”

Năm 2011 và 2013 Ibrahim Hamadtou đoạt Huy chương Bạc tại giải thể thao toàn Lục địa Phi Châu. Anh được chơi trong giải Paralympics đầu tiên tại Rio 2016. Tại Tokyo tính đến hôm nay anh đã chơi hai trận, nhưng thua cả hai trước đối thủ người Tàu và Ðại Hàn. Dẫu vậy tên tuổi anh giờ đã vang lừng trên báo chí. Ibrahim Hamadtou nói vợ anh là người ủng hộ anh hết mình. Hai vợ chồng có ba đứa con.

Ibrahim Hamadtou giao banh trong trận đấu với Chao Chen của Trung Quốc tại Paralympics Tokyo 2020. Ảnh: Bernadette Szabo

Melissa Stockwell, 41, là nữ lực sĩ môn triathlon trong đội của Mỹ. Triathlon là bộ môn đòi hỏi thể lực khủng khiếp. Nó gồm có ba mục: bơi lội (750m), xe đạp (20km), chạy bộ (5km).

Năm 24 tuổi, trung uý Stockwell bị mất một chân tại chiến trường Iraq. Ðược giải ngũ, cô luyện tập để trở thành một nhà lực sĩ khuyết tật. Cô là tác giả quyển sách ‘The Power of Choice’ (Sức mạnh của sự chọn lựa) và là một nhà diễn thuyết truyền cảm hứng (motivational speaker). Ngoài ra, cô còn là một doanh gia thành đạt và là một người mẹ với hai đứa con, 6 tuổi và 3 tuổi.

Stockwell tham gia giải Paralympics đầu tiên năm 2016 tại Rio, khi mới vừa sinh đứa con đầu lòng, và thắng liền một Huy chương Ðồng. Sau khi Melissa sinh đứa con thứ nhì, hai vợ chồng quyết định Tokyo 2020 sẽ là giải tranh tài cuối cùng. Thế nhưng dịch bệnh bùng phát khiến Thế Vận Hội bị đình lại. Một lần nữa, Melissa phải chọn lựa: có nên tiếp tục hay không?

Cuối cùng cô quyết định phải đạt được mục tiêu mình đề ra. Cô nói: “Hai đứa con tôi còn nhỏ nên chúng chưa hiểu lý do tại sao mẹ chúng làm những việc này. Chúng chỉ thấy mẹ mình chơi thể thao thì chúng vỗ tay. Nhưng một khi lớn lên chúng sẽ hiểu đây là sức mạnh của sự trì chí, của sự chọn lựa mà tôi hy vọng mình sẽ truyền đạt được cho con.”

Thế rồi hai tháng trước ngày khai mạc, trong một cuộc luyện thi, Melissa té xe đạp và bị gãy lưng. Tuy vậy cô vẫn cố gắng hồi phục kịp thời để tranh tài. Melissa Stockwell được bầu chọn là một trong hai người cầm quốc kỳ cho Team USA bước vào cầu trường. Trong cuộc đua triathlon tại Tokyo, Melissa về hạng năm. Huy chương Vàng và Bạc vào tay hai đồng đội của cô là Allysa Seely và Hailey Danz.

Melissa Stockwell, lực sĩ triathlon. Nguồn: Team USA

Ngầu hơn một bậc nữa là nữ lực sĩ Oksana Masters, người duy nhất thắng huy chương trong cả hai Thế Vận Hội Paralympics mùa Hè và mùa Ðông!

Oksana cũng là con nuôi của cha mẹ Mỹ như nhiều lực sĩ khuyết tật khác trong Team USA — Jessica Long (Nga), Scout Bassett (Tàu), Haven Shepherd (Việt Nam). Oksana đến từ Ukraine. Cô bị cha mẹ ruột bỏ rơi vì mắc nhiều chứng bệnh do phóng xạ gây nên. Năm lên bảy cô được bà Gay Masters mang về Mỹ nuôi nấng. Vì căn bệnh ngày càng nặng, bác sĩ phải cưa dần hai chân của cô đồng thời sửa hai ngón trỏ để Oksana sử dụng như ngón tay cái mà cô không có.

Mặc dù được cho chơi thể thao từ nhỏ, phải đợi đến khi qua tuổi teen Oksana mới thực sự muốn trở thành một lực sĩ thực thụ. Cô không chỉ chơi một môn mà nhiều bộ môn khác nhau: bơi thuyền, đua xe đạp, trượt tuyết. Sau nhiều cuộc ra quân thất bại, cuối cùng Oksana cũng đọat được Huy chương Bạc môn bơi thuyền tại London mùa Hè 2012. Hai năm sau cô đoạt một Bạc và một Ðồng tại Sochi mùa Ðông 2014, môn Ski đường trường 12km và 5km.

Tại Pyongchang mùa Ðông 2018, Oksana thắng tiếp hai Huy chương Bạc môn biathlon (ski cộng với bắn súng) 12km và 6km; và đạt đỉnh vinh quang với hai Huy chương Vàng môn Ski 1.5km và 5km. Rất tiếc năm nay Oksana đã không vào được đội tuyển mùa Hè, nhưng hy vọng ta sẽ gặp lại cô tại Paralympics mùa Ðông 2022 tại Bắc Kinh.

Năm nay cũng là lần đầu tiên giải Thế Vận Hội Khuyết Tật có một đội của những người tị nạn, gọi là Refugee Paralympic Team. Ðội gồm có 6 người — 5 Nam và 1 Nữ, tranh tài trong các bộ môn: bơi lội, bơi thuyền, Thái cực đạo, ném.

Oksana Masters. Nguồn: Courier-Journal

Abbas Karimi là lực sĩ bơi lội đến từ Afghanistan. Anh sinh ra không có hai cánh tay. Năm lên 17 Karimi vượt biên sang Iran, sau đó mướn người đưa lậu vào Thổ Nhĩ Kỳ. Cuối cùng thì anh được sang Mỹ định cư. Năm 2017 Karimi dự giải Mexico World Championship và thắng Huy chương Bạc.

Ibrahim Hussein, 33 tuổi, là lực sĩ bơi lội người Syria. Chín năm trước anh bị trúng bom mất một chân phải. Hai năm sau anh vượt biển sang Hy Lạp và sống lây lất trên đường phố Athens. Ít lâu sau anh được một vị bác sĩ Hy Lạp làm cho chiếc chân giả. Ðến năm 2015 Ibrahim Hussein mới nhận được quy chế tị nạn.

Parfait Hakizimana, là lực sĩ duy nhất hiện vẫn đang sống trong một trại tị nạn ở Rwanda. Năm anh lên sáu, mẹ anh mất trong một cuộc tấn công vào khu trại ở Burundi. Anh cũng bị trúng đạn và bị liệt tay trái. Cha anh mất trong một tai nạn xe cộ năm Parfait 11 tuổi. Hakizimana sẽ thi đấu môn Thái cực quyền.

Sharaj Nasjapour là lực sĩ ném đĩa người Iran hiện sống tại tiểu bang Arizona. Anh từng đại diện Iran tại một số giải quốc tế. Nhưng đến năm 2015 thì anh đã bỏ đội tuyển để trốn khỏi Iran vì luật lệ bắt buộc lực sĩ phải đi nhà thờ. Nasjapour bị bệnh bại não (cerebral palsy).

Alia Alissa, 21, là nữ lực sĩ đầu tiên trong lịch sử của Ðội Tị Nạn. Cha cô rời Syria sang Hy Lạp để tị nạn chiến tranh năm 1996. Sinh ra ở Hy Lạp, năm lên bốn cô bị mắc một chứng bệnh não hiếm có gây nên bởi dịch khuẩn đậu mùa. Năm 2017 Alia thành lập một trường luyện thể thao cho trẻ em. Tại đây bản thân cô cũng chơi vài môn, và cách đây hai năm tập trung toàn phần vào môn ném gậy gỗ (club throw).

Cập nhật tin tức: Jessica Long của Team USA (Mỹ gốc Nga) vừa trở thành lực sĩ nhiều huy chương nhất tại Paralympics (25) với một Vàng và một Bạc trong bộ môn bơi lội. Haven Shepherd của Team USA (Mỹ gốc Việt) đứng hạng năm trong trận bơi 200m Hỗn hợp Cá nhân mà Jessica Long đã về nhứt.

Allysa Seely và Hailey Danz sau khi chiến thắng cuộc đua triathlon tại Tokyo. Nguồn: NBC Olympics

IB